Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: lixeta trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:09:14 am



Tiêu đề: Những hòn cuội nhặt dọc đường
Gửi bởi: lixeta trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:09:14 am

Lê Trí Dũng sinh năm 1949. Năm 1971, khi đang học năm cuối Trường Đại học Mỹ thuật anh lên đường nhập ngũ vào binh chủng Tăng Thiết giáp và trở thành một người lính xe tăng thực thụ, lăn lộn trên chiến trường Trị Thiên những năm tháng ác liệt nhất. Sau ngày thống nhất đất nước, anh trở về hoàn thành luận văn tốt nghiệp và trở thành một họa sỹ nổi tiếng.

Không chỉ vẽ tranh, Lê Trí Dũng còn rất chịu khó viết. Cho đến nay, anh đã hoàn thành 4 tập tản văn "Những hòn cuội nhặt dọc đường" và được dư luận đánh giá cao. Được sự đồng ý của anh, LXT xin gửi tới các đồng đội và toàn thể anh chị em trên diễn đàn tập tản văn này.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 23 Tháng Tám, 2013, 09:10:20 am


    Lời tựa: CON NGỰA HOANG KÝ ỨC
    VÀ NHỮNG HÒN CUỘI ÁM ẢNH DÀY VÒ.


    Tôi quen họa sĩ Lê Trí Dũng có dễ đến 15 năm, quen và biết, nhưng chưa đủ để hiểu ông. Lê Trí Dũng như một cơn gió lốc, không, ông như một con ngựa chiến lúc nào cũng tung vó trên chiến địa sa trường, nếu có nghỉ họa chăng là ngủ nghỉ vội vàng ở khoảng lặng giữa hai trận đánh. Ông đến Văn Nghệ Quân Đội đưa tranh minh họa nhanh như thế nào thì ông đi cũng vội như thế. Nhanh vội bởi dường như ông không tìm được, hoặc không có nhu cầu tri âm tri kỉ với ai ở cái nơi mấy chục năm cộng tác làm “sáng” tác phẩm lên, dù hàng tháng ông vẫn gặp các nhà văn đang mặc áo lính cũng như ông đã từng mang sắc phục nhà binh một thời trận mạc.

    Tôi chẳng biết ông có tâm trạng “Ta là một, là riêng…” không, nhưng người nghệ sĩ vốn thường cô đơn; cô đơn giữa biển đời, cô đơn trong nghề nghiệp, đôi khi có kẻ cô đơn ngay cả chính trong ngôi nhà của mình, thì ông chia sẻ được gì với đám nhà văn mặc áo lính chúng tôi!? Ông đã vẽ cả ngàn tranh ngựa, nhưng ông cũng phải thốt lên trong đơn độc mỹ cảm: “Con ngựa tôi khoái nhất là một con ngựa đơn sắc, gần như chỉ hai màu đen trắng, quay lưng lại người xem, bờm xù, dáng thản nhiên, ngạo nghễ. Rất ít người đồng cảm với con ngựa này. Cũng phải thôi, ước vọng đoàn viên, ước mơ hạnh phúc vẫn là ước muốn muôn đời của nhân loại. Nhưng than ôi! Sự cô đơn lại là số phận của những nghệ sỹ đích thực.”(Những con ngựa của tôi).

    Ngoài đời, Lê Trí Dũng vội lẹ, xăm xái đến Văn Nghệ Quân Đội đưa tranh minh họa, rồi tiếng cười tỏa nắng, chúng tôi ồn ào, rộn rã…, một lát ông bước đi ra rất nhanh, để lại sau lưng cả một không gian tịch mịch, mái ngói cong xanh rêu thâm u như lúc ông chưa bước vào khiến đám nhà văn chúng tôi ngơ ngẩn. Tôi luôn luôn có cảm giác cùng một thời gian ông nung nấu nhiều ý tưởng nghệ thuật, cùng một thời gian ông đang làm nhiều việc, việc gì cũng cần thiết, gấp gáp. Cũng có khi vì “Kính nhi viễn chi”, nhà văn đứng từ xa ngưỡng vọng họa, nhà họa đứng ở ngoài vọng ngưỡng văn. Dù cũng là nghề đi bòn mót tôn vinh cái đẹp ở nhân gian, nhưng cũng vẫn là nghề như một bức tường vô hình giữ chúng tôi ở một khoảng cách cần thiết.

    Lê Trí Dũng thuộc thế hệ sinh viên tài hoa ra trận, một thế hệ kỳ tài trong một thời lạ lùng đã đi vào hồi ức binh nhì lính tăng thiết giáp trận mạc của ông: “Trong cái rét tái tê của Hà Nội đầu đông 1972, những bà mẹ, những cô sinh viên tóc tết đuôi sam ấm áp áo bông đứng ở các ngả đường góc phố nơi những đoàn tàu chạy qua. Chỉ để ném những lá thư lên cửa sổ các toa tàu và nhặt những lá thư từ cửa sổ các toa tàu “bay” xuống...” (Đại binh đoàn sinh viên… năm ấy). Cũng là lính ra trận, nhưng lính sinh viên bao giờ cũng khác, ấy là cái chất hào hoa, tài hoa, lãng mạn ngay cả nơi thử thách đẫm máu khốc liệt nhất. Trong hành trang ra trận của những anh lính sinh viên lãng mạn còn thêm giá vẽ, cây đàn ghi ta, những quyển sách: “Những người khốn khổ”, “Nhà thờ Đức Bà”, “Chiến tranh hòa bình”, “Thơ tình Puskin”, các bản nhạc “Chiều Maxcơva”, “Cachiusa”, “Đêm dài qua”, “Sơn nữ ca”…, chúng là điệu tâm hồn, là kho tàng văn hóa, là chất xám. Có nơi nào trên trái đất này có một thế hệ kỳ tài, hào hoa lãng mạn như thế ra trận và rất nhiều người không trở về với mẹ?

    “Chiến tranh không phải trò đùa”, chiến tranh là thử thách cao nhất, khốc liệt nhất đối với một đất nước, một dân tộc, một con người. Bom đạn đã đốn ngã biết bao nhiêu thằng giai sinh viên và tất nhiên những tác phẩm của Tonxtoi, Victo Hugo, Puskin, Pautoxki, Lecmantôp, Sôlôkhốp, Betthoven và Sopanh… cũng thành than tro và tan cùng xác thịt người lính ở đồi Sạc Ly, thị trấn Xuân Lộc, Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972… Anh lính sinh viên Lê Trí Dũng đã ở trong cái chảo lửa khổng lồ mù mịt, sặc mùi máu tươi, mùi tử khí và mùi cây khuynh diệp xanh ấy. Những đồng đội của ông không về, nếu còn sống rất có thể họ trở thành tướng lĩnh, nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư, hoặc nhà văn, nhà báo, họa sĩ nổi tiếng như ông… Ông đã phải thốt lên đầy ai oán thương tâm: Sau cuộc chiến, khi họ thấy “mình sống được đã là một điều vô lý” ..., “không chết là lãi quá rồi.” Có một sự thật phũ phàng là: Thế hệ ông và sau nữa là chúng tôi… đi qua chiến tranh, chiến tranh chấm dứt từ lâu rồi, nhưng chúng tôi vẫn không thoát khỏi chiến tranh.

    Cái cối xay thịt chiến tranh ấy nghiền đến ai người ấy chết, còn sống sót thì phần lớn ra loại người bản lĩnh thép, biết quý giá chắt chiu từng giọt sống, nhiều người trở về đời thường bất hạnh, thiệt thòi và luôn bị ký ức trận mạc ám ảnh, dày vò đến khốn khổ khốn nạn. Cái kho ký ức ấy như con ngựa hoang, chứ không phải con ngựa thuần, Lê Trí Dũng đi theo tiếng gọi của ký ức: “Chiến tranh như một con ngựa hoang trong trận cuồng phong thỉnh thoảng lại cất lên tiếng hí vang trời nhắc nhở mọi người đừng quên. Chúng tôi sau 30 năm cũng bị tiếng ngựa hí ấy vẫy gọi. Lại về với suối rừng, lại về với lồ ô”. Chính vì thế con ngựa hoang ký ức trỗi dậy tung vó bất kỳ sáng trưa chiều tốt, bất kỳ nắng mưa giá rét, bất kỳ thời tiết chính trị ấm nóng bỏng hay mát lạnh. Nó tùy thuộc vào ngoại quan và tâm thức con người đã đi qua trận mạc để rồi đối diện với những vui - buồn, tốt - xấu, thiện - ác, bất hạnh - hạnh phúc, công bằng - bất công… ở đời thường. Đôi khi chỉ một hình ảnh người phế binh ngửa mũ xin ăn ở ga xép, một bài hát hào hùng bất chợt vang lên, một người mẹ tóc bạc trắng chờ con hay chỉ một cái tên đồng đội cũ vô tính được nhắc đến, hay ngẫu nhiên gặp một người lính phía bên kia đang bị gia đình quay lưng, xã hội bỏ rơi… cũng làm cho con ngựa hoang ký ức của Lê Trí Dũng bồn chồn, lồng lên. Ông viết văn bởi con ngựa hoang ký ức thôi thúc mãnh liệt, không viết thì ngột ngạt, bức bối, không chịu nổi: Những cái chết cứ ám ảnh, cứ hiển hiện, cứ dày vò ông: “Hoàng Tích Minh hy sinh cạnh chiếc cặp vẽ còn nhiều ký họa ngổn ngang…”, để lại ước mơ cháy bỏng: “Sau này hoà bình trở về, mình chỉ vẽ các mẹ, các chị thôi, desin đẹp mà “dân gian” lắm!” Còn Quách Thiện Thuật hy sinh trong những trận đánh liên miên giành đi giật lại các cao điểm trên chiến trường Quảng Trị... Phạm Văn Học đã bị mảnh bom phá hỏng hoàn toàn 2 mắt trong chiến dịch Lam Sơn 719. Nguyễn Quang Việt lại hy sinh trong một lần trinh sát nhập sâu vào căn cứ địch tại Hòn Tàu…” Bộ xương người lính xấu số vô danh trong chiếc võng ni lông toòng teng, ông bất chợt bắt gặp trên đường hành quân rồi đào hố chôn, cắm lên mộ cốt một cái hoa tre... cũng khiến nỗi buồn hoang hoải cứ đeo bám tôi.

    Một dân tộc chỉ tiến hành chiến tranh khi đã bất khả kháng, không né tránh được nó và chiến tranh chưa bao giờ là sự lựa chọn của một cá nhân người lính. Thiền ngữ nói rằng:“Bạn hãy luôn cảm ơn những ai tạo ra nghịch cảnh cho bạn” và “Đối diện với hiện thực, bạn mới vượt qua hiện thực”. Không có một thời đỏ lửa Lê Trí Dũng làm anh lính Tăng - Thiết giáp sẽ không có họa phẩm "Vượt trọng điểm" (sơn mài, 1974) đang ngự trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam; không có những: "Vượt sông" (sơn mài, 1976), "Cánh rừng dioxin” (lụa, 1989), "Mẹ của những người lính" (sơn dầu, 1999), "Biên ải" (sơn mài, 2000), "Chân dung người lính" (sơn dầu, 2004)...; càng không có chuyến tham gia Triển lãm “Cái nhìn từ hai phía” ở Boston do Mỹ tổ chức và đi du hành bày tranh ở 15 bang nước họ; không có chuyện tham gia Triển lãm lớn “Nam Bang” (Tiếng nổ ở Việt Nam) với đề tài chiến tranh Việt Nam tại Sydney - Úc; càng không có một danh họa Lê Trí Dũng hôm nay khí phách, ngạo nghễ, nặng lòng, khổ sở với đề tài chiến tranh và người lính. Tất nhiên, cuộc đời không nhồi ông vào lính trận, không đẩy vào binh nghiệp thì vẫn có một danh họa Lê Trí Dũng, nhưng sẽ là Dũng với các quý danh“Dũng hoa”, “Dũng phố”, “Dũng ngựa”, “Dũng rồng”, “Dũng thiếu nữ ngủ ngày”… chẳng hạn.

    Nói về quan niệm nghề nghiệp, Lê Trí Dũng bộc bạch: “Em gái tôi, sinh 1970, thấy tôi vẽ mãi trận mạc, em bảo: Anh “ăn hơi dầy” chủ đề này đấy, việc gì cứ phải xoáy mãi vào đấy? Đời còn bao nhiêu cái đẹp hơn. Anh vẽ ngựa hay thế cơ mà”.

    Ông công nhận em gái mình không sai, nhưng ông có lý của ông, có tình của ông khi mê say đề tài trận mạc, ông chủ trương: “nghệ thuật thì nhất thiết phải vô giá, bởi tự bản chất, nghệ thuật đã có cái quyền lực - có thể nói như phép phù thuỷ - để biến đổi được những vật dụng hay vật chất thông thường thành những thứ vô giá”. (Đâu những nụ cười trầm tư tranh luận?). Như một tuyên ngôn nghệ thuật, và chính cái tư duy sáng tạo quyết liệt này đã chỉ đạo sáng tác của ông. Họa của ông là vậy và văn của ông cũng là vậy. Tính quyết liệt trong sáng tác chính là thiên chức nghệ sĩ, đôi khi ông cũng tỏ ra uể oải, hoang mang:“Khi ngựa đã chồn chân mỏi gối thì lòng tráng sĩ cũng bay theo gió ngàn thôi”, nhưng rõ khổ CON NGỰA HOANG KÝ ỨC trong lòng Lê Trí Dũng lại không bao giờ mỏi gối chồn chân, chẳng bao giờ xanh xao vàng vọt, mà cứ vâm săn chắc lúc nào cũng trong thế xung khí xung thiên tung vó. Bởi vậy, ông vẽ viết bằng những ám ảnh, và ký ức không chịu ngủ yên cứ cựa quậy giầy vò khiến ông cầm cọ, cầm bút. Đi suốt ba tập tản văn: “Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân”, “Những hòn cuội nhặt dọc đường” và tập tản văn này, tôi nhận ra văn Lê Trí Dũng có khí phách mạnh, thấp thoáng xa gần ẩn giấu thần khí. Vẽ là người, văn cũng là người, cái này là Giời cho chứ không phải do rèn luyện. Mà khí với tình bao giờ cũng đi cùng nhau, trộn lẫn hài hòa với nhau. Người văn yếu khí thì văn nhạt, tình cũng nhạt, người văn khí phách thì văn - tình mặn mòi, mạnh mẽ. Ông vẽ cả nghìn bức tranh ngựa, ngựa của ông cũng đầy khí phách dũng mãnh như bay xuyên qua giông tố, và cũng huyền ảo như bay dưới trăng. Tản văn của ông nặng về hoài niệm, tâm trạng dằn vặt, thao thức, ông hay triết luận bằng những câu văn hình ảnh, những mạch cảm xúc chân thật, có sức khơi gợi sâu và xa. Bên cạnh những thô tháp, trần trụi mà không thô giản là độ căng của tiết tấu giọng văn, là phép so sánh, liên hệ quá khứ - hiện tại, ông đẩy người đọc vào những ẩn ý, những triết luận thâm sâu…, cứ vậy đan xen theo cảm xúc trào ào ạt và vốn đời từng trải. Văn của ông như mạch nước ngầm âm thầm tích năng lượng trong lòng đất, như ngọn núi lửa sục sôi nham thạch, để rồi bất chợt… tuôn trào không có gì kìm hãm được như dòng “Suy nghĩ dọc đường 1, 2,3,4,5”. Có những tản văn của Lê Trí Dũng đọc xong, tôi cứ nghĩ nó là một truyện ngắn như: “Khẩu súng ma” đậm chất hoang đường kỳ ảo. “Cây đàn ghi ta cũ kỹ” hay ở chi tiết, xúc động ở cái tình. Cổ văn “Người thiếp yêu của quan Tổng Trấn”, “Cánh tay con quỷ”, “Gốc cây Dã hương” đầy chất liêu trai mang hơi hướng Bồ Tùng Linh tiên sinh, câu văn ngắn gọn, súc tích, cốt truyện rõ ràng mà gây cấn và cái kết khá đột ngột. Tôi đồ rằng: nếu cứ mạch cổ văn này, cảm hứng này, ông sáng tác thêm sáu, bẩy tác phẩm nữa sẽ được một tập truyện ngắn kì ảo sinh động

    Đời thường, Lê Trí Dũng có thói quen nhặt những hòn cuội dọc đường hành quân, dọc các chuyến miên viễn hoặc ghé đến một nơi nào đó. Cũng là cái thú của người chơi… đá cuội nghệ thuật. Mỗi hòn cuội như một nhân vật, có không gian nghệ thuật tồn tại, có câu chuyện, có linh hồn trú ngụ… nhiều khi được phủ lên một màn sương huyền thoại. Đêm đêm, chúng cãi nhau, đối thoại, hoặc thì thầm tâm sự với nhau, và tôi tưởng tượng: đôi khi ông ngồi trước những hòn đá cuội đủ các sắc màu, hình thù to nhỏ, nhẵn mịn, thô tháp, nhuốm màu thời gian xa gần… để trò chuyện, đối thoại với chúng. Tôi cũng mấy lần tặng ông các viên đá cuội lớn tôi nhặt được dọc đường thiên lý: hòn cuội ở Trường Sa Đông nhẵn ngời sắc trắng san hô rất có thể người lính thủy binh nhà Nguyễn nào đó năm xưa đã từng định cầm lên tay mang về đất liền rồi lại lưỡng lự đặt xuống; hòn cuội ở đồi Phượng Hoàng - Tây Nguyên từng nhuốm máu lính đặc công ta và lính dù Việt Nam công hòa; hòn cuội ở bắc đảo Phú Quốc…Trong các tập sách của ông lại có những hòn cuội ký ức, mỗi “hòn cuội” một kỉ niệm, ông đã nhặt những hòn cuội cô đặc quá khứ ấy truyền cho chúng một cảm xúc, một câu chuyện cảm động, một triết lý nhân sinh..., để rồi bày chúng ra trước mắt bạn đọc MỘT CÁI NHÌN KHÁC của ông về chiến tranh, về thế thái nhân tình. Tôi có những ý nghĩ mông lung tha thiết rằng: Có bao giờ linh hồn những người lính trú ngụ trong hòn cuội Lê Trí Dũng nhặt dọc đường miên viễn đi tìm hình ảnh của mình ở “hòn cuội” ngay trong sách tản văn của ông?

    Nhà văn SƯƠNG NGUYỆT MINH



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 24 Tháng Tám, 2013, 08:13:29 am
MUÔN MẶT HỘI HỌA
Những con ngựa của tôi
[/b]

“Ngựa ơi đồng đất người thiên hạ
Cỏ nuôi mày vẫn cỏ lòng ta”[/i]
(Vũ Quần Phương)


Tôi mê ngựa từ bé. Con ngựa đầu tiên tôi vẽ trong đời là con ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường trong Tam Quốc chí. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ: “ Con ngựa toàn thân sắc đỏ như lửa, tịnh không có một cái lông nào tạp, ngày đi nghìn dặm ...”. Lớn lên lại biết thêm vô vàn ngựa hay khác: Con Thiên Lý Mã và Vạn Lý Vân trong Phong Thần. Con Ô Truy Thích Tuyết của Hô Diên Chước và Thiên Lý Long Câu của Sử Văn Cung trong Thủy Hử. Con Thảo Thượng Phi của chiến sỹ hồng quân Trung Quốc Mã Tuấn Vũ có dáng bay trên cỏ khi giáp chiến với quân địch... “ Tên Nhật ngồi trên tháp xe tăng chĩa khẩu súng máy vào Vũ bóp cò, súng chưa kịp nhả đạn thì đầu y đã rơi khỏi cổ...”.

Rồi chuyện vua Ảrập là người rất mê ngựa, ông muốn có một con ngựa xuất chúng bèn cho con ngựa cái thuần chủng Ảrập của mình lai giống với một ngựa chiến Mông Cổ. Con ngựa cái mang thai sắp đến ngày đẻ thì bị một tên trộm (tên này cũng rất mê ngựa) lẻn vào chuồng, rạch bụng con ngựa mẹ, ôm cái bọc ngựa con về... Sau này, ngựa con trở thành một con ngựa huyền thoại, có thể bay lên mặt trăng... Chính vì thế, rất nhiều tranh của tôi sau này có hình ngựa và mặt trăng (cũng có thể vì Mệnh Cung của tôi trong lá số Tử Vi có hai sao Thái Âm và Thiên Mã).

Cho đến một ngày, tôi được Cha tặng một cuốn sách toàn vẽ ngựa của một danh họa Trung Hoa. Đó là danh họa vẽ ngựa nổi tiếng thế giới Hàn Cán, những con ngựa như vô thức, vừa giống tranh trong hang động thời tiền sử, vừa giống tranh siêu thực, đương đại... Đặc biệt chúng xuất thần từ đôi mắt.

Rồi một ngày khác, Thầy dạy tôi cho tôi cuốn sách khác về giải phẫu cơ thể ngựa, hơn một trăm dáng ngựa phi nước kiệu, nước đại, ngựa đi, ngựa nằm, ngựa bơi,vượt chướng ngại vật, ngã ngựa... đều được X Quang. Nghĩa là bên trong các dáng ngựa đó là cấu trúc bộ xương ngựa hiện rõ mồn một. Nhờ cuốn sách đó, tôi vẽ ngựa được nhiều dáng và hợp lý hơn. Xem trên TV thấy vài nơi trên thế giới còn giống ngựa hoang đẹp tuyệt trần… không phải là những con ngựa đua nòi Anh quốc, đầu nhỏ, cổ cao, chân dài, ngực nở, bụng thon như hoa hậu thời nay đâu! Mà là những con ngựa bé nhỏ, đầu to, chân ngắn, bờm rất dài… Giống ngựa thuần hoang, bàn tay con người chưa được vinh dự chạm tới từ hàng vạn năm nay… Loại sống ở Úc lông vàng như lông bò, đất rộng người thưa, chúng quậy phá tới mức chính phủ muốn giảm bớt quân số. Nhưng loại còn rất ít ở Nêvađa ( Bắc Mỹ) thì lại được bảo vệ nghiêm ngặt để nhân giống. Loại này mặt gẫy góc như Sơn dương, lông hơi xanh, đặc biệt bờm rất dài, dễ đến gần một mét. Lạ! Còn ở Trung quốc thì ngày nay ở vùng sa mạc Tây Á, cuối Vạn Lý Trường Thành còn vài nghìn con ngựa hoang tương truyền từ thời Hán Vũ đế (cũng là một ông vua nổi tiếng mê và sành ngựa ). Giống này còn có tên là Bích huyết, vì khi ra mồ hôi sắc đỏ như máu. Còn về vẻ đẹp thì khỏi chê, có con đen tuyền, chỉ có bốn chân và bờm màu trắng, có con vàng nhung, bờm trắng, trán có vệt trắng hình sao… Chính phủ Trung quốc cho rào lại thành vành đai (như kiểu Vườn Quốc gia ở ta) để giữ gìn giống ngựa hoang này… Chúng phải tự tìm cái ăn, nơi trú ẩn, sinh con đẻ cái… trong điều kiện hết sức khắc nghiệt như tổ tiên chúng thời tiền sử xa xưa.

Thời sinh viên đi thực tập loanh quanh thế nào lại sống ngay cạnh một trại huấn luyện ngựa của bộ đội biên phòng ở Mộc Châu, biết thêm những con ngựa cao to lực lưỡng vùng Sông Đông, quê hương của những người Cô dắc dũng cảm. Nhưng dù thế nào đi nữa, thì tôi vẫn yêu quí nhất là những con ngựa thuần Việt, vóc nhỏ, đầu to, chân ngắn, ăn uống kham khổ, trung thành, chịu khó... Tận đến lúc chết vẫn cống hiến thân mình cho sức khỏe con người.

Với tôi, sau nhiều năm vẽ ngựa, con ngựa không còn là ngựa nữa, nó hóa thân thành người. Càng ngày, những con ngựa nằm và đi nước kiệu ít đi, nó quằn quại, tung vó, gào thét. Càng ngày những ngựa đôi, ngựa đàn ít đi, còn lại là rặt độc mã, phóng vun vút, phi như bay, trên cả mặt trời mặt trăng, dầm mình trong mưa, cỏ hoang đồng nội, bờm văng tung toé, màu và mực đổ ào ào, bắn vung vít, chảy ròng ròng... Những con ngựa dữ dội, mắt trợn ngược, mồm há to, răng lởm chởm. Tệ nhất là càng ngày giải phẫu ngựa càng sai trầm trọng. Chân cẳng cắm vô tổ chức, đầu cổ vặn ngược, thậm chí một con có tám chân. Tôi phải thêm nhiều chi tiết như lau sậy, mưa gió, mây khói... vào để “cân bằng sinh thái”. Con ngựa tôi khoái nhất là một con ngựa đơn sắc, gần như chỉ hai màu đen trắng, quay lưng lại người xem, bờm xù, dáng thản nhiên, ngạo nghễ. Rất ít người đồng cảm với con ngựa này. Cũng phải thôi, ước vọng đoàn viên, ước mơ hạnh phúc vẫn là ước muốn muôn đời của nhân loại. Nhưng than ôi! Sự cô đơn lại là số phận của những nghệ sỹ đích thực .

Tôi biết, rồi một ngày kia, những con ngựa của tôi rồi sẽ bỏ tôi mà đi. Dù chúng có được vẽ trên nền giấy Điệp rực sắc bạch, điều, dù chúng được vẽ trên nền lụa Tàu óng ả, trên những tấm “toan” thô ráp, xù xì hay trên những tấm “vóc” cao sang với những vỏ trứng, những vàng, những bạc ... Thì theo dòng thời gian, chúng sẽ bỏ tôi mà đi ...

Trong dòng thác hỗn loạn của thị trường Đời Người và thị trường tranh pháo, trong dòng thác suy thoái của tình người, trong sự phấn đấu mãnh liệt của các “ họa sỹ nhái tranh ”... Thì đàn ngựa của tôi dẫu có lúc đã đông tới cả ngàn con, với đủ các chủng loại từ Á sang Âu. Dẫu có lúc từng nâng đỡ tôi vượt qua thác ghềnh thời bao cấp, thậm chí sát cánh cùng tôi, giúp tôi thoát khỏi những cú “ xiên táo” của đồng loại ở chốn quan trường... Thì rồi chúng cũng sẽ bỏ tôi mà đi.

Cuối cùng, còn lại với tôi vẫn chỉ có một con ngựa, gam màu đơn sắc, bờm xù, ngoảnh lưng lại người xem... Sau bao nhiêu là nước kiệu, nước đại. Sau bao nhiêu là đồng cỏ bao la, suối sâu và rừng rậm, sau bao nhiêu là lau sậy, mặt trời và mặt trăng, sau bao nhiêu là Đỏ, Vàng, Xanh, Tím, sau bao nhiêu là quằn quại, gào thét, vặn vẹo sai giải phẫu, sau bao nhiêu là chảy ròng ròng, văng tung toé... Bây giờ nó đi chậm rãi, thản nhiên, ngạo nghễ, dường như muốn nói : “ Đời là thế ! Có gì đâu mà phải hoắng lên ”.

Tết Kỷ Sửu

Tranh ngựa

Tặng Lê Trí Dũng



Ngựa toả mười phương, tranh vẫn đây
Tranh lên tiếng gọi, ngựa về ngay
Bờm đẫm sương mai, tai đẫm gió
Những đại dương mờ, những bến mây

Nghìn ngựa ào qua đầu ngọn bút
Thân chưa khô mực, đã đường xa
Ngựa ơi đồng đất người thiên hạ
Cỏ nuôi mày vẫn cỏ lòng ta

Lòng ta thành bụi, thành trăng sáng
Núi lạ, đồng xa, ta với ngươi
Bụi theo nâng vó bay ngàn dặm
Trăng rọi đường phi đến tận trời.

Vũ Quần Phương
(“Chân trời sau chân trời”, Thơ – NXB Văn học, 2011)


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 25 Tháng Tám, 2013, 07:35:27 am


    Minh họa cho lính


    Có người hỏi tôi vẽ minh hoạ cho báo lính có khó không? Có khác gì minh hoạ cho các báo khác không?

    Sẽ có người trả lời ngay rằng, thì cũng là minh hoạ, miễn sao đẹp. Làm sinh động lên bài viết, bài thơ, truyện ngắn… thì tốt. Nếu nó đẹp được như một tác phẩm hội họa độc lập, người xem có thể cắt minh họa đó ra đóng khung treo chơi thì càng tốt. Nhưng bây giờ thời hội nhập, cả nước có cả hàng trăm đầu báo, vẽ cho báo lính cũng như vẽ cho “Phụ nữ”, cho “Văn nghệ”, cho “Thể thao Văn hoá” thôi… Tác phẩm văn học bây giờ cũng vậy, tác giả thường gửi tùm lum, “trúng” báo nào “ăn” báo đó. Minh hoạ vì thế cũng phiên phiến thôi, cầu kỳ mà làm gì.

    Tôi thì tôi thấy minh hoạ cho lính xem khó đấy, nhất là cho một tạp chí có uy tín như tạp chí Văn nghệ quân đội, đến nay đã tròn 55 tuổi (1957 – 2012).

    Không biết có phải cái vía của Nhà số 4 hút hồn tôi từ năm 1974, thời tôi còn ở quân ngũ, binh chủng tăng thiết giáp, hay không?

    Tôi nhớ hồi đó, đơn vị cử tôi về Hà Nội tham gia triển lãm tăng thiết giáp ở khu Triển lãm Vân Hồ. Gặp anh Hà Trì (hoạ sĩ của tạp chí Văn nghệ quân đội) ở đó. Biết tôi là họa sỹ, anh có đặt tôi vẽ minh hoạ một truyện ngắn kể về mối tình của một người lính xe tăng. Tôi hồi hộp, vẽ đến bức thứ ba mà vẫn chưa vừa ý, lại vẽ thêm hai bức nữa thì thấy bút “phóng” lắm rồi…

    Tôi đưa cả 5 minh hoạ đó để anh Hà Trì xem. Anh chọn ngay cái đầu tiên, bảo “cái này nét vụng nhưng đậm chất lính, hợp với Tạp chí mình, em ạ!”. Tôi thật sự xúc động. Nhớ mãi cái kỷ niệm ban đầu khó quên ấy. Lần đầu tiên minh họa của mình được đăng trên tạp chí của lính, mà là tạp chí văn nghệ trung ương chứ đùa đâu.

    Quả thật, tôi nhận thấy cái chất lính ấy trở đi trở lại trong minh hoạ của các anh Quang Thọ, Văn Đa, Huy Toàn, Phạm Thanh Tâm… mỗi người mỗi vẻ, rất lính. Phải chăng, vì lòng mình gắn bó và yêu lính, yêu đời sương gió phong ba lãng mạn của anh bộ đội Cụ Hồ, mà có được “ bút pháp lính ” khi minh hoạ? Tôi biết có những hoạ sỹ vẽ minh hoạ rất thợ, dùng báo nào cũng được, nhưng không dễ gì vẽ được cái chất đặc sắc lính …

    Sau đận ấy, tên tuổi tôi nổi như sóng cồn ở trung đoàn vì có tác phẩm được đăng trên tạp chí tận… trung ương. Gần 40 năm gắn bó với Tạp chí Văn nghệ quân đội, minh hoạ hàng nghìn truyện ngắn trên Tạp chí, tôi vẫn muốn bộc bạch rằng, mỗi khi vẽ về lính, tôi thích lắm. Thích vẽ từ cái biđông, đôi dép cao su, cái ba lô con cóc cho đến khẩu AK… những vật dụng thân thương với đời người lính.

    Giờ đây mỗi khi vào cổng Nhà số 4, rẽ phải qua cây đại tới phòng cuối cùng, tôi vẫn bổi hổi bồi hồi nhớ lại bao kỷ niệm của một thời.

    Nhớ cái hồi mình đeo lon binh nhì, cùng hoạ sỹ Phạm Lực và Đinh Rú tập trung ở Nhà số 4 để đi học vẽ in lưới, công nghệ mới của Cu Ba. Học được mấy hôm thì đi sơ tán ở Bún Thượng (Sơn Tây cũ). Ngồi vẽ ở đó mà đâu ngờ rằng chỉ cách đó vài mét, sau một bức tường dày là nơi khá nhiều phi công Mỹ bị quân và dân ta bắt sống, giữ ở đó.

    Lại nhớ một đêm tối khuya, khi tôi đã ra quân, nhà văn Nguyễn Bảo và Chu Lai, những tên tuổi quá đỗi thân quen của bao thế hệ người lính, tới nhà tôi gõ cửa ầm ầm, bàn kế hoạch cộng tác xuất bản tờ phụ san Tạp chí Văn nghệ quân đội số đầu tiên. Tôi nghe xong đã ầm ầm hưởng ứng… Không biết tới mùa Xuân Nhâm Thìn này, cây đại của Nhà số 4 đã bao tuổi, bao lần ra hoa thay lá? Nhắc đến Nhà số 4 mà không nhắc tới cây đại ở đây quả là không phải. Nó làm nên nỗi nhớ của bao người đi và đến với Nhà số 4, tên gọi thân thươngTạp chí Văn nghệ quân đội.

    Tôi cứ ao ước, có lúc trộm vía, những minh hoạ của mình, của bao thế hệ hoạ sỹ trên tờ tạp chí có tên tuổi này, cứ mãi xanh ngát và giàu sức sống như những cây hoa đại Nhà số 4. Mãi gắn bó với tất cả những ai đã đọc và yêu quý tờ Tạp chí này.

    Xin được chúc những hoạ sỹ vẽ cho lính luôn vững vàng cây bút ngát xuân


    Mùa Đông 2011




Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 26 Tháng Tám, 2013, 06:19:18 am


    Đại binh đoàn sinh viên …năm ấy

    Đã 38 năm rồi kể từ 1972 đỏ lửa ấy, mỗi khi tháng 7 về lòng tôi lại bổi hổi bồi hồi nhớ về những chuyến tàu ra trận. Đó là đoàn tàu xuất phát từ ga Hàng Cỏ Hà Nội chạy vô hướng Nam, chở “Đại binh đoàn sinh viên ” vừa nhập ngũ, tiếp máu cho cách mạng Việt Nam, vào đúng khi nước sôi lửa bỏng nhất!

    Trong cái rét tái tê của Hà Nội đầu đông 1972, những bà mẹ, những cô sinh viên tóc tết đuôi sam ấm áp áo bông đứng ở các ngả đường góc phố nơi những đoàn tàu chạy qua. Chỉ để ném những lá thư lên cửa sổ các toa tàu và nhặt những lá thư từ cửa sổ các toa tàu “bay” xuống... Những lá thư gấp hình tam giác, không phong bì mà ăm ắp nhớ thương. Hàng vạn lá thư đó, thắm thiết một tinh thần: “Ra đi vì nghĩa lớn, lòng không gợn bụi trần”...

    Hẳn những ai có dịp vào thăm Thành cổ Quảng Trị, sẽ ngạc nhiên trước một tượng đài kỷ niệm độc đáo mang hình một cuốn sách đang mở rộng. Cuốn sách đó chính là một lá cờ, góc có ngôi sao đỏ đang bay lên, kiêu hãnh. Phía trước dưới chân cuốn sách là một ngọn đuốc hình cây bút và dòng chữ “Đài chứng tích sinh viên - Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị 1972 ”. Giữa cuốn sách là 11 tấm phù điêu xếp hàng ngang kể về chiến công của các anh hùng chiến sĩ từ lúc nhập ngũ, chiến đấu đến ngày nay... Mặt sau lá - cờ - sách ấy là dòng chữ: “Nơi đây, Thành cổ Quảng Trị, bao nhiêu sinh viên đã từng tham gia chiến đấu, nhiều người trong số họ đã hy sinh anh dũng, các anh vẫn sống mãi trong lòng đất nước, nhân dân và đồng đội thân yêu”.

    Binh đoàn sinh viên ấy bắt đầu hình thành quãng tháng 9 năm1971, và tiếp đó từ các đợt tuyển quân suốt năm 1972. Kể từ sau Mậu Thân 1968, sau khi Bác Hồ đi vào cõi vĩnh hằng 1969, cuộc chiến ở mặt trận phía nam ngày càng khốc liệt, sinh viên các trường tạm gác sách vở lần lượt lên đường. Hầu như Trường Đại học nào cũng góp mặt sinh viên của mình... Đại học Tổng hợp, Đại học Nông nghiệp, Đại học Mỹ thuật, Đại học Y, Đại học Thể dục Thể thao, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Bách Khoa...

    Tới tháng 1 năm1972, cả những sinh viên năm thứ 5 đang làm luận án tốt nghiệp, rồi các thầy giáo trẻ, những nghiên cứu sinh vừa chân ướt chân ráo vừa tu nghiệp ở Liên Xô, Bắc Triều Tiên, Bungari, Tiệp Khắc, Trung Quốc về nước...cũng nhập ngũ ra trận. Nhiều người trong số các anh lính trẻ mang lon binh nhì ấy mang theo ra trận cả sách vở, đàn ghita. Có người tự may chữa lại quân phục cho đỏm dáng, sính đệm tiếng Nga khi nói chuyện, thích chuồn đi ngao du khắp mọi nơi khi có thể, ưa ghi nhật ký và làm thơ mọi lúc... Và đặc biệt chiến đấu quả cảm! “ Dũng cảm và lãng mạn” - hai phẩm chất đó có lẽ là đặc điểm nổi trội của những người lính sinh viên thời hoa đỏ ấy. Kể cả khi họ ngã xuống vì trúng đạn quân thù.


    Tích Minh hy sinh cạnh chiếc cặp vẽ còn nhiều ký họa ngổn ngang Hoàng, anh ra đi từ trường Mỹ thuật Việt Nam. Nguyễn Văn Thạc, nguyên sinh viên trường Đại học Tổng hợp - Khoa Toán, thì để lại những vần thơ trong trẻo: “ Đêm trắng trong... là đêm của em - Đèn thành phố và sao trời lẫn lộn - Đêm của anh xếp kín trời bom đạn - Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa”. Trong ca từ bài hát “Nếu tôi không trở lại” do anh sinh viên Nguyễn Quý Lăng (trường Đại học Tổng hợp) một người lính xe tăng, sáng tác có đoạn: “Nếu tôi không trở lại, chiều Hồ Tây còn xanh trong mùa thu - Nếu tôi không trở lại, hoa bằng lăng còn tím không em?”...

    Trong Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam giờ đây còn lưu giữ một bức tranh chân dung Bác Hồ vẽ bằng máu, là tác phẩm của sinh viên Lê Duy Ứng ngày đó khi anh làm lính sư đoàn 325, nhập ngũ từ trường Đại học Mỹ Thuật. Trên bức tranh đượm chất sử thi đó có dòng lưu huyết: “Ánh sáng - Niềm tin” anh viết trước khi ngất đi sáng 28/4/1975... bởi phát đạn chống tăng ác liệt bắn trúng xe tăng anh đang ngồi trên...

    Anh lính trẻ Hoàng Nhuận Cầm (rời Khoa Văn Đại học tổng hợp Hà Nội để ra trận) thì viết: “Mẹ ơi! trước lúc con vĩnh biệt - Con không kịp thấy chỗ con nằm - Con chỉ nhớ rằng sau tiếng nổ - vẫn quỳ trước Mẹ, trước vầng trăng”. Anh lính Phùng Huy Thịnh, sư 325 (cũng là sinh viên Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nôi) viết về vợ người liệt sỹ thế này: “Hoa xoan giờ bói không ra nữa - Nhà ngói dựng nên tường sát tường - Cô gái làng bên giờ tóc ngả - Chồng chỉ còn tên lúc thắp hương”.

    Hồ Tú Bảo, lính sư đoàn 325 (sinh viên Đại học Tổng hợp) viết: “Khi nào em trở về - Hãy lắng nghe cơn mưa rào mùa hạ - Hãy lắng nghe tiếng thì thầm cây lá - Hãy lắng nghe tiếng đất hát đêm đêm - Đấy là lời anh gửi cho em”. Nguyễn Hải Nghiêm (sinh viên Trường Đại học Mỹ thuật) viết: “Đồng đội tôi trong chiến dịch bảy hai - Xương thịt nhiều hơn đất đai Thành cổ - Bao đồng đội ra đi không về nữa, để đất đai mãi mãi tươi màu”...

    Cây bút trên tay những sinh viên ra trận đã hoá thành một vũ khí tuyệt vời! Cảm xúc cùng những trải nghiệm của họ đã là niềm tự hào của bao thế hệ người lính thời đánh Mỹ, những người vinh dự sống và chiến đấu, vượt qua những thời khắc gian nan mà tột cùng hào hùng của đất nước.

    Những người lính sinh viên năm xưa ấy, nhiều người đã hy sinh, vĩnh viễn nằm trong lòng đất mang theo nhiều bí mật hậu thế không dễ gì được biết đến! Lại có nhiều người sau đó bôn ba theo các nẻo đường huyền thoại đau đớn của chiến tranh, nào cuộc chiến trên sông rạch miền đất Chín Rồng, nào những trận thuỷ chiến ngoài hải đảo xa xôi, nào tả xung hữu đột biên giới phía Bắc 1979, nào lăn lộn trường kỳ với lối đánh hiểm hóc của đối phương ở biên giới Tây Nam (phần lớn hy sinh vì mìn lá và B40). Có người từng nằm rừng, đói khát trong những năm tháng truy đuổi Ful-rô ở Tây Nguyên…

    Tôi còn nhớ trong đêm diễn ra cầu truyền hình “ Một thời hoa lửa ” 2007, một người từng tham chiến ở phía bên kia đã xưng danh: “ Tôi là Nguyễn Thanh Quang - Toán trưởng, tiểu đoàn 6 - Thuỷ quân lục chiến - quân đội Sài Gòn cũ...”. Anh ta hoài niệm trong xúc động, khâm phục: “ Khi đó tụi tôi mới 18, 20 tuổi, ra trận có hải quân, không quân, pháo binh yểm trợ mà phía các ông hầu như không có. Chúng tôi tấn công vào các trọng điểm mà trước đó pháo binh và không quân của chúng tôi đã dập nát rồi, nhưng sức kháng cự từ phía các ông quả là mãnh liệt, hầu như không thể nào đè bẹp được... Tôi có biết tới Trung đoàn 48, sư 320 thép, trong đó có nhiều lính - sinh - viên.... Tôi rất thán phục những người lính đã hy sinh và đặc biệt hy sinh nơi Thành cổ. Tôi nghĩ ở mặt trận đó - thực tế Việt cộng đã thắng!”...

    Năm tháng trôi đi... Những người lính sinh viên trai trẻ ngày nào “Chân bước đi, đầu không ngoảnh lại ” nay đã trạc lục tuần, tóc muối tiêu, tóc bạc phơ phơ, nhiều người vẫn trong quân ngũ, hàm tướng, nhiều người giữ trọng trách trong các cơ quan Dân Chính Đảng, trong Chính phủ và Quốc hội, nhiều người trở thành văn nghệ sỹ nổi tiếng, được nhân dân yêu quý... Nhiều người trở thành Giáo sư, Tiến sỹ tài năng trong các trường đại học, có nhiều cống hiến to lớn cho Tổ quốc về khoa học và tiến bộ xã hội...

    Năm tháng gian nan, khổ đau, ác liệt của chiến tranh mà số phận mang lại dường như chỉ khiến các anh thêm yêu quý cuộc sống an bình.

    Nhìn họ tóc bạc phơ, mặt đầy dọc ngang sương gió vẫn đam mê tấu hài, đọc thơ, đàn hát... mỗi dịp kỷ niệm 30 tháng 4 hoặc 22 tháng12… lại thấy tự hào bởi các cựu chiến binh đặc biệt ấy đã làm tròn lời hứa trước Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1972, khi ông gặp toàn thể Binh đoàn sinh viên dịp Tết Nhâm Tý, cách đây vừa 38 năm. Khi đó Đại tướng thay mặt Quân uỷ Trung ương chúc Tết binh đoàn ở Non Nước (Ninh Bình). Lời chúc Tết sang sảng của vị tướng mùa Xuân năm ấy âm vang mãi trong tiếng hoan hô vang rền của binh đoàn lính trẻ. Và mãi mãi, trái tim cùng khát vọng của những người lính Binh đoàn sinh viên ấy là khúc tráng ca không thể nào quên trong bao chiến công vang dội của quân đội nhân dân Việt Nam, trong ký ức hào hùng đất nước.

    Hè 2010



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 27 Tháng Tám, 2013, 07:48:09 am


   
HỘI ĐỒNG NGHỆ THUẬT KHÔNG PHẢI LÀ ÔNG THÁNH!

    “THÁNH” là một vì tài cao đức cả, hy sinh vì nước vì dân. Quên mình trong sự nghiệp bảo vệ giá trị CHÂN - THIỆN - MỸ.

    Những người chưa “hy sinh” mà đã làm được những việc trên thì được gọi là “THÁNH SỐNG”.

    Những người có tài tiên liệu mọi việc, xét việc xuất chúng, nhân quần lắc đầu thán phục: “Thánh thật”!

    “HỘI ĐỒNG NGHỆ THUẬT” là một tổ chức nhân sự, (thường là số lẻ để khi biểu quyết phải có kết quả lệch). Tổ chức này haythì do dân bầu bằng phiếu kín, những người có số phiếu tín nhiệm cao thì vào H.Đ.N.T. Dở thì do trên cử (để thực thi nhiệm vụ của trên một cách thắng lợi triệt để), hay thì thành viên trong Hội đồng tự rút quyền tham gia giành giải thưởng (chắc vì họ thấy nếu tự chấm giải cho mình thì hơi xấu hổ). Dở thì toàn thể thành viên H.Đ.N.T được tham gia giành giải như thường (có giải hầu hết H.Đ.N.T đoạt các loại huy chương)...

    Ít khi có ai xung phong ứng cử mà vào H.Đ.N.T.

    Hội đồng nghệ thuật thường là những người có “lá gan” nhỉnh hơn người thường một tý (vì phải chấp nhận nghe “chửi” nhiều!). Những Nghệ sỹ “Nhớn” khi sáng tác vẫn “Văn mình, vợ người”. Không được giải, chửi H.Đ.N.T ngu - Được giải, khen sáng suốt!.

    Cũng khổ! Đúng là đầu sóng ngọn gió... 300 người tham gia dự giải - Chỉ 10 giải các loại, chắc 290 người không ưa! Thương thì rủa thầm, ghét thì chửi là ngu, chắc được 10 người khen, thằng giải “vàng” khen nức nở, giải “đồng” vẫn cười nhạt.

    Tối về, H.Đ.N.T người áp huyết thấp thì: “Kỳ sau đ... làm nữa, ôm rơm rặm bụng”. Người áp huyết bình thường, lục đống sách Phật ra, tự trấn an: “Mọi cái ở đời đều tương đối thôi... Đời là bể khổ...” Người áp huyết cao thì: “Có giỏi thì vào mà làm, đố làm hơn được trong cơ chế này”.

    Mà cũng đáng trách thật, quá khứ có H.Đ.N.T cho tuốt cả họ hàng hang hốc vào giải. Nhưng không có lẽ cấm anh em họ hàng con cháu ba đời Hội đồng không được vào giải, mặc dù công việc họ làm tốt thật (có lẽ phải có luật quy định dây mơ rễ má thế nào với Hội đồng thì không được vào giải).

    Có H.Đ.N.T cỡ toàn quốc, chấm giải xong (đúng theo nguyên tắc bỏ phiếu kín, theo đa số) mới tẻ ngửa ra là giải A người vẽ “thuổng” 90% tranh của 1 họa sỹ nước ngoài, giải C đưa tham dự cái tranh cũ vẽ đã 10 năm, sửa 1 tý... Nhưng không có lẽ, là H.Đ.N.T phải thông kim bác cổ tới mức trên thế giới ai vẽ cái gì mình phải biết hết... (Một ngày các đại họa sỹ toàn cầu đẻ ra hàng triệu tác phẩm).

    Bỏ phiếu kín, ba vòng, có trao đổi, tranh luận thẳng thắn... Vẫn có những kết quả không ngờ tới bởi có vị trong Hội đồng, mồm cứ “hay đấy, hay đấy” nhưng tay bỏ phiếu loại người ta ra! Cuối cùng, có lẽ ta nên chấp nhận sách Phật: “Mọi cái đều tương đối thôi”. Ở H.Đ.N.T này, ta yếu, sang H.Đ.N.T. khác, ta lại mạnh, bởi lẽ mỗi một H.Đ.N.T có một tiêu chí riêng, một trình độ riêng! Mà than ôi! Họ do chính chúng ta bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín! Họ có xung phong đâu!

    Tất cả chỉ tương đối thôi. Vượt lên trên nữa, chúng ta vẽ không nhất thiết phải để giành giải! (Các bậc thầy của chúng ta có người suốt đời không giải nào, Bác Hồ còn từ chối cả Huân chương SAO VÀNG cơ mà).

    Và chốt lại... Hội đồng nghệ thuật, không phải là ÔNG THÁNH! ;D



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 28 Tháng Tám, 2013, 07:40:58 am


    Núi Đanh một thuở…


    Trong cuộc sống ngắn ngủi vài chục năm chúng ta hiện diện trên cõi đời này. Có nhiều sự kiện xảy ra “bất ngờ”, “tình cờ” mà ta không lý giải được... Chỉ có thể đổ cho “số phận”! Nhưng dù số phận có hay không, ký ức thuở núi Đanh với tôi là mãi mãi.

    Hồi đó tôi đang là sinh viên Mỹ thuật năm cuối thì đột ngột nhập ngũ. Rồi vào bộ đội xe tăng (chứ không phải không quân hay pháo binh?). Một binh chủng mà lịch sử giao cho nó sứ mệnh thọc sâu trong trận đánh cuối cùng, chiếc xe tăng húc tung cổng Dinh Độc Lập và người lính cắm lá cờ đầu tiên báo hiệu chiến thắng cũng là một người lính xe tăng. Trong quán cà phê chiều mưa buồn, ngồi cạnh Quý Lăng, bạn chiến đấu cũ, tôi đặt ra câu hỏi này: “Vì sao tôi lại vào binh chủng tăng nhỉ?”, và nhiều “vì sao?” nữa... Lăng chỉ lắc đầu, thốt lên: “Thật là một thế hệ lạ lùng...”

    Thật lạ lùng, tôi cũng không lý giải được.

    Đầu năm 1972, đang học chỉ huy xe tăng ở Tiểu đoàn 10 (tiền thân trường sỹ quan Thiết giáp). Giữa những giờ tập lái và xạ kích, chúng tôi đào giao thông hào và phút giải lao, tôi lại lôi cây ghi ta từ hồi sinh viên ra nghêu ngao cùng đồng đội.

    Một chiều, trung uý Tiễu (trợ lý Tuyên huấn) bảo: “Binh chủng chuẩn bị thành lập đội Tuyên Văn, cần người đi học đàn accoocdeon. Tiểu đoàn cử cậu lên Tổng cục Chính trị học 3 tháng về thành lập đội...”. Với lính, được tạt qua nhà vài ngày là lý tưởng, đến đâu thì đến... Chán thì lại về đơn vị. Tôi nghĩ thế! Thế là về trạm 66 tập trung. Lớp học toàn con trai từ các binh chủng về. Chiều chiều, cả bọn lại ra sân đá bóng với các cầu thủ đội Phòng không Không quân. Trong một lần va chạm, tôi bị ngã gẫy một ngón bàn tay trái. Thầy Phùng Long bảo: “Còn học hành gì, trả cậu về đơn vị!”. Tôi về ngay, tụi bạn cùng tiểu đội nhắn lên: “Đơn vị sắp hành quân rồi, nghe nói vào Quảng Trị, không về sớm là ở lại làm công tác huấn luyện đấy!”. Tôi về đến Phòng Chính trị Binh chủng, lấy giấy tờ trở về Tiểu đoàn 10... Anh Trần Ba trợ lý Tuyên huấn xem đi xem lại lý lịch của tôi, thay vì cộp cho một cái dấu chuyển về đơn vị, lại nói: “Các Binh chủng khác đều có họa sỹ đại học, ta tự nhiên có một đồng chí học đã năm thứ 5 không sử dụng thì phí quá!”. Thế rồi anh Ba đi thỉnh thị ý kiến cấp trên.

    Ngay hôm đó, tôi ở lại Phòng Chính trị Binh chủng, làm chiến sỹ tuyên huấn. Được vượt cấp từ binh nhì lên hạ sỹ, nhiệm vụ là làm phóng viên chiến trường và dạy vẽ cho bộ đội, đồng thời mở xưởng in lưới để in tranh cổ động cho Binh chủng. Thật lạ, tôi nghĩ có lẽ vì trong lúc chờ anh Ba cộp dấu, tôi đã rút vỏ bao thuốc lá ra hý hoáy vẽ đàn gà tăng gia của ban Tuyên huấn. Anh Ba để ý nên mới “soi” kỹ lý lịch của tôi. Nếu không, chắc tôi đã trở lại đơn vị rồi.

    Ban Tuyên huấn hồi đó nằm trong một toà nhà hai tầng đổ nát dưới chân núi Đinh gần Tam Đảo (còn gọi là núi Đanh). Toà nhà đổ bởi những trận oanh kích của phi cơ Mỹ. Tôi ở cùng anh Hữu Thỉnh (nhà thơ), anh Lê Đức Tuân (Nhà báo), anh Hoàng Qúi (hoạ sỹ của binh chủng), anh Quốc Lập (Nhiếp ảnh gia của ban Quân Lực). Gần đó là toà nhà đổ nát thứ hai chỉ còn tầng một dành cho đội Tuyên Văn, mà ở đó, có những người sau này khá nổi danh: Ca sỹ Bích Việt, văn công Tổng cục chính trị, ca sỹ Đặng Vũ Thảo sau này là giám đốc Xưởng phim Hoạt hình Trung ương, anh Thanh Hùng, sau là người dẫn chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam. Một thời gian sau, thủ trưởng Phòng Chính trị nhận thấy tay họa sỹ này ở đâu là ở đấy bừa bộn, nhem nhuốc không đảm bảo quân phong quân kỷ của quân đội, bèn cho tôi cùng nhà thơ Nguyễn Tuấn xuống căn phòng duy nhất còn lành lặn của toà nhà thứ ba gần đó để tha hồ mà “bày”. Chính tại nơi này, bớt sự kèm cặp của các thủ trưởng, lính tráng chúng tôi đã để lại nhiều “hồi ức binh nhì” không thể nào quên!

    Tháng 9 năm1972, anh Lưu Ngọc Ẩn, trợ lý tuyên huấn bảo tôi: “Ngày 5 tháng10 là kỷ niệm 13 năm thành lập Binh chủng. Giao cho cậu vẽ một tranh áp phích dài 5m cao 3m. Nêu cho được khí thế tiến công hợp đồng tác chiến của binh chủng. Cậu cần những gì, bột màu, bút vẽ, bột nếp quấy hồ, nồi quân dụng, nhân lực phụ giúp đóng đinh leo thang, căng pa-nô... cứ bảo tớ”.

    Sau khi kê một bảng dài, đến khoản bột nếp quấy hồ, anh Ẩn bảo tôi: “ Tớ không ước lượng được 15 mét vuông pa-nô cần bao nhiêu bột. Cậu cứ xuống quân nhu, có bột nếp tẩm thuốc trừ sâu (chống mọt) rồi đấy”. Tôi giãy nảy: “Có thuốc trừ sâu thì vẽ làm sao được, mà để chống mưa nắng, chắc cần khoảng 7kg anh ạ!” (về sau chính tôi cũng phát hoảng vì thừa quá nhiều - thực tế chỉ cần 7 lạng thôi). Anh Ẩn bảo, ra chợ mua, về thanh toán. Tôi quấy một nồi quân dụng to, đổ cả 7kg bột vào, đặc quá, sau nhiều lần thêm nước vào vẫn đặc, tôi phải múc ra chỉ một bát ô tô dành cho việc vẽ. Trong lúc đó các chiến sỹ khác lục tục sửa soạn, nào mì chính, nào muối, nào đường, cho nồi bột nếp ngon ơ. Ai cũng biết lính tráng đang tuổi ăn tuổi ngủ, ăn xong đã lại đói ngay. Bữa đó tôi khao anh em một trận cháo bột nếp không người lái “toé phở”. Nhớ đời! Hơn 30 năm sau có người còn nhắc, thật đúng “Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ!”.

    Lúc tôi chuẩn bị phóng hình cho bức áp phích hoành tráng đó, đồng chí Chủ nhiệm chính trị bảo: “Đưa phác thảo tôi duyệt!”. Tôi đưa lên phác thảo dài 50cm cao 30cm… phía trước là hình ba chiến sỹ, một chỉ huy, một lái xe, một pháo thủ tạo thành nhóm chính, phía sau là các xe tăng xông lên ào ào dưới bóng cờ giải phóng... Thủ trưởng bảo: “Vẽ thế mà cũng đòi đại học... Tớ muốn ba chiến sỹ phải ngồi trong tháp pháo đàng hoàng cơ!!!”. Tôi choáng, trình bày gọn gàng, rằng muốn vẽ được thế chỉ có vẽ xe tăng bằng... thuỷ tinh thôi!

    May sao, đúng lúc gay cấn có anh Ẩn xen vào… Không biết anh ấy giải thích thế nào, kết quả cuối cùng vẫn vẽ theo phác thảo cũ. Rõ may. Anh Hoàng Quí và anh Quang Dũng (người chơi ghi ta đội Tuyên Văn) giúp tôi bôi màu và kẻ chữ. Bức panô đầu tiên vẽ cho binh chủng treo ngay ngoài cổng doanh trại cây số 6, đã để lại dấu ấn trong lòng tôi cùng đồng đội không bao giờ quên.

    Ngay sau đó, tôi nhận lệnh in 2000 tranh in lưới, vẽ về sức tiến công vũ bão của bộ đội xe tăng. Đó là lúc đơn vị đã sơ tán vào làng Gô. Tôi căng một lều bạt làm xưởng in, dưới gốc hai cây hồng. Trên bãi cỏ, giàn dây thép được căng ra phơi tranh. Những bức tranh cổ động ấy sau đó được đóng thành cuộn, gửi xuống các đơn vị chiến đấu, dán trên tháp pháo, đã góp sức động viên tinh thần bộ đội đánh thắng quân thù. Sau đợt in lưới, anh Ẩn bảo tôi: “Sắp tới cậu theo xe đoàn công tác vào Quảng Trị, tới nơi thì tách ra đi độc lập. Cầm cái máy ảnh Exacta và mấy cuộn phim vào chụp ảnh và mở lớp dạy vẽ trong chiến trường. Nhớ ký họa nhiều vào nhé. Bộ đội rất cần văn nghệ đấy!”... Chỉ thị ngắn gọn vậy thôi mà bao tin cậy gửi gắm.

    Vào đến Gio Linh, tôi báo cáo với thủ trưởng Bùi Tùng xong xuôi là xuống đơn vị, anh Ngô Nhỡ làm tiểu đoàn trưởng. Cửa Việt trắng xoá cát, biển xanh đến rợn người. Tôi ở hầm của trung đội trưởng Tiu, cùng Dĩnh và Cường, vẽ sinh hoạt bộ đội, chân dung dũng sĩ. Ban ngày thì “hòa bình” mà đến đêm đánh nhau chí chát... Lúc chia tay, Cường tặng tôi một con dao găm tự chế và một trái lựu đạn “mỏ vịt” còn láng màu sơn. Rồi tôi lên A Lưới - A Sầu bên Trường Sơn Tây, giáp Lào. Ở đó, cùng đại đội 4 của anh Bùi Quang Thận (người cắm cờ trên Dinh Độc Lập sau này), vừa chiến đấu vừa vẽ.

    Những ký họa trực tiếp ở chiến trường, những lớp dạy vẽ, những triển lãm ký họa giữa rừng, những buổi nói chuyện văn nghệ sau giờ chiến đấu đã góp phần nâng tinh thần bộ đội xe tăng lạc quan yêu đời hơn. Đó cũng chính là những tư liệu vô cùng quý giá cho sáng tác của tôi sau này. Cuối 1974, binh chủng cử tôi về tham gia triển lãm Mỹ thuật toàn quân. Một trong những ký họa tôi đã chuyển thành tranh tham gia hội quân mỹ thuật lớn nhất ngày đó, là bức sơn mài “Vượt trọng điểm” - tiêu biểu cho bộ đội Tăng - Thiết giáp. Hiện bức tranh này đang lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia. Ngoài ra là những ký họa, những bức ảnh chụp tại chiến trường phong phú các đề tài chiến đấu, tình quân dân, lấy xe địch đánh địch, chống lầy, vượt suối hành quân... tôi gửi đăng tải trên “Bản tin thiết giáp ” và Báo Quân đội nhân dân.

    Từ chiến trường Cửa Việt, tôi nhận được hai tin vui một lúc. Một là, do đề nghị của Bộ Quốc phòng, trường Cao đẳng Mỹ thuật VN đã cấp bằng tốt nghiệp đặc cách cho tôi (vì thực ra khi tôi nhập ngũ cũng chỉ còn 3 tháng nữa là hoàn thành luận án tốt nghiệp đại học). Tin vui thứ hai, tôi được phong vượt cấp lần thứ hai từ hạ sĩ lên thượng sĩ. Ngày nay nhìn các chiến sĩ trẻ đeo hàm cấp tá đầy đường thì dễ thấy tôi ngày đó ‘’buồn cười”, vui vì lên thượng sĩ. Có gì mà khoe? Nhưng ngày ấy, từ binh nhì, sau hai năm lên thượng sĩ không phải là đùa. Tôi vẫn tự hào thế... Giá trị cuộc sống đâu chỉ “đong” bằng các danh hiệu mà gói trọn những kỷ niệm nhỏ nhoi đời thường chẳng thể nào quên!

    Những lính xe tăng ngày ấy nay đã “lên ông, lên bà” cả rồi. Nhưng những kỷ niệm nhỏ nhất trong lòng người lính, tuổi thanh xuân vô tư, trong sáng, hào hùng ngày ấy không sao quên được. Cứ 30 tháng 4 hàng năm tất cả lại tề tựu đông đủ, từ Phú Thọ về, từ Thái Nguyên xuống, từ Bắc Ninh sang, từ Thành phố Hồ Chí Minh ra... lại cùng nhau hát vang bài ca truyền thống “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”. Rồi cùng nhìn đồng hồ đến 11 giờ 30 phút, tất cả cùng reo lên: “Vào rồi, cắm cờ rồi...” hát vang các bài ca truyền thống.

    Có những giọt nước mắt âm thầm chảy vào trong. Mặn chát! ngọt bùi! ...

    Tôi và Nguyễn Quý Lăng vẫn ngồi trong cà phê chiều mưa buồn. Sau những sáng tác nhạc đầy ấn tượng của anh, như “Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Nếu tôi không trở lại”, “Khúc hát đánh rơi”..., người nhạc sĩ ấy vẫn ngồi như mất hồn và lẩm bẩm: “Thật là một thời lạ lùng, một thế hệ kỳ tài...”.

    Tại làm sao một lớp người lớn lên trong hầm trú ẩn, đầu đội mũ rơm, tay cầm đèn dầu nhảy xuống hầm còn học, tay không rời Lecmantôp và Erenbua. Mê Betthoven và Tarêga. Ăn khoai, sắn thay cơm mà chiều chiều vẫn bập bùng ghita với: “Chiều Maxcơva”, “Cachiusa”, “Tuổi thanh xuân yêu quý”... Rồi đột nhiên họ gác tất cả lại, cầm khẩu AK leo rừng lội suối, đói khát, hy sinh với lòng tin vô bờ vào chiến thắng!...

    “Thật là một thế hệ lạ lùng và kỳ tài nữa...”. Mà “số phận” mỗi con người dường như không thể tách rời “số phận” dân tộc. Một dân tộc tài ba và bi tráng!



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 29 Tháng Tám, 2013, 07:51:26 am


    SỰ QUYẾT LIỆT CỦA NGHỆ SỸ

    Từ thuở khai thiên lập địa. Từ khi “con người” có mặt trên trái đất này, trong cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên và thú dữ, họ đã phải vật lộn quyết liệt, không khoan nhượng... “khoan nhượng” đồng nghĩa với cái chết! Chính vì vậy con người không lúc nào rời bỏ “quyết liệt”. Quyết liệt như là biểu lộ nhân cách sống trong cuộc hiện diện bất đắc dĩ trên cõi thế này.

    Nhưng sự “quyết liệt” ở nghệ sỹ còn quyết liệt hơn. Bởi vì sự quyết liệt đó thuộc về một loại người có tri thức, hiểu biết, tài năng, quảng đại hơn người thường.

    Sử Tàu có ghi, để chinh phục lòng tin của Ngô vương Phù Sai, Câu Tiễn đã từng phải nếm phân để chữa bệnh cho Ngô vương rồi sau đó giết chết Phù Sai. Sử Tàu cũng ghi, để chinh phục lòng tin của Khánh Kỵ, Yêu Ly đã tự chặt tay mình và hy sinh vợ con, để sau đó tiếp cận và đâm chết Khánh Kỵ.

    Đó là những “nghệ sỹ” trên chính trường. Chuyện quyết liệt trên “nghệ trường” bi hài hơn nhiều...

    Trong đám chơi piano đã có người rạch kẽ ngón tay để ngón tay dài hơn, mong chơi đàn “siêu” hơn.

    Trong đám mê vẽ sơn mài (sơn ta), nhưng cơ địa không chịu nổi, mặt mũi sưng húp do lở sơn (dị ứng), bao lần rửa mặt bằng nước vôi, xát lá khế... không khỏi, đã định vê một cục sơn ta nhét vào quả chuối nuốt chửng... mong rằng sau đó sẽ hết lở sơn!

    Để có những ký hoạ thật sự kỹ càng, họa sỹ Huỳnh Văn Thuận ngồi vẽ nhiều ngày liền ở bến phà Long Đại, cái túi bom nơi trọng điểm, bất cứ lúc nào cái chết cũng có thể mang ông đi.

    Để giữ gìn, tôn vinh, tổng kết vốn văn hóa của ông cha trên mọi phương diện. Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng bỏ cả nhà cửa, bán cả xe máy... lấy tiền đi thực địa, và cho ra đời 5, 6 cuốn sách đồ sộ mà nhiều giáo sư, tiến sỹ có mơ cũng không làm được. Cuốn về Điêu khắc cổ Việt Nam, cuốn về tượng Mồ Tây Nguyên, cuốn về Đồ hoạ Việt Nam... cứ âm thầm, lặng lẽ làm ... quyết liệt!

    Trịnh Quang Vũ, là một họa sĩ đành hy sinh nghề vẽ. Lao vào nghiên cứu vốn cổ dân tộc, chủ yếu về trang phục người Việt cổ qua các triều đại. Để làm được điều đó ông đã phải lăn lội trong nước, ngoài nước, qua các bảo tàng, các viện nghiên cứu về y phục dân tộc. Nhiều lần phải chụp ảnh trộm, nhiều lần phải nhịn đói, nhịn khát trong hành trình sưu tập của mình... một cách quyết liệt! Ông đã ra rất nhiều đầu sách, viết nhiều bài báo nghiên cứu phê bình về trang phục của người Việt hàng nghìn năm trước. Thật là một đóng góp đáng kể cho sự bảo tồn văn hóa nước nhà.

    Nhưng cũng nhiều người “quyết liệt” theo “kiểu” riêng của họ. Họ luôn thông minh trong việc phát hiện khuyết điểm của người khác, nói xấu, đá xoáy... mặc dù mình cũng không hơn gì. Họ quyết liệt bằng lưỡi, luôn cho mình là thiên tài, là đại thụ không gặp thời, xóa sổ người này, phỉ báng người kia. Những khi họ lớn tiếng chửi bới, phê phán, nhiều người sợ và đương nhiên họ cũng “gặt” được một số lợi nhuận, chộp được một số hợp đồng, “hái” được mấy cái giải thưởng... Được mấy cái đó, họ hãnh diện, vênh vang như chàng ăn ghé cỗ cưới trong cổ học tinh hoa.

    Nhưng “diễn” mãi rồi cũng lộ vở, chiếc thùng phi dung tích càng lớn, thì tiếng kêu càng to, mà tiếng càng to thì dễ bị phát hiện là rỗng. Hơn nữa, họ chửi cả những người, những tổ chức đã ban phát bổng lộc cho họ (theo thói quen “chửi có thưởng”)... Mà quên rằng, truyền thống của nhân dân Việt Nam khinh bỉ những kẻ “vong ân bội nghĩa”!

    Họ rất quyết liệt khi đòi quyền lợi cá nhân, một bậc lương, một danh hiệu, một tiêu chuẩn con con...

    Họ luôn tỏ ra bất cần một cách quyết liệt, bất cần mà lại quyết liệt thì càng chứng tỏ là “rất cần”...

    Gần nhà tôi là một danh hoạ đã ngót 90 tuổi, ông Nguyễn Tư Nghiêm. Ông lùi lũi vẽ hàng ngày, sợ tiếp khách, tâm hồn trong suốt như trẻ thơ, thấy ông tìm hiểu về âm dương ngũ hành (để áp dụng vào việc phối màu), thấy ông lùi lũi mài tranh cạnh chú chó lông xù trung thành... tôi đọc thấy sự quyết liệt âm thầm của ông. Khi chuyện trò với tôi, ông luôn ngạc nhiên, sao ở đời lại có nhiều cái hay như thế?...

    Gần trường tôi lại một nhà phê bình nghệ thuật lớn nữa, ông Hoàng Ngọc Hiến, tiếp tôi, ông nhẹ nhẹ đưa ra những nhận xét chính xác và cứng hơn thép. Ở tuổi 80, ông đi hội thảo nước ngoài như thanh niên để quảng bá văn hóa Việt, tâm hồn trong veo... Mỗi khi thấy tôi kể về một ai đó tài giỏi... Ông lại ồ lên như một đứa trẻ: “Tay ấy “cừ” nhỉ!” hoặc “Sao họ lại tài thế?” hoặc “chi tiết hay quá...”.

    Tôi thường hay tâm sự, trao đổi về nghề với họa sỹ Mai Long, với tôi, ông cởi mở một cách hồn nhiên các “bí pháp” về nghề thu thập được suốt 60 năm. Về sự đời, có lần hai người bàn về lòng đố kỵ của tiểu nhân và thủ đoạn tung tin vu khống. Ông lặng lẽ đẩy quyển OSHO ra trước mặt tôi, tôi đọc được ở tác giả mà cả hai yêu quý những dòng sau: “Với những thủ đoạn vu khống thô bỉ của tiểu nhân, đừng mất thời gian vô ích. Ta chỉ nên khinh bỉ và thương hại...”. Trong Tuệ Ngữ của Đạt Lai Lạt Ma có câu “Trong khoảnh khắc mấy chục năm hiện diện ngắn ngủi trên trái đất này, tốt hơn hết là làm được điều gì đó tốt cho mình và cho người khác”. Sách Phật cũng có câu “Kẻ nhổ nước dãi lên trời thì nó sẽ bắn lại chính mặt mình”. Riêng tôi, tôi cũng ngộ rằng, cuộc đời phải có đủ các hạng người, mới phong phú “Thiếu một hạng trong 360 hạng, không thành cuộc đời”. Bản thân mình cũng còn bao nhiêu là khiếm khuyết. Cuộc đời đúng là “nhân vô thập toàn”.

    Hầu như các ông không thích chê ai, hay là các ông có khiếu nhìn ra nét đẹp của “những người sống quanh ta”? Hay là các ông thấy có khen hay chê thì nhân loại cũng thế thôi... Ở các ông, tôi thấy sự thông minh, uyên bác của một học giả, sự lão luyện của một triết gia, và sự ngây thơ của em bé, sự thành thực của con người. Gần các ông, ta thấy trái tim dịu xuống, không có sự hằm hè, hằn học của bầy sói (kể cả là sói khôn ngoan). Ta thấy cuộc sống đáng tin hơn, đẹp hơn. Chính các ông mới là những người quyết liệt, quyết liệt yêu cái đẹp trên cõi đời này, quyết liệt dùng tài năng và tác phẩm để làm vũ khí tiêu diệt cái ác, cái xấu....

    Nhìn khối lượng tác phẩm khổng lồ các ông đã làm và đang làm dang dở, tôi thấy lòng ham muốn báo thù quyết liệt như thế nào. Dường như mối thù chống lại các ác này được tích lại từ mấy nghìn đời trước của bao nhiêu oan khuất, nhân quả mà chỉ có trí thức văn hóa mới có được, cộng với sự khinh bạc của hiền nhân am hiểu sự đời.

    Than ôi! Đời người là mấy nghìn lần mặt trời mọc và lặn, mặt trăng nhú và khuất. Sự quyết liệt của một con người lớn đến đâu? Nó phụ thuộc vào những gì khối óc, bàn tay nghệ sỹ để lại....

    Còn âm thanh của những chiếc thùng lại sẽ tan biến vào hư ảo mà thôi.

    Giáp tết Canh Dần L.T.D



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lexuantuong1972 trong 29 Tháng Tám, 2013, 10:10:55 pm
Những tập tản văn của Lê Trí Dũng

Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân - 2006

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3241_zpsdf868ff6.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3241_zpsdf868ff6.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3245_zps4c0bf4a6.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3245_zps4c0bf4a6.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3242_zps784b0e07.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3242_zps784b0e07.jpg.html)

Những hòn cuội nhặt dọc đường - 2013

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3243_zpsf89cd225.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3243_zpsf89cd225.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3244_zpsd8337f02.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3244_zpsd8337f02.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3246_zps187f3139.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3246_zps187f3139.jpg.html)

Những cuốn sách mà Lê Trí Dũng vẽ bìa và minh họa

Âm vang dòng Thạch Hãn

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3238_zps8ca508fc.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3238_zps8ca508fc.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3240_zps9006a129.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3240_zps9006a129.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3239_zps9878e758.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3239_zps9878e758.jpg.html)

Khúc tráng ca Thành Cổ

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3237_zps13b44475.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3237_zps13b44475.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3236_zps06f2eeab.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3236_zps06f2eeab.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3235_zps86f316da.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3235_zps86f316da.jpg.html)

(http://i1302.photobucket.com/albums/ag136/thanhcoquangtri2012/DSCN3234_zps9dcfcc5b.jpg) (http://s1302.photobucket.com/user/thanhcoquangtri2012/media/DSCN3234_zps9dcfcc5b.jpg.html)



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 30 Tháng Tám, 2013, 09:23:02 am


   
Chuyện kể về những bức tranh dioxin của tôi

    Trong cuộc đời sáng tác của mình, ngẫm ra có những quãng thời gian lắm sự lạ. Có quãng chỉ say sưa vẽ được một đề tài, càng vẽ càng hiệu quả. Có những lúc lại vẽ được nhiều đề tài một lúc, ý tưởng ào ạt nảy ra dường như không cản lại kịp. Có cả những lúc…không biết vẽ gì! Sơn, màu, toan, vóc bày sẵn, lòng trống rỗng không cầm nổi cây bút lên… Những lúc ấy, có rủ nhau đi uống bia thì cạn cốc rồi, e họng vẫn đắng nghét.

    Lại có những đề tài cứ trở đi trở lại vào những lúc không ngờ nhất, như có cái duyên thiên định. Giống như ta gặp lại một người thân. Vẫn hình vóc ấy, vẫn phong tư ấy, mà hồn vía mình gửi gắm lại không hề đơn nhất. Những bức tranh tôi vẽ về dioxin có lẽ nằm trong trường hợp này. Không đơn nhất cả về suy nghĩ, phong cách và dấu ấn.

    Đó là những bức tranh về dioxin vẽ những năm 1990, 1992, 2009 và 2011 của tôi. Ở những địa điểm hết sức cách xa nhau, tại Việt Nam, Mỹ, và Úc. Trong những tình huống, tâm trạng khó thể nào quên được. Có thể xem đây là khát vọng đưa tình cảm dân tộc chủ nghĩa vào mỹ thuật thể hiện các đề tài cách mạng. Đó là chuyển tải một tấm lòng hiến dâng cho quê hương Việt Nam và hậu thế, sao cho các tác phẩm hội hoạ đề tài này nhiều chất nhân văn hơn chất tuyên truyền và nhờ vậy, càng thực sự thuộc về tâm hồn đời sống Việt Nam, dù sáng tác dưới bầu trời nào.

    Bức tranh đầu tiên tôi vẽ về dioxin cách đây 21 năm, năm 1990. Khi ấy, đất nước chúng ta đã ra khỏi cuộc chiến với Mỹ tròn 15 năm, nhưng trên mình còn đầy thương tích, lại mới thoát thời bao cấp. Nhà văn Nguyễn Quang Lập bảo: “Chưa có thời nào nước ta đói như thời này”. Người bình thường khổ một, những người lính trở về nhiễm chất độc dioxin chắc chắn khổ gấp mười, gấp trăm lần.

    Tôi nhớ đó là năm 1990. Trung tâm Wiliam Joiner - Tổ chức Nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam của Mỹ - kết hợp với Chương trình Nghệ thuật Đông Dương có tổ chức một cuộc triển lãm hội hoạ tại Mỹ và Việt Nam, có sự tham gia của 20 hoạ sĩ Việt Nam và 20 hoạ sĩ Mỹ đều là những cựu chiến binh, nhiều người từng tham chiến tại Việt Nam.

    Cuộc triển lãm này mang tên “Cái nhìn từ hai phía”. Khai mạc tại Boston, một thành phố lớn của Mỹ, ngay sau đó các tác phẩm bày tại triển lãm của 40 hoạ sĩ cựu chiến binh hai nước được chu du 15 bang nước Mỹ, sau đó triển lãm tại Hà Nội, Việt Nam và bế mạc.

    Tôi là một trong 20 hoạ sĩ Việt Nam tham gia triển lãm đó, góp mặt với bức lụa “Cánh rừng dioxin”.

    Bức vẽ đó không lớn, hình thù sống động, tuy dựng hình chỉ bằng những nhát bút tung phá là chủ yếu điểm thêm đôi nét chi tiết. Hai bên bức tranh là một cánh rừng cây trụi lá, một màu đen sì của đạn bom và hoá chất. Chính giữa, một đoàn quân mờ dần trong nền trời đỏ rực hoàng hôn da cam. Có một chi tiết đủ để nổi bật bức tranh về cánh rừng chết, đó là hình của một thai nhi dị dạng với cuống rốn loằng ngoằng in trên bầu trời da cam. Điều đó như sự cảm thông nỗi đau cả chiều rộng vũ trụ bao la, hoà nhập cùng chiều sâu tâm linh, nỗi đau thế hệ...

    Đầu năm 1992, một gallery cũng ở Boston, Mỹ có tên APDISSON, vì đặc biệt chú ý tới bức tranh nói trên của tôi, thông qua Trung tâm Wiliam Joiner đã mời tôi sang bày triển lãm cá nhân Lê Trí Dũng - Những bức tranh đề tài chiến tranh và hậu chiến, cùng một nhiếp ảnh gia cựu chiến binh Mỹ có tên Wiliam Sohrt. Triển lãm mang tên “Hoà Bình”.

    Một kỷ niệm khó quên tại triển lãm cá nhân của tôi trên đất Mỹ 1992 này, là tôi đã vẽ trong 6 tiếng đồng hồ một bức tranh cũng với đề tài dioxin có chiều kích hoành tráng bất ngờ, cao 3 mét ngang 4 mét.

    Hồi đó, ta và Mỹ chưa bỏ cấm vận nên thủ tục làm visa khá loằng ngoằng. 12 giờ đêm hôm đó tôi mới tới được nơi bày triển lãm “Hoà Bình” trong cái lạnh 20 độ âm, nghĩa là tôi tới Bostol chậm hơn so với dự kiến. Ban Tổ chức nói với tôi: “Năm giờ chiều mai khai mạc triển lãm rồi. Giấy mời đã gửi đi hết. Còn mảng tường chính diện vẫn để trống đợi hoạ sỹ Lê Trí Dũng tới vẽ”. “Hãy cho tôi ngủ 6 tiếng. Sáng mai ta sẽ mua hoạ phẩm và tôi cần khoảng 6 tiếng để hoàn thành bức tranh này”, tôi trả lời họ.

    Sáng sớm hôm sau, đầu tôi căng ra như dây đàn vì vừa đi mua hoạ phẩm, vừa phải nghĩ phác thảo cho bức tranh tường khổ lớn… Khoảng 3 giờ chiều tranh hoàn thành, tôi mệt như bị say sóng. Còn nhớ, ngay bên dưới bức tranh lớn đó, Ban Tổ chức có lời đề từ giới thiệu: “Bức tranh này được hoàn thành trước khai mạc hai giờ, được hoạ sĩ Lê Trí Dũng - một hoạ sĩ Việt Nam giàu tình cảm - sáng tác trong năm giờ với nỗ lực phi thường của anh”.

    Bức tranh này vẫn đề tài dioxin nhưng tôi vẽ chất liệu acrylic. Chính giữa là một thai nhi dị dạng, phía dưới là một bát hương nghi ngút . Bên phải là một rặng tre có đàn cò trắng và một chú bé cưỡi trâu thổi sáo. Dưới rặng tre là rất nhiều xác cá chết và những quái thai súc vật… Trên cùng, tôi cho một đàn chim hoà bình tung cánh và một cánh diều có hai em bé Việt Nam và Mỹ ngồi trên. (Bức tranh này hiện vẫn được lưu giữ tại gallery APDISSON – Boston – Massachusset - Mỹ).

    Thấm thoắt 17 năm trôi qua sau lần triển lãm cá nhân của tôi tại Mỹ, tháng 4. 2009, một tổ chức tên CASULA POWER house Arts centre tại Úc mời tôi tham gia một triển lãm về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Triển lãm có cái tên khá lạ, “Nam Bang” (Tiếng nổ ở Việt Nam). Do thời gian chuẩn bị gấp gáp, tôi trình bày với Ban tổ chức sẽ sáng tác ngay tại Úc. Tới Úc, tôi lập tức đi mua khung căng toan. Vẽ trong hai ngày thì xong. Tôi buộc phải dùng acrylic cho mau khô thay vì sơn dầu là chất liệu tôi ưa dùng. Bức này tôi vẽ một tàu lá chuối to chính giữa. Phía dưới tàu lá là một bào thai màu da cam gào thét. Trên trái là một chiếc mũ tai bèo quân giải phóng Việt Nam, trên phải là một chiếc mũ sắt có lưới nguỵ trang của biệt động Mỹ. Toàn bộ nền tranh tôi đổ acrylic chảy ròng ròng nhiều màu. Góc dưới bên phải trên chữ ký tác giả là câu nói của một nguyên thủ Mỹ: “Da cam - Nỗi đau của những người lính hai chiến tuyến”.



    Triển lãm “Nam bang” hội tụ khá nhiều tác phẩm gây ấn tượng mạnh với người xem, đó là những tác phẩm hội hoạ về nhà tù Côn Đảo, về sai lầm của các tổng thống Mỹ với cuộc chiến này. Bức tranh vẫn với đề tài dioxin của tôi có tên “Hậu chiến” đã gây sự chú ý không nhỏ của công chúng. Tác phẩm này đã đẩy hội hoạ tiếp một bước nữa tới giải phóng nó khỏi những ràng buộc hình thức, và trình bày một thứ hội hoạ hiện đại mang nhiều dấu ấn văn hoá dân gian Việt Nam hơn là dấu ấn của các trào lưu hiện đại chủ nghĩa chấu Âu.

    Còn nhớ trong lễ khai mạc, một phóng viên thuộc một tổ chức nghiên cứu về dioxin hỏi tôi: “Trong chiến tranh ông tham chiến ở vùng nào? Ở đó có bị rải chất độc dioxin?”. Tôi nói phần lớn tôi ở Quảng Trị, có một thời gian đóng quân ở A Sầu A Lưới thuộc tây Thừa Thiên - Huế… Người đó ngạc nhiên: “Theo tôi biết đó là vùng bị nhiễm độc vào loại nhất Việt Nam. Vậy ông có bị di chứng gì không?”. Tôi bảo với họ, lính tăng chúng tôi ít bị, tôi thì không, trong khi đồng đội tôi ở bộ binh bị nhiều lắm. Có lẽ tuỳ thể trạng sức khoẻ và hoàn cảnh… Nhưng dioxin quả là một thảm hoạ mang tính toàn cầu. Có lẽ đó là lý do đề tài mang tính nhân loại này thu hút sự quan tâm của hoạ sỹ các màu da, nhiều thế hệ. …

    Hoàng hôn, lễ khai mạc xong từ lâu, tôi bước rảo trong cánh rừng bạch đàn xanh thanh bình, thầm nghĩ mình yêu quý đất nước mình biết bao dù không phải bao giờ cũng sử dụng các đề tài chiến tranh cách mạng để bộc lộ lòng yêu nước. Bù vào đó tôi tìm thấy ở sự vật, cảnh sắc của đời sống thường nhật cái ích dụng cho sự bộc lộ cá nhân riêng biệt.

    Dù vẽ đề tài nào, không khí và cảm xúc trong tác phẩm hội hoạ của tôi đều “phát ngôn” về đất nước trong truyền thống, một Việt Nam vẫn còn nhắc nhở tới lịch sử thời chiến tranh và chuẩn bị cho sự bộc lộ đương đại của mình. Và vì vậy, những bức tranh đề tài dioxin của tôi với những lần tham gia triển lãm tại nước ngoài mang lại cho hội hoạ của riêng tôi một văn cảnh mới, một biểu cảm mới. Là cơ hội để tôi tự nhìn vào mình và làm phát lộ những tinh chất của truyền thống Việt Nam.

    Những cuộc triển lãm khó quên về chiến tranh đã qua giúp nhiều hoạ sĩ, trong đó có tôi, tự tìm thấy mình ở ngã tư giao thoa lịch sử Việt Nam hiện đại và vô thức và cũng đã giữ cho hội hoạ mình niềm tự hào riêng đó./.

    27/7/2011

@LXT: Cảm ơn quê đã giới thiệu một số hình ảnh về LTD


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 31 Tháng Tám, 2013, 07:50:21 am


    Đâu những nụ cười trầm tư tranh luận?

    Trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong Văn đàn nghệ thuật nổ ra cuộc tranh luận Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh, một trong những cuộc tranh luận lớn nhất và kéo dài nhất (1935-1939). Hải Triều là người đứng đầu của phái "Nghệ thuật vị nhân sinh", đề cao giá trị nhân sinh của những tác phẩm như Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, hay Lầm than của Lan Khai mà ông gọi là những tác phẩm "tả thực xã hội", đồng thời kịch liệt phê phán quan niệm "Nghệ thuật vị nghệ thuật" - Ông được coi là người châm lửa cho cuộc "bút chiến" này, khi viết bài "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh" phản bác lại bài "Hai cái quan niệm về văn học" của Thiếu Sơn.

    Ông cho rằng nghệ thuật là vì nhân sinh và không thể đặt ra ngoài nhân sinh và xã hội, đặt nghệ thuật ra ngoài nhân sinh là "nguỵ biện", "phi lý" và "gian trá.

    Trận bút chiến gay go… Rồi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ diễn ra. Rất nhiều văn nghệ sĩ lao mình vào cuộc trường kỳ gian khổ, để lại nhiều tác phẩm vô giá cho dân tộc, đầy phong vị lãng mạn với hình ảnh “Sương gió chốn sa trường”, “Ngựa hồng côn bạt”... Trận mạc càng ác liệt, gian khổ thì sự lãng mạn, tiếng nói tâm tình cá nhân càng cần thiết, nhưng nó dường như được “gác lại” để nhằm tới mục đích lớn lao là chiến thắng kẻ thù, thống nhất đất nước... Nghệ thuật cách mạng, không nghi ngờ gì nữa, chắc chắn vị nhân sinh.

    Đáng lo ngại chăng là “thói quen tự kiểm duyệt”, một thứ rất khó thay đổi hồi đó, dường như ăn sâu vào một số người. Khi đã nhiễm, người nghệ sĩ không còn sức mạnh tác chiến độc lập nữa, trong đầu anh ta kè kè một “nhà phê bình”, nhà phê bình ấy kèm chặt như hình với bóng, duyệt tác phẩm khi chưa ai kịp duyệt, luôn nhắc nghệ sỹ: “Sáng tác cho ai, để làm gì?...”, một cách cứng nhắc.

    Cho mãi đến giữa thập niên 80, cùng với làn gió đổi mới, nhiều nghệ sĩ đặt lại những câu hỏi máu thịt liên quan đến “Sáng tác”, khi những vòng giây tự trói mình rơi xuống đất!

    Tôi đọc đâu đó trong bài “Giá trị của nghệ thuật“ có dẫn lời của nhà văn Alexandr Solzhenitsyn phát biểu trong diễn từ khi ông nhận giải Nobel văn chương (1972) như sau: “Nắm giữ Nghệ thuật trong tay, chúng ta tự cho rằng mình là chủ nhân của nó, hùng hổ điều khiển nó, đổi mới nó, cải cách nó, tuyên ngôn nó, bán nó lấy tiền, dùng nó để bợ đỡ những kẻ mạnh, coi nó hoặc như trò tiêu khiển trong các ca khúc thị trường, nơi tửu quán, hoặc như hòn đá hay cái gậy, bất kể cái gì tóm được, để phục vụ các đòi hỏi chính trị thoảng qua, hay các nhu cầu xã hội hạn hẹp. Nhưng, mặc cho mọi dày vò của chúng ta, Nghệ thuật vẫn không bị vấy bẩn, vẫn không vì thế mà đánh mất đi nguồn gốc của mình, vẫn luôn luôn, và trong mọi cách chúng ta dùng nó, rọi chiếu lên chúng ta một phần cái ánh sáng bí mật bên trong của nó. Nghệ thuật hé mở cho chúng ta, tuy lờ mờ, tuy ngắn ngủi, những điều không thể nào đạt được bằng lý trí. Như chiếc gương thần trong truyện cổ tích, nhìn vào nó ta không thấy chính mình mà chợt thấy một khoảnh khắc ta chẳng khi nào đạt tới, phóng tới, bay tới được. Và chỉ có tâm hồn đang thổn thức.”

    Những điều đó ám ảnh tôi không ít.

    Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm thường được xếp cùng nhau là ba bậc thầy của hội hoạ Việt Nam đương đại. Sáng dùng nét dày dặn, góc cạnh khi tạo hình các bức chân dung trong khi Phái thể hiện cái u buồn của phố nghèo Hà Nội bằng nét bút tự do và phóng khoáng. Cả hai hoạ sỹ đều yêu quý đất nước mình dù ít khi họ dùng các đề tài XHCN để bộc lộ lòng yêu nước. Nhưng hai ông tìm thấy ở sự vật của đời sống thường nhật cái ích dụng cho sự bộc lộ cá nhân riêng biệt, thường sử dụng ngôn ngữ hội hoạ tối giản để thể hiện không khí và cảm xúc đặc biệt Việt Nam trong tác phẩm của mình.

    Tôi nhớ đến những cây bút lý luận mỹ thuật gạo cội nước nhà, những nụ cười trầm tư của họ. Ai còn, ai mất? Tôi không muốn nói ở đây về tình yêu đối với nghệ thuật mà là vai trò của nghệ thuật trong xã hội chúng ta, điều mà lý luận hội hoạ nước nhà đã tốn không ít giấy mực. Nhất là khi đó đây “cái mới” hoặc nhân danh cái mới trong hội hoạ xuất hiện cứ kèm theo cái thái quá, mà thái quá bất cập... Tranh pháo đổi mới thuần tuý theo lối hình thức hơi bị nhiều, xưng xưng là chủ nghĩa hiện đại. Và hiển nhiên là khi người ta không biết nói gì về tác phẩm nghệ thuật, người ta sẽ nói về trị giá của chúng và còn tầm thường hơn, người ta bàn về đầu cơ trục lợi, lạm phát, giá biểu cho từng nghệ sỹ, lời lãi v.v… tóm lại là về tiền bạc.

    Em gái tôi, sinh 1970, thấy tôi vẽ mãi trận mạc, em bảo: “Anh “ăn hơi dầy” chủ đề này đấy, việc gì cứ phải xoáy mãi vào đấy? Đời còn bao nhiêu cái đẹp hơn. Anh vẽ ngựa hay thế cơ mà…”.

    Em gái tôi không sai. Nhưng tôi có lý, có tình của mình khi mê say những đề tài trận mạc này. Tôi chỉ có thể nói hóm hỉnh, nhắc cô ấy rằng nghệ thuật thì nhất thiết phải vô giá, bởi tự bản chất, nghệ thuật đã có cái quyền lực - có thể nói như phép phù thuỷ - để biến đổi được những vật dụng hay vật chất thông thường thành những thứ vô giá. Nếu đích thực nghệ thuật, chắc chắn nó vị cả nghệ thuật và nhân sinh. Thực lòng tôi nghĩ giản dị như vậy.

    Thời nào cũng thế, chẳng riêng họa sỹ trẻ mà già cũng có thể lồng lên như chiến mã, phá phách, tìm tòi, quằn quại. Học trò tôi hỏi: “Em tập mãi, vẽ theo thần tượng mình là họa X, Y... mà vẫn khô khốc, thế là sao hở thầy?”, hay: “Các hoạ sỹ trẻ sáng tạo bất chấp trường lớp dạy dỗ có phải liều lĩnh không?”.

    Trả lời câu hỏi này một cách đầy đủ, e khó như làm luận văn tiến sỹ, tiến sỹ thật chứ không phải tiến sỹ giả. Đơn giản, nếu muốn cố vẽ cho giống cách vẽ của thần tượng là tim mình đã đập bằng nhịp tim người khác. “Khô khốc” vì theo sao được cái “thần khí” của hoạ sỹ mình phục.

    Còn vụ “sáng tạo bất chấp”, có liều lĩnh không, chính xác hơn cái liều lĩnh này là gì? Thì liều lĩnh kia cũng có ba bảy đường. Loại trừ thứ liều lấy oai, có thể gọi điều này là một dấn thân, hội nhập vào một công cuộc, một nhu cầu bức bách không thể cưỡng được, nảy sinh từ nguồn hy vọng, từ tình đồng cảm sâu xa, vào niềm tin vào ý định sáng tạo đang nảy mầm.

    Tôi vẽ trận mạc mãi mà không chán, dù chẳng ăn giải gì, cũng không bán được. Chật cả nhà, mà cũng không vẽ theo cuộc vận động hay đơn đặt hàng nào, mà cũng đâu hẳn là đền ơn đáp nghĩa... mà đơn giản là tôi “thích”, thích thì làm cho thoả. Thế thôi! Dĩ nhiên là nghệ thuật đương đại đang làm mọi người bấn loạn vì khó hiểu, thậm chí khó chịu. Nhưng điều đó lại chính là nhiệm vụ của nó. Đương đại hay cổ điển hay lồng ghép cả hai thì hãy cứ sáng tác theo phong cách, ý thích của mình. Cái riêng càng rõ nét, càng hình thành phong cách riêng, càng có phong cách riêng thì càng nhiều người thích... Vấn đề là ai sẽ đem đến cho nghệ sỹ những phương tiện, điều kiện để họ thực hiện được nguyện ước của họ chống lại sự tẻ nhạt, và làm được một số lựa chọn trong đời sống?

    Ừ nhỉ, đã lâu lắm rồi không có những câu hỏi, những tranh luận hay như xưa. “Người ta có thể tạo ra một tác phẩm không có tính nghệ thuật được không?” Sao không thể có những tranh luận trả lời cho những câu hỏi đó?



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 01 Tháng Chín, 2013, 07:21:19 am


 
  Những người lính mãi bé thơ

    1. Mùa đông 1966, bên hồ Thiền Quang (Hà Nội), dưới những cây đề rụng lá, có một cậu bé 15 tuổi gầy nhẳng, cổ cao, chân dài, vai khoác túi lưới đựng một quả bóng da vá những miếng chằng chịt với nhau bằng những sợi giây thép nhọn hoắt. Cậu rảo bước cùng lũ trẻ con đen đúa, lấm lem, nhễ nhại mồ hôi sau trận đá bóng ở hồ Bẩy mẫu, trở về nhà... Cậu bé cúi xuống lòng đường Trần Nhân Tông, nhặt lên một mảnh bom bằng gang dài chừng 15cm, rỉ sét, cạnh sắc lưa tưa. Đó là mảnh vỡ của những trái bom đầu tiên Mỹ thả xuống Hà Nội. Mảnh bom đó cậu bé giữ mãi...

    Sau cái ngày cậu nhặt được mảnh bom lên, hàng vạn trái bom Mỹ tiếp tục quăng xuống quê hương Việt Nam, lấy đi hàng nghìn vạn sinh mạng đồng bào cậu... Gần 50 năm sau, biết bao trái bom mìn còn chưa nổ, còn nằm im trong lòng đất...

    Cũng vào những năm giữa thập niên 60 đó. Đầu bên kia bán cầu, ở Bostol (Mỹ), phía Đại Tây Dương (cũng có thể là San francisco phía Thái Bình Dương), một lũ nhóc tóc vàng hoe, có đứa tóc bạch kim, tuổi trạc 15, 16 đang trượt pa-tanh trên đường phố. Nhìn chúng cắp nách những bàn trượt bóng lỳ bằng gỗ tần bì có in hình ông Già Tuyết, “đi” những cú điệu nghệ mà nếu không có độ dẻo của tuổi trẻ, chắc gãy xương như chơi..., không một ai có thể ngờ rằng, lũ trẻ đó, dăm bảy năm sau thôi, lớn bổng.

    Trong bộ quân phục tiện dụng, đầu đội mũ sắt bọc lưới, balô tiện nghi cho cả một gia đình trên lưng, áo giáp che ngực, giầy đi rừng, AR15 cực nhanh, la bàn, lương khô, thịt hộp, viên lọc nước, dao đa năng..., “lũ nhóc lớn bổng” đó đổ bộ xuống một cánh rừng, một bãi biển, một mỏm đồi lúp xúp cỏ gianh..., giao chiến với chiến sỹ Việt Nam, AK trên lưng, mũ tai bèo, dép cao su và bộ Tô Châu xanh lúc nào cũng đẫm mồ hôi.

    Trong số chiến sỹ ta có cả lũ trẻ tóc đen da nâu mồ hôi mồ kê nhễ nhại ngày nào đá bóng trên đường Hà Nội, đã kịp lớn lên, cường tráng.

    Rồi lính Mỹ đói, khát, nằm rừng, phục kích, tắm truồng dưới vòi phun nước từ trực thăng chở nước sạch từ Đà Nẵng ra... Rồi tổ ba người của ta lọt sâu vào địch hậu, cơm nắm hết, lương khô hết, phải ăn lá rừng, đêm hứng giọt sương uống, vì nguồn nước đã bị nhiễm chất độc dioxin. Rồi phi pháo đại bác rót ầm ầm, “Vua Chiến trường” khai hỏa trước. Trực thăng ào ào đội hình 10 chiếc một, ập đến như cơn lốc. Quân Mỹ đổ nhanh, chụp xuống cánh rừng lá đỏ thấp thoáng những mũ cối, mũ tai bèo lính ta... M72, M16 - súng cối địch nổ chát chúa... Những lính ta, những bè bạn xưa cùng phố gọi nhau. Bộ đàm hét inh ỏi... Quân đối phương kêu pháo cấp tập, cấp tập, rồi gọi trực thăng cứu thương. Rồi B52 tới.

    Lính tăng ta được lệnh vào tăng... Bom rơi chệch xe thì còn, “cả cái” trúng xe thì đi luôn cả xe. Nằm ngoài xe còn nguy hiểm hơn.

    Rồi quân Mỹ phản chiến. Đánh nhau chí chết. Quân ta ẩn hiện, ban đêm luồn vào căn cứ “thịt” lính Mỹ. Chúng trả đũa dã man bằng cách giết hết cả làng, toàn đàn bà trẻ con... Nhẫn tâm quá... Phản chiến! Bị chỉ huy nhốt vào côngtenơ 2 ngày dưới cái nóng trung phần, đỏ như tôm luộc.

    Rồi lính ta vào Cổ Thành, cho địa chỉ gia đình quê quán vào lọ penicilin, bọc nylon ra ngoài, trao đổi cho nhau, thằng nào sống nhớ đem về quê thằng chết. Rồi mưa rừng, vắt cắn, hổ vồ... Khổ quá! Quân đối phương chỉ mong hết chiến sự, về Sài Gòn xả láng...

    2. ...Thì tôi đã nói rồi, chiến tranh mãi cũng đến ngày kết thúc. 1975 cờ hoa. Chợ quân trang quân dụng trút ra từ tổng kho Long Bình, đồng hồ Senkô, máy ảnh Canon, trút ra từ các tiệm hàng kính vỡ toang hoác... May thành phố không nát vụn ra như Berlin sau đại chiến hai.

    Mãi mười mấy năm sau, phía Mỹ mới tổ chức được một cuộc triển lãm hội họa “Cái nhìn từ hai phía”! Những chú bé năm xưa đá bóng và trượt pa-tanh, trở về từ chiến trường, người học hành, người lao động kiếm sống... Họ đã tham gia triển lãm này, khai mạc tại Boston, đi vòng 15 bang lớn rồi bế mạc tại Hà Nội.

    Hôm bế mạc, họa sỹ lính hai nước gặp nhau, tóc muối tiêu, bình lặng vẻ bên ngoài... Trong khán phòng, giới thiệu danh tính, các họa sỹ Mỹ tròn mắt ngắm “Việt Cộng” năm xưa giao chiến. Toàn những ông hiền khô, có phần bẽn lẽn. Những người lính hai bên lúc tâm tình, y hệt lúc quẳng trái bóng hoặc bàn trượt pa-tanh ra một góc, mày tao ông ổng, dường như chưa có cuộc chiến nào nằm giữa khoảng thời gian từ lúc họ gầy nhẳng, mặt đầy lông tơ tới khi họ biến thành những cựu chiến binh phong trần, từng trải. Nhưng cuộc chiến đã để lại “chiến tích” nặng nề cho quân cả hai bên! Có bao điều không bao giờ, không có ai có thể tính đếm được, bù đắp được.

    3. Năm 1991, chính ở Boston (Mỹ), tôi nhận được một cú điện thoại của Denis Staout, cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam, nay là thợ điện sống ở Hawai. Qua xem tivi, anh biết tôi vừa đến Mỹ (ngày ấy, từ Việt Nam đến Mỹ rất khó, nhất là cựu chiến binh). Và người cựu chiến binh ấy liền bay 5000 mai (khoảng 5000 km) từ Hawai đến Boston, chỉ để ăn cùng hoạ sỹ Dũng một bữa tối, trao cho anh cựu chiến binh ấy một kỷ vật chiến tranh - là chiếc vòng đeo cổ có gắn đầu con sơn dương bằng bạc... “Chiếc vòng này, mẹ tôi đã quàng vào cổ tôi ngày sang Việt Nam ở sân bay, như một lá bùa hộ mệnh. Từ cuộc chiến trở về, hằng đêm tôi không thể ngủ yên khi nhớ lại. Sự khốc liệt, những gương mặt người... Bà già, con trẻ... Rồi những “Việt cộng”, những du kích lọt vào tay bọn tôi, những đàn ông hàm vuông, môi dầy, vai rộng, chân ngắn, da ngăm đen, trước mũi lê của bọn tôi không khai một lời... Tôi trở về, chỉ mong có ngày sẽ trở lại dải đất hình chữ S, chiến trường năm nao tôi đã nướng tuổi thanh xuân vào mưa rừng, nắng lửa xứ ấy. Tôi tính tặng lại chiếc vòng này cho người “Việt cộng” đầu tiên tôi gặp...”, Denis Staout nghẹn lời với tôi.

    Tôi cầm chiếc vòng kỷ vật lên. Một sợi dây da màu đen săn lại bởi thấm mồ hôi và mưa gió. Hai đầu dây hai móc sắt, chính giữa là đầu một con sơn dương to cỡ ngón tay cái, đúc nổi rất tỷ mỉ, tinh xảo, những góc sừng cong vút ở chỗ lõm đen kịt lại, phần lộ ra sáng bóng, có chỗ mòn vẹt... Sợi dây có đầu sơn dương bạc đi qua chiến tranh ấy gợi nhớ những hòn bi ve trong vắt, mòn vẹt, những đồng hào khắc Bà đầm xoè mòn vẹt, sáng bóng của bọn tôi năm xưa, ngày ham đánh đáo đánh xèng thơ bé.

    Denis Staout vẫn nói như chìm trong hồi ức, thỉnh thoảng khịt mũi như vừa chơi xong với bọn tôi một trận giả, chờ phân thắng bại... Cạnh Denis, William Short cũng lắng nghe, thỉnh thoảng đệm vào một câu... Trận đánh thật ở tuổi thanh xuân, “trận giả” tuổi ấu thơ, những đứa trẻ trượt pa-tanh, những đứa trẻ đá bóng, lao đầu vào nắng lửa mưa rừng... ranh giới quá rõ ràng. Mà trận thật tuổi thanh xuân tàn khốc quá, bút mực nào đếm xiết...

    4. Ở bang Main (giáp Canada), tôi đã gặp Kewill, từng là thượng sỹ thám báo tham chiến tại Plâycu (Tây Nguyên). Anh ta nghe nói có một người lính Việt cộng vừa tới và muốn gặp. Tôi có thể từ chối cuộc gặp đó vì người cựu chiến binh này đang mắc bệnh tâm thần! Đó là một người cao gần 2 mét, tóc xõa chấm vai bết lại, quần áo xộc xệch, đặc biệt hai bàn tay rất to, vảy đóng cóc cáy từng lớp. Dân làng ở đó nói với tôi rằng, từ Việt Nam Kewill trở về Main, hằng đêm vẫn mơ thấy lửa cháy, thấy máu, thấy đạn nổ... Vợ anh đành bỏ anh đi, không một lời. Mẹ già đã mất. Anh sống bằng lòng hảo tâm của dân làng, lúc nhớ lúc quên...

    Tôi lấy ra một chiếc vòng xương đem theo từ Việt Nam, chiếc vòng cuối cùng có gắn một đóa hồng chạm từ xương động vật, tặng và nhìn thẳng vào mắt anh... Từ tròng mắt xanh đục, ứa ra những giọt nước mắt. Đột ngột Kewill quì trước tôi, run rẩy nói: “Thế là tôi thanh thản được rồi, tôi đã được một Việt cộng tha thứ, tôi đã có một đóa hồng...” Anh gào lên: “Tôi thanh thản rồi!...”. Tôi khóc, các cựu chiến binh Mỹ ngồi quanh đều khóc. Dường như anh ấy đã tìm được sự bình an, yêu lại được bản thân mình, đã nhìn ra được những điều đặc biệt của bản thân và của người khác. Tôi hy vọng anh ấy sẽ lại thấy tự tin. Biết yêu thương mình thì sẽ biết yêu thương người khác. Đức Phật mong cho tất cả nhân sinh trên cõi thế này chỉ hai chữ “thanh thản” mà thôi! Bình an, thanh thản, giản dị là chúng ta đã tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với nhau, với tình yêu và sự thông hiểu. Bình an trong một con người chỉ có được trong trạng thái tâm trí không có sự lo sợ, mệt mỏi, stress… Bình an đương nhiên là phải vắng bóng sự bất an. Chúng tôi đã làm cho mình mạnh mẽ, làm mạnh mình bắt đầu từ tâm trí…

    5. Lại hai mươi năm nữa trôi đi. Những đứa trẻ bây giờ đã già lắm rồi, tóc không còn hoa râm nữa, bạc nhiều rồi, bệnh tật tàn phá cơ thể, nhiều người đã ra đi. Thế mà những đứa trẻ năm xưa, sau cuộc chiến Việt Nam, vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh. Chả cứ bọn trẻ ở Mỹ, bọn trẻ ở các nước cùng tham chiến, Úc, Nam Hàn, ... cũng thế.

    Kể từ cái ngày tiếng súng cuối cùng của chiến tranh bặt tắt, 34 năm sau (số thời gian gấp đôi tuổi lũ trẻ trượt pa-tanh và đá bóng) ở Sydney - Úc một trung tâm văn hóa, bảo tàng có tên là Casula Powerhouse lại tổ chức một cuộc triển lãm lớn về đề tài chiến tranh Việt Nam dưới cái tên “Nam Bang” (Tiếng nổ ở Việt Nam) tháng 4 năm 2009... Lần này, khác triển lãm “Cái nhìn từ hai phía” ở Mỹ do William Joiner Center tổ chức lần trước, là đề tài về hậu chiến nhiều hơn và hình thức biểu diễn đa dạng hơn...

    Trong cuộc “hành quân” tại Úc lần này, tôi đã gặp nhiều đứa trẻ như thế, và gặp cả William Short, lính chiến trong Sư đoàn Anh Cả Đỏ (Mỹ) năm xưa, người đã từng chống lệnh hành quân 1969 ở Bến Cát và bị nhốt vào côngtenơ, người đã cùng tôi tham gia “Cái nhìn từ hai phía” ở Boston ngày ấy.

    Người đầu tiên là chuẩn úy bộ binh Ray Beattie, gốc Ailen, dáng gầy nhẳng, từ cuộc chiến trở về, vợ bỏ, sống bằng trợ cấp cựu chiến binh, làm họa sỹ. Nhiều năm sau, hai chữ Việt Nam không dứt khỏi đầu được, lại lấy vợ là một phụ nữ Việt Nam, chị Bội Trân. Chị là nhà nghiên cứu nghệ thuật đã cùng anh chồng cựu chiến binh lập dự án tổ chức triển lãm“Nam Bang”.

    Cuộc sống của vợ chồng họ ở mức vừa phải, nhà thuê, xe trả góp... Bao nhiêu tiền dành cả vào các hoạt động vì Việt Nam. Ngày chia tay, chuẩn úy bộ binh Ray năm xưa tặng tôi một tấm ảnh đen trắng đặc biệt - Dưới rừng cao su nhiệt đới, Ray với AR15 trong tay và quân phục lính Úc đang xung phong... Anh hồn nhiên kể cho tôi nghe về chiến tích sau trận ấy, về những huân chương, y như bọn trẻ kể về cách đánh trận giả thủa ấu thời. Anh lái xe đưa tôi đi thăm Bảo tàng lịch sử Quân sự Úc ở Thủ đô Calbera, một bảo tàng hiện đại mà vào đó, gió cánh quạt trực thăng, cỏ lau cháy rạp, mùi khét lẹt của thuốc súng, âm thanh gầm rú của 10 chiếc trực thăng trong chiến đoàn trực thăng vận đang đổ quân, đạn pháo nổ, bộ đàm gào thét, liên thanh cấp tập... Trên màn ảnh rộng, rừng cây rạp xuống. Tôi xem và âm thầm khóc... khi thấy lấp ló trong bóng lá rừng ngày ấy là những chiếc mũ cối của đồng đội tôi... Không biết trong số họ, ai còn ai mất tới ngày nay...

    Ra khỏi phòng triển lãm, thấy mắt tôi đỏ hoe, Ray tỏ ra ân hận, như ngày xưa tụi trẻ vẫn thương tôi mỗi khi chúng ra đòn nặng trong những lần “trận giả”. Nhưng cái giá chúng tôi phải trả đâu phải như trận giả ngày thơ dại!

    Người thứ hai tôi gặp ở Úc là Trevor, một họa sỹ biếm họa, mang đến Nam Bang một tác phẩm đồ sộ gồm hơn 400 bức biếm họa. Định cư tại Tây Úc, độc thân, ông họa sỹ cựu chiến binh này mới thật đúng là trẻ con, đúng hơn ông là một trong “những đứa trẻ không biết già”, “những người già còn trẻ mãi”, vô tư, hồn nhiên. Khi nghe Trevor kể về các cuộc hành quân có chó becgiê dẫn đường săn lùng Việt cộng (anh là sỹ quan cảnh khuyển), hay khi nhìn ông cần mẫn dùng đinh ghim, găm hơn 400 bức biếm họa lên tường như ngày xưa huấn luyện chó, săn Việt cộng, lòng tôi tê tái, buồn vui lẫn lộn.

    Nhìn Trevor và Ray ăn, tôi thấy như gặp lại tụi trẻ trong đội bóng đá của chúng tôi năm xưa ăn bánh rán hồ Ha Le hoặc ăn kem Tiến Đạt phố Yết Kiêu ngày nào, hì hà hì hục, suỵt sà suỵt soạt... Ăn mà hùng hục như thế thì chỉ có lũ nhóc mà thôi!

    6. Sân bay Sydney. Chỉ còn vài phút nữa là tôi đã phải chia tay rồi, đứng kia là Short, lính Mỹ, và đây Ray , Trevor, lính Úc! Tôi kiên quyết nghiến chặt răng, quay gót ra sân bay... Chị Bội Trân và vợ con Short có cho tôi là người dứt tình, lạnh lùng không? Tôi không biết nữa, nhưng tôi phải kiên quyết thôi, vì biết, chắc chắn, nếu còn nán lại, còn nán lại, tôi sẽ khóc nấc lên mất...

    Những người lính chúng tôi, sao lại mau nước mắt như thế? Lúc xách cái valy lên, tôi thấy Trevor cũng khóc, cả Ray, cả Short nữa... Có lẽ bởi vì thăm thẳm những lính già chúng tôi, những góc bé thơ vẹn nguyên mãi mãi?

    30/4/2010



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 02 Tháng Chín, 2013, 07:45:11 am
HỘI HỌA BẮC MIỀN TRUNG
NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN


Nhìn trên bản đồ, Tổ quốc thân yêu của chúng ta giống như một cái quang gánh, với hai thúng thóc ở hai đầu là hai vựa lúa châu thổ Sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long. Trong suốt hơn hai thập kỷ chống Mỹ gian nan, khốc liệt mà không một tấc đất nào trên dải đất này không ghi dấu chiến công anh hùng... Tuy nhiên, sự mất mát dữ dội nhất lại rơi vào người gánh. Về phương diện địa lý, đó chính là khu vực Bắc Trung bộ (bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa vào tới Thừa Thiên - Huế). Có thể tôi hơi thiên vị trong việc so sánh vì đây là mặt trận tôi có mặt trong cuộc chiến, và còn vì mọi sự so sánh đều vô nghĩa với bao sự tích anh hùng của dân tộc... Và trong chiến công chung đó, giới họa sỹ đã đóng góp một phần không nhỏ.

Với địa hình hẹp (quãng hẹp nhất ở Quảng Bình chỉ rộng gần 50km). Độ dốc lớn, quanh năm gió Lào, cát nóng, khí hậu khô cằn... Đã tạo nên tố chất của con người vùng đất này có những cơ thể săn chắc, đen sậm, vai rộng, tay dài và ý chí kiên cường, bền bỉ, chịu đựng gian khổ vô biên. Cũng do những biến cố lịch sử để lại, con sông Bến Hải trở thành ranh giới chia cắt hai miền, và như ta đã biết, nơi “giáp ranh” mọi sự trên đời đều là nơi ác liệt nhất. Ngay từ năm 1960, tôi đã nghe đến cuộc đấu cột cờ ở chân cầu Hiền Lương, hai bên thi nhau xây cột cờ cao hơn và cuối cùng phe Bắc thắng với cột cờ cao 36 mét. Cùng thời gian đó, các họa sỹ miền Bắc từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam đã vào tận Vĩnh Linh vẽ tranh cổ động tại chân cầu cổ vũ tinh thần quân dân giới tuyến và cả nước.

Từ năm 1964, Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, khu vực bắc miền Trung trở thành cái túi bom bởi toàn bộ các tuyến đường xuất phát tiếp tế người và vũ khí, lương thực đều từ đây. Có thể nói, tất cả các thành phố, các tuyến đường từ Thanh  Hóa vào đến Vĩnh Linh đều “nát bét”. Ngay lập tức, thầy trò mỹ thuật hai trường (Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam và Trường Mỹ thuật công nghiệp) đã cử nhiều đoàn vào vẽ trong tuyến lửa, cùng ăn, ở và chiến đấu tại các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong và dân quân du kích địa phương. Các thầy cô Huy Oánh, Giáng Hương, Đỗ Hữu Huề, Trọng Cát, Lê Thiệp, Lợi Hoan Trang, Nguyễn Thụ đã nhiều lần đưa học sinh, sinh viên vào nơi tuyến lửa ở Đò Lèn, Hàm Rồng, Quảng Bình, Vĩnh Linh... ký họa dưới bom đạn đỏ trời, các thầy cô cao tuổi chí khí cũng không kém, thầy Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đức Nùng... dẫn học sinh vào tận Hồ Xá, Vĩnh Kim để vẽ quân và dân khu 4 sống và chiến đấu, nhiều ký họa và tác phẩm đến bây giờ ta không thể quên: “Lão du kích Hoàng Trường” của Đinh Trọng Khang, “Ngư dân Quảng Bình” của Đỗ Hữu Huề, “Trăng lên” của Nguyễn Văn Chung, “Trạm giao liên Trường Sơn” của Vũ Giáng Hương, “Bác vẫn cùng chúng cháu Hành quân” của Nguyễn Thụ và Huy Oánh, “Cầu Hàm Rồng” của Huy Oánh, “Sẵn sàng chiến đấu” của Quang Phòng... Trong gian khổ cực kỳ của cuộc chiến, nhiều đoàn sinh viên hành quân vào chiến trường bằng xe đạp, uống nước hố bom, nhiều học sinh sau đợt thực tập muốn ở lại cùng chiến đấu với các chiến sỹ, rồi về học sau..., nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã xung phong vào nơi tuyến lửa, nằm sâu công tác vùng này, vẽ và chiến đấu như những người lính thực thụ: họa sỹ Nguyễn Vinh tại Quảng Bình, họa sỹ Phạm Thanh Liêm, Nguyễn Hữu Song tại Vĩnh Linh, họa sỹ Lê Hàn tại Nghệ An...

Trong các mũi nhọn luôn có mặt trên trận tuyến hội họa ở bắc miền Trung thời chống Mỹ không thể không kể đến lực lượng hội họa trong quân đội, ngoài lực lượng được cầm bút chuyên nghiệp như các họa sỹ: Quang Thọ, Văn Đa, Huy Toàn, Phạm Thanh Tâm, Phạm Lực, Đinh Rú, Trần Thành Công, Quách Đại Hải, Phạm Việt... trên Phòng Văn nghệ quân đội...  Để lại trong lòng người yêu hội họa, những tác phẩm khó quên như: “Cồn Cỏ” của Quang Thọ, “Hành quân” của Văn Đa, họa sỹ Phạm Lực do yêu cầu của công tác mà chỉ sau một đêm đã vẽ xong 1 tranh cổ động cỡ lớn treo phục vụ chiến đấu trên vách núi. Ngoài ra còn phải kể đến lực lượng các họa sỹ trực tiếp cầm súng chiến đấu trong các đơn vị mà các anh chỉ có thể vẽ trong quãng nghỉ dọc đường hành quân, sau trận chiến đấu như: Phạm Mai Châu, Hoàng Tích Minh, Lê Duy Ứng, Trần Lê An, Nguyễn Hải Nghiêm, Trần Luận Tín ở sư đoàn 325 nổi tiếng, nhiều người đã hy sinh như Hồ Nia, Lê Minh Trịnh, Hoàng Tích Minh, Quách Thiện Thuật... Binh chủng công binh có Thành Chương và Tường Huân vừa tháo kíp bom xong là ký họa ngay với những bức chì than khó quên, binh chủng Thông tin có Nguyễn Cương, Phạm Ngọc Liệu, Thiết giáp có Lê Trí Dũng, Thế Hữu ở pháo binh, Phạm Ngọc Doanh, Nguyễn Đức Thọ, Đặng Chung, Đỗ Hiển, Vũ Huyên... ở Phòng không - Không quân. Nguyễn Trọng Đoan ở cao xạ pháo bảo vệ Hàm Rồng... Trên dải đất Bắc Trung bộ còn có một mặt trận vô cùng khốc liệt, đó là tuyến đường Trường Sơn, đường 559 anh hùng, để chặn tuyến đường huyết mạch này, Mỹ đã ném vào đây số lượng bom bằng hàng chục quả bom nguyên tử, chính tại nơi này, lực lượng hội họa của chúng ta cũng có mặt, hẳn người yêu hội họa những tháng năm gian khổ còn nhớ triển lãm tại Hà Nội ký họa của Bùi Quang Ánh, Hoàng Đình Tài với những tác phẩm “tuyệt chiêu”, ngoài ra còn có Đức Dụ, Ngân Chài với những ký họa mà sau này các anh dựng thành tranh lớn, “Giữa rừng” sơn mài của Hoàng Đình Tài, “Cổng Trời” sơn dầu của Đức Dụ, “Pháo qua Long Đại” khắc gỗ của Ngân Chài. Tất cả các anh đều mang theo trong mình trái tim người họa sỹ trong hình hài người lính. Nhiều bức ký họa tại chiến trường sau này trở thành những tư liệu quý để đẩy lên thành tác phẩm: “Vượt Trọng điểm” sơn mài của Lê Trí Dũng, “Trường Sơn năm ấy” sơn khắc của Phạm Ngọc Liệu, “Nối mạch máu thông tin” sơn mài của Nguyễn Cương, “Thành cổ 1972” sơn dầu của Nguyễn Hải Nghiêm, “Pháo chuyển làn” sơn dầu của Thế Hữu, “Trong lòng đất” sơn mài của Phạm Việt... Nhiều họa sỹ của Trường Mỹ thuật đã nằm sâu hàng 6 tháng trời tại tuyến đường này như: Đoàn của thầy Huy Oánh và các sinh viên Vũ Tấn Bá, Ca Lê Thắng, Nguyễn Văn Chư...

Tới đây, tôi thật sự trách mình vì kiến giải còn hạn hẹp nên không thể kể hết ra đây được tất cả các họa sỹ từng tham chiến trên mảnh đất anh hùng này. Năm tháng trôi nhanh, vật đổi sao dời, giờ đây mỗi lần trở lại qua những địa danh một thời trai trẻ bao giờ tôi cũng bổi hổi bồi hồi: Hàm Rồng, Truông Bồn, Đồng Lộc, Ba Đồn, Vĩnh Kim, Vĩnh Chấp, Vĩnh Nam, Hồ Xá... Hàng rào điện tử Mắcnamara không còn nhưng Dốc Miếu còn đó, Cầu Hiền Lương vẫn còn đây với dòng Bến Hải lặng lẽ trôi, vẳng đâu đây như còn tiếng hát của chị Tân Nhân với bài hát nổi tiếng “Câu hò bên bến Hiền Lương” năm xưa. Và cùng những cảm xúc đó, hình ảnh các họa sỹ từng lăn lội tại mảnh đất này lại hiện lên trong tôi như những kỷ niệm máu thịt không quên./.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 03 Tháng Chín, 2013, 08:59:58 am
BÀI HỌC LÒNG NGƯỜI

TRỐNG RỖNG 1

Lúc 8 tuổi, đại lý sách gia đình nhập một loạt sách truyện Dân gian các nước của Nhà xuất bản Kim Đồng [loại quanh bìa sách có tia  sáng bao quanh]. Có một truyện tôi không nhớ của nước nào… Nói về lòng người! Đại để câu chuyện thế này: “Ở xứ nọ có 10 ông lão chơi thân với nhau. Ngày nọ, mười ông hứng khởi bàn nhau tụ họp uống rượu vui chung…Vào một ngày đẹp trời, các cụ hẹn nhau tập trung ở nhà ông lão có bộ râu dài nhất. Mỗi cụ đem theo một bình rượu và cùng đổ chung vào một cái bình lớn, sau đó ông lão có bộ râu dài nhất sẽ múc ra 10 cái cốc cho 10 cụ cùng thưởng thức…Khi đến chỗ tụ họp, ông lão râu quai nón đem theo một bình nước lã, bụng nghĩ: “Bình nước lã của ta nếu đổ lẫn với 9 bình kia thì sẽ chả ai phát hiện ra được…” Rủi thay, ông lão râu ba chòm cũng nghĩ và làm như thế. Ông lão có ria mép, ông lão  râu thưa, ông lão râu vểnh, ông lão râu hùm, ông lão râu quặp, ông lão râu ghi đông… và cả đến ông lão chủ nhà râu dài tới rốn cũng nghĩ và làm như thế…Lúc múc rượu ra uống, cả 10 ông đều …uống nước lã nhưng cả 10 ông đều nắc nỏm khen rượu ngon… Ngày ấy, đọc đến đó tự nhiên cảm giác trống rỗng ùa vào lòng. Như là sụp đổ một cái gì!

   TRỐNG RỖNG 2

Tôi còn nhớ, truyện này tôi đọc hôm trước khi lên đường nhập ngũ. Truyện kể về một cuộc báo thù! Vì hơi dài nên tôi xin phép độc giả tóm tắt đại để như sau: Ở một làng vô cùng hẻo lánh nọ xứ Phù tang có một lớp học. Cả làng có duy nhất một thầy giáo vì y là người duy nhất biết chữ giữa những người nông dân chất phác. Y có một cái tật là rất hay say rượu. Khi say, y hay đánh học trò…Những người nông dân bực tức nhưng không biết làm gì chỉ vì  không có y thì  không có ai dạy chữ cho con cái họ. Một ngày nọ, trong cơn say mất trí, y lấy cái liềm đánh vào cổ một bé gái, không may cứa đứt động mạch chủ làm em bé tử vong…Tỉnh rượu, y vọt khỏi cửa chạy trốn! Cha em bé, sau khi chôn cất con gái, lẳng lặng gói  túi quần áo, cất cái liềm đẫm máu vào bọc và lên đường đi tìm kẻ thù. Cuộc truy tìm tên giết người cực kỳ gian nan vì cứ mỗi lần ông sắp tóm được hắn, hắn lại biến đi như có ma báo nguy hiểm cho hắn…Nhiều năm trôi đi… cả hai người đều đã già. Cuộc săn đuổi đã dẫn họ trôi đến hòn đảo lớn thứ 4 của đất nước… Họ đã cùng phải âm thầm chịu đau khổ như nhau, cùng phải quần quật làm thuê để kiếm sống, cùng phải ra sức đánh hơi nhau… một để báo thù và một để chạy trốn…
   Cuối cùng, cả hai dạt đến một hòn đảo, hòn đảo hẻo lánh nhất trong quần đảo nhỏ nhất của quốc đảo bé nhất. Người cha đã như sờ tay vào kẻ thù…mặc dù y đã khôn ngoan như một con cáo, tìm đến ở nhờ trong một túp lều rách nát của một bà lão mù ăn mày, chỉ đến đêm mới mò ra bến cảng bốc vác thuê  kiếm tiền sinh nhai, ban ngày ngủ vùi âm thầm lẩn trốn. Người cha tìm đến tận nơi, tận túp lều của bà lão ăn mày, rút cái liềm ra và sờ vào cái ổ nằm của tên giết người như vẫn còn hơi ấm…Bà lão chậm rãi nói với ông rằng: Hăn vừa mới chết ngày hôm qua do cảm lạnh, vì tứ cố vô thân nên chính quyền sở tại đã… “Thủy táng” hắn!
   Trống rỗng!

TRỐNG RỖNG 3

Bạn tôi, một họa sỹ cựu chiến binh. Con gái anh cũng theo nghiệp cha, cháu sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Nghị lực, trong sáng và hoài bão lớn lao…Được giữ lại trường giảng dạy với cháu như là một phần thưởng nâng đỡ cháu phấn đấu! Năm ấy, ông trưởng phòng bảo cháu: “Phòng ta có 7 người, trên muốn có điển hình tiên tiến và chọn phòng ta lấy một chiến sỹ thi đua. Phải trẻ. Tôi già rồi, đã có tham khảo mọi ngưỡi thấy chọn cô là hơn cả vì nhiệt tình công tác, vì năng lực chuyên môn, nhưng nguyên tắc là phải bỏ phiếu kín ta nên làm cho đủ thủ tục báo cáo… Sau hôm bỏ phiếu kín, cháu thút thít kể với tôi trước mặt cha mình: “Cháu không nghĩ là cuộc đời lại như thế… Vì tự trọng, cháu không bỏ cho mình rồi, ông trưởng phòng chắc ủng hộ cho cháu vì thành tích chung của phòng và số phiếu thật không ngờ, đó là 1 trên 7 trước cuộc họp mọi người vẫn ôm hôn thắm thiết và ca ngợi cháu mà… Cháu không thể ở lại cái tập thể này được. Trống rỗng, đáng sợ quá!

TRỐNG RỖNG 4.

Thế rồi cháu tôi cạy cục chuyển được sang một Viện nghệ thuật. Bên đó có sẵn cô bạn thân đã là đảng viên, găp nhau, tay bắt mặt mừng… “Cậu yên tâm, với tài năng và ý chí như cậu, có tớ bên cạnh sớm muộn cậu cũng được đứng trong tổ chức, vào rồi thì mới tiến được…Thế rồi, tháng này qua tháng khác, năm nọ kế năm kia… Cô chả thấy chi bộ đả động gì cả mặc dù giấy chuyển sinh hoạt đối tượng từ đơn vị cũ đã nộp đầy đủ cho cô bạn thân… và thỉnh thoảng cô bạn cũng có đưa đẩy: kỳ này đang xét… hoặc… đợt tới trên làm khắt khe lắm… Cho đến một hôm. Bí thư chi bộ tình cờ gặp cô và hỏi thẳng: “Sao cháu phấn đấu tôt như thế mà không thiết tha gì vào Đảng à?”. Cô choáng người, không nói lên lời. Hóa ra, vì nếu giúp cô vào Đảng thì cô bạn thân thiết yêu quí sẽ gánh thêm một vật cản trên bước đường thăng tiến của mình… Cô cháu gái mất hết niềm tin vào cuộc sống… Ngay sau đó, lại tìm cách “di trú” một lần nữa, lần này vào tuốt thành phố Hồ Chí Minh… Chả biết rồi cháu tôi còn phải di trú bao nhiêu lần nữa trong cuộc đời này? Tôi thì thấy trống rỗng hoàn toàn…Nhưng hay nhất là sau khi nghe tôi kể lại chuyện này thì Trà, một học sinh của tôi, một thanh niên mạnh mẽ, cười sảng khoái và khỏe  khoắn nói rằng:  Lẽ ra chị ấy chả việc gì phải đi đâu cả, dưới cái Gầm Trời này thì ở đâu cũng thế thôi, khác nhau chỉ dưới hình thức này, khác mà thôi… Em thì em sẽ trụ lại, đánh đến cùng... Chả lẽ mình chân chính ngay thẳng lại sợ đứa tiểu nhân à?

   TRỐNG RỖNG 5

Trên đây, tôi đã điểm qua một vài trống rỗng của bài học lòng người… Nhưng ở đời lại có nhiều cái trống rỗng rất…hay! Tháng tám, mùa thu, tôi đang cày cục minh họa mướt mồ hôi thì máy di động tút tút, báo hiệu một tin nhắn…Đó là tin của Nguyễn thế Tường cựu binh thiết giáp, bạn thân tôi từ  Đồng hới nhắn ra [xin phép Tường đăng nguyên văn]: “Nắng vàng như mật ong trải dài trong buổi sáng đầu thu, gió biển hiu hiu thổi…nằm dài trên phản. ĐẦU ÓC TRỐNG RỖNG. Mẹ kiếp! Khoái thật!”
   
   TRỐNG RỖNG 6

Chả biết viết gì nữa! Dường như có một chiếc thuyền nan nhỏ nhẹ, xinh xắn bay qua mặt Người. Trong thuyền rỗng không, trèo lên, bay đi là hết!

   Mùa thu - Nhâm Thìn.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 04 Tháng Chín, 2013, 07:58:51 am
CHUYỆN TRANH IN LƯỚI


Hôm nọ, được Nhà Triển lãm Đương đại của Hội Mỹ thuật Việt Nam mời dự lễ tổng kết một trại sáng tác in lưới. Được biết đây là trại thứ mấy về in lưới rồi chứ không phải là đầu tiên do thầy Lê Huy Tiếp dạy... Trời nóng quá, cái nóng 50 năm mới có lại, lớp học trên tầng 3, thầy Tiếp đang lo “cháy” điều hòa nhiệt độ, học viên từ miền xa đến, ngoài việc học ra còn thù tiếp bạn bè xưa, còn thăm thú phong cảnh Thủ đô... Thế mà kết quả khá phong phú... Nhìn các bức tranh in lưới với kỹ thuật “Tây” Ban nha, với chất liệu mực đặc chủng, với chất liệu giấy 16 EURO một tờ (khiếp). Tôi không khỏi nhớ lại kỷ niệm in lưới xưa cách đây tròn 40 năm. Thì là nhớ lại cho vui thôi, như là đem ví cái “đài bán dẫn” ngày đó với một dàn âm thanh khổng lồ của “Tây ban nha” bây giờ. Tịnh không có một ý gì khác. Càng không phải “ăn mày dĩ vãng”.

Năm 1972, vừa về đến đơn vị, chân ướt chân ráo, tôi  nhận được lệnh, lên Phòng Văn nghệ Quân đội gặp họa sỹ Phạm Lực và Đinh Rú, học cấp tốc kỹ thuật in lưới ta mới du nhập được từ Cu-ba về để in một số tranh phục vụ các đơn vị xe tăng trên các mặt trận A, B, C, K. Hý hửng vì sẽ được vài  hôm gần nhà (vì phòng Văn nghệ Quân đội ở số 4 Lý Nam Đế). Nào ngờ, vừa xuất trình công lệnh xong, nhà thơ Xuân Thiêm, (lúc bấy giờ là phó phòng Văn nghệ Quân đội) nói: “Ngày mai cả cơ quan sẽ đi sơ tán ở Bún Thượng - Hà Tây, các cậu sẽ tổ chức lớp ở đó...”. Thế là lại ba lô con cóc... lên đường. Tôi và anh Đinh Rú trú trong một nhà dân, kế trước là nhà anh Phạm Lực trưởng nhóm, hai ngày đầu chỉ đào hầm tăng-sê, mười ngày sau học, chủ yếu là thực hành, kỹ thuật theo kiểu “đài bán dẫn”. Thì có cái gì đâu, chẳng qua là phác thảo (càng đơn giản càng tốt, đỡ chệch khi “lắp ghép”, và hình ảnh càng to càng tốt, đỡ mất chi tiết), bước tiếp theo là can và trổ thủng chế bản, bước ba là dán chế bản vào khuôn lưới và cứ thế đặt giấy vào, là gạt! Thế mà vẫn trầy trật lắm, ngày ấy mực in kém do công nghệ in lưới mới du nhập vào nước ta, in thử vài bản, đem treo ở sân hợp tác xã (nơi có bếp ăn quân dụng của phòng Văn nghệ Quân đội) mưa xuống, mực chảy ròng ròng xanh đỏ... đến khổ! Có lẽ nửa tháng học này điều an ủi tôi là chiều chiều được ra sân kho hợp tác xã đá bóng với đội Thể Công trẻ (có Ba Đẻn - Khánh - Giáp...) vừa đi học ở Triều Tiên về và cũng sơ tán cùng thôn). Anh Lực, anh Rú cho xem một số tranh do Cu Ba in, kỳ công phết! Bác Hồ ngồi câu cá trong hồ, cây cỏ đủ cả, trên trời mây bay, mặt trời mọc, sóng nước cá vờn... nhiều chi tiết, phải cái độ cao của phần có mực in khá dày, sờ gợn cả tay (có lẽ do giấy nến chế bản dày sẵn) tốn mực lắm! Hoặc chân dung Chê Ghêvara chỉ hai màu đen trắng, đẹp tuyệt! Chúng tôi báo cáo cấp trên là cơ sở cung cấp mực “rởm” quá, phải mua chỗ khác thôi... Thủ trưởng Xuân Thiêm nhìn tôi, cái nhìn “biết trước mọi sự việc”... bởi hơn ai hết, ông hiểu số phận của một người lính binh nhì dưới đơn vị chiến đấu trước cơn bão lửa Quảng Trị đang đến gần sẽ thế nào? Ông mời tôi và hai người con trai của ông là Tùng và Chương, (lên thăm bố) đi ăn “đặc sản” Sơn Tây, đó là món óc đậu (phần tinh tuý của đậu phụ) mà không đả động tí gì đến tranh pháo. Một cuộc chia tay khó quên. Còn hai thầy Phạm Lực và Đinh Rú, hai ông thầy dễ tính và đại khái nhất trần đời thì ba chúng tôi sau một bữa kẹo lạc, chè xanh ở Ngã Tư Gạch là tôi rong buồm thẳng cánh vào Quảng Trị, giao thông hào, lũy tre xanh, đồng lúa xanh xa tắp, mực in với chế bản... chỉ còn là những ký ức xa vời.

Nhưng ở đời vốn có câu “có vay có trả” mà cái số tôi không ăn không được của ai cái gì bao giờ, đã được đi học thì phải có kết quả chứ. Từ chiến trường ra, tôi được binh chủng giao nhiệm vụ in gấp 1000 tranh in lưới gửi các Lữ đoàn xe tăng, mỗi lữ 200 bức. Anh Ẩn, thủ trưởng trực tiếp bảo tôi: “Cậu về Hà Nội làm việc với Hội Mỹ thuật, họ rất ưu tiên lính đấy, còn việc tổ chức xưởng in, vật liệu, địa điểm... thế nào tuỳ ý, nhân lực chỉ mình cậu, để tớ hỏi xem may ra mấy thằng bên tổ chiếu bóng rỗi thì giúp...”.

Tôi về Hội Mỹ thuật ở 51 phố Trần Hưng Đạo, xuất trình công lệnh và yêu cầu công tác. Cụ Mai Văn Hiến thường vụ Hội ủng hộ ngay, lại còn mách cho chỗ mua mực in không “rởm”. Cụ rất khoái khi tôi “nghe lời Cụ” (chẳng là lần trước vào chiến trường, dưới bóng cây si cổ thụ, cụ cầm lấy hai vai tôi và dặn rằng: “Nhớ đừng để mảnh bom nó chạm vào người đấy!” và tôi đã tuân theo lời Cụ dặn). Mà kể cũng lạ, các Cụ ở Hội Mỹ thuật làm việc trong một nhà hầm thấp lè tè như hầm dã chiến, mái hầm nhấp nhô lượn sóng, vào cái kho hoạ phẩm của anh Xuyền còn chật chội hơn, thế mà công việc vẫn đâu ra đấy, các họa sỹ từ cực Nam, từ Trung bộ, từ các chiến trường A, B, C, K vẫn được hỗ trợ ào ào... Họ đến Hội Mỹ thuật như trở về nhà mình, thân thương, máu thịt...

Thế rồi, dưới một cái lều bạt quanh mấy gốc hồng ở một cái làng tên làng Gô, dưới chân Tam Đảo, dây thép căng ra, chẻ tre làm kẹp, hàng trăm tranh cổ động “Đã ra quân là đánh thắng”, “Tiến công liên tục - Nổi dậy mạnh mẽ”, “Sẵn sàng”... đã ra đời. (Tất nhiên là vẫn rất “đài bán dẫn” nghĩa là chữ đi đằng chữ, hình người đi đằng hình người, vì thế chả sợ khớp với không khớp). Chả biết trên Trung ương các anh đã tiến đến đâu rồi, nghe nói các đại họa sỹ đã biết “chồng” màu, một số tài danh đã trổ bản chi tiết đến từng kẽ lá, đến cả lời kêu gọi của Bác dài hàng chục chữ mà khi in vẫn đủ vẫn nét, rồi hiện thời đã du nhập vào ta mấy loại “lưới in” mã số khác nhau tạo nên các “ganh” khác nhau, rất mê hồn...! Còn mực thì khỏi nói, gần như in xong khô ngay... Tôi nhìn “dàn” tranh của mình, đã hai hôm rồi vẫn còn dinh dính. Hôm nọ may được thằng Dĩnh từ Thanh - hội (Quảng Trị) ra, cho cái dù pháo sáng, cắt ra vừa hai khung lưới, in tàm tạm dù hơi bị “bít”. Thôi thì liệu cơm gắp mắm, có xuống đơn vị mới thấy, một cái bưu ảnh, một bức tranh, một mẩu báo cũ, một sợi dây đàn... là quý vô cùng, thân phận mình Trung ương chẳng phải, đại ương thì không, thế này là tốt lắm rồi... Nhất là cái khoản vệ sinh tẩy rửa sau in, ở đâu phải tiết kiệm xăng chứ xe tăng chúng em cọ thoải mái, cái lưới in bằng dù pháo sáng rất hay “bít”, phải dùng xăng cọ ngay cho thông không thì không in được.

Nghĩ lại cái ngày ấy khổ thế đấy!

Sau đó, tôi còn phải cõng cả cục tranh in lưới mấy chục cân vào Gio-linh, rồi đạn pháo phang cháy cả tranh, thế mới biết, một cái tranh xuống đến tháp pháo xe tăng, đến hầm ngầm trong hào chiến đấu có khi phải trả bằng máu.

Một thời đã qua rồi, nghĩ lại vẫn sợ, không ai muốn thời ấy quay lại. Nhưng vẫn tự hào về nó.

Từ ngày ấy đến nay cũng đã 40 năm rồi còn gì.

Một chút liên tưởng, trong lúc chờ thầy Tiếp lên lớp trong cái nóng 400 và trong nỗi lo “cháy điều hòa nhiệt độ” của thầy.

Đại xá.

Hè 2012


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 05 Tháng Chín, 2013, 08:04:20 am
MONG MANH TAM GIÁC ... BECMUĐA *


Kẻ viết bài này tuy là một người vẽ nhưng số phận trớ trêu lại cho làm phóng viên chiến tranh trong những năm tháng khoác áo lính. Lại nữa, chuyển ngành ra quân lại vào công tác tại Báo ảnh Việt Nam (một tờ báo cực “prồ” về ảnh, tập trung những tay máy xuất sắc của Thông tấn xã Việt Nam). Cầm bút viết những dòng về đề tài Nude trong lĩnh vực hội họa và nhiếp ảnh này không khỏi nhớ đến những kỷ niệm xưa...

Kẻ viết bài này có một người bạn gần gũi, đồng ngũ, đồng nghiệp, con dòng cháu giống hẳn hoi, học hành tử tế, đến nơi đến chốn... Phải cái rất mê sưu tầm... ảnh nude! Ngày ấy, tôi có ngó một số bức, thấy cũng thường (xách dép cho Playboy)! Thế rồi tai bay vạ gió thế nào, anh bị bóc lịch 4 năm (không thiếu ngày nào) chỉ vì tội “Lưu hành và tuyên truyền văn hóa đồi trụy”! Kinh hoàng! “Một ngày tù bằng ngàn thu ở ngoài”. Ra tù được một ngày anh đến tôi chơi, thản nhiên! Thì cũng đành đổ tại cái số chứ làm sao bây giờ? Gặp phải cái hạn “Sinh xứ kiếp không do như bán thiên triết sỹ” hoặc là “Thiên hình - Dương nhẫn cả hai / Hội cùng Kiếp sát nay mai vào tù” thì có mà chạy đằng trời. Đúng là hình ngục nan đào. Ấy thế rồi, cái nghiệp nó ngoặc vào thân, anh bỏ hẳn vẽ, dứt khoát! Mua máy ảnh, chỉ chuyên chụp... Người đẹp thôi. Nhưng bây giờ dứt khoát “chú là chú, cháu là cháu”, ký hợp đồng hẳn hoi, tiền thuê mẫu phân minh, và anh đã thực sự thành danh trong vận hội mới, nổi tiếng về chụp ảnh người mẫu và sống tốt (của đáng tội, là họa sỹ khi chụp ảnh cũng có được cái lợi thế về cắt cúp bố cục, tạo nguồn ánh sáng, ý tưởng sáng tạo và chớp thời cơ bấm máy do được học nhiều năm về hội họa). Đời một con người đầy bất trắc và mong manh như thế đấy. (Kẻ viết bài này nói như thế là bởi vì năm ngoái anh lại bị đại hạn chấn thương sọ não trong khi vác máy đi chụp dã ngoại) chắc lại gặp hạn... Thiên hình? Khổ!

Cách đây nhiều năm, chưa có ở đâu như ở ta, xem một cái ảnh hơi “lộ” cũng dấu dấu giếm giếm, xuỵt xuỵt soạt soạt. Nếu bị lộ là bị ngay tội “mất dạy”, “thiếu đứng đắn”! Các thành viên Hội đồng đi duyệt triển lãm hễ cứ thấy tác phẩm nào “hở” một tý là “hạ xuống ngay cho an toàn”... Bên hội họa dũng cảm hơn, cách đây vài năm đã có triển lãm tranh Nude của hai họa sỹ, dư luận đánh giá cao về cả nghệ thuật lẫn lòng dũng cảm! Nhưng rồi sau đó bị chìm đi trong “sự im lặng đáng sợ”. Thực ra thì có gì to tát đâu! Chẳng qua là số người thích thì nhiều nhưng bảo mua về treo nhà một người đẹp trần trùi trụi ra như thế thì... cũng khó! Mà họa sỹ cũng phải bán tranh để sống chứ! Bên ảnh thì khó khăn hơn, vì nó “thật” hơn, Thái Phiên xin triển lãm mãi không được. Lê Quang Châu xin triển lãm mãi không được! “Ảnh của cậu đẹp thật đấy, nhưng cứ tạm cất đi đã”. (Vì chả biết cho triển lãm có được cái gì không? tai bay vạ gió thì khổ).

(https://www.google.com.vn/search?q=sx%20c%C3%B4ng%20nghi%E1%BB%87p&oe=utf-8&rls=org.mozilla:vi:official&client=firefox-a&gws_rd=cr&um=1&ie=UTF-8&hl=vi&tbm=isch&source=og&sa=N&tab=wi&ei=gs0nUouyM-uQigf-yoDIDg&biw=1010&bih=603&sei=hc0nUvOHCYyhigfLw4DYCw#hl=vi&q=h%E1%BB%8Da+s%C4%A9+l%C3%AA+tr%C3%AD+d%C5%A9ng&rls=org.mozilla:vi%3Aofficial&tbm=isch&um=1&facrc=_&imgdii=_&imgrc=6t_6jy9sbzdRCM%3A%3BZYjc4oQhYylfYM%3Bhttp%253A%252F%252Fttol.vietnamnetjsc.vn%252F%252F2013%252F06%252F17%252F16%252F12%252Fnu-than-dong-trinh_1.jpg%3Bhttp%253A%252F%252Ftintuconline.com.vn%252Fvn%252Fthugian%252F20130617161202003%252Fnu-than-dong-trinh.html%3B317%3B500)

Thực ra, các cụ tổ nhà ta không nghĩ rằng có một ngày hậu duệ của mình lại sinh ra “cẩn thận” đến thế. Khoảng 2500 năm trước, trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) các cụ còn gớm tới mức đúc cả một đôi “trai trên gái dưới” như không trên mặt thạp đồng. Các thế kỷ sau, trên điêu khắc đình làng, các phù điêu chạm nổi cảnh thiếu nữ tắm truồng bên đầm sen, hội họa thì có “đánh ghen” “Hứng dừa” khá lộ.. Bên Tây cởi mở hơn, thời Phục Hưng cao trào nhất, trên tường nhà thờ, trong vòm trần Thánh Thất đâu đâu cũng thấy tranh khỏa thân, cả đàn ông lẫn đàn bà, vẽ theo lối tả thực rất gần nhiếp ảnh. Sau này cả trong Siêu thực, Lập thể, Ấn tượng, Trừu tượng hình tượng “khỏa thân” cũng được đề cập đến... Gần đây, ở Việt Nam ta, họa sĩ Tô Ngọc Thành năm ngoái cũng vừa in một quyển sách tranh nude của riêng mình. Nhà xuất bản Văn hóa thông tin cũng vừa cho ra đời 2 cuốn sách tranh nhan đề “Cái đẹp vĩnh cửu” và “Tranh tượng khỏa thân”. Cả hai cuốn đều đăng tải toàn bộ các tác phẩm hội họa Nude đủ các chất liệu của hàng trăm họa sỹ trong và ngoài nước, từ cổ chí kim. Cũng góp phần vào sinh hoạt văn hóa văn nghệ đời thường của xã hội, một cách như nó vốn phải có. Đương nhiên, ta chưa bàn tới chất lượng nghệ thuật ở 2 cuốn này vội nhưng việc cho ra đời là một thành công. Gần đây nhiếp ảnh gia Lê Quang Châu có cho tôi xem Maket tập sách ảnh mà ông định in dưới cái tên “Mong manh”. Ảnh đẹp, tác giả biết kết hợp người mẫu với các yếu tố phong cảnh dân gian Việt: Vườn chuối, vườn hoa cải, lồng chim, cái giại trước thềm, bức mành trong nắng, chum nước... và tôi thấy cũng “lành” với vẻ đẹp thanh khiết của cơ thể người và phong cảnh kỳ thú giản dị. Kẻ viết bài này từng có dịp lang thang nhiều thành phố trên thế giới, thấy nhiều nơi người ta dựng những tượng đài khỏa thân lớn như tượng thần Apôlông với bộ phận sinh dục đầy đủ chi tiết hẳn hoi, tượng “Tình yêu” nổi tiếng của Rôđanh, đôi nam nữ khỏa thân ôm hôn nhau say đắm giữa thanh thiên bạch nhật... Trẻ con xứ họ lớn lên được tiếp xúc với không gian mỹ thuật như thế sẽ thấy bình thường. Tự nhiên, vẻ đẹp của cơ thể rắn chắc, khỏe mạnh, những đường cong huyền diệu tạo hóa ban cho thấm dần vào “gu” của đứa trẻ, hình thành một cảm thụ cái đẹp trong sáng, lành mạnh. Qua đấy, ta thấy cốt lõi vấn đề là ở giáo dục thẩm mỹ con người. Thấy nó bình thường thì nó bình thường. Thấy nó “không đứng đắn” thì nó thành không đứng đắn. Ranh giới giữa hai khái niệm quả là mong manh! Nhưng chắc ở xứ ta, sẽ còn tốn nhiều giấy mực đây?!

Chả trách Lê Quang Châu định đặt cho cuốn sách ảnh của mình cái tên “Mong manh” là phải. Giương buồm ra khơi mà phải vượt qua cái “Tam giác quỷ” Becmuđa ấy, nơi mà ranh giới giữa cái sống và cái chết cách nhau bằng nửa sợi tóc thì... tốn giấy mực còn là may!

* Becmuđa là một vùng biển phía Tây Đại Tây Dương, nối ba đỉnh: Puectôricô, đảo Becmuđa và Bang Florida (Mỹ) tới nay đã có hơn 1400 tàu thuỷ, tàu ngầm, máy bay bị mất tích một cách bí ẩn khi đi vào vùng tam giác này, nó còn gọi là “tam giác quỷ”. 

Tháng 4/2012



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 06 Tháng Chín, 2013, 07:33:54 am
                                           
Chân trời mơ mộng

Trong lịch sử đào tạo Mỹ thuật Việt Nam, có một khóa học đặc biệt, được sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt, khi đất nước bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ, năm 1964… Trưởng thành trong cuộc chiến vĩ đại đó, chính khoá học này đã đóng góp cho Mỹ thuật Việt Nam không ít gương mặt đặc biệt, nhiều người đã thành liệt sỹ…

Họ là những anh hùng trong nỗi nhớ, mãi sống trong ký ức chúng tôi - những học sinh hệ Sơ trung cấp 7 năm (được thành lập từ năm 1960 đến 1967 thì kết thúc). Nhất là trong những anh em hệ sơ trung cấp này, không ít họa sỹ tương lai đã trực tiếp cầm súng tham chiến trong cuộc chiến tranh bền bỉ, vĩ đại của Tổ quốc.

Năm 2010 có nhiều ngày kỷ niệm lớn, Đại lễ 1000 năm Thăng Long, 85 năm thành lập Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, cũng là năm Hệ Sơ trung cấp 7 năm của trường tròn 50 tuổi. Riêng tôi, tôi chỉ nhớ da diết các anh với cái thuở nào mới nhập trường, còn là “các em thiếu nhi” vừa hết cấp 1 phổ thông, đủ các dân tộc, cả những học trò miền Nam tập kết còn bé tý. Một khóa học không thể nào quên.

Dông dài, tôi nhớ cái mùa đông 1991 trong cái lạnh 200 âm ở Boxton - Hoa Kỳ, tôi bày triển lãm tranh cá nhân ở đó theo lời mời của Hội cựu chiến binh Mỹ. Trong một cuộc hội kiến thân tình, ngồi giữa nhiều người lính các màu da, tôi hỏi tuổi họ, hóa ra hầu hết đều sinh ra vào quãng 1948 - 1950… Một cựu chiến binh, anh William Short, nguyên lính trinh sát của sư đoàn Bộ binh số 1 (biệt danh Anh Cả Đỏ) có hỏi tôi: “Trong chiến tranh, có nhiều bộ đội phía các ông đào ngũ không?”. Tôi không biết sao anh ta hỏi vậy. Tôi cũng không có ý định làm con số thống kế đó. Để làm gì cơ chứ? Nhưng tôi không chút bối rối. Tôi trả lời: “Tôi nghĩ là không nhiều, dù những người lính hai bên đều là những con người, đứng trước cái chết, bản năng đều xui khiến trốn chạy…”

Vâng, đến bây giờ, tôi vẫn muốn khóc khi nghĩ lại giây phút ấy, khi tôi nhớ xa xót những bạn bè của tôi đã ra trận, đã hy sinh. Chính các anh chứ không ai khác, những người lính hoạ sỹ đồng đội của tôi, đã làm rạng danh quê hương xứ sở và cho trường ĐH Mỹ thuật VN, hồi đó là Cao đẳng Mỹ thuật VN, nơi mà các anh đã xếp bút lông, bảng vẽ, mang theo những chân trời mơ mộng riêng mình.…Tôi không lúc nào thôi tự hào về họ.

Hôm Ban tổ chức kỷ niệm hệ sơ trung 7 năm  tròn 50 tuổi đưa tôi một bản tư liệu, danh sách học sinh hệ 7 năm từ khóa 1 đến khóa 5 là 155 người, thì có tới 8 người đã hy sinh được công nhận liệt sỹ, trong số 21 người trực tiếp cầm súng lên đường ra trận. Đó là các liệt sỹ Hoàng Thượng Lân, Vũ Quang Long, Nguyễn Quang Việt, Hoàng Tích Minh, Hồ Nia, Lê Minh Trịnh, Phạm Văn Học, Quách Thiện Thuật…
Hồi ấy tôi thân với Hoàng Thượng Lân nhất. Chung nhau học hệ 7 năm, ngày nào cũng đi bộ đi học cùng vì nhà Lân ở phố Phù Đổng Thiên Vương, gần nhà tôi, khi đó ở phố Tô Hiến Thành. Chúng tôi hay rủ nhau đá bóng trong công viên Thống nhất, bơi tung toé Hồ Ha le, giờ là hồ Thiền Quang. Anh Lân nhập ngũ trước tôi 6 năm, vào bộ binh.

Từ ngày Lân ra trận, chúng tôi mất liên lạc. Cho tới lần đó tình cờ tôi gặp được anh ở chiến trường Quảng Trị, năm 1969.(Khi đó tôi là sinh viên năm thứ 2 vào thực tập tại Vĩnh Linh). Mừng vui khôn xiết, hôm ấy Lân chiêu đãi bạn cũ đồng môn ngay tại doanh trại của anh, một bữa cơm lính xôm ra trò. Rồi anh tặng tôi chiếc ca Mỹ và một chiếc võng dù, đều là chiến lợi phẩm Mỹ. Tôi còn giữ kỷ vật ấy mãi đến giờ.
Hai năm sau anh Lân hy sinh ở chiến trường Quảng Trị, không xa cái nơi ngày nào chúng tôi đã mừng rỡ gặp nhau giữa chiến trường, nhắc bao kỷ niệm ấu thơ… Nhưng phải tới mãi sau giải phóng, tôi mới chính thức biết tin anh hy sinh khi hành quân vượt sông Sê băng hiêng.

“Tài hoa ra trận” - tập nhật ký Hoàng Thượng Lân để lại, ngập tràn cảm xúc và những sự kiện khó quên của một hoạ sỹ lính, đúng hơn là của chàng sinh viên mỹ thuật trong cuộc chiến. Viết về tình yêu, lẽ sống, tình đồng đội, tình quân dân trong chiến tranh máu lửa,  anh đều viết bằng phong thái ung dung của một người luôn làm chủ mình. Tôi cứ nghĩ đó là món quà vô giá đầy tình yêu thương anh tặng cho cuộc sống.

Còn với Vũ Quang Long, tôi nhớ lắm cái tính nóng như lửa, cương trực Trương Phi của anh, và cặp mắt ốc nhồi, cái đầu trọc. Anh được bạn bè rất quý. Lần tôi gặp anh cuối cùng là ở nhà anh số 2 phố Nhà Chung, năm 1968. Lần ấy Long được ra Bắc an dưỡng sau những trận đánh dữ dội… Anh với tôi cứ trò chuyện bên bậu cửa liên miên, hết chuyện này chuyện khác sôi nổi, quên cả vào nhà. Chúng tôi hẹn nhau sẽ sang quê anh chơi, làng Phù Đổng nổi tiếng vì là quê hương Thánh Gióng… Nhưng rồi điều đó không thực hiện được. Ngay sau đó Long đột ngột ra đi sau cơn sốt rét ác tính dữ dội, hậu quả của những tháng năm ở hầm, đói khát, và muỗi  rừng…Tôi đau xót tiễn anh về làng Phù Đổng, nơi an nghỉ mãi mãi những ký ức tuổi thơ  của anh…

Hoàng Tích Minh đặc biệt hiền lành và có tật nói lắp.Tôi không quên câu anh tâm sự trong lần cuối tình cờ gặp nhau ở phố Tràng Thi, năm 1971, trước khi anh vào chiến trường. Minh bảo: “Sau này hoà bình trở về, mình chỉ vẽ các mẹ, các chị thôi, desin đẹp mà “dân gian”  lắm!”. Tôi vào chiến trường năm 1972, vài tháng sau lần gặp đó. Vào tới Gio-Linh (gần nghĩa trang Trường Sơn bây giờ), tôi bàng hoàng nghe các o du kích địa phương kể: “Ba hôm trước ở chỗ ni có anh bộ đội bị đạn pháo ra máu nhiều quá hy sinh, có lẽ anh ấy là họa sỹ vì lúc dọn ba lô chúng em thấy có mấy bức vẽ!”. Chúng tôi không cầm được nước mắt khi nghe kể về  những bức vẽ đó. Đúng là  “Phớ” của chúng tôi rồi, ( Phớ là biệt danh từ bé vì Hoàng Tích Minh hay đội chiếc mũ như ông bán tào phớ). Còn bao đồng đội nữa đã ra đi mang theo những bức  phác thảo, những chân trời mơ mộng riêng mình…

 Quách Thiện Thuật hy sinh trong những trận đánh liên miên giành đi giật lại các cao điểm trên chiến trường Quảng Trị anh hùng. Riêng Phạm Văn Học đã bị mảnh bom phá hỏng hoàn toàn 2 mắt trong chiến dịch Lam Sơn 719. Đơn vị anh bị B52 tập kích, khi đồng đội  đưa anh vào tới quân y viện ở Hạ Lào thì vết thương quá nặng, anh không qua được. Nhớ lắm người bạn ấy, hay cười hiền và ít nói vô cùng.

Nguyễn Quang Việt lại hy sinh trong một lần trinh sát nhập sâu vào căn cứ địch tại Hòn Tàu (Quảng Nam). Riêng trường hợp Lê Minh Trịnh thật trớ trêu. Anh hy sinh tại chiến trường Quảng Trị, từng vinh dự nhận nhiều huân chương chiến công… Sau này khi hoà bình, gia đình anh không may gặp hỏa hoạn cháy sạch tòan bộ giấy tờ. Khi đi xin cấp lại, chính quyền đã không công nhận xác minh lại cho Lê Minh Trinh. Gia đình anh chỉ còn biết về Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam xin giấy chứng nhận anh nhập ngũ từ trường.

Có một điều rất lạ là “lính 7 năm” có mặt hầu hết trong các sắc lính của quân đội ta: Thành Chương (bộ đội công binh). Lý Trực Sơn (cao xạ 37 ly phòng không, Tây Nguyên). Lê Trí Dũng (xe tăng). Hoàng Tích Minh (súng cối 82 ly sư 325). Phạm Mai Châu (súng 12 ly 7, sư 325), Lê Minh Trịnh, Hồ Nia (bộ binh quân đoàn 4). Lò An Quang (quân khu Tây Bắc). Sao Mai (Bắc Quảng Trị). Long Nam Cường (quân khu Việt Bắc). Lâm Đình Chiến, Lưu Phương Chính, Lê Huy Hạnh (sư đoàn 325 bộ binh). Nguyễn Đăng Dũng (tên lửa phòng không, không quân). Trần Luân Tín (thông tin hữu tuyến quân đoàn 2, được mệnh danh là con cá kình sông Thạch Hãn), Đinh Khắc Nhan (trinh sát quân khu 5), Võ Thủ Đức (lái xe Trường Sơn tuyến đường 559), Nguyễn Quốc Thành, Nguyên Thanh Bình (quân đoàn 2 anh hùng), La Bình (hải quân đoàn tàu  không số trên biển Đông, Sao Mai (Nguyễn Huỳnh Mai - E270 Bộ Tư lệnh Vĩnh Linh)…). Mang những chân trời mơ mộng hành quân như lính còn có các họa sỹ lăn lộn trên khắp các chiến trường bom đạn, như Lê Văn Thìn, Đoàn Văn Nguyên, Trần Trung Chính, Trần Hữu Tri, Hà Huy Thịnh, Nguyễn Viết Ngọc, Đào Công Huân, Trần Thanh Lâm.…

Lứa học sinh mỹ thuật hệ 7 năm còn cùng các thầy cô giáo Vũ Giáng Hương, Trần Huy Oánh, Lê Thiệp, Đỗ Hữu Huề, Trọng Cát, Đinh Trọng Khang…có mặt trên khắp các tuyến đường huyết mạch dưới lửa đạn, chịu trận cùng các đơn vị thanh niên xung phong Trường Sơn (C816, C892….). Họ san lấp hố bom, vẽ ký họa phục vụ chiến trường, ở Hàm Rồng, Đò Lèn, ga Nghĩa Trang, Núi Ngọc,… Những địa danh những kỷ niệm máu thịt, thầy và trò đều không thể nào quên.

Tôi ngồi đây, trong buổi chiều tà của dãy Trường Sơn, nơi từng hứng số lượng bom gấp hàng chục quả bom nguyên tử, nơi an nghỉ hàng triệu đồng đội của tôi, lặng lẽ nghĩ về cái nôi mình lớn lên, hệ Sơ trung cấp 7 năm Trường Mỹ thuật Việt Nam.

Thầy cô giáo của tôi ngày nay đã lên lão, là Nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, được nhiều giải thưởng cao quý. Nơi đó các bạn cùng tôi đã trưởng thành. Dòng chảy thời gian có bào mòn đến thế nào, dù thời buổi bon chen có làm lòng người “chai sạn” đến thế nào, chúng tôi cũng không bao giờ quên những người bạn từng cùng học thời thơ ấu, ra đi trong một chiều ráng đỏ, xốc AK lao lên dưới làn đạn, hy sinh lặng lẽ không một lời…. Tôi ngắm chân trời như nói lời từ tạ. “ Những con đường mong đến, chưa đi…” vĩnh viễn trong tôi có đủ đầy gương mặt đồng đội, bạn bè, những khắc ghi có một thời như thế.

23/2/2011



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 07 Tháng Chín, 2013, 06:18:06 am

SUY NGHĨ DỌC ĐƯỜNG 1

Suy nghĩ dọc đường thường là chuyện nọ xọ chuyện kia, lan man bất tận... Chẳng đầu chẳng cuối, nhưng nếu ta xâu chuỗi cả đống lủng củng ấy lại, vẫn có thể “tóm” được một cái gì đó... Cái “đó” có thể là tình người, lòng nhân bản, kinh nghiệm sống... và đôi khi, chỉ là một chút thú vị nho nhỏ! làm gia vị cho cuộc sống xô bồ này. Thôi thế là cũng tốt lắm rồi còn gì?

Trong những đợt hành quân đường đời, khi chiếc xe lăn bánh qua các nẻo đường, vượt qua những cây cầu, bao giờ tôi cũng bồi hồi, những cây cầu bắc qua các sông rạch mang những cái tên cổ xưa: cầu Gòn, cầu Bà Đen, cầu Ông Miễu, cầu Rạch Chiếc, cầu Hàm Luông... toàn những cái tên vừa lạ vừa quen, ghi những bàn chân to bè, ngón cái choãi ra theo thế “giao chỉ” của tổ tiên vượt đất vào dưới bóng cờ Chúa Nguyễn! Mắt nhìn những gò đống lau sậy ngút ngàn nơi giao tranh suốt 200 năm của quân Trịnh Nguyễn, tai rì rầm nghe chuyện của chú lái xe kể về con em dâu có khả năng “nhập đồng” đặc biệt, mỗi khi gia đình có việc gì cần kíp muốn “thỉnh” ông bà về để xin ý kiến. Thường thì thiên hạ phải làm lễ “cầu cơ” hương khói cẩn thận, họa chăng các cụ mới về, còn không thì công cốc! Đằng này, hương vừa thắp lên, lời khấn chưa dứt, con bé đã đảo lia lịa, say đứ đừ, mồm nói y giọng các cụ, truyền dạy điều gì đó (thường là trả lời điều cầu khẩn) lát sau, ngã vật ra, rồi lồm cồm bò dậy. Hỏi: “Mày vừa nói gì?”. Trả lời: “Không nhớ gì cả...!”. Nó đáng tin như chuyện đêm đêm 10 cô gái Ngã Ba Đồng Lộc thường ra chải tóc gội đầu dưới gốc cây bồ kết mới trồng ngày nào mà xanh tốt, quả sai chĩu chịt...

Trong chặng đường trên đoạn đường Hồ Chí Minh mới rải nhựa, xe chạy bon 80km/h. Ngày xưa, chúng tôi phải leo đèo lội suối hàng tháng trời mới vào được A Sầu - A Lưới, sân bay A lưới vẫn còn đây, lại nhớ đoàn họa sỹ do thầy Huy Oánh dẫn đầu vào Trường Sơn, lúc đó khát, rét, mệt, muỗi rừng... lại có lúc 4 người ăn cả một cái đùi nai nướng không hết, lại có lúc ăn vã hàng chục con cá chình nướng đến nỗi phải quẳng đi, với nỗi tiếc kỷ vật thời chiến như cây gậy trúc Trường Sơn mà trên đó chằng chịt những địa danh đã in dấu chân của đoàn và ruột của nó đựng 8 cái gọng vó tự chế, khi cần giương ra là thành cái ô che mưa, nắng... Mệt đến như thế, nặng đến như thế mà sau 7 tháng gian nan khổ sở, họa sỹ Ca Lê Thắng vẫn cõng được một gùi phong lan rừng đủ loại về nhà... Nhắc đến đây, lại nhớ chuyến chúng tôi vào thăm chị ruột Thắng, chị Ba Du, một “việt cộng nằm vùng” trong đội quân tóc dài lừng danh năm xưa. Chị nhỏ thó, đặc một bà má Nam Bộ, giờ chị sống tại Mỏ Cầy Bắc, nơi cả đời gắn bó qua các cuộc đấu tranh, bốn lần bị Chính phủ Quốc gia cầm tù, tra tấn, chị hồn hậu kể về những lần gặp và nuôi giấu các họa sỹ Lê Lam, Cổ Tấn Long Châu, Hoàng Anh... Cầu Hàm Luông còn đó, rừng dừa nước vẫn còn đây... mà kỷ niệm dường như đã xa lắc, còn chúng tôi vẫn rưng rưng tận đáy lòng.

Trong các đợt công tác, bao giờ “vùng miền” cũng gây xúc động cho tôi. Ở Mỹ Tho, có một tác phẩm tôi thích, đó là một tranh vẽ trên các tấm ván gỗ xẻ mỏng ra, ghép lại và vẽ lên nó, vân gỗ còn nguyên, bố cục hoang sơ mà chặt chẽ, phảng phất nguyên thủy... nhưng té ra lại là của một họa sỹ ngoài bắc vào định cư ở đây, họa sỹ Hoàng Anh! Ở Buôn Ma Thuột, một tấm ván khắc đen trắng mộc bản khổ lớn, trên đó là hình người và rừng núi Tây Nguyên, rất Tây Nguyên, vì nó là “gỗ”, là rừng, là núi. Đêm về, mưa cao nguyên ẩm ướt, một mình với ly cà phê Ban mê, nghe “Phôi pha” của Trịnh, nghe “Đôi mắt Plâyku” của Nguyễn Cường  lại nhớ về những đô thị lớn với các trào lưu sóng dậy của “Hiện đại” rồi “Hậu hiện đại”, rồi có lẽ sẽ “Hậu hậu hiện đại” với những thuật ngữ rối rắm, với những ý tưởng siêu cuồng và những téc-ních kỳ quái, trong nhịp sống rùng rùng, ào ạt sóng dồn của nhạc Rốc, Ráp... của thi Hoa hậu, của tút, trát, bơm, xịt, nhồi, nặn, gắn, bắt vít, đục, khoét của kỹ thuật tân kỳ trên mặt toan mặt vóc, với những mối tình “Tháng”, tình “Tuần”, tình “Ngày”... tốc độ nhanh với nhịp sống đô thị thì nghe T.C và P.C.T kể hai mối tình “xưa” của những người thân của họ, lại thấy câu “bao giờ cho đến ngày xưa” thật hay. Mạo muội xin phép hai chiến hữu kể ra đây để thiên hạ cùng hay. Chả hóa cũng thú lắm sao? - Chuyện “Rang áo” của T.C như sau: Họa sỹ T.C có một cô em gái. Từ xưa, trong nhà con đàn, các cụ thường nói: “Sẽ có một đứa vất vả, gánh đau khổ cho những đứa khác...!” thì cô này, tên H hình như ứng vào câu nói đó! H học hành bình thường, không thích nghệ thuật như các anh chị em, hết phổ thông, học bồi dưỡng nghiệp vụ 1 khóa 3 tháng, và quen anh Dương, là bộ đội đi học, cùng lớp, giữa hai người nảy sinh tình cảm luyến ái, đúng hơn là H rất yêu Dương. Hết khóa học, anh Dương trở về đơn vị, ở một tỉnh khu 4, cuộc sống thời chiến cùng gian khổ ngày thường làm Dương sớm quên H. Tại Hà Nội, H một lòng nhớ người yêu, hàng chục lá thư gửi đi không có hồi âm, trong một khóa học sau, H quen một cô bạn cùng lớp người Thổ (Nghĩa Lộ), cô bạn nói: “Đằng ấy tương tư à? Theo tớ về nhà, tớ dạy cho một bài thuốc lạ, sẽ “gọi” được bạn đằng ấy về...”. Hết khóa học, H theo chân bạn gái lên Nghĩa Lộ, không biết hai cô làm gì trên đó, 6, 7 tháng sau H trở về Hà Nội, trong tư trang có 1 cái chảo, 1 bó lá rừng sấy khô... Rồi H nổi lửa, đặt chảo lên, cho vài cái lá vào, miệng lẩm bẩm điều gì... và đột ngột H cho vào chảo 1 cái áo, cái áo của anh Dương để lại, và rang, theo nhịp đũa, H vẫn đọc “chú” độ 30 phút, cuộc rang áo kết thúc, H cũng mệt lử... cả nhà tròn mắt... Cứ như thế, mỗi ngày một cuộc, độ 10 ngày sau, anh Dương lử khử về Hà Nội, gặp ông bố H và xin ông lấy uy quyền của một đấng sinh thành ra H, nói với H đừng rang áo nữa, trong đơn vị Dương ngứa ran không chịu được, cào cấu điên cuồng... và linh cảm thấy cảnh “rang áo”, và cũng trần tình. Con với em H cũng có cảm tình luyến ái, nhưng nhà con ở quê đã dạm cô hàng xóm cho con và chỉ chờ con nghỉ phép là hai gia đình tổ chức cưới, con cũng không ngờ H lại cảm mến sâu sắc đến thế...! Nghe ra, ông cụ hết lòng khuyên bảo H và Dương lại trở về đơn vị, nhưng lòng yêu thì khôn nguôi, thỉnh thoảng, H vẫn đem áo ra rang, cho đến một ngày, quá lửa, chiếc áo cháy mất, không còn gì để rang nữa. Một hôm, H gọi đứa em trai 17 tuổi ra và bảo, mày có thương chị không? Nó bảo: Thương chứ! Thế chị nhờ mày vào Hà Tĩnh, chỗ anh Dương công tác, giả vờ thăm anh rồi lấy cho chị một cái áo của anh được không? Thương chị, thằng em lẽo đẽo đường trường, nhờ xe bộ đội vào Kỳ Anh - Hà Tĩnh thăm anh Dương và “thó” được một cái áo như mệnh lệnh đã giao... Thế là màn rang áo lại tiếp tục, anh Dương lại lộn ra, nhưng lần này đích thân anh tước lại cái áo và về quê làm đám cưới cô hàng xóm... Một thời gian sau, tại quán phở xế nhà anh Dương ở Hải Dương (lúc này anh đã giải ngũ) xuất hiện một cô gái sạch sẽ, nhưng làm công việc rửa bát thuê cho quán phở. Đó là H... cô đã từ Hà Nội xuống Hải Dương xin rửa bát chỉ để... được nhìn thấy bóng hình của Dương hàng ngày đi làm và về nhà... Nghe xong, tôi rợn người nghĩ đến sự chung tình tuyệt đối, T.C bảo - Đúng! Tôi cũng có lần vâng lời bố, gặp nó để khuyên nhủ, thôi cái trò rang áo đi, đàn ông đàn ang thiếu gì... Nó bảo, anh không biết gì về tình yêu. Đã là tình yêu, thì trên đời này chỉ có Một. Chỉ yêu được Một Người mà thôi...! Tôi cũng gai người, lại trộm nghĩ, may mà đó là rang áo, ngộ nhỡ rang quần thì không biết sẽ làm sao đây?

Chuyện của P.C.T: Vào những năm 69, 70... họa sỹ còn là một chú bé, và có mấy bà chị, bà chị gần anh khá xinh, học sư phạm Vinh, một lần, chị ra ga Vinh mua vé tàu về Hà Nội thăm nhà, thấy người bán vé đang căng thẳng với một anh bộ đội, người anh chắc, đậm, ngăm đen, nóng như lửa, đang mắng người bán vé: “Chủ nghĩa xã hội là ưu việt, tự do đi lại, vào rạp hát, vào công viên, lên tàu hỏa... không cần mua vé, tại sao anh thu tiền bất chính”... Đương nhiên anh bán vé chỉ đưa vé khi có tiền, lúc ấy chị thấy thương, chắc anh vừa ở chiến trường ra chưa hiểu tình hình miền Bắc bấy giờ, chị bảo: “Đúng! xã hội chủ nghĩa là thế, nhưng hiện đang bán vé để lấy tiền ủng hộ miền Nam ruột thịt”... Và chị bỏ tiền mua vé cho anh... Đến Hà Nội, chị mời anh ghé qua nhà uống chén nước, anh bộ đội đồng ý và được cả nhà quý trọng, lúc này mới biết anh ra Bắc dự Đại hội anh hùng lực lượng vũ trang toàn quốc... Sau đợt thăm nhà, trở lại trường, chị lại mời anh đến nói chuyện chiến đấu cho nhà trường nghe, ngắm anh ngực đầy huân chương, dạn dày trong bộ quân phục giải phóng, mọi người đều tự hào, tin ở ngày chiến thắng và thầm nghĩ có lẽ đôi này cũng đẹp đây? Rồi người lính trở lại chiến trường, rồi chị ra trường và lấy chồng như bao cô gái đến tuổi lập gia đình khác, trong chiến tranh, tất cả đều phải nhanh, làm được cái gì phải làm luôn, và thế là chị lấy chồng. Vả lại, người lính năm xưa không hẹn ước gì, không một cái hôn, cả không cầm tay nữa... Đến ngày 7 tháng 5 năm 1975 (tức là chỉ sau ngày giải phóng miền Nam 1 tuần), một chiếc com măng ca xịch trước cửa, một người lính nhảy xuống, hoan hỉ bước vào nhà, bà chị lớn là người nhận ra anh đầu tiên, sợ thót tim, tiếp theo là cả nhà, không ai nói nổi một câu gì, giây lát, người lính hiểu tất cả. Anh cũng không nói gì, bên cạnh người cần vụ, anh khóc, không thành tiếng, hai hàng nước mắt cứ thế tuôn rơi, anh khóc rất lâu, rồi đứng dậy, khom mình chào cả nhà, lặng lẽ ra xe, và không bao giờ anh quay lại nữa...

Tôi có mặt trong những năm tháng đó, tôi biết lắm, những chuyện tương tự như thế ngày nay không còn nữa. Có một điều gần như là quy luật, càng trong gian khó, tình cảm càng đầy, và no đủ, người ta không coi trọng nó. Với tôi, tất cả kỷ niệm dĩ vãng ấu thời, nó lãng mạn, thơ mộng xiết bao dù vương đầy khói bom và bùn đất của những hầm tăng sê, giao thông hào mới đào, của mùi rơm rạ ngoài đồng, của những giọt sương long lanh trên lá sen già, của ruộng “guột” trong nắng mai, của vườn ổi đào trưa hè hoặc luỹ tre làng chiều hôm, xa xa là núi Hia mờ trong sương chiều, hoặc đàn cá mương tung tảy trong làn nước trong vắt sông Cầu nắng hè... và màu áo lính vẫy gọi trong tiếng súng chiến trường xa... Mãi sau này, và đến tận bây giờ, mặc dù bao nhiêu đợt các bạn cùng lớp đã về thăm nơi sơ tán cũ. Tôi vẫn không dám về, tôi sợ, dĩ vãng xa xưa, kỷ niệm êm đềm, mộng mơ trong trắng sẽ tan biến đi dưới những con đường rải nhựa, những nhà mái bằng hay những cây cầu mới... Nếu thế, có lẽ tôi khóc mất... Tôi muốn mãi mãi ký ức trong ngần ấu thơ đừng bao giờ tan biến, mãi mãi lắng sâu trong “miền cổ tích” rực rỡ của tôi. Cùng những người thân thiết ngày ấy mà tôi vẫn mang trong mình không bao giờ quên!...

Đã gọi là suy nghĩ dọc đường thì ngổn ngang lắm, đúng là chuyện nọ xọ chuyện kia, loạn xị ngậu, y như món nộm hoa chuối... Nhưng vị tất cơm gà cá gỏi đã địch được nó... Nó hỗn tạp thật, xe thì xóc nảy người, lên dốc xuống đèo, những suy nghĩ nhảy loạn lên...

Suy nghĩ dọc đường thì lộn xộn và thú vị.
Bởi nó là chính cuộc sống này.
Lủng củng và lôgic.

Nhưng nằm duỗi dài, nghe Flamengô dồn dập, kệ mẹ đời vẫn thú hơn, sẽ thêm hương vị nếu nhồi thêm một điếu vào tẩu... dù mình không nghiện.
Và lơ mơ kết thúc, cũng hơi dài rồi, còn gì để vào “suy nghĩ dọc đường” phần 2 vậy.

Chào!
Hẹn chuyến đi sau.
Lủng củng và logic

Ngày Toàn quốc kháng chiến


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 08 Tháng Chín, 2013, 04:14:14 pm
SUY NGHĨ DỌC ĐƯỜNG 2


Lời dẫn:
Giống như suy nghĩ dọc đường 1, tôi vẫn phải thưa với bạn đọc suy nghĩ dọc đường thì bao giờ cũng trục trà trục trặc, lục cà lục cục, lủng cà lủng củng và nó cũng gập ghềnh theo nhịp bánh xe lăn, nhất là lúc qua ổ trâu, ổ gà... Tôi cũng không nhớ lần Nam hành này là lần thứ bao nhiêu trong đời nhưng lần nào cảm xúc cũng mạnh dù vẫn qua những địa danh cũ. Dịp tháng 4 này tôi lại Nam hành. Điểm đến là Huế để dự cuộc hội thảo Mỹ thuật Bắc Miền Trung. Vì lẽ đó, nếu như Huế có được nhắc đến hơi nhiều, mong bạn đọc thể tất cho.

Huế - chính là Hóa đọc chệch ra, Thuận - Hóa là tên đã được đổi từ hai châu Ô, châu Lý. Thuận là châu Ô (Quảng Trị) và Hóa là châu Lý (Thừa Thiên) ngày nay. Hai châu Ô, Lý năm 1306 vốn là của Chiêm Thành, song nó được vua Chiêm là Chế Mân dùng làm sính lễ cho nhà Trần để lấy công chúa Huyền Trân (con gái Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông bấy giờ). Nhưng than ôi! Duyên lửa của ông vua Chiêm Thành hào hoa với hoàng hậu Đại Việt chưa được bao lâu, dù đã hạ sinh được 1 hoàng tử khôi ngô thì một năm sau ngày cưới, nhà vua băng hà. Theo tục lệ của người Chiêm, hoàng hậu phải hỏa thiêu theo chồng. Tiên liệu nguy cơ đó, triều đình nhà Trần phái Nhập nội hành khiển, Thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung vào cứu Huyền Trân. Theo đó, phái bộ xin Chiêm Thành cho hoàng hậu ra tế ở bờ biển để “Chiêu hồn” và giã biệt tổ tiên. Người Chiêm tin đó là thật. Nhân lúc sơ hở, phái bộ đưa nhanh hoàng hậu lên một chiếc thuyền buồm nhỏ, nhẹ tếch ra trùng khơi. Lênh đênh trên biển 15 tháng Huyền Trân công chúa mới về đến Thăng Long. Thoát hiểm bằng đường biển, nhưng chắc khi “nhập cung” bà phải đi bằng đường bộ và phải đi qua hàng trăm cây cầu, hàng chục con đèo. Tôi lẩm nhẩm đếm chỉ kể từ cầu Đò Lèn vào Huế theo quốc lộ 1A đã có gần 100 cây cầu với những cái tên cổ tích: cầu Cấm, cầu Gia Lách, cầu Treo Vọt, cầu Trại Trâu, cầu Hói Sâu, cầu Nghèn, cầu Trìa, cầu Ái Tử, cầu Nhan Biều, cầu Biến Đá, cầu Phò Trạch, cầu An Lỗ... Phía đường Hồ Chí Minh thì tên nghe còn lạ hơn: cầu Ồ Ồ, cầu Thụp Núp, cầu Khe Ác, cầu Đập Bỉ, cầu Khe Mít, cầu Xà Manh... Bắc Trung Bộ địa hình vốn hẹp, độ dốc cao với hàng trăm khe lạch đổ nước ra biển, lắm cầu là phải. Qua cầu Đò Lèn và Hàm Rồng lại nhớ một thời các thầy Oánh, thầy Huề dẫn hai lớp 7 năm 1 và 2 vào thực tập đồng thời tham gia chiến đấu cùng các đơn vị Thanh niên xung phong năm 1965. Qua đoạn cầu Hiền Lương, nhìn chếch phía Cửa Tùng, nhớ 1969 cùng các anh chị lớp cao đẳng 1 đạp xe vào Vĩnh Linh vẽ, tôi mạo hiểm ra tận bờ sông ký họa, suýt bị dân quân địa phương bắt vì nghi vượt tuyến. Qua cầu Thạch Hãn lại nhớ tụi Hoàng Tích Minh, Lê Minh Trịnh, Phạm Mai Châu, Trần Luân Tín, Lê Duy Ứng, Nguyễn Hải Nghiêm, Trần Lê An... là những sinh viên Mỹ thuật nhập ngũ tháng 9 năm1971 cùng đợt đó có Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Nhuận Cầm... Tất cả các anh đều tham chiến tại thành cổ Quảng Trị 1972... Nhiều người đã hy sinh... Chắc Huyền Trân công chúa 700 năm trước trên đường về nhà chồng qua các đất Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Châu Ô, Châu Lý... cũng không thể tưởng tượng rằng một ngày nào đó nó lại trở thành “ác địa” tới mức như  năm 1972. Nếu hành trình đi làm dâu xứ người được coi như một nghĩa cử hy sinh để mở mang bờ cõi:

“Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dạm
Một gái Huyền Trân của mấy mươi”


Thì trong dân gian không khỏi có lời eo xèo:
“Tiếc cho cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”


Còn chính bà, dường như mượn lời ca trong điệu Nam Ai để tỏ lòng mình:
“Nước non ngàn dặm ra đi
 Cái tình chi
Mượn màu son phấn trả nợ Ô, Lý”


Ngày nay, Huyền Trân công chúa đã được vinh danh trong một ngôi đền tuyệt đẹp dưới chân núi Ngũ Phong (còn gọi là Trung tâm văn hóa Huyền Trân). Hậu đền có thờ cả Thái Thượng hoàng - Tổ thứ nhất Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam Trần Nhân Tông - phụ thân bà). Vừa qua, nhân dân Việt Nam có tổ chức lễ kỷ niệm 700 năm sự kiện bà vào Chiêm làm hoàng hậu rất long trọng. Cách đó không xa, cũng có một quả núi khác, tuy không cao lắm nhưng khí rất sáng. Tên là núi Bân. Ngẫu nhiên một ngày nọ, tôi đọc được bài “Còn đâu áo vải cờ đào” của tác giả Nguyễn Tường Bách viết năm 2004. Ông cho biết chính tại núi Bân này, người anh hùng áo vải Tây Sơn đã lên ngôi Hoàng đế, xuất quân thần tốc như vũ bão ra Thăng Long đánh tan 20 vạn quân Mãn Thanh xâm lược. Nguyễn Tường Bách cũng than rằng, bây giờ có còn ai nhớ đến sự tích anh hùng của núi Bân nữa? Nó đã bị rơi vào quên lãng, bây giờ người ta gọi nó là Cồn Mồ vì người ta đến chỉ để tranh giành đất xây lăng mộ... Nhưng ông đã không biết rằng, chỉ 3 năm sau, năm 2007 nhân dân Việt Nam đã khởi công xây một tượng đài Hoàng đế Quang Trung cao sừng sững bằng đá (mẫu do nhà điêu khắc Lê Đình Quỳ sáng tác). Tượng đá cao ngất trời mây giữa quảng trường mênh mông, sau lưng là một bức phù điêu hoành tráng kể về các chiến công của quân và dân Việt đánh thắng xâm lược Mãn Thanh dưới tài chỉ huy bách thắng của Hoàng đế Quang Trung. Đúng như lời Hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã nói:

“Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình”


Sau chiến tranh, sau mấy chục năm bao cấp, rồi đổi mới. Mỹ thuật Việt Nam cũng góp tay vào thay đổi bộ mặt đất nước. Dọc theo dải đất miền Trung khô cằn và khắc nghiệt. Vào một buổi chiều tà, chúng tôi dừng chân ở Ngã ba Đồng Lộc. 40 năm trước, xe tăng hành quân qua nơi này, khi đó ở đây giống y như trong tranh của họa sỹ Lê Huy Hòa, nghĩa là không còn một lá cây ngọn cỏ, hố bom chồng lên hố bom, quang cảnh như trên mặt trăng, sao Hỏa vậy... Thế mà bây giờ cây cối tốt tươi một vùng quanh khu mộ 10 cô gái Thanh niên xung phong hy sinh ngày 27 tháng 4 năm1968 vì bom vùi. Và quanh nó có đến mấy cái tượng đài. Qua Thanh Hóa, Vinh, Hà Tĩnh, Hiền Lương, Dốc Miếu, Huế... đâu đâu cũng thấy tượng đài, tượng đài xứ ta phải cái na ná giống nhau, ngắm các công trình đó, ta phải liên tưởng là nó được dựng nên sau những trận mưa “duyệt” của những người cầm tiền có cùng một trình độ hiểu biết gần giống nhau. Còn tượng đài các anh hùng dân tộc thì như “anh em một nhà” kể cả y phục dù các cụ sinh ra cách nhau hàng thế kỷ. Quảng Trị thì tôi chưa được lịch duyệt, nhưng chỉ lướt qua khu Thành Cổ thì lạ thay lại chưa thấy tượng đài? Hay người ta cho rằng, bản thân khu thành nát bét gạch đá, thấm đẫm máu người đã là một tượng đài hoành tráng, oai hùng rồi? Nói thế thôi, chứ tôi biết phía đông nội thành, gần nhà bảo tàng có một đài tưởng niệm nho nhỏ, đài xây hình cuốn sách mở ra hơi giống một lá cờ, phía trước có một ngọn lửa nhỏ hình cây bút kiêu hãnh, khiêm tốn. Đó là Đài kỷ niệm các sinh viên ra trận và tham gia 81 ngày đêm ở Cổ thành đẫm máu này. Kinh phí xây dựng và mẫu thiết kế do những người còn sống góp vào, sáng tạo và xây nên... Phía sau là hơn 10 phù điêu kể về chiến công của các anh từ khi còn trên giảng đường, rồi nhập ngũ, rèn luyện, chiến đấu, đoàn kết quân dân, tình đồng đội... như thế nào... Khi tôi vào thắp hương, trời mưa, đài kỷ niệm lại không có mái. Tôi cắm hương và lầm rầm khấn, cầu cho quốc thái dân an và xin chữ bình an. Kết thúc tôi bảo: “Nghe nói năm nay “trên” định tổ chức giỗ cho các ông to đấy, vì là năm chẵn mà”. Mưa như thế, mà bát hương bốc cháy đùng đùng! Lạ!

Đã 40 mùa hè đỏ lửa qua rồi kể từ cái ngày xách túi quần áo lên xe commăng ca nhập ngũ, xe rời sân trường dưới trời mưa bụi, giữa sân 42 phố Yết Kiêu chỉ còn một bóng người tiễn biệt... Tuổi trẻ sáng trong, mãnh liệt và chân thật! Trải qua dâu bể bụi trần quăng lên quật xuống, cái gì tốt đẹp nhất thì vẫn còn mãi. Núi cao băng qua thời gian, sông dài vượt qua năm tháng, suy nghĩ dọc đường thì gập ghềnh như thế, nhưng nó đã giúp tôi nói lên được cảm xúc của mình. Và quan trọng là nó thật!


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 09 Tháng Chín, 2013, 09:32:28 am
SUY NGHĨ DỌC ĐƯỜNG 3

Tháng 3.
Tháng 3 nào tôi cũng có một cảm giác cô đơn.
Nó là tháng của sinh thành - Là tháng của chia ly…
Là tháng của bông sen đơn độc đầu mùa mọc lên giữa một đầm sen toàn cọng sẫm đen khô khẳng, đổ ngang đổ ngửa vừa trải qua một mùa đông giá buốt. Dọc quốc lộ 1,vào tận Huế, bao nhiêu là đầm sen…Toàn sen tàn, đẹp một cách lạ kỳ, nó mang nhiều tính báo hiệu… Báo hiệu cho nắng vàng tháng 4, cho những cơn mưa rào tháng 5 cá rô rạch ngược, cho chói chang nắng rát cổ tháng 6, cho những cơn bão đầu mùa tháng 7, cho gió heo may tháng 8…

Tháng 4 nắng vàng. Trong chiến hào Gio Linh 39 năm trước. Từ cái đài Orionton  chạy pin phát đi một bản tin buồn: “Đại danh họa Picasô đã từ trần…” Giữa  vùng quân đóng xen kẽ với địch nơi mà những người lính có thể ra đi cùng Picasô bất cứ lúc nào.Tôi thầm thắp một nén hương trong lòng cho bậc trưởng thượng nghề Họa, cầu xin Ông phù hộ cho cuộc chiến sớm kết thúc. Ông là Tướng tiên phong trong hầu hết các trường phái hội họa trên thế giới, Nhớ giai thoại ông trả lời mấy bà quí tộc trong một triển lãm tranh [trừu tượng] của mình . Mấy bà sau khi xem khắp lượt xong, gặp ông và hỏi [đại ý]:  “Thưa ngài! Ngài vẽ gì mà chúng tôi chả hiểu gì cả...?” Picassô trả lời [đại ý] : “Thưa các quí bà, họa sỹ chúng tôi phải học “tử công phu” như thế nào mới vẽ được như thế này. Thì người thưởng thức cũng phải “học” để hiểu đấy ạ…”
Phải học! Cho dù học ở đâu…Học ở nhà trường, học ở bạn bè, học ở sách vở, học ở cuộc đời…Biết bao họa sỹ tự học mà thành danh…Cho dù đi con đường nào thì vẫn phải vững vàng về cơ bản [xin hãy hiểu đúng nghĩa từ cơ bản]. Những người tinh mắt không khó khăn gì để phân biệt tác phẩm Trừu của một người vững vàng cơ bản với một người khoác áo đương đại giả vờ.
Sự thật bao giờ cũng chỉ có một.

Tháng 5. Đó là tháng khi tôi gieo quẻ có tên là Phong Thủy Hoán.[Gió mây tan]. Quẻ của sự thay đổi. Trong những cơn mưa rào đầu hạ như quất vào mặt, cá rô rạch ngược lên tận đường nhựa là khi lòng người rất dễ đổi thay, sấm sét mây mù dễ làm lòng người chao đảo… Tháng 5 cũng là tháng khởi đầu những cơn bão, của mùa bão… Nhà nghiên cứu Dịch học Xuân Cang giải nghĩa: Hoán là thay đổi, là lìa tan. Như gió thổi tan mây mù trên mặt sông . Lìa tan là buồn thương nhưng lìa tan cũng có mặt tốt của nó, ví  như gió thổi mạnh xua tan mây mù để trời sáng lại. Quan trọng là tùy Thời mà thôi…Vâng! Chữ Thời quan trọng lắm, tôi biết. Có lần một họa sỹ trẻ tự dằn vặt với tôi: Em thật chán! Em đã rất phấn đấu rồi mà mãi vẫn không được cái giải nào… Tôi an ủi: Đó là em chưa gặp Thời thôi! Vào một lúc nào đó, ở một triển lãm nào đó với một hội đồng nghệ thuật nào đó ta sẽ là hoa hậu, thật đấy, tôi đã thấy khi vào giải khu vực anh chỉ là giải C. Vậy mà, lên giải trung ương anh lại được giải A… Đó là do Thời, do bối cảnh đã thay đổi. Vận mệnh cũng đổi thay theo Thời! Mặc  dù  vậy, tôi vẫn phải giơ hai tay lên trời mà thốt lên rằng: Ôi! Hoán ơi là Hoán.

Tháng 6. Nắng như đổ lửa. Chả có gì phải nghĩ khi ông trời  bắt phải chịu như thế. Nghĩ gì nữa khi sờ vào bất cứ vật gì trong nhà cũng bỏng tay.

Tháng 7 thì nhiều điều làm ta suy nghĩ. Đi Quảng Trị vào lúc nào? Mưa bão đến thì đối phó ra sao? Giông tố bão bùng thì con người cần gì? Sự can trường? Có  một người anh lớn dạy tôi: Hãy cứ nghĩ tất cả mọi khốn khó trên đời đến với anh như là Trời đặt ra để thử thách lòng can đảm của anh...Anh sẽ thêm sức mạnh để vượt qua…Ông nói thêm: Trả xong một mối thù, ta đã thắng một trận…Nhưng nếu tha thứ cho kẻ thù, ta sẽ chiến thắng suốt đời! Trước những lời thị phi, nhưng mưu mô hiểm độc, những lời đàm tiếu, những ánh mắt hiểu lầm của người thân…nhẫn nhục được mới là can đảm!
Tôi thì tôi thấy rất cần buông thả! Vứt tất cả ra khỏi thuyền…Thuyền không sẽ đi mau.   
      
 Tháng 8. Gió heo may về, buồn hiu hắt. Có người hỏi rằng việc quái gì hay buồn thế . Tôi bảo thằng người mà cái mặt lúc nào cũng hơn hớn lên vì thỏa mãn, tôi tài lắm, tôi giàu lắm , tôi thành đạt lắm, tôi được nhiều giải lắm, cả nhà tôi…lắm lắm…Thì chịu thế chó nào được?
Cứ mỗi lần đi công tác. Cho dù có hôm do cả đoàn ham việc để lỡ độ đường, lặn lội nửa đêm vẫn chưa tìm được chỗ ngủ… Cho dù có hôm cố chấm cho xong đến hơn 1 giờ trưa mới xong các giải…Gìa trẻ lớn bé dắt nhau ra phố tìm hàng cơm…Đi từ đầu phố đến cuối phố hơn 10 hàng cơm đều…hết sạch! Suýt tụt áp huyết…Cho dù gặp đợt thời tiết giở quẻ, hành trình trục trặc, hết người này ốm vừa khỏi lại đến người khác, thay nhau đi mua thuốc chữa bệnh…Cho dù hành trình gian nan suốt từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau. Gió mưa nắng lửa, đói rét khô hanh bốn mùa lắm khi cảm nặng nằm lại giữa đường… Thì cứ nghĩ đến đôi vợ chồng trẻ họa sỹ địa phương nghèo khó nhưng yêu nghệ thuật đến mức đèo nhau bằng xe máy chở 8 bức tranh từ Điện Biên sang Lạng Sơn để tham gia triển lãm khu vực… Nghĩ đến đoạn đường núi một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm và mong ước của họ là… chỉ được treo thôi là đã hạnh phúc lắm rồi. Tự nhiên lòng thấy xúc động. Nghĩ đến anh em họa sỹ địa phương chỉ được vẽ tranh cho mình sau khi hoàn thành bao phần việc ngoài nghệ thuật không thể từ chối. Nghĩ  đến bao công sức tiền của đổ vào tác phẩm mà theo các anh là phải “Cắt áo vợ - nợ cơm con”. Tham gia rồi, triển lãm bế mạc rồi… không được giải gì, đem về nhà không biết để vào đâu? Ở địa phương rất khó bán tranh.    Cứ nghĩ đến bao anh em ngoài giờ hành chính phải làm thêm, nào mở hàng càphê, nào kinh doanh ăn uống…để có chút tiền đầu tư vẽ…Tất cả những điều đó đã làm nên phong trào, ngày càng nâng cao phong trào. Đợt vừa rồi triển lãm khu vực ở Lạng Sơn. Một nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng đã nhận xét: Triển lãm lần này đã thoát khỏi tính nghiệp dư…

 Dọc đường tôi đi, những cảm xúc như thế cứ quẩn quanh. Nó lý giải cho mình cả những câu chuyện…hài hước trong đội ngũ chúng ta. Nhưng như tôi đã nói ở trên,Thuyền không ơi, thế là đi nhẹ nhất!



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 10 Tháng Chín, 2013, 09:10:28 am
SUY NGHĨ DỌC ĐƯỜNG 4

Vâng ! Từ Thái bình với chùa Keo đẹp không gì sánh bằng , sang Tháp Phổ Minh tĩnh lặng kế bên Đền Trần ồn ã giờ đây…Từ Lạng sơn có chợ Kỳ Lừa với Aỉ Chi lăng vách thành dựng đứng phảng phất đâu đây hồn ma đại tướng Liễu Thăng giữa con đường độc đạo, chếch sang Thất Khê lau sậy ngút ngàn in hình súng kíp… Từ Tây Đô với bến Ninh Kiều soi bóng dừa xanh chạy dọc theo những kênh rạch của Tứ giác Long Xuyên không lúc nào vắng bóng “thủy Honda” là những chiếc xuồng tam bản phương tiện giao thông chủ yếu của vùng sông nước Cửu Long chếch xuống Hà Tiên, nơi địa đầu biên tái tây nam Tổ quốc, nơi mà tướng quân Mạc Cửu đã dày công gây dựng gìn giữ miền đất này… Đứng từ Mũi Nai phóng tầm mắt ra hòn Phú Quốc mờ xa… Lộn sang đất Chùa Tháp rồi quay về Hòn Phụ tử , trở về thăm Hòn Đất, nơi chị Sứ an nghỉ… Qua Rạch Sỏi với những chiếc cổng làng Kh’me đa dạng bên hàng thốt nốt im lìm, chứng nhân của một vương quốc chỉ còn trong quá khứ…Tới Nha Mân nơi Nguyễn vương Phúc Ánh trong lúc trốn chạy quân Tây Sơn đã bỏ lại các vương phi của mình vì sức kiệt, lương hết, để lại cho đất này nổi danh vì từ đó sinh ra nhiều đàn bà đẹp…Từ cực Tây nam đó ngược về đất Kinh Bắc , nơi có dòng sông Cầu lừng danh nay không còn trong vắt nữa…Vâng! Trong chưa đầy hai tháng cuối Nhâm Thìn này…Tôi đã đi!

Kể lể dài dòng như thế, chà phải để khoe mẽ gì, chỉ là để nói lên một điều là: Đi đến đâu …Từ quán cóc ven đường, đến khách sạn cao sang, từ miệt vườn sông nước đến bản làng có ruộng bậc thang… Dân tình quẩn quanh cũng chỉ một đề tài: Lòng tham…

Vâng! Đã gọi là suy nghĩ dọc đường thì như tôi đã rào đón từ bài một… là nó sẽ lục cà lục cục, lủng cà lủng củng, gập gềnh như hành trình lữ khách… Xuyên táo không gian và thời gian…Nhưng nó lại có được điều quan trọng nhất : Sự thật! Những quãng đời đi dày như thế là để bù lại cho những tháng ngày dài vô tận nằm một chỗ. Ngồi lỳ bên giá vẽ đến kiệt sức… Nói như anh Bạo [Tạ quang Bạo]: Cuộc đời không nói trước được điều gì!… Cũng như số phận của người lính Cộng hòa tôi sắp kể sau đây… Không thể nói trước điều gì trước mãnh lực số phận.

Tháng 10, đã cuối thu. Chuyến công tác tại Rạch Gía lần này may mắn kết thúc sớm. Được tự do hai ngày. Cơn bão số 7 đang hoành hành ở miền Trung. Nhưng tại cực Tây nam bộ này mưa lác đác, vài trận gió ào ạt thổi bạt những rặng chuối bất tận ven những dòng kênh…Tôi chợt nảy ra ý định lang bạt một cú thăm thú xứ sở “miệt vườn” này… Phía góc đường, gần trạm bán xăng , một người đàn ông trạc tuổi tôi, người dong dỏng, săn chắc đang ngồi trên cái ghế gỗ hút thuốc vặt, anh ta cởi trần để lộ nước da đen sậm, bả vai phải trổ vằn vện một con rồng xanh uốn khúc há mồm dữ tợn, cạnh anh ta kê cái biển: “Sửa Honda”… Dưới mái lều vài cái săm treo toòng teng , anh mỉm cười nhìn tôi, thân thiện: Dạ, anh Hai cần gì hông? Tôi bảo: Sao không đề Sửa xe máy lại đề sửa Honda? Thế Suzuki thì không sửa à? Anh bảo: Dân miền Tây gọi chung xe máy là Honda, xe gì cũng là Honda hết à. Tôi lại hỏi: Ông có chở khách đi theo giờ bao giờ không? - Dạ đã, 30 ngàn một giờ anh Hai…Tôi nói: Ok! Ông chở tôi đi vòng vòng toàn bộ vùng này nhé? Tôi sẽ canh giờ…Người đàn ông vô lều, lấy hai cái mũ bảo hiểm. Tôi bảo: Cần gì mũ, có thấy công an đâu? Anh cười: Mình mà không nón, họ xuất hiện ngay đó, như ma hiện à … Rồi dắt chiếc xe máy ra. Chà! Đã lâu lắm rồi mới được nhìn thấy chiếc xe này, bạn biết không? Đó là chiếc Honda PC có từ ngày mới giải phóng và đã mất dạng từ lâu. Chiếc xe cà tàng chạy như say rượu ven những dòng kênh, chốc chốc gặp cầu nó lại vọt lên bởi những chiếc cầu tuy ngắn nhưng rất cao, phía dưới nó là hàng đàn “thủy Honda”. Tức là những chiếc xuồng ba lá [tên địa phương gọi là chiếc Vỏ lãi ] đồng loạt sơn màu xanh Côban đi lại như mắc cửi. Qua trò chuyện, tôi biết anh tên là Tư Queó, ở vùng này sau giải phóng … Anh bảo tôi: Nếu kể ra câu chuyện rất dài… Anh Hai rảnh, lát mình về qua nhà làm ba xị đế cho zui? Tôi biết người miền Tây khi đã thân tình dù chỉ qua vài phút, họ đã tin mình thì chẳng tiếc gì…Tư Queó bảo trước giải phóng anh đã từng vô lính, sỹ quan hẳn hoi… Bất ngờ nhất là nghe anh nói quê ở Phát Diệm… Linh cảm thấy một chuyện kỳ thú sắp xẩy ra. Và tôi đồng ý…

Nhà Tư Queó gần Rạch Sỏi, chỗ mật độ ngã ba ngã tư dày nhất, tức là chỗ trong vòng vài trăm mét vuông có 6 cây cầu cả thảy, cả cầu ximăng lẫn cầu khỉ. Bạn hình dung thử xem, kênh rạch xẻ đất làm ba mảnh, giữa ba mảnh đó lại có một quả gò rộng vài nghìn mét vuông…Vì thế cầu nối quả gò với ba mảnh đã là ba cái rồi, còn lại ba cái là nối các mảnh đất với nhau… Những cầu là cầu, những chiếc xuồng ba lá nằm núp dưới bóng dừa xanh trốn nắng trong những trưa hè làm tôi nhớ đến những bức tranh sơn dầu vẽ theo lối thủy mặc tràn ngập các đô thành miền Nam sau giải phóng, và cũng có lẽ vì thế mà dân xứ này không câu cá mà bắt cá bằng vó. Nhà Tư Queó nằm chính giữa quả gò đó! Anh bảo tôi chắc chắn anh Hai cũng ở lính rồi. Tôi hỏi: Sao biết? Anh bảo: Trông thì biết … Lính nào thì lính cũng có hai đặc điểm: Một là phong trần, hai là nhẫn nhục… Dân lao động chỉ nhẫn nhục, còn giang hồ chỉ phong trần… anh Hai chờ chút tôi đi kiếm mồi nhậu heng.

Rồi anh vác cái vó ra ngay bờ kênh hì hụp một lát, vài phút sau đã lẳng lên bờ năm con cá lóc cỡ cổ tay, rồi lại lụi hụi mé vườn, vơ vội nắm lá rau, thơm nức, đủ vị … Tôi cùng anh lấy que tre xiên cá và nướng bằng lửa rơm. Trời tối hực, rượu đế miền Tây nặng xóc óc, thịt cá lóc thơm lừng chấm với nước mắm me vị bao giờ cũng ngọt hơn xứ khác làm tôi lâng lâng…Tôi bảo: Ông là lính, tôi cũng là lính, đánh nhau vỡ đầu không chết là may. Nhưng ông bảo quê Phát Diệm thì tôi không chịu , từ giọng nói, nước da đến phong thái ông đặc miệt vườn… nghe xong, Tư Queó khà khà, cái cười đắc thắng, rồi anh kể:

“Tôi sanh 1950, Canh Dần, hổ đực. Tại một làng quê chính cống bắc bộ gần nhà thờ Phát Diệm. Nhà bốn anh em trai, tôi thứ ba. Cha tôi là một chức sắc trong làng, nhưng rất tài hoa, ông có chân trong dàn nhạc nhà thờ xứ đồng thời là một thợ vẽ giỏi nhất trong vùng. Nhiều bức tranh thánh trong nhà thờ do chính tay ông vẽ… Năm tôi bốn tuổi, một đêm cả nhà không ngủ lục sục thu xếp quần áo, rồi cha để tôi ngồi vào trong một cái thúng, thúng bên kia chất đầy quần áo, rồi gánh tôi ra khỏi nhà. Hôm sau đến một nơi ầm ầm như chợ vỡ, tất cả mọi người ăn mặc giống nhau, cùng một bộ quần áo màu vàng, đi giày cao cổ, xì xà xì xồ… Rồi chúng tôi đi qua một cây cầu khổng lồ dài dằng dặc bằng sắt nhấp nhô lên xuống chóng cả mặt. Qua một dòng sông màu đỏ rực rồi đi lâu nữa và trèo lên một cái nhà một buồng bằng sắt khá to, tất cả mọi người đều ngồi bệt xuống sàn nhà, chen chúc, ngổn ngang . Cái nhà này biết bay, rung ầm ầm, bay được một quãng thì nước từ trần nhà rỏ xuống tong tong… Mọi người kêu lên: Máy bay bị giột, máy bay bị giột! Tôi ngủ thiếp đi… Tỉnh dậy đã thấy mình ở một nơi nóng khủng khiếp. Cha con chúng tôi vào một khu nhà dài giống nhau xung quanh toàn dây thép gai… Một thời gian dài sau gia đình chuyển chỗ ở. Tôi và anh em bắt đầu đi học và biết xứ sở mình đang ở có cái tên: Sài Gòn! Trong bốn anh em, tôi kế thừa được hoa tay của cha, tôi từng đoạt giải thi vẽ học sinh Sài Gòn năm 1966 và năm sau thi đậu vô trường Mỹ thuật Gia Định … Học tới năm thứ hai thì bị bắt vô lính! Như tôi đã nói là biết vẽ vời nên Bộ chỉ huy Lữ đoàn Rồng xanh biên chế ở phòng Tâm lý chiến, chuyên vẽ bản đồ tác chiến, nhưng cũng vì cái chức chuẩn úy tâm lý chiến mà sau giải phóng phải cải tạo bốn năm… Chính trong bốn năm này tôi gặp bước ngoặt lớn trong cuộc đời… đổ vỡ tất cả, mất hết tất c , và … hiểu ra tất cả! Trong thời gian tôi cải tạo , ba ông anh em trai đã kịp chia nhau toàn bộ tài sản cha mẹ để lại… Ra trại! Nhìn thẳng vào đáy mắt ông anh và hai thằng em tôi đọc được rằng chúng nó sẵn sàng vứt mẹ tình huynh đệ xuống cống miễn là bảo tồn số của cải đoạt một cách trắng trợn của tôi … Tôi cũng thừa biết thủ đoạn chúng đã qua mặt mẹ tôi lúc bà sắp lâm chung, và đã mua chuộc luật sư để hợp pháp hóa một số giấy tờ, như ông biết đấy, mọi sự trên đời gì cũng có thể lừa dối được… Có những thế lực mạnh siêu cường tưởng như bất khả chiến bại vì nó kết hợp được cả ba yếu tố: Tham lam, tàn bạo và dối trá… Nhưng có một tòa án mà bất cứ Con người nào không phải súc sinh đều không thể vượt qua được! Đó là Tòa án Lương Tâm… Tôi biết chứ. Lũ đó bị lương tâm dằn vặt dữ lắm. Hy sinh tình máu mủ để đoạt lấy một số tiền cho dù lớn đến đâu cũng không đáng. Nhưng lòng tham đã làm tối tăm mặt mũi chúng lại. Những khi đó là khi chúng gần súc vật nhất. Vì súc vật đâu biết xấu hổ và mủi lòng. Tôi phải chạy xe ôm bốn năm cho đến khi thằng Hiếu, chiến hữu cùng đơn vị, cùng ở tù gặp tôi và bảo: Thôi! Anh Tư à , bỏ mẹ nó cái Sài Gòn hoa lệ, cái Hòn ngọc Viễn Đông rởm này đi, dề quê em làm ruộng sống đề huề nốt tuổi già… Thế là tôi theo thằng Hiếu. Hai anh em lên quả gò này, mở tiệm sửa Honda kiêm xe ôm kiếm sống qua ngày...

Được cái xứ này ưu đãi con người lắm anh Hai à. Ngày xưa, đi lượm lúa trời, đi lượm trứng vịt ngoài đồng xả láng, lại thêm cây trái bốn mùa quanh năm xanh tốt… Cá múc dưới sông lên mà nướng trui, rau vơ đại ngoài vườn không bao giờ hết … Chiều chiều hai thằng làm ba xị đế quên trời quên đất quên đời quên những bất công xui xẻo tạo hóa dành cho… Khốn nạn cho thằng Hiếu năm ngoái bị cổ trướng chắc hậu quả từ lúc nó còn ở tù cơ cực quá, vả lại về đây suốt ngày rượu không ăn uống gì, chết ngẻo mất! Thế là còn mình tôi ở đây…

Tôi chợt nhớ ra hồi chiều lúc hái rau thơm ngoài vườn có thấy ngôi mộ nhỏ, trên tấm bia đá có ghi dòng chữ Ng. Trung Hiếu thượng sỹ nhất, mất ngày… tháng …năm! Tôi bảo ghi chức vụ cổ xưa đó vào làm gì! Rồi lắm chuyện. Tư Queó bảo thằng Hiếu dặn đi dặn lại lúc sắp chết phải ghi như thế. Nghĩa tử nghĩa tận mà anh! Nó còn bảo chúng mình cũng chiến đấu vì nước vì dân, vì mẹ vì chị chứ bộ, và cũng mong đất nước văn minh tươi sáng, thoát khỏi đói nghèo không còn tệ nạn đục khoét tham nhũng nữa chứ…Tôi lại bảo sao chúng mày không lo kiếm mỗi thằng một con vợ để nó lo việc nhà, việc vườn tược cho… Tư Queó bảo cứ nhớ đến ánh mắt lũ chị dâu, em dâu sùng sục lên sai khiến lũ chồng chiếm đoạt của cải lại thấy kinh tởm không dám nghĩ đến đàn bà nữa .

Tôi bảo thôi kệ đời, Đức Phật dạy rằng nhân nào quả đó lũ tham đó sớm muộn rồi cũng của Thiên trả Địa thôi …Thế nào không trọng bệnh thì cũng tai nạn giao thông, chết đường chết chợ, mày đọc sách Phật chưa? Của bất nghĩa vơ được lúc sống bao nhiêu lúc xuống âm phủ hoặc kiếp sau phải nôn ra hết, từ cái tơ cái tóc, có nhiều người ngộ ra được điều đó đã kịp sửa sai, bố thí , cúng dường …Tư Queó bảo chắc ngày đó còn xa lắm, cứ xem tụi nó suốt ngày lễ bái miệng nói đừng tham, sân , si mà ăn cướp của anh em đồng loại như không… cứ xem hồi trước giải phóng thì biết ! Các ổng vơ vét đầy túi tham làm nhân dân nổi sóng đấu tranh rồi một lời xin lỗi là xong… Chỉ chết dân! Tôi bảo thôi nói chuyện chính trị làm chó gì, chẳng qua là cái vận nước đến cơn bĩ cực nó thế… quân hồi vô phèng, người tài không bao giờ được dùng vì các quan to sợ bị lật nên sử dụng toàn một lũ bất tài nhưng dễ sai khiến, mà bất tài thì giỏi đục khoét… thế là cuối cùng tan rạp! Nhìn thấy cái kết cục thảm hại đến gần mà không làm gì được... Tôi nói vậy là bởi vì lúc này chính tôi cũng đã ngây ngất lắm rồi… Rượu đế miền Tây nấu bằng men gì? Hồi chiều Tư Queó bảo hình như cho vào thùng gỗ làm bằng loại cây gì đó rồi hạ thổ sáu năm thì phải… bây giờ nó ngấm sâu vào thăm thẳm tận lòng người. Nó làm tôi, một thằng lính cũ xứ bắc xa xôi, ngẫu nhiên một chiều cơ duyên thế nào lạc đến đất này… Xứ sở đồng ruộng thẳng băng, mênh mông đồng nước, điên đảo ngất ngây. Nghe nói ngày xưa đất này của Thủy Chân lạp, rồi đánh nhau chí chát với Chúa Nguyễn, thua mà phải dâng đất…Tôi bảo chuyện anh Tư kể gốc tích thế là tôi chịu quê Phát Diệm rồi. Nhưng Phát Diệm không có ai tên Queó cả… Tôi còn kịp nghe Tư Queó bảo tên anh thực là Quế, con thứ tư trong nhà, rồi vô đây gọi chệch ra thành Queó… Tôi ừ ừ… Chỉ nghe gió ào ạt thổi bạt rừng chuối và đưa tôi về một miền xa lắc…

Sớm hôm sau, tôi chia tay Tư Queó khi anh còn chưa dậy…Tôi phải về để kịp chuyến bay. Nhìn anh say lử cò bợ nằm còng queo với con Rồng xanh trên vai, tôi nghĩ đến số phận. Một ngày không xa rồi lại đến nằm cạnh Thượng sỹ nhất Ng. Trung Hiếu thôi… với bát hương lèo tèo vài que không ai nhòm ngó bởi thiên hạ còn mải dẫm đạp lên nhau, cướp đoạt của nhau…Nhưng anh còn khá hơn rất nhiều chiến hữu của anh. Trong trận tử chiến năm xưa quân bên tôi chết hơn một triệu người… chắc bên đối phương cũng xấp xỉ …?! Quân bên tôi thì nghĩa trang có thể nói là ‘‘Dài theo đất nước’’, tới mức những du khách nước ngoài phải thốt lên chưa từng thấy một quốc gia nào nhiều nghĩa trang như nơi đây… Đó là chưa kể hàng trăm ngàn người chưa tìm thấy… Vậy những người lính đối phương nằm đâu? Số còn lại thì 95 phần trăm chạy theo diện HO hoặc làm mồi cho cá trong cuộc vượt biển sau chiến tranh… Trong thoáng chốc , hình ảnh ba mươi nhà sư và một nhà ngoại cảm làm lễ cầu siêu bên bờ sông Thạch Hãn tháng bẩy vừa rồi hiện lại trong tôi rõ mồn một. Trong khói hương nghi ngút, tiếng chuông tiếng mõ trầm hùng nổi lên. Đại sư đọc bài văn tế xúc động lòng người, gió bỗng ào ào thổi tới, mây cuộn đen, bầu trời tối sầm lại, một luồng khí trắng bay vọt từ giữa bài vị bốc lên…Văng vẳng trong trong không trung lắng đọng những lời sau: “Cầu cho tất cả mọi linh hồn trận vong trong cuộc chiến này đều được siêu thoát!...”

Đầu đông - Nhâm Thìn.
Lê trí Dũng


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 11 Tháng Chín, 2013, 07:47:00 am
SUY NGHĨ DỌC ĐƯỜNG 5

        Cơ trời vần vũ, sự vật vần xoay… cơ hội đến rồi đi! Mỗi khi để mất một cái gì ta thường nói: Gía như…Gía như vẫn còn nguyên buổi chiều lộng gió ngày ấy… Vào giờ ngọ ngày 30 tháng 4 năm 1975…Tiếng  súng cuối cùng của chiến tranh im tiếng! Những người lính của tất cả mọi lực lượng lục tục trở về, rời bỏ các chiến hào, các dốc Ông Bò, suối Rụng Tóc, các đám lục bình ngụy trang,  các cánh rừng đại ngàn cháy đen sặc mùi Điôxin , các quả đồi lỗ chỗ hố bom như trên mặt trăng… Họ trở về người trước người sau , với chiếc ba lô trên vai, trong có hai bộ quần áo, cuốn nhật ký , với trái tim thanh thản nặng tình yêu Tổ quốc , nặng tình đồng đội, họ đứng đó trong một buổi chiều lộng gió!
   Họ, những người lính, là những Người Tử Tế!

   Hơn ba mươi năm sau, họ đã có tất cả…Đa phần là như thế!
   Những người còn ở lại quân ngũ cho đến ngày về hưu hầu như đều đeo lon đại tá, có người lên Tướng! lương cao khủng khiếp! Những người ngoài quân ngũ, phần lớn giữ những cương vị chủ chốt trong những bộ máy công quyền, quyền cao, chức trọng, đi nước ngoài bằng công quĩ như đi chợ. Tiền lương tiền thưởng thả sức, họ rất mong các dự án để hưởng những lợi nhuận khổng lồ, có người hai ba nhà do được phân phối móc ngoặc, có người đổi ô tô vài ba bận…
Họ mắng nhau trong các cuộc nhậu là sao tới giờ này còn đi xe này, còn xài tivi nọ,còn ở cái nhà kia… con cái họ phần lớn du học ở Mỹ, ở Nhật…
Khi nhậu họ mắng nhau sao không uống Hennessy mà đi uống Hànội…
Tiền của họ không phải chỉ gửi ngân hàng trong nước mà ở nước ngoài…
Họ có đủ học hàm học vị, nào tiến sỹ, nào giáo sư,  nhân dân không hiểu họ học và thi cử vào lúc nào? Nhanh quá!
Bằng khen họ đầy nhà, huân chương đầy ngực, họ có những danh hiệu to tát cấp nhà nước, những giải thưởng  to tát cấp nhà nước, bằng quyền lực có trong tay, họ lập ra những hội đồng xét thưởng cho chính họ. Họ phải chiếm được từ giải thưởng to tát cho đến cái giải bé bằng bàn tay…Với họ, bao nhiêu cũng là không đủ!

40 năm trước, ánh trăng trong vắt trên mặt sông Hương, gió lồng lộng thổi…Tàu tuần tiễu cảnh sát ngụy súng ống lăm lăm, hò hét vang dội mặt sông truy tìm anh, đạn quét ràn rạt… Anh ôm vết thương hì hụp leo lên thuyền của một kỹ nữ… cô đã băng bó cho anh, đã cho anh trốn dưới sạp nằm của mình, đã nằm đè lên vết máu của anh khi họng súng cảnh sát chỉ cách gang tấc… Khi lưỡi hái tử thần bay qua, anh ôm cô vào lòng và thì thầm: Anh sẽ trở lại tìm em! Chiến tranh qua đi, cô đã một lòng chờ anh…Cô yêu anh! Yêu một người trai cách mạng … Anh lúc này đã là lãnh đạo cấp thành phố . Đã nhà cao cửa rộng, quyền sinh quyền sát… Ngẫu nhiên nhìn thấy anh một lần trên đường… cô đã tìm anh tại cơ quan. Anh đã lẩn tránh cô! Đã sai bảo vệ nói với cô rằng anh không quen ai như thế…
   Một chiều lộng gió khác. Mẹ chỉ kịp mở nắp hầm bí mật trong nhà cho anh lọt vô. Rồi ngồi ngay bên trên thái rau…Mặc cho quân địch dùng thuốn  xăm sùng sục khắp nhà, ngay sát chân mẹ . Địch rút, đêm xuống, anh quì xuống ôm đôi vai gày của mẹ. Lòng tràn ngập sự hàm ơn như được mẹ sinh thành lần thứ hai… Hòa bình anh là lãnh đạo tỉnh. Mẹ bị người ta chiếm đất, cầu cứu đến anh… anh đã khước từ để giữ an toàn vị trí … Bằng nhiều mẹo mực khôn khéo…

Bây giờ, anh ngồi đó, vô cảm …vô cảm như khi anh lén nhìn cô thui thủi ra khỏi cơ quan khi anh sai người thường trực đuổi cô…vô cảm như khi anh từ chối không tiếp mẹ…vô cảm như khi anh ký quyết định thu hồi khu vực đất của một Bảo tàng chiến tranh do công sức, tấm lòng của một người vì  không làm lợi gì cho hầu bao của anh… Anh ngồi đó, vô cảm! Kinh nghiệm tranh đấu cách mạng cho anh thấy ngay cả nói cũng phải cẩn thận. Đồng đội ngày xưa gặp anh không còn nhận ra anh nữa… Giờ đây! Anh chỉ còn là cái xác không hồn .
   Anh không còn trên cõi đời nữa!

   Nhưng Anh đã có tất cả! Anh là bộ trưởng  một bộ nào đó… Là chủ tịch một Hội văn nghệ nào đó, là giám đốc một Nhà xuất bản nào đó… Là Trung ủy, là anh hùng, là thống đốc ngân hàng, là…gì chăng nữa thì anh vẫn im lặng như một cỗ máy… không bao giờ thấy anh cười… Danh lợi đã biến anh thành một người vô cảm! Khôn ngoan, tinh quái, tham lam, tàn bạo… Với tấm lòng vô cảm ấy anh đã đang tay làm những việc trên cả giết người. Anh giết mầm sống cả một thế hệ, anh tàn phá văn hóa cả một đất nước… Anh bán đất đai, tài nguyên… của ông cha gây dựng bao đời… Vì thế, anh có tất cả!
   Anh chỉ mãi mãi không còn một điều… mãi mãi không còn những buổi chiều lộng gió! 
                       
    Tái bút:
   Bài về vô cảm này của tôi lẽ ra đến đây là kết thúc, và tôi cũng thừa nhận mình không phải nhà văn, khi viết hoàn toàn bản năng. Vì thế rất lủng củng, bạn thấy rất rõ điều đó trên từng trang sách đấy. Bài viết này là đỉnh cao của sự lủng củng. Nó là hậu quả của trạng thái viết. Tôi đã viết nó trong tâm thức của sự Phẫn nộ và Tuyệt vọng… là sự hết hy vọng ở cuộc sống. Thói vô cảm tràn ngập Việt Nam, như là hàng chục người xúm vào xem một em bé bị tai nạn giao thông, máu me đầm đìa, cặp sách văng tung tóe… họ cứ giương mắt mà nhìn như thế và không ai làm gì để giúp em cả. Kẻ gây án thì đã bỏ chạy rồi! Vô cảm như là những kẻ giết người của hàng chục, không! Hàng trăm án mạng xảy ra như cơm bữa quanh ta hàng ngày mà kẻ giết người phần lớn là vị thành niên… chỉ vì một sợi dây chuyền hay vài chục nghìn, nó sẵn sàng cầm dao cứa cổ không ghê tay kể cả mẹ đẻ!
 Cách đây chỉ mới và chục năm thôi, thời chúng tôi còn trẻ, nước Việt của chúng ta không thế…! Chỉ ăn cắp thôi, đã bị cả xã hội khinh rẻ…nhục nhã cả đời, cả họ…         
Vì đâu nên nông nỗi này? Cái gì đã tạo ra một xã hội quân hồi vô phèng như thế ? Có anh trong đó không? Nếu biết trước ngày hôm nay, liệu Mẹ có cho anh xuống hầm bí mật không? Đồng đội anh có lao vào mũi tên hòn đạn không? Em có lấy thân mình che chở cho anh không?
   Nhưng… Sáng buồn! Nằm xem vtv2 chương trình kỷ niệm Cách mạng tháng 10 Nga,  thấy Cà fê sáng… phỏng vấn nhà báo Vũ Mạnh Cường, tôi thực sự thích chàng trai này, điềm đạm, hiểu biết, lãng mạn, đẹp trai nữa… Một thứ  đẹp trai có văn hóa… Xem xong, thấy phải có chữ  nhưng này…Cuộc trò chuyện cà phê sáng quanh chủ đề văn hóa Nga với người Việt nam, tình sâu nghĩa nặng…Có chuyện kể về kỷ niệm với những người thầy Nga, có chuyện kể về Paven Coócsaghin  thần tượng một thời của thanh niên Việt nam, có chuyện kể về một đội trinh sát Nga lọt sâu vào căn cứ  địch và cuối cùng lần lượt từng người một hy sinh… Có một chi tiết làm tôi xúc động, đó là sáng hôm sau Cường ngồi xem TV với cha mình, anh trai Cường ghé tai nói nhỏ: Em đừng nói gì cả! Hôm qua khi xem chương trình này, bố đã khóc!
Vâng! Tôi cũng đã khóc khi xem đến chi tiết này… Chúng tôi từng khóc khi xem trên TV những cô gái thanh niên xung phong mở đường năm xưa, khóc khi thấy cả những em bé con của những người lính đối phương lạc mất cha mẹ trên đường chạy loạn… Hôm qua, mới hôm qua thôi, ngồi trên xe đi công tác với thủ trưởng cơ quan…Ngạc nhiên vì chàng lái xe mở băng nhạc sưu tầm. Thú thực đây là chương trình âm nhạc hay nhất từ trước đến nay tôi được nghe…Không chỉ Tình ca, mà rất nhiều bài ca kháng chiến, xúc động lòng người…Ngồi sau xe tôi âm thầm khóc, và thán phục người sưu tầm trẻ tuổi, anh phải có tình cảm thế nào, gu thưởng thức âm nhạc thế nào mới chọn  những bài ca hay như thế… Anh bảo phải mất bốn năm chọn lọc đấy anh ạ! Tuổi anh khi cuộc chiến bùng nổ chắc là những em bé chạy theo xem những đoàn quân ra trận ngày ấy… Và lạ nữa là thủ trưởng cũng rất xúc động khi nghe… Khi nghe bài Mối tình đầu, anh bảo tiếc cho tuổi thanh xuân của mình, chả được yêu đương cái mẹ gì, suốt ngày phấn đấu, hết tổ chức trung cấp đến cao cấp, trung thành đến mức nếu kẻ địch tung lựu đạn ám sát cấp trên thì mình cũng sẵn sàng lao ra lấy thân mình nằm đè lên lựu đạn…
Tôi không biết cha nhà báo Vũ Mạnh Cường có là bộ đội hay không?
Tôi cũng không biết có bao nhiêu người yêu nhạc cùng gu như chàng lái xe trẻ tuổi của tôi? Tôi cũng không biết có bao nhiêu thủ trưởng còn biết xúc động khi nghe nhạc? Nhưng tôi biết chắc một điều chúng tôi đông hơn lũ vô cảm…   
                                     
Lập Đông – Nhâm Thìn


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: china trong 11 Tháng Chín, 2013, 08:59:18 am
Em xin góp lời với Bác Lixeta: gia đình em từng cưu mang một cán bộ CM trong KCCM trong giai đoạn cực kỳ khó khăn 68-69, sau đó người cán bộ đó đi biền biệt, thi thoảng có cho người gởi quà, thăm hỏi, gần đây khi má em bệnh nhiều, ông ấy có ghé thăm và lấy làm tiếc là căn gác gỗ ông ở năm đó đã dỡ bán cho bọn buôn đồ cổ, sau đó thấy má em dọn lên ở với em, nhà cũ thì đập xây lại, đồ rằng có người cho tiền xây lại, nhưng không phải bọn em vì bọn em không có tiền.
 Con người có người tốt, có người xấu.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: baoleo trong 11 Tháng Chín, 2013, 09:31:20 am
SUY NGHĨ DỌC ĐƯỜNG 5

        ............. Nhưng tôi biết chắc một điều chúng tôi đông hơn lũ vô cảm…   
                                     
Lập Đông – Nhâm Thìn


Riêng điều này thì em lại không tin, và rất nghi ngờ, a Lixeta ơi.
Nếu 'chúng tôi đông hơn lũ vô cảm', thì 'chúng tôi' đã lại làm được 1 cuộc 19/08 mới rồi.
Em thì cho rằng, chúng ta, tức là 'chúng tôi' ấy, thiểu số lắm, chỉ còn lại vài anh, đã ra quân, hoặc còn làm việc nhưng ko chức tước-nhưng phải kèm theo điều kiện đủ là: đủ ăn 1 cách lương thiện đã-để ko phẫn chí-chửi càn.
Tất nhiên, những thành viên của Diễn đàn này thì là đúng 100%.
Chúng ta ít lắm, a Lixeta ơi.
Bọn X kia, nó mới đông, và chiếm đại đa số. Ông giáo làng trưởng Đ, cũng đã bẩu ra mồm như thế mà.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 12 Tháng Chín, 2013, 07:28:18 am
@ china, bao leo:
Dù sao đây cũng chỉ là cảm nhận chủ quan, thậm chí là bột phát trong một thời điểm nào đó của ông bạn mình. Còn định lượng thì khó lắm ::)
Riêng mình thì nghĩ có vẻ như hắn ta đang tự động viên mình để mà sống tiếp cho tử tế.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 12 Tháng Chín, 2013, 07:29:23 am
NGU

        Ông bạn tôi là anh họ cô em gái con bà dì họ xa đằng con rể chú họ tôi Từng một thời cùng khoác áo lính, từng một thời bươn chải cơm áo thời bao cấp trên từng cây số, từng một thời làm Gallerya…Thấy tôi cứ vẽ mãi về lính. Ông bảo:  Thằng này hóa ra ngu hơn mình tưởng [Tất nhiên không nói trước mặt tôi].

   Nghe xong, tôi mỉm cười [dù không biết người nói lại với mình với dụng ý gì]. Khốn khổ cho cái thân tôi là năm tôi ba tuổi ông ngoại đã dạy tôi rằng: Tiên trách kỷ - Hậu trách nhân … Thế nên, việc tự xét lại mình rất là quan trọng … sau hồi lâu suy nghĩ chưa rõ nguyên nhân. Chợt nhớ tới câu: Nó lú nhưng chú nó khôn … Lại nhớ tới câu: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn…Và ngay tắp lự, tôi khăn gói quả mướp “lên đàng” , đi tìm “chú nó”.

   Ông chú đầu tiên tôi gặp là một họa sỹ cựu chiến binh. Ông ở binh chủng săn giặc trời . Giờ đây ông chỉ vẽ về các người đẹp, tranh một thời bán chạy…Tôi hỏi: Sao chuyển đề tài nhanh thế? Ông bảo: Các cửa Phong cảnh, Tĩnh vật, Chân dung, Chó, Mèo, Gà, Lợn… đã có người trấn ải cả rồi, tôi phải tìm lối đi mới… Tôi lại hỏi: Sao không vẽ lính?.. . Ông bảo: Ma nó mua!

   Ông chú thứ hai cũng lại là một người từng là lính. Ông từng được mệnh danh là “Triệt địa thử”, tức là Con chuột zũi với huyền thoại luồn sâu vào đồn địch như vào chốn không người. Giờ đây ông vẽ Trừu tượng. Hồi mới giải ngũ ông vẽ toàn các hình tam giác, vuông, tròn … lắp ghép xanh xanh, đỏ đỏ… gần đây, ông vẩy màu văng tung tóe … Ông bảo đó là những lúc ông xuất… thần, sướng lắm! Cực sướng! Những bức như thế dễ bán.Tôi hỏi: Sao không vẽ lính? Ông bảo: Cái gì đã qua thì cho qua luôn, nhắc lại đau lắm! Ông ghé tai tôi, thì thầm:  Đấy là chưa kể có đứa ác mồm nó bảo mình là ăn mày dĩ vãng đấy…

   Ông chú thứ ba còn dữ dằn hơn vì ông theo trường phái “Bạo liệt”. Tức là ông không cần bút nữa … Ông bóp màu ra toan và vẽ bằng tay … Ông bảo sướng còn hơn cả xuất … thần! Cực khoái! Có lần tôi nhắc lại những ký họa chiến trường của ông một thời xao động lòng người… Ông bảo: Nhắc làm gì, bây giờ là Love Forever [tức là yêu mãi] Yêu đi, cứ sướng đi đã không cần biết ngày mai …Ta là Thượng đế … Đã là Thượng đế thì phải bay lên Thiên đường… Vứt mẹ tất cả đi, kể cả nhân cách. Qủa thật dưới trời Nam này ông coi các họa sỹ từ già đến trẻ chả ai ra gì !

   Ông  chú thứ tư khác hẳn ba ông trước. Vốn  người cẩn trọng chu đáo, ông vẽ về tình yêu là đề tài theo ông sẽ tồn tại mãi mãi , đến kỳ triển lãm quân đội ông thêm cái mũ có ngôi sao vàng và khẩu súng vào… Kỳ triển lãm tranh  “Nude” ông cởi tuột quần áo ra, động tác nhanh như người mẫu thời trang đảo quần áo … Lúc còn hai người với nhau , ông bảo tôi: Vẽ chiến tranh cách mạng bất lợi đủ điều. Một là khó bán ông ạ, thời nay ai đi rước tên bay đạn lạc , đầu rơi máu chảy về nhà làm gì… Hai là phải vẽ khuôn khổ to, triển lãm xong về nhà không có chỗ để , ba là rất tốn màu… tiền đâu? Tôi bảo: Nhưng trên đã có chủ trương ưu tiên các đề tài mũi nhọn …  quan tâm lắm mà … ? Ông bảo: Thì đấy! Ông xem triển lãm xong có ai mua đâu… Các ông ấy vận động thế thôi chứ chính các ông ấy có vẽ đâu … báo cáo thành tích xong là xong! Thế thì mới sản xuất ra những tác phẩm nhàn nhạt như thế chứ…

   Mấy hôm sau , trong buổi tọa đàm về đề tài chiến tranh cách mạng. Lại chính Ông đứng lên phát biểu, rằng là Trên rất quan tâm đến đề tài mũi nhọn , công nông và nhất là về quân đội, rằng các đồng chí phải cố lên không thế hệ các đồng chí ra đi dần sẽ mai một đi mất. Rằng sở dĩ chúng ta không được mua không phải vì Trên không quan tâm, không đủ tầm nhìn ra cái đẹp… mà vì chính chúng ta … chúng ta bất tài không đủ tài nói lên được tiếng nói của nhân dân …vv… và …vv.

   Đến đây tôi thấy mình ngu thật! Không còn băn khoăn gì nữa.


                                           
Rằm tháng 9 - Nhâm Thìn



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 13 Tháng Chín, 2013, 06:41:08 am
SẮC MÀU CUỘC SỐNG


Tiễn Trâu

Xuân đến mỗi năm mới, bà con thường làm lễ “đón” Con Giáp năm sắp tới. Tôi lại giữ riêng cho mình tập tục làm lễ “tiễn” con Giáp năm qua! Hồi tiễn Nhâm Ngọ 2002 cách đây gần 10 năm, tôi có làm một triển lãm “Tiễn Ngựa”... Chiều nay tiết xuân rơi đầu ngõ, tôi Tiễn Trâu trong nỗi cô độc bướng bỉnh. Chìm đắm trong ký ức trâu mơ.
Trâu Kỷ Sửu - một con Giáp thân thiết với con người, với người nông dân Việt Nam, với tôi càng như vậy vì tôi cầm tinh con trâu, Trâu là bản mệnh tôi... Tôi không ưa các cuộc đón rước linh đình, ồn ào, những nơi đô hội... Các cuộc chia ly, tiễn đưa đầy cảm khái hợp với tôi hơn...
Tôi ưa hình ảnh tráng sỹ Kinh Kha ra đi bên sông Dịch, người lính chia tay dưới ánh hoàng hôn trong chiều lá đỏ, ai đó tiễn biệt người yêu trong mưa bụi rét căm căm xứ Bắc...
Hơn 30 năm trước, còn là lính binh nhì tiểu đoàn phòng không - không quân đóng gần sân bay Đa Phúc… đang vào chiến dịch bỗng tôi được lệnh: “Chuyển sang biên chế tại tiểu đội mua trâu”... Lạ thế đấy, đang là lính chiến có thể “da ngựa bọc thây chốn sa trường”, bỗng nhiên thành… anh lái trâu! Thực lòng tôi có choáng. Nhưng quân lệnh vốn… như sơn, tôi cùng 5 anh nữa dưới trướng tiểu đội trưởng tên Thống, xách ba lô con cóc bộn tiền giấy, ngược lên Lục Ngạn tìm trâu mua cho đơn vị.
Sao bộ đội phòng không - không quân lại đi tậu trâu? Không lẽ mua trâu về nuôi lấy thịt cải thiện bếp ăn? Nếu vậy mua lợn mua gà lãi hơn chứ? Xin giải trình ngay là đơn vị tôi mua trâu làm phương tiện vận chuyển gỗ được đơn vị khai thác từ trong rừng ra bến sông, để đóng bè, chuyển về xuôi... phục vụ xây dựng sân bay, cầu cống, nhà cửa, doanh trại và làm kinh tế thời bình.
Tiểu đội trưởng Thống (chúng tôi gọi là Bàng Thống) xứng đáng được gọi là quân sư nhà Hán khi tối tối, trước khi ngả lưng, Thống thường ngâm nga về tướng trâu hay:
“Sừng cánh ná
Dạ bình vôi
Mắt ốc nhồi
Tai lá mít
Đít lồng bàn”
Rồi thì...
“Đùi trường, ức rộng, háng to
Cổ còng mũi thỏ, đuôi thò nụ thông
Dưới trên bốn xoáy mượt lông
Tiền cao hậu thấp vai bồng khỏe nhanh”
Đọc rồi Thống ta rít mồi thuốc lào, lơ mơ cảm thán: “Ta yêu trâu lắm chứ. Các chú mày có nghe thơ hay tuyệt cú mèo anh vừa sáng tác không?”. Hỏi rồi anh đọc đầy hứng khởi:
“Con trâu có một hàm răng
Ăn cỏ đất bằng, uống nước bờ ao
Hồi sống mày đã thương tao
Bây giờ mày chết, cầm dao xẻ mày
Thịt mày tao nấu linh đình
Da mày bịt trống tùng dinh sân đình
Sừng mày tao tiện quân cờ
Cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa...”



Nghe, quả thực thơ chẳng mấy “tuyệt cú mèo”, bằng trắc tứ tung cả... Nhưng lòng yêu trâu của tác giả thì thật thà quá sức! Chỉ qua mấy ngày đi với nhau, tôi đã biết vì sao Thống lại gắn bó với trâu đến thế.
Đầu đuôi anh kể:
“Quê tôi ở bên Chu Giang (Thanh Hóa). Chu là tiếng gọi chệch đi của Châu (trâu). Vào mùa nước, sóng trên sông dữ dội đánh vào bờ giống cả chục đàn trâu lồng từ đầu nguồn lao xuống. Mười sáu tuổi, bỏ học, tôi theo cha vào lò mổ trâu kiếm sống. Công việc trong lò từ phanh da róc thịt, làm lòng, luộc tiết, ... tôi đều thành thạo, duy “hạ thủ” trâu tôi không làm được.
Cha tôi dạy con khá bài bản: “Con nhớ để ý lúc trâu nó luôn ngẩng lên cúi xuống, phải nhè lúc nó cúi để đánh một búa trúng huyệt “đại chùy” ở gáy, trượt là khốn đó con ạ...!” Vậy mà…
Anh Thống vén quần chỉ cho bọn tôi xem cái sẹo dài cả gang tay ở háng là dấu tích lần bị Trâu húc. Lần đó, anh buộc phải hạ thủ một con trâu đực “sừng cánh ná”, hai mắt ốc nhồi đỏ đòng đọc, bốn chân như bốn cái cột đình choãi rộng chắc cứng. Nó lừ lừ nhìn Thống vẻ điên dại. Lừa lúc nó cúi xuống, anh phang một búa. Trượt! Con trâu lao thẳng vào anh như tên bắn. Sừng ngoắc lên, trúng ngay bụng dưới, thiếu chút nữa thì nguy cho của quý. Anh bảo: “Số mình đỏ chán mới sống tới giờ để đi tầm trâu sắm trâu với các chú...”.
Rồi anh Thống tha hồ lan man tản mạn trâu.
Anh bảo, con trâu trước khi bị hạ thủ thường được chủ cho đứng uống sương bay ngoài trời, hoặc ăn sương đọng trên cỏ, hút tinh khí của trời đất, thịt trâu sẽ thơm ngọt hơn. Rồi có con trâu cũng có vía quyền uy như con người. Con đầu đàn chỉ huy khi gặp kẻ thù sẵn sàng nghênh sừng tiếp chiến đầu tiên. Trâu cái và trâu con tụ lại ở giữa đàn, được bao bọc xung quanh bởi các trâu trai tráng... Là trâu nhưng chúng cũng nhạy cảm, hiểu việc cứ như hiểu tiếng người. Lúc sắp phải đi kéo gỗ chúng đi uể oải, chậm chạp, con nọ đùn con kia, gặp lúc sắp được đi tắm chúng ào ào phi thích thú...
Tôi nằm trên chiếu cỏ mềm xanh ngút mắt nghe anh Thống say sưa kể chuyện trâu, mơ mơ thiếp đi lúc nào không biết.
Trong mơ, tôi được gặp một “Ông trâu” điềm đạm, uy dũng khác thường. Ông bình thản bảo “trâu tôi” rằng: Cậu cũng là một “Chiến Ngưu” phẩm cách đáng nể đấy chứ. Uy dũng, kiên trì. Chậm mà chắc, sống ngay thẳng, không thích phiền luỵ ai. Tính nết “trâu cậu” khá cẩn trọng, lại thêm tài hùng biện, đức nhẫn nại có thừa, nhưng trâu cậu nổi nóng thì hãy coi chừng đó - họa phúc bất thường... Về tương lai chớ quá lo. Chiến Ngưu ơi cứ mặc cho “Dịch số” diễn tiến... chả thể trông mong ăn sẵn điều gì. Có khi làm 10 chỉ hưởng 3 thôi cũng có sao...”. Tôi lặng đi kinh ngạc, xúc động, bay lượn mãi trong giấc mơ nhận - định, tiên - tri - trâu thuở ấy.
…Tiểu đội “lái trâu” chúng tôi đã bươn chải qua bao tháng ngày đáng nhớ. Chia tay nhau sau một bữa nhậu thịt trâu nhớ đời... Không dễ gì gặp, ôi những đồng đội lái trâu tôi một thuở. Chỉ có kỷ niệm tháng năm phiêu diêu với trâu, vất vả như trâu… vẫn trở đi trở lại.
Và đặc biệt làm sao những điều Ngưu Vương nói cùng tôi vào cái đêm tỉnh thức mơ mơ ấy. Ngẫm lại lại ngẫm đi, chỉ có hay và hay.
Liệu có phải bởi tôi có duyên với Ông trâu đêm đó, hay đấy là điều tôi muốn tự nói với mình đã từ lâu, chỉ có điều khi nói những điều đó tôi lại được vào vai một… siêu trâu?
Xin cạn chén nhỏ tiễn Năm Trâu nhớ Chiến Ngưu một thuở.

Cuối Kỷ Sửu


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 14 Tháng Chín, 2013, 08:26:40 am
Năm Dần, tản mạn Hổ

Trong gió lạnh khi mùa đông đến, giở cuốn “Truyện dân gian” ngẫu nhiên lật đúng “Chuyện Hổ vồ”...

Chuyện rằng có một nhà giàu mạn ngược, một hôm xin ông thầy bói rong qua bản gieo một quẻ cho con trai. Thầy phán: “Số bị hổ vồ”... Cha mẹ tin lắm, thương con nên vội gửi anh ta về xuôi cho người bà con nuôi. Nghĩ sống giữa nơi đô thị sầm uất, còn lâu hổ mới vồ được. Gia đình yên tâm lắm.
 Nhiều năm trôi qua, người con trưởng thành làm ăn khá giả, tưởng lời phán năm xưa chỉ là rởm thôi thì một ngày nọ, gia đình tá hỏa nghe tin anh ta chết bất đắc kỳ tử. Đúng bị hổ vồ nhưng là “hổ giấy”. Nguyên là đúng giờ dần, ngày dần, tháng dần, năm dần ấy, anh ta dậy sớm, đang “bình minh nhất trản trà” thì bức tranh “Hắc hổ” khung gỗ lim chạm trổ cầu kỳ ở trên tường đứt giây treo, rơi xuống. Khung tranh va vào đầu vỡ sọ...
Có phải kho truyện dân gian truyền đời có câu chuyện rùng rợn thế về hổ nên nhắc đến loài này ai cũng khiếp? Hay nghề thầy bói từng được “vinh danh” qua câu chuyện nửa thực nửa hư này?

Chỉ chắc một điều năm tới là năm Hổ - Canh Dần! Ta bỗng lấy làm lạ sao tiền nhân sắp xếp thứ tự 12 con giáp kỳ tài vậy? Con Chuột bé tý suốt đời đi ăn vụng lại đứng đầu? Kế đó là con Trâu to khỏe, làm hùng hục mà suốt đời chỉ nhai cỏ, tiếp theo là Hổ - một mãnh thú luôn gieo tai họa cho người khác, “dữ như cọp”... Liền tìm trong sử sách, những tấm gương các anh hùng kiểu Võ Tòng đả hổ không phải ít...

Thủy Hử truyện kể rằng: “... Sau khi khăng khăng không nghe lời can ngăn của chủ quán, uống một lúc mười tám bát rượu, Võ Tòng xách gậy xăm xăm lên núi Cảnh Dương. Đi khoảng năm dặm, mặt trời đã xế đằng Tây, bấy giờ rượu đã ngấm, Võ Tòng ngật ngưỡng qua núi. Bỗng mé đường thấy một tảng đá xanh, Võ Tòng quẳng khăn gói, dựng cây gậy bên phiến đá, lăn ra ngủ...
Đang khi thoả chí thích tình thì một trận cuồng phong nổi lên, rồi một con hổ cực lớn, trán trắng mắt xếch xuất hiện. Võ Tòng giật mình kêu lên một tiếng “úi chà” rồi lăn mình qua tảng đá cầm  cây gậy. Hổ ta đập hai chân trước, tung mình vồ tới con mồi. Võ Tòng né người nên hổ vồ trượt. Tức khí hổ gầm một tiếng cơ hồ đất núi Cảnh Dương sụp đổ, rồi quay mình tát một miếng. Võ Tòng lại quay mình né, con hổ điên tiết dùng đuôi như một cây roi sắt quật thẳng vào Võ Tòng. Võ Tòng lại né lần ba và quay mình quật thẳng một gậy vào đầu hổ. Chỉ nghe một tiếng “rắc”, rồi thấy một cây lớn đổ ngay trước mặt mà cây gậy thì gẫy làm đôi.
Thì ra trong lúc vội vàng đã đánh nhầm vào một cây lớn. Con hổ thấy ba lần chộp mồi không được, điên tiết lao thẳng vào Võ Tòng. Chàng tỉnh hẳn rượu, rượu toát theo mồ hôi lạnh... liền quẳng gậy, nắm ngay lấy bờm hổ, đè dúi nó xuống rồi cứ cẳng chân mà đạp vào mắt, mũi, mồm khiến con hổ toé máu đau đớn, hai chân sau đạp đất tung toé thành một hố sâu. Võ Tòng xoay người cứ tay trái nắm bờm con hổ, tay phải giơ nắm đấm to như cái đấu thoi liền một lúc hai, ba chục quả vào mặt con hổ. Lúc này nó chỉ còn thoi thóp thở. Chàng liền ra nhặt đoạn gậy vụt cho mấy chục gậy nữa đến khi nó chết hẳn


Trong “Rừng thẳm tuyết dày” của nhà văn Khúc Ba (Trung Quốc) cũng lại là chuyện đả hổ tưng bừng.
Nhà văn mô tả: “Dương Tử Vinh thấy con ngựa hoảng sợ lồng lên, hí loạn xạ, lấy làm lạ... Đột nhiên sau bụi cây xuất hiện một con hổ Đông-Bắc cực lớn, nhằm con ngựa lao tới. Gió tuyết nổi lên ào ào, Dương Tử Vinh cắm con dao  găm vào thân cây, kê khẩu súng trường vào cho khỏi rung, bắn một phát. Đạn thối. Chàng quẳng súng, rút khẩu pặchoọc bắn một băng, đạn rơi trên tuyết, con hổ lăn một vòng tránh, rồi lao thẳng tới Dương Tử Vinh chỉ còn cách vài bước. Nó chồm thẳng vào Vinh gầm thét, mồm há to đỏ như chậu máu. Tử Vinh chĩa thẳng súng vào họng nó, bắn một phát, viên đạn xuyên qua mồm hổ, phá vỡ óc... Con hổ dựng đứng hai chân sau, rồi theo đà gục xuống, chết ngay lập tức...”.

Trên đây là hai mảnh chuyện đả hổ trong muôn vàn ký ức hổ tuổi thơ tôi... Còn nữa là Lý Quì giết hổ trên núi Nghi Lĩnh, Mai Thúc Loan đánh chết hổ... Dù mảnh ký ức nào thì con hổ cũng đi liền với gió mạnh (cuồng phong) và bao giờ hổ cũng sử dụng ba miếng đánh là vồ, tát và quật. Sau ba miếng đó vẫn không hạ được con mồi thì hổ đã mất đi năm mươi phần trăm sức mạnh. Các bậc anh hùng muốn hạ gục hổ chỉ có một miếng độc nhất, đó là đánh trúng trung ương thần kinh của nó.

Được phong Chúa sơn lâm đâu phải dễ, nhưng đây là loài giống sức mạnh đặc biệt, đánh được cả voi, gấu, bò tót, lợn rừng... Sức mạnh vô biên hổ đã trở thành biểu tượng trong đời sống nên tướng mạo ai khỏe được gọi là Hổ tướng, ăn khỏe thì gọi là ăn như hùm, cha tài giỏi sinh con anh hùng thì gọi là “Hổ phụ sinh hổ tử”, lều chỉ huy trong chiến trận gọi là Hổ trướng. Hài hước là các cô nuôi dạy trẻ nóng nảy bị gọi là cô nuôi dạy Hổ. Nhưng khỏe mà trí khôn có hạn thì hổ cũng đã “mang tiếng” rồi, trong câu chuyện trẻ con người lớn đều thấy thú, “Trí khôn của ta đây?”.

Hổ lắm “điều tiếng” là thế, nhưng cũng là đề tài hay của hội hoạ xưa nay.
Bức họa “Ngũ hổ” biểu tượng sức mạnh che chở cho tâm điểm và bốn phương trời. Ý nghĩa tượng trưng của hổ cũng khá mênh mông. Bạch hổ thường dùng để chỉ các bậc đế vương. Hổ được coi là biểu trưng cho phương bắc, của đông – chí. Đôi khi nó là vật cưỡi của một Tiên ông vì nó cũng trường thọ.

Trong đạo Phật, sức mạnh của hổ tượng trưng cho sức mạnh của đức tin, của nỗ lực tinh thần, vượt qua “rừng rậm tội lỗi” (biểu tượng bằng một rừng tre). Là quái vật trong bóng tối và tuần trăng mới, hổ cũng là hình tượng của Thượng giới, đẹp đẽ, hung dữ, mau lẹ, quyến rũ và gây khiếp sợ. Hổ xuất hiện trong giấc mơ gây “ác mộng”, theo E AeppLi, trong ác mộng, hổ biểu thị một tiêu điểm của các xu hướng đã trở nên hoàn toàn độc lập và luôn luôn sẵn sàng bất ngờ tiến công và xé nát chúng ta. Đó là một bạo chúa nham hiểm, không biết tha thứ, rất khó dung hòa - “chơi với vua như chơi với hổ”. Gặp tình thế bất khả kháng, không cứu vãn được, người ta ví như thế “Cưỡi lưng hổ”...

Trong 12 con Giáp, có lẽ Hổ là con vật ít được người ta ưa thích nhưng lại đầy kính - sợ - uy - lực. Nhiều  phụ nữ ngại sinh con (gái) năm Dần. Bởi e rằng... dữ như hổ, khó lấy chồng chăng? Thực ra nhân duyên là chuyện hoà hợp. Dù dữ mấy vẫn có người hợp. Một khi phải duyên hợp số, hai cái dữ gặp nhau có khi lại hóa hiền... Mệnh dữ - hiền cứ đổ riệt cho số mệnh cầm tinh con hổ, e oan cho cả người cả hổ chăng?
Năm Hổ tới rồi, cầu chúc cho loài hổ chúa của rừng xanh không bị con người tận diệt, cầu cho nhân loại nhiều anh hùng như Võ Tòng chí khí kiên cường sức mạnh vô song trừ cái ác cái dữ dễ dàng như trở bàn tay, ắt vạn sự trên đời cũng dễ dàng chuyển hung thành cát.

Chúc cho những ông hổ, chú hổ trong tranh các hoạ sỹ ta nhiều cơ hội chu du tung tẩy khắp bốn phương trong thế giới hội nhập bằng an…

Đón năm Dần tới.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 15 Tháng Chín, 2013, 07:09:44 am
SẮC MÀU CUỘC SỐNG

Nhẩn nha chuyện Rồng, nhẩn nha vẽ…
[/b]

1.
Năm hết Tết đến, tiễn năm Tân Mão đón năm Nhâm Thìn, các hoạ sỹ nhà ta vẫn giữ nếp vẽ con giáp mừng đón năm mới. Vài đồng nghiệp chia sẻ, dường như Rồng và Tý là hai con giáp khó vẽ được hay như mong muốn. Nhưng rõ ràng từ lâu, hình ảnh Rồng đã xuất hiện rộng rãi trong nghệ thuật tạo hình nhiều dân tộc phương Đông.
Là tưởng tượng, nhưng Rồng đã trở thành tín ngưỡng đầy quyến rũ biểu trưng sức mạnh thần diệu quyền lực. Với mỗi người, Rồng có những hình mẫu rất riêng, từng được vẽ ra nhiều cách và chính trong sách vở thời xưa, hình dáng Rồng khá phong phú không kém ngày nay.
Những đặc điểm như thân dài lượn sóng, cuộn theo hình mây xoáy trôn ốc, nửa hiện hình, nửa không đã khiến nhiều nghệ sĩ phương Đông xưa khi xử lý hình tượng Rồng luôn có ý thức về vẻ đẹp của đường nét và giá trị của mảng đặc - rỗng. Mỹ thuật truyền thống vì vậy đã sử dụng Rồng như một họa tiết trang trí phổ biến, chủ đạo trên công trình điêu khắc, kiến trúc, các đồ dùng sinh hoạt...

2.
Hoạ sỹ Nguyễn Tư Nghiêm có lẽ là số ít hoạ sỹ nước ta chẳng “hề hấn” gì khi vẽ con giáp, năm nào tới ông vẽ con đó đều hay. Thậm chí ông vẽ cả 12 con giáp trong một năm. Rồng trong tranh hoạ sỹ Tư Nghiêm mang hơi thở của Rồng phù điêu trong chạm khắc đình làng, thường màu nâu đất, đệm tý đen trắng…
Nhiều nghệ sỹ cũng khao khát được thể hiện vẻ đẹp của Rồng. Nhiều khả năng hoàn hảo đều được gán cho Rồng, một trong tứ linh được loài người tôn sùng và thờ phụng. Người ta tin Rồng có thể sống và vận động trong cả ba môi trường: nước, không khí và đất. Sự khôn ngoan và quyền lực của nó vượt trội nên rồng có thể biến hóa vô cùng, thu mình nhỏ như con tằm hoặc trải rộng che kín cả mặt đất.
Các hoạ sỹ đã, đang thả trí tưởng tượng tung hoành vẽ Rồng như thế.

3.
Lại nhẩn nha chuyện Rồng kỷ lục.
Trước hết là Rồng kỷ lục bằng phế liệu chiến tranh xuất hiện tại Festival Biển Nha Trang cách đây 2 năm. Đó là một tác phẩm điêu khắc kỷ lục lạ đời, con Rồng nặng tới 2 tấn đó do nhà điêu khắc (NĐK) người Pháp Marc Morvan tạo ra làm bằng phế liệu inox và bom mìn chiến tranh. Từ những thứ bỏ đi đó đã ra đời một con Rồng đang ngẩng đầu nhả ngọc. Trong đêm, đôi mắt con Rồng ấy tỏa sáng…
NĐK Marc Morvan được nhiều người biết đến vì ông có tượng được trưng bày ở Điện Élysée và nhiều nơi khác. Tất cả tác phẩm của ông đều tận dụng phế liệu để tạo ra, làm cho nó có cái hồn rất riêng, trở thành tác phẩm nghệ thuật bằng sắt, bằng các loại kim loại ấy để giữa trời bất chấp thời tiết.
NĐK Marc Morvan sinh ra tại vùng Bretagne, nước Pháp. Năm nay Tân Mão ông 43 tuổi. Ông có cả một thời trẻ  là một chủ tàu cá, đi giữa biển khơi nhiều hơn trên đất liền. Năm 1995, ông đổi nghề thành nghề hàn bởi bão tố đã nhấn con thuyền của ông vào biển khơi. Từ nghề hàn, ông thu gom mọi thứ, rồi hàn chúng thành một tác phẩm gì đó.
Trong 14 năm ròng, nỗi đam mê sáng tạo từ nghề hàn tạo ra tác phẩm điêu khắc đã làm nên tên tuổi ông. Gia tài của ông là 500 tác phẩm lớn nhỏ ở mọi nơi trên nước Pháp, như hai pho tượng hình người ở Điện Élysée, bảy tượng điêu khắc trên đường đua xe đạp vòng quanh nước Pháp, đặc biệt là tượng quái vật ở hồ Loch Ness.
Ý tưởng tạo một con Rồng bằng phế liệu inox và bom mìn chiến tranh trong Festival Biển 2009 làm ông thích thú và một tháng rưỡi ông đã hoàn thành tác phẩm này cùng hai công sự là thợ hàn Việt Nam.
Kỷ lục Rồng thứ hai, là bức tranh Rồng bằng nghệ thuật Graffiti dài 400m, cao 5m được bày tại đường Hùng Vương, thành phố Mỹ Tho năm trước, tôn vinh Festival Trái cây Việt Nam lần thứ nhất và hướng về đại lễ 1.000 năm Thăng long.
40 người thuộc nhóm GAS (Graffiti in Art School) Huế và nhóm họa sĩ trẻ thành phố Hồ Chí Minh sử dụng 350 thùng sơn xịt mầu các loại tạo hình Rồng bằng cách phun lên một khung sắt bên ngoài phủ bạt hiflex. Điểm thú vị của bức tranh là ở các chân Rồng tỏa ra các đám mây là nơi tổ chức hội thi vẽ tranh dành cho các em thiếu nhi vẽ về quê hương Tiền Giang thân thương.
Bạn có thể kể tiếp, hay tự thân lập nên những “kỷ lục Rồng” chứ?

4.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đời Lý có vua Lý Công Uẩn, con nuôi của Thiền sư Lý Khánh Vân, được sự dạy dỗ giúp đỡ của Thiền sư Vạn Hạnh, hai vị Thiền sư đầu đời Lý rất nổi tiếng về đạo hạnh và trí tuệ thông bác hơn người.
Khi lên ngôi, vua tự xưng là Lý Thái Tổ. Từ đất Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ ra chiếu dời đô về đất Hà Nội bây giờ. Tương truyền về đến Hà Nội thấy một con Rồng vàng bay lên,  vua mới đặt cho Kinh đô nước ta là Thăng Long, tức Rồng bay…
Miền Nam nước ta có sông Cửu Long, tức là sông có 9 con Rồng (tức chín luồng nước hợp lại như chín con Rồng giao nhau…
Chuyện “Con Rồng cháu Tiên” cũng là truyền thuyết hay về Rồng trong đời sống văn hoá dân tộc. ... Cho đến ngày nay, theo thói quen khi nói về các quốc gia phát triển với ý nghĩa khen ngợi, người ta vẫn sử dụng chữ "rồng". Chẳng hạn Nhật Bản, Singapo, Đài Loan... , được gọi là những Con Rồng châu Á, hàm ý chỉ về khả năng tiềm ẩn, sự vượt trội...
Giấc mơ Rồng bay lên chắc chắn được cháu con ta viết tiếp, với giấc mơ đất nước hùng mạnh sớm “hoá Rồng”…

5.
Nhẩn nha chuyện vẽ Rồng, không thể không kể chuyện một cuộc thi độc đáo vẽ Rồng theo trí tưởng tượng do công ty truyền thông Megastar tổ chức nhân sự kiện ra mắt bộ phim hoạt hình 3D “How to train your Dragon - Bí kíp luyện rồng” năm 2010.
Chuyện phim xoay quanh Hiccup - một cậu bé người Viking sống trên đảo Berk, nơi việc giết rồng được coi là lẽ sống. Thế nhưng, khi cậu làm quen và trở thành bạn với một chú Rồng, cuộc đời cậu và tương lai của cả bộ tộc đã thay đổi...
Ban giám khảo đứng đầu là hoạ sỹ Huỳnh Văn Mười - Chủ tịch Hội Mỹ Thuật TP.HCM, đã chọn ra được những bài thi xuất sắc nhất để trao giải. Lê Thanh Tùng - người đoạt giải Nhất cho biết: “Rồng chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng vô hạn của con người, nên rồng có thể bắt nguồn từ những điều giản dị nhất trong cuộc sống như con mèo, con chó, lon coke, pepsi…Chỉ cần bạn tưởng tượng, bay bổng vẽ trong trí tưởng tượng khôn cùng đó”.
Tiếc là dường như những cuộc thi thú vị như vậy chưa nhiều.

6.
Trở lại tín ngưỡng người Việt ta, có quá nhiều góc nhìn thời gian về một con Rồng trong tưởng tượng.
Trong ký ức dân gian thần mưa và thần nước mang hình hài một con Rồng to thường xuyên ra biển Đông hút nước mang vào đất liền tưới tắm cho đất đai. Rồng là nguồn nước tưới cho ruộng đồng tốt tươi và giúp nhà nông hình thành kinh nghiệm dân gian: Rồng đen lấy nước thì nắng/ Rồng trắng lấy nước thì mưa…
Được xem là vua của tạo sinh động vật, nên dễ hiểu Rồng là biểu tượng của điềm lành, sự may mắn và tốt đẹp. Trong truyền thuyết, thần thoại phương Đông, Rồng bao giờ cũng ẩn chứa ý nghĩa là một biểu tượng cho sự cao quý tốt đẹp. Rồng còn hiện diện trong nhiều loại hình nghệ thuật như trong múa, kịch; trang trí trên điêu khắc, kiến trúc...
Múa Rồng là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của phương Đông, nhất là ở các vùng nông nghiệp trồng lúa nước. Hầu hết các quốc gia phương Đông đều có điệu múa Rồng vào các ngày lễ Tết cổ truyền. Rồng mang màu sắc rực rỡ, uốn lượn theo nhịp trống rộn rã tạo không khí hội hè, biểu thị niềm vui sướng, hạnh phúc cho tất cả mọi người, cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu.

7.
Năm mới đang tới, năm Rồng. Và sẽ nhiều năm Rồng nữa tới…
Mai này một Hà Nội hiện đại với những chung cư, nhà tháp cao tầng chọc trời, phát triển ra bốn phương tám hướng, thì cái phần hiện đại hoành tránh ấy là cái khung đẹp cho Hà Nội 36 phố phường mà thôi, vì hồn cốt Hà Nội chính là ở 36 phố phường đó.
Cũng như trước thềm năm mới, con giáp của năm mới gợi ra nhiều điều mới mẻ cho hoạ sỹ, những hình khối mới sắc màu mới tự tin hơn, chứa đựng nhiều yếu tố thẩm mỹ độc đáo cách tân hơn…
Một ước mơ nho nhỏ: Hà Nội sớm có những cuộc thi sáng tạo vẽ Rồng, viết Rồng, làm nhạc về Rồng… đủ gợi nhớ một Thăng Long nguyên xưa cho một cõi đi về, thoả khao khát của tất cả những ai từng ở Hà Nội, từng yêu Hà Nội, từng xa Hà Nội. Giản dị vậy nhưng là cách mỗi người tôn vinh Thăng Long trên nghìn năm văn hiến.
Nhân Xuân Nhâm Thìn đương tới, xin gửi tặng bạn hữu, bạn đọc một vài con Rồng bình dị của tôi, cuốn trong lòng những ước mơ viên mãn đón chào năm mới.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 16 Tháng Chín, 2013, 07:29:29 am


    SẮC MÀU CUỘC SỐNG

    ĐẦU NĂM VẼ RẮN

    Hàng năm, mỗi độ xuân về, tôi lại cùng vài anh em trong nghề có nếp vẽ Con GIÁP của năm đó! Những năm Hổ, Ngựa, Rồng, Lợn… Thì khỏi nói, ngoài sự thích thú về hình thể con vật tạo hứng khởi cho người vẽ, còn được người thân đón nhận con GIÁP đó một cách rất “Tâm linh “… Nào là năm Rồng thì bay nhảy, thăng quan tiến chức, năm Hổ thì sức khỏe dũng mãnh khang cường, năm Ngựa thì làm ăn kiểu… nước đại, còn năm Lợn thì … an nhàn, ngồi không ăn sẵn! Có họa sỹ còn đưa cả ngàn năm Thăng long và nghị quyết Trung ương vào con Gíap biểu hiện bằng số lượng vạch vằn trên lưng Hổ, hoặc số vây trên lưng Rồng… Đến những năm tiếp theo như con Dê, con Chó, con Trâu thì đã thấy hơi khó xử dù những chú này có cả hai mặt, rồi đến con Mèo con Gà thì khá gay go, Mèo ta xinh đẹp thế mà luôn bị câu: “Mèo vào nhà thì khó, Chó vào nhà thì sang”. Con Gà đẹp thế mà ai cũng sợ cho là cả năm sẽ… bới rác quanh vườn ! Nhưng ba con sau cùng thì mới thật là khó cho người vẽ, đó là con Chuột, con Khỉ và con Rắn …

    Tôi viết bài này không nhằm kể lể nào rắn xuất xứ từ đâu, tên khoa học là gì, có bao nhiêu loài, quan niệm các nước trên thế giới khác nhau về loài rắn như thế nào? Thêm mệt, để các nhà khoa học nói… Bài này đơn giản chỉ là nhân dịp Qúi Tỵ tới, tâm sự với các bạn nghề rằng con rắn vẽ cũng đẹp (Kể cả Chuột và Khỉ ) nếu ta chịu khai thác vẻ đẹp riêng của nó… Nhưng về mặt tâm linh thì thôi rồi, những chuyện mang màu sắc tâm linh sắp kể ra ở đây hoàn toàn không hoang đường mà có thật trăm phần trăm … Đầu tiên nói qua chút về sự bị mang tiếng của rắn, nhắc đến rắn, nhiều người nghĩ ngay đến một người đàn bà, nghĩ ngay đến sự nham hiểm giả tạo (chắc vì cách đi của rắn hay luồn lách), nghĩ ngay đến sự ác độc, bội phản (chắc vì rắn hay cắn bất ngờ và nọc rất độc)… và nhất là sau khi trong dân gian tương truyền câu chuyện rắn báo oán của Nguyễn Thị Lộ, bà là vợ lẽ của Nguyễn Trãi, cực thông minh và xinh đẹp, được vào cung cấm dạy vua Lê Thái Tông và được vua phong hàm Lễ nghi học sĩ. Nguyễn Trãi là một khai quốc công thần triều Lê sơ, truyền rằng thân phụ ông trong khi sai học trò phạt cỏ để làm nhà học, nằm mơ thấy một bà mẹ dẫn một đàn con đến lạy lục xin ông hãy thư thả một thời gian để kịp dọn nhà đi chỗ khác… Hôm sau học trò phát cỏ thấy một con rắn mẹ và đàn rắn con đã đập chết lũ rắn con, rắn mẹ trườn thoát… Lúc đó thân phụ ông mới nhớ tới giấc mơ đêm trước! Đến đêm, khi đang đọc sách có một con rắn bò lên xà nhà, nhỏ một giọt máu vào trang sách ông đang đọc, rơi đúng vào chữ “Tộc”, giọt máu thấm tới trang thứ 3… Về sau, khi nước nhà đã độc lập, nhưng lại rơi vào xung đột nội bộ tranh giành quyền lực do gian thần gây ra. Nguyễn Trãi đã khôn ngoan rút về ở ẩn tại Côn Sơn cùng Nguyễn Thị Lộ, nhưng một lần vua Lê Thái Tông kinh lý qua Côn Sơn , lúc về kinh đã đưa Nguyễn Thị Lộ về cùng. Khi qua nghỉ đêm tại Lệ Chi Viên, nhà vua đã bănghà , bên cạnh có Nguyễn Thị Lộ… Nguyễn Trãi đã bị khép vào tội giết vua và bị chu di tam tộc [ứng vào giọt máu thấm tới 3 trang sách]. Nguyễn Thị Lộ bị nhốt vào lồng sắt và bị dìm chết dưới sông! Tương truyền khi sinh hạ dưới sườn Nguyễn Thị Lộ có vảy, và do chính con rắn mẹ nhập hồn vào để báo oán!

    Nhưng rắn đâu phải chỉ bị tai tiếng như thế. Nhất là cái tiếng đó lại do âm mưu của con người tạo ra để diệt nhau (hậu thế đã có những hội thảo lớn để chiêu tuyết cho Nguyễn thị Lộ khi phân tích ra những nguyên nhân lịch sử chính xác thời đó). Nó đồng thời cũng để lại rất nhiều sự tích hay, xin đơn cử vài ba chuyện ngày xuân đón Qúi Tỵ đọc chơi :

    Chuyện thứ nhất : Tại Noọng Khai (Thái Lan) đoạn sông Pon Pi Sai thuộc sông Mêkông , biên giới tự nhiên với Lào vào đêm tháng 11 hàng năm, đúng ngày mồng 1… từ dưới lòng sông bay vọt lên hàng nghìn quả cầu lửa màu sắc rực rỡ, quả cầu to bằng quả trứng ngỗng, đường bay xiên chéo nhau tạo nên một cảnh tượng hết sức ngoạn mục… (Các nhà khoa học đã vào cuộc điều tra , có giả thuyết cho rằng đây là một màn pháo hoa khéo léo…) Nhưng tại sao không có súng và bất kỳ một tiếng nổ nhỏ nào? Và mấy trăm năm nay vẫn chưa ai giải thích được … Tương truyền đó là do Rắn Thần Na Ga [ Tiếng Phạn là Hổ chúa ] đón chào Đức Phật hạ giới, Rắn Thần phun ra sóng cầu lửa để làm bậc thang đón Ngài! Na Ga có bảy đầu, mỗi đầu có một cái mào xòe rộng che phủ, sức mạnh của nọc độc có thể giết chết một con voi lớn, chuyên bảo vệ cái Thiện và diệt trừ cái Ác!

    Chuyện thứ nhì : Khoảng trước năm 1940 thế kỷ 20, tại chùa Tra Am (sau đổi là Mật Sơn Tự ) thuộc huyện Hương Thủy ( Thừa Thiên – Huế ), nằm sau lưng núi Ngự Bình có một cặp rắn đến tu ở đó! Phía tả vu chùa có ba ngôi mộ tháp của các vị cao tăng đã viên tịch, cặp rắn ngụ tại cái hang dưới đáy mộ tháp, hằng đêm lúc ba giờ sáng khi sư cụ gõ mõ tụng kinh Phật thì cặp rắn lặng lẽ bò vào tam bảo, mỗi con một bên, cuộn tròn nằm nghe giảng kinh. Con đực mào đỏ chót, to như mào gà lệch một bên, khoang đen, trắng, óng ánh vảy xanh, thân to như cây luồng, dài khoảng một mét rưỡi, cụt đuôi (dân địa phương gọi là Ông Cụt , chắc bị thương trong một trận tử chiến ) nên khi bò phát ra tiếng bạch bạch, con cái mào nhỏ hơn dài khoảng hai mét rưỡi, toàn thân đen nhánh, nhỏ hơn và đi đứng nhẹ nhàng hơn (dân địa phương gọi là Ông Dài). Cặp rắn không ăn thịt, chỉ ăn hoa tàn lễ cúng, vỏ bầu bí, và rau cỏ người cho… Đặc biệt không bao giờ hại người… Những người già cả còn nhớ lại khoảng sau Rằm tháng bảy năm 1945, cặp rắn sau khi nghe giảng kinh gật đầu chào nhiều lần và từ đó không bao giờ về nữa … Sau này có nhà nghiên cứu hỏi thượng tọa trụ trì rằng sao lại có cặp rắn khôn ngoan như vậy? Thời được giải thích rằng đó là một trong tám loài thuộc Thiên Long Bát Bộ, có khả năng ngộ chứng Phật pháp linh thiêng và có sứ mệnh hộ trì Tam bảo… Thật là một loài động vật có tính linh đặc biệt siêu phàm!

    Chuyện thứ ba: Tại cánh rừng Khe Môn thuộc rừng Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) có một con rắn hổ chúa cực lớn trị vì… Rất nhiều thợ săn và lâm tặc gặp nó. Dài khoảng hơn mười mét, thân to hơn lốp ô tô, thân sáng trắng có nhiều khoang đen, vàng, mỗi khi giương vây, phùng mang to như một cái mâm, Một thợ săn có thâm niên hơn 40 năm kể lại : Ông có một con chó cực khôn, ông rất quí, lần ấy vào Khe Môn săn thú (Nhân thể cũng muốn xem Xà Vương như thế nào, có đúng như lời đồn hay không?) … Chiều về mà không thấy gì, bỗng nghe tiếng chó sủa vang, tuyệt vọng, ông chạy ngay xuống khe thì thấy một con rắn cực lớn đang nuốt con chó, con chó chỉ còn hai chân trước và cái đầu ở ngoài miệng rắn lớn…Thấy người, con rắn hực lên một tiếng, phùng mang ra, nuốt trọn con chó, ông thất thần bỏ chạy một mạch về nhà và từ đó cũng bỏ nghề thợ săn luôn. Người bản địa khẳng định đây là rắn chứ không phải là trăn, vì trăn thì hiền chứ không dữ như thế, còn các nhân viên kiểm lâm rừng Khe Môn thì lại rất sung sướng, các anh nói: Rừng Quốc gia có nhiều thú quí hiếm và gỗ quí các loại… chúng tôi luôn phải đối mặt với lâm tặc và bọn thợ săn trộm… ý thức người dân thì kém, lòng tham luôn lấn át luật nước, lực lượng kiểm lâm thì mỏng mà không được trang bị đầy đủ phương tiện vũ khí, lại còn không cho mạnh tay với bọn xấu nên kết quả là nạn săn trộm vẫn hoành hành… Nhưng từ ngày có Chiến sỹ Rắn thần trị vì chúng tôi yên tâm hẳn lên, cảm ơn Rắn thần !

    Đấy! Rắn hay và đẹp như thế cơ mà, người Trung Quốc có phương ngôn: “Mỹ nhân tuổi Tỵ “Tức là đàn bà sinh năm Tỵ thường rất xinh đẹp (người viết tán thành), điều tra thêm còn biết Qúi Tỵ là năm chào đời của nhiều anh hùng cái thế, danh nhân xuất chúng . Vậy kết luận Xuân mới đã về rồi, một năm tuyệt hay sắp tới , người viết chúc cho các họa sỹ vẽ được nhiều tranh Rắn đẹp, và cả viết nhiều bài Rắn hay nữa chứ? Xin Chúc mừng năm Rắn!

    Trước Tết Qúi Tỵ 2013



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 17 Tháng Chín, 2013, 07:16:40 am

Hà Nội trong tôi

Tôi là người Hà Nội!
Mẹ tôi hoài thai tôi trong những tháng năm khói lửa của cuộc kháng Pháp trường kỳ tại số nhà 20 phố Tô Hiến Thành. Tên phố lấy tên một khai quốc công thần, phò 3 đời vua nhà Lý, nổi tiếng vì lòng trung thành và cương trực.
Lúc còn trong bụng mẹ, suốt ngày tôi nghe thấy mọi người rục rịch chuẩn bị đồ đạc, khăn gói… từ “tản cư” là từ mẹ tôi nói hàng ngày. Sát vách nhà tôi là nhà viên quan hai phòng Nhì làm việc cho Pháp, từ phòng ông ta, hai từ “tấn công” và “đè bẹp” luôn vẳng ra. Ông bà tôi không muốn mẹ tôi đi vì sắp sinh tôi, nhưng mẹ tôi là một người cứng rắn, bà muốn theo chồng (cha tôi lúc đó đang công tác ở Liên khu 3 - Thanh Hóa) sớm ngày nào, hay ngày ấy. Theo tính toán của người dẫn đường, vào đến vùng tự do thì sẽ sinh tôi… Nhưng chắc cái rét bất ngờ và sự vận chuyển vất vả của hành trình nên mẹ đã đẻ rơi tôi dọc đường. Tôi ra đời trong nhà một người nông dân ở chợ Lương (Hà Nam), chính ngọn lửa từ đống rơm, cạnh chuồng ngựa đã cứu sống tôi khỏi chết rét, những người đàn bà nông dân sặc mùi mồ hôi đồng ruộng đã ôm ấp bế ẵm tôi, tiếng ngựa gõ vó và hí bên chuồng đã khích lệ tôi phải sống. Lúc ấy, ông Nguyễn Sơn, một vị tướng trong quân đội Việt Minh trên đường lên Việt Bắc họp đã đặt tên cho tôi (ông là một tướng quân nổi tiếng về tài chỉ huy trận mạc, về lòng dũng cảm, cầm kỳ thi họa cũng tài, là tướng hai nước Việt Nam và Trung Quốc và rất đào hoa…). Khi đó, họa sỹ Tạ Tỵ cũng ở bên (họa sỹ cũng là người rất tài giỏi, văn thơ nhạc họa đều hay, lại lãng mạn nữa…) Hai ông đã đặt tên cho tôi. Có lẽ, không! Chắc chắn hoàn cảnh đó đã hun đúc nên con người tôi, những mùi rơm rạ, mùi chuồng ngựa, trầu không, mùi khói lửa, tiếng vó ngựa và phong cách của ông tướng và họa sỹ đã hấp thụ vào tôi… Sau tháng ngày đó, tôi lớn lên ở đồng quê, uống nước sông Chu, ăn củ khoai củ ráy, hít thở lộng gió cánh đồng, sống trong tình yêu bộc trực của người nông dân Việt Nam. Sau này, tôi có đọc được từ một tài liệu khoa học là chính hai năm đầu đời, đứa trẻ đã hình thành toàn bộ cá tính và nhân cách con người mình, mãi mãi sau này, tôi vô cùng biết ơn hoàn cảnh đã ban cho tôi lúc ấu thời, đặc biệt biết ơn những người đàn bà nông dân đã “giáo dục” tôi, và cả gió trên những cánh đồng đã thổi vào lồng ngực tôi ngọn gió bộc trực thuần khiết Việt Nam.
Cứ thế … năm năm sau…
Tôi như đi trong mơ, lúc lắc trong cỗ xe ngựa, chòng chành trong khoang thuyền, sông Chu, rồi sông Mã, sông Hồng… Cho đến một ngày, não bộ bị đập phá  ầm ầm vì trống giong cờ mở, và mắt bị một rừng cờ đỏ tràn vào. Khiếp! Sao cơ man nào là cờ, đỏ rực, cờ to cờ nhỏ, xen kẽ đôi khi một lá cờ xanh hòa bình.
Rồi từng đoàn người đội mũ nan cài lá ngụy trang, đeo những khẩu súng có băng tròn trước ngực, thấp đậm, quần túm ống, ngón chân cái toè ra như Giao Chỉ trong đôi dép tự chế từ lốp xe tải lũ lượt qua nhà tôi.
Rồi không thấy tiếng chân trâu buổi sáng, thay vào đó là tiếng Chế-mà-phù, Phá-xa, Lục-tào-xá, tôi phát buồn nôn khi ngửi mùi ét-xăng phun ra từ cái xe đen bốn bánh mũi trông giống con ve sầu, từ trên đó bước xuống những ông thông, bà phán, cậu ấm, cô chiêu hay những người đàn bà tóc quăn mặc áo dài, thơm nức…
Rồi leng keng tiếng tàu điện, chiếc xe bánh sắt to, dài mà tôi luôn nhảy lên để nó chở qua chợ Hôm, nhà Gô-Đa, Bờ-Hồ, chợ Đồng Xuân là điểm đến cuối cùng của tôi, để mua về một hũ cá vàng, dọc đường được nghe ông lão hát xẩm ca những bài ca não ruột về số kiếp con người…
Rồi tôi đi học, học giỏi (tất nhiên), cuối năm lớp một, thầy Lạc (là một giáo chức dưới chế độ cũ) kéo tôi ra góc trường, đặt một tay lên vai tôi, khen tôi và dặn: “Con luôn phải cố gắng, tuổi con rời cố gắng là chết đấy!”. Lần đầu tiên tôi được gọi bằng “con” từ một người đàn ông! Và cảm thấy sức nặng của lời tiên tri đè nặng lên vai.
Rồi tôi vào Đội, lúc bấy giờ phố Thể-Dục (tức phố Tô Hiến Thành) không còn nữa! Cả bãi Thể-dục rộng mênh mông người ta đã xây nhà lên đó. Tức là toàn bộ nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo bây giờ, còn trước nữa là nhà máy Diêm. Bà tôi dắt tôi ra cuối chợ Giời, bảo: “Đi nữa là Ô Cầu Dền, là làng Hoàng Mai con ạ, có chợ Mơ ấy!” Tôi vút mắt nhìn xa, chỉ thấy con đê cao cao, tre pheo phơ phất, làng quê vẫn rất gần tôi, bóng những người đàn bà mặc váy đen, áo nâu, quấn khăn mỏ quạ gánh lúa làm tôi nhớ đến Thanh Hóa ngày nào.
Rồi những buổi đi học, mò bi ve, chun kếp ở bãi rác Vân Hồ (bây giờ là Công viên Thống Nhất) bị sa lầy trong bùn ngập đến cổ suýt chết, may thằng bạn quăng cành cây kéo lên, tối mịt mới dám về nhà (vì không có quần áo).
Rồi mẹ tôi mở cửa hàng sách báo, Hà Nội khi ấy chỉ có mấy cửa hàng. Qua sách báo đem về, tôi biết có một trận chiến nhằm vào một đám người chống chế độ, thấy bìa cuốn sách vẽ rất đẹp (ảnh hưởng vào tôi mãi sau này) đề chữ “Giai Phẩm” gì đó, ầm ầm, ầm ầm! Cha tôi thời gian này trở lên lặng lẽ, rất buồn!
Rồi tôi vào học Trường Mỹ thuật, cuốc bộ đi học. Có hai cây số mà ngày ấy thấy rất xa, phố xá vắng vẻ, qua hồ Ha-Le đìu hiu, bàng là giống cây tôi thích nhất, quả ngọt lừ, lá gói xôi, thân xù xì khúc khuỷ và đặc biệt dưới gốc bao giờ  cũng có một bác chữa xe đạp hoặc bà hàng nước chè chén. Đi học trường Mỹ thuật ở phố Yết Kiêu tôi mới biết gần đó, ở giữa Hà Nội còn có một cái xóm gọi là xóm Hạ Hồi… Qua câu chuyện của bà và mẹ, còn biết Hà Nội còn nhiều vùng “đặc biệt” nữa, nào là Bưởi, nào là Dịch Vọng, nào là Cầu Giấy… Toàn những cái tên nghe rất xa, mà gần… Tuổi thơ của tôi trôi qua trong những trận Sô-vê sũng mồ hôi dưới ánh sáng điện đèn, những trận đánh đáo, đánh xèng, dưới bóng bàng và sấu trưa hè vắng vẻ phố xá, tĩnh lặng kinh người…
Rồi năm 1966 đến, tôi đứng góc hồ Ha-Le, nhặt một mảnh bom lên. Nó vỡ lưa tưa, sắc cạnh, linh cảm dân tộc mình, Hà Nội mình, và mình bắt đầu chuyển sang một trang mới, đường xá không còn vắng vẻ nữa, khắp nơi là hầm tăng-sê, góc Bờ Hồ chỗ tháp Hòa-Phong là cả một dãy hầm nổi chạy dài, cao xạ chạy ầm ầm, cầu Long Biên biến thành ụ pháo lớn chơi nhau với không quân Mỹ, tên lửa giăng ngay bãi giữa sông Hồng. Vẫn xếp hàng mua gạo bằng tem phiếu, vẫn xếp hàng dài dằng dặc chờ lấy một vại bia, một que kem… Tin chiến sự từ miền Nam dội về, từng đoàn lính mới lũ lượt lên đường, mũ cối, mũ tai bèo, tiểu liên AK và dép đúc Trung Quốc…
Rồi những giấy báo tử… ngày kết thúc chiến tranh còn xa quá!
Rồi 12 ngày đêm… Hà Nội tan nát dưới B52, những quầng sáng chói lòa, phía Hồ Tây, dù phi công, mảnh máy bay Mỹ rơi lả tả…
Rồi lại đỏ rực một lần nữa, lần này đỏ hơn, vang dội hơn, ba lô cóc, búp bê tràn ngập phố xá, dép đúc, mũ cối bày bán đầy chợ, nào Hon Đa, Suzuki, Yamaha, nào dàn TEAC, Sony băng cối… Hàng hóa tư bản từ phía Nam ùn ùn theo tàu xe ra bắc… Hà Nội dường như đã bị “Sài Gòn hóa” sau những tháng ngày lao khổ của chiến tranh.
Rồi đói…
Rồi đổi tiền
Rồi thì thào những chuyến vượt biển Đông…
Rồi chen nhau xuất khẩu lao động, làm đội trưởng thì tốt, không thì làm công nhân cũng được!
Rồi từng đoàn người Hoa lũ lượt thu vén đồ đạc rời Hà Nội. Chiến sự nổ ra 6 tỉnh phía bắc Tổ quốc!
Rồi lại từng đoàn lính mới lên xe quân sự, ùn ùn đổ vào phía Nam. Chiến tranh nổ ra ở biên giới tây nam. Quân ta đụng phải mìn lá và chiến tranh du kích của đối phương.
Người Hà Nội thấy không có lời khuyên nào hay hơn lời khuyên: “Hãy tự cứu lấy mình, trước khi trời cứu”. Càng thanh lịch bao nhiêu, lúc gian nan người Hà Nội càng trở lên mạnh mẽ bấy nhiêu…
Thời gian phi như ngựa chạy, thấm thoát đã 35 năm kể từ cái ngày đỏ rực cờ sao lần thứ hai ấy! Hà Nội bây giờ đã rộng lớn lắm rồi, Bưởi, Dịch - Vọng, Cầu Đuống… còn là nội đô, Hà Nội đã lên tận Hòa Bình, Hà Nội có rừng xanh núi đỏ, có Mán có Mường, đèo cao vực thẳm… Hà Nội không còn là những khu phố cổ, là Kẻ Chợ nữa. Những cánh đồng bị san lấp đi để mọc lên những nhà cao tầng như khối hộp, những đồi trung du bị biến thành sân gôn.
Rồi khắp nơi đường sá bị đào lên để làm cống, vừa lấp đi, lại đào tiếp để làm vỉa hè, chưa hồi sức, lại đào lên để đặt cáp điện.
Rồi túi ni lông, rác thải vứt khắp nơi, người Hà Nội đại tiểu tiện, văng tục, nhổ bọt mọi chỗ có thể.
Rồi cướp giật giữa ban ngày, xe cộ ùn ùn, mạnh ai nấy đi, bất chấp đèn xanh đèn đỏ, mỗi ngày các bệnh viện nhận hàng trăm ca què chân què tay, chấn thương sọ não…
Người Hà Nội vẫn không sợ
Vẫn tắc đường, tắc khủng khiếp
Cứ đôi quang gánh, trong thùng có vài vỏ hộp, lon bia… đi văng mạng giữa ô tô, xe máy, chết thôi.
Rồi khắp nơi là khẩu hiệu, hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, xen lẫn là biển quảng cáo thông tắc hố xí và nạo phá thai tại nhà có bảo hành.
Rồi bụi, kinh doanh khẩu trang phát tài.
Rồi hoa quả chứa chất bảo dưỡng độc hại, thịt lợn tiêm thuốc tăng trọng, sữa có chất mêlamin.
Rồi sàn nhảy, thoát y, rồi lắc, rồi xì ke ma tuý, kim tiêm vứt đầy ngõ hẻm.
Rồi hết dự án này đến dự án khác, quan tham đầy túi, Hà Nội như một công trường. Ra đường, tôi ngày càng bị hỏi đường nhiều hơn… xem ra Hà Nội toàn người nơi khác đến.
Tôi bay từ Sài gòn ra, nhìn từ trên máy bay, sông Hồng không còn như dải lụa đỏ trên cánh đồng xanh mướt nữa, cao ốc khối hộp đã mọc lên san sát, có những ngôi nhà mỏng như tờ giấy. Lòng buồn và thầm nghĩ Hà Nội xưa đã không còn, những biệt thự cổ đã bị chắp vá loang lổ, những chung cư đã chụp thêm nhiều lồng sắt trong cơn mưu sinh, buồn mà nghĩ rằng “bao giờ cho đến ngày xưa?”… Nhưng lại chợt nghĩ rằng, biết đâu, cái “vặn mình” lại báo hiệu một sự đổi mới… Xưa nay lẽ đời là: “Thế gian biến cải vũng nên đồi” mà! Có cái gì giữ mãi được đâu? “Lòng người” là cái bền vững nhất còn có khi thay đổi nữa là!

Tháng Chạp - một ngày đông giá buốt
 


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 18 Tháng Chín, 2013, 06:57:03 am

TẤM LÒNG NGƯỜI LÍNH


Trong cuộc đời ngắn ngủi mà tôi vẫn gọi đùa là cuộc du ngoạn bất đắc dĩ trên hành tinh xanh mấy chục năm của chúng ta, có những “sự cố” lạ lùng, không ngờ tới, ví như tôi là người lính có mặt trong những ngày tháng đầu tiên tại Sài Gòn, đi giữa đống quân trang quân cụ khổng lồ như núi của địch khi tháo chạy, hít cái bầu khí sặc mùi “Sài Gòn”, ăn hủ tiếu, uống laze... sau những tháng năm “lương khô”, nằm hầm... Hứng những trận mưa chiều ào đến ào đi của cái thành phố ăn chơi hoa lệ này... Thế rồi, bỗng dưng ra quân, lấy vợ và chìm mình trong cuộc bươn chải mưu sinh đến tầm thường cả kiếp người mấy chục năm trời. Sài Gòn, cho dù thật sự đang đổi thay đến thế nào, thì trong tôi vẫn là những biệt thự lịch lãm của các tướng quân đội Quốc gia trên những con phố sang trọng, vắng vẻ. Vẫn là những mảnh vườn hoang yêu dấu thơ mộng, vẫn là hàng cây thẳng tắp in trên nền trời đêm của phố Mạc Đĩnh Chi, Tú Xương... Vẫn là không khí rầm rầm của vũ trường cộng với tiếng ống bô xé trời của Honda 67...

Thế mà, bẵng đi hơn 30 năm không đến với nó, dù cho bây giờ nó không còn là thủ phủ cuối cùng của đối phương, bây giờ nó đã là máu thịt của ta, chỉ cần 2 giờ đồng hồ và hơn 1 triệu Việt Nam đồng là đã đến được bằng 1 vé bay... Thế mà, ta cứ lao vào cuộc mưu sinh, nhoáng cái đã nửa đời người...

Bây giờ thì chiếc Boing747 mang tôi đã là là hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Lý do trở lại Sài Gòn thật đơn giản: thăm người thủ trưởng cũ, đang bị tai biến mạch máu não và những đồng đội năm xưa đang định cư ở Sài Gòn... Phi đạo lấp lánh dưới ánh mặt trời, dãy nhà mái vòm chứa máy bay năm xưa rách tung toé dưới đạn pháo quân giải phóng. Bây giờ nằm nghiêm chỉnh. Phía ngoài sân bay, cao ốc mọc lổn nhổn, mây trắng cuồn cuộn trời xanh, nóng quá! Thế mà Hà Nội đang 12 độ, áo đơn, áo kép. Người Sài Gòn vẫn ào ào đi lại, ào ào kiếm sống, ào ào ăn nhậu y hệt những trận mưa ào đến ào đi... Xứ này hợp với những ai muốn đơn giản cuộc sống, bộc trực, thẳng băng, hen và thấp khớp!

Tượng Thánh Gióng ở Ngã 6 vẫn giơ roi đánh giặc Ân, Trần Hưng Đạo Quốc Công tiết chế vẫn chỉ tay ra bến Bạch Đằng. Nhưng dòng người cuồn cuộn ngược xuôi thì khác hẳn, “Bắc hóa” mất rồi. Như là ông trời xẻ 1 khúc Hà Nội ném vô Sài Gòn.

Trong những tháng năm lính tráng, tôi có gặp hai ông Chính uỷ, một ông là Chính uỷ Đào Xuân (người đưa tôi vô chiến trường Quảng Trị) và một ông là Chính uỷ Bùi Tùng (Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203 nơi tôi sống và chiến đấu suốt 1972 - 1973 và chính ông ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã thảo ra và bắt đại tướng quân đội Việt Nam cộng hòa, tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân giải phóng). Khi tôi vào chiến trường Do-Linh, cỏ lau bạt ngàn chen bụi cây lúp xúp, toàn bộ căn cứ quân giải phóng chìm trong lòng đất, trong những nhà hầm kiên cố, chính uỷ Bùi Tùng tiếp tôi trong một căn hầm như thế, có khác chăng các căn hầm khác bởi hai thứ, một là cái cửa hầm chữ A được đan chéo bằng hai nửa quả bom tấn của Mỹ hãy còn rõ chữ USA sơn trắng bên sườn, hai là sách! Tôi cũng không rõ chính uỷ làm thế nào mà “cõng” được đống sách ấy vào chiến trường, liếc mắt điểm qua... “Bông hồng vàng” của Pautovski, “Những người khốn khổ” của Victor hugo, “Thơ” của Fêtơphi, “Thép đã tôi thế đấy” của Oxtrovski... Quái lạ! Đánh nhau chí chết, B52 rải thảm bất cứ lúc nào, gạo, muối đang báo động số 1... Ông này định đọc sách trừ cơm chắc? Trò chuyện một lúc, khi biết mẹ tôi chính là người vẫn bán sách cho ông ở Quốc Văn tổng hợp phố Tràng Tiền, Hà Nội. Ông “ồ” lên một tiếng, vỗ vai tôi một cái thật mạnh, rồi tháo cái xanh tuya rông bên sườn có gắn khẩu K59 bóng loáng đưa tôi, bảo: “Cậu dùng nó, tôi đã có khẩu khác rồi. Từ mai xuống các Tiểu đoàn, công tác độc lập rất cần nó đấy!” Nhận lệnh xong, cầm cái giấy giới thiệu, cái “Hộ chiếu thông hành” do  ông viết tay xuống nằm vùng ở các đơn vị giáp ranh với địch, tôi bồi hồi với hình ảnh một người chỉ huy cao lớn, môi cong, cánh mũi nở, vầng trán rộng với giọng nói miền Trung chân thật. Bồi hồi với đống sách cao ngất trong hòm đạn pháo, bồi hồi cái tin bất ngờ là quanh đây, các đồng nghiệp của tôi đang sống và chiến đấu, trong đó có các anh: Lê Duy Ứng, Phạm Mai Châu, Hoàng Tích Minh, Nguyễn Hải Nghiêm, Trần Lê An, Trần Luân Tín... và vô số người khác, các đồng đội đó đều nhập ngũ từ mái trường Mỹ thuật 42 Yết Kiêu thân yêu, một số đã hy sinh... có những khi sống kề bên nhau mà không hề biết nhau vì khác đơn vị và phải “bí mật quân sự” như trường hợp tôi và họa sỹ Nguyễn Hải Nghiêm, chuyện là thế này: “Sau trận đấu tăng dữ dội trước khi ký Hiệp định Paris một ngày ở Cửa Việt, thế trận ta địch xen kẽ kiểu “da báo”, tại chốt Long Quang (Thanh -Hội), ta và địch chỉ cách nhau một con hào chống tăng rộng 3 mét, sâu ngập đầu người, khoảng cách đó làm xe tăng không vượt qua được, cách hào 200 mét là ba xe tăng T54 của ta nằm trong hầm cát, chĩa nòng pháo về đối phương, phối thuộc với một đại đội bộ binh của Sư đoàn 325, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chốt (hoạ sỹ Nguyễn Hải Nghiêm đang phiên chế trong đại đội đó). Phía ta, cắm cờ nửa xanh nửa đỏ, có ngôi sao vàng, bên kia hào là cờ vàng ba sọc... Hai bên giằng co, giữ miếng... Khoảng hai giờ sáng một đêm, đang chìm trong giấc ngủ, lính tăng nghe tiếng động cơ ô tô vang trời rồi dưới ánh đèn pha quét sáng trong đêm của xe tăng, một chiếc xe JEP lao vun vút trên trảng cát, trên xe cắm cờ vàng ba sọc đỏ có hai lính cộng hòa chở thêm một con đàn bà cầm AR15 bắn loạn xạ vào xe tăng, đạn AK nổ chiu chíu bắn đuổi, chiếc JEP chạy sâu vào trận địa quân ta chừng 300 mét thì vòng lại, vượt qua đoạn nông nhất của con hào do gió cát lấp đầy, trở về căn cứ của chúng an toàn (Mãi về  sau tôi mới biết đó là do bọn địch thách đố nhau, thằng nào dám phóng sâu vào 300 mét thì được thưởng chiếc đồng hồ Rado)... Và cũng mãi gần đây, chỉ nhờ một sự tình cờ, ngồi tán phét ở quán cà phê 17 Lý Nam Đế, khi tôi vô tình kể ra cái “tích” đó, Nghiêm mới ôm chầm lấy tôi: “Trời! Anh Dũng ơi, đêm hôm đó em cũng có mặt ở đó...!” Ôi! Tuổi trẻ gian lao! Long Quang, Phó Hội, Cửa Việt, Do Linh, Cam Lộ..., những địa danh. Ôi! biển xanh, mây trắng, cát vàng, ngổn ngang hàng trăm xác tăng địch in sẫm trên nền trời xanh với những nòng thép bị bẻ cong trong những cú húc kinh người hoặc không chịu được sức nóng của B41... Trận mạc thời trai trẻ đã in dấu quá đậm trong lòng chúng tôi, như những vết sẹo, không bao giờ phai!

Giờ đây, tôi đang ngồi bên chính uỷ Bùi Tùng, cạnh ông là chiếc xe lăn, ngoài kia là mảnh vườn hoang yêu dấu có vô vàn giống cây lạ mà ông yêu thích, tâm sự với chúng mỗi ngày... Kể từ ngày ông bị tai biến sau “sự cố” lật lại sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, có lẽ do bất ngờ và do tuổi tác nên não bộ bị tổn thương! Kể cũng lạ! Người bị tai biến trí nhớ mất đi rất nhanh, hầu như dễ quên, thậm chí không nhận ra người thân cạnh mình, nhưng ông lại là trường hợp đặc biệt. Khi tôi áy náy hỏi về hiện trạng bệnh tình của ông và sự phẫn nộ của ông với những người đã gây nên hiện trạng này, anh Bùi Hải con trai ông (cũng là một người lính) nói: “Bố em thật kỳ lạ, chính những chuyện gần đây, kể cả “sự kiện” gây nên bệnh tật của bố em, bố em quên hết! Nhưng những kỷ niệm xa xưa ở chiến trường, những đồng đội cũ thì cụ lại nhớ như in mới lạ, các bác sỹ cũng ngạc nhiên...”. Quả thật, lúc tôi bước vô nhà, hỏi to: “Thủ trưởng, nhớ em là ai không?” Ông ngồi dậy trên giường bệnh: “Dũng đấy à!” Ôi! 28 năm rồi, chiếc xanh tuya rông Mỹ tôi vẫn giữ, các lỗ kim loại trên thắt lưng đó đã han rỉ, nhưng người đồng đội mặc áo xanh Tô Châu ngày ấy gặp nhau giờ sao đến nông nỗi này? Hàn huyên rất lâu, tôi còn nối máy cho ông tâm sự với anh Hữu Thỉnh. Trước khi về, tôi biếu ông gói trà Thái Nguyên và cuốn sách, ông tặng lại tôi 2 đĩa CD về đơn vị xe tăng của ông húc tung cổng Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975... Tôi ra về trong trạng thái băn khoăn, ngày tháng thoi đưa, liệu nắng gió Sài Gòn có nâng đỡ ông khoẻ hơn không? Cầu mong như thế, tôi cũng nghe nói, vô đây sống lâu hơn 10 tuổi vì không phải chịu rét, còn tôi muốn ông lâu hơn 20 tuổi, tôi cũng mong các đồng đội khác của tôi đang sống ở Sài Gòn này như thế... Hôm nay là 22 tháng 12 năm 2009, ngày thành lập QĐNDVN. Chẳng lẽ mọi sự trên đời “lập trình” sẵn như thế ư? Nhưng tôi vẫn phải về Hà Nội nơi có nhiều người thân, niềm vui, hạnh phúc, cùng những tai ương, đau khổ... mà tôi đang phải “trả nợ” trong kiếp làm người đã được “lập trình” trong số phận của tôi...

Sáng ngày 2 tháng 2 năm 2010 điện thoại tôi reo vang. Đầu dây kia, là một số máy lạ. Tiếng một người con gái: “Thưa anh, em mời anh sáng ngày 4 tháng 2 năm 2010 tới dự lễ sinh nhật của ba em là Đại tá Bùi Tùng tại Dinh Độc Lập, em là con gái của bố Bùi Tùng đây...” Ủa! Chính uỷ còn con gái nào nữa? Tôi bảo: “Tôi đã ra Hà Nội rồi và không biết ngày nào vô!” - “Ồ! Em tưởng anh định cư ở Sài Gòn... Em tên là Quỳnh Hoa sống tại Kiep (Ucraia). Em về Việt Nam để lo tổ chức lễ sinh nhật cho bố em rồi lại bay sang...” Trời! Thật là một ý tưởng đặc biệt sinh nhật cho Đại tá Bùi Tùng tại Dinh Độc Lập! Không thể có gì độc đáo và ý nghĩa hơn. Tôi chúc lễ sinh nhật được long trọng và thành công, lòng tự hào về hậu duệ của chính uỷ. Dù không có mặt ngày 4 tháng 2 năm 2010 tại Dinh Độc Lập nhưng trong tôi vẫn mường tượng ra đồng đội tấp nập ôm hoa đến mừng chính uỷ đang ngồi trên xe lăn. Tôi vẫn mường tượng ra bãi cỏ xanh và đài phun nước trước Dinh nơi đó ngổn ngang những chiếc T54 lúc 2 giờ chiều ngày 30 tháng 4 1975. Tôi vẫn mường tượng ra lúc đứng trên đỉnh nóc Dinh Độc Lập phóng tầm mắt nhìn Sài Gòn, nơi có con đường Hồng Thập Tự rầm rập những chiếc xe tăng sứt sẹo tiến vào cổng Dinh. Nơi có hàng rào đổ vỡ do chiếc 843 của anh Bùi Quang Thận húc vào cú húc đầu tiên và tôi cũng mường tượng ra cờ và hoa đang tràn ra đường phố Sài Gòn trong tiếng đạn pháo hỗn loạn trong trận chống trả cuối cùng của đối phương.

Sài Gòn
Tết Canh Dần




Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 19 Tháng Chín, 2013, 07:34:27 am

CÂY GHI TA CŨ KỸ

Sau chiến tranh, những người lính chúng tôi trở về với đời thường... Dù thế nào thì ngày 5 tháng 10, ngày thành lập binh chủng Tăng - Thiết Giáp, cũng vẫn cứ là ngày "sôi nổi" nhất trong nỗi nhớ của chúng tôi.
Chẳng ai bảo ai, dù có điện thoại, nhắn tin hay không... tất cả những cựu binh tăng thiết giáp vẫn như có một sức hút thần kỳ tề tựu, quây quần lại với nhau.

Trong ngày ấy mỗi năm, người đến Bộ Tư lệnh Thiết giáp liên hoan theo định kỳ, người gặp gỡ ăn mừng với nhau theo kiểu của mình. Tụ tập nhà một ai đó, sau ly mừng, không thể không hát ca. . .

"Đầu trò văn nghệ" không thể thiếu được cựu chiến binh Nguyễn Quý Lăng - trở về từ chiến trường anh làm giảng viên Đại học Thủy lợi, kiêm "nhạc sĩ”. Gọi "nhạc sĩ” cũng chẳng ngoa bởi anh sáng tác khá nhiều bài hát về cuộc chiến anh hùng, về nỗi nhớ, tình yêu, người ra đi và người ở lại... Lần nào gặp lại bạn lính xưa, anh cũng ôm một cây đàn ghi-ta cũ kỹ đệm cho đồng đội. Anh bảo, ca khúc anh sáng tác đều nhờ cây đàn này!

Tôi cầm cây đàn lên. Đó là một cây ghi-ta cũ kỹ. Cũ đến tả tơi... Toàn bộ lớp véc ni đã sờn tróc từng mảng. Các khóa phím nhựa trắng đã ngả vàng.
Quanh vòng tròn thoát âm khảm một vòng giả đồi mồi đầy vết trầy xước. Thân đàn đã bong tróc lớp gỗ dán phía ngoài và được chủ nó "trợ lực" bằng chằng chịt những băng dính. Màu cây đàn giờ là vàng đất, xám xịt, nâu bẩn, véc-ni pha bụi, gỗ pha đất sét...! Chỉ duy nhất các phím kim loại của cây đàn vẫn ánh lên màu thép do được các ngón tay thường xuyên lướt qua.

Lăng kể cho tôi nghe:
"...Cuối năm 1975, trung đoàn xe tăng 574 chúng tôi được điều về đóng chốt tại phía tây Quảng Nam giáp Lào, ngay thượng nguồn sông Thu Bồn, con sông thất thường hay giở chứng trong mùa mưa lũ... Cuộc chiến vừa kết thúc, người ta hối hả bao là việc. Sau cuộc chiến, đất nước chưa hết những vết thương dữ dội, những hố bom pháo, hầm hào và cả những vết thương trong tâm hồn con người. Thế mà không dưng chúng tôi lại lọt vào một thung lũng hoang vắng... giữa các triền núi thoai thoải, lau sậy um tùm và cánh rừng thưa.
Chiều ấy, sau khi cho xe vào lán, bảo dưỡng xong, tôi một mình lang thang vào sâu trong thung lũng, nơi khuất sau vách núi... Chiều hè, gió hun hút thổi từ Lào sang, khô nóng, lốm đốm những hoa dại màu vàng nhỏ li ti mọc sau cơn mưa. Ngay sau hàng rào bằng những cọc tre xô lệch, dốc lên một chút theo con đường mòn là một mái tranh trơ trọi, mấy đứa trẻ đang chơi cỏ gà ngoài sân.
Tôi bước vào nhà, một mẹ già đang ngồi trong góc vẻ bình dị. Tôi chào mẹ và bất ngờ thấy trên vách treo một cây ghi-ta. Tôi xin phép mẹ cầm xem và chơi luôn hai bài: "Quê em miền Trung du” và "Bài ca hy vọng"...
Tiếng đàn vừa vang lên, lũ trẻ đã ào vào. Tôi đã sẵn sàng chờ sự náo nhiệt, láo nháo của chúng, giống bọn trẻ con ngoài Bắc hồi đó mỗi khi thấy bộ đội mũ tai bèo, thắt xanh tuy rông... Nhưng không! Chúng lắng nghe, im phắc... Chỉ khi tiếng đàn vừa dứt, chúng mới ùa sát vào tôi. Mùi mồ hôi trẻ con thật dễ thương.
Tôi lễ phép xin mẹ cho mượn cây đàn vài ngày, để mang về tổ chức liên hoan văn nghệ cùng đơn vị. Bà ngần ngừ: "Chú chờ chút, con nhỏ nhà tôi sắp về đó. Mà thôi, chú cứ cầm đi!". Tôi áy náy nhưng vốn là lính sinh viên, mấy năm toàn dầu mỡ súng đạn, giờ vớ được cây đàn như "buồn ngủ gặp chiếu manh", ham lắm. Song tôi vẫn đọc được điều gì đó dường như băn khoăn trong lòng người mẹ".
Tôi lặng lẽ cầm cây đàn lên. Cây đàn nhẹ đến vừa độ, ấn vào các phím cảm giác mềm, rất vừa tay. Đặc biệt, âm thanh không chê vào đâu được. Tôi chuyển vài gam và chợt nhận ra một âm sắc hiếm thấy ở các cây đàn khác... "Một âm sắc não nuột sâu lắng” nảy lên... Bao giờ tôi cũng thấy Lăng xúc động khi ôm đàn. Có lần tôi hỏi: "Ông với cây đàn có uẩn khúc gì chăng?" Lăng không giấu: "Đó không phải là một cây đàn thường đâu nhé, mà là của một người lính đối phương đấy”...
Lăng kể tiếp câu chuyện:
“Đúng một tuần sau, tôi đem cây đàn đi trả. Lần này, đón tôi là một thiếu phụ rất trẻ. Tôi đoán là con gái bà mẹ. Cô gái xứ Quảng ấy hiền thục dịu dàng, vóc mảnh mai, gương mặt hiền như Đức Mẹ đồng trinh, tóc dài, mắt thăm thẳm. Bọn trẻ bắt đầu xúm vào. Tôi xin lỗi giữ cây đàn hơi lâu, tận hôm nay mới tới trả và cảm ơn gia đình, đồng thời cũng chào tạm biệt vì đơn vị sắp về Đà Nẵng...
Cô gái mừng ra mặt: "Em cứ tưởng không còn gặp lại cây đàn này nữa” - Câu chuyện dần chuyển sang thăm hỏi gia đình. Tôi chợt hỏi: "Vậy anh ấy đâu, làm gì mà không thấy?". Cô gái nói: "Chồng em cũng là sinh viên đang học ở Sài Gòn, đi lính gần một năm thì giải phóng, bây giờ đang học tập - Cây đàn này của chồng em đó...". Tôi giật mình xin lỗi, nói: "Cho tôi gửi lời chào của một người lính sinh viên, tôi tin anh ấy sẽ sớm trở về...". Thiếu phụ trẻ không giấu được xúc động.
Tôi ôm cây đàn chơi bài "Giọt lệ" của Tarrega như một lời tạm biệt. Bản nhạc buồn như một lời chia ly, da diết ... Tôi lặng người treo cây đàn lên vách, ra về.
Bờ lau hun hút gió, xuống chân đồi, sắp qua khúc ngoặt, một đứa trẻ chạy băng băng xuống: "Chú ơi! Mời chú quay lại, cô cháu biểu...". Tôi ngạc nhiên... Thiếu phụ đứng đầu ngõ, tay ôm cây đàn: "Anh Giải phóng, em xin thay mặt nhà em tặng anh cây đàn...". Tôi xua tay: "Không! Chắc tôi không dám". Thiếu phụ ngắt lời: "Xin anh vui lòng nhận cho tấm lòng của vợ chồng em!"...
“Không! Tôi không thể, đây là kỷ vật của anh ấy. Anh ấy cũng sắp về để gặp nó.... Nó sẽ giúp anh ấy trong những khi vượt khó đời thường, hy vọng chúng ta sẽ gặp lại.... Chào em!”
Ào ào xếp hàng mua bán tem phiếu, xếp hàng gạo, thực phẩm, ào thời gian trôi đi như một cơn lốc, có cảm giác những năm tháng sau 1975 trôi nhanh hơn bình thường. Người ta ào ào “Ra Bắc nhận họ, vào Nam nhận hàng”, ào yêu và ào ào cưới theo cơn cuồng vui dân tộc. Quân đội trong chiến tranh lên đến vài triệu người, lực lượng làm ra lúa gạo kiệt quệ, đã đến lúc giảm quân số. Tôi cũng ở trong số quân trở về các trường đại học. Trước khi cởi bộ quân phục, tôi lững thững dạo qua các phố nhỏ Đà Nẵng, bụng nghĩ sẽ mua một vật gì đó kỷ niệm đời lính chiến? Trời về chiều, trong một tiệm đồ cũ bán tượng Chàm và cổ vật, thấp thoáng một cây đàn ghi ta cũ kỹ, lớp vec-ni đã sờn tróc từng mảng, các khóa phím nhựa trắng đã ngả vàng, quanh vòng tròn thoát âm giả đồi mồi đầy vết trầy xước... Thoảng thốt, như trong giấc mộng, tôi hỏi chủ tiệm đồ cũ: “Làm sao ông có cây đàn này?” “Ủa! Sao chú hỏi lạ, nhà tôi là tiệm cầm đồ mà, tôi mua nó cùng một mớ đồ cũ của một người lính dù, chắc sắp đi đâu đó xa... Chú thích mua về xài, không đắt đâu, nó cũ rồi...”

Cuối cùng, cây đàn vẫn trở về với Lăng - Như một định mệnh.
Lăng ôm cây đàn, chìm trong những hồi ức trong vắt. Anh nghẹn lời: "Hôm ấy ráng hoàng hôn đỏ lựng sau dãy Trường Sơn. Gió từ sông Thu Bồn ào ạt thổi vào lồng ngực... Đã 34 năm rồi, mỗi khi lướt trên phím đàn, tôi lại bồi hồi tự hỏi: "Vợ chồng người lính năm xưa giờ làm gì, họ có còn nhớ đến cây đàn xưa? Còn lũ trẻ con nữa?... Giờ chắc chúng cũng ngót 40 rồi... Mới đó mà đã 34 năm, nhưng dường như lúc nào tôi cũng vẫn thấy dòng Thu Bồn trước mặt, nước vẫn xanh như buổi chiều hôm ấy... Nước vẫn xanh ào ạt chảy về xuôi!".

7.5.2009


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 20 Tháng Chín, 2013, 08:05:55 am

NHỮNG LINH HỒN THẠCH HÃN


Đừng nói là tại sao cứ nói mãi một chuyện, báo chí, văn thơ, lịch sử đã nói mãi rồi... Bởi có những chuyện có nói bao nhiêu cũng không đủ và cũng có những chuyện mới nghĩ đến thôi đã thấy... không còn gì để nói.

Cứ mỗi lần đi qua dòng sông ấy - sông Thạch Hãn, tôi như lại thấy lũ bạn thuở thiếu thời bay qua bay lại, cả thằng sống lẫn thằng chết, phần lớn bọn tôi đều là học sinh hệ 7 năm trường Mỹ thuật Việt Nam sơ tán ở Hiệp Hòa - Hà Bắc vào những năm đầu cuộc chiến tranh. Lê Duy Ứng, Hoàng Thượng Lân, Hoàng Tích Minh, Trần Luân Tín, Phạm Mai Châu, Lê Minh Trịnh, Hồ Nia, Trần Lê An, Nguyễn Hải Nghiêm... với quân phục chỉnh tề, AK cắp nách, không hẳn là thế, Hoàng Thượng Lân với RPD, Phạm Mai Châu với 12 ly 7, Hoàng Tích Minh với cối 81 ly, Nguyễn Hải Nghiêm với con dao găm bên sườn... còn Trần Luân Tín vẫn hụp lặn như một con cá kình đôi bờ Thạch Hãn để nối dây thông tin dưới làn bom pháo. Với cảm xúc rối bời tháng 7, tôi không biết bao giờ tụi nó sẽ rời khỏi tôi? Có lẽ không bao giờ... Khi tôi trầm xuống dòng nước giá lạnh của Thạch Hãn tháng 7 này, khỏa nước cho cái vòng hoa hình vuông có dòng băng kính cẩn “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ đã bỏ mình vì nước...”. Cái vòng hoa đang trôi cùng rất nhiều hoa khác nhấp nhô theo sóng Thạch Hãn như nghe thấy lời “khấn xin” của riêng tôi, từ từ quay lại, lững lờ trôi ngược và tấp vào chỗ tôi. Trên kia là một đàn tràng đầy đủ lễ vật gồm 30 nhà sư, 1 nhà ngoại cảm đang niệm chú, siêu sinh tịnh độ “tất cả các vong hồn trận vong trong chiến cuộc...”. Lời kinh khấn tới đó, một cơn lốc vô hình ào tới, cuộn giữa bàn thờ, bốc lên cao (chụp được ảnh). Theo lời nhà ngoại cảm, dưới sông còn 3982 bộ hài cốt, có cả trẻ em.

Thạch Hãn xa xưa có tên gọi là Thạch Hàn, tương truyền nó có một mạch đá ngầm dưới lòng sông phun nước lạnh và thanh sạch ra. Bởi thế nước quãng chảy qua Cổ thành rất trong và lạnh. Dài 155km, quãng qua Cổ thành rộng hơn 200m lúc nước lên, khi cạn có thể lội qua sông được. Đầu nguồn có tên là Đăkrông bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và thoát ra biển bằng Cửa Việt. Cửa Việt tháng 7 này gặp bão, trời âm u không nắng, 40 năm trước, vẫn cát này đây trắng không thể trắng hơn, vẫn nước biển này xanh không thể xanh hơn, vẫn rừng phi lao này nhưng ngày ấy bị phạt ngang dọc, trụi thùi lụi... Trên bãi cát năm nào ngổn ngang xác xe tăng cả hai bên năm nào giờ đây là một cái cổng chào khổng lồ màu cô ban, xa xa các lều chống nắng cho du khách tắm biển... Nhìn dòng Thạch Hãn trôi, đổ ra biển Đông, như là thấy nó mang anh em mình đi đâu đó, biệt tăm... Nghe đạo diễn Lê Hùng kể lại chuyện “Vong nhập” khi anh làm chương trình tri ân dịp 27 tháng 7 năm 2012. Chuyện thế này: “Lê Hùng phải tường trình ý tưởng, bố cục , phác thảo về kịch bản sân khấu 3 cầu truyền hình, anh dự kiến như sau: Khi đại diện thế hệ sau thả một vòng hoa lớn xuống dòng Thạch Hãn, từ đáy sông sẽ nổi lên một chiếc mũ tai bèo, chiếc mũ đó sẽ dẫn vòng hoa và đoàn đại biểu qua sông, phía sau là 12 chiến sỹ giải phóng trang phục chỉnh tề, AK cắp nách, hùng dũng vượt sông...”. Nói tới đây, phía hậu trường bỗng rối loạn, có tiếng la thất thanh: “Nhập rồi, nhập rồi...”. Mọi người ùa tới, chính giữa đám đông là cô biên tập viên đang ngồi lảo đảo, miệng ú ớ, tay ra hiệu lấy giấy bút... Đang báo cáo dở dang, hơi bực mình, Lê Hùng vỗ vỗ vào cô biên tập viên: “Chúng tôi đang bận, cứ thế này thì còn làm việc sao được?” Cây bút bi viết lên mặt giấy thế này: “Thích Lê Hùng... Anh em chúng tôi về đây hơn ba chục người nghe Lê Hùng nói , tôi tên là Bình, cấp bậc... tiểu đội... mà làm gì có quần áo chỉnh tề như thế! Lúc qua sông có mỗi cái quần đùi, súng đạn với phao ni-lông thôi...”. Lê Hùng châm một điếu thuốc, cô biên tập viên hút ngon lành, Hùng lại hỏi: “Có uống rượu không?”. Trả lời: “Có”... Sau cốc rượu trắng lớn, cô biên tập viên xỉu đi... Những chuyện rất “thật” trên, không khỏi làm tôi day dứt . Đa số chiến sỹ ta vào trận mới 18, 20 tuổi, rất nhiều người chưa biết đến nụ hôn đầu đời , theo giải thích của một nhà ngoại cảm, vì khi ra đi những người đó chưa được “chuẩn bị” tốt, chưa “sẵn sàng” cho sự chết, lòng ham sống còn quá nặng, vẫn quá luyến tiếc cõi trần cho nên sự vấn vương có khi gây nhiều nhũng nhiễu chốn dương gian. Người đời rất nên tổ chức nhiều lễ cầu siêu để các vong có dịp giải thoát. Họ hiểu tất cả và thông qua sự “hiểu” của họ. Ta cũng sẽ nhẹ nhàng hơn . Đạo diễn Lê Hùng dẫn lời của một vị lãnh đạo cấp nhà nước khi tham dự đại lễ tưởng niệm , đại lễ cầu siêu , lễ thả hoa đăng trên sông (những lễ này được tiến hành từ đầu tháng bẩy) nói: “Đảng và Chính phủ chưa làm được những việc này, nhân dân tự làm được là rất quý...”. Tôi nhìn những tượng đài, khu tưởng niệm, những hộp các tông xếp cao chồng chất (đó là tiền vàng lễ và 4000 chiếc ba lô đựng quần áo , mũ , giày bộ đội để hóa) thấy sự tri ân của những linh hồn sống sót. Sau cuộc chiến, khi họ thấy “mình sống được là một điều vô lý” ... “không chết là lãi quá rồi...”. Nhớ đồng đội , một tập thể họp lại do cựu chiến binh Trần Lê An phụ trách, tập hợp các bài viết, hồi ký, ảnh, tranh, nhạc... của trận chiến 81 ngày đêm lại, để tri ân trong một cuốn sách có tên: “Khúc tráng ca Thành Cổ”. Đọc nó, ta như sống lại cả một thời hoa lửa cùng các liệt sỹ và các cựu chiến binh một thời biến thân mình thành viên đạn bắn thẳng chỉ tiến không lùi. Giờ đây, nhạc sỹ Nguyễn Văn Bằng , thành viên của Ban biên tập lại có ý tưởng dịch cuốn sách ra tiếng Anh để âm vang của trận chiến có thể ra ngoài biên giới Tổ quốc... Nguyễn Quí Lăng, Nguyễn Văn Bằng... tri ân bằng những ca khúc viết về tình đồng đội, về những người ra đi khi chưa tròn 18 tuổi, Nguyễn Hải Nghiêm, Trần Lê An tri ân bằng những bức tranh với chủ đề: “Thành cổ 81 ngày đêm” bằng những bức sơn dầu khổ lớn... Tạ Quỳnh Phương, Đoàn Xuân Hòa bằng những bài thơ da diết... Trần Lê An còn góp công thiết kế một đài tưởng niệm Sư đoàn 325 (Sư đoàn sinh viên tham chiến trực tiếp ở Thành cổ). Đài cao 21m trong một khuôn viên to rộng ven bờ Thạch Hãn... chỉ 2 năm nữa thôi, nó sẽ cùng Đài chứng tích sinh viên trong Thành Cổ, nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường 9... cùng bao công trình tưởng niệm khác góp phần nói lên sự tri ân của hậu thế... Sau tất cả những việc làm đó, gặp các anh, các “lính” rạng rỡ và hồ hởi: “Vì những thằng đã chết thôi mà...!”.

Đắng cay là điều không ai muốn. Nhưng số phận bắt thì phải chịu. Nhớ lại giai đoạn 1969 - 1972 sau khi Bác Hồ mất, lực lượng cách mạng tổn thất nặng. Những người bạn vốn “chung lưng đấu cật, thề non hẹn biển” bắt tay với kẻ thù. Đói , khát , thiếu vũ khí thì có thể chịu nổi , nhưng sự tráo trở của tâm hồn thì không còn gì để nói . Người lính giải phóng nuốt nước mắt vào trong , lùi sâu vào tận cùng cõi lòng , tự liếm vết thương , để rồi lại biến mình thành một viên đạn bắn thẳng. 65 năm trước - Bác Hồ chọn tháng 7 làm tháng tưởng niệm các liệt sỹ. 25 năm sau, năm 1972 tháng 7 là tháng khốc liệt nhất của trận đánh Thành Cổ Quảng Trị , sự vô tình hay số phận sắp đặt trước? Đi dọc dòng Thạch Hãn vào một chiều tháng 7, sóng vỗ bờ, nước lạnh và trong, nhớ lại lời nhà ngoại cảm là dưới sông còn 3982 vong hồn vất vưởng. Thấy trước cái chế , mọi sự biến ảo cuộc đời thật vô nghĩa, chả còn gì để nói nữa./.
             
  Chiều Thạch Hãn, 27/7/2012


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 21 Tháng Chín, 2013, 08:26:48 am

Vực QUÀNH.

Khi tôi hỏi nhà văn Xuân Cang: “Anh đã nghe nói đến vực Quành bao giờ chưa?” Anh cười mà rằng: “Chưa…nhưng mới nghe cái tên… Quành, đã thấy uẩn khúc lắm…”. Là nhà văn, nhưng ông cũng nổi tiếng trong thiên hạ bởi công trình nghiên cứu: ”Khám phá một tia sáng văn hóa Phương Đông”(Kinh Dịch)…Anh có thể dựa vào một cái tên, một vật, một khoảnh khắc thời gian…mà luận đoán ra kết quả. Còn tôi, sau ba lần đến vực Quành, trắc nghiệm lại thì quả đúng như nhà văn nói… Nó làm tôi, cũng như trăm ngàn cựu chiến binh, trăm ngàn người Việt yêu lịch sử đất nước này không khỏi day dứt một điều:
Trên đời này, lẽ công bằng có tồn tại không?

Vực Quành là một khu vực rộng lớn có con sông nhỏ ngoằn ngèo chảy ngang qua quẩn lại thành “vực” nằm trên một trong những mạch máu của đường mòn Hồ chí Minh lừng danh năm xưa, cách trung tâm Đồng Hới vài cây số và cách đường Hồ Chí Minh nhánh đông vài trăm mét. Hiểm trở như thế, nhưng nó lại rất trữ tình…Vực nước lúc chảy xiết ngập mấy đầu người, đến mùa khô thì “Nước khe cạn bướm bay lèn đá”… Trong chiến tranh, khu vực này là cái túi bom… Sau chiến tranh, theo dòng chảy của thời gian, nó nhanh chóng bị quên đi như muôn sự đời thường ngoại trừ thỉnh thoảng báo chí địa phương và loa phóng thanh xã thông báo về việc người dân đi làm ruộng đạp phải bom, mìn còn sót lại…

Có một người Hà Nội. Vâng!| Tôi đoán chắc vậy ngay sau lần gặp đầu tiên bởi nước da trắng , làn môi hơi đỏ, và đặc biệt là giọng nói chuẩn Hà nội của anh. Anh là Nguyễn Xuân Liên. Vào tuổi đôi mươi, tốt nghiệp khóa học ở Hà Nội, năm 1961, anh được phân công vào công tác tại Ty Y tế Quảng Bình. Ba năm sau, chiến tranh phá hoại nổ ra. Quảng Bình trở thành tuyến lửa cực kỳ khốc liệt. Bởi địa thế hẹp, nó trở thành con đường độc đạo vận chuyển người, vũ khí, quân dụng, lương thực…tiếp tế cho Tiền tuyến lớn. Mỗi cây số vuông đất Quảng Bình phải chịu hàng chục tấn bom đạn…kèm theo hàng chục ca thương vong mỗi ngày. Đương nhiên một trong những đơn vị chịu trận phải là ngành y tế Quảng Bình rồi. Các bác sỹ, y sỹ, y tá, hộ lý… lăn lộn ngày đêm. Họ thực sự đã là những người lính không quân hàm, đối đầu với không lực Hoa kỳ hiện đại.Tuổi thanh xuân của anh Liên tắm mình trong đạn bom, trong tình đồng đội. quân dân… suốt mười mấy năm trời… Anh đã hiến cả tuổi xuân của mình cho Quảng Bình, góp công sức đào tạo ngành y tế Quảng Bình cho tới tận ngày thống nhất đất nước. Sau giải phóng, khi đã ở tuổi trung niên, anh trở ra Hà nội, công tác tại Viện đông y dưới quyền bác sỹ Nguyễn Tài Thu. Năm tháng trôi đi, đời người như bóng câu qua cửa sổ…Tưởng như bụi thời gian đã lấp đầy quá khứ…Thì bỗng vào lúc xế chiều, với cái tuổi lục tuần, nỗi nhớ thời binh lửa hào hùng, nhớ trời xanh cát trắng, nhớ những người dân chắc nịch, sậm nâu, hiền lành chân chất từng một thời ấm lạnh sống chết có nhau trỗi dậy trong anh. Anh bán căn nhà được một tỷ rưỡi, chia cho vợ quá nửa và cầm số tiền còn lại vào Quảng Bình mua…Vực Quành. Bắt đầu xây dựng “Bảo tàng chiến tranh Việt Nam’’. Khi người đồng đội Nguyễn Thế Tường giới thiệu tôi gặp anh tại Vực Quành vào hè 2005 thì bảo tàng đã “hòm hòm” rồi. Hôm đó tôi đi cùng đoàn của Hội mỹ thuật Việt Nam, các họa sỹ mà đa phần là cựu chiến binh đã thực sự sửng sốt và khâm phục trước công trình và chủ nhân của nó! Khâm phục là phải và sửng sốt cũng là phải… Bắt đầu vào bảo tàng là một hố bom cực lớn mà vây quanh nó là hàng chục quả bom tấn lớn nhỏ…trên đó có dòng chữ: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!’’. Mỗi quả bom là một chữ cái. Dọc theo tuyến hành quân, ta gặp hàng chục các loại bom, mìn chôn dọc đường, người xem có thể hình dung ngày xưa bộ đội ta phải leo đèo lội suối gian khổ như thế nào. Có cả dốc Ông Bò, có cả dốc Hôn Chân…có cả cầu khỉ cheo leo trên vực thẳm, có cả con “Ngầm” ẩn mình dưới làn nước mà các cô gái thanh niên xung phong quấn khăn dù trắng làm cọc tiêu năm xưa…có cả cầu phao làm bằng cây rừng và thùng phi ra sao…có đoạn quân ta phải qua vực bằng dây cáp và dây rừng như thế nào…dọc đường hành quân, thỉnh thoảng ta lại gặp một hố cá nhân tránh bom và suốt dọc hành trình là những con hào giao thông cao ngập đầu người mà quãng quãng hai bên vách lại có những hầm chữ A, mà vách hầm bằng tre, gỗ… có khi bằng cả vỏ bom bi…Tiếp tục hành quân vào sâu ta sẽ thấy nhiều “Nhà hầm”, đó là những khu nhà nửa nổi nửa chìm trong lòng đất. Là nơi mà người dân Quảng Bình (và cũng là dân cả nước ta ngày đó) sinh sống, ăn ở, học tập, sinh đẻ … ở đó! Nhà nào cũng cuốc xẻng sẵn sàng, băng cứu thương, cả súng đạn của dân quân du kích địa phương sẵn sàng bắt phi công Mỹ… Trong lớp học vẫn đầy đủ phấn, bảng, bàn ghế, hàng loạt mũ rơm treo ngăn nắp…Nhà hầm nào cũng có thùng phi chứa nước sinh hoạt và cứu hỏa…Dưới nhà hầm lại có nhà hầm nữa (địa đạo) đủ chứa cả một trung đội sống trong nhiều ngày, cửa hầm nào cũng có đèn bão hoặc đèn dầu… Lẫn trong cây rừng với thể thực vật vô cùng phong phú (mà bà con địa phương quen gọi bảo tàng là Vườn Sinh thái) là hàng trăm loại cây thuốc như cây Sả chống rắn cắn, Tía tô giải cảm, Ngải cứu chữa đau lưng…Du khách trong và ngoài nước, nhất là các cựu chiến binh Mỹ thực sự khâm phục Vực Quành. Vì qua nó, họ hình dung được “thực mục sở thị” cuộc chiến đấu khốc liệt của nhân dân Việt Nam. Họ cũng khâm phục cả chủ nhân của nó nữa. Họ không hiểu ông Liên lấy đâu ra sức lực và tài chính để gây dựng nên nơi này. Nghe nói, ngày mới đến, cũng có nhiều “đối tác” tìm ông để xin “làm việc”…Nào Địa chính, nào Phòng Thuế, nào Kiểm lâm, quan chức địa phương…nhưng với bản chất cương trực, ông “gạt” hết! Vì thế mấy năm sau vẫn không có Sổ đỏ. Cũng vì thế gặp rất nhiều khó khăn thường ngày… Một hôm, ông đi cắt tóc. Trong lúc chờ đến lượt mình ông kể “khổ” với ông thợ cắt tóc quen thân…lát sau, người khách vừa cắt tóc xong đứng dậy, rũ rũ áo và nói với ông: “Ngày mai, anh tới gặp tôi, tôi sẽ cấp sổ đỏ cho…”. Té ra, đó là ông Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường…Trong quá trình gây dựng cam go đó ông cũng gặp nhiều tấm lòng cao cả ủng hộ… Một lần, dịp 27 tháng 2 (kỷ niệm ngày y tế Việt Nam) vợ chồng nhà văn Nguyễn Thế Tường đèo nhau đưa một lẵng hoa đến vực Quành mừng ông, thấy ông đang hì hục vần vỏ một quả bom tấn vừa mua được… Ông Lê Thanh Tân cũng là một người nghĩa khí, vốn là lính đặc công, từng kinh qua ngành tình báo… ông nhiệt tình giới thiệu đến vực Quành nhiều đoàn tham quan, cả khách nước ngoài… kế tiếp phải kể đến ông Mai Khoa (ông này là hậu duệ của Lãnh binh Mai Lượng, một danh tướng thời Cần Vương). Từng là trưởng phòng an ninh, ông yêu vực Quành tới mức đưa vợ con gia đình và nhân viên dưới quyền với cả vũ khí quân trang quân dụng đến “lưu trú”, đến đêm mắc võng ngủ ngoài rừng y như thời chiến vậy… Bản thân tôi, có dịp công tác qua Quảng Bình, thu xếp được thời gian thế nào tôi cũng ghé thăm anh Liên. Lần gần đây nhất là hè 2010. Thấy vực Quành đã ổn lắm rồi. Nó đã có cổng bảo vệ, anh đã thuê một đôi vợ chồng người quen đến trông nom theo lối “tự sản, tự tiêu” kèm chút đỉnh lương còm…Tôi cũng hơi yên tâm khi thấy con thuyền đánh cá đậu bên vực, vài con bò đang gặm cỏ, đàn gà thả giữa vườn… nhưng khi nghe anh nói về sự đe dọa của mùa mưa tới, của sự xuống cấp nhà cửa, của mối mọt, lại thấy lo lo… Một mình anh, không có “Ai” hỗ trợ sức lực, tiền của, chính quyền địa phương lạnh nhạt…làm sao chống lại sức mạnh thiên nhiên đây?

Tôi có quen một ông người Ba Lan, tên ông là Anđrey Wawzyniak, giám đốc Bảo tàng Châu Á và Thái Bình Dương. Bảo tàng này nguyên là một Bảo tàng tư nhân về văn hóa, cổ vật…Hơn 60 năm trước, khi còn là một thủy thủ trên các tàu viễn dương vùng Thái bình dương…Ông đã dành toàn bộ số tiền thu nhập được để sưu tầm cổ vật và gây dựng nên bảo tàng này…Số lượng hiện vật lên đến hàng ngàn gồm nhiều dân tộc: Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Malaisia, Indonêsia, Brunay, Philippin, Lào, Campuchia, TriềuTiên, Singgapo…

Nhà nước Ba Lan đã hỗ trợ ông trong việc gây dựng bảo tàng. Ông đã hiến cả bảo tàng cho nhà nước. Nhà nước cũng phong cho ông làm “Giám đốc suốt đời”. Nhờ vậy, bảo tàng đã phát huy được hết sức mạnh của nó, nhất là trên trường quốc tế. Nghĩ người lại ngẫm đến thân. Lắm lúc tôi nhớ đến anh Liên, nhớ cái bóng anh lui cui, xoay trần vẩn quả bom tấn…với cái tuổi gần 70. Nhớ tới cái bảo tàng “Độc nhất vô nhị” mà nhà nước muốn làm cũng không dễ. Nhớ tới cái gan khai sơn phá thạch, Ngu Công dời núi của anh, lòng không khỏi ngậm ngùi và linh cảm đến một rủi ro, vô vọng.

Sự linh cảm của tôi không phải là không có lý. Dịp 27 tháng 7 này, nhân vào Quảng Trị thắp hương cho đồng đội… Khi trở ra, tôi dừng chân ở Quảng Bình. Định bụng ghé thăm anh…Chiều Đồng Hới sau cơn bão, gió lạnh hắt hiu…Trước mắt tôi là một vực Quành tan hoang, đồng khô cỏ cháy thê thảm… không người coi sóc, cỏ mọc lút đầu người, hố bom ngập nước…Các “phương diện” quân đồng nát đã vào khuân bom và thùng phi gần hết…Các mái nhà hầm thủng lỗ chỗ, địa đạo gần thành đất bằng...Vực Quành giờ đây đã thành hoang phế. Gọi điện cho anh Liên, chỉ thấy đầu dây bên kia “Số máy này hiện không liên lạc được, xin vui lòng gọi lại sau…”. Điện hỏi Nguyễn Thế Tường (lúc này đang đi tìm đồng đội ở Bình Dương). Tường bảo: “Tôi có nghe nói ông ấy bệnh nặng, ra Hà nội chữa. Anh nên nhắn tin lại, khi nào mở máy ông ấy sẽ biết. Ra Hà Nội, anh nên tìm gặp ông Nguyễn Tài Thu, chắc ông ấy sẽ biết anh Liên ở đâu…’’

Có một nhà báo công tác tại một tòa báo ngành Văn hóa. 18 tuổi từng tham chiến tại Quảng Trị, nhà báo Tân Linh. Anh cũng biết vực Quành và quen anh Liên. Khi nghe tôi nhắc tới vực Quành, anh sốt sắng: “Vậy để tôi đi tìm ông Tài Thu rồi hai anh em mình cùng đi thăm anh Liên anh nhé?... Ngay tối hôm đó, anh gọi điện cho tôi: “Anh Dũng ơi! Ông Tài Thu cũng không liên lạc với anh Liên lâu rồi, nhưng ông ấy mách nước cho tôi nên đến phòng tài vụ Viện Đông y, nơi con gái anh Liên từng công tác tại đó. Có thể qua con gái anh mà tìm ra anh chăng? Và tôi đã vào tận phòng tài vụ Viện Đông y, một chị đã cho cả địa chỉ và số điện thoại con gái anh Liên. Mừng quá vì coi như “sờ” thấy chiến thắng rồi. Tôi gọi ngay, đầu dây bên kia là một giọng phụ nữ. Khi nghe tôi nói chỉ cần đến thăm bố Liên thôi, không Vực Quành vực quèo gì đâu… Chị nói: “Anh ơi! Không cần đến nhà em đâu, vì bố em đang một nơi rất xa…Còn nếu anh muốn liên lạc với bố em thì phải để em hỏi ý kiến bố em đã! Có gì em sẽ nhắn lại cho anh…”

Và chúng tôi đã chờ, đã chờ…đến hôm nay vẫn không một hồi âm…không một hồi âm và không một hồi âm! Anh Liên ơi! Anh ở rất xa là ở mãi đâu? Mà tại sao anh phải đi đến đó? Anh đi thế bỏ vực Quành cho ai? Thật khốn khổ cho anh và khốn nạn cho cuộc đời! Tôi nhắn tin như thế cho một người bạn thân của tôi và của anh, tin nhắn trả lời: “Sự khốn nạn đến thế thì không còn gì để nói!”.

Rằm tháng 7- Nhâm Thìn.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 22 Tháng Chín, 2013, 06:59:57 am


    ĐỒNG ĐỘI

    Lời dẫn: bạn tôi, họa sỹ Lê Trí Dũng, nguyên là lính xe tăng trong chiến tranh chống Mỹ. Hết chiến tranh, anh trở về đời thường với hàng trăm ký họa và ảnh còn khét mùi thuốc súng…Trong khi đồng nghiệp lao vào cuộc bươn trải áo cơm với các đề tài chim, hoa, lá, cá, gái…thì anh vẫn đắm chìm vào tranh lính .Tôi để ý thấy trong hàng chục bức sơn mài, sơn dầu khổ lớn, hàng trăm minh họa của anh thấp thoáng bóng dáng một người lính mảnh khảnh, hiền lành…khi thì cõng đồng đội bị thương, khi thì chơi đàn cho các cháu thiếu nhi…Tò mò, tôi hỏi: Tay này là ai vậy? Anh trả lời: Duyệt đấy mà, để tôi kể ông nghe…

    Chuyện của Dũng:

    Cuối chiến dịch Quảng Trị , trên điều tôi làm phóng viên chiến trường tại tất cả các đơn vị xe tăng trên mặt trận tiền tiêu. Vừa trực tiếp chiến đấu, vừa ký họa, chụp ảnh…Gian khổ thật nhưng lại rất hợp với máu phiêu lãng của tôi. Đầu 1973, sau hiệp định Pa-ri, quân hai bên xen kẽ như da báo. Địch tăng cường lấn chiếm vùng giải phóng… Một chiều, khoảng sau trận đấu tăng ở Cửa Việt. Tiểu đoàn trưởng Ngô Nhỡ bảo tôi: “Trên vừa điện vào, lệnh cho ông mở một lớp học vẽ cho binh chủng để sau này về đơn vị có thể làm bích báo tăng cường sỹ khí quân ta”. Tôi nghĩ, giữa lúc không biết địch nó thọc vào lưng lúc nào đây, sao mà mở lớp? Nhưng quân lệnh như sơn, chỉ biết chấp hành thôi…Anh Nhỡ bảo: “Mỗi đại đội một người, nhưng do đại đội 4 của anh Thận ở A Sầu xa quá không lên được, nên tiểu đoàn bộ ưu tiên hai người…”
    Lớp học có bốn người nhưng vẫn có lớp trưởng hẳn hoi. Đó là Nguyễn Kim Duyệt, trung sỹ, người Hà nội ở 39 Đại La. Dáng mảnh khảnh, rất ít nói, nhưng tỉ mỉ chu đáo như con gái. Đặc biệt rất ham học…Ngoài những bài vẽ cơ bản, anh còn đòi tôi vẽ vào sổ tay của anh bông hoa hồng, đóa hoa sen, Lê Nin, Bác Hồ… để dùng sau này. Đặc biệt Duyệt rất có năng khiếu âm nhạc. Chiều sau buổi học vẽ anh vác đàn chơi cho bọn trẻ con trong xóm nghe. Duyệt bảo: “Hết đánh nhau, em chỉ muốn về học tiếp…ngoại ngữ và ghita là hai thứ em sẽ theo hết đời…không gì hơn…Lớp học luôn bị gián đoạn bởi những trận chống lấn chiếm , thường về đêm. Những khi lâm trận, Duyệt khác hẳn ngày thường, anh xông xáo dữ dội với một sức mạnh lạ thường, như là có một Duyệt khác nhập vào anh. Một đêm, chừng 3 giờ … đang ngủ say. Vì nằm võng đơn không có tấm đắp nên tôi dùng một tấm poncho để chống muỗi… Đang ngủ rất say, tôi bị một cú huých trời giáng, lăn từ trên võng xuống cùng tấm poncho… Bừng mắt vớ vội khẩu AK đã thấy Duyệt nằm bên cái bao cát bắn xối xả đuổi theo cái xe JEP có hai thằng ngụy lái, chúng vào sâu trận địa ta tới 200 m và đang tăng tốc cố vượt qua đoạn bị cát lấp của con hào chống tăng rộng 3 mét. Thằng ngồi sau quạt A R15 trả lại… cái võng tôi nằm thủng lỗ chỗ…Lúc sau , trung đội trưởng quát ầm lên: “Cảnh giới chó gì mà ngủ như chết”…Duyệt chỉ im lặng, lẩm bẩm: “Khổ! Ban ngày đào hầm mệt quá mà”. Những lúc tâm sự, anh kể: Là con thứ 4 trong nhà và giống mẹ nhất nên cũng được bà cưng nhất. Khi anh vào chiến trường bà khóc rất nhiều . Anh an ủi mẹ là anh và đồng đội đã có vỏ thép dày của xe tăng che đạn rồi… Anh đùa với bà là khi “chạy” cũng rất nhanh vì xe tăng có nhiều bánh…Chiến sự xoay vần, lớp học kết thúc. Tôi cũng kịp chụp một kiểu ảnh bốn học viên thân yêu đã sát cánh cùng thầy sống chết có nhau dù trong thời gian ngắn…Duyệt muốn tôi nếu được ra bắc trước, nhớ rửa ảnh và đem đến tận nhà đưa cho mẹ anh và nhớ nói với bà rằng thằng Duyệt rất khỏe…Tôi đã hứa và thực hiện vài tháng sau đó. Chiến tranh vốn có hàng trăm ngả đường, mỗi người lính chúng tôi không bao giờ được chọn. Thầy trò chúng tôi chia tay nhau sau một bữa liên hoan có canh rau tập tàng tự tay Duyệt nấu… Chiến trường cứ thế lùi dần vào phương nam.

    Kết thúc chiến tranh đạn bom. Chúng tôi lại tiếp tục chiến đấu trong một cuộc chiến tranh mới - cuộc chiến với cơm áo thời bao cấp. Chả còn kịp thở để nhìn thấy nhau. Mãi quãng đầu những năm 2000 binh chủng mới tổ chức những cuộc gặp gỡ đồng đội cũ. Sáng 28-4, đang trò chuyện vui vẻ, đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt đứng dậy: “Tôi phải đi.”, Tôi hỏi: “Có gì gấp thế?” Nguyệt bảo: “Hôm nay giỗ Duyệt, đồng đội cũ”. Tôi giật mình: “Duyệt nào? Có phải Duyệt chơi đàn và biết vẽ?”. Đến lượt Nguyệt giật mình: “Sao quê biết Duyệt?”, “Thì tôi dạy vẽ hắn mà…nhà ở Đại La, nhưng hy sinh trong trường hợp nào?”, “Chuyện dài lắm, để tôi kể quê nghe”.

    Sau đây là chuyện kể của Nguyệt:

    Cuối tháng 3 năm 1975, pháo 2 của xe tôi được điều sang xe khác vì thế phải bổ sung pháo 2 mới. Một chiều, một lính đến nhận nhiệm vụ, balô lép kẹp, cây ghita trên vai, dáng mảnh khảnh thư sinh, hai tay mềm như tay con gái, rất ít nói…Đó là Duyệt. Cả xe hơi thất vọng! Ai cũng biết lính xe tăng xốc vác, rất cần sức khỏe, nhất là pháo 2…Đó là vị trí phải bê những quả đạn nặng hơn 30 kg tống vào buồng đạn để bắn với tốc độ ba, bốn phát một phút…, khi cần còn phải đội cửa lên tháp pháo dùng 12 ly 7 bắn máy bay, phải dùng Ak đánh bộ binh, ném lựu đạn…Chưa kể đến các công tác bảo dưỡng xe máy nặng nhọc vô cùng... Năm ngoái, pháo thủ số 2 Đạt nạp đến quả đạn thứ 16 thì ngất xỉu…Nhưng ngay chiều hôm đó, qua công tác bảo dưỡng xe bằng những động tác thuần thục, lanh lẹ, chu đáo… Duyệt đã làm chúng tôi yên tâm. Nhất là đến bữa cơm chiều ngoài những món thường ngày ứ đến tận cổ…Duyệt đã cho chúng tôi bát canh nấu bằng rau tập tàng tranh thủ hái…Những ngày sau, hậu cần của xe được bảo đảm khi Duyệt luôn lo cơm dẻo canh ngọt, nhất là trong xe luôn có nước sôi để uống sữa. Những khi hai đứa tâm sự, Duyệt chỉ ước hết chiến tranh được về học tiếp, ra trường đi làm lấy tiền nuôi mẹ. Ước mơ nhỏ bé xiết bao…

    Chiều ngày 27 tháng 4 năm 1975, đại đội xe tăng đến Long Khánh. Tối hôm đó, trưởng xe Luông đi họp về, tập trung toàn xe lại phổ biến: “Trận đánh này rất lớn, mang tên Chiến dịch Hồ chí Minh, chúng ta chỉ còn cách Sài Gòn chưa đầy 100 km nữa. Đại đội ta có nhiệm vụ thọc sâu, cắm cờ lên nóc Dinh Độc lập…’’. Anh chỉ vào cái bản đồ dã chiến bằng hai bàn tay: “Nhớ qua cầu Sài Gòn, đến ngã tư thứ bẩy rẽ trái là đến Dinh Độc lập, dùng cờ cũ cắm lên xe, lá cờ mới cất đi để dành cắm lên nóc Dinh…”. Chúng tôi hối hả chuẩn bị, để có chỗ cho cơ số đạn thêm vào, tất cả balô đều phải đưa ra ngoài buộc sau tháp pháo. Riêng Duyệt cứ loay hoay cố nhét cái balô của anh vào sát ngách trong cùng tháp pháo. Vì buồng chiến đấu chật chội, anh phải bê từng viên đạn ra, rồi lại xếp từng viên đạn vào. Pháo thủ Thọ vốn nóng tính quát ầm lên: “Lính tráng có cái mẹ gì mà dấu dấu giếm giếm”. Trưởng xe Luông cũng lẩm bẩm: “Thằng này làm cái gì mà loay hoay mãi thế nhỉ?” Trong thâm tâm tôi cũng ngờ vực không hiểu sau mỗi trận đánh, vào thành phố Duyệt lấy được những gì mà không nói với tôi. Trước sự cố đó, Duyệt chỉ im lặng. Rồi mọi chuyện cũng qua đi trong nỗi hồi hộp trước mỗi trận đánh.

    Sáng 28-4-1975,trận đánh mở màn lúc tảng sáng. Đến gần trưa ta đã tiêu diệt được nhiều hỏa điểm của địch. Nhưng địch chống cự quyết liệt vì đây là chốt chặn cuối cùng, cánh cửa cuối cùng vào Sài gòn. Tổn thất của ta cũng khá nặng, nhiều xe đã bắn hết đạn phải lui về tuyến sau củng cố, không khí bỗng dưng im ắng lạ thường. Thấy một bãi đất trũng, trưởng xe Luông lệnh cho tôi lái xuống. Vừa đi được vài mét, thì ầm một tiếng, tôi ngất đi không còn biết gì nữa. Lúc tỉnh lại, thấy Thọ hổn hển: “Xe trúng đạn rồi, Luông và Duyệt bị thương nặng lắm”.Tôi ngẩng lên, trưởng xe Luông gục đầu bên cái đài thông tin, phía dưới, Duyệt nằm bất tỉnh, suốt từ thái dương xuống nửa người mảnh đạn xé tả tơi, đẫm máu. Hai chúng tôi đưa hai người ra khỏi xe đi cấp cứu. Lúc bấy giờ mới biết một quả đạn pháo cỡ lớn khoan trúng lỗ thông gió, phá tung nắp xe, đánh bay khẩu 12 ly 7 nặng gần 1 tạ cùng toàn bộ quân dụng buộc trên xe…Duyệt đã hứng trọn toàn bộ mảnh vỡ của cánh quạt vào người . Lúc bế Duyệt trên tay, anh thì thào, rất tỉnh táo: “Quê ơi, tao đau lắm, chắc không sống được đâu…”. Tôi vẫn động viên Duyệt: “Vài hôm nữa quê khỏi, lại về xe thôi mà”. Nhưng kinh nghiệm chiến trường lại làm tôi lo lo vì sự tỉnh táo của Duyệt…Tôi nhẹ nhàng bón cho Duyệt thìa sữa. Rồi bàn giao cho quân y và nhanh chóng trở về xe thu dọn chuẩn bị đánh tiếp. Lúc dỡ cái balô của Duyệt ra để bàn giao cho quân y, chúng tôi choáng người… Một bộ quần áo cũ, một chiếc võng dù, còn lại toàn bộ là sách học tiếng Anh, từ điển Việt- Anh, Anh-Việt…Chúng tôi vô cùng ân hận vội quay lại quân y để xin lỗi…Trên cáng thương, Duyệt nằm thiêm thiếp như đang ngủ…Không thể làm gì hơn, chúng tôi đành quay về xe, đợi lệnh trên…Sau này được biết Duyệt đã hy sinh chỉ hai giờ sau khi chia tay chúng tôi…

    Tất cả chúng tôi lặng đi , cuối cùng anh Tuân, phụ trách cựu chiến binh nói: “Chúng ta cùng đến thăm Duyệt đi”. Ba chúng tôi đến 39 Đại La. Mẹ Duyệt đón các con. Bà cụ tóc bạc phơ phơ, mảnh mai. Tôi bỗng thấy Duyệt giống mẹ lạ lùng. Nhìn lên bàn thờ, tôi giật mình thảng thốt. Chính giữa là bức ảnh Nguyễn Kim Duyệt đang ngồi trên tháp pháo đo đạc vẽ chiến trường dưới lá cờ giải phóng… Bức ảnh do chính tay tôi chụp năm 1973 nơi chiến trường Cửa Việt hơn 30 năm trước. Chắc chắn không phải chỉ có Mẹ anh mà tất cả chúng tôi những người của một thời hoa lửa mãi mãi không bao giờ quên Anh. Ngày nay, anh đã được an nghỉ tại nghĩa trang anh hùng liệt sỹ Long Thành, Đồng Nai trong tình yêu thương của đồng đội và nhân dân cả nước, và trong cả những tác phẩm hội họa của tôi.

    20-3-2012.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 23 Tháng Chín, 2013, 08:08:54 am
Ơi cái Tết 73

Quảng Trị, đầu 1973, sau những trận ác chiến giành giật quyền cắm cờ ở Thành Cổ, sau những đợt rải thảm của B52,chiến trường trở nên im ắng...

Hiệp định Paris vừa ký kết, quân hai bên án binh bất động, gió mùa đông bắc tràn về, cái rét làm người lính nhớ đến khí xuân. Mà xuân về thật, đã qua Ông Công Ông Táo rồi, còn vài ngày nữa là Tết...

Nhưng cái Tết ở chiến trường thật lạ. Không có bánh chưng bánh tét, không có mứt kẹo hương hoa... Đó đây đì đùng súng trận cả hai bên! Đối phương liên tục lấn chiếm vùng giải phóng. Nhìn vào bản đồ dã chiến, chốt đóng quân cả hai bên liên tục thay đổi, miếng da báo loang lổ biến dạng từng ngày, ở từng thôn, hôm nay cắm cờ nửa đỏ nửa xanh có ngôi sao vàng, ngày mai có thể là cờ vàng ba sọc. Người dân địa phương đã quá quen với đạn bom và hy sinh mất mát. Người Quảng Trị dường như sinh ra để “thử lửa”... Nước da đen sậm, ít nói, săn chắc, chịu đựng. Bom Mỹ dội xuống, lính hai bên ào đến rồi ào đi. Họ kiểm lại xem trong nhà còn ai... rồi tiếp tục sống!

Thôn Phó Hội sát ngay biển, không một ngôi nhà nào còn nguyên vẹn. Ngay cạnh những mảng tường vỡ vụn, những cột bê tông gãy lìa, chồi tua tủa, những thanh sắt còng queo là chiến hào nằm kề những ngôi mộ chưa xanh cỏ. Trung đội xe tăng đóng ngay ở đó.

Xa xa, mấy chục xác xe tăng cả hai bên còn đó chưa kịp “dọn”. Dưới gầm mỗi xe tăng là một “ngôi nhà” mà mái nó là gầm xe che chở. Lệnh trên chỉ thị xuống: “Phải tổ chức cho bộ đội ăn Tết tốt nhất trong hoàn cảnh có thể. Bám chốt, sẵn sàng chiến đấu khi địch lấn chiếm. Tuyệt đối không phiền nhiễu đến dân...”.

Cầm tờ điện khẩn trong tay, trung đội trưởng hình dung phút giao thừa cầm chắc anh em sẽ được liên hoan gạo Mỹ với muối trắng, tráng miệng bằng lương khô. Đã một tháng qua hậu cần không tiếp tế gạo và thực phẩm, tất cả đã chuyển vào sâu hơn, vào Tây Nguyên rồi. Vậy giữa miền cát trắng mênh mông này đào đâu ra rau? Họa chăng, trơ lại trên mặt đất chỉ còn những cây phi lao xơ xác, cụt ngọn vì bom pháo.
May tuần trước đánh vào cứ địch lấy được mấy bao gạo Mỹ, thứ gạo chỉ đổ nước lã vào là ăn được, không cần nấu nướng gì, nhưng nhai bã cả miệng, sức khoẻ anh em xuống trông thấy! Nhưng thực sự, sỹ quan và chiến sỹ đều không thể rời xe.

Đêm hôm kia ở chốt Thanh Hội, hai lính thủy quân lục chiến phía đối phương dám lái một cái xe “Zep” phóng sâu vào trận địa ta, dạo một vòng, AK bắn đuổi, không làm gì được! Đấy! Thời buổi này sơ suất một cái là “toi” ngay.

29 Tết, rồi 30 Tết đến rồi, trung đội trưởng đã lệnh cho dán lên vách hầm mỗi xe hai bức tranh cổ động, một bức “Đã ra Quân - là đánh thắng” do họa sỹ Lê Trí Dũng vẽ, bức còn lại, “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” của họa sỹ Nguyễn Thụ và Huy Oánh. Và lá cây sẽ được tết thành cổng chào ở cửa mỗi hầm xe. Lệnh còn là thêm khẩu phần mỗi xe hai phong lương khô đón giao thừa!

Còn nữa, món ăn tinh thần mỗi xe đã có thêm một cỗ bài Tây lấy được trong M48 của địch từ trận Cửa Việt (thứ bài Tây mà hình vẽ ở Z, Q, K, át toàn hình khỏa thân)... Thôi, đời lính phong sương, trận mạc, sống đến bây giờ là may rồi. Vả lại, địch quân toàn nhè vào ngày lễ ngày Tết mà đánh, nhìn qua con hào chống chiến xa rộng 3 mét. Anh bồi hồi nhớ đến quê nhà với bếp lửa ấm nồng và nồi bánh chưng sùng sục, đến câu đối đỏ rực cùng nhành đào đầu xuân, đến gia đình, người thân... Nhưng “quân lệnh như sơn!” Mệnh lệnh là mệnh lệnh... “Không được phiền nhiễu đến dân!” Đó là câu cuối cùng của tờ điện khẩn!

Xa xa, biển Cửa Việt chìm dần trong sương mù, nước biển đã chuyển dần từ màu xanh sang màu tím... Chờ đợi phút giao thừa thiêng liêng tới.

Nhưng! Như có lần tôi đã viết trong tản văn nào đó. Đời mình rất hay gặp “sự cố bất ngờ”. Thí dụ có lần bị kẹt giữa một quả đồi ba ngày liền giữa dòng lũ, trong ba lô tôi may có 1kg đường và 2 gói tăng lực lấy về cho trung đội. Tôi phải “ăn vã” đường và thuốc tăng lực chờ lũ qua. Hay lần lạc đơn vị bị đói, hai anh em tôi đêm phải nằm trên cây cao tránh hổ. Thế quái nào lại vớ phải trúng cây mít rừng đương bói quả còn xanh, nhưng vẫn... chén tốt.

Còn lần này, tôi vừa vứt cái mũ công tác vào góc hầm, bê cái bi đông xe tăng (to gấp 5 lần cái bi đông thường) tu ừng ực, vừa chuẩn bị lao vào làm một chân đánh bài “tiến lên” thì... “ào” một tiếng như tiếng sấm, xuất hiện ba cô du kích bộ đội địa phương tới... “Chúc mừng năm mới” các anh.

Bạn đừng quên đời lính chúng tôi, những thằng “đực rựa” giáp mặt với tử thần, nay được phái đẹp đến thăm thì “tuyệt quý hoá” như thế nào, lại còn một cành hoa đào các em mamg theo! Không, hoa mai chứ, vì hoa màu trắng làm bằng dù pháo sáng.
Lúc đó, chú Năm lái xe đã kịp gõ một tràng băng đạn vào chiếc xoong quân dụng giòn như pháo đón mừng khách quí. Trung đội trưởng vừa định “lệnh” đem lương khô ra đãi khách thì, huỵch một cái, o Đóa, cô xinh nhất trong bọn lẳng từ sau vai xuống một cái bao tải dứa công sự, dốc ra mấy chục lon giò Mỹ! - Thứ này đêm qua tụi em đánh, lấy được, gởi mừng các anh đón Xuân đó.
...
Tết Quý Sửu 73 chúng tôi đã ăn vã giò Mỹ, mỗi người được hẳn ba lon, ấm áp tình dân Quảng Trị. Thật là một mùa Xuân khó quên, ơi cái Tết 73...

Đón năm Mão 2011


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 24 Tháng Chín, 2013, 08:36:27 am

CHIẾC XE ĐẠP

        Tôi sinh ra ở Hà nội.
        Chiếc xe đạp đầu tiên trong đời tôi được thấy là chiếc Merce, xe đua của cha tôi (Ông đã tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông dương. Lúc này ông đã bán được tranh, ông nói giá trị chiếc xe bằng hai tạ gạo lúc bấy giờ, và ngoài nghệ thuật, ông còn có hai cái thú là đua xe đạp và quyền Anh). Chiếc xe nhẹ bỗng, tôi thấy ông nhấc lên chỉ bằng một ngón tay. Trông nó như một con ngựa chiến, bánh nhỏ tý, nghe nói không phải bơm, líp ba tầng , lúc quay nghe lách tách như pháo nổ.

           Kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Cả nhà tản cư vào Thanh Hóa. Lần thứ hai trong đời tôi thấy xe đạp. Chiếc xe này khác hẳn xe trước. Bánh to đùng, bằng sáu bánh xe đua của cha, tay lái buộc một gậy tre, giữa khung xe buộc túi quần áo, chỗ đèo hàng phía sau hai bên có hai cái sọt tre thồ lương thực, súng đạn, có một cái càng chống thật to, cũng bằng tre…(nó chính là chiếc xe thồ của dân công vận tải vũ khí lương thực ra mặt trận đánh giặc  Pháp). Nom nó lầm lũi như một con trâu vừa đi cày về.

            Chiếc xe thứ ba tôi thấy là chiếc Điamăng, anh cả tôi du học ở Đức mang về. Tất cả đều thẳng băng như người Đức, ghi đông ngang…thỉnh thoảng tôi mượn được một lúc đèo bạn gái đi chơi. Oách!

   Hà nội ngày đó cũng không nhiều xe đạp lắm đâu. Ngoài những xe cũ thời Pháp để lại còn thì rặt xe Thống nhất…Gớm ngày đó mà được  phân phối (phải xếp hàng rất lâu) một cái xe Thống nhất thì giống như trúng sổ số… cái xe ô tô bây giờ. Đa phần là Phượng hoàng hoặc Vĩnh cửu … Còn nếu nhà nào mua xe Pra ha hay Pơgiô thì coi chừng…không buôn lậu thì cũng nhận viện trợ từ phe địch…Đạp xe mà cả phố nhìn theo, phát ngượng!

Rồi tôi cũng có chiếc xe đạp riêng, nó tên là Molion…tên chữ Nôm là Cởi truồng (Nó do cha tôi bàn giao cho tôi sau khi ông tháo hết máy móc chiếc Môbilét của ông. Biến nó thành một chiếc xe đạp khổng lồ dùng cho riêng mình). Còn cái xe của tôi tên Cởi truồng vì ngoài ghiđông, bộ xích và hai bánh ra , nó không còn gì khác…lúc cần phanh gấp tôi chỉ việc đạp chân vào bánh trước là xong! Ngoài việc thồ hàng tiếp tế lên nơi sơ tán cho gia đình nó còn đưa tôi đi khắp miền đất nước mà chiến công hiển hách nhất là cùng các anh chị trong lớp đạp vào Vĩnh Linh 600 km dưới bom đạn Mỹ để thực tập.

Chiếc xe đạp còn ghi đậm dấu ấn trong lòng người Hà nội trong những buổi sớm tinh sương trong gió mùa Đông Bắc, cô gái trẻ ngồi sau xe, tóc tết đuôi sam ôm chiếc balô trong lòng, cầm lái là chàng trai trẻ trong bộ quân phục mới tinh đèo người yêu đến nơi nhập ngũ. Hoặc những nữ tự vệ đội mũ sao vuông khoác súng trường K44 đeo túi cứu thương đạp xe qua cầu Long Biên trong 12 ngày đêm đối mặt với B52…Giải phóng miền Nam! Ôi ! hàng trăm loại xe đạp xuất hiện, đủ các nhãn mác… Hình ảnh anh bộ đội miền Bắc trở về quê nhà với chiếc khung xe đạp trên vai và con búp bê trong tay làm sao quên được?
Chiếc xe đạp đã gắn bó với tâm hồn người Việt và với riêng tôi như thế đấy! Tưởng như dấu ấn tốt đẹp mãi không bao giờ phai…

   Nhưng…
   Ở đời thường vẫn chết vì chữ nhưng đó…! 30 năm sau…Rồi 40 năm sau!... Xe đạp biến mất. Bây giờ ra đường rặt ô tô và xe máy…Tai nạn giao thông xảy ra như cơm bữa. Mỗi ngày hơn ba mươi người chết, rồi hàng trăm người bị thương vỡ sọ, cụt chân tay, giập lá lách, gãy xương sườn…Chung qui chỉ là coi thường Luật giao thông. Đánh giặc ngoại xâm thì giỏi thế sao học Luật giao thông lại tối dạ thế ? Thấy đèn đỏ cứ đi ào ào. Kệ !…Đèo hàng nặng hàng tạ kồng kềnh hơn một mét sẵn sàng lao vào người khác! Kệ….Nhưng chết nhiều quá cũng hơi chờn…Xe máy, ô tô cũng dần dần vào qui củ mặc dù số người chết vì tai nạn giao thông vẫn đứng hàng đầu thế giới.

   Khủng khiếp nhất vẫn là ÔNG xe đạp. Tôi phải gọi bằng ÔNG là vì ngay bây giờ, ngay lúc này đây, khi mà xe máy, ô tô thấy đèn đỏ đã biết dừng thì xe đạp cứ tự do vận hành vượt đèn đỏ ngay trươc mũi cảnh sát giao thông. Tôi để ý thấy phần nhiều là mấy cô nhà quê đèo thúng hàng rong, mấy bà nạ dòng ngoại tỉnh nhập khẩu theo con đạp xe đi thể dục sáng chiều hay vài ông cán bộ về hưu (chắc cậy mình lão thành cách mạng thì đếch sợ đèn đỏ…). Họ cố ý vi phạm luật giao thông hay thực sự họ tưởng họ đi xe thô sơ nên được phép vượt đèn đỏ? Thôi thì cứ cho là họ không được giáo dục Luật giao thông đầy đủ đi… Nhưng còn các chiến sỹ cảnh sát của chúng ta? Rất nhiều ngã tư (cần chứng mlnh có ngay vì điều này quá phổ biến ). Các bà ngoáy mông vượt đèn đỏ, vài thằng choai con tóc nhuộm vàng  kẹp 3 không đội mũ bảo hiểm ngang nhiên phóng qua mặt các anh…Các anh như nhìn vào không khí…Đoàn xe máy rối loạn vì đang đèn xanh bị bọn này đâm ngang! Mấy người ác khẩu bảo: Cứ đâm chúng nó một phát . Có ra công an mình vẫn phải cơ mà…Nhưng nhìn mặt mấy anh cảnh sát . Chính tôi cũng phải tự nghi ngờ chính mình: CÓ KHI CHÍNH MÌNH PHẢI VỀ HỌC LẠI LUẬT…CÓ KHI LUẬT ĐÃ SỬA ĐỔI, ĐÃ CHO PHÉP XE ĐẠP ĐƯỢC VƯỢT ĐÈN ĐỎ CHĂNG?

   18-9-2012


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 25 Tháng Chín, 2013, 07:28:19 am

NHƯ MỘT ẢO ẢNH


Tháng 7. Sau những trận mưa rớt bão như trút xuống đầu khi tôi đi viếng đồng đội ở nghĩa trang Đường 9, nghĩa trang Trường Sơn, Cổ Thành, ở Cửa Việt, Cửa Tùng, Vĩnh Chấp rồi Vĩnh Thuỷ, La Vang rồi Đông Hà... Nhân có đồng đội cũ, bây giờ là luật sư Lê Văn Hiến, bảo tôi: “Tôi có công việc ở Huế, mời ông đi cùng, trong khi tôi làm việc, ông đi chơi thoải mái...” Rất cần trấn tĩnh lại sau bao xáo trộn với người âm là điều tôi muốn. Ở Huế, biết bao nhiêu là điểm du lịch: chùa Thiên Mụ và hàng trăm ngôi chùa nổi tiếng, lăng Tự Đức cùng hàng chục lăng tẩm lừng danh..., nhưng con trai bảo tôi: “Ta nên đến một ngôi chùa ít ai đến bố ạ. Con biết có một ngôi chùa đẹp, cổ, và ở đó có một đặc điểm là có các ngôi mộ của các quan thái giám đời Nguyễn xa xưa, đó là chùa Từ Hiếu...”. “Mộ các thái giám...” kích thích trí tò mò của tôi.

Phía Tây Nam cố đô Huế, kể từ trung tâm thành phố ta đi năm cây số nữa, qua những đồi thông xanh mướt ven đường, đến một khoảng rừng quanh co, cỏ lau ngút ngàn, sông suối vắt quanh, sơn thuỷ hữu tình, thế như tiên cảnh, ít người lai vãng, rẽ phải xuống dốc vài trăm mét là đến một rừng thông già trăm tuổi, ngọn vút trời mây, gió reo rì rào, vi vút. Thảm lá trải dày dưới chân du khách, thấp thoáng dưới rừng thông là tam quan của một ngôi cổ tự, rêu đá xanh rì, ba chữ “Từ Hiếu Tự” gần như bị bào mòn theo năm tháng, rêu phong mọc dày. Vào chút nữa đã thấy một ao hình bán nguyệt, ta sẽ sửng sốt với những đóa sen đơn cánh to và những con cá thần dài gần một mét bơi lượn. Như một tiền định, tôi không vào chùa ngay, một xui khiến vô thức đưa tôi lạc bước sang phía tả vu. Nơi có một đầm sen mênh mang và thấp thoáng trong nắng sớm là những ngôi mộ cổ với những tháp, xá lị cao thấp vô thường đó chính là khu mộ của các đại tăng qua các đời trụ trì ở chùa. Xa xa, lọt vào một cổng lớn có ba cửa là khu mộ của các viên thái giám với hàng mộ thẳng tắp và khô khan... Khu mộ điêu khắc chạm trổ cầu kỳ với những họa tiết gắn mảnh sứ công phu của bàn tay những nghệ nhân tài giỏi một thời với đề tài long phượng... ta có thể thấy nơi đây, từng đã được trọng vọng, ưu ái và hương khói thường xuyên... nhưng giờ đây, gạch nát hương tàn, nhiều góc tường đã sụp đổ, hoang phế, các bát hương không còn chân hương. Trong lấp loáng bóng nắng rừng thông, trong điêu tàn gạch ngói hoang phế. Tôi, con trai và Thanh (người đưa chúng tôi đi, một sinh viên yêu nghệ thuật) cảm thán trước mấy chục nấm mộ quạnh hiu, không người hương khói. Chúng tôi đặt tiền, châm hương, chẳng biết lời khấn có thấu tới họ không. Họ cũng giống như các thái giám Trung Hoa ta thường thấy trong các phim ảnh, đều phải “tịnh thân” trước khi vào triều (tự thiến hoặc chấp nhận thiến). Nhưng đa phần các thái giám Trung Hoa xảo quyệt, tham lam. Còn xem ảnh các thái giám Việt đời Nguyễn... gầy hóp má, hiền lành, mẫn cán. Được cái danh là phục vụ trong hoàng cung cũng oai (thời nào danh chả hấp dẫn người đời ô trọc, kể cả thời nay).

Trước khi lên chùa, tôi và Thanh rời khu mộ, ra bờ đầm sen ngồi. Sen hồng cánh đơn nở rực, vài đóa sen tàn... Chợt Thanh chạy ra bãi cỏ, lấy cái que gạt gạt... Trong đám cỏ dày, một chú chuột con còn chưa mở mắt giẫy giụa, thân mình nó kiến đã bu đầy. Nó nghịch quá bò ra khỏi ổ, khỏi đàn trong khi mẹ đi kiếm ăn hay là ổ bị ai phá? Thanh vội chạy đi lấy một cánh hoa sen múc đầy nước hồ đổ lên người nó, kiến chạy tan hết. Tôi và Thanh khẽ khàng dùng lá sen đưa nó đến một chỗ an toàn, chả biết sau này số phận nó ra sao? Mẹ có về kịp để cứu nó không? Hay nó sẽ chết thảm dưới nanh vuốt của bầy kiến? Kiến thì đông mà nham hiểm, dai dẳng tới cùng, nó thì ngờ nghệch đáng thương... Tại sao tôi lại gặp cảnh này ở Từ Hiếu Tự?

Chùa Từ Hiếu có một lai lịch rất đáng nể, năm 1843 có một nhà sư tới khai sơn, đó là nhà sư Thích Nhất Định. Ông là người rất hiếu thảo, tương truyền khi mẹ ông mệt nặng, rất khó qua khỏi, có người khuyên nên tìm thịt, cá bồi dưỡng cho mẹ. Vượt qua những lời đàm tiếu, ông đã lặn lội gần chục cây số để mua cá về chăm mẹ... Lòng hiếu thảo của ông đã động đến tai vua Tự Đức. Tự Đức cũng là một vị vua hiếu thảo với mẹ, nhà vua đã ban cho “Sắc tứ Từ Hiếu Tự” và góp tiền xây dựng chùa. Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa có câu: Từ là đức lớn của Phật, nếu không có Từ thì lấy gì để tiếp độ tứ sinh, cứu giúp vạn loại. Hiếu là đầu hạnh của Phật, nếu không có Hiếu lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ trời đất.

Sau này, chùa được các vua Tự Đức, Thành Thái, các quan đương triều, các tăng ni Phật tử mười phương, đặc biệt là các quan thái giám cúng dường, tu bổ... Từ Hiếu ngày nay còn được gọi là Từ Hiếu Đình Tổ hay là Đệ nhất Cổ Tự xứ Huế này. Dù vậy, sự hoang phế điêu tàn của nó cũng chứng tỏ nó ít được chăm sóc, quan tâm. Nhưng tôi thấy cũng là may, nó mà được “quan tâm” để biến thành một ngôi nhà xanh xanh, đỏ đỏ thì thật là bất hạnh cho chúng sinh... Tôi bước lên ba lần tam cấp và châm hương, lòng tâm niệm một điều ẩn ức suốt bấy lâu nay. Giữa nơi Phật đài thanh khiết, thiện ác vô thường này, chỗ đứng của công lý và lương tri có tồn tại không? Cách không xa, một người đàn bà, vâng, một nhà sư nữ, cà sa nâu, trạc ngũ tuần đang đi lại qua các ban thờ, miệng nói, tay chỉ cho các sư thầy bày đặt đồ lễ chuẩn bị tụng kinh. Vừa nhìn thấy tôi trong bộ đồ lính trận, bà đon đả đi tới: “A di đà phật, ngày lành, chẳng hay tín chủ từ đâu tới thăm chùa này?”. Tôi thảng thốt nhìn lên, như bị điểm huyệt. Một người đàn bà, một nhà sư mặt đẹp như ngọc, dáng tầm thước, da trắng, địa các đầy đặn, làn môi thắm hơi dày, cặp lông mày cong hơi nhạt dưới vầng trán cao, sống mũi hơi lõm, gần đó ở gò má bên trái ẩn hiện một nốt chàm xinh nhỏ, nhạt nhòa... Tôi lúng túng, choáng váng thì đúng hơn: “Dạ... tôi từ Hà Nội tới”... Lẽ ra, khi đó tôi có thể trò chuyện với bà, hỏi phật danh của bà, hỏi lai lịch của chùa. Nhưng như tôi đã nói, vẻ đẹp của bà, dáng đi mạnh mẽ, chỉ huy, giọng nói vang đầy quyền uy của bà, ánh mắt, vâng, nhất là ánh mắt mà qua đó tôi có thể thấy đầy thiện tâm, như truyền dẫn và chỉ một thoáng thôi chúng tôi như người xưa gặp lại, thoáng ấy qua đi, một giọng thanh và mạnh vang lên: “A di đà phật, vậy cầu cho tín chủ may mắn, luôn gặp tốt lành, gia đình đoàn thể bình yên...”. Rồi một câu nói như không nói với tôi: “Đích đã đến không sầu/ Giải thoát ngoài tất cả/ Đoạn trừ mọi buộc ràng/ Vị ấy không nhiệt não”.
Rồi lại những câu vọng trong thinh không: “Tì kheo tát thuyền này/ Thuyền không, nhẹ đi mau/ Trừ tham, diệt sân hận/ Tất chứng, đạt Niết bàn... Còn duyên sẽ gặp lại/ Duy nhất và mãi mãi...

Tôi nhắm nghiền mắt, quanh tôi tiếng mõ đã nổi lên, vài tiếng xì xào ở đám du khách ngoại quốc quanh đó. Lòng tập trung cao độ vào câu “cú” bà vừa nói: Thế nào là “vị ấy không nhiệt não”... Tại sao lại: “Duy nhất và mãi mãi”?... Phải chăng bà là hiện thân của... đến với tôi? Tôi choàng mở mắt, những nén hương tôi thắp đang bùng cháy. Ba sư thầy đang tụng kinh cho buổi hành lễ. Ngoài sân, gần chục sư bà đang chuẩn bị đi đâu đó... Áo nâu lẫn áo lam, có bà trong đó không? Bà đã biến đi như một ảo ảnh.
Lễ Vu Lan sắp đến rồi, liệu sang năm con trai còn rủ bố đi Từ Hiếu Tự nữa không? Vu Lan là lễ báo hiếu cha mẹ, con chuột con chưa mở mắt của tôi trong tầu lá sen liệu có qua nổi đàn kiến dữ dằn không? Sự non nớt, ngờ nghệch không có lỗi nhưng đôi khi lại trở thành một tội ác. Gián tiếp tiếp tay cho cái ác hoành hành. Nhân quả là chủ thuyết của nhà Phật. Nhưng đó là khẳng định hay ước mơ? Khẳng định chắc không phải vì thân tôi tự thấy Cái Ác đến tàn độc ngang nhiên hoành hành, cười diễu vào mặt cái Thiện, vậy lý do còn lại là ước mơ…là ước mơ thì xa vời quá, nhục nhã quá. Phật giáo cũng phân tích thấu đáo ấy là bởi vì cái Ngu còn tồn tại…Phật giáo đánh giá cái Ngu và cái Ác ngang nhau chứ không phải cái Ngu nhẹ tội hơn…nhất là cái Ác lại đội lốt cái Thiện và cái Ngu đội lốt cái minh triết… Xa xa những xá lị nhấp nhô rêu phong phủ kín, xa nữa thấp thoáng những mộ phần thái giám. Chúng ngăn nắp và khô lạnh chứa đựng bao bí ẩn chốn hậu cung cõi thế...
Có lẽ, tôi phải quay lại Từ Hiếu Tự lần nữa... nhiều lần nữa.


Vu Lan - Lập Thu - Nhâm Thìn - Mưa



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 26 Tháng Chín, 2013, 07:19:10 am

BÀI HỌC LÒNG NGƯỜI

TRỐNG RỖNG 1

Lúc 8 tuổi, đại lý sách gia đình nhập một loạt sách truyện Dân gian các nước của Nhà xuất bản Kim Đồng [loại quanh bìa sách có tia  sáng bao quanh]. Có một truyện tôi không nhớ của nước nào… Nói về lòng người! Đại để câu chuyện thế này: “Ở xứ nọ có 10 ông lão chơi thân với nhau. Ngày nọ, mười ông hứng khởi bàn nhau tụ họp uống rượu vui chung…Vào một ngày đẹp trời, các cụ hẹn nhau tập trung ở nhà ông lão có bộ râu dài nhất. Mỗi cụ đem theo một bình rượu và cùng đổ chung vào một cái bình lớn, sau đó ông lão có bộ râu dài nhất sẽ múc ra 10 cái cốc cho 10 cụ cùng thưởng thức…Khi đến chỗ tụ họp, ông lão râu quai nón đem theo một bình nước lã, bụng nghĩ: “Bình nước lã của ta nếu đổ lẫn với 9 bình kia thì sẽ chả ai phát hiện ra được…” Rủi thay, ông lão râu ba chòm cũng nghĩ và làm như thế. Ông lão có ria mép, ông lão  râu thưa, ông lão râu vểnh, ông lão râu hùm, ông lão râu quặp, ông lão râu ghi đông… và cả đến ông lão chủ nhà râu dài tới rốn cũng nghĩ và làm như thế…Lúc múc rượu ra uống, cả 10 ông đều …uống nước lã nhưng cả 10 ông đều nắc nỏm khen rượu ngon… Ngày ấy, đọc đến đó tự nhiên cảm giác trống rỗng ùa vào lòng. Như là sụp đổ một cái gì!

TRỐNG RỖNG 2

Tôi còn nhớ, truyện này tôi đọc hôm trước khi lên đường nhập ngũ. Truyện kể về một cuộc báo thù! Vì hơi dài nên tôi xin phép độc giả tóm tắt đại để như sau: Ở một làng vô cùng hẻo lánh nọ xứ Phù tang có một lớp học. Cả làng có duy nhất một thầy giáo vì y là người duy nhất biết chữ giữa những người nông dân chất phác. Y có một cái tật là rất hay say rượu. Khi say, y hay đánh học trò…Những người nông dân bực tức nhưng không biết làm gì chỉ vì  không có y thì  không có ai dạy chữ cho con cái họ. Một ngày nọ, trong cơn say mất trí, y lấy cái liềm đánh vào cổ một bé gái, không may cứa đứt động mạch chủ làm em bé tử vong…Tỉnh rượu, y vọt khỏi cửa chạy trốn! Cha em bé, sau khi chôn cất con gái, lẳng lặng gói  túi quần áo, cất cái liềm đẫm máu vào bọc và lên đường đi tìm kẻ thù. Cuộc truy tìm tên giết người cực kỳ gian nan vì cứ mỗi lần ông sắp tóm được hắn, hắn lại biến đi như có ma báo nguy hiểm cho hắn…Nhiều năm trôi đi… cả hai người đều đã già. Cuộc săn đuổi đã dẫn họ trôi đến hòn đảo lớn thứ 4 của đất nước… Họ đã cùng phải âm thầm chịu đau khổ như nhau, cùng phải quần quật làm thuê để kiếm sống, cùng phải ra sức đánh hơi nhau… một để báo thù và một để chạy trốn…
   Cuối cùng, cả hai dạt đến một hòn đảo, hòn đảo hẻo lánh nhất trong quần đảo nhỏ nhất của quốc đảo bé nhất. Người cha đã như sờ tay vào kẻ thù…mặc dù y đã khôn ngoan như một con cáo, tìm đến ở nhờ trong một túp lều rách nát của một bà lão mù ăn mày, chỉ đến đêm mới mò ra bến cảng bốc vác thuê  kiếm tiền sinh nhai, ban ngày ngủ vùi âm thầm lẩn trốn. Người cha tìm đến tận nơi, tận túp lều của bà lão ăn mày, rút cái liềm ra và sờ vào cái ổ nằm của tên giết người như vẫn còn hơi ấm…Bà lão chậm rãi nói với ông rằng: Hăn vừa mới chết ngày hôm qua do cảm lạnh, vì tứ cố vô thân nên chính quyền sở tại đã… “Thủy táng” hắn!
   Trống rỗng!

TRỐNG RỖNG 3

Bạn tôi, một họa sỹ cựu chiến binh. Con gái anh cũng theo nghiệp cha, cháu sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Nghị lực, trong sáng và hoài bão lớn lao…Được giữ lại trường giảng dạy với cháu như là một phần thưởng nâng đỡ cháu phấn đấu! Năm ấy, ông trưởng phòng bảo cháu: “Phòng ta có 7 người, trên muốn có điển hình tiên tiến và chọn phòng ta lấy một chiến sỹ thi đua. Phải trẻ. Tôi già rồi, đã có tham khảo mọi ngưỡi thấy chọn cô là hơn cả vì nhiệt tình công tác, vì năng lực chuyên môn, nhưng nguyên tắc là phải bỏ phiếu kín ta nên làm cho đủ thủ tục báo cáo… Sau hôm bỏ phiếu kín, cháu thút thít kể với tôi trước mặt cha mình: “Cháu không nghĩ là cuộc đời lại như thế… Vì tự trọng, cháu không bỏ cho mình rồi, ông trưởng phòng chắc ủng hộ cho cháu vì thành tích chung của phòng và số phiếu thật không ngờ, đó là 1 trên 7 trước cuộc họp mọi người vẫn ôm hôn thắm thiết và ca ngợi cháu mà… Cháu không thể ở lại cái tập thể này được. Trống rỗng, đáng sợ quá!

TRỐNG RỖNG 4.


Thế rồi cháu tôi cạy cục chuyển được sang một Viện nghệ thuật. Bên đó có sẵn cô bạn thân đã là đảng viên, găp nhau, tay bắt mặt mừng… “Cậu yên tâm, với tài năng và ý chí như cậu, có tớ bên cạnh sớm muộn cậu cũng được đứng trong tổ chức, vào rồi thì mới tiến được…Thế rồi, tháng này qua tháng khác, năm nọ kế năm kia… Cô chả thấy chi bộ đả động gì cả mặc dù giấy chuyển sinh hoạt đối tượng từ đơn vị cũ đã nộp đầy đủ cho cô bạn thân… và thỉnh thoảng cô bạn cũng có đưa đẩy: kỳ này đang xét… hoặc… đợt tới trên làm khắt khe lắm… Cho đến một hôm. Bí thư chi bộ tình cờ gặp cô và hỏi thẳng: “Sao cháu phấn đấu tôt như thế mà không thiết tha gì vào Đảng à?”. Cô choáng người, không nói lên lời. Hóa ra, vì nếu giúp cô vào Đảng thì cô bạn thân thiết yêu quí sẽ gánh thêm một vật cản trên bước đường thăng tiến của mình… Cô cháu gái mất hết niềm tin vào cuộc sống… Ngay sau đó, lại tìm cách “di trú” một lần nữa, lần này vào tuốt thành phố Hồ Chí Minh… Chả biết rồi cháu tôi còn phải di trú bao nhiêu lần nữa trong cuộc đời này? Tôi thì thấy trống rỗng hoàn toàn…Nhưng hay nhất là sau khi nghe tôi kể lại chuyện này thì Trà, một học sinh của tôi, một thanh niên mạnh mẽ, cười sảng khoái và khỏe  khoắn nói rằng:  Lẽ ra chị ấy chả việc gì phải đi đâu cả, dưới cái Gầm Trời này thì ở đâu cũng thế thôi, khác nhau chỉ dưới hình thức này, khác mà thôi… Em thì em sẽ trụ lại, đánh đến cùng... Chả lẽ mình chân chính ngay thẳng lại sợ đứa tiểu nhân à?

TRỐNG RỖNG 5

Trên đây, tôi đã điểm qua một vài trống rỗng của bài học lòng người… Nhưng ở đời lại có nhiều cái trống rỗng rất…hay! Tháng tám, mùa thu, tôi đang cày cục minh họa mướt mồ hôi thì máy di động tút tút, báo hiệu một tin nhắn…Đó là tin của Nguyễn thế Tường cựu binh thiết giáp, bạn thân tôi từ  Đồng hới nhắn ra [xin phép Tường đăng nguyên văn]: “Nắng vàng như mật ong trải dài trong buổi sáng đầu thu, gió biển hiu hiu thổi…nằm dài trên phản. ĐẦU ÓC TRỐNG RỖNG. Mẹ kiếp! Khoái thật!”
   
TRỐNG RỖNG 6

Chả biết viết gì nữa! Dường như có một chiếc thuyền nan nhỏ nhẹ, xinh xắn bay qua mặt Người. Trong thuyền rỗng không, trèo lên, bay đi là hết!

   Mùa thu - Nhâm Thìn.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 27 Tháng Chín, 2013, 07:23:12 am
CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH GẶP Ở BINH TRẠM

Trong kiếp trần ai ngắn ngủi , chúng ta gặp vô vàn con người, đủ các sắc tộc, già trẻ gái trai, cả những người ở lực lượng đối phương… được chứng kiến bao cảnh đời trôi nổi phù du. Chính điều đó làm nên sự sinh động của cuộc sống. Trong câu chuyện tôi kể ở đây không nằm ngoài chủ đích đó… Kể ra cũng chả để làm gì ngoài việc ôn lại và chia sẻ những tháng ngày đói khát mà trong sáng, những kỷ niệm khốc liệt, những bờ khe, ngọn suối, cánh rừng, đêm trắng… của một thời hào hùng, mãi mãi không bao giờ trở lại.

Trong cuộc hành quân vào nam ra bắc , tất cả các cán binh quân đội ta những ai có dịp ra Hà Nội, thủ đô của cuộc kháng chiến, cũng đều biết trạm 66. Đó là nơi dừng chân, là nơi tốt nhất để nạp lại năng lượng, sức khỏe, hỏi thăm mọi thông tin về cuộc chiến, là nơi có thể nhờ vả nhiều việc kể cả gửi thư tình… Bởi lẽ, hàng trăm con người, đủ cả cấp bậc, thành phần, đến từ mọi mặt trận, thuộc đủ mọi quân binh chủng… đều dồn về đây. Rồi cũng từ đây, họ lại về thăm lại gia đình trên các miền quê châu thổ, hoặc lại từ đây, họ sẽ vào lại chiến trường B, C, K…Tôi đã gặp anh tại đây, binh trạm 66. Khi tôi cùng đoàn công tác binh chủng vào lại chiến trường, còn anh thì vừa từ chiến trường ra.

Lúc tôi để chiếc ba lô lên chốc cái tủ con đầu giường, thì giường bên đã có người nằm. Anh ta đang hí hoáy vẽ gì đó trên trang đầu của một cuốn sổ tay mới tinh. Tôi liếc nhìn, hai con bồ câu hôn nhau lồng trong một trái tim màu hồng... Nét vẽ thiện nghệ, cái bút chì đầu xanh đầu đỏ được anh ta xoay đảo liên tục. Lát sau, anh dừng bút. Nhìn thấy cái kèn Armônica tôi dắt ở con cóc lộ ra, mắt anh sáng lên, bắt chuyện liền, anh hỏi tôi: Chú sắp vô chiến trường à? Vùng nào vậy?... (Tôi tức cười biết ngay tay này là lính sinh viên ở một trường đại học nào đó)… Bạn hãy nghe tôi dài dòng một chút. Thoạt kỳ thủy là ở lớp tôi, cái lớp Văn hóa quần chúng tập trung đủ thành phần, đủ lứa tuổi, trong đó có anh Vân Hải, chính anh khởi xướng gọi mọi người là “chú” xưng “cháu”, và tất nhiên mọi người cũng gọi nhau là chú và xưng cháu … Dân làng nơi Trường sơ tán mới đầu tưởng vài sinh viên có họ với nhau nhưng về sau tá hỏa cả lên vì cả trường gọi nhau như thế… cứ loạn cả lên. Gìa trẻ lớn bé tất cả đều là chú mà tất cả đều là cháu. Đến cuối 1971, đợt tổng động viên, sinh viên các trường ầm ầm nhập ngũ. Đợt tôi đi có 9 lính vào cùng tiểu đội…Tiểu đội trưởng Khiết sau một hôm phát hoảng vì lẽ ra gọi nhau bằng đồng chí thì 9 lính toàn chú chú cháu cháu. Mà cũng không đem ra đại đội kiểm điểm được vì quân lệnh không cấm gọi nhau bằng chú cháu… Chỉ có bò ra cười. Thế rồi “dịch” đó lan ra đại đội, ra tiểu đoàn, ra sư đoàn…và không ai còn biết nguồn gốc hai từ chú cháu đẻ ra từ đâu nữa…Trong chiến dịch Quảng Trị 1972 các bọ, các mạ nơi các sư đoàn sinh viên đóng quân phải nói: “Quân giải phóng họ hàng đông hè, chả trách thương yêu đùm bọc nhau, mà sao toàn chú với cháu hè, không thấy bác hay anh em hè?”. Hôm nọ đọc báo Văn nghệ Trẻ có đăng bài “Một giờ trước và sau khi ký hiệp định Pa ri ” của nhà văn Nguyễn Thế Tường, lính xe tăng, nguyên là sinh viên đại học tổng hợp văn nhập ngũ, kể về trận đấu tăng ở Cửa Việt mà anh tham gia. Tôi xúc động khi đọc đến đoạn khi Tường sờ lên đầu thấy ướt sũng như ngày bé tắm mưa, hóa ra đầu đầy máu, lại xúc động hơn khi trưởng xe Hoa Xuân Toàn gọi: “Chú ơi, ra đi, xe trúng đạn rồi, để cháu đưa chú ra”…Thế đấy! Chuyện tôi kể có toàn thể dân làng vùng Hiệp Hòa (Hà Bắc) cũ, nơi trường sơ tán. Có 9 lính nhập ngũ cùng một ngày và chắc chắn cả chú Vân Hải làm chứng!

Bây giờ trở lại với người lính cùng phòng ở trạm 66. Thấy anh hỏi, tôi giật mình vì cái từ “chú “ đã chạy đến tận đây: “Sao chú biết cháu sắp vô ?”, “Thì nhìn hai cái ba lô biết liền à”. Tôi ngó xuống, cái ba lô của anh kế bên cháy xém, thủng lỗ chỗ, một cái chăn dù biệt động Mỹ buộc phía nắp con cóc, một cái dù pháo sáng trắng nõn lòi ra ngoài, một cái bi đông Mỹ treo toòng teng … Anh tiếp: “Nếu chú vô Quảng Trị, Do Linh, xóm 6… cho cháu gửi cuốn sổ tay này cho người thân?” Chà chà, đạn bom tan tác mà vẫn có ngay người thân rồi…Tôi hỏi: “O tên chi?” Anh trả lời: “Tên Đóa!” Tôi bảo: “Được! Chú tìm đúng người rồi đó, kỳ này cháu vào từ Do Linh tới A Sầu, nghĩa là nơi nào có bộ đội xe tăng thì cháu tới… Còn chú ra bắc nghỉ phép à? Lâu không?” Anh chần chừ: “Chuyện cháu dài lắm, chú thích thì cháu kể chú nghe”. Và sau đây là chuyện kể của người lính gặp ở binh trạm 66: “Cháu tên Lê, vốn là lính sinh viên Trường Mỹ Thuật Việt nam, nhập ngũ tháng 1 năm 1972. Sau hai tháng lăn lê bò toài ở Bỉm Sơn trong đội ngũ sư đoàn 338 quân tăng cường của Quân khu Thủ đô, chúng cháu bắt đầu rục rịch vô chiến trường hoặc phân về các binh chủng kỹ thuật. Khi đó trong sư đoàn có nhiều thầy giáo vừa rời bục giảng ở các trường đại học, nhiều nghiên cứu sinh vừa tốt nghiệp từ các nước Đông Âu về, và đặc biệt là rất nhiều sinh viên từ năm thứ nhất tới năm thứ năm đang làm bài thi tốt nghiệp, cháu ở trường hợp cuối cùng này…Tất cả mang hàm binh nhì. Rồi một số vào quân chủng Phòng không - Không quân, một số vào binh chủng Thông Tin… Riêng cháu cùng các thầy giáo và các nghiên cứu sinh vào thẳng Quảng Trị! Người ta bảo để các trí thức có dịp rèn luyện gian khổ và biết mùi bom đạn… Sau ba tháng cày lên quật xuống trong chiến dịch, đơn vị bị mấy trận B52, Quảng Trị bắt đầu “nóng” lên, bom pháo cũng tập trung dập vào khu vực Thành Cổ, buổi sáng nhận lệnh chuẩn bị vượt sông Thạch Hãn vàoThành, thì buổi chiều, lúc chúng tôi sắp bàn giao toàn bộ quân trang, từ cái áo cái quần, đến túi thêu của người thân đựng bàn chải đánh răng, đến quyển nhật ký với những lá thư nhà cho quân pháp… Chỉ còn độc cái quần cộc, một phao tự tạo và khẩu AK để qua sông thôi (Các lính còn đùa nhau bảo mặc thế này, chết xuống âm phủ chả lẽ cởi trần quần đùi yết kiến Diêm Vương…)…Thì Dương, nghiên cứu sinh từ bắc Triều Tiên về hớt hải chạy vào: Các chú ơi! Không xong rồi! Hình như lại phải chuyển quân, vừa thấy phái viên trên xuống… Chính uỷ nói, lát sẽ phổ biến… Lát sau, chính trị viên đại đội lệnh tập trung toàn bộ các thầy giáo, nghiên cứu sinh, sinh viên năm cuối các trường lại tạm thời không xuất kích, chờ lệnh mới…Với tôi, một đảng viên trẻ được kết nạp trong chiến hào thì đằng nào cũng thế thôi, số phận hoàn toàn không do mình định đoạt, nhanh quá cũng chết, chậm quá cũng chết, biết quá… cũng chết! Cuộc sống do một ma lực bí ẩn, vô hình điều khiển, hãy cứ thả mình trôi theo dòng thời gian, sống giờ nào biết giờ đó… Bởi vì ngay đêm đó, khi mà lũ bạn tôi trầm mình xuống dòng Thạch Hãn lạnh giá dưới làn hỏa pháo thì chúng tôi được lệnh quay trở lại phía bắc. Người ta giải thích ngắn gọn giống như lúc vào chiến trường là: Để bảo vệ “chất xám” của quân đội! (nói thế nào cũng được). Chỉ khác là khi ra, phải kết hợp một số công tác khác, một số anh đưa thương binh về tuyến sau bàn giao cho các trạm phẫu tiền phương, một số chuyển những tài liệu lấy được từ căn cứ địch về Bộ Tổng tham mưu, riêng tôi được giao một nhiệm vụ oái oăm, cùng một thiếu úy áp giải mười hai lính ngụy bị bắt, vượt qua sông Bến Hải, bàn giao cho Ban chỉ huy mặt trận tại Hồ Xá, Vĩnh Linh… Mới đầu tôi định kháng lệnh, nhưng thằng Dương, cái thằng qua trăm ngày nắng lửa, bị bom vùi mấy lần mà vẫn trắng hồng như con gái, bảo tôi: Chú nhận đi, ngôi sao đỏ thì phải gương mẫu chứ, vả lại qua sông bàn giao là xong, ra bắc thênh thênh! Còn gặp sự cố thì cứ bắn bỏ, toàn ác ôn… anh em mình bị bắt, tụi nó đánh gãy xương sống, có ai về được đâu! Thế là tôi nhận lời.

Viên thiếu úy, cấp trên trực tiếp và tạm thời của tôi tên Thiện, tên như lòng, anh lành và từ tâm, hơi chậm! Anh là biểu tượng của người nông dân bắc bộ, vô cùng ít nói, tôi lại hơi nhanh, láu táu hỏi thăm gia cảnh, thấy mặt anh sắt lại, lảng đi không trả lời… mãi mới nói: Chết hết rồi! Tôi sợ, không dám đụng đến vụ đó nữa! Bọn tù binh phần lớn là sỹ quan, bề ngoài tỏ ra nhã nhặn, một điều ông giải phóng, hai điều ông giải phóng, nhưng nhìn những gương mặt lỳ lợm của chúng và những ánh mắt sắc lạnh, tôi biết không đơn giản…Chúng rất kỵ anh Thiện, dường như anh chính là người bóc gan bóc ruột chúng ra vậy. Có lần anh nói với tôi: Nếu không phải vì nhiệm vụ tối cao của mặt trận, vì lợi ích và sự sống còn của chiến dịch… lũ này phải bắn bỏ hết. Tôi biết anh không nông cạn thế, có lẽ cái chết của cả nhà, sự mất mát của dân tộc những nơi anh đã qua… đã làm anh nghĩ thế. Quãng đường đi từ nơi xuất phát đến chỗ bàn giao không đầy trăm cây số mà tụi tôi đi mất mấy ngày. Leo đèo lội suối, băng rừng, bọn tù binh không quen gian khổ, trong bọn lại có thằng bị thương làm tốc độ hành quân rất chậm. Ngày thứ ba, lúc xế chiều, cả đoàn đến quãng Dốc Miếu, sắp vượt qua một con suối cạn, thì nghe ù ù tiếng B52… Đứng trước cái chết, bản năng con người lộ rõ, tôi nhìn anh Thiện, thấy anh vừa canh chừng bọn tù binh, vừa đảo mắt tìm nơi ẩn nấp… Anh quát: Tất cả chạy sang phải bờ suối, tản ra… Nhưng bọn tù binh đã mất tinh thần (chắc trước đó chúng được tuyên truyền về sức mạnh của pháo đài bay ) vài thằng hoảng loạn vùng chạy tứ tán, những đứa còn lại gào to rồi nằm mọp, có thằng vùng chạy ngược trở lại. Tình thế cực kỳ nguy cấp. Tôi đã chứng kiến hôm đi anh Thiện phải ký vào giấy cam kết bàn giao đủ quân số tù binh cho tuyến sau. Đồng chí chỉ huy mặt trận đã nhấn mạnh đây là ác ôn, rất cần khai thác để phục vụ quân báo… Giờ đây, trong tiếng nổ đinh tai, mảnh bom bay xé gió, khói lửa mịt mù, bọn tù binh chạy tung tóe. Vài tên lao về phía tả ngạn con suối, nơi có những tảng đá lớn tiếp nối với những bụi cây lúp xúp chân đồi, địa thế đó vừa tránh được bom, vừa thoát khỏi sự kiểm soát của chúng tôi, chỉ cần vọt qua quả đồi thấp là thoát…Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, anh Thiện lao như bay về bờ trái, nơi tiếp giáp giữa những tảng đá và bụi cây, vừa chạy vừa quát lớn: Đứng lại! không tao bắn!...Tiếng anh chìm trong tiếng bom nổ. Mặc! Vài tên đã lao thục mạng lên bờ. Anh Thiện lia một băng vào bụi cây lúp xúp, quay lại tôi và quát: Lê! Bắn đi chứ! Tôi bóp cò như một quán tính, đạn bay ràn rạt qua đầu bọn tù binh… Chính tiếng AK đã hãm bọn ngụy lại, máu loang trên dòng suối cạn… Bom tan. Chúng tôi điểm lại quân số, ba thằng chết trong bụi lúp xúp, năm thằng bị thương… Nhìn anh thất thểu xách khẩu AK đi sau lũ tù binh vừa được băng bó. Tôi thấy thương anh và cực cho cả chính mình. Chiến tranh giống như một liều thuốc thử lòng dũng cảm, độ can trường, quan điểm sống, lòng yêu nước… và cả tình yêu nữa! Đôi khi đẩy ta vào tình thế tiến thoái lưỡng nan như chúng tôi bây giờ! Để chạy thoát một tên tù binh sẽ kỷ luật, thậm chí ra tòa án binh vì hậu quả sẽ khôn lường khi hắn đã đi qua bao nhiêu là trọng điểm của quân ta. Nhưng bắn chết một tên cũng là kỷ luật vì vi phạm chính sách tù hàng binh, án sẽ là rất nặng. Khi những tia sáng cuối cùng của hoàng hôn lặn xuống cùng những làn khói sót lại của đợt bom bay lên, anh ghé tai tôi thì thầm: Để tao nhận hết, chú mày còn trẻ, lại chưa “chính thức”, có học vấn, tương lai còn dài… Mặc cho tôi phản đối muốn chia lửa cùng an ! Và thế là hôm nay quân pháp đưa chúng tôi ra đến đây, ngày mai đã “hầu tòa” rồi… chuyện của tôi chỉ có thế! Đột ngột anh lại chú cháu, chú nhớ đưa tận tay người thân của cháu nhé!

Mờ sáng , chúng tôi lên xe vào chiến trường. Tôi chỉ biết động viên anh là trong chiến tranh những chuyện như thế này chắc sẽ được xử nhẹ thôi, và hội đồng xét xử chắc cũng thấy đó là một tình huống bất khả kháng! Tôi mong có ngày chúng ta sẽ gặp lại nhau.

(còn nữa)


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 27 Tháng Chín, 2013, 07:24:35 am

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH GẶP Ở BINH TRẠM
(tiếp)

Những tháng năm đằng đẵng chiến tranh rồi cũng đến ngày kết thúc. Tiếp theo là những tháng năm đằng đẵng của… đói! Chưa bao giờ dân tộc ta đói như thế. Người ta phải làm tất cả chỉ để lo cho… khỏi đói! Như trong một tản văn xa xưa tôi từng viết: “Thoát chết trong chiến tranh không dễ, nhưng thoát chết trong hòa bình còn khó hơn nhiều”. Tôi vẫn khoác bộ quân phục, chỉ khác là với cương vị một đại úy phụ trách một đơn vị biểu diễn. Với cương vị này, trong những đợt vào nam ra bắc, sau những hát hò, tung cờ vẫy hoa hát mừng giải phóng, đất nước trọn niềm vui… là chúng tôi tranh thủ đánh những chuyến hàng để… “cải thiện” tình hình kinh tế gia đình. Lần này, sau đợt biểu diễn, tôi ra bắc bằng tàu hỏa vì phải “ đánh ” vài con Honda theo tàu. Toa tàu sực mùi mồ hôi, hành khách nằm ngồi chật ních, có người còn mắc võng chăng ngang những hàng ghế… Hàng hóa chồng chất. Đúng là cái thời “Ra bắc nhận họ, vào nam nhận hàng ”. Sát chỗ tôi ngồi là phòng vệ sinh sặc mùi uế khí. Tàu đến ga Gà, bỗng những bao tải quăng lên rào rào, rồi vặc nhau, rồi có tiếng quát tháo, chửi thề… Ngó ra đầu toa, một bảo vệ đường sắt đang túm ngực một người đàn ông, anh ta mặc bộ quân phục cũ, vai khoác cái ba lô lộn ngược ra làm túi, đang cố lao lên tàu dù chỉ được ngồi trên cái móc xích nối các toa tàu, giữa các bao tải của mình…Trong khoảnh khắc tôi bật lên… Lê! Và lao ra cửa. Ô! Chú! Sao chú lại ở đây… Lê dường như quên phắt người bảo vệ. Có ai ngờ cái từ hài hước trong chiến tranh lại có ích trong lúc này. Bộ quân phục đại úy cùng cái từ chú cháu đã làm dịu cơn giận của người bảo vệ. Anh ta hỏi: Cháu của đồng chí à? Tôi bảo: Vâng! Xin đồng chí cho chú ấy ghé nhờ chút, lát tôi xin hậu tạ! Hai từ hậu tạ nặng như búa tạ đã kết thúc cuộc đấu! Chúng tôi ngồi ra đầu toa, nơi có hai cái móc xích chốt hai toa với nhau. Tàu lắc dữ dội, sắp qua hàng rào điện tử Măc na ma ra năm xưa… Tàu chạy qua những con suối cạn, những bụi cây lúp xúp, những tảng đá … Ký ức bật dậy trong tôi! Tôi hỏi Lê: Rồi vụ án tù binh kết thúc thế nào? Lê cười buồn: Tưởng rồi cũng như chú nói thôi, ai dè phức tạp hơn nhiều, trong chiến tranh cũng như hòa bình, hóa ra chính những kẻ nhàn rỗi chốn hậu phương lại quyết định số phận người giơ ngực hứng đạn nơi chiến trường. Thẩm phán, một trung tá dốt nát chưa hề biết mùi bom đạn kiên quyết bắt cả hai chịu kỷ luật nặng. Anh Thiện bị hạ một sao, khai trừ lưu Đảng. Cháu may được chính ủy, một người rất mê văn nghệ bảo vệ nên cuối cùng thoát… Sáu tháng sau, chi bộ mời lên nói sắp được “chính thức” và cho ba ngày phép. Khi cháu báo cáo lại với cha cháu, thì bất ngờ, ông cụ kéo ra một góc, thì thầm (dù lúc đó xung quanh không có ai): Liệu mà từ chối đi, làm chuyên môn thôi. Cháu không biết vì sao cụ lại chỉ thị như thế? Phải chăng vụ Nhân văn Giai phẩm, số phận những văn nghệ sỹ bạn cụ bị “hành quyết”… năm xưa làm cụ ngộ ra điều gì? Hay cụ thấy gì ở cái cơ chế đương thời này? Hay là nhân tình thế thái đổi thay khi đồng tiền được lên ngôi? Cái gì đã làm chấn động một cán bộ cách mạng hoạt động từ tiền khởi nghĩa, đang là ủy viên Đảng đoàn Bộ văn hóa… Cháu cũng không biết nữa, chỉ biết bố bảo thì phải nghe. Tất nhiên cháu chả dại gì nói là bố bảo thế. Cháu báo cáo với chi bộ là tôi tự thấy mình còn quá non yếu cần thử thách thêm, bí thư chi bộ rất thật, tin ngay và lại đưa cháu vào chiến trường lần thứ hai, thế là cháu lại được vào vùng đất mình gắn bó… Hết chiến tranh, cháu xin ra quân, rồi lấy vợ, rồi đẻ con, rồi đói, nhưng khủng khiếp vẫn là phải chứng kiến những bất công … Tôi lại hỏi: Sau cuộc chiến, tiếc gì nhất? Lê bảo: Chả tiếc gì! Sự nghiệp, tuổi trẻ còn chả coi ra gì nữa là. Lúc nhà không còn gì ăn, cháu đứng dạng chân giữa trời, gầm lên, ném tất huy chương vào thùng rác, bỏ luôn cơ quan, rồi chạy hàng, sống đời tự do, không ngờ gặp chú ở đây! Nếu có tiếc, chỉ tiếc cuốn sổ tay trong đó có hàng trăm ký họa, những gương mặt cuộc đời từng gặp, những địa danh sống chết từng qua, mà trong cơn giận nhất thời mất trí đã quẳng đi. Tôi bảo: Trái đất tuy bao la và mênh mông thật đấy, nhưng cũng không lớn đến nỗi như chú cháu ta tưởng đâu, mà chú có mất như thế mới biết quí những giá trị… chưa kịp vứt!

Đoàn tàu chạytrong đêm. Lê đã ngủ, ngực phanh trần trong gió, nhìn anh, tôi nhớ đến anh Thiện, lại nghĩ đến kiếp người… Sau chiến tranh, những người lính như anh chắc lại về với luống cày thôi! Có lần trò chuyện với một nhà ngoại cảm về kiếp. Ông khẳng định là có kiếp, chúng ta sống trên đời này như là để trả nợ cho kiếp trước, kể cả kiếp vợ chồng! Thế mới gọi là duyên nợ. Mọi sự giằng dịt lấy nhau, báo ân báo oán theo luật “nợ đời”. Tôi hỏi thế thì có sự liên quan gì giữa Lê và tôi ? Giữa Lê và anh Thiện? Giữa anh Thiện và những người lính đối phương? Giữa các anh và viên trung tá thẩm phán?... Nhà ngoại cảm bảo có liên quan hết, nhưng dưới cõi âm, người ta từ bi hỷ xả với nhau hơn chứ không tàn độc như trên này! Ông còn dặn tôi là đừng có ăn thịt chó nhé, chú có thấy cái tượng Địa Tạng Vương cưỡi con gì không? Đó là con chó ngao… Sau này, lúc xuống âm ty con chó ngửi thấy mùi người ăn thịt chó, nó sẽ sủa ầm lên và đừng hòng mà chết thanh thản được, nó không cho vào đâu! Theo ông, cái từ “tiền oan nghiệp chướng” là rất đúng! Và cũng theo ông, thế giới có nhiều chủ thuyết, nhiều đạo, nhưng ưu việt nhất vẫn là đạo Phật! Tinh hoa của đạo Phật ngắn gọn là diệt lòng tham, mà lòng tham lại là cội nguồn của tội ác, chủ thuyết của các đạo khác nặng nề lắm, thủ tục thì rắc rối, rườm rà gây phiền toái mệt mỏi đời thường, thậm chí chết rồi mà vẫn gây phiền toái cho người sống. Tôi bảo diệt lòng tham khó lắm, và đọc cho ông nghe bài thơ của nhà thơ Triều Dương bạn tôi (đã quá cố) làm khi vừa qua cơn trọng bệnh ngày nào: Phút cận kề cái chết/ Thấy đời là vô thường/ Lợi quyền là vô nghĩa/ Danh vọng là tai ương/ Vưà bước qua cõi chết/ Về lại giữa đời thường/ Lại đắm vào danh vọng/ Lại chìm vào tai ương! Ông cười hiền: Thế thì mới phải phấn đấu chứ, đạo Phật chân chính chỉ cần Tâm và Ý là đủ. Khi ta nghĩ về Phật, về cha mẹ, thì ngay lập tức Phật và cha mẹ đã ở bên ta. Cần gì vàng mã cầu kỳ, chú phải nhớ rằng người đã khuất tồn tại dưới dạng “khí”. Đốt lửa cháy phừng phừng lên thì khí nào trụ nổi? Tôi thắc mắc với ông về tích tại sao trong Tây du ký lúc đầu hai đại phật Anan và Cadiếp lại phát những cuốn kinh không chữ cho thầy trò Đường Tăng, chỉ đến khi nhận được chiếc bát tộ vàng mới giao kinh thật? Ông nói đó chính là chất “đời” trong đạo. Vì thế các sư vẫn phải đi khất thực, đạo và đời hòa vào nhau gjữ sự cân bằng cho cái Thiện trong cõi thế… Nhưng rõ ràng, nếu chủ thuyết nhà Phật được truyền bá thì chắc chắn sẽ nhiều hòa bình hơn! Muốn thế, mỗi người đều phải cố gắng cho cái Thiện một tý. Đạo Phật ở Việt Nam ta tiêu biểu là Thiền phái Trúc Lâm Yên tử mà Phật Hoàng Trần Nhân tông là đại diện, nó vừa uyên thâm, vừa giản dị thân thiện! Không huyền bí phức tạp như của Ấn Độ và cũng không to lớn rườm rà như ở Trung Quốc… Lúc bình thời, thanh thản tìm vui nơi núi thẳm, khi nước nhà bị ngoại xâm thì xuất chinh đánh giặc cứu nước… như Không !
Và tôi tin ông!

Rằm tháng giêng - Qúy Tỵ


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 28 Tháng Chín, 2013, 09:06:54 am

TỐT MÃ DẺ CÙI

Câu ngạn ngữ này lọt lòng đã được nghe! Thực tình ngày bé chả hiểu làm sao tốt mã lại dẻ cùi? Mãi đến khi buông bỏ chốn quan trường, lao vào cái thú chơi chim cảnh mới hiểu rõ là vì sao!   

Ấy là vào quãng 1992, thấy tôi suốt ngày vẽ còng lưng, anh Bái (mộtnhà sưu tập tranh, đồ cổ nổi tiếng, tay chơi lọc lõi Hà Thành xưa) tặng cho một con Cu gáy. Thoạt nhìn đã mê ngay, nó mộc mạc, tầm cỡ vừa phải, chuyển sắc nâu cực tinh tế, nhất là lại nằm trong cái lồng bé xíu mà gọng làm bằng cả một khúc gộc tre, nắp che lồng là một cành móc gai ngoằng nghèo như tranh trừu tượng, ngoài lại phủ tý vải đỏ, khi gù xả một tràng dài “cúc cù cu, cúc cù cu, cúc cù cu…” Tiếng như đồng quê vẫy gọi, làm ta nhớ khói lam chiều, cây đa bến nước… Anh Bái bảo con này là Thổ Bầu, chưa phải là nhất, sau này phải kiếm thêm con Kim, và nhất là có được con Thổ Đồng mới đủ bộ! Nghe tin thằng em chơi chim, ông anh vợ dưới Nam Định xách lên cho con Họa Mi, quả là hay! Ông anh là võ sĩ quyền Anh kiêm tài xế lang bạt kỳ hồ, chịu chơi lắm. Lại còn cho thêm cây gỗ Lũa để treo lồng chim… Chơi thì phải chăm! Thế là phải tập hót giả tiếng chim mái ve chim đực để kích cho nó hót, rồi sau lại đi mua một con Họa mi mái ghép đôi với con Mi chiến này, cái giống Họa mi chung tình, khi đã vào đôi, chỉ con mái đó kích hót, con Mi chiến sẽ đánh tới cùng, chết thôi… Có chim này rồi lại muốn có con khác cho phong phú, tiếng hót thay đổi đi, thế là mò đến Cường Vân đồn( một tay chơi chim cự phách thời bấy giờ nhà ở cảng Vân Đồn) nài nỉ mãi mới gạ mua được con Khiếu Bạc má, lông đen nhánh, mỏ vàng, hai bên má trắng toát (vì mới chơi ai mách gì cũng nghe, nên tôi mỗi ngày cho Khiếu ta một viên dầu cá) . Thời gian đầu hót choang choác, về sau béo quay, không hót nữa (chắc bị Gút). Càng chơi càng ham, nghe đâu có giống chim lạ là háo hức tìm đến bằng được, ông bạn Huần (một thủy thủ tàu đường sông, từng lăn lộn mọi miền đất nước hai tư năm) mách cho một con Chích chòe Cau( toàn thân đen tuyền, bụng trắng toát, đặc biệt chỉ bé bằng quả cau thôi)…Rồi sau tôi lại mầy mò lên chợ Đồng xuân, nghe nói đây có nguồn chim từ Lạng Sơn về, lớ ngớ thế  nào tăm được con Bông lau( một loại Chào mào chỉ có 2 màu đen và xám, đuôi phất phơ như bông lau, tiếng hót hoang dại ghê hồn)…Cho vào cái lồng tre không chau chuốt còn nguyên cả mấu , mắt tre do một em dân tộc “đẽo”, hợp vô cùng.

Sống giữa một bầy “người” đa thanh đa sắc như thế, thế là sinh chuyện phải  chim nào lồng ấy, lồng nào coóng ấy, coóng nào cầu ấy, mỗi lồng một kiểu áo lồng khác nhau… Chích chòe Lửa thì lồng đen coóng bạc, Cu gáy thì phải coóng thủy tinh (vì lồng chật chim dễ đạp đổ coóng nước) cầu bằng cành Gạo xù xì… Họa mi thì có đôi coóng gốm long phượng Mãn Thanh, kiểu dáng kỳ quái, bản thân cái coóng đã là một họa phẩm kỳ tài vàng xanh đỏ tía rực rỡ, tỉa tót chi tiết công phu, và nhất thiết áo choàng phải bằng sa tanh đỏ thắm (Họa mi chuộng sắc đỏ, gặp màu đỏ sẽ hót mau hơn). Nhắc đến lồng, tôi không thể không kể vài chuyện sau:

Quãng năm 1995, nhân về Thành Nam chơi, ngẫu nhiên qua một con phố cổ, trong gió mùa se lạnh, một tà áo cánh nâu mỏng nhẹ lướt qua, dẫn vào một con ngõ hẹp, tường vôi long lở, thốt nhiên thấy một điểm đỏ chát chúa giữa màu xám vụn, một cái lồng chim Họa mi đung đưa trong gió, giật mình tưởng như gặp tiên, trừ hệ thống nan lồng bằng tre cật đã ngả màu vàng  suộm theo thời gian, còn lại thì từ cái móc lồng đến bộ gọng, đến ba bộ đế chân và bộ gài coóng đều… bằng bạc, được chạm trổ tinh sảo, quí phái. Cái áo lồng bằng lụa tơ tằm thêu mây ngũ sắc phảng phất nhẹ bay nửa như che bộ cửa sơn son thếp vàng, khóa cửa bằng vàng… Gõ cửa hỏi thăm, chủ nhân là một thiếu phụ cao dong dỏng, da trắng , mặt trái xoan, búi tóc to nặng  sau gáy, có đôi mắt biết nói (Tiên thật). Hỏi mua lồng, đồng ý bán, ngặt nỗi mang theo quá ít tiền, chạy vạy bà con thân quen không được, đành hẹn chủ nhân mai quay lại… Về ngay Hà nội lấy tiền, hôm sau quay lại, cảnh cũ vẫn đấy mà người xưa không còn… Hỏi những người hàng xóm, họ bảo không thấy thiếu phụ nào cả, mà cũng không biết cái lồng chim nào… Mấy hôm sau rình rập phiên chợ Viềng, hy vọng gặp lại người cõi khác nhưng bặt vô âm tín… Lòng tiếc mãi không thôi. Năm sau, nghe nói họa sỹ Vương Tử Lâm đang có con Sơn ca tuyệt chiêu nên mò đến thăm (Hà Nội bấy giờ có phong trào chơi Sơn ca, còn Chào mào, chim Khuyên bị coi là thứ cấp). Qủa danh bất hư truyền, chẳng sắc màu rực rỡ, chẳng dáng vẻ oai phong, trông bề ngoài như con Chiền chiện vàng vàng nâu nâu, cựa dài 6 cm, ngực vuông! Trên chỏm đầu vểnh tý mào, mà tiếng hót mê ly sầu thảm, họ Vương mới đầu nhất định không bán, về sau thấy lòng yêu chim tận tụy cộng với ý chí chiếm đoạt kiên cường của họ Lê nên phải đầu hàng… Khỏi nói sau khi đem về nhà, nằm cạnh chim, ngủ mà vẫn mơ thấy chim… Cái lồng Sơn ca của Vương tiên sinh không phải là xoàng, cao mét hai rộng ba mươi phân, giữa có cây nấm gỗ thị, cát vàng vừa đủ…Phủ lãnh Mỹ A…Bỗng một ngày, nghe nói ở Hồng Bàng, Hải Phòng có cha con ông đại tá quân đội về hưu chuyên làm lồng Sơn ca cao cấp, lại lặn lội, mò đến xem, quả tiếng đồn chẳng ngoa, một cái lồng chim cao ba mét rưỡi, rộng sáu mươi phân, theo lời giới thiệu của vị đại tá già thì cái lồng phải làm trong ba tháng và tịnh không có một cái nan nào phải nối, cái lồng cao thế mà lắc vào chắc như bàn thạch. Thỉnh được cái lồng “khủng” về, lại được bác đại tá biếu thêm túi cát trắng Cửa Việt (thứ cát có vừa đủ độ mặn làm tốt cho sức khỏe  Sơn ca khi dẫm lên)… Vừa chuyển Ông chúa Sơn ca sang lồng mới thì chuông báo có khách, đó là ông Vượng - Việt kiều ở Mỹ về sưu tầm tranh. Vừa thấy khách quí, con Sơn ca cất cánh bay lên từ từ như một chiếc trực thăng mini, vừa bay vừa hót réo rắt, ông Vượng sửng sốt vội rút cái Ca me ra ra quay, con chim cứ rè rè lưng chừng lồng, lúc lên lúc xuống, mãi mười lăm phút sau mới đỗ xuống nấm. Ông Vượng bảo đem về Mỹ phát lại cho bà con xem chắc lạ lắm, xứ Việt ta sao mà lắm Kỳ hoa, Dị thảo, Quái thạch, Biệt điểu thế… Nghe tin họa sỹ Lê trí Dũng có con Sơn ca Chúa, danh hài Hồng Kỳ (Nhà hát Tuổi Trẻ) là một tay chơi chim nổi tiếng Hà thành, nhất là Sơn ca, vội vàng đến thăm, kinh hãi luôn!

Ngày tháng thoi đưa, tiếng lành đồn xa… Anh Mạnh Phúc (nhà sưu tầm tranh) nghe tin đem tặng một con Bạch Yến, con chim mỏ đỏ chót, toàn thân trắng toát, chân vàng ươm, chỉ bé bằng ngón tay cái, hót như catsét thì miễn bàn, nhưng cái lồng cũng thật kỳ tài, nó bé hơn cả cái ấm giỏ, bộ chân ba mảnh tre cao mười cm mà chạm nổi tinh vi kỹ càng chi tiết toàn bộ bức tranh Đám cưới Chuột. Họa sỹ Mai Long đến chơi, nắng vừa lên, pha một ấm trà, ngồi đàm đạo trên bộ bàn ghế gỗ lũa dưới bóng cây Vọng Cách thế huyền, bên bộ ấm Gan Gà đối ẩm, đặt trên bàn cái lồng Đám cưới Chuột, con chim trắng nhỏ xíu giương cổ hót chào khách quí, thật không thể nói gì hơn! Sau này, tôi còn tăm thêm bốn chú nữa là Vân Yến (lông như mây), Hoàng Yến (lông vàng như tơ),Thanh Yến (xanh nõn chuối), Thạch Yến (lông xám như đá) thế là đủ Ngũ Hổ đại tướng quân. Nhưng từ đáy lòng, con cu gáy Thổ Đồng, con chim lạ Dẻ Cùi… cùng bao giống chim kỳ lạ xứ Việt còn ám ảnh tôi lắm, không lúc nào nguôi…

Cho đến một ngày, ngẫu nhiên gặp Tuấn, một tay chơi chim, kiêm săn chim, sau điếu thuốc, y nói ngày xưa y cũng từng có một con Thổ Đồng, sau túng tiền phải bán đi, tiếc tới giờ, y rủ tôi vào Kỳ Anh (Hà Tĩnh) săn chim, bọn tôi mang bi đông nước, bánh mì, súng săn nữa, rời quốc lộ chừng năm km, vào một làng nhỏ trên đồi, gửi ba lô đồ đạc ở nhà một lão nông, lạ cái là lão nông nhưng hình thức bên ngoài hệt một nhà giáo chốn thị thành. Bác gái còn để tóc bồng như nhân vật trong tranh của họa sỹ Tô Ngọc Vân. Lũ trẻ con xinh xắn nói giọng xứ Nghệ đặc… Hỏi ra mới biết gia đình gốc Hải Dương, cụ ông và cụ bà được phân công công tác vào Hà Tĩnh, chiến tranh bùng nổ, cơ quan đi sơ tán lên đây, hòa bình rồi thấy cảnh đẹp, người thương chất phác cần cù…Thế là ở lại luôn. Bọn tôi lấy bánh trái cho lũ trẻ ăn rồi từ biệt gia chủ vào rừng bắn chim, suốt một buổi leo đèo lội suối được dăm con cò, con le, vài con vịt trời… xách về cho gia chủ làm thịt. Tuấn bảo cái thú của đi săn là khám phá, không hẳn là kết quả … Nhìn lũ trẻ con háo hức bên nồi thịt bọn tôi cũng vui lây… Bỗng Tuấn tái hẳn mặt lại, vì như từ dưới gầm giường, như từ ngay dưới mái tranh, như từ bụi tre sau nhà, như từ tít tận cánh đồng ngoài kia, như từ ngay trên đỉnh đầu mình… một tiếng chim Cu gáy vang rền rung lên tựa tiếng chuông đồng, tựa tiếng sấm… Tôi vừa suýt thốt lên: Thổ Đồng!… Thì Tuấn bấm tôi một cái đau điếng…Vẻ ngây ngô, Tuấn làm như không để ý, sau hồi “đổ chuông” rền vang một chặp của Cu gáy, Tuấn nhẹ nhàng hỏi ông lão: Dạ con chim đó cụ mua hay bẫy được đó ạ? - Tôi đánh bẫy được đó!... Ông cụ trả lời. Suốt buổi tôi Tuấn không đả động đến con chim nữa mà chỉ hết gắp thịt cho ông lão lại chia thịt cho lũ trẻ… Sáng hôm sau, lúc thu dọn đồ đạc để về (sau khi đã chia hết bánh kẹo cho lũ trẻ và tặng ông lão cái áo…) Tuấn mới nhỏ nhẹ: Dạ! Thưa cụ, chúng con ra về không muốn gì ngoài một kỷ niệm, đó là con Cu gáy, khi về mỗi khi nghe nó gáy lại nhớ đến gia đình ta, nhưng chúng con muốn mua chứ không xin cụ, cụ thương chúng con thì để lại cho…? Tôi thấy ông cụ ngần ngừ một lát, mặt sắt lại, lát sau hỏi: Hỏi thiệt! Các chú đủ tiền mua không? Chúng tôi giật mình, không ai nghĩ tới điều này, (Tuấn từng nói đã bán con Thổ Đồng cũ với giá bốn mươi triệu)… Đang định thưa gửi thì ông lão tiếp lời: Nếu các chú không đủ tiền thì không sao, con chim vẫn ở với tôi, nhưng dứt khoát đủ tiền tôi mới bán… Hai thằng đứng như trời trồng, trong túi ngoài tiền mua vé tàu còn vài chục nghìn… Đang định tháo lui rồi tính sau (tức là sẽ lộn trở lại mua bằng được) thì ông lão lẩm nhẩm đếm trên đầu ngón tay rồi nói: Ba lăm nghìn các chú ạ! Đó chính là số tiền thóc tôi nuôi nó từ khi bẫy được, thế thôi! (Số tiền ngày đó tương đương bẩy bát phở)… Chia tay ông lão, tôi và Tuấn không dám chạy, sợ lộ! Mà nếu đi chậm, sợ ông lão thay đổi ý kiến, vì thế hai thằng dám chắc nếu đi thi Ôlimpich về đi bộ nhanh chắc đoạt Huy chương Vàng lắm!

Bây giờ ta quay lại trọng tâm bài viết, đó là chú Dẻ Cùi, ngày đó tôi hay ra Tăng bạt Hổ mua thức ăn cho chim, gần đó có nhiều “thợ săn” đem những chim bẫy được lên Hà nội bán, ngày nọ, thấy trong một cái lồng bằng gỗ hình vuông, có một con chim đẹp tuyệt, to gần bằng con quạ, đầu đen, mỏ đỏ chót,  bụng vàng thư, cánh màu xanh cô ban xen kẽ màu cánh chả, đuôi dài như đuôi phượng hoàng sặc sỡ đủ màu…Tôi hỏi: Con gì vậy? Thợ săn trả lời:  Dẻ Cùi anh ạ! Thế là tôi mua luôn, chả biết hót thế nào, cứ biết đẹp đã, hoa hậu thế, ai mà chả thích… Nhưng rồi, sau cái phút xúc động về bộ xiêm y sặc sỡ xong, là sự mệt mỏi vì nhiều phiền toái, Dẻ Cùi không biết hót chi hết, chỉ kêu kéc kéc đòi ăn, mà y rất phàm ăn, y có một bộ ruột không xoắn ốc, bởi lẽ cho y ăn một quả chuối thì lúc sau y “cho ra” nguyên xi một khối lượng chất thải như thế! Y có thể ăn mọi lúc, bất kỳ thứ gì… đặc biệt y rất thích ăn… cứt chó hay cứt lợn, sau một giờ ăn uống, toàn bộ đáy lồng đã ngập ngụa chất thải… Bạn biết đấy, mọi cái trên đời đều có giới hạn, kể cả sức chịu đựng! Sự kiên cường của tôi được đúng ba ngày! Đến ngày thứ tư, phải ra nói khó với một cửa hàng nhận nuôi giúp, coi như cho không. Hãi đến giờ!

   Thế giới loài chim cũng y như thế giới loài người! Qủa vậy!

   Công cuộc chơi chim của tôi kéo dài được hơn mười năm cho đến khi nhà nước ban bố lệnh cấm nuôi chim vì dịch cúm gia cầm H5N1… Ngày nay, mỗi khi qua hồ Ha-le, thấy hàng trăm chiếc lồng phủ vải đỏ, thấy hàng chục tay anh chị ngả ngốn dạng chân cá cược bằng những chú chim, thấy trăm ngàn chim Khuyên, Chào Mào, hình thức giống nhau, tiếng hót giống nhau, đơn điệu và nghèo nàn, thấy các chú Họa mi đánh nhau toác đầu tóe máu…Tôi phải cám ơn những Sơn ca, những Họa mi, những Chích chòe, những Cu gáy, những Bông lau…thân thiết của tôi năm xưa… cám ơn cả Dẻ Cùi nữa… Nhờ chúng mà tôi hiểu thêm con người và thấy cuộc sống thú vị hơn!

Sắp Đông chí. Nhâm Thìn 2012


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 29 Tháng Chín, 2013, 07:04:09 am

GẶP GỠ CUỐI NĂM

Bạn bảo tôi, tản văn của ông đọc có cảm giác nặng nề, hay hoài niệm, hay triết lý, hay dằn vặt, bóng gió … làm người đọc phải suy luận. Mệt! Vậy thì trong cái tản văn này nhân tiết gió mùa đông bắc về, chùm chăn ta tán phét ba cái chuyện tầm phào chủ đề ba lăng nhăng chơi… Đầu óc hoàn toàn buông thả trong  những ngày cuối năm. Tôi cam đoan đọc xong, bạn sẽ thấy yêu cuộc sống hơn!

Chủ đề tướng số, bói toán, là cái được số đông thú nhất. Nó vô thưởng vô phạt, lại giật gân, tầng lớp nào cũng … dính! Tôi cũng mê nhất đề tài này, nên đã để tâm nhiều năm mầy mò đến nó … thoạt đầu là tướng mặt, tướng tay, rồi bói bài tây, bói chén thời học sinh, đi bộ đội hôm giải phóng Sài gòn ra đường Nguyễn Huệ thấy một núi sách toàn Tử vi, tướng số, thế là bao nhiêu lương lính nướng sạch vào sách bói, vật lộn mấy chục năm chả thấy tin hơn bao nhiêu, gần đây có duyên gặp được Hà đồ Lạc thư thấy thêm yêu cuộc sống vì tính nhân văn và mức độ chính xác văn minh của nó! Ông bạn cùng cơ quan, cùng đi lính với tôi bảo: Ôi giời! bói với chả toán, cứ sống thoải mái , đỡ nặng đầu, tùy cơ ứng biến, cứ hiện sinh, biết sướng lúc này đã, có số rồi! Một câu nói chính xác và mâu thuẫn … Âý thế mà đúng!

   Năm 1971, bọn tôi bốn thằng chơi với nhau, một họa sỹ, một nhà báo , một phóng viên truyền hình, một kỹ sư … trạc tuổi nhau. Dưới trướng một nhà thơ hơn chúng tôi hẳn chục tuổi… Bọn tôi ngoài hai mươi thì lông bông không nói làm gì nhưng lần nào đến đại ca cũng được bà mẹ ông anh giục chúng tôi phải thúc ông anh thế nào chứ không thì ế mất! Ba mươi tuổi ngày ấy là gay to rồi… Ngặt nỗi, ông anh là người mê tín, rất tin Tử vi, tự học, tự xem được, lại có thầy Bảy công tác Đài truyền hình rất giỏi món này hỗ trợ… quãng nửa tháng, một tháng …Đại ca lại một lần triệu tập chúng tôi rằng mới có em này rất hay, nhưng tao đang chán vì thấy tao đến chơi em vớ vội quyển sách làm như đang đọc, tao đang phục vì sự ham sách của em thì phát hiện ra em cầm sách ngược … Lần khác lại có em nọ rất hay, con nhà gia giáo nhưng hơi gầy, sợ sau này sinh đẻ khó … lần khác nữa , đang có một em nhà ngoại ô , bản chất thật thà đáng quí quá , nhưng hơi nói ngọng … Lần khác nữa, em này thật toàn thiện toàn mỹ, được cả dáng lẫn da ,  nhưng tao để ý thấy trong lần nói chuyện đầu tiên mà nàng hai lần nhìn trộm tao … thế là tất cả ra đi . Nhưng lần nào ông anh cũng kết bằng số tử vi, rằng  sau tất cả những cái đã kể đó là sự xung tuổi, không  can, chi, thì  ngũ hành bị khắc, sợ lấy nhau cãi nhau cả ngày không thì một người phải … ra đi ! Nghe mà khiếp! Bọn tôi vì thế cũng tranh cãi ỏm tỏi , lần nào cũng bị mắng là lũ nứt mắt chả có kinh nghiệm yêu đương gì , thế là tịt ! Nhưng lâu lâu không thấy ông anh triệu tập cũng buồn … Rồi mỗi thằng đi một ngả , tôi vào bộ đội cùng Từ Ngọc Bình , Trường Phước vào Đài truyền hình, Trần Hiển đi học Hung ga ri …Thế là tan đám, ra đi mà bổi hổi bồi hồi thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm nhau về đại ca, được biết là vẫn chưa có gì mà bà cụ thì ngày một còm cõi đi vì ông con trai độc cứ án binh bất động !

   Những năm chiến tranh có cảm giác dài hơn bình thường , thằng nào cũng đói, kết thúc chiến tranh là lần lượt lấy vợ, đẻ con, gặp nhau hỏi đại ca thế nào rồi? Vẫn chưa ! he he … Rồi bất đồ nhận được thiếp mời cưới của đại ca, mừng hú! Tối vể hì hục tra sách Tử vi , thầm nghĩ đại ca chọn kỹ thế chắc là …  Rồi ngã ngửa khi thấy số hai người… đại xung ! Nghĩa là xung từ can, chi, cho đến ngũ hành , cho đến  đông , tây trạch , cho đến hướng … xung tất!

Nhiều năm nữa lại qua đi, con cái cả lũ lớn tướng, gia đình thằng nào cũng trải qua những thăng trầm như hàng vạn gia đình Việt Nam khác … nhưng gia đình đại ca là yên nhất, người đàn bà của đại ca hiền thục, chịu khó, lo toan, nuôi dạy con cái chu đáo, khi đại ca trọng bệnh, tuổi già, lại chính người đó ngược xuôi, chăm sóc nâng giấc từng ly từng tý… Đấy là một sự thật, nhiều người biết. Ông bạn cùng cơ quan hóa đúng… Thật! Bói với chả toán!

Đến đây ta sẽ đặt một câu hỏi vậy có nên đọc sách và tin vào tướng số nữa không ? Tôi thấy vẫn  rất nên! Miễn đừng tin nhảm, miễn là mình biết lọc ra điều gì đáng tin và tin bao nhiêu phần trăm của từng cuốn sách. Rồi qua thử nghiệm lại tìm ra mỗi cuốn sách có cái hay riêng về mặt nào …Thí dụ Tử vi mạnh ở mặt nào và ngược lại? Hà Lạc mạnh, yếu ra sao? Mai hoa nên sử dụng cái gì là đắc dụng nhất? Bói bằng đồng xu dễ linh trường hợp nào? Bói bằng vật ứng dụng bất kỳ lợi điểm về gì? Khi mình đã đam mê và tin tưởng thì linh lắm! Khi bói và xem bói rất cần sự thành tâm, nhưng lại tối kỵ sự mông muội…  rất nhiều người mê muội tin vớ tin vẩn là đất sống cho lũ thầy rởm tung hoành. Tôi rất ngạc nhiên khi rất nhiều người tới nay vẫn khư khư quyển Lịch Vạn sự  bìa màu vàng chanh khổ 13 x19 , đặc điểm sách đó là không có nhà xuất bản, tức là in lậu, tức là rất không đáng tin … thế nhưng nó lại là cuốn sách bán chạy nhất ! Chỉ cần mở ra đã có thể xem ngày hôm nay nên làm gì, không nên làm gì, năm nào cũng giống năm nào, thực ra sách đó rất hợp với dân chợ búa, văn hóa lùn … ngày Ly sàng thì xui con nhà người ta cưới, ngày Thổ cấm thì bảo người ta động thổ, ngày Thiên cương bảo người ta xuất hành, ấy thế mà thiên hạ tin sái cổ, kể cả những anh vẫn tỏ ra hiểu biết…

Hôm qua thôi, xem truyền hình chương trình nói thẳng nói thật thấy một nữ tiến sỹ phê bình văn học nói khơi khơi rằng viết văn là phải có tài, ở ta nhiều anh không có tài cũng đòi viết văn (nói chung là làm văn nghệ). Tôi cũng tán thành điều đó thời tôi chưa đọc Kinh Dịch và Lý số nói chung, nói như chị cũng giống như bảo áo phò mã đẹp thôi, và nói như chị còn có nghĩa tao đây là ngươi tài giỏi, vì có tài giỏi thì mới có quyền chê người khác kém tài …Tôi nghĩ chị là Tiến sỹ chắc phải đọc nhiều sách, thiên kinh vạn quyển nhưng sách Lý số chắc… ít đọc! Vì người đọc sách đó sẽ không nghĩ thế , họ sẽ hiểu rằng nếu không có Ác thì không cóThiện, không có màu đen thì không có trắng , không có bất tài thì không có người tài, chính nhờ cái bọn chị gọi là bất tài ấy mà những người tài được nổi lên khi làm phép so sánh các mối tương quan, tương hỗ, và cái lũ người chị cho là tài ấy sẽ chả là cái đinh gì khi so với người tài thế giới… Ông bạn cùng cơ quan với tôi cũng thế thôi, ông cứ chửi tạt sườn cả đống nghệ sỹ nước nhà đi, và khi chửi ông có cái cảm giác ta  tài hơn chúng nó vì ta chửi được chúng nó! Một thứ AQ An nam , ông ca ngợi danh họa thế giới (nãng mạn ) hơn nghệ sỹ ở ta … Ông tự huyễn hoặc mình ta là Thượng đế (đã có  lần tôi thử cảm giác đó, bay bổng thật, như phê ma túy ). Nhưng đọc Dịch rồi thấy quá đương nhiên, không có những người loại ông thì người hay người giỏi lấy gì mà so sánh để nổi lên? Tể tướng Lưu gù đã từng nói: “Không có 360 nghề bất thành thế giới”… Tể tướng nói đúng, hót cứt là một nghề hạ đẳng nhưng nếu không có người hót, cứt sẽ ngập đầu nhân loại! Trong đó có chị, có anh, và cả tôi!  Thế thôi! Chắc chắn anh, chị chìm trong bể cứt thì chẳng dễ chịu  đâu! Đừng vội khinh nghề hót cứt!

   Bây giờ ta chuyển đề tài khác về sự chết! Vẫn vui! Vì có chết mới có sống! Mà cuối năm bàn về sự chết để năm mới sự sống trỗi dậy, quá nên! Hôm nay 18 tháng 11 năm 2012 tôi được mời dự cuộc gặp gỡ với cựu sinh viên lớp đầu tiên hệ 7 năm khi các anh cho ra đời cuốn sách với tiêu đề 50 năm ký ức tranh tượng. Ta sẽ bàn đến cuốn sách với một bài riêng đàng hoàng … Nhưng bài này  khi ngồi giữa các thầy, các bạn 51 năm trước từng chung sống … tôi nhớ đến những thằng một thời tắm sông Cầu, một thời đá bóng tới đêm, một thời ăn cục mỳ luộc không người lái, một thời dắt díu nhau theo các thầy đi thực tập dưới bom đạn mà vẫn ngông nghênh hát vang, học trò mới 16 , 17… mà thầy giáo chưa đến 30 …Thế rồi, lên đường nhập ngũ, 30 tháng 4 một số không trở về!

   Đầu tiên phải kể đến Vũ Quang Long, học sinh hệ 7 năm 1, anh nhập ngũ 1966, chiến đấu 4 năm tại mặt trận Trị Thiên Huế, đạt dũng sỹ diệt Mỹ, bị thương nặng, năm 1970 ra Bắc an dưỡng và điều trị, hy sinh tại quê nhà sau một trận sốt rét ác tính, liệt sỹ! Tôi đã từng kể là anh đá bóng rất giỏi, và nóng như lửa, bạn thử nhìn ảnh mà xem, gương mặt bướng bỉnh với cái đầu cua, đôi mắt gan dạ dưới cặp lông mày đậm … kẻ viết bài này đã thay mặt đồng đội  đưa  tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang làng Phù đổng… Kế đó là Hoàng Thượng Lân, cùng lớp . Anh nhập ngũ 1966, chiến đấu tại vùng giới tuyến Quảng trị, cơm Bắc, giặc Nam … tham gia nhiều trận đánh ác liệt với Mỹ Ngụy, đạt dũng sỹ diệt Mỹ… Kẻ viết bài này từng gặp anh trong chiến hào Vĩnh Chấp năm 1969 khi vừa đi trận về với bàn tay cụt ngón cái … Sau nhiều chiến công, anh được ra Bắc học, tiếc thay, anh đã hy sinh khi vượt sông Sê Băng Hiên dưới làn bom B52 …Tiếp đó là Hoàng Tích Minh, học sinh hệ 7 năm năm thứ 2, nhập ngũ tháng 9 năm 1971, sau 2 tháng luyện quân tại Hà bắc đoàn tàu chở quân vô Quảng trị chạy qua ga Hàng Cỏ, tàu dừng ít phút anh không thể bay về nhà dù nhà anh ở phố Sinh Từ gần đó. Ném xuống đường 1 lá thư tạm biệt, một người dân từ tâm đã cầm ngay lá thư đó về cho họa sỹ Hoàng Tích Chù , thân phụ anh! Khi người họa sỹ già lao ra ga Hàng Cỏ thì đoàn tàu từ từ chuyển bánh… Anh được biên chế vào Sư đoàn 325 nổi tiếng tham gia trận đánh Thành cổ lừng danh, khi rút ra Gio Linh, trong một trận công pháo ác liệt của địch mảnh pháo đã tiện đứt một chân của anh, máu ra nhiều, kiệt sức, đơn vị tan tác … anh ngồi nhìn vết thương , xỉu dần và hy sinh … Kẻ viết bài này vài ngày sau chuyển quân đến đúng chỗ xảy ra trận pháo kích và được nghe các o du kích, những người trực tiếp chôn cất anh kể lại tường tận về sự hy sinh của anh! Rồi Lê Minh Trịnh, học sinh khóa 2 hệ 7 năm người Vĩnh Mốc, được lớp mệnh danh là đô vật vùng biển , hy sinh trong chiến dịch Quảng trị 1972 . Rồi Qúach Thiện Thuật khóa 3 hệ 7 năm, rồi Lưu Phương Chính cùng khóa, các anh đều hy sinh trong chiến đấu.  Rồi Phạm Văn Học lớp7 năm 4 là bộ đội tình nguyện Lào, anh hy sinh trong một trận B52, mù hai mắt , mất máu mà chết. Lại có những cái chết oái oăm như Nguyễn Quang Việt, anh là lính trinh sát, thường vô đồn địch như cơm bữa , lần đó anh vào điều nghiên trong đồn, lúc vào như không, lúc ra không hiểu sao lại trúng mìn và anh dũng hy sinh! Còn có những cái chết đau đớn như Hồ Nia , học sinh khóa 2 hệ 7 năm. Anh là học sinh dân tộc Vân Kiều, theo chính sách không phải đi bộ đội! Nhưng anh cứ nằng nặc xung phong … 7 năm trận mạc, lập nhiều chiến công, mãi đến tháng 4 năm 1975 trong trận chiến đấu cuối cùng ở Xuân Lộc địch phải dùng ngón đòn bẩn thỉu để hạ quân ta hòng cản bước đi thần tốc, đó là bom CBU55, thứ bom hút sạch ô xy trong bán kính 2 km. Toàn bộ tiểu đoàn anh đã chết ngạt trong tư thế quân phục chỉnh tề, vũ khí trong tay!...

   Khi tôi viết những dòng cảm xúc này, không khỏi thấy hiện lên những  họa sỹ cùng hệ, được sống đến ngày nay, trong khi nên tưởng niệm những người đã khuất lại tranh thủ đánh bóng tên tuổi mình với giải nọ danh hiệu kia, những thứ chỉ để lòe bọn vô học! Nhưng tôi bình tâm được ngay khi nghĩ  bài học tương quan, không có tiểu nhân làm sao biết quân tử? Và chợt nhớ đến lời hứa đầu bài này … Nhưng không làm sao dứt khỏi dòng suy nghĩ về sự chết, bạn và tôi thử  làm một trắc nghiệm mà xem, ta chính là 8 chiến sỹ thanh niên xung phong mắc kẹt trong hang đá năm nào … Tôi cứ thắc mắc mãi ngày ấy sao không cho nổ mìn phá tung cửa hang cứu đồng đội ra? Vì đằng nào cũng chết cơ mà … Mãi gần đây lên cái hang ấy mới hiểu, cửa hang rộng 12 mét, cao 9 mét bị bịt hoàn toàn bằng đá và đất,  chỉ cần một tiếng nổ nhỏ nguy cơ sập toàn bộ trần hang, chôn sống tất cả! Vì thế mà đồng đội đành lực bất tòng tâm. Mãi sau này, hòa bình rồi mà một đại đội công binh với đầy đủ công cụ chuyên nghiệp trong tay moi móc phải hai tháng sau mới lấy được hài cốt lên…    
                        
Ta miễn bàn đến cuộc khai quật vội, tôi sẽ kể sau. Ở đây tôi muốn cùng các bạn sống với 8 người trong cơn tuyệt vọng đến hoảng loạn, thử tưởng tượng xem, nghe văng vẳng bên ngoài tiếng gọi của đồng đội,  một bức tường đá dầy đặc bít kín như dưới âm phủ, tối đen như mực, khí ô xy cạn dần, ngạt thở như có người lấy gối đè lên mặt , tất cả tuyệt vọng đến mất trí, tất cả đều đang 19, 20, người trẻ nhất 17 … Không biết cái sự ham sống mãnh liệt của các Trinh nữ và những chàng trai chưa biết nụ hôn đầu như thế nào? Mà nhiều tháng sau, nhiều năm sau, cả khi đã hết chiến tranh các lái xe vào Nam ra  Bắc qua hang 8 cô vẫn còn nghe văng vẳng tiếng kêu khóc thảm thiết, thê lương, mãnh liệt, ai oán của các vong hồn …Tôi cứ nghĩ tới cái tuyệt vọng khôn cùng ấy, cái ghê rợn ác nghiệt của sự không được chết ngay, cái nỗi lòng điên cuồng bám lấy sự sống chỉ cách vài mét đất đá ấy… Bừng tỉnh, mồ hôi đẫm người, thấy mình được sống, thì dù cho đang cơn khốn cùng quẫn bách đến đâu đi nữa ta vẫn thấy là nhỏ … Bạn thử mà xem! Nhất là ngoài kia năm mới đang đến rồi, kiểu gì thì cũng phải sống! Sống mạnh mẽ. Phải không ?

18 tháng 11 năm 2012



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 30 Tháng Chín, 2013, 09:47:26 am

SỐ MÁ VÀ CÕI KHÁC

Số má đây không hẳn là số xe máy, cũng không hẳn là sổ số kiến thiết, càng không phải số má giới giang hồ… Mà là số phận. Một đề tài nhạy cảm! Ngày xưa mà húc vào lãnh địa này đi tù như chơi, nó sẽ phạm vào tội tuyên truyền mê tín dị đoan, lừa bịp thiên hạ, nặng ngang tội hát nhạc vàng hay mặc quần ống tuýp… Bây giờ đỡ hơn! Nhất là khi chính những người bỏ tù người khác lại cầu cúng, đội bát nhang, xem bói, thậm chí lập điện thờ tại gia… nhiều nhất. Mà sợ gì, tán nhảm trong lúc trà dư tửu hậu vô thưởng vô phạt ấy mà. Chả chết ai trong cái bể tham nhũng, giết người cướp của mênh mang này!

Ông bạn tôi bảo: Học xem bói khó gì! Nhưng tôi không học vì những lẽ sau: Thứ nhất là mất thời gian, phải lăn lộn tìm thầy học bạn chứ dễ đâu. Thời gian đó để vẽ tranh kiếm sống hữu ích hơn. Thứ hai là tốn kém lắm, học thì phải mua sách chứ, mà sách tâm linh đâu có rẻ. Thứ ba là học xong, ông phải ứng dụng chứ! Mà trong khi xem cho thiên hạ (đồng thời rèn luyện kỹ năng luôn) thì nếu đúng, được dăm lời khen (ông có hành nghề xem bói lấy tiền đâu). Nếu sai (điều này là thường tình trong ứng dụng)… Ăn chửi ngay!… Mà theo tôi, mình là văn nghệ sỹ, rất cần mơ mộng, cuộc sống luôn là một bức màn bí ẩn không biết điều gì sẽ xảy ra mới thú vị chứ! Biết trước ngày mai sẽ ăn gì uống gì tồng tộc ra thì còn ra chó gì nữa? Vả lại, nghề xem bói được coi là nghề  tiết lộ thiên cơ. Ví dụ đấng tạo hóa đã có ý cân bằng âm dương khi tạo ra muôn loài. Tạo hóa sinh ra loài hươu ăn cỏ, hiền lành và đẻ hàng đàn, khả năng sẽ tràn ngập lãnh thổ… Đồng thời lại sinh ra con hổ hung dữ, ăn thịt, để hạn chế lũ hươu kia đi, nhưng lại đẻ rất ít. Một ngày nọ, hươu ta rời nơi ở thì gặp thầy bói. Thầy bảo đừng có ra khỏi rừng, qua cái cây Gù hương là hổ nó đang rình ở đó đấy! Hươu ta bèn không đi nữa. Việc hươu đực ở nhà là điều không tốt với sinh thái, vì sau đó hươu cái thụ thai, sinh ra một lũ con. Vô tình thầy bói đã làm lệch đi sự an bài của tạo hóa. Vì thế Đấng tối cao nổi giận, nói chung, những ai tiết lộ thiên cơ đều vất vả theo một nghĩa nào đó!

   Ông ấy đã nói thế thì mình còn biết cãi vào đâu nữa? Qúa chuẩn! Nhưng như tôi đã nói, mình làm gì kiếp này là có căn nguyên của kiếp trước… Kiếp trước chắc tôi có liên quan chi đó đến lý số… nên kiếp này mê lắm! Lăn lóc hết thầy này đến thầy khác, sưu tầm nhặt nhạnh hết sách nọ đến sách kia…Thế nên trong vụ này tôi chỉ còn biết cãi ông là nếu xem xong biết số phận mai này của mình rồi dõi theo xem kết quả thế nào cũng có cái thú vị của nó chứ! Vả lại, nếu biết tuy không đảo ngược được số phận thì cũng “Mũi né” được phần nào bằng cách này hay cách khác. Ba mươi năm trước, mọi người quen ỷ lại rồi, cái gì cũng đã có người chỉ đường dẫn lối, mình không phải nghĩ. Cứ nhắm mắt chấp hành là đi tới thành công! Mãi đến khi đói dài ra, làm ăn thua lỗ mới té ngửa ra là mình dốt! Lĩnh vực tâm linh đã có khoa học giải thích, khoa học không giải thích được là mê tín tất! Mãi đến khi nhờ bọn mê tín ấy mà tìm được bao nhiêu là mộ liệt sỹ, giúp cho bao người thuận buồm xuôi gió chốn đời thường, thiên hạ mới tá hỏa đua nhau đi học… Câu lạc bộ tâm linh nở như châu chấu ngày mùa, sách tướng số  nhảm nhí bán đầy phố… Chỉ cần mua một cuốn Lịch Vạn sự bìa vàng là thành thầy bói giỏi ngay! Một bà sồn sồn văn hóa lớp bốn cứ giở lịch ngày ra, tra mục nên… hay không nên là chém gió phải biết. Lũ đệ tử ngu ngốc, mê tín dị đoan cứ là há mồm ra mà bái phục!                            

Tôi có số quí nhân phù trợ nên may mắn trời dẫn đường chỉ lối gặp được những người (không dám nhận là tài giỏi) mà rất vững vàng về kiến thức, đặc biệt là rất khiêm nhường. Trước khi nói về một vấn đề gì, các đại sư cũng nói: Bể học khôn cùng, theo riêng tôi thì thế này…thế này…Trong đó có một đại sư trung vận suýt vào đội ngũ cán bộ cao cấp nhà nước, sau khi bật bãi chốn quan trường, thấu hiểu cái lẽ bạc bẽo nơi quyền quí… Mới lui về quê ở nơi thôn ổ đọc sách về lẽ đời (chắc chắn là loại Kinh Dịch, phong thủy, tướng số, Tử vi… rồi). Nhưng rừng sâu núi thẳm không tiến bộ được mới khoác tay đẫy, đeo mắm tép đặc sản quê nhà lên đô thành tu tập. Sau vài năm, ông bảo, hóa ra Thần học nói chung cũng đơn giản. Lại một đại sư khác, tuổi trẻ giang hồ, từng cầm đầu một nhóm cướp, tung hoành tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, sau giải phóng dạt vào Bảo Lộc - Lâm Đồng làm ăn, rồi bỗng hoàn lương, vừa kiếm ăn vừa nghiên cứu Tử vi, Lý số, đến cái đoạn ông viết sách mới lạ, chả chuẩn bị gì trước, ông cắm đầu cắm cổ viết, nghĩ đâu viết đó như Trời cầm tay viết hộ, thế mà ra đời cuốn “Kinh Dịch với Nhân mệnh” xuất sắc… Rồi đại sư thứ ba, xuất thân là bộ đội chuyển ngành, rồi làm công nhân xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, rồi trở thành nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp… Ngẫu nhiên ngày nọ, gần nhà chuyển đến một giáo sư tâm linh học lừng danh, thế là như có duyên kiếp trước, ông học mà tới đâu sáng đó, mà chỉ chuyên về Hà đồ Lạc thư thôi, ông cũng đã ra mấy đầu sách quí rất được trọng vọng, như cuốn “Khám phá một tia sáng văn hóa phương đông” rất nổi tiếng , đọc nó, ta thấy Kinh Dịch rất gần gũi không khó hiểu, tràn đầy tinh thần lạc quan vững tin cuộc sống ngay cả lúc khốn cùng nhất! Đại sư nữa là một họa sỹ, ông dạy cho tôi sự chi chút cẩn thận trong từng động tác, sách vở ông trang bị cho tôi ghi chép sạch sẽ, đánh dấu chu đáo, bạn bè mời ông vô Sài Gòn hành nghề xem Tử vi kiếm bộn tiền ông từ chối vì mục đích xem chỉ để ngẫm sự đời mà thôi… Cả bốn đại sư đều có chung một đặc điểm là từng trải, khiêm nhường và kiêu hãnh.  Hình như sự từng trải từ trường đời lao khổ giúp họ học nhanh kiến thức tâm linh thì phải, hoặc giả là kiếp trước họ đã là thầy bói? Khiêm nhường giúp họ luôn thấy mình còn phải học thêm thì đúng rồi! Nhưng lúc họ kiêu mới thật hay! Kiêu mà vẫn nhún nhường. Có một lần, mấy đại sư rủ nhau đến một lớp đào tạo môn phong thủy, người giảng là một ông nguyên kỹ sư xây dựng nổi tiếng, có xuất bản sách về tâm linh hẳn hoi. Nghe xong, ra ngoài các đại sư bảo nhau, kiến thức như thế mà dám đi dạy, quá liều! Mà cũng không dám nói to, sợ mất lòng. Lúc ngồi với mấy ông, tôi cứ luôn day dứt một điều, bao nhiêu là tài năng, bao nhiêu là kiến thức… đúc kết từ những cuộc đời từng trải… mà tất cả rồi một ngày nào đó vẫn phải từ giã cõi đời! Phí thật!         
   
Có lần một đại sư bảo: Đọc bao nhiêu sách, tu tập qua bao nhiêu cấp, cuối cùng rút lại hóa ra  kết quả thật đơn giản, một cộng với một bằng hai! Thế nhưng để hiểu một với một bằng hai lại phải học qua một đống cấp ấy…Thế thì phải rồi, số má không chỉ là số má mà trong đó gồm cả số xe máy, sổ số kiến thiết Thủ đô, cả số má bọn giang hồ phong cho nhau… Cái gì cũng có số hết! Năm trăm năm trước, Trạng Trình  có bói một quẻ cho cái quạt của mình, quẻ rằng ngày ấy ngày nọ, giờ ấy giờ nọ cái quạt sẽ chết…Trạng Trình lạ lắm! Đến ngày giờ cái quạt từ giã cõi đời ông quyết không rời nó, xem nó chết như thế nào. Ông treo cái quạt trên đình màn, nằm dưới giường đăm đăm canh cái quạt… Về chiều, bên nhạc phụ có việc hệ trọng rất cần sự có mặt của ông, phu nhân mấy lần vào giục để mời ông ra kiệu mà không thấy hồi âm, tức giận! Bà xộc thẳng vào phòng thấy ông vẫn bình thản nằm theo dõi cái quạt, tức điên người, bà xé tan tành cái quạt…Cái quạt mà còn có số như thế, thì phỏng còn cái gì trên đời này không có số? Đến đây, những ai hay oán trách số phận là hẩm hiu, lẽ ra tôi phải được thế này… Gía như  tôi được thế kia, thì đã không phải thế nọ… Phải biết rằng chả có lẽ ra với giá như gì hết! Có thế thôi! Nó là hậu quả của một nguyên nhân, có thể từ xa lắm, từ một cõi nào đó, từ một kiếp nào đó…vô hình và hữu hình, và bây giờ mình là kẻ gánh!

Ba giờ sáng. Tôi lần mò tìm Soi.com… Số tôi (lại số) may mắn về già vẫn gặp được Internet. Tình cờ đọc được bài phê bình mỹ thuật của một họa sỹ mà tôi coi như anh từ trẻ. Hai anh em học cùng lớphồi đại học, tôi 19, còn anh 24. 24 tuổi mà anh chín chắn, hiểu biết, phàm việc gì vướng mắc tôi đều nhờ anh lý giải. Cách nói của anh giản dị, dễ hiểu, kiến thức của anh uyên bác (ngày ấy chúng tôi cứ đùa anh nói là như ông cụ). Ra trường anh làm viên chức và vẽ vời như muôn họa sỹ. Chỉ có điều sống rất âm thầm! Cuộc sống thời kinh tế thị trường càng nhốn nháo bao nhiêu anh càng âm thầm bấy nhiêu… Rồi anh mất hút trong biển đời hỗn tạp. Với tôi, dù ngụp lặn tích cực đủ vành nhưng không bao giờ tôi quên anh. Thâm tâm nghĩ rằng đời vốn như mặt nước cánh bèo, anh thì như Khuất Nguyên, đời đục ta trong… Cũng biết phong thanh anh sống một mình, nhu cầu sinh hoạt tối đơn giản, thôi thì mỗi người mỗi số (lại số) ai chịu phận nấy… Bất ngờ đọc Soi, thấy anh tương lên một loạt bài, lại bất ngờ hơn là ngoài việc đăng một bài phê bình tác phẩm của một nhà điêu khắc, còn lại hai bài anh phê bình giới phê bình mỹ thuật nước nhà. Giọng văn mạch lạc, khúc triết, vẫn châm biếm và hóm hỉnh như ngày nào. Có điều bình thản hơn… Thì ra, vẫn còn những con sóng ngầm sôi sục nơi đáy sông! Làm cuộc sống chậm lại một tý, bắt cuộc sống phải nghĩ kỹ nữa đi, phải cân nhắc lại một tý trước khi làm việc gì đi. Trong sự phê bình hài hước vẫn chứa sự nghiêm khắc! Không thể đùa!
   
Hôm sau, tôi đề cập chuyện đó với đại sư (ông Tử vi). Ông bảo đó cũng là do số thôi. Chắc chắn cung mệnh cha đó có Thạch trung ẩn ngọc. người có tài mà không gặp thời, hoặc cha đó thấy gian thần nhung nhúc, nếu xuất thế là toi nên khôn ngoan ở ẩn lánh đời! Tôi hỏi thế làm sao lại còn viết báo đăng đàn trên Soi làm gì? Ông bảo đó chính là sự cố gắng tỏa sáng của ngọc (bản chất của ngọc là tỏa sáng). Còn tỏa sáng được hay không lại do số! Thế nên nhiều sự trên đời phải cố gắng. Tôi đùa ông, bảo: Thế thì số tôi không có Thạch trung ẩn ngọc rồi ! Bởi bài thuộc lòng 108 ngôi sao đặt theo các qui luật chuyển động và ứng dụng Tứ trụ tôi học mãi không thuộc. Tôi phàn nàn với ông thế. Ông bảo phải cố lên chứ! Ở đời có nhiều việc ngoài cố gắng ra, không còn cách nào khác. Số má không bao giờ là bất biến, nó là cái khuôn để chủ thể con người nỗ lực khắc chế dù không thể đảo ngược Thiên định. Tôi cố cãi: Cố quá nhỡ thành quá cố thì sao? … Ông cười, bảo: Đúng là số anh không có Thạch trung ẩn ngọc!                                                            

20 - 3 Qúi Tỵ


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 01 Tháng Mười, 2013, 07:06:09 am

VÀI TÍCH CỔ VĂN


CÁNH TAY CON QUỈ

      Trịnh Quân, người làng Yên Định, đất Hoan châu. Tính tình gan dạ, bình sinh ghét sự bất công… Thường giữa đường thấy sự bất bằng mà tha. Quân mình hổ tay vượn,  bụng beo lưng báo, từng đánh nhau với hổ, dùng đá ném chết lợn lòi, vũ dũng không ai bằng. Mỗi khi có sự va chạm người làng thường kéo Quân đi dùng sức mạnh giải quyết, chưa bao giờ Quân từ nan…Mỗi một điều, Quân không bao giờ tin có quỉ thần!
   Hoan châu ngày đó chưa có đê điều như ngày nay, mỗi khi mùa nước lên làng quê ngập lụt trăm họ khổ sở vô cùng. Có con quỉ Dạ xoa thường lên quấy nhiễu người bản xứ …Khi thì giả dạng người lái đò đưa người qua vùng nước xoáy rồi dìm chết , ăn thịt , khi thì vào vai thiếu nữ mồi chài đám tài tử văn nhân xóm khiến họ mất hồn mất vía suốt ngày chỉ lo kèn cựa đấu đá lẫn nhau…Rồi nó thừa cơ bắt người . Dạ xoa len lỏi vào nhà này , xuất hiện ở nhà kia , thóc mách ,tọc mạch tung tin đồn nhảm kích động sự hằn thù dân làng…Làng quê náo loạn không lúc nào yên…
   Nhưng gian ngoan mấy cũng có lúc hở cơ , một lần Dạ xoa phục trong bụi rậm rình bắt người . Vô phúc cho nó , hôm đó Quân đi phát cỏ về , giữa đường ghé quán rượu làm vài hũ, say quá lăn ra ngủ vùi gốc tre làng…Đang say giấc nồng , bất đồ thấy  gió nối vù vù , mây đen sập xuống … Chàng vùng ngay dậy thì gặp ngay quỉ Dạ xoa đang cắp người , tóc tai xõa xượi , hai cánh tay vừa dài vừa to đầy móng vuốt , trên lưng đôi cánh quạt gió ầm ầm , chàng quát to một tiếng. Dạ xoa giật mình buông ngay người mà quay lại tiếp chiến với chàng. Chỉ một nhát dao quắm quỉ đã đứt lìa cánh tay , máu đen xối xả …Nó vội lao vào màn mây chạy trốn… Quân nghe thấy trên không vọng xuống … “Giữ cánh tay ta trong bẩy ngày nhé.”                                      
Trịnh Quân nhặt cánh tay quỉ về nhà , lấy cỏ Mần trầu buộc túm nó lại, treo lủng lẳng dưới mái hiên bên cái Giại trước nhà, rồi  kê chõng nằm ngay cạnh , dao quắm để bên, uống rượu tì tì, xung quanh đàn chó dữ chạy qua chạy lại sùng sục.                              
Sáu ngày trôi qua không có động tĩnh gì .
      Cả ngày thứ  bẩy trôi qua không có động tĩnh gì.
   Vào lúc nhá nhem tối , khi đã không nhìn rõ mặt người, có một bà lão ăn mày bẩn thỉu, rách rưới, xách một cái bị đến nhà Quân xin ăn…Lúc này Quân đã say bí tỉ , bà mẹ Quân động lòng trắc ẩn bèn nhốt đàn chó dữ lại. Vào xới bát cơm cho mụ ăn mày. Mụ ăn mày ngó quanh , đột nhiên rú lên lên một tiếng kinh thiên động địa rồi bay vọt lên hiên nhà, giật lấy cánh tay treo lủng lẳng trước sự bất lực của đàn chó… Quân tỉnh hẳn rượu, vớ lấy dao chém bừa...Qủi đã vọt lên không trung…trong tiếng sấm rền… Biến mất !        
Từ đó, không thấy quỉ Dạ xoa xuất hiện nữa. Xóm làng bình yên!   
Và cũng từ đó, Trịnh Quân ngộ ra rằng  ngoài cái cuộc sống hữu hình nhìn thấy hàng ngày, ngoài cái sức mạnh vũ dũng Trời cho mà sớm hay muộn nó cũng sẽ mất đi theo thời gian…; còn tồn tại một thế lực thần bí, siêu nhiên hoặc đen tối mà mắt thường không nhìn thấy được. Trước “Thế lực” bí ẩn đó, mình hổ tay vượn cũng chả là cái đinh gì!
 
Tiết  HÀN LỘ - NHÂM THÌN .


GỐC CÂY DÃ HƯƠNG 
     

Từ Kinh thành Thăng Long lên ải Bắc, vượt qua Aỉ Chi Lăng chừng bẩy cây số, mé trái đường độc đạo nằm giữa những vách núi dựng đứng, hiểm trở ta gặp một khe nước bốn mùa chảy xiết, một cây cầu gỗ vắt ngang.  Mé bên kia cầu là một ngôi đền gọi là đền Chầu Hai, nghe đồn rất thiêng. Qúa cổng đền một quãng ngắn là căn nhà gỗ nhỏ của ông lão bán na, sát mép đường, trước cửa nhà có một gốc cây Dã hương ngàn năm bị sét đánh sát gốc. Hàng ngày ông lão đặt na lên gốc cây để bán. Na của ông do thổ dân hái từ trên núi cao, cho vào sọt tre rồi chuyển xuống bằng dây rừng, ông lão mua lại và bán giá cao hơn một chút, kiếm kế sinh nhai…
 Một hôm, có một lữ khách cưỡi con ngựa gầy, chân đi hài sảo, đội cái nón Tu lờ dừng chân trước mặt ông lão, ngập ngừng.
- Ngài muốn mua na?
 Lại ngập ngừng, hồi lâu:
 - Tôi muốn mua cái gốc cây dưới sọt na của cụ?
Ông lão giật mình, cái gốc này đã nhiều lần ông định bổ ra làm củi những khi trời đông giá rét, giờ bán được tiền, tốt quá! Ông nói với lữ khách:
- Ngài trả bao nhiêu?
- Năm mươi quan?
Ông lão lại giật mình, chưa bao giờ ông có một số tiền lớn như thế. Nhưng ngay lập tức, ông nghĩ “Có điều gì bí mật đây… Phải đòi cao hơn”. Ông bảo:
- Rẻ thế, ngài nghĩ lại đi?             
- Một trăm quan?
Lần này, ông lão giả bộ khó khăn. Ông nói:
- Ngài nói thế nào ấy chứ! Cái gốc này bán cho ngài thì tôi biết để na vào đâu? Nhờ có nó mà hàng mới bán chạy đấy, trả hơn đi?
Cuộc cò kè căng thẳng rất lâu. Cuối cùng khách nói:
- Một nghìn quan? Gía chót cùng đấy, không bán cụ sẽ hối đấy!
Ông lão vẫn khăng khăng đòi hơn. Mà thực trong lòng cũng chả biết sẽ hơn là bao nhiêu thì vừa? Chỉ biết nếu bán bị hố thì tiếc! Mặc kệ! Thế nào khách cũng phải quay lại. Không bán cái gốc vẫn là của mình cơ mà…
Thế là ông lão nhất quyết không bán. Lữ khách thấy vậy bỏ đi!
Suốt mấy ngày liền, ông lão mất ăn mất ngủ tự khám phá cái điều bí mật  nằm trong gốc cây khô. Ngắm mãi, nó vẫn chỉ là gốc cây sần sùi rắn đanh, mốc meo mục nát rêu phong cổ quái nằm dưới sọt na mà thôi. Trằn trọc, ông lại nghĩ:
Hay là bán quách…Một  nghìn quan…Mình có bán na ba kiếp cũng chả để dành được số tiền lớn như thế. Nhưng chắc cái gốc phải thế nào chứ? Hôm nọ cuộc mặc cả to tiếng thế không biết có ai nghe thấy không? Rồi họ đào trộm mất thì toi.
Nghĩ thế, ông đem ngay cuốc ra cửa hì hục đào bật cái gốc cây lên, hì hục vần vào trong nhà, không yên tâm, ông lại hì hục đào một cái hố to tướng giữa nền nhà lên, chôn gốc cây xuống, kê giường lên. Bụng bảo dạ là đang nằm trên một nghìn quan chứ chả chơi. Đừng đùa với lão già này.
 Bẵng đi vài tuần, lão lại nghĩ: Mình ngày ngày vẫn phải bán na, vẫn đầu tắt mặt tối, chỉ để nằm gác cái gốc cây mục. Mà không chừng bây giờ lại làm mồi cho lũ cướp đêm thì nguy, bọn cướp sẽ cầm dao đột nhâp vào nhà, giết chết ta, thế là mất hết. Thôi! Tốt nhất là bán quách đi, lấy nghìn quan di dưỡng tuổi già, lại đỡ phải lo nơm nớp…Và lão quyết định…Bán!
 Chà chà! Nhân bảo như thần bảo. Đúng lúc đó, lữ khách quay lại.
- Tôi nghĩ rồi! Bằng lòng bán cho Ngài đấy.
- Thế cụ để nó đâu rồi?
- Tôi đã cẩn thận chôn nó dưới gầm giường nhà tôi rồi! Ngài yên tâm. Để tôi vào nhà đào nó lên nhé?
Lữ khách tá hỏa.
 - Thôi thế là hỏng hết mọi việc rồi. Cụ biết không? Ở trong cái gốc cây đó có một con Phượng Hoàng, tinh anh của cây Dã hương đúc lại từ ngàn năm. Hàng ngày nó vẫn ăn bằng cách ngửi hương na của cụ mà sống! Bây giờ cụ chôn nó xuống đất lâu thế. Chắc nó chết ngỏm rồi.
Nói đoạn, buồn bã ra về.
Ông lão sôi tiết. Đem ngay rìu bổ đôi cái gốc cây ra. Qủa nhiên trong gốc cây có một con chim Phượng Hoàng… đã chết đói!

   Lập đông - Nhâm Thìn
   


NGƯỜI THIẾP YÊU CỦA QUAN TỔNG TRẤN .

Tổng trấn Đại Tướng quân là một khai quốc công thần. Ông tài kiêm văn võ. Người đời gọi ông là nho tướng . Ông có một người thiếp yêu, người này dung mạo đoan trang , thông minh mẫn tiệp , cầm kỳ thi họa xuất chúng … Đặc biệt nàng thẩm thơ và thẩm họa thì không ai bằng! Việc quân cơ đại sự cũng giỏi, nhiều lần tham mưu cho Tổng trấn trong những tình huống gian nguy… Lại đặc biệt nữa, âm mao của Nàng dài quá gối (không biết có họ hàng gì với người thiếp của Chúa Nguyễn trong truyện của Đông Ngàn tiên sinh không?). Tổng trấn Đại tướng quân yêu lắm … Qúi hơn vàng. Nhiều lần đi trận mang theo bên mình để hỏi kế sách … Những khi uống rượu thưởng trăng bên Nàng … Đại tướng quân thường mơ khi nào thiên hạ thái bình thì xin Vua cho nghỉ hưu, sẽ đem Nàng lên một chiếc thuyền con rồi đi mất dạng trong sương mù giống người xưa …Vì với ông, Nàng là một cái gì tiêu biểu duy nhất cho sự toàn thiện toàn mỹ…Tình yêu của Quan Tổng trấn càng dạt dào sau lần tình cờ quan Thái Bốc trong triều đến đánh cờ… Đang lúc trận chiến bất phân thắng bại thì Nàng đưa thêm rượu vào… Lúc  Nàng ra ngoài rồi, Quan Thái Bốc thì thầm với Tổng trấn: Thật là Vưu vật trong thiên hạ. Người đời vốn được Tiên thiên thì hỏng Hậu thiên, hoặc ngược lại … Người này được cả. Trong ba phúc lớn Trời ban là Hóa công, Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí chỉ cần được một đã phúc lắm rồi ... Người này được tất! Cái gì toàn vẹn quá chắc sẽ có cái vô lý của nó…? Quan Ngài có biết không?
Làm sao mà Tổng trấn Đại Tướng quân cầm trăm vạn binh mã lại không biết! Ngài chỉ tủm tỉm cười mà khen Quan Thái Bốc sao tinh thế rồi lảng sang trận cờ đang hồi kết thúc . Âý là vì Nàng có một đặc điểm và cái đặc điểm này đã làm khổ Đại Tướng quân nhiều lắm rồi… Đặc điểm đó rất chi là đàn bà: Ghen tuông và Đa nghi… Ừ thì cứ cho là như thế thì đã làm sao nào? Chán vạn đàn bà An Nam chả cũng thế sao? Nhưng thưa Thiên hạ, ở Nàng tỷ lệ đó được nhân lên mười lần, còn hơn mười lần … Tổng trấn bảo thế … he he!
Năm Tân Mão, Niên hiệu Quang Hoài thứ nhất, mùa thu .Vua xuống chỉ sai Tổng trấn dẹp loạn giặc Chân Lạp… Đại tướng quân mang theo Nàng trong quân . Quân đánh đâu thắng đấy ,  thế như chẻ tre … Lấy xong thành Rạch Gía , Đại Tướng quân thừa thắng ruổi tiếp tới đảo Hòn Tre , để thành lại cho nàng coi giữ . Hòn Tre là một hòn đảo cách thành Rạch Gía chừng 30 km , quá nửa tàn quân giặc lúc bỏ chạy trốn vào đây …Trong Tổng hành dinh Chân Lạp có một quân sư người Hoa đa mưu túc trí tên là Vương Anh …Y rất biết đặc điểm của nàng , y bèn tâu với vua Chân Lạp là Nặc Ông Đăng là phải dùng mưu thì may ra mới thoát khỏi nạn này. Theo kế hiểm thì phải như thế … như thế … Vua Chân Lạp vỗ đùi khen hay . Miệng nói lần này có một ngàn Nàng , Tổng Trấn cũng không tránh khỏi thất bại …Thế rồi hôm sau trong thành dậy lên tin đồn là Đại Tướng quân chiếm xong đảo Hòn Tre bắt được một người con gái đẹp, đang vui thú không còn thiết gì đến về thành nữa … Vừa nghe thị nữ tâu xong , thay vì cho gầm lên một tiếng hoặc nghiến răng kèn kẹt thì nàng chỉ cười rất nhạt. Lẳng lặng vào trong Hổ trướng khoác Hổ phục , đeo Hổ kiếm vào và truyền toàn quân … xuất phát ra đảo Hòn Tre trước sự ngỡ ngàng của tướng sĩ . Vừa ra khỏi thành vài cây số , quân Chân Lạp mai phục ba phía đổ ra đánh tan nát quân Đại Việt, chiếm luôn được thành … Nàng bị địch quân bắt sống và rất ngạc nhiên vì thái độ ân cần, thậm chí khúm núm của quân tướng giặc…
    Nhận được tin dữ, Đại Tướng quân gầm lên một tiếng , đạp chân lên tảng đá trước mặt  khiến nó vỡ làm đôi … Ông lo quân pháp bất dung thân vì để mất thành thì ít mà lo cho số phận người thiếp yêu nhiều hơn… Ông quá biết sự thâm hiểm và xảo quyệt một khi người Chân Lạp kết hợp với người Hoa sẽ khủng khiếp như thế nào, dã man như thế nào … Ông cũng quá biết người thiếp yêu của ông thông minh tài trí ở đâu thôi chứ trong thực tế trường đời lại rất ngây ngô… Thậm chí ngu si … Suốt đêm, Viên Tổng trấn loay hoay … Sáng ra , quân sĩ thấy  bên bờ biển trông vào đất liền có một tảng đá như hình người ngồi chống tay vào cằm … Viên tổng trấn, vị Đại Tướng quân bách chiến bách thắng đa tình choáng váng trước hiện thực lãng xẹt … Ông đã hóa thành đá . Ngày nay , ai đến thăm đảo Hòn Tre sẽ thấy gần bờ có tảng đá vỡ đôi như có ai đạp mạnh . Còn tảng đá hình người thì đã bị sóng cuốn đi mất tích . Còn tôi , chiều chiều ngồi bên bờ vịnh Rạch Gía nhìn ra Hòn Tre thấy hòn đá bị cuốn đi mất tích là phải. Một cái kết logic!
   Đến đây , bạn đọc chỉ còn một băn khoăn cuối cùng là số phận người thiếp yêu của Tổng trấn rồi sẽ ra sao trước một bầy hùm sói … Tôi cũng thế, trong lần đi công tác tháng 10 năm 2012 tại Rạch Gía, Kiên Giang vừa qua tôi cũng bỏ công lặn lội dò hỏi , chủ yếu là những người già , một vài nhà nghiên cứu lịch sử vùng cực tây nam bộ … Đặc  biệt là những thổ dân còn sót lại trên những hoang đảo… Và nhận được nhiều luồng thông tin  khác nhau , thậm chí ngược nhau … nhưng tựu trung là ba luồng thông tin  như sau:
Luồng thứ nhất: Ngay khi bị dẫn vào trong trướng giặc . Nàng đã chửi mắng , sỉ vả Nặc Ông Đăng và Vương Anh thậm tệ … Nào là … (cho phép không kể ra ở đây ). Lạ lùng nhất là dù nàng sỉ vả dữ dội đến thế nào thì bọn chúng chỉ cười ,thậm chí còn tỏ ra khoái trá (làm nàng chả hiểu ra làm sao cả) … Cuối cùng nàng cắn lưỡi tự tử!
Luồng thứ hai : Sau một thời gian khoảng hơn một tháng không thấy tin tức gì của Đại Tướng quân … Trước sức cám dỗ của hai tên … (Chúng chăm sóc nàng tận tụy, bữa ăn hàng ngày khi thì gà rán, khi thì xôi Yến , quà tặng lúc nhẫn mặt đá tinh xảo , lúc vòng gỗ đeo tay trang sức kiểu hiện đại…) Gặp nàng thì đưa nàng lên mây xanh , nào là đẳng cấp cao siêu , nào là con nhà gia thế … Cuối cùng , sau hai tháng nàng chấp thuận yêu Vương Anh vì tên này tuy không lắm của bằng vua Chân Lạp nhưng A ma tơ hơn và lừa giỏi hơn! 
   Luồng thứ ba : Vốn là người khôn ngoan , nàng chả tội gì phải chết, mà cũng chả tội gì không nhận quà (người ta yêu mình chứ có ăn thịt mình đâu) Nàng yêu cả hai thằng … không, ba thằng chứ (quá trình điều tra tôi còn biết là phó vương Chân Lạp Nặc Ông Trưn cũng rất mê nàng và rất muốn lấy nàng làm vợ) Mặc cho ba thằng đánh đá nhau … Nàng quan hệ với cả ba . Nàng bảo: Ôi giời! Đời ngắn lắm … Chết là hết ấy mà …
   Nhiệm vụ của tôi đến đây coi như đã hoàn thành . Còn các bạn? Có ba phương án đấy, muốn chọn cách nào thì chọn. Tùy ý !

Viết tại Mũi Nai – Hà Tiên –Sương Gíang -- Nhâm Thìn


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 02 Tháng Mười, 2013, 08:31:23 am

HÒN CUỘI VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN[/b]


 

MỘT HÌNH ẢNH LẪM LIỆT NGƯỜI LÍNH,
MỘT CÁCH NHÌN PHƯƠNG ĐÔNG VÀ NHỮNG NỤ CƯỜI U-MUA
(đọc tập hồi ký- tản văn “Những hòn cuội nhặt dọc đường...”1 của Lê Trí Dũng)

Tiểu thuyết về chiến tranh thì Bảo Ninh là tác giả được Lê Trí Dũng mến mộ nhất. Còn tản văn (hoặc tạp văn) về chiến tranh, tôi vẫn cho rằng Lê Trí Dũng là hơn cả. Tiêu biểu là áng tản văn bài 17, tập I. Quan điểm mỹ học của tác giả hết sức đơn giản: “Tác phẩm văn chương tác phẩm hội họa..., đó là tác phẩm nghệ thuật, muốn hay... phải “xuất được cái thần” (I,101). Cái thần của bài tản văn được bộc lộ tập trung trong mươi dòng cảm hứng triết luận về chiến tranh. (xem II, tr.176). Trong những ngày và đêm chiến tranh khốc liệt nhất thì trời đất vẫn vô tình “Mặt trời vẫn hừng lên vô tình như từ thuở hồng hoang không có chiến tranh”. Bom đạn cũng vô tình: “Xa xa, tiếng bom pháo vẫn rền nổ vô tình như mọi ngày từ thời chiến tranh bùng nổ”. Đằng sau dáng vẻ vô tình của chiến tranh là “sự tính toán không vô tình chút nào của Bộ chỉ huy tối cao cả hai bên”. Trong tương quan éo le này giữa con người và trời đất hiện lên hình ảnh lẫm liệt những người lính. “Chúng tôi lầm lũi đi trong bình minh giữa rừng cây trụi lá. Bóng in sẫm trên nền trời đỏ hực như vô vọng". Hình ảnh rỡ ràng “áo chàng đỏ tựa ráng pha” người chinh phu của Đoàn Thị Điểm có cơ bị lu mờ trước hình ảnh lẫm liệt những người lính của Lê Trí Dũng. Kết thúc đoạn cảm hứng triết luận này là lòng cảm thương vô hạn của tác giả với “số phận” ngàn vạn người đã hy sinh trong chiến tranh. “ở đó, mỗi dân tộc, mỗi đất nước, mỗi cuộc chiến, ... đều có số phận riêng, mà trong đó “số phận” mỗi người lính chúng tôi mỏng manh nhỏ bé xiết bao. Thậm chí chả còn ai thèm để ý đến nó, đếm xỉa đến nó, như những nấm mộ vô danh lô nhô tôi gặp trên suốt chặng đường hành quân dằng dặc dọc chiều dài quê hương tôi”. Thời hậu chiến, cảm hứng triết luận về chiến tranh của tác giả vẫn “lớn tiếng”. “Cuộc bươn trải đời thường giống như trận cuồng phong khổng lồ chôn vùi tất cả, chiến tranh thì như một con ngựa hoang trong trận cuồng phong ấy, thỉnh thoảng cất lên một tiếng hý vang trời nhắc nhở mọi người đừng quên” (II,179). Triết luận dễ đi vào tự biện. Lê Trí Dũng triết luận bằng những câu văn hình ảnh, những mạch cảm nghĩ không thật xác định nhưng lại có sức khơi gợi sâu và xa.
Trong các bạn văn, có một người nữa được Lê Trí Dũng mến mộ là Phùng Quán. Một tính cách “lẫm liệt”. “Lẫm liệt” yêu và lẫm liệt “ghét”. Lê Trí Dũng ghét cay ghét đắng những kẻ chỉ tìm cách che đậy con người thật của mình, lúc nào cũng “diễn”, “cả đời chỉ đóng kịch”, những kẻ ra rả chửi đời nhưng hễ có cơ hội là đổi giọng “nịnh đời”, những kẻ “lúc nào cũng đạo mạo mô phạm, không bao giờ mất lòng ai, nói một câu nghĩ nửa ngày” nhưng mấy chục năm trời, không tiêu chuẩn nào ông bỏ qua, được phân nhà mấy lần, “tóm lại là chả miếng nào ông đớp trượt” (II,31). Cái ghét của Lê Trí Dũng sẽ đi đến đâu? Có một quá trình khác diễn ra trong sự trưởng thành của ý thức tác giả: anh ngày càng nhận rõ cái lẽ tương đối ở đời.
“Trong cái thế giới bề bộn này, tất cả chỉ là tương đối” (I, 235)
“Trong cõi hồng trần này, cái gì cũng tương đối thôi” (II, 29)
“... quy luật muôn đời là thuyết tương đối” (II, 371)
Phương Tây (mà văn hóa bắt nguồn từ cái nôi văn minh Hy lạp cổ đại) và Phương Đông mà gốc là văn hóa Trung Quốc cổ đại) trong sự tư duy đều xuất phát từ những trái ngược: từ nóng và lạnh từ sống và chết, từ Âm và Dương... Theo Francois Jullien, tư duy phương Tây về cơ bản khác với tư duy phương Đông ở chỗ này:
- Tư duy phương Tây “dựng những trái ngược lên thành những “vật tự nó”, biến những vật tự nó” này thành những bản chất loại trừ nhau” cách tư duy này chi phối cách nhìn những trái ngược, chỉ thấy quan hệ đối lập giữa cái này cái kia, tuyệt đối hóa quan hệ đối lập này, thành ra giữa cái này cái kia, chỉ có quan hệ cái này loại trừ cái kia, chẳng còn quan hệ nào khác nữa.
- Tư duy phương Đông “đã không trừu xuất những trái ngược khỏi dòng chảy của những quá trình; nó đã duy trì chúng trong một thứ liên can với nhau” ngăn ngừa mọi “sự cắt đứt và sự loại trừ” thường thấy có trong tư duy phương Tây từ đó sinh ra cách nhìn: ngay trong quan hệ đối lập giữa cái này cái kia vẫn thấy những quan hệ khác: quan hệ dung hợp, bổ sung, nâng đỡ, tương tùy tương hỗ... giữa cái này, cái kia.
Vấn đề đối lập giữa nghệ thuật và thương mại đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Cách nhìn của Lê Trí Dũng về vấn đề này hết sức đơn giản: “...nghệ thuật và thương mại là hai phạm trù vừa đối kháng vừa nâng đỡ nhau” “...bán được tranh ai cũng thích, không thì lấy gì tiếp tục vẽ?”... “Nhưng nếu vẽ chỉ để bán, thì tôi còn biết nói gì giữa ngày xuân rộn rã đang đến nhỉ (xem I,26)
Trong hội họa, nét vẽ “khôn ngoan đến thượng thặng” đối lập với nét vẽ “ngây ngô như trẻ nhỏ”. Tư duy bằng ngôn ngữ “cắt đứt” và “loại trừ” thì đã khôn ngoan đến thượng thặng không thể nào “ngây ngô như trẻ nhỏ”, hai lối hành nét này “loại trừ” nhau. Xem lối hành nét của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Lê Trí Dũng đã đọc, thấy ở đây “sự khôn ngoan đến thượng thặng mà vẫn ngây ngô như trẻ nhỏ”. Cũng vậy, anh thấy qua những nét vẽ người họa sĩ bậc thầy này “nửa như vận khí, nửa như vô thức”, “cái gì cũng biết mà dường như không biết gì” (I,22). Một lần nữa, cái này và cái kia đối lập nhau mà vẫn “dung hợp” với nhau. Không có cách nhìn phương Đông, liệu Lê Trí Dũng có nhận ra được lối hành nét của người thầy của mình?
Cũng với cách nhìn này tác giả hình dung chân dung người lính giải phóng. “Tôi thấy chân dung anh... , nó vừa cô đơn, vừa hào hùng, vừa có một cái gì nghĩa cả lại vừa tủi phận, nó vừa là sứ mệnh vừa là số phận...” (I,69). Từ cách nhìn này có thể rút ra nhiều bài học trong việc xây dựng nhân vật trong mọi ngành văn học nghệ thuật và cả trong cách tiếp cận con người bao giờ cũng phức tạp, không hề đơn giản như chúng ta tưởng.
Cuối cùng, phải nói đến phương Đông trong quan niệm mỹ học của tác giả. Mỹ học phương Đông truyền thống đặc biệt coi trọng việc “xuất được cái thần" của nhân vật, cảnh vật, còn trong mỹ học phương Tây việc hiển lộ cái đẹp đã trở thành một yêu cầu phổ quát. Quan điểm mỹ học của Lê Trí Dũng: “... đã là tác phẩm nghệ thuật, muốn hay, ... phải “xuất được cái thần”; trong nghệ thuật, “cũng giống như phép xem tướng, nếu chỉ đạt “Hình tướng” mà không đạt đến “Thần tướng”, là không được” (I,102).
Trong hai tập tản văn, đặc biệt phần nói về thế thái nhân tình và những nghịch cảnh thời hậu chiến, có những trang khá “căng”. Lác đác những nụ cười u-mua làm dịu đi sự căng thẳng.
Tác giả nói đến những người “được đăng báo một đôi bài thì đem khoe cả họ” (II,338). Ai cũng có thể viết một câu văn như vậy, nhưng thêm vào cuối câu mấy chữ “(chủ yếu họ đằng vợ)” thì đấy là nụ cười u-mua của Lê Trí Dũng.
Tác giả kể chuyện “một ông họa sĩ vốn hay chửi”: “Lần triển lãm nào ông cũng dự thi và lần nào ông cũng chửi Hội đồng Nghệ thuật là ngu. Bỗng năm ấy không thấy ông chửi, gạn hỏi mãi, ông mới ghé vào tai tôi, thì thào: “Hội đồng Nghệ thuật lần này được đấy!”. Tìm hiểu, té ra năm ấy ông được giải...” U-mua nhẹ nhàng thôi, hầu như không có châm, chọc.
“Rồi xếp đặt, rồi trình diễn... vì nước Nam không thể thiếu những người đi tiên phong trong nghệ thuật” (II,7). Tác giả cứ như tỉnh bơ, lời lẽ nghiêm trang. Nụ cười u-mua quá kín đáo, nhưng càng ngẫm càng đau.
Tác giả kể chuyện duyên nợ thơ ca của một người cháu:
“... mới hết cấp 2 đã nổi tiếng thần đồng,... lên cấp 3 đã có thơ đăng trên báo tỉnh. Thế rồi cu cậu thành nhà thơ thật, cả nhà tràn trề hy vọng... Đùng một cái cu cậu bệ rạc hẳn ra, uống rượu như điên... Gặp tôi, cu cậu bảo: “Chú ạ, cháu bất hạnh làm sao lại rúc đầu làm “thi sĩ” thế này... Thơ phú nước mình toàn thơ con cóc, ngợi ca sáo rỗng, rẻ tiền... Kiếp sau thà đi cày ruộng còn hơn!”. Bất đồ, một ngày nọ, thấy cu cậu trên Diễn đàn Văn nghệ VTV1 đang thao thao bất tuyệt về nền thơ Việt đang trên đà khởi sắc... Hỏi mấy bạn thơ, té ra cu cậu vừa nhận được cái giải kèm theo ít tiền. Vội đến chúc mừng, ghé qua rèm cửa, thấy cu cậu đang rung đùi ngâm nga: “Kiếp sau xin lại được làm... nhà thơ” (II,252). Những sự gia công của tác giả vào câu chuyện được kể chứng tỏ u-mua của Lê Trí Dũng có nghệ thuật và nghệ thuật khá cao.
Dọc đường hành quân, rong ruổi trên đường đời, đường nghệ thuật, Lê Trí Dũng nhặt được không biết bao nhiêu hòn cuội. Đọc hai tập hồi ký-tản văn của tác giả, tôi nhặt được một hình ảnh lẫm liệt anh bộ đội giải phóng, một cách nhìn phương Đông và dăm ba nụ cười u-mua. Hơi bị ít. Phan Cẩm Thượng, người viết lời giới thiệu cho tập I, tập II, thẩm văn tinh tế, lại am hiểu hội họa, anh nhặt được nhiều hơn.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 03 Tháng Mười, 2013, 07:13:30 am

Hai từ “Đồng đội” thiêng liêng

Lê Đức Tuân
(CCB Bộ đội Tăng thiết giáp)

Năm 1972, từ Quảng Trị, tôi nhận lệnh về Bộ Tư lệnh Thiết giáp làm trợ lý bản tin Thiết giáp.
Hồi đó chúng tôi đều chưa vợ, lại đồng hương, cùng ban, cùng phòng nên chóng thân nhau. Tôi biết Lê Trí Dũng là một trong quân số hàng đại đội sinh viên, giáo viên đại học, nhiều người học ở Liên Xô, Trung Quốc, Hungari, Triều Tiên... vừa vào binh chủng. Họ về từ nhiều con đường. Từ Cục chuyên gia Bộ Quốc phòng điều xuống, từ các sư đoàn bộ binh vừa “dính” đòn ở Quảng Trị điều ra, do lệnh của Tướng Giáp muốn bảo tồn một phần chất xám cho quân đội, hoặc từ những đơn vị huấn luyện tân binh ở Thanh Hóa điều về...
Bom Mỹ ném, doanh trại tan tành, chúng tôi phải sơ tán vào làng Gô sống cùng với dân. Ôi! Làng Gô, một làng cổ dễ nghìn năm vùng đất tổ trung du này với cây đa đầu làng xum xuê bóng mát, đêm nào lính tăng cũng ra đó ngóng về Hà Nội rực sáng ánh đèn pha, đạn pháo phòng không, lửa bom của cuộc đấu với B52 của quân dân Hà Nội.
Tôi gặp Dũng lần đầu tại bàn bóng bàn dã chiến, cạnh bếp quân dụng trong lúc chờ đủ mâm. Chả nhớ thắng thua thế nào, chỉ nhớ bữa cơm hôm đó cả mâm “liên hoan” hơn các mâm khác một rổ rau sống và tảng cháy to, do Dũng “dân vận” được từ anh chị nuôi bằng tài “truyền thần” của mình.
Rồi Mỹ tạm ngừng ném bom, chúng tôi nhận lệnh về doanh trại cũ.
Doanh trại nằm ngay dưới chân núi Đanh, sớm sớm khi tiếng kèn báo thức bừng lên, mở mắt ra đã thấy 6 chữ đại tổ đùng do lính công binh xe tăng khắc trên sườn núi “Đã ra quân là đánh thắng”. Giáp chân núi và doanh trại là sân bóng đá mà ở đó xảy ra nhiều trận đấu quyết liệt giữa đội Thể công, Trường Sỹ quan Lục quân, Học viện Quốc phòng... với đội tuyển binh chủng Tăng mà Dũng là một tiền vệ cứng của đội.
Một hôm, anh Ẩn (Lưu Ngọc Ẩn) trợ lý tuyên huấn bảo Dũng: “Doanh trại ta nằm ngay trên đường đi Tam Đảo, bộ đội và nhân dân qua lại nhiều. Bộ Tư lệnh chỉ thị cho đồng chí phải thực hiện một tranh cổ động khổ lớn (cao 3m ngang 5m) ngay tại cổng doanh trại để động viên sỹ khí của quân dân...”. Dũng hỏi: “Vật liệu vẽ, họa phẩm và nhân lực trợ giúp, em được nhận từ đâu?”. Anh Ẩn bảo: “Vật liệu vẽ, cậu cứ kê khai, xuống kho quân khu lĩnh, còn nhân lực, từ phác thảo, thể hiện, lắp ráp giàn giáo... tất cả chỉ có mình cậu”. Dũng không nói gì, lẳng lặng quay ra ngoài, khuất cửa tôi mới nghe một tiếng “rõ” rất nhỏ.
Tôi thương Dũng quá, cứ đi công tác về lại ra giữ thang cho Dũng leo trèo đo đạc, suy tính... Anh Thỉnh (Hữu Thỉnh) là nhà thơ của binh chủng, tác giả lời bài “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”, vừa từ chiến trường ra, bảo tôi: “Tuân đừng lo, Dũng đã tự tay căng lều bạt, tự tay thiết lập cả một xưởng in lưới dưới gốc cây hồng nhà chị Quân, tự tay sáng tác mẫu, tự tay in ấn, vừa là Giám đốc vừa là công nhân thì nó làm được đấy!”.
Tôi vẫn băn khoăn, thấy anh Thỉnh ra gặp Dũng, nheo mắt, xuýt xoa: “Chà! Sao lại có thanh niên đẹp trai thế này nhỉ? Chết thì phí quá, em ơi...”. Tôi ngó góc phòng, thấy hàng cuộn, hàng cuộn tranh cổ động do Dũng vẽ và in sắp gửi ra chiến trường thấy yên tâm hơn.
Ngày đó, để tăng chất lượng bữa ăn, mỗi người lính ở Bộ Tư lệnh phải đảm bảo chỉ tiêu mỗi tháng 10kg rau xanh tự tăng gia, 10kg củi. Anh em lo công việc của mình tối ngày, hễ được nghỉ lại phải tính đi rừng, cuốc đất, phân tro. Chúng tôi tuổi còn trẻ “đói kinh niên”. Chả biết do “thiếu kinh nghiệm” hay cố ý mà trong giấy đề xuất vật liệu cho tranh cổ động tôi thấy Dũng đề: bột nếp loại 1 (không có thuốc trừ sâu): 7kg... vải bố:... mét, gỗ:... thanh, đinh 10 phân... cái! Nồi quân dụng lớn: 1 cái. Rồi chờ đúng dịp nhiều bạn thân ở nhà (tôi nhớ có cả các lính trong đội Tuyên văn binh chủng) Dũng “mật báo” cho chúng tôi…
Đêm đó, giữa cái rét cắt da, trong một ngôi nhà hai tầng không mái (bom đánh bay cả mái đi rồi) phi lao rì rào trong gió, củi cành phi lao sẵn đấy. Dũng chiêu đãi các sỹ quan xe tăng một trận cháo bột nếp tưng bừng. Nhìn đi nhìn lại, kẻ đứng người ngồi sì sụp giữa đêm đông. Cháo đã nhiều, lại đặc quánh… Nhớ lại cảnh “Ăn hồ thợ vẽ” ngày đó mà ôm bụng cười đến giờ.
Hết chiến tranh, người thì “ba sao không bằng một sào ruộng khoán” tôi thay sắc áo lính. Dũng về cày trên tờ Báo Ảnh Việt Nam, làm họa sỹ thiết kế mỹ thuật, cũng quá hợp vì trong chiến tranh Dũng từng là phóng viên chiến trường, lăn lộn ở Quảng Trị trong các đại đội xe tăng với chiếc máy ảnh trong tay, lại còn làm đại đội trưởng phụ trách đội tự vệ cơ quan hồi chiến tranh 1979.
Rồi Dũng “có riêng” một cô kỹ sư hóa làm ở nhà máy Da Thụy Khuê và một thằng cu con, nhà đầu hồi B1 Kim Liên. Tôi đến thăm, thấy Dũng vẫn cần mẫn tìm mật đời vẽ tranh. Tranh nhiều lắm, nó nằm “vùng” trên gác xép, nóc chạn... Đùng một cái Dũng thả ngàn ngựa ra thế giới người. Tôi mừng như việc của mình, cũng khoe với Dũng những bài viết của mình, hai thằng lính cũ hàn huyên, Dũng bảo: “Anh em mình có vẽ, viết cũng là để thấy cần phải sống như thời cưỡi “ngựa sắt” vượt cổng trời thôi anh ạ!”.
Cận Tết Nhâm Ngọ (2002), tôi nhận được bài viết “Đường đến dinh Độc lập” của thượng tá Nguyễn Khắc Nguyệt (người lái chiếc tăng thứ 8 tiến vào dinh). Trong bài ấy có chi tiết tôi ngờ ngợ, buộc phải hỏi lại Nguyệt: Liệt sỹ Duyệt có phải là sinh viên năm thứ hai Đại học Nông nghiệp 1, người Hà Nội. Hồi ở Quảng Trị có tham gia lớp vẽ của Lê Trí Dũng không?
Tôi điện cho Dũng đề nghị “truy tìm” trong “bảo tàng” ảnh chụp và vẽ của riêng Dũng thời Dũng lăn lộn cùng lữ đoàn 203 ở Cửa Việt, A Sầu - A Lưới - Quảng Trị. Dũng sốt sắng mò mẫm cả đêm. Đến với tôi, hai người chụm đầu chỉ trỏ, nhớ lại. Dũng khẳng định trong một bức ảnh bé tý, cỡ 3 x 4 có ba người lính trẻ măng ngồi trên tháp pháo xe tăng rất ấn tượng... Đằng sau chiếc tăng là rừng phi lao tan tác sau trận đấu tăng khủng khiếp vừa xảy ra, bãi cát trắng và sóng biển xanh chồm lên xác các xe tăng M48, M41 của địch còn ngổn ngang hơn 1km dọc bãi biển.
Dũng bảo: “Người ngồi cao nhất, đang đo đạc là Duyệt đấy, anh ta rất ít nói, rất chịu khó và chơi ghita được đấy!”... Rồi Dũng lại phải “xuất xe” vài lần, mỗi lần hàng chục km tìm Nguyệt để xác minh nhân vật trong ảnh trong bề bộn các hợp đồng vẽ bìa báo Tết và minh họa cho hàng chục tờ báo của Dũng.
Ngày 28 tháng 4 năm 2002, ngày giỗ lần thứ 27 của trung sỹ Nguyễn Kim Duyệt (pháo thủ đại đội xe tăng đầu tiên vào chiếm dinh Độc lập), tôi, Dũng và Nguyệt đến nhà Nguyễn Kim Duyệt (ở 32 Đại La - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội) mang theo tấm ảnh quý nhất - như gia đình Duyệt nói, nhưng gia đình chưa biết bức ảnh đó do Dũng chụp và cắt cúp phóng to cỡ 18 x 24 tại một hiệu vi tính.
Ngày giỗ Duyệt năm ấy làm ấm lòng bà mẹ Duyệt đã trên 80 tuổi, bà mẹ tóc bạc phơ, cao gầy rất đẹp lão ôm tấm ảnh vào lòng, trong đó Duyệt đang giơ bút đo đất ngắm trời cho bức vẽ sau trận đánh chống lấn chiếm của cả thầy lẫn trò. Lớp học đó cũng là một trong nhiều lớp bồi dưỡng hội họa cho bộ đội xe tăng giữa vùng bom đạn của thầy giáo, thượng sỹ xe tăng Lê Trí Dũng.
Đối với Lê Trí Dũng, hai từ đồng đội bao giờ cũng bao hàm một ý nghĩa thiêng liêng. Những người số phận chiến tranh đã cho đứng cùng đội ngũ thì Dũng không bao giờ quên, nhất là những người đã hy sinh.
Và thật bất ngờ, cuối năm 2006, Dũng qua thăm tôi, tặng một tranh ngựa có cành hoa mai (vợ tôi tên Mai) rồi khiêm nhường đưa một quyển sách rất lạ, hình vuông, bìa cứng rất “lính”. Dũng nói: “Em cũng mạo muội viết, vì đồng đội thôi mà...”. Nội dung cuốn sách gồm các bài tản văn mà Dũng gọi là những “hòn cuội” nhặt dọc đường hành quân. Toàn bộ cuốn sách ngập tràn tình đồng đội trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại...
Rồi hơn một năm sau Dũng lại đến thăm tôi, lại nhẹ nhàng đưa ra quyển thứ hai dày dặn hơn, sách có đến hơn 100 bức minh họa rất sinh động, độc đáo. Điều làm tôi xúc động là trong sách có một bài tên “Đồng đội” kể về việc anh dày công vẽ một bức sơn dầu khổ lớn về người đồng đội Nguyễn Kim Duyệt như thế nào. Ngoài ra còn hàng loạt tản văn khác kể về phút hy sinh hào hùng của tiểu đoàn trưởng Ngô Nhỡ vài giờ trước khi Sài Gòn giải phóng. Kể về các đồng đội cùng học trong trường Mỹ thuật như Hoàng Thượng Lân, Hoàng Tích Minh, Nguyễn Quang Việt... hy sinh như thế nào... Kể về vị chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng nghiêm chào người lính binh nhì Nguyễn Tiến Dũng trước giờ xuất trận ra sao... Cho đến cả người đồng đội mà số phận không cho được gặp lúc còn sống: Hòa Vang...
Dũng nói với tôi: “Em viết lỗ mỗ anh ạ! Nhưng chắc là có “khí” đấy. Không hiểu sao cứ viết về đồng đội là em khỏe ra. Vừa rồi đang ốm, anh Trịnh Đình Cần bên Hội hỗ trợ các gia đình liệt sỹ đến thăm, nói: “Hội mới thành lập cần gấp một cái logo biểu tượng cho Hội để đặt dấu ấn đầu tiên vào lễ ra mắt, nhờ anh giúp cho...”. Thế là em lao vào làm ngay, phác thảo tới bảy cái và được duyệt ngay, hết cả ốm. Hình như lúc vẽ có các liệt sỹ “phù cho” anh ạ!...”. Tôi bảo: “Mình đâu phải nhà văn chuyên nghiệp, nhưng chắc chắn viết có “khí” rồi, vì mình có “tình”. Tình đồng đội của chúng ta vô giá. Chỉ có Trời xanh mới thấu hiểu hết, Dũng à…”.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 04 Tháng Mười, 2013, 07:16:21 am

HÒN CUỘI CỦA KÝ ỨC
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn

Trong sự mách bảo bất chợt của vô thức, tôi nhặt lên một viên cuội nhỏ dọc con đường hành quân của anh lính xe tăng - họa sĩ Lê Trí Dũng. Bước chậm vào ký ức, tôi lại được mơ mộng như ngày nào bên bờ hiện thực, để kịp mở đôi tai lạ cho con mắt hòa điệu với tiếng nhạc của bầy la và bước la đi dọc những cánh rừng vô tận của Trường Sơn.

Ngày ấy, mùa khô, trời xanh và cao tít tắp, chẳng thể nào nhìn thấy một gợn mây nhỏ, dù chỉ phảng phất như một sợi khói. Vì thế cái sức vang của rừng cũng dữ dội hơn. Rừng rộng và sáng hẳn ra. Những chiếc lá đỏ tung bay như những mảnh áo gay gắt rực hỏa của mặt trời. Có một thoáng đụng chạm của thị giác để được thốt lên: Rừng gầy! Nhìn đâu cũng thấy gốc và cành cây. Chả thế mà bầy la đi, lút cả bốn chân trong lá, trong cỏ. Chỉ có tiếng chuông trên cổ la rung là cao vút, sắc lanh lảnh...

Và những ngày mưa, những ngày mưa ẩm ướt, dai dẳng và tối sầm. Bầu trời ngổn ngang những đám mây lớn như cánh đồng đang mùa gặt bề bộn. Những con chim pơ tốc kêu hoài, thê thiết trong tiếng sấm vỡ vụn ra ở phía chân trời. Tiếng thác nước đập ồn ĩ xuống đá nhọn và lòng suối cạn. Còn những con đại bàng lặng lẽ dang đôi cánh lớn đen sẫm, lượn quanh chóp núi nhọn hình mũi gươm. Nhưng thường xuyên hơn là tiếng bom hung hãn bóc đi lớp da xanh ngắt của rừng, làm trơ ra những vạt đất đỏ chói, những mỏm núi nhọn bị phạt ngang, đất tơi ra như bụi. Chiếc áo cỏ xanh non sáng lên. Những búp măng cũng nhô lên, mập mạp và cứng cáp. Rồi hương thơm của trái chín, dù còn đượm sắc màu riêng hoang dã vẫn thấy nhẹ nhàng ngọt mãi trong lòng...

Vâng, ngày ấy đâu đã kịp xa đi trong ký ức của anh, của bạn và của tôi. Những mảnh vụn của sự hồi nhớ xa xôi chợt gắn kết nguyên vẹn. Ta bỗng nghe đâu kia những tiếng nổ lớn dọc triền núi thẫm dội về, chúng ào đến rồi lại tan nhanh như những đám mây. Rừng nắng. Mặt đất ùn lên dấu dép, dấu giày...

Thật lạ. Vậy thì những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân của anh lính xe tăng Lê Trí Dũng đâu phải vật vô tri?

Tôi tự xoay viên cuội nhỏ trên tay như xoay khối vuông Rubích ngày ngày. Để ngày ngày, tôi có cớ để đi về, để bước chậm vào ký ức miên viễn với Trường Sơn...

Hà Nội cuối Chạp năm Tân Mão 2011
LXĐ



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 05 Tháng Mười, 2013, 07:15:42 am

BA LẦN GẶP ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, vị chỉ huy lớn đánh thắng hai đội quân xâm lược là Pháp và Mỹ. Với những người làm công tác văn hóa, ông là anh Văn thân thiết. Còn với những người lính chúng tôi, dù đang còn mặc áo lính hay đã giải ngũ, ông là vị chỉ huy suốt đời, là "ông Tướng huyền thoại" của chúng tôi, còn là kỷ niệm không bao giờ quên được với ba lần gặp ông.

Lần thứ nhất
: đó là những ngày giáp Tết Nhâm Tý đầu năm 1972, Sư đoàn Bộ binh 338 quân tăng cường Bộ tư lệnh Thủ đô đang cấp tập “rèn” quân ở Thạch Thành (Thanh Hoá). Ngày nào cũng đeo 10kg đá đựng trong sọt tre tự đan chạy 5km, sau đó là lăn, lê, xạ kích, võ thuật và đào giao thông hào. Đại đội đóng quân trong một bản người Mán, vùng bán sơn địa. Sung sức, tôi được giao khẩu B41, nặng và là hoả lực chính của đại đội. Mùa đông năm ấy rất lạnh. Đêm nằm, chúng tôi mặc tất quần áo, quấn cả màn và áo mưa mà ngủ, chờ lệnh xuất quân vào B dài.

Một đêm khoảng 12h đột nhiên có còi báo động rú lên. Lệnh xuất quân. Toàn bộ quân trang quân dụng phải mang đi hết. Lính tráng làu bàu: Đêm hôm giá buốt, lại còn vài ngày nữa là Tết... Nhưng kỷ luật chiến trường, quân lệnh như sơn. Tôi nai nịt chặt chẽ xong, hất khẩu B14 lên vai là đi. Trời đêm đen như mực, hết đèo lại suối, người sau cứ nối bước người trước mà đi. Hầu hết lính nhập ngũ năm ấy là sinh viên các trường đại học, có cả những thầy giáo và khá đông nghiên cứu sinh ở nước ngoài mới về. Đến lúc ấy, các "công tử" mới thấy giá trị của những buổi đèo sọt rèn quân. Nhưng dù sao chăng nữa, lính Hà Nội cũng khó dứt khỏi những mối tình sinh viên mà các bạn gái theo lên từ thủ đô. Và thế là cái kho chứa rơm của hợp tác xã bị biến thàng "chiêu đại sở" của lính và nước mắt chia ly nhiều bao nhiêu thì càng làm tăng sự đột ngột của lệnh hành quân đêm ấy. Nhưng đến tảng sáng thì chúng tôi ngã ngửa người ra khi nhìn thấy lờ mờ dãy núi đá vôi Ninh Bình, tức là chúng tôi đã lộn ngược ra Bắc và đã đi được 40km. Và một tin vui còn bất ngờ hơn: chuẩn bị nghe đại tướng Võ Nguyên Giáp úy lại vào chúc Tết khi vào chiến trường...

Hôm ấy, Sư đoàn bộ đã dựng một khán đài cao, Đại tướng sẽ đứng trên đó nói chuyện, toàn sư đoàn hàng ngũ chỉnh tề trải dài xuống ven đồi. Nhiều đơn vị ở quá xa chỉ cử đại diện. Đại tướng lên nói chừng 15 phút, chúc Tết và động viên binh sĩ, tiếng "hu-ra" vang rền. Kết thúc, đơn vị chỗ nào lại về chỗ nấy. Chúng tôi còn nán lại để "xem mặt" ông. Ra đến ngoài cánh rừng bạch đàn, rất nhiều chiến sĩ đứng dọc hai bên đường, từ trên xe, ông nhảy xuống đi bộ giữa hai hàng quân, tay vẫy vẫy... Đột nhiên ông dừng lại trước một người lính trẻ, rất trẻ. Chỉ khoảng 16, 17 tuổi và rất nhỏ bé, lùng thùng trong bộ quân phục số 2. Đối diện với người binh nhì, ông ôn tồn hỏi: “Đồng chí đi bộ đội bao lâu rồi?”. “Báo cáo Đại tướng, gần một tháng ạ”. “Đã học chào chưa?”. Người lính trẻ lúng túng, vì cảm động hơn vì câu hỏi. Và bất ngờ, Đại tướng dập gót, đứng nghiêm, giơ tay chào. Người lính cũng đứng thẳng người, chào đáp lại, hai mắt anh rực sáng. Suốt đời, tôi không bao giờ quên ánh mắt của người lính hôm ấy. Trong ánh mắt ấy nửa như có sự hàm ơn, nửa như mang một lời hứa. Trong giây lát, không gian như nén lại rồi vỡ tung ra trong tiếng “hu-ra” vang dội. Lần đầu tiên, tôi chứng kiến một cảnh tượng cảm động và lạ lùng: một đại tướng đứng nghiêm chào một binh nhì trước giờ xuất trận.

Giờ đây, đã hơn 30 năm, lũ trẻ sinh thành đêm hôm ấy phần lớn đã có gia đình, Còn chúng tôi không quên được cuộc hội ngộ. Trong tình thế ầm ầm vào trận, mạng sống quả rất mong manh. Nhưng với đạo quân "Phụ tử chi binh" ấy, người ta cũng có thể chết vì một tấm lòng, một nghĩa cử lắm chứ! Sự thực trong đoàn quân năm ấy rất nhiều người không trở về, họ vĩnh viễn nằm lại thành cổ Quảng Trị, đáy dòng sông Thạch Hãn, một cánh rừng nào đó B2, B3, chiến trường C... Nhưng tôi biết sức mạnh của những người lính chúng tôi được tăng lên kể từ buổi gặp chủ tướng của ngày ấy.

 Lần thứ hai:
Vào cuối năm 1994. Cuộc triển lãm hội hoạ mang tên “Cái nhìn từ hai phía” hội tụ 40 hoạ sĩ cựu chiến binh hai nước Việt Nam và Mỹ sau khi chu du vòng quanh nước Mỹ gặt hái nhiều tiếng vang thì lễ bế mạc được tổ chức ở bảo tàng Mỹ thuật, Hà Nội. Vài hôm sau buổi lễ, tôi được ban tổ chức mời đến để cùng tiếp một khách mời đặc biệt: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hơn nửa giờ ông xem kỹ từng bức tranh một, thỉnh thoảng trao đổi đôi lời với chúng tôi. Ông dừng lâu trước bức “Chân dung Bác Hồ” gắn bằng những con tem thư của hoạ sĩ cựu chiến binh David Thomas và bức “Cánh rừng Đi-ô-xin” của tôi. Tôi biết, ngày nay ở Hà Nội, mỗi tuần một triển lãm, việc ông đến thăm triển lãm hội hoạ của những người lính cũ hai bên của cuộc chiến mà “hơi bom còn nóng hổi” là không phải điều đơn giản. Ông thích hội hoạ, am hiểu văn, sử, khoa học và còn biết chơi piano cừ khôi. Thế giới ít có người văn võ song toàn như thế.

Lần thứ ba:
Thời gian như gió qua cửa sổ. Nhiều lúc phóng xe trên đường nhưng tôi cứ nghĩ: "Ông tướng đã 93 tuổi rồi, đại thượng thọ rồi, không biết có tập thiền nữa không? Thế rồi, một dịp bất ngờ, tôi được vẽ và chụp ảnh Đại tướng. Một chiều tháng 9, tôi đến nhà ông. Tôi chờ trong phòng khách. Rồi ông xuất hiện trong bộ lễ phục Đại tướng. Cử động chậm đi nhiều tuy rất minh mẫn. Sau phút chào hỏi, ông bảo: "Làm việc ngay, vì lát nữa là đến giờ tập thái cực quyền rồi". Tôi bắt đầu vẽ, căn phòng lặng tờ, chỉ nghe tiếng sột soạt trên giấy. Đột nhiên, ông bảo: “Rất nhiều người nói tôi có hai đặc điểm: cái mắt và cái trán. Anh lưu ý nhé”. Tôi biết ông đang mệt, dạo này thời tiết rất độc, mưa luôn. Vừa vẽ, tôi vừa quan sát ông. Đằng sau vầng trán kia, ông đang nghĩ gì? Hơn 30 năm trước hằng đêm ông thức trắng nghe tin chiến sự miền Nam từ điện thoại trực tuyến, nước mắt tướng quân có rơi không khi nghe tin đồng chí đồng bào của mình hy sinh dưới lê súng địch? Và ông phải chống chọi thế nào với sóng gió cuộc đời sau cuộc chiến? Bất thần, ông nói: “Nhà đồng chí ở đâu?”. Tôi vừa trả lời ông vừa lựa thế đưa câu chuyện chuyển sang hướng “tâm tình”. Nhưng không, chỉ thế thôi! Ác liệt của chiến tranh và cuộc sống quân ngũ, sự cọ xát thường tình với hiểm nguy và yêu cầu quân sự đã tôi luyện vị Tổng chỉ huy thành bản lĩnh “buồn giận không lộ ra nét mặt”.

Rồi 30 phút qua đi. Bức hoạ bằng bút sắt đã xong, nhìn vẻ chưa hài lòng của tôi, ông đột nhiên hỏi người nhà: “Mai thứ mấy?”. “Thưa, thứ bảy ạ!”. “Vậy mai anh lại đến nhé!”. Lại bất ngờ, tôi hồi hộp: “Dạ, mấy giờ ạ?”. Vài tích tắc trôi mau: “Ba giờ”. Đến bây giờ và mãi mãi về sau, tôi không thể quên được âm thanh, ngữ điệu và hồn khí của hai từ ấy. “Ba giờ” - Đại tướng nói nhanh, mạnh và sắc với ngữ điệu của người Lệ Thủy, Quảng Bình, không, không hẳn là vì thổ ngữ xứ đó, xứ quen trận mạc và đau thương, xứ có nhiều người kiệt xuất... mà trong âm điệu ấy, cái ý toát lên một lời hẹn thì ít mà nghe như một tiếng Lệnh thì đúng hơn. Đời ông, ông đã ra bao nhiêu cái lệnh như thế?

Âm hưởng toát ra cái thần hồn, thần khí có tác dụng gieo vào lòng người thừa hành một lòng tin đặc biệt, chắc thắng, không do dự. Tôi tặng ông cuốn Theo vết xích xe tăng và giới thiệu đây là cuốn hồi ký của bộ đội xe tăng trong chiến tranh. Ông cầm cuốn sách, im lặng nhìn chiếc xe tăng vượt cổng trời nơi bìa. Chuyển cho người cần vụ cất đi và nói: “Tôi sẽ đọc”. Rồi thay đồ để đi tập thái cực quyền. Ba giờ đúng ngày hôm sau, công việc tiếp tục. Ông tương tỉnh hơn. Thấy tôi giở máy ảnh, ông bảo: “Tôi rất ít khi được chụp một mình, bởi các đoàn thăm cứ tìm vai bíu cổ đòi chụp chung”. Lúc tôi vẽ ông, ông ngồi rất im, để phá tan cái im lặng ấy, tôi hỏi ông: “Chiều nay Đại tướng có còn tập quyền nữa không?”. Ông bảo “Không”, rồi tiếp: “Tôi tập lại, trước tập rồi, bây giờ tập lại”. Đột nhiên ông bảo: “Sao Minh Đỉnh “đi” nhanh thế nhỉ? Đang khoẻ! Giới hoạ sĩ cũng đánh giá ông ấy đắp tượng Bác giống nhất đấy!”.

Tôi đưa cho ông xem bức hoạ vừa xong bằng phấn màu, ông ưng ý lắm: “Được đấy!” và gọi vợ: “Hà ơi, xem này!”. Tôi đưa cây bút dạ để ông ký vào góc dưới tranh, ông cầm bút hơi rung, dưới ngón trỏ một nốt ruồi đỏ lớn, ông hỏi: “Ký là Văn nhé?”. Tôi trả lời: “Không ạ, Đại tướng cứ ký Võ Nguyên Giáp là hơn!”. Im lặng, rồi dường như lấy đà, ông phóng bút ký, đường bút đi như kiếm bay, rồi chấm một cái vào một chỗ không ngờ. Thế là bức hoạ hoàn thành. Ông bắt tay tôi và nói: “Cho tôi gửi lời chào toàn thể gia đình anh nhé!”. Ông là vị tướng quân của người Việt Nam, của dân tộc cấy lúa nước, là chỉ huy trưởng đoàn quân chân đất năm xưa.

Chị Hà tiễn tôi, tôi bảo: "Ông là tài sản của nhân dân Việt Nam". Chị Hà sửng sốt: "Thế à". Chị Hà ơi, sao chị lại sửng sốt? Ông ấy đã lấy lại lòng tin cho chúng tôi trong bao phút ngã lòng. Đời người ta, ai không có những phút ngã lòng? Khi cái ác đè lên cái thiện, khi sự thật bị vùi lấp... thì chúng tôi cần ông biết bao. Vì ông mãi mãi là vị Tổng Tư lệnh của những người lính chúng tôi.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: quoc_an trong 06 Tháng Mười, 2013, 04:25:48 pm
Câu chuyện Đại tướng chào một binh nhì quá tuyệt vời. Đại tướng luôn quan tâm đến những người yếu đuối, thiệt thòi. Năm 2001, bộ phận FSOFT, công ty FPT có đoàn đến chúc thọ Đại tướng ở 30 Hoàng Diệu, cụ cũng để ý và gọi một bạn gái rất bé nhỏ là bạn Lê lại và hỏi cháu làm việc gì.
@chú LXT: dạo này cháu đang làm trên 201, ra vào xe nhanh lắm rồi


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 09 Tháng Mười, 2013, 08:02:18 am

Đơn giản...  là những hòn cuội
                                                                 
                                                         
Nhà văn Nguyễn Thế Tường
[/i]
Cách nay 15 năm, tôi ra Hà Nội để xuất bản tập truyện ngắn. Trung tá Phượng ở Bộ tư Lệnh Tăng Thiết Giáp mách nhỏ: “Làm bìa thì gọi cho họa sĩ này...!” Cảnh giác tôi hỏi: “Đắt không? Bao nhiêu?”. Phượng không trả lời hoặc không trả lời được. Bấm máy nghe bên kia giọng Hà Nội chuẩn, tôi lập thế làm người lịch thiệp:
- Xin thứ lỗi, anh cho biết hết bao nhiêu để tôi chuẩn bị?
- Thông thường người ta trả cho tôi chừng bốn, năm trăm...Nhưng anh cho biết truyện viết về đề tài gì để tôi...chuẩn bị?
- Dạ nhiều truyện trong tập viết về chiến tranh, về người lính...
- Thế thì anh chỉ cần có một nửa số tiền.
Tôi hơi giật mình nhưng không thể nói là không lấy làm mừng vội nói lời cảm ơn thì đầu dây bên kia họa sĩ hỏi thêm:
- Xin lỗi, ai giới thiệu mà anh gọi cho tôi?
Tôi trình bày cà kê dê ngỗng rằng có việc tới Cổ Nhuế, nhân đó mà ghé Bộ tư lệnh Tăng Thiết Giáp, tình cờ gặp anh cán bộ tuyên huấn bèn tâm sự về những truyện ngắn viết về lực lượng Tăng Thiết Giáp, rằng, vì tôi cũng xuất thân từ lực lượng này. Tiếng đầu dây bên kia cắt ngang: 
- Chiều nay anh mang bản thảo đến phố...ngõ...ngách...số nhà..., tuần sau lấy về và không nói gì đến chuyện tiền nong nhé.
Ôi trời! Tôi thực sự ngạc nhiên và phấn khởi, không khéo trao đổi vài câu nữa tôi còn nhận được tiền tài trợ, mà suýt nữa có thật nếu tôi không khăng khăng từ chối. Họa sĩ sau khi đọc bản thảo thấy có truyện ngắn “Hồi ức binh nhì” thì đòi...mua hết với giá tương trợ.
Đoạn đầu thì tin được vì nó là máu lính, bản chất lính. Phần sau thì không ổn vì là phong cách nghệ sĩ, phổi bò. Thực ra, Dũng chẳng giàu có gì. Tôi mà in thêm zăm trăm cuốn bắt đền Dũng xin tiền vợ mua thì Dũng... chết đứng.
Chuyện đã 15 năm.
Gần đây, kỷ niệm 40 năm ngày 100 sinh viên các trường đại học ở Hà Nội gia nhập lực lượng Tăng thiết giáp anh hùng. Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên tư lệnh binh chủng phát biểu khá ấn tượng: “Một trăm người lính là con số không lớn, nhưng một trăm sinh viên được đào tạo và thử thách đầy đủ trong lực lượng Tăng Thiết Giáp thì không đơn giản”. Không biết trung tướng có ngoa ngôn, chứ quan sát 100 thằng lính sinh viên qua trận mạc của Tăng Thiết Giáp thì cả một trăm bị “ám” suốt đời. Đó là một lực lượng rất “hay”, nếu có chiến tranh thì rất nên gia nhập dẫu rằng rất có thể bị ... rán thành tóp mỡ.
Dũng đã vào đó, ở lại suốt giai đoạn chiến tranh cam go và bi tráng nhất. Ban đầu anh vượt Bến Hải trong tư thế lính chiến, lính trận giải phóng Quảng Trị. Sau, lại vượt Bến Hải để giơ lưng chịu trận ... để vẽ. Dũng vẽ, tôi không dám bình luận. Dũng viết, tôi hiểu được. Sự đồng điệu trong trái tim những người lính sinh viên Tăng Thiết Giáp “thời vàng son” ấy thì chạy đâu cho thoát! Một trăm tên lính nhận xét trang viết của Dũng sẽ giống tôi: Đơn giản là những hòn cuội Dũng nhặt được dọc đường hành quân, trên đường đời khốn khó, chông gai và quá nhiều đảo lộn. Những hòn cuội trên một dòng suối có nhiều thác nước, nhiều khúc quanh - không đơn giản.
Mươi năm trở lại đây tôi lười đọc sách, đặc biệt là loại...nhiều chữ. Có lẽ do lười biếng, một phần bởi nghề nghiệp. Ngày trẻ, để kiếm được cần câu cơm, tôi nuốt hàng tạ sách Nga - Pháp - Mỹ: Nào những Gô Gôn, Sê Khốp, Tôn stôi, Xtăng đan, Ban Giắc với cả O-hen-ry, Giắc Lan Đơn, cả “Con trâu” lẫn “Hòn đất” đều nuốt chửng. Bây giờ lười rồi biện bác: Mình viết ra còn đọc chưa hết, lại đọc của ai? Tôi đọc Dũng, trước hết vì anh viết ngắn, nén như viên thuốc trong vỉ, rồi bỗng bị hút chặt theo những ám ảnh của anh. Anh viết cái của mình, cho mình mà như của người, cho người. Một vạn liệt sĩ Thành cổ nếu bỗng ngồi dậy, nhiều vạn cựu chiến binh từng vượt Bến Hải, vượt Thạch Hãn nếu đọc Dũng chắc cũng như tôi, đọc một mạch, nhấm nháp, chia sẻ, xoa nắn từng “hòn cuội” được đẽo gọt gột rửa dưới thác nước, những khúc quanh. Những hòn cuội Dũng chọn nhặt trên đường hành quân đều như có linh hồn, đều dính máu. Một vài hòn như...có ma.
Dù sao, quãng đường chinh chiến cũng dừng lại với Dũng ở hàm...hạ sĩ quan Tăng  Thiết Giáp. Mang theo tác phong lính, hồn lính... như con ngựa bất kham đã được (bị) đóng yên, gắn hàm thiếc, đóng móng, anh đi tiếp trên đường khấp khểnh, lúc tối tăm, khi thoáng đãng, hí lên mỗi lần gặp Thảo nguyên, có lúc nhảy Đàn Khê, không ít lần bỏ cỏ, nhưng không quên...nhặt cuội. Và cái giỏ lại đầy những viên cuội mang trong lòng bao nỗi buồn vui, cay đắng, ngọt bùi, chát chua. Có khi là chân dung một thương binh tựa gốc cây, súng gác lên đùi bất lực nhìn dòng máu tuôn ra từ động mạch, ngồi chết. Lúc lại nắm bắt vội một ánh hào quang tỏa ra từ một vị tướng lừng danh rập gót giày chào người lính binh nhì trong đạo quân “Phụ tử chi binh” ra trận. Dũng không quên phác thảo chân dung những người mẹ, những người mẹ anh hùng, những người mẹ ngồi như hóa thạch trước hai tấm bằng ghi công hai con trai của quân lực hai bên, hai quốc gia trong một nước. Cũng giống bầu, giống bí mà để được leo chung một giàn phải đổ máu 20 năm. Đến tập hai, nhiều “hòn cuội” triết lý sâu hơn, đau đời hơn nhưng rồi thỉnh thoảng lại trở về gam màu “đồng đội”, như thể anh lấy đó làm điểm tựa tinh thần mỗi khi mệt mỏi.
Dũng nhặt cả những hòn cuội bẩn, càng rửa càng bẩn. Dũng để nguyên ném vào bộ sưu tập: chân dung những tên cơ hội a dua rẻ tiền, văn nghệ sĩ nửa mùa, nhà khoa học màu mè học hàm học vị, giải thưởng I-so, các quan chức xôi thịt rỗng tuếch như cốc bia uống dở chiều qua, chua lòm nhạt hoét.
Văn của Dũng viết lời yêu thương thì như có vị ngọt của tình thân ái, vị mặn của nước mắt, mà khắc họa chân dung kẻ xấu thì dòm vào thấy buồn nôn, quyết liệt, rạch ròi màu nào sáng màu ấy, không có “nhờ nhờ nước ốc”. Mỗi “viên cuội” của anh mang dung lượng một truyện ký, một truyện vừa, thậm chí một tiểu thuyết. Nhưng chớ! chớ nhiều lời, múa may chữ nghĩa nhiêu khê. Đơn giản chỉ nhặt đầy cho tập 3, Những hòn cuội dọc đường đời.
                                                                                                                                                                                 Đồng Hới, tháng 1-2012,N.T.T



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 10 Tháng Mười, 2013, 07:02:21 am

Đọc “Những hòn cuội nhặt dọc đường”
của Lê Trí Dũng

Trần Thức

Tôi có hân hạnh được họa sỹ - nhà báo Lê Trí Dũng tặng cho tập sách quý của ông vừa hoàn thành. Sách trình bày đẹp, khổ vuông, dày dặn hơn 400 trang viết và vẽ tới 120 bức minh hoạ công phu, như hai thể loại nghệ thuật cùng lên tiếng trong tương hỗ - tương đồng. Nhưng cái chính là nội dung tập sách đã có sức hút người đọc là tôi ngay từ những trang đầu, truyện đầu. Giống như một thực đơn “đặc sản” mà người sành ăn không thể bỏ qua. Nhưng tác giả thì lại khiêm tốn, coi đó chỉ là những Tạp văn - Tản văn - Tuỳ bút - Phóng sự - Tự sự... Viết theo cảm hứng, ngẫu hứng, như “những hòn cuội nhặt dọc đường” mà thôi.

Nói đến Tản văn - Tuỳ bút - Bút ký - Phóng sự - Truyện ngắn, tôi nghĩ ngay đến Lỗ Tấn, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Erenbourg, Maupassant, Tsekhov... Thành công của họ về những thể loại này đâu có bé?
Phần ưu ái ông dành cho tập sách, trước tiên phải kể đến những trang viết về người lính. Đó là lòng dũng cảm, đức hy sinh, tình đồng đội, đồng nghiệp, đồng bào - người lính với dân ân tình như cá với nước... Cũng như ông, hầu hết trong số họ còn rất trẻ, rất yêu đời, nhưng vì nghĩa vụ cao cả, họ phải rời mái trường thân yêu “Xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Giữa cái sống và cái chết, chỉ cách nhau gang tấc, tức thì. Họ không còn kịp biết hôm nay hay ngày mai, mình hay đồng đội ai còn, ai mất, ai sẽ mang thương tật trên mình...

Hết chiến tranh, là thời hậu chiến. Những cuộc sống đâu có phẳng lặng, bình yên dễ dàng. Với người lính, sau khi đã “giã từ vũ khí”, thì hậu phương còn gay go nan giải hơn nhiều. Đất nước hoà bình, nhưng “nỗi buồn chiến tranh” vẫn chưa dứt, đặc biệt với người lính nghệ sỹ - chiến sỹ. Những trang viết, bức tranh, bản nhạc, vở kịch nói về cuộc chiến bi hùng đang chờ họ trên văn đàn, nơi bảo tàng, triển lãm, nhà hát, phòng hòa tấu, nhạc viện, nhạc kịch....

Từ kinh tế thời chiến bao cấp, chyển sang kinh tế thị trường thời bình. Giống như một giấc mơ, nhưng là giấc mơ có thực. Sung sướng đấy, nhưng cũng không ít ngỡ ngàng, bi hài trong cuộc sống. Có biết đâu sự đời luôn biến diễn theo phạm trù cặp đôi. Sướng đấy, rồi khổ đấy. Hạnh phúc nào mà không có mầm mống của bất hạnh, nếu con người không tỉnh táo, không có biện pháp ứng xử, ngăn ngừa.

Từ một dòng sông nhỏ, hay con kênh đào tù đọng luôn lặng lẽ, lững lờ chảy quanh làng xóm, giờ đây tất cả phải được mở rộng, khai thông, vượt lũ, thoát lũ, đưa dòng chảy vào các con sông lớn mà hợp lưu, đổ ra biển cả, Bao nhiêu là xô đổ, ngỡ ngàng, lạ lẫm trong cuộc cạnh tranh sinh tồn mới, không ít bon chen, nghiệt ngã. Hóa ra chiến tranh kinh tế - chiến tranh trên nhung lụa, còn ác liệt và phức tạp hơn cả chiến tranh bom súng.

Tập sách của Lê Trí Dũng, dù mới chỉ là “chuyện nhặt dọc đường”, nơi vỉa hè, đầu đường - quán bia, quán chè chén của các “phó thường dân”. Các tay anh chị cô cậu, theo nghĩa “bụi đời”. Ấy thế mà đã đánh thức được không ít lương tri, tâm can bạn đọc. Bỗng tôi nhớ đến thế giới “Bỉ Vỏ”, “Bảy Hựu” của cố nhà văn hiện thực Nguyên Hồng. Trong xã hội đổi mới, nhưng cũng còn không ít nghịch cảnh - những mảnh đời ngang trái, lầm than, bất đắc chí - không loại trừ cả những khách giang hồ, hảo hán, những hiền nhân quân tử còn mai danh ẩn tích nữa. Nhưng mây mù thường bao phủ, cản quang ánh sáng mặt trời. Những đề tài mà tác giả dẫn trong tập sách, phần lớn đều nằm trong những chủ đề ấy. Mở rộng ra, đó là những phạm trù nói về con người, cuộc sống với không ít những mâu thuẫn dằng dai, nan giải, luôn nảy sinh ra ngay trong lòng của chính nó. Triết học phật giáo đã đặt cho nó một cái tên chính xác: “Bể khổ trầm luân”, đối cực với “Niết Bàn”, nếu con người biết chế ngự, diệt dục, diệt lòng tham, không u mê, thì sẽ trở thành người “Giác ngộ”, người được giải thoát, tự do, theo đúng nghĩa Vị tha - Chân nhân - Chân ngã.
Thiện và Ác. Chính và Tà. Đó là những khái niệm lớn mà tác giả tập sách đã đề cập tới và đã giải quyết được tích cực phần nào những ức chế vốn mang nặng nơi bạn đọc.

Gập sách lại, là bạn đọc, tôi tự thấy mình cũng có phần trách nhiệm chia sẻ đôi điều với nỗi đau đời, nỗi đau nhân thế cùng người viết, khi con người vẫn còn mang nặng lòng tham, tính ích kỷ, hẹp hòi, biển lận, thì sự thật cần phải được lên tiếng. Mà thiên chức ấy, không ai khác chính là nhà văn - nhà báo - nhà nghệ sỹ - Trí thức phải đảm trách. Có như thế, mới “Cứu Rỗi” được con người, như Dostoievski tiên sinh đã từng nhắn nhủ hậu thế.



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 11 Tháng Mười, 2013, 07:51:51 am

Chuyện quẻ Cấn

Xuân Cang

Triết lý quẻ Cấn rất sâu rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực trong vũ trụ này, trên hành tinh này nhưng thu gọn lại trong tượng quả Núi. Triết lý đó rất trừu tượng nhưng nhờ vào tượng Núi mà ta nắm cái trừu tượng đó như trong lòng bàn tay. Đó là cảm giác khi tôi đọc cuốn sách Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân (tản văn, NXB Tri thức - 2008) của họa sĩ Lê Trí Dũng.

Mỗi hòn cuội là Núi thu nhỏ, và đều có tinh thần quẻ Cấn đi vào minh triết Việt. Tôi xin kể hai chuyện. Tết Nhâm Tý (1972) trong khi anh lính trẻ Lê Trí Dũng đang ngồi bên bếp lửa nhà sàn trên đường hành quân qua vùng núi Thạch Thành – Thanh Hóa, bỗng thấy một ông già đội mưa tiến vào. “Cha tôi”. Cả tiểu đội sửng sốt biết là danh họa Lê Quốc Lộc (1916-1987) đã đáp tàu hỏa từ Hà Nội vào và đạp xe 20 cây số từ ga Bỉm Sơn tìm đến thăm con và đồng đội của con đang ra chiến trường.

Hai cha con đã đi bộ hàng giờ dưới trời mưa núi, im lặng không nói gì, và lần đầu tiên trong đời anh họa sĩ trẻ nhìn thấy hoa tre của núi mường Thanh Hóa. Từng chùm hoa tre vàng mướt rủ xuống như hoa lộc vừng, là thứ hoa phải vài chục năm cây tre không chặt tỉa thì mới có. Mấy năm sau đó, Lê Trí Dũng và đồng đội của mình đã gặp giữa rừng tre già một chiếc võng dù, lật tấm tăng lên là một bộ xương người, trong bộ quân phục đã mủn nát, chiếc mũ tai bèo úp chụp phía trên. “Chúng tôi đã lấy xẻng quân dụng, lẳng lặng đào cái hố nhỏ, an táng cho đồng đội theo nghi lễ đơn giản nhất, không quên đặt lên mộ một nhành hoa tre”.

Câu chuyện nhỏ, như hòn cuội, mang tính minh triết bắt nguồn từ quẻ Thuần Cấn.

Thuần Cấn là hai lần núi, hai lần ngưng chỉ. Ngưng ở đây là ngăn cản không cho ra ngoài cái thời của mình, đối với cha con hai nghệ sĩ đang trong thời bảo vệ tổ quốc. Quẻ Thuần Cấn có hào 1 dành cho người lính trẻ bảo rằng: Ngừng lại ngay từ ngón chân, không lỗi, lợi ích về việc giữ chính bền mãi mãi. Hãy cẩn trọng ngay từ bước đầu ra quân của mình, hãy nhìn núi mà học cách giữ bền chặt ý chí vì tổ quốc của mình, như những nhành hoa tre, như nấm mộ lộ thiên của người lính trẻ trên võng. Hai cha con đi hàng giờ bên nhau trong một cuộc trò chuyện rất kiệm lời, thầm lặng, nhưng Dũng sẽ nhớ suốt đời.
Quẻ Thuần Cấn còn có hào 6 dành cho danh họa Lê Quốc Lộc, ca ngợi mà cũng là lời khuyên của Thánh nhân: Đôn hậu về đạo biết ngừng đúng lúc, tốt. Phan Bội Châu giảng: chữ Hậu là trái nghĩa với chữ Bạc (mỏng). Hậu, nghĩa là dày; đất sở dĩ chở được núi sông, đựng được bốn bể, nuôi được muôn vật, chỉ vì có đức hậu mà thôi; nền móng dày mới dựng được nhà lớn, lực lượng dày mới cất được gánh nặng. Xưa nay chẳng thấy hạng người nào mỏng mảnh mà làm nên nghiệp lớn. Cái việc người cha dành cả một đêm giao thừa đi tàu hỏa, cả một buổi sáng đầu năm đạp xe dưới trời mưa tìm đến nơi trú quân của con trai, là trọng hậu không gì bằng, hành động ấy chứa tất cả phúc đức của tổ tiên, gửi gắm cả sự trông đợi của hậu phương, của non sông đất nước, dày dặn đến thế là cùng. Họ đi bên nhau, im lặng, vì tất cả đã nói lên lời: những hoa tre, con đường đất đỏ, ngọn núi trùng điệp, nấm mộ người chiến sĩ trẻ trên đường hành quân. 

Sự đôn hậu của người cha còn được tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường kể lại trong một câu chuyện khác. Khi Lê Quốc Lộc phác thảo một bức tranh mang tên “Từ trong bóng tối”, gọi con trai đến hỏi ý kiến. Con trai lúc này cũng đã thành một họa sĩ nổi tiếng. Anh chót nói ra một nhận xét riêng sau đó vô cùng hối hận: “Con thấy nó vẫn xưa cũ. Con muốn thấy nó đơn giản hơn, hiện đại hơn”. Anh hoảng hồn thấy ông tái mặt đi, không nói gì, lát sau sang phòng bên đóng cửa lại. Ba hôm liền anh không dám gặp ông. Nhưng cũng sau ba hôm đó, mẹ anh bảo: Thày mày hình như muốn gặp mày đấy. Anh lên phòng tranh của cha và giật mình thấy hiện lên hơn chục cái phác thảo mới. Tất cả làm anh không thể không thốt lên bàng hoàng: Đẹp quá cha ạ! Thì ra người cha đã khoan dung, đã nghe ý kiến thẳng thắn của anh, và đã làm lại. Làm lại với sức mạnh của một quả núi chỉ hào 6 quẻ Thuần Cấn mới nói lên được: Phong độ cao, tiết khí vững, làm biểu tượng người của thời đại, phúc trạch sâu bền. Bức tranh đã được Bảo tàng mỹ thuật quốc gia mua ngay sau khi hoàn thành và trưng bày.   


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 12 Tháng Mười, 2013, 07:58:40 am

Chuyện quẻ Lữ

Xuân Cang

Cuốn sách  Những hòn cuội nhặt dọc đường gồm những tản văn của Họa sĩ Lê Trí Dũng (NXB Tri Thức - 2008), chỉ nghe tên sách đã biết cái hồn sách là quẻ Hỏa Sơn Lữ. Quả thật cả cuốn sách từ đầu đến cuối là cuộc lữ hành phiêu lưu, là chuyện quẻ Lữ, là những chuyến đi dọc đường hành quân, dọc đường đời, phản ánh hoặc minh họa cho 6 hào quẻ Lữ,  không sót hào nào.

Hào 1 quẻ Lữ nói rằng: Ở nhà trọ mà tư cách nhỏ nhen là tự chuốc lấy họa. Bài Chiếc hộp đen kể rằng trần gian khác nào cái nhà trọ của đời người, ai rồi cũng phải đến với cái chết, khi ấy cõi đời giống như chiếc hộp đen trên máy bay, nó ghi lại một cách đầy đủ hết, rất khách quan và rất công bằng, cái chuyến đi của mỗi người. Lê Trí Dũng kể một chuyện từ chiếc hộp đen ấy.

“Cơ quan tôi có ông lúc nào cũng đạo mạo, mô phạm, không bao giờ bộc lộ chính kiến, không bao giờ mất lòng ai, nói một câu nghĩ nửa ngày. Rõ là chính nhân quân tử. Mấy chục năm trời, không tiêu chuẩn đãi ngộ nào ông bỏ qua, không quyền lợi nào ông không đoạt, được phân nhà mấy lần, con cái vào cơ quan ông hết… Tóm lại chả miếng nào ông  “đớp” trượt. Thế rồi như ngàn vạn người, đến tuổi ông vẫn phải về hưu. Chỉ có hai điều mới xảy ra: Một là sau khi về hưu không ai chơi với ông nữa. Nhà ông lạnh như nhà mồ. Hai là tính tình ông đổi hẳn, ăn nói chả giữ gìn nữa, lúc vui chuyện ông còn khoe bao nhiêu là kỳ tích lăng nhăng bậy bạ xa xưa. Tôi tỏ ý ngạc nhiên. Ông bảo: “Bây giờ giữ gìn cũng chả để làm gì, gặt hái hết rồi. Còn mấy năm nữa sống thật với lòng cho thoải mái, cho sướng, đúng con người mình.” Thế ra cả đời ông chỉ đóng kịch. Người như ông, ngày nay hầu như ở đâu ta cũng gặp. Khi tôi đưa ông bài báo về chiếc hộp đen, lần đầu tiên tôi thấy ông tái mặt biểu lộ sự sợ hãi.

Hào 2 quẻ Lữ: Ở đất khách, được chỗ trọ yên lành, giữ được tiền bạc, có người giúp việc trẻ, tin cậy, giữ chính. Chỗ trọ yên lành này trong tập tản văn của LTD là người mẹ. “Cho dù có đi đến chân trời góc bể, cho dù thành bại vô thường thì những khi yếu lòng, ta vẫn muốn ngả đầu vào lòng mẹ như thuở ấu thời … mà khóc.” “Mẹ bạn tôi (anh là một người lính xe tăng) vừa qua đời. Hôm đưa mẹ về cõi, không ai bảo ai, chúng tôi đều tề tựu đông đủ như ngày nào đóng quân tại nhà mẹ. Trong cuộc chống Mỹ, mẹ đã cho bốn người con nhập ngũ trong các quân binh chủng anh hùng. Thế nhưng, ít ai biết được một điều bí mật: Mẹ còn có một người con lớn, theo chồng cũ di cư vào Nam, là lính thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi qua thăm mẹ, thấy mẹ đối xử với anh không khác các con khác… Lại hình như có phần thương hơn. Sau này anh qua Mỹ, làm biên tập một tờ báo và viết sách. Cuốn tiểu thuyết hồi ký “Tháng 3 gãy súng”, chính là của anh”. Người mẹ, chính là chỗ trọ yên lành. “Người giúp việc trẻ, tin cậy” phải chăng là anh lính cộng hòa kia? Khác hẳn các nhân vật “người mẹ anh hùng” của nhiều tác giả, những người mẹ trong cuộc lữ hành của LTD có đặc điểm là có con bên hai trận tuyến. Đến nhà một bà mẹ ở Quảng Trị, “ngó lên bàn thờ (làm bằng miếng đuy-ra thùng đạn), tôi thấy ảnh hai anh thanh niên, giống nhau như đúc, một đội mũ tai bèo, một đội kê-pi có bông mai. Tôi không dám hỏi, nhưng đoán đó là hai người con trai của mẹ”.

Có một quán trọ làm nơi an dưỡng tâm hồn của chàng lính trẻ là các đồng đội. “Hai chữ đồng đội thiêng liêng đã nâng đỡ tôi qua bao nỗi khó của đời”. LTD kể anh vẽ bức tranh mang tên “Đồng đội”, khi phác thảo chân dung một người lính cõng đồng đội anh thấy nhất định phải giống Nguyễn Kim Duyệt. Chiến sĩ trẻ ấy người Hà Nội, chơi ghi-ta rất hay, là học trò lớp dạy vẽ của anh giữa hai trận đánh. Duyệt thường mang bên mình hai chiếc ba lô, anh luôn giữ khư khư một cái, nhất định không rời nó, làm cho đồng đội phải nghi ngờ. Một trận đánh, chỉ huy ra lệnh phải bỏ bớt một ba lô ra ngoài tháp pháo. Duyệt bỏ chiếc ba lô quần áo ra ngoài.  Khi anh bị thương nặng vì trúng pháo địch, tôi chuyển chiếc ba lô “bí mật” của anh ra ngoài thùng xe và mở ra, thì sững người, trong đó “toàn sách học tiếng Anh và từ điển mà Duyệt gom nhặt từ Huế, Đà Nẵng”.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 13 Tháng Mười, 2013, 07:05:50 am

Vận hội Hà Nội năm Nhâm Thìn

Nhà văn Xuân Cang

Tôi vừa gieo quẻ xong thì họa sĩ Lê Trí Dũng, tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường (Nxb Tri thức - 2008) đến chơi. Lâu nay chúng tôi chả là bạn “kinh dịch” với nhau. Trong không gian còn thoảng mùi hương tôi vừa thắp khi gieo quẻ, tôi tâm sự với anh:

- Mình vừa được một quẻ về Hà Nội, thấy “linh” lắm nhưng khó nói lắm Dũng ạ. Năm mới, mình rất mong nhận được một tín hiệu vui vẻ nhẹ nhàng, để các bạn bè Hà Nội khi nâng chén trà bàn luận với nhau, trên môi nở một nụ cười. Nhưng Thánh nhân lại cho một quẻ mà nói thẳng ra thì sợ có người không bằng lòng.

Lê Trí Dũng cười xòa:

- Em là một người Hà Nội. Em rất muốn nghe những tiếng nói chỉ dẫn đến với sự thật, nhất là anh vừa xin được của “Thánh nhân”. Anh phải nhớ, năm Bốn Nhăm, Hà Nội kéo cờ khởi nghĩa trước khi nhận mệnh lệnh khởi nghĩa của Trung ương. Anh thử nói cho nghe.

- Thế này nhé. Có hai quẻ Dịch. Quẻ thứ nhất nói chung cho cả năm, kể cả tình hình đầu năm, quẻ thứ hai nói những diễn biến sẽ có, nhất là cho cuối năm. Khi quẻ thứ nhất hiện ra mình băn khoăn không biết nói thế nào với Hà Nội. Đó là quẻ Sơn Thủy Mông. Nghe hai chữ sơn thủy, ta nghĩ ngay đến sơn thủy hữu tình, Sơn tinh Thủy tinh, đến câu thơ nước non nặng một lời thề/ Nước đi đi mãi không về cùng non… Nhưng với Kinh Dịch, sơn thủy đây là Sơn Thủy Mông. Mông là mông lung, mờ mịt. Mông còn là mông muội, cái thuở thơ ấu của loài người, của con người khi là đứa trẻ con. Dù nói thế nào, thì được quẻ Mông, ta nghĩ ngay đến một tình hình còn “mông”, nghĩa là còn “muội”, tình hình còn chưa rõ ràng, nhiều cái còn ẩn khuất, nhiều cái còn đang vỡ vạc. Chẳng nhẽ tình hình Hà Nội ta sang năm lại là như thế sao?
Dũng lại cười, cái cười của tác giả Những hòn cuội nhặt dọc đường, một tập tản văn tôi vừa đọc, thấy lạ như vừa cầm trong tay một hòn cuội rơi từ hành tinh khác xuống.

- Em thấy hình như đúng với những gì sẽ diễn ra. Mọi cái tưởng đã rõ ràng, nhưng với cái nhìn của Thánh nhân, nó khác. Anh nói rõ hơn cho em nghe cái tượng quẻ.

Tôi nói liền một mạch:

- Thế này nhé. Chuyện cổ Sơn tinh, Thủy tinh nhìn tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương phản, thơ Tản Đà non nước, nước non nhìn tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương giao. Còn Kinh Dịch xem tượng Sơn Thủy trong quan hệ tương tác âm dương. Núi ở trên, Suối nước ở dưới. Con suối mới hình thành, còn chưa rõ dòng chảy. Chúng ta hãy quan sát con suối từ khi nó còn là dòng nước bắt đầu dưới chân núi. Tuy cái hướng nó đã rõ ràng là xuôi xuống, nó sẽ hòa vào nhiều dòng chảy khác, sẽ thành suối, suối sẽ thành sông, sông ra biển lớn. Nhưng trong cái thời “mông” này, vừa hình thành dòng chảy, nó còn ngơ ngác, nó chưa biết sẽ rẽ theo ngách nào, len lách ra sao, có khi rẽ vào một kẽ đá và cạn khô ở đó chưa biết chừng. Thánh nhân bảo: Mông, hanh! Mông là sẽ hanh thông. Hanh thông vì sẽ thành sông. Nhưng trước mắt là còn mù mờ, chưa sáng tỏ, còn vấp váp, còn len lách. Quả thật Hà Nội ta đang đứng trước một tình hình như thế. Một mặt có Đại hội Đảng đã chỉ ra con đường suối sẽ thành sông, Hà Nội đã có sơ đồ quy hoạch, nhưng trong năm mới này Hà Nội chúng ta đang đứng trước biết bao câu hỏi, trước bao nhiêu lối rẽ, vừa chào mời, vừa thách thức.

Quẻ Mông còn mách bảo ta một vấn đề sẽ trở thành một trọng tâm, trọng điểm thu hút trí lực, tâm sức của Hà Nội ta trong năm mới. Đó là yêu cầu đổi mới giáo dục, một yêu cầu bức xúc trong những năm qua và nóng bỏng trong năm Tân Mão ta sắp đi qua. Bởi Mông là tượng con suối hình thành dưới núi, còn là tượng em bé ngây thơ, mờ tối, còn phải được chỉ bảo, dậy dỗ. Quẻ Mông rất chú trọng hào 5 và hào 2. Hào 5 tượng cho em bé, tượng cho người học trò sẵn sàng được khai mở. Hào 2 tượng cho người thày. Quẻ Mông đặc biệt ứng dụng vào sự nghiệp giáo dục. Gieo quẻ năm mới được quẻ Mông, có nghĩa là giời đất đã chỉ cho chúng ta một con đường ta sẽ phải đi, không tránh được, đó là tiếp tục đổi mới trong Giáo dục. Đổi mới thế nào, bản thân quẻ Mông đã vạch ra một cách vô cùng đúng đắn. Nhưng bài này chỉ mới dự đoán, chưa phải là lúc tôi trình bày.

- Vậy cái chỗ anh bảo “khó nói” là ở chỗ nào?

- Là ở chỗ quẻ Sơn Thủy Mông động hào 5 và hào 6 thì sẽ biến thành quẻ Thuần Khảm. Tượng quẻ Khảm là Nước. Nước thì hiểm. Người xưa nhận định không gì hiểm bằng nước sâu, nên nói đến nước là nói đến cái hiểm trở, cái nguy nan. Quẻ Thuần Khảm gồm hai quẻ Khảm gộp lại, nên thuần khảm là hai lần nước, có nghĩa hai lần hiểm. Ý của thánh nhân nói rằng phần sau của năm mới, người được quẻ sẽ rơi vào cảnh như ngập chìm trong nước. Sẽ qua hai lần hiểm. Mà cái hiểm ở đây sẽ xảy ra vào tháng Nhâm Tý tức tháng 11 âm lịch. Năm mới năm me nói ra những tín hiệu ấy quả là không tế nhị.

- Anh đang nói những tín hiệu ấy với một người Hà Nội đấy nhé. Hà Nội là gì? Là thành phố trong sông. Người Hà chúng ta đâu có sợ sông nước?
 
Khi nói chuyện với Lê Trí Dũng, tôi luôn nhớ người này là tác giả của hàng nghìn bức tranh vẽ ngựa, tôi đã ngắm những con ngựa của anh như xuyên trong mây, như bay dưới ánh trăng. Tôi nói tiếp:

- Quẻ Thuần Khảm “hai lần hiểm” không phải quẻ xấu. Người có bản lĩnh, ý chí coi đó là thời thế tiến lên giải nguy cho thiên hạ. Phan Bội Châu giảng: Người xử vào thời hiểm chồng chất là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra cách xử hiểm thì vẫn không sợ gì hiểm. Vì tượng Khảm có một hào dương ở giữa, dương là Thực, là thành tín, là chí thành. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông, lòng chí thành đến đâu tác động mạnh đến đó, nên hành động được trọng, tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa. Người Nhật vừa trải qua một trận động đất đầy thử thách. Họ có câu thơ: Những chốn lòng thành thấu tới/ Đá vàng cũng phải nứt. Chính là dùng đạo tín thành cho cái tâm sáng, mà bước qua thời hiểm vậy. Phải chăng Hà Nội của chúng ta sang năm cũng sẽ là như vậy?

X.C.


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 15 Tháng Mười, 2013, 07:42:48 am

NGƯỜI LÍNH XE TĂNG VIẾT VĂN... BẰNG MẮT

Hoàng Nhuận Cầm

Như chúng ta đã biết, theo một thông báo chính xác đã có hơn 500 họa sĩ, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam từng khoác áo lính. Ngoài ra, còn có hàng trăm họa sĩ khác cũng lăn lộn sống chết trên khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam. Họa sĩ Lê Trí Dũng cũng kịp thời có mặt trong đội quân hùng hậu đó với tư cách là một người lính thuộc binh chủng Tăng - Thiết giáp. Từ hàng trăm rồi hàng ngàn ký họa còn xém lửa bom - các tác phẩm có kích cỡ lớn của anh lần lượt nối nhau ra đời như: "Vượt trọng điểm" (sơn mài, 1974), "Vượt sông" (sơn mài, 1976), "Cánh rừng dioxin” (lụa, 1989), "Mẹ của những người lính" (sơn dầu, 1999), "Biên ải" (sơn mài, 2000), "Chân dung người lính" (sơn dầu, 2004)... Anh đã vẽ bằng tất cả sự say mê lẫn niềm kiêu hãnh về cuộc chiến tranh khốc liệt mà anh đã trải qua. Và bao trùm lên tất cả màu sắc cũng như đường nét của người lính xe tăng ấy, là một mong muốn thành tâm đóng góp phần nhó bé, làm siêu thoát và thảnh thơi cho linh hồn của những người đồng đội đã hy sinh. Anh gắn bó với đề tài chiến tranh đến nỗi, nhiều người vẫn cứ tưởng anh là họa sĩ ở bên quân đội. Đâu phải vô cớ mà trong khoảng khắc thiêng liêng nhất của mỗi năm, anh lại cất tiếng gọi thảng thốt và giữa mênh mông: "Nhớ "chúng nó" lắm, đồng đội ơi?"

Không chỉ vẽ, họa sĩ Lê Trí Dũng còn "lén lút" viết văn. Mặc dù chỉ riêng sự nghiệp hội họa của anh, công bằng mà nói cũng đã đồ sộ và huy hoàng lắm rồi. Hình như có lần anh đã từng khoe, bạn văn của anh còn đông hơn cả bạn vẽ. Và người lính xe tăng này như tôi đã giới thiệu ở trên, anh đã viết văn ... bằng mắt. Ẩn sau đôi mắt đó bao giờ cũng là một tấm lòng, và nắm trong tấm lòng đó là những con chữ dạt dào cảm xúc chân thành đến mức bi tráng. Với cuốn Tạp văn "Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân", tôi nhớ mãi cái động tác vừa e thẹn lại vừa tự hào khi anh đưa tặng cho chúng tôi vào đúng ngày giỗ của liệt sĩ Hoàng Thượng Lân. Người họa sĩ, người lính xe tăng đã tâm sự về cuốn sách đầu tiên của mình như sau: "Việc sáng tác hệ trọng ví như mài ngọc quý. Đang tập trung thần khí, chỉ một tiếng chuông cửa, một tiếng con quấy ... tán thần ngay. Không làm sao nhớ lại được. Còn nữa, trong sáng tác, người nghệ sĩ như một cỗ máy khổng lồ, hàng ngàn đinh ốc, mất một chiếc, trục trặc ngay. Cỗ máy tinh tế âm thầm làm việc suốt ngày đêm, lúc ăn, lúc nhậu, cả lúc ngủ, mãi mới nảy ra một ý, mỗi mình biết, ghi lại ngay trên lịch cũ, sổ tay, mẩu giấy báo, bao thuốc lá ...". Vậy mà anh chỉ dám nhận những trang viết đã hòa lẫn khá nhiều nước mắt của mình là những "hòn cuội" nhặt dọc đường. Còn tôi, tôi thấy "hòn cuội" nào của anh cũng lấp lánh và lặng lẽ toả ra cái ánh sáng của thần khí. Trong "những hòn cuội" đó rõ ràng có ngọc! Đối với nghệ thuật nói chung, điều quan trọng nhất vẫn là "cái nhìn". Và anh đã viết văn bằng mắt theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Nếu chỉ dùng bút, làm sao trong "Chân dung người lính" anh có thể viết được như thế này: “Lúc vĩnh biệt anh, nhìn cái ba lô con cóc ấy có cái mũ tai bèo úp chụp phía trên, khẩu AK dựng bên, phía dưới là đôi dép đúc cao su Trung Quốc của anh mà cạnh đó là cái bi đông thủng lỗ chỗ... Tôi thấy chân dung anh, chân dung người lính giải phóng, nó vừa cô đơn vừa hào hùng, vừa có một cái gì nghĩa cả lại vừa tủi phận, nó vừa là sứ mệnh lại vừa là số phận... Bùi ngùi nhìn hàng dãy hàng dãy ba lô tử sĩ xếp thẳng hàng, chính chúng tôi cũng không biết rằng cuộc chiến sẽ còn kéo dài bao lâu và bao giờ thì đến lượt ba lô của mình đội điểm nghiệm điểm danh".

Rồi trong "Viên gạch Cổ Thành", cũng bằng đôi mắt của một người lính xe tăng, anh đã dựng lên một bức tường tưởng niệm không lời ngay giữa trái tim của bạn đọc chúng ta: "Trời sáng dần, trên chiếc bàn gỗ lũa hình con rùa, viên gạch Thành Quảng Trị, Viên Gạch Thiêng Cổ Thành vẫn nằm đó, lặng lẽ, thần bí. Một nửa cháy xém, đen thui vì napan, nửa kia lỗ chỗ vệt đạn và cào xước của bom pháo, nó vỡ hình lưỡi rìu cổ, dựng đứng lên trông giống một bức tượng đài".

Bây giờ thì trên bàn viết của tôi là cuốn tạp văn thứ hai mà anh vừa gửi tặng. Không hiểu sao lần này anh lại bỏ đi hai chữ "hành quân" mà chi lấy là "Những hòn cuội nhặt dọc đường". Tuy vậy, dù muốn dù không dấu chân của  những người lính, cả người sống lẫn người chết, vẫn cứ in đầy lên các trang viết của anh. Và anh vẫn tiếp tục viết văn bằng mắt. Một cuốn sách vuông vắn và đẹp đến lạ lùng với 120 minh họa của chính anh. Tôi thích nhất bức có tên là "Mẹ" của anh - anh đã vẽ nó bằng niềm cảm xúc biết ơn vô hạn và lòng yêu thương vô bờ. Đó là hình ảnh một bà mẹ ngồi im một chỗ "giống như một khúc củi khô đen cháy, sắt lại" - Mẹ ngồi lọt thỏm vào giữa một đống vũ khí và những bộ quần áo lính của cả hai 'bên chiến tuyến. Có lẽ cảm thấy chưa vẽ hết nỗi lòng và tâm sự của mình, anh lại tiếp tục viết thêm... bằng mắt: "Xung quanh mẹ là những người trai trần trụi, còn vương những mảnh quân phục rách bươm với gương mặt lưu lại dấu vết của tổ tiên Việt tộc: hàm vuông, trán rộng, môi dày, lông mày lưỡi mác, mắt đen, sâu, tóc dày và thẳng, cổ to, mũi hơi hếch... gương mặt biểu lộ sự trung thực, chất phác, dễ tin, can trường, dám yêu hết mình... Tôi đi ra biển Cửa Việt. Suốt mấy dặm không một bóng người, nước biển xanh một màu kỳ lạ, cát thì trắng đến kinh người, trời xanh thăm thẳm, từng cọn mây trắng khổng lồ trôi nhanh qua. Để nguyên quân phục, tôi từ từ lội ra đến ngập đầu, mặc cho nước mắt hòa cùng nước biển, thấy vị hai thứ cũng mằn mặn như nhau”

Đồng đội! Đồng đội! Tôi nôn nao đến tận đáy lòng trong tiếng gọi "Đồng đội' của anh: "Cứ mỗi độ xuân về, lòng lại không khỏi trào lên nỗi nhớ đồng đội. "Đồng đội" hai chữ thiêng liêng đã nâng đỡ tôi qua bao nỗi khó của đời. Tôi không công thần, không "ăn mày dĩ vãng", không nói mãi một việc "biết rồi...". Nhưng nói gì thì nói, ở nơi đó tôi đã tìm thấy tình người đích thực, thấy sự hy sinh cao cả... Và thế là tôi vẽ bức “Đồng đội". Nền tranh đó một màu máu, chính giữa tranh là hai người lính đang cõng nhau tìm về đơn vị. Cây rừng và vách đá Trường Sơn, một mảnh trăng vắt ngang trời..."

Lê Trí Dũng ơi! Đồng đội của tôi ơi! Đêm nay trên đầu tôi, một mảnh trăng cũng vắt ngang trời. Nếu tôi khen văn của anh viết hay thì thật là không phải, thật chả ra làm sao cả! Có một thứ văn dị ứng với mọi sự bình phẩm dông dài - thứ văn đọc lên là để cùng nhau thấm thía và cùng nhau chia sẻ về những chiêm nghiệm trong trẻo mà dữ dội, tìm thấy ở giữa những góc khuất của cuộc đời - ấy là văn của Lê Trí Dũng. Tôi còn nhớ như in lời thì thào của anh trước cổng tòa báo Văn Nghệ, khi anh kín đáo tặng tôi một viên đá được bọc trong giấy xi măng - viên đá mà anh nhặt về từ Thành Cổ Quảng Trị: "Thấm nhiều máu và vong hồn của những người lính lắm đấy! Nhớ thỉnh thoảng thắp hương, Cầm nhé!".

Phiến đá ấy đang nằm sừng sững ngay trước trang giấy của tôi. Xung quanh phiến đá đầy những chân hương và hồng rực lên cái màu linh thiêng - cái màu mà Lê Trí Dũng đã bao lần nhận thấy và đã viết lại bằng đôi mắt rưng rưng của mình: “Riêng trong tôi, hình bóng những người lính đội mũ tai bèo, xốc AK, đứng thẳng người xả đạn trong ánh hoàng hôn... mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm, suốt đời chẳng thể nào quên”.

Đêm đã rất khuya.
Bên hàng xóm có tiếng khóc của trẻ sơ sinh, rồi tiếng ru của người mẹ dịu dàng cất lên:
Bồng bồng con nín con ơi
Giữa sông cá lội, trên trời chim bay...
Tôi buông bút - tìm một nén hương, thành kính xoè diêm và châm lửa.

HNC
Báo Văn nghệ Công an 12/2008



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 16 Tháng Mười, 2013, 05:16:44 pm

MỘT HÒN CUỘI ... GÓP THÊM
                                       
Nhà văn  Trần Huy Quang

      Trước khi đọc tạp văn của Lê Trí Dũng tôi cũng đã được xem rất nhiều tranh của Dũng. Dũng vẽ ngựa, hàng mấy trăm bức về ngựa, xem ngựa của Dũng tôi chỉ thấy hồn ngựa, ma ngựa, tinh ngựa như đang bay về chốn hư không, đầu óc tôi ong ong tiếng vó ngựa dồn dập trên chiến trận, tiếng hú tiếng hí tiếng gió cuốn theo vó ngựa, tiếng lá bay, tiếng bụi cuốn như cơn lốc ở chốn mù mịt nào. Dũng vẽ gà cũng hằng trăm bức gà, vẽ sen khô, vẽ những người lính trận, nhất là lính xe tăng, nửa thật nửa không thật, nửa ở hiện tại nửa ở huyền tích, xa xôi, mờ mịt. Tôi chỉ cảm nhận được đó là những đường nét thật tài hoa.

Hai tập tản văn của Dũng là “Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân”, và “Những hòn cuội nhặt dọc đường”. Tập trước là những trải nghiệm, những bài học nhân sinh, những kỷ niệm, những triết lý về con người và về cái thời mà Dũng còn là một anh lính họa sỹ trong một lữ đoàn xe tăng mà năm 1975 đã tiến vào đánh chiếm Dinh Độc Lập. Tập “Những hòn cuội nhặt dọc đường” không còn chữ “hành quân”, đây là dọc đường thiên lý, là con đường của hành trình Dũng đi lang thang để vẽ, có khi đó là con đường dốc thoai thoải đến bãi đá cổ Sapa, cũng có khi đó là con đường Dũng mải mê vẽ hằng đêm để tìm cho ra khí phách của giống ngựa, cũng có thể đó là con đường Dũng mò mẫm mãi mới ngộ ra cái gì là chân giá trị trong mớ mịt mù những giá trị thật giả lẫn lộn, đặng tìm ra cái gì không đáng tôn thờ trong cái đống ta đang tôn thờ. Đừng đòi hỏi Dũng phải cháy lên một cách ào ạt, hay rạch ròi một ranh giới như thực tại sống. Mà ở đời làm sao có được một sự rạch ròi kia chứ? Hơn nữa, từ bé Lê Trí Dũng đã sống trong tiếng chuông chùa, chung quanh là những người thân như mẹ, như bà, như ông ngoại ông nội, thấm đẫm tinh thần Phật giáo, cũng là tinh thần Việt hay tinh thần phương Đông. Một loạt tạp văn của Dũng viết về ma, về âm dương tướng số, về kiếp trước kiếp sau với luật nhân quả ( Khẩu súng ma, Thai giáo, Kiếp trước, Kiếp sau, Kiếp sau nữa, Ma cà rồng, Trong cõi hồng trần, Thanh kiếm Đường Khê, Âm dương tướng số) hoặc rải rác chỗ này chỗ khác là lý số, là âm dương ngũ hành của khoa tử vi có thể là những ảnh hưởng có từ tấm bé và khi lớn lên được học hỏi chiêm nghiệm bồi đắp dần cho đến lúc anh ngộ ra sự sắc sắc không không ở đời, mọi danh lợi đều là phù vân.  Cái điều mà người xưa đã nói rất nhiều nhưng khi đọc Lê Trí Dũng, tôi vẫn thấy thích thú, hấp dẫn bởi vì Dũng nói không phải để dạy ai, Dũng nói một cách chân tình, còn thêm chút lính tráng, bởi những trải nghiệm của mình, và nhất là vì cái thời đồng tiền làm được tất cả, mọi bậc thang giá trị đều bị đảo lộn, sự giả dối lên ngôi. Thì cái điều Dũng nói là cần thiết, hóa ra cái tưởng mọi người đều biết thì ra lại  không biết.

Trong truyện ngắn hay tiểu thuyết, các nhà văn đều viết từ cuộc đời của mình nhưng được chia ra phổ vào các nhân vật nên là cuộc đời nhà văn mà không ai nghĩ là của nhà văn cả. Nhưng trong tản văn của mình, Lê Trí Dũng không có chỗ ẩn nấp mà anh cũng không ẩn nấp. Dũng thể hiện thái độ sống một cách mạnh mẽ. Anh kính trọng những họa sỹ bậc thầy về tài năng và nhân cách (Người lính trên chiến trường hội họa, Minh họa tản mạn ký) hoặc cũng rất yêu mến những bạn bè có chân tài (Ký họa ở chiến trường)... Phía khác, Dũng phê phán kịch liệt sự giả dối trong nghệ thuật, nhất là rất ghét lối sống giả dối hèn hạ của nghệ sỹ,  nhận hết bổng lộc rồi mới phản tỉnh, đi tìm cái bản ngã của mình, để tiếp tục nhận thêm “dũng cảm bội tinh” (Xốn xang tháng 7). Có một lớp nghệ sỹ, không nhiều mà cũng không ít, đầy đủ các loại danh hiệu, học vị, giải thưởng, tưởng như họ không còn thiếu thứ gì nhưng Dũng phát hiện ra họ còn thiếu một thứ, ấy là... liêm sỉ.

Tuy nhiên, đó chưa phải là điểm mạnh trong các tạp văn của Dũng. Cái mạnh của Dũng là những trang viết về thế thái nhân tình, về tình đồng đội. “Đồng đội”, “Chuyện kể về một người lính xe tăng” đau xót và thật như một hồi ký. Có những việc như chôn đồng đội, hay đồng đội cõng mình qua làn đạn quả là không bao giờ quên được, để hàng năm họ rủ nhau trở về bên dòng Thạch Hãn để thả những vòng hoa đẹp xuống dòng nước không phải để giải tỏa một ẩn ức chiến tranh như người khác mà thực sự họ đã vì một tình đồng đội vĩnh hằng cao hơn tất cả. Cái tình của người viết là tình của người trong cuộc chứ không phải thương vay khóc mướn gì cả. Thương bạn rồi thương mình trong một thời tao loạn đạn bom băng qua cái chết mà sống, Lê Trí Dũng lan man nghĩ sang thế thái nhân tình. Cuộc đời là sao nhỉ? Đã có lòng tốt sao còn có sự ác độc, có anh hùng sao còn có sự hèn hạ? Thật ra phải hỏi, có thật sao không có giả, có phàm trần sao không có thần tiên? Lê Trí Dũng vừa lý giải về nó vừa không hiểu về nó. Vì nó có tất cả. Vì phải có tất cả mới làm nên cuộc đời, ví dụ có đạo lý thì hiển nhiên là có vô đạo, có công lý là có bất công. Trong tập “Những hòn cuội nhặt dọc đường” có nhiều minh họa rất đẹp nhưng tôi thích cái minh họa Dũng in vào cuối sách, bên cạnh cái cổng vòm cổ kính là một xã hội rất Việt Nam, có nho sỹ, có thượng thư, có cảnh sát, có ăn mày, có doanh nhân com lê cà vạt, có triết gia, có đĩ điếm, có cô yếm thắm răng đen, có chàng bặm trợn uống rượu bằng bát như Lỗ Trí Thâm bên Tàu, có họa sỹ, có nhiếp ảnh gia, vân vân... Tất cả như bị chi phối bởi một cái gì đó rất vô hình mà cũng rất vô biên. Tôi đoán là Lê Trí Dũng sau khi viết “Xốn xang tháng 7” bàng hoàng nhận ra “ở cái đất mà...coi văn hóa chả ra cái đếch gì..” và cũng bàng hoàng nhận ra tiếp “mỗi dân tộc, mỗi cuộc chiến đều có số phận riêng mà trong đó số phận mỗi người lính rất mỏng manh, bé nhỏ xiết bao” (Khẩu súng ma) rồi tiếp đến là đứa con trai anh làm anh sởn gai ốc bằng một câu hỏi không còn ngây thơ của lứa tuổi nó “Bố ơi, không biết cái tòa thành ấy nó có vị trí trọng yếu thế nào về chiến lược mà mình phải đổ quân vào đó nhiều thế?” (Nén hương của sự tri âm) thì anh vẽ bức minh họa ấy. Rõ ràng, từ anh lính lệ, ông quan, nho sỹ cho đến triết gia, nghệ sỹ, doanh nhân thắt cà vạt, và cho đến anh lính họa sỹ trong xe bọc thép cũng chỉ như chiếc bách nhỏ nhoi bé bỏng mong manh trong cơn lốc xoáy được tạo ra bởi một chiếc gậy phù thủy vô hình.
Sau cùng, tôi có một điều tâm đắc muốn nói thêm, đó là những cái mà Lê Trí Dũng gọi là những hòn cuội. Những triết lý, những tư tưởng, những kỷ niệm, những lời tri ân...nảy ra trên đường đời, dù đó là đánh giặc hay làm nghệ thuật, Dũng gọi đó là “những hòn cuội nhặt được dọc đường.” Một kết cấu rất hội họa. Là hòn cuội thì có to có nhỏ, có hòn tròn có hòn không được tròn, hòn trơn hòn nhám, hòn đẹp hòn xấu, có hòn màu nâu có hòn màu trắng. Tự nhiên vốn vậy. Cái tài của người đặt tên sách là dù viết về cái gì, ma quái, tướng số, đến nạn kẹt xe, từ văn học đến hội họa, dài ngắn, trữ tình hay trào lộng, đều không lọt ra ngoài, hàm chứa được tất cả. Mà dài ngắn, nhiều ít tùy hứng được. Thích viết in năm ba cuốn nữa cũng được. Không ai dám bảo thiếu mà cũng chẳng ai dám bảo thừa. Hòn cuội mà. Cả đống cũng hoàn chỉnh mà một viên cuội cũng hoàn chỉnh.

Bắt chước Dũng tôi ghi những cảm nghĩ của mình về hai tập “Những hòn cuội...” thử làm một hòn cuội góp thêm vào đống cuội của Dũng, nó là gì cũng được, có lẽ không ai bắt bẻ, vì cũng là một hòn cuội mà.

Đầu năm Nhâm Thìn
T.H.Q



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 17 Tháng Mười, 2013, 07:40:32 am

NGƯỜI TÔI TỪNG GẶP
Thái An
nhà báo

1.
Phàm là một kẻ mê tranh, nếu từng một lần được xem tranh họa sĩ Lê Trí Dũng triển lãm hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sức sáng tạo tràn trề và độc đáo đến vậy. Mang triết lý Phật giáo vào hội họa cũng là một thách thức khi cần một cách truyền tải dễ hiểu, nhưng không kém phần sâu sắc và ấn tượng.
Nếu để miêu tả ngắn gọn nhất tranh Lê Trí Dũng, có lẽ tôi sẽ chỉ dùng một từ “Đẹp”. Tuy nhiên tranh ông không nhất thiết phải đắt, phải làm người xem sửng sốt, mà cái chính là khiến người ta cảm thấy thích thú, dễ chịu. Làm hài lòng các cảm xúc, tâm hồn, tinh thần, trí óc…Đó là những thứ có thể không thật sự cần thiết phải có, nhưng nếu có nó sẽ làm cho cả họa sĩ lẫn người thưởng thức, người sở hữu tranh ông, cảm thấy gần nhau hơn.
Đó có lẽ cũng là lý do người ta thường coi tranh đẹp là một thứ tặng vật xa xỉ. Để sở hữu cần có cả cơ duyên.
Mở đường cho xe ra tiền tuyến.
Các sáng tác của ông, dù đề tài chiến tranh cách mạng, tĩnh vật, hay những Con Giáp…, mỗi đề tài một sắc thái cảm xúc khác nhau, nhưng đều lấy sợi chỉ xuyên suốt  làm linh hồn sáng tạo, đó là Con Người - tặng vật tốt đẹp nhất của tạo hóa. Sự sáng tạo được thăng hoa thể hiện những mong muốn, khát khao về một tương lai tốt đẹp, cùng tìm kiếm để rồi “ngộ” ra một con đường chân lý.

2.
“Tôi mê ngựa từ bé. Con ngựa đầu tiên tôi vẽ trong đời là con ngựa Xích thố của Quan Vân Trường trong Tam Quốc Chí. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ “Con ngựa toàn thân sắc đỏ như lửa, tịnh không có một cái lông nào tạp, ngày đi nghìn dặm”, lớn lên lại biết thêm vô vàn ngựa hay khác…”, họa sĩ Lê Trí Dúng tâm sự. Sau nhiều năm vẽ ngựa, với ông con ngựa không còn là ngựa nữa, nó hóa thân thành người.
Họa sĩ nói tiếp, “Con ngựa tôi khoái nhất là một con ngựa đơn sắc, gần như chỉ hai màu đen trắng, quay lưng lại người xem, bờm xù, dáng thản nhiên, ngạo nghễ. Hình như ít người đồng cảm với con ngựa này. Cũng phải, bởi ước vọng đoàn viên, ước mơ hạnh phúc vẫn là ước muốn muôn đời. Nhưng cô đơn lại là số phận của những nghệ sĩ đích thực”.
Tôi nghĩ không hẳn thế. Biết bao người, bao thế hệ đã mê “Ngựa”, cả ngựa đơn sắc, mê “Sen tàn”, “Hổ”, “Gà”… Say tranh Lê Trí Dũng.
Sen tàn.
Tôi trong số đó. Ám ảnh bức “Sen tàn” khổ lớn. Những vệt đen loằng ngoằng.
Màu nhòe trên giấy dó, tung hoành, gẫy đổ. Bật lên chỉ một - nụ - đỏ - cánh - sen. Ý tưởng ở đây là sự sống, là sức sống mãnh liệt của vạn vật, trỗi dậy dù trong đổ nát hay tàn héo. Như người ta vậy. Có bản lĩnh ắt qua được vận hạn, an nhiên, tự trưởng thành.
Quả thực như lời của tác giả “Sen tàn”, họa sĩ Lê Trí Dũng, tác phẩm hội họa muốn hay phải “xuất được cái thần”. Nó cũng giống như phép xem tướng. Nếu chỉ đạt đến “hình tướng” mà không đạt đến “thần tướng”, là không được.

3.
Cũng người nghệ sĩ tài hoa ấy chia sẻ, rời quân ngũ hơn ba chục năm rồi, ông vẫn vẽ đề tài chiến tranh cách mạng. “Kể từ ngày đó… Trở lại chiến trường rồi ra quân, đi khắp miền Tổ quốc. Đã 35 năm trôi đi. Trải mọi thăng trầm. Không khi nào tôi quên đồng đội, bao tài hoa ra trận. Không khi nào quên được những mũ sắt, mũ rơm, những hầm trú ẩn, những tàu lá chuối ngụy trang, những bát chè xanh của các mẹ, các chị…”
Mấy năm gần đây, Lê Trí Dũng viết văn. Đã cho ra hai đầu sách, hai tập tản văn - “Những hòn cuội nhặt dọc đường”.
“Tựa” cho tập sách, nhà phê bình - họa sĩ Phan Cẩm Thượng viết : “Nếu chúng ta không quá đòi hỏi về một thứ văn bút hoàn hảo, thì rất thú vị khi đọc tản văn của Lê Trí Dũng. Nó được đúc rút từ những tháng năm thơ dại tưởng cuộc sống là một bức tranh màu hồng, được hun bởi một thứ khói thuốc súng khét lẹt, bởi thời hậu chiến gian khó và bởi sự ngổn ngang tâm thế của hiện tại”.
Họa sĩ Lê Trí Dũng hiện là Ủy viên BCHTW Hội Mỹ Thuật Việt Nam khóa 7, tham gia giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo.

Vừa chào đón năm Canh Dần bằng triển lãm 60 con Hổ, tháng 5 tới ông dự định tham gia triển lãm tranh cùng bốn họa sĩ cựu chiến binh từng tham chiến tại mặt trận phía Nam.
Với một kẻ say nghề, lại có những mối quan hệ phong phú như Lê Trí Dũng, đôi khi người ta không biết ông lấy đâu ra thời gian? “Biết sắp xếp công việc và kiểm soát thời gian khôn ngoan, ta sẽ giải quyết mọi chuyện ổn thỏa”, ông nói.

4.
…Tôi gặp họa sĩ Lê Trí Dũng một chiều cuối xuân tại trụ sở Hội Mỹ thuật VN, 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội. Ông vừa trở về sau chuyến đi miền núi Cao Bằng cùng mấy anh em BCH TW Hội.
Được hỏi “công thức” làm việc của mình, Lê Trí Dũng trả lời: “Đam mê, tiếp cận đúng và quyết định đột phá. Tôi đang làm một công việc duy nhất là sáng tác. Tôi say mê nó. Nhưng tôi say mê cái hệ quả của nó hơn. Tiền có thể mua được, nhưng bạn bè, tự trọng hoặc lòng tin thì không”.
Còn ước vọng? - “Tôi mong muốn sự tử tế hiện hữu nhiều hơn và lan rộng trong cuộc sống này”.
Chia tay, tôi hỏi: “Điều gì đáng sợ nhất trong cuộc đời?” “Cái ác!” Anh trả lời chắc chắn, như thể cái ác đang hiện hữu từng giờ, sẵn sàng chui ra từ gầm giường anh bất kỳ lúc nào. Nhưng cái ngu cũng đáng sợ như không bao giờ đứng thứ hai. Và còn đáng sợ hơn nếu cái ác đội lốt một cái gọi là thiện và cái ngu đội lốt một cái gọi là thông minh, tinh nhạy.
- “Nếu trong đời vấp phải hai “cái đó” thì phải làm thế nào? Tôi lại hỏi:
- “Khinh bỉ và im lặng”!

5.
Quần quật trên cánh đồng sáng tạo, người nghệ sĩ ấy vẫn tinh tế, phong độ. Thần thái dung dị, hài hước…
Với Lê Trí Dũng, tranh đẹp là một quý vật. Quý vật phải tìm được quý nhân. Và cách tốt nhất để những bức tranh đẹp trở nên đẹp hơn là giới thiệu và đưa nó đến với những người thực sự hiểu được giá trị của nó.

20.3.2013


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 18 Tháng Mười, 2013, 08:06:15 am
Tin vào nước mắt

Bút ký của Tân Linh

“Không phải nước mắt nào cũng làm ta yếu mềm” - (Tân Linh).
“Đi Quảng Trị, nghĩa là “về” Quảng Trị” – (Lê Trí Dũng)

Câu văn của tác giả và của nhân vật đã nói một cách gãy gọn nội dung bài ký. Nếu bạn không đủ thời giờ và sự kiên nhẫn, hãy cứ đọc chừng ấy. Phần còn lại dành đọc sau. Không sao. Dù thế nào cũng xin cảm ơn bạn!

Lê Trí Dũng vừa từ Quảng Trị về.
Quảng Trị, từ bốn mươi năm nay, với anh là miền đất nợ nần. Nhưng có lần tôi bảo với anh rằng, tôi là người Quảng Trị, đất ấy nợ các anh chứ!  Họa sĩ không chịu: “Không! Chúng ta nợ đất ấy, nợ những người nằm xuống cho hôm nay chúng ta được sống, được hưởng hòa bình, được dẫm đạp nhau mà đi lên…”
 Dũng chực khóc bên ly café đen luễnh loãng Hà Nội sáng cuối tháng Bảy này…Dũng khóc. Anh khóc cho những người bạn mình đã không về sau cuộc chiến. Nước mắt anh không bi thương mà ấm nồng, mà tự hào kiêu hãnh…Rồi anh lại khóc khi tôi đọc tặng anh bài thơ Tìm bạn đăng ở báo Tiền Phong năm 2006: …Tuổi hai mươi bạn về dưới cỏ/ Phía âm dương cách biệt biết tìm đâu/ Tên của bạn theo người về với đất/ Bia không tên thương hồn bạn cơ cầu… Rồi không nén được, tôi cũng đã khóc cùng anh, khóc cho những người bạn có tên và không tên ở những cái nghĩa trang quốc gia, cùng các nghĩa trang Liệt sĩ khắp nơi tại Quảng Trị…Hai mươi năm trước, sau chuyến triển lãm tranh từ Mỹ về anh đã kể tôi nghe chuyện mình đã khóc cùng một cựu binh Mỹ ở Main khi sang Hoa Kỳ tổ chức triển lãm cùng những người lính hai chiến tuyến một thời. Trầm xuống, giọng Dũng: “Khi tôi lấy chiếc vòng lưu niệm bằng xương động vật có gắn một hoa hồng ra quàng vào cổ Kewill, bỗng dưng anh ta quỳ xuống chân tôi, run rẩy: Thế là tôi thanh thản được rồi, tôi  đã được một VC(Việt cộng) tha thứ, bằng một đóa hồng!...” Không hiểu sao tôi lại khóc, các cựu binh Mỹ có mặt lúc ấy cũng khóc…”. Dũng đã may mắn trở về, may mắn thành họa sĩ tài danh… Nhưng anh đã lại dành phần lớn cuộc đời sáng tạo của mình để vẽ về chiến tranh. Chiến tranh, như một ám ảnh, như một vết chàm trên gương mặt nhân loại. Anh vẽ người lính không thấy người. Chỉ còn lại chiếc ba lô, cái mũ tai bèo, cái bi đông và trên đó là khẩu AK 47 nòng ghếch cao lên…Nhà anh hãy còn cái ca Mỹ của người chỉ huy đã cho anh như một lá bùa hộ mệnh. Nhờ cái ca hợp kim ấy cất sau đáy cóc ba lô mà mảnh đạn đã không xuyên qua người anh mấy lần… Người chỉ huy đơn vị tên Bình đã là ân nhân cứu mạng anh bao lần bởi đã tặng người lính - họa sĩ của mình cái ca Mỹ và dặn nhét vào cóc ba lô. Dũng đã sống nhờ cái ca Mỹ ấy bởi nhờ nó mảnh bom không xuyên được vào người, còn người chỉ huy thì nằm lại… Anh trở về để tri ân tất cả. Tri ân đồng đội. Tri ân mảnh đất Quảng Trị đã cho anh bản lĩnh làm người…Cái ca Mỹ của chiến sĩ - họa sĩ Hoàng Thượng Lân còn đó trên bàn viết của anh. Ấm ảnh và đớn đau vì chiến tranh, dẫu cuộc chiến khốc liệt ấy đã đi qua hơn nửa phần đời…Vẽ về nỗi ám ảnh của chiến tranh chính là cách anh thể hiện khát vọng hòa bình. Anh thành danh với hội họa, nhưng tôi hơi bất ngờ  với một Lê Trí Dũng viết. Ba tập tản văn tùy bút  của anh ám ảnh lạ lùng. Ám ảnh bởi anh viết xúc động quá. Tôi bảo anh rằng, chỉ cần viết gây xúc động cho người đọc đã là thành công rồi. Dũng không nhận, anh bảo:  Lúc không vẽ được thì viết ra vậy thôi ! Nhưng không phải ai cũng viết được như anh. Phải dày dặn trường đời trận mạc và đủ trải nghiệm, giàu cảm xúc và vốn chữ nghĩa mới xuất thần như vậy. Bao nhiêu bức họa về Quảng Trị chưa đủ, ba cuốn sách  mà phần lớn lớn bài viết trong đó lại cùng hướng lòng mình về miền đất máu lửa một thời làm ta thắt lòng khi nghĩ về hình ảnh người họa sĩ từ Hà Nôi lặn lội vào Quảng Trị mỗi năm một lần để “sống” với đồng đội, với ký ức thời hoa lửa… Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã có cùng cảm xúc với tôi khi đọc văn Lê Trí Dũng. Hoàng Ngọc Hiến viết: “Tiểu thuyết về chiến tranh thì Bảo Ninh là tác giả được Lê Trí Dũng mến mộ nhất. Còn tản văn (hoặc tạp văn) về chiến tranh, tôi vẫn cho rằng Lê Trí Dũng là hơn cả.  Dọc đường hành quân, rong ruổi trên đường đời, đường nghệ thuật, Lê Trí Dũng nhặt được không biết bao nhiêu hòn cuội. Đọc hai tập hồi ký - tản văn của tác giả, tôi nhặt được một hình ảnh lẫm liệt anh bộ đội giải phóng, một cách nhìn phương Đông và dăm ba nụ cười u-mua...”. Vâng nụ cười có vẻ u mua nhưng chữ trong những tản văn tùy bút về đời, về chiến tranh - hòa bình thì anh chắt ra từ trái tim. Trái tim người nghệ sĩ dễ rung động. Nước mắt tôi chảy theo những trang anh viết về chiến tranh và đồng đội. Trong tản văn mà thực chất là một kiểu hồi ký của mình, Lê Trí Dũng đã kể chuyện mình đã khóc khi chuẩn bị in cuốn Khúc tráng ca Thành cổ. Anh khóc tủi phận và tủi cho những người đồng đội dày công chuẩn bị tư liệu biên soạn và cuối cùng nó không ra đúng tháng Bảy  vì… thiếu tiền. Anh khóc bởi tiếng bom ùa về lẫn trong tiếng cụng ly tiền tỷ của những đại gia chia chác lợi lộc từ các dự án, hay sau những phi vụ mua quan bán tước…Anh đã viết với ngổn ngang tâm thế. Người lính Giải phóng quân ấy trở về đời thường và anh đâu có hình dung nổi thế sự đa đoan, bể dâu nổi chìm như vậy. Nói như nhà phê bình Mỹ thuật Phan Cẩm Thượng là “Anh đã chạm được vào cửa ngõ của những tâm trạng xã hội”.

Ngày cuối tháng bảy năm nay, tôi gọi cho Lê Trí Dũng, định rủ anh đi Quảng Trị. Đầu dây bên kia: “Mình với Lê Việt Khánh, cậu con trai mình đang ở Quảng Trị. Để được “sống” với bạn bè nằm lại nơi này ông ạ! Đang vào chúc mừng Hội Văn nghệ Quảng Trị tái lập 20 năm…” Vậy là lỡ hẹn với họa sĩ rồi. Hình như gã hăm hở về nơi ấy, như thể muốn được tiếp thêm năng lượng thì phải. Nhưng khi vừa ra Hà Nội anh đã điện rủ đi café … Lời đầu tiên xin lỗi Tân Linh vì đi Quảng Trị lần này là đi theo “ông con trai”. Lạ không? Ông con trai  mình sinh năm 1978, nghĩa là muộn nửa con giáp sau ngày Quảng Trị giải phóng. Vậy mà cu chàng chủ động tổ chức chuyến đi  với lời mời rất chi là …người lớn. “Con mời bố đi với con một chuyến về Quảng Trị”. “Có dự án nào trong ấy à?”. “Không! Đi hành hương về chiến trường xưa của bố thôi”. Tôi cảm động không nói được gì. Tôi khóc vì sung sướng. Sung sướng không phải vì con trai lo cho một chuyến đi, mà vì tôi không ngờ một chàng trai thời @, trong lúc người ta băm bổ kiếm tiền và hùng hục ăn chơi thì cu cậu lại tổ chức cho cha chuyến hành hương về phía trận mạc…Lê Trí Dũng kể: "Lần này luật sư Lê Văn Hiến - một đồng đội cũ đón và dẫn đi thăm mộ họa sĩ Hoàng Thượng Lân. Đứng trước nấm mộ "gió" Lân ở Quảng Trị tôi thắp hương khấn cầu cho linh hồn bạn siêu thoát phù hộ độ trì cho gia đình bạn hữu còn sống”. Giữa ngày tháng Bảy này, kể những câu chuyện thật mà như có gì kỳ bí về đất ấy, anh đương dẫn tôi về cái ngày  gia đình nhà báo Hoàng Nguyên Kỳ vào nghĩa trang bốc mộ người con trai - họa sĩ Hoàng Thượng Lân. Lân chơi với Lê Văn Hiến từ ngày vào Quảng Trị và chiến đấu trong cùng một đại đội. Hiến cũng từng ra Hà Nội với gia đình Lân như con trong nhà. Lần này gia đình vào xin đưa mộ Lân về nghĩa trang liệt sĩ tại  Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì. Đoàn vào Đông Hà.  Cả nhà Lê Văn Hiến đón tiếp chu đáo. Hiến làm con gà, chuẩn bị sửa cái lễ để ra nghĩa trang Trường Sơn nơi Lân nằm, để thắp hương trước khi di dời. Tự tay Hiến cắt tiết con gà nhưng anh bỗng giật mình khi làm hết mọi cách mà con gà trống vẫn không chảy ra một chút tiết nào. Phải chăng đây là điểm báo chẳng lành? Hiến không nói nhưng ai cũng linh cảm điều gì đó đang đến…. Cả nhà im lặng lên đường đến Nghĩa trang Trường Sơn. Điều tiên đoán xấu nhất đã xảy ra: Mộ của Liệt sĩ Hoàng Thượng Lân đã bị ai đó bốc nhầm…Người quản trang chỉ nhớ rằng: “Hôm trước có gia đình ở xã Cẩm gì đó ngoài Hà Tĩnh vào bốc mộ liệt sĩ đưa về quê chắc đã nhầm tên”.  Cẩm gì? Thôi chết rồi. Phải về Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Phòng Lao động Thương binh xã hội cho biết có gia đình ở xã bên vào bốc mộ liệt sĩ  Hoàng… về nghĩa trang liệt sĩ huyện… Mọi chuyện đã rõ. Vậy là lại tìm được di cốt Hoàng Thượng Lân đưa về nghĩa trang Ngọc Hồi cạnh mộ liệt sĩ - họa sĩ Hoàng Tích Minh…

 Hai cha con về Cửa Việt. Người con chụp lại những bức ảnh cái bãi xe tăng mà trong tản văn Lê Trí Dũng đã viết về nó như là một ám ảnh…

(Còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 18 Tháng Mười, 2013, 08:07:13 am

Tin vào nước mắt

(Tiếp theo)

 Bốn mươi năm, sau cuộc đọ sức quyết liệt ấy, những người lính trở về, nay có người thành quan to: Đinh Thế Huynh, Nguyễn Quốc Triệu… Nhưng thương nhất là những đứa nằm lại…Rưng rưng bên dòng Thạch Hãn hai cha con xem Biên tập viên Tạ Bích Loan và đạo diễn Lê Hùng chuẩn bị cho “cầu truyền hình Quảng Trị 40 năm” thì bất thình lình cô gái trẻ Hà Nội, một BTV đài THVN bỗng lăn đùng ra đất miệng lảm nhảm như vong nhập. Tất cả  sửng sốt khi nghe cô gái bảo rằng: “Tôi thích Lê Hùng! Nhưng không thể chọn 12 người, mà ông Hùng phải chọn đủ 30 người, mặc quần cộc, mang AK và phao ni lông qua sông thôi, ngày ấy làm gì có quần áo chỉnh tề thế…” Lê Hùng quá bất ngờ bởi câu chuyện như… “vong nhập” ấy nằm ngoài mọi kịch bản… Lớp ấy toàn tài hoa ra trận. Tôi không hiểu sao thế hệ sinh khoảng từ 1945 đến 1950 thật là một “thế hệ vàng” trong lịch sử đất nước. Nhưng rồi vì tiếng gọi vệ quốc thiêng liêng đến nỗi bao người gác lại chuyện học hành tu nghiệp để lên đường chiến đấu.…Lứa ấy bao nhiêu tài hoa ra trận. Hoàng Thượng Lân nếu trở về sẽ là một họa sĩ tên tuổi. Nguyễn Văn Thạc sẽ là một nhà văn, rồi Nguyễn Văn Giá, Đặng Thùy Trâm…Đất nước đau thương tiễn một thế hệ tài hoa ra trận. Lịch sử đôi khi cần như vậy. Dũng kể năm 1969 trong lúc nằm hầm ở Quảng Trị, Hoàng Thượng Lân bảo: "Tao chỉ mong hòa bình, dựng được một cái tranh bằng một góc bức Brodino cho nó sướng, các nhân vật trong trận đánh  tao sẽ đưa tất cả các bạn của tao vào. Năm 1971, gặp Hoàng Tích Minh ở phố Phủ Doãn, trước khi Minh vào chiến trường, Dũng hỏi: Này, hết chiến tranh rồi ông còn thích vẽ bộ đội nữa không? Minh trả lời buồn: “Chả biết còn sống không mà vẽ. Mà nếu có vẽ có lẽ chỉ vẽ các mạ thôi, hình đẹp mà thương lắm!” Từ bấy đến nay đã bao nhiêu năm rồi, cả hai thằng bạn của tôi cũng đã về trời rồi mà ước mơ của chúng nó vẫn còn nguyên vẹn trong tôi…”

"Đi Quảng Trị nghĩa là "về" Quảng Trị" - Dũng bảo với tôi thế. Những chuyến hành hương về laị Quảng Trị của Lê Trí Dũng và những người lính cũ làm bừng tỉnh trong tôi một giả thiết về “hội chứng tri ân”. Họ trở về tri ân mảnh đất này đã cưu mang đã chở che để được trở về…“Tôi không tin là làm sao mình còn sống! Vâng! Đôi khi thấy việc mình còn sống trở về như một điều vô lý”. Chàng lính Quảng Trị năm xưa Đào Chí Thành – đã phát biểu trên Truyền hình như vậy khi được hỏi cảm giác của anh ngày hôm nay trở lại Quảng Trị. Chiến tranh khốc liệt quá. Quảng Trị là nơi đối đầu lịch sử, sự khốc liệt càng lớn hơn và xương máu cho ngày hòa bình ở đất này vô cùng lớn… Dũng lại âm thầm lau mắt. Anh giấu tôi những giọt lệ một cách rất nghệ thuật. Tôi bảo không phải nước mắt nào cũng yếu đuối ủy mị đâu.  Nước mắt mắt đôi khi kiêu hãnh tự hào và một chút tủi hờn đấy. Anh đương úp bàn tay lên che khuôn mặt gồ ghề góc cạnh và khá đẹp lòa xòa mái tóc xoăn dài hình như để giấu đi đôi hạt nước mặn - nồng nơi khóe mắt.. Dũng bỏ bàn tay quen cầm cọ ra ngượng ngùng trước tôi… Ký ức của người lính vệ quốc sâu nặng lắm. Riêng điều ấy là một bí ẩn thuộc về tâm linh. Dũng và đồng đội ra trận khi vừa mười tám đôi mươi. Tuổi xuân phơi phới chưa kịp cầm tay cô Thanh niên xung phong thân thương trên đường hành quân qua Đò Lèn, Thanh Hóa… Cứ tháng Bảy  về, rầm rập những đoàn cựu binh tìm về Cổ thành và những địa danh trên đất Quảng Trị như Lê Trí Dũng. “Trong lễ tưởng niệm những người con ngã xuống vì Tổ quốc hôm tháng Bảy, có người lính cũ bây giờ là Ủy viên Bộ Chính trị. Anh ngồi đó giữa nắng hè mà không cần người che ô. Tác phong ấy, cử chỉ ấy chỉ có lính về từ Thành cổ …Từ Thành cổ trở về có lẽ không có gì có thể làm người ta so bì, lựa chọn, đòi hỏi…” Dũng kể mà mắt ánh lên chút tự hào. Không ai sống mãi với quá khứ. Dũng lại kể lần gặp một nhà văn nọ ở Quảng Trị. Anh này không thích ôn chuyện đã qua mà muốn xung trận mới, với những dằn vặt không kém đớn đau trên con đường xây dựng hòa bình của đất nước hôm nay quá nhiều điều trăn trở. Không phản đối thái độ của nhà văn ấy. Đó cũng là thái độ của người chiến thắng biết nhìn tới tương lai…

Tôi có thể khẳng định rằng, một trong những  người vẽ nhiều nhất, đẹp nhất về trận mạc, về chiến tranh vệ quốc và cũng là người vẽ những bức tranh dữ dội nhất về điều đó, là Lê Trí Dũng. Anh vẽ tranh, vẽ minh họa cho sách báo, vẽ tặng bằng hữu…hình như bức nào cũng dữ dội và bạo liệt. Dữ dội không chỉ ở mâu thuẫn từ bố cục, nội dung tư tưởng trong tranh anh, mà còn dữ dội trong từng nét vẽ. Tôi đã nhìn thấy nỗi ám ảnh và những giọt nước mắt anh chắt ra từ trái tim mình qua những nét vẽ ấy. Nước mắt anh đã rỏ xuống những bức tranh, rỏ xuống đất đai Quảng Trị và rỏ xuống cuộc đời. Nước mắt là thứ nước đôi khi vớ vẩn nhất nhưng nó có lúc là thứ vĩ đại nhất mà tôi biết. “Không (vẽ) trận mạc bất thành Lê Trí Dũng”. Tôi không tin một nhà phê bình mỹ thuật khi nói về Dũng như vậy. Tôi nói thêm, nếu không trận mạc vẫn có một Lê Trí Dũng khác, tài hoa và tài năng. Chỉ tiếc trong những bộ sưu tập tranh trên thế gian thiếu những bức tranh ám ảnh về chiến tranh mà thực ra nó như một cách thể hiện khát vọng hòa bình…   

 Bây giờ thì mọi chuyện đều nhỏ. Và việc lớn nhất đời anh là nỗi nhớ đồng đội, tình thương với những người bạn đã nằm lại chiến trường… Lê Trí Dũng bảo: Thời gian còn lại anh sẽ dành để đi - về nơi này. May mắn thay có người con trai không những ủng hộ cha hành hương mà còn chủ động đề xuất đưa cha về lại mảnh đất ấy mỗi năm ít nhất một lần. Vậy là tôi đã không hiểu cái bí ẩn của những chuyến đi ngược về quá khứ đau thương oanh liệt của anh. Nước mắt người lính đã chảy ngày hòa bình và chảy suốt đời bởi miền đất linh thiêng Quảng Trị. Tôi tin những giọt nước mắt ấy chỉ có niềm kiêu hãnh, tự hào và chỉ có ở những con người trân trọng lắm cuộc đời này. Nước mắt đâu phải  tất cả yếu mềm. Nhìn những bức vẽ của anh nét rắn rỏi lắm mà sao tôi cứ lặng đi, khi nước mắt chực rơi. Cái rắn rỏi ấy chứa cái phần tinh hoa nhất  bên trong, đó là nước mắt không chỉ để khóc cho người, cho mình hay cho cho thân phận…mà là cho nhân loại khi được hưởng những ngày tháng hòa bình. Chỉ những người giàu bản lĩnh mới mau nước mắt. Và lúc này nước mắt là niềm tin yêu long lanh rất thật của người quá nhiều trải nghiệm về lẽ sống, về cái chết. “Không khóc được mới là hèn”. Dũng bảo thế. “Ngày ra trận mà lo buồn khóc than thì yếu hèn. Nhưng bây giờ khi yên hàn rồi, khi hạnh phúc mà dám khóc mới vĩ đại”. Tôi tin lời người bạn của tôi khi nghe chuyện họa sĩ Lê Trí Dũng dành phần lớn lao nhất tâm hồn mình cho miền đất thiêng liêng ấy… Tôi tin vào những giọt nước mắt. Nước mắt người lính ngày hòa bình có cái gì đó lớn lao kiêu hãnh, tự hào xúc động thật. Nó đưa con người gần lại, với hòa giải, và hướng thiện…Bản thân giọt nước mắt đã là những giọt nước vĩ đại được chắt ra từ đáy con tim. Nước mắt mãi là bài học cho mỗi cuộc đời. Họ đâu có về đây để khóc cho đời mình, cho bạn mà là để nguyện cầu cho đất nước mãi  mãi được sống trong hòa bình, trong nhân ái…

 Nước mắt đôi khi làm người ta rẳn rỏi, thanh thản hơn…

Đông Hà - Hà Nội 2012
T L



Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 19 Tháng Mười, 2013, 10:46:03 am


 
HÒN CUỘI CUỐI TRỜI

Họa sỹ - Lê Anh Tuấn-

Tôi biết Lê Trí Dũng qua kỷ yếu “Nghệ sỹ tạo hình Việt Nam hiện đại” của Hội mỹ thuật xuất bản năm 2009. Đọc đi đọc lại cứ băn khoăn, chẳng hiểu vì sao ông ta lại bỏ sót cái phần mà ai cũng tự hào, cũng cho là quan trọng: Đó là những năm tháng cống hiến trong quân đội nhân dân Việt Nam - Thời kỳ đánh Mỹ…Hội viên thứ 2000 của hội sắp đến, Lê Trí Dũng vẫn đang ở “tốp vài trăm”. Một vuông chiếu trên cho một người tuổi Kỷ Sửu quê ở Phố Hiến, lên Kinh Kỳ sinh sống và hành đạo cũng đã bốn đời, thế cũng cho là được. Tôi là người nhà quê, vào làng mỹ thuật cho vui từ những năm 80 của thế kỷ trước, trong cái đám thập loại chúng sinh, đất còn chẳng có, nói gì đến chiếu. Duyên kiếp thế nào lại được Lê Trí Dũng tặng cho hai tập tạp văn “Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân” và “Những hòn cuội nhặt dọc đường”. Trong một hội thảo mỹ thuật tại Huế, tôi ngồi gần nhà lý luận cựu trào, bậc thầy chữ nghĩa trong giới mỹ thuật nước ngoài, tuổi đã ngoài 80, cầm quyển tạp văn tôi hỏi, anh đã đọc thứ này chưa? Ngay tức khắc ông trả lời: Có được tặng đâu mà đọc. Tôi im lặng. Lại thêm một lần hiểu về Dũng. Thảo nào trong kỷ yếu mỹ thuật Dũng chỉ ghi có hai cái huy chương (mà bây giờ nó đã thành kỷ niệm chương rồi), còn huân chương nhà nước thưởng cho những người cầm súng đánh giặc, tiệt không thấy. Thì ra tất cả nằm ở “Những hòn cuội nhặt dọc đường”.

Là người có đọc sách, nhất là sách của anh em hoạ sỹ thì càng kích thích tính tò mò, “Những hòn cuội nhặt dọc đường” không phải là một ngoại lệ. Được viết ra từ những trải nghiệm cuộc đời, tạp văn là một dòng chảy bằng máu và nước mắt.

Tạp văn của Lê Trí Dũng dẫu trữ tình nhưng cũng không kém phần châm biếm, nhiều lúc ta thấy ngòi bút ông nghẹn ngào giữa hàng chữ. Ai chả biết sự việc đã trở thành quá khứ rồi, nhưng cái còn lại đang hiện hữu trong tâm hồn người viết thì sao? Chúng ta biết gì, biết được bao nhiêu trong cái con người đa đoan, vọng nhiễu này? Con người mà tôi biết được, khi cầm bút vẽ thì câm như tượng gỗ, vẽ xong cũng chẳng nói gì về cái được, thua, hay, dở, nhưng nụ cười thì chân tình, dễ mến. Hình như tất cả những gì to tát, dữ giằn, trầm uất trong ông đã gửi vào những hòn cuội rồi. Nó mịn màng, trơ khấc, sống bầy đàn mà đơn độc. Trong tạp văn Lê Trí Dũng ta nhận ra nụ cười chua chát, mỉa mai, có lúc cao hứng, ông cười ha hả một mình trước cái xấu xa, bỉ ổi của con người mà trong đó ông cũng là thành viên cộng đồng.

Tôi thích tạp văn Lê Trí Dũng chính là những điều ông viết ra cứ như chẳng đâu vào đâu cả. Truyện nào ông kể cũng vừa đùa, vừa thật, khi thì tiền nhân lạ hoắc, lúc thì kẻ cướp trong nhà… đùa mà đằng đằng sát khí, văn viết như thế quả là rất lạ. Cứ cái đà này, cái bị “ba gang”, chứ đến “trăm gang” sao mà đựng hết “Những hòn cuội nhặt dọc đường”. Tôi ừ với Lê Trí Dũng: thì cứ viết cho sướng, cho bõ cái công sinh thành của cha mẹ, cho bõ cái người, cái ta, cái vô lý chất chồng và cái nhỏ nhoi chân lý. Tôi tin ở “đứa con nuôi” của Dũng, và biết đâu nó chính là kỵ mã tung hoành trong bầy ngựa mà ông đã cho ra chuồng bằng “cái cửa mỹ thuật”. Cung đàn gió mưa của Lê Trí Dũng đang sầm sập đổ, vần vũ, hỗn mang, nhưng hãy coi đấy, khi nào vào cái tuổi “cổ lai hy” thì tự nó sẽ trầm xuống, nó sẽ nhìn vào vô tận mà trước mắt là vực thẳm ảo mờ. Biết rằng nếu không có tương lai thì làm gì còn quá khứ, thói đời thì cứ vuốt ve quá khứ để phỉnh nịnh tương lai thật là trò đùa của những kẻ “vô đạo bất đối”.

Tôi cứ bị ám ảnh về câu nói của Paul Klec, danh hoạ Đức quốc tịch Thuỵ Sỹ: “…Xã hội càng hỗn loạn thì nghệ thuật càng trở nên trừu tượng”. Trong hội hoạ Lê Trí Dũng có duyên sử dụng trừu tượng bằng ngôn ngữ thuần Việt của riêng mình. Trong văn chương cái cách trừu tượng trần trụi và thô mộc của ông khiến người đọc tưởng như truyện tầm phào, tếu táo, viết những lúc tửu tàn, canh muộn, hay những khi trưa hè oi bức, đông giá không nhà. Vào những lúc như thế viết gì mà chả hay, vẽ gì mà chả đẹp!

Không xong rồi Lê Trí Dũng ạ! Cứ cái cách tản mạn, tỉnh say viết vẽ như đùa thế này thì hồi kết sẽ đến đâu? Cho nên viết gì thì viết, vẽ gì thì vẽ nếu để mất hiện đại thì làm gì có tương lai, mà đã không có tương lai thì công sức bao nhiêu cũng đổ xuống sông xuống bể. Như Khổng Minh nước Thục, sáu lần ra Kỳ Sơn để rồi binh tàn tướng kiệt, đến nỗi phải nhờ mẹo vặt mới thoát chết. Sao bằng Tào Tháo một đời mang tiếng đa nghi, ác độc mà cơ nghiệp lẫy lừng, tình yêu bất diệt, chả vậy mà ngót trăm năm Tam quốc lửa binh, được mất, dại khôn đủ cả, vậy mà chỉ để lại một dòng thơ Tam Tào một mối tình Tào - Sái, thì ra thẩy đều bông phèng, giả dối, chỉ còn lại tình và văn chương mới là đích thực.
 
Những hòn cuội của Lê Trí Dũng, là những kỷ niệm cuộc đời mà ông từng “bôn ba trên mọi miền đất nước”, ông âm thầm góp nhặt và xếp lại thành những áng văn, với độ kết dính từ tư duy hội hoạ, cho ta một cảm nhận văn chương thú vị: Đọc, nghe và nhìn. “Những hòn cuội nhặt dọc đường” còn được tác giả gom góp ngày một nhiều hơn, từng viên cuội sẽ cho ta những hình thù bí ẩn và kỳ thú. Ở cuối xa kia sẽ là một lâu đài nguy nga tráng lệ, có vô số những biệt phòng mà công trình sư Lê Trí Dũng tạo dựng, thành công ban đầu mới chỉ là sự tập kết vật liệu  cho cái lâu đài xa kia, xa mãi kia…

Hà Tĩnh, Tháng 04 năm 2012




Tiêu đề: Re: Những hòn cuội nhặt dọc đường- Tập tản văn của Lê Trí Dũng
Gửi bởi: lixeta trong 21 Tháng Mười, 2013, 07:54:29 am

LỜI NGƯỜI BIÊN TẬP

        Khi tôi đòi nội dung lời cuối sách để đưa vào bố cục trang, đặng hoàn tất bản thảo trước khi đưa nhà in. Lê trí Dũng đưa cho tôi một tờ giấy trắng với đầy đủ tiêu đề và ngày, tháng, năm, trân trọng…Tôi hỏi anh liệu đây có phải là trò đùa với độc giả hay không? Anh bảo: Hoàn toàn không! Mà ngược lại! Tôi lại hỏi: Bạn đọc sẽ lĩnh hội được gì ở trang giấy trắng này? Anh bảo: Họ hiểu hết ấy mà… Bạn tôi toàn người thông minh…Tùy theo tầm cỡ mà mỗi người sẽ hiểu theo một cách. Nếu họ hiểu đúng thì quý mà không đúng cũng chẳng sao vì sách tôi viết chỉ để cho một người đọc, mà người đó lại quá nhậy cảm, ông chẳng hạn…Thế là xong!

   Tôi biết Anh đã rất cố gắng khi cho ra cuốn sách này… Suốt hai năm biên tập giúp anh là hai năm nhiều lần định không ra sách nữa. Với một họa sỹ số tiền mấy chục triệu đồng cũng vẫn phải tính, thời gian đầu anh không có đầy đủ phương tiện máy tính phải đi thuê đánh bài… Sách ra, chỉ để tặng, chẳng bán chác gì… Anh bảo danh cũng thừa rồi vả lại danh hão chả tích sự gì, vả lại, thời buổi nhiễu nhương, chả lợi lộc gì nơi trường văn trận bút, vớ vẩn đi tù như chơi… Nghĩ đến cảnh tù đày (nhất là nhà tù ở ta bây giờ) Thế là chúng tôi lại thôi, (Tôi cũng không muốn phải vào vai người đưa cơm tù, có lần tôi bảo anh : Ông mà vào tù là tôi bỏ ông liền đó). Anh đáo để: Điều đó chắc rồi, ông Thiên Đồng thủ mệnh, bản chất sao Thiên Đồng là thay đổi, có mới nới cũ mà. Lần khác, tiền đủ rồi, anh lại bảo đang sắp có một bài về liệt sỹ rất xúc động phải cho vào tập này… Rồi một bài nữa, lại một bài khác nữa…Tới  bài số 64. Tôi kiên quyết bảo anh: Ông phải ngừng thôi, còn gì để tập 4…Vì cuốn này đã dày gấp đôi cuốn tập 2 rồi… Bất ngờ, anh bảo tôi: Thôi ông ạ! Không in nữa, chết là hết ấy mà…

   Tôi buồn, đến bàn viết của anh, nơi có con chó đá kề bên, có một bức  sơn dầu nhỏ xinh vẽ  con mèo xanh kề bên, có cái lọ Hán trong cắm ba quả Canh ki na anh lấy ở Tam đảo về… Đó cũng là nơi tôi ngồi sửa bài, chọn bài cho anh. Anh bỏ nó suốt từ tháng ba đến nay…Trên mặt bàn phủ đầy bụi, một bản thảo dang dở… Cái tiêu đề cực đoan mà hài hước: “Chết là hết ấy mà …” Câu mở đầu như sau: Đức Phật dạy rằng: Sinh - Thành- Suy - Hủy ! Cổ nhân cũng dạy rằng : Sinh – Lão – Bệnh – Tử… Cái gì cũng dẫn đến kết cục là cái chết! Gần đây anh hay nói về sự chết. Ngay cả nghe nhạc cũng vậy, anh thích nhất bài Phôi Pha của Trịnh công Sơn, tôi bật nghe thử, bài hát từ đầu đến cuối toàn nói về cõi trời mây gió kiếp sau… Anh bảo: Vậy chiến đấu làm gì nữa… Ta vốn là một người bình thường, viết ra những chuyện bình thường, nói hộ những con người bình thường… thì thà đi chơi còn hơn… Và anh đi chơi thật !
Những lần chán nản như thế anh thường bảo tôi: Ý chí của tôi, tình yêu của tôi văng xa ngàn dặm rồi ông ạ! Rồi tiếp đó là tôi an ủi anh … Hồi tâm, anh lại làm việc. Anh bảo với tôi là anh có tiếng cứng đầu, không hiểu sao anh lại nghe tôi ngoan ngoãn như thế! Thâm tâm, tôi thừa biết anh tin tôi vì anh biết chỉ có tôi là người duy nhất trên cõi đời này hiểu được anh! ... 

 Nhưng lần này thì anh đi thật!
Mới hôm nào, khi ngồi ăn phở gánh Hàng Trống anh còn bảo đọc chuyện thiên hạ toàn đầu rơi máu chảy…Vua Voi Amakông lấy 4 vợ, 80 tuổi còn đẻ con, có người nhai thủy tinh rào rào, có người giận chồng tưới xăng tự thiêu luôn… Trong khi chuyện của mình toàn người bình thường, một người lái xe, một người bạn học cũ, một họa sỹ nghèo, một bà mẹ gặp trên đường hành quân, một nhà báo thông minh nhưng cả tin mắc lừa bởi trò bịp vớ vẩn, thấp hèn, một cô thanh niên xung phong thời khói lửa, một người lính đối phương nhất quyết không rời bỏ nước, bây giờ làm xe ôm… Anh bảo nghe chuyện thiên hạ gân giật tanh tách, chuyện mình chắc không ai thèm xem! Rồi anh bảo sao cái số chúng mình nó vất vả thế không biết? In một cuốn sách mà lên bờ xuống ruộng. Lại bảo từ bé được giáo dục cái Thiện bao giờ cũng thắng cái Ác… nhưng thực tế cái Ác rất mạnh, quật ngã cái Thiện như chơi. Từ lúc biết nghĩ anh chỉ thấy cái Ác hoành hành nhơn nhơn qua mặt cái Thiện, thậm chí cười vào mũi cái Thiện … Đột ngột, anh hỏi tôi: Ông có kẻ thù không? Tôi bảo: Không! Tội gì mua thù chuốc oán vào mình, tôi chỉ muốn hòa bình, mọi người bắt tay với nhau, kể cả những người yêu tôi và những người tôi yêu…Trầm ngâm, anh bảo anh muốn sống lâu hơn kẻ thù của anh để chứng kiến cái chết của y. Tôi hỏi: Ông có kẻ thù à? Anh bảo:  Có! Trong xương tủy! Rồi cười nhạt… cái cười cay đắng… Anh bảo vẫn tại cái số, chắc kiếp trước ân oán giang hồ chi đây… Cái gì cũng số hết…Từ vận nước đến duyên vợ chồng, đến nghề nghiệp, đến nhà cửa, đến trả thù nhau, lừa lọc nhau, đến ngồi không mà có ăn, đến hùng hục bươn trải mà vẫn đói… Số hết! Tôi bảo: Số Hà Lạc cho ông quẻ gì? Anh bảo: Qủe Truân … Thế thì mới đi nhặt cuội để làm tản văn chứ, là Đại Súc thì đã viết tiểu thuyết… Thế nhưng cái tản văn có chủ đề về Tình yêu và Kẻ thù của tôi đang viết dở lại dài quá… chả biết nên gọi là tản văn hay tiểu thuyết… Tôi lại bảo: Mấy năm trước ông mà nói thế là đi tù chắc rồi đó! Can tội tuyên truyền mê tín dị đoan! Nhớ lão X năm xưa hát nhạc vàng tù 10 năm không? Nhớ đại ca Y chơi vài cái ảnh khỏa thân tù 4 năm không? Anh bảo tù cũng có số chớ bộ, dễ mà được đi à? Anh rượu kém thật, bát phở gánh với vài ly rượu gì màu vàng trong cái chai vuông, lùn mà đã bất chấp tù tội… Liều !

   Bây giờ thì anh đi thật! Dù chỉ là đi chơi đâu đó.
   Số bài viết cũng đã 64 bài! Đúng bằng số tuổi anh (có số thật)
   Tôi lật dưới bài Chết là hết ấy mà, thấy còn vài tờ giấy viết nhằng nhịt  nhiều dòng xô lệch như viết trong một cuộc giằng xé… Cuối cùng vẫn đọc được mấy dòng sau: “Gửi Vĩnh ! Bản thảo bây giờ là của ông… tùy ý sử dụng, tôi không kìm được cơn cuồng nộ tìm kiếm cái kết cục tận cùng của cái Ác và cái Ngu, tôi muốn trước khi tiếp nhận sự chết được thấy nó! Rồi lên một cái thuyền không biến đi khỏi thế giới này… Rủi thay Bề Trên lại dạy rằng lên được thuyền thậm dễ mà cũng vô cùng khó! Bởi vì, phải có vé. Mà chiếc vé đó có tên là…Vị Tha!...”

   Tôi rời bàn viết, lòng trống rỗng, tôi thừa biết, anh muốn vị tha hay không vị tha cũng chẳng được! Anh không phải loại người quyết đấu … có lần tôi nói với anh như thế, anh bảo: Sao ông quá hiểu tôi vậy? Tôi từ bé đã không thích va chạm, ai cho cái gì thì được chứ không có ý thức cạnh tranh, thế nên lâu dần thành quen, lúc có việc thì mình nai lưng ra, lúc liên hoan chả ai nhớ đến mình, chơi xổ số không bao giờ trúng, làm kinh tế thì thua lỗ, đánh bạc toàn bị lừa, học Hà đồ Lạc thư để tìm đường giải thoát tinh thần thì phát hiện ra mình chỉ làm những việc hão huyền trên mây dưới gió, các cụ gọi là vô tích sự… Tôi nhớ dạo cuối  năm ngoái có ông thầy bói dạo gặp anh, phán: Làm mười hưởng ba là may, nhưng không làm thì chết đói! Anh bảo tôi, có lẽ đó là lời phán hay nhất mà anh được nghe, vì nó thật!… Tôi bảo: Nghe bác Xuân Cang đi, thiên hạ dẫm đạp nhau thì mình trốn đi, lủi vào một góc mà vẽ, viết… Và anh đã nghe tôi, những khi ấy, anh rạng rỡ hẳn lên, anh lặng lẽ vẽ bên tôi như một kẻ nhập đồng…Thế mà bây giờ đột nhiên anh bỏ đi, buông sõng một câu: Chết là hết ấy mà! Có lần hai người cùng đọc Kinh Dịch, tôi hỏi anh: Ông thích nhất quẻ nào trong 64 quẻ? Anh bảo: Qủe số 15! Tôi giễu anh: Thế thì làm sao mà làm Thượng đế được, làm sao mà có khí phách anh hùng được, không có hai cái đó làm sao mà vẽ được… Anh cười buồn: Có lẽ vẽ cũng phải bỏ thôi… Tôi ghê sợ cái lòng người bây giờ quá… Không ai được chọn đắng cay hay hạnh phúc, tôi đã từng hạnh phúc, lạ thay, nó lại rơi vào thời điểm cả dân tộc gian nan, khốc liệt nhất… Sau này Hà Lạc dạy tôi rằng: Nhiệm vụ trong suốt cuộc đời của anh là đi, còn đi đến đâu không thuộc quyền lựa chọn của anh, quyền ấy thuộc về đấng tối cao, đó là số phận! 
   
Cuối Đông - đón Qúi Tỵ về.
Nguyễn văn Vĩnh

HẾT