Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Kiến thức quốc phòng => Tác giả chủ đề:: panphilov trong 17 Tháng Tám, 2008, 09:22:22 pm



Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 17 Tháng Tám, 2008, 09:22:22 pm
(http://img520.imageshack.us/img520/7582/colonelgeneralkirponosmkg6.jpg)
Thượng tướng M.P. Kirponos (30/12/1891-21/09/1941)

Ông sinh ngày 30 tháng 12 năm 1891 (tức ngày 12 tháng 1 năm 1892) tại làng Vertievka Nezhinskiy vùng Chernigov trong một gia đình nông dân Ukrainian.

Tham gia quân đội Sa hoàng từ năm 1915 trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Năm 1917, tốt nghiệp trường quân sự Feldsher. Cùng năm đó, tháng 8,  được lựa chọn vào ban chỉ huy trung đoàn rồi ban tham mưu của quân đoàn bộ binh súng trường số 26.

Sau cách mạng tháng 10 Nga, năm 1918 ông gia nhập Hồng quân rồi được kết nạp vào Đảng Cộng sản AUCP (B). Sau khi nhà nước Xô-viết ra đời, các phần tử bạch vệ dưới sự giúp đỡ của 14 nước đế quốc đã ra sức quật ngã chế độ non trẻ gây ra cuộc chiến kéo dài từ năm 1918 đến năm 1923.  Mikhail Petrovich khi đó là một trong những người tổ chức lực lượng quân đội cách mạng tại Ukraine. Là tiểu đoàn trưởng, sau đó là tham mưu trưởng, trung đoàn phó rồi trung đoàn trưởng. Từ năm 1922 ông là Hiệu phó trường hạ sĩ quan.

Từ năm 1923, ông theo học tại Học viện quân sự mang tên Frunze và tốt nghiệp vào năm 1927. Sau đó, ông được cử làm tham mưu trưởng của sư đoàn bộ binh súng trường, rồi Hiệu (trưởng), ủy viên nhân dân của trường quân sự Kazan trực thuộc Xô-viết tối cao Tatarkaya ASSR.

Từ năm 1939 đến năm 1940, khi cuộc chiến giữa Liên Xô và Phần Lan nổ ra, là Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh súng trường số 70 trực thuộc Quân đoàn số 7, ông chỉ huy mưu trí và dứt khoát những trận đánh mà sư đoàn tham gia. Lời nói sôi nổi, nhiệt huyết cùng tấm gương cá nhân của ông là niềm cổ vũ, động viên đối với các chiến sĩ và chỉ huy sư đoàn. Ngày 21 tháng 3 năm 1940, vì những thành tích chỉ huy sư đoàn, cùng sự chiến đấu gan dạ và dũng cảm  Sư đoàn trưởng Makhail Petrovich được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên-xô cùng Huân chương Lenin và Huy chương Sao vàng.

Từ tháng 4 năm 1940, ông là Quân đoàn trưởng Quân đoàn Bộ binh súng trường. Tháng 6 cùng năm ông được cử làm Tư lệnh Quân khu Leningrad hàm Trung tướng (ngày 4 tháng 6).

Tháng 2 năm 1941, ông được cử làm Tư lệnh Quân khu (đặc biệt) Kiev và được phong quân hàm Thượng tướng (ngày 22 tháng 2).

Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, Quân khu Kiev được chuyển thành phương diện quân Tây Nam do ông làm Tư lênh. Tại đây đã diễn ra những trận đánh trả kịch liệt của Hồng quân trước Phát xít tại mạn phải của Ukraine, những trận đánh phòng thủ kiên cường trên những tuyến biên giới và các hướng tiến công chiến lược quan trọng cùng kết hợp với những đòn tấn công quân phát-xít.

Bị bao vây dày đặc, cùng đó là cánh quân xe tăng và cơ giới hóa phát-xít được trang bị mạnh đã thọc sâu vào tuyến phòng thủ của Hồng quân ở phương diện quân Tây Nam và nhanh chóng chọc tan các tuyến phòng thủ ở giữa và phía sau bao vây Bộ chỉ huy mặt trận. Nhiều cuộc chiến chống lại kẻ thù đông gấp bội đã diễn ra tại đây. Trước tình hình này Bộ tư lệnh Tây Nam quyết định mở đường máu thóat khỏi vòng vây, khoảng 10000 chiến sĩ và sĩ quan đã hy sinh trong những trận đánh không cân sức.

Ngày 20 tháng 9 năm 1941, trên đường rút lui, đội hình bộ tham mưu của Phương diện quân bao gồm Tư lệnh, các thành viên của Hội đồng quân sự, Bộ tham mưu và phần đông chỉ huy đã bị bao vây tại phía Đông Nam của Lokhvitsy trong khu rừng Shumeykovo. Trong ngày thứ nhất : Tư lệnh M.P. Kirponos, Tham mưu trưởng cùng Ủy viên Quân sự M.A. Burmistenko đã hy sinh.

Mộ của Thượng tướng M.P. Kirponos hiện được đặt trong công viên Hào quang vĩnh viễn tại Kiev. Ông được nhà nước Liên Xô tặng thưởng : Huân chương Lenine, Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất, Huy hiệu 20 năm tuổi quân của Hồng quân Công Nông (RKKA).

Để tưởng nhớ ông, nhiều công trình kỉ niệm cũng đã được dựng lên tại Kiev : trong Công viên Hào quang vĩnh viễn, tại quảng trường trên phố Kirposona, trên tấm biển kỉ niệm nơi bắt đầu của con phố mang tên người anh hùng Kirponos Mikhail Petrovich.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Tám, 2008, 04:14:06 am
(http://img385.imageshack.us/img385/9471/majorgeneralarshintsevbfi4.jpg)
Thiếu tướng Cận vệ B.N. Arshintsev (10/08/1903-15/01/1944)

Ông sinh ngày 10 tháng 8 năm 1903 tại thành phố Groznyy (Chechnya) trong một gia đình làm nghề thợ mộc người Nga.

Năm 1920, ông gia nhập Hồng quân và tốt nghiệp khóa học chỉ huy tại thành phố Vladikavkaz (Ordzhonikidze) mang tên M.V. Frunze vào năm 1925 rồi lần lượt tham gia chỉ huy trung đội, đại đội và tiểu đoàn, là trưởng phòng tác chiến, tham mưu trưởng. Năm 1928, ông được kết nạp vào Đảng Bolsevik AUCP(B). Từ năm 1940, ông là giảng viên Học viên quân sự M.V. Frunze. Trước khi chiến tranh vệ quốc nổ ra, ông tham gia chỉ huy Hồng quân tại Boev (Khasan) (1938) và Khalkhil-Gol (1939).

Khi cuộc chiến tranh vệ quốc nổ ra, ông chỉ huy Sư đoàn cận vệ số 55-I (sư đoàn cận vệ Irkutsk).

Năm 1943, Sư đoàn của ông tham gia giải phóng Thủ đô Kubans của Krasnodar khỏi quân phát-xít bằng những trận tiến công vào những vị trí hiểm yếu : xã cossack Kaluga và Novodmitrievskuyu.

Sư đoàn Cận vệ súng trường số 55-I (thuộc Tập đoàn quân 56, Mặt trận Bắc Caucasian) dưới sự chỉ huy của ông, ngày 3 tháng 11 năm 1943, đã thành công trong việc tiến về phía eo biển Kerch và chiếm giữ khu vực đông dân cư và quan trọng của địch tiến sâu vào tuyến phòng thủ của quân phatxit 12km. Ở những trận phòng thủ tiếp theo, ông đã chỉ huy tài tình sư đoàn của mình trước các đợt phản kích của quân phatxit.

Ngày 16 tháng 5 năm 1944, vì những thành tích chỉ huy bộ đội tuyệt vời và can đảm trong quá trình tiến về phía eo biển Kerch, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô và được vinh danh ‘’Thiếu tướng cận vệ’’ một danh hiệu cao quý dành cho người Sư đoàn trưởng dũng cảm.

Thiếu tướng B.N. Arshintsev hy sinh ngày 15 tháng 1 năm 1944 tại điểm cao 115.5 của vùng Kerch bởi đạn pháo của kẻ thù rơi đúng vào cửa hầm chỉ huy. Ông được chôn tại thành phố Kerch anh hùng. Ông được nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lenine, Huân chương Suvorov hạng Nhì, Huân chương vệ quốc hạng Nhất. Tên ông cũng được đặt tên cho một số đường phố, trường học tại các thành phố Kerch, Groznyy, Krasnodar.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Tám, 2008, 03:25:53 am
(http://img161.imageshack.us/img161/7572/armygeneralchernyakhovsxr1.jpg)
Đại tướng I.D. Chernyakhovskiy (29/06/1906-18/02/1945)

Ông sinh ngày 29 tháng 6 năm 1906 tại quận Umanskogo, thành phố Kiev, nước Ukraine (bây giờ là vùng Cherkass) trong một gia đình công nhân đường sắt người Ukraine. Gia nhập Hồng quân năm 1924, Đảng viên Đảng Bonsevik từ năm 1928. Cùng năm này, ông tốt nghiệp trường pháo binh Kiev, từ năm 1936 được gọi là Học viện Quân sự Môtô và Cơ giới hóa Hồng quân Công Nông (RKKA).

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, ông chỉ huy Sư đoàn tăng số 28 (sau này, tháng 12 năm 1941, sư đoàn được tổ chức lại trong đội hình sư đoàn súng trường số 241), rồi quân đoàn xe bọc thép số 18 tháng 6 và tháng 7 năm 1942. Từ tháng 7 năm 1942, ông giữ chức vụ tư lệnh tập đoàn quân số 60 cho đến tháng 4 năm 1944 là tư lệnh Phương diện quân phía Tây sau đổi tên thành Phương diện quân Belorussian.

Hồng quân dưới sự chỉ huy của ông đã chiến đấu thắng lợi tại trận đánh ở khu vực Tây Nam Shyaulyaya, Tây Dvina, tại các vùng lân cận Soltsami and Novgorod (1941), trong cuộc hành quân Voronezh-Kastornensk, trận đánh Kursk, trong quá trình tiến về các song Gum và Dnepr, Kiev, Zhitomir-Berdichevskoy, Rovno-Lutskoy, Proskurovsko-Chernovitskoy, Belorussian, Vilnius, Kaunas, Memel, Gumbinnenskoy và cuộc hành quân Tây Prussian.

Ngày 5 tháng 5 năm 1942, ông được phong quân hàm từ Đại tá lên Thiếu tướng. Ngày 14 tháng 2 năm 1943, quân hàm Trung tướng, ngày 5 tháng 3 năm 1944, quân hàm Thượng tướng và đến 28 tháng 6 năm 1944, ông được phong quân hàm Đại tướng và là người trẻ nhất của Hồng quân Liên Xô từng giữ cấp bậc này.

Ngày 18 tháng 2 năm 1945, vị Đại tướng tài năng trẻ tuổi của Hồng quân Công nông Liên Xô bị thương nặng rồi hy sinh tại ngoại ô thành phố Melzak.

Đại tướng Chernyakhovskiy Ivan Danilovich 2 lần được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Xô Viết. Ngày 17 tháng 10 năm 1943, ông được Xôviết tối cao trao Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng (danh hiệu anh hùng lần thứ nhất) vì năng lực tổ chức cao cùng những phẩm chất anh hùng khi vượt song Dnerp. Ông được phong anh hùng lần thứ 2 vào ngày 29 tháng 6 năm 1944.

5 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Souvorov hạng nhất, 1 Huân chương Kutouzov hạng nhất, Huân chương Bogdan Khmelnitskogo hạng nhất là những phần thưởng cao quý mà Nhà nước và Quân đội Xôviết dành cho ông. Thành phố Insterburg nằm trong vùng Kaliningrad đã được đổi thành thành phố mang tên người anh hùng.

Vào đầu thập kỉ 90 thế kỉ 20, sau sự sụp đổ của Liên Xô, thi thể vị tướng 2 lần anh hùng đượng chuyển từ thủ đô Vilnius của Lithuan về nghĩa trang Novodevichem tại thủ đô Matxcova, Nga. Đài tưởng niệm ông, công trình do Nghệ sĩ Nhân dân Xô viết, điêu khắc gia N.V. Tomsk thực hiện, đã bị tháo dỡ và chuyển về thành phố Veronezh. Thành phố mà cuối năm 1942 và tháng 1 năm 1943 đã được bảo vệ bởi tập đoàn quân số 60 dưới sự chỉ huy của ông.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Tám, 2008, 05:15:46 am
(http://img508.imageshack.us/img508/2290/armygeneralnfvatutinyu1.jpg)
Đại tướng N.F. Vatutin (16/12/1901-15/04/1944)

Vatutin Nikolai Fedorovich sinh ngày 16 tháng 12 năm 1901 tại Chepukhino, tỉnh Kursk nay là quận Vatutin [Valuyskogo] vùng Belgorod trong một gia đình nông dân Nga. Cha ông từng có thời kỳ phục vụ trong lực lượng kỵ binh Nga hoàng với cấp bậc thượng sỹ.

Ông ra nhập Hồng quân năm 1920, tham gia bảo vệ nhà nước Liên Xô non trẻ trong cuộc chiến chống lại lực lượng Bạch vệ được 14 nước phương Tây hỗ trợ, được kết nạp vào Đảng Bolsevick (AUCP-B) năm 1921.

Năm 1922 ông tốt nghiệp trường bộ binh Poltava; năm 1924, ông tốt nghiệp trường sĩ quan ở Kiev mang tên Obedinennuyu; năm 1929, tốt nghiệp Học viện quân sự M.V. Frunze. Năm 1934, ông ở Cục tác chiến Học viện M.V. Frunze. Năm 1937, ông tốt nghiệp Trường Học viện Bộ Tổng tham mưu mang tên Vorosilov. Trước khi chiến tranh thế giới lần 2 bắt đầu, ông từng giữ các chức vụ Tham mưu trưởng sư đoàn, Tham mưu phó rồi Tham mưu trưởng của Khu quân sự Kiev, Phụ trách tác chiến Bộ Tổng tham mưu.

Khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, ông giữ chức vụ Trung tướng, từ tháng 6 năm 1941 đến tháng 5 năm 1942 ông được cử giữ chức vụ Tham mưu trưởng Phương diện quân Tây Bắc. Tháng 5-6 năm 1942, ông là Phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất đặc trách Phương diện quân Bryansk.

Ngay từ khi về làm việc tại Bộ tổng Tham mưu Hồng quân phụ trách công tác tác chiến, ông đã ngay lập tức thể hiện tài năng tham mưu, một vị tướng có tầm nhìn chiến lược, có kinh nghiệm và sự từng trải. Sự làm việc không hề biết mệt mỏi của ông đã góp phần không nhỏ trong suốt quá trình chuẩn bị lực lượng.

Tài năng lãnh đạo của N.F. Vatutin càng đặc biệt tỏa sáng trong thời kì ông là Tư lệnh: Phương diện quân Voronezh (từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1942 và từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1943), Tây Nam (từ tháng 10 năm 1942 đến tháng 3 năm 1943), và Ukraine số 1 (từ tháng 10 năm 1943 đến tháng 3 năm 1944).

Những nhiệm vụ quan trọng nhất, đều được Ủy ban nhà nước về Quốc phòng và Tư lệnh tối cao giao phó cho ông như việc chuẩn bị và chỉ đạo những chiến dịch quân sự lớn, tất cả ông đều thực hiện một cách xuất sắc. Ông luôn biết làm thể nào để tập trung lực lượng một cách mạnh nhất và khôn khéo trên hướng tiến công chính, đồng thời  bất ngờ tung những đòn hiểm và mạnh vào sườn và phía sau đội hình quân địch; sử dụng một cách khéo léo tập trung xe tăng trong quá trình triển khai tấn công thọc sâu, tổ chức và phối hợp chặt chẽ các hướng tấn công và các lực lượng tham gia tác chiến…

Đại tướng Vatutin là một vị tướng tài có kiến thức rộng và tình yêu tổ quốc. Tên của ông nổi bật lên trong hàng ngũ tướng lĩnh Hồng quân, trong những người yêu nước của nhân dân các dân tộc Xôviết, của chủ nghĩa cộng sản, được yêu thích quý mến bởi các chiến sĩ Hồng quân, gắn liền mãi mãi với các chiến thắng tại Stalingrad , Kursk, trong quá trình vượt song Dnepr tiến vào giải phóng Kiev…

Ngày 29 tháng 1 năm 1944 vào lúc 16 giờ 30 phút, Tư lệnh Tập đoàn quân Ukraine số 1 N.F. Vatutin và các Ủy viên quân sự của Phương diện quân gồm 8 người dời sở chỉ huy của Tập đoàn quân số 13, đặt tại vùng Rovno để đi tới thành phố Slavuta, trên con đường Rovno - Goshcha – Slavuta. Đến 19 giờ 40 phút tới ngoại vi phía bắc của làng Milyatyn thì gặp một đám người khoảng từ 250 đến 300 người , trong khi đang chú ý đến toán người này ông nghe thấy những tiếng sung phát ra từ trong đó. Ông ra lệnh cho xe dừng lại và ra lệnh hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Đột nhiên từ trên cửa sổ của toà nhà gần đó một phát sung bắn ra. Ông và các bảo vệ nhảy ra khỏi xe nhưng ông đã bị thương vào đùi và vết thương mất rất nhiều máu. Sau đó, ông được đưa tới bệnh viện quân y thành phố Rovno, sau đó ông được đưa vào Kiev. Những bác sĩ giỏi nhất đã được triệu tập đến, trong đó có bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng N.N Bourdenko, tuy nhiên cũng không cứu được tính mạng ông. Ông mất tối ngày 15 tháng 4 năm 1944.

Trong tuyên bố chính thức về cái chết của ông, một trong những tướng lĩnh giỏi nhất của Hồng quân, đăng trên báo Pravda đề ngày 15 tháng 4 năm 1944, nhân danh Xôviet tối cao, Ủy ban quốc phòng Xôviết, Đảng Bolsevick nói rằng: ‘’…đất nước mất đi một tướng trẻ, tài năng, người mà đã trưởng thành trong chiến tranh vệ quốc…’’

Vào ngày 17 tháng 4 năm 1944, ông được chon tại Kiev. Matxcova đã bắn 20 phát đại bác để vĩnh biệt một người con trung thành của tổ quốc, một tướng lĩnh có tài. Vào năm 1948, tại phần mộ trong công viên Mariinsk, trung tâm Kiev, người ta đã dựng một tượng đài do nhà điêu khắc E.V. Vuchetich và kiến trúc sư YA.B. Belopolskiy thiết kế và chỉ đạo thi công.

Ngày 6 tháng 5 năm 1965, N.F. Vatutin được Nhà nước Liên Xô truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang. Ông đã được tặng thưởng: Huân chương Lenine, Huân chương Suvorov hạng Nhất, Kutuzov hạng Nhất, Huy chương Czechoslovak. Tại quê hương của ông, người ta đã mở một nhà lưu niệm. Tên tuổi của ông đã được đặt cho một thành phố thuộc vùng Cherkass và nhiều đường phố khác ở các thành phố của Liên Xô cũ.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Tám, 2008, 02:40:25 am
(http://img142.imageshack.us/img142/4350/majorgeneralvasilyevivaeo4.jpg)
Thiếu tướng cận vệ I.V. Vasil'yev (02/01/1899-07/08/1944)

Thiếu tướng Vasil'yev Ivan Vasilyevich sinh ngày 2 tháng 2 năm 1899 tại làng Borovnya Kuklinskogo, vùng Soletskogo bây giờ thuộc vùng Novgorod trong một gia đình nông dân Nga. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông vào làm thợ tiện trong một nhà máy của Petrograd.

Khi cách mạng tháng 10 Nga nổ ra (năm 1917), ông gia nhập lực lượng Cận vệ Đỏ, từ năm 1918 là Hồng quân. Từ năm 1917 đến năm 1923, ông tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng trước lực lượng bạch vệ được sự ủng hộ của 14 nước đế quốc tại mặt trận phía tây và phía nam rồi lực lượng bảo hoàng Balan tại mặt trận phía tây. Trong năm 1920, ông giữ chức vụ Chính trị viên đại đội trực thuộc lực lượng vũ trang Ủy ban đặc biệt toàn Nga (VCHK).

Từ năm 1923, ông công tác trong lực lượng bộ đội biên phòng rồi tốt nghiệp Trường sĩ quan cao cấp biên phòng (OGPU) vào năm 1925, Học viện Chính trị mang tên V.I. Lenine năm 1933. Sau khi tốt nghiệp Học viện chính trị ông được để cử vào chức vụ Chủ nhiệm Chính trị - Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng của Belorussian và là thành viên của Xôviết tối cao Belorussian. Từ năm 1939 đến 1940, ông tham gia cuộc chiến giữa Nga và Phần Lan.

Khi phát xít tiến công Liên Xô, ông tham gia chiến đấu tại mặt trận biên giới phía Tây trên cương vị ủy viên sư đoàn, rồi chỉ huy sư đoàn.

Trong thời kì trận đánh Stalingrad và bảo vệ Volga (từ 17 tháng 7 năm 1942 tới 2 tháng 2 năm 1943), ông là Thiếu tướng Chính ủy Tập đoàn quân số 62 (sau đổi tên thành Tập đoàn quân cận vệ số 8 ). Từ 2 tháng 8 năm 1943, ông là Ủy viên Hội đồng quân sự Tập đoàn quân cận vệ số 1 trực thuộc Phương diện quân Ukraine số 4.

Là Ủy viên hội đồng quân sự phụ trách công tác chính trị, ông đã thể hiện một khả năng tổ chức khéo léo, tài tình trong quá trình giải phóng phía trái Ukraine và Thủ đô Kiev. Ông đã góp phần củng cố, nâng cao tinh thần phẩm chất chính trị, sự can đảm cho các chiến sĩ Hồng quân, cùng họ đi tới những chiến thắng vinh quang của cuộc chiến tranh vệ quốc.

Luôn có mặt trên tuyến đầu của cuộc chiến, trực tiếp chỉ đạo và động viên các chiến sĩ dưới quyền. Trong một trận đánh đẫm máu ở chân đồi Carpathians ngày 7 tháng 8 năm 1944 ông đã anh dũng hy sinh và sau đó an nghỉ tại trung tâm thành phố Drogobycha của vùng L'vov, Ukraine. Ngày 29 tháng 6 năm 1945, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Lenine, Huân chương vệ quốc hạng Nhất, và nhiều huân huy chương khác. Tượng đài kỉ niệm ông cũng đã được dựng ngay trên mộ ông, tên của ông đã được đặt cho một trong những đường phố của thành phố L’vov và một công viên ngoại ô, một ngôi trường lâu năm của vùng Novgorod.



Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Tám, 2008, 11:16:13 pm
(http://img75.imageshack.us/img75/2919/colonelgeneraltoleseliduz7.jpg)
Thượng tướng C.N. Lesedidze (02/10/1903-21/02/1944)

Thượng tướng Leselidze Constantine Nikolayevich sinh ngày 2 tháng 10 năm 1903 tại thành phố Ozurgety nay là thành phố Makaradze, Georgia trong một gia đình lao động. Bố ông là cụ N. Leselidze, anh trai ông là Anh hùng Liên Xô V.N Leselidze. Hồi nhỏ ông chỉ học hết lớp 5 cấp 2.

Ông gia nhập Hồng quân tháng 5 năm 1921 tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Năm 1922, ông tốt nghiệp Trường quân sự Obedinennuyu của Georgian. Năm 1925, ông được kết nạp vào Đảng Bolsevik đồng thời theo học thêm ở trường Pháo binh. Rồi năm 1929, tham gia khóa học nâng cao tại Học tham mưu và chỉ huy.

Từ năm 1922, ông phục vụ tại vùng Transcaucasia lần lượt giữ các chức vụ Trung đội trưởng, Khẩu đội phó, Khẩu đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng. Tháng 6 năm 1938, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm pháo binh sư đoàn, và tháng 2 năm 1941 là Chủ nhiệm pháo binh quân đoàn trong Phân khu đặc biệt Belorussian.

Khi quân phát xít tiến công Liên Xô (tháng 6 năm 1941), ông đang giữ quyền Tư lệnh tập đoàn quân. Tiếp theo từ tháng 6 năm 1941 tới tháng 6 năm 1942, ông là Chủ nhiệm Pháo binh quân đoàn súng trường và tập đoàn quân số 50 tại Phương diện quân Tây. Tháng 6-8 năm 1942, ông là Tư lệnh của quân đoàn súng trường số ba tại Phương diện quân Transcaucasian.

Từ tháng 8 năm 1942 dến tháng 1 năm 1943, ông là Tư lệnh Tập đoàn quân số 46; từ tháng 1 năm 1943 đến tháng 3 năm 1943, Tư lệnh Tập đoàn quân số 47 và từ tháng 3 năm 1943 đến tháng 2 năm 1944 ông là Tư lệnh Tập đoàn quân số 18 tại Transcaucasian và Bắc Caucasian và Phương diện quân Ukrainian số 1. Năm 1943, ông được phong quân hàm Thượng tướng.

Thượng tướng K.N. Lesedidze là người tham dự trận đánh trong vùng ngoại vị Matxcova; trận đánh phòng ngự nơi giao nhau giữa khu vực trung tâm và dãy núi chính Caucasian; Krasnodar- Novorossisk; Novorossisko-Taman; vượt sông và đập tan tuyến phòng ngự Kerch-Eltigenskoy; chiến dịch Zhitomir-Bordichevskoy.

Các chiến sĩ Hồng quân của Tập đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã bảo vệ một cách anh dũng Transcaucasia, tham gia giải phóng Caucasus, chiếm được vùng Kerch Peninsula nằm sâu trong giải vùng đất bị phát xít chiếm giữ nằm ở Đông Bắc Kerch rồi giải phóng vùng bên phải Ukraine.

Tư lệnh Tập đoàn quân số 18 của Phương diện quân Bắc Caucasian, Thượng tướng K.N. Leselidze mất ngày 21 tháng 2 năm 1944 vì bệnh hiểm nghèo. Ông được chôn cất tại Thủ đô Georgia-thành phố Tbilisi, tại nơi giành cho các nhân vật nổi tiếng Didubiyskom.

Theo quyết định của Xôviết tối ca ngày 13 tháng 5 năm 1971, ông được truy phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Ông được tặng thưởng Huân chương Lenine, Huân chương Suvorov hạng Nhất, Huân chương Kutuzov hạng Nhất, Huân chương Bogdan Khmelnitskogo hạng Nhất, 2 Huân chương Sao Đỏ và Huy chương 20 năm tuổi quân của Hồng quân Công Nông…

Tại Tbilisi đã dựng đài tưởng niệm vị chỉ huy quân đội lừng danh. Bốn anh em ông thì đến 3 người không trở về sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ông mất trong thời kỳ giải phóng Ukraine: ông mất trong thời kỳ giải phóng Ukraine, em ông Leselidze Valerianus hy sinh trong đợt tấn công vào Kerch, còn người em khác Victor Leselidze thì nằm lại ở Karelia. Trên quê hương của anh em những người anh hùng, một trong những nơi nghỉ mát bên bờ Biển Đen của Abkhaziya được vinh dự đặt theo họ Leselidze. Trong bảo tàng địa phương của thành phố Makharadze vẫn còn lưu giữ những kỉ vật liên quan đến chiến công của anh em nhà Leselidze.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tám, 2008, 08:00:28 am
(http://img111.imageshack.us/img111/2514/majorgeneralrakutinconszl4.jpg)
Thiếu tướng C.I. Rakutin (21/05/1902-07/10/1941)

Thiếu tướng Rakutin Constantine Ivanovich sinh ngày 21 tháng 5 năm 1902 tại Novelty (bây giờ Vadskogo) vùng Nizhniy Novgorod, Nga. Tốt nghiệp trường trung học kĩ thuật, ông làm kế toán ở ủy ban hành pháp.

Ông gia nhập Hồng quân Công Nông vào năm 1919. Năm 1920, ông hoàn thành khóa học bộ binh Tambovo rồi tham gia vào cuộc chiến tranh bảo vệ nhà nước Xôviết non trẻ trước lực lượng bạch vệ được sự giúp sức của 14 nước tư bản với chức vụ Đại đội phó của Trung đoàn bộ binh số 473 tại phương diện quân miền tây, sau đó ông phục vụ ở miền Viễn Đông.

Đến tận năm 1929, ông phục vụ trong lực lượng biên phòng Viễn Đông. Năm 1931, ông tốt nghiệp trường biên phòng, năm 1936 tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Frunze rồi sau đó tham gia giảng dạy. Từ năm 1938 tới 1939, ông là tư lệnh các lực lượng biên phòng Belorussia. Từ năm 1939 là Tham mưu trưởng vùng biên giới Leningrad, từ tháng 7 năm 1940 là Tư lệnh vùng biên Baltic. Ngày 4 tháng 6 năm 1940, ông được phong quân hàm Thiếu  tướng.

Ông tham gia chiến tranh thế giới lần thứ 2 ngay những ngày đầu quân phát xít tấn công Liên Xô. Tên tuổi của ông gắn liền với những trận đánh anh hùng bảo vệ Libavy (Liyepaya), Tallin và các thành phố khác vùng Baltic.

Từn tháng 7 năm 1941, ông là tư lệnh của các tập đoàn 31 và 24 (dự bị). Dưới sự chỉ huy của ông, các chiến sĩ Hồng quân thuộc tập đoàn quân số 24 đã chọc thủng tuyến phòng ngự của kẻ thù, tiêu diệt đại bộ phận quân phát xít và giải phóng thành phố Yelnya. Tháng 10 năm 1941, tập đoàn xe tăng phát xít cắt đứt đường rút lui của 4 tập đoàn quân, khiến cho Hồng quân phải chiến đâu trong hoàn cảnh bị bao vây chặt bởi lực lượng đáng kể của quân phát xít nhưng đã kịp tổ chức tuyến phòng thủ mới tại vùng Mozhaisk  và mở các đợt tấn công vào sườn kẻ thù. Các chiến sĩ tập đoàn quân số 24 cuối cùng cũng thoát vây mặc dù tổn thất rất lớn, sau đó tập đoàn quân 24 được tổ chức lại thành tập đoàn quân cận vệ số 4.

Thiếu tướng K.I. Rakutin hy sinh anh dũng ngày 7 tháng 10 năm 1941 tại làng Semlevo vùng Smolenskaya Oblast. Một thời gian dài, phần mộ của ông đã không tìm thấy. Nhờ vào các nhân viên tại Trung tâm nghiên cứu tư liệu lịch sử phần mộ của ông đã được tìm thấy. Năm 1996, hài cốt của ông đã được đem về nghĩa trang liệt sĩ Istrinskogo, Matxcova. 

Ông được truy phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô ngày 5 tháng 5 năm 1990. Ông cũng được truy tặng Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng. Ngoài ra ông được tặng thưởng các huân chương Vệ quốc hạng Nhất.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tám, 2008, 05:27:54 pm
(http://img45.imageshack.us/img45/6845/lieutenantgeneralptukhiap2.jpg)
Trung tướng E.S. Ptukhin (03/03/1902-13/02/1942)

Trung tướng Ptukhin Eugene Savvich sinh ngày 3 tháng 3 năm 1902 tại thành phố Yalta (bây giờ là vùng Crimean thuộc Ukraine) Nga.

Ông ra nhập Hồng quân từ năm 1918 tham gia bảo vệ chính quyền Xôviết non trẻ trong thời kì của cuộc chiến 1917 và 1923, cùng năm này (1918) ông được kết nạp vào Đảng Bolsevik (AUCP-B). Năm 1922, ông tốt nghiệp trường Cơ khí ô tô, năm 1929 tốt nghiệp trường không quân, năm 1939 tốt nghiệp khóa học nâng cao về tham mưu và chỉ huy của Học viện Bộ tổng Tham mưu Hồng quân Công nông (RKKA). Khởi đầu cho cuộc đời chỉ huy của mình, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh lữ đoàn theo quyết định ngày 28 tháng 11 năm 1935 của Ủy ban nhân dân về Quốc phòng của Liên Xô.

Ông đã từng làm Biên đội trưởng, Lữ đoàn không quân cường kích. Trên vai trò của một cố vấn quân sự, dưới cái tên giả ‘’Tướng Jose’’, ông đã tham gia vào cuộc chiến tranh cách mạng dân tộc của nhân dân Tây Ban Nha thời kì 1936-1939. Từ năm 1938, ông là Chủ nhiệm không quân của Phân khu quân sự Leningrad. Bắt đầu của cuộc chiến tranh Liên Xô-Phần Lan (1939-1940), ông là Chủ nhiệm Không quân của Phương diện quân Tây Bắc, Tư lệnh quân đoàn. Ông đã chỉ huy tài tình các hoạt động của không quân, giáng những đòn thiệt hại lớn cho quân thù chọc thủng tuyến Ukreplennoy của Mannerheim.

Ngày 21 tháng 3 năm 1940, ông đựơc Xôviết tối cao Liên Xô quyết định trao danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng. Tháng năm năm đó, ông được phong quân hàm Trung tướng không quân.
Tháng 1 năm 1941, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh trưởng của Lực lượng phòng không Liên Xô, và mùa xuân năm đó được cử giữ chức vụ Tư lệnh Không quân đặc khu Kiev.

Khi quân phát xít bắt đầu tiến công Liên Xô, đặc khu Kiev được chuyển thành phương diện quân Tây Nam, ông giữ chức Tư lệnh không quân của phương diện quân.

Trong những giờ đầu tiên của chiến tranh, lực lượng không quân dưới quyền của ông  về cơ bản đã bị diệt hoàn, hơn nữa phần lớn lại ở trong các sân bay thuộc phương diện quân.

5 ngày sau khi bắt đầu các chiến dịch quân sự, ông bị gọi về Matxcova và bị buộc tội (bởi Smushkevicha, Chernobrovkina, Yusupova, Ivanov) là ông là một trong những người tham gia vào âm mưu quân sự chống nhà nước Xôviết năm 1935. Ông đã bác bỏ lời buộc tội này sau khi tự nhận rằng là mình có tội trong quá trình chỉ huy. Sau đó, ông bị giam ở nhà tù Saratov.

Theo quyết định ngày 13 thág 2 năm 1942 của hội nghị đặc biệt, ông bị kết tội tử hình, và ngày 23 tháng 2 năm 1942, ông bị xử bắn. Sau đó vào năm 1954, ông đã được khôi phục danh dự vì không có bằng chứng. Ông chôn ở đâu không rõ nhưng vợ của ông đã cho dựng tại Matxcova trong nghĩa trang Novodevichem một tấm biển kỉ niệm sau khi xây một ngôi mộ tượng trưng đề Trung tướng Không quân E.S. Ptukhina.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, Huy chương 20 tuổi quân của Hồng quân Công Nông.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: danngoc trong 23 Tháng Tám, 2008, 05:29:40 pm
Cám ơn bác


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tám, 2008, 07:13:01 pm
(http://img93.imageshack.us/img93/7545/colonelgeneralsterngrigsa9.jpg)
Thượng tướng G.M. Stern (06/08/1900-28/10/1941)

Thượng tướng Stern Grigoriy Mikhaylovich sinh ngày 6 tháng 8 năm 1900 tại vùng Cherkass, bây giờ thuộc Ukraine trong một gia đình lao động.

Ông gia nhập Hồng quân năm 1919 và được kết nạp Đảng năm này. Trong suốt thời kì chiến tranh bảo vệ chính quyền cách mạng (1917-1923), ông là ủy viên quân sự của trung đoàn, lữ đoàn rồi công tác trong phòng chính trị của sư đoàn súng trường số 46, tham gia những trận chiến với bạch vệ tại mặt trận phía nam. Trong khoảng thời gian 1921-1923, là ủy viên quân sự của trung đoàn, công tác tại phòng tham mưu của sư đoàn súng trường  số 3 và phòng tham mưu của đoàn kỵ binh số 1.

Từ năm 1923 đến 1925, ông chiến đấu tại mặt trận Turkestan, ủy viên quân sự của lữ đoàn kỵ binh, chỉ huy đơn vị có nhiệm vụ đặc biên thuộc tập đoàn quân Khorezm đập tan nhiều băng đảng phỉ. Từ tháng 6 năm 1925 tới tháng 2 năm 1926, ông là Chính ủy Sư đoàn kỵ binh số 7.

Nãm 1926, ông hoàn thành khóa học nâng cao về chỉ huy cao cấp tại Học viện quân sự M.V. Frunze và công tác tại cục miền đông của Học viện đến năm 1929. Sau đó ông tham gia những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong Ủy ban quốc phòng Liên Xô. Ngày 20 tháng 11 năm 1935, ông được quyết định giữ quân hàm cán bộ sư đoàn cấp trưởng.

Từ năm 1937 đến năm 1938, với họ Grigorovich, ông là cố vấn chính của chính phủ cộng hòa trong suốt thời gian chiến tranh cách mạng dân tộc của nhân dân Tây Ban Nha thời kì 1936-1939.

Từ tháng 5 năm 1938, ông cán bộ quân đoàn cấp trưởng-Tham mưu trưởng Phương diện quân Viễn Đông, tham gia chỉ huy các chiến dịch quân sự của Hồng quân tại vùng hồ Khasan vào năm 1938.

Năm 1939, ông chỉ huy mặt trận tiền phương, chỉ đạo các chiến dịch quân sự của Hồng quân tại mặt trận Viễn Đông trong suốt quá trình tranh chấp với quân đội Nhật hoàng.

Ngày 29 tháng 8 năm 1939, vì sự dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng cùng sự hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân sự và thời kỳ làm nghĩa vụ quốc tế ông được Xôviết tối cao phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, kèm theo Huân chương Lenine. Sau khi có chế độ Huy chương kèm theo danh hiệu anh hùng, ông được nhận Huy chương Sao vàng.

Trong thời gian chiến tranh giữa Liên Xô và Phần Lan năm 1939-1940, ông chỉ huy tập đoàn quân số 8. Ngày 4 tháng 6 năm 1940, ông được phong quân hàm Thượng tướng.

Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1941, ông là Tư lệnh Phương diện quân Viễn Đông sau đó là phụ trách Phòng không trực thuộc Ủy ban nhân dân về quốc phòng Liên Xô. Thành viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Bolsevich (AUCPB) từ 1939 đến 1941. Ủy viên Xôviết tối cao Liên Xô trong hội nghị lần thứ nhất.

Ngày 7 tháng 6 năm 1941, ông bị bắt. Kết quả là ông đã thừa nhận rằng từ năm 1941, ông đã tham gia vào một âm mưu trong Hồng quân và là gián điệp của Đức. Ngày 28 tháng 10 năm 1941, dựa trên cơ sở những kết luận của toàn án, ông bị xử bắn cùng 20 người khác. Cho đến ngày 25 tháng 8 năm 1954, ông mới được khôi phục danh dự.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenin, 3 Huân chương Sao đỏ và Huy chương 20 năm tuổi quân của Hồng quân.




Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tám, 2008, 07:19:13 pm
(http://img247.imageshack.us/img247/6814/armygeneraldgpavlovxg7.jpg)
Đại tướng D.G. Pavlov (04/11/1897-06/1941)

Pavlov Dmitri Grigorevich sinh ngày 4-11-1897 tại làng Vonhiukh, nay là làng Pavlov, huyện Kologriv, tỉnh Kostrom, trong một gia đình nông dân nghèo.Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, ông tình nguyện gia nhập quân ngũ, chiến đấu, bị thương trong trận đánh trên sông Smokhot và bị bắt làm tù binh năm 1916.

Năm 1919 ông được cứu khỏi nhà tù, gia nhập Hồng quân và được kết nạp Đảng Cộng sản. Trong thời gian nội chiến, ông chiến đấu ở các mặt trận phía Nam, Tây Nam, khu vực Turkestan. Năm 1922, ông tốt nghiệp Trường Kỵ binh cao cấp Omsk, và năm 1931 tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự.

1936 – 1937 D.G. Pavlov tham gia đội quân quốc tế chiến đấu tại Tây Ban Nha, chỉ huy binh đội xe tăng, lập nhiều chiến tích.  Do những chiến công xuất sắc ở mặt trận Tây Ban Nha, ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lênin ngày 21-6-1937. Năm 1939, D. G. Pavlov được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Đại biểu Xô viết tối cao Liên Xô. 1939 – 1940 ông tham gia chiến tranh Liên Xô – Phần Lan. Từ tháng 6 – 1940 là tư lệnh Đặc khu quân sự Belorussia.

Những ngày đầu cuộc chiến tranh vệ quốc, ông được cử làm Tư lệnh Phương diện quân Tây, Khu vực đảm trách của Phương diện quân trải suốt chiều dài biên giới từ phía Nam tới Litva 470 km. Khi chiến tranh nổ ra, nơi đây  đã phải hứng chịu cuộc tấn công dữ dội nhất của đội quân Đức đông gấp nhiều lần và nắm được thế chủ động, bất ngờ. Lực lượng không quân và xe tăng của Phương diên quân bị thiệt hại nặng nề, có thể nói gần như tê liệt. Pavlov đã không thể giữ nổi phòng tuyến, và sau 8 ngày chống cự tuyệt vọng, tàn quân của quân đội Xôviết đã bị đánh bật khỏi phòng tuyến 350 – 400 km. Phương diện quân hoàn toàn bị tan rã. D.G. Pavlov bị triệu hồi về Moskva và lập tực bị bắt. Ông bị cách tuột mọi chức vụ, tước các huân, huy chương và bị kết tội hèn nhát, bội phản, đầu hàng, không chiến đấu…

D. G. Pavlov cùng các tướng lĩnh của Phương diện quân Tây là Tham mưu trưởng - Thiếu tướng V. E. Klimovski, Chủ nhiệm Thông tin liên lạc - Thiếu tướng A. T. Krigorev và Tư lệnh Tập đoàn quân số 4 – Korobok A. A bị xử bắn tháng 6 – 1941. Năm 1956, ông được minh oan và phục hồi danh dự. Tại làng Pavlov, quê hương ông, nhân dân đã dựng tượng người anh hùng.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tám, 2008, 07:23:39 pm
(http://img184.imageshack.us/img184/705/lieutenantgeneralmgefreqn2.jpg)
Trung tướng M.G. Efremov (11/03/1897-19/04/1942)

Trung tướng Efremov Mikhail Grigorevich, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1897 tại thành phố Tarusa, bây giờ là tỉnh Kaluga trong một gia đình công nhân người Nga.

Năm 1915, ông bị gọi vào quân đội Nga hoàng. Năm 1916, ông tốt nghiệp trường quân sự rồi tham gia vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong cách mạng tháng 10 Xã hội chủ nghĩa vĩ đại, ông gia nhập lực lượng cận vệ đỏ và ở trong đơn vị cận vệ đỏ của Zamoskvorech tham gia vào cuộc khởi nghĩa tháng 10.

Ông gia nhập Hồng quân vào năm 1918 và tham gia cuộc chiến nhằm bảo vệ nhà nước Xôviết non trẻ. Năm 1919, ông được kết nạp vào Đảng Bolsevich. Ông lần lượt chỉ huy Đại đội trưởng, Tiểu đoàn, Trung đoàn đường sắt bảo vệ Astrakhan, lữ đoàn súng trường và sư đoàn tại phương diện quân Nam Caucasian. Ông đã biểu lộ những phẩm chất đặc biệt của người chỉ huy khi đang là: chỉ huy trưởng khu vực chính của tập đoàn quân số 11, trong suốt thời gian giải phóng Baku vào năm 1920.

Sau năm 1923, ông là chỉ huy sư đoàn súng trường. Năm 1927, ông là cố vấn quân sự tại Trung quốc. Năm 1928, ông hoàn thành khóa học nâng cao về chỉ huy tối cao. Năm 1930, tốnt nghiệm Học viện chính trị quân sự. Năm 1933, tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Frunze.

Ngày 20 tháng 11 năm 1935, ông được phong Chỉ huy sư đoàn theo sắc lệnh của Ủy ban nhân dân về quốc phòng. Rồi được đề cử vào đại biểu của Xôviết tối cao Liên Xô trong hội nghị lần thứ nhất.

Từ tháng 5 năm 1937, M.G. Efremov là Tư lệnh các lực lượng vũ trang ở Volga, từ tháng 11 năm 1937 ở Transbaikal, từ tháng 7 năm 1938 ở Orel, từ tháng 6 năm 1940 ở Bắc Caucasian, từ tháng 8 năm 1940 ở Phân khu quân sự Transcaucasian. Ngày 4 tháng 6 năm 1940, ông được phong quân hàm Trung tướng.Tháng 1 năm 1941, ông được bô nhiệm Phó tổng thanh tra thứ nhất của lực lượng bộ binh Hồng quân Công Nông.

Bước vào cuộc chiến với phát xít Đức, ông chỉ huy Tập đoàn quân số 21 (tháng 7 đến tháng 8 năm 1941), rồi Tập đoàn quân số 10, là Phó Tư lệnh các lực lựơng vũ trang Phương diện quân Bryansk (tháng 8 đến tháng 10 năm 1941). Từ tháng 10 năm 1941, Tư lệnh tập đoàn quân số 33 của Phương diện quân miền Tây.

Ông được đánh giá là có những công lao to lớn trong bảo vệ Matxcova trong hai năm 1941 và 1941 rồi chiến dịch Vyazemskoy vào năm 1942.

Sau khi thực hiện phân tán tập đoàn quân số 33 trong lòng kẻ thù, ông đã lãnh đạo tại tình các chiến dịch quân sự ở tuyến sau của phát xít rồi và phá vây.

Ngày 19 tháng 4 năm 1942, trong một trận đánh gần làng Vyazemskogo vùng Smolenskaya Oblast, ông đã bị thương nặng và hy sinh. Ông đã được chôn cất bởi quân phát xít một cách kính trọng, bởi nghi lễ quân sự. Sau khi giải phóng khu vực này, các chiến sĩ hồng quân đã chông cất ông trong thành phố Vyazma trong nghĩa trang Yekaterina.

Ngày 31 tháng 12 năm 1996, theo quyết định của tổng thống Nga cho sự can đảm chủ nghĩa anh hùng thể hiện trong những trận đánh với phát xít Đức xâm lược trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 1941-1945, ông đã được truy phong danh hiệu anh hùng liên bang Nga.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Azerbaijan và Huy chương 20 năm tuổi quân của Hồng quân Công Nông. Tại thành phố Vyaz’ma, phần mộ ông được đặt dưới một đài kỉ niệm uy nghiêm do E.V. Vucheticha thực hiện. Bảo tàng Posvyashchennyy để tưởngnhớ đến Trung tướng M.G. Efremov và các chiến sĩ Hồng quân thuộc tập đoàn quân số 33. Tên của ông đã được đặt cho một trong những đường phố ở trung tâm thành phố Naro-Fominsk, cùng với một tấm bảng tưởng niệm.


 


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Tám, 2008, 07:44:52 pm
(http://www.marxists.org/glossary/people/f/pics/frunze-mikhail.jpg)
M. Frunze(02/02/1885-31/10/1925)

Frunze Mikhail sinh ngày 2 tháng 2 năm 1885 tại thành phố Pitsêkê thuộc miền núi nước Cộng hòa Kiếcghidi. Sau khi tốt nghiệp loại ưu trường trung học tại thành phố quê hương, năm 1904 Frunze lên Saint Peterbourg, học khoa kinh tế của trường đại học bách khoa. Tại đây, Frunze tiếp xúc với chủ nghĩa Mác và lao vào hoạt động trong phong trào cách mạng với tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ. Chỉ ít tháng sau, Frunze bị đuổi khỏi trường và bị trục xuất khỏi Sain Peterbourg. Nhờ thử thách bước đầu này, Frunze được kết nạp vào Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, gia nhập hàng ngũ những người Bonsevich và trở thành một chiến sĩ cộng sản.

Năm 1906, lần đầu tiên Frunze gặp Lenine tại Xtốckhôm (Thủ đô Thụy Điển), trở thành người đồng chí trung kiên của Lenine. Suốt từ cách mạng 1905 đến CM tháng 10 năm 1917, Frunze liên tục hoạt động trong vòng bí mật và nhiều lần bị bắt giam. Năm 1907, Frunze bị kết án treo cổ, nhứng au đó thay bằng án đày đi Xibia. Trong những tháng lưu đày tại Xibia, Frunze nghiên cứu sâu sắc các tác phẩm về chiến tranh và trao dồi kiến thức về quân sự.

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, Frunze phụ trách 1 tổ nghiên cứu quân sự ở Iếccút, trung tâm Xibia. Tháng 5-1915, trên đường bị giải đi Sita, Frunze trốn thoát rồi vượt hàng ngàn kilômét trở về Saint Peterbourg, bắt liên lạc với Đảng Bonsevich Nga. Nhận chỉ thị của Đảng, Frunze lên đường ra mặt trận, làm công tác vận động binh lính phản đối chiến tranh đế quốc, chuyến sang chiến tranh Cách mạng. Tháng 2-1917, Frunze được giao nhiệm vụ thành lập các đội cận vệ đỏ ở Belaroussia, phụ trách tổ chức quân sự miền Tây.

Khi Cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ, Frunze được cử làm Chủ tịch Xô Viết thành phố Minsk, kiêm ủy viên Hội đồng quân sự mặt trận miền Tây. Tháng 3-1918, ông được giao nhiệm vụ làm Chính ủy quân khu Iarôxláp, rồi làm Tư lệnh tập đoàn quân thứ 4 thuộc mặt trận miền Đông. Từ đây, tài năng quân sự của Frunze bắt đầu nổi bật.

Năm 1919, tình hình mặt trận miền Đông rất nguy kịch. Đô đốc bạch vệ Côntrắc tập hợp được 25 vạn quân, chiếm cứ 1 địa bàn rộng lớn suốt từ miền Đông Uran qua Xibia đến tận cùng vùng ven biển Viễn Đông. Phía sau Côntrắc còn có thêm 20 vạn quân thuộc lực lượng can thiệp của Mĩ, Anh, Pháp, Nhật hỗ trợ. Lúc này, Trotsky đang phụ trách Bộ quốc phòng và Vexetisơ là Tổng tư lệnh Hồng quân Công nông. Trước lực lượng hùng mạnh của địch, Trotsky không tin Hồng quân có thể đương đầu được với quân Côntrắc, vì vậy đã chủ trương rút quân sang bờ Tây sông Vonga để bảo toàn chủ lực. Nhưng Frunze chủ trương tiến công bọn Côntrắc ngay từ bờ Đông sông Vonga là nơi tập trung nhiều kho hâu cần lớn, chứ không rút sang bên kia sông. Chủ trương này được Camênhép là Tư lệnh mặt trận miền Đông tán thành.

Ngày 27-4-1919, lực lượng do Frunze chỉ huy bắt đầu mở chiến dịch đánh vào trận tuyến của Côntrắc. Nhưng hơn một tuần sau, ngày 5-5-1919, Trotsky đã ra lệnh buộc Camênhép phải rút khỏi chức Tư lệnh mặt trận, đi nghỉ kiểm điểm vì đã làm trái chủ trương của cấp trên. Trước tình hình đó, Hội đồng quân sự cách mạng mặt trân miền Đông phải cấu cứu cấp trên bằng cách khiếu nại lên Trung Ương Đảng. Trong khi đó, Frunze vẫ tiếp tục đẩy nhanh nhịp độ tấn công bọn Côntrắc. Ngay sau đó, Trung Ương đã nhanh chóng xác nhận tính đúng đắn của Camênhép và đánh giá cao chiến dịch do Frunze chỉ huy. Trung Ương đã chỉ thị cho Trosky phải điều động Camênhép trở lại vị trí cũ. Chiến dịch tiến công bọn Côntrắc toàn thắng. Camênhép và Fruze được ca ngợi là có bản lĩnh và có tài chỉ huy chiến dịch lớn. Sau này, trong hội nghị các Tư lệnh và Chính ủy của các lực lượng vũ trang Ucraina, khi nhắc lại chuyện cũ, Frunze đã nhấn mạnh : “Đặc điểm của Hồng quân chúng ta là tiến công… Mác đã từng nói : Tiến công là một hình thức phòng ngự tốt nhất”.

Mùa thù năm 1920, Frunze lại chỉ huy các chiến dịch ở mặt trận miền Nam, đập tan bọn Bạch vệ Vrangen. Chiến thắng giải phóng Crưm do Frunze chỉ huy đã chấm dứt cuộc nội chiến. Ngày 14-2-1924, Frunze được cử làm Bộ trưởng dân ủy phụ trách hải quân và là Phó chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng (năm 1925 là chủ tịch), kiêm Tổng tham mưu trưởng Hồng quân công nông, kiêm giám đốc Học viện quân sự cấp cao Hồng quân công nông.

Có lẽ những năm tháng tù đày và tham gia chiến tranh, cộng với những nhiệm vụ nặng nề phải gánh vác trong những năm đầu cách mạng đầy gian nan đã làm Frunze hao mòn sức khỏe nhanh chóng. Ngày 31-10-1925, Frunze khi mới 40 tuổi đã từ trần ở Matxcova.




Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 28 Tháng Tám, 2008, 03:17:56 am
(http://img379.imageshack.us/img379/7632/majorgeneralsivakovivancz0.jpg)
Thiếu tướng I.P. Sivakov (02/06/1901-27/07/1944)

Thiếu tướng Sivakov Ivan Prokofevich sinh ngày 2 tháng 6 năm 1901 tại Ivanovka, tỉnh Orenburg (bây giờ là làng Cận vệ Đỏ, vùng Orenburg), Nga. Sau khi tốt nghiệp lớp 4, ông tham gia vào một nhóm thợ thủ công tại địa phương.

Tháng 9 năm 1919, được gọi nhập ngũ trong lực lượng Hồng quân Công Nông, phục vụ trong trung đoàn bộ binh dự bị số 5. Trung đoàn đảm đương trách nhiệm tham gia tiễu trừ các băng cướp, thổ phỉ trong tỉnh Orenburg.

Năm 1921, ông hoàn thành các khóa huấn luyện bộ binh tại Orenburg và được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trung đội trực thuộc trung đoàn súng trường số 155. Năm 1924, ông tốt nghiệp trường bộ binh chỉ huy Hồng quân số 8 ở Leningrad, và được cử giữ chức vụ chỉ huy trung đội trong trung đoàn bộ binh số 83 tại vùng bắc Caucasian. Năm 1925, trung đoàn ông tham gia vào các chiến dịch quân sự nhằm tiễu trừ các nhóm cướp, phỉ tại Chechnya, Ingushetia, Daghestan và Kabardino-Balkarii. Từ tháng 10 năm 1926, ông chỉ huy trung đội và đại đội trong trường bộ binh Vladikavkazskaya. 

Từ năm 1933, ông là chỉ huy tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn bộ binh súng trường số 37 tại vùng Rostov, sông Don. Năm 1937, ông hoàn thành các khóa đào tạo chiến thuật ngắn hạn và trở về công tác trong trung đoàn số 37 với chức vụ tham mưu trưởng. Năm 1938, được bổ nhiệm giữ chức vụ phó tư lệnh của sư đoàn số 6. Từ tháng 2 năm 1940, ông là chủ nhiệm các khóa học nâng cao về tham mưu của sĩ quan chỉ huy tại Kharkov. Sau đó, ông kiên quyết xin với cấp trên cho chuyển sang công tác chỉ huy, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trung đoàn tại sư đoàn súng trường số 214 đóng tại vùng Viễn Đông.

Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, toàn bộ sư đoàn của ông được biên chế trong tập đoàn quân số 16 trực thuộc phương diện quân miền Tây. Với quân hàm đại tá, ông chỉ huy trung đoàn súng trường số 776. Tháng 10 năm 1941, các chiến sĩ của sư đoàn bị bao vây bởi quân phát xít, đây là tình trạng chung của các đơn vị trực thuộc phương diện quân miền Tây. Ngày 7 tháng 10, quân địch khóa chặt vòng vây xung quanh toàn bộ phương diện quân. Hơn một nửa lực lượng của trung đoàn bộ binh số 776 đã chọc thủng phòng tuyến phía sau của địch  vào ngày 23 tháng 10 thoát khỏi vòng vây. Trong một trận đánh trong vòng vây, ông đã bị thương nặng và được các chiến sĩ Hồng quân dùng cáng khiêng, tuy nhiên ông vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu phá vây ở trên cáng.

Sau khi ra viện, tháng 12 năm 1941, ông được cử giữ chức vụ chỉ huy trung đoàn trong biên chế của lữ đoàn súng trường đặc biệt thuộc phương diện quân Tây Bắc.

Tháng 5 năm 1942, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trung đoàn sung trường số 117 trực thuộc sư đoàn sung trường số 23. Tháng 11 cùng năm, ông trở thành sư đoàn phó của sư đoàn này. Các chiến sĩ thuộc sư đoàn số 23 đã chiến đấu nhiều trận thắng lợi trong đội hình tập đoàn quân số 65 của phương diện quân Donskoy tại chiến dịch Stalingrad. Trong chiến dịch này, ông được tẳng thưởng Huân chương Kutuzov hạng Nhì. Tuy nhiên, Tháng 8 năm 1942, do những lỗi phạm phải trong quá trình chỉ huy đơn vị tiếp quản 2 vùng dân cư được giải phóng, ông vị toà án quân sự của phương diện quân tuyên án 10 năm bị tước tự do với thời điểm thi hành án là sau khi kết thúc chiến tranh. Đồng thời với quyết định trên của tòa án, ông bị tước mất tấm huân chương trong trận chiến bảo vệ Stalingrad.

Tháng 4 năm 1943, ông được cử giữ chức vụ sư đoàn trưởng sư đoàn sung trường cận vệ số 71 thuộc quân đoàn sung trường số 23, tập đoàn cận vệ số 6 dưới sự chỉ huy của trung tướng I.M. Chistyakov, Anh hùng Liên Xô người bạn chí than của ông thời kì còn ở Rostov, song Don. Trong đội hình của tập đoàn quân, sư đoàn do ông chỉ huy đã tham gia các trận đánh ở vòng cung Kursk, tại vị trí mà thời kì đầu chịu những đoàn tấn công mãnh liệt của các đơn vị xe tăng Đức. Trong những trận chiến đấu ở đây, các chiến sĩ của sư đoàn ông đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng tập thể. Vì những thành tích trong các chiến dịch tấn công, sư đoàn của ông đã được tặng thưởng huân chương và, ngày 15 tháng 9 năm 1943, ông được phong quân hàm thiếu tướng.

Tháng 10 năm 1943, sư đoàn trong đội hình tập đoàn đã chuyển về đứng chân trong đội hình tập đoàn quân Baltic số 1, tham gia chiến dịch phòng thủ Nevelsko-Gorodokskoy và trận phòng thủ Vitebsk. Đầu năm 1944, ông bị thương nặng lần thứ 2, trong suốt thời gian chiến tranh thế giới lần thứ 2 ông đã bị thương 3 lần.

Trong thời gian diễn ra chiến dịch tấn công Belorussian, sư đoàn sung trường cận vệ số 71 dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia tiến công Vitebsk-Orsha. Trong ngày đầu tiên của cuộc tiến công, các chiến sĩ của sư đoàn đã chọc thủng tuyến phòng ngự của quân phát xít, giải phóng làng Shumilino và cắt đứt tuyến đường sắt và cao tốc nối liền Polotsk và Vitebsk. Ngày tiếp theo, các đơn vị của sư đoàn rời tới song Tây Dvina, bằng các phương tiện tự chế tại chỗ các chiến sĩ của sư đoàn đã vượt song dưới hỏa lực của kẻ thù. Ngày 25 tháng 6, sư đoàn đã giải phóng khu dân cư ngoại vi của Beshenkovichi, và 4 ngày tiếp theo đó, sư đoàn đã tiến them hơn 50 km tới vùng nam Polotsk. Sự hoạt động có hiệu quả của sư đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã đảm báo sự thành công của toàn tập đoàn quân trong toàn bộ chiến dịch.

Vì sự dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng, cùng với sự chỉ huy thắng lợi sư đoàn trong các trận đánh trong quá trình tấn công Vitebsk-Orsha, ngày 22 tháng 7 năm 1944, ông đã được Xôviết tối cao kí quyết định phong tặng danh hiệu anh hùng Liên Xô.

Trong quá trình của chiến dịch tiến công Polotsk sau đó, từ ngày 29 tháng 6 tới 4 tháng 7 năm 1944. Trong vòng 6 ngày của chiến dịch này, sư đoàn do ông chỉ huy đã chọc thủng tuyến phòng thu của kẻ thù tại nam của Polotsk và đã vận động chiến khoảng 40 km, sau khi giải phóng một số khu vực dân cư và khép chặt vòng vây Polotsk từ phía Tây. Sư đoàn cùng với các đơn vị khác của quân đoàn sung trường cận vệ số 23 đã đột chiếm Polotsk. Tháng 7 năm 1944, sư đoàn trong đội hình của tập đoàn cận vệ số 6 đã khởi đầu thành công trên hướng Riga.

Ngày 27 tháng 7 năm 1944, bốn ngày sau khi được phong danh hiệu anh hùng Xôviết, ông đã anh dũng ngã xuống trong trận đánh trên lãnh thổ Lithuanian. Phần mộ ông được đặt tại Vitebsk và tên của ông đã được đặt cho một đường phố tại thành phố này. Ông được tặng thưởng Huân chương Lenine, 2 Huân chương Kutuzov, Huy chương Sao đỏ.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Tám, 2008, 02:53:50 am
(http://img167.imageshack.us/img167/7356/colonelgeneralberzarinnkx7.jpg)
Thượng tướng N.E. Berzarin (01/04/1904-16/06/1945)

Thượng tướng Berzarin Nikolai Erastovich sinh ngày 1 tháng 4 năm 1904 tại thành phố Saint Petersburg trong một gia đình công nhân người Nga. Năm 1914, ông tốt nghiệp tiểu học và vào làm thuê tại một bến cảng của thành phố.

Ông tham gia Hồng quân từ năm 1918, phục vụ trong tập đoàn quân số 17 của quân khu Petrograd. Trong những năm chiến tranh bảo vệ chính quyền cách mạng Xôviết non trẻ (1917-1923), ông chiến đấu ở mặt trận phía bắc chống lại sự can thiệp của liên quân Anh Mỹ (1920), tham gia đập tan cuộc nổi loạn  Kronstadt (1921), tiễu trừ các băng nhóm phỉ ở vùng Amur – khi đó ông là khẩu đội phó sung máy. Năm 1923, ông hoàn thành khóa học chỉ huy ở Leningrad, năm 1925, hoàn thành khóa học về sung máy và, năm 1927, hoàn thành khóa học về sĩ quan chỉ huy của phân khu quân sự Siberian. Ông là đảng viên của Đảng Bolsevich từ năm 1926.

Ông lần lượt trưởng thành từ chỉ huy trung đội, chỉ huy đại đội rồi sư đoàn phó phụ trách quân huấn của bộ tham mưu tập đoàn quân Viễn Đông, chỉ huy và ủy viên hội đồng chỉ huy trung đoàn của sư đoàn sung trường số 26 (1935-1937).

Năm 1938, khi đang là sư đoàn trưởng sư đoàn sung trường số 32, ông tham gia các trận đánh ở vùng hồ Khasan. Tháng 12 năm 1938, ông được cử giữ chức vụ tư lệnh quân đoàn sung trường số 59, và tháng 7 năm 1940, là phó tư lệnh của tập đoàn quân cờ đỏ số 1 trực thuộc phương diện quân Viễn Đông.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, ông chỉ huy tập đoàn quân số 27 của đặc khu quân sự Baltic, tập đoàn quân số 34 của phương diện quân Tây Bắc, sau đó lần lượt là phó tư lệnh tập đoàn quân số 61, 20, tư lệnh tập đoàn quân số 39 ở các phương diện quân phía Tây, Kalinin và Baltic số 1.

Từ ngày 27 tháng 5 năm 1944, ông là trung tướng tư lệnh tập đoàn quân xung kích số 5 Hồng quân trong trong biên chế phương diện quân Belorussian số 1 tham gia các chiến dịch tấn công: Yassy-Kishinev, Vistula-Oder, Berlin.

Với nghệ thuật tổ chức và lên kế hoạch tác chiến hiệp đồng và độc lập, ông đã chỉ huy tập đoàn quân thọc sâu vào tuyến phòng thủ mạnh của quân phát xít trong vùng Naselennogo, Grabuv-Tsetsylyuvka, 15km tây nam của thành phố Magnushev của Ba Lan. Tập đoàn quân chuyển lên phía trước 12km rồi vượt sông Pilitsa, sau khi hỗ trợ cho tập đoàn quân xe tặng cận vệ số 2 chọc thủng tuyến phòng ngự của quân địch. Cho tới cuối chiến dịch Vistula-Oder, tập đòan quân lại tiến về phía sông Oder, bắc thành phố Kuestrin của Ba Lan, vượt sông và tiến và làm chủ đầu cầu phía quân phát xít chiếm đóng. Trong suốt quá trình vừa hành quân vừa chiến đấu, sư đoàn đã vận động chiến 500km, giải phóng 35 thành phố, sau khi gây cho quân thù những thiệt hại lớn voề người và phương tiện chiến tranh.

Ngày 6 tháng 4 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô do sự lãnh đạo tài tình của ông trong các trận đánh và chiến dịch mà tập toàn quân tham gia, sự hoàn thành nhiệm vụ chiến đâu cũng như những phẩm chất can đảm và chủ nghĩa anh hùng khi đối mặt với quân xâm lược phát xít, ông được phong tặng danh hiệu anh hùng Liên Xô, Huân chương Lenine cùng Huy chương Sao vàng.

Trong chiến dịch tổng tiến công vào thủ đô Berlin của Đức quốc xã, tập đoàn quân xung kích số 5 dưới sự chỉ huy của thượng tướng N.E. Berzarin tiến công đội hình đi đầu của phương diện quân Belorussian số 1, nhận nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là đánh chiếm nơi làm việc của chính phủ phát xít ở trung tâm thành phố, văn phòng đế chính và tổng hành dinh của Adolf Hitler. Khi nói đến các chiến thắng của tập đoàn quân xung kích số 5 trong chiến dịch tiến đánh Berlin không thể không nói đến vị tư lệnh với những phẩm chất chỉ huy tuyệt vời của tập đoàn quân. Ngày 24 tháng 4 năm 1945, ông được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng quân quản thành phố Berlin đồng thời là tư lệnh Hồng quân ở đây.

Ngày 28 tháng 4 năm 1945, ông ra bản quân lệnh số một tuyên bố mọi quyền quản lí ở Berlin chuyển vào tay Hồng quân Xôviết do tình hình hết sức phức tạp của thành phố sau chiến tranh và nhằm nhanh chóng đưa cuộc sống của người dân thành phố trở lại bình thường. Ngày 16 tháng 6 năm 1945, trong khi đang thi hành nhiệm vụ Thượng tướng Berazin đã hy sinh và được đưa về Matxcova an nghỉ trong nghĩa trang Novodevichem.

Thượng tướng N.E. Berzarin đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Suvorov hạng Nhất, Huy chương Sao đỏ và nhiều huân huy chương khác. Một đường phố ở Matxcova, ngôi trường số 15 tại thủ đô của Moldavia (thành phố Kishinev) và một cây cầu ở Đông Đức cũ đã được đặt theo tên của ông.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Tám, 2008, 10:53:18 pm
(http://img524.imageshack.us/img524/9333/majorgeneralzholudevviciv6.jpg)
Thiếu tướng V.G. Zholudev (22/03/1905-21/07/1944)

Thiếu tướng Zholudev Victor Grigorevich sinh ngày 22 tháng 3 năm 1905 tại thành phố Uglich của vùng Roslavskaya Oblast trong một gia đình công nhân người Nga. Bỏ học giữa chừng, năm 14 tuổi ông bắt đầu làm vệc tại Volga. Năm 1922, ông chuyển tới Matxcova và làm việc trong một cảng ở thủ đô.

Ông gia nhập Hồng quân Xôviết năm 1922, gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1942. Năm 1925, ông hoàn thành khóa học chỉ huy của Hồng quân rồi tham gia chỉ huy trung đội, đại đội. Năm 1930, ông hoàn thành khóa học nâng cao về công tác chỉ huy và tham mưu và được cử làm chỉ huy tiểu đoàn.

Năm 1935, khi Hồng quân bắt đầu tổ chức và thành lập các đơn vị đổ bộ đường không, ông trở thành một trong những chỉ huy đầu tiên của binh chủng mới này và tham gia các hoạt động quân sự ở khu vực sông Khalkhin-Gol vào năm 1939. Trong năm 1940, ông hoàn thành hai khóa học tại Học viện quân sự mang tên M.V. Frunze và được bổ nhiệm giữ chức vụ lữ đoàn trưởng lữ đoàn đổ bộ đường không số 6, trước khi quân phát xít tiến đánh Liên Xô, tháng 5 năm 1941, toàn bộ lữ đoàn chuyển đến Ukraine và được sát nhập vào quân đoàn đổ bộ đường không số 3.

Khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, tập đoàn quân nam của phát xít đến cuối tháng 7 năm 1941, đã chọc thủng cửa ngõ tiến vào Kiev, vùng Ukreplennomu, và nhanh chóng làm chủ sân bay và chiếm đóng Zhulyany ở ngoại vi  Kiev. Tư lệnh của tập đoàn quân Tây Nam là tướng M.P. Kirponos đã chỉ thị cho quân đoàn đổ bộ đường không số 3 tham chiến tại đây.
Đây là trận đánh đầu tiên của lữ đoàn đổ bộ đường không số 6. Là chỉ huy lữ đoàn, ông đã đưa ra một quyết định táo bạo là: 2 tiểu đoàn của lữ đoàn sẽ tấn công quân phát xít từ mặt trước, và 2 tiểu đoàn còn lại sẽ tấn công vào sườn của đội hình định, bao vây và tiêu diệt quân địch ngay trong sân bay Zhulyany.

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 1941, ông ra lệnh cho toàn bộ chiến sĩ của lữ đoàn ‘’Tiến lên!’’. Cuộc tiến công diễn ra đặc biệt nhanh chóng, các chiến sĩ Hồng quân của lữ đoàn đã anh dũng đánh giáp lá cà với quân phát xít và giải phóng được sân bay và những nơi bị quân phát xít chiếm đóng. Bị thất bại, quân của Hítle liên tiếp phản công vào vị trí đứng chân của lữ đoàn. Và một trong những lần phản công đó, một trung đội tiểu liên phát xít đã bất ngờ đánh thẳng vào bộ chỉ huy lữ đoàn. Ông đã tập hợp và chỉ huy các sĩ quan của ban tham mưu cùng với trung đội bảo vệ anh dũng đánh trả, khiến quân phát xít phải đền tội. Trong trận chiến đấu này, bản thân ông đã tiêu diện 10 tên phát xít. Để củng cố vị trí đứng chân của lữ đoàn, trong buổi sáng ngày hôm sau, lữ đoàn của ông được lữ đoàn đổ bộ đường không số 212 của Đại tá I.I. Zatevakhin, và tối là lữ đoàn số 5 của Đại tá A.I. Rodimtsev, hỗ trợ sườn phía cánh trái. 

Ngày 8 tháng 8 năm 1941, quân phát xít tiếp tục tiến công. Các chiến sĩ lữ đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã đẩy lui ít nhất 10 đợt tấn công của quân thù, và phải liên tiếp giáp lá cà với quân phát xít, cuối cùng cuộc tấn công tổng lực của quân phát xít vào Kiev đã bị đánh bại, nhiều sĩ quan và lính phát xít đã phải bỏ mạng.

Ngày 9 tháng 8, trận chiến tiếp tục diễn ra ác liệt hơn. Pháo binh của phát xít sáng sớm đã liên tục bắn vào vị trí của các chiến sĩ Hồng quân, tiếp theo đó là máy bay của phát xít liên tục oanh tạc bom mở đường cho bộ binh phát xít xông lên tấn công. Các chiến sĩ Hồng quân đã sử dụng mọi vũ khí có trong tay anh dũng chống trả, 8 xe tăng của kẻ thù đã bị bắn cháy. Để bổ sung lực lượng tiếp tục chống trả các đợt tấn công của quân phát xít, lữ đoàn đã tiếp nhận lực lượng tự vệ công nhân của nhà máy Lenin phiên chế vào tiểu đoàn số 1 và số 4.

Đây thật sự là các trận đánh kéo dài và đẫm máu. Quân phát xít với lực lượng đông hơn đã phải trả một cái giá nặng nề, trong 4 ngày mới có thể chiếm lại được sân bay Zhulyany. Nhưng đến rạng sáng ngày 13 tháng 8, quân đoàn đổ bộ đường không số 3 lại tiếp tục tấn công. Tất cả 3 lữ đoàn đồng loạt tấn công đẩy lui quân phát xít khỏi Kiev hơn 15km.

Cuối tháng 8, đơn vị ông được đưa đến khu vực sông Seym thuộc phía Bắc của Konotopa để đẩy lui các đợt tấn công của tập đoàn quân xe tăng của tướng Guderian. Đầu tháng 9, ông được cử giữ chức vụ lữ đoàn trưởng lữ đoàn 212.

Sáng sớm ngày 7 tháng 9 năm 1941, trận đánh bắt đầu diễn ra khi quân phát xít tìm mọi cách vận động vượt sông, nhưng tất cả các nỗ lực vượt sông đều bị đẩy lùi. 5 giờ sáng ngày 9 tháng 9, pháo binh và không quân phát xít bắn phá bờ sông phía các đơn vị Hồng quân đứng chân. Trận địa phòng thủ đã bị cày xới bởi hỏa tiễn, mìn và bom của phát xít điên cuồng bắn phá. Tiếp đó là xe tăng quân địch tiến lên và trận chiến không cân sức đã kéo dài đến tôi. Chỉ trong vòng vài giờ đầu của trận chiến, các chiến sĩ Hồng quân đã bắn cháy và phá hủy khoảng 50 xe tăng và bọc thép của quân thù.

Tuy nhiên với lực lượng trội hơn rất nhiều, quân phát xít cuối cùng cũng chọc thủng được tuyến phòng thủ với một sự tổn thất rất lớn. Các chiến sĩ Hồng quân phải rút vào cách rừng Lizogubovskiy và tổ chức đánh vào những ngôi làng ở phía sau quân phát xít. Ngày 17 tháng 9 năm 1941, ông nhận được lệnh đưa toàn bộ đơn vị thoát khỏi vòng vây. Sau khi vượt qua quãng đường xấp xỉ 200km, ngày 29 tháng 9 năm 1941, đơn vị của ông nhận lệnh phòng thủ ở cánh phải của tập đoàn quân số 40.

Cũng trong ngày hôm đó, ông được gọi về Matxcova. Ngày 1 tháng 10 năm 1941, ông được cử làm quân đoàn trưởng quân đoàn đổ bộ đường không số 1. Tuy nhiên, lực lượng của quân đoàn này gần như không có gì vì nó đã chịu những thiệt hại nặng nề ở Ukraine. Trên cương vị quân đoàn trưởng, ông bắt tay vào xây dựng quân đoàn. Cũng trong những ngày này, ông được phong quân hàm Thiếu tướng.

Mùa xuân năm 1942, tất cả ba lữ đoàn vừa được thành lập của quân đoàn bắt đầu tham chiến. Lữ đoàn 204 được đổ xuống phía sau của tập đoàn quân Demyansk, lữ đoàn số 1 được tăng viện cho tập đoàn quân xung kích số 2 ở mặt trận Stalingrad. Lữ đoàn 211 được đổ xuống phía sau của quân phát xít đang đánh với cụm kị binh cận vệ số 1.  Chỉ có lữ đoàn số 1 là trở lại với đội hình quân đoàn, ông lại tiếp tục thành lập 2 lữ đoàn mới.

Mùa hè năm 1942, quân đoàn đổ bộ đường không số 1 được chuyển thành sư đoàn súng trường cận vệ số 37 dưới sự chỉ huy của ông và được lệnh thẳng tiến tới mặt trận Stalingrad. Trên đường hành quân, sư đoàn đã đánh trả quân phát xít khi chúng định vượt qua đội hình sư đoàn về phía một làng cossack.

Ngày 30 tháng 9 năm 1942, sư đoàn của ông được chuyển giao cho tập đoàn quân số 63 của mặt trận Stalingrad do Trung tướng V.I. Chuykov chỉ huy và trong đêm ngày 3 tháng 10 vượt vào Stalingrad. Các chiến sĩ Hồng quân trên đường hành quân tới sông Mechetka đã đẩy lùi kẻ địch ra khỏi vài con phố trong khu vực của nhà máy Tractor. Các trận đánh đã diễn ra ngày lẫn đêm. Các tiểu đoàn bảo vệ ngã sáu đã chịu đựng những tổn thất nặng nề. Nơi này đã 12 lần bị quân phát xít đánh chiếm rồi được các chiến sĩ Hồng quân giành lại. Thiếu tướng Zholudev đã luôn luôn ở các sở chỉ hy của các trung đoàn và tiểu đoàn trong sư đoàn của ông để trực tiếp chỉ đạo.

Ngày 14 tháng 10 năm 1942, là một ngày hết sức nguy ngập đối với vị trí phòng thủ của sư đoàn ông. Quân phát xít đã vượt qua tuyến phòng thủ trên toàn mặt trận từ biển Barent tới Terek. Hàng nghì tấn bom đã được ném xuống đây. Chỉ trong đợt tấn công đâu tiền, kẻ thù đã mất 30 xe tăng và pháo. Tuy nhiên, quân phát xít đã đưa vào đây toàn bộ lực lượng dự bị điên cuồng tổ chức tấn công đẩy bật sư đoàn ra khỏi vị trí này. Tình hình sư đoàn hết sức nguy ngập: đại đội 9 bị bao vây, đại đội 6 su khi đã tiêu diệt một tiểu đoàn bộ binh phát xít cũng hy sinh hết, khẩu đội pháo chống tăng sau khi đã tiêu diệt 12 xe bọc thép chỉ còn lại một khẩu, bộ chỉ huy của trung đoàn số 109 không liên lạc được.
Giữa ngày hôm đó, 30 máy bay ném bom bắt đầu oanh tạc hẻm núi phía sau nhà mày Tractor, nơi đặt sở chỉ huy của sư đoàn. Nơi trú ẩn của ban tham mưu sư đoàn bị chôn vùi. Cả một tuần đó, sư đoàn liên tiếp trải qua những trận đánh ác liệt trong các phân xưởng của nhà máy Tractor, sau đó là trong các nhà máy khác. Trong những trận chiến này,sư đoàn cận vệ số 37 anh hùng của tướng Zholudev gần như hy sinh hết, nhưng họ đã anh dũng chiến đấu, không chiến sĩ nào rời khỏi vị trí. Họ mãi đi vào tâm trí người dân nơi này.

Sau khi trận phản công ở Stalingrad, bộ phận còn lại của sư đoàn được tổ chức lại và bổ sung thêm quân số. Mùa đông năm 1943, sư đoàn tiếp tục tham gia vào chiến dịch ở vòng cung Kursk. Tháng 5 năm này, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh quân đoàn súng trường số 35 tham gia các trận đánh ở vòng cung Kursk, và sau đó trong chiến dịch Bagration.

Trong chiến dịch Bobruysk, quân đoàn súng trường số 35 của tập đoàn quân số 3 đứng trong đội hình của bộ phận tiên phong phía Bắc của phương diện quân Belorussian số 2. Trong những ngày đầu tiên, sư đoàn đã chọc thủng tuyến phòng ngự và sau đó vượt sông Drut, Olsa, Berezina, làm chủ các thành phố Klichie, Berezino, Svisloch vượt 100km trong vòng 5 ngày.

Từ Minsk, quân đoàn phối hợp với các đơn vị khác nhanh chóng tiêu diệt quân địch trên hướng các thành phố Volkovysk, Belostok. Ngày 21 tháng 7 năm 1944, ông hy sinh trong khi chỉ huy quân đoàn chiến đấu.

Theo quyết định của Xôviết tối cao ngày 11 tháng 11 năm 1944, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Phần mộ của ông được đặt trong thành phố Volkovysk vùng Grodnensk. Trong ngôi trường số 1 mang tên Volkovyskskaya có đặt tượng của người anh hùng, trên những đường phố mang tên ông ở Volkovyshe và Volgorad đều có những tấm biển kỉ niệm.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, 2 Huân chương Kutuzo hạng Nhất, 2 Huân chương Suvorov hạng Nhì và nhiều Huy chương.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 30 Tháng Tám, 2008, 09:36:39 pm
(http://img409.imageshack.us/img409/9118/marshalmikhailnikolayevtk1.jpg)
Nguyên soái N.T. Mikhail (1893-12/06/1937)

Nguyên soái Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky sinh năm 1893 tại Alexandrovskoye (nay thuộc tỉnh Smolensk) trong một gia đình quý tộc gốc Ba Lan. Năm 1914, sau khi tốt nghiệp Trường quân sự Aleksandrovskoye, Tukhachevsky gia nhập Trung đoàn cận vệ Semyenovsky của Nga hoàng.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông chiến đấu với quân hàm thiếu úy và được khen thưởng vì thành tích dũng cảm trong trận đánh. Tháng 2 năm 1915, Tukhachevsky bị quân Đức bắt làm tù binh, trong trại giam ông đã tìm cách vượt ngục tới 4 lần và đều bị bắt lại. Cuối cùng ông bị liệt vào hạng tù binh ngoan cố và bị giam vào pháo đài Ingolstadt, tại đây ông đã gặp một tù binh ngoan cố người Pháp, đó là Charles de Gaulle.
Tukhachevsky vẫn tiếp tục tìm cách vượt ngục lần thứ năm, lần này ông thành công và trở về Nga tháng 10 năm 1917. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, ông gia nhập Đảng Bolshevik và trở thành sĩ quan Hồng quân. Với tài năng và kiến thức học tập bài bản của mình, Tukhachevsky nhanh chóng được thăng chức và giữ các vị trí chỉ huy quan trọng. Trong cuộc chiến bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1918) Tukhachevsky nhận nhiệm vụ bảo vệ Moskva. Dân ủy phụ trách Quốc phòng Leon Trotsky đã cử Tukhachevsky làm Tư lệnh Tập đoàn quân số 5 Hồng quân năm 1919 có nhiệm vụ chiếm lại vùng Siberi từ tay quân Bạch vệ của tướng Aleksandr Kolchak. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ này, Tukhachevsky còn tiếp tục tham gia đánh bại đội quân của tướng Anton Denikin ở Crimea năm 1920.

Tukhachevsky là người lãnh đạo Hồng quân trong Chiến tranh với Ba Lan. Tukhachevsky bị chỉ trích đã không hoàn thành việc chỉ huy các lực lượng của mình. Các mệnh lệnh do ông đưa ra thường không được sĩ quan cấp dưới, thậm chí là một số sĩ quan cao cấp, tuân theo, dẫn đến nhiều thất bại của lực lượng vũ trang Xô viết. Tukhachevsky phản bác lại rằng vì những lí do chính trị ông không thể chọn các chỉ huy sư đoàn phù hợp hoặc rời Bộ chỉ huy ra khỏi Moskva.

Từ năm 1925 đến năm 1928 Tukhachevsky là Tổng tham mưu trưởng Hồng quân và Phó ủy viên nhân dân phụ trách Quốc phòng. Ông đã cố gắng cải tổ lực lượng Hồng quân vốn xuất thân là lực lượng vũ trang không chính quy trở thành một đội quân chuyên nghiệp và kỉ luật. Đặc biệt, Tukhachevsky rất ủng hộ việc hiện đại hóa Hồng quân, thay thế chủ lực từ lực lượng kỵ binh truyền thống sang lực lượng tăng - thiết giáp. Vào giai đoạn đầu, quan điểm này của ông bị rất nhiều người phản đối, Tukhachevsky bị buộc thôi chức Tổng tham mưu trưởng và bị khiển trách. Nhưng tiếp đó, sau khi cho ra đời một số tác phẩm về chiến tranh hiện đại, Stalin đã đồng ý với sự cần thiết phải hiện đại hóa Hồng quân và Tukhachevsky được giao vai trò quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện mục tiêu này.

Nguyên soái Tukhachevsky cũng có nhiều ý tưởng tiên tiến về chiến thuật quân sự, đặc biệt là về sự phối hợp máy bay và xe tăng trong các chiến dịch. Ông đưa ra học thuyết "Chiến dịch thọc sâu" trong đó sử dụng các lực lượng phối hợp tấn công sâu vào phòng tuyến của đối phương để tiêu diệt hậu phương và hậu cần.Học thuyết của nguyên soái Tukhachevsky bị một số tướng lĩnh phản đối nhưng bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong Hồng quân từ giữa thập niên 1930. Một ví dụ điển hình cho sự áp dụng học thuyết này là chiến thắng của Hồng quân do tướng Georgi Zhukov chỉ huy trước quân đội Nhật hoàng trong Trận Khalkhin Gol tháng 9 năm 1939. Trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại, học thuyết của Tukhachevsky đã phát huy hiệu quả to lớn và dẫn đến nhiều chiến thắng của Hồng quân, trong đó phải kể đến thắng lợi của Trận Stalingrad và Chiến dịch Bagration.

Ngày 20 tháng 11 năm 1935, Tukhachevsky trở thành người trẻ nhất (42 tuổi) trong số 5 vị tướng đầu tiên của Hồng quân được phong hàm Nguyên soái Liên bang Xô viết. Tháng 1 năm 1936 Tukhachevsky đi thăm Vương quốc Anh, Pháp và Đức.

Tukhachevsky bị bắt ngày 22 tháng 5 năm 1937, ông bị buộc tội làm gián điệp cho Đức Quốc xã và tham gia vào âm mưu phản cách mạng trong quân đội. Sau một phiên toàn được xử kín nguyên soái Tukhachevsky và tám chỉ huy Hồng quân cao cấp khác bị tuyên có tội và bị xử tử hình ngày 12 tháng 6 năm 1937.

Ngày 31 tháng 1 năm 1957, nguyên soái Tukhachevsky được kết luận vô tội và được phục hồi danh dự cũng như các chức vụ cũ. Trong cuốn sách The Great Terror (1968), nhà Sử học Robert Conquest cho rằng các điệp viên Đức, dưới sự chỉ đạo của Heinrich Himmler đã làm giả các tài liệu về sự liên quan của nguyên soái Tukhachevsky với Bộ Tổng tham mưu Đức Quốc xã, nhằm làm cho ông bị nghi ngờ và làm yếu đi khả năng phòng thủ của Liên Xô. Theo Conquest, các tài liệu này được chuyển cho tổng thống Tiệp Khắc Edvard Beneš, ông này tin tưởng vào giá trị của các tài liệu giả và đã trao nó cho phía Liên Xô, dẫn đến vụ án oan của Tukhachevsky.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Tám, 2008, 04:59:29 am
(http://img151.imageshack.us/img151/1774/armygeneralbatovpavelivai6.jpg)
Đại tướng P.I. Batov (01/06/1897-19/04/1985)


Đại tướng P.I. Batov sinh ngày 1 tháng 6 năm 1897 tại làng Filisovo, bây giờ thuộc vùng Rybinsk của Roslavskaya Oblast của Nga. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1917), ông tham gia quân đội Nga hoàng từ năm 1916, do những thành tích nổi bật trong chiến đấu ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương chữ thập Georgievskiys và 2 Huy chương.

Sau khi cách mạng tháng 10 Nga thành công và nhà nước công nông đầu tiên của thế giới ra đời, ông gia nhập vào lực lượng quân đội công nông (Hồng quân) năm 1918. Năm 1927, ông hoàn thành khóa học ngắn và năm 1950 Học viện quân sự Bộ tổng tham mưu. Là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1929.

Trong thời kì bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ sau cách mạng tháng 10 (1917-1923), ông tha gia chiến đấu chống lại các lực lượng phản cách mạng được 14 nước đế quốc giúp đỡ taij Rybinsk, Yaroslav, Poshekhone. Từ năm 1926 đến 1936, ông lần lượt giữ chức vụ chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn súng trường. Từ năm 1936 đến 1937, ông tham gia làm nghĩa vụ quốc tế giúp cuộc cách mạng dân tộc của nhân dân Tây Ban Nha. Từ năm 1937, ông là tư lệnh quân đoàn súng trường. Từ năm 1939 đến 1940, ông tham gia cuộc chiến Liên Xô – Phần Lan. Từ năm 1940, ông là Phó Tư lệnh của các lực lượng vũ trang tại Phân khu quân sự Transcaucasian.

Bắt đầu cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân các dân tộc Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 (1939-1945), ông là chỉ huy của quân đoàn súng trường số 9. Từ tháng 8 năm 1941 ông là phó chỉ huy của Tập đoàn quân số 51 trực thuộc phương diện quân Nam. Tháng 1 và tháng 2 năm 1942, ông chỉ huy Tập đoàn quâ số 3, từ tháng 2 tới tháng 10 năm 1942, ông là Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang Phương diện quân Bryansk. Từ đó đến kết thúc chiến tranh, ông chỉ huy Tập đoàn quân số 5 tham gia các chiến dịch Donskoy, Stalingrad, Tsẻntalny, Belorussia, các phương diện quân Belorussian số 1 và 2.

Hồng quân dưới sự chỉ huy của ông chiến đấu nổi bật trong các trận chiến ở Stalingrad, vòng cung Kursk, vượt sông Dnepr, trong các trận đánh đánh giải phóng Belorrussia, trong các chiến dịch Vistula-Oder và Berlin, tham gia giải phóng các thành phố Gkukhov, Rechisa, Mozir, Bobruysk, Minsk, Stettin.

Ông đã khéo léo vận dụng chiến thuật: sử dụng hàng rào xe tăng ở hai mặt hỗ trợ cho các đợt tấn công của bộ binh tại chiến dịch Bobruysk năm 1944, kiên quyết thực hiện chuyển hướng tiến công của quân đoàn sang hướng khác trong chiến dịch Belorusskoy (1944) và trong chiến dịch tây Pomeranskoy (1945). Những thắng lợi của quân đoàn số 65 dưới sự chỉ huy của ông đã 23 lần được ghi trong sổ khen thưởng của Bộ tổng Tư lệnh tối cao Hồng quân Liên Xô.

Cho những thành tích tổ chức của hiệp đồng tác chiến chính xác và nghiêm ngặt trong quá trình vượt sông Dnepr, và giữ vững phần bên sông phía địch mạn tây của sông làm bàn đạp cho các đơn vị khác của Hồng quân vượt sông và tiến công quân phát xít, cùng chủ nghĩa anh hùng và sự dũng cảm cá nhân, ngày 30 tháng 10 năm 1943, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ông được phong anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Ngày 2 tháng 6 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô cho những sáng tạo và sự can đảm khi chỉ huy tập đoàn quân vượt sông Oder và đánh chiếm thành phố Stettin ông được trao tặng Huy chương Sao vàng lần thứ 2 và đây cũng là danh hiệu anh hùng Liên Xô lần thứ 2 của Thượng tướng P.I. Batov.

Sau chiến tranh, ông là Phó Tư lệnh bộ phận Hồng quân Liên Xô tại Đức. Năm 1955, ông được phong quân hàm Đại tướng. Từ đó cho đến năm 1958, ông là Tư lệnh các lực lượng vũ trang Phân khu quân sự Carpathian. Từ năm 1958 đến 1959, Tư lệnh Phân khu quân sự Baltic. Năm 1962, ông chỉ huy nhóm phía Nam của các lực lượng vũ trang. Từ năm 1962 đến 1965, ông là Tổng tham mưu trưởng của các lực lượng vũ trang hiệp ước Warsaw. Từ năm 1965 đến 1985, ông công tác trong Tổng thanh tra Bộ quốc phòng Liên Xô. Từ năm 1970 đến 1981,  ông là Chủ tịch Hội cựu chiến binh Liên Xô. Ông là Đại biểu của Xôviết tối cao Liên Xô các khóa 1,2 và 4,6.

Đại tướng P.I. Batov qua đời ngày 19 tháng 4 năm 1985 tại Matxcova. Mộ của ông được đặt trong nghĩa trang Novodevichem. Ông đã được tặng thưởng 8 Huân chương Linine, 4 Huân chương Cách mạng tháng 10; 3 Huân chương Suvorov hạng Nhất, 1 Huân chương Kutuzov hạng Nhất, 1 Huân chương Bogdan hạng Nhất, Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất…cùng nhiều Huân huy chương của các nước khác. Tượng bán thân bằng bạc của ông được đặt tại thành phố Rybinsk, Roslavskaya Oblast. Một tượng bán thân khác của ông cũng được đặt tại trung tâm thành phố Gomel thuộc Belorussia. Bảo tàng về ông cũng được xây dựng ngay trên quê hương nơi sinh ra người anh hùng.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 01 Tháng Chín, 2008, 02:14:32 am
(http://img254.imageshack.us/img254/3505/armygeneralbeloborodovajq3.jpg)
Đại tướng A.P. Beloborodov (31/01/1903-01/09/1990)

Đại tướng Beloborodov Afanasy Pavlantevich sinh ngày 31 tháng 1 năm 1903 tại làng Akinino, bây giờ thuộc vùng Irkutsk trong một gia đình nông dân Nga. Thành viên của Đảng Bolsevich từ năm 1926. Về trình độ học vấn, ông chỉ tốt nghiệp lớp 3 trường làng.

Gia nhập Hồng quân từ năm 1919-1920. Trong những năm tháng bảo vệ chính quyền cách mạng sau cách mạng tháng 10, ông chiến đấu tại vùng Viễn Đông trong trung đoàn Irkutsk số 8 trực thuộc sư đoàn súng trường Chita số 1.

Năm 1926, ông tốt nghiệp trường bộ binh Nizhniy-Bovgorod và giữ chức vụ trung đội trưởng. Sau khi hoàn thành khóa học về chính trị quân sự năm 1929, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chính trị viên của đại đội súng trường. Sau khi đại đội trưởng bị hy sinh trong khi chiến đấu tại Vooruzhennogo năm 1929, ông kiêm luôn chức vụ đại đội trưởng và đã chỉ huy rất thành công đơn vị của mình trong các trận chiến tiếp theo ở đây.

Năm 1936, ông tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên M.V. Frunze và giữ chức vụ phó rồi trưởng phòng hành quân bộ tư lệnh sư đoàn súng trường ở vùng Viễn Đông. Từ tháng  năm 1939, ông là trưởng phòng hành quân bộ tham mưu quân đoàn súng trường bộ binh số 31, và từ tháng 6 năm đó là tham mưu trưởng quân đoàn súng trường bộ binh số 43. Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1941, ông chỉ huy sư đoàn tham gia diễn tập chiến đậu tại mặt trận Viễn Đông.

Tháng 7 năm 1941, Đại tá A.P. Beloborodov là sư đoàn trưởng sư đoàn súng trường số 78, tháng 10 năm đó ông cùng sư đoàn được điều đến mặt trận phía Tây. Vì chủ nghĩa anh hùng tập thể, chiến đấu và lập công xuất sắc của toàn thể chiến sĩ trong sư đoàn tại vùng xung quanh Matxcova, tháng 11 năm 1941, sư đoàn được vinh dự mang tên sư đoàn cận vệ số 9 và ông được phong quân hàm thiếu tướng.

Mùa xuân và mùa hè năm 1942, sư đoàn súng trường vận vệ số 9 dưới sự chỉ huy của ông đã chiến đấu có kết quả trong đội hình của phương diện quân Tây Nam tại vùng Severskiy Donets. Từ tháng 10 năm 1942, ông chỉ huy quân đoàn súng trường cận vệ số 5, tham gia chọc thủng tuyến phòng thủ của quân phát xít trong chiến dịch Velikie Luki trong đội hình phương diện quân Kalinin. Từ tháng 8 năm 1943, ông là tư lệnh quân đoàn súng trường cận vệ số 2, các chiến sĩ của quân đoàn đã chiến đấu xuất sắc trong các chiến dịch tại quân Smolenskaya Oblast của thành phố Dukhovshchina ngày 19 tháng 9 năm 1943 và phía bắc của thành phố Vitebsk, Belorussia đầu năm 1944.

Từ ngày 22 tháng 5 năm 1944, trung tướng A.P. Beloborodov là tư lệnh tập đoàn quân số 43. Các chiến sĩ Hồng quân thuộc tập đoàn trong đội hình của phương diện quân Baltic số 1 trong chiến dịch Vitebsk-Orsha đã thọc sâu vào tuyến phòng thủ Eshelonirovannuyu của kẻ thù, vượt sông Tây Dvina và cùng với tập đoàn quân số 39 bên cạnh của phương diện quân Belorussian bao vây tiêu diệt nhóm quân Vitebsk của phát xít .

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 22 tháng 7 năm 1944 cho những chiến công và sự chỉ huy bộ đội mưu trí trong chiến dịch Vitebsk, ông được vinh dự phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Năm 1944, ông đã chỉ huy thành công tập đoàn quân số 43 tại Polotsk, Shaulyayskoy, Riga và Memel, và năm 1945, khi tập đoàn quân về đứng chân trong đội hình của phương diện quân Belorussia số 2, trong quá trình diễn ra các chiến dịch Insterberg-Koenigsberg, Koenigsberg và Zemlandskoy.

Ngày 19 tháng 4 năm 1945, vì lí do chủ nghĩa anh hùng cá nhân và sự can đảm trong quá trình tấn cong Koenigsberg, ông được phong danh hiệu anh hùng Liên Xô, Huy chương Sao vàng lần thứ 2.

Tháng 8 và tháng 9 năm 1945, thượng tướng A.P. Beloborodov chỉ huy tập đoàn quân cờ Đỏ số 1 của phương diện quân Viễn Tây số 1, tham gia đập tan đạo quân Quan Đông của Nhật.

Sau chiến tranh, từ năm 1946 đến 1953, ông là Tư lệnh tập đoàn quân sau đó phụ trách huấn luyện chiến đấu của binh chủng súng trường, phó tư lệnh bộ phận các lực lượng vũ trang miền trung. Từ năm 1955, ông là tư lệnh các lực lượng vũ trang phân khu quân sự Voronezh, từ năm 1957 phụ trách quản lí và chỉ huy tại Bộ quốc phòng Liên Xô. Năm 1963, ông được phong quân hàm Đại tướng. Cùng năm này, ông được đề bạt chức vụ tư lệnh phân khu quân sự Moskovskogo. Từ năm 1968, ông là thanh tranh của Bộ quốc phòng Liên Xô.

Ông là thành viên của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1966 đến năm 1971. Đại biểu của Xôviết tối cao khóa 3 và 7. Ông mất ngày 1 tháng 9 năm 1990 và được chôn tại nghĩa trang Liệt sĩ tại Matxcova.

Ông được tặng thưởng 5 Huân chương Lenine, 5 Huân chương Cách mạng tháng 10, Huân chương Suvorov hạng Nhất và Nhì, Huân chương Kutuzov hạng Nhì, Huân chương vệ quốc hạng Nhất…và nhiều loại huân huy chương của các nước. Tại thành phố Irkutsk có đặt bức tượng bán thân của ông.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 06 Tháng Chín, 2008, 02:55:32 am
(http://www.bloggang.com/data/mig/picture/1190792934.jpg)
Trung tướng Artem Mikoyan (1905-1970)

Ông sinh ra trong một gia đình thợ mộc. Năm 1918, bố ông đột ngột qua đời khi ông mới 13 tuổi. Mikoyan đã phải lang thang tới Tbilisi để kiếm sống và hy vọng có cơ hội học tập. Năm 1918, ông tới thành phố Rostov, xin vào học tại trường dạy nghề của nhà máy ‘’Aksai Đỏ’’. Tháng 11 năm 1925, ông tới Matxcova làm thợ tiện tại nhà máy Dinamo và bắt đầu đảm trách các công tác Đảng. Cuối năm 1928, ông gia nhập Hồng quân.

Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, Liên Xô đẩy mạnh chính sách hiện đại hóa ngành sản xuất máy bay. Đó là lý do khiến ngành này rất cần những chuyên gia có kiến thức. Chính vào thời điểm này, số phận của Mikoyan lại chuyển sang một bước ngoặt quan trọng, khi ông có mặt trong số những Đảng viên trẻ ưu tú được cử vào học tại Học viện Không quân mang tên Zukovski, trước khi tốt nghiệp vào tháng 10 năm1937 với bằng Kỹ sư Cơ khí của Không quân, ông đã làm quen với công việc thiết kế ngay từ hồi còn ở Học viện – ông đã cùng một nhóm bạn cùng lớp đã thiết kế thành công một kiểu mẫu máy bay đầu tiên của riêng mình.

Theo giới thiệu của hội đồng thi quốc gia, Mikoyan được cử tới công tác và học tập thêm tại Nhà máy Chế tạo máy bay số 1. Chính tại môi trường thuận lợi này, Mikoyan đã biết cách thể hiện và phát triển những khả năng đặc biệt của mình. Chỉ sau nửa năm, ông đã trở thành người đứng đầu Ban thiết kế đặc biệt, khi đó chuyên tập trung chế tạo và sản xuất loại máy bay tiêm kích tốc độ cao I-200 (còn có tên là MiG-1). Với tài năng và sự lao động quên mình, nhóm thiết kế do Mikoyan đứng đầu đã hoàn thành việc chế tạo chiếc MiG-1 trong thời gian kỷ lục là 4 tháng. Sau khi loại máy bay này được sản xuất hàng loạt và trang bị cho không quân vào cuối tháng 10 năm 1940, Mikoyan được phong làm kỹ sư trưởng tại Nhà máy Chế tạo máy bay số 1. Đó có thể coi là một sự thăng tiến hết sức nhanh chóng và tuyệt vời.

Ngay trước chiến tranh, loại MiG-1 đã được sửa đổi và cải tiến thêm để trở thành máy bay MiG-3. Trong thời gian chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân các dân tộc Liên Xô, loại máy bay này được sản xuất hàng loạt và tham gia chiến đấu ngay từ những ngày đầu tiên. Tính ra, đã có tất cả 100 chiếc MiG-1 và 3.172 chiếc MiG-3 được chế tạo để phục vụ chiến đấu.

Ngay trong giai đoạn 1941-1945, nhóm kỹ sư thiết kế dưới sự lãnh đạo của Mikoyan và Gurevich đã thiết kế tổng cộng 15 loại máy bay khác nhau như MiG-1, MiG-3, MiG-7, DIS-200, MiG-9M-82, I-211, MiG-3U, I-231, I-220, I-221, I-222, I-224, I-225, I-250 và MiG-8. Tháng 3 năm 1942, Mikoyan được bổ nhiệm làm Giám đốc và kỹ sư trưởng của Nhà máy Thử nghiệm không quân số 155. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của ông trên cương vị này là thiết kế loại máy bay tiêm kích phản lực MiG-9 (còn gọi là I-300). Những chuyến bay thử nghiệm đầu tiên cho thấy, loại máy bay này có các tham số bay vượt trội đáng kể so với những loại tiêm kích thông dụng hồi đó. Tốc độ bay tối đa của nó có thể lên tới 911 km/giờ.

Nhưng phải đến loại tiêm kích MiG-15 dạng cánh cụp mới bắt đầu mang lại cho Mikoyan sự nổi tiếng trên toàn thế giới. MiG-15 đã được mệnh danh là ‘’máy bay-chiến sĩ’’ nhờ tính đơn giản về cấu trúc, công nghệ, khả năng chiến đấu, sự tin cậy khi vận hành cùng với một loạt các tham số bay kỹ thuật và chiến đấu khác. Theo nhiều chỉ số, MiG-15 và MiG-15bis đã vượt trên tất cả những máy bay tiêm kích thời đó và mở ra một thời đại mới của những chiếc máy bay đạt tới ngưỡng vận tốc âm thanh. MiG-15 và các phiên bản cải tiến của nó đã được sản xuất hàng loạt tại 9 nhà máy không quân trong giai đoạn từ năm 1949 đến 1959 với tổng cộng hơn 13.000 chiếc. Ngoài ra, loại máy bay này còn được triển khai sản xuất hàng loạt tại Ba Lan và Tiệp Khắc. MiG-15 đã chứng minh được ưu thế vượt trội của mình trước các máy bay của Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và được coi là loại máy bay tiêm kích tốt nhất hồi đầu những năm 50.

Loại máy bay MiG-17 (loại tiêm kích đầu tiên được trang bị cho Không quân Việt Nam) được sản xuất từ năm 1949 được coi là bước phát triển tiếp theo từ loại MiG-15bis. Trong giai đoạn 1952-1955, đã có hơn 8.000 máy bay MiG-17 các phiên bản được Liên Xô sản xuất tại 8 nhà máy khác nhau, trong đó có cả ở Ba Lan, Tiệp Khắc và Trung Quốc. Kỷ nguyên chế tạo máy bay siêu âm của Liên Xô được Mikoyan bắt đầu với loại tiêm kích MiG-19. Đây cũng là loại máy bay tiêm kích siêu âm đầu tiên được sản xuất hàng loạt với tổng cộng 1.890 chiếc trong giai đoạn 1955-1959. Tên tuổi nhà kiến trúc sư hàng không tài ba của Xôviết đã trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới. Như tạp chí phương Tây ‘’Flight Review’’ số 5 năm 1964 đánh giá: ‘’MiG-19 đã khẳng định uy tín của Mikoyan như là một kiến trúc sư hàng không, đã chế tạo được loại máy bay tiêm kích đơn giản với những tính năng bay chất lượng cao chỉ trong một thời gian kỷ lục chưa từng có tại phương Tây’’.

Nhưng chính loại siêu tiêm kích MiG-21 mới đánh dấu một bước tiến dài của Mikoyan. Mức độ kỹ thuật và công nghệ cao của MiG-21 đã đưa loại máy bay này vào hàng ngũ những loại tiêm kích hàng đầu trên thế giới. MiG-21 đã xác lập được tổng cộng 17 kỷ lục về tính năng bay trên thế giới. 16 phiên bản của loại máy bay này đã được sản xuất hàng loạt trong suốt 30 năm và có mặt trong thành phần trang bị của lực lượng không quân tại hơn 49 nước trên khắp thế giới. MiG-21 cho tới giờ vẫn tỏ ra hoàn thiện hơn các loại máy bay tương tự của Mỹ như F-15 C/D Eagle và F-16 C/D Fighting Falcon.

Đến cuối năm 1956, Artem Mikoyan được bổ nhiệm vào cương vị tổng công trình sư. Tháng 4 năm 1959, ông được phong hàm tiến sĩ khoa học và đến tháng 11 năm 1968 trở thành viện sĩ khoa học. Ông còn được bầu làm thành viên Xôviết tối cao trong giai đoạn 1950-1970. Những loại máy bay cuối cùng được chế tạo dưới sự lãnh đạo của Mikoyan là MiG-23 và MiG-25. Trong đó MiG-23 là loại máy bay tiêm kích phản lực thế hệ 3 đầu tiên được sản xuất hàng loạt. Còn loại MiG-25 là một trong những dự án thiết kế ấn tượng nhất cho tới thời điểm hiện nay. Nó có thể bay với vận tốc gấp 3 lần âm thanh, vượt trên tất cả những máy bay tiêm kích khác trên thế giới về tốc độ tối đa và tầm cao.

Artem Mikoyan qua đời vào ngày 9/12/1970 sau một đợt ốm kéo dài. Độ tuổi 65 khi ông ra đi vẫn được coi là thời kỳ bùng nổ khả năng sáng tạo của tổng công trình sư này. Đáng ra, ông còn có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho Hàng không Xôviết nếu như sống thêm được 5 hay 10 năm nữa. Dù sao, trong suốt thời gian cống hiến không mệt mỏi của mình, Mikoyan đã để lại cả một di sản khổng lồ. Ông đã tham gia trực tiếp trong việc chế tạo hơn 50 mẫu máy bay tiêm kích, tên lửa có cánh và máy bay thử nghiệm khác nhau. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, Mikoyan đã có những đóng góp lớn trong việc phát triển và chinh phục những vận tốc và độ cao lớn của máy bay, đồng thời với việc đảm bảo tốt khả năng điều khiển và tự động hóa.

Artem Kikoyan còn xây dựng được cả một trường đào tạo về thiết kế máy bay của riêng mình, góp phần xây dựng cả một đội ngũ kiến trúc sư hàng không có trình độ cao của Liên Xô. Sau khi Mikoyan mất, một tổng công trình sư khác là R.Beliakov đã kế tục rất thành công sự nghiệp của ông. Ngoài những phiên bản cải tiến của MiG-23 và MiG-25, tập thể các chuyên gia Hàng không Xôviết còn chế tạo ra máy bay tiêm kích - ném bom MiG-27, tiêm kích hạng nhẹ MiG-29, tiêm kích đánh chặn MiG-31. Hiện các học trò của Mikoyan đang tiếp tục nghiên cứu chế tạo loại máy huấn luyện hiện đại MiG-AT, máy bay tiêm kích đa chức năng MFI thế hệ thứ 5 và máy bay vận tải đa chức năng MiG-110.







Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 19 Tháng Chín, 2008, 02:33:33 pm
(http://img227.imageshack.us/img227/5028/ivanpanfilovgj0.jpg)
Thiếu tướng Cận vệ I.V. Panfilov (01/01/1893-18/11/1941)

Thiếu tướng I.V. Panfilov sinh ngày 1 tháng 1 năm 1893 tại thành phố Petrovske, vùng Saratov của Nga. Ngay từ khi mới lên 12 tuổi, ông đã phải đi làm thuê, năm 1915 ông bị gọi vào trong quân đội Nga sa hoàng tham gia vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong cùng năm này, ông bị điều thẳng đến mặt trận Nga-Đức.

Năm 1917, cách mạng tháng 10 Xã hội Chủ nghĩa nổ ra thành công, chế độ phong kiến Nga sa hoàng bị lật đổ, nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới ra đời. Ông rời bỏ quân đội Nga hoàng tự nguyện ra nhập hàng ngũ của Hồng quân Công Nông và được phân về Trung đoàn bộ binh Saratov số 1 trực thuộc Sư đoàn Chapaevskaya số 25. Cùng đơn vị mình, ông tham gia chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ chống lại các lực lượng của Dutova, Kolchak, Denikina và những người Ba Lan bảo hoàng (1918-1923). Năm 1920, ông được kết nạp vào Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga (Đảng Bolsevich). Sau năm 1923, ông tốt nghiệp khóa học 2 năm tại Trường Bộ binh kết hợp ở Kiev và được phân về công tác tại Khu quân sự Trung Á tham gia tiễu trừ phỉ tại khu vự này.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, ông là Ủy viên quân sự của Xôviết Kirghiz. Sau khi Sư đoàn súng trường bộ binh số 316 được thành lập, ông được bổ nhiệm là Sư đoàn trưởng chỉ huy Sư đoàn đến tham chiến tại ngoại vi thủ đô Matxcova.

Trong nửa đầu tháng 10 năm 1941, Sư đoàn súng trường bộ binh số 316 có mặt trong đội hình của Tập đoàn quân số 16 và đảm nhiệm nhiệm vụ phòng thủ trên một hướng rộng, cửa ngõ vào thành phố Volokolamsk. Thiếu tướng I.V. Panfilov là người đầu tiến sử dụng rộng rãi chiến thuật phòng ngự với pháo chống tăng theo chiều sâu, ông đã tạo ra và sử dụng một cách tài tình trong chiến đấu các hàng rào chống tăng di động. Chính vì vậy, đã tăng cường đáng kể sức mạnh phòng thủ của sư đoàn và tất cả các nỗ lực tấn công của quân đoàn số 5 phat-xít nhằm bẻ gãy tuyến phòng thủ đã không thành công. Trong suốt 7ngày, Sư đoàn cùng với Trung đoàn Học viên quân sự S.I. Mladentseva cùng với các đơn vị pháo chống tăng phối hợp đã đáp trả đính đáng những đợt tấn công của kẻ thù.

Với mục đích chiếm lấy Volokolamsk, Hitler ra lệnh ném vào vùng này các đơn vị cơ giới hóa. Chỉ dưới sức tấn công của lực lượng kẻ thủ đông hơn gấp bội, các chiến sĩ của Sư đoàn mới phải rời khỏi Volokolamsk vào cuối tháng 10 năm 1941 và tham gia phòng thủ thành phố phía Đông.

Ngày 16 tháng 11 năm 1941, quân phát xít định tiến hành cuộc tấn công tổng lực lần thứ 2 vào thủ đô Matxcova. Những trận chiến đấu ác liệt chống lại kẻ thù gần Volokolamsk. Trong suốt ngày hôm đó, 28 chiến sĩ thuộc Sư đoàn Panfilov dưới sự chỉ huy của chính trị viên V.G. Klochkova đã đẩy lùi các đợt tấn công của xe tăng quân thù và giữ vững trận địa không để một chiếc xe tăng nào vượt qua về phía làng Mykanin tiến về thủ đô. Những chiến sĩ quả cảm này đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng quyết giữ vững trận địa.

Trong những điều kiện khó khăn nhất trong chiến đấu, Sư đoàn dưới sự chỉ huy I.V. Panfilov luôn luôn duy trì sự kiểm soát và quản lí khu vực phòng thủ của mình. Trong những trận chiến đấu tiếp theo đó tại cửa ngõ Matxcova, Sư đoàn không chỉ giữ vững trận địa mà còn mở những đợt phản công nhanh nhằm vào các đơn vị kẻ thù: sư đoàn tăng số 2, sư đoàn cơ giới hóa số 29, sư đoàn bộ binh số 11 và 110 tiêu diệt tổng cộng 9000 binh lính và sĩ quan phát xít, hơn 80 xe tăng cùng nhiều phương tiện chiến tranh, súng cối và vũ khí. Vì những thành tích chiến đấu trong quá trình bảo vệ cửa ngõ Matxcova cùng với chủ nghĩa anh hùng tập thể của các chiến sĩ ngày 17 tháng 11 năm 1941, ngày 18 tháng 11 Sư đoàn được vinh dự mang tên Sư đoàn Súng trường Cận vệ Cờ đỏ số 8. Cùng ngày này, Thiếu tướng Cận vệ I.V. Panfilov hy sinh gần Volokolamsk. Ông được chôn cất trong nghĩa trang Novodevichem tại Matxcova.

Thiếu tướng I.V. Panfilov được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô vào ngày 12 tháng 4 năm 1942 vì những thành tích nổi bật khi chỉ huy Sư đoàn của mình trong những trận đánh bảo vệ Matxcova cũng như quá trình chiến đấu dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng cá nhân.

Tên của ông đã được đặt cho thành phố Dzharkent và một khu định mới tại Kazakhstan, làng cổ Nikolaika tại Kirghizia, tên đường phố tại nhiều thành phố, làng, các con tàu, nhà máy xí nghiệp, các nông trường tập thể và cũng đặt cho sư đoàn súng trường cơ giới hóa cận vệ mà ông chỉ huy-Sư đoàn Panfilov.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Chín, 2008, 08:20:28 pm
(http://img502.imageshack.us/img502/4632/marshalakhromeevsergeyfya0.jpg)
Nguyên soái S.F. Akhromeev (05/05/1923-08/1991)

Nguyên soái Akhromeev Sergey Fedorovich sinh ngày 5 tháng 5 năm 1923 tại Vindrey thuộc vùng Torbeevskogo (nay là nước Cộng hòa Mordovia), Nga. Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1943.

Ông gia nhập Hồng quân từ năm 1940, tốt nghiệp: Cao đẳng Hải quân mang tên M.V. Frunze; năm 1942, tốt nghiệp Trường bộ binh Astrakhan; năm 1945, tôt nghiệp trường sĩ quan cao cấp Pháo tự hành của Quân chủng tăng thiết giáp và cơ giới hóa của Hồng quân; năm 1952, tốt nghiệp Học viện quân sự Tăng thiết giáp và cơ giới hóa của Quân đội Xôviết; năm 1967 tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1941, ông chiến đấu trong đội hình của Tiểu đoàn sung trường học viên Obedinennogo tham gia các trận đánh ở Leningrad.

Từ tháng 10 năm 1942 tới tháng 2 năm 1943, ông chỉ huy trung đội sung trường, sau đó là sĩ quan trợ lí tiểu đoàn trưởng, phó tham mưu trưởng trung đoàn sung trường, sĩ quan trợ lí tiểu đoàn sung trường cơ giới hóa của một lữ đoàn tăng; từ tháng 7 năm 1944 chỉ huy tiểu đoàn tiểu lien trực thuộc lữ đoàn pháo binh cơ giới hóa tham gia các trận đánh với quân phát xít xâm lược tại Leningrad, Stalingrad, Phương diện quân Nam và Ukrainian số 4.

Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh vệ quốc, tháng 6 năm 1945 ông là Tiểu đoàn phó rồi Tiểu đoàn trưởng xe tăng. Từ tháng 7 năm 1952 đến tháng 8 năm 1955 ông là Tham mưu trưởng của trung đoàn cơ giới hóa; từ tháng 9 năm 1955 Trung đoàn trưởng xe tăng. Từ tháng 12 năm 1957, là Sư đoàn phó Sư đoàn sung trường cơ giới sau đó là tham mưu trưởng sư đoàn xe tăng. Từ tháng 12 năm 1960 là sư đoàn trưởng sư đoàn xe tăng của quân khu Belorussian, từ tháng 4 năm 1964 là sư trưởng sư đoàn xe tăng huấn luyện.

Sauk hi tốt nghiệp ở Học viện Bộ tổng tham mưu, tháng 5 năm 1972 ông là phó tư lệnh thứ nhất kiêm tham mưu trưởng của quân khu Viễn Tây. Từ năm 1974 đến 1979, ông là Phó tổng tham mưu, từ tháng 2 năm 1979 ông là Phó tư lệnh thứ nhất của các lực lượng vũ trang Liên Xô.

Vì những thành tích chỉ huy quân đội Liên Xô tại Afghanistan cùng với công lao xây dựng phát triển các lực lượng vũ trang Liên Xô sau chiến tranh, theo quyết định của Xôviết tối cao, ngày 7 tháng 5 năm 1982, ông được phong tặng danh hiệu Anh hung Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng. Ông được phong quân hàm Nguyên soái vào năm 1983.

Từ tháng 9 năm 1984 đến tháng 12 năm 1988, ông là Tổng tham mưu trưởng kiêm Thứ trưởng Quốc phòng Liên Xô. Sau đó, ông làm công tác thanh tra trong quân đội, cố vấn của chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô, cố vấn của tổng thống Liên Xô. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1983 (Ủy viên dự khuyết từ năm 1981). Phó Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô nhiệm kỳ thứ 11. Ủy viên nhân dân (Đại biểu quốc hội) của Liên Xô từ năm 1989. Năm 1981, ông được vinh dự tặng giải thưởng Lenine.

Vào năm 1991, cùng với sự kiện Hệ thống Xã hội Chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ, nguyên soái S.F. Akhromeev tự tử sau khi đã cố gắng không thành trong việc loại bỏ quyền lực của Tổng thống Liên Xô trong thời kì hoạt động (từ 19 đến 21 tháng 9 năm 1991 của Ủy ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp của Liên Xô. Lí do để ông tìm đến cái chết được ghi trong lá thư, có đoạn: ‘’Tôi không thể sống khi mà tổ quốc bị diệt vong và bị tàn phá tất cả, nó được coi như là ý nghĩa của đời tôi. Tuổi tác và quá khứ của tôi khiến cho tôi phải dời bỏ cuộc sống. Tôi đã chiến đấu cho đến lúc chết’’.

Ông đã được tặng thưởng 4 Huân chương Lenine, các Huân chương Cách mạng tháng 10, Huân chương vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương cờ đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ Tổ quốc trong các lực lượng vũ trang Liên Xô hạng Ba, nhiều Huy chương cùng với các Huân huy chương của các quốc gia khác trên thế giới.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Chín, 2008, 08:28:47 pm
(http://img206.imageshack.us/img206/2484/lieutenantgeneralakhmanxi2.jpg)
Trung tướng xe tăngA.O. Akhmanov (09/03/1897-17/11/1949)

Trung tướng Akhmanov Aleksey Osipovich sinh ngày 9 tháng 3 (tức ngày 25 tháng 2 theo lịch Nga cũ) năm 1897 tại Alat (bây giờ là Vysokogorskogo), vùng Tatarsan của Nga.  Sau khi học xong, ông làm việc cho các lò bánh mỳ ở Kazan.

Năm 1915, ông bị gọi vào quân đội Nga sa hoàng tham gia vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất và là hạ sĩ quan. Ông ra nhập Hồng quân Công Nông từ tháng 7 năm 1919 và hoàn thành khóa 1 bộ binh của Kazan vào năm 1920.

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ nhà nước Xôviết non trẻ (1918-1923): từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1920, ông là đại đội trưởng của Trung đoàn súng trường số 17; từ tháng 6 đến tháng 10 năm1920, ông là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn của Trung đoàn súng trường số 113; từ tháng 10 năm 1920, ông lần lượt giữ các chức vụ đại đội trưởng rồi phó chủ nhiệm trinh sát của Trung đoàn súng trường số 131. Ông tham gia vào các trận đánh ở mặt trận phía Bắc và phía Nam.

Năm 1922, ông tốt nghiệp Trường bộ binh của Quân khu Odessa và chỉ huy một đại đội trong Khu quân sự Kiev. Năm 1926, ông hoàn thành một khóa học quân sự ngắn ngày và được cử làm tiểu đoàn trưởng, phó tham mưu trưởng trung đoàn trực thuộc Khu quân sự Ukrainian. Tiếp đó, năm 1935, ông hoàn thành khóa học ở Học viện quân sự về Ôtô và Cơ giới hóa và được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn xe tăng. Năm 1938, ông tốt nghiệm Học viện quân sự phòng hóa. Từ đó, ông chỉ huy trung đoàn cơ giới hóa, sư đoàn hóa học cơ giới, lữ đoàn tăng rồi phó tư lệnh sư đoàn xe tăng tại Khu quân sự Matxcova. Từ tháng 4 năm 1941, ông chỉ huy sư đoàn xe tăng trong Khu quân sự phía Tây.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2: từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1941, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn xe tăng số 27 trực thuộc Phương diện quân phía Tây. Sư đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia vào các trận đánh phòng thủ tại các thành phố Baranovichi, Mogilev cho đến khi không còn khả năng chiến đấu và bị giải thể. Từ tháng 11 năm 1941, ông là tư lệnh của lực lượng tăng thiết giáp của Phương diện quân Kalinin, từ tháng 2 năm 1942 là phó tư lệnh của các lực lượng vũ trang Phương diện quân trực tiếp chỉ huy lực lượng tăng thiết giáp trong những trận đánh của lực lượng này. Ông đã tham gia vào những trận đánh bảo vệ thủ đo Matxcova. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1942, ông là tư lệnh của lữ đoàn xe tăng số 81 (Phương diện quân Kalinin). Tháng 10 năm 1942, ông là Phó tư lệnh Tập đoàn quân cận vệ số 1 phụ trách xe tăng (Phương diện quân Donskoy), tham giam và chiến dịch Stalingrad. Từ tháng 11 năm 1942, ông là phó tư lệnh phụ trách lực lượng tăng thiết giáp của Phương diện quân Tây Nam (từ tháng 10 năm 1943 đổi tên thành Phương diện quân Ukrainian số 3), tham gia giải phóng các tỉnh Rostov, Voronyezh, Donbass, mạn trái Ukraine.

Từ tháng 4 năm 1944, ông chỉ huy Quân đoàn thiết giáp số 23 (lần lượt thuộc các phương diện quân Ukrainian số 2 và 3), tham gia chiến dịch Yassy-kishinev giải phóng Rumania, Hungary và Austria. Từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1945, bộ phận Hồng quân dưới sự chỉ huy của ông đã không để cho phát xít vượt qua phần phía Tây của Budapest. Trong quá trình diễn ra chiến dịch Ozhestochennykh, các đơn vị của ông đã đẩy lùi các bộ phận của các sư đoàn tăng SS ‘’đầu lâu’’ và ‘’Viking’’ sau khi gây cho chúng những thiệt hại nặng nề.

Vì nghệ thuật chỉ huy hiệp đồng binh chủng cũng như sự gan dạ và chủ nghĩa anh hùng cá nhân, theo quyết định của Xôviết tối cao, ngày 28 tháng 4 năm 1945 ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh cho đến tháng 10 năm 1947, ông tiếp tục chỉ huy Quân đoàn tăng thiết giáp số 23, sau đó quân đoàn này đựoc tái tổ chức lại thành Sư đoàn tăng số 23. Năm 1948, ông tốt nghiệp khóa học cao cấp tại Học viện Bộ tổng tham mưu. Từ tháng 4 năm 1948, ông là tư lệnh của lực lượng Tăng thiết giáp và Cơ giới hóa trực thuộc Quân khu Belorussian.

Ông sống tại thành phố Minsk và tự vẫn vào ngày 17 tháng 11 năm 1949 và sau đó được chôn cất tại nghĩa trang quân sự tại thành phố Minsk. Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Kutuzov hạng Nhất, Huân chương Suvorov hạng Nhì và nhiều Huy chương khác.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Chín, 2008, 05:03:25 pm
(http://img504.imageshack.us/img504/1702/marshalgeneralbatitskiypk5.jpg)
Nguyên soái P.F. Batitskiy (27/06/1910-17/02/1984)

Nguyên soái Batitskiy Pavel Fedorovich sinh ngày 27 tháng 6 năm 1910 tại thành phố Karkov (Ukraine), Nga. Đảng viên Đảng Cộng sản (Bolsevich) Nga từ năm 1938. Ông nhập ngũ năm 1924, tốt nghiệp Trường kỵ binh năm 1929 và Học viện quân sự M.V. Frunze năm 1938. Lần lượt chỉ huy trung đội, đội kỵ binh, sĩ quan đặc phái của Bộ tổng tham mưu, tham mưu trưởng của lữ đoàn cơ giới hóa, rồi sư đoàn.

Trong suốt thời gian của chiến tranh thế giới lần thứ 2, từ tháng 11 năm 1941 ông chỉ huy Sư đoàn súng trường số 254 tại phương diện quân Tây Bắc, chiến đấu ở thành phố Demyansk. Sư đoàn của ông đã đẩy lùi các đợt tấn công của quân phát xít, không cho chúng phát triển theo tuyến đường cao tốc nối liền thành phố cổ Russo với Demyansk. 

Từ tháng 7 năm 1943, ông chỉ huy lần lượt chỉ huy các quân đoàn súng trường số 73, 50, 128 tại thảo nguyên Voronezh, phương diện quân Ukraine số 1 và 2, phương diện quân Belorussian số 1 và 3. Tham gia giải phóng Ukraine, Moldavia, Belorussia, cùng các chiến dịch quân sự trong suốt quá trình vượt sông Dnepr tới phía Nam của Kaneva và chiếm lĩnh bờ phía phải của sông.

Tháng 11 đến tháng 12 năm 1943, quân đoàn súng trường số 43 dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng P.F. Matitsky đã vượt sông Dnepr thành công tại địa phận quận Cherkassy và hội quân với Tập đoàn quân số 52 của Phương diện quân Ukrainian vào ngày 14 tháng 12 năm 1943 tham gia giải phóng thành phố này khỏi quân chiếm đóng phát xít.

Vai trò quan trọng của quân đoàn súng trường số 73 dưới sự chỉ huy của ông trong quá trình bao vây và tiêu diệt quân phát xít ở Korsun-Shevchenkovskiy từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1944, và giải phóng các thành phố Uman, Beltsy. Ngày 26 tháng 3 năm 1944, trong đội hình của Phương diện quân Ukraine số 2, Quân đoàn là một trong những đơn vị đầu tiên tiến vào biên giới Liên Xô và Rumania và vượt sông Prut chảy qua địa phận thành phố Skulyany.

Trong chiến dịch tiến công Belorussian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1944, Quân đoàn súng trường số 128 dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Batitskiy tấn công chớp nhoáng chọc thủng tuyến phòng thủ phía nam Bobruysk, cùng với các đơn vị khác của Phương diện quân Belorrusian tham gia giải phóng các thành phố Baranovichi, Brest…rồi vượt sông. Trong giai đoạn cuối của chiến tranh vệ quốc, các đơn vị của quân đoàn tách ra phối hợp với các đơn vị khác tham gia giải phóng Ba Lan, đập tan cụm quân phát xít Đức lớn ở phía Đông Prusii, tha gia tấn công Berlin, giải phóng Prague.

Sau chiến tranh, ông theo học và tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu vào năm 1948 và giữ chức vụ Tham mưu trưởng Khu vực phòng không Matxcova cho tới năm 1950. Từ năm 1950 đến 1953, ông là tham mưu trưởng, từ năm 1953 đến 1954 là phó tư lệnh thứ nhất của các lực lượng vũ trang Quân khu Matxcova.

Ở vị trí này, ngày 26 tháng 6 năm 1953, Trung tướng P.F. Batitskiy cùng với tư lệnh phòng không Matxcova thượng tướng C.C. Moskalenko, Nguyên soái Liên Xô G.K. Zhukov tham gia bắt giữ, trong cuộc họp của Đoàn chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, Bộ trưởng nội vụ Liên Xô, Nguyên soái L.P. Beria, người sau đó bị kết tội chống Đảng, phản động, gây thiệt hai cho nhà nước Xôviết, và bị tước bỏ mọi chức vụ, quân hàm cũng như danh hiệu anh hùng Liên Xô và bị xử bắn vào ngày 23 tháng 12 năm 1953.

Từ năm 1954 đến 1965, ông là Tư lệnh bộ đội cơ giới hóa của Matxcova, từ 1965 đến 1966, ông giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất của Liên Xô.

Ngày 7 tháng 5 năm 1965, ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng do những thành tích trong quá trình chỉ huy bộ đội cùng với phẩm chất anh hùng cá nhân trong quá trình chống phát xít Đức xâm lược.

Từ năm 1966, ông chỉ huy các Binh chủng Phòng không kiêm Thứ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô, đồng thời chỉ huy lực lượng phòng không kiêm phó tư lệnh khối quân sự Warsaw. Năm 1968, ông được phong quân hàm nguyên soái Liên Xô. Từ năm 1978, ông tham gia công tác thanh tra của Bộ quốc phòng. Ông là Ủy viên ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô từ năm 1966 (ủy viên dự khuyết từ 1961), Phó chủ tịch Xôviết tối cao từ khóa 6 đến khóa 10.

Ông mất ngày 17 tháng 2 năm 1984 tại Matxcova và được chôn cất tại nghĩa trang Novodevichem. Ông được tặng thưởng 5 Huân chương Lenine, Huân chương cách mạng tháng 10, 5 Huân chương Kutuzov hạng nhất, Suvorov hạng Nhì, Kutuzov hạng Nhì, Huân chương phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng ba và nhiều Huy chương cùng các huân huy chương của các nước khác.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Chín, 2008, 05:06:07 pm
(http://img220.imageshack.us/img220/2973/majorgeneralbaklanovgleis1.jpg)
Thượng tướng cận vệ G.V. Baklanov (14/08/1910-16/01/1976)

Thượng tướng Baklanov Gleb Vladimirovich sinh ngày 14 tháng 8 năm 1910 tại Matxcova, Nga. Ông gia nhập Quân đội Xôviết từ năm 1932, được kết nạp vào Đảng Cộng sản (Bolsevich) từ năm 1940. Tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên M.V. Frunze rồi toết nghiệp Học viện quân sự Bộ tổng tham mưu vào năm 1948.

Từ năm 1933, ông lần lượt giữ các chức vụ trung đội trưởng trồi đại đội phó; từ năm 1937, ông là tham mưu trưởng tiểu đoàn rồi trung đoàn súng trường. Là người có năng khiếu thể thao, ông tích cực tham gia các hoạt động thi đấu và là vô định Matxcova về thể dục. Từ năm 1939 đến 1940, ông tham gia vào cuộc chiến tranh Liên Xô-Phần Lan.

Ông có mặt trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân các dân tộc Liên Xô ngay từ những ngày đầu tiên, là: tham mưu trưởng của trung đoàn súng trường cơ giới hóa; từ tháng 8 năm 1941 là trung đoàn trưởng trực thuộc Phương diện quân Tây. Từ tháng 1 năm 1942, ông chỉ huy lữ đoàn súng trường, đơn vị này rất nổi tiếng trong những trận chiến ở gần Russo cũ của phương diện quân Tây Bắc. Từ tháng 8 năm 1942, là sư đoàn trưởng của Sư đoàn súng trường số 299, chiến đấu lần lượt tại các mặt trận Stalingrad rồi Donskoy. Sư đoàn do ông chỉ huy đã chiến đấu thắng lợi tại các trận đánh trong chiến dịch Stalingrad.

Từ tháng 5 năm 1943, ông là sư đoàn trưởng của Sư đoàn súng trường cận vệ số 13 trực thuộc Quân đoàn cận vệ số 5, tham gia giải phóng thành phố Poltava vào ngày 23 tháng 9 năm 1943, Kremenchug vào ngày 29 tháng 9 năm 1943 và vượt sông Dnepr. Do những thành tích trong quá trình giải phóng Poltava mà sư đoàn do ông chỉ huy được vinh dự mang tên Sư đoàn Poltava, theo quyết định của Tổng tư lệnh tối cao Đại nguyên soái I.V. Stalin.

Tháng 3 năm 1944, sư đoàn dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng G.V. Baklanov, trong đội hình của Phương diện quân Ukrainian số 2, trong chiến dịch Uman-Botoshanskoy tham gia chọc thủng tuyến phòng thủ của quân phát xít tại phía nam thành phố Kirovagrad, tấn công mạnh vào thành phố và làm chủ thành phố vào ngày 22 tháng 2 năm 1944.
Từ tháng 10 năm 1944, ông là quân đoàn trưởng Quân đoàn súng trường cận vệ số 34, trong đội hình của Phương diện quân Ukrainian số 1. Quân đoàn của ông chiến đấu ở thê đội 1 của Quân đoàn cận vệ số 5, tham gia bao vây quân phát xít tại thành phố Breslau; tháng 4 năm 1945, quân đoàn tham gia chiến dịch tiến công Berlin sào huyệt cuối cùng của quân phát xít. Nhiệm vụ của quân đoàn là chọc thủng tuyến phòng thủ của phát xít trên sông Neisse. Trong quá trình tiến công vào Berlin, quân đoàn đã làm chủ nhiều thành phố Đức trong đó có thành phố Dresden (ngày 8 tháng 5 năm 1945). Theo quyết định của Tổng tư lệnh tối cao Đại nguyên soái  I.V. Stalin, Quân đoàn của ông vinh dự mang phiên hiệu Dresden. Tháng 5 năm 1945, Quân đoàn tiếp tục tham gia vào chiến dịch giải phóng Prague.

Do những thành tích chỉ huy quân đoàn chiến đấu thắng lợi trong trận đánh Dresden cùng với những phẩm chất anh hùng cá nhân trong quá trình chỉ huy chiến đấu, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ngày 29 tháng 5 năm 1945, Thiếu tướng G.V. Baklanov được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, ông là Tư lệnh của Khu quân sự Carpathian. Từ tháng 6 năm 1948, ông Phụ trách công tác huấn luyện và thể thao của các lực lượng lục quân Liên Xô. Trong cùng năm này, năm của Thế vận hội thể thao Olympich lần thứ 14, ông giữ vài trò một trong những lãnh đạo của đòan thể thao Liên Xô lên đường tới Thủ đô Luân Đôn của Anh. Từ năm 1954 đến 1959, ông là Chủ tịch Ủy ban thể thao Liên Xô. Năm 1960, ông được phong quân hàm Thượng tướng. Từ tháng 5 năm 1960 đến tháng 9 năm 1964, ông là tư lệnh Khu quân sự Siberi, và từ năm 1964 đến 1967, chỉ huy bộ phận phía Bắc của Quân đội Xôviết. Ông là Đại biểu của Xôviết tối cao Liên Xô các khóa 6 và 7.

Ông mất ngày 16 tháng 1 năm 1976 tại Matxcova và được chôn cất tại nghĩa trang Novodevichem. Ông đã đựoc tặng thưởng 3 Huân chương Lenine, Huân chương Kutuzov hạng Nhất hạng Nhì, Suvorov hạng Nhì, Alexander, Sao đỏ, và nhiều Huy chương cũng như Huân huy chương của các quốc gia khác.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Mười, 2008, 08:06:39 pm
(http://img160.imageshack.us/img160/411/majorgeneralzubovpeteriub7.jpg)
Trung tướng cận vệ P.I. Zubov (04/06/1901-1957)

Trung tướng Zubov Peter Ivanovich sinh ngày 4 tháng 6 năm 1901 tại Ramava bây giờ là vùng Riga của Latvia trong một gia đình nông dân người Latvia.

Ông ra nhập Hồng quân Công Nông vào năm 1918, vào đầu thời kỳ của cuộc chiến tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1918-1923), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1923. Năm 1925, ông tốt nghiệp trường kỵ binh, và năm 1931, ông hoàn thành các khóa học về pháo binh cho sĩ quan tham mưu. Trước khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, ông là thiếu tá chỉ huy Trung đoàn kỵ binh cờ Đỏ Saratov số 11, trực thuộc Sư đoàn kỵ binh số 5, Quân đoàn kỵ binh số 2 của Đặc khu quân sự Kiev.

Trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến tranh vệ quốc: tháng 6 năm 1941, ông là trung đoàn trưởng kỵ binh tại các Phương diện quân Nam, Tây Nam và Tây. Trung đoàn của ông đã được điều đến chiến đấu tại các trận đánh ở gần biên giới, Chiến dịch phòng thủ Kiev, các trận phản công tại Romnami và Shtepovkoy, và vinh dự được tham gia chiến dịch bảo vệ Matxcova.

Vì những chiến công vào ngày 26 tháng 11 năm 1941, Trung đoàn kỵ binh cờ Đỏ Saratov số 11 đã được vinh dự manh tên Trung đoàn kị binh cờ Đỏ Saratov cận vệ số 1. Trong suốt cuộc đột kích Vyazemskogo nổi tiếng, Trung đoàn đã được điều tới thành phố Dorogobuzh vùng Smolenskaya Oblast để hỗ trợ những người du kích.

Mùa đông năm 1942, Thiếu ta P.I. Zubov được chỉ định giữ quyền chỉ huy Sư đoàn kỵ binh cận vệ số 2 thay cho Thiếu tướng N.S. Oslikovskogo bị bệnh và ông đã chỉ huy Sư đoàn tới tận tháng 5 năm 1942. Trong thời gian này, ông đã chỉ huy tốt sư đoàn trong những điều kiện rất thiếu thốn về nhân sự cũng như vũ khí. Sư đoàn do ông chỉ huy đã chiến đấu 5 tháng sau lưng quân phát xít lập nhiều chiến công. Trong thời gian này ông được phong vượt cấp lên thượng tá, sư đoàn trưởng.

Từ ngày 2 tháng 8 năm 1943 tới 5 tháng 4 năm 1944, Thượng tá P.I. Zubov là Sư đoàn trưởng Sư đoàn kỵ binh cận vệ số 13 thuộc Quân đoàn kỵ binh cận vệ số 6 của Phương diện quân Tây, rồi Ukraine số 1. Trong đội hình Quân đoàn kỵ binh cận vệ số 6, Sư đoàn tham gia các chiến dịch tấn công Smolensk, Rovno-Lutskoy. Sư đoàn cũng tham gia các trận đánh phối hợp kỵ binh diễn ra sâu phía sau  kẻ thủ, trong những điều kiện đầm lầy không thể vượt qua và những địa hình nhiều rừng làm chủ các thành phố Rovno, Lutsk và Zdolbunov.

Ngày 5 tháng 2 năm 1944, vì những thành tích nổi bật trong quá trình giải phóng Rovno, Sư đòan do ông chỉ huy đã được vinh dự mang phiên hiệu Rovenskaya. Tháng 3 năm 1944, trong thời gian diễn ra chiến dịch tấn công Proskurovo-Chernovitskoy, Sư đoàn tiếp tục tham gia giải phóng thành phố Dubna.

Ngày 17 tháng 1 năm 1944, theo quyết định số 64 của Hội đồng dân ủy nhân dân Liên Xô, Đại tá P.I. Zubov được phong quân hàm Thiếu tướng.

Từ ngày 18 tháng 7 năm 1944 tới khi kết thúc cuộc chiến tranh vệ quốc, Thiếu tướng Zubov là sư đoàn trưởng Sư đoàn súng trường Zhitomir 322 trực thuộc Tập đoàn quân số 60, Phương diện quân Ukraine số 1. Trong thời gian chỉ huy chiến dịch tấn công Lvov-Dandomir từ ngày 18 tới 27 tháng 7 năm 1944, Sư đoàn dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng P.I. Zubov đã chiến đấu giành nhiều thắng lợi bao vây và tiêu diệt cụm quân địch ở Brodskoy và L’vov. Sau đó, sư đoàn tham gia và các chiến dịch tấn công Vistula-Oder, hạ lưu Silesian, Moravian-Ostravskoy và Prague.

Ngày 29 tháng 6 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô, Thiếu tướng cận vệ P.I. Zubov được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong Hồng quân. Năm 1949, ông hoàn thành khóa học tại Học viện Bộ tổng tham mưu. Sau đó, ông là Phó tư lệnh của Quân khu Belorussian phụ trách huấn luyện và đào tạo.

Theo quyết định của Hội đồng bộ trưởng Liên Xô ký ngày 8 tháng 8 năm 1955, số 1449, Thiếu tướng P.I. Zubov được phong quân hàm Trung tướng.

Ông mất vào năm 1958 và được chôn cất tại thủ đô của Latvia, thành phố Riga. Ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Kutuzov hạng Nhì, Huân chương Bogdan Khmelniskogo hạng Nhì, Huân chương cờ Đỏ cùng nhiều Huy chương khác.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 16 Tháng Mười, 2008, 01:05:44 am
(http://img396.imageshack.us/img396/2236/majorgeneralryaposovnikvk6.jpg)
Thiếu tướng cận vệ N. I. Rvaposov (22/05/1909-01/1992)

Thiếu tướng Ryaposov Nikolai Ivanovich sinh ngày 22 tháng 5 (tức ngày 9 tháng 5 lịch Nga cũ) năm 1909 tại thành phố Nadezhdinske (từ năm 1939, là thành phố Serov), thuộc vùng Sverdlovsk bây giờ, trong một gia đình thợ lò của một nhà máy luyện kim người Nga. Do hoàn cảnh gia đình, ngay từ năm 14 tuổi ông đã phải lao động kiếm sống. Sau khi tốt nghiệp trường đào tạo nghề FZU của nhà máy luyện kim Omutninsk, ông làm thợ tiện. Sau đó, ông hoàn thành các khóa học của một viện công nghiệp. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1930.

Ông gia nhập Hồng quân Liên Xô vào năm 1931, tốt nghiệp trường pháo binh vào năm 1932 rồi Học viện Chính trị Quân sự mang tên V. I. Lenine vào năm 1941.

Tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại ngay từ những ngày đầu tiên (tháng 6 năm 1941), ông lần lượt chiến đấu tại các Phương diện quân Tây, Kalinin, Trung tâm, Belorussian số 3. Đặc biệt, ông có những đóng góp quan trọng trong các chiến dịch bảo vệ Matxcova, chiến dịch phản công của Hồng quân tại vòng cung Kursk, chiến dịch giải phóng Belorussia và đột kích vào Koenigsherg. Ông từng giữ các chức vụ : Ủy viên hội đồng trường pháo binh, Ủy viên hội đồng quân nhân Sư đoàn súng trường Ural số 375, Chính ủy Sư đoàn của Tập đoàn quân số 31 (từ 10 tháng 2 năm 1943 tới ngày 3 tháng 2 năm 1945), Ủy viên Hội đồng quân sự của Tập đoàn quân cận vệ số 2 và số 16 (từ năm 1941 tới 29 tháng 1 năm 1942 và từ 17 tháng 8 tới 26 tháng 8 năm 1945). Suốt cuộc chiến tranh vệ quốc, ông đã 2 lần bị thương.

Ngày 19 tháng 9 năm 1944, ông được phong quân hàm từ Đại tá lên Thiếu tướng theo quyết định Của Dân ủy Nhân dân Liên Xô.

Là thành viên của hội đồng quân sự của Tập đoàn quân cận vệ số 2 (Phương diện quân Belorussian), Thiếu tướng cận vệ N. I. Ryaposov tham gia soạn thảo các kế hoạch tấn công của Tập đoàn quân trong 2 năm 1944 và 1945, trong quá trình diễn ra các chiến dịch quân sự ở Belorussia, tiến về Lithuania, Đông Prussia. Trong chiến dịch tiến công Belorussian dưới mật danh Bagration, suốt quá trình tham gia giải phóng các thành phố của Belorussian như Orshi, Borisov, Minsk, Lidy, Grodno ông luôn có mặt tại các đơn vị đi đầu, trực tiếp chỉ huy.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 19 tháng 4 năm 1945, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến thắng của Hồng quân trước sự xâm lược của quân phát xít, ông tiếp tục tham gia vào cuộc chiến với phát xít Nhật ở phía Đông, đập tan các đạo quân Nhật ở Nam Sakhalin và đảo Kurile, trên cương vị Ủy viên Hội đồng quân sự của Tập đoàn quân số 16 trực thuộc Phương diện quân Viễn Đông số 2.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong Hồng quân. Năm 1949, ông tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu rồi ở lại Học viện công tác giữ chức vụ Phó chủ nhiệm khoa. Từ năm 1969, ông chuyển sang lực lượng dự bị. Ông sống tại thủ đô Matxcơva và mất vào tháng 1 năm 1992. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Ngôi sao đỏ…và nhiều Huy chương. Ông được nhà nước Rumanian, khi đó, tặng thưởng Huân chương 23 tháng 8.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Mười, 2008, 07:48:59 pm
(http://img518.imageshack.us/img518/122/rearadmiralkotovsergeyndp0.jpg)
Chuẩn Đô đốc S. N. Kotov (01/10/1912-16/10/1999)

Chuẩn Đô đốc Kotov Sergey Nikolayevich sinh ngày 18 tháng 9 lịch Nga (tức ngày 1 tháng 10) năm 1912 tại thành phố Kozlov bây giờ là thành phố Michurinsk vùng Tambovo của Nga. Sau khi tốt nghiệp lớp 9, ông theo học trường công nhân và làm người gác phanh xe lửa tại gha xe lửa Kochetovaka (giờ thuộc biên giới Michurinska). Nawm 1933, ông tốt nghiệp Học viện tiếp thị - thương mại Lenigrad.

Năm 1933, ông nhập ngũ và được phân về Quân chủng Hải quân. Năm 1937, ông tốt nghiệp Trường Hải quân mang tên Frunze và được cử giữ chức tổ trưởng tổ lái của tầu ngầm rồi tiểu đoàn trưởng. Tháng 6 năm 1941, ông hoàn thành khóa học đặc biệt cho các sĩ quan tham mưu hải quân và được điều thẳng đến Hạm đội biển Đen.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2: từ 7.1941 đến 8.1942, chỉ huy bay; 8-9.1942, thuyền trưởng; 9.1942-5.1945, tiểu đoàn trưởng của Lữ đoàn số 1 thuộc Hạm đội biển Đen. Ông tham gia vào các chiến dịch phòng thủ Odessa và Sevastopol, tham gia giải phóng Novorossisk, Crimea và Rumania. Bản thân ông đã hoàn thành 160 cuộc hành quân chiến đâu. Đơn vị do ông chỉ huy đã tấn công nhiều căn cứ, đường vận chuyển của kẻ thù, 198 tàu vận tải, tuần tiễu, quân chuyển khoảng 2000 bộ đội đổ bộ đường thủy thành công, cứu nạn trên biển 350 người, tiêu diệt 2 tàu vận tải, 4 tàu đổ bộ tốc độ ca, tàu tuần tiễu và bắn hạ 3 máy bay của quân phát xít.


Vì sự dũng cảm cũng như chủ nghĩa anh hùng trong chến đấu, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 16 tháng 5 năm 1944, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh ông tiếp tục giữ chứ vụ tiểu đoàn trưởng. Từ 1946 đến 1945, ông là tham mưu trưởng của Lữ đoàn Sevastopol số 1. Từ 8.1950 đến 2.1952, ông tham gia đào tạo và huấn luyện chiến thuật cho Hải quân Trung quốc. Năm 1959, ông được phong hàm Chuẩn Đô đốc. Từ 1952 đến 1970, ông là Chỉ huy đơn vị số 232 căn cứ Hải quân Kerch-Theodosius. Tháng 9.1970 Chuẩn Đô đốc Kotov nghỉ hưu.

Ông sống tại thành phố Theodosius thuộc Crimea và làm việc trong một nhà máy sửa chữa. Ông mất ngày 16.10.1999 và được chôn cất tại nghĩa trang Theodosius. ÔNg được tặng thưởng Huân chương Lenine, Huân chương Cách mạng tháng 10, 2 Huân chương Nakhimova hạng Nhì, Huân chương Vệ quốc Hạng nhất, Huân chương sao Đỏ, nhiều Huân huy chương của các nước trên thế giới. Tại Theodosius, tại ngôi nhà mà ông từng sống tại Michurinske, tại trường cấp 2 số 12 nơi mà ông đã học người ta đã cho dựng những tấm biển kỉ niệm.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Mười, 2008, 07:53:24 pm
(http://img392.imageshack.us/img392/3218/majorgeneralnikolayevaler8.jpg)
Thiếu tướng A. M. Nikolayev (11/10/1910-07/10/1991)

Thiếu tướng Nikolayev Aleksey Mikhaylovich sinh ngày 28 tháng 9 lịch Nga (tức ngày 11 tháng 10) năm 1910 tại làng Gusev nay là vùng Volokilamsk của Matxcova Nga. Năm 1927, ông học hết lớp 7 và sau đó làm việc tại nhà máy bơm Rublevskoy của Matxcova.

Ông nhập ngũ năm 1929. Năm 1930, tốt nghiệp Trường quân sự Matxcova và làm công tác khí tượng học tại phi đội độc lập số 24. Năm 1932, ông tốt nghiệp trường  quân sự Leningrad; năm 1933, tốt nghiệp khóa đào tạo phi công của Trường không quân Engelsskuyu. Sau đó ông công tác tại các đơn vị không quân ở biên giới, là Phó chỉ huy Phi đội.

Tháng 10 năm 1938, ông phục vụ tại Hạm đội Thái Bình Dương rên cương vị Phó chi huy và Ủy viên quân sự của phi đội, Chỉ huy phi đội không quân của trung đoàn không quân khu trục. Từ năm 1943, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích.

Tham gia vào cuộc chiến tiêu diệt phát xít Nhật năm 1945. Trung đoàn không quân tiêm kích dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia giải phóng Bắc Triều Tiên. Các phi công của Trung đoàn đã thực hiện hơn 120 nhiệm vụ chiến đấu, tiêu diệt 7 tàu vận tải và hộ tống của địch, 3 kho quân trang đạn dược và 11 xe lửa. Bản thân ông đã diệt 2 tàu vận tải của quân thù. Ngày 14 tháng 9 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô, Thiếu tá A. M. Nikolayev được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh, ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích số 60 của Hạm đội Thái Bình Dương. Từ tháng 1 năm 1946, ông là sĩ quan tham mưu của Bộ tham mưu Không quân của Quân chủng Hải quân. Từ 1947 đến 1948, ông là thanh tra trưởng của Không quân tiêm kích. Năm 1950, ông tốt nghiệp khóa học sĩ quan cao cấp của Học viện Không quân Monino. Từ 1950 đến 1951, ông phụ trách bộ phận Huấn luyện của Bộ tham mưu Binh chủng Không quân của Quân chủng Hải quân. Từ 1951 đến 1953, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân tiêm kích (ở vùng Baltic). Năm 1955, ông tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu. Từ tháng 11 năm 1955, ông phụ trách huấn luyện chiến đấu của Không quân chiến đấu thuộc bộ tham mưu của Lực lượng không quân của hải quân. Năm 1956, với quân hàm Thiếu tướng Không quân, ông chuyển nghạch dự bị.

Ông sống tại Matxcova và mất tại đây ngày 7 tháng 10 năm 1991. Phần mộ ông đặt tại nghĩa trang Mitino của Matxcova. Ông đã được thặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương Sao đỏ và nhiều Huy chương khác.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Mười, 2008, 07:56:24 pm
(http://img511.imageshack.us/img511/4135/majorgeneralmusatovnikozb7.jpg)
Thiếu tướng N. A. Musatov (19/11/1911-17/10/1965)

Thiếu tướng Musatov Nikolai Alekseyevich sinh ngày 6 tháng 11 (lịch Nga, tức ngày 19 tháng 11) năm 1911 tại Kemenka bây giờ thuộc vùng Uzlovskogo của Tula trong một gia đình nông dân người Nga. Năm 1929, ông làm việc trong nhà máy gạch Kupavka thuộc thành phố Voskresensk vùng Matxcova. Sau khi tốt nghiệp trường kĩ thuật công nghiệp xây dựng ông làm thợ điện. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1932.

Nhập ngũ năm 1933, ông được phân về Quân chủng Hải quân. Năm 1935, Ông tốt nghiệp phi công của Trường không quân Eyskuyu. Ông tham gia các trận chiến với lực lượng bạch vệ Ba Lan trong cuộc chiến 1939 và 1940. Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, ông tham gia chiến đấu ngay từ những ngày đầu quân phát xít tấn công Liên Xô, tháng 6 năm 1941.

Ông chiến đấu trong đội hình của Trung đoàn không quân trinh sát đường biển 119 thuộc Hạm đội biển Đen. Từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1942, trung đoàn của ông ở trong đội hình của nhóm không quân tác chiến trên biển thuộc vùng phòng thủ Novorossisk. Trung đoàn khi đó thường xuyên được gọi là Trung đoàn không quân oanh kích tầm xa vì các phi công của Trung đoàn không chỉ thực hiện các nhiệm vụ trinh sát trên biển mà còn thực hiện các nhiệm vụ tấn công: ví dụ như không kích và tấn công các mục tiêu là các tầu vận tải đường biển của phát xít. Cuối năm 1942 và đầu năm 1943, Thiếu ta N. A. Musatov được đề bạt giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân trinh sát biển số 119. Trong hồ sơ của các phi công biển, các chiến sĩ Hải quân biển Đen của Trung đoàn do ông chỉ huy đã thực hiện 4067 trận không kích, tiểu diệt 10 loại khác nhau của các phương tiện vận tải biển, tàu ngầm, 33 máy bay, 10 tầu tuần dương hạm, 44 kho tàng, pháo và pháo phòng không của phát xít.

Vì những thành tích chiến đấu với hiệu suất cao, Trung đoàn 119 Không quân do thám biên của Hạm đội biển Đen của ông đã được Dân ủy Nhân dân Hải quân quyết định ngày 22 tháng 1 năm 1944 trở thành Trung đoàn Không quân trinh sát biển cận vệ cờ Đỏ số 13 của Hạm đội biển Đen.

Là trung đoàn trưởng của Trung đoàn (trực thuộc Sư đoàn Không quân phóng lôi cận vệ số 2 trực thuộc Hạm đội biển Đen), cho đến tháng 5 năm 1945, Trung tá Musatov đã hoàn thành 247 nhiệm vụ chiến đấu. Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ngày 15 tháng 5 năm 1946, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục phục vụ trong Quân chủng Không quân của Hải quân. Năm 1951, ông tốt nghiệp Học viện Không quân. Năm 1961, Thiếu tướng Không quân N. A. Musatov chuyển sang ngạch dự bị vì lí do sức khỏe.

Ông sống tại thành phố Leningrad (từ năm 1991 là Saint Petersburg) và mất ngày 17 tháng 10 năm 1965. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Serafimovskom của thành phố.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, Huân chương Ushakov hạng Nhì, Huân chương Nakhimova hạng Nhì, Huân chương vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương sao Đỏ và nhiều huy chương.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Mười, 2008, 07:58:35 pm
(http://img337.imageshack.us/img337/3074/lieutenantgeneralbilaonrq5.png)
Trung tướng P. S. Bilaonov (17/10/1919-28/05/1996)

Trung tướng Bilaonov Pavel Semenovich sinh ngày 17 tháng 10 năm 1919 tại thành phố Shimanovsk vùng Amur trong một gia đình lao động người Osetin. Ông là thành viên của Đảng Cộng sản từ năm 1942. Tốt nghiệp trường cấp 2 tại thành phố Ordzhonikidze sau đó ông làm chỉ huy đội tàu tại nhà máy Electrozinc.

Năm 1937, ông nhập ngũ. Năm 1939, ông tốt nghiệp Trường bộ binh của thành phố và được bổ nhiệm giữ chức vụ trung đội trưởng súng máy tại thành phố Eyske. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 từ tháng 4 năm 1942, ông chiến đấu tại các Phương diện quân Stalingrad, Ukrainian số 2.

Chiến đấu tại mặt trận Leningrad trên cương vị sĩ quan tham mưu của Sư đoàn súng trường số 193, ông tham gia vào các trận chiến đấu tại Ozhestochennykh, chọc thúc tuyến phòng thủ của phát xít, giải phóng các trang trại lớn. Sau đó, phối hợp với bộ đội tăng đột kích vào các làng Platonov, Golubinovskogo, thượng Buzinovka. Trong trận chiến đó, đơn vị của ông chỉ huy đã diệt 300 và bắt làm tù binh 1200 binh lính và sĩ quan phát xít. Tháng 12 năm 1942, ông được đề cử giữ chức vụ tham mưu trưởng trung đoàn súng trường và sau đó là trung đoàn trưởng của trung đoàn này.

Trung đoàn do ông chỉ huy đã tham gia chiến đấu với quân phát xít trong vùng ‘’5 ngọn đồi’’, một vị trí kiên cố của quân phát xít, quét sạch chúng ra khỏi vị trí này. Quân phát xít đã chịu những tổn thất nặng nề về người và vũ khí đồng thời ông cũng bị thương nặng những kiên quyết ở lại chỉ huy bộ đội chiến đấu.

Trong quá trình vượt sống Dniester, một phần sư đoàn do ông chỉ huy đã tách ra khỏi đội hình sư đoàn bộ. Tối ngày 24 tháng 3 năm 1944, trung đoàn do ông chỉ huy là một trong những đơn vị đầu tiên vượt sông Dniester tại khu vực làng Lipchany của vùng Mogilev-Podolsk Vinnitsa. Ngay sau khi vượt qua được sông, đơn vị do ông chỉ huy đã làm chủ một trong những vị trí phòng thủ kiên cố của quân phát xít. Trong vòng 24 giờ, trung đoàn đã tiêu diệt 3 xe tăng, 60 cơ giới với nhiều đạn dược và vũ khí, bắt làm tù binh 150 tên phát xít.

Ngày 13 tháng 9 năm 1944, vì những thành tích nổi bật trong quá trình chỉ huy bộ đội vượt sông Dniester và giữ chốt tại bờ phải cùng với sự dũng cảm cá nhân và chủ nghĩa anh hùng Thiếu tá P. S. Bilaonovu được phong tặng danh hiệu Anh hùng cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng theo quyết định kí ngày 13 tháng 9 năm 1944 của Xôviết tối cao.

Sau chiến tranh, năm 1950 ông tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Frunze. Năm 1961, ốt nghiệp Học viện quân sự Bộ tổng tham mưu và năm 1969 tốt nghiệp khóa học sĩ quan cao cấp tại học viện này. Từ năm 1980, Trung tướng P. S. Bilaonov nghỉ hưu tại Kiev. Ông mất ngày 28 tháng 5 năm 1996 và được chôn cất tại nghĩa trang quân sự Lukyanovskom.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, Huân chương Suvorov hạng Ba, Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Sao đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng 3 cùng nhiều Huy chương khác.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Mười, 2008, 08:01:19 pm
(http://img413.imageshack.us/img413/2541/colonelgeneralshevtsovagg4.png)
Thượng tướng A. G. Shevtsov (17/10/1918-28/04/1988)

Thượng tướng Shevtsov Alexander Grigorevich sinh ngày 17 tháng 10 năm 1918 tại thành phố Shebekino thuộc vùng Belgorod trong một gia đình lao động người Nga. Học hết lớp 10 và là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1941.

Năm 1937, ông nhập ngũ. Năm 1940, tốt nghiệp khóa học đào tạo phi công của Trường không quân Chuguevskoe. Ông tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc ngay từ những ngày đầu tiên, tháng 6 năm 1941. Chiến đấu trong đội hình các phương diện quân Leningrad, Bryansk và Baltic số 1. Năm 1943, ông tham gia chiến dịch phản công lớn của Hồng quân tại vòng cung Kursk, rồi tham gia giải phóng các nước cộng hòa vùng Baltic khỏi ách chiếm đóng của quân phát xít Đức, có mặt trong đội hình Hồng quân đột kích vào Koenigsberg.

Tháng 8 năm 1943, hoa tiêu của Trung đoàn không quân tiêm kích số 171, Đại úy A. G. Shevtsov đã hoàn thành 220 nhiệm vụ chiến đấu, trong 47 trận không chiến ông tự mình bắn hạ 10 máy bay và cùng phi đội bắn rơi 6 máy bay khác của quân phát xít.

Khi được cử đến tham chiến trên bầu trời của Leningrad, ông đã bắn hạ 2 máy bay chiến đấu của kẻ thù. Sau đó, ông được cử bay trinh sát xung quanh thành phố. Tại khu vực quận Luga, ông đụng độ với các máy bay ném bom phát xít đang tiến về Leningrad. Ngay lập tức, ông cho máy bay của mình tiến thẳng về phía kẻ thù, nhanh chóng áp sát tấn công tiêu diệt chúng. Ngày 8 tháng 9 năm 1943, do những hành động chiến đấu dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng xuất hiện trong các rận không chiến với quân phát xít Đức xâm lược, ông được Xôviết tối cao Liên Xô phong tặng danh hiệu Anh hùng cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Cho đến kết thúc chiến tranh, ông đã tiến hành thành công 300 phi vụ không chiến, và tự mình bắn rơi 15 maý bay của kẻ thù.

Sau khi chến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong Không quân. Năm 1949, ông hoàn thành các khóa học tại Học viện quân sự mang tên Frunze. Năm 1951, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân cường kích tại Bắc Triều Tiên. Năm 1956, ông hoàn thành khóa học tại Học viện quân sự Bộ Tổng tham mưu.

Từ năm 1966 đến 1976, ông là Tham mưu trưởng – Phó tư lệnh thứ nhất của Quân chủng tên lửa chiến lược. Ông là Ủy viên Xôviết tối cao Nga nhiệm kỳ 5 và Xôviết tối cao Ukraine nhiệm kỳ 6. Từ năm 1976, Thượng tướng A. G. Shevtsov chuyển ngạch dự bị. Ông sống tại Matxcova và mất tại đó vào ngày 28 tháng 4 năm 1988, mộ của ông đặt tại nghĩa trang Kuntsevskom của Matxcova.

Ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Alexander Nevskiy, 2 Huân chương Vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương Sao đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng 3, nhiều huy chương và các huân chương của các nước trên thế giới.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 18 Tháng Mười, 2008, 08:04:53 pm
(http://img392.imageshack.us/img392/8628/colonelgeneraltrofimenkbr4.jpg)
Thượng tướng S. G. Trofimenko (22/09/1899-16/10/1953)

Thượng tướng Trofimenko Sergey Georgievich sinh ngày 22 tháng 9 năm 1899 tại thành phố Bryansk trong một gia đình thợ người Nga. Lúc còn nhỏ ông đã tốt nghiệp lớp 10. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1918.

Ông nhập ngũ vào năm 1919. Năm 1926, ông hoàn thành các khóa học quân sự ngắn, năm 1932 tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Frunze, năm 1937 tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu và năm 1949 tốt nghiệp khóa học sĩ quan cao cấp tại Học viện này.

Từ năm 1918 đến 1923, ông tham gia chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ trước các lực lượng bảo hoàng với sự giúp sức của 14 nước đế quốc, trưởng thành từ binh nhì lên tới trung đội trưởng rồi chỉ huy phó một đơn vị súng máy. Năm 1924, ông là ủy viên quân sự của trung đoàn súng trường, rồi tiểu đoàn trưởng. Tháng 5 năm 1932, ông là tham mưu trưởng sư đoàn súng trường, năm 1935, ông là trưởng phòng tác chiến bộ tham mưu Volga, sau đó là Quân khu Kiev. Từ tháng 7 năm 1938, ông là Tham mưu trưởng Tập đoàn quân Zhitomir, từ tháng 9 năm 1939, Tham mưu trưởng Tập đoàn quân số 5 trực thuộc Quân khu đặc biệt Kiev.

Ông đã tham gia vào cuộc hành quân giải phóng Tây Ukraine vào năm 1939. Trên cương vị Tham mưu phó của Tập đoàn quân số 7, ông cùng đơn vị được điều đến mặt trận với lực lượng bạch vệ Ba Lan vào năm 1939 và 1940.

Từ tháng 8 năm 1940, ông là Tham mưu trưởng Hồng quân tại khu vực Bắc Caucasian, từ tháng 1 năm 1941, ông là Tư lệnh các lực lượng vũ trang của các quân khu Trung Á.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, Tướnng S. G. Trofimenko lần lượt đảm nhiệm các chức vụ : phụ trách tác chiến (1941-1942), tư lệnh các Tập đoàn quân 32 (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1942), 7 (từ tháng 7 năm 1942 đến tháng 1 năm 1943) trực thuộc Phương diện quân Karelian và Tập đoàn quân số 27 (từ tháng 1 năm 1943 đến cuối cuộc chiến vệ quốc) tại Tây Bắc, Voronezh, Phương diện quân Ukrainian số 1, 2 và 3.

Các đơn vị dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia vào các chiến dịch tấn công tại Karelia, tham gia trận phản công tại vòng cung Kursk, tham gia giải phong Ukraine, rồi tới các chiến dịch tại Yassy-Kishinev, Debretsnskoy, Budapest, Balatonskoy và Viennese.

Do những thành tích chỉ huy trong các chiến dịch quân sự, ông đã được lưu vào sổ khen thưởng của Tư lệnh tối cao, Đại nguyên soái I. V. Stalin. Ngày 13 tháng 9 năm 1944, Trung tướng S. G. Trofimenko được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng. Ngay sau đó, ông được phong quân hàm Thượng tướng.

Sau chiến tranh, ông giữ chức Tư lệnh Hồng quân tại các quân khu Tbilisskiy (1945-1946), Belorrussian (1946-1949) và Bắc Caucasian (1949-1953). Ông được bầu làm Phó Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô các nhiệm kỳ 2 và 3. Ông mất ngày 16 tháng 10 năm 1953 tại Matxcova và yên nghỉ trong nghĩa trang Novodevichem.

Ông đã được Đảng và nhà nước Liên Xô tặng thưởng 4 Huân chương Lenine, 3 Huân chương Suvorov hạng Nhất, 2 Huân chương Kutuzov hạng Nhất, Huân chương Bogdan Khmelnitskogo hạng Nhất và nhiều huy chương khác.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Mười, 2008, 10:34:55 pm
(http://img60.imageshack.us/img60/9092/admiralsysoyevyurialexaxp7.jpg)
Đô đốc Y. A. Sysoyev (03/05/1927-16/10/2003)

Đô đốc Sysoyev Yuri Alexandrovich sinh ngày 3 tháng 5 năm 1927 tại thành phố Leningrad (năm 1965 là thành phố Anh hùng, từ năm 1991 là thành phố Saint Peterburg) trong một gia đình lao động người Nga. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1951.

Tốt nghiệp lớp 10 của Trường dự bị Hải quân Leningrad, sau đó ông phục vụ tại hạm đội Hải quân từ năm 1945. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trường cao đẳng hải quân mang tên Frunze và được điều về Hạm đội Baltic, trưởng thành từ thủy thủ tàu ngầm nhỏ loại M-31 tới chỉ huy tầu ngầm hạng trung S-264.

Tháng 7 năm 1961, sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy tàu ngầm APL ‘’K-133’’, và tháng 1 năm 1962 là chỉ huy tầu ngầm APL thuộc dự án 627 ‘’K-181’’ của Hạm đội biển Bắc.

Từ 25.9 tới 4.10.1963, tàu ngầm dưới sự chỉ huy của Đại úy cấp 2 Y. A. Sysoyev đã hoàn thành chuyến đi phối hợp xuyên qua lớp băng ở Bắc Cực và 6 giờ 45 phút ngày 29.9.1963, lần đầu tiên trong lịch sử, nổi lên đúng vào điểm cực bắc. 6 phút sau đó, chỉ huy của tàu ‘’K-181” dời khoang chỉ huy lên đài chỉ huy của thuyền trưởng và là lần đầu tiên của lịch sử hoạt động của tàu ngầm thế giới, một người ra khỏi tầu ngầm và đặt chân lên điểm cực bắc của Trái đất. Tiếp theo đó, theo mệnh lện từ xa của Đô đốc chỉ huy Hạm đội biển Bắc V.A. Kasatonov, các thủy thủ của tàu đã tiến hành dựng tại điểm cực Bắc cờ của Hải quân và Nhà nước Liên bang Cộng hòa Xôviết, khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ngày 18 tháng 2 năm 1964, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Năm 1968, ông hoàn thành khóa học tại Học viện Bộ tổng tham mưu và lần lượt chỉ huy hiệp đồng tác chiến của các đơn vị tàu ngầm tại Hạm đội Thái Bình Dương và Biển Bắc.

Từ tháng 12.1070 đến tháng 12.1974, ông chỉ huy Liên đội tàu ngầm Diesel số 6 tại Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương.

Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc. Từ năm 1974 đến 1976, ông chỉ huy Đội tàu ngầm số 3 của Hạm đội Cờ đỏ Biển Bắc. Ngày 13.2.1976, ông được phong quân hàm Phó Đô đốc.

Năm 1975, ông hoàn thành khóa học tại học viển, và năm 1976 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân Liên Xô.

Năm 1985, ông được phong quân hàm Đô đốc Hải quân. Từ năm 1990, ông chuyển ngạch sang dự bị và nghỉ hưu. Ông sống tại thành phố Matxcova anh hùng và mất tại đây vào ngày 16.10.2003. Phần mộ của ông được đặt tại nghĩa trang Troekurovskom. 

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, Các Huân chương Lao động cờ đỏ, Sao đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng Nhì và hạng Ba, cùng nhiều Huy chương. Ông còn được tặng thưởng Huân chương 9.9.1944 của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Bulgarie.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: rongxanh trong 25 Tháng Mười, 2008, 08:09:43 am
Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc.
=========
Cái này không chính xác!
Năm 1963 đã là đại úy, năm này có lẽ là đại tá (3 sao)!


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Mười, 2008, 05:14:42 pm
Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc.
=========
Cái này không chính xác!
Năm 1963 đã là đại úy, năm này có lẽ là đại tá (3 sao)!

Hic, một số quân đội các nước Captain là Đại tá hải quân. Cái đó dịch thế nào thì phải căn cứ vào hệ thống quân hàm của mỗi quốc gia ạ. Em cứ dịch sát nghĩa như thế. Captain, Captain 2em classe, Captain 1er classe. Nó tương ứng với Rear Adimral, Vice Admiral rồi Admiral ở quân hàm đô đốc.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: thainhi_vn trong 29 Tháng Mười, 2008, 01:12:47 pm
Quân hàm sĩ quan Hải quân Liên Xô (Tiếng Nga - Tiếng Anh - Tiếng Việt)

(http://uniforminsignia.net/_r/russia-sssr-navy_09.gif)
Младший лейтенант - Junior lieutenant - Thiếu úy

(http://uniforminsignia.net/_r/russia-sssr-navy_10.gif)
Лейтенант - Lieutenant - Trung úy

(http://uniforminsignia.net/_r/russia-sssr-navy_11.gif)
Старший лейтенант - Senior lieutenant - Thượng úy

(http://uniforminsignia.net/_r/russia-sssr-navy_12.gif)
Капитан лейтенант - Captain lieutenant - Đại úy

(http://uniforminsignia.net/_r/russia-sssr-navy_13.gif)
Капитан 3-го ранга - Captain 3rd class - Thiếu tá

(http://uniforminsignia.net/_r/russia-sssr-navy_14.gif)
Капитан 2-го ранга - Captain 2nd class - Trung tá

(http://uniforminsignia.net/_r/russia-sssr-navy_15.gif)
Капитан 1-го ранга - Captain 1st class - Đại tá


Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc.
=========
Cái này không chính xác!
Năm 1963 đã là đại úy, năm này có lẽ là đại tá (3 sao)!

Hic, một số quân đội các nước Captain là Đại tá hải quân. Cái đó dịch thế nào thì phải căn cứ vào hệ thống quân hàm của mỗi quốc gia ạ. Em cứ dịch sát nghĩa như thế. Captain, Captain 2em classe, Captain 1er classe. Nó tương ứng với Rear Adimral, Vice Admiral rồi Admiral ở quân hàm đô đốc.

Cái này không phải là có lẽ, mà là chính xác. Năm 1963 đã là Đại úy cấp 2 (Капитан 2-го ранга) thì ông đã là Trung tá rồi. 8 năm sau thì lên tướng

Trong Hải quân Liên Xô, Captain có nghĩa là thuyền trưởng, vì vậy phải dịch là Thuyền trưởng hạng 3, hạng 2, hạng 1. Tùy nghĩa mới tương đương cấp Thiếu, Trung hay Đại tá. Nếu không, ta sẽ có cái nghĩa buồn cười với các cấp Thiếu úy Hải quân thành Trung úy nhỏ, Thượng úy Hải quân thành Trung úy lớn, và Đại úy Hải quân thành Đại úy Trung úy  ;D


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Mười, 2008, 09:02:18 pm
Cái này cũng phức tạp phết các bác nhỉ  ;D

Em đưa ra một ví dụ nữa, trong quân đội Pháp chẳng hạn:

- Général de brigade
- Général de division
- Général de corp
- Général de l'armé

Nếu dịch tương đương sang bên Quân đội mình thì tương đương với: Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng, Đại tướng với Mỹ thì lại là Chuẩn tướng, Thiếu tướng, Trung tướng, Đại tướng nhưng mà nhìn vào bản chất cái anh Trung tướng bên họ khác với bên mình. Họ phân cấp theo đơn vị mà họ chỉ huy, ví dụ chỉ huy sư đoàn thì họ gọi là Trung tướng trong khi nhà mình chỉ Thượng tá hay Đại tá. Cho nên để hiểu rõ tốt nhất là đặt vào số quân họ chỉ huy.

Lại nữa là nhiều nước hệ thống quân hàm của Hải Lục Không quân nó không giống nhau, khó dịch tương đương lắm. Pháp chẳng hạn họ phải nói là trung úy lục quân (lieutenant) hay trung úy hải quân (lieutenant de vaisseau) vì họ suy tương đương ra là trung úy hải quân tương đương với đại úy lục quân ở chỗ: một đằng chỉ huy 1 đại đội, một đằng chỉ huy một thuyền.


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Mười Một, 2008, 04:48:59 am
(http://img231.imageshack.us/img231/8397/majorgeneralpaliyfedorppv7.th.jpg)
Thiếu tướng F. P. Paliy (05.06.1916)

Thiếu tướng Paliy Fedor Prokofevich sinh ngày 24 tháng 5 (lịch Nga, tức ngày 5 tháng 6) năm 1916 tại Kobrinovo bây giờ là vùng Talnoskogo thuộc Cherkass trong một gia đình nông dân người Ukrainian. Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1943. Năm 1930, ông tốt nghiệp lớp 7 cấp 2 và vào học trường kỹ thuật nông nghiệp năm 1935.

Ông gia nhập Hồng quân vào năm 1935. Năm 1937, tốt nghiệp Trường Không quân Kachinskuyu. Tham gia chiến tranh thế giới thứ 2 từ tháng 6.1941, ông chiến đấu tại các Phương diện quân Tây Nam, Stalingrad, Nam, Ukraine số 4, Belorussian số 3.

Ngày 26.6.1941, Phi đội trưởng Phi đội 86 của trung đoàn không quân ném bom Paliy tham gia chỉ huy đội hình 9 máy bay ném bom của Hồng quân phá hủy các khẩu đội pháo phòng không của phát-xít. Mặc dù bản thân phi đội là mục tiêu tấn công của các máy bay tiêm kích của kẻ thù, nhưng ông vẫn bình tĩnh chỉ huy phi đội đẩy lùi tất cả các cuộc tấn công của phát-xít và bỏ bom chính xác vào mục tiêu. Trong cuộc tấn công này, ông đã bị thương lần thứ nhất. Nhưng ông vẫn cố gắng chịu đựng vết thương và hướng dẫn đồng đội trở về sân bay và hạ cánh an toàn. Sau một thời gian ngắn điều trị, ông quay trở lại đơn vị và tiếp tục chiến đấu.

Trong thời gian diễn ra chiến dịch Stalingrad, ông đã làm lên một chiến công hiếm có trong trận không chiến ở khu vực hồ Tsatsa. Ở đây, phi đội 9 chiếc máy bay ném bom do ông chỉ huy đã làm chủ trận không chiến với 18 máy bay chiến đấu của kẻ thù. Mặc dù bị đạn của kẻ thù làm cháy cánh máy bay do ông điều khiển, nhưng ông vẫn tiếp tục trận chiến đến cùng. Chỉ khi ba chiếc máy bay chiến đấu của quân phát-xít bị tiêu diệt, và sáu chiến khác sau khi bị hư hỏng phải tháo chạy. Trong trận đánh này, phi đội máy bay ném bom của ông đã về đến sân bay an toàn. Trong quá trình tham gia chiến dịch Stalingrad, ông đã được tặng thưởng huy chương Nagrazhden.

Trong những trận chiến ở hạ lưu sông Dnepr, ông đã thực hiện thành công 60 nhiệm vụ chiến đấu, đột nhập vào những vùng bị địch chiếm đóng ở Donets và Taganrog. Cùng thời gian này, ông đã được tặng thưởng huân chương Nagrazhden hạng Nhì và huân chương Alexander Nevskiy.

Tháng 12 năm 1944, ông nhận chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn máy bay ném bom cận vệ số 135. Mặc dù là trung đoàn trưởng, nhưng không lần nào ông không bay hỗ trợ các phi đội ném bom kẻ thù.

Cho đến tháng 4 năm 1945, trung đoàn trưởng của Trung đoàn máy bay ném bom cận vệ số 135 (Sư đoàn máy bay ném bom cận vệ số 6, Quân đoàn Không quân số 1, Phương diện quân Belorussian số 3) của thiếu tá Paliy đã hoàn thành 168 nhiệm vụ chiến đấu bay thấp tấn công vào các sân bay, phòng tuyến, hành lang hành quân…của kẻ thù.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 19 tháng 4 năm 1945, ông được phong tặgn danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông phục vụ tại lãnh thổ Đông Prussia. Năm 1947, ông hoàn thành khóa học nâng cao về bay chiến thuật cao cấp. Năm 1958, tốt nghiệp các khóa học cao cấp của Học viện quân sự Bộ Tổng tham mưu. Năm 1961, thiếu tướng F.P. Paliy chuyển sang ngạch dự bị và sống tại Zhivet thành phố Cherkassy.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, 2 Huân chương Alexander Nevskiy, 2 Huân chương Vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Sao đỏ và nhiều huy chương.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 02:34:19 am
(http://img155.imageshack.us/img155/4969/majorgeneralzhukovandrewu5.jpg)
Thiếu tướng A.V. Zhukov (01.11.1900-04.01.1980)

Thiếu tướng Zhukov Andrey Vasilyevich sinh ngày 1 tháng 11 năm 1900 tại Leshcheevka bây giờ là Sergachskogo thuộc vùng Nizhniy-Novogorod trong một gia đình nông dân Nga.

Năm 1919, ông tình nguyện nhập ngũ tham gia chiến đấu bảo vệ nhà nước cách mạng Xôviết non trẻ. Suốt những năm đầu thập niên 20, ông tham gia tiễu trừ các nhóm phản loạn tại vùng Trung Á. Năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1932, ông tốt nghiệp các khóa học đào tạo sĩ quan tăng thiết giáp và phục vụ trong binh chủng này.

Ông trực tiếp tham gia vào chiến tranh vệ quốc từ tháng 5 năm 1942. Từng chiến đấu tại khu vực xung quanh Stalingrad, Ukraine, Moldavia tham gia giải phóng Rumania, Bulgaria, Hungary, Czechoslovakia. Vai trò của Đại tá Zhukov trong các trận đánh giải phóng Hungary là hết sức nổi trội.

Trên cương vị Lữ đoàn trưởng, ông đã khéo léo chỉ huy Lữ đoàn 63 cơ giới hóa (trực thuộc Tập đoàn quân cơ giới hóa số 7, Phương diện quân Ukraine số 2) phối hợp với các đơn vị khác trong quá trình diễn ra chiến dịch Debretsenskoy. Từ ngày 6 đến 25 tháng 10 năm 1944, Lữ đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã giáng cho quân thù những đòn gây tổn hại lớn về người và vũ khí. Vượt qua quãng đường 200 km bất ngờ tấn công vào phía sau quân phát xít, tham gia giải phóng toàn bộ vùng sau lưng địch rồi tham gia giải phóng các thành phố Oradya của Rumania.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ký ngày 28 tháng 4 năm 1944, ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Ngày 9 tháng 4 năm 1945, ông bị thương nặng. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong lực lượng vũ trang, binh chủng tăng thiết giáp. Năm 1956, ông nghỉ hưu với quân hàm Thiếu tướng và sống tại thành phố Matxcova anh hùng. Ông mất ngày 4 tháng 1 năm 1970 và được chôn cất tại nghĩa trang Lyudinskom của thành phố.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Suvorov hạng nhì, Huân chương Kutuzov hạng Nhì, Huân chương Sao đỏ và nhiều huy chương.

Họ của ông đã được đặt tên cho một ngôi trường ở Matxcova, trường Leshcheevaskaya và Sosnovskaya của vùng Sergachskogo, đường phố tại các thành phố Maxcova và Leshcheevka.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 13 Tháng Mười Hai, 2008, 05:01:57 am
(http://img134.imageshack.us/img134/4315/majorgeneralzayyulevnikbx6.jpg)
Thiếu tướng N. N. Zayyulev (01.11.1906-25.09.1986)

Thiếu tướng Zayyulev Nikolai Nikolayevich sinh ngày 1 tháng 11 năm 1906 tại Zapolichki, bây giờ là thượng lưu sông Dnieper vùng Dnepropetrovsk của Ukraine trong một gia đình công nhân người Ukraine. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1927.

Ông bắt đầu làm việc từ năm 13 tuổi trong một nông trường tại lưu vực Likhovka và từ tháng 10 năm 1924, ông làm việc tại khu mỏ Donbass. Năm 1927, ông vào làm thợ thủ công tại nhà máy Dnepropetrovsk trong vùng G.I. Petrovskiy. Năm 1928, ông tốt nghiệp trường đạo tạo của Đảng công nhân và Nhà nước Xôviết. Sau đó, ông trở thành giáo viên, phụ trách Ủy ban tuyên truyền và vận động của Đoàn thanh niên Komsomol vùng Dnepropetrovsk.

Ông nhập ngũ năm 1928. Lúc đầu, ông được điều lên các đơn vị biên phòng tại Transcaucasia. Năm 1929 và 1930, ông tham gia tiễu trừ các băng nhóm phỉ (Mussavatistsko, Dashnakskikih) tại thành phố Dzhulfa. Năm 1933, ông tốt nghiệp Trường bộ binh Transcaucasian. Từ năm 1933 đến 1939, sau khi tốt nghiệp, ông phục vụ trong Sư đoàn súng trường cơ giới hóa số 36 trưởng thành từ trung đội trưởng, đại đội trưởng, rồi tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn súng trường cơ giới hóa số 149 rồi Trung đoàn súng trường 603 trực thuộc Sư đoàn súng trường cơ giới hóa số 82, Tập đoàn quân số 1.

Từ ngày 11 tháng 5 đến 16 tháng 9 năm 1939, ông chỉ huy tiểu đoàn tham gia các trận đánh với quân Nhật. Do những thành tích trong quá trình chỉ huy tiểu đoàn và thành tích chiến đấu của bản thân, chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa cá nhân xuất hiện trong quá trình phục vụ Hồng quân và trong quãng thời gian làm nhiệm vụ quốc tế, ngày 29 tháng 8 năm 1939, Thiếu tá N. N. Zayyulev được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine, và sau đó là Huy chương Sao vàng. 

Năm 1941, ông hoàn thành khóa học quân sự ngắn hạn và trực tiếp tham gia vào chiến tranh vệ quốc từ năm này. Ông chỉ huy trung đoàn súng trường tại Phương diện quân Tây Bắc, Sư đoàn súng trường số 55 trực thuộc Tập đoàn quân số 61 trực thuộc các phương diện quân Tây Bắc, Trung tâm, Belorussian. Các chiến sĩ Hồng quân dưới sự chỉ huy của Đại tá N. N. Zayyulev rất nổi bật trong quá trình diễn ra các chiến dịch tấn công Chernigov-Pripyat và Kalinkovichsko-Mozyrskoy, giải phóng các thành phố vùng Tchors Chernigov của Ukraine và Mozir của vùng Gomel cộng hòa Belorussia.

Năm 1944, ông theo học ở Học viện Quân sự cấp cao Bộ tổng Tham mưu mang tên K. E. Voroshilov. Năm 1945, ông chỉ huy Sư đoàn súng trường số 4 trực thuộc Phương diện quân Belorussian số 1. Trong quá trình chiến đấu, ông đã ba lần bị thương.

Sau chiến tranh, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng khác trong một số các đơn vị của Hồng quân Liên Xô. Từ tháng 10 năm 1953, Thiếu tướng N. N. Zayyulev nghỉ hưu vì lí do bệnh tật. Ông sống tại thành phố Maxcova anh hùng và quan đời ngày 25 tháng 9 năm 1986. Mộ ông được đặt tại nghĩa trang Vagankovskom của thành phố.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, 2 Huân chương Suvorov hạng Nhì, Huân chương Kutuzov hạng Nhì, Huân chương vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Sao đỏ, nhiều huy chương. Ngoài ra ông còn được nhà nước Mông Cổ tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Giêng, 2009, 03:29:31 am
(http://img73.imageshack.us/img73/624/majorgeneralpetrovmikhasl4.jpg)
Thiếu tướng M. P. Petrov (03.01.1898-10.10.1941)

Thiếu tướng Petrov Mikhail Petrovich sinh ngày 3 tháng 1 năm 1898 tại làng Zolustezhe, nay là vùng thảo nguyên thuộc Leningrad trong một gia đình nông dân người Nga. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1920.

Sau khi kết thúc lớp 4, ông bắt đầu làm việc tại thành phố Petrograd, bây giờ là thành phố Saint Petersburg. Từ tháng 3 năm 1917, ông chỉ huy một phân đội trong Lực lượng Cận vệ đỏ Petrograd số 2, tham gia vào cuộc Cách mạng tháng 10 Xã hội Chủ nghĩa vĩ đại. Đơn vị của ông tham gia tấn công vào Cung điện mùa Đông.

Ông gia nhập Hồng quân từ năm 1918, tham gia chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Năm 1923, ông tốt nghiệp Trường Bộ binh Quân sự Tambovo, năm 1932, hoàn thành các khóa huấn luyện nâng cao về thiết giáp. Sau đó, ông là tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn tăng huấn luyện trực thuộc Lữ đoàn cơ giới hóa số 1.

Từ năm 1936 đến năm 1939, ông được cử sang giúp đỡ cuộc Cách mạng Dân tộc của nhân dân Tây Ban Nha, là tiểu đoàn trưởng tăng trực thuộc Lữ đoàn của tướng D. G. Pavlov. Cùng với tài năng và sự dũng cảm, ông đã chỉ huy các đơn vị dưới quyền mình tham gia vào các trận đánh chống lại quân phát-xít, truyền đạt kinh nghiệm và chiến thuật tới các đồng chí Tây Ban Nha.

Theo quyết định của Ban chấp hành Liên Xô ngày 21 tháng 6 năm 1937, cán bộ quân đoàn cấp trưởng M. P. Petrov được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine. Sau khi thiết lập chế độ Huy chương Sao vàng dành cho các Anh hùng Liên Xô, ông được trao tặng Huy chương này.

Sau khi trở về Tổ quốc, ông tiếp tục cùng đơn vị tham gia vào các cuộc hành quân giải phóng của Quân đội Xô viết tại Tây Ukraine và Tây Belorussia. Theo quyết định của Dân ủy Nhân dân Liên Xô, ngày 4 tháng 6 năm 1940, ông được trao tặng quân hàm Thiếu tướng.

Năm 1941, ông hoàn thành khóa học cao cấp tại Học viện Quân sự Bộ tổng tham mưu và được bầu làm Đại biểu Xô viết tối cao Liên Xô khóa 1.

Trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh vệ quốc, Thiếu tướng M. P. Petrov chỉ huy Tập đoàn cơ giới hóa số 17, từ 16 tháng 8 năm 1941, chỉ huy Tập đoàn quân số 50 của Phương diện quân Bryansk. Ông hy sinh anh dũng ngày 10 tháng 10 năm 1941 tại gần làng Golynka của vùng Karachev của tỉnh Bryansk và được chôn cất tại thành phố Bryansk.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, Huân chương Sao đỏ, Huy hiệu 20 năm tuổi quân của Hồng quân Công Nông Liên Xô.





Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Giêng, 2009, 04:04:17 pm
(http://img70.imageshack.us/img70/2285/majorgeneralavdeenkopetcm0.jpg)
Thiếu tướng P. P. Avdeenko (07.07.1901-27.01.1956)

Thiếu tướng Avdeenko Peter Petrovich sinh ngày 7 tháng 7 năm 1901 tại làng Tomcats, bây giờ thuộc ranh giới thành phố Chernigov trong một gia đình nông dân người Ukrainian. Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1939.

Năm 1919, ông nhập gia nhập Hồng quân Công Nông Liên Xô, tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1919-1923). Năm 1931, ông hoàn thành các khóa học vũ trang. Năm 1938, hoàn thành các khóa học ngắn hạn. Trong cùng năm này, ông hoàn thành chương trình văn hóa phổ thông.

Khi chiến tranh vệ quốc nổ ra, ông được điều đến mặt trận Voronezh. Vào đêm ngày 26 tháng 9 năm 1943, Quân đoàn súng trường bộ binh số 51, dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng P. P. Avdeenko, bắt đầu vượt sông Dnepr ở phía Bắc của thành phố Kiev, đẩy lùi tất cả những cuộc tấn công của quân phát xít và cùng với các đơn vị bạn, ngày 1 tháng 10 năm 1943, làm chủ vùng bên kia sông rộng 50 km vuông. Tiếp đó, Quân đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã chọc thủng tuyến phòng thủ Ukreplennuyu của phát xít và mở rộng vùng giải phóng tới 90 km vuông. Trong các trận đánh dữ dội, đơn vị của ông đã đánh thiệt hại vài sư đoàn bộ binh phát xít.

Theo quyết định của Xô viết tối cao Liên Xô kí ngày 29 tháng 10 năm 1943, cho lòng dũng cảm cũng như chủ nghĩa anh hùng của ông trong quá trình vượt sông Dnepr và giữ vững vùng giải phóng, Thiếu tướng P. P. Avdeenko được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Chiến tranh kết thúc, năm 1946, ông tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng tham mưu. Từ năm 1953, ông chuyển sang ngạch dự bị. Ông sống tại Kiev, qua đời tại đây ngày 27 tháng 1 năm 1956 và được chôn cất tại Nghĩa trang  Flannelette.

Thiếu tướng P. P. Avdeenko đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 3 Huân chương Suvorov hạng Nhì, Huân chương Kutuzov hạng Nhì, và nhiều Huy chương khác. Tên của ông đã được đặt cho một đường phố tại Kiev.






Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Giêng, 2009, 04:40:50 pm
(http://img160.imageshack.us/img160/1107/marshalyakubovskiyivanivv2.jpg)
Nguyên soái I. I. Yakubovskiy (07.01.1912-30.11.1976)

Nguyên soái Yakubovskiy Ivan Ignatevich sinh ngày 7 tháng 1 năm 1912 tại làng Zaytseve thuộc vùng Goretskogo, Mogilev nay thuộc Belorussia trong một gia đình nông dân người Beloruss. Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1937.

Ông học trường Sư phạm kĩ thuật Orsha, nhập ngũ năm 1932. Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Quân sự Obedinennaya của Belorussian. Năm 1935, hoàn thành các khóa học nâng cao về tăng thiết giáp giành cho sĩ quan chỉ huy và phục vụ trong Binh chủng tăng thiết giáp của Hồng quân. 

Ông tham gia các chiến dịch quân sự tại Tây Belorussia và các trận chiến tại Kerelian trong suốt cuộc chiến tranh Liên Xô và Phần Lan từ 1939 đến 1940.

Trong những năm tháng của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên Xô, ông tiếp tục phục vụ trong Binh chủng tăng thiết giáp, là tiểu đoàn trưởng, rồi trung đoàn trưởng từ tháng 7 năm 1941. Từ tháng 1 năm 1942, là lữ đoàn phó, rồi từ tháng 3 năm 1942 là lữ đoàn trưởng của Lữ đoàn xe tăng đặc biệt số 91. Các đơn vị dưới sự chỉ huy của ông đã chiến đấu tại các chiến trường Tây, Nam, Tây Nam, Stalingrad, Donskoy, Bryansk, Tsentraln và Voronzhsk; tham gia các chiến dịch Minsk và Mogilev, Matxcova, Stalingrad và Kursk, giải phóng Ukraine.

Ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô lần thứ nhất cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng khi đang là Đại tá vào ngà 10 tháng 1 năm 1944. 

Từ tháng 6 năm 1944, Đại tá I. I. Yakubovskiy là Quân đoàn phó của Quân đoàn bọc thép cận vệ số 6. Ông đã chỉ huy xuất sắc đơn vị tham gia trận đánh Peremyshl, vượt sông Vistula và giành lại Sandomir.

Ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô lần thứ hai cùng với Huy chương Sao vàng theo quyết định của Xô viết Liên Xô ngày 23 tháng 9 năm 1944.

Từ tháng 4 năm 1945, ông là Quân đoàn phó của Quân đoàn bọc thép cận vệ số 7, tham gia các chiến dịch Berlin, Prague.

Sau chiến tranh, năm 1948, ông tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng tham mưu và lần lượt được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng, Tư lệnh Tập đoàn quân, Phó Tư lệnh (1957-1960 và 1961-1962) và Tư lệnh (1960-1961 và 1962-1965) của Hồng quân tại Đức. Từ năm 1965, ông là Tư lệnh của các Lực lượng vũ trang Quân khu Kiev.

Ngày 12 tháng 4 năm 1967, Đại tướng I. I. Yakubovskiy được phong Nguyên soái Liên bang Cộng hòa Xô viết. Trong cùng năm này, ông được Bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Bộ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô và kiêm Tư lệnh Khối quân sự Warsaw.

Tại các hội nghị lần thứ 22, 23 và 24 của Đảng Cộng sản Liên Xô, Nguyên soái I. I. Yakubovskiy được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng. Ông là Phó Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô các khóa 6, 7, 8 và 9. Ông là Đại biểu của Xô viết tối cao Liên bang Nga các khóa 2? 4 và 5.

Ông mất ngày 30 tháng 11 năm 1976 và được chôn cất tại Quảng trường Đỏ, thành phố Matxcova anh hùng, tại bức tường điện Kremlin.

Ông đã được tặng thưởng 4 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Suvorov hạng Nhì, Huân chương vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Sao đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ tổ quốc hạng Ba và nhiều Huy chương và nhiều Huân huy chương của các nước khác. Ông còn được phong tặng danh hiệu anh hùng của nhà nước Xôviết Nga năm 1970. 

Tượng bán thân bằng bạc của Nguyên soái I. I. Yakubovskiy 2 lần Anh hùng Liên bang Cộng hòa Xô viết đã được đặt tại vùng Mogilev của Belorussia, tên ông được ghi trên bảng kỉ niệm trong tòa nhà Bộ tham mưu của Quân khu Kiev và được đặt tên cho một số đường tại thành phố Minsk anh hùng và các thành phố khác.






Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: GiangNH trong 04 Tháng Chín, 2009, 11:44:32 pm
Sao chẳng thấy các bác nhắc tới "Tướng của các tướng" nhỉ,ông ấy sinh ra tại đất nước mà chê bai AK47 là "nhà quê"và đang thay bằng AR15 đấy.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 05 Tháng Chín, 2009, 03:36:41 am
Sao chẳng thấy các bác nhắc tới "Tướng của các tướng" nhỉ,ông ấy sinh ra tại đất nước mà chê bai AK47 là "nhà quê"và đang thay bằng AR15 đấy.

 ;D Lâu lắm rồi em mới ghé lại topic này cuả mình. Tướng lĩnh Liên Xô thì rất nhiều, ngay tướng lĩnh chỉ huy trong chiến tranh thế giới lần thứ hai thì bộ sưu tầm của em đã gần tới hai nghìn. Sức một người có hạn, làm sao mà đưa hết lên trên này được, cho nên em thường đưa những vị tướng nổi tiếng nhưng mà được nhắc tới ít trên mạng. Chứ như cái ông tướng mà bác bảo, bác cứ google mà gõ thì có cả khắp các thứ tiếng ấy chứ.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: GiangNH trong 05 Tháng Chín, 2009, 06:43:14 pm
Em nghĩ Stalin là 1 trong những người phải đưa lên trang đầu tiên chứ,khổ cho ông ấy,dưới suối vàng có biết "2 anh em con dì,con già" đánh nhau không nhỉ!


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Tư, 2010, 01:35:17 pm
Bác Lốp có ghé qua đây thì cho em xin thông tin về tướng V. D. Ivanov ở BTTM Hồng quân thời đầu CT nhé, thanks bác ;D


Tiêu đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Tư, 2010, 04:15:30 am
(http://img140.imageshack.us/img140/9388/ivanovvladimirdmitrievi.jpg)
Đại tướng V. D. Ivanov (22.07.1900-15.12.1968)

Đại tướng Vladimir Dmitrievich Ivanov sinh ngày 22 tháng 7 (ngày 9 tháng 7 theo lịch Nga cũ) năm 1900 tại thành phố Lebedvan thuộc tỉnh Tambovo, nay thuộc vùng Lipetsk của Nga. Sinh trưởng trong một gia đình công nhân khá giả, tháng 2 năm 1918, ông gia nhập lực lượng kỵ binh du kích của thành phố quê hương, và đây cùng là thời điểm ông gia nhập Hồng quân, tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.

Năm 1921, ông cùng đơn vị tham gia đập tan cuộc phiến loạn tại Kronstadt, cùng năm này, ông hoàn thành khóa học chỉ huy pháo binh. Ngay sau đó, ông được cử đi học tại Trường Pháo binh Cao cấp và tốt nghiệp trường này vào năm 1923. Liên tục phục vụ tại Phân khu Leningrad rồi Belorussian, V. D. Ivanov trưởng thành từ khẩu đội phó, khẩu đội trưởng, trung đội trưởng rồi tiểu đoàn trưởng pháo binh.

Năm 1930, ông tốt nghiệp Học viện Quân sự mang tên Frunze và được điều về công tác tại Phòng Tham mưu Phân khu Leningrad. Tháng tư năm 1936, ông về công tác tại Bộ Tổng Tham mưu Hồng quân, là phó Bộ phận thứ Nhất, phòng Một, Cục Tác chiến. Tháng 3 năm 1940, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Cục phó Cục Tác chiến, sau đó kiêm Trưởng phòng Một. Cuối năm này, ông chuyển sang giữ chức vụ Cục trưởng Cục Tổ chức và Tiếp vận Hậu phương trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.

Khi phát-xít Đức tấn công Liên Xô, ông rời bỏ Bộ Tổng Tham mưu và tới Viễn Đông nhận chức vụ tham mưu trưởng Tập đoàn quân số 25, rồi quyền tư lệnh Tập đoàn quân số 15 của Phương diện quân này. Tuy nhiên, chỉ sau đó không lâu, năm 1942, ông được gọi trở lại Moscow và được bổ nhiệm vào chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu Hồng quân Công Nông Xô-viết phụ trách lập kế hoạch chỉ huy các chiến dịch quân sự và các trận chiến có quy mô lớn. Thời gian này, ông liên tiếp được cử tới các chiến trường, chiến dịch quan trọng để thực tế đồng thời giúp đỡ các tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân trong công tác chỉ huy, tác chiến. V. D. Ivanov là một trong những vị tướng tham gia tích cực, chủ chốt vào quá trình chuẩn bị phản công tại mặt trận Stalingrad. Năm 1943, ông bị thương nặng trong khi làm nhiệm vụ tại Phương diện quân Tây Nam.

Sau khi chiến tranh vệ quốc kết thúc, ông lại được điều tới Phương diện quân Viễn Đông. Tháng 7 năm 1945, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Phương diện quân Transbaikal dưới quyền chỉ huy của Nguyên soái R. Y. Malinovskiy. Ông đã tỏ ra xuất sắc trong quá trình chỉ huy Hồng quân tham chiến dịch tấn công quân Nhật tại Manchurian tháng 8 năm 1945. Chỉ huy bộ phận tiền phương của Phương diện quân, ông là người trực tiếp chỉ đạo công tác chuẩn bị và chỉ huy chiến dịch đổ bộ và chiếm giữ thành phố và căn cứ hải quân Arthur (Lyuyshun) và là chỉ huy của Hồng quân đầu tiên của cảng này.

Tháng 9 năm 1945, tướng V. D. Ivanov được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu Transbaikal-Amur. Ngay sau đó, ông lại được gọi về Moscow giữ chức vụ Cục phó Cục phụ trách các cơ sở giáo dục và đào tạo về khoa học và kỹ thuật quân sự, rồi tiếp tục điều đến Quân khu Transcaucasian làm Phó Tư lệnh phụ trách giáo dục và huấn luyện, và sau đó là Quân khu Leningrad làm Tham mưu trưởng. Năm 1950, ông tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng Tham mưu.

Tháng 5 năm 1954, ông chuyển sang Lực lượng Phòng không và giữ chức vụ Phó Tư lệnh thứ nhất của lực lượng này vào năm 1955. Tháng 4 năm 1956, ông chuyển về Quân khu Baku làm Tư lệnh Lực lượng Phòng không của Quân khu này.

Tháng 8 năm 1959, lần thứ ba, ông được gọi lại về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất. Năm 1965, ông là hiệu trưởng Học viện Quân sự Bộ Tổng Tham mưu. Tháng 4 năm 1968, ông được bổ nhiệm làm thanh tra quân sự, cố vấn Bộ Quốc phòng cho đến khi mất ngày 15 tháng 12 năm 1968.

Tướng V. D. Ivanov được phong quân hàm: Chỉ huy lữ đoàn cấp trưởng (17.05.1939), Thiếu tướng (04.06.1940), Trung tướng (23.04.1943), Thượng tướng (08.09.1945), và Đại tướng (05.05.1961). Ông là Phó Chủ tịch Xô-viết tối cao khóa 5 và 6 (1958 – 1966) và được tặng thưởng 3 Huân chương Lê-nin, 6 Huân chương Suvorov (4 hạng Nhất, 2 hạng Nhì), Huân chương Kutuzov, Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Sao đỏ, và nhiều huy chương khác. Ngoài ra, ông cũng được nhiều nước tặng thưởng huân chương.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: chiangshan trong 28 Tháng Sáu, 2010, 08:53:32 pm
Bác Lốp lại cho nhà em hỏi tí: nguyên soái Konev được phong đại tướng vào thời gian nào ạ? ;D


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 29 Tháng Sáu, 2010, 02:52:21 am
Bác Lốp lại cho nhà em hỏi tí: nguyên soái Konev được phong đại tướng vào thời gian nào ạ? ;D

Không thấy ghi là năm nào được phong từ thượng tướng lên đại tướng. Nhưng trong các tài liệu đọc được thì thấy ghi là đại tướng lúc là tư lệnh Phương diện quân Ukraina số 2, suy ra là thời điểm phong là cuối năm 1943. Điều này hợp lý, vì trong suốt quá trình chỉ huy Phương diện quân Thảo nguyên trong Chiến dịch Kursk, ông mang quân hàm thượng tướng và tháng 2 năm 1944 được phong nguyên soái.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: thainhi_vn trong 29 Tháng Sáu, 2010, 01:06:22 pm
Bác Lốp lại cho nhà em hỏi tí: nguyên soái Konev được phong đại tướng vào thời gian nào ạ? ;D

Không thấy ghi là năm nào được phong từ thượng tướng lên đại tướng. Nhưng trong các tài liệu đọc được thì thấy ghi là đại tướng lúc là tư lệnh Phương diện quân Ukraina số 2, suy ra là thời điểm phong là cuối năm 1943. Điều này hợp lý, vì trong suốt quá trình chỉ huy Phương diện quân Thảo nguyên trong Chiến dịch Kursk, ông mang quân hàm thượng tướng và tháng 2 năm 1944 được phong nguyên soái.

Bên Wiki tiếng Nga ghi chính xác là ngày 26/8/1943. Nguồn từ đâu chưa rõ.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: chiangshan trong 29 Tháng Sáu, 2010, 05:59:34 pm
Cám ơn các bác.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Năm, 2011, 08:51:59 pm
(http://img38.imageshack.us/img38/1613/majorgeneralchistiakovv.jpg)
Thiếu tướng V. F. Chistyakov (10.11.1906-23.04.1959)

Thiếu tướng Chistyakov Victor Feofanovich sinh ngày 10 tháng 11 năm 1906 tại Yasinovatskogo bây giờ, thuộc vùng Donets của Ukraine trong một gia đình công nhân người Nga. Sau khi tốt nghiệp trường công nhân, ông làm việc trong ngành đường sắt. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1927.

Nhập ngũ năm 1931 và tốt nghiệp Trường phi công Luganskaya với quân hàm thiếu úy, ông tham gia sau đó cuộc chiến với quân phiệt Nhật trên cương vị biên đội trưởng, rồi trung đoàn phó Trung đoàn Không quân số 22, Lữ đoàn Cường kích trực thuộc Tập đoàn quân số 1. Trong các cuộc không chiến ở thời kì này, ông trực tiếp bắn hạ 3 máy bay đối phương, đồng thời tham gia tích cực trong các hoạt động yểm trợ bộ binh tấn công cũng như tấn công các mục tiêu trên mặt đất, và bị thương.

Do lòng dũng cảm, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cùng với những thành tích đạt được trong thời kì chiến tranh với quân phiệt Nhật, ngày 29 tháng 8 năm 1939, ông được Xô-viết tối cao trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên-xô cùng với Huân chương Lenin. Sau này, khi có chế độ Huy chương Sao vàng cho những người được phong Anh hùng Liên-xô, ông cũng được nhận huy chương này và là người thứ 156 của các Lực lượng Vũ trang Xô-viết.

Từ tháng 11 năm 1939, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cường kích Cờ đỏ số 22, Trung đoàn Không quân Cờ đỏ số 56 trực thuộc Quân khu Transbaikal, và sau đó chuyển tới Quân khu Leningrad làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cường kích số 44.

Trong những năm diễn ra cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên-xô, ông là học viên của Học viện Không quân và là Trung đoàn trưởng của Trung đoàn Không quân dự bị số 6 của Quân khu Volga.

Sau chiến tranh, ông được phong quân hàm thiếu tướng và là phó tư lệnh không quân Quân khu Transcaucasian. Ông mất ngày 23 tháng 4 năm 1959 tại thủ đô Tbilisi của Georgia và được chôn cất tại đây.

Thiếu tướng Chistyakov đã được tặng thưởng Huân chương Lenin, Cờ đỏ, các huân huy chương của Nhà nước Mông Cổ. Tên của ông đã được đăt cho Trường Trung học số 2 tại thành phố Avdeevka thuộc vùng Donets, Ukraine quê hương ông.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: p_ngocquynh trong 31 Tháng Năm, 2011, 09:03:25 pm
Bác Lốp cho hỏi có tướng Nga nào là người Việt không ? Vì em nghe đồn có 1 người Việt được đeo lon Trung Tướng HQ LB Nga nhưng không biết phục vụ trong hạm đội nào ?


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 31 Tháng Năm, 2011, 09:33:19 pm
Bác Lốp cho hỏi có tướng Nga nào là người Việt không ? Vì em nghe đồn có 1 người Việt được đeo lon Trung Tướng HQ LB Nga nhưng không biết phục vụ trong hạm đội nào ?

Cái này thì mình chưa có nghe đến bao giờ. Có khi bạn phải hỏi đ/c daibangden, thường trú của quansuvn tại Nga xem sao  :D


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Sáu, 2011, 07:02:55 pm
(http://img35.imageshack.us/img35/5329/karbyshev.jpg)
Trung tướng Công binh D. M. Karbyshev (26.10.1880-18.2.1945)

Trung tướng Dmitry Mikhaylovich Karbyshev sinh ngày 26 tháng 10 (14 tháng 10 theo lịch Nga cũ) năm 1880 tại thành phố Omsk trong một gia đình sĩ quan Quân đội Sa hoàng người Nga. Năm 1892, khi mới 12 tuổi, bố ông mất, mẹ ông tần tảo nuôi ông trong hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn. Tuy nhiên, những thành tích học tập của ông hết sức đáng nể. Năm 1898, ông tốt nghiệp Trường thiếu sinh quân Siberian và được vào học tại học viện danh tiếng, Học viện Kĩ thuật Quân sự Nykolaiv tại St. Petersburg (ngày nay là Đại học Kỹ thuật Quân sự St. Petersburg), và tốt nghiệp ở đây năm 1900 với quân hàm thiếu úy.

Sau khi tốt nghiệp, ông được điều tới phục vụ trong Tiểu đoàn Công binh Đông Siberian số 1 của Quân đội Sa hoàng tại Manchuria (Mãn Châu), là chỉ huy đại đội (Đại đội Điện báo số 4) phụ trách các hoạt động điện báo chiến trường. Trong thời kì Chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), ông là chỉ huy đại đội phụ trách điện tín, tuy nhiên vai trò của ông trong Tiểu đoàn  lại rất rộng bao gồm cả việc xây dựng cầu đường, trinh sát tuần tra. Trong trận Mukden - Phụng Thiên (20.2-10.3.1905), ông đã được trao tặng Huy hiệu Dũng cảm và trong một năm của cuộc chiến ông đã được tặng thưởng: Huân chương thánh Vladimir hạng Bốn với gươm và cung (2.9.1904), Huân chương thánh Stanislav hạng Ba với cung (4.11.1904), Huân chương thánh Anne hạng Ba với gươm và cung (2.1.1905), Huân chương thánh Stanislav hạng Hai với gươm (20.2.1905), Huân chương thánh Anne hạng Bốn (3.1905) và cho phép đeo gươm bên mình, cùng 2 huy hiệu khác. Với những thành tích trong chiến đấu, kết thúc cuộc chiến, ông đã được phong quân hàm trung úy.

Sự thất bại của Nga sa hoàng trong cuộc chiến với giới quân phiệt Nhật đã dẫn tới sự hoang mang trong binh lính và sĩ quan. Trong một nỗ lực cải tổ và nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội, Sa hoàng đã cho giải ngũ hàng loạt quân nhân. Karbyshev cũng nằm trong số này và được chuyển vào lực lượng dự bị động viên. Thời gian đầu, ông sống và làm việc tại thành phố Vladivostok. Năm 1907, Tiểu đoàn Công binh Pháo đài Vladivostok bắt đầu được thành lập, các sĩ quan chỉ huy có kinh nghiệm lúc bấy giờ là rất cần thiết, và ông được gọi lại vào phục vụ trong quân đội với chức vụ đại đội trưởng. Năm 1908, ông được phong quân hàm thượng úy, rồi sau đó tiếp tục được cử đi học tại Học viện Kĩ thuật Quân sự Nykolaiv ở St. Petersburg. Năm 1911, ông tốt nghiệp và là trong số những học viên đứng đầu, được phong quân hàm đại úy và được phép chọn đơn vị phục vụ. Chọn phục vụ tại pháo đài Sevastopol, Karbyshev lập tức được cử tới đây phục vụ trên cương vị đại đội trưởng Đại đội Địa lội của Pháo đài. Cùng năm này, ông được công nhận là kĩ sư quân sự và đượng phong quân hàm đại úy Quân đội Sa hoàng.

Trước nguy cơ biên giới Đế chế Nga bị tấn công vào thời kì sắp nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất, Karbyshev được cấp trên đề nghị lựa chọn một trong hai nơi phục vụ thay vì ở lại Sevastopol đó là Osovtsi và Brest-Litovsk. Và ông đã chọn đi tới phục vụ tại Brest khi đó thuộc Lithuanian. Ở đây, ông đã chỉ huy đại đội công binh phụ công việc xây dựng và củng cố các công sự và vị trí phòng thủ tại tuyến thứ 2 của pháo đài. Tuy nhiên, công việc của ông hết sức quan trọng bởi vì tuyến phòng thủ thứ nhất khi đó chưa được xây dựng. Tháng 11 năm 1914, Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất nổ ra, ông chiến đấu tại Carpathians trong biên chế Quân đoàn số 8 nổi tiếng của vị tướng tài năng A. A. Brusilov. Trong thời kì này, ông là sĩ quan phụ trách công binh của các Sư đoàn Bộ binh số 78 và 69 trực thuộc Quân đoàn súng trường Phần Lan số 22. Vào đầu năm 1915, ông tham gia vào trận tấn công Pháo đài Przemysl và bị thương vào chân. Do sự can đảm và dũng cảm trong chiến đấu, ông được tặng thưởng Huân chương thánh Anne hạng Nhì cùng gươm và được phong quân hàm trung tá. Suốt mùa Thu năm 1915 và Xuân năm 1916, ông tham gia chiến đấu bảo vệ các tuyến hậu cần quân sự Kiev. Ông cũng tham gia vào Cuộc tổng tấn công mang tên tướng Brusilov (4.6-20.9.1916) nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất. Cuộc tấn công này sau đó đã mang lại thắng lợi to lớn cho phe Đồng minh ba bên gốm Anh, Pháp, Nga (Phe Entenne) tiêu diệt hoàn toản chủ lực Đế quốc Áo-Hung và đã đưa tên tuổi A. A. Brusilov trở thành 1 trong 7 vị thống soái tài năng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất.

Khi Cách mạng tháng 10 Nga nổ ra, Karbyshev đang ở Mohyliv-Podilskyi. Ông nhanh chóng ra nhập Hồng quân Công nông, đứng về phía nhân dân và Chính quyền Cách mạng và trở thành sĩ quan Hồng quân vào năm 1918. Trong suốt cuộc chiến tranh bảo vệ Chính quyền Cách mạng non trẻ (1917-1923) chống lại các lực lượng Bạch vệ và sự can thiệp của các nước phương Tây, ông đã giám sát chỉ đạo xây dựng và củng cố một loạt các công trình phòng thủ, công sự quan trọng của Hồng quân tại nhiều vùng khác nhau: Simbirskogo, Samarskogo, Saratov, Chelyabinsk, Zlatoust, Troitsky, Kurganskovo, Ukreplennykh, và phụ trách công binh trong quá trình bảo vệ vùng đất vừa giành được Kakhovka, đồng thời giữ nhiều vị trí quan trọng trong Bộ Tư lệnh Quân khu Bắc Caucasian. Năm 1920, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Kĩ thuật Tập đoàn quân số 5 trực thuộc Phương diện quân Đông, phụ trách công binh trong cuộc tấn công của Hồng quân vào Lực lượng Bạch vệ tại Crimia, quá trình củng cố phòng thủ tại lãnh thổ giành được từ tay Bạch vệ tại Transbaikal. Mùa thu năm 1920, ông trở thành Phó Chủ nhiệm Công binh Phương diện quân miền Nam trực tiếp chỉ đạo lực lượng công binh của Phương diện quân trong các cuộc tiến công ở Chongara và Perekop.

Từ năm 1923 đến năm 1926, Karbyshev phục vụ trong Binh chủng Công binh Hồng quân, phụ trách Ủy ban Kỹ thuật. Tháng 11 năm 1926, ông là giảng viên tại Học viện Quân sự mang tên Frunze và được bổ nhiệm làm trưởng Khoa Công binh vào tháng 2 năm 1934. Năm 1936, ông chuyển sang giảng dạy tại Học viện Bộ Tổng Tham mưu Hồng quân. Năm 1936, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Khoa  Chiến thuật Thông tin Liên lạc và được phong học hàm giáo sư quân sự vào năm 1938. Năm 1940, ông được phong quân hàm trung tướng công binh. Trong cuộc chiến mùa Đông giữa Hồng quân và Phần Lan (1939-1940), ông ở trong nhóm chuyên gia xây dựng các công trình phỏng thủ được cử đến các tuyến mặt trận để tham mưu cho các đơn vị Hồng quân cách để phá Phòng tuyến Mannerheim do quân Phần Lan lập lên.

Trung tướng Karbyshev là nhà khoa học Xô-viết đầu tiên nghiên cứu toàn diện và sâu các vấn đề về phá hủy và xây dựng các công trình phòng thủ quân sự, đồng thời phát triển các biện pháp, cách thức đối phó trong quá trình tấn công và phòng ngự của quân đội. Ông cũng có một đóng góp đáng kể đối với các chiến thuật vượt sông và các chướng ngại vật nước trong quá trình chiến đấu của bộ đội. Cho đến thời gian trước Chiến tranh Thế giới lần Hai, ông đã công bố hơn 100 bài báo khoa học về các lĩnh vực Kĩ thuật Quân sự và Lịch sử Quân sự. Các tác phẩm của ông về những vấn đề thực tế cũng như lí thuyết về hỗ trợ kĩ thuật trong các trận đánh và chiến dịch, chiến thuật công binh là những tài liệu quan trọng trong quá trình đào tạo các chỉ huy Hồng quân trước chiến tranh. Karbyshev bảo vệ luận văn tiến sĩ khoa học quân sự của mình vào năm 1941. Rất nhiều lần, ông là Chủ tịch Hội đồng Bảo vệ Luận văn Tốt nghiệp tại Học viện Công binh mang tên Kuybysheva. Ông cũng là thành viên của Hội đồng Tác chiến-Hành quân đồng thời là Ủy viên Hội đồng của Học viện. Ông thường xuyên giới thiệu và thử nghiệm các mô hình mới nhất về kĩ thuật công nghệ quân sự, và tham gia vào Ủy ban Biên soạn sổ tay cá nhân cho Hồng quân nói chung và Binh chủng Công binh nói riêng. Là nhà thiết kế xuất chúng, ông đóng vai trò quan trọng nhất trong công cuộc tái xây dựng các công trình phòng thủ ở biên giới phía Tây Liên Xô và là tác giả của rất nhiều các công trình xây dựng quân sự Xô-viết. Chính vì thế theo những gì sau này biết được thì không lâu trước chiến tranh, tháng 11 năm 1940, ông bị Gestapo đưa vào “sổ đen” hồ sơ mật.





Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 03 Tháng Sáu, 2011, 07:03:33 pm
Ngay trước thềm chiến tranh, đầu tháng 6 năm 1941, trung tướng Karbyshev cùng một đoàn gồm nhiều kĩ sư quân sự của Hồng quân được cử đi khảo sát tình hình hệ thống các công trình phòng thủ tại biên giới phía Tây, để nghiên cứu khả năng nâng cấp và mở rộng khi chiến tranh nổ ra. Khi quân đội phát-xít tấn công, ngày 22 tháng 6 năm 1941, ông đang trên đường tới Tập đoàn quân số 3 và thành phố Grodno. Sáng sớm ngày 23 tháng 6, ông nhận được lệnh phải rút lui ngay lập tức khỏi những vùng nguy hiểm. Ngày 24 tháng 6, do nhiều con đường rút lui của Hồng quân đã bị cắt đứt, ông mới tới được sở chỉ huy của Tập đoàn quân số 10, giống như số phận của phần lớp các đơn vị Hồng quân ở Phương diện quân miền Tây, Tập đoàn quân số 10 bị bao vây và gần như thiệt hại hoàn toàn trong trận đánh Bialystok-Minsk, và bị kẹt tại đây. Ngày 27 tháng 6, toàn bộ sở chỉ huy bị bao vây, ông cùng một nhóm sĩ quan Hồng quân nỗ lực phá vây. Tháng 8 năm 1941, ông bị thương nặng trong một trận đánh gần sông Dnepr tại làng Dobreyka (nhánh sông này mang tên Berezina), vùng Mogilev thuộc Belorussia và bị bắt làm tù binh.  

Có một số thông tin trên báo chí Ukrainian cho rằng, ngay sau khi biết tin tướng Karbyshev bị bắt làm tù binh, Liên-xô đã đề nghị với Đức việc trao đổi ông lấy 2 nhà ngoại giao Đức. Tuy nhiên, Berlin đã khước từ lời đề nghị này với lí do là nó quá “khập khiễng”. Quả thật, ông là một món quà trời cho, vì ông là người hiểu và nắm rõ các công trình phòng thủ của Hồng quân Liên Xô. Và từ đó, phía Liên-xô hoàn toàn mất dấu vết của ông. Không biết thông tin này chính xác đến bao nhiêu, tuy nhiên phải sau khi chiến tranh kết thúc, Liên-xô mới biết được số phận cũng như tấm gương anh hùng của ông trong những ngày bị giam cầm bởi quân phát-xít.

Trại tù binh đầu tiên mà tướng Karbyshev được đưa tới là một trại tù binh nằm ở 1 thị trấn Ba Lan có tên là Ostrov Mazowiecki. Trong liền 7 tháng sau đó, ông bị hành hạ bởi bệnh tật (kiết lị nặng rồi sốt truyền nhiễm) khiến bị kiệt sức và răng rụng nhiều. Tuy nhiên, tinh thần của ông không hề bị giảm sút và lung lay. Tháng 10 năm 1941, ông tiếp tục được chuyển tới Zamosc, bị giam trong trại số 11 mà ở đó có ghi “tướng” (tức cho các tù binh cấp tướng). Để mua chuộc ông, điều kiện giam giữ cũng như ăn uống ở Zamosc tương đối dễ chịu. Theo nghiên cứu của một số sử gia người Đức, thì thời gian này giới lãnh đạo phát-xít có vẻ như đã bị làm cho tin về thái độ biết ơn và sự đồng ý hợp tác của ông. Tháng 3 năm 1942, ông được chuyển đến trại tập trung Hammelburh (Bavaria), nơi chỉ dành cho các sĩ quan tù binh Hồng quân. Đầu năm 1943, trại này do đại tá bộ binh Đức Pelita chỉ huy. Viên đại tá này nói được tiếng Nga, đã tốt nghiệp một trường cao đẳng tại St. Peterburg và từng phục vụ trong Đế chế Nga tại Brest. Người Đức nghĩ rằng như thế thì có thể thuyết phục lôi kéo được Karbyshev về phía họ, tuy nhiên họ đã nhầm và mọi âm mưu đều thất bại. Không từ bỏ âm mưu, Gestapo đưa ông về Berlin và giam giữ ông trong một xà lim cách biệt, thiếu ánh sáng và không cho đi lại. Sau khoảng 2 đến 3 tuần, Gestapo cử giáo sư người Đức Heizn, người mà ông đã từng gặp gỡ và quen biết trước chiến tranh, đến gặp ông. Vị giáo sư này đề nghị ông sang phục vụ họ với mọi đặc ân: tự do, sự đảm bảo vật chất sống, các điều kiện nghiên cứu khoa học… như một nhà khoa học Đức được sủng ái. Ngoài ra, ông còn được tiếp tục mang quân hàm trung tướng, được phép lựa chọn tùy theo ý mình hướng nghiên cứu, nơi làm việc… tất nhiên ngoại trừ “phía Đông”. Tuy nhiên, mọi kết quả chỉ là con số 0.

Nhận thấy không khuất phục nổi ý chí, cũng như tinh thần của Karbyshev. Phát-xít Đức đã bỏ mọi thái độ nhã nhặn trước đây, và chuyển ông lần lượt qua nhiều nhà tủ khổ sai cùng với việc tra tấn dã man, đối xử tàn bạo. Nửa năm sau đó, ông tiếp tục bị giam giữ tại Berlin, bị tra tấn dồn dập nhằm ép buộc ông gia nhập lực lượng phát-xít, “Đội quân phương Đông” của “Ủy ban Giải phóng Nhân dân Nga” do viên trung tướng phản bội A. A. Vlasov đứng đầu. Tiếp đó, ông bị đưa tới trại tập trung khổ sai Flossenburg và phải chịu một sự đối xử đặc biệt tàn nhẫn. Tháng 8 năm 1943, ông lại bị đưa đến trại tập trung khổ sai Nyurberh của Gestapo, rồi lần lượt các trại Auschwitz, Sachsenhausen và cuối cùng là Mauthausen, nơi ông hi sinh vào đêm 17 và sáng 18 tháng 2 năm 1945 – chỉ ít tháng trước khi chiến tranh kết thúc.

Theo những gì kể lại của những tù binh Hồng quân được giải thoát sau chiến tranh thì trong thời gian sống tại các trại tập trung khổ sai khác nhau của phát-xít, bất chấp các thủ đoạn khác nhau, bất chấp bị tra tấn, bất chấp bị bệnh tật và tuổi tác, Karbyshev vẫn không hề nao núng. Dù bất kì ở trại nào, ông cũng tham gia vào lãnh đạo phong trào đấu tranh của các tù binh, và là một tấm gương sáng về cách cư xử, về biểu tượng của tâm hôn hồn của một người lính Nga, một chiến sĩ Xô-viết. Bằng tất cả mọi cách, ông không ngừng khêu gợi trong họ lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và kiên cường đấu tranh trong ngục tù cũng như tinh thần lạc quan, tin tưởng vào ngày chiến thắng không xa. Ông từng nói “Lòng tin của tôi không bao giờ đi cùng những chiếc răng”. Karbyshev chính là nguồn cảm hứng cho nhiều tù binh Hồng quân trong những tháng ngày đen tối. Phương châm của ông là “Không mất lòng tự hào cho dù vào cảnh ngộ tồi tệ nhất”.

Trong một câu chuyện về những người anh hùng ở pháo đài Brest nổi tiếng in trong tác phẩm “Pháo đài Brest” của tác giả Sergey Smirnov, có câu chuyện kể lại của thiếu tá P. M. Gavrilov. Trong trận chiến bảo vệ pháo đài Brest, Gavrilov chỉ huy đồn phía Đông, bị bắt làm tù binh, bị giam tại trại tập trung Hammelburh cùng với tướng Karbyshev. Tuy nhiên, thiếu tá Gavrilov may mắn hơn tướng Karbyshev bởi ông đã sống được đến ngày chiến thắng để được giải thoát và chiêm nghiệm lời tiên đoán thần tình của tướng Karbyshev khi 2 người gặp nhau trong trại tập trung Hammelburh. Theo thiếu tá Gavrilov, thì có một lần ông hỏi trung tướng rằng bao giờ thì chiến tranh kết thúc. Và trung tướng đã mỉm cười và trả lời ông một cách buồn rầu rằng:

“Bao giờ ta ăn đủ một nghìn lần bữa xúp rau hổ lốn của chúng thì chiến tranh sẽ chấm dứt” – Ông đáp, rồi nói thêm đầy tin tưởng “Tất nhiên chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc về chúng ta”.

Trong trại tù binh, mỗi ngày được ăn một lần, 1000 lần bữa xúp là khoảng 3 năm, từ năm 1942 đến năm 1945 là vừa đúng với quãng thời gian này.

Trước một thất bại không thể tránh khỏi trong một tương lai gần, phát-xít điên cuồng thủ tiêu tù binh. Ngày 17 tháng 2, tướng Karbyshev cùng một nhóm tù binh khoảng 400 người bị lùa ra khỏi nơi giam giữ, rồi được đưa vào nhà tắm và xả nước lạnh trong điều kiện thời tiết mùa Đông băng giá. Nhiều người cố gắng tránh khỏi dòng nước lạnh đều bị quân phát-xít dùng dùi cui đánh vào đầu cho đến chết. Trung tướng Karbyshev đã dũng cảm chịu đựng đến nửa đêm, và anh dũng ra đi vào sáng ngày 18 tháng 2 năm 1945 ở tuổi 65 khi những cơn gió lạnh làm ông biết thành một bức tượng đóng băng.

Để ghi nhớ công lao của vị kĩ sư lỗi lạc đã cống hiến cho Tổ quốc, và để ghi nhận sự anh hùng dũng cảm bất khuất của vị tướng trong những ngày ở trong tay quân thù, ngày 16 tháng 8 năm 1946, Xô-viết tối cao của Liên-xô đã quyết định truy tặng ông Danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô-viết cùng Huân chương Lenin và Huy hiệu Sao vàng dành cho những người anh hùng. Ngoài ra, ông còn được tặng thưởng: 2 Huân chương Cờ đỏ, Huân chương Sao đỏ.

Ngày nay, để tưởng nhớ tới ông, tại lối vào của nơi trước kia là trại tập trung Mauthausen (Áo), nơi ông hi sinh, có một đài tưởng niệm ông. Đài tưởng niệm này lấy cảm hứng từ hình ảnh ông bị đóng băng khi hi sinh với hai tay khoác lên nhau và đặt trước ngực chịu đựng những làn nước lạnh trong thời tiết mùa Đông băng giá. Tác phẩm do nhà điêu khắc nổi tiếng V. E. Tsigal thực hiện. Nhiều đài tưởng niệm, nơi tưởng nhớ ông đã được dựng lên tại nhiều thành phố như Moscow, Omsk, Kurgan, Kiev, Tallin, Vladivostok. Nhiều tấm bảng tưởng nhớ ông cũng được gắn tại: Brest, nơi vị trí căn nhà ông đã sống và làm việc; Moscow, tại tòa nhà Phòng Đào tạo Học viện Kỹ thuật Quân sự nơi ông học tập, và ngôi nhà nơi ông sống; Samara, nơi ngôi nhà ông làm việc; Kharkov, nơi ông từng sống. Tên ông cũng được đặt cho một đại lộ tại Moscow, một hành tinh nhỏ của Hệ Mặt trời, tàu chở dầu, tàu thủy vận chuyển hành khách, nhiều trường học, công ty, các đường phố của nhiều thành phố, đồn biên phòng…




Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: anhquaynop trong 16 Tháng Ba, 2016, 11:43:48 am
Em xin phép hỏi: Em biết đến nguyên soái Zhukov lần đầu tiên qua cuốn "10 đại tướng soái thế giới" trong bộ Thập đại tùng thư. Trong đó có nói đến việc ông từng là cố vấn quân sự của chính phủ Tưởng Giới Thạch giai đoạn đầu chiến tranh thế giới thứ hai.
Về sau em có được đọc hồi ký Nhớ lại và suy nghĩ của ông thì hoàn toàn không nhắc đến việc ông sang Trung Quốc làm cố vấn quân sự.
Còn trong hồi ký "Stalingrad trận đánh thế kỷ" của nguyên soái Chuikov lại có nhắc đến việc ông trở về từ Trung Quốc trước khi xảy ra trận Stalingrad.
Em dự đoán là mấy ông tác giả Trung Quốc của bộ Thập đại tùng thư đã bị lẫn lộn giữa hai nguyên soái (kiểu cùng là "cốp"). Nhưng em cũng không dám chắc lắm, vì nghe nói hồi ký Nhớ lại và suy nghĩ qua kiểm duyệt có bị cắt xén.
Bác Panphilov có cách nào kiểm chứng giúp em không ạ? Em xin cảm ơn.


Tiêu đề: Re: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô
Gửi bởi: panphilov trong 10 Tháng Tư, 2016, 09:28:11 pm
Cái này mình cũng chưa từng nghe nói bao giờ. Nếu có thông tin gì, mình sẽ nhắn bạn.