|
Tiêu đề: Những chặng đường đời Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:41:15 am (https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23292;image) Những chặng đường đời Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Năm 2013 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Vị tướng tài năng, người thủ trưởng quyết đoán, người anh đôn hậu, giành tình cảm…, đó là những từ ta thường nghe đồng chí, đồng đội và người thân nói về Thiếu tướng Mai Văn Phúc. Tên tuổi ông gắn liền với những binh đoàn mà quân thù nghe tên phải khiếp sợ, đồng độ nhắc đến đều tự hào. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, bằng lòng nhiệt thành và tính kỉ luật của anh Bộ đội Cụ Hồ, ông luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó, được đồng đội và cấp dưới kính trọng. Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã nếm trải cái đói khổ, cái cơ cực của thân phận người đi ở đợ, tận mắt thấy cảnh quê hương bị giặc giày xéo. Đó là động lực thôi thúc người con đất Hòa Hải (Hòa Vang, Quảng Nam) tham gia cách mạng và cống hiến hết mình cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Với lòng mong mỏi được đánh giặc lập công, khi đang ở bộ phận liên lạc, ông tình nguyện xin trực tiếp tham gia chiến đấu. Được như ý nguyện, ông lăn lộn khắp chiến trường Liên khu 5 khói lửa và để lại nhiều chiến công lẫy lừng. Sau khi tập kết ra Bắc, ông được cử ra nước ngoài đào tạo sĩ quan xe tăng. Sau khi về nước, ông lại nhận nhiệm vụ vào Nam xây dựng lực lượng tăng - thiết giáp cho chiến trường miền Đông Nam Bộ. Dù điều kiện khó khăn, lính xe tăng phải đánh giặc cướp xe, tự trang bị cho mình, phải chiến đấu theo kiểu đặc công… nhưng bằng nghị lực và quyết tâm của mình ông đã lãnh đạo anh em đơn vị chiến đấu dũng cảm và giành được nhiều thắng lợi. những cái tên như B16 Miền, J16 Đặc công Cơ giới Miền, Đoàn Đặc công 429, Đoàn Pháo binh 75, Đoàn Xe tăng 26 Miền… đã đi vào lịch sử. Sau ngày đất nước giành độc lập, ông được nhận một nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ: làm kinh tế. Từ người lính chiến đấu cả đời ôm cây súng nay chuyển sang lãnh đạo cả ngàn người lao động cùng các phương tiện cơ giới hiện đại để đưa ngành cao su, trong đó có Công ty cao su Phú Riềng phát triển đi lên, khiến ông không khỏi băn khoăn. Nhưng với tinh thần quyết tâm vượt mọi khó khăn của người lính Cụ Hồ, ông cùng Binh đoàn 23 hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Bộ Quốc phòng tin tưởng giao phó. Về hưu với quân hàm thiếu tướng, được trở về với cuộc sống đời thường, ông nhanh chóng hòa đồng, gần gũi với bà con khu phố, và rất quan tâm đến hoạt động từ thiện. Ông nhiều lần được nhận Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh. Nhằm giúp bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ hiểu sâu hơn về lịch sử đấu tranh chống xâm lược của các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, sự đóng góp của các quân binh chủng trong chiến thắng mùa Xuân 30-4-1975 lịch sử, sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức đã đổ mồ hôi và xương máu gây dựng lại nền kinh tế miền Đông Nam Bộ sau chiến tranh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách Những chặng đường đời của Thiếu tướng Mai Văn Phúc. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Tháng 3 năm 2013 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:42:04 am LỜI GIỚI THIỆU Ông Mai Văn Phúc xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước tại Quảng Nam, nhập ngũ từ sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và đã chiến đấu trên nhiều chiến trường với những cương vị công tác khác nhau. Được đào tạo cơ bản về xe tăng, ông đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Binh chủng Tăng - Thiết giáp tại Nam Bộ, cả trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước cũng như trong thời kì xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôi giới thiệu cuốn Những chặng đường đời của Thiếu tướng Mai Văn Phúc cùng bạn đọc. Hà Nội, Xuân Quý Tị Đại tướng LÊ ĐỨC ANH Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam LỜI THƯA TRƯỚC Tôi viết cuốn sách nhỏ này hồi tưởng về chặng đường hơn nửa thế kỉ tham gia cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Suốt dặm dài công tác, chiến đấu của tôi đều do tổ chức phân công. Tự hào được chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, lại mang trong mình phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tôi tuyệt đối phục tùng và thực hiện nhiệm vụ vì mục tiêu cao cả và luôn phấn đấu vì nghĩa lớn. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ và bảo vệ Tổ quốc, tôi may mắn được ở những đơn vị giàu truyền thống chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc. Các sự kiện lịch sử, cùng với chiến công của các đơn vị mà tôi có phần đóng góp nhỏ bé đã được ghi chép khá đầy đủ, chi tiết trong các cuốn lịch sử. Vì thế, thực lòng tôi không muốn và không có ý định viết hồi kí. Tôi được giữ nhiều cương vị công tác ở các đơn vị, binh chủng. Những kỉ niệm trong chiến đấu, công tác cũng như tình cảm đã in vào tâm trí tôi rất sâu đậm. Sau ngày hoàn thành nhiệm vụ của Đảng, Quân đội giao phó, trở về với đời thường, một số đồng chí, đồng đội từng sát cánh chiến đấu, chia ngọt sẻ bùi đã khuyến khích, động viên tôi ghi lại những sự kiện đã quan. Đặc biệt, tôi không thể quên hình ảnh những người cùng chiến đấu, đã anh dũng hi sinh trên các chiến trường. Xuất phát từ những tình cảm trân trọng và thiêng liêng ấy, tôi quyết định viết cuốn hồi ức nhằm để lại cho con cháu hiểu thêm thời sôi nổi của lớp cha ông đã sống, chiến đấu, chịu đựng gian khổ, hi sinh để giành độc lập tự do của Tổ quốc. Cuốn sách nhỏ này đến với bạn đọc là kết quả của những suy nghĩ ấy. Cuốn hồi ức Những chặng đường đời là sự tri ân của tôi đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam và đồng bào cả nước. Đó cũng là sự tri ân của tôi đối với quê hương và đức sinh thành tổ phụ nội ngoại. Là tấm lóng biết ơn tới đồng chí, đồng đội, cả người con sống và người đã đi xa, từng dìu dắt, cưu mang, che chở, đùm bọc tôi trong suốt quá trình chiến đấu và công tác. Nhân cuốn hồi ức ra mắt bạn đọc, tôi chân thành cảm ơn đồng bào trên địa bàn Liên khu 5, Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội, miền Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh: các đồng chí, đồng đội đã từng sát cánh chiến đấu, công tác cùng tôi trong hơn nửa thế kỉ qua. Cuốn sách nhỏ này chỉ thế hiện những sự kiện tiêu biểu, chắc chắn sẽ còn thiếu sót, hạn chế nhất định. Tác giả mong bạn đọc và bạn bè, đồng chí thứ lỗi. Mai Văn Phúc Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:42:33 am 1. CỘI RỄ Tôi sinh ra tại làng Khuê Bác, thôn Sơn Thủy, xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng). Người đất Quảng vốn giàu lòng yêu nước, luôn luôn ý thức sâu sắc về sự thống nhất trọn vẹn của Tổ quốc, về tinh thần thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Quảng Nam là đất quê mình Múi, đồng, sông, biển, rành rành từ lâu. Thương yêu đùm bọc trước sau Cùng trong Đại Việt chung nhau cơ đồ. Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chúng tách Đà Nẵng thành “nhượng địa”. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tỉnh Quảng Nam có thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An, bổn phú: Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ và bốn huyện: Hòa Vang, Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các phủ đều gọi là huyện và thành lập thêm bốn huyện miền núi là Bến Hiên, Bến Giằng, Phước Sơn và Trà Mi. Tháng 11 năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa sáp nhập tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong kháng chiến chống Mĩ, gọi là tỉnh Quảng Đà. Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, Đà Nẵng, Quảng Đà và Quảng Nam lại thống nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đẵng. Đến năm 1997, chia tách Quảng Nam - Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Người dân Hòa Vang tự hào có đèo Hải Vân được mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Đèo Hải Vân nằm trải dài theo sườn núi chó chiều dài 20km, là chiếc gạch nối giữa Thừa Thiên - Huế với Đà Nẵng. Dãy núi Hải Vân là bức tường thành thiên nhiên quan trọng ngăn các đợt gió mạnh từ phương Bắc tràn về. Vì vậy, các tỉnh từ Đà Nẵng, Quảng Nam trở vào hầu như quanh năm ấm áp và không có mùa đông. Từ trên độ cao 496m của đỉnh đèo Hải Vân du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Đà Nẵng đang trên đường phát triển và cảnh thanh bình của làng chài Lăng Cô ở chân đèo phía bắc. Từ bao đời nay, Hải Vân là nguồn cảm hứng của các nhà văn, nhà thơ, nhà nhiếp ảnh trong và ngoài nước. Nhà thơ Quách Tấn đã từng viết: Ải đứng ngang mây đèo hút gió Non nằm ôm biển sóng mơn trời Ngũ Hành Sơn - Non Nước nằm bên bờ biển Đông và dòng sông Trường Giang. Năm ngọn núi ngạo nghễ đứng giữa trời mây, mỗi ngọn một dáng vẻ rất ấn tượng. Núi gần biển và sông nên nhân dân địa phương gọi là hòn Non Nước. Quần thể này còn có tên “Ngũ Uẩn Sơn”, “Ngũ Chỉ Sơn”. Khoảng đầu thế kỉ XIX gọi là Ngũ Hành Sơn. Truyền thuyết kể lại rằng: “Ngũ Hành Sơn sinh ra từ một quả trứng Rồng. Sau khi đẻ trứng, Rồng quay về biển cả. Rùa vàng hiện lên chôn trứng xuống cát. Quả trứng Rồng nở ra một nàng tiên, còn năm mảnh vỏ trứng thì lớn lên mãi thành năm ngọn núi xinh đẹp đứng bên nhau như một đài hoa trên biển biếc mênh mông”. Xưa vua Minh Mạng cũng rất say mê thưởng ngoạn núi Non Nước. Khoảng năm 1837, lần thứ ba vua Minh Mạng ngự du, ông nhận ra thế đứng của năm ngọn núi ử đây theo phương vị ngũ hành của thuyết kinh dịch phương Đông nên đã đặt tên năm ngọn núi là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn và cho khắc tên vào núi. Trong 5 ngọn núi, Thủy Sơn là đẹp nhất. Nhà vua rất thích cảnh non nước hữu tình của Ngũ Hành Sơn nên đã cho xây hành cung tại núi Thủy Sơn. Thắng cảnh Ngũ Hành Sơn có nhiều hang động: Hoa Nghiêm, Huyền Không, Linh Nham, Thiên Phước Địa, Vân Nguyệt, Tam Thanh, Âm Phủ, Chiêm Thành, Bàn Cờ, Vân Thông, Tàng Chơn. Thật đúng là: Tình nghĩa năm non mây kết đá, Hiển linh sáu động gió lồng hương. Chùa ở đây cũng khá nhiều, trong đó có hai ngôi chùa được sắc ban Quốc tự là chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng. Ngoài ra còn có Vọng Giang Đài (nơi nhìn sông (là nơi có thẻ nhìn dòng sông Trường Giang uốn khúc chảy quanh co giữa đồng lứa xanh và làng mạc trù phú. Vọng Hải Đài (nơi nhìn biển) là nơi có thể nhìn ra biển Đông xa tít tận chân trời. Trong hang động Ngũ Hành Sơn còn lưu lại nhiều bia đá cổ, như bia “Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật” tại động Hoa Nghiêm, khắc năm Canh Thìn (1640); bia “Ngũ Uẩn Sơn cổ tích phật tịch diệt lạc” tại động Vân Thông, khắc năm Tân Tị (1641). Ngũ Hành Sơn còn là một di tích lịch sử. Nhiều nhà chiến lược, nhiều tài liệu tổng kết chiến tranh đã đánh giá Ngũ Hành Sơn là một “căn cứ lõm” trong hai cuộc trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, không chỉ của Hòa Hải mà còn của cả tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong những năm từ 1885 - 1916, Ngũ Hành Sơn là một nơi đi lại hoạt động bí mật của các nhà cách mạng, các sĩ phu yêu nước chống Pháp trong phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, phong trào chống thuế và cuộc khởi nghĩa của Việt nam Quang phục hội. Trong số các nhà cách mạng thời kì đầu chống thực dân Pháp hoạt động tại Ngũ Hành Sơn có ông Lê Bá Trinh, ông Huỳnh Bá Chánh là người con thân yêu của quê hương Hòa Hải. Sau ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, Hòa Hải, Ngũ Hành Sơn là địa bàn hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp của một số cán bộ cách mạng, là nơi tổ chức các cuộc họp bí mật của Đảng. Đáng nhớ nhất là vào tháng 8 năm 1937, Tỉnh ủy Quảng Nam đa mở hội nghị tại chùa Non Nước để quyết định những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng bộ trong giai đoạn 1936 - 1939. Dưới chân núi Ngũ Hành Sơn là một làng nghề chạm khắc đá mi nghệ mang tên Non Nước. Làng được hình thành từ thế kỉ XVII do nghệ nhân người Thanh Hóa tên là Huỳnh Bá Quát khai phá. Lúc đầu làm đá chỉ là nghề phụ của một số ít gia đình khi nông nhàn. Sản phẩm từ đá là những vật dụng như đá tảng kê chân cột, lắp thành giếng, bia mộ, cối giã, đến giữa thế kỉ XVII, nghề chạm khắc đá ở Khái Đông đã có bước phát triển đáng kể. Thợ đá Khái Đông đã khắc bia cho chùa Phổ Khánh, đại Hòa (Đại Lộc) năm 1678. Ông Huỳnh Văn Nên, chỉ huy nhóm thợ đá Non Nước điêu khắc bia, tượng trang trí các lăng tẩm tại kinh thành Huế được vua Thành Thái năm thứ năm cấp hàm “Cửu phẩm”. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:44:37 am Sau thế kỉ XIX thì cả làng Khái Đông đều sống bằng nghề chạm khắc đá mĩ nghệ và đã có bước tiến bộ vượt bậc. Ông Huỳnh Bá Triêm, người đầu tiên của Khái Đông dùng đá đỏ làm bộ ấm chén pha trà xinh đẹp, được xếp vào hàng đã mĩ nghệ tinh xảo, độc đáo của địa phương. Ông Nghiêm Chất lại là người đầu tiên của làng dùng đá tạc tượng. Hai pho tượng do ông sáng tạc hiện đang thờ ở động Hoa Nghiêm và động Tàng Chơn. Những bức tranh “Bác Hồ ở Việt Bắc”, “Ngôi nhà sàn Bác Hồ” bằng đá đen và đá cẩm thạch cũng là những tác phẩm đặc sắc của nghệ nhân tài hoa này. Đáng tiếc là trong một trận càn, tên sĩ quan Pháp đã lấy đi tác phẩm “Bác Hồ ở Việt Bắc” của ông mang về cố quốc.
Người thợ đá Non Nước đi khắp nơi, làm ra nhiều sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Những bức chạm ở chùa Khái Đông, Bảo tàng điêu khắc Chămpa, những mộ đá ở Nam Bộ, các bức chạm trên lăng tẩm Huế, đều in dấu tài hoa của thợ đá Non Nước. Giữa lúc kháng chiến chống Mĩ ác liệt, bất chấp nguy hiểm, ông Huỳnh Phước Thảo cùng nhiều thợ đá của quê hương đã khai thác, vận chuyển nhiều tấm đá trắng, đá cẩm thạch, đá đỏ từ núi Ngũ Hành Sơn gửi ra Hà Nội xây Lăng Bác Hồ. … Trước nhà tôi có một con sông. Sách cũ có tên là Lộ Cảnh Giang, thường gọi là sông Cổ Cò, nối liền sông Hàn với sông Hội An. Bên kia sông là thôn Khuê Nam. Con sông này là một phần tuổi thơ với bảo kỉ niệm buồn vui của tôi. Hằng ngày chúng tôi đi chăn trâu, cắt cỏ, chơi trò trận giả, nô đùa đánh nhau rồi chạy ào xuống sông tắm mát. Đứng trước sân nhà tôi ngõ về phía tây là núi Chúa (Bà Nà), Sơn Trà ở phía bắc, sau làng là biển cả; phía đông nam là núi Ngũ Hành - Non Nước. Có lẽ vì địa thế ấy mà làng tôi có tên là Sơn Thủy. Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, là “đất học”, “vùng văn”, nói sản sinh ra các nhân tài, các vị khoa bảng, những nhà hoạt động chính trị, những chiến sĩ ái quốc, các văn nhân nghệ sĩ, các nhà khoa học, công kĩ nghệ nổi tiếng. Người đất Quảng hiếu học và học giỏi, từng nổi tiếng với những “Tứ kiệt”(1), “Tứ hổ”(2), “Ngũ phụng tề phi”(3). Đến Quảng Nam - Đà Nẵng, có một thế giới cổ xưa là các đền tháp ở Mĩ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Chiên Đàn, Khương Mĩ, phố cổ Hội An được xây dựng từ nhiều thế kỉ trước cho thấy sự sáng tạo đạt tới đỉnh cao nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc của các thế hệ người xưa ở địa phương. Mặt khác, nơi đây còn giàu có và phong phú về âm nhạc, vũ điệu và phong tục. Trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên và xã hội, người Quảng Nam - Đà Nẵng đã xây đắp được nhiều truyền thống quý báu. Nổi bật nhất là tinh thần yêu nước, đấu tranh bất khuất với kẻ thù được nối tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác. Lấy cớ bảo vệ giáo dân và các giáo sĩ bị triều đình Huế đàn áp, ngày 31 tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp đã đưa 3.000 quân đổ bộ vào cảng Đà Nẵng. Âm mưu thâm độc của chúng là nhanh chóng đánh chiếm Đà Nẵng rồi tiến quân ra Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng. Nhưng quân xâm lược Pháp đã vấp phải cuộc phản kháng anh dũng và mưu trí của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau một năm tiến hành chiến tranh xâm lược, chúng vẫn không chiếm được Đà Nẵng. Ngày 8 tháng 5 năm 1859, quân Pháp dốc tất cả lực lượng đánh sâu vào Đà Nẵng, liền bị nghĩa quân và quân triều đình phản công, buộc chúng phải rút lui. Đến ngày 18 tháng 11 năm 1859, quân Pháp huy động 9 tàu chiến đánh phá phía bắc vịnh Đà Nẵng rồi đánh vượt qua đèo Hải Vân. Quân ta trên đèo bắn tên, đạn, lăn đá xuống, giết và làm bị thương hơn 300 tên. Bị thua đau, quân địch chỉ cầm cự được một thời gian và đến ngày 22 tháng 3 năm 1860, giặc Pháp rút chạy khỏi Đà Nẵng. Sau gần 19 tháng bị giặc Pháp chiếm đóng một số địa bàn, Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng. Quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang đánh thắng trận đầu quân thực dân Pháp xâm lược. Ngày 28 tháng 3 năm 1930, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Quảng Nam, phong trào cách mạng đã chuyển từ đấu tranh tự phát sang tự giác. Quảng Nam là một trong bốn địa phương giành chính quyền sớm nhất trong cả nước trong Cách mạng Tháng Tám (ngày 18 tháng 8 năm 1945). Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, quân và dân Quảng Nam đã đánh hơn 29 ngàn trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 103.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 1.522 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, quân và dân Quảng Nam phải trực tiếp đối phó với những cuộc tàn sát đẫm máu của Mĩ - ngụy ở Hà Lam - Chợ Được, Chiên Đàn, Cây Cốc, Vĩnh Trinh, Rừng chùa, Khánh Thọ, Sơn Cẩm Hà… Ngọn lửa căm thù bọn cướp nước, bán nước bốc cao trong lòng nhân dân ta. Các phong trào đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh vũ trang, thi đua “Diệt ác phá kìm” phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh. Ngày 13 tháng 3 năm 1960, khởi nghĩa làng Ông Tía mở màn, tiêu diệt gọn một tiểu đội địch. Ngày 20 tháng 8 năm 1960, lực lượng vũ trang tỉnh tiến công chi khu quận lị Hiệp Đức. Nửa cuối tháng 10 năm 1960, quân và dân Quảng Nam liên tục đánh phá các chốt điểm ở Hiên, Nam Giang, mở rộng vùng kiểm soát của ta. Tháng 10 năm 1961, các lực lượng vũ trang tỉnh và huyện vượt sông Tranh giải phóng Tiên Lãnh, Tiên Ngọc (Tiên Phước)… Sau khi Mĩ đưa quân vào Đà Nẵng (ngày 8 tháng 3 năm 1965), ngày 7 tháng 5 năm 1965 chúng đổ quân ồ ạt vào Chu Lai, quân và dân Quảng Nam phát động phong trào thi đua “giết giặc lập công”, “Quyết chiến quyết thắng giặc Mĩ xâm lược”; hình thành “Vành đai diệt Mĩ” ở Chu Lai, Núi Thành, Tam Kì. Ngày 26 tháng 5 năm 1965, Đại đội 2 Tiểu đoàn 70 và Đại đội Đặc công của Quân khu 5 tiến công vào chốt điểm Núi Thành, diệt gọn 1 đại đội thủy quân lục chiến Mĩ. Với chiến công này, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng quân và dân Quảng Nam 8 chữ vàng: Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mĩ. Chú thích (1) “Tứ kiệt” chỉ bốn người đõ phó bảng trong khoa thi hội năm Tân Sửu (1901) là Nguyễn Đình Hiếu, Phan Chu Trinh, Võ Vĩ, Nguyễn Mộng Hoán. (2) “Tứ hổ” là chỉ bốn người thi đỗ thủ khoa trong 4 khoa thi hương liên tiếp là Phan Liệu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiếu, Võ Hoành. (3) “Ngũ phụng tề phi” (năm con phượng cùng bay) chỉ năm người thi hội năm Mậu Tuất (1898) thì ba người đỗ tiến sĩ là Phạm Liêu, Phạm Tuấn, Phan Quang và hai người đó phó bảng là Ngô Chuẩn và Dương Hiền Tiến. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:45:44 am Quân và dân Quảng Nam đã đánh bại hai cuộc phản công của Mĩ - ngụy trong hai năm 1966 - 1967, tiến tới giành thắng lợi trong Xuân Mậu Thân 1968. Thừa thắng, quân và dân Quảng Nam lại làm nên chiến thắng Nông Sơn - Tuy Phước (1973), Thượng Đức (1974). Năm 1975, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với bộ đội chủ lực Quân khu tiến công giải phóng Tiên Phước (ngày 10 tháng 3), kết hợp với quần chúng nổi dậy giải phóng Tam Kì (ngày 24 tháng 3), và giải phóng Đà Nẵng ngày 29 tháng 3.
Trong hai cuộc kháng chiến, Quảng Nam có 2/3 sô thôn, xã bị địch cày ủi, đốt sạch, phá sạch; gần 60.000 người tham gia chiến đấu đã hi sinh; 20.248 thương bệnh biên. Quảng Nam là nơi “Ra ngõ gặp anh hùng”. Toàn tỉnh có 249 tập thể, cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; 6.115 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Lực lượng vũ trang tỉnh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 6 tháng 11 năm 1978; tỉnh Quảng Nam được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng. Xã Hòa Hải quê tôi thuộc miền duyên hải huyện Hòa Vang. Trong tiến trình lịch sử, Hòa Hải đã có sự phân chia, sáp nhập, hợp nhất cho phù hợp với yêu cầu xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng và đẩy mạnh công cuộc kháng chiến kiến quốc. Trước Cách mạng Tháng Tám, Hòa Hải có các làng: Khái Đông, Trà Khê, Xuân Nhâm, Hải Châu, An Nông, Trà Lộ, Tân Lưu và ấp Sơn Thủy, Đông Hải của làng Khuê Bắc. Từ Cách mạng Tháng Tám thành công đến tháng 2 năm 1946, các làng cũ vẫn là đơn vị hành chính cơ sở. Sau thắng lợi Tổng tuyển cử (6-1-1946) và bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh (17-2-1946), ta chủ trương hợp nhất các làng cũ thành những xã mới. Xã An Bắc gồm hai làng cũ: Khuê Bắc, Mĩ Thị. Xã An Đông gồm ba làng cũ: Tân Lưu, Trà Lộ, An Nông. Xã An Trung gồm ba làng cũ: Khái Đông, Trà Khê, Xuân Nhâm. Cuối năm 1947, đầu năm 1948, theo chủ trương mở rộng thành phố Đà Nẵng và tổ chức xã quy mô lớn hơn nên đã hợp nhất ba xã An Bắc, An Đông, An Trung thành xã mới đặt tên là Hòa An. Những thôn ấp: Nước Mặn, Đa Phước, Ba Đa, Vạn Du (thuộc làng Khuê Bắc) và làng Mĩ Thị của xã Mĩ An sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, thôn hải Châu của Điện Ngọc cũng được sáp nhập vào xã Hòa An. Cuối năm 1949, đầu năm 1950, do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, huyện Hòa Vang chủ trương sáp nhập các xã đồng bằng thành những xã lớn. Một lần nữa hợp nhất hai xã Hòa Phong và Hòa An thành xã Hòa Quý. Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, để chuẩn bị cho việc thi hành Hiệp định Giơnevơ, tháng 5 năm 1954, xã Hòa Quý tách ra làm ba xã: Hòa Phong, Hòa An và Hòa Quý. Xã Hòa An mới gồm các thôn: Hải Châu, Xuân Nhâm, Trà Khê, Khái Đông, Tân Lưu, Trà Lộ, An Nông và các ấp Sơn Thủy, Đông Hải (thuộc làng cũ Khuê Bắc). Cuối năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm chia xã Hòa An ra làm hai xã: Hòa Hải và Hòa Long. Sau ngày Quảng Nam - Đà Nẵng được giải phóng (29-3-1975), để phù hợp với tập quán sinh hoạt, sản xuất; phù hợp với quy mô của một xã theo quy định mới, Nhà nước chủ trương hợp nhất Hào Hải, Hòa Long (vốn là hai xã của Hòa An trong chiến tranh) lấy tên là xã Hòa Hải. Hòa Hải là hình ảnh thu nhỏ của huyện Hòa Vang, có biển, có sông, rừng núi và đồng bằng. Bờ biển Hòa Hải chạy từ Điện Ngọc đến Bắc Mĩ An dài 9km. Đồng bằng Hòa Hải tương đối hẹp, từ lâu đã bị bão cát xâm thực, ruộng đất canh tác bị cán lấn dần, diện tích hiện chỉ còn 8km2. Từ bao đời nay, Hòa Hải có truyền thống yêu nước, anh dũng, kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, nhân dân Hòa Hải nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng và nhân dân cả nước không ngại gian khổ, hi sinh, kiên quyết vùng lên chống quân xâm lược. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, quân địch tập trung rất đông, trang bị vũ khí đầy đủ và hiện đại, thực hiện âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” hòng chiếm Đà Nẵng, tạo bàn đạp để mở rộng địa bàn ra các tỉnh Khu 5, Bình Trị Thiên và Trung Lào. Phía đông Hòa Vang, quân Pháp đóng đồn bốt dày đặc. Trên diện tích chưa đầy 20km2, địch đã giăng gần chục đồn bốt, lô cốt với hàng trăm quân đồn trú. Mảnh đất Hào Hải hầu như ngày nào cũng có cảnh đầu rơi máu chảy. Ngày 21 tháng 7 âm lịch năm 1947, chúng bắt dân từ Sơn Thủy dồn xuống Tân Lưu, sát hại hơn 30 người. Anh Tư tôi và chú Mai Đăng Tị cùng hai em Đờn và Nhịp đi chăn bò, kiếm cũi cũng bị giặc Pháp sát hại. Ngày 21 tháng 12 năm 1947, giặc Pháp lại cho quân càn quét vào thôn Sơn Thủy từ mờ sáng, giết chết 53 người dân vô tội; có gia đình 4 đến 5 người đều bị chúng hãm hại. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:46:23 am Trong kháng chiến chống Mĩ, Hòa Vang là vùng bàn đạp của các đơn vị bộ đội chủ lực đánh vào thành phố. Vì thế, mảnh đất Hòa Vang thường xuyên bị bom đạn Mĩ cày đi xới lại, có vùng không còn một cành cây, ngọn cỏ nguyên vẹn. Nhưng với ý chí quật cường, bất khuất, quân và dân Hòa Vang đã vượt lên, kiên cường bám trụ, sát cánh cùng nhân dân Quảng Nam làm nên phong trào “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mĩ”.
Hòa Hải luôn nhận về mình sứ mệnh lịch sử nặng nề, cao cả trong suốt chiều dài lịch sử chống thực dân đế quốc. Là cửa ngõ phía đông nam Đà Nẵng có vị trí chiến lược cực kì quan trọng, nên đế quốc Mĩ muốn biến nơi đây thành mảnh đất tuyệt đối an toàn, là tấm áo giáp bảo vệ căn cứ hải lục không quân lớn thứ hai ở miền Nam. Mảnh đất này cũng là hành lang, là bàn đạp của các đơn vị quân đội để tân công vào sào huyệt của kẻ thù. Vì lẽ đó, Hòa Hải đã trở thành một trong những tâm điểm của cuộc đụng đầu lịch sử giữa kẻ xâm lược và người chống xâm lược. Trên mảnh đất bé nhỏ này, lúc cao nhất đã có 20 cứ điểm, đồn bốt địch; bình quân, một người dân phải đối chọi với 2 đến 3 tên giặc. Chúng lần lượt tiến hành những thủ đoạn chiến tranh khốc liệt nhất, tàn bạo nhất. Những xóm thôn, rừng cây bị cày đi xới lại nhiều lần. Mồ mả ông cha cũng bị kẻ địch đào bới. Giặc Mĩ và bè lũ tay sai đã đẩy 3.500 người vào khu tập trung, ấp chiến lược, chịu cảnh bấn cùng đói khổ. Chúng bắt bớ, đánh đập, tù đày, tra tấn hơn 1.500 người. Mỗi tấc đất Hòa Hải đều thấm đỏ bởi máu của 1.297 người con quê hương bị giết hại. Số người bị kẻ thù sát hại chiếm 32,5% so với số dân lúc bấy giờ. Có thể nói, không sử sách nào ghi hết tội ác tày trời, không có lời lẽ nào diễn tả hết những thủ đoạn man rợ của bọn thực dân đế quốc và bè lũ tay sai đối với nhân dân Hòa Hải., Nhưng với lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, nhân dân Hòa Hải đã ghi nhớ lời dạy của Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Huyện ủy Hòa Vang, Đảng bộ Hòa Hải đã lãnh đạo nhân dân “một tấc không đi, một li không rời”, “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”. Phát động chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh địch vận; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: vùng ta làm chủ, vùng địch tạm thời kiểm soát và trong hang ổ của chúng. Đánh địch với tất cả những gì có trong tay, “lấy súng Mĩ đánh Mĩ”, lập “vành đai đánh Mĩ”; vừa đánh địch vừa bồi dưỡng mình, càng đánh càng mạnh cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Trang sử vàng “Quảng Nam trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mĩ” có những dòng lấp lánh, chói sáng của quân và dân Hòa Hải. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Mĩ - ngụy tập trung đánh phá ác liệt hai thôn Tân Trà và An Nông là căn cứ đứng chân của Đảng ủy Khu 3 Hòa Vàng và Quận ủy quận 3 Đà Nẵng. Nhiều cán bộ, chiến sĩ ta hi sinh hoặc bị địch bắt, một số cơ sở mật phải di chuyển đi nơi khác. Tình thế vô cùng hiểm nghèo. Buổi chiều ngày 30 tháng 3 năm 1969, tại nhà mẹ Chàng ở vùng 5, Đội “quyết tử trụ bám” đã tổ chức lễ tuyên thệ. Mọi người đồng tâm cắt tay mình lấy máu hòa chung viết lên tấm chéo dù trắng mấy lời thề: 1. Sống thì sống trên đất Hòa Hải, chết cũng chết trên đất Hào Hải, trên góc giang sơn mà Đảng giao trụ bám. 2. Khắc sâu mối thù giặc Mĩ và bọn tay sai, quyết đánh đến cùng, mỗi ngày ít nhất phải tấn công chúng một trận. 3. Không sợ ki sinh, không sợ ác liệt, dù gian khổ tra tấn tù đày cũng giữ trọn lòng trung với Đảng, hiếu với dân. 4. Đoàn kết một lòng, sống chết có nhau tình sâu nghĩa nặng. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, quân dân Hòa Hải đã loại khỏi vòng chiến đấu 12.663 tên giặc, trong đó có 7.817 tên Mĩ, phá hủy 108 xe quân sự, bắn rơi 6 máy bay trực thăng, thu hàng trăm súng các loại. Hòa Hải là điển hình về binh vận của Quân khu 5, là xã đứng đầu về thành tích diệt Mĩ - ngụy của huyện Hòa Vang. Tháng 5 năm 1969, xã Hòa Hải được Ban Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại miền Trung Trung Bộ tặng cờ “Trung thành vô hạn, kiên cường bất khuất”. Ngày 23 tháng 11 năm 1969, Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Man Việt Nam tuyên dương danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” cho quân và dân Hòa Hải. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, Hòa Hải đã có 888 liệt sĩ, 251 thương binh. Hàng ngàn người dân vô tội đã bị quân giặc giết hại, hàng ngàn người bị bom đạn kẻ thù làm cho tàn phế. Cảm phục trước khí phách anh hùng của quân và dân Hào Hải, có nhà thơ đã viết như sau: Dẫu nơi đây đồn giặc sát bên hè, Những đôi mắt tin ngay từ phút đầu gặp gỡ. Những em bé khiến kẻ thù run sợ, Những tấm lòng trong trẻo tựa pha lê. Trăm vết thương sâu nụ cười rạng rỡ, Tấp nập anh hùng trên vạn nẻo đường quê… Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:47:17 am * Dòng tộc Mai Đăng ở Hòa Vang đã có từ rất lâu đời, vào khoảng cuối thế kỉ XV. Gia phả dòng hốc ghi: “Thái Thủy cao tổ Mai Đăng Việt tức Mai Đang Khoa từ xứ Đàng Ngoài vốn là dòng dõi Hắc Đế Mai Thúc Loan vào dừng chân ở thôn Tân Lưu, Hòa Hải, Hòa Vang, Quảng Nam định cư thời Trịnh - Nguyễn”. Do có công khai hoang lập ấp, định cư và phát triển dòng họ, khi qua đời ông được tôn xưng là Tiền Hiền. Tấm bia trên mộ ông có ghi: “Lịch triều tấn phong Tiền Hiền khai thủy Mai Đăng thủy tổ Mai Quý Công chi mộ”. Từ đường dòng họ Mai Đăng ở Tân Lưu có đôi liễn: Đôi thứ nhất: Hắc Đế lưu truyền, đại tộc vinh chiêm tam phái thủy; Tân châu tú dục, bách hoa diễm hưởng vạn niên xuân. Nghĩa là: Vua Mai Hắc Đế dõi truyền, họ tộc lớn ba phái mở ra sáng chói; bãi đất mới đậm khí thiên, trăm hoa đẹp tô điểm muôn đời tươi vui. Đôi thứ nhì: Nhứt đường hương hỏa, tinh thần tụ Tam phái vân nhưng, tử tôn hiển. Nghĩa là: Nhà thờ lửa hương nghi ngút, nên tập hợp được mọi tinh hoa; ba phái lưu truyền rực rỡ, con thảo cháu hiền mãi sum vầy. Ông cụ cố tôi là Mai Đăng Hậu thuộc đời thứ bảy, pháp danh là Chơn Nguyên. Thời triều Nguyễn, ông làm Phó Tổng Tân Lưu. Bà Trần Thị Mưu, Pháp danh Chơn Trí, người thôn Khuê Bắc. Ông bà Mai Đăng Hậu - Trần Thị Mưu sinh được 10 người con (6 trai, 4 gái). Ông nội tôi Mai Đăng Lưu là con thứ ba trong gia đình. Đến đời ông bà nội tôi Mai Đăng Lưu (Lê Thị Om inh được 10 người con nhưng có tới 9 người đều qua đời khi chưa đến tuổi trưởng thành. Chỉ còn lại cha tôi nên được gia đình nuôi dạy, cho học hành tử tế. Từ lúc tuổi còn nhỏ, cha tôi được ông bà cho đi học chữ Nho, cả chữ Nôm. Cha tôi sáng dạ, lại chăm chỉ, nên học khá nhất nhì trong vùng, được gia tộc nội ngoại và dân làng trọng dụng, nhất là khi càn đến việc giấy tờ. Cha mẹ tôi là Mai Đăng Nhạc - Phùng Thị Ngân sinh được 10 người co. Người đầu vô danh. Chị gái thứ hai là Mai Thị Trí qua phần khi chưa ra đời. Anh thứ ba là Mai Dăng Dân, anh thứ tư là Mai Đăng Sỏ. Tôi thứ năm, cha mẹ đặt tên là Mai Dăng Do. Em trai là Mai Đăng Hà và bốn em gái: Mai Thị Phò, Mai Thị Ca, Mai Thị Đờn và Mai thị Nhịp. Hai em Đờn và Nhịp bị giặc Pháp sát hại khi đang tuổi thiếu nhi. Cha tôi người cao lớn, vạm vỡ, da đỏ, săn chắc. Tôi giống cha như đúc từ dáng đi, giọng nói, tính tình. Bà con ruột thịt và người cùng thời ấy nói lại, cha tôi tính hiền lành, lúc nào cũng bình thản, khoan thai. Lần ấy nhà hàng xóm có đám giỗ, ông được mời dự. Trong khi chuyện trò, không hiểu có xích mích gì, người hàng xóm lấy chiếc cốc đánh vào đầu cha tôi. Khi về nhà thấy đầu cha sưng, chúng tôi hỏi cha mới kể. Thấy cha bị xúc phạm, mấy anh em con trai định sang đánh trả. Cha tôi nhìn từng đứa rồi nhẹ nhàng: “Họ lỡ đánh mình rồi thì thôi. Lỗi ấy họ sẽ mang suốt đời”. Lờn can ngăn của cha như những giọt nước làm tắt ngọn lửa hận thù.Thế là không có chuyện đánh nhau xảy ra. Gia đình kia sau đó cũng đã xin lỗi, từ đó chúng tôi lại sống hòa thuận, tối lửa tắt đèn có nhau. Cha tôi có ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng Nho giáo và đạo Khổng. Những tư tưởng ấy ngấm vào máu, ông trở nên khảng khái, cứng rắn, nhưng lại rất thương người, luôn bênh vực dân nghèo, kẻ yếu thế trong xã hội. Mỗi lần dạy con, ông thường liên hệ với các câu chuyện cổ, những thành ngữ, tục ngữ, đặc biệt là những câu nói nổi tiếng của Khổng Tử, Mạnh Tử. Cha tôi đọc rồi giảng giải cho các con nghe: “Thời của trời chẳng bằng lợi của đất / Lợi của đất chẳng bằng lòng hòa của người”. Cha lại dạy: “Gia bần tri hiếu tử / Quốc loạn thức trung thần”. Tôi được thừa hưởng từ gia tài tinh thần, tư tưởng của người cha, đặc biệt là tính nhân hậu. Trong quan hệ với mọi người, với làng xóm, cha thường nói: “Một nhịn chín lành”, “San sẻ cho người thì con, ăn một mình thì hết”. Lúc nhỏ chưa ý thức được nhưng khi trưởng thành và nhất là sau này, tôi càng thấm thía. Lời dạy bảo của các bậc sinh thành đã làm nên lòng yêu thương con người của tôi. Tôi luôn tự hào về cha mình. Cha tôi có cách giáo dục con không giống ai. Ông nói rất nhẹ nhàng, thường là kể một câu chuyện rồi khái quát bằng câu nói của các nhà hiền triết, hoặc bằng dân ca, tục ngữ, thành ngữ. Ngày 30 tết năm ấy, chúng tôi soạn bàn thờ, sắp xếp vàng bạc, các thứ để chuẩn bị cúng tất niên và mấy ngày tết. Trong bếp, mẹ tôi đang nấu nướng chuẩn bị cho cúng tết. Một đứa em vào bếp làm hỏng cái gì đó, trong câu mắng của bà, có đệm từ “ông nội mày”. Đang lau dọn bàn thờ, ông lẳng lặng thu dọn đồ cúng rồi mang ra giữa sân đốt. Ngọn lửa cháy to, gương mặt ông đen sạm, dãi dầu, giờ có thêm giọt nước, lấp lóa bên ánh lửa. Bữa tối đó dĩ nhiên là cả nhà ăn không ngọn. Mùng 2 tết, cậu Trùm Phụ (anh trai của mẹ) đến nhà chúc tết thấy bàn thờ trống trải, không có gì gọi là hương vị tết, ông hỏi, cha tôi nói dằn từng tiếng: “Ông bà mời chưa biết có về hay không. Chưa mời đã chửi thì còn ái dám về mà thờ với cúng”. Thế là mấy ngày tết năm ấy, cha tôi không cúng tết. Nhà có thứ gì cứ nấu ra ăn như ngày thường. Đến bữa, cha tôi đốt mấy nén hương, xin lỗi gia tiên, ông bà. Sau lần ấy, mẹ tôi có thêm bài học về giáo dục con cái. Lần khác, ba anh em tôi đi mót khoai về để cả nhà ăn thay cơm. Khoai luộc xong, mẹ tôi cho ra chiếc rổ lớn, anh em chúng tôi sào vào xuýt xoa. Tôi và mấy em cứ lật qua lật lại để tìm củ ngon. Cha tôi vừa ăn vừa quan sát. Củ nào anh em tôi loại ra, ông nhặt để riêng một chỗ. Khi rổ khoai đã hết nhưng mấy anh em chúng tôi vẫn chưa no, thò tay vào chỗ khoai cha tôi nhặt ra. Ông ngăn tay anh em chúng tôi lại; “Khoai loại ra rồi còn ăn chi nữa”. Nói vậy nhưng cha tôi bốc khoai cho vào rổ để các con ăn và không quên dặn: “Đến nơi khác mà ăn kiểu này thì người ta cho là con nhà không được giáo dục”. Cha tôi giải thích, khi ăn phải nhường cho người lớn và người nhỏ đáng tuổi em mình. Phải quan sát trước, đặt đũa tới đâu thì lấy tới đó, không được lật qua lật lại, làm như thế người khác sẽ khó chịu. Câu chuyện ấy làm anh em tôi nhớ mãi. Mẹ tôi người nhỏ, nhưng rất nhanh nhẹn. Giống như chan, mẹ tôi cũng hiền lành, chất phác và luôn thương người. Do phải trải qua mười lần “vượt cạn” cùng với nghèo túng, cơ hàn quanh năm đã vắt cạn sức khỏe của bà. Công việc hằng ngày của bà làm làm ruộng và đi chợ. Vào buổi chiều, mẹ cắp chiếc rổ ra biển chờ thuyền của cha cập bến. Cha tôi đưa số cá đánh bắt được để mẹ tôi mang ra chợ bán. Hôm nào cha tôi đánh được ít thì mẹ mua gom của các thuyền khác để mong có thêm bát gạo nuôi con. Khi mùa về, mẹ tôi làm rẽ mấy sào ruộng của những gia đình khá giả. Năm được mùa tằn tiện lắm cũng được bữa cơm bữa cháo. Gặp năm mùa màng thất bát, chỉ đủ trả thóc cho chủ ruộng. Một đời mẹ vất vả, lam lũ, không có một bát cơm đầy, không một tấm áo lành lặn. Nhưng thật hạnh phúc, cha mẹ tôi sống với nhau rất tình nghĩa, luôn chăm chút, yêu thương và chia sẻ. Mấy anh em trong nhà, mẹ thương tôi nhất. Mẹ yêu tôi nhiều vì tôi biết nhường nhịn, biết gánh vác công việc gia đình ngay từ khi còn nhỏ. Nhưng có lẽ mẹ thương tôi vì tôi không được một ngày cắp sách tới trường, không có tuổi học trò. Nhưng anh em tôi không buồn phiền gì cha mẹ, mà tự nhủ trong lòng về câu nói của cha tôi: Gia bần tri hiếu tử Quốc loạn thức trung thần Tôi luôn tự hào về dòng tộc và gia đình mình - một gia đình cách mạng. Anh trai Mai Đăng Sỏ tham gia đội tự vệ xã đã hi sinh trong một cuộc chống càn giặc Pháp. Hai người em giá đều bị giặc Pháp giết hại trong các cuộc càn quét vào thôn xóm. Anh trai Mai Đăng Dân sinh năm 1924, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đều là cơ sở che giấy cán bộ cách mạng. Em trai Mai Đăng Hà, sinh năm 1932, đã từng tham gia vào đội tự vệ xã, làm công tác xã ủy, bị giặc Pháp bắt giam ở nhà lao Đà Nẵng. Sau khi trở về, Mai Đăng Hà tiếp tục hoạt động chống Mĩ cho đến năm 1968 lại bị địch bắt và đày ra Phú Quốc. Đầu năm 1973, Mai Đăng Hà được trao trả, Nhà nước cho ra miền Bắc an dưỡng và sang Trung Quốc chữa bệnh. Năm 1975 trở về quê hương tiếp tục công tác, làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hòa Hải nhiều khóa, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. * Sinh ra trong gian khó, lớn lên dưới bóng tre làng, trong tiếng sóng biển và lời ru của mẹ, trong tình nghĩa xóm làng, đó chính là dòng sữa ngọt, giáo dưỡng, bồi đắp cho tôi tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Luôn phải sống xa quê hương nhưng dòng tộc, gia đình luôn trong trái tim tôi. Đó là nguồn sức mạnh to lớn, tiếp thêm nghị lực để tôi vượt qua mọi gian lao, thử thách trong suốt dặm đường hơn nửa thế kỉ theo Đảng đi kháng chiến, làm cách mạng. Quê hương, gia đình là cội rễ, là niềm tự hào, là tình yêu thương thành kích còn mãi trong tôi. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:47:53 am 2. KHÔNG CÓ TUỔI HỌC TRÒ Tôi sinh ngày 25 tháng 12 năm Đinh Mão - 1927. Sống trong đêm trường nô lệ của người dân mất nước và sự áp bức của bọn địa chủ phong kiến nên trong câu hát mẹ ru tôi cũng đẫm nước mắt. Chuyện thường thấy ngày ấy là cảnh đi xâu, đi lính, là đòn roi đánh đập của bọn cường hào gian ác đối với dân lành. Cũng như bao vùng quê khác dọc biển miền Trung, Hòa Vang quê tôi có tiếng là nghèo khổ. Người dân quê tôi chủ yếu sống bằng nghề nông và chài lưới. Hầu hết nhân dân lao động là dân cày nhưng người dân đa số không có ruộng. Phần lớn ruột đất bị bọn phong kiến, địa chủ cường hào chiếm hữu, một phần nhỏ là của nông dân tự khai hoang. Dải đồng bằng ven biển vốn đã nghèo về độ phì nhiêu nay gặp cảnh sưu cao thuế nặng, cuộc sống người dân ngày càng cực khổ. Đã thế, nhà tôi lại hai lần bị cháy. Lần cháy thứ nhất mẹ tôi còn ở nhà, phát hiện sớm nên đồ đạc và dụng cụ nghề biển, nghề nông còn mang ra được. Bộ ngựa bốn tấm của ông nội để lại, mà anh em tôi thường cũng cứu được. Còn lần cháy thứ hai thì có ba anh em ở nhà là Mai Đăng Hà, Mai Thị Ca và tôi là lớn hơn. Chúng tôi đang ngủ, bỗng thấy lửa cháy từ sau nhà. Khi thức dậy thì ngọn lửa đã lan rộng, nóng rát, tôi chỉ kịp dắt các em ra xa rồi vừa khóc vừa kêu la. Mấy người hàng xóm ở gần đó chạy tới thì ngọn lửa đã lan trùm khắp nhà, thiêu rụi căn nhà và toàn bộ tài sản, ngư cụ, nông cụ… Chúng tôi chỉ biết kêu khóc trước sự mất mát lớn lao này. Nguyên nhân cháy nhà có lẽ là do gia đình đi lại, cát chảy lấp ruộng. Chủ rộng đã báo động nhưng cha mẹ tôi không đi chỗ khác được vì chỗ ở nằm dưới trũng, màu gió bấc còn cát cao án ngữ giảm bớt rét lạnh cho gia đình. Có lẽ, người ta đốt nhà là buộc để mình đi nơi khác. Đó cũng chỉ là dự đoán của mấy anh em chúng tôi. Vì cha mẹ tôi ăn ở được lòng hàng xóm, không có mâu thuẫn với ai. Tuy không có của nhưng lại có công, có nghề và có chủ nên ai cần nhờ gì là cha mẹ tôi giúp đỡ tận tình. Nhà cháy lần thứ hai gia tài khánh kiệt, cha mẹ tôi phải vay mượn nhiều nơi và bà bon thân tộc nội ngoại hỗ trợ một phần mới làm được chỗ ở trú mưa nắng cho gia đình và sắm lại ngư cụ, nông cụ và đồ dùng sinh hoạt. Cảnh túng thiếu của gia đình đến cùng cực khi anh Ba Dân, anh Tư đang học lớp ba, lớp tư cũng phải nghỉ học, cha mẹ cho hai anh đi ở vừa để đỡ được vài miệng trong lúc đói kẽm vừa vay được tiền lo việc nhà. Tôi cũng các em ở nhà giúp cha mẹ việc nhỏ. Mùa gặt thì lượm những bông lúa sót, lúa rời; mùa khoai đậu thì đi mót khoai đậu. Khổ nhất là giáp hạt, ngày ba thắng tám đói rét, thiếu trước hụt sau, bữa ăn phần nhiều là khoai sắn mà cũng không đủ nỏ. Nhà trống, vườn cát trắng, đói cũng không tìm ra được cái gì để ăn. Nhiều lúc đến bữa ăn chờ mẹ đi chợ về, hoặc có hôm chờ mẹ đem cơm cấy về. Quê tôi có thói quen tục lệ là mẹ đi cấy thuê thì trưa được ăn cơm và chủ cho thêm đôi ba bát đem về cho con. Gọi là cơm nhưng thực ra một hạt cơm cõng tới chín mười lát khoai hoặc sắn ngô. Nhưng mỗi lần thấy mẹ đi cấy về, mấy anh em mừng lắm vì có cơm ăn. Mẹ đem cơm về, dặn dò đôi câu rôi đi ngay cho kịp buổi cấy chiều. Chúng tôi đem cơm ra rồi lựa những hạt cơm ít ỏi nhường cho em, còn mấy anh em chia nhau ăn phần còn lại. Cuộc sống gia đình cứ thế trôi qua. Cái ăn đã thế, cái mặc còn khó khăn hơn. Tấm áo, manh quần của mấy anh em chúng tôi cha mẹ thay nhau vá nhiều lần mà vẫn chưa kín. Đã thế, đứa nào cũng bị ghẻ lở, chấy rận lúc nhúc. Thỉnh thoảng anh Ba Dân kiếm thuốc về, bọn tôi xuống sông tắm rửa, kì cọ cho nhau, lau khô xức thuốc ghẻ, bắt chấy rận. Chúng tôi quý anh Ba Dân như chị gái. Đói đã khổ rồi, thêm cái lạnh mùa đông lại càng khổ bội phần. Quần áo đã thiếu, chiếu đắp cũng không đủ. Hai ba anh em ngủ chung, chiếu đắp không kín, đứa kéo qua, đứa kéo lại. Rốt cuộc kín đầu thì hở chân, thế rồi ôm nhau mà ngủ. Sáng dậy cười hòa với nhau. Nhà tuy nghèo, đông người nhưng lại rất thương nhau. Có lẽ chúng tôi ảnh hưởng nhiều ở cha mẹ tôi. Tôi chưa hề nghe cha mẹ to tiếng, cái vã với nhau, ngược lại từ đường kim mũi chỉ, kể cả nhai cơm cho em, cha cũng làm thay cho mẹ. Bà con xóm làng nhờ việc gì làm được là ba tôi không từ chối. Sau vụ cháy nhà lần thứ hai, cảnh túng thiếu, cơ hàn của gia đình tôi kéo dài nhiều năm. Mặc dù cha mẹ làm quần quật mà vẫn chưa khôi phục những mất mát sau vụ hỏa hoạn này. Tôi rất thương hai em gái nhỏ là Mai Thị Đờn, Mai Thị Nhịp. Đã 4 - 5 tuổi mà vẫn ở trần chăn bò, lại còn phải đi kiếm củi về đun nấu. Trước tỉnh cảnh ấy, em ruột ông nội là Mai Đăng Phong ở làng Khuê Nam thấy cha mẹ tôi khổ quá, nói với cha tôi: “Hay để chú nuôi bớt cháu Do giữ con trâu mới mua”. Cha tôi đồng ý ngay và tôi đi luôn cùng với ông. Ở kiếm cơm ăn chứ không có tiền bạc gì, ông bà, chú Ba và các cô con gái của ông: cô Duyên và cô Ngộ đều coi tôi như cháu. Vì vậy, ngoài chăn trâu, tôi không làm thêm việc gì trong nhà nữa. Khi lên 9 - 10 tuổi, cha đưa tôi về thế chân cho anh Ba Dân ở nhà bà Trùn Cơ, để anh Ba về ở cho nhà thầy Ẩn như ba tôi đã hứa trước lúc mượn tiền. Nhà thầy Ẩn làm nghề thuốc bắc. Tôi ở nhà ông chú được 2 năm thì cha tôi đưa về ở cho thầy Ẩn để anh Ba Dân về lao động phụ giúp gia đình. Lúc này anh tôi đã 17 - 18 tuổi. Từ đó, anh Ba là lao động chính trong nhà, cả nghề ruộng và nghề biển. Anh phụ với cha tôi đi cày, thả lưới, buông câu. Anh Ba tôi bơi lặn giỏi, lặn sâu 3 - 4 sải nước. Có thêm lao động chính, nên cũng có thêm đồng tiền bát gạo, giúp cha mẹ trang trải nợ nần. Những nhà mà anh em tôi đi ở đợ đều là bà con phía bà cố tôi - vợ ông Mai Đăng Hậu - Phó Tổng Tân Lưu (về phía ông thì cha tôi phải kêu các ông các bà ấy bằng anh chị, nhưng về phía bà cố vợ của cố tôi thì các chủ nhà ấy lại gọi tôi bằng anh). Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:48:21 am Trong các nhà anh em tôi ở đợ, có nhà thầy Đê là cha mẹ tôi nhờ vả nhiều hơn. Trong lúc gia đình khó khăn cũng vay mượn nhiều hơn. Vì vậy, anh Tư ở đó đã 4 - 5 năm vẫn chưa trả hết nợ. Khi anh Tư đã lớn về nhà lao động giúp cha mẹ, tôi phải đến ở thế cho thầy Đê.
Trước khi về ở cho thầy Đê, tôi buồn bã nói với cha: “Sao mà con cứ đi hoài”. Tôi muốn cha cho tôi đi học, được vui chơi với bạn bè. Tuy cùng trang lứa nhưng họ đều được cho đi học và có chữ nghĩa hơn tôi. Tôi không muốn mình mù chữ. Trong khi cha tôi được ông nội cho ăn học đầy đủ chữ Hán, có tinh thông về sách của Khổng Tử, Mạnh Tử. Trước yêu cầu chính đáng, ông ôm tôi, sụt sùi rưng lệ và nói: “Cha mẹ có lỗi với các con. Nhà ta khi có anh Ba về lao động cha mẹ cũng đỡ vất vả một phần nhưng nợ nần vẫn chưa trả xong, các em thi còn quá nhỏ. Sắp cưới vợ cho anh Ba mà nhà vẫn chưa sửa được. Anh Tư lớn rồi muốn con thay để anh Tư về thêm một lao động chính trong nhà. Nhưng thôi, cha nói với anh Tư con ráng ở vài ba năm nữa hết nợ rồi về. Nếu đến trường thì khó quá. Em Hà đang học dở, nếu thêm con đi học nữa thì gia đình rất khó khăn. Để ba gửi con lên chùa Non Nước ở với chú Ba Kí Quờn, chú Yến. Lên đó con vừa có cơm ăn, vừa học được chữ, lại được tụng kinh niệm Phật, ở nhà đi học lúc này cha mẹ không kham nổi”. Tôi nghe trong bụng cha rất muốn để mình đi học nhưng do gia đình khó khăn nên phải cho lên chùa để đi tu kiếm chữ. Lại cạo trọc đầu, gửi thân vào cửa Phật, cùng chú Ba, chú Yến đi tu suốt đời, như vậy có nên không? Tuy rất kính Phật, tôn trọng nhà chùa và các chú, nhưng đi tu cạo trọc đầu thì tôi không ưng. Đã nhiều lần gặp chú Ba, chú Yến, tôi và bọn chăn trâu, chăn bò hát nhạo báng các chú: Nam mô năm mi cái chi để đó, cái sọ thì tu, cái mu thì chùa. Các chú đã rượt đuổi tôi. Nay làm sao lên ở với các chú được, lại còn phải cạo đầu trọc, đọc kinh sớm tối như các chú tiểu. Tôi nghĩ vậy và bỏ ý định đi học. Tôi lại xin cha cho đi ở thế chân anh Tư. Cha tôi đành chấp nhận. Tôi đi ở cho nhà thầy Đê lâu nhất và cũng là thời kì để lại ấn tượng sâu đậm. Ngoài chăn bò, cắt cỏ, gánh nước, xay lúa, giã gạo, tát nước, tôi còn đi thả lưới giăng câu với chủ nhà. Nhà thầy Đê làm nghề thuốc bắc nổi tiếng khắp vùng nhưng các con của ông lại hoạt động cách mạng. Ông bà có hai người con trai. Anh con trai lớn tên là Hai Đê, vợ anh là chị Ba Giá. Họ đã có con trai tên là Chẩn, con gái tên là Ti. Chị Ba Giá có trình độ văn hóa cỡ yếu lược (tiểu học), ngoài công việc của dâu con trong nhà, đến mùa lúa, đậu phộng chị đi mua về làm gạo và ép dầu để bán. Anh con trai thứ ba là Trần Văn Chương, khi đi hoạt động cách mạng gọi là Trần Văn Hoa. Vợ anh là chị Chín Đoi cùng ở làng Khuê Đông. Trước khi khởi nghĩa mấy tháng, tôi được anh Ba Chương tin cậy nhờ đưa thư cho mấy người bạn cùng hoạt động như anh Quyết, tu ở chùa Non Nước. Sau khi cướp chính quyền, anh là xã đội trưởng đầu tiên của xã Hòa Quý. Trong một lần hướng dẫn các đội viên cách sử dụng lựu đạn, anh đã đập nhiều lần, lựu đạn nổ và hi sinh. Tôi còn đưa thư cho anh Thăng, anh Thị ở Mĩ Thị, Bà Đa, anh Trần Văn Chánh ở xóm Sơn Thủy. Sau mỗi chuyến đưa thư từ, tài liệu và được gần cách anh tôi thấy mình trưởng thành, cứng cáp, tự tin hơn. Các chú còn dạy tôi những bài học vỡ lòng về Việt Minh, về Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau Cách mạng Tháng Tám, các anh Quyến, Thăng, đều tham gia trong Ủy ban xã và các ban ngành đoàn thể, riêng anh Cháu sau này tập kết ra Bắc, làm ở Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, tôi vẫn đi ở đợ, vừa tham gia hoạt động đoàn thể thanh niên, dân quân du kích, Vì vậy, hôm nào đoàn thể thông báo có công việc thì ban ngày tôi phải gửi bò cho bạn bè trông coi về làm hết việc để đêm mới được đi. Thời gian ở nhà thầy Đê, dô tôi lao động tốt, giúp được nhiều việc cho hai chị dâu nên các chị đã dạy tôi học. Hai chị dạy tôi học vần xuôi, vần ngược, cách đánh vần, viết chính tả, làm các phép toán. Những lúc rỗi các chị vẫn đọc thơ, kể chuyện cho tôi nghe. Có những câu chuyện các chị kể đến bây giờ tôi vẫn nhớ. Nhờ lòng tốt của chị Ba Giá và chị Chín Đoi mà tôi biết được chữ, làm cơ sở để mở mang học vấn và văn hóa sau này. Đến ngày 19 tháng 12 năm 1946, giặc Pháp ở Đà Nẵng mở rộng phạm vi chiếm đóng. Chúng bắn pháo vào chùa Non Nước, vào thôn Sơn Thủy và cho lính lùng sục, càn quét. Vì vậy, nhà thầy Đê cùng bà con trong làng gồng gánh đi tản cư, vào mãi Duy Xuyên, Đại Lọc. Tôi ở nhà cùng với dân quân bảo vệ xóm làng. Sau đó xã chọn 16 người, trong đó có tôi ra tăng cường cho Tiểu đoàn 102 thuộc Trung đoàn 93 của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đang làm nhiệm vụ trên phòng tuyến phía bắc chùa Non Nước. Tôi mừng quá, bỗng chốc mình được cầm súng, không phải đi ở nữa. Tôi về báo với cha mẹ và các anh. Hai anh không muốn để tôi đi. Tôi thưa lại: một là tôi đã tròn 18 tuổi, hai là tôi đã đi ở thế để hai anh về phụ giúp cha mẹ thì nay cũng phải để tôi đi bộ đội thế hai anh. Hơn nữa, tôi đã được xã chọn vào danh sách 16 người bổ sung cho quân đội. Thế là hai anh và cha mẹ đành phải để tôi đi. Chí trai của tôi được hun đúc từ ngày ấy. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:49:08 am LÊN ĐƯỜNG ĐÁNH GIẶC Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tôi được cầm lá phiếu thực hiện quyền công dân của nước Việt Nam độc lập đi bầu Quốc hội khóa đầu tiên. Với thắng lợi to lớn của cuộc bầu cử Quốc hội và các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, chính quyền cách mạng đã được củng cố. Ủy ban hành chính các cấp do Hội đồng nhân dân bầu ra, thay cho các Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời, là cơ quan quyền lực thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Cùng với việc củng cố chính quyền cách mạng, mọi công việc chuẩn bị kháng chiến để bảo vệ chính quyền non trẻ cũng được tiến hành ráo riết. Được chính quyền và Mặt trận Việt Minh huyện Hòa Vang hướng dẫn và tổ chức, các tầng lớp nhân dân sôi nổi thực hiện chủ trương vũ trang toàn dân của Đảng.Từ phố huyện Hòa Vang đến khắp mọi làng xã, các lò rèn ngày đêm nổi lửa rèn mã tấu, dao kiếm. Quê tôi như một công binh xưởng. Cuối năm 1946, quân Pháp kéo về đóng đồn ở Mĩ Thị. Quê tôi đầy bóng giặc. Thực hiện chủ trương “vườn không nhà trống”, “tiêu thổ kháng chiến”, mẹ và các em tôi tản cư vào tận Duy Xuyên, Đại Lộc. Thanh niên trong làng người tòng quân, kẻ vào du kích. Mấy anh em tôi vào đội du kích ở lại bám trụ chiến đấu bảo vệ quê hương. Trang bị còn thô sơ nhưng lòng căm thù, ý chí giết giặc của chúng tôi lên rất cao. Tôi được chọn vào đội du kích tham gia mặt trận Non Nước. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có đoạn: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”(1). Đáp lời kêu gọi của Bác Hồ, toàn dân, toàn quân Việt Nam đã nhất tề đứng lên cầm vũ khi đánh giặc Pháp. Hòa Hải quê tôi lúc này như một chiến trường. Già trẻ, gái trai say sưa luyện tập quân sự. Các em thiếu niên nhi đồng cũng học bắn súng, múa gươm, tập đánh trận. Tinh thần thượng võ của người dân đất Quảng, nhân dân Hòa Hải được khơi dậy với một chất lượng mới. Tinh thần kiên cường bất khuất và truyền thống chống giặc ngoại xâm của người dân quê tôi như ngọn lửa được thổi bùng lên. Các tiểu đội du kích Hòa Hải hừng hực khí thế sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc. Cuộc đời của tôi không biết sẽ đến đâu nếu không có ngày trọng đại: Gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là một ngày đầu tháng 2 năm 1947, khoảng 8 - 9 giờ sáng, cha đưa tôi đến nơi tập trung giao cho đơn vị bộ đội. Đợt nhập ngũ ấy trong xã tôi có 6 anh em. Hôm ấy tôi mặc bộ quần áo ba ba may bằng vải diềm bâu nhuộm nâu. Trong chiếc túi vải nhỏ, còn thêm bộ bà ba và chiếc quần soóc. Nhà nghèo, cha mẹ đã phải vay mượn, sắm cho tôi bộ quần áo để ra đi cho “bằng anh bằng em”. Để khi mít tinh, hội họp, chiến đấu, tăng gia sản xuất tôi sẽ mặc hai bộ quần áo ấy. Nắm tay tôi, ông nói với người chỉ huy đơn vị: “Thằng con tôi còn nhỏ, còn khờ lắm, mong các anh, các chú giúp dỡ cháu”. Nói xong cha tôi khóc. Đôi vai gầy nhô lên hạ xuống theo tiếng nức nở và những giọt nước mắt lên trên gò má sạm đen. Đây là lần đầu tiên tôi thấy cha khóc. Tôi cũng khóc theo, khóc như đứa trẻ bị đánh đòn khi để trâu ăn lúa. Đến lúc có anh bộ đội dỗ tôi mới chịu yên. Cha nắm tay tôi lần nữa rồi ra về. Tôi nhìn theo bóng người cha thân yêu cho đến khi khuất hẳn sau cồn cát trắng. Bấy giờ Liên khu 5 đã có lực lượng quân sự khá mạnh với 3 đại đoàn quân chủ lực: Đại đoàn 31 đóng ở Đà Nẵng, Đại đoàn 23 đứng chân ở Bình Định và Đại đoàn 27 đảm nhiệm địa bàn tỉnh Phú Yên. Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Văn Đồng và Khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 5, chiến tranh nhân dân ở Quảng Nam - Đà Nẵng có bước phát triển mới. Lực lượng vũ trang của tỉnh có cấp trung đoàn. Nhằm đáp ứng với yêu cầu của chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang được hình thành gồm cả tại chỗ và tiếp nhận các đơn vị Nam tiến. Từ cuối năm 1947, do yêu cầu của cuộc kháng chiến nên lực lượng rút lại, chủ yếu là cấp tiểu đoàn và trung đoàn. Trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng lúc này có Trung đoàn 93 chịu trách nhiệm ở vòng ngoài và Trung đoàn 96 chủ lực của khu (do cán bộ, chiến sĩ Nam tiến làm nòng cốt) chịu trách nhiệm chiến đấu ở nội thành. Chú thích (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr.534. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:49:41 am Mục đích của ta là giam chân địch trong thành phố, còn chúng thì muốn mở rộng chiếm đóng ra các vùng nông thôn rộng lớn. Sự đối chọi mục đích ấy dẫn đến cuộc chiến đấu ở Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng và Liên khu 5 nói chung diễn ra quyết liệt ngay từ ngày đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. Lực lượng vũ trang của ta còn non trẻ, trang bị thiếu thốn nhưng chiến đấu rất dũng cảm, dám xả thân để bảo vệ từng căn nhà, đoạn đường, gốc phố. Có những tiểu đội, anh em chiến đấu đến người cuối cùng. Nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã sát cánh với lực lượng vũ trang thực hiện “vườn không nhà trống”, bất hợp tác với địch; đào hào, đắp ụ, xây dựng công sự, phá hoại cầu đường, vận chuyển, chăm sóc thương binh, phục vụ chiến đấu.
Tôi rất tự hào được chiến đấu trong đơn vị có truyền thống đánh giặc giỏi - Đại đội 9, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn 93 Quảng Nam - Đà Nẵng. Đại đội trưởng Đại đội 9 có tên là Đệ, còn Tiểu đoàn trưởng tên như con gái: Thanh Hương; Chính trị viên tiểu đoàn là đồng chí Hoàng Giao. Trung đoàn làm nhiệm vụ tại tuyến phòng thủ từ bắc chùa Non Nước lên cầu Cẩm Lệ, cầu Đỏ, huyện Hòa Vang. Tôi được phân về tiểu đội Liên - Trinh (liên lạc, trinh sát). Thấy tôi bé nhỏ, đồng chí tiểu đội trưởng phân công vào bộ phận liên lạc đại đội. Làm liên lạc được mấy ngày, tôi nằng nặc xin đi chiến đấu. Một hôm, Đại đội trưởng gọi 3 chiến sĩ người Hòa Hải: anh Sanh, anh Hữu và tôi lên giao nhiệm vụ. Đại đội trưởng bảo cần đánh một trận nghi binh, làm cho địch rối loạn và hoang mang, 3 cậu là người cùng quê, thông thạo địa hình. Tôi được chỉ định làm tổ trưởng. Chúng tôi được huấn luyện và tiếp xúc trang bị, xem đại đội làm mẫu. Hôm sau chúng tôi làm công tác chuẩn bị, rồi bí mật đến gần đồn địch để xem xét. Hôm đi đánh, đại đội giao cho chúng tôi 1 đầu đạn 105 li và 1 bộ kíp nổ nụ xòe đã lắp sẵn. Anh Đệ dặn: chỉ cần có tiếng nổ và bảo đảm an toàn là thắng lợi. Theo kế hoạch, chúng tôi tiếp cận cách đồn 200m dừng lại để ngụy trang, nhanh chóng vào tuyến xuất phát tiến công. Anh Hai Hữu cảnh giới phía trái hướng tấn công. Gần đó xóm nhà dân bỏ hoang, nhà anh Hai Hữu cũng ở đó. Tôi và anh Sanh đưa trái vào đặt ở vị trí thuận lợi. Đặt xong, anh Sanh lui ra khoảng 5m chờ tôi. Khi thấy ánh lửa nụ xòe thì vừa chạy vừa lên tiếng để tôi biết hướng vọt ra khoảng 10 bước là tới chỗ ẩn nấp. Khoảng 11 giờ đêm, không gian tĩnh lặng, tim tôi đập mạnh, các mạch máu căng lên, chảy rần rật. Tôi có hít thật sâu để lấy bình tĩnh rồi giật nụ xòe, chạy nhanh về phía sau, nhảy vào chiếc hố cá nhân. Sau tiếng nổ đinh tai, bọn địch hoảng loạn, la hét: “Việt Minh” rồi bắn ra xối xả, tiếp theo là hỏa châu, đạn cối. Tim tôi như nhảy khỏi lồng ngực, vỡ òa sung sướng. Đại đội cảm tử gồm những thành viên ưu tú nhất của tiểu đoàn. Đại đội có 2 trung đội, mỗi trung đội biên chế 50 người. Trước khi vào trận đánh, chúng tôi tin là mình sẽ lập công nhưng có thể không trở về. Biết sẽ hi sinh nhưng vẫn phải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Lời thề trong lễ tuyên thệ khi vào đại đội cảm tử luôn văng vẳng bên tai tôi: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Là đại đội cảm tử của trung đoàn, chúng tôi đánh những trận nhớ đời. Tháng 3 năm 1947, đại đội chọn chừng hai mươi người thông thuộc Đà Nẵng, bơi thạo, tổ chức thành một đội do anh Phúc, một người rất vui tính làm chỉ huy. Tôi và anh Hai Hữu xóm Nước Mặn được vinh dự tham gia trận đánh này. Đội chiến đấu có sự phối hợp của tự vệ thành và công an xung phong. Từ nơi đóng quân ở Thanh Quýt và Điện An - Điện Bàn, đội bí mạt hành quân đến tập kết tại nhà một cơ sở. Trong đêm chúng tôi lội qua sông Hàn, đột nhập vào thành phố Đà Nẵng từ hướng tây nam. Nhiệm vụ của chúng tôi là diệt ác ôn, rải truyền đơn, tập kích vào các bốt gác và trạm gác, tung lựu đạn, nổ mìn nhằm làm rối loạn hậu phương địch và cảnh cáo bọn tay sai ác ôn. Thực hiện xong kế hoạch, chúng tôi rút quân về căn cứ. Sau trận ấy, nhiều tên chống phá cách mạng khét tiếng run sợ, nằm im một thời gian không dám hoạt động. Tháng 7 năm 1947, lực lượng chúng tôi chỉ bằng một nửa trận trước, cũng được tự vệ thành và thanh niên xung phong thành phố hỗ trợ đắc lực. Từ chân núi Sơn Trà vượt sông Hàn trong đêm, tập kích các mục tiêu trong thành phố Đà Nẵng gây cho địch nhiều thiệt hại. Lúc về, chúng tôi lần theo dấu vết đường xe lửa cũ từ Đà Nẵng vào Hội An để qua làng Khái Đông lên Ngũ Giáo. Đi ngang xóm Sơn Thủy, tôi thấy hai đống lửa đang cháy, linh tính có điều gì chẳng lành. Tim tôi đập dồn dập. Ngày hôm đó giặc Pháp đi càn, bắt và giết nhiều người dân đi biển. Anh em trong tổ khuyên tôi nên ghé vào xem tình hình và thăm nhà luôn. Vào đến nhà, tôi bàng hoàng, thấy hai bàn thờ mới lập, nghi ngút khói hương. Đó là chú của tôi Mai Đăng Tự và anh trai tôi Mai Đăng Sỏ. Chú Tự ở sau nhà cha mẹ tôi. Trời còn sớm nên hai chú cháu chưa ra khơi, đang ngủ, chúng bắt hai chú cháu, cùng với nhiều người dân tập trung ở bãi biển Tân Lưu. Đến chiều trước khi rút lui, quân Pháp xả súng giết chết 30 người dân vô tội. Phần đông người bị địch sát hại là đàn ông, trai tráng đi biển. Anh em trong tổ chiến đấu chia sẻ với tôi nỗi đau thương, mất mát lớn lao này. Gạt dòng nước mắt, tôi an ủi cha mẹ và chị vợ sắp cưới của anh Tư. Không ngờ, đó cũng là đêm gặp gỡ sau cùng với thân phụ, người mà tôi chịu ảnh hưởng về nhân cách sống cho đến mãi sau này. Năm 1948, cha tôi qua đời. Từ đó tôi mãi mãi mất người cha đáng kính. Sau nỗi đau thương, mất mát, con người tôi như có sức mạnh mới. Đơn vị tôi ai cũng có mối thù không đội trời chung với giặc Pháp. Thề sẽ đánh chúng những đòn đau hơn, tiêu hao thật nhiều quân Pháp, bọn tề ngụy để trả thù nhà, đền nợ nước. Tháng 9 năm 1947, đơn vị phục kích đoàn xe bọc thép của Pháp hành quân từ Bà Rén, Vĩnh Điện, đi qua Bình Long, Phong Thử, tháp Bường An để lên Ái Nghĩa. Đại đội cảm tử hôm đó do Đại đội phó Tước chỉ huy. Chờ xe bọc thép địch đến thật gần, bộ đội xông lên tung thủ pháo. Quân địch hốt hoảng bỏ xe tháo chạy, bị bộ đội ta dùng mã tấu tiêu diệt. Trận đánh ấy quân Pháp kinh sợ đến nỗi không dám đưa cả đoàn xe ra đường, còn nhân dân ta thì được một phen hả dạ. Đánh giặc trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, cả trăm người mới có 4 - 5 khẩu carbine, mitraillette; vũ khí chủ yếu là thủ pháo và lựu đạn. Tôi đi với Trung đội trưởng Hồng nên được ưu tiên có khẩu Carbine. Anh Hồng là người sau này giới thiệu tôi vào Đảng. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:50:20 am Trong khó khăn, chúng tôi càng phải suy nghĩ, đắn đo, tính toán kĩ lưỡng. Mỗi trận đánh chúng tôi lại sáng tạo ra cách đánh mới nhằm giảm đến mức thấp nhất thương vong cho bộ đội. Tuy nhiên, vì thiếu vũ khí nên tổn thất là không tránh khỏi. Trận phục kích đoàn xe bọc thép địch, đơn vị hi sinh 13 đồng chí.
Trận thứ tư của Đại đội cảm tử tập kích quân địch ở đồn Ái Nghĩa đi càn phía tây sông Thu Bồn. Đêm ấy, địch trú quân tại nhà thờ Tứ Sơn gần Ba Ra - An Trạch thì bị chúng tôi tập kích. Địch bị thương vong khá nặng, phải bỏ dỡ cuộc càn rút quân về sớm. Trận này ta bảo toàn được lực lượng. Chiến tranh như một cơn gió cuốn chúng tôi đi. Tôi nghĩ, đã làm bộ đội chiến đấu thì phải giết được nhiều giặc, thu vũ khí, có như thế mới mau giải phóng quê hương, được vền hà với mẹ rồi lấy vợ, sinh con. Đêm 15 tháng 3 năm 1948, tại xóm Tây Cốc, thuộc huyện Thăng Bình, đồng chí Đàm Quang Trung, Chỉ huy trưởng mặt trận đọc quyết định thành lập Tiểu đoàn 39. Xuất xứ của Tiểu đoàn là những đơn vị của Cứu quốc quân 2 ra đời từ Tràng Xá, Võ Nhai (1941), là những cán bộ, chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải quyết quân (1944), của các đơn vị Nam tiến và anh em yêu nước từ Côn Minh - Trung Quốc về. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn đã làm lễ tuyên thệ, thề: “Trung thành vô hạn với Đảng, với dân, nỗ lực xây dựng tiểu đoàn mạnh, ra quân là đánh thắng”. Bộ đội hô “xin thề”, vang cả một vùng. Kết thúc lễ thành lập là chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn rất sôi động. Không chỉ đánh giặc giỏi, bộ đội ta còn có duyên trên sân khấu. Các chiến sĩ trẻ với lòng nhiệt huyết, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp thiêng liêng giải phóng dân tộc, đang say sửa hát Đời Vệ quốc quân, Bắn rơi máy bay, Rừng chiều, Tưởng lạc dòng, Trâu chuột đổi ngôi… sáng tác của Lê Đình Luân, Nguyễn Hạnh Tú, đều là cán bộ đại đội của tiểu đoàn. Tiểu đoàn 39 có 3 đại đội. Đại đội 1 và cơ quan tiểu đoàn bộ do Tiểu đoàn 100 dồn lại. Đại đội 2 chuyển từ Đại đội cảm tử của Trung đoàn 93 sang. Còn Đại đội 3 chuyển từ Đại đội Đặng Liêm của Ban Quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng. Tôi với ông Phan Quang Đạm lại được ở cùng một đơn vị. Sau đêm liên hoan là những ngày luyện quân sôi nổi tổ chức tại Vĩnh Huy, huyện Thăng Bình - Quảng Nam. Các hoạt động như thi cắm trại, thi đâm lê, ném lựu đạn, nhảy cao, nhảy xa... diễn ra rất sôi nổi. Đại đội trưởng Đại đội 1 Nguyễn Trường Vinh và Đại đội trưởng Đại đội 2 Phạm Đình Minh nhảy cao rất cừ. Tật cảm động, trong những ngành tiểu đoàn mở hội luyện quân, các mẹ, các chị ở Hà Lam, Chợ Được, Việt An, Hiền Lộc... mang cá, khoai, chè, mít... đến úy lạo bộ đội. Các mẹ, các chị thấy cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 39 khỏe mạnh, hăng say luyện tập, hứa hẹn lập công đều rất mừng và tin tưởng vào cuộc kháng chiến chống Pháp nhất định thắng lợi. Đứng trước nhiệm vụ rất nặng nề, cấp trên kiện toàn lại ban chỉ huy. Đồng chí Hoàng Thái Sơn được điều ra Bắc nhận nhiệm vụ mới; đồng chí Hồng An, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 93 được cử xuống làm Tiêu đoàn trưởng Tiểu đoàn 39. Đồng chí Hoàng Văn Giao, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 100 giữ chức Chính trị viên, đồng chí Trần Thanh Hương làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 39. Ngay sau khi Tiểu đoàn 39 thành lập, ta được tin địch tập trung quân ở cứ điểm Bà Rén chuẩn bị mở cuộc hành quân càn quét lớn vào khu vực Mộc Bài - Hương An. Ngày 13 tháng 4 năm 1948, sau khi nghiên cứu địa hình, nắm chắc quy luật hoạt động của địch, Tiểu đoàn 39, dưới sự tổ chức, chỉ huy trực tiếp của đồng chí Đàm Quang Trung đã phối hợp với bộ đội địa phương và du kích Duy Xuyên, Quế Sơn đánh địch tại Hương An. Ngày 11 tháng 4 năm 1948, mới 4 giờ sáng, bộ đôi ta đã triển khai, bố trí xong trận địa. Buổi sáng, ta cấm không cho đồng bào vào ra giữa vùng ta và vùng địch. Đến chiều, ta cho bà con đi lại bình thường. Ngày 12 tháng 4, sau khi bố trí quân xong, ta cấm hẳn việc đi lại. Đến 16 giờ, ta lại cho đồng bào qua lại và công khai rút bộ đội ra khỏi các vị trí bố phòng về Hà Lam (Thăng Bình). Trong khi rút quân, một bộ phận trinh sát và thông tin liên lạc bí mật ở lại để theo dõi, nắm tình hình và bảo vệ trận địa. Khi bộ đội về đến Hà Lam, ta tổ chức cho anh em ở các nhà dân sinh hoạt văn nghệ. Đến giữa đêm, toàn bộ lực lượng Tiểu đoàn 39 bí mật hành quân trở lại Hương An chiếm lĩnh trận địa. Khoảng 8 giờ sáng ngày 13 tháng 4 năm 1948, một tiểu đoàn Âu Phi có máy bay, pháo binh yểm trợ từ Bà Rén theo quốc lộ tiến vào Hương An. Đến cách trận địa hỏa lực của ta chừng 300m mà địch không hề hay biết. Chờ cho quân địch vào thật gần, chỉ huy Tiểu đoàn mới phát lệnh nổ súng. Sau tiếng hô “bắn” là hỏa lực 12,7 li, đại liên, súng cối... do các đồng chí Nho, Hiện... chỉ huy đã trút bão lửa xuống đội hình quân địch. Đặc biệt, khẩu đại liên “Jumơlê” 2 nòng, cứ theo trục đường 1 mà quét. Quân địch chết như ngả rạ, số còn lại hốt hoảng chạy ra hai bên đường. Chỉ chờ có thế, bộ đội ta phía đông và tây đường số 1 đồng loạt xung phong. Trận đánh diễn ra ác liệt ngay trên đường nhựa Cuối cùng không chịu nổi sức tấn công bất ngờ và áp đảo của quân ta, địch đã phải tháo chạy về Bà Rén, bỏ lại trận địa gần 200 xác lính Âu Phi, trong đó có tên quan hai chỉ huy. Hương An là trận đánh đầu tiên của Tiểu đoàn 39 và là trận tấn công cuối cùng ra vùng tự do của thực dân Pháp ở mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng; chấm dứt thời kì cầm cự, phòng ngự của ta. Hương An là bài học nghi binh, lừa địch thông minh, sáng tạo của Tiểu đoàn 39. Đây cũng là trận đánh vận động đầu tiên của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng từ sau thời kì phòng ngự. Tiểu đoàn 39 đã làm tốt nhiệm vụ đánh bại phương thức tác chiến mới của địch là càn quét để phòng thủ. Trận đánh gây được tiếng vang lớn, làm hả lòng hả dạ của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng còn kẻ thù được một bài học nhớ đời. Sau trận đánh, nhà thơ Khương Hữu Dụng đã có bài thơ ghi lại cảm xúc của mình: Rồi trận vây Hương Quế Đến trận đánh Hương An Trận trước tha chết cho quân giặc Trận sau thì trời nghiêng và đất lệch... Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 17 Tháng Mười, 2013, 08:50:45 am Khi niềm vui chiến thắng còn ngất ngây, thì đơn vị nhận lệnh đánh cầu Hương An. Tôi dẫn tiểu đội đi trinh sát, sau đó dẫn bộ đội đánh. Hương An là cây cầu sắt nằm trên đường số 1 - tuyến giao thông huyết mạch nên địch bố phòng rất mạnh. Trong lúc quân địch được trang bị vũ khí đầy đủ, có cả pháo binh, súng cối, ta chỉ có súng trường, tiểu liên, thủ pháo, lựu đạn nên trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Cuối cùng ta đánh sập được cầu, tiêu diệt được địch. Sau trận Thu Bồn làm nức lòng quân và dân xứ Quảng, đơn vị tôi liên tiếp đánh thắng hai trận phục kích giao thông tại cầu Lục Giáp và trận chống càn ở An Nông.
Đồn Cẩm Phô đứng trên một gò đất nổi, gần sát thị xã Hội An. Ta chủ trương đánh đồn Cẩm Phô là nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta và gây cho hậu phương địch mất ổn định mà trực tiếp là cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn ngụy đóng tại Hội An. Đánh đồn Cẩm Phô lần thứ nhất, ta lợi dụng sơ hở của địch và được cơ sở giúp đỡ, đêm 17 tháng 7 năm 1948, bộ đội vượt sông đánh kì tập trong đêm, thắng lợi giòn giã. Được sự giúp đỡ của binh vận huyện Duy Xuyên đã móc nối, giới thiệu những cơ sở cảm tình với cách mạng trong đó có cai Phiên và một vài lính bảo an người địa phương thân cận với ông ta. Trận này tôi được giao nhiệm vụ khá nặng nề: điều tra, móc nối với mấy gia đình người quen ở bên ngoài đồn. Do nằm trên đồi cao, lại sát sông nước, địa thế hiểm trở nên địch chủ quan. Chúng rào đồn bằng tre, lâu ngày dây leo bám đầy. Bốn góc đồn đều có hào dài từ 5 - 10m, sâu tới lưng quần, cách nhà nghỉ của lính khoảng 10 - 15m để khi có báo động chúng chạy ra đó. Đồn chỉ có một cổng ra vào. Lô cốt cho lính gác đặt sát cổng. Tổ trinh sát chúng tôi 4 người gồm các đồng chí: Hồ, Sổ, Mùi và tôi. Tối đến, tôi cùng mấy anh em vào khu gia binh của đồn. Nhà tên liêm lính gác ở bên trái cổng đồn. Vợ Liêm đang nuôi cơn thơ, cũng là cơ sở của binh vận. Nếu cần gặp Liêm ban ngày thì chị vợ đến cổng gác nhắn: nếu cần gặp cai Phiên thì nhắn qua Liêm. Còn nếu ban đêm thì dùng ánh lửa, đèn pin, hoặc hát mấy câu ru con mà các chị thường hát. Liêm nói, hát ru con ở xứ ta nhiều lắm, biết hát bài chi? Chúng tôi nhìn nhau cười. Thấy thời cơ thuận lợi, tôi nói: “Chú bảo chị ấy hát mấy câu nghe rõ là được, hát vào đêm khuya”. Chúng tôi đến nhà nói với vợ Liêm: “Chúng tôi là quân cách mạng, không làm hại ai đâu mà sợ”. Nói chuyện một lúc, tôi hát mấy câu trong bài dân ca Quảng Nam: Quạ kêu nam đáo nữ phòng Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương Trồng trầu mả thả dưới mương Làm trai hai vợ phải thương cho đồng ơ ơ… Không biết giọng hát của tôi có hay không nhưng vợ người lính gác lại rất thích thú. Khi chị ta đã tin, tôi bàn với chị tìm cách nói với anh ấy đúng giờ quy định thì mở cổng để bộ đội chúng tôi vào. Sau đó tổ trinh sát đưa ba cán bộ đại đội và các trung đội đảm nhận các hướng tấn công xuống trực tiếp xem xét trận địa. Tiếp đó anh Phạm Đình Minh - Đại đội trưởng và anh Nguyễn Bá Tước - Đại đội phó gặp cai Phiên bàn cách đánh. Chúng tôi bàn, thống nhất giờ mở cổng đồn. Cai Phiên nhìn tôi và bảo làm như cũ. Anh Minh, anh Tước ngó hỏi ý tôi thế nào, tôi nó rõ quá trình liên hệ móc nối, thời cơ đã thuận lợi. Đồn Cẩm Phô do một đại đội bảo an đóng giữ, có khoảng hai phần ba là người dân tộc Nùng quê ngoài Bắc bị giặc Pháp bắt lính. Đêm trước khi ta đánh có một trung đội được điều lên tăng cường trên thị xã Hội An. Khoảng hơn 11 giờ đêm ngày 17 tháng 7 năm 1948, đại đội tôi đã hình thành hai mũi tiếp cận đồn. Tiếng hát ru con của người vợ lính cất lên “quạ kêu nam đáo nữ phòng…”, cũng là lúc chúng tôi dán mắt vào cổng đồn, hồi hộp chờ đợi. Khi câu hát vừa chấm dứt thì tổ trinh sát của chúng tôi đã đến sát cổng gác để làm ám hiệu tiếp nhận. Đúng hợp đồng, vừa lúc ấy cổng gác mở toang. Tôi nói với chú lính gác, các chú đã hoàn thành nhiệm vụ, các chú về nhà với vợ con sẽ có cán bộ binh vận hướng dẫn. Theo phân công, đồng chí Hồ và tôi trinh sát dẫn hướng Đại đội trưởng Phạm Đình Minh. Hai đồng chí Mùi, Sổ dẫn cánh anh Tước - Đại đội phó. Bộ đội ta dùng lựu đạn, mã tấu tấn công địch là chính. Mỗi người trong đại đội đều buộc khăn trắng ở tay để làm hiệu nhận nhau. Đêm đó trời nóng, nhiều tên địch cởi trần ngủ. Nghe tiếng lựu đạn đồng loạt nổ trong các sáp ngủ của lính, đứa chết, đứa la khóc hoảng loạn. Bộ đội ta xung phong, chốt chặt, địch không kịp trở tay. Chúng tôi bắt tù binh, thu vũ khí. Ta hi sinh một đồng chí, mấy người bị thương nhẹ. Nhiều tấm gương chiến đấu rất dũng cảm. Anh Đốc một mình chém chét 5 tên địch. Cậu Mùi trinh sát nhỏ tuổi nhất đã nhảy lên sạp tre khi lính đang ngủ, vừa đạp mạnh vào sạp vừa hô to kêu gọi địch ra hàng. Gần chục tên lính hoảng sợ, từ dưới sạp bò ra xin hàng. Trận đánh đồn Cẩm Phô nhanh gọn, ta thu được vũ khí, đạn dược, đưa thương binh và lui quân đúng kế hoạch. Đại đội 1 được cả Trung đoàn 93 biết tới, nhân dân khắp vùng cảm phục, yêu mến. Quảng Nam - Đà Nẵng ngày ấy không chỉ là chiến trường ác liệt mà còn thiếu thốn, khó khăn nhiều thứ, nhất là lương thực. Bữa ăn bộ đội kham khổ, đồ dùng cá nhân hầu như không có gì. Chúng tôi lấy gáo dừa làm bát ăn cơm, lấy ống tre thay ca uống nước. Nhưng ở đâu bộ đội cũng được nhân dân nhường cơm, sẻ áo, nuôi dưỡng. Ở Quảng Nam, phong trào Hội mẹ, Hội chị binh sĩ phát triển rộng rãi. Hầu hết anh em chiến sĩ trong đơn vị vì điều kiện chiến tranh, phải sống xa gia đình, thiếu thốn tình cảm, nay có Hội mẹ, chị binh sĩ, cưu mang, chăm sóc như con em của mình nên ai cũng phấn khởi, như được bù đắp phần nào tình cảm. Các mẹ, các chị mang đến cho bộ đội từ cân gạo, tấm áo, đôi dép, chiếc mũ… Đo là tấm lòng yêu thương, trìu mến của hậu phương, động viên bộ đội ta rất nhiều để vượt qua khó khăn, gian khổ, hăng hái giết giặc lập công. Công tác giáo dục chính trị, xây dựng tư tưởng, công tác xây dựng Đảng được Tiểu đoàn 39 làm rất tốt. Đảng ủy Tiểu đoàn coi trọng phát triển đảng viên. Các độ đội đều có chi bộ, trung đội có tổ đảng. Cảm động nhất là tình cảm giữa cán bộ, chiến sĩ thân thiết như anh em ruột thịt. Sống, chiến đấu trong môi trường đồng chí đồng đội thiêng liêng, mọi người đều cảm thấy phấn chấn, hăng hái vươn lên. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:46:36 am * Đồn Thu Bồn nằm ở vị trí tiền tiêu phía tây nam Đà Nẵng, trên đường đi Ái Nghĩa do một đại đội lính Âu Phi và một trung đội lính bảo an đong giữ. Đồn được xây dựng khá kiên cố, có lô cốt, tường, hào, trang bị vũ khí mạnh. Khoảng cuối năm 1947, bị quân ta chặn đánh quyết liệt, địch không thể tấn công mở rộng vùng chiếm đóng được nữa, buộc phải dừng lại ở Bà Rén và Thu Bồn. Chúng cho xây đồn án ngữ giữa vùng tạm chiếm của địch và vùng tự do của ta. Đồng bào ở gần đồn một số bỏ nhà đi nơi khác, để lại vườn không nhà trống, thỉnh thoảng mới quay về thu hoạch cây trái. Số dân ở lại đều có lí do, một số gia đình có con em đi lính hoặc tham gia chính quyền bù nhìn ở địa phương. Số cơ sở cảm tình với ta trong đồn Thu Bồn qua vận động của binh vận họ cũng muốn chuộc tội với cách mạng. Trong số cơ sở này có lí trưởng Hương Kiểm và một số lính bảo an. Chính số này đã tạo ra nhiều việc làm để lí trưởng Hương Kiểm kêu bắt cu li vào làm. Cu li được vào nhiều hay ít đều phụ thuộc vào công việc trong đồn gồm: quét dọn, làm cỏ, chặt cây che khuất, đắp, tô tường, sửa chữa, thay sạp nằm cho lính, sửa chữa giường tủ... Một số cán bộ, chiến sĩ của đơn vị trong vai cu li cùng vài người là cơ sở của ta được bố trí vào đồn lao động. Chúng tôi được giao nhiệm vụ tìm hiểu hoạt động bố phòng trong đồn đến khi nắm chắc được địch, hiểu được dân thì cán bộ Tiểu đoàn đi thẩm định và quyết định ngày giờ đánh. Là tiểu đội trưởng trinh sát nên lần vào trong đồn có việc là tôi đều có mặt. Tôi được giao phụ trách bộ phận vào đồn lao động, kết hợp với điều tra. Trong vai người lao đông, tôi làm quen với mấy thằng Tây da đen người Marốc. Lúc đầu nó chưa tin, thình lình chộp áo ngực tôi nói: “Việt Minh”. Tôi cũng chộp áo ngực nó nói: “Việt Minh”. Nó cười. Thấy tôi làm nhiệt tình, nó tin. Nhưng để xem nó có tin thật lòng không, tôi phải thử. Hôm ấy, khi bọn lính đang ngủ trưa, dưới bến đò có người đi lên, tôi lay nó dậy, chỉ tay: “Việt Minh”, nó lắc đầu: “Không phải”. Công việc nghiên cứu, trinh sát bên trong kết hợp với điều tra ngoài đồn Thu Bồn kéo dài tới cả tháng. Khi chuẩn bị xong sợ lộ nên ta không đanh ngay vào Thu Bồn. Trận Cẩm Pho trước đó ta đánh lần hai không thành công. Lần này đơn vị thận trọng hơn, cử tôi và đồng chí Tá vào đồn thăm dò. Sau một thời gian cân nhắc, nghe ngóng cấp trên mới quyết định hạ đồn theo kiểu địch vận. Ta dùng những người lính đã được giác ngộ cùng với cu li làm lực lượng nội ứng, “đánh nở hoa trong lòng địch. Bên ngoài cửa đồn, phía bên phải là chợ Thu Bồn. Chợ được rào bằng tre đan và có cổng ra vào cùng hướng với cổng đồn. Vì vậy, theo phương án, khi nổ súng ta có một tổ khống chế cửa chợ. Chiều ngày 10 tháng 8 năm 1949, trước khi nổ súng vài giờ, chị Võ Thị Phước và mấy cô gái trẻ lại mang quà bánh, trái cây đến bán trong chợ cạnh cổng đồn nhằm thu hút, phân tán bớt lực lượng trong đồn. Từ sáng, tôi phụ trách một tiểu đội 6 người cải trang thành cu li vào đồn làm việc. Bên ngoài, Tiểu đồn phó Trương Vinh, Chính trị viên Hoàng Văn Giao đã chỉ huy bộ đội tiếp cận, bí mật giấu quấn trong các nhà dân bỏ hoang ngay từ đêm 9 tháng 8. Tất cả lực lượng của ta đều “án binh bất động”, chờ “mở màn” từng phần kịch bản đã được dày công chuẩn bị. Đầu giờ chiều, khoảng một tiểu đội địch cùng Lí trưởng Hương Mai vượt sông Thu Bồn qua lùng sục, cướp bóc vùng chợ Phú Thuận. 15 giờ, tiểu đội địch đi càn bên kia sông cũng vừa về, chúng ào ra sông tắm rửa. Trên chục tên lính Âu Phi nữa lại kéo ra đường mua bán, chọc ghẹo phụ nữ. Khác với mọi bữa, chiều nay câu chuyện của chị em dài hơn, lời nói, ánh mắt cũng có vẻ đưa đẩy, lẳng lơ hơn. Như vậy, diễn biến của tình hình đúng như kịch bản mà ta chuẩn bị. Bộ đội từ các nhà dân đã nhanh chóng tiến sát cổng đồn. Đúng 16 giờ, Trung đội trưởng trinh sát Hoàng Đại Hải, tay cầm quả lựu đạn Mĩ đã rút chốt sẵn, cùng ông Lương Chầu (hương kiểm) từ cổng đồn đi vào. Tôi và Trung độ trưởng Trần Ngọc Chuyện đã vào vị trí chiến đấu. Tôi cũng đã phân công anh em trong tiểu đội đứng vào các vị trí có lợi. Trên tay họ chỉ có con dao, cái búa nhưng tất cả đã sẵn sàng. Hải vào phòng chỉ huy, không thấy tên đồn trưởng Batard đâu, nhưng giờ nổ súng đã đến, anh ném lựu đạn vào phòng làm hiệu lệnh. Tiếng nổ của quả lựu đạn vang lên, bỗng tên đồn trưởng trong nhà chạy ra kêu la, hốt hoảng: “Qu’est ce que c’est? Qu’est ce que c’est” (Cái gì vậy? Cái gì vậy?). Hải nhanh chóng lấy khẩu súng trường mauser của địch kề bên lên đạn nhằm thẳng tấm lưng to bè của tên đồn trưởng. Batard ngã gục xuống. Hiệu lệnh tấn công đã điểm. Tôi cùng mấy anh em trong tiểu đội trinh sát dùng búa, dao, gậy gộc, nhằm thẳng đầu những tên lính Âu Phi mà bổ, nhanh chóng cướp lấy súng địch tiếp tục chiến đấu. Tôi phân công cậu Tá lên lô cốt lớn. Tên lính Marốc từ trên lô cốt nổ súng, Tá ngã gục. Tên lính Marốc lại chĩa khẩu trung liên đầu bạc vào mấy anh em ta, buộc lòng tội phải ra tay trước. Phát súng của tôi làm nó gục ngay tại chỗ. Thực tình tôi không muốn giết nó nhưng không còn cách nào khác. Lòng căm thù của bộ đội, du kích bao năm nay giờ bùng lên thành ngọn lửa. Từ ngoài cổng, các anh Trần Văn Tấn - Đại đội phó, Lê Phùng Loan, Nguyễn Anh Linh - Trung đội trưởng... chỉ huy bộ đội đóng cửa chợ, xông vào đồn giặc. Trận đánh giáp lá cà diễn ra quyết liệt. Lính Âu Phi tên nào cũng to béo, nổi tiếng là gian ngoan, xảo quyệt, nhưng ở thế đường cùng, vả lại, tên đồn trưởng đã bị ta tiêu diệt, chúng như rắn mất đầu. Trước đó, 4 tên lính bị các chị cán bộ binh vận dụ ra ngoài giữ lại không cho về đồn, du kích bắt chúng luôn ngoài chợ. Chỉ trong vòng 15 phút, toàn bộ đồn Thu Bồn bị xóa sổ. Số vũ khí trong trận này ta thu được nhiều nhất tính đến thời điểm đó. Trong đó có một khẩu đại liên Wicker hiện đại) có bầu nước ôm nòng, dây đạn bằng vải dài 250 viên), 4 trung liên, 1 súng cối 81 li, nhiều tư lệnh và súng trường mauser. Trận đánh diễn ra nhanh gọn. Ta đánh nhanh đến nỗi bọn địch may mắn còn sống sót vẫn bàng hoàng, chưa hiểu sự việc diễn biến ra sao. Kết quả, một đại đội Âu Phi bị tiêu diệt và bắt sống. Đại đội hi sinh hai đồng chí, Trung đội trưởng Trần Ngọc Chuyện và đồng chí Tá - trinh sát Tiểu đoàn 39. Trận này tôi được đơn vị khen, đề nghị cấp trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đồn Thu Bồn bị diệt làm rung chuyển hệ thống phòng thủ phía tây sông Thu Bôn của địch. Sau thất bại này, buộc quân Pháp phải rút bỏ một loạt đồn bốt khác như: Phú Nhuận, Phú Mĩ, An Khương, Kiểm Lâm… Trận thắng của Đại đội 2 chúng tôi có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của quân và dân ta. Chiến thắng Thu Bồn cho cho thấy sự hợp đồng chặt chẽ, khoa học của nhân dân địa phương, bộ đội Tiểu đoàn 39 và Ban Địch vận Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:47:08 am Ngay từ ngày đầu vào bộ đội, tôi đã đặt ra mục tiêu phấn dấu vào Đảng. Vì điều kiện chiến đấu ở chiến trường phải đánh giặc liên miên, thời gian gấp gáp, gian khoo9r, ác liệt, việc kết nạp Đảng gặp không ít khó khăn. Vả lại, có thời kì Đảng ta hoạt động không công khai. Mọi hành động của đảng viên, hoạt động của chi bộ đều trong vòng bí mật, kể cả sinh hoạt Đảng và kết nạp đảng viên. Khi đã trở thành cảm tình của Đảng, tôi được chi bộ thử thách, giao cho những nhiệm vụ mà ở đó thể hiện rõ nhất phẩm chất của người Cộng sản. Tôi còn được các đồng chí đảng viên tin tưởng phân công gác bảo vệ an toàn cho chi bộ đại đội sinh hoạt nhiều lần. Đồng chí Nguyễn Hồng - du kích Ba Tơ thời khởi nghĩa, là chi ủy viên chi bộ giới thiệu cùng với đồng chí Thanh, đồng chí Có - Trung đội trưởng và Trung đội phó giúp đỡ tôi vào Đảng. Các đồng chí dẫn tôi đi trò chuyện, tìm hiểu rồi xây dựng lí lịch trình trước chi bộ. Trong buổi lễ kết nạp, anh Thanh và anh Có đọc lí lịch, bảo đảm trước chi bộ, hứa trước chi bộ chịu trách nhiệm giới thiệu tôi vào Đảng. Đọc xong lá đơn xin vào Đảng, tôi thề trước cờ búa liềm và chân dung Bác, suốt đời chiến đấu hi sinh vì mục tiêu lí tưởng của Đảng. Tôi vô cùng xúc động và thấy trách nhiệm của mình càng nặng nề, càng vinh quang. Từ giờ phút này, tôi là người của Đảng, của cách mạng và của nhân dân. Mọi suy nghĩ và hành động của tôi đều vì mục đích và lợi ích của Đảng. Trong lòng tôi dâng lên niềm cảm xúc khó tả, vui sướng xen lẫn tự hào, thấy vị trí chiến đấu của mình dưới lá cờ của Đảng thật vinh quang. Ngày đó có ý nghĩa đặc biệt với tôi.
Đó là ngày 21 tháng 4 năm 1949. Sau ngày được đứng vào hàng ngũ của Đảng, tôi thấy mình trưởng thành, cứng cáp lên rất nhiều. Cấp trên cũng đặt nhiều niềm tin vào tôi. Những trận đánh lớn, có ý nghĩa tôi đều được tham gia. Mà đã đánh là giành thắng lợi. Đáng chú ý là trận đánh đồn Ngũ Giáp ngày 19 tháng 1 năm 1950. Đồn Ngũ Giáp nằm trong hệ thống đồn bốt bảo vệ trục giao thông chiến lược từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện, Hội An; Vĩnh Điện - Bà Rén và Vĩnh Điện - Ái Nghĩa. Dựa vào đồn Ngũ Giáp, địch có thể khống chế một vùng tạm chiếm rộng lớn gồm các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên của Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ đồn Ngũ Giáp, bọn chúng thường xuyên hành quân càn quét, bắt bớ nhân dân, đàn áp phong trào cách mạng, gây cho ta nhiều khó khăn. Cấp trê yêu cầu đánh đồn Ngũ Giáp phải chuẩn bị kĩ, đánh táo bạo, bất ngờ làm cho kẻ địch tại chỗ mất khả năng chống cự và địch từ các nơi khác không kịp ứng cứu thì mới giành được thắng lợi. Là Trung đội phó, tôi được giao đưa một tiểu đội trinh sát 6 đồng chí chuẩn bị đánh đồn Ngũ Giáp theo yêu cầu và kế hoạch của Tiểu đoàn. Đến thôn La Thọ, xã Điện An (Điện Bàn), chúng tôi chia ra ở nhà đồng chí Nhiên trinh sát và nhà bác Ổi. Xã Điện An giáp Thanh Quýt về phía tây, trú quân ở đây rất thuận lợi. Tôi phân công anh em bám địch các hướng để điều tra, nghiên cứu. Được cán bộ binh vận của tỉnh Quảng Nam và huyện Điện Bàn giới thiệu về cơ sỏ của ta, chúng tôi nhanh chóng tiếp cận. Đó là viên đồn phó đồn Ngũ Giáp, được ta giác ngộ, đang nóng lòng chờ cơ hội thuận lợi đề lập công. Cảnh giác là yếu tố bắt buộc của người lính trinh sát. Chiến đấu đã nhiều năm, tôi luôn ghi nhớ, chỉ cần một sơ hở nhỏ là có thể làm hỏng trận đánh. Chúng tôi bàn với nhau thâm nhập vào dân quanh đồn để dò xét thêm, và cũng là để thử thách cơ sở. Tôi báo cho cơ sở thời gian cụ thể sẽ đến hướng Y sát đồn nhưng lại bố trí anh em ở nơi khác. Theo dõi cả ngày không thấy địch có phản ứng gì, chúng tôi mới yên tâm. Những lần sau, chúng tôi vào sát đồn hơn để nắm quy luật hoạt động của chúng. Sau khi cân nhắc, chúng tôi chọn nhà dân ở sát bờ sông phía tây bắc làm vị trí quan sát chính. Từ đây, chúng tôi có thể phóng tầm mắt vào cả trong đồn, sân bóng và quy luật ghe thuyền đi lại trên sông Thanh Quýt. Tôi phân công đồng chí Ái theo dõi các xóm sát bờ sông nơi địch hay ra vào. Khi cần, tôi có mặt cùng với Ái tại điểm quan sát quan trọng này. Điểm quan sát thứ hai đặt tại nhà dân ở phía tây nam. Từ vị trí bí mật này chúng tôi không bỏ qua một hành động nào của địch phía sau cửa đồn và nắm tình hình nhân dân. Nhà dân ở đông nam đồn là điểm quan sát thứ ba, có nhiệm vụ theo dõi địch ra vào cổng chính. Hướng này địch có thể điều quân tiếp viện từ Bà Rén, Vĩnh Điện ra ứng cứu. Điểm thứ tư ở phía bắc sông Thanh Quýt, tây quốc lộ 1, theo dõi xe địch qua lại trong ngày, chúng ra sân bóng và tìm địa điểm chặn viện binh địch từ Đà Nẵng và đồn Quá Giãn đến ứng cứu. Đồn Ngũ Giáp nằm cách sông Thanh Quýt khoảng 100m về phía nam; phía đông cách quốc lộ 1A khoảng 200m. Đồn mở cổng chính về phía đường quốc lộ, cổng phụ hướng ra sông Thanh Quýt. Đoạn sông này có cầu bắc qua, đồng ruộng bỏ hoảng của dân, chúng làm sân đá bóng và để tập quân sự… Sông Thanh Quýt hẹp mà sâu, chảy từ tây xuống đông. Con sông là đầu mỗi giao thông quan trọng của nhân dân trong vùng, nông sản từ phía tây đưa xuống phía đông rồi mua bán, trao đổi lấy hải sản, muối mang về. Vì vậy, sông tuy nhỏ nhưng ghe thuyền đi lại khá nhiều, nhất là mùa nước lớn. Mỗi lần có thuyền qua lại lính trong đồn thường ra kiểm tra, dò xét nhưng có lúc chúng cũng chẳng ngó ngàng. Nắm được quy luật này, bộ phận trinh sát chúng tôi báo cáo cấp trên cách đánh khác với đồn Cẩm Phô và Thu Bồn. Trước khi kết thúc nhiệm vụ trinh sát, chúng tôi và cơ sở gặp nhau để tìm hiểu địch trong đồn và bố trí để cấp trên tiếp xúc. Sau khi chúng tôi báo cáo thấy có nhiều yếu tố thuận lợi, Tiểu đoàn dự kiến lực lượng chủ công, lực lượng dự bị và lực lượng chặn viện do đồng chí Nguyễn Trường Vinh dẫn đi xem xét thực địa. Chúng tôi phân công nhau đưa đoàn cán bộ đi khảo sát lần cuối. Sau cùng anh Trường Vinh gặp cơ sở trao đổi nhiều lần trong đó có việc thống nhất ám, kí hiệu cũng như hợp đồng chiến đấu giữa đơn vị và cơ sở. Trận diệt đồn Ngũ Giáp diễn ra đúng kịch bản như trinh sát chúng tôi chuẩn bị. Vào thời điểm trước khi bộ đội nổ súng, địch tổ chức cho lính ra sân bóng, kẻ đá, người cổ vũ. Đồng chí Hồ và Lễ dẫn đoàn ghe, khi nhận được ám hiệu của cơ sở lập tức ra lệnh xuất phát. Lúc này, đồng chí Ái và tôi đang ở xóm nhà dân phía tây bắc đồn cùng với khẩu đội trung liên có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở vòng gác và bắn kiềm chế không cho chúng từ trong đồn chạy ra sông. Khi đoàn ghe vừa đến sát lối lên xuống đồn, lính gác gọi: “Ghe chở gì mà nhiều thế?”. Chỉ chờ có thế, trên các ghe bộ đội ta hất ngụy trang xuống sông, nhanh chóng chạy lên bờ. Một tổ đặt súng ở đầu cầu khống chế không cho lính từ sân bóng chạy về. Khẩu trung liên chỗ đồng chí Ái lập tức bắn tiêu diệt vọng gác. Bộ đội ta nhanh chóng tiến vào đồn. Bị đánh bất ngờ, địch trong đồn chống cự yếu ớt, chỉ khoảng 15 - 20 phút ta tiêu diệt hết số lính còn lại trong đồn. Anh em khẩn trương thu vũ khí và rút lui. Ta không có ai thương vong, về đến nơi đóng quân thì trời cũng vừa tối. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:49:55 am * Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, Liên khu 5 có nhiệm vụ “Tập trung lực lượng tiến công lên Tây Nguyên”. Đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân lên Kon Tum, Đắk Lắk. Do tính chất chiến lược của Tây Nguyên, Bộ Chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm phải tiêu diệt cả ba cứ điểm Mang Đen, Mang Bút, Công Rây trong một đêm, đập tan tuyến phòng ngự hướng đông bắc Kon Tum. Tôi được giao nhiệm vụ xoi đường dẫn một hướng vượt qua cầu đánh vào thị xã Kon Tum. Đòn tiến công sấm sét mở đầu chiến dịch của ta đã gây chấn động mạnh đối với binh lính địch trong các đồn bốt còn lại. Tiểu khu Kon Tum hốt hoảng xin quân tiếp viện. Tranh thủ thời gian viện binh địch cưa tới, ta đẩy nhanh tốc độ tiến công. Sau 7 ngày vừa tiến công vừa truy kích địch, ta đã phá vớ toàn bộ thế trận của địch, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng bắc Kon Tum. Ngày 7 tháng 2 năm 1954, thị xã Kon Tum và toàn tỉnh Kon Tum hoàn toàn được giải phóng. Niềm vui chiến thắng hiện rõ trên từng gương mặt cán bộ, chiến sĩ vừa lập công trong chiến dịch giải phóng Kon Tum. Niềm vui như được nhân lên khi cả đơn vị đội ngũ chỉnh tề, lắng nghe thư khen của Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thắng lợi Kon Tum là một thắng lợi lớn của ta trên chiến trường miền Nam, nó cũng là một trong những thắng lợi to lớn của ta trong màu xuân này trên chiến trường toàn quốc”. Từ Kon Tum, đơn vị chúng tôi “xuống núi” về hướng dải đồng bằng ven biển Liên khu 5. Sau chiến dịch, đại đội tôi được trung đoàn tặng danh hiệu “Dũng cảm đánh tốt”. Niềm vui ấy đã tiếp thêm sức mạnh để các chiến sĩ hăng hái giết giặc lập công. Sau Chiến dịch Kon Tum, tôi được bổ nhiệm làm Đại đội phó Đại đội trinh sát Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803. Chính trị viên đại đội là đồng chí Lê Thấu, Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc Lân. Đơn vị được lệnh hành quân về đóng quân ở thôn Đồng Cát, xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi làm nhiệm vụ huấn luyện, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Lúc này tôi lại được bổ nhiệm Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 39 huấn luyện đột phá cho Trung đoàn 803. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn bị tiêu diệt. Chiến thắng vĩ đại này đã đẩy nhanh cao trào tiến công quân địch trên khắp cả nước. Mất Điện Biên Phủ, trên địa bàn Liên khu 5, quân Pháp hoang mang cực độ. Chúng rút chạy khỏi nhiều địa bàn quan trọng ở Nam Trung Bộ. Mặc dù đã bị thua đau nhưng trên chiến trường Liên khu 5 địch vẫn còn Binh đoàn cơ động 42. Ở Phú Yên, thừa lúc quân Pháp đang vội vã tháo chạy khỏi sông Cầu và Chí Thạnh, đêm 21 tháng 6 năm 1954, Trung đoàn 803 của chúng tôi lại hành quân chiến đấu. Được tăng cường thêm Tiểu đoàn 375 và một bộ phận đặc công của quân khu cùng lực lượng địa phương, Trung đoàn 803 chúng tôi đồng loạt tiến công cụm cứ điểm Màng Màng, các cứ điểm núi Sầm, núi Hùng, núi Chóp Chài. Tiểu đoàn 39 chúng tôi, có sự tăng cường của đơn vị bạn, nhận nhiệm vụ thọc sâu tiến công bãi đỗ xe cơ giới, kho đạn, khu chứa xăng dầu và tiểu đoàn khinh quân ngụy tại trung tâm thị xã Tuy Hò. Để vào được thị xã Tuy Hòa, đơn vị tôi phải bí mật vượt sông Đà Rằng theo hướng san by Đông Tác, cắt nhiều gò cát, lội qua khá vất vả nhưng đã đến được vị trí chiến đấu. Chiến sự diễn ra quyết liệt trong một khu vực dài 10km, rộng 4km. Sau một đêm chiến đấu, chúng tôi đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn khinh quân ngụy 717, đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn khác, phá hủy trên 300 xe cơ giới, đốt cháy và phá tung các kho xăng dầu, đạn dược dự trữ của địch tại trung tâm thị xã. Mải đánh giặc, khi ta rút, nước lên, bộ đội bơi về, có người kiệt sức giữa dòng. Anh Hai Hữu, cùng quê, đánh trận đầu với tôi ở đồn Mĩ Thị. Chúng tôi có nhiều kỉ niệm, trong trận này không may anh bị thương và hi sinh. Sau những trận chiến đấu liên tục giành thắng lợi lớn ở Phú Yên, Trung đoàn 803 lại nhận nhiệm vụ hành quân lên đường 21 và đường 14, nam Tây Nguyên đánh địch. Tiểu đoàn 39 của chúng tôi được phân công làm nhiệm vụ tác chiến trên đường 14. Trải qua 6 tháng trời chiến đấu, hành quân liên tục, từ bắc Tây Nguyên vào nam Tây Nguyên, tiến xuống tây Phú Yên, giờ phải lên đường 14. Đây là một cuộc hành quân cấp tốc, không thể chậm trễ. Tiểu đoàn 39 nhanh chóng xốc lại đội hình, khẩn trương hành quân. Ngoài vũ khí, chúng tôi phải mang theo mỗi người 15 ngày gạo và nội nhật trong 13 ngày từ tây Phú Yên, đơn vị phải có mặt tại đường 14. Khó khăn là vậy nhưng mọi người đều phấn khởi, vì đây là trận chiến đấu có ý nghĩa góp phần quyết định đánh bại cuộc hành quân Átlăng của địch nhằm thôn tính toàn bộ vùng tự do Liên khu 5. Tôi dẫn một tiểu đội trinh sát của Đại đội trinh sát Trung đoàn 803 đi điều tra. Lúc đầu mình không biết địch có trung đoàn đó. Đêm đó, địch ở Pleiku kéo xuống để đi càn. * Sau ngày đình chiến, tôi và anh Lê Thấu - Chính trị viên đại đội được cấp trên cho về thăm nhà trước khi đi tập kết. Anh Thấy về Tam Kì - vùng tự do, còn tôi về Sơn Thủy - Hòa Hải. Gặp lại mẹ và anh Ba Dân tôi mừng không kìm được nước mắt. Mẹ và anh cho tôi biết, em trai Mai Đăng Hà hoạt động cách mạng bị giặc Pháp bắt giam tại nhà lao Đà Nẵng. Sáng sớm hôm sau tôi lên đường vào Đà Nẵng. Ngày đó ở quê tôi bà con đi chợ Hàn - Đà Nẵng bằng ghe chèo. Mỗi ghe chỉ chở được 15 - 20 người, đi dọc theo sống trước nhà tôi, ra sông Cái, xuống bến Hàn. Lúc đó quê tôi ít người đi đường bộ, đường sắt. Đường xe lửa từ Đà Nẵng vào Hội An bị chiến tranh tàn phá, bỏ lâu ngày, cây dương liễu rậm rạp, rất dễ bị cướp giật, dân rất sợ nên ít đi đường bộ. Tôi theo ghe xuống Đà Nẵng, tìm vào nhà lao nhưng lúc đó anh em tù đi làm chưa về. Tôi đứng gần cổng chờ một lúc mới nhìn thấy em trai đi lao động khổ sai về. Anh em chỉ nhìn nhau, không nói được câu nào. * Trong mỗi chiến công đều có sự hi sinh. Hình ảnh Trung đội trưởng Trương Tế, Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Toàn, Phạm Nết... anh dũng hi sinh trước giờ chiến thắng làm tôi day dứt, thương nhớ tới họ khôn nguôi. Lửa đạn chiến tranh đã cướp đi những cán bộ hứa hẹn tài năng của Trung đoàn 803: Trung đội trưởng Khương Thế Xương (con trai nhà thơ Khương Hữu Dụng), Đại đội trưởng Lê Hanh Tú văn võ song toàn. Những bài thơ, bản nhạc của Lê Đình Luân, Nguyễn Hanh Tú ngày ấy có giá trị tinh thần to lớn, thổi bùng lên ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc, động viên bộ đội giết giặc lập công. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm đầy máu lửa đã tôi luyện lớp cán bộ, chiến sĩ trung thành vô hạn với Đảng, hiếu với dân. Được chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803 anh hùng trên một chiến trường Liên khu 5 rộng lớn, ác liệt là niềm tự hào của tôi. Từ trường học này, chúng tôi bước tiếp chặng hành trình mới dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:50:23 am 4. BƯỚC NGOẶT Sau 9 năm chiến đấu cực kì gian khổ và vô cùng anh dũng, cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi bằng trận “Điện Biên chấn động địa cầu”. Trong khi miền Bắc được giải phóng, nhân dân ta phấn khởi lao động sản xuất, khôi phục và phát triển kinh tế thì đế quốc Mĩ nhảy vào thay chân thực dân Pháp, chiếm miền Nam làm thuộc địa kiểu mới của chúng, hòng ngăn chặn phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam châu Á. Trên cơ sở phân tích sâu sắc, đúng đắn tình hình, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết kịp thời chỉ rõ kẻ thù và xã định nhiệm vụ cách mạng nước ta lúc này là: “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành động lập dân tộc và dân chủ trong cả nước, tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta”. Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng, Tổng Quân ủy đã có nghị quyết cụ thể, đồng thời thông qua các kế hoạch về nhiệm vụ xây dựng quân đội. Trong kế hoạch, phương hướng hằm xây dựng một quân đội cách mạng, chính quy và tương đối hiện đại, có bộ binh, pháo binh và một số binh chủng bảo đảm, đồng thời đặt cơ sở đầu tiên cho các binh chủng, quân chủng khác như thiết giáp, không quân, hải quân. Kế hoạch này cũng nêu rõ: “Cử cán bộ đi học các trường trong và ngoài nước” nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ và “phải đặc biệt chú trọng công tác chuẩn bị cơ sở vật chất” đáp ứng yêu cầu xây dựng các binh chủng kĩ thuật hiện đại. Chuẩn bị cho bước phát triển mới của quân đội, ngày 18 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng thành lập Trường Văn hóa với phiên hiệu D126. Trường đóng ở Kiến An (Hải Phòng) trên vùng đất thuộc khu vực 300 ngày khi quân Pháp vừa rút khỏi miền Bắc. Trường làm nhiệm vụ dạy văn hóa cho cán bộ chưa học hết cấp 2, cấp 3 và bồi dưỡng văn hóa, ngoại ngữ cho cán bộ, chiến sĩ trước khi gửi sang các nước Liên Xô, Trung Quốc đào tạo. Tháng 6 năm 1955, đang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trợ chiến của Trung đoàn 93 (Sư đoàn 324), tôi được cáp trên giao nhiệm vụ: Đi học văn hóa, ngoại ngữ, chuẩn bị sang nước bạn đào tạo xe tăng. Sinh ra dưới chế độ cũ, chịu nhiều đọa đày đau khổ của thực dân phong kiến, chưa một ngày tôi được đến trường, nay đi học văn hóa chính quy quả là điều nằm mơ cũng không thấy. Ngày đi ở đợ, tôi học lén được đôi ba bài quốc ngữ, chỉ mới dừng lại ở mức đọc và viết được. Vò bộ đội người biết dạy người không biết, rồi học bổ túc do đơn vị mở, “lưng vốn” văn hóa của tôi cũng mới chỉ tương đương lớp 6, lớp 7. Làm lính chiến đấu trong tay tôi chỉ có khẩu súng trường Mútcơtông, vài quả lựu đạn, mặc quần xã lỏn đi đánh giặc nay sắp được “cưỡi” xe tăng không mừng sao được. Niềm vui đến quá bất ngờ khiến đêm ấy tôi không tài nào chợp mắt được. Một ngày nào đó tôi được chỉ huy những chiếc xe tăng, bên tháp pháo có ngôi sao màu đỏ, vượt Trường Sơn về giải phóng quê hương. Vừa mới đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, Hải Phòng cũng như bao thành phố khác của Việt Nam nhà cửa đều còn tiêu điều. Trường Văn hóa mới được thành lập trên cơ sở vật chất cũng chưa có gì đáng kể. Chúng tôi được biên chế vào Tiểu đoàn học viên 126. Tôi ở đại đội do anh Nguyễn Quốc Trị làm Đại đội trưởng; anh Tiên, cán bộ Tiểu đoàn 307 rất nổi tiếng của Nam Bộ làm Chính trị viên. Trong hơn một năm, mỗi người phải hoàn thành chương trình học tập khá nặng: 3 tháng phải xong một lớp, ngoài ra còn có chương trình tiếng Trung cấp tốc. Đã “lên bệ phóng”, không còn cách nào khác phải căng mình lên mà học. Học tập lúc này không chỉ là nhiệm vụ mà là mệnh lệnh thiêng liêng của quân đội, nói rộng ra là mệnh lệnh của Tổ quốc đối với mỗi người lính chúng tôi. Học tiếng Trung Quốc là thử thách không nhỏ của những người vừa qua chiến đấu như chúng tôi. Cuối khóa, nhà trường mời một đồng chí người Trung Quốc nói chuyện để chúng tôi nghe thử. Do trình độ anh em còn có hạn, lại nghe người Quảng Đông nói nên có đồng chí không hiểu. Sau này khi đã sang Trung Quốc, chúng tôi kể chuyện, có học viên bạn nói vui: “Trời không sợ, đất không sợ, chỉ sợ người Quảng Đông nói tiếng Bắc Kinh”. Những ngày ở Kiến An thật sôi nổi. Ngoài học tập văn hóa, ngoại ngữ, chiều chiều chúng tôi còn được học quốc tế vũ. Vì không có phụ nữ, chúng tôi cứ ôm lấy nhau mà nhảy theo nhịp trống “cắc tùng, cắc tùng”. Tốt nghiệp Trường Văn hóa, chúng tôi lại hành quân về Hà Nội, vào nghỉ tại nhà khách của Bộ Quốc phòng (Trạm 66 bây giờ). Đoàn cán bộ sang Trung Quốc học về xe tăng đợt này có 36 người do anh Đào Huy Vũ làm trưởng đoàn, anh Dương Đăng Giang làm phó đoàn. Đào Huy Vũ là người anh cả của chúng tôi. Anh sinh năm 1924, đã chiến đấu trên nhiều chiến trường, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị cán bộ thuộc Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu. Với chúng tôi, Đào Huy Vũ là người anh nghiêm khắc nhưng tận tình, chu đáo. Hầu hết anh em đi học nước ngoài đợt này đều đã qua chiến đấu đánh Pháp trên các chiến trường Bắc - Trung - Nam, một số đã tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều người trong đoàn đã lập được chiến công, được thưởng huân, huy chương. Về chức vụ, có hai anh là cán bộ trung đoàn, bảy cán bộ tiểu đoàn, còn lại đều là cán bộ đại đội, trung đội, tiểu đội. Về tuổi đời, cao nhất là anh Đào Huy Vũ - 32 tuổi, người trẻ nhất là Bùi Đức Tính, mới 19 tuổi. Ngày 20 tháng 8 năm 1956, đồng chí Phạm Ngọc Mậu - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay mặt Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đến giao nhiệm vụ cho đoàn. Đồng chí cán bộ đại diện cho Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị đọc quyết định thành lập chi bộ và chỉ định cấp ủy gồm 5 đồng chí: Đào Huy Vũ, Dương Đằng Giang, Lê Xuân Kiện, Nguyễn Văn Phước và tôi. Đồng chí Đào Huy Vũ được giao làm bí thư chi bộ. Từ giờ phút này trở đi, tôi thấy nhiệm vụ của mình trước Đảng, trước quân đội và nhân dan nặng nề hơn. Tôi thầm hứa sẽ học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với sự tin cậy của đồng chí, đồng đội. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:50:49 am Ngày 22 tháng 8 năm 1956, chi bộ họp và sau đó họp toàn đoàn để quán triệt nhiệm vụ và xác định quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ học tập. Những ngày sau đó là không khí khẩn trương, náo nức của anh em chúng tôi.
17 giờ ngày hôm đó, đoàn vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam gặp gỡ, chiêu đãi tại Nhà khách Bộ Quốc phòng 33 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Đại tướng nói: “Các đồng chí là lớp đầu tiên sang Trung Quốc đào tạo cán bộ xe tăng, sau này sẽ gửi các lớp thành viên sang đào tạo tiếp”. Đại tướng chúc mọi người có sức khỏe, học tập thật tốt để trở về phục vụ quân đội, phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Buổi tiệc đứng hôm ấy thật cảm động khi gần cuối buổi chiêu đãi, Đại tướng thân tình: “Các đồng chí cứ ăn uống tự nhiên. Ăn không hết thì mang về”. Khoảng 4 giờ chiều ngày 24 tháng 8 năm 1956, xe của Tổng cục Chính trị đưa anh em chúng tôi từ Nhà khách Bộ Quốc phòng ra ga Hàng Cỏ. Anh em ai cũng vui, phấn khởi nhưng đều có chút bịn rịn trên gương mặt khi phải chia tay vợ con, gia đình. Một số người có vợ ra tiễn mắt đỏ hoe. Đúng 17 giờ 30 phút, đoàn tàu liên vận quốc tế kéo hồi còi dài, từ từ lăn bánh rời ga Hàng cỏ. Đêm đầu thu Hà Nội, trời đầy sao, gió nhẹ. Gần đến ngày Quốc khánh 2 tháng 9 nên không khí ở Thủ đô khá sôi nổi. Trên mỗi gương mặt người Hà Nội đều ánh lên niềm tin yêu vào chế độ mới. Hòa bình chỉ có trên nửa nước, miền Nam đang bị kẻ thù xâm lược, nhan dân còn bị kìm kẹp, tù đày. Mỗi ngày ở miền Nam là một ngày nhân dân ta còn bị kẻ thù gieo tang tóc, chịu cảnh đầu rơi, máu chảy. Tôi ngóng về phương Nam, nơi xa ấy còn có mẹ già và những người thân yêu đang sống trong vung địch kiểm soát. Dòng suy tưởng ấy đi cùng đoàn tàu ngược về phương Bắc. Đến sáng ngày 25 tháng 8 năm 1956, tàu đến ga Bằng Tường, chúng tôi chuyển sang đi tàu hỏa của Trung Quốc. Trên chuyến tàu liên vận quốc tế sang Bắc Kinh có nhiều câu chuyện đến nay tôi vẫn còn nhớ như in. Khi nhân viên đến toa của đoàn cán bộ quân đội Việt Nam yêu cầu điều gì đó, vì nghe không rõ, trưởng đoàn hô anh em: “Đeo khẩu trang”. Đến lúc này thì bạn cũng ớ người ra rồi nhắc đi nhắc lại “Hu chao, hu chao”. Hóa ra, nhân viên hải quan yêu cầu kiểm tra hộ chiếu (hu chao), trưởng đoàn nghe ra thành “khẩu chao” là đeo khẩu trang. Anh em được một trận cười thoải mái. Trên tàu, chúng tôi được báo ăn từng bữa theo tiêu chuẩn khá cao. Khi nhân viên phục vụ đến buồng chúng tôi hỏi suất ăn, anh em nói bằng tiếng Trung Quốc 5 đồng một bữa. Người phục vụ nhìn mấy anh bộ đội Việt Nam nói tiếng Trung chưa sõi, gật đầu cười rồi đi về phía cuối đoàn tàu. Đến trưa, trên bàn ăn của 5 người la liệt thức ăn, hỏi ra mới biết phục vụ đã làm cơm cho chúng tôi mỗi suất 5 đồng. “Sự cố” ấy do khả năng diễn đạt tiếng Trung của anh em còn yếu nêm mỗi suất một đồng thành 5 đồng. Sau bữa ấy, chúng tôi có thêm bài học kinh nghiệm về vốn ngoại ngữ và quyết tâm luyện tập kĩ năng nghe và nói tiếng Trung Quốc để phục vụ tốt cho học tập, công tác sau này. Khi tàu chạy ban ngày, chúng tôi ai cũng muốn nhìn qua cửa sổ để ngắm đất nước Trung Hoa vĩ đại. Làng xóm, nhà máy, đền đài, cả những dòng sông của đất nước Trung Hoa đều mới lạ, hấp dẫn chúng tôi. Sau 3 ngày 4 đêm trên chuyến tàu liên vận quốc tế Hà Nội - Bắc Kinh, tàu đã về đến ga Phong Đài, lúc ấy là 16 giờ 30 phút ngày 27 tháng 8 năm 1956. Bước xuống sân ga, một niềm vui dâng lên trong tôi đến khó tả. Sân ga đông kín người, tiếng còi tàu rú vang tưởng như không dứt, những đường ray sáng lấp lóa, tàu ra vào ga như con thoi. Các cán bộ Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc đã chờ đón chúng tôi. Họ bắt tay, ôm hôn chúng tôi như đón những người thân đi xa trở về. Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 đóng ở Tân Điếm cách trung tâm thủ đô Bắc Kinh 30km. Doanh trại nhà trường năm trên khu đất rộng với nhiều dãy nhà cao 2 - 3 tầng. Đoàn Việt Nam sang học được bạn bố trí ở gọn trên tầng 2 của một ngôi nhà. Mấy ngày đầu mới sang chúng tôi được nghỉ ngơi, đi tham quan một số danh lam thắng cảnh của thủ đô Bắc Kinh, làm công tác tổ chức, tìm hiểu truyền thống nhà trường. Đoàn Việt Nam được biên chế thành một trung đội thuộc đại đội học viên do Trương Bản Chí làm Đại đội trưởng. Trưởng đoàn Đào Huy Vũ bây giờ là Trung đội trưởng, Trung đội phó là cán bộ khung của trường: Trung úy Nội Tùng Đình. Trương Đạo Hà làm phiên dịch cho lớp. Ngày 5 tháng 10 năm 1956, nhà trường khai giảng năm học mới theo chương trình đào tạo sĩ quan 3 năm. Năm học đầu tiên chúng tôi gặp nhiều khó khăn cả trong học tập và sinh hoạt. Vốn tiếng của lớp còn hạn chế nên nói và viết đều chậm. Thời tiến ở Trung Quốc cũng khác ta, mùa hè rất nóng còn mua đông có bão tuyết, nhiệt độ thường là dưới không độ. Lần đầu tiên được thấy tuyết rơi, mấy anh em còn trẻ chạy ra hứng tuyết, reo hò. Sau đó vào mùa đông, giờ thể dục buổi sáng chúng tôi chỉ việc quét tuyết đã thấy mệt. Những ngày đầu do ăn uống chưa quen có người đã bị ốm. Chi bộ họp ra nghị quyết, xác định quyết tâm trong học tập, rèn luyện; mỗi đảng viên phải là một tấm gương sáng để anh em noi theo. Từng tiểu đội tổ chức học thêm ngoài giờ, phân công kèm cặp. Chúng tôi tranh thủ thời gian để học. Học ngày, học đêm, học trên giảng đường, học ngoài bãi tập, tự học ở nhà. Tuy vất vả nhưng rất vui vì kết quả học tập tiến bộ. Trong sinh hoạt ngày thường khi tiếp xúc với bạn nhiều chuyện tức cười đã xảy ra. Đá bóng vào học viên bạn, không nói “xin lỗi” mà lại “cảm ơn”. Khi vào cửa hàng mua cao hổ cốt nói sai thành cao dán nhọt. Buồn cười nhất là khi đi ra chợ, anh em quên từ “con gà mái”, phải nói là “mau vợ con gà trống”. Chương trình học tập chủ yếu là chiến thuật quân sự, công tác chỉ huy - tham mưu, học khai thác sử dụng xe tăng thiết giáp, học lái ô tô, lái xe tăng; học khai thác sử dụng vũ khí, khí tài quang học, phòng hóa. Về phương pháp, bạn rất coi trọng rèn luyện kĩ năng, vì vậy chúng tôi được học và thực hành rất kĩ. Từ năm học thứ hai, lớp tiến bộ rất nhanh, tiếp thu bài ít khi cần đến phiên dịch. Có những nội dung kiểm tra, thi nhiều lần nên anh em chúng tôi hầu như thuộc lòng, sử dụng phương tiện thành thục. Nhiều bài thì chúng tôi còn đạt kết quả cao hơn cả học viên bạn. Tiếng Trung Quốc cũng có tiến bộ vượt bậc, đã có nhiều đồng chí nói nghe tốt như Lê Xuân Kiện, Phùng Văn Minh, Đỗ Văn Xảo, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Đình Doãn. Tuy nhiên, một số đồng chí nói và nghe tiếng Trung Quốc còn yếu. Tôi còn nhớ đồng chí Lê Thành Liễu, khi giáo viên đề nghị thực hành thì làm đâu ra đấy, nhưng hỏi lí thuyết thì lắc đầu “tôi không biết”. Đồng chí Liễu người Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, rất tốt, hiền từ, cả lớp ai cũng mến, chỉ tội phát âm tiếng Trung Quốc không chuẩn. Sau buổi kiểm tra của giáo viên, nhiều người gọi vui Lê Thành Liễu là đồng chí “Tôi không biết”. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:51:22 am Huấn luyện dã ngoại luôn là niềm hứng thú của mỗi học viên chúng tôi. Mỗi đợt hành quân như thế bạn đặt ra yêu cầu rất cao. Trong hành quân, huấn luyện dã ngoại các tình huống huấn luyện giả định như chiến tranh. Bộ đội ăn lương khô, bánh mì, không được nấu nướng. Địa điểm huấn luyện dã ngoại có cái tên rất đẹp: Thạch Gia Trang. Tại đây có bãi lái, bãi tập chiến thuật từ cấp trung đội cho đến trung đoàn xe tăng. Mỗi đợt huấn luyện dã ngoại trở về ai cũng gầy, đen, nhưng điều quan trọng nhất chính là mỗi chúng tôi rắn rỏi, trưởng thành lên rất nhiều về thực hành lái, bắn, chiến thuật và năng lực chỉ huy chiến đấu.
Ba năm học tập, rèn luyện ở Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc. Nhà trường có một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, tận tình chu đáo trong giảng dạy, coi học viên Việt Nam như những người đồng chí, người anh em. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh giáo viên bắn súng Tiền Biêu bao giờ cũng đến lớp rất sớm. Mùa đông Trung Quốc lạnh, những hôm rét, nhiệt độ xuống dưới mấy độ âm. Khi chúng tôi đang ngủ thì thầy Tiền Biêu đã đến để xem lò sưởi đù ấm cho anh em chưa. Thầy giáo chiến thuật Khương Vân Hải nhà ở gần trường nên nhiều hôm ở lại hướng dẫn thêm cho học viên Việt Nam những bài học khó. Ngày ấy, Trung Quốc mới tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, mọi người phải “thắt lưng buộc bụng” để xây dựng đất nước. Lúc ấy, bạn đang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1956 - 1960). Chúng tôi vào học được vài tháng thì đất nước Trung Hoa diễn ra một sự kiện lớn: Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (họp từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 11 năm 1956). Trung Quốc là đất nước rộng lớn với diện tích gần 10 triệu cây số vuông. Dân số ngày ấy khoảng 600 triệu người. Từ năm 1957, kinh tế đã có dấu hiệu đi xuống, bắt đầu những năm mất mùa. Sản lượng lương thực của Trung Quốc năm 1958 giảm 200 triệu tấn. Tuy đang gặp phải những khó khăn nhưng bạn chăm lo cho học viên quân sự Việt Nam rất chu đáo trong điều kiện tốt nhất có thể. Bạn bố trí cho 4 học viên ở trong một phòng có bàn ghế, giường tủ đầy đủ. Để chống lại cái giá lạnh của phương Bắc, bạn trang bị cho học viên ba quần áo bông, áo khoác bông, nệm giường cũng bằng bông. Hệ thống lò sưởi bằng hơi nước được lắp đặt đến tận phòng ngủ. Đời sống văn hóa của học viên cũng được bảo đảm, có phòng chơi bóng bàn, phòng đọc sách, căng tin bán các mặt hàng thiết yếu với giá rẻ. Thời kì chúng tôi học, Trung Quốc đang thực hiện phong trào thi đua “Đại nhảy vọt”. Trong nhà trường, “Đại vọt tiến” cũng diễn ra rất sôi nổi. Hưởng ứng phong trào thi đua này, chúng tôi đăng kí học tập, rèn luyện, lao động sản xuất tốt, không hề chịu thua kém học viên Trung Quốc. Phía sau nhà ở có một khu đất đại đội chia cho chúng tôi tăng gia rau xanh. Trên khu đất ấy, chúng tôi trồng rau muống mang hạt từ Việt Nam sang, nhưng nhiều hơn là củ cải đường. Để cho năng suất cao, chúng tôi đào đất, xới tung lên như đào công sự. Đất được làm kĩ, những luống rau trồng sau tốt hơn hẳn. Chúng tôi thu hoạch rau bán cho nhà bếp mỗi tháng đôi lần được đại đội khen ngợi. Ngày đó, Trung Quốc đang có phong trào: “Toàn dân làm gang thép”. Lớp học viên chúng tôi hưởng ứng bằng cách ra thao trường tìm chốt xích, bánh chịu nặng, dải xích mang về cưa ra, cho vào lò nấu thép thành gang. Kỉ niệm đáng nhớ nhất của chúng tôi khi học ở Trung Quốc là đợt đi lao động xây dựng công trình đại thủy nông Thập Tam Lăng. Trên công trường này, hằng ngày có tới cả vạn người gồm bộ đội, nhân dân, học sinh, sinh viên lao động. Anh em chúng tôi gánh đất từ chân dốc, vượt qua con đê cao, đổ vào xe goòng chở đi. Lao động thủ công rất vất vả nhưng ăn uống chủ yếu là “Ua thầu” (bánh ngô). Vì là bộ đội Việt Nam nên chỉ huy công trường ưu tiên cho chúng tôi được ăn cơm. Nhiều hôm, đồng chí Đào Huy Vũ mang cơm sang đổi cho đơn vị bạn lấy bánh ngô. Việc làm này được đơn vị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc rất cảm động. Để kỉ niệm một tháng lao động, đồng chí Mai Thanh Bình đã sáng tác bài hát vui “Ua thầu”. Một tháng lao động trên đại công trường Thập Tam Lăng đã trôi qua nhờ sức trẻ, các câu chuyện, bài hát vui góp phần xua tan mệt nhọc. Trong đào tạo, bạn rất coi trọng đến các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Hàng tuần chúng tôi đều được xem phi, chủ yếu là các bộ phim chiến đấu của Hồng quân Liên Xô, Trung Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc kháng chiến chống Nhật và cuộc “Kháng Mĩ viện Triều”. Nhà trường còn định kì tổ chức các hoạt động liên hoan văn nghệ. Tôi nhớ lầy ấy trung đội dàn dựng tiết mục “Hò kéo pháo” và múa sạp để tham gia liên hoan văn nghệ với nhà trường. Vì không có nữ nên các anh Dương Đằng Giang, Nguyễn Đình Doãn, Nguyễn Tường Tiến đóng vai cô gái Thái. Nguyễn Đình Doãn quê Đô Lương - Nghệ An trẻ nhất nhì lớp, mới 21 - 22 tuổi, lại đẹp trai, có giọng hát hay. Trong tiết mục “Hò kéo pháo”, anh đảm nhiệm lĩnh xướng được bạn khen ngợi. Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh là trường học quân sự lớn đầu đời của tôi. Cách đào tạo của bạn khá hiện đại nhưng lại gần gũi, sát với cán bộ, chiến sĩ người Việt Nam vừa đi qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vốn đang yếu về kiến thức. Sau mỗi học kì, nhà trường tổ chức hướng dẫn ôn cho cả lớp. Các đồng chí giáo viên kĩ thuật, chiến thuật đã tận tình giúp đỡ anh em trong lúc ôn tập, giải đáp, hướng dẫn những câu hỏi để nắm chắc bài. Các đợt kiểm tra học kì và cuối năm lớp đều đạt yêu cầu, có từ 65% khá giỏi. Trong ba năm học tập, nhiều đồng chí đã lập được thành tích xuất sắc, được nhận Huy hiệu Hữu nghị của Chủ tịch Mao Trạch Đông. Ba năm lao động, “cày xới” trên “cánh đồng tri thức” về chỉ huy, kĩ thuật xe tăng, nay “mùa gặt” đã đến. 100% đảng viên trong chi bộ xác định quyết tâm “ôn luyện tốt, thi tốt nghiệp đạt kết quả cao”. Nhà trường tổ chức kì thi tốt nghiệp quốc gia, anh em đều thi rất tự tin, không qua phiên dịch. Đồng chí Nguyễn Thế Hùng, khi thi môn Chính trị đã trả lời hai tiếng đồng hồ bằng tiếng Trung, được hội đồng thi cho điểm xuất sắc. Vốn là dân xứ Quảng, phát âm thường nặng nên thời kì đầu tôi học tiếng Trung Quốc khá vất vả. Nhưng do sự cố gắng của bản thân, lại được đồng chí đồng đội giúp đỡ, tôi luôn đạt điểm khá các môn trong suốt quá trình học tập. Cả 36 đồng chí đều đỗ tốt nghiệp, trong đó có 27 người đạt điểm khá giỏi, trong đó có tôi. Chúng tôi đã trưởng thành lên rất nhiều sau ba năm học tập trên đất nước Trung Hoa. Trong sâu thẳm trái tim mình, chúng tôi biết an Đảng cộng sản Trung Quốc, Chính phủ, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Bộ Tư lệnh Xe tăng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chúng tôi cũng rất biết ơn tới Ban giám hiệu, các cán bộ, giáo viên, nhân viên phục vụ Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc đã hết lòng giúp đỡ, tận tình giảng dạy và phục vụ, góp phần bồi đắp tình hữu nghị Việt - Trung đời đời bền vững. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:53:17 am Ngày 16 tháng 8 năm 1959, nhà trường làm lễ tốt nghiệp cho các sĩ quan Việt nam. Bữa tiệc do Ban giám hiệu nhà trường tổ chức rất trọng thể, có rượu Mao Đài, thịt lợn quay, vịt quay Bắc Kinh, cá rán.
Sau khi tốt nghiệp, theo chỉ thị của Bộ Quốc phòng nước ta, lớp sĩ quan chỉ huy chúng tôi cùng với lớp sĩ quan kĩ thuật Trường Xe tăng số 2, lớp đào tạo kíp xe Trường Hạ sĩ quan số 4, lớp đào tạo thợ sửa chữa Trường số 5 về tập trung tại thành phố Quế Lâm tỉnh Quảng Tây để chuẩn bị làm lễ thành lập trung đoàn. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Quảng Tây là hậu phương của Việt Nam. Số vũ khí trang bị của nước bạn Liên Xô viện trợ cho ta cũng được tập kết tại đây. Thật vui mừng và cảm động, chúng tôi được đón 23 đồng chí cán bộ chính trị từ chính trị viên đại đội đến chính ủy trung đoàn vừa ở nhà sang. Trong số họ, có người đã cùng tôi chiến đấu chống Pháp trên chiến trường Liên khu 5. Những ngày trên đất bạn, chúng tôi đón nhận từ niềm vui này đến niềm vui khác. Niềm vui và hạnh phúc đến với chúng tôi khá bất ngờ khi từng đoàn tàu hỏa chở gần 100 xe tăng, pháo tự hành dừng bánh ở ga Quế Lâm. Chúng tôi nhận xe, thay phiên nhau chỉ huy, lái xe chạy trên đường bộ 10km từ ga xe lửa về doanh trại. Tuy rất mệt nhưng ai cũng vui và tự hào. Ngày thành lập trung đoàn sắp đến, chúng tôi khẩn trương kiểm tra, bảo dưỡng xe máy, vũ khí, khí tài. Xe tăng T34 do Liên Xô sản xuất phục vụ cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống phát xít Đức. Trong số 100 xe tăng, pháo tự hành viện trợ cho ta có chiếc đã từng tung hoành trên chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Để xe sạch, đẹp chúng tôi phải tháo gỡ từng tấm nhíp, đục cậy hết đất đá bám chặt vào các răng xích, thay hết các tấm và chốt xích đã quá tiêu chuẩn cho phép. Sau khi công tác bảo dưỡng hoàn tất, trên tháp pháo từng xe được in hình phiên hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam (vòng tròn nền đỏ sao vàng) và đánh số bắt đầu từ 100, tiếp theo 101, 102. Thế là từ đây, quân đội ta đã có một loại trang bị hiện đại, trong khi nền công nghiệp nước nhà còn nhỏ bé. Hầu hết anh em chúng tôi đều là con cháu nông dân, được Đảng, nhân dân giao cho quản lí sử dụng một loại trang bị hiện đại, chúng tôi vừa sung sướng, vừa tự hào. Thấy rõ hơn trách nhiệm của mình - những chiến sĩ xe tăng của quân đội ta. Cuối tháng 8 năm 1959, Trung đoàn làm công tác biên chế. Quân phục Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã nộp lại cho nhà trường, quân phục quân đội ta chưa đưa sang kịp, thế là anh em mặc quần xanh áo trắng đứng làm lễ. Chúng tôi đội ngũ chỉnh tề, trang nghiêm đứng dưới lá cờ Tổ quốc nghe đồng chí Đào Huy Vũ đọc quyết định biên chế và giao trang bị cho từng người, từng phân đội. Chiếc xe mang số hiệu 100 do Thiếu tá Đào Huy Vũ - Trung đoàn trưởng làm trưởng xe. Tiếp đến là Đại úy Nguyễn Văn Phước - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 trưởng xe tăng số 101; Trung úy Phùng Văn Minh - Đại đội trưởng Đại đội 1 - trưởng xe tăng số 102. Cứ như vậy, gần hai giờ đồng hồ, tên mỗi cán bộ được đặt vào vị trí chiến đấu trên từng chiếc xe tăng, pháo tự hành và các vị trí công tác khác. Đọc đến tên ai người ấy đáp “Có” dõng dạc, hiên ngang bước lên phía trước, xếp thành hàng ngang trên đầu xe của mình như đội hình chiến đấu. Ngay sau lễ công bố các quyết định về biên chế, tổ chức, một bộ phận gồm các đồng chí: Dương Đằng Giang, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng, Bùi Đức Tính, Nguyễn Xuân Khai, Nguyễn Đình Doãn… về trước để lo xây dựng khu xe, tìm trường bắn, bãi lái cho trung đoàn. Lễ thành lập Trung đoàn xe tăng 202 - đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta được tổ chức tại thành phố Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc) vào đúng ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1959. Thiếu tướng Trần Văn Quang - Phó Tổng tham mưu trưởng thay mặt Bộ Quốc phòng công bố quyết định thành lập Trung đoàn. Anh Đào Huy Vũ được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng. Tôi có quyết định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3. Trung úy Phùng Văn Minh - Đại đội trưởng Đại đội 1 được vinh dự thay mặt cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn phát biểu cảm tưởng. Trong tình cảm xúc động, Phùng Văn Minh đã bày tỏ lòng biết ơn Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã giáo dục, rèn luyện, nay đã giao cho quản lí, sử dụng trang bị vũ khí hiện đại này. Anh cũng đã thay mặt chúng tôi cảm ơn Đảng, nhân dân, Quân đội Trung Quốc đã tận tình giúp đỡ, đào tạo chúng tôi từ chiến sĩ bộ binh thành những chiến sĩ xe tăng thiết giáp có khả năng chiến đấu tốt và hứa sẽ tích cực học tập xây dựng trung đoàn vững mạnh, sẵn sàng về nước cùng toàn quân, toàn dân chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau này, chúng tôi được biết, ngày 5 tháng 10 năm 1959 là ngày Bộ Quốc phòng kí quyết định lấy làm ngày truyền thống trung đoàn. Nhưng ngày 2 tháng 9 năm 1959, mãi mãi in đậm trong tâm khảm mỗi chúng tôi về sự ra đời Trung đoàn 202 xe tăng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong khi chờ đợi ngày về nước và được sự giúp đỡ của bạn, Trung đoàn bước vào đợt luyện tập mới. Đại đội 1 của Trung đoàn 202 do Trung úy Phùng Văn Minh chỉ huy tiến hành diễn tập thực binh với tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn La Thịnh Giáo của bạn. Đây là sư đoàn vừa về nước sau khi đã lập nhiều thành tích trong cuộc “Kháng Mĩ viện Triều”. Do đã được đào tạo cơ bản, luyện tập nhiều lần, lại thành thạo tiếng Trung Quốc nên cuộc diễn tập đạt kết quả tốt. Cùng thời gian này, Đại đội xe tăng 2 do Trung úy Nguyễn Hữu Trí chỉ huy tiến hành luyện tập dùng pháo xe tăng thực hành bắn đạn thật vào cụm mục tiêu cũng đạt kết quả tốt. Đợt diễn tập với Quân giải phóng nhân dân Trung quốc của Trung đoàn xe tăng 202 được bạn đánh giá xuất sắc. Sau diễn tập, Trung đoàn tiếp tục huấn luyện, chăm sóc xe pháo, đợi ngày về nước. Nhiệm vụ mới đang chờ tôi ở phía trước! Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 24 Tháng Mười, 2013, 10:53:43 am 5. BỆ PHÓNG Việc thành lập Trung đoàn xe tăng 202 thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong lúc đưa cán bộ, chiến sĩ sang Liên Xô, Trung Quốc đào tạo về chỉ huy, kĩ thuật và thành viên kíp xe tăng thiết giáp, Bộ Quốc phòng đã thành lập Công trường 92, gấp rút xây dựng doanh trại chính quy cho đơn vị xe tăng đầu tiên. Địa điểm được chọn để đặt doanh trại thuộc xã Kim Long, huyện tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Nói đó thuộc khu vực núi Đanh, nằm ở kilômét số 6 trên trục đường từ thị xã Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát Tam Đảo. Doanh trại của trung đoàn được thiết kế theo mẫu trung đoàn xe tăng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Chỉ mấy ngày sau khi thành lập Trung đoàn xe tăng 202 tại Quế Lâm - Trung Quốc, chúng tôi hăm hở lên đường trở về đất mẹ Việt Nam. Ba ngày ba đêm ngồi trên tàu hỏa, chúng tôi mới về đến ga Hàng Cỏ - Hà Nội. Sau đó anh em chuyển tàu lên Vĩnh Yên. Về đến Kim Long, vì doanh trại chưa xây xong nên phần lớn ở nhờ nhà dân trong làng Hữu thủ, làng Gô. Kim Long là miền trung du “rừng cọ đồi chè”, cuộc sống nhân dân êm đềm như bao làng quê khác ở miền Bắc. Những ngôi nhà nhỏ nằm men dưới chân đồi, bốn mùa rợp bóng tre, bóng cọ. Bà con Hữu Thủ, Kim Long chủ yếu trồng mía, hoa màu, cây ăn quả. Để có nước dùng, người dân Kim Long phải đào giếng xuyên qua mấy tầng đá ong. Đêm hè, đi học tập, công tác về, chúng tôi ra giếng, kéo lên những gàu nước mát lạnh. Đặc sản ở vùng quê này có dứa, mít, chè xanh. Sống ở Hữu Thủ, tôi có cảm nhận hết vẻ đẹp hình ảnh trong bài thơ “Bầm ơi” của nhà thơ Tố Hữu. Mỗi lần đi huấn luyện, học tập về, các mẹ, các chị thường dành cho chúng tôi củ khoai, củ sắn, bát nước chè xanh thơm át. Chỉ ở trong nhà dân được mấy tháng nhưng tôi thấy tình cảm yêu thương của nhân dân dành cho bộ đội xe tăng thật lớn lao. Đó là tình quân dân cá nước vô cùng xinh đẹp. Đơn vị đã hình thành, nhưng kí tài, trang bị chiến đấu và huấn luyện chưa vận chuyển về nước. Sau khi ổn định thành công, Trung đoàn mở đợt sinh hoạt chính trị và triển khai kế hoạch chuẩn bị cho nhiệm vụ huấn luyện theo chỉ thị xây dựng binh chủng của Bộ Tổng tham mưu. Đây là đợt sinh hoạt chính trị lớn của quân đội, nhằm bước đầu nâng cao nhận thức về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, đường lối quân sự của Đảng và nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới, trên cơ sở đó xây dựng, củng cố lập trường quan điểm giai cấp công nhân, nâng cao nhiệt tình và trách nhiệm xây dựng quân đội, xây dựng đơn vị, khắc phục tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, lo lắng băn khoăn về tiền đồ, hưởng thụ. Qua học tập, toàn trung đoàn đã có chuyển biến mới thành một khối thống nhất về ý chí, tư tưởng, hăng hái thực hiện nhiệm vụ với một khí thế mới. Đại hội Đảng bộ Trung đoàn lần thứ nhất diễn ra trong sự mong đợi của nhiều cán bộ, đảng viên. Đại hội đã xác định những vấn đề cơ bản và phương hướng hành động cụ thể, để xây dựng Trung đoàn “chính quy, tinh nhuệ”, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ mới. Đồng chí Dặng Quang Long được bầu làm Bí thư, đồng chí Đào Huy Vũ là Phó Bí thư, tôi được bầu làm Đảng ủy viên. Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nhưng để bảo đảm cơ sở vật chất cho nhiệm vụ trước mắt, trung đoàn tham gia lao động cùng với Công trường 92, khẩn trương xây dựng khu để xe để sớm tiếp nhận trang bị, khí tài viện trợ. Bộ đội chia ra nhiều ca, kíp lao động suốt ngày đêm. Cả một vùng đồi Kim Long vốn yên tĩnh nay được đánh thức bởi tiếng loa, hò hát, đèn điện sáng trưng. Trung tá, Trung đoàn trưởng Đào Huy Vũ đề xuất ý kiến cùng với đào móng xây nhà đồng thời trồng cây xanh. Ngay sau đó, một “chiến dịch” trồng cây được phát động toàn công trường, cả bộ đội và công nhân cùng trồng, chăm sóc. Từ cổng doanh trại cây được trồng ven đường tỏa hai hướng ra thị xã Vĩnh Yên và lên Tam Đảo dài vài cây số. Một số đồi trọc gần doanh trại cũng được bộ đội Trung đoàn xe tăng 202 phủ xanh bằng nhóm cây lấy gỗ. Để bảo vệ cây mới trồng, an hem đan sọt, đóng cọc xung quanh, hằng ngày gánh nước tưới, chăm chút cho cây. Do chăm sóc chu đáo nên hầu như toàn bộ cây trồng đều sống, phát triển tốt. Chỉ vài năm sau, cây đã lớn nhanh, dáng vươn thẳng lên như những hàng tiêu binh trông rất đẹp. Hệ thống bãi tập bắn, lái, chiến thuật cũng được khẩn trương thi công chuẩn bị cho trung đoàn bước vào huấn luyện theo kế hoạch năm đầu xây dựng. Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1960, giữa mùa hè năng đổ lửa, Trung đoàn như một đội quân lao động hăng ay và hối hả. Khí thế lao động càng dâng cao khi phong trào thi đua hướng tới mục tiêu lập thành tích cao nhất chào mừng Đại hội Đảng bộ Trung đoàn và Đại hội Đảng toàn quân lần thứ ba. Thi đua phát huy sáng kiến, tăng năng suất lao động như chất men say của mỗi người tạo nên phong trào quần chúng sôi nổi trong các tiểu đoàn. Phong trào thi đua như chiếc đòn bẩy thần kì, làm cho năng suất lao động không ngừng tăng lên. Ngoài xây dựng doanh trại, các đơn vị còn đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống. Tinh thần thi đua lao động xã hội chủ nghĩa, vì sự nghiệp xây dựng quân đội chính quy, hiện đại của Trung đoàn đã góp phần cùng Công trường 92 hoàn thành sớm khu kĩ thuật để kịp tiến nhận trang bị. Đúng 17 giờ ngày 13 tháng 7 năm 1960, chuyến xe tăng T34 đầu tiên do Liên Xô viện trợ, được vận chuyển an toàn bằng tàu hỏa về tới ga Vĩnh Yên. 18 giờ 33 phút, chiếc xe tăng T34 mang số hiệu 114 được Trung sĩ Đào Văn Bàn lái dẫn đầu và lần lượt các xe tăng sau rời đoàn tàu, tiếp đất Việt Nam, nối đuôi nhau chạy về doanh trại dưới chân núi Đanh. Ngay trong đêm, các vết xích xe tăng trên đường được xóa sạch để giữ bí mật. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:52:28 pm Nhìn những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội, tất cả chúng tôi co mặt hôm ấy đều rưng rưng xúc động. Những giọt nước mắt sung sướng và tự hào về sự lớn mạnh của quân đội lăn trên gò má môi cán bộ chiến sĩ trung đoàn. Mọi người đều hiểu, đây là tài sản quy báu đầu tiên mà Đảng, nhân dân và quân đội giao phó, nó sẽ gắn bó mật thiết với mình suốt chặng đường chiến đấu. Đây cũng là cơ sở vật chất kĩ thuật, là phương tiện để người chiến sĩ chiến đấu, làm nên chiến thắng. Trong hoàn cảnh đất nước ta còn nghèo, nhân dân miền Bắc đang “thắt lưng buộc bụng” để xây dựng cuộc sống mới, những chiếc xe tăng được các nước bạn viện trợ càng co y nghĩa to lớn và sâu xa. Quân đội ta đã chiến đấu, trưởng thành từ chiếc gậy tầm vông, giáo mác nay có trong tay những chiếc xe tăng, ai cũng thấy vinh dự, và cả trách nhiệm lớn lao trước Đảng, trước nhân dân.
Xe tăng, xe thiết giáp và pháo tự hành đã về đầy đủ. Nhìn những chiếc xe vươn nòng ngạo nghễ đang được cất giữ trong nhà xe, mỗi cán bộ, chiến sĩ ai cũng sung sướng, tự hào. Chúng tôi thầm nhỉ, phải không ngừng học tập để làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại. Sau khi trung đoàn phát động phong trào thi đua bảo quản, bảo dưỡng xe máy, khí tài, từng tiểu đoàn, đại đội đều tổ chức sinh hoạt để bộ đội bàn bạc, xây dựng chỉ tiêu và quyết tâm thi đua. Không khí thi đua làm tốt bảo quản, bảo dưỡng xe tăng rất sôi nổi như bước vào một chiến dịch lớn. Từng tiểu đoàn thi đua với nhau, các đại đội trong tiểu đoàn kí kết thi đua. Trừ một bộ phận tiếp tục lao động, còn phần lớn cán bộ chỉ huy, kĩ thuật, các chiến sĩ đều có mặt tại khu xe để kiểm tra, bảo dưỡng, lau chùi, niêm cất xe đúng yêu cầu kĩ thuật, bảo đảm xe máy luôn tốt nhất sẵn sàng chiến đấu. Xe tăng, thiết giáp là trang bị hiện đại cần phải có các phương tiện, dụng cụ tương xứng phục vụ cho công tác bảo quản, bảo dưỡng. Nhưng với điều kiện của nước nhà và quân đội ta lúc đó, mọi công việc bảo quảng bảo dưỡng đều thao tác chủ yếu bằng tay, dùng sức người là chính để thay thế cho máy móc. Chẳng hạn như rửa xích lẽ ra phải dùng vòi nước có áp suất cao để phụt rửa. Nhưng trong điều kiện lúc đó, bộ đội ta khiêng từng mảnh xích ra suối hoặc gánh nước về khu xe để cọ rửa. Vất vả, khó khăn mệt nhọc là thế nhưng mọi người không quản, làm việc say sưa quên nghỉ. Đối với xe tăng, thiết giáp trong điều kiện thời tiết, khí hậu nước ta có độ ẩm cao, nếu bảo quản không kĩ dễ bị han gỉ, rất dễ xảy ra sự cố khi sử dụng. Nhiều hôm, công tác bảo quản, bảo dưỡng được Ban Kĩ thuật trung đoàn đánh giá đạt yêu cầu nhưng với các đồng chí chuyên gia họ vẫn lắc đầu. Một lần, anh em ta bảo dưỡng, lau chùi xong một chiếc xe tăng chuẩn bị đưa vào nhà xe thì các đồng chí chuyên gia Liên Xô đến. Dừng lại bên chiếc xe anh em mình vừa lau chùi xong, đồng chí Trưởng đoàn chuyên gia cởi phăng chiếc áo sơ mi trắng đang mặc, lau thân xe, xích, rồi đưa cho cán bộ ta xem: “Còn bẩn lắm, chưa đạt yêu cầu” - Đồng chí chuyên gia nói với mọi người. Chúng tôi nhìn nhau. Bạn quả là rất khắt khe với việc chăm sóc xe tăng và các trang thiết bị vũ khí. Từ hôm ấy, việc lau chùi, bảo dưỡng được làm kĩ hơn rất nhiều. Phong trào thi đua trong công tác kĩ thuật đã tạo ra làn gió mới trong toàn trung đoàn. Chỉ sau một thời gian ngắn, toàn bộ số xe đã được niêm cất xong, bảo đảm các hệ số, chỉ tiêu kĩ thuật theo quy định. Một thực tế đặt ra lúc này là, khi trung đoàn đi vào hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác bảo quản, bảo dưỡng xe tăng, trang thiết bị do cán bộ nhân viên kĩ thuật đảm nhiệm thì không thể làm hết nội dung. Sau một thời gian nghiên cứu, Đảng ủy Trung đoàn đã phát động ngày thứ 7 hằng tuần là ngày lao động bãi xe. Trong ngày đó, từ trung đoàn trưởng đến người chiến sĩ binh nhì đều có mặt để bảo quản, bảo dưỡng xe tăng, thiết giáp và làm vệ sinh bãi xe. Việc làm này đã trở thành nền nếp không chỉ có tác dụng động viên mà còn góp phần giảm bớt sức lao động của anh em. Nhìn những chiếc xe được chăm sóc chu đáo, luôn sạch sẽ, xếp hàng ngay ngắn trong nhà xe, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn càng tự hào được Đảng, nhân dân tin cậy giao cho những tài sản quý giá, chúng tôi càng xác định rõ trách nhiệm của mình để những chiếc xe luôn sẵn sàng xuất kích khi có lệnh. Vào màu huấn luyện đầu tiên theo chương trình chính quy của một binh chủng kĩ thuật hiện đại đối với trung đoàn là một vấn đề mới mẻ. Trong điều kiện thiếu kinh nghiệm huấn luyện, cơ sở vật chất phục vụ học tập, giảng dạy đều thiếu nhưng bù lại, tinh thần say sưa học tập, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ rất cao. Mỗi buổi sáng sau hiệu lệnh, từng tiểu đoàn, đại đội đi đều, hát vang “Tiến bước dưới quân kì” vào giảng đường hoặc ra bãi tập. Trên gương mặt mỗi cán bộ, chiến sĩ đều lộ rõ quyết tâm thi đua học tập, rèn luyện tốt, giành thành tích cao trong phong trào thi đua “Ba nhất”(1). Giữa những ngày tháng háo hứng, sôi nổi, khẩn trương của mùa huấn luyện đầu tiên, một sự kiện đặc biệt đã đến với Trung đoàn 202 xe tăng. Ngày 26 tháng 9 năm 1960, Trung đoàn được vinh dự đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng và Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng về thăm. Sự có mặt của đồng chí Bộ trưởng và Tổng Tham mưu trưởng, ngay từ những ngày đầu tiên xây dựng trung đoàn càng làm cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ thấy sự quan tâm, chăm sóc sâu sắc của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đối với đơn vị thiết giáp đầu tiên của quân đội ta. Sau khi trực tiếp xem xét, kiểm tra và nghe báo cáo tình hình đơn vị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Văn Tiến Dũng đã gặp và nói chuyện thân mật với toàn thể cán bộ, chiến sĩ trung đoàn. Do chưa có hội trường, sân vận động nên toàn thể cán bộ, chiến sĩ, có cả cán bộ Công trường 92 tập trung ngồi trong nhà xe để nghe Đại tướng nói chuyện. Nhiều người lần đầu tiên được nhìn thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng Tư lệnh của quân đội ta, ai cũng phấn khởi, tự hào. Trước khi nói chuyện, Đại tướng nắm tay đồng chí Đào Huy Vũ giơ cao tay lên và hỏi: “Các đồng chí có biết ai đây không?”. Tiếng đồng thanh của cán bộ, chiến sĩ trả lời rất to: “Báo cáo Đại tướng, đó là Trung đoàn trưởng ạ”. Đại tướng cười vui: “Thế là tốt, chứng tỏ cấp trên sâu sát chiến sĩ”. Cử chỉ thân tình của vị Bộ trưởng Quốc phòng đã xóa đi sự ngăn cách giữa vị tướng chỉ huy cao nhất quân đội với bộ đội Trung đoàn xe tăng 202. Sau khi phân tích tình hình cách mạng miền Nam, Đại tướng căn dặn: “Trung đoàn xe tăng 202 phải trở thành một trung đoàn xe tăng vững mạnh toàn diện, làm nóng cốt cho sự phát triển của Binh chủng Tăng - Thiết giáp sau này”. Lời căn dặn của Đại tướng để lại cho mỗi cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn xe tăng 202 ý thức sâu sắc về tiền đồ rộng lớn của bộ đội thiết giáp và cũng là tình cảm, trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang mà Đảng, nhân dân giao phó cho trung đoàn. Chú thích (1) “Ba nhất”: Là phong trào thi đua của quân đội và dân quân tự vệ từ năm 1959 đến 1961. Ba nhất: đạt thành tích nhiều nhất, đều nhất, giỏi nhất. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:52:59 pm Từ cuối tháng 12 năm 1960 và trong năm 1961, Trung đoàn xe tăng 202 đã tiến hành 4 cuộc diễn tập chiến thuật với Trung đoàn bộ binh 36 thuộc Sư đoàn 308; diễn tập bắn đạn thật với Sư đoàn 305, diễn tập chiến thuật với Sư đoàn 308 và Sư đoàn 312 nhằm nâng cao tác chiến hiệp đồng binh chủng giữa xe tăng với bộ binh và cách binh chủng khác. Đây cũng chính là dịp để kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện của cán bộ, chiến sĩ theo chương trình huấn luyện chính quy, cơ bản và có hệ thống.
Trong cuộc diễn tập với Trung đoàn bộ binh 36 (Sư đoàn 308) trên địa bàn hai huyện Thanh Oai, Ứng Hòa (tỉnh Hà Đông cũ), Trung đoàn đã sử dụng Đại đội tăng 3 của Tiểu đoàn 2 và Trung đội 1 pháo tự hành 76mm thuộc Đại đội tăng 6 - Tiểu đoàn 3. Trong cuộc diễn tập thứ hai, Trung đội 2 pháo tự hành CAY-76, Đại đội 5 Tiểu đoàn 3 do Trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Tuyết chỉ huy đã tham gia tập luyện với một tiểu đoàn của Sư đoàn bộ binh 305, tiến hành tiến công có bắn đạn thật, đánh địch phòng ngự dã chiến ở phía bắc thị xã Phúc Yên. Đặc biệt, trong cuộc diễn tập với các trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 308 trên địa hình ruộng nước ở huyện Thanh Oai (Hà Đông) lại đặt ra những câu hỏi lớn. Lần đầu tiên, một trung đoàn bộ binh có xe tăng và pháo tự hành tham gia tiến công “địch” trên một vùng đồng bằng, lầy lội, có làng mạc xe kẽ đã gặp không ít khó khăn. Trong cuộc diễn tập, không ngày nào lại không có xe tăng gặp sự cố vì sa lầy. Nhiều đêm, các phân đội xe tăng cùng cán bộ kĩ thuật phải thức trắng ngoài ruộng để lo cứu kéo, trục vớt xe tăng… Nhờ học tập tốt mà bước vào diễn tập các chiến sĩ ta tự tin, bắn rất tập trung. Đạn pháo tăng và súng bộ binh nổ vang rền, diệt hết mục tiêu này đến mục tiêu khác. Trong 16 mục tiêu được phân công, xe tăng diệt 15 mục tiêu, có 9 mục tiêu bị diệt ngay từ phát đạn đầu. Qua 4 cuộc diễn tập chiến thuật tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn thấy rõ khả năng, trình độ, những mặt mạnh, mặt yếu của mình trong thực tế huấn luyện. Sự có mặt của xe tăng trong các cuộc diễn tập đã góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu mới của quân đội ta, đồng thời cũng khẳng định vai trò quan trọng của trung đoàn xe tăng đầu tiên đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội từng bước tiến lên chính quy, hiện đại. Sau hai năm xây dựng, Trung đoàn xe tăng 202 đã đạt nhiều thành tích trong huấn luyện, làm chủ trang bị vũ khí. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (từ ngày 5 đến 12 tháng 9 năm 1960) đề ra con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhất trí thông qua nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Đây là thời kì mới mẻ cũng là giai đoạn mở đầu của Trung đoàn xe tăng 202 thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quy và huấn luyện một cách cơ bản, toàn diện, hệ thống theo yêu cầu của một binh chủng kĩ thuật. Tháng 2 năm 1961, Đại hội Đảng bộ Trung đoàn lần thứ hai ra nghị quyết xác định; “Quyết tâm tiến sâu vào khoa học kĩ thuật, chấp hành nghiêm điều lệnh, chế độ, quy tắc, ra sức xây dựng trung đoàn vững mạnh. Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là huấn luyện, xây dựng chính quy, bồi dưỡng cán bộ, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chính quy hóa”. Để xây dựng chính quy, Trung đoàn tổ chức thống nhất lại biên chế, trang bị: Tiểu đoàn 1 trang bị xe T54; Tiểu đoàn 2 trang bị xe T34; Tiểu đoàn 3 của chúng tôi làm nhiệm vụ huấn luyện; được trang bị xe tăng T34 và pháo tự hành 76mm để sẵn sàng chiến đấu; Tiểu đoàn 4 trang bị xe tăng bơi PT-76. Các đại đội trực thuộc gồm: sửa chữa, cao xạ 57mm, công binh, thông tin, vệ binh cùng 4 cơ quan trung đoàn bộ. Trung đoàn chỉ đạo thực hiện thống nhất nghiêm chỉnh trong toàn đơn vị các điều lệnh nội vụ, điều lệnh đội ngũ, các chế độ sinh hoạt, thường trực sẵn sàng chiến đấu. Là đơn vị được trang bị vũ khí kí thuật hiện đại, trung đoàn nghiên cứu từng bước xây dựng và thực hiện thống nhất các chế độ huấn luyện, công tác kĩ thuật, giáo trình, kế hoạch huấn luyện và lịch công tác hằng tháng, hằng tuần cho toàn đơn vị, từ cơ quan đến đại đội, làm cho tất cả mọi hành động của mọi tổ chức, cá nhân đều được duy trì theo hướng ngày càng đi vào thống nhất, trở thành quy định, chế độ rõ ràng. Do xác định đúng đắn vị trí, yêu cầu xây dựng chính quy, tập trung thống nhất bằng nhiều biện pháp về tư tưởng, tổ chức nên sau một thời gian ngắn Trung đoàn xe tăng 202 đã có chuyển biến tiến bộ rõ rệt. Mọi sinh hoạt đều đi vào nền nếp, thống nhất, không khí đơn khẩn trương, sôi nổi, kỉ luật nghiêm. Trật tự nội bộ ngăn nắp, nhà ở khang trang, đẹp đẽ. Bộ đội lúc nào cũng giữ đúng lễ tiết tác phong, tư thế nghiêm chỉnh mọi nơi, mọi lúc, trong xưng hô, ăn mặc, trong huấn luyện và công tác. Khi lên lớp, đi ra bãi tập, các đơn vị đều đi theo đội ngũ chỉnh tề, vừa đi đều vừa hát vang: “Tiến bước dưới quân kì”, “Vì nhân dân quên mình”. Cán bộ các cấp làm việc theo chức trách và kế hoạch chặt chẽ, khoa học, giờ nào việc ấy, nêu cao ý thức học tập để nâng cao trình độ chỉ huy và năng lực huấn luyện đơn vị. Trung đoàn đã mở những nội nghị chuyên đề nhằm giải quyết tốt mối quan hệ hiệp đồng trên dưới, cải tiến lề lối làm việc chung chung, được đâu hay đó, đấu tranh khắc phục những thói quen, nếp nghĩ cũ. Trong khí thế thi đua sôi nổi ấy, Trung đoàn xe tăng 202 mở hướng nghiên cứu những vấn đề chiến thuật, kĩ thuật binh chủng theo điều kiện của chiến trường Việt Nam, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ huấn luyện với sẵn sàng chiến đấu hiệp đồng binh chủng; huấn luyện theo yêu cầu của chiến trường miền Nam. Để đáp ứng nhiệm vụ huấn luyện ngày càng cao, Tiểu đoàn 3 làm nhiệm vụ huấn luyện được tăng cường thêm giáo viên và các khung đại đội chuyên đào tạo chiến sĩ lái xe, bắn súng cho toàn trung đoàn. Việc huấn luyện trưởng xe và tiểu đội trưởng do tiểu đoàn trưởng và đại đội trưởng trực tiếp bồi dưỡng vào các sáng thứ 7 hằng tuần. Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp huấn luyện cho cán bộ từ chuẩn úy trở lên, bồi dưỡng theo chương trình của Bộ quy định. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:53:34 pm Công tác tổ chức và phương pháp huấn luyện luôn được cải tiến phù hợp với yêu cầu mới. Tiểu đoàn trực tiếp huấn luyện cho chiến sĩ, sau đó giao cho các đại đội trực tiếp huấn luyện để quản lí tốt hơn trình độ từng người.
Tác phong chính quy trên thao trường, bãi tập được duy trì chặt chẽ. Không khí huấn luyện lúc nào cũng sôi động. Tất cả mọi quy tắc trên thao trường được chấp hành nghiêm chỉnh đã có ảnh hưởng tốt đến việc rèn luyện bản lính chỉ huy của cán bộ và tác phong chiến đấu của chiến sĩ. Là đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bằng trang bị vũ khí kĩ thuật hiện đại, yếu tố con người luôn giữ vai trò quyết định. Công tác chính trị, công tác tư tưởng trong huấn luyện luôn được tăng cường. Những bài giảng về chính trị tư tưởng khôn chỉ giáo dục sâu sắc lòng yêu nước, yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, yêu mến quân đội mà còn bồi đắp phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ quân đội nhân dân. “Vạn sự khởi đầu nan”, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong trung đoàn đã nghiên cứu, bàn bạc, hiến kế nhiều phương pháp giáo dục tư tưởng cho bộ đội. Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện không dừng lại ở chỗ xây dựng quyết tâm, ý chí mà còn thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ quân sự, chính trị, nhiều chuyên đề công tác chính trị trong huấn luyện lái xe, bắn súng. Các cấp ủy đảng từng thời kì đều có nghị quyết lãnh đạo chuyên đề huấn luyện, động viên tinh thần ham học hỏi, đi sâu vào khoa học kĩ thuật, cải tiến phương pháp dạy và học. Cùng với công tác huấn luyện và xây dựng chính quy, công tác kĩ thuật luôn được cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn hết sức coi trọng, là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm chất lượng huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, Đảng ủy trung đoàn luôn có nghị quyết lãnh đạo cụ thể và chú trọng xây dựng độ ngũ cán bộ kĩ thuật ngày càng tăng về số lượng, chất lượng, làm nòng cốt trong công tác kĩ thuật của trung đoàn. Các nghị quyết luôn nhấn mạnh: “Toàn Đảng bộ làm công tác kĩ thuật, biến công tác kĩ thuật thành công tác quần chúng rộng rãi, trọng tâm lãnh đạo của chi bộ là lãnh đạo huấn luyện kĩ thuật, quản lí kĩ thuật. Trong kết nạp đảng viên, một trong những tiêu chuẩn phải đạt được là đi sâu học tập, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật”. Các nghị quyết của Đảng ủy Trung đoàn về công tác kĩ thuật đã sớm đi vào nhận thức, trở thành hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Công tác kĩ thuật đã trở thành một chế độ chính quy được cán bộ, chiến sĩ nghiêm chỉnh thực hiện và trở thành phong trào quần chúng rộng rãi ngay từ những ngày đầu xây dựng Trung đoàn và ngày càng tiến bộ. Khu xe có đủ các thiết bị kĩ thuật, nhà kho, trạm xưởng, nơi bảo quản máy thông tin vô tuyến điện, khí tài quang học. Chế độ trực ban, trực canh gác khu xe, chế độ kiểm tra kĩ thuật, ngày công tác kĩ thuật, chế độ bảo quản bảo dưỡng khí tài, các quy tắc ra vào khu xe, quy tắc phòng, chữa cháy… đều được quy định và chấp hành nghiêm. Chế độ mỗi tháng 4 ngày tập trung làm công tác kĩ thuật được Trung đoàn giữ vững có nền nếp và ngày càng hiệu quả. Ngày công tác kĩ thuật của Trung đoàn vào thứ 7 mỗi tuần được tiến hành sôi nổi, hào hứng. Cả khu xe như một ngày hội, đỏ rực băng cờ, khẩu hiệu, loa phát thanh; tiếng búa, tiếng máy sôi động cả ngày đêm. Từ trung đoàn trưởng đến cán bộ các cấp và cơ quan đều tham gia, cùng với các đơn vị làm công tác kĩ thuật theo cương vị, chức trách từng người. Chế độ kiểm tra kĩ thuật cũng được duy trì chặt chẽ, thực hiện kiểm tra “ba cấp, ba bước” (ba cấp là lái xe, đại đội và ban kiểm tra trung đoàn, ba bước là trước, trong và sau khi sử dụng xe). Chế độ bảo dưỡng, bảo quản, niêm cất được quy định chi tiết và yêu cầu cụ thể về trách nhiệm đối với từng đối tượng lái xe, trợ giáo, cán bộ chỉ huy. Phong trào giữ gìn xe, máy, trang bị diễn ra sôi nổi trong toàn Trung đoàn. Những khẩu hiệu: Xe là nhà, chiến sĩ trên xe là chủ”, “Xe không sạch, người không nghỉ”, “Xe chạy phải đóng cửa, không ngồi ở ngoài”, “Xe chưa dừng hẳn không nhảy xuống”, “Không nhìn rõ đường, rõ tín hiệu, không lái”… xuất hiện từ phong trào thi đua bảo đảm xe tốt, xe an toàn của đơn vị. Phong trào quần chúng làm công tác kĩ thuật đã góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành một cách tự giác mọi chế độ, quy tắc của cán bộ, chiến sĩ. Tinh thần dám nghĩ, dám làm, phát huy sáng kiến, cả tiến kĩ thuật cũng phát triển sôi nổi. Năm 1962, Trung đoàn đã tổ chức những cuộc triển lãm làm trưng bày nhiều sáng kiến cải tiến kĩ thuật của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị như: máy bơm mỡ quay tay tự động, máy tự báo chốt xích tụt, ròng tọc thông nòng pháo tự động, đèn tín hiệu liên lạc với bộ binh, máy điều chỉnh hộp bi chóp, dụng cụ chuyên dùng vặn ốc li hợp, dụng cụ tháo chốt ngang lò xo giảm xóc, mắc thêm đèn trần ở tháp pháo, đèn tín hiệu nạp điện. Đến xem triển lãm, chúng tôi càng tự hào về tính sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của cán bộ, chiến sĩ trong Trung đoàn. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kĩ thuật của Trung đoàn được bồi dưỡng có hệ thống, cơ bản, lại được rèn luyện trong phong trào sôi động của quần chúng nên ngay càng tiến bộ và trở thành lực lượng nòng cốt công tác kĩ thuật của binh chủng sau này. Công tác kĩ thuật của bộ đội thiết giáp được xây dựng trên cơ sở lòng yêu mến binh chủng thiết tha của cán bộ, chiến sĩ; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng với khoa học kĩ thuật, giữa cách mạng với chính quy, hiện đại. Có thể nói, đây là thời kì công tác kĩ thuật được phát huy mạnh mẽ, bảo đảm cho đơn vị hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, là cơ sở cho những bước phát triển trưởng thành của binh chủng sau này. Nhìn lại những năm tháng đầu tiên xây dựng chính quy - thời kì mới mẻ nhưng rất sôi động trong lịch sử xây dựng của mình, Trung đoàn xe tăng 202 đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch huấn luyện và trưởng thành một bước quan trọng. Cán bộ, chiến sĩ đã nỗ lực cao, phấn đấu vững chắc đưa trung đoàn tiến lên chính quy, hiện đại, vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho sự phát triển của Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:53:59 pm Để có đơn vị vững mạnh toàn diện, đội ngũ cán bộ chi huy đóng vai trò quyết định. Cùng với sự phân công của Đảng ủy, chỉ huy trung đoàn, tôi may mắn được sống, công tác trong một tập thể lãnh đạo, chi huy đoàn kế, có năng lực và nhiệt huyết. Những năm tháng đầu tiên xây dựng Trung đoàn, chỉ huy Tiểu đoàn 3 có tôi làm Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên là Đại úy Võ Ngọc Hải. Anh Hải cũng là người con của “miền Nam thành đồng” tập kết ra Bắc. Chính trị viên phó tiểu đoàn là Nguyễn Tằng. Anh Tằng quê Tiền Hải, Thái Bình, dáng người cao, rất sôi nổi, có năng lực, luôn được anh em trong tiêu đoàn quý mến nhưng có mỗi việc là yếu môn bắn súng ngắn. Tôi nhớ, Nguyễn Tằng kiểm ta bắn súng ngắn không mấy khi đạt yêu cầu. Nguyễn Mạnh Hùng người Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội làm Tham mưu trưởng. Tiểu đoàn phó kĩ thuật là Trần Hữu Đoạt, quê Cẩm Nam, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Đại đội trưởng có Lê Như Hòa, Lê Trung Chấn, Đặng Thọ. Khi mới thành lập, đồng chí Võ Ngọc Hải được cấp trên chỉ định làm Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn, nhưng đến các lần đại hội sau đó, tôi được bầu làm Bí thư.
Những năm tháng ấy, miền Bắc đang dấy lên phong trào thi đua sôi nổi: Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Trống Bắc Lý, Cờ Ba Nhất và “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”. Là một người con của xứ Quảng, sống giữa lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tôi luôn tâm niệm phải nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tiểu đoàn 3 làm nhiệm vụ huấn luyện, cường độ hoạt động của cán bộ, chiến sĩ rất cao. Mỗi buổi sáng, khi bộ đội hành quân ra bãi tập, tôi thường chạy dọc hàng quân để kiểm tra anh em. Khi lên lớp học, ra bãi tập, các đơn vị đều đi theo đội ngũ chinh tề, vừa đi vừa hát vang “Tiến bước dưới quân kì”, “vì nhân dân quên mình”. Ngày ấy, đi lại còn khó khăn, từ Vĩnh Yên về Hà Nội phương tiện chủ yếu là tàu hoa, lại thường xuyên trễ giờ. Nhiều hôm về Hà Nội thăm vợ con, khi trở lại đơn vị tôi phải chạy từ ga Vĩnh Yên vào cây số 6 đường đi Tam Đảo để kịp giờ làm việc. Việc xây dựng nền nếp thống nhất, trước hết đối với đội ngũ cán bộ, là yếu tố quyết định thành công trong xây dựng chính quy đơn vị. Trưởng thành trong chiến đấu gian khô lại nhận thức ngày càng sâu sắc nhiệm vụ xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, tôi luôn cố gắng học tập, rèn luyện, ham muốn học hỏi để nâng cao trình độ năng lực lãnh đạo chỉ huy, gương mẫu rèn luyện hoàn thành chức trách được giao. Trong thời gian này, Tiểu đoàn 3 của chúng tôi luôn là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của Trung đoàn, trở thành đơn vị khá toàn diện, nhất là về huấn luyện, rèn luyện kỉ luật, xây dựng nền nếp chính quy. Trung đoàn đã tô chức cho các đơn vị đến tham quan và trao đổi học tập kinh nghiệm tại Tiểu đoàn 3 nhiều lần. Tiêu biểu cho phong trào thi đua của Tiểu đoàn 3 là Đại đội 7 luôn đạt thành tích nổi bật trong huấn luyện đào tạo chiến sĩ lái xe. Kết thúc năm huấn luyện, 100% chiến sĩ của Đại đội 7 thi lái đạt yêu cầu, trong đó có 93,3% khá giỏi. Số chiến sĩ này là học sinh Trường cấp 3 Trần Phú (thị xã Vĩnh Yên) đi làm nghĩa vụ quân sự năm 1963. Ngày ấy, chúng tôi thường nói vui với nhau: nhìn cán bộ biết phong trào. Đại đội trưởng Đại đội 7 là Trung úy Lê Như Hòa. Anh Hòa trẻ hơn tôi ba tuổi, quê ở Vĩnh Thịnh, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, đã từng chiến đấu chống Pháp trên chiến trường Tây Bắc. Chiến dịch Điện Biên Phủ. Lê Như Hòa là người chắc khỏe như cây lim, trong cuộc sống và công việc luôn mẫu mực và tâm huyết. Chính trị viên Đại đội 7 là Trung úy Võ Tấn, người Khu 5. Những năm tháng đầu tiên xây dựng chính quy - thời kì mới mẻ nhưng rất sôi nổi trong lịch sử xây dựng của mình, Trung đoàn xe tăng 202 đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện, bảo đảm kĩ thuật, hậu cần và đã có bước trưởng thành quan trọng. Cán bộ, chiến sĩ đã nỗ lực rất cao, phấn đấu đưa Trung đoàn tiến lên chính quy, hiện đại, vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho sự phát triển của Binh chủng Tăng - Thiết giáp sau này. Trung đoàn xe tăng 202 luôn được sự quan tâm chăm sóc của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội. Ngày 21 tháng 7 năm 1962, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về thăm Trung đoàn. Đi cùng Thủ tướng có Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng. Thủ tướng ra thẳng bãi bắn lớn ở Cam Lâm. Tại đây, thủ trưởng Trung đoàn cùng các kíp xe đảm nhiệm bắn trình diễn đã phấn khởi, vui mừng chào đón Thủ tướng và Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng. Từng kíp xe chiến đấu tập hợp đứng trước xe của mình. Thủ tướng ra tận xe xem xét, nắm chặt tay các chiến sĩ xe tăng tham hỏi ân cần. Sau khi dự trình diễn bắn pháo, Thủ tướng ra bãi tập lái xem bộ đội ta điều khiển xe tăng vượt qua các vật cản; ụ sống trâu, bãi đánh phá, vượt dốc... Nhìn bộ đội biểu diễn lái xe tăng, bụi cuồn cuộn bốc lên, Thủ tướng lắc đầu: “Cánh này phải cho ăn nhiều vào”. Thực ra, tuy huấn luyện của bộ đội xe tăng rất nặng nhọc nhưng cũng chỉ ăn “nhỉnh” hơn lính bộ binh không đáng kể. Từ bãi lái, Thủ tướng và các vị khách về Trung đoàn nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ. Thủ tướng nói: “Phút đầu tiên được nhìn thấy các chiến sĩ lái xe tăng Việt Nam lái những chiếc xe tăng, tôi không nén nổi xúc động. Đã từ lâu, Đảng ta, nhân dân ta mong ước có trong tay loại vũ khí lợi hại này. Lợi là lợi cho ta, hại là hại cho địch. Sớm muộn gì cũng phải có, thế hệ trước chưa có thì thế hệ sau nhất định phải có, nhất định phải làm”. Lời phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một niềm khích lệ đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ, Thủ tướng nói mà như tâm sự, làm cho mỗi chúng tôi càng thấm thía sâu sắc va tự hào khi được là cán bộ, chiến sĩ xe tăng đầu tiên của quân đội ta. Đồng thời thấy rõ trách nhiệm của mình trước Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta. Mỗi chúng tôi thầm hứa với Thủ tướng, sẽ cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập, rèn luyện, giữ gìn trang bị vũ khí, sẵn sáng lên đường đi chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:54:57 pm 6. VƯỢT TRƯỜNG SƠN VỀ NAM CHIẾN ĐẤU Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) đã giành được thắng lợi to lớn, tiêu biểu là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đưa đến Hiệp định Giơnevơ năm 1954; hòa bình lập lại trên bán đảo Đông Dương. Theo Hiệp định, nước Việt Nam tạm chia làm hai miền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta tiến hành khôi phục kinh tế, xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam còn tạm thời dưới quyền quản lí của quân Pháp, quân đội hai bên tập kết ở hai miền, lấy sông Bến Hải - vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời, dưới sự kiểm soát, giám sát của Ủy ban Quốc tế, sau hai năm sẽ tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhưng thực dân Pháp chẳng những không thi hành Hiệp định mà còn dựa vào đế quốc Mĩ. Vì vậy, sau hai năm Hiệp định Giơnevơ không những không thực hiện, Mĩ đã gạt Pháp ra và độc quyền thống trị miền Nam, can thiệp vào nội bộ Lào, Campuchia, với âm mưu biến ba nước Đông Dương thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Đối với Việt Nam, trước mắt chúng âm mưu thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành căn cứ quân sự để tấn công thôn tính miền Bắc. Mĩ đã xây dựng chính quyền tay sai phản động Ngô Đình Diệm để tàn sát, giết hại đồng bào ta bằng nhiều thủ đoạn như: “tố cộng”, “diệt cộng”, đàn áp, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng ở miền Nam. Chúng ban hành luật 10/59, đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, biến miền Nam thành nhà thù, trại giam tập trung. Cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu, nhiều cơ sở của ta bị xóa, phong trào đấu tranh gặp nhiều khó khăn chưa từng thấy. Mĩ - Diệm gây ra bao vụ thảm sát dân thường ở nhiều nơi như: Chợ Được (Quảng Nam) ngày 6 tháng 9 năm 1954; đập Vĩnh Trinh (Quảng Nam) ngày 21 tháng 1 năm 1955, ở Mộc Hóa tháng 5 năm 1955, ở Hướng Điền (Hướng Hóa, Quảng Trị) tháng 7 năm 1955. Trên dải đất miền Nam thân yêu, nhà tù nhiều hơn trường học. Hàng vạn người dân vô tội, hàng ngàn chiến sĩ cách mạng kiên trung bị kẻ thù hành hạ, tra tấn dã man. Tàn bạo hơn, chúng đầu độc 6.000 người ở trại giam Phú Lợi (Bình Dương) làm hơn 1.000 người chết. Chúng còn tổ chức tổng tuyển cử bầu “Quốc hội lập hiến” riêng rẽ, tuyên bố cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử. Nhằm thực hiện âm mưu xâm lược lâu dài, Mĩ trực tiếp và tăng cường viện trợ quân sự, kinh tế, xây dựng lực lượng, gom dân lập ấp chiến lược, giúp chính quyền Diệm chống phá cách mạng miền Nam. Dưới chế độ Mĩ - Diệm, đồng bào miền Nam không có được một ngày tự do, sống trong lo âu căng thẳng. Những cảnh bắt bớ, tù đày, bắn giết, máu chảy đầu rơi diễn ra liên tục và kéo dài trong nhiều năm. Không thể cam chịu sống nhục nhã dưới gót giày xâm lược và bàn tay đẫm máu của Mĩ - Diệm, nhân dân miền Nam đã tìm mọi phương cách đấu tranh để bảo vệ tính mạng, tài sản và những thành quả đã đổ bao xương máu trong chín năm kháng chiến mới có được. Khắp miền Nam dấy lên những cuộc đấu tranh chống khủng bố, chống trả thù người kháng chiến cũ, chống cướp đất đuổi nhà. Nhiều đội vũ trang bí mật ra đời. Các cuộc đấu tranh chính trị có kết hợp vũ trang diệt ác trừ gian bắt đầu xuất hiện. Tình hình miền Nam vượt Trường Sơn bay ra miền Bắc ngày một dồn dập qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Ngày nào trên báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân cũng đưa tin cảnh nhân dân ta bị đầu rơi máu chảy. Nhiều câu chuyện trong tập sách “Từ tuyến đầu Tổ quốc” làm chúng tôi rơi nước mắt. Đồng bào miền Bắc và nhất là con em miền Nam tập kết rất căm phẫn những hành động dã man của Mĩ - Diệm, khắp nơi dấy lên phong trào biến căm thù thành sức mạnh, sôi nổi thi đua làm theo lời Bác gọi: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”. Mỗi khi Mĩ - Diệm vi phạm Hiệp định, tàn sát đồng bào, anh chị em miền Nam đang sống trên đất Bắc, ai nấy đều đau lòng. Hình ảnh trước lúc chia tay đi tập kết, tình cảm giữa kẻ ở người đi rất sâu nặng. Chỉ biết gạt nước mắt, đưa hai ngón tay, thầm hứa hai năm sẽ gặp lại. Thế mà bây giờ chẳng phải hai năm mà đã 6 - 7 năm rồi, là chuỗi ngày bà con và đồng bào ta sống trong cảnh bị bắt bớ, tù đày, chém giết. Là người con của miền Nam tập kết, chúng tôi muốn vượt Trường Sơn về ngay trong đó cùng với đồng bào chiến đấu tiêu diệt Mĩ - Diệm để rửa hận, báo thù cho gia đình, người thân và góp phần giải phóng quê hương xứ sở. Nhưng vẫn nhớ mình là cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân, mọi việc nhất nhất đều tuân theo sự phân công của tổ chức, do Đảng lãnh đạo, không theo ý muốn cảm tính, phải cùng chung tình cảm của người miền Nam tập kết “ngày Bắc đêm Nam”, hoàn thành tốt nhiệm vụ và sẵn sàng có lệnh là lên đường. Tình thế đổi thay, tháng 1 năm 1959, Hội nghị Trung ương 15 (khóa II) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”(1). Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 đã đáp ứng được tâm tư nguyện vọng của đồng bào cả nước. Là ngọn đèn pha chiếu sáng cho Cách mạng Việt Nam, nhất là đối với đồng bào miền Nam đang sống trong những đêm dài đen tối khao khát ánh sáng soi đường. Là luồng gió mới thổi vào ngọn lửa Cách mạng miền Nam đang nhen nhóm để bùng cháy lên khắp mọi nơi. Tiêu biểu là cuộc Đồng Khởi ở các huyện miền tây tỉnh Quảng Ngãi, Trà Bồng cuối năm 1959 và nhất là cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre tháng 1 năm 1960, đã mở đầu cho thời kì đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, lan rộng khắp miền Nam. Trước đó, ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ, chỉ đi “một chân”, nặng về đấu tranh chính trị, nhẹ về đấu tranh vũ trang, trong khi địch chống phá, ngang nhiên giết hại đồng bào. Từ khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, những tin tức thắng lợi phát triển đi lên của Cách mạng miền Nam, cả đồng bào miền Bắc và bà con miền Nam tập kết lúc này yên tâm hơn, càng phấn khởi tin tưởng, ra sức lao động sản xuất xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm hậu thuẫn cho Cách mạng miền Nam. Sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam về nhân lực và vật chất ngày càng nhiều hơn trước. Chú thích (1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, t.20, tr.82. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:56:03 pm Con em miền Nam tập kết, những người trong lực lượng vũ trang náo nức chuẩn bị sẵn sàng lên “bệ phóng” trở về Nam chiến đấu.
Những năm 1961 - 1962, nhiệm vụ huấn luyện của Trung đoàn xe tăng 202 được xác định: phải quán triệt đường lối quân sự của Đảng, đặt cơ sở cho việc hoàn thành kế hoạch huấn luyện 5 năm của Quân ủy Trung ương(1). Nghiên cứu những vấn đề chiến thuật, kĩ thuật binh chủng theo điều kiện của chiến trường Việt Nam; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ huấn luyện với sẵn sàng chiến đấu; nâng cao trình độ chiến đấu hiệp đồng binh chủng, sẵn sáng chiến đấu trong điều kiện thông thường và biết cách đề phòng vũ khí hạt nhân; sẵn sáng làm nhiệm vụ huấn luyện theo yêu cầu của chiến trường miền Nam và nghĩa vụ quốc tế giúp quân đội bạn. Năm 1963, Trung đoàn tiếp tục triển khai nhiệm vụ huấn luyện một bước cao hơn. Tiểu đoàn 3 do tôi làm tiểu đoàn trưởng huấn luyện chiến sĩ mới vào binh chủng và tập huấn về xe tăng cho các đơn vị bạn. Cuối năm ấy, Tiểu đoàn làm lễ tốt nghiệp cho hai Đại đội 46A và 46B do Bộ Tổng tham mưu giao cho Trung đoàn. Đây là nhiệm vụ rất mới mẻ, mỗi cán bộ trong tiểu đoàn đều phải căng mình lên chuẩn bị nội dung huấn luyện sử dụng xe tăng theo yêu cầu của các đơn vị miền Nam tập kết chuẩn bị trở lại chiến trường. Sau này tôi được biết, Đại đội 46A vào chiến trường B1 nam Tây Nguyên, còn Đại đội 46B vào chiến trường B2. Cuối năm 1963, Trung đoàn thực hiện chủ trương đưa người và phương tiện có thể đưa được vào miền Nam chiến đấu. Lúc bấy giờ, điều kiện chưa thể bảo đảm cho các loại tăng thiết giáp hành quân xa hàng nghìn cây số tên đường Trường Sơn, Trung đoàn xe tăng 202 chấp hành nghiêm chỉnh ý định của Bộ do đồng chí Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng chỉ thị: “Xe chưa xung trận được thì người xung trận trước, tham gia chiến đấu lấy xe địch đánh địch”. Ngày 25 tháng 12 năm 1963, chỉ huy Trung đoàn gọi tôi và đồng chí Lâm Kim Chung - Trung úy, người thành phố Cần Thơ, Đại đội trưởng đại đội sửa chữa lên giao nhiệm vụ. Lâm Kim Chung có vợ làm công nhân Nhà máy dệt 8/3, nhà ở Nghi Tàm, quê của hoa đào. Chúng tôi được đồng chí Đào Huy Vũ - Trung đoàn trưởng và các anh trong Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn phổ biến nhiệm vụ: “Tới đây, Trung đoàn sẽ đưa một số đơn vị vào chiến trường. Lần này, Trung đoàn cử hai đồng chí đi cùng đoàn của Bộ tăng cường cho Bộ Chỉ huy Miền”. Về tiểu đoàn, tôi thông báo quyết định của cấp trên cho Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 3. Đồng chí Võ Ngọc Hải - Chính trị viên chịu trách nhiệm chung, còn lại các đồng chí: Tằng, Hoạt, Hùng, chịu trách nhiệm về công việc của mình. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng - Tham mưu trưởng, phụ trách thêm phần quân sự của tôi, khi nào có Tiêu đoàn trưởng mới về bàn giao lại. Tối hôm đó, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn làm bữa cơm chia tay. Theo kế hoạch, tôi được về nghi thu xếp việc gia đình, ăn Tết xong vào Thọ Xuân, Thanh Hóa để thực hiện theo mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu và Lữ đoàn 338. Miền Bắc đã vào những ngày áp Tết, mưa bay và rét ngọt. Đã chín mười năm sống trên đất Bắc, mỗi mùa xuân đến tôi lại nhớ quê da diết. Tôi bịn rịn chia tay thủ trưởng Trung đoàn và anh em cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đoàn. Mới đó mà tôi đã làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 được hơn 4 năm. Chừng ấy thời gian với bao kỉ niệm, vui buồn, sướng khổ có nhau. Gương mặt anh em chỉ huy tiểu đoàn đã in đậm trong trái tim tôi. Tiểu đoàn phó Tham mưu trưởng Nguyễn Mạnh Hùng có dáng thư sinh, thông minh. Tiểu đoàn phó Trần Hữu Doạt lại thật thà, thắng thắn hết mực. Theo quy định của Trung đoàn, hằng tháng cán bộ tiểu đoàn phải trực tiếp huấn luyện lái, bắn súng xe. Đêm ấy, tôi ra bãi lái để theo dõi anh em luyện tập. Chỉ còn vài vòng lái nữa là kết thúc buổi học, Trần Hữu Doạt sợ tôi mệt, “Anh xuống với bộ đội để tôi thay cho”. Nghe lời anh, tôi nhảy ra khỏi xe tăng lầm bụi đỏ. Doạt thay tôi theo dõi anh em lái. Nhưng thật bất ngờ, đến vòng lái cuối cùng chiếc T34 bị đổ. Trần Hữu Doạt bị ngã, gãy mấy chiếc răng. Chính trị viên tiểu đoàn Võ Ngọc Hải, người miền Nam tập kết, vui tính, sôi nổi nhưng do phương pháp làm việc giữa anh và đảng viên, quần chúng trong Tiểu đoàn chưa thật thông cảm với nhau nên mấy lần đại hội, anh đều không trúng Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn. Tôi nói lời cảm ơn các anh, đã giúp đỡ tôi, đồng cam cộng khổ, đưa Tiểu đoàn 3 trở thành đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của Trung đoàn xe tăng 202 trong mấy năm liên tục. Chuyến tàu hỏa từ Vĩnh Yên về Hà Nội dường như cũng thấu hiểu nỗi lòng của người sắp đi xa nên hôm nay chạy rất đúng giờ. Xuống ga, tôi bước đi dưới trời mưa bụi, về ngôi nhà ở số 6 phố Quán Thánh. Đây là căn phòng Sở Thương nghiệp Hà Nội cấp cho vợ tôi từ mấy năm nay. Trong ngôi nhà nhỏ này, tôi và vợ (Trần Kiểu Sửu) đã có những ngày tháng yêu thương, mong ngóng, đợi chờ và hạnh phúc. Vợ chồng lấy nhau, cùng đi tập kết, hơn 9 năm ở miền Bắc đã có gần 4 mặt con. Nói gần 4 mặt con là vì ngoài Mai Ngọc Dung, Mai Thúy Hạnh, Mai Sơn Thủy, vợ tôi đang mang thai bốn tháng (sau này mới biết là con trai sinh năm 1964) thì đây là thời gian vợ chồng, cha con được sống gần nhau lâu nhất. Chú thích (1) Từ năm 1961, Tổng Quân ủy đổi thành Quân ủy Trung ương. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:56:35 pm Cả hai vợ chồng đều hoạt động cách mạng tuy cương vị khác nhau. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, lấy nhau rồi cùng đi tập kết. Chúng tôi cùng hứa với bà con và gia đình sau 2 năm trở về, nay đã 9 năm rồi. Câu thơ của nhà thơ Tố Hữu vụt đến làm trái tim tôi nhói đau:
Có ai biết ba ngàn đêm ấy Mỗi đêm là biết mấy thân rơi! Có ai biết bao nhiêu máu chảy Máu miền Nam, hơn chín năm trời! Có bữa, vừa bưng bát cơm chưa kịp ăn, nghe tin tội ác Mĩ - ngụy gây ra cho đồng bào ta trong đó, cổ tôi nghẹn lại. Tội ác của Mĩ - ngụy dã man, thâm độc, trời không dung đất không tha. Nay có cơ hội về miền Nam chống Mĩ, góp phần giải phóng quê hương là điều mà người miền Nam tập kết mong đợi. Nhận nhiệm vụ cấp trên giao, hai vợ chồng thấy khó khăn của người đi, kẻ ở vẫn còn nhiều, nhưng thấy đây là thời cơ để thực hiện nguyện vọng mình ấp ủ bấy lâu này. Trước khi vào chiến trường, Trung tá Đào Huy Vũ - Trung đoàn trưởng Trung đoàn xe tăng 202 đến nhà tôi ở số 6 phố Quán Thánh. Ông nắm tay tôi nói trong nước mắt: “Bây giờ tớ mới hiểu cậu”. Mấy năm sống với nhau, anh Vũ luôn là cấp trên của tôi. Trung đoàn trưởng Vũ là một cán bộ có năng lực, có trách nhiệm nhưng nghiêm khắc. Cả trung đoàn ai cũng sợ anh, chỉ có tôi là dám đấu tranh phê bình. Nhiều khi anh cứ nghĩ tôi cục bộ địa phương. Hôm ấy chúng tôi đã có một buổi trải lòng với nhau, từ đó cảm thông và thấy thương nhau hơn. Tôi được ăn cái tết Giáp Thìn trọn vẹn tại Hà Nôi. Chiều mùng 2 tết, đồng chí Nguyễn Ái Hòa, cán bộ xe tăng Trung đoàn 202, em nuôi đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Đôn - nguyên là Phó Tư lệnh Liên khu 5 thời chống Pháp, đến chúc tết gia đình. Hòa nói anh Đôn sắp trở lại chiến trường, về Khu 5 cũ, anh ấy muốn tôi cùng về công tác. Nếu tôi đồng ý, anh Đôn sẽ đề xuất với cấp trên. Ý kiến bất ngờ quá, lại vào đúng ba ngày tết cổ truyền, tôi hẹn đồng chí Hòa sẽ trả lời sau. Tối hôm đó, sau khi các con đi ngủ, tôi đưa ý kiến của anh Đôn bàn với vợ. Nguyện vọng về miền Nam đã được chấp thuận, trên điều về tăng cường cho cơ quan Miền, nay thủ trưởng cũ lại muốn mình cùng về Khu 5 công tác. Được cấp trên nhớ đến là một vinh dự, vậy nên đi đâu? Về đâu? Khu 5 hay Miền? Về Khu 5 được trực tiếp đánh Mĩ trên quê nhà, trả thù cho đồng bào và có cơ hội biết được gia đình, bà con nhưng như thế sẽ khó cho Binh chủng và cho trên. Khi giao nhiệm vụ trên đã nói rõ hai đồng chí Phúc và Chung trực tiếp tăng cường cho cơ quan Bộ Chỉ huy Miền. Đi theo ý kiến của Bộ và Binh chủng là phù hợp với tình hình chung. Nhưng từ chối ý kiến của thủ trưởng cũ thì thời cơ về quê hương và gia đình còn xa hơn. Nghe tôi trình bày, vợ tôi nói: “Bây giờ đi B thì cả cán bộ dân chính miền Nam tập kết chứ đâu chỉ có bộ đội mới được về như mấy năm trước. Có lẽ về miền Nam không còn của riêng ai. Anh Đôn nhớ đến anh là tốt, được đi và công tác cùng ảnh sẽ thuận lợi hơn trong quan hệ, dễ thông cảm hơn. Nhưng em nghĩ, các đoàn đi B về nam được trên tính toán cân nhắc rất kĩ về nhiều mặt, lại có cả một quá trình chuẩn bị công phu. Theo em, cứ đi theo sự chỉ đạo của trên, vào Nam Bộ càng tốt, vừa đánh Mĩ, vừa có dịp hiểu thêm đất rừng phương Nam. Như thế tiện cho anh và anh Đôn chắc cũng thông cảm với việc tổ chức đã sắp xếp”. Một đêm đầy ắp sự kiện, niềm vui xen lẫn lo âu. Người ra đi lo cho người ở lại. Người ở lại thương người đi vào chiến trường, nơi sự sống và cái chết chỉ trong khoảng cách mong manh. Đêm ấy, cả hai vợ chồng thức khuya để bàn bạc, động viên nhau. Đó là đêm mùng 2 Tết Giáp Thìn (1964). Vài ngày sau, tôi đi gặp đồng chí Nguyễn Ái Hòa, nhờ báo cáo lại Trung tướng Nguyễn Đôn là tôi rất tiếc không được cùng anh về lại chiến trường xưa vì đã được trên cử vào B2 theo kế hoạch từ trước. Về Nam ròi, Hòa báo cáo lại với tôi là khi nghe báo cáo xong, anh Đôn cười, nói “cũng được” và chúc tôi thành công ở cương vị mới. Thế là việc đi đâu, về đâu đã được giải quyết. Chỉ còn quyết tâm luyện tập để lên đường. Người đi như thế là ổn, còn ở lại vợ tôi sẵn sàng chấp nhận khó khăn, gắng vượt qua. Cô ấy động viên tôi yên tâm mà đi, những gì đã bàn, đã thống nhất, ra sức thực hiện cho đến ngày gặp lại nhau. Tôi nghĩ, có lẽ vợ chồng đều là người miền Nam, đều là cán bộ tập kết nên đã sớm xác định được tình cảm, trách nhiệm cũng như nhiệm vụ được giao. Nhưng tôi vẫn không vơi bớt nỗi lo. Tôi nghĩ nhiều về trách nhiệm người lính trong chiến tranh, về hạnh phúc gia đình và tình nghĩa vợ chồng. Thương vợ, 3 con còn quá nhỏ: Mai Ngọc Dung mới 6 tuổi, Mai Thúy Hạnh 4 tuổi, Mai Sơn Thủy mới 2 tuổi. Vợ tôi lại đang mang bầu, các con chưa tự chăm sóc được cho nhau. Đêm ấy, tôi đi lại trong căn phòng nhỏ vừa uống nước vừa nhìn các con đang ngủ say. Giá như các con lớn thêm ít tuổi, tự lo được cho bản thân và phụ giúp mẹ trông em. Nhìn bụng mang dạ chửa của vợ tôi biết sẽ vất vả nhiều lắm. Giá như sinh đẻ sớm hơn, có ba ở nhà dù sao mẹ con cũng đỡ một phần vất vả. Sáng hôm sau thức dậy đã thấy vợ tôi ngồi bên mâm cơm. Mặc dù kinh tế eo hẹp những mấy ngày trước khi vào chiến trường, vợ tôi cũng lo được cho chồng con những bữa cơm tươm tất. Đêm qua cô ấy không ngủ, thương chồng đi vào nơi hòn tên mũi đạn. Những ngày sắp tới, vợ tôi chắc sẽ vất vả hơn gấp bội phần. Ai mà biết được chiến tranh bao giờ mới kết thúc? Tôi đứng bên giường ngắm nhìn các con đang ngủ, hôm hôn từng đứa. Tôi nắm chặt tay vợ, cô ấy gục đầu vào vai tôi, mắt ngấn nước. Cô ấy đưa tôi ra cổng nhà số 6 Quán Thánh. Vợ tôi bịn rịn nói trong nước mắt; “Anh ra đi quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, em ở nhà nuôi dận con, xây dựng, bảo đảm hậu phương gia đình, chờ ngày thắng lợi gặp nhau ở quê nhà”. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:57:53 pm Mới sáng sớm, đường Quán Thánh vẫn còn ướt đẫm sương. Thỉnh thoảng có vài chiếc xe đạp của người lao động chạy vút qua. Tiếng tàu điện leng keng, nghe thân thiết lạ thường. Cây bàng đầu ngõ nhà tôi đã nhú những búp non. Tôi ngoái lại nhìn ngôi nhà nhỏ. Nơi đó có người vợ thân yêu, 3 đứa con “trứng gà trứng vịt” và một đứa sắp chào đời. Tình yêu thương người vợ trẻ với các con dâng đầy trái tim tôi. Tôi xốc lại chiếc ba lô, rảo bước nhanh sang đường Phan Đình Phùng, rồi rẽ đường Phùng Hưng.
Đó là buổi sáng ngày mùng 4 Tết Giáp Thìn. Trạm 66 của Bộ Quốc phòng ở phố Phùng Hưng, ngày ấy chỉ có vài ba dãy nhà cấp 4. Tôi đến, đã thấy mấy cán bộ đứng trò chuyện dưới tán những cây sấu già. Chừng nửa giờ sau, anh em mới đến đầy đủ. Đứng cạnh các anh bộ đội nai nịt gọn gàng là những người vợ trẻ đi theo đưa tiễn. Mắt ai cũng đỏ hoe. Tôi nhớ đến vợ tôi, Trần Kiều Sửu. Dù không ra nơi tập trung tiễn chồng nhưng giờ này cô ấy chắc cũng đang khóc. Những giọt nước mắt được giấu sâu vào tim để làm yên lòng người đi xa. Chiều hôm ấy, ngày 16 tháng 2 năm 1964, xe của Bộ Quốc phòng đưa chúng tôi từ Hà Nội vào Lữ đoàn 338 ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, nơi rèn luyện và tổ chức các đoàn vào miền Nam của quân đội ta. Mĩ - ngụy cáo buộc đây là “trung tâm huấn luyện biệt kích” đưa vào phá hoại miền Nam. Đến nơi, được đơn vị và các đồng chí cùng đi vào trước đón tiếp thân tình, đầm ấm trong không khí của ngày xuân. Tối hôm đó, chúng tôi ăn Tết cùng đơn vị theo lệ đưa tiễn đưa ông bà. Những câu chuyện Tết mọi nơi cùng thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng, rượu và phong pháo 20 phân làm cho không khí thêm sôi nổi. Chúng tôi nâng li chúc sức khỏe lẫn nhau, chúc mừng xuân thắng lợi. Sáng hôm sau chúng tôi lên hội trường. Đồng chí Trung tá Trần Tiến Quảng - Lữ đoàn phó Tham mưu trưởng Lữ 338 phổ biến nhiệm vụ, kế hoạch và thời gian rèn luyện mang nặng, đi xa. Tất cả 49 người được biên chế vào đại đội khung của đơn vị, do đồng chí Hồ - Đại đội trưởng, đồng chí Năm Nhẫn - Chính trị viên, đồng chí Năm Nhén - Đại đội phó (Cả ba đồng chí này tôi đều gặp ở Cục Chính trị Miền năm 1966). Sau cuộc họp, anh em nhận ba lô, gạch và cát để rèn luyện mang nặng đi xa. Chúng tôi được ăn bồi dưỡng theo tiêu chuẩn đi B và luyện rèn tại đây trong hai tháng. Mức mang hành quân của mỗi người cả trang bị vũ khí, lương thực, quần áo, tăng võng và các dụng cụ khác từ 25 đến 30kg. Khởi động ban đầu 15 đến 20kg, đi liền 6 đến 8 tiếng đồng hồ và tăng đần lên mức 25 đến 30kg, đi liên tục 8 đến 10 tiếng cả ban đêm. Tập cho đến khi vai chịu được nặng, chân bước vững và bền là đạt yêu cầu. Mang cỡ này mà trèo đèo, lội suối, vượt sông, thời chống Pháp 9 năm lên xuống nam bắc Tây Nguyên tôi cũng đã đi rồi. Đặc biệt, những năm 1953 - 1954, phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ, Trung đoàn 803 chủ lực Liên khu 5, trong đó có Tiểu đoàn 39 chúng tôi hành quân bộ từ Phú Yên lên Buôn Hồ, Biển Hồ, Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai. Lúc hành quân, khi dừng lại, lúc cơ động đánh địch, bữa ăn chỉ có cơm nắm, muối rang, nước suối. Có lúc chờ gạo tiếp tế bộ đội phải nhịn đói 3 ngày. Đời lính đói thì ăn lá rừng, củ mài, củ chụp là chuyện bình thường. Đây là cuộc hành quân mang vác nặng, đi xa, dài ngày nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi. Được cấp trên phổ biến, chúng tôi chỉ biết phải hành quân bí mật, đi theo lối mòn có giao liên chỉ dẫn. Trên đường có thể gặp thác lũ, mưa rừng, thú dữ, đặc biệt là bọn thám báo, biệt kích, máy bay, bom đạn kẻ thù. Những thử thách ấy đang chờ chúng tôi. Tuy nhiên, cái biết trước chính là có đoàn đã đi đến đích an toàn. Người ta đi được mình cũng đi được. Không hơn cũng phải bằng người ta. Bác Hồ đã dạy: “Có chí ắt làm nên”. Chúng tôi suy nghĩ và tự động viên mình để tăng thêm nghị lực. Trong khi anh em chúng tôi đang khẩn trương rèn luyện hành quân mang vác nặng trên núi rừng Thanh Hóa thì ở Hà Nội diễn ra một sự kiện trọng đại. Ngày 27 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Nội nghị Chính trị đặc biệt tại Hội trường Ba Đình. Đây là một “Nội nghị Diên Hồng” của thời đại Hồ Chí Minh. Sau khi điểm lại những sự kiện trong 10 năm qua ở nước ta và trên thế giới, Bác Hồ tỏ rõ thái độ của nhân dân ta đối với âm mưu xâm phạm miền Bắc của đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Bác nói: “Tình hình miền Nam hiện nay chứng tỏ một cách rõ rệt sự thất bại không thể tránh khỏi của đế quốc Mĩ trong “cuộc chiến tranh đặc biệt” này”(1). Bác kêu gọi: “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đoàn kết cần đoàn kết hơn nữa…”, “luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi hoạt động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mĩ và bọn tay sai của chúng”(2). Người còn nói: “Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định thắng lợi. Mọi người chúng ta bất kì ai, làm việc gì, ở cương vị nào, đều phải là những chiến sĩ dũng cảm của sự nghiệp vẻ vang ấy”(3). Chúng tôi lắng nghe, ghi vào trái tim mình từng lời của Bác, nguyện là những chiến sĩ dũng cảm trong sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sau hai tháng rèn luyện ngày đêm, đổ bao mồ hôi, người nào cũng rắn rỏi, cứng cáp hơn. Ai cũng có thể mang được từ 25 - 30kg, đi liên tục mấy chục cây số. Chú thích (1), (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.14, tr.279, 285, 286. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 30 Tháng Mười, 2013, 05:58:31 pm Ngày 20 tháng 4 năm 1964, đơn vị làm công tác tổ chức, biên chế. Đoàn chúng tôi mang phiên hiệu 613, có 49 người, biên chế 5 tiểu đội, mỗi tiểu đội có 9 người và ban chỉ huy. Về quân hàm có 4 trung úy, 1 thượng úy), còn lại là đại úy (thời đó còn gọi là sơ cấp, trung cấp). Một số đại úy trước khi lên đường được phong hàm thiếu tá, quyết định đã gửi vào Bộ Chỉ huy Miền, trong đó có tôi.
Đại úy Thìn được cấp trên giao nhiệm vụ Trưởng đoàn đồng thời làm Phó Bí thư chi bộ. Chính trị viên là đồng chí Ban, Đại úy, Bí thư chi bộ. Đồng chí Loan, Đại úy, Chính trị viên phó, Chi ủy viên. Đại úy Châu Thế Hùng - Đoàn phó Hậu cần, Chi ủy viên. Đồng chí Lan cũng quân hàm Đại úy, Tiểu đội trưởng, Chi ủy viên. Các đồng chí trong ban chỉ huy đoàn và cấp ủy hầu hết đã có nhiều năm chiến đấu ở chiến trường “miền Đông gian lao mà anh dũng” thời kì chống thực dân Pháp. Tôi được giao làm Tiểu đội phó, phụ trách hậu cần nên sau lưng lúc nào cũng thêm chiếc nồi quân dụng to tướng Cấp trên phổ biến hướng đi và đến của Đoàn 613 có mật danh: “Vào Ông Cụ, R, Miền, B2”. Sau này chúng tôi được biết là vào Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Đoàn 613 có nhiệm vụ trước mắt là tiếp tục luyện tập kết hợp với công tác chuẩn bị mọi mặt theo kế hoạch hành quân. Nhiệm vụ xa hơn, quan trọng bậc nhất là bảo đảm chấp hành kỉ luật hành quân, bí mật, an toàn, đến nơi 100% quân số. Đoàn và chi bộ họp quán triệt nhiệm vụ, rèn luyện hành quân xa, mang vác nặng, ra nghị quyết lãnh đạo hành quân. Nghị quyết của chi bộ nhấn mạnh: “Mỗi đảng viên phải giữ vững ý chí quyết tâm “Vì miền Nam phục vụ”, chiến đấu tiêu diệt kẻ thù, giải quyết miền Nam, thống nhất đất nước. Tạm gác riêng tư tính toán cá nhân. Đoàn kết giúp nhau bảo đảm hành quân 100% về đến đích. Tự giác giữ nghiêm kỉ luật và nội quy hành quân; cảnh giác, bí mật và sẵn sàng chiến đấu”. Sau đó, đoàn phổ biến kế hoạch rèn luyện nâng cao kết hợp với chuẩn bị theo quy định, phù hợp với nội quy hành quân, trú quân. Trước khi lên đường, mỗi ngày chúng tôi tập một buổi nâng cao, còn lại sinh hoạt học tập chính trị và từng cá nhân chuẩn bị theo quy định. Mỗi người phải mang 20kg gạo, mắm muối, thực phẩm, lương khô, thuốc trị bệnh, quần áo, tăng võng, áo mưa, thắt lưng và một khẩu súng ngắn P38 của Tiệp, 20 viên đạn, một biđông đựng nước, một càmèn nấu cơm cá nhân, giày dép, một dao găm, 2 ruột nghé, một dao tông đi rừng. Các loại trang bị đều do đơn vị cấp phát, gạo đựng vào hai ruột tượng còn lại dồn vào ba lô, khoác lên vai, các thứ khác đeo ở thắt lưng. Mỗi tiểu đội thành một bếp ăn được trang bị một nồi quân dụng. Riêng thực phẩm ăn hằng ngày cấp trên phát tiền mặt theo định suất, có căng tin phục vụ theo khả năng từng người. Một số anh em có điều kiện, tiền lương tích lũy được mua tôm to là ruốc, thịt heo rim, sâm cao li và cả thuốc bổ. Phần lớn anh em chỉ chuẩn bị được ruốc thịt heo, chà bông cùng một ít lương khô phòng đói dọc đường. Kinh nghiệm hoạt động ở chiến trường Khu 5 thời kháng chiến chống Pháp đã cho tôi nhiều bài học. Nay đi xa, dài ngày cần đến độ mặn của mắm muối, tăng thêm đạm và gia vị cần thiết. Tôi tính toán thực phẩm mang theo phải bảo đảm ăn được từ hai tháng rưỡi đến ba tháng. Không khí chuẩn bị hành quân thật náo nức. Đơn vị như một nhà máy chế biến thực phẩm. Nguyên liệu chủ yếu là tôm, thịt heo, thịt bò. Quan sát anh em chuẩn bị, tôi nghĩ ngay đến phương án riêng cho mình. Khi làm ruốc tôm, các anh thường bỏ phần đầu, đuôi. Thấy tiếc, tôi nhặt đầu tôm, đưa vào nhà dân nhờ rang khô, giã nhỏ làm bột mịn, trông khá bắt mắt. Nửa cân bột tôm, cùng với 3 lạng bột ngọt, tiêu ớt vừa đủ cay, một lạng sả già vắt lấy nước, trộn đều, để riêng ra. Thịt heo 1,2kg, loại nạc thái nhỏ trộn với 3 lạng muối, 6 lít nước mắm ngon, cho thêm vài bát nước lã để kích thích bốc hơi.Tôi cho thịt vào nồi nấu sôi, sau đó cho lửa thật nhỏ. Khi thịt nhừ đến độ sền sệt, cho tiếp các thứ còn lại vào trộn đều, làm như thế bột tôm không bốc hơi, các gia vị giữ được hương vị của nó. Tôi mang sản phẩm ra cân thử được 2,9kg, chia làm hai, một gói mang ở thắt lưng để ăn hằng ngày, bọc còn lại cho vào ba lô dự trữ, làm “của để dành”, Thấy tôi chế biến món “thực phẩm đặc biệt”, chủ nhà làm giúp tôi nói: “Chưa thấy ai chuẩn bị như chú, vừa rẻ tiền, mà lại thơm ngon”. Công tác chuẩn bị hành quân đã hoàn thất. Lữ đoàn 338, Đoàn 613 tiến hành kiểm tra từng cá nhân. Trọng lượng mang vác của người nhẹ nhất là 26kg, người nặng nhất 31,5kg, đa số anh em 28 - 30 kg. Những thứ đoàn không bắt buộc, một số anh em để lại, chủ yếu là quần áo, vải mưa. Cán bộ đoàn sợ thiếu, nhắc nhở, các đồng chí báo cáo: “Thà chịu thiếu mang nhẹ đi mà đến nơi còn hơn nặng quá phải nằm lại dọc đường”. Số anh em này phần lớn là dân miền sông nước đồng bằng Nam Bộ, thường ra khỏi nhà là cơ động bằng ghe thuyền, ít khi đi bộ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:08:27 am * Ngày 19 tháng 4 năm 1964, đoàn làm lễ xuất quân tại Thọ Xuân, Thanh Hóa - quê hương của vị Anh hùng dân tộc Lê Lợi. Đi qua Nghệ An, Hà Tĩnh đến làng Ho - Quảng Bình. Chặng đường này các đoàn đi bộ gần 30 ngày đêm, chúng tôi đi xe hơn 2/3 quãng đường, còn lại đi bộ sáu bảy ngày đêm mới đến làng Ho. Càng đi càng xa dần miền Bắc thân yêu, gợi trong tôi nhớ lại bao kỉ niệm. Từ tham gia chống lụt bão, nắng hạn, đắp đê, lao động xây dựng thủy lợi Bắc Hưng Hải, cùng Công trường 92 làm doanh trại, kho xe, bãi tập lái, trường bắn cho Trung đoàn xe tăng 202. Mùa hè nắng gắt, mùa đông rét buốt, nhớ điếu thuốc lào, nhớ bát nước chè xanh... Nhớ bánh chưng, thịt kho đông, dưa chua, củ hành muối, đậm đà hương vị tết cổ truyền ở miền Bắc. Đặc biệt, nhớ Hà Nội không những lo cho cả nước mà còn lo và chu đáo đối với miền Nam, dốc sức cho miền Nam “đi trước về sau” để đánh Mĩ - ngụy. Gia đình tôi, các con tôi được sinh ra, lớn lên học tập dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được sự che chở đùm bọc của nhân dân Thủ đô, của cơ quan Bộ Quốc phòng, của Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Nhớ Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng ở Kiến An, Hải Phong. Nơi đây, khi dã 28 tuổi đời, Tiểu đoàn trưởng Mai Văn Phúc mới được làm học trò, ngày hai buổi cắp sách tới trường. Mái trường chính quy đầu đời đã tạo cho tôi cơ sở, vốn liếng để mở mang văn hóa, tiếp thu khoa học kĩ thuật. Tại đây, tôi còn được học thêm 3.000 từ Hán ngữ, tương đương với bậc sơ tiểu học ở Trung Quốc. Trên miền Bắc thân yêu, tôi còn có cả một gia đình và sự nghiệp. Tôi nghĩ, sau ngày thắng lợi nhất định phải ra thăm miền Bắc, thăm Thủ đô Hà Nội. Tôi sẽ về xã Kim Long, làng Láng, Gô, Hữu Thủ, nơi một thời đóng quân sống trong ân tình sâu đậm, quân dân cá nước. Kỉ niệm về miền Bắc thật phong phú, dài như cuốn phim nhiều tập, không sao kể xiết. Đến khi không còn đường ô tô, cả đoàn tiếp tục hành quân bộ, lúc này mới thực sự có cảm giác mang nặng đi xa. Mấy ngày đầu rất mệt, chân đau, vai mỏi, đến nơi nghỉ người mệt nhừ. Biết chúng tôi vào Nam chiến đấu, nhân dân dọc đường giúp dỡ rất nhiều. Bà con dọn dẹp chỗ ngủ, vo gạo nấu cơm giúp bộ đội. Nhiều mẹ còn đem nước để chúng tôi mang đi đường. Bà con nấu nước nóng cho những đồng chí chân bị đau, phồng rộp ngâm chân. Tình cảm quân dân thật sâu nặng. Đến trạm làng Ho, đoàn nghỉ một ngày để rút kinh nghiệm chặng đi dầu tiên, củng cố quyết tâm, điều chỉnh sức mạnh của mỗi người. Tôi gặp lại ông Đình, bạn chiến đấu ở Liên khu 5, giờ là cán bộ của Trạm giao liên làng Ho. Ông nói: “Vào Trường Sơn gian nan lắm, có gì nặng thì để lại”. Ông còn nói vui: “Đến cái cúc áo cũng phải cắt bớt cho nhẹ”. Thấy quần áo, đồ đạc các đoàn di trước bỏ lại nhiều, tôi lấy thêm bộ đồ vải thun dệt kim Đông Xuân rất đẹp. Có người nói: “Muốn trở lại hay sao mà tham thế”. Tôi chỉ cười, nghĩ có lúc sẽ dùng đến nó. Đến trạm Ho, ngoài đoàn chúng tôi đi vào Miền, còn hai đoàn đông hơn, cán bộ dân sự về Khu 5. Chúng tôi nghe các đồng chí cán bộ trạm phổ biến kinh nghiệm hành quân đường dài. Trạm cũng cho biết, vì đường khó đi, lại trèo đèo lội suối, vượt sông nên có đoàn đã vứt quần áo, đồ đạc dọc đường, nhất là các đoàn dân sự. Để giữ bí mật, các trạm giao liên dọc đường dã cho người di thu gom, xóa dấu vết. Đoàn của chúng tôi đã cân đong và giảm từ trước lúc xuất phát ở Thanh Hóa nên đến đây không ai để lại thứ gì cả. Ngày hôm sau, đoàn dừng lại chốc lát ở Bến Tắt trước khi vượt sông Bến Hải. Dòng sông giới tuyến này thuộc địa phận Quảng Trị dài khoảng 100km, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, len lỏi qua bao miền quê, chảy về Cửa Tùng rồi đổ nước ra biển Đông. Phái thượng nguồn, sông Bến hải nước cạn nên chúng tôi lội bộ qua mà không mấy khó khăn. Từ đây, kế hoạch hành quân của đoàn thay đổi từng ngày. Qua Quảng Trị, khi vượt những vùng giáp ranh với địch, chúng tôi phải đi ban đêm. Đi sâu vào rừng Cam Lộ, Hướng Hóa, vượt đường 9, đoàn tạm nghỉ để lấy sức đi tiếp. Chặng đường này lắm đèo cao, dốc đứng nên anh em rất vất vả. Đi đêm sợ lạc nên người đi sau bám theo người đi trước. Leo dốc, xuống yên ngựa rồi lại lên dốc. Dốc sau cao hơn dốc trước, có dốc dựng đứng, bộ đội phải đặt từng bước chân để trèo. Có dốc người đi lên phải khom lưng xuống để giữ thăng bằng. Khi leo dốc, chân bị chồn, chỉ sợ ngã. Những hôm nắng, mồ hôi vã ra như tắm. Hôm nào gặp mưa thì trơn trượt, leo lên tụt xuống, vô cùng gian khổ. Vừa leo dốc vừa mong ngóng đến trạm để nghỉ chân. Tuy hành quân về mùa khô nhưng thời tiết ở Trường Sơn vốn đỏng đảnh nên chúng tôi vẫn phải đối phó với mưa rừng và nước suối dang cao. Những ơn mưa giông bất chợt hay đổi về nguồn, nơi nào nhiều núi thì trời thường mưa. Có hôm, hành quân quá trưa qua đoạn đường nhiều đồi núi, ít cây, gặp cơn mưa giông kéo dài, nước từ các quả đồi chảy xuống suối, nhanh chóng dân cao, anh em đành phải ngồi chờ nước rút. Với kinh nghiệm 9 năm đánh Pháp ở Liên khu 5 và Tây Nguyên, tôi giắt con dao đi dọc suối, chọn cây có tầng trên ngọn và độ cao có thể gác qua suối. Tôi chặt trước phía suối sâu vào thân cây 4 - 5 phân, sau đó chặt phía ngược lại, cao lên khỏa 20 phân. Khi lưỡi dao sâu chưa đến 3 phân, cây sẽ đổ ngang qua bên kia bờ. Khoảng 15 phút sau, tôi đã làm xong chiếc cầu vượt suối. Có vài anh bò sang trước buộc dây, sau đó bộ đội men theo dây sang bờ bên kia. Hôm ấy, bộ đội về đến trạm trời vẫn chưa tối, anh em vui vì có thời gian nghỉ sớm. cô giao liên dẫn đường nói, mấy ngày trước có đoàn cũng gặp mưa tại đó, chờ hơn hai tiếng đồng hồ nên về tới trạm 7 - 8 giờ tối rất vất vả. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:09:16 am Đường Trường Sơn có hệ thống các trạm giao liên. Vào đến đất Quảng Trị có giao liên đưa đường. Giao liên Trường Sơn chủ yếu là các cô gái người miền Nam tuổi mới mười tám đôi mươi, áo bà ba, khăn rằn vắt vai, chân dép lốp đi thoăn thoắt. Vừa đi các cô vừa kể chuyện cho chúng tôi nghe, có cô rất hồn nhiên và tinh nghịch, hát khe khẽ chỉ đủ để chúng tôi nghe. Nghe tiếng hát của các cô giao liên miền Nam chúng tôi thấy hậu phương gần hơn, như được tiếp sức mạnh cho “chân cứng đá mềm”.
Mỗi chặng hành quân bộ thường từ sáng tới chiều, khoảng 8 - 10 tiếng đòng hồ. Trong tiểu đội có đồng chí Thiều đau chân không đi kịp, về trễ, anh em không vui, tôi phải làm công tác tư tưởng. Trên đường đi, gặp rau rừng và lá tàu bay chúng tôi dừng lại, hái cho vào túi để ăn dè hôm ấy và cho cả bữa sau. Đến nơi dừng chân, mỗi người một việc. Theo quy định đến lượt người nào mang nồi thì nấu cơm. Nấu ăn trong ngày và cơm nắm cho ngày mai. Nếu chưa đến lượt mình thì giúp anh em kiếm củi, phụ nấu. Số anh em còn lại phát quang, dọn chỗ để mắc võng, đào hố cá nhân, tham gia canh gác. Gặp hôm trời mưa, nhóm được bếp lửa mất cả tiếng đồng hồ, thật vất vả. Gặp hôm như thế, anh em chỉ nấu được nồi nước đổ biđông, rồi quây quần bên nồi cơm vội với thực phẩm cá nhân mang theo. Hành quân trên đường Trường Sơn lúc nào cũng thường trực nỗi lo. Sau một ngày thấy mình đến được trạm nghỉ là mừng. Không ai có thể hình dung chặng đường ngay mai sẽ như thế nào, gặp khó khăn hay thuận lợi. Trước khi vượt dòng Sêrêpok, chúng tôi được trên thông báo đây là con sông rộng, nước chảy mạnh. Hôm gặp trời mưa, sông càng trở nên hung dữ. Đoàn đi trước mặc dù đã dùng cây để vượt sông nhưng vẫn có người bị cuốn trôi. Tôi có hai bạn là anh Nhi và anh Vầy nằm trong trường hợp đáng tiếc đó. Để vượt sông an toàn, ngoài thuyền của giao liên, Đoàn chúng tôi mỗi người dùng ni lông bọc lại làm phao dự phòng. Bố trí sang sông từng tốp, người biết bơi kèm người không biết bơi. Từ trạm Ho vào hết địa phận Khu 5, vòng qua đất lào đường đi thật gian nan. Địa hình phức tạp, rừng rậm, sông sâu, đèo núi cheo leo, hiểm trở. Rừng ở đây lại nhiều vắt vô kể. Vắt dày đặc trên mặt đất, trên cây (vắt lá). Chỉ cần sơ ý một chút là chúng chui vào ống quần, ống tay, cổ áo, bám chặt, hút cho đến lúc bụng căng phồng máu người mới chịu nhả. Người bị vắt cắn chả khác gì bị tra tấn, chỗ vết cắn máu vẫn tiếp tục rỉ ra, vài ngày sau lở loét, đau đớn, rất khó chịu. có người lên cơn sốt vì vết thương do vắt cắn bị nhiễm trùng. Những ngày sau, chúng tôi mới có kinh nghiệm chống vắt, đi tất, dùng thuốc xoa. Khi bị vắt cắn phải dùng nước bọt, thuốc lào đắp vào nó mới chịu nhả ra. Tháng đầu hành quân được coi là “xuôi chèo mát mái”, còn sau đó mâu thuẫn xuất hiện, chủ yếu là trong sinh hoạt. Tiểu đội tôi có 9 người. Đại úy Mai Chương - Tiểu đội trưởng, tôi - Tiểu đội phó. Trong tiểu đội 5 người quê miền Nam, 4 anh em người Bắc, người Trung nên sở thích ăn uống khác nhau. Trong bữa ăn hay cãi lộn vì cơm khô, cơm ướt. Thấy thế, tôi nghĩ ra một cách, khi cơm sôi được một lúc thì nghiêng nồi. Phần có lửa nhiều hơn cơm sẽ khô, phần còn lại cơm ướt. Đến bữa, sở thích ăn cơm ướt của mấy anh dân Nam Bộ được đáp ứng. Còn mấy anh người miền Bắc được ăn cơm khô. Tôi nấu liền mấy bữa, sau đó hướng dẫn cho anh em. Từ Khu 5 vào đến Nam Bộ nhiều trạm giao liên không có gạo. Chặng nào được bổ sung gạo, chúng tôi cũng phải ăn dè vì đường hành quân còn dài. Khu 5 ở xa hậu phương miền Bắc, việc tiếp tế gặp khó khăn. Đã từng chiến đấu ở Khu 5 thời chống Pháp tôi biết, đồng bằng ở đây nhỏ hẹp, không màu mỡ, lại bị địch đánh phá thường xuyên nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Để phòng xa, từ đây mỗi người phải mang gạo đủ ăn trong một tháng, nghĩa là riêng gạo đã 20kg, ba lô lúc nào cũng 35 - 40 kg. Sau mỗi ngày, gạo với, trên vai nhẹ chút nhưng không thấy vui mà chỉ lo bị đói. Không có gạo sẽ ảnh hưởng đến cuộc hành quân. Vì thế gạo là thứ quý nhất đối với chúng tôi - những người hành quân vượt Trường Sơn. Cứ sau 10 ngày đi bộ, Đoàn cho anh em nghỉ một ngày để lấy sức đi tiếp. Tranh thủ nghỉ, Đoàn và chi bộ sinh hoạt, động viên nhau giữ quyết tâm, gắn kết với nhau mà đi. Có đi dọc Trường Sơn mới hiểu thêm tình đồng chí, đồng đội, chia ngọt sẻ bùi, yêu thương nhau nhiều khi còn hơn anh em ruột thịt. Hành quân lâu ngày nhiều đồng chí thực phẩm đã cạn kiệt. Dọc con đường giao liên đi qua chủ yếu là đồng bào các dân tộc: Vân Kiều, Tà Ôi, Bru, Xơ Đăng, Mnông, Co. Cuộc sống của bà con còn khó khăn, sản xuất chủ yếu tự cung tự cấp. Nơi nào gần dân thì trạm, đoàn cho phép mang đồ đi đổi. Khi hành quân qua Lào, ông Châu Thế Hùng, Đoàn phó hậu cần vốn thông thuộc dẫn anh em vào bản đổi quần áo lấy thực phẩm. Bà con thích bộ đồ xanh tôi đang mặc. Ông Mai Chương có chiếc áo len màu đỏ, họ giơ lên xem, nhìn thấy trời, nói: “Không thích”. Tôi chạy về thay bộ khác, mang bộ đồ xanh đổi được 7 con gà, một con heo gần 30 cân. Chiều hôm ấy cả đoàn được bữa tươi, sáng hôm sau còn một ít mang đi. Vì thiếu thực phẩm nên có dịp dừng chân là anh em mang quần áo, áo mưa vào bản đổi con gà, cân thịt heo, có khi được cả con chó. Có anh quần áo mang đi đổi hết, chỉ còn độc bộ đồ xanh mặc trên người. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:10:10 am Đến cuối Khu 5, địa đầu đất Nam Bộ, cực nam Tây Nguyên ai nấy đều mừng vì cuộc hành quân gian nan đã đi được phần lớn chặng đường. Từ đây, việc cung cấp lương thực cho các trạm giao liên cũng tốt hơn. Anh em mang các thứ vào dân đổi con gà, cân thịt cũng dễ hơn. Tôi nhẩm tính, chỉ hơn 20 ngày nữa sẽ đến trạm giao liên cuối cùng, chạm đích cuộc hành quân. Nhưng chỉ hai ngài say, mọi dự đoán của tôi và anh em bị đảo lộn. Nhiều người lăn ra ốm, chủ yếu là sốt rét. Một số anh em bị tuột lại sau, có người lạc đội hình. Lí do thất thoát cũng dễ hiểu. Đến trạm giao liên gặp người thân quen, đồng hương, một số anh em viện cớ ở lại chơi vài ba ngày rồi vào sau. Cả 4 người trong Ban Chỉ huy đoàn cũng bị mất sức chiến đấu. Ông Thìn - Trưởng đoàn ốm phải nằm lại trên đất Kon Tum. Thế là từ Tiểu đội phó, tôi được giao phụ trách Trưởng đoàn. Nhiệm vụ khá bất ngờ, không có quyết định bằng văn bản, chỉ là nghị quyết chi bộ họp bất thường, nói miệng, nhưng là cán bộ, là đảng viên, tôi phải chấp hành.
Tôi không ngờ bống chốc được “thăng tiến”. Việc đầu tiên trên cương vị Trưởng đoàn tôi kiểm tra quân số, gặp gỡ, động viên anh em vượt qua khó khăn, tiếp tục hành quân. Tôi phân công người khỏe san sẻ bớt cho người yếu mệt. Từng tiểu đội phải nhắc nhở nhau kỉ luật hành quân, không được bỏ cuộc, quyết tâm đến đích. Sau khi “xốc lại đội hình”, đoàn chỉ còn chưa đầy hai phần ba quân số. Nhưng tinh thần đã phấn chấn, ai cũng xác định quyết tâm hành quân thắng lợi. Thế là sau hơn ba tháng hành quân ròng rã, chiều ngày 25 tháng 7 năm 1964, đoàn đến trạm đón tiếp cuối cùng của Miền ở suối Tha La, dưới chân núi Bà Đen, cách thị xã Tây Ninh 11km về phía đông bắc. Nhìn từ xa, núi Bà Đen cao 986m trông như một chiếc nón lớn màu xanh thẫm úp lên cánh đồng. Sau khi ổn định chỗ ở cho đoàn, tôi vào trạm báo cáo. Trưởng trạm là anh Năm Nhạc, người Nam Bộ, dáng người cao lớn. Anh siết chặt tay tôi, hỏi thăm tình hình, thân tình như đón người nhà đi xa lâu ngày trở về. Năm Nhạc chỉ thị anh em cấp cho Đoàn 613 mỗi người bơ rưỡi (1/2 lít) gạo cùng với cá kèo khô để ăn bữa tối. Anh quay sang nói với tôi: - Đồng chí Trưởng đoàn ở lại làm việc và ăn cơm tối với anh em trạm đón tiếp. Chiều hôm đó, tôi được ăn bữa xôi nếp với thịt gà luộc. Năm Nhạc và anh em trong trạm đón tiếp hỏi tôi chuyện hành quân, chuyện gia đình, quê quán. Trước khi đi ngủ, tôi còn được trạm đãi bát cháo gà. Hơn ba tháng đói cơm, nhạt muối, nay được tiếp đón thân tình, ăn cỗ tại đích cuối cùng của cuộc hành quân, trong tôi dân lên niềm xúc động mãnh liệt. Nghỉ lại trong chiếc lán giữa rừng miền Đông, cứ tưởng đặt mình là ngủ ngay, nhưng không, những sự kiện dọc đường cứ chập chờn trước mắt tôi, lúc mờ, lúc tỏ. Chúng tôi đã về tới đích, sau khi đã vượt hơn 2.000km, qua bao đèo dốc, suối sâu, vực thẳm bằng chính đối chân của mình. Đã vượt bao cánh rừng, bao lần suýt chết vì thú dữ, rắn độc, nước lũ, bom đạn giặc Mĩ, tôi không thể nhớ hết. Chúng tôi đã làm khách của gần 60 trạm giao liên trên tuyến đường mang tên Bác Hồ kính yêu. Trong đoàn ai cũng ốm đau, sốt rét, chỉ có mình tôi là không hề hán gì. Lúc nào trên vai, quanh người tôi cũng có trọng lượng xấp xỉ 30kg, nhiều khi mang giúp anh em đau yếu lên hơn 40kg. Tôi là là người thường về đến trạm sớm nhất. Anh em ví tôi là cây lim, cây táu giữa đại ngàn Trường Sơn. Cuộc hành quân vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu như trường học lớn mà mỗi ngày là một bài học sâu sắc. Tôi được chứng kiến nhiều câu chuyện cảm động về hình ảnh, phẩm chất cao đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ. Tôi cũng đã nhường đồng đội đau yếu tới viên thuốc cuối cùng. Gói thực phẩm chế biến từ hậu phương tôi cũng san sẻ phần lớn cho anh em trong tiểu đội để bữa ăn Trường Sơn bớt phần đạm bạc. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Trước khi xuất quân, 49 con người với gương mặt rạng ngời, hô vang quyết tâm vượt Trường Sơn, nay chỉ còn 32 anh em cán đích cuối cùng. Thật đáng tự hào trong số 32 “Dũng sĩ Trường Sơn”, có cả tôi và Lâm Kim Chung - hai người lính xe tăng. 17 người do đau yếu, bệnh tật hoặc vì lí do nào khác phải nằm lại dọc đường, đành lỡ hẹn với miền Đông. Tôi nghĩ, trong mỗi cuộc đua, ai về đích sớm sẽ là người chiến thắng. 32 cán bộ có mặt tại Tha La - Trạm đón tiếp cuối cùng trong chặng đường hành quân gian khổ xứng đáng được gọi là dũng sĩ. Với tôi, được như vậy là nhờ đã trải qua rèn luyện, thử thách trên chiến trường Khu 5 thời đánh Pháp, lại có những năm tháng học tập, rèn luyện trên miền Bắc thân yêu! Đó là ý chí, quyết tâm, bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng được Đảng, Bác Hồ, quân đội giáo dục và rèn luyện gần hai chục năm qua. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:11:22 am 7. LẤY XE ĐỊCH ĐÁNH ĐỊCH Vào đến miền Đông, chúng tôi được nghỉ vài ngày tại trạm đón tiếp, chờ Bộ Chỉ huy Miền xuống nhận bàn giao. Một số anh em về Khu 9, số còn lại về Miền. “Miền” là từ bí mật để hỉ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Người đến nhận chúng tôi là Hai Chân, cán bộ của Miền. Anh tên thật là Nguyễn Văn Tưởng, quê Long An, Hai Chân là bí danh của anh ở chiến trường. Tôi và Lâm Kim Chung - hai cán bộ xe tăng đầu tiên có mặt ở chiến trường Nam Bộ, được điều về nhận công tác tại Phòng Tác chiến. Những ngày đầu ở căn cứ, tôi mới hiểu thế nào là “Miền Đông gian lao mà anh dũng”, thế nào là chiến khu. Nơi căn cứ là rừng già bạt ngàn nhưng bằng phẳng, nhiều chỗ rừng ken dày, không nhìn thấy ánh mặt trời. Người thủ trưởng đầu tiên tôi gặp ở chiến trường mới là Hoàng Anh Tuấn. Hồi 9 năm kháng chiến chống Pháp, gặp nhau ở Trung đoàn 108 và Trung đoàn 803, lúc đó anh là cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn còn tôi mới là Trung đội trưởng, Đại đội phó chưa thật thân quen lắm. Những cuộc gặp gỡ ở chiến trường thường bất ngờ và cảm động. Khi tôi vừa vào chiến trường miền Đông, thì anh Năm Ngà đang làm Tư lệnh Quân khu 6. Tháng 5 năm 1965, ta mở Chiến dịch Đồng Xoài, anh Năm Ngà được trên điều làm Tư lệnh phó chiến dịch, lúc đó tôi mới được gặp anh. Thời gian sau đó, anh là Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Gặp lại anh Năm Ngà, những kỉ niệm chiến đấu lại hiện về. Tháng 6 năm 1954, lúc đó tôi là Đại đội trưởng trinh sát của Trung đoàn 803 được lệnh quay lên Tây Nguyên dẫn Trung đoàn 96 của Trung đoàn trưởng Năm Ngà mai phục tại Đắc Pơ. Trận ấy, Trung đoàn 96 đã dàn thế trận đón đánh, tiêu diệt gọn binh đoàn cơ động 100Âu - Phi,cùng một số tiểu đoàn quân ngụy. Năm Ngà là bí danh, còn tên thật ủa anh là Nguyễn Minh Châu. Thời kì này, cách mạng miền Nam đã có bước phát triển mới. Một số đơn vị bộ đội chủ lực được thành lập ở cấp trung đoàn, phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ đã thất bại trên chiến trường miền Nam. “Chiến tranh đặc biệt” là chiến lược đầu tiên trong ba loại chiến tranh trong chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mĩ, dùng quân đội ngụy tay sai làm công cụ tiến hành chiến tranh. Nội dung cơ bản ủa chiến lược này là càn quét, dồn dân vào ấp chiến lược trên quy mô lớn theo kiểu “tát nước bắt cá”. Chúng đã đưa 10 triệu nông dân miền Nam vào các trại tập trung, tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân và tăng cường bắn phá, ném bom, rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống trên mặt đất. hi vọng thực hiện thắng lợi chiến tranh đặc biệt, Mĩ đã tăng cường tổ chức quân ngụy và bộ máy ảnh sát ngụy quyền, tăng cường viện trợ cố vấn và các phương tiện chiến tranh hiện đại như trực thăng, cơ giới, thiết giáp. Công tác ở Phòng Tác chiến Miền, tôi thường xuyên nhận được tin chiến sự khắp miền Nam tới tấp bay về. Có trận ta thắng lớn, có trận thắng ít và cũng có trận ta thương vong còn cao. Công tác ở Phòng Tác chiến một thời gian ngắn, tôi và Lâm Kim Chung được điều về Phòng Quân báo Miền. Cấp trên giải thích, để chúng tôi có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu tính năng các loại tăng thiết giáp của địch, làm tham mưu và phục vụ thông tin cho lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Chỉ huy Miền và các đơn vị trực thuộc. Tại thời điểm này, Quân giải phóng miền Nam tuy lực lượng còn mỏng, chỉ mới tổ chức đến cấp trung đoàn nhưng đã đánh những trận xuất sắc, tiêu diệt địch ở cấp tiểu đoàn, trực tiếp hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương đánh địch và quần chúng nổi dậy, góp phần đánh bại một bước âm mưu càn quét, bình định chiến trường trọng điểm B2 của địch. Trong tình thế gấp gáp của chiến trường đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng lực lượng, tôi được Bộ Chỉ huy Miền giao nhiệm vụ thành lập Ban Cơ giới. Lực lượng chủ yếu của Ban Cơ giới Miền lấy từ Đại đội 46B vào chiến trường từ cuối năm 1963. Các đơn vị bộ đội tập kết 330, 338 đã chọn con em người miền Nam thuộc nhiều binh chủng, thành lập đại đội do Lương Tài Lực làm Đại đội trưởng, Nguyễn Hà Tường làm Chính trị viện. Từ Nông trường Sao Vàng, Lâm Hai được rút về làm Đại đội phó. Bộ Tổng tham mưu đã giao cho Trung đoàn 202 tập huấn Đại đội 46B. Tiểu đoàn 3 trực tiếp huấn luyện Đại đội 46B, nên khi vào chiến trường chúng tội gặp lại nhau thân thiết như người nhà. Vào đến chiến trường miền Đông, Đại đội46B đã được phân tán xuống các đơn vị chiến đấu. Do yêu cầu giữ bí mật, tất cả đều phải “thay tên đổi họ”. Chiến trường Đông Nam bộ, cực Nam Trung Bộ gọi là B2. Ông Cụ, căn cứ gọi là R. Với tên gọi chung là “Quân giải phóng miền Nam”; sư đoàn là Công trường, trung đoàn là Q, tiểu đoàn gọi là Liên đội, cấp phòng gọi là J. Tăng thiết giáp gọi là Cơ giới. Vì thế, ở chiến trường, lính ta hay nói đùa là: “R xuống Q thì cụ cứng”. Ban Cơ giới Miền lấy phiên hiệu B16, thành lập ngày 20 tháng 11 năm 1964. Đây là cơ quan Binh chủng Tăng - Thiết giáp ở chiến trường B2 của quân đội ta, ra đời tại căn cứ Bà Chiêm thuộc Chiến khu Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh). Biên chế của Ban Cơ giới Miền (B16) gồm có tôi, lúc đó là Trung đoàn bậc phó làm Trưởng ban, anh Võ Hiệp làm phó ban, Lâm Kim Chung làm Trợ lí tham mưu, Nguyễn Hà Tưởng làm Chính trị viên và Lâm Hai là Trợ lí hậu cần. Trực thuộc B16 có một trung đội đặc công cơ giới 12 người, do Nguyễn Văn Sáu (Sáu Tống) làm Trung đội trưởng. Nhiệm vụ của B16 được Bộ Chỉ huy Miền giao rất mới mẻ, lại tiến hành trong điều kiện chiến tranh ác liệt và phức tạp. Đó là đi sâu nghiên cứu đặc điểm, cấu tạo, tính năng kĩ, chiến thuật, cách sử dụng xe tăng thiết giáp của địch. Xây dựng phương án tác chiến hiệp đồng binh chủng sát với điều kiện chiến trường miền Đông Nam Bộ. Phối hợp với Binh chủng Đặc công cùng tác chiến, tìm cách “đoạt xe địch”. Từng bước xây dựng lực lượng tăng - thiết giáp tại chỗ, chuẩn bị mọi mặt đón lực lượng tăng - thiết giáp từ hậu phương miền Bắc, tổ chức thành các đơn vị chiến đấu của tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:12:04 am Những ngày đầu của B16 diễn ra khá thuận lợi. Anh em ngày càng hiểu nhau, biết đồng cam cộng khổ, đoàn kết, quyết tâm chuẩn bị thật tốt để chiến đấu, lập công. Tiếp tục chi viện cho chiến trường B2, Trung đoàn xe tăng 202 lại cử tiếp đoàn cán bộ thứ hai lấy phiên hiệu C15 vào miền Đông Nam Bộ. Đoàn C15 là khung một đại đội với đầy đủ cán bộ, trưởng xe, lái xe, pháo thủ gồm 40 người, do Trung úy Nguyễn Đình Doãn phụ trách. Lên đường cuối tháng 7 năm 1964, đến tháng 11 năm 1964, Đoàn C15 vào tới chiến trường B2. Tôi vui mừng được gặp lại đồng đội cũ: Nguyễn Đình Doãn, Phan Quế… Doãn quê Đô Lương, Nghệ An, cùng học với tội tại Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc. Có thêm lực lượng, chúng tôi bàn nhau sáp nhập Đoàn C15 vào Trung đội đặc công cơ giới thành Đại đội 40 cơ giới. Đồng chí Lương Tài Lực làm Đại đội trưởng, Nguyễn Hà Tưởng làm Chính trị viên, Nguyễn Đình Doãn làm Đại đội phó, Phan Quế làm Đại đội phó kĩ thuật. Khi về Nam, Nguyễn Hà Tưởng lấy vợ tên là Hà Vũ, một bác sĩ công tác ở Viện quân y Miền, từ đây anh mang tên mới là Nguyễn Hà Vũ.
Gọi là Đại đội cơ giới nhưng trong tay chỉ có vũ khí bộ binh, chủ yếu là súng AK 47 và lựu đạn. Mục tiêu của B16 là “Đánh đặc công, đoạt xe tăng địch để đánh địch” nên Đại đội 40 phải huấn luyện các bài kĩ thuật, chiến thuật đặc công. Thế là anh em huấn luyện ngày đêm, háo hức, sôi nổi, ai cũng muốn được ra trận để lập công. Như hiểu được tâm trạng cán bộ, chiến sĩ B16, chỉ hai tháng sau, Bộ Chỉ huy Miền đã cho chúng tôi tham gia Chiến dịch Đồng Xoài, từ ngày 15 tháng 5 năm 1965 đến ngày 12 tháng 9 năm 1965. Số anh em được chọn tham gia chiến dịch này phần lớn từ Trung đoàn 202 mới vào. Trước khi quyết định để một bộ phận của Đại đội 40 xung trận, tôi đã nghiên cứu kĩ chiến trường, nắm khá chắc diễn biến các trận đánh trước đó, đặc biệt là Chiến dịch Bình Giã. Trong chiến dịch này, quân và dân Bình Giã đã đánh địch ở cấp trung đoàn tăng cường, tiêu diệt hai tiểu đoàn quân ngụy và một chi đoàn tăng thiết giáp, phá hủy 45 xe quân sự, phần lớn là xe M113, có 2 xe tăng M41. Sau khi bàn bạc, phân tích trong chỉ huy B16; họp bàn, trao đổi với chỉ huy Đại đội 40, chúng tôi thống nhất nhận định: cơ hội đoạt xe địch trong các chiến dịch, trận đánh lớn là có thực. Chỉ có điều, tùy theo từng trận đánh có thể để tính phương án lấy xe địch sao cho giữ được an toàn lực lượng ta. Sau khi phổ biến tinh thần trên tới các cán bộ, chiến sĩ, anh em quyết tâm bước vào Chiến dịch Đồng Xoài với tinh thần: “Khẩn trương thu xe, sắp xếp đội hình, cùng bộ binh phát triển chiến đấu theo kế hoạch tác chiến”. Đây là trận đánh đầu tiên tôi trực tiếp chỉ đạo trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Vì thế, kết quả trận đánh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng, phát triển lực lượng tăng - thiết giáp Miền. Những ngày nghiên cứu chiến trường, bàn phương án phối hợp chiến đấu, cách đoạt xe địch diễn ra khá căng thẳng. Trước một trận đánh không cho phép người chỉ huy chủ quan, chỉ một tính toán sai sẽ gây hậu quả khôn lường. Vì thế, tôi cho anh em chuẩn bị thật kĩ, rồi mới hạ quyết tâm. Đồng Xoài là chi khu quân sự của địch nằm trên quốc lộ 14, thuộc tỉnh Phước Long, cách Sài Gòn 104km. Nhờ có vị trí quân sự lợi hại, nên quân ngụy tập trung ở Đồng Xoài một lực lượng đồn trú rất đông, cùng với nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, trong đó có một chi đội tăng - thiết giáp (5 chiếc). Bộ Chỉ huy chiến dịch đã sử dụng Đại đội 40 cơ giới làm nhiệm vụ thu hồi xe chiến lợi phẩm. Trung đội 1, do đồng chí Mười Chắc làm Trung đội trưởng, Trung đội 2 do Nguyễn Văn Sáu làm Trung đội trưởng. Tôi là Trưởng ban cơ giới Miền trực tiếp chỉ huy lực lượng cơ giới. Chiến dịch Đồng Xoài giành được thắng lợi to lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch nhưng do ta chưa làm chủ hoàn toàn trận địa nên chúng đã dựa vào công sự, lô cốt để chống cự. Vì vậy, Đại đội 40 cơ giới không thể tiếp cận được khu để xe, nên không đoạt được xe tăng địch. Một tình huống xảy ra đúng như chúng tôi dự kiến. Cậy lực lượng đông và hỏa lực mạnh, địch phản kích ác liệt, huy động nhiều máy bay thay nhau ném bom hủy diệt đồn điền cao su Thuận Lợi và Phú Riềng để ngăn chặn ta thu chiến lợi phẩm. Tôi được lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cùng anh Sáu Hưng - phụ trách hậu cần chiến dịch, tổ chức lực lượng thu hồi xe ô tô cảu hai đồn điền cao su đưa vào rừng sơ tán, tránh thiệt hại cho nhân dân. Do hậu cần tiền phương không có lái xe nên Bộ Tư lệnh chiến dịch đã sử dụng Đại đội 40 cơ giới trực tiếp gom được 17 xe (gồm 2 xe Jeep, 3 xe tải nhẹ, 2 xe ben, 10 xe tải nặng). Chưa kịp rút kinh nghiệm trận đánh và cũng chưa kịp ăn mừng chiến thắng, B16 lại được Tư lệnh chiến dịch giao cho một nhiệm vụ hoàn toàn mới: Sử dụng xe chiến lợi phẩm vận chuyển gạo, muối, đạn dược từ căn cứ Mã Đà lên tiếp tế cho các trung đoàn chiến đấu, vừa chở thương binh về tuyến sau, đưa đón thủ trưởng và cán bộ đi công tác. Mệnh lệnh ở chiến trường phát ra rất nhanh và phải thực thi không thể chậm trễ. Đại đội 40 khẩn trương tổ chức thành hai bộ phận: Bộ phận vận tải nhẹ do đồng chí Nguyễn Văn Sáu phụ trách; bộ phận vận tải nặng do Nguyễn Văn Chắc và Phan Quế phụ trách. Biên chế mỗi xe 2 người, người chưa biết lái thì ngồi vị trí phụ lái, vừa làm vừa học, cứ thế kèm cặp nhau. Gần hai tháng phục vụ Chiến dịch Đồng Xoài, Đại đội 40 cơ giới không quản ngại khó khăn, gian khổ đã vận chuyển được hàng trăm tấn lương thực, đạn dược lên tuyến trước và vận chuyển được nhiều thương binh về tuyến sau điều trị. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:12:51 am Chiến công của Đại đội 40 cơ giới thuộc Ban cơ giới Miền được đồng chí Sáu Hương - phụ trách hậu cần chiến dịch biểu dương: “Đóng góp được nhiều công sức, góp phần làm nên chiến thắng Đồng Xoài vang dội”. Trong lễ sơ kết chiến dịch, Đại đội 40 cơ giới đã được đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh chiến dịch và đồng chí Nguyễn Minh Châu - Phó Tư lệnh chiến dịch, biểu dương: “Đã có tinh thần trách nhiệm rất cao, chịu khó, chịu khổ phục vụ bộ đội và tận tình với thương binh. Lính xe tăng mà lái được ô tô, lại còn làm được việc khác khi có yêu cầu, đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc”.
Phục vụ Chiến dịch Đồng Xoài, Đại đội 40 Cơ giới tổ chức lại thành hai trung đội. Trung đội 1 vận tải được trang bị các xe tải nặng; Trung đội 2 chở quân, chở cán bộ đi họp, đi công tác trang bị xe tải nhẹ và xe Jeep. Có lần Đại đội 40 Cơ giới hoạt động phân tán, thiếu lái xe, cán bộ phải làm thay. Nhận được lệnh của Miền, tôi lái chiếc xe Jeep lên đón đồng chí Năm Ngà - Phó Tư lệnh và đồng chí Lê Minh Như - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 đi nghiên cứu chiến trường. Thấy tôi lái được xe ô tô, đồng chí Năm Ngà rất ngạc nhiên. Sau biết tôi đã qua Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh, ông mới yên tâm để cho tôi lái. Hôm ấy tôi điều khiển chiếc xe Jeep lùn đi qua rừng le, băng qua những trảng lớn, đường đi hẹp, mấp mô ngon ơ, Phó Tư lệnh Chiến dịch Năm Ngà buột miệng khen: “Lính xe tăng cái gì cũng làm được”. Thực tiễn Chiến dịch Đồng Xoài nhen nhóm niềm hi vọng đoạt xe tăng địch. Bài toán cần giải chính là khâu hợp đồng với bộ binh và nắm chắc việc bố trí hỏa lực của địch. Tuy nhiên, tránh tư tưởng nôn nóng, đoạt xe tăng địch bằng mọi giá, như vậy ta khó bảo toàn được lực lượng. Bị thua đau ở miền Nam, đế quốc Mĩ điên cuồng mở các cuộc tiến công bằng không quân, hải quân ra miền Bắc. Cả nước là một chiến trường đánh Mĩ. Ở miền Nam, Mĩ đưa quân vào ồ ạt. Miền Bắc đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ với mức độ ngày càng tàn khốc. Tháng 4 năm 1965, tại kì họp Quốc hội khóa III, Bác Hồ ra lời kêu gọi: “Lúc này chống Mĩ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược”. Từ giữa năm 1965, cùng với cao trào phá ấp chiến lược trên toàn miền Nam, thắng lợi giòn giã của các Chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, chiến công của các lực lượng Biệt động Sài Gòn tấn công vào tòa đại sứ Mĩ, các khách sạn Caravelle, Brink, Me’tropole… là những đòn quyết định sự sụp đổ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ. Để cứu vãn tình thế, Tổng thống Mĩ Giônxơn quyết định đưa thêm 44 tiểu đoàn quân vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, thực hiện cái gọi là “chiến tranh tìm diệt” của Oétmolen (Westmoreland), Tham mưu trưởng liên quân Mĩ. Càng thất bại, Mĩ - ngụy càng điên cuồng chống phá ta ở cả hai miền Nam Bắc. Trên chiến trường miền Nam, Mĩ - ngụy tăng cường các cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn, sử dụng nhiều chủng loại xe tăng, thiết giáp. Trong khi đó, vũ khí chống tăng của ta thời kì này được trang bị rất hạn chế. Ta chủ yếu đánh trả xe tăng thiết giáp địch bằng vũ khí bộ binh thông thường. Để đánh đòn quyết định vào “chiến lược tìm diệt” của quân Mĩ ngay từ khi còn chân ướt chân ráo vào miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9 Quân giải phóng miền Nam phối hợp với Tiểu đoàn Phú Lợi (Bình Dương) bất ngờ tiến công vào Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn “anh cả đỏ” của Mĩ và Trung đoàn 7 (Sư đoàn 5) quân ngụy tại khu vực Bàu Bàng - Dầu Tiếng. Đại đội 40 cơ giới trực thuộc Ban Cơ giới Miền có vinh dự cử trung đội do đồng chí Nguyễn Văn Chắc làm Trung đội trưởng tham gia trận tiến công có ý nghĩa này. Ngày 12 tháng 11 năm 1965, lực lượng ta tập kích vào cụm đóng quân dã chiến Mĩ tại Bàu Bàng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên Mĩ thuộc Sư đoàn bộ binh số 1 “anh cả đỏ”, phá hủy 30 xe tăng thiết giáp. Tham gia trận Bàu Bàng, Đại đội 40 cơ giới đã chiến đấu trong đội hình bộ binh, tuy chưa lấy được xe tăng địch, nhưng đã góp phần làm nên chiến thắng vang dội. Toàn chiến dịch, ta đã đánh thiệt hại nặng một lữ đoàn Mĩ, một trung đoàn quân đội Sài Gòn, diệt 4.250 tên, bắt 100 tên, phá hủy 10 khẩu pháo, 300 xe quân sự (có 80 xe M113), bắn rơi 20 máy bay. Chiến thắng Bàu Bàng mở ra khả năng của Quân giải phóng miền Nam tiêu diệt từng đơn vị quân Mĩ ngoài công sự. Với những thắng lợi vang dội trong năm 1965 - năm đầu tiên quân Mĩ trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ - ngụy đã bị phá sản, địch buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Ngay từ đầu năm 1965, Trung đoàn xe tăng 202 tiếp nhận hàng trăm chiến sĩ mới, khẩn trương huấn luyện đào tạo thành viên kíp xe. Nhiều cán bộ được đào tào xe tăng ở Liên Xô, Trung Quốc đã hoàn thành nhiệm vụ được bổ sung về trung đoàn. Khoảng giữa năm 1965, Trung đoàn đã hình thành thêm hai khung trung đoàn bước vào huấn luyện, sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Ngày 19 tháng 7 năm 1965, khi Chiến dịch Đồng Xoài đang diễn ra sôi động, Đoàn 711 làm lễ xuất quân vào chiến trường. Đây là khung một trung đoàn nhẹ do đồng chí Nguyễn Thế Hùng làm Đoàn trưởng, đồng chí Bùi Tân làm Chính trị viên, đồng chí Phan Xướng làm Đoàn phó. Đoàn được Thiếu tướng Trần Văn Quang - Phó Tổng Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Phó Tư lệnh Miền đến động viên, trao cờ và chỉ thị nhiệm vụ cụ thể. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 26 Tháng Mười Một, 2013, 07:14:36 am Sau ba tháng hành quân bộ vượt Trường Sơn, ngày 23 tháng 11 năm 1965, Đoàn 711 đã vào tới Trạm 14 Chiến khu Dương Minh Châu thuộc tỉnh Tây Ninh với 100% quân số. Đoàn 711 có 2 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội. Tiểu đoàn 1 do Đại úy Trần Quang Bôn làm Tiểu đoàn trưởng, Đại úy Đỗ Văn Phát làm Chính trị viên; Đại úy Phạm Hà Hải làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Đại úy Lê Trung Sum làm Chính trị viên. Cũng giống như các đoàn trước, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 711 được đào tạo bài bản về chỉ huy xe tăng thiết giáp. Cán bộ cấp trung đội trở lên được đào tạo dài hạn tại các trường sĩ quan xe tăng của Trung Quốc và Liên Xô (cũ). Còn các thành viên kíp xe (pháo thủ, lái xe) là số thanh niên nhập ngũ đầu thập niên 60, theo luật Nghĩa vụ quân sự, có sức khỏe tốt, có trình độ văn hóa cấp 2 và 3 là cao so với bây giờ. Đây là đoàn có quân số đông nhất so với các đoàn trước vào chiến trường B2 theo tinh thần “xe chưa xung trận thì người xung trận trước”.
Miền Đông Nam Bộ vốn là chiến trường gian khổ, ác liệt, xa hậu phương miền Bắc nên việc chi viện gặp rất nhiều khó khăn. Đơn vị luôn thiếu thốn về lương thực, thực phẩm. Bộ đội vừa từ Bắc vào, người ốm chỉ được phát một hộp sữa, ai khỏe thì được một thỏi đường phèn. Một tuần sau tôi cho thịt một con heo, chỉ đạo anh em hậu cần làm cả bún để bồi dưỡng và khao quân. Đoàn 711 được sáp nhập với cơ quan Ban Cơ giới Miền (B16) và Đại đội Cơ giới 40 thành Đoàn Cơ giới Miền J16, với biên chế tương đương trung đoàn (thiếu). Cuối tháng 11 năm 1965 tại Căn cứ Bà Chiêm, Bộ Chỉ huy Miền ra quyết định thành lập J16 Cơ giới Miền. Ban Chỉ huy J16 gồm có tôi - Đoàn trưởng kiêm Chính ủy; Đại úy Bùi Tân - Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị; Đại úy Phạm Hà Hải - Đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng; Đại úy Phan Xướng - Đoàn phó. J16 Cơ giói Miền lúc này đã có lực lượng khá đông đảo với 292 cán bộ, chiến sĩ biên chế thành 4 đại đội(1) C15, C23, C46, C40 và cơ quan đoàn bộ: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Vào thời điểm này, J16 Cơ giới Miền là đơn vị khung đầu tiên (chỉ có người, không có xe) của Binh chủng Tăng - Thiết giáp có mặt tại mặt trận miền Đông Nam Bộ. Tron điều kiện hết sức ngặt nghèo vào ác liệt của cuộc chiến tranh, thì sự ra đời của J16 mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Sau khi J16 thay cho B16, một số cán bộ của Đoàn 711 được Bộ Chỉ huy Miền điều động tăng cường cho các cơ quan, đơn vị. Nguyễn Thế Hùng về Cục Tham mưu, Đỗ Văn Phát về Cục Chính trị, Hoàng Tiến Lực về Văn phòng Bộ Chỉ huy Miền, Lê Trung Sum về cơ quan Biên phòng, Trần Quang Bôn về chi khu Bà Rịa - Vũng Tàu, Hoàng Kiên Nhẫn về Quân khu 9 và Phan Xướng về Trung đoàn Gia Định. Thấm nhuần tinh thần “lấy xe địch đánh địch” và nóng lòng chiến đấu lập công, J16 khẩn trương củng cố tổ chức, triển khai kế hoạch nghiên cứu chiến trường để khi có thời cơ là tổ chức chiến đấu đoạt xe tăng địch. Trước mắt, giải phóng một yêu cầu cấp bách của bộ đội: Muốn đánh được tăng - thiết giáp địch thì trước hết phải biết được điểm yếu của xe tăng địch và quy luật hoạt động của chúng. Sau khi đã lựa chọn địa điểm là Liên trường võ bị Thủ Đức, cuối năm 1965, một số cán bộ chiến sĩ bí mật hành quân xuống xã An Nhơn Đông, An Nhơn Tây (huyện Củ Chi, Gia Định) ở trong nhà dân thôn Hố Bò để điều tra nghiên cứu, chuẩn bị cho trận đánh sắp tới. Sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng, Ban Chỉ huy J16 đề xuất phương án chiến đấu báo cáo Bộ Chỉ huy Miền. Đó là sử dụng một trung đội (thuộc Đại đội 40 cơ giới) phối hợp với lực lượng đặc công biệt động thành phố Sài Gòn tập kích vào khu để xe của địch bằng lối đánh đặc công. Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 1 năm 1966, đồng chí Võ Hiệp (nguyên Phó ban Cơ giới Miền - B16) trực tiếp làm Chỉ huy trưởng trận đánh cùng với phân đội đặc công biệt động do Nguyễn Văn Tăng, Chỉ huy phó đã nổ súng, đánh thẳng vào cổng chính, nhanh chóng tiến công mục tiêu số một là khu để xe tăng - thiết giáp của địch, đoạt xe địch, thực hành chiến đấu tại chỗ, tiêu diệt sinh lực địch rồi phá hủy xe, vì chưa đủ điều kiện để đưa xe ra căn cứ. Do nhiều nguyên nhân, trận đánh chưa đạt được kết quả như yêu cầu đặt ra nhưng ta đã tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, phá hủy một số xe tăng thiết giáp, làm rối loạn hàng ngũ sĩ quan và binh lính Sài Gòn. Nhân dân địa phương rất phấn khởi, khâm phục tinh thần chiến đấu của Quân giải phóng. Trận đánh đã nổi lên những tấm gương chiến đấu kiên cường như: Văn Lương Thành, Nguyễn Văn Chính, Lê Thiện, Huỳnh Long, Cao Sinh Học. Têu biểu là tấm gương Mũi trưởng chiến đấu Cao Sinh Học - người dân tộc Bắc Kạn. Lệnh nổ súng vừa dứt, Cao Sinh Học bắn chết ngay tên lính gác cổng, đập vỡ bóng điện, cùng anh em xông thẳng vào bãi xe của địch. Anh lệnh cho đồng đội dùng thủ pháo, lựu đạn diệt xe địch. Khu chúng phản công quyết liệt, Cao Sinh Học bị thương phải nằm lại, sau khi đã bắn hết đạn. Phát hiện ra anh, chúng gí súng vào đầu quát: “Đầu hàng đi”. Cao Sinh Học dõng dạc trả lời: “Quân giải phóng chỉ biết đánh, không biết hàng”. Bọn giặc chùn tay không dám bắn, chúng bắt anh đưa về giam giữ trong nhà lao. Mặc dù bị nhiều đòn roi, cực hình tra tấn, Cao Sinh Học vẫn giữ vững khí tiết người chiến sĩ xe tăng Quân giải phóng. Tinh thần Cao Sinh Học đã trở thành tấm gương cho tuổi trẻ Quân giải phóng miền Nam nói chung và tuổi trẻ Binh chủng Tăng - Thiết giáp nói riêng học tập. Chú thích (1) Đại đội 15: Sáp nhập C1 với C5 của D1 và D2 Đoàn 711. Đại đội 23: Sáp nhập C2 với C3 của D2 Đoàn 711. Đại đội 46: Sáp nhập C4 với C6 của D2 Đoàn 711. Đại đội 40 cơ giới giữ nguyên. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 08:48:37 am * Qua mỗi trận đánh, J16 từng bước trưởng thành, lập được nhiều chiến công “bên ngoài tháp pháo”, khi mà điều kiện xung trận của xe tăng chưa cho phép. Tiếp đó chúng tôi đánh các trận: Trảng Lớn, Trà Dơ; trận bảo vệ thương, bệnh binh Viện K71 và Xưởng Quân giới Miền ở phía tây suối Bà Chiêm, gây cho địch nhiều tổn thất. Kể từ khi thành lập Ban Cơ giới Miền (B16) tháng 11 năm 1964, Đoàn Cơ giới Miền J16 tháng 11 năm 1965, cán bộ, chiến sĩ ta đã tham gia đánh nhiều trận lớn nhỏ, lập được chiến công nhưng mục tiêu “lấy xe tăng địch” vẫn còn bỏ ngỏ. Đó chính là nỗi trăn trở của Đảng ủy, chỉ huy Đoàn Cơ giới J16 chúng tôi. Nhiều lần tôi đã chỉ thị cho cơ quan tham mưu phải “tích cực nghiên cứu chiến trường, chọn mục tiêu tiến công bảo đảm chắc thắng, thu được xe tăng địch”. Đó là cả một bài toán khó, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn Cơ giới J16 đồng tâm hiệp lực tìm cho được lời giải càng sớm càng tốt. Trong lúc chúng tôi đang đau đầu với câu hỏi “đánh vào đâu” thì Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền chủ trương tiến công căn cứ Gò Đậu. Mục tiêu được lựa chọn dựa trên kết quả công tác binh vận của Trung ương Cục và Tỉnh ủy Bình Dương cài cắm, móc nối, xây dựng nên. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chỉ huy Miền, Đoàn Cơ giới J16 khẩn trưởng chuẩn bị phương án tiến công căn cứ Gò Đậu. Gò Đậu thuộc địa phận xã Phú Cường, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Trung đoàn thiết giáp số 1 (thiết đoàn) của quân ngụy Sài Gòn đóng tại căn cứ Gò Đậu. Trong bỉnh chủng thiết giáp quân đội Việt Nam cộng hòa (ngụy quyền Sài Gòn), Trung đoàn 1 được coi là con cưng, kì cựu nhất. Từ năm 1956, chúng đóng ở Gò Vấp (Gia Định) và các vùng lân cận, từng bị Quân giải phóng giáng cho nhiều đòn đau. Trong trận Bình Giã (tháng 12 năm 1964) thiết đoàn này bị Quân giải phóng diệt 1 chi đoàn xe tăng M24 (của Pháp để lại) và xe M113. Ngày 12 tháng 11 năm 1965, tại Bàu Bàng, Quân giải phóng lại tiêu diệt một chi đoàn xe thiết giáp gồm 40 xe tăng và xe M113. Từ cuối năm 1965, thiết đoàn 1 thiết giáp được Mĩ trang bị 1 chi đoàn chiến xa (M41), 2 chi đoàn thiết xa vận (M113). Đầu quý 4 năm 1965, thiết đoàn chuyển từ Thủ Đức về đóng quân tại Gò Đậu. Nhiệm vụ của Thiết đoàn 1 ngụy là phối hợp với sư đoàn 5 bộ binh và Tiểu đoàn biệt động “cọp đen” hành quân đánh phá liên tục để giải tỏa áp lực của Quân giải phóng ở các vùng quanh Bình Dương và bảo vệ hai căn cứ Mĩ ở Phú Lợi và Lai Khê. Thiết đoàn còn được Mĩ giao nhiệm vụ đánh vào vùng giải phóng Củ Chi, giữ đường 13 và hành quân yểm trợ các đoàn xe vận tải GMC tiếp từ từ Bình Dương lên Lộc Ninh, Hớn Quản. Căn cứ Gò Đậu của Trung đoàn thiết giáp số 1 ngụy nằm trên một ngọn đồi thấp phía đông nam thị xã Bình Dương, cách trung tâm thị xã khoảng 1.500m. Xung quanh căn cứ có rào kẽm gai và bờ thành bằng đất cao 1,5m. Phía bắc sát căn cứ là đường 13; phía tây nam là một nghĩa địa hoang và một bãi đất trống cỏ mọc cao, dày. Bên ngoài là một con đường đất chạy quanh, dành cho xe M113 đi tuần tiễu bảo vệ căn cứ. Ngày 10 tháng 10 năm 1965, Bộ Chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cho tôi sang Trung ương Cục gặp đồng chí Bảy Dự - Phó ban Binh vận bàn kế hoạch chiến đấu. Theo kế hoạch, Ban Cơ giới Miền J16 sử dụng Đại đội Cơ giới 40 cùng một số cơ sở mật được Đảng ta cài cắm trong hàng ngũ sĩ quan và binh sĩ Thiết đoàn thiết giáp số 1 quân ngụy Sài Gòn để tiến hành binh biến và nổi dậy. Đồng chí Bảy Dự - Phó ban Binh vận Trung ương Cục cho biết: Thiếu úy Phùng Văn Mười (tức Bảy Tuấn) là đảng viên mật của ta cài vào. Bảy Tuấn sinh năm 1937, quê ở Chợ Lớn. Anh là cơ sở của Ban Binh vận tỉnh Long An từ năm 1957, năm 1961 được kết nạp vào Đảng. Sau đó, Ban Binh vận tỉnh Long An chuyển Bảy Tuấn cho Ban Binh vận Trung ương Cục. Lợi dụng cơ hở của địch trong tuyển mộ lính, ta cắm Bảy Tuấn vào lực lượng thiết giáp ngụy. Bảy Tuấn là là Chi đội trưởng chỉ huy, đồng thời là Bí thư chi bộ Đảng hoạt động trong lòng địch. Chi bộ có 6 đảng viên, 7 cảm tình đảng, một số nghĩa binh yêu nước cũng đã được cảm hóa. Cơ hội khởi nghĩa đã chín muồi. Đồng chí Một Hữu - Tỉnh đội trưởng tỉnh Bình Dương đề nghị cấp trên “nên chớp thời cơ hành động”. Tham gia trận đánh Gò Đậu có các đơn vị như: Sư đoàn 9, Tỉnh đội Bình Dương, J16 Cơ giới Miền, tổ chức hợp đồng tác chiến với lực lượng khởi nghĩa trong Trung đoàn thiết giáp số 1 ngụy Sài Gòn do đồng chí Phùng Văn Mười chỉ huy. Đây là trận đánh đặc biệt quan trọng nên chúng tôi quyết định sử dụng Đại đội 40 đặc công cơ giới được coi là thiện chiến nhất của J16 Miền lúc bấy giờ. Các trận đánh trước, ta chỉ mới sử dụng một trung đội của Đại đội 40. Chỉ huy Đại đội 40 cũng là những cán bộ có năng lực và phẩm chất đặc biệt. Đại đội trưởng Lê Như Hòa quê ở Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, sinh đúng vào ngày thành lập Đảng - ngày 3 tháng 2 năm 1960. Anh Hòa là một lính chiến thực thụ từng chiến đấu trên chiến trường Tây Bắc, Chiến dịch Điện Biên Phủ. Lê Như Hòa cùng học với tôi tại Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh (Trung Quốc), về nước anh là Đại đội trưởng xe tăng, cùng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn xe tăng 202 với tôi. Chính trị viên Đại đội 40 là Nguyễn Hà Vũ quê ở Bình Trị Đông, Bình Chánh, Sài Gòn. Năm 1954, anh theo cha mẹ tập kết ra Bắc, học trường dành cho học sinh miền Nam. Trong hai tháng, chúng tôi giao nhiệm vụ cho Năm Vũ (Nguyễn Hà Vũ) và Trần Mai (Trần Nhật Chiêu) ra nhà Phùng Văn Mười, cách Gò Đậu khoảng 2km để nghiên cứu thực địa, cách điều lực lượng vô và đường rút quân. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 08:50:27 am Theo kế hoạch, khi đồng chí Phùng Văn Mười phát lệnh, bên trong anh em nghĩa binh nổ súng, tiêu diệt các mục tiêu quan trọng. Bên ngoài đánh vào gồm lực lượng của Đại đội 40 đặc công cơ giới. Đồng chí Nguyễn Hà Vũ, cải trang thành trung sĩ thiết giáp ngụy, đến nhà Phùng Văn Mười ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp rồi theo anh vào căn cứ Gò Đậu để tìm hiểu việc bố phòng của địch. Ngày N, Nguyễn Hà Vũ cũng đến nhà Phùng Văn Mười để anh chở về trước căn cứ chuẩn bị phối hợp với lực lượng binh biến và cùng nghĩa binh chiến đấu. Theo phương án, ngoài và trong hợp đồng tác chiến chặt chẽ, nhanh chóng chiếm xe, bộ binh đánh chiếm những mục tiêu xung quanh Gò Đậu, sau đó đưa xe về địa điểm quy định. Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Dương chuẩn bị địa điểm trú quân, dẫn đường những mũi tấn công từ ngoài vào, xóa vết xích xe về căn cứ, thu gom chiến lợi phẩm, chủ yếu là đạn pháo và giải quyết thương binh, tử sĩ.
Bộ đội Trung đoàn 2 của Sư đoàn bộ binh 9 chốt các ngả đường chặn địch, mở ra lối thoát an toàn cho Đại đội 40 cơ giới và bộ phận nghĩa binh của Phùng Văn Mười nhanh chóng đưa xe về căn cứ cất giấu. Đúng giờ G, Bộ Chỉ huy Miền cho pháo binh bắn vào hai căn cứ Lai Khê và Phú Lợi, hòa vào tiếng súng khởi nghĩa của Trung đoàn tăng thiết giáp số 1, làm cho địch bị động. Do tính chất đặc biệt của trận đánh và để bảo đảm chắc thắng, Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Ban Chỉ huy trận đánh gồm các đồng chí: Tạ Minh Khâm - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, làm chỉ huy trưởng, Một Hữu - Tỉnh đội trưởng Bình Dương; tôi - Đoàn trưởng Đoàn cơ giới Miền J16; đồng chí Bảy Dự - đại diện Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam (sau đó đồng chí Nguyễn Tâm Cang thay thế) và đồng chí Hai Trung - Bí thư Huyện ủy Lái Thiêu. Đây là một trận đánh được tính toán chi biết, tổ chức hết sức kĩ lưỡng, táo bạo, bất ngờ của lực lượng vũ trang B2 trong đó có Đại đội 40 cơ giới thuộc J16. Từ tháng 10 năm 1965, sau khi kết thúc Chiến dịch Đồng Xoài, tôi và một số cán bộ của J16 trong đó có Trần Nhật Chiêu đi chuẩn bị chiến trường trực tiếp triển khai công tác chuẩn bị cho trận Gò Đậu. Với hai tấm giấy chứng minh ngụy do Phòng Quân báo Miền cấp, chúng tôi cùng đồng chí cán bộ binh vận công khai gặp gỡ các cơ sở nội ứng. Khi công việc chuẩn bị xong, tôi dẫn bộ phận chỉ huy của J16 xuống sở chỉ huy chung của trận đánh. Đi cùng tôi có liên lạc Trịnh Văn Xuyên. Chúng tôi đi đường tắt, đến gần suối Ông Hùng phát hiện địch chặn phía trước và trời sắp tối, chúng tôi nghỉ lại để sáng hôm sau đi tiếp. Ngay chiều hôm đó, bất ngờ một quả đạn pháo của địch đi càn bắn trúng chiếc lò rèn, cách chỗ tôi có vài mét, bụi xì, mảnh sắt tung lên, trúng vào con mắt trái của tôi. Trong khoảnh khắc mắt tôi tối sầm lại. Anh em vội băng bó cho tôi. Cứ nghĩ chỉ bị thương nhẹ, nào ngờ sáng hôm sau mắt càng xót khó chịu. Phía trước địch vẫn càn không đi được phải quay về và đi theo đường bộ đội hành quân. Tôi đề nghị anh Thế Hùng thay tôi chỉ huy trận đánh Gò Đậu. Nguyễn Thế Hùng cùng học ở Bắc Kinh với tôi và học rất khá. Anh là Đoàn trưởng Đoàn 711, mới vào đến chiến trường, Miền rút anh lên Phòng Tác chiến. Khi tôi đề nghị anh thay vị trí chỉ huy, cấp trên chấp nhận ngay. Bệnh viện K71A của Miền ở phía tây suối Bà Chiêm. Không thể chở lâu, Viện K71A chuyển tôi qua Viện K71B ở phía đông ngã ba Bà Chiêm. Tại đây, bác sĩ Thiên - Viện phó trực tiếp mổ cho tôi. Không thể giữ được, các bác sĩ đành phải khoét bỏ con mắt trái của tôi. Nằm trong bệnh viện, lòng tôi như có lửa đốt. Lo cho sự thành bại của trận đánh. Trong chiến đấu, đôi khi các tình huống xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn chủ quan của người chỉ huy. Chiều ngày 17 tháng 3 năm 1966, địch phổ biến lệnh hành quân đột xuất. Từ ngày 18 tháng 3, trung đoàn thiết giáp số 1 kết hợp với không quân và bộ binh giải tỏa đường 13, yểm trợ cho đoàn xe vận tải quân sự khoảng 100 chiếc tiếp tế cho Bến Cát, Lai Khê, Châu Thành, Bình Long, Lộc Ninh, Hớn Quảng. Vì thế, ngày nổ súng phải lùi lạ, đồng nghĩa với việc ta sẽ gặp một số khó khăn. Thứ nhất, tỏng lúc hành quân, nội tuyến và cơ sở của ta trong trung đoàn thiết giáp số 1 có thể bị thương vong, thứ hai, nếu địch đánh phá vùng tập kết lực lượng của ta ngoài căn cứ Gò Đậu, cuộc binh biến, khởi nghĩa sẽ không tiến hành được; thứ ba, nội tuyến và cơ sở từ một số đơn vị thiết giáp khác hội về trung đoàn 1 thiết giáp lâu ngày dễ sơ hở và việc chuẩn bị của ta bên trong và bên ngoài nếu kéo dài rất dễ bị lộ. Sau khi phân tích kĩ, ban chỉ huy trận đánh quyết định cuộc binh biến khởi nghĩa sẽ tiến hành sau khi địch hành quân trở về, chứ không chờ đến tối thứ bảy. Ngày 21 tháng 3, cuộc hành quân của địch kết thúc, binh lính Trung đoàn thiết giáp số 1 về căn cứ nhưng vì cơ số đạn và xăng dầu không đủ, phải chờ bổ sung nên chưa thể nổ súng vào ngày 22 tháng 3. Về phía địch, nhận được tin Quân giải phóng chuyển quân gần đó, chúng đã điều 3 xe M113 đến án ngữ góc đông nam căn cứ, sát bờ thành hướng vô rừng cao su và nhà dân, 2 chiếc M113 nữa được chúng điều đến thị xã tăng cường bảo vệ tòa hành chính tỉnh và nhà riêng của tên trung tá Diệp, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 thiết giáp. Sau khi phương án 1 đánh theo kiểu biệt động không thực hiện được, Ban Chỉ huy quyết định đánh theo phương án 2 bằng nội công, ngoại kích. Chiều ngày 23 tháng 3, những người chủ chốt tập hợp tại nhà Phùng Văn Mười ở Gò Vấp rồi lên chiếc xe du lịch hiệu Ford số NBM-502 lên Gò Đậu. Đến nơi, anh không lái xe vào cổng chính mà chạy tới đường đất đỏ dành cho xe M41, quẹo trái vô bên trong, đậu gần văn phòng Sở Chỉ huy chi đoàn xe tăng M41 (chiếc xe Ford hủy luôn trong trận đánh). Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 08:55:44 am 19 giờ ngày 23 tháng 3 năm 1966, trận tiến công căn cứ Gò Đậu bắt đầu. Lực lượng C40 cơ giới trang bị AK47, có cả B40, chia thành 2 mũi luồn sâu, áp sát phía nam và đông nam căn cứ gần khu vực để xe tăng M41 và xe thiết giáp M113. Hôm ấy là thứ tư, nhằm vào ngày mùng 2 tháng 3 âm lịch, trời tối, không trăng. Dù không có cải lương như hôm thứ bảy, nhưng lính thiết giáp kéo vào câu lạc bộ của chi đoàn 1 để xem truyền hình cho thoải mái tinh thần sau những ngày hành quân vất bả.
Trong lúc đó, lực lượng binh biến khởi nghĩa chia nhau tiếp cận và chiếm các xe thiết giáp theo đúng kế hoạch. Bên chi đoàn 1 các nghĩa binh chiếm 8 xe tăng M41; chi đoàn 3, ta chiếm 5 xe M113. Rất tiếc là vào giờ chót có một nội tuyến thiếu quyết tâm, anh ta lấy cớ địch phân công ra chốt ngoài vị trí tiền tiêu ở phía nam sông Sài Gòn rồi không trở vào dự trận. Chi đoàn 3 cũng có 3 cơ sở dao động nhưng không phản, chỉ rút êm. Do thiếu người chiếm các xe theo kế hoạch và trên một số xe cũng không đủ thanh viên nên thay vì 4 người ta chỉ bố trí 3. Chỉ huy xe là đảng viên nòng cốt kiêm luôn xạ thủ, 1 lái xe và 1 nạp đạn. Mọi người đã vào vị trí. Các chiến binh chỉ trao đổi với nhau bằng tay và nhìn vào ánh mắt của nhau để củng cố quyết tâm. Phùng Văn Mười nhảy lên chiếc xe M41-AL cùng hai cơ sở: Xương lái xe và Rớt nạp đạn. Vừa lên xe, anh lệnh cho Rớt quay nòng pháo xe tăng vào trong và rất điệu nghệ, búng điếu thuốc lá Salem đang hút lên trời. đó là tín hiệu tiến công. Ngay lập tức, Phùng Văn Mười nhận được tín hiệu trả lời của các đồng đội: các xe đã chiếm theo kế hoạch. Đúng 20 giờ 15 phút, Phùng Văn Mười dùng đại liên 50 bắn phát súng lệnh lên trời, tạo thành dãy đạn lửa, báo hiệu cho bên ngoài trận đánh bắt đầu. Tiếp đó, anh hạ nòng súng nã đạn vào các mục tiêu, vào chi đoàn 1, vào bọn địch đang túm tụm xem truyền hình và ăn uống ở câu lạc bộ. Đúng hợp đồng, pháo binh của Miền bắn từng loạt vào hai căn cứ địch ở Lai Khê và Phú Lợi. Sau đó đạn pháo xe tăng do các nghĩa binh thi nhau bắn tới tấp vào khu doanh trại địch. Đại đội trưởng Lê Như Hòa chỉ huy anh em Đại đội 40 cơ giới đồng loạt nổ súng phối hợp. Bị đánh bất ngờ, kẻ địch hoảng loạn, không biết cách nào đối phó bởi lối đánh táo bạo “nội công, ngoại kích”. Trung tá Diệp - trung đoàn trưởng thiết giáp ngụy liều mạng đưa 2 xe M41 về phản kích. Lúc đó, Trần Nhật Chiêu đnag tập trung xe trước cổng chưa kịp hành quân thì bị địch bắn làm rối loạn đội hình, một số anh em bị thương vong. Chỉ sau ít phút bị bất ngờ, Đại đội 40 cơ giới đã phản kích lại, chiếm được xe tăng địch, sử dụng các súng pháo trên xe để chiến đấu. Để nghi binh, khi chiếm được xe, ta sử dụng 4 chiếc chạy về hướng Sài Gòn làm như có đảo chính, khiến địch thưởng thật phải huy động cả lực lượng thủy quân lục chiến ra ngăn chặn hết các ngả đường vào Sài Gòn. Đến gàn thành phố, ta hủy xe, còn người rút về căn cứ. Cùng lúc xe của đồng chí Phùng Văn Mười chạy ra đường 13, băng qua xã Phú Cường, được đồng chí Lê Hoàng To - Đại đội trưởng một đơn vị thuộc Sư đoàn 9 và nhiều anh em bộ đội ta mừng rỡ chào đón rồi dẫn đi đánh căn cứ dã chiến của Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 ngụy đóng tại Gò Mối. Xe Thiếu úy Mười đã bắn phá căn cứ, chà đi xát lại, khiến quân địch bỏ căn cứ chạy tháo thân. Sau đó cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 dẫn kíp xe Phùng Văn Mười chạy ra hướng Sở Sao, về tập kết tại Bông Trang (nhà đỏ). Từ đây, đồng chí Vũ Đức Hùng, cán bộ kĩ thuật của J16 cơ giới Miền đã lái chiếc xe tăng M41-AL vượt chặng đường rừng 30km trong đêm tối, khôn khéo tránh sự truy đuổi của máy bay địch, về cất giấu tại căn cứ Long Nguyên. Đây là chiếc xe tăng đầu tiên của lực lượng tăng - thiết giáp Quân giải phóng miền Đông Nam Bộ. Chỉ sau một giờ chiến đấu, ta đã làm chủ căn cứ Trung đoàn 1 và sử dụng các xe thu được của địch để tổ chức đánh tiếp các mục tiêu khác. Song do ta sử dụng xe địch chưa thành thạo, nổ máy không được, lại bị máy bay địch truy sát nên không thu được số lượng xe tăng - thiết giáp theo kế hoạch. Trận đánh kết thúc vào lúc gần sáng. Kết quả, ta diệt gần 200 tên địch, thu và phá hủy hơn 30 xe M41, M113 cùng nhiều xe quân sự và phương tiện chiến tranh khác. Nhiều tấm gương chiến đấu của J16 Cơ giới Miền đã tỏa sáng trong trận đánh có ý nghĩa này. Đồng chí Trần Nhật Chiêu - Đại đội phó kĩ thuật bị thương nặng, trước khi hi sinh vẫn cố gắng hết sức mình hô to động viên nhắc nhở anh em: “Quyết lấy cho được xe địch”. Trưởng xe Nguyễn Xuân Tình đã mưu trí đoạt được 1 xe tăng M41 của địch và dùng ngay súng 12,7mm trên xe bắn vào toán địch đang điên cuồng phản kích. Khi địch cho 2 xe M41 từ sở chỉ huy ra phản công, anh lại bình tĩnh chiếm địa hình có lợi, dùng B40 bắn chính xác, diệt cả 2 xe tăng địch rồi nhanh chóng chi viện cho đồng đội đánh khu xe M113. Chẳng có chiến thắng nào lại không phải trả giá bằng máu xương đồng đội. Đại đội 40 Cơ giới hi sinh 12 đồng chí, một số khác bị thương. Anh em nghĩa binh, nội tuyến, cơ sở, dân công hi sinh và bị thương 17 người. Khi chiến thắng đang gần kề, chiếc xe M41 do nội tuyến Tâm chỉ huy bị địch trên lô cốt bắn trúng, cơ sở Hoa bị thương nặng. Lúc hồi tỉnh, anh cố bò ra ngoài nhưng không kịp rút cùng tập thể, bị địch bắt, xử tù, đày ra Côn Đảo. Tôi và anh em trong Đoàn Cơ giới J16 không kìm được nước mắt khi phải chứng kiến sự hi sinh mất mát này. Chính trị viên Nguyễn Hà Vũ cải trang rất đạt vai một trung sĩ thiết giáp ngụy để vào chiến đấu cùng anh em nghĩa binh yêu nước, cũng anh dũng hi sinh. Thua đau, choáng váng trước đòn tiến công táo bạo, bất ngờ, Quân lực Việt Nam cộng hòa tuyên bố tử hình vắng mặt Phùng Văn Mười, kết án khổ sai và đày đi Côn Đảo những người bị thương của lực lượng khởi nghĩa bị bắt. Tên Diệp, Trung đoàn trưởng thiết giáp số 1 bị tòa án binh ngụy quyền bắt giam. Chúng ra lệnh, từ nay không được tuyển lính trực tiếp vào các đơn vị thiết giáp mà phải qua trung tâm huấn luyện Quang Trung. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 08:59:16 am Vài ngày sau chiến thắng Gò Đậu, Đoàn J16 đã tổ chức trọng thể lễ gia nhập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam cho kíp xe nghĩa binh. Thiếu úy Phùng Văn Mười đã đọc lời kêu gọi binh sĩ ngụy phản chiến trên Đài phát thanh Giải phóng và thay mặt lực lượng khởi nghĩa Gò Đậu tiếp nhận Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất do Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng. Đồng chí Phùng Văn Mười cũng được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Anh em trong lực lượng khởi nghĩa gồm: Đặng Công Nghiệp (Sáu Vân), Phan Văn Nho (Hai Thắng), Nguyễn Xuân Thảo (Nhứt), Lê Văn Tình (Mười Tình), Trần Văn Tâm đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì và hạng Ba.
Tháng 11 năm 1966, tôi được cấp trên thông báo, Phùng Văn Mười được điều động về J16; tôi giao cho Lâm Kim Chung, Sáu Tống và một số chiến sĩ đến Ban Binh vận R đón anh. Về đến căn cứ, tôi cùng các anh trong ban chỉ huy J16 và đông đảo cán bộ, chiến sĩ tiếp đón Phùng Văn Mười rất nồng nhiệt, đậm đà tình đồng chí. Nhằm tạo điều kiện để Phùng Văn Mười tiếp tục cống hiến cho cách mạng, tôi đề xuất ý kiến với Đảng ủy, chỉ huy Đoàn giao cho anh nhiệm vụ Trợ lí tham mưu tác chiến. Sau khi nhận công tác mới, tôi nói với anh em bên Tác chiến tạo mọi điều kiện để Phùng Văn Mười phát huy được hết khả năng của mình. Quả đúng như tôi nhận xét ban đầu mới về, thời gian ở J16 anh đã đem những hiểu biết của mình về binh chủng thiết giáp quân đội Sài Gòn trao đổi hết cho anh Phạm Hà Hải và anh Lâm Kim Chung ghi lại để làm tài liệu. Anh cũng thường trao đổi với Vũ Đức Hùng để bổ sung kiến thức vào giáo án huấn luyện sau này. Chiếc xe tăng M41-AL số 247 thuộc loại hiện đại nhất của Mĩ lúc bấy giờ, trở thành “báu vật”, không chỉ của J16 mà là của cả lực lượng Quân giải phóng miền Nam. Chiếc xe đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Miền: Tư Chi (Trần Văn Trà), Sáu Nam (Lê Đức Anh), Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu). Đồng chí Sáu Nam - Tham mưu trưởng Miền quyết định giữ lại chiếc xe tăng mấy năm để đào tạo kíp xe và huấn luyện bộ đội. Lúc mới đưa xe về căn cứ Long Nguyên, Bộ Chỉ huy Miền giao cho một trung đoàn thuộc Sư đoàn 9 làm nhiệm vụ bảo vệ. Thời gian sau, do yêu cầu chiến đấu, trung đoàn bàn giao lại xe cho Đoàn cơ giới J16. Liên tiếp trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, các đại đội thuộc J16 Cơ giới Miền sát cánh cùng các đơn vị bạn bẻ gãy hai cuộc càn “tìm diệt” và Gianxơnxiti (Operation Juction City), lớn nhất của Mĩ vào Chiến khu Dương Minh Châu. Với tinh thần: “Tìm ngụy mà đánh, tìm Mĩ mà diệt”, J16 đã đánh nhiều trận đáng nhớ. Tiêu biểu nhất là loạt tập kích ban ngày vào cụm cơ giới Mĩ tại ngã ba Bà Chiêm ngày 7 tháng 1 năm 1967. Chúng tôi sử dụng một tổ 5 đồng chí thuộc Đại đội cơ giới 23, do đồng chí Nguyễn Xuân Tình trưởng xe chỉ huy đánh bằng chiến thuật đặc công, tiêu diệt gọn một trung đội Mĩ, phá hỏng 6 xe M113. Trận đánh diễn ra nhanh gọn làm cho địch không kịp trở tay. Phía ta, cả 5 đồng chí đều trở về an toàn nhờ cơ động bí mật, khéo léo và biết lợi dụng địa hình rừng núi. Đúng như câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Ngày 22 tháng 1 năm 1967, Mĩ đổ 25.000 quân lính dù, cả quân ngụy tổng cộng khoảng 45.000 tên với đông đảo lực lượng không quân, pháo binh, xe tăng. Mục tiêu của Mĩ - ngụy đặt ra cho cuộc hành quân Gianxơnxiti là tiêu diệt các sư đoàn chủ lực, các binh chủng, trực tiếp đánh vào an toàn khu nơi các cơ quan đầu não của ta gồm Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam… đóng ở miền Đông Nam Bộ. Để đối phó với âm mưu thâm hiểu của địch, ngoài các đơn vị bộ đội tập trung, ta chủ trương dùng lực lượng tại chỗ của các cơ quan phối hợp với quân chủ lực Miền chống lại cuộc càn lớn nhất này của Mĩ. Nhằm thực hiện thống nhất chỉ huy các lực lượng tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân, lãnh đạo Miền quyết định các ngành dân chính đóng ở đông, tây đường 22 đến giáp sông Vàm Cỏ được tổ chức thành 6 huyện căn cứ. Các cơ quan, bệnh viện, công xưởng, kho tàng trực thuộc Bộ Chỉ huy Miền đóng từ đường số 4 đến giáp sông Sài Gòn chia thành 7 khu vực thành 7 huyện căn cứ. lúc địch chưa đánh tới chiến khu Dương Minh Châu, trên chỉ định tôi làm “Huyện đội trưởng” huyện Bà Chiêm với nhiệm vụ đánh chặn địch và đưa quân đến phối hợp bảo vệ các cơ quan trong vùng, tổ chức chống càn. Sau đó, tình hình chiến sự phát triển ngày một ác liệt, J16 được trên giao đóng vai huyện đội Cà Tum làm nhiệm vụ chống càn. Cấp trên giao cho tôi làm Chính trị viên huyện đội, anh Mười Thọ làm Chỉ huy trưởng. trong mỗi “huyện” phân chia thành nhiều “xã”. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị giữ chức “Huyện đội trưởng”, “Xã đội trưởng”. Gọi là huyện nhưng dân rất ít, du kích cũng không, vì thế, mỗi cán bộ, chiến sĩ J16 vốn là bộ đội chủ lực khẩn trương vào vai một du kích Cà Tum để chiến đấu với quân Mĩ - ngụy với số lượng đông gấp nhiều lần và trang bị cực kì tối tân. Trong vai trò huyện đội Cà Tum, J16 có nhiệm vụ đánh địch để bảo vệ phái tây nam căn cứ Dương Minh Châu. Cùng với các đơn vị đánh địch ở khu vực Cà Tum, Bổ Túc, Bà Háo, không cho địch vào căn cứ Dương Minh Châu. Cán bộ ở cơ quan, đơn vị J16 mỗi người đều nhận thêm 1 khẩu AK và 4 băng đạn. Số anh chị nuôi quân và phục vụ hậu cần trong cơ quan cũng được giao mỗi người 1 khẩu AK, 1 cơ số đạn, 20 người chuyên lo bếp núc cho bộ đội được tập hợp lại để Phùng Văn Mười huấn luyện cấp tốc về tác chiến. Tôi nói với Phùng Văn Mười: - Mấy đồng chí đó chưa ra trận lần nào, đồng chí phải huấn luyện để anh chị em quên với các trận đánh ác liệt sắp tới và phải biết cách chiến đấu, vì trong cuộc càn sắp tới ai cũng phải cầm súng. Mỗi cơ quan, đơn vị được dự trữ 3 tháng lương thực. Hơn nửa tháng sau, địch bắt đầu đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu. Đầu tiên chúng chiếm trảng Trà Dơ, Đồng Rùm, Đồng Phan để bố trí pháo binh và tìm điểm trú quân về đêm. Riêng căn cứ dã ngoại Mĩ đóng ở Trà Dơ có mấy chục khẩu pháo, nhiều xe tăng, rất đông quân lính. J16 chúng tôi chỉ cách nơi bọn Mĩ đóng chừng hơn 5 cây số đường chim bay. Quy luật tác chiến của Mĩ - ngụy thông thường có ba bước: Thứ nhất, chúng dùng máy bay ném bom, đánh phá vào khu vực nghi có quân ta (có khi dùng cả B.52); tiếp đó cho pháo binh bắn cấp tập dọn đường, sau cùng mới xua bộ binh tiến công. Lần này chúng sử dụng chiến thuật “thiết xa vận”, chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn cho ta. Tình hình đặt ra lúc này là, nếu ta diệt được xe tăng thì sẽ hạn chế hoặc ngăn chặn được các mũi tiến quân của địch. Trước đó đơn vị vừa tiếp nhận được một số vũ khí bộ binh, trong đó có cả B40, B41. Bộ đội được trang bị AK, các tổ chiến đấu có thêm 1 - 2 khẩu B40, B41 để bắn xe tăng địch. Trước khi diễn ra cuộc chống càn, tôi rút Nguyễn Đình Doãn, Khuê lên cơ quan tăng cường cho bộ phận tác chiến do đồng chí Lâm Kim Chung phụ trách. Trong một trận chống càn, Doãn và hai đồng chí nữa được trang bị súng AK, lựu đạn và 1 khẩu B40, đảm nhiệm một mũi chiến đấu ngăn chặn quân địch không cho chúng vào căn cứ Bà Chiêm. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 09:01:32 am Đại đội 23 do Nguyễn Tường Tiến chỉ huy có nhiệm vụ ngăn chặn, kìm chân địch trên một hướng quan trọng, bảo vệ cụm kho do Đoàn 83 (Hậu cần Miền) phụ trách. Nếu để chúng tiến đánh, Bà Hảo sẽ bị chúng phá hủy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức chiến đấu của bộ đội ta trên chiến trường miền Đông. Chỉ chưa đầy 50 con người, trang bị thiếu thốn, trong lúc địch đông tới hàng tiểu đoàn, lại được máy bay và pháo binh yểm trợ, Đại đội 23 vẫn chiến đấu kiên cường, quyết bảo vệ căn cứ.
Trong tình thế hiểm nghèo, Đại đội trưởng Nguyễn Tường Tiến quyết định bỏ cứ thứ nhất, cơ động sang cứ thứ hai. Anh động viên bộ đội có bao nhiêu vũ khí đưa ra hết để đánh địch. Chỉ còn chừng ấy con người, Nguyễn Tường Tiến phải quyết đoán: “Lấy hỏa lực thay cho binh lực”. Theo lệnh của anh, bộ đội rải mìn chống địch từ xa, cho bộ đội lui về phía sau để chờ lệnh. Vừa sáng sớm, tôi nhận được báo cáo: địch cho trực thăng đổ quân xuống căn cứ Bà Hảo - khu vực Đại đội 23 đang chiến đấu. Ruột gan tôi như có lửa. Anh em đã chiến đấu nhiều ngày, sức lực bị vắt gần đến kiệt, vũ khí cũng gần cạn, chưa tiếp tế kịp, liệu cứ giữ được căn cứ không? Mấy phút sau, tôi lại nhận được báo cáo: chúng đang xua công binh cắt cây, dọn chỗ cho trực thăng đỗ lấy xác lính Mĩ. Mừng quá. Như thế là Đại đội 23 không những kìm chân mà còn tiêu diệt được sinh lực địch, bảo vệ được kho tàng, góp phần bảo vệ căn cứ Dương Minh Châu. Đại đội 23 về đến căn cứ Bà Chiêm, tôi ra đón anh em. Người nào người nấy gầy rộc, mặt hốc hác, mắt thâm quầng, trũng sâu. Đại đội trưởng Nguyễn Tường Tiến râu dài như người rừng. Hơn nửa tháng nằm vòng vây Mĩ - ngụy được trang bị đến tận răng, anh em ta chiến thắng trở về là một thời kì. Tôi chỉ thị cho Hậu cần J16 có gì trong kho mang ra bồi dưỡng anh em. Tôi chỉ cho Nguyễn Tường Tiến xuống chiếc hầm chữ A để nghỉ cho lại sức. Trưa hôm ấy, công vụ bưng xuống hầm cho anh bát cháo gà để bồi dưỡng. Trong lúc đó, ở chiến trường kiếm được con gà không phải dễ. Nguyễn Tường Tiến chỉ nghỉ được trọn một ngày. Trưa ngày thứ hai thì địch càn vào Căn cứ Bà Chiêm - nơi đóng quân của J16. Tôi chạy đến hầm hét to: - Tiến ơi, chúng nó càn vào cứ rồi. Tiến choàng dậy, khoác vội khẩu AK. Cả cơ quan J16 cơ động nhanh ra vị trí chống càn. Suốt một thời gian dài, ngày nào cũng vang động tiếng máy bay các loại, tiếng bom, tiếng pháo rền trời, đinh tai nhức óc. Đã nhiều lần, chúng tôi bố trí các tổ chiến đấu trang bị gọn nhẹ tiếp cận căn cứ dã ngoại của lính Mĩ đóng ở các trảng. Thừa lúc đám trực thăng đưa hàng tiếp tế xuống, lính Mĩ bu lại, ta cho ĐH.10 nổ, cối dập, tiếp theo là B40,B41, trung liên, AK, chỉ đánh tiêu hao ngắn gọn rồi rút. Hoặc đem vài tổ B40, B41 đánh xe tăng. Cách đánh kiểu này làm quân Mĩ rất bối rối, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Tuy bị tiêu hao lực lượng nhưng chúng vẫn không chịu rút cuộc chống càn của chúng tôi ngày càng quyết liệt. Có lần địch cho trực thăng đổ quân xuống cách chỗ chúng tôi chỉ vài trăm thước. Lúc đầu chúng cho máy bay ném bom phát quang, cây cối ngả rụi. Tiếp đó chúng đưa cả tiểu đoàn công binh đến dùng cưa máy chạy rèn rẹt, dọn bãi, làm công sự để trực thăng đổ quân Mĩ xuống. Cơ quan J16 có anh quản lí bếp ăn tên là Nguyễn Thà Khẹt, vợ là cô y tá Út Dìa có đứa con trai mới được 6 - 7 tháng. Sáng hôm đó Mĩ đổ quân sát chuồng heo của đơn vị. Đến đêm, thằng nhỏ khóc ngằn ngặt. Tôi sốt ruột, sợ bị lộ, chạy sang hầm Út Dìa, quát to: - Muốn chết cả hay sao mà để cho con khóc! Thấy tôi, Út Dìa vội áp vú cho con bú, nhưng thằng bé không chịu, vẫn khóc. Tôi vội vén áo thằng nhỏ lên, thấy 5 - 6 con ve rừng đang cắn mà mẹ nó không biết. Bắt hết ve, cháu bé ngủ ngon lành, mặc cho mọi người đang rậm rịch lo chống càn. Hai ngày sau chúng mới rút. Trận đó, chúng tôi bị khủng bố tinh thần nhiều nhất. Lính Mĩ khi hành quân thường có những hành động như sau. Thứ nhất, dù rất sợ chết, nhưng ý thức kỉ luật của chúng rất cao, không bao giờ cưỡng lại lệnh cấp trên chỉ huy. Thứ hai, dù gặp thương vong, bằng mọi giá phải lấy cho hết số lính bị chết hoặc bị thương. Vì thế nhiêu lần chúng tôi bố trí mai phục diệt nhiều tên địch khi chúng trở lại lấy xác đồng đội. Thứ ba, tuy phát hiện được cứ của ta nhưng chúng chưa đánh ngay vào vì chúng rất kị ban đêm. Biết rõ hành động chiến thuật của quân Mĩ nên trong suốt cuộc càn Gianxơnxiti, J16 chúng tôi đã đánh cho địch nhiều đòn đau mà vẫn giữ được lực lượng. Cuộc hành quân Gianxơnxiti của Mĩ - ngụy đã thất bại thảm hại. Tuy nhiên chúng cũng gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất. Một số cán bộ, chiến sĩ của J16 chúng ta hi sinh. Trong số anh em không trở về có Nguyễn Đình Doãn. Anh bị thương rất nặng, được đưa vào viện K71A cứu chữa nhưng không qua khỏi. Doãn hi sinh làm làm anh em trong đơn vị rất đau buồn, như chính người ruột thịt của mình. Anh Phan Quế kể lại, ngày 18 tháng 7 năm 1964, khi Nguyễn Đình Doãn lên tàu ở ga Hàng Cỏ (Hà Nội) để vào chiến trường, có người yêu cũng ra tiễn. Đó cũng là lần cuối cùng họ gặp nhau. Doãn hi sinh khi mới 32 tuổi. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 09:03:37 am * Trở lại câu chuyện chiếc xe M41-AL số 247 mà J16 thu được của địch trong trận Gò Đậu. Khi có chiếc xe “làm vốn”, Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị cho chúng tôi phải bảo vệ cho được, đồng thời tổ chức huấn luyện, tập huấn, thực hành sử dụng thành thạo xe tăng địch. Một số cán bộ cốt cán của Đoàn J16 từng được đào tạo ở Liên Xô, Trung Quốc nay được chỉ định nghiên cứu, soạn thảo giáo án để huấn luyện bộ đội. Tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí Vũ Đức Hùng trực tiếp làm tổ trưởng tổ giáo viên. Vũ Đức Hùng sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở Bồng Sơn, Bình Định. Trong kháng chiến chống Pháp, gia đình anh từng nuôi giấu cán bộ hoạt động cách mạng, có lần đồng chí Phạm Văn Đồng đã về nghỉ ở nhà anh. Tập kết ra Bắc, anh được quân đội đưa đi đào tạo thành viên kíp xe tăng thiết giáp ở Trung Quốc. Về nước, Hùng làm kĩ thuật viên Đại đội 7, Tiểu đoàn một thời gian, sau chuyển lên công tác ở Ban kĩ thuật Trung đoàn xe tăng 202. Là một cán bộ kĩ thuật giỏi, lại có tinh thần trách nhiệm cao, nhiều năm liền Vũ Đức Hùng là chiến sĩ thi đua, được chụp ảnh dưới quân kì. Ngày 4 tháng 5 năm 1962, Vũ Đức Hùng vinh dự đại diện cho cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn xe tăng 202 đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ ba tổ chức tại Hà Nội. Trong giờ giải lao, khi anh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng nói chuyện tì Bác Hồ đi qua, thấy Vũ Đức Hùng mang quân hàm thiếu úy, Bác hỏi: - Chú ở Binh chủng Xe tăng? Quá bất ngờ, Vũ Đức Hùng “dạ” rất to rồi thưa với Bác: - Báo cáo Bác, cháu ở Trung đoàn xe tăng 202 ạ! Với gương mặt rất vui, đôi mắt sáng, Bác đặt bàn tay ấm nóng lên vai anh. Giọng Bác ấm áp: - Xe tăng là lực lượng xung kích. Chú là cán bộ, là hạt giống đỏ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng thưa với Bác: - Báo cáo Bác, đồng chí Hùng là người Bình Định. Bác lại cười, vỗ vỗ vào vai anh, thân tình như cha con: - Là người miền Nam, chú phải học tập và rèn luyện cho thật tốt, huấn luyện cho thật nhiều chiến sĩ, mai này về chiến đấu giải phóng quê hương. Vũ Đức Hùng dập gót giày, đứng nghiêm, đặt tay lên vành mũ: - Thưa Bác, cháu xin nhớ lời Bác dạy. Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cười vang. Lát sau, Bác nói giọng nhỏ nhẹ thân tình: - Nhớ là tốt nhưng phải làm cho được! Câu chuyện cảm động ấy Vũ Đức Hùng đã kể cho cán bộ, chiến sĩ trung đoàn sau khi anh đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc trở về. Lời dạy của Bác không chỉ cho riêng Vũ Đức Hùng, mà cho tất cả cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn xe tăng 202 chúng tôi. Lời Bác thấm vào máu người con xứ dừa Bình Định. Vì thế khi vào chiến trường Nam Bộ, được giao nhiệm vụ gì, Vũ Đức Hùng đều hoàn thành xuất sắc. Lần này, nhớ lời dạy của Bác: “huấn luyện cho thật nhiều chiến sĩ”, tôi rất yên tâm khi giao nhiệm vụ nặng nề này cho anh. Địa điểm cất giấu chiếc xe tăng địch gần suối Bờ Cảng, thuộc căn cứ Long Nguyên. Trong bom đạn ác liệt, anh em đã bảo quản, huấn luyện rất tốt. Nơi này vừa là xưởng, vừa là trường học huấn luyện bộ đội về xe địch. Vừa bám xe, anh em vừa tranh thủ biên soạn tài liệu từ tiếng Anh sang tiếng Nga, rồi từ tiếng Nga dịch ra tiếng Việt. Rất may là đồng chí Trần văn Khuê còn mang được cuốn từ điển Nga - Anh, nên đã cùng với Vũ Đức Hùng, Vũ Đình Hạt, Trương Luông ngày đêm biên dịch tài liệu, soạn thành giáo án để huấn luyện bộ đội. Trong điều kiện ác liệt, lớp học vẫn được tổ chức có bài bản, chia thành các lớp lái xe, pháo thủ, trưởng xe. Ngoài việc huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ trong binh chủng, đơn vị còn tập huấn cho nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ các binh chủng đặc công, pháo binh, công binh, bộ binh về tính năng, kĩ chiến thuật xe tăng M41-AL, để khi tác chiến có thể vận dụng những kiến thức cơ bản về xe tăng địch, hạn chế tối đa ưu thế hỏa lực, đồng thời khai thác những điểm yếu để dùng vũ khí được trang bị diệt xe tăng địch. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 09:06:29 am Từ năm 1966 đến năm 1968, vùng căn cứ Long Nguyên nằm trong điều kiện ngặt nghèo, ác liệt của chiến tranh. Có lúc khó khăn chống chất, tưởng chừng không vượt qua, nhất là giữ cho xe “sống được” để huấn luyện. Anh em đào hầm rộng 4m, dài 84, sâu 4m để giấu xe. Mái hầm lợp lá trung quân (một loại lá rừng đốt không cháy, thân cây nhỏ và thấp). Xung quanh có hệ thống hầm hào liên hoàn để chiến đấu bảo vệ xe. Giữa rừng sâu, lại trong tầm hỏa lực của địch, công tác bảo đảm kĩ thuật như chống ẩm, bảo dưỡng khí tài điện tử, nguồn điện khởi động là một khó khăn rất lớn. Điều mà anh em kĩ thuật lo lắng nhất là giữ cho ắc quy thường xuyên đủ điện, khi cần có thể nổ máy được ngay. Dù xe nằm một chỗ nhưng hằng tháng đều phải tháo bình ắc quy để nạp thêm điện và chăm sóc bảo quản. Trú quân trong rừng, lại thường xuyên bị phi pháo, thám báo biệt kích lùng sục nên rất khó khăn khi nổ máy nạp điện. Sợ biệt kích đi lùng nghe được, anh em ta lợi dụng lúc trời mưa to để nổ máy. Việc làm này chỉ áp dụng được trong màu mưa và không có chu kì nhất định. Còn mùa khô anh em lợi dụng lúc có máy bay ném bom vào khu vực lân cận nơi đóng quân. Tiếng gầm rú của máy bay, tiếng bom làm át tiếng máy nổ nạp bình điện. Nhưng chu kì thất thường, có khi cả tháng không nổ máy được lần nào.
Một lần, tôi giao cho Vũ Đức Hùng mang tặng anh Sáu Nam (đồng chí Lê Đức Anh) chiếc mặt nạ phòng độc thu được trong trận Gò Đậu. Khi trao tặng xong, đồng chí Sáu Nam hỏi Vũ Đức Hùng: - Điều khó nhất hiện nay của đồng chí đối với chiếc xe là gì? Vũ đức Hùng báo cáo với đồng chí Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Miền: - Thưa thủ trưởng, cái khó nhất giữ chiếc xe M41-AL là làm cho nó sống lâu, có nghĩa là giữ cho được bình ắc quy đủ điện. Không đủ điện khởi động, xe sẽ chết. Thủ trưởng Sáu Nam lại hỏi: - Vậy hiện tại đồng chí làm sao? Vũ Đức Hùng trình bày việc lợi dụng trời mưa, lúc máy bay địch bắn phá, ném bom để nổ máy nạp bình điện. Đồng chí Sáu Nam lại hỏi: “Nếu không có những thứ ấy thì các đồng chí xoay sở làm sao?”. Vũ Đức Hùng đang lúng túng thì thủ trưởng Sáu Nam hỏi lại: - Tôi cho pháo kích khu vực có được không? Vũ Đức Hùng không ngờ câu chuyện về chiếc bình ắc quy trên xe tăng M41-AL lại phức tạp đến vậy. Nghe thủ trưởng hỏi anh hoảng quá, càng lúng túng. Đồng chí Sáu Nam nói để anh yên tâm: - Được rồi, khi nào cần nạp điện, hết bao nhiêu thời gian, đồng chí cho tôi biết, cố gắng đừng để xe chết. Vũ Đức Hùng chào thủ trưởng ra về trong lòng suy nghĩ miên man. Anh báo cáo với tôi chuyện gặp thủ trưởng Sáu Nam. Hai anh em tính toán, nếu cho máy nổ chạy mười phút thì mất chừng này quả đạn cối, đạn ĐKB (hồi ấy chưa có pháo 105 li). Chúng tôi thấy tầm quan trọng chiếc xe tăng ta thu được của địch và bình ắc quy quá lớn. Để chiếc xe tăng M41-AL luôn trong tình trạng “sống”, không chỉ có bình điện mà còn các thứ khác, như xăng dầu chẳng hạn. Vũ Đức Hùng và anh em mua xăng từ Bến Súc, dùng xe bò bí mật chở về đầu cầu Thị Tính, cho vào can nhựa, chờ cho trời trối mới thả trôi theo dòng nước. Gần sáng thì xăng trôi về tới Bờ Cảng. Trong lúc xăng đang trôi trên sông, bộ phận ở nhà đã đào hố. Khi xăng về vớt lên cho vào thùng phuy 200 lít rồi chôn xuống hố giống như các nấm mộ trong nghĩa trang. Lúc cần, anh em bí mật đào lớp đất phía trên, dùng ống nhựa hút xăng lên, gùi về căn cứ. Trong khi thao tác, nhiều anh em bị bỏng rộp da. Cách làm này của bộ đội ta đã thắng được chiến thuật “thiết xa vận” và tránh được con mắt nhòm ngó của kẻ thù. Sau Mậu Thân 1968, địch điên cuồng phản công, đánh phá ác liệt căn cứ Long Nguyên. Lực lượng giữ xe từ một trung đội lần lượt rút xuống còn một tiểu đội “cảm tử”. Anh em bám giữ xe theo nguyên tắc: “Ta thấy địch mà địch chưa thấy ta thì chưa đánh; địch thấy ta mà chưa thấy xe thì chưa phá xe”. Tháng 6 năm 1968, cả tiểu đoàn Mĩ được máy bay yểm trợ, đổ quân xuống khu vực giấu xe, tiểu đội cảm tử đã chiến đấu suốt 4 ngày đêm. Trong trận đánh không cân sức này, đồng chí Phan Văn Nho (Hai Thắng), nghĩa binh, đảng viên chống trả tới viên đạn cuối cùng và anh dũng hi sinh. Sự tàn khốc của chiến tranh đã làm cạn dần sinh lực tiểu đội cảm tử. Một số anh em bị thương, hi sinh, chỉ còn lại 6 người bám trụ đến cùng. Mặt khác, tình hình tiếp tế vô cùng khó khăn, mỗi người chỉ được cấp 200g gạo trong ngày. Cuối năm 1968, do biết trước địch sắp càn qua khu vực ta giấu xe, tình thế trở nên gay go, phức tạp, Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị rút tiểu đội “cảm tử” về căn cứ. Nhận được lệnh, anh em khẩn trương tháo rời khí tài điện đài, súng đại liên, dụng cụ quang học trên xe đem về căn cứ mới. Phần xe còn lại chôn sâu dưới lòng đất chiến khu Long Nguyên và gài mìn bảo vệ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 09:10:38 am 8. CHIẾN TRƯỜNG ÁC LIỆT Sau những đòn thất bại choáng váng, quân Mĩ chủ động đẩy cuộc chiến tranh lên tầm khốc liệt mới. Bên cạnh đội quân ngụy Sài Gòn được Mĩ trang bị đầy đủ, ngay có cả những đơn vị lính Mĩ trực tiếp tham chiến. Riêng mặt trận miền Đông Nam Bộ, địch đã tập trung đến 5 sư đoàn chủ lực. Quân ngụy có 3 sư đoàn: 5, 13 và 25; Mĩ có 2 sư đoàn: Sư đoàn 1 “anh cả đỏ”, Sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” và Lữ đoàn dù 173 “kị binh bay”. Chúng đánh phá ta theo chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” hòng tiêu diệt cơ quan Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mĩ, cứu nước. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”(1). Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, cả chiến trường miền Nam dâng lên cao trào đánh Mĩ. Nhiệm vụ cấp thiết lúc này của cán bộ, chiến sĩ J16 cơ giới là “đánh Mĩ” và “thắng Mĩ” bằng mọi vũ khí hiện có trong tay. Chưa có xe tăng, thiết giáp thì đánh Mĩ bằng vũ khí bộ binh với chiến thuật đặc công. Phát huy thắng lợi trận Gò Đậu, Đại đội 40 cơ giới cùng các đơn vị trực thuộc Ban Đặc công (B18) và Ban Cơ giới đã tổ chức tập kích vào các vị trí quân, cụm xe tăng, cơ giới và pháo binh của Mĩ; phối hợp với các lực lượng vũ trang ta bẻ gãy các cuộc càn trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của Mĩ. Để phát huy lợi thế của lối đánh đặc công: lấy ít địch nhiều, luồn sâu, đánh hiểm, tháng năm 1967 Bộ Chỉ huy Miền quyết định sáp nhập B18 Đặc công với J16 Cơ giới thành Phòng Đặc công - Cơ giới với phiên hiệu mới là J16 Đặc Cơ. Ban Chỉ huy J16 Đặc Cơ gồm: Nghiêm Xuân Đẩu (Tư Cang) - Cán bộ Phòng Quân huấn Miền, được cấp trên đưa sang giữ chức Chỉ huy trưởng. Tôi làm Chính ủy, Phạm Hà Hải - Chỉ huy phó và Bùi Tân - Phó Chính ủy. Biên chế của J16 Đặc công Cơ giới Miền có ba cơ quan: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Lực lượng trực thuộc có 2 liên đội (1 và 2), mỗi liên đội có 2 đại đội đặc công, 1 đại đội cơ giới (15, 46, 23, 40, 47 và 48); 3 đại đội phục vụ: trinh sát, vận tải, sửa chữa. B18 có 2 đại đội, Đại đội đặc công bộ có phiên hiệu là 48. Còn đại đội đặc công nước được điều bổ sung cho Đoàn 10 đặc công Rừng Sác. Tôi muốn nói thêm: J16 Cơ giới Miền thành lập tháng 11 năm 1965 là lực lượng tăng, thiết giáp từ miền Bắc chi viện vào cho chiến trường miền Đông Nam bộ. Đây là số cán bộ, chiến sĩ chủ yếu của Trung đoàn xe tăng 202. Còn J16 Đặc Cơ Miền là sự hợp nhất hai binh chủng Đặc công và Tăng - Thiết giáp lại với nhau. Về tác chiến, J16 Đặc Cơ vẫn lấy chiến thuật đặc công là chính. J16 Đặc công Cơ giới có chức năng giúp Bộ Chỉ huy Miền xây dựng, quản lí, chỉ huy các đơn vị đặc công và cơ giới. Đây là sự “hợp lưu” bởi tình thế chiến lược trong thơi điểm ác liệt nhất trên chiến trường miền Đông Nam Bộ (1968 - 1969). Đó cũng là biểu tượng cao đẹp trong hiệp đồng, sát cánh chiến đấu cốt tử của hai binh chủng Đặc công và Tăng - Thiết giáp dưới phiên hiệu “Đặc Cơ” J16. Sự độc đáo này chỉ có ở mặt trận miền Đông Nam Bộ, cho thấy tính sáng tạo và tinh thần khắc phục khó khăn của bộ đội tăng - thiết giáp B2 những năm đánh Mĩ. Sau ngày hợp nhất, J16 Đặc công Cơ giới Miền nhanh chóng ổn định tổ chức, lãnh đạo tư tưởng, chuẩn bị mọi mặt cho những trận đánh tiếp theo. Ngày 1 tháng 7 năm 1967, đồng chí Nguyễn Xuân Tĩnh, trưởng xe, chỉ huy 4 chiến sĩ tập kích cụm cơ giới Mĩ tại ngã ba Bà Chiêm (Tây Ninh) ngay giữa ban ngày, diệt một trung đội địch, phá hủy 6 xe M113. Đây là trận thắng đầu tiên dưới màu áo của J16 Đặc công Cơ giới Miền. Ở chiến trường ăn uống kham khổ, chiến đấu căng thẳng, tôi bị sốt rét, viêm phổi rất nặng. Người tôi sút cân nhanh chóng, từ 73 - 74kg, nay còn 49kg. Anh em chuyển tôi qua bệnh viện của Miền đóng ở Xumpô trên đất Campuchia điều trị. Chiến sự ngày càng ác liệt, mỗi ngày nằm viện là thêm một ngày lòng tôi như có lửa đốt. Tôi lo cho đơn vị ở nhà. Lo lắng cũng chẳng giải quyết được gì, tôi nghĩ, để chóng được trở về đơn vị, ngoài thuốc tiêm đặc hiệu diệt kí sinh trùng sốt rét và lao phổi, mình phải rèn luyện. Được các thầy thuốc và anh em bệnh nhân phổ biến kinh nghiệm, hằng ngày tôi vào rừng đào cây Atisô về nấu thành cao, tìm cây sâm rừng làm nước uống. Các loại thuốc nam do tôi tìm kiếm và chế biến hóa ra lại hỗ trợ điều trị bệnh thất rất hiệu quả. Sau gần ba tháng điều trị sức khỏe tôi ổn định trở lại. Được phép của các bác sĩ, tôi hăm hở khoác ba lô về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Cuối năm 1967, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam. Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị cùng với kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy được triển khai rất bí mật, khẩn trương. (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.108. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 04 Tháng Hai, 2014, 09:15:06 am Theo chỉ thị của bộ Chỉ huy Miền, chúng tôi tổ chức hai đại đội và một ban chỉ huy tiểu đoàn nhẹ, thực hành tiến công vào căn cứ của Sư đoàn bộ binh 1 “anh cả đỏ” Mĩ ở Technique (Bình Long). Trước khi xung trận chúng tôi quán triệt tới mỗi cán bộ, chiến sĩ đây là đòn đánh phủ đầu quân viễn chinh Mĩ, vừa để rút kinh nghiệm về sử dụng lực lượng đặc công cơ giới đánh vào căn cứ, hậu cứ lớn của Mĩ, phá hủy vũ khí, phương tiện chiến tranh và tiêu diệt sinh lực địch.
Trận đánh do đồng chí Kính - Tiểu đoàn phó và Chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Như Hòa trực tiếp chỉ huy. Bộ đội được tổ chức thành hai mũi, bí mật luồn sâu, áp sát và các mục tiêu bên trong căn cứ. Đúng giờ G, đồng chí Kính phát lệnh tiến công, các mũi đồng loạt nổ súng. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên Mĩ, phá hỏng nhiều nhà cửa, hầm ngầm, phương tiện chiến tranh của địch. Đây là trận đánh lớn đầu tiên vào căn cứ cấp sư đoàn của J16 Đặc công Cơ giới Miền sau 42 ngày thành lập đã giành thắng lợi giòn giã, khích lệ tinh thần phấn khởi, hồ hởi, tin tưởng của bộ đội vào cách đánh mới khi hợp nhất hai lực lượng cơ giới và đặc công. Trong trận đánh này, Mũi phó Nguyễn Xuân Tình lại thể hiện tính sáng tạo, dũng cảm của mình. Sau khi phá gần hết các lớp rào, chỉ còn lại hàng rào cuối cùng mà bộc phá lại không nổ, anh nhanh trí ôm bộc phá đè lên hàng rào cho đồng đội nhanh chóng nhảy qua, đánh thọc sâu vào căn cứ địch. Khi Mũi trưởng hi sinh, Tình nhanh chóng thay thế, chỉ huy đồng đội đánh thẳng vào bãi xe địch. Đến giữa căn cứ Technique, thấy tổ bạn gặp khó khăn, anh dùng B40 diệt ngay hỏa điểm, chỉ viện cho đồng đội diệt sở chỉ huy của địch. Trận đánh hoàn thành mục tiêu đề ra. Tổ chiến đấu của Nguyễn Xuân tình được phân công ở lại kiểm tra chiến trường, vừa yểm trợ cho các mũi rút ra ngoài. Vào thời khác trước giờ chiến thắng, địch tiếp viện 60 xe tăng, xe bọc thép phản kích, hòng bao vây, tiêu diệt tổ chiến đấu của Tình. Trong tình thế cả tổ chỉ còn một khẩu B40 với 6 quả đạn và một ít đạn tiểu liên, anh động viên anh em tổ chức chiến đấu. Với 5 quả đạn B40, anh diệt 4 xe tăng, mở đường cho đồng đội rút ra ngoài. Nhưng mới đến cửa mở, tổ anh bị 3 xe thiết giáp của địch bắn xối xả, bịt kín lối ra. Trong tay lúc này chỉ còn lại một quả đạn chống tăng, anh sực nhớ lúc vào có một chiến sĩ mang đạn B40 bị thương ngay cửa mở. Nguyễn Xuân Tình quyết định quay lại, tìm được hai quả B40. Lập tức phối hợp với tổ giữ cửa mở, anh bắn hai quả đạn diệt luôn 2 xe. Thấy đồng bọn bị tiêu diệt, chiếc thứ ba quay đầu tháo chạy, lợi dụng thời cơ, tổ chiến đấu của anh phá vỡ vòng vây, rút về căn cứ an toàn. Đón đánh bất ngờ, hiểm và đau vào sào huyệt của Sư đoàn “anh cả đỏ”, làm quân Mĩ choáng váng. Chúng không ngờ, lực lượng ấy lại là những cán bộ, chiến sĩ xe tăng vì không có xe buộc phải đánh Mĩ và quyết thắng Mĩ bằng vũ khí bộ binh. Sau trận Technique, Đảng ủy J16 Đặc Cơ họp xem xét trận đánh một cách kĩ lưỡng. Tuy đã giành thắng lợi nhưng việc bảo toàn lực lượng luôn là yêu cầu số một. Để có được một tay súng giữa chiến trường miền Đông Nam Bộ là vô cùng quý giá. Vì thế, công tác nghiên cứu chiến trường, xây dựng phương án tác chiến cũng như thực hành chiến đấu phải luôn sáng tạo và tỉnh táo. Ngày 10 tháng 7 năm 1967, chúng tôi lại tập kích vào trung tâm chiều hồi, rồi phát triển sang tòa hành chính, cảnh sát Tây Ninh. Vẫn bằng lối đánh đặc công, lần này anh em ta luồn sâu vào tận sào huyệt của bộ máy ngụy quyền tỉnh Tây Ninh - nơi được xem là an toàn nhất. Sau trận tập kích táo bạo này, nhân dân đã hồ hởi nhận xét: “Quân giải phóng đã làm đạo náo thị xã Tây Ninh”. Trong men say chiến thắng, cuối năm 1967, J16 Đặc công Cơ giới Miền tổ chức nhiều đợt điều tra, nghiên cứu các mục tiêu lớn của Mĩ ở Đồng Dù, Technique, Lai Khê, Cà Tum, Dầu Tiếng, Trảng Lớn, núi Bà Đen. Phong trào thi đua lập công chào mừng kỉ niệm 23 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam do J16 Đặc công Cơ giới phát động diễn ra sôi nổi. Được tăng cường một đại đội đặc công (thuộc Sư đoàn bộ binh 7), Liên đội 1 thuộc J16 do Chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Như Hòa chỉ huy tập kích vào căn cứ Technique của Sư đoàn “anh cả đỏ” lần thứ hai. Trận này, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.000 tên địch, phá hỏng 7 trực thăng, 12 xe quân sự, trong đó có 8 xe M113, gần chục khẩu pháo 105mm và 155mm, một kho xăng cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác. Do lập được chiến công xuất sắc, Liên đội 1 được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì. Tháng 12 năm 1967, quân Mĩ sử dụng Sư đoàn 25 mở cuộc hành quân mang tên “Hòn đá vàng” đánh vào khu vực Cà Tum. Cuộc càn quét với âm mưu “tìm diệt” của địch gây cho ta nhiều khó khăn. Nếu không giữ được Cà Tum, căn cứ Bà Chiêm và cả Chiến khu Dương Minh Châu sẽ bị uy hiếp, ta không còn chỗ đứng chân. J16 Đặc công Cơ giới Miền được lệnh đánh trả cuộc càn của địch. Tham gia chống càn có Liên đội 1, Đại đội 46, cùng cán bộ chiến sĩ ba cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần. Bộ đội ta đã chiến đấu với lòng quả cảm, không sợ hi sinh trước kẻ thù đông và mạnh hơn rất nhiều lần. Từ ngày 29 tháng 12 năm 1967 đến ngày 3 tháng 1 năm 1968, đơn vị chiến đấu bằng mọi thủ đoạn chiến thuật với vũ khí có trong tay. Đoàn Đặc công Cơ giới J16 Miền đã đánh 27 trận lớn nhỏ bằng các hình thức tập kích, pháo kích, bắn máy bay, diệt xe cơ giới và phối thuộc cho Sư đoàn bộ binh 9 của Miền đập tan cuộc càn quét của địch. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:23:53 am * Vừa chiến đấu, vừa âm thầm và khẩn trương chuẩn bị cho “Cơn bão lớn”, mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi ai cũng thấy hồi hộp, xen lẫn lo âu. Sau mỗi trận đánh, danh sách quân số của đoàn ngắn lại. Trong lúc lực lượng bổ sung chưa có. Tôi linh cảm thấy khó khăn thử thách lớn đang đến rất gần. Buổi chiều, khi đang chăm chú nghe bản tin trên Đài phát thanh Giải phóng, tôi nhận được chỉ thị của Bộ Chỉ huy Miền: J16 chuẩn bị 2 liên đội để tăng cường cho 5 phân khu mới được tổ chức, đồng thời là 5 hướng tấn công vào Sài Gòn trong Tết Mậu Thân. Liên đội 2 do đồng chí Sáu Vẽ, Lê Như Hòa, Phan Thanh Châu, Đào Cao Tuy, tăng cường cho hướng phân khu 5 (Bà Rịa, Long Thành, Thủ Đức); Liên đội 1 do đồng chí Đặng Văn Thọ, Nguyễn Duy Tôn, Đặng Lâm Thao, Nguyễn Em, Trần Oanh, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Thịnh tăng cường cho hướng phân khu 1 (Củ Chi, Gò Vấp, Hóc Môn). Đi cùng Sở Chỉ huy tiền phương Bộ Chỉ huy Miền có một bộ phận cơ quan J16, đội đại đội đặc công bộ, một đại đội cơ giới do tôi và đồng chí Lâm Kim Chung phụ trách. Những năm ở chiến trường hầu như chúng tôi không có thời gian để nghĩ đến Tết. Những Tết trước, ngành Hậu cần cấp trên chỉ lo cho được ít đậu xanh, lạc, mấy cân thịt. Anh em ta mày mò tìm dụng cụ để làm kẹo lạc, giá đỗ. Tết nào bộ đội bắn được con thú rừng đã là sang lắm. Tôi nhớ, Tết Bính Ngọ (1966), anh em bắn được một con cheo. Để bữa tất niên được rôm rả, anh em còn hái lá kim cang để ăn thay rau sống. Lá kim cang có vị chua như lá chua me ngoài Bắc. Tết Đinh Mùi (1967) lại khá đặc biệt. Cuộc sống kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ thiếu thốn trăm bề nhưng đến Tết vẫn có thịt heo, thịt rừng, bánh tét, bánh chưng, bánh kẹo, chả giò. Anh em Hậu cần còn kiếm được một ít rượu để pha loãng, nhâm nhi đêm giao thừa. Ở chiến trường mà có cái Tết đậm đà hương vị dân tộc như thế nên anh em ai cũng cảm thấy hạnh phúc bởi tình đồng chí, đồng đội. Năm 1967 là một năm chiến đấu cực kì vất vả, gian khổ và ác liệt của J16 chúng tôi. Mải đánh giặc, chạy càn nên gần Tết Mậu Thân rồi mà ngành Hậu cần chưa mua sắm được gì đáng kể cho bộ đội ăn Tết. Đồng chí Mai Văn Đáng, Chủ nhiệm Hậu cần gặp tôi vò đầu bứt tai, báo cáo đã cử người sang Campuchia nhưng vì cận ngày quá nên không mua được gì. Tết này đánh lớn, để anh em ăn uống đạm bạc tôi thấy không yên lòng. Khó khăn là thế nhưng cuối cùng anh em Hậu cần cũng đã lo cho bộ đội một cái Tết khá tươm tất. Chúng tôi ăn Tết Mậu Thân sớm hơn mọi năm để còn bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân. Gọi là tươm tất nhưng cũng chỉ có mấy món được chế biến từ thịt heo. Ngoài ra, anh em còn có báo kẹo, trà thuốc để dùng trong mấy ngày Tết. Chiều áp Tết, chúng tôi hồi hộp chờ lệnh Tổng tiến công. Các hướng chiến đấu của J16 Đặc công Cơ giới báo về tất cả đã được đặt lên bệ phóng. Tôi nhìn gương mặt từng người, ai cũng thấy xón xang, hồi hộp, xen lẫn lo lắng. Điều đó cũng đúng thôi, bởi vì đây là một chiến dịch thật lớn mà người chiến sĩ sắp phải đối mặt, hậu quả khó lường. Chiến trường miền Nam lúc này như chiếc cung lớn mà mỗi người lính chúng tôi như một mũi tên, chỉ chờ lệnh là bay vút về phía trước. Tôi nằm trên chiếc võng mắc giữa hai thân cây rừng suy nghĩ về chiến dịch sắp tới. Đài phát thanh Giải Phóng đang phát đi bài hát “Xuân chiến khu” của nhạc sĩ Quân giải phóng miền Nam Xuân Hồng. Tiếng hát cô ca sĩ vút cao, lảnh lót, tươi vui, nhí nhảnh: “Mùa xuân về trong chiến khu, gió đưa cây rừng cành lá vi vu u ú u như hát mừng mùa xuân thắng lợi. Mai vàng, mai vàng đang nở lưng đồi, chào anh bộ đội thêm một tuổi đời, mừng anh thêm một tuổi quân lập nhiều chiến công toàn dân đang mong”. Đã hơn 4 năm ở chiến trường, tôi đã thêm chừng ấy tuổi đời và tuổi quân. Tết này tôi và anh em thi đua, quyết “lập nhiều chiến công” để thỏa lòng mong ước của nhân dân, như lời bài hát. Đêm 30 Tết Mậu Thân 1968, Đại đội 15 cơ giới, thuộc Liên đội 2 đã chiếm được trại thiết giáp Phù Đổng của địch tại Gò Vấp. đây là nơi làm việc của cơ quan thiết giáp ngụy, nên ta chỉ bắt được tù binh, thu vũ khí, không thu được xe tăng. Sau khi chiếm được mục tiêu, Đại đội 15 Cơ giới củng cố phòng thủ, chờ lực lượng bộ binh từ ngoài chi viện. Sang ngày thứ ba, Mĩ - ngụy phản kích, dùng máy bay ném bom hủy diệt cả số lính ta bắt làm tù binh. Sau đó, chúng dùng xe M113 bao vây phản kích. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 15 Cơ giới anh dũng chống trả, nhưng vì lực lượng mỏng, lại không được chi viện kịp thời, nên phần lớn anh em hi sinh, chỉ có một ít rút được ra ngoài. Bước vào giai đoạn 2 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, số cán bộ, chiến sĩ còn lại của Đại đội 15 được nhập với một số đặc công đánh vào các mục tiêu kho đạn Gò Vấp, các chốt lĩnh Mĩ và một số mục tiêu nằm sâu trong nội đô Sài Gòn. Trên hướng ngoại đô, ngày 23 tháng 2 năm 1968, Tiểu đoàn 5 Đặc Cơ gồm 180 tay súng do đồng chí Lê Như Hòa - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Sanh - Chính trị viên, đồng chí Đế - Chính trị viên phó đã chỉ huy đơn vị phối thuộc với Tiểu đoàn 14 đặc công tỉnh Tây Ninh tập kích vào Sư đoàn 25 của Mĩ đóng tại Dầu Tiếng. Được đồng chí Khoa, quân báo Dầu Tiếng dẫn đường, Tiểu đoàn 5 đã tập kích vào quân Mĩ. Các chiến sĩ tăng - thiết giáp đã thực hiện kĩ thuật tiềm nhập đặc công rất thành thạo. Sau tiếng nổ lệnh, bộc phá, thủ pháo bộ đội ta đồng loạt nổ vang trời, chớp lửa trên 8 hướng tùm kín căn cứ Mĩ - ngụy, kẻ địch bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp. Sau 2 giờ chiến đấu, ta đã diệt và làm bị thương cả ngàn tên địch, phá hủy 100 xe quân sự các loại, 11 máy bay trực thăng, 7 khẩu pháo 105mm và 175mm, 2 kho đạn và nhiều phương tiện chiến tranh khác. Tiểu đoàn 5 Đặc Cơ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:25:25 am Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã tiến hành đồng loạt khắp chiến trường miền Nam, đánh thẳng vào đại sứ quán - Cơ quan điều hành chiến tranh của Mĩ, làm chấn động dư luận nước Mĩ và thế giới.
Nhiều trận đánh do cán bộ và chiến sĩ cơ giới (tăng - thiết giáp) chiến đấu với tinh thần dũng cảm vô song, khí phách anh hùng trước một kẻ thù tàn ác, xảo quyệt, đông và mạnh hơn ta gấp bội về vũ khí và phương tiện tác chiến hiện đại. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, J16 Đặc công Cơ giới bị hao tổn lực lượng khá lớn. Nhiều anh em hi sinh, một số bị thương, một số ngươi không may rơi vào tay giặc. Trong số anh em không trở về có Lâm Kim Chung. Anh hi sinh khi đang cùng tôi đi theo Sở Chỉ huy tiền phương Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam ở Bưng Còng - Rạch Bắp thuộc huyện Bến Cát. Sáng hôm đó, chiến trường có một khoảng bình yên ngắn ngủi. Anh em đang đứng bên ngoài hầm trao đổi nhiệm vụ thì máy bay địch ào tới. Mấy cán bộ, chiến sĩ chạy nhanh vào chiếc hầm lớn. Lâm Kim Chung nhường cho Bá vào trước. Đến lượt mình vào thì bất ngờ một loạt đạn từ chiếc trực thăng cán gáo của địch bắn xuống. Chung bị một viên đạn quái ác của địch xuyên qua bụng dưới. Lúc ấy vào khoảng 8 - 9 giờ sáng ngày 30 tháng 1 năm 1968 (sáng mùng 1 Tết Mậu Thân). Tôi lớn hơn Lâm Kim Chung 4 tuổi; hai đứa chúng tôi có rất nhiều kỉ niệm đẹp. Cùng là bộ đội tập kết, đều thuộc lớp cán bộ đầu tiên của Trung đoàn xe tăng 202. Là hai cán bộ đầu tiên của Trung đoàn 202 vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc. Ngày chúng tôi đi chiến trường, Mai - vợ Chung bế đứa con trai mới 5 - 6 tháng tuổi từ Nghi Tàm đến nhà tôi ở Quán Thánh. Hôm đó, vợ tôi làm bữa cơm để tiễn anh em tôi trở lại chiến trường. Đã nhiều năm sống với nhau, chúng tôi thân thiết như anh em ruột thịt. Thế mà bây giờ Chung đang bị thương rất nặng. Đến khoảng 3 - 4 giờ chiều, Chung nói, giọng đã yếu lắm: “Anh về với anh em đang chờ, lo công việc. Tôi ở đây có bệnh viện lo rồi”. Hôm sau, anh em báo với tôi Chung đã mất. Ở chiến trường, đồng đội nhận về mình sự hi sinh để người khác được sống là việc vẫn thường gặp. Riêng sự hi sinh của Lâm Kim Chung làm tôi suy nghĩ nhiều. Về đơn vị mấy ngày sau, anh em xì xào về việc Báo không nhường hầm cho cán bộ. Sau đó Bá cùng người yêu tên là Tuyết, bỏ đơn vị đi đâu không ai biết. Bá không xứng đáng với sự hi sinh của Lâm Kim Chung, điều đó làm tôi day dứt mãi. Sau Mậu Thân 1968, Đoàn J16 Đặc công Cơ giới như bè trầm trong bản hợp xướng bi hùng. Đảng ủy J16 họp trong không khí khá nặng nề bởi đau thương và mất mát quá lớn. Nhìn đồng đội ai cũng hốc hác, mắt trũng sâu, da người nào cũng xanh xao như vừa qua trận ốm nặng, tôi không cầm lòng được. Nhưng thật mừng, những ánh mắt vẫn sáng, kiên gan, không hề nao núng. Nhiều giải pháp được đưa ra bàn bạc, phân tích, nhằm “xốc lại đội hình”. Trước mắt, phát động đơn vị khơi dậy lòng căm thù và nâng cao ý chí quyết chiến quyết thắng của người quân nhân cách mạng. Tôi đưa ra cuộc họp các giải pháp đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, biểu dương, cổ vũng những tập thể, cá nhân có nhiều thành tích trong chiến đấu. Xây dựng, đề nghị lên cấp trên phong tặng danh hiệu Anh hùng cho đồng chí Nguyễn Xuân Tình. Trước mắt, phải củng cố lực lượng, đánh một vài trận để trả thù cho những đồng chí đã hi sinh. Khi đau thương, mất mát, nếu được động viên, khích lệ đúng lúc thì sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi con người lại trỗi dậy nhanh chóng. Những ngày sau đó, Đoàn Đặc công Cơ giới đã dấy lên phong trào thi đua giết giặc lập công, trả thù cho các đồng chí bị kẻ thù giết hại. Chúng tôi đã liên tiếp đánh địch trên những địa bàn trọng yếu như: Trảng Lớn ngày 21 tháng 5 năm 1968, Bà Đen ngày 15 tháng 5 năm 1968. Trận Trảng Lớn tuy đơn vị giành được thắng lợi nhưng bộ đội thương vong nhiều nên tôi nấn ná ở lại. Sáu giờ sáng tôi và mấy anh em mới vào đến bìa rừng. Đi gần đến bờ sông Vịnh, sát biên giới Việt Nam - Campuchia, bỗng thấy trên đầu hàng đàn máy bay địch quần đảo, tìm kiếm. Đồng chí trinh sát phát hiện một tốp lính Mĩ đang đi cách chúng tôi chỉ hơn trăm thước. Tôi ra hiệu anh em bí mật ẩn nấp, còn mình căng mắt quan sát. Chúng đông cỡ đại đội. Anh Giàu - cán bộ kĩ thuật đề nghị tôi cho nổ súng. Từ chỗ chúng tôi tới tụi lính Mĩ đúng một tầm bắn AK hiệu quả. Anh em trinh sát đi bảo vệ tôi cũng đề nghị đánh đòn phủ đầu bọn Mĩ để trả thù cho đồng đội. Tôi suy nghĩ, lúc này bọn Mĩ chưa phát hiện ra mình, chúng lại đông hơn, trang bị tốt hơn, nếu nổ súng chắc chắn sẽ bị tổn hao thêm lực lượng. Mấy chục phút sau tụi lính Mĩ di qua, chờ chúng rút khỏi chúng tôi cũng trở về căn cứ an toàn. Trận tập kích vào Cà Tum tháng 5 năm 1968 là trường hợp đặc biệt. Đây là sào huyệt huấn luyện biệt kích của Mĩ - ngụy, nên địch phòng thủ rất kiên cố. Bọn biệt kích được huấn luyện ở đây vốn nổi tiếng ác ôn, từng gây bao tội ác cho nhân dân ta. Vì thế, ý định của Bộ Chỉ huy Miền muốn nhổ căn cứ Cà Tum càng sớm càng tốt. J16 Đặc công Cơ giới Miền sử dụng Đại đội 46 và Đại đội 23 thuộc Tiểu đoàn tập kích vào căn cứ. Tiểu đoàn 5 do đồng chí Hoàng Hỗ làm Tiểu đoàn trưởng, Lê Như Hòa làm Tiểu đoàn phó, đồng chí Sanh làm Chính trị viên. Để chắc thắng, Bộ Chỉ huy Miền tăng cường một số cán bộ thuộc Cục Tham mưu, một đại đội bộ binh có hỏa lực mạnh do đồng chí Sáu Cương chỉ huy. Tôi được trên giao trực tiếp chỉ huy trận đánh. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:26:45 am Mới điều trị vết thương ở bệnh viện về được ít ngày, nhưng Nguyễn Xuân Tình(1) xung phong dẫn tổ điều nghiên luồn qua 18 lớp hàng rào kẽm gai vào trung tâm biệt kích để nắm tình hình và tìm cách đánh phù hợp. Vốn xông xáo, gan dạ và có nhiều sáng tạo trong chiến đấu nên tôi giao cho anh chỉ huy mũi chính của trận đánh. Khi các mũi đều phát triển thuận lợi thì mũi chính do Tình chỉ huy bị địch ngăn chặn quyết liệt. Không chần chừ, Nguyễn Xuân Tình sử dụng tổ dự binh đánh vòng sau Sở Chỉ huy địch. Đòn đánh hiểm này làm địch bị rối loạn. Nhân cơ hội đó, anh chỉ huy mũi chính đánh thọc sâu, nhanh chóng diệt gọn Sở Chỉ huy địch và một đại đội biệt kích.
Sau hơn 2 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt Sở Chỉ huy căn cứ biệt kích Cà Tum, diệt gần 200 tên, bắt sống nhiều tên và thu nhiều vũ khí. Tuy nhiên, ta không làm chủ được chiến trường vì đại đội bộ binh tăng cường chó hỏa lực mạnh do đồng chí Sáu Cương chỉ huy đi lạc đường. Do không vào đúng vị trí quy định nên không tiêu diệt được lô cốt chính 2 tầng. Chúng dựa vào lô cốt nhiều tầng để chống cự. Đến gần sáng, tôi ra lệnh rút quân. Sau đó chúng dùng pháo bắn tới tấp vào căn cứ để phi tang. Tuy giành được thắng lợi lớn nhưng trận này ta bị tổn thất khá lớn. Nhiều tấm gương chiến đấu mưu trí, dũng cảm đã kịp thời cổ vũ tinh thần bộ đội. đồng chí Hoàng Hỗ - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 chỉ huy bộ đội chiến đấu táo bạo, tiêu diệt nhiều mục tiêu quan trọng của địch. Đồng chí Huỳnh Cừu, chỉ huy một mũi táo bạo thọc sâu, diệt nhiều tên địch, đoàn đề nghị lên cấp trên tặng thưởng cho anh Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba. Tuy lập được chiến công trong trận tập kích vào căn cứ Cà Tum nhưng Nguyễn Xuân Tình đã bị thương nặng, phải vào Viện K71 của Miền sát biên giới Campuchia điều trị. Chân phải của Nguyễn Xuân Tình bị nhiều vết thương, có chỗ bị dập. Tôi vào khoa ngoại Bệnh viện K71 nói với đồng chí phụ trách: “Ráng cứu, đừng cưa chân mà tội nó. Cậu ấy sắp được phong Anh hùng đấy”. Ở chiến trường, thiếu thuốc men, thiếu phương tiện y tế, trường hợp bị thương như Tình thông thường đều bị cắt bỏ. Nếu chân phải của anh bị chưa thì còn đánh đấm được gì. Tôi trực tiếp gặp bác sĩ trưởng khoa ngoại trình bày suy nghĩ của mình. Hai ngày sau, tôi lại đến Bệnh viện K71 gặp bác sĩ Kính và các anh chị khoa ngoại. Tôi tặng khoa chiếc đài bán dẫn Orionton còn mới với lời nhắn gửi; “Mong các anh chị giúp Tình, đừng cưa chân cậu ấy”. Bác sĩ Kính khám cho Tình, nói với tôi: “Không cưa nhưng phải mổ”. Đây không phải lần đầu Nguyễn Xuân Tình bị thương, nhưng lần này nặng nhất. Không có thuốc gây mê, không có cả thuốc tê, Tình đã chuẩn bị một thanh tre, vót trơn tru giống như chiếc đũa cả. Tự mình buộc chân, nhờ đồng đội buộc tay bằng dây vải, anh nói với bác sĩ Kinh: “Cứ mổ đi” rồi lấy thanh tre ngáng qua miệng. Lưỡi dao mổ lách đến đây, nước mắt anh trào ra đến đó. Cơn đau làm mặt anh đỏ như người uống rượu. Tôi phải quay mặt đi để ngăn dòng nước mắt đang chực trào ra. Nhất là khi bác sĩ cho dụng cụ vào móc tủy, đau quá, anh bị ngất. Ca mổ kéo dài mấy tiếng đồng hồ, cứu được chân không phải cắt. Nhưng chân bị lệch, anh chống nạng tập đi rất khó khăn, nhiều lần bị ngả, đau chảy nước mắt. Với mong muốn chóng được trở về đơn vị chiến đấu, Tình đã kiên trì rèn luyện. Anh buộc nẹp, buộc dây dù vào chân, buộc cả hòn đá to, treo chân lên để tập. Rèn luyện trong ba tháng, chân anh mới trở về vị trí cũ. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhiều cơ sở của ta bị địch bắt, hệ thống kho tàng dự trữ lương thực cũng bị địch bắn phá. Cả chiến trường miền Đông đứng trước nguy cơ đói dài ngày. Ở chiến trường ăn độn là thường xuyên nhưng chúng tôi sợ nhất là ăn độn đậu xanh. Tiêu chuẩn được mỗi ngày một lon gạo tôi cũng nhường anh em đau ốm và bị thương. Giữa năm 1968, tôi vào Viện 7C của Miền thăm anh em đang điều trị ở đây. Nằm gần giường một cán bộ J16 là chiến sĩ bộ binh sốt rét da tái xanh, ốm yếu. Đang thiếu liên lạc, tôi đưa Vũ Bá Nhai - tên người chiến sĩ, về đơn vị. Nhai quê ở xã Chương Dương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Anh nhập ngũ đầu năm 1966, tháng 9 năm 1967 vào miền Đông, được bổ sung cho Đoàn 222 bộ binh. Khi Vũ Bá Nhai về làm liên lạc cho tôi, J16 đóng gần suối Bà Chiêm, thuộc huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Thấy tôi ăn uống cực khổ, Vũ Bá Nhai cuốc đất trồng rau muống, rau cải. Lúc rỗi, cậu ta vào suối Bà Chiêm cắm câu bắt cá, hái măng le. Món cá suối mà Nhai nấu rất hợp với khâu vị của tôi: kho khô, có nhiều ớt. Nhai còn khéo tay làm giá đỗ. Hôm nào gửi anh em ra biên giới Campuchia mua được tí thịt, cậu ta lại kho mặn để ăn dè. Liên lạc của tôi cũng là người mát tay nuôi gà. Từ một con gà mái, sau thành cả đàn hơn chục con. Lúc nào đi công tác, Nhai nhờ cháu Lâm Văn Quang, con anh Lâm Văn Hai - Phó Chủ nhiệm Hậu cần ở nhà trông giúp. Có trứng gà, tôi bảo liên lạc mang bồi dưỡng cho anh em ốm. Gà đang đẻ, không thấy trứng thường bỏ đi tìm ổ khác. Nhai đánh lừa con gà mái bằng cách lấy que chọc một lỗ nhỏ vào đầu quả trứng, lấy hết lòng đỏ và lòng trắng rồi đặt vào ổ. Tôi thường làm việc rất khuya, có hôm đến 2 - 3 giờ sáng. Nhiều lần giữa đêm khuya, Nhai bưng xuống hầm cho tôi bát cháo gà thơm phức: “Thủ trưởng ăn cho nóng”. Những năm ở chiến trường, tôi nghiện thuốc lá nặng, chủ yếu là Rubic và Mic, có đêm hút hết một bao. Các chiến sĩ liên lạc như Kính, Xuyên, Nhai, Quảng không muốn thủ trưởng hút thuốc, khuyên tôi bỏ. Đến thời kì Vũ Bá Nhai làm liên lạc tôi mới có quyết tâm cao để bỏ. Mấy hôm đầu, Nhai đưa tôi mỗi ngày hai bao, dần xuống còn một bao, về sau chỉ còn ngày mấy điếu. Phương pháp cai nghiện này khá hiệu quả, chỉ mấy tháng sau, tôi bỏ được thuốc lá. Chú thích (1) Đồng chí Nguyễn Xuân Tình được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng ngày 10 tháng 2 năm 1970. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Tiểu đoàn phó thuộc Đoàn 429 Đặc công Cơ giới. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:27:13 am Sau Mậu Thân, địch tập trung triệt hạ các cơ sở nội thành Sài Gòn, dùng phi pháo, xua quân tái chiếm lại vùng ven đô và các vùng nông thôn phụ cận. Chúng dùng phi pháo chủ yếu là các loại máy bay ném bom rải thảm. Có ngày chúng dùng máy bay cánh quạt bay hàng ngang rải bom vào các khu rừng mà chúng nghi có quân ta đóng. Cứ mỗi tốp có từ 7 - 10 chiếc; 20 - 30 phút lại có một tốp lao đến đánh phá. Chúng đánh phá từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều mới chịu nghỉ.
Thế của ta trên chiến trường Đông Nam Bộ bị giảm sút do bộc lộ hết lực lượng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Một tổn thất khác là ta bị mất các căn cứ bàn đạp ở vùng nông thôn rộng lớn, dẫn đến hệ thống các kho tàng ở nơi địa đầu bị địch đánh phá. Không còn vị trí đứng chân, các sư đoàn chủ lực của Miền đều phải dạt lên vùng biên giới giáp Campuchia để bảo toàn lực lượng. Chiến tranh ác liệt, anh em ta hi sinh nhiều đã có tác động không nhỏ tới tư tưởng bộ đội. Một số cán bộ dao động, không ít chiến sĩ nao núng tinh thần, cá biệt có người quay lưng lại đồng đội, đầu hàng kẻ thù. Đáng tiếng trong số kẻ phản nghịch ấy đã từng là đồng đội của tôi, là cán bộ của Đoàn J16 Đặc công Cơ giới. Hắn tên là Phan Xướng. Từ một người làm nghề đánh xe ngựa chạy đường Biên Hòa - Sài Gòn, Phan Xướng vào bộ đội tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1954, Xướng tập kết ra Bắc. Do có sự phấn đấu tốt, Xướng được bổ nhiệm làm cán bộ đại đội, rồi tiểu đoàn của Trung đoàn xe tăng 202. Tháng 7 năm 1965, Phan Xướng làm Đoàn phó 711 hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hồi ở với tôi, vợ Phan Xướng từ Sài Gòn lên căn cứ thăm chồng hai lần, sau đó nghe tin gia đình đã chiêu hồi. Xướng là người kín đáo, khi ở chiến trường miền Đông Nam Bộ chưa thấy bộc lộ quan điểm,tư tưởng gì sai lệch. Giữa năm 1967, Bộ Chỉ huy Miền điều động một số cán bộ của J16 tăng cường cho các cơ quan, đơn vị, Phan Xướng được điều về Trung đoàn 4 (Gia Định). Khi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Gia Định, Phan Xướng mới lộ rõ bản chất của một kẻ phản bội Tổ quốc. Là “ong tay áo”, Xướng không lạ gì căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền và Đoàn Đặc công Cơ giới J16. Ông ta khai báo, chỉ điểm nơi đóng quân của J16 để địch đánh phá bằng không quân, pháo binh, xua lính đi càn. Ngồi trên trực thăng, kẻ phản bội đã dùng mọi lời lẽ hòng lung lạc tinh thần cán bộ, chiến sĩ ta: “Phan Xướng đây, hỡi anh em J16, hàng thì sống chống thì chết!”. Một lần, tôi lên căn cứ Dương Minh Châu dự họp. Lúc này đại bộ phận các cơ quan Miền sau Mậu Thân đã chuyển lên sát biên giới Campuchia. Bộ Chỉ huy Miền triệu tập các Chính ủy từ trung đoàn trở lên họp về công tác chính trị, tư tưởng; công tác dân, địch vận ở chiến trường mới. Họp xong, đại bộ phận cán bộ ra về, anh Sáu Thu - trợ lí tổ chức, vốn là chỗ quen biết từ khi mới vào miền Nam bảo với tôi ở lại chơi, sáng mai hẵng về. Vì công việc không có gì gấp lắm nên tôi nhận lời. Cơm nước xong hai anh em mắc võng nằm nói chuyện. Khoảng 10 giờ đêm tôi nghe tiếng máy bay B.52. Vì đã bị đánh nhiều lần nên tôi dễ dàng nhận ra tiếng động cơ của loại phương tiện giết người mà giặc Mĩ từng gọi là “pháo đài bay”. Tiếng động mỗi lúc một to. Lúc đầu nghe tiếng bom nổ xa, 30 phút sau tiếng nổ gần hơn. Và chỉ trong vòng 30 phút, 3 đợt bom rơi cách chỗ chúng tôi chỉ 50 - 60 mét. Có tiếng bộ đội kêu sập hầm, tiếng gọi nhau xem ai còn sống. Đêm ấy, căn cứ Dương Minh Châu bị 4 - 5 trận bom B.52 rải thảm. Giữa lúc trận bom hủy diệt, chúng cho máy bay trực thăng kêu gọi cán bộ, chiến sĩ ta muốn sống về với vợ con thì ra đồn gần nhất của chúng để đầu hàng, nhận nhiều ưu đãi và bảo đảm cuộc sống. Sau mỗi trận bom, tôi và anh Sáu Thu lại chạy ra các hầm gần đó hỏi thăm mọi người rồi lại chạy về hầm mình để chịu đợt bom mới. Hầm của anh Sáu Thu ở chỗ làm việc sâu hơn 1,2m, liền đó có hầm chữ A đủ chỗ cho một người mắc võng và trú được mấy người. Đêm đó, tôi và anh Sáu Thu mắc võng trên chỗ làm việc, khi có tiếng B52, chúng tôi vào hầm chữ A ngồi chịu trận. Sau khi máy bay rải bom chồng lên lần thứ hai, chúng tôi thật sự lo lắng vì có tiếng hô kéo người này hi sinh, người kia bị kẹt dưới hầm di bị đất vùi. Chúng tôi lo sẽ đến lượt mình hi sinh. Tôi nói với anh Sáu: “Anh còn có người yêu, lại quen biết nhiều, lỡ hi sinh còn có người biết. Còn tôi, đến vợ cũng chưa biết quê chồng ở đâu”. Trong một cuộc họp của Miền, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói với chúng tôi: “Sau chiến thắng Ba Gia, Bàu Bàng, Đất Quốc, quân đội ta thắng Mĩ là cái chắc”. Lúc đó Đại tướng nhìn đội ngũ Chính ủy các trung đoàn, sư đoàn rồi nói thêm: “Nhưng thắng Mĩ không phải dễ đâu. Chúng đánh đến lúc ta không có gạo ăn, thiếu thuốc men và không còn đất ở chúng mới chịu”. Hồi đó tôi chưa tin, bây giờ nghĩ lại thấy ông nói rất đúng. Nay vị tướng tài của Quân đội ta đã qua đời, nhưng dự đoán của ông đang diễn ra theo chiều hướng thắng lợi thuộc về nhân dân ta, quân đội ta. Lần này không may đến lượt mình hi sinh thì cũng không có gì ân hận. Tôi chỉ lo ra đi sớm như thế này thì nhiệm vụ của Bộ, của Binh chủng, của Miền giao chưa hoàn thành, nhưng tôi tin các anh Tư Hải, Mười Tân, sẽ thay tôi hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:28:49 am Tôi chỉ băn khoăn, ngày đi bộ đội đến nay qua nhiều đơn vị nhưng tổ chức mới chỉ biết quê mình qua lí lịch. Còn một nỗi vợ tôi chưa biết quê chồng, các con chưa biết quê cha. Các con cũng chưa biết ông bà, quê quán. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế này, lại ngồi trong hầm chữ A ngong ngóng chờ bom nổ. Sau mỗi trận bom mới biết mình còn sống.
Tôi nói với Sáu Thu: “Chúng mình có thể bị hi sinh. Nếu một trong hai người còn sống phải tìm về quê để nói cho gia đình rõ”. Bàn ghế không có, đèn dầu leo lét, tôi lấy giờ giấy kê lên đầu gối. Hình ảnh miền quê Sơn Thủy, Hòa Hải… hiện lên. Tôi để lại mấy lời nếu không may phải ra đi thì anh Sáu chuyển về Đoàn Đặc công Cơ giới J16 có nhiều anh em Khu 5 họ sẽ tìm cách chuyển cho gia đình vợ con tôi. Tôi đưa bài thờ cho Sáu Thu đọc. “Bài thơ gửi vợ” như sau: Ai về Non Nước tìm về, Trước sông, sau biển, núi kề bốn bên, Núi Chúa(1) phía tây ngó lên, Sơn Trà phía bắc, đông nam: Ngũ Hành. Tôi sinh trong một gia đình, Cha là Mai Nhạc, mẹ Phùng Thị Ngân. Anh em có chín, cùng vần, Chị Hai qua phần tôi chửa sinh ra. Mai Dân anh trai thứ ba, Mai Sỏ thứ bốn, tôi là thứ năm. Em trai có chú Sáu Hà, Em gái có bốn: Phò, Ca, Nhịp, Đờn. Bom B52 của giặc Mĩ chà đi xát lại, nhưng lạ lùng, cả tôi và Sáu Thu vẫn sống. Khi chiến dịch “trả thù” tàn khốc của địch tạm ngừng, chúng tôi cùng tìm về đơn vị, tiếp tục chiến đấu. Trở về đơn vị, chúng tôi củng cố lại thành công, phát động căm thù, động viên anh em chiến đấu. Tôi bàn với Đảng ủy và chỉ huy, tổ chức đánh một vài trận để tạo khí thế thi đua lập công. Sau khi cân nhắc, tôi thấy Technique là mục tiêu thuận lợi. Technique là nơi J16 tập kích hai lần, gần nhất vào ngày 20 tháng 12 năm 1967. Lần này, chúng tôi phát động bộ đội lập chiến công mừng sinh nhật Bác lần thứ 79. Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ, ngày 12 tháng 5 năm 1969, J16 tập kích vào Technique giành được thắng lợi lớn. Chiến thắng như liều thuốc tinh thần cỗ vũ bộ đội vươn lên lập công. Đến ngày 6 tháng 6 năm 1969, đơn vị lại tập kích vào căn cứ Technique lần thứ tư. Như vậy, căn cứ Technique của địch đã bị J16 tập kích bốn lần. Cả bốn lần đều do đồng chí Lê Như Hòa - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Đặc Cơ chỉ huy. Trong số cán bộ lập công trong các lần tập kích vào Technique có các đồng chí: Vũ Đức Hùng, Nguyễn Văn Đễ, Nguyễn Xuân Tình… * Ngày 4 tháng 2 năm 1969, Đoàn J16 Đặc công Cơ giới được tăng cường lực lượng từ miền Bắc vào, Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Trung đoàn đặc công 429 ở Chiến khu Dương Minh Châu. Anh Mười Thọ - Trưởng phòng Công binh Miền được điều làm Trung đoàn trưởng. Tôi - Chính ủy Đặc công Cơ giới Miền J16 làm Chính ủy trung đoàn. Các đồng chí Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Cụ (Tư Cường), Nguyễn Văn Tịch làm Trung đoàn phó; Phạm Hà Hải - Tham mưu phó; Mười Tân - Phó chính ủy, Chủ nhiệm Chính trị; Nguyễn Văn Trọng - Phó chính ủy. Phiên hiệu J16 Đặc công Cơ giới Miền không còn, thay vào vị trí đó là Đoàn Đặc công 429 Miền. Tuy nhiên, trong tất cả các cơ quan, đơn vị của Đoàn Đặc công 429 Miền đều có cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp. Kể từ ngày thành lập Ban Cơ giới Miền B16 (tháng 11 năm 1964), đến khi J16 Đặc công Cơ giới Miền kết thúc nhiệm vụ chính trị (tháng 11 năm 1969), bộ đội tăng - thiết giáp đã chiến đấu dưới màu áo Đặc công Cơ giới. Trải qua 5 năm hình thành, xây dựng và phát triển, lúc tập trung, khi phân tán theo yêu cầu nhiệm vụ trên giao, vừa xây dựng đơn vị, vừa chiến đấu bằng kĩ chiến thuật Binh chủng Tăng - Thiết giáp, đặc công trong các chiến dịch, trận đánh: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng, Thủ Đức, Gò Đậu, núi Bà Đen, Trảng Lớn, Dầu Tiếng (2 lần), Cà Tum, Technique (4 lần), Đồng Dù, Chơn Thành, Tân Sơn Nhất, Trại Phù Đổng… mãi mãi đi vào truyện thống của các đơn vị. Đồng thời in dấu chiến công của bộ đội tăng - thiết giáp Quân giải phóng miền Nam đánh bằng chiến thuật Đặc công. Vì thế, J16 Đặc công Cơ giới là một trong những đơn vị tiền thân của Trung đoàn 429 Đặc công chủ lực miền Đông Nam Bộ. Đây là một sự kiện hết sức đặc biệt, hết sức độc đáo mang tính sáng tạo của tăng - thiết giáp Miền nói riêng và của bộ đội tăng - thiết giáp Việt Nam. Là người chỉ huy, từ ngày đầu bộ đội ta lấy xe địch đánh địch, tôi vô cùng tự hào và biết ơn đồng chí, đồng đội. Chính tôi cũng không ngờ là cán bộ, chiến sĩ xe tăng do yêu cầu của cách mạng, anh em đã xuống xe để chiến đấu bằng chiến thuật đặc công. Chiến công của bộ đội tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ sừng sững như một tượng đài. Từ hai cán bộ đầu tiên vào chiến trường, J16 Đặc công Cơ giới tập hợp được 292 cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp chiến đấu dưới hình thức đặc công đã lần lượt hi sinh, bị thương về tuyến sau, bị địch bắt, chỉ còn lại hơn 80 đồng chí. Giai đoạn 1963 - 1969, được coi là mốc thời gian hình thành và tạm kết thúc của lực lượng tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ gian lao mà rất đỗi anh hùng. Chú thích (1) Bà Nà. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:29:26 am 9. HỪNG ĐÔNG HÉ RẠNG Từ cuối năm 1969, chiến trường miền Nam đã có sự thay đổi. Sau khi Tổng thống Mĩ Níchxơn (Nixon) lên thay Giônxơn (Johnson), đế quốc Mĩ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Sự thay đổi từ “Chiến tranh cục bộ” bằng “Việt Nam hóa chiến tranh” chính là Mĩ đã thừa nhận sự thất bại không gì cứu vãn nổi. Sau ba năm ồ ạt đưa vào miền Nam hơn 50 vạn quân (chưa kể quân chư hầu: Ôxtrâylia, Thái Lan, Hà Quốc, Philíppin…), tham gia cùng với hơn 1 triệu quân ngụy Sài Gòn, Mĩ vẫn không xoay chuyển được tình thế. Thất bại đau đớn, Mĩ buộc phải chấp nhận rút quân từng bước ra khỏi chiến trường miền Nam. “Việt Nam hóa chiến tranh” là thuật ngữ văn hoa, che đậy âm mưu thâm độc của đế quốc Mĩ, thực chất của nó là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam. Tuy không còn những đơn vị quân Mĩ tham chiến trên chiến trường nhưng quân ngụy Sài Gòn chiến đấu bằng vũ khí của Mĩ, có xe tăng, máy bay, đại bác, cùng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại khác mà Mĩ để lại. Thực hiện “học thuyết Níchxơn”, Mĩ tiếp tục kéo dài chiến tranh, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, “dùng người Đông Dương giết người Đông Dương” bằng tiền của và vũ khí Mĩ, do Mĩ chỉ huy để tránh thất bại về sinh mạng cho thanh niên Mĩ, xoa dịu làn sóng chống chiến tranh trong lòng nước Mĩ đang dâng cao. Những năm đầu thực hiện chiến lược mới, Mĩ - ngụy đã có lợi thế thông qua các hoạt động bình định quyết liệt ở nông thôn, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh quanh Sài Gòn. Âm mưu của địch “giành dân, chiếm đất” đã gây cho ta nhiều khó khăn. Mất địa bàn đứng chân, các đơn vị Quân giải phóng và Bộ Chỉ huy Miền phải dồn sang bên kia biên giới Campuchia. Trước áp lực ngày càng tăng của các lực lượng vũ trang giải phóng ở các tỉnh giáp biên giới, địch phỏng đoán ta có thể đánh chiếm thị xã Tây Ninh hoặc vùng Lộc Ninh (Bình Long). Từ bối cảnh và nhận định trên, chính quyền Mĩ quyết định mở cuộc tiến công chiến lược sang Campuchia. Chúng hí hửng: Nếu phá được “thánh đường” Việt cộng ở Campuchia thì chiến tranh sẽ kết thúc trong vòng một năm” (ABrams - Tư lệnh quân Mĩ ở Đông Nam Á). Chúng cũng cho rằng: “sẽ xóa căn cứ bàn đạp chiến lược, cắt hành lang tiếp tế của cộng sản ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, kết hợp xóa bỏ nền trung lập Campuchia, lập nên chính quyền thân Mĩ”. Từ nhận định trên, chúng đã huy động một lực lượng từ 26 đến 29 trung, lữ đoàn Mĩ - ngụy, 22 tiểu đoàn pháo, 17 thiết đoàn xe thiết giáp cộng với một lực lượng không quân chiến thuật và máy bay B.52 chiến lược. Lúc cao điểm chúng sử dụng tới 200 lần chiếc máy bay chiến thuật và 35 lần chiếc B.52 chi viện trong ngày. Về phía ta, Trung ương Cục miền Nam nhận định: “Địch đánh lên biên giới là thời cơ rất tốt để ta tiêu diệt sinh lực và phá hỏng phương tiện chiến tranh của chúng. Hỗ trợ đắc lực cho toàn miền Nam đánh phá bình định. Chủ trương của Trung ương Cục là: Phải tiến công, sẵn sàng đánh phản công, đồng thời tranh thủ củng cố lực lượng về mọi mặt. Để đáp ứng yêu cầu của chiến trường, từ tháng 11 năm 1969, lực lượng đặc công ở miền Bác vào miền Đông Nam Bộ ngày càng nhiều. Bộ Chỉ huy Miền quyết định chuyển Trung đoàn 429 Đặc công chủ lực Miền lên Lữ đoàn Đặc công 429. Đồng chí Thượng tá Đặng Ngọc Sĩ (Hai Sĩ) làm Lữ trưởng, Nguyễn Văn Thọ (Mười Thọ (Mười Thọ) Lữ phó; đồng chí Nguyễn Huy Định - Thượng tá, Phó Chính ủy Sư đoàn 1 được điều về làm Chính ủy Lữ đoàn; tôi làm Phó Chính ủy. Tháng 4 năm 1970, Mĩ - ngụy mở cuộc hành quân lớn sang Campuchia, Bộ Chỉ huy Miền điều đồng chí Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn phó 429 Đặc công và tôi đưa hai tiểu đoàn đặc công 7 và 8 đi làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia. Lực lượng này tăng cường cho Mặt trận C40 ở các tỉnh Kampong Cham và Kampong Thom Tuy không còn phiên hiệu J16 Đặc công Cơ giới nhưng cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp đã sát cánh với Đoàn Đặc công 429 tham gia những trận đánh lớn trên chiến trường Campuchia, hỗ trợ cho lực lượng cách mạng nước bạn như: Trận Kampong Cham, trận Kampong Thom (tháng 4 năm 1970), trận đánh vào Stung Treng (tháng 5 năm 1970), trận Simchilăng (tháng 5 năm 1970) đã góp phần cùng các đơn vị bạn tiêu diệt 7.050 tên địch, thu 817 súng, phá hủy 357 xe các loại, bắn rơi 28 máy bay, giải phóng hàng ngàn dân Campuchia và Việt kiều bị giam giữ trong các nhà tù, trại tập trung. Sau bốn tháng thực hành chiến dịch, với chiến thuật “vây, lấn, tấn, phá, triệt diệt”, chủ lực Miền và các lực lượng vũ trang giải phóng đã liên tiếp giành được thắng lợi lớn. Sau 19 tháng (tháng 4 năm 1970 đến tháng 11 năm 1971) mở rộng chiến tranh sang bên kia biên giới, địch đã tự mình chuốc lấy hậu quả nặng nề. Chúng không những không xóa bỏ được vùng “đất thánh” mà ngược lại “đất thánh” ngày càng được mở rộng và củng cố vững chắc hơn, khả năng cung cấp được khơi thông, có những nguồn mới dồi dào hơn; cách mạng Campuchia phát triển vượt bậc, thế của ta ở bắc Sài Gòn càng vững vàng hơn. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:29:50 am Sau những thất bại liên tiếp, nặng nề trên các chiến trường, đặc biệt là cuộc hành quân “Lam Sơn 719” (Đường 9 - Nam Lào), các hoạt động bình định, quân sự của Mĩ - ngụy có dấu hiệu chững lại. Với chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, ta đã khơi thông tuyến đường vận tải chiến lược vào tận các chiến trường Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Nắm bắt thời cơ, Đảng ta chủ trương: “Giành thắng lợi trong năm 1972 bằng một cuộc Tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam với ba hướng tiến công chủ yếu: Trị Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Chấp hành Nghị quyết Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Bình Dương, nhằm phá vỡ tuyến phòng thủ phía bắc Sài Gòn của địch và giải phóng những khu vực trọng yếu trên địa bàn bốn tỉnh, phối hợp, hỗ trợ cho phong trào chống phá bình định ở nông thôn đồng bằng, tạo thế đứng chân vững chắc, đồng thời nâng cao trình độ tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng của bộ đội. Trước khi mở chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu đã bổ sung cho chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ hai trung đoàn bộ binh 24 và 271, hai tiểu đoàn pháo 85mm, một tiểu đoàn pháo 122mm, hai tiểu đoàn cao xạ 37mm, một tiểu đoàn xe tăng, một đại đội tên lửa chống tăng B72. Bộ Chỉ huy Miền giao cho Đoàn Pháo binh Biên Hòa tổ chức và giúp cán bộ xe tăng tiếp nhận các loại trang bị từ miền Bắc vào. Tôi đang giữ cương vị Phó Chính ủy Lữ đoàn 429 Đặc công được Miền điều về làm Phó Chính ủy Đoàn Pháo binh Biên Hòa cùng tham gia tổ chức tiếp nhận xe tăng, pháo binh và các trang bị chiến đấu khác được Bộ tăng cường cho B2. Sự xuất hiện của tăng - thiết giáp trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào cho thấy đã đến lúc đưa xe tăng - thiết giáp vào tác chiến hiệp đồng binh chủng tại chiến trường Đông Nam Bộ. Đón trước nhiệm vụ mới, Bộ Chỉ huy Miền đã chủ trương tập hợp số cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp đang công tác ở các binh chủng khác khoảng 80 người về căn cứ để triển khai nhiệm vụ chuẩn bị cho mặt trận B2. Tháng 11 năm 1970, Bộ Chỉ huy Miền triệu tập các đồng chí Phạm Hà Hải và Vũ Đức Hùng đang công tác ở Đoàn Đặc công 429 về Bộ Chỉ huy giao nhiệm vụ: “Chuẩn bị cơ sở vật chất để đón nhận lực lượng tăng - thiết giáp từ miền Bắc chi viện cho chiến trường B2”. Cùng một lúc, hai đồng chí phải triển khai mấy nhiệm vụ cụ thể: Tổ chức đón tiếp Tiểu đoàn tăng - thiết giáp, ổn định tổ chức biên chế, sẵn sàng chiến đấu và tổ chức lực lượng thu gom xe tăng - thiết giáp của địch”. Nhận nhiệm vụ xong, hai anh đạp xe từ Đàm Say Pông ngược lên Stung Treng. Sau bốn ngày các anh đã đến ngã ba đường 19 9 giáp lộ 7 Campuchia), từ Khu 5 vào. Tại đây, họ gặp đồng chí Lai - Tham mưu trưởng Đoàn pháo binh Biên Hòa cùng bàn bạc khu vực đóng quân, chọn vị trí làm hầm lán cho xe, chọn đường cơ động, vẽ sơ đồ, xây dựng quyết tâm chiến đấu và trở về Bộ Chỉ huy Miền báo cáo tình hình, xin bổ sung lực lượng, chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Tháng 11 năm 1971, Vũ Đức Hùng phụ trách một đoàn 10 người gồm cán bộ kĩ thuật, tham mưu, trinh sát và chiến sĩ phục vụ hành quân bộ theo đường 19 đến vị trí đón lực lượng tăng cường của binh chủng từ miền Bắc vào. Sau hai tháng khẩn trương làm công tác chuẩn bị, bộ phận tiếp nhận xe từ miền Bắc vào đã sẵn sàng. Ngày 3 tháng 3 năm 1971, Bộ Chỉ huy Miền cũng thành lập Sở Chỉ huy tiền phương Cơ giới do đồng chí Phạm Hà Hải chỉ huy. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, những cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp chiến đấu phân tán ở các binh chủng như đặc công, pháo binh, thông tin, các phân khu, các cơ quan phục vụ Bộ Chỉ huy Miền nhanh chóng trở về Sở Chỉ huy tiền phương Cơi giới nhận nhiệm vụ. Khung cơ quan Sở Chỉ huy tiền phương có các bộ phận: tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật. Đến cuối tháng 3 năm 1971, anh em cán bộ tăng - thiết giáp đã tìm về địa điểm đóng quân tại một cánh rừng trên đất Campuchia thuộc tỉnh Stung Treng. Gần 50 người ôm nhau mừng mừng, tủi tủi. Không mấy người trong số họ lành lặn, hầu hết bị mất đi một phần cơ thể, hoặc bệnh tật, sốt rét nhưng cố chống gậy trở về để ghi danh vào đội ngũ tiếp tục chiến đấu. Chỉ với số người ít ỏi, Sở Chỉ huy tiền phương đã phối hợp với lực lượng công binh khẩn trương triển khai vị trí đón xe, khảo sát địa hình, mở tiếp đoạn đường bí mật từ Stung Treng về vị trí tập kết cuối củng ở phía bắc huyện Lộc Ninh. Ngày 25 tháng 5 năm 1971, Bộ Chỉ huy Miền ra quyết định thành lập tiểu đoàn thu gom trang bị kĩ thuật của địch, trong đó có một đội thu gom xe tăng thiết giáp. Đội thu gom xe tăng - thiết giáp địch lấy phiên hiệu C33 để kỉ niệm ngày thành lập Sở Chỉ huy tiền phương Cơ giới, tháng 3 năm 1971. Biên chế của đại đội có 8 đồng chí do Thượng ủy Vũ Đức Hùng làm Đội trưởng; Trung ủy Đỗ Ngọc Tịch - Chính trị viên; Thiếu úy Nguyễn Ngọc Thiết - Đội phó Hậu cần; Thiếu úy Nguyễn Khắc Giàu - Đội phó Kĩ thuật và các đồng chí Trương Luông (kĩ thuật viên); Nguyễn Tấn Đức (lái xe ô tô); Đặng Quang Thắng (trinh sát); Nguyễn Ngọc Dung (công vụ); Nguyễn Ngọc Mậu (y tá). Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:30:27 am Sau ngày thành lập, C33 hành quân về vị trí đóng quân tại Phum Xa Mát, cách Sênun 30km về phía tây. Ngày ra quân đầu tiên, C33 đã thu được một chiếc M113 tại Sênun.
Ngày 28 tháng 5, C33 thu được một xe Jeep, một xe M113, một xe Zeo. Bộ đội ta còn phát hiện một trận địa pháo có 3 khẩu 105mm, anh em dùng xe M113 kéo ra mặt đường, bàn giao cho Đoàn pháo binh Biên Hòa đưa về vị trí cất giấu. Chỉ có 9 người với khẩu súng bộ binh, trong tay không có dụng cụ tháo gỡ nhưng với quyết tâm “thu xe địch đánh địch”, anh em đã lặn lội ngày đêm, thay nhau tháo lấy các khí tại trang bị trên xe tăng địch. Khi anh em chui vào xe, có chiếc xác địch thối rữa, bốc mùi, trên trời máy bay lại quần đảo, ném bom, bắn phá. Để tháo được hộp số nặng mấy trăm cân, anh em phải tự khắc phục bằng cách lấy cây rừng làm cần cẩu, ròng rọc tận thu ở nhà máy cao su Sênun. Hai chiếc xe M113 đầu tiên thu được là tài sản vô cùng quý báu của Quân giải phóng. Xe được bộ đội đào hầm để cất giấu, chăm sóc bảo quản. Có xe, lại được bổ sung lên tới 64 đồng chí, C33 biên chế thành ba trung đội huấn luyện, hai trung đội lái xe M113 và M41, một trung đội pháo thủ. Số cán bộ cũ được phân công làm giáo viên, trợ giáo, đơn vị bước vào huấn luyện sôi nổi. Trên cơ sở phương tiện và lực lượng hiện có, ngày 19 tháng 7 năm 1971, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Phòng Cơ giới (M26), tách ra khỏi Pháo binh (Đoàn 75), trực thuộc Cục Hậu cần, có nhiệm vụ bảo đảm hậu cần kĩ thuật cho lực lượng Cơ giới Miền ở B2. Cùng thời điểm trên, số cán bộ, chiến sĩ biệt phái đi các đơn vị đã trở về căn cứ, việc thu gom xe tăng, xe thiết giáp địch cũng đạt kết quả tốt. Trong khi đó chiến trường miền Đông đòi hỏi khả năng chiến đấu hiệp đồng binh chủng ngày càng trở nên bức xúc. Tình thế chiến trường miền Nam đã có nhiều đổi thay, có lợi cho ta. Tôi nóng lòng muốn được trở về với anh em tăng - thiết giáp để tiếp tục chiến đấu. Nhưng tháng 6 năm 1971, đang ở Đoàn đặc công 429, tôi được Bộ Chỉ huy Miền điều động về nhận công tác tại Đoàn pháo binh Biên Hòa. Khi giao nhiệm vụ cho tôi, các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Miền giải thích: Chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, một số đơn vị hỏa lực của B2 phải được tăng cường đội ngũ cán bộ có năng lực, có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu. Trên dải đất miền Đông rộng lớn này tôi đã phục vụ và chiến đấu trong sắc áo bộ đội tăng - thiết giáp, đặc công và bây giờ là pháo binh. Quân đội yêu cầu, chiến trường đòi hỏi, tôi chỉ biết chấp hành và thực hiện cho tốt. “Đoàn pháo binh Biên Hòa” là tên do Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh Miền tặng khi Đoàn còn mang phiên hiệu Đoàn pháo binh 69. Đoàn pháo binh 75 lúc ấy tương đương cấp sư đoàn. Đồng chí Bùi Cát Vũ được cấp trên điều về làm Tư lệnh từ năm 1967. Tôi làm Chỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Văn Kiên - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng. Lực lượng của Đoàn lúc bấy giờ khá hùng hậu: hai trung đoàn (28, 96) với 6 tiểu đoàn pháo mang vác; một trung đoàn pháo cao xạ 37mm và 12,7mm, một tiểu đoàn pháo xe kéo, hai đại đội tên lửa chống tăng (B72). Tại Suối Ngô, Đại hội đại biểu Đảng bộ Đoàn pháo binh Biên Hòa lần thứ hai đã tiến hành trong hai ngày, Đại hội thảo luận, nhất trí đề ra 16 chữ vàng: “Xung kích, đánh giỏi, bắn trúng, toàn năng, khoa học, sáng tạo, tự lực, tự cường”. Đó là phương hướng chiến đấu của pháo binh chủ lực Miền trong suốt cả quá trình kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, về sau trở thành truyền thống tốt đẹp của pháo binh ba thứ quân toàn Miền. Nghị quyết của Đại hội nêu rõ: “Pháo mang vác là cơ bản, pháo xe kéo là quan trọng, sử dụng tốt thì pháo xe kéo sẽ là hỏa lực chủ yếu”. Và đề ra khẩu hiệu hành động: “Khí thế như Mậu Thân, truyền thống như Điện Biên, Biên Hòa, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, hiệp đồng đánh giỏi, thắng to”. Tại Đại hội, tôi được bầu làm Bí thư Đảng ủy Đoàn. Sau Đại hội, Đoàn pháo binh Biên Hòa như được tiếp thêm sinh khí mới, khẩn trương chuẩn bị cho những trận đánh lớn. Trong lúc đơn vị củng cố và tiếp tục huấn luyện, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ Đại đội 17 chia ra 5 tổ ngày đêm tiến hành đo đạc, lập mạng pháo binh. Vừa đánh địch mở đường vừa làm nhiệm vụ, tỏa ra các hướng chiến dịch, cắt khoảng 250km dường rừng, chuẩn bị 76 trận địa bắn, đo đạc 150 tọa độ mục tiêu, lập 6 đài cơ bản. Cơ quản hậu cần - kĩ thuật của đoàn bảo đảm khối lượng lớn lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc chữa bệnh và nhiên liệu dự trữ. Tất cả xe pháo được sửa chữa, ổn định về kĩ thuật. Đoàn còn phối hợp với các địa phương vùng căn cứ điều động lực lượng dân công, sửa chữa và mở thêm đường cho xe, pháo cơ động. Tháng 3 năm 1972, Đoàn pháo binh Biên Hòa tiếp nhận Tiểu đoàn 9 lựu pháo 122mm và Đại đội cối 160mm từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Đông với quân số, vũ khí đầy đủ, có thể chiến đấu được ngay. Mọi công tác đã chuẩn bị xong, các lực lượng đã vào vị trí tập kết an toàn, sẵn sàng tham gia chiến dịch mang tên vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:30:57 am Nhiệm vụ của Chiến dịch Nguyễn Huệ là tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch trên hướng bắc Sài Gòn, mở rộng vùng giải phóng ở các tỉnh Bình Long, Phước Long, Tây Ninh. Theo kế hoạch, các đơn vị tham gia chiến dịch chia làm hai hướng tiến công. Hướng chủ yếu là đường 13 đoạn Lộc Ninh - Bến Cát. Lộc Ninh là trận mở đầu then chốt, thị xã An Lộc là quyết chiến điểm. Lực lượng ta có Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 bộ binh và các đơn vị pháo binh, đặc công, thiết giáp. Hướng thứ yếu do Đoàn 30B đảm nhiệm nghi binh địch đường 13 và khu vực Tây Ninh.
Tại Sở Chỉ huy của Đoàn pháo binh Biên Hòa ở tây nam Lộc Ninh, chúng tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị. Trung đoàn 28 tung cả 3 tiểu đoàn phối thuộc cho Sư đoàn 9, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7. Cả 3 tiểu đoàn pháo 105mm, 122mm và 85mm làm nhiệm vụ cụm pháo chiến dịch cho Sư đoàn 5 tiến công Lộc Ninh và chi viện Sư đoàn 7 ngăn chặn địch rút từ Lộc Ninh về An Lộc. Bộ Tư lệnh Đoàn 75 chúng tôi trực tiếp nắm và chỉ huy cụm pháo chiến dịch. Đại đội 1 tên lửa chống tăng phối thuộc Sư đoàn 7 đánh xe tăng địch ở Chơn Thành. Trung đoàn 96 chuyên trách đánh địch trên sông và dùng một lực lượng tăng cường cho Đoàn 30B trên hướng thứ yếu. Giờ phút chúng tôi chờ đợi đã đến! Đêm 31 tháng 3, rạng ngày 1 tháng 4 năm 1972, những quả đạn pháo của Trung đoàn 96 rót trúng các căn cứ Xa Mát, Thiện Ngôn, Bàu Dưng của địch. Hai trung đoàn bộ binh của Đoàn 30B lập tức nổ súng tiến công và Chiến đoàn 49 ngụy, đập tan hệ thống phòng thủ của địch trên đường 22, phối hợp với quân và dân tỉnh Tây Ninh tiến công và nổi dậy giải phóng huyện Tân Biên. Trong lúc địch đang bối rối lo đối phó với ta trên đường 22 thì Sư đoàn 5 và Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 được tăng cường 2 đại đội xe tăng bí mật tiếp cận Lộc Ninh. Pháo xe kéo và tiểu đoàn 22 pháo binh của Sư đoàn 5 tiến vào trận địa. Tiểu đoàn 6 pháo cối 120mm sử dụng 120 chiếc xe đạp thồ để chở đạn pháo. Ngày 4 tháng 4, đoàn xe đạp thồ gặp địch, các chiến sĩ nhanh chóng chuyển đạn pháo lên vai, mỗi người vác 4 viên, nặng gần 40kg, tiếp tục hành quân. Lần đầu tiên cơ động trên một địa hình phức tạp qua rừng rậm, đầm lầy, lại bị kẻ địch lùng sục gắt gao, nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn pháo xe kéo đã thể hiện quyết tâm, ý chí rất cao, nhất là khi gặp những tình huống không thuận lợi. Tiểu đoàn 4 pháo 105mm gặp địch đã tìm đường để vòng tránh. Ba khẩu đội chối 160mm cũng gặp địch đã dừng lại để chiến đấu, sau đó đưa pháo vào chiếm lĩnh vị trí an toàn. Tiểu đoàn 9 lựu pháo 122mm cơ động sang phía tây đường 13, khi vượt sông Măng, do công tác tổ chức chỉ huy chưa tốt và bị sa lầy nên không đến kịp giờ nổ súng. Đại đội 2 Tiểu đoàn 34 pháo 85mm tảng sáng mới vào đến trận địa, địch phát hiện bắn ra nên thương vong nhiều, chỉ còn Đại đội 3 vào theo hướng khác chiến đấu được. 5 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4 năm 1972, trên hướng chủ yếu ta bắt đầu tiến công căn cứ Lộc Ninh. Địch tập trung ở đây một lực lượng khá lớn gồm khoảng 5.000 tên. Pháo ta bắn cấp tập 1.200 viên đạn vào các loại sở chỉ huy, trận địa pháo và các cụm quân địch. Do chuẩn bị phần tử bắn chính xác nên ngay từ loạt đạn đầu đã trúng các mục tiêu. Khu thông tin, kho tàng, lô cốt của địch bị bắn sập, phá hỏng. Khi pháo binh ta chuyển làn, Sư đoàn 5 bộ binh và thiết giáp xông lên đột phá. Gần 4 giờ sau, Tiểu đoàn 9 lựu pháo chiếm lĩnh được trận địa, bắt đầu bắn các mục tiêu được phân công. Sau hai ngày chiến đấu giằng co, quyết liệt vẫn chưa giải quyết được chiến trường, ta tổ chức đợt tiến công mới. Pháo của Đoàn pháo binh Biên Hòa lại đồng loạt bắn cấp tập, mạnh mẽ và chuẩn xác vào các mục tiêu, tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng ta phát triển, buộc địch phải đưa lực lượng ứng cứu. Chớp thời cơ, Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 đã nhanh chóng vận động phục kích diệt gần hết lực lượng này, loại khỏi vòng chiến đấu 1.400 tên, phá hủy 56 xe, thu 12 xe tăng M41. Đến 14 giờ ngày 7 tháng 4 năm 1972, lực lượng còn lại của địch ở chi khu Lộc Ninh kéo cờ trắng ra hàng. Đây là trận thắng lợi diệt chiến đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc bằng lực lượng binh chủng hợp thành của bộ đội chủ lực Miền. Ta đã tiêu diệt, bắt sống, làm tan rã toàn bộ 5.000 tên địch, bắt sống 2.000 tên, trong đó có tên đại tá Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 9 Nguyễn Công Vĩnh; thu gần 2.000 vũ khí các loại, trong đó có 16 khẩu pháo 105mm, phá hủy hơn 200 xe quân sự. Huyện Lộc Ninh với hơn 30 ngàn dân được giải phóng, ít lâu sau trở thành trung tâm chính trị của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Phát huy thắng lợi trận mở màn, ngày 8 tháng 4 năm 1972 các đơn vị pháo binh cùng bộ binh, xe tăng, cơ động từ Lộc Ninh xuống phía nam 20km mở trận quyết chiến tại thị xã An Lộc. Là một căn cứ rộng và kiên cố, An Lộc được chính quyền ngụy Sài Gòn giao cho Sư đoàn 4 ngụy chiếm giữ. Ngay khi mất Lộc Ninh, Mĩ - ngụy chọn An Lộc làm “tuyến đầu chặn sức tiến công của Cộng sản, tăng cường lực lượng mở cuộc hành quân chiến thắng 72C”. Chúng tập trung tối đa lực lượng nhằm giải tỏa áp lực của ta quanh thị xã, sử dụng không quân, pháo binh đánh phá các ngả đường dẫn đến thị xã. Quân ta hình thành vòng cung dài hơn 20km bao vây An Lộc. Đoàn pháo binh Biên Hòa được tung phần lớn lực lượng vào trận quyết chiến điểm. Số pháo xe kéo được sử dụng tăng lên 17 khẩu, bố trí tại các trân địa Technique, Phủ Lố, Cần Lê. Trận địa cối 160mm đặt ở bắc sân bay An Lộc. Phía đông và tây An Lộc là trận địa pháo cao xạ 37mm. Trong hai ngày 11 và 12 tháng 4 năm 1972, pháo binh ta đã bắn phá hoại nhiều lần, chuẩn bị cho trận đánh hiệp đồng binh chủng ngày 13 tháng 4. Kế hoạch hỏa lực được bộ Chỉ huy chiến dịch thông qua và phê chuẩn. Tổng số đạn bắn của pháo xe kéo trong trận này là 2.850 viên với ba lần dồn dập trong 90 phút. Đây là kế hoạch hỏa lực quy mô lớn bắn theo bải bản chính quy đến thời điểm này chưa từng có trên chiến trường Nam Bộ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 11 Tháng Hai, 2014, 07:31:30 am Đúng 5 giờ 15 phút ngày 13 tháng 4 năm 1972, trên bầu rời An Lộc xuất hiện ba phát pháo hiệu đỏ. Lập tức máy vô tuyến phát tín hiệu “111”, máy hữu tuyến điện gọi “Bão”. Tất cả các trận địa pháo của ta nhất loạt gầm lên như sấm. Trên khu vực mục tiêu khói lửa trùm kín cùng tiếng đạn nổ kéo dài không ngớt suốt 90 phút theo đúng kế hoạch.
Từng đoàn xe tăng từ những cánh rừng bất ngờ xuất hiện dũng mãnh trải băng xích, tiến về thị xã An Lộc. Các khẩu đội pháo 85mm nhanh chóng di chuyển lên phía trước chiếm lĩnh trận địa bắn trực tiếp. Những đường đạn căng, rực lửa, liên tiếp phóng vào các mục tiêu bên trong thị xã. Bọn địch trong căn cứ cuống cuồng gọi pháo, máy bay đến để cứu ngụy. Pháo cao xạ 37mm của ta đồng loạt tạo thành lưới lửa dày đặc, hất ngược những tốp máy bay của địch lên. Bị ta vô hiệu hóa, máy bay và xe tăng địch không thể cứu được đồng bọn trong căn cứ. Các lực lượng bộ binh, xe tăng ta dũng mãnh tiến vào thị xã. Đồng chí Tham mưu phó Sư đoàn 9 bộ binh có mặt trên đài quan sát của Tiểu đoàn 4 không giấu được niềm vui: “Pháo binh bắn trúng lắm! Cả cuộc đời chiến đấu đến hôm nay tôi mới thấy một trận đánh đẹp như thế này”. Được sự chi viện đắc lực của pháo binh, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 9 của Sư đoàn 9 bộ binh nhanh chóng chiếm được sân bay An Lộc. Lần đầu tiên lực lượng cao xạ ta được trang bi tên lửa đát đối không A72 và đã sử dụng tốt. Các tiểu đoàn pháo binh cũng đã chiếm lĩnh được một số căn cứ vòng ngoài chi viện đắc lực cho bộ binh. Tình huống mới, bất ngờ xuất hiện khi xe tăng ta bị hỏng nhiều, phải lùi ra sau sửa chữa, bộ binh dừng tại chỗ chiến đấu giằng co với địch từng tấc đất, từng đoạn chiến hào. Đêm 13 và cả ngày 14 tháng 4 năm 1972, địch dựa vào công sự vững chắc, lại được máy bay chiến lược B.52, máy bay chiến thuật và pháo đánh phá ác liệt vào các vị trí bàn đạp của ta. Các chiến sĩ pháo binh ta không hề nao núng. Có khẩu bị bom giội lật nghiêng pháo, anh em ta bình tĩnh kích pháo trở lại và tiếp tục bắn. Khi có lệnh, mặc dù trời mưa, đường trơn và đêm tối, anh em đã dùng sức người đẩy những khẩu pháo 85mm, 105mm, 122mm vượt chặng đường 5km vào ép sát vành đai vây hãm. Ngày 14 tháng 4, địch đổ Lữ đoàn dù số 1 và 4 khẩu pháo 105mm xuống Núi Gió, cách thị xã 3km về phía đông nam để yểm trợ cho quân ngụy trong căn cứ. Pháo binh ta bắn mạnh không cho địch củng cố công sự. Ngày 15 tháng 4 năm 1972, ta mở đợt tiến công thứ hai nhưng địch dùng hỏa lực không quân và pháo binh ngăn chặn, bộ binh không phát triển được. Vì là lần đầu tiên đánh hiệp đồng binh chủng, ta bộc lộ một số nhược điểm: có lúc xe tăng thọc sâu nhanh phải đợi bộ binh, có lúc bộ binh lại không bám được xe tăng, cán bộ tỏ ra lúng túng. Cá biệt, có lúc pháo binh không phát huy được hỏa lực chi viện cho bộ binh do khâu truyền lệnh thiếu chính xác, kịp thời. Từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 19 tháng 4 năm 1972, Đoàn pháo binh Biên Hòa bắn vào quân địch ở Sóc Gòn, Phú Hòa, Núi Gió, điểm cao 169. Đặc biệt, đêm 19 tháng 4, cả bốn loại pháo 105mm, 155mm, 85mm và 122mm bắn tập trung, cấp tập 300 viên đạn vào Núi Gió tạo điều kiện cho bộ binh xung phong. Đến 6 giờ 30 phút ngày 20 tháng 4, trận đánh kết thúc thắng lợi, ta tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn 6, Ban Chỉ huy Lữ đoàn 1 dù và trận địa pháo 4 khẩu của địch trên điểm cao Núi Gió. Từ cuối tháng 4 năm 1972, ta tiếp tục duy trì áp lực xung quanh thị xã An Lộc, thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh chiến dịch: tiêu diệt quân địch bên ngoài để phá chỗ dựa của quân địch bên trong. Các trận địa pháo của chiến dịch và của các sư đoàn bộ binh liên tục bắn vào các mục tiêu trong thị xã khiến địch vô cùng căng thẳng. Đầu tháng 5 năm 1972, địch tăng cường thêm cho An Lộc 5 chiến đoàn, cùng với 8.400 lính ngụy từ các nơi được điều về nhằm cố giữ cho được An Lộc. Chúng co cụm trong công sự. Thấy thời cơ tiêu diệt địch thuận lợi, hỏa lực pháo binh ta tiếp tục tập kích bằng nhiều phương pháp: bắn khống chế, bắn ngăn chặn, bắn thời cơ, cắt đứt toàn bộ đường cơ động, tiếp tế trên bộ và trên không của địch. Ngày 11 tháng 5 năm 1972, ta mở đợt tiến công thứ ba vào An Lộc. Lực lượng tiến công gồm Sư đoàn 9 và Trung đoàn 2 của Sư đoàn 5 bộ binh, 25 xe tăng và toàn bộ pháo binh chiến dịch. Ta tiêu diệt một phần sinh lực địch, chiếm thêm một số mục tiêu, rồi sau đó để một phần lực lượng vây hãm giam chân 17 tiểu đoàn ngụy trong căn cứ. Lực lượng còn lại chuyển sang đánh vận động tiêu diệt địch trên khu vực từ nam An Lộc đến bắc Bến Cát. Trong các trận đánh này, pháo binh đã chi viện đắc lực cho Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 bộ binh đánh vận động tiêu diệt địch ở Thanh Bình, Tân Khai, Chơn Thành. Trên đường 13, các đơn vị pháo binh tinh nhuệ đã cùng Sư đoàn 7 chốt chặn dài ngày ở Tàu Ô, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Ở hướng này, địch tập trung hàng sư đoàn chủ lực của Quân đoàn 3, có hàng trăm xe tăng và xe bọc thép đi cùng, với sự chi viện hỏa lực tối đa của pháo binh và máy bay. Để cứu nguy, Mĩ - ngụy đã dồn tất cả mọi phi vụ B.52 cho thị xã An Lộc và đường 13. Nhưng bộ đội ta chiến đấu dũng cảm, giữ vững chốt Tàu Ô. Các pháo thủ, trắc thủ B72, ĐKZ, cối, pháo xe kéo ngày đêm sát cánh cùng bộ binh, dội bom đạn, chịu đựng mưa nắng, đói khát, kiên cường bám trụ để hoàn thành nhiệm vụ cắt đứt đường 13 từ Chơn Thành lên An Lộc. Từ ngày 16 tháng 5 năm 1972, ta chuyển sang vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch ở thị xã An Lộc và đánh địch lên giải tỏa đường 13. Bị tổn thất nặng nề, tinh thần quân lính sa sút, địch phải bỏ hàng loạt căn cứ ở Xa Mát, Thiện Ngôn, Cần Đăng. Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 30 ngàn tên địch, diệt và bức rút trên 500 đồn bốt, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Chiến trường miền Đông Nam Bộ đang ló rạng ánh bình minh. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:11:52 am 10. VỀ LẠI MÁI NHÀ XƯA Sau thất bại mang tính chiến lược trong cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra Đường 9 - Nam Lào năm 1971, đế quốc Mĩ và ngụy quyền Sài Gòn cố giữ bằng được cục diện chiến trường Đông Dương không sa vào cảnh ảm đảm. Ở miền Nam, chúng co lại phòng ngự, tăng cường hoạt động ở Lào, Campuchia, tiếp tục đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương cho các chiến trường. Mặt khác, được sự hà hơi tiếp sức của Mĩ, chính quyền Sài Gòn tăng cường bình định, củng cố và phát triển quân ngụy, tạo thuận lợi cho cuộc đàm phán ở Pari và cuộc vận động bầu cử tổng thống Mĩ cuối năm 1972. Về phía ta, thực hiện chủ trương tiếp tục tiến công giữ vững, phát triển thế và lực đã có, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công chiến lược 1972, quân và dân miền Nam tích cực phá tan bình định; duy trì và phát triển lực lượng chính trị, quân sự; phát triển mạnh chiến tranh du kích để tiêu hao và làm suy yếu quân địch. Phối hợp với chiến trường Việt Nam, quân và dân Lào, Campuchia đã đập tan các cuộc hành quân của địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh. Cục diện chiến trường Đông Dương đứng trước triển vọng mới, có lợi cho ta. Nắm bắt tình hình trên, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương động viên sức người, sức của, chuẩn bị lực lượng mọi mặt, quyết tâm giành thắng lợi to lớn trong năm 1972, nhằm tạo ra bước ngoặt quan trọng cho cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của nhân dân ta. Từ cuối 1971, thực hiện chủ trương của trên, Binh chủng Tăng - Thiết giáp tăng cường phát triển lực lượng chuẩn bị cho đánh lớn. Các tiểu đoàn tăng 171, 297, 198 thuộc Trung đoàn xe tăng 203 và các tiểu đoàn 397, 177 thuộc Trung đoàn tăng 202 gấp rút tiếp nhận bổ sung quân sự, trang bị kĩ thuật, khẩn trương kiện toàn biên chế, tổ chức huấn luyện, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng lên đường. Ngày 18 tháng 11 năm 1971, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập thêm Trung đoàn tăng 201 và chuyển Trung đoàn tăng 202 thành Trung đoàn bộ binh cơ giới 202. Được bổ sung thêm hai tiểu đoàn bộ đội địa phương: 244 của tỉnh Quảng Ninh và Tiểu đoàn 66 của tỉnh Nam Hà nên sức chiến đấu của Trung đoàn 202 mạnh hơn bao giờ hết. Từ cuối 1971 đến đầu 1972, lực lượng tăng - thiết giáp được tiếp tục củng cố, phát triển và bố trí lại lực lượng trên các chiến trường. Tiểu đoàn 512 và cơ quan Trung đoàn tăng 203 từ nam Quân khu 4 chuyển vào Trị Thiên; Tiểu đoàn tăng 397 (Trung đoàn 202 cũ) từ Nam Lào cùng với Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn tăng 201) mới thành lập, từ Xuân Mai hành quân vào bổ sung cho Trung đoàn tăng 203 chuẩn bị bước vào chiến dịch. Chiến tranh không cho phép chúng tôi nghĩ nhiều về bản thân mình. Chiến đấu liên miên bỗng một ngày thấy Tết đã cận kề. Áp Tết năm 1971 sang năm 1972, anh em Hậu cần báo cáo với tôi chưa chuẩn bị được gì cho bộ đội ăn Tết. Bên Hậu cần cử anh em tiếp phẩm đi khắp nơi mà vẫn không mua được heo. Bí quá anh em đến nhà ông Nguyễn Văn Sang và bà Nguyễn Thị Hường nhà ở sát biên giới Camuchia để nhờ giúp đỡ. Ngoài buôn bán nhỏ, ông bà còn làm nghề cạo gió nên bộ đội ta gọi là ông bà Tư “cạo gió”. Hôm ấy khi anh em tiếp phẩm đến nhà, ông Tư “cạo gió” hỏi Thiết: “May đã mua được heo chưa?”. Đồng chí Thiết trả lời: “Dạ, chưa mua được ba ạ”. Nghe vậy, mặt ông buồn thiu, lát sau ông nói với đồng chí Thiết: “Thôi tối rồi, mày vô chuồng bắt con heo của tao đi, nhỏ chút cũng được. Có còn hơn không”. Ông Hoa kiều đứng gần đó nghe thế liền cự lại: “Ông già nói chơi à! Tui không đồng ý bán đâu. Con heo đương lớn mà, bán nhỏ uống lắm. Phải nuôi đủ tạ hoặc ít ra cũng 80 kí trở lên mới bán được giá heo tạ. Bán nhỏ mất giá lắm, được ít tiền lắm”. Nghe cuộc đối thoại của hai người, anh em ta biết ngay là ông bà Tư “cạo gió” nuôi rẽ heo của ông Hoa kiều. Thấy vậy, đồng chí Vũ Đức Hùng và đồng chí Thiết lại gần hai ông năn nỉ: “Vì nước ngập đường chúng tôi đến muộn, nếu đến sớm, vào trong phum, sóc, chỗ nào cũng có. Nhưng giờ tối rồi, ông thông cảm bán cho chúng tôi con này rồi nuôi con khác vậy”. Ông Tư “cạo gió” bảo: “Được mà! Tao bảo mày vô bắt đi để kịp về cho sớm”. Ông Hoa kiều sừng sộ: “Tui thách đấy! Tui biểu nuôi được 80 kí bán với giá heo tạ thì tui mới bán. Ông muốn bán thì phải bù cho tôi đấy”. Chỉ chờ có vậy, ông Tư nói: “Được, được, sợ gì! Ông giàu mà keo, có mấy kí heo mà cũng làm eo, lần sau tui không thèm nuôi cho nữa”. Ông Tư quay lại bảo Vũ Đức Hùng: “Nhờ cậu chở tui đi đây một lát”. Sẵn xe đạp, Hùng chở ông Tư xuống chợ Sa Lông cách đó mấy trăm mét. Vừa đến chợ, Hùng nghe tiếng một bà đứng tuổi nói giọng khàn khàn đặc sệt Nam Bộ: “Ông đi đâu mà bắt cậu Hai chở vậy?”. Ông Tư xuống xe, bà hỏi liền: “Tụi nó đã bắt heo chưa?”. Ông Tư đáp: “Cái thằng cha chết tiệt đó nó không chịu bán, đòi mình phải chịu bù giá heo tạ nó mới chịu”. Bà già nói ngay: “Có vậy mà ông không tính được sao”. Ông lại nói: “Nó không chịu chứ bộ”. Nghe đến đây, mặt bà đỏ gay, giọng như ra ra lệnh: “Đi về bắt heo đi. Heo mình nuôi mình bán chứ sợ gì nó. Trời đét ơi, có vậy mà cũng quýnh lên. Bắt heo nhanh lên cho tụi nhỏ nó về. Tôi nghiệp chúng nó”. Hùng và ông leo lên xe, bà còn nói với theo: “Cơm cá tui nấu xong cả rồi, biểu tụi nó ăn đi rồi mới được về đơn vị đấy”. Nhờ mua được con heo 64 ký của ông bà Tư “cạo gió”, anh em Hậu cần chế biến được mấy món, làm cho mấy bữa Tết Nhâm Tí thêm rôm rả. Biết được câu chuyện về con heo, anh em rất cảm động về tấm lòng yêu quý bộ đội giải phóng của ông bà Tư “cạo gió”. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:12:46 am Tháng 2 năm 1972, Bộ quyết định thành lập gấp thêm hai tiểu đoàn tăng: Tiểu đoàn 177A bổ sung cho miền Đông Nam Bộ và Tiểu đoàn 177B trang bị hỗn hợp tăng - thiết giáp bổ sung cho chiến trường Khu 5.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của chiến tranh nhân dân, thế và lực của ta ngày càng tăng, Mĩ - ngụy có những sai lầm trong chiến lược, vấp phải thất bại liên tiếp. Lúc này, tuyến đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu đã vươn vào tận miền Đông Nam Bộ. Việc đưa các đơn vị tăng - thiết giáp từ hậu phương miền Bắc vào Đông Nam Bộ đã thuận lợi hơn. Từ thực tiễn chiến đấu cũng như yêu cầu về tác chiến binh chủng hợp thành trên chiến trường Đông Nam Bộ càng đặt ra bức thiết, ngày 12 tháng 5 năm 1972, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam Hoàng Văn Thái (Mười Khang) kí Quyết định số 39/M chuyển Phòng Cơ giới Miền (M26) thuộc Cục Tham mưu thành Đoàn Cơ giới trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền. Đoàn Cơ giới mang phiên hiệu Đoàn 26, tổ chức tương đương cấp sư đoàn và tăng - thiết giáp trên chiến trường B2 được tổ chức thành một trong những binh chủng của Quân giải phóng miền Nam. Xa anh em tăng - thiết giáp chưa được một năm mà tôi ngỡ đã lâu lắm. Đấy là khoảng thời gian dài đằng đẵng trong tôi. Là người quân nhân cách mạng, khi Đảng giao bất cứ nhiệm vụ gì tôi đều tận tâm, tận lực hoàn thành cho bằng được. Nhưng đối với tôi, tăng - thiết giáp vẫn là lĩnh vực thuận tay hơn, nơi có nhiều đồng đội đã từng gắn bó, vào sinh ra tử với nhau. Trong thời gian xa J16, khi có dịp gặp gỡ và làm việc với các đồng chí lãnh đạo Bộ Chỉ huy Miền, tôi đều đề đạt nguyện vọng xin được trở về chiến đấu với anh em. Không hiểu sao tôi đinh ninh rằng, người lính xe tăng trên chiến trường Đông Nam Bộ không thể chiến đấu bên ngoài tháp pháo mãi được. Chiến trường đang cần những chiếc xe tăng có hỏa lực mạnh và sức cơ động cao. Tôi tin là trước sau rồi con đường vận tải chiến lược cũng vươn dài đến các chiến trường xa. Lúc đó xe tăng - thiết giáp sẽ có đường vào chiến trường Đông Nam Bộ. Thấu hiểu nguyện vọng trở về chiến đấu với anh em tăng - thiết giáp, cùng với sự đòi hỏi của chiến trường, tháng 6 năm 1972, trong khi Chiến dịch Nguyễn Huệ đang diễn ra quyết liệt, tôi được Bộ Chỉ huy Miền điều động trở lại Đoàn Cơ giới M26. Không thể diễn ta hết nỗi vui mừng của tôi lúc ấy. Nhiều anh em ở Đoàn 26 cũng vui mừng khi tôi trở về. Có đồng chí nói với tôi: “Em tin là có ngày anh sẽ trở lại”. Được về lại mái nhà xưa ai mà không xúc động. Chúng tôi nắm tay nhau, ôm lấy nhau, cười đấy mà nước mắt trào ra. Đơn vị tăng - thiết giáp đầu tiên hành quân bằng xích vào miền Đông Nam Bộ là Tiểu đoàn 171. Từ Quảng Bình vào đến Tây Ninh dài gần 2.000km, trong đó có 900km đường quân sự làm gấp. Tiểu đoàn tăng 171 đã vượt các trọng điểm địch đánh phá như Bản Đông, Dốc Thơm, Cổng Trời, ngầm Bạc, Sê Ca Máng... Với điều kiện hành quân đường dài, số xe vận tải đi cùng có hạn nên nỗi xe tăng phải tự mang trên dưới 800kg vật tư, khí tài kĩ thuật, lương thực, thực phẩm, xăng dầu... Để khắc phục những khó khăn về kĩ thuật, đường sá, về hoạt động đánh phá của địch, Tiểu đoàn tăng 171 đã duy trì tốt việc ngụy trang trong hành quân, trú quân, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt và bí mật trong mọi tình huống; biết điều chỉnh thời cơ hành quân, phù hợp với quy luật hoạt động của không quân Mĩ. Mỗi đại đội được tăng cường 3 - 4 thợ sửa chữa cùng với Đại đội phó kĩ thuật ngồi ở xe cuối đội hình để kịp thời xử lí những hỏng hóc dọc đường. Sau gần hai tháng hành quân liên tục, ngày 2 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn tăng 171 đã đến đích an toàn. Chỉ sau 5 ngày củng cố, đơn vị đã bước vào chiến dịch Nguyễn Huệ đang diễn ra trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đưa được một lực lượng lớn xe tăng, thiết giáp từ miền Bắc vào tận Đông Nam Bộ, kịp thời tham gia chiến dịch là một bất ngờ lớn Mĩ - ngụy. Chúng không tài nào hiểu tại sao đã dùng không quân đánh phá quyết liệt, các thiết bị trinh sát điện tử hiện đại vào bậc nhất lúc bấy giờ để phát hiện; dưới đất bọn biệt kích, thám báo, đêm ngày sục sạo tuyến đường vận tải chiến lược mang tên Bác mà xe tăng ta vẫn vào được Đông Nam Bộ. Lực lượng tại chỗ của M26 cũng có sự phát triển. Đại đội 35 có nhiệm vụ tổ chức huấn luyện chiến sĩ mới và thu gom xe địch để bổ sung cho Đại đội 33 làm nhiệm vụ chiến đấu. Vừa mới thành lập, thiếu thốn trăm bề, ngay khi đang đứng chân trên đất Campuchia, Đại đội 35 đã huấn luyện khóa đầu tiên cho 80 chiến sĩ gồm 2 lớp lái xe M113 và M41, 1 lớp pháo thủ. Đầu tháng 3 năm 197, Đại độ 35 lại huấn luyện cho 40 chiến sĩ vừa mới được bổ sung từ miền Bắc vào. Tiếp đó các Tiểu đoàn tăng 20 và 21 được trang bị xe tăng T54, T59, xe bọc thép lội nước PTR-85, PTR-50 PK. Chưa lúc nào trên chiến trường Đông Nam Bộ lại có cuộc hội quân của xe tăng - thiết giáp lớp như thế. Như tôi đã nói, miên Đông Nam Bộ la chiến trương xa hậu phương gân 2.000 cây số, lại vô cùng gian khổ ác liệt, khi có lực lượng được chi viện tư miên Bắc vao, tâm lí của ngươi chỉ huy nôn nóng, muốn đánh ngay. Trước khi tôi trở lại Đoan 26, đơn vị đã bị tổn thất khá nặng. Tiêu biểu là trận Bình Long - trận then chốt trong Chiến dịch Nguyễn Huệ từ ngay 1 tháng 4 năm 1972 đến ngày 19 tháng 1 năm 1973. Hai tiểu đoàn tăng 20 và 21 phối thuộc với 4 trung đoàn bộ binh đột kích vào thị xã Bình Long. Qua 4 đợt tấn công, 2 tiểu đoàn đã mất 36/45 xe tăng, xe thiết giáp. Đau lòng nhất là một nửa quân số hi sinh, bị thương, mất tích và cả bị địch bắt. Đoàn 26 lúc tôi trở lại giống như một người vừa qua trận ốm nặng. Tôi được cấp trên giao làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Các đồng chí Phạm Hà Hải, Hồ Hồng Thái làm Đoàn phó. Đồng chí chí Lê Trung Sum làm Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Vũ Ngô Sửu làm Tham mưu trưởng. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:13:58 am Lực lượng của Đoàn 26 lúc này quá mỏng. Hai tiểu đoàn tăng 20 và 21 chỉ còn 20 chiếc, đủ biên chế cho 2 đại đội chiến đấu. Chỉ có Đại đội 33 là khá hơn vì có tới 18 chiếc xe tăng M41, M48 thu được của địch. Sau nhiều ngày chiến đấu, xe tăng, xe thiết giáp của ta đều xuống cấp, thiếu phụ tùng thay thế. Vì thế, sức cơ động trong những trận đánh tới sẽ gặp không ít khó khăn.
Đảng ủy Đoàn họp trong không khí khá nặng nề. Mở đầu cuộc họp, tôi nói, đại ý: Trận Bình Long đã được rút kinh nghiệm, bây giờ không phải là lúc căng thẳng mà phải nhìn về phía trước. Chiến trường đang đòi hỏi xe tăng từng ngày, phải khẩn trương hành động. Sau một hồi bàn bạc, thảo luận, Đảng ủy quyết định phải khẩn trương làm tốt ba việc lớn. Trước hết phải củng cố lực lượng, tiếp đó là tập trung huấn luyện cho cán bộ từ trung đội trở lên cả về xe ta và xe địch. Cuối cùng là làm tốt công tác chuẩn bị, nhất là về hậu cần, kĩ thuật để đón các đơn vị xe t ăng từ miền Bắc vào. Thấu hiểu được những khó khăn của chiến trường miền Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp đã đưa vào 2 tiểu đoàn 25A và 25B thuộc Trung đoàn 201. Cầm bức điện từ tay đồng chí cơ yếu, thấy con số 40 xe T54B và T59, 10 xe K63 tôi mừng đến rơi nước mắt. Đi cùng 2 tiểu đoàn còn có 1 đại đội sửa chữa. Lần đầu tiên chúng tôi được trên chi viện cho cả trung đoàn xe tăng - thiết giáp. Tháng 8 năm 1972, tôi lại nhận được tin Đại đội 21 với trang bị 20 xe bọc thép bánh lốp PTR-60PB, thuộc Tiểu đoàn 17 Phòng Hậu cần Binh chủng cũng đang vào miền Đông Nam Bộ. Đến đầu tháng 10 năm 1972, Đại đội 21 bọc thép bánh lốp đã vào đến Bù Đốp. Mấy ngày sau (15 tháng 10), hai tiểu đoàn 25A và 25B cũng vào đến căn cứ của Đoàn. Một tin vui nữa lại đến, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp còn chi viện cho chúng tôi nhiều vật tư, khí tài như mắt xích, trục cân bằng, ổ bi, bánh chịu nặng, máy nổ, bình điện... Công tác khôi phục, sửa chữa xe tăng thiết giáp đã có nhiều thuận lợi. Chỉ trong thời gian ngắn, ngành kĩ thuật của Đoàn đã đưa được nhiều đầu xe vào chiến đấu. Nhiệm vụ ở chiến trường luôn đòi hỏi sự cố gắng rất lớn của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Có lẽ, không nơi đâu hai tiếng “Tổ quốc” lại trở nên thiêng liêng với mỗi người lính như ở chiến trường. Tình yêu Tổ quốc, yêu quê hương với mỗi chúng tôi thật giản dị. Đó là ra trận bất cứ lúc nào, không sợ chết, không nề hà gian khổ. Hôm nay đang vui cười với nhau, nhường nhau từng thìa cáo, ngày mai có người đã không trở về. Là người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, tôi rất đau lòng khi danh sách anh em hi sinh mỗi ngày cứ dày lên. Trong thời gian củng cố và bổ sung lực lượng, Đoàn 26 vẫn nhận nhiệm vụ chiến đấu do Bộ Tư lệnh Miền giao. Trong 6 tháng cuối năm 1972, Đoàn đã ra quân đánh 6 trận vào Phước Bình (2 lần), Công Bông Ta Béc (3 lần); tập kích chi khu Krang Xoai. Các trận đánh này đều do Đại đội 23 dùng xe thu được của địch và Tiểu đoàn 21 đảm nhiệm. Những trận đánh này có ý nghĩa góp phần cùng quân và dân Campuchia mở rộng vùng giải phóng, thực hiện 3 nước Đông Dương là một chiến trường. Với chiến trường miền Nam, ta buộc Mĩ và chính quyền Sài Gòn phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị 4 bên ở Pari. Tháng Cháp năm 1972, quân và dân Hà Nội đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B.52 của không quân Mĩ, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”. Thất bại liên tiếp trên các chiến trường buộc Mĩ phải kí kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam - ngày 27 tháng 1 năm 1973. Nhận được tin em trai Mai Đăng Hà bị địch đày ra giam giữ ở Phú Quốc đã về đất liền chờ ngày chúng trao trả theo Hiệp định đình chiến, tôi quyết định đi thăm. Mười chiếc xe Honđa 90 phân khối của Đoàn, tôi đi từ Bù Đốp, mất 2-3 ngày mới đến sân bay Đồng Banh - Thiện Ngôn. Lần trước gặp em trong nhà tù thực dân Pháp, lần này là tù chính trị của chế độ Mĩ - ngụy. Anh em gặp lại nhau sau 19 năm, mừng mừng, tủi tủi. Người Hà gầy chỉ còn da bọc xương, xanh xao, ốm yếu do chế độ nhà tù hà khắc. Gặp được em tôi biết được một phần tin tức quê nhà. Hào Hải quê tôi bị giặc chà đi xát lại, chỉ còn là vùng đất trắng. Nhà chỉ còn anh Ba Dân cùng bà con làng xóm bám trụ giữ quê hương. Theo chính sách của Nhà nước đối với những người bị bắt tù chính trị mới được trao trả về sẽ được ra Bắc điều dưỡng trở về, tôi ghi địa chỉ vợ và các con ở Hà Nội để chú Hà tìm đến. Tuy danh nghĩa là ngừng bắn nhưng trên thực tế quân ngụy vẫn ngoan cố giành dân chiếm đất. Chúng tăng cường bắt lính, đôn quân, đẩy mạnh hoạt động hành quân đánh phá vùng giải phóng. Để cho quân ngụy yên tâm, Mĩ để lại miền Nam 25 ngàn tên cố vấn. Được Mĩ đổ thêm phương tiện chiến tranh, đô la, quân ngụy càng tin tưởng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” do quan thầy phía bên kia đại dương vạch ra. Nguyễn Văn Thiệu hô hào “bình định trong vòng ba năm: 1973 - 1975”. Chúng tập trung hơn 60% quân chủ lực có máy bay, pháo binh yểm trợ đánh sâu vào các vùng giải phóng của ta, thực hiện âm mưu “tràn ngập lãnh thổ”. Đứng trước thời cơ mới, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 (khóa III), đã chỉ rõ: “Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới”(1), nhằm đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, chuẩn bị tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Giữa chiến trường, Nghị quyết của Đảng là mệnh lệnh thiêng liêng. Ngay sau đó, Đảng ủy Đoàn 26 đã quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương tới mọi cán bộ, chiến sĩ. Sau đợt học tập chính trị, Đoàn đề ra chương trình hành động cụ thể. Công tác huấn luyện được triển khai rầm rộ trên nhiều nội dung sát với yêu cầu của chiến trường. Đại đội 35 lúc này nằm sâu trong đất Campuchia, giống như một trung tâm huấn luyện lớn. Nội dung huấn luyện đi sâu vào góp cán bộ các cấp nắm chắc kĩ thuật về cả xe ta và xe địch; về tác chiến hợp đồng binh chủng cấp trung đoàn, sư đoàn. Chú thích (1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.34, tr.233. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:14:58 am Chiến trường Đông Nam Bộ luôn được hậu phương chăm lo, ưu tiên cao nhất. Ngày 19 tháng 3 năm 1973, Trung đoàn 201B do Thiếu tá Đỗ Văn Thất làm Chính ủy, Đại úy Trần Đức Dực làm Trung đoàn phó chỉ huy hành quân bằng xích vào tới căn cứ Bù Đốp thuộc tỉnh Bình Phước. Biên chế của Trung đoàn có 2 tiểu đoàn xe tăng, 1 đại đội xe bọc thép bánh lốp, 1 đại đội thông tin.
Có được thêm quân trên bàn cờ chiến dịch, chúng tôi chụm đầu vào tính toán sắp xếp lực lượng. Chuyển Tiểu đoàn 1 thành Tiểu đoàn 22 có 3 đại đội. Còn Tiểu đoàn 3 thì chia ra: 1 đại đội bổ sung cho Tiểu đoàn 20, 1 đại đội bổ sung cho Tiểu đoàn 21; còn 1 đại đội nhập vào Tiểu đoàn 24 để cùng Đại đội 35 làm nhiệm vụ huấn luyện. Đoàn còn thành lập thêm 2 tiểu đoàn chiến đấu là Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 23. Năm 1973 - 1974, Đoàn 26 Thiết giáp vừa củng cố lực lượng, vừa tham gia chi viện cho các đơn vị chủ lực và địa phương, chiến đấu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Tham gia đánh địch lấn chiếm trên đường 14, tây nam Bến Cát. Cùng các đơn vị bạn mở Chiến dịch Quảng Đức. Vì tầm quan trọng của chiến dịch, Đoàn đã xuất 45 lượt xe tăng - thiết giáp, đánh 8 trận, giành thắng lợi lớn. Ta thu được 4 xe M113 bổ sung cho đơn vị. Chiến dịch nam Tây Ninh và bắc Hậu Nghĩa để giữ vững vùng giải phóng và mở rộng hành lang vận chuyển chiến lược xuống tới Đồng bằng sông Cửu Long đều giành thắng lợi. Đại đội 33 đã cùng với các đơn vị bộ binh đánh chiếm Long Khốt. Từ năm 1966 đến năm 1973, bộ đội tăng - thiết giáp miền Đông Nam Bộ đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đánh chiếm, thu được 42 xe tăng, xe thiết giáp của Mĩ - ngụy. Những chiếc xe tăng, xe thiết giáp mang nhãn hiệu USA được bộ đội ta sử dụng thành thạo, tham gia nhiều chiến dịch, đánh nhiều trận, dội sấm sét lên đầu kẻ thù. Đầu năm 1974, tôi nhận nhiệm vụ ra Bắc an dưỡng và học tập tại Học viện Quân sự (ở Bưởi) nay là Học viện Quốc phòng. Lớp học gồm những cán bộ cấp sư đoàn trở lên vừa từ chiến trường miền Nam ra. Tôi ở tổ học tập của anh Nguyễn Thới Bưng. Những vấn đề thực tiễn trong chiến đấu nay được lí luận và học thuật quân sự làm sáng tỏ thêm. Các bài tập tác chiến chiến dịch cấp sư đoàn, quân đoàn; tiến công trong thành phố… thêm hào hứng cho học viên chúng tôi. Cấp trên cũng cho chúng tôi biết: Đây là lớp học nhằm chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976. Cuối năm 1974, tôi nhận được tin Đoàn 26 Thiết giáp đang khẩn trương chuẩn bị tham gia một chiến dịch lớn. Tôi linh tính, có thể đấy là Phước Long. Tin tức quân và dân miền Nam tiếp tục tiến công, nổi dậy, mở rộng vùng giải phóng liên tiếp bay ra miền Bắc làm chúng tôi thêm phấn chấn. Một hôm, tôi mở Đài Tiếng nói Việt Nam, buổi phát thanh thời sự đưa tin ta đã giải phóng thị xã Phước Long. Mừng quá, mấy anh em học viên nắm chặt tay nhau, nói cười, bàn luận sôi nổi. Phước Long không xa lạ gì với cán bộ, chiến sĩ Đoàn 26 Thiết giáp chúng tôi. Những năm đầu dưới màu áo J16 Đặc Cơ, chúng tôi đã từng ngang dọc Phước Long. Biết chắc là sẽ có ngày ta đánh lớn nên Mĩ - ngụy đã biến thị xã Phước Long thành vị trí chiến lược nằm trong tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ Sài Gòn. Ba mặt của thị xã bao bọc bởi sông Bé, lại có núi Bà Rá cao 733 mét, chúng đặt đài quan sát trên đó, địch cho rằng thị xã Phước Long là bức tường thép kiên cố, vững chắc bảo vệ Sài Gòn. Tối hôm đó, tôi lại được nghe bài tường thuật trên Đài về chiến thắng Phước Long. Chiến dịch diễn ra từ ngày 31 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975. Đoàn 26 Thiết giáp đã đưa 2 đại đội của Tiểu đoàn tăng 21 và 1 đại đội của Tiểu đoàn tăng 20 tham gia trận đánh có ý nghĩa này. Đây là những đơn vị thiện chiến của Đoàn 26 Thiết giáp chúng tôi phối thuộc với Sư đoàn bộ binh 7 và Sư đoàn bộ binh 341(Quân đoàn 4) đánh vào thị xã Phước Long. Trong 7 ngày, ta mở 5 đợt tiến công, đợt cuối cùng đánh vào Dinh tỉnh trưởng và Tòa thị chính diễn ra rất ác liệt. Đến 17 giờ ngày 26 tháng 1 năm 1975, thị xã Phước Long được hoàn toàn giải phóng. Sau mỗi trận đánh, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 26 Thiết giáp càng trưởng thành về mọi mặt. Từ Chiến dịch Bù Bông đến Chiến dịch giải phóng thị xã Phước Long đơn vị đã ghi thêm nhiều chiến công oanh liệt mới. Trận đánh này làm nổi bật tinh thần chiến đấu sáng tạo, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ. Đại đội trưởng Nguyên chiến đấu rất gan dạ, chỉ huy mưu trí, khi xe có bộ phận bị hỏng vẫn vừa đánh, vừa sửa xe. Đến ngày thứ 6 rồi mà trận đánh vẫn dây dưa, quyết liệt, đồng chí Thiết - Tiểu đoàn trưởng được đồng chí Năm thái cử vào nắm tính hình. Đại đội trưởng Đại đội 10 Nguyễn Văn Thành đề nghị Thiết lên nhà lầu trên đồi cao ta vừa chiếm để quan sát địch. Nhờ đó mà Thành đề nghị hỏa lực các binh chủng, bộ binh bắn tập trung vào các ổ đề kháng, tiêu diệt địch, yểm hộ cho bộ binh. Chính trị viên Nguyễn Xuân Liêm bị thương vẫn không rời vị trí chỉ huy. Các chiến sĩ lái xe dũng cảm, khôn khéo uy hiếp địch bằng tiếng gầm và xích sắt. Chiến thắng giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long làm nức lòng nhân dân cả nước, cho thấy ngụy quyền Sài Gòn ngày càng suy yếu về thế và lực. Với linh cảm của người chỉ huy quân sự, tôi tin là cuộc Tổng tiến công giải phóng miền Nam sắp bắt đầu. Tối hôm đó, tôi nói với vợ: - Tình thế có thể thay đổi, anh chuẩn bị tinh thần để trở lại chiến trường. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:17:13 am Đúng như tôi dự đoán, chỉ mấy ngày sau tôi và một số học viên nhận lệnh lên đường vào Nam. Đoàn do anh Nguyễn Thới Bưng phụ trách.
Tháng 4 năm 1975, tôi vào đến Đoàn 26 Thiết giáp lúc đó đơn vị đã chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Mục tiêu “đánh cho Mĩ cút” ta đã giải quyết xong, bây giờ là lúc nắm thời cơ “đánh cho ngụy nhào” như mệnh lệnh của bác. Chiến trường Đông Nam Bộ sôi động cùng toàn miền Nam. Đoàn 26 chúng tôi lại được chi viện thêm 3 tiểu đoàn tăng của Lữ đoàn 215 và Quân khu 4. Tất cả có 61 xe tăng T54, T59 và 31 xe K63. Đến tháng 3 năm 1975, Đoàn 26 đã có 7 tiểu đoàn, xe tăng - thiết giáp chiến đấu lên tới 320 chiếc; 1 tiểu đoàn huấn luyện, 1 tiểu đoàn công binh và các đại đội vận tải, thông tin, đội phẫu thuật tiền phương, trạm xá... Cơ quan Đoàn bộ cũng được kiện toàn, nhằm theo sát các đơn vị làm nhiệm vụ chiến đấu. Chưa bao giờ tôi nghĩ tới lực lượng của Đoàn 26 tăng - thiết giáp hùng hậu như thế này. Có lực lượng mạnh trong tay, Đảng ủy Đoàn xác định phải lãnh đạo đơn vị đánh một số trận cho “ra tấm ra món”. Đây là thời cơ lịch sử có một không hai, phải làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ thấy được trách nhiệm và tự hào được tham gia cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những ngày ấy, không khí của Đoàn sôi động, vui như hội. Bộ đội làm công tác kĩ thuật, đu nấu và cả hò reo nữa mà không cần giữ bí mật vì đây đã là vùng giải phóng. Thời cơ lập công của Đoàn 26 tăng - thiết giáp trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 đã đến. Đáng nhớ nhất có các trận: tiến công địch ở quận lị Dầu Tiếng; đánh địch ở Bến Cầu; tiến công địch ở Mộc Bài, Rạch Tràm, Chòi Nòi, Đức Huệ thuộc tỉnh Long An từ ngày 14 đến 20 tháng 3 năm 1975. Đoàn còn phối thuộc cho các đơn vị bạn giải phóng Định Quán (17thangs 3), giải phóng La Ngà (20 tháng 3). Ngày 28 tháng 3, Tiểu đoàn 21 (thiếu) phối thuộc cho Sư đoàn 7 tiến công địch ở Bảo Lộc, Di Linh. Thừa thắng, Đoàn tiến công quân địch ở chi khu Chơn Thành diệt 6 tiểu đoàn bộ binh ngụy. Ngày 9 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn tăng 21 phối thuộc với Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 bộ binh tiến công vào tuyến phòng thủ cuối cùng của địch ở Xuân Lộc. Trận đánh diễn ra từ ngày 9 tháng 4 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975 mới đập tan được tấm lá chắn của địch bảo vệ Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là cuộc ra quân rầm rộ nhất của đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. Trong 5 cánh quân tiến vào thành phố mang tên Bác, Đoàn 26 tăng thiết giáp tham gia trên 2 hướng: Đông Bắc và Tây Nam. Để bảo đảm công tác chỉ huy được tốt, Đoàn 26 đã hình thành 3 sở chỉ huy. Ở hướng đông bắc - hướng chủ yếu gồm có tôi - Chỉ huy trưởng; đồng chí Hồ Hồng Thái - Chỉ huy phó; đồng chí Đỗ Văn Thất - Chủ nhiệm Chính trị; đồng chí Nguyễn Thượng Hiền - Chủ nhiệm Kĩ thuật. Ở cánh quân hướng Tây Nam và Tây Nam, do các đồng chí Phạm Hà Hải, Võ Ngọc Hải, Lê Như Hòa, Võ Văn Thọ chỉ huy. Tại hậu cứ có các đồng chí: Bùi Tân, Hoàng Tiến Lực, Lê Đình Hoán phụ trách. Trên hướng Đông Bắc, chúng tôi đưa vào chiến đấu 4 tiểu đoàn với 140 xe tăng, xe thiết giáp. Đặc biệt có Tiểu đoàn 21 đã dày dạn chiến đấu từ năm 1972. Đây là tiểu đoàn được coi là mũi đột kích mạnh của Đoàn 26. Ngày 27 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 21 với 15 xe tăng tiến công vào Trảng Bom; đêm 29 tháng 4, tiến đánh Hố Hai. Sáng 30 tháng 4 năm 1975, các đơn vị của Đoàn 26 đánh địch ở trại Lê Lợi, thành phố Biên Hòa. Trên hướng Tây Nam, ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đoàn 26 sử dụng 3 tiểu đoàn và 1 đại đội chi thành hai mũi đánh vào An Hiệp, Đức Hòa, Hậu Nghĩa. Cả phòng tuyến Tây Nam của địch bị ta phá vỡ. Đến 8 giờ ngày 30 tháng 4, Đại đội tăng 6, Tiểu đoàn 20 đánh chiếm trạm rađa Phú Lâm, đến 11 giờ chiếm trường đua Phú Thọ. Đại đội tăng 5 Tiểu đoàn 22 chi viện cho bộ binh đánh tan hai tiểu đoàn biệt động ngụy ở Vĩnh Lộc, tiếp tục thọc sâu đánh chiếm biệt khu Thủ đô, sau đó hợp điểm cùng các đơn vị bạn tiến về Dinh Độc Lập. Xe thiết giáp của Đại đội 45 Tiểu đoàn tăng 23 vượt Đồng Tháp Mười tiến về giải phóng Sài Gòn. Ngày 28 tháng 4 năm 1975, Đại đội 45 dùng 5 xe tăng K63-85 và 6 xe PTR-60 PB vượt qua Đồng Tháp Mười tiến vào đường 4, thiết lập chốt chặn không cho quân tiếp viện vào Sài Gòn. Kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đoàn 26 xe tăng - thiết giáp đã được Nhà nước ta khen thưởng xứng đáng, trong đó 3 đơn vị và 2 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là: Tiểu đoàn tăng 21, Đại đội tăn 10 (Tiểu đoàn 20), Đại đội 33 và các đồng chí Nguyễn Xuân Liêm, Phạm Văn Cán. Đất nước thống nhất, lực lượng tăng - thiết giáp Đông Nam Bộ đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử. Tên gọi: “Tăng - Thiết giáp Quân giải phóng miền Nam” sẽ mãi mãi được nhắc đến trong pho sử vàng chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:17:46 am 11. LỜI THỀ THỨ HAI Với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam sạch bóng quân thù, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mấy tháng sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tôi được cấp trên cho ra Hà Nội nghỉ phép thăm vợ con. Mấy ngày sau, tôi lên Vĩnh Yên thăm các anh trong Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp. Doanh trại Trung đoàn 202 xe tăng ngày nào giờ là nơi đóng quân của cơ quan Bộ Tư lệnh. Thế là sau 12 năm vào Nam chiến đấu tôi mới trở lại mảnh đất một thời là “bệ phóng” của Trung đoàn xe tăng 202. Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Binh chủng đón tiếp tôi thân tình như đón người đồng đội đi xa lâu ngày trở về. Trong câu chuyện, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh, đặc biệt là đồng chí Tư lệnh Đào Huy Vũ, đề nghị tôi ra Hà Nội công tác. Là Tư lệnh Tăng - Thiết giáp Quân giải phóng miền Nam ra Hà Nội, các anh sẽ đề nghị cấp trên bổ nhiệm tôi làm Phó Tư lệnh binh chủng. Thú thực, tôi chưa có ý định ở lại Hà Nội, mặc dầu vợ con tôi gắn bó với mảnh đất này đã hai chục năm. Nhưng tôi không từ chối lời đề nghị của các anh trong Bộ Tư lệnh mà chỉ nói việc này cần có thời gian suy nghĩ. Về nhà, đưa ý kiến này ra bàn với vợ, tôi nhận được câu trả lời: “Vấn đề đó do anh quyết định. Ở đâu cũng được, miễn là vợ chồng gần nhau. Bao nhiêu năm anh đi biền biệt, giờ tuổi đã lớn, vợ chồng phải ở gần để đỡ đần và chăm sóc nhau”. Khoảng tháng 10 năm 1975, tôi đưa vợ con từ Hà Nội vào Sài Gòn. Không thuyết phục được tôi ở lại Bộ Tư lệnh, các anh chúc tôi vào Sài Gòn công tác theo sự phân công của Bộ Quốc phòng. Mấy hôm sau, các anh trong Bộ Tư lệnh giúp tôi chiếc ô tô Zin 130, đưa đồ đạc và mấy mẹ con vào làm công dân của thành phố Sài Gòn vừa mới giải phóng. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất, Đoàn 26 tăng - thiết giáp đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Thực hiện quyết định của trên về kiện toàn, tổ chức các đơn vị Binh chủng Tăng - Thiết giáp, ngày 25 tháng 8 năm 1975, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Trần Văn Trà giao nhiệm vụ cho Đoàn 26 tách một bộ phận để thành lập Lữ đoàn Tăng - Thiết giáp 22, bàn giao cho Quân đoàn 4. Tiếp đó, Đoàn 26 đã tách ra thêm 2 đơn vị nữa. Thực hiện quyết định của bộ, tôi được trên giao tổ chức ba đoàn cán bộ tăng - thiết giáp về ba đơn vị mới: Lữ đoàn 22 về Quân đoàn 4; Trung đoàn 24 về Quân khu 9, Trung đoàn 26 về trực thuộc Quân khu 7. Trung đoàn 26 Thiết giáp Quân khu 7 là đơn vị kế tục truyền thống của Đoàn 26 Thiết giáp miền Đông Nam Bộ. Phải rời xa đồng đội và những chiếc xe tăng đã chiến đấu 12 năm trên chiến trường Đông Nam Bộ, trong tôi dâng lên những cảm xúc khó tả. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, chiến tranh ác liệt, cái sống cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc mới thấy hết phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội. Trong cuộc sống, anh em đã dành cho tôi tình cảm thân thiết như người trong một nhà. Khi ra trận, họ dũng cảm nhận về mình phần hiểm nguy để che chở, bảo vệ tôi. Chiến tranh đã kết thúc, đất nước sạch bóng quân thù, nhưng vẫn có rất nhiều đồng đội của tôi không thể trở về, họ còn nằm lại ở một góc rừng nào đó trên dải đất miền Đông Nam Bộ. Nỗi niềm ấy khiến cuộc chia tay của những người lính xe tăng vừa ra khỏi cuộc chiến tranh thật cảm động. Tháng 9 năm 1976, tôi được điều về làm Cục phó Cục Kinh tế Quân khu 7. Sau nhiều năm chỉ quen với tấm bản đồ quân sự. suy nghĩ tìm cách đánh giặc sao cho giành chiến thắng cao nhất giờ tôi lại phải gánh vác công việc hoàn toàn mới mẻ: Làm kinh tế. Vừa làm vừa tìm hiểu, vừa làm vừa học, tôi đã có đóng góp nhất định vào thành tựu kinh tế của Quân khu 7. Tám tháng trên cương vị chỉ đạo hoạt động kinh tế của một quân khu rộng lớn, giàu tiềm năng, tôi đã có thêm những bài học mới. Do yêu cầu tổ chức và sắp xếp lại lực lượng vũ trang trong cả nước, ngày 26 tháng 6 năm 1976, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Cục Xe máy quản lí, bảo đảm kĩ thuật xe tăng - thiết giáp, xe công trình trong toàn quân. Trước yêu cầu đó, tháng 6 năm 1977, tôi được điều động giữ chức Cục phó Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn - Tổng cục Kĩ thuật. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Cục trực thuộc Bộ Tổng tham mưu; từ năm 1974, thành lập Tổng cục Kĩ thuật, Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn chuyển về Tổng cục Kĩ thuật. Bộ Tổng tham mưu điều từ Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp một số cán bộ về thành lập Phòng Kĩ thuật tăng - thiết giáp do đồng chí Tống Xuân Hỗ phụ trách. Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn vừa xây dựng, quản lí cơ quan đơn vị trực thuộc cục vừa tham mưu cho trên quản lí hệ thống ngành trong toàn quân và thực hiện chế độ chuyên gia kĩ thuật quân sự, chủ yếu là chuyên gia của Liên bang Xôviết. Tôi về nhận chức Cục phó Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn và được phân công phụ trách cơ quan thường trực của Cục ở phía Nam. Trong chuyến đi công tác kiểm tra các đơn vị phía Nam và dự hội nghị toàn quân triển khai chế độ chuyên gia quân sự do Bộ Tổng tham mưu tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, trước ngày dự hội nghị, anh Vũ Toàn - Cục trưởng và tôi đã có buổi làm việc khá cởi mở. Chúng tôi đều nhất trí cho rằng: Tuy phục tùng sự sắp xếp của Tổng cục Kĩ thuật nhưng do chưa nghiên cứu kĩ nên cấp trên chỉ đạo có việc chưa phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn. Anh Vũ Toàn cũng trao đổi với tôi về ý của Tổng cục Kĩ thuật chủ trương thu gọn cơ quan Cục từ hơn 200 người như hiện nay xuống còn 50 người. Mặt bằng của Cục cũng sẽ thu hẹp để bố trí cho Cục Huấn luyện của anh Lê Hãn - Cục trưởng và Cục Kho trực thuộc Tổng cục sẽ thành lập trong nay mai. Trong câu chuyện, anh Toàn vừa tâm tư vừa bức xúc về trách nhiệm và truyền thống đối với toàn ngành. Thấy anh không vui, tôi động viên: “Anh cứ đi dự hội nghị xem Cục ta có nhiều chuyên gia làm việc không rồi về ta bàn tiếp”. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:18:38 am Sau một ngày làm việc khẩn trương đến khoảng 8 giờ tối, đồng chí Hiếu - phiên dịch tiếng Nga, đi cùng với Cục trưởng thông báo với tôi là đồng chí Vũ Toàn bị tai biến phải đi cấp cứu. Căn bệnh khá nặng, anh bị liệt toàn thân. Sáng hôm sau tôi vào Viện Quân y 175, thấy anh Vũ Toàn đang được các bác sĩ chăm sóc đặc biệt. Anh Toàn bị tăng huyết áp từ lâu, nay do áp lực công việc nên đã bị đột quỵ. Bệnh tật đã quật ngã anh khi công việc của Cục đang bề bộn.
Mấy ngày sau, tôi nhận quyết định của Tổng cục Kĩ thuật ra Hà Nội giữ chức: Quyền Cục trưởng Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn. Trên cương vị Quyền Cục trưởng tôi phải giải quyết gấp những công việc đồng chí Vũ Toàn đang làm dở. Đồng chí Hiếu cùng đi dự hội nghị với đồng chí Vũ Toàn báo cáo: Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn có chế độ chuyên gia ngành xe quân sự. Trước mắt Cục bố trí chỗ ở, nơi làm việc của chuyên gia Cục trưởng và các chuyên ngành. Tiếp đó Thủ trưởng Cục có buổi làm việc với Phòng Cán bộ Tổng cục Kĩ thuật về kế hoạch chấn chỉnh Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn. Cùng làm việc hôm ấy có đồng chí Tái, Thượng tá -Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Cục; đồng chí Chúc và đồng chí Bảy - Cục phó. Bản kế hoạch trước đó Phòng Cán bộ đã làm việc với đồng chí Vũ Toàn, có sự thống nhất trong Thường vụ Đảng ủy và Thủ trưởng Cục. Hôm nay đồng chí Lương - Trưởng phòng; đồng chí Đạt - Trưởng ban nhân sự đến làm việc chỉ mang tính thủ tục là thông báo nội dung và ý định ngày giờ thực hiện. Sau khi nghe đồng chí Trưởng phòng Cán bộ Tổng cục Kĩ thuật thông báo kế hoạch chấn chỉnh Cục, thấy có gì đó chưa ổn, tôi phát biểu: - Tôi mới từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội nhận nhiệm vụ. Mấy ngày nay tôi đang khẩn trương tìm hiểu tình hình, đề nghị các anh cho tôi tìm hiểu xong và sau khi làm việc với chuyên gia ngành xe sẽ chấp hành kế hoạch của Tổng cục. Tôi đề nghị các anh báo cáo lại với Thường vụ Đảng ủy và Thủ trưởng Tổng cục. Nếu có gì không tiện, đề nghị các anh cho Cục báo cáo trực tiếp với Thường vụ Đảng ủy và Thủ trưởng Tổng cục. Dạo đó chiến tranh biên giới Tây Nam do bọn Pôn Pốt - Iêngxari gây nên, diễn ra ác liệt. Nhiệm vụ bảo đảm xe máy cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến biên giới trở nên cấp bách, vì thế, áp lực công việc đối với tôi ngày càng lớn. Những ngày sau đó, Cục tiếp tục triển khai công việc theo kế hoạch của mình. Chúng tôi chờ nhưng vẫn không thấy thực hiện kế hoạch chấn chỉnh, rút gọn Cục Quản lí Xe máy và Trạm nguồn của cơ quan cấp trên. Năm 1978, tình hình biên giới phía Bắc trở nên căng thẳng. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, chiến tranh trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nổ ra. Lúc này, nhiều đơn vị tăng - thiết giáp được thành lập, nhằm tăng cường sức mạnh cho các quân khu, quân đoàn làm nhiệm vụ phía trước. Vì thế, việc bảo đảm kĩ thuật cho lực lượng tăng - thiết giáp làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi rất cao. Trước sự kiện ấy, Thủ trưởng Tổng cục Kĩ thuật điều tôi sang làm Cục trưởng Cục Bảo đảm trang bị Tăng - Thiết giáp. Sau này đổi tên là Cục Tăng - Thiết giáp. * Những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ XX, tình hình kinh tế - xã hội nước ta gặp rất nhiều khó khăn. Sự khủng hoảng về kinh tế thời kì này không nằm ngoài quy luật và đã được Đảng ta dự báo. Tuy nhiên, khó khăn ở bước chuyển giai đoạn rất phức tạp, khó lường, có khi bị cả những thuận lợi và niềm lạc quan sau chiến thắng giải phóng dân tộc che lấp. Miền Bắc tuy đã trải qua 21 năm xây dựng và phát triển kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất mới, song 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ đã tàn phá rất nặng nề. Ở miền Nam, tuy có các yếu tố của kinh tế tư bản, song vốn là nền kinh tế tiêu thụ, phụ thuộc Mĩ, mục tiêu là phục vụ chiến tranh xâm lược nên về cơ bản vẫn là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu. Sau khi thống nhất đất nước, nền kinh tế nước ta vẫn ở trình độ thấp kém. Vừa ra khỏi chiến tranh giải phóng lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc nên đời sống nhân dân lại càng khó khăn. Về mặt xã hội, hậu quả chiến tranh rất nặng nề phải nhiều năm mới khắc phục được. Đó chính là khó khăn, trở ngại lớn mà Đảng ta phải giải quyết trong những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỉ trước. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng họp từ ngày 27 đến 31 tháng 3 năm 1982 đã ra nghị quyết về đổi mới cơ chế quản lí kinh tế. Sau Đại hội, Đảng ta đã có những giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng. Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương đã quán triệt chủ trương quân đội tham gia làm kinh tế, kết hợp kinh tế với quốc phòng trên các địa bàn chiến lược. Cùng với thành lập Tổng cục Kinh tế là kiện toàn lại các đơn vị chuyên trách làm kinh tế. Ngày 14 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ra quyết định giao lại cho Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị chuyên xây dựng kinh tế: Đoàn 331, 332, 333, 352, 600, Đoàn Phước Long, 37B, và Trung đoàn 50. Trước đó, các đơn vị này đã được Bộ Quốc phòng chuyển giao cho các Bộ; Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy lợi, Lương thực và Thực phẩm theo Quyết định của Chính phủ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:19:14 am Đang làm Cục trưởng Cục Bảo đảm trang bị Tăng - Thiết giáp (Tổng cục Kĩ thuật), cấp trên rút tôi đi học quản lí kinh tế 3 tháng. Xong khóa học, tôi được Bộ Quốc phòng giao cho nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ: chỉ huy bộ đội làm cao su. Thủ trưởng Tổng cục Kĩ thuật mà trực tiếp là Trung tướng Lê Văn Tri, Chủ nhiệm đã “tiến cử” tôi với Bộ Quốc phòng. Đồng chí Lê Văn Tri đã giải thích với cấp trên rằng, tôi quen thuộc địa bàn và đã từng phụ trách về kinh tế của Quân khu 7 nên có ít nhiều kinh nghiệm. Trong khi đó, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật lại không đồng tình với quyết định này với lí do: “Để Mai Văn Phúc làm Cục trưởng Bảo đảm trang bị Tăng - Thiết giáp là phù hợp, vả lại Tổng cục đang rất cần cán bộ kĩ thuật”.
Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, tôi bàn giao nhiệm vụ Cục trưởng Cục Bảo đảm trang bị Tăng - Thiết giáp cho Đại tá Lê Quang Xì, chuẩn bị lên đường. Trung tướng Đặng Kinh, Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế Bộ Quốc phòng từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh trao quyết định cho tôi. Tại phòng họp của bộ Tư lệnh Quân khu 7 hôm ấy có các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu, đại diện Tổng cục Kĩ thuật. Trao cho tôi tờ quyết định làm Tư lệnh Binh đoàn 23 Cao su Phú Riềng, đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế nói: Nhiệm vụ chính của binh đoàn là làm cao su, khi chiến tranh biên giới lan rộng thì quân đội sẽ sử dụng vào nhiệm vụ quốc phòng. Trưởng thành từ người chiến sĩ bộ binh trực tiếp cầm súng đánh Pháp, được đào tạo bài bản về kĩ thuật xe tăng, còn với cao su thì tôi chỉ là người ngoại đạo. Nhưng đã là sĩ quan quân đội Bộ đội Cụ Hồ, không được phép từ chối bất cứ nhiệm vụ gì, khó khăn đến mấy. Dòng suy nghĩ ấy làm tôi thanh thản. Đêm ấy tôi có một giấc ngủ sâu để sáng mai lên đường đến với miền Đất mới. Ngày 11 tháng 7 năm 1980, Thượng tướng Lê Trọng Tấn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kí Quyết định số 422/QĐ-QP, thành lập Binh đoàn Cao su trực thuộc Quân khu 7, lấy phiên hiệu là Binh đoàn 23. Tuy là đơn vị trực thuộc Quân khu 7, nhưng về mặt kinh tế, Binh đoàn là một đầu mối trực tiếp với Tổng cục Cao su - Bộ Nông nghiệp. Khi Binh đoàn 23 có quyết định thành lập, đã có một số đơn vị quân đội làm nhiệm vụ xây dựng các vùng chuyên canh cao su, cà phê, lúa và màu. Những đơn vị này đã được Bộ Quốc phòng chuyển giao cho các Bộ theo chỉ thị của trên. Đến ngày 14 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chinh phủ ra Quyết định số 215/CP về việc giao lại cho Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị chuyên xây dựng kinh tế. Ngày 16 tháng 7 năm 1980, Bộ Tổng tham mưu ra Quyết định số 337/QĐ-TM tổ chức lực lượng của Binh đoàn 23 trước mắt có: 2 trung đoàn của nông trường cũ, 2 trung đoàn mới ở Phú Riềng, 1 trung đoàn làm đường, 1 trung đoàn xây dựng cơ bản, 1 trung đoàn sản xuất vật liệu xây dựng, 1 trung đoàn vận tải. Cơ quan Binh đoàn có 9 phòng: Tham mưu kế hoạch, Tổ chức lao động, Kế toán tài vụ, Vật tư, Hậu cần, Chính trị, Xây dựng cơ bản, Cây công nghiệp và Kĩ thuật. Đến ngày 17 tháng 7 năm 1980, Bộ Tổng tham mưu lại ra quyết định điều động các đơn vị về Binh đoàn 23. Điều từ Tổng cục Hậu cần 1 khung trung đoàn và 1 tiểu đoàn sản xuất vật liệu xây dựng. Trong đó có cán bộ và nhân viên đủ làm nòng cốt cho một đại đội làm đá và vận hành bộ nghiền, sàng 739-740 bao gồm khoan, bắn, nghiền sàng, xúc chở; một đại độ làm gạch để vận hành hệ thống sản xuất gạch công suất 7 triệu viên/năm. Ngoài ra còn có 1 đại đội sản xuất voi, 1 tổ khoan nước ngầm. Cũng từ Tổng cục Hậu cần, 1 khung trung đoàn vận tải và khoảng 200 xe ô tô khẩn trương hành quân về Binh đoàn. Trung đoàn công binh 270 từ Campuchia cũng khẩn trương về Binh đoàn, trong đó có nhiều người đang chờ phục viên. Đầu tháng 8 năm 1980, Bộ Tổng Tham mưu lại điều động cho Binh đoàn 2 Trung đoàn 813 và 815 của Quân khu 3. Mỗi trung đoàn 1.000 người, phần lớn anh em đều là chiến sĩ mới, quê Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên... Chưa bao giờ dưới quyền chỉ huy của tôi lại có được lực lượng hùng hậu như vậy, với hơn 13 ngàn cán bộ, chiến sĩ, cùng với nhiều máy móc, thiết bị khá hiện đại. Trong lúc đó, thủ trưởng Bộ Tư lệnh Binh đoàn 23 quân số chỉ bằng “tổ tam tam”. Toi mang quân hàm đại tá, được giao làm Tư lệnh; Phó Tư lệnh là Thượng tá Trương Văn Ba, anh em thường gọi là Ba Làng. Được sự đồng ý của Quân khu 7, cả hai chúng tôi được Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su ra quyết định bổ nhiệm làm Phó giám đốc Công ti cao su Phú Riềng. Phó Tư lệnh Chính trị là Thượng tá Bùi Thiệp, sau đó Đại tá Bùi Khánh Vân thay. Cả ba chúng tôi đều là lính chống Pháp, lăn lộn nhiều năm trên chiến trường “miền Đông” gian lao mà anh dũng. Hòa bình, chúng tôi công tác trong Lực lượng vũ trang Quân khu 7 nên rất hiểu nhau. Phú Riềng là nơi thực dân Pháp bắt nhân dân ta khai khẩn đất đai, lập thành đồn điền cao su từ những năm đầu thế kỉ XX. Khi cao su đến thời kì thu hoạch mủ, chúng đều vơ vét, mang về nước, còn người lao động thì vẫn lầm than, cực khổ. Nơi đây còn nổi tiếng là rừng thiêng nước độc nên Cao su đi dễ khó về/ Khi đi trai tráng, khi về bủng beo. Chế độ bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào chỗ: Bán thân đổi mấy đồng xu/ Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng. Có áp bức thì có đấu tranh. Ngày 28 tháng 10 năm 1929, hơn 5.000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng đã nổi dậy, chống lại chế độ áp bức của thực dân Pháp, đòi tự do cơm áo, đòi dân sinh độc lập. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc Việt Nam thống nhất, Nam - Bắc sum họp một nhà, công cuộc cách mạng của nhân dân ta bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng kinh tế. Trên mảnh đất đồn điền Phú Riềng lịch sử, ngày 6 tháng 9 năm 1978, Bộ Nông nghiệp ra quyết định thành lập Công ti cao su Phú Riềng để thực hiện hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Xôviết (Liên Xô): “Hợp tác sản xuất và chế biến cao su thiên nhiên với quy mô 50.000 hécta trong thời kì 5 năm từ 1980 - 1984”. Đây là một công trình trọng điểm của Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng về kinh tế - chính trị xã hội - an ninh quốc phòng - quan hệ quốc tế, có quy mô lớn, yêu cầu nhiệm vụ lại khẩn trương, nên cùng một lúc Công tư vừa phải hình thành tổ chức, vừa triển khai sản xuất, vừa bổ sung nguồn nhân lực. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:19:59 am Công ti cao su Phú Riềng nằm trên địa bàn 2 huyện Phước Long và Đồng Phú, phía bắc tỉnh Sông Bé. Tôi đã đến Phước Long từ những năm còn chiến tranh. Những vùng đất như Phước Bình, Bù Na, Bù Gia Phúc, Bố Đức, Phước Quả, Thác Mơ, núi Bà Rá... tôi đã từng cùng đồng đội chiến đấu. Đặc biệt, từ ngày 31 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, Đoàn 26 Thiết giáp phối thuộc cho Sư đoàn 3 bộ binh tiến công chi khu Phước Bình và giải phóng thị xã Phước Long.
Xưa Phước Long là chiến trường, nay nơi đây là công trường trồng cao su của nước Việt Nam thống nhất. Với tổng diện tích tự nhiên 72.000 hécta, trong đó đất trồng cao su là 52.000 hécta. Phú Riềng được coi là tiềm năng lớn về cao su của khu vực miền Đông Nam Bộ. Đầu năm 1980, cấp trên quyết định mở rộng diện tích quy hoạch trồng cao su sang phía tây đường 14, giáp bờ Sông Bé. Đây là một vùng đất rộng lớn, diện tích lên tới 120.000 hécta, tuy còn hoang hóa nhưng lại là đất bazan màu mỡ, rất hợp với cây cao su. Việc làm đầu tiên của Bộ Tư lệnh Binh đoàn 23 là tìm hiểu nội dung Công ti cao su Phú Riềng được Nhà nước giao thực hiện hợp tác với Liên Xô trồng 50.000ha cao su. Tổ chức khảo sát sơ bộ những khu vực đóng quân. Tìm hiểu mối quan hệ của công ti cao su Phú Riềng với địa phương, bảo đảm các mặt đời sống vật chất, tinh thần, công tác Đảng, công tác Đoàn, vấn đề dân cư trong khu vực. Nhiệm vụ của Binh đoàn 23 là cùng với Công ti cao su Phú Riềng thực hiện trồng mới 50.000 hécta cao su; xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút lực lượng lao động, góp phần định hình khu công nghiệp cao su cho tương lai, kết hợp kinh tế với quốc phòng trên tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia. Phú Riềng là nơi gian khổ, khó khăn, phức tạp nhất của toàn ngành cao su. Bom mìn sót lại trong lòng đất, chất độc hóa học do chiến tranh phá hoại chưa xử lí còn rất nhiều. Rắc độc, muỗi vắt nhiều vô kể; rừng rậm đầy gai góc, xứ sở của rừng le nguyên thủy với bạt ngàn cây mắc cỡ, cỏ tranh cao lút đầu người. Đáng ngại nhất là kí sinh trùng sốt rét ác tính vẫn còn hoành hành, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của bộ đội và nhân dân trong vùng. Đến đầu tháng 10 năm 1980, cá đơn vị mới kéo quân về đủ. Binh đoàn mới thành lập, thiếu thốn đủ bề, lo ăn, ở cho hơn chục ngàn con người là vấn đề nan giải. Cùng một lúc, chúng tôi phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn: Tổ chức, biên chế lực lượng, ổn định ơi ăn ở, chuẩn bị cơ sở vật chất để đón bà con các nơi đến lập nghiệp, gắn bó lâu dài với cây cao su. Cơ quan Binh đoàn đặt tại doanh trại cũ của Sư đoàn 3, ngay cạnh công ti. Sư đoàn là con đẻ của nhân dân miền Đông Nam Bộ, thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1974 tại tây bắc Bù Đăng. Cuối 1976, Sư đoàn về đóng quân ở Đức Hạnh, Phước Long. Từ năm 1977, Sư đoàn được trên giao nhiệm vụ làm cao su nên gọi là Sư đoàn 3 Cao su Phước Long. Sau hai năm thành lập, Phú Riềng đó có 7 nông trường. Cơ quan Công ti chỉ có 43 người. Bước đầu chúng tôi họp và phân công: Công ti cao su Phú Riềng trồng mới khoảng 20.000 hécta cao su (40%) trong phạm vi 7 nông trường, tiếp tục chăm sóc, khai thác, chế biến cao su ở 2 nông trường cũ. Binh đoàn 23 có nhiệm vụ: Trồng mới khoảng 30.000 hécta (60%), xây dựng 7 Nông trường mới, tiếp tục chăm sóc, khai thác 1.105 hécta cao su đang khai thác ở 2 nông trường cũ. Ngoài ra còn làm hệ thống đường nội bộ, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải... Giám đốc Công ti cao su Phú Riềng là ông Đỗ Quý, tên thân mật là Tư Quý. Ông Quý lớn hơn tôi mấy tuổi, dáng cao lớn. Vốn là một chiến sĩ quân báo trong kháng chiến chống Pháp, năm 1954, ông theo đơn vị tập kết ra Bắc. Năm 1962, Đại úy Đỗ Quý chuyển ngành về Bộ Nông trường. Một thời gian dài ông là Giám đốc Nông trường Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Sau ngày giải phóng miền Nam ít lâu, ông về Nam, vẫn hoạt động trong lĩnh vực kinh tế. Khi Công ti cao su Phú Riềng nhận nhiệm vụ hợp tác với Liên Xô (cũ) trồng và chế biến cao su thiên nhiên, đang làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su, ông được giao kiêm chức Giám đốc Công ti. Ông là người rất nhiệt tình, tâm huyết với sự phát triển của cây cao su. Sau mấy tháng chuẩn bị khẩn trương, cuối tháng 10 năm 1980, “cỗ máy” Binh đoàn 23 bắt đầu vận hành. Kế hoạch xây dựng các nông trường, kế hoạch bảo đảm hậu cần, triển khai lực lượng, địa bàn sản xuất, phương tiện cho từng đơn vị được cân nhắc, tính toán rất cụ thể và tỉ mỉ. Mệnh lệnh của Binh đoàn nhấn mạnh: “Vì nhân dân Phước Long, vì sự phát triển của cây cao su - ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, mỗi cán bộ, chiến sĩ hãy đạp bằng mọi gian khổ, hãy tự xoi rừng mà ở, đẩy lùi rừng rậm mà đứng chân, đoàn kết chặt chẽ với Công ti cao su Phú Riềng, với nhân dân Phước Long, cùng nhau tiến tới. Nơi nào có xe máy dùng xe máy, không có xxe máy thì dùng cuốc xẻng, dao rựa. Thiếu dao rựa thì lấy sắt thép bom đạn lép của giặc mà rèn nên dao rựa. Hãy bám trụ với mảnh đất này: một tấc không đi, một li không rời”... Các đơn vị của Binh đoàn 23 tiến vào rừng. Rậm rạp và gai góc, bom đạn địch sót lại và cả thú dữ. Dùng máy MTZ đẩy rừng vào lấy chỗ mà đứng chân. Chỗ nào máy móc không có chỗ đứng thì bộ đội phát quang một vài chỗ, dựng tạm lên mấy cái lán tranh tre. Lại mưa rừng xối xả, lại chống chọi với muỗi, vắt, rắn, rết... Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 02 Tháng Ba, 2014, 09:20:37 am Nông trường 1 được thành lập trên cơ sở một bộ phận cán bộ Nông trưởng 19-5 Nghệ An do Bộ Nông nghiệp điều chuyển và một số sĩ quan của Trung đoàn 316. Ngoài ra, rút nguyên trung đoàn bộ và một khung tiểu đoàn sang đảm nhiệm quản lí, xây dựng Nông trường 2 tại xã Đa Kia, huyện Phước Long. Giám đốc nông trường là Trung đoàn trưởng Trần Mai Lâm; Phó Giám đốc là Nguyễn Hùng Xướng. Ngày đó, khu vực này rừng bạt ngàn, chỉ có một ít bà con Việt kiều từ Campuchia về và một số dân ở Phước Long vào sinh sống. Nhiệm vụ chính của Trung đoàn 316 là mở đường, làm nhà, khai hoang đất, chuẩn bị tiếp nhận lao động từ các tỉnh phía Bắc vào xây dựng nông trường.
Ngày ra quân khai hoang, đến đơn vị nào trong Trung đoàn 316, tôi cũng được chứng kiến cảnh lao động hăng say, hát hò, cười nói quên cả mệt nhọc. Anh em phát cây, đào gốc... mồ hôi ướt đẫm lưng áo, nhưng vẫn hát say sưa bài ca truyền thống mà tác giả là một cán bộ trong Trung đoàn: Ta tiến về Phước Long thân yêu, đây miền quê thân yêu ta giải phóng rồi. Gian khó còn vang câu ca, tô đẹp những trang truyền thống bất khuất, Mười Sáu ta quyết lập công. Trận tuyến cùng ta cùng hợp đồng, Đoàn chúng ta đã cùng một lòng. Một ngày ta không ngơi tay, cờ hòng ta luôn tung bay, cùng nhau ta chung tay dựng xây... Trung đoàn 813 do ông Bùi Ngư làm Trung đoàn trưởng chia lực lượng ra để xây dựng 3 nông trường. Hôm xuống giao nhiệm vụ cho Trung đoàn, tôi động viên anh em: “Mình đã từng chiến đấu chống Mĩ, bảo vệ biên giới, nay được Đảng, quân đội giao nhiệm vụ mới. Bộ đội ta ở đây có khó khăn. Anh em mình cộng tác với nhau, thực hiện cho được ý định của Nhà nước, Bộ Quốc phòng”. Ba nông trường do Trung đoàn 813 chịu trách nhiệm xây dựng, quản lí là: 3, 4 và 8. Nông trường 3 đứng chân trên đất xã Long Bình, huyện Phước Long, chưa có dân, không có lấy một “bóng hồng”, chỉ có rừng với bộ đội. Giám đốc Nông trường là đồng chí Trần Xuân Thu. Mấy tháng đầu, nông trường phải làm lấy đường mà đi, dựng lấy nhà mà ở. Khi đã có nhà, có đường, bộ đội bắt tay vào khai hoang, vỡ đất. Những chàng trai vùng châu thổ sông Hồng lần đầu biết thế nào là rừng miền Đông Nam Bộ. Anh em động viên nhau hăng say lao động, thật đúng là: Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. Nông trường 4 nằm trên đất xã Long Hưng, do Thiếu tá Bùi Ngư - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 813 trực tiếp làm giám đốc. Giống như Nông trường 3, Nông trường 4 những ngày đầu cũng chỉ có các chàng trai quê đồng bằng Bắc Bộ. Trung đoàn bố trí thành 8 đại đội khai hoang. Mãi đến tháng 11 năm 1981, Nông trường 4 mới được bổ sung 676 lao động, tuyển từ số dân cư tại chỗ và điểm kinh tế mới Long Hưng chuyển qua làm cao su, lúc đó mới có tiếng nó cười của phụ nữ. Nông trường 8 đặt tại thôn Phước An, xã Bình Phước, huyện Phước Long. Mấy tháng đầu, nông trược được giao khai hoang 10 hécta đất rừng để làm vườn ươm. Đến giữa năm 1981, nông trường đã khai hoang, trồng mới được trên 100 hécta cao su. Trung đoàn 815 có nhiệm vụ xây dựng 3 nông trường: 9, 11, 12. Bộ máy quản lí các nông trường này đều do cán bộ Trung đoàn đảm nhiệm. Trung đoàn 7 có nhiệm vụ xây dựng, quản lí Nông trường 5. Ngoài ra, Trung đoàn còn tiếp nhận một tiểu đoàn của Trung đoàn 316 còn lại, tiếp tục hoàn thành kế hoạch 1980 của Trung đoàn 316 bàn giao lại. Nhiệm vụ chính của nông trường này là mở đường, làm nhà, khai hoang đất, chuẩn bị tiếp nhận lao động các tỉnh phía Bắc như Quảng Trị, Quảng Bình, Thanh Hóa, Thái Bình, Hà Tây. Trung đoàn 10 chuyên lo sản xuất vôi, xi măng ở Bình Long, cung cấp vật liệu xây dựng cho Binh đoàn và công ti. Như vậy, mỗi trung đoàn có nhiệm vụ xây dựng, quản lí từ 1 - 3 nông trường, xí nghiệp. Cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn đồng thời được giao làm giám đốc, phó giám đốc nông trường và xí nghiệp. Binh đoàn còn được cấp trên giao nhiệm vụ cử 30 sĩ quan bổ sung vào bộ máy quản lí của công ti. Công trình Cao su Phú Riềng là sự hợp tác Việt - Xô nên được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng. Ngay từ đầu năm 1980 - 1981, công ti đã vinh dự được đón các đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Đồng chí Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và các đồng chí lãnh đạo cao cấp: Tố Hữu, Đỗ Mười, Võ Chí Công, Nguyễn Duy Trinh, Huỳnh Tấn Phát,… đến thăm và làm việc. Tháng 12 năm 1980, Binh đoàn 2 vừa ổn định xong tổ chức, đang khẩn trương khai hoang, thì đồng chí Lê Duẩn về thăm và làm việc với công ti. Trước khi về công ti, Tổng Bí thư đã làm việc với Tổng cục Cao su, nghe đồng chí Đỗ Văn Nuống (Tư Nguyện) - Tổng cục trưởng báo cáo; “Tư Quý ở Phú Riềng không chịu làm thủ công, tốn lao động, tốn cơ giới”. Vừa xuống máy bay, đồng chí Lê Duẩn đã hỏi :”Ai là Tư Quý”. Giám đốc Tư Quý bước ra báo cáo với Tổng Bí thư. Đồng chí Lê Duẩn nói giọng gay gắt: “Kế hoạch trồng mới 5 vạn hécta cao su trong 2 năm phải xong. Chỉ được làm trong 2 năm thôi”. Dừng một lát, Tổng Bí thư nói: “Nếu không làm được thì nên nghỉ”. Buổi làm việc hôm ấy giữa Tổng Bí thư với công ti ngoài các cán bộ từ Trung ương, Tổng cục Cao su còn có Bí thư Tỉnh ủy, Thường vụ Tỉnh ủy Sông Bé, Bí thư Huyện ủy Phước Long. Đồng chí Giám đốc công ti lễ phép thưa với Tổng Bí thư: “Tôi xin 5 năm, không thể làm 2 năm được. Trong điều kiện hiện nay thời gian lẽ ra phải hơn, 5 năm làm xong 5 vạn hécta cao su đã là cố gắng lắm rồi”. Nghe Tư Quý trình bày, những người cùng đi với Tổng Bí thư đều gật đầu xác nhận là ý kiến có cơ sở khoa học phù hợp với sự đầu tư của Liên Xô. Trước đó, giữa lãnh đạo Tổng cục Cao su và Công ti cao su Phú Riềng vốn đã có quan điểm không giống nhau về phương pháp trồng cao su. Chủ trương trồng cao su bằng cơ giới của chúng tôi bị một số người không đồng tình. Một số ý kiến cho rằng công ti không đi đúng sự chỉ đạo của Tổng cục Cao su: Trồng mới bằng thủ công. Tôi tán thành chủ trương của đồng chí Tư Quý: Trồng cao su bằng phương pháp khai hoang thủ công kết hợp với cơ giới ở một số khâu cần thiết. Còn các đồng chí lãnh đạo Tổng cục, chủ yếu là đồng chí Bảy Nghi thì bảo vệ ý kiến dùng lực lượng lao động thủ công là chủ yếu trong tất cả các khâu. Vốn là người khảng khái, ông Tư Quý đấu tranh đến cùng để bảo vệ quan điểm của mình, kể cả với cấp trên. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:34:34 pm Một tuần sau, đồng chí Tư Quý được mời về Văn phòng Trung ương 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc. Hôm ấy, ngoài đồng chí Tổng Bí thư, còn có một số đồng chí trong Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí Tố Hữu cũng có mặt. Tổng Bí thư Lê Duẩn chủ trì buổi làm việc. Hôm ấy, không khí cuộc họp khá thoải mái. Ông Bảy Nghi phát biểu trước, phân tích khá dài. Theo đồng chí Bảy Nghi: “Làm cao su trong 5 năm sẽ được 4 vạn hécta”. Giám đốc Tư Quý được Tổng Bí thư chỉ định báo cáo cuối cùng. Vẫn giọng nói chậm rãi, ông Tư Quý nói: “Làm cao su không thể chạy theo số lượng mà phải chú ý tới chất lượng. Tuổi thợ khai thác, chất lượng mủ cao su này sẽ được quyết định ngay từ khâu chọn giống, kĩ thuật ươm, làm hố trồng, chăm bón. Không thể làm cao su hoàn toàn bằng thủ công mà phải kết hợp với cơ giới trong một số công đoạn”. ý kiến của ông được nhiều đồng chí có mặt trong hội trường đồng tình. Tổng Bí thư Lê Duẩn gõ gõ nhẹ cây bút lên cuốn sổ, gật đầu.
Kết thúc buổi họp, đồng chí Lê Duẩn đến gần Tư Quý, chủ động bắt tay Giám đốc Công ti cao su Phú Riềng, nói: “Thông cảm nhé”. Công trình Cao su Phú Riềng (hợp tác Việt - Xô) không chỉ “nóng” tại các hội nghị mà còn lan ra cả hiện trường. Đi đâu trong Công ti và Binh đoàn cũng thấy bàn tán về cây cao su. Kế hoạch trong 5 năm 1980 - 1984 trồng mới 5 vạn hécta cao su mà Giám đốc Đỗ Quý là tác giả bảo vệ, được đồng chí Tổng Bí thư của Đảng chấp thuận. Kế hoạch đó chính là mệnh lệnh của Đảng, mỗi cán bộ, công nhân, chiến sĩ Công ti cao su Phú Riềng và Binh đoàn 23 phải nỗ lực, quyết tâm thực hiện. Trong một hội nghị các giám đốc nông trường với Binh đoàn 23, đồng chí Tư Quý nói rất kĩ về quy trình kĩ thuật khai hoang, về thực hiện kế hoạch. Ông căn dặn Bộ Tư lệnh Binh đoàn 23 và tôi: - Với đơn vị nào, với giám đốc nào, lỡ không thực hiện đúng sản lượng, kế hoạch thì dừng lại xem xét kỉ luật. Còn giám đốc nào không thi hành đúng với quy trình kĩ thuật thì kỉ luật ngay. Sang năm 1981, thế và lực của Binh đoàn đã có bước phát triển mới, đủ khả năng để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thấy thời cơ đã chín muồi, Bộ Tư lệnh Binh đoàn hạ lệnh bước vào chiến dịch lớn. “Chiến trường” là một vùng rừng núi với những địa danh gọi tên nghe vô cùng thân thiết: Phước Long, Bình Long, Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Nho, Bù Phú, Đa Kia... Năm xưa, vào chiến dịch với súng ống, xe tăng, pháo lớn, nay là những cỗ máy cày, máy ủi, máy xúc cùng hàng ngàn con người lần đầu làm quen với khai hoang vỡ đất, trồng cao su. Năm xưa vào chiến dịch là để tiêu diệt quân xâm lược, nay chúng tôi đi trải màu xanh, làm ra nhiều “vàng trắng” cho đất nước. Khó khăn lớn nhất của Công ti cao su Phú Riềng thời kì ấy là đường đi lại, sốt rét, bệnh tật, cơ sở vật chất nghèo nàn. Mỗi năm nông trường thiếu ăn từ 3 - 4 tháng. Bốn nông trường cũ đều nằm ở bìa rừng, cách trung tâm công ti chừng 10km. Sáu nông trường mới lập phải vào sâu hơn, có nông trường chưa có đường ô tô và cũng chưa có đường mòn đi bộ, anh em phải cắt rừng lội suối mất 2 - 3 ngày mới tới như Nông trường 3. Mùa khô, những cánh rừng cao su vào mùa thay lá. Bầu trời miền Đông Nam Bộ nắng chói chang, cao vời vợi. Những người lính vừa đi qua chiến tranh, gương mặt rắn rỏi, tự tin bước vào trận đánh mới. Cuộc chiến đấu này không có tiếng bom gầm, đạn réo, không có đổ máu nhưng cũng lắm gian nan, vất vả. Để giải bài toán sử dụng lao động cho hàng ngàn con người cùng với khối lượng máy móc, thiết bị đồ sộ làm tôi nhiều đêm mất ngủ. Phải tính toán chi tiết việc gì làm trước, việc gì làm sau. Buổi đầu khởi nghiệp, đơn vị nào cũng gặp phải hàng núi khó khăn. Nông trường 3 nằm sâu nhất, lại ngăn cách bởi con suối Rơi, về mùa mưa không vào được. Binh đoàn phải chi viện bằng cách điều chiếc xe công trình chở gạo, mắm, muối. Nhiều lần gặp dốc cao, đất dính chặt vào bánh, xe không đi được. Những lúc ấy, bộ đội phải chịu đói. Từ đó, anh em mới rút ra được bài học. Trước khi vào mùa mưa Nông trường phải dự trữ 3 tháng gạo ăn. Đường ô tô chưa có, bộ đội phải đi lại chủ yếu bằng đôi chân. Những cố máy kéo to kềnh của Liên Xô viện trợ không thể vào đến nông trường, anh em phải làm lán cho xe máy cách đó cả chục cây số, khi có đường mới đưa vào. Phát quang, khai hoang là công việc gian lao, phức tạp nhất đều do bộ đội Binh đoàn 23 đảm nhiệm. Ngày ấy, những cánh rừng ở Sông Bé còn hoang vu, cây cối rậm rạp, rắn độc và thú dữ còn nhiều. Để có đất khai hoang, nhiều chỗ anh em phải đối rừng, công việc rất vất vả. Nhưng với sức lực cường tráng và ý chí quyết tâm khắc phục khó khăn của người chiến sĩ, chúng tôi đã làm theo lời dạy của Bác Hồ: Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua. Quân đội là trường học lớn. Để làm chủ những nông trường cao su, xí nghiệp chế biến, sản xuất vật liệu, Binh đoàn đã mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn kĩ thuật: trồng stum bầu, stum trần và hạt; kĩ thuật ươm cây, ghép cây, chăm bón, phòng chống sâu bệnh; kĩ thuật vận hành máy móc, trang thiết bị... Các lớp tập huấn đều được bộ đội chấp hành nghiêm túc, vận dụng thời gian để học, nhất là thực hành. Học tập trung chưa đủ, về nhà anh em còn trao đổi sôi nổi, học hỏi kinh nghiệm lớp thợ đi trước. Có chiến sĩ còn cao giọng: “ Đánh giặc khó thế mà chúng mình chả sợ nữa là”. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:34:58 pm Miền Đông vốn có hai mùa mưa và khô rõ rệt. Mùa mưa chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong lao động, sản xuất. Còn về mùa khô lại thiếu nước sinh hoạt, nước phục vụ sản uất. Công ty giao cho chúng tôi đắp đập, cải tạo thành 3 cái hồ lớn tại Nông trường 5 và Nông trường 6, mỗi cái rộng tới mấy hécta. Thi công hồ kéo dài hàng tháng vì chủ yếu do công sức bộ đội và chỉ có sự hỗ trợ một phần của máy móc. Không chỉ bảo đảm nước sinh hoạt cho bộ đội, nhân dân, nước tưới cao su, hồ còn làm tăng vẻ đẹp cảnh quan, rất tốt cho môi trường sinh thái.
Chung một công trường cao su Phú Riềng nhưng lại có hai chế độ. Bộ đội hợp tác, cán bộ, công nhân hưởng theo lương kinh tế, đôi khi có cả tiền thưởng. Còn Binh đoàn 23, từ Đại tá Tư lệnh đến chiến sĩ đều hưởng lương và phụ cấp của quân đội. Bữa ăn bộ đội phải độn bo bo, thực phẩm chủ yếu là cá khô, mắm ruốc. Trong lúc đó chiến sĩ có rất nhiều người sinh ra ở Sài Gòn, từ nhỏ không phải lao động, gia đình khá giả, được nuôi dưỡng tốt. Vào bộ đội, phải lao động nặng nhọc, ăn uống kham khổ, một số chiến sĩ đã bỏ về nhà. Có tháng, bộ đội ốm do sốt rét lên tới 70%. Chỉ tính trong 3 năm từ 1980 - 1982, số dân chết vì sốt rét lên tới 320 người. Bệnh xã 7B của Binh đoàn do bác sĩ Nguyễn Bá Thư và Lí Xuân Lới phụ trách nhiều hôm không đủ giường vì bệnh nhân đông. Một lần đi qua đơn vị bộ đội đang khai hoang, thấy anh em nghỉ giải lao quá thời gian. Tôi đến động viên làm đúng giờ, anh em nói: “Ăn như vậy, làm như vậy thủ trưởng ạ”. Tôi nói với anh em: “Đúng là điều kiện ăn uống của bộ đội ta chưa đáp ứng với nhu cầu lao động nặng nhọc. Nhưng đây là khó khăn của cả nước, chứ không riêng gì Binh đoàn, chúng mình phải cùng nhau khắc phục. Ăn như thế mà làm tốt hơn mới là Bộ đội Cụ Hồ. Tôi nhìn rất nhanh một lượt những gương mặt trẻ măng, thấy thương anh em. Sau vài câu chuyện vui, anh em cười như pháo nổ rồi đứng bật dậy, “chảo thù trưởng”, rồi lại cầm lấy dụng cụ, tiếp tục làm việc hăng say. Từ tháng 12 năm 1981, trên diện tích Binh đoàn đã mở, từng hàng lán trại bộ đội đã làm xong, công ty đã tiếp nhận một số lượng lớn lao động từ các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị... vào làm cao su theo sự điều động của Bộ Lao động. Sau khi nhân dân đã ổn định nơi ăn ở, bộ đội lại huấn luyện cho họ kĩ thuật trồng, chăm sóc cao su. Binh đoàn còn giao đất cho từng hộ gia đình để khai hoang, trồng mới cao su. Lúc đầu do khí hậu không tốt, dân bị sốt rét, ốm đau, bệnh tật, có người đã không qua khỏi. Nhưng cây cao su không phụ công người, phát triển nhanh, đời sống của nhân dân khá dần lên từ đó. Từ ngày Binh đoàn vào chiến dịch, tôi cảm thấy thời gian đi nhanh quá. Ban ngày phải có mặt tại hiện trường, trưa cùng ăn cơm trộn bo bo với bộ đội. Tối đến tôi mới ngồi vào bàn để đọc, xử lí công văn, giấy tờ. Tôi còn phải kiểm tra, xem xét lại tiến độ công việc trong ngày; suy nghĩ, chuẩn bị nội dung chỉ đạo trong ngày lao động hôm qua. Công việc rất nhiều nên có đêm tôi phải thức trắng. Sau mỗi ngày, thấy hình hài những nông trường cao su hiện dần lên, ai cũng mừng. Những ngôi nhà tranh nứa lá của bà con đến làm cao su mọc lên ngày một nhiều. Có cả những đôi uyên ương dắt tay tay nhau vào phòng cưới. Tiếng trẻ con hát ê a, tiếng bà ru cháu đã nhen dần lên niềm hi vọng, làm ấm một vùng đất mới cao su. Đất được vớ màu đỏ au, phơi mình dưới nắng miền Đông trông rất thích mắt. Tiếp đó là cày xới đất, đào hố, ươm cây, trồng rừng. Từng vạt cao su mới trồng được bàn tay bộ đội chăm sóc, lên xanh như cánh tay con trẻ. Không có bất cứ trở ngại nào mà người chiến sĩ không vượt qua được. Mồ hôi, công sức bộ đội đã cho thành quả bước đầu. Năm 1982, đồng chí Đỗ Quý đi nhận công tác khác, đồng chí Trần Văn Phước được cấp trên điều về làm giám đốc công ti. Năm 1872, là một năm tăng tốc, phấn đấu quyết liệt của Binh đoàn 23. Lúc này, quân số của Binh đoàn đã lên tới 17.000 người - một lực lượng làm kinh tế hùng hậu, trên vùng đất cao su giàu tiềm năng. Tuy còn nhiều khó khăn, thiếu thốn trong sản xuất và sinh hoạt nhưng bộ đội không hề phàn nàn, kêu ca. Tôi thật sự vui mừng trước những kết quả Binh đoàn đạt được. Năm 1982, Thiếu tướng Võ Văn Thạnh - Phó Chính ủy Quân khu 7, tăng cường cho Tổng cục Cao su lên kiểm tra Phú Riềng. Thay cho bản báo cáo, tôi đưa ông xuống kiểm tra trực tiếp các cơ sở sản xuất. Tất cả 7 nong trường trồng cao su, 4 xí nghiệp chế biến, các đơn vị vận tải, cầu đường, xây dựng vật liệu do Binh đoàn đảm nhiệm đều thực hiện nghiêm túc, bảo đảm kế hoạch đề ra, làm đến đâu chắc đến đó. Thiếu tướng Võ Văn Thạnh rất hài lòng và khen ngợi Binh đoàn không chỉ biết làm kinh tế mà còn làm giỏi. Sau mấy ngày đi thị sát, tận mắt chứng kiến sự đổi đời của cây cao su Phú Riềng, Tướng Võ rất vui. Ông nói với tôi: “Đưa Binh đoàn 23 vào hợp tác với Phú Riềng là một giải pháp hoàn toàn đúng và sáng suốt trong thời điểm hiện nay. Chỉ có người chiến sĩ mới đủ bản lĩnh để vực Phú Riềng dậy và phát triển. Tổng cục Cao su rất cảm phục và biết ơn các anh”. Cuối năm 1983, Binh đoàn 23 hoàn thành nhiệm vụ làm kinh tế trên công trình Cao su Phú Riềng. Đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ của Binh đoàn trở về quân đội. Một số anh em được giải quyết chính sách. Do yêu cầu xây dựng công ti và nguyện vọng của một số anh em, Binh đoàn đã cho chuyển ngành tại chỗ trên 120 sĩ quan và hạ sĩ quan. Số anh em ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ quản lí các nông trường, xí nghiệp, cơ quan. Trong Bộ Tư lệnh, anh Trương Văn Ba được giao nhiệm vụ ở lại, tiếp tục giữ cương vị Phó giám đốc; anh Bùi Thiếp làm Bí thư Đảng ủy Công ty cao su Phú Riềng. Tôi trở lại quân đội theo mệnh lệnh của cấp trên. Ba năm với bây nhiêu ngày, chúng tôi cùng nhau đồng cam cộng khổ, vui buồn có nhau nên khi chia tay anh em thật cảm động. Tự hào thay về quân đội của chúng ta - Trường học lớn không chỉ đào tạo chúng tôi giỏi cầm súng mà còn thích nghi nhanh với cái mới, biết làm và làm kinh tế giỏi. Đúng như câu thơ của Bác: Không có việc gì khó. Ba năm, chỉ hơn 1.000 ngày nhưng tập trung cao nhất trong năm 1982, Binh đoàn đã khai hoang hàng chục ngàn hécta, trồng mới 2.300 hécta cao su, dựng hàng trăm ngôi nhà, lập làng công nhân cao su, mở hàng trăm kilômét đường, đào đắp hàng triệu mét khối đất... Có người nói đó là một kì tích. Nếu như thời kì trước đổi mới, làm kinh tế ở Quân khu 7 có nhiều trung tâm, nhiều nơi làm nhưng Binh đoàn 23 để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng cán bộ, công nhân viên và nhân dân địa phương. Thành quả ấy thật to lớn, có ý nghĩa sâu sắc và lâu dài về kinh tế và quốc phòng trên một địa bàn quan trọng. Một vùng rừng núi bạt ngàn, hoang sơ, còn nhiều bom mìn sót lại sau chiến tranh, kí sinh trùng sốt rét, bênh tật... nhờ bàn tay, khối óc của Bộ đội Cụ Hồ đánh thức đã thành một vùng cao su trù phú. Công ti cao su Phú Riềng từ chỗ ốm yếu, đứng trước nguy cơ phá sản đã được tiếp thêm sức, bình phục trở lại, để phát triển, lớn mạnh. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:35:32 pm Lễ bàn giao Binh đoàn 23 cho quân đội diễn ra trang trọng và cảm động. Tham gia buổi lễ có Trung tướng Đặng Kinh - Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế; Thiếu tướng Bùi Cát Vũ - Phó Tư lệnh Quân khu 7, ông Đỗ Văn Nuống, - Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su, đại diện tỉnh Sông Bé, địa biểu các huyện trên địa bàn Binh đoàn đứng chân. Về phía Binh đoàn có các đồng chí chỉ huy, các Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trưởng phó các phòng ban nghiệp vụ. Các đồng chí trong Ban Giám đốc Công ty Phú Riềng phát biểu rất cảm động về Binh đoàn. Tôi nhớ mãi câu nói của Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su Đỗ Văn Nuống: “Công ty cao su Phú Riềng hợp tác với Liên Xô (từ năm 1978 - 1979) như một con voi khổng lồ bị sa lầy nay nhờ có Binh đoàn 23 của bộ Quốc phòng đến kịp thời kéo nó lên, đẩy cho nó đi được một khúc dài như ngày nay. Tổng cục Cao su hết sức cảm ơn Bộ Quốc phòng, Quân khu 7”.
Lời lẽ của ông Tư Nguyện thành thật và xúc động. Không khí buổi lễ bàn giao như có nốt trầm buông xuống. Lát sau ông Tư Nguyện nói tiếp: “Đề nghị Bộ Quốc phòng và Quân khu 7 cho anh Năm Phúc ở lại làm Tổng cục Phó kiêm Giám đốc Công ty cao su Phú Riềng”. Trung tướng Đặng Kinh nhìn mọi người, cười rõ to: “Không được, Năm Phúc phải về quân đội”. Nói xong, Tướng Đặng Kinh quay sang hỏi tôi; “Ý anh Năm thế nào?”. Tôi trả lời: “Cao su cần thì tôi ở thêm vài năm nữa, sau đó cho tôi về lại quân đội”. Ông Tư Nguyện cười nói: “Ở lại thì ở lại luôn còn không thì chúng tôi chẳng dám giữ”. * Tháng 6 năm 2008, nhận lời mời của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Phú - Giám đốc, tôi mới có dịp trở lại thăm Công ti cao su Phú Riềng. Sau 25 năm, Phú Riềng giờ đã đổi khác, lớn mạnh, giàu có. Các anh trong công ti đưa tôi đi thăm Nông trường 3, Nông trường 5. Trên mảnh đát năm xưa được coi là gian khổ nhất, giờ Nông trường 3 đã có bước phát triển lớn mạnh, được Nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương Lao động. Bốn năm nay (2006 - 2009), Nông trường đạt trên 2 tấn mủ cao su 1 hécta/năm. Giám đố nông trường hôm nay là chị Trương Thị Nghĩa, rất trẻ và giỏi giang nữa. Nông trường 5 hiện quản lí 1.449 hécta cao su, trong đó có gần 1.000 hécta đang khai thác. Nhiều năm nay, nông trường đều vượt con số trên 2 tấn mủ 1 hécta/năm. Giám đốc Phạm Trong Thuần cho tôi biết, có được kết quả ấy là do nông trường đã áp dụng khoa học kĩ thuật và phương pháp quản lí tiên tiến. Đưa tôi đi thăm cánh rừng cao su Binh đoàn 23 trồng năm 1981, Giám đốc Phạm Trọng Thuần nói giọng vui và tự hào: “Những vườn cây cao su sau 25 năm chắt chiu từng giọt mủ, góp phần làm giàu cho Tổ quốc, nay đã hoàn thành nhiệm vụ. Đất được vỡ lại, cây cao su non lại thay thế lớp thế hệ trước. Cứ thế, một chu kì cây cao su mới lại bắt đầu”. Nông trường 5 có một “Phòng Hồ Chí Minh”. Các buổi phát động thi đua, tổng kết, khen thưởng, kết nạp Đảng viên... đều diễn tra trong căn phòng sang trọng và có ý nghĩa này,. Tôi vui sướng và tự hào về sự lớn mạnh, phát triển vượt bậc của Công ty cao su Phú Riềng - Một trong những đơn vị hàng đầu của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam. Tôi vui mừng gặp lại một số anh em của Binh đoàn 23. Số anh em ở lại nhiều người thực sự có năng lực và phẩm chất, lần lượt làm giám đốc Nông trường, xí nghiệp: Trần Mai Lâm, Nghiêm Đình Chuộng, Nguyễn Bật Vấn, Lê Phùng Thịnh, Bùi Văn Thàng, Nguyễn Thế Trản, Nguyễn Rèn, Nguyễn Văn Vượng, Phùng Đức Bản, Phạm Lê Kì, Phạm Hữu Quyền, Đặng Hồng Hiến... Các anh Hoàng Văn Cầu - Chánh Văn phòng; Hoàng Thanh Tình - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra. Các anh Phan Tiến Lu, Trần Hoàn Kiếm, Nguyễn Chính Niên, Nguyễn Văn Thâ... đều giữ các cương vị công tác quan trọng tại cơ quan công ty. Thiếu tá Hà Nguyên Cát sau này làm Giám đốc Công ti cao su Phú Riềng. Dòng sữa từ những vườn cây cao su của Công ty Phú Riềng không ngừng tuôn chảy, là nguồn “vàng trắng” góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Các sản phẩm cao su Phú Riềng không chỉ phục vụ cho công nghiệp chế biến trong nước mà còn xuất khẩu đến với nhiều nước trên thế giới. Phú Riềng không chỉ đã thành thương hiệu mạnh và uy tín của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam. Lớp lớp cán bô, công nhân viên Công ty cao su Phú Riềng đã và đang tô thắm truyền thống “Phú Riềng Đỏ” anh hùng. * Ngay từ khi mới thành lập, quân đội ta đã có 10 lời thề danh dự. Đứng dưới cờ Tổ quốc, dưới lá Quân kì quyết thắng, người chiến sĩ đặt tay lên trái tim mình, hô: “Xin thề” theo 10 điều thiêng liêng ấy. Suốt cuộc đời quân ngũ của mình, tôi luôn thực hiện nghiêm cẩn 10 Lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Là Tư lệnh Binh đoàn 23, tôi đã cùng với cán bộ, chiến sĩ vượt mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tôi tự hào vì mình đã thực hiện trọn vẹn lời thề thứ 2 của quân đội ta: Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực, thi hành nhanh chóng và chính xác. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:36:02 pm 12. HẠNH PHÚC Bây giờ tôi mới có dịp nhớ lại những kỉ niệm riêng tư của mình. Thời gian trôi nhanh thật, hạnh phúc thật đấy mà cứ ngỡ trong mơ. Tháng 5 năm 1954, đang hành quân đánh địch ở Tây Nguyên, tin Điện Biên Phủ thắng lớn, làm chúng tôi vui sướng, ôm lấy nhau, hò reo vang động cả một cánh rừng. Tôi nghĩ, chiến thắng Điện Biên Phủ làm quân Pháp thất bại, buộc chúng phải cuốn gói về nước. Từ nay đất nước sẽ hòa bình, mình sẽ được về nhà cầm lấy cái cuốc, cái cày, lao động xây dựng cuộc sống mới. Thực hiện Hiệp định đình chiến, Trung đoàn 803 được lệnh rút khỏi Tây Nguyên về lại đồng bằng. Niềm vui chiến thắng, nỗi mong chờ được gặp lại người thân hiện rõ trên gương mặt mỗi người. Trung đoàn “xuống núi” theo đường 14 - Con đường đã in dấu chiến công trong suốt dặm dài đánh giặc của tôi. Trung đoàn tập kết ở dải đồng bằng Phú Yên. Là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, vốn có vùng tự do rộng lớn, nhân dân Phú Yên đã từng dành những hạt gạo, củ khoai nuôi chúng tôi suốt những tháng năm chiến đấu gian khổ. Dừng chân ở Phú Yên được mấy ngày, đơn vị tôi chuyển ra đóng quân ở xã Đức Tân, huyện Mộc Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Lúc này từ bắc Quảng Ngãi vào đến bờ bắc sông Vệ là khu tập kết của đối phương; từ bờ nam sông Vệ vào đến Quy Nhơn Bình Định là khu vực tập kết 300 ngày của ta. Mộ Đức là huyện có cả bờ biển, đồng bằng và núi của tỉnh Quảng Ngãi. Trong kháng chiến chống Pháp, Mộ Đức vừa là chiến trường và là vùng tự do. Đại đội tôi đóng quân ở xã Đức Tân, là địa phương giàu truyền thống cách mạng, nơi cung cấp nhiều sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Lúc ấy, tôi là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 39 thuộc Trung đoàn 803 chủ lực Liên khu 5. Mải mê đánh giặc, tôi không kịp yêu, bây giờ đất nước hòa bình, ngoảnh lại, thấy mình đã gần 30 tuổi. Trong chiến đấu tôi được anh em đánh giá là gian lì, dũng cảm nhưng khi đứng trước nữ thanh niên lại rụt rè, nhút nhát. Về đóng quân trong làng, tôi thầm để ý đến một cô giá. Ấy thế mà tôi không dám mở lời, nên cậy nhờ đến Chính trị viên phó đại đội Nguyễn Văn Nhi. Anh Nhi cùng tuổi với tôi nhưng đã có vợ con, lại rất giỏi làm công tác quần chúng. Sau khi nghe tôi trình bày, anh Nhi rít một hơi thuốc lào rồi thủng thẳng nói: - Phải đồng thời tiến hành “nhiều mũi tiến công”. Nghĩa là gặp gỡ, làm quen cô gái, gây cảm tình với gia đình và nhờ cả đoàn thể giúp đỡ. Gợi đúng sở trường công tác dân vận của mình, anh Nhi nói với tôi rất nhiều kinh nghiệm tiếp cận đối tượng. Tôi nghe chăm chú như cậu học trò lắng nghe bài giảng sinh động của thầy giáo. Anh còn kể cả chuyện mình đi hỏi vợ cho tôi nghe. Được Chính trị viên phó Đại đội chỉ cho cách tiếp cận, các anh trong Ban Chỉ huy động viên nhưng tôi vẫn thấy run. Tôi nghĩ, lấy vợ như một trận công đồn, phải được chuẩn bị kĩ, biết “địch”, biết ta mới chắc thắng. Nếu đánh thắng thì vui và tự hào, còn thất bại sẽ bị tổn thất lực lượng, lại xấu hổ, không còn mặt mũi nào mà nhìn mọi người. Mình thuốc hàng quá lứa, còn cô gái ấy mới 18 tuổi, lại xinh đẹp, liệu có thành công? Vốn là lính trinh sát, tôi quyết định làm công tác “điều tra, nghiên cứu” đối tượng. Sau gần một tháng, tôi đã làm xong “công tác chiến trường”. Cô ấy tên là Trần Kiều Sửu, quê ở xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Cha tên là Trần Tiến Hòe, mất năm 1937, khi cô ấy chưa được một tuổi. Má là bà Ngô Thị Thu, đi bước nữa, theo chồng về xã Đức Tân, huyện Mộ Đức. Nhà có hai an hem, anh cả là Trần Tiến Dân, Trần Kiều Sửu là con gái út đi theo má về sống ở Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi. Người cha dượng Trần Hàm vốn là du kích Ba Tơ, đảng viên từ năm 930. Nói đến ông Trần Hàm, cả huyện Mộ Đức ai cũng biết. Vốn là cán bộ hoạt động có uy tín tại địa phương nên ông là bạn thân của các cán bộ lãnh đạo như đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chánh, Nguyễn Đôn và nhiều người trong Bộ Tư lệnh Liên khu 5. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Liên khu 5 bước vào thời kì khó khăn, gian khổ và ác liệt nhất, Đảng điều ông Trần Hàm vào công trác trong quân đội. Được giao làm Trưởng ban Quân nhu Liên khu 5, ông đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm lương thực, thực phẩm, quân trang cho bộ đội ta chiến đấu thắng lợi. Mẹ cô ấy là bà Ngô Thị Thu, sinh năm 1915, tham gia hoạt động sôi nổi trong tổ chức phụ nữ cứu quốc. Bà là người hoạt động tích cực trong phong trào “Hội mẹ, chị chiến sĩ”, được nhiều đơn vị bộ đội yêu mến và cảm phục. Hơn 10 tuổi, cô ấy đã tham gia Đội Thiếu niên cứu quốc; sau đó vào Đoàn Thanh niên cứu quốc hoạt động rất sôi nổi. Trần Kiều Sửu được phân công làm công tác tuyên truyền, kêu gọi đồng bào tin tưởng vào Việt Minh, không theo giặc, “một tấc không đi, một li không rời”; đẩy mạnh tăng gia sản xuất góp phần nuôi bộ đội đánh Pháp. Cô ấy còn là cây văn nghệ xuất sắc của chi đoàn thanh niên. Có dạo, nhiều người thấy cô ấy làm giáo viên Bình dân học vụ, xóa mù chữ, “diệt giặc dốt” tại quê hương. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:36:19 pm Tôi rất mừng vì đối tượng mình tìm hiểu có lí lịch rõ ràng, lại là thành phần cơ bản, gia đình có truyền thống cách mạng. Tôi báo cáo với Chi bộ, Ban chỉ huy đại đội sơ bộ về lí lịch cô ấy, các anh đều rất mừng. Mấy ngày sau, hai chi đoàn có buổi sinh hoạt văn nghệ, cô ấy cũng có mặt, có lúc còn hát tặng bộ đội.
Một lần đi qua nhà, gặp bà Ngô Thị Thu đang nhổ củ mì (sắn), thấy đây là thời cơ thuận lợi, tôi chạy lại: - Má để con nhổ cho! Tối hôm ấy về, bà hỏi con gái: - Có thằng bộ đội nào lại gọi tao bằng má, mày? Khi đã tìm hiểu kĩ, các anh trong Ban Chỉ huy đại đội bàn với tôi: “Đơn vị đang chờ đến lượt ra Bắc, cô ấy đồng ý, cưới xong cũng xin đi tập kết luôn. Làm lễ cưới lúc này là thuận lợi nhất”. Thấy các anh nói có lí, điều kiện lại đang cho phép, tôi bàn với cô ấy tổ chức lễ cưới. Nghe tôi nói, cô ấy im lặng một lúc, mãi sau mới nói; “Để em hỏi ý kiến má và dượng đã”. Khi được nhà gái đồng ý, đơn vị - đại diện cho nhà trai khẩn trương làm công tác chuẩn bị. Ngày 20 tháng 2 năm 1955, lễ cưới của chúng tôi diễn ra tại sân kho của xã rất vui. Chủ hôn là Chính trị viên phó đại đội Nguyễn Văn Nhi. Đám cưới của anh bộ đội vừa đi qua chiến tranh với cô thôn nữ chỉ có nước chè, kẹo bánh. Mới ngoài Tết, bà con biết tin chúng tôi làm lễ cưới, mang đến cho thịt lợn, bánh tét, bánh tổ, mứt bí, mứt gừng. Vợ chồng tôi lấy gian nhà kho của gia đình làm phòng hạnh phúc. Không có giường, chỉ có mây tấm ván mỏng xẻ ra từ thân cây xoài, đặt giữa nền nhà. Sống với nhau được 3 ngày, tôi nhận lệnh vào Trung đoàn 93 đang đóng ở Tam Quan (Bình Định) nhận chức Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn hỏa lực và chuẩn bị đi tập kết. Xong nhiệm vụ, tôi trở về Mộ Đức để tiễn vợ xuống tàu tập kết ra Bắc. Hôm chia tay, cô ấy khóc sưng cả mắt. Tôi nén lòng dặn vợ: - Em cứ yên tâm đi trước. Ra đến nơi anh sẽ tìm em ngay. Vợ tôi nói trong dòng nước mắt: - Đừng để lạc em nghe anh! Những ngày trên đất Bắc, vợ tôi luôn mong tin tức của chồng. Mong ngóng, lo âu và thương nhớ làm cô ấy mất ăn mất ngủ. Tàu cập bến cảng Sầm Sơn hôm trước, hôm sau đã thấy cô ấy đến tìm tôi. Vợ chồng gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Tuy sống trên miền Bắc, nhưng tôi luôn đóng quân xa nhà, thỉnh thoảng mới được về thăm vợ con. Cơ quan thương nghiệp nơi vợ tôi công tác chia cho gian nhà nhỏ trên gác hai ở số 6, phố Quán Thánh - Hà Nội. Đây là mái ấm hạnh phúc của vợ chồng tôi trong nhiều năm trên miền Bắc. Dưới mài nhà nhỏ này, 4 đứa con của chúng tôi lần lượt chào đời. Hạnh phúc nhất của một đời người chính là những đứa con. Con cái là kết quả của tình yêu, hạnh phúc. Mỗi đứa con của vợ chồng tôi ra đời là một câu chuyện và là kỉ niệm ngọt ngào. Tháng 8 năm 1958, vợ tôi sinh con gái đầu lòng Mai Ngọc Dung. Hơn hai năm sau, tháng 11 năm 1960, con gái thứ hai Mai Thúy Hạnh chào đời. Lúc mới sinh ra Hạnh trông rất bụ bẫm, xinh xắn. Tháng 9 năm 1962, vợ sinh con trai, tôi bàn với cô ấy đặt tên là Mai Sơn Thủy. Sơn Thủy là từ ghép núi Ngũ Hành Sơn - một danh thắng của xứ Quảng và vùng quê sông nước nơi tôi sinh ra. Mỗi lân gọi tên con Mai Sơn Thủy, tôi lại nhớ quê hương. Nhiều người đến thăm nói con trai giống tôi như tạc. Trước ngày lên đường về Nam chiến đấu, nhìn vợ bụng mang dạ chửa đứa con thứ tư tôi rất thương. Đêm trước ngày lên đường, vợ chồng tâm sự: “Em ráng chịu khổ để nuôi con. Khi sinh ra dù trai hay gái cũng lấy tên em đặt cho con. Theo anh tên con có hai chữ đầu là Mai Kiều. Tên của con sẽ ghi lại kỉ niệm những tháng năm gian khó, bảo đảm tình yêu và hạnh phúc của em lúc anh đi xa”. Tháng 8 năm 1964, vợ tôi sinh con trai thứ tư và đặt tên Mai Kiều Hùng, nhưng mãi đến cuối năm 1965, khi đoàn thứ 3 của binh chủng (Đoàn 711) hành quân vượt Trường Sơn vào tăng cường cho Nam Bộ, tôi mới biết. Tin vui đến giữa chiến trường khiến tôi rất xúc động. Nhớ lại hôm trước khi lên đường vào chiến trường, vợ tôi đã động viên: “Anh giữ gìn sức khỏe cùng mọi người đi đến nơi, hoàn thành tốt nhiệm vụ, có điều kiện thư về cho mẹ con em. Còn việc nhà em sẽ lo liệu, anh cứ an tâm đi, rồi sẽ biết”. Đóng quân ở Vĩnh Phúc, những lần từ đơn vị được về Hà Nội, nhà tôi vui như Tết. Chiều chiều, vợ chồng tôi dắt các con đi dạo trên đường Cổ Ngư, qua hồ Trúc Bạch, lên mạn Nghi Tàm, Nhật Tân, Quảng Bá. Hà Nội cổ kính, thanh bình và nên thơ. Có hôm vợ chồng con cái vòng qua Phan Đình Phùng, Điện Phiên Phủ, ngắm Quảng trường Ba Đình; Phủ Chủ tịch - nơi có Bác Hồ đang làm việc trong đó. Cũng không ít lần vợ chồng tôi vào đền Quán Thánh, thắp hương cầu cho người thân và nước nhà mau thống nhất. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:36:51 pm Là bộ đội, quanh năm tôi ở xa, việc nhà, nuôi con đều một mình vợ gánh vác, lo toan. Vợ tôi làm mậu dịch viên thuộc Sở Thương nghiệp Hà Nội; lúc làm ở số 10 Lê Lai, có dạo lại ở 76 Hàng Trống. Nhà ở số 6, Quán Thánh, gởi con lại ở 97 Hàng Gai, Bờ Hồ. Để bảo đảm giờ làm việc theo quy định nên mỗi buổi sáng vợ tôi phải thức dậy từ 3 giờ rưỡi, 4 giờ sáng, lo vệ sinh, cơm nước, rồi đánh thức các con dậy, lớn trước nhỏ sau.. Lo rửa mặt, thay quần áo, cho từng đứa ăn sáng, vác xe đẩy xuống sân rồi tay dắt, tay bồng đưa con ngồi vào xe. Mẹ đẩy xe từ số 6 Quán Thánh, đi qua vườn hoa Hàng Đậu đến phố Hàng Gài, bờ hồ Hoàn Kiếm khoảng ba bốn cây số. Vợ tôi tính sao để 6 giờ rưỡi sáng các con đã vào nhà trè, mẹ đến cơ quan cho kịp giờ làm việc. Đến trưa, khoảng 11 giờ rưỡi ăn cơm, mọi người tranh thủ nghỉ thì vợ tôi lại tất tả đến nhà trẻ với con nhỏ. Chiều hết giờ làm việc lại đến nhà trẻ đón con. Về đến nhà đã 5 - 6 giờ chiều, lại lo tắm rửa, ăn uống cho con xong rồi mẹ mới ăn và chơi với các con. Khi các con đi ngủ, mẹ lo dọn dẹp nhà cửa, tắm rửa, thường là ngoài 10 giờ, có khi 11 giờ đêm mới được đi ngủ.
Dường như thấu hiểu được nỗi vất vả của người mẹ, các con tôi đều khỏe, ngoan và chóng lớn. Đặc biệt là Hạnh, từ bé đã bám theo mẹ, ngồi chơi cũng ngồi bên mẹ. Mẹ thức bao nhiêu thì Hạnh cũng thức bấy nhiêu. Ngủ cũng nằm bên cạnh mẹ. Vì ngủ muộn nên sáng dậy nhiều lúc vợ tôi phải để cháu ngủ thêm, thức dậy sau cùng. Hạnh biết sớm, khi đi đường cũng đòi đi bộ và đẩy xe với mẹ, mẹ nói cũng không nghe, đến khi mỏi chân mới chịu lên xe. Hạnh chỉ sợ và nghe lời cô bảo mẫu. - Cô dặn Hạnh, mẹ bảo ngồi lên xe là phải ngồi nghe chưa, nếu không nghe lời lên đây cô sẽ phạt. - Dạ! Thưa cô con nghe rồi ạ! Từ đó, Hạnh tự động lên xe ngồi không chờ mẹ bảo. Khi còn đóng quân ở Vĩnh Phúc, thỉnh thoảng vào ngày chủ nhật, tôi được về tranh thủ, thấy vợ tôi quá vất vả. Vừa lo công việc cơ quan, vừa nuôi dạy các con, người cô ấy gầy rộc đi. Lần nào được nghỉ thêm ngày thứ hai, tôi tranh thủ phụ giúp vợ chút ít. Gặp lúc khó khăn, các con ốm, vợ tôi chỉ biết nhờ cơ quan, chị em bè bạn. Bên nội ngoài tôi ra không còn ai đi tập kết. Bên ngoại, anh chị em có nhiều, nhưng mỗi người mỗi cảnh, chỉ có lời động viên thăm hỏi, còn việc nhà ai cũng neo đơn nên không giúp được gì nhiều. Thế mà việc nhà chăm sóc con cái và bảo đảm công tác cơ quan, công tác đoàn thể, công tác xã hội, vợ tôi đều cố gắng vượt qua, việc nước, việc nhà đảm đang để chồng yên tâm chiến đấu ngoài mặt trận. Nhiều năm đạt danh hiệu phụ nữ “ba đảm đang”, được Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tặng Huy chương “Vì sự nghiệp phụ nữ”, Bộ Quốc phòng tặng bằng “Gia đình vẻ vang”, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Nhất. Sau này các anh ở cùng cơ quan với vợ tổi kể lại, nhiều chị em trong cơ quan thấy cô Sửu chồng đi xa một thân một mình lo cho ba cháu còn nhỏ đã hết hơi, lại còn mang bầu nữa để làm gì? Hay làm theo chủ trương và chị em đã khuyên. Vợ tôi nói trong dòng nước mắt: “Em nghĩ nhiều lắm, ba cháu ra chiến trường chưa biết ngày về, nay để mất cháu trong bụng thì tội nghiệp cho cháu và ba cháu lắm, các chị thương em với, em không đành bỏ con”. Ngày ấy, bộ đội ta ở chiến trường hi sinh nhiều, có lúc vợ tôi cũng hoang mang. Những lá thư vợ tôi gửi vào chiến trường thường thất lạc, thư tôi gửi ra Hà Nội cũng ít khi đến được tay vợ tôi. Nhưng tình yêu, hạnh phúc đã làm tăng nghị lực để vợ tôi vượt qua, hoàn thành nhiệm vụ và chờ ngày tôi trở về. Cuối năm 1973, tôi được cấp trên cử ra Bắc kết hợp an dưỡng và học tại Học viện Quân sự Hà Nội (nay là Học viện Quốc phòng). Biết tôi ở chiến trường đã lâu, các anh tạo điều kiện để tôi được mang tiêu chuẩn về nhà với vợ con. Buổi chiều hết giờ học, tôi đạp xe qua dốc Bưởi, theo đường Thụy Khuê đẻ về Quán Thánh. Vừa về đến nhà, các con tôi Mai Ngọc Dung và Mai Kiều Hùng chạy ra cửa ôm chặt lấy tôi: “Ba đã về!”. Nghe tiếng các con, được ôm chúng, tôi thấy không có niềm hạnh phúc nào bằng. Càng thương 2 đứa Mai Thúy Hạnh và Mai Sơn Thủy phải xa nhà, học ở Quế Lâm - Trung Quốc. Một năm sống trên miền Bắc trôi nhanh như cơn gió. Đầu tháng 3 năm 1975, tôi tạm biết vợ con để trở lại chiến trường. Sáng hôm ấy các con tôi đòi: “Ba không đi, ở nhà với con”. Vợ tôi dỗ mãi, Mai Kiều Hùng mới chịu để tôi lên đường. Sau ngày giải phóng miền Nam được ít lâu, Mai Thúy Hạnh và Mai Sơn Thủy từ Quế Lâm - Trung Quốc về nhà. Cấp trên tạo điều kiện cho tôi đưa vợ con từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Chuyến về Nam lần này có vợ chồng tôi, các con: Hạnh, Thủy, Hùng. Riêng Mai Ngọc Dung về sau vì đang học Đại học Ngoại thương (khóa 16, năm học 1975 - 1980). Cơ quan chia cho gia đình tôi một căn hộ trong cư xá Lam Sơn. Niềm vui nước nhà thống nhất, vợ chồng sum họp, hạnh phúc dâng trào. Cuộc trường chinh mấy mươi năm của dân tộc trong đó có sự đóng góp bé nhỏ của mình giờ đã đơm hoa kết trái. Một hôm tôi nói với vợ: - Các con đã lớn, mình sinh thêm đứa út ở Sài Gòn. Khi về già nó nuôi mình, nếu nó không nuôi được thì mình chăm sóc nó. Tháng 10 năm 1976, cô con gái - niềm mong ước của vợ chồng tôi chào đời tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng tôi đặt tên cho con là Mai Liên Hương, cả nhà gọi thân mật là út Sài Gòn. Tại thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu những năm đầu giải phóng, ba anh em chúng tôi: Mai Đăng Dân, Mai Đăng Do (tôi) và Mai Đăng Hà có cuộc gặp mặt cảm động. Ba anh em đã trao đổi, bàn bạc nhiều việc và cuối cùng đã thống nhất tập trung vào xây dựng hệ thống từ đường của nội, ngoại tộc và của dòng họ Mai Đăng Lưu, Mai Đăng Nhạc. Cùng với hệ thống từ đường là quy tụ mồ mả gia tiên theo dòng họ và các vị tiền bối, hoàn thành cuốn Gia phả tộc Mai và Gia phả dòng họ. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:39:02 pm * Tháng 12 năm 1997, với quân hàm Thiếu tướng - Phó Tư lệnh Quân khu 7, tôi được Đảng, Nhà nước, quân đội cho về nghỉ. Hành trang lúc nhập ngũ là một nông dân, 18 tuổi đời không có văn hóa, không có nghề nghiệp, tôi chỉ có suy nghĩ và một quyết tâm: Nếu không chiến thắng giặc Pháp thì độc lập dân tộc và tương lai cũng mờ mịt: Từ đó cho đến bây giờ Quyết tâm theo Đảng cuộc đời đổi thay. Hơn 52 năm trong quân ngũ, rèn luyện, chiến đấu, trưởng thành từ người chiến sĩ tôi được phong quân hàm cấp Tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu 7 và Tư lệnh Tăng - Thiết giáp Miền (B2) đã đi vào lịch sử Quân khu và Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một người nông dân “áo vải chân không đi lùng giặc đánh”, chữ nghĩa không biết, đi theo Đảng, Bác Hồ, trở thành một tướng lĩnh, có sắc phong của Nhà nước, trưởng thành có sự nghiệp vẻ vang. Đó là hạnh phúc. Vợ chồng tôi có 5 con (3 gái, 2 trai) đều đã có gia thất; 2 dâu, 3 rể và có 9 cháu nội ngoại. Điều hạnh phúc nhất của ông bà là 5 con đẻ đều có gia đình và đều có nụ, có hoa xinh đẹp. Các cháu nội ngoại được nuôi dưỡng, dạy dỗ, học hành đang trên đà phát triển theo mong muốn mà đời ông bà chưa có điều kiện chăm sóc các con bằng các cháu ngày nay. Ngày 20 tháng 5 năm 2005, các con đã tổ chức “Lễ cưới vàng” cho vợ chồng tôi. Mối tình của chúng tôi đi qua hơn nửa thế kỉ nay vẫn hạnh phúc. Cả 5 người con đẻ của vợ chồng tôi đều có trình độ đại học và tương đương, thành đạt trong sự nghiệp; có hiếu với cha mẹ. Các con rể, dâu cũng đều là công dân tốt của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu. Bà Trần Kiều Sửu không chỉ là người bạn đời, là ân nhân của tôi mà còn là ân nhân của cả dòng họ Mai Đăng. Công sức của bà đối với tôi và gia đình mãi mãi được dòng họ Mai Đăng Tân Lưu, phái ông bà Mai Đăng Hậu ghi nhận như là một trong những người con dâu nối nghiệp và tô thắm dòng họ. Ngày 2 tháng 9 năm 2009, tôi vinh dự được nhận Huy hiệu “60 năm tuổi Đảng”. Nhờ ơn Đảng, tôi mới được như hôm nay. Với Đảng - tôi trọn niềm tin yêu! * Năm 2010 có nhiều điều bất ngờ đến với tôi, vui buồn, lo lắng, xen lẫn tự hào. Hơn 20 năm nay tôi bị chứng tiểu đường, cũng gần chừng ấy năm bị tăng huyết áp. Tháng 8, căn bệnh tăng huyết áp vốn được kiềm chế bởi chế độ uống thuốc hằng ngày nay lại giở chứng, bất ngờ quật ngã tôi. Gia đình vội đưa tôi qua Bệnh viện quận 10 cấp cứu. Vì bệnh viện cách nhà chỉ vài trăm mét nên tôi được chữa chạy kịp thời, qua được cơn nguy hiểm. Hai hôm sau, tôi vào điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất, đúng với tuyến khám, chữa bệnh của tôi theo bảo hiểm y tế. Sau 10 ngày điều trị sức khỏe của tôi mới ổn định. Năm 2010, cả nước ta kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. đã là người Việt Nam dù ở xa Hà Nội ai cũng muốn có mặt tại Thủ đô trong những ngày trọng đại ấy. Với tôi, hai tiếng Hà Nội đã được biết tới từ ngày bắt đầu cầm súng chiến đấu chống thực dân Pháp trên chiến trường Khu 5. Ngày ấy, trong cánh lính trẻ đầu trần chân đất “đi lùng giặc đánh” đã chuyền tay nhau đọc bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ: Ai về Bắc ta đi với Thăm lại non sống giống Lạc Hồng Từ độ mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long… Mải đánh giặc, 10 năm sau tôi mới đặt chân đến Thủ đô Hà Nội. Sau ngày tập kết ra Bắc theo Hiệp định đình chiến, cuối năm 1955 tôi mới được ra Hà Nội để chuẩn bị ra nước ngoài học tập. Từ đó, Hà Nội như một phần máu thịt của tôi. Bởi ở đó, trên con phố Quán Thánh, vợ chồng tôi được Nhà nước phân cho một ngôi nhà nhỏ. Dưới mái nhà nhỏ này, bốn người con của vợ chồng tôi đã chào đời. Đầu năm 1964, tôi tạm biệt Hà Nội để vào Nam chiến đấu. Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ vô cùng ác liệt, thiếu tốn đủ đường nhưng không lúc nào chúng tôi nguôi nỗi nhớ Hà Nội. Chúng tôi nghĩ về Hà Nội hồn thiêng sông núi, nơi đó có Đảng và Bác Hồ đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Mỗi khi nghe tin giặc Mĩ ném bom vào Hà Nội, những người lính trên chiến trường miền Nam chúng tôi thấy mình như bị xúc phạm. Sau mỗi lần bom Mĩ giội xuống Hà Nội, đơn vị lại phát động bộ đội chiến đấu lập công, trả thù cho Thủ đô Hà Nội. Vì thế, Hà Nội đối với tôi vô cùng thiêng liêng. Tôi được Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh thông báo đi khám sức khẻo để tham gia chương trình “Thăng Long - Hà Nội hồn thiêng sông núi”. Đến Bệnh viện Nguyễn Tri Phương kiểm tra sức khỏe, bác sĩ kết luận tôi bị thiếu máu cơ tim do di chứng của tăng huyết áp. Tưởng không đi được với đoàn, tôi nói với vợ con sẽ ra Hà Nội một mình. Nhưng đến ngày gần cuối nhận tin báo có tên trong danh sách được đi, tôi mừng hết chỗ nói. Chương trình hành quân “Thăng Long - Hà Nội hồn thiêng sông núi” do Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Tập đoàn Mai Linh và Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức. Đoàn xuất phát từ Đồng Tháp ngày 26 tháng 9 năm 2010. Ngày 27 tháng 9 năm 2010, tôi tham gia Đoàn đại biểu Anh hùng, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và các tướng lĩnh của Thành phố Hồ Chí Minh. Tối ngày 27 tháng 9 năm 2010, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có cuộc giao lưu, truyền hình trực tiếp với chủ đề: “Miền Nam Thành đồng Tổ quốc- Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến dự và phát biểu ý kiến rất cảm động. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:39:50 pm Đúng 7 giờ sáng ngày 28 tháng 9 năm 2010, sau lễ dâng hoa lên Tượng đài Bác, chúng tôi háo hức hành quân về Thủ đô Hà Nội. Đoàn của Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh có 54 người, gồm 10 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 24 Anh hùng lực lượng vũ trang, 5 Anh hùng Lao động và 15 tướng lĩnh. Trong đoàn có Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Sứ đã 86 tuổi.
Ngay từ đầu, chúng tôi đã được sự quan tâm của Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài việc cử bác sĩ đi theo để trực tiếp chăm sóc, phục vụ, Ủy ban nhân dân thành phố còn hỗ trợ mỗi thành viên trong đoàn 1 triệu đồng. Hội Cựu chiến binh thành phố đã cử Trung tướng Đỗ Xuân Công - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hội Cựu chiến binh thành phố tham gia đoàn và làm Trưởng đoàn hành quân cánh cao nguyên. Để bảo đảm sức khỏe cho các thành viên, Ban tổ chức đã thành lập hẳn một “Bệnh viện lưu động” với sự tham gia của 60 y, bác sĩ của Bệnh viên Quân dân y Đồng Tháp và Trung tâm Y tế Tập đoàn Mai Linh. Mỗi ngày, lực lượng điều dưỡng, y tế đều kiểm tra sức khỏe, thường xuyên hỏi han, dìu đỡ các cụ đi lại, ăn nghỉ. Hôm sau chúng tôi ngược đường lên Tây Nguyên. Hơn 60 năm trước tôi đã đi trên những con đường này. Chỉ khác, ngày ấy tôi là anh lính bộ binh, đầu trần, chân đất, bí mật hành quân lên Tây Nguyên để lùng quân Pháp mà đánh. Còn bây giờ tôi đang đi với các Anh hùng thời đại Hồ Chí Minh và các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Cánh Trường Sơn của chúng tôi có đại biểu các tỉnh: An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, đắc Nông, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng và Thành phố Hồ Chí Minh; hành quân qua các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum theo quốc lộ 13, 14, vào đường Trường Sơn huyền thoại. Cánh Duyên hải hành quân qua các tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam theo đường quốc lộ 1. Cả hai cánh hợp nhất vào ngày 1 tháng 10 năm 2010 tại thành phố Đà Nẵng để cùng tiến về Hà Nội. Trên chặng đường hành quân gần 800km, vượt qua nhiều đồi núi chênh vênh, nơi có những địa danh lịch sử, gắn liền với những chiến công hiển hách của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Đặc biệt là con đường Trường Sơn huyền thoại giờ đây đang được mở rộng, nâng cấp, trở thành con đường chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế của cả nước. Đường mòn Trường Sơn đầu năm 1964 khi tôi hành quân vào Nam đánh giặc nay hầu như không còn dấu vết bởi thời gian và quá trình củng cố mở rộng. Thay vào đó là con đường rải nhựa phẳng lì, băng qua các bản làng trù phú với những ngôi nhà xây lợp ngói, lợp tôn màu đỏ tươi trông rất đẹp. Đường dây điện 500kV giăng mắc qua những ngọn núi là cho bản làng mới đẹp như một bức tranh của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên suốt chặng đường hành quân qua các thị trấn, thị xã, thành phố cao nguyên, ở đâu chúng tôi cũng được chào đón trọng thị. Những lá cờ, khẩu hiệu chào mừng Đoàn làm ấm lòng chúng tôi trước khi về với Thủ đô yêu dấu. Mỗi điểm đoàn dừng chân đều tổ chức những buổi giao lưu giữa những người anh hùng với tuổi trẻ. Ngày 1 tháng 10, Ở Hà Nội diễn ra lễ khai mạc Đại lễ thì Đoàn chúng tôi có mặt tại thành phố Đà Nẵng, hôm sau ra Quảng Trị. Đoàn làm lễ cầu siêu cho các liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn, viếng và thắp hương tại Nghĩa trang Đường 9. Tại thành phố Vinh - Nghệ An, tối 4 tháng 10, chúng tôi có buổi giao lưu cảm động với bà con quê hương Bác Hồ. Sáng ngày 5 tháng 10, Đoàn rẽ về Thái Bình để đón các Anh hùng, ăn vội bữa cơm trưa, chúng tôi khẩn trương hành quân đi Phú Thọ. Sáng ngày 7 tháng 10, Đoàn đi bộ vượt 1.500 bậc đá, lên đền Thượng thắp hương tưởng nhớ các Vua Hùng. Bên tai tôi như vang lên tiếng Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Về với cội nguồn dân tộc, có lẽ nhờ sự phù hộ của các Vua Hùng đã cho tôi sức khỏe, tôi leo một mạch lên đến đỉnh núi Hi Cương. Chiều ngày 8 tháng 10 năm 2010, hành quân về đến Hà Nội, Đoàn Thành phố Hồ Chi Minh được ở tại Học viện An ninh, trên đường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông. Các cán bộ, thày cô giáo và học viên đón Đoàn rất trọng thị và thân tình. Tối hô đó, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mĩ Đình có buổi giao lưu khá cảm động. Trong suốt cuộc hành quân đã có 7 đêm giao lưu và rất nhiều cuộc đón tiếp, chào mừng của lãnh đạo và nhân dân các địa phương đối với các đại biểu thật nồng nhiệt và xúc động, để lại những dấu ấn khó quên. Những đêm giao lưu, đặc biệt là với tuổi trẻ nơi đoàn đến có những nội dung, chủ đề rất ấn tượng, sâu sắc. đó là sự dặn dò của thế hệ đi trước gửi gắm cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó còn là niềm tự hào được vun đắp bởi lịch sử hào hùng mà nhân chứng chính là các Anh hùng, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và các tướng lĩnh. Phải chăng đó cũng chính là một sự biểu hiện đậm nét của khối đại đoàn kết toàn dân không gì lay chuyển nổi. Đồng bào các dân tộc, nhất là tuổi trẻ được tiếp xúc với các nhân chứng nổi tiếng một thời, giúp họ cảm nhận sâu sắc hơn, tự hào hơn về truyền thống, về thế hệ cha ông đã làm nên lịch sử hào hùng của dân tộc. Còn các anh hùng, tướng lĩnh thì càng thấy hơn trách nhiệm của mình trong nhiệm vụ truyền lửa, giúp thế hẹ trẻ tiếp nối truyền thống anh hùng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Sáng ngày 10 tháng 10 năm 2010, thời điểm chính của Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội sắp diễn ra, tôi càng hồi hộp, xen lẫn với niềm vui không sao tả xiết, khi được cùng Đoàn Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng, các tướng lĩnh tiến vào Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đoàn được ngồi ở khán đài C, tận mắt thấy toàn bộ quang cảnh của Đại lễ, trực tiếp nghe Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đọc diễn văn kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, được xem diễu binh và diễu hành của các khối quân đội và quần chúng. Cảm động và sung sướng xen lẫn bồi hồi, nhiều người trong đó có tôi không ngăn được dòng nước mắt. Trải qua 1.000 năm lịch sử, Thăng Long - Hà Nội đã qua nhiều tên gọi, qua các thời đại nhưng bao giờ cũng là nơi hội tụ của hồn thiêng sông núi, của khí phác Việt Nam. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội vùng lên khởi nghĩa thành công, trở thành Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thăng Long - Hà Nội thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc. * Tôi được tham gia cuộc hành quân “Thăng Long Hồn thiêng sông núi” của các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động và các tướng lĩnh dự Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội là một vinh dự rất lớn trong cuộc đời tham gia cách mạng của tôi; là niềm hạnh phúc hiếm có, là dấu ấn lịch sử của cuộc đời tôi khi đã ở lứa tuổi trên “Bát thập cổ lai hi” (84 tuổi). Thăng Long - Hà Nội chắc sẽ còn tổ chức Đại lễ kỉ niệm 2.000 năm, 10.000 năm và nhiều lần nữa. Nhưng với tôi, và cả những người đang sống trên đất nước Việt Nam hiện giờ thì đây là lần có một không hai cũng đã toại nguyện lắm rồi. Tôi rất biết ơn những đơn vị đã nuôi dưỡng, xây dựng và tạo điều kiện để tôi hoàn thành nhiệm vụ. Tôi cảm ơn quê hương Hòa Hải Anh hùng đã hun đúc tôi từ một cậu bé đi ở đợ trở thành một quân nhân cách mạng tuyệt đối tung thành với Đảng, với Tổ quốc. Tôi rất xúc động và biết ơn các đồng chí, đồng đội đã ưu ái dành cho tôi niềm vinh dự to lớn này. Vì vậy, vinh dự này không chỉ của riêng tôi. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:40:34 pm Phần thứ hai TRONG LÒNG ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI VÀ GIA ĐÌNH VỊ TƯỚNG CỦA BINH CHỦNG TĂNG - THIẾT GIÁP Ở NAM BỘ Đại tá PGS.TS. Hồ Sơn Đài 1. Một ngày cuối tháng giêng năm 2010, Thiếu tướng Mai Văn Phúc gửi cho tôi tập bản thảo hồi kí của ông với bức thư dài hai trang đánh máy khổ A4. Ông đề nghị tôi “xem và góp ý bổ sung”, đồng thời “biết một bài”. Là người nghiên cứu lịch sử quân sự, từ lâu, tôi vẫn ao ước tát cả vị tướng trưởng thành trong chiến tranh ở Nam Bộ - địa bàn tôi công tác - đều có hồi kí. Trong điều kiện công tác lưu trữ tư liệu và chất lượng các công trình sử học về chiến tranh còn những bất cập, hồi kí là một bổ khuyết quan trọng. Nó không hoàn toàn khách quan nhưng sinh động và dễ đi vào lòng người. Tuy nhiên, không phải ai cũng có được hồi kí. Ở Nam Bộ, trừ những vị tướng là nhà văn như Bùi Cát Vũ, Nguyễn Văn Kiệp, Phạm Hoài Chương... còn lại rất ít người tự viết lại đời mình. Họ ra đi, mang theo bí mật về cuộc chiến tranh vệ quốc mà họ là một bộ phận hợp thành, một nhân chứng không thể thay thế. Trong tâm thế ấy, tôi trân trọng đọc hồi kí của Thiếu tướng Mai Văn Phúc, và đến khi gấp lại trang bản thảo cuối cùng thì nhận ra rằng, cuốn sách của ông thật đầy đủ và sinh động, dường như chẳng biết còn gì để “góp” và “viết” nữa. Tôi sẽ chỉ kể ra sau đây điều tôi vừa hiểu rõ hơn về đường đi của bộ đội tăng - thiết giáp ở Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ mà Thiếu tướng Mai Văn Phúc là một trong những người gầy dựng nên nó. 2. Trong kháng chiến chống Pháp, ở Nam Bộ, chưa có xe tăng - thiết giáp nên chưa có bộ đội tăng - thiết giáp. Trong kháng chiến chống Mĩ, cho đến năm 1964 cũng vây. Khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ dần đi vào ngõ cụt, Washington rục rịch chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, mở rộng phạm vi đánh phá ra miền Bắc, đưa quân chiến đấu cùng với vũ khí trang bị tối tân vào miền Nam, đẩy cuộc chiến tranh xâm lược lên cường độ cao. Quân ủy và Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam chủ trương xây dựng các đơn vị chủ lực và hỏa lực mạnh. Nhu cầu tác chiến hợp đồng binh chủng cần có xe tăng, thiết giáp. Với phương châm “xe chưa xuất trận được thì người xuất trận trước”, Quân ủy Trung ương chủ trương đưa cán bộ chiến sĩ tăng - thiết giáp vào chiến trường miền Nam. Các sư đoàn 330, 338 tuyển chọn cán bộ chiến sĩ quê miền Nam tổ chức thành hai đại đội (phiên hiệu 46A, 46B) đưa về Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 202 (Trung đoàn tăng - thiết giáp đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập ngày 5-10-1959) để huấn luyện kĩ chiến thuật tăng - thiết giáp. Cuối năm 1963, kết thúc khóa huấn luyện, Đại đội 46A được điều về chiến trường Trung Bộ, Đại đội 46B được điều về chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, gọi là chiến trường B2. Tiếp đó tháng 4-1964, Bộ Quốc phòng cử thêm một đoàn cán bộ của Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 202 vào Nam Bộ (mật danh Đoàn 613). Thiếu tá Mai Văn Phúc, một trong 36 cán bộ được đào tạo tại Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc) có mặt trong Đoàn. Và tháng 11 năm ấy, Đoàn 613 hợp với Đại đội 46B thành lập thành Ban Cơ giới Miền (phiên hiệu B.16), do Mai Văn Phúc làm Trưởng ban. B.16 là cơ quan binh chủng đầu tiên tại chiến trường B2. Chưa có xe tăng - thiết giáp, nhiệm vụ của B.16 là nghiên cứu cấu tạo, tính năng kĩ chiến thuật tăng - thiết giáp của địch để làm tham mưu cho bộ binh xây dựng phương án tác chiến, xây dựng lực lượng tăng - thiết giáp tại chỗ, chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng đón nhận người và xe tăng - thiết giáp từ hậu phương miền Bắc chuyển vào. B.16 còn có nhiệm vụ nghiên cứu cách thức đánh đặc công để đoạt xe địch nên tổ chức một trung đội đặc công - cơ giới. Trung đội đã tham gia cùng lực lượng bộ binh chiến đấu trong chiến dịch Bình Giã, góp phần phá hủy nhiều xe cơ giới, xe tăng của địch. Tháng 12 năm 1964, Bộ Quốc phòng cử tiếp đoàn cán bộ tăng - thiết giáp thứ ba từ Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 202 vào Nam Bộ. Đoàn gồm 40 người có đủ cán bộ trung đội, trưởng xe, pháo thủ, lái xe (phiên hiệu Đoàn C.15). Vào đến chiến trường B2, C.15 nhập với Trung đội Đặc công - Cơ giới của B.16 để thành lập Đại đội Cơ giới Miền (phiên hiệu C.40). Nhiệm vụ của C.40 là nghiên cứu cách đánh đặc công để đoàn xe địch đánh địch. Tham gia chiến dịch Đồng Xoài, C.40 không lấy được tăng - thiết giáp của địch nhưng thu gom chiến lợi phẩm được 17 xe cơ giới, tổ chức thành hai trung đội vận tải phục vụ chiến đấu trên các chiến trường. Tháng 7-1965, Bộ Quốc phòng điều tiếp một đoàn cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp gồm 228 người (phiên hiệu Đoàn 711) vào chiến trường Nam Bộ. Đoàn 711 nhập chung với Ban Cơi giới Miền (B.16) và Đại đội Cơ giới 40 thành Đoàn Cơ giới Miền (phiên hiệu J.16), do Mai Văn Phúc làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy. J.16 có thành công tương đương trung đoàn gồm Ban Chỉ huy, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và bốn đại đội 15, 23, 46, 40. Vẫn chưa có xe tăng, thiết giáp, J.16 phối hợp với đặc công tham gia các trận tập kích lên Liên trường võ bị Thủ Đức và các trận chống càn trong mùa khô 1965 - 1966. Đặc biệt trong trận đánh Thiết đoàn số 1 của quân đội ngụy tại Gò Đậu - Bình Dương, Đoàn đoạt được 1 xe tăng Mĩ M41-A1 đưa về căn cứ làm giáo cụ trực quan huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ. “Đoạt xe địch đánh địch” trở thành phương châm hành động của Đoàn Cơ giới Miền. Muốn đoạt được xe địch cần phối hợp cách đánh của đặc công. Tháng 4-1967, Bộ Chỉ huy Miền quyết định sáp nhập Đoàn Đặc công (phiên hiệu B.18) vào Đoàn Cơ giới Miền thành Đoàn Đặc công - Cơ giới Miền (vẫn giữ phiên hiệu J.16, gọi là J.16 Đặc - Cơ). J.16 Đặc - Cơ do Nghiêm Xuân Đẩu làm Chỉ huy trưởng và Mai Văn Phúc làm Chính ủy. Vẫn bằng lối tác chiến của đặc công, J.16 Đặc - Cơ liên tiếp tham gia tiến công địch ở Hớn Quảng, Đồng Dù, Lai Khê, Kà Tum, Dầu Tiếng, Trảng Lớn, núi Bà Đen trong mùa khô 1966 - 1967 và năm 1968. Tháng 2-1969, J.16 Đặc - Cơ được bổ sung lực lượng từ miền Bắc vào, đổi thành Trung đoàn Đặc công 429, do Nguyễn Văn Thọ làm Trung đoàn trưởng, Mai Văn Phúc làm Chính ủy. Gọi là Trung đoàn đặc công, nhưng phần đông cán bộ, chiến sĩ vẫn là bộ đội tăng - thiết giáp. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 29 Tháng Ba, 2014, 02:41:17 pm Từ sau cuộc đảo chính của Lonol (3-1970), vùng giải phóng ở Campuchia dọc biên giới Việt Nam được mở rộng, lực lượng tăng - thiết giáp được Trung ương chi viện từ miền Bắc vào ngày một nhiều hơn. Các đơn vị tăng - thiết giáp tại chỗ thu được nhiều xe tăng - thiết giáp của địch. Tháng 7-1971, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Phòng Cơ giới (phiên hiệu M.26) làm nhiệm vụ bảo đảm kĩ thuật cho lực lượng cơ giới B2. Đầu mùa mưa năm 1972, Quân Giải phóng miền Nam mở đợt tiến công chiến lược trên nhiều hướng chiến trường, trong đó có Chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông Nam Bộ. Nhu cầu đánh lớn có sự tham gia của xe tăng, thiết giáp đặt ra cấp thiết. Tháng 5-1972, Bộ Tư lệnh Miền ra quyết định thành lập Đoàn Cơ giới Miền trên cơ sở hợp nhất Phòng Cơ giới (M.26) và các đơn vị tăng - thiết giáp đang có mạt trên chiến trường Đông Nam Bộ. Đoàn Tăng - Thiết giáp Miền (phiên hiệu 26) có tổ chức tương đương cấp sư đoàn, một binh chủng quan trọng của Quân Giải phóng miền Nam. Chính ủy Đoàn Pháo binh Biên Hòa Mai Văn Phúc quay trở về Đoàn 26, giữ cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy.
Ngay sau ngày thành lập, Đoàn 26 không ngừng lớn mạnh, tham gia nhiều trận đánh, chiến dịch trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, góp phần giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, đánh địch phá hoại Hiệp định Paris, tạo thế tạo lực cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Đến tháng 3-1975, lực lượng thực binh của Đoàn đã có 7 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp chiến đấu với 320 chiếc, 1 tiểu đoàn huấn luyện, 1 tiểu đoàn công binh, cùng các đơn vị vận tải, thông tin, bảo đảm khác. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh, Đoàn Tăng - Thiết giáp 26 (gồm 9 tiểu đoàn và nhiều đại đội, trung đội làm nhiệm vụ bảo đảm) được tổ chức thành ba bộ phận: một bộ phận biên chế thành Lữ đoàn Tăng - Thiết giáp 22 chuyển về Quân đoàn 4, một bộ phận thành Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 24 chuyển về Quân khu 9 (nay là Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 416) và bộ phận còn lại biên chế thành Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 26 chuyển về Quân khu 7. Tư lệnh Đoàn Tăng - Thiết giáp Miền Mai Văn Phúc chuyển sang làm nhiệm vụ khác. 3. Có thể thấy rằng, đường đi của bộ đội tăng - thiết giáp ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ trải qua hai giai đoạn khác nhau: Từ năm 1964 đến năm 1971 là giai đoạn chỉ có người mà chưa có xe, cán bộ chiến sĩ tăng - thiết giáp Nam Bộ vẫn xây dựng lực lượng, vừa tổ chức nghiên cứu xe tăng thiết giáp của Mĩ, làm tham mưu cho Bộ Chỉ huy Miền về phương án chống chiến thuật “Thiết xa vận” của địch, chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng tác chiến binh chủng khi được trang bị xe. Đồng thời, bộ đội tăng - thiết giáp (trong đội hình các đơn vị đặc công, pháo binh) đã sát cánh cùng bộ binh trong hầu hết các trận đánh, chiến dịch quan trọng của Quân Giải phóng miền Nam, ở hầu khắp các chiến trường Đông Nam Bộ như Hớn Quản, Phước Vĩnh, Dầu Tiếng, Đồng Dù, Trảng Lớn, núi Bà Đen, Kà Tum, Gò Đậu, Thủ Đức, ngã ba Bà Chiêm, trại Phù Đồng, sân bay Tân Sơn Nhất... Họ đã hành quân bộ, dũng cảm, mưu trí, kiên cường chiến đấu như những đơn vị bộ binh, những đơn vị đặc công thực thụ. Từ năm 1972 đến năm 1975 là giai đoạn bộ đội tăng - thiết giáp được là “bộ đội tăng - thiết giáp”. Từng tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp vượt hàng ngàn cây số cán xích trên đất miền Đông Nam Bộ, cộng với số xe tăng, thiết giáp đoạt được của địch trong các trận đánh, chiến dịch tại chỗ thực hiện đã đặt cơ sở cho sự ra đời binh chủng tăng - thiết giáp Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Những cán bộ, chiến sĩ tăng - thiết giáp ở Nam Bộ, giờ đây được “trở lại mái nhà xưa”, không chạy bộ đánh xe tăng địch bằng cách đánh đặc công nữa, mà cưỡi xe tăng chiến đấu hợp đồng binh chủng với vai trò lực lượng đột kích quan trọng. Và họ là bộ phận hợp thành không thể thiếu trong chuỗi thắng lợi của lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ từ chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch đường 14 - Phước Long, chiến dịch Xuân Lộc đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Hai giai đoạn khác nhau về tổ chức lực lượng và cách thức hoạt động, nhưng cùng chung một quá trình phát triển. Quá trình ấy phản ánh đặc thù của chiến tranh cách mạng Việt Nam nói chung, đặc thù của bộ đội tăng - thiết giáp ở Nam Bộ nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Trong giai đoạn trước năm 1972, dù chưa có xe và được phân bổ trong các đơn vị binh chủng khác, bộ đội tăng - thiết giáp vãn ra trận với tư thế người lính xe tăng, nghiên cứu xe tăng địch, đoạt xe địch để huấn luyện cách đánh địch và tích lũy kinh nghiệm, chuẩn bị tinh thần, vật chất cho giai đoạn có xe tăng - thiết giáp. Nó là giai đoạn khởi đầu không thể thiếu, không thể tách rời, là một phần của lịch sử bộ đội tăng - thiết giáp ở Nam Bộ, của binh chủng tăng - thiết giáp Quân đội nhân dân Việt Nam. Là người được đào tạo cơ bản về xe tăng, có mặt từ những ngày đầu xây dựng binh chủng tăng - thiết giáp là một trong những cán bộ xe tăng đầu tiên vào chiến trường Nam Bộ, người đứng đầu lực lượng tăng - thiết giáp, hoặc chỉ huy trưởng, hoặc chính ủy hoặc cả hai, dù có lúc được điều chuyển sang đơn vị binh chủng khác, Thiếu tướng Mai Văn Phúc vẫn là người của tăng - thiết giáp. Quãng đời chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của ông gắn liền với bộ đội tăng - thiết giáp Nam Bộ; lịch sử bộ đội tăng - thiết giáp Nam Bộ ghi tên ông như một vị tư lệnh xuyên suốt từ đầu đến cuối, mẫu mực, tận tụy, thủ chung. Nhìn lại toàn bộ thời gian 50 năm tại ngũ, ông vẫn cho rằng những ngày chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mĩ là quãng thời gian thăng hoa nhất, hùng tráng nhất của cuộc đời ông. Sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, dù giữ các trọng trách khác (tại Cục Xây dựng Kinh tế, Cục Quản lí xe máy, Binh đoàn 23, Cục Kĩ thuật, Bộ Tư lệnh Quân khu) và cả lúc đã hưu trí, ông vẫn nặng lòng với bộ đội tăng - thiết giáp, giành nhiều thời gian cho việc đề nghị khen thưởng, sưu tập hài cốt liệt sĩ, gặp mặt cựu binh xe tăng... Ông đôn đáo đi xin đất ở nghĩa trang để xây bia tưởng niệm cho 358 liệt sĩ tăng - thiết giáp Đông Nam Bộ chưa tìm được hài cốt... Trên quân hàm của Thiếu tướng Mai Văn Phúc, ông luôn muốn gắn duy nhất phù hiệu binh chủng tăng - thiết giáp. Ông là vị tướng của bộ đội tăng - thiết giáp ở Nam Bộ! Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:37:23 am NGƯỜI BẠN TÂM GIAO, NGƯỜI ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI ĐÁNG KÍNH Phan Quang Phạm Tôi và anh có chung những “bốn cùng”, đều là đồng hương xứ Quảng, “anh Quảng Nam hay cãi, tôi Quãng Ngãi hay co”. Cùng nhập ngũ năm 1947, chung một tiểu đội và sau mấy chục năm vào sinh ra tử, hòa bình lập lại chúng tôi lại cùng đứng bên nhau nhận Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng tại Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 7, tháng 11-1989. Ngày mới nhập ngũ, tôi và anh cùng được phân về Tiểu đội Liên Trinh (Liên lạc - Trinh sát) thuộc Đại đội cảm tử Quảng Nam - Đà Nẵng đóng quân ven thị xã Tam Kì. Lúc ấy anh thường”đóng bộ” một chiếc quần đùi cũn cỡn và cái áo bà ba có hai túi bằng vải ta rong ruối khắp hàng quân trong huấn luyện và sinh hoạt. Chính vẻ hoạt bát, nhanh nhẹn song lại chân chất, vị tha ấy đã khiến anh được cấp trên, đồng đội và những người dân nơi anh đóng quân hết lòng yêu mến. Mỗi lần đơn vị tổ chức sinh hoạt tập thể, có biểu diễn văn nghệ, anh lại thường xung phong nghêu ngao bài tủ: Cây xanh xanh / Lá xanh xanh / Rừng xanh xanh mà lâu rồi tôi không nhớ, đại để cái gì cũng xanh tươi như ước vọng của anh vậy. Kí ức về anh trong tội là một người lính với nghị lực phi thường. Nhà nghèo, ít học, từ một anh linh mới qua lớp 2 trường làng, với tinh thần cầu tiến, anh đã nỗ lực hoàn thành xong chương trình lớp 10 rồi trải qua các khóa huấn luyện gai góc ở Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Trung Quốc, tốt nghiệp lớp tập huấn Phó Tư lệnh kĩ thuật cấp quân khu ở Liên Xô và các học viện trong nước. Có tài ứng đối nhanh và khá nhạy bén tình hình - những tố chất cần thiết đối với một người cầm quân tinh nhuệ. Anh đã tham gia và chỉ huy nhiều trận đánh, đặc biệt trận tấn công đồn Thu Bồn, anh cải trang thành dân đi xâu, lận súng, lựu đạn cùng đồng đội xông vào tiêu diệt đòn địch giữa ban ngày, thu toàn bộ vũ khí, bắt nhiều tù binh. Sau Hiệp định đình chiến 1954, trước khi tập kết ra Bắc, tôi và anh gặp lại nhau sau 6 năm xa cách. Lúc bấy giờ anh là Đại đội trưởng Đại đội đột phá huấn luyện quân sự của tiểu đoàn 39 thuộc Trung đoàn 80, còn tôi là cán bộ tác huấn của Ban Tham mưu Trung đoàn, tổ chức một bộ phận xuống nắm tình hình huấn luyện của đơn vị anh. Lại một lần nữa được trực tiếp làm việc, tôi thấy anh rất bản lĩnh, trong huấn luyện lúc nào cũng đạt kết quả tót, chỉ huy đơn vị khá nền nếp, kỉ cương. Đặc biệt, trong thời gian anh đóng quân gần thị trấn Đồng Cát, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, một gia đình địa phương cảm mến người sĩ quan tuổi trẻ, đẹp trai, đánh giặc mưu trí, kiên cường nhưng tính tình hiền lành, chất phác đã gả con gái cho anh và một đám cưới đơn giản nhưng ấm tình đồng đội, tình quân dân cá nước đã diễn ra trước sân nhà cô vợ trẻ. Chú rể giản dị trong bộ quân phục, còn cô dâu cũng chỉ có mỗi chiếc áo dài đen, cùng nhau đi khắp lượt mời hai họ ăn bánh, uống trà trong tiếng vỗ tay chúc mừng rôm rả. Sau ngày tập kết ra Bắc, chúng tôi bặt tin nhau. Năm 1963, tôi trở lại chiến trường miền Nam, một năm sau đến lượt anh vượt Trường Sơn vào tuyến lửa. Nhưng mãi đến năm 1969, hai anh em mới gặp lại nhau trong Hội nghị tổng kết tác chiến Đặc công Tết Mậu Thân 1968. Lúc bấy giờ anh là chỉnh ủy Trung đoàn Đặc công 429 thuộc Miền, còn tôi là Đoàn trưởng Đoàn Đặc công T10 (Khu 10) về dự hội nghị. Ngày ấy chiến trường T10 gian khổ, khó khăn lắm, thấy quần áo tôi sờn cũ, tối đến, anh mang tới tặng tôi một chiếc quần dài. Ông bà ta bảo “của cho không bằng cách cho”, sự quan tâm của anh đã khiến tôi vô cùng xúc động vì anh cũng có lành lặn gì cho cam! Gặp gỡ rồi lại xa nhau, đến năm 1970, anh trở thành Chính ủy Lữ đoàn, còn tôi từ T10 về nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Lữ đoàn Đặc công 429. Khi cuộc kháng chiến chống Mĩ ở vào giai đoạn ác liệt nhất trên chiến trường miền Đông Nam Bộ và cực nam Trung Bộ (B2) anh chuyển về làm Chính ủy Đoàn Pháo binh Biên Hoa. Pháo binh Miền đã thành lập từ năm 1960 và lực lượng tăng - thiết giáp hình thành sau đó 4 năm. Lúc đầu đã có gì đâu, đành nghĩ ra cách lấy xe địch đánh địch. Mãi đến năm 1971 khi trên thông báo sẽ đưa xe tăng từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường miền Nam để tăng cường sức tấn công của Quân giải phóng, Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam chủ trương điều động cán bộ từ Đoàn Pháo binh Biên Hòa về đoàn tăng - thiết giáp, anh được cấp trên tin tưởng giao chức Đoàn trưởng kiêm Chính ủy đơn vị này. Và người Bí thư Đảng ủy Đoàn đầy bản lĩnh ấy đã lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nghị quyết đại hội năm đó: “Đoàn pháo binh xung kích, đánh giỏi, bắn trúng, toàn năng, khoa học, sáng tạo, tự lực tự cường”. Đến tháng 8-1972, anh trở thành Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 26 tăng - thiết giáp Miên, đơn vị đã khiến quân thù bạt vía kinh hồn về hỏa lực của mình khi mới xuất hiện trên chiến trường. Năm 1997, anh được nghỉ hưu, trở về cuộc sống đời thường. Được sự nhất trí của đồng đội cũ, anh và tôi cùng một số đồng chí nữa đứng ra thành lập Ban Liên lạc truyền thống Cựu chiến binh Bộ đội Đặc công miền Đông Nam Bộ tổ chức gặp gỡ, động viên, thăm hỏi nhau những lúc ốm đau hay khi hữu sự Mỗi lần như thế anh lại trăn trở rất nhiều trước hoàn cảnh khó khăn của thân nhân những người ngã xuống và luôn tạo điều kiện giúp đỡ các đơn vị tìm hài cốt đồng đội còn đang nằm đâu đó trong lòng Đất Mẹ. Với tôi, trọn một đời, anh mãi là người bạn tâm giao, người đồng chí, đồng đội đáng kính! Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:38:12 am THEO VẾT XÍCH XE TĂNG Thịnh Phát Thiếu tướng Mai Văn Phúc tiếp tôi tại nhà riêng. Ông với tay lấy một quả quýt, bóc vỏ, tách làm đôi rồi đưa tôi, gọng ân cần: “Anh ăn đi rồi ta chuyện trò”. Cử chỉ thân mật ấy khiến tôi cảm thấy ông thật gần gũi. Thảo nào, đồng đội thường gọi ông bằng một cái tên thật thân tình và giản dị: Anh Năm. Hơn nửa thể kỉ khoác áo lính nhưng có lẽ ông có nhiều kỉ niệm nhất với Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Ông là một trong số 202 người đầu tiên được gửi đi đào tạo xe tăng tại Trung Quốc. Ngày 5 tháng 10 năm 1959, Trung đoàn xe tăng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 3 tiểu đoàn được thành lập mang phiên hiệu Trung đoàn 202. Mai Văn Phúc là một trong 3 tiểu đoàn trưởng đầu tiên đó. Ngày 19 tháng 4 năm 1964, ông cùng cán bộ kĩ thuật Lâm Kim Chung là hai chiến sĩ đầu tiên xung phong vào miền Nam để tìm hiểu chiến trường và xây dựng lực lượng tăng - thiết giáp Quân giải phóng miền Nam. Vào tới căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền, ông nhận nhiệm vụ thành lập Ban Cơ giới Miền phiên hiệu B16 cùng với một trung đội cơ giới. Đó là đơn vị chuyên nghiên cứu xe tăng, thiết giáp của địch vừa để giúp công tác chỉ huy và tác chiến của ta, vừa để tìm hiểu khả năng sử dụng tăng, thiết giáp tại chiến trường B2 đồng thời tiến hành huấn luyện cách thức đoạt xe địch để đánh địch và xây dựng lực lượng xe tăng, thiết giáp của ta. Nhớ lại những năm tháng đó, Tướng Mai Văn Phúc như sống lại một thời trai trẻ đầy khó khăn thử thách nhưng cũng thật hào hùng, giọng ông trở nên sôi nổi. - Cái độc đáo của bộ đội ta là từ tay không mà đánh địch, cướp xe của chúng để xây dựng lực lượng tăng - thiết giáp tại chỗ, phát huy tinh thần tự lực tự cường của quân dân Nam Bộ. Cuối năm 1965, đơn vị B16 tổ chức lại thành đơn vị Đặc công Cơ giới đổi tên thành J16 nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và đoạt xe của địch. Từ đó, những đơn vị xe tăng đầu tiên đã ra đời, đã lớn mạnh không ngừng. Đi từ Chiến dịch Nguyễn Huệ (mùng 7 tháng 4 năm 1972), tiêu diệt Chiến đoàn 9 và Thiết đoàn 52 ngụy, giải phóng Lộc Ninh, lập nên Thủ đô kháng chiến của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam cho tới Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng - 30 tháng 4 năm 1975. Trận đánh đầu tiên của J16 là tấn công Trung đoàn tăng - thiết giáp số 1 của địch tại căn cứ Gò đậu (Phú Cường - Bình Dương), diễn ra ngày 23 tháng 3 năm 1966, đưa được về căn cứ 1 xe M41. Đây là chiến lợi phẩm vô cùng quý giá, phải đổi bằng xương máu của cán bộ, chiến sĩ J16. Trong gần 3 năm sau đó, J16 đã huấn luyện được 150 chiến sĩ biết lái xe tăng địch, sử dụng súng pháo, điện đài, đèn hồng ngoại. Ngoài ra, gần 300 lượt cán bộ, chiến sĩ tham quan, tìm hiểu chỗ mạnh, chỗ yếu của xe tăng địch, rút ra những bài học để chống lại chúng. Đơn vị J16 ngày càng vững mạnh và phát triển, sau này tách ra trở thành tiền thân của Trung đoàn 429 Đặc công và cũng là tiền thân của bộ đội tăng - thiết giáp Miền. Khi được hỏi về cuộc sống riêng, ông cười sáng khoái và chìa tay về phía bà Trần Kiều Sửu, nhường lời cho người ạn đời, “hậu phương vững chắc” của ông trong suốt 50 năm qua. Bà nói: - Chúng tôi kết hôn đầu năm 1955 sau khi tập kết, nhưng chỉ ở với nhau được 3 ngày rồi ông ấy lên đơn vị. Suốt mấy chục năm chiến tranh, không biết chúng tôi cả thảy có ở được với nhau vài tháng không. Tôi sinh bốn đứa con ở miền Bắc. Sau bảy lăm chúng tôi chuyền vào đây, sinh thêm một cháu gái. Bao nhiều năm ông ấy xa nhà tôi cũng quen một mình nuôi con, vẫn làm việc cho đến tuổi về hưu. Được biết bà từng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng Nhất, Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam tặng Huy chương và Huy hiệu “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, nhiều bằng khen, giấy khen của Bộ Quốc phòng. Ông nói thêm: “Những năm gần đây có thể xem là hạnh phúc nhất, con cháu trưởng thành cả. Còn với đồng đội, phấn khởi nhất là đã có hướng giải quyết bia mộ tại Nghĩa trang Thành phố cho hơn 300 chiến sĩ xe tăng đã hy sinh”. Thế là ông hào hứng kể với tôi những chuyến đi tìm mộ liệt sĩ ở những chiến trường xưa, về dự án xây dựng bia mộ cho họ. Về hưu đã lâu, nay ông đã ở tuổi ngoại “bát tuần”, anh Năm vẫn luôn hết lòng hết dạ với đồng đội của mình, như khi nào cũng chia nhau một lá rau cải trong bát canh, hay những câu chuyện tâm tình hàn gắn hạnh phúc cho gia đình một người đồng đội. Theo vết xích xe tăng trên khắp chiến trường Nam bộ, ở đâu cũng thấy có đóng góp của anh Năm. Có thể nói cuộc đời và số phận ông gắn bó với từng bước trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng. Những danh hiệu và những phần thưởng cao quý mà Nhà nước và Quân đội trao cho ông cũng như tình cảm trân trọng và quý mến của đồng đội mà tôi có dịp gặp gỡ đã khẳng định một chân dung, một nhân cách của anh “Bộ đội Cụ Hồ”. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:39:20 am MỘT ĐÊM VỚI PHƯỚC LONG Nhà văn Trần Công Tấn Ba ngày ngồi xe trên một con đường bụi đỏ mù trời, lắc lư rã rời với những ổ gà, đá cục. Chúng tôi đến với Hớn Quản, Bù Đốp qua sóc Bom Bo, đến với rừng cao su Phú Riềng, Phước Long. Xe qua vùng làng Mười, qua Ngã ba thằng Tây. Nơi phu cao su vùng dậy lập chi bộ Đảng Cộng sản biểu tình chiếm lại đồn điền; nơi người dân tộc S’Tiêng chém đầu Tây chủ sở, Tây quận trưởng; nơi những trận đánh quyết liệt của quân ta diệt giặc Pháp ở Thác Mơ, diệt giặc Mĩ trên núi Bà Rá hay trong thị xã Phước Long… Lịch sử với những địa danh nổi tiếng ngổn ngang rạo rực trong tôi. Nhưng ta hãy gác lại những chuyện cũ. Bây giờ đây chúng tôi đang tìm đến với những chiến sĩ chiến sĩ đánh giặc năm nào, hiện đang quy tụ về đây để khai hoang, vỡ đất, ươm hạt cây cao su mong làm ra những rừng cao su, làm ra những dòng nhựa trắng được gọi là vàng trắng cho Tổ quốc. Chiếc xe chồm lên lắc lư dữ dội. Chúng tôi bíu chặt thành xe. Bùi Văn Lạc, Giám đốc Nông trường 8, người hướng dẫn chúng tôi, xuýt xoa như có lỗi: - Đoạn đường này chưa làm xong. Các anh chịu khó một chút, đến chỗ rẽ vào C12 là hết sóc. - Không hề gì. - Tôi nói để Lạc yên tâm - Trước kia chúng tôi cũng là lính, đi đường xấu quen rồi. - Thế này đã là khá lắm. - Lạc vui vẻ kể - Cái hồi đơn vị tôi mới về đây, làm gì có đường. Hành quân đến, phải tự “xoi rừng” mà “đứng chân”. Tự tìm nguồn nước uống, rồi mang bao đi gùi lấy gạo, thật chẳng khác nào hồi đang đánh Mĩ. Có những nơi rừng rậm qua, phải dùng máy húc MTZ húc vào lấy chỗ mà ở. Chuyện của Lạc đang dở thì xe đã rẽ vào con đường đất đỏ bằng phẳng. Một thời cây xanh thẳng tắp bày ra trước mắt chúng tôi. Lạc giới thiệu: - Đây là vườn ươm cây cao su do C12 chăm sóc. - Đẹp quá! - Chúng tôi kêu lên, sửng sốt nhìn chiếc cầu vồng năm sắc bắc qua chân trời. Mấy chục chiếc vòi phun nước tự động của Liên Xô đang làm cơn mưa tưới lên hàng chục vạn cây cao su non. Bụi nước trắng ngần long lanh dưới ánh mặt trời. Từng tối vài ba chiến sĩ một, mũ sao chỉnh tề, đang vun luống, nhặt cỏ giữa vườn ươm, mỉm cười với khách lạ. Tôi bước vào giữa các luống cây cao vừa ngang tầm ngực, thận trọng vuốt ve từng chiếc lá xanh non. Cuối luống cây có cắm tấm biển gỗ, ghi mấy dòng chữ sơn. Bắt tay người hạ sĩ đứng cạnh tấm biển, tôi hỏi: - Quê đồng chí ở đâu? - Dạ. Em ở đường Lữ Gia, quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua vài cau trao đổi, tôi bết người hạ sĩ tên là Trần Văn Khoa, hăm hai tuổi, mới vào bộ đội tháng 10 năm 1980 và được lên ngay vùng đất mới này. Tôi hỏi về chuyện phát hoang ươm hạt lai tháp cây cao su như thế nào. Khoa nói giọng nhỏ nhẻ như con gái, nhưng lại rất lưu loát và thông thạo chuyên môn kĩ thuật ươm cây con. - Mới đầu, tụi em không biết gì hết trọi. Tưởng trồng cây cao su cũng như trồng hoa, trồng ớt. Ai ngờ phải học tận Công ti cao su Đồng Nai hàng tháng mới biết. Cao su là loại cây kì cục nhất trần đời đó! Một chiến sĩ cạnh đấy cũng xúm đến góp chuyện: - Đây là loại cây ươm hạt thẳng rồi ghép trần trong vườn ươm. Khi cây mọc lên đến kích thước cho phép, người ta cắt vỏ của một cây khác, mang đến ghép vào thân cây này. Chờ một thời gian nhất định,cái mầm sẽ nẩy ra ở chỗ ghép, lúc đó sẽ cưa cụt ngọn cái cây cũ mang ra trồng ở ngoài lô. Nhưng nếu đã trồng ngoài lô rồi, cái mầm ở mắt ghép sẽ chết - Khao giải thích thêm cho tôi hiểu - mà mầm nẩy ra chỗ khác, người ta gọi là cây “thực sinh”, thế là phải bứng bỏ, trồng lại cây khác. Kì cục vậy đó. - Trồng được cái cây cao su rắc rối lắm anh ơi. - Một chiến sĩ người đen thui, nói giọng Nghệ Tĩnh kể thêm - Nhiều cách trồng nó lắm: nào trồng bằng cách “tum” bầu. “Tum” bầu là dùng bịch nylon hoặc dùng tre đan sọt làm bầu rồi đặt vào đó hai cái hạt. Khi cây mọc, ta chỉ giữ lại một cây khỏe nhất. Ôi chao rắc rối. Vào bộ đội, em mơ được đi ra biên giới, đánh bọn xâm lược. Ai ngờ lên thẳng đây và đi chặt tre đan ngay một ngàn cái sọt “tum” bầu. Vậy mà có người yêu cứ viết thư chúc “diệt được” nhiều giặc Pôn Pốt phá hoại cách mạng Campuchia. Các chiến sĩ trẻ cười vang. Tôi hỏi Khoa xe có cô nào chúc “giết nhiều giặc” chưa. Khoa đỏ mặt, giọng lúng túng: - Dạ. Em chưa. Dạ. Em còn… - Khoa còn phấn đấu anh ạ - Giám đốc Nông trường 8 giới thiệu thêm về người chiến sĩ của mình - Đồng chí Khoa vào bộ đội lên đây tròn hai tháng thì được kết nạp Đoàn. Hiện là chiến sĩ thi đua của Nông trường chúng tôi. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:40:13 am Qua lời kể của Lạc, tôi hiểu đạt được danh hiệu chiến sĩ thi đua của một đại đội đâu phải chuyện dễ dàng. Cả một cuộc đấu tranh vật lộn ghê gớm giữa rừng rậm, dưới chân là bùn lầy, gia góc, bọ cáp, trên đầu là nắng lửa, mưa dầm. Chỉ tiêu của trên giao cho mỗi chiến sĩ phải khai hoang 300m2 một ngày công. Còn đào hố thì một ngày phải đào cho được mười cái hố đất. Đao được dăm cái đầu tiên, cả người mỏi rã rời. Vậy mà các chiến sĩ cỗ mãi, rồi tìm cách cải tiến thế đứng, thế đào. Dần dần có kinh nghiệm, họ đào vượt gấp đôi, rồi gấp ba mức quy định. Khoa là một trong những người có năng suất cao nhất của công trường.
Trở lại tâm sự với Khoa, tôi tò mỏ hỏi: là người quen sống giữa thành phố lớn, chưa từng thử thách trong gian khổ, sao Khoa vượt qua được tất cả những khó khăn để trở thành người đoàn viên thanh niên cộng sản, thành chiến sĩ thi đua? Bí quyết nào đã giúp Khoa? - Không có bí quyết nào cả, anh ạ. - Khoa cười, phô ra hàm răng tráng đều đặn, giọng vẫn nhỏ nhẹ, dịu dàng - Mới đầu em cũng sợ mưa nắng, bùn lầy. Sợ cả thú rừng, rắn rết, ốm đau. Nhưng hễ nhìn quanh thấy đồng đội của mình cũng làm việc vất vả, em cũng cố bươn theo. Cụ thể hằng ngày, em nhìn vào những người đảng viên như Trung đội trưởng Tuyền, Tiểu đội trưởng Tốt, Đại đội phó Nhiên. Những người đó vào bộ đội trước em. Có những người đánh Mĩ đã bị thương, được về với gia đình. Về nhà mới vài tháng, chưa ấm chỗ, nghe bộ đội cần người đi làm kinh tế, vậy là lại mang balô lên đường. Ở đại đội em có nhiều người gặp hoàn cảnh gia đình khó khăn lắm. Như anh Nhiên, anh Bảo - Đại đội trưởng đó. Ba má anh Bảo đã ngoài bảy mươi, ốm đau luôn. Nhà chỉ có ba anh em trai thì hai em đang làm nhiệm vụ ở Campuchia. Vậy mà anh Bảo vẫn yên tâm, vẫn chỉ huy đội vươn lên thành đơn vị tiên tiến. Mà cái gian khổ này đâu phải chỉ riêng đại đội em. Lúc vào cao điểm của chiến dịch khai hoang trồng mới, thì ban giám đốc nông trường, cán bộ lãnh đạo trên công ti, binh đoàn cũng xuống lăn lộn làm việc với anh em chiến sĩ. Đại tá Mai Văn Phúc, Tư lệnh binh đoàn thường xuống mắc võng giữa rừng, cùng ngủ, cùng ăn, cùng xắn quần, đánh trần giữa lô mà nhổ gốc, dọn vườn ươm… như vậy anh bảo chúng em không vươn lên sao được. Bây giờ thì Tư lệnh binh đoàn đang đứng trước chúng tôi. Anh giới thiệu thế triển khai của binh đoàn trong kế hoạch hợp tác với Liên Xô trồng mới 5 vạn hécta cao su trên vùng đất đỏ Sông Bé này. Tôi chăm nhìn theo đầu chiếc gậy anh chỉ trên tấm bản đò treo trên tường. Đúng là dáng đứng của tư lệnh chiến dịch! Phải làm sao đẩy lùi rừng rậm hoang dại đó để cho cây cao su phủ xanh lên. Những địa danh trên bản đồ gợi ta nhớ lại những trận đánh giặc nữa xưa: Phước Long, Phước Bình, Đa Kia, Bù Nho, Bù Gia Mập. Chính trong trận đánh để giành giật lại mảnh đất này, Đại tá Mai Văn Phúc đã bị quân thù cướp mất một con mắt. Tôi chăm chú nhìn vào mắt anh. Trên khuôn mặt đầy đặn, đôn hậu, con mắt lành còn lại sáng rực lên trước ánh điện, biểu thị một sức mạnh và một niềm tin sâu kín trong lòng anh. Con mắt giả của anh đờ đẫn không chớp, khiến tim tôi nhói lên, xót xa. Giọng anh trầm tĩnh, khiêm tốn: - Nhờ Công ti cao su Phú Riềng và các công ti bạn giúp đỡ, nhờ nhân dân Phước Long đùm bọc thương yêu, binh đoàn chúng tôi sẽ làm tròn nhiệm vụ. Nhưng… Anh nêu một vài con số đạt được về khai hoang, về trồng mới, về chăm sóc những vườn cao su cũ trong năm vừa qua với vẻ chưa bằng lòng. Mặc dầu chúng tôi biết những con số đạt được với hàng ngàn hécta đó, là sự cố gắng phi thường của binh đoàn anh. Chiếc gậy trong tay anh Năm Phúc bỗng như sinh động hẳn lên, tay anh vạch ngang, vạch dọc trên bản đồ: - Bây giờ cái khó của chúng tôi là đây - Anh Năm anh Phúc nói tiếp. - Phải mở ngay đường vào và làm cả đường lên nông trường. Hiện nay chúng tôi đã tiếp nhận hàng ngàn đồng bào xây dựng vùng kinh tế mới. Có dân là phải có trường Phải làm ngay nhà ở để đón dân, làm trường học, nhà trẻ, bệnh xá. Lời anh Năm Phúc như tiếng thuyết minh của một cuộn phim. Trong đầu tôi hiện lên những xóm nhà tranh, nhà mái lợp xi măng ngang dọc thẳng tắp đông vui của đồng bào vừa đến với binh đoàn mà tôi đã được thấy trong mấy ngày qua. Một bà má người Huế trong xóm nhà này đã kể cho tôi nghe rằng năm ngoái mới vào, một số bà con chưa quen với rừng rậm, ngại gian khổ đã bỏ về. Anh em bộ đội thấy dân bỏ đi liền đi theo ra tận bến xe khuyên răn năn nỉ. Đồng bào thương bộ đội đã quay trời lại: “Bộ đội của thằng Năm Phúc tốt lắm. Bà con mới vào đúng dịp Tết, bộ đội liền góp nếp, đường, thịt biếu đồng bào ăn Tết - Một bà má nói - Mà tụi nó có dư dật gì đâu!”. - Vài năm tới, mời các anh trở lại - Con mắt lành rất đỗi dịu dàng của anh Năm Phúc nhìn tôi, anh mỉm cười, nói tiếp - Lúc đó những vùng hoang dại này sẽ thành rừng cao su. Đất đai ở đây tốt lắm. Còn thời tiết thì khắc nghiệt với con người nhưng rất hợp với cây cao su. Nhưng khả năng con người sẽ cải tạo được thiên nhiên. Nếu ta có một đập nước thủy điện, một dòng kênh chảy qua vùng đất đỏ bazan này hẳn lúc đó thời tiết sẽ thay đổi. Buổi họp mặt với Bộ Tư lệnh binh đoàn xong đã từ lâu. Tôi trở về phòng nằm trăn trở mãi không sao ngủ được. Hình ảnh những người chiến sĩ trẻ tôi đã gặp trên vùng đất vừa mới vỡ hoang, người Tư lệnh binh đoàn say sưa bước vào một mặt trận mới đã làm tôi suy nghĩ miên man. Chẳng biết đã mấy lần tôi đứng dậy đi loanh quanh ngoài sân doanh trại. Đêm ở Phước Long không giống một nơi nào. Hầu như bầu trởi ở đây trong trẻo hơn mọi nơi khác. Sao nhấp nháy tinh nghịch và sáng đến nỗi tôi có thể nhận ra ngọn núi Bà Rá màu tím sẫm in đậm lên trên đường chân trời. Nơi hun hút xa kia là thác Mơ, đầu nguồn con sông Bé. Chân trời vồng cao lên phía này là sân bay Phước Bình. Hồi chiều đi ngang qua, tôi đã chú ý đến mấy chiếc máy bay C.130 của Mĩ bị quân ta bắn rơi hồi nào, còn nằm phơi mãi đó. Tôi cứ bước thong thả đến bức tường đổi lại quay lui. Hồi chiều một người lái máy kéo của binh đoàn kể rằng đêm 6 tháng 1 năm 1975, lúc tấn công giải phóng thị xã Phước Long, chính anh đã lái xe tăng húc đổ bức tường đó. Thấy tôi ngạc nhiên, anh giải thích đơn giản: “Sào huyệt của bọn ác ôn mà. Nếu biết chỗ này mình sẽ về đóng quân để mở nông trường trồng cao su thì tôi không húc đổ ngôi nhà đó”. Việc ngẫu nhiên đó chưa thú vị bằng việc biết người con gái đưa đường cho đơn vị anh vào thị xã Phước Long, sau này trở thành vợ anh. Hiện nay chỉ đang ở một vườn ươm cao su của binh đoàn. Anh kể ràng chị đi học lai tháp cây ở trường nghiệp vụ của Tổng cục Cao su. Lúc về, tháp mấy lần cây vẫn không nảy mầm. Đi mày mò hỏi mấy cụ già phu đồn điền cũ, họ bày cho. Lần cuối cùng tháp cây, chị chờ hết ngày này đến ngày khác, lúc thấy được cái mầm non cây cao su vừa nhú ra, chị reo lên, vừa chạy, vừa gọi anh: “Nảy mầm rồ! Anh ơi, cái cây cao su nó nảy mầm rồi”. Chị mừng quá đến đến nỗi bật khóc với anh. Kể đến đó anh lắc đầu cười, nói vui: “Chúng tôi lấy nhau đã ba năm. Cả hai đều rất mong con. Chẳng biết lúc biết mình có bầu, nhà tôi có mừng như lúc thấy cái mầm cao su hay không”. Ở trạm gác trước doanh trại, thỉnh thoảng vọng đến tiếng bàn tay người gác đập muỗi. Tiếng báng súng của tổ đi tuần chạm nhau khẽ kêu lách cách. Cả doanh trại đều ngủ yên. Ngọn đèn hoa kì ở phòng đồng chí Tư lệnh vẫn sáng. Tôi đến cạnh cửa sổ, liếc trông vào. Mái đầu hoa râm của anh Năm Phúc cúi xuống. Anh đang cầm bút hí hoáy ghi chép tính toán một cái gì đó. Chốc chốc anh ngước nhìn lên những tấm biển treo trên vách, đôi mắt kính của anh phản chiếu ánh đèn lóe lên như hai đốm lửa. Chẳng biết anh đang băn khoăn day dứt về tỉ lệ cây lai tháp còn chết nhiều hay đang tính toán giá thành khai hoang một hécta rừng. Anh đang cân nhắc xem nên hướng về chủ trương khai hoang hoàn toàn bằng cơ giới hay hoàn toàn bằng thủ công, hay thủ công kết hợp ới cơ giới? Cái nào đắt, cái nào rẻ. Cách nào khó khăn, cách nào thuận lợi và cách nào thì đỡ mất công sức, ít tốn kém, giảm bớt được sự nặng nhọc vất vả cho người chiến sĩ. Tôi biết sự mệt nhọc khó khăn của đồng chí Tư lệnh ngay cả giữa thời bình này cũng chẳng khác nào thời chiến. Chính trên mảnh đất này, binh đoàn anh đã đánh thắng trận mở đầu trên mặt trận kinh tế. Một ngày không xa, trên vùng đất hoang dại này sẽ phủ kín màu xanh của lá cây cao su. Tôi tin tưởng như thế và trở về phòng mình. Ngang qua phòng đồng chí Tư Thiệp, Bí thư Đảng ủy công ti, tôi nghe có tiếng người, giọng ngái ngủ như nói mê. Không phải. Anh Tư Thiệp hỏi giờ. “Thủ trưởng cứ ngủ đi. Mới hai giờ sáng” - Giọng đồng chí công vụ léo éo như giọng trẻ con. “Cậu nhớ đánh thức mình dậy lúc 4 giờ nhé. Đúng 5 giờ làm việc với Nông trường 6 đó!”. Lúc đôi chim từ quy kêu “bi bóp” gọi tìm nhau, là lúc tiếng xe anh Tư Thiệp rù máy ra đi. Lát sau là tiếng xe đưa anh Năm Phúc chạy về một hướng khác. Tôi nhỏm dậy trông theo ánh đèn pha của xe anh chiếu một vệt sáng dài. Nơi đó là con đường thơm ngát mùi hoa xoài và hoa cà phê. Cũng nơi đó có những vườn đào lộn hột đơm trái sớm cứ lóe lên lúc đỏ lúc vàng như lửa đuốc, lửa đèn. Hết con đường đầy hoa trái đó là những khu rừng bạt ngàn nối tiếp nhau rồi đến vùng đất đang vỡ hoang. Bầu trời Phước Long chuyển sang màu tím, rồi rạng dần lên một màu hồng. Đêm Phước Long đã qua. Tôi đã sống trên mảnh đất Phước Long lịch sử một đêm như thế đó. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:41:10 am ĐÁM CƯỚI VÀNG CỦA TƯỚNG VỀ HƯU Nhà báo Trần Triều Trong đám cưới vàng 50 năm của Thiếu tướng Mai Văn Phúc - nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7 và vợ ông - bà Trần Kiều Sửu (nhà số 579 Sư Vạn Hạnh, phường 13, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh), vị tướng chỉ huy xe tăng nổi tiếng một thời, rưng rưng nói: “Kỉ niệm 50 năm ngày cưới là kỉ niệm 50 năm thử thách, rèn luyện và trưởng thành của tình chồng nghĩa vợ xa cách, kẻ Bắc người Nam biền biệt. Chồng ở chiến trường, vợ ở hậu phương vừa gánh vác gia đình vừa phục vụ xã hội, xứng với danh hiệu “Phụ nữ ba đảm đang” đã được nhận”. Với nhiều đồng đội, bạn bè, người thân, ông bà vẫn được nhắc đến như một hình mẫu về sự thủ chung son sắt. PV: Thưa Thiếu tướng, được biết ông bà gặp nhau trong hoàn cảnh khá đặc biệt? Ông Mai Văn Phúc: Tôi quê ở Quảng Nam, thoát li gia đình từ Cách mạng Tháng Tám. Năm 1955, đã gần 30 tuổi nhưng tôi vẫn độc thân. Trong một đợt hành quân, tôi thầm để ý cô con gái 18 tuổi trong nhà dân mà tôi đang trú ngụ ở Quảng Ngãi. Biết phận mình thuộc hàng “quá lứa”, lại học vấn thấp, tôi không dám mở lời mà phải nhờ đồng đội giúp làm cầu nối. Bà Trần Kiều Sửu: Lần đầu gặp, tôi nhận thấy ở ông ấy sự ham học hỏi, cầu tiến và phong cách rất “lính Cụ Hồ”. Vì vậy, tôi thầm cảm ơn ông trời đã để một anh lính như thế trong nhà mình. * Cuộc hôn nhân bắt đầu cũng đồng nghĩa với một quá trình gian truân và xa cách của ông bà? Ông Mai Văn Phúc: Cưới nhau được ba ngày, tôi đã phải đi Tam Quan (Bình Định) nhận nhiệm vụ. Cuối năm ấy chúng tôi tập kết ra Bắc. Năm 1964, tôi lại vào miền Nam chiến đấu, để lại Hà Nội người vợ đang mang thai cùng ba đứa con thơ. Nam, Bắc cách trở, tôi như cháy ruột cháy gan khi không có cách nào liên lạc được với vợ con, dù chỉ một lá thư. Bà Trần Kiều Sửu: Sinh đứa thứ tư xong một tháng, tôi tiếp tục đi làm. Tôi không thể quên được tình cảnh lúc đó, con chưa có đứa nào lớn, tôi phải dùng xe đẩy để đưa một lúc bốn đứa lên trường học ở phố Hàng Gai, chiều lại đẩy cả bốn về phố Quan Thánh. Thời gian ấy, những người lính đi B (vào miền Nam chiến đấu) hi sinh nhiều, mẹ con tôi cũng hoang mang, Tôi không biết chồng mình thế nào, nhưng vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ ở hậu phương, để nếu có ngày gặp lại sẽ được vẹn toàn bên nhau. Ông Mai Văn Phúc: Năm 1973, tôi được cử đi học ở Học viện Quân sự Hà Nội. Khó mà diễn tả hết được cảm xúc giữa vợ - chồng, cha - con ngày gặp lại nhau. Tôi biết vợ mình là người thật tuyệt vời khi một tay chu toàn trăm công nghìn việc, lại một lòng chung thủy chờ đến ngày chồng trở về. Đó là phần thưởng ý nghĩa nhất đối với những người lính chúng tôi. Sau đó, tôi lại vào Nam chiến đấu cho đến ngày đất nước giải phóng, gia đình mới thực sự đoàn tụ. * Lập được nhiều chiến công vang dội, bạn bè nể phục, nhưng ông ít nói về mình, mà lại kể rất nhiều về vợ? Ông Mai Văn Phúc; Với tôi, nếu không có bà ấy, dù tôi có lập chiến công hiển hách đến mấy thì cũng như “hoa nở trên non” mà thôi. Chính chiến công ở hậu phương của vợ tôi đã làm nền tảng vững chắc cho những chiến công của tôi ở tiền tuyến. * Ông bà có thể chia sẻ phương pháp nuôi dạy con cái? Bà Trần Kiều Sửu: Chống tôi là một người nhà binh, nhưng lại khá hiền và thoải mái khi ở nhà. Vì vậy, ông ấy rất gần gũi với con cái và thể hiện nhiều cử chỉ yêu thương. Tôi lại khác. Nghiêm khắc đúng lúc để đưa các con vào nền nếp. Hiện năm người con đều tốt nghiệp đại học, có đứa lập gia đình và chúng tôi cũng đã có cháu. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:42:36 am CÒN SỨC CÒN CỐNG HIẾN Phạm Trí Dũng (Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường 13, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) Đã ngoài 80 tuổi, tuy sức khỏe đã giảm, nhưng đối với mọi công việc xây dựng khu dân cư văn hóa tại địa phương, bác vẫn hết lòng tận tụy. Việc gì đã nhận, bác đều làm đến nơi đến chốn. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Nam - địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống cách mạng. Từ một cậu bé ở đợ chăn trâu không được học hành, bác sớm được giác ngộ và đi theo cách mạng từ năm 18 tuổi. Trải qua những năm tháng được tôi luyện trong quân ngũ, đi khắp mọi miền của Tổ quốc, tham gia chiến đấu trên nhiều mặt trận, với nhiều cương vị lãnh đạo, chỉ huy khác nhau, bác đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Với quân hàm cấp tướng khi nghỉ hưu, bác vẫn nhiệt tình hăng hái tham gia công tác của Đảng, Đoàn thể: Tổ trưởng Đảng, Phân hội trưởng Cựu chiến binh, Chi hội trưởng người cao tuổi. Bác làm nhiều việc có ích xây dựng địa bàn dân cư, góp phân tích cực vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư. Hằng năm bác đều trích 500.000 đồng, từ tiền trợ cấp thương binh của mình để tặng cho quỹ học bổng “Nguyễn Hữu Thọ”. Khi các đoàn thể có khó khăn về kinh phí hoạt động, bác đều sẵn sàng hỗ trợ từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Trong các cuộc vận động quỹ từ thiện do Mặt trận Tổ quốc phát động, hoặc ủng hộ đồng bào thiên tai lũ lụt, bác đã đóng góp hàng triệu đồng, mua công trái 5.000.000 đồng, bác luôn hăng hái đi đầu và vận động bà con trong tổ dân phố cùng hưởng ứng. Với đức độ và uy tín của mình, bác đã hòa giải thành công nhiều vụ xích mích trong khu dân cư. Đối với gia đình, bác luôn là tấm gương về lối sống trong sáng, giản dị cho con cháu noi theo. Cuộc sống gia đình luôn hạnh phúc, hòa thuận, các con trai, con gái bác đều là đảng viên, học hành và công tác thành đạt. Từ năm 2002 đến 2007, gia đình bác luôn được suy tôn là “Gia đình cách mạng gương mẫu”, “Gia đình văn hóa tiêu biểu” cấp phường và cấp quận. Hằng năm bác luôn đạt danh hiệu “Đảng viên xuất sắc”. Năm 2007, bác cũng được bình chọn danh hiệu “Người tốt việc tốt” cấp quận. Bác vui vẻ tâm sự: “Còn sức khỏe ngày nào thì ráng đóng góp ngày ấy”. Đó chính là bác Mai Văn Phúc ở số nhà 579 Sư Vạn Hạnh, tổ dân phố 99, khu phố 8, phường 13, quận 10. Tấm gương của bác được đảng viên và nhân dân trong khu phố học tập, yêu mến, kính trọng. CHÚC THỌ BÁC PHÚC TRÒN TUỔI 80 Phạm Hồng Soang Biết bác từ thời quân ngũ, nhưng hiểu thấu đáo khi gia đình chuyển về sinh sống ở khu phố 8, phường 13, quận 10. Tên bác thường gọi là Mai Văn Phúc mà hai cụ đặt cho như một tiền định gắn liền với cuộc đời vậy! Bác sống nhân hậu, mộc mạc, chất phác, thật giản dị nhưng cũng không mất đi nét chững chạc của một vị tướng về hưu. Bác thường nhắc tới lời khuyên của các cụ tiền bối: “Của ăn là của hết, của cho là của để dành”. Ngay khi còn làm việc cũng như lúc nghỉ về địa phương, bác đều quan tâm đến mọi người. Chi tiêu tiết kiệm, dành tiền giúp người nghèo ở quê Quảng Nam - Đà Nẵng và giúp các phong trào trên địa bàn khu phố. Tình nghĩa vợ chồng, tình cảm chòm xóm, cha con, cháu chắt thật đầm ấm. Bác là tấm gương cho đồng đội, cấp dưới, con cháu ngưỡng mộ, học tập và làm theo. Xin tặng đôi câu thơ: Bát thập niên sinh, hiếu nghĩa tròn Một đời thanh bạch tấm lòng son Nghiệp binh chói lọi quân hàm tướng Tuổi hạc an lành bên cháu con Lo về hậu thế ghi gia phả Nghĩ tới tương lai giúp nước non Bách niên giai lão mong vươn tới Phúc lộc trăm năm vẫn mãi còn! Ngày 25 tháng 12 năm 2007 Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:44:25 am ĐẸP LẮM MỘT BINH ĐOÀN TS. Nguyễn Hồng Phú (Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ti cao su Phú Riềng – Nguyên Giám đốc Công ti cao su Phú Riềng.) Những ngày này, ai có dịp đi qua những ngọn đồi cao ven con đường 14 vượt Nghĩa Trung qua Minh Hưng đến Thọ Sơn giáp Tây Nguyên hùng vĩ, hoặc qua con đường về Bù Nho, Đa Kia, Long Hưng, Phước Bình sẽ dễ dàng nhìn thấy một màu xanh cao su trùng trung điệp điệp. đó là 20.000 hécta cao su của Côn ti cao su Phú Riềng, một công ti được thành lập ngày 6-9-1978. Để có được một vườn cao su xanh ngát ấm no ấy là cả một quá trình phấn đấu lao động qua bao gian khổ nhọc nhắn của lớp lớp công nhân, với sự tăng viện có ý nghĩa quyết định của đơn vị quân đội Binh đoàn 23 - một lực lượng tinh nhuệ không lùi bước trước khó khăn, đã góp phần tích cực tạo dựng những làng công nhân và những vườn cao su xanh tốt. Binh đoàn 23 trực thuộc Quân khu 7 được thành lập ngày 8-12-1980, trên cơ sở sáp nhập các đơn vị: Sư đoàn 313, hai Trung đoàn Bộ binh 813, 815 và Trung đoàn 270 Công binh, Đoàn vận tải 647. Đây là những đơn vị đã có quá trình cống hiến xuất sắc trong công cuộc đấu tranh dẫn đến Đại thắng mùa Xuân ngày 30-4-1975 lịch sử và làm nghĩa vụ quốc tế trên biên giới Tây Nam. Bộ Tư lệnh Binh đoàn lúc bấy giờ gồm có các đồng chí: Đại tá Mai Văn Phúc - Tư lệnh; Thượng tá Trương Văn Ba (Ba Làng) - Tư lệnh phó, Thượng tá Bùi Thiệp - Chính ủy. Thực hiện Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Xôviết về hợp tác và chế biến cao su thiên nhiên với quy mô 50.000 hécta trong thời gian 5 năm (1980 - 1984), trong đó Công ti cao su Phú Riềng trồng 20.000 hécta. Hội đồng Bộ trưởng nước ta đã ban hành Quyết định 176 chuyển Binh đoàn 23 qua làm kinh tế, mà cụ thể là tham gia phát triển cao su ở Phú Riềng theo tinh thần Hiệp định hợp tác Việt - Xô. Hầu hết là các cán bộ, chiến sĩ của Binh đoàn 23. Có thể kể ở đây một số cán bộ cốt cán như Trung tá Trần Mai Lâm (Giám đốc Nông trường 1), Thượng úy Nghiêm Đình Vấn (Giám đốc Nông trường 2); Đại úy Nguyễn Bật Vấn (Giám đốc Nông trường 3); Trung tá Lê Phùng Thịnh (Giám đốc Nông trường 4); Thiếu tá Nguyễn Rèn (Giám đốc Nông trường 7); Thiếu tá Nguyễn Văn Vượng (Giám đốc Nông trường 8); Thiếu tá Phùng Đức Bản (Giám đốc Nông trường 9); Trung úy Phạm Lê Kì (Giám đốc Nông trường 10); Thượng úy Phạm Hữu Quyền (Giám đốc Nông trường Minh hưng A); Đại úy Đặng Hồng Hiến (Giám đốc Nông trường Minh Hưng B). Về phía lãnh đạo công ti và các phòng ban có Đại tá Trương Văn Ba (Ba Làng) Phó Tư lệnh Binh đoàn, Thượng tá Bùi Thiệp, Trung tá Vũ Hồng làm Phó Giám đốc Công ti. Các đồng chí Thiếu tá Hoàng Văn Cầu (Chánh Văn phòng), Thiếu tá Bùi Ngọc Thực (Trưởng phòng Thi đua tuyên truyền), Trung tá Lưu Xuân Soạn (Trưởng phòng Xây dựng cơ bản), Thiếu tá Trần Hoàn Kiếm (Trưởng phòng Bảo vệ thanh tra), Đại úy Bác sĩ Lí Xuân Lới (Trường phòng Y tế), Đại úy Bác sĩ Nguyễn Bá Thư (Giám đốc Trung tâm y tế), Đại úy Nguyễn Chính Niên (Phó phòng Bảo vệ thanh tra), Đại úy Nguyễn Văn Thân (Phó Giám đốc xí nghiệp Thương nghiệp phục vụ đời sống), Thiếu tá Hà Nguyên Cát (Giám đốc xí nghiệp Giao thông thủy lợi, sau là Giám đốc công ti). Thật là khó có bút mực nào tả xiết những khó khăn gian khổ của Công ti cao su Phú Riềng trong buổi bình minh. Phát huy truyền thống “quân với dân như cá với nước”, các anh Bộ đội Cụ Hồ Binh đoàn 23 luôn xung kích làm đầu tàu trong việc lập làng công nhân và trồng mới cao su. Trên những vùng đất Phước Long, Bù Đăng, Đồng Phú bạt ngàn hoang hóa và bom mìn sót lại sau chiến tranh, các anh lăn xả khai hoang vỡ đất. Đã có biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu xương đổ xuống cho công cuộc hồi sinh vùng đất một thời khốc liệt này. Các anh bộ đội Binh đoàn 23 mà hầu hết là bộ khung, là Giám đốc, Phó Giám đốc, là cán bộ trợ lí, tham mưu của các nông trường mới mở, vừa cấp tập học hỏi, tiếp thu kĩ thuật trồng mới cao su, vừa tích cực giúp dân trong cuộc mưu sinh buổi đầu khốn khó. Nào là lo dựng lán, cất nhà, nào là lo đắp đập tạo hồ để có nguồn nước sinh hoạt và phục vụ nhu cầu làm kinh tế phụ. Thời gian lặng lẽ trôi nhưng vườn cây cao su và cuộc sống công nhân thì không ngừng chuyển động. Nhớ ngày nào bộ đội cùng dân còn chập chững băng rừng trên những con đường gia góc mà đào hố trồng mới cao su, đêm về ngả lưng nơi lán nhỏ ngắm sao trời xuyên mái lá! Trong giai đoạn này, bát cơm độn ăn với măng le, cá suối là chuyện rất bình thường. Vậy mà nay những vườn cao su đã dạt dào cho mủ, công nhân lương đã trên 4 triệu đồng một tháng, 100% đã có nhà xây, 100% con em đã được đến trường. Đường sá xương sống từ công ti đến các nông trường đã là đường nhựa, còn đường liên lô đều đã cấp phối, tạo nhiều thuận lợi cho những ô tô của công ti, nông trường và xe máy của công nhân đi lại. Thời gian lặng lẽ trôi, thấm thoắt mà những cán bộ công nhân viên nguyên là cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn 23 đã bước vào tuổi về hưu. Khoảng 5 năm trở lại đây, các anh lần lượt trở về mảnh vườn nhà, bàn giao công việc điều hành, phát triển công ti, nông trường cho lớp cán bộ kế thừa. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” - truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta luôn được cán bộ, công nhân cao su Phú Riềng trân trọng. Từ lãnh đạo công ti đến cán bộ, công nhân các cấp mỗi khi nhắc đến Binh đoàn 23, đều nghe trào dân trong lòng cảm xúc biết ơn và tự hào. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:45:55 am THỦ TRƯỞNG CỦA TÔI Đại tá Trần Hữu Dực (Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 26 Thiết giáp – Quân khu 7) Tôi biết anh Mai Văn Phúc từ giữa năm 1955, khi chúng tôi về Trường Văn hóa Quân đội, Kiến An - Hải Phòng để thu nạp kiến thức chuẩn bị ra nước ngoài học tập. Tháng 8 năm 1956, sang học Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh (Trung Quốc), anh được bầu vào cấp ủy và là Tiểu đội trưởng của tôi. Từ đó anh là thủ trưởng của tôi cho đến mãi sau này. Ngày Trung đoàn xe tăng 202 thành lập, anh Phúc là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, còn tôi là Đại đội trưởng Đại đội 5 dưới quyền. Trong lúc chờ về nước, một số phân đội của Trung đoàn diễn tập với Sư đoàn La Thịnh Giáo - Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Cuộc diễn tập với quy mô lớn cùng với nhiều tình huống giả định phức tạp gần sát với chiến tranh hiện đại. Sau khi đơn vị đã vào vị trí trú quân, Tiểu đoàn trưởng Mai Văn Phúc bất ngờ kiểm tra đại đội tôi. Anh xem xét, hỏi chúng tôi rất kĩ công tác trú quân, các phương án “đánh địch”, chỉ cho tôi những việc cần tiếp tục hoàn thiện. Khi Tiểu đoàn trưởng kiểm tra xong đơn vị tôi thì trời đã tối. Từ đại đội tôi về nơi đặt Sở Chỉ huy tiểu đoàn khá xa. Tôi nói với anh: - Thủ trưởng đợi một lúc rồi tôi bố trí người đưa về. Nói xong tôi phải đi triển khai công việc. Khi về đã không thấy anh ở đó nữa. Thời gian làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, anh Mai Văn Phúc rất có uy tín. Anh được bầu làm ủy viên Đảng ủy Trung đoàn 202 xe tăng mấy khóa liền. Trung đoàn trưởng Đào Huy Vũ, nổi tiếng là người nghiêm khắc, nóng nảy, nhiều cán bộ cấp dưới sợ ông một phép, không ai dám góp ý, chỉ có anh Mai Văn Phúc là dám phê bình. Anh Phúc nói rất đúng lúc, đúng chỗ, lại rất chân thành nên Trung đoàn trưởng tiếp thu. Đầu những năm 60 của thế kỉ XX, tôi đã gần 30 tuổi mà chưa có người yêu. Tiểu đoàn trưởng nhiều lần giục tôi lập gia đình để yên tâm công tác. Anh Tựu - Chính trị viên phó Tiểu đoàn 3 quê Hải Phòng có cô em gái nhìn qua ảnh khá xinh. Anh Phúc liền vun vào cho tôi. Anh nói: “Phải chớp thời cơ, làm ngay”. Hôm ấy tôi và anh bí mật xuống Hải Phòng tiếp cận “mục tiêu”. Ngày ấy giao thông còn cách trở, từ Vĩnh Phúc xuống Hải Phòng phải mấy chặng xe, lại qua phà khá vất vả. Cứ sợ trễ nên chúng tôi không dám dừng lại để ăn, nhịn đói để đi cho kịp. Đến nhà anh Tựu thì trời đã tối, cô em gái đang nấu cơm dưới bếp. Tôi cứ nóng lòng muốn nhìn thấy mặt nhưng khổ nỗi nhà chỉ có chiếc đèn dầu nhỏ, cô gái lại xấu hổ cứ tránh mặt. Đến sáng mới nhìn thấy mặt cô gái, nhưng không được như trong ảnh. Anh em chúng tôi chào gia đình, xin phép lên đơn vị. Năm 1973, tôi đưa một đơn vị xe tăng hành quân vào chiến trường Đông Nam Bộ. Vì chưa có đường, chúng tôi phải đi vòng qua đất bạn Campuchia. Anh Mai Văn Phúc lúc đó đã là Đoàn trưởng Đoàn 26 Thiết giáp Đông Nam Bộ, cho quân ra Stung Treng, cách đó mấy trăm cây số để đón chúng tôi. Gặp lại nhau sau 9 năm xa cách, thấy anh vẫn sâu sát, tình cảm, quan tâm đến mọi người. Miền Đông Nam Bộ là chiến trường xa hậu phương miền Bắc, vô cùng ác liệt, thiếu thốn đủ đường. Những lúc chúng tôi đi công tác, đi chiến đấu về anh đều đón tiếp thân tình, chu đáo. Những anh em ốm đau, bị thương, anh đều san sẻ từ cốc sữa, quả trứng. Anh hiểu rất rõ điểm mạnh, yếu của từng người để giao việc. Trong các cuộc họp, giao nhiệm vụ, anh thường nói: “Giờ hay phải tính cho ra/ Việc gần mà hỏng, việc xa mà thành”. Sau ngày đất nước thống nhất, anh Mai Văn Phúc được giao trọng trách mới những vẫn luôn quan quan tâm đến anh em xe tăng miền Đông Nam Bộ. Anh vẫn giữ tình cảm thân thiết, sâu đậm với chúng tôi - những người đã cùng anh chiến đấu trên chiến trường ngày nào. Chúng tôi coi anh như người anh cả trong gia đình. Khi không còn công tác, về với đời thường, anh vẫn được chúng tôi quý mến, kính trọng. Mỗi khi biết anh từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, chúng tôi báo tin cho nhau, để được gặp thủ trưởng cũ của mình. An hem ở các tỉnh quanh Hà Nội như: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Thái Bình… đều thu xếp thời gian, công việc để về gặp anh. Có lần mấy anh em ở Thanh Hóa thuê xe đi trong đêm để sáng kịp ra Hn gặp thủ trưởng. Anh Mai Văn Phúc là người sống đức độ, thủy chung, chí tình, chí nghĩa với đồng chí, đồng đội. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 20 Tháng Tư, 2014, 07:47:16 am ĐÔI DÒNG TÂM SỰ Đại tá Nguyễn Xuân Tình (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.) Tháng 9 năm 2009, tôi gặp lại người chỉ huy trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước trên chiến trường miền Đông Nam Bộ - Thiếu tướng Mai Văn Phúc, chúng tôi thường gọi thân mật là anh Năm. Một thời ông là Tư lệnh xe tăng tại chiến trường B2. Chúng tôi bồi hồi ôn lại kỉ niệm cũ. Mới đó mà đã 44 năm… Thời gian đi nhanh thật. Mời thủ trưởng ăn bữa trưa với gia đình - ngay trên mảnh đất năm xưa là chiến trường ác liệt. Hôm ấy có các con và cháu của tôi về đông đủ. Trong bữa cơm chuyện qua chuyện lại, nhưng vẫn không quên những câu chuyên của những năm dài đánh Mĩ. Thủ trưởng hỏi tôi: “Này Tình, em còn nhớ trận đánh căn cứ biệt kích Cà Tum không?” - Tôi trả lời: “Làm sao mà em quên được hả thủ trưởng”. Con mắt còn lại của thủ trưởng chớp chớp. Ông nhìn ra khoảng sân đầy nắng. Chờ cho thủ trưởng với bớt niềm xúc động, tôi nói: “Em còn nhớ cả trận đánh căn cứ trung đoàn thiết giáp của địch ở Gò Đậu”. Câu chuyện cứ thế tiếp nối, tưởng chừng không thể dứt ra được bởi tôi và thủ trưởng còn quá nhiều kỉ niệm - những kí ức không thể nào quên được. Tôi nói: - Em kể về hai trận đánh để anh xem có đúng không, trong đó có trận thủ trưởng vĩnh viễn để lại một con mắt của mình… Đầu năm 1966, có mặt tại chiến trường miền Đông Nam Bộ được hơn 2 tháng, tôi được bổ sung về Đại đội 40 của J16 Cơ giới Miền (mật danh của bộ đội xe tăng Đông Nam Bộ). Ngày ấy, J16 mới chỉ có 4 đại đội. Với tinh thần chủ động tiến công quân địch, đơn vị khẩn trương huấn luyện cho bộ đội kĩ thuật, chiến thuật đặc công. Chỉ có súng AK, lựu đạn, thủ pháo, cả đại đội may ra mới được một khẩu B40, ấy thế mà J16 đã làm quân địch nhiều phen khiếp đảm. Ngày 7 tháng 1 năm 1967, Tiểu đội Đặc công Cơ giới do tôi chỉ huy đã tập kích ban ngày vào cụm cơ giới Mĩ tại ngã ba Bà Chiêm (Tây Ninh). Bị bất ngờ đánh vỗ mặt, cả trung đội lính Mĩ không kịp trở tay, phải bỏ mạng, 6 xe M113 bị phá hủy. Trận này, tôi được nhận hai danh hiệu: “Dũng sĩ diệt Mĩ” và “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”. Thấy tôi gan dạ, thủ trưởng rất mừng, thường xuyên động viên tôi, thân tình như với đứa em trai. Ngày 7 tháng 7 năm 1967, tôi được anh Năm giao là Mũi phó chỉ huy bộ đội tiến công căn cứ sư đoàn “anh cả đỏ” của Mĩ ở Technique (Bình Long). Sau khi phá gần hết các lớp rào, chỉ còn hàng rào cuối cùng nhưng bộc phá không nổ, tôi ôm bộc phá đè lên hàng rào, hô đồng đội lấy thân mình làm bàn đạp nhảy qua, đánh thọc sâu vào căn cứ. Khi mũi trưởng hi sinh, tôi nhanh chóng thay thế, chỉ huy đồng đội đánh vào bãi xe, dùng B40 diệt ngay hỏa điểm địch, kịp chi viện cho tổ bạn gặp khó khăn. Trận đánh sắp kết thúc, địch bất ngờ đưa 60 xe tăng, xe bọc thép đến tiếp viện. Chúng lồng lộ phản kích, hòng bao vây, tiêu diệt tổ chiến đấu. Tình thế hiểm nghèo, tôi động viên anh em có vũ khí gì đánh vũ khí ấy. Với 5 quả đạn B40, tôi diệt 4 xe tăng, mở đường cho đồng đội rút ra ngoài. Mới đến cửa mở, tổ chiến đấu gặp 3 xe thiết giáp của địch bắn xối xả, bịt kín lối ra. Chỉ còn một quả đạn chống tăng, sực nhớ có chiến sĩ mang đạn B40 bị thương ngay cửa mở, tôi quyết định quay lại. Tìm được 2 quả B40, phối hợp với tổ giữ cửa mở, tôi bắn 2 quả đạn diệt luôn 2 xe. Thấy đòng bọn bị tiêu diệt, chiếc thứ 3 quay đầu tháo chạy. Lợi dụng thời cơ, tổ chiến đấu phá vỡ vòng vây, rút về căn cứ an toàn. Mỗi trận chiến đấu thắng lợi trở về, anh Năm đều gặp để tìm hiểu, chỉ cho tôi chỗ mạnh, chỗ còn phải cố gắng khắc phục. Cà Tum là căn cứ biệt kích được bố phòng rất kiên cố. Phía ngoài chúng rào từ 16 đến 18 lớp kẽm gai sắc nhọn, trong cùng là tường đất cao 3m, xen kẽ là các bãi mìn. Đã nhiều lần, J16 tổ chức điều tra, nghiên cứu nhưng không thành. Dạo đó là tháng 5 năm 1969, tôi vừa điều trị vết thương về, anh Năm Phúc gọi lên - “Chúng nó bố phòng chặt quá, Tình có vào được không?”. “Dạ, cho em chọn một người”. Thủ trưởng còn dặn: “Nhớ mang một vật gì vè nhé”. Hai ngày sau, khi đã nắm chắc quy luật của địch, tôi quyết định đột nhập từ hướng bắc. Tôi phán đoán, hướng đó có 18 lớp rào kẽm gai, lại chó nhiều bãi mìn nên địch sẽ có nhiều sơ hở hơn. Chờ mặt trời lặn, tôi và Sáng - chiến sĩ, bí mật áp sát hàng rào bên ngoài. Tôi đi trước, Sáng theo sau, vừa rà mìn, vừa vạch rào. Tấm lưng trần của chúng tôi trát đầy đất, nhọ nồi, bị dây thép gai cào ngang dọc, rớm máu. Chiu qua 17 lớp rào thì đồng hồ đã chỉ 1 giờ sáng ngày hôm sau. Dừng lại quan sát chừng 30 phút, tôi quyết định một mình chui qua hàng rào thứ 18. Dọc tường, cứ hơn 10 m, chúng đặt một lô cốt. Chúng còn dùng đèn chụp để phát hiện “Việt cộng” đột nhập, vì thế rất khó vượt qua tường đất cao 3m. Lợi dụng khoảng tối gần lô cốt, tôi nhảy lên bờ tường. Đến 2 giờ sáng, tôi mới đến được khu trung tâm và không quên lấy gói thuốc lá Rubi quân tiếp vụ. Về đến căn cứ, thủ trưởng đơn vị đang nóng lòng chờ. Tôi đưa gói thuốc lá thơm cho đoàn trưởng Năm Phúc, thủ trưởng vui sướng ôm lấy hai chúng tôi. Kết quả nghiên cứu đã giúp Chỉ huy Đoàn hạ quyết tâm tấn công căn cứ Cà Tum. Hướng tiến công chủ yếu vào căn cứ Cà Tum từ hướng bắc. Vì vết thương ở bàn tay phải chưa lành, lại chuẩn bị dự hội nghị Anh hùng chiến sĩ miền Nam lần thứ 2, tôi không được dự trận này. Biết tin, anh em trong đơn vị lo lắng, không yên tâm; một số cán bộ, chiến sĩ đã khóc, đề nghị cấp trên để Nguyễn Xuân Tình trực tiếp chỉ huy trận đánh (lúc này tôi là Tiểu đoàn phó kiêm Đại đội trưởng Đại đội 23). Anh Năm nỏi: “Ý kiến bộ đội như vậy, còn Tình thế nào?”. “Dạ, trận này ác liệt lắm, thủ trưởng để em chỉ huy. Sau về dự hội nghị Miền cũng chưa muộn”. Đoàn trưởng Năm Phúc vỗ vai: “Tôi giao cho Tình chỉ huy trực tiếp mũi tiến công chủ yếu phía trong”. Thủ trưởng vừa dứt lời, bộ đội vui mừng hô vang quyết tâm chiến thắng. Mũi chiến đấu do tôi chỉ huy có trên 30 cán bộ chiến sĩ. Đúng như anh Năm dự đoán, trận đánh diễn ra rất ác liệt nhưng cuối cùng chúng tôi đã thắng. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:26:10 am VỊ TƯỚNG MẪU MỰC, BẢN LĨNH VÀ ĐÔN HẬU Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ (Nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7) Ông thuộc thế hệ trước chúng tôi, từng tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1967, tôi cùng Trung đoàn 88 từ chiến trường Tây Nguyên về Đông Nam Bộ, biên chế vào Sư đoàn bộ binh 5. Tết Mậu Thân, đơn vị tôi thuộc Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Hơn một năm sau, tôi chuyển sang Sư đoàn 9. Lúc này, Trung đoàn tôi được tổ chức Tiểu đoàn đặc công và chuyển về Quân khu 8 (miền Trung Nam Bộ), từ đó tôi được biết ông qua bạn bè kể lại. Ông là cán bộ mẫu mực, đa năng, kiêm cả văn lẫn võ. Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị tôi được trở lại Quân khu 7. Kết thúc chiến tranh Tây Nam và biên giới phía Bắc, tôi được điều về công tác tại Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân khu 7. Thời điểm nay, ông là Cục trưởng Cục Kĩ thuật rồi Phó Tư lệnh Quân khu. Hơn 10 năm sống cùng ỏng ở Bộ Tư lệnh Quân khu, tuy không phải là cán bộ kĩ thuật nhưng tôi thường xuyên gặp ông trong các cuộc họp và hội thảo. Lúc nào tôi cũng cảm thấy ông là người trầm lặng, suy tư cho công việc. Chưa bao giờ tôi thấy ông to tiếng với cấp dưới. Trong các cuộc họp, ông phát biểu có tình, có lí, ôn hòa, làm cho người được đóng góp cũng thấy thoải mái và dễ chấp nhận. Ông đóng góp và phê bút trực tiếp nhưng ý kiến rất sắc sảo, thấu tình đạt lí, khoa học… đặc biệt là kế hoạch phòng thủ… Ông sống bình dị, làm cho chúng tôi rất cảm phục và dễ gần. Tôi học ở ông rất nhiều từ tác phong chỉ huy cho đến giải quyết công việc. Lúc ông là Phó Tư lệnh Quân khu, tôi được làm việc với ông nhiều hơn. Trong các cuộc họp, các cuộc hội thảo, ý kiến của ông thường khiêm tốn, tôn trọng khoa học. Đồng thời ông cũng là cán bộ chính trị đôn hậu, tận tình. Ngoài chức trách, ông còn lo cho cấp dưới về nơi ăn ở, đặc biệt là cán bộ quân tình nguyện ở Campuchia về; các gia đình chính sách thương bệnh binh trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông nói, gia đình các liệt sĩ đã hi sinh người thân cho Tổ quốc, trên mỗi thân thể họ đều mang thương tích, chúng ta còn khỏe mạnh như thế này phải biết ơn họ, phải đền đáp công ơn đó… Nay ở vào độ tuổi xưa nay hiếm nhưng Thiếu tướng Mai Văn Phúc vẫn mạnh khỏe, minh mẫn. Tham gia các cuộc hội thảo lịch sử, ông vẫn còn nhớ rất kĩ. Chúng tô coi ông là tư liệu sống của Quân khu. Với ông, tôi chỉ thuộc hàng con cháu nhưng luôn tự hào, kính trọng ông - một cán bộ lão thành đôn hậu. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:27:26 am VỊ TƯỚNG ĐA NĂNG Thiếu tướng Đoàn Văn Khoan (Nguyên Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu 7) Một thời đánh Mĩ ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, tôi được anh biết anh Năm Phúc. Nhiều khi được Bộ Chỉ huy Miền thông báo tin tức hoặc nghe qua buổi phát quanh quân đội ca ngợi những chiến công rạng rỡ của J16 Đặc công Cơ giới Miền, của Trung đoàn 429 Đặc công chủ lực Miền, của Đoàn 75 Pháo binh Biên Hòa, chiến công của đoàn 26 tăng - thiết giáp Miền... tôi thấy tự hào về anh. Khi về hưu, điều kiện về thời gian cho phép tôi và anh đi lại thăm nhau nhiều hơn. Chúng tôi thường ôn lại chuyện xưa, có chuyện rất thú vị. Qua đó, càng hiểu anh năm và đọng lại trong tôi tình cảm mến phục, thân thương và rất gần gũi. Được biết, anh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Lên 7 tuổi, lẽ ra được cắp sách đến trường nhưng vì gia đình quá nghèo túng anh phải đi ở cho đến năm 17 tuổi. Anh nói: “Lúc đó, thôi như thuyền nan trôi giữa biển khơi, không biết đâu là bến đâu là bờ. Nếu không có cách mạng, đời mình không biết đi về đâu. Mãi đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khí thế đấu tranh sôi nổi của quần chúng đã lôi cuốn tôi vào cuộc đời mới. Tôi đã vào Thanh niên Cứu quốc, tự vệ, chiến đấu, lực lượng vũ trang địa phương, đội Cảm tử quân Trung đoàn 93 Quảng Nam - Đà Nẵng, chủ lực Quân khu 5. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, từ một thanh nên mù chữ tôi đã trở thành chiến sĩ trong quân đội cách mạng”. Anh được cấp trên giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, cuối cuộc kháng chiến chống Pháp là Tiểu đoàn phó quyền Tiểu đoàn trưởng, chiến đấu dũng cảm được đồng đội yêu mến. Khi tập kết ra miền Bắc, cũng như bao anh em miền Nam, anh có biết bao suy nghĩ, day dứt, làm thế nào để xứng đáng với miền Nam “Thành đồng Tổ quốc”. Anh đã tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Học xong chương trình lớp 10 bổ túc văn hóa, anh được cử sang nước bạn học xe tăng, tập huấn ở Học viện Malinốpxki của Liên Xô. Tiếp đó được vào Học viện Quân sự, Học viện Chính trị quân sự của quân đội. Đây là phần thưởng quý báu mà Đảng và đồng bào miền Bắc tặng thưởng, đồng thời cũng là những hành trang quý báu mà anh đã mơ ước từ lâu để khi về miền Nam có điều kiện phục vụ cách mạng nhiều hơn. Đến tháng 4 năm 1964, anh được cấp trên cho về miền Nam chiến đấu. Anh tự xác định: “Đảng giao bất cứ công việc gì tôi đều sẵn lòng nhận lấy; miễn sao công việc đem lại lợi ích cho Đảng, cho nhân dân, cho đồng bào miền Nam”. Ngay từ đầu, anh nhận nhiệm vụ Trưởng ban Cơ giới Miền (B16) rồi Chính ủy J16 Đặc công Cơ giới, Chính ủy Trung đoàn 429 và Phó Chính ủy Lư đoàn 429 Đặc công chủ lực Miền, Chính ủy Đoàn 75 Pháo binh, Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 26 tăng - thiết giáp Miền. Sau ngày đất nước thống nhất, ông được giao Chính ủy Cục Kinh tế Quân khu 7. Các đơn vị cơ giới do anh chỉ huy đều là các cán bộ chiến sĩ xe tăng được huấn luyện, đào tạo để sử dụng vũ khí trang bị kĩ thuật hiện đại trên xe để chiến đấu. Nhưng do yêu cầu của chiến trường, đơn vị cơ giới do anh chỉ huy phải: “Lấy xe địch đánh địch” - Một mệnh lệnh rát khó thực hiện giữa chiến trường miền Đông ác liệt. Sau những ngày suy nghĩ tìm tòi, đêm 23 tháng 3 năm 1966, đơn vị đánh tập kích địch tại Gò Đậu, thuộc tỉnh Bình Dương, bằng “nội công ngoại kích”, kết hợp giữa C40 Cơ giới Đặc công của J16 và lực lượng nghĩa binh yêu nước do binh vận Trung ương Cục và Binh vận Bình Dương đã cài cắm, xây dựng và móc nối thành công. Trận đánh vào Trung đoàn xe tăng số 1 của quân ngụy tại Gò Đậu còn có một số đơn vị bộ binh Sư đoàn 9 và bộ đội địa phương Bình Dương yểm trợ và cùng phát triển chiến đấu theo kế hoạch. Từ tháng 10 năm 1965, anh đã nhận nhiệm vụ của Bộ Chỉ huy Miền trực tiếp liên hệ với Binh vận Trung ương Cục móc nối cơ sở nội ứng bên trong. Bố trí hai cán bộ đại đội Hà Vũ và Trần Nhật Chiêu liên hệ trực tiếp với nghĩa binh Phùng Văn Mười theo dõi diễn biến của Trung đoàn xe tăng số 1 ngụy và quan hệ với lực lượng nội ứng kịp tời báo cáo về đơn vị và ban chỉ huy trận đánh trước giờ nổ súng. Trận đánh đã giành thắng lợi, diệt đoàn thiết xa vận của ngụy - Sài Gòn, diệt hơn 200 tên, thu và phá hủy 330 xe các loại, đưa được chiếc xe tăng M41-A1 về căn cứ ta. Về sau, Binh chủng Tăng - Thiết giáp phát triển, cách đánh của xe tăng có khác hơn trước, thường là chiến đấu trong đội hình có nhiều binh chủng tham gia. Tôi còn nhớ: tháng 4 năm 1972, Sư đoàn bộ binh 5 được tăng cường một đại đội xe tăng gồm 10 xe tăng và 2 xe cao xạ 57ly; Đoàn pháo binh 75 và một số binh chủng khác có nhiệm vụ chiến đấu giải phóng chi khu Lộc Ninh. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ các binh chủng hợp đồng chiến đấu rất tốt, sức mạnh đột kích được tăng lên. Ta đã diệt và bắt sống 4.000 tên địch, Chiến đoàn 9 (ngụy) bị diệt gọn, thu 1.767 súng các loại, chi khu Lộc Ninh được giải phóng. Khi anh phụ trách Phó Tư lệnh Kĩ thuật Quân khu 7, nhiệm vụ Quân khu rất nặng nề, vừa xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa chiến đấu giúp bạn. lượng vật chất anh phụ trách vẫn được bảo đảm thông suốt, đầy đủ và kịp thời đáp ứng cho quân tình nguyện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu giúp bạn trên chiến trường Campuchia trong giai đoạn từ năm 1979 - 1989. Anh là vị tướng năng động, sáng tạo, có bản lĩnh; chịu khó tìm tòi học hỏi, luôn khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Anh có tác phong sâu sát, cởi mở, chân tình, đoàn kết, giản dị, khiêm tốn ở đơn vị nào cũng được mọi người quý mến. Anh vừa là người bạn, người anh mà tôi yêu mến và lấy đó là tấm gương để học tập. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:28:10 am VỊ TƯỚNG XE TĂNG NHÂN HẬU Thảo Hoàng Quân Nhiều người gọi ông bằng cái tên trìu mến và trân trọng “Anh Năm”, “Chú Năm”. Riêng tôi, được tiếp xúc nhiều với ông đã cảm nhận thêm về phẩm chất đạo đức của một vị tướng “Bộ đội Cụ Hồ”. Ông là Thiếu tướng Mai Văn Phúc. Ông sinh ngày 25 tháng 12 năm 1927, trong một gia đình nông dân nghèo thuộc huyện Hòa Hải, Hòa Vang, Quảng Nam (nay thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng). Lúc nhỏ được cha mẹ đặt tên là Mai Đăng Do. Trong tình cảnh chung của xã hội Việt Nam lúc bầy giờ gia đình ông bị đẩy xuống hàng “cùng đinh”. Cha mẹ ông làm quần quật suốt ngày vẫn không đủ kiếm cơm cho các con ăn. Lên 7 tuổi, người bé như cái kẹo, Mai Đăng Do phải đi ở đợ. Đầu năm1945, phong trào cách mạng ở địa phương lên cao, đang phải đi ở nhưng Mai Đăng Do vẫn vào đội thanh niên cứu quốc, làm liên lạc đưa công văn cho cán bộ. Cuối năm ấy ông mới rời nhà thầy Đê, chấm dứt 10 năm đi ở. Như con chim sổ lồng, ông vào du kích trực tiếp chiến đấu bảo vệ quê hương. Do yêu càu của cuộc kháng chiến, cả Trung độ du kích Sơn Thủy - Hòa Hải được chuyển thành đơn vị chiến đấu trên phòng tuyến Non Nước. Từ đây, người chiến sĩ trẻ mang tên mới Mai Văn Phúc. Trận đánh đầu tiên của ông khi vào bộ đội là trận tập kích đồn Mĩ Thị. Chiến đấu mưu trí lại gan dạ, sau trận đánh này, ông được bổ sung vào Đại đội cảm tử Trung đoàn 93. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên cương vị cán bộ tiểu đội, trung đội rồi đại đội, Mai Văn Phúc đã đánh hàng chục trận, lập nhiều chiến công xuất sắc. Tiêu biểu là trận diệt đồn Cẩm Phô, Thu Bồn, Bường An; tập kích vào thị xã Tuy Hòa... Hòa bình lập lại, Mai Văn Phúc cùng đơn vị tập kết ra Bắc. Tháng 6 năm 1955, đang làm Tiểu đoàn trưởng, ông được cấp trên giao nhiệm vụ đi học văn hóa và ngoại ngữ, chuẩn bị ra nước ngoài học chỉ huy xe tăng. Chín năm đánh Pháp chỉ có cây súng trường, nay được học xe tăng, Mai Văn Phúc sung sướng đến rơi nước mắt. Ba năm học tập, rèn luyện tại trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh - Trung Quốc, ông thấy mình trưởng thành lên rất nhiều. Trung đoàn xe tăng 202 - đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta được thành lập, Đại úy Mai Văn Phúc được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3. Những năm tháng ấy, miền Bắc đang dấy lên phong trào thi đua sôi nổi “Sóng Duyên Hải”, “Gió Đại Phong”, “Cờ Ba Nhất” và “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”. Là người con xứ Quảng, sống giữa lòng miền Bắc yêu thương, Mai Văn Phúc tự nhủ phải nỗ lực nhiều hơn nữa để xứng đáng với niềm mong đợi của đồng chí, đồng đội. Mỗi buổi sáng, khi bộ đội hành quân ra bãi tập, ông thường chạy dọc hàng quân để kiểm tra anh em. Ngày ấy, đi lại còn khó khăn, từ Vĩnh Yên ra Hà Nội phương tiện chủ yếu là tàu hòa, lại thường trễ giờ. Nhiều hôm về Hà Nội thăm vợ con khi trở lại đơn vị ông phải chạy gần 10km từ ga Vĩnh Yên vào doanh trại để kịp giờ làm việc. Tiểu đoàn 3 do ông làm Tiểu đoàn trưởng, luôn là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của Trung đoàn 202 xe tăng. Sống trong lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhưng trong lòng Mai Văn Phúc luôn hướng về quê hương Quảng Nam đang chìm trong khói lửa chiến tranh. Nơi đó ông còn mẹ già và những người ruột thịt. Ước mong của ông là muốn sớm được vượt Trường Sơn trở về chiến đấu giải phóng quê hương không phải bằng khẩu súng trường năm xưa mà bằng những chiếc xe tăng hiện đại. Niềm mong ước của ông đã thành sự thật. Ngày 19 tháng 4 năm 1964, Đại úy Mai Văn Phúc và Trung úy Lâm Kim Chung là hai cán bộ đầu tiên của Trung đoàn 202 xe tăng bí mật hành quân vào căn cứ Bà Chiêm thuộc Chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh). Vào đến chiến trường, ông được Bộ Chỉ huy giao nhiệm vụ thành lập Ban Cơ giới Miền với phiên hiệu B16 (sau đổi thành J16). Đây là cơ quan Bộ Tư lệnh Thiết giáp đầu tiên ở chiến trường B2. Nhiệm vụ chủ yếu của Ban Cơ giới Miền do ông trực tiếp lãnh đạo là nghiên cứu chiến trường, tiếp nhận các đơn vị xe tăng từ hậu phương vào, gây dựng lực lượng theo phương châm “lấy xe địch đánh địch”. Đi từ không đến có, với tinh thần sáng tạo, mưu trí, kiên quyết tiến công, J16 Miền đã ra quân đánh thắng các trận Đồng Xoài, Gò Đậu thu được xe tăng địch. Khi đã có trong tay chiếc xe M41 A1 của địch, ông đã tổ chức huấn luyện bộ đội, nhanh chóng nắm vững kĩ thuật, sử dụng thành thạo trang bị vũ khí, dùng xe tăng địch, đánh trận diệt đồn Sa Mát - Thiện Ngôn trong Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, khiến Mĩ - ngụy khiếp đảm. Ông là cán bộ chỉ huy dũng cảm, mưu trí không lùi bước trước bất cứ khó khăn gian khổ. 11 năm chiến đấu trên chiến trường, ông đã giữ nhiều chức vụ: Trưởng ban J16, Chính ủy J16 Đặc cơ, Chính ủy Trung đoàn 429 Đặc công, Chính ủy Đoàn pháo binh Biên Hòa, Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 26 xe tăng Miền, Tư lệnh xe tăng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh trên hướng Xuân Lộc... Ở vị trí nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Sau ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, ông được giao nhiều trọng trách: Cục phó Cục Kinh tế Quân khu 7, quyền Cục trưởng Cục Quản lí xe máy - Tổng cục Kĩ thuật Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Bảo đảm Kĩ thuật xe tăng, Tổng cục Kĩ thuật. Cuối năm 1980, cấp trên lại giao cho ông nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ: Tư lệnh Binh đoàn 23 tham gia vùng chuyên canh cao su. Trong buổi đầu của thời kì làm kinh tế với rất nhiều khó khăn thiếu thốn, Binh đoàn 23 đã xung kích, đi đầu trong khai hoang vỡ dất, lập làng công nhân và trồng nuôi cao su. Trên những vùng đất Phước Long, Bình Long, Bù Đăng, Đồng Phú bạt ngàn hoang hóa và bom mìn sót lại sau chiến tranh, bộ đội lăn xả khai hoang vỡ đất. đã có biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu xương đổ xuống cho công cuộc hồi sinh cây cao su trên vùng đất một thời là chiến trường khốc liệt. Giữa năm 1982, trên có chủ trương chuyển Binh đoàn 23 cho Công ty cao su Phú Riềng do Tổng cục Cao su quản lí. Ngày chia tay Binh đoàn 23, ông Đỗ Nguyễn - Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su Việt Nam nói rất cảm động: “Công ty cao su Phú Riềng hợp tác khai thác 50 vạn hécta cao su với Liên Xô (từ năm 1977 - 1978) như một con voi khổng lồ nhưng bị sa lầy, nay nhờ Binh đoàn 23 của Bộ Quốc phong đến kịp thời kéo nó lên, đẩy nó đi được một khúc dài như ngày nay. Tổng cục Cao su hết sức cảm ơn Bộ Quốc phòng và Quân khu 7”. Thiếu tướng Mai Văn Phúc là sĩ quan quân đội mẫu mực, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”. Ông khôn chỉ là vị tướng “Văn võ song toàn” mà còn hết mực nhân hậu, biết chia ngọt sẻ bùi, yêu thương đồng đội. Tháng 5-1968, đơn vị tập kích vào căn cứ Cà Tum, Nguyễn Xuân Tình bị thương nặng vào chân phải. Ông vào bệnh viện K71 nói với các bác sĩ: “Ráng cứu, đừng cưa chân nó mà tội. Câu ấp sắp được phong anh hùng đấy”. Ở chiến trường, thiếu thốn mọi thứ, trường hợp bị thương vào chân như Tình thông thường đều bị cắt bỏ. Hai ngày sau ông lại đến khoa ngoại gặp bác sĩ trưởng khoa trình bày suy nghĩ của mình. Ông tặng khoa ngoại chiếc đài bán dẫn còn mới với lời nhắn gửi: “Mong các anh cứu giúp Tình. Đừng cưa chân cậu ấy”. Hôm ấy bác sĩ mổ chân cho Nguyễn Xuân Tình ông có mặt từ rất sớm. Không có thuốc gây mệ, không có cả thuốc tê. Tình chuẩn bị một thanh tre, vót trơn tru như chiếc đũa cả. Tự buộc chân mình, nhờ đồng đội buộc tay bằng dây vải, anh nói với bác sĩ “cứ mổ đi” rồi ngậm thanh tre vào miệng. Chứng kiến sự đau đớn của đồng đội, ông đã khóc. Nhờ kiên trì luyện tập, 5 tháng sau, Nguyễn Xuân Tình ra viện, tiếp tục chiến đấu, lập công xuất sắc, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nửa thế kỉ làm Bộ độ Cụ Hồ, khi về nghỉ, phẩm chất ấy trong ông vẫn tỏa sáng. Nhiều vụ xích mích trong địa bàn được ông khuyên can có tình có lí, nhiều gia đình được ông hòa giải “gương vỡ lại lành”; không ít cặp vợ chồng sắp phải hát “lời ru chia đôi” đã tìm lại được hạnh phúc. Ông tham gia nhiều tình, hăng hái các công tác Đảng, đoàn thể. Hằng năm, ông đều trích 500 ngàn đồng từ tiền trợ cấp thương binh của mình để tặng cho quỹ học bổng Nguyễn Hữu Thọ. Khi các đoàn thể có khó khăn về kinh phí hoạt động, ông đều vui vẻ hỗ trợ từ 300 - 500 ngàn đồng. Ông còn hăng hái vận động bà con trong tổ dân phố hưởng ứng các phong trào do Mặt trận Tổ quốc phát động, hoạt động tích cực trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Mấy hôm trước anh nông dân nghèo ở miền Tây có con trai mắc bệnh tim phải lên Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Biết tin, ông vận động một số người trong phường giúp đỡ. Người nông dân trẻ còn mơ ước có được chiếc vỏ lãi để bắt cá kiếm tiền nuôi con ăn học. Nghe xong câu chuyện cảm động ấy, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã tặng anh hơn một triệu đồng đủ để mua chiếc thuyền nhỏ. Ông còn cho thêm mấy trăm ngàn để đỡ đần thuốc men cho cháu. Với gia đình, ôn luôn là tấm gương sáng về lối sống trong sáng, giản dị cho con cháu noi theo. Nhiều năm nay, gia đình Thiếu tướng Mai Văn Phúc đều được suy tôn là “Gia đình cách mạng gương mẫu”, “Gia đình văn hóa tiêu biểu” cấp phường, quận. Cả 5 người con của ông đều là đảng viên, có trình độ đại học, thành đạt và là những công dân tốt của thành phố mang tên Bác. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:29:31 am NIỀM TỰ HÀO CỦA NGÀNH KĨ THUẬT QUÂN KHU 7 Đại tá Hồ Công Tráng (Chủ nhiệm Kĩ thuật Quân khu 7) Những năm cuối của thập kỉ 80 thế kỉ XX, trong lúc đang tham gia chiến đấu giúp bạn trên đất Campuchia, chúng tôi - những cán bộ còn trẻ tuổi của ngành Kĩ thuật Mặt trận 479 đã biết tiếng thủ trưởng Mai Văn Phúc. Anh em gọi thân mật là chú Năm, anh Năm, lúc này là Cục trưởng Cục Kĩ thuật Quân khu 7. Tháng 9 năm 1989, theo chủ trương của Bộ Chính trị, Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia rút về nước sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế giúp bạn thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong cuộc hành quân lịch sử đó, bộ đội Mặt trận 479 được cơ động bằng hàng nghìn xe ô tô. Công tác bảo đảm kĩ thuật hành quân đã được Bộ Tư lệnh và Cục Kĩ thuật Quân khu 7 chỉ đạo, thực hiện trọn vẹn. Đây là một trong những cuộc hành quân lớn nhất trong lịch sử quân đội ta bằng cơ giới đã được tổ chức chu đáo, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đó cũng là thành tích to lớn mà Cục Kĩ thuật Quân khu 7 do thủ trưởng Mai Văn Phúc trực tiếp chỉ đạo, tổ chức, đóng góp to lớn vào thành công đó. Sau khi bộ đội rút quân về nước, tôi được giao ở lại bộ phận rút gọn của Cục Kĩ thuật Mặt trận 479 để giải quyết các công việc còn lại. Đến tháng 1 năm 1990, tôi được điều về Phòng Quản lí - Xe máy và ít lâu sau tôi lại được điều động về Phòng Tham mưu của Cục Kĩ thuật Quân khu. Đây là thời kì rất khó khăn của đất nước và lực lượng vũ trang, cũng là thời kì tôi được tiếp xúc với thủ trưởng Mai Văn Phúc thường xuyên hơn. Một lần đi công tác xuống đơn vị, tôi được ngồi cùng xe với thủ trưởng. Đi được một đoạn đường, thủ trưởng Phúc ân cần hỏi thăm tôi: “Cháu đã có gia đình, có nhà cửa gì chưa?”. Tôi rất cảm động trước sự quan tâm của chú Năm và nhìn thấy ở vị tướng là tình cảm và sự quan tâm đến cấp dưới. Thời kì này đời sống của quân đội ta nói chung còn rất nhiều khó khăn do hậu quả của những năm tháng chiến tranh, bị bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch. Dạo đó, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có câu nói nổi tiếng: “Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Chú Năm Phúc lúc đó đã đề ra chủ trương khai thác “công suất thừa” để làm kinh tế cho các đơn vị trực thuộc Cục Kĩ thuật. Từ chủ trương đó, các đơn vị Z1, xưởng Z73, Kho VK92, K25, K6... đã hưởng ứng tích cực, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tận dụng năng lực sản xuất, công suất thừa kho bãi và đất nông nghiệp, mỗi nơi một mô hình đua nhau phát triển lao động sản xuất, làm kinh tế. Nhờ đó mỗi năm thu được hàng tỉ đồng cho đơn vị, góp phần cân đối cho nhiệm vụ quốc phòng, cải thiện đời sống bộ đội, góp phần với trên, tháo gỡ nhiều khó khăn cho đơn vị. Chú Năm đặc biệt quan tâm đến chính sách hậu phương gia đình cán bộ. Dưới sự chỉ đạo của chú, Cục Kĩ thuật đã đề nghị và được Bộ Tư lệnh Quân khu cấp hàng trăm suất đất ở, nhà ở cho cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng của các cơ quan, đơn vị. Đây là một việc làm mà nhiều thế hệ cán bộ, nhân viên của Cục Kĩ thuật Quân khu 7 đa ghi nhớ ơn Đảng, Nhà nước, quân đội, trong đó có công lao của chú Năm Phúc mà gia đình hậu phương sớm ổn định, an tâm công tác. Bên cạnh những công việc đó, chú Năm cũng tích cực chỉ đạo toàn Cục thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc phòng của ngành Kĩ thuật Quân khu như thu hồi, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa được nhiều loại vũ khí, xe máy; xây dựng hệ thống kho, trạm xưởng kĩ thuật. Những chủ trương, biện pháp mà chú Năm cùng tập thể Đảng ủy - Ban Chủ nhiệm Cục Kĩ thuật Quân khu 7 thời kì đó đề xướng và tổ chức thực hiện đã góp phần cho toàn ngành Kĩ thuật và Cục Kĩ thuật Quân khu phát triển lớn mạnh không ngừng, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Lớp cán bộ, chiến sĩ Cục Kĩ thuật hôm nay đã kế thừa và phát huy thành quả của thế hệ cha anh, trong đó có chú Năm - Thủ trưởng Mai Văn Phúc kính mến của chúng tôi. TP. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010 Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:30:55 am NGƯỜI THỦ TRƯỞNG, NGƯỜI ANH KÍNH MẾN Thiếu tướng Trần Thành Lập (Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7) Tôi biết thủ trưởng Mai Văn Phúc khi anh về Quân khu 7 làm Cục trưởng Cục Kĩ thuật và Phó Tư lệnh, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân khu, trước đó anh làm Tư lệnh Binh đoàn 23 xây dựng kinh tế trồng cao su. Được tiếp xúc với anh lần đầu (lúc ấy tôi công tác ở Phòng Cán bộ và Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7) tôi đã mến và có nhiều thiện cảm, kính trọng anh cho đến nay và mãi mãi. Anh giữ cương vị cao và hàm cấp tướng nhưng vẫn thể hiện được tính giản dị, chân thành, độ lượng, vị tha, luôn sâu sát gần gũi giúp đỡ cơ quan, đơn vị, cấp dưới, đặc biệt là chiến sĩ. Anh luôn thể hiện bản lĩnh của người cán bộ, đã từng lãnh đạo chỉ huy với nhiều cương vị ở đơn vị chiến đấu và cơ quan, qua nhiều chiến trường trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ xâm lược và chiến tranh hai đầu biên giới phía Nam, phía Bắc; tận tâm với trách nhiệm, thắng thắn chân tình xây dựng đoàn kết nội bộ. Anh luôn quan tâm đến đời sống cán bộ chiến sĩ, bởi anh xuất thân từ một gia đình nghèo trong chế độ cũ và trưởng thành từ người chiến sĩ cách mạng lên cấp cao. Trải qua những cam go thử thách ấy, anh thấu hiểu, cảm thông sâu sắc cuộc đời binh nghiệp đầy gian lao, khắc khổ, ác liệt nhưng cũng thật vinh quang và tự hào là người lính Bộ đội Cụ Hồ. Tuy vậy, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã lặn lội chiến đấu trong các cuộc chiến tranh, không sợ hi sinh xương máu để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nay hoàn cảnh gia đình còn rất khó khăn, khi đất nước hòa bình, họ không có nhà ở, đó là một nhu cầu rất cấp thiết. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân khu 7 được cấp trên giao quản lí một khối lượng doanh trại, nhà ở, đất đai... do chế độ cũ để lại. Thời điểm này, Trung ương Đảng, Chính phủ đã óc chỉ đạo, cho phép Quân khu 7 giải quyết nhà ở cho cán bộ chưa có nhà ở hoặc nhà đã hư hỏng nặng. Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo chọn phương án nào tốt nhất để thực hiện chủ trương này. Với cương vị là Phó Tư lệnh phụ trách chỉ đạo ngành Hậu cần - Kĩ thuật và xây dựng kinh tế, anh Mai Văn Phúc đã từ lâu ấp ủ tâm niệm làm sao để giải quyết nhà ở cho cán bộ chưa có nhà, đang sống cuộc sống vất vả. Đúng lúc thời cơ đến, anh đề nghị với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu trước mắt giải quyết nhà cấp 3, cấp 4 cho cán bộ chưa có nhà ở với phương thức hóa giá hoặc trả góp, phù hợp với nguồn thu từ đồng lương ít ỏi của cán bộ (cách giải quyết này, thời gian sau phù hợp với Nghị định 61/CP của Chính phủ ban hành). Đề nghị của Phó Tư lệnh Mai Văn Phúc được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu nhất trí cao và quyết định cử anh làm Chủ tịch Hội đồng hóa giá nhà của Quân khu. Lại thêm một nhiệm vụ mới mẻ nhưng rất nặng nề, phức tạp và nhạy cảm đối với anh. Với chữ “TÂM” của người cán bộ cần mẫn luôn hướng về đồng chí đồng đội thấu hiểu hoàn cảnh đời khó khăn của anh em, anh dồn tâm trí sức lực của mình cùng với Hội đồng hóa giá nhà Quân khu giải quyết nhà ở cho một số lượng lớn cán bộ, đúng theo chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh là: Đúng đối tượng được cấp nhà, không sai phạm về nguyên tắc, quy chế thể lệ xét duyệt. Giải quyết được vấn đề nhà ở cho anh em cán bộ lúc bấy giờ đã tạo thêm niềm tin về chính sách của Đảng, Nhà nước, động viên mọi người an tâm công tác. Việc làm này đã tạo thêm một sinh khí mới trong lực lượng vũ trang quân khu, phấn khởi thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong thành quả đó có công đóng góp tích cực của Thiếu tướng Mai Văn Phúc - Phó Tư lệnh Quân khu. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:33:14 am NIỀM TỰ HÀO VỀ BA(*) Các con Mai Sơn Thủy Mai Ngọc Dung Hôm nay, má và các con tổ chức mừng thượng thọ 80 tuổi cho ba Mai Văn Phúc, tự Mai Đăng Do. Được các ông bà, các cô chú, các cậu mợ, các anh chị đến dự chúc thọ ba Phúc và chung vui niềm hạnh phúc này với gia đình chúng tôi, xin đại diện cho má Sửu và các anh chị em chân thành cảm ơn sự hiện diện của quý khách. Thưa các ông bà, các cô chú và hai bên nội ngoại. Khi lớn lên đi học chúng con mới biết là ba, má sinh ra mình là người miền Nam. Mình được sinh ra trên đất Bắc là nhờ chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, hòa bình được lập lại trên miền Bắc, miền Nam còn bị kẻ thù xâm lược, ba và má tập kết ra Bác, bốn chị em: Dung, Hạnh, Thủy, Hùng được sinh ra giữa lòng Thủ đô Hà Nội trong tình yêu thương của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Chúng con lớn lên trong vòng tay của ba, má, thường xuyên được sự chăm sóc, dạy bảo của các thầy cô trong các trường, cả trường trong nước và trường lưu trú trên đất Quế Lâm, Trung Quốc. Khi ở nhà, thấy má Sửu vừa công tác xã hội với khí thế: “Phụ nữ ba đảm đang” rất vất vả, vừa chăm sóc nuôi dạy các con từ miếng ăn, giấc ngủ và từng bước đi với tình mẹ bao lạ. Vào trường thấy các bạn đi học có cha, hoặc mẹ đưa đón, còn mình chỉ có mẹ và chị đưa đến trường. Hỏi má mới biết ba cùng các chú về Nam chiến đấu giải phóng quê hương. Nghe các cô chú nói Mĩ giàu, quân đông, nhiều súng đạn và tàn ác. Chiến tranh ở miền nam ác liệt lắm, người ra trận mấy ai đã về. Mấy chị em con lo mất ba nên buồn lắm. Vừa lo, buồn, vừa mong có ngày ba về, cứ thế hết năm này sang năm khác, nhất là mỗi khi Tết đến. Thế rồi nhờ chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam được giải phóng, cả nhà vui lắm. Miền Nam và cả quê nội được giải phóng, ba về, cả nhà mừng vui khôn xiết, đúng là niềm vui cười ra nước mắt. Thế là từ nay má Sửu không còn phải “Ngày Bắc đêm Nam” nữa. Suốt hơn 10 năm trời ba đi chiến đấu, má Sửu ban ngày lo công tác, lo nuôi con và lo cả an toàn cho con nữa vì chiến tranh đã lan ra cả nước. Đêm về, má lo mẹ già ở vùng địch chiếm đóng và chồng ở ngoài mặt trận, lỡ có việc chi thì vợ chưa biết quê chồng, các con chưa biết quê cha. Còn chi em con mừng vì từ nay có ba từ chiến trường trở về; Hạnh và Thủy đi lưu học ở Quế Lâm, Trung Quốc lúc chiến tranh lan ra miền Bắc ác liệt, nay cũng đã về, gia đình được đoàn tụ. Sau ngày nước nhà thống nhất, gia đình được chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những địa bàn mà ba đã tham gia đánh Mĩ. Lúc mới từ Hà Nội vào, gia đình ở nhà C23 cư xã Lam Sơn, quận Gò Vấp. Năm 1976, gia đình có thêm Mai Liên Hương, ba má gọi là Út Sài Gòn. Chị em lại được tiếp tục đi học. Chị Dung ở lại học Đại học Ngoại thương Hà Nội, tốt nghiệp mới về. Còn mấy chị em con vào học các trường ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Ra trường chúng con đều có việc làm ổn định. Đến tuổi trưởng thành, ba má tác hợp gia đình theo nguyện vọng của các con. Đến nay 5 người con của ba má đều có gia thất và có được 6 cháu. Các cháu đều chăm ngoan, học giỏi, có hiếu với ông bà, cha mẹ. Ba má hiện đang sống với ba thế hệ, rất vui và hạnh phúc của tổi già. Ba rất tự hào, cụ nói: Ra đi chỉ có một rồi hai Nay thì có cả gia tài cháu con Giàu về đông con cháu Hạnh phúc gia đình trọng vẹn Mừng vui và được thọ đến 80 Còn gì bằng của đời binh nghiệp Những lời ba con cũng là lời kết. Chú thích (*) Một vài suy cảm trong lễ mừng thọ ba Phúc tròn 80 tuổi (25-12-1927 - 25-12-2007). Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:34:44 am ANH NĂM LÀ NHƯ THẾ Người con của Ngũ Hành Sơn Với nước non - dạ sắt lòng son một đời Ra đi từ thuở đôi mươi Tôi trong lửa đạn vàng mười càng trong Cuộc đời cây bách, cây tùng Ở đâu cũng vững, cùng vùng đứng lên Ngọn cờ vẫy gọi niềm tin Ngôi sao tỏa sáng lung linh giữa trời. Lòng nhân sưởi ấm tình người Bao dung vá lại tả tơi thành lành Là con của núi Ngũ Hành Là vị tướng giỏi xứng danh anh hùng, Anh là một tấm gương trong Mai sau QUẢ PHÚC - nhân trồng hôm nay. Ngày 1 tháng 11 năm 2009 Đại tá Trần Tịnh (Nguyên Tham mưu trưởng Cục Hậu cần Quân khu 7) HÌNH ẢNH CUỘC ĐỜI Nhớ thời ở đợ chăn trâu Áo không đủ mặc, lấy đâu học hành Quê ảnh đất Quảng khô hanh Giữa thời loạn lạc chiến tranh khắp vùng Dân làng cơ cực vô cùng Anh nuôi ý chí ra vùng chiến khu Chim non tung cánh trời thu Bước đường binh nghiệp diệt thù giữ quê Bể dâu chìm nổi không nề Vàng thau thử lửa lời thề khắc tâm Trải qua nắng rát mưa dầm Đói cơm bệnh tật thăng trầm vượt lên Ơn ai gặp được bạn hiền Nàng Kiều Quảng Ngãi như tiên giáng trần Mối tình ấm ánh nắng xuân Trải qua mưa nắng vững tần số yêu Duyên tơ quấn quýt sớm chiều Tình nồng, nghiệp thắm dệt nhiều ước mong Cả đời mẫn cán sáng trong Tướng - dân vẫn giữ gia phong nếp nhà Tám mươi xuân sắc gấm hoa Gia đình - xã hội đậm đà nghĩa nhân. Ngày 7 tháng 7 năm 2007 Phạm Hồng Soang CHÂN DUNG VỊ TƯỚNG Ngày vàng tuổi hạc vẫn còn xuân Quá nửa đời người trọn việc quân Tuổi trẻ xông pha nơi trận mạc Về già tận tụy giúp an dân. Phu thê vẫn ngọt tình đằm thắm Phụ tử mặn nồng dậm nghĩa nhân Xử thế giúp đời khi gặp nạn Hương lòng phơi phới động hồn xuân! Phạm Hồng Soang Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:36:50 am MỘT NGƯỜI KÌ LẠ Lạ lắm người ơi! Người ở nơi eo xèo dậy sóng Sơn hào phỏng có một không hai? Đời đói nghèo đâu được học đến nơi Mà tài giỏi thông minh đến thế Tháo vát lái chèo vượt qua dâu bể Vượt lên hết thảy sáng trời tương lai. Lạ lắm người ơi! Vườn nhà cây lá, dân dã thôn quê Mà sao ai cũng mến thương theo về. Lạ lắm người ơi! Hiến cho tất tật không còn gì đâu Tưởng là hết sạch - mòn mỏi tiêu hao Mà lại giàu lên sum vầy - sung túc Ơn đền nghĩa trả gió ngàn xôn xao! Lạ thay ai biết chăng là? “Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”(1). Cái tâm sinh nở cái tài Cái tâm càng lớn cái tài càng cao Nước non sông biển dạt dào Tâm tình lai láng ngọt ngào người ơi Ngàn năm còn mãi đất trời Ngàn năm còn mãi với đời chữ tâm. Trương Quang Sinh (Cựu chiến binh Tăng - Thiết giáp) Chú thích (1) Truyện Kiều của Nguyễn Du ANH NĂM Anh là Tướng của tình thương Anh là Tướng của chiến trường xông pha Tri âm tri kỉ mặn mà Đồng cam cộng khổ ruột rà có nhau Trương Quang Sinh TÌNH ANH Tình anh tha thiết mặn mà Hết lòng vì bạn như ta với mình Trọn tình người sống đã đành Với người đã khuất chung tình yêu thương(1) Bàn thờ nghi ngút khói hương Anh gọi tên bạn lòng thương tràn đầy Nhân ngày truyền thống hôm nay Gặp nhau nhớ bạn anh đây chưa về Đường xa chẳng ngại chẳng nề Thắp hương trò chuyện sớm khuya tâm tình Khói hương ấm áp vong linh Tình anh son sắt cựu binh sáng ngời Trương Quang Sinh Chú thích (1) Nhân dịp ra Hà Nội dự lễ kỉ niệm 50 năm ngày truyền thống Bộ đội tăng - thiết giáp, Thiếu tướng Mai Văn Phúc đã hai lần đến nhà riêng con trai liệt sĩ Lâm Kim Chung để thắp hương cho bạn. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:40:31 am ANH NĂM Anh Chính ủy Đoàn Đặc công Cơ giới, Thường gọi thân tình hai tiếng: Anh Năm Anh người con quê đất Quảng Nam, Đi đánh Mĩ khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ. Là Chính ủy, là kĩ sư tâm hồn, là người anh đức độ, Chiến thắng anh nở nụ cười hăm hở hân hoan, Nhưng lỡ thua, buồn day dứt tâm càn. Vẫn nhẹ nhàng động viên từng người một. Đánh thằng giặc quả là chuyện khó, Đâu dễ gì theo ý chủ quan, Việc thắng thua dân chủ luận bàn, Rút kinh nghiệm để trận sau thắng lớn. Chiến dịch Đồng Xoài, Tết Mậu Thân hồi đó, Tiếp sau là những trận thắng lẫy lừng Technique, Đồng Dù, Dầu Tiếng, Núi Bà Đèn, Trảng Lớn, Cà Tum… Lừng lẫy một thời góp công góp sức. Sinh hoạt bình thường anh là người mẫu mực, Vẫn cơm đùm, bi đông nước thắt lưng, Có khi rau rừng là cơm bữa lúc hành quân, Hoặc vài trái gùi(1) thay cơm lót dạ. * Tôi viết bài thơ ngợi ca người anh cả, Oanh liệt một thời đánh Mĩ ở miền Đông. Đào Tấn Thanh (Cán bộ Tuyên huấn đoàn 429) Chú thích (1) Thứ quả có nhiều ở miền Đông Nam Bộ, khi chín, trái có vỏ màu xanh, ruột đỏ giống như quả chay ngoài Bắc. Quả có vị chua, ngọt, ăn ngon. Những năm tháng chiến đấu, lúc thiếu lương thực, bộ đội dùng ăn thay cơm. MỪNG THỌ ANH NĂM Mừng thọ anh Năm tám mươi xuân Một thời binh nghiệp đẹp tuyệt trần Treo tấm gương trong soi hậu thế Trọn đời hiếu thảo phụng tiên nhân Tận tụy vì dân, vàng khó sánh Trung thành với Đảng, giá nào cân Văn võ song toàn lừng danh tướng Vinh quang Phúc Sửu tỏa hồng Tâm. Lê Thấu - Thanh Ti MỘT VỊ TƯỚNG Gần sáu chục năm việc nước, dân Trung hiếu vẹn toàn đạo tướng quân Cánh hạc ung dung tròn tám chục Gương sáng, cháu con sống nghĩa nhân. Ngày 25 tháng 12 năm 2007 Bùi Và KÍNH TẶNG BÁC MAI VĂN PHÚC Trọn tám mươi xuân thỏa vẫy vùng Chí trai chẳng thẹn với non sông Gần xa quyến luyến gương nhân ái Nguyên trái tim hồng vẹn chữ trung. Phạm Chí Dũng (Khu phố 8 phường 13) MỪNG BÁC TUỔI 80 Mừng thọ ông Phúc bát thập xuân Vui xuân con cháu khắp xa gần Mừng xuân, mừng thọ; mừng vui nhất Ấm hạnh toàn gia đẹp muôn xuân. Cháu Dương Ngọc Khoái Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:44:58 am ANH CẢ Anh cả nay đã ngoại tám mươi Đồng đội trước sau chín vẹn mười Kẻ mất người còn lo trọn vẹn Thử hỏi xưa nay được mấy người. Dễ gi vang tiếng khắp nơi nơi Đạo lí sinh ra sống ở đời Có phúc có phần thiên đã định Xứng danh Anh cả của chúng tôi. Binh chủng vừa tròn tuổi năm mươi Anh em sau trước dưới cờ tươi Chung sức chung lòng chung tay dựng Anh hùng binh chủng thép vàng mười Phạm Thừa TỰ NHỦ Tám mươi tuổi hạc mắt còn tinh Cười nói yêu đời trí óc minh Tóc bạc không ngăn dòng nhiệt huyết Da mồi chẳng cản trí bình sinh \ Yoga tập luyện luôn hăng hái Thơ phúc ngân nga vẫn nhiệt tình Nhà cửa ấm êm con cháu thảo Ơn trời giữ được mãi khang ninh. Trần Văn Đình (568 đường 3/2 P.14, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) THƠ TẶNG ÔNG BÀ Ông Bà là gương soi sáng cho cha Là nắng dịu hiền chiếu sáng đời con Mai này khi con lớn khôn Thi con vẫn nhớ mãi ông bà. Kỉ niệm 50 năm ngày cưới Ông Bà nội (20-2-1955 - 20-2-2005) Mai Thanh Hải, lớp 4 HẬU THẾ LƯU DANH Cuộc đời oanh liệt dễ mấy ai Hùng anh trỉa bước chặng đường dài Ung dung tự tại nơi đầu súng Chính sử lưu danh vị tướng tài. Tuổi nhỏ mưu sinh đất Quảng Nam Hà vi cơ cực chốn lầm than Ơn cha nghĩa mẹ ông mang nặng Trung hiếu non sông gánh một đàng. Ứng thí tòng chinh thỏa chí trai Ơn Đảng, ông mang mãi không phai Nhọc chí trui rèn nơi đất khách Gian nan khổ luyện quyết thành tài. Mong ước ngày sau sáng đẹp hơn Anh hùng đau đáu nỗi quê hương Lưu mãi trong tim lời Bác dạy Vì nước vì dân quyết không quên! Ăn, mặc ông đều giản dị sao Nhà cửa đơn sơ rất thanh cao Phúc ấy cho dân, cho đất nước Hậu thế lưu truyền mãi mãi sau Ước sao ông sống lâu năm tuổi Chứng kiến quê hương mãi đẹp giàu. Đặng Quốc Toàn (Nhân được đọc cuốn hồi kí ông tặng ba má con) Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:46:32 am TÓM TẮT TIỂU SỬ THIẾU TƯỚNG MAI VĂN PHÚC Thiếu tướng Mai Văn Phúc - nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1927 tại làng Khuê Bắc, thôn Sơn Thủy, xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng). Quá trình hoạt động cách mạng: - Từ tháng 10-1945 đến tháng 1-1947: Vào Đội tự vệ chiến đấu của xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam; chiến sĩ của Đại đội 9, Tiểu đoàn 102, Mặt trận Non Nước. - Từ tháng 2-1947 đến tháng 5-1954: Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó trinh sát Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803, Liên khu 5; Chi ủy viên. - Từ tháng 6-1954 đến tháng 9-1954: Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 39, Trung đoàn 803, Liên khu 5; Đảng ủy viên Tiểu đoàn. - Từ tháng 10-1954 đến tháng 5-1955: Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Trung đoàn 93, Quân khu 5 tập kết ra Bắc; Đảng ủy viên Tiểu đoàn, Phó Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn. - Tháng 6-1955 đến tháng 8-1959: Học viên Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng; Học viên Trường Sĩ quan Xe tăng số 1 Bắc Kinh; Đại ủy, Chi ủy viên. - Tháng 9-1959 đến tháng 10-1963: Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Xe tăng 202 - Trưởng đoàn đưa xe tăng sang chi viện cho nước bạn Lào; Đại úy, Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn, Đảng ủy viên Trung đoàn. - Tháng 11-1963 đến tháng 7-1964: Tập trung huấn luyện tại Lữ đoàn 338 (Thọ Xuân, Thanh Hóa); hành quân bộ vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. - Tháng 8-1964 đến tháng 4-1967: Trợ lí Phòng Quân báo Miền; Trưởng phòng J16 Cơ giới Miền; Thiếu tá, Đảng ủy viên Cục Tham mưu Miền, Bí thư Đảng ủy Phòng. - Tháng 5-1967 đến tháng 1-1969: Chính ủy Phòng Đặc công Cơ giới Miền; Trung tá, Đảngu ỷ viên Cục Tham mưu, Bí thư Đảng ủy Phòng. - Tháng 2-1969 đến tháng 7 năm 1971: Phó Chính ủy Đoàn Đặc công 429 miền Đông Nam Bộ; Trung tá, Phó Bí thư Đảng ủy. - Tháng 8-1971 đến tháng 6-1972: Phó Chính ủy, Quyền Chính ủy Đoàn pháo binh 75 (Đoàn pháo binh Biên Hòa); Trung tá, Bí thư Đảng ủy. - Tháng 7-1972 đến tháng 12-1973: Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn Xe tăng 26 Miền; Trung tá, Bí thư Đảng ủy. - Tháng 1-1974 đến tháng 3-1975: Học viên Học viện Quân sự, Thượng tá. - Tháng 3-1975 đến tháng 8-1976: Tư lệnh Xe tăng Miền tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh hướng Xuân Lộc; Thượng tá, Phó Bí thư Đảng ủy. - Tháng 6-1977 đến tháng tháng 7-1980: Cục phó, Quyền Cục trưởng Cục Quản lí Xe máy - Bộ Quốc phòng; Cục trưởng Cục Quản lí - Bảo đảm kĩ thuật xe tăng, Tổng cục Kĩ thuật; Thượng tá, Đại tá, Phó Bí thư, Bí thư Đảng ủy Cục. - Tháng 8-1980 đến tháng 7-1982: Tư lệnh Binh đoàn 23 tham gia chuyên canh cao su ở Phú Riềng. - Tháng 8-1982 đến tháng 9-1985: Cục trưởng Cục Kĩ thuật Quân khu 7; Tập huấn tại Học viện Malinốpxki - Liên Xô; Đại tá, Bí thư Đảng ủy Cục. - Tháng 10-1985 đến tháng 7-1990: Phó Tư lệnh Quân khu 7; kiêm Cục trưởng Cục Kĩ thuật Quân khu 7; Đại tá, Thiếu tướng, Đảng ủy viên Quân khu, Phó Bí thư Đảng ủy Cục. - Tháng 8-1990 đến tháng 9-1995:Phó Tư lệnh Quân khu 7 phụ trách Kinh tế và Đối ngoại quân sự; Thiếu tướng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu 7. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:47:05 am PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ 1 Huân chương Độc Lập hạng Hai 1 Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba 1 Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Nhất 2 Huân chương Quân công hạng Hai 2 Huân chương Chiến công hạng Hai 2 Huân chương Chiến công hạng Ba 1 Huy chương Quân kì Quyết thắng 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba 3 Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba 3 lần Dũng sĩ diệt Mĩ Huy hiệu 40, 50, 60 năm tuổi Đảng Nhiều Bằng khen và Kỉ niệm chương khác. - 3 Bằng khen của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về có công hoạt động đồng hương và tham gia đóng góp vào các công trình của Đà Nẵng tại Thành phố Hồ Chí Minh. 1 Bằng khen của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. 2 lần được Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh tuyên dương “Gương người tốt việc tốt” cấp thành phố. Tiêu đề: Re: Những chặng đường đời - Thiếu tướng Mai Văn Phúc Gửi bởi: anhquaynop trong 18 Tháng Năm, 2014, 10:47:40 am LỜI CUỐI SÁCH Khi cuốn hồi ức Những chặng đường đời vừa ra mắt bạn đọc do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2010 thì tôi có may mắn được tham gia chương trình “Thăng Long Hồn thiêng sông núi”.. Đây là cuộc hành quân của 1.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động và tướng lĩnh của cả nước về Hà Nội dự Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Chuyến đi có nhiều ý nghĩa, gây cho tôi những xúc động mạnh nên không thể không viết thêm mấy trang. Vả lại. sau khi sách xuất bản một thời gian, nhiều bạn bè, đồng chí đồng đội và bạn đọc yêu mến đã gửi thêm bài viết, hình ảnh và bổ sung những chi tiết mà tôi nhớ chưa chính xác. Được sự giúp đỡ của Đại tá, PGS.TS. Hồ Sơn Đài, Trưởng phòng Khoa học Công nghệ - Môi trường Quân khu 7, tôi đã chỉnh sửa, bổ sung đôi bài viết và ảnh tư liệu, sinh hoạt của bản thân, gia đình và đồng đội để gửi xuất bản tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Thời gian tựa cánh chim câu, ngoảnh lại, tôi đã có 14 năm về nghỉ, không vướng bận việc quân. Khoảng thời gian ấy, tôi đã làm được khá nhiều việc. Đối với dòng họ, việc có ý nghĩa trước hết là hoàn chỉnh cuốn Gia phả dòng họ Mai Đăng mà chú Ba Ấm để lại. Cùng với anh em quy tụ, xây mộ phần tổ tiên từ Hòa Hải về nghĩa trang mới Hòa Sơn. Với trách nhiệm của mình, tôi kêu gọi anh em, con cháu, chắt, góp công, góp của xây dựng nhà thờ cụ cố Mai Đăng Hậu tại quê hương phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Công trình khang trang, bền đẹp tương xứng với sự phát triển của dòng họ Mai Đăng Tân Lưu - Hòa Hải - Quận Ngũ Hành Sơn. Với đồng chí, đồng đội, tôi đã cùng anh em thành lập Ban liên lạc bạn chiến đấu Bộ đội xe tăng miền Đông Nam Bộ, Bộ đội Đặc công 429, Bộ đội Đoàn Pháo binh Biên Hòa tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo nguyện vọng của đồng chí đồng đội, nhiều năm qua, tôi cùng một số anh em triển khai làm thủ tục báo cáo với lãnh đạo và cơ quan chức năng của Thành phố Hồ Chí Minh xin đất dựng bia tưởng niệm các Anh hùng, liệt sĩ Bộ đội Tăng - Thiết giáp, Bộ đội Đặc công, Bộ đội Pháo binh đã hi sinh trên chiến trường Đông Nam Bộ. Hiện nay, anh em chúng tôi đang tập hợp, hoàn chỉnh tư liệu, làm nốt các việc còn lại để công trình có ý nghĩa này sớm hoàn thành. Tuy tuổi cao sức yếu, nhưng nhiều năm qua tôi cùng một số anh em về lại chiến trường xưa để tìm phần mộ, hài cốt những đồng chí đã hi sinh. Điều tôi chưa yên lòng là đến nay vẫn còn 358 liệt sĩ Tăng - Thiết giáp Đông Nam Bộ và hàng trăm liệt sĩ Bộ đội Đặc công Đoàn 429 chưa tìm được phần mộ. Tôi bày tỏ ở đây lòng biết ơn sâu sắc đến Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Mền, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã viết lời giới thiệu cho cuốn sách, cảm ơn các đồng chí, đồng đội đã động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần cũng như vật chất để cuốn Những chặng đường đời được xuất bản. TP. Hồ Chí Minh, Xuân Quý Tị MAI VĂN PHÚC |