|
Tiêu đề: Người cùng quê - Tập 1 Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:14:44 pm NGƯỜI CÙNG QUÊ
(TẬP 1) Tiểu thuyết của PHAN TỨ NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 1995 Khổ 13 x 19, số trang: 560 Số hóa: hoi_ls (http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-120919-0001.jpg) 1. Sau mấy hôm vắng máy bay Mỹ ném bom, người và xe qua lại trên các phố Qui Nhơn đã nhộn nhịp hơn, nhất là trong vài tiếng đồng hồ trước khi mặt trời lặn, quãng thời gian được xem như yên ổn nhất trong ngày. Đó cũng là lúc bãi sở. Từ khi Bộ tư lệnh Nhật Bản buộc tất cả các xứ Đông Dương phải vặn đồng hồ chạy sớm theo giờ Tô-ki-ô, dân thầy dân thợ hối hả đến sở từ tờ mờ đất cũng được về nhà vào lúc chưa lên đèn. Mở đầu đợt tan tầm là mấy chiếc ô-tô du lịch cũ kỹ của các quan Tây chạy bằng thứ cồn màu hồng thay thế xăng, máy có yếu đi nhưng còn sạch sẽ chán so với xe khách chạy với bình khí than to tướng sau đít. Lái xe cho chủ Tây vào đầu năm 1945 này là công việc vất vả, nguy hiểm nữa. Quân Nhật ngày càng gây sự nhiều hơn trên đường phố. Xe nhà binh Nhật thường cố ý húc mũi bay quệt đuôi vào xe Tây, sau đó lính Nhật còn ùa xuống túm cổ bất cứ ai da trắng mũi lõ, nện luôn một trận cho dân da vàng bản xứ trông thấy mà sướng bụng. Tài xế phải biết giữ thể diện cho quan bằng cách lái xe chạy nghênh ngang và bóp còi inh ỏi khi phố xá đang vắng lặng, nhưng vừa nhác thấy bóng xe Nhật mầu vàng đất sét tít đằng xa là phải nín còi ngay. Cho xe dạt vào sát lề đường, xuống số, sẵn sàng chồm hẳn lên vỉa hè để tránh nạn mình bị vỡ ngực, xe bị phá, chủ ăn đòn. Sau đó một lát, từng chuỗi phu xe kéo gò lưng chạy lép nhép, miệng ếp liên hồi, tay rung cái lục lạc treo trên càng gỗ, kéo chiếc xe nhà màu đen choáng lộn hay chiếc xe thuê sơn đỏ nham nhở, đưa các quan An Nam về nhà - quan bang tá, quan đốc, quan tham, quan phán. Lũ lượt theo sau là các thầy thông thầy ký thầy thừa thầy giáo với vạt áo dài đằng sau kéo lên giắt gọn vào lưng quần, với hai ống quần rộng kẹp túm cả hai, chậm rãi đạp chiếc xe Xanh-tê-chiên nặng nề và cọc cạch, thỉnh thoảng cúi rạp đầu xuống tận tay lái để chào với theo một vị quan trên vừa vượt qua trên xe kéo. Hết xe. Cách quãng nhà khá lâu mới tới lượt các ông cai - cai thầu, cai kíp, cai chấm công, cả số loong toong chạy giấy và bồi bếp già cũng được tôn làm ông cai cho tiện - tuy cuốc bộ trên vỉa hè nhưng vẫn giữ vẻ chững chạc với bộ ria mép rậm, cái mũ thuộc địa màu cháo lòng sâu như chuông chùa, đôi giày vải đánh phấn trắng đã tòi đầu ngón chân út ra ngoài, đôi khi thêm cái dù đen bạc màu kẹp dưới nách. Đi chung đường với họ nhưng vẫn tách riêng là những tốp thợ tỏa ra từ các nhà máy đèn, máy nước, xưởng sửa chữa ô-tô ga xe lửa, bến tàu. Họ mặc giống nhau với bộ áo quần vải xanh mua theo phiếu, dính đầy dầu mỡ và đã vá vai vá mông, kéo đôi guốc mộc đóng thêm cao su dưới đế. Họ là những người thường đi từng cụm và nói chuyện thì thào nhiều nhất, chỉ im tiếng khi qua chỗ có cảnh sát hay khi một bác cai nào ghé lại nhắc việc ngày mai. Các trường công và tư vừa xong giờ thể dục chiều, với một loạt tiếng thét rập ràng: “Thanh niên... Pháp Nam! Hợp quần để... phụng sự!”, hô bằng tiếng Pháp hay Việt tùy theo lớp lớn hay nhỏ và tùy sở thích của thầy giáo. Học trò xô đẩy nhau ùa ra đường trong bộ đồng phục áo dài đen quần trắng, chỉ khác nhau ở tiếng guốc gỗ của lớp lớn và tiếng châu trần bình bịch của lớp nhỏ. Về cuối cùng, đông nhất và kéo dài rải rác đến tối là số phu phen được bữa nào xào bữa nấy, suốt ngày chực hờ ở các nơi có thể cần người, lăn vào giành nhau từng tí việc kiếm xu lẻ. Họ mặc quần đùi, đi chân đất, nửa thân trên cởi trần hoặc khoác thứ “áo ba lỗ”, kiểu áo làm bằng cái bao vải thô đựng hàng khoét ba lỗ đủ xỏ đầu và hai tay. Tất cả đều cầm theo một tấm bao tải, thứ đồ dùng vạn năng của dân cu-li: đựng gói cơm khi ra đi, che nắng ngồi chờ cai gọi giao việc, mang mớ khoai nắm gạo mỗi chiều, trải nằm qua một đêm ngủ vạ vật trên vỉa hè. Chiến tranh Thái Bình Dương càng kéo dài, lớp người mang bao tải càng dồn ứ thêm mãi trong thành phố cảng chật hẹp và càng nói giọng nhiều tỉnh ngoài Bắc. Một người phu như thế đang thất thểu đi từ bến tàu dưới mũi Tấn lên, dọc phố Gia Long. Anh ta đội cái nón lá rách chỏm để lòi một túm tóc rễ tre trên đỉnh, đeo vắt qua vai cái bao tải hơi cộm một góc. Nửa dưới khuôn mặt anh vằn vèo những dòng mồ hôi chảy qua lớp bụi than, chìm vào mớ râu đen lưa thưa bọc quanh miệng. Nhìn chân tay anh gầy đen, nước da xanh xám và dáng đi lử khử lừ khừ, người ta dễ đoán tay cu-li vác than này đang ốm đói sắp lả, hoặc nghiện nặng mà không còn xu để nuốt xái xảm. Không ai trông thấy đôi lông mày nét mác hơi cau lại, cặp mắt xếch đang liếc nhìn quanh dưới vành nón, rất sắc và tỉnh. Sức sống trong người anh như dồn cả vào cặp mắt xoi mói ấy. Sau hai tháng luồn lách, cả Chanh vượt ngục Kom Tum đã về đến Qui Nhơn. Chen lẫn vào dòng phu từ bến cảng về, anh tìm đến xóm Ga, nơi có nhiều bạn bè và cơ sở cũ. Chanh chỉ nghe nói chung chung là Qui Nhơn đã thay đổi nhiều trong những năm anh bị tù, nhưng thay đổi ra sao thì khó biết được. Ban nãy anh định ghé vào nhà một chị cảm tình ở gần mũi Tấn, phải bỏ đi ngay: cả xóm nhà lá ấy trúng bom Mỹ cháy sạch. Anh men theo con đường hẻm rất vắng gần nhà kho của hãng Đê-cua Ca-bô, chẳng ngờ lại đâm vào khu trại lính Nhật, bị tên lính gác dí lưỡi lê vào bụng quát cho một tràng, đuổi ra, còn may nó không bắt giữ hay soát giấy. Bí kế, anh phải bật lùi ra đường Gia Long đông đúc. Đi thêm vài trăm thước nữa thì gặp một chuỗi người nối đuôi rồng rắn trên vỉa hè như đợi phát chẩn. Ở nơi trước đây là tiệm nhảy sang của Tây, anh vấp phải một đại lý bán gạo Nhà nước, có mấy tên cảnh sát dạo qua lại. Những người xếp hàng bị buộc phải ngồi xuống vỉa hè, đặt bao và thùng trước mặt, cứ mươi phút lại một lần nhích tới chừng nửa thước, cấm đứng dậy. Do đấy, dân phố không nói là mua gạo bông nữa, mà đổi gọi là gạo lết, gạo mài quần. Bọn cảnh sát xem kỹ từng mặt để làm tiền. Chúng vung vẩy cây ma-trắc cao-su trắng, mới trông giống hệt cây dùi cui gỗ sơn trắng dạo xưa, nhưng đánh đau hơn và không để lại dấu vết. Ai mặc áo vá, đội nón cời đúng kiểu dân thợ nghèo, được nhắc giữ phép nước bằng một phát ma-trắc bỗng dưng nện xuống sọ dừa, khúc cao-su nảy cong lên thì đầu người cũng giật bắn lên theo. Số nào có mẽ ngoài lành lặn như đầy tớ nhà công chức đi mua gạo cho chủ thì chúng cầm sổ lên xem, thò tay kia xuống vỗ vai hay bẹo má người ngồi tuỳ đấy là trai hay gái, hai ngón tay kẹp luôn tờ giấy bạc một đồng từ dưới giúi lên, cụp ngón cho vào lòng bàn tay và nắm lại rất thoắng nhét nhanh vào túi trước khi trả sổ. Thời may gặp một bà hay cô nào diện sang đứng ngoài nhìn vào, ngại dây bẩn với hạng người hạ lưu kia, lập tức có một tên cảnh sát đến lễ phép chào, rỉ tai xin mươi đồng hút thuốc, dẫn thẳng vào quầy cân gạo, gõ bộp dùi cui ra hiệu phải bán ngay tức khắc. Nếu được món bổng khá, hẳn có thể lôi giúp bao gạo ra vỉa hè và quát gọi xe kéo cho; Trong nhóm “bu-lít coi tiệm” này, một tên lách ra dạo quanh, thỉnh thoảng liếc xem mấy đứa kia nhét túi được bao nhiên. Có lẽ hắn được giao gác đường, chỉ lảng vảng chỗ bán gạo để chia phần chấm mút. Cái còi nhôm chuyên thổi phạt vạ treo lủng lẳng trước ngực hắn đập lách cách vào đầu Chúa Giê-su trên cây thập tự gắn tượng chịu nạn. Cả Chanh không kịp lùi. Anh phải lê chân đi tới. Tên kia bước lại đón đầu, đủng đỉnh. Mặt anh lạnh tê, hai đầu gối chợt cứng lại. Anh liếc nhanh sang bên phải, dưới vành nón, tìm một đường hẻm rẽ ngang. Không có. - Ê, thằng kia... thằng cu-li! Chanh cố ghìm mình, thờ ơ ngước lên như chợt tỉnh. Cây ma-trắc đung đưa trước mặt anh. - Coi giấy! - Dạ... Thưa thầy... - Giấy thuế thân đâu? Anh buông cái bao tải sọc xanh xuống đất. Lóng ngóng luồn tay vào trong cái áo ba lỗ, tìm thứ giấy mà anh không hề có. Nói sao đây? Bỏ quên ở nhà... Rớt mất dưới bến tàu... Nhét tay nó đồng rưỡi bạc cuối cùng, nó chịu không... - Tổ cha mày, gì lâu quá ể vậy? Vừa lúc ấy, mặt đất chợt nẩy ra mạnh như xe lửa dồn toa. Một loạt tiếng nổ dội tới long óc. Luồng gió bão xô cả hai nhào xuống vỉa hè. Tiếng rống dữ dội bùng lên trên đầu. Máy bay Mỹ! Mới ra Tết được mươi hôm, bầu trời Qui Nhơn từ sáng đến trưa thường phủ một lớp mây xốp đùng đục. Về chiều mới vén mây một góc đằng Tây cho ánh nắng soi nghiêng xuống phố cảng. Mấy chiếc tàu và xà-lan gỉ nát thả neo tênh hênh giữa cửa sông không đánh lừa được tụi Mỹ nữa, chúng cố đánh vào những chiếc tàu Nhật đậu nép vào chân núi Phương Mai, sơn màu loang lổ. Bốn chiếc máy bay Mỹ từ biển Đông vòng sâu vào đất liền, ẩn mình trong mặt trời chiều chói mắt, từ phía núi đâm xuôi theo nắng xiên khoai lao xuống bến cảng, đạp bom ngay tức khắc, ngoặt gấp qua sát thành phố, lại ngoặt trái ra biển khơi. Dưới chùm sét đánh gần, dân phố ùa ra như ong bị đập tổ. Người xếp hàng lăng bừa xuống cống rãnh. Người đi đường chạy vọt vào các đường hẻm có đào sẵn những con hào “phòng thủ thụ động” chỉ sâu đến thắt lưng và nồng nặc mùi cứt đái. Người mua bán trong các tiệm chỉ kịp nằm soài ra đất. Tốp máy bay hai động cơ biến mất, còn rót lại sau đuôi tiếng cưa máy rạch sắt trên gáy người, cùng tiếng gió hú rợn sắc như gại vào xương sống làm rởn óc. Cao xạ Nhật đến đây mới nổ vuốt đuôi, mảnh đạn cao xạ tiếp theo mảnh bom lại rơi xuống mái nhà và lưng người nằm sấp. Cả Chanh ngóc cổ lên trong tiếng cao xạ ùng oàng, thấy ngay những mảng chấp chới của mái tôn và phên tre ở khu bến tàu đang còn bồng bềnh trên cao, chao qua đảo lại, rơi rất chậm vào những cây nấm khói đến từ dưới bốc lên. Anh vỗ mạnh vào tai, dập tắt tiếng ù váng óc, chợt nghe tiếng còi báo động của thành phố bắt đầu réo khi chẳng ai cần đến nó, từ ọ ọ ọ lên ò ò ò, lên tới ó ó ó, xói vào màng nhĩ. Tên cảnh sát trước mặt anh bị một chậu cây cảnh trên gác rơi gần trúng đầu, thêm một mớ ngói sụt mái đổ túa xuống lưng. Đất ướt văng tóe lên áo quần hắn, phủ đen lốm đốm. Hắn chống tay nhỏm dậy, đưa tay vuốt một lượt trên gáy, mở to cặp mắt thất thần nhìn bàn tay nhem nhuốc, rên mấy tiếng hừ hừ trong mũi, rồi bỗng co cẳng chạy ào sang bên kia đường, biến mất. Cây dùi cui của hắn còn bị đè dưới đống đất trộn mảnh gốm vỡ của chậu cảnh, với chòm lá lốm đốm đỏ vàng phủ bên trên, cả Chanh nhặt vội tấm bao tải rơi bên cạnh, đâm đầu chạy dọc vỉa hè, kêu hổn hển như người hóa rồ. - Chết hết, bom dữ quá... trốn đi, trốn... Anh lao vào một đường hẹp khác, chạy thẳng xuống bờ sông Thị Nại, luồn qua xóm nhà ven sông, rẽ vài ba lần, chnyển sang đi tất tưởi. Ngớt bom rồi, chạy mãi cũng đáng ngờ. Nửa giờ sau, anh dừng dưới một cây bàng bên bò sông vắng, gần nhánh đường sắt từ ga xuống bến. Không có ai đuổi theo. Ngồi nép vào gốc cây sần sùi, anh đưa tay quệt trán và mặt bị đất bám đầy. Phải đợi nhá nhem tối mới đi tiếp được. Coi bộ chưa cần trốn xa. Thằng cảnh sát kia chừng như chỉ chực soát đám phu phen từ cảng đi lên, đoạt lấy hàng ăn cắp hay buôn lậu, mà cái bao tải của anh lại cộm lên với hơn một ki-lô khoai khô. Khi rình bắt “tù quốc sự”, chúng không đứng đường vẫy gọi hú họa kiểu ấy. Phía bến tàu, những cột khói bom dựng đứng đã tan loãng, lúc này lại hiện thêm một đám khói rất to, đen đặc, thong thả cuộn xoáy tròn như những dăm bào khổng lồ, bay chéo vào phố theo gió biển thổi nhẹ, hòa vào khói bom làm thành một lớp mây mù màu xám pha nâu, mỗi lúc một dày. Đúng là tàu xăng dầu của Nhật bị cháy. Thằng Tây ranh ma thật. Tàu Nhật đi biển ban đêm, gần sáng mới tắt hết đèn ghé vào trốn dưới chân bán đảo Phương Mai, hối hả bốc dỡ. Bọn Tây đã lén báo ngay cho máy bay Mỹ ngoài biển khơi đánh úp rất đúng giờ, đúng chỗ, chẳng cần lượn đảo gì cả. Cứ cái điệu này, thằng Nhật tức hộc máu mồm ắt phải lật nhào thằng Tây thôi. Các anh trên đoán trúng tim đen cả hai thằng rồi... Còi xe lửa hú ba tiếng ngắn phía bến tàu. Cả Chanh nhận ra ngay tiếng còi khản rè của chiếc đầu máy Cu-cu số 21 chuyên chạy con thoi chở hàng giữa ga và cảng năm xưa do Bảy Tộ lái. Để xem bây giờ ai cầm cương nó... Anh ngồi lùi sâu vào cái hốc giữa hai rễ cây bàng, úp bao tải trùm đầu xuống tận mắt, trông giống những ông lão ăn mày mỗi chiều về ngủ co quắp dưới các gốc cây ven sông. Chiếc đầu máy hơi nước cỡ nhỏ phì phò đến gần. Đúng nó rồi. Chanh căng mắt xem mặt người lái, trống ngực đập nhanh dần. Anh nhớ tới quãng đường cong này Bảy Tộ thường chạy chậm, ló đầu phía bên trái dòm chừng trẻ con hay bò lạc ngáng đường, tay giật còi từng tiếng rời... Anh suýt reo lên. Hay tuyệt, vẫn y nguyên Bảy Tộ với vệt râu ngắn bằng khúc bàn chải răng in một vệt đen dưới mũi và ngọ nguậy liên miên, trông rất hề. Sau lưng Tộ, một tên lính Nhật đứng dạng chân, một tay níu vào vách sắt, tay kia chống cây súng trường lắp lưỡi lê hình gươm dài thượt. Bảy Tộ thua Chanh vài tuổi, phục anh dám cãi lại xếp Tây, dám cự mấy thằng mật thám vào lảng vảng trong đề-pô xe lửa. Sau khi anh bị bắt, Tộ liền xin vào thăm anh trong nhà lao Qui Nhơn, biếu anh ba tờ giấy một đồng mới tinh - hồi ấy bằng gần một tháng tiền cơm trọ. Thấy anh ngần ngừ không nhận. Tộ nói khẽ và nhanh: “Em mới trúng cơm đen mà!”, tức là cậu ta chuyển được một món thuốc phiện lậu trót lọt, lái xe lửa làm việc này rất dễ. Tộ lùi vài bước, không hiểu nghĩ sao lại chắp tay, cúi đầu vái dài Chanh rất kính cẩn, bị thằng lính gác quất luôn một hèo mây vào lưng và đuổi ra ngay. Chuỗi toa đã qua hết, trong tiếng lục cục lách cách quen tai còn thêm tiếng va chạm lồng cồng của những thùng phuy rỗng trên toa: chiếc tàu chở dầu Nhật chưa kịp trút hàng đã bốc cháy, xe lửa đi không lại về không. Bọn lính Nhật đứng ngồi rải rác mỗi toa vài đứa, mặt lì lì, áo quần màu vàng đất sét vấy than từng mảng ở mặt trước. Một đứa buộc băng trắng ngang trán như để tang, ngồi úp mặt trên hai đầu gối, hai tay ôm cái đầu cạo trọc, lặng như khối đá. Toa cuối cùng vừa khuất sau đường vòng thì điện đường cũng bật, những chao đèn phòng thủ sơn đen đủ để lọt xuống đất một quầng sáng vàng bủng, rất hẹp, cách quãng chừng trăm thước mới chừa một ngọn. Các khung cửa sổ đều tối om, dường như mọi nhà trong thành phố đều nhắm mắt nín thở. Chỉ còn một vầng sáng lớn phía bến tàu, ánh đỏ bầm từ dưới hắt lên làm hiện rõ những đám khói cuộn xoáy chậm và đều như bị quấy bằng thìa: chiếc tàu dầu còn cháy. Cả Chanh lại vắt cái bao tải qua vai, lấy lại dáng đi thất thểu, men theo con đường hẻm không đèn, dò dẫm đi vào xóm nhà lá ven sông. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:19:58 pm 2. Bẵng đi mấy hôm cấm trại, người lính khố đỏ ấy lại chiều chiều ra bờ biển tập phóng dao như cũ. Đứng trước cổng đồn lính Tây Ga-li-ê-ni nhìn ra biển, chếch mé tay phải có những rặng dừa trồng trước đã lên khá cao và lắm trái. Lũ trẻ con lang thang bán cà-rem cây, đánh giày, đánh phấn mũ, ăn xin và ăn cắp các chợ nữa, đã quen chỗ thường kéo tới coi anh lính làm trò. Nửa năm trước, khi anh mới đổi về đây và bắt dầu ném dao, đứa nào cũng sợ. Trông bộ tướng anh dễ khiếp: da đen thui, mắt trắng dã, thân hình rất to ngang và hơi lùn, tóc hớt ca-rê gần trọc, xăm những chữ và hình gì quái gở đầy ngực và hai tay. Thấy anh từ xa đi tới, hai vai lúc lắc như gấu, lũ trẻ đâm đầu chạy và gọi nhau: “Lính Đê đó bay!”. Thứ lính ở đâu trên núi cao ấy về Quy Nhơn ngày càng đông, có người hiền kẻ dữ, nhưng họ nói gì không hiểu được, qua vài ba câu gà lẫn với vịt là họ nổi khùng lao vào đánh lộn. Dần dà, không thấy anh rượt đuổi la hét gì, bọn trẻ sán lại làm quen. Anh ta là người Kinh, nói giọng pha Sài Gòn nhiều, chỉ ra bãi cát tập ném dao và uống rượu, bấy nhiêu thôi. Có hôm anh mang theo một ổ bánh mì to trong túi dết, chỉ cắt một lát nhắm rượu còn chia hết cho trẻ con. Một lần thấy dừa sai quả, anh leo lên chặt cả buồng, cho chúng cả. Mọt tên cảnh sát đạp xe trên đường nhựa thấy thế, vừa thổi còi vừa bước vội tới ghi phạt. Anh lính rút dao găm ra liếc trên bàn tay, xổ một tràng tiếng gì lạ hoắc, chỉ tiếng quát cuối cùng là dễ hiểu: “Xà-lù, cu-soong, phút-lơ-căng”.Tên cảnh sát chạy biến luôn. Anh cười hô hố: - Tụi bay kêu tao là lính Đê, tao giả làm Đê luôn cho nó kinh cha! Moi cát chôn dừa đi, tối ra lấy, xách đi bây giờ nó chặn đường nắm đầu hết đó. Từ hôm ấy, anh có mấy chục đàn em trung thành. Chiều nay cũng như mọi lần, anh lừ lừ đi tới giữa đám khán giả chờ sẵn, gật đầu chào mà không nói. Lũ trẻ đúng lệ cũng im lặng dàn thành hình vòng cung. Vài đứa mới dự cuộc lần đầu láu táu lên tiếng, bị số cũ thúc cùi tay đau điếng: - Câm họng không? Anh đang bái tổ kia! - Thấy gì đâu... - Nhỏ cái miệng! Là ảnh sắp sửa bái tổ. Ngu lắm, người ta đi câu mập, đi săn, hay làm công chuyện gì như ảnh đó, là không được mở miệng. Biết chưa? - Ờ, ờ... Người lính móc túi áo lấy ra mảnh giấy báo vẽ sẵn một vòng tròn xộc xệch với một điểm đen ở giữa, ghim nó lên gốc dừa to đầy sẹo bằng mấy cái đinh ghim cài sẵn trêu ngực áo. Lùi lại cách gốc dừa chừng hai chục bước, anh rút trong cái túi dết ra cái bao bằng da trâu dày, bên trên có vòng da để đeo vào thắt lưng như bao dao găm. Nó chứa tới năm con dao thép rất mỏng xếp ép vào nhau như bộ nhíp xe ô tô. Dao của anh không giống một kiểu nào sẵn có: cán và lưỡi liền nhau một thanh thép, lưỡi dài độ một gang hình lá tre nhọn hoắt và bén cả hai cạnh, cán ngắn bằng một phần ba lưỡi và có khoan lỗ ở đầu mút. Đang đứng, anh chợt nhảy lên, giẫm bịch hai đế giày đinh xuống cát, sụn đầu gối như người đánh võ xuống tấn, hai tay úp giữ bộ dao chắp lại trước ngực. Mắt nhìn thẳng vào bia, anh lẩm nhẩm khấn trong miệng. Không ai nghe được lời khấn, chỉ thỉnh thoảng nhận ra hai tiếng hơi to: “Hích! Hích!”. Lũ trẻ không thấy tức cười như hôm đầu nữa, chỉ rờn rợn ngắm người lính đen như khối than đang làm phép thuật gì đó trước khi giết kẻ thù. Có đứa tái mặt hẳn đi, không dám thở. Xong, anh đứng xoay người chân trước chân sau, rút ra một lưỡi dao, ném bằng tay phải. Kiểu ném có khác với gánh hát xiệc của người Chệt hay diễn rong trên các phố. Anh không cầm mũi dao mà cầm cán để ném, vung tay rất mạnh, con dao rời tay chỉ xoay mũi tới trước một phần tư vòng tròn là cắm phập luôn vào cây. Anh xướng to trước khi ném: “Tay mặt!”. Dao đâm vào mé bên phải của vòng tròn trên giấy. “Tay trái!”. Dao xóc đúng bên trái. Tiếp hai mũi cắm mé trên và mé dưới. Anh dừng lại một chút, thổi nhẹ và xoa ngón tay trên mũi dao cuối cùng như dỗ đành nó, rồi vung dao lên quá đầu, hét to: “Hồng tâm!”. Con dao bay vụt rất mạnh, nghe rõ tiếng vù xé gió, cắm lút vào gốc dừa ngập đến nửa lưỡi, xuyên qua điểm đen chỉ bằng đồng bạc hoa xòe giữa tờ giấy. Người lính cười khà, rút cái bi-đông sắt tây trong túi dết ra - kiểu bi-đông Pháp có miệng to để rót nước và miệng nhỏ để uống - tu một hơi rượu dài. Lũ trẻ biết đó là lúc cười giỡn xả láng. Chúng đổ xô tới cây dừa, những đứa lớn rướn lên nhổ giúp mấy con dao dễ sợ. Đứa nào cứng tay nhất mới nhổ được con dao hồng tâm. Chúng đã được bày vẽ cách lấy dao thế nào cho khỏi gãy mũi nhọn. Từng đứa đem trả dao, nâng bằng hai tay rất kính cẩn. - Dạ, anh Năm phóng mạnh quá, em lắc đau tay mới nhổ được đó. - Nói thiệt chớ, dạ thưa anh Năm, em được cái tài như anh, em đi hát xiệc đủ nuôi cả nhà... - Dạ, sao anh Năm không rèn vài chục lưỡi ném luôn cho thiệt đã thèm? Ném ào ào như súng cối xay mới sướng, anh Năm à! Anh Năm tu một hơi rượu dài nữa. Mặt vẫn đen nhưng mắt anh bắt đầu chạy những sợi máu đỏ. Anh nói cà rà: - Tại cha mẹ sinh ra tao thứ năm, gì cũng phải theo số năm hết. Rèn chục lưỡi thì phải đổi tên, cứ để là thằng Năm Phi Đao cho gọn... Giỡn chơi thôi. Nói tụi bay biết, đời tao thù có một thằng thôi. Tao tầm sư học đạo cũng tính giết một mình thằng đó thôi. Phóng năm lưỡi phi đao mà không giết được nó thì tao cũng chết tươi rồi, nó giết lại tao, hay là tao tức hộc máu tao chết không chừng. - Anh có súng, bắn nó dễ hơn chớ! - Khờ quá, thằng tửng! Xếp Tây có cho mượn súng về làng đâu mày! Thằng thù đó ở làng. Hạ nó bằng dao là nhứt, đem theo không ai thấy, phóng đi không ai nghe, trúng cuống họng trước thì n chẳng la ó gì được. Số dách, thấy chưa? Thêm một ngụm nữa, rồi Năm Phi Đao nhét nút bi-đông. Anh chợt thấy một đứa trẻ lạ ngồi khép nép sau lưng mấy đứa lớn. - Thầy cai nào mới đổi về đây? Lại tao hỏi coi. Một đứa lớn tranh nói vội: - Dạ, nó là thằng Cam. Bộ dạng nhát gan như con còng rúc lỗ vậy chớ bỏ nhà đi hoang đó anh. Nó lì lì cả ngày, tụi em kêu là thằng Câm, hì hì... - Bay ăn hiếp lắm hay sao mà nó sợ quá vậy? - Dạ... ờ, cái đó cũng có chút đỉnh, đứa khác chớ không phải em. - Mày làm gì kiếm ăn, Cam? Móc túi hả? Thằng bé bị đẩy trước mặt Năm, cúi mặt nói lí nhí. Năm bật một tiếng “hừ” trong mũi: - Miệng mồm kiểu đó mà dám theo chó hoang mèo lạc! Hèn gì coi mày ốm nhom, xanh lét như ma chết trôi. Sáng giờ có miếng nào chưa? Cam vẫn đáp lí nhí, lắc đầu. Năm móc trong túi dết ra một khúc bánh mì, thứ làm bột mì thật mà chỉ lính Tây mới được phát. Anh bẻ một miếng cắn nhai luôn, còn lại đưa hết cho Cam: - Ăn đi nhỏ. Tụi bay phải thương nó, nhường nhịn nó, nghe chưa? Đứa nào ép bức nó thì liệu hồn với tao. Lũ trẻ chung quanh dạ ran lên. Quanh năm chúng nó quen đánh chửi nhau, ăn nói tục tằn, nhưng trước mặt anh Năm thì đứa nào cũng lễ phép, ngọt ngào, anh dặn điều gì thì chúng làm theo răm rắp, cả khi anh vắng mặt. Mấy đứa lớn kháo nhau rằng anh Năm có cái tướng tinh làm đầu nậu, có phép thôi miên hay bùa chài gì đấy, gặp ảnh là trong bụng cứ thấy nể nể sợ sợ. Với lại chúng cũng muốn dựa thế của anh để bọn lớn và khỏe, thường nhảy ra làm đầu nậu thu thuế trẻ con, không dám làm quá tay. Nếu anh mãn lính, chịu làm ông trùm của đám trẻ không cửa không nhà, ôi chao, mấy trăm đứa trẻ sẵn sàng góp tiền nuôi anh sướng bằng ông vua Bảo Đại! Trong khi thằng Cam gặm nhai ngấu nghiến khúc bánh mì, Năm Phi Đao sửa soạn tập ném dao bằng tay trái. Lũ trẻ dạt ra thành hình cánh cung như cũ. Anh Năm nói nhỏ xin lỗi: - Tao phóng tay trái tồi lắm, đừng cười nghen. Hai lưỡi dao ném tay trái không cắn đúng mép vòng tròn như trước. Anh co tay sắp ném lần thứ ba, chợt nghe tiếng kêu “úi!”. Thằng Cam thả rơi khúc bánh mì xuống cát, mắt trô trố ngó phía sau lưng Năm, mặt nhợt đi. Nó há miệng định nói gì, nhưng cặp môi run chỉ mấp máy mà không thốt ra lời. Năm quay nhìn đằng sau. Chẳng thấy ai. Chỉ có hai bóng người mặc quần Âu, sơ-mi trắng, một cao một thấp, đang rời đường nhựa đi xuống bãi cát. Họ bước thong thả và nói chuyện với nhau, gầu đúng hướng anh đứng nhưng không có vẻ muốn ghé lại xem. Thằng Cam bỗng chồm dậy, đâm đầu chạy rất nhanh vào đám dừa mới trồng sau, xòe lá lòa xòa sát đất, biến mất. - Thằng nhỏ sợ gì vậy, tụi bây? Đứa nào dọa nó hả? Lũ trẻ cũng ngạc nhiên như anh. Một đứa rụt rè: - Chắc là tánh nó khùng khùng, anh Năm à... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:24:38 pm * * * Hai người trẻ tuổi đi cách nhóm ném dao hơn chục thước, chỉ liếc nhìn thờ ơ, nói tiếp chuyện của họ vừa đủ nghe trong tiếng sóng biển vỗ gần. - Toa cắm đầu học Luật, học giỏi nữa, cái đó tụi moa bái phục. Có điều học ra toa làm gì? Toa hay chửi bọn quan Nam Triều ăn tiền như cá đớp cứt, vậy toa có vô trường Hậu bổ để ra tri huyện không? Hay là làm trạng sư? Ở nước mình bây giờ, nói một câu phải lẽ tụi Tây không bắt Nhật cũng nắm đầu, toa cãi cho ai nghe? Người thấp nhỏ nói hăng, đấm nắm tay phải vào lòng bàn tay trái để chấm câu. Người bên cạnh cao hơn hẳn một đầu, khoanh tay trước ngực, im lặng nghe. Cặp chân dài của anh đếm bước rất chậm mà bạn anh phải đi gấp mới theo kịp. - Vậy đó Khánh.... moa thấy Khánh là người có tài có đức mới nói thiệt tình... Cái Chương trình Việt Minh với mấy tờ báo đó, Khánh đọc cho kỹ. Còn giờ thì moa cho mượn thêm cuốn Principes du léninisme của Xta-lin, viết gọn mà sắc sảo lắm. - Cậu mới kiếm được thứ đó à? - Mấy anh bên Pa-ri gởi về hồi Mặt trận Bình dân, chuyển lần lần tới moa. Về sau moa phải chôn kỹ, mà chọn vườn khác chớ không chôn vườn nhà moa khi soát nhà tụi mật thám xăm miết mà không đụng. Hà hà... giữa thời buổi đảo điên này, chong đèn khuya đọc sách chính trị, tìm câu trả lời cho trăm ngàn dấu hỏi đang bò chồng chất trong óc như bầy đỉa đói, cần lắm chớ! Mặt trời gần khuất hẳn sau đường chân trời gẫy khớp của dãy mái nhà dọc bờ biển. Sóng đánh mạnh hơn trên mặt biển đã ngả sang màu chì, điểm thưa thớt vài cánh buồm về muộn. Họ quay lên phía đường nhựa vừa lên đèn phòng thủ. Người thấp nhỏ trầm ngâm một lát, chợt bật cười: - Toa vẫn đáng mặt huynh trưởng Hướng Đạo như xưa. Chín chắn, mẫn mực, không uống rượu hút thuốc, không nói chen tiếng Pháp, ít nhiều misogyne trong khi các ả mê lăn lóc. Đẹp zai, nhà zàu, học ziỏi, cầm kỳ thi họa đều zu zương số zách! Các nàng bốc như lửa, chàng cứ lạnh như nước đá. Cô nào tới gặp moa đều giả bộ vồ vập vài câu đầu lưỡi, tiếp đó hỏi toàn chuyện anh Khánh, anh Hai Khánh, anh Hăng-ri Khánh. Thằng Tư Tuyển biến ra cái ghế cho các cô bước chân lên, cố với tay đến thần tượng đặt cao trên đầu tủ. Cái hồi toa đang học thi mà cứ đoạt cái cúp bơi lội học sinh Trung Kỳ, úi chà chà... Hai Khánh cười to, xua tay: - Cho qua, cho qua... Tay Việt Minh tới thuyết minh ở Hà Nội đó, cậu thấy nên tin hắn không? Người bạn nghiêm giọng lại: - Bọn A.B1 bây giờ xuống nước hung, vậy chớ đôi thằng túng tiền còn làm chó kiếm ăn. Còn bọn Đệ Tử “số dách cách miệng” đang được Pháp cưng ghê gớm, đừng nghe mà lầm. Toa nhờ mấy đứa bạn thân trong sinh viên hỏi dò tung tích hắn ta thử coi, hễ thấy đứng đắn thì bắt liên lạc. Việt Minh lên mạnh lắm, đâu đâu cũng có. Tụi áp-phe bắt đầu in phiếu giả để quyên tiền cho Việt Minh rồi đó, người ta mắc lừa nhiều. Một cha thông ngôn trong tòa Sứ cho moa coi một tờ, cha đó quyên ba chục lấy cái bùa hộ mạng! Tuyển liếc ngược lên dò nét mặt Khánh và tiếp: - Với lại... Tây cũng ít nghi ngờ con trai ông phủ Đỉnh có thể theo Việt Minh. Bốc trúng một thằng A.B, hạng mình thì tù mọt xương, còn toa có sẵn ông già tháo gỡ cho... Khánh dừng phắt lại, giọng đanh hẳn: - Cậu đừng nói bậy. Mình chịu lấy họ ông phủ Đỉnh vì thương mẹ mình phải đi bước nữa, chịu làm vợ lẽ ông ta, chứ thật ra mình... mình rất khinh cái lão dê xồm mà mình phải gọi bằng ba ấy. Lão ấy lấy mẹ mình để đào mỏ, mẹ mình lấy lão để thoát thân phận góa bụa, chẳng ai thương yêu ai hết. Lão tới ba vợ, còn cả mớ nhân tình với con hoang nữa, mình là cái thớ gì mà hòng dựa vào lão... Được rồi, mình sẽ suy nghĩ thêm về lời khuyên của cậu. Cứ yên trí thằng này có gan làm, có gan chịu. Cậu tin mình chứ? Khi nổi nóng, Khánh nói hẳn giọng Hà Nội. Mỗi khi về quê, anh cố gò cho giọng mình gần giống mọi người để khỏi bị chê là mất gốc. Tuyển nắm cổ tay Khánh, bóp mạnh: - Xin lỗi, xin lỗi. Moa cứ tưởng ông Phủ không có con trai chắc quý toa lắm. Moa tin Khánh, rất rất tin. Khánh surhomme. Khánh superman. Khánh siêu nhân của trường Khải Định năm xưa kia mà! Vấn đề đối với Khánh bây giờ không phải dám hay không dám hành động, mà là chọn lý tưởng nào để hiến thân vậy thôi... Ôi chao, trễ quá rồi. Vợ moa bắt lùng mua xà-bông thơm chợ đen về tắm cho con, không kịp nữa rồi, về nhà lại phải nghĩ ra đôi lời phủ dụ cho yên lòng dân chúng. Ô-voa nghe! Khánh nhìn theo Tư Tuyển đi gấp dưới quầng sáng vàng vọt của điện đường, kéo theo cái bóng cũng xổng xểnh và tất tưởi như tính nết anh ta. Một người tốt bụng, thật thà nhưng cuộc đời là một chuỗi chu kỳ bốc đồng và vấp ngã, nay là anh giáo dạy tư. Cậu ta đang bốc với Việt Minh đây, nhưng xem ra chưa hiểu gì nhiều về phong trào này. Chưa nghe tên một danh nhân nào cầm đầu Việt Minh cả. Ông Nguyễn Ái Quốc đã chết trong nhà tù Ăng-lê, tiếc thật. Các bạn sinh viên nhắc loáng thoáng tới ông cụ Hồ Chí Minh nào không rõ, tên rất lạ tai. Kể về táo bạo hẳn là họ có thừa. Chẳng táo bạo mà lại dám hô hào “đánh Tây đuổi Nhật” giữa lúc Pháp vừa thu hồi bờ cõi và thuộc địa, Nhật đang làm chủ khắp Đại Đông Á! Để xem ông giáo dạy tư đang lo vợ mắng kia sẽ ra tay “đánh Tây đuổi Nhật” thế nào cho biết! Khánh bật cười thành tiếng với ý nghĩ ấy, lững thững đi theo đường Khải Định về phố Gia Long. Một bóng con gái từ sau trụ đen bước tới thì thào: “Em có buồng riêng kín đáo lắm, mời thầy...” Hiện ra một khuôn mặt trẻ nhưng rất gầy, trát bự phấn sáp. Hai má hõm sâu. Chiếc áo dài vải hoa hẳn được may vào thời béo tốt, nay xếp nhiều nếp nhăn trên ngực và chung quanh cái cổ ngẳng nổi cả chùm gân. Mùi nước hoa bốc hăng hắc, không thơm. Cô gái điếm bám sát bên anh: “Dạ, em con nhà tử tế, không phải như họ. Hoàn cảnh mẹ già em dại anh à...”. Anh thoáng nhớ một nhân vật đứng đắn trong truyện của Lê Văn Trương đã trả lời cô gái nhảy cứ sấn vào mình: “Thưa cô, tôi liệt dương!”. Độc miệng thật... Khánh moi hết mớ hào lẻ trong túi quần, ước chừng được một đồng, dừng lại: - Tôi biếu cô uống nước. Thôi nhé, đừng theo mất công. - Dạ, cảm ơn thầy nhiều. Một ông già ăn xin ngồi trên vỉa hè trông thấy cảnh ấy, bước ra nhanh, ngửa nón rên rỉ: - Thầy thương thì thương cho khắp. Mấy cô đó xài tiền như nước, thân già như con lạy xin thầy lấy lưng chén cháo thôi... Ăn mày trong này nói năng thật thà, không đọc thuộc lòng những bài dài đủ vần điệu như ăn mày ngoài Bắc. Khánh cố lục các túi. Hết nhẵn cả xu lẻ. Chỉ còn cái khăn mùi xoa của Duyên tặng, không cho được. Anh nói vội: “Hết sạch rồi bác!”, bỏ đi sải chân, vẫn nghe tiếng chửi lầu bầu của ông lão ném theo. ---------------------------------------------------------- 1. Anti-bolchévik (Tay sai chống cộng sản của Pháp) Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:26:06 pm Tiệm buôn vải của bà Lợi Thịnh trước kia lọt thỏm trong đường vắng, nhờ ông phủ Đỉnh về Qui Nhơn chạy chọt thu xếp mới ngoi ra được giữa phố Gia Long, cái phố buôn bán tấp nập nhất và được sửa sang nhiều nhất. Từ ngày Nhật sang, hàng vải khan hiếm và lên giá vòn vọt, bà Lợi Thịnh chỉ dám bán nhỏ giọt những xúc vải tích trữ trước chiến tranh, ngả sang buôn thêm tạp hóa, lãi ít hơn nhưng bán đi còn mua lại được.
Vừa thấy Khánh nhô ra dưới ánh điện, cô em gái buông tập kiếm hiệp xuống quầy, gọi toáng vào nhà trong: - Me, me ơi, anh Hai về, ảnh về đây nè! Bà Lợi Thịnh bước vội ra, tay cầm khăn lau: - Đâu, đâu... Thời buổi tàu bay tàu lặn mà con cứ dông dài, me ở nhà không làm ăn gì được... - Me lạ chưa, con mới đi từ trưa tới tối! - Ờ, thôi, tính nết me vậy đó... Con Ba bưng nồi bồ câu ra, để me bày bàn. Anh chúng mày hai ngày nữa lên tàu rồi. Anh nhớ cô nào Hà Nội chớ đâu có nhớ mẹ con mình. Đường sá trục trặc, bom đạn rầm rầm... Đến lượt cô Tư phát gắt với mẹ: - Kỳ cục không, ảnh đi xa mà me nói toàn chuyện rủi! - Ờ, thôi, thôi... Vào ăn cho nóng đi con. Cả nhà ăn hết rồi. Me múc sẵn thau nước bên bếp đó, rửa cái cho mát. Bà Lợi Thịnh ngồi trước mặt Khánh, múc từng muôi bồ câu hầm hạt sen mộc nhĩ đổ vào bát anh, giục anh ăn và kể chuyện không ngớt bằng giọng Bắc pha một nửa Bình Định. Khánh nhai thong thả, nghĩ nói nhiều có phải là tật về già không nhỉ? Me mới bốn mươi ba, tuổi Dần, đến tết vừa rồi được bốn mươi bốn tuổi ta. Trông me còn trẻ hơn tuổi... Xem tập an bom của me hồi còn là cô Thịnh phố Phe-ry, quả là giai nhân tuyệt sắc. Mấy ông dập dìu ngày xưa nay đến chơi còn nhắc tên những người nộp đơn nhà cô Thịnh, có cả phó sứ Pháp và tuần vũ góa vợ. Ba mình chỉ là anh thư ký nhà Đoan, được chọn nhờ đẹp trai và ngón đàn vi-ô-lông. Ba thụt két, đi tù, chết bệnh lao phổi. Lão phủ Đỉnh quay về với me, lão xấu xí đến phát tởm. Câu chuyện của bà Lợi Thịnh nhảy sang vụ trộm năm ngoái. Ông cậu làm ở tòa án chỉ nghi thằng Cam mở cổng sau cho trộm vào bê mất hòm xà-bông Mạc-xây với một súc vải nội hóa. Khánh giật mình: - Thằng Cam nào? Con ông Tư Chua ở Linh Lâm phải không me? - Nó đấy. Ông phủ đem nó vào đây cho me sai vặt, trả ông Chua hai chục đồng. Nó đến đầu năm, mới bốn tháng nhà mình bị ăn trộm. Me cũng chẳng biết nó mở cổng sau hay là ăn trộm cạy khóa, mà cậu con cứ đoán chắc là thằng Cam thông đồng, ổng nhốt nó trong buồng tắm, đánh ghê quá, tối nào cũng như đòn mật thám, cả nhà bỏ cơm hết. Đánh riết ba buổi tối, me chịu không nổi lén thả nó ra, ngó qua ngó lại nó đã trốn mất tăm, không về nữa… Khánh nhớ ngay thằng bé hồi chiều bỗng vọt chạy khỏi đám trẻ con xem ném dao. Nó gầy ngẳng, đầu trọc, cao hơn hồi giữ ngựa ở ấp ông phủ. Đúng thằng Cam đang trốn đi hoang. Nó sợ mình là phải. Biết đâu mình không túm bắt nó lôi về, để cậu mình tra tấn đến chết. Có luật lệ nào bênh vực một đứa trẻ ở mướn đâu. Đánh chết thì chôn, trả thêm cho cha mẹ nó vài chục bạc là xong. Mình học luật cũng không bênh được nó. Bênh nó thì mẹ mình, cậu mình ra tòa, và tòa cũng chỉ xử trắng án! Khánh đẩy bát bồ câu hầm ra, buông đũa, rót nửa cốc rượu canh-ki-na Con Mèo uống cạn, lầm lì bước xuống bếp. Bà Lợi Thịnh gọi giật: - Em con nó bưng thau nước lên đây rồi mà! Vừa lúc ấy, trên đầu Khánh bỗng dậy lên tiếng xô đẩy bàn ghế ồn ào cùng nhiều tiếng cười gái trai lẫn lộn. Tiếp tới một cây đàn vi-ô-lông bắt đầu kéo bài “Buồn tàn thu” của Phạm Duy đang là thời thượng. Khánh dỏng tai nghe và cau mày. Bà Lợi Thịnh cầm sẵn khăn mặt đứng bên anh, thì thào: - Mấy hôm nay thằng Chương rủ bạn về cầu cơ hoài. Nó nói cô Mai Linh tiên nữ giáng cho thơ, nhiều bài hay lắm. Chẳng học hành gì hết. Con nói với nó một tiếng... Rô-be Chương là em cùng cha cùng mẹ của Khánh mới mười lăm tuổi mà đã thích làm trò nghệ sĩ, học như ả chơi trăng. Khánh lắc đầu chán ngán. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:30:42 pm 3. Tiếng còi báo yên vẳng đến từ xa. Chị vợ Bảy Tộ rướn mình lách qua cửa hầm hẹp, hai tay bồng nách hai đứa con đẻ sinh đôi, nặng nhọc leo từng bậc. Bảy Tộ với ông khách ngồi bên bếp lửa vẫn say chuyện, quên hết tàu bay và trẻ con. Chị tức sôi lên, muốn gào thật to cho cả xóm biết cái cảnh khốn khổ của chị. Rốt cuộc, chị lặng im đặt hai con xuống chõng cho chúng nó ngủ, chui xuống hầm xốc đứa nhỏ đầu lòng lên, trút cơn giận vào bàn chân đá mạnh cái thùng bên lối đi. Họ vẫn không quay đầu lại. Bảy Tộ hoa tay, nói khẽ nhưng vệt râu mép ngắn và đậm đen cứ nhảy thon thót: - Lão cai Tống thay anh làm vi-dít-tơ, bị chửi kinh khủng. Rù rờ một cây mà. Cũng xách búa đi gõ như anh mà có biết hư nên cái chó gì đâu. Lão phân bua với anh em: “Thằng Chanh con nhà thợ rèn, đẻ nằm nôi đã nghe tiếng búa, tôi bì sao được với nó!” Thằng Chẩn vặn luôn: “Vậy sao bác lập-bô cho họ bắt mất anh Chanh?”. Lão chối lia lịa, chẳng ai tin. À mà thằng Ghi-ôm-mê, thằng kỹ sư đề-pô đó, coi bộ nó về phe Đờ Gôn anh ơi. Có lần nó chửi lão cai Tống một hơi dài, bỏ đi, thằng Bảy thông ngôn dịch lại cho tụi em: “Thà rằng mày theo cộng sản mà giỏi tay nghề như thằng Chanh, tao cứ coi trọng, chớ mày làm chỉ điểm cho Nhà nước mà dốt đặc như con heo, tao đuổi”. Anh em sướng lỗ tai quá… 1 Cả Chanh cười nhẹ: - Ngoài cai Tống ra, còn ai chỉ chọt nữa không? - Dạ. Không đâu anh. Đứa nào thèm cũng sợ. Làm cho Tây sợ Nhật bắt, cho Nhật sợ Tây bắt. Làm cho cả hai thì sợ bị đẩy vô đường ray xe lửa, tà-vẹt rớt xuống đầu, dây điện quấn vô chân, hà hà... Hạng chót như em, vậy chớ đứa nào đi hót nhà Đoan lên khám đầu máy của em tìm cơm đen, em cho xe kẹp không kịp trối vái. Thiếu gì cớ, anh cả! Chai rượu lậu và đĩa tôm khô đã vơi chừng hai phần ba, hầu như một mình Bảy Tộ nhắm và uống. Cả Chanh chỉ nhấp trà, cạn bình lại châm thêm nước sôi trong ấm đặt trên bếp. Khuya rồi, quanh xóm im ắng cả, họ cứ dông dài hoài hoài. Chị vợ Bảy Tộ cố chợp mắt một lát để tới gà gáy đầu dậy làm hàng. Chị bán bún bò với bánh canh, thuê con nhỏ nhà bên giữ ba đứa con. Trằn trọc mãi không ngủ được, chị nhỏm dậy vấn tóc, nhìn kỹ lại ông khách lạ. Không phải bạn cùng sở với anh Bảy, chị quen họ cả bởi sáng nào cũng bán hàng trước ga. Cũng chẳng phải tay buôn lậu nào thậm thụt đến nhà, dân buôn ít hỏi về nghề thợ xe lửa. Chị cố nghe những câu lổn nhổn tiếng Tây trong khi ngắm ông khách. Trán cao, lông mày nét mác, mắt hơi xếch. Râu thưa lởm chởm quanh miệng. Tóc cắt vụng bằng kéo hiện những tầng ong xếp lớp. Da sạm như người miền ngược mới về. Anh Cả, anh Cả Chanh, là ai vậy? Bà con anh Bảy ở nhà quê ra... chắc ảnh nói phỉnh thôi, bà con gì mà nói giọng tỉnh khác... Chị ngả lưng xuống và lịm đi lúc nào không biết. Một bàn tay vỗ mãi vào vai chị. Chị chớp mắt khá lâu mới tỉnh, vừa nghe tiếng gà gáy râm ran. Bảy Tộ đứng bên giường, gọi chị dậy nổi lửa làm hàng. - Ông kia... đâu rồi anh? - Đi rồi. Xuống đò dọc về quê rồi. - Hứ, tưởng tôi ngu... Ai đó nói thiệt coi. Bảy Tộ ngồi xuống sát bên chị, thở ra mùi rượu nhưng vẻ mặt vẫn vui và trịnh trọng: - Thì nói thiệt đây nè. Anh là cộng sản, trốn tù về. Anh tin tôi, thương tôi, mới ghé thăm nhà mình chốc lát đó. Liệu mà giữ miệng mồm. Cộng sản, tù cộng sản... Chị bỗng quờ tay sang phía hai đứa con trai sinh đôi như bom sắp rớt xuống đầu, rên rỉ: - Anh không kể gì nhà cửa, cũng phải thương con với chớ. Bắt bớ lung tung vậy... - Tôi đưa ảnh đi chỗ khác rồi. Nghe dặn kỹ đây hồi nào ảnh tới hỏi tôi thì phải đưa ảnh vô buồng trong, nói cặn kẽ, ảnh muốn nghỉ lại thì phải xếp chỗ thiệt kín, cơm bưng nước rót đàng hoàng, nghe chưa? - Sợ quá đi... - Sợ hả? Thì chạy luôn tới sở mật thám, khai là thằng Bảy Tộ nó dắt cộng sản vô nhà, vợ chẳng dính dáng tới chồng. Tiền thưởng cũng khá đó... Anh là ân nhơn của tôi, biết chưa? Hồi đó tôi nhậu nhẹt đôi chén, cãi lại xếp Tây chút xíu nữa bị đuổi, ảnh đứng ra rủ anh em kêu kiện riết, tôi mới khỏi mất việc. Người ta làm ơn cho mình mà mình lánh né, thà làm con chó kiếm cứt mà ăn! Chị Bảy lặng lẽ xuống bếp, nhen lửa, bắc nồi nước chan lên hâm, quay sang soạn gánh. Hồi lâu chị mới buông lơ lửng: - Cũng phải nói cho rành ảnh ăn uống ra sao, có cần têm trầu mời thuốc gì không, hay là ưa rượu như anh... Bảy Tộ đã nằm vật xuống thay chỗ chị, ngáp dài, nhắm mắt, nói lúng búng. - Miễn đi, khỏi... Anh đâu phải là hạng tụi này... Anh ngủ tít luôn. Chị vợ đẩy củi vào bếp, vẫn băn khoăn: không cùng một hạng với chồng thì phải tiếp đón sao đây, trọng vọng hơn hay sơ sài hơn? Trong khi ấy, Cả Chanh cũng đang ngả lưng xuống giường, thay chỗ cô con gái rượu của ông Hai Rề. ---------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp chuyên dùng; Visiteur: thợ khám xe. Rapport: cáo báo. Dépôt: nhà chứa xe. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:35:58 pm Tên cúng cơm ông Hai là gì chẳng ai biết, người quen thường gọi theo tên con là ông Thùy, anh em trong xưởng lại đặt cho ông là Hai Rề, kêu riết cũng quen tai. Tính ông hơi rề rà một chút cùng có, nhưng cái chính là ông làm nghề rề-pa-ra-tơ1 rất cực nhọc đã hết một đời thợ mà không được đổi.
Qua hơn năm năm mà ông thợ già vẫn nhớ ám hiệu gõ cửa của Chanh: ba tiếng rời, hai tiếng gấp. Sau lần gõ thứ hai, ông đã lên tiếng trong nhà, tỉnh như chưa hề ngủ: - Ai rứa? - Dạ cháu. Thằng Cả vi-dít-tơ đây. Ông lặng lẽ mở cửa mà không thắp đèn. Đóng cửa, gài cây ngáng xong, ông mới nắm bắp tay Chanh lắc thật mạnh như thử sức, rồi bằng giọng Quảng Nam đặc sệt: - Chú về có giấy tờ ghi không? - Có giấy, cháu đã khỏi đi đêm! - Liên lạc với ai chưa? Ai dẫn chú? - Cháu ghé Bảy Tộ hồi mới tối, hỏi thăm nhiều. Nó dắt cháu băng lên khỏi xóm Ga, cháu chia tay giữa đường, đổi hướng, vòng tới đây một mình. - Rứa là được. Tây mới gởi trát về, treo tiền thưởng bắt chú. Ông Hai Rề vốn ít nói. Ông thắp cây đèn dầu nhỏ ngọn, đưa Chanh xuống rửa bằng lu nước mưa để dành nấu cơm cạnh bếp. Ông kỹ tính đến cái độ khách vất mẩu thuốc lá vào góc nhà, ông đi nhặt bỏ vào đúng chỗ ngay trước mặt khách. Chanh quay vào thì nơi nằm đã xếp xong. Cô Thùy con gái đầu lòng ra ngủ gian ngoài với hai em, nhường buồng và giường cho anh. Rất áy náy nhưng biết nết chủ nhà, anh chỉ cười nhẹ: - Cung kính bất như phụng mệnh, xin tùy bác! - Ừ, ngủ đã. Vừa may sáng mai tôi nghỉ, mặc sức ta bàn tính. Có động thì thoát như cũ. Ông chỉ lên đầu vách xây hở, cách mái nhà vừa một người nằm sấp lách qua. Ông nhặt cái bao tải đựng nắm khoai khô, đôi guốc xuồng mà ông tự đẽo bằng gỗ mộc, cầm đèn bước ra ngoài. Đầu ông vẫn ngửa ngửa ra phía sau do cái tật riêng của thợ rề-pa-ra-tơ, quanh năm đứng dưới hố ngửa cổ lên mà sửa dưới gầm các toa xe lửa. * * * Mãi mấy ngày sau thằng Cam mới trở lại chỗ Năm Phi Đao. Nó đói quá đâm liều. Đói đến loạng choạng lảo đảo, đi không vững, ngủ không yên, ngó trời đất thấy vàng khè. Lảng vảng chung quanh cái chợ xép xóm Động hay những chỗ kéo lưới trên bãi vắng, nó gặm những đầu củ sắn xơ cứng, nướng mấy con ba khia bỏ lại trong đám rong giũ lưới, lượm nhai mớ chân cua luộc để hít lấy nước, về sau nó nuốt luôn cả bã sắn và bã cua. Dạo này giáp hạt, người ăn xin và ăn cắp túa ra đầy các ngõ ngách. Thằng Cam không dám ăn cắp, chỉ nghĩ đến những đêm tra tấn trong tiệm bà Lợi Thịnh là đủ cho nó lạnh run. Nó cũng không biết ăn xin. Lũ trẻ trạc tuổi nó và nhỏ hơn nó xin xỏ rất tài. Vừa vật lộn rầm rầm trên bãi đấy, chúng đã đi cà nhắc thọt chân, chìa bàn tay quấn giẻ, kêu thảm thiết: “Lạy ông đi qua lạy bà đi lại, cha mẹ con chết bom tan xác, ông bà thương con què cụt chẳng có ai nuôi...”. Cam chỉ biết nép vào góc vắng, chìa ra một bàn tay run rẩy, nói lí nhí: “Con đói quá, con xin một xu...” Các bà buôn bán ở chợ ít ngại những đứa ồn ào và quen mặt, mỗi ngày họ cho mỗi đứa tí chút là xong. Họ nghi thằng nhỏ lầm lì kia hơn, xin không cần được, con mắt lấm lét, chui rúc chỗ khuất, đúng là đứa chuyên nghề đá cá lăn dưa! Nhác thấy thằng Cam ngồi nép sau lưng lũ trẻ. Năm Phi Đao đã vẫy nó tới gần: - Đói muốn gục rồi hả? Đúng, mày là thằng Câm, thằng khùng. Ăn đi nè! Vừa trông thấy khúc bánh mì, Cam đã nuốt nước bọt dồn dập. Nó cắn nhai vội vã đến nỗi mắc nghẹn, trợn cả mắt. Anh Năm vỗ vào gáy nó, hệt các bà mẹ chữa phép khi con bị nghẹn: - Xuội, xuội, xuội.. Đây không có nước, mày không uống được rượu đâu, ăn rài rài chớ. Cuối buổi, lũ trẻ lại dạ ran khi anh dặn chúng kiếm được gì ăn phải chia cho thằng Cam. Tới chiều hôm sau, Năm Phi Đao không tập ném dao mà kéo Cam đi theo mình ra chỗ vắng. Anh bắt đầu thương nó như một người to khỏe thương con chim trên tổ rớt xuống, chỉ biết há mỏ và rung đầu đòi ăn. Cam cũng bắt đầu chịu sức hút của tảng đá nam châm đen thui và lởm chởm là người lính khố đỏ. - Mở miệng to tao nghe. Ai ăn thịt mày mà run như đứa kinh phong vậy! Nhà mày ở đâu ? - Dạ...em không có nhà. -Tía má mày đâu ? Mày nói giọng Quảng, ở Quảng Nam vô hả ? Cam nín lặng một lát bỗng nói dồn dập: - Em ở Quảng Nam vô đây ở mướn. Họ nghi em ăn trộm, đánh quá chừng, em phải trốn. Cha mẹ em ở hết ngoài đó, em muốn về ngoải lắm. Anh Năm làm sao cho em về, em lạy anh Năm... Nó khóc nấc lên, cố nín, lại bật hu hu to hơn. Năm cuống quýt lục trong túi dết, ném ra cát một cái tẩu hút thuốc, ba vỏ đạn, miếng giẻ lau súng nhem nhuốc. - Không có thứ gì ăn, thôi mày nhấp chút rượu cho khỏe. Không chịu nổi hả ? Đi với tao. Anh đưa nó lên đường nhựa, thẳng tới một gánh cháo tôm cua đặt trên vỉa hè. Bà hàng thoáng thấy thấy bóng áo ka -ki đã vơ đòn gánh chực chạy. Anh khoát tay: - Khỏi, khỏi. Nhiêu một tô, bà? Anh moi túi sau lấy ra mấy hào lẻ, những đồng hào bằng sắt mạ kền ra đời trong chiến tranh thay hào bạc thật, ném xuống mẹt. - Thằng nhỏ hai tô cháo hai cắc, tôi một cắc chả mực. Tương ớt nhiều vô bà. Anh tu từng hơi trong bi đông, thỉnh thoảng gắp mật miếng chả bỏ vào tô cháo nóng mà Cam húp sì sụp. Mồ hôi vã đầy mặt nó. Thỉnh thoảng nó ngước nhìn lên, cái sướng cái ngon làm sáng cả bộ mặt gầy hóp. Nó thổi, nuốt, thở phì phò bằng mũi. - Ăn chậm chậm, phỏng miệng đó nhỏ. Tao đói nhiều phen rồi, mà tao không khờ như mày đâu. Phải biết bốc hốt mà nhét vô bụng chớ! Lát sau, bên gốc dừa thấp, anh tròn mắt khi nghe Cam nói nó ở làng Linh Lâm: - Ủa, mày con ai ở Linh Lâm? Ông Chua nào? Tư Chua thợ rèn ở Xóm Mới à? Hóa ra mày là em Cả Chanh chớ sao? Đến lượt Cam sửng sốt khi nghe người lính nói giọng Sè-goòng lạ tai kia kể từng tên một. Nó mừng quá đỗi: - Anh Năm cũng ở Linh Lâm à? Anh quen cha em, quen anh Cả? Người lính dốc ngược bình rượu, uống hớp cuối cùng ngồi thần mặt ra hồi lâu. Rồi anh đứng dậy, nói thong thả: - Ừ, tao ở Linh Lâm, tao quen nhà mày... Để mai kia đã... Hỏi thiệt, mày có muốn làm em nuôi tao không, Cam? - Dạ muốn, em muốn quá đi anh Năm! - Tao bớt mỗi ngày một xị rượu, tao nuôi mày. Tao còn sống là mày còn sống. Chiều mai mày đừng ra chỗ phóng dao nữa, đợi tao chỗ Giê-đô... là chỗ cái hồ có vòi nước phun ngược đó. Mai nghe... Chào ồi, cuộc đời chó đẻ! Quá ư chó đẻ! Anh bỏ đi về cổng trại lính, hai vai lắc như vai gấu. Cam đứng ngẩn nhìn theo, không hiểu gì cả và hơi sờ sợ. Đi một quãng xa nó mới nhớ lời anh Năm hứa nhận nó làm em nuôi, bớt rượu để nuôi nó. Người ta chỉ nuôi trẻ con làm đứa ở chăn trâu hay sai vặt thôi. Ảnh là lính trong đồn, cần gì đứa ở? Chắc là ảnh say. Có người say hung dữ, cũng có người say lại ưa chọc ghẹo, ba lơn cười chơi... Tim nó đập vui chỉ mấy phút, đã thấy nhoi nhói đâu trong người. Nó ứa nước mắt lặng lẽ. ---------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp: Réparateur: thợ xe lửa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:42:32 pm * * * Mưa trút từng cơn từ nền mây xám đen như khói tàu dầu bốc cháy. Gió đổi chiều không ngớt, khi thổi phía Phương Mai vào, khi mé Gành Ráng thổi ra. Cái vòi phun vẫn xịt nước lên trời một cách đần độn, nước của nó tạt xuống chỉ làm cho những ai qua lại đầu phố Khải Định cố vòng xa né tránh và chửi lầm bầm. Thằng Cam ngồi lì trên mép hồ xây xi-măng, phía vòi phun không tưới nước. Có lúc lạnh quá, nó chạy xuống bãi cát, chui vào cái miếu nhỏ dưới gốc cây tra già cho đỡ ướt. Miếu này thờ cá ông voi hay ăn mày chết giờ thiêng, mỗi người nói một phách. Nó không cần biết, chỉ nhớ những chùm trái tra non nó hái ăn khi quá đói, chát đến rát lưỡi khô họng. Ăn xong ngủ luôn trong miếu, chỗ góc tường khuất. Khát nước thì ra uống thứ nước lờ lợ trong hồ. Chỗ ngã ba này đông người qua lại, lâu nay nó tránh đến ban ngày. Hôm nay thì khác, anh Năm dặn nó đợi ở đây. Núp lâu trong miếu, sợ ảnh tới tìm không thấy, ảnh giận bỏ về. Nó chỉ cởi quần đùi với áo ba lỗ, vắt ráo nước, lại ra ngồi chực hồ. Mỗi bóng người đi tới đều làm nó phập phồng, nhưng tất cả đều đi thẳng, chẳng ai để ý tới cái bóng nhỏ ngồi co ro dưới mưa. - Tội nghiệp, ướt hết hả em? Cam chồm dậy. Anh Năm đứng sau lưng nó lúc nào không hay. Anh choàng cái tơi lá, đội nón lá, mặc quần đùi và đi chân trần như dân cày dạo coi ruộng, nửa trên vẫn mặc áo lính và đeo túi dết. - Coi có chỗ nào khô ráo, ta ghé vô. Cam nắm tay anh kéo thẳng về phía miếu. Anh bỏ tơi nón, cười khà: - Cái thằng, coi khờ khờ mà hóa ra thổ công thổ địa! Chẳng uổng công anh Năm nhờ người ta sắm đồ bảnh cho mày. Cam hoa mắt khi anh xổ trong túi dết ra một cái quần tây vải xanh chỉ hơi bạc màu chỗ đầu gối, tiếp cái áo sơ-mi tím mới vá mấy đường chỉ máy trên cổ tiếp một cái quần đùi vải ta trắng chưa hề giặt. Nhiều, sao nhiều quá... - Cởi hết ba thứ giẻ rách ra, mặc đồ mới tao coi. Mụ vợ thằng cai Sáu khéo lựa đó, bị cái ăn lời quá sá. Con mẻ kỳ vậy, ai cũng ghét mà ai cũng phải nhờ tay mụ... Ống quần hơi dài, mày xếp lên một nếp, còn lớn nữa mà. Trễ rồi, tao phải về đồn đây. Bữa nay không có gì ăn, cho mày năm cắc. Mai đi hớt cái tóc, tắm rửa sạch sẽ, đón tao chỗ gánh cháo tôm cua đó, tao dẫn tới ở nhà vợ cai Sáu. Cam đang hớn hở tự ngắm mình từ trên xuống dưới, bỗng lạnh toát cả người. Đầu gối nhủn ra, nó suýt ngồi thụp xuống, cố gượng mới đứng được. Nó lắp bắp: - Anh.. anh biểu em đi ở mướn... - Ngu vừa vừa chớ! Tao gởi mày cho mẻ đó, ăn cơm tháng trả tiền đàng hoàng. Nhà mẻ có bốn đứa học trò ở trọ, thêm mày nữa là năm. Tối mày đi học Truyền bá quốc ngữ, ban ngày học ở nhà, chỗ nào không hiểu thì mấy đứa kia chỉ vẽ cho. Tụi đó học trường cô-le1 Võ Tánh, con nhà nghèo hết, tao gặp thấy hiền khô à. Con mẻ hay đứa nào ăn hiếp mày, coi như rồi đời với tao! Vợ cai Sáu là thím Lụng, nhà ở sâu trong xóm Bàu, làm nghề buôn rổi cá và nấu cơm tháng cho học trò nghèo. Anh Năm đưa Cam đến với một cái rương nhỏ, gần như rỗng, nhưng bắt buộc phải có để không ra vẻ là đứa trẻ cầu bơ cầu bất. Anh bảo Cam là em con ông cậu ở quê mới được gửi vào, anh nuôi cho ăn học, biết đọc biết viết rồi sẽ vào trường tư. Tiền cơm trả trước một tháng. Cuộc đổi đời diễn ra quá gấp rút. Cam không kịp nghĩ, không kịp mừng hay lo, chỉ cung cúc chạy theo anh Năm như sợ tụt lại sau và lạc mất ông anh kỳ quái từ trên trời rớt xuống. Qua lời thím Lụng, nó mới biết anh Năm cũng là cai, mề-rô2 của anh là con số rất dài được gọi tắt là Cát-vanh-tuýt, nghĩa là 88. Thím Lụng ít được ưa bởi hay ăn lãi và nói năng ngoa ngoắt, bù lại nhà cửa cơm nước của thím bao giờ cũng sạch sẽ tinh tươm, bầy con thím khá ngoan. Cam mới đến ở mấy hôm đã được thím khen: nó dậy sớm quét từ nhà đến ngõ, gần tới bữa thì tự ý xuống bếp giúp nấu cơm, bày mâm. Tính nết nó cũng hợp với thím, thím ưa nói nhiều hơn nghe, nó thích nghe nhiều hơn nói. Chỉ một lần Cam bị hớ nặng. Thím bán xong gánh cá, vừa bước vào nhà đã hỏi ngay: - Cai Chò tới đây chưa, Cam? - Dạ, cai Chò là ông nào? - Ủa, không biết tên anh Năm mày à? Có phải anh em thiệt không, hay là mèo mả gặp gà đồng? Cam cứng họng, lặng đi một lúc mới nghĩ ra câu trả lời lúng búng: - Dạ, hồi ở nhà ảnh tên khác... - Tên gì? - Dạ, là... là... là Chó ạ. Cam buột miệng nói ngay cái tên móc nôi của chính nó, đến bảy tám tuổi gì đó mới đổi tên chữ. Và nó vớt luôn: - Thím đừng kêu tên đó, ảnh giận con chết. Thím Lụng cười the thé, để rơi cả điếu thuốc Cẩm Lệ quấn sâu kèn dính trên lưỡi: - Có họa tao điên. Ai khui tên cúng cơm ông Năm Chó nhà mày ra, ổng dám đốt nhà lắm! Đi học đêm, Cam lách qua những ao vũng của xóm Bàu, những vạt xương rồng và ngũ sắc mọc vạ vật, ra đường Ô-lăng-đan để tránh phải qua xóm chợ, nơi nó đã ăn xin và chịu đói. Nó sợ gặp lại lũ trẻ lang thang đã từng gọi nó là thằng Câm, thằng khùng, bắt nạt nộ khá lâu trước khi anh Năm ra tay che chở. Tới nay, nếu vắng đi cái dáng vóc gấu đen và những con dao bay dễ sợ, chưa chắc mấy đứa kia chịu để cho nó yên thân. Bởi thế nó cố ý đi đường vắng lúc sẩm tối, còn úp cái mũ cối màu cháo lòng xuống che mặt. Qua chỗ nào nghe vẳng cái giọng nhừa nhựa kéo dài mệt mỏi “lạy ông đi qua lạy bà đi lại”, nó vội bước như chạy. Thoát xa rồi, nó mới dừng để thở và rùng mình. Những lúc ấy, nếu anh Năm hiện ra trước mặt nó, nó sẽ choàng hai tay ôm ghì anh, khóc thật to thật nhiều cho vợi bớt cơn lũ thương yêu và biết ơn. ----------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp. Coliège: trường trung học 2. Tiếng Pháp. Numéro: số (quân dịch). Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:50:23 pm 4. Khi chọn mua nhà ở Tu-ran 1, cô Mỹ Duyên nằng nặc đòi một căn nhà hai tầng ngay cạnh Ngã Năm để mở tiệm giải khát hạng sang chuyên đón khách Tây Nhật. Ông phủ Đỉnh chê đắt quá, muốn mua một căn nhà nhỏ có vườn lộng rất kín đáo phía An Hải, bên kia sông Hàn, lão Tây lai ở đấy bán hạ giá vì quá gần chỗ quân Nhật đóng. Mỹ Duyên không chịu: - Anh nhét em vô chỗ vắng như chùa mà lại dễ ăn bom Mỹ! Đã vậy em chẳng thèm làm vợ ba hay gái bao gì nữa, em trở về đăng-xinh 2 cho anh biết mặt.Con này chưa đến nỗi ế đâu! Rốt cuộc mỗi bên nhân nhượng một ít, họ thuê một nhà hai tầng nhỏ gần bãi biển Thanh Bình, nằm trong hẻm nhỏ yên ả. Tầng trên chỉ có một buồng rộng liền được Mỹ Duyên thuê nhà thầu sửa sang thành phòng nhảy có quầy rượu và mấy bộ bàn ghế nhỏ xíu, có tủ lạnh, ra-di-ô, máy hát, quạt trần, nhiều bộ đèn màu lắp nút bật riêng. Phủ Đỉnh xót tiền nhăn nhó, rồi cũng phải chiều cô gái nhảy xinh đẹp nhưng rất cứng đầu. Lão mới về nhận chức tri phủ Thăng Bình được hai tháng đã mê ngay cô Xi-mo-nét Mỹ Duyên, mê lăn lóc, tuy lão biết cô ta đã từng là nhân tình của một chủ sở Bưu điện Pháp, rồi một tay cự phú người Tàu. Cô ngửa cổ cười ngoặt nghẹo khi lão xin được hái hoa: - Anh là tri phủ, khá. Hai vợ rồi, trừ hai điểm. Của chìm của nổi ra sao em chưa biết, để rồi em nhờ mấy tay mật thám quen dò xét thử coi. Báo trước anh hay. Trái tim vàng không đặt trong lều tranh được mà phải lắp vô khung vàng khung ngọc kia. Chịu thì lấy! Yô-tô? Đắc-co? 3 Lão đành cay đắng mà chịu. Lão tự biết mình xấu trai, già hơn Mỹ Duyên đến một phần tư thế kỷ, không dám đòi hỏi nhiều ở cô hoa khôi mười chín tuổi. Lão chỉ đoạt được Mỹ Duyên như người vung tiền ra mua tranh một món hàng đấu giá. Mụ vợ cả ngày càng giống con cá mực khô, hễ nhìn là lão buồn nôn. Mụ Lợi Thịnh còn mỡ màng hơn nhưng đối xử lạnh nhạt và thân xác lạnh lùng, hay lén uống thuốc ngừa thai. Chơi bời đào đĩ mãi rất tốn và dễ mắc bệnh, lão không muốn bị tim la lần thứ hai, lại sợ chứng giang mai khủng khiếp. Thôi đành phải nuôi ả giăng há tiêu tiền như vỏ hến này, dù kẻ khác có ăn vụng ít nhiều thì phần chính vẫn còn của lão. Tối hôm ấy mưa to, Mỹ Duyên không đi chơi được ở nhà mở đĩa hát Ti-nô Rốt-xi, lôi ra một mớ tiểu thuyết gồm đủ thứ xã hội diễm tình, giang hồ võ hiệp trinh thám rùng rợn. Con sen đã mua về cả một bát to trái cóc dầm chua ngọt, bày thêm đĩa muối ớt và mở một chai bia Hom-men. Nằm dài trên ghế xích đu, Mỹ Duyên hút từng hơi ngắn thuốc lá cô-táp lơ đãng lật hết cuốn này đến cuốn khác. Ăn, uống, hút, đọc, nghe, hưởng cả năm cái thú một lần mới là biết tận hưởng. Ti-nô hát sang bài Ma-ri-ne-la đằm thắm: Ma-ri-ne-la Hãy ở lại nữa trong đôi tay anh Anh muốn cùng em nhảy cho đến sáng Điệu Rum-ba yêu đương này... Duyên buông sách, thả trái cóc cắm que xuống bát, lim dim mắt. Mới đấy mà đã bốn năm. Chị Kim Phượng bày cho Duyên hát bài ấy khi chị vừa thôi học, còn Duyên đang ở lớp Nhất. Các chị lén lập hội “Ái Ti-nố, ăn cắp tiền nhà góp lại lùng mua tất cả những đĩa hát ghi giọng của thần tượng, chọn nhà vắng mở nghe chung như tín đồ nghe giảng đạo. Duyên háo hức mong mau lớn để bước vào lứa tuổi vui vẻ trẻ trung như các chị. Chẳng ai ngờ chị Phượng nhảy xuống sông tự tử vào tuổi hai mươi. Hình ảnh cuối cùng chị để lại cho Duyên là một cái xác trắng nhợt, trương phình, mặt có nhiều vết cá rỉa, ôi chao, chị không chọn được kiểu chết nào dễ coi hơn hay sao? Mưa lại rào rào đổ xuống mái, gieo tạp âm vào bài hát đầy những anh với em. Duyên ném cuốn sách đang đọc, lật cuốn khác. Lại vẫn chàng với nàng. Một cuốn nữa, mở trúng một cảnh cụp lạc mê cuồng quằn quại... Duyên chợt nhớ câu đùa của chị Chín bánh bèo hay bưng vào bán nửa buổi, góa chồng: “Thân phận tui như cái ống thổi lửa... Đũa trui đũa cả có đôi, riêng ống thổi lửa mồ côi một mình. Có ai sắm ống thổi lửa đủ cặp đâu cô?”. Ai cũng có đôi. Mình cũng có đôi, một kiểu kết đôi thảm hại quá chừng. Chàng với nàng... hừ, chàng có bộ ria chuột, đứng tới tai nàng, mặc áo gấm càng nổi cái bụng to như cóc, mặc cả từng xu trước khi leo lên xe kéo... - Chào dì Ba! Duyên suýt đánh rơi cốc bia đang uống. Hai Khánh vào lúc nào, đang đứng chếch mé sau chỉ cách vài bước. - Ôi, anh... làm em hết hồn... - Đêm khuya con đến thăm, dì Ba có tiếp không? - Duyên chồm tới, vòng tay lên cổ Khánh, úp mặt vào ngực áo lấm tấm những giọt mưa: - Con gì... Con quỉ sứ, con yêu tinh, con đười ươi của em... Anh tới hồi nào, vô đường nào? - Con sen mở cổng, chỉ lên gác. Em may miệng nó rồi à? - Rồi. Em bỏ tiền vô trước khi may. Anh muốn em phát điên hả? Đi qua Tu-ran không thèm ghé, ném cho mấy chữ nguệch ngoạc bỏ thùng thơ. Anh ướt hết thay đồ mau đi. Va-li anh đâu? Anh uống bia hay uống cô-nhắc? Em biểu con sen đi mua phở nghen? Duyên nói dồn dập trong khi vẫn úp mặt vào ngực Khánh. Khánh bật cười, đưa tay bưng mặt Duyên ra khỏi ngực mình: - Các bà thương con ghê đi. Vô Qui Nhơn, bà Hai cuống quít một trận. Ra đây, bà Ba lo con đói, con ướt... ái! Duyên xoắn tai anh một phát rất đau, vít luôn cổ Khánh xuống: - Hôn mấy cô Hà Nội mỏi miệng rồi hả? Bắt đầu chê em chưa? Họ không xuống buồng ngủ dưới nhà, ăn uống xong nằm luôn trên gác. Duyên trải chiếu xuống sàn phủ thêm tấm ra, mắc màn vào các cọc đèn rất thạo. Khánh trêu: - Coi bộ em quen tay lắm. Chắc mỗi tháng hết mươi mười lăm ngày tiếp bạn bè trên gác! - Đồ Sở Khanh! Ở đó mà đợi mỗi năm anh về vài ngày à? Hai giờ sau, họ rời nhau. Khánh ngồi lên châm một điếu thuốc, chỉ hút vài hơi lại giụi tắt. Anh cố tránh tất cả những gì gây thói quen, gây nghiện. Duyên nghiêng đầu trông thấy, khẽ cười mệt nhọc: - Người hùng kiêng được mọi thứ, chỉ trừ món nguyệt hoa! Khánh trầm ngâm khá lâu, bỗng nói: - Tình thế này Nhật sắp lật nhào Tây, em biết không? Anh không học được lâu nữa đâu. - Bỏ luôn, về ở với em đi! Đá đít lão phủ, a-lê về cái nhà bò! - Nói như thật ấy! - Thiệt quá đi chớ. Hay là em ra Hà Nội với anh. Em làm ca-va4 nuôi anh ăn học. Tính mọi khoản tiền thì em kiếm chẳng thua lão phủ đâu, chỉ thua các món bổng ngoại thôi. - Em thiếu gì bổng ngoại! - Dứt khoát không là không. Đã lấy anh thì em chỉ biết một mình anh. Cả nhà em, trai hay gái đều có máu yêng hùng vậy đó, nói cắn cưa, làm cắn răng... Phải đó, em đi luôn với anh. Sáng mai em kêu chủ tới trả nhà, kêu luôn con buôn tới bán hết mọi thứ, hai đứa hai va-li là đủ. Em làm liền tay cho anh thấy nhỡn tiền, anh mới tin. Ưng bụng chưa? Ngoéo ngón tay coi! Duyên nhỏm dậy, ép bộ ngực trần vào vai Khánh, tìm tay Khánh. Những ngón tay của người con trai vẫn lặng đờ. Duyên kê cằm trên vai Khánh một lúc lâu, rồi cười khẩy, đủng đỉnh: - Cũng phải. Có lý... Dại gì lấy thứ gái nhẩy, bị tai tiếng, sau này khó làm rể cụ Thượng hay nhà triệu phú. Lỡ ông phủ trả đũa cậu cơn, chặn cứng mất đường làm quan. Lại còn cái đồn điền đứng tên bà Cả nữa... - Nói bậy. Em là gái có chồng! - Chồng ngoài giá thú. Chồng già hơn cha. Cứ kêu thẳng tôi là con điếm lịch sự lại dễ nghe hơn... Chắc cha con anh bàn tính với nhau, thuê chung một con nhân tình cho đỡ tốn, xài chung thả giàn rồi đem nó ra nhử quan Tây quan Nhật. Xin được nốt kha khá thì cha lên án sát, con ra tri huyện như chơi... - Im! Câm ngay! Khánh quát lên, xoay ngoắt người lại, vung tay. Cái tát dừng lại trên không. Duyễn vẫn cười, nước mắt chảy xuống tới cằm bắt đầu rơi từng giọt: - Cứ đánh tự nhiên. Xin mời. Đuối lý thì cãi bằng tay là tiện nhứt. Đánh gần chết tôi cũng không dám đưa anh ra tòa đâu, đừng sợ, anh biết luật hơn tôi mà. Hễ tôi khai bị anh đánh sau khi ăn nằm với nhau, tôi vô tù trước! Thân hình cao lớn và rất cân đối của Khánh ngã vật xuống tấm ra trắng. Anh nhắm mắt, cảm thấy tai ù và cả người tê điếng. Đã mấy lần bị đàn bà trách móc, tới lần này Khánh mới kinh sợ khi Duyên đọc vanh vách ra những suy tính thầm kín nhất của anh bằng những lời cắn sâu đốt thịt như a-xít. ----------------------------------------------------------- 1. Tourane: tên do Pháp đặt cho thành phố Đà Nẵng. 2. Tiếng Pháp, Dancing: tiệm nhảy. 3. Tiếng Nhật và Pháp: Yoto? Daccord: Tốt chứ? Đồng ý chứ? 4. Tiếng Pháp. Cavalièga: gái nhảy. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 01:55:43 pm * * * Tiếng máy may ở gian ngoài ngừng kêu, tiếp có tiếng khép cửa chính, gài then. Căn nhà lá im vắng hẳn. Thùy đã xuống bếp nấu cơm trưa, đôi chân trần đi không tiếng động trên nền đất sét nện. Lát nữa sẽ có năm tiếng gõ đúng ám hiệu. Đợi Chanh trả lời bằng hai tiếng gõ, Thùy mới mở ống khóa bấm ngoài cửa gian buồng xép, bưng mâm cơm vào, mấy ngón tay phải móc xách thêm cái siêu đồng nước sôi để pha vào ấm giỏ. Thùy cười tủm tỉm, nói đôi câu ngắn trong khi châm trà, xong bước ra và khóa ngay cửa buồng, lại mở cửa chính ngồi may như cũ, đợi hai em nhỏ đi học về cùng ăn. Ông Hai Rề rất kỹ tính đã liệu trước tất cả những sự chẳng lành có thể xảy ra, bắt Thùy nhắc lại trước mặt Cả Chanh từng cách xử trí để cho cả hai cùng thuộc lòng. - Răng mi trù đóng cửa cả ngày cho bí mật? Nghề thợ may mà đóng cửa, cầm bằng mi khai với chòm xóm tui có người nấp trong nhà. Phải mở y như cũ cho khách ra vô, nghi ai rình mò thì phải mời riết, rót nước bày thuốc... Còn mấy đứa bạn hay chạy xộc vô buồng mi đó, cũng cứ để tụi nó vô... Phải có cách chớ. Mi kêu dạo ni mất cắp nhiều, phải khóa ngoài. Hễ có đứa mô muốn vô theo thì mi đừng gõ ám hiệu, mà ngoáy chìa lắc khóa xành xạch cho ảnh biết, kêu khóa hư phải đợi cha về cạy giùm. Cơm nước phần mi lo, giặt đồ với đổ cứt đái phần tao. Chú Chanh cứ để yên tôi sắp đặt, đừng cãi. Việc quốc sự tôi không rành, chớ nuôi người quốc sự thì tôi đã từng! Ông Hai là người đạo gốc vùng Trà Kiệu. Mở mắt ra đã thấy có tượng ảnh Chúa trong nhà, ông coi việc đi lễ đọc kinh chỉ là cái lệ xưa bày nay làm, cũng như kẻ khác ăn chay ngày rằm mồng một hay đặt mâm cúng những cụ tổ tiên ông bà mà họ chưa hề thấy mặt. Ông tin Chúa kiểu lừng khừng, nghe lời các cha cũng lừng khừng, tất cả đều một vừa hai phải. Các con ông đều rửa tội, lãnh tên thánh, như Thùy là An-na Thùy, ông không quen đọc tên đầm nên cứ gọi là con Ang-hòa khi có việc gì trình cha. Ông dặn kỹ các con phải coi chừng lễ xưng tội: - Tội vạ bay khai với tao đây là được. Mấy ông cha nớ tội cả đống thì tha tội cho ai! Vì thần phải nể cây đa, tao thưa dạ với họ cho phải phép, khai sơ sơ mấy cái tội rượu chè, chia tri, thiếu nhơn đức khiêm nhường, rứa thôi. Khai tội nặng thì mấy ổng cho đi tù lẹ lẹ! Hì hì, họ đặt cái luật thánh cổ quái thiệt, đáng tuổi con mình mà lại bắt mình kêu bằng cha, xưng con. Đảo điên thế sự! Thấy Thùy định tháo bức ảnh màu Mẹ Ma-ri-a ra treo buồng ngoài, ông gắt inh: - Mi sợ Đức Mẹ thấy anh cả mi thay quần hả? Nhớ kinh bổn thử coi:Bà Ma-ri-a bao tuổi lấy chồng, ông Giu-xe thửa chưng bạn sạch, tiếp có chửa với Chúa Trời? Chúa Giê-xu chết khi băm ba tuổi. Bà trẻ nhứt cũng tới năm mươi, gấp đôi tuổi anh mi, việc chi Bà mắc cỡ?... Ừ thì Chúa chết năm ba mươi, mẹ Chúa trẻ trung chi nữa, hả? Cha cố dạy ông nhơn đức tin, cuộc đời lại dạy ông nghi ngờ. Vốn ít nói nhưng sẵn tính đa nghi, ôug hay buông những cân vặn lý hoặc châm biếm bằng cái giọng tửng tửng, cù không cười. Bọn đốc công Pháp và cai kíp người Việt ghét ông, đè cổ ông mãi dưới phốt vi-dít 1 không cho ngoi lên, đến nỗi ông mắc cái tật ngửa đầu vì quanh năm quai ngược búa lên trời để sửa gầm xe. Hồi Cả Chanh bị bắt, Tây chưa nghi ông, chúng nghĩ dù sao cộng sản với đạo Thiên chúa cũng ít ưa nhau. Lão cai Tống thay Chanh đóng vai vi-dít-tơ, cầm cây búa nhỏ lắp cán dài và mềm, cây đèn khí cạc-buya, bỏ mớ phấn trong túi, đi gõ các trục xe coong coong và đánh dấu những chỗ cần sửa. Liên tiếp có những chiếc ốc văng mất mũ, những má phanh bị kẹt tóe lửa khi chạy, những xích nối toa quên tháo. Tay kỹ sư Pháp định đưa ông Hai lên thay vì giỏi tay nghề hơn, thì một người bị bắt chịu đòn không nổi đã khai ông nuôi anh ta nửa tháng trong khi trốn tránh. Sự thật đúng như thế nhưng ông cứ cãi bay biến, sở mật thám không có chứng cớ vẫn giam ông bốn tháng và cho vào sổ đen. Gặp lúc quân Nhật trưng dụng xe lửa tới tấp, phụ tùng xe bên Pháp không gửi sang được nữa, tay kỹ sư kia phải tự đến bảo lãnh cho ông về để sửa toa xe, nhưng không dám để ông làm vi-dít-tơ với lương cao hơn và việc nhàn hơn. Ông vẫn tiếp tục là ông Hai Rề như xưa, với cái tật “Quảng Nam hay cãi” và cái đầu ngưỡng thiên. Hôm nay Hai Thùy ngồi lại trong khi Chanh ăn cơm, không còn giữ ý như ngày đầu nhường buồng: - Anh Cả nè, người ta đồn Nhật với Tây sắp đánh lộn rồi đó. Anh nghe tin gì không? Chanh bật cười: - Tôi mới về đây mấy ngày, chưa liên lạc gì được, tin lấy đâu ra. - Ừ hè, em quên. Cha nói gần gần có giấy thuế thân cho anh rồi đó. Lão lý trưởng đòi năm chục, cha kêu mắc quá, chắc cũng phải thí cho nó ba chục mới xuôi. Tây đồn cho lính Đê lên Hưng Thạnh tập bắn nhiều lắm, súng nổ từ sáng tới tối. Lính Đê bây giờ có thêm một tấm vải đỏ rộng một gang vầy nè, quấn quanh bụng, thắt cái nịt to ra ngoài. Sao vậy anh? - Có lẽ là lính cảm tử. Tây muốn dọa cho Nhật sợ. Còn lính người mình ra sao? - Không thấy lính chào mào tập bắn, chỉ có lính bê-rê thôi. Chắc Tây nó không tin người mình đâu. Tụi Nhật ra đường, cứ nắm tay người mình, đặt tay nó sát bên cạnh, chỉ vô màu da giống nhau. Nó nói: “An Nan yô-tô, phu-ran-xư yô-tô-nai”. Người ở chợ nói vậy nghĩa là người An Nam tốt, Tây xấu. Đúng không anh? Rõ ràng Thùy tin rằng người như Chanh thì điều gì cũng biết. Chanh buồn cười khi nhớ một câu của ông bạn tù có võ vẽ ít chữ Hán: “Cộng sản bất xuất môn, toàn tri thiên hạ sự. Ngồi trong xà lim mà hiểu chuyện thế giới mới là thiên tài!”. Cô gái đeo thánh giá này dường như cũng nghĩ in hệt. Chanh và cơm, liếc nhìn lên tấm ảnh màu Mẹ Ma-ri-a lại nhìn Thùy, nhận thấy khuôn mặt và nhất là đôi mắt Thùy rất giống Mẹ Ma-ri-a. Nhiều người đã nhận thấy các gia đình theo đạo Thiên chúa thường đẻ con gái có những nét giống Mẹ Ma-ri-a, có lẽ vì các bà các chị quanh năm nguyện ngắm tượng ảnh, và các cô lớn lên cũng thích cái dáng nghiêng đầu mơ màng của Mẹ. Ngót năm năm trước, anh bị bắt khi Thùy còn là con bé vùng biển phơi nắng đen nhẻm, gầy đét, tóc vàng cháy, ăn nói láu táu, tính nết bộp chộp. Anh trở về khi Thùy đã là cô gái mười tám tuổi, trắng trẻo vì chuyên ngồi may trong nhà, đi đứng nói năng đều dịu dàng bởi quen chiều lòng các loại khách đàn bà trẻ con, và vai chị Hai đảm đang việc nhà thay người mẹ qua đời đã giúp Thùy tập thu vén mọi việc thật lớp lang tỉ mỉ. Chanh nói chuyện với Thùy không còn kẻ cả và tự nhiên như xưa, đôi lúc luống cuống khi mắt Thùy nhìn mình quá chăm chú. Những lúc ấy Chanh thường xưng hô rất lộn xộn, anh và Thùy, tôi và cô, đôi khi buột miệng nói anh và em như hồi xưa. Thùy chợt nhớ: - Bác Tư, cha anh đó, năm ngoái dẫn tới đây một đứa nhỏ em của anh. Ổng nói ổng đi với ông phủ Đỉnh là người cùng làng, đem con ra gởi cho bà vợ ông Phủ ở Qui Nhơn đây để nó đi học, chớ ở làng không ai dạy chữ. Chanh giật mình hỏi dồn: - Thùy thấy nó chừng bao nhiêu tuổi, bộ dạng ra sao. - Nó ốm nhom và cao cao, chừng mười hai mười ba gì đó. - Vậy là thằng Cam rồi. Phủ Đỉnh có bà vợ hai chủ tiệm Lợi Thịnh, buôn vải giàu lắm. - Lợi Thịnh ở phố Gia Long hở anh? Hồi trước em có tới mua vải đôi lần, họ nói thách quá trời mà không bán chịu. Sau em toàn mua chịu của mấy tiệm gần nhà thôi, trả tiền lời mỗi ngày nửa phân. Cha anh ghé vô khi đang say rượu, nhà đi vắng hết, em sợ quá. Ổng hỏi có được thơ từ gì của anh không. Ổng kêu cả một bầy con có một mình anh sáng dạ nhứt, nghe họ rủ rê đi làm cộng sản thiệt tới uổng, em nghe càng sợ. Anh làm quốc sự mà không xin phép ổng à? - Xin phép sao được... Rồi Thùy có gặp lại thằng Cam nữa không? Nó còn ở nhà Lợi Thịnh không? - Em ít đi phố lắm. Báo động luôn, bỏ nhà chẳng ai coi ngó... Hay để chiều nay em tới đó hỏi thử thì biết. Chanh bần thần buông đũa chén. Tin thằng em trai đang sống ngay gần đây đánh thức dậy nỗi nhớ nhà nhớ quê dữ dội mà lâu nay anh cố nén. Nhưng rồi anh lắc đầu, ngập ngừng: - Khoan đã. Mật thám đang lùng anh, Thùy hỏi tụi nó sẽ nghi... Hai người tần ngần nhìn nhau. Bỗng Thùy giật mình, bưng vội mâm bước ra ngoài. Chanh thoáng nghe một tiếng thở dài. ---------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp. Fosse à visite: hố kiểm tra (xem gầm toa xe) Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 02:01:56 pm 5. Một cơn bão trái mùa nào đó đang dồn ứ trên thành phố mới vào xuân, sống giữa trời yên biển lặng mà con người thấy như không khí bị nén ngột ngạt, sấm sét và gió cuồng sắp ập xuống đầu. Gạo vọt lên vài ngày một giá. Mọi thứ đều thiếu, chỉ có người là thừa. Dân đói từ các tỉnh ngoài cứ tuôn mãi vào theo đường bộ, đường biển, nhiều nhất là theo những chuyến xe lửa thường bị máy bay Mỹ rượt theo quét đạn lửa từ toa đầu đến toa cuối. Dễ nhận thấy Mỹ không ném bom phá cầu và ga, cố tránh không đánh hỏng đầu máy xe lửa, những thứ sẽ cần dùng khi quân Đồng Minh đổ bộ chiếm Đông Dương. Người chết và hàng cháy không ngớt, nhưng các chuyến vẫn chạy cả ngày lẫn đêm, thả rơi vãi dọc đường những xác thui đen và thân hình đẫm máu, trút xuống các ga những vợ mất chồng, bầy trẻ lạc cha mẹ. Quân Nhật thiếu xăng dầu phải đi xe lửa nhiều hơn, ung dung ngồi trong toa hạng tư đã được sửa bên trong thành lô-cốt lắp bánh, với bao cát xếp kín cả bốn vách và dưới mái toa, hút thuốc lá Mic do Pháp cung cấp, đợi ngớt máy bay sẽ đi tiếp. Trên những số nhật báo Đông Pháp đến Trung Kỳ muộn nhiều ngày, tin thắng trận của đội quân Thiên Hoàng do hãng Đô-mây đánh đi vẫn đầy dẫy quan đặc sứ Ma-txư-mô-tô cùng quan toàn quyền Đờ-cu nối tiếp nhau ca ngợi tình thân hữu Pháp - Nhật. Tạp chí Tân Á cứ ra đều và gửi biếu không, các chi nhánh Đai-nan Kô-si1 mở tiệc mời các quan chức Pháp Nam nhiều hơn là bán bút máy Pi-lôt, các lớp đào tạo thông dịch viên tiếng Nhật lấy tăng học sinh. Mọi sự đều vui vẻ, tốt đẹp. Trong bóng tối, Pháp và Nhật xỉa từng nhát dao vào lưng nhau và sắp nổ súng diệt hẳn nhau. Pháp đặt căn cứ mật trên vùng núi, mộ rất nhiều lính Tây Nguyên về cho tập ráo riết. Máy bay Đồng minh thả bom xuống doanh trại Nhật, thả dù súng đạn xuống cho Pháp. Mật thám Pháp đang đêm ập vào xích tay những ai nhấp nhổm theo Đại Việt quốc gia xã hội đảng, dù chưa kịp uống máu ăn thề. Pháp để sẩy mất giáo chủ Hòa Hảo nhưng lại kịp bắt giáo chủ Cao Đài. Phía Nhật xem chừng nhũn nhặn và kín tiếng hơn so với khi mới kéo vào Đông Dương. Những vụ húc xe và bạt tai quan chức Pháp giảm bớt nhiều. Lính Nhật ít ra phố, thu hình lại trong khu doanh trại che cót kín chung quanh hàng rào và những đồn lũy đặt pháo bờ biển, cao xạ. Rất nhiều toa xe chở ngựa mới mua từ Phú Yên ra, chờ đêm vắng mới trút ngựa đàn vào các vùng cấm ở chân núi. Chỉ có những chuyến bay tuần tiễu là tăng lên rõ: từng cặp máy bay khu trục Dê-rô lắp hai pháo rà rất thấp trên thành phố, vòng qua lại nhiều lần, rống nhức tai. Khi máy bay Mỹ đến đông thì Dê-rô biến mất, hình như chúng đậu núp bên dưới các cầu tàu xây bê-tông nhô ra biển. Người Việt tinh ý đoán rằng Nhật đánh Mỹ bằng cao xạ thôi, để dành máy bay đánh Pháp. Cứ nghĩ tới lúc máy bay Nhật giội bom ầm ầm xuống đầu các vị quan Tây bụng phệ, đeo đầy lon với ngù vàng bạc và chỉ quen lên xe xuống ngựa, cũng đủ sướng cái bụng đang đói! Giữa những ngày căng óc căng gân ấy, Năm Phi Đao đến nhà thím Lụng với cái bọc khá lớn. Anh mở bọc, lấy ra một gói nhỏ nhét vào cái rương gỗ của Cam, một gói to hơn gửi thím giữ. Anh đưa xấp giấy bạc và nói rành rọt với thím: - Tôi gởi thêm chị Sáu một tháng tiền cơm nữa cho thằng nhỏ. Hễ tôi đổi đi chỗ khác hay là bị mũi tên hòn đạn gì đó, chị rán nuôi giùm nó cho tôi năm bảy tháng, đợi ông già nó tới trả nợ chuộc về. Coi vậy chớ tôi sanh đúng giờ dữ, khi chết chắc là linh hiển. Cứ ăn ở tốt rồi tôi phù hộ cho cả nhà chị. Thím Lụng xanh mặt, đánh rơi chén nước mắm cầm tay: - Trời đất, chú nói gì độc miệng.... - Tôi làm ma, thiêng lắm đó chị. Không thèm hù dọa người ta đâu, tôi vật cho hộc máu đàng hoàng! - Thôi thôi thôi, lạy chú một mớ lạy, chú nhậu say thì nói chuyện khác tôi nhờ! Anh Năm xoay người bước ra, nháy Cam đi theo. Tới chỗ vắng anh mới ngồi bệt xuống sau một bụi xương rồng, cười đến sặc, ho một hồi mới nói được: - Với mụ đó, phải oánh một đòn thất kinh hồn vía mụ mới thấm. Sáng mai trở đi, mụ không dám giao cho mày nấu bữa trưa nữa đâu. Mày ở trọ mà mụ coi như đầy tớ, bậy hết sức. - Em nấu mau lắm mà. Nghe anh nói em cũng khiếp quá! Năm Phi Đao kéo Cam ngồi xuống cạnh mình, cầm cổ tay nó nắn nắn một lát, nói rất dịu: - Em còn ốm nhom, chữ nghĩa chưa được chút gì, thiệt tội. Có thương anh thì rán kiếm ít chữ bỏ bụng đi. Anh dốt đui dốt đen thành ra cực miết. Tình thế không yên được nữa, sắp tới họ đánh lộn nhau tới chữ, thân anh khó biết mất hay còn... Sụt sịt hả? Đúng thằng này là con gái bị bà mụ nặn lầm. Hết chưa?... Sanh ra trúng cái đời chó đẻ này, mình không ăn nẫu2 thì nẫu cũng ăn mình, ở đó mà khóc mếu.... Anh lại rút cái bi-đông chẳng bao giờ cạn trong túi dết ra, nhấp một hớp, trầm ngâm quệt miệng: - Nghe anh dặn đây. Từ mai trở đi Tây nó cấm ra phố, nhốt hết trong đồn. Anh có vắng lâu thì đừng nóng ruột, đừng để mụ Sáu sai vặt. Nhớ kỹ điều này nghen: gặp hồi chộn rộn, anh Cả Chanh có thể trốn ra khỏi tù, về tìm em đó. Hễ gặp ảnh, em nói giùm thằng Năm Phi Đao là đứa biết tình nghĩa, nó nhắn cảm ơn đại ca, bấy nhiêu thôi. Nhắc lại anh nghe coi... Ờ, được đó, thôi về đi học! Anh bỏ đi rất vội, không ngoảnh lại. Ba hôm sau, đúng chín giờ tối theo giờ Đông Kinh một quả pháo hiệu đỏ rực vọt lên trời đêm. Lập tức súng lớn nhỏ nổ túi bụi phía đồn lính Ga-li-ê-ni điện thành phố tắt phụt, tiếng xe chạy và ngựa hí nổi lên trên các phố thường đêm vắng lặng. Không có tiếng máy bay và cao xạ. Pháp và Nhật đã quật nhau chí tử. ----------------------------------------------------------- 1. Tiếng Nhật. Đại Nam công ty: tổ chức tình báo Nhật ngụy trang buôn bán. 2. Người ta. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 02:10:10 pm * * * Sáng rõ mặt người. Cả Chanh nhất định vào nội thành tuy cha con ông Hai Rề cố can. Hai đứa nhỏ dậy muộn - đêm qua cô Thùy bắt chúng chui ngủ dưới gầm phản - ngơ ngác nhìn ông khách từ trong buồng xép bước ra, mặc quần đùi và áo ba lỗ, cái bao tải vắt vai. Anh đã nuôi được bộ râu khá rậm quanh mồm. Ông Hai cắt tóc cho anh theo kiểu nồi đất và chừa hai mớ tóc gọng kính ngoặc ôm vành tai, khuôn mặt anh trông khác hẳn đi. Trời trở gió bấc hơi mạnh và se lạnh. Bãi biển và mặt biển đều vắng ngắt, sóng đập ồn hơn mọi ngày. Lính Nhật đã đứng gác trước các công sở, cầm ngang súng trường lắp lê, đội thêm mũ sắt trùm lên trên cái mũ vải “ba rèm” che gáy và hai tai. Chúng câm như hến, chỉ hẩy lưỡi lê xua những ai đi qua gần chỗ gác. Chanh đi liều qua trước đồn Ga-li-ê-ni, sát mé đường bên kia, liếc nhìn vào sân đồn. Lính Pháp bị bắt đang khiêng các xác chết xếp dồn lại trước trụ cờ. Kẻ chết và người sống đều mặc đủ quân phục, quấn xà cạp và đi giày đinh hẳn hoi: Pháp không bị bất ngờ. Rất nhiều xác lính có băng đỏ quấn ngang bụng, anh nhận ra lính Đê theo lời tả của cô Thùy. Trên đường phố, từng nhóm quân Nhật đội mũ sắt và cắm lá trên lưng đang đi tuần, men sát tường nhà, mắt gườm gườm.. Một chiếc xe tải dừng xịch trước cây xăng trên vỉa hè, hẳn là để bắt nộp xăng dầu. Cửa hàng Đai-nan Kô-si ở phố Gia Long mở toang cửa, năm bảy người trẻ tuổi mặc sơ mi ngắn tay và quần soóc nghênh ngang ra vào, cười hô hố, bắt đầu đeo vào tay áo cái băng trắng in hình tròn đỏ của cờ Nhật, nhưng' chưa kịp cạo trọc đầu làm Nhật lô-can 1, cũng chưa được phát võ khí. Đúng như Chanh đoán trước, ngoài đường không còn tên cảnh sát nào. Nhật chỉ soát tìm súng hay lựu đạn, không soát giấy, anh yên trí hẳn, dừng đọc mấy tờ thông cáo in chữ to dán trên tường, từng lúc suýt bật cười vì câu chữ lủng củng và in sai lu bù. Bản Tuyên-ngôn của Chánh-phủ Đại-Nhựt. Quân-đội Nhựt vì sự phòng thủ Đông-dương cho nên định triệt-bãi công-chức Pháp ngang-nghịch với Đại Nhựt-Bổn và ban-trợ phương- tiện cho công-chức đương-hành mà có thật-tâm cộng-tác với Nhựt-Bổn như thế để có thể cộng-tác mà đạt được mục-đích nói trên... Trên một tờ khác, “Quan Tổng-Tư-Lịnh Quân Đội Nhựt” hăm dọa rất gắt: “Những người nào bất cầu đại tiểu trở-ngại đến cuộc hành-binh của quân-đội Nhựt thì sẽ chiếu quân pháp mà nghiêm trị...” Một ông già đứng đọc bên anh lẩm nhẩm: - Lính của họ, họ còn bắt đứng gạc-đa-vu 2 đánh cho hộc máu nữa là dân mình. Thấy có người bên ngoài, một bà đánh bạo hé cửa dòm ra, thì thào. - Ai bắn ai vậy các ông? Giấy gì đó ông? Ông già quay lại: - Lính với quân đánh nhau. Giấy dán trước nhà bà, ra coi chớ thập thò gì nữa... Không biết chữ hả? Họ biểu mình xê ra cho họ uýnh lộn thả cửa. Chanh bỏ đi, vẫn tức cười. Tụi Nhật không dám tin người Việt Nam đến cái độ phải dùng người Nhật viết thông cáo, kể cũng lạ. Ngay cả những tờ báo lá cải hay kiếm hiệp ba xu cũng không dám in những dòng ngô nghê như thế. Đường phố vẫn thưa người qua lại, chỉ có đàn ông ra khỏi nhà nghe ngóng xem các thông cáo. Tiệm vải Lợi Thịnh đã gần, một căn phố hai tầng quét vôi trắng, đã lâu không quét lại nên màu xỉn và loang xám. Chanh băng ngang đường sang vỉa hè bên kia, thong thả đi tới. Một bắp thịt nào đó trong bụng anh chợt thít lại, đan đau. Cửa lùa mặt trước tiệm đóng kín. Cửa xép chỗ hông bên phải cũng đóng. Chỉ có cửa sổ trên giác đang mở nhưng không có bóng người. Chanh bỗng thấy chân mình mỏi nhừ, anh gượng đi thêm vài chục bước rồi ghé vào một thềm nhà, ngồi xệp chỗ góc tường khuất, nhìn đăm đăm vào chỗ cửa xép thường chạy thẳng vào sân sau, nhà bếp. Chủ tiệm nằm nhà thì phải có đứa ở đi chợ hay mua quà sáng. Nhỏ như thằng Cam ắt được sai vặt như thế. Nó sẽ ra, sẽ ra... Một cặp máy bay Nhật lướt qua, bay thấp hơn mọi ngày, bóng một chiếc quét ngang mặt đường nhựa. Chanh ngồi dựa ngửa đầu, lim dim mắt trông chừng bên kia, cố nghĩ xem mặt mũi đứa em bây giờ ra sao. Anh là con đầu lòng, tuổi Thân. Nó thứ sáu, cũng là tuổi Thân, thua anh chẵn mười hai năm, như thế vào năm Dậu này nó mười bốn tuổi ta, tức mười ba tuổi tây. Anh theo cha vào Qui Nhơn khi nó mới được vài tháng, đang ngọ nguậy trong nôi. Lần cuối cùng anh trông thấy nó là năm 1936: anh được nhận vào làm thợ học việc trong đề-pô xe lửa Qui Nhơn theo cha về thăm nhà mươi hôm rồi trở vào một mình đi thẳng một hơi cho đến nay. Trong chục ngày ấy anh cõng nó đi tắm sông, tập cho nó thôi nói ngọng, kể chuyện vùng biển có cá ông voi nuốt người vào bụng nhiều đến nỗi người ta lập một làng trong bụng cá. Hồi ấy mặt nó tròn phình như trái cà chua, chân tay bụ bẫm. Năm ngoái cô Thùy lại thấy nó ốm nhom mà cao cao... Chanh nặng nề đứng dậy, vất mạnh cái bao tải lên vai. Không nên đợi, cũng không thể gõ cửa nhà Lợi Thịnh hỏi nó. Anh em sẽ không nhận ra nhau, anh sẽ phải kể hết tông tích với nó trong khi đang cần giấu mặt. Và có thể vợ lão phủ Đỉnh sẽ căn vặn về con người lạ mặt, nó không chối quanh được mãi. Một tốp lính Nhật nữa đi qua, không đội mũ sắt và cắm lá, có một thanh niên chừng hai mươi tuổi đeo băng in cờ Nhật đi theo, giải một tên Pháp cao lênh nghênh bị trói tay sau lưng. Chanh thoáng thấy dưới mũi hắn có một mảng rất trắng nổi rõ trên da sạm nắng: hắn vừa cạo bộ râu mép rậm để đổi dạng. Anh chợt nhớ bộ râu mới nuôi đang bao quanh miệng mình, thấy buồn cười. Anh rẽ sang một đường hẻm, tìm nhà Bảy Tộ. Chưa giao được việc lớn cho cậu lái xe lửa kiêm buôn lậu này, nhưng hắn có thể dò tìm thằng Cam cho anh. Hắn khôn lắm, chắc trong lúc quân hồi vô lệnh hắn chẳng vội tới nhà ga đâu. Cũng trong buổi sáng ấy, Cam xách cái giỏ mây rỗng đi băng qua vùng nhà lá thưa thớt của xóm Bàu, về phía chợ xép họp trên đường ô-tô vào Gành Ráng. Chợ vẫn đông như mọi ngày, chỉ có các tiệm người Tàu không mở cửa, có lẽ họ thấy chộn rộn đang lo chôn của và dò giá mới. Chị hàng xén vừa bày mấy thứ ra sạp. Nghe Cam rỉ tai mấy câu, chị vội thu hết vào bồ, buộc nắp, gửi bà bên cạnh coi giúp, kéo Cam vào trong nhà: - Anh Năm bị sao mà phải mua đồ băng bó? Ăn uống được không, hay là... Ảnh đang ở đâu? Em là gì của ảnh? Nói mau đi! Chị hỏi dồn không kịp lấy hơi, lại cứ giục Cam nói. Nhưng anh Năm cấm không được kể với ai là anh đang ở nhà thím Lụng. Bác cai Sáu sợ quá đã đeo khăn gói chạy thẳng lên Tuy Phước ở nhà bà con, anh Năm Chò bị đạn xuyên qua đùi không đi xa được, phải về đấy núp trong buồng vợ bác Sáu. Cam ấp úng một lát rồi phải nói thật. Coi bộ chị này không dính dáng với Tây Nhật, mà thương anh Năm rất ghê. Nó tin anh, tin luôn những ai thương anh. Chị nghe xong, ra gánh luôn đôi bồ vào nhà cất kín. - Chị nhớ rồi, em là thằng Cam phải chưa? Ảnh có kể mà chị quên. Ngồi đợi chút, chị đi sắm các thứ ảnh dặn. Gì chớ rượu thì đừng hòng chị cho uống! Ăn kẹo đi nè! Nửa giờ sau, hai người xách hai giỏ nặng lội cát đi về xóm Bàu. Qua những câu đứt đoạn, Cam biết đây là chị Tư Toản, hay bán rượu lậu cho lính đồn và riêng cho anh cai Năm, “cũng bồ bịch với nhau chút đỉnh mà chưa tới đâu hết”. Người chị gọn và khỏe mặt cũng dễ coi nhưng lấm tấm nhiều tàn hương trên gò má cao. Bước vào nhà, chị nói bô bô: - Chào chị Sáu, tôi tới thăm Năm Phi Đao đây. Ảnh đâu rồi? Thím Lụng giơ tay như muốn bụm miệng chị Tư: - Tôi chắp tay tôi lạy cô, Nhựt Bổn họ tới đốt nhà, bắt bỏ tù hết... - Ối trời đất cha mẹ ơi, cai đội người mình kéo đi hôi của rển rển ngoài đường kia, có đâu trốn chui trốn lủi như thầy cai Sáu với thầy Năm! Lão đội Chầm mới sáng đã tới đập cửa nhà tôi hỏi rượu, mà phải thứ nước nhứt để lão cúng tổ, tạ ơn đạn Nhựt xẹt rách áo mà chừa cái bụng! Chắc anh Năm rúc dưới giường nhà chị chớ gì? Tôi vô coi ảnh ngột thở hay chưa! Chị xách giỏ bước thẳng vào buồng trong. Anh Năm Chò mặc may-ô quần đùi nằm trên giường, chân trái gác trên gói áo quần và quấn vải trắng giữa đùi, có vết máu loang bầm. Anh chắp hai bàn tay lót sau gáy, không nhấc đầu lên, chỉ cười tủm tỉm: - Bông-rua cô Tư! Cái lưỡi cô còn bén hơn mớ phi đao của thằng Năm. Tôi có năm lưỡi thôi, cô được mấy? - Không bén mà sống nổi với anh... Chị nói được bấy nhiêu rồi đặt phịch cái giỏ xuống, ghé ngồi cạnh giường, đặt bàn tay run rẩy vào chỗ vải băng: - Anh Năm... trúng xương không anh? - Chỗ thịt thôi. Không làm độc thì mươi ngày đi được. Chị Tư úp hai bàn tay trên mặt, bật khóc hu hu mà cố nói: - Báu gì... mấy đồng lương lính.... mà anh thí thân thí xác vậy. Anh chết đi, em ở với ai... Một ngày là nghĩa, chuyến đò nên quen, em đâu phải như tụi đĩ bợm mỗi lần chơi một lần tiền... Không gì cũng từng trăng thề quạt ước với nhau, anh về ở nhà em nuôi...là cái ngãi tào khương... Chị xì mũi cả hai bên, kéo cái giỏ lại, rút ra liên tiếp một gói giấy loang mỡ, một hộp bánh bích-qui tây in màu sặc sỡ, một chai lít vuông nhét nút lá chuối khô, hai hộp sữa Con chim. - Tính không cho anh giọt nào nữa hết... Anh bị nhẹ, thôi, uống chút ít cũng được. Anh nhậu với ba-tê gan đây, sơ sơ vài ly... Cam, bắc giùm chị nửa siêu nước sôi, giỏi đi em! Chị đưa anh Năm con dao tám lưỡi của lính Tây có đủ thìa nĩa xếp gọn vào cán, rồi thoăn thoắt ra nhà ngoài, thì thào một hồi với thím Lụng. Thím nghe ừ ừ và gật đầu liên tiếp, mặt tươi lên dần, thím te tái vào buồng: - Chú Năm có cô Tư đây trông coi rồi, tôi gởi nhà đi một lát nghen. Đụng người vợ như cô Tư là số chú hên lắm đó! Chị Tư soạn cái giỏ của Cam, lấy ra mấy gói băng cấp cứu của lính, pha thuốc tím vào nước nóng, xoa cồn 90 cho vào tay, thạo như y tá nhà nghề. Anh Năm cứ uống nhấm nháp, ăn ba-tê, trong khi chị rửa vết thương và kể dài dài: - Em hỏi rồi. Lính Tây rúc trong lô-cốt, không dám chạy mà cũng chống cự ít, phần lớn ra hàng khỏi chết. Lính mình khôn nhứt, anh nào cũng xếp sẵn một khăn gói, súng nổ gắt là vạch rào trốn hết. Tội nghiệp đám lính Đê, bị Tây bắt nằm dưới tăng-sê dọc rào thép gai, dặn hễ bỏ chạy là xử tử, mấy cha ở đó bắn miết, bị Nhựt giết nhiều quá. Họ bò phía sau tới, ném thử tạc đạn xuống tăng-sê... Nhựt ít quân lắm anh ơi. Họ lén treo mấy chục dây pháo chung quanh đồn, thứ pháo to thiệt dài mua ở tiệm Tàu đó, chích lửa. Lính Đê thấy lửa nháng, nổ rẹt rẹt đùng đùng, cứ nhè chỗ đó mà bắn. Nhựt đi vòng tới sau lưng không biết. Sáng ra, tụi con nít đi rình hôi của chung quanh đồn thấy xác pháo dồn từng đống sau các bụi cây, nhiều nhứt là phía biển... Hồi nãy em nói với chị cai Sáu là nói thiệt đó anh. Nhựt nó lo tìm bắt Tây thôi, sức đâu đi tìm lính mình đang chạy tứ tung... Mấy đứa cảnh sát, mật thám lột áo trốn hết. Lý trưởng hương hào nằm nhà im xo, đợi coi vua quan làm ăn ra sao. Nghe nói ông vua Bảo Đại bị nhốt cứng, quan Toàn quyền bị chặt đầu... Ôi chao, ngó đi ngó lại anh xài mất nửa lít rồi! Uống giải khuây bấy nhiêu, khui bích qui ra ăn đi. Chị Sáu chưa về nấu cơm đâu, em bày cho chị cái tuy-ô mua đồ ăn cắp, đồ hạng nhì thôi, hạng nhứt tối nay có xe kéo chở tới nhà em. Lính Nhựt tới gác nhà Tây thiệt là khờ, cứ đứng ngang cổng trước như trời trồng, người mình vô cửa sau khuân đồ ra xe kéo sạch trơn... Anh ở tạm đây ít bữa, đi cà nhắc được rồi em đón về nhà ở với nhau, đón luôn thằng Cam nữa, chòm xóm nói gì cứ kệ cha họ. Đời con Tư Toản này ba chìm bảy nổi hai mươi mốt lênh đênh, chẳng ai nuôi bữa đực bữa cái nào đâu mà đòi dạy nó sự phép tắc lễ nghi! ---------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp. Local: bản xứ, địa phương. 2. Tiếng Pháp. Gárde-à-vons: đứng nghiêm. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Chín, 2015, 02:16:18 pm * * * Các giáo sư trường Luật đều bị bắt hoặc đi trình diện với Kem-pê-tai 1 không ai đến. Mấy ông trợ lý lảng vảng thăm dò tình hình, ghé văn phòng một lát lại bỏ đi. Từng nhóm sinh viên qua lại ngoài sân, truyền cho nhau rất nhiều chuyện thục có hư có về cuộc đảo chính đêm qua. Hai Khánh ra Hà Nội được hơn một tuần tin súng nổ. Chuyến thăm quê của anh gặp nhiều may mắn, xe lửa không bị máy bay bắn, đồ đạc không bị mất cướp hay mất cắp. Sau cơn giận hờn, Mỹ Duyên xoay được vé toa nằm cho anh đi chung với quan Tây chỉ dặn anh phải mặc com-lê ca-vát và cho tiền người hầu kha khá. Khi hôn nhau thật dài để chia tay nàng nhét một phong bì khá dày vào túi áo vét-tông của anh, về sau đếm được một ngàn hai trăm đồng, gần gấp đôi số tiền bà Lợi Thịnh cho anh. Tội nghiệp cho bà dì mới mười chín tuổi! Anh chấm hai ngón tay vào môi, ném qua cửa sổ toa xe đang chạy một chiếc hôn gió gửi Xi-mo-nét. Khánh đi từ nhóm này sang nhóm khác, lượm những mẩu tin đôi khi rất khó tin. Nghe nói sinh viên Y khoa rất bốc sau đảo chính. Bốc là phải, Tây đổ thì họ ra bác sĩ sẽ làm trùm làm trưởng tha hồ. Sinh viên Luật xem chừng âu sầu cho thân phận mình nhiều hơn. Nhưng không phải ai cũng âu sầu. Một gã đeo kính trắng và cắt tóc dài kiểu phi-lô vừa nhảy lên bậc thềm, vành tay lên miệng: - Xin mời các bạn đến nghe tuyên ngôn cua Thanh niên ái quốc đoàn. Thanh niên ái quốc đoàn đã kịp thời lên tiếng trước thời cuộc. Muốn hiểu vận hội mới của quốc gia, xin mời nghe tuyên ngôn... Hai Khánh giữ thái độ độc lập của bậc trí giả, chỉ bước tới thong thả và đứng vòng ngoài, đút tay túi quần nghe gã kia đọc tờ giấy đánh máy. Gã đọc chật vật có lẽ vì máy chữ không có dấu. Chung quanh Khánh nhiều bạn bọc xì xào. - Thằng Nham ở năm thứ hai. Dốt, rờ-ca-lê 2 một keo. - Nó đang luyện mép để ra làm thầy cãi... - Cãi vã gì nó. Làm chính khách! Thêm một cái tên phe phái mới ra lò sau mươi phút bàn bạc của một dúm người lựa gió phất cờ. Từ sáng đến giờ Khánh đã nghe vô số cái tên kêu to như thùng rỗng: Cách mạng đảng, Quốc xã đảng, Phục quốc hội, Hưng Việt đồng minh, Quốc gia liên minh. Chỉ có cái tên Quốc dân đảng là quen tai, nhưng lãnh tụ Nguyễn Tường Tam của họ biến đâu mà lâu thế? Tiếng cười nổi to dần khi gã đeo kính đọc lầm liên tiếp. Khánh bỏ ra góc sân, mỏ khóa xe đạp, qua cổng. Anh đạp chậm một vòng, ngao du xem cảnh đường phố trong “vận hội mới”. Nhà hát lớn vắng ngắt. Hiệu ăn Con gà vàng đóng cửa. Nhà hàng Gô-đa đóng cửa. Vườn hoa Pôn-Be đầy người chạy nạn đói từ nhà quê ra. Trước Ngân hàng Đông Dương, một đám đông túm tụm chờ rút tiền, nhưng mấy chục lính Nhật chặn cứng mặt trước, có cả mấy họng súng máy chĩa sẵn. Đường Bờ sông có vẻ bình thường hơn với những nhóm phu phen đi lại, nhưng vắng xe tải. Đạp thêm một quãng nữa, Khánh đã thấy chán nản. Tăng Nhật bớt Pháp là hết chuyện. Anh rẽ qua trước nhà thương Đồn Thủy, chợt thấy một dáng quen quen ra khỏi cổng. Một sĩ quan Nhật không râu mép, không gươm dài, chỉ đeo súng ngắn và cái xắc-cốt treo đứng. Anh lái xe chầm chậm tới gần, gọi: - Kon-ni-chi-oa, Ta-kê-đa-xa. 3 Viên sĩ quan giật mình quay lại, gật đầu: - Kon-ni-chi-oa! Khánh xuống xe đi cạnh viên trung úy quân y. Vốn liếng tiếng Nhật của anh chỉ có mấy từ chào hỏi. Hai người nói tiếp bằng tiếng Anh. Ta-kê-đa là sinh viên y khoa chính gốc Đông Kinh, nói tiếng Anh khá thạo và mới sang Đông Dương hơn nửa năm. Khánh gặp gã này khi gã đang lúng túng hỏi anh phu xe kéo phải trả bao nhiêu tiền, đó là chuyện lạ, bọn sĩ quan Nhật chỉ quen rút một khúc gươm ra khỏi vỏ và thúc trở vào đánh cốp, thế là xong. Thấy anh kéo xe giơ hai ngón tay, gã hỏi gặng bằng tiếng Anh: “Tôi không hiểu. Hai đồng hay là hai mươi xu?”. Khánh từ trường Luật về, ghé lại dịch hộ gã phải trả hai mươi xu. Gã rất mừng gặp người biết tiếng, hẹn gặp Khánh chiều hôm sau trong tiệm cà-phê nhỏ gần Đồn Thủy. Họ chơi với nhau từ dạo ấy. - Trước tiên, xin chúc mừng anh nhân dịp chiến thắng lớn của Hoàng quân Nhật Bản. Các anh đánh giỏi tuyệt vời. - Cảm ơn anh. Riêng tôi không nổ phát súng nào cả. - Tất nhiên. Nhưng anh tạo nên sức khỏe của quân đội. Cấp trên đã nói gì về số phận của Đông Dương chưa? Ta-kê-đa khẽ mỉm cười: - Ta đi uống cà-phê nhé? Xong, tôi sẽ ngủ một giấc đến tối... Theo tin Đô-mây, thủ tướng Koi-xô sáng nay đã tuyên bố tôn trọng chủ quyền quốc gia các xứ Đông Dương. Vua Bảo Đại có thể ngồi yên trên ngai vàng. Chắc anh vui lòng? Hai người vào tiệm cà-phê cũ. Bà chủ mọi hôm hay lánh mặt, nay ra tiếp họ xoắn xuýt. Viên trung úy gõ gõ ngón tay, lơ đãng: - Anh gọi hộ tôi một cốc cà-phê lớn, pha rom gấp đôi. Tôi đang cần uống. Tôi mệt và buồn ghê gớm, anh Khánh ạ. Uống đến cạn nửa cốc cà-phê, gã mới dằn từng tiếng: - Chiến thắng... đúng là quân chúng tôi đánh khá. Nhưng thắng mà làm gì? Táo bạo để làm gì?... Anh gọi cho tôi thêm hai ly cô-nhắc. Anh cũng uống với tôi đi. Hãy chạm cốc, cùng tưởng nhớ nước Nhật đang chết. Thấy vẻ mặt sửng sốt của Khánh, gã cười rầu rĩ: - Đừng tưởng tôi say. Đã uống đâu mà say... Bạn tôi là đại úy thông tin, lén báo cho tôi sáng nay: Đông Kinh vừa bị một trận bom lửa chưa từng có trong lịch sử loài người, ở đây chúng tôi nổ súng đánh Pháp lúc chín giờ tối, ba tiếng sau có chừng bốn trăm chiếc pháo đài bay B.29 dội bom cháy xuống Đông Kinh. Mỗi chiếc chở tám tấn bom, anh thử tính xem. Nhà tôi ở khu phố Bun-ki-ô, nhà gỗ, vách giấy bồi, lọt trong đường hẻm chật, khó chạy thoát... Còn vợ sắp cưới của tôi nữa. Tô-si-kô phải bỏ học đi làm cứu thương, bom đến mấy cũng không được rời trạm cấp cứu... Một nhóm lính Nhật bước tới cửa, tần ngần dừng lại khi thấy viên sĩ quan. Ta-kê-đa đanh mặt, vỗ mạnh vào bao súng ngắn, quát to như sủa: - I-chi-ma-ê! 4 Bọn lính rập chân chào, bỏ đi nhanh. - Mặc kệ chúng nó. Lỡ có đứa biết tiếng Anh, nghe lỏm... Hà Nội có tất cả mười vạn dân, đúng không? Chính phủ Nhật báo tin ước tính có mười hai vạn dân Đông Kinh chết chạy đêm qua. Chúng tôi đoán phải nhân đôi con số ấy. Khánh giương to mắt: - Thế... không quân Nhật? Đại bác phòng không? - Máy bay Dê-rô và Ru-phê rụng cánh gần hết rồi. Cao xạ chỉ bắn tới tám cây số, mà B.29 bay cao trên mười cây số. Lập đội Ka-mi-ca-dê tự sát để đánh tàu chiến chứ không chống được máy bay... Nước Nhật đang chết. Những người thân của tôi đã và sẽ chết. Thêm một cô-nhắc nữa đây! Gã ép hai nắm tay vào thái dương khá lâu trước khi uống cạn ly rượu cuối cùng, lảo đảo đứng lên. Trên đường về Đồn Thủy, Khánh đắn đo hỏi: - Nghe tin các anh, lực lượng nào sẽ làm chủ Đông Dương? - Việt Minh. Rõ quá rồi. Pháp đã hạ súng đầu hàng. Nhật sẽ bại trận chẳng trước thì sau. Chỉ còn một mình Việt Minh đủ sức nắm quyền. Nghe nói họ là cộng sản, Anh Mỹ không ưa họ. Cần gì, họ liên kết với nước Nga là mạnh chán. Bắt tay nhau trước cổng nhà thương, viên trung úy còn nói thong thả và rất tỉnh: - Nếu tôi là người An Nam như anh, tôi đã theo Việt Minh từ lâu rồi! Tạm biệt nhé! --------------------------------------------------------- 1. Tiếng Nhật. Hiến binh đội: tổ chức kiểm soát dân chính của quân đội Nhật. 2. Tiếng Pháp. Rơ-ca-lê: thi trượt 3. Tiếng Nhật: Chào ngài Ta-kê-đa 4. Tiếng Nhật: cút đi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Chín, 2015, 01:28:30 pm 6. Trước khi vượt ngục Kon Turn, Cả Chanh được giao một số đầu mối liên lạc ở Quy Nhơn và Hội An. Đồng chí nắm đầu mối Tu-ran đã bị chuyển đi lao Ban Mê Thuột, chưa móc nối được. Chanh không được phép ghi chép gì hết, anh phải học thuộc lòng họ tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, mật hiệu của từng người. Khi bàn với ông Hai Rê chọn người đưa thư - những lá thư thăm hỏi có mật hiệu chen vào - Chanh thấy ông Hai chẳng tin ai cả. Đến con gái ông cũng khó tin cậy. - Nói thiệt với chú, chưa qua đòn tra mật thám thì đố biết ai vững ai hèn. Thằng Xuân chạy trốn khủng bố đó, tôi nuôi như ông hoàng, bị đánh đau nó dẫn mật thám tới nhà, chỉ giữa mặt tôi cho bắt. Thôi thì đủ thứ kềm sống, kềm chín, kẹp ngũ trảo, bốn lần tra điện nữa, tôi cắn răng chịu, cãi lấy được, rứa mới thoát án đó chú. Tôi tin chú. Chú bị bắt khi đang rải truyền đơn, nghe nói tụi nó băm vằm chú cả tháng, rốt cuộc một mình chú lãnh án bảy năm tù, anh em chẳng ai rầy rà chi hết, họ phục chú lắm lắm. Con Thùy còn non nớt rứa, lỡ nó khai ra chú thì tôi vô quan tài cũng không nhắm mắt được mô! - Bác thấy đó, cháu đi lại khó quá. Bây giờ đang hỗn quan hỗn quân còn đỡ, nay mai bộ máy mật thám của Nhật ổn định lại, nó lùng sục bắt bớ tràn lan, những người dính dáng với cháu sẽ lần lần bị moi ra hết… - Thôi thì vầy: chú giao việc nớ cho tôi. Một mình tôi là đủ, đừng chắp ghép với ai nữa, con Thùy cũng đứng ngoài. Ông Hai đã quyết thì đừng hòng lay chuyển. Bàn tính xong lúc mười giờ đêm, sáng hôm sau ông mó ngay vào việc. Tên lý trưởng trước cò kè chưa ngã giá cái giấy thuế thân, nay thân hành cầm giấy tới nhà ông: - Bác đưa cho ai thì bảo họ điểm chỉ. Bác nói là bà con vô làm ăn, cháy đồ trên xe lửa, thì tôi cứ biết vậy chớ không tò mò. Sắp tới đây vật đổi sao dời, có gì bác nói giùm tôi mấy tiếng là đủ, miễn tôi được yên thân mà nạp cái đồng triện! Xong một khoản. Tới việc làm của ông ở đề-pô xe lửa. Bọn kỹ sư và đốc công Pháp không bị bắt, chỉ phải trình diện và làm việc dưới quyền một tên hiến binh Nhật. Tên này mít đặc nghề xe lửa, chỉ biết mắng bọn “quỷ da trắng” và nói từng tràng về Đại Nhựt Bổn, Đại Đông Á. Tên phiên dịch lặp mãi đến nhàm chán khi dịch cho công nhân hắn đâm ra tùy hứng. - Bữa nay ổng nói gần gần như hôm qua. À mà ổng có thêm là hoàng đế Bảo Đại với sáu ông quan lớn nhứt ở Huế đã xin cho nước mình độc lập rồi, chánh phủ Nhựt cũng cho mình độc lập rồi... Học trò trường cô-le kéo đi tung hô vạn tuế là mừng cái sự đó. Anh em đây cũng phải mừng như vậy... Tôi nói cho dễ: mình chưa kịp học tiếng Nhựt hễ gặp họ thì cứ giơ tay vầy nè, hô thiệt to “ban-dai! ban-dai” 1 là họ ưng bụng, khỏi lục soát gì hết. Một số công tư chức ở Quy Nhơn nhảy ra lập “Ủy ban quốc dân tỉnh Bình Định”. Cái ủy ban táp nham ấy gồm đủ hạng người: đảng phái thân Nhật có, làm áp-phe chính trị có, ngây thơ tưởng đã độc lập có, ham lạ có, nhưng tất cả đều muốn chia bớt đôi chút quyền hành của các quan Nam triều. Viên phó ga người Việt dự họp về, lắc đầu: “Nội cái chuông giữ trật tự của ông xếp... à quên, ông chủ tịch, cũng cãi như ễnh ương cả giờ”. Nhân tên hiến binh Nhật cho phép cử Ban đại diện công nhân, Chanh bàn với ông Hai: - Thử sức một keo coi, bác. Họp bầu xong, anh em đưa luôn yêu sách phải cho tụi Tây thôi việc hết. Thiếu gì cớ. Việt Nam độc lập rồi, sao còn để xếp Tây cưỡi cổ. Tây làm ít phá nhiều, làm gián điệp cho Anh Mỹ đánh Nhật. Hễ Anh Mỹ đổ bộ thì Tây nổi loạn tức thì. Thằng Nhật nghe chỗ này chắc rúng xương. Nó không biết xe cộ gì, cứ nói anh em mình tự lo được hết. - Chắc nó phải hỏi thượng cấp... - Hễ nó dây dưa, anh em cứ lãn công. Tức là làm chơi chơi, nghỉ nhiều hơn làm. Tụi Tây ghét Nhật, sợ người mình, chẳng dám thúc ép đâu. Mọi việc diễn ra gần đúng như vậy. Ban đại diện được bầu, ba già hai trẻ. Nhiều người giới thiệu ông Hai Rề, ông đứng dậy ngửa cái đầu tóc tiêu muối: - Tôi vô đó cũng được, mà sợ phiền cho anh em. Một, tôi theo đạo chúa, ắt là Nhựt họ ngại. Hai nữa hồ sơ sổ đen Sở mật thám đang còn đó, Tây nó ghi tôi là tình nghi cộng sản. Ít bữa rồi Nhựt họ khui, ra coi, họ lại tưởng cả Ban đại diện là cộng sản hết. Rứa tôi mới xin tháo lui cho khỏi rầy rà, chớ cái mạng già ni xin sẵn sàng thí bỏ! Cuộc họp ban nãy nhao nhao lên khi có người rụt rè nêu tên lão cai Tống - tên chỉ điểm chuyên nịnh trên nạt dưới - lúc này lại nhao nhao một lúc vì ông Hai. Rốt cuộc họ bầu được năm người tất cả. Bọn Nhật không quá dại như Chanh tưởng. Tên trùm hiến binh Qui Nhơn vọt xe lên ga, gọi hết dân thợ dân thầy đến. Hắn dỗ một lát, dọa một hồi, thề sẽ đánh trốc gốc Việt Minh cộng sản bên trong và quân Anh Mỹ bên ngoài, hẹn sẽ trừng trị thẳng tay nếu xe lửa chạy hụt chuyến, thiếu toa, chậm giờ, chết máy. Không một lời nào nhắc tới độc lập hay chủ quyền. Một số thợ già và viên chức sợ xanh mặt, lảng tránh Ban đại diện. Hầu hết thợ trẻ quyết làm tới. “Đến thằng Tây ngã ngựa mà còn để cho nó đè đầu thì quá nhục, nhục không để đâu cho hết”. Và cuộc lãn công bắt đầu. Ông Hai Rề nổi tiếng trong xóm là người chỉ coi trọng những nghề sắt thép máy móc. Cụ lang già ở gần nhân đến chơi ngày Tết, đã lỡm ông là “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu hỏa xa cao”. Ông không bực mà còn gật gù thích chí. Thế nhưng bây giờ ông ngả sang đi buôn. Chường mặt ra mà buôn, kiếm lời từng xu từng cắc, không phải như những ông thợ khác kiếm vốn cho vợ con mở sạp hàng mà còn phân bua rằng để họ ở không dễ sinh hư. Ông mượn đâu được cái xe đạp cọc cạch đã tháo hết những gì có thể tháo, sắm đôi giỏ tre lớn treo hai bên chỗ đèo hàng, bắt đầu chạy chợ. Ông buôn đồ la-ghim từ vườn tới chợ, từ chợ tới tận các ngõ hẻm và xóm lẻ. Gặp người quen, ông lắc đầu ngán ngẩm: “Xe hư dồn đống, đã làm mửa mật mà lại cứ bị Tây thúc, Nhựt chửi, đồng lương chết đói sống răng cho nổi”. Cai ký ở đề-pô thấy ông khai đau ốm liên miên, biết ông cùng anh em lãn công mà không dám bẩm báo lên trên. Có một điều chỉ riêng ông biết: Ông làm liên lạc cho đồng chí Phan Chanh. --------------------------------------------------------- 1. Tiếng Nhật: vạn tuế! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Chín, 2015, 01:54:42 pm * * * Bảy Tộ mới nghe Cả Chanh nói mấy câu đã vung tay ngắt lời, chòm râu mép đen như vệt mực nhảy lia lịa: - Em thưa vầy anh Cả đừng phiền. Anh Cả giỏi việc nước việc đời, còn công chuyện lặt vặt như anh Cả nói đó thì em đây mới chúa. Đã buôn lậu thì phải nhiều tay chân, mỗi đứa tay chân lại làm đầu nậu một mớ tiểu yêu nữa. Hễ thằng nhỏ gì đó còn ở Qui Nhơn thì nội nhựt bữa nay em tầm ra nó cho anh. Cái phố bằng bàn tay đâu khó như Sài Gòn! Chanh phải dặn đi dặn lại Bảy Tộ không được nói với đám đàn em là có người nhà đang tìm thằng Cam, mà chính Bảy Tộ muốn giao việc gì cho nó. Tối hôm sau anh quay lại nhà Bảy Tộ, chưa dám hi vọng. Bảy Tộ đọc luôn một hồi vanh vách: thằng Cam không được ăn học mà ở đầy tớ cho nhà Lợi Thịnh, bị nghi thông đồng ăn trộm, bỏ trốn vào khoảng tháng sáu năm ngoái, đi ăn xin lang thang, nay đang được một cai khố đỏ là Năm Phi Đao nuôi, ở trọ nhà thím Lụng trong xóm Bàu, mặc áo quần lành và tối tối đi học Truyền bá quốc ngữ. Nó vẫn lẩn lút. - Năm Phi Đao... hắn ta ở đây à? Mày gặp hắn lần nào không? Nhà hắn chỗ nào? - Ơ hơ, anh cả biểu em tầm nã thằng Cam chớ đâu có hỏi phi đao phi tiêu gì! Anh muốn gặp thì em chở xe đạp nó tới đây, hay là em dẫn anh tới xóm Bàu ngay bây giờ. Đi đường tắt êm ru, tới đó em hỏi nhà thím Lụng, kêu nó ra... Chanh ngồi thần mặt. Đôi lông mày nét mác cau lại gần chạm nhau, bộ râu ngày càng rậm bao quanh miệng anh thành hình tròn khẽ mấp máy như anh đang tính nhẩm. Hai anh em không nhớ mặt nhau và cùng giấu mặt cả, thế mới khó. Thằng Cam bị đánh động có thể trốn mất lần nữa. Trốn về nhà quê hay đi tỉnh khác thì đến thổ thần như Bảy Tộ cũng bó tay! Cân nhắc chán rồi Chanh mượn giấy bút, viết thư: Chú Năm! Kể từ ngày chia tay trong căn nhà ấm áp phố Chí Hòa, tôi được ơn trên phò hộ vẫn được mạnh giỏi trong khi bèo giạt mây trôi. Ngày nay tôi được trở về nơi cố hương, xiết bao mừng tủi, ngặt vì đang lâm bịnh nên khó tới viếng thăm chú. Vậy tôi mong chú bớt chút thì giờ cùng đi với chú em tôi là người cầm thơ, tôi cho tôi được hỏi han đôi lời thì lấy làm quý hóa lắm. Người cùng quê với chú, P. ĐAO Bảy Tộ đọc xong, há miệng: - Lạ, hồi xưa anh viết chữ nhỏ và đẹp lắm, văn chương ngang nhà báo. Đây chữ bằng gà mái, giọng như bô lão... - Phải tập đóng đủ các vai chớ, Bảy! Vì lá thư sẽ chuyển qua tay Cam hay thím Lụng, nên Cả Chanh hẹn ba ngày sẽ trỏ lại lấy tin. Anh sẽ gặp Năm Phi Đao trước, qua hắn ta mới dỗ được thằng Cam chịu nhận anh nó. Máy bay Mỹ sau đảo chính dường như thay đổi cách đánh. Không còn Pháp làm tay trong nữa, chúng không xẹt ngang sạt thấp mà kéo từng đoàn vài chục chiếc bay rất cao vào thành phố. Khu doanh trại vây cót của Nhật từ tiệm thuốc tây Phan Quỳnh tới sát nhà thờ đã lộ rõ là miếng mồi nhử bom, đặt đầy xe hư và súng cao xạ bằng tre gỗ, Mỹ hết mắc lừa. Chúng trút bom tựa sấm xuống những nơi có dấu vết đáng ngờ trên núi và chung quanh núi. Những lúc ấy máy bay và cao xạ Nhật nín hơi không lên tiếng. Hai bên chơi trò ú tim tìm bắt, hẩy sang bên rất nhiều xác người Việt bản xứ lọt vào giữa hai thớt cối xay. Chiếc xe đạp chở rau của ông Hai Rề luồn giữa các đợt báo động, mang về cho Cả Chanh mấy tờ báo in đá, tài liệu quay giấy nến, thỉnh thoảng có một lá thư. Các đầu mối lần lượt trả lời bằng nhiều cách. Hai người sợ bom bỏ về nhà quê, biến mất tăm. Một người xem thư xong chỉ nhắn miệng là đợi tụi nó bớt rình mò sẽ hay. Một người chửi vung lên rằng bị đem con bỏ chợ. Ba người nữa hẹn sẽ theo Đảng tới cùng. Riêng anh Hiển gửi tài liệu cho Chanh và muốn gặp anh gấp để báo tin khẩn. Chanh chỉ biết anh Hiển là thượng cấp. Chỗ gặp là một ngôi mả vôi trên gò cát có tường vây quanh. Anh Hiển đến trước, mặc áo quần bà ba đen bạc màu, đội nón lá. Trong ánh sao mờ mờ Chanh chỉ thấy trán anh hói cao, trụi tóc tới gần đỉnh đầu. Giọng anh khàn khàn hơi khó nghe. - Ta vô việc luôn đi.. Đảng bộ Quảng Nam hay tin đồng chí vượt ngục thành công, rất mừng, ở đây đồng chí lộ quá, khó hoạt động. Nên sắp đặt về ngay Quảng Nam, móc nối tại Hội An, nhận chỉ thị xong là về thẳng quê gốc. Tôi đưa đồng chí bản chỉ thị mới của Trung ương về vụ Nhật Pháp bắn nhau, học thuộc xong đốt luôn. Đồng chí không đặt bí danh à? - Dạ có. Là Thanh Trà... Hai Thanh Trà. - Quê gốc ở làng Linh Lâm, huyện Tây Quảng, sát chân núi, phải chưa? - Dạ phải. Anh có tới đó hả? - Các đồng chí Quảng Nam cho biết vậy. Tinh thần bây giờ là ào tới, xốc tới, giành giựt từng ngày với Nhật. Ai sợ bị bắt đi căng 1, sợ đòn tù, cứ tạm để ngoài cuộc cái đã. Đồng chí có trí nhớ khá không? Anh Hiển bắt Chanh lặp lại nhiều lần những tên và địa chỉ ở Hội An cần móc nối. Có hai tên trùng với đầu mối Chanh được giao tại Kon Tum, một tên lạ. - Nhớ nghe, tình hình thay đổi nhiều, có người sáng mai khởi nghĩa mà tối nay còn khai báo. Đề phòng cứ đề phòng, táo bạo cứ táo bạo. Đảng biết đồng chí hồi năm bôn mươi rất gan lì, uy tín cao trong công nhân, quý lắm... Nè, có tiếc nhớ cô Hai Thùy không đó? - Không, không... ông Hai là cơ sở, vậy thôi... Anh Hiển đi rồi, Chanh mới thấy trán mình mát lạnh, vuốt tay ươn ướt. Quái, mình chưa hề gặp đồng chí thượng cấp này, sao ảnh biết về mình cặn kẽ quá vậy? Mà ảnh cố ý nói cho mình khỏi nghi ngờ, không căn vặn gì cả... Chanh lách qua những bụi xương rồng và hàng rào tre gai, rạo rực nghĩ rằng trong khi mình tìm người khác thì Đảng đang tìm mình, rất hiểu mình. ----------------------------------------------------------- 1.Tiếng Pháp. Camp: trại tập trung Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Chín, 2015, 01:57:40 pm * * * Hai người đang ngồi nói khẽ ở góc buồng trong. Vừa thấy Cả Chanh với Bảy Tộ vào, người to lớn vịn vách nhỏm dậy, kêu hơi to: - Anh Cả! Chanh vồ lấy hai bàn tay của Năm Phi Đao giơ tới trước. - Ngồi, ngồi xuống... Què chân mà ráng làm gì... Đi cà nhắc hả? - Thưa, em đi xe kéo. Đại ca đã gởi giấy vời, em gần chết cũng phải bò lết mà tới. Năm Phi Đao nói trịnh trọng chứ không bỡn cợt bằng lối nói của truyện Tàu. Chanh quay sang cái bóng nhỏ hơn, ngập ngừng: - Cam đó hả? Anh đây, Cả Chanh đây mà! Cam đứng im trong góc buồng. Thân hình gầy gò của nó không động đậy. Cặp mắt nó mở thao láo chỉ lộ vẻ sợ hãi. - Em nhìn ra anh chưa? Chín năm rồi, anh để râu coi lạ lắm hả? Hồi xưa cứ bắt anh cõng cả ngày! Cam bật run, vẫn đứng đờ ra. Người nó lạnh rồi nóng từng cơn. Nó đang bị hút và bị đẩy. Nó vừa thương vừa kinh hoảng. Khi Bảy Tộ đem thư đến, ra về ngay, nó chạy vào buồng đọc cho anh Năm nghe. Năm mừng muốn reo, cho nó biết người gửi thư chính là anh cả nó. Anh Cả... con người mà nó nhớ là rất cao lớn đã chơi với nó một lúc nào đó khi nó nhỏ xíu, người anh vắng mặt mà cha hay trách móc và mẹ nhắc tên với tiếng thở dài... con người đã tan biến vào những chuyện kể đời xưa, nay bỗng hiện trở về như người sống thật. Mừng khấp khởi được một lát, nó bắt đầu sợ. Người lớn là người có quyền đánh chửi trẻ con, sai vặt, cấm đoán, chán chê rồi thì túm tay trẻ con đem bán cho nhà khác. Cha nó đã từng lôi nó tới ở giữ ngựa nhà ông phủ Đỉnh, lấy tiền uống rượu. Mỗi lần cực quá nó chạy về, lại bị cha rút roi cày trên mái tranh, rượt đuổi nó quay lại ấp ông phủ. Anh Cả Chanh có làm như vậy không? Có tóm cổ nó giao cho nhà bà Lợi Thịnh không? Ảnh giống cha hay ảnh giống Năm Chò? - Anh nhớ hồi nhỏ em tròn hin như cục bột, anh đi đâu em chạy lon xon theo đó, cái miệng kêu mếu máo đòi cõng. Xốc lên lưng rồi mới don dỏn: Cả ơi, con chi rứa? Cả ơi, bắt con chào chào chỗ tê... Hai ngày qua, Chanh chờ đợi cuộc gặp lại thằng em. Nó sẽ nhào tới sà vào lòng anh, khóc kể thút thít. Hoặc nó ngước cái mặt câng câng, nói nó chẳng kể số gì cha mẹ anh em, đời nó cứ để nó liệu. Hoặc nó lấm lét con mắt, nhận rằng nó lỡ dại trộm cắp, từ nay nó chừa... Anh lường trước mọi đàng, chỉ trừ cái dáng run rẩy đầy ngờ vực đang phơi ra ở chỗ góc buồng, cách anh chỉ hai bước. Nó không chịu mở miệng. Giữa hai anh em đối mặt nhau có cả một hố sâu nghi kỵ. Chanh buồn rầu nhìn Năm Phi Đao: - Nó quên mình rồi Năm à. Thôi để lần lần nó nhớ, con nít mà. Cậu muốn về Quảng Nam không? - Muốn lắm chớ anh. Có điều chân cẳng lôi thôi vầy đây... Thịt em hiền, uống thêm đa-giê-năng vô, năm bảy bữa nữa em đi được. - Ờ, mình đợi đi chung với cậu. Dắt luôn thằng nhỏ về. Phủ Đỉnh, Lợi Thịnh, mẹ cố tổ cái bọn trẻ chẳng tha già chẳng nể! Thằng Cam bỗng buột mồm: - Có phải giữ ngựa nữa không anh? - Giữ chớ. Tao trói đầu thằng cha Phủ Đỉnh, giao cho mày giữ! Anh không ngờ câu đùa ấy làm tan dần tảng nước đá cứng lạnh trong lòng đứa em mới gặp lại. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Chín, 2015, 02:04:17 pm * * * Mười một ngày sau, họ lên đường. Bảy Tộ thu xếp rất khéo. Cậu ta dẫn ba anh em tới gửi gắm cho người bạn làm xe-rơ-phanh 1 ngồi ở cuối đoàn tàu. Tay này xếp cả ba vào một buồng xí trên toa áp chót, đưa tiếp vào một thùng nước chè, một bọc to bánh mì bột gạo, một gói tôm thịt kho mặn, tất cả do vợ Bảy Tộ sắm sửa. - Chịu khó ngồi xà-lim một ngày thôi nghen. Đây về Phe-phô 2 chẳng bao xa. Tôi khóa ngoài đó. Hồi bí quá thì thò đầu ra cửa sổ, hét thiệt to về phía sau. Đập cửa chẳng ai nghe đâu. Tay này mới đổi về hơn một năm, không quen Cả Chanh. Bây giờ, bánh xe đang gõ xình xình cốp cốp trên đường sắt. Thằng Cam gục đầu ngủ trên đùi Chanh. Năm Phi Đao dựa vào vách, gật gà. Cửa sổ kéo lên kín mít. Gió từ bên dưới lùa qua lỗ hố xí quạt vào căn buồng nhỏ xíu. Cả Chanh ngồi nhắm mắt nhưng không ngủ. Những tiếng ồn của chuyến xe lửa thời chiến tuôn vào tai anh, lắng xuống khi xe đang chạy, rầm rĩ táo tác khi tới ga. Tàu ra Bắc không đầy nghẹt những gia đình rách rưới bỏ quê đi kiếm ăn, mà lại chật ních người buôn, nhiều nhất là buôn gạo, khoai khô, sắn khô. Tàu chưa dừng hẳn, bao lớn bị nhỏ đã bay ào qua cửa sổ, tiếp tới những thân người hò hét sấp ngửa nhào theo, đạp bừa trên đám đông đã lèn chật như nêm cối, đầy ghế đầy sàn, mỗi người úp mặt trên một mớ hành lý mà ngủ chập chờn trước khi bị xéo lên đầu và lưng. Đấm đá, chửi bới một chầu để giữ chỗ và giành chỗ, sau một hồi lắc xóc ai nấy đều lọt xuống tới đáy và tạm yên chốc lát cho đến ga sau. Ra khỏi Diêu Trì vài cây số, báo động máy bay. Đầu máy kéo còi dồn dập, đoàn tàu hãm gấp, các toa thúc vào nhau như động đất. Người đổ túa qua tất cả các lỗ hổng, chạy ra đồng, gào thét gọi nhau nấp chung cho khỏi lạc, trẻ con bị xô ngã và đạp gần chết rú lên nghe rợn người. Còi báo yên, lại một cuộc tấn công cướp chỗ, dậy lên tiếng la khóc khi kẻ cắp đã hốt sạch những thứ đáng giá bỏ lại trên toa. Có người nấp xa trở về không kịp, lếch thếch chạy theo sát đuôi toa cuối, há miệng mà không kêu ra tiếng, bị bỏ rơi dần đến khi mất hút. Nhưng trên tàu lại thêm nhiều người lậu vé leo lên các toa dẹt, toa than, sẽ nhảy xuống khi sắp vào ga sau, hoặc cứ ngồi lì khi thấy vắng kiểm soát. Chuyến xe đến ga Tam Quan. Tiếng huyên náo dội đến từ xa, riêng những toa gần cuối lại vắng lặng. Nhiều miệng hô lệnh, gọi, quát tháo bằng tiếng Nhật và Việt. “Xuống hết! Đi chỗ khác!”. Hành khách trong toa của Chanh rậm rịch kéo xuống, rên rỉ chửi đổng. Quân Nhật trưng dụng xe dọc đường, số toa không còn đủ để móc thêm vào tàu. Giày đinh lộp cộp, gươm súng loảng xoảng, ồn dậy lên mấy phút rồi êm. Không ai đập cửa cái buồng xí bấm khóa ngoài có đề chữ phấn “Hư hỏng - Abimé”. Bây giờ Chanh mới hiểu vì sao Bảy Tộ can anh đừng mua vé tốn tiền, nhét cả ba vào cái ngăn lau chùi khá sạch này. Hồi làm ở đề-pô, anh nghe nói nhân viên trên tàu chỏ người lậu rất dễ, không ngờ chỗ giấu lại đơn giản đến thế. Món thuốc phiện lậu của Bảy Tộ hẳn là giấu trong đầu máy, nhà Đoan nào dám tháo cả máy ra mà khám xét! Anh đánh thức Năm và Cam dậy ăn trước khi trời tối hẳn. Xe chạy đủ ồn để họ nói chuyện bên tai nhau. Uống nước hút thuốc xong lại ngủ tiếp, không ngại bị chen lấn hay xua đuổi. Ngả lưng trên hai tờ báo trải nối, Chanh xa dần vào giấc nửa mê nửa tỉnh, tai nghe mà óc cứ chiêm bao. Lối ngủ của người trực buồng bệnh, gác máy điện thoại, cũng là của người thợ khám xe làm ca đêm đang chờ chuyến tàu khuya... Còi rít dài đằng xa. Chanh nhỏm dậy, vơ ngay cái búa cán dài, cây đèn khí, choàng túi dết qua vai, cũng vừa nghe thằng xếp Tây quát giật giọng: “Vi-dít-tơ”. Anh đáp thật to như chưa hề ngủ: “Prê-dăng” 3. Sau tiếng đáp anh mới tỉnh hẳn, bước nhanh ra sân ga. Ngủ quên hay chậm chân là bị Tây bạt tai, cúp lương. Những thanh ray song song láng bóng đang hằn nhiều vệt đỏ vụt đổi sang màu xanh dưới đèn hiệu thông đường. Đốm đèn độc nhỡn rẽ sương mù đến gần. Chiếc đầu máy đen bóng phụt tàn than đỏ trong hơi thở hổn hển, phì phò. Tàu tốc hành không rẽ xuống cảng Qui Nhơn, chuyến tàu chợ này đên đây là ga cuối, sẽ tháo rã và lắp thành đoàn tàu mới. Chanh đi vội tới đầu máy, đặt đèn cho kính đỏ xoay về buồng lái, lách vào mở ống hơi, khóa các xu-páp, tháo các móc, bước ra lắc đèn cho thợ lái đưa đầu máy đi. Hễ trúng Bảy Tộ thì trăm lần như một nó đang ngủ đứng. Anh phải lại gần quát: “Bảy, xách siêu nước đi không?”. Bảy giật mình, quờ tay lên ấn cái cần mở ga. Đầu máy từ từ nhích tới, các thứ xích và ống tuột rơi lích kích. Cái “siêu nước” chạy thẳng về đề-pô, nhường chỗ cho các đầu máy ma-nơ xụt xịt tới lui, kéo còi tàu từng khúc một, lần lượt đẩy các toa hàng niêm phong, toa than, toa bưu điện vào các ngả đường rẽ đợi bốc dỡ, kéo các toa khách rỗng về đề-pô để khám và ráp đoàn tàu bốn giờ sáng. ... Chanh không ngủ được. Anh nhỏm dậy cẩn thận che nón lá đánh diêm hút thuốc. Chẳng phải vì lạ tiếng bánh xe sắt rùng rùng cạch cạch dưới lưng mà anh thức, trái lại, chính vì nó quá quen, quá gợi nhớ sau ngót năm năm chia xa. Những ca đêm lắp tàu trong đề-pô. Những đêm nóng nực, đầy muỗi, nồng khét mùi giẻ dầu đốt xua muỗi. Mỗi phát đập tay vào mặt hay cổ để lại một mảng nhọ đen sẽ dính kéo dài. Bọn đốc công ngủ trong góc kín, từng lúc lỉnh ra rình thợ hút thuốc hay ngủ gật, hò hét, ghi sổ trừ lương. Chanh xách đèn đi gõ búa vào các bánh xe, đầu trục, má phanh, căng tai ra nghe từng tiếng lạ, đánh dấu phấn vào chỗ cần xem kỹ và sửa. Đến mỗi đầu toa lại len vào soát các thứ xích, móc, ống nối nhau. Hễ xảy ra tai nạn là đi tù. Anh tránh được tù nhờ thạo nghề, nhưng suýt chết kẹp giữa hai tấm tăm-pông 4 khi một cậu lái ngớ ngẩn cho dồn toa trước khi nhận hiệu lệnh. Chỉ trong ba năm, từ thợ phụ sửa xe lên thợ chính rồi thợ khám xe, ấy là bước tiến rất nhanh trong nghề. Lão cai Tống nói có chỗ đúng: Chanh sinh ra trong lò rèn của cha, lớn lên vừa học chữ vừa phụ rèn ở quê và ở Qui Nhơn, quả thật anh quen tiếng búa. Nhưng lại có một bí quyết ai cũng biết mà rất ít người làm: anh chịu khó học, cả học nghề lẫn học chữ. Ông Tư Chua dồn sức cho đứa con đầu lòng thoát cảnh dốt chữ của dòng dõi ông, nhưng chỉ đủ tiền nuôi con tới khi đậu cái bằng sơ học yếu lược. Từ ấy trỏ đi, Chanh vừa làm vừa học say mê, học đầy thèm khát, học như người dại gái. Vào tù, sau những tháng đòn đau và biệt giam, khi về chung lao với người có chữ, anh lại học... Anh ngạc nhiên khi thấy các bạn không theo lời khuyên của anh để làm một việc thật dễ: trước khi sửa một chỗ hư hỏng, hãy gõ búa tập nghe tiếng lạ, sửa xong gõ lại để nhớ tiếng lành. Chỉ bấy nhiêu thôi đủ cho anh dần dần nổi tiếng là thạo bắt mạch xe... Tàu đến thị xã Quảng Ngãi, lính Nhật rổn rảng kéo xuống. Người ào lên tức khắc, lèn chật hơn cả những toa khác. Có tiếng nhân viên gọi lấy lệ, mệt mỏi: “Ê, cấm bu hai bên cửa... đừng leo lên nóc toa chớ... Dẹp bớt mấy gánh treo đây...”. Con tàu lại thuốn vào đêm với mấy chục cái hộp lớn nhét đầy người, tắt đèn tối như bưng. Lâu lâu lại nổi lên tiếng gào thất thanh báo có người rớt xuống đất. Tàu không dừng vì những vụ như thế. Chanh thiếp dần. Một hình ảnh gợi lên, chao đảo: nụ cười tươi tỉnh của cô Hai Thùy khi anh chào ra đi. Thùy không hề bịn rịn, chỉ mỉm cười và đi luôn xuống bếp, để anh tần ngần ngó theo... Anh chìm hẳn trong giấc ngủ nặng như chì. ---------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp. Serre-frein: người hãm xe lửa. 2. Faifoo: tên Pháp đặt cho thị xã Hội An. 3. Tiếng Pháp: résent: có mặt. 4. Tiếng Pháp. Tampon: Tấm đệm chống va chạm lắp ở đầu toa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Chín, 2015, 02:19:17 pm 7. Ở người trẻ tuổi mới qua một trận đau ốm, những nét suy sụp hiện ngay trên bộ mặt và dáng vóc, ai gặp cũng nhận ra. Còn ở các cụ cao tuổi, ai thật quen mới hỏi sau một hồi ngờ ngờ: “Vừa rồi cụ bị mệt?”. Những thành phố trẻ đang sức lớn, là đầu mối xe lửa và tàu biển dọc miền Trung, sa vào Chiến tranh thế giới thứ hai suốt năm năm đã tàn tạ đi rất nhanh. Nhà cửa bị bom Mỹ đánh và chủ bỏ mặc không sửa sang sơn quét, lắm chỗ phải bôi bùn lem nhem hay vẽ thêm cây lá che mắt máy bay, bày rõ vẻ rạc rài. Người dân những nơi ấy mất nguồn kiếm ăn, sáng chiều phơi thân đói rách trên đường phố, chìa tay ăn xin mà đôi mắt long lên căm giận. Các quan Tây vào trại tập trung, quan Nhật lo số phận mình khi thua trận, quan Việt tính đường gỡ tội và chuồn êm. Các quán rượu và tiệm nhảy vẫn bật đèn xanh đỏ nhưng bà chủ ngồi ngáp trên ghế thu tiền, ngón tay đặt hờ trên nút tắt đèn, lắc đầu than ế. Ngược lại, những thị xã cổ kính đã ngừng phát triển, từ lâu và ít bị phá phách lại giữ được bộ mặt trước chiến tranh hay gần gần như thế. Hội An già rồi, còn nhắc những kỷ niệm của thời xưa “nhất Kinh kỳ, nhì phố Hội”, nhưng nay cửa sông đã bồi cạn, đường sắt chẳng thèm ghé xuống, người mua bán lớn khó tìm thấy ở đây những thứ có thể mua và bán, cho đến những chiếc ô tô chạy than cũng ngại mắc kẹt giữa những đường phố cũ kỹ không đủ rộng cho hai chiếc xe bò tránh nhau. Tỉnh lỵ Quảng Nam vẫn chứa tòa Sứ ở ngay thị xã và dinh Tổng đốc ở tít gần Vĩnh Điện, nhưng tựa hồ bị cả Nhật lẫn Mỹ bỏ quên. Chỉ có Việt Minh không bỏ quên. Hội An cao tuổi đang trẻ lại nhờ những chuyện ly kỳ về Việt Minh với cờ đỏ sao vàng và truyền đơn “đánh Tây đuổi Nhựt” Chuyện Việt Minh theo đường bộ và sông Thu Bồn loang xa về các huyện xã, gây náo động trong lòng người đang đòi hỏi đổi đời. Cả Chanh nhận ra nét riêng ấy của Hội An trong hai ngày cuốc bộ đi bắt liên lạc, lang thang tìm đường phố và số nhà. Anh qua Hội An chỉ một lần hồi mười hai tuổi, theo cha xuôi đò dọc xuống Phố trước khi vào Qui Nhơn. Tới chuyến thăm nhà bốn năm sau, anh ngược về quê theo đường bộ, khi ra đi lại xuôi theo sông Thu Bồn, lên xe lửa ở ga Kỳ Lam chứ không ghé tỉnh lỵ, vào thẳng nơi anh sẽ làm xe lửa và làm cách mạng. Những hình ảnh mới của Hội An sau đảo chính in hằn trên kỷ niệm chập chờn hư ảo của tuổi nhỏ, tô những nét mực xơ xác nhưng rất bạo tay trên giấy hoa tiên từ năm xưa để lại. Chiều tối ngày thứ hai, anh đi dọc bờ sông tìm chiếc thuyền có phơi cái áo nhuộm chàm với miếng vá trắng ở cùi tay như đã hẹn trước. Qua khỏi chợ vài trăm thước anh mới thấy nó. Anh nhìn quanh xem bị bám đuôi hay không, rón rén bước tới mũi thuyền, dòm vào mui: - Cho tôi hỏi chút... Ghe ni có về phường Rạnh hay Trung Phước không, tôi chở mấy gánh mắm. - Ờ, ông xuống đây rồi ta tính, được giá thì đi. Anh chui vào thuyền. Người đàn ông đội nón ngồi sau lái bước lên mui thuyền, đi rào rạo ra trước mũi, lay nhổ cây sào và đẩy thuyền ra. Ông già ngồi trong khoang đang vá lưới quay lại, cười rất rộng miệng: - Mi quên tao hả Chanh? - Ối trời, anh... anh Quý! Nó chôn anh ở Côn Lôn... mấy đồng chí nói vậy! - Thời thế ni, chôn rồi tao cũng lật mả tao về! Chanh há miệng định nói, nhưng tắc họng không thốt ra lời. Anh quệt nhanh những giọt nóng vừa tràn khỏi mắt, rất xấu hổ trước đồng chí Xứ uỷ Trung Kỳ. Anh Bảy Quý bùi ngùi nói khẽ: - Anh em nghe lầm thôi. Tay Quý kia là đảng viên Nghệ An, chưa biết chữ mà gang thép lắm, bị tụi cai đội đánh bể đầu khi đấu tranh chống cơm trộn trấu. Tội nghiệp, hấp hối còn dặn bạn tù nhớ lột hết áo quần cho người bệnh, đừng chôn theo mà uổng. Tao nhớ ngày tử với mổ mả, chưa báo cho gia đình được, xa quá... Nè, mi trẻ mà để râu xồm coi khác tướng ghê gớm. Tao lảng vảng dọc đường Chùa Cầu, thấy mi đi qua khi trưa mà ngờ ngợ hoài. - Còn anh, ngó như ông Lữ Vọng đi câu! Chanh dồn dập hỏi tin các đồng chí quen ở khám Chí Hòa. Chanh bị giải về Kon Tum trước, gần nửa năm sau anh Quý mới ra Côn Lôn. Anh cười, nói cà rà, vuốt chòm râu đen và thưa như cố kéo cho nó mọc nhanh hơn, từng lúc bóp trán nghĩ: - Tao qua nhiều lao quá, bị tra hoài, bây giờ nhớ trật bậy hết, chuyện nọ xọ chuyện kia. Hay là chừa râu giả làm ông già, cái đầu tưởng thiệt nó cũng già đi luôn! Thuyền đã sang gần bờ bên kia, chỗ khúc sông vắng. Anh chân sào cắm thuyền cách bờ mươi thước khom lưng chui vào khoang. Anh Quý dặng hắng, đưa hai tay vuốt mạnh mái tóc đốm bạc như xua những tiếng thì thầm nào đó bên tai, nói hơi vội: - Chà, thôi, chuyện cũ để sau sau đã... Xin giới thiệu đây là đồng chí Tô Xáng, tỉnh ủy viên thường vụ phụ trách Ủy ban khởi nghĩa tỉnh mình. Đồng chí Chanh về ngoài ni là phải, dễ hoạt động hơn, cơ sở công nhân cứ để anh Hiển lo tiếp. Tỉnh ủy định giao đồng chí Chanh trở về huyện Tây Quảng, tổ chức du kích quân và xây dựng căn cứ địa rất gấp, theo kiểu các đồng chí ở căng Ba Tơ. Đồng chí thấy răng? Chanh ngồi ngây ra, choáng váng. Tất cả những gì anh biết về du kích quân hay Giải phóng quân đều là nghe kể lại trong nhà tù hoặc đồn đại trong dân lẫn lộn sự thật và mơ ước. Cả chuyện Ba Tơ khởi nghĩa cũng lung linh như chuyện đời xưa mặc dù đang diễn ra ở tỉnh bên. Anh chợt thấy anh Bảy Quý đang nhìn mình, cái nhìn nhấn mạnh và hơi xoi mói nữa, trong khi mấy ngón tay vẫn vân vê chòm râu thưa. “Cái chính là cậu có đủ tinh thần hay không...”, mắt anh Quý rõ ràng nói câu ấy. Chanh đáp ngay: - Thưa thượng cấp, tôi được Đảng bày dạy nhiều mà chưa đền đáp gì. Tôi xin sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc, sẵn sàng... khởi nghĩa đánh Tây đuổi Nhựt. Bị cái là tôi làm thợ rồi ở tù, chưa rờ tới súng đạn bao giờ, sợ hư việc của cách mạng! Tô Xáng bật cười khà khà: - Tụi mình cũng chưa hề cầm gươm vác súng bao giờ hết. Mình con nhà chài lưới mà... Công tác vậy đó, đồng chí nhận không? - Dạ, xin nhận. - Rồi. Có cơ sở hay cảm tình nào trong binh lính không? Là nói lính chiến, biết đánh chác, chớ không phải khố xanh gác tù hay lính lệ hầu quan.... Chanh nói như reo: - Ôi chao, quên chưa báo cáo! Anh Quý nhớ Năm Phi Đao không? - Ờ, tay anh chị làm trùm xan ở Chí Hòa hả? Hắn đâu rồi hè? - Lính chiến chánh hiệu đó anh. Hồi Tây đánh với Xiêm, hắn có dự vài trận. Hắn bạt tai cấp trên phải vô Chí Hòa, ra sau anh, lại đi tiếp khố đỏ đóng lon cai. Rượu chè hơi nhiều mà rất ghét Tây. Phục cộng sản lắm đó, phục từ hồi ở tù kia. - Nói cho đúng là hắn phục đồng chí Chanh! Bị hắn ăn hiếp mà không thù oán, hắn bệnh gần chết lại lo nâng giấc, hắn khỏe còn dạy chữ cho nữa... Hồi đó hắn không dám lại chỗ tôi, tin chắc là tôi ho lao sắp chết. Hễ tôi tới gần là hắn lảng xa! Anh Xáng bằng lòng cho dùng Năm Phi Đao làm huấn luyện viên với điều kiện Chanh phải kèm riết bên cạnh. Tới khoản vũ khí. Phải rèn thật nhiều giáo mác, đại đao, sắm cả ná tên trên miền núi nữa. Chanh lại ngớ ra khi nghe Việt Minh đang quyên tiền mua súng. - Mua đâu ra thứ đó, anh? - Có nguồn rồi, chỉ thiếu tiền thôi. Tụi Nhựt lấy được súng Tây nhiều, có đứa lén đem bán... Chanh đã ham, vồ vập hỏi mãi chuyện súng đạn đến khi anh Quý đột ngột ngắt lời: - Thôi nghe, chưa chi đã tính đùng đoàng! Khuya rồi, ông dân chài có nồi cháo cá thơm phức đằng sau tê, ăn xong ta ngủ đây luôn. Mà nè, Chanh, mi về Quảng Nam phải như tao, tập nói trở lại giọng Quảng đi cho nông dân họ dễ hiểu. Nãy chừ tao mần ông già Cửa Đợi. Giống không? Anh Xáng bưng nồi cháo ra mũi thuyền. Mảnh trăng hạ tuần đã lên cao, tỏa ánh xanh mát rượi giữa trời nước. Xóm làng tắt hết đèn, lâu lâu mới nghe một tiếng chó sủa bâng quơ. Nơi cửa sông này vắng lặng khác thường, phố xá bên kia sông cũng bình yên đến mức khó hiểu. Chanh thong thả húp cháo cá, từng sợi gân thớ thịt trên người anh buông chùng ra, dãn ra sau rất nhiều ngày tháng bị kéo căng như dây đàn. Anh Quý đủng đỉnh: - Nha Trang, Qui Nhơn, nhứt là Đà Nắng, bom đạn rầm rầm, báo động không ngớt tiếng còi hú, mình về đây thấy lạ lắm… Chanh quay lại: - Anh Bảy vô Qui Nhơn hồi nào? - Hà hà, buổi chiều mi cho ông Hai Rề tới móc nối, ngay tối đó lão Hiển hỏi tao có biết Phan Chanh là ai không, đưa tao coi nét chữ, câu ám hiệu. Tao thấy trúng hết, mới bàn lão Hiển gặp mi báo tin Quảng Nam kêu mi ra. Thằng khôn thiệt, ở nhà Hai Rề mà giữ kín. Tao ghé Qui Nhơn đúng một ngày, không chờ mi được phải ra đây trước, bu đằng sau cái xe ga-dô, hít hơi than gần chết! Lần sau phải ký bí danh, nghe chưa? Chanh suýt kêu: đồng chí xứ ủy gần gấp đôi tuổi anh đã xông xáo quá nhiều so với anh! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Chín, 2015, 02:27:46 pm Trong khi một mình đi bắt liên lạc, Cả Chanh giao cho Năm Chò và Sáu Cam hai việc: học thuộc tên các đường phố và nghe ngóng xem dân tình ra sao. Sau này hoạt động hợp pháp hay bí mật đều phải hiểu lòng người và thung thổ.
Nơi ở của ba người là một căn nhà tranh nằm lọt trong xóm ngoại ô, gần cây số Một từ Hội An lên Vĩnh Điện, tức là “từ tòa lên tỉnh” theo cách nói của anh chủ nhà, bạn cũ của Năm Chò. Anh này có đi lính mấy năm, nay về đánh xe ngựa chạy con thoi trên quãng đường mà bất cứ ai có việc dây Hình với các quan đầu tỉnh, đều phải ngược xuôi đến ốm xác. Khác với ông Hai Rề kỹ tính, anh xe ngựa cứ toang toang: - Tôi chẳng cần biết ai là ai, hễ Năm Phi Đao dẫn tới thì cứ chơi hết mình. Bà con đây là dân giang hồ tứ chiếng, đứa nào khám xét nạt nộ thì họ vác đòn gánh họ rượt. Đại ca đây thứ Cả, tên là Trà, mới tìm được thằng em lưu lạc, đang chờ tàu trở vô Qui Nhơn. Vậy được chưa? Còn cha Năm đây trốn lính... cứ nói là trốn lính, chòm xóm họ mới thương! Thằng này muốn phản, hay con vợ ham tiền muốn chỉ điểm, cũng phải sợ thứ dao bay của Năm trả thù, ha ha ha! Anh ta rút dưới gầm giường ra một chai nước trắng, ném lên bàn bó mực khô, hét vợ quạt lò than hồng, nhất định bắt “đại ca” ngồi vào làm cái lễ tương kiến. Cả Chanh chỉ nhấp một hớp rồi xin kiếu, đi ngay. Chén chú chén anh một lát, nghe Năm bàn chuyện đi coi phố phường, anh bạn bốc hứng: - Phố Hội đây bằng cái lỗ mũi, có gì mà coi. Tao đưa tụi bay đi Tu-ran, mới rồi đổi tên ra Đà Nẵng đó. Đi xe ngựa thôi, tới nơi còn sẵn xe đi ngắm cảnh nữa chớ. Đi ta hè! Năm quên ngay hai việc của “đại ca” giao, còn Cam thích mê. Con ngựa già được đóng vào xe, kéo họ ra đường nhựa, chẳng đợi giật cương hay quất roi cứ quen nếp chạy lóc cóc lên Vĩnh Điện. Anh bạn chếnh choáng kể vô số chuyện về Tu-ran, từng lúc thò cán roi xuống cho các nan hoa bánh xe gỗ róc róc một hồi thay chuông giẹp đường, lại xua tay quát: - Bữa nay chở người nhà, gấp, không chở khách... Đợi xe khác nghen! Đừng chưởi nghen! Theo anh thì người dân ở đất Tu-ran nhượng địa chống chọi với Tây, Nhật, quân Nam Triều, riết rồi đâm ra bạo miệng bạo tay hơn dân chỗ khác. Cộng sản cũng dậy nhiều hơn, treo cờ với rải truyền đơn hết vụ này tới cuộc khác. Nghe nói họ có súng mà sao chưa thấy đánh trận nào. Chẳng như ngoài Lạng Sơn, Cao Bằng, họ lập cái chiến đấu khu, chường mặt ra đánh Tây Nhật chết dồn đống. Chắc tại dân đàng Thổ ngoài Bắc tánh hung hơn dân trong mình, nhà nào cũng có súng hỏa mai, họ rèn súng tốt hơn súng đúc của Tây nữa, người mình dở chỗ đó. Qua khỏi Vĩnh Điện một quãng, tiếng bom rền rền từ Đà Nắng dội vào làm anh bạn hơi tỉnh rượu, bớt hăng. Anh bắt đầu lẩm bẩm rằng người núp hầm chẳng sợ gì bom, chỉ có con ngựa phơi thân ra đó không chết cũng què. Vì thế, khi trạm gác của Nhật ở đầu cầu Miếu Bông chặn người và xe không cho vào thành phố, anh gần như vui mừng xuống xe dắt ngựa quay đầu lại, quất mạnh roi cho nó mở nước kiệu trở về cái phố Hội chỉ bằng lỗ mũi: - Tổ cha thằng Nhựt! Nói cho mình độc lập mà cứ hằm hằm chặt đầu mổ bụng người ta. Tao không vướng vợ dại con thơ, tao theo Việt Minh uýnh bể mấy cái đầu trọc cho sướng tay! Để đền bù, anh tính đưa Năm và Cam đi một vòng thị xã. Năm gạt ngay: - Ngồi xe thì thấy gì đâu. Mày thả tụi tao xuống đầu đường rồi đi kiếm mối làm ăn, tối về ta nhậu tiếp. Năm Phi Đao vốn có tửu lượng cao, lại nể Cả Chanh giảm rượu nhiều, ban nãy chỉ uống một phần ba chai chưa đủ nóng mặt. Anh dặn Cam: - Ai hỏi, cứ nói như hồi nãy ta bàn, tức là tìm thằng em lạc dẫn về Qui Nhơn... Mày coi kỹ tên đường phố, đọc to lên cho tao thuộc với. - Em mới biết đánh vần, bảng lại đề chữ Tây, đọc không ra. Bữa trước anh kể là có học chữ với anh Cả trong tù mà! - Chữ thầy trả thầy hết. Nói cho ngay, chữ nó chết chìm trong hũ trong chai, không kịp vớt lên. Các tên Tây đặt cho đường phố chưa thay đổi sau đảo chính. Cam đánh vần chữ được chữ mất thành những tên quái gở. Thỉnh thoảng Năm đón hỏi người qua lại, cũng nghe và nhớ trật bậy. Rốt cuộc Năm hẹn với Cam cùng nhớ những tên tự nghĩ ra: chỗ bến cá, đường sân banh, bãi trước tòa Sứ. Sau một buổi đi rã chân, họ ăn trưa bằng khoai luộc với canh hến của gánh hàng rong cạnh bờ sông, uống nước chè loãng cũng của bà hàng, tìm gốc cây vắng ngồi nghỉ. Ôn lại những nơi đã qua. Năm nhận thấy thằng Cam nhớ giỏi hơn mình rất nhiều. - Vậy mà tao cứ tưởng mày khờ. Không khờ mà chịu đói! - Tại em sợ bị bắt. Em nghĩ chắc nhà bà Lợi Thịnh đi báo cảnh sát rồi, ló ra là họ chụp, đem về đánh chết tươi luôn. Với lại... em không quen ăn mày... xấu hổ hết sức... - Xấu hổ thì tập ăn cắp, móc túi người ta mà nhét vô bao tử mình! Nhát gan hả? Cam cười, không đáp. Có lẽ vì sợ một phần, nhưng phần chính là nó cảm thấy cái gì đó cứ níu tay nó lại khi nó đi sát một cái ví vô ý nhét hờ trong túi sau, một tờ giấy bạc rơi bên hông của chị bán cá đang bận giành giật với khách, cả khi nó gặp một đứa nhỏ hơn đang gặm ổ bánh mỳ thịt trên bãi biển vắng. “Cái gì đó” là cái gì, nó không hiểu nổi. - Từ nhỏ tới lớn, ai cũng dạy tao phải sống lương thiện. Chung cục lại, tao thấy chẳng có đứa chó nào sạch sẽ hết. Như ông già tao đó, hiền như hòn đất, lên xứ núi Linh Lâm vỡ đất hoang kiếm ăn, rảnh việc thì lên mọi 1 cõng quế, chống bè chèo ghe thuê cho mấy cha buôn ác chú 2, vậy mà cũng bị hại tới chết... Chuyện dài lắm mày. Tao rình giết thằng Tây chủ đồn điền miết mà không được. Nó ghiền thuốc phiện ốm nhom như con mắm, vậy chớ mỗi lần về coi đồn điền là cưỡi ngựa, đeo súng săn hai nòng, có lão quản lý với thằng con cũng cưỡi ngựa theo... Lưỡi dao hồng tâm của tao là dành cho thằng La-phạt đó! Giết thằng con nó chưa ăn nhằm gì đâu! Năm Chò kể lộn xộn như chỉ nói với mình. Cam không dám hỏi thêm. Nó liếc nhìn vóc người vạm vỡ và đen cháy của anh Năm, cảm thấy con người rất tốt bụng với nó chứa bên trong cả một mớ điều lạ mà chắc suốt đời nó không sao hiểu hết. Đợi lâu không nghe Năm tiếp, nó ngập ngừng: - Chị Tư là vợ anh hả anh Năm? - Tư nào? - Chị Tư Toản nuôi anh ở Qui Nhơn... - Ối, Tư đó hả? Thằng lính ưa nhậu gặp con bán rượu lậu, nhơn ngãi chơi bời chớ vợ con gì mày! Coi trẻ vậy mà hai đời chồng rồi đó. Chồng thứ nhứt chết trận ở Lạng Sơn. Nó lấy lẽ một lão quản, theo lão về Qui Nhơn, sau bị lão bỏ rớt lại khi đổi lên Pờ-lây-cu... Mày coi tướng nó thương tao thiệt hả? - Thiệt anh à. Chỉ lo cho anh từng chút, khóc lên khóc xuống hoài! - Gặp tao nó thương thiệt, tao đi rồi nó đụng đứa khác cũng thương thiệt, sức nó còn thương được cả chục đàn ông... Mà thôi, nói vậy nghe bạc bẽo với tình nương quá sá. Không chừng về sau gặp lại, tao lấy con Toản làm vợ luôn cho gọn. Mặt nó như bánh tráng rắc mè đen, còn mặt tao như tảng than đá chấm vôi trắng xứng đôi vừa lứa lắm! Cam cười dài đến sặc và ho. Anh Năm cứ tỉnh khô, đứng dậy: - Ừ, cười cho mau lớn, khóc hoài thì sống không nổi đâu em. Cuộc đời đểu giả lắm, coi đời như trò cười là hay nhứt. - Anh khác xa anh Cả, sao lại theo anh cả làm cộng sản? - Tao theo cộng sản hồi nào? - Bây giờ đây chớ hồi nào. Năm nói rất trang nghiêm: - Tao phục anh cả là người tốt bụng, tài giỏi, tôn ảnh làm đại ca, ảnh làm gì tao làm nấy. Anh cộng sản thì tao cũng cộng sản luôn, vậy thôi.... Nghỉ lâu rồi, ta đi tiếp hè. Thằng này sáng dạ lắm, lớn lên chắc cũng khôn như anh Cả mày. Những ngày sau đó, Cả Chanh vẫn bận việc của mình, vắng liên miên mà chẳng nói đi đâu. Ăn nhờ bạn mãi không tiện, Năm Chò tính kiếm việc gì làm tạm, được đồng nào hay đồng ấy. Ở bến ghe phía trên chợ Hội An xuất hiện hai anh em mới tới. Anh làm phu khuân vác, em bán bánh bột lọc. Mấy tay đầu nậu bến ghe xáp tới định đòi cái lễ ra mắt, ngắm bộ ngực xăm chàm những bùa chú rất lạ và vóc người đô vật của Năm một lát rồi chuyển sang mời chén trà điếu thuốc làm quen. Lũ trẻ bán hàng rong mới bắt đầu gây sự với thằng em gầy gò, đã thấy ông anh đứng sau lưng, cười cười: - Ê, sắp nhỏ, thằng em qua mới lượm về đó, chơi với nhau cho đáng mặt giang hồ nghĩa hiệp nghe chưa? - Dạ... Những lúc vắng khách rảnh việc, Năm lại kể từng mẩu đứt đoạn về cái “cuộc đời chó đểu” mà anh nếm trải từ nhỏ. Cam chắp ghép lại mới hiểu nổi phần nào. Năm Chò thua Cả Chanh hai tuổi, vị chi năm nay hai mươi bốn tuổi ta. Sinh ra cầm tinh con chó, chắc vì vậy mà hậu vận chẳng ra gì. Cha mẹ đem nhau lên tận Linh Lâm vỡ đất và làm đủ nghề, cũng mát mặt hơn hồi cày thuê cuốc mướn ở quê gốc Điện Bàn. Đẻ năm con chỉ nuôi được chị Ba Liễu với Năm Chò. Thằng Tây kiểm lâm La-phác-sơ, mà cả làng đều gọi là La-phạt vì hắn quanh năm la với phạt khi kiểm soát thuyền bè trên sông Linh, được Nhà nước khoanh cho một vùng đất rất lớn ven bờ sông Linh để lập đồn điền. Đất nhà Năm Chò nằm lọt vào giữa vùng ấy. Mua rẻ không được, đuổi không đi, La-phạt cho tay chân làm cái việc vô cùng dễ là chôn một gói bã rượu vào đất nà của người dân cứng đầu, gọi Thương chánh bắt bỏ tù. Bà mẹ buồn và cực nhọc quá ốm chết. Chị Ba sợ khiếp, xuôi nhờ đò dọc về lại Điện Bàn sống dựa họ hàng. La-phạt chiếm đất, lão lý trưởng dỡ lấy cái nhà làm chuồng trâu. Năm Chò hồi ấy mới mười lăm tuổi mà đã to khỏe cày cuốc hay chèo chống đều không thua người lớn. Tức ứa máu mà chẳng cãi gì được, Năm đeo tay nải vào xóm chợ Linh Lâm, chỉ ở nhờ và đi làm thuê chứ nhất định không làm đày tớ, cũng không bỏ chạy xa như chị Ba. Thằng La-phạt ở tận Tu-ran, lâu lâu mới về một lần, Năm rình mãi mà chưa có dịp giết nó. Không đủ kiên nhẫn để chờ lâu hơn, nhân một hôm thằng Pi-e là con trai La-phạt về đồn điền nghỉ hè đang ngồi câu chỗ vắng. Năm nện cho nó một hòn đá vào đầu, xô nó xuống sông Linh rồi chạy thẳng. Năm chạy thoát nhờ may mắn: dân làm nà ven sông vớt được thằng bé mười ba tuổi, báo cho cha nó đem về cứu sống. Nhưng thằng Pi-e bị đánh từ phía sau, ngất đi ngay, không biết ai cố giết nó. La-phạt nổi điên, tát lý trưởng đổ máu mũi, dẫn tay chân ùa vào làng khám xét, bắt luôn mười sáu người đáng ngờ đem về tự tay tra tấn, tuy hắn chỉ là một chủ đất bình thường. Hồi đầu chẳng ai nghi Năm Chò, đứa trẻ mồ côi lầm lì thường theo người lớn cõng quế trên núi cao hay xuôi bè xuống tận biển, đi vắng hàng tháng. Người thù của La-phạt thì vô số. Đến khi bọn hào lý biết đích xác là Năm Chò đã trốn hẳn, thì thủ phạm đang ở tận Cần Thơ, phụ việc cho một ông thợ mộc già đóng bàn ghế trong xóm. Năm không làm gì được lâu. Năm nghĩ: mình giết con Tây, lúc này Tây đang tư giấy và đánh dây thép khắp nơi, trước sau cũng tìm ra mình. Bắt được, chắc nó xẻo từng miếng thịt. Chí thú làm ăn rồi tới đâu? Tứ cố vô thân, ai cần gì mình? Kiếm tiền ăn chơi cho đã thèm rồi chết, bấy nhiêu thôi. Năm nhập vào nhóm móc túi ở Cần Thơ, được thằng trùm khá công bằng dạy nghề ăn cắp. Thằng trùm bị bắt, Năm theo đoàn xiếc rong phụ khiêng đồ đạc và tập ném phi đao. Gánh xiếc rã, Năm theo gánh cải lương đang diễn gần bên, kéo phông màn và học nhẩm những câu hào hùng cũng như chửi đời. Khi Tây mộ lính gấp rút để sửa soạn đánh nhau với Nhật và Thái Lan, Năm đi khố đỏ luôn, phó mặc cuộc đời cho rượu, gái, súng đạn. Tây đổ rồi Năm mới trở về Quảng Nam định tìm thằng La-phạt, cho nó lãnh ngọn dao hồng tâm. Nhưng anh bạn xe ngựa cả quyết rằng tất cả bọn Tây ở Đà Nẵng đã bị Nhật dồn vào Nha Trang, cho nên anh không cố lùng thằng thù số một ấy nữa. Hy vọng rằng trong đêm đảo chính nó đã bị gươm Nhật sả làm đôi. ---------------------------------------------------------- 1. Từ khinh miệt thời xưa, chỉ các dân tộc Thượng ở miền Nam. 2. Khách trú, Hoa Kiều Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Chín, 2015, 02:35:12 pm * * * Bom Mỹ nổ tới tấp ở Đà Nẵng, dọc quốc lộ Một và đường sắt. Tiếng rền từ xa vẳng đến Hội An không đủ rung các mái ngói âm dương đen kịt điểm rêu thưa lấm tấm xanh. Những phố rất hẹp vắng xe nhà binh và giày đinh quân Nhật từng lúc đưa rõ xa một câu rao canh hến hay đậu hũ, đôi chỗ dội lên tiếng lách cách hối hả của những khung cửi gỗ đạp chân dệt vải xi-ta nội hóa. Bốn con chó và khỉ gác bốn góc Chùa Cầu vẫn ngồi xổm trong giấc ngủ thiếp kéo dài mấy trăm năm, sàn cầu lát gỗ thưa nẩy lộp cộp dưới chân người hay bánh xe đạp không đủ sức đánh thức chúng. Mé dưới chùa, bến sông ken dày những thuyền lớn nhỏ từ các nơi bị đánh phá kéo về trú ở nơi “phi chiến địa” này, đông hơn cả hồi Nhật Mỹ chưa đánh nhau. Nhiều chủ thuyền lo xa còn đậu tản rộng ra tránh máy bay, chợ cũng họp trải rất dài trên con đường nhựa ven sông. Chiếc thuyền rớ của gia đình anh Tô Xáng, biến thành trạm giao thông của tỉnh ủy và được gọi là ghe dét-tê, có vẻ ngại bom hơn cả. Nó đậu tách riêng bên kia sông Cửa Đại dọc hòn đảo dài Cẩm Phò, cắm sào im lìm gần một quãng bờ vắng nào đó từ làng Kim Bồng có lũy tre mọc sát mé nước tới làng An Hội với những rừng dương liễu rậm rạp. Cả Chanh, biến thành anh chân sào, mặc chiếc áo nhuộm chàm với miếng vá trắng ở cùi tay làm tín hiệu, mỗi ngày ba lần dời thuyền theo đúng quy định an toàn. Anh Bảy Quí giữ Chanh ở lại Hội An một tuần nữa, bắt phải đọc kỹ cả một bó những số báo Cờ Giải Phóng và báo cáo về phong trào trong tỉnh. Riêng các nghị quyết chỉ thị mới của Đảng và bản Chương trình Việt Minh thì dứt khoát phải học thuộc lòng. Chanh dựng ván đóng kín hai cửa khoang, thắp ngọn đèn dầu dừa trong cái chén mẻ hay chống hé một tấm liếp che cửa sổ dưới mui thuyền lấy ánh sáng, ngả lưng trên sạp ván trơn bóng và nứt nhiều chỗ, thả mình rơi chìm vào những dòng chữ viết tay hoặc in trầy trật bằng bảng đá, giấy nến, xu xoa. Những lời đồng chí nói với nhau, những tia nắng xiên mây đen chiếu sáng bước đường đi tới của cách mạng và của riêng anh, những nét màu rạng rỡ của ngày nắm chính quyền mà anh chỉ thấy bằng tưởng tượng trong những đêm trằn trọc trên nền xi-măng lạnh của nhà pha. Bó giấy to sù ấy được giấu trong một ống sắt khá nặng, hình như từ ống nước thành phố cưa ra, có nắp vặn rất kín và nhiều mấu sắt hàn xì trên thân. Ban đêm Chanh để nó trên thuyền, lục soạn tha hồ, đến mờ sáng mới dồn các thứ tối mật vào, lặn xuống móc nó vào hai chiếc đinh khuy to lắp dưới đáy thuyền, chỉ để lại trong khoang những tài liệu ít quan trọng. Anh Bảy Quý ghé về ngủ với Chanh hai đêm, giảng giải thêm những gì khó hiểu. Chanh hỏi nhiều, hỏi dồn, hỏi mãi, cảm thấy mình đang lật một cuốn từ điển bách khoa chỉ được mượn rất ít giờ. Anh Quý hành hạ chòm râu cằm lưa thưa trong khi trả lời, hết vuốt lại xoắn. Có lúc anh cười xòa: - Mi làm như tao là Thường vụ Trung ương hay sao chớ! Đợi tao thỉnh thị thượng cấp rồi mới dám mở miệng. Ý kiến cá nhơn tao vầy đây... Anh nói ý kiến riêng, và Chanh ngẩn người: sao mình không nghĩ ra nhỉ? Đôi khi Chanh mải ngắm “ông già Cửa Đợi” đến quên cả câu chuyện đang dở dang. Mười lăm tuổi Đảng cộng thêm bốn năm mò mẫm trước khi Đảng chính thức ra đời. Anh bị đuổi học sau khi để tang chí sĩ Phan Châu Trinh và ký giấy thỉnh nguyện đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, lang thang kiếm sống bằng nhiều nghề, vô sản hóa thành phu khuân vác ở ga Tua Chàm gần Phan Rang, ra Hà Nội làm thợ sắp chữ cho các báo tiếng Việt và tiếng Pháp của Đảng hồi Mặt trận Dân chủ, vào tù thì biến trại giam thành trường học, thoát ra lại như con cá kình trở về biển... biết bao giờ Chanh mới học được một phần nhỏ những gì tốt đẹp ở anh xứ ủy cao tuổi này? - Buồn ngủ hả Chanh? Thức đêm vừa vừa thôi, tao biết tánh mi hay sa đà lắm. Giữ sức mà về Tây Quảng đánh du kích nghe chưa. Tỉnh mình lập bốn chiên khu, chỗ mi nhiều triển vọng nhứt đó. Anh nhắc Chanh giữ sức, sau đó lại mang tơi lá, đội nón rách, một mình chèo xuồng ra đi lúc một giờ sáng dưới mưa dầm. Chị vợ anh Tô Xáng bán quà rong trên mặt sông, mỗi ngày bơi xuồng tới ghe dét-tê hai lần, đem cho Chanh niêu cơm ghế khoai khô, trã cá kho hâm lại, xoong canh hến nấu rau lang, những món chắc bụng của dân nghèo vùng biển, nhưng dọn kèm theo các thứ quà riêng của chị, bày thành mâm cỗ không sao ăn hết được. Chị gầy và ngăm ngăm đen, mặc bà ba đen vá, không biết chữ và rất ít nói, chỉ cười tít mắt khi Chanh muốn đùn trả những thức ăn tốn tiền, quạt mạnh mái dầm đi xa mới cất tiếng rao lanh lảnh: “Ai cháo cua chả mực gỏi tôm nhộng xào không?”. Khi cần báo động cho các cơ sở giao thông trên bến dưới thuyền thì câu rao hàng lại đảo ngược cùng với ngọn đèn đổi chỗ đặt ra sau lái: “Ai nhộng xào gỏi tôm, chả mực cháo cua không?”. Một hôm Chanh nhận mẩu giấy anh Xáng báo tin đồng chí Sáu Lễ tỉnh ủy viên sẽ đến nói về phong trào thành, thị. Chị Xáng cho thuyền áp mạn lúc sẩm tối - giờ đi lại trên sông dễ dàng nhất - chuồi qua cửa sổ cái mẹt đầy của ngon phần Chanh, buông gọn: - Đồng chí Lễ tới đó, chú mở cửa sau. Chừng mười giờ tôi tới đón. Chiếc thuyền chòng chành báo có người bước lên. Chanh mở cửa khoang phía lái, né cho một bóng người lòa xòa khom lưng bước vào dưới mui thấp. Mùi nước hoa xộc mạnh vào mũi. Dưới ánh đèn dầu dừa khêu to ngọn, anh trơ trơ nhìn đồng chí Lễ: một bà béo trắng tô đầy phấn sáp, mặc áo dài lụa mỡ gà trên quần xa-tanh đen, tóc bọc lưới, đeo hoa tai nạm kim cương, dây chuyền vàng quanh cổ, xuyến vàng và nhẫn mặt ngọc trên hai tay. Một mụ chủ tiệm vàng lọt vào tận đây, còn đồng chí tỉnh ủy đâu rồi? Mụ ta ngồi xếp hai chân một bên, thong thả gỡ các thứ trang sức trên mình cho vào giỏ mây đan, khẽ cười: “Đồ giả hết đó, đồng chí ơi”. Rồi mụ chui ra sau lái một lát, Chanh nghe tiếng khoát nước rửa. Trở vào khoang là một chị buôn gánh bán bưng lam lũ với búi tóc củ hành và áo bà ba màu gụ đã bạc màu trên vai, túi áo gài kim găm cẩn thận. Chị nói giọng điềm đạm của người đứng tuổi: - Coi lạ lắm hả? Chiều nay mình đi gặp mấy bà buôn to với vợ công chức lớp trên phải đóng vai nhà giàu... Bây giờ đồng chí ăn cơm đã, lát rồi nghe tình hình thành phố. Lên mạnh lắm, nhất là nữ thanh niên... Chị xới cơm cho Chanh, dỗ dành: - Rán thanh toán hết mâm nghen, mình ăn rồi. Mấy ảnh dặn tẩm bổ nhiều cho đồng chí, vượt ngục chưa bao lâu lại lên chỗ núi non. Chả mực chị Xáng ngon nhứt Hội An đó, ăn hết đi, để dành nuôi cá sông à? - Chị được mấy cháu rồi, chị Sáu? Ảnh đang ở đâu? - Ối, chuyện đời thì dài lắm, nói sao cho xiết. Ta nói chuyện công tác hay hơn. Tăm đây, nước đây, còn mấy điếu thuốc Mic... Chị Sáu nói rất tỷ mỉ về các tầng lớp ở thành phố và các thị trấn trong tỉnh, về các đội tự vệ nam nữ đang mọc lên nhan nhản nhưng thiếu người chỉ huy và huấn luyện. Chanh không được phép ghi chép. Đến quãng giữa câu chuyện, chị Sáu đổi sang gọi Chanh bằng chú và xưng chị: - Anh Quý khen chú nhiều lắm. Nghe nói chú là thợ xe lửa, chị mừng quá, năn nỉ mấy ảnh cho chú về giúp chị làm công vận. Mấy ảnh nhứt định không chịu, nói phải để chú lo mặt quân sự. Đang sửa soạn khởi nghĩa mà! Tây Nhựt nó không cho đờn bà vô xưởng máy lớn, thành thử chị hiểu giới thợ thuyền kém lắm Chanh à. Các đồng chí Đà Nẵng sẵn cán bộ, giàu kinh nghiệm, nắm công nhân giỏi hơn ta. Sắp tới để chị cằn nhằn riết coi thử mấy ảnh có chịu đưa chú qua xây dựng công hội hay không... Chị dặn thêm nghen: anh Bảy dạo này bị yếu phổi trở lại, chú cũng chưa được khỏe, hai anh em đừng thức thâu đêm rủ rỉ rù rì miết vậy, hại sức khỏe và cũng dễ lộ bí mật trạm dét-tê... Chị Xáng tới đón chị Sáu Lễ đúng hẹn. Mãi đến khi đã rời thuyền đến cắm sào chỗ mới, tắt đèn sắp ngủ. Chanh mới sực nhớ một lần anh Tô Xáng bảo chị vợ anh Bảy Quý là Tỉnh ủy viên Quảng Nam, hai anh chị chỉ được một con nhưng bị chết non trong khi cả hai vợ chồng lần lượt bị bắt. Tội nghiệp, anh chị đều cao tuổi rồi. Về anh Tô Xáng mới quen mà ai cũng gọi cả tên lẫn họ, Chanh hỏi anh Quý mới biết tông tích. Trong đợt khủng bố lớn năm 1940, bọn mật thám Quảng Nam vồ hụt anh Xáng hai lần, tức điên, dán khắp tỉnh những yết thị in ảnh và hứa thưởng hàm cửu phẩm cho ai chỉ điểm bắt được “tên cộng sản kỳ cựu Tô Xáng, bí danh là Đập hay Bát Đập”. Xáng cái tô hay đập cái bát là đồng nghĩa mà! Anh Xáng phải nằm dưới sạp ghe bầu lánh vào Tua Chàm gần Phan Rang được anh Quý giấu trong nhà cơ sở. Địch đánh hơi và bắt đầu rình, anh lại vọt vào tận Cà Mau làm dân chài. Năm ngoái anh trở về Quảng Nam nhưng phải ở ngoài Cù lao Chàm, sau đảo chính Nhật mới xáp vào Hội An và sống trên đò với giấy tờ giả. Anh Quý chia tay đi Huế. Anh “Bát Đập” từ các huyện trở về, báo tin Thường vụ tỉnh ủy đã chỉ định Chanh làm huyện ủy viên Tây Quảng, lo việc xây dựng du kích quân và căn cứ địa ở tổng An Sơn. Bộ máy cai trị cấp huyện đang còn nhưng cấp tổng và làng đang rã rời, tê liệt, ta cần dấn tới gấp. Cùng với em kết nghĩa và đứa em ruột mới tìm được, Chanh, hối hả trở về làng quê Linh Lâm với một nhiệm vụ to tướng và hai bàn tay trắng, vốn liếng mang theo chỉ có những dòng đã học thuộc lòng trong bảy ngày đêm nằm đò trên con sông Cửa Đại rất phẳng lặng trong mùa nước êm. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 12:32:02 pm 8. Người bạn bồn chồn nhìn ra cửa quán, lại nhìn Hai Khánh: - Có lẽ hắn ta không ra... Cậu xem mấy giờ rồi? Khánh bật cười, tháo cái đồng hồ đeo tay đặt trước mặt Thạch Sơn: - Tại chúng mình đến sớm. Trông cậu cứ như anh chàng dại gái ấy, đứng đi trên lửa nằm ngồi trong sương, giục ông mối quầy quầy... Ái chà, sắp bị ám rồi đây! Một người trẻ tuổi mặc sơ-mi ngắn tay, quần soóc, đeo cái xắc-cốt da hình chữ nhật đứng theo kiểu đang thịnh ở Hà Nội, đi xồng xộc tới bàn của họ ở góc trong cùng. - Chào Khánh, chào ông bạn chưa quen. Nóng bức thế này mà uống đen nóng cơ à? Tớ làm cà-phê đá thôi. Muốn hỏi Khánh tí việc... nhưng thôi, nói ở đây không tiện. Khánh ngoảnh về phía quầy, búng hai ngón tay đánh tách, gọi một tiếng gọn: “Đá!”. Bà chủ quán gật đầu. Cô hầu bưng ly cà-phê đá đến nhanh, lui nhanh mặt lạnh như Ăng-lê. Chắc hẳn cô không ưa Khánh vì thấy anh hay cặp kè với viên sĩ quan Nhật. Nhìn quanh thấy quán đang vắng, Khánh nói với anh chàng không mời mà đến: - Anh bạn đây là chỗ nối khố, cậu cứ tự nhiên. Định rủ mình vào Đại Việt quốc xã đảng hay là đảng nào mới ra lò? - Không đâu, lần này chuyện làm ăn. Cậu biết ai muốn mua súng không? - Ca-nông xoa-xăng-keng, hay là moóc-chê? - Đùa gì thế? Tớ đang có vài cây chó lửa xinh lắm. Cho cậu luôn khẩu ru-lô đây, Chỗ anh em, tớ để rẻ năm trăm, hòa vốn thôi đấy. Gã đặt cái xắc-côt lên trên bàn, bật nắp, rút ra một tờ báo đưa cho anh bạn của Khánh: - Anh vờ xem báo đi, che hộ tôi... súng xanh-tê-chiên mới bóc tem nhé. Gã rút cây súng lục ổ quay ra nửa chừng, lật qua lật lại xem hai mặt, lại đút vào xắc-cốt và gài kín nắp. Khánh trông thấy ánh thèm muốn lóe lên trong đôi mắt anh bạn đang tìm mua súng, khẽ lắc đầu, nói ỡm ờ: - Lại súng không đạn, chuyên dùng để tống tiền, bắt cóc! - Cậu đúng là Tào Tháo tái thế! Mang súng lắp sẵn đạn để bọn Nhật nó rạch bụng ra! Súng không đạn còn chối quanh được là mới nhặt đằng kia, đang đi trình hiến binh... Hay là tớ bớt cho cậu dăm chục, lấy cái tình là Quí. Khánh vẫn lắc đầu: - Mình rước của nợ ấy làm gì. Tưởng rẻ thì mình mua đi bán lại kiếm mấy chục bạc lãi uống cà-phê chơi. Cậu biết đấy, thứ chó lửa Chiêu Hòa của Nhật, rất sẵn đạn, ô-tô-ma-tíc cực kỳ ngon, chúng nó chỉ chào hàng tới ba trăm, hôm qua có đứa chịu giá hai trăm một súng với năm chục đạn. Thấy chưa?... Này, lên cơn sao mà ngáp ghê thế? Còn hút ở Tiên Cánh nữa không? Gã kia bị đè bẹp dưới cái giọng lõi đời kẻ cả của Khánh, lại bị cơn nghiện đục khoét trong xương, đành chịu lép vế hoàn toàn. Cây súng với ba chục đạn được ngã giá đúng một trăm đồng, đưa trước năm chục, khi nhận đạn mới trả đủ. Gã vồ lấy năm tờ giấy bạc trên tay Khánh, nhỏm dậy định đi ra. Khánh lại cười: - Đợi mình tí. Mình mượn xà-cột, đem cái của nợ đi giấu luôn, kẻo rồi hiến binh ập đến khám... Anh bấm nhẹ vào vai Thạch Sơn ra hiệu cứ ngồi yên, lấy xe đạp phóng đi rất nhanh. Mươi phút sau anh quay lại. Gã bán súng bị cơn nghiện hành hạ đã chuồn gấp, nhắn Khánh gửi cái túi da cho bà chủ quán. Anh bạn Việt Minh luồn tay bóp mạnh vào đùi Khánh: - Chịu cậu... chúa thật đấy. Những như mình thì toi với nó bốn trăm chứ bỡn. Mà sao cậu đi vội thế? - Sợ nó phản thùng, đi báo hiến binh hay là bọn Đại Việt quốc xã bắt quả tang. Ta-kê-đa vẫn chưa đến à? - Có thể lộ. Quá hẹn bốn mươi phút rồi, nên đợi nữa không? - Đợi chứ. Muốn được cá to phải chịu khó câu dầm. Bà chủ đây quen với loại khách uống một ly ngồi một buổi, cậu đừng ngại. Mình đóng vai dân chạy áp-phe được đấy chứ? - Tuyệt diệu! Cậu buôn súng bao giờ mà thạo ghê thế? - Ha ha, mình phịa tất! Hà Nội đang có cái mốt khoe súng, khoe hội kín, đứa nào cũng ra vẻ ta đây biết vô số bí mật quốc gia, thật ra đứa nào cũng mù tịt cả. Mình lòe những là súng Chiêu Hòa, giá hai trăm, chứ có xem kỹ cây súng Nhật nó ra sao đâu! Cứ lấy tên Thiên Hoàng đặt bừa cho súng, anh cu lác mắt! - Thế mà khi học với nhau, mình cứ tưởng anh em Nam Kỳ rất là mộc mạc, da rám nắng, luôn luôn xài lớn, nóng mũi là nện luôn. Trông cậu chả có vẻ gì là Nam Kỳ cả, đặc Hà Nội... - Ấy là vì mình không phải dân Nam Kỳ! Mời cậu ôn lại cuốn địa dư lớp Nhất: Quảng Nam và Bình Định thuộc xứ nào? Tiếng giày đinh lộp cộp bên ngoài khiến họ im bặt, quay đầu ra. Viên trung úy Nhật bước qua cửa, đảo mắt nhìn quanh, một vòng, nặng nề đi tới bàn của Khánh trong góc. Gã không ngồi xuống ngay mà hất hàm về phía anh bạn ra ý hỏi. Khánh nói luôn bằng tiếng Anh: - Đây là người mà các anh muốn gặp... Anh dùng cà-phê pha rom như cũ nhé? - Anh gọi cho tôi một chai cô-nhắc Pháp. Nguyên cả chai. - Ồ, Ta-kê-đa! - Này Khánh, đừng dạy phép vệ sinh cho thầy thuốc nhé. Anh biết vì sao tôi uống đấy. Nên nhớ tôi có quyền phân phát rượu mạnh trong quân đội, hàng trăm thùng một lần, nhưng tôi thích cô-nhắc Pháp hơn xa-kê Nhật. Hãy để cho kẻ chiến bại là Pháp phản kích bằng rượu ngon đến khi quân Nhật ngã gục! Trận bom lửa khủng khiếp dội xuống Tô-ki-ô đêm mồng chín tháng ba đã giết mẹ và hai em nhỏ của Ta-kê-đa. Đã thế, cô người yêu lại đi lấy chồng, một ông chồng già nhưng giàu sụ. Mới hơn một tháng mà viên trung úy trẻ tuổi già sọm đi, mắt hõm và đục lờ, càng uống nhiều càng lầm lì không nói. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 12:38:24 pm Đợi cô hầu bàn đi khỏi, Ta-kê-đa tợp một hơi cạn nửa cốc, đưa tay quệt mấy giọt rượu đọng trên mép, nói luôn:
- Ông đại tá muốn hỏi ông đại diện Việt Minh một câu thôi: các ông định mua súng để đánh ai? Nếu để đánh Pháp giành độc lập thì chúng tôi bán. Nếu để đánh Nhật, như các ông đang làm trên vùng rừng núi kia, thì chúng tôi không bán. Rõ chứ? Khánh nghĩ thầm: một câu hỏi hóc búa đây. Anh bạn Việt Minh nghĩ trầm ngâm mấy phút trước khi đáp: - Chắc chắn sắp tới chúng tôi phải đương đầu với Pháp quay lại chiếm Đông Dương. Chúng tôi mong quân đội Nhật sẽ giữ thái độ trung lập, không cản trở hoạt động của Việt Minh. - Thế tại sao Việt Minh lại đánh chúng tôi? Oa-rui, tai-hen oa-rui-đex1! - Anh xem lại tin tức: Tất cả các trận đều xảy ra khi quân Nhật đánh vào các vùng giải phóng. Anh đoán nước Nhật sẽ thua trận, sẽ rút khỏi Đông Dương, Việt Minh là lực lượng mạnh nhất và chính nghĩa nhất. Như thế đáng lẽ các anh cố giúp đỡ Việt Minh nắm chính quyền mới phải, đằng này lại hành binh đi đánh Việt Minh tít trên núi cao. Bộ tư lệnh Nhật đã xử sự sai lầm! Khánh chăm chỉ dịch đúng từng chữ, tuy cảm thấy bạn nói hơi căng. Ta-kê-đa tự rót đầy cốc thứ hai, uống nhấm nháp, hai gò má bắt đầu ưng ửng. - Xa, đô ka oa ka-ri-ma-xen2... Có thể ông nói đúng. Toàn bộ cuộc chiến tranh này là một sai lầm khổng lồ. Thái độ đối với Việt Minh cũng sai lầm nốt... Trước mắt, ông đại tá có thể bán vài chục súng mút-cơ-tông và anh-đô-si-noa thu được của Pháp, mỗi súng kèm dăm chục đạn, thanh toán bằng vàng thật chứ không dùng giấy bạc. Có thể chúng tôi sẽ chở bằng thuyền trên sông, các ông phục kích cướp thuyền nhưng để cho lính chạy thoát... Khánh bật cười: - Anh vừa trách Việt Minh bắn vào Nhật đấy! Ta-kê-đa cười hô hố, lại im ngay. Một tên lính Nhật dựng xe đạp cạnh cửa, hối hả bước vào, đứng nghiêm chào, nói gì một tràng dài, Viên trung úy sầm mặt, nói rít răng: - Ti-ki-sô! Đa-ma-rê!3 Tên lính gượng nói thêm vài câu nữa, chào, quay lui, để chiếc xe đạp lại đấy. Ta-kê-đa cười buồn, nhét chai rượu đã vơi một nửa vào xắc-cốt, đứng dậy: - Người ta gọi tôi về gấp để lập biên bản cho chôn hai cái xác. Hai sĩ quan nổ súng vào đầu, một chết ngay, một còn hấp hối. Chết kiểu ấy sạch gọn hơn tục ha-ra-ki-ri4, đổ ruột ra bẩn lắm, lại phải nhờ người khác chặt hộ cái đầu để chóng chết... Các anh về tính giá cả đi, chiều mai lại gặp nhau. Một chiếc xe tải rì rì chạy đến. Thấy viên sĩ quan dắt xe đạp tới mép vỉa hè, nó dừng hẳn lại. Hai bên thành xe treo hai tấm băng vải viết chữ Việt và Nhật trong quán nhìn ra có thể đọc một tấm “Đại Đông Á vạn tuế!”. Trên xe có chừng mươi gã mặc quần áo giống lính Nhật, không đội mũ để phơi đầu cạo trọc, hai gã đeo trống cà-rùng trước bụng, còn lại đều cầm loa sắt tây. Một gã hét khàn khàn: - Ban-dai Đai Níp-pông!5 - Bandai! Ban-dai! Ta-kê-đa khoát ngang một tay, có thể hiểu là vẫy chào hay xua đuổi đều được. Trên xe nổi một hồi trống như quảng cáo vở tuồng mới, xe lại chạy tiếp, các miệng loa chõ vào hai bên phố hát như gào bài ca Đại Đông Á: - Ta là người sanh trong cõi đất Á-tế-á Sống ngày ngày dưới ách quân Âu, ta bao xiết thương đau. Mau mau ta ra đi, mau ta ra tỉnh cơn say... ... Nào cùng đứng lên cùng hô: tàn sàn quân trời Âu! Đợi phố vắng hẳn, hai người mới đến quầy trả tiền, và méo mặt nhìn nhau: chai cô-nhắc mọi hôm đắt nhất cũng chỉ vài ba chục nay được tính cắn cưa năm chục, bà chủ còn kể ân huệ: - Lùng khắp Hà Nội mới kiếm được một chai Mác-ten cũ đến tám tuổi, định để dành bán chén cho khách quen, tôi nể ông quan Nhật với hai cậu quá phải đưa ra... Đại sự bất câu tiểu phí, các cậu ạ. Tôi kiếm lãi cò con một năm không bằng các cậu trúng áp-phe một giờ... Liệu chắc ăn thì cho chị đây góp vốn với nhá! Khánh nháy nháy một bên mắt ra vẻ ăn ý. Bà chủ càng tin mình nói mò mà trúng tim đen hai chàng buôn lậu, cầm xấp giấy bạc lại rút đưa trả Khánh mười đồng: - Chị biếu các cậu lấy may, lấy khước. Cứ dẫn nhan đến đây nhé, chưa sẵn tiền thì uống ghi sổ, về khoản bí mật thì chị cứ là nhất thế giới. Gớm, cậu đẹp giai này học tiếng Nhật bao giờ mà nói như cháo chẩy, giá đi làm cho Nhật chắc lên quan to rồi đấy. Muốn sống ngoài vòng cho dễ ăn chơi chứ gì, tướng này là thượng hạng đào hoa đây! Khánh bật cười khà khà, kéo tay anh bạn đi ra, vẫy bàn tay kia sau gáy ra hiệu tạm biệt lối dân chơi. ----------------------------------------------------------- 1. Tiếng Nhật: xấu, rất là xấu! 2. Tiếng Nhật: Chà, tôi chẳng hiểu gì 3. Tiếng Nhật: Đồ xúc vật! Câm họng! 4. Tiếng Nhật: mổ bụng (tự sát) 5. Tiếng Nhật: Đại Nhật bản vạn tuế! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 12:57:41 pm Trời đã nhá nhem tối. Đèn phủ chao đen chỉ đủ đánh dấu lòng đường. Họ đi sát bên nhau trêu vỉa hè vắng về phía đường Cô-lông gần ga Hàng Cỏ, Khánh dắt xe chứ không đạp vì muốn nghe bạn nói dứt khoát việc mua súng. Thế nhưng anh này chỉ hứa “xin chỉ thị của thượng cấp”, lo lắng vì phải trả bằng vàng.
Khánh đột ngột dặn Thạch Sơn: - Cậu cứ đi tiếp tới ga Hàng Cỏ, đợi mình trước thềm. Mình rẽ vào nhà quen lấy cây súng ru-lô ban nãy giao luôn cho cậu, đạn kiếm sau. Anh phóng xe theo đường Cô-lông về căn gác ở trọ. Cây súng được giấu ngay trên trần buồng anh, nhưng Khánh rất ít khi đưa bạn hoặc nhân tình về nhà. Tự do trên hết, anh không muốn ai chen vào đời tư của mình. Khánh gói súng cẩn thận trong ba bốn tờ báo Đông Phát - tờ Đông Pháp mới đổi tên chớp nhoáng sau đảo chính - đạp xe ra ga trao cho bạn, hẹn chiều mai lại đến quán cà-phê quen. Trở về nhà, Khánh sửng sốt khi thấy đèn sáng trong buồng mình. Anh nhớ rõ đã tắt đèn, khóa cửa kia mà. Hay là mật thám phá cửa vào soát nhà? Anh lách xe sang bên kia đường, nép vào bóng tối sau trụ đèn, lắng tai dò động tĩnh. Không có tiếng động nào đáng ngờ. Chị thợ khâu đang thuê buồng gần cửa ra vào vẫn cặm cụi may bên cửa sổ, miệng hát ru con và kéo sợi thừng đưa nôi bằng hai ngón chân. Có tiếng cười trong phòng khách của chủ nhà. Có vẻ yên ổn cả. Anh mở cửa chính, dắt xe thẳng vào sâu sau, khóa cẩn thận trước khi quay trở ra và bước vào phòng khách. Năm sáu bộ mặt tươi nở đón anh cùng với mùi mực khô nướng xốc thơm vào mũi. - Chú rể về kia! - Vợ đẹp như tiên non bồng mà kín tiếng thế! - Khao nhé, anh Khánh! Chưa khao thì cấm lên gác! Trên mặt bàn lát đá hoa bày một bó mực khô khá to, một đĩa mực nướng xé vụn. Cô em út trong nhà đang nướng mực trên bếp điện, cả nhà đang nhai mực tóp tép. Chị con gái đầu lòng ẵm đứa con thứ ba, xua tay và nói thay cho cả nhà: - Mãi đến nay mới biết vợ anh Khánh là cô Nết... - Cô Xi-mo-nét, tên đầm đấy! - Ờ, ờ, thời buổi bom đạn này mà lặn lội từ Sè-goòng ra thăm chồng, còn mang theo vô khối là của ngon vật lạ, mới biếu nhà một bó mực Bắc Hải đây này... Cô Ba đang học đệ tứ liền bẻ chị ngay: - Không phải Sài Gòn mà Tu-ran, ở phía Nam đất Thần Kinh. Không phải mực Bắc Hải bên Tầu mà mực Quảng Nam, chị cứ lẩm cẩm! Khánh gượng cười tươi, đối đáp qua quýt và tránh đôi mắt hằn học của cô Hai muộn chồng, xin phép rút lui êm lên gác. Mỹ Duyên quả là chúa liều, đuổi theo anh đến tận Hà Nội. Anh chưa trao địa chỉ này cho Duyên bao giờ, sao cô ấy tìm ra nhỉ... Mỹ Duyên mặc quần áo ngủ trong veo, đang ngồi đọc sách trên chiếc ghế xích đu đặt cạnh đèn bàn, trên mặt vẫn giữ nguyên son phấn. Cô đặt cuốn sách, thong thả gập một tờ đánh dấu chỗ đang đọc, ngước nhìn Khánh bằng cặp mắt xoi mói: - Anh bị một keo đứng tim hả? Phân trần với chủ nhà có khó lắm không? Xin lỗi nghen, em phải xưng là vợ anh mới lọt vào hang ổ của luật gia được. Khánh nuốt khan nước bọt vài lần mới hỏi khản giọng: - Em ra... có việc gì gấp thế? - Cứ yên chí lớn, ông phủ cùng bà Cả bà Hai đều thường như thường. Chỉ riêng bà Ba hơi rắc rối, trẻ người non dạ quá mà... Nhà em ở bãi biển Thanh Bình bị bom sập rồi, anh biết không? Lão phủ ra coi, kêu không đủ tiền sửa, kéo em vô ở phủ Thăng Bình, giao em làm quản gia kiêm đầu bếp, mỗi ngày lãnh mươi đồng tiền chợ với hai bài học sáng và tối về sự tu thân và tiết kiệm. Em đá tung hê, bỏ đi chẳng cần ô-voa... Sau đó, em ở đây tự lo cơm ăn áo mặc, chịu nửa tiền nhà, anh chứa được bao lâu? - Duyên! - Duyên nợ cái gì... Tính em xưa nay ưa sòng phẳng, cả tiền lẫn tình. Hễ anh thấy phiền, em sẽ thuê nhà riêng, trở lại nghề ca-va, dù sao cũng ít bị kiểm soát hơn nghề gái bao. Nghe nói nhà cửa Hà Nội dễ thuê lắm, người ta sợ bom bỏ về nhà quê lu bù. Tụi Nhật nhảy tồi mà lại ưa học đòi chơi kiểu Tây, trả khác lắm. Em thử vài lần mặc ki-mô-nô đóng vai trà nữ, được khen nức nở, ấy là mới lõm bõm mấy chục câu tiếng Nhật thôi đấy. A-na-ta oa nip-pông ngô ô ka-na-si-max ka?1 Khánh ngồi lặng trước mặt cô gái thua anh ba tuổi mà tính quái đến dễ sợ. Tiếng nói lanh lảnh lùi ra xa lắm, nhưng vẫn xóc vào tai anh đến đau cả màng nhĩ: - Nằm trên tàu em đọc mãi cuốn này, kịch Lôi Vũ của Tào Ngu. Bà vợ kế là Phồn Y yêu con trai riêng của chồng, hóa điên. Bà ta khờ một cây. Em thì chẳng điên khùng gì hết, em cứ sống cuộc đời của em cho lút ga thả xăng, bao giờ quá ngán thì a-lê, nhờ bánh xe lửa hay tàu điện đưa vào hư vô... Chẳng hiểu bằng cách nào, Khánh đã lao tới ôm ghì Duyên trong tay. Họ không nghe tiếng còi báo động réo to dần phía Nhà hát lớn, tiếng còi hơi nước the thé của xe lửa rít dồn dập phía ga. Mãi đến khi những quả bom đầu tiên nổ ầm ầm phía Gia Lâm, Mỹ Duyên mới lười biếng vươn cánh tay trần ra tắt ngọn đèn bàn bên đầu giường. Mãi về sau, Khánh mới biết là Mỹ Duyên nói quá lên cho câu chuyện thêm lâm ly. Một đoàn tàu biển của Nhật đâu từ Tân-gia-ba - đổi tên là Chiêu Nam - ngược lên hướng Bắc, đã ghé vào đậu nép trốn máy bay Mỹ ban ngày dưới chân bán đảo Sơn Trà, phía Đông thành Đà Nẵng. Có lẽ vì địa thế khó đánh, bọn Mỹ đợi đến tám giờ tối, đoàn tàu mở máy ra khơi mới cho mấy chục máy bay thả đèn dù sáng trưng mặt biển, giội bom xuống túi bụi. Vài chiếc tàu đằng đuôi cuống cuồng quay lại cửa sông Hàn, bị đuổi đánh tiếp. Một quả bom rơi lạc xuống gần căn nhà hai tầng Mỹ Duyên thuê, làm xô mái ngói và nứt trần. Chủ nhà thấy của nổi không bằng của chìm, không chịu bỏ tiền ra sửa. Ông phủ Đỉnh rối ruột vì Việt Minh đang dậy và bị dân kiện tứ tung, đưa xe ra đón Mỹ Duyên về ở trong phủ. Không đèn điện, không nước máy, đêm nóng phải quạt tay phành phạch, Duyên chịu được một tuần đã ngấy đến cổ, bắt chồng chạy tiền cho vào Sài Gòn thăm nhà, để vọt ra Hà Nội ở với Khánh ít lâu. Sáng hôm sam, các gia đình thuê chung nhà với Khánh đều biết cô Nết là vợ anh Khánh, hằng ngày đi chợ và nấu nướng cho chồng tẩm bổ, người đâu trong Nam xa lắc mà khéo ăn ở được lòng mọi người. ---------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Nhật: Anh có nói tiếng Nhật không? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:01:55 pm 9. Vào khoảng giữa miền Trung, ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kon Tum gặp nhau ở một vùng rừng núi mênh mông và hiểm trở vào bậc nhất trong nước ta, với đỉnh Ngọc Linh vút lên cao hơn ba ngàn mét. Vùng núi ấy đẻ ra vô vàn khe suối chảy đi các hướng. Một trong những dải nước tí xíu chưa được đặt tên kia sẽ lớn lên thành con sông dài, đẹp, giàu sức sống nhất của Quảng Nam. Đó là dòng Thu Bồn. Từ bé, sông Thu Bồn đã khôn và bướng. Nó nhất định đi ngoằn ngoèo theo hướng Nam lên Bắc, không chịu đổ tuôn ngay xuống biển Đông đang dang rộng tay sẵn sàng đón. Nó không muốn giành, gấp lấy một cửa nào đó và tự xóa tên luôn trên bản đồ. Bao nhiêu lần vùng đất đồi trung du mở những thung lũng mời ra biển, nó cứ vừa đi vừa lắc đầu, không bước xuống thấp hơn. Nguồn Thu Bồn đón nhận nhiều sông suối khác dọc đường, lớn lên thành con thủy lộ vạm vỡ mà không đổi hướng cũ, dường như muốn thi sức chảy kéo dài với hai dòng bạn đồng hành song song hai bên. Trên thế đất hình mái nhà của Quảng Nam, con sông Giằng trẻ và dữ vừa tiến lên Bắc vừa nhảy điệu múa đâm trâu của mình gần sát trên đỉnh nóc, trong khi dải nước mặn Trường Giang lười biếng duỗi mình dọc bờ biển như cái máng dài hứng nước chỗ rìa mái, Thu Bồn ta một mình uốn lượn nhởn nhơ ở quãng giữa, không vội. Nó bồi đắp những mảnh đất nà màu mỡ hình bánh quai vạc ven bờ để làm chuỗi hạt cườm trang điểm, xoi đường qua Hòn Kẽm Đá Dừng hùng tráng đến lạnh xương sống người chèo thuyền qua, lúc vui thì mở vực và nấn ná lâu, lát sau chán lại hóa thác vọt đi ầm ào. Nghe lời rủ rê của suối khe, nó rẽ đến thăm tất cả những nơi có thể luồn lách vào được. Nó dạo chơi rông như đứa trẻ 15 dại trốn học nhưng không tìm ra bạn, ngại về lớp và về nhà, nghêu ngao cho hết buổi. Áng chừng bước vào quãng đất trũng từ Phú Gia tới Trung Phước, nó mới nghĩ rằng sau khi đã thu vào bấy nhiêu nước thì phải trả lại ít nhiều cho đất và người chứ. Những chiếc xe nước đầu tiên rì rào quay trên sông, càng về xuôi càng phình to và xếp lớp dày đặc, ngày đêm múc nước sông rót vào đồng ruộng. Thu Bồn đã lớn và chín chắn hơn, đi đứng xem chừng chỉnh tề hơn, biết chăm lo cho họ hàng bạn bè hơn, bắt đầu gọi người đến bên mình để mở bến, lập chợ, xây làng to. Thế nhưng, đến khi đổ tới đồng bằng Đại Lộc nó mới quyết định hẳn đời mình. Nó rẽ ngoặt sang tay phải, đi tìm biển. Nó hồ hởi nhập vào các nhánh sông trên núi - lúc này đã bằng lòng xoay chiều để họp chung thành dòng Vu Gia - cùng nhau tỏa rộng trên vùng đất phẳng Bắc Quảng Nam, cùng kéo xuống gặp ông bạn nước mặn Trường Giang không được phép leo ngược lên núi. Cuộc thi chảy dai sức của ba con sông Quảng Nam chấm dứt ở nơi hòa hợp Cửa Đại, tạo nên thị xã Hội An xưa kia lừng lẫy chỉ kém đế đô, nhưng vẫn để dành một nhánh lớn đi tiếp lên hướng Bắc, mở thêm một cửa khác ở Đà Nẵng, cửa sông Hàn. Kiểu đi ôm bọc mé trên đổng bằng của Thu Bồn, trong khi tưới nhiều cho nửa tỉnh phía Bắc, tạo đường thủy từ Đà Nẵng và Hội An ngược rất xa lên vùng núi, đã bỏ lại nửa tỉnh phía Nam thiếu sông ngòi. Ở đấy đi về phía Tây chỉ có những khúc đường tình và huyện tách ra từ quốc lộ Một. Con đường tỉnh số 56 chạy xuyên qua huyện Tây Quảng, ngoi mãi lên cao. Nó gặp sông Linh, một nhánh nhỏ nối vào thượng nguồn Thu Bồn. Ở chỗ gặp nhau ấy mọc lên làng Linh Lâm. Nhích thêm một đoạn ngắn nữa, đường 56 kiệt sức đừng lại, không leo nổi tới quốc lộ 14 đang từ thị xã Kon Tum chật vật rướn mãi về Đà Nẵng mà chưa giáp mối. Linh Lâm nằm trên một khoảng đất lòng chảo lọt giữa núi. Đó là làng người Kinh cuối cùng trên đường 56, cũng là làng người Kinh cuối cùng khi ngược dòng sông Linh bằng thuyền. Dù bị các quan trị nhậm huyện Tây Quảng gọi khinh bỉ là cái làng “nằm dưới đít mọi”, Linh Lâm vẫn cứ đóng vai một cửa khẩu giao lưu giữa Kinh và Thượng, nối liền vùng rừng núi trùng điệp với đồng bằng Nam Quảng Nam bằng đường bộ, với các hải cảng Bắc Quảng Nam bằng đường nước. Những điểm đầu mối như thế thường phình to. Khách lạ đi lên núi, qua những xóm làng ngày càng heo hút, qua những truông đèo khỉ ho cò gáy và có khi điểm thêm tiếng voi rống cọp gầm, những tưởng càng ngược xa càng đi vào nơi ma thiêng nước độc, sẽ sửng sốt và vui thích khi từ trên thuyền hoặc xe ô-tô bước xuống vạn1 Linh Lâm, chợ Linh Lâm. Thuyền bè cắm sào đậu san sát trên sông Linh, nhà ngói, nhà tranh chen chỗ đứng trên bờ cao, người tấp nập trong chợ phiên đang mua bán các thứ hàng nội ngoại từ Sài Gòn hay Hà Nội chở về, cánh lái buôn hốt bạc đang cười sằng sặc trong tiệm ăn Tàu bên chợ. Và tất nhiêu ở nơi đầu mối này phải có đám lính đồn bắng nhắng đi kiếm chuyện để kiếm ăn, có quan Tây ở đồn binh hay đồn kiểm lâm chống ba toong dạo qua khệnh khạng, có các ông chánh tổng, phó tổng, đề lại cưỡi ngựa hay nằm cáng buông rèm kín về xem xét dân tình, vét bổng ngoại. Linh Lâm sống nhờ ruộng rẫy, làm giàu nhờ nguồn lợi Thượng du. Vùng Thượng mênh mông trút của xuống đây. Thượng thấp có trầu, chè, thuốc lá. Thượng cao có quế, rất nhiều quế, thứ vàng mười hiện hình dưới dạng vỏ cây khô. Biết bao nhiêu người chịu bỏ quê hương tìm lên ở đất này chỉ vì mùi thơm nóng của quế. Trúng vài mùa quế là đủ xây nhà gạch, mua chức ông trùm ông xã. Lỗ vài mùa quế thì bạch đinh lại hoàn bạch đinh, mất gì mà sợ. Những người dân cày cực nhục nhất của huyện Tây Quảng gánh gồng bồng bế kéo nhau lên đây kiếm sống, vỡ ruộng phát rẫy cho có một thứ gì đấy giúp vợ con thoát đói, sau đó bắt đầu “đi rừng, đi mọi”. Đi rừng dễ nhất. Bước ra khỏi làng một quãng là gặp rừng, chỉ cần hỏi các cụ già xem rừng nào của quan Tây đồn điền, rừng nào thuộc ấp quan phủ để tránh cho xa. Lấy gỗ, mây, tre vất vả hơn mà về xuôi bán được giá, củi, nứa dễ kiếm nhưng rẻ tiền. Ai sẵn nghề thì đốt than luôn chở đủ một chuyến bè thả xuôi sông Linh vào nguồn Thu Bồn, xuống phố Hội bán xong sẽ trở về bằng xe khách. Góp nhặt được ít vốn và học lỏm được ít mánh lới của thương lái rồi, người trai tráng bắt đầu “đi mọi”. Đầu tiên họ đi các làng thượng ở cách một buổi hay một ngày đường, cõng theo muối, vải, rựa đổi các thứ thuốc nguyên lá, trầu, chè tươi. Dần dà, sau nhiều lần thử sức, họ mới đi “mọi cao”. Đó là các làng Thượng ở cách xa bốn năm ngày đường, có tiếng nói khác, phong tục lạ, có rừng quế mênh mông và những con heo nanh dài một gang, hằng năm có mùa kéo nhan đi đâm chém làng khác. Từng đoàn người Kinh mang hàng hóa lên đổi lấy quế nguyên cây, ở lại bóc vỏ làm quế khô luôn, cõng về làng những bó quế lớn chồng lên nhau vượt xa đầu người. Ấy thế nhưng chính những người trồng quế trên núi và cõng quế về xuôi lại cứ nghèo mãi, cứ kiệt sức dần đi. Dân Thượng bị lừa phỉnh và ép giá, đổi quế quý lấy những thứ hàng tồi tệ được gọi chung là “hàng đổi mọi”, người Kinh không ai dùng. Trai làng Linh Lâm đi mỗi chuyến quế cực nhọc hàng tháng trên núi, đem quế về cân cho các nhà buôn, quả có nắm trong tay một mớ tiền mà con nhà ruộng rẫy không thể kiếm nổi. Các chủ nợ đã chực sẵn: nợ mua hàng đổi, nợ đong gạo để lại cho vợ con ăn, nợ mua thuốc chữa bệnh sốt rét, nợ ông thầy cúng xả ngải2 và với những anh chàng liều mạng thì còn hàng đống nợ nơi hàng quà, quán rượu, sòng bạc, tiệm hút nữa, cân quế xong phải trốn biệt. Rốt cuộc, miếng ăn hằng ngày của cả nhà cũng chỉ trông vào vài thửa ruộng núi và mảnh đất gò trồng sắn, khoai. ---------------------------------------------------------- 1. Bến sông có xóm làng. 2. Do mê tín, người đi rừng núi mắc bệnh sốt vàng da kéo dài thường cho là mình bị dân Thượng bỏ ngải (như bùa, ếm) phải thuê thầy cúug xả ngải (giải bùa, ếm) Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:12:54 pm Tất cả tiền và quyền ở Linh Lâm nằm trong tay bốn gia đình. Địa vị và vốn liếng của họ khác nhau, đôi lúc họ cạnh tranh xô xát nhau, nhưng động đến những việc sinh tử thì họ bó kết với nhau rất chắc.
Đồ sộ nhất là đồn điền của gia đình Lê-ông La-phác-sơ. Hắn vốn là tên đội lê dương giải ngũ, được cử làm trưởng đồn kiểm lâm ở nơi đầu nguồn này, chuyên chặn đánh thuế các thuyền bè xuôi sông Linh và xe hàng lên xuống đường 56. Thấy đồi núi Linh Lâm trồng cà-phê và nhiều loại cây công nghiệp lên tốt hắn cậy cục xin trưng khẩn một vùng rất lớn từ sông Linh đổ lên phía Tây. Sở đạc điền cử người về vẽ bản đồ, quan huyện lên tận nơi gọi hương lý ra đình cho xem tờ giấy tô màu xanh đỏ ghi đặc chữ Tây, thế là giang sơn riêng của “ông Tây La-phạt” thành hình vào khoảng năm 1933-34. Đồn kiểm lâm giao lại người khác, vẫn đóng ở chỗ ngã tư đường ô-tô gặp sông trấn giữ một góc đồn điền La-phạt. Vài năm sau, nhân có mấy vụ “động mọi” do người thượng nổi dậy chống đi phu đắp đường trên núi, hắn lại chạy chọt kéo được bốn chục lính khố đỏ và một viên quản lên đây lập đồn binh, lo canh gác mặt Tây của đồn điền. Hắn kinh hoàng sau vụ thằng Pi-e con hắn bị thằng bé Năm Chò trong làng giết hụt, từ ấy đi đâu cũng kéo cả nhóm có súng. Dân Linh Lâm thường gặp một bộ ba cưỡi ngựa kéo qua làng: La-phạt cao lênh nghênh và gầy đét đeo súng săn, thằng con trai vạm vỡ hơn đeo cây súng Đức bắn voi, lão Huần quản lý cũng giắt lưng con dao găm và cầm ngang yên một cây rựa bén, cả ba đều gườm gườm như vào đất thù địch. La-phạt cố ý chừa một bộ râu xồm rậm rì như cố đạo để lấy oai, chịu khó học tiếng Việt để ra lệnh và nghe thưa bẩm mà không phải dựa vào lão Huần. Hắn không hề chờ đợi một ai thương yêu hay thật bụng với hắn trong vùng này, trong cả nước này. Một phút người ta ngừng khiếp sợ là cha con hắn mất đầu ngay. Sau khi Nhật vào Đông Dương, ông chúa đất Linh Lâm mau chóng xuống dốc. Hắn ngừng trồng cây, mỗi năm chỉ thuê phát dọn sơ sài khu vườn cũ, những dãy nhà dành cho “cu ly” thường rỗng. Hắn nghiện thuốc phiện ngày càng nặng, mỗi bữa kéo tới năm chục điếu mới dậy được, bỏ luôn cái thú săn bắn mà chỉ cho thuê cây súng săn hai nòng lấy một nửa con thịt rừng kiếm được. Đồn binh bỏ trống, nhân viên kiểm lâm chỉ còn hai người Việt không có súng, lão Huần làm quản lý đồn điền ăn cắp nhiều hơn trước. Vài năm trước khi Nhật đảo chính, Lê-ông rất ít về Linh Lâm, cứ nằm lỳ ở Đà Nẵng, chỉ phái thằng Pi-e lâu lâu lên xem đồn điền và thu hoa lợi, nạt nộ lão Huần khi thấy gian lận quá quắt. Nghe đâu hắn dạm bán đồn điền rất rẻ mà không ai mua: tất cả các thứ hàng xuất khẩu đều dồn ứ lại, ở Linh Lâm quế chất đống như củi, nói chi đến cà-phê! So với vùng đất trưng khẩn hơn năm trăm mẫu tây của Lê-ông La-phạt - nếu tính cả những đồi núi xung quanh không khoanh vào bản đồ nhưng hắn cứ nhận bừa là của hắn thì có thể tới ngót một ngàn mẫu - cơ ngơi nhà ông chủ Ung Viết Đỉnh xem chừng khiêm tốn hơn nhiều, sổ bộ chỉ ghi phần ông có xấp xỉ sáu chục mẫu ta ruộng và ba chục mẫu ta vườn chè, ở đây tính xấp xỉ một mẫu ta bằng nửa mẫu tây. Tất cả đều nằm ở mạn phía Đông con sông Linh, gần như đối xứng với khu đồn điền qua dòng sông nhỏ chảy theo hướng Nam - Bắc. Lý hương quen gọi khu này là ấp quan phủ, nhưng dân làng cứ nhất định gọi là ruộng ông Hường. Các cụ già kể rằng xưa kia khu đất ấy lắm voi cọp, không ai dám đến vỡ ruộng, chỉ ở xúm chùm chung quanh vạn và xóm chợ. Khi ông Hường Hiệu về huyện Quế Sơn lập Tân tỉnh chống Pháp1, tính kế đánh lâu dài, bèn cho một đoàn nghĩa binh ngược sông Thu Bồn tìm chỗ đất tốt trồng trọt nuôi quân. Vị tướng cầm đầu nghĩa binh chống thuyền ngược lên đến đây, nhìn lên bờ thấy một bầy voi rừng đang lần lượt quỳ xuống như xin quy phục. Lên một quãng nữa lại gặp một bày cọp xếp hàng bên sông, gục đầu như xin tha tội, rồi len lét bỏ đi. Ông cho là điềm lành, bèn dừng quân nơi thung lũng này, lập trại khai hoang. Voi cọp dạt hẳn sang bên bờ Tây sông Linh. Mới một mùa đầu trại đã gửi được hàng chục thuyền lúa bắp xuống Tân tỉnh theo nguồn Thu Bồn. Ông Hường nghe trình chuyện lạ, bèn đặt tên chữ cho làng này là Linh Lâm thôn, ấy là để tạ lại rừng núi đã quý trọng người nghĩa sĩ, mà cũng dựa vào tên hai làng Thượng ở gần đấy là Bà-linh và Bà-lam. Sau ba năm gần như làm chủ tỉnh Quảng Nam, nghĩa hội ông Hường Hiệu bị đánh tan. Quân Tây và Nam Triều bận đối phó lắm nơi, không kéo tới Linh Lâm. Số nghĩa binh ở đây nhập vào dân làng, nhiều người về quê đón vợ con lên ở hẳn. Bẵng đi khá lâu, bỗng quan huyện cho đề lại và lính lệ kéo lên truy tội cũ. Chúng bắt đánh nhiều người, ăn hối lộ đầy túi, sau đó khoanh hết vùng ruộng ông Hường làm trại ấp tư của một cụ Thượng ở triều đình Huế. Có người còn nhớ việc này xảy ra vào năm Khải Định nguyên niên. Chưa ai trông thấy cụ Thượng đầy cai quyền ấy đến nhận trại ấp nào cả. Chỉ thấy những viên quan trẻ tự xưng là ông Huyện, ông Hậu, ông Thừa, con cháu họ hàng của cụ Thượng đến Linh Lâm để tạo lập dinh cơ cho cụ. Họ đặt mua gỗ gạch ngói, rước thợ từ Hội An lên, xây cho cụ một dinh cơ không lớn lắm nhưng đầy đủ vẻ bệ vệ của nhà quan. Dinh cụ Thượng ở nơi thượng nguồn này vẫn có tấm bình phong đắp nổi hình cọp đằng trước, một vọng lâu cho lính gác trên cổng, bốn bức tường cao vây quanh gắn đầy mảnh chai, và những nhà bên trong xếp hình chữ môn tề chỉnh. Tòa chính đường xây mái cong và đắp lưỡng long tranh châu, phải cái bên trong chẳng có gì đáng giá cho mấy, dường như tới đấy thì cụ Thượng hết tiền. Dinh xây xong, người đến ở lại là một người con gái gầy như con cá khô, bụng chửa vượt mặt, suốt ngày ru rú trong buồng. Chỉ có ông chồng trẻ măng chịu khó đi thăm xóm làng cho người ta trông thấy, được gọi là ông Hậu vì đang học trường Hậu bổ ở Huế. Chẳng bao lâu dân làng đã dò ra tung tích của cặp nọ: cô Tôn Nữ Tuyết Trinh, con đầu lòng cụ Thượng chửa hoang với một anh lính lệ, đã được ông Hậu Đỉnh cưới làm vợ với ấp Linh Lâm làm của hồi môn. Có lẽ vì cố phá thai nhiều lần nên bà Tuyết Trinh đẻ ra cô Tôn Nữ Ung Huyền Tâm quanh năm ốm đau quặt quẹo, nói một câu lại điểm một tiếng thở dài. Tuy vậy, ruộng ông Hường ăn nước đập vẫn tốt đều, vườn chè hằng năm vẫn đưa về xuôi hàng trăm sọt chè khô, dân tá điền ở dồn trong xóm ấp vẫn nộp tô và phục dịch cho dinh quan huyện rồi dinh quan phủ. Cụ Thượng về hưu vẫn chăm lo đường hoạn lộ cho con rể, dù ông này đã lén lấy vợ hai và vợ ba. So với đồn điền La-phạt bên kia sông, giang sơn ông phủ Đỉnh rất ít lên voi xuống chó. Tiếp tới nhóm thứ ba, dường như nắm tiền nhiều hơn quyền, thật ra hai mặt đều vững ngang nhau. Ấy là nhóm các chú, những nhà buôn người Tàu trong đó đứng đầu là ông Xâm Tô, trong sổ đinh ghi là Thái Tam Đa. Ông này đã ngoài sáu mươi, ngày đêm nằm bên bàn đèn thuốc phiện, mỗi tháng chỉ vài lần ra khỏi nhà để đi lễ chùa. Ở nơi hốc núi này, chỉ với một cái bàn tính gỗ lên nước bóng và một cuốn sổ con, ông nắm được và điều khiển được giá quế từ các làng Thượng trên cao tít cho đến các cảng biển Đà Nẵng, Hội An. Ông có họ hàng ở tận Hải Phòng, Sài Gòn, Hương Cảng, Tân-gia-ba. Trừ những món lãi lặt vặt, không ai dám qua mặt ông Xâm Tô khi thương lượng những mối buôn lớn nếu không muốn ông chơi lại một đòn quỷ quái cho sạt nghiệp. Các lái buôn người Tàu thần phục ông đã đành, lái người Việt rủa ông nhưng đều chịu thua ông. Ngay chủ đồn điền La-phạt hay quan phủ Đỉnh cần mua bán gì cũng đến tận nhà nhờ ông làm môi giới mới khỏi bị hớ hênh. Hạng thứ tư trong làng là gia đình ông Cửu Áng hay Xã Áng. Đó là một người mập lùn trạc ngoại tứ tuần, hai gò má chảy xệ, chừa râu mép quặp, có thể gọi là người vui tính nhất làng. Với bất cứ ai ông ta cũng có câu chà pha đùa bỡn và tự mình cười hi hi trước. Đầu làng cuối xóm chỗ nào ông cũng đi tới, can một đám chồng đánh vợ, dắt ông lão say về nhà, xua con trâu thả rông ăn lúa. Mỗi tháng ông chỉ ăn cơm nhà chừng mươi hôm, luôn luôn có nhà nào đó mời ông đến “uống nước” theo lối nói nhũn nhặn ở đây. Nếu không phải quan hôn tang tế thì cũng là cuộc nhậu mừng “đi mọi” về bình yên hay xẻ thịt con heo rừng mới mắc bẫy kẹp. Ông càng uống càng pha trò đậm đà cho vui bữa tiệc, ra về còn nhớ chắp tay vái trước bàn thờ nhà chủ. Người ta mời ông lý trưởng và mời được luôn ông khách dễ dãi và tươi tỉnh. Ông chỉ cầm roi mây hay tay thước khi có quan trên về làng thúc thuế, bắt sưu, miệng hò hét mà con mắt nheo nheo bảo rằng mình chỉ đóng tuồng vậy thôi. Ông nội Cửu Áng bị nghĩa binh cụ Hường Hiệu đâm chết khi đang làm chánh tổng, theo Nguyễn Thân chống quân Cần vương. Cha Cửu Áng thua bạc, tiêu lạm của công, bị dân kiện đi tù và mất triện đồng lý trưởng. Ông Cửu suy ngẫm sự đời, thấy ở nơi sơn cùng thủy tận này không thể thi thố quyền uy như dưới xuôi, phải biết nhu nhiều hơn cương, giáo nhiều hơn trị. Ông biết đóng đủ các vai: ông chúa làng bản xứ khi gặp chủ đồn điền La-phạt, viên lý trưởng khúm núm khi sang ấp quan phủ, một tay thương lái lõi đời khi thăm ông Xâm Tô bên bàn đèn, và ông xã vô cùng bình dâu hồ hởi khi dạo quanh làng. ---------------------------------------------------------- 1. Ông Nguyễn Duy Hiệu cùng các ông Phan Bá Phiến, Nguyễn Thành đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Quảng Nam năm 1885, lập nghĩa hội, xây dựng nghĩa binh, đặt Tân tỉnh ở tổng Trung Lộc huyện Quế Sơn, chiến đấu rất oanh liệt, đến 1888 mới tan rã. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:18:30 pm Một việc bất ngờ đối với các cụ trong làng xảy ra sau đảo chính Nhật: đích thân ông Cửu Áng đứng lên mời anh Ba Mít nổi tiếng ngang bướng làm xã thủ lãnh thanh niên, một chức mới đặt ra khi vua Bảo Đại tuyên bố “dân vi quý”. Tiếp tới hôm làng họp bàn việc tế Xuân, ông Cửu lại lễ phép thưa làng rằng ông hương kiểm nghiện nặng khó lo bề trị an, xin mời ông Chanh, chính danh là ông Tư Chua, ra gánh vác việc làng giúp cho bà con ta an cư lạc nghiệp. Cả hội đồng ngũ hương cùng các cụ lão làng trố mắt nhìn ông Cửu. Ai cũng biết Tư Chua thợ rèn là kẻ chửi bới hương lý quanh năm, lại có con đầu là Cả Chanh, chánh trị phạm bị tù rất lâu không biết sống hay chết. Không ai dám mở miệng cãi ông Cửu. Người ta sợ ông thì ít mà sợ mắc vạ miệng với cha con Tư Chua là phần nhiều.
Làng Linh Lâm hôm nay vào đám tế Xuân. Cứ như những năm phồn thịnh xưa kia thì các cụ bày vẽ ra tới ba đám. Tế đình là tế ông thành hoàng tược sắc phong làm thần. Tế miếu là quải cụ tiền hiền có công quy dân lập ấp. Còn một lần nữa tế âm hồn cô hồn ở miếu âm cô ở ngay gần đấy nhằm tránh mọi sự quấy nhiễu. Riêng số người Tàu còn lập riêng một cái chùa con con của họ, gọi là chùa Tiều, cúng vái vào mùa Xuân cũng chẳng ít. Năm nay gặp thời hoạn lạc, dân làng cùng cánh thanh niên ồn ào đòi cải lương hương tục, các cụ đành chịu làm chung ba cuộc lễ vào một ngày. Các bài văn tế được chép lại bằng chữ quốc ngữ, ông chủ xướng bỏ bớt đi nhiều đoạn hưng, bái, bình thân, phục vị các cụ chánh tế bồi tế đỡ mỏi gối đều bằng lòng. Tế đình xong sang ngay miếu tiền hiền, sau đó đồng dân hội ẩm tận xế chiều, khi cúng âm cô thì số đông đã nói líu lưỡi và đi xiêu vẹo, rượu lậu xứ núi Linh Lâm vốn quật voi cũng ngã. Ông thợ rèn Tư Chua đến chiều đã ngà ngà nhưng vẫn tề chỉnh. Nhậm chức hương kiểm, cai quản mấy chục tuần đinh, ông sửng sốt mất một buổi rồi thấy đắc ý. Bọn người chiếu trên đã chịu nể mặt ông. Lão Cửu Áng chuyên cười cợt kia phải đến nói khó trước với ông để ông khỏi từ chối. Ngày xưa chạy tiền mua chức nhiêu quèn cũng bay đi vài ba sào ruộng, nay ông nhảy vào hội đồng ngũ hương có thực quyền trong tay mà chẳng khao làng xu nào, Cửu Áng còn túm tay ông ông kéo lên chiếu nhì trong cuộc hương ẩm. Ông mặc áo dài đen, đội cái khăn đóng mượn trong xóm chợ, thắt ngang lưng dải khăn điều, mặc quần trắng cháo lòng - lệ thường mượn áo chứ không ai mượn quần - đi đôi guốc mộc hằng ngày chỉ dùng để rửa chân trước khi ngủ. Ông định cầm lưỡi mác cho oai, sau thấy không hợp với ngày tế lễ lại gửi vào nhà quen cạnh đình, đổi cầm sợi roi cày mà ông chặt cụt bớt đi cho giống con roi ngựa. Miếu âm cô lập ngay ở góc vườn đình, đỡ phải đi xa. Dân làng đánh chén no say đã về nhà gần hết; ông Tư chẳng cần hò hét giữ trật tự như buổi sáng. Ông vung vẩy cây roi đi qua lại sân đình cho mọi người tha hồ ngắm và nhớ từ nay phải thưa gửi với ông Hương Chanh chứ không được gọi xách mé là lão Tư rèn như trước. Miếu xây chật, phần lớn các cụ đứng ngoài vái vào. Anh tư chúc viên đậu bằng sơ học yếu lược, dốt chữ nho, vẫn đọc được bài văn tế viết chữ quốc ngữ bằng giọng thống thiết và lè nhè của thầy cúng: ... “Sĩ nông đẳng lưu, công thương các nghệ Du đãng chi đồ, huê nương chi kỹ, Năng u năng minh, viết thần viết quỷ, Hoặc đọa sơn lâm, hoặc trầm lưu thủy Hoặc ngộ xà thương, hoặc phùng hổ tỷ... Ông Tư gật gù. Tay trai trẻ này đọc khá hơn các ông lão biết chữ nho nhưng đã lòa mắt run giọng. Chỉ ngại là các âm hồn cô hồn chết từ xưa không được học chữ quốc ngữ, sau khi đốt văn tế e rằng đọc không ra.. ... Hoặc trầm thuyền thất phách thăng, hoặc tử lộ tam hồn phản vị, Hoặc phùng lôi đả vị đào, hoặc bị hỏa thiêu nan tị, Hoặc sản nạn nhi chung thân, hoặc ôn hoàng nhi yểu thế... (Lược dịch: ... Làm các nghề học trò, cày ruộng, thợ thuyền, buôn bán; là trộm cướp, gái điếm; ở chỗ tối hoặc nơi sáng, kẻ gọi là thần người bảo là quỷ: bị đày rừng núi hoặc chết đuối giữa dòng; bị rắn hoặc cọp vồ; chìm thuyền mất bảy vía hoặc chết đường mất ba hồn; gặp sét đánh không trốn được hoặc bị lửa cháy khó tránh; chết khi đẻ khó hoặc bị bệnh dịch chết non.) Thấy chung quanh yên ắng, ông Tư dừng lại bên gốc cây đa to, trầm ngâm nghe tiếp bài văn mà ông hiểu lõm bõm. Ông chưa già mấy, mới 45 tuổi thôi, mà đã thực mục sở thị biết bao nhiêu cuộc đời chết oan chết ức. Bấy nhiêu mâm xôi thịt cúng sao cho đủ, phải làm như người ngoài Bắc Kỳ đổ cháo trên lá đa thì mỗi âm cô mới được một miếng thơm thảo... Hóa xong văn tế là lễ tất. Anh tư chúc tươi tỉnh bước ra, khom lưng xoa tay trước mặt ông Tư: - Dạ, để xin mời bác Hương.. Ông giật mình, trịnh trọng trong đầu: - Phải. Ông đĩnh đạc đi thẳng lên chiếu nhì, không đợi Cửu Áng kéo tay như hồi trưa. Ông đã nhập vai hương kiểm ở cái làng ven núi lắm vụ xô xát và voi cọp này. Như lời Cửu Áng đến nhà nói riêng với ông, trong thời buổi nhiễu nhương loạn lạc, phi tay ông thì chẳng còn ai đủ sức vỗ yên dân chúng, nghe cứ mát rượi lỗ tai. Tan cuộc rượu chiều thì mặt trời đã lặn. Dãy núi ông Tượng bên kia sông đổ bóng sang làm mặt đất sẫm đen, trong khi nền trời và những mảng mây trắng trên cao vẫn còn sáng rực, soi đường cho bày chim muộn bay hối hả về núi. Ngang tầm ngọn cây trỏ xuống, chim đớp muỗi kéo đến mỗi lúc một đông, chao qua lách lại, đuổi theo làn mây muỗi đang bị ánh đuốc hút tới chỗ sân đình. Từ truông Dơi đã bay ra những con dơi kếch xù nhào lộn trên cao hơn, trông hệt những lá bàng khô cuốn trong gió xoáy. Tiếng voi thi rống vẳng đến từ rừng chuối dại trải rộng trên đường lên làng Blam của người Thượng, báo hiệu có thể động rừng sớm hơn mọi năm. Lửa đuốc từ các ngả kéo tới sân đình mỗi lúc một nhiều. Người nhà quen lệ đi đón các ông chức dịch sau mỗi dịp tế tự, nhất là ở nơi xứ núi càng phải tránh đi đêm mà thiếu giáo mác đèn đuốc. Lứa con trai choai choai hay tranh làm việc này: chưa đến tuổi ra ngồi mâm nơi đình miếu, chúng đi dìu cha hay ông say rượu khật khưỡng về, nhặt những thứ khăn và guốc thường bị bỏ quên, nhất là nhận gói xôi thịt bánh trái chia phần mà chúng ngóng chờ từ trưa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:20:13 pm Ông Tư bước ra sân, nhìn quanh mãi không thấy thằng Bòng nhà ông cầm đuốc tới đón. Ngại mình say hoa mắt, ông gọi to:
- Thằng Bòng đâu? Ớ Bòng! Đứa nào thấy thằng Bòng nhà tao không? Không đứa nào thấy cả. Từng cặp hay từng cụm người rời sân đình theo bó đuốc sặt cháy phừng phừng dẫn đầu, hắt xuống mặt đường những bóng đen nghiêng ngả. Vài anh tráng đinh không ai đón hú gọi kẻ đi trước chờ mình, tất tưởi đuổi theo với cái áo đen vắt vai và đôi guốc cầm tay, thả rơi lại một tiếng chào ông Hương gọi là có. Dù hơi men bốc ngùn ngụt lên mặt, ông Tư vẫn nhớ rằng ông là người duy nhất trong số dân xóm Mới được dự phần chấp sự và ăn cỗ chiều, bây giờ ắt sẽ về một mình. Đường từ đình làng về xóm Mới lại hay gặp rắn hổ mun, tinh mắt đến mấy cũng khó thấy chúng nó trong đêm mồng một này. Ông lầm bầm chửi thằng con một câu, rẽ sang căn nhà rách gần đình, nơi ông gửi cây mác sáng nay. Tuy uống khá nhiều nhưng ông không quên một thứ gì mang theo. Anh chủ nhà là tá điền của của nhà giàu trong chợ, cũng là chân tuần đinh, lại thường đến đặt ông rèn lưỡi rìu và rựa đi “đổi mọi”. Anh ta sốt rét không ra đình, lúc này đã cất cơn, ngồi gọt cây cán rựa bằng khúc cau rừng bên đĩa đèn dầu lai. Thấy ông đưa trả cây roi cày chặt cụt, anh ta xẵng giọng: - Sao không để roi dài mà quất cho sướng, ông hương kiểm? Lòi lẽ có vẻ ngọt, nhưng cái giọng xách mé ấy không lẫn được, ông Tư cười xuê xoa: - Mai kia tao đền vài chục cây. Cho xin khúc đuốc về đường đây, Chín! - Tôi nằm run miết, lấy ai đi chặt sặt bó đuốc! Ông Tư chưng hửng. Thằng này mọi hôm vẫn chú cháu với ông, nay bỗng trở chứng lạ không. Ông gắt anh chàng bằng giọng người lớn trong nhà, bởi chưa quen nạt nộ như đám hương chức: - Làm trò gì vậy Chín? Mày tiếc khúc đuốc với chú Tư à? Anh kia bật cười, buông đoạn cán rựa gọt dở xuống, đi ra hiên sau. Ở đây mọi nhà đều trữ hàng ôm những cây đuốc dài khô nỏ, treo dọc dưới mái đằng sau, cũng cần thiết như cái đồng la và cây giáo sắc trong những đêm chộn rộn. Anh đưa cây đuốc, vẫn cười: - Thổi bễ cho chú rèn, nghe chú rủa miết mấy cha lý dịch trong làng, cháu học thói bướng của chú chớ của ai! Nghe nói chú nhảy lên chiếu trên, tụi này hẹn với nhau: hễ còn chú Tư lò rèn thì còn lui tới, hễ phách lối thì rào đường rấp ngõ luôn. Chú tính sao đó mặc lòng! - Cha chả, tao đã hóa hùm đâu mà bay chĩa mác! Để lần khác tao nói bay hiểu, khuya rồi, về đã. Ông hạ thấp cây đuốc bước ra khỏi nhà, cơn đắc ý cũng như cơn say đều tan mất một nửa. Lát sau ông về đến ngõ. Con chó Đồ nhận ra ông từ xa đã đón sẵn ngoài đường, rít khẽ trong họng và nhảy dựng lên vài cái, chào chủ theo kiểu chó săn nòi không bao giờ liếm chân và sủa nhảm. Ông giụi đuốc bên ngõ cho tàn lửa khỏi bay vào lá khô rơm nỏ trong vườn, đi thuộc đường qua hết vườn, vào sân. Trong nhà đèn đĩa thắp sáng, bếp đỏ lửa. Nhiều người đứng ngồi lố nhố. Một người ngồi trên giường đang kể câu chuyện gì đấy bằng giọng tỉnh khác, chung quanh bật cười rộ. Ông bước lên thềm, dựng cây mác và hỏi đột ngột: - Rèn thứ gì gấp hay sao mà... Tiếng nói tắc trong cổ. Người kể chuyện vừa đứng vọt dậy, gọi lắp bắp: - Cha! Ông hớp một hơi, ho mạnh một tiếng mới kêu được: - Ôi, thằng Chanh... Mày về đó hả con? Đôi guốc và cái khăn đóng xỏ vào bắp tay rơi xuống đất. Ông run rẩy chụp lấy hai vai Cả Chanh, lắc mạnh, lại nắn bóp hai bắp tay Chanh, nói hổn hển: - Lạy trời, nó còn đây... Cha cứ sợ mày tiêu rồi, tù đày sao mà không đánh về được một chữ vậy con... ừ mà nó còn nguyên, không sứt mẻ gì.... Rồi chợt nhận thấy mình mủi lòng quá, ông bật một tiếng “è hèm” thật to, khoát tay: - Ngồi, mời bà con ngồi xuống, ôi chao, thằng Cam nữa à? Sao cứ chỗ tối núp miết vậy con? Nhà mình về đủ hết rồi đó bà. Ông khách nào đây? Cơm nước chưa? À mà có gói xôi đem về cho sắp nhỏ... Các con ông nói nhiều, cười nhiều. Ông chỉ nghe loáng thoáng trong khi mải ngắm Cả Chanh. Nó giống ông nhất nhà với cái trán cao, đôi mày nét mác, cặp mắt hơi xếch, cái cằm nẻ đôi, đến vóc người cũng từa tựa như ông. Nó là đứa con đầu lòng nết na, thông minh mà ông đã chắt bóp cho ăn học hơn ba năm chữ nghĩa trước khi học nghề sửa máy. Ông gửi gắm tất cả hy vọng vào nó, chẳng ngờ nó phụ lòng ông, theo chúng bạn làm hội kín đến nỗi chịu tù đày. Gì thì gì, nó vẫn là đứa ông thương nhất. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:26:13 pm 10. Ở Hà Nội được nửa tháng, Mỹ Duyên lần đầu phải lo nghĩ. Một cô bạn ở gần nhà viết thư cho Duyên, nhờ người đưa tận tay, báo tin ông phủ Đỉnh ra Đà Nẵng truy hỏi con Sen một trận hết vía, dọa đưa nó đi tù nếu nó còn giấu những vụ lăng nhăng của cô chủ. Lần này thoát nhưng khiếp đảm, muốn thôi việc. Ông phủ còn dùng thế quan quyền buộc chủ nhà sửa gấp căn nhà thuê cho Duyên, nay sắp xong. Rất có thể ông đã gửi thư vào Sài Gòn hỏi bà má và cô em ruột của Duyên xem người vợ lẽ ngổ ngáo có vào thăm họ thật không. Đợi Hai Khánh xem thư xong, Mỹ Duyên cười khẩy. - Vậy là anh chưa bị nghi. May cho anh đó. Em đang trù tính giúp anh làm đảo chánh! Khánh giương mắt dò hỏi, Mỹ Duyên rót xong nước sôi vào hai cái phin cà phê, đặt thìa và đường xong mới nói rành rọt: - Em tính đưa anh lên làm chủ một trăm mẫu ruộng vườn ở Linh Lâm. Bấy nhiêu còn ít, về sau sẽ mở thêm, đất lu bù... Dù ngạc nhiên đến mấy, Khánh vẫn quen giữ vẻ điềm tĩnh rất Ăng-lê, đợi Duyên nói hết. Và anh sửng sốt thật sự khi Duyên vạch ra cả một kế hoạch lớn, lâu dài, đã được trù liệu đến từng chi tiết vụn vặt nhất. Tất cả đều nảy sinh trong đầu và nói ra từ miệng một cô gái nhảy chuyển sang gái bao. - Không có đồng tiền trong tay thì thời buổi nào cũng chỉ ngang hàng con Ki-ki. Anh biết đó, ba em mới nằm xuống người đã từ hôn chị Phượng, đến nỗi chị phải nhảy sông lặn đủ ba ngày. Má em bán hàng xén thua lỗ, em đang học trường đầm phải bỏ đi học nhảy đầm, từ Sài Gòn nhảy ra thấu Tu-ran, vui ghê đi... Bây giờ tới anh. Hăm hai tuổi đầu, sống nhờ đôi chút tiền lời của tiệm buôn Lợi Thịnh, học ngốn hết luật tây đến luật ta, nay coi bộ phải dở dang... Chịu khó nghe hết nghen. Biết anh là người hùng kiểu Lê Văn Trương, nhưng anh không thể sống bằng nước lạnh và không khí. Lúc này anh đang thất bại, nhưng có thể chuyển bại thành thắng. Thiệt chớ. Cứ yên chí lớn là con Duyên nó thạo xoay tiền hơn anh, nó nắm chắc việc gia đình phủ Đỉnh hơn anh trăm lần! Mỹ Duyên đang hăng, má ửng hồng và mắt long lanh, trông đẹp hẳn ra. Khánh dán mắt vào cặp môi lúc này không tô son mà vẫn đỏ chót, nghe chăm chú. - Lão phủ mới bốn mươi sáu mà không có con được nữa, thứ bệnh tim la chữa vụng trộm nó vậy. Lão xài sâm nhung với yến sào nhiều quá mới cần đàn bà đó thôi. Bà Cả tới năm mươi rồi, cô Huyền Tâm như lá cải úa vẫn ế chồng, mà có lấy chồng cũng chẳng được xơ múi gì, ruộng vườn Linh Lâm đứng tên lão phủ hết. Văn tự ký vào đúng ngày cưới, anh thấy lão khôn không? Mấy năm gần đây mẹ con bà Cả thì thào với nhau những sự báo ân báo oán, lập bàn thờ Phật, còn tính chuyện cạo đầu đi tu nữa. Lão phủ khuyên họ cứ tu tại gia để trông coi trại ấp ít lâu nữa, sẽ xây riêng cái am cho hai mẹ con tu chung ở đâu tùy ý. Tới đó lão sẽ mở rộng ấp qua bên kia sông, chiếm lần lần hết đồn điền La-phạt... Khánh bật kêu lên: - Em về Linh Lâm bao giờ mà sành sỏi thế? - Lão cho em xem bản đồ. Lão còn khoe bây giờ hết sạch quan chức Tây rồi, thằng chủ La-phạt chỉ mong sống sót là may, quân Nhật lo đánh nhau, quyền hành về tay Nam triều hết. Có thể lão lên Án sát Quảng Nam đó. Nếu em thiệt ngoan, chí thú giúp lão làm giàu, em sẽ là bà Án... à quên, cô Án, cai quản đồn điền quan Án Đỉnh. Bảnh chưa? Vinh hoa phú quý chưa? Khánh cười xòa, nhấp xong ngụm cà-phê mới giở cái giọng trêu chọc hàng ngày: - Dì Ba được lên cô Án thì dính dáng gì tới thằng con riêng của bà Lợi Thịnh? - Dính vô vàn. Dính suốt đời. Lặng im mà nghe dì Ba giảng cho đường đi nước bước... Em nằm khuyên nhủ lão mấy đêm liền. Trại ấp của lão nằm ở chỗ cùng trời cuối đất, già gan thì giàu tấy lên, non gan thì sập tiệm chẳng mấy hồi. Đàn bà con gái như em, giỏi lắm chỉ làm được cái vai ghi sổ sách, giữ tay hòm chìa khóa cho lão, chớ bước ra khỏi nhà là thiên hạ bóp mũi luôn, chết không kịp trối vái. Cai quản cơ đồ của lão phải kiếm được người cao tay ấn kia. Đợi khi lão thiệt bí em mới nhắc tên anh. Anh giỏi luật, nói làu làu tiếng Pháp tiếng Anh, cưỡi ngựa bắn súng như tài tử xi-nê, biết nói ngọt mà cũng biết quất roi gân bò... Lão ngần ngừ lâu rồi mới nhận anh là bậc nhứt. Chỉ sợ anh đang cố giựt cái bằng cử nhân luật, không chịu về Linh Lâm. Sau đó lão phàn nàn rằng anh ít ưa lão, anh coi lão như khách lạ. Đúng vậy không anh? - Đúng trăm lẻ một phần trăm! - Anh dại! Anh chịu khó mềm dẻo một chút, hai đứa mình sẽ làm chủ ấp Linh Lâm, đồn điền Linh Lâm. - Làm cai cu-li chứ chủ quái gì! - Nơi rừng núi có thể xảy ra vô số tai nạn chết người! Khánh cảm thấy một luồng nước đá chảy nhanh từ gáy xuống dọc xương sống. Anh nhấc ly cà-phê lên tợp một ngụm to, thấy nóng ran trong họng và ngực. Mỹ Duyên đã rót rượu rom vào cà-phê lúc nào chẳng biết, rất đậm. Đôi mắt lóng lánh đang nhìn anh như thôi miên. Anh lại uống, ngoảnh mặt đi tránh cái nhìn thách thức ấy. - Sao, anh dám không? Đầu Khánh xoay xoay mỗi lúc một nhanh. Những ý nghĩ lộn xộn cứ bước tới và giật lùi như sóng biển vào bờ, nhưng nước thủy triều là Mỹ Duyên tràn mãi vào anh không ngừng, anh sắp bị chìm ngập rồi, anh khó cưỡng nổi... - Nếu lão phủ biết điều, chúng ta có thể sống tay ba được. Trong cái nội các ở Linh Lâm, anh sẽ làm thủ tướng, lão phủ làm ngoại giao, em nắm bộ tài chánh. Chúng ta sẽ giữ thể diện cho lão, chi tiền và kiếm gái thoải mái cho lão, với điều kiện lão không được mưu mô đảo chánh hai đứa mình.... Anh sẽ là ông chủ đồn điền tân tiến như trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Một ông chủ biết lái xe hơi và nhảy đầm, biết giá cả hàng hóa trên thế giới, biết điều khiển hàng trăm hàng ngàn phu phen mà cũng biết mua máy, mở xưởng, lập công ty, biết ra oai cho người sợ mà cũng khéo làm phước cho người yêu. Thằng Tây La-phạt nó nhìn xa trông rộng hơn lão phủ nhiều lắm, không bị Nhật đánh thì trước sau nó cũng nuốt sống trại ấp của lão thôi. Bây giờ cả ngàn mẫu đất đồn điền coi như vô chủ, ta không nhảy gấp vô là bỏ lỡ cơ hội làm giàu. Để ít lâu nữa, một thằng đảng phái thân Nhật nào đó ném ra mươi lạng vàng đút lót, lập một công ty ma trơi để cung cấp hàng cho quân đội Thiên hoàng, vậy là chúng mình lại y nguyên như cũ là thằng học trò kiết và cô gái nhảy! Anh học đến ho lao ho tổn, chi bàng ra sức làm giàu rồi vất một ít tiền lẻ mua cái bằng, gì chứ bằng cử nhân luật thì quá dễ! Sau đó anh đừng hám thứ tri huyện tri phủ già nua lẩm cẩm, cũng chớ có theo nghề công chức ba cọc ba đồng. Anh làm nhà kinh doanh kiêm chánh khách, dân biểu hay là hội đồng kinh tế, mặc sức mà lựa chọn... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:27:54 pm Điện trong gian buồng nhỏ bỗng tắt phụt. Ngoài cửa sổ điện đường cũng tắt, nhưng xa hơn phía ga Hàng Cỏ vẫn sáng đèn và không có còi báo động, chắc chỉ hỏng một đoạn đường dây.
Bóng tối giúp Khánh thoát khỏi đôi mắt sắc cứ chòng chọc như một mảnh chai bén gí mãi vào tinh mũi anh. Anh bước lại đẩy rộng thêm cửa sổ, hít mấy hơi gió đêm mát dịu, lại nín ngay khi bãi rác bên kia phả vào gió một luồng hơi nóng và hôi. Gian gác gỗ mười hai mét vuông này được giảm giá cũng vì bãi rác ấy, bà chủ còn cho mượn thêm một bàn và hai ghế dựa khập khiễng mà không tính tiền. Chỗ ngủ rất dễ, một chiếc chiếu trên nền nhà, đêm trải sáng cuốn. Trong ngày đầu tiên ở Hà Nội, Mỹ Duyên đã đi chợ trời mua ngay một quạt bàn cũ, một chiếu đôi, một ít soong chảo bát đĩa để nấu thêm thức ăn phụ vào hai suất cơm trọ do bà chủ nấu, còn màn đôi và tấm ra đắp thì cô đã cẩn thận mang theo từ Đà Nẵng. Các gia đình khác thuê chung nhà đều là công tư chức hạng nghèo, họ vui thích khi chị Khánh lột ngay bộ cánh lộng lẫy hôm mới đến, cắp rổ đi chợ cùng các bà các chị trong bộ áo quần giản dị, mua gì cũng nhờ các bà mặc cả hộ. “Đàn bà trong Nam thế đấy, ra đường cứ như bà hoàng, thật ra cũng phải chắt bóp từng xu như ta ngoài này”. Khánh nghe lời đồn ấy chỉ bấm bụng cười thầm, không cải chính. Chỉ riêng anh biết tiền mua kem Véc-giê-nôn mà Duyên xoa quanh bụng mỗi tối cho tan mỡ, giữ eo, đã cao hơn lương tháng của ông ký có bộ râu ghi-đông ca-rê dưới nhà. Mỹ Duyên đến bên cửa sổ, đối mặt với anh. Lặng im khá lâu cô mới tiếp: - Chị Phượng em chết vì đàn ông. Em đã giúp chị trả thù ít nhứt một tá đàn ông. Em liếc nháy cười cợt cho họ mê mẩn, buộc họ quỳ gối dâng tiền cho em xài, xui người này nện người kia. Rốt lại em sa vô tay anh, em cần xin từng chút thương yêu xu lẻ của anh, em.. em biết ơn vì trong khi em ở Hà Nội anh không lui tới với cô thợ thêu ở phố Bờ Sông nữa... anh dành cho em hai tuần trăng mật như vợ chồng... vậy là hết cỡ rồi, em đi... Trong đôi tay ghì chặt của Khánh, Mỹ Duyên vẫn quay mặt tránh môi anh. Hôm sau, chị Khánh tươi tỉnh đi chào tất cả các gia đình trong nhà để về quê, che mặt xấu hổ khi các bà chúc cuối năm sinh con trai, không cò kè khi trả tiền cơm trọ tăng gấp rưỡi mỗi suất ăn và cả tiền điện nước tăng thêm vì một người thành hai. Bà chủ vốn có tính ăn cho buôn so. Mãi đến khi sắp bước lên xe lửa, Mỹ Duyên mới nói thêm một điều cuối cùng: - Em khuyên anh vất sạch đi những thứ luân thường đạo lý cổ lỗ đời xưa. Lão phủ với anh chẳng phải cha con, em với anh đùa nhau là dì con thôi. Hồi trước thái tử lên ngôi là xài ngon mấy ngàn cung tần mỹ nữ của vua cha, kể số gì đâu. Tạm biệt, cũng có thể là vĩnh biệt! Khánh biến thành người không hồn sau cuộc chia tay. Hà Nội rỗng không. Bom đạn va cao xạ không đủ đánh thức anh. Những cô xanh đỏ lượn lờ chỉ là bóng ma. Trường Luật lui về quá khứ. Anh miễn cưỡng đi làm thông ngôn cho mấy anh bạn Việt Minh mua súng qua người trung gian là Ta-kê-đa, nhưng chỉ cặn kẽ mà chẳng còn đầu óc nào làm quân sư nữa. Hà Nội đã đầy nghẹt những người chạy đói ra tỉnh ăn xin, ngày càng thêm những xác đen quắt gục chết ở các bãi chợ. Gạo lên mỗi ngày một giá, mọi thứ hàng đều nhong nhóng theo gạo mà lên. Sau khi hết hy vọng kén chồng cho cô con gái thứ hai, bà chủ ngọt ngào báo tin rằng tháng tới Khánh sẽ phải trả một trăm hai mươi đồng tiền cơm và tiền trọ, ấy là tính giá chỗ thân tình. Khánh còn gắng gượng được thêm một tuần nữa với những anh bạn ăn ít nói nhiều, càng thất nghiệp càng tỏ ra bận rộn, cho đến khi phải ra chợ trời bán xe đạp để đủ tiền mua vé tàu về Quy Nhơn giá chợ đen. Việc mua súng vẫn tiếp tục với một cô thông ngôn mới, nói tiếng Nhật ấp úng như nhai kẹo cao-su. Ta-kê-đa dành chút quà cho Khánh: một khẩu súng ngắn 7 ly 65 với ba chục đạn thu của Pháp, kèm một bản “thân phận chứng thư” của hiến binh cấp để anh có quyền đem súng theo. Các bạn gói riêng cho anh một gói báo chí và tài liệu Việt Minh trong cái bao tải rách, lên tàu sẽ giấu vào một chỗ hơi xa người. Ngoảnh mặt nhìn ra ngoài cửa sổ toa xe, Khánh còn phân vân chưa biết mình về quê để làm gì. Chạy đói, bám theo Mỹ Duyên, hoạt động Việt Minh, hay là giành lấy sản nghiệp của ông bố hờ? Có thể cả bốn việc cùng một lần? Chuyến tàu ỳ ạch càng nhích vào gần Đà Nẵng, Khánh càng bị Mỹ Duyên ám ảnh ngày đêm. Một ngọn bút chì nào đó cứ tô đậm thêm mãi những đường nét của Duyên trong anh. Một họa sĩ vẽ tranh tố nữ sẽ không bao giờ mượn Duyên làm mẫu. Mười hai bà mụ đã thi nhau nghịch ngợm khi nặn ra cô gái này: trên mặt và người cô tất cả đều mất cân đối, đều “quá một tí”. Tóc quá dài, mày quá rậm, trán quá dô, mắt quá to, mũi quá hếch, môi quá đỏ, miệng quá tròn, ngực quá nở, eo quá nhỏ, đùi quá dài, da quá trắng.. Bấy nhiêu thứ “quá” cộng lại làm nên sức cuốn hút lạ lùng của Duyên, ấy là chưa kể bộ óc thông minh đến mức tinh quái và rất nhiều kiểu ăn chơi tài hoa hết sức bất ngờ mà Duyên chỉ tung ra khi thật cao hứng. Yêu Duyên luôn luôn là khám phá, là xuôi thuyền trên con sông đầy thác ghềnh, khác vô cùng với những bà vợ hiền như con kênh phẳng lặng. Khánh không thể hình dung ra mình là chồng Mỹ Duyên, bởi khó tưởng tượng được Duyên trong vai người vợ đảm đang chung thủy. Anh chỉ biết lúc này Mỹ Duyên đang yêu anh, sẵn sàng liều vì anh - cái liều ấy dữ dội gấp ngàn lần cô gái nhà lành dám trốn lén đi xem xi-nê với trai - và mỗi vòng bánh xe đang đưa anh về với vòng tay của nàng. Khi tàu dừng ở ga Đà Nẵng, anh ngẩn người một lát rồi hối hả vác va li, xách bao tải tài liệu, đi vội ra ngoài ra, bỏ luôn đoạn đường vào tiếp Quy Nhơn tuy vé tàu phải mua gấp năm lần giá chính thức. Anh gọi xe kéo về thẳng nhà Duyên, chẳng cần biết có thể chạm trán lão phủ Đỉnh ở đấy hay không. Hai mươi phút sau, Duyên đã nấc lên trên ngực Khánh: - Em biết... anh phải về với em.. - Sao thế? - Vì trên đời này không ai yêu anh bằng em cả. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:29:50 pm Phát-xít Đức đầu hàng không điều kiện. Hồng quân chiếm đóng Bá-Linh. Hít-le chết! Phía chân trời Tây súng ngừng nổ.
Cả Chanh nhận được cái tin động trời ấy khi đi bộ ngược đường 56, ghé qua nhà một huyện ủy viên gần bến phà Huề Bình. Anh đọc vội tờ giấy đánh máy không dấu, một chỉ thị hỏa tốc của tỉnh ủy: các cấp phủ huyện, tổng, làng phải xây dựng rất gấp lực lượng võ trang và sẵn sàng đón lệnh khởi nghĩa toàn quốc cướp chính quyền. Ăn vội xong bữa tối, anh kéo Năm Chò và Cam đi luôn qua truông Dơi bước ngang những dấu chân cọp bằng cái bát in trên bờ khe, về lò rèn của cha theo đường tắt tránh xóm. Trong đêm gặp lại ấy, cả nhà thi nhau hỏi và nói, chỉ trừ bà Tư quen nết không chen vào câu chuyện giữa đàn ông với nhau, chỉ nghe và thỉnh thoảng lau mắt sụt sịt. Vắng mặt Tư Quýt và Năm Bưởi đi rừng đốt than chưa về. Con Thanh Yên mới được hai năm ngủ say từ sớm. Bởi tên là Chua, ông Tư đặt tên cho con bằng tất cả các thứ trái cây chua trên đời: Chanh, Quýt, Bưởi, Cam, Bòng, Thanh Yên là bốn trai hai gái còn sống, mất đi một trai hai gái là Bứa, Khế, Me bị yểu bệnh. Đặt tên xấu dễ nuôi, ai cũng thấy là phải, nhưng ông cố ý đặt những tên có thể giữ cả đời mà không cần sửa lại tên chữ. Khi tính tới chuyện ăn ở trước mắt, ông Tư rất bốc: - Không việc gì phải trốn núp. Tao dấu thằng Chanh với thằng Chò ra giữa đình làng, kêu hết lý hương lại cho họ bái phục tụi bay. Năm Chò đây, còn nhỏ xíu đã biết đánh nhào con Tây xô xuống sông, đáng mặt hảo hớn chưa? Còn Cả Chanh nhà tôi đây, người khác lo luồn cúi các quan, nó hy sanh vì đất nước ông bà, bây giờ lật đổ được Tây rồi, nước mình được Nhựt trả độc lập rồi, công trạng của nó to lắm lắm. Tao cứ vậy tao nói, tao vểnh râu cho mấy cha đó cụp mặt, hà hà hà.. Chanh bấm bụng cười thầm. Anh định căn vặn cha mấy việc: cho thằng Cam đi ở mướn tận Quy Nhơn, nhận làm hương kiểm dưới quyền Cửu Áng, thêm câu chuyện cha nói với cô Hai Thùy trách anh dại dột theo cộng sản. Nhưng thấy cha đang hồ hởi, anh chưa khui ra vội. - Đó, bay cứ yên bụng, tao làm hương kiểm ở cái làng này, đố đứa nào dám qua mặt tao mà quấy rầy tụi bay! - Vậy lính huyện nó lên trói luôn cả hương kiểm thì sao? Ông Tư ngớ ra, rồi cãi lấy được: - Trói tao, tao chống chớ! Giáo mác để chi? - Một mình cha chống sao nổi? - Tao la làng. Ai chớ bọn trai trẻ làng này chẳng vừa đâu. Nội bà con nghèo ở cái xóm Mới tứ chiếng đây, họ ấm ức lâu lắm rồi, lão Cửu Áng cố rước tao vô ngũ hương là để dỗ ngọt dân xóm Mới đó. Mai kia mày gặp thằng Ba Mít thử coi, nó ăn nói ngang như cua mà lên thủ lãnh thanh niên cái rốp! Ông sa vào lý lẽ của con trai mà không biết. Người nghèo phải bênh vực nhau, muốn vậy phải bí mật gặp nhau, bàn mưu tính kế trước cho rập ràng. Khi thật mạnh rồi mới ra mặt, giáo mác ná tên chĩa ra như con nhím dựng lông, bọn người chiếu trên chẳng những cụp mặt mà còn sụp xuống lạy như rái giỗ cha mà sướng cái bụng! Dân ngụ cư tứ chiếng đồn Linh Lâm làm ăn khi tất cả đất vỡ ruộng đã vào tay chủ Tây La-phạt, ấp phủ Đỉnh, các nhà giàu hoặc khá giả trong xóm Chợ. Họ chỉ còn một hướng để loang ra: ngược dòng sông Linh và các khe suối chảy vào sông Linh, bám nguồn nước để phát rẫy lấn mãi lên vùng núi Ngọc Linh hiểm trở. Người đến sau dựa vào đất người đến trước cho đỡ lạnh lưng nơi hẻo lánh, người đến trước rủ rê giúp đỡ người đến sau lập trại mới làm bình phong và có nơi nhờ cậy nhau khi tối lửa tắt đèn. Ông Tư nói đúng: đâu chứ ở xóm Mới này, dù ích kỷ đến mấy cũng phải châm đuốc cầm mác chạy tới khi nghe la làng, không thế thì về sau anh bị cọp vồ ngay trước mắt người ta cũng chẳng thèm động ngón tay cứu anh. Trước kia ông Tư trồng trọt ngay chung quanh lò rèn cho dễ trông nom. Sau đất xấu dần, ông phải vỡ xa hơn, nhưng vẫn bám dòng suối gọi là khe Hội vì từ dương Hội chảy ra. Ở đây các đồi núi gần làng xóm đều gọi là dương, và cái tên dương Hội ghi lại cái tích ngày xưa dân làng cùng với nghĩa binh ông Hường Hiệu mở hội vây cọp ở đây, đâm chết một con hùm xám nghiện thịt người, nó chẳng nể quỷ thần đã nhường dải đất mạn Đông sông Linh cho người khai khẩn. Năm ngoái ông Tư phát rẫy xa nhà chừng nửa cây số, năm nay trước lễ tế Xuân đã phát dọn lại rẫy cũ ấy. Cả Chanh quyết định sống trên rẫy, không ở nhà. Năm Chò chẳng cần giấu mặt, sẽ ra mắt đám lý hương và xin phép ở với ông Tư học nghề rèn. Trong làng không ai biết chuyện thằng Sáu Cam đi hoang vì lão phủ Đỉnh giấu biệt, chắc cũng sợ mang tiếng là đem trẻ con bỏ chợ, coi như êm. Tờ mờ sáng, cả nhà ông Tư kéo nhau lên rẫy, gánh theo ba gánh tranh cắt phơi sẵn định lợp lại chuồng trâu. Chỉ trong một ngày, Cả Chanh đã có một chòi rẫy mới dựng sát bìa thay cho cái chòi cũ quá gần con đường mòn. Từ chỗ anh ở anh có thể trông thấy những ai băng qua rẫy đi tới chòi. Ông Tư rất khoái khi thấy anh tự buộc một bộ bàn ghế để ngồi viết bằng tre, mây và những cọc chôn xuống đất. - Ờ, ờ, người có chữ ở nơi thảo lư cũng cứ ra người có chữ. Ai tới gặp họ phải nể mình, trượng mình. Thấy Chanh băn khoăn tìm chỗ cất giấu tài liệu sao cho khỏi ướt và mối xông, ông nghĩ một lát, tức tốc chạy về nhà. Chẳng nói chẳng rằng, ông trút bừa cái thạp đựng đậu phụng ra giường, xách luôn cái nồi rang bằng đất và một chiếc quang bằng dây thép đang dùng để treo trã cá dưới mái nhà, đi vội ra rẫy. - Đây, bay coi tao giấu các thứ giấy tờ hay nhứt thiên hạ. Hồi năm Ngọ, con Bưởi mới đi men, cộng sản dậy dữ lắm, quan lính đi soát nhà hốt hết cả gia phả, phủ chí, khế ruộng, còn xăm nát nhà tìm súng với cờ cộng sản. Người ta giấu vầy đây mới thoát. Ông đi vào rừng mươi bước, chọn một cây rậm lá, úp cái nồi rang trên miệng thạp sành, đặt cả vào quang, leo lên treo vào cành cây, leo xuống nói oang oang: - Lính nào leo cây soát xét hết rừng này, tao đi đầu xuống đất! Ông chẳng cần biết con ông làm cộng sản, làm Việt Minh hay không, theo vua Bảo Đại hay theo ông lớn nào. Nó về với ông đây rồi, gầy yếu đi nhưng không đui què mẻ sứt, sửa được tới cái xe lửa to bằng đình mà lại học lắm chữ nghĩa đến nỗi dạy cả mớ học trò trong tù, như lời Năm Chò kể trong khi làm chòi. Nó về làng để cứu giúp dân lành khỏi bị những sự ép bức, ái chà chà! Được lại một đứa con như vậy, lính tráng nào chĩa súng vô nó thì ông phanh ngực ra đỡ đạn cho nó lập tức! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:32:00 pm * * * Lắm kẻ chưa bao giờ thấy ma nhưng rất sợ ma. Cửu Áng chưa hề thấy một thứ gì của Việt Minh cộng sản nhưng đang trải qua những cơn sợ rợn gáy. Dường như trong làng đang có nhiều thay đổi bí hiểm. Quán mì Quảng bánh xèo của bà Hai sẵn rượu lậu ngon cứ ngày một vắng. Sòng xóc đĩa của trùm Bân xưa nay chia tiền hồ cho ông Cửu rất đều, nay đến báo đã dẹp hẳn vì ế ẩm, thu hồ không đủ dầu đèn, trà nước. Anh hương sư bỏ dạy đi buôn từ lâu bỗng tình nguyện mở lớp dạy đêm theo kiểu Hội Truyền bá quốc ngữ. Lại có những nhóm trai trẻ xúm chùm bàn thì thào, thấy ông cửu đến chợt ồn ào rủ nhau đi đánh cá sông. Ghé vào nhà nào đấy, thỉnh thoảng trẻ con trả lời rằng cha hay anh đi đâu chẳng biết. Một tốp tuần đinh kéo qua thưa rằng đi tuần, nhưng ông Cửu hút hết ba điếu thuốc nguyên lá to tướng vẫn không nghe chó sủa ở đâu cả, tuy trong làng nuôi rất nhiều chó. Tình thế này, nếu có thứ gì phải giấu, ấy chỉ có thể là hội kín. Việt Minh chưa từng treo cờ rải giấy gì nhưng ông cảm thấy họ lẩn khuất đâu đây như bóng ma sau lưng ông. Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, khi họ kéo dân nổi dậy thì lạy van nộp triện là thượng sách, đành chịu mất toi mấy sào ruộng đã bán để giật cái triện ấy về mình. Ông đã bạo tay chơi liên tiếp hai con bài Ba Mít và Tư Chua. Đám dân ngụ cư tứ chiếng coi bộ bớt hằn học với ông sau khi có người của họ lọt vào hàng hương chức. Bây giờ phải chơi tiếp. Tư Chua mỗi khi gặp ông thường hỏi Nhà nước đã bắt được Cả Chanh chưa, để biết nó còn không. Hỏi thật hay giả khó hiểu được, nhưng mỗi lần gặp Tư Chua ông lại xởi lởi mở chuyện trước. Sáng nay cũng vậy, ông kéo Tư Chua vào nhà mình: - Nghĩ mà phục hết cỡ đó ông Hương. Là tôi nói anh Cả nhà ông chớ ai. Giữa hồi quốc phá gia vong mà ảnh liều thân đi lo việc nước, làng mình chẳng có ai nuôi chí lớn tới vậy. Ông mời chén trà điếu thuốc, xoa tay thì thào: - Chưa có tin gì đâu, ông Hương. Coi như ảnh đang tung hoành ngoài vòng cương tỏa. Mai sau không biết chừng ảnh cầm quân về làng như ông Từ Hải, mặc sức tụi này lo bề rước xách! Tới đó ông nhớ tôi nghen, chỗ bạn già với nhau! Cũng trong buổi sáng nay, Hai Khánh thả lỏng tay cương cho con ngựa đi bước một qua xóm Chợ. Anh chịu khó chào tất cả những người gặp dọc đường, riêng đối với các cụ già còn kèm một lần cúi rạp trên lưng ngựa. Anh biết cả làng Linh Lâm này không ai ghét anh. Ghen anh tốt phước thì có, ghét hẳn thì không. Từ khi ông Phủ Đỉnh thôi giấu vụ lấy vợ lẽ, anh thường về ấp nghỉ hè. Bà Tuyết Trinh với cô Huyền Tâm ốm yếu vừa gờm vừa lôi kéo anh, bởi anh có thể lên làm chủ ấp mà cũng - nếu Trời Phật xui khiến - có thể làm chồng cô Tâm bạc phận. Anh dửng dưng mọi sự, chỉ mải mê vác súng hơi đi bắn chim, bơi sông, phi ngựa, có hôm sang đồn điền La-phạt cùng đi săn thú lớn với cha con thằng Tây. Nhiều lần bà Cả nhờ anh đi coi gặt chia đôi vụ tháng Năm, anh dễ dãi để cho tá điền gánh tăng phần lúa tô rẽ về nhà họ mà không nhận lễ tạ riêng cho mình. Lang thang đi bắn, anh gặp những người lén đến những khu rừng đã khoanh vào ấp để đốn cây chặt củi, chỉ cười cười xua tay: “Của rừng núi mà, các ông bà cứ lấy”. Nông dân ở đây thấy ông phủ hách dịch, bà phủ riết róng, riêng cậu Hai Khánh là biết thương dân nghèo. Khánh cứ của người phúc ta, chẳng vạ gì mà làm con ma xó cho một gia đình mà anh miễn cưỡng gọi bằng ba với mẹ dù không hề mang giọt máu nào chung với họ. Chiều ý Mỹ Duyên, anh đã về Thăng Bình và gây cảm tình với phủ Đỉnh. Quan phủ đang lúc hết sức bối rối. Một nhóm trí thức thân Nhật nhảy vào nội các Trần Trọng Kim đang cố lắp người của họ vào những chỗ then chốt của bộ máy Nam triều. Ở tỉnh Quảng Nam, số trí thức nửa mùa lựa gió phất cờ cũng cố ngoi lên, đòi thay tất cả các quan lại đã từng làm tay sai cho Pháp. Ngay trong phủ này đám nhãi nhép như hương sư, thầy lang, cai đội về hưu cũng rục rịch bàn nhau “đi khiêng ông phủ” trả cho tỉnh. Các chánh phó tổng, lý trưởng phó lý lên trình quan mà mặt mày thất sắc, báo toàn những sự Việt Minh treo cờ rải giấy, xui dân làm loạn, có nơi đánh trống họp làng để tuyên truyền “đánh Tây đuổi Nhựt”. Họ lạy van xin trả chức, ít nhất cũng xin trùm mền nằm im ít lâu. Quan phủ vừa dỗ vừa dọa mới giữ được họ nắm triện chờ thời. Toàn phủ lúc này chỉ có ba chục lính lệ với mười hai cây súng mút-cơ-tông và bốn chục đạn, đem bắn thử thì hai viên nổ một, còn kẻ cầm súng thì chỉ quen quạt hầu châm đóm, nghe đạn mình nổ cũng són đái trong quần. Lấy gì mà chống Việt Mình? Phủ Đỉnh ngờ ngợ một buổi mới nhận ra Hai Khánh có vẻ trọng nể mình hơn trước, bớt lầm lì dè giữ. Sau đôi lượt hàn huyên, ông càng tin mình đoán đúng. Gã con trai này chịu xuống nước vì tắc mất hoạn lộ, mẹ nó không nuôi báo cô được mãi, nó đang cần dựa vào ông, mà ông cũng rất cần dùng nó làm cánh tay phải để mở con đường lui. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười Hai, 2015, 01:35:55 pm Đêm đến, ông đuổi lính hầu ra, gài chặt cửa, pha ấm trà sen, bày khay rượu Mai quế lộ dầm sâm và chùm nem chua, bàn việc nhà với Khánh:
- Ba thấy con về quê là phải, Hai à. Đang hồi sóng gió này, thầy trò ai lo phần nấy, bụng dạ nào mà dạy với học. Con nghỉ vài năm, tới khi thái bình thịnh trị con lại học tiếp, học luật mới, có thể là hiến pháp mới. Hễ ba chưa về hưu chắc cũng phải học lại hết, luật La-mã với Quy-giát 1, luật Hồng Đức với Gia Long của ba xưa quá rồi... Con về Qui Nhơn thăm mẹ với các em ít ngày cho vui. Nhưng mà ở hẳn Qui Nhơn thì không nên đâu con. Mẹ con buôn bán, có các em giúp là đủ, con chen chúc với đám thương nhơn đa trá chắc là chịu không nổi, uổng phí mất tài năng đi. Ba trù tính vầy, con nghe thử coi: con về trên ấp Linh Lâm giúp mẹ trông coi ruộng vườn một thời gian. Ba nhắm giữa hồi hỗn quan hỗn quân này, ta lấn qua đồn điền thằng La-phác-sơ được đó. Lâu nay ba mới thăm dò mà chưa nói gì với cụ Thượng, tại ba dính chân ở cái phủ chó ăn đá gà ăn muối này, không lên thu xếp tại chỗ được. Hễ con chịu ra tay thì ba chạy đủ giấy tờ, cũng lẹ làng thôi Hai à... Khánh hơi rùng mình khi cảm thấy sức mạnh ghê gớm của Mỹ Duyên. Nàng đã nói trước tất cả những điều hôm nay ông phủ nói, dặn trước những câu mà Khánh phải đáp lại. Khánh sẽ làm ra vẻ do dự, sẽ cảm thấy khó xử trước mẹ con bà Cả, sẽ xin khất mấy hôm để suy nghĩ... “Bấy nhiêu cái đã, rồi anh ra đây bàn tiếp với em, lấy cớ đi vô Tam Kỳ thăm bạn. À, anh nên khuyên lão phủ đưa em về ở với lão nghe chưa. Lý do: dì Ba còn trẻ, ở một mình e rằng có kẻ dòm nom. Lời khuyên đến tai em, em sẽ lồng như ngựa chứng, nói rằng thằng Hai Khánh nó ỷ học cao, con này dù thân gái nhảy cũng vô bậc bà dì mà nó dám coi khinh, vân vân. Nhớ hết chưa đó?” Sinh ra sớm vài thế kỷ, tiến vào cung vua, Mỹ Duyên rất có thể lên tới ngôi thái hậu buông rèm trị nước! Mọi việc diễu ra gầu đúng y mưu mẹo của Duyên, chỉ khác một chút là đôi trai gái rời nhau không nổi. Khánh ở lỳ trong một phòng trọ kín đáo tại Đà Nẵng đến mươi ngày mới trở lại phủ đường của ông cha hờ, nhận việc. Phủ Đỉnh hớn hở ra mặt. Ông bỏ hẳn một ngày đêm để cùng với Khánh nghiên cứu địa thế Linh Lâm trên tấm bản đồ lớn 1/20.000 của sở đạc điền Pháp, tự tay sửa những tên đất bị in sai, lập danh sách những ai cần mua chuộc, cần cô lập, cần trừng trị. Trong số đáng trừng trị có ông Tư Chua. Cả Chanh chính trị phạm thì gặp đâu bắt đó, thằng cộng sản gộc ấy nguy hiểm nhất. Nó là dân Trung kỳ, án tù của nó là do Nam triều phán quyết chứ không phải của chính quyền Bảo hộ cho nên còn giá trị, vì vượt ngục nó không được hưởng nghị định ân xá của nội các Trần Trọng Kim, tờ trát tróc nã nó vẫn dùng được. Khánh nghĩ thầm: “Và nó cũng là người đầu tiên mà tôi phải bắt liên lạc tại huyện Tây Quảng”. Anh suýt bật cười, lại nín kịp, tự khen mình đóng kịch khá. Sáng hôm sau, phủ Đỉnh cho xe hơi của mình đưa cậu cử lên thẳng Linh Lâm. Lính vệ vác va-li anh xếp vào thùng xe, trong va-li có một gói to tài liệu Việt Minh và khẩu súng lục 7 ly 65 của Ta-kê-đa. Khánh đã tự mình đưa súng ra cho ông phủ thấy. Ông hơi tái mặt, lại hồng hào nhanh sau khi xem tờ chứng thư của hiến binh Nhật viết tay đóng dấu: không đọc được chữ thảo hi-ra-ga-na của Nhật, nhưng phần chữ Hán chen vào đủ rõ nghĩa. Ông còn cố nheo mắt đọc chữ trên con dấu đỏ: Đại Nhật Bản, Nam phương quân, Hiến binh đội, Hà Nội. Vẻ kính phục của ông hiện rõ đến nỗi Khánh nhìn đi chỗ khác cho ông khỏi ngượng. Người giúp việc của ông quả là cao tay ấn, ngoặc ngay được với nhà cầm quyền mới! Trong khi tài xế đổ cồn vào xe, ông giúi vào tay Khánh một phong bì to: - Ba mới kiếm thêm được một ngàn nữa, con cầm mà tiêu... Ồ chào, khách khí gì vậy Hai! Thì coi như ba cho vay, về sau chắc con trả ba gấp mười. Hậu sanh khả úy mà! Khánh nhét tiền vào túi mà áy náy thực sự. Đối với con người mập lùn và khá to bụng đứng trước mặt đang ngửa cổ nói chuyện với anh, Khánh bắt đầu thấy có chút gì đó như thương hại. Dù sao ông ta cũng tin mình, muốn được lòng mình. Với lại đã cắm sừng lên trán ông ta mà còn nhận liên tiếp hai ngần bạc, anh thấy mình... đểu đểu thế nào. Mãi đến khi xe đã đi khỏi phủ đường khá xa, Khánh mới giật mình nhớ lại những câu chuyện của Duyên. Lại Duyên! Nàng dặn: - Lão sẽ nói tình cảm với như để ruột ngoài da, sẽ trả giá đắt để mua anh. Sau đó lão cử tay chân rình mò anh từng chút, nếu anh phản thì kêu mật thám xích tay anh liền. Chưa hết đâu. Anh vào tù, lão sẽ vào xà-lim khóc sụt sịt thương anh, bước ra lão bấm khẽ tụi mật thám biểu tra điện anh thêm mươi lần nữa, sức anh còn chịu nổi!. ... Khánh đã cưỡi con Hường đi hết một vòng xóm Chợ, bến sông, đã chào đến trăm người là ít. Anh lưỡng lự một phút rồi rẽ cương sang xóm Mới. Anh cán bộ Việt Minh ở Đà Nẵng dặn anh đừng tới nhà Cả Chanh trong vài ngày đầu, đừng để lộ ra là cố ý đi tìm. Anh viết lá thư giới thiệu bằng một thứ hóa chất không màu, trên tờ nhãn thuốc bọc quanh ve dầu Nhị thiên mà lúc này Khánh đang bỏ trong túi áo blu-dông. Lò rèn ông Tư Chua vắng tanh. Con chó lao vào sủa dữ. Một bà chừng ngoài bốn mươi đang cuốc đất ngoài vườn hối hả bước vào, giật mình đứng sững khi thấy người cưỡi ngựa. Con chó không nghe chủ cất tiếng mắng, chồm đứng lên ngay, nhào tới chực cắn vào chân ngựa. Khánh vừa đạp chân nâng bước xuống vừa cười: - Chắc đúng nòi chó săn... Bác không nhìn ra cháu à? - Ai như cậu Hai Khánh hả? Tôi bây giờ mắt mũi lèm nhèm... Mời cậu vô chơi. Giọng bà lạnh ngắt; mời mà như xua. Hỏi một câu bà trả lời đúng một câu, không hơn. Ông Tư đi việc làng. Mấy đứa đi chặt củi đốn than, cảm ơn cậu, nhà cũng thường thường. Khánh biết không nên hỏi thêm, chào vội, nhảy lên ngựa trở về ấp. Có thể chính Cả Chanh sẽ được lệnh bắt liên lạc với anh, chứ anh cố tìm cũng vô ích. ---------------------------------------------------------- 1. Jacques Cujas, nhà luật học nổi tiếng của Pháp, thế kỷ 16 Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:39:38 am 11. Sau mươi ngày bận đốt rẫy, trỉa lúa, hầm than, ông Tư Chua lại nổi lửa rèn tiếp. Không cần đến xem, dân xóm Mới cũng nhận ra đủ ba thứ tiếng búa. Búa đập choang choác lộn xộn là của người làng đến tự tay sửa một đồ dùng gì đấy bị hỏng nhẹ. Búa gõ đều và giòn là đám con cháu ông Tư làm nguội các loại hàng rèn xong. Tiếng búa quan trọng nhất của lò rèn nổi lên từng đợt gấp rút, nghe nặng và mềm như chày nện đất, ấy là khi thợ cả kẹp tấm sắt nung đỏ đặt trên đe lớn và hai thợ phụ lực lưỡng đánh búa to thật nhanh trước khi sắt nguội, phải vùi trong lò, thổi bễ phì phò năm bảy phút nữa cho dẻo lại. Chín năm trước, ông Tư đưa vợ con lên Linh Lâm kiếm sống, bộ đồ rèn chở nặng một chuyến đò. Quê gốc ông ở vùng cát huyện Hòa Vang, người đánh cá và trồng khoai ít cần đồ sắt, khó làm ăn. Năm đầu ông lo phát rẫy, làm nhà, chỉ rèn qua loa những thứ rìu rựa cho lái buôn “đổi mọi”, chẳng kể xấu tốt. Đột ngột ông nổi tiếng khi tung ra bán những chiếc bẫy kẹp heo nai loại dưới mười ki-lô, chỉ hai chục đồng một chiếc. Vài nhà mua về dùng đầu tiên được lãi rất to, mỗi tháng ăn vài con thịt là thường, trong khi cha con ông Tư chỉ gài hai bẫy quanh nhà cũng được năm sáu con thú đến phá rẫy. Người ta ùn ùn đến mua kẹp heo, ở tận dưới Trà Linh, Dùi Chiêng cũng lặn ngòi ngoi nước lên đặt rèn và đợi lấy mang về. Đến khi tất cả những giống nai, mang, heo rừng chồn cáo trong vùng đã biết và khiếp đôi hàm răng sắt của bẫy, ông Tư lại vang danh lần nữa khi bắt được con cọp đầu tiên bằng cái bẫy kẹp loại năm chục ký, chưa ai dám mua với giá bảy chục đồng tức là xấp xỉ hai mươi tạ gạo. Dân làng kéo đến xem con cọp, xem bẫy đều lè lưỡi: khiêng bẫy đi đặt phải hai người khỏe, ép được đôi cánh bật của nó xuống phải dùng hai cái ê-tô mua tiệm Tây tận ở Tu-ran. Thấy thiên hạ trầm trồ mãi mà chưa bỏ tiền ra. Ông Tư bốc máu chơi ngông. Được con cọp thứ hai, ông không nối giáo đâm chết ngay. Ông gọi đám trai trẻ đến, chặt nhiều cây tre dài đè chịt nó xuống, thả dây trói nó lại như bó giò, chừa cái miệng cho nó gầm gào thả sức, khiêng về để trước sân nhà mình suốt hai ngày đêm. Cả làng xách rượu và đồ nhậu đến, ôm theo cả trống, mở hội ngay ở lò rèn với rất nhiều già trẻ say rượu hát bội mần tuồng, trong khi bà Tư phải ẵm con đi ngủ nhờ xóm Chợ và tất cả chó trong xóm Mới trốn sạch chẳng còn con nào. Chơi chán ông mới giết và đem biếu mỗi nhà một chùm nem thịt cọp, khá ngon vì trúng con cọp cái tơ. Rèn bán tới chiếc bẫy cọp thứ tư - trong làng chỉ bán được một chiếc cho phủ Đỉnh - thì gặp chiến tranh. Thép tốt lên giá gấp mấy chục lần, mà ông giữ tiếng không muốn làm hàng tồi, bèn thôi rèn bẫy. Tuy thế những người mua bẫy của ông vẫn thỉnh thoảng cho con xách tới biếu ông một tảng thịt kèm chai rượu lậu mỗi khi được thú rừng. Ông thợ rèn tài hoa ấy lại là người dễ dãi. Khách từ xa đến còn phải ngã giá trước, chứ trong làng xóm cứ liều liệu chín bỏ làm mười, khất nợ đến mùa quế hay mùa lúa trả ông cũng xong. Sửa chữa vặt thì khỏi tốn tiền, về sau đi rừng đem về biếu bà Tư ít mật ong hay cho con ông mấy quả ổi, lấy cái tình là đủ. Ai cò kè bủn xỉn quá thì lần sau ông không giúp, vậy thôi. Dần dà lò rèn ông Tư biến thành nơi họp xóm. Đình chùa có thể vắng, chứ lò rèn đã dậy tiếng búa thì tất cả đàn ông không quá bận đều thu góp những thứ sút cay gẫy cán trong nhà, giắt lưng túm chè ngon, chiết một chai con rượu nếu có sẵn, lần lượt kéo đến. Trên lò than luôn luôn treo sẵn cái ấm đồng to hưởng hơi lửa thừa, tiện ai người ấy pha chè cùng uống. Hôm nào không có thức nhắm mang đến, bà Tư sẽ moi trong cái bồ treo trên giàn bếp lấy ra mớ thịt sấy khô, ngon thì nai mang, xoàng cũng là thịt voi thái mỏng giần mềm. Ông Tư vừa rèn vừa góp chuyện. Đến khi nghỉ tay uống nước, ông ghé ngồi xổm bên cái nai đặt trên đất, cùng nhấm nháp với bà con vài chén. Không biết bao nhiêu câu chuyện trên trời dưới đất đã được kể giữa hai đợt đánh búa, trong tiếng bễ và lửa phùn phụt vui tai. Nếu ông bận rèn vật khác thì khách cứ xếp các thứ hư hỏng vào góc lò, xong việc chính ông sẽ sửa hộ và ném lại đấy, về sau đến chọn mà lấy. Hôm nay ông không ngồi lò, mà giao cho anh Tư Quýt rèn. Ông gật đầu chào bà con kéo đến, lại chăm chú nhìn từng cử động của Quýt, thỉnh thoảng nhắc một câu cụt ngủn. Quýt đang dựng đứng một lưỡi rựa mới rèn thô xong, nung đỏ lại, dùng một cây đục thép kẹp vào cán ngang như cái rìu chẻ dọc rựa ra để lắp một tấm thép mỏng và hẹp bản, sau sẽ đập lại cho sắt ép ăn liền vào nhau. Rựa được rèn kiểu ấy rất khó gãy vì có hai má bằng sắt dẻo, khi mài lại bén như dao cạo nhờ tấm thép cứng nằm giữa lưỡi cắt. Người đánh búa trong kiểu rèn phức tạp này lại là Năm Bưởi, em gái Tư Quýt. Con gái ở lò rèn chỉ chuyên thổi bễ, gánh nước, tiếp than, cùng lắm thì giũa hay mài những lưỡi rèn xong. Bưởi lâu nay vẫn làm như thế, cho đến một hôm bị Tư Quýt chê nặng: “Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu, ngồi trên ghế bễ mà cứ trô trố con mắt ngó trai, thúc kéo bễ cả chục lần không nghe. Thà tao thuê con nít còn hơn!”. Bưởi vốn tính ngang tàng, lập tức nhờ một chị đến sửa cuốc thổi bễ hộ, giành đánh búa cho cha rèn. Sau mấy buổi trầy trật, mệt đứt hơi, đau khắp thân như bị đòn hội chợ, Bưởi đã đánh búa khá thạo, còn báo trước sẽ ngồi lò như thợ cả! Ông Tư can nó nhưng vẫn thấy khoái cái tính dám liều rất giống ông, thường gọi nó đánh búa khi rèn những thứ cần người thợ phụ khéo tay hơn là mạnh sức, biết xem vật rèn đã tới đâu để hạ nhát búa nặng hay nhẹ, đứng hay chếch, nhặt hay khoan. Ông Tư Chua lơ đãng cầm lấy điếu thuốc Thượng quấn nguyên lá vàng hườm, rất to, lại lơ đãng châm vào hòn than bồng mà ai đó kẹp đưa trước mặt. Vẫn nhắc con bằng những tiếng cộc lốc, ông miên man nghĩ đến tất cả chúng nó, bốn trai hai gái còn lại của nhà ông… Đã rõ ràng là con Năm Bưởi sắc sảo hơn thằng Tư Quýt. Con Bưởi không đến nỗi xấu xí, nhưng cái mặt hơi nhọn và nhất là hai gò má nhô cao thường bị chê là tướng sát phu... Tư Quýt đã hai mươi tuổi, nếu gặp đứa ưng ý chắc nó cũng bằng lòng lấy vợ. Thằng Cả Chanh hai mươi sáu tuổi ta, vào làm thợ máy tính lại tuổi tây là hăm lăm, nói sự vợ con là nó gạt phắt, muốn có cháu nội, chỉ trông vào thằng Tư thôi... Giữa hai đứa ông bỏ mất thằng Hai Bứa chết khi chưa đầy tuổi tôi, con Ba Khế chết bệnh bảy năm trước, có người ác khẩu nói nó buồn chết héo vì bị ép duyên, ông nghe mà tức ói máu. Tới năm Mùi, tức hai năm trước, con Tám Me lại cướp công cha mẹ, ra đi khi mới lên bảy: - Chẻ dài thêm đầu mũi! - Cho phía cay sâu nữa, Quýt! - Nhẹ nhẹ, Bưởi. Gõ xéo cho đục vô eo! - Đổi búa! Thằng Tư ngồi lò đã gọn gàng. Cũng như những đứa con khác, nó biết làm ăn cùi đày. Nghề rừng, nghề mộc, nghề ruộng rẫy, gì nó cũng trải qua đôi chút, ở đất này phải vậy. Nhưng nó thiếu cái nết ham học và bộ óc linh lợi của thằng Cả. Dạy thằng Cả thì suốt ngày phải trả lời hàng trăm câu hỏi, lắm lúc ông phát gắt. Còn thằng Tư ngược lại cứ lặng thinh, biểu gì làm nấy và chỉ làm vừa phải, cầm chừng. Thằng Cả rời tay búa là vớ cuốn sách học chữ, thằng Tư chỉ đi chơi rông và ngủ. Gặp việc gì khó, thằng Cả nhào vô thử sức ào ào, thằng Tư lẩn tránh hoặc khoanh tay ngồi chờ người giúp. Bởi vậy, tuy không nên chia ra con thương con ghét, ông vẫn yêu và nhớ đứa con đầu lòng hơn. Trong bấy nhiêu năm nó làm thợ và ở tù, ông đưa nó ra làm mẫu hoài hoài khiến cho thằng Tư nổi cáu: “Phải, ảnh thì cái gì cũng giỏi cũng tốt! Ảnh lo bay nhảy một mình, còn dở như tôi lại bị sai vặt cả ngày, la lên rầy xuống!” Ai đó nữa bưng mời ông một bát to nước chè rất đặc. Ông gật đầu nói hú họa: “Phải á”, mắt vẫn không rời lưỡi rựa đã nung trắng lại và đang nện búa dồn dập cho liền sắt thép. Con Năm đánh búa to, thằng Tư cũng đập búa tay. Rựa được lật qua lại liên tiếp cho sát miết xuống thật đều hai má. Nó ngả sang đỏ tươi, đỏ bầm, đỏ nâu, đen dần đi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:41:55 am Năm Bưởi hạ búa, đưa ống tay áo quệt mồ hôi đọng thành giọt to trên trán và chót mũi. Tư Quýt nhấc lưỡi rựa định ném sang chỗ làm nguội, đã nghe cha gọi:
- Thêm lần nữa, Quýt! Anh khẽ nhếch mép cười, xóc rựa vào lò than hồng. Anh vơ cây chổi cán đài bó bằng những sợi vỏ cây tước nhỏ, dũi vào hố nước bùn, đưa lên quét tấp lò than cho phủ kín rựa, nghĩ: - Con rựa này, chắc ông già tự tay làm nguội và trui lại cho coi. Rèn cho anh cả mà! Không ngờ ông Tư đặt bát nước, uể oải bước tới chỗ ngồi lò, nói có vẻ thờ ơ: - Xê chỗ, tao coi lại thử... Quýt và Bưởi cùng cười thành tiếng, bỏ sang chỗ uống nước. Rèn cho anh Cả có khác, ông già sẽ tự đập búa tay kỹ lưỡng như gò tôn, đến khi mặt sắt trơn láng bằng đồ thép đúc của Tây mới thôi. Anh khách hàng ngồi trên ghế bễ kéo và đẩy đều hai tay, chép miệng thèm thuồng: - Mình được một lưỡi như cái này thì xài đến đời cháu! - À, rèn dùng mà.. Dao dựa trong nhà tụi nó làm sứt mẻ hết, thợ rèn ăn dao lụt hoài, tao ngán... Vừa đó. Một giờ sau, mọi người trong lò xúm lại trầm trồ xem cây rựa đã gọt má, giũa lưỡi cắt, tôi lại, cắm cán dài một thước tây với năm cái khâu siết cứng, mài bén lần cuối cùng. Một ông khách kêu lên: - Bác Tư phải đặt đúc con dấu thép, đóng vô đồ bác rèn cho thiên hạ khỏi lầm thứ giả. Biết chắc đồ của bác, họ dám mua giả gấp ba gấp bốn, liều một khi. Ông Tư Nhấp một hớp rượu, nhai miếng thịt nai khô tẩm mật ong và gia vị trước khi phơi sấy, nướng lên rất mềm và thơm: - Rèn dùng thôi... sắt thép mấy năm nay khó mua quá, ai đem thứ sắt gì tới tôi dập thứ nấy, đâu dám đóng dấu vô cho người ta chê cả đời. - Cũng phải. Thấy mụ Chín bữa trước đưa khoe con dao bác rèn bằng lưỡi cuốc cùn! - Đó, đó. Hồi nào yên giặc, tôi xuôi xuống Hàn, xuống Phố 1, lựa mua sắt thép năm bảy mác về chất đống sẵn, đặt món nào tôi lựa đúng mác đó rèn cho anh... Bây giờ nói tình thiệt nghen, ai sửa thứ gì thì biểu thằng Tư sửa nội nhựt hôm nay cho xong, sáng mai trở đi tôi mắc rèn hàng đổi cho mấy cha nhà buôn ở Trà Linh mới đem sắt lên đặt làm gấp. Chà, chà, cọp beo về nhiều hay sau mà dân mọi cao đổ quế với thuốc ngon ra đổi giáo mác... Uống hết đi chớ, để dành rượu cúng ai? Cạn thêm một ly nữa, ông đứng dậy vươn vai, cầm cây rựa mới, nói bâng quơ: - Thử coi chẻ chặt đẽo gọt có ra gì không, mắc tật thì sửa luôn.. Ông đi thong thả xuống khe Hội, giả vờ không nghe một người đang hỏi về tay thương lái nào ở Trà Linh mới lên mà kín tiếng quá đỗi, không dám đậu ghe ở bên vạn, giữ mối lợi ăn một mình hay sao. Con đường mòn ra rẫy đã bị ổng chặt những cành gai bớm rào bít lại, còn cẩn thận làm thêm dấu hiệu “có đặt bẫy” bằng một cây cọc cao đến ngực buộc chùm lá trên đầu, Ông lội dọc lòng khe chừng trăm thước, tới chỗ vũng sâu mới gặp đầu mối con đường vừa mở, chân bước trên đá và thân người lách qua một vạt cây rù rì mọc chen chúc, ai đi ngược khe tát cá bắt ốc cũng không trông thấy dấu vết của mối đường. Cả Chanh dặn ông giữ bí mật, ông trổ tài bí mật cho nó thấy. Có lẽ ba người trong chòi rẫy đã nhậu ra ông từ khi ông băng qua rẫy đi lên. Họ chỉ chào sơ qua bàn tiếp. Ba Mít đang bực dọc chuyện gì, khuôn mặt rỗ đỏ ửng, nói gằn giọng: - Thượng cấp biểu bắt liên lạc với thằng Khánh là lầm quá đi. Đưa con nhà quan vô Việt Minh, nó giả bộ hăng hái cho mình tin, về sau nó dẫn lính về bắt trụm hết cho coi. Hôm kia nó cưỡi ngựa đi dòm ngó khắp làng như mật thám, còn tới hỏi dò nhà bác Tư đây nữa. Không tin, anh Cả cứ hỏi hết bà con xóm Mới đủ biết nhà phủ Đỉnh có ai theo Cách mạng không... Cả Chanh ngồi trầm ngâm trên sạp tre. Người thứ ba là một chú tuần đinh có cái bụng báng hơi to, thấp giọng nói gì đó. Ông Tư hơi cụt hứng. Những tưởng ai cũng sẽ xúm vào xem cái rựa mới rèn xong, gại gại ngón tay vào lưỡi và thử cạo lông trên bắp tay để trầm trồ khen nó sắc hơn dao cạo... Ông đặt cây rựa xuống sạp, buông gọn: - Rèn cho mày đó, Cả. Lát rồi coi ưng ý không. - Dạ, cha để cho con. Ông Tư bước ra ngoài, tiện tay giật các đầu dây đuổi chim một hồi. Rẫy mới trỉa, chim xuống từng bầy bươi đất ăn hạt giống, ông đã dựng rất nhiều cây tre chẻ làm mõ và treo những mo cau vẽ mặt người trừng trợn. Người coi rẫy ngồi trong chòi chốc chốc thò tay lên giật dây là khắp rẫy sẽ dậy lên tiếng đánh mõ và lao xao những bộ mặt hung dữ từ trên trời ập xuống. Ngay sau lần kéo dây đầu tiên, ông đã thấy hàng trăm con vẹt từ mặt đất bay vù lên, kêu “kéc kéc” inh ỏi. Ông lẩm bẩm mắng thằng Cam. Anh cả nó bận dạy việc quốc sự cho người ta. Năm Chò mắc lo chạy giấy tờ, còn nó biến đi đâu mà bỏ rẫy cho chim bới? ----------------------------------------------------------- 1. Tên gọi của địa phương. Hàn: Đà Nẵng; Phố: Hội An. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:43:57 am Ông Tư thong thả quay về lò rèn.
Trong khi ấy, Năm Chò với Cam đang ăn nhậu bên bờ khe Hội, cách rẫy một tiếng hú. Mấy hôm trước, Năm Chò mặc bộ quần áo lính khố đỏ, đi giày đinh và gắn cả lon cai hình chữ V trên tay áo, theo ông Tư Chua đến gặp Cửu Áng xin ở học nghề. Lão cửu pha nước mời đàng hoàng, tự tay điền vào cái biên lai thuế thân, đóng triện vào thật rõ: - Ai chứ bác Hương đây nói một tiếng thì mười con triện tôi cũng áp. Anh Năm không biết chớ, hồi anh hạ sát thằng Tây con, tôi sướng quá thể đi, tối về đánh nhào luôn một chai lậu hai phần lít. Hồi anh Cả Chanh thoát ngục cũng vậy, tôi hét vợ làm gà ăn mừng. Về vụ Năm Chò có thể lão nói đúng, hồi ấy lão chưa giành được chân lý trưởng. Còn khi Cả Chanh vượt ngục thì chính lão dẫn lính huyện tới lò rèn ông Chua tra xét, soát nhà, viết biên bản rằng “tên Phan Chua, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc con trai mình là Phan Chanh, tục danh Cả Chanh, đã đào tẩu ngoài vòng lao lý trước khi mãn án”. Đến nay lão đoán rằng ông Chua vốn tính phổi bò chắc đã quên chuyện cũ, hoặc có nhớ thì lão sẽ cãi bay luôn: “Bác ở vô hoàn cảnh như tôi, bác cũng phải làm y vậy thôi!”. Lời nói chẳng mất tiền mua, lão cứ nói phứa phựa đi. Có giấy tờ rồi, Năm Chò được giao nhiệm vụ “dét-tê xa”, tức là đi giao thông các nơi xa, trong khi Sáu Cam là “det-tê gần”, chuyên đi liên lạc trong làng và mấy làng lân cận. Sáng nay Năm Chò mặc bà ba cháo lòng mượn của Tư Quýt, vác cái đòn càn có buộc cuộn dây và cặp rọ như lái buôn heo, đi xuống bến phà Huề Bình để liên lạc chuyến đầu tiên với đồng chí huyện ủy viên ở đấy. Anh mang về một lá thư mật cùng mấy tờ báo in đá giắt kín bên hông, cứ băn khoăn tại sao anh Cả tính đánh du kích mà lại lo giấy mực mãi vậy. Xong việc, Năm Chò đi xuống nối. Cam đã đợi sẵn, kéo anh lội ngược dòng. Nó nhận giữ kho rượu của anh, lại vừa đánh bẫy được con sóc to và bắt được một mớ ốc đá, mấy con cua. Nó lén xách dao, nồi đất, bùi nhùi rơm và muối ớt đi tìm chỗ vắng, luộc cua và ốc đã chặt đít, còn con sóc thì nó thui và xát muối nướng trên lửa than. Đây là bữa đầu tiên nó đãi anh Năm từ ngày gặp nhau ở Quy Nhơn. - Chà, thằng nhỏ về đây như thả cọp về rừng, chơi sành điệu quá ta! Cam nhấc hòn đá bịt miệng cái hốc nhỏ trong có một bi-đông và hai chai rượu lậu mà nó mua giúp anh Năm trong xóm chợ, đúng thứ rượu nhứt của bà Còng có hai người con chuyên nấu rượu trong hang núi. Nó chỉ hút ốc cầm chừng, rất khoát khi anh Năm xé nhai hết cả con sóc và bắt đầu nhai cua rau ráu, sau vài miếng lại tu một hơi rượu, khà một tiếng “Ngon, ngon hết cỡ!’’, rồi anh bỗng đặt bi-đông rượu xuống, lắc đầu thật mạnh: - Nghe đây Cam. Anh hư thì mặc kệ anh nghe chưa. Mày con nít mới lớn, lo học theo anh Cả Chanh cho nên người, chớ có bắt chước thằng khố đỏ đầu không chằng đít không rễ! Anh cởi hết khuy áo, phơi bộ ngực phủ lông xoăn và xăm đầy bùa chàm, cà rà hỏi chuyện thằng em nuôi khi có còn ở làng. Và Cam cũng kể cà rà như ông lão bên mâm nhận, cốt sao anh Năm thong thả ăn hết nồi cua với ốc của nó mời. Nếu tóm gọn mười ba tuổi đời của Sáu Cam, có thể tô đậm một tiếng Sợ. Nhưng nó không tóm được như thế, nó chỉ kể từng mẩu cóc nhảy chợt hiện ra trong đầu. Nó không phải trưởng nam để được cha nể, không phải gái út cho mẹ thương riêng. Trước nó đã có hai ông anh ra đời giúp cha, một bà chị giúp mẹ. Tất cả những người lớn trong nhà đều nhiều hay ít mắng nó là hỗn, hư, lười biếng, tham ăn, gì gì nữa nó không nhớ hết. Anh Cả Chanh sớm đi vắng không để lại kỷ niệm gì rõ rệt, còn lại anh Tư Quýt hay phát vào đít khi nó nhỏ, bạt tai khi nó hơi lớn lên. Chị Năm Bưởi thường mách mẹ. Cha chỉ thỉnh thoảng hỏi đến nó để nạt nộ, không hề nói với nó một lời thương yêu, còn dặn mẹ phải cho nhiều roi vọt. Mẹ thương nhưng giấu giếm, lén lút, khi có người thứ ba thì đổi ngay ra giọng sừng sộ với nó. Nó rất thèm thuồng khi thấy cha và anh nói cười với nhau trong bữa cơm, nhưng hễ nó chen vào một tiếng sẽ lập tức trừng mắt: “Con nít không được nói leo!”. Chị Bưởi với mẹ chải tóc cho nhau, nó sán lại gần thì bị đuổi ngay: “Đừng quấy rầy người ta!” Nó luôn luôn cảm thấy mình là thừa. Đôi lúc nó cảm thấy con chó Dồ sướng hơn mình. Người lớn vỗ đầu, bắt rận, đùa với con Dồ mà không ngại chó hư. Còn nó là đứa trẻ, dường như nói ngọt một câu, khen một tiếng là nó sẽ hư ngay, nó dại hơn con chó hay sao ấy. Người lớn dặn nhau: “Thương con thì thương sau lưng”, trong khi họ dám thương chó trước mặt. Nó không hiểu nổi vì sao. Bảy tuổi nó bắt đầu chăn trâu nhà, con Bỉnh trâu cái rất hiền. Trẻ chăn trâu lớn hơn ban đầu ăn hiếp nó, sau cho nó nhập bọn, bày nhiều trò chơi rất vui. Nó ham chăn trâu chỉ vì được ra khỏi nhà, sống với bạn, nhưng vài ngày lại bị đòn một lần vì mải chơi để trâu ăn lúa. Đến khi con Bỉnh đẻ ra nghé thì nó khốn đốn thật sự. Nghé nhảy loăng quăng khắp nơi phá chẳng sót thứ gì, nó vừa đuổi theo vừa khóc hu hu. Roi quất và tiếng chửi tăng vọt. Người hiền lành nhất cũng chỉ dỗ nó một câu: “Bằng tuổi mày tao còn cực gấp mấy!”. Đố biết họ nới thật hay giỡn chơi với con nít. Cho dù hồi nhỏ bị đánh mắng nhiều, ai ép họ phải đánh mắng lại những đứa trẻ sinh sau? Lên chín nó được đi học với ông hương sư trong xóm Chợ, ngày một buổi. Ông dạy mười sáu đứa trẻ chia hai lớp. Ông sai vặt và đánh đòn học trò nhiều hơn dạy, nhưng sau nửa năm nó cũng nhớ được mặt chữ, thuộc vần xuôi, bắt đầu đánh vần ngược. Ông giáo chán vì làng không trả lương, cha mẹ học trò khất nợ học phí, bỏ đi buôn hẳn. Nó quay về chăn trâu. Thằng Bảy Bòng chỉ thua nó một tuổi, hổi mới sinh quặt quẹo khó nuôi nên được cưng hơn. Khi thằng Bòng lên mười, giữ được trâu mẹ nghé con - nghé đã xỏ sẹo mũi, dễ giữ - thì Cam lại thừa. Phụ rèn hay làm ruộng rẫy đều chưa đủ sức, học xa thì thiếu tiền cả nhà bàn đưa nó đi ở giữ ngựa cho phủ Đỉnh, tập làm ăn. Ấp quan phủ có hai ngựa, giao cho một anh trai tráng giữ. Khi quan đổi về Thăng Bình, ngay trong tỉnh một chú lính lệ lên ấp nhận con Tía trẻ và cao lớn như ngựa Tây, đem xuống phủ cho quan dùng. Còn lại con Hương nhỏ xác hơn và đã về già. Bà phủ chuyển ngay anh trai kia sang giữ trâu bầy, thuê thằng Cam thay. Người lớn ở đâu cũng vậy, nói rập một giọng là nó phải chịu cực cho quen, tập làm ăn cho quen, học lễ phép nết na cho quen. Tất cả những cái nó phải quen ấy được nhân lên gấp đôi gấp ba khi nó về ấp. Các anh chị ở mướn trong nhà đùn nó ngủ cạnh chuồng heo, hôi thối và lắm mạt gà đốt sinh ghẻ. Cơm thường ghế nhiều khoai sắn,các anh chị cầm rá cơm sàng mấy cái và xúc phần cơm cho nhau, bỏ sắn khoai lại cho đứa giữ ngựa, ở nhà cha mẹ, khách đến rèn đôi khi giúi cho nó chút quà, ở đây tịnh không. Mãi đến nay nó còn rùng mình khi nhớ cái giọng đay nghiến rít răng của bà phủ luôn luôn nhắc rằng nuôi nó làm phước chứ nó ăn như hùm mà làm như mèo. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:45:31 am Lâu lâu có một ông chánh phó tổng, thầy đề thầy thông nào đó về làng cho người đến mượn ngựa quan phủ. Thật ra là thuê, vì khi trả ngựa bao giờ cũng kèm một món quà hoặc tiền.Những hôm ấy thằng Cam phải “chạy ngựa”, làm phần việc của những anh mã phu lực lưỡng. Nó đeo trên mình mo cơm nắm, ống nước, cái liềm, bộ dàm buộc thừng dài, chạy sau đuôi ngựa. Mỗi khi khách xuống ngựa vào nhà, nó lại hối hả tháo cương lắp dàm và dắt con Hường đi ăn, còn cắt gấp thêm cỏ cho ngựa no trước khi đi tiếp. Một lần nó chạy ngựa theo một quan tham đạc điền đi khắp các làng từ Linh Lâm đến phà Huề Bình trong ba ngày. Ông này nhắc hương lý cho đứa chạy ngựa ăn ngủ tử tế, cho ngựa ăn thóc đỡ phải cắt cỏ, sau khi trả ngựa còn cho riêng Cam năm cắc và xoa đầu khen nó rất chịu khó. Ổng đi rồi, bà phủ gọi nó lên bắt nộp lại đủ năm cắc: “Không có cái lệ ăn cơm nhà tao mà đi làm thuê lấy tiền cho thiên hạ!”. Về sau, mỗi khi nhận xong quà hoặc tiền thuê ngựa, bà lại nhắc khéo:
- Bác muốn cho thằng nhỏ chạy ngựa chút gì thì để tôi giữ giùm nó. Con nít mà, tiền chưa nóng túi đã rớt mất hay là người ta dỗ lấy mất. Đứa biết giữ thì lại tiêu hoang nó hư thân đi. Bà giàu đến thế mà vẫn nhớ thu từng cắc của thằng nhỏ. Cũng có thể nhờ vô sô cắc bạc ấy mà bà giàu. Sau một trận đòn vì ngựa bứt dàm vào phá đỗ, nó lẻn về lò rèn khi nhà vắng cả. Nó khóc kể một hồi,vạch lưng cho mẹ xem những vết roi ngang dọc. Mẹ nó nổi khóc theo: - Nhà đã túng đói gì lắm mà để họ hành hạ con mình quá sức vậy, trời ơi là trời! Mẹ giữ nó lại, xoa bóp và nấu xôi cho ăn. Cha về nghe cả mẹ lẫn con than vãn một hồi, mặt hầm hầm không nói. Rồi ông bước ra mái hiên, rút con roi cày dài đặt lên bàn, gằn giọng: - Thằng Cam nghe đây. Cái sự họ tàn tệ với mày để đó tao liệu. Tao vẫy vùng ngang dọc đã từng cọp voi quỷ thần chẳng hề sợ, tao sợ chó gì con mẹ chửa hoang với con con chết héo bên ấp phủ Đỉnh. Tới phần mày, lại khác. Tao cho mày đi ăn cơm góp của họ không phải tại thiếu gạo nuôi mày mà để mày học khôn, học chống chọi với đời... Bà Tư bật kêu to: - Chưa khôn mà đã ốm nhom, xanh lét. Chưa chống chọi mà đã nát mình mẩy ra... - Câm họng! Như mọi ngày thì bà đã nín thít. Lúc này bà gào lên: - Con tôi mang nặng đẻ đau, tôi không câm! Ông đem con cho thuê lấy tiền thì cho đứa lớn, để nó ở nhà tôi nuôi. Hay ông muốn đi làm thuê cho nhà quan mặc kệ ông, cứ đi đi.. - Thằng Cam, về ấp ngay tức thì! - Mày cứ ở đây! Ổng ăn tiền của họ để ổng đi làm trả nợ, chẳng dính tới mày! Ông Tư quất mạnh roi cày vào lưng vợ. Bà chồm ra sân, nổi la làng. Ông càng đánh bà càng la dữ: - Ối làng xóm ơi, thằng Chua nó giết tôi, nó giết mẹ con tôi! Thằng Chua nó trở mặt, giết vợ bán con đây bớ làng. Vừa lúc các con về nhà ăn trưa. Năm Bưởi nhào tới giật cây roi, bẻ ngay làm đôi làm tư. Tư Quýt đứng sau ôm ghì cha. Mấy nhà gần chạy tới can, kéo luôn ông Tư đi cho khuất. Thà rằng ai khác đánh vợ ba ngày hai trận, chồng quen tay và vợ quen miệng rồi, chứ vợ chồng ông Tư ăn ở theo nề nếp phu xướng phụ tùy từ xưa, bà Tư vâng lời chồng như cái bóng... Cả xóm Mới được một mẻ ngạc nhiên. Thằng Cam trốn biệt bên ấp, cả tháng sau mới dám lẻn về nhà khi biết cha mẹ đã làm lành. Dù sao, vụ nổi loạn của bà Tư cũng làm ông Tư choáng váng. Các con lạnh nhiều với ông. Những phút trò chuyện cởi mở biến hẳn một dạo, nhà như có tang, ông thành khách lạ ngay trong nhà mình. Không chịu nổi cái không khí ám khói khó thở, ông theo thuyền xuôi xuống phố Hội, vừa mua sắt thép vừa tìm chỗ gửi thằng Cam học chữ. Cả Chanh đi tù rồi, Tư Quýt mắc phụ rèn, ông lo gây dựng cho thằng Cam là phải. Ông biết mình có lỗi với vợ con, nhưng lùa dao cạy răng ông cũng không nói một tiếng nhận lỗi, ông chỉ làm việc gì đó để sửa lỗi. Đem con về, dù sao cũng phải nói qua với chủ thuê một lời phải quấy. Ông đáp xe ngựa vào Thăng Bình vào gặp phủ Đỉnh. Quan phủ là người khéo ăn ở với đồng hương, cho đội lệ ra mời ông vào trà nước đàng hoàng, giữ ông lại ăn trưa chung mâm. Rượu vào ngà ngà, ông mới kể chuyện thằng Cam giữ ngựa, chẳng giấu chút bất bình nào, sẵn sàng sửng cồ ném đũa nếu quan phủ lên giọng kẻ cả. Thế nhưng quan cười xòa, vẫy lính rót rượu đều tay cho ông: - Chào ồi, anh Tư còn lại gì tánh nết đàn bà. Tôi la rầy miết mà mụ cả không chịu bỏ cái tật vắt cổ chày ra nước... Tôi tính giùm vầy đây anh Tư. Gởi con học ở Phe-phô, anh tốn nhiều đó, hồi này thóc cao gạo kém quá mà. Gởi gạo nhà xuống cho con thì mười phần còn sáu bảy, tôi lạ gì đò dọc Linh Lâm... Tôi có mụ Hai ở Quy Nhơn buôn vải, cả mớ con nhỏ đang đi học, anh cứ thả thằng gì...à thằng Cam.. chung vô đó, học hành với nhau cho có bạn, gà con chung bầy chẳng tốn kém gì đâu anh. Hồi đưa thằng Chanh vô Quy Nhơn học nghề anh không hỏi tôi, chớ biết thì tôi xếp việc cho nó tử tế, dẫn tới gặp bang tá dặn dò từng chút, có đâu về sau phải rầy rà tới anh. Mụ Lợi Thịnh nhà tôi được cái nết nhỏ nhẹ, biết dạy con, anh coi thằng Hai Khánh mỗi lần về ấp có dám hỗn hào với ai đâu.. Lệ! - Dạ. - Chiều nay mày đưa bác Tư đây ra bến xe, nói là người nhà quan phủ, phải xếp chỗ thiệt tốt cho bác về Linh Lâm... Ngu như heo, qua huyện Tây Quảng, qua phà Huề Bình chớ đâu xa. Lớ ngớ không xong việc thì liệu hồn! Ông Tư xin kiếu, bỏi cần về Hội An thu xếp các thứ chở theo người. Khi đứng dậy quan phủ còn lắc mãi tay ông, hẹn mươi ngày nữa sẽ cho lính lên đón thằng Cam. Chuyến ấy ông Tư mua quà cho tất cả mọi người trong nhà. Cam cũng có phần. Ông kể tỉ mỉ câu chuyện của phủ Đỉnh, gật gù khen lão ấy khôn nứt não ra. Hà hiếp vơ vét chín phương, lão vẫn để dành một phương để về hưu. Gây oán khắp nơi nhưng giữ cái ân nơi bản quán cho yên tuổi già, quan lại xưa nay đều vậy. Cả nhà đều tin thằng Cam vào Quy Nhơn sẽ được ăn học đến nơi đến chốn, nào ngờ... Sau nhiều ngày nể “đại ca” phải nhịn thèm, hôm nay Năm Chò dốc cạn hết bi-đông rượu nhứt. Anh bẻ một chùm lá lau miệng và tay, lim dim mắt nghe Cam kể những mẩu cóc nhảy, điểm vào những tiếng ồ, à, mẹ tổ nó, chó thiệt, phải vậy chớ. Dựa lưng vào tảng đá, anh bắt đầu ngáy. Cam ngừng kể, nhưng cả bầy kỷ niệm nhỏ bé lộn xộn của nó cứ nhảy lao xao mãi trong đầu như nhái gặp mưa dông. Nó ngồi thừ ra, hai cánh tay khẳng khiu ôm gối, mắt đờ đẫn nhìn mà không thấy gì trước mặt ngoài những hình ảnh dễ sợ nằm đằng sau mắt. Nó chợt thấy mặt mình lạnh. Nó đưa tay vuốt mặt, thấy tay ướt rượt. May quá, anh Năm không thấy nó chảy nước mắt. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 07:48:40 am 12. Anh Xáng trong Thường vụ tỉnh ủy gửi thư giục đồng chí Thanh Trà “Hãy khẩn bách thành lập đội du kích quân, cho luyện tập ngay, khí giới có gì dùng nấy”. Cả Chanh gọi Ba Mít tới chòi rẫy bàn thêm. Cậu ta không coi chỉ thị thượng cấp ra gì cả: - Mấy ông trên biết cóc khô gì đâu. Đổ bể thì các ổng trốn mất tiêu, mình ở tù. Anh nếm mùi năm năm rồi đó! Cậu này hăm bốn tuổi, khi mới đậu sơ học yếu lược đã làm thư ký cho hội đồng ngũ hương đâu nửa năm, sau bất mãn bỏ đi buôn đò dọc, buôn bè tre gỗ. Cậu ta chừa một vệt râu mép trên khuôn mặt rỗ chằng chịt, để tóc gọng kính ngoặc tai như đám thương lái đã trải mấy chục năm trong nghề. Trong một chuyến buôn xuống Hội An, cậu được ông chú nói cho vài tiếng đồng hồ về Việt Minh, giao việc tuyên truyền “đánh Tây đuổi Nhựt” tại Linh Lâm. Chưa làm được gì thì gặp đảo chính. Cửu Áng vời cậu ra nhậm chức xã thủ lãnh thanh niên, liên tiếp đi họp với huyện thủ lãnh, có lần bắt tay cả tỉnh thủ lãnh. Khi đọc lá thư của ông chú bảo anh Cả Chanh sẽ lãnh đạo vùng núi huyện Tây Quảng, Ba Mít tự hẹn: cứ gặp coi thử anh chính trị phạm này ra sao, đáng phục thì phục, không đáng thì lờ luôn. Qua mấy lần bàn việc, Ba Mít thấy anh này vừa hút vừa đẩy, vừa gần vừa xa. Sức hút của anh ở chỗ anh đi nhiều biết rộng, có nguồn giao thông nào đó mà anh giữ kín, rất có thể là nguồn riêng của Đảng Cộng sản nằm trong lòng Việt Minh, cậu ta chỉ nghe loáng thoáng chứ không biết rõ. Anh đẩy ra xa vì cứ nhất định coi Ba Mít này là hạ cấp, coi đám thanh niên dưới trướng Ba Mít là thuộc quyền anh lãnh đạo. Một lần, Ba Mít nói trắng: - Hồi xưa tể tướng bái huyện, quan là thường đó anh. Tể tướng lo chung cả nước, không biết rõ từng chút như quan nhỏ ở tại chỗ! Cả Chanh cười dài. Ba Mít thấy cần nói sát sạt hơn: - Ví như anh với tôi đây nè. Anh lăn lộn lo việc nước lâu năm, nhưng mà về làng thì tôi hiểu hơn anh. Cứ để tôi lựa chừng ba bốn người chắc chắn nhứt, anh giảng tài liệu Việt Minh cho họ, cắt máu ăn thề với nhau, vậy là làng mình có tổ Việt Minh rồi. Anh làm tràn lan nhứt định đổ bể hết cho coi. Ba Mít cứ bị ám ảnh đổ bể, lại bám riết vai trò xã thủ lãnh mới được Cửu Áng phong cho. Cậu ta trước bất mãn vì địa vị, nay dùng cái địa vị cỏn con của mình để đòi ngồi chiếu trên bên trong Việt Minh. Vẫn theo cách mạng đấy, nhưng theo có điều kiện, có mặc cả tính giá hẳn hoi, đúng kiểu con buôn! Cả Chanh quyết định phải làm mạnh, làm thẳng những gì Ủy ban khởi nghĩa đã căn dặn trong những đêm nằm đò ở Hội An. Trong số hơn hai mươi người đã gặp Chanh ở chòi rẫy có mười bốn thanh niên, năm trung niên. Anh cho Sáu Cam đi gọi từng người, báo cho họ giả đi rừng để dự lớp chính trị. Nơi học là một bãi cỏ dưới gốc cây si to, mé sau chòi rẫy chừng vài trăm thước, khi mưa có thể chạy cả vào chòi. Một ngày học Chương trình mười điểm của Việt Minh, ngày thứ hai chỉ thảo luận một câu hỏi: “Vì sao phải thành lập du kích, sửa soạn khởi nghĩa?”. Gọi mười chín người, bớt hai đi vắng và một đang sốt rét, nhưng số người dự lại đến hai mươi mốt. Nhiều người rủ thêm anh em hay bạn thân “Đi nghe Việt Minh hiểu dụ”. Một ông già ngót sáu mươi cũng theo con đến, túm tay Cả Chanh nói liên chi hồ điệp, anh phải gỡ ra để bắt đầu lên lớp. Tuy tất cả đều biết anh là quốc sự phạm đang bị truy nã, nhưng Cả Chanh vẫn soạn một chỉ thị có đủ đầu đuôi dựa vào thư anh Xáng, dưới ký chung chung là Tỉnh bộ Việt Minh, trong đó đồng chí Phan Chanh được chỉ định làm chỉ huy du kích quân kiêm trưởng ban xây dựng căn cứ địa Tổng An Sơn, thuộc huyện Tây Quảng. Anh rút giấy ra đọc rồi đút vào túi cho khỏi lộ nét chữ của chính mình. Ba Mít mới khăng khăng chống việc lập du kích đấy, bỗng đến bên anh và đợi sẵn. Anh vừa đọc hết bản chỉ thị, cậu ta vung tay nói lớn: - Tiếp lời đồng chí thượng cấp, tôi rất là hô hào các bạn thanh niên hãy xứng đáng là rường cột nước nhà .. e hèm... hãy vô Việt Minh hết thảy... ờ,... ờ, hãy cùng nhau nâng cao trình độ dân chúng. Tôi cũng xin đại diện cho thanh niên Linh Lâm tuyên thệ với cấp chỉ huy... chúng tôi rất là con chán Lạc Hồng, rất là tỏ chí nam nhi... Cậu ấy xoay xở nhanh đấy. Thôi cũng được, còn hơn phá ngang, Cả Chanh bắt đần giảng giải từng điểm trong chương trình Việt Minh. Ngày thứ nhất, không khí cứ trầm trầm như họ nghe quan về hiểu dụ thật. Ngày thứ hai họ nói năng rầm rộ hẳn lên. Ông cụ kêu đau lưng mà vẫn đến nghe tiếp, đưa ra hàng loạt sáng kiến: lập Tân tỉnh ở Linh Lâm, xây đồn đắp lũy chặn đường bộ ở truông Dơi và đường sông chỗ Ba Thác, tìm cho ra thằng Tây La-phạt về chém đầu tế cờ... Đám trai trẻ cười lăn ra. Cuối ngày thứ hai, đội du kích được thành lập, gồm hai tiểu đội. Tiểu đội Một chọn toàn người khỏe và gan góc, sẽ trực tiếp đánh giặc. Tiểu đội Hai yếu sức hơn sẽ lo vót chông, rào đường cùng với việc cơm nước được đặt tên là vận lương cho dễ nghe. Tất cả các đội viên sẽ tự sắm một thứ khí giới gì đấy mình quen dùng nhất, tự lo gạo ăn để học tiếp ba ngày quân sự do đồng chí Nguyễn Văn Chò huấn luyện. Để cách quãng năm ngày cho anh em kiếm võ khí và chạy gạo, cũng để đợi luôn đêm có trăng. Năm Chò bắt đầu mở lớp. Tiếng tăm của Năm Chò ở Linh Lâm cũng vang dội chẳng kém Cả Chanh, riêng đối với thanh niên còn hấp dẫn hơn. Ghét Tây hả? Oánh! Oánh thí xác! Nói nhựt trình dài dòng nghe mệt óc lắm, vác đá đập đầu Tây như Năm Chò là sướng nhứt! Năm Chò học chung hai ngày chính trị với anh em, đã làm cho mọi người thỏa mãn tò mò và quí mến mình. Bởi thế đến ngày mở đầu đợt quân sự, số người dự lên đến ba mươi lăm, có cả ba cô gái làng và cô Năm Bưởi nữa. Cả Chanh lúng túng. Đưa con gái vào du kích chưa tiện, đi đêm về hôm sẽ bị cha mẹ tra vấn bắt khai thật, lộ hết. Các ông bà cao tuổi dù không nghi ngờ hẳn cũng ít ưa cái cảnh trai gái chung đụng, cười cợt... Rồi anh phải để tất cả cùng dự. Dân làng này, nhất là bà con xóm Mới chiếm hai phần ba lớp học, đã quen rủ nhau đi săn thú, đánh cá, đốn gỗ củi, leo núi cõng quế, nay rủ nhau đi học quân sự với Việt Minh cũng là thường tình. Anh chỉ nhắc rất nghiêm kỷ luật bí mật để cho đội du kích khỏi bị pha quá loãng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 08:12:59 am Mới mở đầu, lớp học đã ồn lên khi Năm Chò bước ra trong bộ áo quần khố đỏ gắn lon cai chữ V, giày đinh và ca-lô chỉnh tề, nay thêm cái thắt lưng to bằng da trâu sống và dây thép mà anh mới tự làm. Anh dập gót một tiếng cốp, đưa tay chào kiểu nhà binh Pháp. Anh nói thật to bằng cái giọng Quảng pha Sài Gòn, lên xuống bổng trầm như kép hùng trên sân khấu:
- Tôi xin có mấy lời trình với đại ca, với quí đồng chí. Tôi là thằng Năm Chò lưu lạc bấy nhiêu năm, có thêm cái tên là Năm Phi Đao. Nay được về bổn quán cùng làm việc nghĩa với bà con mình, thiệt là vui hết sức, vui vô số kể. Bị cái tôi dốt chánh trị lắm, ăn một cục nói một hòn, một chữ bẻ đôi chẳng hiểu, đại ca đây dạy dỗ nhiều mà chưa khá. Thôi thì tôi biết gì bày nấy, anh em cứ ngó theo đó mà làm... Trước hết, xin mời bà con coi trò ném phi đao! Cả Chanh suýt cười to. Chỉ thiếu “tả lớ” và một hồi chiêng trống tùng phèng nữa là thành gánh xiếc rong. Năm Chò đến lật một tấm ván dựng sấp mặt vào gốc cây. Mặt sau vẽ một hình người bằng than, giữa ngực có vòng tròn và điểm đen. Anh đã luyện tay dao cho dẻo lại, lần này diễn vẫn có bái tổ nhưng bỏ bớt mấy câu thần chú mà chính anh cũng chẳng tin, chỉ quen đọc cho đủ lệ. Lớp học reo ầm ầm khi năm lưỡi phi đao từ xa hai chục thước bay vút đến, cắm phập vào đúng chỗ đã được hét báo trước, Cả Chanh sửng sốt, anh chỉ nghe đồn mà chưa biết rõ cái tài ấy của Năm Chò. Ba Mít đang hậm hực vì không chen vào được một lời hiệu triệu nào, cũng vỗ tay thật to và phục thật tình. Huống chi Năm Chò nhổ xong năm lưỡi dao lại chập chúng lại, cắn vào miệng, chổng chân lên trời, đi bằng hai tay trở về chỗ cũ! Tuổi trẻ Linh Lâm bị chinh phục hoàn toàn. Quả anh Năm Phi Đao là tay giang hồ nghĩa hiệp, đáng mặt ông thầy võ ở xứ núi quanh năm cầm giáo mác này. Tới phần tiếp theo thì Năm Chò lúng túng. Anh chỉ quen hô khẩu lệnh bằng tiếng Tây. Ta là du kích Việt Minh, ai lại hô “gác-đa-vu... phích” hay “rờ-pô!”, nghe nó chướng quá đi. Cả lớp bàn góp xôn xao, sau chọn khẩu lệnh như Thanh niên Phan Anh: “Nghiêm... phắt!” và “nghỉ!”. Thỉnh thoảng đồng chí huấn luyện có hét lầm tiếng Tây vào cũng chẳng sao, thời buổi Tây Nhật lẫn lộn này phải quen nghe đủ thứ tiếng lạ. Mỗi người tự đẽo một súng gỗ theo mẫu của Năm Chò để tập. Chưa biết Giải phóng quân Việt Minh ngoài Bắc kỳ chào súng kiểu nào họ tạm tập chào như lính Pháp với tay phải bồug súng đứng và bắp tay trái khuỳnh ngang trước ngực, trông cũng được mắt. Cả lớp đều ước ao có một cây súng thật để tập, dù là súng hư, ít nhất cũng phải biết đóng mỏ quy-lát ngắm qua đầu ruồi thế nào chứ. Vài cậu trai làng đã từng theo cha con La-phạt đi săn thú lớn bằng cây súng Đức Mô-de chế theo kiểu súng trận, tả nó cho các bạn nghe, chỉ gợi thèm khát tăng thêm. Nếu có nguồn mua súng, đắt mấy cũng được, mọi người sẵn sàng bán lắm thứ trong nhà góp tiền mua ngay một cây. Học đứng bắn, quỳ bắn, nằm bắn, lấy đường ngắm, đâm lê, lại càng sốt ruột. Cả Chanh và Năm Chò đều thấy bí. Học như nhà binh Pháp khi trong tay anh em chỉ có giáo mác, coi bộ không thiết thực mấy. Rất may, cuối ngày học thứ hai ông cụ lắm lời đều xem tập, mách cho Chanh con trai ông biết đánh đại đao, mã tấu, đưa bè xuống phố Hội vừa trở về Linh Lâm. Mỗi người trong lớp đem đến một cây mác, không tin mượn thứ gươm người Thượng vùng này có hình dạng như cây mã tấu cán dài đốc nhọn cũng được, con ông sẽ đến bày cho. Anh con trai tên là Tám Doãn, hai mươi hai tuổi, đã theo một ông thầy võ học suốt một năm quyền, côn, kiếm, đại đao. Chuyên nghề chống bè chống đò trên sông dữ, người anh sắt lại và dẻo như một bó gân, tay chân nhanh nhẹn hơn người cày ruộng rất nhiều. Anh nhờ cha đến xin cho học quân sự, được phong ngay làm thầy. Chiều thứ ba, đội đu kích được tổ chức lại thành ba tiểu đội. Cả Chanh đã được mấy lời thề tóm tắt để làm lễ tuyên thệ trước cờ: Trung thành với Tổ quốc, phục tùng mệnh lệnh của Việt Minh, chiến đấu dũng cảm kiên cường, không bao giờ đầu hàng khai báo, tuyệt đối giữ bí mật. Năm Bưởi được giao may lá cờ Việt Minh, nhớ lầm sao đó đã cắt một ngôi sao vàng sáu cánh nhỏ tí gắn giữa nền đỏ, Cả Chanh không sửa kịp. Cờ được treo đứng trên thân cây. Đội du kích hai mươi tám người, với Năm Chò làm đội trưởng và Tám Doãn làm đội phó, đã xếp ba hàng ngang ngay ngắn, súng gỗ chống xuống đất. Ông Tư Chua nghỉ rèn đến dự lễ, đã mang theo cái lư đồng và đốt cả nắm trầm thơm nức. Sắp bước ra làm lễ tuyên thệ, Cả Chanh chợt thấy tim mình đập quá mạnh. Anh đứng im, khép mắt nín thở một chút cho đỡ hồi hộp. Lứa quả đầu tiên. Vụ gặt đầu tiên. Lớp người võ trang đầu tiên ở làng anh. Sẽ có cuộc chạm trán đầu tiên... Anh quen lắm rồi với những lời thì thào nơi vắng, những thư mật viết bằng hóa chất, những tờ báo in đá và truyền đơn in mực tím trên thạch trắng, những lớp học Mác-Lê ngồi bó gối tay ba tay tư trong nhà giam, những ước mơ cháy ruột gan của người con trai xả thân vì nước nhưng chỉ có thể thi gan chịu đòn tra tấn trước khi ngất lịm... Nay là lúc ta quật lại nó. Nay nó bắn ta, ta lao vào đâm lại. Nay không chỉ cố giữ khí tiết cộng sản nữa, mà ta xông lên giết giặc cứu nước, nó đánh ta thì ta bắt nó xối máu đền tội. Với nhúm người vụng về lóng ngóng này, Đảng Cộng sản từ bóng tối quẫy mình vươn lên như chàng trai Phù Đổng, quật đòn gậy sắt giữa trán quân thù. Một đòn chưa gục thì đánh nữa, đánh nữa, đánh mãi… Cả Chanh lắc đầu, đặng hắng trong mũi, ngửng mặt, bước tới đứng cạnh lư hương trầm đang bốc khói ngào ngạt, xòe tờ giấy trên tay, bắt đầu đọc. Sau mấy tiếng đầu hơi run, tiếng anh cứng lại và vang to: - Trước lá cờ đỏ sao vàng thấm máu các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, chúng tôi là đội du kích Linh Lâm xin trịnh trọng tuyên thệ... Chiều ấy không mưa giông. Mặt trời trước khi khuất núi tỏa lên một vầng đỏ rực khắp nửa bầu trời, phía núi ông Tượng cũng vắng hẳn tiếng voi rừng thi rống trước khi ngủ. Rừng núi Linh Lâm như ngừng thở, nhận vào lòng lời thề trang nghiêm nhất của những người khởi nghĩa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 08:16:51 am * * * Dù lời thề thứ năm là giữ bí mật, tin đồn về đội du kích vẫn chạy khắp Linh Lâm. Không ai nghĩ mình đang vi phạm lời thề nếu kể lại với cha mẹ hoặc vợ rằng mình đã vô du kích Việt Minh, ít nhất cũng đỡ bị cằn nhằn vì bảo đi rừng kiếm ăn mà hôm nào cũng về tay không. Cả Chanh cùng với Năm Chò và Tám Doãn sục sạo vùng rừng rậm mé trên Linh Lâm, tìm chỗ lập trại bí mật cho đội du kích. Họ chọn được hai chỗ tốt. Nơi gọi là căn cứ A nằm trên bờ phía đông sông Linh, cách chòi rẫy ông Tư Chua chừng một cây số xuyên rừng, sẽ là chỗ họp đội, luyện tập. Còn căn cứ B sẽ đặt bên kia sông, tít trên sườn núi ông Tượng dọc đường lên làng Blam của người Thượng cách căn cứ A đến gần ba cây số, là nơi cất dấu võ khí, lương thực, săn sóc người ốm hay bị thương. Chòi rẫy ông Tư Chua chỉ còn là trạm liên lạc. Đội du kích chia nhau đi dựng trại ở hai căn cứ chỉ một ngày rưỡi là xong cả. Hàng ngày có ba bốn người đến phụ rèn với ông Tư. Khắp Linh Lâm chẳng ai còn tin ông Tư đang làm hàng đổi cho lái buôn. Ông rèn hàng loạt những con dao theo kiểu lạ, hơi giống thanh gươm ngắn có mũi nhọn, sống dày, lưỡi bén. Cắm cán ngắn và thêm miếng che tay thì nó là gươm hay dao. Lắp vào cán dài, nó là cây giáo có thể đâm và chém chặt được. Ông có sẵn một cây giáo như thế từ trước, đi rừng cầm theo giữ thân và có thể phát chỗ đường rậm rạp, anh em du kích rất thích mẫu vũ khí này. Còn được mớ thép tốt dự trữ, ông đem rèn hết, được lưỡi nào ông cho đem ra rừng mà mài, đóng cán, đừng để dồn trong lò rèn cho người lạ trông thấy. Ai thích dùng mã tấu thì ông sẽ rèn sau, nhưng khuyên họ nên dùng thứ gươm Thượng của người Cà-dong lợi hại hơn nhiều. Đội du kích mở một đợt tập bắn ná Thượng. Phần lớn các nhà ở Linh Lâm đều có ná, người hay đi săn thường tự làm hoặc mua sắm tới hai ba cái, to nhỏ khác nhau, có thể bắn từ cu đất tới heo nai. Tên độc thì phải mua của người Thượng, họ biết các thứ mủ cây và giấu rất kỹ, chỉ bán tên độc làm sẵn cho những người Kinh mà họ biết là tốt bụng. Ông Tư Chua tài hoa luôn luôn nghĩ ra cái mới. Kiểu ná ở đây không làm ông thỏa mãn. Mé sau cái lẫy ná chỉ có một khúc chuôi đẽo hình đuôi cá dài chừng một gang. Lẫy lại chế theo hình chữ công, hai nét ngang, một nét đứng. Người bắn giơ ná lên trước mắt, hai bàn tay nắm đối xứng nhau, kéo lẫy bằng hai ngón trỏ cùng lôi nét dưới của chữ công. Ông khuyên anh em nên làm lại thân ná có báng tì vào vai như cây súng, làm lẫy chữ đinh - nét ngang ở trên, nét dọc chạy xuống dưới thành cái cò súng - dễ bắn trúng vì ná khó rung. Lần lượt từng người tự đẽo gọt lại thân ná và khen kiểu ná mới bắn ngon hơn nhiều. Có người mới tập vài buổi đã găm vào ngực cái bia hình người đặt cách ba chục thước tây luôn ba mũi tên. Cao hứng, ông Tư còn tính chuyện tự rèn súng. Ông đã từng nghe nói cách rèn súng của người Thổ hay Mèo của vùng núi Bắc kỳ, nghe đâu họ có quyền mang theo súng hỏa mai hay súng kíp trong khi người dân Trung Kỳ bị cấm ngặt không được để trong nhà bất kể thứ súng gì. Cân nhắc tới lui rồi ông chưa làm vội: - Khó nhứt là cái nòng. Đứa nào đi Phố đi Hàn đặt xưởng người ta khoan được cái nòng tốt, về đây tao làm súng cho mà bắn thả cửa! Đội du kích thèm súng đành tạm bằng lòng với cây giáo cầm tay và ná tên đeo sau lưng, với cơm nhà áo vợ và nỗi háo hức được nổi dậy làm chủ đất Linh Lâm. Tình hình mới tới đấy, bỗng một cậu tá điền trẻ tuổi từ xóm Ấp - xóm nhỏ vài chục nóc nhà cạnh dinh cơ phủ Đỉnh - tất tưởi chạy đến lò rèn báo tin dữ: “Lão Phủ đưa một xe lính về làng”. Ông Tư cùng nhóm thợ phụ hối hả mang những thứ đang rèn đi giấu. Cậu ta chạy tiếp ra chòi rẫy gặp Cả Chanh, lần này nói cả một xe đầy nghẹt lính có súng. “Chao ôi, dữ dằn lắm, tôi không về ấp được đâu!”. Năm Chò đang nấu cơm chiều, định bỏ đấy đi báo động cho du kích rút cả vào căn cứ. Cả Chanh ngăn lại, căn vặn người đưa tin một lúc. Cậu ta càng bị hỏi càng bớt vẻ quan trọng. Rốt lại, đó là chiếc xe du lịch sơn đen chở được nhiều nhất năm người, lần này về có phủ Đỉnh, cô vợ ba lâu nay chỉ nghe thấy tiếng mà không thấy mặt, với hai người lính lệ mang theo một súng trường. Bấy nhiêu thôi! * * * Con đường mòn của người hái củi cắt lá ngoằn ngoèo rướn lên đỉnh dương Nai, nằm sau lưng vườn chè của ấp. Ấp là vùng “đất mơ hồ”, ông phủ không trưng khẩn nhưng cứ nhập nhèm ghép vào ấp của mình, cũng như các vùng đất mơ hồ khác mà thằng La-phạt quen vơ vào đồn điền của hắn, không phải nộp thuế. Hai Khánh giật cương thúc gót mãi, con Hường cứ bước chậm dần, thở hồng hộc. Anh đành xuống ngựa, dắt nó đi mấy chục thước cuối cùng lên đỉnh. Khánh chẳng có việc gì phải leo dốc cả. Anh đi chỉ để khỏi ở nhà, khỏi nghe giọng rít răng của bà Cả nói với đầy tớ và những tiếng thở dài của chị Huyền Tâm ế chồng. Qua bấy nhiêu đảo lộn trên thế giới, hai con người ấy hầu như không thay đổi, kiểu làm chủ ấp của họ cũng y nguyên như cũ. Họ bám cứng lấy dòng dõi tôn thất, vai vế nhà quan, sửng cồ khi thiếu một tiếng thưa bẩm. Họ bỏ ba mươi mẫu chè mọc cao thành rừng với tay không đến lá, để mục từng lẫm thóc tốt, lại lo đi giành giật từng bó lúa chia tô rẽ đôi, đặt làm hai cái ang 1 hơn kém tí chút để thu tô và bán thóc, mắng chị bếp khi sắn ghế trong cơm người làm có vẻ hơi ít hơn mọi bữa. Đối với Khánh, họ gờm nhưng không dám chống. Đọc thư ông phủ gửi về dặn hai mẹ con phải làm những việc cậu cử sẽ đưa ra, họ thất sắc, riêng chị Huyền Tâm tí nữa ngất. Dần dà họ bớt lo vì chẳng thấy cậu cử làm gì cả, dong ngựa đi chơi chán lại về lôi sách ra đọc. Trong ngôi nhà tối được gọi tôn lên là chính đường họ là hai ngọn đèn hiu hắt vẫn cháy, người đàn ông cao lớn và đẹp trai chẳng làm gì cả để gây gió mạnh, chỉ bỏ đi tìm không khí trong lành ở bên ngoài. Cơm của Khánh được dọn riêng mâm, vì gần đây hai mẹ con đều ăn chay trường. Khánh nghĩ: tu cái khẩu cho cái tâm được nhàn, nhưng xem ra tâm chẳng yên mà khẩu vẫn cay nghiệt như thường. Từ trên đỉnh dương Nai nhìn xuống, sông Linh như người đứng dạng hai chân, đầu hướng về Bắc, và con đường 56 chạy về Tây in hình hai cánh tay giơ ngang. Bên kia sông, khu nhà bỏ hoang của đồn điền La-phạt đã ngả màu sẫm đen, mặt sân đất đỏ đã phủ cỏ xanh gần kín. Phủ Đỉnh giao cho anh sửa soạn lấn sang đấy. Cứ tưởng bỏ! Dân Linh Lâm chưa ào tới chiếm đồn điền vì còn bỡ ngỡ, nhưng không ít người đã dạo qua nhắm chỗ đất tốt và gần nguồn nước. Nhà gạch trong đồn điền thì họ ít cần, xứ này chẳng thiếu gỗ tranh làm nhà. Khánh đã thử thăm dò thầy Huần, tay quản lý cáo già đang vét nốt những gì vét được để cuốn gói về quê: Huần giục anh làm nhanh lên và chớ quên công lão. Đến Cửu Áng thì dè dặt hơn, gãi đầu hồi lâu mới nói mình không dám dính vào, dân ở đây hung dữ, quan phủ làm sao được êm thấm thì làm. Gặp lão Xâm Tô bên khay đèn thuốc phiện, lão khoe mới lấy được lá tử vi tốt lắm, thời thế này sẽ phát tài phát lộc. Trong khi ấy những tin đồn về du kích Việt Minh cứ ồn ồn lên mãi... ----------------------------------------------------------- 1. Đơn vị đo lường địa ph ương bằng 24 hoặc 30 lon ống sữa bò Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Mười Hai, 2015, 08:21:18 am Anh Phan Chanh đang ở đâu? Tại sao không chịu chắp mối? Đợi vài hôm nữa nếu cứ vắng tin thì Khánh sẽ về Đà Nẵng hỏi lại người giới thiệu, ghé thăm Mỹ Duyên luôn.
Khánh lên ngựa, giật cương cho xuống núi bằng đường khác, đến bến đò của ấp. Từ vạn Linh Lâm xuôi dòng, thuyền đi qua bến đồn điền có xây nhiều bậc đá khối và xi-măng, xuống một quãng nữa đến bến kiểm lâm, có đồn kiểm lâm trên bờ cao nhìn được cả vùng rộng. Bến đò ấp đối diện với bến kiểm lâm, nằm ngay trên khe cửa Sặt chảy sát sau lưng khu dinh cơ phủ Đỉnh. Khánh thường đến đấy bơi buổi chiều, ngược khúc sông khá sâu và chảy chậm lên đến tận vạn Linh Lâm, bơi trở về mỏi tay thì đã có dòng nước xuôi đưa trôi thong thả, nằm ngửa làm tấm ván cũng về đến bến ấp. Vừa đến bến, Khánh gặp luôn một con đò từ bến kiểm lâm chống sang. Bảy Huần mặc sơ-mi bỏ ngoài quần bà ba đen, rướn cái cổ ngẳng hú một tiếng ngắn, chống sào mạnh hơn. Mũi thuyền trượt lên lưỡi cát bên cửa khe Sặt. - Cứ sợ cậu Hai phóng ngựa đi thẳng, biết đâu mà tìm. Có chút việc muốn hỏi cậu gấp.. Khánh lặng lẽ xuống ngựa, đợi lão cắm sào và lên bờ. Anh không ưa lối suồng sã của Huần. Lão bợ đít Tây mãi, tự coi như một thứ quan không đeo bài ngà, trong khi nói tiếng Pháp chẳng hơn bồi bếp là bao và chỉ thạo nghề bớt xén. - Chuyện bí mật đây nghen, cậu giữ kín tôi mới nói. Khánh buông sõng: - Ông chưa tin, tìm tôi làm gì? - Ơ hơ, thì cũng dặn cho chắc... cậu có muốn mua súng không? - Súng gì? - Hai cây súng của đồn điền chứ súng nào! Khánh ngạc nhiên quá, không chú ý giữ khoảng cách với lão nữa, hỏi vội: - Thằng La-phác-sơ mang đi hết rồi mà... ông nói cả làng đều nghe.... - Ơ hơ, thì cũng phải nói vậy, lỡ tụi Nhựt lên soát xét phiền lắm. Một cây ca-líp du hai nòng đúng mác Xanh-tê-chiên, cậu mượn bắn mấy lần rồi đó. Một cây Mô-de bắn voi xuya số một. - Còn cây súng lục ru-lô? - Nó ném xuống Tu-ran, chắc tụi Nhựt lấy rồi, cũng tiếc. Mà thứ đó đeo chơi chớ săn bắn gì... Cậu lấy tôi để rẻ cho cả hai. - Đạn khá không? - Ơ hơ, chỗ đó thằng Tây khôn. Mới rục rịch chiến tranh mà nó mua đạn để dành thiệt nhiều, bắn hà tiện, bắn đâu giữ vỏ lại đó, tính chuyện nhồi lại mà xài. Không kể vỏ, cây ca-líp còn bảy chục đạn, cây Mô-de năm chục hơn, đựng trong hộp sắt tây hàn kín. Cận cứ thử mặc sức, viên nào nổ thì lấy, ơ hơ hơ! Kiểu cười cầu tài của lão vô duyên thật, nhưng hai cây súng lão giấu được quả đáng thèm. Hồi ở Hà Nội, dù đã trả bằng vàng diệp, mang được súng ra khỏi trại Nhật còn phải dùng bao nhiêu mưu mẹo che mắt. Hai cây súng ở đây chỉ có việc xách về nhà mình! - Ông cứ nói giá, liệu đủ tiền thì tôi mua. Không đủ để ông đem về quê. Hai người nhìn nhau một cái nhìn dài, và hiểu rằng chẳng ai đần hơn ai. Khánh biết Bảy Huần không thể đem súng theo, nhưng trả giá quá rẻ thì lão sẽ trét đầy đầu mỡ đem chôn, được giá mới bán. Huần biết Khánh không muốn mua đắt nhưng ham súng và có thể xoay được giấy phép dùng súng. Bảy Huần đắn đo, lại bật tiếng cười quen miệng: - Ơ hơ, cậu liệu mà trả... Để rẻ cậu hai ngàn đó. Khánh đưa tay ngoặc dây cương lêu cổ ngựa, vịn yên như sắp leo lên: - Tiền bạc mà ông nói như lá rụng! - Cậu cứ trả sao cho phải giá... - Bán cả cái thân tôi cũng chưa được hai ngàn, lấy gì mà trả! Ông vô xóm Chợ bán cho lão Xâm Tô đi! Khánh đạp chân nâng, vọt lên yên luôn. Bảy Huần không cười nữa, túm giây cương nói hối hả: - Thôi thì một ngàn, rẻ như cho rồi cậu à. Không mua tôi chở đi thiệt đó. - Về quê ông bắn chim sẻ bằng Mô-de à? - Ồi chào, xuống mấy làng dọc nguồn Thu Bồn đây thiếu gì người rước! - Họ bắn súng không ai nghe tiếng à? Giấy tờ đâu? - Cùng lắm, tôi bán cho Việt Minh! Họ đang mua súng ào ào. Tiền trao cháo múc, một phút là xong hết. - Phải, họ trả ông một cái giấy nợ, đợi khi đánh Tây đuổi Nhật xong hết họ sẽ trả tiền. Mồ hôi đổ lấm tấm trên trán Bảy Huần. Té ra cậu cử non choẹt nói giọng Hà Nội này cũng trí trá chẳng vừa. Lão phác qua mấy cách xử sự, đều thấy không ổn cả. Bọn Liên đoàn 1 hay khám ghe thuyền tịch thu ngũ cốc, có thể tìm ra súng. Chôn giấu lại nơi xứ núi này, biết bao giờ mới quay trở lên, và đào lên thì bán cho ai ngoài cha con quan phủ? Bán cho Việt Minh thì biết họ ở đâu, đưa tiền không hay lấy luôn? Thấy lão vẫn nắm cương nhưng thần mặt ra, Khánh chơi luôn lá bài quyết định: - Nói vậy chớ tôi mua súng cũng phải giấu kỹ như ông, đố dám hở cho ai thấy... - Sao vậy? - Ông không nghe Việt Minh đem quân về xung quanh núi Linh Lâm à. Giữ súng của Tây, họ tịch thu còn đỡ, sợ họ ghép cho cái tội tay sai thực dân thì mất cái chỗ đội mũ! Bảy Huần lắp bắp: - Thôi cậu đưa năm trăm, lấy đi! - Hai trăm. - Công tôi cất giấu bao nhiêu lâu... Bốn trăm là cho không rồi... - Tôi còn lưng vốn hai trăm rưởi, đưa hết cho ông. Coi như đánh bạc với trời! Khánh kéo cương cho ngựa quay đầu, thúc hai gót, vừa nghe gọi với sau lưng: - Lát nữa cậu qua lấy hay tôi đưa tới ấp? Khánh ngoái cổ lại: - Ông tới ấp lấy tiền luôn chứ! Tám giờ tối, Bảy Huần khệ nệ vác sang ấp quan phủ một bó nặng, trên lưng thêm một cái gùi nhỏ. Khánh đóng cửa buồng xem súng thật kỹ, đếm đạn, trao tiền, mời lão về ngay để khỏi nghe lão kể ơn nghĩa. Không lau bớt dầu mỡ, anh đưa súng đạn ra sau dương, thả xuống một hố đất nẻ, gạt lá khô lên phủ dày, cười một mình khi nhớ lại cuộc đấu trí ban chiều. Trưa hôm sau, khi chiếc đò dọc có mui nhổ sào rời bến đồn điền xuôi sông Linh, chở theo thầy quản lý Huần với những hòm xiểng cuối cùng, chiếc xe hơi hòm kín sơn đen của phủ Đỉnh rời đường 56 rải đá rẽ sang quãng đường vào ấp. Bà Ba Mỹ Duyên đang ngủ gật dựa vai chống bị xe xóc mạnh giật mình mở mắt nhìn quanh ngáp rút ngay cái gương con trong ví đầm ra soi cười khẽ: - Để đó mình coi, em làm dâu bà Cả cứ là ngọt hơn đường cát mát hơn đường phèn! ---------------------------------------------------------- 1. Tổ chức độc quyền thu mua lương thực của Nhật Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 02:47:25 pm 13. Đợi nhắc đến lần thứ ba, Mỹ Duyên mới khép nép ngồi ghé xuống chiếc ghế dựa đặt trước cái đi-văng kiểu Tây, trên đó bà cả ngồi chễm chệ. Cô Huyền Tâm đặt ghế ngồi phía chân đi-văng, ở vị trí con ngồi hầu mẹ. Cả hai mẹ con đều diện như bà hoàng với áo dài gấm Thượng Hải, quần cẩm châu trắng, hài cườm, vòng xuyến đầy tay và nhiều lớp kiềng vàng trên cổ. Ai tinh mũi có thể đánh hơi thấy mùi hạt tiêu từ áo quần họ bốc ra: băng phiến dạo này khó mua, chống gián nhậy bằng hạt tiêu kiếm ngay tại chỗ rẻ hơn. Trời nóng, cả hai bắt đầu đổ mổ hôi. Trước mặt họ, Mỹ Duyên giống hệt một cô gái thất nghiệp đến xin làm người ở. Bước xuống xe hơi, Mỹ Duyên đợi mãi mới được bà Cả buông một tiếng lạnh lùng: “Chào cô Ba!”. Bà ngoảnh đi ngay, rít răng quát người nhà dọn chỗ cho quan ngơi. Tuyên chiến rồi đây. Xin nghênh chiến - Mỹ Duyên cười thầm khi theo chị ở sau nhà rửa mặt, tẩy sạch các thứ phấn son. Nàng vào buồng lột hết hoa tai kim cương, dây chuyền mặt ngọc, đồng hồ vàng, thay mặc bộ áo trắng quần đen đã dùng ở Hà Nội khi đóng vai chị Nết vợ anh Khánh. Trong khi ông phủ nóng nẩy vẫy Hai Khánh ra buồng khách để hỏi chuyện làm ăn nàng nhờ chị ở vào thưa bà lớn cô Ba xin vô hầu chuyện, và nghe rõ giọng Huế trong buồng bà lớn nói to: “Biểu cô Ba vô!”. Bà lớn nổ súng phủ đầu: - Cô Ba quen ở nhà lầu, đi xe hơi, nằm quạt máy về chỗ quê mùa chắc là chịu không nổi mô hè? - Dạ bẩm bà lớn, em không dám... - Nói chi mà khiêm cung quá rứa, cô kêu tôi bằng chị là quá rồi. Biết có được làm chị hay không... Mỹ Duyên cúi mặt, chửi thầm con mẹ không biết liệu hồn cứ cố gây sự. - Dạ bẩm bà lớn, em hiểu phận em lắm chớ. Em con nhà mồ côi cha, bơ vơ đất khách quê người, mong được chỗ gửi thân là may. Quan lớn trị nhậm xa nhà thiếu người hầu hạ, cho em vô chỗ phú quý, thiệt là em có phước... - Cô nói rứa là quá. Vợ cả với vợ ba, cho dù gốc tích sang hèn khác nhau, cũng là chị em hết thảy chớ. - Dạ bẩm, bà lớn thương em bà lớn dạy vậy, thiệt tình em đâu dám. Quan lớn với bà lớn kết duyên với nhau là nhờ cụ lớn Thượng rủ lòng thương, đủ thứ lễ nghi cưới hỏi. Còn cái thân em... xin bà lớn tha lỗi... mang tiếng lấy chồng mà chẳng có giá thú, coi như má em bán con làm nàng hầu... Mỹ Duyên úp mặt vào cái khăn tay vừa rút vội, bắt đầu sụt sịt: - Quan lớn với bà lớn thương ngày nào... em ở được ngày đó... hết thương... thì em lại tứ cố vô thân... Duyên cảm thấy rõ nước mắt mình trào ra thật. Quái lạ, mình chỉ giả bộ thôi mà, mình nhập vai quá sâu làm gì... Một nỗi căm giận dữ dội từ từ bốc lên chặn ngang cổ khiến nàng nghẹn ngào thật. Con đĩ già chửa hoang kia, tại sao tao phải đóng kịch trước mặt mày? Ban đầu tao tính trổ tài cho mày vào bẫy, giờ mới thấy mày chưa đáng coi tao diễn trò đâu. Hai vợ chồng nhà mày chỉ đáng mỗi đứa một cái tát đổ máu mũi, tao với Khánh sẽ khoác tay nhau ra khỏi nhà này, đi tìm hạnh phúc với nhau... Thấy người vợ lẽ bưng mặt ngồi im lâu, bà Cả đặng hắng, nói nhẹ giọng hơn: - Dì đi đường mệt, thôi để dì nghỉ cho khỏe rồi chị em đàm đạo sau. Bày ra quà bánh chi cho tốn rứa! Cô Huyền Tâm dìu Mỹ Duyên về buồng quan phủ. Bà Cả soạn mâm quà ra xem, gật gù: không phải những thứ đắt tiền nhất nhưng rõ ra người biếu đã cố đón ý chiều lòng. Cô Tâm bước nhanh vào thì thào trong khi cởi áo gấm cho đỡ nóng: - Cô ta khóc dữ lắm, mạ ơi. Hỏi chi cũng lắc đầu nức nở không nói được. Cô thở dài. Bà Cả hỏi rất khẽ: - Coi bộ thiệt hay giả? - Thiệt chớ mạ (thở dài). Con gái mười chín tuổi lấy lẽ ông chồng bốn mươi sáu, chắc là bị gả ép (thở dài). - Ép tiền chớ ép chi! Thôi được, hắn chịu phận nàng hầu thì mạ con mình rộng lượng che chở hắn làm phước... Hắn sắm đồ lễ ra mắt cũng khéo đây. Biết mạ con mình thờ Phật, hắn lựa được thứ dễ dùng. Cô Huyền Tâm trải nhiều năm không về thành phố mua sắm, nay được mẹ giảng cho các mặt hàng vải trên mâm: lụa Bom-bay màu mỡ gà, the La Cải nâu, cẩm tự đen may quần, nửa cân len Pháp thứ thiệt màu boóc-đô, một sợi dây chuyền vàng tây có mặt đúc hình Phật ngồi tòa sen đựng trong hộp nhung, hai hộp trà Long tỉnh. Toàn là những thứ nay rất khan hiếm, giỏi lùng và chịu trả đắt mới mua được. Cô Tâm đeo dây chuyền vào cổ, cầm gương to lên soi, rất bằng lòng với cô nàng hầu biết điều, về sau có xuất gia tu chùa, chắc cô vẫn đeo sợi này được. Ông phủ mới về đã cho hai người đi mời ông Cửu Áng và thầy Huần. Hỏi sơ qua việc ấp, ông hậm hực. Bọn đàn em dưới trướng ở Linh Lâm quá nhát gan, làm lỡ cơ mưu mà ông dày công sắp đặt. Người nhà về báo thầy Huần xuôi thẳng, ông Cửu xin đến tối sang hầu quan, ông càng cáu tiết. Bữa cơm chiều ở ấp được dọn sớm hơn ở phủ. Dì Ba lặng lẽ xuống bếp giúp xào nấu, bưng dọn, mẹ con bà Cả đã cởi bỏ hết các thứ giàn cảnh trên người khi đón cô gái nhảy được phong làm dì. Bà Cả không chừa được thói riết róng, chỉ cho thắp một ngọn tọa đăng dầu lửa - thứ đó ở Linh Lâm chỉ bán để rót vào bật lửa từ đầu chiến tranh - gặp cái lừ mắt của chồng, phải gọi thắp thêm cây đèn thứ hai. Trên cái bàn dài, hai mâm cơm được dọn rời nhau. Mâm ông phủ với cậu cử là cơm mặn, có lính lệ quạt và một người ở xới cơm. Mâm chay của mẹ con bà Cả có dì Ba trông nom. Bà vừa thời hết chén cơm to bằng vỏ liến của nhà quan xứ Huế, đã thấy dì Ba giơ hai tay kính cẩn đón xới. Dì đã xin được thụ trai với bà Lớn và cô, ăn ít mà lo hầu nhiều. Ông phủ lì lì đăm chiêu, tự rót uống liền ba li rượu sâm, ăn lặng lẽ. Cậu cử chỉ uống một li cho phải phép, và cơm với điệu bộ con nhà lành, nhưng thỉnh thoảng vẫn liếc xéo sang mâm đàn bà. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 02:49:51 pm Mỹ Duyên đã trở lại bình tĩnh sau cơn tủi thân và căm tức ngầm, nhìn quanh bàn với cặp mắt chăm nom của nàng hầu. Ở đây là năm con người đồng sàng dị mộng. Ngồi đối mặt với ông cha hờ, Hai Khánh vẫn cao hơn đến nửa cái đầu, đứng lên thì cha đến cằm con. Ông phủ đặt bên Khánh là bức biếm họa dán cạnh tấm bìa lịch in hình pho tượng lực sĩ Hi-lạp. Cô Huyền Tâm là gì nhỉ… một tờ tranh vẽ vụng từ dưới nước vớt lên, vất bên mảnh chân dung vò nhầu của bà mẹ. Thói nghịch quấy của Duyên cứ chực trỗi dậy. Có lúc nàng muốn cười phá lên, cười rũ rượi như vãi sạn vào hai mâm cơm, cuốn người yêu cười theo mình, mặc cho ba kẻ không biết cười còn lại ngồi ngây mặt há mồm. Những người lố bịch chẳng bao giờ biết mình lố bịch. Nếu biết, họ đã chừa được lố bịch!
Cửu Áng đến ấp khi tiếng mõ gỗ trầm trầm của bà Cả đã dội nhanh và đều trong buồng. Sau khi khuyên Mỹ Duyên ăn chay niệm Phật cho mát mẻ con người, bà cả bảo dì Ba đi ngủ với giọng ngọt ngào hơn ban chiều. Duyên bước ra phòng khách, lo trà nước cho ba người đàn ông ngồi họp, cũng để nghe lỏm luôn. Ông phủ trừng mắt nhìn tay lý trưởng: - Anh nói lạ vậy? Tụi nó muốn làm loạn cũng phải sợ lính huyện lính tỉnh kéo về chớ. Chưa gì đã rút gân! - Dạ bẩm quan, con xuống trình huyện xin lính về, quan dạy... dạ bẩm... lính không đủ giữ huyện, lấy đâu đưa lên xứ mọi. Quan dạy bắt tuần đinh đi canh gác, đứa nào bướng cứ gông cổ nó lại. Dạ bẩm, con kêu gác tụi nó tránh trở hết, làm sao bảo đứa này gông cổ đứa kia. Quan ở cao xa soi đèn trời không thấu, chớ con ăn chung ở lộn với dân con biết. - Anh lắm triện mà cả ngày la lết đám giỗ đám nhậu, nói chuyện ba lơn cười giỡn miết, tụi nó lờn mặt. Bỏ bớt cái điệu lý trưởng bình dân đi, đánh trống họp làng lại, dọa gắt đứa nào theo Việt Minh cộng sản thì cho đi tù rục xương như thằng Chanh đó, tịch biên gia sản... - Dạ bẩm, con nghe mật báo thằng Chanh về ở đâu gần làng rồi, nó kéo bọn trai trẻ đi làm giặc. Con dò miết mà chẳng biết nó chốn ở núi nào dương nào. - Họp hết dân làng lại mang theo giáo mác, trống mõ, chia nhiều cánh lùng rừng. Bắt các phường săn đem chó bày theo. Cánh nào gặp giặc thì nổi hiệu báo động cho cả làng xúm vây. - Bẩm quan, dân làng không phải như hồi xưa nữa... - Nếu cần tôi xin quân Nhật về đánh giặc. Tôi đang cân nhắc, bởi họ đi tới đâu là làm tam quang tới đó. Giết sạch, đốt sạch, phá sạch, có khi dân bị vạ lây. Anh đi dẹp được lũ thằng Chanh thì tôi khỏi nhờ tới Nhật. Sao? Khuôn mặt lão lý trưởng vui tính lúc này là sự kinh hãi hiện hình. Đôi má sề sệ thường rung lên trong cơn cười - thật cũng như gượng - đang rung giật vì sợ. Mồ hôi trên thái dương chảy xuống dọc xương hàm. Lão há mồm vài lần như cá lên cạn, không nói thành tiếng. Cặp mắt ông phủ cứ xoáy vào mắt lão như cặp đinh vít: - Hồi anh tính đưa bọn Tư Chua, Ba Mít vô hàng hương chức, tôi bằng lòng, nhưng dặn anh muốn dùng ngựa chứng phải vững tay cương. Ai dè anh để cho ngựa nó lôi! Hay là anh muốn trả triện làm dân đen? - Lạy trời, tôi trả được triện thì xẻ con heo ăn mừng liền ngay! Trên đe dưới búa, hết chịu nổi! - Tôi chỉ cần ghé qua huyện, nói một câu là anh mất chức. Mà tôi chưa nói. Anh thạo việc, anh cứ phải làm, chưa chạy làng được đâu! Cửu Áng đã nổi xung. Mắt lão lóe lửa dưới ánh tọa đăng, hai tay chống xuống bàn, thân chồm và cổ rướn như sắp nhào tới cắn lại kẻ đang rứt thịt lão từng miếng. - Các người coi tôi như chó. Tôi làm chó giữ nhà cho ông lâu rồi. Bắt đi săn tôi cũng đi. Xuỵt đâu tôi chạy đó. Bây giờ cọp vô xóm, ông cũng bắt chó ra cản nữa à? Bắt tôi nạp thịt nữa à? Lính tráng đâu, súng ống đâu hết, lại bắt thằng lý trưởng hai tay trắng đi chọi với cộng sản? - La hét chán chưa? - Sợ gì tôi không hét? Việt Minh nổi dậy, tôi chẳng mất đồng xu teng nào. Ai nhiều của mới sợ. Ai chống cộng sản cả đời mới bị họ trị tội. Tôi chẳng dại đưa đầu chịu báng... - Gầm gừ chán thì im lặng mà nghe đây. Của cải anh ít hơn tôi, nhưng Việt Minh nó truy anh trước, hiểu chưa? Mỗi năm anh kiếm chác được bao nhiêu khoản phù thu lạm bổ? Anh cấp giấy nhập lâm, giấy buôn chuyến, thẻ tùy thân giả, biên lai thuế thân giả, mỗi lần ăn bao nhiêu? Tiền bán rừng, bán từng khúc sông đánh cá, bao nhiêu? Năm kia đề lại về lập biên bản anh hà lạm công quỹ, sau ém nhẹm đi là do đâu? Một đống bản mật báo của anh gửi lên tổng lên huyện, xin trị thằng này, bắt đứa kia, cất trong tủ hồ sơ nào? Tất cả, tôi năm được hết, dân chúng ở đây nắm được hết. Bán sạch nhà cửa ruộng vườn nhà anh mà đền chưa xiết đâu, chưa nói tới cái thân anh có được đầu dính cổ hay không! Thả phịch cặp mông xuống ghế, Cửu Áng bắt đầu run. Lão thò tay rút một điếu thuốc trong gói MIC trên bàn, đánh diêm châm, nhưng cả que diêm lẫn điếu thuốc đều rung mãi không chạm vào nhau. Ông phủ phải xòe diêm châm cho lão. Mỹ Duyên ghé xuống bếp trông chừng chị nấu ăn đang hầm nồi cháo với lồng bồ câu ra ràng mới mua dọc đường về ấp, lên đứng chỗ cửa ngang, kín đáo vẫy Khánh ra mé sau. Suốt chiều nay nàng đóng vai bà dì đứng đắn bị xúc phạm vì Khánh đã khuyên ông phủ đừng để dì Ba ở Đà Nẵng nữa, đúng như giao hẹn. Nàng kéo Khánh ra chỗ hiên tối, thơm vội một cái vào má, hỏi khẽ: - Lão Cửu cuống quýt vậy, có Việt Minh về thiệt không anh? - Thiệt chớ. Họ mạnh lắm. Để anh nghe tiếp đã... - Hay anh về Đà Nẵng luôn đi? Anh ở đây em lo quá. - Chẳng sao hết. Anh không phải là quan, là chủ ấp. Anh là trí thức mà. Để mai ta bàn... - Hễ thấy Việt Minh chắc thắng, anh theo họ quách! - Rất có thể! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 02:51:02 pm Khánh lặng lẽ ngồi vào chỗ mình. Cửu Áng đã dịu bớt, tự rót nước uống ừng ực, hút từng hơi thuốc dài. Lão không đủ bản lĩnh để chọi lý tay đôi với ông phủ. Ngay trong quan trường, phủ Đỉnh cũng khá nổi tiếng sừng sỏ chai đá, lắm kẻ tưởng mình túc trí đa mưu đã bị xơi đòn âm của phủ Đỉnh đến liểng xiểng. Tay lý trưởng quèn này sức vóc được bao nả!
- Chẳng phải tôi hữu dũng vô mưu đâu, anh Cửu à. Có uy cũng phải có ân chớ. Nhu thắng cương, nhược thắng cường, rốt cuộc răng cứng rụng mà lưỡi mềm còn mãi, làm quan cai trị hễ quên điều đó thì gãy cổ sớm... Anh nói thằng Ba Mít hay gặp anh hả? Nó trình báo chuyện gì không? - Dạ, nó cứ nói lơ lửng là gặp thằng cả Chanh ngoài rừng, tuyên truyền phải khởi nghĩa giành độc lập. Nó còn hỏi vay tiền tôi nữa, kêu túng. Tôi... con sợ nó vay cho Việt Minh, không đưa. - Anh non quá. Cứ đưa, mỗi lần một ít đủ cho nó tiêu năm bảy ngày thôi, mời nó nhậu nhẹt thiệt nhiều. Ăn quen, nhịn không quen, nó mới bu theo anh chớ. Đổ nhiều rượu vô cho nó phun bí mật ra. - Dạ bẩm, không dám dấu quan, nhà con dạo này chẳng có bổng lộc gì... - Để tôi giúp. Hễ tôi vắng, anh cứ hỏi cậu cử đây. Cậu lần này về ở lâu hơn, trông coi việc ấp cho tôi, tiền nong thóc lúa được quyền tùy nghi sử dụng, cần trị ai thì cứ tiền trảm hậu tấu, hì hì... mình ơi! - Dạ. - Có gì mời thầy Cửu không, khuya rồi. - Dạ, em đang đợi quan cho phép... Mỹ Duyên bưng lên mâm cháo bồ câu kèm rượu sâm và mấy thứ bánh làm tại Huế. Ông phủ vui vẻ xoa tay: - Mời anh, mời cả nhà. Tôi là dân Quảng Nam, dòng dõi nhà bình dân, lấy vợ cả con quan ở Huế mà rất ghét thói lễ nghi kiểu cách của triều đình. Giới thiệu luôn với anh Cửu, cô Ba nhà tôi đây nhũ danh là Mỹ Duyên, gốc Sài Gòn về làm dâu xứ Quảng, học trường đầm, nói tiếng Tây như gió. Tôi từ Hán học chuyển qua Tây học khi đã lớn, theo không nổi nhà tôi đâu... - Chết, quan cứ giỡn vậy thầy Cửu tưởng thiệt, thầy lại nhờ em làm thông ngôn thì nguy em! - Hì, hì, muốn thông ngôn phải đợi Tây Đờ Gôn đổ bộ chiếm lại Đông Dương kia... Anh Cửu nè, đức Bảo Đại bây giờ tự nắm quyền bính, nhứt định chèo chống qua được thời buổi thác ghềnh này, tôi tin vậy đó. Tây rất trọng nể ngài. Nhật ít ưa mà không dám động tới ngài, hễ ngài còn thì tôi với anh còn. Uống thiệt tình chớ, đừng đợi mời. Hai, ăn đi con, ăn thiệt tình cho dì mày hết hờn lẫy... Anh Cửu đừng ngại. Hễ Việt Minh làm dữ, anh cứ nộp triện cho nó, khom lưng vái các quan đồng chí mặc khố rận đó, chẳng sao đâu. Diện phục tâm bất phục. Về sau gặp vận hội mới, anh gông cổ các đồng chí giải huyện, thu về mọi thứ, có tôi làm chứng cho. Cậu Cử ở đây, Việt Minh vô nhà cũng phải tiếp rước tử tế, đợi lính về cứu viện... - Ba ạ, con chỉ sợ họ quyên lúa, lấy ngựa, bắt đi phu thôi! - Chậc, ngộ biến phải tòng quyền! Con dằng co, cù cưa riết, nó đòi mười mình đưa hai ba, sau này ta lấy lại gấp trăm. Hồi cộng sản dậy ở Nghệ Tĩnh, thiếu gì quan ra cổng nộp ấn tín, rồi đâu lại hoàn đó! Mỹ Duyên xé thịt bồ câu tiếp vào chén ông phủ, rót đều rượu vào ly cho hai người, chỉ một mình Hai Khánh bị phớt lờ không ngó đến. Đến nửa đêm thì Cửu Áng đã say mèm và bị quan chinh phục hoàn toàn. Đợi lão lau tay uống trà xong, ông phủ mới như giật mình chợt nhớ, vỗ cái cặp, rút ra mấy tờ giấy đánh máy chữ quốc ngữ và viết tay chữ Hán. - Chút xíu quên. Anh Cửu bọc triện theo đó chớ? - Ề, triện, có triện... bốn sào nhứt đẳng điền mới giựt được nó, ai dám bỏ bậy... quan hỏi đố chi vậy... - Có mấy cái giấy tờ lăng nhăng thôi. Anh coi, làm quan tri phủ hàm Hường lô tự khanh mà phải đi xin lý trưởng áp triện, lạ không. Anh quen ký bút máy hay bút lông? - Hê hê hê... Lông lu bù mà không viết ra chữ. Viết máy chẳng có, thấy họ cầm mà thèm... - Tại anh kín tiếng quá chớ. Đây, tôi tặng anh cây bút mạ vàng đây, đồ Nhựt, Pi-lốt hạng nhứt đây. Bình mực bút máy đây nữa. Đừng nói ơn nghĩa, chỗ tôi với anh mà, đường quan với hương quan ở cùng làng với nhau... Trong khi Cửu Áng ngật ngưỡng ký tên bằng chữ quốc ngữ và phủ Đỉnh tự tay đóng triện, Hai Khánh cầm một bản đánh máy lên xem. Ấy là đơn thỉnh nguyện của hương chức và toàn thể dân chúng làng Linh Lâm xin quan trên chuyển tất cả diện tích trưng khẩu của tên thực dân La-phác-sơ sang cho quan tri phủ Ưng Viết Đỉnh, nhằm đảm bảo cho dân chúng có kế sinh nhai, thuế Nhà nước khỏi bị thất thu, nền kinh tế quốc gia thêm phần hưng vượng. Hai Khánh rùng mình. Quả thật phủ Đỉnh là kẻ cao tay ấn, họa chăng chỉ có Việt Minh mới đủ sức đương đầu! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 02:54:13 pm * * * Hôm sau, phủ Đỉnh cưỡi con ngựa Hường cùng với hai lính lệ, một đeo súng, một bưng tráp, đi thăm khắp làng. Nếu có đủ hai ngựa ở ấp, chắc Khánh đã phải cùng đi với lão, nhung cậu cử không thể chạy loa xoa theo ngựa được, cậu ở nhà. Dì Ba nảy ra ý muốn lên dương Nai xem cảnh Linh Lâm. Cậu cử lấy cây súng hơi ông phủ mới đem về ấp, cầm đi theo dì. Mẹ con bà cả nhìn theo bĩu môi: thân đàn ông mà qụy lụy quá vậy, thật khó coi. Lên đến chỗ vắng, cặp trai gái sà vào tay nhau. - Gớm, Duyên lườm nguýt anh trông như con khỉ ở Bách thú! - Còn anh cứ hầm hầm như con gấu ngựa! Mà sao lão phủ hôm kia không nói gì chuyện Việt Minh ở quanh đây, anh hè? - Chắc lão tưởng Cửu Áng viết thư nói quá lên để vòi tiền... - Anh biết không, đêm qua em thức đến gần sáng. Chút xíu nữa em lén qua buồng anh, hồi lão phủ ngáy thiệt đều. Mà em sọ anh đóng cửa kỹ, gõ kêu không được. Tối nay anh đừng gài chốt trong nghen. - Chịu khó đi Duyên. Cố giữ vài ngày nữa, em về Đà Nẵng, anh về sau, tha hồ chúng mình làm loạn! - Thì... loạn luôn bây giờ đã chết ai! Hơn một giờ sau họ mới đi tiếp. Lâu nay chim chóc trong vùng không bị bắn, rất dạn người. Khánh lên hơi và nạp những viên đạn di-a-bô-lô, bắn liên tiếp được hai con cu đất béo nung núc. Lò xo cây súng hơi loại tám cân còn rất mạnh. Mỹ Duyên kêu mệt, Khánh đưa nàng về. Đang nổi máu săn bắn, anh lại đi tiếp men các sườn đồi bao quanh khu ruộng ấp. Chim ăn dưới ruộng hay bay lên đậu ở những nơi ấy. Không có túi đựng chim để đeo cạnh sườn, Khánh xách theo cái làn bằng mây, chỉ nửa tiếng sau đã được thêm một gà rừng, hai cu ngói, một cu đất nữa. Đang rình bắn một con gầm ghì, to bằng con gà choai phủ lông xanh biếc. Khánh chợt thấy ba người từ phía truông Dơi đi về phía mình theo con đường mòn lùa trâu ven đồi. Con gầm ghì giật mình vụt bay. Khánh rướn nhìn theo đường bay của nó, định bám theo. Thằng nhỏ đi trước lên tiếng: - Chào cậu Hai! Khánh bật kêu: - Kìa Cam! Đúng thằng Cam rồi! Em về bao giờ thế? - Dạ mới đây. - Hồi ở Qui Nhơn anh thấy đứa nào đang coi ném dao tự nhiên bỏ chạy, phải em không? Anh về hỏi kỹ sạc cho ông cậu một trận ra trò. Lúc ấy đúng em chứ? Cam chỉ cười cười. Nó không có vẻ gì sợ sệt nữa. Nó quay lại hai người đàn ông lạ mặt, nói chững chạc: - Đây là anh ruột em, anh Cả Chanh đó, còn đây là anh nuôi em, anh Năm Chò. Người ném dao ở Quỉ Nhơn là ảnh đó. - Ôi chao, anh Phan Chanh phải không? - Dạ phải. Khánh dựng cây súng vào gốc cây, đưa hai tay chụp lấy tay Chanh lắc rất mạnh: - Nghe tin anh về vùng này, tôi sang hỏi bác gái, bác không nói. Có cái này gửi anh, tôi giữ mãi trong người... Khánh đưa ra ve dầu Nhị thiên có nhãn bọc ngoài. Chanh bỏ ngay vào túi, nháy mắt: - Ta vô chỗ vắng nói chuyện. Tôi cũng đem thơ cho anh. Họ vào một lùm cây xa đường có bóng mát. Khánh bóp cò tống viên đạn lên trời, đưa súng hơi cho Cam xem, đọc lá thư của anh cán bộ Việt Minh Đà Nẵng gửi đồng chí Hai Nết - anh đã lấy cái tên bịa của Mỹ Duyên khi ra Hà Nội ở với anh làm bí danh. “Đồng chí Phan Chanh sẽ trực tiếp giao công tác và kiểm soát mọi hoạt động của đồng chí Nết...”. Khánh chợt cảm thấy chút khó chịu chen vào niềm vui hồ hởi được móc nối. Cùng làm cách mạng vởi nhau, việc gì phải quá phân biệt thượng hạ như thế! Chanh đi riêng ra một góc hơi lâu. Anh quay lại với tờ giấy ướt có chữ viết hiện trên các góc, cười xòa: - Đồng chí Khánh được giới thiệu là người kiếm súng rất giỏi. Kiếm giùm ít cây cho đội du kích Linh Lâm nghen. À, nãy giờ quên nói, đồng chí Năm Chò đây là đội trưởng du kích quân ở Linh Lâm. Cai khố đỏ hồi Tây, theo cách mạng khi ở tù, biệt hiệu Năm Phi Đao đó. Ném phi đao rất tài, mà vẫn cứ cần súng... - Có ngay, anh Chanh! Lát nữa xin giao liền hai súng! - Giỡn hả? - Thật chứ anh! Một súng trận Đức, một súng săn hai nòng. Còn cây súng hơi đây nữa, ưng thì đem cho anh em tập bắn! - Úi mẹ, ông mới về mà sao chở được cả lô súng theo? - Đi luôn với tôi, anh Chanh! Khánh đi rất nhanh, cả ba người vất vả mới theo kịp. Đấy, anh em Việt Minh rất cần mình, mới gặp nhau họ đã sửng sốt về mình. Phải cho họ thấy thằng sinh viên này chẳng phải đụt, chẳng phải theo cách mạng trong thế bí! Món quà ra mắt thật là đế vương nhé! Đến chỗ hố đất nẻ đằng sau vườn chè, moi súng lên. Khánh mát lòng mát dạ khi nghe họ trầm trồ không ngớt. Anh thoáng nghĩ đến cây súng ngắn 7 ly 65 của Ta-kê-đa tặng, tự ghìm được. Cây đó để dành phần mình. Súng ngắn là của người chỉ huy. Mình lại không đáng mặt chỉ huy hơn anh chàng cai khố đỏ này hay sao? Thứ lính chiều chiều lên lô-cốt thổi bài kèn “con bò kéo xe, con bò xe kéo”, cần lắm ta mới dùng chứ mù tịt chính trị... Khuôn mặt đen trũi và lầm lì của Năm Phi Đao cũng chẳng gây được cảm tình gì với anh. Anh Cả Chanh khác nhiều, lăn lộn tù đày khắp nơi, xem ra hiểu đời biết việc hơn gấp bội. Trong gốc rừng vắng chỗ truông Dơi, có thằng nhỏ Cam gác bên ngoài, ba người đi đến thỏa thuận: nếu thượng cấp cho phép sau khi phủ Đỉnh ra đi đội du kích sẽ đến viết giấy trưng dụng một trăm ang thóc của ấp, ra lệnh cho anh em tá điền trong ấp gánh ra bến, chở đi bằng đò để giữ kín chỗ cất giấu. Hai Khánh sẽ đóng tiếp vai người tin cậy của quan phủ, theo dõi tin tức phía “địch thủ của cách mạng”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 02:55:52 pm Khánh xách cái giỏ mây đựng chim thong thả quay về ấp, rất bằng lòng với buổi sáng đi chơi. Cây súng hơi cứ để ở ấp, ngựa cũng thế, chưa cần trưng dụng làm gì.
Mỹ Duyên đang hầu cơm chay bà lớn với cô Tâm, Khánh đưa hai ngón tay lên môi, ném một cái hôn thật tình tứ khi Duyên ngửng lên, lại nghiêm mặt xách giỏ chim đến trình bà cả và nghe đủ một bài khuyên cậu cử chớ nên sát sanh quá như rứa. Ông phủ về nhà ăn cơm muộn. Sau khi đi thăm mấy nhà vai vế nhất ở xóm Chợ, ông cho ngựa lội qua thác Bà-lam tháng này đang cạn, dạo xem khu đồn điền La-phạt chỉ còn một gia đình tá điền trông chừng nhà cửa. Ông tươi tỉnh ra mặt, trong khi dì Ba ngúng nguẩy sai chị ở vào buồng đánh thức cậu Hai Khánh: “Cứ nói chờ cơm quan, rồi lăn đùng ra ngủ khì. Hạng đó là trí ngủ chớ trí thức gì mà khoe hoài!”. Nhai rau ráu những con chim rừng quay lạ miệng, ông phủ khen Khánh bắn giỏi khiến dì Ba sầm mặt, bĩu môi. - Cây này của thằng cha sửa đồng hồ ở Hà Lam đó. Nghe nói súng tốt mà ba không mua, chẳng có ai biết xài. Con về ấp, ba mới hỏi mua cho con giải trí. Nó biết luật lệ gì đâu, cho thằng lại nhì ra hỏi giấy phép là nó hoảng kinh, xin bán cho quan liền. - Ba mua thêm súng bắn thú nữa ba. Nghe nói Nhật bán các thứ súng thu của Tây rẻ lắm. Con dạo quanh rừng thấy dấu hươu nai chi chít, chiều nào voi cũng rống bên kia sông. - Để súng ở đây ba hơi ngại, đang lúc chộn rộn. Con tính thử... Dì Ba đang tiếp thịt gà rừng quay cho ông, chêm vào: - Con cái trong nhà mà quan làm như cụ Thượng về! Khánh lừ mắt. Duyên nín ngay, đoán mình đóng kịch hơi quá đà. Nàng đưa mắt xin lỗi, nói vội: - Em chẳng biết đâu việc đàn ông với nhau... Quan đừng dùng nước nghen, em còn đồ tráng miệng nữa. Đợi dì Ba xuống bếp, ông phủ thấp giọng: - Ba cũng vô ý, nói thẳng với dì lời con khuyên, dì để bụng giận. Tánh khí đàn bà vậy, con cứ lo đi ít lâu là xong... Súng thì ba mua được. Nhựt không xài súng Pháp, giao hết cho Bảo an binh, mấy cha cầm đầu bán tiêu lần hồi. Có điều, lỡ tụi du kích Việt Minh tới hỏi con đối đáp ra sao? Mỹ Duyên bưng bánh kem sữa lêa. Ông phủ khen lấy lòng: - Hồi này mà kiếm ra sữa hộp phải là bực kỳ tài... Con tính kỹ coi nên mua không? - Nên ba ạ. Voi về phá rẫy dân làng, mình bắn ngã là uy tín lên như cồn, bọn kia không ưa cũng phải kiềng mặt. Súng săn đạn ria thì chẳng dùng vào chiến trận được, lọt vào tay chúng nó cũng chỉ bắn chơi bời. Ba cứ mua nhiều đạn, con giấu kín, lỡ Việt Minh đến thì con chìa súng với vài ba viên đạn ra. Ôi dào, chúng nó lại nổ cướp cò vào nhau thôi, hết đạn là vất súng! Ông phủ cười to, chòm ria mép nháy lia lịa. Nuốt vội miếng bánh kem, ông vỗ vào cổ tay Khánh: - Được, ba sẽ gửi súng về. Sáng nay ba đi coi tình hình, thấy chưa gay go như Cửu Áng nó dọa mình đâu. Dân đây sắp gặt lúa tháng năm, chưa nghe chúng nó đòi miễn tô hay giảm tô gì hết. Du kích trốn núp đâu chẳng biết, chớ lão Tư Chua đang đập búa lò rèn lù lù ra đó, hễ thằng Chanh phá quấy thì mình hốt gọn cha mẹ nó làm con tin. Thiệt tình ba không tin bọn cộng sản dám làm loạn năm nay. Hồi Nghệ Tĩnh, hồi Nam Kỳ năm bốn mươi, mình giết như chà kiến, tụi nó khiếp hồn tới bây giờ chưa chắc đã tỉnh. Cho dù đôi ba đứa nóng máu làm liều, mình cũng đè bẹp được. Đang còn Nhựt thì Nhựt trị thẳng tay. Nhựt thua, Đồng minh đổ bộ vô Đông Dương thì Pháp cũng đàn áp lập tức. Hột lúa nằm giữa hai thớt cối xay mà đòi mọc mầm sao cho nổi! Con tạm theo cung cách cây lau, chịu uốn mình mà đừng để trốc gốc, qua cơn gió lại đứng thẳng y nguyên, Rồi ông vẫn cứ là ông; còn thằng rút cục vẫn không ra thằng? Mai ba phải về phủ rồi. Cứ vậy mà tùy cơ ứng biến nghe! Mất gì còn gỡ được, để mất ruộng đất là nhà minh trụi trơn đó! Khánh lơ đãng cầm cái bánh, nghĩ dài dài, không nghe rõ phần sau. Hột lúa nằm giữa hai thớt cối, hừ... Nhật không trị, Pháp cũng tấn công... Bảo Đại lèo lái, luồn lách, chân nào đạp tới thì ôm chân nấy... Phủ Đỉnh sẽ ghé lấy giấy tri huyện Tây Quảng, về tỉnh đút lót để khoanh hết đồn điền La-phát-sơ... Cửu Áng cứ giao triện cho các quan đồng chí khi gay go, về sau sẽ gông cổ các đồng chí... Một dòng nước lạnh chảy loang chầm chậm trên lưng Khánh. Ta đã lường hết bấy nhiêu mưu ma chước quỷ chưa? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 02:58:14 pm 14. Đối với những đứa trẻ nghèo lớn lên ở vùng ven núi như Cam, mùa hè là mùa vui và no nhất. Người lớn có thể nhăn nhó khi gặt lúa tháng năm xơ xác hay khi trời làm hạn hán thiếu nước cấy cho vụ tháng mười, lũ trẻ không để ý mấy. Được mùa hay mất, bữa ăn của chúng vẫn cứ ít cơm mà nhiều khoai, sắn, chuối già, hột mít chẻ đôi. Chúng vẫn ngày ngày thả trâu bò trên các sườn đồi còn cỏ, giao cho vài đứa trông, còn bao nhiêu đi sục kiếm mồi đem về chia nhau. Thằng Cam cũng vậy. Nó giữ ngựa, không được cho đến gần bầy trâu vì hai giống ít ưa nhau, nhưng vẫn thu xếp để được nhập bọn. Mùa hè, trái cây chín khắp nơi. Dạo quanh một lúc đã được một nón ngửa đầy sim, chà là, ổi rừng, tất cả đều chín mọng sắp rụng. Nắng hè hút khô các khe suối, để lại từng vụng đứt quãng, chỉ cần vài tấm mo cau đủ tát cạn bắt cá. Sau đó, với cái nồi đất mẻ và nhúm muối giấu sẵn trong hốc cây, cả bọn đã có một nồi canh cá nấu với lá lốt, rau ranh, ăn cùng mấy bắp ngô nướng bẻ trộm tận trong ruột một nà bắp nào đó cho vắng dấu. Chim rừng xuống rỉa lá ruộng và bắp rẫy đến nặng diều bay không nổi, ỳ ạch sa vào cả những cái bẫy gài vụng về nhất, nhổ lông xát muối nướng trên lửa than ăn ngon tuyệt vời. Đập được những con dơi ngủ ngày lủng lẳng trên chỗ tối, chúng đem vùi tro nóng một lát, phủi sơ sơ, cắn nhai rau ráu như ổi chua. Chán hết các thứ thì rủ nhau đổi món. Chịu khó bó vài cây đuốc sật, ban đêm kéo xuống bãi dâu ven sông, rung cây cho những con rầy dâu rơi xuống như mưa rào, chụp nhanh, cho vào cái tĩn sành bụng to miệng nhỏ, lát về rưới nước muối rang chín, ăn đến no. Nhận ra khu rừng nào lắm ve ve kêu đến ù tai, chúng rủ nhau tối đi ăn ve... Từ thành phố trở về, Cam vẫn thuộc nguyên bài ca gọi ve truyền mãi đến nó. Đợi tối hẳn, lũ trẻ nhóm một đông lá khô, thổi bùi nhùi châm vào, xúm ngồi xổm một bầy hình vòng tròn, vỗ tay vào miệng thành tiếng oa oa òa òa, rồi hát rời từng tiếng bài vè ve: Hu hu ve ve Xuống đây mà nghe Ăn xôi ăn chè Ăn mít ăn me Không xuống không nghe Tau đánh mi què Tau ví chạy re... Ve sà xuống, ban đầu lác đác, về sau thành bầy rung cánh đảo trên lửa, đáp xuống chung quanh lửa. Mạnh ai nấy chụp cho vào tĩn, cũng rang ăn như rầy. Riêng Cam một dạo đã chơi trội cho các bạn tròn mắt: nhân dịp ấp ông phủ xẻ thịt con trâu cái rất mập bị cọp bấu đến què, nồi mười luộc lòng đầy những mỡ sáp mà ai cũng gạt ra khi múc nước chan cơm nó đợi sáng sớm mới lén vớt tất cả lớp mỡ đã đông cứng lại được gọi là dầu trâu, gói vào lá chuối, đem ra lập kho chất béo trong rừng dễ có đến một cân. Mỗi lần sắp rang cào cào, châu chấu, rầy dâu, ve ve, nó lại đi mở kho lấy một miếng dầu trâu đem đến, phi cho thơm xong mới rang, ăn ngon như cỗ làng. Các bạn phục sát đất. Thế nhưng bây giờ Cam không dám chơi như trước. Nó là “dét-tê” của Việt Minh, chuyên chạy giấy theo những con đường núi vắng người nhất từ làng này qua làng khác. Rừng núi chung quanh Linh Lâm có vô số đường: người bứt mây đốt than, trâu kéo gỗ củi, thú rừng kiếm ăn, dấu mòn trong mùa khô này hiện lên nhanh và không biến đi, sau những tháng mưa mới trở lại rậm cỏ. Ở tất cả các nơi Cam đến, mặt người lớn thường nặng nề, đăm chiêu. Dường như ai cũng thấy mùa hè này nóng bức hơn năm ngoái rất nhiều. Trời nóng, đầu nóng, ruột gan cũng nóng theo. Vùng này vắng bom đạn nhờ xa bờ biển, nhưng tin khắp nơi đưa về theo đường sông đều đẫm mùi khét lẹt của khói lửa và mùi tanh của máu người. Cam dỏng tai nghe những chuyện dễ sợ hay khó hiểu của các bác và các anh chị bàn với nhau. Từ lâu nó đã chừa nói leo. Nó chỉ nghe, nghĩ, cố nhớ phần nào các chuyện hay mà cũng cố quên bớt những hình ảnh kinh khủng cho đêm ngủ đỡ giật mình. Chiến tranh Thái Bình Dương đang lên tới điểm đỉnh. Bọn Nhật đổ ra từng tấn giấy bạc năm trăm hình rồng xanh mới in sau đảo chính, vét hết tất cả những thứ ăn được. Bọn Liên đoàn chặn đường soát chợ cướp từng cân gạo, ống đậu. Các đảng phái thân Nhật đi hò hét khắp các bên xe bãi ga, vừa chửi nhau vừa gọi trai tráng đi lính. Mấy lão chức sắc đạo Cao Đài mỗi lần cúng lại kêu gọi tín đồ phò đức Cường Để sắp từ nước Đại Nhựt Bổn về cầm quyền, số đảng viên Đại Việt và Quốc dân đảng được Nhật thả về đang hối hả tìm nhau và giành ghế. Rối tinh rối mù. Trên cái sân khấu mới dựng vội sau đảo chính, liên tiếp hiện và biến những con rối lao nhanh vào nhau ẩu đả giành ăn. Đã là rối thì chỉ giả chết khi làm trò. Bên dưới sân khấu, những người chết thật đã nằm la liệt, ngày càng chồng chất thêm. Bãi xác trải rộng ra mãi trong nạn đói. Xe lửa Nam Kỳ đốt thóc lúa thay củi chạy máy, còn ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đang rải đầy những bộ xương phủ da đen đã co quắp hay còn thoi thóp. Mỗi người dân từ ngoài Bắc chạy vào đến phía Nam đèo Hải Vân lại kể thêm hàng loạt tin mới rùng rợn hơn tháng trước, tuần trước, hôm trước. Nghe một lát, người cam phận nhất cũng muốn hét lên một tiếng xé ruột: - Chẳng lẽ gục đầu chịu chết hết hay sao! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 03:00:22 pm * * * Cả Chanh đã thấy và nghe những điều ấy khi xuống Hội An báo cáo với Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh. Anh mang theo rất nhiều ý kiến của đội du kích Linh Lâm cần “thỉnh thị thượng cấp”, nhưng tất cả đều trở nên nhạt thếch nhạt phèo trước cái cảnh hàng triệu con người chết gục ở đầu bờ ruộng đang trỗ hay lên đòng. Chỉ đọng lại một thôi thúc dữ dội: cần đánh chiếm ngay huyện Tây Quảng. Chanh cùng anh em du kích tin rằng cấp lãnh đạo huyện và tỉnh sẽ ưng ý ngay. Ta đang kêu gọi nổi dậy. Cơn dông nghẹn ứ đang đòi một tiếng sấm mở màn. Tiếng sấm Tây Quảng sẽ nổ dây chuyền trên đất Quảng Nam. Mưa dông đổ xuống, khí trời dễ thở hẳn đi, người với cảnh sẽ ồ ạt vươn lên trời xanh... Cuộc họp diễn ra trong nhà một chị cơ sở mé trên thị trấn Vĩnh Điện. Không có trăng sáng trên sông và nồi cháo cá thơm ngon trên đò, nhưng anh Xáng dân chài và anh Quý - Xứ ủy viên đều dự, thêm vài đồng chí nữa Chanh chưa biết mặt. Anh Bảy Quý vẫn quen nghe nhiều nói ít. Anh Tô Xáng cứ vặn vẹo tới tới: - Lấy thành dễ, giữ thành khó. Đánh xong các đồng chí liệu giữ được không? - Chúng tôi đánh để gây tiếng vang, lấy súng đạn. Đốt huyện đường rồi rút! - Quân Nhật hay lính tỉnh kéo lên, đuổi theo, các đồng chí chống cách sao? - Chúng tôi rút vô căn cứ trong rừng đánh tiếp. - Dự trữ lúa gạo được bao nhiêu mà vô rừng? Chanh nín lặng. Chưa có hột lúa nào trong cả hai căn cứ. Anh vớt vội: - Cần thì lên núi cao, lên tới vùng Ngọc Linh... - Đồng bào trên núi đã sẵn sàng đón du kích chưa? Càng bị bắt bẻ Chanh càng đuối lý. Anh nói liều: - Anh em ta ở Ba Tơ cứ đánh nhào, đâu có tính tới tính lui! - Chính các đồng chí Ba Tơ dặn tụi mình phải tính toán kỹ lưỡng hơn. Anh Quý đây đã đi với du kích Ba Tơ nửa tháng. Chanh đã nóng mũi thật sự, nổi gắt: - Ít nhứt chúng tôi cũng dám hành động, còn hơn các nơi khác im xo không rục rịch. Ngồi nói lý thuyết suông hoài. Anh Quý nãy giờ chỉ nghe, bỗng chen vào một câu rất nghiêm: - Đồng chí Chanh thấy tất cả các việc ta làm trước khi nổ súng đều là lý thuyết suông, phải không? Chanh tắc họng. Nếu ai khác quất ngọn roi ấy, có thể anh còn cãi chày, cãi cối, nhưng trước mặt anh Quý bậc thầy mà tên tuổi đã vang dội khắp các nhà lao... Chanh cúi mặt lặng cá hồi lâu trước khi nói: - Xin lỗi các anh, tôi sốt ruột không chịu nổi... Các anh kia đưa mắt nhìn nhau. Anh Xáng buông rầu rầu: - Tụi mình còn sốt ruột gấp mấy. Có điều Đảng mình trải qua mấy cuộc khởi nghĩa non ở các nơi rồi, có kinh nghiệm rồi, lần này quyết làm chắc ăn trăm phần trăm chớ không để cù cưa bạc nhạc đâu. Chị chủ nhà bưng lên một mâm chè, thứ chè nếp nấu với đường đen rất đặc gọi là cháo đường, bỏ thêm nhiều gừng và một chút muối cho đậm vị. Câu chuyện xoay sang nạn đói. Mấy năm nay ghe bầu chở gạo Nam Kỳ ra ít, Quảng Nam thiếu gạo nhưng có khoai sắn bù vào, không đến nỗi đói. Vụ gặt tháng năm vào cỡ trung bình, các huyện phía Bắc được khá hơn, huyện Tây Quảng sẽ dư thóc vì thuyền bè xe cộ khó khăn không chỏ xuống bán mé Tam Kỳ được. Đợi mọi người ăn xong, chị cơ sở mới dọn mâm, pha nước, bày ra giữa chiếu một bộ bài tứ sắc còn mới và chia luôn cho mỗi người một tay bài, ném thêm vài cụm bài rác như đang dở ván, cười cười: - Có hai người lạ mặt vô làng hỏi thăm nhà ông Sam. Dạo này mật thám của thằng Ký Xuân bắt đầu đi rình rồi, các anh cầm bài lên đi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 03:04:16 pm Chó sủa dồn ngoài ngõ. Chị ra sân mắng chó, hỏi khách mấy câu, dẫn vào: anh bí thư huyện ủy Tây Quảng mặc như thầy lý lên quan, cùng một đồng chí bảo vệ mặc sơ-mi soóc như là thủ lãnh thanh niên. Anh Quý vỗ đùi khoái trí:
- Tưởng cậu mắc kẹt đâu rồi! Hay lắm, đang bàn đại sự ở Tây Quảng đây. Cởi áo, quạt cho mát, uống nước, rồi ta tính kế đánh lấy huyện! Anh bí thư huyện ủy đang chào hỏi, bỗng nhìn Chanh chăm chú: - Ủa, bác Tư xuống hồi nào? Anh em nói bác đang rèn gươm giáo trên Linh Lâm mà! Cả Chanh nóng bừng mặt, chỉ lắc đầu. Chung quanh cười ồ. Không phải lần đầu anh bị lầm với cha. Hai cha con cách nhau chẵn hai mươi tuổi, mặt và vóc người rất giống nhau, sau năm năm tù và những tháng vất vả gần đây anh già sọm đi và trông lại càng giống. Ngay ở Linh Lâm, đôi cậu du kích trẻ gặp lúc đèn lửa chập choạng đã lẫn lộn giữa hai cha con. Anh bí thư biết mình hớ, chữa vội: - Mới ngoài nắng vô, mắt thấy toàn đom đóm bay. Cũng tại cậu giống ông bác quá thể! Nghe nói đội du kích đề nghị đánh chiếm huyện lỵ Tây Quảng, anh cười: - Muốn lấy thì mình lấy cho, khỏi cần du kích Linh Lâm. Tri huyện đang nhấp nhổm chạy trốn. Ta nắm được tay đề lại với đội lệ. Lính huyện đập bệnh nằm nhà một số, nay còn mười một, có một cơ sở, ba cảm tình. Thằng cai Dương hay cướp giựt đàn bà đi chợ thôi, không dám chống ta. Tức cười, tri huyện bảo nó đem súng ra bắn thử, viên đạn thứ ba mới nổ bị toác vỏ mắc trong nòng. Thử cây khác bị văng ốc vít trầy mặt. Vợ nó tối về làm gà tạ ơn cô bác phù hộ cho chồng thoát nạn bắn súng! Còn ở huyện chín súng mút với anh-dô, hai mươi hai đạn, nhưng chỉ dám vác chớ không ai dám bắn! Đến lúc này Cả Chanh mới thấy mình quả là ếch ngồi đáy giếng. Còn may hai anh Quý và Xáng không nhắc lại các lý lẽ rất hùng hồn của anh ban nãy, mà chăm chú nghe báo cáo về tên quản Hưng đang cố ngoi lên. Tên này trước ở mật thám, chuyên tra tấn tù chính trị, nay được Nhật giao chỉ huy đội Bảo an binh của tỉnh, hơn một trăm đứa có sáu cây ép-en 1 và hai moóc-chê 602, súng đạn đều tốt. Quản Hưng biết mình nặng tội, lại muốn nhân dịp chộn rộn này để vọt lên tới lãnh binh, án sát, chửi và chống Việt Minh rất hăng. Hắn tát lính đổ máu mũi như sĩ quan Nhật, nhưng cũng thưởng nhiều, cho lính tự do kiếm ăn nhiều, các quan phủ huyện đều gờm lính quản Hưng. Mới cách đây vài hôm, tỉnh cấp gạo chậm sao đó, hắn cho quân chặn cướp luôn hai chiếc ghe chở gạo của bọn Liên đoàn chỉ đưa cho mấy đứa áp tải một giấy biên nhận ký tên: “Huỳnh Hưng, hung thần xứ Quảng”. Hắn được tên chỉ huy Nhật kiêm chức “cố vấn” của quan Tổng đốc rất tin cậy. Áng chừng có một phần ba số Bảo an binh trung thành với quản Hưng, dám đánh nhau với Việt Minh. - Coi đó Chanh, đội du kích của cậu có thể đụng đầu thằng việt gian thú dữ. Chơi nổi không? Chanh bẽn lẽn nhận rằng du kích Linh Lâm còn quá ít và quá yếu. Hội nghị bàn tiếp hàng chục việc phải làm tại khu vực Linh Lâm, Chanh không được phép ghi chép, chỉ bấm ngón tay nhẩm đếm đến thuộc lòng, mồ hôi vã trên trán mỗi lúc một nhiều. Đến cuối, anh lại thêm một lần sửng sốt khi anh Xáng trịnh trọng báo tin Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ định đồng chí Phan Chanh làm phó bí thư huyện ủy Tây Quảng. Vốn quen khép mình vào kỷ luật, Chanh không cãi, chỉ nghĩ: “Các ảnh lầm rồi. Mình gay go hung rồi...”. Tờ biên lai thuế thân của anh từ Qui Nhơn mang về được thay bằng giấy chứng nhận là nhân viên kiểm lâm đang thừa hành công vụ tại huyện Tây Quảng cùng với thẻ tùy thân ghi tên là Phan Thanh Trà. Anh thay mặc một bộ áo quần vải xanh biển như kiểm lâm được phát, trên vai có mấy vết nhựa cây đen. Người lái xe khách lên xuống Linh Lâm mỗi tuần hai chuyến sẽ dành chỗ và chuyển hàng cho anh khi thấy những vết ấy. Cả Chanh tính trước sẽ đi vắng ba ngày, xuống Hội An họp và về ngay, nhưng anh mất thêm hai ngày nữa để cùng anh bí thư huyện ủy đi gặp một số cơ sở Việt Minh. Đã có giấy tờ đàng hoàng, anh không phải cuốc bộ và vòng trong xóm tránh các trạm gác nữa, đôi lúc còn lên giọng nạt nộ vài nhóm tuần đinh mù chữ bị buộc phải cầm gậy ra canh ở điếm đầu làng, hễ thấy tờ giấy đánh máy đóng dấu son đỏ choét là cho đi ngay. Anh bí thư đưa Chanh đi thăm bốn chính trị phạm từ Đắc Tô, Kon Tum, Ban Mê Thuột về huyện Tây Quảng sau đảo chính. Hai anh vừa về đã họp ngay thanh niên trong bà con họ hàng, tuyên truyền Việt Minh rầm rộ, bọn tổng lý hoảng hồn lên báo quan nhưng chưa dám động tới họ. Một ông nhà giàu bị đưa đi an trí Đắc Tô vì cho con đi học lớp thông ngôn của Nhật, nay đang vênh váo trừng trị đứa này che chở thằng kia. Người thứ tư là anh Ba Mậu. Chanh quen anh trong nhà tù Kon Tum, được anh dạy văn và toán trong gần một năm. Đã trọng đạo phải tôn sư, Chanh lễ phép ngồi nghe anh lên lớp như đang dạy học trò ở Đà Nẵng. - Tình hình này phải tránh manh động đồng chí Chanh ạ. Trình độ dân chúng còn thấp kém quá, chưa hiểu nổi cách mạng đâu, nói cộng sản họ còn tưởng cộng cả vợ chồng, nói cộng hoà họ hiểu là dồn của lại đem chia đều ra. Trước hết phải nâng cao trình độ dân chúng... Đến lúc này, ngồi trước ông thầy dạy chữ đầu hai thứ tóc, Chanh mới hiểu mình vì sao mình phải làm phó bí thư huyện ủy. Bởi vì anh dám khởi nghĩa. ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp: F.M, tức Fusil-mitralleur: Trung liên. 2. Tiếng Pháp: Moriler: súng cối. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 03:07:03 pm * * * Trong khi Cả Chanh đi vắng, anh chàng Năm Phi đao đã bốc máu làm tào lao. Năm Phi đao gọi đội du kích vào họp ở căn cứ A nói: - Anh Cả đi vắng rồi. Ảnh là đại ca của tao, gì gì cũng gương mẫu hạng nhứt. Kẹt cái là ảnh làm gì to lắm trong Đảng Cộng sản Đông Dương. Chưa biết hả? Cộng sản là làm cách mạng cả thế giới, đưa nước mình lên hùng cường cỡ như Anh, Mỹ, Nga vậy đó. Ảnh lo công chuyện cả năm xứ Đông Dương. Anh thấy tụi mình ở đây dốt quá ư dốt, về dạy dỗ cho khôn ra. Bây giờ khôn rồi, mình tự nghĩ mà làm cách mạng chớ. Cũng như tao bày cho bay tập bắn vậy, tao có bắn giùm bay được đâu! Lý lẽ của Năm Phi Đao rất dễ hiểu và đầy sức thuyết phục, anh em gật đầu cả. Việc làm cũng đơn giản thôi. Kéo du kích tới ấp phủ Đỉnh tịch thu hết số lúa tô vụ tháng năm vừa gặt xong chở về căn cứ B để anh em mình ăn tập thả sức, khỏi bị người nhà cằn nhằn mỗi khi xách gạo hay khoai khô bọc theo. Anh em khoái hết mức nhưng chưa quen vỗ tay. Anh đội trưởng tập vỗ tay cho đội, dặn rõ đó là kiểu quốc tế chứ chẳng phải lề thói thực dân đâu. Trong đội chỉ có Tám Doãn hơi ngờ ngợ. Cậu trai chống bè này còn nhớ lời anh Cả Chanh dặn khi ra đi: việc lấy thóc của phủ Đỉnh phải được thượng cấp cho phép, đợi anh về sẽ hay. Năm Chò cười xòa, nheo mắt và thấp giọng: - Ảnh là ông chánh trị, phải nói vậy mới đúng chánh trị, hiểu chưa? Tụi mình là quân sự, cứ làm tới theo kiểu quân sự, cái gì lợi cho đánh tây đuổi Nhựt coi như xuya! Chừng ba giờ chiều, đội du kích kéo sang ấp phủ Đỉnh. Cách cổng ấp vài trăm thước, Năm Chò cho dừng lại, xếp hàng đôi và hô đi đều tuy đường lắm ổ gà, anh em cứ phải nhìn cắm xuống chân. Ba tiểu đội đều mang tất cả vũ khí: cây ná với ống tên đeo trên lưng, giáo hoặc mác vác vai, một số có thêm dao găm gài bên lưng. Tiểu đội Một gác cổng và đi kêu dân xóm ấp gánh thóc. Tiểu đội Hai dàn hàng ngang trước sân chính đường, gươm giáo sẵn sàng chiến đấu. Tiểu đội Ba rẽ vào xúc thóc khi có lệnh. Mỗi tiểu đội thiếu vài người đã lủi trốn dọc đường vì thấy làm găng quá, sợ về sau phủ Đỉnh sẽ đưa lính về gông cổ cả nhà. Không sao, đội du kích vẫn còn đông và hăng lắm. Bầy chó bảy tám con xổ ra cổng sủa vang trời. Cô Huyền Tâm đang thu áo quần phơi ngoài sân, thấy một người mặc quần áo lính đeo súng đi vào, theo sau có một tốp tuần đinh. Cô hỏi: - Anh ở chỗ quan phủ về à? Có thơ quan không? Chó sủa quá ồn, lấp mất giọng Huế kẻ cả. Anh lính nói gì chẳng nghe được. Bà Cả bước ra thềm gọi: - Đứa mô ra đánh chó, lính quan về tê tề... Năm Chò vừa muốn thị oai, vừa cáu lũ chó nhà giàu cứ chồm tới, đưa tay giật cây súng săn hai nòng trên tay Tám Doãn, lùi mấy bước, bẻ mấu cò một bên nòng, nổ luôn một phát đạn ghém giữa bầy. Con chó lài đầu đàn lăn gô ra, hai con nữa vừa lê vừa gào. Mẹ con bà cả đâm đầu chạy vào buồng, người ở cũng chạy táo tác. Hai Khánh mặc py-gia-ma bước vội ra, trong khi Năm Chò nói dõng dạc: - Chúng tôi là bộ đội Việt Minh đến trưng dụng lương thực nhà này... Khánh đã sẵn sàng đón anh em tới, nhưng rất bực khi thấy Năm Chò bắn chó. Anh cố làm ra vẻ sợ sệt, vào trình bà Cả. Bà đang xoa nắn cô con gái lên cơn đau tim, miệng niệm Phật liên hồi: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ tát... Thôi thôi cậu cử làm răng đó mược cậu... Nam mô bồ đề bồ tát ma ha tát...”. Khánh dẫn anh em vào lẫm lúa. Trong có bốn cây thóc cao, mỗi cây độ trăm rưởi ang. Anh hỏi khẽ Tám Doãn: - Anh Chanh về chưa? - Chưa. Anh biểu đợi cấp huyện cho phép, mà anh Năm cứ kêu đi... - Kiếm đủ ghe chở chưa? Tám Doãn ngẩn ra. Chưa hề nghe anh Năm tính chuyện thuyền đò gì cả. Lại chạy tìm nhau, hối hả cho người lên bến vạn. Năm Chò dẫn tốp này đi, lát sau lại nghe nổ đoàng một tiếng súng trường Đức chỗ xóm Vạn. Khánh bật chửi thề. Giao súng cho tay khố đỏ này, nó xài đạn như đốt pháo Tết! Rốt cuộc rồi cũng chở được chừng trăm rưởi ang thóc. Khi bốn con đò chống ngược sông Linh qua bến Vạn, Năm Chò lại thị oai bằng ba phát súng trường nữa bắn lên trời, trong khi đồng bào đổ ra xem Bộ đội Việt Minh đứng chen đầy bờ sông. Mấy cậu du kích trước đó vài tiếng còn băn khoăn chưa biết nên lộ mặt hay chưa, lúc này cầm cây mác đứng hiên ngang trên đò, không nghe rõ nhưng biết dân làng đang trầm trồ nhắc tên mình. Căn cứ B mới làm nhà kho, chưa có tấm cót nào. Lần này Tám Doãn không để Năm Chò đi nổ súng trưng dụng cót nữa, bấm mấy anh em chạy về vác đến. Các bác chống đò được tự do vào chỗ doanh trại của bộ đội trong khi gánh giúp. Đến sẩm tối thì tam xong mọi việc, và đêm ấy dân làng biết hết tên tuổi và chỗ ở của đội du kích Linh lâm. Họ kéo đến nhà các đội viên du kích - vẫn phải về nhà kiếm cơm tối như thường - tán chuyện râm ran đến khuya. Ông Xâm Tô rời bàn đèn thuốc phiện, cho con thắp đuốc đi mời “Tư lệnh bộ đội Việt Minh” đến nhà đãi một tiệc túy lúy với món ăn Tàu và rượu chai Quân thắng trận. Ông Cửu Áng chạy một vòng qua các nhà khá giả trong xóm, quyên góp được một bò ba heo để khao Việt Minh, muốn ăn lúc nào thì cứ đến chuồng mà bắt. Sau đó ông chong đèn viết tờ mật báo, cho con luồn đường tắt đem xuống huyện lúc gà gáy đầu. Chỉ trong một ngày tin đã loan đi dọc đường 56, thấm nhanh vào các làng xóm hai bên đường: Việt Minh khởi nghĩa chiếm Linh Lâm rồi! Vài ngày sau tin mới xuôi dọc sông Thu Bồn, bởi các chủ đò dọc nấn ná ở lại Linh Lâm coi thử Việt Minh ra sao, sông nước có bị ngăn cấm không. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Năm, 2016, 03:09:30 pm Từ nhà anh Ba Mậu đi ra đường 56 đợi đón xe ngồi nghỉ trong quán nước, Cả Chanh và anh bí thư huyện ủy được ông già bán quán báo ngay tin sốt dẻo:
- Chưa chắc xe lên đâu mấy anh, họ sợ tên rơi đạn lạc. Việt Minh nổi dậy chiếm hết tổng An Sơn, không biết à? - Ôi, thiệt sao bác? - Sáng giờ cả chục người trên đó xuống nói. Quân lính đâu trên núi kéo về bắn súng kêu loa rầm rầm, thu lúa nhà giàu chia cho dân nghèo. Chỗ ấp ông quan gì đó dám chống, họ bắn nhào luôn ba mạng. Bây giờ họ lập tân tỉnh từ Huề Bình trở lên, trí súng, đắp đồn, Nhựt lên là oánh ! Vài người trong quán cũng góp thêm những chuyện được cam đoan là do bà con xuống kể lại: “Việt Minh tế cờ, khao quân, rước thuyền bắn súng trên sông Linh có rất nhiều phu theo gánh gạo, xếp hàng duyệt binh đi đều rắp rắp như lính oong đơ hồi Tây”. Cả Chanh sốt ruột không chịu nổi, kéo anh bí thư ra đường. Họ đi bộ gấp lên Linh Lâm. Anh bí thư huyện cởi áo dài vắt vai, tụt guốc ra xỏ vào cán dù cùng với khăn xếp, từng lúc chạy lúp xúp mới theo kịp anh kiểm lâm mặc đồ xanh. Cậu bảo vệ đi trước họ chừng năm chục thước, xách cái giỏ đựng nải chuối và bó hương. Cách bến phà Huề Bình vài cây số, họ ghé vào quán tránh cơn mưa rào và thăm dò tình hình. Mấy người đi chợ Huề Bình vừa về đến đấy, nói ở chợ chẳng có gì hết, chỉ nghe đồn trên Linh Lâm có Việt Minh thổi kèn bắn súng. Anh huyện ủy viên trong xóm lẻ mé dưới Huề Bình cũng chẳng nghe và thấy gì cả. Năm Chò không đến trong ngày hẹn liên lạc hôm qua, chắc trên Linh Lâm có động. Sau nhiều năm đi xa, Cả Chanh không nhớ đường mấy nữa, chỉ một lần được Sáu Cam dẫn đi tắt núi xuống Huề Bình. Lần này tuy đủ giấy tờ nhưng anh vẫn nhắm hướng vượt năm cây số núi về làng, tránh bất trắc. Lính địch có thể ngược sông Linh đánh úp đội du kích của anh, dân các xóm dọc đường 56 không thấy là phải. Họ lạc quanh quẩn khá lâu trên dương Cốt, nơi có hai bộ xương voi bên nhau và cái miếu thờ “nghĩa tượng” lút trong rừng rậm. Đến khi đã mỏi rụng đầu gối, Chanh chợt thấy lấp lánh dưới dốc dòng nước rộng và cạn của khe Cốt. Khe này chảy vào sông Linh ngay chỗ bến Vạn. Trên bãi cát hẹp, bên khe có những dấu chân cọp to bằng bàn tay xòe, tiếp đó là những dấu ướt in trên đá chưa khô hẳn. Cậu bảo vệ chưa từng ở núi, xanh mặt tìm vội một cây gì làm gậy giữ thân. Chanh lắc đầu: - Nó xuống uống nước, đi cách mười phút rồi. Kệ cha nó. Mặt trời sắp lặn họ mới về đến lò rèn ông Tư lúc này vắng tiếng búa. Chanh rón rén lách qua vườn, suỵt vỗ con chó Dồ cho nó im, đến dòm vào lò rèn dựng tách ra khỏi nhà chừng mươi thước. Gần như cả đội du kích đều có mặt ở đấy, đang ăn cơm. Trên sân, trong nhà, cả ngoài bãi cỏ phẳng gần lò, bày ra sáu cái nong với rất nhiều chén đĩa tô chậu, cả những tấm lá chuối đầy tú hụ thịt luộc và ra chuối rừng. Năm Bưởi cùng mấy cô nữa, mồ hôi ướt sũng lưng áo, đang tiếp thêm cơm, rau, những chậu thức ăn từ ba cái bếp đun nồi to gần chỗ khe Hội. Quái lạ, những gì đã xảy ra trong năm ngày anh đi vắng? Một người đang ăn chợt ngửng khuôn mặt đỏ ửng lên trông thấy Chanh đứng sau bụi cây thấp, reo to: - Bác Tư kiếm thêm nước trắng về rồi. Gớm, đợi miết! Cửu Áng! Cửu Áng ngồi ăn nhậu với đội du kích! Hay mình trông gà hóa quốc? Cả Chanh không kịp lùi, phải vẫy anh bí thư và cậu bảo vệ bước lại. Năm Chò ngồi bên Cửu Áng bật cười hô hô: - Ông Cửu say rồi! Đại ca tôi mà lầm với Bác Tư! Một nét kinh hoàng hiện loáng trong đôi mắt không có vẻ gì say của Cửu Áng, biến rất nhanh. Đôi má sệ lại rung lên trong tiếng cười của ông lý trưởng rất bình dân và vui tính: - Hê hê hê! Hèn gì mấy cô em út cứ chê mình già! Anh cả về làng bấy lâu mà kín đáo quá, chẳng cho tụi này được gặp. Bảy tám năm rồi chớ ít đâu... Anh ghé mâm này luôn di. Bưởi, Bưởi, để phần thứ gì bày ra đây con! A, còn hai vị khách nữa nghen! Ông bí thư đóng kỹ vai thầy cúng trong giấy tờ, tuy không mang theo bộ đồ nghề thày cúng, ông chắp tay vái liền ba vái về phía các mâm, nói ê a: - Dạ, thưa mấy quý ông bà, thiệt tình tôi bị nghi oan. Cha con tôi đang hỏi đường vô nhà ông lý trưởng thì bị... bị ông này dẫn đi theo. Dạ, chuyện dương gian tôi chẳng biết, chứ trừ tà ma bắt quỷ thì chẳng dám nói khoe, đã từng trải mấy chục năm... Anh em cười rần rần. Năm Chò phơi bộ ngực đầy bùa chàm đứng lên ấn mạnh vào vai ông thầy cúng: - Tới đây gặp bữa, cứ cúng ông thần khẩu trước đi cái đã! Chú em kia nữa, ăn no rồi tôi chỉ ma cho mà bắt. Ma quỷ là thằng này, thằng Năm đây... Dạ thưa đại ca, bữa tiệc này là của chung thiên hạ. Gạo của nhà phủ Đỉnh, heo của lão Xâm Tô bợm ghiền, rượu của thầy Cửu mang tới, công nấu nướng là của nhà bác Tư, còn miệng với bụng là của anh em du kích Việt Minh do đại ca làm lãnh tụ! Chanh tức run lên, muốn tát cho anh chàng say rượu vài cái. Để nén tức, anh nói sang các mâm: - Tối rồi mấy cha, ăn mau còn thấy đường dọn dẹp... Cửu Áng nhìn kỹ bộ mặt ông thầy cúng, can mày phân vân, rồi quay đi nói oang oang: - Các chú hậu sanh không biết, hồi bằng tuổi các chú, mấy ông nhà nho chơi hoang lắm, tối mấy cũng bỉnh chúc dạ du, tức là thắp đuốc đi chơi đêm đó. Tới lứa tôi thì nghèo rồi, hoang mấy cũng thành hiền khô! Đang lúc đói, Chanh ăn thật lực trong khi dỏng tai nghe anh em nói tầm phào. Thật ra chỉ mâm của Cửu Áng và Năm Chò là sẵn rượu, anh em khác chỉ uống mỗi người một ly không đủ say. Ông Tư Chua bỏ cuộc nửa chừng, bảo đi mua thêm rượu nhưng biến luôn. Tư Quýt cũng vắng. Ba Mít say nhanh, đã ngáy trên chõng của của bà Tư. Tám Doãn bối rối ra mặt không thốt câu nào, thỉnh thoảng liếc trộm Chanh. Tan cuộc, mươi người có nhà ở xóm Chợ và bến Vạn rủ nhau về chung đuốc. Khi Cửu Áng định dẫn cha con ông thầy cúng đi về nhà mình, Cả Chanh nói xẵng: - Để lại đây, chúng tôi còn lấy cung. Biết đâu là mật thám của tỉnh, huyện phái đi dò Việt Minh! Khi lò rèn gần vắng hẳn, Chanh mới gọi số tiểu đội trưởng cùng Năm Chò, Tám Doãn, Sáu Cam lại: - Chú ý nghe rnệnh lệnh đây. Trong vài ngày sắp tới, bọn Bảo an binh có thể đánh lên đây. Ngay trong đêm nay các đồng chí phải báo cho từng đội viên mang theo các thứ để rút vô rừng, ở lại năm ngày đêm. Sáng mai, khi tỏ mặt người, toàn đội phải có mặt trong căn cứ A. Nhắc lại coi nhớ chưa? Năm Chò lè nhè: - Nó lên thì uýnh cho nó té cứt ra chớ, đại ca! - Im lặng. Đồng chí Tám Doãn chịu trách nhiệm củ soát các tiểu đội coi mệnh lệnh của tôi có được thi hành thiệt đầy đủ hay không! Giải tán! Chanh đưa hai khách cùng Doãn và Cam ra chòi rẫy, vẫn còn giận sôi lên. Khêu to ngọn đèn đĩa thắp dầu lai, anh lạnh lùng bảo Doãn báo cáo cho thật tỉ mỷ những việc đã làm. Nửa chừng ông Tư cũng ra chòi, ông đợi tiệc tan mới quay về lò rèn tìm Chanh. Sáu Cam ngồi chụm lửa đun nước cũng góp thêm vào. Ba người nhìn vào cuộc “khởi nghĩa” bằng ba cặp mắt khác lứa tuổi, khác góc độ, khác nếp nghĩ. Khi ông Tư với Doãn đã ra đi, Cam đã ngáy trên sập, cậu bảo vệ đã nói mê sau chuyến đi ly kỳ, anh bí thư cùng với Chanh đánh giá lại tình hình. Bên ngoài, con chim ó ma ăn đêm cứ réo từng hồi “ó ó ó...à”. Chim dủ dỉ sống bằng phân trâu, phân nai trầm giọng thả vào gió tiếng than thở “thủ thỉ thù thì”. Đôi lúc vẳng xa tiếng con “có bóp thì bóp” và xa hơn nữa là tiếng trả lời “có chết thì chết”. Hai đồng chí bí thư và phó bí thư huyện Tây Quảng quyết định: Linh Lâm sẽ thành làng Việt Minh luôn. Đội du kích đã lộ mặt hoàn toàn, sẽ là quân chủ lực “lai vô ảnh, khứ vô hình”, tất nhiên phải loại bớt những người còn do dự, chọn thêm người hăng hái. Căn cứ B bị lộ, sẽ dời đi xa hơn, đưa cối xay, cối giã vào làm gạo tại chỗ. Cả Chanh thay mặt Việt Minh huyện sẽ gọi tất cả lý trưởng hương chức lại, giảng mười chính sách Việt Minh, nghiêm cấm việc mật báo lên tổng lên huyện. Đặc biệt, phải tổ chức ngay lực lượng dân quân đông đảo ở Linh Lâm và các làng chung quanh, đặt trinh sát và giao thông ở các trạm mật dọc sông Thu Bồn và đường 56. Chưa giảm tô được vì phải đợi chủ trương chung, nhưng mở ngay cuộc quyên góp trong các nhà giàu ở Linh Lâm, lấy thóc là chính, đừng ham trâu bò, heo gà. Chuẩn bị ngay các điểm tác chiến để chặn quân Bảo an ninh hay quân Nhật đánh lên. Tập cho du kích biết đánh du kích... Trước khi ngả lưng, anh bí thư huyện ủy còn bật cười, lèo thêm một câu: - Gì thì gì, cậu cũng đừng làm anh em cụt hứng. Đang bốc mà. Làm cách mạng, nghe dọa sai lầm khuyết điểm liên miên, anh em sợ rút gân sởn tóc, chẳng dám cựa quậy nữa đâu! Cả Chanh ngủ lịm đi với câu nói ấy trong đầu. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:02:19 pm 15. - Alô, alô, đồng bào chú ý... - Nghe đây, nghe đây... - Thưa toàn thể đồng bào... Anh em gọi loa thích kiểu nào gào kiểu ấy, nhưng nghe vẫn vui tai hơn tiếng mõ làng đi rao thúc thuế, thúc xâu. Trong những câu dài nhằng lủng củng, người dân Linh Lâm chỉ cần nhặt ra vài ba tiếng đủ biết phần mình: họp xóm, họp làng, họp thanh niên, họp phụ nữ, họp thiếu niên, họp dân quân, họp bàn việc bọc truyền bá quốc ngữ, họp ủng hộ du kích... Vô vàn cuộc họp, tất cả đều quan trọng, khẩn cấp, cần thiết, gấp rút, số một, hàng đầu! Người dân Linh Lâm bước hẳn sang lối sống Việt Minh là ngày làm đêm họp. Họp mãi thành quen, đêm nào vắng tiếng loa tự dưng họ thấy ngứa ngáy thế nào, phải chạy sang hàng xóm hỏi xem có phải mình đi rừng, đi ruộng hụt nghe loa gọi không. Vả lại họ chẳng bị ép uổng gì, cơm tối xong đi họp một lát, các chủ nhà đun nồi nước to mời chung, buồn ngủ hay con khóc thì cứ ra về trước, quên lời dặn thì cán bộ Việt Minh kêu nhắc qua hàng rào. Đội du kích Linh Lâm bị ngập đầu trong công tác. Ngập mà vui, cứ như tắm trong thác sông Linh. Ban ngày học chính trị hay quân sự, đêm đi loa gọi họp và canh gác cho đồng bào họp. Thỉnh thoảng cao hứng lại xếp hàng đôi hàng ba, cờ và súng dẫn đầu hô đi đều trên đường đá xóm chợ bến sông cho đồng bào đổ ra ngắm nghía, xuýt xoa. Một số rụt rè được cho ra làm dân quân, đã có ngay mấy chục thanh niêu khác xin vào thay. Lập thêm một tiểu đội nữ du kích do cô Năm Bưởi chỉ huy, đang mê tập mã tấu và các môn quyền cước. Liên tiếp phải đón các đại biển thanh niên trong tổng An Sơn kéo tới xin rước “quí vị du kích làng Linh Lâm đến giúp chúng tôi tập quân sự xây dựng chánh quyền Việt Minh”. Cả Chanh bắt đầu bị sốt rét rừng, ở đây rất ít người tránh được cái bệnh tai ác ấy, được gọi là rét. Anh cứ gượng, gượng mãi. Những gói Phát lãnh tán và những thang thuốc nam của ông Tư Chua chỉ làm giảm chứ không cắt được cơn. Lạnh run một lát, nóng điên một hồi, nhức đầu như búa bổ vã mồ hôi đầm đìa, thế là xong khoản nợ núi rừng vài ngày trả một lần. - Anh Cả rét hả? - Đợi chút, qua cơn mình đi... Về vụ Năm Phi đao tự ý làm tào lao, Cả Chanh chỉ cho tự chỉ trích nửa giờ trong đội du kích, vì thật ra anh em chẳng có lỗi gì. Anh dành hẳn một tối để sạc Năm Chò thẳng thừng, bắt thề chừa rượu và bỏ thói ngông nghênh càn dỡ, bỏ luôn lối xưng hô phường tuồng. Năm Chò nhận lỗi, hứa sẽ tự chỉ trích công khai. Bàn chung chung thế thôi nhưng Năm Chò làm ngay. Vào buổi học chính trị tiếp đó, sau khi anh em đã ngồi lên sạp, Năm Chò bước ra giữa lớp, đưa tay chào Cả Chanh theo kiểu mới học: nắm tay phải co lên ngang vai. Rồi anh hét một tiếng: “Kính thưa!” làm mọi người giật mình. - Trước có đồng chí lãnh đạo, sau có anh em, tôi là Năm Phi đao xin nhận tội! Anh tự kể tội một tràng, thành thật mà rất lộn xộn. - Tóm lại, tôi thấy mình không xứng đáng làm đội trưởng. Nhờ anh em bầu cho người khác. Xin chào bằng một nắm tay thân ái! Cả đội du kích nhốn nháo: - Cứ làm chớ, anh Năm! - Biết lỗi phải vậy, được rồi đó Năm! - Trâu bốn chân còn đôi khi trượt... - Đừng cho thằng Năm trở chúng, anh cả! Cả Chanh giành nửa tiếng để giảng về chế độ dân chủ tập trung sau đó tuyên bố Năm Chò vẫn là đội trưởng. Anh em vỗ tay rầm rầm đúng lối quốc tế. Sau mấy ngày thăm dò, Cả Chanh quyết định đưa ra danh sách Ủy ban Việt Minh làng để dân bầu. Ông Tư Chua làm chủ tịch, Tám Doãn chỉ huy dân quân, Ba Mít ủy viên tuyên truyền. Nhiều người bàn nên gài Cửu Áng vào ủy ban, bắt lão nhúng tay thùng chàm cho hết đường lui. Chanh cân nhắc kỹ và từ chối. Ủy ban ra mắt trong cuộc họp mít-tinh lớn nhất, đông hơn cả đám tế Xuân. Cờ may đúng kiểu được kéo lên trong khi pháo nổ một tràng dài thay tiếng súng lệnh. Tất cả dân làng đưa nắm tay lên vai chào cuộc đổi đời, tuy còn rắc rối khó hiểu nhưng chắc chắn là đỡ cực nhục hơn xưa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:04:11 pm * * * Bà Tư quấy nồi cháo cá đang sôi, bóp thử vài hạt gạo thấy đã nhừ, quay lại gọi Cả Chanh: - Rán chút nữa con. Ngoáy đũa trong nồi cho nó thêm hơi. Cả Chanh san cơn sốt rét được mẹ ra chòi rẫy nấu cho nồi lá xông. Anh trùm tấm chăn Nam Định vá nhiều chỗ khác màu, thở phì phò sụt sịt. - Mồ hôi nhiều không con? - Như tắm mẹ ơi. - Áp mặt xuống chỗ miệng nồi, hít vô, đỡ nhức đầu lắm... Chanh cúi đầu xuống, cảm thấy rất rõ mẹ đứng ngoài đang nhìn và vui lòng vì mình vâng lời. Nhưng anh không ngờ mẹ đưa tay ấn nhẹ vào gáy anh, nói khẽ một lời dỗ dành của hơn chục năm trước: - Con với cái, mỗi lần vô xông là y như cá lọt vô nơm... Nước mắt nước mũi đang chảy vì hơi nóng từ nồi lá xông bốc giữa mặt, Chanh nhận ra vài giọt nào đó trào thêm khi nghe tiếng mẹ. Từ ngày về Linh Lâm, Chanh chưa một lần ngồi chuyện trò hơi lâu với mẹ. Ở lò rèn, chòi rẫy, ở bất cứ nơi nào anh dừng lại, chỉ lát sau mẹ lò dò đến, mang theo một thứ gì đó anh thích hay cần: nải chuối, gói thịt nai khô, cái khăn quấn cổ, nắm rau má nấu canh giải nhiệt. Nhưng chung quanh anh luôn có những người đàn ông đang nói chuyện đàn ông và mẹ không bao giờ ngắt lời đàn ông bàn việc. Mẹ lảng vảng một lúc, nấu canh đun nước, gọi Sáu Cam vào dặn dò mấy câu, lẳng lặng bỏ đi. Xưa nay mẹ sống như bóng của chồng, nay mẹ tự ghép làm cái bóng của con trai đầu lòng. Cái bóng theo người không rời nhưng để mặc người sống ra sao kệ xác, còn mẹ lại từng khi biến thành bóng cây lớn che mưa nắng cho con. Hôm đầu tiên Chanh lảo đảo trở về chòi rẫy, kéo tất cả chăn chiếu trùm lên người, run đến rung cả sạp nằm và các tấm liếp ép vào sạp, mẹ chỉ huy ngay Tư Quýt đi hái các vị thuốc nam, Năm Bưởi đi báo cho cha đừng đưa khách đến nữa, và mẹ đun nồi lá xông kèm nồi cháo cảm đầy hành và tía tô. Đợi Chanh xông và ăn xong, lau ráo mồ hôi, thay áo quần khô và nằm nghỉ cho đỡ mệt, mẹ mới nói rầu rầu: - Có thằng con đi tứ xứ, tới hồi đau ốm mới được coi ngó chút đỉnh cho sướng con mắt... Hôm sau cũng thế, Chanh được dành hẳn cho mẹ coi ngó chỉ vì sốt rét quật. Tỉnh ra một giờ là đã có bao nhiên người đổ xô tới, chỉ chào mẹ một tiếng cho phải phép, cuốn ngay Chanh vào cái thác công việc hàng ngày. Mẹ không biết thằng con làm ông gì mà túi bụi tới vậy, chỉ hiểu phận của mẹ là chăm sóc con và né sang bên cạnh để con khỏi vướng. Cả Chanh tung chăn sang bên, thở hồng hộc. Anh chỉ mặc quần đùi, khắp người ướt sũng mồ hôi, tóc bết vào trán, dọc hai cánh tay nước chảy nhỏ giọt. Mẹ đưa bộ áo quần bẩn mới thay ra: - Lau cho thiệt ráo, lau tiếp khăn sạch đây, rồi mặc đồ khô. Con có mồ hôi muối, dễ giặt hơn thứ mồ hôi dầu cha mày. Làm sao bớt bớt đi ngày đi đêm cho nó mập mạnh lên con, mày mặc quần áo thằng Tư thấy rộng xùng xình. Tù đày miết cũng phải được nghỉ chớ. Bộ mày vắng một ngày là bên mình thua liền à? - Không thua liền, mà sút đi chừng tuột cái lông chân mẹ đi! Chớ sao mẹ biểu hễ nổi rét thì đừng nằm, cứ xay lúa, cuốc đất, chặt củi cho nó lướt đi? - Là tao nói đứa đang khỏe, đâu có biểu đứa mới ở tù năm năm! Mẹ quay đi xỉ mũi, trút cái bát đầy hành tươi và tía tô xắt đổ vào nồi cháo. Ống tay áo mẹ chật, càng nổi rõ hai cánh tay mẹ gầy guộc khi giơ lên. Hồi nhỏ Chanh về quê ngoại một chuyến, thấy đầy nhà những dì là dì. Ông bà ngoại sinh thẳng một hơi chín con gái, không có con trai. Mẹ vào hàng thứ bảy, lấy chồng trong khi có hai bà chị chưa ai đi hỏi. Mẹ hơi cao hơn cha một chút tuy bằng tuổi nhau. Về sau Chanh mới lần hồi biết thêm rằng tính cha hồi mới lớn hết sức ngỗ ngược, ông bà nội bắt cạo đầu lên ở chùa Non Nước làm chú tiểu cho thuần nết đi, chỉ hơn tháng là cha mang đầu trọc, áo nâu bỏ trốn biệt. Cha vào phố Hội ở mướn cho một ông thầy thuốc bắc, nhà cũng hiền lành, dạy cho học được chữ quốc ngữ cùng những câu đạo lý thánh hiền quen miệng nhất. Ông nội đến thăm vài lần, để cho ở tiếp. Sau vài năm cha lại chán dao cầu với thuyền tán, theo bạn vào làm phụ rèn tại Qui Nhơn. Ông nội cũng sẵn lò rèn, nhưng cha thích lang bạt kỳ hồ vậy thôi. Trong một chuyến về thăm nhà khi mười tám tuổi, cha phải chịu lấy vợ với lời giao hẹn là không ở nhà với vợ. Đi ăn hỏi mới thấy mặt vợ, cưới xong cha lại vào Qui Nhơn tập ngồi lò với chủ khác. Ai cũng nói cha kỳ cục khùng khùng. Thật ra cha không kỳ, không khùng, chỉ ham bay nhảy, dần dà ham thêm nghề rèn. Học trò mà lại rất kén thầy, đổi lò luôn. Nơi rèn đồ xoàng thì chỉ ở vài tháng, gặp thầy giỏi thì lăn vào xin phụ, chịu sai vặt và quỵt lương. Sau nhiều năm ăn cơm góp kiểu ấy cha giỏi nghề hơn ông nội rõ ràng, mỗi khi về nhà ngồi chơi cha cũng rèn trổ tài cho ông nội phục. Chanh mười ba tuổi ta, được cha dẫn theo vào Qui Nhơn nuôi cho ăn học. Học chữ, cũng học rèn luôn. Chanh ham học và tò mò táy máy như cha, được cha thương nhất nhà. Sau khi mẹ sinh Bảy Bòng, nhà quá đông miệng ăn, cha phải về quê nuôi con. Cha đi một vòng những nơi có thể phát đạt, chọn đất Linh Lâm. Ông nội rất già không rèn nữa, cha giao hết số ruộng bãi phần mình lại cho ông, nhận bộ đồ rèn của ông, bốc vợ con lên quê mới. Mẹ chỉ lẳng lặng vâng lời, không được bàn góp câu nào. Hồi ấy Chanh đã đậu bằng sơ học yếu lược, cha để lại ở Qui Nhơn, vừa làm thợ phụ trong đề-pô xe lửa vừa tự học thêm, cố sao cho thằng trưởng nam có chữ nghĩa giắt lưng, lại học lỏm được nghề sắt thép của Tây đem về cho nhà mình. Nhất cử lưỡng tiện là vậy. Cha không ngò nơi Chanh được học nhiều nhất, cả chính trị lẫn văn hóa, lại là nhà tù của Tây. Biết tính cha mẹ mình như thế, đôi lúc Chanh nhìn mẹ vỗ về con bé Thanh Yên mới chẵn hai năm, nghĩ làm sao mẹ tạo được một đứa con thật giống tính nết mẹ, chắc mẹ vui và yêu nó lắm. Rời một nhà đầy con gái hiền ngọt như hoài sơn cam thảo, mẹ rơi vào một gia đình đốp chát đe búa, với ông chồng khéo tay đạp sắt mà chẳng nương tay khi đánh vợ, với một lũ con ngang tàng nghịch quấy, trông mẹ cứ như lạc vào chỗ lạ, con đầu đã hai mươi sáu tuổi mà mẹ chưa hết bỡ ngỡ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:07:57 pm Dù miệng rất đắng và hơi buồn nôn, Chanh vẫn cố húp từng thìa cháo cho mẹ vui bụng. Mùi hành và tía tô rất nồng đánh thức cơn đói, từ nửa bát cháo trở đi, Chanh bắt đầu thấy ngon. Trong khi mẹ múc bát nữa, Chanh hỏi:
- Sao thằng Bòng ít khi ở nhà vậy mẹ? - Ối, hơi đâu hỏi nó. Sớm tửng mưng nó làm vài chén cơm nguội, người lớn chưa dậy nó đã lùa trâu đi biến. Nửa buổi nó về kiếm bữa nhì, xế chiều nó lục khoai sắn. Phe chăn trâu của nó tới chục đứa, dựng chung cái chòi chỗ cửa khe Hội, cả ngày tụi nó gài bẫy, tát cá, leo cây. Cha tính bắt nó phụ lò thổi bễ, mà không biết để trâu ai coi. Đợi thử anh Ba Mít có mở lớp dạy chữ ban đêm thì cho nó đi học, cả một nhà dốt đui, dốt đen thiệt tới cực. Bắt được lá thơ cũng đợi cha về coi, mấy mẹ con có mắt như mù... - Hình như thằng Quýt ưng cô nào trong xóm Chợ hả mẹ? Nghe anh em giỡn giỡn vậy. - Ăn đi chớ nguội. Ưng con Ba Song chỗ bến Vạn, nó giấu kỹ, hỏi đâu gật đó. Cha mẹ con Song là chủ ghe dọc, có một mẫu đất nà ở bên kia sông, chưa chi đã đánh tiếng chê nhà mình nghèo không gả con. Có một điều mẹ còn ngờ ngợ nhưng Năm Bưởi bạo mồm nói huỵch toẹt ra với anh cả: Tư Quýt ghen với anh. Ngày xưa, ghen anh được đi học ở thành phố. Bây giờ, sau những ngày mừng rỡ chung với cả nhà, lại ghen cha mẹ cùng làng xóm coi anh Cả như thánh sống, cái đứa còng lưng ngồi lò giúp cha mẹ nuôi bầy em thì chẳng ai nói tới. Tư Quýt vốn đã chậm chạp, lầm lì, bây giờ càng ít nói và già nết đi. Ông Tư nhận chức chủ tịch đã một tuần, gần như suốt ngày đêm chạy tất bật, việc gì cũng phải chân đến tay sờ mới dám định đoạt. Tám Doãn đi các xóm đánh trống họp tổ chức dân quân, sắp xếp việc tuần tra canh gác. Chỉ còn anh Ba Mít sẵn chữ và thích ngồi bàn giấy, luôn thường trực giữa đình làng để cấp giấy tờ và nói những lời hiệu triệu. - Yếu còn hơn thiếu, có còn hơn không, cứ làm tới tới đi! Anh Xáng trưởng ban khởi nghĩa dặn vậy, Cả Chanh thấy phải. Ủy ban Linh Lâm còn xộc xệch, nhưng nó vẫn ngàn lần tốt hơn đám hương chức vừa gạt bỏ. Năm Bưởi mê mẩn với tiểu đội nữ du kích của mình, quyết đẩy nó lên hàng “chủ lực” như đội nam, bắt chị em tập bò, tập bắn đến rách quần áo, toạc da đầu gối, cùi tay. Cô ta còn chơi trội: bí mật qua thương lượng với cậu Hai Khánh bên ấp, mượn cây súng hơi và xin đạn để chị em tập bắn bia, chỉ nhờ cậu bày cho một lát và đừng nói lộ cho ai biết. Hai Khánh thích mấy cô gái táo bạo này, vui vẻ ra bãi ngắm tập cho các cô ngắm bắn suốt hai buổi, sau đó mỗi cô được bắn ba phát. Kết quả cũng khá. Năm Bưởi năn nỉ ỉ ôi một chầu nữa, chị em được thêm mỗi người ba phát, đợt sau này bắn tốt không ngờ! Ban chỉ huy không nói ra, nhưng dần dà đội du kích đoán biết hai cây súng của đội là do Hai Khánh tặng, từ đó bớt gờm cậu cử bên ấp. Cả Chanh chỉ báo vắn tắt là theo chính sách Việt Minh, ta không động đến ngựa và súng hơi của cậu vì ta chưa cần dùng. Như thế, trong gia đình Cả Chanh chỉ còn ba người làm ăn. Bà Tư nấu nướng xong lại đem cơm ra rẫy lúi húi cuốc cỏ lúa, vun gốc sắn, Bảy Bòng giữ trâu, Tư Quýt thay hẳn cha ngồi lò, sau đợt rèn dáo mác, đã chuyển sang làm dao cuốc và hàng đổi rìu rựa, kiếm gạo cho bảy miệng ăn. Còn may là dân làng sau vụ gặt tháng năm có thóc để trả công và cũng biết nhà ông Tư túng thiếu nên không hẹn lần lữa như mọi năm. ... Bài thuốc nam của ông Tư phải uống bụng no, có gừng, trầu và lắm vị cay. Chanh nằm xuống sạp hỏi mẹ đang thu dọn nồi bát và áo quần thay ra để xuống suối giặt rửa. - Nhà mình đã phải vay ăn chưa mẹ? - Trời sanh voi trời sanh cỏ... - Cỏ trồng hay cỏ vay? - Nhiều no, ít đủ, đắp đổi cho qua ngày đoạn tháng thôi con ơi! Rõ ràng mẹ không muốn nói chuyện cơm gạo. Mẹ vẫn thường vay và trả giấu lén, cha hỏi thì nói, nhưng cha chẳng bao giờ hỏi thiếu hay đủ, chỉ nói sơ sơ cho biết nhà nào thiếu bao nhiêu tiền hay thóc công rèn, mẹ nhớ và nhắc người ta trả. So với những ông chồng tệ hại mà mẹ đã biết, quanh năm cạy rương vợ lấy tiền đi rượu chè, hút xách, bài bạc, ve gái lén bán cả ruộng vườn nhà trâu đi, cha vẫn là người chồng đáng quý. Mặt trời đã lên cao trên rẫy. Sương đêm ngấm vào đất và đọng trên lá thành hơi nước, tỏa mùi nóng ẩm của tro than, lá mục. Con “bắt cô trói cột” kêu lảnh lót khi xa khi gần, từng lúc bị con tu hú chen ngang một tràng với thói quen dành tiếng cũng như giành tổ. Chanh thiếp dần, bù cho đêm qua đi Linh Hạ dự mít tinh ra mắt ủy ban Việt Minh. Đó là làng thứ tư trong vùng lập chính quyền cách mạng. Khoảng hai giờ sáng anh mới về đến chòi và lên cơn lúc gà gáy nhì. Đã trùm chăn kín mít và bắt đầu gõ răng, anh còn lập cập gọi Cam, bảo nó thay Năm Chò đi giao thông ở Huề Bình cho đúng ngày hẹn, nhân tiện ghé qua Linh Trung bảo anh tổ trưởng du kích ở đấy đến gặp anh gấp. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:11:42 pm * * * Tiếng ngựa hí xa. Lại tiếng ngựa hí gần và dài hơn. Anh em nhà pha liếc nhau, hất hàm, nâng lên thả xuống những cái đầm nện làm đường bằng súc gỗ to, với hai cây càng đóng đinh hai bên. Nâng, thả, nâng, thả. Thằng quan hai Pháp dong ngựa đến, gườm gườm cặp mắt xanh, tìm con mồi hôm nay. Mỗi lần cưỡi ngựa xem lũ tù đắp đường mười bốn từ Kon Tum về Tu-ran, hắn phải đánh tóe máu vài ba người. Không làm thế cả lính lẫn tù tưởng hắn dễ dãi, sẽ đòi hỏi xin xỏ lắm thứ... Ngựa hí nữa. Tên quan rút chiếc roi da dài đóng sẵn vài chục đinh sắt, loại tán vào đế giày đinh lê-dương, cài vào yên cái roi hiền lành dùng để quất ngựa. Hắn rất cưng con ngựa nòi A-rập cao lớn, rất ít quất roi, cần lắm mới phẩy con roi nhỏ bên mắt ngựa vừa đủ dọa dẫm cho nó cất vó phi nhanh. Còn lũ tù chính trị kia được hưởng thứ roi xé thịt dành riêng cho người. Ngựa phải béo khỏe lành lặn, còn bọn người kia phải biến thành những bộ xương biết đi, biết đắp đường. Hai con roi dùng vào hai việc. Mười lăm năm gác tù giúp hắn hiểu rằng một tờ giấy báo tử chỉ gây xúc động vài ngày, một xác chết chỉ khiến người ta sợ vài tuần, nhưng một bộ xương bò lê và thoi thóp kéo dài sẽ để lại một cơn khiếp hãi đến mãn đời. Hắn tự hào là chưa bao giờ một tên tù chết ngay dưới tay hắn, dù đánh trong lúc say. Hắn luôn luôn để dành năm bảy ngày sống hấp hối cho các đồng chí của tên tù được thấy và nghe đến cái độ phải bít tai nhắm mắt. A ha ha, khối đứa đã bí mật xin được làm chỉ điểm sau những trận đòn tâm lý ấy. Trò đời, biết bao kẻ đã dám tự tử bằng treo cổ, nhảy sông, bắn súng vào đầu, uống thuốc ngủ, nhưng chưa hề có một ai tự tra tấn mình hàng tháng và chỉ tắt thở sau cả chục ngày quằn quại! Sợi cương bên trái nảy nhẹ. Con ngựa quay đầu về phía Chanh. Anh liếc thấy, cúi nhìn xuống mặt đường, nhấc và thả cái đầm đều tay, y hệt như mọi người. - Xê luy, lơ mơ-nơ? - Uẩy xừ. 1 Sợi roi tán đinh rít mạnh trên không. Chanh định lăn ra tránh, không kịp. Cảm giác roi quất vào thân đã thành quen; Bịch một cái như ma-trắc nhồi cát đánh vào người, sau đó mới đau xói vào thịt xương, trên da còn lại một vệt dài rát như gí lửa. Chanh ngã ngồi xuống, đưa hai tay che mắt. và thái dương. Víu... bịch! - Chanh! Dậy Chanh! Mơ gì vậy con? Vẫn nhắm mắt, Chanh vùng lật sấp người lại. Cho nó đánh trên lưng. Tránh đòn âm. Bịch! - Chanh! Lạ, nó mát rồi sao còn mê dữ quá. Chanh lật nghiêng người, mở mắt, thấy một mảng tre đan. Ai đó mặc bà ba đen đứng sát vào ạp. Thằng quan hai với con ngựa biến mất. Ngọn roi rạch người biến mất. Anh nặng nề chống tay nhỏm dậy. Ông Tư vỗ thêm lần nữa vào vai con: - Tỉnh chưa nè... Chiêm bao thấy thứ gì mà hét dữ vậy? Khỏe thì tiếp khách, mệt cứ xin kiếu. - Ai đó cha? - Hai Khánh bên ấp. Mới đi xa về, nói con hẹn gặp gấp ở đây, cha dẫn ra. Chanh vơ mảnh vải cũ dùng làm khăn, lau mặt và cổ. Tỉnh rồi. Mé sau chòi rẫy, Khánh đang nối sợi dây dài vào cương, buộc vào gốc cây, kiểu dòng dây cho ngựa ăn mà không phải tháo cương. Con ngựa bực dọc hí lên mấy hồi nữa, rồi đành chịu theo cương mà gặm cỏ, nhai trệu trạo. Vóc người cao và dẻo của Khánh trông càng oai trong bộ quần áo dài bằng ka-ki màu cứt ngựa và đôi dày da có cổ. Anh phải cúi khi bước vào chòi rẫy. Anh lật cái mũ cối có vành dày bằng li-e đánh phấn trắng, nhìn quanh một vòng, cười: - Chỉ huy sở hay là trạm dét-tê đây? - Cả hai. Tạm thời đang dùng làm nhà thương sốt rét! - Tôi mang cho anh một trăm viên ki-na-crin với ít thuốc bổ, một số tài liệu... Trước tiên xin báo ngay: Tụi Bảo an binh sắp đánh lên đây! Khánh cố ý nói độp cái tin giật gân ấy, xem anh thượng cấp Việt Minh có luống cuống sợ hãi không. Cả Chanh chỉ hơi cau mày chờ nghe tiếp, khuôn mặt xanh nhợt vì sốt rét nhưng không một nét xúc động. “Anh chàng cứng đấy”. Khánh nghĩ. - Thằng quản Hưng cử thằng phó nó là quản Lược đem một xéc-xi-ông lên Linh Lâm, thử sức với du kích Việt Minh. Thằng Lược đang đóng ở Hà Lam, chạy vô hỏi ông phủ Đỉnh xem có biết Linh Lâm bây giờ ra sao không, tình cờ gặp tôi ở đó. Tất nhiên ông phủ khuyến khích nó đánh mạnh. Tôi kéo nó đi nhậu, vẽ rắn thêm chân một hồi, cu cậu sơ mất máu. Nó than thở là giữa quản nhất và quản nhì mà thằng quản Hưng cố dìm nó, hại nó. Lên rừng núi chọi nhau, thua thì bỏ xác, thắng cũng chẳng ai biết tới, có khi thằng Hưng tráo qua tráo lại giành hết công trạng. Tôi mách nước cho nó cứ lên thập thò đâu đó, giả bộ đánh chác một hồi, về làm tờ trình thật ngon. Nó nhờ tôi về Linh Lâm tìm cách gặp quí vị trong ủy ban thương lượng giùm thế này: Ủy ban và du kích tạm lánh mặt một ngày, nó đem quân đến xóm Chợ, bến vạn gọi là có mặt rồi rút. Có thể bắn một hồi qua chỗ không người như núi Ông Tượng chẳng hạn, lấy cớ để trình lên quan trên... ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Pháp: Thằng cầm đầu đấy à ? Thưa vâng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:15:43 pm Ngồi trên xe khách lên Linh Lâm, Khánh nghĩ đến nụ cười khoan khoái và khen ngợi của Cả Chanh, khi nghe mưu kế anh bày cho quản Lược. Cứ để cho địch cầm dao chém, ta mất gì đâu!
Cả Chanh vẫn cau mày nghĩ. Rồi anh hỏi: - Bao giờ nó lên? - Sáng mai lên huyện Tây Quảng. Lấy cớ chưa rõ tình hình và chưa kịp sửa soạn sẽ cho quân sửa soạn ở lại đó thêm ngày mốt nữa. Nếu không có tin tôi báo lại thì coi như bên ta bằng lòng, ngày kia nó đưa quân lên. - Súng ống xe cộ ra sao? - Nó tính đi hai xe cam-nhông. Đem theo ruột moóc-chê cỡ nhỏ, hình như 60 ly. - Tinh thần quân lính? Khánh cười xòa: - Tôi có gặp lính đâu! Chỉ huy mà thế chắc lính càng tồi hơn. Nhưng tôi vẫn bóp được cò súng anh ơi! Ông Tư nãy giờ chỉ ngồi nghe, bỗng chen vào một câu gay gắt: - Thả nó ruồng lên tới đây, cán bộ với du kích trốn sạch, về sau dân chứng coi mình như rơm rác! - Bác ạ, súng ống mình chưa có, anh em chưa quen trận mạc, tránh voi chẳng xấu mặt nào... - Dân đây quen tìm voi mà bắn, không tránh đâu anh! Không bắn được cũng đào hầm cho sụp, nổi trống mõ đồng la cho sợ. Tránh voi thì tới nay chẳng còn cày ruộng rẫy làng xóm gì hết! Khánh lúng túng cãi gượng: - Ấy là cháu ví von thế. Thằng địch sẵn súng ống, lắm mưu mẹo, khó hơn voi nhiều chứ! - Biết người khôn hơn voi rồi. Khôn thì càng không muốn chết. Anh nói một... một gì đó kéo lên, ước sức bao lăm đứa? - Dạ, chừng bốn chục. - Cứ cho là mình đánh dở. Bắn trúng một hai thằng, mắc chân vô bẫy kẹp một thằng, đạp trúng chông nai, chông heo một thằng nữa. Cả bọn có dám xông liều lên không? - Nó đốt nhà, giết dân làm sao bác? - Muốn rảnh tay thì cho dân lánh vô rừng, lùa trâu bò gánh thóc lúa theo. Bộ không đánh thì nó để dân được yên à? Nó lại bắt cả xâu ra đình cùm chân, tra khảo như hồi tàn quân ông Hường Hiệu, hồi mấy lần cộng sản dậy... Khánh không muốn cãi với ông thợ rèn hăng máu mà đơn giản này, quay nhìn cả Chanh. Chanh chỉ dặn ông Tư: - Cha biểu thằng Cam đi báo dùm trưa đứng bóng sẽ họp ủy ban và ban chỉ huy du kích ở căn cứ A. - Công việc để anh em lo, mày đứng không vững.. - Con chia việc cho anh em lo, rồi mặc sức con ngủ! Ông Tư lầu bầu trong miệng, tất tưởi bỏ đi. Cả Chanh nhìn theo cha, khẽ cười: - Ông già tôi bốc hơn cả thanh niên... Có lẽ chúng tôi phải đánh, đồng chí Khánh à. - Anh cũng nghĩ như bác? - Lý lẽ ông già có phần đúng. Dân ta đang chờ coi thử Việt Minh kêu gọi đánh Tây đuổi Nhựt là nói khoác loác hay dám làm thiệt sự. Đánh dở còn hơn chạy trốn... Mặt khác, nếu chặt cụt một cánh tay của Bảo an binh Quảng Nam, đội quân quản Hưng sẽ tan rã nhanh, các nơi khác trong tỉnh khởi nghĩa dễ hơn. Đánh dưới đồng bằng rất khó, nó chịu dẫn xác lên chỗ hiểm hóc này, hay lắm. Mại vô mại vô, bỏ qua rất uổng! Khánh cười to tiếng. Quả anh chính trị phạm này có bản lĩnh cao cường! - Anh tính dàn trận ra mà đánh à? - Dân ở đây sẵn kinh nghiệm đánh voi cọp, mỗi lần học quân sự anh em đưa ra nhiều kiểu đánh lạ hết sức anh à. Để bàn chung coi đánh quản Lược cách sao cho bảnh. Ba anh thợ giày thành Gia Cát Lượng mà! Ngập ngừng vài phút rồi Khánh mới hỏi: - Như thế, tôi cứ lặng im để cho quản Lược dẫn quân lên anh nhé? Cả Chanh chợt nhớ, rút hai cánh quạt mo dắt ở phên, đưa cho Khánh một. Khánh quạt phành phạch. Đến lúc này anh mới nhận ra mình đang vã mồ hôi. - Xin lỗi nghen, đây không có nước chè, mẹ tôi bắt uống toàn thuốc nam... Anh nên gặp lại thằng Lược, nói hễ nó lên thì Việt Minh gặp đâu đánh đó, về sau sẽ đánh thấu đồng bằng thành phố nữa. Tốt nhứt là nó theo Việt Minh luôn đi! - Theo được à? - Sao không được? Thì Năm Chò nhà mình đây, cai khố đỏ thuộc loại lính dữ mà bây giờ chỉ huy du kích ngon lành! Anh đừng lộ tông tích của anh, cứ nói Việt Minh nhắn quản Lược nên rán lập công chuộc tội. Tốt nhứt là kéo cả đội lính mang súng theo cách mạng, sẽ được khen thưởng trọng hậu lắm. - Nếu nó nói muốn gặp ông chỉ huy Việt Minh cho chắc... - Sẵn sàng. Hẹn đâu cho tiện hè... Hay là tạm dùng chỗ anh làm đất Thụy Sĩ vậy. Nó cải trang đi với anh lên ấp, chúng tôi đến gặp. Sau này nó có phản thì anh chẳng bị rắc rối gì, tại nó nhờ anh giúp thôi. Anh đóng kỹ cái vai quản lý của ông phủ Đỉnh, ở lại vùng Việt Minh để giữ ấp, phải miễn cưỡng theo lệnh ủy ban, họ còn cho phép lên xuống vì chưa thấy gì đáng ngờ. Chịu khó chút nghen! - Vâng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:17:09 pm Khánh biết Cả Chanh vừa qua cơn sốt rét, lại sắp đi họp ở nơi căn cứ A nào đó mà anh chưa hề tới. Nhưng anh không muốn rời khỏi chòi rẫy. Con ngựa Hường càng già càng khôn, đã hí he lên nhiều lần giục chủ. Anh khát và đoán con ngựa cũng khát. Anh vẫn chịu sức thu hút lạ lùng của người thợ sửa xe lửa biến ra cán bộ Việt Minh này. Anh muốn hỏi rất nhiều và muốn kể chuyện mình rất nhiều, để anh ấy biết mình đang muốn trở thành một người như anh ấy, dù cách nhau nhiều năm mà đũng quần trên ghế nhà trường và học nhồi sọ các thứ luật pháp mà thời buổi này chẳng ai cần đếm xỉa. Anh đứng dậy, đội mũ, thoáng buồn vì Cả Chanh không cố giữ lại.
- À, phủ Đỉnh không chịu thêm súng đâu anh. San đợt tịch thu thóc của Năm Chò, ông ta ngại tiếp tế súng cho Việt Minh. Tôi nói mãi ông ta mới hứa kiếm một cây ca-lip-đu bắn thú rừng thôi, không chắc có. Cửu Áng dạo này kín tiếng lắm, nói nhỏ với tôi gục đầu chịu trận cái đã. Lão báo mật xuống huyện, mà coi bộ quan huyện cũng chực cuốn gói... Khánh rút trong hai túi quần sấp báo và gói truyền đơn mới đem về, dặn thêm cách uống ki-na-crin chữa sốt rét, vẫn thấy mình đang chở củi về rừng, dường như Cả Chanh đã biết và đã có sẵn tất cả những gì mà anh báo tin hay mang đến. Bỗng anh nhớ ra việc mới: - Tiểu đội cô Năm Bưởi mượn súng hơi của tôi tập bắn. Anh coi thử, nếu đội du kích cần tập thì lấy về mà dùng. - Nhiều đạn không anh? - Vô số! Tôi có bàn dập đạn, cả đi-a-lô-lô và cô-ních, anh em kiếm chì tự làm đạn mà bắn cho quen, sau khỏi bỡ ngỡ. - Ôi chao, dễ vậy á? Tôi cứ tưởng khó kiếm đạn, không dám mượn súng anh! Chì thiếu gì, vạn chài nhà nào chẳng có. Anh cho mượn vài bữa nghen? - Mượn đến ngày cách mạng thành công cũng được! Khánh cưỡi ngựa ra về với niềm vui cuối cùng ấy. Con Hường ở núi lâu năm, khi ghé mõm uống nước khe Hội từng hơi dài, vẫn nhớ thổi hơi rùng rùng qua mũi và hất mõm xua những con đỉa mà nó liếc thấy bơi đến ngùng ngoằng. Khánh tì tay trên mũi yên ngựa, nghĩ: “Đáng lẽ mình tặng luôn anh Chanh khẩu 7 ly 65 của Ta-kê-đa. Ảnh nằm một mình trong chòi rẫy, chỉ có cây rựa cán dài đặt cạnh gối..”. Sau chuyến thu thóc của Năm Phi đao, Khánh gặp Chanh nói cho bõ tức. Kiếm súng đạn cho Việt Minh một tay khố đỏ xăm đầy chàm lại cầm đi bắn chó, bắn lấy oai với lũ con gái bến Vạn! Chở thóc về, chắc lại đem nấu rượu hết thôi! Thế nhưng Cả Chanh kiên nhẫn nghe anh trút hết cơn bực dọc, nghiêm chỉnh nhận khuyết điểm, hứa sẽ chấm dứt sai lầm. Khánh nguôi giận, nhận thấy mình quá lời, ấp úng chữa: - Tôi không định nói anh đâu... - Sự thật là tôi có thiếu sót. Anh chỉ trích rất phải. Từ nhỏ, Khánh chưa hề gặp ai nhận lỗi một cách rành mạch như thế. Cha mẹ, anh chị em, thày học, bạn bè, ai nghe một tiếng chê trách là giãy lên như đỉa phải vôi, không chửi bới lại cũng phân trần đến đứt hơi. Cả Chanh khác hẳn, anh nghiêm khắc với mình đến dễ sợ, dường như anh đứng hẳn ra ngoài để nhìn lại mình bằng cặp mắt quan tòa. Một mẫu người rất lạ! Cả Chanh không bênh vực cho mình, chỉ nhắc Khánh chớ nên giận dai đối với Năm Chò, đừng đay nghiến cái quá khứ khố đỏ của anh ta, bởi vì “mỗi chúng ta đều có vết mực trong quá khứ, khó tránh khỏi”. Lát sau Khánh nghĩ lại và xấu hổ ghê gớm vì con quan phủ với lính khố đỏ thì hơn gì nhau! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:20:06 pm 16. Ủy ban và ban chỉ huy du kích quyết đánh mạnh. Tiếp đó bộ đội du kích họp, sôi máu bừng bừng, đưa ra những sáng kiến long trời lở đất. Tám Doãn muốn dùng hàng trăm cây ná bắn tên như mưa, cả tên độc lẫn tên thường, hễ không trúng mươi thằng thì cậu ta nhỏ bằng con kiến. Năm Bưởi thề rằng chị em sẽ xông vào đánh bằng gươm, giáo, mã tấu, một đổi một chứ không đòi nhiều. Ông Tư Chua họp với du kích, cam đoan các loại bẫy kẹp và chông heo chông nai của ông sẽ làm què chân ít nhất một nửa số lính địch. Với nếp nghĩ mạch lạc lớp lang của người thợ vi-dít-tơ xe lửa, Cả Chanh cố góp nhặt tất cả những mới lạ và gạt bỏ cái phần cao hứng bốc đồng trong lời lẽ của anh em, cũng xóa bớt đi những lo ngại bàn lùi của vài người do dự. Anh quen làm như thế từ bao giờ không rõ. Các đồng chí ở nhà tù bảo anh có trình độ tổ chức khá, các đồng chí gặp anh sau khi vượt ngục thấy anh lãnh đạo đúng đường lối quần chúng, Chanh nghe lời khen mà cứ ngỡ ngàng, bởi anh khó hình dung một cách làm việc nào khác. Bởi vậy, sau khi nghe ghi nhận rất nhiều ý trái ngược nhau, bản kế hoạch chiến đấu của Chanh được hầu hết anh chị em du kích ưng bụng, chỉ lèo thêm vào đôi ba điểm nhỏ. Một tổ bốn người sẽ phục kích ở bến Huề Bình. Anh em phu bến đánh chìm phà sẽ buộc địch qua sông bằng đò, ấy là lúc bắn nhào một số bằng hai cây súng đang có. Khi địch đổ bộ, tổ này rút về Linh Lâm theo đường núi. Cần bốn người để giữ súng và cõng nhau khi bị thương, Năm Chò nắm tổ này. Phần lớn đội du kích sẽ phục kích trên quãng độc đạo qua truông vắng, núi kẹp hai bên. Chặt nhiều cây to đổ xuống đường 56 cho thân và cành bịt hết lối đi, buộc địch dừng lại mở đường. Du kích đào hố núp trên sườn núi bắn tên xuống, hễ địch vỡ chạy thì a-lát-xô1 bằng giáo mác cướp súng, địch mạnh quá thì rút. Tám Doãn chỉ huy trận này. Chỗ đánh thứ ba giao cho ông Tư Chua và dân quân, với tổ Năm Chò lui về phối hợp. Dân quân sẽ đi mượn tất cả các bàn chông sắt có ngạnh mà dân làng hay đặt ở các cửa rẫy chống heo nai, đem xếp kín trong cỏ cao hai bên đường, ngang truông Dơi. Bị súng từ phía trước bắn xâu táo, địch sẽ nhào xuống lề đường tránh đạn, ngã sấp trên chông. Cả Chanh chỉ huy chung, có Sáu Cam và hai em chăn trâu theo làm liên lạc. Bản doanh đặt ở miếu thờ Nghĩa tượng nằm lút trong rừng rậm không có đường qua lại, nhưng gần cả ba chỗ đánh. Nơi rút về sau khi đánh là căn cứ B mới. Kho thóc gạo đã chuyển tới đấy vì kho cũ lộ. Vận động dân làng tạm lánh vào rừng do Ba Mít lo. Nhà nào không muốn đi cũng ra lệnh phải giấu lương thực. Dấu hiệu nhận nhau: khăn trắng buộc trên bắp tay trái. Hỏi và đáp để tìm nhau ban đêm hoặc trong rừng rậm: hỏi chiến, trả lời đấu. Hầu hết ý kiến của anh chị em đưa ra, nhưng đến khi Cả Chanh sắp xếp lại và trình bày từ đầu đến cuối, họ lại tấm tắc khen anh cả học quân sự hồi nào mà tài quá, lo liệu đủ mọi bề. Chỉ còn thêm vài lời bàn góp: sắm sẵn đồ băng bó và thuốc men, cử người nấu và đem cơm, cho mấy chị xuống chợ Huề Bình dò xét và báo tin về trước. Còn gì chưa nghĩ ra thì về sau “anh cả ảnh bày cho”. Trong đội, chỉ một mình Năm Chò đã trải qua súng đạn ở mặt trận. Anh gãi tai: - Đi Lính cho Tây, chỉ có kinh ughiệm đánh thua thôi chưa thắng lần nào. Hồi tôi bị đưa qua xứ Mên chọi với lính Xiêm, Tây cho dàn trận dưới hầm hào, bắn cù cưa miết. Lính Xiêm được tụi Nhựt bày mưu nhiều lắm, chơi cho Tây hết đòn này tới đòn khác liểng xiểng... - Thì anh nói thử, đánh sao cho Tây thua? - À, để nhớ coi... Cứ thế lần hồi Năm Chò nghĩ dần ra các mưu mẹo rất ly kỳ. Khi họp xong, anh còn nhớ thêm rằng trong đêm đảo chánh quân Nhựt vừa bắn súng vừa đốt pháo cho Tây loạn ù, theo lời kể của cô nhân tình bán rượu lậu ở Qui Nhơn. Toàn đội trầm trồ và tính chuyện mua rất nhiều pháo, thứ càng to càng hay. Anh em ra về hết, Năm Chò vẫn đứng tần ngần đợi Cả Chanh. - Đại... anh cả nè, thằng Hai Khánh lùng anh có việc gì vậy? - Kìa Năm, cậu biết Hai Khánh là cơ sở Việt Minh rồi chớ. Hôm nhận hai cây súng cậu đi với mình mà! - Việt Minh gì mà cưỡi ngựa đi thu lúa tô, bắn chim, thì thụt với Cửu Áng hoài! Bữa vô lấy lúa nhà nó, tôi thấy sang quá anh ơi. Họp làng ta để nó ngồi ghế nhơn sĩ thì được, tôi chẳng nói sao, có điều anh đừng tin tụi con quan lớn mà khốn đó, anh cả! - Đồng ý, mình giao từng việc thôi. Việc của Hai Khánh là nắm tình hình địch, kiếm súng, nay mai còn nộp thêm lúa nữa. Được chưa? Năm Chò lại gãi tai. Được vẫn được, nhưng cứ ngờ ngợ cách sao, khó nói quá! ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Pháp: À l'assaul: xung phong Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:23:14 pm * * * Pình, pình... pình, pình... pình, pình... Từ phía Huề Bình vẳng đến đủ mười tiếng nổ của đạn moóc-chê theo nhịp bắn thong thả từng cặp rời nhau. Bước đầu như thế là đúng giao ước. Đứng trong hố bắn sâu ngang ngực, Chanh nhìn quanh một vòng đội quân “cung thủ” của mình đang nhấp nhổm rướn nhìn xuống đường ô-tô, bẻ thêm vài cành lá mé sau cắm lên miệng hố trước mặt cho thật kín màu đất đỏ, săm soi những ống tên đeo trên lưng. Anh đã buộc anh em để hết tên độc tại căn cứ, dành cho những trận ác liệt hơn về sau. Mỗi người mang theo bốn năm chục mũi tên thường, trong đó một số lắp mũi nhọn bằng sắt có ngạnh, người bị thương giật tên ra thì ngạch xé toạc thịt hoặc mắc lại trong thân. Năm Chò đi lom khom men sườn núi rậm xem xét thật kỹ, quay lại chỗ Cả Chanh, nhảy xuống cái hố đào dài cho bốn năm người đứng được. Anh lại mặc áo quần khố đỏ và đi giày săng-đá, những thứ ấy hằng ngày gây phiền phức và nóng ngốt người, vào trận lại rất tiện, tha hồ bò lết và lao qua gai góc. Anh phủi vệt đất dính trên báng cây trường Đức, gật gù: - Coi bộ chơi được, anh em bình tĩnh lắm. Tôi cấm không được giương ná lắp tên trước. Súng nổ mới được làm. - Tại sao? - Một là lên dây để lâu, cánh ná yếu đi, cha nào cũng muốn bắn phứt. Hai nữa, thấy thằng địch diễu qua rển rển trước mắt, dễ ngứa ngón tay lảy cò lắm. Chanh khen phải. Năm Chò quả đáng mặt chỉ huy. Những kinh nghiệm cũ của Năm đang lần lượt trở lại. Hễ hỏi dồn thì cậu ta bí, nhưng cứ để “rài rài rồi tính” thì lại moi ra được lắm ý hay trong cái khó hiểu biết chất ngổn ngang của anh chàng. Hơn nữa, sau lần “nhận tội” trước đội, Năm Chò bớt nói ẩu làm liều đi rất nhiều, và họa hoằn Chanh mới ngửi thấy mùi rượu phảng phất khi đứng ngồi bên cạnh Năm. Thôi được, giữ lời thề chừa rượu ang áng bấy nhiêu cũng là khá. Một tiếng rơi nhẹ. Một tiếng nữa. Cậu du kích ngồi chìm trong tán cây rậm trên đầu thả xuống ba quả mua báo địch đến. Năm phút sau, Sáu Cam từ chỗ rình ven đường lom khom leo tới hố chỉ huy. - Họ tới... đúng ba người... - Có súng không? - Mỗi người một súng, đeo sau lưng, cổ choàng khăn trắng. - Đằng sau xa có lính theo không? - Em chưa thấy gì. Để coi tiếp. Qua cành lá, Chanh đã thấy ba người thong thả leo dốc, dừng đợi nhau rồi đi tiếp. Anh nhảy lên miệng hố, nhón chân san bụi mua to, xem kỹ khúc đường thẳng và trông chừng nửa cây số sau lưng họ. Trên đường và các sườn đồi trọc hai bên không có bóng người. Ổn rồi. - Ta xuống đi, Năm. Đội cung thủ nằm im tại chỗ, đợi súng nổ mới bắn. Bốn người bước xuống đường đều cầm súng, bởi Sáu Cam vác theo cây súng hơi mượn về cho đội tập bắn hôm qua, và Cả Chanh đeo cây súng lục ru-lô bằng gỗ sơn đen trong bao da cạnh sườn, tay đặt hờ lên chuôi. Ba người lính dừng phắt lại, giơ hai tay không chờ ra lệnh, tay hơi run và mặt tái, nhưng miệng lại toét ra cười. - Dạ bẩm quan... quý quan... tụi con xin về... - Đặt súng xuống đất, tháo nịt đạn. Họ làm theo hối hả, miệng vẫn nói: - Dạ, tụi con cứ sợ... quý quan bắn lầm tội nghiệp lắm... - Doãn! Đưa một tổ xuống đây! Cả Chanh chỉ gọi một tổ, nhưng anh em từ trên sườn dốc leo ùa xuống cả, vì nghe lầm hay tò mò chẳng biết. Ba người lính trố mắt nhìn mấy chục “quan” mặc bà ba, tay ná tay mác, vẻ mặt chỉ háo hức chứ không đằng đằng sát khí. Một cậu reo to: - Thằng Mão ở Linh Trung đây mà! - Ủa, mày hả Nhơn? Hai đứa nữa ở Linh Hạ đây nè! Ồn ào, lộn xộn. Đã có mấy cậu cầm súng lên xem một cậu kéo quy-lát róc róc. Năm Chò quát: - Coi chừng nổ cướp! - Dạ thưa... thưa ông, súng không lắp đạn. - Tất cả trở về lăng-sê, sẵn sàng chiến đấu! Tám Doãn nhận súng đạn, tạm giao cho tiểu đội Một trí quân trí súng như cũ đợi mệnh lệnh tôi! Anh chị em cụt hứng, chậm chạp leo trở về các hố núp. Chỉ có Năm Bưởi cứ túm cánh tay Tám Doãn lay lay và nói thì thào, Cả Chanh chỉ nghe vài tiếng “nghen anh, nhớ chưa”. Các cô lại giành súng rồi! Chanh đưa nhóm hàng binh lên chỗ bãi phẳng mé sau hố chỉ huy. Họ mừng quá, nói luôn miệng không đợi hỏi. Chỉ cần một lần chặn, họ chuyển ngay sang anh với em, uống nước chè đậm từ bi-đông của Năm Chò rót ra cái ca nhôm chuyền tay. Tám Doãn đeo cây mút-cơ-tông và nịt đạn mới thu, đến báo cáo đã giao súng xong, nhận ra thêm một người lính quê ở Linh Hạ là bạn chân sào chở bè dọc sông Linh. Chanh cứ để anh em hỏi nhau xoắn xuýt một lát cho tan hết lo lắng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:28:02 pm Hôm kia, sau khi bàn kế hoạch với Chanh, Hai Khánh cưỡi ngựa xuống huyện Tây Quảng cách hai chục cây số, vừa gặp hai xe lính của quản Lược chạy lên, đang đậu bên cạnh chiếc xe khách tự dưng hỏng máy phải tháo ra sửa, tài xế sửa ít mà tán gẫu với hút thuốc uống trà nhiều. Khánh cùng viên quản vào huyện đường. Quan huyện thấy lính về lại sợ hơn là mừng. Học chọc tổ ong rồi lủi biến, để cho ong xúm vào đốt quan. Quan chỉ nói qua loa rằng cộng sản đang làm loạn khắp nơi, nhiều nhất ở tổng An Sơn. Quản Lược trợn mắt vung quả đấm.
- Để đó quan coi, lính tôi rượt cộng sản chạy re tới núi mọi có đuôi! - Họ chạy rồi họ lại về y như cũ, ăn thua chi... Hay là thầy đóng lại đồn binh ở Linh Lâm? Ai chớ nhà quan phủ Đỉnh chắc là trút lúa gạo heo bò ra nuôi quân mình trấn giữ... Quản Lược xin kiếu trước để lo cho quân lính ra trận. Còn lại hai người, quan huyện đổi giọng ngay: - Răng đó Khánh? Toa ở Linh Lâm kham nổi không? - Thì cũng phải giả dại qua ải... - Bữa hôm pa-pa đem tờ thỉnh nguyện của hương chức với dân chúng Linh Lâm xuống đây, moa làm liền giấy tờ cho ông cụ lấy đồn điền La-phác-sơ. Toa lấn qua sông được chưa? - Thong thả đã, dục tốc bất đạt. - Ồ, moa cũng khuyên ông cụ rứa. Cụ nói cứ lấy đủ giấy tờ để nắm đằng cán, về sau đưa ra cựu khế cựu bổn mới cứng lý. Việt Minh trên nớ đem toa ra tra khảo chi chưa? - Chưa. Moa nộp trăm ang lúa, được xếp vào danh sách nhân sĩ ủng hộ cách mạng, ngồi ghế đầu trong mít-tinh lập tức! - Chịu toa rồi đó. Ở đây moa chẳng có chi mà nộp... Quan huyện còn rất trẻ, mới hăm sáu tuổi và chưa vợ. Năm ngoái quan lên thăm ấp phủ Đỉnh, làm quen với Khánh về nghỉ hè và cũng có buông đôi lời xa gần khiến cho cô Tôn Nữ Huyền Tâm thẹn thò quay mặt. Trong khi chưa chắc chắn về sau sẽ là gì gì của chàng sinh viên Hai Khánh, quan cứ toa, moa cho thân tình và dễ thay đổi cách xưng hô về sau. Thế nhưng bây giờ quan không nhắc tiếng nào tới nàng tôn nữ xấu xí quặt quẹo ở lọt trong vùng Việt Minh cả. Quan chỉ chăm chăm giữ thân để trở về Quảng Trị quê gốc. - Toa bỏ nhỏ thẳng Quản Lược giùm moa ri nghe: liệu không làm ăn chi được thì cút về tỉnh đi. Gây thù kết oán rồi hai đứa mình bị Việt Minh treo cổ chặt đầu, oan hơn Thị Kính. - Hễ nó giả đánh rầm rầm rồi lủi êm, toa chịu khó ký giấy chứng nhận cho nó chứ? - Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Nhắc nó viết lập-bô 1 lên quan tỉnh là moa giúp đỡ tận lực. Tụi đó võ biền ngu hơn heo, toa nhắc vài ba lần cho nhớ nghe chưa. Khánh ra ngoài, gặp riêng quản Lược trong quán nhậu. Hắn thần mặt ra khi nghe lời nhắn của ông lớn nào đó phía Việt Minh. Thấy viên đội lệ huyện Tây Quảng đi qua, hắn gọi vào cùng bàn. Hai người chơi thân đã lâu, và Lược mang máng cảm thấy bạn mình có dính chút ít gì đó với bên kia. Giằng co lui tới hồi lâu, quản Lược giao hẹn sẽ đưa quân tới mé dưới bến phà Huề Bình không vượt sông được vì phà hỏng, chỉ lùng sục ngoài vùng Việt Minh. Trong số quân của hắn có ba người quê ở làng Việt Minh đã nói thật với hắn xin trả súng về nhà, lấy cớ rằng sợ vợ con bị “các ổng” trị tội. Hắn định cho họ trốn trong dịp này. Nghe Khánh bàn góp một hồi, hắn bằng lòng để cho họ mang theo súng đạn khi trốn: hắn cử họ đi thám sát coi thử Việt Minh trên Linh Lâm ra sao, và họ sẽ bị quân Việt Minh bắt sống. Ám hiệu báo cho Việt Minh đón bắt sẽ là mười phát đạn moóc-chê bắn rời vào núi hoang, có thể kèm theo nhiều loạt súng trường, tỏ ra có đụng đầu với du kích thật. Hai Khánh cưỡi ngựa phóng gấp về Linh Lâm. Khi báo cáo, anh cho biết thêm về quản Lược. Hắn sợ bên ta lật lọng, lấy hết lính và súng xong sẽ đem tên chỉ huy ra chém đầu làm lễ tế cờ. Hắn nói xa xôi tới một viên đội nào đó ở Quảng Ngãi, gặp ông Việt Minh này nói toàn những sự hay ho xong rồi biến mất, tới ông sau lại hò hét diệt sạch Việt gian và giết luôn kẻ đầu hàng. Hắn đợi xem ba người lính về ở với Việt Minh có yên thân hay không. Bị Năm Chò và Tám Doãn thúc giục, Cả Chanh đồng ý nhận ba hàng binh, thu ba súng. Đêm đến, anh nghĩ kỹ và thấy tiếc. Đáng lẽ ém họ trở lại để lôi kéo thật nhiều bạn bè cùng nhau quay súng mới phải, đây mình lại ăn non, ham xu lẻ! ... Đợi cho ba người lính chuyện trò xả hơi với anh em du kích xong, Chanh mới hỏi: - Mấy anh hết sợ chưa đó? - Dạ, hết trơn rồi. Tưởng ai chớ toàn anh em mình nổi dậy! - Hỏi thiệt nghen, mấy anh muốn làm như họ không? - Dạ muốn. Về thăm nhà sơ sơ rồi tụi em xin theo... - Tốt nhứt là các anh quay trở lại rủ thêm nhiều người nữa, rủ được anh quản Lược về với chúng tôi càng tốt. Công trạng to lắm đó nghen! Họ ngẩn ra nhìn Chanh, nhìn nhau. Người lớn tuổi hơn cả hỏi với giọng rụt rè ban đầu: - Dạ, hay là quý anh còn nghi tụi em... ăn ở hai lòng... - Hễ nghi, làm sao tôi dám giao nhiệm vụ cho các anh! Chanh nói thật cặn kẽ. Họ hiểu ra nhưng cứ nằng nặc xin về nhà. Chỉ một mình cậu trẻ nhất chịu quay lại, coi như chạy thoát sau khi bị bắt. Du kích sẽ nổ một mớ pháo và rượt theo cho đồng bào thấy để làm chứng. Anh. em ăn cơm trưa ngay tại chỗ phục kích. Ba giờ chiều, khi nước trong các ống tre cạn ráo và nhiều người ngủ ngồi trong hố, chị dân quân gánh đôi bầu từ chợ Huề Bình chạy lên báo tin thằng tù sẩy đã qua sông, quân thằng Lược nghe nổ nhiều đã rút lui về huyện. Toàn đội du kích tập hợp trên đường đá, xếp hàng đôi đi xuống Huề Bình. Phần thứ hai trong kế hoạch bắt đầu: gọi hết đồng bào khu chợ Huề Bình đến dự mít-tinh đêm nay, bắt chánh phó tổng và lý trưởng ra nộp hết giấy tờ triện dấu, xin hàng phục Việt Minh. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Pháp: Rapport, báo cáo. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Năm, 2016, 04:31:05 pm * * * Du kích tràn khắp tổng An Sơn. Du kích về họp dân, lập chánh quyền mới ở nhiều làng tổng Cát Lộc. Du kích tập đi đều một hai một ở tổng Đông Phù, người đi đêm trên đường 56 nghe hô rất rõ. Du kích thọc xuống chặn xe đưa truyền đơn trên đường cái đen số Một. Du kích úp vào chợ huyện bắt bốn lính lệ, thu một súng và cho về cả bốn. Bảy người trong đội quân quản Hưng vác súng theo du kích. Một nhóm nhân viên của cái “Liên đoàn cướp giựt” bị du kích trói vào gốc cây dán tờ giấy chữ to “Cấm mở dây”, chúng chịu phơi nắng mưa đến khuya mới thoát. Một tên quan Nhật đưa chừng, chục lính lên Tây Quảng. Quan huyện phải chứng minh vì sao mình không đàn áp nổi lũ nhà quê nổi loạn. Quan nắm rất đích xác rằng Việt Minh lấy được một kho súng đạn lớn lắm của Pháp giấu trên núi để chống quân đội Thiên Hoàng, sau cuộc đảo chính chúng nó mộ quân cướp thóc và lập nên một đạo binh có tới năm sáu trăm. Phần chưa đích xác là có sĩ quan Pháp huấn luyện và chỉ huy đạo quân ấy, khi biết chắc chắn quan sẽ trình sau... Tên quan Nhật cho lính diễu qua phố huyện vài vòng. Trụ cờ vốn có hai dây ròng rọc từ hồi thuộc Pháp, hắn cho kéo thêm lá cờ Nhật bên cạnh cờ quẻ ly trên sân huyện đường, gọi thợ chụp ảnh ở phố vào bấm mấy kiểu trong khi lính Nhật xếp hàng bắn lên trời ba loạt. Hắn ghi địa chỉ gửi ảnh, khuyên quan huyện yên bụng chờ Hoàng quân lên dẹp giặc, lên xe vù luôn. Từ đó, các thầy đề, thông, ký, lại, cùng với quan huyện và đội lính lệ, đều biết rằng ngày giao nộp ấn tín súng đạn đã tới gần. Giữa những ngày hừng hực của tháng Tám năm 1945 ấy, Cả Chanh đột ngột nhận lệnh điều về tỉnh. Anh ngớ ra hàng giờ. Ở vùng núi Tây Quảng này anh thấy rõ mình đang làm được việc. Dù chẳng cái dại nào giống cái dại nào, nhưng ít nhất anh cũng có ích. Về tỉnh mà làm gì? Khắp cái tỉnh Quảng Nam to tướng này thiếu gì đồng chí tài giỏi hơn? Từ năm 1930 tới nay, qua thăng trầm chìm nổi. Đảng bộ Quảng Nam vẫn cứ lớn lên mãi! Anh soạn giấy tờ và bộ áo quần kiểm lâm đánh dấu bằng vết đen trên vai, vọt xe, xuống tìm anh Tô Xáng, định xin ở lại Tây Quảng. Cũng có thể rước hết cả tỉnh ủy lên vùng căn cứ đã loang rộng nhiều tổng, chẳng có thằng địch nào phá quấy nổi. Do đường dây trục trặc, mất hai ngày Cả Chanh mới gặp anh “Bát Đập”. Chanh chờ đợi được giải thích hay bị một chầu sạc mạnh. Nhưng anh Xáng chụp lấy anh, reo ồn: - Hú hồn hú vía, chút xíu nữa tao lên tìm mày lần thứ hai! - Ủa, anh lên hồi nào... - Cách đây năm hôm. Tao tới chợ Huề Bình tính vô Linh Lâm, bị tổ du kích gác chặn lại, nói là cấm địa. Xin gặp anh Cả Chanh, nói chẳng biết là ai. Túng quá tao đề nghị bắt giải vô anh cả xét, nói mắc gác không giải được. Bí rị chưa? Tao phải vô gặp tay huyện ủy gần bến phà, viết thư nhờ đưa hỏa tốc cho mày. - Việc gì gấp quá vậy anh? - Việc gì nữa! Việc sửa soạn tổng khởi nghĩa, việc giành chính quyền cả nước, việc Đảng mình đứng ra lãnh đạo nước Việt Nam độc lập! Tim Chanh bóp mạnh một cái, lại đập thình thịch. Anh níu tay vào cạnh bàn để trấn tĩnh. Anh há miệng, định hỏi, nhưng tiếng cứ mắc trong họng. Có thể chẳng.... lẽ nào... sao mau quá vậy... Anh Xáng lặng thinh, tựa hồ cũng choáng váng vì cái tin chính mình thốt ra. Anh run run nói tiếp, khẽ hơn: - Sắp rồi Chanh à. Tao cũng bị bất ngờ. Nước Nhật sắp đầu hàng không điều kiện, đại khái xin dâng tánh mạng cho Đồng minh, thương nhờ ghét chịu. Trung ương ra lệnh làm tới tới đi, áp nạp đi, đừng sợ đổ bể gì nữa hết, ngon chưa? Nghe sướng cái màng nhĩ chưa? - Đánh vô huyện vô tỉnh luôn à anh? Đánh lớn hả? - Sao cứ phải đánh? Tay không lấy được thành cứ lấy. Đời xưa thổi sáo mà địch lui quân, bây giờ ta nổi chiêng trống khắp nơi, kéo biểu tình cả chục ngàn, trăn ngàn tới vây. Địch chống cự thì đánh, hàng thì tha, vậy thôi. - Ngày nào ta làm, anh? Nổi dậy cả nước một lần, hay mạnh ai nấy khởi? - Mày ở lại đây vài ngày, đợi lệnh giờ chót. Cái xóm nhỏ và khuất cách thị trấn Vĩnh Điện bốn năm cây số đã biến thành bản doanh của Ủy ban khởi nghĩa. Cán bộ và dét-tê băng gò băng ruộng, theo đường ô-tô đường sắt, đến nhận chỉ thị, tài liệu không ngớt. Cả Chanh nhớ lại cuộc thuyết trình trong nhà tù về khoảng giữa cách mạng tháng Hai và cách mạng tháng Mười, khi hai chính quyền của nước Nga tồn tại song song trên khắp nước và ngay tại thủ đô. Nhỏ yếu như nước mình mà vẫn được ? Quân Nhật đóng tràn lan, súng ống như rừng. Chính quyền Nam Triều vẫn còn đến tổng đến làng, chỉ sứt mẻ đôi phần ở vùng núi. Dân mình, Đảng mình có đủ sức quật nhào một lần tất cả tòa thành đồ sộ của chúng nó không? Một tòa thành mối mọt đục ruỗng nhưng chưa mất bộ mặt đầy hăm dọa! Cả Chanh viết một thư dài gửi về anh bí thư huyện ủy Tây Quảng, báo tin sửa soạn tổng khởi nghĩa, yêu cầu anh chỉ thị cho các tổng và làng sẵn sàng kéo biểu tình lấy huyện. Chanh viết thêm một thư cho du kích Linh Lâm và các làng chung quanh mang tất cả võ khí với thật nhiều gạo đến tập trung ở Huề Bình, đợi lệnh tấn công. Anh Xáng xem cả hai lá thư, gật gù vừa ý, cho dét-tê mang đi, chợt gọi lại dể điền thêm vào dưới chữ ký của Chanh: “Thực hiện ngay các ý kiến của đ/c Thanh Trà phó chủ tịch Ủy ban giải phóng Quảng Nam. Tô Xáng”. Anh ký bên dưới. Cả Chanh hoảng hồn thật sự. Anh giật hai lá thư, hỏi: - Khoan đã, đợi chút... Anh Xáng giỡn gì lạ vậy? - Ai giỡn với mày? Thơ anh Quý mới tới đây nè. Coi mau để anh em chạy giấy cho kịp. Chanh rất quen nét chữ nhỏ hơn kiến của anh Bảy Quý xứ ủy. Anh Quý ưa viết bằng cây bút máy tự chế tạo trong tù: lượm cái ống tiêm vất đi, đốt trên đèn dầu lửa cho chảy và rút dài ra, bẻ ở chỗ thật nhỏ, đầu kia cưa cụt, nhồi bông vào lòng ống tiêm, rót mực vào cho thấm bông, làm thêm quản bút bằng giấy cuốn hay ống sậy. Thế là đủ để viết trên xấp giấy quấn thuốc lá hay bất cứ mảnh giấy nào nhặt được khi làm coóc-vê, chuyền qua các lao cho các chi bộ thảo luận. Lá thư này của anh viết bằng cây bút nhà tù, không lẫn được, cũng không dùng bí danh. Đồng ý đ/c Thanh Trà TUV chính thức và phó CT. Đổi ra UBDTGP cho thống nhất với TƯ. Khi lập chính quyền sẽ là lâm thời Ủy ban Nhâu dân Cách mạng. Tạm để ngoài tất cả các đồng chí chưa đủ quyết tâm tấn công, ngại khởi nghĩa. Nắm thật chắc mọi lực lượng đang có, đợi lệnh cuối cùng. Quyết thắng và quyết thắng!!! 07 Quý. Chanh bần thần trao lại hai lá thư anh viết cho hai dét-tê, một trai một gái. Cậu trai tủm tỉm vặn tháo đế giày da, lót thư vào trong, xoáy lại bốn chiếc đinh vít. Cô gái lủi vào trong buồng chủ nhà một lát, quay ra, chào gọn một tiếng và đi ngay, mặt hơi đo đỏ. - Anh Xáng nè.... tôi ở luôn đây à? - Ở luôn làm gì? Đợi lệnh về tới, mày phải chạy vù lên xốc ngược mấy huyện miền núi, cho tràn xuống dưới này. Việc của mày bây giờ là uống ki-na-crin, học thuộc lòng mấy nghị quyết mới, chờ lệnh tổng khởi nghĩa! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 09:01:39 am 17. Các đội du kích trong tổng An Sơn dẫn quân về chợ Huề Bình đợi lệnh. Tháng Tám sùi sụt nắng sớm mưa chiều đã dành hẳn một ngày tuyệt đẹp để đón du kích quân. Làng nhỏ như Linh Trung gửi đến mười một người. Linh Hạ to hơn, lại sẵn gạo, cho đi hai mươi sáu. Rầm rộ nhất và hưởng nhiều vinh quang nhất là đội đàn anh Linh Lâm. Năm Chò đã dày công sắp đặt cuộc “đại tấn công” của du kích Linh Lâm. Ai rách rưới quá phải mượn gấp một bộ lành trong làng mặc vào mới được đi theo đội. Giáo mác mài và cọ cát cho sáng choang, cấm những cái nón lá lột của bù nhìn giữ dưa, không có mũ thì quấn khăn tay đi đầu trần. Riêng phần dưới chân thì anh nhân nhượng: dân nghèo Linh Lâm chuyên đi chân đất, đường xa thì đi dép mo cau, họp làng đi guốc mộc, chỉ các nhà giàu mới có giày vải, giày da, dép da. Đành để ai mang gì dưới chân tùy ý. Cái khoản gạo mang theo cũng gây lắm bối rối. Đội du kích phình lên gấp đôi số ban đầu, gần sáu chục. Thóc thu của ấp phủ Đỉnh đã cạn. Ông Tư Chua cùng ủy ban hứa sẽ lạc quyên và gửi gạo theo đội. Mỗi du kích ra đi vét theo hết số gạo trong nhà, có người chỉ bọc một nắm khoai khô. Hũ gạo của bà Tư lò rèn không còn một hột dính đáy vì ông Tư và Sáu Cam trút sạch, cô Năm Bưởi về sau chỉ còn sắn khô. Tập hợp ở đình làng, đếm lại được bảy mươi hai. Chưa bao giờ ban chỉ huy biết đích xác mình nắm bao nhiêu quân cả. Bận ruộng rẫy hay sốt rét nhiều, còn ba bốn chục. Bây giờ nhào vô lấy huyện, ai cũng muốn đi, biết làm sao! Xuống đến truông Dơi, khi tất cả cái đuôi của lũ trẻ em tò mò, các bà vợ cả lo, mấy bà mẹ sợ con gái nằm ngồi vô ý đã tụt lại đằng sau, Năm Chò mới đĩnh đạc tuyên bố “kỷ luật sắt”, sau đó cho xếp hàng đôi, trương cờ Việt Minh, tập hô khẩu hiệu theo kiểu thanh niên Đuy-cô-roa thời Pháp: hàng bên trái hô “Việt Minh”, hàng bên phải đáp “muôn năm”. Đi đều và hô thử độ chục lần cho quen chân quen miệng, đội mới tiến xuống chợ Huề Bình. Ủy ban làng Huề Bình đã cho thiếu niên nhi đồng xếp hàng đón quá sớm. Khi một số trẻ em mỏi chân đói bụng bắt đầu đòi về, chợt nổi lên tiếng rúc của hàng chục tù và sừng trâu mé cuối truông, thứ tiếng hết sức thôi thúc của các phường săn vùng núi xưa nay vẫn kéo mọi người chạy tới kiếm phần hờ và tất cả chó săn trong vùng nổi lên rít nhảy chồm chồm. Người trong xóm chợ đổ ra ào ào. - Việt Minh... muôn năm! - Vạn tuế! Vạn tuế! - Việt Minh.... muôn năm! - Hoan hôôô! Hoan hôôôôô... Tiếng hoan hô mới được tập hôm qua, các em lỡ hô vạn tuế một lần đã sửa ngay, hoan hô thật dài để bù chỗ sai. Cụ lang chủ tịch Huề Bình nói mấy câu chúc mừng, giọng già lập cập nghe không rõ. Năm Chò lên đáp lời. Hôm nay anh lẫm liệt oai phong. Ngoài bộ áo quần giày mũ khố đỏ, còn thêm túi dết chéo bên phải và bi-đông chéo bên trái, súng trường khoác vai, cái thắt lưng to sệ xuống với hai bao đạn đầy và hai quả lựu đạn màu vàng cái thây lẩy bên ngoài. Mỗi câu nói là một câu hét, hình như các tủ kính bày hàng quanh chợ đều rung. - Thưa toàn thể đồng bào! Chúng tôi là đội du kích quân Linh Lâm hùng cường! Được lệnh hành binh đi chiến thắng thực dân, phát xít tham tàn! Xin thề: thà chết không lùi, hi sanh vì Tổ quốc! Anh em du kích hô theo tôi: xin thề! - Xin thề! Xin thềềề! Đêm mít-tinh cả tổng An Sơn, Năm Chò chỉ giữ trật tự cho Cả Chanh diễn thuyết. Nay đồng bào chợ Huề Bình say sưa ngắm anh chỉ huy rất là quân sự, đen trũi và vuông vức như cái tủ gỗ mìn. Anh lại nói ngắn càng hay nữa. Hàng chục cánh tay túm lấy Năm Chò mời anh về nhà hay ra quán, nhưng ông chủ tịch giành được anh về dự bữa cơm mời chung toàn đội Linh Lâm ở đình làng. Các đội du kích khác đến sau, chỉ còn một nhúm người tiếp đón gọi là, anh thư ký ủy ban khoát tay chỉ vào một xóm nào đấy, tự lo mượn nồi xin củi nấu cơm. Gặp buổi chiều tạnh ráo, mát trời, đội Linh Lâm biểu diễn quân sự cho bà con coi. Người ở chợ và đi chợ, người các xóm kéo đến như hội, nhờ mấy cậu nhanh trí đã vào đình thúc trống liên hồi, các tiểu đội trưởng đều rúc tù và sừng trâu đến đứt hơi, anh em trong đội xếp hàng hô khẩu hiệu ầm ầm. Nếu có một bài nào hát đồng thanh cả đội thì còn hấp dẫn gấp mười! - Tập hợp! Nghiêm... phắt! Nghỉ! Bồng súng... chào! Đi đều... đi! Mốt hầy mốt, mốt hầy mốt.. Đồng bào say sưa chạy tới lui coi du kích tập quân sự. Hồi lính Tây lên đóng đồn đồn binh ở Linh Lâm cũng chưa được như quân ta bây giờ đâu. Tụi nó chỉ hơn cái súng ống áo quần chớ tài giỏi gì! Đến lúc Năm Chò hô quân dàn trận, khi nằm khi chạy, a-lát-xô vào đâm chém một hàng rào xương rồng trên đỉnh gò, bà con nổi lên hoan hô vang dội trời đất. Chiều ấy ủy ban không mời cơm, nhưng mỗi nhà cố kéo được vài ba anh về “rau mắm với đồng bào”, là tiếng vậy nhưng gà vịt nổi kêu ồn xóm và trẻ em xách chai đi mua rượu khá nhiều. Các đội khác vẫn cơm ghế khoai khô và rau mắm đúng nghĩa đen. Họ thèm thuồng ngắm đội Linh Lâm, giục chỉ huy của mình mau mau rước thầy về dạy quân sự. Đôi cậu quá hăng đã bí mật tìm tới du kích Linh Lâm xin được thu nhận vào đội, ngồi ngẩn ra nghe họ nói rong róc các chánh sách của Việt Minh y như đọc nhựt trình, thầm ghen với cái làng Linh Lâm tốt phước vớ được hai vị đàn anh về dạy cả văn lẫn võ. Thấy đồng bào đang háo hức. Năm Chò chơi luôn một trò rất trội. Anh cho diễn lại cuộc tập trận giả đã từng làm ở Linh Lâm. Suốt buổi tối các tiểu đội chia nhau sắm các đồ dùng quân sự giả: gói tro trong lá chuối thay lựu đạn, dây tre căng trên cọc làm thép gai, trống và mõ để gây tiếng ồn của súng lớn súng nhỏ, cờ giấy đánh dấu các ổ moóc-chê và min-tay-ơ 1, pháo rời và hương châm pháo. Lại cho anh em rao loa xa gần mời bà con xem tập trận. Người đến xem sáng hôm sau có dễ đến hai ngàn. Năm Bưởi chỉ huy tiểu đội nữ làm địch giữ đồn, đánh trống mõ đến rã tay, châm pháo tung ra và tiếp liền gói tro lựu đạn. Ba tiểu đội kia chạy, nằm, bò, gỡ mìn bằng tay và chém đứt thép gai bằng rựa, nhào lên ôm vật địch, bắt trói. Chị em không lường trước phần cuối này của trận đánh, thét lên ý ới và dằng ra chạy, càng giống địch trăm phần phần trăm. Đồng bào hoan hô đã rát cổ họng đến đấy nổi lên cười lăn lộn, một trận cười vang động chưa từng có từ ngày qui dân lập ấp tới nay! Ngay chiều ấy, thanh niên Huề Bình họp đầy một đình, ghi tên vào du kích tới tấp. Lâu nay họ ngại vào du kích vì chỉ thấy chui rừng rúc núi, học chính trị nhức đầu, chẳng ngờ làm Việt Minh theo kiểu Linh Lâm lại vui quá thể! Họ thắp đuốc làm lễ ra mắt của trung đội du kích Huề Bình, có đội Linh Lâm đến dự chia vui, mời đồng chí Năm Chò lên “hiểu thị”. Năm Chò chỉ nhớ nhập tâm được mấy câu như búa tạ, không dám nói cặn kẽ rành rọt như Cả Chanh, nhưng lại chinh phục mấy trăm trai gái trẻ tuổi bằng ngón nghề thạo thất: năm lưỡi phi đao vèo vèo bay cắm trúng đích, kèm một vòng đi bằng hai tay. Anh chỉ huy Việt Minh này quả là lắm tài và bình dân hết cỡ! Trời đổ mưa dầm vào hôm sau. Hửng một lát lại xối nước nhiều hơn. Chương trình duyệt binh toàn tổng An Sơn phải bỏ. Anh huyện ủy viên ở gần bến phà Huề Bình đã ra công khai, làm chủ tịch Việt Minh tổng, Tỉnh và huyện đều gửi thư báo cho anh “nắm quân đợi lệnh”. Đợi mãi chẳng thấy lệnh đâu, chỉ nghe vô số tin đồn trái ngược nhau. Người lên theo đường bộ đường sông khá nhiều. Nghe đâu quân ta với Nhật đánh nhau một trận to lắm trên quốc lộ Một, gần Quảng Ngãi. Xì, nó rượt đánh quân mình thì có. Chủ lực Việt Minh chiếm hết mấy huyện gần núi rồi, các anh còn ở chi đây? Họ chiêm bao cách sao chớ trên đó êm re chẳng nghe động cựa gì... Mỗi người nói một phách, nhưng cái tin được lặp nhiều nhất là “Cao Đài sắp nổi dậy làm đảo chánh, cướp chính quyền”. - Cao Đài phò ông Cường Để, nghe nói là rể ông vua Nhựt, việc gì phải đảo chánh? Nhựt đưa về làm vua khi nào chẳng được? - Bí mật nghen... Phe ông Bảo Đại chống, phe Việt Minh bên ta đây chống, phe Anh Mỹ Nga cũng chống hết. Họ tính làm ào cho xong chuyện. Vua mới lập, chẳng lẽ phế ngay liền tay... Du kích các thôn báo tin hết gạo. Lệ thường là vậy, còn vài ngày ăn cứ kêu anh em nhịn đói. Anh chủ tịch tổng cuống quýt chạy lạc quyên khắp nơi. Gạo gánh tới đình, các đội nhận phần đều khai tăng số quân lên ít nhất là gấp rưỡi. Anh chủ tịch tin răm rắp, từ gà gáy đến khuya lo chạy ăn cho con số hơn hai trăm quân. Mưa. Lại mưa nữa. Lệnh vẫn chưa về... ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp: Mitraillense: đại liên, thượng liên. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 09:15:10 am * * * Một người nữa đang nóng lòng đợi lệnh, ấy là Hai Khánh. Cả Chanh dứt khoát giao cho anh nhiệm vụ nằm trong lòng phe đối địch. Nhưng chẳng còn gì để nắm nữa cả. Phủ Đỉnh không dám gửi súng lên thêm. Cửu Áng thất sắc thì thào: “Chịu khó hàng phục nghen cậu cử, tụi nó hung hăng quá chừng...”. Lão Xâm Tô sau năm bảy chục điếu mới nhỏm dậy nói chuyện tử vi và sấm truyền. Tin đồn đến với Khánh méo mó xộc xệch như tranh hí họa, vẫn đủ cho anh hiểu rằng hoàn cầu đang trải qua một cơn động đất ngàn năm chưa từng có. Đây là những ngày vương miện lăn rổn rảng trên hè phố, ngai vàng được thợ cắt tóc mua về làm ghế, những đạo quân rung chuyển thế giới rã rời buông súng, các thống chế xin được sống sót làm bồi bàn. Đây cũng là dịp cho những người táo bạo vọt từ cai đội lên tướng soái, từ anh cạo giấy lên cầm đầu một nước, từ cậu sinh viên thất nghiệp đang coi ấp cho quan phủ biến thành chính khách lẫy lừng với một đảng lớn sau lưng và một đoàn hùng binh trước mặt! Giấc mộng thầm kín làm một Na-pô-lê-ông trong cách mạng vẫn chập chờn không rời Khánh. Bốn cuốn sách về con người hùng ấy thỉnh thoảng được giở ra đọc lại từng đoạn. Chàng trai thấp nhỏ sinh nơi hòn đảo heo hút kia, học hành chả bao nhiêu, nói tiếng Pháp còn pha giọng Ý buồn cười, hăm bốn tuổi là đại úy, hăm lăm tuổi lên cấp tướng, băm ba tuổi lãnh chức cầm đầu vĩnh viễn nước cộng hòa Pháp, băm lăm tuổi đã chễm chện hoàng đế! Ngay trong những lúc nghiêm khắc với mình nhất, Khánh không thấy mình sút kém điểm nào so với kẻ đã từng làm chủ phần lớn châu Âu. Tự đặt mình vào chỗ của hoàng đế Pháp, anh sẽ khôn ngoan hơn rất nhiều. Anh sẽ không vất bừa cả mớ vương trượng cho họ hàng, không liều lĩnh đánh vào nước Nga mênh mông băng giá, mà sẽ tung các đoàn ngoại giao đi khắp trái đất, bắt tay thân thiện với nước Anh, tập hợp quanh mình những tài năng lỗi lạc nhất giúp cho dân giàu nước mạnh. Hít-le và Hi-rô-ki-tô theo đuổi cuồng vọng quá lớn đều nếm mùi trèo cao ngã đau. Mút-xô-li-ni ngốc nghếch theo đuôi nước Đức quốc xã, nếu không thì sau hai mươi mốt năm cầm quyền chưa chắc đã sụp đổ... Sau những giờ chìm đắm trong mơ ước khổng lồ, Khánh lại bừng mở mắt và giễu mình mắc bệnh vĩ cuồng, mới hai mươi hai tuổi đã bắt đầu lẩm cẩm. Anh cáu kỉnh vất sách vào xó, bỏ ra khỏi nhà để khỏi nghe tiếng gõ mõ tụng kinh của bà cả, những luồng thở dài của nàng tôn nữ ế ẩm, hai bóng ma hoàng tộc núp bóng ông vua nhà thổ đã thành thằng hề từ lâu. Hành động. Phải hành động. Phải rẽ đám đông rối loạn mà vươn tới đích, bước lên bục cao, vung mạnh một lá cờ nào đó. Nhưng... hành động thế nào đây? Khánh buộc phải thú nhận với mình: không dám làm như cả Chanh. Có cái gì đáng sợ ở anh thợ xe lửa này. Tự tìm đến cách mạng trong đêm tối, chịu đòn tra tấn, chịu án tù, vượt tù về lại chui vào rừng xây dựng du kích, chẳng kể gì súng đạn hay bệnh tật. anh làm như chúa Giê-su mà không hề nghĩ mình là Giê-su. Cũng hoàn toàn khác những thánh tử vì đạo, xác còn đó mà hồn đã lên mê lịm trong chúa: Cả Chanh thuộc hạng người năm phút trước khi lên máy chém còn kể chuyện tiếu lâm và cười rung mái nhà. Nhìn bước đường đời của anh thợ hăm lăm tuổi, thường nói theo tuổi ta là hăm sáu, Khánh thấy anh ấy y hệt chiếc xe tăng cỡ bự trong phim cứ hùng hục lắc lư đi tới không gì cản nổi... Đấy, mới so với mẫu người trước mắt, chỉ đứng hàng dưới trong đội ngũ cộng sản, hình ảnh Na-pô-lê-ông đã rụng mất nhiều chùm hào quang! Cũng có thể cuộc nổi dậy ở cái làng nhỏ ven núi này đẻ ra hai vĩ nhân lắm chứ, tại sao không? Trong lần gặp để thanh thỏa vụ Năm Chò thu lúa, hai người đi bên nhau một quãng trên sườn dương Hội, từ đó nhìn xuống có thể thấy toàn cảnh thung lũng sông Linh. Hai Khánh nói nửa đùa nửa thật: - Lão Cửu Áng bảo thế đất Linh Lâm hình chữ đại đó anh. Chắc đẻ ra nhiều người làm lớn. Cả Chanh nhìn quanh một lát, lắc đầu: - Chưa phải thầy địa chánh hiệu con nai vàng. Coi riêng sông núi thì hình chữ nhân, mời người đến ở. Con người mở đường 56, cũng lập nên bến vạn xóm chợ, thành chữ thái. Thêm ấp ông phủ với khu đồn điền La-phác-sơ, thêm hai khúc đường mòn phía bắc nữa, nó thành chữ quân. Cứ vậy mà tán láo thêm, mặc sức kiếm xôi gà! Họ cùng cười. Lầu sau nữa. Khánh đưa cho Chanh một xấp tài liệu mới mang về. Chanh đọc lướt qua, buột miệng kêu: - Chà, in với ấn! - Sao anh? - Cách mạng 1789 in ra 1879, là sau Ba-lê công xã! Vua Lu-y bị xử tử năm 1893, lại là vua Lu-y 14. Anh còn bản nào thì sửa giùm nghen, không người ta lại cười mình đã dốt mà hay nói sử sách. Khánh không hỏi vua nào bị cách mạng Pháp xử tử năm nào để tránh lộ ra mình dốt sử. Về nhà tra cứu thêm được rồi. Phần sau của cuốn từ điển la-nít sẽ giúp anh sửa lại tên vua và niên đại. Anh hỏi chuyện khác: - Học hồi nào mà nhớ ghê thế anh Chanh? Chanh cười xí xóa: - Ối, học mót mỗi nơi một chút, ăn thua gì. Tình cờ tôi sực nhớ vậy thôi, anh coi lại thử đúng không. Khánh về xem lại; vua Lu-y 16 bị xử tử năm 1793. Anh thợ cùi đày kia sao lại hiểu sâu cách mạng Pháp đến thế? Khánh chưa bao giờ ngỏ ý muốn vào đội du kích Linh Lâm, và Chanh cũng chưa hề gợi ý như thế. Khẩu súng ngắn 7 ly 65 của Ta-kê-đa dành cho người chỉ huy chưa được đem dùng. Khánh không đến nỗi sợ chết quá quắt đâu, bởi Na-pô-lê-ông dám phanh áo đi tới trước làn đạn cho lính theo kia mà. Nhưng nếu chết thì cũng phải ngã trong trận đánh lớn cho ngàn vạn đôi mắt trông vào! Du kích quanh năm chui rúc trong rừng núi, ăn đói mặc rách, sốt rét ghẻ lở, lại do một tay cai khố đỏ võ biền dốt nát chỉ huy... xin chịu thôi! Qua những cuộc thương lượng mua súng ở Hà Nội, những mưu mẹo của mình ở Quảng Nam để kiếm vũ khí và nắm tình hình cho Việt Minh, Khánh biết mình có công với cách mạng, và các đồng chí cũng nói thế. Từng lúc, Khánh thấy mình là điệp viên quốc tế, là nhà ngoại giao, là vị nhân sĩ trí thức, và như thế mới xứng với mười mấy năm đèn sách chứ. Lớp người lam lũ từ bùn đen ngoi lên theo đường rễ cây, lên thân cành lá, cũng có thể trổ thành hoa trái. Số người hiếm quý như Khánh sẽ từ ngọn cao này chuyền sang ngọn cao bên kia của cách mạng, đâu nhất thiết phải tụt xuống gốc để ỳ ạch leo trở lên cây khác! Điểm lại tất cả các việc có thể làm để lập công trạng đáng ghi, Khánh quyết định: tặng thêm lúa cho du kích, khuyên quan huyện Tây Quảng đầu hàng Việt Minh, dọa cho phủ Đỉnh bỏ trốn càng biệt tăm càng tốt (tất nhiên là xa hẳn Mỹ Duyên) nắm cho được quản Lược và đội Bảo an binh. Việc thứ tư này quan trọng hết sức. Khánh sẽ nổi bật lên nếu kéo được hàng trăm tay súng theo cách mạng, đó sẽ là thanh gươm ném lên đĩa cân giữa lúc chông chênh, khiến cán cân nghiêng hẳn về phía ta. Đó sẽ là công đầu! Phải hành động ngay mới kịp! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 09:17:28 am Ông Tư Chua rất mừng khi Khánh đến xin hiến hai trăm ang lúa nữa. Cấp trên chưa cho phép tịch thu bất cứ thứ gì, trừ súng đạn. Nếu sau này phủ Đỉnh đúng là Việt gian thì sẽ lấy hết sạch cả ruộng đất nhà cửa, trâu bò chứ chẳng riêng gì thóc gạo. Nay chỉ được quyên hoặc vay thôi. Khánh bàn như thế với ông Tư, về nhà lại bảo mẹ con bà Cả:
- Việt Minh nói vận động hiến lúa cho dễ nghe vậy thôi, mình không hiến họ cũng trói nghiến mà xúc. Ta đưa trước còn được cái tiếng... - Cậu cử mần răng đó mần, còn mẹ còn con là được. Thân phận như cá nằm trốc thớt, tu tại gia không yên thì mẹ con tui xin giao hết cơ nghiệp cho cậu coi ngó, cạo đầu lên chùa làm vãi, chắc họ cũng thôi bắt tội bắt vạ... Tuy bà Cả cố giữ, Khánh vẫn thắng ngựa đi xuống chỗ phủ Đỉnh. Ngần ngừ một lát, anh bọc theo cây súng ngắn và gói đạn. Hôm trước anh phá cái cặp da đắt tiền để tự may một bao súng khá đẹp, một túi đựng băng dự trữ một túi chứa đạn rời, tất cả xỏ vào cái thắt lưng rộng bản nhất mà anh có. Anh tự làm sẵn một băng đeo cánh tay có nền đỏ sao vàng khi nghe tin sắp tổng khởi nghĩa. Kể cũng tiêng tiếc. Giá có thể cưỡi ngựa đeo súng dẫn đầu đoàn quân tiến vào Hội An, Đà Nẵng thì tuyệt. Anh đủ tỉnh táo để hiểu rằng vinh dự ấy không dành cho mình. Giấu các thứ ở nhà vô ích, đem cho Cả Chanh mượn để chỉ huy còn được ơn nghĩa về sau. Trời vẫn mưa, khi rả rích khi dồn dập. Khánh nhồi mọi thứ mang theo vào cái túi dết to đeo chéo bên hông - mấy năm gần đây mọi người dùng ngày càng nhiều túi dết, ba-lô, nhất là dân thành phố di tản tránh bom - choàng cái áo mưa vải phủ cao-su ra ngoài, Khánh giật cương ra đi với một xúc động mơ hồ pha lẫn hãnh diện và lo lắng như Kinh Kha vào đất Tần. Có tiếng voi rống văng vẳng bên kia sông Linh trên núi ông Tượng. Một bầy khỉ mon men xuống phá rẫy ở đầu truông Dơi vọt lên cây ào ào, dừng ngay khi thấy anh đi một mình, còn rung cành kêu khẹc khẹc dọa lại. Chà, nếu trời nắng ráo và có thêm vài cô sơn nữ đeo gùi đi hái mơ rừng thì quả là một cảnh xuất quân trên biên thùy đầy thơ mộng! Khánh gặp may. Vừa đến đầu chợ Huề Bình, anh nghe Sáu Cam gọi bên đường, Cam đẩy vội cái bi-đông cho khuất sau lưng, từ trong quán bước ra, nói hối hả: - Anh Cả mới về đó anh. Các đội đang nấu cơm ăn cơm gói, sửa soạn đánh lấy huyện. Gấp lắm! Bộ mặt gầy mới trổ lang ben của Cam muốn đứt đôi trong cái cười rộng hết cỡ. - Dẫn anh vô gặp anh cả đi, anh cũng gấp. - Ảnh dặn mỗi lần gặp anh phải bí mật mà? - Tổng khởi nghĩa rồi mà bí với mật! Leo lên đây! Ngày xưa ở ấp phủ Đỉnh, Hai Khánh chưa lần nào để Cam phải “chạy ngựa”. Là đứa con khác cha khác mẹ của bà Cả, anh phải ngậm miệng, nhưng hễ ra chỗ khuất là anh đèo luôn đứa bé giữ ngựa ngồi lên trước yên, về gần ấp mới chia ngôi chủ tớ, Cam tụt xuống chạy lon xon sau đuôi ngựa. - Thôi anh, gần đây mà. Khánh và Cam đều quên nghĩ rằng đội du kích Linh Lâm đang sửa soạn “đánh đổ thực dân phong kiến”, từ trong các nhà xóm chợ Huề Bình nhìn ra đều rất cáu kỉnh khi thấy thằng con trai của phủ Đỉnh nghễu nghện trên lưng ngựa, trong khi chú nhỏ liên lạc của đội lúp xúp chạy trong bùn dẫn đường. Cam dẫn Khánh vào một nhà gần đình, bảo đợi. Tuy Khánh chẳng cần bí với mật, nhưng anh Cả tính sao chưa biết. Chừng mười lăm phút sau, khi Khánh đã sốt ruột, Cả Chanh lách hàng rào sau đình đi sấn vào nhà. - Hay quá, tôi đang mong gặp anh Khánh! Khánh trố mắt nhìn con người vừa bắt tay mình. Chanh chỉ còn là cái xác biết đi. Đôi lông mày nét mác sụp xuống theo những nét nhăn mới nổi trên mặt. Vết nẻ dọc ở cằm lõm xuống sâu hoắm. Râu đâm ra quanh mồm hiện thành hình tròn lởm chởm. Mắt và má hõm xuống thành hố. Trông Chanh già như anh ruột của ông Tư Chua. Sốt rét và những đêm trắng đã tàn phá anh đến thế ư? - Anh Khánh đi gặp quản Lược ngay bây giờ được không? Được hả? Hoan hô, chúng tôi đang kiếm người quen cha đó... Lực lượng quân sự các phủ huyện bây giờ rất tồi, du kích tự vệ trị được hết. Chỉ còn quân thằng quản Hưng là đáng kể. Vậy đánh riết cũng xong, mà để tụi nó ra hàng hay hơn. Anh sẵn sàng đi chưa? Dùng quản Lược trói ké thằng Hưng là gọn nhứt! Khánh vui rạo rực một loáng vì mình nghĩ đúng hướng và đến đúng lúc, lại tiếc cho sáng kiến của mình chỉ còn là việc được giao. Cả Chanh rút cây bút máy rẻ tiền ra, định viết vội lá thư gửi quản Lược trên tờ giấy đã đóng sẵn con dấu đỏ chót. Bút hết mực, rảy mấy cũng không ra nét. Khánh đưa ngay cây Pi-lốt ngòi vàng của mình. Chanh mới viết vài dòng, bỗng đưa tay lên miệng, quay mặt sang bên, núm cổ nhảy lên cằm thành tiếng ùng ục trong cổ. Anh nôn ra một búng nước. Kéo tuột vạt áo kiểm lâm ra khỏi thắt lưng, lau mép xong. Chanh lại quay người vào bàn viết tiếp. - Anh Chanh kiệt sức quá rồi đó! - Hả? Ờ, ờ, đợi chút xíu, xong liền đây... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 09:46:46 am Chanh vẫn cắm cúi viết. Khánh nhìn kỹ hơn. Tim anh siết lại rất mạnh khi thấy Chanh đi chân trần và bết bùn lên túi áo ngực. Một làn chớp trắng lóa vừa bật lên trong Khánh. Tất cả những suy tính của anh lâu nay chợt hiện ra hết dưới ánh sáng tàn nhẫn của điện trời. Sao mình có thể ích kỷ, nhỏ nhen, hèn hạ đến thế nhỉ... Trong khi Chanh viết, Khánh moi trong túi dết ra cái thắt lưng súng đạn đặt trên bàn, tháo luôn cái đồng hồ đeo tay, móc thêm gói sâm củ mà anh mang theo phòng khi yếu mệt.
- Đây, anh coi trước rồi đưa cho thằng Lược. Bữa nay tôi xuống luôn huyện, nếu chưa lấy được thì tụi tôi đặt trạm gác trên đường 56, mé trên huyện một chút. Xin lỗi anh nghen, tôi đi gấp với du kích... Chanh xoay người bỏ đi, bị Khánh túm cánh tay kéo lại. - Khoan đã anh. Đem mấy thứ này theo, cần lắm. - Gì đó? Khánh đẩy từng vật trên bàn về phía Chanh: - Anh ra trận mà chưa chuẩn bị kỹ. Súng đạn đây, chắc anh biết bắn loại ô-tô-ma-tíc này rồi. Cái đồng hồ để coi giờ mà chỉ huy, chạy đúng đó. Cầm luôn cây bút máy theo, anh phải viết rất nhiều. Gói này là củ nhân sâm trợ lực. Con ngựa để anh cưỡi. Chanh đứng lặng như đang lựa lời từ chối. Khánh nói rất nghiêm: - Tôi chỉ tặng anh những thứ cần nhất trong chiến đấu, không phải để diện đâu. Tôi kiếm đồ khác rất dễ, đừng lo. - Thôi được, tôi mượn của anh, dùng xong sẽ trả đủ. Cảm ơn anh hết sức. Thứ nhân sâm này tôi nghe nói quý lắm, đắt tiền lắm, chưa biết uống. - Đây có hai củ. Một củ nguyên, một củ xắt lát sẵn. Bỏ gạo rang vào để chống ẩm. Khi mệt, anh cứ ngậm một lát dưới lưỡi, đừng nhai, nó rã hết mới nuốt. - Riêng con ngựa thì anh giữ mà đi xuống chỗ quản Lược. Xe khách ngừng chạy rồi, cái xe đạp tôi mượn cưỡi lên đây tồi lắm, tới đoạn cuối tôi phải dắt xe chạy bộ hơn chục cây, lấm như trâu đầm vũng. Khánh bắt tay Chanh thật mạnh, bước gấp ra sân để Chanh không kịp đổi ý. Ngồi trên yên ngựa, thúc gót cho nó chạy ra đường ô-tô Khánh thấy người nhẹ lâng lâng. Sau lưng anh, tiếng trống, mõ, tù và bắt đầu dậy lên, lan rộng các xóm như gà đua gáy lúc mò sáng. Một đội du kích lạ mặt đang gọi nhau tập hợp trên sân nhà cạnh đường, dưới mưa lâm râm. Hơn chục thanh niên đang dựng một cổng chào chỗ đầu dốc xuống bến phà, ném vào lưng Khánh mấy câu chế giễu rất độc. Anh chợt nhớ ra cái băng may theo cờ Việt Minh trong túi dết, vội rút ra đeo vào cánh tay trái, gài kim băng. Phà cập bờ. Một anh phu phà vuốt nước mưa trên mặt, đưa nắm tay chào kiểu Việt Minh: - Mời đồng chí chỉ huy xuống trước. Mưa trên bùn dưới, người giữa, cánh quân từ tổng An Sơn cứ thế kéo đi giành chính quyền. Phần lớn anh em xin được tơi lá và nón trong các xóm. Người ít lo xa nhất cũng ghé vào nhà ven đường xén hai tàu lá chuối tươi, rạch một đường giữa bụng mỗi tàu, xỏ đầu qua đường xẻ, đi dưới cái áo khoác bập bềnh xanh mướt hình chữ nhật ấy cho đỡ ướt. Chỉ riêng tiểu đội nữ của Năm Bưởi bị ngấm đẫm nước mưa. Các cô tuyên bố rất đanh: ra trận mà tơi nón tùm hụp như người giữ vịt là quá ư khó coi, phải anh dũng xông pha mưa nắng. Đến khi trời xối nước túi bụi giữa đồng trống, các cô bắt đầu đánh đàn mồm vài cô mặc áo mỏng phải nhờ bạn cầm hộ cây mác để dành hai tay úp lên ngực. Được hơn chục cây số thì trời tạnh. Đường dưới chân dần dần nhạt màu, thêm một quãng ngắn nữa thì chẳng còn dấu vết nào đã từng mưa. Dân vùng ven núi đã quen như vậy, xóm này mưa xóm kia vẫn nắng. Từng tốp đồng bào lẻ tẻ đi ngược chiều trên đường đá, mỗi lúc một đông. Cả Chanh chặn một nhóm có vác theo cây cờ đỏ cuộn tròn: - Mít-tinh đâu có bà con? - Ở huyện chớ đâu! - Ủa, ta lấy huyện rồi à? - Hơ hơ hơ, mấy anh trên trời rớt xuống hay sao chớ! Kéo biểu tình cướp huyện hồi xế trưa, làm các mách-tin đông nghẹt hết chỗ chen... Du kích trên An Sơn xuống hả? Đồng bào tay không đi trước, du kích vác súng theo sau hả? Hớ hớ hớ... Chanh ngây mặt ra, bàng hoàng. Mình nhớ kỹ lắm mà. Chiều nay hội quân dưới chợ Đông Phù, sắp xếp đội ngũ, phóng người đi báo động khắp các tổng. Sáng mai mít-tinh khổng lồ ngay bãi chợ, đọc lời kêu gọi tổng khởi nghĩa, sau đó cho lực lượng võ trang đi trước, đồng bào trương băng cờ theo sau kéo lên chiếm huyện. Sao lại sớm một ngày? Chanh quay lại Năm Chò: - Anh em làm trước ngày hẹn rồi. Ta chạy mau xuống coi thử. Năm Chò hét như sấm: - Tất cả bắt đầu chạy! Lích kích. Bịch bịch. Rổn rảng. Hàng dọc tuôn về phía trước, chỗ thưa chỗ dày. Mới chạy vài cây số cánh quân đã đứt thành nhiều khúc cách quãng. Dân cày và dân rừng quen gánh nặng, leo dốc cao, khiêng cây lớn, không quen chạy đường trường. Cách huyện chừng một cây số, Chanh hổn hển gọi Năm Chò: - Anh em rớt xa rồi. Cho dừng lại, xếp hàng chỉnh tề đi vô huyện.. Mấy nhóm đồng bào gặp cuối cùng đều nói Việt Minh đã treo cờ và đặt lính gác trước cổng huyện. Ai đến muộn đều kéo vào sân huyện đường, xếp hàng, có một ông ra tung hô cho bà con chào cờ, lại tung hô khẩu hiệu cho bà con hô theo, rất là vui. Du kích ngồi bệt xuống thở, tản ra đi đái, sửa sang các thứ trên người. Những cụm năm ba người rớt sau đến lần lượt. Năm Chò kín đáo khều tay Sáu Cam, đi thẳng vào các bụi mua và ngũ sắc bên đường. Cam ríu ríu di theo. Đến chỗ khuất, Năm ngồi thụp xuống búng ngón tay đánh tách. Cam với cái bi-đông rượu bên hông, cởi luôn cái nải đeo sau lưng. Năm tu một hơi rượu chép chép miệng, tu nữa. Cam mở tấm mo cau, gói thịt nai khô đã nướng và đập mềm. Năm xé miếng thịt nai nhai ngấu nghiến. - Ăn đi Cam... Thứ thịt nai tẩm mật ong nước mắm của bà Tư, ăn vô bảy ngày còn thơm trong miệng. Lát nữa nhớ đưa anh cả ăn với, mà đừng để ảnh thấy cái hồ lô của anh. Lỡ thề chừa món nước thánh rồi, mà Trời Phật chẳng chịu phò hộ, biết làm sao! Trong khi ấy, Cả Chanh lảo đảo bước tới một thân cây ven đường. Dạ dày anh cuộn xoắn lại, thốc lên cổ. Anh vịn tay, cúi đầu, cố mãi chỉ nôn ra được một ít nước chua loét. Anh vuốt ngực một lúc mới đỡ đau tức. Chợt nhớ ra, anh mở gói sâm của Khánh, ném vào miệng luôn ba lát, ngồi dựa gốc cây, thấy mình tỉnh dần lại. Tiểu đội nữ chạy đến kịp, không ngồi thở mà thì thào gì đấy rất vội, kéo thẳng vào một cụm cây vắng khá xa. Chanh mỉm cười mệt nhọc. Làm tàng hoài, bây giờ lo cởi áo quần ra vắt giữ cho ráo để vào nơi ngàn mắt cùng nhìn! Mấy cậu bụng báng sốt rét chạy cuối cùng đã đến nơi. Năm Chò cho xếp hàng thật chỉnh tề. Tám Doãn vác cây cờ lớn đi giữa lòng đường, mỗi bên có ba tay súng yểm hộ, tính cả súng săn hai nòng và súng hơi. Các đội chia hai hàng dọc đi tiếp. Ba tấm băng vải mang theo bị ướt nặng, chữ dán bằng giấy rụng rách nhiều, đành cuộn lại vác suông. - Tất cả đi đều theo tiếng còi của tôi. Nhắc lại nè: tích là chân trái, phía tay cầm chén. Te chân mặt, phía cầm đũa. Bắt đần nghen... tích te tích, tích te tích... Năm Chò biết anh em không quen đi sải chân bước dài, thổi còi nhịp gấp cho dễ đi. Cánh quân tiến vào phố huyện, trẻ em người lớn túa ra xem, trầm trồ khen đoàn này rất là nhà binh và mang súng thứ thiệt. Hai cậu gác trước cổng huyện rập chân đứng nghiêm, súng cắm lê dựng đứng, nghĩ sao lại lần lượt chuyển súng qua tay trái, đưa nắm tay phải lên chào kiểu Việt Minh. Trong khi Năm Chò dàn quân trước trụ cờ, đi ngắm từng hàng cho ngay ngắn, Cả Chanh chạy lên thềm. Anh bí thư huyện ủy bước vội ra, ngửa tay phân trần phủ đầu: - Sai hẹn, đồng ý, mình nhận... Có điều tụi trong huyện rập rình chạy trốn, phải nổ sớm một buổi. Huy động hai tổng Cát Lộc với Đông Phù thôi, cũng được hơn chục ngàn... - Trôi chảy không? - Gọn trơn. Tri huyện ra cổng vái như tế đình, lính lệ xếp hàng giao súng. Các khoản khác tạm gác tới mai để lo đón đồng bào kéo tới nườm nượp... Anh em xong rồi kìa! Anh kéo Cả Chanh bước tới trước thềm, chỗ quan huyện thường đứng hiểu dụ, cất lên giọng khản đặc nhưng còn nghe được: - Ủy ban nhân dân cách mạng huyện Tây Quảng nhiệt liệt chào mừng các đồng chí du kích tổng An Sơn. Trong khi anh chị em vỗ tay và hoan hô lộn xộn, anh bí thư nói khẽ: - Nói giùm tao đi Chanh, tức ngực quá... Đồng chí Phan Chanh người lãnh đạo trực tiếp của các đồng chí, nay là phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Nam, sẽ phát biểu với các đồng chí! Trong hàng có rất nhiều tiếng “ồ” ngạc nhiên. Thanh niên làng Linh Lâm và chung quanh tìm đến theo anh Cả Chanh chánh trị phạm vượt ngục, con ông Tư Chua lò rèn, đâu có biết ảnh là ông gì! Ngay những người gần gũi nhất như Năm Chò, Tám Doãn, Năm Bưởi, Sáu Cam cũng sửng sốt không kém bởi anh chưa hề nói thứ bậc bao giờ, chỉ từng lúc bảo đi họp xa, vậy thôi. Mấy lát sâm giúp Chanh khỏe lại. Anh cố nói thật to, dằn từng tiếng: - Chúng ta đã thu thắng lợi bước đầu, làm chủ huyện Tây Quảng giàu đẹp! - Nhưng nhiệm vụ chúng ta còn nặng, rất nặng: góp sức chiến đấu để giải phóng các phủ huyện khác, làm chủ tất cả tỉnh Quảng Nam. Các đồng chí có sẵn sàng chiến đấu không? - Sẵn sàng! - Có sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc không? - Sẵn sàaàng! - Việt Minh muôn năm! - Muôn năăăm! - Việt Nam độc lập muôn năm ! - Muôn năăăm! Anh chị em ở đây đã nghe Cả Chanh nói rất nhiều lần trong chòi rẫy, trong các buổi học chính trị, trong những cuộc mít-tinh ngày càng lớn của tổng An-Sơn. Anh chấm dứt bằng một lệnh ngắn: - Đồng chí Năm Chò chỉ huy chào cờ! Đáng lẽ chào lá cờ đang bay cũng được, nhưng ban nãy Năm Chò cho kéo xuống để làm lễ riêng cho du kích tổng An Sơn đỡ thiệt thòi vì đến muộn. - Nghiêêêm.. phắt! Chào cờ......chào! Năm Bưởi từ từ kéo dây bằng đôi tay quen kéo bễ thật êm, không giật khớp, nhưng sao cô run quá. Những nắm tay đưa ngang vai trong hàng cũng run. Và Cả Chanh tưởng mình đã chai lì với những nghi thức của cách mạng, bỗng ứa nước mắt khi ngước nhìn theo lá cờ đỏ thong thả nhích lên, càng vươn cao càng xoè rộng, quẫy mạnh, khi tới đỉnh thì đập cánh thành tiếng phần phật nghe rất rõ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 10:32:14 am 18. Hai Khánh cưỡi ngựa qua chợ Đông Phù giữa lúc hàng cây số đồng bào với băng cờ rừng rực sắp tiến vào huyện. Liên tiếp nhiều người chặn hỏi anh: quân ta định nổ súng hay không, chỗ nấu nước uống nên đặt ở đâu, lính huyện chống cự thì tiến hay lùi. Anh đáp chung chung, giục ngựa đi gấp cho kịp. Trong túi áo anh có hai tờ giấy của Cả Chanh. Một tờ giới thiệu anh là phái viên của Việt Minh làm nhiệm vụ đặc biệt, một lá thư gửi quản Lược. Cả hai đều đóng con dấu đỏ: “Ủy ban Việt Minh tỉnh Trần Cao Vân”. Dọc đường mở ra xem kỹ lại, Khánh trố mắt khi đọc dòng tên ghi bên dưới chữ ký của Chanh: “Phan Thanh Trà, phó chủ tịch lâm thời Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Nam”. Rõ ràng là Cả Chanh chỉ ghi chức của mình để tránh hiểu lầm, thêm sức nặng. Té ra Khánh gắn bó với ông khá to của Việt Minh mà không biết. Tất cả những thứ trao cho Chanh sáng nay quả là gieo cầu đang nới! Đến cạnh cổng phủ Thăng Bình nửa cây số, Khánh lột cái băng nền đỏ sao vàng cất vào túi. Vùng dưới này nổi dậy chậm hơn Tây Quảng đôi chút. Đám nha lại và lính lệ trong phủ rất quen với vóc người cao lớn và bộ mặt trắng trẻo đẹp trai của cậu cử Khánh. Cậu ra vào thường cưỡi con ngựa Tía đi thẳng qua chỗ gác, chỉ gật đầu chào người lính ưỡn ngực đứng nghiêm. Lần này Hai Khánh cẩn thận xuống ngựa dắt tới cổng, vẫn bị một tiếng quát chặn lại: - Đi đâu? - Tôi vào gặp quan phủ Đỉnh, ba tôi... - Không vô được! Khánh nhận ra người gác là tay lính lệ chuyên hầu quan, thường đón ngựa và vác va-li cho anh, thưa bẩm thật dẻo. - Anh Hợi này, tôi... - Xê ra! Khánh đứng sững, không đoán được những gì đã xảy ra ở đây. Nếu Việt Minh đã làm chủ thì sao trụ cờ bỏ trống? Hay là số thuộc hạ đã bắt giam phủ Đỉnh, như thế họ dại gì không tóm luôn mình? Viên đề lại già nghiện đến choắt người trông thấy Khánh, bước vội ra cổng, kéo anh lùi xa chỗ gác, thì thào: - Quan trốn rồi. Không về trên nhà à? Cũng không báo tin cho cậu? - Dê-rô! - Ổng đi chiều hôm qua. Chất hết đồ đạc lên chiếc xe của phủ, nói là chuyển bớt về tỉnh cho gọn. Con ngựa ổng đem đi giấu trước rồi. Ác cái còn bao nhiêu công quĩ ổng hốt đi sạch, lương chưa phát xu nào. Sáng nay anh em họ biết, tức điên, dọa xách súng đi lùng bắt ổng. Đồng tiền liền khúc ruột mà... Rồi chẳng ai dám đi. Việt Minh gởi thư ra lệnh nghiêm lắm: tri phủ với nhơn viên binh lính phải túc trực tại lỵ sở, cấm bỏ trốn hay đi xa, cấm ăn cắp công tài công sản, cấm phá hoại khí giới vật dụng. Vậy mà ổng lủi một mình. Đây rồi mấy ông Việt Minh lại nhè bọn này mà khảo: xe đâu, tiền quĩ đâu... Lão cười gằn, mặt đanh hẳn lại: - Trứng gà nở cả lứa ấp, Việt Minh nổi dậy khắp cả nước, để coi ổng chạy trời có khỏi nắng không! Cậu đi đi. May là thằng Hợi nó còn nể, người khác đang bận các tư kỳ sự 1 không họ ùa ra bắt cậu làm con tin, cực lây! Khánh nhảy ngay lên ngựa, cho quay đầu gấp, thoáng thấy hai người từ góc sân xách súng chạy ra cổng, kêu gì không rõ. Anh giật cương thúc gót cho phi nhanh. Đám lính không dám bắn súng hay đuổi theo bên ngoài phủ, hú vía! Đến quãng vắng, Khánh buông lỏng tay cương, phân vân. Anh đoán phủ Đỉnh trốn ra Đà Nẵng nhưng chắc không dám ở trong nhà Mỹ Duyên, nơi quá nhiều người biết. Làm sao hù dọa thêm cho lão biến đi càng lâu càng tốt? Còn làm theo lời khuyên dễ sợ của Duyên, tạo ra một “tại nạn nơi rừng núi”, thì dứt khoát không là không. Thế là lão bị cách mạng xử sét chứ Khánh chẳng có thù riêng gì với lão. Không thể giết một mạng để giành người đàn bà, nhất là giết kẻ làm chồng của mẹ mình. Nghe tiếng trống đại nổi ẩm ầm đâu đó gần đường. Khánh chợt nhớ, lại rút cái băng Việt Minh cài vào tay áo. Tức cười thật, mình cứ phải đổi vai trung nịnh đến bao giờ mới yên một bề? Khi Khánh bước vào quán cơm, hàng chục cặp mắt chằm chằm nhìn anh, đầy kính nể. Khánh mặc ka-ki và đi giày da trông rất “có thớ”. Ông Việt Minh này chỉ đeo túi dết, không phô súng lục ra ngoài, nhưng chắc cỡ bự mới được đi ngựa... Anh hỏi mua thóc cho ngựa ăn. Bà chủ quán xúc nửa ang lúa trút vào chậu, tưới nước trộn kỹ, bưng đến tận miệng con Hường. Phần anh không dám ăn no sợ ngựa xóc bụng, chỉ lùa vội hai tô mỳ Quảng, thỉnh thoảng lơ đãng đáp một câu chào hỏi nào đó. Chung quanh càng tin anh là ông to Việt Minh, họ sống đạm bạc mà kín tiếng lắm. Ông bà chủ quán không nhận tiền, nói dõng dạc rằng ủng hộ quý ông Việt Minh gấp mười bấy nhiêu cũng chưa xứng. Đã lên ngựa, Khánh còn vẫy chủ quán ra ngoài, hỏi nhỏ xem có biết quản Lược nay ở đâu không. Quân hắn hay đóng trong trường sơ học gần quán này. Ông chủ thì thào nói cái điều bí mật mà khắp vùng đều biết: quản Lược kéo quân về trại Bảo an binh của tỉnh. Khánh vừa đi khỏi, ông chủ bước vào, ngửng cao đầu, trả lời chung mọi người: - Sắp đánh vô tỉnh rồi nghen! Tất cả các hàng quán và nhà ở sát đường đều đông người. Đồng bào vừa biểu tình về, hay sắp dự mít-tinh, hay từ các xóm khuất đổ ra đường ô tô đón nghe tin mới nhất, hay chỉ rộn rực bồn chồn vì tiếng trống mõ cuộn xoáy đầy trời đến nỗi không làm ăn gì được nữa? Khánh cho ngựa chạy nước kiệu để đỡ bị chặn hỏi những câu không trả lời được. Tiếng máy bay ù ù đến từ phía Nam. Anh dạt vào dưới một bụi tre rậm, chờ. Một chiếc máy bay hai động cơ, bụng chửa to phềnh, bay thấp và rất chậm dọc quốc lộ Một. Một tốp dân quân cầm gậy tầm vông có cuộn dây buộc trên đầu cũng nép bên anh, gọi nhau: - Nó đeo bom dưới bụng! Coi thử có hầm không? Khánh nhận ra loại thủy phi cơ Ca-ta-li-na đã xem trong ảnh tạp chí, với cánh và động cơ lắp trên cao không dính thân, trên đuôi đứng in hình sao trắng. Anh nói to: - Nó đeo phao đỡ đầu cánh đó không phải bom! - Thiệt à anh? Mời anh vô nhà uống nước, nói tình hình... - Xin lỗi, tôi bận việc gấp, để khi khác. Định đi luôn, nhưng Khánh nghe tiếng ù của động cơ lại nổi to hơn. Máy bay nữa chăng? Anh xuống ngựa phòng xa. Nổi rõ dần tiếng ô tô. Một đoàn xe nhiều chiếc từ phía nam chạy ra trên đường nhựa số Một, cách chỗ anh chừng năm chục mét. Anh dắt ngựa vào buộc mé trong cổng, chọn chỗ khuất sau hàng rào tre đứng nhìn. Anh em dân quân, dàn ra, quỳ một gối, đơm gậy về phía trước thay súng, nghiêm như tập trận. Dẫn đầu là một xe bọc thép bánh cao-su sơn vằn vện, cắm cờ Nhật trước mũi, chĩa hai họng súng máy khá to. Nó chạy chậm qua cầu, lại rồ máy vọt nhanh. Tiếp đó là xe tải, tất cả đều chất đầy đồ đạc lỉnh kỉnh hoặc bao gạo, mỗi xe có chừng năm bảy lính ngồi lộn xộn, súng chĩa sang hai bên. Bêu dưới những mũ vải lưỡi trai chỏm tròn có ba mảnh rèm bay lất phất là những bộ mặt lầm lì, sa sầm, râu phủ rậm đen. Áo quần và xe đều cùng màu vàng sẫm của đất xét như vừa dưới ruộng lội lên. Từng quãng chen những xe kéo đại bác phủ bạt kín, ba bốn khẩu liền nhau. Lại thêm những xe khách chạy than, đeo bình ga-dô-gien hình trụ to tướng, lính Nhật ngồi cả trên nóc. Chỗ đầu cầu có một cổng chào bằng tre dựng khá cao, căng tấm băng đỏ chữ vàng “Việt Nam độc lập muôn năm”, cắm ba lá cờ đỏ sao vàng, quân Nhật không động đến, chỉ nhìn thờ ơ. Chắc hẳn chúng đã chui dưới hàng trăm cái cổng chào như thế dọc đường từ Quảng Ngãi hay Qui Nhơn ra, cũng hết sợ hãi và tò mò. Hàng triệu quân Nhật rải khắp từ vùng băng giá miền bắc xuống quá đường xích đạo phía nam, xây đắp thành nổi hầm ngầm trên các đảo lớn nhỏ của Thái Bình Dương, súng đạn xe pháo còn từng núi, đã quỳ gối đầu hàng. Chúng ta đang nổi dậy. Những triệu người đói ngắc ngoải ở Bắc Kỳ nổi dậy. Những người bên Khánh đây cầm gậy và sợi dây dừa nổi dậy. Dân tộc của Ông Gióng đang đẻ ra vô vàn Ông Gióng mới... Tiếc quá, mình không biết làm thơ. Mình chỉ nhắc lại những ý sẵn có sẵn đọc lướt qua trong những cuốn sách tình cờ cầm lên trong buồng các bạn sinh viên Hà Nội. Mình nhớ loáng thoáng những đoạn bài hát không đầu đuôi trong giới trẻ Hà Thành, ăn chơi có, ái quốc có, đỏ lòm cộng sản có. Cách mạng đang thiếu bài hát, có thằng Chương em mình ở đây thì hay, thằng Rô-be Chương mê nhạc bỏ cơm, nó sẽ sáng làm nhạc hùng tráng cách mạng, tối soạn một bản gục đầu nhớ em... - Chắc hết xe rồi anh. Mời anh vô uống nước, giải thích cho tụi em... - Xin lỗi các đồng chí, tôi phải đi gấp. Khánh nhảy lên ngựa, giật cương, anh còn nhớ quay lại, giơ nắm tay lên chào các bạn dân quân đang sịu mặt. -------------------------------------------------------------------------- 1. Ai lo việc người ấy. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 10:35:27 am * * * Khoảng bốn giờ sáng, một chiếc mô-tô ba bánh và hai xe than chở khách chạy tới trước cổng huyện Tây Quảng. Người gác đang ngủ đứng trong cái chòi gỗ nhỏ. Chiếc xe khách đi sau cùng chẳng hiểu vì sao phóng ra một tiếng còi dài. Đoàng! Phát súng nổ trong chòi gác. Mấy chục du kích trải tơi lá và chiếu rách ngủ trên sân huyện đường choàng tỉnh dậy, chụp lấy võ khí bên mình. Năm Chò hét lớn: - Đứa nào bắn? Tước súng, giam liền cho tao! Coi trúng ai không? Chẳng ai xơi đạn cả. Người gác bị túm tay lôi đến chính là Sáu Cam, mặt tái như lang ben đã ăn kín da. Năm Chò ngớ ra một loáng lại thét: - Thu súng lại, để nó lát tao hỏi! Cả Chanh không để ý đến phát súng nổ bậy, nhảy vội lên thềm, vừa gặp anh bí thư huyện ủy từ trong chạy ra. - Kiếm được hai xe rồi. Đưa hết số biết chiến đấu xuống tỉnh, đem hết súng xuống, thằng quản Hưng có thể chống cự.. - Ờ, ờ, để tao... thôi mày lấy sao cho đủ, mày lựa đi... Trên mặt sân còn ẩm sương đêm và mới hiện mờ mờ dưới chân, anh chị em chạy tới lui làm vệ sinh bắc bếp nấu cơm. Cả Chanh họp các đội trưởng các đội du kích lại chọn người. Số súng thu của lính huyện được giao tạm cho du kích hai tổng Đông Phù và Cát Lộc, mỗi khẩu chỉ ba bốn viên đạn cả tốt lẫn lép, người vác cũng chỉ mới biết đóng mở quy lát, nhưng họ phản đối ồn ào khi có lệnh giao hết súng cho đội Linh Lâm được tập nhiều hơn. Sau một hồi dằng co, bốn chục du kích Linh Lâm với mười súng, kể cả súng săn, súng hơi, được lên chiếc xe thứ nhất. Bù lại, Năm Chò phải chia bớt số đạn lấy của hàng binh cho sáu cây mút và anh đô cùng bốn chục người thuộc hai tổng đi xe sau. Trên khắp các góc sân nổi lên những tiếng nằn nì, gắt gỏng, hờn dỗi khi từng đội chọn kẻ ở người đi. Chỉ có tiểu đội của Năm Bưởi lại chơi trội lần nữa: các cô đổ quách nồi cơm chưa kịp sôi cho heo ăn, leo lên chiếm chắc cứng chín chỗ ngồi tốt nhất trên xe đầu, để mặc Năm Bưởi đối đáp với Năm Chò. Những đôi mắt rất sắc của các cô đã nhận thấy lâu nay anh Năm chỉ lên giọng vài ba câu trước khi đầu hàng cô Năm, và chỉ lẩm bẩm khi bỏ đi: “Chào ồi, hơi sức đâu cãi với mấy bà...”. Lần này cũng y vậy. Các đội không kịp ăn, phải nhồi cơm tàm tạm chín vào mo cau, mang theo. Mấy nụ cười, vài câu bướng và nũng của Năm Bưởi đã đủ cho Năm Chò chịu thua, quay hướng khác nói to: - Lỡ rồi, anh em ngồi dồn lại, lên thêm trên nóc, giành với mấy bả mệt lắm... Cả Chanh ngồi trong thùng chiếc xe ba bánh, người lái là con trai ông chủ tiệm sửa xe cuối chợ Đông Phù, đeo dao găm. Hôm qua Chanh đến mượn xe, trong khi cha nói xe hỏng thì cậu con trai lẳng lặng dắt ra đạp nổ ầm ầm, mời Chanh lên. Cậu bảo vệ của anh bí thư huyện ủy đeo cây mút-cơ-tông Nhật ngồi yên sau. Suốt đêm qua họ chạy rất nhiều nơi, lại trưng dụng được hai xe khách để chở quân. Bốn chục cây số xuống Hội An, đi bộ sao cho kịp! Hôm nay tất cả các đường làng biến thành suối người, đường lớn thành sông người. Lớn bé già trẻ gái trai, dao phay, dao chuối rựa bờ, trống chiêng, còi mõ, băng vải rộng và biển cót hẹp, cờ vải cờ giấy chỉ giống nhau ở màu đỏ nhưng rất khác nhau ở chỗ đặt ngôi sao và số cánh sao, cứ thế cả triệu người dân Quảng Nam ào ào đi lấy tỉnh! Đường nghẹt quá. Cậu bảo vệ nhanh trí nhảy xuống chỗ một đoàn nhi đồng, vung nắm tay chào, hô to mấy câu khẩu hiệu, nhổ luôn cây cờ vải cắm trước mặt anh chỉ huy nhi đồng, nhót luôn cái loa bằng mo cau úp bên cạnh. Khi anh kia tỉnh hồi lại thì chiếc mô-tô cắm cờ đã vù mất, thả rơi lại tiếng loa dẹp đường. Nhờ đó, hai chiếc xe khách chạy nhanh lên gần bằng xe đạp, đôi lúc còn nhanh hơn. Càng đến gần trại Bảo an binh, những đoàn trai tráng càng dồn đông hai bên đường. Tới trước một ụ chắn đường bằng những chiếc xe bò lật úp sấp. Chanh cho quân xuống xe. Một người cưỡi ngựa lách tới, mặt đầy mồ hôi, kêu: - Anh Chanh! Khánh đây! - May quá, đang tìm anh... Gặp nó không? - Quản Lược trốn rồi, với gần ba chục lính. Thằng Hưng bắt lấy thép to cột cổng, nó ngồi sau cây Hốt-kít 1, dọa ai mở cổng nó quét chết. Không vô được. Chanh rút súng ngắn cầm tay, gọi quân mình đi dưới vệ đường về phía cổng trại. Anh Tô Xáng từ sau bức tường xô ra: - Chanh, Chanh, ghé đây, cho anh em núp chỗ khuất đã! Đang lúc căng thẳng mà Chanh suýt bật cười. Anh Xáng quen mặc bộ bà ba đen bạc màu của dân chài. Hôm nay quân sự hóa bằng sơ-mi-dét và quần soóc bằng ka-ki vàng, dép da, đội cái mũ Tây thuộc địa sâu hoắm, cây súng lục ru-lô giắt vào thắt lưng ngay chỗ rốn. Với chòm râu mép đen rậm, trông anh hệt một bác cai lục lộ hoặc xu-vây-đăng đồn điền cao su. Một ông già ngồi xổm chỗ Chanh bước vào. Anh Xáng nói nhanh: - Bác này là cha quản Lược. Hắn trốn ra nhà bà con cách đây vài cây số, thấy đồng bào vác dao gậy đông đen, sợ quá, không dám chạy cũng không dám hàng. Mình đang nói bác kêu hắn tới đây, gọi loa vô trại. - Đưa xe đón hắn được không? - Đường làng, nhiều mương xẻ, đi bộ hay đi ngựa thôi. - Hay để Hai Khánh đi ngựa vô cho mau? Xáng vừa ừ một tiếng, đã với ngay: - Khoan, cậu đó đang cần việc khác. Mượn ngựa cho người khác đi. Chanh bước sải tới chỗ du kích đang ăn cơm nắm trên bãi cỏ sau bức tường dài: - Anh em mình ai biết đi ngựa, giơ tay coi. Chỉ có một cánh tay chìa lên rụt rè của Sáu Cam, Chanh sực nhớ em mình đã ỏ giữ ngựa cho ấp phủ Đỉnh, Chanh vẫy nó ra: - Em cưỡi con ngựa anh Hai Khánh được không? Cam tươi mặt lên: - Con nào chớ con Hường thì quá dễ. Nó thân với em. - Bạn cũ hả? Em chạy đi tìm anh Khánh, nói ảnh cho mượn ngựa một lát. Anh đang nghỉ trong quán. Dắt về đây, anh chỉ đường. Chanh rút một tờ khống chỉ đóng dấu đỏ viết vội thư cho quản Lược. Anh bảo ông già gửi kèm thứ gì đó hoặc ký vào giấy cho con mình tin. Ông lẳng lặng rút kính lão ra đeo, cầm bút của Chanh viết luôn: “Con cứ tin cha, mau mau tới gặp cấp chỉ huy Việt Minh!”, kèm một chữ ký khá bay bướm. Thì ra trước đây ông là thư ký hãng buôn tư. Tìm đường và nhà không khó vì ở gần một chùa to. Khi trở về, Cam sẽ ngồi chung yên với quản Lược cho nhanh. Chanh mượn một lá cờ nhỏ đưa cho Cam: - Tới chỗ bị chặn thì phất cờ, nói đi giao thông nghen. Cam hết hẳn cơn sợ bị phạt vì súng nổ cướp, kiêu hãnh đạp chân nâng vọt lên yên. Sau khi trở về Linh Lâm, trong một lần anh Khánh đến lò rèn, Cam với con Hường đã nhận nhau, nối lại tình cũ nghĩa xưa. Con ngựa về già có những thói riêng mà chỉ có Cam đoán ra. Nó mến Cam hơn những người đã giữ nó trước và sau thằng bé. Nó không giở những trò thử sức người lạ, vui vẻ chạy nước kiệu theo hiệu cương của bạn mình. ---------------------------------------------------------------------- 1. Đại liên Pháp kiểu cũ Hotchkiss. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 10:39:01 am Mấy chục cái loa bằng sắt tây, mo, giấy cùng chõ vào Trại bảo an binh từ nhiều phía, gọi hàng không ngớt. Các đội du kích, tự vệ kéo về mỗi lúc một đông vây vòng trong, vòng ngoài, hô đồng loạt như sấm nhưng ghìm súng chưa bắn. Xe lớn xe nhỏ nối nhau đến, trút người xong quay đầu ra về hoặc rẽ vào các ngõ xóm đợi thông đường. Rất nhiều anh đeo băng đỏ đạp xe hay cưỡi ngựa đi tìm một đồng chí nào đó dưới ánh nắng mỗi lúc một gắt.
Tiếng hoan hô chợt nổi lên rào rào ngoài xa, lan đến gần. Trên chiếc xe tải chạy chậm, một người đen và gầy bưng cái loa to tướng bằng cả hai tay, hét lớn và rời từng tiếng: - Ta làm chủ Hội An rồi! Tổng đốc Quảng Nam hàng rồi! Hết thảy các phủ huyện về tay cách mạng rồi! Hoan hô! - Hoan hô, hoan hôôô... Mười phát súng nổ lốp đốp chung quanh trại Bảo an binh, bắn lên trời hay bắn dọa vào cổng vắng người. Khi phát lệnh tấn công mới được bắn vào các nhà lính và lô-cốt. Một tiếng nổ ầm trại. Một bựng khói trắng phọt ra, loang rộng ngay trên thềm tòa nhà chính. Gì vậy? Coi chừng nó bắn súng lớn. Nó phóng tom-lông Vê Bê 1, nằm xuống... Mấy người lính chạy ra trước gân, phất qua lại những áo trắng buộc đầu gậy. Trên các vọng gác cũng thò vải trắng ra vẫy. Một người nữa vung khăn trắng bằng tay trái, cầm cái kìm to chạy tới cổng, cắt vội vã những sợi dây thép buộc hai cánh sắt vào nhau, xô bật cổng sang hai bên. Cả Chanh vung súng ngắn, kêu: - Theo tôi! Theo tôi vô đồn! Anh Xáng chụp cái loa mo cau, chạy theo. Họ vào trước hết nên không bị chen lấn. Hàng ngàn người gậy gộc giáo mác dao rựa ùa ùa vào sau, vướng nhau tuy cổng khá rộng. Xáng gào khản cổ trong loa: - Trật tự! Không động tới lính ra hàng! Không được tự tiện lấy súng đạn đồ đạc! Tất cả du kích tự vệ đều thấy rõ Bảo an binh đầu hàng mở cổng nên không ai chạm đến họ. Nhưng các khoản súng đạn thì không cưỡng nổi, người thật thà nhất cũng hốt một vốc đạn hay nhét vài quả lựu đạn vào khăn gói, túi dết, lưng quần. Xáng túm Cả Chanh rồi Chanh túm Năm Chò: - Cho đội Linh Lâm gác cổng mau. Ai ra, soát thu lại võ khí, nói để sau này chia đều. Bắn bậy rồi đó! Các góc trại lác đác có súng nổ, mỗi lúc một tăng. Một người bắn, vài người gần nhất cũng lên đạn “thử một phát cho sướng cái tay” mọi người chung quanh chợt nghĩ rằng không bắn cũng dại, rốt cuộc tất cả những ai chụp được súng đều chĩa lên trời bóp cò. Nhật phát cho bảo an binh toàn đồ tốt, chẳng phải như thứ súng văng ốc vít và đạn vừa bắn vừa khấn cho thoát nạn ở các phủ huyện, nổ nghe khoái tỷ vô sô kể! Mất gần nửa giờ mới chặn được nạn bắn chơi, nửa giờ nữa mới đưa hết những người tấn công ra khỏi cổng, thu lại một phần vũ khí. Một phần thôi, vì có vài đội tự vệ cắm lưỡi lê vào những cây súng vừa lấy, xếp hàng xong mới chĩa lê chạy ào qua cổng, du kích phải dạt ra trong khi họ cười hô hô. Mấy người đi lẻ không dám liều đến thế, chỉ năn nỉ ỉ ôi “cùng đi đánh giặc với nhau cả mà”, du kích mủi lòng để cho ra với tất cả súng đạn trên mình. Xáng, Chanh cùng mấy người nữa đến xem chỗ tên quản Hưng nổ lựu đạn tự sát. Hắn văng ra sau khẩu đại liên Hốt-kít lắp ghế ngồi bắn trên chân. Hắn ngồi đấy đến vài giờ, tu cạn chai này đến chai khác, nhắm với lạp xường chất đầy một đĩa to, sẵn sàng quét đạn qua cổng. Khi rượu và hi vọng đều hết sạch hắn mới chịu chết, trong miệng vẫn còn một khúc lạp xường nhai chưa xong khi ruột đổ ra ngoài. Con ngựa chở Cam ngồi trước và quản Lược ngồi sau chạy tới trước thềm. Lược nhảy xuống trước, mặc sơ-mi trắng quần xanh của thanh niên Phan Anh, đứng ngó quanh lúng túng. Cam xuống sau túm tay Chanh phân trần: - Em nói miết ảnh mới chịu đi, còn phải đợi mượn đồ mặc... Vậy là hụt mất, tiếc ghê. Lược có bộ ria xén hình dấu mũ rất lẳng, duỗi tay sát sườn, cúi đầu chào chung theo kiểu Nhật, gật nhanh và ngửng nhanh. Anh ta phân trần: - Tại thằng Hưng dọa giết em mấy lần, thế nguy em mới trốn, cũng kéo theo được vài chục lính. Bây giờ các ông, các anh giao việc gì em cũng xin làm. - Anh cho tất cả xếp hàng giữa sân, nắm lại còn bao nhiêu người và võ khí. Một người nữa đứng trong góc ngắm quang cảnh chung và theo dõi nhóm của Chanh, đó là Hai Khánh. Sau khi cho mượn ngựa và lột băng tay bỏ túi, trông anh ta lại giống một cậu thủ lãnh thanh niên nơi thị trấn nào đó, vừa được cử đã sắm ngay một bộ sang để vây vo trước các cô hàng xén phố chợ. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Pháp. Tromblon VB: ống phóng lựu kiểu V.B, lắp vào đầu súng trường Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 10:42:10 am Khánh tưởng các anh lãnh đạo khởi nghĩa sẽ làm lễ truy điệu quản Hưng, hay ít nhất cũng xếp hàng cúi đầu trước người dũng cảm thà chết không hàng, như trong bức tranh nổi tiếng vẽ bộ tham mưu quân Áo đứng mặc niệm trước thi hài tướng Pháp Mác-xô. Nhưng một anh nhổ nước bọt kêu hôi quá, anh khác bảo thằng Hưng tuyên bố ngày nào không thấy máu là ăn không ngon, và Cả Chanh quay hỏi đằng sau:
- Ai biết vợ con nó ở đâu, cho báo ngay để đem về chôn. Khánh thấy mặt mình nóng rực lên. Mình nhận cách mạng là chân lý, mình theo các mạng, nhưng tại sao khi đụng vào một việc cụ thể nào đó mình cứ nghĩ khác, trượt sang bên cạnh một người? Tên “hung thần xứ Quảng” này lồng lộn đánh phá cách mạng bao nhiêu năm, đến phút cuối vẫn lồng lộn chống cự. Đời nó đã xối máu những người yêu nước đủ cho nó tắm ngập đến cổ, thế tại sao đứng trước xác nó mình lại thầm khen nó “thà chết không hàng?” Anh chầm chậm bước xuống bậc thềm bên hông nhà, bỗng thấy ngấm mệt đến rã rời chân tay sau một ngày rưỡi đầu óc căng như dây đàn và đổi vai trò liên tiếp. Anh cần một giấc ngủ dài, cần tắm giặt, và... cần Mỹ Duyên. Một anh bạn chụp ảnh ở Hội An hôm nay phóng mô tô đi chụp ảnh tổng khởi nghĩa hết ba cuộn phim “đáng giá ngàn vàng”, đang chạy mua xăng hay cồn lậu và rủ Khánh chở nhau ra Đà Nẵng chụp tiếp. Loại mô-tô-bê-can này Khánh lái được, anh kia cứ ngồi sau mà bấm thả cửa, vài chục cây số thôi, xả hơi đến sáng mai thôi... Trại Bảo an binh có chuồng ngựa rộng mà chỉ còn hai con. Cam vừa tìm ra thóc, đang cho con Hường ăn và chải lông cho nó, thỉnh thoảng nắn các khuỷu chân hay đấm đấm các bắp thịt vai, bắt một con ve dưới nách. Từng lúc con Hường ngóc cái mõm dính thóc ướt lên cọ má vào chân Cam, thổi mũi phì phì. Ngựa là giống trung thành nhưng rất kiêu căng, chỉ tỏ cảm tình với người thật xứng đáng chứ không bao giờ nịnh chủ, lại luôn luôn muốn quật vào những ai đó chưa mến phục. Khánh đi vội đến bên Cam: - Em nói anh cả lấy ngựa mà đi. Hẹn gặp nhau ở đâu? - Em nghe anh Xáng nói về tòa sứ Hội An. Ủy ban tỉnh đóng ở đó. Mà anh cả biểu mượn ngựa anh một lát thôi, phải trả để anh đi có việc. - Về thành phố đi xe tiện hơn, khỏi lo cho ngựa ăn ngủ. Nói với anh cả sáng mai anh tới tòa sứ. - Dạ. Mai tổng biểu tình mừng thắng lợi, các ảnh nói vậy, chắc là đông gấp mười bữa nay..... Cổng sau trại đang mở. Khánh kín đáo lách ra ngoài. Quản Lược đã mặc tạm bộ lễ phục trắng của quản Hưng, chỉ hơi ngắn một chút. Anh ta cầm sổ tay bút chì đi qua lại giữa các hàng lính tay không, kiểm lại số quân và võ khí, cử người làm thay các viên cai đội đã trốn, ghép các tiểu đội còn lại quá ít vào nhau, rất thành thạo. Quân chỉ còn hơn bảy chục, súng đã phát cho chín cây, nhưng trong kho khóa cứng có một trăm hai chục súng trường, nhiều súng máy và moóc-chê, rất nhiều thùng đạn chưa khui. Bọn Nhật cố xây dựng đội Bảo an binh này thành một ba-tay-ông 1 mạnh và cơ động để chiến đấu bên cạnh chúng khi Đồng minh đổ bộ, chỉ cay một nỗi là quân mộ được thì ít mà lính vác súng chạy theo Việt Minh hay trốn về nhà cứ ngày càng nhiều. Xáng và Chanh khẽ bàn và quyết rất nhanh: giữ nguyên đội quân này, phát lại cho đủ súng nhưng chỉ mỗi súng trường chỉ ba viên đạn vừa một kẹp mút-cơ-tông - dù sao vẫn phải phòng xa sự bất trắc - giao moóc-chê và súng máy nhưng không giao đạn, quản Lược chỉ huy, đội du kích Linh Lâm phải giữ chắc kho vũ khí không rời một giây, đặt danh hiệu cho đội này là nghĩa binh cách mạng tuy họ không hề khởi nghĩa, cho đeo vải đỏ trên cầu vai để ra mắt quốc dân đồng bào, xếp cho đội du kích Linh Lâm đi sau họ với mỗi người một súng và năm chục đạn, sẵn sàng lao lên chiến đấu... Quản Lược đã sửa hàng ngũ ngay ngắn, hô nghiêm, bước tới báo cáo. Anh Xáng ẩy Chanh tới trước. Trông Chanh oai hơn trong bộ xanh kiểm lâm và súng ngắn cạnh sườn. - Hỡi anh em binh lính! Tôi thay mặt Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Trần Cao Vân nhiệt liệt chào mừng anh em quay trở về với Tổ quốc, với đồng bào với Mặt trận Việt Minh! Chanh cố nói sao xóa được những nét lo sợ còn đọng trên những bộ mặt ngước lên nhìn anh chăm chú. Tiếp lời anh là quản Lược, tay này cố gắng phân trần vì sao mình bỏ trại đi trốn. Một hàng binh đã nộp súng ở Linh Lâm, nhập vào đội du kích, kể lể khá dài rằng Việt Minh thương anh em mình, chẳng có hắt hủi trừng phạt gì hết. Người cuối cùng lên diễn đàn là Năm Chò, với tất cả bộ dạng cai khố đỏ, lúc này có thêm cái bê-rê dẹt kéo xệch sang phải rất ngổ ngáo: - Thưa anh em, tôi là Năm Chò tức là Năm Phi Đao đây! Tôi là cai khố đỏ, vác súng Tây đi đánh giặc khắp tứ xứ. May phước tôi gặp anh cả Chanh, ổng đây nè, ổng mở mắt cho tôi ngó thấy. Té ra mình ngu hết cỡ anh em à. Mình cầm súng cho Tây cho Nhựt, ăn ba đồng lương mới tiêu nửa tháng đã hết, mà nó xuỵt đâu mình phải chạy đó y như con chó bẹc-giê, cụt chân tay thì về ăn báo hại cha mẹ, vợ con, chết xó nào thì vùi luôn xó ấy, làng xóm còn chửi là tại mình dại... Mấy anh Việt Minh bày dạy nhiều lắm, tôi nhớ không hết, nói sơ sơ vậy thôi. Tôi theo Việt Minh lâu nay thiệt là mê, thiệt sáng cái đầu anh em à. Con người nó khỏe ra ghê gớm. Mỗi ngày tôi khôn thêm một chút. Thôi, anh em mình đừng so đo gì nữa, ta theo Việt Minh hết đi các anh biểu gì mình làm rắp rắp vậy là hay nhứt, tốt nhứt... ---------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp. Batallon: tiểu đoàn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 10:45:34 am Năm Chò gãi gãi tai, tìm câu kết sao cho ngon mà nghĩ không ra, nói ào:
- Lâu nay tụi mình bu theo Tây, theo Nhựt, bây giờ phải làm cách mạng giải phóng cứu nước chớ, về bu theo vợ nó khó coi lắm các cha! Hô to nghen, hô thiệt to: Việt Minh muôn năm!... Kìa, đừng hô vạn tuế, mình có chào vua đâu. Muôn năm thiệt rập nè: Việt Minh muôn năm! - Muôn năm! - To nữa, kéo dài ra... Việt Minh muôn muôn năm! - Muôn muôn năăăm! - Ờ, khá rồi đó. À quên, dặn mấy cha vầy nghen: réc-lơ-măng 1 cứ y như cựu cái đã, thay đổi gì ta tính sau, riêng cái vụ ăn nói thì mình kêu nhau bằng anh hay là đồng chí cho nó bằng đẳng, nghe vui lỗ tai, bỏ hết những là quan với ngài đi. Chỉ huy kêu thì đừng dạ, cứ xưng “có tôi” đủ rồi. Thử coi nè: Binh lính đâu? - Có tôôôi? - Ngon rồi đó. Xin chào anh em bằng một nắm tay thân ái! Năm Chò bước xuống, tin rằng mình cởi xong những cái gút giữa đội Bảo an binh và cách mạng. Nhưng Cả Chanh đã rút sổ tay ra, đọc vanh vách khoảng hai chục việc phải làm ngay từ giờ đến tối cho xong. Năm ngớ ra, nghĩ: “May mà có đại ca với quản Lược thu xếp, mình lo nắm đội Linh Lâm khỏe re”. Độp một cái, đồng chí Nguyễn Văn Chò được chỉ định làm chỉ huy trưởng đội Nghĩa binh cách mạng, ông quản Trần Đình Lược làm phó. “Tréo bản họng rồi. Chẳng tránh trớ được nữa rồi!”. Rồi anh thở phào ngay trong trại này, cùng làm việc với anh em nghĩa binh, hú hồn hú vía! Mười phút sau, tất cả anh chị em du kích từ tiểu đội phó trở lên và nghĩa binh từ lon cai trở lên đã tề tựu trong phòng họp. Anh Xáng vội đi trước, chỉ dặn vắt tắt và ra xe, chiếc xe thể thao mui trần của Pháp tới đón anh xuống tòa sứ Hội An. Cả Chanh bắt đầu giao việc với tất cả cái tỉ mỉ khó tính của người thợ khám xe lửa, phải chịu xét xử mỗi khi xe hư xe đổ vì một chỗ hổng nào đó bị bỏ quên, suốt từ đầu máy cho đến toa con cuối cùng của xe-rơ-phanh. Việc của đội Nghĩa binh đơn giản hơn. Phát lại đủ số súng bị tước, mỗi khẩu một kẹp đạn ba viên, kèm số súng cỡ vừa và nặng không đạn. Mỗi người sửa soạn một bộ cánh mới nhất có đeo tua đỏ trên cầu vai bên trái, dấu hiệu khởi nghĩa, để sáng mai đi biểu tình lớn. Quản Lược rất sốt sắng. Anh ta nhận thấy ông Năm Chò không biết chữ và quên đầu quên đuôi hoài. Hay lắm, Lược này bị thằng Hưng quản nhứt đè đầu, nay được dịp trổ tài. Với đồng chí Phan Chanh, anh luôn nhắc rằng mình đang lập công chuộc tội. Với Năm Chò ngộc nghệch, anh hay kéo ra một góc để thưa rằng cần làm ngay công tác gì đó, đợi Năm Chò gật đầu xong là anh bảo lính chạy vo vo, dễ dàng hơn nhiều so với hồi quản Hưng còn sống, lỡ sai điều gì thì đã có đồng chỉ chỉ huy trưởng hứng lấy vạ. Suốt buổi chiều sắp xếp đội ngũ, Năm Chò vui lòng vì óc đỡ rối, quản Lược khoái chí vì nắm thực quyền mà tránh được trách nhiệm, binh lính vừa ý vì từ lính của phát xít sang làm lính cách mạng chẳng có gì đảo lộn quá quắt. Đội du kích Linh Lâm gặp khó khăn nhiều gấp bội. Phải biến ngay những anh chị em dân ruộng dân rừng lâu nay vác giáo đeo ná mà thành một đơn vị Giải phóng quân chỉnh tề súng ống, chiến đấu tốt và bề ngoài đẹp, sao cho dân tin và địch sợ. Quân Nhật từ các nơi đang ùn ùn kéo về Đà Nẵng, trong khi đợi giải giáp vẫn khăng khăng đòi giữ trật tự, chưa chịu né sang bên để ta giành chính quyền. Phải có rất nhiều họng súng chĩa vào, chúng mới chịu nghe lẽ phải... Trong buồng chỉ huy, Cả Chanh đang bơi giữa biển động, khi trồi lên đầu ngọn sóng, khi lộn tròn dưới nước ụp xuống. Cái máy điện thoại kiểu cổ với cán cân đặt trên thùng gỗ vuông réo liên hồi và bị quay liên hồi. Người ập vào lại ào ra. Cắn một miếng xôi, phải nuốt vội để trả lời ai đó. Đặt cốc nước uống dở khi sực nhớ một điều chưa dặn, xô ra cửa gọi giật người đang chạy. - A-lô, alô... Huấn luyện viên hả... Nội vụ lệnh là cái gì anh... Hay quá, anh cho tôi liền nghen! - Không chịu mặc đồ lính Tây là sao? Cởi trần mặc quần đùi mới đúng lập trường hả?... Thôi được nghĩa binh mặc đồ dài, anh em mình mặc sơ mi ngắn quần soóc, được chưa? Hễ đủ vải đỏ thì mỗi người một khăn quàng đỏ trên cổ, oai chán... Ham vác moóc-chê làm gì, chưa ai biết bắn, tống đạn xuống chết đồng bào hay quân mình bây giờ. - Anh Lược soát lại xe hơi với ngựa đi. Tiểu đội nữ không mở kho xăng hả? Cam ơi, Cam, xuống kho biểu chị Năm cho anh Lược lăn ra một thừng phuy xăng. Phuy là cái thùng tròn to nhứt chớ cái gì! Đầu xe cắm cờ Việt Minh may tam giác cho tự vệ khỏi bắn lầm, nhớ nghen. - A-lô, Chanh đây... Đồng ý, cho đội tự vệ tôi đây nhập chung, nhớ mang vài ngày gạo... Hai mươi sáu súng! Có phải cái đội chạy nhào qua cổng trại hồi sáng, dọa đâm du kích của tôi không?... Cứ tới chẳng ai bắt vạ gì đâu, kỷ luật nghiêm là đủ. - Vậy nữa... Các cô mặc thứ gì? Ờ, bà ba đen túm ống quần, cũng dễ coi. Trên đầu dưới chân thì sao? Tính đi guốc, trùm khăn như đàn bà đẻ à?... Giỡn thôi, chưa cần cãi lý sự. Bưởi nè, em cho cô nào biết chưng diện, cầm giấy này xuống tòa sứ, nhờ anh Xáng cử người đi mua đủ số bê-rê với dép cho tiểu đội nữ... Sợ không vừa đầu vừa chân? Chịu thua, xin đầu hàng, các cô ở nhà giữ trại là tốt nhứt! Ném vội mấy lát sâm cuối cùng vào miệng - Chanh đã mở gói chia cho anh Xáng và các bạn - Chanh nói lúng búng trong điện thoại vừa réo: - Chanh đây. Anh Xáng hả... Ôi chao, anh Quý! Ghé chỗ tôi một lát đi anh, đang búi xờm xờm... Kéo ra Đà Nẵng trước hay sau tổng biểu tình?... Quân số một trăm sáu chục. Đội Linh Lâm khá nhứt, tự vệ Hội An, còn lại là nghĩa binh... Xin sẵn sàng! Ba giờ chiều, du kích và tự vệ xếp hàng trên sân, mặc đồng phục ngắn mùa hè, mỗi người một súng với hai bao đạn đầy và lưỡi lê đeo bên sườn trái, giày da đế cộp, bê-rê may bằng ka-ki cùng màu. Anh huấn luyện viên rất ngạc nhiên khi thấy đội du kích từ núi xuống lại thạo động tác quân sự hơn tự vệ thành phố, cho tới kiểu chào súng phức tạp của lính Pháp cũng làm khá rập ràng. Năm Chò đứng ngoài xem, nở mày nở mặt. Nửa giờ sau, đội nữ xếp hàng kéo tới cùng tập. Các cô chạy mượn đâu được bê-rê màu xanh biển của một nhóm thanh niên Phan Anh, dưới chân cũng đủ số dép cao su tráng mác Con Hổ, sau đó tuyên bố không chịu làm nội trợ, ở nhà giữ kho nấu ăn cho các ổng. Cả Chanh lại giơ tay lên trời lần nữa. Bữa tối, quản Lược đặt một tiệc lớn ở quán bên ngoài để mời các vị chỉ huy mới của trại. Cả Chanh đến, thấy đãi sang quá phát sợ, chỉ chúc mừng mấy câu rồi xoa xoa bụng, xin kiếu vì đau dạ dày, đã nhờ Năm Bưởi nấu cho xôi nhão. Các vị còn lại nhậu tơi bời, cuối tiệc Năm Chò còn đủ tỉnh táo để bí mật nhét vào túi dết một chai đế nhứt và một mớ nem chả túm vào khăn tay. Cả Chanh định ngủ sớm mà không tbiếp đi được. Mỗi lần đặt lưng xuống tấm ván kê bên máy điện thoại, anh lại bị người hay chuông dựng dậy. Tỉnh và xứ đưa về những chỉ thị thông báo mới nhất. Các phủ huyện gọi tới “Giải phóng quân chủ lực” để xin súng đạn, cán bộ chỉ huy, có khi báo động rất dữ dội rằng sắp bị hàng ngàn quân Nhật tấn công, trong khi cấp trên thấy rõ bọn Nhật đang co lại. Chanh tiếp khách dồn dập. Khách tới ban đêm là số Bảo an binh vất súng về nhà nằm im, nghe tin lập đội nghĩa binh mới mò đến xem sự thể ra sao, yên ổn thì xin theo. Dù họ đến vì yêu nước, vì xấu hổ với bạn, vì tiếc số lương chưa lĩnh, Cả Chanh đều gặp và sắp xếp. Anh khoái nhất khi viên đội chỉ huy nhạc binh tới xin lập lại tiểu đội kèn trống, cho phép ngay hẹn sáng sớm mai anh em tới nhận việc lập tức. Đồng hồ đeo tay mượn của Hai Khánh chỉ một giờ sáng. Năm Bưởi đã lầu bầu mở kho quân trang lần cuối. Chanh nằm xuống, trông thấy dưới mi mắt nhắm những trăm khuôn mặt loang loáng như bọt sủi, nghe rì rào những trăm cái tên nhắc bằng giọng khác nhau. Anh cảm thấy rõ cơn mê từ dưới chân tràn lên nhanh. Thân thể anh chìm vào giấc ngủ, chân tay tê liệt không cựa được, chỉ còn đọng trong đầu một đốm sáng nào đó như cái đèn trong để nghĩ gượng thêm chút nữa: còn bỏ sót gì không hè? Chút cố gắng ấy làm tắt phụt luôn chấm lửa lay lắt. Anh ngủ lịm đi trong khi chuông lại đổ hồi dai dẳng. ----------------------------------------------------------------------- 1. TiếngPháp Rèylement: điều lệnh, nội quy. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:13:17 pm 19. Con rết đang bò trên mặt Khánh. Anh quờ tay phủi nó biến mất. Nó lại bò vào tai. Anh lắc đầu, nó biến. Bây giờ nó bò luôn vào mũi, ngoáy đuôi lia lịa. Anh đưa tay đập bốp vào mặt mình. Tràng cười dội lên lanh lảnh. Khánh mở mắt, chống tay chồm dậy ngay. Chẳng có con rết nào cả, chỉ có Mỹ Duyên ngồi ghé vào giường với mẩu lông gà nhuộm tím cầm tay, đang cười ngặt nghẽo. anh cáu, túm cánh tay Duyên giật mạnh. Duyên kêu “úi” ngã ngửa trên ngực Khánh và nằm luôn không dậy. Cái chổi lông gà rơi xuống đất. - Em là con yêu tinh... - Anh là gấu ngựa, trâu điên. Phơi nắng cách sao mà đen thui như cọp mun trong sở thú. Tưởng anh về làm chủ đồn điền, đá luôn con nhỏ này rồi. Chắc là Linh Lâm chẳng có cô nào coi được. - Mới thấy nhau đã bày trò rắn rết, em sẵn nọc độc ghê! - Tước nọc cách sao, anh biết rồi... Em mới đi làm cách mạng về đây nghe. Coi thử đồng chí Mỹ Duyên ra sao chưa mà dám xâm phạm, hả? Báo cáo, anh này muốn đè nén phụ nữ chúng ta! Duyên vọt dậy đứng thẳng, vớ con dao phay đặt trên bàn đầu giường, tay trái cầm dao vung cao, tay phải co lên chào kiểu Việt Minh, hai chân trần giẫm đều trên nền gác gạch hoa: - Mốt hầy mốt... Việt Nam độc lập muôn năm! Khánh mở to mắt nhìn Duyên. Cô mượn đâu được quần đen áo trắng trùm khăn trên đầu che tóc phi-dê không bôi son nhưng xoa một lượt kem phấn rất khó thấy để tránh nắng rám da, trông hệt một cô buôn gánh bán bưng vừa dẹp hàng chạy theo biểu tình. Sau những ngày sống với dân cày khởi nghĩa, Khánh rất thích ngắm Duyên lúc này trong bộ áo quần giản dị nhưng tô điểm kín đáo. Anh bạn nhiếp ảnh đã phóng mô-tô-bê-can đi tìm cảnh chụp, nếu không đã vớ được tấm hình cô tự vệ ngoại thành đi lấy tỉnh. - Tụi Nhựt dồn đống bên căn cứ Sơn Trà, chưa chịu hàng Việt Minh. Em đi biểu tình với dân phố. Chị phụ nữ cứu quốc nói hay ghê gớm. Anh biết không Việt Minh cho phép một vợ một chồng thôi, cấm sự vợ lẽ nàng hầu. Em hỏi con gái 19 lấy lẽ người ta rồi bây giờ làm sao, chỉ nói ai muốn ra được ra lập tức, chẳng phải trả của cho nhà chồng, còn được chia tài sản nữa. Ngon chưa? Em làm cô giáo được quá đi chớ! À quên chưa hỏi. Việt Minh trên Linh Lâm có bắt nhốt anh không? Khánh thò tay lên đầu giường rút cái ví trong túi quần ka-ki lấy cho Duyên xem tờ giấy của Việt Minh Trần Cao Vân giới thiệu anh là phái viên. Duyên đọc lướt xong, há mồm: - Số dách rồi. Anh theo từ hồi đảo chánh hả? - Quãng ấy. Làm được việc kha khá. - Họ trả lương anh một tháng bao nhiêu? Đủ xài không? - Không đồng không hào không xèng. Em đi biểu tình được bao nhiêu, bằng một đêm đăng-xinh không? Đóng vai dân nghèo thành thị khởi nghĩa, mỗi ca-sê 1 họ trả mấy tờ? - Khiếp cái miệng thầy cãi rồi... Duyên bịt mồm Khánh bằng cái hôn kéo dài không dứt. Suốt buổi chiểu Duyên với con sen thu xếp cho Khánh tắm, cạo râu, xén bớt tóc, thay giặt quần áo. Nghĩ lui tới một lát rồi Duyên gọi xe kéo đến nhà lão Xương Ký người Tàu, mang theo cái đồng hồ báo thức và ,cái mũ phớt Phờ-lê-sê của phủ Đỉnh, cần có tiền gấp để tẩm bổ cho anh Khánh, trả lương nợ con sen hai tháng, trả tiền nhà. Chẳng ngờ lão Xương Ký không chịu cho cầm đồ như trước. Lão báo tin tổng đốc Quảng Nam ra hàng Việt Minh, và tiếp: - Pây giờ Côông xản lên dồi há, pỏ cái lồng pạc của Tây, pà tả tền tôi cái gì? Pà pán tôi mua, pà cầm tôi không có tền... Lão trả quá rẻ. Duyên đi vài tiệm quen, những nơi nàng đã chọn mua hàng không hề mặc cả, chủ tiệm khom lưng dạ khi nàng bảo mang hàng và hóa dơn đến nhà mình, nay đều lạnh lùng từ chối vì sợ về sau phải nhận thứ giấy bạc bá láp nào đó chỉ dùng cho trẻ con chơi. Duyên nóng mặt, rút cái nhẫn vàng mặt ngọc ném ra trước mặt mụ chủ tiệm kim hoàn đã bán cho nàng cách đây một năm. Mụ xoắn xuýt vồ lấy nhưng mặc cả dai như bạc nhạc. Nàng ra về với số tiền đã trả để mua nhẫn trong khi giá cả mọi thứ đều tăng gấp bốn năm lần. Chúng nó tống bạc giấy đi nhưng vẫn kéo bè nhau bóp cổ mình, chó thật! Điện bị cắt suốt ngày, đến tối lại bật. Khánh bắc ghế tháo hộ Duyên tất cả các chao đèn phòng thủ, phòng khách sáng hẳn lên. Nhạc máy hát tỏa dịu. Sau bữa cơm có cá chim rán và món chả mực mà Khánh rất thích. Duyên pha cà phê, tắt gần hết đèn, đặt bộ bàn ghế mây ra ban-công phía biển. Bên kia cửa sông rộng, căn cứ Sơn Trà giăng điện từ bờ biển lên sườn núi, nhưng ai quen nhìn nó có thể nhận ra bọn Nhật kéo về đồn rất đông trên bán đảo chỉ bật đèn sáng nhiều vòng bên ngoài, giữ nguyên hoặc làm thêm chao đèn phòng thủ che kín phần ruột có quân đóng. Chúng sợ Việt Minh đánh úp. - Anh chưa đoán ra phủ Đỉnh, bây giờ trốn đâu à? - Chắc quanh quẩn đâu đây, chưa muốn lộ mặt... - Lầm to. Lão ngán em rồi, hơn tháng nay chỉ ghé qua một lần mà không đưa xu nào. Cam đoan với anh, lão sẵn xe của phủ dông tuốt vô ở với vợ hai, tức là má anh trong Qui Nhơn rồi! Khánh giật mình. Có thế mà không nghĩ ra. Mẹ Khánh là người cả nể, đi bước nữa với lũ con chồng trước nên chẳng dám đòi hỏi gì ở chồng sau. Lão phủ mất chỗ dựa ở Huế là cụ Thượng bố vợ cả, hết ham cô vợ ba vung phí khó chiều, chỉ có chỗ lui cuối cùng là cửa tiệm Lợi Thịnh chứ đâu nữa. Đời nào lão ở lại tỉnh này, nơi Việt Minh có tha thì đám thuộc hạ cũ cũng lùng kiếm trả thù. Giờ đây chắc lão đã cất giấu kỹ số vàng, kim cương và đồ quý mang theo, chia tiền bán chiếc ô tô với tài xế và chia tay luôn, mặc bộ lụa mỡ gà, nằm đọc báo trên gác, trong cái buồng yên vắng nhất trước vẫn đành cho Khánh! ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp. Cachet: tiền thù lao mỗi suất biểu diễn Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:15:56 pm Anh cảm thấy một sợi gân nào đó ở khoeo tay giật giật khi nghĩ tới cảnh mẹ hay em mình khệ nệ bưng lên gác từng mâm cơm rất sang cho quan xơi, kèm cái nậm sứ đựng rượu sâm quan ưa dùng. Phải thốc ngay vào Qui Nhơn, tống cổ lão đi đâu thì đi: để cho mẹ tôi yên! Khánh lại nghe ngay bên tai cái giọng Bắc pha Nam của mẹ van xin anh: mẹ lạy con, hồi nhà mình mẹ góa con côi ông ấy đã đưa tay cứu vớt, bây giờ nỡ nào... Quái quỷ thật, lão ta xoay trở thế nào tài hơn ảo thuật, lấy ấp của vợ cả, lấy tiền vợ hai, lấy sắc đẹp vợ ba, dùng luôn Khánh là người không ưa lão làm thần giữ của trong cơn đảo lộn này!
Như thế, rất có thể lão biết Khánh dan díu với Mỹ Duyên mà cứ để mặc, chẳng thèm ghen tức, bởi nhiều lần lão gài cho Mỹ Duyên bắt chim bắt chuột với bọn quan trên rồi! Cũng có thể lão biết Khánh dính dáng với Việt Minh nên mới chịu bỏ ra hai ngàn đồng để Khánh về làm quản lý ấp, với những lời ba với con ngọt lịm! Mai sau sẽ ra sao? Nếu Đồng minh đổ bộ gấp trong khi quần Nhật giữ nguyên bộ máy Nam triều, lão sẽ là quan tri phủ liều chết bỏ trốn chứ chưa hề đầu hàng cộng sản, lão vượt qua những án sát hay bố chánh, vọt thẳng lên tuần phủ hay tổng đốc đầu tỉnh, không chừng lãnh chức thượng thư. Ngược lại nếu Việt Minh lên cầm quyền cả nước thay vua Bảo Đại đã đánh đĩ quá nhiều lão sẽ mang tiền quỹ và xe ra nộp, nhận công lao chống trộm cướp giữa hồi hỗn loạn, biến thành vị nhân sĩ ái quốc vuốt râu ngồi ghế trên! Chính quyền mới sẽ mời lão đứng ra kêu gọi tất cả quan lại binh lính hãy quay về với Tổ quốc đồng bào! Khánh rùng mình, ở trường Luật anh đã đọc khá nhiều cuốn sách về những vụ luồn lách qua pháp luật, nhưng chưa gặp cuốn nào viết kinh nghiệm băng qua thác ghềnh của cách mạng trên con thuyền ghép bằng những mảnh ván vỡ nhặt từ chế độ cũ! Từ dưới đường, tiếng loa bỗng dội lên trong đêm. Người gọi loa chưa thạo mấy nên cứ xoay tròn loa qua lại, tưởng tiếng mình sẽ rải đều bốn phương: - Chú ý chú ý... ngoan cố không chịu để cho đồng bào ta biểu tình... đình công bãi thị triệt để... võ trang tuần hành... Đả đảo phát xít Nhựt! Việt Nam... Nghe đây nghe đây... - Anh nghĩ gì lâu dễ sợ! Khánh nhấc trán khỏi hai bàn tay, gượng cười: - Còn em lại sắc sảo dễ sợ. Em làm thám tử, điệp viên, chắc vượt xa Ma-ta Ha-ri hay Phương Lan Cao Trường. Hai nữ điệp viên của Nhật hạng nhất hoàn cầu đấy! - Anh tưởng em ham mưu mẹo mánh mung lắm à? Lầm to! Phía bán đảo Sơn Trà, bọn Nhật sợ gì không biết bỗng phóng đèn dù liên tiếp. Mỗi quả đạn moóc-chê kéo theo một chuỗi chấm lửa sau đuôi, bùng ra thành con sứa châm lửa sáng rực nổi bồng bềnh soi xuống cửa sông. Quả này từ sáng trắng ngả sang vàng ệch, quả khác rướn lên ngay. Chúng không bắn đạn nổ. - Em nói làm cô giáo là thiệt đó anh. Hơn tháng nay em dạy Truyền bá quốc ngữ, buổi đầu còn ngại, tới giờ ham ghê gớm. Em dạy một tuần ba tối, lớp con nít nhà nghèo trong xóm, tụi nó thương cô giáo lắm. Em bớt ăn tiêu, mua giấy mực phát cho số nghèo nhứt, ép miết mới chịu nhận, một đứa nhận thì em mừng cả ngày... - Liệu có được lâu bền không Duyên? - Sẽ bền. Anh biết tánh nết em, ham thứ gì là nhào vô chẳng kể sống chết. Nghề cô giáo hợp với em nhứt. Nói cắn cưa đó nghen! - Lương cô giáo bây giờ chưa có, mai sau chỉ đủ cơm rau... Duyên nói nghiêm và hơi buồn: - Từ ngày quen nhau tới nay, anh toàn thấy em ngạo đời, đòn phép, chọc phá lung tung, anh xếp em vô loại đồ đệ của Đát Kỷ, Bao Tự, đúng chưa? Ở hoàn cảnh như em, chắc anh còn húc trước đá sau gấp mười. Em không muốn lương thiện với bọn đểu giả, không thể thủy chung với đứa năm thê bẩy thiếp còn thêm vài tá nhân tình. Cặm cụi làm ăn như má em, đồng tiền chạy quanh một hồi lại vô túi cái lũ ném bạc ngàn mỗi đêm chơi. Anh biết không, mấy năm trước em ước ao trời cho em thật là ngu đần, chỉ biết bán thân nuôi miệng thôi, chớ càng nghĩ dài dài càng muốn lên cơn điên... Bây giờ chắc phải khác, anh hè? Cách mạng là đổi đời mà anh! Quân Nhật phía Sơn Trà diễn trò gì khó hiểu. Ngừng bắn đèn dù xong, lại cúp điện. Tất cả dải đất bên kia sông Hàn chìm trong đêm đen như chiếc tàu ngầm chợt lặn xuống biển sâu. Hay là ta cắt điện để buộc chúng nhượng bộ? - Trai thời loạn, gái thời bình, má em hay nói vậy. Em thèm được bình yên quá. Em thèm sống có ích thèm được yêu thương, thèm được người ta coi trọng. Chị phụ nữ cứu quốc đó cũng dậy Truyền bá quốc ngữ như em, tới cái đêm mít tinh ngoài bãi biển chị lên diễn thuyết ào ào em mới biết là cán bộ Việt Minh, em bu theo mỏi miết... em quyết một bề rồi đó. Cách mạng xong em dứt khoát với lão phủ, trả cái nhà thuê mắc tiền này, thuê căn buồng nhỏ ở phố, xin đi dậy con nít lứa mười tuổi trở xuống, em thương tụi nó quá chừng. Thấy Khánh mỉm cười, Duyên chợt nổi khùng: - Biết mà, anh khinh em là con dóc tướng, ba hồi nói ngon, ba hồi nói ngược! - Không, không, anh đang mừng cho Duyên. Em đang định hướng cuộc đời... - Mừng thiệt hay giả tùy anh, có thân em phải lo! Điện phía Sơn Trà lại sáng như ban nãy. Khánh nhớ lại một lần Cả Chanh nói về thế bí của tụi Nhật bại trận, lâu nay đánh Việt Minh, bây giò sợ ta trả thù. Đồng minh ra lệnh giữ nguyên hiện trạng ở Đông Dương, chúng không dám để triều đình Huế bị lật đổ. Tới khi giao nộp võ khí, chúng sẽ bị trừng trị nếu súng vào tay Việt Minh. Nhưng nếu cứ ì thần xác ra, chúng có thể bị ta bao vây diệt sạch. Chúng thương lượng cù cưa, tránh già néo đứt dây. Ta phải tạo sức ép mạnh, rất mạnh, bắt chúng nộp súng được càng hay, nếu không cũng co vào bên trong hàng rào để ta lập chính quyền mới. Hễ mày phá đám thì tao bắn tỉa, giam đói, giật mìn phá xe, bắn chìm tàu thuyền, mày kiệt sức là tao nhào vô hốt ráo. Liệu hồn mà chọn lựa! Cảnh bối rối ấy đang bày ra bên kia cửa sông Hàn với những chuỗi đêm khi sáng khi tắt, những khẩu súng to bắn đèn mà không bắn đạn trái pháo. Cảnh ngoi ngóp của một quân đội đế quốc suốt nửa thế kỷ chưa chịu nhận thua ai, nay quỳ gối xin sống sót. Trong khi ấy người đàn bà trước mặt Khánh nói về cuộc sống sắp tới bằng giọng say sưa. - Mỗi buổi sáng, chung quanh ríu rít đi làm thì em cũng đi làm. Con nít vây quanh em, cô ơi cô hỡi, là em quên hết sự đời. Anh dọa em ăn cơm rau, nghĩa là anh không biết con gái dữ co phải kiêng cữ tới đâu. Rồi em sẽ lấy chồng. Lấy một người không đẹp trai như anh, ít tài giỏi hơn anh, nhưng mà biết quý vợ thương con là đủ. Em sẽ bỏ hết các kiểu diện sắm của cái thời đang tìm chồng hay sợ chồng bỏ, em vun đắp hết cho chồng con, cho học trò, miễn sao cuộc đời em có những người thương em thực tình trăm phần trăm. Em tin là không khó. - Duyên không xét anh vào hạng chồng hiền lành? Duyên ngẫm nghĩ rồi lắc đầu: - Không. Như bây giờ thì không. Sau này sẽ hay. - Em ngại rơi vào tay sở khanh? - Anh không đểu tới cỡ đó. Nhưng anh coi em như nhân tình lâu quá rồi, thành tật rồi. Già nhân ngãi non vợ chồng, lấy nhau dễ rẻ rúng nhau, chẳng hay ho gì, mất công đóng kịch cả ngày với lại tính hai đứa mình dễ va chạm lắm, anh là thép, em là đá lửa, xoẹt một cái là bốc cháy liều!... Anh cười gì vậy? Khánh bước tới xốc Duyên lên hai tay, xoay một vòng tròn. Duyên níu hai tay lên cổ anh, kêu chóng mặt. - Ôi cô gái Sài Gòn, ngổ ngáo vừa vừa chứ! - Quỷ sứ, yêu tinh, muốn đá phốc anh mà không đá được..., buông em ra! - Lát nữa anh buông... Đêm ấy có lúc Khánh chập chờn thấy ánh sáng thấm qua mí mắt nhắm, nghe thoảng tiếng sụt sịt. Anh nói lúng búng trong cơn ngái ngủ: - Gì thế, Duyên? - Sổ mũi thôi. Ngủ đi! Anh bạn nhiếp ảnh đưa mô tô đến đón lúc 6 giờ sáng. Chuông điện hỏng, anh ta đập cửa như đánh trống, Khánh ra mở cửa mà rủa thầm con người chẳng biết ý tứ gì. Điều lạ là Duyên pha cà phê bằng bếp điện trên gác và bưng xuống mời cả hai rất tự nhiên. Khánh chỉ thấy mắt nàng hơi sưng. Anh kia đang làm báo tin giật gân, chào vội một tiếng và oang oang tiếp: - Thằng Pháp được xếp vô ngũ cường là nhờ nó hứa cắt bớt thuộc địa cho Anh Mỹ. Ngồi vô bỏ phiếu, nó nhất định không để nước mình độc lập, bị ông Nga chửi cho nát mặt. Ông Tưởng Giới Thạch khôn ranh, tính hễ đẩy được thằng tây ra xa thì trở lại thiên triều với chư hầu như xưa, bỏ cho mình một phiếu. Vậy là nước mình được hai phiếu thuận của Nga Tầu, hai phiếu chống của Anh Pháp, còn Huê Kỳ đang khoanh tay nói để coi dân mình đáng độc lập chưa. Vậy mấy ông Việt Minh mới kêu hết dân mình đi biểu tình cho thê giới coi? Moa chụp hình đây cũng để quốc tế in lên báo chương chớ có phải cứt đâu! Đài Cựu Kim Sơn nó nói... mà thôi, đi cho kịp, toa lái moa chụp, bữa nay Hội An nhất định long trời lở đất. Mai kia ta trở ra Thái Phiên... ơi, chị chưa biết à, Đà Nẵng là tên hồi phong kiến, Tu-ran là tên của Tây đặt, mình mới đổi ra thành phố Thái Phiên nghe thiệt là hay... Vọt ta hè! Chiếc mô tô bị vỡ ống xả gầm lên như súng máy, vù đi trong khi chó cả xóm sủa đứt hơi và người trên đường giạt vội sang hai bên. Khánh nghĩ đến lối tiếp khách của Duyên vừa rồi, hiểu rằng nàng chẳng cần giấu giếm nữa, phủ Đỉnh đã thuộc về quá khứ. Thế nhưng cái ồn ào của anh bạn, cả miệng lẫn xe, đã làm cho người ta ít nghi ngờ. Chẳng ai ngoại tình theo kiểu nhức tai lân bang như thế. Càng vào gần Hội An, xe càng phải chạy chậm, có lúc họ xuống xe tắt máy khi đoàn dân quân nào đó nhất định thổi còi đi đều hàng tư, hay đồng bào một làng kéo thành khối với tất cả các băng vải căng hết chiều rộng con đường. Tay nhiếp ảnh xin đâu được một lá cờ thô sơ bằng giấy màu hoa đào dán ngôi sao nhuộm nghệ, cắm lên đầu xe mô tô, cho chạy rì rì và hét inh ỏi: “Chú ý, để xe tuyên truyền đi!''. Anh ta vẫn nhớ mình đang chụp ảnh cho quốc tế. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:21:05 pm * * * Thị xã Hội An rất cổ kính và đạo mạo bỗng dưng biến thành một cụ đồ nho quá chén trong dịp hội Xuân khi cơn lụt của những người say tràn vào. Tất cả cùng say thì chẳng ai thấy ai say nữa, coi như cùng tỉnh. Thác người biểu tình tuôn ra các đường phố rất hẹp không vỉa hè, cuốn luôn theo những ai còn đứng thập thò trong cửa. Các dẫy nhà xưa lợp ngói âm dương đen xạm, thấp nhỏ, sao lúc này lại giống những cô bé quàng khăn đỏ khi ngập trong băng với cờ. Trống đại từ khắp các làng mang tới, hai người khiêng một người đánh, cùng với tiếng mõ nghe riết lại hóa ra là tiếng người: “Biểu tình, tình... gấp gấp, gấp”. Từng đoàn thanh niên vác gậy hay đeo súng gỗ đi đều, hát tất cả những bài họ thuộc, từ “Tiếng gọi thanh niên” đến “Thiếu sinh Lạc Hồng”, bài ca mới của cách mạng còn là độc quyền của đội tuyên truyền đứng trên xe tải kia, hát hết ba bài tủ lại nổ máy chạy chỗ khác. Đội kèn trống nhà binh mặc quân phục trắng, vẫn nguyên kiểu vung tay xoay kèn và các điệu thổi hồi Pháp, nhưng là có đinh vào kèn đã kịp đổi, kéo theo hàng trăm trẻ em chạy song song hai bên. Đạo quân hùng tráng của du kích, tự vệ, nghĩa binh, với Năm Chò, quản Lượng và Tám Doãn cưỡi ngựa dẫu đầu, làm bật lên những chuỗi sấm hoan hô, những rừng mũ nón đưa lên vẫy, tuy Năm Chò bị thít vai trong bộ lễ phục của quản Hưng và Tám Doãn phải níu cứng mỏm yên bằng tay trái cho khỏi ngã. Tất cả kéo vào cái sân vận động nhỏ và lắm đất bột, xốc lên làm bụi mỗi lúc một dày khiến mặt trời ngả sang đỏ và lảo đảo. Lễ ra mắt của Lâm thời Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh làm tại đó. Lễ ngắn thôi, nhưng sau đó hội hè tự ý kéo dài trên đường phố với những đoàn đứng hát, đi hát, tự treo cờ lên mà chào, những nhóm trổ tài côn quyền đao kiếm, những đơn vị súng hỗ chọn chỗ trống biểu diễn quân sự. Chơi xả láng cho bõ cái công kéo đến thị xã, vậy thôi, nhưng người làm và người xem đều thích mê. Vừa ngồi xuống bãi cỏ bóp chân đấy, lại nhảy tưng tưng lên. Nuốt nước bọt thấy rát cổ, nhưng sau đó còn hò hét cho rát thêm. Cái bụng xẹp lép mà nắm cơm mang theo cứ nằm trong bọc. Ai cũng bỏ sót chút gì đó chưa được mắt thấy tai nghe, sẽ tiếc cả một đời. Và trong tiếng hô muôn năm vang động kia phải có tiếng của mình rót vào mới khoái chứ! Cơn vui ngây ngất làm cho người ta bốc đồng. Một đội tự vệ bắn ba phát lên trời cho đoàn phụ nữ nào đó chào cờ, suýt gây ra nạn dịch bắn súng chơi, may mà chặn kịp, Tám Doãn trả ngựa lại cho Cam xong, đứng giữa đám đông trai trẻ tuyên bố rằng “đấu tranh này là trận cuối cùng” bởi một bài hát quốc tế nói rõ như vậy. Sáu Cam cuỡi con Hường, đeo băng đỏ chạy giao thông cho ban chỉ huy, cứ biến đâu từng lúc. Mấy ông già gật gù khen phải khi quản Lược nhắc câu sấm cụ Trạng Trình “Thân Dậu niên lai khiến thái bình” chính là ứng vào năm Ất Dậu này. Năm Chò không đi bằng tay được vì bị áo bó cứng vai và phải giữ vẻ uy nghi một chút, vẫn nể lời các cô áo dài xanh đỏ cho bay năm lưỡi phi đao trước những đôi mắt nhung mở lớn. Dễ dãi với nhau đến nỗi khi rửa tay chỗ giếng vắng, cô Năm Bưởi bị anh Năm Chò hôn đánh chụt một cái trên cổ, chỉ nguýt dài chứ không nói chính trị. Sau buổi lễ ra mắt ở sân vận động, ủy ban tỉnh trở về tòa sứ trên ba chiếc ô tô du lịch. Chiếc xe cuối vượt qua cổng được vài chục thước chị Sáu Lễ chợt gọi anh lái dừng gấp, nói với Cả Chanh ngồi bên: - Nè ông quân sự, xuống mà nhận lính con gái! Các cô chưng diện cách sao mà giờ mới tới! Trên bãi cỏ rộng trước tòa nhà chính, một đội nữ tự vệ chừng bốn mươi người đang xếp bốn hàng ngang, đứng nghiêm chào các xe cắm cờ. Chanh tròn mắt ngạc nhiên: trông họ khác hẳn các đội nữ du kích và nữ tự vệ mặc bà ba đeo mã tấu kéo vào sân vận động ban nãy. Đội này mặc đồng phục sơ-mi đen ngắn tay quần soóc đen đến giữa đùi, đặc biệt cùng cắt tóc rất ngắn đến nửa vành tai như đội mũ nồi, trông thật hùng dũng mà cũng hơi buồn cười. Chừng một phần ba số đội viên cầm súng mút-cơ-tông vừa tầm cao, còn lại đều dựng bên vai một cây đại đao cắm cán dài, chắc lấy mẫu ở Thanh long đao của tượng Quan Công trong các miếu. Chị Sáu Lễ là ủy viên Cứu tế xã hội trong ủy ban, một chức vụ nặng nề bậc nhất trong năm đói khủng khiếp này. Thế nhưng chị hiểu ngay đội nữ tự vệ này muốn gặp chị hơn các ủy viên khác là đàn ông. Chị kéo Chanh bước tới, trong khi cô đội trưởng trẻ măng co nắm tay phải lên chào kiểu Việt Minh, báo cáo bằng giọng run run: - Dạ thưa dì... dạ thưa đồng chí lãnh đạo... tụi con được tin tới hai giờ chiều mới hành lễ, bị lỡ mất... ở tận Tam Kỳ ra đây, làm sao bây giờ... Chanh nhìn kỹ mới thấy mắt cô nào cũng mọng đỏ, chắc vừa trải qua một cơn sụt sùi tập thể. Đau quá đi chứ. Bao nhiêu công phu kiếm súng, rèn đại đao, may đồng phục, bao nhiêu đắn đo khi mặc thử quần soóc áo ngắn phơi đùi phơi tay, bao nhiêu dằn vặt khi đưa lưỡi kéo xén ngang mái tóc óng ả, bao nhiêu vất vả trêu đường về tỉnh lỵ, tất cả nhằm tỏ bày các chí khí hy sinh giết giặc của phụ nữ chẳng chịu thua giới mày râu. Thế mà bị hẫng đúng vào dịp cùng toàn dân giơ tay thề cứu nước, giành độc lập! Nghe kể một hồi, chị Sáu luống cuống đưa mắt cầu cứu Cả Chanh. Anh cố nín cười, nói trịnh trọng: - Không sao, để tôi thu xếp. - Ôi may quá... Nè mấy em, đây là anh Cả Chanh phó chủ tịch ủy ban tỉnh, lo phần quân sự đó. Thôi các em đừng buồn, nghe ảnh đây... Lúc này Chanh mặc quân phục Bảo an ninh, đeo súng ngắn, đi giày đinh, đeo trên bắp tay trái một băng vải đỏ có ngôi sao vàng vẽ bằng sơn, trông rất có thớ chỉ huy. Anh bước tới, dập gót giày đánh cốp theo động tác của Năm Chò, nói thật dõng dạc: - Thay mặt Lâm thời Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Trần Cao Vân, tôi trịnh trọng tuyên bố công nhận đội nữ tự vệ thị trấn Tam Ky là thành viên chính thức của Mặt trận Việt Minh! Bây giờ chúng ta sẽ cử hành lễ tuyên thệ trước lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng! Tất cả theo mệnh lệnh tôi... Nghiêm! Nghỉ! Nghiêm! Quay tay mặt, quay! Bước thường, bước! Mọi việc, lại diễn ra như ở huyện đường Tây Quảng khi đội du kích Linh Lâm đến hụt buổi giành chính quyền. Chanh cố ý làm long trọng hơn. Anh rút sổ tay ra đọc năm lời thề đã soạn cho đội Linh Lâm, san mỗi đoạn các cô cùng vung tay hô rập ba lần “xin thề”. Sau đó, các cô còn được nghe một huấn từ ngắn gọn của đồng chí Tô Xáng chủ tịch tỉnh, được đồng chí Huỳnh Thị Lễ tự tay trao tặng mỗi người một bản Chương Trình Việt Minh in máy trên giấy tốt, có đóng dấu Ủy ban Việt Minh tỉnh Trần Cao Vân đàng hoàng. Nhất rồi còn gì! Mấy chục ngàn người dự mít-tinh hôm nay đâu được thế! Chanh tuyên bố buổi lễ chấm dứt, giao luôn nhiệm vụ cho đội: “Dọc đường hành quân trở vô Tam Kỳ, mỗi đồng chí sẽ kêu gọi đồng bào khắp mọi nơi hãy nhiệt liệt ủng hộ Việt Minh, ra sức thi thố Chương trình Việt Minh”. Mấy chục cô gái đầy khí thế hào hùng xếp hàng đi đều ra khỏi cổng, mặt tươi roi rói như hoa nở rạng đông. Ủy ban tỉnh cười đùa một lát rồi họp vắn tắt, bàn mấy việc phải làm gấp trong ngày, hẹn nhau đến tối sẽ họp tiếp, chứ lúc này từ chủ tịch trở xuống đều háo hức ra phố. Họ chia từng nhóm nhỏ đi bộ cho kín đáo. Anh Bảy Quý không đứng tên trong Ủy ban rủ Xáng và Chanh đi chung, súng giấu dưới áo, có hai đồng chí bảo vệ đeo dao găm trong sơ-mi theo kiểu trinh thám đi trước và sau. Mỗi lần nhìn mặt anh Quý, Cả Chanh lại tức cười. Anh mới cạo râu dài và thưa của “ông già Cửa Đại” ngay đêm qua, nhưng không trẻ lại như thanh niên mà lại giống mặt bà già bởi quá nhiều nếp nhăn sâu trên da mặt. Thỉnh thoảng quen tật cũ anh lại đưa tay vuốt cằm khiến chung quanh bật cười, giễu cho một tràng. Họ dạo qua các sân bãi, phố, chợ, chèo đò sang bên kia sông xem khí thế các làng. Cả Chanh thấm mệt, vẫn bị cuốn vào cơn say chung. Lắm lúc anh thấy mặt đường dưới chân chòng chành như sạp đò nhưng chỉ lén vào chỗ góc nôn chua có một lần. Gần trưa họ mới quay về tòa sứ. Anh chị em võ trang, sau một giờ tản ra chào hỏi đồng bào, lúc này đang tập hát trên bãi cỏ rộng bên trong rào. Ba cậu trẻ măng, tóc chải bóng và băng đỏ trên tay, đang bày một bài mới của cách mạng. Cậu cầm đàn băng-giô chào “các chú ủy ban”, nói luôn: - Bọn cháu là học sinh trường Viên Minh, vô đội tuyên truyền hôm qua. Các anh chị đây hát được một bài rồi. Năm Chò ngồi xếp bằng trên cỏ, ồm ồm gọi luôn: - Bà con mình hát thiệt ngon cho thượng cấp nghe thử! Tiếng băng-giô và ác-mô-ni-ca đi theo đường thẳng, tiếng hát đủ các giọng kim giọng cổ bám theo khi sớm khi muộn nhưng được cái rất to: Toàn dân nước Nam giờ đây quyết tâm Đứng lên tranh đấu xích xiềng đập tan ... Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến Tiến lên, tiến lên theo cờ Việt Minh Lại Năm Chò nhắc: - Cũng chưa to. Nhà binh là phải hét chớ không hát như mấy cô cậu lãng mạn đâu nghen. Bây giờ ta hoan hô vỗ tay một phát rầm rộ, rồi ta lại hét! Hai, ba nè, hoan hô ô ô... Lát sau anh Quý ngồi xuống ghế bành trong phòng khách, uống một hơi cạn ly nước chè nguội, nói trầm ngâm: - Mừng là phải... Chiến tranh chấm dứt, máu ngừng chảy. Cùng một lần xô nhào được ba tầng thống trị của Pháp, Nhật, Nam Triều. Cùng một lần giành được độc lập và dựng lên chế độ mới, tiếc lắm... - Kìa, sao lại tiếc hả anh? - Ờ, quên, là tiếc cho nhiều đồng chí không được thấy ngày nay... Nè, du kích Linh Lâm của mi coi bảnh quá đó Chanh, tao ngó xa cứ tưởng quân ở mô Việt Bắc kéo vô! Anh Quý lại giở giọng đặc sệt Quảng Nam của “ông già Cửa Đợi”, chọc cười anh em bằng bàn tay vuốt cái cằm trụi, xóa nhanh, những kỷ niệm ngậm ngùi. Anh Xáng nghe điện thoại xong, ghé lại ngồi trên ghế bành, nhún nhún thử, kêu: - Tới cái chỗ đặt đít mà nó cũng làm êm ru, hèn gì bụng thằng nào cũng phình to tướng... Chanh nè, cậu biết mở cái quạt máy trên đầu không? Cho nó chạy đi nực quá... Họ giải quyết gấp một việc mới: thành Thái Phiên vừa báo tin sẽ đưa vào tám chục tự vệ tập bắn các thứ súng lớn ngay chiều nay, sáng mai chở ra cho nổ gần trại Nhật để uy hiếp. Chưa cần bắn trúng, chỉ dọa cho Nhật sợ thôi. Các đơn vị Giải Phóng quân mới lập xin điều ra sáng sớm càng hay, kho gạo ngoài ấy đang còn nhiều, chưa phải lo ăn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:23:24 pm 20. Chỉ trong mười hai ngày, cả nước làm xong cuộc đổi đời. Sáu vạn quân Nhật chịu co vòi trước những triệu người khởi nghĩa vung dao gậy. Lính nộp súng quan nộp công đường, vua Bảo Đại nộp ấn kiếm. Cụ Hồ Chí Minh lập Chính phủ lâm thời, đọc Tuyên ngôn độc lập ở Hà Nội trước một triệu đồng bào cùng hô lời thề như sấm rền. Người Việt háo hức muốn trông thấy vị lãnh tụ mới, khắp nơi bàn xôn xao Cụ là Nguyễn Ái Quốc hay không phải. Đồng minh sẽ vào giải giáp quân Nhật. Đà Nẵng nằm ngay trên vĩ tuyến 16, người bảo quản quân Anh - Mỹ sắp đến, kẻ khác đoán là quân Tàu. Các tin đồn nối tiếp nhau chạy qua các đường phố và xóm làng Quảng Nam, tin nào cũng được cam đoan là từ Hà Nội truyền đi. Tim và óc của đất nước đổi chỗ đột ngột, dồn cả về thủ đô. Sau ngày Lễ độc lập ở Đà Nẵng, Hai Khánh thu xếp trở ra Hà Nội giữa bao nhiêu thèm muốn của bạn bè. Ra thủ đô là được gặp Cụ Hồ, được đón nhận tất cả tinh hoa của cách mạng, được hiểu hết mọi sự mới lạ trên thế giới dành cho nước Việt Nam vừa phá tung ngục tù bước ra ánh sáng. Khánh sẽ học xong trường luật, góp sức làm nên các bộ luật mới của Việt Nam dân chủ cộng hòa trong khung cảnh tự do, thái bình, no ấm, hùng cường! Khánh trở về Linh Lâm thu xếp cho chuyến đi mà ai cũng thấy là đầy mộng đẹp. Đi trọ học xa, đầu tiên phải xoay ra tiền. Sau hai đợt nộp thóc cùng hai chiếc vòng vàng tây giá rẻ quyên vào Tuần lễ vàng, mẹ con bà Cả xem như đã trả sạch nợ cho Việt Minh, giấu biệt mọi thứ có thể giấu, luôn mồm kêu túng, Khánh bị gạt ra rìa, chỉ còn là tay cai ấp được trả công bằng miếng chín. Tức mình, anh chơi lại một đòn tâm lý. Suốt mấy ngày anh kể lơ lửng những vụ quan lại tham nhũng bị chính quyền mới xử án, bị dân nổi dậy đánh chết tươi, bị thuộc hạ cũ ám sát cướp của. Bà Cả niệm Phật liên lu, chị Huyền Tâm chớm ngất. Dù ông phủ chẳng ngó ngàng tới họ, nhưng ở chốn rừng núi này mà lâm vào cảnh mẹ góa con côi trong khi dân chúng làm loạn, chao ôi... Bàn tính mãi rồi họ chịu bán bớt ba con trong bầy trâu của ấp, đưa tiền cho Khánh đi tìm ông Phủ đang biệt tăm. Về sau, nếu cần thêm tiền chuộc hay hối lộ xin tha, thì sẽ chạy tiếp. Bà Cả tự mình cò kè với lái trâu nhiều buổi, sau đó chìa cho Khánh bốn tờ giấy bạc năm trăm in hình con rồng màu xanh sẫm với nét mặt của chủ nhà nộp của cho cướp. Khánh sẽ đi tìm bố dượng ở Hà Nội, cũng được chứ sao! Trước khi rời Linh Lâm, Khánh cưỡi con Hường và đeo súng hơi dạo một vòng khắp làng - đội du kích đã trả lại cả hai thứ mượn tạm đi giành chính quyền. Anh ghé thăm các nhà quen và từng lúc dừng ngựa, rình bắn một con cu đất mải mê gù gù gọi kết đôi. Lão Cửu Áng vẫn tin rằng cậu cử với quan phủ là bóng với hình. Cặp má sề sệ của lão nhảy đều trong khi lão rướn cổ thì thào, mắt liếc xéo sang hai bên: - Cậu gặp quan, thưa giùm là tôi ở với Việt Minh bây giờ phải cúi đầu chờ thời, chớ trước sau gì con vua lại làm vua thôi cậu à. Tụi nó sợ náo động. Chưa đụng tới ấp quan phủ đâu, mới kêu gọi quyên góp thôi. Cậu cứ thí bỏ chút ít cho xong, thóc lúa đi mà ruộng đất còn nguyên. Tiền giấy đi mà bạc vàng còn dưới đất, về sau ta lấy lại chẳng khó đâu, quan còn tính bắt trả gấp mười nữa chớ, hề hề hề... Thanh niên trong làng đã đánh tiếng sắp đập phá bàn đèn chống nạn thuốc phiện. Lão Xâm Tô không dám nằm hút giữa nhà để trông coi kẻ ăn người làm nữa, rút vào buồng kín nhưng vẫn kéo vo vo mỗi ngày hai bữa thuốc, mỗi bữa không dưới năm chục điếu tiêm trôn quýt, được ghi đệm bằng cái bàn tính lắp những con gẩy nhựa xanh đỏ. Lão đặt dọc tẩu xuống, nhấc bộ xương cách trí ngồi lên, líu lô líu lường cho Khánh biết rằng chánh phủ Việt Minh mới tuyên bố xóa bỏ quyền cai trị của Tây thôi, ắt là chịu trở lại thọ phong như hồi trào Mãn Thanh, bây giờ là trào của Tưởng thống chế, ba năm một lần cống nạp chẳng sai. Khánh nhìn lão nướng thuốc, lăn que tiêm lên tẩu, phóng điếu thuốc vào lỗ nhĩ, miết cặp môi thâm dính quện vào dọc tẩu, rít đến căng đầy buồng phổi chất khói giết người ngấm dai, nhả ra một thứ khói beo béo gây gây, thơm và hôi lẫn lộn. Anh chào vội, bỏ đi gấp. Nắm xương biết hút và nói này đã nắm hết giá cả buôn bán ở Linh Lâm mấy chục năm liền bằng cách nào? Hung hãn như La-phác-sơ, đa mưu như phủ Đỉnh, khéo luồn lọt như Cửu Áng, anh còn hiểu được. Lão Xâm Tô này chỉ mất mấy phút đủ túm cẳng vất xuống sông Linh sao ta vẫn để ườn xác ra đấy? Khánh quay ngựa ra đình làng, chào ủy ban. Ông Tư Châu chủ tịch đang vắng. Ông đi theo một nhóm cán bộ huyện Tây Quảng lên làm lễ mừng Độc lập trên các làng Thượng, chắc mươi ngày nữa mới về. Tám Doãn được điều xuống huyện chỉ huy phân đội cảnh vệ mới lập, chưa có ai thay. Cậu Ba Mít với bộ mặt rỗ và đầu tóc chải mỡ bóng nhẫy ngồi ghế thường trực ủy ban. Cậu đĩnh đạc giải thích cho Khánh rằng chánh sách của Việt Minh và chánh phủ Cụ Hồ không cho phép ai động tới tài sản người khác, anh Hai cứ yên bụng mà đi. Cậu dứt câu chuyện bằng lời rỉ tai hỏi mượn một trăm tiêu tạm. Khánh rút ví đưa ba chục, nói rõ là biếu luôn, bước ra với cảm giác lờm lợm như khi ngửi khói thuốc phiện của lão Xâm Tô, nhưng bốc ra từ miệng một kẻ nắm con dấu đỏ trong tay. Sang xóm Mới, cái ổ dân ngụ cư tứ chiếng đã sinh ra một đội du kích Linh Lâm, Khánh được đón tiếp theo kiểu khác. Từ lò rèn ông Tư Chua đã kín đáo truyền đi cái tin rất bí mật rằng Hai Khánh là người của bên ta gài vô tổ Tây Nhựt quan quyền. Bà con nháy mắt ra vẻ hiểu rõ vì sao anh cứ lang thang cưỡi ngựa bắn chim hoài vậy, vài người nhờ anh nói lại Cả Chanh về lo việc làng xóm chút ít. Tư Quýt ngồi lò, Năm Bưởi đánh búa, Bảy Bòng thổi bễ, vài ba người chầu rìa tiện tay giũa hay mài giúp những lưỡi mã tấu rèn thêm cho dân quân. Không còn những người tới thì thào, vờ đi xuống khe Hội rửa để linh ra chòi rẫy anh Cả Chanh như trước, nhưng không khí lò rèn bao giờ cũng nhộp nhịp và vui thân, Khánh kéo cái đòn gỗ ngồi xuống uống nước chè đậm, tán gẫu một lát, tả cảnh Hà Nội cho bà con nghe. Dân Linh Lâm đi Phố đi Hàn luôn, nhiều người vào Qui Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, nhưng chưa ai ra Hà Nội, bỗng dưng dân làng háo hức quay về hướng bắc, thèm đi tới chỗ bất cứ ai cũng có thể gặp Cụ Hồ và thưa vài câu chuyện. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:26:21 pm Khánh nhác thấy một cây súng kỵ binh Nhật treo trên con xỏ đầu cột, kèm một thắt lưng da to của lính Pháp có bao đạn đầy và hai quả đạn móc ngoài. Nghe hỏi súng của ai, Tư Quýt cười cười hất hàm:
- Ai vô đó nữa. Chỉ có mấy bà khóc từng hũ nước mắt mới kiếm được đồ bảnh, đực rựa như tụi tôi xin mời bắn ná thôi! Năm Bưởi đang chống búa đứng đợi, hai gò má cao và lấm tấm mụn cá chợt đỏ rựng. Khánh mượn xem cây súng khá xinh và nhẹ, cỡ nòng chỉ bằng mút đũa, viên đạn giống kiểu đạn ĐAM của Pháp nhưng thu nhỏ hẳn lại. Phụ nữ dùng thứ này thật tuyệt! Năm Bưởi nghe anh khen súng hợp với người, lại đỏ mặt không nói. Đợi khi Khánh ra về được mươi bước, Năm mới buông búa đi vội theo, gọi giật: - Đợi chút, em hỏi cái này. Khánh dắt ngựa đi bên Bưởi, nghe kể nỗi bực tức ghê gớm của cô gái mười bảy tuổi có dáng vóc của người hai mươi. - Hồi cần lấy huyện lấy tỉnh thì người ta chẳng kể lớn nhỏ gái trai. Cách mạng thắng rồi, lựa người đưa vô Giải phóng quân, các ổng đuổi hết con gái về nhà, nói là thượng cấp chưa cho lấy lính đàn bà. Có ông lại nói ra miệng là tụi em chân yếu tay mềm, ở làng làm du kích còn khả dĩ, đi lính chủ lực thêm vướng chân đàn ông. Nói vậy mà không mắc nghẹn mới thiệt lạ! Đội nữ của em lên tới hăm ba người rồi, tự xoay xỏ kiếm được mười lăm súng, còn lại thì mã tấu lựu đạn, tập bắn tập bò chẳng kể sống chết. Chị em nghe vậy nản chí hết, cãi không nổi, bỏ cơm nằm vạ không ăn thua. Số mới nhập bỏ về trước, lần hồi còn lại bốn đứa lì lợm nhứt. Mấy ổng dỗ riết, hai đứa chịu trả súng làm cấp dưỡng, em với con Thìn ở Huề Bình ỳ ra không trả, không nhận nấu cơm hầu con trai. Thét rồi mấy ổng kêu lên bàn giấy, nói tặng luôn hai cô hai cây súng đẹp nhứt để thưởng công hoạt động du kích, bây giờ hai cô cầm giấy giới thiệu đây về làng nhận công tác mới! - Sao Bưởi không nhờ anh Chanh? - Khốn khổ, lập chánh quyền ở Thái Phiên xong ảnh bịnh nặng lắm, mửa ra máu, phải chở gấp ra nhà thương tây ở Huế. Nghe nói rọi điện nhiều lần mà không lành, họ tính mổ xẻ sao đó, cả nhà lo cuống mà không đi thăm được. - Xin giấy mà đi chớ! - Giấy có no được đâu! Tiền tàu xe, tiền ăn ở, mỗi thứ mỗi tốn mà nhà em lâu nay toàn rèn giáo mác cho du kích, gạo hết tiền không... Khánh vội rút ví ra, đưa cho Bưởi một tờ năm trăm mới nhận hôm qua. Bưởi lại đỏ mặt, nặng giọng: - Anh Khánh tưởng em hỏi khéo để mượn tiền à? - Không, không, bên ấp mới bán trâu... - Em nghèo chớ không hèn đâu. Anh coi ngó ấp ông phủ thì cứ coi ngó, đợi thượng cấp xét sau, đừng đem tiền ông phủ đi làm ơn như vậy. Em thấy anh thân với anh Cả, hay đi đây đi đó em kể hết để có gặp ảnh thì nhờ anh nói lại giùm, ai dè... Năm Bưởi vùng vằng quay vào lò rèn. Khánh bần thần đút tiền vào ví, leo lên ngựa, thả cương cho nó đi bước một. Ra thế đấy. Bà con vui vẻ coi mình như bạn, nhưng mình vẫn không phải là người của họ, không phải đồng chí với nhau. Trước mắt họ, mình tiến bộ và có ích nhưng vẫn là cậu cử quản lý ấp cho bố dượng tri phủ, mình chưa thật sự cùng hội cùng thuyền. Cô du kích nói tuột ra trong cơn giận, nhưng cô nói đúng quá còn gì... Bốn tờ giấy in rồng xanh như biến thành những mảnh tôn rút trong lò ra, đè nặng và nóng bỏng trong túi Khánh. Hôm sau, anh xách va-li ra bến đò ấp, mé dưới bên vạn. Chiếc thuyền xuống Đà Nẵng y hẹn ghé đón anh ở đấy, sẽ đến cửa Hàn sau một ngày đêm xuôi sông Linh và Thu Bồn. Chuyến xe lửa ra Bắc ấy chở gạo nhiều hơn người. Toa đen đầy gạo đã đành, các toa hành khách cũng chất bao gạo ở tất cả những nơi mà chất được. Khánh kê va-li nằm trên đống bao gần cửa sổ, mỗi lần tàu đến ga lại phải kéo tấm cửa gỗ lên tránh những túi bọc ném vào toa và người leo tiếp theo, nhảy dù chẳng kể húc hay đạp trúng ai. Ngoài Bắc đồng bào chết đói, ta đi đường người trên gạo dưới còn sang chán. Khánh thích thú với phần hi sinh nho nhỏ của mình, chỉ cố giữ chỗ nằm và cái va-li gối đầu. Đến ga Thanh Hóa, anh xuống đi bộ bên toa một lát cho dãn gân, chợt sửng sốt khi gặp một đoàn tàu vào, trút xuống ga một lũ quân kỳ quặc chưa từng thấy. Hành khách chung quanh oang oang gọi nhau tới xem Tàu phù, Tàu vàng, Tàu Tưởng. Áo quần chúng màu vàng nghệ, mặt mũi chúng cũng vàng khè, đứa nào không vàng thì lại bủng beo như ma chết trôi. Chúng xuống toa rất chậm vì hầu như đứa nào cũng vướng một gánh lình kỉnh những súng đạn, bao bị, nồi niêu, chăn áo. Đặt gánh xếp hàng xộc xệch trên sân ga xong, chúng phanh áo ra bắt rận gãi ghẻ sồn sột, cào cấu mớ tóc bù xù chắc là đầy chấy, quấn lại xà cạp kiểu chân voi trên bắp chân phù, vạch quần đứng đái tồ tồ trên nền xi măng, trợn mắt líu lô khi thấy người Việt chỉ chỏ và cười sằng sặc. Số đông đi chân đất đã quen, chỉ có mấy đứa rút giẻ trong bọc ra quấn bàn chân. Vài tên đi giày vải hai màu đen trắng, đeo súng ngắn, quát tháo những gì không ai hiểu, thình thoảng tát bốp vào mặt lính, trông như cảnh sát thời Tây giữ trật tự trong buổi phát chẩn cứu đói. Quả thật là chúng đói lâu năm trước khi sang đây. Nếu bỏ bớt đi những cây súng cồng kềnh và bộ mặt cố làm oai, đồng bào ta rất sẵn lòng nấu cháo khiêng ra đãi lấy phúc! Một anh cán bộ đeo băng đỏ sao vàng cầm loa đi lui tới, thỉnh thoảng đưa lên miệng nói khàn khàn: - Đồng bào chú ý hô theo tôi: Hoan hô quân đội Đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân Nhật. Hoan hôôô.... Chung quanh chỉ cười hô hố. Anh cán bộ cũng cười theo, nháy nháy với những người đứng gần, nói vừa đủ nghe: - Đứng xa tí nhá, kẻo lại lây chấy rận chúng nó. Đi với lũ nửa người, nửa ngượm nửa đười ươi, buồn nôn bỏ mẹ! - Anh yên trí. Vui hơn xem bú dù ở vườn Bách thú! - Nhớ đừng khiêu khích chúng nó, súng có đạn cả đấy... Xin mời đồng bào cùng tôi nhiệt liệt hoan nghênh quân đội Đồng minh vào tước vũ khí phát xít Nhật Bản! Bên cạnh Khánh một anh bộ đội xuýt xoa: - Trông mà thèm rỏ dãi... - Thèm gì? - Súng còn mới lắm, chắc chưa bắn phát nào. Chỉ xin Cụ Hồ nhắm mắt năm phút cho con cháu xơi gọn vài trăm khẩu này thôi. Cánh ta với nhau, cậu lánh mặt đi chốc lát nhé? Anh cán bộ đeo băng hốt hoảng chặn: - Ấy chớ, nó nhếch nhách thế cơ mà là quân đồng minh đấy bố trẻ ạ. Đừng lao vào chỗ hàm chó vó ngựa! Tớ bảo này: đợi khi chúng nó đi lẻ, các cậu làm xôi thịt hành mỡ thật ngon vào, gọi cho nó ăn, chúng nó chén đẫy rồi trợn mắt lăn đùng ra, mất súng cũng chả bắt vạ chính phủ mình được. - Ha ha ha... Khớ khớ khớ... Hô hô hô... Mặc cho chung quanh cười tức bụng, anh đeo băng lại cầm loa đi phía khác kêu gọi hoan hô, như người đóng vai hề chỉ chọc người mà không hề nhếch mép. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:29:03 pm Từ Thanh Hóa trở ta, Khánh còn thấy quân Tưởng nhiều lần nữa nhưng xe lửa không dừng lâu. Một tờ báo mua trên, sân ga cho biết lũ lính ghẻ lở phù nề ấy đông tới vài chục vạn và sẽ tràn vào đến Đà Nẵng. Trong toa xe, rất nhiều người bàn tán theo ý anh bộ đội ban nãy. Ta đang thiếu súng, mong sao Cụ Hồ cho dân mình tước vũ khí của bọn Tàu, như thế sẽ thu sạch được cả ba kho súng: của tám vạn quân Pháp bị Nhật lấy, của sáu vạn Nhật bị Tàu lấy, của Tàu, Nhật, Pháp rơi hết vào tay ta, vô cùng ngon xơi! Ra đến thủ đô là phải xin gặp cụ ngay, Cụ bận thì cũng viết thư nói thật khẩn khoản để Cụ hiểu lòng dân chúng!
Khánh xách va-li bước ra khỏi ga Hàng Cỏ, đầu còn nóng bừng bừng với những kế hoạch động trời. Chỉ qua vài ngày, mớ bọt xà phòng đầy màu sắc lung linh ấy vỡ tan không còn dấu vết. Anh phu xe kéo đòi hai đồng để chở đến phố Cô-lông, lúc này đã đổi ra Phan Bội Châu. Cách đây nửa năm cuốc xe ngắn ấy chỉ năm hào. Cáu sườn, Khánh xách va-li kéo bộ. Anh ghé vào quán phở, cẩn thận hỏi giá trước khi gọi, giật mình khi biết hai đồng một bát. Tờ giấy bạc Đông Dương teo lại kinh khủng, ở Đà Nẵng bát phở một đồng còn đầy tú hụ, phở Hà thành nghìn năm văn vật dềnh lên những nước như vỡ đê! Căn buồng Khánh thuê trước đây đã chuyển sang một gia đình năm người bị bom hỏng nhà, cán bộ ta đến kêu gọi không tăng giá. Bà chủ cho biết thêm ông ký giả ở tầng dưới đã thôi việc, đưa vợ con về quê, nếu cậu Khánh muốn thế phòng ấy thì bà tính rẻ mỗi tháng trăm rưỡi thôi, tất nhiên nếu thêm chị Nết ra cùng thì phải hai trăm. Chỗ thân quen nên bà chỉ lấy tiền trước ba tháng, những như người ta thì phải chồng thêm tiền vào cửa, trả trước ít nhất nửa năm mới khỏi bị tăng giá. Điếng người Khánh chỉ vâng dạ qua loa, xách va-li tìm nhà trọ cạnh ga ngủ tạm. Một phòng nhảy đầm lớn được ngăn thành mươi buồng tí xíu, Khánh trả tám đồng để thức gần trắng một đêm vì rệp đốt nhoi nhói, mới chợp mắt lại bị một tốp khách từ Hải Phòng lên làm ăn ầm ỹ không ngủ được. Rất may là sáng hôm sau Khánh vớ được một cậu bạn tốt bụng trước kia cùng học Luật, nay ở với nhà vợ làm nghề mạ và vẽ gương soi trên phố Hàng Lọng, từ ga Hàng Cỏ đến chợ Cửa Nam. Cậu ta cho gửi va-li và dành cho Khánh một chỗ trải chiếu trên căn gác chật, chỉ nhắc Khánh nên về nhà trước chín giờ tối vì Tàu phù hay cướp đêm. Cậu còn nhắc Khánh ra phố không nên đeo đồng hồ hay mặc sang, Tàu phù vừa gào Dật pủn chất 1 vừa lột sạch chỉ chừa lại quần đùi. Cậu bạn thấp lùn cởi trần ra đánh bóng những tấm kính sẽ mạ làm gương soi, ném cho Khánh từng mẩu tin mới. Chưa có tăm hơi gì trường Luật sẽ mở cửa. Ngày xưa nước ta tứ nguyệt tam vương là chuyện mèng thôi, nay lục nguyệt tam chế mới thật ly kỳ. Đấy nhé, trước đảo chính mồng chín tháng Ba là chế độ thuộc địa dưới quan Toàn quyền Pháp, tiếp tới cái chế độ đặt tên to tướng là đế quốc Việt Nam với quan Tối cao cố vấn Yô-kô-ya-ma cưỡi trên đầu vua Bảo Đại, thoắt cái bôm nay là chế độ dân chủ cộng hòa còn mới toanh, ngay hiến pháp cũng chưa có. Ai soạn cho kịp các bộ luật để dạy trong nhà trường? Liệu mà đổi trường hay kiếm nghề khác làm ăn cho được việc! Từ đó Khánh bắt đầu lang thang trên đường phố Hà Nội. Những ngày rầm rộ biểu tình hàng chục vạn người giành chính quyền, nỗi vui ngây ngất khi mở hội một triệu đồng bào cùng giơ tay thề với Cụ Hồ Chí Minh quyết giữ độc lập, chiếc nhẫn cưới tháo ra trao trong Tuần lễ vàng, cuộc họp đầu tiên ủy ban khu phố, đồng bạc đầu tiên góp vào Quỹ độc lập, bữa nhịn cơm trong Ngày đồng tâm đầu tiên dành gạo cứu đói, tất cả những việc làm thiêng liêng ấy in dấu không phai trong lòng người thủ đô. Cách mạng lay động mỗi tâm hồn đến tận đáy sâu, đánh thức từng chút tự hào và mơ ước còn lại ở cả những ai tuyệt vọng nhất. Mình là công dân một nước độc lập rồi, Việt Nam sánh vai với các nước văn minh rồi, phải thế nào chứ! Trộm cướp biến đi đâu hết. Cô đầu Khâm Thiên và Ngã Tư Sở thu vén để hoàn lương. Đồng bào chạy đói ra tỉnh ăn xin nay lĩnh gạo cứu tế, dắt dìu nhau về quê khi lác đác có lúa mới. Dường như trước đây Hà Nội là một thân thể ngủ mê, trong đó chỉ có những người cách mạng nhận lấy vai trò của tim đập và phổi thở. Hà Nội ngày nay là con người vừa bừng tỉnh, đang chạy nhảy hò hét cho tất cả các tế bào cùng một lần rung chuyển. Giữa lúc ấy, nạn dịch Tàu phù đổ ụp xuống một vùng đất vừa chôn hai triệu xác chết đói. Những người còn sống bằng hi vọng nhiều hơn cơm, nhịn may áo lấy vải may cờ, nay phải cắn răng nhìn từng đám mây châu chấu từ phương bắc tràn đến. Chúng gặm nhai tất cả những gì mới nhú mầm lên, người chủ đất lại không được phép đập chết hay xua đuổi. Sao mà ngược đời thế! Khánh cuốc bộ trên các vỉa hè quen thuộc chung quanh vùng Bờ Hồ, cảm thấy khá nhanh cái không khí dồn nén hậm hực đang làm cho Hà Nội khó thở. Theo phố Tràng Thi, anh đến tìm người quen ở Thư viện Trung ương. Một tiếng quát lạ tai chặn anh lại. Tên lính Tưởng nhấc cây súng cắm lê dựng đứng lên cầm ngang, nạt một tràng tiếng lạ. Anh tạt sang hè phố bên kia, nghe một cậu đeo kính trắng vừa đi tới nói hằn học: - Ông bạn ở cung trăng rơi xuống đây à? Còn bíp 2 đâu nữa mà đến làm mọt sách, chúng nó đem đun bếp cả rồi! - Quái nhỉ họ gác đây làm gì? - Thưa rằng họ chiếm đóng. Mời ông bạn đi xem phủ Toàn quyền, nhà Thương Đồn Thủy, các trường học, đến gần là ngửi thấy mùi cứt Tầu phù đến lộn mửa! ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Trung quốc: Tên Nhật Bản! 2. Tiếng Pháp. Bibliothèque: Thư viện. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:32:14 pm Khánh đi thẳng đến Bờ Hồ. Ở nơi dạo mát này ít nhất cũng đỡ bị chúng nó làm ngứa mắt. Anh ghé vào một quán giải khát gọi cốc chanh quả, thấy luôn một áp-phích mấy chữ to dán trên vách gỗ: “Đả đảo Việt Minh độc tài cộng sản!”. Bên dưới thêm một áp phích nữa với tiêu đề “Tuyên bố của Việt Nam cách mệnh đồng minh hội”, và chữ dưới cùng là Nguyễn Hải Thần. Đọc lướt qua mấy dòng, Khánh cáu tiết đứng dậy định bỏ đi, vừa lúc đó cô bán quán bưng cốc đặt trước mặt:
- Ông xơi ạ. Ông xem của ấy làm gì! - Cô dán giữa mặt khách hàng lại bảo đừng xem! - Khối người tưởng thế, hàng em mất khách oan uổng. Người ta đến dán bộp một cái, chĩa súng cấm em không được bóc, liệu hồn mà kẻo nhà cháy người chết đừng kêu. Nào em có biết liệu ông Thần ông Quỷ nào đâu! Vài chỗ khác, Khánh lại gặp những tuyên ngôn của Việt Nam Quốc dân đảng do Vũ Hồng Khanh ký, những tờ truyền đơn của Đại Việt quốc gia liên minh, tất cả đều dán chi chít chung quanh những bản bố cáo to tướng in chữ Hán và chữ Việt của đại tướng Lư Hán, tư lệnh Đệ nhất phương diện quân Trung Hoa dân quốc. Có lẽ những kẻ dán truyền đơn chửi Việt Minh đều hãnh diện được bám quanh tên tướng Tàu phù. Lạ thật, đảng phái ở đâu mọc ra như nấm mùa mưa thế này? Mà sao họ nhất định phải chửi rủa hằn học đến thế. Để tránh quấy quả anh bạn sống gửi rể nhà vợ. Khánh ăn cơm hàng cháo chợ cho qua bữa. Xong bữa chiều giá sáu đồng trong cái quán lụp sụp đường Bờ Sông, hết tiền lẻ, anh rút tờ giấy năm trăm ra trả. Bà hàng hốt hoảng xua tay: - Nhà cháu nghèo thế này làm gì có đủ mà giả lại cậu! Khánh gửi cái mũ, chạy qua mấy hàng khác đổi tiền lẻ. Hai nhà bảo không có, chỗ thứ ba, ông Hoa kiều bụng phệ giơ tờ giấy lên soi, lại thấm nước bọt quệt tay trên mặt hình màu vài lần, gật đầu: - Đồng pạc thật á. Giấy con dồồng xanh đổi hai trăm, con dồồng vàng đổi pa trăm, pằng lòng thì đổi. Khánh há miệng mà tắc họng. Ở Đà Nẵng, anh đổi một tờ thế này chỉ các hai chục trong khi đang vội, lấy tám trăm cho xong. Ông này nhận là bạc thật, sao chỉ đổi hai trăm? Thấy Khánh tần ngần, ông vất trả tờ giấy bạc, làm vội những bát sủi cáo bưng cho khách, không một chút vồ vập trước món lãi đang làm Khánh kinh hoàng. Bà hàng nhận cho gửi tạm cái mũ để mai đem tiền để chuộc, còn dặn Khánh chỉ nên về nhà theo những phố đông người sáng điện nhất, khi hô hoán lên còn có người mình xúm vào bênh nhau. Cái xưởng làm gương soi trên căn gác Hàng Lọng vừa nghỉ, anh bạn học đang quét dọn sàn nhà. Nghe kể vụ đổi bạc, cậu ta buông chổi cười ngặt nghẹo: - Mới tếch khỏi Hà Nội mấy tháng mà cậu đã cả quỷnh thế! Hồi đảo chính, thằng đặc sứ Nhật Txư-ka-mô-tô lên làm Toàn quyền để nguyên bọn cầm đầu Ngân hàng Đông Dương với bọn kỹ sư in giấy bạc ở nhà in I-đê-ô, chỉ lấy vét hết số bạc chưa phát hành, lại đốc thúc in thêm mấy tấn giấy năm trăm nữa, là thứ rồng xanh của cậu đấy. Chả là thiếu thứ mực Lo-ri-yo vàng óng của Tây, phải thay mực xanh vào. Bây giờ bọn nhà băng giở quẻ, bảo giấy năm trăm rồng vàng là thứ mất trộm, giấy rồng xanh là của Nhật, không chịu đổi, dân mình đang biểu tình ầm ỹ đấy. - Thế sao lão Khách bán sủi cảo chịu hai trăm? - Vì lão là Tầu! Lão đưa hai trăm, đem đến bọn Lý sự hội hay bang trưởng Tầu đổi lấy vài chục bạc lãi, bọn này đổi lại cho các ngài tư lệnh Truug Hoa được chừng ba trăm, các ngài sẽ mang quân đến vây Ngân hàng buộc đổi bốn trăm chẳng hạn. Đám nhà băng sẽ thanh toán với mẫu quốc gần đúng năm trăm để chấm mút vào đấy. Tây Tầu cứ thế làm giầu, dọc phố đầy khối người mình trắng tay. Muốn thoát nạn, phải đợi chính phủ Cụ Hồ in được giấy bạc kia! - Đem quân đến gô cổ bọn Ngân hàng là gọn nhất... Cậu kia cười to hẳn: - Mời cậu gô luôn mấy chục vạn quân Lư Hán cho tớ nhờ mấy! Đã phải nhận đồng quan kim nào chưa? Nếu gặp của nỡm ấy, cố xua ngay như xua tà nhé. Trông tốt mã thế này mà ở Côn Minh một cân giấy quan kim chỉ mua được mươi cân gạo thôi, sang ta chúng ép phải chịu một đồng quan kim ăn đồng rưỡi Đông Dương, khủng kiếp chưa. Khánh ngắm nghía tò bạc in trên giấy rất trắng, nét tinh vi, đặc biệt trình bày theo chiều đứng, một mặt toàn là chữ Hán với hình Tôn Trung Sơn, mặt kia toàn chữ Anh. Có dòng nhỏ xíu dưới đáy, tiếng Anh: Công ty giấy bạc Hoa Kỳ. - Ban đầu mấy chú Khách cầm quan kim đi khoe: Quốc quân mang đô-la Tầu sang, quý lắm đây, chịu đồng rưỡi Đông Dương là thương dân ta nghèo, chứ nay mai đổi ngang đô-la Mỹ tha hồ mà mua hàng ngoại, có người tin, đến khi thấy lính Tầu phù quá đói rách mà túi đầy quan kim mới ngờ ngợ. Hàng nhà tớ lính không ham, chỉ vài đứa vợ lính ghé vào, tớ nói thách gấp năm lần chúng cũng hí hửng mua vội thì ra vẫn hớ! Nể lời Khánh nằn nì, cậu nhờ bà mẹ vợ mang tờ rồng xanh đến lão bang trưởng ỏ phố Cửa Đông đang có mấy tướng tá quân Tưởng đóng trong nhà, nói khó đổi được hai trăm tư là may rồi. Khánh tính thoáng qua, thấy mỗi tờ năm trăm mang ra đây chỉ bằng xấp xỉ một trăm hai ở Đà nẵng, dưới một trăm ở huyện Tây Quảng. Muốn ở lại Hà Nội, dù để vào một trường nào đấy hay tự học thêm, Khánh phải kiếm nghề phụ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 20 Tháng Năm, 2016, 02:34:27 pm Từ sáng đến tối Khánh đi gặp các bạn cũ. Trung bình phải một lần tới nhà viết giấy hẹn, lầu sau mới gặp được, đôi người ba bốn lần báo trước vẫn đi vắng. Sinh viên Luật phần đông là con quan, con nhà giàu, con công chức cấp cao, thường chơi thân với nhau từng nhóm nhỏ chứ ít giao du rộng như sinh viên các trường khác, cũng ít sống trong khu Đông Dương học xá mé Bạch Mai là nơi anh em nghèo nay chia năm xẻ bảy. Vào Vệ quốc đoàn có. Làm cán bộ các ngành trong chính quyền có. Về quê giữ của cho bố mẹ có. Đưa bằng tú tài ra xin một chân thầy giác có. Buôn lậu kiếm lãi như điên có. Tiêu tiền nhà đi lang thang chửi đổng có. Nhảy vào Việt Quốc, Việt Cách , viết báo và truyền đơn chửi Việt Minh có. Mặc áo Tàu phù đi ám sát, bắt cóc, tống tiền, nổ súng bắn lại công an có.
Quái gở, sao con người có thể biến đổi đến thế nhỉ? Thằng Sang cùng lớp với Khánh nổi tiếng lù đù, nay lại lừng danh trong giới bờ lờ. Hắn gặp Khánh khi vừa được món bở, kéo đi chén một trận rất mẹ kiếp với hai gà bốn chim kèm một chai vang cũ Boóc-đô còn nguyên mạng nhện, tuyên bố rằng hắn chỉ tôn thờ ông thần Tài, chủ nghĩa Xìn, đạo Kim Ngân. Những đứa thích tồ nghệch quých quýnh, xin cứ việc! Nhưng dù say nghiêng ngả, hắn vẫn không cho Khánh biết địa chỉ. Ranh thế! Thằng Tùng con quan bố chính không chịu về nhà quê làm cóc vàng. Hắn chiếm cái vi-la của ông via, đón một lũ quỉ đực quỉ cái về tha hồ quấy, đã tháo bán đến cả cửa chớp và cửa kính, đang đợi bố chết để bán luôn cả nhà đất. Thằng Liễu ngược lại, nghiêm mặt nhìn Khánh như đang truy đứa em hư: “Mày cứ tiểu tư sản mãi đến bao giờ? Thân nam nhi là phải da ngựa bọc thây, xương phơi chiến địa, mày lại cố học thứ chữ nghĩa vô dụng làm cái cóc khô gì? Chán ốm!”. Hắn tỏ chí tang bồng hồ thỉ thế nhưng lại kèm trẻ mỗi ngày ba lớp cho nhà giàu và chỉ nói lảng khi Khánh nhờ xếp một chỗ cùng dạy tư. Sinh viên lúc này lao vào kèm trẻ nhiều. Bởi các trường trung tiểu học hầu hết đóng cửa tránh bom đạn sau đảo chính, những nhà khá giả ngại con chơi lêu lổng và quên hết bài vở. Riêng thằng Sĩ Ca có biệt hiệu là Ca Sừng hay Si-ca-gô, Khánh gặp lại vào lúc ít ngờ nhất. Anh đang ngồi uống nước chè chén trong quán vỉa hè trên đường Quan Thánh, thấy một chiếc xe du lịch sơn đen đỗ xịch mé bên kia, phía số lẻ. Trên nóc xe có hai người nằm, kê một súng máy hai chân. Hai bên chắn bùn trước có hai lính nữa đứng níu tay vào cửa, tay kia kẹp một cây súng máy nhẹ toàn bằng sắt, có hộp đạn lắp đâm ngang. Từ trên xe bước xuống ba người, đứng đợi trong khi một lính cầm giấy đến chìa qua cái lỗ vuông nhỏ xíu trên cổng sắt đóng kín. Một ông râu ba chòm, mặc gấm lam đội khăn xếp chỉ thiếu cái bài ngà. Một người to béo đóng com-lê cà-vạt nguyên bộ tùy trời nóng. Người thứ ba đúng là Sĩ Ca, không lầm được tuy hắn chừa râu quai nón và râu mép rậm rì khiến cho bộ mặt sạm nắng trông càng dữ tướng. Là võ sĩ quyền anh khá nổi tiếng ỏ Nam Định, hắn hay khoe rằng nhiều đối thủ nhác thấy bộ mặt nát người ấy đã bủn rủn chờ hắn đấm nốc-ao. Hắn mặc áo quần ka-ki cùng mầu lam y của quân Tưởng nhưng may kiểu sĩ quan Pháp, chân đi dày da nâu có cổ và có ghệt gắn liền vào lên đến nửa bắp chân, thít bằng hai khóa mạ kền. Ngang lưng hắn đeo sề sệ một thắt lưng vải rộng bản rất nhiều lỗ của quân Mỹ, móc bao súng ngắn to kềnh vào đấy. Khi hắn quay nhìn ra phố, Khánh thấy trên mũ lưỡi trai có đính một phù hiệu tròn thêu ngôi sao trắng trên nền xanh trời, chung quanh viền đỏ. Giữa câu chuyện thì thào, hắn hay nhìn một vòng từ đầu đến cuối phố, tay mân mê bao súng. Khánh hỏi ông cụ hàng nước: - Bộ đội nào thế cụ, trông sang ghê. - Suỵt, khẽ chứ. Cậu ở tỉnh xa mới đến à?... Nhà ấy là trụ sở của Việt cách, quân kia là quân Việt quốc. Họ đóng khối nơi ở Hà Nội, sao cậu không gặp? - Cháu cứ lẫn với Tầu... - Ra thế. Muốn nghe họ tuyên truyền thì lên quá tí nữa, ngang Hàng Bún trên. Hay là chỗ số nhà tám mươi phố này, loa điện ầm ầm suốt ngày đêm. Họ sắp ra báo đấy. Ông cụ nói lơ lửng như kể một tin vỉa hè trong khi rót cho Khánh thêm chén nữa. Rồi bỗng đột ngột nổi khùng, cụ văng một câu chửi rất tục, tiếp luôn: - Tôi có nhời khuyên cậu đừng dây vào lũ đầu trâu mặt ngựa ấy. Thằng Tầu đã bẩn, bám đít thằng Tầu còn bẩn đến đâu. Nơi nào chúng nó gác cổng, cậu vòng tránh xa xa tí, nhỡ sinh sự bị chúng nó lôi vào bên trong thì cứ là mất xác mất giỗ! Cổng đã mở cho xe vào. Khánh thoáng thấy nhiều tên lam y qua lại sau những tường thấp chất bằng bao cát, trước cửa ngôi nhà chính cũng có bình phong bằng bao cát. Một chiếc xe quân sự nhỏ của Nhật sơn màu đất sét đậu giữa sân quay đầu ra ngoài, cắm cờ thanh thiên bạch nhật của Tưởng. Cổng sập lại rất nhanh. Dáng điệu của những kẻ trong ngôi nhà hai tầng lớn bên kia có gì đấy thật lạ, pha lẫn huênh hoang và lén lút, hung tợn và sợ sệt. Khánh chưa hiểu nổi vì sao. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 02:44:50 pm 21. Trèo lên ghế sau xe hơi xong, Cả Chanh ngồi nép vào góc sát cửa, rướn cổ soi mặt mình vào cái gương lắp bên phải người lái. Mặt gương in hình một người tạm gọi là coi được, với cặp mắt xếch không quá hõm sâu, vết nẻ trên cằm đã đầy lên, còn da thì... ai nằm bệnh viện ra mà chẳng xanh xao! Anh Bảy Quý đang nói tiếp với anh Tô Xáng một câu chuyện dở dang nào đó. Chanh gật gật đầu, rất vui khi thấy bóng mình gật trả trong gương. Ra khỏi nhà thương rồi. Trở lại làm con người như tất cả mọi người rồi. Ta hay chia loài người ra nhiều giới, tầng lớp, giai cấp, dân tộc, chủng tộc, chắc hẳn nay phải thêm một cách chia mới giữa người ốm và người khỏe! Chanh bị gục nhào ngay trong cuộc họp ở Đà Nẵng, khi xứ ủy giao hàng loạt việc mới cho tỉnh ủy Quảng Nam và thành ủy Đà Nẵng. Sau hai tiếng đau bụng vừa sức chịu, trong dạ dày anh bỗng chồm lên một con mèo điên vừa cào cấu vừa lăn lộn. Anh cố gượng đút sổ tay vào túi, gài bút máy, bước ra thật thản nhiên, thoát khỏi cửa mới vịn tay men tường đi vào một góc vắng nhất, có lẽ trước kia dành, cho anh loong-toong trong sở tây này ngồi ngủ gật đợi sai vặt. Anh nằm vật xuống tấm ván kê sẵn, ôm bụng quằn quại, nôn ra thứ nước chua quen vị giữa nền nhà gạch hoa, thoáng thấy những đốm đỏ giữa nước xanh trước khi lịm đi. Nhiều tiếng nói đánh thức anh dậy. Anh Quí xoa cằm như tiếc bộ râu dài mới cạo, gắt gỏng: - Cháy nhà ra mặt chuột, nó đau dạ dày mà giấu miết... Chở vô nhà thương lập tức! Chanh há miệng muốn cãi rằng đau bụng là sự thường, lát nữa sẽ hết. Nhưng một mũi dùi lửa từ dưới thuôn lên óc khiến anh không thốt ra tiếng, mê luôn. Anh mở mắt hồi lâu mới nhận ra mình nằm ở nơi lạ, trên nệm trắng và gối trắng. Một ông có râu mép và một cô trẻ đều mặc áo choàng trắng đứng bên trái giường. Bên phải là mấy khuôn mặt thân quen đang nhìn anh và nhìn nhau. Những lời họ nói lọt vào tai anh khó khăn như phải khoan lỗ. - ...Tù về, nhào vô liền... - …Phải chi nó chịu nói để mình sắp đặt... - ... Kiếm đâu được pê-ni-xi-lin, bác sĩ mới dám mổ... Chanh cố nói to nhưng chỉ phều phào: - Hơi đâu mà lo, các anh! Nghỉ ít bữa là khỏe thôi! - Ngó coi đứa chết nó cãi thằng khiêng! Vô đây là phải theo lệnh thầy thuốc, không ý kiến ý cò lôi thôi! Anh Xáng giống cai lục lộ với áo ka-ki ngắn tay và chòm râu mép, khi cố sừng sộ lại giống cả giọng nói. Họ kéo nhau ra ngoài. Cô y tá tiêm liên tiếp hai phát, một vào mạch tay trái, một vào bắp đùi bên phải. Chanh quen nếp người thợ rề-pa-ra-tơ, dấu phấn gạch chéo đâu thì cứ đấy mà chữa đầu máy hay toa xe, vâng lời rất ngoan. Một chị lớn tuổi cầm cái túi nhuộm đen giơ trước mặt anh, hỏi: - Đồ của anh đây phải không? Chanh gật đầu. Nhưng chị này cẩn thận rút từng thứ ra, hỏi cặn kẽ hơn. - Một bộ đồ ta đã vá nhiều. Một quần đùi. Hai cuốn sổ. Tôi ghi luôn có một đồng hồ đeo tay, một cây viết máy Pi-lốt... - Còn súng ngắn với cái nịt... - Các ông nhận giữ rồi. Anh sót thứ gì nữa không? Chanh lắc đầu, thấy mình đang vào một nhà giam mới. Có gì đâu mà truy. Anh đi lấy huyện tỉnh với túi nhờ Năm Bưởi may vội bằng tấm đồ của đồng bào Thượng xé ra, cùng mấy thứ của Hai Khánh cho mượn trước khi lên đường, một ngày mưa ở chợ Huề Bình. Anh Bảy Quí bước vào, tay vẫn sờ cằm do tật vuốt râu, nói như đang gọi loa: - Mày ra Huế với tao. Ngoài đó sẵn thuốc hơn, mau lành. Chanh giật mình, cãi gượng giữa cơn đau mới: - Đây được rồi... Đang bộn bề quá anh ơi... - Mày là dân Quảng Nam, mắc cái bệnh hay cãi. Ý thức tổ chức bỏ đâu hả? Tao nói rồi đó: các đồng chí Quảng Nam không được phép bố trí công tác cho đồng chí Phan Chanh trước khi có giấy của bác sĩ chứng nhận lành bệnh. Hễ chết thì chịu trách nhiệm trước xứ ủy. Mấy cha chịu rồi. Đây thiếu thuốc, tụi Nhựt vét hết. Ra Huế đỡ hơn Chanh à, ngoài đó vua chúa nhiều, Nhựt nó để lại thuốc men khá lắn. Cần thì tao đưa mấy ông quan ngự y tới chữa bệnh cho mày, thằng qủi sứ! Chanh liếc thấy nét mặt hốt hoảng của hai cô y tá lớn và nhỏ đang nhìn nhau, suýt bật cười. Mới lập chính quyền vài ngày, có lẽ đây là lần đầu họ đến gần mấy ông Việt Minh đầu tỉnh, lại nghe họ nói với nhau bằng giọng nạt nộ đến khiếp, chẳng biết với dân đen họ sẽ hách đến đâu! Chiếc xe du lịch chạy cồn không leo nổi các dốc cao của đèo Hải Vân. Anh Quí, chị y tá, cậu bảo vệ xuống xe đẩy hì hụi. Chanh nằm dài trên ghế sau, bực với mình không thể tả. Mình làm phiền nhiều người quá mất, cứ như quan huyện nằm cáng cho người ta khiêng! Qua khỏi đèo, anh Quí lại lên ngồi lên gói tài liệu kê bên đầu Chanh và chị y tá ngồi ghé vào nệm xe phía chân anh cứ xoa mãi trên ngực và bụng Chanh, vài phút lại hỏi xem đỡ chưa. Thên một phát moc-phin nữa tiêm dưới da bụng, cơn đau đã dịu hẳn, Chanh giữ tay anh lại. - Khỏe rồi anh ơi, anh nghỉ đi. Anh Quý nói khẽ, giọng bùi ngùi: - Hồi ở tù, mày thức đấm bóp cho tao đêm này qua đêm khác thì sao. Thằng Xáng nó vò đầu bứt tai hoài, ai lại mày mới vượt núi từ Kom Tum về mà quên không hỏi mày bệnh tật ra sao, đưa tuốt mày lên xứ núi Linh Lâm xây dựng du kích. Mỗi lần gặp nhau, phê bình chỉ trích một mớ, giao công tác mới một đống... - Hồi đó làm sao chữa bệnh được anh! - Sao không được? Kiếm đủ giấy tờ, đưa mày ra Huế gởi vô nhà mấy ông thầy thuốc bắc cảm tình Việt Minh đó, hay là ở thành phố chữa bác sĩ tư. Có điều mày sốt ruột, tụi tao cũng quá tham công tiếc việc. Thôi nghen, chịu khó chữa thiệt lành, có nhấp nhổm ra sớm cũng chẳng ai dám phân công cho mày. - Tôi có nghề sửa xe lửa, chẳng thất nghiệp đâu... - Ừ, mày giỏi. Tìm thằng chủ nào có đầu máy xe lửa tư nhân mà sửa, đừng vô hỏa xa của chánh phủ nghen! Cả hai cùng cười. Chị y tá cười theo rinh rích. Mấy ông Việt Minh cỡ to này vui tính ghê đi. Đáng lẽ nhắc bệnh nhân nằm im, chị cứ để mặc họ tán với nhau cho khuây khỏa. Nhưng anh Quí lại nhớ ra trước: - Thầy thuốc dặn mày đừng cựa quậy nói năng gì, tao lại cà rà hoài. Ông già Cửa Đợi bây giờ sinh chứng hay nói rồi, lão lại đái tật rồi. Đỡ đau thì rán ngủ đi Chanh. Anh rướn cổ xì mũi hai lần qua cửa sổ ô-tô, ngồi ngửa đầu lim dim, từng lúc đưa tay vuốt cái cằm trụi râu đến hôm nay vẫn chưa hết vẻ buồn cười. Anh có rất nhiều tên, nhưng khi mãn hạn ra tù năm 1943 thì quay trở về cùng cái tên cúng cơm là Ông Ích Quí, hình, như thuộc dòng dõi Ông Ích Khiêm sao đó. “Tụi mật thám quen mặt tao rồi, khai tên gì nó cũng nhận ra lão Quí, cộng sản râu. Tao cứ để tên cũ nó lại đỡ nghi”. Trong các thư mật anh chỉ ký bằng con số 07, vì anh thứ Bảy. Có lần Sở mật thám Pháp lấy được một thư công tác để gửi anh Quý, chúng lại không hề nghi anh tù cũ này vì cộng sản chẳng điên gì dùng tên trong hồ sơ gốc. Cả Chanh nằm bệnh viện chẳng khác nằm trong bàn chông. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 02:49:58 pm Hình như tất cả những biến động long trời lở đất cứ rủ nhau diễn ra trong khi anh nằm bẹp một chỗ cùng trêu tức cái vào ngoác miệng gào ăn trong khi anh cố nuốt vào bụng cả một cốc nước quấy bột trắng để đứng trước máy chiếu điện cho các thầy thuốc nhìn vào ruột gan. Phái bộ Ăng-lê chiếm Nam Bộ phủ, còn và cố đoán xem mỗi phút có bao nhiêu giọt tuôn vào mạch máu mình. Và anh vừa tự xoa bụng vừa đếm trong khi quân Pháp lâu nay bị cầm tù, được thả ra và trao súng, núp sau lưng Anh-Ấn-Nhật đã đánh chiếm Sài Gòn!
Còn may, các thầy thuốc chưa cần mổ bụng anh. Người khám chính thức là quan đốc Vĩnh Trượng có bằng bác sĩ chính hiệu, chủ nhà thương tư trương bảng hiệu Ancien inlerne des hôpilaux de PARIS, nay mỗi ngày đến xem bệnh vài giờ với bộ mặt khinh khỉnh trên thân thể béo phị, được các cô y tá giới thiệu thì thào là bác sĩ thân tín nhất của Nam Phương hoàng hậu. Người điều trị chính, là ông y sĩ Đông Dương gầy đét và râu quặp, luôn luôn có điệu bộ xoa tay gãi tai sợ hãi tuy còn tạm được gọi là quan đốc như xưa. Thấy cậu bệnh nhân bằng tuổi con ông là Cả Chanh thường có khách đến thăm - trong đó có ông chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng Trung Bộ, quyền ngang quan Khâm sứ Trung Kỳ trước đây - ông ta khom lưng vâng dạ trước mặt Chanh đến mức anh đâm ngượng, xếp Chanh nằm một buồng riêng rất sang và dặn dò y tá rằng đây là bệnh nhân đặc biệt, ai để ông ấy không ưng ý thì liệu hồn. Chanh rất xấu hổ khi nằm ềnh ra cho người khác hầu hạ. Bao lần ốm đau trong nhà tù hay ở Linh Lâm, Qui Nhơn, anh cứ tự mình lướt qua bệnh tật mà rất ít nhờ bạn giúp. Đây là lần đầu thân thể anh phản lại ý chí, lần đầu anh cảm thấy sức mạnh tinh thần có giới hạn của nó. Xác anh đang thắng. Còn may may một chút là anh không hoàn toàn vô dụng. Các đồng chí đem vào từng đống báo chí, bản tin, còn kể thêm rất nhiều chuyện râu ria về thời cuộc. Nhờ đó trong căn buồng xếp riêng mà anh vẫn miễn cưỡng phải nằm thường lắm bệnh nhân và thầy thuốc đến rỉ rả dài dài. Giữa cơn đại náo ngàn năm có một này, ai cũng sẵn vô vàn điều muốn hiểu thêm. Có những sự thật rất giản dị mà Chanh tưởng ai nấy đều biết, nay vẫn nhiều người hỏi cặn kẽ. Quen sống từ lọt lòng trong dân thợ và dân cày, Chanh hình dung giới tri thức là những nhà thông thái, am tường hết trăm ban vạn sự, đối với họ chỉ có vấn đề dám hay không dám liều thân mà theo Cách mạng. Anh sửng sốt khi nghe ông cử nhân toán học dạy trường Khải Định bàn với cụ đồ nho rằng chớ nên nghe lời tuyên truyền của một đảng chính trị nào cả - chính trị là xấu, đảng phái xấu, tuyên truyền xấu - mà chỉ nên tuân theo lời giáo huấn của vị lãnh tụ tối cao là Cụ Hồ Chí Minh thôi. Bà y sĩ tóc ngả bạc lại tin rằng đã đổi đời thì mọi trật tự phải đảo ngược hết, người thấp kém nhất sẽ là người đầy quyền thế; bà tắc tị khi một cô y tá trẻ măng trêu rằng phải mời ngay những người ăn xin ở chợ Đông Ba làm bộ trưởng, và Chanh vừa cười vừa phân xử. Một ông tham tá lục lộ nằm theo dõi bệnh vài ngày giảng cho sư cụ giường bên rằng cộng hòa là góp hết của cải lại đem chia đều ra và sư cụ gật gù thấy làm thế mới đúng là thế giới đại đồng, chỉ nên ruộng nhà chùa nên để lại cho chùa. Mất đúng một tháng rưỡi Chanh mới ra viện được. Ông đốc tờ Trương to béo đã bớt ghét chế độ mới từ khi thấy cựu hoàng Vĩnh Thụy được mời làm tối cao cố vấn, chẳng phải như vua Lu-y thứ mười sáu hay vua Ni-cô-la đệ nhị trong cách mạng Pháp và Nga đều bị giết. Ông giữ Chanh trong phòng khám gần một giờ để thổ lộ hết nỗi niềm. Một tay ông Tôn Thất Thuyết ngày xưa đã dám phế tới ba vua, tới thằng Tây đưa luôn cả ba vua Hàm Nghi, Thành Thái với Duy Tân đi đày, bây giờ ông ta sợ Việt Minh cộng sản lên ngôi sẽ tru di tam tộc hết cả hoàng phái! Hóa ra Cụ Hồ là bậc thánh hiền, lấy đức dạy dân chứ không đa nghi đa sát, được một ngài như rứa thì Vĩnh Trượng nay xin bái phục làm tôi con cụ tới mãn kiếp! Nếu ông Phan Chanh được dịp bái yết Cụ, nhờ ông thưa giùm một câu rằng tất cả dòng dõi vua Gia Long ở xứ Huế này đều thần phục Cụ... - Bác sĩ nói tất cả, chắc vậy không? - Chà chà... thôi thì nhờ ông bẩm với Cụ đừng lẫn lộn kẻ xấu người tốt là đủ. Có ai bẻ thước mà đo lòng người! Ông y sĩ râu quặp cũng chấp nhận không gọi là quan đốc nữa, mà được tôn lên là bác sĩ. Xứ Huế này nhiều quan đến nỗi ai cũng muốn được làm quan hay sao ấy! Ông cấp cho Chanh một số thuốc mang về đủ dùng cho mười người cùng bệnh, rỉ tai nhờ Chanh trình lại với quí vị trong ủy ban Trung Bộ khi nào mệt mỏi xin cứ vô đây để ông được phục dịch. Gần trọn đời hầu hạ các quan Tây quan Nam rồi, bây giờ góp sức chăm lo cho Tổ Quốc là ông thỏa dạ lắm rồi. Chanh ngồi nghe mà cứ ngớ ra: sao con người có lắm cách nghĩ khác nhau đến thế! ... Chiếc xe ngon trớn chạy vo vo trên đường Một. Từ Hương Thủy đến Phú Lộc. Chanh chỉ say sưa ngắm cảnh hai bên đường như hồi mới thoát nhà giam, không để ý mấy tới câu chuyện mà anh Quý với anh Xáng bàn thầm thì, hình như không muốn hai cậu lái xe và bảo vệ ngồi ghế trước nghe lọt tai. Chanh muốn hưởng hết cái hạnh phúc được làm người khỏe. Trên trái đất này người khỏe là người được quyền làm mọi việc ưa thích, càng làm nhiều càng được chung quanh ca ngợi, gắn cho vô vàn danh hiệu quý trọng. Còn người ốm thì, ôi thôi, luôn luôn bị chê trách là phạm quy định của bác sĩ, là phá sức, là quấy rối kế hoạch điều trị, là muốn kéo dài thời gian nằm bệnh viện để gây thêm khó khăn cho tổ chức! Nhìn quang cảnh hai bên đường, với cặp mắt đã lùi xa phong trào khá lâu để còn tìm thấy những nét lạ đủ sức gây ngạc nhiên, Chanh lặng lẽ nghĩ và nghĩ... Trong những ngày này người dân hô khẩu hiệu ít hơn. Mít-tinh biểu tình giảm đi để tăng giờ cuốc đất đập búa, lăn lê bò toài trên sân tập. Những cán bộ Việt Minh vác loa gọi đồng bào đi lấy huyện lấy tỉnh nay đang đổ mồ hôi hột trên giấy, học cách giữ chánh quyền và làm ra lúa khoai. Cảnh bộ đội đi đều diễu binh với kèn trống dẫn đầu nay vắng hẳn, nhường cho các đoàn tầu vang ầm tiếng hát đưa Vệ quốc quân vào Nam giết giặc, lớp này đến lớp khác. Không khí chung dương như trầm đi, lắng xuống, đọng lại, dường như cái đầu nóng rực đã nguội trong khi dạ dày đói nổi lên réo sủi sùng sục. Nay đã đến lúc bọn chống cách mạng mừng khấp khởi: Việt Minh chỉ là lũ âm binh dậy non trong khi các đạo hùng binh chống cộng đã làm chủ phần bắc vĩ tuyến mười sáu cũng như đang tiến từ phía nam ra với những binh đoàn Anh-Ấn-Nhật-Pháp trừng trợn ghì cò xối đạn. Giờ cướp lại chính quyền đang điểm! Quãng đồng bằng ven biển từ Hội An trở vào tạm thời đang vắng Tàu và Tây, chỉ có người Việt với nhau. Có những Ủy ban nhân dân dựng vội, những đơn vị bộ đội xộc xệch, những đoàn thể cứu quốc đánh trống ghi tên, những cán bộ chong đèn học bốn phép tính, ở đây cũng có bọn Quốc dân đảng rỉ tai tuyên truyền câu sấm Tam Long Vinh Bách Thế 1 cùng với những tư tưởng cao siêu trong sạch của Nhất Linh và Hoàng Đạo mà người đời chưa hiểu nổi, có gián điệp Pháp đi móc nối các cố đạo và quan lại để sắp đặt cho cuộc chiếm đóng tới gần, có những kẻ được cách mạng tha tội lại tưởng rằng Việt Minh không dám động tới mình và bắt đầu hạch sách chính quyền mới, có truyền đơn bôi xấu, áp-phích đòi lật đổ, súng dao ám sát, dần dà có thêm những vụ cháy kho, chìm thuyền, đổ xe lửa chở bộ đội Nam tiến. Anh Xáng vỗ bốp vào đùi khiến Chanh giật thót: - Tơ tưởng con gái Huế hả? Coi chừng, mấy cô Huế dễ thương mà khó cưới lắm nghen. - Sao vậy anh? - Nhiều cậu Quảng Nam rụng như sung rồi đó. Nghe nàng nói tánh em thích đồ nữ trang thì tai mắt bắt đầu ù. Nghe ông mai bà mối đọc ra đủ sáu cái lễ trong cuốn thọ Mai gia lễ là bủn rủn chân tay. Tới khi nhà gái thách cưới tới mây xanh thì chú rể ngất xỉu lăn đùng, phải chở vô nhà thương cấp cứu! ------------------------------------------------------------------------ 1. “Ba con rồng vinh hiển trăm đời”. Trong số anh chị em của Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) và Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo) có năm người được đặt tên gốc Hán như trên. Quốc dân đảng lợi dụng biến thành câu sấm truyền nhằm mê hoặc những người lạc hậu. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 02:52:24 pm Anh Quí chen vào:
- Tụi tao giao tay “Bát Đập” cái phận sự phải cứu thế cho mày một cô được người được nết. Hắn máy móc cứ tìm quanh mấy cơ quan tỉnh, có hôm qua hỏi dò bên phụ nữ cứu quốc, các cô nổi bàn xôn xao là anh Xáng muốn bờm xờm, giàu đổi bạn sang đổi vợ... Cả xe cùng cười ồ. Anh Quí cứ tỉnh như không: - Tao bày cho hắn: cả nước đang Nam tiến thì cưới vợ cho thằng Chanh cũng phải hướng về phương Nam. Nên nhớ nó lớn lên ở Qui Nhơn, làm thợ và làm cách mạng ở đó, vượt ngục Kom Tum lại về móc nối ở đó, tới khi bị tụi mình kêu riết nó mới chịu về Quảng Nam. Tại sao biết không? Chanh, khai hết tao tha! - Mô phật, tôi biết chi mô mà khai... - Mày đóng kịch tao cho chết. Nằm trong buồng ông Hai Rề, sớm tối được cô Thùy cơm bưng nước rót, người ta đang sướng như tiên vậy mà lại bắt đi đày tới xứ núi Linh Lâm, người ta rầu quá bị nát ruột gan. Anh sầu tương tư anh hư nhan sắc, chớ bệnh, tật gì mà thuốc bắc thuốc nam... Chanh thấy mặt mình nóng rực. Quái lạ, anh xứ ủy này là thổ thần hay ma xó mà cái gì cũng biết? Anh Quí đắc thắng vuốt mãi cái cằm trụi râu từ khuya: - Mày thua chưa? Cô Hai Thùy cứ xoắn tao hỏi miết tại sao Chanh trở về xứ Quảng là quên hết cơ sở trong Qui Nhơn. Tao vô cùng đốt, cứ nói toàn là lý sự của cách mạng nòi, khi thấy cô ta nổi lên thút thít sụt sịt tao mới biết dại tới chữ rồi. Cô Thùy chẳng cần anh lãnh đạo nào hết, thứ đó vơ đâu cũng đụng, cô ta đòi anh Chanh về xây dựng tổ với cô thôi. Tao ngắm thiệt kỹ, thấy ít nhứt phải bảy điểm trên mười, đó là tao già cũng hơi nghiệt ngã hơn lứa trẻ. Ông Hai được bầu làm trưởng ban lãnh đạo đề-pô xe lửa Qui Nhơn, cô Thùy vô chấp hành Phụ nữ cứu quốc thị xã. Đó, Xáng nghe chưa, tao giúp mày làm tròn trách nhiệm vụ với thằng Chanh chưa vợ. Phần thằng Chanh trả lời rành mạch đi nghe thử. Đã yêu thì nói rằng yêu, không yêu thì nói một điều cho xong. Đóng kịch với tao là sập tiệm! Chanh úp khuôn mặt bốc lửa giữa hai bàn tay kê trên đùi. Không đùa bỡn để đánh trống lảng được nữa rồi. Mà giấu nhau làm gì nhỉ? Từ anh Quí già đến cậu mười chín tuổi ngồi ghế trước, tất cả đều thương mình, mong cho mình với Thùy nên đôi lứa. Một quả bóng chứa đầy hơi ấm bỗng vỡ trong ngực Chanh, tỏa nóng đến mười đầu ngón tay chân. Anh muốn cười và muốn thổn thức, Muốn chối bay và muốn thú nhận, đến cuối cùng đối với Thùy. Thùy ơi, sao chúng mình cứ hút nhau và đẩy nhau mãi thế em? Lỡ chạm tay nhau khi trao tài liệu, anh run rẩy rụt tay lại sợ em nghĩ anh thiếu đứng đắn, và em cũng co tay về bởi sợ anh coi là gái lẳng lơ. Khi chào nhau tạm biệt, em mỉm cười đi vội xuống bếp anh buồn vì em không coi anh ngang nồi cơm đang sôi, biết đâu lúc ấy em không bước vào chỗ vắng lau nước mắt một mình. Em tươi tỉnh xưng em như hồi còn nhỏ, còn anh cứ tôi với cô như người dưng nước lã dù đêm đêm anh trằn trọc vì mùi dầu chải tóc của em bốc trên gối, hương em lan khắp căn buồng nhỏ mà em nhường hẳn cho anh... - Chanh nè, tao coi con nhỏ thương mày thiệt tình đó. Nó chẳng vừa đâu, mày làm bộ làm tịch thì nó đá bay vù về ngay Quảng Nam lập tức, con gái Bình Định múa roi đi quyền nổi danh cả nước rồi mà ông Hai Rề cũng khen mày là tuổi trẻ chí lớn, thanh niên như mày đáng là rường cột nhà. Tới khi tao nói mày là phó chủ tịch Ủy ban tỉnh Quảng Nam ổng ngửa đầu cười khà khá, rồi lại chậc lưỡi nói bây giờ muốn thăm thằng Chanh phải xin năm bảy cái giấy giới thiệu, chẳng như hồi nó nằm trong buồng con mình. Chắc có mò ra Quảng Nam thăm nó thì nó vừa tiếp vừa dòm đồng hồ! Gắng gượng lắm Chanh mới hỏi được mấy tiếng: - Anh gặp gia đình ông Hai hồi nào? - Cách nửa tháng. Tao vô kiểm tra chuẩn bị chiến đấu trong Bình Định, nhờ anh em dẫn tới nhà... Nói thiệt đó Chanh, thương nhau thì cưới gấp đi, chờ tới khi thằng Tây đổ bộ Đà Nẵng Hội An thì lỡ mất thời cơ. - Công tác bề bộn, mà Tây phá rối đang bị mình vây cứng trong Sài Gòn, chưa dám nghĩ chuyện riêng đâu anh! Anh Quí lặng im, không cười giỡn nữa. Anh Xáng trở lên đăm chiêu, dặng hắng mấy lần rồi nói thong thả: - Hồi nãy đón cậu ở bệnh viện, tính về họp tỉnh ủy ta bàn luôn, bây giờ báo trước sơ sơ... Quân viễn chinh lớn từ bên Pháp qua tới Sài Gòn rồi. Cách đây năm ngày ba chiến hạm trút quân lên bờ, tin báo ra có một đoàn xe thiết giáp, một đống lính nhảy dù, thủy quân lục chiến. Còn bốn tầu chiến lớn với một bầy tầu nhỏ nữa sắp tới nơi, cũng chỏ đầy lính, nghe đâu là lê dương với bộ binh thuộc địa. Tụi này mới vừa đánh nhau với Đức Ý suốt từ châu Phi đến châu Âu, đang hung hăng lắm, được Mỹ và Anh cấp cho võ khí loại bảnh... Chanh mới nghe vài câu đầu đã cảm thấy một luồng gió lạnh lùa trên lưng. Khuôn mặt bầu bĩnh của Thùy vụt biến. Anh nín thở nghe tiếp. Hèn gì suốt tuần qua nhiều cán bộ được đón ra viện hối hả tuy chưa lành hẳn bệnh hay vết thương từ mặt trận phía nam mang về. - ..Sáng hôm qua, tụi nó đổ bộ Nha Trang rồi. - Úi chà! - Ta đang vây nó trong thành phố. Nó tính khóa đằng đuôi, không cho bộ đội Nam tiến vô tiếp sức mặt trận Sài Gòn, để trong đó nó tung quân chiếm hết Nam Bộ cái đã, rồi hốt Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, cả Lào Miên nữa. Liệu bề nuốt trôi nó lại khóa ngang Qui Nhơn, Đà Nẵng, lấy sạch từ vĩ tuyến 16 trở vô. Tim Chanh đập dồn dập, tuôn khắp người anh một thứ máu nóng bỏng và sủi bọt. Vừa lúc ấy đồng chí lái xe cho xe dạt sang bên đường, dừng lại, tủm tỉm: - Báo cáo các anh, như cũ! Bốn người xuống hì hụi đẩy xe chạy cồn lên dốc Sau lưng họ, cách chừng năm chục thước, một chiếc xe tải than đã dừng từ khi con đường mới chớm ngoi lên đèo Hải Vân, sáu anh bộ đội mặc quân phục vải xi-ta nhảy xuống đẩy, nặng nhọc hơn nhiều. Khoảng cách giữa hai xe tăng dần. Chanh thấy lạ, hỏi: - Xe lửa chạy được, sao anh em chở xe hơi cho cực? Anh Quý lắc đầu: - Xe lửa chạy dưới chân đèo, đây anh em đưa xi măng lên xây lô-cốt trên đỉnh đèo. Tụi Tầu vàng gác trên đó ban đầu gây sự không cho xây, về sau bán được súng đạn lấy vàng, lại được anh em mình tiếp tế heo bò tới đỉnh núi cho ăn, đâm ra ngọt ngào lắm. Thằng nào hỗn quá thì mình dọa bóng gió những sự đường trơn xe nhào xuống vực, nó sợ liền. - Anh tiếp đi. Mình đánh ở Nha Trang ra sao? - Đang vây chắc đánh tỉa. Khó nhứt là bị thằng Ăng-lê cho quân mở đường. Mày biết đó, sau đảo chánh tụi Nhựt dồn hết Pháp kiều ở Nam Trung Bộ tại Nha Trang, khi Nhựt hàng lại bị tụi Ăng-lê ra lệnh dồn về Nha Trang nữa. Vừa rồi nó lại làm trò gần giống như Sài Gòn: Liên quân Anh-Ấn đóng vai Đồng minh kéo tới, lính Pháp theo san, quân Nhựt tỏa ra giữ trật tự, kho võ khí mở ra phát cho Pháp kiều với lính thuộc địa bị tù, vậy là rầm rầm nổ súng khắp thành phố! - Chà mẹ cố tổ nó... - Có điều bây giờ anh em mình khôn hơn, súng đạn nhiều hơn, cứ oánh nhào đầu cả Ăng-lê. Chà chóp , Nhựt, Tây. Quân nào lấn tới là oánh, vậy là tụi Ăng-lê bắt đầu khiếp rồi, không dám vênh cái mặt Đồng minh dẫn Pháp đi chiếm lung tung nữa, sẽ đưa súng cho Pháp tự đi đánh thôi. Nhựt cũng quá ngán, đã đầu hàng xin sống sót rồi còn bị thúc sau lưng vô chỗ chết, mà lại chết thay cho lũ da trắng mà Thiên hoàng nói hoài không đội trời chung. Đồng sàng dị mộng một bầy ngựa chứng, về lâu về dài, trong Nam này mình với Pháp đụng đầu nhau là cái chắc. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 02:57:40 pm Chiếc xe du lịch đã đến quãng dốc dài trên vùng đèo khuất khúc. Cận lái thò đầu ra mời lên. Xe đang rì rì leo thong thả chợt đằng sau có hai chiếc xe nhỏ vừa ấn còi vừa chạy vượt lên trước, cắm cờ quân Tưởng. Kiểu xe kia rất kì lạ, trông như cái hộp diêm đặt lùn tè trên mặt đường, sơn màu vằn vèo, tiếng máy êm không nghe nổ mà bon rất khỏe, chỉ phát ra tiếng rè rè của bánh xe ngoạm đường nhựa ngược dốc. Bọn ngồi trên hai chiếc xe lạ không mặc kiểu Tàu vàng. Áo quần chúng tuyền màu xám tro, đầu chúng đội mũ sắt xanh sẫm rất to chụp kín nửa mặt, tay trái đeo băng trắng có chữ Hán đỏ. Anh Quí hất hàm:
- Quân đoàn 53 chủ lực mới đưa qua. Đi xe Mỹ xài toàn đồ Mỹ. Số đeo băng chữ Sát là hiến binh. Lính thứ dữ của thằng Tưởng Giới Thạch, mới làm đảo chánh lật đổ lão Long Vân lãnh chúa Vân Nam, ào luôn qua bên mình kèm cứng thằng đại tướng Lư Hán trong dinh Toàn quyền ở Hà Nội. Bên Tàu sao mà nhiều sắc lính quá hè! - Ra họp với thường vụ Trung ương, nghe nói tình hình một lát tao loạn ù lỗ tai, chẳng biết nước mình phải chống chọi với bao nhiêu thứ quân nữa, tao thức đêm đọc một đống tài liệu mật rồi hỏi thêm các ảnh, căng óc ra mà nhớ. Đếm thử coi nè. Mới nghe Nhựt đầu hàng, sư đoàn 62 nổi tiếng thổ phỉ ở biên giới nhào vô nước mình liền. Tiếp đó thằng Tưởng đưa nhập Việt tới năm quân đoàn của Trung ương với Vân Nam, mưu tính “diệt Cộng cầm Hồ” mà chưa làm nổi. Thằng tướng Chu Phúc Thành đem quân đoàn 53 qua thêm. Quân Tàu hồi này đang có bấy nhiêu. Phải tính cả bọn tàn binh Pháp chạy qua Tàu hồi đảo chánh cũng kéo về Đông Dương. Phản động phía bắc có lính Việt quốc của Vũ Hồng Khanh chiếm dọc đường sắt từ Lào Cai xuống tới Vĩnh Yên, lính Việt cách chiếm vùng Đông Bắc dựng lên Hải Ninh chánh phủ. Tụi nó lập trụ sở công khai có lính canh giữ từ Hà Nội tới Vinh rồi, sẽ dấn vô các tỉnh trong này... Phía Nam có Pháp Anh Ấn Nhựt đánh thốc ra tới Nha Trang, đang rập rình trút quân lên Qui Nhơn, Đà Nẵng, còn lính viễn chinh qua tiếp nữa, sắp sửa từ biển thọc lên, từ Lào đổ xuống.... Sơ sơ vậy để thấy dễ hay khó. Giở bản đồ coi thử tụi chống cộng còn bỏ sót chỗ nào cho chúng ta rút vô cố thủ hay không! Xưa nay phép nhà binh phải hết sức tránh lưỡng diện thọ địch, bây giờ mình lâm vô cái thế bốn bề hùm beo nhào vô xâu xé. Hà sướng chưa? - Chỉ còn một đường thoát: đánh thí xác! - Sai một li đi một dặm đó Chanh. Đánh giữ mạng chứ sao lại thí xác! Đánh cho khôn khéo thông minh, đánh cù cưa lâu dài, thằng Pháp nguy hiểm hơn ta đánh trước, thằng Tàu chưa dám gây sự ta xoa dịu để sau. Vừa gấp rút xây dựng lực lượng, vừa tung quân ra cản giặc, đợi nó kiệt sức là ta quật nhào... Bởi vậy ai đi trận cứ đi, ai dưỡng bệnh cưới vợ xin cứ tự nhiên! Chanh cười phá lên. Ông già Cửa Đợi lúc nào cũng đùa tửng tửng được. Nhưng nhìn lại anh Quý, Chanh chẳng thấy anh có vẻ gì đang đùa cợt. Bộ mặt trụi râu vẫn nguyên vẻ đăm chiêu. Trạm gác của quân Tưởng đặt ngay đỉnh đèo. Chỉ có một chòi tranh nhỏ đặt bên cây ngáng đường, với ba bốn tên soát giấy nằm ngồi ơ hờ, mặc kiểu Tàu vàng. Cậu lái xe ấn còi, thò đầu ra vẫy vẫy. Hình như đã quen nhau, hai tên lính tay không chạy tới, toét miệng cười cầu tài. Cậu bảo vệ nhấc cái giỏ bằng cói dưới chân có hai chai thò đầu với một gói bằng quả bưởi, hé cửa xe đưa cho chúng, cười cười: - Bố thí cho bay đó. Tọng vô từ từ cho khỏi thương thực. Chúng cảm ơn một tràng bằng thứ tiếng gì không giống Triều Châu hay Quan hỏa mà người Việt quen nghe, chắc là giọng Vân Nam. Một tên đứng đằng kia nới dây cho cây tre ngáng ngóc lên, đưa tay lên mũ chào. Bỗng có tiếng quát bật ra từ hai chiếc xe lùn như con cóc lúc này đang đậu gần trạm gác. Hai tên lái đeo băng chữ Sát rời xe mình đi đến chặn đầu tên Tàu vàng xách giỏ, vỗ bàn tay phải vào một khẩu súng gì vỏ gỗ to gấp ba lần súng ngắn đeo ở thắt lưng, tay kia giơ cao như sắp tát nói sừng sộ. Bốn tên cãi qua lại mấy câu, đứng cản trước mũi xe du lịch nhưng không để ý đến xe và người, rồi hai tên gác càu nhàu đưa cái giỏ cho Tàu áo tro, chỉ dám quay đi khạc nhổ vài lần cho đỡ tức. Một tên chữ Sát cười hô hố trong khi vạch giỏ ra xem rượu và thịt quay bánh hỏi. Tên kia quẹt một que diêm đầu đỏ vàng vào vỏ súng gỗ cho xòe lửa, châm thuốc hút, thổi khói thơm vào mặt cặp lính mất ăn, đủng đỉnh trở về xe mình, chân đi ủng gõ gót cồm cộp như dọa đá đít. Trong khi cậu lái xe cho xe chạy chậm qua trạm, Chanh thoáng thấy hai cái lán to dựng mé sau chòi canh chừng trăm thước, có bốn năm chục tên lính đang xếp hàng trên sân, với mấy bóng áo tro dạo qua lại, chắc đang khám người và súng của đơn vị gác đèo. Trừ Chanh ra, trong xe không ai tỏ vẻ ngạc nhiên trước cảnh lính Tàu cướp giật lẫn nhau, hẳn vì nó diễn ra khắp nơi. Anh Quý hỏi cậu bảo vệ: - Thằng liên trưởng 1 Voòng bán mấy cây rồi? - Dạ, bốn trường Nhựt, ba thất cửu. Nó hẹn sau đợt kiểm tra này bán thêm. - Còn thằng gì dinh trưởng 2 ở Đà Nẵng? - Dạ thằng Xùi. Nó bán toàn súng Pháp, tính giá vừa phải. Anh em chở đi được hai mươi hai cây mút với anh-đô rồi, thêm năm cây lơ-ben với khai hậu là nó cho không để lấy cái tình. - Nghe cái giọng, biết có mấy chú Chệt buôn nòi làm quân sư. Lão Phước An Đường hay ai dính vô? - Không ạ. Phước An Đường nhận mua thuốc Mỹ thôi, lão nói không rành súng đạn. Thằng Xùi lấy hai đứa con nhà Xương Ký ở phố Cuộc-bê làm môi giới, tụi nó vô Tam Thanh Đoàn hết... À, chú biết khinh cơ quân thương là thứ gì không? - Để coi. Cứ duy danh định nghĩa thì nó là súng máy hạng nhẹ của quân đội. Mua được chưa? - Anh Tư Cẩn coi trong thơ nó thấy đề là súng Tư-điếm, giá gấp đôi súng thất cửu. Hay là thứ pạc-hooc như tụi lính chữ Sát đeo hồi nãy? Anh thấy mắc quá, đang thỉnh thị chớ chưa dám đặt mua. Anh Xáng giờ nghĩ chầm ngâm, bỗng buột nói: - Tư điếm cơ thương là súng máy Xì-ten, băng đạn lắp ngang, báng sắt, đúng không? Cỡ đạn chín ly hả? Coi mẫu chưa? - Dạ chưa. Tụi cháu đang chờ lệnh trên... - Các cậu máy móc bỏ bà. Biểu nó đưa một cây chào hàng, đem bắn thử, thấy tốt thì mua cả mớ, kiểu dễ làm thì ta theo mẫu tự làm mà xài chớ! - Báo cáo anh nó đòi mua thứ này phải tổ chức một trận giả phục kích cướp súng trên đèo như lần trước, không thì thượng cấp bắt nó đi tù... - Tầm bậy. Nó muốn nhẹ xác, rồi thằng Lư Hán được dịp kiếm chuyện đòi ăn. Một thằng lính nó qua đò rớt súng xuống nước đâu có khó. Hay là cho xảy ra một vụ cháy kho, đạn nổ tơi bời không dám vô chữa. Dễ như hút ốc! Từ nãy đến giờ Chanh thấy mình dốt quá. Nằm viện sáu tuần thôi mà lạc hậu ghê gớm, nghe gì thấy gì cũng ngớ mặt ra. Đợi họ bàn xong việc Chanh mới hỏi: - Thường vụ định giao công tác cho gì cho tôi, anh Xáng? Hai anh lớn tuổi nhìn nhau. Xáng ngập ngừng: - Thì... cậu là phó chủ tịch chớ gì nữa. - Tôi nghĩ rồi anh à. Tôi vô ủy ban khởi nghĩa còn được, việc đơn giản thôi, chớ làm hành chánh như bây giờ không kham nổi đâu anh. - Cậu sẵn chữ nghĩa hơn tụi mình nhiều, ai cũng nói tự học như cậu bằng người ta ngồi ghế nhà trường bảy tám năm là ít. Cậu còn nghề rèn của ông già, nghề xe lửa... - Đang cầm búa mà đổi qua cầm bút, gay go lắm! - Thôi để ngày mốt họp tỉnh ủy ta bàn coi, Hai tháng trước chỉ một việc là nhào tồi giành chánh quyền, bây giờ đẻ ra cả trăm ngành mới lạ. Nghề đánh cá như mình hay thợ xếp chữ như anh Quý chưa dùng được mấy, chớ đập sắt với sửa xe thì rất nhiều nơi muốn rước! Nghe giọng lừng khừng của anh Xáng và nhác thấy anh Quý cười tủm tỉm, Chanh biết các đồng chí định sắp xếp gì đó cho anh mà chưa tiện nói trên xe. Anh Quý dặng hắng: - Với lại bệnh viện ghi trong giấy mày phải dưỡng bệnh hai tuần, làm việc nhẹ ba tháng... - Trời đất, theo lời thầy thuốc thì từ Cụ Hồ trở xuống ai cũng phải nằm nhà thương hết! Hồi ở chiến khu nghe nói Bác mắc bệnh gần đất xa trời, mà tới nay Bác được nghỉ ngày nào đâu. Anh em mình trong Nam bao giờ mới nghỉ. Tôi nằm một tháng rưỡi mà cuồng chân cuồng tay hết cỡ rồi, càng dưỡng càng bệnh thêm thôi! Chanh gạt đi thật dứt khoát để các ảnh khỏi bàn lui tới. ------------------------------------------------------------------------- 1. Tương đương đại đội trưởng. 2. Tương đương tiểu đoàn trưởng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:01:48 pm Về đến Đà Nẵng, anh Quý ghé thành ủy và cho xe đưa Xáng với Chanh vào Hội Au luôn, ngày mốt anh sẽ dự họp với tỉnh ủy Quảng Nam, gỡ nốt những vướng mắc trong việc nhập chung thành phố nhượng địa cũ vào tỉnh gốc của nó.
Xe chạy trên quốc lộ Một vài phút, họ gặp một chuyến tầu Nam tiến đang tăng tốc độ sau khi rời ga Đà Nẵng, sắp theo đường sắt tách xa dần đường nhựa. Tất cả xe chạy ngược chiều trên quốc lộ đều dừng lại để bà con vung mũ nón lên chào bộ đội, trong khi dòng xe xuôi chiều lại cố rượt theo gọi hoan hô. Cậu lái của anh Quý cho xe vượt nhanh lên khỏi đầu máy, dừng ngay chỗ đường sắt tách về phía tây, hãm xe. Chanh bật cửa chạy nhào xuống sát hàng rào xi-măng rướn cổ ngắm không chớp mắt đơn vị Nam tiến đầu tiên mà anh trông thấy. Các cửa sổ chi chít những khuôn mặt đã rám nắng hay còn măng tơ dưới mũ sắt, ca-lô, mũ cối vành dày. Vô số cánh tay thò ra vẫy. Bộ đội đang hát. Mỗi toa hát một bài, trút xuống người Chanh từng cơn mưa rào nhạc và lời ngắt quãng như những làn mưa trong chiều mùa hạ, giữ nhịp bằng tiếng vỗ tay, dẫm chân, bằng những hàm răng trắng cùng một lần lóe lên hay khép lại. … Tiếng súng vang sông núi miền Nam, ầm đất nước Việt Nam. Tiếng súng vang lừng khắp non sông... … Bầu trời Việt mênh mông, hồn người Việt anh dũng, núi dài sông ớn khí hùng thiêng... ... Đồng bào tuốt gươm vùng lên. Đã đến ngày trả mối thù chung. Diệt phát-xít... ... Thề phục quốc, tiến lên Việt Nam! Lập quyền dân, tiến lên Việt Nam. Đài hạnh phúc đắp xây… Các toa bộ đội đã qua hết. Mặt người trên khung cửa biến đi, chỉ còn những bàn tay ló ra vẫy và tiếng hát nhồi chung lại thành một khối cuộn rền rền xa dần. Toa đen cũng đứt, người xe-rơ-phanh ngồi trên toa con cuối đoàn tàu vẫy tay chào quốc lộ Một cùng tất cả những người tiễn đưa trước khi rẽ về phía tây, vòng khá xa thị xã Hội An, nơi quân Nam tiến không hề đi qua một lần để bà con được đón. Anh Tô Xáng đập vào vai Chanh, gọi đi tiếp. Chanh đưa tay vuốt mặt, thấy gió thổi lạnh trên má. Khỉ thật, mình chảy nước mắt hồi nào chẳng rõ, người bệnh mới lành dễ xúc động, anh em lại cười cho. Anh Xáng đứng bên Chanh bỗng xì mũi liên tiếp, thì thào: - Mỗi lần tiễn bộ đội, mình rầu quá Chanh à. Kêu gọi anh em trẻ tuổi xả thân vì nước, còn thằng già này cứ ở lại đằng sau nói đi nói lại như cái đĩa hát cùn. Phải chi Đảng cho mình phanh ngực đi trước đám con cháu cho đúng hai chữ gương mẫu. Phải chi mình đừng bị giao làm phó bí thơ tỉnh ủy, một đống trách nhiệm đặt trên lưng, mình xin theo tụi nó... Đầu óc nhẹ biết mấy, chỉ còn lo giết giặc cứu nước. Ông Quý dứt khoát không chịu, ổng tính giao cậu chỉ huy vận chuyển đường sắt cho bộ đội vô Nam trong khu vực từ Huế tới hết Trung Bộ, khúc này cậu quen, nghề xe lửa cũng quen. Tụi mình cãi cù cưa xin cậu ở lại Quảng Nam, rốt cuộc phải để chờ cậu lành bệnh về sẽ hay... Thôi, làm sao đó làm, mặc kệ mày! Sau câu nói xẵng đột ngột, anh Xáng trở về xe, Chanh thong thả theo sau. Mỗi tỉnh ủy viên đã nhận được một thông báo về những việc phải giải quyết trong cuộc họp sắp tới. Cả một đống câu đố hóc búa, những dấu hỏi nếu đem móc vào nhau sẽ đủ tạo nên một sợi xích kéo neo tàu thủy loại lớn, trong khi hai phần ba số đồng chí trong tỉnh ủy đã báo cáo xin vào Nam đánh giặc. Chanh góp thêm một lá thư đòi đi hay không? Đến cây số Một mé trên Hội An, Chanh xuống xe. Anh đi bộ vào xóm nhà lá, nơi cậu bạn đánh xe ngựa của Năm Chò đã đón nhận cả ba anh em từ Qui Nhơn trở về đất Quảng sau đảo chính. Theo lời nhắn khẩn khoản của Chanh, Năm Chò đã gửi Sáu Cam ở trọ tại đấy và xếp cho học tư với một cậu học trò nghèo cùng xóm trong khi các trường chưa mở lại. Cam thề thốt với anh sẽ chăm học chăm làm, chậm nhất phải đọc thông viết thạo và làm được bốn phép tính trong vòng sáu tháng. Chị chủ nhà vừa cho con bú vừa lạnh lùng báo cho biết thằng Cam đã đi lính cách đây năm sáu ngày gì đó, gửi lại một gói sách vở, ai lấy thì chị đưa. Chị tiếp một tràng kể lể khổ cực khi vợ đẻ, chồng ham nhậu, ngựa yếu xe hư, Năm Phi Đao chỉ đưa được chục bạc rồi biến mất, thằng Cam gánh nước thuê được mấy ngày thì trời đổ mưa dầm chẳng ai mướn nữa. Thằng nhỏ đưa thêm được ba đồng. Giữa hồi thóc cao gạo kém này, ba đồng bạc ho một tiếng là bay kết... Chanh ngồi chống cằm nghe chị nói dây cà ra dây muống chỉ thấy buồn tê tái. Anh không ngạc nhiên chút nào khi nghe thằng em bỏ học đi bộ đội, biết chắc nó đã vật nài anh em Nam tiến cho nó bám theo, nhưng anh không chịu nổi ý nghĩa nó thất vọng chán ngán vì bị bỏ rơi. Bị túm tay lôi trở về quê, rồi một lần nữa bị bỏ rơi. Đứa bé mười ba tuổi gầy khẳng kheo, giọng chớm vỡ và mặt bắt đầu lang đã sớm lầm lì, đa nghi, hay tủi thân, mất lòng tin ở cha và anh ruột. Sức vóc bao lăm mà nó đi gánh nước thuê kiếm tiền cơm trọ? Và nó phải chịu hao nhiêu lần rỉa róc đay nghiến? Năm Chò được cử làm đại đội phó đại đội Nam tiến đầu tiên của tỉnh 1, lên đường mươi hôm sau khi Pháp nổ súng ở Sài Gòn. Cậu ta nhờ người viết hộ, gửi ra Huế cho Chanh một thư khá dài, cho biết đã thu xếp cho thằng Cam rất là “ưu điểm”, khuyên “đại ca” yên bụng chữa trị, cậu bạn đánh xe ngựa là đứa trọng nghĩa khinh tài. Chanh biết Năm Chò thương Cam hết sức, nhưng có thể quá tin người chăng. Trong túi Chanh còn nguyên ba chục đồng do tỉnh ủy cấp để bồi dưỡng sau khi ra viện. Anh cắt ngang câu chuyện quá dài của chị kia: - Chị cho tôi nhận gói sách, còn thiếu bao nhiêu tiền cơm tháng để tôi đưa luôn. - Tánh tui chẳng phải đứa tham lam, mà nghề đời ăn cho buôn so sao cho đằng hoàng. Như hồi cả ba anh em về đây đang còn bóng tối, tui cũng nuôi tử tế... - Xin lỗi, Năm Chò với thằng Cam đi làm kiếm tiền, khi trả chị cũng chịu là có dư chớ không thiếu, chính chị nhận với tôi vậy đó. - Ờ, ờ là nói sự phải quấy thôi, tui không đòi thêm...Thằng Cam ở đây một tháng sáu ngày, tui lấy tiền ăn thôi, dầu đèn hay tiền nhà tui ủng hộ, mỗi ngày trả một đồng là rẻ nhứt rồi, cả xóm đây chẳng ai như tui. Ba mươi sáu đồng, mới trả mười ba... ------------------------------------------------------------------------ 1. Hồi ấy các đơn vị phân đội, trung đội, đại đội, chi đội tương đương trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn sau này. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:03:24 pm Tiếng vó ngựa chợt nổi lên lộc cộc, tiếp một tràng tiếng róc róc của cán roi kê vào nan hoa dùng thay chuông. Chiếc xe ngựa lách qua ngõ, dừng trước sân. Anh đánh xe nhảy xuống đất, quờ tay lên chỗ ngồi túm đuôi một con cá thu chừng năm cân, ném bịch trên thềm, cười ồn ào:
- Mụ Chín chưa sẵn tiền, trả công một con đây. Đem luộc mau cho tươi, mày! Ai như anh Cả Trà trong nhà... Ôi trời ơi, anh Cả chớ ai nữa mà lầm, tưởng anh rẻ rúng nhà em không thèm tới! Chanh lặng lẽ bắt tay anh đánh xe. Chị vợ đặt con xuống giường, cũng lặng lẽ đi làm cá. Anh kia hối hả chúi đầu dưới gầm bàn thờ, lôi ra một chai rượu, nhấc vội khay ấm chén trên bàn thờ đặt trước mặt Chanh, cười hoang hoác: - Thằng Cam đi đánh Tây rồi. Máu nhà cách mạng gốc cũng khác người ta, mới nhỏ xíu mà nghe Tây khởi hấn là chồm chồm như ngựa chứng. Mần trước vài ly đã anh Cả... Tội nghiệp Năm Phi Đao, bữa nó ra đi thiệt tình em cạn túi, mượn cùng xóm được một chục đưa nó. Bữa nay khá rồi, anh biết nó ở đâu gởi giùm em chút ít cho nó nhậu, nó ra đi vì nước mà em vướng vợ đẻ còn ở hậu phương, trước sau em cũng theo nó ra sa trường thôi... Được một thằng con đực rựa kia, anh thấy chưa? Chanh gật đầu. Anh không dám tin ở lòng tốt của vợ chồng này nữa. Anh chồng rút ra một xấp giấy bạc, liếm ngón tay đếm vội, đẩy tới trước mặt Chanh một tập giấy mười đồng: - Anh Cả đưa giùm cho Năm Phi Đao một trăm, em để dành cho nó lâu nay. Nó nhậu nhẹt đôi chút thì anh Cả tha tội nó, bụng tốt như vàng mà cái miệng ưa cay... Ủa, sao coi anh cả rầu quá vậy? Đánh Tây vài ba tháng là cùng, Tây thua rồi anh em nó về đây, ta cụng ly với nhau cho sướng… Chanh không chịu nổi nữa, nói thẳng thừng: - Anh gởi cho Năm Chò bao nhiêu để đó đã. Bây giờ tôi trả tiền cơm tháng thằng Cam. Chị đâu rồi? - Anh Cả nói gì lạ quá. Cơm tháng nào? - Hồi nãy tôi đang tính. Khi trước ba đứa chúng tôi về ở nhà này, Năm Chò đã trả đủ, chị bằng lòng rồi. Bây giờ tôi trả tiếp tiền cơm tháng của thằng Cam. Ba mươi sáu đồng, trả được mười ba, còn thiếu... Người đánh xe ngựa chồm tới, chụp cái roi ngựa ném trên bàn, gầm lên một tiếng không nghe rõ, chạy nhào xuống bếp. Lửa đang cháy dưới nồi nhưng chị vợ biến đâu mất. Chanh đuổi theo chụp được cậu kia khi sắp vọt qua hàng rào sau nhà. Chật vật lắm Chanh mới lôi được người chồng tức điên vào gian trước. Cậu ta nằm vật xuống giường dưới chân đứa con đang ngủ, đấm đấm hai nắm tay vào trán, nói như khóc: - Thôi em lạy anh trăm lạy, con quỷ cái nó hại em... - Anh bình tĩnh đi, vợ chồng có gì nói với nhau trong nhà, đừng ồn ào. - Em còn mặt mũi nào ngó thấy anh với thằng Năm nữa. Không chừng thằng Cam bỏ đi cũng tại nó mắng nhiếc. Em đánh xe cả ngày chẳng biết gì... Em đi lính đóng xa, ở nhà nó có nhơn tình, đẻ với thằng kia một đứa con riêng gửi cho mẹ nó. Thằng kia đâm người ở tù, mới được cách mạng xá tội cho về. Em đưa bao nhiêu nó cũng kêu thiếu, nó còn moi của anh với thằng Năm, là để nuôi chồng riêng con riêng. Thôi, đời thằng khố xanh khố đỏ này coi như hết, hết trụi trơn. Mỗi đứa cho một lát dao, phần em một lát nữa là xong! Chanh hoảng hồn, trách mình đã ấn trúng một vết thương thầm kín. Anh nhấc ghế đến ngồi bên, dỗ dành người chồng khốn khổ kia rất lâu, lại nhờ anh ta đánh xe ngựa đưa mình xuống phố và hóng mát lang thang dọc bờ sông. - Lâu ngày gặp nhau, ta vô quán lai rai chút đỉnh chớ! - Em xấu hổ quá, không dám mở miệng mời anh. Hễ đại ca không coi em là đứa lừa thầy phản bạn thì... - Tào lao hoài. Cột ngựa gốc cây kia, ta vô làm ít tô cao lầu Hội An coi còn được như xưa không. Nhưng mà thứ cay mày phải để tao rót, vừa đủ đô thì tốp lại. Ừ nghen? Anh vỗ bốp vào lưng cậu đánh xe, vui thích khi cậu này tươi mặt và dạ một tiếng giòn tan. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:10:37 pm 22. Quân Anh-Ấn từ Sài Gòn kéo lên phía Bắc, chiếm Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Bộ đội ta đóng ở hai thị xã này đụng đầu quân Đồng minh, lúng túng hết sức, phải rút ra ngoại ô, tức điên lên khi thấy lính Pháp từ đằng sau nhào tới trước, hối hả lập đồn lũy và kéo cờ tam tài lên. Máy bay Anh rải truyền đơn ký tên “Quan Tổng tư lịnh đạo quân Đồng minh Anh-cát-lợi”, ra lệnh giới nghiêm khắp nơi và kêu gọi “dân chúng Nam Kỳ hãy giúp cho quân đội của ta làm tròn phận sự tước khí giới quân đội Nhựt Bổn một cách dễ dàng và mau lẹ”. Quân Nhật không bị tước bớt một viên đạn nào cả, cứ bị đẩy đi “giữ trật tự” ở các thành thị treo cờ Pháp. Một số tướng tá Nhật lừng khừng nhưng không muốn làm bia thịt cho Pháp đã bị quân Anh bắt nhốt xà-lim, hình như cả tên thống chế Nhật Tê-ra-u-chi tư lệnh Đông Nam Á cũng vào tù. Đại đội của Năm Chò cầm cự thêm một trận nữa ở mạn bắc thị xã Biên Hòa thì hết sạch đạn và gạo, còn phải khiêng theo bốn chục thương binh cả cũ lẫn mới. Con đường mạch máu mé sau lưng bị chặn ngang Nha Trang, mọi thứ tiếp tế tắc cứng ngoài kia. Lại thêm một mớ lính quái quỷ nào chạy dạt vào hàng ngũ, tự xưng là quân Đệ tứ sư đoàn của ngài tư lịnh Lý Huê Vinh, hầu hết chỉ cầm mã tấu và giáo gậy, nghe súng nổ là chạy nhưng xông vào các làng tản cư để cướp trâu bò heo gà thì nhanh như chớp. Những viên đạn cuối cùng của đại đội phải dùng để bắn dọa xua bọn thổ phỉ mới. Khốn đốn nhất là không sao kiếm được một viên đạn ĐAM lắp cho vừa súng mút và anh-đô của đại đội, quân địch dùng toàn súng Anh, Nhật, súng trường Mát của Pháp mới chế sau này, hoàn toàn khác kiểu và khác cỡ đạn. Lựu đạn phóng trom-lông V.B không còn quả nào, các ống phóng lắp đầu súng trường đều tháo cất. Lựu đạn ném còn mỗi tiểu đội vài quả, bị thối chừng một nửa, còn may là anh em diệt một xe tải của Nhật lấy được mấy thùng lựu đạn đập hình lọ mực còn tốt, chưa đến nỗi đánh bằng báng súng và đá cục. Nguồn gạo từ đồng bằng sông Cửu Long bị tắc hẳn. Tin dội ra Biên Hòa ngày càng dữ: quân viễn chinh Pháp dùng tàu đổ bộ và máy bay của Anh đánh thông thốc các hướng, chiếm liên tiếp các thành phố lớn nhỏ khắp Nam Bộ. Một đoàn xe thiết giáp chọc lên Tây Ninh, quân Cao Đài ở đấy đầu hàng. Anh-Ấn-Nhật đã chiếm Ô cấp (Vũng Tàu), giữ chắc vùng Sài Gòn - Thủ Dầu Một - Biên Hòa - Ô Cấp làm hậu cứ và lá chắn ở cửa ngõ vào Nam Bộ, để cho Pháp tha hồ bắn giết đốt phá vùng đất giàu có tuyệt vời trong kia. Địch đang rập rình chực đổ bộ vào Phan Thiết, Phan Rang, gài thêm một loạt chốt chắc cứng sau lưng các chi đội và đại đội Nam tiến đã kiệt sức nhưng vẫn cố chặn bước chúng ở Đông Nam Bộ. Mé trên núi, chúng sẽ khóa đường lui sau khi làm chủ đường 14 đến Ban Mê Thuột, đường 20 đến Đà Lạt. Lọt vào hai gọng kìm khổng lồ kẹp siết cả khu vực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên, các đơn vị mạnh nhất của nước cộng hòa mới hơn hai tháng tuổi sẽ ngừng tồn tại. * * * Một nhóm bốn người cưỡi ngựa cho chạy nước kiệu trên đường Một từ phía Phan Thiết đến thị trấn Xuân Lộc. Càng gần đến Xuân Lộc, những hố sâu cắt ngang đường với rất nhiều cọc gỗ và chông tre cắm dưới đáy càng dày và rộng hơn, họ phải rẽ sang các vườn cao-su trồng ngay hàng thẳng lôi hai bên, cho ngựa đi thong thả trước khi quay trỏ ra đường nhựa. Một người gác chợt nhô ra san bụi rậm ở mé rừng cao-su: - Ai? Đứng lại! - Tham mưu Mặt trận. Ban chỉ huy chi đội ở đâu? Người gác lúng túng đưa tay trái lên gãi mang tai: - Báo cáo các anh, tui không biết...Chẳng nghe chi đội mô hết, nghe kêu đại đội thôi. Mấy anh lại chỗ gò kia hỏi anh Năm thử coi... - Anh Năm nào hở? Đồng chí không biết tên chỉ huy à? - Dạ, là anh Năm Phi Đao đó mà, ảnh chỉ huy tụi tui... Người đi đầu gò cương, quay lại hỏi người sát bên mình: - Hay là gặp bọn Đệ nhị sư đoàn của Đại Việt? - Anh để em xem. Bọn Đệ tứ sư đoàn chạy về đây cũng nhiều, rối mù. Coi chừng chúng nó phản. Người đốc gác chạy đến vừa kịp nghe loáng thoáng những lời bàn vội. Anh ta rập chân quát to, đưa tay chào kiểu chính quy: - Báo cáo, chúng tôi là đại đội Nam tiến của tỉnh Quảng Nam, thuộc về Quân đội quốc gia Việt Nam! - Ai chỉ huy? - Báo cáo, đồng chí Nguyễn Văn Chò, thay thế đại đội trưởng mới chết bom. Đồng chí đóng chỗ gò gần đường, dưới gốc cây to kia. Nhóm người ngựa vừa đi khỏi, người gác bỗng giật mình hỏi đốc gác: - Nè, nói ào vậy, có chắc là bộ đội mình không? Người đốc gác ngẩn ra, bây giờ đến lượt anh gãi tai lóng ngóng vì quên hỏi giấy tờ. Có chìa giấy ra thì cả hai đều không đọc được, và cấp trên luôn luôn nhắc phải đề phòng giấy tờ giả với những con dấu khắc bằng củ khoai. Anh xốc cây súng mút chỉ còn ba viên đạn bên trong, định chạy theo tới chỗ anh Năm xem thật giả ra sao, lại dừng khi thấy anh Năm lồm ngồm nhỏm dậy chỗ gốc cây. Chắc mấy ông chỉ huy biết mặt nhau, khỏi lo. Anh đứng trông chừng từ xa, bàn tay như cái máy moi từng nhúm bắp rang trong túi quần ra vỗ vào miệng, nhai thong thả, đánh lừa cơn đói bụng cồn cào. Cậu gác nuốt nước bọt, năn nỉ: - Cho tau một nắm, túi tau lủng, rớt mất nửa lon hồi đêm, gần tới đây mới biết. - Đưa đây vài viên đạn, tau biết mi còn giấu cả mớ. Người gác nói lúng búng trong miệng, rồi cúi xuống móc trong cái tay nải bên chân mình, rút từ trong ruột ra hai viên đạn đồng được lau chùi sáng bóng. Cậu đốc gác cười xòa, móc trong bao đạn ra hai hai nắm bắp rang đưa cho bạn: - Tau biết mi xấu chứng đói, thử chơi chớ ai thèm đạn của mi. Ngốn rài rài cho đủ chịu tới mai nghe! Nhóm cưỡi ngựa đến chỗ gốc cây to gần đường theo lời chỉ, thấy một cái lều làm bằng tấm vải cao-su chiến lợi phẩm, bên dưới có một người đang ngủ li bì, nằm ngay trên mặt cỏ. Người ấy mặc một quần dài đã dứt ngang hai gối và xé làm quần soóc, cởi trần, phơi bộ ngực xăm chàm chằng chịt, thêm hai bắp tay cũng trổ đầy những hình quái gở gì bằng chàm cứ thỉnh thoảng co giật trên bụng và ngực. Nhìn lên bộ mặt thấy lùi xùi đến chối mắt: tóc xõa rậm rì xuống trán và phủ hai tai, râu lởm chởm chẳng ra kiểu gì hết cứ đâm tua tủa như một vạt tranh vừa cháy vừa bị cắt trên đồi hoang. Thân thể rất khó gọi là vạm vỡ hay suy nhược, bởi các bắp thịt nổi vồng lên trong khi lớp da đen trũi nhăn nheo lại hiện rõ từng nét trong buổi sáng tạnh mưa. Bên cạnh người ngủ say có một chú nhỏ ngồi quạt thong thả bằng tàu lá cọ đã rứt bớt những sợi đuôi cho đỡ quệt mặt. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:14:43 pm Thấy những người cưỡi ngựa dừng bên lều, chú nhỏ lay gọi người ngủ:
- Dậy đi anh Năm, có khách! - Hử? ừ hừ... - Chắc thượng cấp tới đó, dậy đi anh. - Anh Nông về rồi hả... mẹ cha, thiệt anh Nông chớ? Năm Chò chồm dậy, dụi mắt nhìn quanh ngơ ngác. Chẳng thấy anh Nông nào cả, chỉ có một cậu con trai mặt bấm ra sữa từ lưng ngựa bước xuống, đứng chống nạnh hai tay, gọi rất xẵng: - Đồng chí Nguyễn Văn Chò đâu, chuẩn bị báo cáo! Năm Chò chưa tỉnh hẳn sau giấc ngủ hai tiếng. Suốt đêm qua anh dẫn một tiểu đội bơi lặn tìm xác đồng chí Nông Quyết Thắng. Một đồng chí trong Quân giải phóng từ chiến khu Việt Bắc cử về Quảng Nam chỉ huy đại đội, nói tiếng Kinh đang ngọng nhưng rất giỏi đánh du kích, rất dũng cảm, rất thương lính và được lính thương ngay từ buổi đầu gặp mặt. Trung ương cử về một đồng chí vậy đó, dẫn đầu anh em Quảng Nam đi giết giặc cứu nước, khi qua Xuân Lộc lại để anh ấy trúng bom rớt xuống sông, mãi tới bây giờ cũng chưa tìm được xác để chôn cất đàng hoàng, báo tin về cho vợ con... Cả đại đội Quảng Nam quên rằng mình đã chôn tám mươi đồng đội dọc đường từ Sài Gòn lui về khỏi Xuân Lộc, chỉ còn nhớ nỗi đau xé lòng chiều qua khi mất anh chỉ huy người Thổ Cao Bằng. Anh em mình cùng quê hương, về gặp gia đình an ủi dễ thôi. Anh Nông ở tận giáp giới bên Tàu, là người dân tộc khác, qua nhiều năm đánh giặc trước mình, lại xung phong vô tận đây để bày dạy cho lớp lính trẻ, vậy mà cả ba trăm bộ đội Quảng Nam không giữ nổi người chỉ huy của mình, nhục chao ôi là nhục... Trước mặt Năm Chò là một gã nào đó đứng nghênh ngang, mặc ka-ki chưa phai màu, đội mũ nhựa Mỹ, đi ủng da ngắn mới, đang hoạnh họe cái gì chưa nghe rõ. Năm quay lại hỏi Sáu Cam: - Anh em kiếm gạo về chưa? - Không thấy. - Còn số tìm xác? - Cũng chưa về. - Lôi thôi đây. Hôm qua mưa to còn đỡ, bữa nay nắng ráo, địch dám nhào tới lắm...Áo tao đâu? - Chưa khô đâu anh. Năm Chò mặc cái áo lính Bảo an rách hai cùi tay, thắt nịt súng ngắn, xỏ chân vào đôi giày da bắt đầu há miệng, chụp lên cái đầu mũ sắt Pháp kiểu cổ có mào trên đỉnh. anh nhìn lướt qua bốn người đi ngựa, thấy một người chừa râu mép lớn tuổi hơn cả đang xoay ống dòm nhìn quanh, đeo súng ngắn và xắc-cốt da, đoán là ông thượng cấp trong nhóm. Anh bước tới, rập gót đưa tay lên mũ chào: - Báo cáo, tôi là Nguyễn Văn Chò, đại đội phó có mặt. Người râu mép buông ống dòm treo trên ngực, từ trên lưng ngựa nhìn xuống bằng cặp mắt nheo khinh khỉnh: - Sai động tác. Chào lại. Năm Chò thả tay xuống, chào lần nữa, vẫn theo kiểu vênh ngửa bàn tay của lính Tây ngày xưa. Anh không để ý xem đồng chí Nông Quyết Thắng chào ra sao, từ ngày gặp nhau chỉ có hành quân và đánh giặc liên miên. - Vẫn sai. Đại đội phó gì xoàng thế! Về học chào đi! Một luồng máu chạy thốc lên mặt Năm, nén xuống không nổi. Anh nhìn con người khá to béo và sang trọng trước mặt, nghĩ đến những thằng ca-pi-ten ngồi trên ngựa quất roi vào mặt lính ngày xưa. Anh đã đi tù vì tát tai một thằng như thế. Từ đó anh khôn ra, tập đối phó với bọn sĩ quan bằng lý sự, nét mặt, giọng nói, không chèn vào một cử chỉ hay câu chữ nào có thể bị bắt vạ khi ghi vào biên bản. - Đứng ngây ra thế à? Báo cáo tình hình đơn vị đi! Năm Chò nhận ra giọng nói người kia lơ lớ rất lạ tai, tuy đã quen vừa nghe vừa đoán khi sống với anh Nông. Kiểu lơ lớ này giống như người Tàu nói tiếng Việt chưa sõi. Càng nghi con người ấy, anh càng thấy khác xa tất cả những cán bộ quân sự lâu nay thường gặp. Từ bực tức chuyển sang nghi ngờ, Năm Chò nói to cho mấy anh em trong đại đội bộ cùng nghe rõ: - Đề nghị đồng chí cho biết họ tên, chức vụ. - Lát nữa đã. Chấp hành lệnh tôi ngay! - Lệnh của Bộ chỉ huy Mặt trận: cấm những người lạ mặt đi vô khu vực tác chiến, dòm ngó bộ đội hỏi dò bí mật quân sự. Ai trái lệnh cấm, chỉ huy đơn vị có quyền bắt giữ. - Ái chà, dám dọa bắt cả tham mưu phó Mặt trận kia đấy! Bộ đội gì mà như một lũ cướp, chỉ huy chẳng khác tướng cướp... Người trẻ nhất có khuôn mặt học trò, lúc này đã lên ngựa, vừa bật cười bỗng nín ngay, tái mặt. Người râu mép chụp tay lên bao súng ngắn, kêu hổn hển: - Chúng mày... làm loạn hở? Vệ binh đâu, bắt ngay thằng đầu sỏ! Tất cả hạ súng xuống lập tức! Kìa, vệ binh đâu? Tiểu đội trinh sát đã chồm tới, đạn rong róc nhảy vào nòng, có người hết sạch đạn cũng rút lưỡi lê cắm lên đầu súng. Hai người cưỡi ngựa đứng sau mặc quân phục vá nhiều miếng ở đầu gối và vai, vẫn để súng sau lưng không động đậy, chỉ nhìn nhau lắc đầu. Đột ngột, người râu mép giật cương ngựa rẽ sang phải, thúc gót ủng da vào hông cho ngựa vọt đi. Người trẻ hơn bị con ngựa chồm đứng lên suýt lộn cổ, rồi cũng đuổi theo được. Hai cậu vệ binh lặng lẽ bước xuống đất. Một người nói lớn để lộ hai hàm răng đen: - Thôi để họ cút, anh em đừng bắn. Chúng tớ cũng thoát lạn. Anh Năm không nhận ra chúng em à? Vệ binh của anh Hồng Nong đây mà! Năm Chò cũng vừa nhớ ra hai khuôn mặt quen đã gặp ở Mặt trận bộ. Anh tươi mặt, bắt tay hai anh “bộ đội thuốc lào”, nhắc tiểu đội trinh sát tháo đạn ra. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:18:55 pm Thì ra người râu mép kia đúng là tham mưu phó Mặt trận thật, tên là Lý Đằng, từ Hà Nội mới vào. Anh em vệ binh nghe lỏm được câu chuyện giữa anh Hồng Long, chỉ huy trưởng Mặt trận, với người mới đến có nhiều nét kỳ quặc này. Anh ta là con một nhà buôn người Việt ở thành phố Côn Minh, học trường Tàu từ nhỏ đến lớn, học tiếp trường võ bị Hoàng Phố, làm đến lục quân thiếu hiệu 1 trong quân đội Tưởng, chỉ huy một đoàn 2 thuộc quân đoàn 60 tỉnh Vân Nam sang miền Bắc nước ta. Nghe lời cha mẹ thúc giục và bạn bè khuyên, anh xin giải ngũ và chuyển sang quân đội ta, được đưa gấp vào Nam, đến Mặt trận bộ mới mươi ngày mà đã đánh lính hai lượt, đòi cách chức năm cán bộ phân đội và trung đội, mức ăn gấp ba bốn lần chỉ huy trưởng mà vẫn kêu không đủ chất bổ. Mặt khác, cán bộ nói với nhau anh này khá thạo công tác tham mưu, nên cố giữ mà dùng rồi sẽ uốn nắn sau. Người trẻ tuổi cùng đi là một học sinh người Hoa ở Hà Nội, bà con phía vợ anh, làm nhiệm vụ thông ngôn vì anh quên tiếng Việt quá nhiều. Lắm lúc anh ấp úng nói tiếng Việt chợt xổ luôn một tràng tiếng Tàu, chỉ một mình anh Hồng Long hoạt động ở bên ấy nhiều năm hiểu nổi, còn tất cả lại che miệng cười đợi dịch.
Năm Chò chép miệng trách tiểu đội trinh sát: - Làm kiểu tụi bay, cầm chắc tao ra tòa án binh quá! - Lão ta chửi xa xả cả chỉ huy, cả đơn vị, tụi em đổ điên... - Tao cũng máu Trương Phi lắm chớ, có điều để cho lão trái lý trước tao mới trị cho chừa... Từ xa vẳng đến tiếng nổ trầm sâu của một quả đại bác rời nòng. Tiếng hú vừa kéo ra hơi dài, mọi người đã không để ý đến nó nữa, biết đạn không rơi gần. Anh em tản đi chia nhau mấy chục cân gạo mới lùng mua được trong các làng xa đường, túm vào trong mấy cái quần chưa rách vác về. Lại kiếm được đến sáu con chó trói cứng khiêng theo. Đồng bào được lệnh giết hết chó cho du kích đánh đêm khỏi lộ, phần lớn không nỡ tự tay giết, chỉ gọi bộ đội đến biếu mang đi. Các đơn vị “răng đen, thuốc lào” chén đẫy thịt chó, trong khi anh em từ Huế trở vào mới dần dà tập ăn, còn dân làng thì chưa dám nếm món “cờ tây”. Bốn khẩu 105 bắn vào mé tây đường nhựa chừng năm chục quả thì im, Năm Chò cho nổi hiệu còi sừng trâu báo động dè chừng đại bác đổi hướng bắn. Cái còi này của ông Tư Chua tặng anh em Linh Lâm ngày họ được chọn vào Giải phóng quân, có lá mía cắt bằng tre gắn ở hông chứ không lắp vào đầu nhọn, khi thổi ra hay hút vào đều phát ra tiếng. Sáu Cam căng hết hơi phổi, vừa thổi vừa từ từ xoay người tại chỗ cho còi vang đều bốn phía: húúút hooo, húúút hooo... Khắp vùng trung du và rừng núi của Quảng Nam, tiếng còi hai giọng ấy nổi lên bao giờ cũng giục người con trai chụp lấy một thứ giáo mác nào sẵn sàng nhất, lao tới chỗ đóng lưới lùa thú vào mà đâm chém, tất cả chó lớn nhỏ thuộc nòi săn nhảy chồm chồm lên như hóa dại, những ông già buông tay cuốc và kể lại một chuyến săn nào đó mà con cháu và hàng xóm đã thuộc lòng. Tiếng còi theo vào đây, gọi trai tráng đất Quảng nhào lên chống loài thú đã giết nhiều người nhất trên trái đất. Thế nhưng pháo không bắn tiếp. Tiếng ù ù của máy bay dội to dầu. Bốn chiếc Xpít-phai từ phía Xuân Lộc bay đến theo đường nhựa làm cữ, xếp hình chữ nhật lệch, cánh quạt xoáy nắng thành đĩa trắng lóa, những quả bom như chúc đầu xuống tìm thịt. Chúng quần hai vòng trên khu rừng cao-su đang nín hơi. Tiếng rống đè xuống gáy người, nạo dọc xương sống như con rết to tướng ngàn chân bò tìm chỗ cắm nọc. Ba trăm con người nằm ép xuống đáy những hố đào vội, ôm cây súng đói đạn, ôm cả cài bụng réo sủi đòi cơm, chờ bom rơi. Đến vòng thứ ba chúng rướn lên cao, chuyển sang hàng dọc. Năm Chò với Sáu Cam núp chung hố. Thấy thằng em run giật từng hồi, Năm phát mạnh vào mông nó, nó nẩy bật lên và dứt run. Anh khẽ cười, ngoái tay sang kéo tấm chăn cho phủ thật kín cây súng máy Bơ-ren-Chút hỏa lực cuối cùng của đại đội chỉ còn dựa vào nó với hơn chục cây súng trường Anh lấy được của Chà chóp ở ngoại ô Sài Gòn, chia nhau ba trăm viên đạn Anh, còn ăn hết nhịn. Chiếc máy bay dẫn đầu chúi xuống. Hai quả bom rời cánh, từ hình trái chuối đổi sang hình tròn, phình nhanh. Năm Chò trống tay ép người xuống đáy hố, hít vào một hơi dài, nín thở. Bom nổ quá gần không còn nghe thấy tiếng. Nền đất dưới ngực Năm nẩy bật hai lần. Mắt thấy vô số đốm xòe lên dưới mí, ngực và họng tắc cứng, thân thể nhẹ bỗng như rơi mãi không tới đáy. Một thác đất sỏi trút ào ào xuống lưng. Năm ngóc nhanh lên tránh đất lấp đầu, quờ hai tay hai bên tìm Sáu Cam và súng máy, trong mươi giây cảm thấy tay mình cứ tự nó run không cưỡng được. Cam lồm ngồm nhỏm lên, thấy Năm chỉ lên trời lại nhào sấp xuống, bịt kín hai tai. Hai quả nữa rơi xa hơn, nghe rõ tiếng nổ, chém hàng loạt cây cao-su ngã lảo đảo trong khói đen đặc phòi ra và dưới mưa đất đá tưới xuống. Chiếc thứ ba trút bom xuống con hào mới đào hiện rõ nét chữ chi đỏ loét dưới chân đồi, anh em chỉ chạy xuống đấy khi chặn địch trên đường nhựa. Chiếc cuối đánh bên kia đường. Chúng lại rướn lên cao và quần tròn xem lại các chỗ trúng bom trước khi bắn súng máy. Năm Chò đào bới vội, lấy cây Bơ-ren lên. Nó vẫn sạch sẽ nhờ trùm chăn. Anh đứng thẳng, vành tay làm loa hét to: - Truyền đi: các trung đội coi lại người với súng, sẵn sàng đánh quân bộ. Máy bay lại lao xuống, phụt khói hai bên cánh. Rừng cao-su dậy lêu tiếng nổ kép của đạn 12 ly 7, một chuỗi pùng pùng trên trời, một chuỗi bốp bốp bốp dưới đất. Có chiếc xuống thấp như sắp chặt đứt ngọn cây, bóng cánh sạt qua rừng. Năm Chò ngửa mặt trông chừng, cố đoán xem trận bom này mở đường cho quân bộ đánh lên hay chỉ nhằm che chở cho một đoàn xe từ Ô Cấp chạy qua Xuân Lộc về Biên Hòa, Sài Gòn. Và tại sao những trận trước máy bay đánh xong mới đến lượt đại bác bắn qua đầu mở đường cho bộ binh tiến, hôm nay chúng đổi thứ tự? Anh mải nghĩ đến nỗi chỉ kịp thụt xuống sau khi một luồng đạn rạch dài qua sát miệng hố như một đường may máy giết người, tóe lửa và mảnh. Máy bay đảo một vòng nữa, bỏ đi. Mặt đất vắng tanh bỗng mọc lên rất nhiều đầu và thân người, nhìn quanh gọi nhau, tìm xẻng moi các hầm xụp. Năm Chò cởi áo ra lau cây Bờ-ren thật sạch, gọi tiểu đội trinh sát: - Mỗi đứa đi một trung, lệnh cho anh em ăn tạm gạo rang chờ đánh lính bộ. Mỗi trung một cán bộ tới báo cáo. Cậu Huynh thấp lùn và rất khỏe cõng ba-lô đạn ngồi bên súng máy, vỗ mãi cặp tai ù. Sáu Cam đập phủi mớ đồ đạc mới moi lên, đến bấm khẽ Năm Chò một cái, lặng lẽ chìa cái bi-đông. Năm Chò làm một hớp, lắc thử, do dự, đưa lên nhấp thêm một ngụm nhỏ nữa. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tương đương thiếu tá. 2. Tương đương trung đoàn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:21:24 pm Cán bộ các trung lần lượt đến. Chỉ một người bị vùi ngất đang cấp cứu, ba người tức ngực, một mút-cơ-tông gãy báng. Thế là may. Nhưng mặt Năm Chò vẫn sa sầm. Anh ho liền trước khi nói nặng nề:
- Hai tay vệ binh hồi nãy mang lệnh của anh Hồng Long. Đại đội mình sẽ cầm cự tới sáu giờ tối, sau đó hành quân dọc quốc lộ... đường xa đó... bảo đảm khiêng hết thương binh... - Đánh lấy lại Biên Hòa hả anh? - Rút lui.. tới Phan Thiết... tôi đang xin lệnh viết chính thức..., Tất cả ngồi lặng cả đi mấy tích tắc. Trung đội phó Sanh đầu quấn băng trắng trừng mắt quát: - Lui! Lui nữa! Lui tới đâu dân réo bộ đội chửi tới đó, tôi hết chỗ chịu rồi! Bốn năm người cùng nhao nhao, không ai nghe ai: - Mới hôm qua bà già cột con chó trước cổng, nói to cho tụi tôi nghe: tội nghiệp, mày ăn cơm nhà còn biết giữ nhà, chẳng phải như cái bọn ăn no cắp đuôi mà chạy... - Ông già tản cư chỗ cầu gỗ hỏi: trong mười lời thề của các anh có cái lời thề bỏ dân trốn giặc không vậy? - Mấy cô du kích gặp sáng nay nữa, xỉa xói là súng to súng nhỏ chạy ráo trọi, nhường chỗ cho gậy tầm vông! - Ra đi không trở về! Đứa nào sợ chết cứ rút, đứa nào gan lì ở lại đánh với tao! Câu nói cuối cùng của trung đội trưởng Lung quất vào mặt Năm Chò như một bó lạt dang. Anh chồm người tới trước, gầm lên: - Câm họng! Lung, mày nói ai sợ, ai gan? Lung há miệng định cãi, chỉ mấp máy miệng không ra tiếng, mặt hơi tái đi nhưng mắt gườm gườm. - Tao dốt nát, không nói hay như mấy ông chánh trị, tao nói kiểu con nhà cầm súng thôi, nghe đây Lung! Mày muôn giơ ngực ra cản đạn thằng Tây, tao cho mày tự do, không cấm. Mà tao cấm mày không được làm mất súng của đại đội, không được kéo anh em non trẻ chết chùm với mày. Bây giờ mày trả cây Xi-ten lại đây, cởi ngay lập tức, hai trái lựu đạn Nhựt thì tao tặng mày. Đi luôn theo du kích đi, tao không nói mày đào ngũ đâu, mày chết tao báo về vợ con làng xóm thiệt tốt cho người ta cúng lễ mày đàng hoàng. Mày cởi súng ra, đi một mình, đi đi! Chung quanh lại lắng xuống một lát, rồi ồn ồn: - Thôi anh Năm, nó nói khùng nói bậy... - Năm, mày đừng giận nó, tụi mình với nhau mà! - Thằng Lung, nhận lỗi với đồng chí đi, bướng hoài! - Mày uống nước không chừa cặn đó Lung! Tiểu đội trưởng trinh sát chạy đến, hổn hển: - Báo cáo các anh, quân bộ tới! Năm Chò lừ lừ quay đầu lại, gằn giọng: - Thở một chút, nói thiệt rõ nghe coi. Trinh sát trên điểm cao mé trước trông thấy một đội quân địch chừng bảy tám chục tên đi hàng dọc hai bên lề đường nhựa, rất chậm chạp, không có xe tăng hay xe bọc thép mở đường, không có máy bay Mo-ran quần trêu đầu. Năm Chò cau mày: - Màu áo quần ra sao? - Màu vàng đất sét, như tụi Nhựt. Ra chỗ bìa rừng ngó thấy. Năm kéo cả nhóm cán bộ ra mé rừng. Những chấm lúc lắc hai bên đường nhựa còn rất xa, có ống dòm tốt mới nhận ra được quân nào. Nếu chúng cứ vừa tiến vừa dò đường thế này, ít nhất phải nửa giờ chúng mới đến châu đồi. Tim Năm đập nhanh dần. Anh không dám nói ngay, sợ mừng hụt, chỉ nhắc anh em nhìn thật kỹ trong khi anh cố nghĩ một cách đánh nào lợi nhất, ăn chắc nhất. Tháng trước chi đội Ba Tơ của Quảng Ngãi đã gặp dịp may lạ lùng: một đơn vị quân Nhật bị tụi Anh ném đi dò đường mà không cho xe tăng hay máy bay theo giúp. Tiếc rằng lần ấy ta chỉ có một phân đội tại chỗ, giết hơn chục tên mà không lấy được súng. Dường như dịp may ấy đang diễn lại trước mắt Năm. Cầu Xuân Lộc bị phá, thuyền bè không có, tụi Pháp nhờ bọn chỉ huy Anh cho sục sạo quãng quốc lộ ra Phan Thiết. Ba thứ quân ráp lại lụp chụp, ắt đánh lộn xộn. Máy bay Anh chưa sẵn sàng thì đại bác Pháp cứ bắn trước, đủ số đạn là ngừng. Quân Nhật thù ghét Anh và khinh Pháp ra mặt, chán cầm súng mà cứ phải đánh thay cho lũ quỷ trắng, ra trận với điệu bộ muốn nôn mửa. Tụi Anh không dám cho máy bay và thiết giáp đi chung với Nhật, bởi đã lắm phen ăn những viên đạn trường Nhật cỡ nhỏ xíu mà không truy ra ai bắn. Anh Hồng Long nhiều lần giảng về các mâu thuẫn trong hàng ngũ địch. Lúc này Năm Chò sẵn sàng quỳ gối xuống lạy tất cả các thứ thần phật ma quỷ sao cho mâu thuẫn ấy hiện hình trong chốc lát để đại đội anh kiếm được mấy chục cây súng có đạn mà đánh tiếp ít lâu nữa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:24:13 pm Sáu Cam kên the thé trên lưng chừng cây:
- Tụi nó cắm lá trên mình, anh Năm! - Coi kỹ màu áo... - Đúng tụi Nhựt rồi. Trên mũ sắt cũng gài lá. Năm Chò quay lại nhìn nhóm cán bộ trung đội: - Hỏi thiệt nghen, tụi bay có nhứt trí tao chỉ huy thay anh Nông chưa? Ai không đồng ý nói phứt đi. Trung đội trưởng Ba Dĩnh ngoài bốn mươi tuổi, phu khuân vác ở cảng Đà Nẵng, vẫn được coi như ông lão làng trong đại đội. Anh nói thật dõng dạc: - Hỏi gì lạ vậy Năm? Họp từ tiểu đội trưởng trở lên, tao chủ tọa, bầu mày không thiếu một phiếu nào. Thằng nào trái lệnh, mày cứ... cứ trói ké lại cho anh em xử. Thằng Lung chịu lỗi rồi đó, mày đừng để bụng. - Ờ, vậy tao kế hoạch đây. Tao bắn cây Bơ-ren chặn đầu với tiểu đội trinh sát. Thằng Sanh cho tiểu đội trường Anh cúp đằng đuôi. Khúc giữa xung phong đâm lê cướp súng, cho phép mỗi đứa bắn một phát thôi, nói rõ là cấm bắn hai viên... Nhìn những cặp mắt năn nỉ được đánh, Năm Chò đắn đo một phút, rồi xiêu lòng trước vẻ đau khổ của Lung: - Trung đội thằng Huỳnh dự bị... - Ồ... - Không ồ à gì hết. Lính thằng Lung rải đằng đầu, cho thằng Sanh khúc cuối. Bố trí cách đường nhựa chừng vài chục thước, nghi trang thiệt kỹ. Cấm lên đạn trước khi tao nổ súng máy, hễ cướp cò lộ chỗ phục kích là bị đuổi về hậu phương, dặn rõ rồi nghen. Ai ý kiến gì nói mau. Nhóm cán bộ nhìn nhau rồi nhìn Năm. Vẫn ông lão làng nói dõng dạc: - Đề nghị đại đội trưởng cho trung đội tôi chỗ bố trí. - Chút nữa quên. Cụ cho một phân đội tới chỗ gò của trinh sát, nằm im đó cho địch qua, nổ súng rồi sẽ nhào ra hốt sạch bọn lính sẩy cho tôi, đừng để sót thằng nào. Còn hai phân đội, cụ lắp nối vô quân thằng Sanh. - Tuân lệnh! Năm Chò buột miệng: “Không dám”, ông Ba Dĩnh là đảng viên có khác, ổng nguyên tắc ghê ghớm mà không ai trách gì được. Cán bộ các trung hộc tốc chạy về đơn vị mình, chỉ còn Lung đứng tần ngần trước mặt Năm. Năm bật cười, đấm nhẹ vào vai bạn: - Thôi, xi xái bồ lái bồ khự 1. Xung phong thiệt bảnh, tao cho mày một đều. Chạy mau đi! Năm gọi tiểu đội trinh sát theo mình, chỉ để lại hai người ở vọng gác. Anh nắm quai xách cây bờ-ren nhấc nó lên, đi vội xuống bìa rừng cao-su. Huynh và Cam chạy theo. Họ vơ vội lá khô cành gẫy thành đống to bên đường, vùi mình vào đấy, vạch một chỗ hở vừa đủ nhìn phía trước. Hai trung đội của Lung và Sanh cũng hối hả xếp chỗ núp sau các gốc cao-su. Năm Chò chạy lom khom qua các bụi rậm bên kia đường, xem kỹ trận, địa phục kích, gật gù ưng ý. Anh bò thấp qua mặt đường, chui vào chỗ mình trong ổ lá vun trên đầu dốc, trong khi cán bộ trung đội và phân đội lần lượt biến khỏi mặt đất. Quân cụ Dĩnh lót chặn đuôi dưới xa kia thì khỏi lo, cụ còn kỹ tính hơn cả anh Nông Quyết Thắng. Năm Chò và Huynh nằm vã mồ hôi khá lâu dưới tấm chăn phủ chung hai người và cây Bờ-ren, bọn Nhật mới chịu dẫn xác đến. Lính Thiên hoàng đã đầu hàng mà còn bị ép ra trận có dáng đi thật lạ mắt, vừa lê chân thiển não vừa pha những nét ngông nghênh sót lại. Dưới những mũ vải ba rèm là những cặp mắt lấc láo và gườm gườm, sẵn sàng giết người cho mình sống sót, đầy hăm dọa và tuyệt vọng. Đi chính giữa đường nhựa là ba tên cầm súng máy nhẹ, rỉa từng loạt ngắn vào hai bên đường, xới thử những chỗ có vết đất mới đào đỏ tươi. - Huynh, lật chăn! Tấm chăn tung lên. Lá khô rơi lả tả. Cây Bờ-ren nòng trắng gầm nhức óc, nẩy bần bật trên hai chân, giật rung nửa thân người bắn. Luồng đạn của Năm Chò quật nhào ngay tổ dẫn đầu, quét xâu táo hàng quân đi bên trái. Khoảng chục tên đổ gục trước khi địch biết bị đánh. Huynh đâm băng mới. Đạn địch bắt đầu nổ lốp đốp, chiu chiu trên đầu. Nửa băng thứ hai quét vào hàng quân bên phải đã nhào sấp đang loay hoay ngắm bắn. Chúng nằm hàng dọc, vướng nhau, vướng xác đồng đội, khó bắn trả vào họng súng máy xổ đạn thẳng trục đường. ------------------------------------------------------------------------ 1. Xí xóa, không nói đi nói lại! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Sáu, 2016, 03:26:51 pm Thằng chỉ huy đeo kính trắng tuốt nhanh cây gươm dài thượt, cúi lom khom, gào rất to: “Riu-đan! Su-riu-đan” 1. Nhiều tên nằm gần hắn nghiêng người, quài tay sau lưng rút đạn. Năm Chò lấy lại đường ngắm, trút nửa băng còn lại vào thằng sĩ quan và cụm lính dồn cục. Anh ôm ghì cây Bờ-ren nóng rực vào lòng, kéo gập chân súng nghiến răng lăn mạnh mấy vòng trên mặt nhựa, rơi bịch xuống chỗ trũng bên đường. Huynh chạy ào theo. Ba bốn quả lựu đạn nổ liên tiếp quanh chỗ họ vừa nằm, tung mảnh veo véo.
Trên sườn dốc, các gốc cây phụt khói gần như cùng loạt, đạn bắn cách vài chục thước xóc túi bụi vào hông bọn Nhật đang cố diệt ổ súng máy chặn đầu. Chúng gào rú lạc giọng, xoay trở không kịp. - Xung phooong! Hai trăm con người từ lòng đất vọt ra, hét như sấm, xốc súng lao xuống. Hai trăm cái bóng rách rưới nhào theo mũi lê hình cạnh khế sáng lóe. Hai trăm thân hình gầy rộc đói khát ném hết sức nặng còn lại vào phát đâm đổi mạng dữ dội. Lưỡi lê lúc này nóng hơn đạn lửa, nóng như đầu người. Quân Nhật vỡ tan, rã chạy. Những thằng cố bắn trả đã lăn lộn ôm vết đâm trên ngực hay lưng. Nhiều lưỡi lê xóc quá mạnh, xuyên qua thịt trúng mặt đường gãy rắc. Loáng thoáng những bóng lính vất súng quỳ gối giơ tay lẩy bẩy. Mươi đứa đằng đuôi túm dây súng kéo lê chạy thục mạng, húc vào phân đội của Dĩnh tràn ra chặn, lăn gô giãy giụa dưới trận mưa súng bắn, lê đâm, báng súng nện xuống gáy. Cụ Dĩnh đuổi theo hai tên cuối cùng dọc đường về Xuân Lộc, vẩy hết sáu viên đạn súng ngắn ru-lô. Chúng lăn quay. Người đuổi cũng ngã vật, quá đói. Anh em tới sau xốc nách dìu Dĩnh trở lại trận, địa đang tưng bừng giữa những phút tuyệt vời nhất trong đời người lính cách mạng là khi thu dọn chiến trường. Tám mươi tên lính Nhật đã bị giết và bắt sạch trụi trong sáu phút. Trung đội phó Sanh, người duy nhất có đồng hồ đeo tay trong đại đội, mặt đỏ bừng, vừa đi vừa thét như điên: “Tất cả hết sáu phút! Sáááu phúúút!” Bộ đội bắt đầu lượm súng, thân nịt đạn, cởi mũ sắt địch. Năm Chò bị một hòn đá nhọn xóc vào hông đau nhoi nhói khi lăn xuông hố tránh lựu đạn. Anh nín thở chặn cơn đau, chống hai tay quỳ hai gối xuống mặt đường, ghé tai sát mặt trung Lung bị một loạt đạn xé nát bụng. Lung thều thào: - Năm... hết giận tao chưa? - Không, không, tao thương mày. Tao khiêng về, mày sống... - Đừng... chôn đây... khỏi mệt anh em... nói giùm với... Lung bỗng quẫy mạnh. Bắp thịt trên mặt co giật dồn dập như tập diễn kịch trước gương. Thân anh vặn cong lại như vỏ đỗ, hai mắt mỏ trừng, hai bàn tay cào cấu mặt đường nhựa đổi sang run giật khi ngực anh ngừng thở. Năm Chò hộc lên một tiếng đau xé trong họng, úp mặt trên ngực bạn. Nhiều bàn tay túm vai và tay lôi anh dậy. Anh đưa nắm tay đập vào đầu, buộc mình phải tỉnh lại, tỉnh ngay. Sáu Cam kêu lanh lảnh sát bên tai: - Có lệnh thượng cấp, anh Năm! Giấy tới kia! Năm Chò lảo đảo bưóc vào chỗ đất trống bên đường, ngồi phệt xuống, tay xoa nắn chỗ đau cạnh sườn. Cái áo cuối cùng trên thân đứt sạch cúc, bộ ngực trổ đầy bùa chàm phơi trần. Cán bộ các trung đội xúm lại. Cụ Dĩnh vừa được anh em dìu đến, cầm một miếng đường đen cắn nhai hối hả cho đỡ đói. Một người nào đó từ trên ngựa bước xuống, đứng nghiêm chào. Năm Chò giật mình co tay định chào lại, sực nhớ mình đang ngồi, buông tay nói ấp úng: - Xin khuyết điểm nghen, tôi mệt quá... anh nói đi... - Báo cáo đồng chí, tôi chuyển mệnh lệnh viết của Bộ chỉ huy Mặt trận. - Tôi không biết chữ, anh đọc giùm. Anh phái viên tham mưu trịnh trọng xé phong bì giơ trước mắt mọi người một tờ giấy đánh máy đóng dấu đỏ, sau đó mới rập gót giày và đọc to. Lệnh viết rằng đại đội Quảng Nam thuộc lực lượng Nam tiến sẽ rút về trấn giữ ngã ba từ quốc lộ số Một xuống thị xã Phan Thiết ngay đêm nay. Đại đội phó Nguyễn Văn Chò phải bàn giao đơn vị cho trung đội trưởng Lê Dĩnh về Mặt trận bộ lập tức sau khi nhận lệnh. Người ký là La Giang, chỉ huy phó Mặt trận. Anh phái viên trao tờ lệnh cho Năm, chào rất đúng động tác trước khi vọt lên ngựa, phóng đi. Năm Chò vuốt tay lên mặt, thong thả nhỏm dậy, cười gượng: - Nghe rõ hết rồi nghen. Cụ Dĩnh lo giùm đại đội, tôi đi liền bây giờ. - Tầm bậy, mày ở đây, tội vạ chịu chung... - Đừng, cứ y lệnh mà làm, không các ổng lại ghép thêm cho tôi là phản động, phá hoại... Nè mấy cha, rán khiêng hết anh em bị thương theo, cùng quê hương bổn quán đi đánh giặc với nhau. Nhắc bộ đội lượm vỏ đạn đem về, quân giới nhận vỏ mới chịu cấp đạn. Mọi thứ chuyện trong đại đội thì các cha biết hết rồi, chẳng có gì phải bàn giao. - Thì mày cũng phải chào anh em... - Anh em đang mừng thắng trận, để họ vui xả láng một lát, cụ Dĩnh cho biết sau cũng được. Ô-voa hết bà con nghen! Năm Chò đứng ngẩn ra mươi giây nữa, tay đưa lên ngực tìm cúc cáo đã bay sạch. Rồi anh lẳng lặng bỏ đi theo đường nhựa, hai vai gò xuống như cõng nặng, kéo lê đôi giày lính đã há miệng. Sáu Cam xốc vội cái bao rách lên lưng, cung cúc chạy theo con người thương nó và được nó thương nhất trên đời. ----------------------------------------------------------------------- 1. Lựu đạn! Lựu đạn tay! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:19:13 pm 23. Bốn tháng đầy biến động trôi qua sau tổng khởi nghĩa. Một chàng trai cao lớn, mặc sơ-mi ngắn tay tuy trời se se lạnh, quần dài tím than ống rộng theo kiểu đương thời, đi giày vải bát-két, tóc cắt cao cũng theo kiểu thể thao đang thịnh hành, đến bấm chuông và gõ cửa nhà bà Mỹ Duyên. Đến mươi phút mới có một ông cụ ra mở cửa. Cụ nặng tai và hơi lẫn. Hỏi mãi tên và nghề của khách xong, cụ mới kéo Hai Khánh vào nhà, bỏ đấy đi lập cập pha nước. Cụ nói rất dài rằng con cháu cụ mới quyên tiền nuôi tự vệ dạo trước, hũ gạo “đồng tâm” giúp đồng bào Bắc Bộ đã có giới phụ nữ đến trút mang đi, ai chứ cụ thì hết mình yểm hộ chánh phủ Cụ Hồ. Mất đúng nửa giờ Khánh mới rứt ra được, chỉ biết thêm rằng ba gia đình đã thuê chung ngôi nhà này sau khi Mỹ Duyên bỏ đi. Ông cụ nghe không nói gì về người thuê trước. Khánh xem lại lá thư đã mòn các cạnh xếp, nhẩm thuộc địa chỉ cô người ở cũ của Mỹ Duyên mãi trên làng Thanh Khê. Duyên hẹn sẽ viết thư về đấy để chuyển lại cho kín đáo. Dắt xe đạp hỏi đường khá lâu qua các xóm. Khánh mới lội cát đến xóm Biển, vào nhà cô Tư Thóa tức cô Sen. Ban đầu Mỹ Duyên đổi tên Thóa ra Sen để kêu cho ra nhà sang. Nhưng cô Sen lại rất thích cái tên mới nghe thơm tho mà hiền lành, không hiểu ngoài Bắc con sen chỉ có nghĩa là con ở. Sen bỏ nhà đi vì bị gả ép chứ không quá nghèo túng, sống với nhau trong căn nhà rộng vắng, Duyên với Sen dần dà gắn bó, ăn ngủ chung như chị em, và Sen cố che đậy tất cả những vụ bê bối của cô chủ mà Sen thấy là tính nết khùng khùng nhưng rất tốt bụng. Chỉ mỗi lần phủ Đỉnh tới Sen mới “thưa bà” và rút xuống tầng dưới. Lúc này Sen đã lớn lên thành một cô gái đẫy người, da nâu, vừa đi tập tự vệ ngoài bãi biển về, mồ hôi chưa khô hẳn trên áo bà ba màu gụ. Nhác thấy Khánh, cô đã chạy ào đến: - Anh Hai, chị Duyên về chưa? - Ơ, anh đến hỏi Sen có tin gì không! Sen đứng thừ ra, bỗng sụt sịt: - Khổ chưa, vậy là mắc kẹt trong Sè-goòng rồi! Em can chỉ đừng có đi, muốn bỏ lão chồng già thì về ở đây với em, rau cháo xong thôi. Chỉ thêu đan có hoa tay, biết nghề may máy, học chữ nhiều, ném đâu cũng sống được đàng hoàng. Vậy mà chỉ cứ kêu buồn quá, chán đời lắm, về gặp má với em ít bữa rồi trở ra liền tay hà. Chỉ đi được nửa tháng, em nghe loa kêu bọn Tây trong Sè-goòng làm hỗn, từ đó tới giờ đánh miết, em cứ xửng lửng như mất hồn... Vẫn đứng giữa sân với cây súng gỗ khoác sau lưng, Sen khóc rấm rứt rồi bật gắt qua tiếng nấc: - Mà sao... anh kỳ cục lắm... anh không cản... anh cản nhứt định chỉ ở lại... - Anh ở tít Hà Nội, thư về không kịp. Sen có nhận được thư anh gửi nhờ chuyển cho chị không? - Được hai lá, còn cất nguyên đó. Trước khi đi Duyên bán đồ đạc, cho Sen rất nhiều thứ, riêng áo quần thì Sen không lấy vì to béo hơn cô chủ. Duyên gửi một hòm áo quần, nói nửa đùa nửa thật khiến Sen lạnh buốt xương sống: - Cho chị gởi đúng một năm thôi. Quá hạn đó coi như chị không cần nữa, em bán hay dùng cứ tự do nghen. Thấy Sen tái mặt vì câu nói gở, Duyên chữa vội: - Tới đó chị mập ú như em rồi, đồ này xài sao được! Khánh từ chối không ở lại ăn cơm cũng không ăn bánh tráng nhúng nước cuốn với cá khô mà nhà chài lưới nào cũng sẵn. Anh mở miệng nói còn khó khăn, làm sao nuốt được. Dắt xe trở ra đến con đường đá, Khánh leo lên đạp, thấy tay lái loạng choạng không ghìm nổi. Được chừng trăm thước anh phải xuống xe, ngồi dựa gốc cây phi lao bên đường, nhắm mắt cho đỡ choáng váng. Một bàn tay sắt nào đó cứ bóp mãi trên gáy và hai thái dương anh. Ước sao có thể khóc dễ dàng như cô Sen kia cho nhẹ người... Khánh biết Duyên chưa tròn hai năm. Sau một lần về Qui Nhơn vội vã trong dịp Tết để xin tiền mẹ, theo lời năn nỉ của mẹ, Khánh phải ghé ngang phủ Thăng Bình, chào ông bố dượng trên đường ra Hà Nội học tiếp. Anh gặp cô gái nhảy khét tiếng phá của và ngoa ngoắt này trong phủ, chỉ lạnh lùng chào dì Ba với ánh mắt khinh bỉ và giận dữ. Phủ Đỉnh không muốn rầy rà, giúi cho anh một phong bì khá dày, anh buộc mình phải nhận vì học phí trường Luật rất nặng. Tất cả bắt đầu từ mùa hè tiếp đấy, Khánh ghé qua Đà Nẵng, tò mò đến xem nhà Duyên mà anh gọi thầm là cái tổ quỷ của phủ Đỉnh. Trót nhận lời thách, Khánh phải chở dì Ba di thăm núi Non Nước và tắm biển bằng chiếc mô-tô do Duyên mượn của một tay bạn trai nào đó. “Gớm, tưởng ai cũng mết cô lắm! Đây lõi đời hơn cô chán vạn, còn khuya mới làm đỉa bám gái ca-ve!”. Ngày ấy qua như giấc chiêm bao, đêm ấy hai người thức trắng với nhau. Ngày mê đêm tỉnh, Khánh không hiểu nổi mình nữa, và Duyên cứ rít trong tay Khánh: “Em điên quá rồi, làm sao anh, làm sao...”. Đôi lần Khánh nhặt được trên đầu giường các bạn sinh viên những cuốn gọi là diễm tình tâm lý xã hội, trong đó các ả con gái lười chảy thây và thèm khát ăn chơi được tô vẽ thành những nàng Kiều đầy tài sắc phải bán mình chuộc cha. Anh lật nhanh mấy trang, cười khẩy: - Chọn nghề đĩ điếm thì quyết chí theo nghề cho luôn, giả vờ rên siết não nùng làm gì! Người ta làm ăn còng lưng mửa mật, cánh mình chong đèn học đến ho lao, còn các nàng bán trôn nuôi miệng thì vào nằm chềnh ềnh trong tiểu thuyết! Bọn văn sĩ nghiện oặt xà lai này chuyên viết bên bàn đèn, có gái nhà thổ tiêm thuốc phiện tì tì, mua sách phí tiền! Với nếp nghĩ trăm phần trăm duy lý của nhà luật sư, Khánh vẫn không thoát nổi cô gái bao quý phái mà anh phải gọi bằng dì. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:22:18 pm Khánh trở về nhà trọ trong một hẻm đường Gam-bét-ta, vừa đổi thành Lê Lợi, nơi chủ nhà quen nhắm mắt trước mọi cuộc hò hẹn trai gái nhưng tính giá gấp đôi cho những khách có người đến ngủ chung. Anh gài chốt cửa buồng xong lăn ngay ra giường, vòng hai tay lên đè trên mắt và trán, cố ngủ nhưng không sao ngủ được. Em ơi, Duyên ơi, con quỷ và nàng tiên của anh ơi, em có thể là bạn trăm năm hay hay chỉ là cô gái lẳng lơ tìm thêm dấm ớt, em sẽ đi luôn hay trở về, em sẽ là dì Ba hay vợ anh?
Ông Tây đen nằm trong cái bồ Có muốn oánh thì là oánh lô tô Tiếng hát say mèm từ buồng bên đánh thức Hai Khánh dậy. Điện đường Đà Nẵng đã tháo chao đèn phòng thủ hắt qua cửa sổ, in bóng những chấn song phình to trên tường. Một tổ phát thanh nào ngoài đầu hẻm đang đọc bản tin của Đài Tiếng nói Việt Nam chép theo lời đọc chậm. Thằng say bên kia vách ván vẫn không ngớt miệng lè nhè: Giây phút này đắm say ái tình Con chó xù cắn con chó vàng Con chó vàng cắn con chó xù A a á a a a à à... Khánh tức điên, nhảy xuống đất, đá mạnh vào lớp ván ngăn: - Câm đi không? Tao báo Công an tới nắm đầu bây giờ! Bài hát ma-cà-bông dứt ngay. Mấy câu thì thào không nghe rõ. Có tiếng lạch cạch mở cửa. Câu dọa báo Công an đã đánh trúng chỗ yếu nhất của những đứa nhậu nhẹt bên kia. Khánh quay trở về giường, nằm sấp xuống, vòng hai tay ôm gối, chợt hít phải mùi chua lòm của trăm thứ mồ hôi ngấm trong ruột bông. Anh vung tay ném cái gối văng bịch vào tường. Anh đã bỏ cơm trưa, cơm tối, lúc này vẫn không thấy đói, chỉ thấy mình rã rời như quả bóng cao su bị chích xì hết hơi thành một dúm bèo nhèo. Người hùng Ung Viết Khánh tức Hăng-ri Khánh, đã từng nuôi mộng làm một Na-pô-lê-ông trong cách mạng Việt Nam, muốn đạp chân trên đỉnh làn sóng khởi nghĩa để nhảy lên ngôi, lúc này chỉ còn là người định chơi nước cờ cao lại lâm thế bí, còn quân còn đường mà tắc hẳn các lối đi. Trong mấy tháng lang thang không việc làm tại Hà Nội, nơi những luồng tư tưởng và hành động trái ngược va vào nhau sùng sục, Khánh đã nghe thấy tất cả các tiếng chuông đến từ mọi phía, càng nghe càng thấy ù tai rối óc. Nhiều bạn cũ tin chắc rằng chàng trai con quan tri phủ, với dáng người và lối cư xử quý phái, chăm học và học giỏi, chỉ có thể ngả theo Việt quốc, Việt cách, hay đóng vai trí thức trung lập mà thôi. Họ lôi Khánh đi nghe ông Vũ Hồng Khanh cao lớn bệ vệ trong bộ âu phục loại sang, chửi cộng sản như sấm sét trong ngôi nhà 21 Hàng Bún Trên. Họ rủ anh cũng đóng vai đại biểu sinh viên đến ra mắt cụ Nguyễn Hải Thần ở nhà 23 Quan Thánh, nghe cụ nói líu lô nửa Việt nửa Tàu về quá khứ vị lai, đúng cái giọng của vị “Nam Hải chân nhân, mãi văn toán mệnh” treo biển vải ở chợ Quảng Châu. Khánh bỏ hai đêm đàm đạo với một trung ương ủy viên Quốc dân đảng tóc hoa râm trong một tiệm hút kín đáo ở ngõ Phất Lộc, mỗi lần phải tốn ba bốn chục viên bi. Bi là những viên xái tẩm nhựa thuốc phiện đen lánh, mỗi viên một đồng chỉ bằng hạt ngô, bọc trong dải giấy kính dài vặn xoắn như chuỗi hạt. Lão ta thích tán và tán rất tài những chuyện vui buồn voi chó về mười năm lưu lạc ở Côn Minh, Liễu Châu, Trùng Khánh, Quế Lâm, phải cái chỉ bốc hứng sau vài chục khói. Và tuy không hề thề thốt trước gươm súng để vào Việt quốc, anh vẫn được bí thư trưởng Nguyễn Tường Tam viết thư cộp ấn giới thiệu anh với đảng bộ Việt quốc tỉnh Quảng Nam! Trong khi ấy, các bạn Việt Minh Hoàng Diệu vẫn nhớ anh là người cùng hoạt động bí mật với họ, dám gan góc tìm cách móc nối với sĩ quan Nhật để mua súng đạn chuyển lên chiến khu và sửa soạn khởi nghĩa. Lá thư của Việt Minh tỉnh Trần Cao Vân cũng xác nhận những công tác mà Khánh đã làm: xuất tiền nhà mua vũ khí tặng du kích, vận động hiến thóc, nắm tình hình chính quyền bù nhìn, kêu gọi binh lính địch. Bạn nào cũng muốn kéo Khánh cùng làm việc với mình, ấn vào tay anh một nhiệm vụ nào đấy, ngạc nhiên và hậm hực khi Khánh từ chối khéo, viện cơ sắp trở về miền Nam để đánh giặc giữ quê. Người ồn ào nhất là anh bạn cùng với Khánh mua súng qua trung úy Ta-kê-đa, nay là đồng chí Thạch Sơn trong Ban chỉ huy tự vệ Hà Nội. Anh ta nhất quyết bắt Khánh giúp một tay xây dựng “đoàn quân sao vuông” của thủ đô: - Tớ biết, cậu đang định học tiếp, trường Luật nghỉ thì sang ngành khác. Cơ mà lúc này xâm lăng nội phản rối mù, cậu phải xếp bút nghiên lên đường tránh đấu cái đã. Trước kia cậu tham gia cách mạng theo kiểu hướng đạo sinh làm việc thiện, kiểu học sinh giúp dân khi cắm trại hè. Bây giờ phải liều mình dấn thân trăm phần trăm, toàn tâm toàn ý, hiểu chưa? Đừng có lừng khừng nước đôi nữa, hiểu chưa? Mới đấy mà cậu với tớ đã thuộc lớp cựu trào rồi, anh em trẻ họ hăng mà non ghê đi! Hà Nội lúc ấy có vô số lớp học ngắn ngày, ngành nào cũng mở, học ngày hay học đêm đều sẵn, chỉ ra một điều kiện là học viên tự lo khoản ăn ở. Cách mạng nghèo quá, lắm cán bộ làm việc ngày mười hai tiếng cũng chỉ dựa vào cơm nhà áo vợ. Nể lời Thạch Sơn, Khánh ghi tên dự một lớp đào tạo cấp tốc cán bộ thông tin tuyên truyền trong ba tuần, học thất thường mà vẫn được cấp giấy tốt nghiệp. Khi xếp công tác, anh lại lựa lời từ chối khéo. Thạch Sơn nói đúng, Khánh chỉ muốn dính vào cách mạng như trước đây đi sinh hoạt. Hướng đạo chiều chủ nhật, đi dạy Truyền bá quốc ngữ mỗi tuần vài đêm, hay như hiện nay đi nghe nói chuyện chính trị ở các câu lạc bộ. Anh chưa muốn hiến thân cho một lý tưởng nào, vì lẽ đơn giản là chưa tin ở lý tưởng nào cho thật sâu đậm. Khánh định tìm việc làm tạm để kiếm cơm, nhưng Hà Nội quá nhiều người thất nghiệp mà anh lại chẳng thạo nghề gì. Xoay xở mai anh mới được bạn chia phần mỗi tuần hai tối dạy tiếng Anh cho mấy chục nhân viên bán hàng tư chỉ học những câu chào mời và tính tiền, mỗi tối được trả bốn đồng. Anh bạn cho ở nhờ làm gương soi được lãi kha khá nhưng trong nhà đã đầy những họ hàng chạy đói ra phụ việc lấy miếng chín, không lương. Thư trong Nam dạo này ra nhanh và ít bị mất hơn trước. Khánh mới đến Hà Nội mươi hôm đã được thư Mỹ Duyên báo tin sẽ thu xếp vào Sài Gòn thăm mẹ và em, bây giờ ngớt bom đạn đi dễ thôi. Từ ấy trở đi vắng luôn tin Duyên. Nàng bị tắc đường ở lại trong ấy, hay đã về Đà Nẵng nhưng lên cơn hờn dỗi? Me và thằng em Rô-be Chương gửi thư đều, nhưng không có tiền để gửi. Phủ Đỉnh, đúng như Duyên đoán, đã bán chiếc ô-tô và con ngựa Tía, vào ẩn thân trên gác cửa hiệu Lợi Thịnh, ăn mâm riêng rất sang nhưng chi tiền “rất sòng phẳng theo giá cả ba năm trước”, tiền chợ riêng lão chiếm một nửa các khoản tiêu cho cả nhà. Mỗi lần các con phàn nàn, me lại khóc, Chương lại vác đàn đi ở nhà bạn mỗi nơi vài ngày. Khánh biết mình không thể về Qui Nhơn nhìn mặt lão bố dượng ranh ma và bà mẹ yếu đuối nữa. Anh viết thư kính cẩn báo cho mẹ con bà Cả ở Linh Lâm rằng đã tìm ra tông tích của cha, nhưng biết họ sẽ không mắc lừa và bỏ thêm xu nào. Chỉ còn Mỹ Duyên. Cô Xi-mo-nét ấy nối liền với Khánh bằng sợi cao-su khi căng khi chùng, chưa hề đứt. Nhưng thư của anh gửi cho cô Sen nhờ chuyển không hề được hồi âm... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:24:51 pm Những người bạn tốt bụng không lôi kéo được Khánh và quá bận, vắng bóng dần. Người kiên nhẫn nhất là Thạch Sơn bỗng dưng biến mất, giữa lúc Khánh rất cần gặp. Trong một cơn buồn chán, Khánh xộc thẳng đến hỏi chỉ huy trưởng tự vệ Thành mới biết Thạch Sơn được điều đi Công an xung phong trong vùng Quốc dân đảng chiếm dọc đường sắt từ Vĩnh Yên lên Lao Cai, anh không gặp được nữa.
Một lá thư từ Quảng Nam gửi ra khiến Khánh bồi hồi xúc động. Đồng chí Phan Chanh, phó chủ tịch tỉnh rồi đấy, vẫn tưởng Khánh ra làm cách mạng ở Trung ương, nhờ Khánh tìm hộ cho một số thợ nguội giỏi nghề để lập các binh công xưởng trong tỉnh, cho vào càng sớm càng hay. Anh định gửi trả Khánh súng ngắn, đồng hồ, bút máy, nhưng sợ lạc nên đang giữ tạm. Anh thợ xe lửa ấy tốt bụng và thật thà đến nỗi Khánh không dám làm anh thất vọng, chỉ viết thư hứa chung chung sẽ cố gắng. Ôn lại những ngày sôi nổi ở Linh Lâm, tất cả những kỷ niệm của Khánh được đúc lại chung quanh con người tầm thước có đôi mày nét mác trên mắt xếch và cái cằm nẻ đôi. Chỉ học trong tù thôi mà Cả Chanh viết chữ khá đẹp, rất đúng chính tả, không lẫn lộn cả dấu hỏi ngã, n và ng, c và t ở cuối chữ, ấy là điều hiếm thấy ở người miền Nam. Khi buộc phải dùng tiếng Pháp, anh cũng viết rất đúng những từ chuyên môn. Đọc xong lá thư lần thứ hai, Khánh nghĩ rằng nếu có một ai gần gũi mà anh có thể phục cả tư cách lẫn trí thông minh, đó chỉ có thể là anh cán bộ Việt Minh đau dạ dày kinh niên kia. Bạn bè của Khánh ở phía đối địch không chối cãi rằng Cộng sản có một đội ngũ đảng viên vững mạnh, được dân tin yêu, đáng làm gương cho các đảng phái quốc gia noi theo. Nhưng không phải vì thế mà chủ nghĩa cộng sản là chân lý! Một hôm lang thang trên đường Cổ Ngư, Khánh gập một người béo lùn, khá to bụng, đeo kính râm và đội mũ phớt úp tận mắt, ngồi trên ghế xi-măng quay sang phía trường Bưởi và khu thủy phi cơ của Pháp trước kia trên hồ Tây. Anh ngờ ngợ một lát mới nhận ra anh Tô Trọng Huân, thư ký tòa Khâm ở Huế, đoàn trưởng đoàn Hướng đạo sinh Ngô Tòng Châu, năm 1942 bỗng dưng biến mất và sau đó bị Pháp truy nã vì tội “hội kín”. Mừng quá, Khánh đến ngồi sát bên cạnh: - Anh Huân, quên em rồi à? Huynh trưởng nhận ra đoàn sinh Ung Viết Khánh chưa? Người kia giật mình, thọc nhanh tay vào túi áo bờ-lu-dông, rồi khẽ bật cười rút tay ra, dựng ba ngón kín đáo chào kiểu Hướng đạo: - Quên ai chớ không quên Khánh đâu. Học giỏi, bơi giỏi, diễn kịch giỏi, nổi tiếng Khải Định mà. Giờ em học ở đâu, làm gì? Anh Huân hỏi rất nhiều mà chỉ nói về mình vài câu vắn tắt. Anh ngẫm nghĩ lâu trước khi dặn Khánh chiều mai đến thăm anh tại nhà một cụ Bá trong khu Ngũ Xã, phía đông hồ Trúc Bạch. Khánh trố mắt: - Nghe nói khu ấy lập chính quyền Việt quốc, tuyên bố tự trị phải không anh? - Khắc đến, khắc biết. Ai hỏi, em nói là anh Trọng Béo bảo đến. Hôm sau Khánh mượn xe đạp lên Ngũ Xã đúng hẹn. Qua khỏi cây cầu gỗ đi vào cái làng đảo lắm thợ đúc đồng này, Khánh chợt nghe tiếng lên đạn róc róc và tiếng quát hung dữ: - Đứng lại! Giơ tay lên! Quay đằng sau! Anh thả xe đạp ngã vào bờ rào, làm theo lệnh. Ai đó đứng sau lưng anh vuốt nắn từ đầu đến chân tìm vũ khí. Mặc xác mày. Thế nhưng khi chiếc ví trong túi quần sau bị moi ra, Khánh bắt đầu tức: - Trong ví có bao nhiêu tiền, tôi đếm rồi đấy. - Câm ngay, ông cho một phát bây giờ! Quay lại! Giấy giới thiệu đâu? - Không có. Anh Trọng béo bảo đến nhà cụ Bá. Khánh cố ý kiểm lại ví để chọc tức hai người gác, một cầm súng thất cửu và một đeo gươm Nhật, đều mặc sơ-mi và nói giọng du côn như nhau. Cụ Bá chỉ là mật hiệu của trụ sở Việt quốc, đặt ngay trong đình làng. Cờ sao trắng trên nền xanh treo giữa, bên dưới có ảnh ông Nguyễn Thái Học trong khung bài vị, với một súng trường và một thanh gươm dài dựng chéo như giá đỡ. Hai bên chính điện treo hai băng vải đỏ dán chữ giấy trắng: “Tự do dâu chủ, công bằng xã hội”, và “Đả đảo Việt Minh độc tài cộng sản”. Khánh khóa xe xong, bước vào đầu nhà bái đường, đứng nhìn quanh bằng cặp mắt ngờ vực và cáu kỉnh, sẵn sàng cự bọn này một mẻ và ra về. Trong đình kê năm cái bàn nhưng chỉ hai bàn có người, một đánh máy cò mổ và một cặp đang đếm tiền, không ai ngửng lên. Một người gác nữa ngồi trên ghế bành kê ngoài hiên đang ngoẹo đầu ngủ say, cây trường Nhật cắm lưỡi lê hình gươm dựng vào khung cửa. - Khánh đấy à? Sang bên này! Anh Huân đứng ngoài sân sau lưng Khánh vừa gọi. Khánh ngạc nhiên thêm một lần nữa: Anh Huân mặc một bộ đồ đồng phục giống hệt thằng Sĩ Ca tức Si-ca-gô mà Khánh trông thấy hôm mới đến Hà Nội, ông cụ hàng nước gọi đấy là lính Việt Quốc. Hoàn toàn không phải như hôm qua anh đóng vai thám tử vẽ trên bìa sách. - Chắc là đang cáu với lũ trẻ vọng gác phải không? Công an Việt Minh xộc vào bắt người nhiều lần, chúng nó khiếp, soát người đến ngấy tận cổ. Đi với mình! Khánh theo anh Huân lách qua năm sáu lớp hàng rào vườn, đến một ngôi nhà ngói cổ. Nhà đóng kín cửa trước, họ vào đằng cửa ngang khép hờ. Mươi người ngồi chung quanh hai cái bàn kê nối nhau đang nói chuyện rì rầm, có già và trẻ, có âu phục sang và áo the khăn xếp, có hai cậu sơ-mi soóc như mấy nhóc gác ngoài kia. Cửa sổ mở rộng nhìn ra hồ Trúc Bạch nước xanh màu gỉ đồng và tanh mùi đồng. Anh Huân kéo ghế mời Khánh ngồi, lại quay trở ra. Khánh nhìn quanh, thấy toàn những bộ mặt lạ, không muốn chào ai và cũng chẳng ai bắt chuyện với anh. Trên bàn đặt mấy chai rượu cô-nhắc Mác-ten, mới nhìn đã thấy ngay là hàng giả bởi cái nhãn bắt chước in quá vụng, mấy đĩa lạc rang húng lìu, hai bộ ấm chén. Khánh tự rót uống liền hai chén nước trong khi chờ đợi. Cái gì sẽ diễn ra trong khung cảnh chán ngấy này? Dưới nhà ngang vẳng lên những tiếng thì thào, và mũi Khánh chợt bắt mùi khói thuốc phiện hôi và beo béo. Anh Huân đưa vào một vị khách nữa, mặc sơ-mi trắng bỏ ngoài quần, mặt đỏ bừng, nói to khi bước qua ngưỡng cửa: “Chào các đồng nghiệp yêu dấu!”. Vài người khẽ gật đầu chào lại, dáng hờ hững. Ai là đồng nghiệp của ai? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:39:55 pm Từ nhà ngang bước lên ba người mặc âu, vừa đi vừa vuốt lại áo vet-tông hay nắn sửa ca-vat, rõ ra mới rời bàn đèn. Họ đến ngồi xuống các ghế chừa trống ở một đầu bàn, anh Huân cũng ghé đến bên người ngồi ở chỗ chủ tọa:
- Báo cáo anh, các vị mời đã đủ, xin anh khai mạc. Anh Huân ngoảnh nhìn cử tọa, nói dõng dạc: - Kính thưa quý vị nhân sĩ trí thức! Thành đảng bộ Hà Nội của Việt Nam Quốc dân đảng vô cùng cảm kích trước thịnh tình của quý vị đã hưởng ứng lời mời, quá bước đến cho chúng tôi được hầu tiếp vài chén rượu nhạt. Trước tiên, xin trân trọng giới thiệu văn sĩ Khái Hưng, nhà đại văn hào đã từng làm say mê hàng triệu độc giả nước ta, thay mặt tòa soạn báo Việt Nam thưa chuyện cùng quý vị. Người ngồi đầu bàn đứng dậy, dặng hắng, bắt đầu nói khàn khàn. Khánh biết Khái Hưng chỉ qua cuốn “Hồn bướm mơ tiên” đọc vội, nhưng đã nghe nhiều bạn học trầm trồ khen văn sĩ này. Anh ta có hàm răng hơi vẩu, mái tóc chừa dài phủ nửa tai, thỉnh thoảng đưa tay lên vuốt. Khánh chú ý nhất đến cặp môi loang lổ đậm nhạt của người nghiện thuốc phiện. Cái núm cổ nhọn chạy lên xuống dọc cái cổ gầy cũng của người nghiện trong khi anh ta nói. - ... Chúng tôi xin lỗi, không dám giới thiệu quý tính phương danh cùng trọng trách của quý vị, bởi vì chưa biết quý vị sẽ chọn bút danh nào khi cộng tác với báo chúng tôi, tờ báo duy nhất dám nói lên sự thật trần trụi dưới chế độ độc tài cộng sản. Chúng tôi cũng xin quý vị miễn chấp đã đón tiếp quý vị ở nơi thôn dã thuộc ngoại ô Hà Nội, sau khi vài vị tỏ ý dè dặt chưa muốn đến trụ sở báo Việt Nam ở số nhà 80 Quan Thánh, giáp phố Bua-ranh, nơi xưa kia các anh Nhất Linh, Hoàng Đạo đã cùng tôi hiến tất cả tinh hoa của đất nước trước khi thực dân Pháp ra tay khủng bố! Âu cũng là một dịp để quý vị chứng kiến tinh thần quật khởi của dân chúng đã biến khu Ngũ Xã này thành pháo đài bất khả xâm phạm của tự do dân chủ, bất chấp mọi sự hăm dọa phía Việt Minh cộng sản... Thì ra đây là cuộc chiêu đãi của tòa soạn báo Việt Nam để mời cộng tác viên. Trong khi Khái Hưng đang nói, hai chú khách trú cởi trần phơi bụng phệ lễ mễ khiêng vào một cái mâm gỗ to bằng mặt bàn chữ nhật, có chân và bốn càng như băng-ca khiêng người ốm, xếp đầy những liễn, âu, đĩa, bát, chai, cốc. Một a múi mặc áo Thượng Hải không tay và xẻ dọc đùi giúp bày các món rất sang, được chở bằng thuyền từ hiệu cao lâu bên kia hồ tới đây, Khánh nhìn qua cửa sổ thấy họ cập bờ, khiêng mâm lên với vẻ rất quen thạo. Anh chàng đến cuối cùng đã say ngất ngưởng. Anh ta đứng vọt dậy, lắc lư cái đầu đỏ tận gáy, ngắt lời diễn giả: - Thưa hiền huynh...hiền huynh trô xong thả cửa, đàn em đây đang chịu cực hình của Tăng-ta-lơ với bàn cỗ bày dưới mũi thế này. Xin cho đệ tóm tắt: các huynh cứ ra đề, chúng đệ chấp bút, chửi ai khen ai xin chiều lòng trăm phần trăm, cúi mong các lãnh tụ chi tiền Đông Dương kha khá vào, đừng giúi cho một nắm quan kim. Ai ý kiến ý cò gì xin để chốc nữa, không cái ăn nguội cả! Khái Hưng sầm mặt cười gượng, vẫn giơ hai tay ra hiệu mời chung trong khi mọi người che miệng cười. Quan khách cầm đũa lúc ba giờ chiều, một thời điểm trái khoáy, cũng trái khoáy như nơi mời đến và cách đón tiếp. Thế nhưng không ai làm khách, tất cả đều chén thật lực, và Khánh cũng chả buồn giữ ý gì với mấy tay đũa hăng hái bên cạnh. Cô a múi đi vòng rót rượu Mai quế lộ qua vai khách. Hai chú khách phơi bụng và rốn bên trên cái thắt lưng da đeo ví tiền và bao kính tiếp thêm các món gà luộc, vịt khô Triều Châu, lợn quay sơn đỏ, nói bô bô rằng món cá chép chưng mộc nhĩ ăn nóng và món hải sâm chỉ có mỗi người một suất thôi. Một giờ sau, mọi người đều say nghiêng ngửa, Khánh nhấp một hớp gọi là, lắng tai nghe khẩu khí của quý vị nhân sĩ trí thức, tinh hoa của đất nước. - Mẹ bố nó chứ, ông viết mửa mật ra, nó ký tên đồng tác giả mà đòi chia năm mươi năm mươi, ông gí vào! - Đểu nhất vẫn là thằng xuất bản Hiện Đại. Nó khai in năm nghìn với I.P.P. hồi Tây, nó thì cho tớ nhuận bút một nghìn, bốn nghìn bán giấy chợ đen. Tớ dọa kiện, nó chịu vất cho tớ hai trăm nữa, dè xẻn mới hút đủ một tuần lễ. - Ăn đong, tao chủ trương ăn đong thôi. Tao sẽ ký hai bút danh, một thằng chửi một thằng bênh, tao cãi vã với tao! - Mình dặn lũ đàn em rồi đấy: động vào ai chứ đừng chạm vào Cụ Hồ, gái hàng hoa hay trẻ đánh giầy cũng xúm vào nện cho vỡ cái chỗ đội mũ. - Khái Hưng nó ranh tổ mẹ, sắp viết thuê cho Việt quốc, nó còn đi xin phép Việt Minh. Xem đấy, nó về Nam Định chơi thoải mái, Ty tuyên truyền đưa nó đi trô đi hốc, còn cho xe đưa về Quan Thánh. Người ngồi bên Khánh đã lột ca-vát nhét vào túi vét-tông, lột vét-tông vắt trên lưng tràng kỷ, phà hơi thở hôi nồng vào mặt Khánh: - Toa viết cho ai? Làm như moa đi, viết cho cả hai bên, báo Cứu Quốc có bài của moa đấy nhá. Nhưng toa nhớ đụng dính vào cái khoản bắt cóc, tống tiền, ám sát, cũng đừng viết kêu gọi đình công, bãi thị, biểu tình cướp chính quyền. Sau này Việt Minh xách cổ ra tòa còn đường mà chối! Chắc hẳn Khánh còn đủ kiên nhẫn để nghe thêm một lát nữa nếu anh Tô Trọng Huân không cầm cốc rượu ghé ngồi trên chiếc ghế trống bên cạnh. Khánh trông thấy anh thì thào vào tai mấy vị có vẻ tai to mặt lớn, sững sờ khi nhận ra dáng bộ xun xoe của anh thư ký tòa Khâm hiện quá rõ. Anh dấn thân đi làm hội kín là hi sinh vì nước kia mà, một người dám liều mạng sao còn giữ cái vẻ nịnh bợ kỳ quặc thế kia. Nhân lúc anh ngà ngà, Khánh hỏi: - Hồi năm bốn mươi hai, anh Huân đi đâu mất? Anh cười xòa, uống một hơi cạn nửa ly, gật gà: - Anh đi học lớp tiếng Nhật. Tây nó dọa ghê quá, anh nhảy luôn vào trại Nhật, anh Chu Bá Phượng đưa vào Đại Việt. Bây giờ Vũ Hồng Khanh đang đắc thế nhờ quân Tàu kéo vào, nhưng anh Nhất Linh đang lèo lái. Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào em ạ. Cụ Nguyễn Hải Thần đang kéo anh, không mất lạng nào anh cũng lên tỉnh trưởng như chơi, đợi mà xem, chẳng chịu làm thằng cạo giấy như xưa đâu. Khánh chịu khó phò tá anh nhé, vài năm là lên tỉnh phó ngon ơ. Anh túm vai Khánh, thấp giọng lè nhè: - Tin mới toanh. Cụ Hồ phải chịu lập chính phủ liên hiệp rồi, cụ Nguyễn làm phó chủ tịch nước. Phó chủ tịch tỉnh bổ ghế tỉnh trưởng khó quái gì. Lão Đinh Bưởi bỏ ra mấy mươi lạng được cụ phong sẵn làm bộ trưởng Tài chính rồi, chắc còn phải nộp thêm. Ông Lạc Long hiến cái nhà chỗ 21 Hàng Bún Trên, cụ Nguyễn định cho cái cố vấn chính phủ, lão già rồi chả làm bộ trưởng được đâu. Hôm nào anh dẫn Khánh đến chào cụ Nguyễn ở 23 Quan Thánh, xem cụ nắm được gì thêm không... Anh quay sang một ông lớn tuổi vừa gọi, vâng dạ hối hả, bỏ đi thu xếp bàn tĩnh và thuốc phiện chính hiệu anh điêng cho quý vị làng bẹp. Khánh kín đáo bước ra ngoài, nhìn kỹ những chỗ lách hàng rào, quay trở về đình lấy xe đạp. Trước thềm đình không còn người gác mà chỉ có một nhóm trẻ con đang rút bất ăn tiền. Gần chiếc cầu gỗ, một cặp trai gái ngồi tán gẫu trên bờ cỏ. Cái pháo đài bất khả xâm phạm của Việt quốc là thế này sao? Từ đó Khánh, không quay trở về Ngũ Xã lần nào nữa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:42:49 pm Nhưng anh Huân không buông tha cậu đoàn sinh cũ. Anh ta tìm đến chỗ Khánh ngủ nhờ ở phố Hàng Lọng, kéo đi dự những buổi gặp mặt, tiếp đón, diễn giảng của phe chống đối, tuy biết Khánh đã dự lớp nửa tháng với Việt Minh Hà Nội. Hình như anh cố làm cho Khánh nhúng tay vào chàm để Việt Minh không dám tin dùng hay sao ấy.
Cậu bạn trường Luật cùng với vợ lạnh mặt hẳn đi với Khánh sau mấy lần anh Huân đi chung xe với lính chữ Sát đến đón Khánh. Rồi một tối vợ chồng đem con đi chơi, để ông bố vợ nói thẳng với Khánh là nhà ông chỉ biết làm ăn lương thiện chứ không dính dáng với Tây Tàu, xin mời Khánh nghỉ nơi khác tiện hơn. Anh Huân đến tìm Khánh sáng hôm sau, ngạc nhiên khi Khánh xách va-li ra xe, nhờ chở luôn đến ga Hàng Cỏ để về Đà Nẵng. Anh hỏi dồn dập, Khánh chỉ nói bận việc nhà phải về gấp. Mặc kệ, xe cứ đưa Khánh về 80 Quan Thánh để các “anh trên” căn dặn thêm cái đã. Anh làm như Khánh đã cắt máu ăn thề vào Việt quốc và nhận làm đồ đệ của anh không bằng! Ngôi nhà hai tầng mang số 80 ấy nằm ngay trên ngã tư, xây thụt vào trong, có khoảnh sân hình thước thợ bao mé ngoài. Tường hoa che phên, liếp kín mít. Chòi gác ngoài cổng xếp bao cát gần kín chung quanh, lính gác đeo súng máy Xi-ten và mặc quân phục giống như cậu Si-ca-gô dạo trước. Anh Huân rút đưa một tờ giấy to viết nửa chữ Hán nửa chữ quốc ngữ, đóng tới nắm cái ấn vuông đỏ. Người được gọi là liên lạc chạy ra xem giấy, mở hé cổng sắt cho hai người vào trong khi xe chở ba tên lính Tàu chạy thẳng. Bên trong tường hoa cũng chất đầy bao cát, chắn đạn cho một nhà dài cột gỗ mái tôn dựng cho đơn vị gác, chứa cả dãy mô-tô cùng hai chiếc ô-tô sơn màu đất sét. Chung quanh chân tường nhà chính xếp bao cát tới ngang đầu người, các cửa sổ và cửa ra vào đều có bình phong cát. Nhà tối om, thắp điện cả ban ngày. Tất cả những người mặc quân phục Việt quốc quân hay áo quần thường đi lại đều có vẻ mặt mệt mỏi, lo lắng, đầy nghi ngờ, không ai có nụ cười hay cử chỉ thân mật với ai. Một người đeo kính trắng xem giấy kỹ hơn, trả lời dấm dẳng. Hỏi tên ai cũng bảo đi vắng. Muốn trình anh cả thì đợi đấy, nhưng phải tháo súng giao cho liên lạc, Khánh hỏi lại mới biết anh cả là lãnh tụ Nguyễn Tường Tam đang khai hội bên trường Đỗ Hữu Vị, lát nữa ghé qua đây. Khánh tò mò nhìn quanh tầng dưới, thấy bày ba cái máy in, một máy xén, có bốn người thợ xếp chữ đang xếp uể oải bên các cửa sổ, hai bàn cho người chữa bản đồ nhưng bỏ vắng. Một bộ xa-lông tiếp khách đặt ở góc, có ấm trà thơm và gói thuốc lá Phi-líp Mo-rít màu tím bóc để sẵn. Ở đây không ai ăn đói mặc rách, nhà cửa xe cộ áo quần đều có thừa, chắc là tiền tiêu được trả hậu hĩ, mà ai cũng lừ đừ như lên cơn nghiện hút. Có tiếng còi ô-tô ở cổng hậu, phía đường Bua-ranh. Giày da gõ lộp cộp trên cầu thang mé sau. Anh Huân hối hả chạy ra đấy. Chừng nửa giờ anh mới trở lại, hãnh diện đưa tờ giấy có mấy dòng viết tay nguệch ngoạc: - Anh Cả tự tay chỉ thị cho đảng bộ Quảng Nam đây. Trong ấy anh Cả uy tín ghê ghớm. Để anh đóng ấn tín... Nghĩa là Khánh chưa đáng gặp mặt cái ông lãnh tụ không rõ ai bầu kia, ông ta đi thẳng lên gác. Anh thư ký tòa Khâm lăng xăng gọi cậu kính trắng đang ngủ trong buồng ra cộp vào thư hai con dấu vuông đỏ khắc toàn chữ Hán, đi thu xếp một cuốc xe đưa Khánh đến ga. Khánh buồn cười: anh sẽ trở về quê với giấy giới thiệu của Việt Minh Hoàng Diệu và của bí thư trưởng Việt Quốc bỏ chung trong túi. Mặc kệ ông Trọng Béo đấy nhé. Khánh chỉ cảm thấy mỗi lúc một thêm ngạt thở trong khu nhà bịt bùng này, nó trái ngược một cách đáng tởm với cảnh sống ồn ào, hồ hởi, rối rít ở trụ sở Ban chỉ huy tự vệ thành Hà Nội, nơi người ta cười to, nói vội, đi như chạy, nhảy cầu thang ba bậc một, chia nhau những bát cơm gạo hẩm chan tiếng đùa quấy nhiều hơn canh rau muống loãng, từng giờ phút cố làm thêm một tí xíu gì đấy cho đất nước mình. Mình là ai? Câu hỏi ấy quá mênh mông. Hẵng tách nó ra từng vế nhỏ. Các câu trả lời tỉ mẩn ghép lại sẽ cho lời giải cuối cùng. Nào, ta bắt đầu từ chỗ bắt đầu. Vì sao mình ra đời? Chúa tạo nên, định mệnh xui khiến, một linh hồn chưa thoát luân hồi phải đầu thai kiếp khác? Một sự chắp ghép của những nguyên tử hay tế bào mà khoa học chưa tìm ra quy luật nhưng hứa sẽ tìm ra? Buồn cười thật, mình lại rơi vào câu hỏi quả trứng có trước hay con gà có trước... Tắc tị ngay từ khởi điểm rồi, Khánh ơi! Ngủ. Cương quyết ngủ. Một, hai, ba, bốn... không nhảy lung tung nhé... năm sáu bảy tám chín... gà đâu trong thành phố mà gáy sớm thế.. mười, mười một, mười hai... Tây chúa là kiêng con số mười ba, người mình cứ phớt bơ... mười bốn mười lăm... tao giết mày bằng được, con rệp quái quỷ, này, này... Khánh đập bốn năm lần liền trên mặt chiếu, chỗ con rệp có thể chạy xuống sau khi đốt. Gà lại gáy, một con trống nào đó giọng chưa vỡ hẳn còn te te như còi nhựa trẻ con thổi. Khung cửa sổ chợt thong thả sáng hồng lên trong hừng đông nhất, mươi giây sau từ từ tối lại, như ông trời mở mắt ngái ngủ khi nghe gà gọi, lại nhắm mắt nằm lơ mơ thêm dăm phút nữa, khoảnh khắc thú vị nhất bởi cảm thấy chẳng ai có quyền dựng mình dậy, mình chỉ thức giấc khi muốn thức đấy thôi. Mọi nhà trong hẻm nhỏ lần lượt bật đèn. Cái xóm buôn gánh bán bưng này bao giờ cũng sáng đèn trước hết chỗ bếp, nhen vội lên ngọn lửa than đá hoặc trấu vùi âm ỉ qua đêm, làm sôi gấp lên một nồi gì đấy mở đầu cho ngày kiếm ăn trên các hè phố, trong khi Khánh quen nằm ườn ra ngủ đến bảy tám giờ sáng, đợi Mỹ Duyên giả vờ đi chợ đến đánh thức tận buồng. Gió bấc lùa mạnh qua cửa sổ xốc màn căng tròn như buồm. Khánh hất chăn, chỉ mặc cái áo may-ô in chữ ESEPIC trên ngực, đến ngồi bên cửa sổ mở toang cho gió lạnh châm kim vào mặt và thân, hai tay nắm hai chấn song run nhẹ từng lúc. Khánh đang thèm tự hành hạ mình, tự chà đạp chửi rủa, tự trừng phạt thật khắc nghiệt. Đã bỏ hai bữa cơm trưa và tối qua, thức trắng một đêm, bây giờ nếm mùi lạnh, chỉ tiếc cái lạnh Đà Nẵng chả thấm vào đâu... Khánh úp trán trên bắp tay, cười gằn: mình tạo ra bão táp trong một cốc nước, mình hèn nhát, mình là con sâu con sứa, mình tồi tệ nhất trong những đứa tồi tệ. Hãy dám xưng tội thử một lần xem nào... Từ khi ra đời mình chỉ chuyên ăn bám đàn bà. Hồi nhỏ ăn bám mẹ cho tới khi ra Huế học hết trường Khải Định. Làm bộ cao thượng, người hùng ghét đàn bà, vẫn ăn bám Mỹ Duyên. Chuyến vừa rồi ra Hà Nội lại cố moi tiền của mẹ con bà cả, hai nghìn đồng mất giá nhưng vẫn là của đàn bà bố thí. Đúng, là mình chưa từng phè phỡn theo lũ con nhà quan, nhưng mình cũng chưa hề đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra xu nhỏ nào. Hãy xem con bé lên mười vừa ngáp vừa lê bước qua đây, mỗi nách tay nó ôm chồng ba chiếc ghế con, theo mẹ nó ra đầu hẻm bán khoai luộc với canh hến cho dân nghèo ăn sớm đi làm... Mình loay hoay với những câu hỏi triết lý từ thời Pla-tông với A-rít-xtốt, trong khi anh phu xe kéo hạ càng xe đái vào chân tường kia sắp ra ga hay bến ô-tô tìm khách, còn bác khuân vác vắt cái bao tải trên vai và bập bập điếu thuốc rê tổ bố đang tất tưởi xuống bến tàu đón những chuyến ghe bầu chở gạo từ Qui Nhơn ra. Mình vô dụng, vô dụng, vô dụng... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:48:24 pm Cả Chanh nói theo cộng sản là theo luôn. Anh em du kích Linh Lâm gặp Việt Minh lập tức cầm giáo mác ná tên tuôn vào rừng. Cậu Thạch Sơn lao theo lý tưởng mới như phát đạn rời nòng. Cô Năm Bưởi giành cho được cây súng kỵ binh Nhật khi ấm ức trở về làng chỉ huy du kích. Và Mỹ Duyên nữa, cô gái nhảy mà Khánh đã nâng niu như một thức đồ chơi đắt tiền được pha tẩm thêm chất men say của trả thù và vụng trộm đối với lão bố dượng, Duyên yêu điên cuồng mà cũng dám cắt ngang quyết liệt khi trở về Sài Gòn và biến mất tăm luôn trong khói lửa...Chỉ còn trơ lại cái thằng Hai Khánh lừng khừng lơ láo này thôi, đóng vai trí giả chưa vội dấn thân, chỉ muốn đứng trên cuộc đời thấp kém, nay một mình trơ ra như người khách chậm chân khi chuyến phà rời bờ và không thèm quay lại. Đón chi một kẻ ăn xin ở bến đò!
Khi khóa cửa buồng ra đi, Khánh ngạc nhiên thấy mình lảo đảo, hai chân bước, khó nhọc. Vì đói, rét, mất ngủ? Vì một phần nghìn phần vạn trong những khổ cực của bộ đội Nam tiến? Hay vì chưa tìm được chỗ đứng trong xã hội ngày nay cho nên chỉ muốn ngồi và nằm, hỡi cái thằng tồi tệ kia? Khánh đi thẳng xuống con đường ven sông Hàn trước dựng biển là đường A-mi-ran Cuốc-bê, nay đổi thành đường Bạch Đằng. Càng đến gần sông gió càng quất mạnh như búng vô vàn gai xương rồng vào da. Càng hay, khỏi phải quất roi trên thân như kẻ tu kín sám hối... Rồi Khánh bỗng giật mình, bước chậm, dừng lại: Lỡ mình ốm thì sao? Đầu và tim đang bệnh hoạn nếu cái xác phàm này gục xuống nốt thì biết vất nó vào đâu? Vào nhà thương làm phúc hay xuống sông Hàn? Tỉnh lại đi Khánh, mày đang tự hủy hoại đấy! Bước gần như chạy, Khánh xộc vào một quán nhỏ bán xôi cháo nằm lọt trong chỗ đầu hẻm khuất gió, len đến ngồi cạnh bếp lò than đá, đón hơi nóng phả vào khuôn mặt tê dại và đôi cánh tay nổi da gà run rẩy. Chị bán quán trố mắt nhìn anh, kêu: - Chu cha, gió bấc cóng xương mà thầy mặc áo lót! Anh chồng nhìn kỹ những chữ in trên ngực áo dệt ngắn tay của Khánh, giảng cho vợ bằng giọng kính nể: - Ổng là lực sĩ đó, sức vóc chẳng phải như mình đâu, có ông lựa ngày sóng to gió lớn mới nhảy xuống bơi qua lại cửa Hàn cả chục lần. Ê-dê-pich là trường dạy lực sĩ đâu trong Phan Thiết, ông nào ra cũng thành vô địch hết... Dạ, thầy mời thứ gì? Khánh gọi cháo cá. Những thìa cháo nóng bỏng vừa thổi vừa húp trôi qua cổ tỏa ấm trong ngực và trong bụng, ngon đến đau cả những sợi gân hai bên quai hàm. Bát thứ hai ăn xong, Khánh vẫn còn thòm thèm. Đã lâu lắm Khánh chưa được ăn món cháo cá nào ngon đến thế, chắc là phải đắt tiền, mà tiền chẳng còn bao lăm. Anh gọi bát nữa và hỏi giá luôn. Chị bán quán nói như xin lỗi khách: - Dạ, thứ gì cũng mắc quá thầy ơi, phải bán tới năm cắc. Ai muốn ăn hai ba cắc cũng múc. Thầy mới đi tập về, hay để thầy mời đĩa xôi thịt hèo một đồng cho chắc bụng. Xôi đậu xanh ăn với thịt kho cũng ngon và rẻ như thế. Ly nước chè xanh cuối bữa thơm và chát rất vừa miệng. Tất cả chỉ tốn hai đồng, giá tiền của một tô phở xoàng. Khánh chợt thấy đắng trong họng khi nhớ lại cái lần vung tiền mua bi mang đến tiệm hút ở ngõ Phất Lộc, thết tay ủy viên Trung ương Quốc dân đảng để nghe lão kể ba hoa chuyện trên trời dưới biển bên bàn đèn. Anh chủ quán bưng hai tay hai cốc đen đậm đến trước mặt Khánh, ngồi đối mặt, niềm nở: - Cái này riêng tôi mời thầy. Trà đường đó, ở tiệm người ta quảng cáo là trà tàu với đường tây, thiệt ra là của xứ mình hết. Thầy khuấy cho tan... Chắc thầy ở bộ đội chớ? Khánh cười cười, gật đầu. Quái lạ, sao ai cũng đánh giá mình cao hơn tốt hơn con người thực của mình thế nhỉ? - Biết mà, coi tướng thầy tôi biết là chỉ huy trong bộ đội liền hà. Nhờ thầy nhắm giùm như tôi xin đi cầm súng đánh Tây, mấy ổng có nhận không? Chị vợ đang đơm xôi cho khách, ném tới một câu dấm dẳn: - Cả bầy con rồi, ai thèm nhận anh mà cà rà hỏi hoài! - Thầy đừng nghe mụ tôi. Bữa đó chắc gặp anh chỉ huy khó tánh, ảnh cảm ơn biểu tôi về tăng gia nuôi bộ đội hay hơn. Có điều tôi tính đánh thắng thằng Tây cái đã, sau về lo lúa khoai cũng được. Chẳng dấu gì thầy, vợ chồng tôi ở nhà quê bị bè lũ thực dân phong kiến nó gian ác quá tay phải bỏ đi làm muối, làm chài, lưu lạc tới cái ngõ phu phen thợ thuyền này, chưa được một chút gì gọi là vì dân vì nước hết trơn. Vậy tôi mới trù tính đi đánh giặc ít năm, có xả thân nơi sa tràng thì con cháu cũng thơm lây, mụ tôi ở nhà đắp đổi nuôi bốn đứa nhỏ rau cháo xong thôi, cực mấy cũng hơn cái hồi còn Tây ngồi trên đầu mình. Thầy có quen mấy ông lựa lính, à quên, mấy ông tuyển quân đó thì nói giùm tôi một tiếng... Đang nghe những lời khẩn khoản, Khánh bỗng mở to mắt nhìn phía cửa. Một cặp trai gái vừa bước vào quán, tần ngần nhìn quanh, rẽ vào chỗ góc vắng nhất. Anh chủ quán bước tới, nói qua lại với cô gái, trong khi Khánh trân trân ngắm anh con trai. Anh này cao trung bình, mắt một mí và gò má gồ, da trắng, râu lún phún bọc nửa mặt dưới theo kiểu lười cạo chứ không cố ý chừa, dựa nghiêng vào cột tre, châm một điếu thuốc MIC và lim dim mắt nhả khói. Anh mặc bộ quân phục ka-ki vàng của lính Bảo an, đặt trên bàn cái mũ cối đính quân hiệu tròn nền đỏ sao vàng của bộ đội chủ lực, dận giày da dơ-cu-lơ mốt trai trẻ thành phố, thấp giọng thì thào những câu ngắn với cô cùng đi. Cô này mặc sơ-mi trứng sáo với áo len không tay màu boóc-đô phủ ngoài, quần lụa đen, có khuôn mặt tròn và môi bậu, dáng phúc hậu kiểu con nhà lành. Có thể gặp khắp nơi những cặp vợ chồng trẻ hay người yêu thăm nhau, tiễn đưa nhau như thế. Nhưng cặp này quả là đặc biệt: viên trung úy Nhật Ta-kê-đa cùng với cô thông ngôn Bích Thủy vì sao hiện ra trên phố Đà Nẵng? Đợi anh chủ quán đặt xong hai đĩa xôi với hai phin cà-phê trước mặt khách và đi xuống bếp, Khánh bước tới cạnh bàn, cười khẽ: - Kon-ni-chi-oa, mi-na-xan! Ô-nghen-ki đex ka? 1 Annh con trai giật nẩy người, lắp bắp: - Ghen-ki đex, a-ri-nga-tô...Ô ô ô ô, Khanh, Khanh-xan! 2 Anh chụp lấy bắp tay Khánh vừa ghé ngồi xuống tuôn một tràng dài tiếng Nhật. Khánh giơ hai tay lên nửa chừng làm bộ chịu thua: - Oa-ta-si oa Nip-pông-ngô ô oa-ka-ri ma-xen. Ây-ngô ô ha-na-si-ma-sô! 3 Bích Thủy che miệng cười rúc rích trong khi họ chuyển sang tiếng Anh. Cô mừng đến sáng cả mắt và má, thỉnh thoảng chen vào một câu tiếng Việt với Khánh và tiếng Nhật với Ta-kê-đa. Một nhóm thợ mộc trên đường đi làm ghé vào. Khánh nói vội: - Mời các bạn ăn xong về nhà trọ của tôi, nói chuyện tiện hơn. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Nhật: Chào quý ông bà! Mạnh giỏi không? 2. Tiếng Nhật: Mạnh giỏi, cám ơn... Ồ, Khánh, ông Khánh! 3. Tiếng Nhật: Tôi không hiểu tiếng Nhật. Chúng ta hãy nói tiếng Anh! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:52:09 pm Nửa giờ sau, Khánh gài cửa buồng trọ, pha trà mời các bạn Hà Nội đã chia tay trước ngày tổng khởi nghĩa. Bích Thủy nhắc đến lần thứ mấy không nhớ:
- Phúc đức quá mất, lại vớ được anh Khánh ở đây. Bắt đền anh đấy nhá, tự dưng anh đùn việc mua súng cho Thủy, anh trốn biệt. Chúng em vào Nam cứ như chim chích vào rừng, đang lo phải trở ra Hà Nội, ngượng với bạn bè đến chết mất... Câu chuyện tay ba bằng ba thứ tiếng lại tiếp tục, lần này Bích Thủy kể nhiều hơn. Sau khi Khánh về Đà Nẵng, Ta-kê-đa vẫn làm trung gian để Việt Minh Hà Nội mua súng của Nhật. Mua được nhiều nhất và rẻ nhất là sau khi Nhật đầu hàng không điều kiện và quân Tàu chưa sang đến nơi, riêng Ta-kê-đa chuyển được tới năm trăm súng các loại. Tàu sang, anh vẫn làm tiếp, đường ô-tô bị kiểm soát thì chở bằng thuyền. Chẳng biết có thằng phản động nào báo tin mà bọn Tàu cho hàng trăm quân chặn trên sông Hồng, cả phục trên bờ lẫn dùng thuyền chở lính. Ta-kê-đa cùng một tiểu đội tự vệ đánh trả một trận rất dữ, ba thuyền súng đạn đều bị bắn chìm, anh bị bắt khi đang cố bơi vào bờ. Quân Tàu thu hết giấy tờ, nện một trận chí tử, giam trong điếm canh đê. Nửa đêm anh giỡ mái trốn thoát, nhằm hướng chạy về Hà Nội, nói ấp úng khi dân quân bắt: “Tôi Việt Minh... Cho tôi Việt Minh”. Bị giải qua nhiều chặng nhiều cấp, rốt cuộc Việt Minh Hà Nội đón được anh về, đem giấu trên Sơn Tây. Thế nhưng bọn Lư Hán cay cú vì lính chết nhiều, đem giấy tờ của Ta-kê-đa ra bắt bọn tướng Nhật đền mạng. Tên đại tướng Txư-si-ha-si, tư lệnh Nhật toàn Đông Dương, phải tuyên án tử hình trung úy quân y Ta-kê-đa A-na-mi. Các đơn vị quân Tưởng nhận được ảnh phóng to và lệnh bắt hoặc giết Ta-kê-đa, lũ phản động người Việt muốn kiếm thưởng cũng rình mò khắp nơi. Lánh né mãi đâm chán. Ta-kê-đa xin vào Nam làm công tác kêu gọi binh lính Nhật theo chính phủ Cụ Hồ. Bích Thủy xin cùng đi. Cả hai cùng nhập ngũ một lần, theo một đoàn quân Nam tiến, nhưng ấm ớ thế nào lại trúng chuyến tàu chỉ vào đến Đà Nẵng, nghĩa là chưa ra khỏi vùng đóng quân của bọn Tưởng. Họ nhờ Khánh kiếm tàu xe cho đi tiếp, ít nhất cũng vượt vĩ tuyến 16 vài chục cây số về phía Nam cái đã, sau đó sẽ tính. Khánh cười xòa: - Việc ấy quá dễ. Tôi sẽ đưa hai bạn đến thị xã Hội An, nhờ các anh em trong chính quyền thu xếp. Bích Thủy vỗ tay reo như trẻ con, đôi mắt cô lại không nhìn Khánh mà đăm đắm vào mắt Ta-kê-đa. Rõ ràng cô vào chiến trường không phải trăm phần trăm vì nhiệm vụ. Một giờ nữa qua. Chiếc xe ngựa do Khánh thuê bao đưa cả ba chạy bon bon trên quốc lộ Một vào Hội An, băng qua trạm gác Tàu phù cuối cùng mà không bị hỏi giấy, ở đây chúng nó nhũn nhùn nhùn sau khi mấy tên hăng cướp phá nhất lần lượt biến đi không để dấu vết. Ta-ka-đa bóp mạnh bàn tay Khánh: - Đối với anh, con đường đời hiện ra thẳng tắp hẳn anh khó hiểu được tâm trạng của những người Nhật như tôi. Người ta túm cổ tôi lôi ra khỏi phòng thí nghiệm, vất tôi vào chiến tranh, buộc tôi chết vì một ông Thiên hoàng vớ vẩn nào đó. Ở nhà bom đạn giết mẹ và hai em tôi, người tôi yêu bỏ đi lấy một lão già giàu tấy lên nhờ chiến tranh, người Nhật càng chết nhiều lão ta càng phát tài to. Và để thưởng cho bấy nhiêu hi sinh, người ta tặng tôi một án tử hình vắng mặt... Quân Tàu lùng bắt tôi, có nghĩa là tôi bị Đồng minh đang làm chủ thế giới này cố giết. Tôi không còn một chỗ đứng nào nữa trên trái đất, anh thấy chưa? Chỉ còn một nơi để sống, đó là vùng đất của chính phủ Hồ Chí Minh, đó là hàng ngũ Việt Minh. Tồi không hiểu gì về chính trị, về dân tộc Việt Nam, nhưng tôi biết chắc một điều là tôi sẽ sống nếu Cụ Hồ thắng, tôi sẽ chết nếu Cụ Hồ bại... Anh đừng tưởng tôi quá sợ chết. Tôi sẵn sàng chết khi đi kêu gọi lính Nhật buông súng, cái chết ấy sẽ làm cho dòng máu Nhật và Việt bớt chảy. Nhưng tôi sẽ không sao nhắm mắt nếu bọn châu chấu, bọn đỉa đói, bọn giun sán tự xưng là Đồng minh chiến thắng kia đem tôi ra treo cổ và cười ầm ỹ với nhau...Chắc anh thấy khó hiểu phải không? - Tôi hoàn toàn hiểu anh, Ta-kê-đa! Bích Thủy ngồi soi gương chải tóc, đến đây bỗng chen vào bằng tiếng Việt, đọc rời từng tiếng thật rõ: - Anh Ta-kê-đa phải nói tiếng Việt, không được nói tiếng Anh nữa. Anh là bộ đội Việt Nam, phải học tiếng Việt. Hiểu không? - Tôi xin lỗi bà... - Sai rồi! - Tôi xin lỗi cô Thủy. Tôi sẽ cố gắng nói với ông... - Sao lại ông? - Gô-men, gô-men 1. Em Thủy thân mến, tôi sẽ.. Thủy bưng mặt cười ngặt nghẹo trong khi anh bạn Nhật nhíu mày nhăn trán, cố nhớ từ ngữ và những dấu uốn éo không hề có trong tiếng Nhật.. Xe dừng trước tòa sứ Hội An lúc mười một giờ. Khánh rủ đi ăn trưa vì đã thấy đói, bữa sáng no kềnh chưa đủ bù hai bữa nhịn hôm qua. Nhưng Bích Thủy rất lo bơ vơ, quyết gặp cho được cấp lãnh đạo của Quảng Nam càng sớm càng hay. Ba người chìa giấy cho bác thường trực ghi sổ, xin gặp đồng chí Phan Chanh phó chủ tịch tỉnh. Họ ngồi đợi chỉ năm phút trong phòng khách thì Cả Chanh đã hấp tấp bước ra. - Đâu, Khánh đâu? Ôi chao, chút xíu nữa mình hụt. Gói sẵn các thứ gởi ra cho cậu đây nè! Anh giúi vào tay Khánh một gói khá nặng. Không kịp tháo ra xem, Khánh giới thiệu luôn hai bạn đồng hành. Chanh mở to mắt, há miệng: - Các đồng chí... thiệt là trên trời rớt xuống! - Sao thế anh? - Mới có điện khẩn, biểu tụi tôi kiếm những người biết tiếng Nhựt, tiếng Pháp, tiếng Anh, gởi gấp vô mặt trận Nha Trang làm công tác địch vận. Địch có ba thứ quân nói ba thứ tiếng đó dồn cục ở Nha Trang đông vô số kể. Tụi lê dương còn thêm số lính Đức nữa, có rồi, một tay hàng binh chạy qua mình là người Đức biết tiếng Anh, đang ở Hội An đây. Cậu về đúng lúc quá Khánh ơi! Để lo cơm nước cái đã, chiều nay ta bàn công tác. Hà Nội vô tới đây, ai cũng kêu buồn ngủ hết! Chanh tất tưởi chạy đi xếp chỗ ăn nghỉ. Khánh mở cái gói anh vừa trao, chợt thấy mắt mình cay xè: cây súng ngắn, đồng hồ, bút máy, gói đạn rời, những thứ Khánh cho mượn đi giành chính quyền được trả đủ, kèm theo một lá thứ cảm ơn và giục kiếm hộ thợ giỏi cho ngành quân giới Quảng Nam, “cần nhứt là thợ đúc với thợ tiện”. Con người tốt bụng kia nào biết Khánh đã lang thang chao đảo đến những nơi nào đâu, anh không thể hiểu được cho đến sáng nay Khánh còn vật vã ở Đà Nẵng như đứa mất hồn, anh tin ở Khánh đến cái độ không ai nỡ phụ lòng anh, anh cứ buộc Khánh phải lây đôi chút lòng yêu nước yêu dân của anh, sao mà thương quá chừng anh Chanh ơi! Bữa cơm trưa được dọn ngay cạnh bếp và khá độc đáo. Bên cạnh những cái liễn và đĩa bằng sứ Xe-vơ-rơ in hoa chạy nét vàng lóng lánh của quan sứ Tây, đựng cơm gạo đỏ và rau muống luộc, có thêm những cái chén đất đĩa tre xấu xí mới sắm sau cách mạng. Sau khi họ cầm đũa, bác thường trực hối hả đem đến một gói lá chuối đựng chả lụa, thịt quay, tim gan luộc vừa mua ngoài phố. Chanh đóng vai chủ nhà niềm nở mời, nhưng anh ăn rất ít. Chiều ấy, cuộc họp cán bộ địch vận có thêm cậu Lin-đoóc-phe hàng binh người Đức. Mọi người đều thấy Hai Khánh làm tổ trưởng tổ địch vận đi Nha Trang là khỏi cần bàn, chỉ bàn sôi nổi xem nên in truyền đơn ở đâu, kiếm loa điện hay dùng loa sắt tây, cần bao nhiêu vải để làm những băng cờ thật to căng trên phòng tuyến ta. Khánh và Bích Thủy thay nhau dịch cho đồng chí phó chủ tịch, và Chanh cũng bàn góp rất hăng. Đêm ấy, khi ngả lưng trên tấm ván kê chân niễng trong nhà khách của ủy ban nhân dân, Khánh sực nhớ tới lá thư đóng hai con ấn chữ Tàu của lãnh tụ Nguyễn Tường Tam. Anh vén màn bước xuống, mượn bật lửa của Ta-kê-đa, châm đốt mảnh giấy mà lắm kẻ thèm có để làm bùa hộ mệnh một khi quân Tàu lật đổ chính phủ Cụ Hồ. Một thế kỷ đã trôi qua giữa Khánh sáng nay và Khánh tối nay. Anh ngủ thiếp đi như đứa trẻ được mẹ xoa rôm đều tay trên lưng. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Nhật: xin lỗi, xin lỗi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 02:57:13 pm 24. Sau một trận cãi nhau khá găng giữa anh Bảy Quý trong thường vụ xứ ủy và anh Tô Xáng phó bí thư tỉnh ủy. Cả Chanh được phép vào lại Quảng Nam thêm hai tháng để góp sức xây dựng ngành quân giới và thành lập đại đội Nam tiến thứ hai của tỉnh, sau đó mới chuyển sang ngành đường sắt. Cãi nhau chán chê rồi anh Quý kéo Xáng và Chanh đi đánh một chầu mì Quảng không hạn chế để làm lành, tiếp đó anh Xáng lại kéo một nhóm anh em bạn tù cũ xuống chiếc đò của vợ con mình, ăn cháo cá trên sông Cửa Đại dưới trăng cho đầu óc đỡ căng. Chanh, không tiếc hai tháng ở lại ấy. Anh chạy khắp nơi kiếm thợ, bòn vét tất cả các thứ máy có thể sản xuất ra võ khí, lập được ba binh công xưởng trên vùng núi, trong đó có xưởng Cao Thắng II đặt ngay trong làng Linh Lâm, chọn được mươi cán bộ đáng tin cậy để nắm các xưởng và Ban quân giới của tỉnh. Anh thúc giục ủy ban tỉnh mua vải xi-ta tốt và đặt may quân phục cả ngắn lẫn dài gửi gấp cho đại đội Nam tiến thứ nhất, cho người chở vào giao tận tay quyền đại đội trưởng Lê Dĩnh, thay Năm Chò đã bị cách chức và bỏ về Qui Nhơn ở với nhân tình. Trời chẳng phụ lòng người hay sao ấy, anh vớ được một kho đạn và lựu đạn bị bỏ quên, do Pháp chuyển lên một đồn binh vùng núi để chống Nhật, chất đống trong nhà ở của tên trung úy, cán bộ xã không biết là những hòm gì nên không báo cáo. Anh run lên khi đọc những chữ in đen trên những thùng đạn ĐAM, lựu đạn tấn công và phòng thủ, lựu đạn phóng, đạn súng cối 60 và 81. Vất tuột đi mươi cuộc hẹn gặp và hội họp, anh cùng hai cán bộ đem mọi thứ ra thử, tất cả còn tốt nguyên! Nhờ đó, Chanh lên đường đi mặt trận Nha Trang cùng đại đội Nam tiến Hai với cái vốn rất đáng mừng: ngoài số súng đạn quần áo cấp đủ cho đại đội Hai, còn ba trăm bộ quân phục và bốn chục thùng đạn các cỡ mang cho đại đội Một đã sấp ngửa lên đường khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn, thiếu thốn đủ thứ, chịu cực như tất cả những người khai sơn phá thạch, lại còn phải chịu thêm lời chê trách của lớp người đi sau. Dù nghĩ rất nhiều đến cô Thùy con ông Hai Rề trong những giờ ngửa người lim dim trên ghế xe lửa, Chanh vẫn cố gạt phút gặp gỡ riêng tư ấy đến ngày trở về. Trước hết phải đưa mọi thứ đến mặt trận cái đã, sau đó mới tự cho phép nghỉ xả hơi, thăm anh em thợ đề-pô xe lửa Qui Nhơn, thăm cô gái đã nuôi mình và ám ảnh mình bấy nhiêu lâu. Một lần nữa anh gặp rủi và may cùng một lần. Đoàn xe lửa đến ga Diêu Trì phải đổi đầu máy. Chiếc đầu máy thay thế vừa sửa xong tại Qui Nhơn lại trục trặc, phải đợi ít nhất sáu tiếng mới lên đường được. Cậu Bảy Tộ lái chiếc đầu máy nhỏ Cu-cu chạy con thoi từ Qui Nhơn lên Diêu Trì để lôi mấy toa hàng xuống cảng, nghe nói có anh Cả Chanh đi chuyến này, tất tưỏi chạy tìm và hét rầm rĩ: - Anh Cả không xuống thăm đề-pô Qui Nhơn là anh em oán tới chết. Đi lập tức, đừng oong đơ gì hết, theo đầu máy mới trở lên chạy tiếp, không lỡ tàu đâu mà lo. Đang thừa một toa xe-phanh phải kéo xuống Qui Nhơn, anh muốn chất ai lên tùy ý! Bộ đội đã tản vào các nhà chung quanh ga xin củi mượn nồi nấu cơm. Cả Chanh rủ tổ địch vận theo mình, đoán chắc Hai Khánh muốn về thăm mẹ và các em ở tiệm Lợi Thịnh, nếu kéo theo bộ ba Ta-kê-đa, Lin-đoóc-phe và Bích Thủy cũng chẳng phiền gì một bữa cơm trưa. Riêng anh cần tìm Năm Chò và gặp thoáng qua cha con ông Hai Rề mấy phút gọi là trông thấy nhau. Anh ngạc nhiên thấy Khánh ngần ngừ hơi lâu trước khi gọi tổ địch vận lên chiếc toa con móc cuối đoàn tàu ngắn của Bảy Tộ. Riêng Chanh không lên đấy mà đứng chen bên Bảy Tộ trên đầu máy. Tộ không đợi hỏi, vừa cho đầu máy lui tới tháo toa móc toa theo hiệu còi, vừa kể huyên thiên những chuyện xảy ra từ khi Chanh rời Qui Nhơn, chòm râu mép rậm và ngắn của cậu nhảy nhót uốn éo trông rất hề, ngay cả khi kể những chuyện ít vui. Đội tự vệ ngành Hỏa xa ra đời hai tháng trước tổng khởi nghĩa, thu góp lần hồi được tới ba chục súng và năm chục lựu đạn, đi giành chính quyền rất hăng. Sau đó bị lủng củng vì bỗng dưng Việt Minh hiện thành hai phe, phe này chửi phe kia là Việt Minh giả, cứ như là Tôn Ngộ Không với Bạch cốt tinh... - Ông Hai Rề chẳng biết ai giả ai thiệt, biểu anh em cử đại biểu đi tìm cho được Cả Chanh vi-dít-tơ về, ảnh là cộng sản chánh hiệu con nai vàng, ảnh đứng phe nào mình theo phe nấy. Anh em hỏa xa đồng ý cái rốp, dân thợ không theo cộng sản thì còn biết theo ai! Tới khi hỏi ông Hai tìm anh Cả ở đâu thì ổng bí luôn. Em chọc ổng: hay là tìm trong buồng cô Thùy nhà bác? Ôi chao, ổng chửi em vuốt mặt không kịp! Cả Chanh cười đến đau ruột trong khi Bảy Tộ cứ tỉnh khô, kéo còi hơi và mở ma-nét ga cho tàu chạy qua ghi, rẽ xuống Qui Nhơn. - Mấy ông cán bộ cấp trên về xử, sau bộ đội kéo tới tước võ khí của nhóm thằng Tài. Thằng ranh ghê, mới nghe Việt Minh nổi dậy ở Quảng Ngãi, lấy hết tỉnh huyện rồi, vậy là cha nội kéo một mớ lăng nhăng đi kêu gọi đồng bào khởi nghĩa. Hồi đó bà con mình sùng sục quá, hễ ai phất cờ đỏ tự xưng là Việt Minh là rút dao phay rựa bờ chạy theo lập tức... Êm vụ đó rồi, tới vụ khác. Mấy ông tỉnh đến thăm hỏa xa, về đưa ra mấy cái giấy trái ngược nhau: ông quân sự lệnh cho hơn một trăm tự vệ hỏa xa nhập ngũ hết, ông hành chánh thì biểu anh em phải bám xe bám máy chớ không được đi đâu, tiếp tới ông quân giới quyết định chuyển một nửa số thợ nguội ở đềpô qua sản xuất võ khí cho chiến trường Nam Bộ. Kỳ cục một điều là nghe đọc cái giấy nào anh em cũng hoan hô, tại vì thấy việc gì cũng hay cũng cần. Sau ông Hiển chủ tịch tỉnh tới họp anh em lại, ổng giải thích hay mà giải quyết cũng hay. Nước mình ít công nhân quá, phải dùng cho đúng nghề, không được xài ẩu. Anh em là vốn quý thành thử ngành nào cũng muốn giành phần. Bây giờ việc thứ nhất là lo bảo đảm xe chạy đủ chuyến đúng giờ, tăng được càng hay, đưa bộ đội với đồ tiếp tế vô Nam, chở đồng bào tản cư ra. Thứ nhì là lấy thêm thợ mới vô, lập một xưởng võ khí ngay bên đềpô, chế súng đúc đạn anh em rán làm thêm giờ, sửa máy móc cũ mà dùng cho hết. Thứ ba là ai thiệt mạnh, đang làm các việc phụ thì lựa mươi người cho đi học lớp quân chính rồi đi chiến đấu... Ông Hiển xử sự vậy, đúng không anh Cả? - Đúng quá đi chớ! - Cũng chưa êm. Tới khi lựa người đi bộ đội, ổng nhận được hơn một trăm đơn, ai cũng khai đang làm việc phụ hết! Em cũng xin đi mà chưa được. Anh Cả có quen, nói giùm, một tiếng... Cậu lái xe lửa lúc này bỗng biến thành một anh nông dân thời cũ và với giọng nói van nài kèm bàn tay gãi gãi mang tai, cái đầu hơi cúi. Chanh đấm vào sườn Tộ: - Mày tính bỏ cái Cucu này cho ai? - Dạ trời sinh voi trời sinh cỏ chứ anh.. - Dân thợ máy mà nói như bà già trầu! Xin một thằng trẻ, lanh lợi, tinh thần cao, cho nó đi theo mày, đêm chịu khó dạy lý thuyết thiệt kỹ, nó lái được thì mày bàn giao! Bảy Tộ thần mặt ra, đổi tay qua gãi gáy, nói rầu rĩ: - Xong chừng nấy việc thì Tây chạy về nước hết rồi, em giao đầu máy để đi cuốc đất chớ ai cần bộ đội nữa... - Mày không nghe Cụ Hồ kêu gọi trường kỳ kháng chiến à? Cụ tính phải đánh lâu, Cụ mới dạy tụi mình vậy chớ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 03:00:30 pm Bảy Tộ qua ga Tuy Phước chỉ tút còi và chạy chậm chứ không dừng, bởi không kéo toa chở khách. Cậu ta chuyển sang chuyện Năm Phi Đao lúc này đang ở Qui Nhơn cùng với Sáu Cam.
- Em tới chơi hai lần. Nó kể chuyện đánh Tây hay lắm, tối nào chòm xóm cũng qua nghe chật nhà, họ tưởng nó bị thương bị bệnh được về nghỉ nhà vợ là con Tư rượu lậu, tưởng thằng Cam là em nó thiệt. Ban ngày nó đi đánh cá, đi cất rớ, phần nhậu phần bán, kiếm khá tiền anh ơi. Nể em quen cũ nó mới nói thiệt là bị hạ tầng nhứt cấp xuống trung đội trưởng, trả trở về Quảng Nam, nó vừa tức vừa xấu hổ với bạn bè, bỏ hết về làm dân thôi. Ba đứa nó ăn ở với nhau cũng vui vẻ. Thằng Cam đi học tư một ngày hai buổi, có bàn riêng đèn riêng học bài ban đêm, sắm áo quần mới đàng hoàng. Em chê thằng Năm vô kỷ luật, nó nhăn răng cười, nhận hết, mà coi bộ chẳng muốn sửa đâu. Mỗi khi nghĩ đến Cam, Cả Chanh lại buồn nhức nhối. Là con trưởng nam, anh được cha lo cho học chữ học nghề nhiều hơn, với hi vọng là đứa trước rước đứa sau, con béo kéo con gầy. Nhưng anh không giúp được gì cho em út cả. Anh nhận mà không trả, đúng hơn là chỉ trả cho Tổ quốc mà gần như bỏ mặc các em. Anh cố tìm thằng Cam đưa về quê, thu xếp cho ăn học, rốt cuộc nó bỏ đi với nỗi đau tủi của đứa trẻ gánh nước thuê không đủ trả tiền cơm trọ. Người duy nhất đã và đang đùm bọc nó là một anh cai khố đỏ chứ không phải người cha làm chủ tịch Linh Lâm hay ông anh làm phó chủ tịch tỉnh. Nó đã từng nghĩ rằng cha nó đem con bán cho lão phủ Đỉnh lấy tiền uống rượu, nó đang nghĩ về anh Cả nó chễm chện trong tòa sứ tỉnh Quảng Nam? Chao ôi, nó có hiểu cho anh rằng sau bấy nhiêu năm tra tấn tù đầy, đau dạ dày nôn ra máu, vẫn chỉ được hưởng mỗi ngày hai bữa cơm hẩm với rau luộc chấm nước muối? Đưa thằng em trở về Quảng Nam, nó sẽ càng vất vưởng bởi Chanh đã chuyển sang ngành đường sắt, lang thang từ tỉnh này qua tỉnh khác với ba lô trên vai, quyền khá to đấy nhưng gặp cơn đói chỉ dám nhảy xuống ga, tìm chỗ vắng mua mấy củ khoai ăn tạm khi chưa có nơi dừng lại nấu cơm. Chanh đã đọc cả xấp đơn kiện hay mật báo về ngành đường sắt bán vé chợ đen, buôn lậu, ăn cắp máy móc dụng cụ bán cho các chủ xưởng tư, đủ cho anh sợ hãi và lẩn tránh mỗi khi được mời một bữa cơm sang hơn mức sinh hoạt phí mà anh trả rất sòng phẳng. Thà chết đói chứ không dây mình vào đồng tiền ma quỉ kia, để về sau há miệng mắc quai! Thế nhưng thằng em lưu lạc ấy, anh làm sao biết được nó sẽ nhiễm những gì khi sống với cậu Năm Chò bất mãn cùng ả nhân tình buôn rượu lậu mà anh chưa hề gặp? Anh không sao quên được đôi mắt nó nhìn anh đầy đau khổ và hoài nghi khi mới gặp lại ở Qui Nhơn, nỗi mừng siết lòng của nó khi anh hứa cho đi học. Anh em cách nhau mười hai tuổi, nó coi anh gần như cha chú, nó vâng lời anh như theo một đồng chí lãnh đạo. Anh sẽ làm gì cho nó? Làm gì? ... Đến ga Qui Nhơn, Chanh chia tay với tổ địch vận, hẹn giờ gặp lại, xốc cái ba lô dính bụi than đi vào khu sửa chữa mà anh nhớ rõ từng mảng tường, lối rẽ, Bảy Tộ giao đầu máy xong, tất tưỏi chạy theo, giới thiệu những khuôn mặt lạ mà họ gặp dọc đường. Hầu hết là thợ mới, Chanh nhớ tên không xuể. Tổ gác cửa vào đề pô, hai cậu tự vệ trẻ, nhất định không cho Chanh vào tuy Bảy Tộ giới thiệu anh là thợ cũ về thăm xưởng. “Thăm viếng ở nhà chớ không được vô chỗ làm việc. Các anh coi nội quy đây nè!”. Bảy Tộ bắt đầu sừng sộ trong khi Chanh rất vui thích. Công việc ở đây đã thật sự vào nề nếp. Anh phải chìa ra tờ giấy giới thiệu của Trung Bộ. Trong khi cậu gác vẫn cầm ngang cây súng anh-đo lắp lên chặn cửa, cậu đốc gác đọc to: “Đồng chí Phan Chanh, thanh tra ngành Hỏa xa toàn Trung Bộ, chỉ huy trưởng tuyến hỏa xa từ Đà Nẵng đến Phan Thiết. Nhân dạng: cao một mét sáu mươi, mắt hơi xếch, cằm nẻ đôi..”. Cậu ta nhìn Chanh từ đầu đến chân một lần nữa. Anh bộ đội mặc áo quần xi-ta xám và mang cái ba lô da trâu sống này giống người tả trong giấy, nhưng không có súng lục, gạc đờ co hay xe ngựa gì hết, lại dính đầy than trên áo quần và dép cao-su đúc, có vẻ thợ đốt lò hơn là thanh tra. Cậu lễ phép mời Chanh đợi một lát, tất tưởi vào trong xưởng, trong khi Bảy Tộ mở to mắt nhìn Chanh.: - Chà chà, anh Cả lên cấp cao vậy mà giấu em. Nãy giờ cứ tưởng anh là thợ đi lính, rủ anh về chơi Qui Nhơn thôi chớ! - Thì tao theo mày về chơi vài tiếng đây nè. Tại cậu kia bắt trình giấy, tao sợ bị bắt mới đưa... Chết cha, hình như anh em tốp máy ngừng việc hay sao đó, nghe thử Bảy. Tiếng búa gõ, máy rèn rẹt, hàn hơi xìn xịt thưa dần đi trong xưởng, thay vào là tiếng gọi nhau ý ới. Anh em thợ kéo ra từng tốp, vừa đi vừa lau tay. Chanh bị ngập rất nhanh trong đám người lọ lem, mặc áo quần xanh vá chằng vá đụp, cười nói oang oang bởi quen át tiếng máy: - Tưởng mày chết nơi góc xó nào rồi, Chanh! - Anh được đi bộ đội rồi hả anh Cả? - Đừng bỏ nghề xe lửa nghe chú em. Cầm súng tí lâu rồi về cầm búa... - Được thằng vi dít tơ kha khá, lại đi tù mất tiêu tới bây giờ... Cả Chanh luống cuống trả lời những câu hú họa, cười nhiều, cố bắt cho hết những bàn tay nhem nhuốc chìa ra. Anh em còn nhớ mình, thương mình như thương nhớ người bạn thợ đi tù cộng sản năm xưa. Anh đưa tay áo quệt mắt rất nhanh, vừa lúc ông phó ga cũ người Việt đi tới, vẫn đội cái mũ cát két có phù hiệu CFI của sở hỏa xa Đông Dương ngày xưa, vẫn ưỡn cái bụng phệ vượt mặt chừng nửa tấc. Ông cầm tờ giấy giới thiệu của Chanh trên tay, vẫy vẫy gạt anh em tránh ra, nói dõng dạc: - Hôm nay toàn thể công nhân viên chức chúng ta vô cùng hân hạnh được đón chào đồng chí Phan Chanh về thanh tra khu vực Qui Nhơn... Ông đọc giấy giới thiệu của Chanh giữa những tiếng ồ và ngạc nhiên, rồi lật mũ cầm ngửa với điệu bộ trịnh trọng nhất: - Đáng lẽ chúng tôi phải tiếp rước vị chỉ huy trưởng chu đáo hơn, nhưng mà anh em công nhân hâm mộ đồng chí từ lâu đã tự động ra nghênh tiếp. Xin mời đồng chí quá bộ vô thăm chỗ giai cấp công nhân đang lao động quên mình về nền độc lập của nước nhà... Chanh nghe giọng nói quá dẻo ấy bỗng thấy gờm sợ. Lại thêm cả xưởng tốp máy kéo ra đón nữa, hại việc nhiều quá. Phải tìm lối thoát ngay. Chộp ngay một ý thoáng qua, anh nói với ông phó ga: - Đề nghị bác cho tôi nói chuyện với anh em vài phút. - Dạ, để anh em thay quần áo, rửa ráy sạch sẽ. Mời đồng chí vô phòng khách. Cũng tại bác Hai Rề nghe tin đồng chí tới, hào hứng chạy đi báo cả xưởng, chúng tôi không kịp tổ chức cuộc nghênh tiếp... ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp: người hộ vệ Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 03:02:52 pm Chanh chán quá, đi thẳng vào trong xưởng, vành tay lên miệng kêu to:
- Mời anh em tới chỗ phờ lát phoọc số hai cho rộng rãi, tôi xin gặp một chút rồi phải đi gấp. Bảy Tộ đã kể rằng các cuộc mít-tinh công nhân trong xưởng đều làm chỗ bãi bằng số hai. Chanh đi thẳng tới đó, thấy đặt sẵn một bục gỗ cao lắp lan can sắt, có thanh gỗ leo lên. Anh không thoát khỏi ông phó ga theo bén gót. Thợ từ các nhà bên vẫn tuôn qua các cửa vào nhà chính của đề pô, Chanh nhác thấy một nhóm chị em tóc dài mà trước kia ngành xe lửa không có. Chỉ sau năm phút, chỗ bãi bằng trong lòng xưởng sửa chữa đã ngập người, vẫn ông phó ga nhanh miệng hơn mở đầu mít-tinh bằng lối nói kiểu cách: - Anh chị em công nhân thân ái! Hôm nay lực lượng công nhân trung kiên của nhà ga Qui Nhơn được vinh dự... Trong khi ông ta đếm ra các chức vụ của Chanh, anh nhìn lướt rất nhanh những bộ mặt ngước lên chăm chú, thấy ông Hai Rề đứng chỗ góc nhà với các đầu ngửa ngửa theo thói quen từ xưa. Anh Quý xứ ủy nói ông được bầu làm trưởng ban lãnh đạo đề pô xe lửa ở đây kia mà, sao ông phó ga to bụng cứ một mình dẫn quả bóng khắp nơi? Và ông định làm mất thì giờ chung suốt buổi hay sao? Chanh nhẩm sẵn mấy câu mở đầu, rình chộp một chớp nhoáng sơ hở nào của ông để ngắt lời, nói ngắn, chuồn gấp. Nghe xong một loạt lời ca tụng, công nhân vỗ tay rào rào. Thời cơ đã đến! Chanh giả vờ coi mình như được nhận bóng, khoát hai tay mời im lặng và nói luôn: - Xin thành thật cảm ơn ông trưởng ga (anh đã kịp hỏi một người không quen đứng cạnh mình trên bục về ông phó cũ) và tất cả các đồng chí lãnh đạo ngành hỏa xa tỉnh Bình Định. Xin cảm ơn toàn thể anh chị em công nhân. Thiệt tình là tôi có được giao trách nhiệm thanh tra và chỉ huy trong khu vực. Nhưng tôi đi chuyến đầu tiên này để làm quen với công việc mới những người mới, coi thử tình hình chung ra sao. Mấy tiếng nữa tôi phải theo đoàn tàu Nam tiến vô Nha Trang đánh giặc. Tôi nhớ ga mình, anh chị em mình ở Qui Nhơn, chạy xẹt xuống đây thăm một chút cho đỡ nhớ (các khuôn mặt ngửng lên đều cười hỉ hả). Tôi quen các bác, các anh chị lâu năm ở ga mình, còn anh chị em mới thì chưa biết, thôi, trước lạ sau quen. Đi một tua vô trong kia, tới khi quay trở ra tôi xin hẹn ở lại lâu hơn, ta mặc sức tâm sự với nhau chuyện cũ chuyện mới. Tôi chỉ xin nhắc bà con mình chút xíu này thôi: Tổ quốc đang cần rất nhiều đoàn tàu tốt, súng đạn tốt. Tụi mình làm rán thêm một phút, đổ thêm một giọt mồ hôi, chiến trường trong kia bớt đổ một dòng máu tươi, đờn bà con nít sống thêm một mạng. Các đồng chí thấy đúng vậy không? Đám đông kêu lên lộn xộn: - Đúng rồi! - Phải quá đi chớ! - Hay! hay! - Vì vậy, tôi rất ấy náy từ nãy tới giờ đã làm các đồng chí mất nhiều phút trong giờ làm việc. Xin đề nghị vầy nè: thằng thợ cũ về thăm bạn bè, mỗi người làm giúp cho nó mươi phút nữa để nó ra đi khỏi băn khoăn trong bụng. Đồng ý chưa? Mấy trăm con người cùng kêu to “đồng ý”, bật cười ồn ào. Chanh biết mình được lòng anh chị em, họ đã coi anh như người cùng hội cùng thuyền. Anh bắt chước cử chỉ của anh Quý, nắm hai bàn tay vào nhau đưa lên lắc mạnh, ra hiệu bắt tay chung tất cả, xong bước nhanh xuống khỏi khán đài. Ông trưởng ga không kịp diễn thuyết nhiều hơn bởi công nhân đã ùn ùn kéo về chỗ làm việc của mình, cười nói râm ran, khác hẳn những cuộc mít tinh cực kỳ trang trọng kéo dài ba bốn tiếng trước đây. Ông túm lấy mấy cậu ở văn phòng, dặn sửa soạn bữa tiệc mời đồng chí thanh tra thật đàng hoàng, lái xe đổ thêm cồn để đưa đồng chí đi bất cứ đâu. Một viên thư ký hổn hển chạy tới: - Báo cáo, ông Chanh đi rồi... ổng biểu thằng Bảy Tộ đèo xe đạp ra phố... - Ổng đi đâu? Sao không mời lại? - Dạ, ổng nói đi thăm xưởng cũ chớ chưa thanh tra. Đúng hai giờ ổng trở lại, theo đầu máy mới sửa lên Diêu Trì. Ông trưởng ga đổi lệnh mới cho văn phòng đừng dọn tiệc mà gói thật nhiều thức ăn khô để biếu ông Chanh mang theo dọc đường, lái xe sẵn sàng đưa ông ấy lên Diêu Trì, không để ông ấy đứng hít bụi than cùng với thợ đốt lò. Ông trở về văn phòng với nỗi lo lắng kéo dài: có gì thất lễ khiến cho vị thanh tra bực tức bỏ đi đùng đùng như vậy? Lơ mơ là ông ấy cách tuột chức tước từ trưởng ga trở xuống... Ra khỏi ga mấy trăm thước, Chanh chợt vỗ vào lưng Bảy Tộ: - Dừng lại Bảy, tao hỏi chút... Mày còn việc gì ở đề pô không? - Em còn vài tiếng ma nơ nữa là hết ca. Nhờ thằng bạn làm rồi, anh khỏi lo. - Vậy mày cho tao mượn xe đạp. Mày trở lại ga đi, đừng để anh em hiểu lầm tao. Hai giờ chiều tao trả xe ở đề pô, được chưa? Bảy Tô lại gãi tai: - Em không đưa đón mới bị anh em hiểu lầm là đứa bạc bẽo. Thôi tùy ý anh Cả, dùng xong anh quăng xe vô chỗ gác cho em. - Nè, ông Hai Rề với lũ trưởng ga sao coi bộ cách biệt quá vậy ta? - Nói sao hè... Ông Hai tốt thiệt mà chẳng biết lãnh đạo là cái gì. Cha trưởng ga thì nửa nạc nửa mỡ, à quên, đến ba phần tư mỡ. Muốn được lòng xếp Tây, được lòng ủy ban mình, được lòng công nhân, còn công việc chung có bê trễ cũng mặc kệ. Cái đầu máy đang xộc xệch cũng ký giấy cho kéo tàu Nam tiến, ông Hai với tụi em phải tới bàn giấy chặn lại, bắt sửa kỹ, không thì chết cứng dưới chân đèo Cù Mông chớ chưa tới đất Phú Yên đâu! - Mẹ cha, nguy hiểm vậy á? Chanh rút cái đồng hồ quả quýt - quà tặng của tỉnh ủy Quảng Nam trước khi chia tay - xem giờ, tần ngần một tí rồi dặn: - Mày nói giùm lão trưởng ga tao sẽ làm việc với lão từ một tới hai giờ chiều, mời cả các sếp a lơ li ê nữa... kêu bằng gì hè? Tao mới chuyển qua hỏa xa mà. - Quản đốc phân xưởng. Có mít tinh công nhân không? - Chết, đừng, để lần khác hẹn giờ nghỉ ta làm. Cả Chanh chỉ còn hai tiếng nữa để tìm gặp một người bạn bất mãn, một đứa em mất lòng tin, một cô gái chưa hiểu bụng dạ ra sao. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 03:04:23 pm Rút cầm tay mảnh giấy vẽ sơ đồ nhà chị Tư rượu lậu, tên đầy đủ là chị Trịnh Thị Toản, do một anh bạn ở ga Diêu Trì soạn sẵn, Chanh luồn lách rất lâu trong các xóm nhà lá mới tìm được một căn nhà mái tranh vách đất còn mới, dựng trên một gò cát gần biển, trông cũng khá gọn sạch.
Chị Tư đang nấu cơm dưới bếp, đon đả chào khách, mời lên nhà trên, rót nước, bày diêm thuốc. Bộ mặt nhiều tàn hương lấm tấm đổi sắc ngay khi Chanh xưng tên. Đôi mắt sắc lẻm nhìn xói vào mặt anh: - Hóa ra ông là ông Cả Chanh đó. Hứ! Ông đã lên ngôi vua chưa mà trảm công thần liền tay vậy ông? - Kìa, chị Tư... - Tôi cũng khen ông khéo rủ rê đó. Anh Năm đang bị thương đi cà nhắc, tôi ra sức nuôi ảnh, thuốc men mắc mấy cũng chạy vạy cho đủ, ảnh nghe ông về Quảng Nam làm cách mạng, lên rừng cao núi thẳm đánh du kích, lại nghe lời ông đưa bộ đội vô tới Sài Gòn chọi với giặc, tử sanh chẳng nề. Vậy mà ông kiếm chuyện đuổi về ngang xương, coi như đồ Việt gian bán nước, tới thằng Cam là em ruột ông cũng tức xung điên, theo về luôn... Chị càng nói càng hăng máu, tuôn xối xả như xay lúa những lời rỉa róc, hai gò má nhọn đỏ rựng và nhô cao hơn, hai hàm răng mọc lộn xộn buộc phải hở ra để nói trong khi chỉ muốn nghiến lại. - Hai anh em bò về tới đây, coi tợ hồ hai cái xác chết trôi bị cá nhám gặm. Có thứ gì đáng tiền tôi bán hết, nuôi cả tháng mới nên hình ảnh, ảnh đi làm được, thằng nhỏ đi học được. Tôi trách là trách anh Năm không biết thân nhân lại cứ chơi trèo, là thằng cai khố đỏ dốt nát mà cứ ưng bắt chước ông cách mạng nòi, ông xịt đâu chạy đó, bây giờ ổng chán ổng đá đít là đáng đời hết sức chả kêu ca gì nữa. Chanh bật kêu lên, khổ sở: - Thì chị cũng để tôi nói câu chuyện với anh Năm cái đã. - Tối nay cả nhà đông đủ, ông muốn nói gì cứ nói, thử coi có cù rủ anh Năm được nữa không. Chưa chắc thằng Cam nó chịu theo ông đâu nghen! Tôi có lời khuyên ông vầy cho gọn: vợ chồng con rượu lậu lấy thằng khố đỏ, nuôi giùm ông thằng em ở đầy tớ, xứng bộ với nhau quá rồi, để ông chủ tịch lo việc quan việc nước cho đáng mặt cao sang chớ... Không sao chen nổi một câu phân trần vào giữa cái thác oán hận của chị con buôn lắm điều. Cũng khó hi vọng gặp được Năm Chò với Sáu Cam trong chốc lát ở lại Qui Nhơn giấc trưa này. Chanh dắt xe đạp đi ra đường, cảm thấy mỏi khắp người như sắp lên cơn sốt rét rừng, khi ký sinh trung bắt đầu nhấm các khớp xương, sợi gân. Mười lăm phút sau, Năm Chò cùng Sáu Cam về nhà. Cam học lớp cấp tốc dành cho học sinh lớn tuổi, gần chỗ Năm đang xe gạch thuê cho chủ thầu làm nhà. Buổi nào tan học nó cũng ghé vào chỗ đang xây, đợi anh Năm xong chuyến cùng về với nhau. Đó là lúc nó nói chuyện với anh Năm thoải mái nhất, còn ở nhà thì chị Tư giành nói hết, nó vào ngồi học một mình trong góc, xong bài nhà trường nó sẽ khảo anh Năm học chữ. Anh học kiểu ấy cũng đã đọc và viết được tàm tạm. Chị Tư mặt còn bừng bừng, vừa bày mâm cơm vừa kể chuyện ông Cả Chanh cho hai anh em nghe chăm chú. Cơm xới xong, Năm Chò vẫn không cầm đũa, chỉ nhắc cộc lốc: - Tiếp đi! Chị Tư kể nữa, kể nữa. Anh Năm cứ tái mặt dần đi, Cam trông thấy nhưng chị Tư không để ý. Anh đưa hai tay bưng trán, rồi bóp trán, buông một câu nặng nề: - Vậy là hết tình nghĩa! - Chớ sao nữa! Tình nghĩa gì với cái hạng đó. - Không, tôi nói tình nghĩa tôi với cô. - Anh... gì lạ vậy? Năm Chò ngửng đầu lên, mắt anh đỏ ngầu: - Cô nói đã ngán chưa? Có muốn nghe không, hay là đang ham nói thì xin mời. Chị Tư há miệng nhưng không thốt ra tiếng, như người ăn khoai mắc nghẹn. - Phải như hồi tôi còn là thằng khố đỏ, tôi là tống cho cô mấy trái đấm bể mặt. Tôi được anh Cả Chanh dạy dỗ miết mới chừa thói xấu. Cô gặp may đó. Cô nghe lỏm chuyện tôi nói với bạn bè, câu nọ xọ câu kia, cô hiểu theo kiểu riêng của cô. Mâm cơm thành nồi cháo heo, cô đem hắt vào mặt anh Cả, ảnh là người cao thượng không thèm bắt bẻ, cô được nước cứ chửi tới tới. Cô cứ nhất định làm con Tư rượu lậu, mặc ý cô, còn tôi là chiến sĩ Vệ quốc, tiệt nọc khố đỏ rồi. Thằng Cam cũng không ở đầy tớ cho ai nữa hết, nó vô du kích, theo bộ đội, bây giờ là học sinh. Chúng tôi không muốn ghép chung với cô Tư rượu lậu... Cam, mày ở hay đi với tao? Cam đã nép vào góc nhà từ khi nghe anh Năm nói, bằng cái giọng gằn gằn dễ sợ. Khuôn mặt dài và gầy, bắt đẩu nổi lang ben của nó cũng tái xanh. - Lâu nay tôi để dành tiền, đánh hai chiếc nhẫn cưới để ăn ở lâu dài với cô. Bây giờ cô hiện hình ra rõ hung rồi, tôi xin đưa hết tiền với nhẫn để tạ ơn cô giúp đỡ khi đau ốm, anh em tôi đi nơi khác. Anh đến mở cái rương con trên giàn, lễ phép đặt trên bàn hai chiếc nhẫn với một xấp bạc, bẻ đôi một chiếc đũa đặt lên trên. Anh vơ áo quần trên giường nhét vào rương. Cam vội run tay thu dọn sách vở trên bàn cho vào cái túi vải trong khi chị Tư bắt đầu khóc rất to tiếng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 03:06:08 pm * * * Thùy tất tưởi về gấp sau cuộc họp kéo dài. Nhà vắng hết, cơm trưa không ai nấu, hai đứa nhỏ tan học lại hờn với chị Hai cho coi. Phần cha khỏi lo, bốn giờ chiều cha mới hết ca. Trời hơi lạnh nhưng Thùy đi như chạy, đến gần nhà phải cởi cái áo sợi không tay mặc ngoài áo trắng kiểu bà ba. Trước hiên nhà nhà có kê một chõng tre cũ để ngồi hóng mát. Ai đó tự mở dây buộc cổng, đang ngồi đợi trên chõng, chiếc xe đạp dựng vào thềm. Một anh bộ đội ba-lô vẫn đeo trên lưng, dựa vào vách ngủ ngon lành. Chắc đến bàn việc với cha. Mũ cứng kiểu lính Bảo an úp sụp che nửa mặt, hở ra cái cằm nẻ đôi. Thôi cứ để anh ấy chập chờn một lát, tội nghiệp, bộ đội cực trăm đường. Thùy đi vòng ra mở cửa hông bấm khóa, nhấc cây ngáng cửa trước, mở rộng cho sáng. Tiếng kẹt cửa đánh thức anh bộ đội. Anh giật mình ngồi thẳng lên, giụi mắt, sửa mũ, quay đầu vào trong. Thùy bật kêu: - Ôi chao, anh... anh Chanh! - Thùy! Anh đứng vọt dậy, bị cái ba lô nặng trên lưng giật lại, hơi loạng choạng một chút, kịp níu tay vào khung cửa giữa. Như cái máy, anh tuột quai ba-lô ra, đặt nó xuống chỗ chõng, bước vào nhà. Thùy run rẩy lùi, lùi nữa, đến khi lưng chạm vào cột gỗ. Cô dựa vào cột, cả đầu và thân tê dại đi, mặt lạnh buốt, hai gối nhủn ra như sắp ngồi luôn xuống đất. Cô nhắm mắt, đợi một cái gì hằng mơ ước và rất đáng sợ sắp xảy ra trong đời, khi anh Chanh trở lại tìm cô... Loáng thoáng đằng sau đôi mắt nhắm, Thùy thấy lại tất cả những hình ảnh đã hiện ra trong những đêm trằn. trọc. Anh ôm Thùy vào ngực, thủ thỉ nói anh yêu em suốt đời. Anh gập gù xoa cằm, bảo vấn đề này sẽ thảo luận trong kỳ họp sắp tới. Anh trừng mắt bảo Thùy là đứa mất nết, người ta lo làm cách mạng mà nó chỉ nghĩ chuyện lăng nhăng trai gái. Khủng khiếp nhất là khi anh nói: xin lỗi, tôi đã có vợ ngoài Quảng, Thùy đã tự hành hạ biết bao nhiêu từ khi không nén được nước mắt trước, bác Quý già đến thăm, từ đó cứ hối mãi, lo lắng mãi... Im lặng, im lặng kéo dài. Mặt Thùy bớt lạnh, Thùy từ từ tỉnh lại, mở mắt. Người con trai đứng cúi đầu trước mặt cô, bàn tay phải bóp bàn tay trái, mặt đỏ như vừa uống rượu, cái núm cổ chạy lên xuống mà không đẩy ra được một tiếng nào. Bỗng anh ngước mắt nhìn Thùy. Nét mặt anh lộ vẻ sợ sệt quá rõ: không thể lầm. Anh sợ gì trước mặt em? Hay là... lẽ nào... anh sợ phải nghe một lời xua đuổi? Máu trong tim vụt bốc lên mặt Thùy đến choáng váng. Trước người con trai yếu đuối, Thùy mạnh lên bừng bừng. Anh ấy yêu mình, đợi mình cho phép nói một tiếng nào đó. Nói đi anh. Em đợi tiếng ấy lâu rồi. Kìa, sao lại nhát gan vậy, anh của em? Anh quá thật thà rồi đó... - Thùy ơi! Thùy chỉ thốt được một tiếng dạ không ra khỏi cổ. - Em... em có nghĩ tới anh... chút nào không? Thùy không gan được nữa, úp hai bàn tay lên mặt, nấc dồn dập. Hai cánh tay gân guốc của người con trai đã ôm vòng quanh vai Thùy. Anh nói gì nóng rực bên tai không rõ. Thùy níu vào hai vai anh, úp mặt vào ngực anh, trong khi anh luống cuống hôn vội vàng vào má, vào tai, vào cổ Thùy. Thùy vừa ngước mặt lên, anh hôn luôn vào trán, vào mũi. Anh của em vụng về ngốc nghếch, sao mà dễ thương không chịu nổi. Em chỉ sợ thức dậy, thấy em chiêm bao. Phải chi anh cắn em thử coi. Chắc anh không dám, thôi để em cắn anh thiệt đau cho anh tỉnh trước... Thùy cắn thật. Anh bật cười, vòng hay tay kéo đầu Thùy ngửa ra: - Hồi đi khỏi Qui Nhơn, anh buồn ghê. - Sao anh buồn? - Em chào đúng một tiếng, bỏ đi mất tiêu... - Em xuống khóc một mình dưới bếp, em không gan như anh. Còn anh cứ cười miết... Anh Chanh ơi, thiệt không? Anh thương em thiệt không? Anh chọc ghẹo rồi bỏ, em không sông nổi đâu. - Đừng bỏ anh nghen Thùy. Rán đợi anh về rồi cưới. - Em lo anh có vợ... Hai tay người con trai siết cứng Thùy đến ngạt thở, không nói được nữa. Thùy muốn anh siết mạnh hơn. - Có rồi. Anh có một cô ở Qui Nhơn đây. Anh lo vợ anh không đợi được. Anh yêu em khủng khiếp. Thùy ơi, nhứt định cưới nhau nghen Thùy? Nói đi em. Hẹn cắn cưa đi em, cho anh yên bụng. - Em bằng lòng... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Sáu, 2016, 03:07:36 pm Ngoài cổng chợt có tiếng trẻ con kêu: “Con se sẻ đậu kia, dạn lắm!”. Rồi ná cao su bật một tiếng phạch. Chanh buông tay. Thùy hôn vội trên cổ anh lần nữa, chạy ào xuống bếp. Hai đứa em trai cắp sách vào nhà, còn xuýt xoa tiếc con chim bắn hụt. Chúng cất tiếng chào chú, không nhớ mặt Chanh vì hồi xưa anh trốn kỹ trong buồng Thùy. Anh vội sửa:
- Kêu là anh bộ đội chớ, đừng kêu chú. Anh tên là Chanh. - Dạ, anh bộ đội. Chị Hai ơi, cơm chín chưa? Thùy đáp ấp úng. Hai đứa em lùng bùng: “Họp hành gì ghê quá vậy chị!”. Chúng vất sách, cầm ná cao su ra ngõ. Chanh không cưỡng nổi, đi xuống bếp chỉ để nhìn Thùy, gần Thùy thêm một lát. Chiếc đồng hồ quả quýt đã chỉ gần một giờ, anh phải về nhà ga đúng hẹn. Thùy đang hối hả nhen lửa hai bếp một lần nấu cơm canh. Đợi Thùy bắc hai nồi lên bếp xong, Chanh mới ngập ngừng: - Thùy... anh phải đi gấp đây. Thùy quay ngoắt lại, mở to mắt. Đôi mắt sao mà đẹp lạ. - Anh theo bộ đội Nam tiến. - Bữa nào anh đi? - Phải đi ngay bây giờ. Bộ đội đang đợi trên ga Diêu Trì, anh chạy gấp về thăm em, đừng giận, tại anh nhớ em quá... Đôi má tròn đang đỏ hồng vì lửa nhợt đi. Thùy gượng cười, hiện hai đồng tiền bên khóe miệng. Môi Thùy cũng trắng ra, mấp máy: - Bấy nhiêu thôi hả anh? Biết làm sao, anh đi đi. Rất nhanh, nước mắt Thùy tràn xuống má. Thùy quay lưng ngồi xổm xuống, đẩy củi vào bếp cho cháy phừng phừng, kín đáo co bắp tay trái lên quệt mặt. Đến khi nhìn lại thì anh Chanh đã biến mất. Thùy chạy vội ra cửa trước: chiếc xe đạp không còn đấy nữa. Anh hiện rồi tan như làn khói. Hai đứa em nghe chị kêu đau bụng bỏ cơm, líu ríu vào nấu thay, bưng dọn, để phần cha và chị xong vội ăn cho kịp buổi học chiều. Chúng nó nhắc tới anh Chanh bộ đội vừa ghé thăm nhà, Thùy nằm trong buồng lắng tai nghe và bắt đầu nghĩ là anh ấy có đến thật. Bốn giờ chiều, Thùy dậy cùng ăn cơm với cha. Nghe ông Hai kể Cả Chanh về thăm đề pô, Thùy tin hẳn mình không nằm mơ. Trước sau gì hai đứa em cũng nó với cha chuyện anh ấy đến nhà, Thùy phải thưa trước cho khỏi bị nghi ngờ, nhưng không biết lựa lời cách sao đây. Cha lại rất ghét những người quanh co lắt léo. - Sao coi mày như đứa mất hồn vậy Hai? Thùy nhìn cắm xuống bàn, ấp úng: - Dạ, anh Chanh tới đây hồi nãy... - Ủa, tao gặp nó ở đề pô, thấy nó gấp rút lắm mà! - Ảnh ghé lại chút xíu thôi. Ảnh... ảnh hỏi con... có thương ảnh không, chớ ảnh thương con lắm... Hễ cha cho phép thì ảnh đi hỏi con... - À, à, vậy đó... Mày nói sao với nó? Thùy ríu lưỡi: - Con cũng thương ảnh lắm. Ảnh đi, con nhớ lắm. Ông Hai buông đũa, ngẩn ra nhìn khuôn mặt đỏ chín của con. Bây giờ ông mới nhận thấy con đã thành người lớn từ bao lâu chẳng rõ. Tính theo tuổi ta nó đã lên mười chín, còn gì nữa. Nó ưng thằng Chanh cũng phải, thằng đó tánh nết dễ thương. Nhưng ông vẫn thấy khó êm xuôi. Ông lặng im lâu đến nỗi Thùy đâm sợ. Đàn ông với nhau hay có những va chạm nảy lửa, chỉ nhìn quanh xóm cũng đủ khiếp hồn. Nhưng cha chưa lần nào chê trách kia mà. - Thùy nè, con biết Cả Chanh bây giờ làm gì không? - Dạ biết. Anh vô bộ đội, đi Nam tiến đánh giặc. Thanh niên bây giờ ai cũng ao ước vậy hết cha ơi. - Lầm rồi. Hồi mới nổi dậy, nó làm phó chủ tịch tỉnh. Bây giờ nó làm thanh tra hỏa xa Trung Bộ. - Bộ đội hay hỏa xa cũng vậy thôi, có bậy bạ gì đâu! - Ai nói nó bậy bạ? Nhưng mà con phải coi thử có cân xứng hay không đã. Người ta quyền cao chức trọng, chắc nhiều cô muốn lấy, bu theo. Con thì chữ nghĩa trét không đầy cái lá mít, chỉ biết may áo quần cho đàn bà con nít trong xóm. Hồi còn thương thì nó không để ý, hết thương nó so sánh cô này cô kia, tới đó con mới tủi cực trăm bề. Giọng Thùy khản như nuốt than: - Cha biểu... con từ chối hả? - Tào lao. Cha nhắc để con đắn đo mọi lẽ, về sau khỏi hối. Phải như nó cứ làm thợ vi-dít-tơ như hồi xưa, nó hỏi một tiếng là cha nhận làm rể liền tay. Nó không tin Chúa mà tốt nết hơn đám cha cố nhiều. Thùy chợt buốt nhói trong ngực khi nghe nhắc tới Chúa. Hình như vẫn có lệ cấm người bổn đạo lấy người lương hay sao đó. Thùy hấp tấp hỏi cha. Ông Hai bật một tiếng “xì” rẻ rúng: - Tao thờ Chúa là nể ông bà cha mẹ đi đạo, chớ cái bọn không đẻ ra tao mà đòi làm cha, kêu tao bằng con, tao coi như cỏ rác! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2016, 01:33:41 pm 25. Thế là xong. Trong căn hầm của đại đội bộ đội chật ních đến ngạt thở, chỉ còn lại Ba Dĩnh với đồng chí quân nhu. Dĩnh vơ cái áo móc ở vách hầm lau mồ hôi chảy thành dòng trên mặt, ngồi bệt xuống tấm ván thùng vất bên cửa, kêu “ối” và nhỏm dậy ngay khi bị cái đinh xóc chéo vào mông, may mới cào sướt da. Cậu quân nhu bước ra khỏi hầm, đứng trong hào giao thông cầm mũ quạt phành phạch, lại chạy nhào vào khi quả đạn pháo lớn hú dài trên đầu, nổ rung đất mé sau hầm chừng năm chục thước. Tàu biển đã mở đầu đợt pháo chiều khoảng hai ba trăm quả. Đằng nào đại đội cũng đã nhận đủ tất cả số đạn, lựu đạn, áo quần từ hậu phương đưa tới, kèm mỗi người một gói quà tết nhỏ trong có một khăn mặt, một gói kẹo bánh, một bao thuốc hút quấn tay, một lá thư của em học sinh nào đó chia theo may rủi. Lau xong cái đầu cắt trọc bóng như thầy tu, Dĩnh chợt nhớ, hỏi: - Cả Chanh đi đâu rồi ta? - Nằm co con tôm kia chớ đâu! Dĩnh quay lại, thấy Chanh nằm ngủ trong chỗ hàm ếch khoét lõm vào đáy hầm, chỗ duy nhất không bị dẫm đạp khi anh em chen nhau lĩnh các thứ. Dĩnh chép miệng, ngả tấm ván dựng vào vách xuống đất, trải tấm chiếu rách lên trên, đặt cái túi dết làm gối, lom khom bước tới lay Chanh, hét vào tai anh cho át tiếng đạn pháo mỗi lúc một ầm ỹ trên mặt đất: - Anh Chanh, ra đây ngủ cho thẳng lưng! Bị lay gọi, Chanh chỉ nói lúng búng trong miệng như ngậm cháo, lại ngáy tiếp. Dĩnh lắc đầu bảo cậu quân nhu cùng đi với Chanh: - Thôi mày sẵn giường đó, ngủ đi một lát. Ca-nông bắn kệ cha nó, hầm này chịu nổi. Anh mặc áo, thắt nịt súng, đội mũ sắt, cúi thấp trong đường hào, đi xem đồ tiếp tế đã đến tay từng chiến sĩ hay chưa. Đoàn xe lửa Nam tiến phải dừng ở phía Bắc Đèo Cả và trở ra ngay trong đêm. Đại đội Quảng Nam Hai gánh theo các kiện hàng dành cho đại đội Một của Dĩnh, vượt Đèo Cả ban đêm, đi gấp vào mặt trận Nha Trang. Ban ngày họ nhờ dân quân dẫn đi luồn qua các xóm rậm cây, các đồi gò, tránh máy bay địch ném bom và bắn dọc quốc lộ Một. Gần tới Ninh Hòa, họ được một trạm gác chỉ cho vào cụm rừng rậm cách quốc lộ chừng năm cây số, đợi lệnh. Cả Chanh chìa tờ giấy giới thiệu thứ hai của mình ra, anh xin gặp Ban chỉ huy Mặt trận với danh nghĩa phó chủ tịch Quảng Nam. Sau một buổi chờ đợi, hai cán bộ của Mặt trận đi ngựa đến gặp Chanh. Một người to béo để râu mép xuống tới khóe miệng, mặc ka ki Ăng lê trơn láng và đeo ống dòm trước ngực, ngồi trên ngựa hất hàm hỏi Chanh bằng cái giọng lơ lớ của Hoa kiều: - Đồng chí có phải là quân nhân không? Chức vụ gì? Chanh đoán đồng chí này người Thổ từ Việt Bắc vào. Anh lúng túng đứng nghiêm nhưng không chào quân sự: - Báo cáo đổng chí, tôi được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cử vào thăm bộ đội, đề nghị cho gặp các đồng chí chỉ huy Mặt trận, sau đó xin gặp đại đội Nam tiến của Quảng Nam. Người kia nhìn Chanh từ đầu đến chân, lại hất hàm: - Cho xem giấy. Ông ta đọc chậm chạp như người mới học chữ, trao tờ giấy cho người thứ hai. Anh này đọc lướt nhanh, vội leo xuống ngựa, đến bắt tay Chanh và trả giấy. Ông to béo nói đĩnh đạc: - Ban chỉ huy đi thị sát tiền duyên cả. Đồng chí đã gặp tôi là Lý Đằng, tham mưu phó Mặt trận, thế là nguyện vọng thứ nhất giải quyết xong. Đồng chí được phép đi thăm đại đội Quảng Nam nhưng không được đến các đơn vị khác, không được ở lại trận địa quá hai mươi bốn giờ. Trước khi đi, đồng chí phổ biến cho đại đội trưởng đại đội Hai đến báo cáo với tôi tình hình đơn vị về mọi phương diện và nhận nhiệm vụ mới. Rõ chưa? Thấy Chanh đứng tần ngần như sắp kêu nài, ông ta quay ngựa giật cương đi luôn. Người thứ hai chỉ kịp nói vội một câu hẹn gặp lại, giơ tay lên mũ chào Chanh và phóng theo ông Lý Đằng. Chanh cùng mấy anh em đứng gần đấy không ngạc nhiên mấy trước kiểu đón tiếp lạ lùng này. Họ đã gặp một phân đội trưởng thuộc đại đội Ba Ba Dĩnh, bị thương ở vai phải lui về điều trị mé ngoài. Đèo Cả, đi nhờ xe ngựa của dân, khi đụng đầu đơn vị đồng hương đã đùng đùng quay mặt trận. Cậu vừa đi vừa kể tỉ mỉ cho Chanh và các cán bộ đại đội nghe đủ thứ chuyện, trong đó có vụ va chạm với ông tham mưu phó Lý Đằng nửa ta nửa tàu, nổi tiếng hách dịch và ưa đánh lính. Chanh ngớ ra khi biết đợt tiếp tế thứ nhất cách đây hơn một tháng chỉ đến tay đại đội Ba Dĩnh rất ít: ba người được một bộ áo quần, mỗi người được sáu viên đạn. Tham mưu trưởng Mặt trận bận việc tác chiếc, giao mọi sự cơm áo gạo tiền cho ông Lý Đằng, ông này ra lệnh cho quân nhu Mặt trận thu hết những gì từ hậu phương đưa đến để chia đều. Về lý thì không sai, nhưng trâu chậm uống nước đục là điều khó tránh. Quân nhu hối hả phát nhanh vì lo máy bay đánh cháy kho, lo địch đổ bộ, còn đại đội Ba Dĩnh hồi ấy giữ mặt bắc thị xã Phan Thiết lại quá xa, khi về lãnh tiếp tế thì chẳng còn mấy nỗi. Chanh cùng anh em quyết định rất nhanh: phải đi đường tắt mới đưa được các thứ đến đại đội Một, lúc này đang đóng ở mạn bắc Nha Trang, từ xóm Cù Lao tới làng Đồng Đế ven biển. Phải bí mật thuê xe ngựa chở hàng đi đêm qua đèo Rọ Tượng và đèo Rù Rì - đang còn nhiều xe ngựa vào gần Nha Trang chở đồng bào tản cư ra đến cầu mối xe lửa bên ngoài Đèo Cả - cho người báo trước để Ba Dĩnh nhận hàng và trả ngay dưới chiến hào, không qua quân nhu Mặt trận. Sau đêm thứ tư thức trắng, sau khi chính mắt thấy các thùng đạn và kiện quân trang tuôn theo đường hào về tận mỗi tiểu đội, Chanh ngủ lăn ra lúc nào không biết. Pháo tàu biển bắn rung đất, vách hầm trần hầm đã lát ván và phên tre vẫn rưới đất bột lên khắp người, Chanh cứ nằm nghiêng ngáy giòn. Anh em kéo tới thăm đứng khom lưng nhìn Chanh một tí, để lại một lá thư gửi về nhà, lại thì thào rón rén bước ra, nhường chỗ cho người khác chui vào căn hầm. Trời đã tối hẳn. Pháo biển ngớt bắn, chỉ còn mấy khẩu cối của quân bộ bị vây trong thành phố nhả đạn uỳnh uỳnh ra chung quanh, thỉnh thoảng chen một quả đạn đèn xòe đuốc lắc lư trên nền mây sẫm và thấp. Rất nhiều đốm lửa nhỏ lập lòe trong các chiến hào chạy ngoằn ngoèo ven biển: đại đội Một đang hưởng chất khói từ quê hương gửi vào, với bao đạn đầy bên hông và áo quần mới trên mình, tán chuyện râm ran về những lá thư hậu phương rất chi là tình cảm. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2016, 01:41:41 pm Một cậu đi qua hầm đại đội, thò đầu vào nói oang oang:
- Cứ như ri, đánh Tây mười năm cũng được anh Chanh à! Chỉ có tiếng ngáy phì phò vọng ra trả lời. Sáng hôm sau, nền mây tãi trắng đục rây xuống những hạt mưa phùn li ti. Ở mặt trận, đó là thời tiết lý tưởng: mưa nhẹ như sương không làm ướt lính mà che mắt được máy bay địch, pháo bắn cũng kém trúng đích. Đại đội khao Chanh và cậu cùng đi một chầu cháo tôm cua tuyệt ngon, ăn vào đến đâu tỉnh người đến đấy, còn hẹn sẽ mời một chầu sò huyết Thủy Triều, bắt ở cái đầm rộng mé nam Nha Trang. Quyền đại đội phó Sanh là cây văn nghệ, cao hứng rung đùi đọc mấy câu mới thuộc: Yến sào Hòn Nội, Vịt lộn Ninh Hòa Tôm Hùm Bình Ba Nai khô Diên Khánh Cá tràu Võ Cạnh Sò huyết Thủy Triều Đời anh cay đắng đã nhiều Từ nay ngọt sớm ngon chiều cùng em Chung quanh ồn ồn lên: - Thằng này tính phản phụ nữ Quảng Nam rồi! - Mới ăn kẹo hút thuốc của nẫu hôm qua đó... - Ta về ta tắm ao ta thôi! Sanh về vênh mặt cãi: - Mấy cha mất chánh trị! Việt Nam là nước thống nhất, sao còn phân biệt Quảng Nam với Khánh Hòa? Huống chi con gái trong này không hút thuốc, hơi thở thơm lừng, hàm răng trắng như ngọc. Tiếng đồn con gái Nha Trang, nụ cười đặt giá ngàn vàng cũng mua! - Nha Trang bị chiếm, sao mày thấy? Dóc tổ! - Mày dốt vô vàn. Nên nhớ các cô đẹp nhứt bao giờ cũng lo tản cư trước thiên hạ, chỉ còn bà già trên sáu mươi mới dám ngó mặt tụi lê dương! Câu nói vui bỗng xóc nhói vào tim tất cả mọi người. Họ cười gượng và lặng im. Họ đã phải chôn quá nhiều xác các cô mơn mởn bị hiếp xong còn bị rạch bụng, xác trẻ em bị lưỡi lê xuyên suốt ngực hay cháy thui rụng hết chân tay chỉ còn lại như củ khoai quá lửa. Cán bộ đại đội và các trung đội, phân đội phải hết sức vất vả mới giữ được nguyên đơn vị khi rút lui từ Phan Thiết về Nha Trang. Có những tiểu đội họp lại biểu quyết không lùi một bước nào nữa. Một phân đội giơ tay đòi cách chức phân đội trưởng vì tội bỏ đất bỏ dân. Lẻ tẻ có vài ba anh em trao lại cây súng không đạn, xin góp mấy quả lựu đạn, bỏ bộ đội đi theo du kích, dọa nếu bị bắt giữ sẽ nổ lựu đạn tự tử. Một cậu trinh sát mới mười chín tuổi kiếm đâu được quả đầu đạn 105 ly sửa thành mìn, lao vào dưới một chiếc xe thiết giáp, giật ngòi và cùng tan xác với xe địch. Một anh xấp xỉ ba mươi, loại lớn tuổi trong đại đội, ngày thường hiền lành như cục đất, bỗng rình nhảy lên một chiếc xe Gíp đi lẻ, mới chém một tên đã bị bắn chết ngay. Dĩnh và Sanh chia nhau đến từng tiểu đội, cố xoa dịu những chiến sĩ uất hận đến phát cuồng. Dĩnh phải nhắc hàng trăm lần: bỏ thương binh lại là tội lớn, để giặc lấy mất súng là tội lớn, muốn gì cũng chỉ về Nha Trang mới giải quyết được. Rút cuộc, hai trăm sáu mươi con người còn lại đã khiêng gánh dìu dắt nhau về đến đây, trấn giữ dải bờ biển mé đông-bắc của thành phố, bị pháo biển bắn nhiều nhưng chưa chọi nhau với quân bộ. Những người căm phẫn ồn ào nhất đã dịu bớt, thương binh được chuyển đi hết, súng lớn nhỏ còn nguyên. Với đợt tiếp tế và thư quà hậu phương này nữa, tiếng cười đùa trở lại khắp các hầm hào. - Báo cáo, có công văn gửi Ban chỉ huy đại đội! Cậu liên lạc viên của Mặt trận cố đứng thẳng người trong hầm để chào đúng động tác, bị Sanh túm cánh tay kéo ngồi xệp xuống: - Khỏi đi mày. Về nói ông xếnh xáng đặt ra động tác ngồi chào, cho tụi tao tập trước khi ổng xuống đơn vị. Ba Dĩnh xé phong bì, rút ra tờ giấy mỏng, kêu: - Nữa! Giấy tờ không đánh dấu, ba đứa dốt như tao chịu chết. Đọc đi Sanh! Mặt trận bộ kiếm được hai máy chữ thì một cái không có dấu tiếng Việt, phải vừa đọc vừa đoán, thường dùng để đánh các tài liệu quan trọng. Sanh học tới bằng ri-me 1 hồi còn Tây, là người sẵn chữ nhất trong đại đội, cầm giấy đọc to: - Thông báo về cuộc đổ bộ của quân địch vào Qui Nhơn... Mọi người giật mình, nín thở. Sanh đọc ngắc ngứ, từng lúc dừng lại lẩm nhẩm. - Đại bác hải quân bắn vào Mui Tan và Phường Mại trúng vào khu nhà tranh lá... Chanh chen vào, giọng rất khản: - Mũi Tấn và Phương Mai, sát biển đó. Trầy trật một hồi, rồi anh em thở phào nhẹ nhõm. Các cánh đổ bộ hầu hết bị đánh bật xuống tàu. Riêng một cánh thọc vào thành phố chiếm được nhà ngân hàng đã bị ta vây đánh dữ, dùng đại bác 75 bắn vào, địch chịu đầu hàng. Có lệnh trên cho Qui Nhơn tản cư và phá hoại triệt để, rất gấp. - Cần nhận rõ rằng những thắng lợi của quân đội ta trên mặt trận Nam Bộ và Nam Trung Bộ, từ Nha Trang trỏ vào, đã góp phần kềm giữ địch quân không cho chúng đổ bộ lên Qui Nhơn, Hội An, Đà Nắng với lực lượng hùng hậu như chúng dự định trước đây. Hỡi tất cả cán bộ và chiến sĩ! Hãy cầm chắc tay súng, phòng ngự vững chắc hơn nữa, tấn công dũng mãnh hơn nữa... Đợt pháo buổi sáng lúc này đã ngớt hú rít qua đầu. Trong khi Sanh cho liên lạc đi gọi các trung đội đến nghe tin mới, Ba Dĩnh dẫn Chanh đi theo đường hào, thăm từng tiểu đội “cho anh em ngó thấy một chút”. Chanh cười tươi, bắt tay khắp lượt, lắng tai nghe hàng tá ý kiến của anh em nhắn nhủ về hậu phương, cố xua đi cái ý nghĩ day dứt về Thùy và cả nhà ông Hai Rề dưới trận bom Pháp của cuộc đổ bộ vào Qui Nhơn, nổ ra chỉ một đêm sau khi đoàn tàu của Chanh rời ga Diêu Trì. - Ối thằng Chanh, mày cũng mò vô đây với tụi tao hả? - Báo cáo đồng chí phó chủ tịch, trung đội đang sửa công sự. - Anh Cả nè, tụi em lỡ thề chặt một ngón tay đổi một viên đạn ĐAM, bây giờ anh đem cho mỗi đứa sáu chục viên, chặt cái gì đây cho xứng? - Chẳng biết ông nào là ông nào, ai đánh giặc giỏi là tôi kinh trượng, ai bỏ dân mà chạy là tôi xin miễn chào. Người nói cuối cùng là một ông lão râu trắng tóc trắng, gánh rau tới ủng hộ bộ đội. Cấp dưỡng chỉ lo được cho anh em mỗi ngày hai vắt cơm với một miếng thịt heo hay thịt bò kho mặn, vài gánh nước uống, bộ đội tự xoay xở nấu canh hay luộc rau bằng bất cứ thứ lá xanh nào ăn được. Ông cụ quảy đòn gánh với đôi quang chồng làm một, dẫn Chanh và Dĩnh đi qua xóm Cù Lao dưới mưa phùn. Cụ chỉ vào khu nhà đồ sộ trên mỏm đất cao trông ra biển: - Tôi thờ ông bà, ai muốn thờ Chúa mặc kệ họ. Nhà dòng La Xan, nhà dòng Phan-xi-cô, to tướng đó, cha cố chẳng chịu đi đâu hết... Cụ liếc nhìn hai anh cán bộ đi sau, đổi đòn gánh sang vai trái, nói lấp lửng: - Tiếng chuông họ kêu khác thường lắm. Đêm hôm, đèn thắp chớp nháy cách sao thiệt khó hiểu. Thầy dòng cứ chạy rảo khắp làng này xóm kia, nói ông cha Bề trên biểu đi mua đồ ăn, đi làm lễ cho con chiên. Có khi họ vô Nha Trang lo việc đạo rồi lại trở ra ở sát bên hông bộ đội mình. Tôi ở đây trên bốn chục năm rồi, giờ mới thấy họ thờ cúng ráo riết tới vậy... Chanh và Dĩnh nhìn nhau phân vân. Ông cụ nói rất có lý. Từ gác chuông và các cửa sổ cao nhất của khu nhà dòng có thể trông thấy hầu hết tuyến phòng ngự của đại đội, nếu dùng ống nhòm có thể đếm tách bạch từng loại súng đặt trong các hầm hào. Chanh đã từng học cách gõ truyền tin bằng mã tự 2 giữa các xà-lim trong nhà lao KonTum. Các ông thầy dòng ở đây chắc không lạ gì với nhũng dấu tích te ấy, có thể báo ra tàu biển ngoài khơi những tin tỉ mỉ nhất về bộ đội ta mà chẳng cần máy vô tuyến điện. Họ không chịu tản cư, đi sục khắp nơi, chạy con thoi giữa vùng ta và thành phố bị sáu tiểu đoàn Pháp Nhật chiếm đóng. Ai hỏi tới thì họ gọi tên Chúa, ngửa lên trời bộ mặt thánh thiện, thề thốt rằng họ chỉ lo cứu rỗi phần hồn chứ không màng tới việc đời. Thế nhưng khi đồng bào Sài Gòn giành chính quyền thì những người đầu tiên bắn vào biển người tuần hành lại là các đấng chăn chiên núp sau cửa sổ của nhà các đức cha, cạnh Nhà thờ lớn trên đại lộ Nô-rô-đôm. Tiếp đó, việc cố đạo dẫn Tây đi càn quét bắn giết đã thành lệ thường ở Nam Bộ, quá thường đến nỗi linh mục nào không đi càn mới có của hiếm như con quạ trắng. Chanh bấm tay Dĩnh, nói khẽ: - Phải làm thêm công sự giả, đặt súng giả, cho giấu các ổ hỏa lực thiệt. Không thì... Anh kín đáo chỉ ngón tay cái ra sau lưng về phía các nhà dòng. Dĩnh giật nhanh, vẻ bồn chồn hiện rõ trên mặt. Ông cụ dẫn nhóm bộ đội lách sang mé tay phải, băng qua những hàng rào đã trổ sẵn để du kích xuyên ngang xóm. Một tổ du kích gác cạnh đường nhựa nhắc họ lên viếng Tháp Bà theo sườn đồi phía bắc cho khuất, chứ sườn phía nam hay bị cối 81 bắn trúng. Cụ gật đầu, đi chậm lại, giảng cho Chanh biết vì sao trong vô số tháp Chàm rải khắp xứ Trung Bộ, người Kinh chỉ thờ cúng có một khu tháp này thôi. Ấy là vì bà Pô Na-ga ở đây linh thiêng cực kỳ, thường hiển thánh cho người từ xưa tới nay. Khu tháp xây cách đây hơn một ngàn năm mà vẫn đứng vững, hương khói không hề dứt. Người Kinh quen gọi là Bà Chúa Xứ, còn nhà vua thì phong bà làm thượng đẳng thần, danh hiệu là Thiên y A na Thánh mẫu. Nép vào một góc khuất ở chân tòa tháp nhỏ thờ hai con của bà thánh Chàm, Chanh xem kỹ khu vực cầu xóm Bóng đã giật mìn sập một vày sát bờ bắc, những khu nhà mờ mờ của Nha Trang bên kia sông, trong khi ông cụ cao hứng đọc bài diễn ca rất dài ca tụng công đức của Bà. Anh nghĩ: dù sao nơi này cũng không bị biến thành đài quan sát của bọn gián điệp núp bóng tôn giáo, vậy là may cho cả người lẫn thánh. Trở xuống đến chân dốc, họ gặp một gia đình tản cư dừng nghỉ bên đường nhựa. Chỉ trong ngày mưa phùn thế này đồng bào mới đi đường lớn mà không ngại máy bay bắn. Chị vợ rút ra bao hương đỏ. Anh chồng moi túi áo tìm bật lửa, đánh rơi xuống đất một sợi dây chuyền có đeo cây thánh giá gắn tượng Chúa chịu nạn. Anh luống cuống nhặt nó bỏ vào túi rất vội, cầm bao hương leo nhanh lên dốc, lách qua cửa hông vào ngôi tháp chính làm cái việc bị sách đạo lên án là “tin vơ thờ quấy”. Ba Dĩnh khẽ hích vào tay Chanh: - Thứ chuỗi thánh giá đó, dân ở đây mua nhiều mà giá mắc lắm. Tụi cha cố nói lính Tây nó tin Chúa, gặp người đồng đạo nó không làm hại, bao nhiêu tiền, cũng rán mà sắm, lại còn phải tập kêu Giê-su Mai-ri-a cho quen miệng nữa. Hừ, láo khoét, anh em mình từ Biên Hòa ra đây phải chôn biết bao nhiêu xác đồng bào đeo thập ác trên cổ! Mặt Chanh chợt bốc nóng, một sợi gân bên thái dương hơi rút đau. Anh nhớ lại những tượng và ảnh Mẹ Ma-ri-a trong căn buồng nhỏ của Thùy. Mấy hôm trước đây, khi liều lĩnh ôm ghì cố gái rất yêu rất nhớ ấy, anh thoáng thấy một sợi dây chuyền mạ kền lấp ló trong cổ áo Thùy. Dường như dưới những cánh hoa hồng mịn màng thơm ngát đã hiện ra mũi gai đầu tiên. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Pháp. Primaire: bằng tốt nghiệp tiểu học. 2. Phiên âm tiếng Pháp: tín hiệu morse Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2016, 01:44:48 pm 26. Dưới trận mưa pháo thường lệ lúc sáu giờ sáng, đại đội Ba Dĩnh ăn xong nửa vắt cơm sáng, đang đun nước nhân lúc sương mù chưa tan hết, trút đầy các ống tre và bi-đông. Đột ngột có tiếng hú lạ tai dội to giữa những loạt ình oàng, biến thành tiếng rống, tiếng rắc rắc như cây to trốc gốc, đấm mạnh xuống đất nghe bịch như chày nện. Vài giây sau nền đất dưới hầm thốc ngược lên, hất người đang ngồi nhào nghiêng ngửa. Cậu trinh sát đứng gác ngoài chiến hào chạy xổ vào hầm: - Nó bắn thứ đạn gì to quá chừng, anh Dĩnh! Dĩnh chạy ra hào, vừa kịp trông thấy quả đạn khổng lồ khác bay tới trong tiếng xé vải y hệt bom rơi xuống đầu. Nó đâm chúi vào đất, khoan xoáy soàn soạt rất sâu dưới ngực những người nằm sấp sát đáy hào, nổ thành tiếng ục xa lắc. Nó gây động đất. Hai bờ hào rùng rùng lở xuống. Những thân phi lao xếp làm trần hầm nẩy bật lên, hất văng lớp đất phủ. Nền hầm nẻ toác như ruộng mùa đại hạn. Ba Dĩnh thét vào tai Chanh nằm bên: - Thiết giáp hạm bắn đó. Đại bác cỡ bốn trăm ly nổ chậm. Sáng hôm sau anh Hồng Long đến kiểm tra, sau khi chiếc tàu khổng lồ kèm hai chiếc nhỏ hơn kéo tới ngoài khơi Nha Trang, xoay những nòng pháo lớn vào phía bờ. Lũ tàu lâu nay bắn phá ta chỉ còn là lũ còng gió chạy quanh ba con cua biển. Anh cho biết chiếc lớn nhất là thiết giáp hạm Ri-li-ơ, hai chiếc nhỏ hơn là tuần dương hạm, chúng đến Nha Trang giúp sức phá vây, đại bác cỡ to nhất có thể đến bốn trăm ly đường kính, quả đạn to như trái bom. Chắc chắn địch sắp đổ bộ phía bắc Nha Trang. - Các cậu đánh tiêu hao được bao nhiêu hay bấy nhiêu, nhưng không được thí mạng. Đừng đưa khẩu hiệu quyết tử. Bị chọc thủng phòng tuyến chỗ nào thì ném trung đội dự bị ra lấp lỗ hổng. Lấp không được thì cho cả đại đội lui về phòng tuyến hai. Phải cố giữ lực lượng, cấm nóng mũi đánh ẩu, nhớ chưa, cấm liều mạng! Dĩnh ngập ngừng: - Xin anh cho lệnh viết... - Đúng. Mình viết sẵn đây. Không cự nổi thì cho phép lùi. Bây giờ, các cỡ pháo biển to nhất, dội đạn ào ào xuống các hầm hào từ Cù Lao tới Đồng Đế. Những cột đất và khói phụt lên như bộ râu lộn ngược, mảnh đạn rít réo kín trời và chạm nhau chan chát. Rầm rầm rầm. Ùng. Víu. Rẹẹẹt, ục. Vùùù. Oàng.... Không còn nhận ra tiếng gì nữa. Hào lở. Hầm sụp. Người bị chôn vừa bới đất ngoi đầu, chợt bị thúc dưới bụng văng lên nằm ngửa trên miệng hố, lại bị hất lộn mấy vòng, chỉ còn ôm đầu bịt tai thoi thóp. Máy bay chúi ném bon cũng không dữ dội như trận pháo này. Dĩnh và Chanh luồn theo con hào đã bị khoét và lấp nhiều đoạn, chạy ra ụ súng đại liên Hốt-kít trên mỏm cao nhìn xuống sóng biển. Hầm không trúng đạn lớn, còn nguyên, cây đại liên phủ chăn sẵn sàng bắn, hai súng phóng lựu V.B. đều sạch sẽ. Bốn chiếc tàu đổ bộ từ ngoài khơi đang chầm chậm tiến vào dưới làn pháo của tàu mẹ, mỗi chiếc kéo theo một đuôi bọt trắng ngắn ngủn và rộng bản. Trọng liên 12 ly 7 trên cầu cao quét vào bờ từng loạt ngắn thăm dò. Đầu đạn chạm nổ choang choác, lóe những chuỗi chấm lửa đỏ trên các ghềnh đá. Dĩnh nói to vào tai cậu tiểu đội trưởng: - Nó khích cho mình bắn trả, lộ hỏa điểm, pháo lớn nó hủy diệt đó. Đợi tàu nó hạ cầu, lính đổ xuống bãi hãy bắn... Ủa, đứa nào chơi cái trò này? Đứa nào, nói! Bên cạnh chỗ ghế ngồi lắp trên chân sau của khẩu Hốt-kít có một sợi xích và một vòng khóa giữ chân người bắn, đã tháo bỏ từ lâu, nay bỗng thấy lắp lại y như hồi mới tước súng của Bảo an binh. Bị Dĩnh quát và nhìn xói vào mắt, tám người trong hầm quay mặt đi. Tiểu đội trưởng hất cằm về phía cậu bắn đại liên đang rướn cổ nhìn qua lỗ châu mai, tảng lờ không nghe. Thì ra cậu ta định tự xích chân vào súng khi lâm trận. - Tháo ra lập tức! Bộ đội cách mạng chớ không phải lính phát-xít, lính đánh thuê lê dương! Mày sợ quá bỏ chạy đã có đứa khác bắn thay... Đồ.... đồ ngu! Rất nhanh, tiểu đội trưởng dùng tuốc-nơ-vít tháo sợi xích ra. Dĩnh túm lấy, bước ra cửa hầm, vung tay ném mạnh cả xích lẫn vòng xuống phía biển. Nó nẩy trên tảng đá lớn, rơi tiếp xuống đống đá chồng chất, từ từ tụt xuống một kẽ ghềnh sát mé nước. Dĩnh vẫn đứng quay lưng vào hầm, nói ngắt quãng: - Rán mà giết giặc... được bao nhiêu tốt bấy nhiêu... hễ nó tràn lên đông quá thì đại liên rút trước.... lựu đạn cản hậu... tao dặn tới rát cổ rồi đó... Anh bỏ đi, nhấc chân nặng nề như lội ruộng lầy, đến chỗ khuất mới co cánh tay áo rách lên lau nước mắt. Tiếng súng nhỏ bỗng rộ lên như chà ốc trong rổ. Dĩnh đứng sững, dỏng tai. Không phải bọn dưới biển bắn lên, các tàu đổ bộ đang còn chờu vờn ngoài xa. Súng nổ túi bụi trong xóm Cù Lao như ai vừa châm ngòi hàng chục tràng pháo lắp chen nhiều pháo tống. Nghe kỹ có thể nhận ra tiếng đại liên, tiểu liêu, lựu đạn. Cũng không phải chi đội Quảng Ngãi đánh chặn địch tràn qua sông Cái, thường nghe dội xa và nhỏ hơn. Dĩnh trợn mắt, thét: - Nó chiếm khu nhà dòng rồi! Đúng chỗ dó! Mẹ cố tổ... Sanh đâu? Cho trung Ba đánh vô khu nhà dòng, mau! Từ trong các căn hầm bị đào bới, trung đội dự bị tuôn ra, khắp thân lấm lem. Sanh quệt máu mũi chảy trào xuống miệng, hô lanh lảnh: - Chạy dưới hào, tất cả chạy dưới hào... tiếp viện trung Một., theo tôôôi... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2016, 01:48:39 pm Pháo biển vẫn bắn dữ nhưng chuyển làn xa hơn, đạn nổ dọc quốc lộ. Một quãng hào bị sạt hoàn toàn, bộ đội ùn trước đống đất và cây lởm chởm. Hai đội viên ở mé sau vọt lên mặt đất, chạy qua bãi đất trống. Nhiều người nữa nhấp nhổm vọt theo. Cậu chạy trước nhảy được xuống khúc hào còn lành. Cậu chạy thứ hai vác một thùng nặng, chậm chân hơn, lảo đảo thả rơi cái thùng sắt trên vai, quỵ xuống lăn ngửa ra đất, máu loang nhanh trên ngực và bụng. Luồng đạn đại liên từ chỗ cao bắn xuống vẫn xói đất tông tốc chung quanh cái xác mấy giây nữa trước khi đổi hướng. Ngót tám chục cặp mắt đều thấy họng súng phụt khói qua cửa sổ cao nhất của ngôi nhà dòng đồ sộ nhô vượt trên các ngọn phi lao. Cả một dãy cửa sổ cùng xối đạn các cỡ xuống chiến hào của ta.
Trung đội Một đóng gần khu nhà dòng hoàn toàn không trúng pháo biển, nhưng lại đột ngột bị bắn lướt sườn và chọc lưng. Anh em nép vào các thành hào khuất, kê nòng súng chếch lên, bắn trả từng phát chật vật vào những bóng lấp ló sau các cửa sổ, áo lính ka-ki chen lẫn áo chùng đen tu sĩ. Dĩnh vừa tới, hét, như sấm: - Sanh, Sanh, cứ bắn tỉa, cho lắp lê đợi lệnh xung phong. Moóc-chê với phóng lựu theo tao, tới đây mau! Chanh vành tay lên miệng hét lại lệnh của Dĩnh, rồi chạy lom khom đến chỗ khẩu đội cối 60 đang loay hoay đặt súng. Đó là con hào giao thông đào khuất trong rừng phi lao thấp theo hướng đông-tây, cấp dưỡng thường theo nó gánh cơm nấu trong xóm xuống cho bộ đội rải ven biển. Anh em trong khẩu đội hối hả cuốc sẵn một khúc bờ hào, trong khi đạn súng máy bay qua đầu chiu chiu rắc rắc, lựu đạn tay trong nhà ném ra nổ tung khói và đất cách họ khá xa. Thấy Chanh đến bên, Dĩnh nói hổn hển: - Anh thấy hết rồi đó, làm chứng giùm nghen. Mai sau tôi có bị kiện là bắn vô chỗ thờ cúng, phá đạo... - Tào lao. Tụi đó là quỷ sứ chớ tu hành gì! Dĩnh lật mũ sắt, kéo vạt áo sơ-mi lau cái đầu trọc bóng đầy mồ hôi trộn đất bột, đội mũ. Khẩu đội trưởng chỉnh súng xong, hai cậu cầm đạn đang dạng chân sẵn hai bên. - Báo cáo anh cho bắn? - Phóng lựu cũng thổi luôn nghen. Bắn thong thả, coi kỹ, có lệnh mới được bắn dồn dập... Phụt đi! Pách! Bục bục bục! Bốn phóng lựu V.B. cùng bắn theo súng cối, chỉ phát ba tiếng nghẹt thở. Ba quả lựu đạn phóng bay ra, thấy rõ chúng xoay lộn ngay trước mắt. Một rơi giữa đường, một đập vào tường rớt như đất cục, một chạm ra mái rơi xuống và nổ ngay trước một cửa sổ có nòng đại liên đang xịt khói trắng, quả này ăn tiền nhất. Trái đạn cối 60 vọt lên cao tít, đánh xuống chậm hơn, làm vỡ toác một mảng mái ngói ngả nâu. - Sửa tầm mau, bắn tiếp! Loạt đạn cầu vồng thứ hai trúng đích hơn. Bộ đội reo hò râm ran trong đường hào. Các mũi lê cọ cát sáng loáng nhô tua tủa trên bờ đất, chờ xung phong. - Bắn dồn dập! Sanh, Sanh, đứng yên đó, đợi hiệu tu huýt của tao! Bốn pháo thủ nối tiếp nhau thả đạn vào nòng súng cối, né đầu đúng động tác thành một điệu múa nhấp nhô nghiêng đầu nhún gối. Đạn 60 ly từng cặp đánh tung mái ngói, phá tầng trên cùng đặt đầy súng của ngôi nhà tu. Một tên mặc áo chùng đen bị hất văng qua cửa sổ, cây tiểu liên rơi trước thân người vung vẩy tay chân. Những luồng khói trắng phun chếch xuống đất tắt dần. Chanh chợt thấy trên tháp chuông thò ra hai cây cờ ba sắc xanh trắng đỏ của Pháp. Một cờ phất ba lần, rồi hai cờ phất ba lần, cứ thế nối tiếp mãi. Anh đập vào vai Dĩnh: - Coi chỗ lầu chuông, Dĩnh! Tụi nó đánh tíu hiệu S.O.S ra tàu biển! - Là hiệu cờ gì? - Kêu cấp cứu. Đó, tích tích tích, te te te, tích tích tích. Quân ngoài biển nhào vô bây giờ. Dĩnh nghiến răng ken két, chạy tới chỗ một cây trung liên Bờ-ren bắc sẵn trên bờ hào nhưng chưa bắn, xô cậu xạ thủ sang bên, ngắm rất kỹ, xổ luôn nửa băng vào tên phất cờ. Bóng đen đang rướn ra ngoài thả rơi hai cây cờ, gục xuống vắt thân trên bậc cửa sổ. Một tên mé sau thụp xuống, lôi cái xác tụt vào trong tháp. Dĩnh buông thả súng, cười gằn: - Thêm một thằng nữa được phong làm ông thánh tử vì đạo! Anh đưa cái còi nhôm đúc lên miệng, thổi một hồi dài. Lập tức tiếng tù và của Sanh dội lên rất vang: hút hooo, hút hooo. Nhiều chuỗi bộ đội cùng một lần nhào thông thốc vào các cửa trước và sau, tuôn lên các buồng sát mái. Địch đã chạy hết, bỏ lại rải rác những cái xác mặc áo chùng, áo dài đen xẻ tà, có hai tên mặc đủ bộ tây-di 1 của lính Pháp nhưng không gắn lon. Chanh lượm một súng trường Mát cắm sẵn lưỡi lê, cùng sục sạo với anh em, bắt được một tên chui dưới gầm giường. Một cố đạo người Âu rậm râu sâu mắt. Bên trong áo chùng và chuỗi hạt đáng giá to tướng hắn mặc bộ ka-ki loang lổ da beo và đi ủng nhà binh. Hắn quỳ gối van xin lia lịa bằng tiếng Pháp, hỏi bằng tiếng Việt hắn lắc đầu không hiểu. Chanh tức điên, lên đạn đánh rắc, chĩa súng vào ngực hắn quát: - Mày giả bộ nữa, tao bắn chết! - Lạy ông đừng bắn, con xin nói, con nói... Giọng hắn rất sõi, lời lẽ đúng và rõ nghĩa. Chanh đoán không sai, têu này đã ở nước ta lâu năm. - Pháp định cho đổ bộ ở đâu, lúc nào? - Lạy ông tha cho con, con bị đức cha ép buộc... Đoàng! Nòng súng phụt lửa bên vai khiến hắn hoảng hồn nhào nghiêng. Chanh lại lên đạn: - Mày hết đóng kịch chưa? - Lạy ông, con hết... Đổ bộ lên đây, chiếm đóng các sở xê-mi-ne này, tức là các trường dòng, bọc lên đường lớn. Nhưng mà họ lên chậm quá chúng con khai chiến trước, chúng con dại dột... - Bao nhiêu quân đổ bộ? - Dạ, một ba-tay-ông Nhựt Bổn chừng bốn trăm lính, một công-pa-nhi lính Pháp và lính Phi châu chừng một trăm. - Còn những mũi tấn công nào nữa? - Con nghe nói còn một mũi qua sông Cái, một mũi đổ bộ ở Hòn Khói, không cho quân Việt Minh... quân Việt Nam ở Ninh Hòa vô cứu vớt. Trong khi cậu trinh sát trói ké hai tay hắn ra sau lưng, hắn cuống cuồng kêu to: - Lạy ông, con xin làm tù binh, tù chiến tranh... - Mày là thầy tu tự ý làm giặc, không phải tù binh! - Dạ con là ca-pi-ten, tức là quan ba trong quân đội. Họ mới gắn lon tháng trước. Xin ông để con sống... về sau hai bên trao đổi tù quân sự... Chanh bỏ đi xuống vội, vẫn nghe câu cuối của hắn. Đang lúc hoảng hốt mà hắn còn lý sự được thế, ắt là hắn đang suy ngẫm mọi đàng từ lâu rồi. Chẳng hiểu vì sao anh thấy mặt hắn quen quen. ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp. Tenue treillis: chiến phục. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2016, 01:51:17 pm Một lần nữa, các cỡ súng nhỏ lại rộ lên mé bờ biển, lần này chen thêm tiếng máy tàu thủy xinh xinh và tiếng rè rè của chiếc máy bay hai tầng quần đai dẳng trên trận địa. Pháo biển chỉ còn bắn thưa thớt và chếnh về hướng Bắc.
Trung đội Một đẩy lùi được quân đổ bộ dễ dàng không ngờ. Bốn chiếc tàu đáy bằng rập rình cách chân sóng chừng nửa cây số, do dự rất lâu, trong khi chiếc chiến hạm cực kỳ lớn nổ máy chạy chầm chậm lên phía Hòn Khói. Từ các tầu bắc ống nhòm nhìn lên, địch thấy rõ quân ta đánh chiếm khu nhà dòng, bẻ được mũi dao chọc ngang sườn. Có thể tiếng súng cối cũng khiến chúng ngần ngại: tàu đổ bộ trống hốc như cái hộp bánh mở nắp rất dễ bị đạn cối phá toác đáy, chìm nghỉm. Rốt cuộc, hai chiếc tàu cùng tách lên trước, tiến vào bờ. Trọng liên và các trung liên đặt lên cầu cao xổ đạn như vòi rồng vào những nơi có ụ súng. Cối 81 và 60 đặt trong lòng tàu tung dạn túi bụi lên mặt đất, phần lớn bay nổ sau lưng bộ đội. Khẩu đội đại liên Hốt-kít đặt trong hầm làm hỏng một trận ngon ăn. Thấy địch lố nhố trên cầu tàu trước họng súng mình chừng hơn trăm thước, cậu xạ thủ ngứa tay xiết cò luôn hai loạt dài khi chưa có lệnh bắn. Tổ đại liên trên tầng cao nhà dòng, đã xoay nòng cây đại liên Rây-ben mới thu, tưởng bạn mình được lệnh cũng xối đạn chếch xuống. Súng cối 60 chưa ngắm kỹ cũng thổi luôn ba quả rơi chủm chủm xuống biển. Hai chiếc tàu vội rồ máy chạy ra xa, không hạ tấm bửng cho lính đổ bộ. Sanh chạy nhào tới hầm đại liên, thấy khẩu đội trương đang túm áo cậu xạ thủ; day day và xô ngã nhào vào góc hầm. Sanh đã giơ tay định tát bồi, cố ghìm lại được, thở phào: - Tây dại, mình chẳng khôn, thôi thì huề... Tháo súng chuyển qua hầm dự bị, mau, nó dông pháo vô đây tức thì cho coi! Chiếc máy bay quan sát ngoi lên cao theo đường trôn ốc. Các tàu chiến đậu ngoài khơi bắt đầu rục rịch, những nòng súng to ngọ nguậy. Pháo 105 trong thành phố Nha Trang bắn trước vài quả đạn khói thăm dò. Trận mưa pháo thứ hai trong ngày không chen những quả đạn hàng tấn của chiếc Ri-sơ-li-ơ, nhưng kéo dài và được máy bay chỉ điểm trúng đích hơn. Tổ đại liên Rây-ben bị một quả pháo thúc vào tầng dưới ngã lăn lộn nhưng không trúng mảnh phải tháo súng vác chạy xuống mặt đất. Trong những chiến hào sạt lở, bộ đội dùng xẻng cuốc và mũ sắt sâu thêm các hố núp, đùn đất lên trên, gợi hình những lỗ còng trên bãi biển. Trung đội Ba trở về vị trí dự bị, khiêng theo một đồng chí hi sinh và ba bị thương sẽ chuyển về tuyến sau. Dĩnh và Chanh rẽ sang hầm đại bộ đội trong làng Đồng Đế, dắt theo tên quan ba kiêm cố đạo cứ luôn miệng nhắc mình là sĩ quan. Căn hầm rộng đã được trung đội Hai giúp anh em thư ký, liên lạc, cấp dưỡng sửa dọn lại. Bước qua cửa hầm. Chanh kêu “ồ” một tiếng vui thích. Hai Khánh và Ta-kê-đa đang ngồi đấy, đứng vọt dậy và cười tươi. Chanh chụp hai vai Khánh, lay mạnh: - Hoan hô địch vận ra trận. Gớm, chờ mấy cha đỏ con mắt! Ba Dĩnh đứng nghiêm chào một người khác trong góc hầm, nói to: - Báo cáo chỉ huy phó, bộ đội đang chống đổ bộ! Chanh quay lại, trố mắt nhìn đồng chí được gọi là chỉ huy phó, có cái trán gồ cao đặc biệt: - Chiểu đó hả? Đúng Tư Chiểu “cá gỗ” không? - Chớ ai nữa! Mày quên tao hả Chanh? Thằng tệ quá! Đôi bạn tù cũ ôm ghì nhau. Hồi ở ngục Kon Tum, sau một đợt đấu tranh, hai người bị giam chung một xà-lim suốt ba tháng, về sau Tư Chiểu vượt ngục trước Chanh nửa năm, hoạt động ở Quảng Ngãi. Chanh chỉ nghe tin bấy nhiêu. - Chiểu nè, mày làm chỉ huy phó của đơn vị nào? - Lát tao nói. Mày xếp việc cho tổ địch vận cái đã. Tù binh ở Hòn Khói khai có quân Pháp với Nhựt tấn công vô đây, tao để cô Bích Thủy với tay gì người Đức ở lại, đưa hai anh này vô giúp mày. Cho mượn cái ô-bạc-lơ, coi như ưu tiên hết cỡ rồi đó! Ba Dĩnh và Chanh bàn với tổ địch vận đặt máy phóng thanh ở xóm Cù Lao chõ ra biển, kêu gọi quân Nhật phản chiến là chính, gọi lính Âu Phi chống lệnh chỉ huy nữa. Mười phút sau, một trinh sát dẫn Hai Khánh, Ta-kê-đa và đồng chí vệ binh mang máy phóng thanh đi đến chỗ trung đội Một. Tên sĩ quan thầy tu được nhốt trong hầm của trinh sát chờ lấy cung thêm. Nhân lúc đứng với nhau trước cửa hầm, Dĩnh cho Chanh biết Tư Chiểu chính là đồng chí La Giang, một trong hai chỉ huy phó Mặt trận, phụ trách công tác chính trị. Chanh bật cười, lại cau mày băn khoăn khi Dĩnh nhắc rằng chính anh La Giang đã ký lệnh gọi Năm Chò về Mặt trận bộ tức khắc, một việc mà tất cả đại đội đều thấy là oan ức. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 10 Tháng Sáu, 2016, 01:58:04 pm Khi trong hầm đại đội chỉ còn lại ba người, Tư Chiểu mới thấp giọng:
- Chanh nè, tao nghe tay Khánh nói có anh Phan Chanh tới, mừng ghê lắm, té ra mừng hụt. Trung ương thúc miết phải thành lập các Đảng bộ trong quân đội, phải kết nạp đảng viên mới, tiến tới đặt chế độ chánh trị viên từ đại đội trở lên, công việc to bằng núi mà đảng viên mới có một nhúm. Mày bỏ ngành xe lửa, chuyển qua quân đội được không Chanh? - Khó lắm. Tao làm quân giới vài tháng rồi cũng bị đưa qua hỏa xa, không trốn được. - Đó mày coi, Đại đội Ba Dĩnh được bốn đảng viên. Đại đội Quảng Nam Hai mày dẫn vô, hơn bốn trăm con người được bảy đảng viên. Chỉ có cách tập hợp gấp thành chi bộ, lựa anh em tốt kết nạp tại đơn vị, Đảng ủy Mặt trận duyệt luôn. Mày nghe chuyện các sư đoàn Cộng hòa vệ binh ở Nam Bộ chưa? Rồi hả? Đệ nhứt Sư đoàn còn đỡ đỡ. Tụi đệ nhị, đệ tam, đệ tứ sư đoàn thiệt là tai hại, lớp đầu hàng, lớp tan rã, lớp biến thành thổ phỉ, chạy tới đâu bắt ráo cả chủ tịch, dân quân, giết người cướp của quá ta. Té ra mình dại, giao súng cho bọn lưu manh để nó quay lại phá mình! Chanh nóng nảy hỏi độp luôn: - Mày lo như vậy mới cách chức thằng Năm Chò ở đại đội này, phải không? Rất nhiều nếp nhăn hiện rõ trên trán gồ của Tư Chiểu khi anh đáp, giọng Nam pha Hà Tĩnh trầm và buồn: - Tao biết anh em hiểu lầm chuyện này, Ba Dĩnh đây cũng lạnh mặt với tao... Tao chưa đến nỗi biến thành ông quan cách mạng đâu Chanh à. Tao kêu Năm Chò về để giảng giải cho nó nghe phải quấy, đừng để lính làm bậy. Dè đâu tao bị kéo đi gấp để dàn xếp cho một chi đội đang rối, thằng Năm Chò gặp tham mưu trưởng với tay Lý Đằng tham mưu phó, gây lộn với nhau rầm rầm. Tham mưu trưởng nổi khùng ký quyết định hạ tầng nhứt cấp, trả Năm Chò về hậu phương. Nó biến đâu mất tiêu, tìm không ra... Ba Dĩnh vuốt cái đầu trọc, ngồi xếp bằng lại nghiêm chỉnh, nói như đọc một tờ giấy căng trước mắt: - Báo cáo đồng chí chỉ huy phó Mặt trận, toàn thể đại đội chúng tôi đều phản đối thái độ của ông Lý Đằng đối với quyền đại đội trưởng Nguyễn Văn Chò. Chúng tôi đề nghị Ban chỉ huy Mặt trận phục hồi chức vụ cũ cho đồng chí Nguyễn Văn Chò. - Mày nghe đó Chanh. Bây giờ lập chánh quyền rồi, có quân đội rồi, đám đảng viên cộng sản sống sót với nhau như vậy! Chẳng biết mươi năm nữa tụi mình gặp nhau thì “thưa ngài” hay là “bẩm quan”? - Báo cáo đồng chí, trong quân đội ta có những người như ông tham mưu phó, xuống vị trí tác chiến vẫn nạt nộ người chào sai động tác. Tôi không muốn bị phạt như Năm Chò. - Bỏ đi Dĩnh, đừng gây với tao nữa! Anh Hồng Long đồng ý xóa quyết định kỷ luật thằng Năm rồi. Ai biết nó ở đâu thì kêu về giùm, chớ Quảng Nam trả lời không tìm ra nó... Bữa nay mình coi các cha đánh quân đổ bộ, tối nay cánh ta họp số đảng viên thành lập chi bộ luôn đi, được không Dĩnh? - Báo cáo, được. Giọng Dĩnh đã bớt lạnh nhưng vẫn chính quy, không bắt bẻ vào đâu được. Kinh nghiệm này do Năm Chò truyền lại. Chú nhỏ liên lạc đã tiếp thêm hai bi-đông nước chè tươi trong khi họ vặn lý nhau. Cả ba cùng uống vội. Pháo biển chuyển làn, đạn nổ sau làng Đồng Đế. Chiếc máy bay về Nha Trang lấy xăng đã quay trở lại, quần vòng hẹp trên xóm Cù Lao. Tiếng loa phóng thanh chạy pin bắt đầu dội ra khơi, đón đầu lũ tàu đổ bộ lúc này chưa nổ súng. Ba người trong hầm cùng lắng nghe những tràng tiếng Nhật lạ tai, không dấu đanh và gấp như chuỗi bi sắt tuôn đều vào thùng thiếc. Ta-kê-đa nói tiếng Nhật mươi phút, tiếp Hai Khánh nói tiếng Pháp ngắn hơn, rồi loa tắt. Dĩnh dẫn đầu, đưa cả nhóm theo đường hào sang xóm Cù Lao. Loa địch vận vang lên từng lúc, lại ngừng. Anh em sợ hết pin. Lần đổ bộ thứ hai cũng mở đầu bằng những vòi rồng đạn nhỏ phun tới lên bờ. Suốt chiều dài non một cây số, đất bị xăm mứt gừng. Mảnh đá vỡ và đạn trượt nẩy bay vù vù như ong vỡ tổ trên đầu. Bộ đội nín lặng trong các hầm, không bắn trả. Lệnh truyền đi rất nghiêm: chỉ được nổ súng sau khi những tốp lính địch đầu tiên đặt chân xuống bãi, mồm tàu đang mở. Lúc ấy bắn xả vào bọn trên tàu là chính, còn số mắc kẹt trên bãi sẽ xung phong diệt sau, cố bắt tù binh và lấy được súng. Thế nhưng một lần nữa ta lại đánh hụt. Cả bốn chiếc tàu cùng hạ bững, bắc cầu, nhưng quân trên tàu cứ nằm bẹp trên bậc cửa, xổ đạn lên bờ mà không tràn xuống đất. Qua các lỗ châu mai, bộ đội thấy rõ bọn Nhật mặc quân phục màu đất sét vàng sẫm, mũ sắt úp trên những mũ vải ba rèm. Từ dưới thấp bắn chếch lên cao, chúng chẳng gây hại được gì nhưng cứ làm như trút đạn cho nhẹ lưng. Sau mười lăm phút, bốn chiếc tàu lại kéo bững lên kin kít, rồ máy chạy ra khơi. Không ai hiểu địch giở trò gì. Chúng thăm dò ta, hay là dương đông kích tây để đánh thọc một mũi nào khác? Trong hầm chỉ huy của trung Một, Ta-kê-đa đang nói và cười ồn ào, mặt đỏ bừng. Khánh dịch cho La Giang nghe: - Cái này Ta-kê-đa tự ý làm, không bàn trước... Anh ta kêu gọi lính Nhật phản chiến xong rồi, lại nói thêm ở khu vực này có một ren-lai, như ta gọi là chi đội, gồm mấy ngàn quân Nhật tình nguyện theo Việt Minh đánh bọn quỷ da trắng, súng to nhỏ đủ hết. Anh ta còn thêm: đầu hàng quỷ trắng đã là nhục, chịu sự chỉ huy của lũ tàn binh Pháp mới ở nhà tù chui ra là nhục gấp mười, đem thân bách chiến đi làm bia thịt cho chúng nó cướp nước Việt Nam là nhục gấp trăm, người võ sĩ đạo thà mổ bụng tự sát chứ không chịu nhục như thế... Báo cáo anh, nói thế là đúng hay sai? Chung quanh bật cười. Ta-kê-đa cười to hơn cả, khoan khoái xoa cái cằm đã đâm râu tua tủa như bàn chải răng. La Giang bắt tay anh, nhờ Khánh dịch lời hoan nghênh, chỉ nhắc khéo rằng lần sau đừng đem cái chi đội quân Nhật ra dọa nữa, cứ nói quân đội Việt Nam đánh giỏi và gan góc lắm, người Nhật phải cảm phục, thế là vừa. Còn lối gọi quỷ trắng quỷ đen thì sẽ uốn nắn sau, Khánh biết thế mà chớ nói vội. Ta-kê-đa xoa cằm gật gù, bảo rằng anh chẳng hiểu gì mấy về xây-ji tức là chính trị, hứa sau này sẽ nhờ cô Bích Thủy giảng thêm cho. Sắp tới, quân Nhật phất cờ trắng chạy sang xin hàng ta chắc sẽ có nhiều, mong rằng các vị quân quan cho lính biết trước để đừng bắn chết họ. - Nan-tô-mô-na, kô tô mô han-đan nga đê-ki-u-ru! Về sau, Bích Thủy mới cho biết đó là câu đầu lưỡi của Ta-kê-đa: “Không hề gì, hiểu sao cũng được, cứ làm đã!” Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:00:46 am Bốn đảng viên của đại đội Quảng Nam Một họp đại hội chi bộ rất nhanh và bí mật, trong hầm của ban chỉ huy. Anh La Giang thay mặt Đảng ủy Mặt trận Nam Trung Bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố lý do, sau đó mới treo lá cờ búa liềm nhỏ xíu rút trong túi áo ra, gài lên vách hầm. Đại hội ngồi xếp bằng, co tay phải lên chào cờ. Sau phút mặc niệm, anh lại xếp cờ nhét vào túi, chỉ để lại bức ảnh của Hồ Chủ Tịch cắt trong báo đã dán trên vách từ trước. Đảng đã ra thông cáo tự động giải tán, không nên để người ngoài trông thấy cảnh này.
Hai phút để giới thiệu thành phần đại hội. Cả Chanh được coi là khách đặc biệt. Năm phút để đọc nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận cho thành lập chi bộ đại đội. Mười phút để bỏ phiếu kín ban bí thư, Chanh viết hộ cho một đồng chí mù chữ, cậu Sanh mời dự bị cũng rút một tờ và viết bầu cho Dĩnh. Anh La Giang khôn khéo cầm riêng lá phiếu của Sanh và nó là rất coi trọng các ý kiến đề đạt với Đảng ủy. Trong ba phiếu Dĩnh được hai, mảnh giấy viết bút chì nguệch ngoạc của anh ta lại ghi tên cậu Sanh dự bị, không dùng được. La Giang và Chanh kiểm phiếu, trịnh trọng báo tin đồng chí Lê Dĩnh trúng cử bí thư với trăm phần trăm số phiếu hợp lệ. Dĩnh ngớ ra, chỉ gãi tai mà không cãi, thật ra anh chỉ biết rất lơ mơ về điều lệ. Đến phần phát triển Đảng, mất hơn ba tiếng ròng. Cậu Sanh đề nghị kết nạp tất cả đại đội vào Đảng cùng một lần cho gọn. Cậu lý sự rất hăng: - Xin thưa thượng cấp, thằng nào mất tinh thần đã rớt dọc đường hết rồi, còn lại anh em đều là hột gạo trên sàng cả. Người này vô Đảng người kia ở ngoài, anh em chẳng vui vẻ gì. Nghe nói bên Nga hễ cầm súng đánh giặc là coi như Hồng quân nhứt loạt, ở đây ta cũng lập đơn vị Hồng quân, đảng viên trăm phần trăm, được quá đi chớ! Dĩnh dè dặt hơn, chỉ bàn kết nạp một nửa số quân. Đồng chí tiểu đội trưởng nấu ăn, được ghi trong danh sách với các chức vụ quá dài là trưởng ban hỏa đầu quân kiêm vận chuyển quân lương của đại đội, đi lạc đề và phàn nàn rất lâu về đám lính trẻ nhất hay xuống lục lọi nhà bếp, cạy cháy ăn, báo sai quân số để lĩnh tăng phần cơm, chén vèo các túi gạo rang làm lương khô chiến đấu. Đồng chí thử tự thú thật là chỉ biết giết giặc cứu nước, chẳng hiểu Đảng, Việt Minh và Chính phủ khác nhau chỗ nào, sao không nhập chung lại cho gọn. Sau năm sáu lần giảng giải, La Giang mới lọc được một danh sách mười hai người xứng đáng nhất, bốn chục người hạng nhì. Chi bộ cũng biểu quyết phải tăng cường huấn luyện chính trị cho bộ đội, số đảng viên gương mẫu học trước. Buông tay xuống, bốn đồng chí lại ngẩn ra nhìn nhau: cùng dốt cả, lấy ai huấn luyện cho ai? La Giang tránh không nhìn Chanh, ngỏ lời chúc mừng chi bộ và đại đội gặp may mắn hiếm có là được đồng chí Thanh Trà tới viếng thăm, chắc hẳn đồng chí sẽ bớt chút thì giờ quý báu để giảng chính trị cho đảng viên và bộ đội, đề nghị hoan hô. Anh em vỗ tay khe khẽ trong khi Chanh nín lặng. Tan họp, đôi bạn tù cũ ra cửa hầm hít thở một lúc. La Giang ngập ngừng: - Thế kẹt quá tao phải níu lưng mày, đừng giận nghe Chanh. - Đành vậy, tao cũng thương anh em lắm. Ở lại vài ngày, khi xáp mặt ông Quý xứ ủy phải giơ mặt chịu chưởi. Mày biết tánh ổng rồi đó. - Sớm mai tao về mặt trận bộ, điện luôn cho ổng là mày vô đây bị mắc kẹt chiến sự... - Chết, đừng nghen Tư, ổng cấm tao tới gần chỗ đánh giặc. Mày báo tin tao ở Mặt trận bộ, lên cơn đau dạ dày, vài ba ngày nữa mới ra được… Lớp đào tạo chính trị viên của mày tới đâu rồi? - Hai tháng nữa xong. Hơn một nửa mới biết đánh vần, học khó ghê gớm. Nhiều anh em còn nghĩ cứ đánh giỏi, gan góc thì nói gì bộ đội cũng nghe, chẳng cần chữ nghĩa. Tao đưa mày ra làm gương, nằm xà-lim mà tự học không phí một phút, thợ xe lửa mà cầm tờ báo tiếng Tây dịch cho anh em nghe rong róc, thay mặt tù cãi lý với giám binh, quản ngục. Mấy cha le lưỡi hết! Chanh đấm bạn một quả khá đau: - Để dành hơi dỗ dành người khác, đừng cho tao đi tàu bay giấy!... Quên chưa hỏi, thằng cha Lý Đằng tài ba cỡ nào mà Mặt trân coi bộ o bế nó quá vậy? - Nó lạ lắm mày ơi. Tao hỏi tại sao nó hay đánh chưởi bộ đội, nó xổ mấy dây tiếng ta lộn với tiếng tàu. Nào là muốn thắng đế quốc thì kỷ luật sắt phải dữ hơn đế quốc. Nào là quan không hắc thì lính không sợ, lính không sợ thì lệnh không nghiêm, làm sao bắt lính phải phó thang đạo hỏa 1 được. Nào là quân nhân thường thái tam phẫn nộ 2, các anh xuề xòa làm hư lính... Anh Hồng Long cũng phải lắc đầu, nói nó làm chỉ huy Quốc dân đảng lâu quá rồi, khó sửa lắm. Bây giờ ảnh xếp cho nó mở lớp huấn luyện cán bộ tham mưu. Nó soạn bài tới khuya, giảng kỹ lắm mày à, tao tới nghe vài buổi thấy nó thiệt là trình độ cứng, anh em hỏi nhiều câu khó đắng nó cũng trả lời xuôi ro. Tụi tao nhất trí đừng để nó xuống đơn vị nữa, cho làm huấn luyện thôi.. - Nó cho phép tao thăm bộ đội hăm bốn tiếng, cấm gặp đơn vị khác... - Tao hỏi rồi. Nó nói không nên để các quan chức dân sự đem chánh trị vô tuyên truyền trong quân đội! Cả hai cùng bật cười. Vừa dạo dưới chiến hào vừa nói chuyện rì rầm họ đến cửa hầm đội trinh sát. Bên trong, đồng chí cán bộ quân báo từ mặt trận Ban Mê Thuật mới về, mặt vàng như nghệ vì sốt rét và ki-na-rin, đang kết thúc cuộc lấy cung tên quan ba cố đạo bằng tiếng Pháp kéo dài bốn tiếng. La Giang sẽ đưa hắn đi ngay trong đêm nay. Nhìn bộ râu rậm rì điểm bạc của tên tù, Chanh đưa tay lên bóp trán. Anh nhớ lại một khuôn mặt rất quen đã trông thấy hồi nhỏ ở làng quê Linh Lâm. Tên chủ đồn điền La-phác-sơ cao kều đeo súng săn ngồi trên ngựa, thằng con trai tên Pi-e đặt ngang cây trường Đức trên hai đùi, lão Huần quản lý lóc cóc thúc ngựa theo sau... Lột cái áo chùng đen ra, trông hắn khác hắn lúc bị bắt trong nhà dòng. Bộ mặt trừng trợn năm xưa cũng khác nhiều so với những nét khúm núm kinh hoàng trước mắt anh, nhưng không sao lầm được. Chanh đánh luôn một đòn chặn họng: - Chào ông Lê-ông La-phác-sơ! Ông vẫn chưa nhận ra người phu đồn điền ở Linh Lâm hay sao? Tên quan ba bật run. Ngọn đèn dầu dừa lù mù vẫn đủ cho thấy mặt hắn nhợt đi. Miệng hắn há nhưng không thốt ra tiếng. - Cậu Pi-e con ông đóng lon quan mấy rồi? Cô Gia-nét lấy chồng chưa? Ông còn hút thuốc phiện nữa không? - … - Tôi biết tiếng Pháp, nhưng khi ở Linh Lâm nghe ông nói tiếng Việt Nam rành rọt lắm, tôi dùng tiếng mẹ đẻ cho tiện. Cha tôi là ông thợ rèn Tư Chua đã bán cho ông rất nhiều đồ sắt, ông nhớ không? Tôi được tin ba cha con ông bị quân Nhựt bắt dồn vô Nha Trang, tưởng ông thu xếp về Pháp rồi chớ. Ông còn nhảy vô cuộc chiến tranh này làm gì, ông La-phác-sơ? Tên chủ đồn điền úp mặt xuống hai bàn tay đặt ngửa trên gối, rít lên: - Thưa ông, tôi chỉ khai không đúng cái tên họ tôi, những sự khác tôi khai đúng hết cả, xin các ông lượng thứ cho cái lỗi nho nhỏ của tôi. Mon Dieu, mon Dieu, pourquoi cette rencontre, pourquoi3 ? Chanh hiểu câu nói buột miệng của tên Pháp. Anh nắn cằm, trả lời bằng tiếng Việt rất thong thả: - Ấy là vì chúng ta đã sống chung trong một làng Việt Nam. Chúng ta là những người cùng làng kia mà! ---------------------------------------------------------- 1. Nhảy vào canh, lẫn vào lửa 2. Thái độ bình thường của nhà binh, ba phần tư là gắt gỏng. 3. Tiếng Pháp. Chúa cơi, sao lại có cuộc gặp gỡ này, tại sao? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:03:44 am Quân viễn chinh Pháp ùn ùn kéo sang Đông Dương.
Anh và Mỹ trao cho Pháp ngày càng nhiều tàu chiến, máy bay, xe trận, súng lớn nhỏ, những thứ vô cùng quý báu trong chiến tranh thế giới bỗng chốc trở nên cồng kềnh thừa mứa, còn gộp thêm vào nhiều dãy núi chiến cụ thu được của Đức Ý Nhật đầu hàng. Chỉ còn một chỗ dùng cho những triệu tấn thép và chất nổ ấy: đánh chiếm lại các thuộc địa nổi loạn đòi tách khỏi mẫu quốc, như Việt Nam đang đầu têu. Ở mặt trận Nam Đông Dương, Pháp sửa gấp các bến cảng sân bay, đồn lính và võ khí đến Nha Trang, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, định hốt gọn đất đai tới Đà Nẵng. Phần phía bắc vĩ tuyến 16 sẽ bàn tính với Tưởng Giới Thạch để thu hồi sau, chỗ ngũ cường với nhau có thể chia môi lợi phải chăng cho lão con trời, cản đường Pháp lúc này chỉ còn những toán dân cày nghe theo ông Hồ Chí Minh nổi dậy với giáo mác nhiều hơn súng, bị đánh rã hàng chục lần vẫn tìm nhau gom nhóm như bèo tan lại hợp, chống cự lì lợm đến mức khó hiểu. Thế nhưng sức người có hạn, tối tân và cuồng tín như quân Đức hay Nhật đều bị đè bẹp, huống chi bọn nhà quê kia mới trườn ra khỏi đế giầy đinh của quan cai trị Pháp Nhật và ngọn roi mây của vua quan bản xứ! Bộ tư lệnh C.E.F.E.O 1 đã cân nhắc mọi bề như vậy trước khi hạ lệnh tổng tấn công. Cả Chanh ở lại một tuần với đại đội Quảng Nam Một. Anh mở lớp cho chi bộ, cảm tình Đảng, nói chuyện được mươi cuộc với chiến sĩ. Dưới nhà dòng có tầng hầm xây vòm cuốn rất chắc và rộng, mỗi đêm một trung đội kéo về đấy nghe chính trị và hỏi đáp sôi nổi đến khuya. Khi La Giang quay lại làm lễ kết nạp cho mười hai đảng viên mới thì Chanh đã khản tiếng, hụt hơi. Đại đội Quảng Nam Hai được giao phòng ngự từ Đồng Đế ra tới Đèo Rọ Tượng, anh em cùng tỉnh được thăm nhau từ bốn giờ chiều trở đi. Luồng tiếp tế rót vào dồn dập cho Nha Trang, cho các đơn vị đang cầm cự từ Nam Nha Trang đến Phan Thiết. Khi đem ra thử, những quả lựu đạn nội hóa nổ được chừng hai phần ba, đạn ĐAM lượm vỏ nhồi lại nổ được ba phần tư. Thế là khá. Anh em du kích Nam Bộ giết giặc bằng gậy tầm vông và mã tấu dao găm thì sao! Chanh trở về với ngành hỏa xa được mươi hôm thì cuộc hành binh lớn của Pháp mở màn. Cùng một lần, quân Pháp đổ bộ nhiều nơi phía nam Đèo Cả, từ Ban Mê Thuột xuống Ninh Hòa một cánh lớn, phối hợp thêm những mũi từ Đà Lạt chọc xuống Phan Rang từ Nha Trang tuồn ra theo quốc lộ Một. Lần này địch dùng máy bay và thiết giáp nhiều gấp bội. Các tuyến quân ta dàn mỏng bị phá thủng liên tiếp. Bộ đội vừa đánh vừa lùi từng bậc thang. Hai đơn vị Quảng Nam quần lộn ẩu với địch suốt ba ngày. Đại đội trưởng Dĩnh nhét trong túi tờ lệnh rút lui viết sẵn nhưng giấu biệt không đưa ra. Đến đêm thứ ba, anh Hồng Long đích thân đến buộc phải rút. Phòng tuyến mới được lập ở mạn bắc thị trấn Ninh Hòa, bộ đội đào chiến hào dưới pháo tàu biển và bom máy bay nổ ngày đêm không ngớt tiếng. Nhưng địch tràn tới Ninh Hòa cũng đã sứt mẻ rất nhiều, kiệt sức, đành tạm gác phần đánh chiếm từ tỉnh Phú Yên trở ra hối hả xây đồn cố thủ. Chuyến xe lửa cuối cùng núp trong hầm Ba-bon-nô dài một ngàn hai trăm thước lặng lẽ rời Đèo Cả lúc sẩm tối, không bật đèn huýt còi. Hai đầu máy kéo và đẩy những toa chở đầy nghẹt đồng bào tản cư, người và gánh gồng bám cả hai bên và chất trên nóc. Sau nó vài giờ sẽ tiếp một chiếc cam-nhông-ray chở phân đội công binh, rút tới đâu sẽ nổ mìn phá hầm, cầu, cống tới đó. Dân quân đã nhận lệnh tháo dỡ đường ray và tà-vẹt đem rèn mã tấu hoặc vùi thật xa đường để sau dùng dần. Cả Chanh ngồi bên cửa sổ một toa chở thương binh, vòng tay đỡ đại đội phó Sanh trúng đạn vỡ xương vai, cả hai cùng đau đáu nhìn về phía biển. Chữ ký đầu tiên của Chanh khi quay lại nghề xe lửa, éo le làm sao, là tiếp ký vào mệnh lệnh phá đường sắt của Ban chỉ huy Mặt trận. Trong toa xe anh em ngồi và nằm chen chúc, bốc mùi nồng của i-ốt, mùi tanh của máu ngấm vải, mùi hôi của áo quần lâu không giặt, nhưng vắng tiếng rên và tiếng gọi y tá. Mọi người cố rướn xem những gì họ đã hiến thân để giữ và phải tạm rời bỏ trong buổi hoàng hôn này. Hết tập một ------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Pháp. Corps Expéditionnatre Francais en Extreme-Oment: đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:15:41 am (http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Bia1.jpg) NGƯỜI CÙNG QUÊ (TẬP 2) Tiểu thuyết Tác giả: PHAN TỨ NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 1995 Khổ 13 x 19. Số trang: 527 Chương I Qua khỏi đoạn đường cong, chiếc xe AM bọc thép bánh cao-su dẫn đầu chạy chậm dần, luồng bụi đỏ bầm hình đuôi sóc sau xe cũng co lại dần. Một lính Âu cởi trần, phơi ngực rậm lông đỏ ửng như cua luộc, mũ bê-rê bánh ếch úp chéo trên mang tai, nhô nửa người lên trên tháp trọng liên, cầm lá cờ tam giác nửa đỏ nửa trắng phất ngang ba lần. Chiếc xe háp-trắc 1 chạy cách vài chục mét mé sau, tua tủa những nòng súng chĩa ra hai bên thành, đánh truyền tín hiệu cờ cho lũ xe to chở lính và hàng quân sự, xe con của các quan chức, ghép chung thành chuỗi sáu chục chiếc, với một xe tăng 18 tấn khóa đuôi và sẵn sàng lao lên ứng cứu. Quân Pháp bị phục kích liên miên đã quen xếp đặt kiểu hành quân này. Còn đám xe đò và xe chở hàng tư cũng quen lánh xa các chuyến công-voa để khỏi bị vạ lây, chỉ xin núp bóng nhà binh khi qua những vùng lắm cướp rừng hoặc lắm đồn bốt nửa lính nửa cướp. Đến ngã tư đồn Gò Luông, cả đoàn dừng hẳn. Một xe chỉ huy Uy-lix và ba xe tải GMC tách khỏi hàng dọc, rướn lên đầu. Viên đại úy Pháp chỉ huy đội hộ tống nhảy xuống trước cái tháp canh kiểm soát ngã tư, khẽ gật đầu khi mấy tên lính ngụy vừa kéo xong chiếc cự mã chặn đường sang bên, hối hả xếp hàng ngang bồng súng chào. Hắn khoát cây gậy mây cong đầu, ra hiệu cho nhóm GMC chạy rẽ lên khu đồn cao treo cờ ba sắc mé bên trái. Chiếc xe thứ ba chở hai xác chết và bốn lính bị thương trong trận phục kính cách đây 8 cây số. Một trung úy xuống sau, nhìn quanh một vòng, sửa lại bộ quân phục rất chỉnh tề có đủ các thứ phù hiệu và nai nịt, bước tới rập góp ủng chào đại úy rất đúng điều lệnh, trong khi vị quan trên chỉ mặc may-ô và cái quần soóc sệ xuống dưới bụng phệ. Rồi họ xáp lại gần nhau, nói khẽ: - Mày dừng đây hả Pi-e ? Cần lính đi theo không ? - Không. Chừng trăm thước qua vườn cao-su thôi. Tao để lại trong xe cho mày năm chai, thứ năm sao cả. Giữ cho tao con bé ở Chợ Lớn nhé. - Khỏi lo. Nhớ dặn Ri-sô đừng thù dai chúng tao, vụ mấy con bò ấy mà. Hôn con Gia-nét hộ tao. Em gái mày kháu ghê, chỉ có một tội nặng là chịu làm vợ thằng Ri-sô, lại chung tình mới chết chứ. - Đểu vừa thôi mày. Hễ chúng nó giàu, tao bắt khao mày thêm một con bò to thật ngon, xem như lễ cống cho người che chở. - Ừ nhé ! Mày sai lời hứa, tao cho xe tăng cán chết. Thôi cút ! Trung úy Pi-e La-phác-sơ mím môi nín cười, bước lùi ba bước, lại rập chân chào. Hắn rẽ sang con đường rải đá bên phải, sải cặp chân dài đi nhanh. Tên lính hầu người Việt bé nhỏ cúi khom lưng chạy theo, cõng một ba-lô con cóc to tướng, hai tay còn xách một túi và một giỏ lớn nữa, cây tiểu liên Max cỡ nhỏ treo trên cổ đập đều đều vào ngực hắn. Qua khỏi bãi đất hoang, Pi-e gặp một bảng tôn lớn dựng bên đường, viết chữ đen trên nền vàng: Plantation de caoutchouc Đồn điền cao-su A.RICHAUD Vườn cao-su được trồng ngay hàng thẳng lối, dưới gốc dọn sạch bờ bụi, nhìn các hướng chỉ thấy thông thống một vùng cỏ thấp phẳng với những lối mòn nổi màu đất đỏ. Ở đây không có chỗ cho du kích núp bắn lén. Tuy vậy, một thứ phản xạ ăn sâu vẫn cứ làm cho Pi-e rờn rợn dọc xương sống khi bước vào chỗ có cây mọc hai bên và lá che trên đầu. Tất cả những hiểm nguy hắn đã gặp trong bốn năm rưỡi chiến tranh Đông Dương vừa qua đều gắn liền với chất xanh ngồn ngộn của xứ nhiệt đới này. Bước ra khỏi đồn là hắn chìm ngập ngay vào biển xanh, biết bao lần hắn ngoi ngóp tìm hướng thoát ra khỏi vòng vây xanh của miền Trung. Hắn chỉ có thể hình dung bọn du kích Việt Minh với áo quần mặt mũi tuyền một màu xanh lè, và đến nay hắn vẫn chưa hiểu vì sao Việt Minh không đưa màu xanh vào lá cờ đỏ vàng của họ. Hắn kín đáo rút cây súng ngắn ổ quay Xmít en Oét-xơn ra khỏi bao da - các sĩ quan Pháp thích loại này hơn súng côn 45 khắc hình ngựa bay, hắn cũng vậy - cài vào thắt lưng to trước bụng. Hắn còn nắm lại túi áo để yên trí rằng cây súng Uon-tơ tí xíu cỡ 6 ly 35 còn nằm đúng chỗ cùng với băng đạn dự trữ. Nhưng Pi-e không phải lo lắng kéo dài. Trước mặt hắn, ba bốn người đang vội đi tới. Hắn nhận ra ngay Gia-nét trong chiếc áo liền váy in hoa hồng trên nền trắng. Dù đã lấy chồng sinh con, Gia-nét vẫn mê những màu hoa thật tươi của tuổi dậy thì. Khi em gái tới gần, Pi-e thấy em quá trẻ so với tuổi hăm hai, cả mặt lẫn thân hình. ---------------------------------------------------------- 1. Half-track: loại xe có bánh trưóc bằng cao su, đằng sau chạy bằng xích. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:17:43 am Gia-nét chạy ào tới, vòng tay ôm cổ anh, nấc dồn:
- Anh Pi-e... Pi-e-rô ngớ ngẩn... Chú hề Pô-li-si-nen của em... Nhận bức điện anh, em cứ hát ầm nhà: cuối cùng Pô-li-si-nen cũng phải đến... Vòng quanh tim Pi-e chợt hiện một đường gân nào siết mạnh đến đau buốt. Hắn hôn thật kêu vào cổ và má em gái, gỡ tay em, thì thào hằng giọng nghèn nghẹn: - Ô kìa, cứ tưởng gặp bà chủ Ri-sô ! Con bé ngốc vẫn là Gia-nô Chú thỏ... Xì mũi đi, lau cho sạch, nhà có khách đấy Gia-nô ! Gia-nét xoắn tai anh thật đau, túm tay anh lôi đi nhanh vào nhà. Đang lau mắt cô lại bật cười xòa khi thấy cây súng ngắn giắt trước bụng Pi-e: - Ông trung úy định đánh nhau với vợ chồng Ri-sô ? - Rất có thể, nếu Ri-sô nuôi Việt Minh trong nhà. - Chỉ nuôi ban đêm thôi, thưa trung úy ! Nằm giữa bãi đất trống là một khu nhà khá rộng. Ngôi nhà chính xây hai tầng theo kiểu pha trộn Âu Á, hiên rộng và mái ngói uốn cong kiểu Á, cửa sổ và cửa ra vào nhiều kính kiểu Âu. Trước sân rộng có bồn hoa tròn, nào cây cảnh hai bên đường ô-tô vào thềm. Các nhà phụ một tầng vây quanh hình chữ U đều xây tường vôi mái ngói, nhác trông cũng biết làm chắp nối nhiều đợt. Bao quanh vùng đất ở có vườn rau, rào bằng bốn sợi dây kẽm gai căng trên trụ gỗ thấp, chỉ đủ ngăn gia súc thả ăn rong vào phá vườn. Con mắt nhà binh của Pi-e nhìn thấy ngay quang cảnh thanh bình của một trang trại miền Nam Hoa-kỳ trong phim “Cuốn theo chiều gió” quay theo tiểu thuyết của Mác-ga-ret Mit-sen, tuyệt không có chút ý thức phòng thủ nào. Đáng lẽ bực dọc vì thái độ dửng dưng của vợ chồng Gia-nét trước nguy cơ cộng sản, hắn lại mơ hồ cảm thấy nhẹ người mát da, như người vượt sa mạc bước vào ốc đảo rợp bóng cây chà là ven suối ngọt. Bước vào gian phòng khách hơi tối và mát như hang đá. Pi-e ngả người trên chiếc ghế bành bọc da, chợt thấy hai chân mỏi rụng như sau cuộc hành quân xuyên rừng. Hắn tựa ngửa người, nhắm mắt, hít mùi nước oải hương thơm dịu nhập từ Pháp mà Gia-nét rất thích phun trên rèm và chăn đệm, cảm thấy không khí lạ lùng của cuộc sống gia đình từ từ thấm vào hắn qua từng lỗ chân lông vào khắp thân thể. Mẹ chết sớm, cha nghiện thuốc phiện và quanh năm đi vắng, lớn lên giữa lũ bồi bếp và vú em bản xứ chuyên nịnh hót, ăn cắp, nói dối, hắn chưa từng có gia đình. Hắn chỉ có một ông cha để đưa tiền, một đứa em gái để trêu chọc và nuông chiều, bấy nhiêu thôi... - Pi-e-rô, tắm tí cho mát đi anh, thay áo quần, ăn qua loa rồi hẵng ngủ. Tội nghiệp, từ Đà Nẵng vào đây anh thức những mấy đêm ? Pi-e không nõ nói mình đã thức hai đêm trắng trong các nhà thổ dành cho sĩ quan Pháp ở Sài Gòn cùng anh bạn đại úy thiết giáp mới gặp lại, chỉ đánh trống lảng: - Lát rồi anh tắm. Chồng em đâu ? - Ăng-đrê đi săn. Đã gửi theo xe ngựa về trước một giờ gà lôi, thỏ, công, đang theo dấu một con nai to. Pi-e tình ngủ hẳn, nhỏm người: - Săn trong rừng ? - Tất nhiên. Còn Pi-e-rô săn ở chợ ? - Đùa gì thế ! Đoàn công-voa anh bám từ Sài Gòn lên đây bị Việt Minh phục kích hai lần, cháy một xe, chết và bị thuong chín lính. Em lại để Ăng-đrê vào rừng... - Tại các anh là nhà binh. Ăng-đrê chỉ trồng cao-su thôi chẳng ai làm hại. Này, anh rửa qua loa rồi em đưa bé Lê-ông cho mà bế. Em đặt tên theo ông ngoại nó. Đẹp và thông minh như thiên thần nhé ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:20:47 am * * * Máy phát điện bắt đầu nổ ầm ầm ở nơi khuất vắng nào đấy. Quạt trần quay nhanh dần. Thằng bé bản xứ kéo rong róc chiếc quạt tay mắc trên trần vội buộc sợi dây vào cột, xuống nhà dưới. Gia-nét bật thêm ngọn điện lắp trên bàn ăn, dẫm gót giày xuống sàn nhà ba lần như khi diễn kịch: - Kéo màn ! Hoan hô ông bầu Ăng-đrê cho điện chạy ban ngày ! Cành một: gia đình La-phác-sơ cùng con rể ngồi vào bàn ăn trưa ! Anh con rể Ăng-đrê Ri-sô cho nổ luôn một chai sâm-banh đã cắt dây thép buộc nút, rót vội vào những ly cao hình loa chân cò. Mọi người cùng chạm cốc và nhấp vào mớ bọt đang sủi: - Mừng Ăng-đrê và Gia-nét ! - Xin lỗi, mừng cháu Lê-ông, Gia-nét và Ăng-đrê ! - Mùng chung hai họ La-phác-sơ và Ri-sô ! Pi-e không muốn làm người dự tiệc phá quấy, vuốt ngược lông. Hắn cạn cốc liên tiếp, gượng đùa, cố nhập vào cuộc vui chung, nhưng nỗi ấm ức bên trong cứ từng lúc trào lên cổ. Sâm-banh đắt tiền chỉ có một chai, rượu nho An-giê-ri thì nhiều nhưng quá dở, hắn uống toàn cô-nhắc Pháp do thằng bạn thiết giáp lùng mua hộ tại Sài Gòn. Đến giữa bữa tiệc thịt rừng nấu rất ngon, dù mạnh rượu hắn vẫn choáng váng, những khuôn mặt chung quanh đã nhân đôi nhân ba... .... Gia-nét là đàn bà, chỉ biết chồng con nhà cửa, thôi cũng được. Nhưng Ăng-đrê mới xấp xỉ ba mươi, to khỏe thế kia, cứ bịt tai nhắm mắt mà đứng ngoài cuộc chiến tranh. Gã hay nhắc tới những ngày chiến đấu giải phóng nước Pháp để tỏ ra mình đã từng hít khói lửa, chẳng phải là đứa “mỏ trắng”. Đến nay gã chỉ chúi mũi làm giàu... ... Cha hắn ngồi kia, hai tay cầm nguyên nửa con công quay mà gặm thong thả. Tóc ông ấy hói thêm nhiều, trán chạy lên đỉnh đầu thành hai mỏm núi, còn lại một túm sợi nâu pha bạc buông ở giữa như lớp tóc che cái thóp trẻ con mới sinh. Gia-nét bảo ông ấy vẫn hút thuốc phiện tì tì. Ăn bám. Bệ rạc. Ban nãy ông nói đang làm nghề chào hàng thuốc tây cho dược sĩ Các-li-ni, một lão gốc ở đảo Coóc-xơ mà ông quen tại Mác-xây, gặp lại tại Sài Gòn. Gần trọn đời lăn lóc khắp Đông Dương, nay lái chiếc xe Pho ghẻ lở đi bán thuốc rong qua các tỉnh, chắc hẳn chỉ đủ đút miệng ngày hai bữa ăn và hai bữa khói độc... Pi-e chợt nghe Ăng-đrê hỏi: - Ba sang Lào, hôm nào mới về ? Lê-ông La-phác-sơ đặt con công xuống đĩa, đáp lấp lửng: - Có thể sớm, có thể ở lại hàng năm... Pi-e không nhịn nổi, buông một mũi kim châm: - Ba lại sang mở đồn điền bên ấy chứ gì ! Xem chừng ba còn tiếc khu đất Linh Lâm... Lê-ông cầm khăn lau kỹ chòm râu rậm, trong khi Gia-nét lườm anh, còn Ăng-đrê đi gọi người nhà bưng các thứ tráng miệng lên. Pi-e vẫn không tha: - Suốt đời ba thua lỗ, chưa đủ sao mà còn muốn lao theo trò chơi mới ? Vốn liếng trút cả vào rừng núi tỉnh Quảng Nam, nay về già đi bán thuốc... Nhích lên một bước nữa, ba sẽ bán dầu cù-là trên tàu điện, hay là thuốc hôi nách... (Hắn nói sang tiếng Việt, nhại người rao thuốc ê khá đúng giọng) Quý ngài Phăng-xe qua xứ An-nam-mít, gặp khi nóng nực tờ-ré sô, cái chỗ này có mùi pa bồng... Gia-nét gắt: “Anh Pi-e say rồi, nói nhảm rồi” ! Lão Lê-ông bật cười to rất hồn nhiên, xua tay: - Đừng ngại, ba từng sóng nhiều năm với lính lê-dương, chúng nó còn gấp mười thằng Pi-e ! Pi-e phát khùng hẳn, rướn người tới trước, nói như quát: - Phải, chúng tôi là nhà binh, cộc cằn thô lỗ. Nhưng chúng tôi đổ máu để che chở cho các người. Các người vừa làm giàu, vừa khinh bỉ lánh né bọn cầm súng. Tôi biết, các chủ đồn điền như nhà này còn nộp thuế cho Việt Minh bằng tiền, thuốc men, súng đạn nữa... vỗ béo lũ du kích để giết chúng tôi... lương tâm để đâu... - Bớt nóng đi Pi-e, ba muốn nói thật rõ với con... - Ba biết gì mà nói ? Biết những nơi tiêu thụ thuốc giả cho lão Các-li-ni, biết các tiệm hút có thuốc phiện lậu ? Biết Việt Minh đã đối xử tốt với ba trong vài tháng cầm tù trước hiệp định mồng 6 tháng 3, tốt đến nỗi cho phép con Gia-nét đến thăm, đem thuốc phiện cho ba hút ? Còn tôi, tôi biết những ngày dầm mưa lội rừng cho vắt bám kín người, những quả mìn và hầm chông dưới mỗi bước chân, những đêm thức trắng chờ đạn súng cối rơi xuống đầu, chao ôi ! Từ ngày tôi chuyển về đóng đồn ven sông Thu Bồn, điểm cao 76, lại phải đương đầu thêm với một thằng thù riêng nữa. Ba còn nhớ thằng Nguyễn Văn Chò, tức là Năm Chò ở làng Linh Lâm chứ ? Cái thằng nện đá vào đầu tôi, đẩy tôi xuống sông... may quá, ba chưa quên... nay nó là đại đội trưởng quân Việt Minh, chỉ huy hơn một trăm lính, hoạt động trong vùng tôi đóng. Mỗi lần họp dân để tuyên truyền, nó lại thề lấy được đầu tôi dù phải mạng đổi mạng. Tôi cũng treo giá thật cao cho ai lấy được đầu thằng Chò. Thế mà vô đây tôi chỉ nghe một điệp khúc, một tiếng tụng kinh: tiền bạc, tiền bạc... tiền... bạc... Pi-e gục hẳn xuống bàn, đôi vai vạm vỡ rung giật trong cơn say điên dường như pha lẫn động kinh. ... Hắn tỉnh dậy do cảm giác mát rồi nóng từng lúc trên trán. Chớp mắt vài lần, hắn nhận ra Gia-nét ngồi ghé bên cạnh đang áp tay trên trán hắn, hai bàn tay thay đổi nhau. Hồi nhỏ Gia-nét đọc trong một cuốn sách của Gioóc-giơ Xăng cách chữa bệnh này, từ đấy chuyên chữa cho Pi-e theo kiểu “cô bé Pha-đét”. Hắn đã được dìu nằm trên giường vải bố và cởi giày trong khi say. - Pô-li-si-men trở chứng, hư lắm nhé... Anh ngủ ba tiếng rưỡi, thế vừa rồi. Bây giờ anh đi rửa mặt, uống cà-phê kèm một viên ax-pi-rin, thế là tỉnh như chú rể vào phòng cưới. Pi-e làm theo lời em để tỏ ra biết hối lỗi. Từ trong buồng tắm bước ra, hắn thấy một bộ đồ ăn Âu bày ở bàn. Mới bốn giờ chiều thôi. Hay cha hắn ăn trước để về Sài Gòn ? Thấy hắn giương mắt hất hàm, Gia-nét kéo hắn ngồi xuống ghế: - Pi-e-rô chóng ngoan, nghe em nói nhé... Vùng này Việt Minh hay về ban đêm, không yên ổn đâu. Sáng nay anh đến, mặc quân phục, đeo lon trung úy, thế là họ biết rồi. Thứ điện thoại bằng tre của họ nhậy kinh khủng... Chúng em sẽ đưa anh lên ngủ trên đồn, tám giờ sáng mai đến đón. Anh có đói thì ăn tí chút, em sẽ xếp các thứ vào cà-mèn đưa theo. Bạn rượu trên ấy thừa thãi, nhưng anh uống vừa thôi, trưa nay em sợ quá... Đừng giận chúng em, Pi-e-rô thân yêu. Chúng em chỉ giữ cho anh thôi mà... Trước vẻ mặt rầu rĩ và giọng van nài của em. Pi-e nén được một cơn sửng cồ, chỉ mỉm cười cay đắng: - Về tận đây vẫn không thoát cái kiếp ngủ lô-cốt, nằm giường xếp, ăn cà-mèn. Thôi đành... Còn ba với vợ chồng em ? Gia-nét ngần ngừ một loáng trước khi đáp: - Chúng em quen rồi. Còn ba chỉ là người buôn quèn, già yếu, họ không để ý. - Nói thật đi, mỗi tháng chúng nó lấy bao nhiêu ? - Bằng một nửa chính quyền Sài Gòn. - Nộp tiền hay súng đạn, thuốc men, vải, giấy, pin ? - Tiền cả. Họ có nguồn mua riêng... Muộn rồi, anh ăn nhé ? Pi-e lắc đầu, đi vào buồng dành cho mình, mặc lại bộ quân phục rất chỉnh tề đã được chải sạch bụi và là phẳng. Đôi ủng cao kiểu sĩ quan Pháp cũng được đánh bóng. Trở ra phòng khách, hắn thấy tên lính hầu người Việt đã đợi sẵn ngoài hiên với tất cả ba-lô, túi, giỏ. Không được để lại tí dấu vết quân sự nào trong nhà này. Có thể Gia-nét sau khi hắn lên đồn sẽ dùng bơm phun nước thơm oải hương ở những nơi hắn đã nằm ngồi để xua cả mùi mồ hôi lính. Ăng-đrê lái chiếc xe tải nhỏ vòng tới trước thềm. Pi-e hất hàm về phía chiếc Pho róc sơn từng mảng của cha. Ăng-đrê lắc đầu không nói, Pi-e nghĩ rằng xe kia quá cọc cạch. Nhưng trên quãng đường hơn một cây số lên đồn Gò Luông, Ăng-đrê mới bảo: - Xe của ba là một xe đua trá hình, khó lái lắm. - Xe đua cũ, sắp bắn cho hàng sắt vụn ? - Anh lầm. Máy mới tinh, hơn tám mươi mã lực. Săm lốp mới, vỏ thép, kính dày chống đạn. Nó chạy một trăm tám mươi cây số giờ dễ như chúng ta uống cà-phê sữa, đường tốt còn nhanh hon. - Thế kia ? Mình chưa hiểu ba là người thế nào... - Ba sẽ nói những điều cần nói. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:23:25 am * * * Suốt ngày thứ hai Pi-e ở đồn điền Ri-sô, lão Lê-ông đi rảo quanh vùng trong chiếc xe tả tơi, chỉ về ăn cơm trưa với bộ mặt lầm lì, nhìn đứa con về phép bằng đôi mắt lơ đãng. Nhưng lão không tỏ vẻ gì giận con trai, từng lúc vẫn vồn vã săn đón. Còn Pi-e lại đi từ ngạc nhiên này đến sửng sốt khác. Gia-nét cho biết các món tiền gửi cho Pi-e tiêu thêm lâu nay là của cha cho, nhưng dặn Gia-nét đứng tên. Chiếc xe tải nhỏ Xi-tro-en và cỗ máy phát điện ở đồn điền là của cha tặng trong hai dịp sinh nhật của hai vợ chồng, năm ngoái. Vừa rồi bé Lê-ông đầy tuổi tôi, cha không biết mua gì, rút cho cháu mười ngàn đồng Đông Dương để mẹ cháu mua quà hộ. Một người bán thuốc rong sao lại giàu đến thế ? Gia-nét và Ăng-đrê đều không hiểu. Sang ngày thứ ba, cũng là ngày cuối cùng gia đình sum họp, Lê-ông La-phác-sơ mới nói chuyện dài hơn trong bữa cơm trưa. - Người ta cần một ai đấy biết tiếng Lào, tiếng Việt, đã sống lâu năm với dân chúng vùng thượng Lào, họ chọn ba... - Họ là ai ? Và ba sẽ làm gì bên ấy ? - Họ là một số tướng tá cấp trên của con. Ba sẽ làm một thứ nghề tổng hợp gồm cả kỹ nghệ, trồng trọt, bào chế, buôn bán, ngoại giao. Sang đấy ba sẽ gửi địa chi về để các con có thể đi thăm. Gia-nét cố đem bé Lê-ông theo nhé, ba sẽ nhớ nó ghê gớm. - Ôi ba, đường xa thế... - Vài giờ máy bay thôi mà. Ba sẽ thu xếp sẵn, con chỉ cần nhấc máy điện thoại... À quên, ba được thư trả lời của tiểu khu này hứa mắc đường dây điện thoại cho đồn điền Ri-sô trong tuần tới. Thư đây, Ăng-đrê xem. Mắc xong con nhớ quà cáp cho thằng chỉ huy nhé. Quà cho thằng gì đại úy thiết giáp hay qua lại đường này nữa, để lính nó đỡ trộm cắp... Lâu lắm mới gặp con trai, ba chẳng biết con cần gì, thôi con cầm hai chục ngàn tiêu thêm vậy. Con mắng ba chạy theo đồng tiền. Có thế thật, nhung tiền của ba vào tay một sĩ quan Pháp vẫn có ích lắm chứ ! Lão rút một gói vải nhựa từ túi áo trong, trao cho Pi-e hai tập giấy năm trăm đồng, cho Ăng-đrê một tập. Pi-e hơi đỏ mặt khi cầm tiền. - Về sau ba sẽ nói rõ việc ba làm. Cũng để nuôi quân viễn chinh cả thôi. Có một điều Pi-e hiểu lầm, bảo ba trút hết vốn liếng vào cái đồn điền ở Linh Lâm. Sai rồi. Vùng ấy hiểm trở, dân chúng khó cai trị cần có người Pháp đến cắm rễ. Ba được Nhà nước Bảo hộ cấp đất không mất tiền, còn cho vay vốn khai khẩn dài hạn nữa. Ba viện cớ thua lỗ, chưa hề nộp một xu thuế nào, thật ra lãi khá lớn. Nhân công vỡ hoang vài năm đầu là tù chính trị đưa lên làm khổ sai, ba chỉ phải nuôi bọn lính gác tù và đấm mõm bọn công sứ, giám binh, quản ngục. Nhớ lại xem: nếu trông vào đồng lương đội kiểm lâm, ba lấy gì nuôi chúng mày ăn học ở Huế, Sài Gòn ? Đến nay Việt Minh dấy loạn, đồn điền lọt vào vùng chúng nó, nhưng có mất đi hòn sỏi nào đâu ? Khi nước Pháp thắng trận, lại làm chủ Đông Dương thật vững chắc, ba tin rằng đất đai của nhà La-phác-sơ không chỉ gồm một ngàn héc-ta như xưa, và số tù Việt Minh lên làm khổ sai không phải chỉ vài trăm ! Ba mong con thắng trận, mong lắm lắm, Pi-e của ba ! Sau bữa cơm, Lê-ông sửa soạn trở về Sài Gòn một mình bằng chiếc xe dị dạng và bí hiểm. Pi-e sẽ về sau theo đoàn xe thiết giáp, không thể gặp cha ở Sài Gòn vì lão “phải chạy mấy việc gấp trước khi đi Lào”. Cha con ôm hôn nhau, và Gia-nét kêu to như vừa thấy sự lạ: - Lạy Chúa, ba với Pi-e-rô sao giếng nhau đến thế ! Lão Lê-ông cao một mét bảy. Pi-e nặng hơn cha ít nhất hai chục cân, nhưng khổ người không khác mấy vì cao hơn cha tới non một tấc. Cả hai cùng có khuôn mật dài và xương, mái tóc nâu cứng dụng bàn chải, lồng ngực mỏng nhưng vai rộng kiểu mắc áo. Cha con giếng nhau như hai trái cam trên cùng một cành, chỉ khác ở chỗ một quả tươi nở và quả kia đang héo dần. Gia-nét xốc con lên cho ông ngoại hôn, bỗng òa khóc to tiếng: - Đánh nhau mãi... bao giờ chúng ta mới được sống chung hở ba ? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:26:09 am Chương II Đến chỗ ngã ba đường làng. Cả Chanh lưỡng lự giây lát rồi đi vào một ngõ có những cây duối và cau bị bom chặt lổng chổng chưa dọn hết. Mấy ông già buộc phên tre chỗ căn nhà lợp lá dừa đang dựng lại, không đợi hỏi đã báo ngay: - Chị Thùy mới qua đằng kia, chừng giập miếng trầu thôi. Chắc lại vô chỗ nhà thờ sụp. Chanh lúng búng cảm ơn, xốc ba-lô, trở ra đường đi tiếp. Dấu chân trần của Thùy còn in trên quãng đất mềm lún của hố bom vừa lấp, chưa có ai dẫm lên trong giờ trưa tròn bóng này. Đi thêm vài trăm thước nữa, nhìn lên ngôi nhà thờ bị bom vỡ toang hoác trên gò, Chanh thấy ngay bóng áo màu xanh nhạt của vợ lấp ló sau bức tường đổ. Thùy ngồi lặng trên khúc dầm gỗ nằm ngang, mơ màng nhìn lên pho tượng Đức Me bồng con đã bị toác một bên vai. Cũng như lần trước về thăm, Chanh nhận ra người vợ loạn trí vẫn chải đầu búi tóc gọn gàng, mặc áo quần sạch, chiếc nón lành đặt bên chân. - Thùy ơi, về đi em. Cả nhà đang đợi cơm. - Dạ, chào anh. Tôi ghé thăm bà hàng xóm một chút. Thùy khoát tay về phía bức tượng, hạ thấp giọng: - Bà này tôi quen, tốt bụng lắm. Chồng bả làm thợ mộc, quý vợ con khỏi chê đi. Con bả bị người ta giết, bả thương quá không cho chôn, cứ bồng con đứng miết vậy đó. Anh cũng quen bả hả ? Chanh không chịu nổi, bước tới nắm hai vai Thùy lay rất mạnh: - Thùy, Thùy ơi, em quên cả chồng em sao ? - Dạ, tôi có chồng con rồi. Con tôi mới biết bò... Chanh chợt thấy trong đôi mắt to, đậm, rất đẹp của Thùy hiện lên những đốm lấp láy vàng như bóng nắng xuyên lá rậm. Thùy ngước mặt nhìn lên cao hồi lâu như cố nhớ điều gì, lại nhìn chồng, ấp úng: - Thiệt anh không... anh Chanh hả... Con chết rồi anh ơi, em bỏ con chết ở nhà, cháy đen thui, chắc nó kêu má miết mà không thấy má... chắc nó tắt thở còn oán má bỏ con... Thùy đưa hai tay lên ôm hai thái dương như đỡ cái đầu quá nặng, đứng lên, theo chồng đi về nhà. Cái dáng đờ đẫn cứng lạnh ấy đáng sợ hơn mọi kiểu gào xé của những người điên khác. Mãi đến khi ngồi xuống bên mâm cơm, trên chiếc chiếu rách trải giữa nền đất của căn nhà ở nhờ, Thùy vẫn giữ nguyên hai tay bưng đầu. Năm Bưởi phải gỡ tay chị dâu, đưa chén đũa và nghiêm giọng ra lệnh cho chị ăn cơm. ... Sau ngày tản cư khỏi Quy Nhơn phá hoại sớm, các gia đình công nhân xe lửa dời chỗ từng quãng ra phía Bắc theo con đường sắt bị chiến tranh thu ngắn dần. Cuối 1947, Chanh và Thùy cưới nhau trong một đám cưới tập thể ba cặp tại Bồng Sơn. Sáu Cam rời gia đình anh Bảy Tộ lái xe lửa về ở với chị dâu, vừa làm vừa học. Ít lâu sau, xưởng sửa chữa của ông Hai Rề chuyển ra mạn Bắc thị trấn Tam Quan cho gần các đường hầm giấu xe lửa, cả nhà chuyển theo. Có thai được vài tháng, Thùy cùng mấy bà mấy chị nữa rủ nhau ra ở gần thị trấn Sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi, cho dễ kiếm sống và gần trường trung học Lê Khiết để các em học tiếp. Sáu Cam thi cầu may vào trường Trung học Bình dân của liên khu, trúng tuyển, anh La Giang đến tận trường nói khó mới được nhận vì Cam chưa đến tuổi cán bộ. Cam ở nội trú cách chỗ Thùy hai chục cây số, hưởng sinh hoạt phí ngang bộ đội. Các gia đình xe lửa được giao một khu vườn vắng chủ rộng và rợp cây, cất lều ở gần nhau, làm đủ nghề. Sau ngót ba năm lang thang, dường như Thùy đã đặt được gánh trên vai xuống, tạm yên thân để giúp cha, chồng, các em, và nuôi đứa con cho đến ngày tan giặc. Tiếng máy may của chị thường kêu đến quá nửa đêm. Thế nhưng, trên dải đồng bằng miền Trung rất hẹp thật khó tìm được nơi yên ổn, dù Sông Vệ nằm giũa rốn vùng tự do Nam Ngãi Bình Phú. Tàu chiến Pháp đậu ngoài khơi, có máy bay quần chỉ điểm, bắn pháo lớn lên mấy đợt. Tiếp một lũ máy bay cổ rùa Xpít-phai đánh trường Lê Khiết, giết một cô giáo, mười bảy học sinh cùng mấy gia đình ở gần trường. Mùa thu 1949, tai nạn ập xuống đầu Thùy. Buổi chiều ấy, chị đi giao áo quần may xong cho khách. Thằng Khiêm, em lớn, đi học chỗ phân tán của trường. Thằng Liêm ở nhà ôn bài, giữ cháu Tuấn và nhận dán cho chị một xấp giấy bạc tín phiếu rách nát không mua gì được, nó dán khéo tay nhất nhà. Bà giáo Hạnh bên hàng xóm từng lúc ngừng tay chấm bài để bày cho con bé Bạch Lan cách làm nước cốt dừa pha vào chè đậu đỏ, ba mẹ con từ Hội An tản cư vào bán thêm hàng quà cạnh tiệm may của Thùy. Hơn một năm qua, Thùy vẫn chưa hết ngượng khi nhìn tấm biển gỗ quá to mà Bảy Tộ cùng Sáu Cam đã hì hục kẻ bằng sơn, treo trước cửa căn lều nhỏ: “Đây chuyên may y phục nữ, thiếu nhi - Nhận sửa quân phục, âu phục - Thợ giỏi, làm kỹ, giá hạ !!!” Trận bom kéo dài mười lăm phút. Thùy vừa chạy vừa khóc, về đến nhà vừa lúc máy bay bỏ đi. Nhà cháy rụi. Mẹ con bà giáo Hạnh chết ngạt trong hầm. Em Liêm chạy lao tới sân, một mảnh bom xé lỗ toang hoác bên hông. Bé Tuấn, ôi, không phải nó, vẫn là nó... một con heo sữa quay vụng chỗ vàng chỗ đen, bốn chân chặt cụt tới khuỷu, đầu teo lại còn bằng cật nắm tay méo mó... Thùy ngồi xệp xuống khoảnh sân đầy tro và đất vụn, trừng trừng nhìn con, mắt khô và dại dần... Chanh về thăm lúc hai giờ sáng. Ông lão trong xóm phân trần ngay: “Con chết, phải để mẹ ngó thấy, không lại tưởng đứa nhỏ còn sống bị đem chôn...”. Thùy ngồi cười tủm tỉm chỗ chân cột. Bà con khiêng người chết đi chôn đã về nghỉ cả, chỉ còn chị hội trưởng phụ nữ xã mệt rũ, túm lấy Chanh rên rỉ: “Anh dỗ chị Thùy nằm một chút. Sáng mai còn phải thu dọn mấy nhà cháy...”. Thùy loạn óc, vẫn hiền lành, sạch sẽ, biết quét dọn và nấu cơm nữa. Chị tái mặt khi nghe trẻ con gọi mẹ. Đặc biệt, khi đang đi bị cái gì móc vào ống quần thì chị rú lên, ngã ngất. Các bà trong xóm đoán mãi mới hiểu. Con biết bò, cứ lổm ngổm theo mẹ mãi, chị thường trải chiếu dưới đất cho con bò chơi trong lúc mẹ ngồi đạp máy may. Cháu bị buộc chân chỉ bò trong chiếu, tùng lúc túm ống quần mẹ mà kéo, ngước mặt lên cười với mẹ, đòi mẹ cúi xuống nựng một tí thôi, lại bi bô nói chuyện với mấy thứ đồ chơi nghèo quanh mình. Thằng bé vàng ngọc của Thùy vẫn sống đâu đây, người ta không biết, đem chôn lầm con heo quay... Thùy nói chẳng ai tin, chỉ cười một mình, lặng lẽ chờ bé Tuấn. Lớn lên ít nữa, biết đi, nó mới về với mẹ được chứ... Hôm nay, lần đầu tiên sau trận bom, Thùy mới bảo chồng là con chết cháy. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:31:44 am * * * - Đó anh chị coi, còn cách nào khác đâu ? Chị Sáu Lễ quay sang nhìn anh Ba Mậu. Anh Mậu xốc mười ngón tay vào mái tóc rậm ngả bạc, ngoảnh mặt vào góc nhà tối, tránh ánh đèn và tránh đôi mắt Cả Chanh. Mãi rồi anh mới hỏi lừng khừng: - Năm Bưởi ở đây giúp vợ chú, được chớ ? - Bưởi có công tác của nó, bỏ cho ai ? - Chà, chú nghi... khó cho anh em nhiều đó... Chị Lễ thở dài, đưa tay đập một con muỗi chích trên cái cổ mập và trắng. Càng luống tuổi chị càng to béo ra, cứ phải phân trần: “Cái tạng tôi vậy đó, ăn cơm cơ quan có gì đâu !”. Chị càng áy náy khi gặp lại một Cả Chanh héo hắt đến thảm hại. Chanh đã viết đơn xin nghỉ dài hạn để chữa bệnh và thu xếp việc nhà. Anh Mậu sắp về họp trên liên khu nhận chuyển lá đơn, không bàn góp điều gì. Dù ít biết về ngành hỏa xa, chị Lễ vẫn thấy lạ: giữa Ba Mậu là bí thư Đảng ủy với Cả Chanh giám đốc Sở hỏa xa, dường như không có gì để tâm tình với nhau, giúp nhau dàn xếp trong cơn hoạn nạn. Suốt chiều nay, chị chạy nhiều nơi tìm Hội Mẹ chị, Hội Phụ nữ giúp Năm Bưởi sắp đặt chỗ ở mới, đến nhờ ông lang thôn bên cắt cho mấy thang thuốc an thần. Anh Ba Mậu đeo xắc-cốt xuống thị trấn, trở về với cái đầu tóc mới cắt, cầm bánh xà phòng thơm ngoại Mèo Đen ra giếng tắm. Sau bữa cơm tối do Năm Bưởi mời, anh đeo kính lên đọc lá đơn xin nghỉ của Chanh, đáp gọn: “Để rồi tôi chuyển”. Chị Lễ chỉ đoán rằng tai nạn xảy ra đã hơn một tháng, hẳn anh Ba Mậu đã cạn sạch những lời bàn bạc khuyên nhủ, và giới đàn ông ít ưa nói dài, nói lặp... Cả Chanh đã được anh em thợ xe lửa đặt biệt hiệu là ông Cả Tin, do cái tật suy bụng ta ra bụng người, nghe khen ai là gật ngay, còn nghe chê mới bắt đầu ngờ ngợ, hỏi vặn. Anh Bảy Quý chồng chị hay trách Chanh vì chỗ yếu này, chị Lễ thấy là đúng. Thế nhưng chính chị Lễ lại cả tin hơn Chanh rất nhiều lần, tin người đến cái độ ngây thơ. Bà phó chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ miền Nam Trung Bộ, chức danh của chị Sáu Lễ, là một trong những người dễ đánh lừa nhất trong hàng cán bộ. Chị không thể hình dung những người trải qua tù đày của đế quốc lại có thể tranh giành địa vị, ghen ghét nhau, kiếm dịp hất cẳng nhau. Anh Bảy Quý và chị đã cùng tìm đến với Đảng Cộng sản bằng hai bàn tay sờ soạng trong đêm đen, gặp nhau và yêu nhau qua những lần họp thì thào giữa đồng vắng, lấy nhau và sinh con với những giấy tờ giả, nhận tin con chết trong xà-lim biệt giam, mỗi người một nơi, đòn tra tấn hằn nhức buốt khắp thân trong những đêm quằn quại trên nền xi-măng lạnh... Chị Sáu Lễ dành phần thương riêng của mình cho vợ chồng Cả Chanh cũng vì chỗ hợp nết ấy. Qua những tháng sửa soạn khởi nghĩa giành chính quyền, qua những đêm nằm đắp chăn chung với Hai Thùy hồi cô chưa lấy chồng, chị thấy cả hai đứa em đều luôn luôn thật bụng. Thằng Chanh trải đời hơn, con Thùy ít hiểu chính trị, nhưng cả hai đứa đều muốn tiếp bước anh Bảy Quý cùng với chị trên đường cách mạng. Đôi lần, La Giang gặp anh chị và đánh dấu hỏi khá đậm về mục tôn giáo: ông Hai Rề theo đạo Thiên chúa từ gốc Trà Kiệu, Hai Thùy chịu ảnh hưởng tới đâu ? Gặp lúc khó khăn, lòng người chao đảo, Thùy sẽ ngả về phía người chồng cộng sản hay chạy theo cha cố chống Cộng ? Chị Sáu bàn riêng với Bảy Tộ: một lần nào đó kẹt xe lửa, hãy đưa anh La Giang về nhà ông Hai Rề ở vài hôm để anh ấy biết họ theo đạo kiểu thế nào. Dạo ấy cả nước sắp nổ súng. La Giang được quân đội cử phối hợp với Cả Chanh cùng lo việc chuyên chở bằng đường sắt đang tăng vọt từng ngày. Đôi bạn tù cũ làm việc hùng hục, ăn ý và thân thiết như cặp bài trùng, chỉ thỉnh thoảng cãi nhau về người vợ chưa cưới của Chanh. Anh chàng trán gồ chưa vợ nói rất hăng, đặt cho cô vợ tương lai của bạn hàng loạt tiêu chuẩn dỗ sợ, trong đó có tiêu chuẩn chính trị là phải đạt cỡ cán bộ phụ nữ cấp tỉnh trở lên, tất nhiên là đảng viên. Chanh chỉ cười xòa: “Thôi lạy ông, mua trâu vẽ bóng hoài !”. Nghe lời chị Sáu, nhân lúc La Giang về giúp xưởng sửa chữa xe lửa chọn chỗ tản cư và lập đội tự vệ, Bảy Tộ xếp cho anh ăn ở hẳn một tuần với gia đình ông Hai Rề. Sau đó anh đổi ý hẳn, sồn sồn giục Chanh “cưới vợ thì cưới liền tay”. Chanh lại cười dài, uỵch cho bạn một đấm thay câu trả lời. Cậu ta hình dung cưới vợ như mua heo về xẻ thịt! Chị Sáu biết chuyện, càng răm rắp tin rằng những ai đã vào Đảng trong thời đen tối đều có tấm lòng trong sáng, những hiểu lầm giữa đồng chí với nhau chỉ là mưa bóng mây dưới nắng đẹp. Anh Bảy Quý nghĩ khác chị. Những lần hiếm hoi vợ chồng gặp riêng nhau trong cả một đời chạy đuổi theo công tác, giữa trăm ngàn việc chung việc riêng thủ thỉ với nhau, anh Bảy có lúc nhắc thoáng qua về Ba Mậu, bảo rằng anh ta không đơn giản như các đồng chí khác đâu, có những tính toán riêng lắt léo mà chính anh Bảy - người đã biết anh từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đã xếp chữ để in mấy bài báo tiếng Pháp của anh - không thể hiểu nổi. “Tạng mình chưa đủ sức quản trí thức đâu mình ơi!”. Hai năm gần đây anh Bảy vào làm bí thư khu Sáu, túc Cực Nam Trung Bộ. Chị Sáu gặp anh Ba Mậu ở hỏa xa nhiều hơn, quên nhanh những lời dè dặt của chồng trước dáng người rất đường hoàng và cách cư xử vừa sắc sáo vừa khôn khéo của Ba Mậu. Do đó chị mới băn khoăn khi thấy Ba Mậu dửng dưng trước tai nạn của đồng chí mình... Ánh lù mù của ngọn dầu dừa trong đèn thẫu hắt lên ba khuôn mặt. Anh Ba Mậu với mái tóc mới cắt chững chạc màu hoa râm trên khuôn mặt ông thày, mới nhìn đã dễ kính nể, Chị Sáu Lễ phát phì béo trắng như một bà chủ tiệm lớn, đi tản cư nên không đeo vàng ngọc, không mặc lụa là. Trái ngược với hai người là Cả Chanh xốc xếch và còm cõi, tuy sang năm mới được chẵn ba mươi đặt trước mặt một xấp giấy rơm nội xanh vàng của các trạm y tế, bệnh xá, bệnh viện báo rằng họ không chữa lành được bệnh dạ dày của đồng chí Phan Chanh hay bệnh thần kinh của chị Võ Thị Thùy, chỉ còn cách là nghỉ làm việc càng lâu càng tốt, tránh mọi lo lắng xúc động. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:34:08 am Từ buồng trong dội ra tiếng kêu rít, tiếp một tràng ú ớ tắc nghẹn trong họng. Chanh và chị Sáu cùng chạy xô vào. Năm Bưởi đi họp du kích chưa về. Thùy ngồi chỗ mép giường, hai tay chống thành giường, mắt trừng trừng nhìn vào bóng tối. Thùy ngửng lên thì thào:
- Tôi tính qua rủ bà hàng xóm đứng bồng con về ngủ chung để bả đêm hôm đứng miết coi tội lắm... Mất nửa tiếng dỗ dành và một viên thuốc an thần ngoại - của hiếm quý trong kháng chiến - Thùy mới nằm ngáy đều, tóc xõa tràn trên chiếu, chị Sáu phải nhẹ tay tém và búi tạm lại. Khi hai người trở ra, Ba Mậu đã mang xắc-cốt về nhà anh gửi ba-lô. Chanh giục chị Sáu sang nghỉ nhà bên cạnh, hất hàm vô phía buồng: - Tôi gác thêm lát nữa, đợi Năm Bưởi về bàn giao. Thùy sợ con em dâu dữ tướng, biểu gì nghe nấy. - Sao anh Ba Mậu với chú... coi bộ lạnh ngắt vậy ? - Ôi, chuyện dài lắm chị ơi. Chị hỏi chỗ Ban tổ chức liên khu thì biết, tôi nói sợ thiếu khách quan. Mà thôi, bây giờ gì thì gì tôi cũng đi khỏi hỏa xa ít lâu, coi như nồi hơi xả xu-páp rồi, không lo nổ nữa ! Chanh rót nước mời chị Sáu, buột nói bâng quơ: - Tiếc cho Thùy không được thấy cảnh đó... - Cảnh gì ? - Cảnh tản cư hồi đầu toàn quốc kháng chiến ở Đà Nẵng. Thấy đồng bào mình quá khổ, đến lượt mình gặp nạn chắc Thùy không đau đớn như bây giờ. Chị Sáu trầm ngâm gật đầu: - Trải qua cảnh đó, một là bị thần kinh lập tức, hai là con người cứng rắn lên ghê gớm. Được cái dân mình quen cực từ xưa, quen bom đạn từ hồi Nhựt mới qua, ít người oác 1 lắm, bà con tản cư kêu cứ kêu mà chịu đựng cứ chịu đựng được, sống được. Đà Nẵng, tháng chạp năm 1946. Quân Pháp xé hiệp định 6-3-46, đổ bộ ào ào tới số vạn. Quân ta hối hả từ các tỉnh xa kéo về, súng đạn rất thiếu, chưa tập luyện gì mấy, dép và áo trấn thủ cũng chưa có. Súng nổ. Vài ngày đầu ta chống loạc choạc, sau khá dần, nghiến răng cản địch cho đồng bào kịp chạy giặc. Chết nhiều, chết rất nhiều, cối bắn gần, pháo đất pháo biển nã xa, máy bay rượt giết xa hơn nữa. Ra khỏi thành phố cả chục cây số, chưa kịp đặt gánh thở lấy hơi đã bị máy bay sà qua đầu, xối đạn trọng liên nổ lại tóe mảnh trên mặt đường, dòng người tản cư biến thành suối máu chảy len giữa những ghềnh đắp bằng xác. Sông rạch lềnh bềnh người và những thứ của người khi máy bay bắn chìm đò hoặc chỉ sạt thấp cho dân tản cư hốt hoảng tự lật chìm những con thuyền chở khẳm đến nước sát mép be. Giặc chưa tràn tới mà nhà tranh đã cháy, nhà ngói vỡ toác vì bom. Những ngày ấy, Cả Chanh và La Giang hùng hục ngày đêm nhất là đêm, đưa tất cả lực lượng xe lửa chở quân vũ khí, gạo ra Đà Nẵng, chở đồng bào vào các tỉnh trong. Có những ông chỉ huy nóng tính vung súng ngắn vào mặt Chanh đòi thêm toa, đòi tàu chạy gấp dù máy bay đang thả bom trước mặt. Có những bà con phải dìu cõng khiêng lên xe. Có những đứa giả bộ đội chạy vào ngoại ô hôi của, thay đồ, quảy gánh lên xe lửa tản cư. Có nhiều xác mà anh em xe lửa phải tự chôn vì chắn đường hay quá thối. Có cả một chuyến tàu phải trút hết người và hàng, mở máy cho lao xuống sông vì mắc kẹt, công binh nổ cầu quá sớm theo lệnh miệng... Thùy không thấy những cảnh tản cư ở Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng. Các gia đình hỏa xa thong thả rời Quy Nhơn được lệnh tiêu thổ sau cuộc đổ bộ hụt của địch. Họ ngồi xe lửa và chở theo được cả bàn ghế giường tủ, về sau thấy vướng mới bán lần hồi từng chặng. Đến khi cả nước nổ súng, Thùy cùng các em ở nơi tiếng đại bác không vẳng tới, máy bay chưa bay tới, chỉ biết về máu lửa qua những câu chuyện dài dài của các bà chờ lấy áo quần, nghe câu được câu chăng qua tiếng máy khâu cũ kêu lọc cọc. Thêm Sáu Cam và nửa suất phụ vào cho cha đủ ăn, bốn miệng rưỡi trông vào cái máy còn phần Cả Chanh thì chẳng biết bao nhiêu mà tính với căn bệnh dạ dày kinh niên ấy. - Nghỉ ít lâu rồi chú Chanh về làm lại chớ ? - Tùy trên thôi chị. Trên đang kêu gọi cán bộ lâu nay ở hậu phương nhiều hãy xung phong ra tiền tuyến, đi những chiến trường xa và khó nhứt. Tôi đi là phải quá, chị Sáu hè ! - Bậy ! Ngành của chú là đặc biệt, đem mấy cha cán bộ đa-giê-năng lắp vô thì nát việc hết. Với lại sức khỏe của chú... - Tôi không đủ khỏe để làm xe lửa, chị thấy đó. Mấy ông ở tuyến lửa về, gặp lúc xe trục trặc lại đay nghiến tụi tôi là bám vùng tự do để ăn cho mập, buôn lậu làm giàu, “để tao gặp thằng ký giấy là Phan Chanh tao chửi một trận”. Khi giáp mặt thấy tôi như ma chết trôi, họ chỉ càu nhàu chớ không nỡ chửi. Té ra chị Sáu tưởng xe lửa ít mệt hơn công tác khác à ? - Đâu có. Ý chị nói là chú đừng đi xa... Tiếng còi tàu đêm chợt rít lên the thé phía ga Hòa Vinh Tây. Chanh liếc đồng hồ đeo tay, nói gọn: “Tàu trưng dụng chở hàng quân sự, tới sớm mười phút. Hơn một giờ nữa mới tới tàu khách, vậy là qua lọt Sa Huỳnh. Tàu chiến hay đón bắn đại bác ở khúc Sa Huỳnh, ta bị vài lần rồi đó chị”. Chị Sáu Lễ thấy rõ: khi tiếng còi vẳng tới, Chanh hơi giật mình, dỏng tai, ngửng đầu, trong khi một sợi gân nào đó trên cái cằm nẻ đôi khẽ giật liên tiếp. Dù làm ra vẻ dửng dưng, cái máu mê nghề thợ xe lửa đang còn đậm lắm ở anh chàng giám đốc xơ xác này. ----------------------------------------------------------- 1. Tan vỡ, sụp đổ Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:36:17 am * * * Chị Sáu Lễ thật sự muốn hiểu những gì lủng củng xảy ra giữa số đồng chí lãnh đạo hỏa xa. Nhưng các cơ quan liên khu đóng xa nhau, các đoàn thể thường ở chỗ gần dân còn các bộ phận tối mật như liên khu ủy được đưa vào chỗ hiểm hóc nhất, có khi dựng lán ở riêng trong rừng núi. Chị không thể bỏ vài ngày mang ba-lô đi tới Ban tổ chức liên khu chỉ để hỏi về Cả Chanh và Ba Mậu. Sau chừng mươi hôm, ý định tốt của chị đã bị chìm sâu dưới hàng trăm mối lo toan khác về Hội phụ nữ, nóng cháy và sát sườn hơn nhiều. Thật ra, chị Sáu không phải áy này gì nhiều khi rất lâu về sau chị mới hiểu con người giáo sư Trà Đình Mậu. Trước chị đã có lắm người khác hiểu lầm Ba Mậu, hiểu lầm theo nghĩa tốt hơn sự thật. Trong số đó có anh bí thư huyện ủy Tây Quảng, có bác cán bộ tổ chức Đậu Chí Xích tóc bạc, có cả cậu học trò cũ trong tù là Cả Chanh đã lên cấp trên nhưng vẫn một dạ kính thầy, gắn bó với thầy do tình đồng hương cùng huyện Tây Quảng. Anh Ba Mậu bắt đầu nổi danh với những bài báo tiếng Pháp đầu tiên đăng trên các báo công khai trong cái thời thực dân nới tay ngắn ngủi của Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Anh ký bút danh là “Người nhà quê Trung Kỳ”, số nhà báo tiến bộ ở Trung Kỳ lúc ấy đếm đầu ngón tay, người ta lập tức đoán ra tác giả là ai, tìm đến với anh, xin được anh chỉ giáo. Học sinh yêu nước ở Huế khá đông lập tức đặt trên đầu anh một vầng hào quang thánh thiện, không biết rằng sau lưng anh có những người cộng sản nằm chìm trong bóng tối đã giúp anh sửa từng câu chữ trước khi lên báo. ... Đỗ xong tú tài triết học, Ba Mậu long đong nhiều năm kiếm việc làm. Anh không được nhận vào các công sở, các trường công, vì trước đây cha anh có dính vào vụ bạo động thất bại của Việt Nam quang phục hội, bị ghi tên sổ đen tuy không phải đi tù. Lang thang dạy tư ở nhiều thành phố miền Trung, anh được những người quen biết đánh giá là có tài nhưng bất đắc chí. Đến thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, anh đang dạy tư văn học Pháp tại Huế. Một số nhà báo cộng sản và tiến bộ đặt anh viết bài tiếng Pháp, từ những tin ngắn đầu tiên tới những phóng sự dài, thường góp ý tỉ mỉ để anh viết đúng và hay hơn. Ba Mậu vui mừng vì thấy tài năng của mình không bị bỏ phí, nuôi ý định tiến thân bằng báo chí, viện dân biểu, trở nên một chính khách có tên tuổi tiêu biểu cho giới trí thức tây học trẻ… Anh viết đơn xin vào Đảng, được kết nạp khá gọn gàng nhờ lý lịch trong sạch và nguồn gốc gia đình yêu nước. Ầm một cái chính phủ của Mặt trận Bình dân Pháp đổ, cuộc tổng khủng bố 1939 - 1940 ở Đông Dương nổ bùng, Ba Mậu bị bắt. Chỉ sau vài lần tra điện, vài đêm thức trắng với nỗi cay đắng vỡ mộng vàng, anh đã khai không sót điều gì. Do được kết nạp đơn tuyến và hoạt động công khai, anh không biết gì nhiều về tổ chức bí mật của Đảng, chỉ kể tên được mươi người, các đồng chí này đều đã rút vào bí mật hoặc bị bắt. Sở mật thám Trung Kỳ vốn giàu kinh nghiệm chống cách mạng, hiểu ngay rằng anh chàng cộng sản tay mơ này đã dốc cạn bầu tâm sự, chẳng còn gì để moi thêm. Qua các nhà lao, Ba Mậu là một người tù trầm lặng, hay than túc ngực vì những năm “bán cháo phổi”, không dính vào cuộc đấu tranh nào, được cái chịu khó dạy văn hóa cho anh em. Chi bộ nhà tù không móc nối với anh, và anh cũng không tìm cách móc nối. Anh được về nhà sau đảo chính Nhật, chỉ nằm im chờ thời. Anh tự coi mình là con người của thời bình, tự dành mình để ra tay xây dựng sau ngày cách mạng thành công. Tổng khởi nghĩa toàn thắng trong khi Ba Mậu trùm chăn. Khi thấy chính quyền ta đứng vững, Ba Mậu tính chuyện “tham chính”, thì những chiếc ghế quan trọng nhất đã có người ngồi. Anh chạy tìm các đồng chí cũ, chầu chực khá lâu mới được bổ làm hiệu trưởng một trường trung học ở Đà Nẵng. Anh cứ tạm nhận thế đã, tuy chưa ưng ý. Chỉ vài tháng sau, khắp nước ầm ầm binh lửa. Anh bỏ trường chạy về quê ở Tây Quảng. Khi Pháp đánh tràn ra các huyện Bắc Quảng Nam, anh đưa vợ con chạy tiếp vào Quảng Ngãi, ở nhờ cha mẹ vợ khá giàu, lánh né công tác và bạn cũ, chỉ mở một lớp dạy tư cho có việc làm. Mùa thu 1947, khi thấy rõ quân Pháp kiệt sức không lấn nổi tới Nam Quảng Nam, anh một mình trở ra huyện Tây Quảng. Những ai biết anh đều ngạc nhiên khi thấy một đồng chí kỳ cựu nhu thế lại vui vẻ nhận làm chánh văn phòng Ủy ban kháng chiến huyện, dưới quyền lớp cán bộ trẻ măng. Do đó, anh được sinh hoạt Đảng trở lại rất dễ dàng, không coi như đứt liên lạc trong tù. Rồi anh được cử làm phó chủ tịch huyện, thay một đồng chí trẻ hơn được điều vào địch hậu. Anh chỉ vấp khi ứng cử vào huyện ủy, số phiếu của anh vào hạng thấp nhất. Từ đó những cơn tức ngực của anh tăng dần, đến cái độ anh phải xin thôi việc, vào Quảng Ngãi chữa bệnh bằng thuốc gia truyền của ông lang nào đấy không rõ. Tháng tư 1948, Cả Chanh mừng muốn reo khi Ba Mậu tới cơ quan sở hỏa xa, chìa ra quyết định cử anh làm bí thư Đảng ủy Sở. Cả Chanh lâu nay gạ xin hết người này đến người khác đều không được, nay cấp trên bỗng ưu tiên đưa về một đảng viên kỳ cựu, văn hóa cao bậc nhất trong hàng cán bộ toàn liên khu, lại là ông thầy cũ trong tù và người đồng hương trên tuổi của Chanh ! Ai ngờ các đồng chí lãnh đạo lại khéo chọn và sâu sát đến thế ! Chỉ trong vòng mấy ngày, tất cả các đơn vị thuộc sở hỏa xa đều nhận được thông báo của ông Phan Chanh giám đốc, cho biết ông Trà Đình Mậu tức Ba Mậu đã về làm chánh trị viên sở hỏa xa, kèm theo chữ ký mẫu và mấy dòng tả nhân dạng người lãnh đạo mới. Còn tất cả số cán bộ gần gũi chung quanh cơ quan sở đều được nghe lời dặn miệng của anh Chanh rằng phải tuyệt đối phục tùng bác Ba Mậu, chớ vì bác ấy mới vào ngành mà coi nhẹ các chỉ thị của bác. Trong tuần trăng mật giữa giám đốc và bí thư Đảng ủy, anh Ba Mậu làm hàng loạt những việc được lòng người. Anh thu xếp nơi ăn ở của công nhân viên chức hỏa xa tốt hẳn lên. Anh được cấp trên cho tăng giá vé vì giấy bạc tín phiếu mất giá, moi thêm khá tiền từ túi bọn con buôn “chửa ở Tam Kỳ, vô Bông Sơn đẻ”. Anh xin được phép huy động dân công các địa phương có đường sắt chạy qua để sửa cầu đường bị máy bay và pháo biển đánh phá. Anh sắp xếp lại giờ giấc làm việc của cơ quan sở, không để cho bất cứ ai tới đòi giải quyết vào bất cứ giờ nào. Anh cho lắp sửa hai chiếc xe goòng máy chạy bình ga, một cho Ban giám đốc, một cho tổ kiểm tra đường chạy trước đoàn xe... Còn nhiều, nhiều nữa. Đã bắt đầu có dư luận xì xào chê rằng anh Chanh biết nghề nhưng kém tài tổ chức, lao theo máy móc mà bỏ quên con người. Chanh nghe, cười: “Nói vậy đúng quá đi chớ ! Mình quen sửa xe thôi, để bác Mậu lo khâu tổ chức là phải...”. Thật tình, Chanh không quá ham máy đến xa người. Chỉ tại những khó khăn của ngành đường sắt kháng chiến cứ chồng chất mãi, Chanh chạy theo không kịp. Cầu đường bị đánh hỏng tăng lên, số đầu máy hơi nước cũ kỹ bị hỏng hóc tăng lên, số toa xe cháy tăng lên, số thợ giỏi quá túng đói phải bỏ nghề tăng lên... Chanh phải dùng tất cả tài ngoại giao, tình bạn cũ, vô số kiểu “có đi có lại”, cả tay nghề riêng của mình để giữ cho xe lửa chạy đúng chuyến, đủ toa. Ban đêm anh theo tàu một quãng hay suốt tuyến để biết bệnh của máy móc. Ban ngày anh chạy đến những nơi sửa máy của hỏa xa, quân giới, lôi cả thợ tư giỏi theo mình đi khám sửa xe và cùng họ gia công một chi tiết phức tạp nào đấy. Mỗi khi xôi nhão với muối mè không đủ ngăn một cơn đau dạ dày quật lại, anh cõng ba-lô lảo đảo về nhà vợ, lấy những thang thuốc nam mà Thùy làm sẵn, sắc uống vội vài thang, nằm vài hôm - nằm nhung không nghỉ, vì không ngớt người đến ngồi bên giường bàn việc, lấy chữ ký. Dần dà, những ý kiến khác nhau giữa bí thư và giám đốc ngày càng nhiều mỗi khi xét việc và dùng người. Ba Mậu đẩy hết trách nhiệm về chuyên môn cho giám đốc, nhưng lại muốn quyết định ai làm việc gì trong bộ máy hỏa xa. Anh lần lượt đưa những người gọi dạ bảo vâng vào thay thế người thành thạo, ban đầu ở các bộ phận hành chính và tiếp liệu, về sau lần tới các đội lái xe, sửa máy, cầu đường. Những người ấy nối tiếp nhau vào Đảng, có khi chỉ cần nói miệng chứ chưa kịp viết đơn. Trong các cuộc họp chi bộ, Đảng bộ, họ ngoan ngoãn giơ tay biểu quyết theo lời dặn trước của bí thư, đưa Chanh vào thế bí. Còn những ai đã từng làm việc với Chanh hồi trước và sau Cách mạng tháng Tám đều dần dần bị gạt sang bên vì lý do “liên quan với đế quốc”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:40:11 am Vài tháng trước khi nhà bị bom, Chanh được Ban tổ chức Liên khu ủy gọi lên để trả lời về những thư tố cáo không rõ của ai. Quan liêu, thiếu sâu sát, không ngó ngàng tới công nhân, lấn lướt tổ chức Đảng, coi khinh tập thể, chuyên quyền độc đoán, mất lập trường nghiêm trọng khi dùng thằng Ghi-ôm-mê, mất cảnh giác trong hôn nhân... Chanh cắm cúi ghi sổ tay theo lời kể tội của đồng chí cán bộ tóc trắng có nét mặt và giọng nói rất cha chú, từng lúc hạ kính lão từ trên trán xuống, nhìn những câu gạch đầu dòng trong cuốn vở dày, xem xong một câu lại nói hàng chục phút lý luận chung chung.
Chanh hiểu ngay nhũng lời tố cáo ấy từ đâu ra, nhằm mục đích gì. Anh được một đêm suy nghĩ trước khi trả lời. Trong cái đêm trắng quá dài ấy, anh chỉ lật đi lật lại một câu hỏi: ở hay đi ? Một câu hỏi gốc thôi, nhưng có cả chùm rễ chằng chịt bám theo... Bác tóc trắng tên là Đậu Chí Xích, thường được gọi sau lưng là “Ông Cực Đỏ”, tỏ vẻ ưng ý khi nhìn nét mặt phờ phạc và đôi mắt trũng sâu của người cán bộ trẻ. Bác đã cố quất roi cho thật đau, thật thấm, buộc Chanh phải giật mình hối lỗi, chứ đám mới lớn lên là chúa hay ngông nghênh. Đọc xong lá thư ngắn mà Chanh lẳng lặng trao, bác cau mày gỡ kính: - Nghĩa là đồng chí không chịu phản tỉnh ? - Khuyết điểm được nêu lên rất nhiều, rất nặng. Tôi xin có thì giờ để tự kiểm tra và báo cáo sau, bằng giấy. - Còn xin từ chức giám đốc nữa. Phản ứng tiêu cực phải không ? Đồng chí tưởng không có ai thay thế nổi, giở trò làm eo với tổ chức, hả ? - Trái lại, vì thấy có người thay nên tôi rút lui. Cũng không đi dâu xa, tôi xin xuống xưởng sửa chữa của hỏa xa, trở lại nghề cũ là thợ khám xe, vừa sức tôi hơn. - Nè đồng chí Chanh, tôi coi đồng chí như con cháu, muốn khuyên đồng chí đừng gây khó khăn cho tổ chức... Chanh nói lạnh như đồng: - Tôi cũng khuyên đồng chí đừng coi tôi như con cháu, mà coi là giám đốc sở, đã từng làm tỉnh ủy viên và phó chủ tịch tỉnh. Còn tổ chức không phải là cá nhân đồng chí, cũng không phải là người mà đồng chí đã giới thiệu để cấp trên chỉ định làm bí thư Đảng ủy trong khi chờ đại hội Đảng bộ. Đồng chí nhớ xem lại: người nhận thư này là trưởng ban tổ chức chứ không phải là đồng chí, yêu cầu chuyển đúng địa chỉ. Tôi rất bận phải về gấp, đồng chí định nói thêm gì nữa không ? Chanh thoáng một chút ân hận khi bác Cực Đỏ tắc họng, ngây mặt, sững người. Trên đường cuốc bộ trở về cơ quan cách hơn chục cây số, anh lại bật cười: đảng viên cộng sản mà cứ vướng mãi cha chú với con cháu, kính lão đắc thọ, làm sao tháo gỡ được những mối bòng bong hiện ra ngày càng nhiều trong kháng chiến ? Sau lần gặp ấy, ngành hỏa xa tiếp nhiều vị khách tò mò. Chỉ có Ban giám đốc được xem giấy giới thiệu: họ là phái viên các Ban tổ chức, bảo vệ, kiểm tra Đảng thuộc Liên khu ủy, là cán bộ công an. Họ mượn xem một số hồ sơ, hỏi riêng một số người, dành nhiều thời gian để đi theo các đội các kíp đang làm việc, cà rà dò la nhiều đến nỗi anh em tự vệ hỏa xa bắt giữ liên tiếp hai đồng chí, giải về cho giám đốc xử. Cười trừ với nhau thôi. Chanh được gọi lên lần nữa. Tiếp anh lần này là đồng chí ủy viên thường vụ Liên khu ủy, trưởng ban tổ chức cùng năm sáu cán bộ khác. Có cả bác Cực Đỏ tóc trắng, vồn vã lẫn ngượng nghịu. Các phái viên đã soạn chung một biên bản tỉ mỉ, một đồng chí đọc hết tập giấy đánh máy bằng giọng trung tính. Chanh càng nghe càng sửng sốt. Hầu hết những lời tố cáo anh bị bác bỏ. Phần lớn những người viết thư tố cáo nhận rằng họ không biết rõ sự thật ra sao, chỉ dựa vào tiếng đồn hoặc làm theo lời khuyên của một ai đó có dính dáng tới Ba Mậu. Biên bản cũng vạch ra không ít thiếu sót của Chanh: chạy theo chuyên môn mà quên lãnh đạo toàn diện, thiếu kiểm tra đôn đốc khi giao việc dùng người... Còn lại một chỗ chưa kết luận được: đưa một nhóm người Pháp, Đức, Nhật, Bắc Phi vào các xưởng sửa chữa là đúng hay sai ? Chanh cố trình bày ngắn gọn. Kháng chiến kéo dài, số hàng binh và tù binh tăng lên mãi. Hàng binh được học một lớp ngắn và tuyển vào các xưởng ở hậu phương, hoặc được cấp vốn để sống và làm ăn trong vùng tự do. Về sau, số tù binh cải tạo tốt cũng được vậy. Trong một chuyến công tác tại Nam Quảng Nam, Chanh ghé thăm trại tù hàng binh do anh Ung Viết Khánh làm trại trưởng, mới biết trong trại có một số đã từng làm nghề xe lửa. Dò theo danh sách, anh ngạc nhiên khi đọc tên viên kỹ sư An-be Ghi-ôm-mê, trước đây làm trưởng đề-pô ga Quy Nhơn, giỏi nghề và biết điều đối với thợ. Hồ sơ ghi rõ hắn bị bắt ngay vào giờ đầu của kháng chiến toàn quốc, trong biệt thự ở xa khu lính Pháp đóng tại Đà Nẵng, không có vũ khí, đang thu xếp để trở về Pháp bằng tàu biển. Hai Khánh còn giúp Chanh chọn thêm được kỹ sư cầu đường người Đức Các Vô-béc, bỏ lính lê-dương chạy sang ta giữa năm 1947, cùng bảy người nữa đã từng làm nghề xe lửa và cơ khí - hai Đức, ba Nhật, hai Ma-rốc. Sở công an liên khu đồng ý cho cả chín người này vào làm trong ngành hỏa xa. Ghi-ôm-mê được cử làm trưởng nhóm “cố vấn kỹ thuật” tại xưởng sửa chữa, làm việc rất tốt. Số thợ lâu năm sẵn sàng hội ý kiến hắn, nghe lời hắn khuyên. Nhưng nhiều thợ trẻ lại rất bực tức: đang đánh Tây mà để cho thằng Tây dạy khôn mình, chỉ huy mình ! Ông Chanh với các bác thợ già biết tiếng Pháp ít nhiều lại bàn với chúng nó những gì ba xí ba tú chẳng hiểu, nghe ngứa tai quá đỗi ! Ba anh thợ giày thành Gia Cát Lượng, rước kỹ sư Tây về là nuôi ong tay áo, là mất lập trường địch ta ! Anh trưởng ban tổ chức, một người rất gầy và nhỏ vóc, nghe nhiều nói ít, hay gõ cây bút bi xuống bàn như chấm câu cho người đang nói, bỗng dựng đứng cây bứt lên: - Thằng Ghi-ôm-mê tôi biết. Các đồng chí Bình Định sắp xếp cho tôi nói chuyện với nó hai lần, trước và sau đảo chính Nhật. Nó ghét Pê-tanh, ưa Đờ Gôn, nhưng không dám ủng hộ Việt Minh vì nhát gan. Nó chỉ hứa để mặc ta làm gì thì làm, nó nhắm mắt bịt tai, về sau cũng đúng y vậy. Dùng nó vô nghề xe lửa là phải chỗ. Còn số hàng binh tù binh đã được Công an duyệt cho vô xưởng đứng máy thì được thôi. Hồi đang đánh gắt, bọn Hít-le cứ đưa tù binh Liên Xô vô các xưởng làm võ khí bên Đức vì thiếu thợ, tất nhiên là nó không cho hưởng lương công nhân như mình mà xài chết bỏ... Thêm chút về thằng Ghi-ôm-mê. Mới đây tôi gặp lại, nó năn nỉ nhờ tôi dỗ một cô ở Tam Quan chịu lấy nó. Nó mê tít mất ăn mất ngủ, cô kia cũng mến mến mà cứ sợ mang tiếng lấy Tây... dân mình khinh me Tây từ xua, đẻ ra con Tây lai chẳng ai muốn gần... Mọi người cười ồ. Không khí chung nhẹ hẳn đi. Anh em phái viên xúm vào bàn góp ý với Chanh làm sao đưa ngành hỏa xa lên mạnh hơn nữa bằng giọng cùng bàn việc nhà. Một hũ đất nung đựng bia tự làm được bê lên, thứ bia chế bằng đậu xanh và nước tiểu trẻ em, tùy trẻ trai gái mà họ gọi là bia đứng hay bia ngồi, đều lên men và sủi bọt khá mạnh. Chẳng ai chê đâu, nước tiểu trẻ em là thứ thuốc nam quen dùng. Tiếp đó là một chầu phở sắn với thịt chuột đồng béo ngậy, cơ quan mới góp sức diệt chuột hôm qua. Đang thiếu gạo nên ta cấm tất cả các thứ quà bánh chế bằng gạo, có vài xã bốc đồng cho rao loa buộc dân phải ăn mít già ghế cơm chứ không được để mít ăn chín ! Bác Cực Đỏ đến ngồi bên Chanh, cười làm lành, xởi lởi: - Khách nhớ đò chớ đò không nhớ khách. Nội bấy nhiêu đồng chí đây, thử hỏi có ai chưa cầm giấy công hành leo lên xe lửa ông Chanh ! Cả nước mình còn sót một khúc đường sắt của ông đó, ráng mà giữ nghen ! Cả Chanh trở về cơ quan Sở, gặp ngay bộ mặt hoàn toàn khác của bí thư Ba Mậu, một bộ mặt “chiến tranh lạnh” quá rõ. Nguồn tin riêng của anh ta quả thật là nhanh nhậy, đã đến trước khi Chanh về. Thôi mặc kệ. Chanh chạy đôn chạy đáo, sắp đặt lại những chỗ yếu kém được vạch ra trong cuộc họp. Mới chưa đầy một tháng, tai nạn đổ ụp xuống đầu Chanh: con trai và em vợ chết, đồ đạc cháy trụi, vợ phát điên, dạ dày anh cũng thừa cơ nổi loạn. Anh em hỏa xa dù túng thiếu vẫn quyên góp được ít nhiều áo quần, gạo, tiền đến giúp anh Cả Chanh mà chẳng mấy khi họ gọi theo chức vụ giám đốc. Chanh cảm ơn và nhận cả, vì quả thật đang cần mọi thứ. Khi anh em gánh cái máy khâu hỏng của Thùy - nó bị hơi bom hất văng ra khỏi nhà nên thoát cháy, chỉ gãy nhiều chỗ - về xưởng định chung tay sửa ngoài giờ làm, thì mấy người thuộc phe Ba Mậu đánh tiếng lo lửng: “Chính ông Chanh cấm tụi mình không được lãnh đồ ngoài đem vô sửa trong xưởng Chánh phủ, dùng máy móc dụng cụ của xưởng. Giờ chiếu cố ổng cũng hay, về sau tụi mình mặc sức xả láng !”. Bảy Tộ nghe được, chửi toáng một hồi, cõng máy vác chân đến xưởng quán giỏi nhờ giúp, họ nhận ngay. Ông Hai Rề xin nghỉ một tuần đến chôn con trai và cháu ngoại, giúp vợ chồng Thùy thu vén. Mới qua vài ngày đã liên tiếp có tin nhắn mời bác Hai về giải quyết việc gấp của phân xưởng và công đoàn. Hiền như ông mà phải lắc mãi cái đầu ngưỡng thiên: “Thù vặt cũng có hồi có chặp, chớ tụi này lựa khi gia biến mà hắt nước theo mưa !”. Cả Chanh phải giục ông về xưởng. Năm Bưởi ở với Thùy đủ rồi, từng lúc có anh và Sáu Cam chạy về phụ thêm. Cam đang học trường Trung học Bình dân cách Sông Vệ hai chục cây số, làm thêm gì chẳng biết mà thỉnh thoảng lại cõng hay gánh gạo về giúp Thùy nuôi các em, gặng hỏi chỉ cười trừ. Chanh tính nát nước, thấy chỉ còn cách xin nghỉ dài hạn để chữa bệnh cho mình và Thùy, về dựa cha mẹ ở Linh Lâm. Năm Bưởi lỡ dại chửa hoang, mang bầu đã khá to, không thể đẻ ở nơi tản cư. Về xã, Năm Bưởi đã được ngụy trang bằng một đám cưới giả do Chanh sắp đặt từ trước, không đến nỗi bị bêu giếu. Em trai còn lại của Thùy là Ba Khiêm đã được anh La Giang xếp cho hưởng chế độ thiếu sinh quân, học tiếp ở nơi phân tán của trường Lê Khiết, tạm ổn ít lâu. Gượng mãi theo nghề xe lửa chạy đêm, sa lưới mãi trong bụi tre gai của phe Ba Mậu, cố nén mãi những cơn đau dạ dày, khoán trắng mãi việc kiếm sống nuôi nhà cho Thùy, không được nữa rồi. Đau lòng đến mấy cũng đành rời hỏa xa thôi. Cả Chanh phải chịu rẽ bước đi ngang. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:43:24 am Chương III Mặt trời tháng Bảy mới lên hai con sào đã nung đất hừng hục. Năm Chò che bàn tay trên trán, nheo mắt nhìn qua lớp hoa nắng từ dưới tuôn lên ngoằn ngoèo như bọt ruộng lầy trong vụ cấy giữa hè, chỉ thấy cảnh hoang vắng nhức mắt. Cánh đồng Phú Nhút khô trụi, đến những búi cỏ cũng teo trắng. Mấy vạt bói và tranh cháy nham nhở dọc con đường lên đồn hiện thành một mảng da tóc đày sẹo. Đồn 76 cắm trên núi Voi Quỳ là cái nhọt mưng mủ: dưới chân xanh, lưng chùng ngả úa vàng, một phần ba trên chóp đỏ loét, với những mái nhà tôn và lô cốt nổi trắng như cái ngòi nhọt chờ người nặn. Các họng súng lớn nhỏ từ trên đỉnh ấy ngày đêm chĩa xuống, xổ cái chết trên khắp một vùng rộng mạn Bắc sông Thu Bồn. Mỗi người gọi tên trưởng đồn Pháp một kiểu. Bọn tề đề trịnh trọng trên giấy là quan trung úy. Lính ngụy quen thay đổi chỉ huy, chuyển đơn vị, đặt cho hắn là ông Hai Bia. Riêng Năm Chò nhớ kỹ thằng quỷ ác này là Pi-e La-phạt, con trai tên chủ đồn điền La-phạt ở Linh Lâm năm xưa. Hắn nói tiếng Việt rất sõi, ăn cơm tẻ chan nước mắm chẳng hề nhăn mặt, nuôi chí phục thù với Việt Minh cộng sản dữ dội, mới về đóng đồn ngót một năm đã triệt hạ bốn làng và ra lệnh giết hơn một trăm người dân dính dáng đôi chút với phía kháng chiến. Đại đội Năm Chò giết hụt thằng Pi-e nhiều lần. Phục kích hụt, bắn tỉa hụt, nổ mìn hụt. Hắn tinh ranh hơn cáo. Hắn không bao giờ đi càn theo đường cũ và trở về theo đường cũ, không bao giờ mặc đồ sĩ quan và đi đúng chỗ trong đội hình càn quét. Dân làng chỉ nhận ra “thằng tây Bia” mỗi khi hắn đẩy mũ sắt lên trán, bắt đầu hỏi vặn vẹo bằng tiếng ta với cặp mắt nâu trừng trợn, cuối cùng lại ra lệnh tra tấn hay xử từ bằng tiếng Pháp, giọng hiền lành như dỗ ngọt. Ban chỉ huy đại đội mò đêm xem thực địa nhiều lần trước khi quyết đánh trận phục kích độn thổ liều lĩnh này. Năm Chò còn mang liềm theo, cắt một bó tranh và bói úa héo tại chỗ mang về để bộ đội kiếm thứ gì ngụy trang thật giống màu. Cách đồn 76 nửa cây số là làng Phú Nhứt, một làng tề không có bọn vệ sĩ, bảo hoàng, mâm hội tề ở đấy thuộc hạng lừng khừng. Địch buộc dân bỏ trắng cánh đồng Phú Nhứt để chúng dễ chiếu ống dòm và họng súng xuống làng. Chúng đốc dân phát dọn và đốt trụi tất cả những gì mọc trên đồng, nhưng không diệt nổi các thứ tranh bói lau lách xứ nhiệt đới cứ tự ý ngoi lên, đổi màu xanh, vàng, nâu tùy theo mùa. Tối qua, một tiểu đội võ trang tuyên truyền ập vào Phú Nhứt ra lệnh nộp đảm phụ kháng chiến, dẫn theo đoàn dân công chừng năm chục người gánh lúa. Dân làng phần lớn được vận động trước, trút lúa ra nộp, còn giúi riêng cho bộ đội rất nhiều tiền Đông Dương, quà, thư gửi người nhà trên xanh. Hai giờ sáng, cánh quân phục kích tuôn ra giữa cánh đồng, moi đất nằm chìm mỗi người một hố, tãi trên thân bó lá ngụy trang vác theo. Vừa tỏ mặt người đã thấy hai tên trong hội tề cung cúc đi gấp lên đồn. Chắc chắn thằng Tây Bia sẽ dẫn một trung đội xuống làng để lấy lại uy thế quan đồn, xem dấu vết, nhân tiện bắt nộp thêm trâu hò heo gà đền công che chở. Mười giờ sáng, vẫn chưa thấy động dạng gì. Lính đã đi lấy nước. Trên quãng đường ba trăm mét dẫn xuống sông Thu Bồn, chúng rải một chuỗi lính gác cách quãng. Hai xe tải và một xe xi-tec từ đỉnh bò xuống theo con đường trôn ốc, lát sau lại rì rì leo lên. Du kích xã hai lần chôn mìn tự động phá xe, lần đầu mìn thối, lần sau bị máy rà mìn tìm ra. Núp bên kia sông bắn tỉa thì quá xa, khó trúng, bắn mươi phát lại được hưởng hàng trăm quả đại bác 75 và cối 81 giội xuống. Rùn người nép sâu vào bụi lau rậm tránh nắng, chính trị viên Ba Dĩnh lật cái mũ phớt méo mó, lau cái đầu trọc bóng như thày tu, thì thào: - Hay lộ rồi, Năm ? - Không. Lộ, nó đã bắn tưới hột sen, xăm nát đất... Chà chà, ngó coi... Đằng trước Chò và Dĩnh, các ổ cành lá ngụy trang động đậy mỗi lúc một nhiều, trông như có bầy chuột đồng bò luồn dưới lớp rạ tãi phơi. Đôi lúc một bàn tay thò hẳn lên, gãi vội vàng một chỗ ngứa quá quắt trên cổ lưng mông, lại thụt xuống như con chuột sợ người. Hoạt động trong một vùng bị địch phá sạch giếng, mương, đập giữa mùa đại hạn này đại đội bị ghẻ khá nhiều. Hôm nay nắng thiêu rát lưng, bụi đất và lá khô lọt đầy dưới áo, anh em ngứa điên rồi. Khác với những tiếng bật ho khi đánh đêm mà ai cũng nghe được, lúc này bộ đội nằm rời nhau, không thấy nhau, ai cũng tưởng chỉ một mình mình “tranh thủ cào chút xíu”. Thêm nửa giờ nữa. Cả trận địa phục kích ngọ nguậy không sót chỗ nào. Chỉ cần tên lính gác trên chòi canh cao vót kia tình cờ chiếu ống dòm xuống đúng mảng đất xơ xác này... Một tiếng “pình” bật lên trên đồn, tiếng nổ đầu nòng của cối 81 lắp thêm liều phụ. Các đám lá ngừng động đậy tức khắc, ngót tám chục bộ ngực ngừng thở. Quà đạn treo mãi trên trời không chịu xuống, cũng không rít réo như khi tìm thấy lưng đối phương. Một cột khói trắng đặc bùng lên đằng xa, cách đại đội ngót ba cây số. Địch ngắm vượt qua làng Phú Nhút dồn dân, qua làng Phú Nhị bị hủy diệt, bắn vào làng kháng chiến Phú Tam, bàn đạp tiến đánh của đại đội ! Quả đạn lấy đích vừa nổ, tiếng súng nhỏ, lựu đạn, cối 60 rộ lên dọc bờ rào Phú Tam. Năm Chò nghiến chặt răng, dỏng tai, cố ước tính số quân địch qua tiếng nổ. Rồi anh thở phào: - Không quá một đại, du kích chơi được. Mẹ cố tổ thằng Tây Bia, lại dẫn lính đi vòng, đánh bọc hậu.. - Cho rút chớ, Năm ? - Tẩu thôi cụ ơi. Truyền lên: lui về chỗ tập kết, bò thiệt kín ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:45:06 am Từng tiểu đội rời hố núp, bò dọc con mương khô. Năm Chò ngồi chỗ khuất đầu mương, thỉnh thoảng đét mạnh vào đít một cậu bò chổng đầu cao, sửa một túm lá ngụy trang bị tuột. Ba Dĩnh cố gương mẫu quá lâu, lúc này cầm cả một que củi nhám luồn vào sau lưng, cọ sồn sột dưới áo cho thỏa, đôi lúc nhắc một trung đội trưởng bò qua:
- Hễ đụng đầu tụi nó, đừng ham đánh, chỉ mở đường về xóm Đuồi Phú Nhị thôi nghen. Đại đội đã lọt gần hết vào góc khuất, dưới chân một gò thấp có nhiều vạt mua và ngũ sắc. Tiểu đội cuối cùng tưởng bở nhỏm dậy đi lom khom. Ba tiếng súng bật liên tiếp trên chòi canh, rồi một loạt trọng liên xả tới choác choác pùng pùng, tóe lửa đỏ trên đá. Năm Chò hét to: - Súng lớn đang bắn về Phú Tam, chưa kịp lấy đích. Chạy bây, chạy thí xác ! Hai pháo 75 và bốn cối 81 đang nã tới tấp về hướng khác, chưa kịp xoay họng thật. Chùng năm phút sau, đạn 81 mới ầm ầm đánh xuống chỗ chân gò hoang, sau lưng đại đội. Tiểu đội trưởng Xứng ủ rũ đi cuối cùng, nghĩ đến hình phạt sắp phải nhận. Theo “lệ làng” của đại đội 8 độc lâp, anh sẽ bị tước súng, lãnh hai quả lựu đạn, tự đi đánh lẻ kiếm cây súng khác về nộp. Mà lính thằng Tây Bia được chủ dạy cho tinh ranh như quỷ, đi đâu cũng kéo bầy theo đội hình chiến đấu, dễ gì chịu vất súng ! Tiểu đội phó Lậm dừng lại đợi bạn: - Lỗi chung, ta chịu chung. Mày cứ nộp mút-cơ-tông, về nằm tại chỗ chòi rẫy bà Thân, tao đem cho cây trường Mát. Đạn thì xin thằng Mãnh bắn trung liên vanh-cách, nó sớt cho. - Úi mẹ, mày kiếm hồi nào tài vậy ? - Bữa đánh ghe tuần của ngụy đó. Đêm tao ra sông mò lại, mót được một cây đem giấu. Đời thằng lính, tránh sao khỏi có hồi đạp cứt trâu ! Đúng như Năm Chò đoán, khi đại đội vòng tới bờ rào kháng chiến Phú Tam thì quân Tây Bia đã rút về đồn qua đồng trống, dưới làn đạn đủ cỡ bắn che. Còn may, chúng chỉ thọc vào đầu xóm, bắn bị thương một em chăn trâu, giết một trâu hai bò buộc dây lôi theo, đốt bốn cái chòi gần như rỗng. Tất nhiên, các ông bà già lại buông đôi lời nói gay, các cô du kích được dịp ghẹo bóng gió những anh bộ đội không đánh địch mà lánh địch, tìm chỗ vắng nằm gãi ghẻ. Chỉ riêng số cán bộ xã im lặng đăm chiêu: sáng sớm nay, anh huyện đội phó đến cho biết đại đội Năm Chò được lệnh rút về vùng Nam sông Thu Bồn để luyện quân nửa tháng. Chưa rõ sẽ có đơn vị nào thế chỗ hay không. Đại 8 độc lập vượt sông hơn một năm trước cùng với ba chục cán bộ và du kích bị bật ra khỏi quê hương. Rất nhanh, họ đánh bốn trận, móc nối với số cơ sỏ còn nằm chìm trong lòng địch, lập các đội võ trang tuyên truyền, xây dựng lại bộ máy chính quyền bí mật, diệt liên tiếp những tên Việt gian hung hãn nhất. Địch hối hả rút bỏ mấy chục tháp canh và bót gác cho đỡ mất lính mất súng, dồn về các đồn to. Các làng kháng chiến nối nhau mọc lên với ủy ban và du kích công khai, với chi bộ bí mật đã được sàng lọc kỹ, dựng rào đào hầm, mặt đối mặt đánh lại Pháp-ngụy. Cũng rất nhanh, Năm Phi Đao đi vào huyền thoại. Anh nổi tiếng khắp nơi, về nhiều mặt rất ngược nhau. Bọn ngụy binh truyền miệng vô số sự tích về “ông lớn Việt Minh” giỏi võ, thạo gồng, mang bùa ngải đạn bắn không thủng, ném dao vèo vèo như súng máy, bấm độn mà biết được mọi thứ mẹo rình hạ sát mình để quật lại đích đáng. Cán bộ và du kích các xã hiểu Năm Chò là anh chỉ huy gan góc, lì lợm, dễ thân dễ gần, khéo nịnh một chút thì sẵn sàng chia sẻ súng đạn cho địa phương, hay xiêu lòng vì rượu và gái. Anh em chiến sĩ quanh năm ăn ngủ với Năm Chò coi anh là vị gia trưởng rất thương lính mà cũng rất hắc: hắc với những ai nhút nhát, ích kỷ, gian dối, thương người đánh giỏi, gắn bó với anh em nó và làm thật bụng. Còn các cấp trên, tiểu đoàn và trung đoàn, thì nhận xét gọn hơn: chiến đấu tốt mà chính trị kém, gan mà ẩu. Đồng chí chính trị viên cùng Năm Chò vào địch hậu giữa năm 1948 bị đuổi gọn về trung đoàn. Anh này cùng với mấy cán bộ trung đội tiểu đội chung hoàn cành bị “trả lại cấp trên”, làm một báo cáo rất dài kể tội Năm Chò đang biến thành tướng thổ phỉ. Ban chỉ huy trung đoàn lục hồ sơ ra xem, thấy chính trị viên tiểu đoàn Lê Dĩnh - anh phu khuân vác cảng Đà Nẵng hồi xưa - là người thứ nhất giới thiệu Năm Chò vào Đảng bàn giao luôn cho ông lão làng trọc đầu làm vai luyện cọp, bởi Năm Chò đã được gọi là “hùm xám Thu Bồn”. Vài tháng sau, Ba Dĩnh vượt sông về báo cáo tận nơi: - Năm Chò đuổi chính trị viên: vì cậu này quá sợ, nằm sâu trong hốc núi, chỉ chuyên gọi cán bộ đến để làm báo cáo gửi lên trên. - Năm Chò đánh lính: chính cậu chiến sĩ bị hai bạt tai nhận rằng anh Năm cứu mạng mình, khi anh em dọa xử tử vì tội ăn cắp của đồng đội một đồng hồ với một nhẫn vàng, nhà cậu ta túng đói quá... Anh Năm đã hỏi trước, cố ý làm hùng hổ ầm ỹ để đại đội nguôi cơn giận... Sau đó anh em quyên góp và cử người về giúp gia đình cậu ấy có mẹ lòa, vợ bị thương, ba con nhỏ, rất khốn đốn. - Năm Chò giết hai tù binh Pháp: có thật, trong hoàn cành đơn vị bị vây cứng, phải bò bốn tiếng ban đêm để thoát vây. - Năm Chò ham rượu, hay kiếm gái: đúng, phải uốn nắn, xin để từ từ. Cán bộ trung đoàn bàn tính, thấy Ba Dĩnh cưỡi được cọp thì nên ngồi luôn trên lưng. Chỉ băn khoăn một điều: Dĩnh là cấp dưới của Năm Chò trong bộ đội Nam tiến, nay lên trên Năm Chò hai cấp, liệu có vướng mắc gì không ? Ba Dĩnh cười xòa: Năm Chò chỉ muốn làm chỉ huy đại đội, không muốn lên tiểu đoàn, trên đề bạt chưa chắc cậu ta chịu nhận ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:47:57 am * * * Lò chữa ghè là cái miếu thờ hùm beo gì không rõ, nằm xa làng. Trong đợt luyện quân, các trung đội thay nhau ra đây trút sạch áo quần cho vào thùng nấu, tắm nước lá thầu dầu sắc đậm và kỳ cọ các vạt ghẻ đến bật máu, bôi thứ thuốc nam bằng dầu hạt máu chó trộn diêm sinh, chịu giam ba bốn tiếng đến khi thuốc trên thân và áo quần phơi ngoài trời đều khô hẳn. Hôm Năm Chò cùng chữa ghẻ với trung đội ba, trời lại chơi ác kéo mây mù, mấy chục lính ta tồng ngồng trong miếu đóng kín cửa cứ réo gọi từng lúc, tay Dần cứu thương đại đội ở bên ngoài chỉ trả lời dấm dẳn là áo quần chưa khô, ráng đợi. Đến lượt Năm Chò ghé miệng kêu qua khe cửa: - Bác sĩ Đần ơi, nhốt tụi tao mấy ngày ? - Vài tiếng thôi, trời đang ngó lại đó anh. - Mày lục ba-lô tao, đưa cuốn sách vô đây, thêm cái đèn nữa, để tao làm công tác chánh trị cho lính nó đỡ la làng. Hễ thấy đàn bà con gái tới gần, mày kiếm cớ đuổi đi nghen. Cuốn sách và cây đèn dầu được tuồn qua khe cửa, đóng và sập rất nhanh. Năm Chò ngả tấm thân đen trũi trên bệ thờ xây vôi, gọi cậu thư ký đại đội: - Mày cứ đọc cái khúc Trình Giảo Kim là nhứt. Thằng Tần Thúc Bửu làm điệu thấy bà, Đơn Hùng Tín thì ỷ giàu, bỏ ráo đi. - Lần trước tới khúc Giảo Kim giựt xe bạc của Dương Lâm... - Thôi khỏi, mày cứ trở lại chỗ cha đó thoát ngục. Năm Chò lượm được bộ sách Thuyết Đường trong xóm chợ tản cư, táy máy lật xem mấy trang, chẳng ngờ trúng chỗ Trình Giảo Kim nhăng cuội mà vớ bẫm. Từ đó anh mang nó theo như Tam Tạng mang kinh, nhờ anh em đọc cho nghe từng đoạn, chỉ mê mỗi một thằng cha Giảo Kim gần gũi với mình. Cậu thư ký lật tìm một lát, bắt đầu đọc: “Va mình cao tám thước, vóc cọp, lưng rồng, mặt xanh, râu đỏ, sức mạnh hơn người. Tuy rằng đồng học nghề văn với Thúc Bửu nhưng lớn lên chẳng thông một chữ. Sau khi phân rẽ với mẹ con Thúc Bửu, mẹ con trôi nổi nghèo nàn, buôn bán kiếm ăn, ngại vì không vốn, phài hiệp với bọn côn đồ mà buôn muối lậu đặng kiếm lời nuôi mẹ”... Năm Chò lim dim mắt trên bệ vôi, buông một lời hình: - Mẹ tao chết sớm, tội nghiệp lắm... Đọc đi, mày tốt giọng như nói trên đài... “... Rạng ngày cửa ngục mở, tù nhơn lần lần kéo ra hết, duy có một mình Giảo Kim cứ ngồi làm thinh. Lính coi ngục hỏi rằng: “Trào đình ân xá tội nhơn, thảy đều ra hết, sao ông Trình còn ngồi đây làm chi?”. Giảo Kim nghe hỏi nổi giận, vả cho tên lính một cái xửng vửng mặt mày mà mắng rằng: “Quân súc sanh vô lễ ! Muốn ông ra thì phải dọn tiệc tiễn hành, ông ăn uống no say thì ông mới ra cho chớ, mi dám đuổi khan ông vậy sao ?”. Tên lính chẳng dám nói chi, lật đật chạy mua rượu thịt bưng vô một mâm ê hề, bước lại và xin lỗi và mời...”. Anh đại đội trưởng vỗ đùi đánh đét, cười ha hả: - Anh chị hết cỡ rồi đó. Hồi tao làm trùm xan ở Chí Hòa cũng chưa dám chơi lút ga thả xăng như lão Trình. Chung quanh cười ồ, bàn xôn xao: - Năm Phi Đao chịu thua là chẳng vừa đâu nghen ! - Lính gì như cục thịt thừa vậy ? Trúng Tây gác tù thử coi ! - Thằng cha cổ quái thiệt chớ, hì hì... Có tiếng gõ mạnh vào cửa miếu, tiếp giọng cậu Dần cứu thương: - Có giấy gởi anh Năm. Đút dưới cửa đó. Cậu thư ký nhặt giấy, đọc: “Kính anh Năm. Em sắp ra học tiếp ở Liên khu Bốn, đi gấp tới thăm anh một buổi mà các đồng chí không cho gặp. Em sẽ chờ thêm một tiếng nữa chỗ tiểu đội liên trinh. Sáu Cam”. Năm Chò chồm dậy, réo to: - Ôi bác sĩ Đần ơi, đưa áo quần đây, thằng em tao ghé thăm được một lát thôi ! - Còn ẩm lắm, mặc vô ngứa da, bao giờ mới lành ghẻ ? - Lành không lành kệ cha tao. Hay là mày lột bộ đang mặc, cho tao mượn... Máy móc thấy mồ. Cái điệu này, tàu bay tới bắn vô miếu, nó cũng giam cứng anh em mình cho chết ráo cạo. Dần làu bàu gì đấy rồi hé cửa đưa vào một mớ áo quần khô, trên thân cậu ta chỉ còn một quần đùi. Năm Chò mặc vội bộ xi-ta quá dài, gấp gấu quần lên vài nếp, vớ nịt súng ngắn và túi dết, tất tưởi vừa đi vừa chạy. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:52:33 am Trạnn gác của liên trinh đặt xa đại đội gần hai cây số để giấu chỗ đóng quân, không chừng Sáu Cam đợi lâu đã bỏ đi. Nhưng Năm vừa qua trước ngõ nhà đại đội bộ đã nghe Ba Dĩnh gọi:
- Vô đây, Năm ! - Tôi đi gấp cụ ơi. Thằng Cam tới… - Thì coi thử ai đây ! Mình lượm được chỗ trạm, giải về lấy cung. Năm Chò ngẩn mặt nhìn cậu lính trẻ trong nhà bước ra, miệng cười toét mà mắt chớp lia lịa, vươn hai tay chụp vai anh. Nó, đúng nó rồi ! - Thiệt mày hả Cam ? Sao khác quá vậy nhỏ ? Gặp ngoài đường, dám đánh lộn vài chục hiệp rồi mới nhận anh em đó ! Anh ôm ghì Cam, cố nuốt tiếng nấc đã trào tới cổ. Đợi cơn xúc động qua hẳn anh mới buông Cam ra, đặng hắng liên hồi, lấy lại giọng đùa giỡn: - Đó, nữa, nữa... Râu rậm nửa cái mặt mà tánh nết y như cựu, con gái nặn lầm... Mới nhổ giò mà sao mày cao quá ể vậy em ? Ông Ba ngó thử, hồi Nam tiến nó chưa tới nách tôi, bây giờ hơn tôi nửa cái đầu ! Cam xấu hổ quệt vội hai mắt, vào nhà. Trong khi Cam lúi húi mở ba-lô lấy thư và quà, Năm Chò ngắm thằng em không chớp mắt. Mới hơn hai năm xa nhau, nó lớn vụt lên dễ sợ, có lẽ cao một thước sáu lăm rồi - Năm quen đo người khi lựa lính, đoán ít sai - và còn lớn lên nữa, mới mười bảy tuổi thôi mà. Năm cũng nhận ra những nét giếng và khác nữa giữa Cam với anh chị em nhà Cả Chanh. Giếng nhau ở lông mày nét mác, mắt hơi xếch, cái cằm chẻ. Nhưng Cam khác ở nước da trắng hơn, mái tóc mềm hơi lượn sóng tự nhiên, đặc biệt là bộ râu quai nón mọc sớm và khá rậm. Các con trai ông Tư Chua đều có vóc người trung bình, da hơi nâu, tóc dựng cứng bàn chài, lớn lên hiện râu ba chòm lưa thưa. Lá thư Cả Chanh chỉ viết chung chung rằng anh được nghỉ chữa bệnh vài tháng ở Linh Lâm, rủ Năm Chò hồi nào về họp tỉnh hay liên khu thì ghé chơi ít bữa. Nhưng dường như anh cố ý viết rõ rằng Năm Bưởi lấy chồng bộ đội đầu năm ngoái, sau khi sinh con thì được tin chồng hi sinh ở Tây Nguyên, nay cũng về Linh Lâm sống với anh và Hai Thùy. Đọc xong lá thư anh Chanh, dưới có thêm mấy dòng thăm hỏi ghi thêm của chị Bưởi, Cam mới trách nhẹ: - Anh Năm lại quên hết mặt chữ rồi hả ? - Chưa quên, mà tao đọc chậm quá, mất hay... Cam nè, mày đậu tới cái bằng gì mà phải lặn lội ra tới Việt Bắc học tiếp ? - Bằng gì đâu anh. Em học hết Trung học bình dân thôi, hồi Tây coi như đậu đíp-lôm. Gặp hồi chị Thùy bị bệnh, anh La Giang bàn tính đưa em ra khu Tư học tiếp trung học chuyên khoa, túc là ban tú tài. Em không muốn mà anh Cả bắt phải đi. Anh La Giang được chuyển về quê ở Hà Tĩnh, trường chuyên khoa cũng đóng gần nhà ảnh. Em xin nhập ngũ, các ảnh nhứt định gạt hết... Hay là anh Năm cho em ở lại... Em cứ bám đây, làm lính của anh như hồi xưa... Trước mặt Năm Chò là cả một mớ quà miền núi: quế kẹp to gài những que tre ngang như nấc thang, thuốc nguyên lá Thượng vàng hườm, chè đọt xoắn móc câu, mít khô ngào với đường và mè, chuối khô ép nguyên quả, dứa khô xắt lát. Bà mẹ Tám chủ nhà bưng lên một mâm tú hụ không có chỗ đặt, kêu to: - Dẹp chỗ đi bây. Mì Quảng nhưn heo rừng đây, đứa mô chê phải nói rõ, lần sau khỏi mời... Tổ đãi được con heo sụp hầm ngon thịt lắm, mì tao làm thừa chớ không thiếu, bây ăn lõa xê đi, có điều thứ nước cay giữ chừng một chai thôi. Cam xếp được một ngày đi thăm anh Năm, tối nay phải về tới trạm liên lạc Bắc - Nam ở Trung Phước, một bến vạn lớn trong vùng tự do cách đây mười lăm cây số đường núi. Đoàn đi ra Bắc của anh La Giang dừng tại đấy để tắm giật, làm thêm lương khô, sáng sớm mai đi Bến Hiên. Họ sẽ vượt dãy núi ngang Hải Vân qua đường dốc Búk, một dốc cao nổi tiếng hiểm trở, mất hai ngày sẽ đến trạm Nam Đông thuộc tỉnh Thừa Thiên. Ước chừng non hai tháng đường núi mới tới Hà Tĩnh, nếu không gặp lũ lụt dọc đường. Năm Chò nhăn nhó trong khi lùa vội tô mì Quảng rất ngon: - Kế với hoạch, mấy cha nội đó làm bộ làm tịch hoài... Mày cứ ở chơi với tao ít bữa, các chả nhứt định đợi. Đi học xa phải đủ áo quần, thuốc men, tiền nong, mà cái ba-lô mày xẹp lép nằm kia. - Khó lắm anh. Ai cũng có công tác gấp, em phải nhập học kịp ngày. Mà ta ở đây đang đại hạn, chớ trên núi mưa dông đã nhiều. Giao thông các trạm nói đoàn này ta tới khúc Quảng Trị chắc bị mắc lụt... Anh thấy sao, em ở luôn được không ? - Nhận mày ngang xương, anh Cả mày dám tử hình tao lắm. Mày không nhớ cái trận ảnh làm dữ ở Quy Nhơn năm xưa à ? Tay mặt ảnh túm cổ tao đẩy trở về bộ đội Quảng Nam, tay trái ảnh chặn cổ mày bắt ngồi xuống ghế nhà trường, cấm không cho cãi oong đơ gì hết trơn trọi. Mà tao thấy mày sáng dạ, học hành tấn tới đi học tiếp là phải quá. Thôi thì vầy: mày đừng về bộ, đêm nay có ghe chở hai thương binh ngược sông về bệnh xá, mày quá giang lên Trung Phước cho khỏe. Để buổi chiều tao chạy thử, sắm được chút ít thì thêm vô... Tiền mày được bao nhiêu ? - Ra ngoài, anh La Giang hẹn cho em hưởng sanh hoạt phí bộ đội, hay là thiếu sinh quân. Yên chí lớn ! - Phụ cấp một tháng chưa đủ mua một bánh xà-bông nội, lỡ đạp bể bánh tráng người ta phơi, mày cởi áo ra đền à ? Khai thiệt tao nghe ! - Đủ xài mà, anh Năm. Em có nhậu nhẹt gì đâu mà tốn. Năm Chò “hự” trong mũi, ăn tiếp trọn bữa. Đợi khi Cam buông đũa kêu no kênh, anh lẳng lặng đến sau lưng Cam, nắm hai tay Cam bẻ quặt ra sau như cùm sắt, bảo Ba Dĩnh: - Trời đánh tránh bữa ăn. Giờ cụ moi hết túi nó ra, đếm thử. Sáu Cam chỉ có tất cả hai trăm sáu chục đồng Tài chính. Tờ tín phiếu liên khu Năm chỉ tiêu được ở vùng Nam đèo Hải Vân, vào trong xa kia sẽ giáp mặt tờ tín phiếu Nam Bộ. Tất cả các đồng chí đi ra Bắc đều được đổi lấy lại giấy bạc Bộ Tài chính do chính phủ ta in năm 1946, tiêu suốt từ Thừa Thiên đến Việt Bắc, chỉ khi qua vùng Pháp chiếm mới bị lúng túng giữa tiền Cụ với tiền Đông. Thế nhưng Cam kiếm đâu ra tín phiếu mà đổi ! Năm Chò buông tay em, khẽ nói ngậm ngùi: - Nghe nói anh Cả chị Hai mày túng thiếu, đâu có ngờ lại nghèo quá quắt vậy. Thằng em đi học ba năm lên ông tú, xoay được có bấy nhiêu. Hai trăm sáu giấy bạc trâu xanh, được hơn hai chục ký gạo, tao ở đây biết giá cả khu Tư hơn mày... Ông Ba ơi, lính cũ đơn vị Nam tiến đi học xa, ông mở khóa quỹ đen được chưa ? - Sẵn sàng. Ác cái, chỉ có tín phiếu với đum đum 1... - Cứ đưa. Tối nay tôi lên Trung Phước với nó, mờ sáng về. Mụ Tài trên đó buôn hàng ngoại Thừa Thiên, thiếu gì bạc trâu xanh. Bỏ dum dum ra đổi tiền Cụ cho thằng nhỏ đỡ rách... Năm Chò kéo Cam ra sông tắm trong khi Ba Dĩnh đi tìm quản lý. Vào giờ trưa đứng bóng này, sông Thu Bồn sáng chói như tấm gương soi cắt cong queo. Bãi cát sỏi ven sông nóng rực, chân người bước ra khỏi chỗ rợp cứ như dẫm trên nền tro một nhà mới cháy, chỉ chạy lúp xúp mới khỏi bị thui chín. Một cặp cu đất gù gù đâu đó trong lá, giọng ngái ngủ như người ngáy to. Ven bờ cây ngũ sắc một con bìm bịp lách mình vào lá rậm, thoáng chìm mấy mảng lông nâu và đen. Suốt năm qua quân Pháp chỉ càn tới đây một lần, chưa đốt phá được nhiều, chỉ thỉnh thoảng bắn lên vài chục quả pháo 75 ly. Năm chỉ cho Cam cái đồn Voi Quỳ mé dưới, cách chừng bốn cây số, màu đất nạo trụi trên chỏm càng hiện đỏ nhức mắt dưới nắng nung: - Tao chưa hạ được thằng quỷ sứ mắt khỉ, chưa chịu đi nơi khác đâu. Nó sống dai như đỉa, cố bám vùng này cũng như đỉa. Nó treo giá đầu tao ba chục ngàn tiền Đông, khá lắm chớ. Hai anh em rẽ vào chỗ bờ sông lở, tắm dưới bóng một chòm tre đổ nghiêng, ngâm mình thật lâu trong làn nước mát rượi không gợn phù sa. Cả Chanh dặn em đừng kể hết chuyện nhà mình gặp khó, ngại Năm Chò động lòng sẽ bươn bả về giúp “đại ca”. Những năm ở đày tớ cũng dạy Cam biết giữ mồm miệng. Cam có thể thưa thốt cầm chừng với hết thảy mọi người, với cả vợ chồng anh Chanh chị Thùy rất mến phục, nhưng chẳng hiểu tại sao gặp anh Năm thì Cam cứ tồng tồng trút ra hết như với một cậu tri kỷ cùng lứa tuổi. Cam chỉ giấu một điều là đã xoay gạo cách nào để đem về giúp chị Thùy. Cảnh nhà tản cư mỗi người một gánh trên vai, đến khi chị Hai Thùy sinh bé Tuấn thì cả bốn chị em cùng khốn đốn. Cam học vượt lớp ngấu nghiến, thi lọt vào trường Trung học Bình dân chắc hẳn chỉ vì các anh chị quên nhiều còn Cam mới nhồi đầy óc. Bớt một miệng phải nuôi, chị Thùy cũng bớt hai bàn tay khỏe mạnh giúp chị hằng ngày. Cam định bỏ học tìm việc làm kiếm gạo, nhưng chị Thùy dỗ, dọa, khóc, không cho bỏ. Ở trường hồi ấy có một số anh chị cán bộ được cảnh gia đình khá giả và không xa, thường nhận tiền, gạo, thức ăn từ nhà mang tới. Cơm tập thể quá kém, một nhóm bảy chị như thế lãnh sinh hoạt phí về nấu bếp riêng. Cần một cậu trai tráng góp sức gánh nước, bửa cùi, giã lại gạo, khi cần có thể đi chợ xa hay mua củi gánh về. Cam được các chị rủ vào chung nhóm vì khỏe, hiền lành, chăm học, lại nhỏ tuổi không lo tiếng đồn tầm bậy. Gặp lứa gạo nhà trường phát quá xấu, đem ra chợ bán sợ bị hiểu lầm là con buôn, các chị bàn cho luôn thằng em út. Nhờ đó vài tuần một lần Cam lại cuốc bộ bốn chục cây số khứ hồi, mang gạo về cho hai cậu em háu đói khi năm bảy cân, khi cả gánh nặng. Lượt lên trường, Cam lại gánh mắm, cá biển và các thứ mua hộ ở chợ Sông Vệ. Chị Thùy la rày mãi không được, đành nhận gạo của Cam. Và Cam không bao giờ dám thú nhận với mình rằng đây cũng chỉ là một kiểu làm thuê giữa những người học chung trường lớp của Cách mạng. Một búng khói chợt phụt trên đồn Voi Quỳ, màu trắng sáng lấp lánh dưới nắng. Quả pháo 75 ly bay thẳng hướng hai anh em nhưng ngắm tầm gần, nổ bùng chỗ khuỷu sông cong, sau đó tiếng hú và tiếng đề-pa mới vẳng đến tai. Tiếp một khẩu nữa bắn. Cả hai cây pháo cùng chúc nòng nã chéo dồn dập sang bờ Nam, dội tiếng vang giòn của những tấm tôn ném trên sân xi-măng. Năm Chò gắt một mình: - Mấy chả lại rập rình vượt sông giấc trưa. Thằng Tây Bia có ngủ gật đâu ! --------------------------------------------------------- 1. Tiếng lóng, chỉ giấy bạc Đông Dương của Pháp. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:33:45 am Chương IV Trước bốn chục cặp mắt ngước lên chăm chú, Hai Khánh nói những câu cuối trong bài giảng vỡ lòng dành cho tù binh Âu - Phi, kéo dài chừng hai tiếng. Anh quen lắm với những bộ mặt tù binh mới từ mặt trận giải về, hết sức khác nhau về màu da, đường nét, sắc thái tình cảm, những ý định nằm chìm sâu trong đầu từ khi lọt vào tay Việt Minh. Những sĩ quan từ võ bị Xanh-Xia ra, mắt gườm gườm kiêu ngạo và căm hận, cố giữ chút oai phong sót lại trong bộ binh phục rách tướp. Những lính quân dịch Pháp run sợ, mặt mũi sưng húp vì khóc suốt dọc đường, luôn luôn mở mồm bằng câu “tôi bị động viên”. Lính lê-dương mang mấy chục quốc tịch cũ, vất bỏ tổ quốc và gia đình từ khi ký giấy nhận đánh thuê, giữ cái vẻ ảo não tuân theo định mệnh, sẵn sàng khai ra những bản lý lịch lâm ly kỳ ảo nhất. Lính A-rập gốc Bắc Phi vừa lo sợ vừa hi vọng, cố nhớ lại những chuyện cha ông kể về thời xưa chống Pháp xâm lăng để Việt Minh thương tình không treo cổ. Lính da đen Trung Phi, mặt để trơn bóng hay rạch những vệt dài bôi đỏ, đến đâu ngồi thừ ra đấy và lẩm nhẩm những lời khấn khứa gì đố ai hiểu. Lại còn những người nguồn gốc pha trộn nhiều lục địa và chủng tộc, nhảy vào đạo quân viễn chinh Pháp kiếm ăn, chỉ biết vạch một chữ thập lãnh lương và mấy tiếng Pháp đủ nghe khẩu lệnh... Khánh cố nói giản dị, phát âm rõ, tránh những từ ngữ Pháp khó hiểu ngay cả đối với lính Pháp ít học. Anh khoan khoái nhận thấy những thái cực tư tưởng trên mặt bọn tù binh dần dần nhích lại gần nhau, tuy chưa nhập hẳn vào điểm trung tâm mà anh khoanh sẵn: tin tưởng ở chính sách khoan hồng và nhân đạo của chính phủ cụ Hồ Chí Minh. Chưa tin, rồi chúng nó sẽ tin... Anh quay sang bên, nói tiếng Việt: - Hôm nay bấy nhiêu là vừa, cho tụi nó nghỉ. Đồng chí trung đội trưởng gật đầu, bước tới rập chân đứng nghiêm, hét: “Gạc-đa-vu”. Cả lớp vọt dậy, thẳng người. Khánh xoay lại đợi. Đáng lẽ làm động tác báo cáo để cấp chỉ huy ra về, đồng chí kia lại hô lệnh cho về trại: “Ô-căng!”. Nhắc mãi vẫn quên. Khánh hơi bực, bước ra khỏi bục giảng kết bằng tre, vẫy cậu Suyền thư ký riêng mang ngựa đến. Chính trị viên trại tù hàng binh là một đồng chí ít học từ ngành công an đưa sang, một lần rụt rè đề nghị với anh Hai Khánh nên ở lại trong trại với trung đội bảo vệ, xảy ra điều gì rắc rối nhờ anh chỉ bảo giúp cho. Khánh cười nhạt: - Đồng chí quên rồi. Tôi là phó ban địch vận tỉnh, vì thiếu cán bộ mới kiêm việc này, nằm chìm vào đây bỏ công tác toàn tỉnh cho ai ? Mà ban đêm chỉ có xin đi ỉa đái chớ rắc rối gì ? Đồng chí chính trị viên chỉ còn biết gãi tai, nói lảng. Trại tù binh Âu - Phi đặt trong một hóc núi rậm cây, xa làng, có hàng rào tre gai vây kín, được canh gác kỹ. Trại hàng binh lập ở mé ngoài, cách một quãng đồi trọc. Được phân công về nắm hai trại này, Khánh cố tránh cảnh sống chui rúc nơi hoang vắng, dạo quanh vùng tìm chỗ ở riêng. Anh chọn được nhà Bảy Suyền rất tiện lợi: cách trại chừng hai cây số, gần chợ và con đường tỉnh dẫn xuống thị trấn Tam Kỳ, nằm cuối xóm đông dân nhưng vẫn cách quãng vừa đủ giữ yên tĩnh, dừa mọc chung quanh cao vút che mắt máy bay quần tìm đích. Đó là một nhà thờ họ khá lớn, được sửa lại theo kiểu nửa cổ nửa kim, nhác trông giếng cái đình với mái cong lợp ngói âm dương, xem kỹ mới thấy nhiều cửa kính và lá sách, nền lát gạch hoa sạch bóng, trên mái cũng lắp kính lấy ánh sáng. Chung quanh, tòa ngang dãy dọc khá nhiều. Tất cả nằm trong một khu vườn rất rộng trồng cây ăn quả, ngoài cùng có lũy tre dày bao kín. Khánh mới hỏi ướm một câu, đã được chủ nhà sốt sắng mời vào, dẫn đi xem khắp nơi, nhường luôn cho một dãy buồng thoáng mát, đủ bàn ghế giường, tủ. Tuy ngờ ngợ trước lối đón rước quá vồn vã này, Khánh vẫn dọn đến ở cùng với cậu cần vụ được gọi ngọt là liên lạc. Cậu này rất ưng ý khi anh chủ nhà bảo chỉ cần gùi gạo và cùng ăn rau mắm với gia đình, khỏi lo bếp núc. Những mâm cơm ăn chung ba người được nấu rất khéo và luôn luôn đủ thịt cá. Vài hôm sau, anh xã đội trưởng đến gặp Khánh cùng đồng chí chính trị viên tại phòng khách của trại, cho biết về Bảy Suyền. Ông nội Suyền là chánh tổng giàu khét tiếng, mê cờ bạc bán dần ruộng đất, ấy chính là ông cụ tám mươi, râu tóc trắng xóa, đã lẫn nặng, mà Khánh không bắt chuyện được. Cha Suyền làm thầu khoán phát tài, khi nhận hương hỏa mới sửa lại ngôi từ đường theo kiểu tự nghĩ ra, chuộc lại ruộng đất được vài chục mẫu. Sau Cách mạng tháng Tám ông ta ứng cử vào Quốc hội, tốn khá tiền thuê người đi cổ động, vẫn không trúng. Ít lâu sau, ở quê có tin đồn ông ta dính vào ổ Quốc dân đảng phố Ôn Như Hầu, bị công an bắt tại Hà Nội. Gần ngày toàn quốc kháng chiến ông ta về nhà, rồi độ một năm sau lại biến đâu mất. Bà vợ kêu vùng này gần mặt trận, sợ bom, dẫn hai con nhỏ vào Quảng Ngãi, rồi cũng chẳng thấy tăm hơi nữa. Ba người chị của Suyền lần lượt dọn về ở nhà chồng. Ra vào khu nhà thênh thang ấy chỉ còn bốn người: ông nội, một bà cô bốn mươi tuổi không chồng, một người ở già trông nom ông nội, và người cháu đích tôn là Bảy Suyền mới ngoài hai mươi, chưa vợ. Ho sống bằng ruộng đất cho thuê, rất ít khách đến thăm, cổng thường khóa im ỉm. Bầy chó của họ dữ khiếp, hay chui rào ra đường đớp người, may nhờ lệnh giết chó mới dẹp được. Cán bộ xã thôn lúng túng trong cách đối xử với gia đình này. Ruộng đất của họ không thể xếp vào loại vắng chủ để đem tạm cấp. Nhà họ thừa chỗ nhưng ngay cả đồng bào tản cư cũng ngại đến ở, nhà càng to càng dễ ăn bom. Suyền học cao, nghe nói gần đậu tú tài, nhưng được mời nhiều lần vẫn không nhận công tác gì, chỉ lâu lâu mới miễn cưỡng đi họp xóm vài tiếng. Năm bảy ngày một bận cậu ta đạp xe xuống Tam Kỳ hay ra Thăng Bình, chở về mấy thứ hàng ngoại khan hiếm với số lượng các trạm gác cho phép: vài, dầu lửa, thuốc tẩy, giấy vở... Các thứ khác, bà cô mua ngay ở các quán hay trong chợ. Hai Khánh bật cười: - Tóm lại, chẳng bới ra chứng cớ gì mà vẫn đáng ngờ, phải không ? - Dạ, thiệt vậy. Cái hành tung của anh ta khó am tường hết sức. Cha mẹ ảnh, cầm chắc là nhảy về thành thị ở với Tây rồi. Phần ảnh có liên lạc gì không, lãnh việc gì bí mật không... Anh Hai về trú đóng ở đó phải giữ chừng súng đạn, tài liệu. Cũng nhờ anh để ý coi giùm thử... Khánh đứng lên tỏ ý dứt chuyện, vỗ vai anh xã đội: - Cứ yên bụng. Cậu xem, Tây trắng Tây đen hung hãn thế mà bộ đội ta còn trói giải về hàng xâu hàng xốc, chúng mình còn dạy cho nên người, kể gì cậu ấm gầy nhom, xanh rớt ấy ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:38:30 am Chiều hôm sau, Suyền từ Nam Kỳ về, lúi húi rót dầu vào đèn măng-sông, bơm lên thắp thử. Cậu treo đèn lên, cười tươi:
- Thua gì đèn điện, anh Hai ! Dạo này công an cho đi lọt mỗi người ba chai dầu lửa, em mới đem cái đèn hư xuống Tam Kỳ sửa. Mấy tháng trước, em bán lúa đem tiền về cho mẹ trong kia, người ta bán ba đồng vừa đúng một cái nắp bật lửa rót dầu chưa đầy! Khánh cố tìm một nét gì khang khác trên nét mặt và trong giọng nói của cậu chủ nhà. Không thấy. Bà cô lặng lẽ bưng mâm cơm đặt trên bàn, hơi cau mày khi nhìn ánh đèn quá sáng, hất hàm về phía cổng. Suyền cười, khép cửa sổ lá sách: - Thí nghiệm một bữa cơm thôi, ai dám xài bảnh để thiên hạ chửi. Anh Hai sao chẳng biết, chớ em thấy hòa mình với dân cày thiệt là khó. Hơi khác họ một chút là bị chê bị trách lập tức. Hồi mới nổ súng, du kích dọa đốt cả tủ sách nhà em, nói chứa sách Tây để theo Tây ! - Cậu để đâu, mấy hôm nay mình không thấy cuốn nào ? - Lát nữa anh coi. Bây giờ mời anh uống chén thuốc cho khỏe, ăn ngon cơm. Suyền thò tay xuống góc cột, nhấc lên một chai nước màu nâu nhạt có gắn xi trên nút, dán nhãn khắc gỗ: Nước vỏ dền - Chuyên trị sốt rét, thiếu máu, kém ăn ngủ - Xưởng bào chế K.12. Khánh xua tay: “Mình không sốt rét đâu”. Nhưng Suyền vẫn tủm tỉm cạy xi, dùng que xoắn lôi nút ra, rót hai ly. Khánh nhấc ly lên ngửi, bắt được ngay mùi rượu cất bằng nếp thơm nồng, nặng độ. - Nhãn với khằn là để che mắt thế gian thôi. Đố ai tìm được cái xưởng K. 12 đặt ở đâu. Họ ngâm chút vỏ dền, thêm vị canh-ki-na, uống cũng đậm. Mời anh, linh động thử một lần ! Rượu rất ngon, nhắm với cá thu nướng Suyền mới mua về và món nộm đu đủ chua ngọt rất dẫn lửa, Khánh không quen uống mà nhấm nháp tới ba ly. Thấy đã hơi chếnh choáng, anh úp ly xuống mâm, xới cơm ăn, nghĩ thầm: “May cho mình, cậu liên lạc đi vắng, thằng ấy chúa thần là bép xép...”. Chiều hôm sau nữa, Suyền mới đưa Khánh vào chỗ tủ sách. Bên cạnh mấy chục cuốn tiếng Việt in trước Cách mạng là cả một đống năm sáu trăm cuốn tiếng Pháp, xếp chồng chất trên nhũng tấm ván dài kê chân niễng, trong một buồng xép kín đáo. Xem qua các gáy sách, Khánh nhận ra đủ loại: văn học cổ điển, trinh thám, phiêu lưu, khiêu dâm, tôn giáo. - Em mua trụm tủ sách của thằng cha chủ rạp xi-nê ở Đà Nẵng, hồi mới đảo chính Nhật xong, đám bồi bếp đang khuân đi bán làm giấy gói hàng. Thuê xe ngựa chở về chất đống. Ba em la một trận thất kinh, ổng đưa tiền biểu đi mua thứ khác mà ! - Hồi trước cậu học tới đâu ? - Mới đang học trò anh. Gần hết xơ-gông 1 trường Khải Định thì bị đảo chính. Các bạn cũ của anh ở Huế còn nhắc tên anh, học giỏi, bơi giỏi, đẹp trai, các cô nữ sinh Đồng Khánh cứ mê mệt... Khánh mỉm cười, đón một xúc động dìu dịu tỏa khắp người như gió mát trưa hè. Cái tên Hăng-ri Ung Viết Khánh vẫn còn vang đến lớp mới lớn ư ? Ấy là cậu này chưa từng nghe tiếng rì rào dội lên trong khán già khi Khánh từ sau cánh gà bước ra trong bộ áo quần của chàng Prince Chang ant 2 sắp đánh thức nàng Bạch Tuyết trong rừng, hay là vai hoàng đế Na-pô-lê-ông đối đáp với người lính gác, trong những vở kịch hát tiếng Pháp dịp cuối năm học... Một thứ phản xạ nào đấy bên trong Khánh chợt lôi ngược anh lại. Anh đã từng tô đậm trong nhật ký mấy dòng, còn gạch đít bên dưới: Ta được ưu đãi trong quá khứ Ta dứt khoát căm ghét quá khứ Ta vĩnh viễn đoạn tuyệt quá khứ Ta trở về với người lao khổ Ta sẽ thành một người cộng sản. Khánh hoàn toàn thành thật với mình khi viết những câu quyết liệt ấy, chưa một ai được xem, như con ve sầu lột xác khi thật vắng. Nhưng các thứ cám dỗ cứ đến từ mọi phía... Vade retro, satana ! 3 Anh quay lại, nghiêm khắc: - Học khá thế, sao cậu không kiếm công tác gì phục vụ kháng chiến ? - Anh coi đó, cán bộ quanh đây người mù chữ, người mới học bình dân... - Các trường đang mở lại, cậu đi dạy được chứ ? - Em là đứa sinh ra tiên thiên bất túc, các thầy thuốc chạy hết, nói không sống nổi đến tuổi lên ba... Bây giờ em đi dạy xa, ăn cơm trọ, chắc nửa tháng là gục luôn. Ước gì em được mạnh bạo như anh, em ra trận từ lâu... ------------------------------------------------------------ 1. Năm thứ nhất cấp ba (phổ thông trung học, thời Pháp thuộc). 2. Hoàng tử Đáng Yêu, tên một nhân vật trong truyện cổ “Bạch Tuyết với bảy chú lùn” nổi tiếng ở phương Tây. 3. “Hãy lui đi, quỷ Xa-tăng !”. Lời của Chúa Giê-xu mắng quỷ trong Kinh thánh đạo Thiên chúa, bản La-tinh. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:41:49 am * * * Hai Khánh không nhận thấy gì khác thường trong những ngày tiếp theo. Lòng mến phục của Bảy Suyền không giảm sút, chỉ tăng thêm, nhất là sau khi anh giảng cho Suyền mấy đoạn khó trong thơ Va-lê-ri và văn siêu thực. - Em mới gặp anh, chớ nghe tiếng anh từ lâu. Tụi Tây được anh dạy, trầm trồ khen anh ghê đi. - Cậu gặp đứa nào ? - Hai thằng Pháp, một tên là Mạc-xen, thằng kia không rõ, ghé ăn quán ngồi bên em. Thằng Mạc-xen nói anh giảng chính trị còn hay hơn ông giáo dạy văn của nó, bên Pháp... Dầu không nghe đồn, em cũng đoán được anh là ai. Anh mới xuống ngựa bước vô ngõ, em biết là trí thức bậc cao liền à. - Ái chà, Khổng Minh tái thế ! Khánh gạt đi, nhưng hiểu cậu này không bịa, chỉ thêm dấm ớt. Hắn ta trẻ mà, quý ai thì bốc thơm lên chín tầng mây, ghét ai thì vùi dưới bảy lớp đất ! Vả lại Khánh cũng biết người khác nghĩ gì về mình. Mỗi người một phách, quá khen hay quá chê đều có đủ. Lấy ý kiến trung bình của số đông cán bộ thì Khánh là một trí thức trẻ, sớm tiến bộ, có tài, phải cái kiêu ngầm và thích sống cô độc. Riêng đối với các cô cậu học sinh mới rời ghế nhà trường theo kháng chiến, Khánh là thần tượng. Bước vào đêm lửa trại thanh nien, đến nói chuyện ở một trường trung học tản cư, ghé qua bệnh viện khám sức khỏe, anh thường lọt vào giữa những khuôn mặt ửng đỏ, những nụ cười cởi mở hay duyên dáng. Khánh nổi bật lên với vóc người cao và dẻo của lực sĩ bơi lội, bộ mặt đẹp trai đã trải sương nắng, lời đối đáp hóm hỉnh. Cộng vào còn thêm cặp áo quần ka-ki ngoại ép thẳng nếp dưới chiếu, đôi ủng da, cây súng Côn 45 trong bao Mỹ, con ngựa to lớn gõ móng đợi ngoài sân: Ban binh vận tỉnh chu cấp rất khá để giữ tư thế oai vệ cho người lên lớp tù binh Âu - Phi, còn dạy tù binh ngụy thì sao cũng xong... Trong vùng tự do Nam Quảng Nam mọc đầy những dãy phố tranh tre nứa lá của đồng bào thành thị và các huyện Bắc tản cư vào. Lâu lâu, một trận bom đánh vỡ một khu nhà xúm xít, chỉ năm bảy ngày sau những chuỗi lều rời lại nối tiếp nhau hiện lên trên mấy khúc đường có ít nhiều bóng cây chung quanh đấy, người dân lìa quê thi gan chịu đựng để giữ lòng trung với Tổ quốc và Cụ Hồ. Các cô hàng quán nhớ mặt thuộc tên các anh cán bộ và bộ đội rất nhanh. Mỗi dịp đi đường, Khánh được nhận không biết bao nhiêu câu chào mời đon đả giàu ngụ ý, kèm ánh mắt nói nhiều hơn môi. Anh chỉ xin lỗi và giục ngựa đi gấp. Rất may là trong kháng chiến khó gửi thư, nếu không số thư gửi cho Khánh sẽ đọc không hết. Kể ra, khi cuộc sống xô bồ chông chênh dưới bom đạn dễ khiến cho trai gái buông thả với nhau, giữ mình được như Khánh là giỏi. Một chàng trai hai mươi lăm tuổi rất khỏe mạnh, lại được lắm cô mê tơi, vẫn thường cẩm thấy cần đàn bà. Khánh cố cưỡng lại đòi hỏi ấy. Người đàn bà bước vào đời anh chỉ gây rối. Một Xi-mo-nét Mỹ Duyên cùng mối tình đầu rất éo le đã quấy đảo anh nhiều năm. Tiếp đó, một trận ốm và những cơn buồn chán đã đẩy anh vào tay Năm Bưởi, cô gái cùng làng. Mỗi lần Năm Bưởi với đứa con trong bụng quay về ám ảnh, Khánh cố gạt đi, xua đi, quên đi. Anh không hề yêu Bưởi. Anh chỉ xiêu lòng khi một cô gái cố tình hiến thân. Có thai, cô ấy khoác cây súng kỵ binh Nhật lên vai, ra đi không một tiếng than thở... Nghĩ đến làm gì. Chỉ nên nhớ bài học của một lần trót dại... Bảy Suyền xin giấy xã đi thăm người chị lấy chồng trên huyện Tiên Phước. Có lẽ được xã mật báo sao đó, trạm gác ở cuối huyện Tam Kỳ chặn xét cậu ta rất kỹ, cả hàng lẫn người. Suyền chỉ đèo sau xe đạp một gói to mắm ruốc, tôm khô, cá chuồn muối, kèm một chai dầu lửa, những thứ ai lên vùng trên cũng mang theo. Trong người không có gì đáng nghi. Ba ngày sau cậu trở về lắc đầu kể với Khánh vụ soát kéo dài hàng giờ, vẫn cười: - Còn đỡ hơn hồi mới nổ súng. Cuốn vở học sinh in bản đồ Đông Dương trên bìa sau, kèm một cây bút chì xanh đỏ. Vậy là mấy ông du kích i tờ ghép tội mang theo bản đồ với cờ Pháp !... Thiệt may, em gặp bác nhà đi họp Mặt trận Liên Việt tỉnh, ở trọ nhà chị Tư em, gởi thơ với tiền cho anh đây. - Bác nào thế ? - Bác tú Đỉnh, ba anh chớ bác nào ! Anh không biết à, bác bây giờ là phó chủ tịch Liên Việt huyện Tây Quảng. Bác đem tiền với đồ tiếp tế cho anh, tính họp xong mang xuống đây, gặp em bác gởi luôn. Con ngựa Hường nhà anh già rồi, đi bước một như ta đi bộ thôi, bác chỉ cưỡi nó cho đỡ mỏi chân. Suyền trao cho Khánh lá thư dán kín với xấp giấy bạc bốn ngàn đồng tín phiếu, kèm gói quà quen thuộc gồm các thứ thổ sản làng Linh Lâm. Đã hai năm nay Khánh không về Linh Lâm tuy chỉ cách một ngày rưỡi đường bộ trong vùng xa địch, đi ngựa chưa hết một ngày. Anh ngạt cái không khí vay mượn gượng gạo trong ngôi nhà âm u nọ. Năm xưa người ta đóng với nhau những vai cha mẹ, con cái, chị em đã đầy ép uổng, gần đây lại đóng thêm vai nhân sĩ yêu nước, trí thức tiến bộ nữa, với điệu cười xởi lởi trước mặt mọi người và nỗi khinh ghét hằn học khi cửa đóng kín. Quan phủ Đỉnh rời thành phố Quy Nhơn trở về quê với bộ râu năm chòm nuôi dài, cặp bà ba trắng giản dị, cùng niềm tin rằng chính phủ Cụ Hồ không truy tội cũ của giới quan lại. Ông ghé tìm Khánh ở cơ quan - lúc này anh đã về làm địch vận ở Quảng Nam - trao lá thư của bà Lợi Thịnh. Một lần nữa me Khánh lại chịu ơn ông chồng bước kế. Vừa đánh hơi biết thành phố sắp phải tiêu thổ, ông đã chạy bán được căn nhà hai tầng của tiệm buôn Lợi Thịnh, lấy toàn vàng diệp. Nửa tháng sau, những căn nhà liền phố chỉ tháo bán được cánh cửa và đồ điện trước khi dân quân đến đập tường. Me Khánh đưa các em lên tàu suốt ra thẳng Hà Nội, dựa vào mấy ông anh bà chị, ngoài ấy mới qua nạn đói nhưng có vốn vẫn kiếm được đủ ăn, còn trong Nam này chiến sự từ Nam Bộ cứ lan ra mãi. Thằng em Rô-be Chương không theo me, vác cây đàn ghi-ta nhập vào đoàn Văn nghệ nào đó ở Phú Yên. Từ đó Khánh thỉnh thoảng nhận thư gửi từ Hà Nội và Phú Yên, đến ngày cả nước nổ súng thì vắng hẳn. Chỉ còn ông phủ Đỉnh ở Linh Lâm là người thân để Khánh lui tới. Tất cả những ai xa nhà đều cần một vài nơi để ghé qua tạt về trên những dặm dài công tác, dù chỉ để hưởng một tối được gọi bằng con, anh hay chú. Và nếu có được một bà mẹ nuôi thân thương, một người vợ đảm đủ sức tự túc nuôi con và tiếp tế cho chồng, ấy đã là hạnh phúc đáng thèm thuồng. Những người không biết rõ cảnh nhà của Khánh đều ngạc nhiên vì anh rất ít nhắc đến cha mẹ tuy vẫn nhận nhiều thư, quà, tiền gửi đến. Nhiều đồng chí rẽ thăm nhà Khánh, khi kể lại cụ tú Đỉnh tiếp họ niềm nở và tỏ ra học nhiều biết rộng trong khi trò chuyện, thường thấy anh nghe lơ đãng, không hỏi thêm, có lúc đứng dậy xin lỗi để đi việc gấp. Khánh không về, ít viết thư trả lời, nhưng ông bố hờ chẳng lấy làm điều, giữ nguyên mối dây nối với anh. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:43:58 am Lần này bóc thư ra xem, Khánh nghĩ về cái tên “cụ tú Đỉnh”. Ông ấy chưa từng đỗ tú tài, nho học cũng như tây học. A à, hiểu rồi... Ở huyện Tây Quảng ít nhà khoa bảng, người ta thường gọi tên những người đỗ đíp-lôm thời Tây lên ông tú, và nếu khao làng đủ lệ thì cũng được lý hương xếp ngồi cùng chiếu với các cụ tú lều chõng bút nghiên. Ông ấy khôn thật. “Ông Đỉnh” hay “ông Ba Đỉnh” nghe thấp kém quá, ngắn dài cũng đã nuôi được chòm râu. “Cụ tú” mới ra dáng trí thức chứ. Dù sao ông cũng học qua trường Hậu bổ ở Huế...
Đọc lướt những dòng thăm hỏi khá nồng nàn, Khánh bỗng giật mình dừng lại. Anh nhắm mắt vài tích tắc, mở mắt đọc tiếp: “... Cùng về với vợ chồng ông Phan Chanh có cô Năm Bưởi. Cách hai tháng cổ sanh một đứa con trai to mập lắm. Cà nhà ông Tư nói là cổ lấy một anh bộ đội, cưới xa nhà ở Quảng Ngãi, mới có tin ảnh hy sanh ở Tây Nguyên, mà sao cả làng đều đồn đại đó chánh là con của anh Khánh, ảnh bỏ không nhìn. Ba chẳng bịt được miệng tiếng thế gian. Vậy nhắc để con giữ ý...”. Bưởi đã khai cho con một lý lịch giả ! Trong chớp loáng, Khánh thấy lại cặp mắt mê đắm của Bưởi, giọng thì thào ngất ngư bên tai: “Trời sập em không sợ, nhứt đánh nhì đày em không sợ, chỉ sợ anh không thương em...”. Cây súng kỵ binh trên vai, Bưởi đi dự chiến cùng bộ đội ở mặt trận Bà Rén, bị thương ở mông, vết thương lắt léo ấy buộc cô phải nằm bệnh xá hơn tháng. Cô sắp ra viện thì Khánh được khiêng vào, mê man vì sốt rét ác tính. Dạo ấy bệnh xá đang bị máy bay lùng riết, nhân viên thiếu, mà ca của Khánh cần người nâng giấc suốt đêm, ban ngày cõng ra hầm nhiều lần. Các thầy thuốc rất mừng khi Bưởi tình nguyện ở lại săn sóc đồng chí phó ban địch vận tỉnh rất nổi tiếng này, người cùng làng nữa càng quý. Hai cánh tay quen đánh búa lò rèn của Bưởi không khéo léo mấy nhưng rất khỏe. Bưởi đào thêm một cái hầm ngay bên giường trọng bệnh, lót sẵn ván chiếu, khi cần cô xốc Khánh trên hai tay đặt xuống đây, lúc nguy cấp mới cõng Khánh theo đường hào ra hầm sâu ngoài vườn. Cô ngủ ngồi chập chờn bên Khánh đêm này qua đêm khác, chỉ cười khi thấy các cậu cứu thương le lưỡi phục dài: “Tôi ở du kích mà, thức đêm gác với tuần quen rồi...”. Bưởi cảm thấy mình đang truyền dần sức khỏe sang cho Khánh ngày một ít, như người ta tiếp máu; trong thân thể người con trai dần dần trở lại trẻ đẹp này có rất nhiều da thịt của cô. Chỉ cần nhận được một ánh mắt trông theo, một nụ cười biết ơn, một lời giục đi nghỉ, Bưởi đủ mạnh lên như uống sâm và được đền bù tất cả. Cuối cùng, điều không cưỡng nổi đã xảy ra. Bưởi mê cuồng, Khánh chỉ yếu lòng và thương hại. Rồi họ chia tay lặng lẽ. Khánh trở về Ban địch vận, Bưởi ở lại bệnh xá làm cứu thương. Ngót ba tháng sau, Bưởi đem thuốc đến trại tù binh, gặp riêng Khánh báo tin có thai. Trước vẻ hốt hoảng mà Khánh không kịp giấu, Bưởi chỉ cười nhạt: - Cậu cử đừng lo. Con nhà nghèo hèn như tôi không dám đòi làm dâu quan phủ đâu, chỉ ghé chào cậu một tiếng cho trọn tình nghĩa đồng hương. Bưởi thôi việc ở bệnh xá, biến mất. Ít lâu sau, một nhóm dân công làng Linh Lâm đi lãnh muối, gặp Khánh dọc đường, cho biết Năm Bưởi đã lấy chồng bộ đội, anh này phải cưới gấp tại Quảng Ngãi để kịp đi chiến dịch. Đường sá cách trở, anh Cả Chanh thay mặt họ nhà gái, cũng như hồi ảnh cưới chị Thùy phải nhờ anh La Giang làm nhà trai. Cưới xong, vợ chồng cô Bưởi chụp hình chung kèm thư gửi về quê, ác hại sao mà bị lạc mất. Tới lá thư sau của anh Chanh, ông Tư Chua mới biết có con rể đại đội phó, cả nhà cũng ưng ý. Đến nay sự thể đã hiện rõ: Cả Chanh ém nhẹm vụ em gái chửa hoang bằng một người chồng tưởng tượng. Nhưng đứa trẻ còn đấy, càng lớn lên càng giếng Khánh, mới hai tháng dân làng đã nhận ra... “Cụ tú Đỉnh” biết thóp được chỗ yếu của Khánh rồi, chắc gì cụ để yên. Còn tay Bảy Suyền khó dò này nữa, hắn biết về Khánh tới mức nào, sẽ dùng những điều hắn biết vào việc gì ? Khánh gục đầu xuống bàn, bưng trán. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:45:29 am * * * Lúa từ hàng binh cũ được giao về liên khu mới mươi hôm, lại một lúa mới kéo về, hầu hết là lính Phi: bọn ta-bo gốc Ma-rốc, lính mặt rạch từ các thuộc địa Trung Phi, cả một số Ma-đa-ga-xca có nét gần người Đông Á. Khánh bận rối mù vào những buổi lên lớp, lấy cung, lập hồ sơ. Anh quên nhanh vụ rối ren vừa rồi. Đánh giặc rầm rầm, thì giờ đâu mà loay hoay với những mối tơ lòng ! Quả là trại cần một thông dịch viên hằng ngày lui tới, chí ít cũng để giảng giải nội quy, chặn những tên du côn và dỗ mấy đứa tuyệt vọng chờ chết. Giao cho một tiểu đội trưởng đã từng đi lính thợ O.N.S. ở Pháp tới năm năm, chỉ mấy hôm sau Khánh đã nhận thấy anh này nói lua lua nhưng dịch sai toét. Thử một chiến sĩ trẻ từng học trường dòng với cố đạo Pháp, cậu này lại mắc cái tật chắp tay cúi đầu và thưa gửi quá hạ mình trước tù binh, không sửa được. Vài người nữa chỉ biết tiếng Pháp ở mức điểm chen vào tiếng Việt để vây vo trước cô hàng cà-phê cô-táp. Không ngờ đồng chí chính trị viên lại gợi ý cho Khánh dùng Bảy Suyền làm thông dịch: - Dụng nhơn như dụng mộc, anh à. Mình nói gì ảnh dịch nấy, có phải ảnh tự nghĩ ra đâu. Khánh còn giữ ý: - Anh hỏi lại các đồng chí địa phương coi thử, chưa chắc họ đã tin... - Tôi hỏi rỏi. Họ nói nhờ anh Khánh kèm riết, chắc cậu ta chịu ra khỏi vỏ ốc, lần hồi mới theo kháng chiến. Suyền chần chừ không nhận việc ngay: - Cho em suy nghĩ thêm đã. Theo anh làm đồ đệ thì em muốn lắm, vậy chớ còn biết bao nhiêu ông cấp trên ra lệnh tới lui... - Thì cậu làm thư ký riêng của mình là tiện nhất, chỉ có một cấp trên thôi ! Từ đó cậu chủ nhà niềm nở nhưng xanh gầy biến thành thư ký riêng của đồng chí phó ban địch vận tỉnh. Cậu ta đến trại đúng giờ, cần mẫn dịch viết các bản khai lý lịch và dịch miệng cho anh chính trị viên hỏi chuyện tù binh, hết giờ mới về, y hệt một học trò hay công chức chăm chỉ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:50:26 am Chương V Vừa bước qua chỗ rào trổ sau nhà, anh Bảy Quý đứng sững lại, mặt ngây ra. Từ sau lớp phên tre không trát dội ra những tiếng hăm dọa. Tiếng đập, vỗ. Tiếng thở hầm hập và hừ hự trong mũi đầy hăm dọa. Tiếng chân dẫm đất và tay cào. Cả tiếng cười rinh rích của phụ nữ... Quái thật, vợ chồng tay bác sĩ Nhật giở trò gì đây ? Anh Tô Xáng bước dấn tới, vòng ra trước cửa. Cả đoàn kéo theo. Họ thấy ngay một cảnh khó hiểu. Cậu Ta-kê-đa mặc áo quần bà ba, thắt dải vải ngang bụng, đi chân đất, đang xuống tấn và vờn hai tay tới trước. Cô vợ Bích Thủy cũng mặc hệt như chồng, đứng trên chiếc chiếu rách với dáng điệu hoảng hốt. Bỗng Ta-kê-đa gầm lên: - Ô-xa-ê kô-mi ! Bích Thủy nhảy lùi, cười rú: - Mai-ta ! Em mai-ta rồi mà ! Chợt trông thấy đám người đứng trước thềm ngơ ngác. Thủy kêu rối rít: - Khách đến kia, anh Đa ! Thôi, ma-tê, ma-tê, nghỉ thôi 1. Mời các anh chị... Mặt còn đỏ rạng và mím môi cố nín cười, Thủy cuốn vội tấm chiếu dưới đất, kéo xềnh xệch chiếc bàn độc và cặp ghế dài trở lại chỗ cũ giữa nhà, trong khi Ta-kê-đa bước tới trước cửa, duỗi ép hai cánh tay cạnh sườn, cúi nhanh và ngửng nhanh: - Tôi xin kin chao cac đôông chi ! Toi xin moi cac đôông chi vao nha ! Bích Thủy chạy ù vào buồng trong. Chị Sáu Lễ một mình bước theo, hỏi nhỏ: - Gì kỳ vậy, em ? - Hì hì, dạ... Ảnh tập võ nhu đạo cho em... buồn cười bỏ xừ... hay lắm chị... - Tập võ sao lại tức cười ? - Để sau em nói. Em thổi lửa pha nước cái đã. Hình như có anh Bảy, anh Xáng, đúng không chị ? Mãi khi lửa đã cháy to dưới cái ấm đất. Thùy mới giảng cho chị Sáu: anh Ta-kê-đa hét Ô-xa-ê kô-mi là anh sắp đè ngửa đối phương trên chiếu, cưỡi sấp lên ! Trong khi ấy, anh Tô Xáng hỏi thăm công việc và cảnh sống của vợ chồng bác sĩ Tạ Kế Đa, tên mới của anh chàng sĩ quan quân y Nhật bị bọn quân phiệt kêu án tử hình vắng mặt. Khi thật bình tĩnh, Ta-kê-đa mới dần dà nhớ các dấu trong tiếng Việt, nói sõi giọng hơn và đỡ chen những tiếng Nhật lạ tai. Anh đã thuộc từ ngữ khá nhiều nhờ công Bích Thủy. - Kính thưa thượng cấp, đời sống của chúng tôi không gặp sự khó khăn. Công tác của chúng tôi tại bệnh viện này là tốt. Tôi làm được sự giải phẫu các ki-dư... à, các thương tích... và tập rèn sự đánh trận cho tự vệ một chút... tức là các cá chiến đấu giáo huấn... Ta-kê-đa xoa cái cằm bọc râu lún phún, liếc xuống bếp, chừng muốn cầu cứu vợ. Bích Thủy đang bận nhỏ to với chị Sáu Lễ, anh ta không dám gọi. Anh Bảy Quý đoán ngay cậu này sợ vợ vào loại khá. Kể cũng lạ, nghe bảo đàn ông Nhật coi vợ như người hầu hạ kia mà. “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”, dân mình đã đồn thế mãi... - Tinh thần của nhân viên là tốt, của thương binh là tốt. Tuy vậy, nhưng mà, có lẽ... Tai-hen yô-cư đê-ki-ma-si-ta, kê-rê-đô-mô... chô-tô ket-ten đex nê… Chúng tôi không có đầy đủ các ya-cư-đai... các thuốc men cần thiết cho sự lành vết thương. Tôi hiểu biết trong chiến tranh luôn luôn có sự thuốc men không đầy đủ, nhưng mà thượng cấp có thể ban cấp thêm cho bệnh viện của chúng tôi. Bởi vì nơi đây gần mặt trận Bắc Quảng Nam, chúng tôi thường xuyên phải chữa cho cả quân đội và nhân dân bị thương do bom đạn của địch gây nên, một vết thương chữa kịp thời có thể cứu được một mạng người hay một phần thân thể ! Câu cuối này Ta-kê-đa nói thẳng một lèo không vấp váp vì lựa chữ, chắc hẳn anh học thuộc lòng trong một bản viết nào đấy, tất nhiên là theo lệnh của cô vợ gốc Hà Nội. Chị Sáu xách ấm đất từ bếp lên, chế nước sôi vào bình tích, liếc chồng: - Thủy nó nói vợ chồng anh Chanh có tới đây khám bệnh một lần thôi, hơn nửa năm không thấy ghé lại. Bệnh viện này ở trung tuyến, không chữa được bệnh thần kinh, bệnh bao tử... Còn chị Xáng với hai cháu chống ghe vô vạn Linh Lâm mua cá. Sao, tối nay ta ngủ đây hay đi tiếp ? Chị hỏi đùa, biết anh Bảy và anh Xáng sẽ giục “lên ba-lô”. Anh Bảy Quý vào họp ở Nam Bộ, vừa trở về đến khu Sáu đã nhận được điện điều ra Việt Bắc, cả hai vợ chồng. Anh bàn giao gấp cho đồng chí bí thư mới, leo núi ra đến Quảng Ngãi gặp vợ. Sau vài tuần làm việc với Thường vụ liên khu ủy, ghép chung đoàn với anh Tô Xáng bí thư Quảng Nam cũng ra Trung ương để báo cáo, anh Bảy lại chống gậy đi tiếp chuyến vượt núi suốt cả chiều dài đất nước. Tất cả các đồng chí đều lo anh gục dọc đường, dẻo dai đến mấy thì cái tuổi ngoài năm chục không phải chuyện đùa. Anh Bảy cứ cười cười, gạt đi: “Mình leo dốc từ Cực Nam ra, anh em dẫn đường rớt lại đằng sau lu bù đó nghen ! Đừng cử người theo mình, đường rừng hay đường địch hậu đi từng nhóm nhỏ là gọn nhứt !”. Anh Hồng Long tư lệnh liên khu phải bịa ra lý do: một số đồng chí gốc ngoài Bắc vào Nam chiến đấu đã lâu, muốn về gần quê, ghép chung đoàn với anh Bảy cho tiện thôi, chẳng lẽ anh cấm họ cùng đi ? Thế là, ngoài đồng chí bảo vệ rất khỏe và rất nghiêm khắc của mình, anh Bảy phải “đi chung” với một y tá trưởng đeo túi thuốc căng phình, ba cán bộ trung tiểu đội về quê mà lại mang theo tiểu liên. Tính họ lại hay tương trợ, cho nên ba-lô anh Bảy lúc nào cũng nhẹ bỗng. Cơm nước dọc đường anh chỉ được phép ăn chung với chị Sáu, anh Xáng, còn bộ đội có mâm riêng, chế độ riêng, chính quy mà ! Rốt cuộc rồi cũng cười xòa, không che mắt nhau nữa. Nghe chị Sáu kể về vợ chồng Cả Chanh, anh Bảy giật mình. Anh định đến Ban tổ chức liên khu ủy hỏi kỹ thêm, rồi bận quá đành thôi, chỉ nhắn ông Hai Rề, Bảy Tộ cùng mấy anh em đáng tin cậy trong ngành hỏa xa đến gặp anh một buổi tối gần ga thị xã Quảng Ngãi, trong khi chờ tàu. Ra đến Quảng Nam, anh thức đêm viết thư gửi về liên khu bàn gỡ rối trong ngành hỏa xa, việc trước tiên cần làm là đưa Ba Mậu đi nơi khác, chấm dứt vai trò bí thư Đảng ủy và quyền giám đốc hiện nay. Cả Chanh đủ sức khỏe trở về ngành cũ được càng hay, nếu không thì nên chọn trong số ba bốn người do anh giới thiệu. Đường giao liên ra Bắc có nhiều ngả. Anh Bảy chọn đi ngả Linh Lâm, hơi xa hơn nhưng có thế ghé thăm vợ chồng Cả Chanh, bởi anh đoán từ nay đến ngày hoàn toàn độc lập sẽ khó gặp lại người bạn tù khác tuổi đã giúp anh thoát chết bệnh trong nhà lao, người cán bộ cấp dưới đã bị anh đòi hỏi nhiều, phê bình nhiều, mà săn sóc trở lại rất ít. Biết làm sao được. Nay không còn là lúc cắm thuyền trên sông Cửa Đại dưới trăng, thì thào bàn chuyện khởi nghĩa và húp chén cháo cá nấu thật khéo của chị Xáng... Anh Bảy rất mừng khi biết con thuyền tản cư lênh đênh của mẹ con chị Xáng đang dừng ở gần chợ Huề Bình, trên đường tới Linh Lâm. Chị Xáng đang làm chân tiếp phẩm cho bệnh viện tỉnh đóng tại đấy. Thế là anh “Bát Đập” cũng tiện dịp thăm vợ con trước chuyến đi Việt Bắc, có thể bảy tám tháng hay một năm mới về được. Càng gần tới chiến khu Hai, tức xê-ca đơ, tức khu vực sông Linh đã khoanh thành cấm địa, anh Bảy càng đăm chiêu: anh sẽ gặp lại một Cả Chanh như thế nào ? ---------------------------------------------------------- 1. Tiếng Nhật dùng trong võ nhu đạo. Ô-xa-ê kô-mi: đè ngửa. Mai-ta: xin hàng, Ma-tê: ngừng đấu Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:53:03 am * * * Qua khỏi cây càu gỗ lát sạp tre còn mới bắc ngang khe Cốt, anh Tô Xáng dẫn đường gặp một cô gái trẻ gánh đôi thùng tôn rỗng trên vai. Cô né sang bên, cười: - Chào chú Xáng ! Đang cúi đầu leo dốc, anh Xáng chào lại vội vàng, đi tiếp. Anh nghe tiếng reo lanh lảnh đằng sau: - Ôi, dì Sáu... bác Bảy nữa kìa... đông anh em quá vậy... Anh Xáng quay nhìn, trong lúc anh Bảy Quý ghìm chân khựng lại, thốt ra một câu đặc sệt Quảng Nam: - Ủa, thiệt mi đó hả Thùy ? - Dạ, cháu có nhớ ai... Chào hết mấy đồng chí... Mời bác, chú, dì vô nhà cháu đã, gấp mấy cũng phải nghỉ chút chớ... Mãi đến khi đã đặt ba-lô và rút quạt giấy ra quạt, anh Bảy vẫn chưa hết sửng sốt. Cô gái hồng hào xinh đẹp trước mặt anh kia, đang bưng một khay gỗ đầy những bát nước chè đậm mời từng người trong đoàn, có phải là con Thùy mất trí như chị Sáu đã tả hay không ? Anh chưa hỏi vội, chỉ nghe thật kỹ... - Anh Chanh đi săn dì ơi. Ảnh rán bắn con cọp ba chân về bắt trâu trên làng Bà-lam, nó khôn ghê gớm, gài kẹp mấy nó cũng né được hết... Dạ, cô Xáng đậu ghe ngoài vạn, tính mua cá về cho bệnh viện. Sáng mai làng đây đánh cá dẫy trên khúc vực dài, chắc được cả chục tạ đó dì. Lâu nay anh em xưởng Cao Thắng không ném mìn xuống sông nữa, cá lớn dồn về nhiều... Tàu bay thả bom bốn lần chú ạ, bà con xóm Chợ dời nhà ở tản ra, hư hại chẳng bao lăm. Dây giữa núi mà chú, nó bay cao chớ không dám chúi thấp, thả trật bật hết... Một con gió núi chợt lùa vào nhà mát rượi. Anh Bảy ngùng quạt, ngắm quanh. Nơi Thùy mời vào là một hội trường khung gỗ mái tranh, nằm dưới bóng những cây dầu lai cổ thụ đan cành vào nhau. Bàn ghế đều buộc bằng tre chôn xuống đất, xếp hình chữ U, đầu chừa trống có kê bảng đen và bàn ghế gỗ cho thày giáo hay người báo cáo, bên trên treo ảnh Hồ Chủ tịch vẽ tay tô màu khá đẹp cùng một tấm biển kẻ chữ đỏ tươi trên nền cót nhuộm vàng “Câu lạc bộ Thanh niên”. Cách hội trường chừng mươi thước, cũng dưới bóng cây là một nhà tranh nhỏ hơn, vách trát đất, nhà ở của vợ chồng Thùy. Đợi khi Thùy đi lấy thêm nước chè, anh Xáng mới lắc đầu, bảo khẽ chị Sáu: - Con nhỏ chưa tỉnh hẳn đâu chị. - Sao anh biết ? - Nó kêu anh Bảy bằng bác, lại kêu chị bằng dì, còn lộn xộn lắm. Chị Sáu cười, lườm chồng: - Hồi xưa nó đã kêu vậy rồi, riết thành quen không sửa được. Là tại tôi với anh Bảy chưa lần nào tới thăm vợ chồng nó cho đàng hoàng, đủ tay tư... Sao đó ông trưởng đoàn ? Anh Xáng chưa cặp vợ con. Cả Chanh đêm nay hay sáng sớm mai mới về đây, đồng chí bảo vệ cấm xuôi ghe ban ngày, mời ông hạ lệnh ! Ba anh chị quyết định rất nhanh: ở lại, chiều mai sẽ thuê đò đọc xuôi sông Linh và sông Thu Bồn, ngủ tại trạm Trung Phước, ngày kia bắt đầu leo núi. Thùy reo khi nghe báo tin: - May cho cháu quá. Cháu không giữ được khách, anh Chanh về lại rầy cháu tới chết ! Riêng chú Xáng thì không dám níu kéo đâu, nãy giờ thấy chú nhấp nhổm hoài, tội nghiệp !... Dạ, anh Chanh khỏe rồi, vài tháng nay không thấy đau bao tử. Là nhờ cụ Chín Chưởng vừa chữa vừa dạy thuốc nam cho, ảnh bu theo học miết. Cụ Chín ở chợ Huề Bình đó, hồi ta mới khởi nghĩa mời cụ làm chủ tịch làng. Cụ thương anh Chanh lắm, hai thầy trò lội rừng kiếm thuốc hoài. Cháu cũng nhờ thuốc cụ cho mới lại người đó dì. Cụ cứ than van muốn truyền nghề mà chẳng biết truyền cho ai, con cháu kéo nhau thoát ly hết, chung quanh thì trọng thuốc tây mà khinh thuốc ta, rốt cuộc nằm trên đống thuốc của ông bà mà chết bệnh... Trong khi anh em trong đoàn xuống khe cốt tắm giặt, anh Bảy và chị Sáu sang thăm nhà Thùy. Họ đi từ ngạc nhiên này đến thích thú khác. Cũng là nhà tranh vách đất cả thôi, nhưng nhờ bàn tay thợ của Cả Chanh, ông Tư Chua, của anh em xưởng Cao Thắng II nữa, căn nhà trở nên khác thường. Ông Tư đưa thuyền xuôi Thu Bồn chở sắt thép khi ta bắt đầu phá đường sắt, cũng mua về nhiều kính cửa sổ ở các thị trấn tiêu thổ: buồng ngủ của vợ chồng Thùy rất sáng và thoáng. Cái bếp kiểu giường có đến bốn tầng để xếp than củi và sấy lắm thứ, còn lắp thêm ống tôn đưa khói ra ngoài và cho tản xòe vào những tán cây duối rậm lá. Một cặp heo choai ủn ỉn trong cái chuồng có máng rửa và hố chứa phân, bên trên thêm tầng nuôi gà và tầng để cám, bắp, thóc lép. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:54:16 am Tiếng giã gạo dội đều đều mãi từ một gian nhà khác, không thấy bóng người. Thùy tủm tỉm chỉ cho xem cái cối giã gạo bằng nước lấy mẫu ở các lò chén bát. Dòng nước chảy từ một mạch ngầm trên sườn đồi, dẫn theo những ống tre to chạy luồn trong vạt tranh cao che mắt máy bay, đến một bể chứa bằng gỗ khá lớn đặt trên cháng ba cây, xối xuống rất mạnh bằng ống tôn, đầu ống lắp thêm một khúc vòi cao-su của máy bơm.
- Máy móc gì đây, Thùy ? - Dạ, máy điện đó dì. - Giỡn hả ? Bộ nhà mày xài điện thiệt sao ? Thùy cười dài, nhấc đầu ống cao-su đặt sang một máng gốc khác. Dòng nước tuôn vào một thứ xe nước lắp trên giá gỗ làm nó bắt đầu quay. Một bóng đèn điện treo ngay trên đầu chị Sáu đỏ dần lên tới khi sáng trắng. Chị Sáu há miệng mấy giây mới bật lên thành tiếng: - Quá tay ! Bảnh hết chỗ nói ! - Cũng tại cái máy này mà cháu phải làm quản trị câu lạc bộ đó... Cha cháu gặp cái xe gì ta phá, hất nhào ngửa dưới chân cầu, ổng tháo cái máy hư chở về, mấy năm bỏ chỗ góc lò rèn. Anh Chanh về sửa miết mới chạy được, đi xin đâu mấy khúc dây, mấy bóng đèn, bắc ra chỗ bãi trước nhà để thanh niên diễn kịch. Họ mê quá, mới xúm dựng luôn hội trường bên nhà cháu, đưa điện qua. Đêm nào cũng đông dì ơi, không ca hát cũng học hình dân, học bổ túc. Anh Chanh dạy toán một tuần ba đêm. Các anh bên xưởng Cao Thắng qua đọc bản tin, nói thời sự, thiệt tới vui. Các ảnh có đài to bắt được đài Trung ương mình, bị là chỗ bí mật quân sự không để bà con vô nghe được, chép tin rồi đem ra đây đọc thôi. Các ảnh còn hẹn sửa cho một cái ắc-quy nữa. - Nó là thứ gì ? - Dạ, nó chứa điện lại, máy không chạy cũng thắp đèn được, nghe nói vậy chớ cháu chẳng hiểu. - Bây giờ dì hỏi, phải nói thiệt nghen... Cơm gạo nhà cháu ra sao, ruộng rẫy ở đâu, áo quần đủ không ? - Làng đây đồng bào tản cư lên đông, hết chỗ làm ruộng. May có cái nà rộng của ông già người Tàu trong xóm Chợ, nhà buôn giàu lắm... à, ông Xâm Tô, ổng ghiền á phiện chịu không nổi, xin xuôi ghe về Đà Nẵng rồi. Nà của ổng coi như vắng chủ, ủy ban mình tạm cấp cho nhà cháu. Nông hội với Hội phụ nữ tới trồng trỉa giùm, lúa bắp lên tốt lắm. Cách nhà cháu vài trăm thước thôi, vừa đủ tránh tàu bay. Cô Năm Bưởi với anh Chanh làm nhiều chớ cháu dốt, chỉ biết may đồ thôi. - Hồi dì tới thăm ở Sông Vệ, thấy máy may hư hết... - Anh Bảy Tộ lén lấy hồi nào cháu không hay. Hồi cháu đang bị... vậy đó... các anh ở xưởng hỏa xa xúm sửa máy, anh Chanh với chú Sáu Cam rán gánh về đây cực thôi là cực. Giờ cháu nổi tiếng lắm nghen dì, cả khu xê-ca đơ có một bàn may của cháu trùi trụi, cháu làm không hết việc. Mỗi kỳ phát quân trang là cả trăm khách kéo tới bắt sửa gấp, nhờ có điện cháu làm đêm mới kịp, Năm Bưởi cũng phụ vô. Chị Sáu Lễ không ngớt trầm trồ trong khi Thùy cho coi tiếp luồng nước vào bếp nấu ăn, dùng tưới vườn rau và rửa chuồng heo ra sao, phân heo dồn xuống hố hoặc ra ao cá tùy ý muốn. Ao cá rộng chừng một sào ta, chỉ là một chỗ trũng tự nhiên cách bờ khe Cốt bốn năm chục thước, có thể đưa nước mạch vào và tháo cống cho nước đổ xuống khe. Chị Sáu vãi cám xuống nước, ngắm đàn cá nhô đầu lên đớp chen chúc sát bên chân, tuyền một thứ cá vảy trắng không ăn cá con và không ngoi rạch bỏ ao khi trời mưa lũ. Lứa cá này thả chưa bao lâu, mới bằng bàn tay... Chị đùa nghịch cầm vợt lừa xúc từng con, trong lòng cứ dâng lên mãi một nỗi thèm thuồng không cưỡng nổi. Dù sao chị vẫn là đàn bà. Người đàn bà nào lại không khao khát có chồng bên cạnh, có vài đứa con quấn quýt quanh mình, có căn nhà yên ổn với vườn rau, ao cá, mọi thứ nấu nướng may vá dưới tay, có nhiều người thân sẵn sàng xúm tới để chia sẻ vui buồn. Chị chưa từng được sống êm ấm trong vai người vợ, người mẹ. Ôi, một đứa con, một đứa thôi để chị bồng ẵm hôn hít thay thằng Mừng đã chết khi chị ở tù... Anh Bảy Quý trở vào nhà từ nãy. Bóng điện trên đầu khá sáng, soi xuống chỗ bàn viết chân tre mặt gỗ có bốn năm chồng sách chất cao. Anh táy máy nhấc lên xem bì và trang lót: toàn sách kỹ thuật tiếng Pháp về xe lửa, cầu đường, cơ khí, điện, các loại động cơ, xem các chữ đề tay hoặc con dấu thư viện gia đình đủ biết Cả Chanh đã lùng mua góp khắp nơi. Một chồng sổ dày cộp xếp riêng, ghi đặc nét chữ của Chanh bằng nhiều màu mực trên nhiều loại giấy. Tay này tự học kinh thật ! Hai cuốn vở đặt trên cùng ít bị vết tay dầu mỡ hơn. Anh Bảy biết Chanh không viết nhật ký, cứ lật xem tự nhiên. Một cuốn đề “Tự học thuốc nam”, với dòng chữ đóng khung bằng bút chì đỏ “Thắng bệnh tật để thắng quân thù”. Một trăm trang vở ngoại viết gần kín kèm rất nhiều hình vẽ cây, hoa, lá, rễ. Cuốn kia mới viết non một nửa, chữ li ti. Anh Bảy rút kính lão đeo lên mắt. Đầu vở không đề gì, nhưng bên trong là chữ Lào, tiếng Lào được phiên âm sang chữ la-tinh, chú nghĩa tiếng Việt bên cạnh. Không lầm được. Cả Chanh đang học tiếng Lào. Đọc những con số ngày tháng bên lề, anh Bảy biết Chanh theo món này đã gần hai tháng. Đến những ngày gần đây nhất, cậu chỉ chép những bài bằng chữ Lào ngoằn nghèo, chú nghĩa vài từ khó. Đó là những công văn, thư công tác, thư gửi bạn hay một gia đình thân quen. Chen vào đấy có những câu ca dao, tục ngữ, những bài hát kháng chiến hay giao duyên... Quái lạ, cậu cán bộ hỏa xa này mưu tính gì ? Tính sang Lào là nơi không có thước đường sắt nào ? Bỏ nhiều công tự học như thế ắt không phải do bốc đồng, ham lạ. Dưới tóc điểm bạc, khuôn mặt gầy và sớm nhăn nheo của anh từ từ sầm xuống. Chị Sáu Lễ hay trêu anh: “Một mình lo bảy lo ba, lo cau trổ muộn lo già hết duyên. Phải đổi tên anh là ông Bảy Lo mới đúng !”. Anh đùa lại: “Tôi cả lo thì mình cả tin. Bởi vậy ông trời mới xe duyên buộc nọ !”. Suốt dọc đường đi gấp lên xứ núi Linh Lâm, anh lo phải gặp lại một Cả Chanh chán chường mệt mỏi, tuổi mới ba mươi đã lắc đầu kêu mãn mùa làm cách mạng rồi. Nãy giờ đi xem cơ ngơi rất đàng hoàng và nghe Thùy kể, anh lại băn khoăn nghĩ đến cái khó của người phải rời chăn nệm êm ấm để lao vào đêm mưa rét. Và bỗng dưng cuốn vở học tiếng Lào của Chanh mở hé cho anh thấy một góc kín tâm hồn nữa mà anh chưa ngờ tới. Lớp người nối tiếp vẫn luôn luôn dành cho anh những điều khó hiểu... Năm Bưởi từ rẫy về, đang cùng Thùy và anh em trong đoàn soạn các thứ làm cơm chiều. Chị Sáu vẫn ngồi lặng một mình trên bờ ao, quay lưng vào nhà. Anh Bảy bước tới sau lưng vợ: “Mình nè...”. Chị Sáu giật mình ngoái cổ lại, anh Bảy thoáng thấy mắt chị ướt mọng. Chị luống cuống bỏ cây vợt cầm suông trên tay, rút khăn và nhếch miệng cười: “Con gì bay vô mắt, xốn ghê”. Hai anh chị sang thăm lò rèn ông Tư Chua, sẽ vòng thăm luôn các xóm đồng bào tản cư mới dựng trên hai bờ sông Linh. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 09:57:34 am * * * - Bác Bảy đi khắp tứ xứ, cháu không dám đố, cháu đố dì Sáu thôi nghen. Món gì đây? - Gỏi bắp chuối. - Gỏi trộn với thứ gì ? - À ờ... da heo... - Sai một. Nem dây gói bằng thịt gì ? - Bò hay nai, chắc vậy... - Sai nữa. Tô canh này nấu rau gì, thịt gì ? Chị Sáu húp đến nửa chén canh chua ngọt, nhai miếng thịt khô đậm vị, cười: - Tao đầu hàng trước cho xong. Bay cho ăn toàn đồ rừng, tao chưa ở rừng bao giờ... Anh Bảy với các chú đoán thử coi. Bữa cơm ầm ỹ lên, mỗi người đoán một phách, gắp cả thức ăn soi cao lẫn ánh điện xem kỹ. Từng lúc, gió đưa vào mùi khói thơm nồng của lá quế khô hun muỗi trong các nồi vỡ chậu mẻ. Ông Tư Chua sang ăn cơm với dâu con đã mấy lần liếc mắt vào góc nhà, nơi ông đặt một quả bầu nậm to nút lá chuối khô, rất đáng ngờ. - Thôi để cháu nói nghen, đừng bắt bác Bảy nói trật bậy mà tội. Gỏi trộn da voi. Nem gói bằng thịt cọp, cha cháu bẫy kẹp được cách hai tháng. Canh là thịt nai khô với rau ranh, lá tai nai. Còn một món nữa, đáng lẽ mở đầu bữa cơm, cha cháu bắt phải gác lại chờ lệnh. Đem ra được chưa cha ? Ông Tư lườm con dâu, gật đầu. Thùy vào bếp bưng ra một mẹt tre đựng chồng bánh tráng nướng phủ trên cái chậu đất nung, đậy nắp, đặt giữa bàn, trong khi ông Tư đi lấy cái hồ lô bí mật. Năm Bưởi mang đến một rổ xếp đầy những cốc nhỏ cũng bằng đất nung. Ông Tư gãi cằm: - Cái này phải thưa tình thiệt với anh chị, các chú... Năm nay bà con trồng sắn lu bù, ăn không hết, bán không ai mua, họ nấu thử chút ít rượu sắn men lá rừng để ngâm thuốc... Tôi làm vài bình rượu tắc kè, bổ lắm, thằng Cả tôi lại thêm vò thiên niên kiện với cẩu tích nữa. Đánh búa lò rèn hay là leo núi mỏi gân cốt, làm một chén, ngủ một giấc là người khỏe ru... Anh Bảy nhấp từng ngụm nhỏ rượu thuốc quý miền rừng, pha đủ vị cay, ngọt, đắng, trong khi mọi người bẻ bánh tráng sắn rôm rốp, xúc ăn thứ thức nhắm gì xôm xốp như cá luộc xé mịn bốc mùi hồ tiêu và rau thơm sực nức, tấm tắc khen ngon đặc biệt. Thùy không đố nữa, bảo là thịt kỳ đà đã luộc, xé, xào lại. Ông Tư thấy anh Bảy đưa cái chén lên soi, nói luôn: - Cái này là sáng ý kiến của Tư Rèn đó anh. Chén đĩa lần hồi bể ráo, lò chén ở xa, tôi kiếm được chỗ đất sét tốt, đặt cái bàn, máy chạy bằng nước, đắp cái lò nung. Làm hư vài lứa rồi cũng được hết. Trong làng xóm ai muốn xây thứ gì cứ tự làm lấy, phơi tại chỗ, gánh củi tới mà nung, non già xấu tốt tùy lòng. Thằng Cả tôi kỹ tánh lắm, anh coi, âu chậu nhà nó có nắp úp kín, thịt kỳ đà để hở trên bếp trấu cả nửa tiếng mà còn nóng rực... Ánh đuốc chợt nổi sáng chập chờn trên cầu khe Cốt. Hai bóng người leo dốc lên. Thùy kêu hơi to: - Anh Chanh về ! Không giữ ý, Thùy buông đũa chạy vội xuống đón chồng, đỡ cây đuốc gần tàn và hoa mạnh cho cháy bùng lại, bước nhanh tới trước soi đường tuy chỉ còn mươi thước cuối cùng. Chị Sáu đứng đậy, mở to mắt. Hoàn toàn không phải con người héo hắt đã chia tay chị tám tháng trước ở Sông Vệ. Một Cả Chanh vạm vỡ, da nâu sẫm, tóc cắt ca-rê gần trọc và đi chân đất, cười phô răng trắng lóa trong khi chào hỏi dồn dập. Thùy bám lấy chồng như một đứa trẻ: - Thì đặt gánh đã anh. Áo quần đâu mà phơi trần cho muỗi cắn... A, đây. Anh tắm dưới sông rồi hả, tóc còn ướt. Anh không dặn mà em cứ để phần cơm. Anh mặc đồ dài, ngồi vô luôn đi. Chào đồng chí Tờ-rin, cõng gì nặng quá vậy, mời cơm luôn nghen. Chanh gánh về một đùi nai to tướng và một buồng chuối sứ ước dễ đến mười lăm nải đã điểm lác đác quả hườm, cây súng săn treo ngang trước ngực. Anh thanh niên thượng cùng đi cõng một gùi tre lớn bịt miệng bằng cái mủng, khi đặt xuống thì cái gùi bỗng tự nó lắc lảo đảo như lên đồng. Anh tháo miệng gùi, trút ra đất một con kỳ đà to bằng cá sấu con, phải nặng đến trên chục ký. Nó đã bị trói quặt tay chân, đuôi mắc vào cổ, vẫn cố đớp đớp cặp hàm đầy răng nhọn. Tờ-rin nói oang oang: - Kẹp cọp ông Tư đó. Tui treo cái đầu con trâu, tay chưn con trâu, cọp không vô, con ni vô kẹp miết miết. Tui lấy con ni sống, ông Tư ăn ngon hơn con chết. Anh Chanh đi bắn miết, không đụng cọp, bắn con nai ăn chơi, được thịt nhiều nhiều, cho người làng tui ăn đoàn kết... Xin hết lời ! Anh nói mấy tiếng cuối như quát, có lẽ bắt chước một vị chỉ huy nào đó qua làng. Anh Bảy kiên nhẫn ngồi lật những trang ghi thuốc nam của Cả Chanh đến khuya, chờ một lúc hỏi chuyện riêng người bạn trẻ. Nhưng Chanh ăn xong chỉ đi giặt giũ, lại lên bàn thì thào với người trong nhà, thắp cây đuốc mới, vào xóm thu xếp việc gì chẳng hiểu. Anh em trong đoàn đã treo võng ngủ trong hội trường. Kiểu chăn xi-ta túm đầu thành võng từ Tây Nguyên truyền về xấp xỉ một lần với kiểu dép cao-su quai xỏ của Bình Trị Thiên... Đau dạ dày dùng củ ấu, hồi đầu, nghệ đen, trái núc nác. An thần, bệnh thần kinh: cây sen (hoa, nhị, hột), táo nhơn tức hột táo, củ tóc tiên. Sốt rét cơn: vỏ dền, hột riềng, thảo quả, thầu đâu rừng... Những dòng chữ viết nắn nót và ghi tháu xoay tròn trước mắt kính lão của anh Bảy. Cuốn vở rơi xuống nền nhà. Anh thiếp đi dưới ánh đèn điện vẫn sáng khác thường ở nơi rừng núi ít chờ đợi nhất. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:07:16 am * * * Đến quãng trưa tròn bóng, các khung lưới bủa từ lúc tinh mơ đã dồn lại giữa vực. Đó là những phút vui ầm ỹ nhất trong nghe dẫy cá. Các con sông thượng nguồn, lắm thác ghềnh, cũng sẵn những khúc êm và sâu cho các loại cá to dồn lại ở. Nếu Linh Lâm có phường săn thú với nhiều gánh lưới to và bầy chó giỏi, thì Linh Hạ còn giữ được phường dẫy cá, hằng năm đi đấu giá để nhận đánh quét các vực dài ngắn sâu cạn, chia cá hay nộp tiền cho các làng sở tại. Khi xưởng quân giới Cao Thắng II về đóng trong khu đồn điền La-phạt, năm 1946, chất nổ cứ ném xuống sông tới tới, mượn cớ thử mìn hay lựu đạn dưới nước. Du kích với thanh niên rất khoái được hắt hôi cá, nghe tiếng “uỳnh” hơi to ngoài sông là đang làm gì cũng vất đấy, xách giỏ hay sợi mây xâu cá chạy bay tóc. Nổ gần rồi nổ xa, mìn nhỏ tới bom to, cá dần dần chết ráo, sót con nào cũng dắt nhau trốn biệt. Các ông bà cao tuổi biết sẽ sạch cá, nhưng giữa lúc ta phải phá trụi thành phố với cầu đường, giết cả bầy chó săn quý như vàng diệp, ai lại đi ca cẩm vì chim trời cá nước ! Phường dẫy Linh Hạ lên thầu đánh quét, thuê vực bằng thóc trả trước bị lỗ nặng: cá chưa đủ nấu cháo cho thợ lặn ! Thế là cạch luôn. Về sau xưởng quân giới bị bom liên tiếp phải dời vào rừng sâu xa sông, cấp trên cấm không được xài phí thuốc nổ và lộ bí mật, cá mới ngập ngừng trở về sông Linh. Ông Tư Chua phải kéo một đoàn phụ lão xuống dỗ dành phường dẫy Linh Hạ, họ mới chịu lên đánh thử vài vực và chia cá chứ không thuê hao, còn bảo là vì Cụ Hồ dạy đại đoàn kết nên họ chịu hi sinh ! Khúc sông êm từ bến vạn xuống thác Kiểm Lâm dài non một cây số. Lưới quét được buông ở hai đầu vực dài, thong thả xáp tới gần nhau đến khi thành cái bọc. Lưới căng trên các khung bè bằng tre giếng cái thang hẹp và dài, kéo lê sát đáy sông. Dăng cao trên khung bè chừng sải rưỡi là lớp lưới nhảy, đón những con cá sông suối lâm thế bí hay phóng vút lên trời như khi vượt thác. Ngang mặt nước có đãy hứng sẵn sàng đón lũ cá tông vào lưới dựng, roi xuống túi nằm dãy đành đạch. Anh Tô Xáng lặn hụp suốt hai tiếng còn đang mê mẩn. Anh nhập vào nhóm tém mí, chuyên lặn sâu và giữ cho mí lưới ép sát bờ vực đầy những hang hốc gốc cành, còn cầm sào thọc vào các cổ cá to núp kín, xua cho chạy vào lưới. Cả Chanh bám sát anh học nghề, anh bị gắt bao nhiêu lần là hư, vụng, dốt, chỉ nhăn răng cười. Hai cái đầu nối nhau nhô lên từng lúc, thổi phì hai vòi nước trắng qua mũi và ném vào chiếc xuồng gần nhất một con cá năm bảy cân mắc lưới, lại ôm hòn đá buộc dây chìm nhanh. Lưới đang gom. Cá lớn nhỏ bắt đầu quất đuôi bay vù vù trắng lóa dưới nắng trưa như nhiều vòi phun ngược nào đó đang tống nước lên trời. Những con cá đen trũi chợt chồm đầu lên, chợt húc vào người, chợt chổng cái đuôi to bằng quạt, chợt kéo cả một khung bè chạy lệch muốn đổ nghiêng. - To lắm ! Coi chừng xé lưới ! - Ném cho sợi mây, mau. Xỏ mang không nó sẩy ! - Gỡ hết cá rớt trong đãy, ngồi ngó hả ? - Chanh, Chanh, xuống cột mí với ta, truột hết bây giờ ! Anh Bảy Quý hơi kém, chỉ ngồi trên xuồng phụ người dưới nước, khi trao hòn đá buộc dây cho thợ lặn, khi xỏ dây vào mang cá và buộc dòng dưới nước cho sống tiếp. Ông Tư Chua đứng trên đầu xuồng hò hét, chỉ trỏ, từng lúc lệnh cho anh Bảy quạt bơi chèo đến chỗ nào đó và anh ngoan ngoãn vâng lời, anh không mấy để ý khi có những xuồng đò chèo tới và chào hỏi đon đả, thường là các cán bộ xã thôn, công nhân quân giới, bộ đội. Chỉ một lần anh hơi phiền khi ba người trên một thuyền to xáp lại và năn nỉ mời anh sang ngồi với họ trên khoang giữa trải chiếu hoa, bày bộ đồ trà với đĩa thuốc lá quấn sắn, xin lỗi mãi rằng không hay tin anh về thăm xê-ca đơ. Anh bông đùa gạt đi, chèo tới một chỗ cá nhảy vượt lưới nhiều nhất, chồm lên hét gọi người đến bơi chặn dọc đãy hứng. Lát sau ông Tư Chua mới cho biết đấy là cụ tú Đỉnh, trước gọi quan phủ Đỉnh, ông Mười Áng, trước là Cửu Áng - lý trưởng, cùng anh phó chủ tịch xã Hùng Minh, trước vốn có tên Ba Mít... Chao ôi, nhớ sao cho hết bấy nhiêu ngàn vạn khuôn mặt và con người đã gặp trong bấy nhiêu năm, qua bấy nhiêu tỉnh ! Lưới đã túm lại thành bọc như cái rớ biển. Lũ cá lưới hai lưới ba, thân mỏng mình nhẹ, hẳn đợi đến lúc này mới trổ tài bay thi với cá chuồn xòe cánh trên sóng mặn, ào ào phóng chéo lên trời hệt một trận mưa đảo ngược và buông thân vào túi hứng bên dưới, trong khi các bậc cha ông to kềnh cuống cuồng húc đầu cố xé lưới đến kiệt sức, đành chịu lật thân qua lại, đập mang thoi thóp, phơi bụng trắng lẫn với lưng đen. Xuồng đò đã kéo hết lên bến vạn, lôi theo những sợi mây song hay những cây sào dài xỏ đầy những cá to với sợi mây trong mang còn vật vã, chỉ đám cá nhỏ hơn trong lòng thuyền đang nẩy tanh tách tìm lối thoát. Chỉ còn trên sông những bầy cá nhỏ lưới một hiện thành chuỗi vệt xanh xám sát mặt nước, tạt qua lách lại hình chữ chi, ngược xuôi chạy tìm các nơi ở cũ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:09:04 am Chị Xáng chọn chỗ cắm thuyền bên kia sông, nơi dòng chảy xoáy vào vách núi dựng tạo thành chỗ núp rậm cây, chừa một bãi cát nhỏ sát bờ nước. Chiếc đò có mui của chị đã chèo chống mãi từ Cửa Đại sát biển ngược sông Thu Bồn lên tận thượng nguồn sông Linh này, chở theo hai đứa con nhỏ nhất chưa nhập ngũ của anh Xáng, vẫn rất ít nói và chỉ cười nửa miệng, hé đôi hàm răng đen, chị Xáng chỉ huy những người đang làm bữa tiệc cá tiễn đưa đoàn đi Việt Bắc. Chị Sáu Lễ hỏi mãi, chị Xáng mới đáp gọn rằng các ổng giao chị làm phó giám đốc phụ trách quản trị bệnh viện, chị không kham nổi, giao việc tiếp phẩm chị làm được, khi cần thì chị bày thêm cách nấu nướng cho các cô cấp dưỡng trẻ mới rời tay cấy hái và chỉ quen chém to kho mặn.
Ba bếp lửa cháy phừng phừng trên bãi dưới cặp mắt đầy lo ngại của đồng chí bảo vệ từ sáng đến giờ ngồi tách xa chỗ ồn ào, dỏng tai nghe chừng tiếng máy bay. Chị Sáu ngoái cổ lại: - Mấy ông đợi chút nghen, nửa giờ nữa xong. Bà Xáng cho xực một trận cá ngất ngư, ăn quên chết, Tào Tháo rượt chạy tới tận xứ Việt Bắc chưa tha ! Anh Bảy hỏi Thùy đang bẻ cành khô chất đống: - Chồng cháu đâu, Hai ? - Dạ, ảnh mới ghé bỏ đồ đó, chèo ghe lên vạn rồi. Hay để cháu đi kêu... - Đừng. Cháu cho bác hỏi chút. Hai đồng chí bộ đội trong đoàn anh Bảy cũng vừa ghé bờ được giao bẻ củi và đi tìm Chanh. Anh vẫy Thùy đến chỗ vắng đầu bãi. - Cả Chanh bận luôn, bác hỏi cháu trước nghen. Cháu có biết ảnh tính nhận công tác gì không? - Dạ biết. Mấy tháng nay anh Thỉnh, là anh Hai Thỉnh chính ủy đó, ghé nhà cháu luôn, rủ anh Chanh đi Hạ Lào. Ảnh làm đơn gởi liên khu, mới nhận giấy quyết định cách đây vài ngày. - Quyết định gì ? Đi đâu, làm gì ? - Dạ, đi Lào chớ đi đâu. Bác ở liên khu hiểu hết rồi chớ ! Anh Bảy nín lặng. Khốn khổ, người ta cứ tưởng thế... - Bây giờ nói chuyện cháu. Cháu khỏe hẳn chưa ? - Dạ, cháu khỏe hoàn toàn. Ảnh lên đường không lo gì hết. - Cứ nói như tài liệu ! Ảnh sắp đi mà sao bác thấy cháu... à... tự nhiên như không... rất vui... Qua bên Lào phải đi xa, ở lâu, cháu hiểu chưa ? Thùy đang tươi tỉnh bỗng cúi úp mặt trên hai gối, nấc nhè nhẹ, hồi lâu mới ngửng lên với đôi mắt đỏ mọng: - Thưa thiệt với bác, cháu tủi thân lắm. Cháu mất thằng Tuấn bị thui chín như heo quay, ngó thấy cháu chịu không nổi, cháu như mê như khùng... Cháu về đây lần hồi tỉnh lại, cứ nghe chung quanh nói anh Chanh phải bỏ chức giám đốc hỏa xa là tại con vợ phát điên, ảnh chịu lạc hậu vì lỡ lấy nhầm con Hai Thùy, ảnh thủy chung như nhứt thiệt đúng là người cộng sản chơn chánh trăm phần trăm, còn cháu là cục đá đeo vô thân ảnh như tội như nợ. Cháu rán vui để ảnh đi cho nhẹ nhàng đó bác... Không dễ đâu... Đôi khi cháu tính hay là cháu biến đâu thiệt xa, mất tiêu luôn, khỏi cản trở anh Chanh tiến bộ... mà cháu bỏ đi không được... cháu thương ảnh quá chừng, ảnh cũng thương cháu thiệt tình, ảnh nói cháu có hề gì thì ảnh buồn cả đời, không lấy ai nữa, ảnh ở vậy để nhớ cháu thôi... đàn ông gì kỳ cục vậy chớ, người ta hai ba vợ có sao đâu. Ảnh cứ nhứt định thương riêng một mình cháu mới lạ, can không nổi, ảnh tốt bụng quá, cháu biết làm sao hả hác ? Ảnh vướng cháu, cháu không rời ảnh được... Bác biểu ảnh dứt cháu cho nhẹ người... cháu chịu được hết... chịu được... Mấy tiếng cuối cùng nghẹn tắc trong cổ. Thùy lại gục đầu trên hai bắp tay khoanh, đôi vai rung giật lặng lẽ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:10:14 am Lát sau Cả Chanh cùng anh Xáng chèo chiếc xuồng nan be gỗ đến. Anh bí thư tỉnh ủy đang bốc, hoa tay kể lại vụ chia cá mà anh vừa xử: phường dẫy Linh Hạ dự tính được năm tạ cá là cao tay, rốt cuộc được hơn chục tạ, không kể phần con nít bắt hôi giấu lén, vậy mà cứ nhất định chia tam thất chớ không theo lệ xưa tứ lục. Mọi người nổi lên bàn góp ồn ào.
Thùy vẫn chúi đầu thổi bếp lửa đã cháy to ngọn. Anh Bảy lơ đãng nghe kể, lại lơ đãng xem cây súng săn của Chanh. Mới nhìn, nó giếng những cây ca-líp đu hai nòng thông thường, coi lại mới thấy nó có ba mấu cò và thân xác to nặng. Anh bật khóa cho nòng gập xuống, nhé mắt dòm: nòng to bên trái trơn bóng, nòng to bên phải có khương tuyến xoáy sâu, bên dưới còn thêm một nòng nhỏ thứ ba vừa lắp viên đạn súng trường. Thấy Chanh bước tới, anh Bảy kêu: - Sao thứ gì của mày cũng khác đời vậy Chanh ? Kiểu ba nòng, tao mới thấy lần này là một. - Súng săn thú lớn của tụi Ăng-lê đó anh. Tôi lượm ở chân cầu Cẩm Lệ, gãy nát bộ máy cò với báng gỗ. Ông già tôi kỳ cạch sửa miết, anh thấy nửa dưới cây súng làm bằng tay hết đó. Bắn cọp xuya lắm nghen. Xa thì bắn đạn trường Anh, nó xáp lại ta nổ viên đạn chỉ một đúc hình trụ, nó giơ móng sát mặt mới tống một phát chín viên... - Vẫn không chết thì sao ? - Thì tay rút dao găm, miệng hô khẩu hiệu ! Bữa tiệc cá sông của chị Xáng thật tuyệt vời, ngon đốn nỗi chị Sáu phải kêu “nhai không nỡ nuốt”. Con cá sả to chị chọn làm gỏi được thái lát mỏng như giấy, xương dăm biến đâu mất sạch, lát cá bóp chanh và nước cốt riềng nhấc lên cứ trong veo. Cặp cá nun chưng nấm mèo với lắm thứ rau nhồi trong bụng bốc hương ngào ngạt. Những con cá rói nướng trong bẹ chuối đều được khía đứt hết xương dăm và tẩm gia vị trước. Rổ rau sống bằng ruột cây chuối rừng trộn với tép bưởi chua, châm vào tương ngọt và ăn kèm bánh tráng nướng, hết nhanh như bay. Chị còn dự trữ sẵn một trã cá chình sông cắt khúc kho nghệ cho những ai chén khỏe nhất, nhưng cầm chắc sẽ ế vì nồi cháo. Chị đã giao cho Thùy dùng dao cùn nạo cá lấy thịt nạc theo kiểu làm chả cá rựa biển, quết cùng rau thơm trong cối gỗ, vo viên cho vào cháo nếp dẻo rang sẵn. Chị còn đùm tất cả các thứ đầu cá xương cá loại ra trong vải màn, hầm trong cháo cho ngọt. Anh Bảy ngồi duỗi hai chân, lắc đầu: - Tôi thương thực là tại bà Xáng đó nghen, nhờ ông Bát Đập làm chứng giùm... - Yên chí lớn. Đồng chí y tá sẵn thuốc tiêu đây ! - Là âm mưu chị Xáng kéo ảnh trở về cho mau... - Đáng chi mô các anh, gần trưa mới kiếm được vài con khá khá, nấu lẹ, sợ các anh đói mà. - Chưa lên cân liền đâu chị Sáu, ăn thêm đi. Nam thực như hổ đực, nữ thực như hổ cái ! - Rót tao ly nữa, Chanh ! Rượu sắn không phạm chánh sách, thêm thuốc nam của mày vô là đáng cái bằng khen ! Anh Tô Xáng chếnh choáng bắt đầu hoa tay kể các kiểu ăn nhậu của bà con Cà Mau: “Điệu nghệ lắm nghe bây. Cái thứ tép bạc của họ, kêu là tép mà nó bự chảng vầy nè, đem lụi nướng hay tưới rượu đế đốt trên đĩa, nhậu quên chết...”. Ông Tư Chua không còn lựa lời trước “quý đồng chí thượng cấp” nữa, vỗ lưng anh Quý bôm bốp, lắc mãi cái bầu nậm bảo còn nhiều lắm. Cậu trung đội trưởng trong nhóm “cùng đi về quê” bưng cả cái đầu cá nun to tướng lên nhai. Cả Chanh chừng kín đáo ăn kiêng, chỉ tiếp thức ăn và chêm những câu đùa rất quấy của dân thợ và con nhà lính. Chị Xáng cứ tủm tỉm hé răng đen, cho hiện trên tấm cót trải giữa bãi cát những đĩa và âu đầy vọt lên như trò ảo thuật. Hai Thùy với khuôn mặt gái một con đầy đặn ửng hồng từng lúc đến ngồi ép người bên vai chồng, ngước lên đôi mắt đắm đuối... Anh Bảy Quý gạt bỏ hẳn đi những gì anh định làm khi kéo cả đoàn gấp rút lên Linh Lâm. Thôi đừng truy thằng Chanh tại sao dứt nghề xe lửa để chuyển sang một vùng địch hậu không có đường sắt. Đừng ép nó quay về với những đêm thức trắng theo tàu, những ngày nén cơn đau bụng đánh vật với máy, với cảnh vợ cùng bầy em tản cư long đong và một Ba Mậu thầy cũ lạnh lùng mưu hại sau lưng. Hãy để cho Hai Thùy quên dần đứa con chết cháy và đứa em lòi ruột, về làm ăn giữa những người thân bên nhà chồng và khấp khởi đếm từng ngày hi vọng với đứa con thú hai đang lớn dần trong bụng, chị Xáng và chị Sáu đều đoán là con trai, gần bốn tháng rồi... Phải đấy. Cần biết nhớ và biết quên, cần soát lại ngày tháng qua để rút lấy những bài học lắng đọng cho công việc sắp tới, nhưng cũng nên quên bớt đi cho nhẹ lòng mát dạ, bên cạnh vốn hiểu biết cũ phải dành chỗ rộng thoáng cho mơ ước mới. Mơ ước có thể là ảo tưởng một phần hay tất cả, đúng thế, nhưng cuộc sống đôi khi lại vượt xa các giấc mộng táo bạo nhất thì sao ? Lắm đồng chí cũng như anh đâu ngờ Đảng ta, dân ta thu được chính quyền vào tay, quét gọn được cả Pháp, Nhật, Nam triều chỉ trong mười hai ngày cả nước nổi dậy ? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:16:17 am Chương VI Bia. Chỉ một chai bia thôi. Khát cháy cổ rồi, sắp gục rồi. Lửa trời tàn khốc cứ tuôn xuống. Ruộng hoang mênh mông cứ trải rộng thêm mãi. Từng thửa bùn nhày nhụa phủ cỏ khô và tươi cứ bị kéo căng ra như cao-su, thửa sau vượt lâu hơn thửa trước. Đồn 76 nhô cao cái chỏm đỏ loét lù lù đấy, nhưng phải lội băng hơn nửa cây số đồng lầy mới tới chân nó. Giếng bị đầu độc. Suối khe cạn sạch, cạn vì ta cố phá đập. Không một bóng cây đỡ nắng, ta đã ra lệnh chặt trụi cây. Không một túp lều nào trên nền cháy của cái xóm ta vừa đi qua, ta đã cho quân đốt xóm, bắn chết hai mươi bảy người dân để bọn du kích ngừng chơi trò gài mìn. Việt Minh gọi ta là Tây Bia. Hai Bia, thằng quỷ Bia, ái chà, chúng không ngờ quỷ Bia đang thèm muốn chết một chai bia ướp lạnh... Từng lúc, một viên đạn bắn tỉa của du kích núp trong những bụi tranh đế lau lách xác xơ tít đằng xa lại bay tới, phát ra tiếng “chíu” như bia hé nút, xóc xuống bùn rong róc như bia rót vào cốc vại. Cả hàng quân bì bõm cùng một lần rùn người rụt cổ xuống, lại cùng rướn người lên, ỳ ạch rút một chân ngập bùn đến gối duỗi tới trước, lại khom lưng kéo tiếp chân kia. Hơi nóng và thối từ đáy ruộng ùng ục phòi lên chung quanh gối như bia sùi bọt mạnh, thứ bọt làm ngạt thở hoa mắt. Quân trên đồn vẫn bắn che qua đầu đám lính rút lui. Đạn đại bác 75 và cối 81 sắp hết, lũ giữ nhà chỉ giã hú họa năm bảy quả cối 60 hay xổ vài tràng trọng liên vào những chỗ nghi có du kích luồn lách đuổi theo. Hai trung đội lính pác-ti-dăng 1 đi trước ít bị ăn đạn lẻ, du kích cứ bám theo trung đội Âu-Phi đàng cuối mà chọn mồi, nhưng nghe chừng hầu hết súng đã rỗng. Tặc-tặc-tặc-tặc. Pù-pù-pù-pùng. Díu-ục. Díu-u. Díu-u-uuu... Trung liên Việt Minh ! Một tiếng rít tuyệt vọng buột qua mũi Pi-e La-phác-sơ. Hắn ngồi thụp xuống ruộng, cũng vừa lúc tên thượng sĩ người Hà-Lan kêu rú, ngã sấp ngay trước mặt hắn, bùn nước xộc vào mồm bịt lấy tiếng rống tử thương. Tắc-pùng-díuuu. Tắc-pùng-díííu... Cả đại đội vùi nửa người trong lầy, bắn trả hú hoạ về hướng trung liên địch. Pi-e cố dỏng tai nghe, chỉ nhận ra tiếng súng trường nhiều cỡ táp nhau của du kích. Trung liên chỉ nổ một loạt rồi im. Súng hóc, người bắn trúng đạn lạc, hay hết đạn ? Chao ôi, chỉ cần vài cây trung liên của đại đội thằng quỷ sứ Năm Phi Đao, từ rặng lau bói cách ba trăm mét kia, xổ vài chục băng vào cánh quân sa lầy của ta, ắt sẽ gặt ngót trăm linh hồn gọn hơn lưỡi hái Thần Chết ! Trung liên câm hẳn rồi. Pi-e cố quát khàn khàn bằng cổ họng khô rát: “Lệnh trung úy: vượt nhanh về đồn”. Chuỗi lính hàng dọc hổn hển truyền lệnh như nói thầm. Pi-e không biết mình đã trườn bò lết lăn cách nào mà về đến nơi. Hắn chỉ nhớ mang máng thấy bọn pác-ti-dăng đằng trước lén tụt bỏ giày và liều mạng với chông cắm lẫn trong cỏ, kín đáo đánh rơi từng vốc đạn và đạp vùi luôn xuống sâu. Lần lượt, mấy tên gốc Bắc Âu chịu nắng kém lăn gô ra một bờ ruộng nào hiện trước mắt, thân thể gần như trần truồng đỏ bằng cua luộc, bùn phủ kín từ rốn trở xuống, không còn đủ sức gỡ mớ đỉa to nhỏ đang phình nhanh trên thân, chỉ thều thào chửi thề và gọi Chúa. Hình như hắn đã lê qua một vũng thủy ngân có đèn chói chang bên trên và than hồng đun dưới, với tất cả các thứ khí độc hại nhất xoáy quanh người: cái bình nấu xác của phù thủy luyện phép... Rồi mươi gáo nước mát tuôn trên mình hắn, một ca nước lạnh ồng ộc dội tắt ngọn lửa trong cổ và phổi hắn, thêm một ca nữa, một ca nữa... Hắn tỉnh dậy lúc xế chiều. Cặp mắt lờ đờ mở ra một lúc, hắn mới nhận ra cái pan-ka 2 lủng lẳng trên trần hầm chỉ nhúc nhích cầm chừng trong khi mồ hôi hắn vã ướt cả giường vải và cái xi-líp hắn mặc. Tên pác-ti-dăng ngồi kéo quạt chỗ góc hầm đang ngủ gật. Hắn “hừ” trong mũi, quờ tay nhặt cái vỏ chai bên giường ném mạnh vào đầu thằng lười, chỉ trúng ngực. Tên kia bật kêu hoảng hốt, đứng chồm dậy, rồi sợ sệt ngồi xuống, khom lưng kéo lấy kéo để như muốn dứt đứt sợi dây dừa trong tay. Nằm dưới quạt lát nữa cho ráo mồ hôi, Pi-e cho gọi thiếu úy đồn phó và thượng sĩ trực ban đến, vẫn nằm dài, hắn nghe báo cáo về hai ngày rưỡi hành binh khốn đốn vừa qua, mặt lì lì. Thua nặng. Thất bại bét be. Ra đi hùng hổ, trở về bò lê bò càng... Hai tiểu đoàn - một lê-dương bộ binh, một quân Bảo Đại - được tung về quét Việt Minh mạn Bắc sông Thu Bồn, từ đồn 76 của hắn xuống gần tới quốc lộ số 1. Hắn nắm quân bản bộ, đánh kiểu biệt kích sau lưng đối phương dọc bờ Nam con sông, diệt các sở chỉ huy, kho tàng, các đoàn tiếp tế và tải thương. Rốt cuộc, hai tiểu đoàn kia chỉ sứt mẻ chút ít vì chông mìn và những phát “cắc-bụp”, trong khi được máy bay Đa-cô-ta thả dù cho no nê bụng người lẫn bụng súng, còn thêm lũ phóng viên Pháp Anh Mỹ Việt lăng xăng chụp ảnh quay phim cho lính phổng mũi. Hắn mở ra-đi-ô-phô-ni bắt tin các đài mà nổi ngứa ran cả lưng. Thật sự đánh vật với Việt Minh chính là ba trung đội của hắn. Để thằng thiếu úy thò lò mũi xanh cùng một trung đội pháo và trợ chiến giữ đồn, hắn đích thân dẫn cánh quân ba màu da trắng đen vàng này đi chơi trò ú tim chết người với địch. Bọn gián điệp và viên chức Bảo Đại đã báo trước những bãi chông mìn, những tuyến phòng thủ, những trận địa phục kích của đại đội thằng Chò và các tiểu đội du kích xã thôn. Hắn so sánh mọi nguồn tin, vạch sẵn con đường luồn lách len lỏi bí hiểm nhất, lên kế hoạch hiệp đồng sít sao giữa bộ, pháo, máy bay trinh sát và tiếp tế. Rốt cuộc... ---------------------------------------------------------- 1. Thân binh, lính ngụy thuộc Pháp (partisan) Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:18:40 am - Thưa trung úy, sáu quân nhân Âu-Phi tử trận gồm có trung sĩ nhất Vanh-tu-giê Giăng, hạ sĩ truyền tin Pác-mốt A-đôn-phơ...
Thằng truyền tin chết ngay bên ta. Là lính giữ kho mới học ra-đi-ô-phô-ni ba tuần, ra trận lần đầu, nó ngu đến nỗi không biết địch luôn luôn chăm chú tìm cái cần ăng-ten ngúc ngoắc để biết chỗ núp của sĩ quan chỉ huy. Cả sĩ quan và truyền tin đều là con mồi cao giá, đáng dùng tới các thứ hiếm hoi như đạn cối hay ba-dô-ca để diệt. Ta thoát, nhưng mất cả máy lẫn thằng Pác-mốt. - Thưa, đây là danh sách mười bảy quân nhân Việt Nam tử trận... - Xì, bọn ăn hại, thôi... Qua mục khác. - Số thương binh phải đưa gấp về Quân y viện Đà Nẵng có hạ sĩ Pan-xet-si Ăng-toan và binh nhất Rô-crơ Giắc... - Thằng Pan-xet-si ở cối 81 kia mà, có hành binh đâu ? - Thưa, say rượu, đánh bạc rồi đánh nhau. Bị đâm hai nhát và một vỏ chai đập vỡ đầu. Pi-e La-phac-sơ quay nhìn viên đồn phó đang đỏ mặt: - Ông thiếu úy nắm quân thế đấy. Nhưng ông lại thích đưa các điều lệnh mẫu của trường võ bị Xanh-Xia ra bắt bẻ tôi. Còn phải học nhiều lắm, ông sĩ quan mỏ trắng ơi... Thôi, các người xào nấu một bản báo cáo xuôi tai, gấp lên. Cánh quân biệt kích của tôi đánh nhau với hai đại đội chủ lực Việt Minh, độ một ngàn du kích, thắng liên tiếp... - Thưa, hạ được bao nhiêu ? - Cứ lấy số thương vong của ta, nhân lên gấp năm... không, gấp bảy lần, là số của địch. Nhớ lèo thêm: không kể số thương vong đã được đồng bọn mang đi. Đánh điện xin gấp một hê-li xa-ni 1, hai chiếc càng tốt. - Thưa, chúng tôi đã xin, Đà Nẵng bảo đang bận cả, mai mới có, hay là ngày kia. Pi-e chồm ngồi dậy, gầm lên: - Quỷ bắt cả lũ, mắc dịch chúng nó ! Chở gái điếm hay hàng buôn lậu mà hết cả trực thăng, trong khi toàn khu chỉ có cuộc hành binh này lớn nhất ? Đánh ngay một điện mật mã cho chúng nó: sáng mai không có hê-li xa-ni thì trung úy La-phác-sơ bỏ đồn 76, kéo quân về sở chỉ huy ! Viên thiếu úy nhóc con nãy giờ để mặc cho trực ban báo cáo, đến đây rụt rè chen vào: - Thưa trung úy, tôi chưa kịp... chưa chúc mừng ông. Ban nãy thiếu tá Bri-môn đích thân báo tin vui: trong danh sách đề bạt lần này ông được thăng đại úy. Số sĩ quan ở gần Đà Nẵng đã làm lễ gắn lon hôm qua. Các sĩ quan đồn trú nơi xa sẽ được trung tá khu trưởng đến tận nơi làm lễ trước mặt đơn vị, có quay phim chụp ảnh tại chỗ. Trực thăng bận là vì thế, phái đoàn dùng tới ba chiếc... Còn một tin vui thú hai nữa: cụ Lê-ông La-phác-sơ vừa đến Đà Nẵng, cũng được mời cùng đi với trung tá đến đây thăm ông... sáng ngày kia... - À, à, ông lại cứ ngậm miệng cá chép ! Thôi được, đi viết báo cáo cho kịp. Thượng sĩ trực ban là bạn rượu bạn đĩ của Pi-e. Phẩy tay lên vành mũ vải gọi là có chào, hắn nheo một mắt hỏi vặn: - Còn bức điện vừa nói đấy, vẫn đánh đi chứ ? - Cút mẹ mày đi ! À quên, sục các lô-cốt kiếm cho tao mấy chai bia, thằng hầu của tao ăn vụng uống trộm hết nhẵn. Cô-nhắc tao còn, tối đến mà uống gỡ gạc. - Cần mấy ả ? - Mày chỉ giết tao hả ? Đang hấp hối đây, tao phải ngủ bù hăm bốn tiếng... Lại quên. Có hơn chục đứa tình nghi Việt Minh giải vô đấy, mày đem treo cổ hết đi, dãy giá gỗ dọc hàng rào bỏ trống mấy tuần rồi... Thằng người Ý chỗ pháo 75 mới nhận quà, có phó-mát chính hiệu pác-mơ-xăng ngon tuyệt, bảo nó biếu tao thêm nửa cân, tối nay ta nhắm. ---------------------------------------------------------- 1. Gọi tắt trực thăng y tế (hélicoptère sanitaire). Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:21:44 am * * * Viên trung tá tóc đốm bạc đã từng chỉ huy lính Lê-dương khét tiếng ngổ ngáo, lính ta-bo nói dối và ăn cắp thành thần, lính Bảo Đại chưa đánh đã chạy, biết cách nói trước ba quân sao cho tất cả cùng đẹp lòng. Lão ca ngợi các bạn chiến đấu đang trấn giữ nơi tiền đồn này, không chỉ ngăn chặn Việt Minh bảo vệ vùng quốc gia chung quanh Đà Nẵng, mà còn ngăn chặn cộng sản quốc tế để giữ vững thế giới tự do. Tất nhiên phải có tí lòng yêu nước và danh dự nhà binh như lớp rau thơm rắc trên mặt đĩa, nhưng lão nhanh chóng xốc lên lớp thịt bò ngon lành bên dưới: hàng loạt khoản ưu đãi đã và sắp được công bố, dành riêng cho quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương và những binh sĩ Việt Nam chung chiến hào. “Hàng ki-lô-met lon sĩ quan và hạ sĩ quan, hàng tấn huân chương, hàng tỉ đồng phụ cấp một lần hoặc suốt đời đang chờ các bạn !”. Lão không quên phun nước hoa trên cha con La-phác-sơ: - Hãy xem: đại úy Pi-e La-phác-sơ khắc sâu căm thù Việt Minh cộng sản trong tim, luôn luôn vượt quá nhiệm vụ mình để đánh chúng tả tơi, thật đã xứng đáng với cụ Lê-ông La-phác-sơ, chuyên gia kinh tế đang cộng tác với Cục Hậu cần với cái vốn trí tuệ tuyệt vời của ba mươi năm lăn lộn trên các xứ Đông Dương ! Bữa tiệc khao ghi thêm một thành công khác nữa. Cha viên đại úy mới đã đặt hẳn một cỗ hai chục người ăn đủ các món Tây Tàu tại Đà Nẵng, người đầu bếp gốc Ý đi theo để chỉ huy bưng dọn. Lính đồn được phát thêm rượu mạnh và đồ hộp, cũng bằng tiền túi ngài chuyên gia, đủ uống say nghiêng ngửa đến tận chiều. Trung tá cho ba chiếc trực thăng chở cả thương binh lẫn lính đi phép về Đà Nẵng, hót đi một tên bị thương nặng đã chết trong khi đợi hê-li xa-ni, nhưng chẳng ai để ý chuyện vặt ấy khi bận nâng cốc mừng cuộc hành binh đại thắng vừa rồi. Đã lâu lắm đồn 76 mới được một ngày vui xả láng như thế. Tám giờ tối. Máy phát điện nổ đều, chiếc quạt xoay Mi-re-li lão Lê-ông đem đến quét gió mát rượi trong căn hầm chỉ huy sáng rực. Nửa tạ quà đắt tiền đã được xếp gọn trong chiếc tủ lớn bằng tôn đề chữ “tối mật” của đồn trưởng. Tập giấy bạc năm chục ngàn Đông Dương cồm cộm trong túi áo lót của Pi-e. Lão Lê-ông ở lại với con vài ngày, sẽ về khu theo đoàn công-voa tiếp tế. Trung tá còn kéo lão ra một góc nói riêng khá lâu, rõ ra lão không phải là kẻ đi nhờ trực thăng. Trong khi lão lúi húi pha hai cốc huýt-xki sô-đa có đá, Pi-e thốt ra một câu chưa từng nói: - Con biết ơn ba hết sức. Vắng ba, ngày hôm nay sẽ rỗng tuếch, nhạt phèo ! - Cảm ơn lời cảm ơn của con. Mấy khi ba được nghe một lời mát dạ ! - Con phải cảm ơn và xin lỗi. Sống mãi với lính tráng cộc cằn, con trở nên thô lỗ, em Gia-net trách mãi... Mà sao thư nó gửi con lại bảo ba về Pháp nhỉ ? - Nào, nâng cốc mừng vạch thứ hai trong đời võ nghiệp !... Gia-nét nói đúng đấy. Ba về Mác-xây thu xếp công việc ba ngày, bay sang Hồng-công hai ngày nữa, cố ý ghé Đà Nẵng thăm con, gặp dịp con được thăng cấp. Đáng lẽ lão trung tá đến gắn lon hôm qua, nhưng ba chưa kịp sắm sửa các thứ, phải bàn với lão hoãn một ngày và gạt bớt hai thằng phóng viên theo đóm ăn tàn, lấy chỗ chở quà cho con khao quân. Thằng thượng sĩ gì đấy uống say, bảo con chờ trực thăng sốt ruột chửi toáng lên phải không ? - Ồ, giữa lúc rối mù... Đợi trực thăng, chết thêm một hạ sĩ pháo thủ. Chuyện vặt trong chiến tranh mà, hơi đâu... Nhưng con xem chừng ba có vai vế khá cao trong ngành Hậu cần thì phải ? - Na-pô-lê-ông bảo rằng quân đội hành quân bằng dạ dày, quả là một ý thiên tài. Dạ dày quân viễn chinh ở Đông Dương quá to, nhồi vào chưa đẫy thì nòng súng tự nó chúc xuống đất, hệt thứ lính bằng cao-su phải bơm căng. Trong khi ấy Quốc hội Pháp chửi nhau loạn xạ, phe chủ hòa lấn đất, ngân sách cho chiến tranh Đông Dương ngày càng bị siết bu-loong, con biết chứ ? - Biết. Giới sĩ quan nói Quốc hội là chuồng lợn, là nhà thổ, đủ thứ. - Cái nhà thổ ấy đang nắm sinh mạng chúng ta. Đứa nào muốn lọt vào đấy cũng phải hứa với cử tri sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh bẩn thỉu, trúng cử xong sẽ liệu cách nuốt lời. Lũ quan chức dân sự cạo giấy từ chính quốc sang phải tung ra một mớ nghị định xứng ý Quốc hội, và rỉ tai Bộ Tư lệnh quân viễn chinh: “Chống chọi kín đáo thôi nhé, đừng ồn ào”. Vì thế người ta mới cần đến ba... Pi-e mở to mắt, ngậm trong miệng hớp huýt-xki xô-đa và súc nhè nhẹ - cái tật mà Gia-nét rất ghét - nhìn cha không chớp mắt. Hắn chỉ quen xem cha như viên đội quèn giải ngũ, như một chủ đất phá sản, đến cuối đời chịu làm lão bán thuốc ê được gọi là trình dược viên cho đỡ tủi thân. Chẳng ngờ cha hắn lại giàu sụ và bằng vai ngang vế với đám đeo lon bốn năm vạch... - Mãi đến nay ba vẫn chưa nói với con: ba đang làm gì ? - Thử đoán xem ! - Tình báo ? - Ba không muốn dính vào chính trị. - Quản lý viện trợ Mỹ ? - Mỹ mới bắt đầu bố thí. Trao bằng tay trái, giật lại bằng tay phải, và cái mũi dài ngoẵng thì gí gục khắp nơi còn quá chó săn. Không ở ăn đâu. - Con chịu thôi. Nêu ba thấy cần giữ kín... - Cần phải kín, nhưng con có thể và nên biết. Trước kia ba không cởi mở vì thấy con đang say sưa với những chữ mỹ miều như tổ quốc, danh dự, nghĩa vụ công dân, văn minh khai hóa. Nay ba thấy con chim bay mỏi cánh đã xuống đất đi bằng hai chân, ba muốn ngỏ thật: hãy dành những lời hoa hoét cho giờ huấn thị dưới cờ, và thành thật nhận rằng lý tưởng chung của chúng ta là đồng tiên. Đồng tiền vạn năng, đồng tiền vô địch, đồng tiền che khuất mặt trời, đồng tiền mua được cả Giê-xu lẫn Xa-tăng. Con không nói trắng trợn như ba, nhưng con đã làm đúng ý ba. Muốn được nhiều lương, nhiều tiền thưởng thì phải lên cấp, hái lắm huân chương. Con kiếm huân chương và cấp bậc bằng những cuộc hành binh đầy những pha giết, cướp, hiếp, đốt, giật gân gấp trăm lần phim Viễn Tây của Hoa Kỳ... - Con phải trả thù chúng nó ! - Con cứ trả thù, ba không can đâu. Ba chỉ ngạc nhiên khi thấy con đã ra lệnh triệt hạ bốn làng, bắn chết hơn một trăm người già, đàn bà, trẻ con, treo cổ ngót ba chục đàn ông tình nghi du kích, mà vẫn chưa hả mối thù riêng thưở nhỏ. Đến nỗi trung tá khu trưởng nhắc ba nên khuyên con hai điều: ta vẫn cần có dân để cày ruộng và đắp đồn cho quân đội ăn ở; những việc bẩn thỉu nên đùn bớt cho lũ quan chức và lính tráng Bảo Đại. Con thêm một vòng kim tuyến trên lễ phục, quyền hành sẽ to hơn, lời khuyên ấy đến rất đúng lúc. Sao nào ? Khuôn mặt đang nóng bừng của Pi-e nguội dần. Một mảng lạnh loang nhanh trên lưng áo sơ-mi nhà binh. Nín lặng khá lâu, Pi-e mới cười gượng: - Vẫn như xưa nay, ba luôn luôn có lý... Nhưng ba vẫn chưa để lộ ba đang làm gì... Lão Lê-ông đặt cốc, cắm điếu thuốc lá thứ tư vào cái tẩu ngắn bằng ngà voi, thong thả châm hút. Pi-e chợt nhớ ra: từ nãy lão không động đến gói Cô-táp trên bàn, chỉ hút những điếu thuốc quấn tay sù sì trong hộp riêng bỏ túi, nuối khói thật sâu và nhả ra một làn hơi nồng nàn khác hẳn mùi thuốc lá, cũng khác mùi cần sa hay thuốc phiện tẩm mà hắn đã hút thử đôi lần. - Đơn giản thôi. Ba là chuyên gia dân sự trong “Kế hoạch X” tối mật của quân viễn chinh, coi vắn tắt là kế hoạch dùng thuốc phiện nuôi quân đội. Ba góp sức vào tất cả các mắt xích của kế hoạch: khuyến khích trồng trọt thuốc phiện, thu mua, vận chuyển, bào chế, tổ chức tiêu thụ tại Đông Dương và bán ra nước ngoài. - Nhưng... đây là hàng quốc cấm ! Bên chính quốc bài trừ từ lâu, các cao ủy ở Đông Dương đều ra nghị định cấm tiệt ! - Cấm, có nghĩa là rút vào bí mật. Trong chiến tranh, có bí mật nào cao hơn bí mật quân sự, có tổ chức nào vững mạnh và bí mật như quân đội ?... Mà thôi, hôm sau ba sẽ nói rõ hơn. Bấy nhiêu chuyện mới lạ từ sáng đến giờ đã quá đủ cho một ngày, biết lắm chỉ tổ chóng già... Pi-e nhìn mặt cha, thấy rõ những, nét quen thuộc của người nghiện bắt đầu ngấm thuốc phiện: mắt ướt lim dim, cánh mũi phập phồng nhẹ, từng nét nhăn dãn ra hiện thành vẻ sảng khoái lâng lâng, nửa mê nửa tỉnh. Lão thong thả bước tới chiếc giường dã chiến dọn sẵn, lặng lẽ cởi áo quần, còn nằm nhắm mắt hít từng hơi thuốc dài trước khi buông màn ngủ hẳn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:25:41 am * * * Cũng đúng vào giờ ấy, cán bộ từ trung đội phó trở lên lục tục kéo đến khu vườn hoang xơ xác. Giữa nền nhà trần trụi đặt hai cây đèn dầu lửa. Từng người rút dép lót ngồi, không dép thì bẻ một cành lá. Ngồi tách riêng trên một thân cây đổ, xa chỗ họp, chính trị viên Ba Dĩnh cố thì thào bên tai Năm Chò những lý lẽ cuối cùng. Ánh trăng hạ tuần soi chéo trên bộ mặt đen trũi, lì lì không động với đốm sáng trong con mắt của anh đại đội trưởng, gợi hình một quả mìn bộ binh sắp nổ. Ba Dĩnh biết lắm: Năm Chò nạt nộ thét lác thì chẳng có gì đáng ngại, khi tức giận đến cùng cực anh mới hóa ra câm điếc như hôm nay. “Hội đồng danh dự” sắp họp. Đây cũng là một sáng kiến của Năm Chò và một “lệ làng” của đại đội 8 độc lâp, khi xảy ra điều gì nghiêm trọng làm sứt mẻ danh dự chung. Hồi đầu kháng chiến, Năm Chò hay họp mít-tinh toàn đại đội để bàn bạc và giơ tay biểu quyết. Khi chi bộ Đảng đông dần lên, anh thường mời họp chung Ban chỉ huy đại đội với chi bộ cho đỡ cồng kềnh và lộ bí mật. Đảng chưa ra công khai, nhưng nể lời đại đội trưởng nên đảng viên cứ đến tự nhiên. Trong khi khối anh chỉ huy ngoài Đảng còn cố ý hay vô tình phạt tóe phở những đảng viên lén đi họp tổ Đảng, được một cán bộ “có ý thức chính trị” như Năm Chò là quý lắm. Tới 1949, anh em được kết nạp ào ào, chỉ trong vòng một năm hầu hết đại đội được vào Đảng, đi họp chi bộ phải vác theo cả súng cối, gánh theo cả mìn, chỉ để lại mấy tân binh ở nhà trông chừng ba-lô, trú nơi gần địch thì toàn đại đội hành quân đến chỗ yên ổn để họp chi bộ. “Hội đồng danh dự” phải thu hẹp lại, chỉ gồm cán bộ trung đại đội và chi ủy. Năm Chò cắt ngang lời dỗ dành: - Tới đủ rồi, làm hè. Anh đã thay mặc bộ quân phục xi-ta mới nhất chưa phai màu xám, đội mũ ca-lô đính quân hiệu mới phát tháng trước, hình tròn giập bằng tôn tô sao vàng và một vành vàng trên nền đỏ, khác với Ba Dĩnh có hai vàng vàng trên quân hiệu dành cho cán bộ tiểu đoàn trở lên. Trực tinh đại đội đã xếp hội đồng đứng thành hình nửa vòng tròn, hô nghiêm báo cáo đàng hoàng hơn dịp trước. Trăng mỗi lúc một sáng, tỏa ánh xanh êm mát trên khu nền đất nện phẳng và sạch, nhà này kịp tháo giỡ chứ không bị đốt. Khác hẳn nhũng cuộc hội báo cán bộ đầy tiếng cười và tiếng cãi vã, lúc này mười bốn khuôn mặt đều cứng lạnh. Sáu Mãnh, tiểu đội phó bắn trung liên, được một tổ liên trinh giải ra ngồi trước hội đồng, đầu cúi gằm, tay phải táy máy vạch những đường ngang dọc trên đất, thân hình cao to thỉnh thoảng rùng nhè nhẹ trong bộ quân phục ngoại cỡ. Con người này đã gây ra vô số cuộc tranh luận trong hàng cán bộ và đảng viên, nhất là giữa Ba Dĩnh với Năm Chò là hai người thương cậu ta hơn ai hết. Mãnh vào bộ đội ngay trong Tổng khởi nghĩa, đi Nam tiến đánh giặc cùng một lượt với Chò và Dĩnh, qua vài trận đã nổi danh gan lì và bắn giỏi. Giữa lúc đạn to nhỏ của địch quét như hão, cậu ta kẹp nách cây trung liên vanh-cách hai cò đứng thẳng lưng bắn trả từng loạt ngắn ba bốn viên rất trúng đích, hết băng mới thịu thụp xuống, ôm súng luồn sang chỗ khác, thay băng, lại nhô lên quật nhào từng tên địch đang chồm tới địch cướp súng. Dạo ấy huân chương là thứ chi nghe nói chứ chưa ai trông thấy, Mãnh được rất nhiều giấy khen, bằng khen, tuyên dương công trạng. Khốn nỗi, anh chàng lại mắc cái bệnh mà Ba Dĩnh gọi là “lưu manh nan y”. Cần gà rượu, cậu vác trung liên đi vào xóm lẻ nào đấy, hỏi xin vài câu lấy lệ, tiếp tới một tiếng quát và một tiếng lên đạn “róc-xoảng”, thế là gà đang ấp và rượu sắp cúng được đem ra nộp. Địch càn, dân chạy hoảng loạn, cậu vào các nhà vắng chủ có vẻ khá giả, lấy rựa bờ hay mai thuổng nạy rương hòm. Chiến lợi phẩm thì khỏi phải nói: sau mỗi trận đánh thắng, nhất là đánh đoàn xe tiếp tế, các đội viên tiếp đạn phải lặc lè cõng các thứ vơ vét của tổ trưởng, không ai dám hở môi lộ bem. Các cô gái làng nhẹ dạ theo anh bộ đội ấy ra chỗ vắng tâm sự, khi về nhà đều đã biết mùi đời. Một dạo Mãnh được đề bạt lên tiểu đội phó, rồi tiểu đội trưởng, cậu sai vặt và bạt tai đá đít chiến sĩ quá quắt đến nỗi cả tiểu đội kéo lên xếp hàng ngang trước đại đội bộ, đưa “bản thỉnh nguyện” đòi đổi tiểu đội trưởng, hô ầm lên cho cả đại đội cùng nghe và chạy tới: “Đả đảo Sáu Mãnh !”. Xấu mặt trước dân làng quá đỗi, Năm Chò phải ra lệnh báo động chuyển quân khẩn cấp. Đại 8 rời làng đi nơi khác, khiêng theo một Sáu Mãnh say rượu mê man. Nửa tháng “cải hối thất”, thật ra chỉ tước súng và buộc về ở nhà anh xã đội trưởng chứ chỗ đâu mà giam, người đâu mà gác ! Hạ tầng xuống tiểu đội phó. Khai trừ khỏi Đảng không thời hạn. Hắn ta cứ tỉnh như sáo. Địch càn tới dồn dập, lại phải ấn trung liên vào tay Mãnh, dụ hắn lập công chuộc tội, Năm Chò không quên dặn thêm: “Mày không nể ai, cũng phải nể mặt tao với anh Ba chớ. Mày lập công thì còn tình nghĩa anh em, mày đánh tồi thì nổ viên đạn cuối cùng vô đầu luôn đi, đừng về, về tao cũng bắn chết mày”. Sáu Mãnh lập công lớn trong đợt càn ấy, hơn hai chục lính địch nằm đo đất trước họng trung liên đứng bắn kẹp nách. Ban chỉ huy làm lễ tuyên dương những người có công, tìm không ra Mãnh: đồng bào thấy hắn dắt gái luồn vào bãi bói ven sông Thu Bồn, hơi đâu theo dấu mà tìm ! Cãi nhau chán chê. Năm Chò với Ba Dĩnh thỏa thuận rằng nên đưa Sáu Mãnh về đại đội bộ, làm tổ trưởng trung liên trực thuộc Ban chỉ huy, cấp cho hắn cây trung liên 24-29 tốt nhất cùng hai chiến sĩ tiếp đạn gan góc và đứng đắn nhất. Tiểu đoàn trưởng đến thăm đơn vị cũng bằng lòng: “Dụng nhơn như dụng mộc là vậy. Đừng bỏ phí đứa bắn giỏi nhứt trung đoàn”. Từ đó Sáu Mãnh khá hẳn lên, chỉ làm bậy ở mức không đáng kể, lần hồi được phục chức, được kết nạp lại. Thế mà không thoát số phận con cóc leo tường ! Trong trận càn vừa rồi, cánh quân rắn luồn của thằng Tây Bia đánh úp vào khu vườn hoang sau lưng đại đội Năm Chò, nơi tập kết của đoàn dân công tiếp tế và tải thương. Gạo và đạn đã giao xong, anh chị em đang ăn cơm nắm, đợi khiêng thương binh và gánh chiến lợi phẩm về, nếu có. Hầu hết kịp chạy thoát, địch chỉ bắn chết ba người - một ông già, hai phụ nữ - bắt sống bốn người, vun đốt một đống đòn gánh và sọt tre. Được tin cấp báo, Năm Chò dẫn bộ đội hộc tốc chạy đuổi theo, nhưng địch đã biến mất tăm trong vùng đồi rậm. Đến sẩm tối, hàng chục cột khói chợt ùn ùn bốc lên cách chỗ đại đôi 8 chừng ba cây số. Ban chỉ huy cùng tiểu đội liên trinh hối hả đến thật gần, leo lên cây xem kỹ, thấy địch đang nấu cơm và căng lều vải. Chắc ăn lắm rồi ! Dù lực lượng địch mạnh hơn, nhưng chúng ra ngoài đồn lũy, ta quen đánh đêm, và đánh xáp lá cà, tập kích nhất định sẽ thắng to ! Mười giờ tối, đại đội chia thành ba mũi đã sẵn sàng thốc lên đồi. Giờ hẹn nổ súng là đúng nửa đêm. Nằm đợi một lát, tất cả cán bộ và chiến sĩ đều ngờ ngợ, mỗi lúc một thêm ngờ ngợ trước cái vắng lặng khác thường trên đồi. Mấy đống lửa vẫn cháy lập lòe đấy, nhưng tuyệt nhiên không có tiếng nói, tiếng giày đinh đi đổi gác, tiếng ho hay ngáy của lính ngủ mê, cũng không hề thấy một bóng người đứng ngồi hay qua lại. Ban chỉ huy cùng liên trinh bò lên xem, phát hiện ra chỗ đóng quân giả chỉ là một bãi mìn lớn. Và chắc hẳn các họng pháo trên núi Voi Quỳ đang chĩa thẳng vào mấy đống lửa dùng làm đích này, đợi một ánh chớp của lựu đạn hay đạn cối 60 là bắn xối xả ! Thằng Tây Bia quả là quỷ sứ ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:28:43 am Đại đội rút ra xa, chia nhiều cánh đi lùng tiếp, có du kích đẫn đường. Tám giờ sáng, hẳn nhìn qua ống dòm thấy ta không mắc bẫy, địch giội xuống bãi mìn mấy chục quả pháo 75, đạn nổ lẫn đạn cháy, không để mìn và lều vải lọt vào tay Việt Minh. Cả khu đồi bốc lửa và nổ suốt buổi sáng.
Lại ú tim tìm bắt một ngày nữa. Chiếc Đa-cô-ta hai động cơ rì rì quần treo đèn từng lúc. Bốn chiếc khu trục cổ rùa Xpít-phai lên ném bom hủy diệt một xóm công giáo toàn tòng do địch kiểm soát, vì bọn quan sát trên Đa-cô-ta trông thấy trung đội vệ sĩ của nhà thờ vác súng đi tuần bên trong hàng rào chống Cộng. Rối tinh rối mù. Tuy vậy, Tây Bia đã lâm thế bí. Sau một ngày bị bất ngờ, du kích và nhân dân bám theo cánh quân hắn mỗi lúc một sát. Súng trường bắn tỉa nhả đạn ở những nơi ít chờ đợi nhất. Bọn lính ngụy dẫn đầu vấp mìn ở chỗ hôm qua không hề có mìn. Một trung đội Việt Minh phục kích đón đường, rất may là hắn cho quân đi men phía bên trái của cánh đồng hoang. Địch nằm mé bên phải, nổ súng cách bốn trăm mét, súng tồi và bắn kém nên hắn chỉ mất hai lính. Hắn gọi ra-đi-ô-phô-ni về đồn cho pháo dập, đi tiếp. Hai giờ sau, mấy phát đạn lẻ của du kích bắn chết tên hạ sĩ truyền tin, phá luôn máy. Túng kế, hấn cho quân tuôn ra một bãi sỏi cát rộng ven bờ Nam sông Thu Bồn, buộc hai sơ-mi trắng vào gậy, đánh tín hiệu xê-ma-pho lên chiếc Đa-cô-ta quần tròn trên đầu xin yểm trợ và thuyền vượt sông. Đánh đến rã tay, bọn trên máy bay mới ném xuống một mẩu giấy: “Chúng tôi không hiểu tín hiệu xê-ma-pho, hãy dùng moóc-xơ”. Pi-e chửi toáng một hồi, lại đánh moóc-xơ vắn tắt hơn, sợ máy bay bị Việt Minh bắn sẽ chuồn gấp. Việt Minh không bắn, nhưng từ chiếc Đa-cô-ta rơi xuống mảnh giấy thứ hai: “Phải về Đà Nẵng lấy xăng. Sẽ xin thả dù ra-đi-ô-phô-ni, xin pháo yểm trợ và thuyền vượt sông”. Máy bay đi khỏi một lát, cối 60 của Việt Minh ầm ầm tống đạn xuống bãi cát, thêm mươi lính nữa chết và bị thương. Còn may là bãi cát khá rộng, Việt Minh không xung phong qua được, lại nghèo đạn không bắn dai. Cánh quân của Pi-e qua sông bằng ca-nô máy chở nhiều đợt lúc mặt trời lặn, dưới làn pháo yểm trợ của đồn 76 và các đồn gần đấy, và dưới những viên đạn bắn tỉa “cắc-bụp-xòe”. Đường về đồn chỉ cách sáu cây số nhưng phải qua nhiều bãi chông mìn có từ trước hoặc mới đặt chặn đầu. Lính lại mệt phờ phạc, quân da vàng giở bài ỳ không hiểu khẩu lệnh tiếng Pháp nữa, quân da đen vãi bớt đạn dọc đường, quân da trắng bắt đầu chửi chỉ huy bằng tiếng Đức, Ý, Hà-Lan, Tây-ban-nha. Pi-e phải cho rút vào chỗ rậm, ăn đồ hộp với nước lã để tránh đốt lửa, ngủ thành vòng tròn đơm súng ra ngoài, nửa số quân ngủ thì nửa kia phải gác và tuần. Sáng hôm sau, phải đợi đến chín giờ máy bay quan sát mới đến quần treo đèn, canh chừng cho Pi-e rút quân về đồn. Khu không có sẵn ra-đi-ô-phô-ni để thả dù, chỉ liên lạc với trời với đất bằng giấy viết nguệch ngoạc và cờ sơ-mi. Mất gần một buổi nữa để vượt sáu cây số băng ruộng, cả quan lẫn lính đều hấp hối... Về sau Pi-e nhớ lại trận càn “đại thắng” này, vẫn còn ngạc nhiên vì loạt trung liên bốn năm viên xổ gần trúng hắn, lại câm bặt trước khi quân hắn kịp bắn trả. Đại đội 8 họp Hội đồng danh dự chính vì loạt trung liên ấy, do Năm Chò tự tay bắn. Chủ tịch Hội đồng là Ba Dĩnh đã thu thập đủ chứng cớ để làm báo cáo, chỉ còn dằng co ở bàn án sẽ đề nghị biểu quyết: Năm Chò đề nghị xử tử Sáu Mãnh, Ba Dĩnh thấy nên giải lên cấp trên xét xử. Sự việc đơn giản thôi. Sáu Mãnh ham gái, lần này bốc trúng một ả buôn lậu con thoi giữa vùng ta với vùng địch, ủy ban xã nghi là gián điệp và đang theo dõi. Sau vài lần cợt nhả đưa duyên, ả hẹn Mãnh ra một chòi tranh bỏ hoang giữa một nà bắp rộng, bắp bẻ xong nhưng cây còn đứng. Mãnh đã vác trung liên ra đi, thấy rờn rợn thế nào lại gọi hai đội viên mang đạn đi cùng, tính nếu êm xuôi sẽ cho hai cậu kia về trước. Một cậu đang lên cơn sốt rét rên hừ hừ, cậu kia nghe bảo đi tìm đạn địch vất lại nên hăng hái theo ngay. Ở sát nách địch, vũ khí phải dính theo người, cũng không thể giao vũ khí cho đồng đội đang ốm, cậu đành trút hết ba trăm đạn trung liên mang theo. Lúc này trong đại đội mỗi trường Max 36 chỉ được mười lần nổ, mỗi trung liên 24-29 được một trăm phát, riêng súng của Mãnh là “cây hỏa lực chiến lược” lãnh tới ba trăm viên, coi như phần con cưng. Ra đến chòi giữ chim, Mãnh kêu mệt, ngả lưng trên sạp tre một lát, lại rút tiền bảo cậu mang đạn đi mua rượu với lòng heo trong xóm. “Để ba-lô đạn tao giữ cho, cõng kè kè làm gì cho cực”. Cậu kia ngần ngừ, nhưng một lần nữa lại phục tùng tiểu đội trưởng. Ả kia trông chừng, thấy rõ thày trò Sáu Mãnh ra nà bắp mới lẻn đi đón cánh quân Tây Bia, lúc ấy đã tuôn qua hẻm suối khô đến gần làng. Một tiểu đội lính ngụy được ả dẫn đi đánh úp, cướp súng. Pháp không cần súng, chỉ cần nhổ bớt nanh vuốt của Năm Chò và diệt một tay thiện xạ cực kỳ lợi hại. Ả kia quen luồn lách một mình, không biết rằng một tiểu đội mang súng đạn và ba-lô đi trong nà bắp khô và dày sẽ ồn tới mức nào. Mãnh đang nằm lim dim đợi người tình, nghe tiếng rào rào như trâu bầy tới gần, nhỏm dậy dỏng tai. Vài tiếng ho rồi một giọng hạ thấp mà vẫn ồm ồm hỏi: “Gần tới chưa ?”. Tiếp giọng đàn bà: “Dạ thưa thầy gần rồi, phải thiệt êm...”. Tuy nghe lõm bõm mà Mãnh vẫn nhận ra tiếng ý trung nhân mới sáng nay còn thề trọn đời chung thủy. Hắn nhảy ào từ sạp xuống đất, chụp trung liên. Nghe trong chòi động mạnh, địch chưa thấy gì vẫn xả đạn như mưa vào chỗ động. Những cây bắp khô bị phạt văng tung tóe, đạn xăm đất túi bụi chung quanh Mãnh. Hắn chỉ còn kịp túm đầu nòng cây trung liên kéo lê theo, chạy tháo thân. Thoát ra chừng trăm thước, hắn mới sực nhớ phải chặn địch đuổi, vội kẹp súng vào nách bắn hú họa mấy loạt về phía sau, lại chạy. Hắn về đến gần làng vừa gặp đại đội ngậm tăm rút ra đồi, lùng đánh cánh quân chính của địch. Vừa dỗ vừa dọa, hắn buộc cậu mang đạn phải giấu vụ mất sạch ba trăm đạn, hẹn trong đợt chống càn này sẽ kiếm bù vào. Cứ thế, suốt hai ngày rưỡi quần lộn ẩu với địch, hắn vác cây trung liên với năm viên cuối cùng sót trong băng đi theo Năm Chò, còn cậu đội viên bị trám mồm cung cúc cõng ba-lô của người bạn sốt rét đã xuống nằm hầm bí mật, với hai cái băng rỗng độn ngoài cùng cho lấp ló. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 10:29:59 am Địch về gần tới đồn, Năm Chò mới chộp được thời cơ ăn to. Rượt theo đến mửa mật, anh suýt reo ầm khi thấy tất cả cánh quân Tây Bia ngoi ngóp lội ruộng lầy trước mắt anh. Không thể xung phong dưới tầm súng bắn che của đồn 76, vả lại theo kịp anh chỉ có mươi tay súng gần hết đạn. Diệt địch lúc này chỉ trông vào cây trung liên “dự trữ chiến lược”. Sáu Mãnh ôm bụng quằn quại kêu đau. Năm Chò chụp lấy súng, gọi cậu tiếp đạn đến bên, nổ một loạt, hối hả gọi thay băng, tái mặt khi nghe báo cáo hết đạn. Anh há miệng ngáp ngáp mấy cái, bật ra tiếng gầm méo mó: “Saaao? Sao lại hết !?”. Anh em chung quanh đều nhận ra thằng Tây Bia vừa hút chết đang rướn người ngoi gấp tới bờ ruộng gần nhất. Mặc cho trọng liên trên đồn bắt đầu quét tới chíu-chíu-pùng-pùng, họ ngắm kỹ và bấm những phát súng trường cuối cùng, trượt cả. Một trung đội phó tức điên nổ ba loạt hết băng tiểu liên Xten, mọi người đều thấy đầu đạn rơi xuống bùn chúm chúm trước họng súng chỉ vài chục thước, nòng quá mòn rồi.
Ba Dĩnh báo cáo ngắn, vì đại đội biết rõ đầu đuôi. Anh dứt lời giữa một câu dở dang, như mắc nghẹn. Hội đồng nhìn xói vào Năm Chò, đợi anh lên tiếng. Năm Chò ngồi lỳ không động, không mở miệng, cả thân hình đúc thành khối đen kịt dưới trăng rằm đã lên tới đỉnh vòm trời. Mắt anh đăm đăm nhìn khối đen thứ hai cũng câm lặng như mình là Sáu Mãnh. Tất cả đều hiểu một lời của Năm Chò sẽ quyết định Sáu Mãnh sống hay chết. Cán bộ đại 8 gồm toàn những tay sừng sỏ ngổ ngáo, nhiều lần Hội đồng danh dự đã biểu quyết ngược ý Năm Chò chứ không hề gọi dạ bảo vâng, nhưng chẳng hiểu tại sao lần này họ đều - không ai bảo ai - muốn nhường quyền phán xử cho đại đội trưởng, người sống chung lâu nhất và chơi thân nhất với Sáu Mãnh. Riêng chính trị viên Ba Dĩnh, sau mấy làn cố dỗ dành Năm Chò đừng đề nghị tử hình và cảm thấy Năm Chò là quả mìn sơn đen có dây cháy chậm bén lửa, đã bí mật rút băng đạn súng ngắn Côn 45 của Năm, lắp trên cùng một viên đạn thối đã cho vào tiểu liên Tom-xơn bắn đến thủng đít mà không nổ, lắp lại như cũ. Phòng xa vẫn hơn. Năm Chò dạo này bớt nóng tính được nhiều, nhưng biết đâu... Chung quanh mười bảy người đồng đội ngồi nín thinh trên nền nhà trụi, trăng rằm âu yếm rưới mãi những đốm và mảng xanh tuyệt vời xuống trần cho tất cả cùng trẻ lại. Trăng xóa trên mặt người những nếp nhăn khắc khổ nhọc mệt. Trăng đổi màu cây cỏ mùa đại hạn sẫm nặng ra xanh non mơn mởn tiết Thanh Minh: bãi bom hủy diệt biến thành vùng gò đống cho người đến viếng; trận địa chông mìn quyết chiến điểm hiện lên là nơi trai gái hẹn nhau hát giao duyên đến trăng tà gà gáy; những nền nhà mới cháy trụi hôm kia hôm qua được trăng phủ lụa mềm mại sẵn sàng đón bước chân ngập ngừng của cặp người lần đầu biết yêu. Và gió nữa. Gió từ sông Thu Bồn thổi lên khi nhẹ khi mạnh theo ý riêng khó hiểu. Những gì được trăng giảm tuổi già lại được gió biến hẳn thành lứa măng tơ. Lá to nhỏ lao rao lắc đầu xoay cổ, cây cao thấp nghiêng thân uốn dẻo, những vũng trăng trên đất cũng đung đưa gợn sóng, chung vui trong điệu múa khoan nhặt của trẻ em chơi quên giờ đêm rằm. Người lính địch hậu quen biến đêm thành ngày, nhưng ngày lại chẳng chịu hóa thành đêm cho người được nghỉ trọn giấc. Gà gáy chưa dứt tiếng, pháo cầm canh đã chuyển sang bắn cấp tập trong khi chờ máy bay đến giội bom. Tiếp tới quân bộ, không càn lớn cũng thọc phá nhỏ đôi ba chỗ, ta quấy rối đêm thì địch trả đũa ngày. Hôm nào không quá găng, bộ đội lại bới ra một góc của quả núi công việc ùn đợi sẵn: kéo ra rừng học chính trị, lên đồi tập quân sự (gọi là hội trường và thao trường nghe cho sang), đào thêm hầm hào chống càn, giúp dân dựng lều thay nhà bị đốt, đi lãnh gạo và vũ khí, kiếm củi nơi xa, cộng thêm những việc không tên khác như lau súng, may vá, tắm giặt nữa, coi như nhồi nhét đầy căng một ngày không còn khe hở để ngủ bù. Đêm được đành cho hành quân và chiến đấu. Ngày sửa soạn cho đêm, là phần mở đầu của đêm. Có thể quên ngày dương lịch, lẫn lộn chủ nhật ra thứ Năm, nhưng không thể nhớ sai lịch ta. Phải nắm chắc và tính kỹ những đêm trăng và đêm sao, độ sáng của từng đêm thượng tuần và hạ tuần, giờ trăng mọc và lặn, nếu không muốn bò qua rào thép gai dưới trăng rằm xỏ kim được, hoặc không gánh lặc lè đi men bờ vực mà mắt nhìn xuống không thấy bàn chân... thế đấy, người lính theo dõi trăng, nhớ trăng, thèm từng giờ trăng, cũng lắm khi bực vì trăng nấn ná không lặn, chửi trăng tàn tệ khi mắc nghẽn không vượt được bãi cát hay cánh đồng sát bên đồn. Gì thì gì, không ai có thể dửng dưng với trăng... Hội đồng danh dự ngồi im khá lâu, có dễ đến mươi phút. Cả mấy đồng chí nhanh miệng nhất cũng không vội lên tiếng. Tựa hồ họ rủ nhau ra đây hưởng gió mát trăng thanh và đang đợi nồi chè sắp chín nhừ. Một cậu liên trinh ngồi gác sau lưng Mãnh chợt thì thào với bạn: “Được đêm như ri, ta liên hoan mừng công mặc sức mà vui...”. Trong vắng lặng, mọi người cùng nghe rõ. Đâu đó vẳng lại một tiếng thở dài. Năm Chò như sực tỉnh sau lời nhắc nhở. Anh ngồi thẳng người lên, chẳng hiểu vì sao lại thong thả nhấc cái ca-lô đang đội. Mái tóc lâu không cắt đổ xuống trán, anh em bỗng thấy mặt anh hốc hác đến thảm hại. Anh vò nắn cái ca-lô trong hai bàn tay hơi run, nói rời từng tiếng bằng giọng khàn đặc như nhả trong họng ra từng hạt dẻ đầy gai: - Xin lỗi các đồng chí, tôi rán giữ bình tĩnh, thiệt khó... Thôi thì vầy... tôi đề nghị đuổi ra khỏi quân đội... tôi xin về nằm một lát, mệt quá, với lại tôi cũng sợ... Anh khoát tay, lảo đảo đi về cuối vườn. Anh em hiểu ngay: Năm Chò cố nén cơn tức điên, và sợ nó nổ bùng khi nghe Sáu Mãnh cãi chày cãi cối. Ba Dĩnh rụt rè đề nghị giải lên cấp trên. Đề nghị lấy lệ thôi, vì chính Ba Dĩnh cũng biết là thiếu người giải, đường xa và khó, Sáu Mãnh có thế biến dọc đường. Vài ý kiến qua lại, rồi Sáu Mãnh nhận tội gọn gàng. Hội đồng biểu quyết theo ý Năm Chò, chỉ thêm một chi tiết: giấy về xã có thể ghi giải ngũ vì kém sức khỏe. Dù giận Sáu Mãnh đến mấy, anh em vẫn nhớ rằng mãi đến nay bộ đội ta chỉ gồm toàn những người tình nguyện. Vô khối con trai to khỏe vẫn cứ phây phây ở hậu phương thì sao ! Chỉ trừ những tội quá nặng, còn lại cũng nên giảm phạt phần nào. Như Sáu Mãnh mất tuột cả chức vụ, cả Đảng, trùi trụi về quê sau bốn năm rưỡi chiến đấu, bấy nhiên cũng đã nhục lắm rồi. Bốn giờ sáng, Mãnh qua đò về vùng tự do phía Nam sông Thu Bồn. Chín giờ sáng, trong một xóm ven sông có tiếng lựu đạn nổ, chỉ một quả lẻ loi. Trưa đứng bóng, một cô du kích đi vòng vượt sông xa đồn đến trao cho Ban chỉ huy đại 8 ba lá thư: một gửi đại đội, một gửi riêng cho Năm Chò cùng Ba Dĩnh, một nhờ chuyển về nhà theo đồ đạc riêng. Sáu Mãnh viết thư xong, đã xuống hào tự tử bằng lựu đạn, một quả tấn công OF giấu trong ba-lô mang theo. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:35:13 pm Chương VII Con sông La nhỏ hơn sông Thu Bồn nhưng cũng trong veo như thế, dễ yêu như thế trong những tháng xa mùa lũ lụt. Đã dâng lũ thì sông nào cũng đáng gờm như nhau. Có khác chăng chỉ là sông La có đê, sông Thu hình như không, Cam cố moi trí nhớ vẫn không hình dung ra một khúc đê nào ven bờ dòng sông quê hương. Sắp chia tay với sông La rồi. Sáu Cam rời cơ quan huyện đội Đức Thọ đóng gần thị trấn huyện lỵ, đếm bước trên con đường đá ven sông La đi lên phà Linh Cảm, nửa vui nửa buồn. Đã tới khu trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng với mái lá tường đất trên nền đắp cao phòng lụt, trong đó có lớp Đệ nhất văn học của Cam. Tám tháng trước, Cam ngập ngừng bước vào lớp trong bộ xi-ta xám độc đáo của liên khu Năm, với màu da tái xám và cặp môi thâm sốt rét, đèo thêm nỗi lo canh cánh sợ học đội sổ. Lặn ngòi ngoi nước hai tháng đường núi ra đến đây, được nhận vào một trong những trường chuyên khoa hiếm hoi của nước Việt Nam kháng chiến có đủ bốn ban và mỗi ban ba lớp. Cam sợ nhất cái thân phận học trò dốt vớt lên trượt xuống, bỏ thương vương tội. Chuyến vượt núi của đoàn anh La Giang khá trôi chảy. Không bị phục kích, không nghẽn đường tới mức phải vòng xuống Cửa Việt hay bật lên lận A Ki trên đất Lào, chỉ gặp mưa lớn trên vùng tự do Bắc sông Gianh. Đến đấy Cam dầm mưa nặng mới nổi sốt rét, cũng là lúc cả đoàn dừng lại nghỉ vài hôm tắm giặt. Nhờ sức đang lớn, Cam lướt sốt nhanh, gượng dậy nhanh, không đến nỗi níu chân các anh ở lại đợi. Trong vô số cái ngỡ ngàng của người lần đầu bước tới Nghệ Tĩnh, khó khăn lớn nhất đối với Cam là giọng nói và từ ngữ. Các anh từ đây đi Nam tiến đã cố sửa cách nói sao cho người trong Nam dễ hiểu, đến nay Cam mới ngớ ra khi nghe hàng tràng tiếng lạ, cứ giương mắt há mồm chờ các anh dịch lại. Sau đó phải nhẩm vài lần để nhớ “sương nác ngoài rào” là gánh nước ngoài sông (đừng loay hoay tìm giếng bên ngoài hàng rào), hay “mạn chển xuốc cươi” là mượn chổi quét sân. Quả là câu đố hiểm hóc khi anh La Giang bắt Cam tập dịch: “Mô rú mô ri mô nỏ chô: mô rào mô bể chô mô mồ”. Anh cười chán rồi mới giảng: “Đâu rừng đâu núi đâu không thấy, đâu sông đâu biển thấy đâu nào”. Bước vào xứ quê của anh “nhà không chái, đái không ngồi, nồi không quai”, anh La Giang vừa dịch cho đoàn vừa cười liên miên, như say chếnh choáng khi hít thở không khí vùng đất mẹ mà anh đã xa rời hơn chục năm qua. Tiếp theo cái nạn ngôn ngữ bất đồng là những điều phải nhập tâm khi bước vào nhà đồng bào, bởi từ khi qua đò Minh Cầm đoàn bắt đầu ăn ngủ trong dân. Chớ có suồng sã xả láng theo kiểu trong Nam, phải chào cho khắp, chào trịnh trọng, đặc biệt đến bữa cơm phải mời chào tất cả những ai có thể trông thấy mình ăn. Phải nhanh trí xếp thứ bậc sao cho đúng bọ, mẹ, anh, ả, em, cháu, và tự xưng sao cho hợp. Nằm ngồi phải đúng hướng, đúng chỗ, chú ý đến bàn thờ và cửa giữa... Cam rối trí đến nỗi mãi về sau mới nhận thấy phụ nữ mặc váy nhiều hơn quần, và nhìn chung quanh thấy màu nâu ngự trị: nâu non, nâu sẫm, nâu ngả gụ ; rất khác liên khu Năm với màu đen của dân và màu xám của bộ đội. Anh La Giang chăm lo cho Cam thật chí nghĩa chí tình. Sau khi Cam được nhận vào trường Huỳnh Thúc Kháng, anh định xếp cho ở nhà bố mẹ mình. Xa nhà quá lâu, anh quên bẵng rằng ở quê người ta lấy vợ lấy chồng sớm và đẻ con nhiều. Trong hai căn nhà lá chung vườn của bố mẹ, có một anh, một chị, một em gái, với tất cả mười sáu đứa con trứng gà trứng vịt nô nghịch rầm rầm. Chịu thôi. Học tại đây có hơn hai chục anh em liên khu Năm, ra đợt đầu vào dịp nghỉ hè năm 48, đợt hai chỉ trước Cam tí chút. Họ được xếp ở trong đình làng Tùng Ảnh, tổ chức thành Học xá miền Nam, tự bầu Ban trị sự và góp tiền thổi nấu chung, sống kham khổ nhưng nề nếp khá tốt. Cam rất muốn vào đấy, nhưng sau một đêm ở chơi tán chuyện lại thấy không nên để anh em nhường cho mình một chỗ nằm và một chỗ ngồi học trên những sạp tre bàn tre đã quá chật chội. Chạy đôn chạy đáo mấy ngày liền, anh La Giang gài được Cam vào cơ quan huyện đội Đức Thọ, dưới cái ô che chở của anh huyện đội trưởng là bạn chăn trâu hồi nhỏ. Huyện đội trưởng ký giấy cho Cam “tái đăng” làm liên lạc viên, mỗi tháng chỉ cần đến cơ quan một lần để nhận gạo, tiền ăn và phụ cấp. Anh chọn nhà ở cho Cam còn kỹ hơn tiền trạm chọn nhà cho Ban chỉ huy, đưa Cam vào ở trong một gia đình bà con trong làng Đông Thái. Hai ông bà vừa làm nông vừa dệt lụa, chỉ hai con, cậu trai bước vào cuối cấp tiểu học cần thầy kèm, cô chị cũng thích được bày vẽ thêm khi học Bình dân buổi tối, dằn dà về sau hai ông bà dường như muốn anh học sinh bộ đội này ở rể hẳn nhà mình. Thật tình, cô Tơ làm ăn giỏi và khá xinh gái, phải cái hơn Cam đến hai tuổi, cả nhà lại xem điều ấy là tốt. Cam chỉ cười thầm khi nghe giảng xa xôi về “gái hơn hai, trai hơn một”, vẫn cứ một câu gọi chị hai câu mời chị, trong khi cô Tơ ngọt ngào xưng em, phần cháo sớm chè khuya dành cho Cam bao giờ cũng thêm huong vị của những nụ cười ánh mắt... Mới đấy mà đã qua tám tháng, chóng ghê ! Cam đi học theo kiểu khác thường, từng đợt một, mỗi đợt đều mở đầu bằng cưỡng bức và kết thúc bằng ham mê. Năm xưa ở Quy Nhơn, Cam biết đọc biết viết và làm được bốn phép tính là do anh Cả Chanh làm dữ. Khi Cam về ở với chị Thùy, cả nhà đói rách. Cam định bỏ học kiếm việc làm, anh Cả long mắt nói như dao chém đá: “Tới mười tám tuổi thì mày tự do, trước mười tám mày phải phục tùng tao, mày phải học, phải học !”. Học vấn tràn vào Cam như vỡ đê. Cam vào trường tiểu học ở Bình Định, trường Trung học bình dân ở Quảng Ngãi, trường chuyên khoa ở Hà Tĩnh, lần nào cũng kéo theo quả tạ tự ti của người học mót. Vài tháng đầu chăm lo lấp lỗ hổng, vài tháng giữa đạt mức trung bình, cuối niên khóa thường được xếp một trong mười học sinh khá nhất lớp. Cam luôn luôn ngạc nhiên khi thấy các bạn được học đủ ngày tháng phải tìm đến hỏi mình một thành ngữ Hán hay một từ tiếng Pháp, tiếng Anh. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:38:59 pm Một tuần trước, anh huyện đội trưởng Đức Thọ bàn giao công tác để lên tỉnh đội. Huyện đội trưởng mới từ xã đưa lên, là một anh trung niên chỉ thích mặc bà ba nâu, vắt vai cái khăn trắng, ngồi xổm co hai chân trên ghế dựa và kéo theo mình cái giỏ chứa điếu cày, mớ que đóm, cái âu đất nung nhỏ đựng than hồng. Hễ vui câu chuyện, anh có thể kéo thông năm mồi thuốc lào mà không say gật gà.
- Mền bản chất nông din ưa nhít là sớm sớm hút mấy điếu thuốc, chè uống vài đợi nác mới, đánh con tru ra rọng... Đánh Tây mãn cuộc là mền về đi cày, nỏ ham chức tước chi ! Tân quan, tân chính sách. Anh soát lại công việc cơ quan huyện đội, đưa bớt bốn người về đại đội bộ đội địa phương huyện, trong đó có đội viên liên lạc Phan Cam. Nghe đồng chỉ huyện đội phó trình bày hoàn cảnh của Cam, anh lắc đầu quầy quậy: - Rứa là ông La Giang cảm tình cá nhân ! Sắp sửa tổng phản công rồi, thân trai tráng lo vùi đầu học chữ mần chi nữa... Còn thiếu bốn tháng nữa mới đủ mười tám tuổi ? Thiếu niên nhi đồng còn giết được Tây nữa là... Cứ kêu hắn về đây, mền đả thông cho ! Anh chờ đợi một cuộc tranh cãi đầy lý sự lẫn hờn dỗi với cậu lính miền Nam (anh chưa hề qua khỏi đèo Ngang, không hình dung được miền Nam ra sao), lại ngoi lên học tới ban tú tài trong khi chính anh mới thoát mù chữ. Anh sửng sốt thật sự khi Cam tươi mặt đón quyết định đưa về đơn vị, còn hỏi bao giờ được đi. Chà, đám trí thức trẻ này thật khó hiểu... Anh thử thêm tí nữa: - Ở đại đội đang thiếu cấp dưỡng. Anh em tân binh chỉ ham cầm súng, ngại nồi chảo nhem nhuốc, hay bị các cô gái làng chỉ trỏ chế giễu. Cậu xem làm được không ? - Báo cáo anh, em không biết nấu nướng, nhưng cố học thì làm được thôi ! Cam rời cơ quan huyện đội trở về nhà cô Tơ ở thôn Tùng Ảnh với bản quyết định làm cấp dưỡng. Cam không biết rằng nửa giờ sau khi ký, anh huyện đội trưởng nói riêng với chính trị viên đại đội địa phương: - Cứ thử xem hắn có kiêu căng bọ tịch gì không. Nặng máu tiểu tư sản thì thôi, hễ yên tâm gánh nồi thì cậu đưa hắn vô Đảng, cho đi học đào tạo lên cấp côi, về sau thay bọn già mền. Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn báo tin vài tháng nữa về tuyển sinh, hắn khá thì cho đi học. Mền có hơi gờm hắn chữ nghĩa đầy bụng, gặp một lát tự nhiên thấy thương hắn, lạ thiệt chớ ! Cái điều anh huyện đội trưởng thấy khó hiểu đang phơi bày khắp noi. Từ thị trấn Đức Thọ về trường Huỳnh Thúc Kháng, Cam đi qua hàng chục cổng chào bằng tre với cót tô đậm hàng chữ “Tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang TỔNG PHẢN CÔNG”. Ngay trước trường Huỳnh Thúc Kháng, dưới hàng hiên, cũng treo tấm băng to dài “Chuẩn bị TỔNG PHẢN CÔNG”, chữ giấy vàng trên nền nâu non. ... Cam dừng bước trước cổng trường, leo lên con chạch bên phải đường đê sông La. Mặt trời đã lặn một nửa. Những đàn và nhóm cò trắng lấy dòng sông làm cữ, vội vã đập cánh bay về Hương Sơn, Hương Khê tìm nơi ngủ. Trên sân vận động nằm giữa trường chuyên khoa và chợ Hạ, các trung đội tự vệ học sinh đã tan buổi tập chiều, đang ngồi hát, thi nhau hát thật to. Tất cả đều là những bài Tổng phản công. ... Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về... ... Về thủ đô, quân du kích súng dưới tay bước trên hè phố thênh thang… ... Ước mơ ngày mai diệt hết quân thù, ca vang lừng nhạc xuynh giữa thủ đô... ... Tổng phản công, ta mong từnq giây... Một số cậu quản ca có sáng kiến cắt đôi cắt ba hài hát, chen vào những câu hô lớn “Chuẩn bị...”, và đơn vị thét đáp “Tổng phản công !”, sau đó hát tiếp. Cam ham học, thèm học, đành rồi. Nhưng chẳng bao giờ Cam thoát mũi nhọn xoi xói như viên đạn từ mặt trận dội về, bay lạc qua bốn bức tường trình đất sét quét vôi trắng của trường chuyên khoa. “Mình đã từng nếm mùi bom đạn khi mười ba tuổi, từ Bắc Sài Gòn đến vùng cao-su Biên Hòa, sắp Tổng phản công rồi. Chắc hẳn Tổng phản công y hệt Tổng khởi nghĩa, cả nước rập một lần nổi dậy quật nhào thằng Tây, lần này còn thêm Hồng quân Trung Hoa tràn qua biên giới giúp sức nữa, coi như ăn chắc. Đến ngày hoàn toàn độc lập, lẽ nào mình chỉ ghi vào lý lịch rằng đã chúi mũi học văn hóa trong khi cả nước đổ xương máu đánh đuổi giặc Tây ?”. Trong những ngày này, Cam thấy mình như cái thước kẻ dựng đứng trên bàn chờ một luồng gió thổi. Anh huyện đội trưởng mới đã phùng má thổi cây thước ngã về phía giết giặc. Và Cam biết ơn anh đã giải thoát cho Cam khỏi nghiêm lệnh của anh Cả Chanh cùng mọi sự sắp xếp chí tình của anh La Giang. Sẽ phải viết thư cho hai anh, giấu biến đi cái phần ngứa ngáy nhấp nhổm thèm ra trận của Cam, coi như đến tuổi cầm súng thì ắt phải rời ghế nhà trường. Anh La Giang mới chân ướt chân ráo về đến liên khu Tư đã bị điều vào bộ khung của đại đoàn 304 sắp ra đời, còn anh Cả Chanh chắc hẳn đã vượt biên giới sang Lào. Muốn thư đến nơi, Cam sẽ chép mỗi thư thành ba bản, gửi theo ba con đường khác nhau... Mặt trời đã lặn hẳn phía thượng nguồn sông La. Các cô gái dệt và nhuộm lụa ngại nắng rám má hồng thường đợi xế chiều mới ra giặt vỗ phồm phộp bùm bụp trên các bực xây đá ven đê, đã gánh lụa về phơi trong vườn nhà. Tiểu đoàn tự vệ trường chuyên khoa tan buổi tập chiều, đã hô những khẩu hiệu tổng phản công cuối cùng, vác cây súng nứa và ôm xấp vở giấy rơm tự túc tản về nhà trọ nằm rải trong các làng Đông Thái, Tùng Ảnh, Linh Cảm. Cam cũng về. Muốn ra đi thật lặng lẽ nhưng sợ mếch lòng. Còn phải đi chào qua học xá Bình Trị Thiên đóng trong nhà dân, ghé thăm vài chục anh em từ liên khu Năm ra, sống chung đói rách trong đình làng Tùng Ảnh, và phải thưa trình sao đó để cô Tơ rất đáng mến cùng bọ mẹ hiểu cho rằng thân trai đất Việt đã đến lúc xả thân vì nước, vẫn không hề quên bọ mẹ với chị Tơ đã săn sóc thương yêu... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:41:15 pm * * * - Báo cáo trực tinh, tôi, học viên Phan Cam, đại đội Hai trăm năm mươi lăm, có mặt ! - Nghỉ ! Cam hạ cây nứa dùi lỗ xỏ dây dùng làm súng tập, đứng nghiêm chờ lệnh. Đại đội phó trực tinh tiểu đoàn cau mày, không ưng ý. Vị khách đến thăm học viên Phan Cam hôm nay là bà phó chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ miền Nam Trung Bộ, từ xa thẳm khói lửa ra đây, có một trung đội trưởng theo bảo vệ, một đại đội phó thuộc tỉnh đội Thanh Hóa hướng dẫn, còn mang theo một thư viết tay của ông chủ tịch tỉnh Thanh Hóa đề nghị hết sức giúp đỡ. Cậu học viên được thăm lại rách hơn tổ đỉa ! Trường Trung học lục quân Trần Quốc Tuấn, phân hiệu Trung Bộ, mở khóa 6 trong năm chuẩn bị Tổng phản công và quân số tăng vọt này, được phát quân trang quá chậm. Học viên từ các tỉnh kéo về với cái khăn gói quả mướp chỉ hơi nhỉnh hơn ruột tượng, các đồ đạc diện nhất để lại nhà hay đơn vị cũ, nhận quân trang xong sẽ cấm mặc thường phục, bởi nhà trường phải là mẫu mực về tác phong chính quy. Sáu tuần quần quật xây dựng doanh trại, tiếp hai tháng lăn lê bò toài vừa qua trên các thao trường đầy sỏi đá và gai góc chưa dọn hết, đã tạo nên những kiểu ăn mặc kỳ lạ nhất. Đồng chí đại đội phó đứng trên thềm, rất chỉnh tề trong bộ ka-ki Nam Định, đi giày da vàng đế cộp có cổ, đội mũ bọc vải và lưới gắn sao vành vàng, còn đeo chéo qua ngực tấm băng rộng bản hai màu đỏ vàng của trực tinh. Đứng nghiêm dưới sân là một người đen như củ súng đến khó đoán tuổi, mặc bộ áo quần nâu đã bị bùn ruộng ngả sang màu gụ loang lổ từ chân đến ngực, vá chằng vá đụp bằng ba bốn thứ vải khác màu. Chân đi đất chắc hắn chai cứng hơn da trâu. Đặc biệt nhất là cái mũ khâu bằng mo cau hình ca-lô úp trên cái đầu cạo trọc bóng, có quai mây chằng dưới cằm. Hầu hết anh em học viên đều mặc na ná như thế, có khác chăng là ở màu vải nguyên thủy của áo quần, hay cái mũ mo chằm hình phễu, hình ống. Súng kíp hỏng dùng để tập chỉ đủ cho một phần ba quân số, súng nứa chiếm hai phần ba, mấy cây mút-cơ-tông gỗ anh em tự đẽo khi lao động phải bỏ xó; thà xấu đều hơn tốt lỏi. Được cái, Cam vẫn không phạm quy định một ly lai nào. “Nhập gia tùy tục, nhập trường tùy quy định”, cán bộ khung nhắc mãi rồi. Ngay từ giờ đầu tiên ghép đơn vị, học viên đã học vỡ lòng hàng loạt quy định, sao cho hàng ngàn chiến sĩ ngày càng giống hệt nhau đến từng lời nói, từng cử chỉ. Áo quần xơ xác nhưng vẫn đủ cúc và cài hết cúc, tay áo xắn lên cách cổ tay đúng mười hai phân và nếp nấp tay áo rộng đúng bảy phân, cái biển tên hình chữ nhật trên ngực trái tự làm bằng bìa cứng vẫn đúng kích thước, đúng chỗ, đề rõ họ tên và đơn vị. Vẫy Cam bước lên thềm, đồng chí trực tinh hỏi nhỏ: - Cậu còn bộ nào nữa không ? - Báo cáo trực tinh... - Ấy, khẽ chứ, khách ngồi trong kia. - Báo cáo, rách toang hết trơn. Chẳng có đồ lành mà mượn... Ôi chao, dì... dì Sáu ! Chị Sáu Lễ vừa hấp tấp bước tới sau lưng đồng chí trực tinh, giương to mắt trước cậu bộ đội dị hình: - Thiệt em hả Cam ? Sao mà... coi khác quá vậy em ? ... Là chị nói em lớn lên ghê quá, cứng cáp ghê quá... Chị vớt lại câu nói hớ khá nhanh đấy. Vào trong phòng khách, một căn nhà tre nứa lá, đồng chí trực tinh mới phân trần vì sao bộ đội tả tơi đến thế. Tiểu đoàn đồng ý cho học viên Phan Cam đi phép ba ngày để thăm đoàn cán bộ liên khu Năm trên đường ra Việt Bắc. Quân trang mới đưa về mươi gánh đầu tiên. Cam sẽ được đặc cách nhận trước. Lặn lộn nơi đồi xa rừng vắng thì sao cũng được, bước ra làng xóm phải dễ coi một tí. Cam sẽ nhận quân trang tại tiểu đoàn, trở về đại đội để báo cáo và nhận tiêu chuẩn gạo, tiền ứng đi phép. Nhóm chị Sáu đợi vài giờ nữa. Trở lại phòng khách là một chiến sĩ cao lớn, chững chạc từ đầu đến chân, trừ lớp râu quai nón chớm mọc lún phún chưa được cạo nhẵn, còn cái đầu ông sư mới gọt hôm kia thì tất nhiên không cần sửa sang gì. Cam chỉ vướng đôi chút vì bộ quân phục vải sợi đôi còn nguyên nước hồ chưa co lại cho vừa người, và đôi dép da trâu xoay bề nhám vào trong cọ rát da chân, chưa kịp ngâm nước cho mềm. Chị Sáu lại xưng “chị” phủ đầu để bắt Cam thôi gọi bằng dì như hồi ở chung với Hai Thùy: - Anh Bảy bị bệnh, đang nằm viện ở Nông Cống, cách đây bốn tiếng thôi. Ảnh muốn gặp em, nhờ các đồng chí ở tỉnh thu xếp giùm, chị đi theo coi người coi cảnh luôn. Bệnh viện cũng đóng xa dân, như trường em đây. Ra khỏi vùng đồi rậm, họ đi trên đường đê nông giang, xuôi dòng nước từ đập Bái Thượng chảy xuống, qua hết huyện Thọ Xuân sẽ đến huyện Nông Cống. Chị Sáu kể dài dài về chuyến vượt núi dọc Bình Trị Thiên, trong khi Cam nhìn chị chăm chú. Bà chị ngót năm mươi tuổi vốn béo trắng, giờ đã gầy bớt và gọn người hơn, mặt phủ một lớp rám nắng như bát sứ lấy từ giàn bếp xuống. Dễ thấy chị cố gắng bước nhanh hơn mức thường trong mấy tháng qua để khỏi níu chân anh em trong đoàn, khi vui câu chuyện chị đi chậm hẳn lại, rồi bỗng giật mình đi gấp lên. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:45:12 pm Cam cố ghìm thói quen sải chân mỗi giờ sáu cây số, bật cười:
- Chị bây giờ phong trần lắm rồi. Hồi trước em tưởng chị khó qua nổi đèo Le hay dốc Giảm Thọ. - Dân đồng bằng đặt nhiều cái tên rùng rợn thiệt. Qua Kèn Mẹ, Kèn Con tưởng đã cao lắm, tới dốc Búk mới thiệt là le lưỡi cóc ! Anh em mang giùm hết đồ đạc, chị hai tay hai gậy rán bươn theo, cứ nghĩ: đem cái tên hò Hơ đặt cho dốc Búk mới thiệt đúng chỗ. Anh Năm cõng ba-lô leo ào ào, còn quay lại đón chị nữa. Anh xài sức vậy mới sanh chuyện ! - Chuyện gì chị ? - Ảnh nôn nả lắm, thúc đoàn đi nhiều nghỉ ít. Tới khúc Liên U Ba Rền bị phục kích, một cậu bị thương phải để lại trạm, bật lên đi dốc U Bò. Đoạn đường goòng máy Đò Vàng - Chu Lễ, đợi một ngày thì goòng sửa xong chạy được, ảnh cứ kéo đi bộ. Các anh liên khu ủy Bốn cố giữ, ảnh chỉ ở lại làm việc ba ngày, ra đi đã bắt đầu sốt. Tối địa đầu Thanh Hóa ảnh kiệt sức, gượng tới Tĩnh Gia là gục xuống mê man, phải khiêng đi bệnh viện. Thầy thuốc đoán ảnh trúng thương hàn. Nằm mươi hôm, mới hơi tỉnh tỉnh đã lật bản đồ, xếp lộ trình, chị phải giựt đem đi giấu. Em thấy tức ói không ? Chị đẩy anh Tô Xáng đi trước cho anh Bảy khỏi sốt ruột. Chị đi thăm em, phần muốn gặp em, phần nữa cũng bắt ảnh đợi chị để nghỉ thêm cho lại sức, đá còn đổ mồ hôi nữa là người ! Kéo tuốt một hơi từ Nam Bộ tới đây, sức bằng voi cũng nhào huống chi ảnh đã ngoài năm mươi !... Đói bụng rồi, ta ăn cái gì đi. Chị huých Cam, chỉ vào tấm biển cót đề chữ to “PHỞ - tái nạm sụn gầu”: - Em ra trước, biết nạm sụn gầu là món gì không ? Cam cười xòa: - Sụn, chắc là xương sụn. Hai tiếng kia em chịu. - Chưa thử hả ? - Dạ chưa. Hàng quán mắc cái tật là ăn xong đòi tiền, bậy hết sức ! Chị gọi hai đồng chí cùng đi vào quán, mời mỗi người hai tô tùy ý chọn, kết thúc bằng một quả chuối tiêu. Càng đi xuôi nông giang, đồng bằng Nông Cống càng mở rộng, càng nổi xanh mơn mởn, với những nét thắng của kênh mương khoe công con người săn sóc đất. Nhiều con đường rộng lát gạch nghiêng dẫn vào những xóm làng chưa từng bị bom, lắm nhà ngói lấp ló sau tre, các nhà tranh trông ngoài cũng khá gọn sạch. “Được mùa Nông Cống, nuôi sống thiên hạ”, vùng vựa thóc này quả thật là giàu. Thế nhưng Cam vẫn chưa có mấy cảm tình với xứ Thanh, chỉ nhớ một số kỷ niệm ít vui qua những chuyến đi đường, ngủ nhờ, mượn nồi xin củi. Không chỉ riêng Cam mà hầu hết anh em từ Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, liên khu Ba kéo đến Trường lục quân đều có ấn tượng rằng đồng bào ở đây hiểu Cách mạng quá ít, các nhà giàu coi khinh bộ đội ra mặt, chính quyền và các đoàn thể yếu ớt. Đã xảy ra mấy vụ xô xát trong đại đội khi anh em liên khu Ba nhại lối nói vùng Tây Thanh Hóa: “Cha tui đi cần, mẹ tui đi cấn, chị tui đi củn, tún mới viền”. Riêng Cam một lần suýt đánh nhau với một cậu quê ở Thanh Hóa cũng vì cái tội “chửi cha không bằng pha tiếng”. Bị anh em lôi lại, cậu còn dứ dứ hai quả đấm, quát: - Nghe nói mi ở tỉnh Nam. Mi tưởng xứ Nam Định nhà mi báu quý lắm đấy. Sợ Tây, bỏ chạy vô xứ ni ăn mày hàng triệu ! Đang tức đỏ mặt, Cam bỗng bật cười hô hố, chung quanh đều sửng sốt. Mãi ba giờ chiều họ mới về đến bệnh viện, đóng xa làng trong khu đồi còn nhiều rừng cấm. Bị vợ giấu hết tài liệu, anh Bảy Quý nằm dài đọc báo, anh mượn được cả một chồng báo đủ loại của bệnh viện, nhiều nhất là hai tờ Vui Sống của ngành quân y và Quân Du Kích viết rất nhộn. Từng lúc anh tủm tỉm cười một mình. Vốn gầy sẵn nên khi ốm dậy trông anh không hốc hác lắm, tuy phải qua nhiều ngày sống bằng nước cháo, sữa loãng. Anh lên kính rồi hạ kính, nhăn trán cố nhớ mà không nhận ra Cam, làn cuối anh ghé thăm Chanh và Thùy cách đây đã ba năm. - Xin lỗi đồng chí nghen. Đồng chí ở viện đây hay là chỗ khác tới ? Mọi người nói cười ầm ầm, anh cũng ngượng nghịu cười theo: - Nhà tôi hẹn dẫn thằng nhỏ Sáu Cam tới chơi, đợi miết chẳng thấy nó tới. Sao mình, nó xin nghỉ phép được không ? Chị Sáu gập đôi người, đỏ rựng đến tận cổ, cười đến phát ho sặc. Anh Bảy ngẩn ra nhìn vợ, rồi trố mắt ngắm cậu bộ đội đứng bên giường, ngập ngừng : - Hay đồng chí là... nè, thiệt mi hả Cam ? Mi chớ ai nữa ? Cam vồ lấy bàn tay gày cuộc chìa ra luống cuống: - Tại cháu... tại em khác quá đó anh. Hồi xưa anh ít gặp, qua mấy năm anh ở Cực Nam, em lại ít giống anh Chanh ! - Ờ, phải, mi cao hơn anh, đen thui như dọn rẫy mới về, thêm râu ria nữa chớ... Những cán bộ như anh Bảy Quý quanh năm tiếp xúc với vô số bộ đội và đồng bào, vẫn luôn luôn áy náy mỗi khi không nhận ra một ai đó vồ vập đến với mình. Chị Sáu biết tính anh, vội kể dồn dập về những phút mới đầu gặp Cam ở Trường lục quân. Cam cười thầm, nhớ lại câu dặn nhỏ của anh trực tinh: “Đừng kể chuyện khổ cực nhiều, nhân dân hiểu lầm trường ta để lính đói rách”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:47:27 pm Suốt hai ngày tiếp theo, chỉ trừ giờ khám bệnh và cho thuốc, Cam sống hẳn bên anh Bảy, giúp anh ăn uống, đi dạo, nhiều nhất là vừa xoa bóp vừa chuyện trò rủ rỉ. Có lúc anh Bảy nói bùi ngùi: “Mi làm tao nhớ thằng Chanh quá. Nhớ hồi ở tù...”. Anh không nói tiếp, nên Cam chẳng hiểu hồi xưa các anh sống với nhau ra sao. Anh Cả Chanh rất ít nhắc tới kỷ niệm nhà tù, có lẽ ngại chung quanh tưởng anh khoe công.
Anh Bảy hỏi nhiều, nghe kỹ, nhưng nói rất ít. Một trong những câu hỏi đầu tiên của anh là: “Tại sao em bỏ học chuyên khoa, đi bộ đội ?” - Tổng động viên mà anh. Tổng động viên để Tổng phản công, em cũng vừa tới tuổi cầm súng. Vô lễ để người khác đánh giặc miết, về sau em tọa hưởng kỳ thành ? Với lại em nhập ngũ năm ngoái kia, làm lính cậu, lính học trò riết rồi cũng dị dị... - Trường chuyên khoa đóng cửa à ? - Dạ không, khám tuyển hết thảy, nhưng ai không tự nguyện tòng quân cũng không ép, cho ở lại học tiếp. - Em có thấy như vậy là bất công không ? Cam ngừng tay xoa bóp, ngẩn mặt ra. Cam biết có nhiều bạn học cố né tránh con đường ra trận, nhưng chỉ thấy thương hại họ. Thắng Tây xong là suốt đời không còn dịp rèn luyện trong khói lửa, lập công dâng lên Tổ quốc, Bác Hồ. Mà ta sắp thắng Tây rồi còn gì ! Nghe Cam thú nhận nỗi ngứa đánh kéo dài, anh Bảy cười: - Thử đoán coi, năm nào nước mình độc lập ? - Ai cũng nói năm nay tổng phản công. Một lần đại tá phân hiệu trưởng đến tiểu đoàn em nói chuyện, nhắc là không được cắt cụt câu khẩu hiệu “tích cục cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang Tổng phản công”. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội hớt bỏ hết khúc đầu. Đại đội trưởng bốc lắm, nói trước anh em: “Tôi được nghe đích xác rằng là Hồ Chủ Tịch đã dặn Võ Đại tướng: nếu như đêm ba mươi mốt tháng chạp chú chưa Tổng phản công thì sáng mồng một năm Năm mươi mốt chú cũng phải ra lệnh Tổng phản công !”. Bộ đội vỗ tay rầm trời. Thiệt vậy không anh ? - À... ờ... đợi ít lâu nữa, may ra anh được kêu lên gặp Bác Hồ hay anh Văn, anh hỏi thử... Cam nè, nghe người ta đồn cán bộ Trường lục quân đánh phạt học viên gắt lắm phải không ? - Dạ, đánh thì không. Khóa trước còn, tới khóa này cấm đánh, hết hẳn rồi. Phạt thì... thả cửa, lu bù, vô số ! Cam không thấy anh Bảy cười tủm tỉm, không biết câu chuyện đã bị lái ra khỏi cơn lốc say sưa của cuộc Tổng phản công đang đến sát nút với toàn thắng cầm chắc trong tay. - Tại sao mà phạt ? Phạt cách sao ? - Nhiều lý do lắm... Thường là phạm quy định nhà trường, chậm chạp, thiếu chỉnh tề, nội vụ lộn xộn... Cũng có khi chẳng cần lý do. Trường đề ra một tuần “Kỷ luật không lý do”, đụng đâu phạt đó. Tụi em sinh hoạt Đảng, chất vấn riết, chi ủy nói là tập cho học viên chịu phạt, cho quen với kỷ luật sắt của quân đội, xóa sạch tác phong lề mề dân chính, tự do du kích. Hay là “Tuần nhanh chóng” báo động liên miên, vô hồi kỳ trận, nửa đêm gà gáy hay là giữa bữa cơm, giờ nghỉ. Báo động cả đại đội, riêng từng trung, từng tiểu, có khi báo động một người. Có lần em bị báo động đêm tới ba lần sau phiên gác, chỉ ngủ được vài tiếng... - Chà, sao vậy ? - Tại em thôi. Gác hết phiên, vô đập kêu người thay gác hơi ồn, ông trực tinh đại đội nghe được. Ổng để cho ngủ lịm đi mươi phút mới đến bấm vô đùi, nói nhỏ “báo động cá nhân”. Lập tức cuốn mùng chiếu cột ba-lô, áo quần nai nịt hỏa tốc, chạy ra nghe lệnh phạt đứng nghiêm nửa tiếng vì làm ồn. Phạt xong trở về chỗ ngủ, thiếp đi một lát lại bị lần thứ hai, vì mùng căng không vuông vức, đeo ba-lô chạy tại chỗ nửa tiếng. Tới lần thứ ba, tại em buồn ngủ quá, vô mùng xong không cởi áo quần dài theo quy định, bò quanh doanh trại nửa tiếng. Phờ râu ông cụ ! - Nói thiệt anh nghe ... Em có tán thành cách rèn luyện bộ đội như vậy không ? Anh Bảy đăm đăm nhìn Cam. Bên dưới lớp da tóc gọt trọc bóng, khuôn mặt sạm nắng đen trũi trở nên đăm chiêu. Cam mấp máy môi vài lần, không nói, bộ râu quai nón mọc sớm khẽ động đậy, đôi lông mày nét mác cau lại. Anh Bảy nghiêm chỉnh chờ nghe câu trả lời, và ưng ý khi thấy Cam suy nghĩ nghiêm chỉnh, ở lứa tuổi mười tám của Cam, anh chỉ là chú học trò nghèo, bồn chồn háo hức đấy nhưng hầu như không hiểu gì về đất nước, lịch sử. Lớp người thay thế ngồi trước mặt anh khác nhiều, khác quá xa. Thằng em nhỏ lon xon theo anh Chanh chị Thùy năm nào đã học vượt lớp lên cấp chuyên khoa, thành đảng viên dự bị, đang được đào tạo thành cán bộ chỉ huy, sắp bước vào đợt thử lửa thứ hai trong cuộc đời còn rất ngắn mà đã trải không ít chìm nổi. Anh không nhận ra nó khi mới gặp là phải. Không chỉ vì vóc dáng lênh nghênh và nước da dầu dãi, còn vì cái lối đi đứng dứt khoát, nói năng rành rọt với những lời chọn lọc, cái vẻ người trưởng thành đường hoàng và có lẽ hơi chín sớm nữa trong lò lửa kháng chiến. Ừ nhỉ, có lẽ nó chín sớm thật, nó hơi già trước tuổi. Ở mướn giữ ngựa, lần lút xin ăn, liên lạc trong bộ đội Nam tiến, những trường đời ấy quá khắc nghiệt đối với một đứa trẻ. Trong ba năm xa anh nó còn qua ba nhà trường khác nữa: Trường Trung học Bình dân học chung với cán bộ, trường Chuyên khoa, trường Lục quân. Nó cọ xát với không biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội, đồng bào, đồng song, suốt dải đất Trung Bộ dài thượt này, lấn vào tận ngoại ô Sài Gòn, dễ sợ thật. Quả là hậu sinh khả úy... Dựa lưng vào phên nứa, anh Bảy xoa cằm nghĩ dài dài như thế trong khi Cam xuống nhà ăn bưng xoong cháo hầm nhừ lên cho anh. Khi Ban Thường vụ Trung ương Đảng thăm dò các liên khu ủy về danh sách ứng cử và đề cử vào Trung ương trong Đại hội toàn quốc lần thứ hai sẽ họp vào mùa xuân năm sau, anh Bảy Quý không có mặt nhưng đã được đề cử gần như nhất trí. Bởi thế, vừa từ Nam Bộ ra đến khu Sáu, anh đã nhận điện ra Việt Bắc rất gấp để báo cáo và góp sức soạn các văn kiện Đại hội. Nói cho thật tình, anh Bảy có mấy ngày vui thầm khi thấy mình được các đồng chí tin cậy, thấy mình có ích đối với cách mạng. Tiếp liền đó, rất nhanh, anh trở lại là “ông Bảy Lo”, lo phải nhận những việc quá sức mình. Ra đến Bình Định, họp liên khu ủy, anh nói hết những gì đã ám ảnh anh suốt dọc đường, xin rút khỏi danh sách đề cử và trở về khu Cục Nam Trung Bộ gian nan bậc nhất trong kháng chiến. Ý kiến anh bị bác bỏ thẳng thừng, anh bị buộc phải lên đường ra Việt Bắc. “Rút hay không rút tùy ông, có điều ông phải có mặt trong Đại hội. Ít nhứt ông cũng kể được trong ta đánh giặc ra sao chớ !”. Các đồng chí đùa vậy, anh nghe cũng có lý và đã biến chuyến đi dài dằng dặc thành một đợt tìm hiểu đất nước từ Nam tới Bắc... Bát cháo gan băm Cam múc ra còn nóng quá, phải đợi nguội bớt. Anh Bảy lại tủm tỉm: - Sao đó chú mày ? Phán một lời được chưa ? Cam ngồi xuống giường, trầm ngâm: - Dạ, cũng tùy người... Đại đội em có mấy đứa chịu kỷ luật sắt không nổi, đập bệnh xin về, cũng có đứa bỏ trốn... Số đông thì rán chịu, lỡ hứa hẹn “chưa hết giặc chưa trở về”, bây giờ mặt mũi nào gặp lại bạn bè, làng xóm. Với lại riết rồi cũng quen anh à, chạy thêm một tiếng hay bỏ vài vòng sân coi như tập thêm cho thuộc nhuyễn động tác, mùi mẽ gì. - Nghĩa là em tán thành ? Cam ngấc đầu, nhìn anh Bảy đăm đăm: - Em nhớ hồi theo bộ đội anh Năm Chò vô Nam Bộ, các anh hăng hái lắm, nhưng mà rất... rất lộn xộn. Đơn vị bầu cán bộ rồi đuổi cán bộ, trên ra lệnh dưới cãi cù cua, kêu họp bảy giờ thì tám giờ mới gần đủ, có anh còn say mèm. Gây sự với du kích ủy ban hoài. Kỷ luật vậy làm sao đánh trận lớn được... Tới bây giờ kỷ luật rất căng, rất hắc, em nghĩ là đúng. Nhưng mà em không đồng ý cái kiểu phạt làm nhục, phạt lấy oai cho lính sợ chỉ huy. Có những anh cán bộ phạt nhốt hầm tròn giữa trưa nắng, phạt ngủ chuồng trâu không mùng cho muỗi đốt, phạt chạy sáu tiếng tám tiếng, đến nỗi anh em phát đau ốm, ngã ngất, lại còn đay nghiến là giả bộ.Có lần em đấu tranh trong chi bộ chống một cán bộ trung đội ưa làm phách kiểu đó, bị anh ta thù thiệt dai. May là ảnh đổi đi nơi khác rồi, dễ thở hơn... Nói cho cùng, em cũng không biết làm sao cho phải, kỷ luật vừa nghiêm minh vừa tự giác là hay nhứt... Chết cha, nói dông dài miết, cháo anh nguội ngắt rồi ! Anh Bảy húp từng thìa cháo ấm. Chị Sáu Lễ bước vào từ nãy, không lên tiếng, chỉ lặng lẽ ngồi gọt cam trên cái giường bỏ trống bên cạnh. Chị biết, anh Bảy đã rất nhiều lần nghe kể những điều na ná như thế và tệ hơn thế, anh chỉ hỏi để hiểu thêm một thanh niên đang háo hức đi giết giặc. Nom nét mặt tươi tỉnh của chồng, chị biết anh đang vui sau một câu chuyện không vui. - Tóm lại, em chịu được tới mút mùa chớ ? - Dạ, chịu được. Đời lính mà, phải tập chịu đựng hết thảy, kể cả những gian khổ ta gây cho ta ! - Cái thằng, lý sự như ông cụ non ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:52:30 pm Chương VIII Năm 1950 sôi nổi chuẩn bị Tổng phản công cũng là năm rộn rịp nhất của làng Linh Lâm và vùng thung lũng sông Linh được gọi là Xê-ca-đơ, tức Chiến khu Hai. Ba thôn có từ xưa là Linh Lâm, Linh Trung, Linh Hạ được ghép thêm một thôn mới ra đời là Linh Thượng gồm hơn một trăm gia đình từ vùng bị chiếm Bắc Quảng Nam tản cư vào, dựng nhà rải rác mé trên Linh Lâm chừng một cây số. Những ai nhấp nhổm tạm bợ, cả những người chưa thật đáng tin cậy, đã tự ý dời đi hoặc được khéo léo mời đi vào sâu hơn trong vùng tự do liên khu 5 để tránh bom đạn và dễ làm ăn. Bốn thôn ven sông Linh họp lại thành xã Linh Giang. Linh Hạ sẵn nghề đánh cá sông, nay khá giả thêm nhờ đóng thuyền và trồng gai đan lưới bán khắp nơi. Linh Trung cắm trên vùng đất chật, vốn ít dân, bỗng đông nghịt lên khi xưởng dệt của bộ đội chuyển đến với một trăm rưởi thợ và ngót bốn trăm người nhà, dựng trại và đặt khung cửi trong các khu rừng già quanh làng. Đồng bào ở Linh Thượng làm nhà và vỡ đất trồng trỉa xong, thường xin giấy xuống đồng bằng buôn lên muối mắm và các mặt hàng khan hiếm khác, cũng làm thêm nhiều nghề từ quê gốc mang tới. Chỉ riêng xưởng quân giới Cao Thắng đóng tách rời chỗ đông dân, lọt thỏm trong rừng sâu với những khu trại to nhỏ, rất nhiều công nhân và gia đình họ, cho đến nay vẫn nằm ngoài quyền kiểm soát của ủy ban xã, chỉ liên hệ với bên ngoài qua một trạm đặt trên bờ sông. Chỗ rốn của Xê-ca-đơ vẫn là Linh Lâm, điểm nút của đường bộ 56 xuống tận biển và đường thủy sông Linh nối vào nguồn Thu Bồn. Ở đây có cơ quan xã, vạn ghe, chợ và tiệm quán, gần đây mở thêm nhà y tế và trường tiểu học bốn lớp có đủ y tá và thầy giáo. Máy bay đến quần tìm nhiều lượt, chỉ thấy rừng xanh chen ruộng rẫy xanh, rốt cuộc đành trút bom xuống mấy dãy nhà ngói của đồn điền La-phạt và ngôi đình nằm lộ thiên trên gò, thường thả trượt vì vướng núi phải bay cao. Linh Lâm tăng số dân, số nhà, cũng ngày càng đông khách qua lại. Các đơn vị bộ đội đi đánh trên Bắc Tây Nguyên hoặc lui về luyện quân, các đoàn dân công gánh vũ khí ra mặt trận Bắc Quảng Nam và đem chiến lợi phẩm về, các bộ phận tiếp tế và chuyển hàng cho quân giới và quân nhu, tất cả lũ lượt kéo qua Linh Lâm hầu như hằng ngày. Ủy ban và xã đội bàn lui tính tới mãi về trật tự an ninh, chạy thương lượng với các cơ quan, xin công an huyện và huyện đội cử người lên lập các trạm kiểm soát đường bộ và đường sông, cũng chỉ giảm bớt khó khăn một phần. Cuối cùng, xã đội trưởng Tám Doãn phải rút du kích và dân quân đi mở một con đường mới xuyên rừng, vòng tránh xa làng, từ truông Dơi tách xéo xuống quãng bờ sông vắng giữa Linh Lâm và Linh Trung, căng dây kéo bè bằng mây song và buộc lồng vào đấy hai chiếc bè to. Tiếp đó, lại sửa khu lán trại mà một đại đội đã dựng để luyện tập trong ba tháng, nhà và sạp nằm còn tốt, cách bến mới không xa. Để khách qua lại khỏi giận hờn, Tám Doãn dựng thêm một cổng chào với tấm biển chữ lớn: “Nhà khách xã Linh Giang”. Xóm chợ và bến vạn từ đấy đỡ tràn ngập người, nhưng lại xảy ra một điều rất không ngờ: khu nhà khách biến thành chợ. Đồng bào các làng Kinh và Thượng làm ăn khá, thừa khoai sắn bắp và nuôi được nhiều heo gà, lại thiếu các thứ hàng vùng biển và bắt đầu ưa dùng hàng ngoại. Phong trào “bài trừ ngoại hóa” và bao vây kinh tế địch còn mạnh dưới vùng xuôi, đám con buôn lậu “chửa ở Tam Kỳ, vô Bồng Sơn đẻ” bị chặn bắt rất nghiêm. Ở nơi ven núi và gần địch này không có con buôn. Bộ đội và dân công đổi chút ít hàng mang theo người lấy thức ăn đỡ đói, ai mà dám ngăn cản ! Chợ phiên Linh Lâm vẫn họp hai ngày một lần, vào ngày lẻ âm lịch, nhưng người lui tới giảm đi nhiều. Bà con ngóng đợi những đoàn lớn kéo qua, hối hả mang đến khu nhà khách những thứ để dành sẵn: gà, trứng, thịt rừng khô và tươi, trái cây, nếp, bắp, khoai, sắn, đôi khi khiêng cả heo và đánh trâu bò tới, còn dân chài lưới dọc sông gặp con thuyền nào xuôi cũng hỏi ngay nhà khách vắng hay đông. Khách trút ra các loại thuốc tây, đá lửa, dầu lửa, ni-lông đi mưa, đôi khi cả áo quần ka-ki, đồng hồ, bút máy ngòi vàng. Mỗi người đem theo một ít, nhưng hàng trăm cái “một ít” gộp lại thành khối lớn không đếm xuể. Một số gia đình tản cư quen bán quán bắt đầu mang quà đến nhà khách. Ban đầu chỉ là vài gánh mì Quảng, bánh tét bánh ú sơ sài. Về sau là những chiếc đò chở của ngon năm bảy món và những lều quán dựng sẵn có đủ bàn ghế tre và bếp than hâm thức ăn, đun nước. Tám Doãn chặn không nổi, và cũng không hiểu nên chặn hay để mặc, đành giao cho thôn đội Linh Trung cử mỗi ngày một tổ đến giữ trật tự, cấm đốt khói ban ngày, tịch thu hàng xa xỉ phẩm như rượu và thuốc lá Cô-táp, Bát-xtô. Anh thường nghe báo cáo về những vụ xô xát nặng nhẹ của dân quân với khách, chẳng bao giờ trông thấy các thứ bị tịch thu. Cứ thế, chính quyền xã chịu chấp nhận sự ra đời của chợ Mới, bến Mới chưa từng có trên bản đồ. Còn may là đường chuyển thương bệnh binh về quân y viện và đường dây liên lạc Bắc Nam chỉ đi qua chợ Huề Bình chứ không xuyên ngang Xê-ca-đơ. Cuối năm ngoái, Tám Doãn nổi khùng gắt um lên khi nhận chỉ thị của ủy ban huyện Tây Quảng: tại Linh Giang sẽ đặt một cơ quan mật lấy tên là Trạm biên chính Hai, xã phải hết sức giúp đỡ làm nhà ở, kho tàng, tiếp tế và bảo vệ cho thật tốt. - Nữa ! Thời đánh Tây, cơ quan nào mà không tối mật, công tác nào không tối khẩn ! Các chả quen nước sông công lính, quên mất tụi này ở xã chỉ có cơm nhà áo vợ nợ đùm đề ! Doãn làm huyện đội phó gần hai năm, bị đạn xuyên phổi trong khi chỉ huy một đơn vị du kích Tây Quảng đi dự chiến mé Trà Kiệu. Viên đạn nằm lì trong ngực khiến anh yếu hẳn, phải xin về xã, chẳng dè xã anh biến thành chiến khu với vô vàn công việc hóc búa. Nghe bảo cấp trên định tách Xê-ca-đơ thành khu quân sự trực thuộc tỉnh, lập Ban chỉ huy riêng, Doãn sốt ruột chờ ngày bàn giao để lãnh việc nhẹ hơn. Người thay không thấy tới, chỉ thấy việc mới dồn dập trút xuống đầu. Anh tốc xuống huyện. Huyện đội trưởng là bạn cũ nghe cự nự một hồi, chỉ cười xòa, đưa anh xem mấy nghị quyết chỉ thị mới về khu đặc biệt Hạ Lào - Đông Bắc Miên và Liên quân Lào - Việt. Bộ phận hậu phương của khu này lấy tên là Phòng biên chính, đặt một trạm gốc ở huyện Tam Kỳ, trạm thứ hai ở Linh Giang, trạm ba sát biên giới, phục vụ cho các cánh quân của bạn và của ta đã chọc thủng biên giới, đang tiến đánh nhiều hướng. - Nhiệm vụ quốc tế đó mày. Hết kêu rên chưa ? - Tại tụi bay cứ úp úp mở mở... Doãn đưa về xã một nhóm cán bộ, hai Lào ba Việt, dẫn họ đi xem thế đất, chọn chỗ đặt trạm hơi xa làng xa sông, trên mối đường xuyên núi đi về Bến Giằng. Du kích và dân quân cũng nhăn nhó như Doãn khi bị điều, nghe lọt tai mới bốc hăng, làm hùng hục: “Rõ rồi đó nghen. Tới khi tổng phản công là mình công tất cả Đông Dương, ào ào tới tới, thằng Tây hết chỗ rúc !”. Các đơn vị Tây tiến lần lượt kéo qua, mang toàn súng ống tốt, mặc loại quân phục xi-ta chỉ đánh rất bền được gọi là xi-ta biên chính, đặc biệt là được cấp cả dép lốp ô-tô của hiếm. Có những trung đội nói toàn tiếng lạ, anh em phiên dịch giới thiệu là bộ đội Tây Nguyên, chỉ một số cán bộ xã biết là bộ đội Lào. Xen kẽ với bộ đội là những đoàn dân công gánh và cõng rất nhiều thùng vũ khí, kiện quân trang, sọt muối. Càng về sau muối tuôn lên càng nhiều, có thêm mấy con voi và những đàn trâu thồ, ngựa thồ nữa. Trong mấy tháng cuối cùng ở Linh Lâm chữa bệnh, Cả Chanh hay đến Trạm biên chính Hai, cùng ăn ngủ và săn bắn với mấy đồng chí Lào ở đấy. Anh cố học tiếng Lào, chữ Lào, phong tục tập quán Lào, cách nấu nướng ăn uống Lào, những kiểu đi đứng nằm ngồi Lào, cùng với hàng trăm kiểu xoay xở tháo vát của người ở rừng và sống nhờ rừng. Anh em Lào ở trạm rất khoái anh học trò vô cùng tò mò này, thi nhau dạy. Họ thường đến chơi nhà Chanh và lò rèn ông Chua, nơi có thế sửa vá quân trang hay đóng cán con dao găm, nhoáy cái là xong. Hai Thùy tập làm món lạp bằng thịt hay cá băm sền sệt ăn sống mà người Lào từ dân đến vua rất thích ăn bằng tay mỗi khi tiếp các bạn mới của chồng, nói được năm bảy câu chào hỏi dễ nhất trước khi nhường cho chồng tán dông dài hàng giờ bằng tiếng Lào và ngửa cổ cười hô hố. Khi biết tên Thùy, các bạn đem ghép tên hai vợ chồng và gọi Cả Chanh là ai Chăn-thi, xá-hải Chăn-thi 1. Họ tiếc mãi không có thì giờ và thiếu voi khôn, không thể đào hố bẫy để bắt những con voi rừng hay rống văng vẳng trên núi ông Tượng, đem về luyện cho chở người, lái hàng. Giá một con voi nhà trẻ khỏe mua bên Lào những hai ba chục ngàn Đông Dương chứ ít đâu ! ---------------------------------------------------------- 1. Anh, đồng chí Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:56:04 pm * * * Bà con Linh Lâm xì xào: - Ba Mít đi hội dưới huyện về, coi bộ tơ tưởng lắm. Chắc có việc trọng đại. - Xì, cha đó thì hồi nào chẳng trọng đại. Người ta kêu chả là anh “đại ngôn, đại thanh” xưa nay rồi. - Hay là mụ gì mì Quảng bánh xèo ở Huề Bình đá đít ? - Trời biết được... Trong ủy ban xã Linh Giang, đồng chí Hùng Minh tức Ba Mít thường tự nêu gương là không hề có tư tưởng nặng gia đình, khác hẳn với số đông cán bộ xã, thôn, xóm luôn luôn kiếm cớ “ghé về chút xíu” để giọi mái nhà dột hay làm cỏ miếng ruộng trước ngõ. Một vợ bốn con của đồng chí cào bới kiếm ăn ra sao là việc riêng của họ. “Khuya ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm, trưa nhai mỏi hàm năm ba hột mít”, họ cứ vậy mà sống, trong khi đồng chí phó chủ tịch thường trực xã Linh Giang ngồi chễm chện giữa trụ sở ủy ban với mái tóc nuôi dài chải bóng và khuôn mặt rỗ hoa ngày càng béo trắng ra. Đồng chí ăn cơm tháng tại một quán gần đây, tiền cơm ngốn hết hai phần ba số thóc và tiền chi cho cơ quan xã, còn khi chiêu đãi cán bộ trên về thì đã có cụ tú Đỉnh rộng tay bao hết. Đồng chí Hùng Minh hay than thở rằng ủy ban xã đùn hết việc cho mình. Sự thật cũng đúng như vậy. Ông Tư Chua vẫn còn làm chủ tịch xã, nhưng mỗi lần hỏi tới công việc chung lại được nhận một tràng “nói chữ” của ông phó đến ù tai, đành quanh quẩn tới lui giữa xóm Mới, lò rèn và binh công xưởng Cao Thắng, anh em ở xưởng quen coi ông như người nhà. Tám Doãn mệt nhoài với trách nhiệm xã đội trưởng, chẳng mấy khi nhớ mình cũng là phó chủ tịch. Trong số bốn ủy viên còn lại thì ba người lo ngành của mình đủ bở hơi tai, chỉ có bác ủy viên kinh tài là Mười Áng chăm đến trụ sở nhất, làm việc ăn ý với đồng chí Hùng Minh nhất. Khác với cụ tú Đỉnh nuôi bộ râu thật dài cho xứng với một vị nhân sĩ trí thức có tuổi, cũng khác với ông Tư Chua chừa hai chòm râu mép lơ thơ hai bên khóe miệng trông buồn cười như hề tuồng, bác Mười Áng ngồi đâu cũng rút cái nhíp hay lượm hạt thóc, sờ sờ nhổ trụi râu. Bộ mặt nhẵn nhụi với kiểu cười tít mắt làm rung cặp má sề sệ khiến cho bác Mười được coi là người dễ gần dễ thân hơn cả trong số cán bộ cùng lứa trên dưới năm mươi tuổi. Dân làng đã quên lối thưa bẩm năm xưa khi đến ông Cửu Áng nộp tiền xin áp triện, ai nhớ cũng chép miệng cho qua vì Cửu Áng ăn hơi nặng nhưng chẳng mấy khi đánh đập cùm kẹp ai. Trong năm năm sau Cách mạng, bác Mười Áng lần lượt làm trưởng ban Bình dân học vụ, trưởng ban Đỡ đầu dân quân, phó chủ tịch Liên Việt xã. Đồng chí Hùng Minh đưa bác vào Đảng năm ngoái, tiếp đưa vào ủy ban xã. Trong chi bộ Linh Giang số đông thấy ngờ ngợ, vài người phản đối thẳng thừng. Rồi những thắc mắc cũng nguôi lắng dần khi bác Mười tỏ ra vừa thạo việc vừa cần cù sổ sách giấy tờ phân minh mà xử sự với đồng bào cũng nhiều bề dễ dãi. Những ai xét nét nhất đều lần hồi đổi ý: đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh kẻ chạy lại... Cả Chanh sắp lên đường sang Lào cùng với một đại đội Tình nguyện quân nữa rút từ trung đoàn 108, đã được bổ sung và huấn luyện thêm trong vài tháng. Bà con bạn bè kéo đến thăm đầy nhà, có lúc ngồi chật cả Câu lạc bộ Thanh niên. Nhiều người đem biếu anh những thứ thuốc quý để dành: mật gấu, cao hổ cốt toàn tính, hột châu kết dưới đáy chai mật ong lâu năm, thuốc dấu gia truyền liền thịt liền xương. Anh em Cao Thắng sửa và tặng anh một súng ngắn Vích-ke cỡ chín ly, chuôi lắp hai má bằng ngà voi có khắc tên anh rất đẹp. Cha anh rèn cho một dao găm thép cực tốt, Năm Bưởi may cho cái bao da dâu láng bóng... Cả Chanh nhận một phần, lựa lời từ chối một phần, có lúc rớm nước mắt. Hùng Minh đến chào anh với vẻ mặt lạnh lùng và lời nói nhát gừng. Trong những tháng sinh hoạt ghép với chi bộ Linh Giang, Chanh đã nhiêu lần góp ý với chi ủy và với riêng Hùng Minh, bị phàn ứng khi nhẹ khi nặng. Bây giờ Chanh lại kéo cậu cơ sở cũ của mình ra một góc, nhắc lại đề nghị mà anh đã nêu hai lượt trước chi bộ: cần xử lý số ruộng đất của tú Đỉnh, trước hết là thu lại phần “đất mơ hồ” bị bao chiếm và buộc lão phải giảm tô giảm tức theo chính sách đã ban hành năm 1949 - chi bộ không hề nghe nói đến chính sách này, cũng không biết ai đã ỉm đi, im lúc nào. Chanh biết Hùng Minh sẽ khó chịu, nhung không ngờ cậu ta xấc xược đến thế: - Anh cứ lo cái bản phận của anh cho trọn. Việc của tụi tôi để yên tụi tôi lo, anh đừng ôm rơm mà nhặm bụng ! Cậu nói xong bỏ đi ngay, không chào ai cả. Chanh đứng ngẩn ra ngó theo, không hiểu tại sao con người quanh năm nói hùng hồn về lập trường giai cấp và quyền lợi của dân cày lại đột ngột cáu tiết như vậy. Lão phủ Đỉnh đã mua được hắn hay đây chỉ là một cơn tự ái, sĩ diện ? Chanh đi được vài hôm, Hùng Minh cưỡi xe đạp xuống huyện lần nữa. Chiếc xe này do ủy ban mua và sửa theo đề nghị của bác Mười kinh tài, vì cán bộ thường đi họp xa và mượn ngựa mãi của cụ tú Đỉnh cũng khó coi. Thật ra chỉ một mình Hùng Minh dùng nó, đi thăm họ hàng hay dự huấn luyện dài ngày cũng mang theo. Cậu ta xuống đón đoàn cán bộ quan trọng do đồng chí Trà Đình Mậu tức Ba Mậu dẫn đầu, về chỉ đạo thí điểm xã Linh Giang. Bác Mậu dặn riêng cậu chỉ đón sau khi Cả Chanh lên đường, bởi “thằng cha đó tới đâu gây bè kéo cánh tới đó, phá quấy lung tung, mà dân Linh Giang cứ tưởng nó tốt mới thiệt rầy rà”. Sau khi nhận quyết định “được phép rút” khỏi chức vụ bí thư Đảng ủy và quyền giám đốc sở hỏa xa, Ba Mậu trở về Quảng Nam. Bản nhận xét anh cầm theo chỉ nêu những mặt tốt chung chung và mặt yếu chung chung mà ai cũng có ít nhiều. Các đồng chí ở liên khu góp ý bằng miệng khá mạnh, nhưng khi đặt bút viết thì vẫn muốn nương nhẹ đối với một đảng viên kỳ cựu, vả lại Ba Mậu đã tỏ thái độ đau xót thành khấn mỗi khi gặp mặt. Tỉnh đưa anh trở về làm phó chủ tịch Tây Quảng như cũ, còn vào huyện ủy hay không thì sau sẽ tính. Tuy vậy, mỗi khi làm việc với cán bộ xã, thường kiêm cả công tác công khai lẫn bí mật, anh vẫn quen tuyên bố bằng giọng thấp và trịnh trọng: “Thay mặt huyện ủy và chính quyền huyện, tôi giao nhiệm vụ cho các đồng chí...”. Chuyến đi hai chục cây số từ huyện về Linh Giang được tổ chức rất chu đáo. Cùng đi với Ba Mậu có một cậu mới tuyển vào văn phòng Nông hội tỉnh được xuống xã cho biết đó biết đây, một cán bộ kinh tế huyện, một tiểu đội phó cảnh vệ huyện, một chú em liên lạc, một con ngựa loét lưng mà bộ đội qua đường vừa đổi lấy bò thịt. Hùng Minh đạp xe vượt lên trước, ghé vào các ủy han xã dọc đường 56 báo tin đoàn sắp tới, phải sẵn sàng báo cáo và lo ăn uống nghỉ ngơi. Con ngựa không chịu cho đặt yên, đá hậu sa tiền chán lại lăn ngửa ra đất, đồng chí phó chủ tịch đành đi bộ với anh em, tay chống cây can cong đầu bằng mây uốn, cái ba-lô to tướng đặt trên lưng ngựa do chú liên lạc dắt cuối hàng, hành quân mỗi chặng độ bốn năm cây số từ trụ sở này đến trụ sợ khác. Tất nhiên một đoàn cán bộ tỉnh và huyện quan trọng như thế phải được đón tiếp trọng thể bằng những bữa tiệc xả láng diễn ra sau vài chục phút báo cáo tình hình. Chiều ngày thứ hai của cuộc “lữ thứ hành quân”, đồng chí Hùng Minh đợi sẵn ở quán chị nhân tình bán mì Quảng bánh xèo tại chợ Huề Bình, dẫn đoàn về xã. Dọc đường cậu phân trần: - Xã nghèo quá, chẳng có chỗ nào ăn ở cho đàng hoàng bác ơi. Quỹ xã thu vô bao nhiêu, Tám Doãn vét nuôi du kích ăn tập với dự chiến hết trơn. May nhờ cụ tú nhà khá giả, tánh khí cũng hào hứng, xung phong rước khách về nhà... - Cụ tú nào, lâu nay không nghe nói ? - Dạ, hồi xưa kêu là quan phủ Đỉnh đó. Giờ cụ làm phó chủ tịch Liên Việt huyện, người hiền khô mà trí lự lắm, chữ Tây chữ Tàu đọc ro ro. Bác về nghỉ nhà đó hay nhứt. Chắc bác ở liên khu lâu, ít gặp cụ tú ? - Ồ, có gặp sơ sơ giữa hội nghị, ổng tới chào mình... Nhớ nhắc ổng xếp cho mình một buồng vắng vắng, đủ bàn ghế, cán bộ tới hội báo cho tiện, còn cái vụ quỹ xã túng thiếu thì chú mày khỏi lo, sắp thu thu vô không kịp ghi sổ, quên rồi à ? - Dạ, cháu nhớ quá chớ bác ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 02:59:36 pm * * * Trong cái ba-lô to sù bằng da bò thuộc của Ba Mậu có ba loại quần áo. Bộ com-lê xéc-giơ màu xanh trời kèm giày da, sơ-mi và ca-vát dành cho các buổi lễ, mít-tinh, họp nhân sĩ trí thức. Bộ bà ba đen vải nội dùng khi dạo thăm đồng với bà con nông dân. Hai bộ quân phục cùng màu xám, một bằng xi-ta chỉ đánh, một bằng pô-pơ-lin ngoại, hợp hơn cả với đợt công tác tại vùng chiến khu này, nơi bộ đôi qua lại trút áo quần ra đổi nhiều đến nỗi già trẻ lớn bé đều mặc đồ lính. Cụ tú Đỉnh là người chu đáo và tế nhị. Cụ nhường cho đoàn cán bộ cả một nửa tòa chính đường, gồm có phòng khách đã đặt nhiều bàn ghế để hội họp, một phòng to kê thêm phản làm chỗ ngủ, còn buộc cô Huyền Tâm dọn sang ở chung với mẹ để nhường buồng cho ông phó chủ tịch huyện nghỉ và làm việc một mình cho yên tĩnh. Bà vợ cả cùng con cái đích thân xuống bếp điều khiển việc nấu nướng, các bữa cơm của đoàn đều sang và lạ miệng như giỗ tết. Cụ tú chỉ gặp cán bộ vào bữa ăn để tiếp khách, hoặc vào những tối rảnh rỗi quanh bàn trà cùng nhau đàm đạo dài dài về ta thắng Tây thua hoặc nhân tình thế thái. Được phép ông Ba, cụ cho người lùng mua thứ rượu sắn ngâm thuốc nam quý như tắc kè, tam xà, ngũ xà, các dược liệu bí truyền miền núi, mời vài ly trước bữa để anh em ngon miệng tăng sức, lại xếp sẵn vài chai cùng thức nhắm khô trong buồng ông Ba để đãi cán bộ đến làm việc. Cụ sốt sắng nhường con ngựa Hường ông Ba dùng, đốc người nhà đắp thuốc chữa loét lưng và tẩm bổ cho con ngựa còm của huyện. Tuy cũng là cán bộ cấp huyện hẳn hoi, cụ không bao giờ hỏi xem đoàn này sẽ làm gì ở Linh Giang, không tò mò hóng chuyện khi anh em bàn công tác bên cạnh cụ, lắm lúc kín đáo lui ra ngoài để họ được thoải mái. Cả đoàn đều tấm tắc khen cụ chủ nhà tốt bụng và khéo cư xử. Riêng Ba Mậu, có vốn Tây học khá nhưng thiếu phần Hán học, khen thêm phần kiến thức uyên bác của cụ. Thêm một sự tình cờ thú vị nữa: đoàn về xã được bốn ngày thì anh Hai Khánh, con trai cụ tú, cũng về phép thăm nhà. Ba Mậu và Hai khánh quen nhau ở Huế. Khánh đọc mấy bài báo tiến bộ của “Người nhà quê Trung Kỳ”, nhờ bạn giới thiệu cho gặp tác giả để ngỏ lời cảm phục. Ba Mậu mến cậu học sinh trẻ măng, tài hoa và có chí, thường rủ đến chơi nhà và cho mượn sách báo. Nửa năm sau anh bị bắt và kết án tù cộng sản, Khánh càng kính yêu anh gấp bội, ghép thêm vào hình ảnh thầy Trà Đình Mậu vầng hào quang dành cho các bậc tuẫn tiết vì giống nòi Hồng Lạc. Hai người bạn chênh tuổi gặp nhau, mừng khôn xiết. Mậu gạt ngay kiểu xung hô thầy trò, dù sao Khánh cũng là phó ban địch vận của tỉnh và đã vượt anh về trình độ học vấn. Họ ôn kỷ niệm xưa về xứ Huế thơ mộng, từng lúc ngả sang nói hàng giờ bằng tiếng Pháp, những lúc ấy chỉ có cụ tú Đỉnh và anh thư ký trẻ của Khánh là Bảy Suyền có thể hiểu và chen đôi câu đưa đẩy. Khi cần xem thực địa, Ba Mậu thường nhờ Khánh dẫn đường vì Khánh có ngựa riêng và Ba Mậu ngại đi bộ trên vùng rùng núi lắm dốc và vắt này. Một súng ngắn của Khánh cũng đủ bảo vệ, đồng chí cảnh vệ huyện đeo mút-cơ-tông ở nhà lo quét dọn, giặt giũ thôi. Từ đó, đồng bào các thôn ven sông Linh thường gặp anh Hai Khánh cùng ông cán bộ tóc hoa râm cưỡi ngựa xem địa thế, từng lúc ghé hỏi anh em cán sự thôn hay du kích về mùa màng, an ninh. Đôi người biết công tác của Hai Khánh, đoán rằng ta đánh ngày càng to, hẳn cấp trên định lập thêm vài trại tù hàng binh trong Xê-ca-đơ. Không vội vã, Ba Mậu mỗi ngày một lần gọi từng nhóm cán bộ đến báo cáo, tùy nơi xa gần mà hẹn chiều hoặc tối. Anh nắm tình hình đảng viên luôn thể, vì hầu hết anh chị em có chút ít cương vị ở xã, thôn, xóm đều đã được kết nạp ồ ạt trong năm ngoái và đầu năm nay. Phó bí thư chi bộ Hùng Minh theo sát anh trong những cuộc tiếp xúc ấy, bí thư Tám Doãn quá bận cũng ưng ý, chỉ dè dặt khuyên đoàn anh Ba nên ở nhà khác thì hơn. Chọn mãi chẳng được nhà ai cả, được mặt này lại mất mặt khác: chật chội, đông trẻ con, không bảo đảm chính trị, thiếu người lo cơm nước. Chỗ Câu lạc bộ Thanh niên rộng rãi nhưng Hùng Minh gạt đi ngay, bảo rằng gia đình Cả Chanh sát bên cạnh chỉ có hai người đàn bà, một vắng chồng và một góa chồng, dễ sinh tiếng đồn nhảm. Đình làng và khu nhà đồn điền La-phạt bỏ trống đấy nhưng dễ ăn bom. Mấy tiệm buôn Tàu trong xóm Chợ luôn có người ra vào. Đành đóng trụ sở trong nhà cụ tú mà Tám Doãn vẫn quen miệng gọi là dinh quan phủ. Sau mươi hôm nắm tình hình, Ba Mậu chỉ thị cho chi ủy mở cuộc họp chi bộ. Nghe Hùng Minh bảo họp trong phòng khách cụ tú, Tám Doãn nói rất xẵng: - Họp Đảng mà đưa vô dinh quan phủ là dứt khoát tôi không dự, phê sao đó phê ! Liên tiếp mấy tổ trưởng thác bệnh hay bận việc rất gấp xin kiếu không đến, nhưng hứa sẽ báo cho đảng viên đến. Hùng Minh cho cắt nhiều khẩu hiệu giấy vàng trên vải đỏ, trang trí khá đẹp. Ba Mậu mặc quân phục còn nếp gấp, đeo súng ngắn Côn 45 mượn của Hai Khánh, ngồi sau trên ghế chủ tọa và lật lật xấp tài liệu chờ khai mạc, với đồng chí cảnh vệ chống mút-cơ-tông ngồi chéo mé sau. Các cửa phòng khách đều khép, gia đình cụ tú rút hết xuống nhà ngang hay ra vườn, phục dịch trà thuốc cho hội nghị đã có hai đảng viên tá điền ở xóm Ấp lo liệu. Triệu tập tám giờ sáng, chín giờ mới có đảng viên thôn Linh Lâm đến lác đác, mười một giờ thì hết hẳn những người đến muộn. Kiểm lại, chi bộ hơn bảy chục chỉ 28 người đến họp, chi ủy năm đồng chí chỉ có mặt phó bí thư Hùng Minh và chi ủy viên Tư Chua, chủ tịch xã. Ba Mậu túc sôi lên, vẫn cố ngồi lật lật tài liệu trong khi đảng viên phì phèo những điếu thuốc Thượng cuốn nguyên lá to đùng, uống thứ chè quắn thơm ngon nhất của cụ tú biếu, tán gẫu chuyện rừng chuyện ruộng, thú núi cá sông, nhiều người giở mo cơm nắm ra ăn. Cứ phải khai mạc thôi. Hùng Minh hùng hổ nói một tràng chữ chính trị về kỷ luật sắt của Đảng nghe nhức cả tai. Ba Mậu bình tĩnh lại, cắt ngang đà diễn thuyết của cậu ta, nói về tầm quan trọng cực kỳ của đợt học tập này. Những chủ trương mới của Đảng sẽ đem lại quyền lợi hết sức to lớn cho bà con ta, đặc biệt là nông dân nghèo khổ. Chi bộ bắt đầu nghe chăm chú, gật gù ưng ý khi anh cho hoãn ba ngày để các đồng chí kịp “kiếm thứ gì cho vợ con bỏ vô nồi”, bật cười vui thích vì nơi họp sẽ chuyển sang trường tiểu học - các cháu nhường lớp cho Đảng vài ngày chẳng hề gì. Mọi người hỉ hả ra về, còn Hùng Minh bị Ba Mậu xạc một trận rất đáng kể. Ba ngày sau, chi bộ họp tiếp, lần này được sắp đặt kỹ càng hơn. Hai lớp của trường tiểu học nép dưới cây đề tán rộng đã được tháo dỡ phên liếp, kê lại bàn ghế, căng nhiều biểu ngữ lớn. Một thày giáo trẻ chưa vào Đảng họp các em học sinh ở nơi khác, cho ôn lại nhiều bài hát kháng chiến và vở ca kịch “Hội nghị Diên Hồng”. Ba Mít gọi họp riêng một số đồng chí lâu nay ăn ý nhất, dặn phải lên tiếng hưởng ứng nhiệt liệt sau khi cấp lãnh đạo nói xong, cũng nhắc lại lượt nữa phải nhớ cái tên Hùng Minh để gọi cho đúng. Đồng chí phó chủ tịch huyện thay mặc bộ bà ba đen, vắt vai cái khăn cũ như ông lão nông, không đeo súng ngắn, cho cậu cảnh vệ ra gác trước cổng để xua những người tò mò chứ không kè kè bên lưng cấp trên nữa. Và tất nhiên anh đi bộ đến chỗ họp, tán chuyện xuề xòa với mọi người trong khi chờ đợi. Chi bộ tới gần đúng giờ và gần đông đủ, chỉ vắng sáu đồng chí đi dự chiến, đi dân công, đau ốm. Càng rõ trước đây họ nghĩ giống Tám Doãn: họp Đảng ở nơi trái khoáy quá thể, cãi cấp trên không được thì cứ né tránh phần mình. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 03:01:44 pm Ba Mậu dành một giờ để nói về tình hình thế giới, trong nước, trong liên khu, tỉnh, huyện. Anh thường được khen là người diễn thuyết đĩnh đạc, hấp dẫn, luôn luôn làm chủ thời gian theo thói quen giảng bài. Không khí chung từ từ bốc lên, rộn rịp lên.
- ... Chẳng cần nói đâu xa, bà con xã mình đây quanh năm đưa đón bộ đội ra trận, quảy gánh đi dân công tiền tuyến tới sát địch ở Quế Sơn, Duy Xuyên, cũng thấy ta mạnh địch yếu. Một xã như vậy, toàn cõi Đông Dương cũng vậy. Thằng Tây kiệt sức rồi. Phía ta thì Hồng quân Trung Hoa đưa hàng triệu quân dồn tới sát biên giới, Bắc Triều Tiên đang tổng công kích ào xuống giải phóng nửa nước phương Nam. Liên bang Xô-viết sẵn sàng tung các thứ võ khí tối tân ra giúp ta giành độc lập... Hội trường rào rào tiếng xuýt xoa, tiếng kêu khẽ vui thích. Ba Mậu tinh ý, cho nghỉ luôn mười phút để mọi người tha hồ bàn tán. Cả những ai ngại họp và hay ngủ gật nhất cũng bị cuốn vào cơn say chung, cười nói mỗi lúc một hăng. Đồng chí đồng bào Linh Giang phải làm gì để Tổng phản công được toàn thắng ? Ba Mậu biết phải rèn nhanh khi sắt đang nung trắng. Giờ sau, anh lật ngửa quân bài giữ kín. - ... Thanh niên trai tráng tòng quân giết giặc, vô du kích gìn giữ xóm làng, năm nay đông đảo bằng cả chục làn năm ngoái. Ai lo súng đạn cơm áo cho chiến sĩ ? Chính bà con ta lo. Chiến sĩ đông gấp mười lần, bà con ta phải đổ thêm mồ hôi, trút thêm của cải, tăng đóng góp lên gấp mười lần, chớ sao nữa ? Hay là người ở hậu phương cứ việc ăn no mặc ấm, để mặc kệ con em mình ngoài mặt trận nhịn đói cởi trần, đánh Tây bằng tay không ? Hay là đợi Tổng phản công xong xuôi, mình được hưởng độc lập rồi, được lãnh phần người cày có ruộng rồi, mới thắp cho các liệt sĩ một cây hương để giả bộ thương tiếc ? Hay là cứ bo bo ai lo đầy nồi nấy, tới mai sau con cháu lớn lên nó nhổ vô mặt mình, nói cha ông người ta để lại danh thơm cho gia đình, còn mình vô phước phải gánh chịu sự khinh miệt của làng xóm vì cha ông mình chui nhủi, trốn tránh khi Tổ quốc lâm nguy. Không, trăm ngàn lần không ! Bà con Linh Giang, Đảng bộ Linh Giang đã theo Đảng từ hồi bóng tối, cầm võ khí nổi dậy lập chánh quyền từ trước Cách mạng tháng Tám, tới nay vẫn giữ vững khu căn cứ bất khả xâm phạm này của Kháng chiến, sẽ dẫn đầu toàn huyện toàn tỉnh về tinh thần đóng góp nuôi quân, về cách làm ăn tập thể hoàn toàn mới mẻ ! Ba Mậu nói mỗi lúc một to, mặt đỏ bừng bừng, ngắt mỗi câu bằng một nhát chém mạnh tay vào không khí. Cả chi bộ cũng hừng hực, sùng sục, hơi thở dồn dập và mắt long lanh, uống từng lời cháy bỏng như rượu nặng độ. - ... Vì vậy, tỉnh và huyện chủ trương làm thí điểm hai việc tại Linh Giang, hai việc gắn liền với nhau. Thứ nhứt: lập quỹ Tổng động viên, mỗi gia đình sẽ góp vô đó một nửa tài sản hiện có, trừ ruộng đất chưa động tới. Quỹ ấy sẽ dùng một phần làm nghĩa vụ kháng chiến, phần lớn hơn sẽ phục vụ cho việc thứ hai: thành lập Nông đoàn sản xuất tập thể, làm chung hưởng chung. Chi bộ ta được nhận vinh dự lãnh đạo dân chúng Linh Giang làm thí điểm, mở con đường mới cho toàn huyện toàn tỉnh noi theo, quyết xứng đáng với lòng tin của Đảng và Chánh phủ ! Ba Mậu cho nổ quả bom giữa lúc người nghe say bốc nhất. Anh rất mừng khi thấy chi bộ không hề xao xuyến, không ồ à hay đưa mắt nhìn nhau phân vân. Bước khó khăn nhất đã vượt qua rồi, anh tiếp sang phần cụ thể. Nộp vào quỹ một nửa tài sản đây chỉ là động sản, gồm lương thực, trâu bò, cày bừa cuốc thuổng dao rựa, nồi đồng mâm thau, chăn mùng... Những thứ động sản không đáng giá như chén, bát, đũa, hay những thứ chỉ hợp với từng người như áo quần cũ thì không phải nộp. Các loại bất động sản như ruộng đất, nhà cửa, ao cá, cây ăn trái chưa động tới, số thu được sẽ chọn một phần gửi ra tiền tuyến, như lương thực, chăn mùng, heo bò thịt. Còn lại sẽ là cái vốn ban đầu xây dựng Nông đoàn. Xã ta có khu đồn điền năm trăm mẫu tây của tên thực dân La-phạt, đã phát vỡ hoang trên ba trăm mẫu, trồng cà-phê, thuốc lá, chè, trẩu, cùng các loại cây khác chừng hai trăm mẫu, nay bỏ hư hỏng phần lớn. Nông đoàn dùng vốn do quỹ Tổng động viên cấp, vỡ hóa số đất đồn điền làm ra lương thực cho kháng chiến và cho mình cùng hưởng. Bước đầu chỉ chọn số nam nữ thanh niên khỏe mạnh để dựng trại, đào giếng, cày cuốc trồng trỉa, về sau cả gia đình sẽ chuyển tới định cư hẳn... - ... Cứ vậy, xã Linh Giang sẽ phất lên lá cờ đầu làm ăn tập thể như các nông trang xã hội chủ nghĩa ở nước đàn anh Liên bang Xô-viết, từ khắp các nơi đồng bào sẽ kéo tới học kinh nghiệm của những người khai sơn phá thạch chúng ta, cũng như năm năm trước đã từng học kinh nghiệm xây dựng du kích Việt Minh ! Anh rút khăn tay lau mồ hôi trán, cho nghỉ lần nữa. Tám Doãn lầm lì suốt buổi, giờ rời ghế trên chủ tịch đoàn bước thẳng ra sân. Hùng Minh nhấc ly nước chanh trên bàn giục anh uống. Mười Áng túm tay ông Tư Chua kéo tới trước diễn giả: - Dạ thưa, tôi hoan hô còn sợ mang tiếng lấy lòng. Bác Tư đây chánh thị là cách mạng nòi, bác tuyên bố: nghe anh Ba hô hào vậy, bà con nhảy vô lửa chẳng từ nan đâu. Bác hẹn bác xung phong mẫu mực trước, hề hề... trong nhà sót một hột muối cũng cắn đôi cho chiến sĩ, phải chưa bác Tư ? Ông Tư vung tay oang oang: - Y sì vậy đó. Người ta hi sanh cả tánh mạng, tự tay đốt nhà làm tiêu thổ, lưu lạc đói rách theo Chánh phủ đánh Tây, mình đây mới góp nửa tài sản đã ăn nhằm gì ! Đừng có tiếc thóc bồ trâu bầy, một trái bom là tiêu hết, chỉ còn cái hố với cái miệng thế gian chê cười ! Quý nhứt nhà tôi có bộ đồ rèn tích góp ba đời đó, tôi đem xắn đôi, lập cho Nông đoàn một lò rèn dao cuốc ngay tức thời, cần nữa thì thằng Tư này nhảy vô ngồi rèn cho bà con. Đâu xa không dám nói, chớ nội huyện Tây Quảng đây tay nghề đập búa không ai qua mặt nổi lão Tư Chua ! Ba Mậu hồ hởi siết tay ông chủ tịch xã chỉ thoáng gặp một lần. Lát sau anh sực nhớ lời Hùng Minh mách ông Tư là cha Cả Chanh, giật mình nghĩ: “Mình vô ý quá. Lão ta hùng hổ khoác lác vậy chắc có dụng tâm, không gây uy tín cá nhân thì cũng tính kế chạy chánh sách...”. Trong phần thì giờ còn lại, anh giảng về những sai lầm lệch lạc có thể xảy ra, nặng nhất là dân chủ quá trớn, tự do vô chánh phủ. Anh nhấn đi nhấn lại rằng kỷ luật sắt của Đảng chỉ cho phép đảng viên bàn bạc để thi hành chứ không được bàn lùi, bàn ra. Thiếu phục tùng đa, hạ phục tùng thượng, quên điều đó là loạn, loạn to. Anh báo vắn tắt, coi như quyết định có sẵn từ trước, rằng đồng chí Hùng Minh được chỉ định làm trưởng ban quản trị quỹ Tổng động viên, và tài sản cụ tú Ung Viết Đỉnh sẽ được cấp trên định đoạt sau này, theo đúng chánh sách của Đảng đối với một phó chủ tịch Mặt trận huyện. Thay vì cho năm bảy người lên tiếng hưởng ứng nhiệt liệt như đã sắp xếp trước, anh đổi ý cho chuyển sang thảo luận tổ, để những phần tử đáng ngờ như Tư Chua không được dịp lấn lướt gỡ uy tín. Trong bữa trưa có món thịt bò non nhúng dấm ngon tuyệt trần, Hùng Minh cùng cả đoàn nâng cốc chúc mừng buổi lên lớp rung chuyển lòng người của đồng chí phó chủ tịch. Cụ tú vuốt râu cười khà, đặt thêm vài chai lên bàn, bấm Hai Khánh cùng rút lui để anh em tha hồ bốc thơm nhau. Ba Mậu cao hứng dốc cạn nhiều ly đến lảo đảo, lăn ra ngủ suốt chiều, chỉ được mời dậy khi phải tiếp các tổ trưởng đến hội báo. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 03:02:55 pm Chi bộ chia làm sáu tổ. Riêng tại Linh Lâm có ba tổ: cơ quan xã một, xóm Mới một, các xóm khác một. Ba thôn Thượng, Trung, Hạ mỗi thôn một. Các tổ trưởng Đảng lâu nay làm việc hăng, đáng tin cậy, Hùng Minh đã cam đoan với Ba Mậu họ sẽ “phục tòng ro ro”. Bây giờ, họ báo cáo rất bình tĩnh và lễ phép mà cứ như giội từng gàu nước lạnh vào mặt Ba Mậu cho tỉnh rượu.
Xếp sang bên năm bảy chục lời hỏi thêm để làm cho xứng ý cấp trên, còn một loạt câu căn vặn thật hóc búa. Tám Doãn cùng tổ cơ quan đòi xem tận mắt bản nghị quyết của tỉnh và huyện mà anh Ba đã nói miệng. Thu một nửa tài sản của dân là việc lớn tày đình, không thể dựa vào lời nói gió hay. Lại nữa, đồng chí phó chủ tịch huyện chỉ là đảng viên thường, sao có quyền chỉ đạo chi bộ và chi ủy ? Ai giao quyền, quyền hạn tới đâu, xin cho xem văn bản ! Tổ Linh Lâm I tức tổ xóm Mới cương quyết không chịu để Hùng Minh làm trưởng ban quản trị. “Ảnh có chữ nghĩa, ăn nói lợi khẩu, làm giấy tờ thì được, chớ đùng để rờ vô chỗ gạo tiền”. Họ giới thiệu năm người, trong đó có Tám Doãn và cả chị Năm Bưởi, người đã bị Hùng Minh gạt ra ngoài đợt học tập này vì “có vấn đề đạo đức đang phải tra xét”, thật ra chỉ vì hay cãi lý chẳng biết nể ai. Tổ Linh Lâm II đợi cụ tú Đỉnh nộp một nửa tài sản y như mọi người, để lại sau thì tẩu tán hết. Về điểm này số đảng viên xóm Ấp, hầu hết là tá điền của lão, cứ xói vào kể tội vợ chồng lão dù chủ tọa sốt ruột ngắt lời nhiều lần. Có người còn nói “đoàn ông Ba Mậu ăn xôi chùa ngọng miệng, che chở nhà giàu, chỉ vơ vét dân nghèo”. Một nhóm đảng viên có máu mặt ở Linh Hạ bảo khi nào Cụ Hồ xuống lệnh toàn dân cùng nộp thì họ nộp, giờ chẳng tội vạ gì đem thân làm thí điểm trước. “Đó rồi hư việc thì ông Ba Mậu xách gói đi biến, lũ mình bị thí luôn. Ông khác về sẽ nói: thôi thôi, chuyện cũ cho qua, nay có chủ trương mới, đảng viên phải triệt để chấp hành...”. Ba người trong số ấy đã bỏ họp ra về. Dè dặt nhất là bảy đồng chí tổ Linh Thượng. Từ quê xa đến được kết nạp cho đủ chỉ tiêu thi đua phát triển đảng, tài sản không có gì, họ “cứ là xin một lòng theo Đảng tới cùng”. Nhưng vì đã gặp quá nhiều cán bộ lưỡi dài tay ngắn trên những chặng đường tản cư, họ chỉ mong mỏi đồng chí phó chủ tịch huyện ở lại xây dựng Nông đoàn chí ít là một năm, đừng đem con bỏ chợ. Cuốn sổ biên bản dưới tay cậu văn phòng nông hội tỉnh, thư ký của đoàn, đã kín tám trang chữ mà các tổ trưởng vẫn lần hồi nhớ ra thêm từng xâu thắc mắc. Dưới ánh đèn măng-sông ri ri sáng xanh rực - cụ tú Đỉnh đã hào hiệp biếu dầu lửa mua rất đắt tại khu nhà khách - dễ thấy mặt Hùng Minh tái mét. Ba Mậu vã mồ hôi đến sẫm hai nách áo. Một cơn tức giận dữ dội đang bốc cháy trong Ba Mậu. Anh cố ghìm mình đến run tay nghẹn họng để khỏi đập bàn thét lớn: “Câm họng ! Cho phép bàn bạc dân chủ thì các người nói xóc óc, phá ngang, nhẹ không ưa cứ ưa nặng ! Để coi, mệnh lệnh cấp trên ấn xuống các người trốn đâu ? Hay là muốn khai trừ, giải tán chi bộ, lập chánh quyền quân quản ?”. Anh chịu không nổi nữa. Phải quát vào mặt chúng nó. Phải thẳng tay... Anh bật dậy đi vội ra hiên, hít một hơi dài, cố xả ngọn lửa trong ngực qua mũi miệng. Sau lưng anh các tổ trưởng xin nhau thuốc hút, nói khẽ: - Để ảnh nghĩ câu giải đáp... - Đói hung rồi mấy cha. Trưa mới gặm mấy trái bắp luộc, lọt đâu mất. - Học giỏi đi, cấp trên cho bò heo đánh một trận bế mạc, xực chết thôi ! Cả xã nộp nửa tài sản, làm gì cho hết ! - Chớ đó nghen. Dân chưởi nát mặt, ăn vô dễ, nhả ra khó... Ba Mậu chắp tay sau lưng, đi thong thả vài vòng trên sân gạch xa ánh đèn. Người anh nguội dần, mát dần, nhưng một cảm giác lạnh mơ hồ lại từ từ thấm vào anh qua các lỗ chân lông, mỗi lúc một tăng. Anh ngửng nhìn mảnh trăng thượng tuần nhòe nét trên lớp sương mù, thấy nó nhợt nhạt như mất máu. Những con đớp muỗi nhào lộn chúi chồm, có lúc xẹt qua sát đầu anh, đang chơi trò chọc tức con người thù địch hay rình bắt chúng. Tiếng “bép, bép” vẳng từ xa của cọp gọi nhau giữa cuộc săn hay của con chim tơ-cang luôn theo đuôi cọp, các tay săn thú nói khác nhau. Tất cả chung quanh anh đều lạ mắt lạ tai, chứa đầy hăm dọa lẩn khuất. Tới đây đất nước lạ lùng, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kiêng. Đừng nóng, đừng hấp tấp... Anh quay vào chỗ hội báo, nét mặt đã trở lại tươi tỉnh: - Sáng mai các đồng chí cho thảo luận tiếp. Nhớ nhắc anh chị em có thái độ xây dựng. Trên dưới cùng làm, cùng chịu trách nhiệm, phải chưa ? Đưa khó khăn ra thì nên nghĩ luôn cách vượt khó khăn. Chiều mai tôi giải đáp, giờ lo kiếm ba miếng đã ! Đêm ấy Ba Mậu thức gần trắng, chìm sâu trong cô đơn như trong mù rất đặc và lạnh. Hồi bước vào ngành xe lửa, anh được Cả Chanh đưa đi giới thiệu khắp nơi, chia sẻ cho anh rất nhiều mến phục của tập thể. Dần dà về sau anh thấy mình xứng đáng hơn Chanh, anh sắp xếp lại, anh lấn lên... Kể ra, mình cũng làm hơi quá một tí đấy, nhưng lại thêm cái nạn phù thủy khiến ít âm binh động nhiều, cũng không ngờ thằng Chanh bỏ đi dễ dàng như vậy... Chỉ hơi quá một tí thôi mà, các cha ở liên khu phê mình nặng lời kinh khủng, còn may mình giữ được bình tĩnh, giả dại qua ải cho xong… Kể cũng tội nghiệp, nó đang leo dốc theo hướng Tây kia, hướng con cọp kêu bép bép ban nãy. Nó rất thật thà, thật thà là cha đứa dại, mình thay nó là phải thôi, đáng lẽ nó ở lại giúp mình về nghề xe lửa thì hay tuyệt. Mình chỉ cần giữ chức giám đốc Sở hỏa xa vài năm cho xứng với công lao làm cách mạng từ thời Mặt trận dân chủ, sau sẽ nhường cho thằng Chanh hay ai cũng được, mình lên nữa càng hay, nếu lui về nghỉ thì cũng là cán bộ liên khu, đỡ bị coi thường. Cứ như về Đảng thì chán chết, mấy đứa mới nho nhoe đã được vào huyện ủy, mình chịu khó vận động mà vẫn trượt, hồi năm 47 ở ngay Tây Quảng đây thôi. May mà được mấy cha bạn cũ đưa về làm bí thư hỏa xa, không thì chỉ trụi thùi lụi một chữ đảng viên trong lý lịch ! Mãi đến gà gáy đầu Ba Mậu mới trở lại thanh thản, ngủ thiếp rất say. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Bảy, 2016, 03:05:03 pm * * * Một người khác trong đêm ấy thức thắng đến sáng, là Hai Khánh. Một lần nữa Bảy Suyền đi công tác lại “tình cờ” nhận được lá thư của cụ tú Đỉnh gửi Khánh. Ông cha dượng rủ anh về thăm nhà, nhân tiện giúp ông chút việc gấp. Đến bữa cơm, Bảy Suyền như ngẫu nhiên nhắc tới thằng bé Phan Chung con chị Năm Bưởi, người ở Linh Lâm xuống nói nó đẹp và khôn không thể tả. Chị Năm bảo chồng chị cũng họ Phan như chị, chẳng phải nó lấy họ theo mẹ đâu. Hình ảnh đứa con rơi lâu nay chập chờn khi xa khi gần chung quanh Khánh, bỗng chốc hiện lên sắc nét như một thiên thần mũm mĩm trong tranh Phục hưng. Không chịu nổi nữa. Anh phải thấy nó ít nhất một lần, một lần thôi, tới đâu thì tới ! Suốt buổi chiều Khánh lang thang quanh xóm, ra quán làm vài ly đế lậu, rẽ xuống bờ con sông cạn ngồi thẫn thờ ngắm nước chảy. Đến sẩm tối anh hối hả về thắng ngựa, phóng vào trại tù hàng binh, báo cho chính trị viên trại biết anh sẽ đi phép mười ngày, nhờ chuyển luôn mấy chữ cho anh trưởng Ban địch vận tỉnh. Đến Linh Lâm, anh cho Bảy Suyền sang ngay lò rèn ông Tư thăm dò trước. Trong hai tiếng chờ đợi như ngồi trên lò than, Khánh hết rét lại sốt. Từng lúc, anh thấy Năm Bưởi khóc rũ rượi, ngất trên tay anh, lại thấy cô ấy chồm tới cây súng Nhật treo trên phên, lên đạn đánh rốp, trợn mắt quát đuổi thằng Sở Khanh. Gặp anh đứng đón ngoài cổng, Bảy Suyền lắc đầu ngay: - Chỉ nghe tin anh về hồi nãy, quơ áo quần cho vô ba-lô, ôm con đeo súng đi biến mất. Em hỏi chị Thùy, qua lò rèn, sục trong xóm Chợ, không ai biết chị Năm đi đâu. Tới bến vạn người ta mới nói chỉ quá giang ghe tiếp phẩm của bà Tô Xáng, chắc là con bị đau ốm sao đó phái đi bệnh viện Huề Bình... Sáng hôm sau Khánh cưỡi ngựa đi Huề Bình. Chị Xáng nói Năm Bưởi bồng con đi khám thật. Nhưng Bưởi không hề đến bệnh viện đóng trong xóm khuất, cách chợ Huề Bình chừng một cây số. Bưởi lánh mặt anh nhanh gọn, quyết liệt, thật không ngờ ! Trong những ngày chưa mở lớp, Khánh đưa “Người nhà quê Trung Kỳ” đi xem cảnh dọc sông Linh cho khuây khỏa, hoặc vác súng hơi đi bắn chim. Khánh không muốn làm cái việc mà ông cha dượng thiết tha nhờ: cố thuyết sao cho Ba Mậu đừng động tới tài sản của cụ nhân sĩ trí thức, hay chí ít cũng hoãn thật lâu để ông kịp chạy bớt. Nói thẳng thế nghe chướng tai lắm. Tuy vậy, cái ý ấy từng lúc cứ xì ra qua những câu chuyện bao đồng và Ba Mậu đoán được. Chỉ một điều Ba Mậu không biết: sau khi được nghe chủ trương tối mật của huyện, Hùng Minh về xã đã báo ngay cho tú Đỉnh, và trong khi Hùng Minh trở xuống đón đoàn cán bộ, lái buôn đã kịp lùa đi hơn chục con trâu, chở đi bằng thuyên ba trăm ang thóc. Của đáng giá trong nhà tú Đỉnh kịp náu xuống đất khá nhiều. Trong khi chưa rõ ông phó chủ tịch huyện sẽ xử sự ra sao, cứ nắm đằng cán là hơn. Bảy Suyền rút cây bút máy Kao-lô hai vành cài vào túi Hùng Minh, nhờ cắt người dò tung tích Năm Bưởi. Hùng Minh chọn ngay thằng Bảy Bòng, em ruột Bưởi, đang ngày càng thân với cậu ta. Bảy Suyền gửi luôn cho Bòng một dao xếp Con chó đang dùng, hẹn sẽ thưởng thêm. Trưa nay, Bảy Bòng chạy sang ấp, báo tin chị Năm đã về nhà, buổi chiều sẽ đi bẻ bắp vần công trên Linh Thượng. Nó chỉ biết về gốc tích thằng Chung ngang mức dân làng, chẳng hơi đâu để ý chuyện lắt léo của đàn bà. Nó sướng phát cuồng khi được Bảy Suyền cho mượn cây súng hơi đến sáng mai, cho hẳn một gói đạn vài chục viên. Khánh và Suyền đến đúng lúc, chỉ có Hai Thùy ở nhà với cái bụng chửa bốn tháng rưỡi đang đạp máy may, bé Chung ngủ trên giường buông màn bên chị. Suyền đưa một tấm vải nội nhờ chị may gấp cái áo cổ vuông, đợi lấy ngay. Thùy vui vẻ xếp bộ bà ba may dở, làm giúp cho hai anh cán bộ rất quen chồng chị nhưng chưa gặp chị lần nào. Khánh ngồi ghé xuống giường, run tay vén màn, chợt thấy choáng váng như trúng gió. Tin đồn không sai, quả thằng bé giống anh như đúc và đẹp tuyệt trần ! Thùy đang đo vải, quay lại cười tươi: - Các anh đợi lấy áo thì xốc nó dậy chơi một lát. Ngày ngủ nhiều, đêm lại thức quấy mẹ nó hoài à. Chung, dậy, dậy con ! Khánh luồn tay nâng ngửa nó lên, nhắm mắt, cố gượng cho qua con xây xẩm mặt mày. Anh úp mặt trên bụng con, thở dồn dập, làn da trắng hồng mát rượi tỏa mùi sữa thơm vào đày ngực anh. Một tiếng nấc trào lên miệng, anh cố nuốt xuống. Con tôi đây, đứa con bị ruồng rẫy đây, tội nghiệp thằng nhỏ thiên thần của ba... Hai hàn tay tí xíu túm lấy tai và tóc anh. Anh ngửng đầu, thấy cái miệng cười toét và cặp mắt hạt nhãn chớp chớp ngái ngủ. Nó thức giấc mà không khóc nhè đòi mẹ như những đứa trẻ khác, cười ngay, chơi ngay với người lạ, rõ là đứa bé được bế chuyền tay từ khi mới sinh... Những gì diễn ra sau đó, Khánh không nhớ nữa. Óc anh chỉ ghi lại như chụp ảnh đứa con sờ mặt anh, đứa con lóp tóp ăn chuối, đứa con chập chững đi không vịn trong khi anh ngồi xổm, duỗi tay hờ và nhích giật lùi, đứa con bén hơi nhào vào ngực anh và cười rinh rích. Nó chỉ biết kêu mẹ, kêu “mẹ Xùi” tức là Thùy, chưa từng gọi cha hay ba lần nào. Có lúc Khánh nghĩ rất nhanh một vụ bắt cóc: anh bảo Thùy để cho bồng nó sang lò rèn chơi, chạy thẳng về ấp, địu con phóng ngựa biến luôn, Bảy Suyền ở lại thu xếp và xuống sau bằng xe đạp. Không được, Năm Bưởi sẽ rống lên như cọp cái mất con, xách súng đi lùng anh cùng trời cuối đất ! Suyền giục mãi anh mới rứt ra về, chân nặng kéo lê từng bước. Về đến ấp anh vào chỗ buồng xép dành cho mình, buông màn nằm ngay. Suyền kín đáo đặt bên đầu giường anh một chai ruợu thuốc, gói thuốc thơm Cô-táp, một chùm chả lụa nem chua mới mua ở xóm Chợ, ấm tích nước chè ngon pha đậm. Sau một đêm không chợp mắt, mọi thứ đều hết nhẵn. Khánh chào tạm biệt Ba Mậu trong bữa ăn sáng. Hai người bạn lệch tuổi đều có bộ mặt phờ phạc và lời nói lơ đãng. Đoàn Ba Mậu hối hả chia nhau đi nghe các tổ thảo luận. Ông cha dượng đã sắp sẵn một gói quà to để Khánh mang theo tẩm bổ, giúi thêm những hai chục ngàn đồng tín phiếu. Khánh thờ ơ nhét gói tiền dày cộp vào xắc-cốt: ông ấy mới bán trâu thóc lu bù, đưa bấy nhiêu chỉ là con số lẻ, chẳng đáng là bao. Nghe Suyền bảo muốn hỏi thăm bác tú đôi điều, Khánh gật đầu, cưỡi con ngựa tây cao lớn của mình lên dương Nai xem lại cảnh Linh Lâm. Đã quá rõ là giữa Suyền với tú Đỉnh có một mối dây nào đó khăng khít và bí hiểm mà họ giấu anh. Kệ xác họ. Thì cũng như cánh đảng viên cộng sản thậm thụt thì thào sau lưng “quần chúng Khánh” đấy thôi ! Ở trại tù hàng binh, nhiều lúc anh cố nín cười và phớt lờ khi thấy một số anh em tỏ vẻ quan trọng bằng những điệu bộ “hội kín”, anh đánh giá họ là những người mộc mạc, trung thành, nhưng lại hẹp bụng và rất đa nghi đối với những ai ít giống mình, có lẽ vì dốt hơn là vì kiêu. Vùng núi Ngọc Linh chót vót phía tây-nam chưa đủ nắng để tan sương, còn nhiều vệt mây trắng vắt ngang những đỉnh màu tím loãng lẫn vào chân trời, ở đấy mùa mưa đến sớm, trong khi Linh Lâm mới lác đác dông chiều thì nước nguồn từ trên cao xuống đã nâng mực dòng chảy sông Linh lên kha khá so với đợt hạn vừa qua tô đậm thêm những nét chữ Hán mà có lần Cả Chanh đã tả như ông thầy địa chính cống: chữ nhân, chữ đại chữ thái, chữ thiên, gì gì nữa tùy mắt mỗi người. Một con mang lông vàng màu lá khô đang cúi uống nước trên bờ bên kia, mưa chưa đủ tạo vũng trong rừng. Cũng gần chỗ ấy, hôm nọ Khánh gặp lại cặp cá măng lửa mà dân chài sông Linh gọi là ông Măng, bà Măng: dài chừng thước rưỡi, đỏ rực như lửa thật, luôn luôn bơi sóng đôi, từng lúc quạt đuôi rất mạnh hất lên trời hay lên tận bờ một con cá vài ba cân, xoay đầu đớp ngay con mồi vừa rơi chạm nước. Chúng lên xuống dải sông này từ lâu lắm, chỉ vắng đi một dạo khi quân giới đánh cá bằng mìn nhiều, nay mới trở lại. Khánh dựa cây đứng lặng, những kỷ niệm xưa dồn dập đến làm anh nghẹn ngào. Vạt cỏ êm lọt giữa những bụi sim lòa xòa rậm lá kia là nơi anh với Mỹ Duyên “loạn” với nhau một lần. Xa hơn nữa có cái rãnh đất nẻ đầy lá khô, anh giấu hai cây súng mua cho du kích Linh Lâm. Giữa đường từ dương Nai này đi truông Dơi, anh đặt chỗ hẹn gặp và hộp thư cạnh gốc cây si già, Năm Chò hay thằng nhỏ Sáu Cam đến hai ngày một lần nhận tin anh báo về “phe địch thù”... Mới đấy mà đã năm năm lẻ mấy tháng. Mỹ Duyên biệt tăm. Sáu Cam ra khu Tư học tiếp. Năm Chò đánh Tây ở mạn bắc Thu Bồn. Cả Chanh sang Lào không hẹn ngày về. Những con người ấy lần lượt đi xa, trong khi nhiều biến động mới nữa sắp diễn ra trên đất này. Chọt có tiếng “tố hộ” vang gần. Một con công to sải đôi cánh màu lục óng ánh sà xuống sườn dốc phủ cỏ trước mặt Khánh, kéo cái đuôi gấm biếc thêu lắm màu xanh tím vàng, nghiêng nghé cái đầu nhỏ đội mũ trắng, nhìn quanh, phân vân ngó Khánh và con ngựa đứng im dưới bóng cây, lại thong thả đập cánh bay đi như nhường chỗ. Khánh xem giờ, chép miệng, dắt ngựa đi xuống ấp. Anh rời Linh Lâm với cảm giác mình đã nuốt vào cổ nhiều lưỡi câu, mỗi lưỡi kéo theo một sợi dây cước vô hình không cắt bỏ được. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Tám, 2016, 02:49:52 pm Chương IX Suốt chặng đường từ Sài Gòn lên Lộc Ninh, Lê-ông La-phác-sơ tự tay lái chiếc xe Pho cóc gặm của mình, để cho gã lái xe kiêm hộ vệ ngồi dựa ngả mé sau như một ông lớn. Gã này người da đen Trung Phi, mặt không rạch, thân cao vừa thôi nhưng rất vạm vỡ, bắp thịt nổi vồng từng tảng dưới lớp áo dệt kim màu lá sẫm. Nhác trông dễ tưởng gã đang lim dim ngủ gật, nhìn kỹ mới biết gã sẵn sàng nổ súng: cái ba-lô hình cóc to tướng kê sau lưng vẫn mắc hai quai vào vai, thắt lưng đầy băng đạn và bao đạn rời thít ngang bụng, cây tiểu liên Tuyn kẹp giữa hai đùi đã rút báng ra và bật dựng băng, bàn tay phải luôn đặt hờ bên cái cần mở cửa xe. Đại úy Pi-e La-phác-sơ ngồi ghế trước cạnh cha, lơ đãng nhìn những chuỗi nhà tranh chen lẫn tre cau lướt vun vút như quất roi qua lớp kính pléc-xi rất dày, từng lúc đột ngột nhường chỗ cho đồng ruộng kẻ ô bàn cờ xoay tròn chầm chậm quay một trục quay nào đó ở chân trời. Những người nhà quê quảy gánh trên vai dạt cả xuống vệ cỏ xa mặt đường nhựa, còn trẻ chăn trâu đều tụt xuống đất, túm dây mũi trâu kéo chạy trên bờ ruộng. Bọn lính say thường thách nhau bắn bia vào những bóng nhỏ hằn cao trên lưng trâu bò, trong khi xe chạy nhanh. Cũng chẳng cần say: mấy chiếc xe bọc thép mở đường trước xe kia thỉnh thoảng quét trọng liên hay đại liên vào những bụi bờ gò đống đáng ngờ, hoặc những ai có điệu bộ hơi khác thường. Trong đoàn xe hơn trăm chiếc, với một đại đội thiết giáp và một trung đội công binh đi hộ tống, riêng cha con La-phác-sơ góp vào bốn chiếc chạy quãng giữa. Chiếc thứ nhất là một GMC mười bánh, xe chỉ huy, bên trong bàn ghế xếp, tủ tài liệu, hai giường vải hẹp và nhiều giàn giá dưới vòm mui đu-ra. Chiếc nhì chất đày những thùng gỗ to nhỏ, rơm lót thòi qua các kẽ, cũng là GMC mui kín, kéo theo một rơ-moóc phủ bạt. Chiếc ba là một xe ca loại trung mười hai chỗ đã tháo bớt ghế để chở nhiều va-li, hòm bọc kẽm, có bốn người châu Á ngồi thiu thiu. Tới chiếc Pho du lịch khó coi của cha con lão. Nếu bị Việt Minh phục kích lén, chỉ có nó không bị đạn nhọn xuyên thủng, và nó đủ thấp nhỏ để luồn lách xuống đuôi hay lên đầu công-voa, chạy trốn với tốc độ cao nhất trong khi các xe to chịu phơi sườn cho địch bắn quét. Hai cha con đều mặc thường phục, đeo túi dết đựng súng ngắn và tài liệu, tiền bạc. Những thứ quan trọng hạng nhì nhồi vào ba-lô để bên người, còn các va-li xếp trong thùng đuôi xe chỉ chứa áo quần và đồ dùng riêng. Mới qua khỏi thị xã Thủ Dầu Một chừng bốn cây số, phía đầu đoàn xe bỗng rộ lên tiếng súng máy lớn nhỏ, hàng chục khẩu cùng bắn. Tiếp súng cối 60 đập thùng nhịp đôi. Chiếc xe ca chạy trước chớp đèn hiệu báo dừng. Lão Lê-ông cẩn thận hãm xe đúng cự ly 50 thước đã quy định, bật ngay cửa, trong khi gã da đen Rơ-nê vọt xuống đường và kéo cơ bẩm tiểu liên, mắt gườm gườm, sẵn sàng nhào sấp xả đạn. Pi-e cáu kỉnh: - Mẹ kiếp, cái phô-ni lại lắp trong xe chỉ huy. Hay ta tháo đem xuống đây, ba ? - Khó lắm, không có chỗ đựng ăng-ten. Hết quãng nguy hiểm ta đổi xe thôi, cố chịu tí. Con đang đóng vai dân sự kia mà ! Pi-e đóng vai mà không thể nhập vai Pháp kiều buôn thuốc. Đi đường trường dưới sự che chở của bọn cấp dưới láo xược, chiếc sơ-mi thể thao trắng cọ vào da hắn không hiểu sao lại gây ngứa lưng và vai, còn đôi giày bát-két mềm cứ bắt bàn chân ngọ nguậy. Hắn quay nhìn ra sau: lá cờ Pháp trên đỉnh tháp canh ở ngoại vi thị xã vẫn trông thấy rõ. Du kích Việt Minh chặn đánh xe ngay trong tầm súng và tầm ống dòm của quân gác đường ! Một tiếng nổ trầm sâu bùng lên mé trước, súng lại rào rào bắn tiếp. Trò gì vậy ? Sao đến bây giờ mìn địch mới nổ ? Lũ lính hộ tống bắng nhắng kia đang làm gì ? Và cứ bò lê dọc đường thề này, bao giờ mới đến Viêng-chăn ? Mới tám giờ rưỡi sáng mà nắng đã chói chang. Không khí nóng hừng hực, cái nóng đẫm hơi nước của tháng đầu mùa mưa xứ Nam Kỳ. Lão Lê-ông vung tay thành vòng tròn ra hiệu cho gã Rơ-nê trông chừng chung quanh, gọi Pi-e vào ngồi trong xe, bật cho quạt điện quét gió, lại gài số ra-lăng-ti cho máy nổ rì rì phòng ắc-quy cạn điện. Pi-e phải tập vài tiếng mới quen lái chiếc xe đua trá hình mặc áo giáp này. Hôm kia hắn chơi một trò quái ác: cởi áo sĩ quan, vốc bùn bôi kín biển số, phóng xe như điên trên đường Ô Cấp - Sài Gòn, lách chen qua lại hình chữ chi giữa hai dòng xe các loại đang xuôi ngược, cười ha hả khi thấy người ta đâm nhau, quệt nhau, nhào xuống ruộng hay húc cột đèn để tránh hắn, chắc hẳn ném theo vô vàn tiếng thét chửi. Các kiểu xe quân cảnh đuổi bắt hắn chỉ là rùa theo thỏ. Đoàn công-voa lại nổ máy chạy tiếp. Từng chiếc bò chậm qua chỗ bị du kích đào đường, đắp hai ụ hai đầu chặn xe, gài mìn chống ra-đa trong ụ, có lẽ là thuốc nổ nhồi trong hũ đất nung với đá củ đậu chất đầy chung quanh: còn rất nhiều đá rơi vãi trên mặt đường. Phải đến chỗ nghỉ mới biết được bao nhiêu lính “xơi quà Việt Minh”. Công binh đã kê nhiều thanh sắt và gỗ cho xe qua tạm, trong khi chờ bọn đồn trú ăn hại đái nát đến sửa đường. Xe chạy nhanh dần, thỉnh thoảng nhảy chồm chồm trên những hố phá hoại mới lấp vội bằng đất không lót đá. Lão Lê-ông nhăn mặt, chửi thề và làu bàu: - Mấy thằng Tàu cứ tưởng đường sá Đông Dương cũng trơn tru như phố Hồng-công của chúng, cãi cù nhầy. Ba ép mãi, chúng mới chịu lót rơm dày một tấc... ái chà. xóc... không thì bao nhiêu dụng cụ thủy tinh nát vụn hết... mẹ kiếp, đường với sá... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Tám, 2016, 02:53:06 pm Pi-e đang thèm ngủ. Đêm qua hắn cùng thằng bạn đại úy thiết giáp - người vừa che chở vừa ăn trộm đồn điền Ri-sô - chơi một trận động trời ở nhà thổ dành cho sĩ quan. Nhưng xe quăng quật thế này, du kích lại đe dọa, ngủ gật dễ vỡ quả gáo lắm. Hắn gợi chuyện cho tỉnh táo:
- Ba nói gì về Thanh Bang, hôm nọ con chưa hiểu mấy. Với lại ba quen thằng trùm trộm cướp Ghê-ri-ni ở Mác-xây, nó nắm trong tay nhiều xưởng chế ma túy ngầm, sao không thuê vài thằng chuyên gia người Pháp cho tiện, lại thuê bọn Tàu ? Lão Lê-ông gật gù ưng ý khi thấy Pi-e bắt đầu chú ý đến những chi tiết lắt léo trong công việc đang làm. - Lũ Ghê-ri-ni được chính quyền chống cộng ở Mác-xây che chở, nhiều lần dùng để chống phá biểu tình, bãi công. Nhưng bọn cộng sản và công nhân theo cộng ở Mác-xây thính mũi kinh khủng, hay bới những vụ bê bối trên mặt báo, phiền lắm. Thuê bọn Tàu rất tiện... Thanh Bang cũng là phe trộm cướp, buôn lậu, kiêm tay sai chống cộng của Tưởng Giới Thạch, nhưng quy mô lớn gấp trăm lần lũ người Coóc-xơ của Ghê-ri-ni, lại hoạt động tự do thả cửa dưới chế độ độc tài, dễ hơn nhiều chứ. Thằng trùm Thanh Bang được lão Tưởng “con trời” phong đến chức trung tướng, ghê chưa ? - Con cứ yên trí bọn Tàu thích làm việc với Anh, Mỹ, Nhật. Ít dính dáng tới người Pháp ta... - Bọn Thanh Bang có khác. Ba mươi năm trước chúng đã đặt tổng hành dinh buôn thuốc phiện lậu trong tô giới Pháp ở Thượng Hải, lập xưởng nấu thuốc phiện tự do, tất nhiên là nộp tiền bẫm, hối lộ từ trên xuống dưới. Lấy đất Pháp làm bàn đạp, quan chức Pháp làm người che dù, chúng tỏa ra đè bẹp cánh Hồng Bang cạnh tranh, lần hồi làm chủ thị trường thuốc phiện khổng lồ là Trung Quốc. Từ thuốc hút đến moóc-phin, đến hê-rô-in, đến giúp sức cho Tưởng lùng bắt cộng sản, đến quyền bính vào tay, con thấy rõ chứ ? Năm ngoái quân đỏ của Mao tiến như núi tuyết lở, bọn Thanh Bang phải cuốn gói chạy tóe ra Hồng-công, Đài Loan. Bộ máy buôn lậu quốc tế đang còn, tay nghề bào chế cực kỳ giỏi, nhưng bị mất nguồn thuốc phiện sống từ Tứ Xuyên và Vân Nam trút xuống, thiếu phương tiện xuất lậu hê-rô-in sang châu Mỹ, châu Âu. Còn quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương nắm nguồn thuốc phiện ở khu Tam giác vàng, sẵn máy bay ô-tô, được bộ áo giáp của bí mật chiến tranh phủ kín, nhưng chưa có kỹ thuật chế biến giỏi và lũ chân rết đông đảo đi nhét từng lọ con bột trắng vào tay khách qua đường. Hai bên ráp vào nhau, khuýp, tuyệt vời ! Pi-e liếc nhìn miệng cười đắc ý của cha, chợt thấy nghi ngờ. Hay vì nghiện mà ông ấy thổi phồng việc buôn thuốc phiện lên đến tầm cỡ quốc tế chăng ? - Con hỏi thật, ba cho rằng “Kế hoạch X” sẽ thu lãi đáng kể đối với chi phí của Quân viễn chinh ? Hay chỉ đủ mua cho mỗi lính một sợi dây giày ? Lão Lê-ông nhăn trán bực dọc. Thì ra thằng con không thèm đọc bản đề án do lão cùng mấy người nữa trong “Phòng hành động” soạn rất công phu, mất ngót một năm đi điều tra tận các vùng núi hiểm trở và đào bới các kho lưu trữ tài liệu. Một bản đề án tối mật đã khiến cho đại tá Ben-lơ, người cầm đầu Phân cục Tình báo chiến lược ở Đông Dương phải sửng sốt và dành hẳn hai ngày bàn tính với nhóm của lão trước khi họp với tướng Xa-lăng, tổng tư lệnh Quân viễn chinh. Sau đó đại tá kể rằng Xa-lăng mừng cuống quýt khi đọc đề án, hứa sẽ phối hợp hết sức mình, còn giục phải làm ngay, làm mạnh, miễn sao đừng lộ bí mật là đủ. Chính trong không khí hồ hởi đó, Lê-ông đã được tháo khoán năm chục ngàn đô-la Mỹ, và được cấp trên điều con trai ra khỏi vùng chiến sự ác liệt để giúp lão. Nhung Pi-e khiếu nại dằng co mãi, chỉ chịu về Bộ tham mưu làm sĩ quan xây dựng lực lượng biệt kích, không chịu chuyển hẳn sang ngành tình báo mà xưa nay hắn vẫn coi khinh chẳng kém bọn quân báo Phòng nhì. Nể mặt lão, người ta không trị viên đại úy bướng bỉnh mà xếp chỗ theo lời hắn xin. Thôi đành, dù sao Pi-e cũng xa họng súng Việt Minh hơn trước, lão tự an ủi thế. Chính vì thói cứng đầu của con mà trong chuyến áp tải người và phương tiện này, hai cha con là đại diện của hai tổ chức khác nhau đang chung sức thực hiện Kế hoạch X: Quân viễn chinh và Tình báo chiến lược 1. Im lặng một lát, rồi Lê-ông lại phải đóng tiếp cái vai ông gia sư nhẫn nại cố nhồi hiểu biết vào đầu đứa học trò lười học và trái chứng trái nết: - Nếu không tin, ba dính vào làm gì ! Ta thử làm vài con tính nhỏ cho dễ hiểu... Vùng Tam giác vàng là khu vực trồng thuốc phiện lớn nhất thế giới và khó kiểm soát nhất thế giới. Nó trải rộng trên năm nước: Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, xếp theo thứ tự quan trọng. Chi riêng hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam đã hằng năm làm ra từ hai chục ngàn đến hăm lăm ngàn tấn thuốc phiện sống, xuất lậu xuống Đông Nam Á nhiều hơn bán trong nước, phía nam này đường ngắn và sẵn hàng đổi. Bây giờ quân đỏ của Bắc Kinh bắt đầu khóa biên giới, nhưng bọn tàn quân Quốc dân đảng vẫn buôn như điên qua hàng rào còn thưa, chúng đánh nhau rất tồi, mà đứng đầu thế giới về nghề buôn lậu thuốc phiện xuyên rừng núi. Bốn nước còn lại góp phần khiêm tốn hơn: Miến Điện khoảng bảy tám trăm tấn. Thái Lan hơn hai trăm tấn, Lào và Việt Nam chỉ xấp xỉ sáu chục thôi. - Thế thì chẳng bõ công ! ---------------------------------------------------------- 1. Cơ quan này mang tên là SDECE (Cục điều tra đối ngoại và phản gián), không trực thuộc Quân viễn chinh. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Tám, 2016, 02:54:50 pm Lê-ông đưa tay vuốt mảng tóc nâu còn lại bên trên vành tai, cười khẽ:
- Đừng vội chê. Mảnh đất Thượng Lào bé nhỏ sẽ là cửa khẩu, là miệng vòi, là họng phễu để vùng Tam giác vàng rót thuốc phiện vào mồm dân nghiện trên toàn thế giới ! Con quên rằng trong năm nước vừa kể, chỉ ở Đông Dương mới có đạo quân lớn đủ sức chặn thổ phỉ, dùng máy bay chở hàng đến đổi chác và chở thuốc phiện đi ? Những đoàn ngựa thồ lâu nay phải leo núi hàng tháng để đưa thuốc phiện đến đầu mối đường ô-tô chạy xuống Băng-cốc hay Rang-gun, sẽ rẽ cương sang phía các tiền đồn cắm cờ Pháp. Các máy bay trinh sát nhẹ thu góp từng tạ nhựa một đưa đến Viêng-chăn, những chiếc DC.3 chở từng tấn về kho mật trong các sân bay quân sự chung quanh Sài Gòn, từ đó “nàng tiên nâu” sẽ tung cánh bay sang Hồng Công, Mác-xây hay Niu Yoóc ! - Phí tổn sẽ rất lớn, nuốt hết lãi... - Con chịu khó nhớ vài con số nhé. Bọn chúa đất bản xứ người Mẹo, Thái, Lào, Việt bao thầu thu mua thuốc phiện, bán cho ba mỗi ki-lô thuốc phiện sống giá chừng 25 đô-la Mỹ. Ba chế biến nó thành hê-rô-in loại bốn, loại cao giá nhất, tốn thêm chừng 5 đô-la nữa, vị chi ba chục, được một lạng hê-rô-in. Cái lạng ấy chở không mất tiền sang Mác-xây hay Pa-ri bán gọn cho lũ trùm buôn lậu được 200 đô-la, sang đất Hoa Kỳ vọt lên 1300 đô-la hay hơn nữa, theo giá bán buôn từng lô lớn nửa tạ đến một tạ. Chưa hết đâu, chia nhỏ ra cho đám tay sai bên dưới và dưới nữa, mỗi lớp pha chế thêm các thứ tá dược rẻ tiền vào, đường lắc-tô-da hay một thứ bột hòa tan vớ vẩn nào đấy cùng màu trắng, khi đem bán giúi tay trên vỉa hè từng lọ con thì cái lạng hê-rô-in của ba đã thành hai ha chục lạng, thu vào không dưới 11.000 đô-la. Một đồng vốn, áng chừng 370 đồng lãi, thấy chưa nào ? - Giê-xu Ma-ri-a ! - Chúa Giê-xu hóa phép một con cá với một ổ bánh đủ nuôi hàng trăm người, chúng ta cần noi gương Chúa. Trong bản đề án, ba chỉ đặt mức dè dặt là trong năm nay ta mua vào một trăm tấn nhựa sống, thật ra có thể đạt gấp đôi. Mức sang năm là ba trăm rưởi tấn, chế ngay tại Viêng-chăn thành moóc-phin cho nhẹ cân, thế nhưng mấy thằng Tàu ba dắt theo lần này có thể chế hê-rô-in loại bốn tại chỗ luôn. Ba đã chừa lề khá rộng phòng bất trắc, cũng để kiếm thêm phần ba tí chút phụ trội... - Ba trăm rưởi tấn, ba thử tính lãi bao nhiêu ? - Bán tại Pháp lãi 60 triệu đô-la Mỹ. Bán buôn tại Hoa Kỳ lãi chừng 440 triệu. Thế thôi, mạng lưới bán lẻ không nằm trong tay ta. Pi-e hết hẳn buồn ngủ, mở to cả mắt lẫn mồm trước những con số kinh khủng. Thì ra cha hắn đã tìm được câu thần chú “Vừng ơi, mở ra” đi vào kho vàng giấu kín ở vùng núi Bắc Đông Dương ! Còn hắn cứ bĩu môi cười khinh tất cả những gì không có chất nổ đùng đoàng, không được dán nhãn “Danh dự quân nhân” ! - ... Nghề buôn lậu thường lên voi xuống chó, phải trù liệu hết mọi đàng. Mức lãi ba vừa nói là trung bình, hao hụt vừa phải, giá cả ít biến động. Gặp lúc xuống chó, ví dụ cái chuồng ngựa chứng là Quốc hội Pháp bị áp lực quốc tế nổi lên chống ma túy rầm rộ, phái sang Đông Dương thật nhiều nhân viên công khai và bí mật để phá đám, chúng ta sẽ chở thẳng chất nhựa quý từ các xưởng trong rừng rậm Thượng Lào sang bán tại Hồng công hay Băng-cốc, tạm bằng lòng với số lãi còm ba chục triệu đô-la cho ba trăm rưởi tấn ấy. Ngược lại, nếu Chúa ban phép màu cho giá ma túy hiện đang tăng cứ tăng lên mãi, gấp đôi chẳng hạn, lại cho chúng ta dăng được mạng lưới bán lẻ tại Hoa Kỳ... ái chà chà, bảy hoặc tám tỉ đô-la thu vào không khó ! Và nếu chúng ta mua được gấp ba gấp bốn lần mức dự kiến... - Thì sẽ dùng vàng để lát đường ! - Vàng đáng kể gì so với hê-rô-in ! Theo giá lúc này, ở chợ đen Niu Yoóc, một cân hê-rô-in bán ngang 130 cân vàng. Nhớ nhé: một-trăm-ba-mươi lần đắt hơn ! Một tiếng nổ lớn bùng lên phía trước, mấy phát súng lẹt đẹt, rồi các xe hộ tống lại xả đạn rào rào. Lần này đoàn xe chỉ dừng độ mươi phút để đẩy chiếc GMC vỡ toác sang bên, xếp lính chết và bị thương lên xe khác, lại chạy tiếp. Quả mìn chỉ khoét một lỗ bằng cái nia, các xe lách qua được, mãi quá trưa mới đến Lộc Ninh. Phải mất đến bốn tiếng rưỡi để vượt chặng đường non 140 cây số ! Từ trên đầu, một chiếc Gíp chạy chậm xuống. Viên trung sĩ Pháp đứng bên người lái, báo lệnh của đại úy chỉ huy quân hộ tống là nghỉ đêm tại đây, qua vài ba xe lại nhắc to một lần. Pi-e cáu kỉnh dẫm chân, chửi rất tục. Lão Lê-ông rút khăn lau bộ mặt nhăn nheo và cái trán hói tận đỉnh đầu, can con: - Ăn trưa xong đã hai giờ chiều, từ đây đến Kra-chê đường rất xấu, rừng rậm, Việt Minh với It-xa-rắc Khơ-mc quấy phá nhiều. Nghỉ lại là phải con ạ. Lão vẫy tay ra hiệu. Gã da đen Rơ-nê gật đầu, đến xua ba người trên xe chỉ huy: một hạ sĩ lái xe, một lính cần vụ của Pi-e, một y tá. Cả ba mang hết hành lý xuống chiếc xe Pho, trong khi Rơ-nê chuyển đồ đạc của hai cha con lên xe chỉ huy. Gã căng rất nhanh một lều bạt chống nắng trên nóc đu-ra phẳng, các trụ và móc đều được lắp sẵn và xếp gọn khi đi đường. Pi-e ngẩn ra nhìn cha thả cầu thang xuống đất, mở cửa sổ lắp kính phủ lưới hai bên thành xe, bật quạt chạy bằng ắc-quy xua không khí nóng, gọi hắn lên. Lão mở tủ bằng tôn dày lấy đĩa giấy, cốc giấy, khăn ăn giấy đặt lên mặt bàn xếp vừa dựng, mở tủ lạnh trong góc lấy các thứ của ngon: đùi heo ướp, trứng luộc, pho mát, dồi nêm tỏi kiểu Đức, cam và táo tây. Lão mở nhanh hai hộp xúp rau, một gói bánh mì cắt lát sẵn, cuối cùng mới rút ra một chai rượu vang Boóc-đô hai phần ba lít và hai chai bia. Chưa ăn vội, lão đặt lên cái khay nhôm bánh mì, cam, một hộp ra-gu thịt cừu, giơ tay gạt tấm rèm treo trên vách ngăn giữa thùng xe và ca-bin, mở cái cửa sổ lắp kính vừa hiện ra. Gã Rơ-nê đã ngồi sẵn chỗ lái, tiểu liên treo vào cửa xe, quay lại đón khay thức ăn kèm một chai bia, nói cụt ngủn: “Cảm ơn ông”. Lão gật đầu, đóng cửa sổ và kéo rèm. - Trưa nóng, ta ăn bữa nguội và tạm gác rượu mạnh đến tối, đại úy bằng lòng chứ ? Ba có hai bếp cồn, tối ta sẽ ăn nóng. Quán ăn khá chỉ có ở Xtung-treng, Pạc-xê, Thà-khẹc, nhưng chắc mấy đứa cộng sự sẽ mời tiệc... Nào, nâng cốc chức sứ mệnh chúng ta thành công rực rỡ ! Pi-e ăn thong thả, ngắm kỹ căn buồng nhỏ đầy đủ tiện nghi loại mới nhất, được xếp đặt rất khoa học và đẹp mắt. Hầu hết các máy móc và đồ dùng mang nhãn hiệu Mỹ. Lão Lê-ông cười thích thú: - Mười tám ngàn đô-la đấy ! Ba xem hàng chục mẫu nhà lưu động, chọn những chi tiết ưng ý nhất, đặt đóng theo ý mình tại Hồng Công. Đã có bán máy điều hòa không khí, ba chưa mua vì hỏng không có nơi sửa. Bộ ắc-quy đủ chạy quạt, tủ lạnh, đèn nê-ông trong hăm bốn tiếng, hết thì sạc bằng điện thành phố hay cho chạy máy phát kéo theo kia. Các kiểu nhà lắp bánh của Mỹ đều dài rộng hơn thế này, lại phải dùng xe khác kéo theo, cồng kềnh lắm, lên Thượng Lào gặp đường xấu là tắc tị. Túp lều hèn mọn này được đặt trên GMC mười bánh, ba cầu, có thể dùng tời trước mũi và xích lắp vào lốp để leo dốc cao hay vượt hầm hố, giúp chúng ta ăn ở đàng hoàng ở những nơi hoang dã... - Và đưa chúng ta chạy trốn nếu Việt Minh tổng phản công, quân của Mao đánh tràn xuống Đông Dương ! - Tại sao không ? Ba thích câu ấy của một nhà thám hiểm Pháp. Trong chiến tranh tất cả đều có thể xảy ra. Nhưng các nhà chiến lược của ta đoán rằng khả năng đánh nhau dằng dai là lớn hơn đánh tốc chiến tốc quyết. Mao mới làm chủ phần Trung Hoa lục địa rất nghèo đói và đầy rẫy tay chân của Tưởng, chẳng dễ gì mở hai mặt trận cùng một lần. Triều Tiên và Đông Dương. Ấy là thiển ý của viên đại nhất lê-dương, thưa đại úy ! - Một chai vang cho hai người, ông chủ chưa chi đẹp... - Ừ thì thêm một chai. Một thôi nhé. Hành quân chiến đấu phải rất tỉnh, các ngài sĩ quan biết hơn ai hết ! Sau bữa cơm, Pi-e đi dạo dọc phố cho dãn gân. Ghé vào tiệm ăn Tàu ngồi nhấm nháp thêm một phần tư lít cô-nhắc nữa cho đủ liều, cũng để cha hắn làm một chầu ma túy. Dọc đường ông ấy mới hút bốn năm điếu thuốc lá tẩm hê-rô-in, chắc phải xài thêm các thứ khác: uống thuốc viên, hít bột vào mũi, đốt bột ra khói để hút bằng phễu, chỉ ít ưa kiểu tiêm vào tĩnh mạch. Cha nghiện ma túy thì con nghiện rượu, cánh đàn ông đã qua khói lửa dễ tha thứ cho nhau hơn, phần giảng đạo để nhường vợ chồng con em Gia-nét ! Tất cả dân bản xứ đi bộ hoặc xe đạp đều dồn ép sang mép đường bên kia, càng xa dãy xe đậu càng tốt. Hai đứa trẻ ăn xin ngờ nghệch lại băng ngang lòng đường, đến các cửa sổ ô-tô ngửa nón van vỉ. Thấy hai cánh cửa sau xe của Pi-e còn mở rộng, chúng ghé tới gần, chìa cả nón lẫn bàn tay gầy đen như cẳng cò, ngước mặt lên ấp úng. Trên bàn, tất cả đĩa cốc giấy và thức ăn thừa đã được cho vào túi giấy dầu, chắc cha hắn quen nếp sống dân sự còn đợi xe ra khỏi thị trấn mới vất xuống đường. Pi-e cầm túi thả xuống đất. Trong khi hai đứa hối hả nhặt những mẩu bánh thịt văng ra nhét trở vào túi, Pi-e giơ cao hai vỏ chai rượu thả xuống hai cái đầu bờm xờm. Một đứa trúng vai kêu thét, bỏ chạy. Đứa kia trúng gáy, chỉ rít một tiếng và lăn ra giãy giãy, lại bị thêm mảnh chai xóc vào bắp chân tóe máu. Pi-e nghĩ thầm: “Dạo này mắt và tay mình kém trước. Phải bớt rượu mới được”. Hắn móc túi lấy hai tờ giấy một đồng xếp tư, thả xuống bên thằng bé đang lỉnh dần, đóng sập cửa sau xe, cởi giày, ngả lưng xuống giường vải. Gió quạt xoáy lộng, mát hơn hẳn khi hắn ngồi trong quán, cha hắn quả đã hết sức lo xa. Hắn ngủ thiếp đi tức khắc. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Tám, 2016, 02:59:23 pm * * * Bọn lính Lào gác cổng sân bay đã quen với chiếc xe Pho tả tơi và người lái da đen của cha con đại úy La-phác-sơ, không hỏi giấy, chỉ nhấc cây ngáng và đứng nghiêm chào. Khi làm mới và nối dài sân bay này về phía Nam, người ta bỏ đi một đoạn đường băng ngắn ở đầu mút phía Bắc. Nó rẽ vào một dãy ba nhà chứa máy bay làm bằng khung sắt lợp tôn và che vách ván, sẽ được tháo dỡ đem dựng nơi khác. Gần đây khúc đường phụ và khu nhà lẻ loi bỏ trống ấy được sửa sang, dăng hai lần thép gai bọc kín, dù chung quanh sân bay đã sẵn nhiều lớp lô-cốt, rào thép rào tre, bãi chông xen mìn chi chít. Nhiều xe chở người và thùng bao to nhỏ đến. Khói bốc suốt ngày qua các ống khói mới lắp thêm. Tiểu đoàn giữ sân bay được biết đó là xưởng LX.01 chế thuốc chữa bệnh cho quân đội. Các sĩ quan bĩu môi: chỉ bào chế thôi mà làm ra vẻ quan trọng gớm ! Mấy chục lính biệt kích gác và tuần bên ngoài xưởng đều là người Mẹo từ núi cao xuống, mỗi tháng đổi quân một lần. Làm việc trong xưởng có độ hai chục người Á và Âu, hầu hết nói được tiếng Pháp, ăn ngủ luôn tại chỗ. Họ rất kín tiếng, chỉ lâu lâu về Viêng-chăn một lần bằng xe ca riêng, mua sắm xong là lên xe ngay. Ra vào nhiều và chuyên giao thiệp với Ban chỉ huy sân bay là cha con ông La-phác-sơ, được xếp nhà riêng trong cơ quan Bộ chỉ huy quân khu Thượng Lào đóng tại Viêng-chăn, cách sân bay tám cây số. Hai chiếc máy bay nhỏ kiểu Bi-vơ thay đổi nhau đáp xuống sân bay này, giờ giấc tùy thời tiết, trung bình mỗi ngày một chuyến hạ cánh. Sĩ quan trực được điện báo trước, nhìn qua số hiệu có chữ LX mở đầu, khoát ngay tấm biển xanh cầm tay cho chúng chạy rẽ về phía xưởng. Vài tiếng sau, chúng được một xe GMC phủ mui đu-ra bịt bùng kéo đến bãi đậu quân sự, xếp hàng chung với các máy bay trinh sát nhẹ. Và mỗi tuần một lần, lão Lê-ông La-phác-sơ chìa ra lệnh điều động của quân khu, dùng hẳn một chuyến máy bay vận tải Đa-cô-ta để chở hai ba tấn hàng đóng thùng về Vũng Tàu, nói thêm rằng đấy là dược phẩm mới sơ chế. Chẳng ai hiểu vì sao dược phẩm không về Sài Gòn mà giao tại Vũng Tàu, người nhận lại là sĩ quan thuộc Phòng GCMA 1 chứ không phải ngành quân y. Áp tải hàng là những người hầu như câm điếc nhưng rất rộng tay giúi tiền puốc-boa cho những ai góp công vào chuyến bay ấy... Bọn lính Mẹo gác trước cổng xưởng thích tâng công theo lối máy móc: chúng mù cả chữ Pháp lẫn chữ Lào, nhưng làm ra vẻ săm soi xem rất kỹ tấm thẻ ra vào, so ảnh với người, gí mắt vào con dấu tròn của Pháp và con dấu ba đầu voi che lọng của chính quyền vương quốc. Pi-e cáu tiết, giật lại mảnh bìa cứng, tiện tay tát như trời giáng vào mặt tên đốc gác, gõ mạnh giày đi thẳng vào xưởng trong khi cha hắn vỗ vai đứa bị đánh, nói dịu ngọt một câu tiếng Lào trước khi nối bước theo hắn. Các hăng-ga chứa máy bay giữ nguyên mặt ngoài lở lói đen sạm, bên trong được sửa rất kỹ: láng nền xi-măng bóng, lát ván làm trần nhà, đặt thêm rất nhiều quạt chống nóng, chia các ngăn bằng vách gỗ, tất cả đều sơn trắng toát. Điện sáng dăng dăng giữa ban ngày. Các bếp lò than củi đang cháy đỏ, có phễu hút khói đưa xuyên qua mái. Từng dãy thùng nồi to nhỏ bằng tôn hoặc sắt tráng men được nối vào nhau bằng những ống cong và thẳng lượn lên xuống qua lại. Một làn hơi nước loãng pha mùi nồng của nhiều thứ hóa chất đang đun nấu bốc lên trộn lẫn dường như không làm cho những nhân viên bào chế mặc bơ-lu trắng cảm thấy khó chịu. Họ đi lại ít mà đứng ngồi nhiều hơn để trông chừng các bếp, thỉnh thoảng mới nói khẽ với nhau một câu ngắn. Lão Lê-ông khoát tay chỉ hệ thống lò nối dài bên trái, giảng cho con: - Dây chuyền này điều chế moóc-phin thô thành hê-rô-in số 3... Thuốc phiện sống là một thứ nhựa nhão nhoẹt màu nâu đen, mùi hăng, dân bản xứ chở đến bằng ngựa thồ hay gùi cõng. Ba đã dạy cho các nhóm thu mua tự nấu nó thành moóc-phin. Rất dễ, chỉ cần một cái thùng, ít vải lọc, vôi bón ruộng và am-mô-nhắc đậm đặc. Qua hai lần nấu và lọc thì lấy được moóc-phin, chỉ nặng bằng một phần mười thuốc sống. Nơi gần chở về đây bằng ô-tô, nơi xa dùng máy bay nhẹ... Nó đây này ! Lão cúi xuống bốc một nhúm moóc-phin trong cái thùng mở nắp bên cạnh, bỏ vào tay con. Đó là nhũng hạt trắng méo mó bằng xấp xỉ hạt đậu xanh, tựa hồ không bà con gì với những ống moóc-phin nước trong túi cấp cứu của y tá để tiêm giảm đau cho thương binh nặng, thường bị lính nghiện ma túy ăn cắp sạch. Giọng lão Lê-ông lộ rõ vẻ tự hào nghề nghiệp khi giảng các phép bí truyền: - Làm ra loại 3 không khó. Chỉ cần bám sát quy cách, sao cho moóc-phin hóa hợp tốt với a-xít a-xê-tic thành đi-a-xê-tin-moóc-phin tức là hê-rô-in, lấy được phần lớn các chất dư thừa... xem đây: trong các bình thủy linh lớn này là mười cân moóc-phin trộn với mười cân an-hy-đrit a-xê-tic, phải đun đều sáu giờ ở đúng 85 độ C, không được tăng giảm. Còn phải qua ba bước phù thủy luyện thuốc nữa, dùng clô-rô-phoóc, các-bô-nát xô-đi-om cồn, than hoạt tính mới lấy được hê-rô-in màu hơi xám chứa khoảng bốn mươi phần trăm tinh chất. Loại này dùng để hút, uống, hít vào mũi, dân châu Á xài ngày càng nhiều thay chất nhựa nấu cũ kỹ. Bên Mỹ và Tây Âu chuộng thứ bột trắng mịn loại 4 hơn vì hòa tan nhanh trong nước, tiêm một tí xíu là thoả cơn nghiện. Thuốc sang đến đấy đắt lòi con ngươi, mấy ai đủ tiền mà hút ! - Này ba, mấy thằng Tàu cùng đi chuyến xe hôm nọ đâu cả ? Lê-ông kéo con ra xa những người làm việc: - Ở đây chỉ có bọn Tàu ở Chợ Lớn và Viêng-chăn, thuê rẻ thôi. Bọn Hồng Công tự giam mình trong cái nhà gạch xây rời chỗ góc kia. Trả lương ngang đại tá Pháp mà còn vòi thêm... Chúng dùng cồn, a-xit clo-hy-đric, đặc biệt nhiêu ê-te để chế hê-rô-in số 4 là thứ có trên 90 phần trăm tinh chất. Bước này ít tốn kém nhưng mất nhiều thì giờ, công phu, lại nguy hiểm nữa, có thể nổ bay cả người lẫn nhà. Ba mày mò rất lâu không ăn thua, đành bấm bụng rước các vị con trời vô. Chúng giấu nghề rất ghê, ba đang tìm cách ăn cắp kỹ thuật. - Thì ra cứ xuất loại thấp, đã sao ? - E hèm... Từ số 3 sang số 4, thuốc mạnh lên nhiều lần mà trọng lượng vẫn giữ nguyên. Nó gây nghiện không cai nổi, lại dễ chuyển, dễ ngụy trang, dễ tiêm, vì thế giá bán tăng vọt gấp năm gấp mười, lãi to lắm. Chỉ bị cái khó điều chế... Có phải nơi nào trên thế giới cũng lập được xưởng hiện đại to đùng, có máy bay riêng và lính gác cổng như ta đâu ! Bọn trùm buôn lậu ranh hơn cáo, biết bỏ tiền mua thuốc đắt còn lợi hơn thuê thợ rước thầy, đặt xưởng ngầm, chở nguyên liệu đến, chuyển hàng đi, lộ tẩy như chơi ! Mấy căn hầm kín của phe thằng Ghê-ri-ni lần lượt bật nắp, nay nó mới chịu mua loại 4 của ba đấy, trước kia nó chỉ nhận moóc-phin sơ chế thôi ! - Nghĩa là chiến tranh Đông Dương càng dằng co kéo dài, ba sẽ càng giàu sụ, phải không ? - Cả gia đình ta chứ ! Xin Chúa giúp cho được như thế ! ----------------------------------------------------------- 1. Tên viết tắt tiếng Pháp: Đội biệt kích hỗn hợp không vận. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Tám, 2016, 03:09:55 pm * * * Chiếc máy bay nhẹ một động cơ cánh quạt ngoi lên trên trần mây đen đặc giội mưa xuống đất, gặp ngay ánh nắng rực rỡ chói mắt. Bay trong mùa mưa Lào kéo dài nửa năm đã khổ cực, còn hạ cánh xuống một tiền đồn trên núi cao, chỉ dọn được một đường băng dã chiến dài hai ba trăm mét, quả thật là liều mạng. Người lái phụ lật bản đồ, xoay cho đúng hướng la bàn, lẩm nhẩm tính gì đấy rồi ghé tai nói mấy câu với phi công chính. Tay này gật đầu, quay về phía sau kêu ồm ồm: - Bắt đầu xuống, tắt thuốc lá, gài thắt lưng an toàn, không làm ồn ! Khoang chung dành cho lái và bốn hành khách của chiếc “tắc-xi bay” này được cách âm tốt, không phải dùng dây nói nội bộ. Hai người lái chụp ống nghe vô tuyến vào tai, đẩy ống nói đến trước miệng, bắt đầu gọi mặt đất dồn dập: - Tổ én X.16 đâu ? Đây Chim én 342, Chim én 342 gọi Tổ én X.16, hãy trả lời... Họ nói tiếp nhau gọi mỗi lúc một to, rồi chen thêm những tiếng chửi mỗi lúc một nặng. Hình như dưới đất không đáp. Đại úy La-phác-sơ liếc sang phải thấy trung tá Gra-lê cau mày nhăn trán, vã mồ hôi lấm tấm trên thái dương. Hắn ngầm thích chí: tay cấp trên ưa làm ra vẻ bác học này sợ rồi ! Hắn càng cố nén hồi hộp, giữ vẻ mặt lạnh như tiền của người chiến binh lão luyện. Mặt đất bên ngoài cửa sổ từ từ dâng lên, phủ kín khung chữ nhật, đẩy màu trời biến mất. Máy bay đang quần nghiêng. Một mảng đất đỏ nâu nổi rõ. Trên đầu núi tròn, mấy nóc tôn gỉ và tranh cũ ngả đen hằn những hình chữ nhật vây quanh một tháp canh cao. Lá cờ ướt sũng dính vào cột, xem kỹ mới nhận ra ba màu xanh trắng đỏ. Một tấm thảm mây xám đang từ từ trôi ra xa, chòm núi lúc này sáng rõ, thế là gặp may rồi. Nhưng cái đồn GCMA này đang nằm trong tay ai ? Nó ngậm câm một cách đáng ngờ. Bọn It-xa-la cùng Việt Minh đã đôi lần núp lại sau khi diệt đồn để chờ đánh quân viện hay lấy dù tiếp tế. Mươi chấm nhỏ từ các nhà và lô-cốt túa ra sân. Một lá cờ tam tài quạt ngang qua lại như múa lụa. Pi-e nhấc ống dòm trước ngực đưa lên mắt, vặn nút chỉnh: đúng thằng thiếu úy Vi-nhan đang phất cờ. Hắn cứ để mặc cho phi công xoay xở. Chiếc máy bay chuyển sang quần số 8 rất thấp. Sân bay dã chiến nền đất được khoét vào sườn núi thấp hơn đồn. Bọn lính lố nhố ở đầu sân bay có lẽ vừa sực nhớ ra, vội căng chữ T bằng vải trắng và bắn lên một pháo hiệu xanh. Viên phi công cho máy bay rà sát trên mặt sân cách vài mét như đo thử lần cuối, vòng ra xa, quay lại thật chậm và đáp xuống đất. Người ngồi trong khoang bị vật qua lại khá mạnh trong khi bánh xe trượt trên bùn và vấp ổ gà liên tiếp trước khi dừng hẳn. Đã quen với những sân bay rất hẹp, phi công tắt máy luôn chứ không chạy chậm để xoay đầu. Bọn lính sẽ xúm vào đẩy, vần, xeo thay cho động cơ. Trung tá Gra-lê sửa cặp kính trắng, nhấc tấm thân thấp lùn và rất phì nộn trong khi người lái phụ mở cửa, thả cầu thang. Đôi ủng da đánh xi rất bóng lún ngay vào bùn đỏ bầm đến mắt cá. Viên thư ký đeo lon thượng sĩ xuống sau trượt chân ngã ngồi, đế giày hất văng bùn lên tận vai bộ quân phục rất chỉnh tề của trung tá. Pi-e nháy cậu trung úy chỉ huy phó GCMA, cố nghiêm mặt làm lơ trong khi một chuẩn úy Lào dẫn mươi lính chạy đến đón, rập chân chào vị thượng cấp đang cầm khăn tay lau bộ mặt đỏ rựng đầy tức giận. Cả đoàn bước rón rén ỳ ạch, leo dốc lên đồn. Trong bốn đội GCMA thuộc tiền đồn 974, hai đội đi vắng, còn lại 43 người kể cả bộ phận chỉ huy. Nghe thiếu úy Vi-nhan báo cáo xong, trung tá nhìn lướt qua lũ lính biệt kích mặc đen tuyền từ áo quấn đến mũ nồi, đi giày vải bết bùn, dựng bên đùi những khẩu trường Mát đã mòn lớp hun đen bóng, xếp thành nhiều hàng ngang xộc xệch. Chúng giống kẻ cướp hơn là lính, đôi mắt của trung tá nhìn chúng lại hệt mắt quan tòa hỏi cung phạm nhân. Lão khoát tay với vẻ cáu kỉnh và chán ngấy, đi thẳng vào phòng khách, mỗi bước chân để một mảng bùn trên nền xi-măng. Vi-nhan và chuẩn úy đồn phó khúm núm mời các vị quan trên rửa ráy tạm trước khi làm việc. Bốn năm tên biệt kích cởi giày bỏ ngoài thềm, khom lưng rất thấp bước men vào, quỳ hai gối xuống dâng nước và khăn cho quý quan rửa mặt, lại quỳ để lau sạch giày quý quan, vẫn quỳ để cọ nền nhà. Một tên quỳ đón chiếc áo vấy bấn của ngài trung tá đem đi chải. Sau hai tháng ở Lào, Pi-e không còn ngạc nhiên trước cảnh và người rất nhếch nhác ở các đồn biệt kích hay cách quỳ lạy hắn chưa từng thấy khi kẻ dưới ra mắt người trên. Hắn tập làm quen với sắc lính mới, kiểu sống mới, với rượu nếp Lào và các cô xảo nùm 1 xinh nhỏ như búp-bê, với các món nhậu Lào khá lạ miệng. Ở Viêng-chăn như thế tạm ổn. Cứ để mặc cha hắn bám cái xưởng bí mật nhu tu sĩ luyện thuật giả kim thời trung cố, thỉnh thoảng giúi tiền cho hắn tiêu thêm, xấp sau thường dày hơn xấp trước. Chất độc kinh khủng kia đắt hơn vàng hàng trăm lần, không có nhà giả kim nào lãi bằng cha hắn, nhưng hắn chẳng dại gì giam thân trong khu nhà tù ấy. Hắn muốn làm giàu, giàu to, nhưng giàu đến đâu phải được hưởng đến đấy chứ không ki cóp để dành cho tuổi già. Đời thằng sĩ quan nhà nghề chuyên đi hỏi tội dân thuộc địa, tránh sao khỏi viên đạn vô tình hay những con vi trùng hiểm ác ! Bọn lính khiêng hai thùng rượu và đồ hộp dành riêng cho sĩ quan vào góc phòng khách. Viên thư ký đã thay quần áo, mở vài chai với dăm hộp bày lên bàn để nhấm nháp trong khi làm việc. Thiếu úy Vi-nhan thuộc hạng khá trong số vài chục sĩ quan chỉ huy GCMA, còn trẻ mà đã chừa một bộ râu cố đạo màu hung để làm oai với dân bản xứ. Y lật sổ báo cáo ngắn gọn về hoạt động của It-xa-la trong khu vực, thành tích chiến đấu của bốn đội biệt kích dưới quyền, kết quả thu mua thuốc phiện sống trong mùa xuân vừa qua. Hai phần trên không có gì nổi bật, riêng phần cuối được nhận là vượt mức nhiều... ----------------------------------------------------------- 1. Tiếng Lào: gái trẻ Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Tám, 2016, 03:11:31 pm Gra-lê cầm cốc vang trắng nhấm nháp, mắt lờ đờ khó hiểu sau kính trắng. Thấy viên thư ký ghi đều tay, Pi-e cũng hất hàm ra hiệu cho phụ tá của mình ghi chép để cấp trên vừa lòng. Hắn đã kín đáo làm luôn ba ly cô-nhắc “xua sương mù”, thấy tỉnh táo hơn.
Đột ngột, lão trung tá to béo đặt mạnh cốc vang xuống bàn, cắt ngang những câu kết luận của Vi-nhan: - Trong khi chiếc Xét-xna quần thấp, tôi quan sát qua ống dòm, thấy một số bản trồng lúa nương trên diện tích dành cho cây thuốc phiện. Ông thiếu úy biết chưa ? Vi-nhan trả lời, đầy tự tin: - Thưa trung tá, tôi đã đến tận nơi và hỏi kỹ. Dân bản xứ phát rẫy vào mùa xuân, đốt rẫy cuối mùa khô, nhưng chỉ có thể trồng thuốc phiện vào tháng chín... Trong khoảng cách chừng bốn tháng ấy, nếu không trồng trọt gì cả, mưa lớn sẽ làm trôi hết chất tro bón đất, họ phải trồng ngô hoặc lúa để ăn và giữ màu cho đất... - Thì ra ông vẫn tưởng ngô và lúa giống hệt nhau ? Lầm to. Người trồng ngô theo ta, người trồng lúa theo cộng sản ! - Thưa trung tá, họ vẫn ăn lẫn lộn hột ngô và cơm... - Còn phải học nhiều, thiếu úy ạ. Tôi biết rõ các thứ giống của người Mẹo. Ngô của họ là giống ngắn ngày, lại trỉa trước khi mưa, tháng Tám đã bẻ xong, tiếp đó họ cuốc lại đất, trồng thuốc phiện rất đúng thời vụ. Còn lúa của họ mãi đến tháng Mười một mới thu hoạch, tức là trễ hai tháng sau vụ trồng thuốc phiện. Họ vẫn cứ trồng cho ông nhìn thấy, nhưng ông sẽ chịu thua khi cây thuốc phiện còi cọc không tiết ra nhựa trên quả. Họ sẽ bảo vì đất quá xấu, vì mưa nắng trái khoáy, vì con ma rẫy không phù hộ, gì gì nữa chỉ có Chúa biết ! Pi-e giật mình, rướn cổ nhìn trung tá chăm chăm. - Bọn cộng sản đến đâu là xúi giục dân làng bỏ thuốc phiện đến đấy, trồng ngũ cốc để ăn và nuôi chúng. Còn chúng ta phải đốc thúc dân Mẹo trong vùng Tam giác vàng này cung cấp thuốc phiện cho cả thế giới, trước hết là đem đô-la về nuôi Quân viễn chinh. Ngày nào chúng ta còn đem gạo ngô và hàng tiêu dùng đổi được chất nhựa nâu ở các bản, ngày ấy chúng ta còn nắm được dân vùng này, đánh bại được bọn It-xa-la thù địch. Dân chúng chuyển sang trồng lúa nương là đã nghe lọt tai lời tuyên truyền cộng sản, chịu bỏ mối lợi lớn để giúp It-xa-la chống Pháp giành độc lập, các ông hiểu rõ chưa nào ? Pi-e bắt gặp luồng mắt của trung tá xói vào mình, chợt nóng rực hai tai. Lão chê mình quá dốt, nhưng chỉ mắng Vi-nhan cho mình đỡ mất mặt. Vi-nhan rướn vai lên, hùng hổ: - Tôi sẽ trị chúng, thưa trung tá. Chúng đánh lừa tôi thật trắng trợn... - Đừng vội, đừng vội. Trước hết ông hãy ra lệnh nhổ lúa, nhổ trụi, cho phép trồng rau ngắn ngày, nhất là cây họ đậu cho đất tốt thêm. Đến tháng Chín ông sẽ hạ lệnh tỉa bớt đậu, trồng thuốc phiện xen vào, đúng, kỹ thuật đấy, đừng ngại... Về mặt an ninh, ông cứ phớt lờ như người da trắng lạc vào xứ mọi, kín đáo gài đôi ba đứa chỉ điểm ở mỗi làng trồng lúa, cố gắng hót trọn ổ cả bọn It-xa-la ngoài rừng cùng những đứa ẩn trong bản, chớ nên ăn non mà phí... Dễ thấy dáng vẻ ngoan ngoãn vâng dạ của cấp dưới đã khiến Gra-lê nguôi giận hẳn, tha cho cái tội tiếp đón quá luộm thuộm. Trong bữa cơm nửa Pháp nửa Lào sau đó với các món ăn và rượu của hai nước dọn ra xen kẽ nhau, lão lấy lại điệu bộ ưa thích nhất là nhà bác học chuyên nghiên cứu về Viễn Đông, sẵn sàng lên lớp cho lũ sĩ quan “mỏ trắng” chỉ biết đánh đấm hùng hục mà mù tịt về thiên nhiên và con người ở Đông Dương. Lê-ông La-phác-sơ đã cho con biết lão này sang Đông Dương từ khi trẻ, lần hồi ngoi lên đến chức giám binh chuyên trấn thủ các tỉnh biên giới phía bắc. Nhật đảo chính năm 1945, lão chạy thoát theo tàn quân của tướng A-le-xăng-đri sang Vân Nam, nhờ chiến công ấy được phong thiếu tá, nay lên một cấp nữa. Rượu vào ngà ngà, lão nói nhiều và rất cởi mở: - Hồi Quân viễn chinh mới sang Đông Dương, đô đốc Đác-giăng-li-ơ gà mờ cho rằng có thể lấy lại Nam Kỳ trong bốn tuần lễ, chiếm hết Đông Dương trong vài ba tháng. Bởi thế ông ta rất coi khinh đám quan chức Đông Dương kỳ cựu, chỉ tin dùng cái số từ chính quốc theo ông ta qua đây. Đánh nhau trật xương suốt bấy nhiêu năm, các quan lớn mới trắng mắt ra, hiểu rằng muốn thắng du kích cộng sản phải có du kích chống cộng, phải biết dùng độc trị độc. Người ta trở lại tin dùng tướng Xa-lăng và các sĩ quan thuộc địa, cho lập các đơn vị không chính quy, chịu o bế tất cả các phe phái chống cộng. Các ông biết đấy: bọn cướp Bình Xuyên biến thành cảnh sát Sài Gòn, vua Bảo Đại đánh đĩ với Nhật trở về làm quốc trưởng, thuốc phiện quốc cấm được coi như hàng xuất khẩu chiến lược. Mục đích biện minh cho phương tiện ! Lão cười to, cả mâm tiệc cười theo to hon. Lão nếm thử rượu ngô Mẹo vùng này, gật gù khen hương vị độc đáo, lập tức mọi người ồn ào chìa cốc ra cho mấy tên hầu bàn rót đầy rượu ngô, thưởng thức thứ men lá rừng bí truyền của thổ dân vùng núi cao này. Đoàn kiểm tra ra về, say lảo đảo. Trong khi các quan dự tiệc, bọn biệt kích đã kịp sửa lại quãng dốc đi xuống sân bay, cuốc bậc ở những chỗ trơn. Chúng còn khiêng ván lấy từ giường chân niễng của mình đem lót thành một lối đi phủ gỗ đến tận chân cầu thang máy bay. Dù được mời mọc nhiều lần, hai người lái nhất định ở lại trong khoang, ăn đồ hộp xong ngồi ngủ gật. Họ đã bị đôi phen điếng hồn, không dám giao cho lũ lính rất giống thổ phỉ này canh giữ máy bay, chúng ăn cắp và phá phách như khỉ bầy xuống rẫy. Chuyến về gặp may mắn hơn, không bị mưa to hay sương mù cản đường. Gra-lê vẫn còn ngấm men, ghé tai Pi-e nói qua hơi rượu thịt hôi nồng, đổi sang cách xưng hô thân tình: - Điều tao nói về phe Đông Dương với phe chính quốc cũng khớp với hoàn cảnh của tao với mày đây, chú em ạ. Đám chóp bu chê tao lạc hậu quân sự, đẩy tao về nước, làm thằng cạo giấy ở Sở đồ bản thuộc Bộ tổng tham mưu. Tao vừa nộp đơn về hưu, bỗng dưng được lệnh giữ lại, thăng cấp, đưa sang Đông Dương làm trưởng phòng GCMA mới ra đời. Được thôi, đây là dịp kiếm chác thêm ít nhiều làm vốn, về già khỏi phải lãnh chân gác cổng... Còn mày, tao nghe nói đánh cộng sản rất hăng, rất táo bạo. Biết chúng nó phê vào hồ sơ của mày thế nào không ? “Chỉ biết hành binh theo kinh nghiệm lỗi thời, thường vi phạm điều lệnh chiến đấu chính quy”. Đã thua bét be còn bám mãi cái chính quy khỉ gió ấy ! Tao hỏi thêm ba mày với vài người quen nữa, mới xin điều mày về cái sắc lính rất xa chính quy của tao. Bọn sĩ quan từ võ bị Xanh-Xia ra hay chửi GCMA là bầy chó đểu. Tao đáp: đúng thế, nhưng chúng nó là bầy chó đểu của ta, chúng làm được những việc bẩn thỉu mà bàn tay đeo găng trắng của quý ngài không tiện mó vào ! Tất nhiên, không một lời nào về Kế hoạch X ! Pi-e lễ phép cúi đầu: - Trung tá dạy rất phải ! Tất cả những ý nghĩ chế giễu và khinh thường đối với vị quan trên béo lùn có dáng dấp một lão kế toán đã tan biến hết. Sau ông thầy đầu tiên là cha mình, đại úy Pi-e hết sức ngổ ngáo đã gặp thêm một thầy mới. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 03:14:19 pm Chương X Nằm duỗi dài trên bờ phải của Mè Nặm Khoỏng, con sông lớn và dài nhất nước Lào, làng Hạt Khẹ còn giữ được cái tên đời xưa để lại. Nghe truyền rằng các cụ tổ đi thuyền độc mộc đến quãng bờ hoang vắng này, định ghé vào nấu ăn, chợt thấy trên mép bãi hàng trăm hàng ngàn con cá sấu nằm ghếch đầu như vô số chiếc thuyền kéo nửa thân lên cạn. Chèo ngược dòng trở về làng cũ, các cụ sắp sẵn nhiều lao có ngạnh buộc dây chắc, nhiều súng kíp để trị những con vùng quẫy mạnh nhất, nhiều trai săn sấu giỏi, kéo cả đoàn thuyền xuôi xuống lúc tờ mờ sáng, đánh úp bầy sấu một trận tơi bời. Được nhiều sấu đến nỗi chỉ kịp lột da, cắt lấy khúc mũi và đoạn đuôi, còn thịt vất xuống nước tế thần Sông Mẹ. Về sau đến lập làng mới mé trên bãi, các cụ đặt luôn cái tên Bãi Sấu để con cháu nhớ mãi ngày hỗn chiến dọn chỗ. Mấy năm đầu lũ sấu còn tiếc cái bãi dẹt và dài chúng quen đến ngủ khi ăn no, cứ lảng vảng gần đấy, thỉnh thoảng đớp một con chó khờ hay cắn chân trâu nghé bò non lôi ra xa. Dân làng phải rình bắn, đâm, thả câu bằng những con sóc và chuột rừng sa bẫy, chúng mới bỏ đi gần hết. Làng Hạt Khẹ hôm nay mở hội Thả thuyền trong khi chờ lúa chín. Dân làng hầu hết đã ra ở trại ruộng, lại kéo về thăm sửa nhà cửa, quảy theo các thứ mặc đẹp và ăn uống trong ngày hội. Con buôn đánh voi hay chở thuyền đến bán hàng khá đông, lính địch đóng đồn cách ba cây số cũng xuống chơi nhiều. Đội xung phong công tác số 6 chọn ngày này để móc nối với mấy người trong làng được coi là cảm tình It-xa-la, đứt liên lạc ngót một năm qua. Họ gồm bốn đồng chí, hai Lào hai Việt, thêm Cả Chanh tức đồng chí Chăn-thi cùng đi là năm. Nơi ở của đội là cái lán nhỏ lợp lá mây giữa rốn một khu rừng mây. Mỗi lần ra đi lúc nhá nhem tối, anh em dùng mươi cây nạng chống nâng các lùm mây song rậm gai, luồn thật khéo bên dưới, mờ sáng về lại rút nạng đem cất. Từ ngày gây được cơ sở trong hai làng ven sông, anh em thường mang về những típ 1 xôi kèm thức ăn, giảm bớt nấu nướng cho để lộ bí mật. Hôm qua, đội trưởng Thoong Xẩy đột vào trại ruộng của bác Chum, một nông dân lầm lì ít nói nhưng đã từng biếu bộ đội một con trâu thịt và ba chục mừn 2 thóc nếp, khi Liên quân Lào - Việt đến làng Hạt Khẹ lần đầu và Pháp chưa đóng đồn. Bác nghe giảng giải rất lâu mà không hỏi, không nói. Cả Chanh ngồi nín lặng, thấy trên mặt bác hiện vẻ hoài nghi pha chút gì như thương hại. Mới vượt sông lớn cách hai hôm, đây là lần đầu anh gặp người dân vùng sâu bị chiếm, sát đồn địch. Ra về, Thoong Xẩy cam đoan với Chanh rằng trưa mai, đúng trống ngọ, mấy bà con được mời sẽ ra rừng gặp đội. Chanh nhớ rõ bác Chum không hứa một tiếng nào cả trong khi Thoong Xẩy dặn đi dặn lại việc cần làm. Tất cả đội cùng đến để làm quen với số cảm tình mới móc nối. Qua cánh đồng lúa nếp đã lên xanh đậm rập rờn, với những bờ ruộng chừa rất hẹp tuy không thiếu đất, những tiếng vui của hội làng bay tới họ được gió trộn vào nhau. Nổi rõ nhất là tiếng trống, tiếng xập xõa, rồi đến tiếng rung dồn dập của những đĩa đồng trên đàn khoỏng-vông, những phím gỗ trắc kết chuỗi trên đàn la-nạt. Mỗi khi gió dịu xuống mới nghe được tiếng khèn thoi thóp hòa theo một bài lăm ân tình hay ghẹo quấy nào đó, từng lúc điểm một loạt tiếng hú khen ngợi hay tiếng cười giòn giã. Chanh lên Lào đã dự hội Pháo thăng thiên trong một làng vùng giải phóng, tò mò hỏi kỹ các kiểu đàn và điệu hát trong ngày hội trần tục chơi xả láng này, rất gần với kiểu rước ông Đùng bà Đà mà một anh bạn Nam tiến đã tả lại. Hội Thả thuyền chắc là ít nghịch ngợm, lại thêm lính địch xuống đông, khó mà vui thoải mái như trong vùng ta. Chùa làng chợt nổi hồi trống chính ngọ, báo giờ dâng cơm trưa. Các tiếng ồn ã tắt dần. Anh em bắt đầu căng mình nhìn qua cành lá, đợi người đến chỗ gốc cây đa ven rừng. Một bóng thấp thoáng bước tới, chỉ dừng mấy tích tắc lại bỏ đi ngay. Thoong Xẩy thì thào bên tai Chanh: - Bác Chum đấy, thấy chưa ? Chắc đi gọi thêm số kia. Một giờ qua. Hai giờ. Gốc đa vắng ngắt. Bị buộc phải ngồi rời nhau trông chừng các hướng, bốn anh em cố tránh ngủ gật bằng những hài hát lẩm nhẩm trong miệng không thành tiếng. Bắt đầu đói nữa. Thoong Xẩy bảo không cần đem cơm nguội theo, bà con ra gặp làm gì chẳng có các món ngon ngày hội. Bun là phúc, dân Lào mở bun, chơi bun là để làm phúc và hưởng phúc, trong ngày bun không ai hẹp bụng với ai. Mặt trời xuống chỉ còn một con sào, vẫn không ai đến. Thoong Xẩy buồn rười rượi, rẽ lá đi xem quanh gốc đa. Người ban nãy đặt ở đấy hai nắm xôi gói lá chuối, bấy nhiêu thôi. Không có thư bên trong. Đành ăn vài miếng đỡ đói rồi về lán hay đi gặp cơ sở làng khác vậy. Một đội viên bẻ đôi nắm xôi, bỗng sững người, run tay chìa ra hai nửa nắm. Thoong Xẩy cầm xem, mặt dần dần tái xanh. Giữa ruột xôi là một nhúm tro bếp lẫn than vụn. Bác Chum trả lời khá rõ. Anh thăm tôi thì tôi thăm lại. Anh đói, tôi bố thí cho, nhưng cái hạng anh chỉ đáng ăn như con heo con chó ! Thoong Xẩy thả rơi miếng ăn nhục nhã xuống, dựa vào thân cây gồ ghề, nhắm mắt. Hai giọt nước trào xuống khuôn mặt đen gầy có một mảng lang ben trắng dưới cằm, hằng ngày luôn tươi nở. Đồng chí trung đội phó Lào này mới được điều sang sông nắm đội công tác số 6 cách vài tháng, chắp mối lại với làng quê mình và làng quê vợ rất dễ dàng, đến Hạt Khẹ mới vấp lần đầu. Chanh giữ ý, bước tới chỗ ba đồng chí kia đang bàn thì thào, nói khẽ với cậu Òn: - Ta đừng về Rừng Mây vội. Có chỗ nào vui, ta đến chơi. - Chơi thật à ? - Chớ sao ! Cả ngày ngồi nghe người ta đánh đàn thổi khèn, ăn nhậu tơi bời trong làng, bây giờ tới lượt chúng mình mở bun ! Òn liếc anh Chăn-thi, không thấy vẻ gì chế giễu, toét mồm cười ngay. Cậu đội viên Lào hai mươi tuổi này đang tán tỉnh cô Xi, con gái rượu của một ông thày cúng già. Trại ruộng của ông ở tách riêng ven rừng hơi xa làng Phôn Khảo, cách đây chừng bốn cây số, đội công tác cũng thường lui tới. Của cải ông làng nhàng thôi, chỉ có chừng năm chục hày 3 ruộng với bốn con trâu, sưu thuế lại nặng, nhưng ông thích rủ cán bộ It-xa-la đến chơi để hỏi đủ chuyện trên trời dưới đất. Đội công tác ở lại trại đến khuya, nhắm rượu với thịt nai nướng, thổi khèn và hát lăm hàng chục điệu, còn bắt cô Xi mang rổ và gàu đi xúc tôm về băm sống làm món lạp cụng ngọt lừ, là để cậu Òn được dịp đi theo soi đuốc dầu rái và hộ vệ người đẹp. Thoong Xẩy bần thần hồi lâu rồi bị cuốn theo đà vui chung, nói cười ầm ỹ hơn ai hết. Anh vỗ lưng Chanh bồm bộp: - Thố, anh Chăn-thi, bạn thân Chăn-thi ơi ! biết anh nói dối nhé: anh bảo mới sang Lào vài tháng, không đâu, khôôông đâu... Anh ăn xôi, ở nhà sàn, mặc quần một ống đã vài ba năm rồi, đúng chưa, đúng chưưưa ? Chanh cười nghiêng ngả. Anh giữ dạ dày, chỉ giả vờ uống và giả vờ say, trong đầu vẫn xoay ngược xuôi tiếng chửi không lời nằm trong nắm cơm nhân tro bếp. Vì đâu nên nỗi ? --------------------------------------------------------- 1. Hộp đan bằng mây hoặc dang, dùng đựng xôi 2. Mừn: 12 ki-lô-gam 3. Hày: độ 400 m2 Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 03:37:46 pm * * * Còn một câu hỏi khác, na ná như thế nhưng nhằm vào Chanh, buộc anh phải trả lời hàng trăm lần: vì sao bỏ nghề xe lửa ? Tùy người hỏi, nếu không bông phèng cười trừ được thì anh tìm một lời đáp nào xuôi tai nhất. Vì thích nếm mùi khói lửa. Vì thức đêm ròng rã không chịu nổi. Vì đau dạ dày cần ăn xôi quanh năm, ở Lào tiện nhất. Vì ham biết thêm cuộc kháng chiến muôn màu muôn vẻ. Vì rất thù Tây, muốn tự tay giết vài thằng cho hả... Tiếp đó anh nhảy ngay sang chuyện khác, sực nhớ ra một điều gì đó chua hiểu và hỏi ngược lại dồn dập. Khi bị buộc phải trả lời nghiêm chỉnh, Chanh đưa ra lý lẽ vững nhất: liên khu ủy kêu gọi đảng viên các tỉnh tự do xung phong đến các nơi khó khăn nhất, như Cực Nam Trung Bộ hay Hạ Lào - Đông Bắc Miên. Mà anh đã ở hậu phương rất lâu rồi, đi là phải. Tất cả những điều anh nói, dù đứng đắn hay pha đùa cợt, đều có phần đúng sự thật. Đúng mà chua đủ. Phần sự thật còn lại, chỉ trong những lúc chờ giấc ngủ đến giữa những tiếng ngáy xa gần nặng nhẹ của đồng đội, anh mới gặp lại nó và chìm vào nó. Anh thấy nó như một làn mây xám có mùi khói khó thở cứ lởn vởn đâu đó, đợi lúc anh quay về mình sống với mình mới nhẹ nhàng tỏa đến bọc kín anh. Nó không là bão táp đâu, không mang theo xoáy lốc của trận đánh dưới bom đạn, không lòe sấm chớp của những va chạm gay gắt ta với ta, không nhoi nhói xăm kim vào da như trăm nỗi bực dọc hàng ngày thoắt đến thoắt đi. Anh nghỉ chữa bệnh đủ lâu để tất cả trôi dần vào màn sương của quá khứ, nó làm mờ bớt đi những nét phụ để giữ lại hình vóc chính thật tươi khỏe, vạm vỡ: năm năm kháng chiến đầu tiên theo nghề xe lửa để lại trong đời anh những đường khắc sâu không phai được. Thế nhưng anh vẫn bỏ nghề. Ít nhất cũng tạm rời nghề đến khi thắng Tây, giành được độc lập. Ấy là tại cái phần sự thật còn lại, cái đám mây ám khói chập chờn mà anh không thể tách riêng từng mảnh như tháo máy, không thể đặt cho một tên gọi chung vì nó vừa rắc rối vừa hư ảo. Hít mùi nhà cháy vào mũi, làm sao phân biệt được mùi riêng của cột kèo, chõng tre, bó đũa cùng bốc lửa ? Sau nhiêu đêm tự tra vấn nghiêm khắc, cố tìm cách tự phân tích tỉ mẩn đến tận cùng, Chanh đành chịu thú nhận mình dốt đến nỗi không hiểu nổi mình nữa. Anh tự quất roi hành xác, tự khép tội là mang nặng tư tưởng bi quan, dao động, hoài nghi, cá nhân chủ nghĩa, mất lập trường, rất nhiều căn bệnh nữa quyết chữa bệnh bằng những thứ thuốc thật đắng uống liều cao. Rồi tới lúc khác, anh nhận ra mình chỉ mang trong lòng một nỗi buồn chung chung, có thế thôi. Buồn vì trước kia đã quá tin người, quá bốc đồng, quá đơn giản, quá chúi mũi hùng hục, cho đến khi quả lắc đồng hồ vung hết đà bỗng đánh ngược trở lại, quật vào lưng anh một đòn phản phúc... Các đồng chí chung quanh, từ anh Hai Thỉnh chính ủy Quân tình nguyện đến chú liên lạc măng tơ, ai cũng thấy Cả Chanh là vui tính, giỏi chịu cực, gan góc và rất ham học, bấy nhiêu thôi. Chẳng ai đoán biết cái bầu tâm sự mà Chanh không cố ý giấu nhưng không nói ra, bởi muốn để cho nó tan biến đi trong những thử thách mới. Tất cả Thường vụ Ban cán sự khu Hạ Lào - Đông Bắc Miên đều áy náy khi nhận điện của liên khu ủy cử đồng chí Phan Chanh làm ủy viên Ban. Nhiều đồng chí biết Chanh từ lâu, bàn nên đề nghị lên trên đưa Chanh vào Thường vụ, không nên xếp ngang với cán bộ tiểu đoàn hay huyện ủy viên trong Ban. Nhưng ngay trong buổi ra mắt đầu tiên tại khu bộ - hồi này cơ quan đầu não đã băng qua vùng biên giới mở toang, xuyên rất sâu về hướng Tây-Nam, đóng lọt thỏm trong một lõm căn cứ giữa vùng địch chiếm - Chanh đã xin được xuống thẳng cơ sở để biết chiến trường mới: - Các anh hiểu cho, sang Lào tôi là lính mới, lạ nước lạ cái. Ngồi đây, tôi chỉ làm được cái việc nhai giấy tờ nhả ra giấy tờ thôi ! Xin cho tôi được tập sự năm bảy tháng đã ! Trung đoàn phó Luyện, người đi chung với Chanh lên Lào suốt nửa tháng, bật kêu như bị ong chích: - Lính mới à ? Anh nói tiếng Lào giỏi hơn tôi, viết cả công văn chữ Lào, còn lội rừng bắn heo nai, đem về còn bày cho bộ đội kiếm các thứ rau núi nấu ăn nữa ! Dằng co khá lâu, rồi Thường vụ đành lắc đầu mà chiều ý Chanh, đưa anh về làm bí thư liên chi Quân tình nguyện tại huyện Phia-phay, sát bờ sông Mê-công. Thất vọng nhất có lẽ là anh Hai Thỉnh. Anh chạy vạy xin bằng được Cả Chanh để phụ trách con đường chuyển quân và tiếp tế từ Nam Quảng Nam lên nước bạn, được gọi là Hành lang Hạ Lào. Mới năm ngoái con đường ấy chỉ chạy xuyên núi rừng đến biên giới Việt-Lào, mất hơn một tuần leo dốc. Giờ đây nó dài dằng dặc và tỏa nhánh hối hả theo gót các tiểu đoàn và đại đội Liên quân thuốn sâu vào ruột vùng địch chiếm, hết sức chật vật rướn qua những tỉnh đất rất rộng và người rất thưa, với đủ thú giặc nổi giặc chìm và hầu hết nhân dân chưa kịp hiểu cách mạng... Chanh cười cười, nói cho qua chuyện: - Hồi nào làm đường sắt từ bên ta qua đây, anh Thỉnh không ra lệnh tôi cũng chạy về xin việc. Cũng là giao thông vận tải, vậy chớ đứa làm xe lửa đem thà vô chỗ gùi cõng cánh gồng thì chịu bó tay liền. Dốt đui dốt đen ! Sau mươi ngày tìm hiểu tình hình chung, Chanh bám theo liên lạc cứ hướng Tây đi tiếp về Phia-phay, một vùng đất phẳng dẹt lắm bùn lầy và đá ong, voi nhà kéo từng đàn và cá lội nhung nhúc dưới đầm vũng. Một tuần nữa để làm việc với liên chi ủy Quân tình nguyện và ủy ban kháng chiến Lào, Chanh lại đi nữa: đến sống với trung đội tập trung của huyện đang rút về học quân sự, lần lượt thăm bảy Đội xây dựng của ta đang bám mười hai xã vùng giải phóng và vùng tranh chấp, làm quen với hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, du kích, gia đình cơ sở Lào. Mặc dù bị can gián nhiều, anh vẫn thu xếp vượt sông Mê-công ở một quãng rộng tới gần hai cây số, để hiểu dân tình và cách hoạt động ở nơi bị địch giữ chắc. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 03:40:22 pm Trong vài tháng đầu tiên ấy, Chanh nhớ nhiều mà nghĩ ít. Anh cố nhồi vào óc tất cả những gì cần cho việc mới như cậu học trò trong mùa thi, chưa suy nghĩ mấy. Khi gặp những vụ gay cấn, anh chỉ bàn góp nếu đã biết thật rõ, không chắc thì cứ ghi nhận để đấy, không vội.
Như đã hẹn trước, anh chỉ ở lại với Đội xung phong công tác số 6 trong hai ngày đêm, sau đó phải đến gặp đồng chí liên chi ủy viên cùng đồng chí cán bộ huyện Lào đang nắm chung sáu đội phóng qua sông. Chanh sẽ cùng đi với họ đến ba chỗ khó nhất: đội 2 bị phục kích chết ba chỉ còn một, đội 5 có một đội viên Việt đào ngũ theo địch, đội 4 xảy ra lủng củng nặng giữa Lào và Việt. Trong buổi trao đổi cuối cùng giữa Rừng Mây, cậu Miện, một đội viên trẻ là Việt kiều từ Thái Lan đến, nói ngập ngừng bằng giọng Quảng Bình: - Em đoán thử ri, chưa chắc trúng... Bác Chum trước tê tốt lắm, có ghét anh em mình cũng là mới đây... chắc tại mình diệt tề chưa phải cách... - Diệt ai ? Mà ai ra lệnh diệt ? - Dạ... ta xử bắn phò bạn 1 Hạt Khẹ cách đây nửa năm, hồi bộ đội anh Khiết sắp sửa qua sông trở về Phia-phay... Một trung đội Việt vô làng chơi ban ngày, tới chiều bị địch đánh úp... khi uống say... chết hai, bị thương năm... - Tôi có nghe sơ sơ vụ đó, nhưng về sau có xử ai đâu ! - Dạ... anh Khiết cấm chúng em báo cáo. Anh ấy tức điên lên, định hắn cả anh trung đội trưởng. Anh cho một tiểu đội vào Hạt Khẹ ban đêm bắt phò bạn, bảo là địch đánh úp trong làng thì ngụy quyền phải chịu tội, đền mạng. Em can mấy câu, bị một cái tát, anh ấy bảo em mất lập trường, đi bênh kẻ thù. Ông phò bạn... à, tên tê... cãi dằng co một lát, anh rút súng lục bắn chết tươi... - Ngay trong làng? - Dạ không, ngoài rừng, cách làng nửa cây số... Anh Khiết là cấp trên, nghiêm cấm rứa, chúng em không dám trái lệnh... Anh Thoong Xẩy mới về làm đội trưởng cũng không biết chuyện ấy... cứ trách chúng em sợ khó sợ khổ, né tránh làng Hạt Khẹ... Dạ thưa, anh về huyện đừng nói là em báo cáo... Máu bốc dồn lên mặt Chanh, nóng rực. Anh gằn giọng: - Sợ gì mà quá quắt vậy ! Vãi đái trong quần rồi à ? Miện cúi mặt, đỏ dần hai vành tai, nín lặng. Chanh xuống bếp rót nước uống. Đội không có chè, thường chỉ uống nước suối múc vào nặn tầu, quả bầu khô dùi hai lỗ trên đỉnh để tu. Chanh đến họ mới nấu nước gạo rang cháy cho anh uống. Huyện không có tiền Đông Dương để phát sinh hoạt phí, anh em chỉ sống bằng miếng chín dân cho, mặc áo quần dân cho, và không phải lúc nào dân cũng hiểu cũng thương cán bộ... Đồng chí Khiết tức Chín Khiết là tiểu đoàn phó, vừa lên tiểu đoàn trưởng, đang làm phó bí thư liên chi. Trong buổi họp khi mới đến, Khiết đối xử với Chanh rất dè dặt, chỉ nghe không nói, nhường đồng chí bí thư cũ bàn giao mọi việc để về nước chữa bệnh. Ở nơi chiến trường hết sức phân tán này, những đội viên như Miện chẳng mấy khi được học tập, được tiếp xúc với đồng đội và cấp trên, chưa chắc mỗi năm được về huyện một lần... Quay trở lên, Chanh dịu giọng nói với Miện: - Thôi được, về huyện tôi sẽ giấu tên cậu khi đưa ra kiểm điểm. Có điều đừng sợ quá vậy chớ ! - Anh tưởng em sợ là anh lầm ! Miện trả lời rắn đanh, nhìn xói vào mắt Chanh khiến anh sửng sốt thật sự. Cậu đội viên trắng trẻo có dáng học trò này sao đổi sắc đột ngột vậy ? - Xin nói thẳng anh biết là em không muốn bị những người như anh Khiết quấy rầy, cản trở công tác ! Cứ để yên chúng em tháo gỡ, đừng nhảy vô mà hò hét thét lác, tưởng như không đánh chửi đội viên thì thiên hạ không biết mình là ông lớn ấy !... Nhà em trước tê ở Thà-khẹc. Tây đánh chiếm thành phố năm 46, ngày 21 tháng 3, giết hơn một nghìn dân, nhà em chết ba người. Mẹ, chị, em trai... Bố em với hai đứa còn lại bơi thoát qua Thái Lan, làm ăn đã yên ổn rồi, em cứ xung phong sang đây để góp sức đánh Tây... cho nó hả... cho đỡ tức... Anh Khiết tài giỏi chừng mô không biết, chứ đi dân vận thì chỉ có làm dân giận. Dân vùng này hồi đầu gọi là ại Khiết, ít lâu sau đổi kêu là tộ Khiệt, là con nhái ! - Tôi sẽ góp ý với anh ấy... - Vâââng ! Anh sẽ góp ý. Anh Khiết không nghe thì anh cũng nín thôi, phải giữ hòa khí giữa các anh lãnh đạo với nhau mà. Rứa rồi anh Khiết có khủng bố thằng Miện thì anh cũng chả băn khoăn chi: anh đã phê bình mà người ta không nhận, hơi mô lo mãi chuyện vặt, thôi để dần dà rồi người ta nghĩ lại. .. Em báo trước ri đây: hễ thấy phiền phức quá thì em trở về bên Thái, mấy ngày đường thôi, xin nhập vô các đơn vị Việt kiều về đánh ở Trung Lào hay Thượng Lào. Mô cũng bộ đội Cụ Hồ, mô cũng đánh Tây. Tới đó các anh sẽ gật gù với nhau: biết mà, thằng nớ mất lập trường từ xưa, chừ hắn đào ngũ là tất nhiên ! Chanh điếng người dưới những ngọn roi mỉa mai đến hằn học ấy, thốt ra từ miệng một cậu anh tưởng là quá nhút nhát. Hẳn cậu đã nghiền ngẫm từ rất lâu, nay mới tuôn hết một lần, mà chắc gì đã hết ! Trễ giờ rồi, phải đi thôi. Chanh chỉ để lại mấy lời động viên và hứa hẹn chung chung trước khi rời cái lán nghèo trần trụi nằm chìm trong những bụi mây, song bằng cổ tay chi chít gai cứng. Chim, thú, cả rắn hay kỳ nhông kỳ đà đều tránh không ở rừng mây, chỉ có người cách mạng dám ở. Gai mây làm phiền họ ít hơn những thứ gai gốc kỳ quặc mà cậu Miện vừa kể. ----------------------------------------------------------- 1. Lý trưởng. Còn gọi là nai bạn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 03:44:55 pm * * * Đến khoảng năm giờ, tổ It-xa-la làng Đon Khảm bàn xong mấy việc cuối cùng với anh Pheng cán bộ huyện, ngả sang chuyện làng xóm, họ hàng. Từ nãy Chanh chỉ ngồi nghe, rất ít bàn góp. Anh cố làm quen với cách phát âm của vùng này khi họ nói đ thành l nhất loạt, bò đạy (không được) biến thành bò lạy. Phải cố đoán mới hiểu hiên là học, là thưa, có thể đọc ra liên hay riên, như cậu thanh niên kia thích rung lưới theo kiểu Thái Lan... Các đồng chí Lào ở Trạm biên chính Hai gần Linh Lâm dạy tiếng Lào cho anh chỉ toàn từ ngữ chính trị thông thái, sang đây anh phải học gấp những tiếng thường dùng trong đời sống hằng ngày ở thôn quê, những lời nôm na gần gũi với người dân thường, những câu tục ngữ hay ví von rất quen đầu lưỡi. Cuốn sổ tay thứ nhất chép đặc chữ Lào tiếng Lào chen lẫn với những báo cáo ghi tóm tắt và giấu tên người tên đất phòng rơi vào tay địch, Chanh đã mở đầu cuốn thứ hai. Nắm cơ sở làng Đon Khảm chính là chị Lả vợ anh Pheng. Khi làm việc, có lẽ vì Chanh ngồi cạnh nên họ gọi nhau bằng đồng chí, nghe nghiêm chỉnh mà hơi buồn cười. Pheng xuống giọng ngập ngừng và liếc xéo sang Chanh khi hỏi thăm các con, chị Lả cũng trả lời lúng túng bằng một câu “nói chữ” rằng chúng nó được vạn sự như ý. Chắc họ ngượng vì lo chuyện riêng tư trước mặt một anh Việt xa nhà hàng tháng đường núi, không hẹn ngày về, sống như ông sư Hạt-xa-đi khắc khổ tu ẩn trong rừng. Chanh đứng dậy vươn vai: - Anh Pheng họp tiếp nhé, tôi ra bờ sông xem cảnh một lát. Chanh bỏ đi cũng để tránh đôi mắt của cô Xúc Chay, cháu anh Pheng, lần này được giao nắm nữ thanh niên. Mặt cô hao hao giống Thùy, đôi mắt thì giống hẳn, giống hết sức. Chanh bị hút vào đôi mắt đen láy, trong veo với rèm mi dài rủ bóng xuống tận má dưới nắng trưa xuyên qua vòm lá rậm. Càng nhìn càng thấy y hệt mắt Thùy, chết thật, ngắm mãi người ta nghi bây giờ ! Anh bấm bụng ghìm mình, chỉ dám ngó thẳng khi Xúc Chay lên tiếng, sao cô ấy nói ít thế... Mấy ngày qua, dưới mưa dầm tuôn hạt khi nặng khi nhẹ, Chanh bám theo Pheng luồn rừng đi gặp các đội công tác và ghé thăm các gia đình cơ sở đang sống ở trại ruộng, vài tháng nữa gặt xong mới dọn về làng. Ủy ban huyện đã cho anh một sơ-mi xanh trời, một phạ-xà-lùng 1 bằng vải dệt đỏ tím vàng sặc sỡ, một tấm phạ-phe ô vuông đen trắng như khăn rằn Nam Bộ, những thứ dùng cải trang để lính địch hay gián điệp không nhận ra từ xa. Áo quần, sổ tay, đồ linh tinh gói vào phạ-phe thật dẹt, buộc sát lưng dưới vạt áo lai bầu, súng ngắn gài trước bụng có vạt trước phủ. Pheng còn xin cho anh một mũ phớt tã màu nâu đội đỡ ướt đầu, dặn anh đi hơi cúi xuống như người quanh năm bước trên đá ong và gai gốc. Thế là sạch nước cản. Đi lẻ với Pheng khoái thật. Anh cán bộ xấp xỉ tứ tuần này sinh ra, lớn lên, đi tu tới chức a-chan đều trong mấy làng ven sông này, mãi về sau lấy vợ mới đến ở rể làng đảo Đon Khảm. Chỗ khác người của anh là rất thích xông xáo. Hồi ra chùa anh không vội cưới vợ tuy được nhiều cô để ý từ khi còn mặc áo vàng, tóc và lông mày cạo nhẵn, ngồi tụng kinh trên bục cao. Anh ham câu giống pa bức lớn nhất sông Nặm Khoỏng, hệt con cá nheo râu dài nhưng nặng đến ba bốn tạ tây, sáu đến tám người khiêng lặc lè. Nhà anh lúc nào cũng sẵn mấy vại trứng cá pa bức muối chua tuyệt ngon, biếu nhiều hơn bán. Lần khác anh nhập vào một nhóm dùng voi nhà bắt voi rừng bằng thòng lọng, túng kế thì bắt bằng hố bẫy cũng được, đem về dạy mãi cho khôn rồi đánh đi bán tận Trung Lào hay Thượng Lào, mua luôn thuyền và hàng xuôi về. Rồi cao hứng luồn vào rừng thẳm đãi vàng dọc các suối không vết chân người. Rồi rủ bạn đi đâm sấu, câu sấu, một lần bị con lớn quật đuôi gãy xương sườn. Rồi thuê voi khỏe đi mua hàng lậu bên Thái Lan, lọt được vài chuyến, sau đó lính Thái chặn bắn chết mất voi, băng rừng về còn phải trả nợ vay mua hàng và đền tiền chủ voi. Đi lính khố đỏ cho Pháp hơn một năm, nhờ lanh lợi và gan góc nên được lon đội, bị đưa lên núi đánh người La-ven mới vất súng về nhà, bọn chỉ huy không tư giấy bắt mà giữ tên trong sổ để lãnh lương anh bỏ túi... Cứ thế mãi đến khi về ở rể nhà chị Lả, đẻ liên tiếp ba đứa con mới hơi nguội bớt cái máu giang hồ, vừa gặp lúc các bạn cũ đến rủ đi cứu nước. Chanh mến anh cán bộ Lào có những nét giống cha mình, tất nhiên giống về tính nết chứ thân hình khác xa: Pheng cao gầy, đen sạm, cắt tóc như bàn chải, xăm chàm chi chít từ giữa đùi đến dưới đầu gối “cho cá sấu khỏi đớp”. Anh đeo trên cổ một túi bùa theo anh là rất thiêng, mỗi khi đi ngoài anh phải cởi bùa treo lên cành cây cho khỏi uế tạp, lỡ bỏ quên thì đi xa mấy cũng quay lại lấy bằng được. ----------------------------------------------------------- 1. Phạ-xà-lùng: quần một ống của đàn ông Lào Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 03:46:42 pm Chỉ qua mấy ngày đi chung, Pheng cũng thấy thích đồng chí Chăn-thi. Anh nói bộc tuệch:
- Bộ đội Việt được như anh hết cả, tôi mừng lắm, dân yêu lắm đấy Chăn-thi ơi ! - Tôi có gì mà... - Có, có nhiều. Anh thật bụng, chẳng phải bên ngoài trơn như trứng gà, bên trong như quả cà ngái, số bà con cơ sở khen anh gần dân, hỏi thăm dân chứ không lấy chân voi mà dẫm mỏ chim. Có điều tôi ưa nhất là anh không phải người Lào mà yêu nước Lào, quý lắm. - Sao anh biết được ? - Hoại ! Thấy anh đi rẫy trước quạ, đi ruộng trước gà, chăm chỉ học từng tí ăn nói gói mở, tôi biết anh gắn bó với It-xa-la chúng tôi, với đồng bào tôi. Người đến ở tạm bợ đâu có làm thế ! Chanh cười xòa, lảng qua chuyện khác. ... Rời khỏi chỗ họp It-xa-la, Chanh lững thững đi xuôi khúc mương xói đã biến thành suối cụt trong mùa mưa, có hai chiếc thuyền độc mộc buộc giấu dưới lá rậm đợi chủ. Bờ sông Nậm Khoỏng hầu hết có bực cao, bên lở cũng như bên bồi. Anh níu tay leo ngược dốc, len lách đến mép bực, ngồi lẫn vào bóng một bụi vầu uốn cong ngọn, thấy đất trời mở rộng thênh thang trước mắt. Nắng chiều đổ bóng những cây chót vót của rừng già sau lưng và chung quanh anh xuống tít dưới xa kia, in trên bãi dẹt thuộc làng Phôn Khảo nằm khuất mé tay phải. Làng đang ung dung thu dọn bước vào đêm. Bầy trâu dăm chục con ăn rong đã uống nước xong, thong thả đi tới chân dốc, hiện thành những quả sim chín mọng xếp chuỗi trên nền đỏ bầm, gió sông đưa đến tùng lúc tiếng mõ đeo cổ trâu vẳng lốc cốc. Chúng dạt ra nhường chỗ cho một nhóm voi nhà xuống uống và tắm. Dễ nhận ra bác voi cao tuổi gia trưởng với cặp ngà to đã cưa cụt hết và bịt đồng cho khỏi nứt, dù thân gầy da nhăn vẫn đếm bước bệ vệ, kéo sợi xích chân chỉ còn sót một khúc ngắn như mẩu dây chuyền làm dáng. Chàng voi đực to lớn và béo căng kia chắc đang tuổi nghịch phá, phải cõng ông chủ lăm lăm búa trên gáy và lôi sợi xích dài nặng bằng cổ tay. Bà voi mẹ luôn luôn bận rộn vì con, hết bị nó bám quấy lại phải trông chừng khi nó chạy xa. Vui nhất là chú voi nhóc con mới bằng cô trâu mộng không lúc nào chịu đứng yên, vừa chạy loăng quăng đây lại húc đầu vào tìm vú mẹ. Bị mẹ mắng qua tiếng rống ngắn bực dọc, chú lờ, khi bị một phát vòi quất vào mông chú mới nhảy dạt ra, chịu lội xuống nước. Thêm mội lần đét đít nữa chú mới ngập ngừng dựng vòi dìm mình, để yên cho mẹ phun nước từng luồng trắng xóa xuống lưng và đầu. Sông Nặm Khoỏng quanh năm chở nặng phù sa, trong mùa mưa này càng sẫm màu hơn. Nắng chiều từ rặng núi biên giới Thái Lan đổ đến phủ trên sông một lớp đồng đỏ lóng lánh, khi gió quét mạnh lại hiện thêm vết búa dát kín trên đồng. Sát bờ, những dải bọt trắng vàng men theo dòng nước ngược trôi lên hướng bắc. Nhích ra một quãng là vùng nước xoáy. Khác với xoáy nước sâu hoắm quay tít của sông suối trên núi, Sông Mẹ khổng lồ chảy chậm được viền bằng những chuỗi xoáy rất rộng và nông, những lúm đồng tiền trên làn da rám nắng, vừa sức vượt của con thuyền độc mộc một mái chèo bơi. Trên sông đang rộ lên đợt thuyền về bến, nhưng giữa trời nước mênh mông thuyền chỉ là những vệt con con báo rằng sông này không hoang vắng. Mấy xuồng đánh cá gần bờ, vãi và kéo xong lượt chài cuối ngày, đang giũ lưới tém gọn. Chiếc xuồng câu kia lại khác, kiếm ăn lúc chạng vạng với một chuỗi dài những quả dừa khô nổi cách quãng dùng làm phao, dây câu buông sâu bên dưới, xuồng thả trôi đợi phao nhảy và chìm mới quạt chèo đến gỡ cá. Những con đò dọc lớn phủ mui, độc mộc cỡ đại hoặc ghép bằng ván xẻ, lắp bánh lái và mái chèo dài, sau một ngày chở hàng xuôi chính giữa dòng đang bẻ lái rẽ chéo vào bến quen nào đó nghỉ đêm, tìm lửa ấm và tình người. Không thoáng bóng một bè tre gỗ nào, người dân quê làm nhà chỉ cần vác rìu ra khỏi rìa làng. Trái khoáy ở đây là chiếc ca-nô máy của lính tuần sông, trước mũi hai lá cờ Pháp và Vương quốc, thỉnh thoảng bắn lên trời một loạt súng máy thị oai khiến lũ quạ giật mình bốc lên khỏi các tán cây ven bờ, đảo vòng kêu quàng quạc. Tổ It-xa-la làng Don Khảm ra về khi sương mù bắt đầu dâng từ mặt nước ngả sắc nâu non. Làng họ cách chỗ Chanh độ nửa cây số, cồn đất dài giữa sông ấy được viền bằng một bãi ngô khoai đã thu hẹp lại trong mùa nước nổi, với những thuyền độc mộc hai đầu đẽo dẹt hình đuôi cá nằm ngang được kéo nửa thân lên bờ, với những giàn tre phơi lưới xa mép nước hơn. Trên gò cao, nhô lên đột ngột như khu rừng cấm giữa cỏ tranh, những hàng dừa và cau vươn lên ngất nghểu, quét chổi lá trên mây trời. Thấp thoáng bên dưới là những nhà sàn vách gỗ ngói gỗ đã sạm đen hay còn tươi màu, bốc khói thưa thớt vì chủ ra ở trại ruộng phần lớn. Bến làng lúc này gần vắng hẳn, chỉ còn mươi trẻ em chạy đuổi nhau trên một quãng, bãi mới bị nước phủ, trông xa tưởng chúng nhảy nhót trên mặt nước như những thiên thần sắp biến hắn vào màn khói hương trầm. Vượt sông vào giờ này cũng tốt, trên bờ tây địch còn sơ khoáng, chúng giảm gác tuần và phục kích từ khi biết rõ các đại đội Lào - Việt đã rút hết sang bờ Đông. Thế nhưng chủ lực địch đang càn lớn vào huyện Phia-phay bên kia, cho quân biệt kích Xửa pà (Cọp rừng) và quân địa phương Koong pạp (Đội tiêu diệt) lùng lội nhiều ven đường 13, còn thêm gián điệp rình mò. Chanh và Pheng sẽ được tổ Đon Khảm đưa sang sông khoảng nửa đêm và giao cho một tổ It-xa-la khác dẫn băng ngang đường 13, đến gặp một đội trinh sát bám đường. Chanh nán lại mấy phút, nhìn theo hai chiếc xuồng ra khỏi khúc suối cụt đang nương dòng nước ngược chèo lên một quãng trước khi băng ngang sông. Lưng áo hồng của cô Xúc Chay chìm vào sương, nhưng đôi mắt của Thùy cứ chập chờn ẩn hiện. Chanh tự nhắc mình quay lại chỗ Pheng đang đợi, nhưng cứ ngồi thêm để gửi nỗi nhớ da diết qua hết chiều rộng của Đông Dương đến căn nhà tranh nhỏ nằm nép trên bờ sông Linh, đến người vợ rất hiền lành đang nuôi trong bụng đứa con thứ hai của anh, ở nơi có voi rống cọp gầm và máy bay gào thét tìm giết hai mẹ con. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 03:53:09 pm Chương XI Một con gà nào đó đập cánh vào tay Thùy vài lần. Thùy lơ mơ tỉnh dần, bị nó mổ tiếp vào vai. Tiếng gọi thì thào sát tai đánh thức chị hẳn: - Dậy, dậy chị Hai. Đừng nói, đừng động mạnh ! Thùy chớp chớp mắt, xoay nghiêng mặt, thấy Năm Bưởi rướn đầu sang chỗ mình, bấm một ngón tay vào vai mình: - Thiệt em nghen chị. Em bồng thằng Chung qua nhà hội, chị cũng qua đó luôn. Đừng mang guốc. Hai chị em nằm chung trên giường tre rộng, đứa bé đặt giữa. Bưởi luồn tay xốc nó, rón rén bước tới cửa, dùng vai nâng cây tre gài tấm cửa chống, lách ra ngoài.Thùy nhẹ chân bước theo, tim đập dồn, chẳng hiểu gì cả. Gà đã gáy nhì, nhưng ánh sáng dưới mưa rả rích chỉ hơi rạng đùng đục. Đi thẳng đến đầu xa nhất của Câu lạc bộ Thanh niên, Bưởi mới đặt con xuống tấm sạp, nó vẫn ngáy phì phò. Thùy ấn bàn tay lên chỗ đứa con hơn tám tháng vừa đạp trong bụng, giương mắt thay câu hỏi. Bưởi nói tỉnh khô: - Có con trăn to lắm rúc vô ngủ dưới giường mình... - Úi trời ? - Đuổi nó cũng được, mà em tiếc. Thịt trăn ngon lắm chị, ăn nên thuốc, xương da dùng được hết. - Em... em tính bắn à ? - Bắn trúng chỗ mềm, nó chạy mất uổng. Đâm thôi. Chị ngồi trên sạp giữ thằng nhỏ hỉ, để em hạ nó. Thùy hoảng hồn. Biết Bưởi nổi tiếng gan lì, nhưng người ta bảo con trăn quấn chết được cả trâu bò kia mà. Chị níu tay Bưởi, hổn hển: - Đừng liều, Năm. Hay là chạy qua lò rèn nhờ chú Tư, thằng Bảy xúm trị nó... - Sáng ra nó trốn biến còn đâu. Chị đừng chạy, đùng kêu, coi chừng động thai nghen ! Bưởi vẫn hai lay không, quay lại chỗ cửa chống và lách gọn vào nhà. Chỗ đầu giường có khẩu súng kỵ binh Nhật và một cây giáo, kiểu giáo lưỡi rộng bản lắp cán cau rừng do ông Tư rèn hồi Tổng khởi nghĩa. Bưởi sắp đánh vật với trăn trong căn nhà đóng kín cửa ấy, còn Thùy chỉ ngồi tít đằng xa này với cái bụng chửa vượt mặt. Chị nín thở ngóng từng tiếng động nhỏ, vừa sợ vừa xấu hổ cho mình. Huỵch ! Ùng ! Rắc rắc rắc ! Uỳnh ! Sạt ! Xoàng ! Thùy đè tay lên ngực, kêu rít trong cổ. Thằng Chung cựa mạnh, kêu mẹ, mắt còn nhắm. Chị cúi ôm nó vào tay, dỗ nó mà cũng lấy hơi người cho mình đỡ khiếp. Những tiếng trâu điên húc nhau dường như kéo dài hàng năm, rốt cuộc cũng dịu dần, tắt hẳn. Bưởi chống cao tấm cửa lên, đánh bật lùa châm đèn, mở thêm cửa sổ, kêu to qua hơi thở còn phì phò: - Xong rồi chị Hai, vô coi ! Con này dai sức gớm ! Lưỡi giáo ngắm kỹ từ trên đâm xuống đã xuyên ngang thân con trăn, xắn gãy xương sống và đóng đinh nó xuống nền đất nện. Hai nửa thân nó vẫn quật rất dữ, hất cái giường tre tung lên đập xuống trong khi Bưởi đu cả người lên cán giáo như người cắm cắm sào trên đất bãi cứng. Mãi khi nó vùng quẫy đã yếu, Bưởi mới vọt tới góc nhà vớ cây mác bén, rình chặt được cái đầu đang rướn cao, há toang hoác. Nó chỉ hất đổ tấm phên chắn đầu giường, làm vỡ một cái âu đất nung và đứt sợi mây treo áo quần, chưa động tới cái máy may bên cửa sổ. Hú vía ! Thằng Chung thấy con trăn đầy máu, khóc thét lên, nhào tới ôm mẹ. Bưởi nắm hai vai nó, xoay cho nó nhìn vào con vật dữ lúc này còn giật và cựa nhẹ: - Sợ gì hả con. Ngó cho quen mắt đi, tập cho dạn đi ! Bưởi cầm bàn tay nhỏ xíu đập đập trên khúc thân xám mốc to bằng cây chuối. Đứa trẻ bớt sợ, chỉ sau mấy phút đã lấy chân hẩy, đạp, xéo cái xác ngoằn ngoèo, cười rinh rích. Kéo được con trăn sang nhà Câu lạc hộ và thu dọn xong bãi chiến trường vung vãi máu thì trời đã sáng rõ. Mưa giảm đi một lát, lại xối rào rào. Bưởi thay cái áo cọ vào vách lấm đất và dính máu văng lốm đốm, bảo Thùy: - Bây giờ mới cần người phụ, chị ơi. Lột da xẻ thịt mất công lắm. Để em qua lò rèn kêu người, với lại trút luôn mấy cái đó. Chị nấu cơm nhiều nhiều nghen... mà thôi, làm một nồi cháo thiệt to, lát em xẻo trước một khúc trăn xắt bỏ vô, ai tới thì ăn. Bưởi xách cái giỏ to, choàng tơi lá, thoăn thoắt ra đi dưới mưa. Thùy nhìn theo cô em chồng, thương quá mà chẳng biết nói sao. Bé Chung quen tính mẹ, không bao giờ đòi đi theo, chỉ lũn cũn theo túm áo “mẹ xùi” kêu đói. Thùy lấy nửa chén khoai chà, cạo đường đen vào trộn lẫn, đưa cái thìa đu-ra nhỏ anh Chanh làm riêng cho cháu. Nó ngoan ngoãn xúc ăn, bi bô hỏi mãi về con trăn trong khi Thùy nhóm bếp. Nhà Thùy không còn điện nữa. Ban quản trị Quỹ tổng động viên đến đong mang đi một nửa số thóc, chỉ có mười ba ang tất cả, thu sáu ang rưỡi đúng. Ba Mít tức Hùng Minh nói tình cám khá dài, cho chị được tự chọn, nộp máy may hay máy phát điện cùng tất cả dây bóng tùy ý. Tất nhiên chị giữ lại cái máy may. Mới tháo dỡ thôi mà mấy cậu thanh niên đã làm vỡ luôn hai bóng điện, kêu ầm là giòn như bánh tráng. Hiện nay máy điện đang bị bỏ xó trong một kho tạm ẩm ướt, dây điện thì vợ Ba Mít đem buộc phơi áo quần tuy dây mây vùng này rất sẵn. Năm Bưởi sửng cồ lên khi Hùng Minh đòi thu cây súng Nhật: - Tỉnh thưởng súng cho tôi viết giấy đàng hoàng, anh coi một lần rồi chớ ! Ai cả gan đụng tới thử, tôi thách đó ! Phó chủ tịch Hùng Minh mở đầu một bài diễn thuyết dài. Năm Bưởi thắt nịt đạn, đeo súng, giao con cho chị Thùy và bỏ đi thẳng. Mấy cậu thanh niên theo Hùng Minh cũng lảng. Thùy xin lỗi và đạp máy may sửa tiếp mấy bộ quân phục của anh em xưởng Cao Thắng gửi. Hùng Minh chào vớt một tiếng, biến luôn. Từ đó câu lạc bộ Thanh niên vắng dần. Vì thiếu ánh điện hấp dẫn, cũng vì mọi nhà đều lấn bấn với Quỹ tổng động viên và Nông đoàn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 03:56:29 pm ... Cái nồi năm bằng đồng đúc đã bị thu vào quỹ, Thùy nấu ba lon gạo cháo trong thùng tôn gò, quà tặng của anh em xưởng Cao Thắng, đợi lửa cháy to ngọn, chị xoay sang xắt chuối cây cho cặp heo trong chuồng, một con đã ghi sổ nộp quỹ cùng với năm con gà, chưa biết hôm nào Ban quản trị sẽ cho người bắt. Thùy ấn từng nhát dao nặng nhọc, thỉnh thoảng đưa tay đỡ chỗ bàn chân con đạp mạnh trong bụng hay nắn nắn bàn chân xuống máu tê dại. Chị không biết mình sẽ xoay sở ra sao nếu thiếu Năm Bưởi ở chung, thiếu ông Tư Chua, thằng em Bảy Bòng, bà con xóm Mới hàng ngày đảo qua tạt lại trông chừng, cả anh em quân giới và du kích Linh Lâm đến chơi. Ai cũng vậy, miệng hỏi thăm mà tay cứ táy máy làm giúp một việc gì cho người bụng mang dạ chửa, lại là vợ anh Cả Chanh đi đánh giặc rất xa.
Mưa kéo dài đã hơn một tháng, nghe bảo còn tiếp đến cuối tháng Mười âm mới ngớt. Chẳng hiểu ông trời chứa nước ở đâu mà tưới xuống liên miên quá thể. Những đỉnh núi phía tây mới dạo nào chỉ đội mũ mây trắng trên chỏm, chuyển sang choàng khăn xam xám quanh cổ, nay khuất hẳn bên trên tầng mây sũng nước đè trĩu xuống sát đất. Lớn lên ở cửa biển Quy Nhơn, Thùy đã quen với tiếng ầm ào vỗ đập của biển động dưới mưa, rất khác với tiếng rì rào êm ả của mưa rơi trên làng quê đồng bằng. Nay Thùy mới lần đầu sống trong mùa mưa núi, chị không ngờ nó hung tợn đến vậy. Con sông Linh trong vắt chảy róc rách trên cuội dẹt và trơn bóng bây giờ phình lênh thành thác bùn nâu đỏ, gầm rống suốt ngày đêm không ngớt, từng lúc phát những tiếng nổ như mìn ném cá. Cây to trốc gốc lao xuống thông thốc, vấp ghềnh đá nẩy bật lên hoặc xoay tròn vài vòng, phóng tiếp. Mấy chỗ hốc núi hõm sâu vào, trong tháng hạn nằm rất cao bên trên dòng nước, nay hiện thành những vịnh đầy hố nước xoáy, lôi củi rều và bọt bùn dìm xuống đáy một lát lại hất ngược trở lên. Tất cả thuyền đò ở vạn Linh Lâm đều chống vào đậu chỗ cửa khe Cốt lúc này tòa rộng ra nhưng lặng nước hơn sông Linh, buộc dây dài vào một gốc cây nào thật chắc và mọc xa trên bờ, phòng lũ đổ xuống đột ngột đêm khuya. Đường thủy tạm ngừng, nhưng bộ đội, dân công, người buôn gánh hay xe đạp thồ vẫn lên xuống đều theo đường tỉnh 56. Bước vào mùa lũ lụt, Thùy bối rối bao nhiêu thì Năm Bưởi và Bảy Bòng thoải mái bấy nhiêu. Gạo củi mắm muối đã trữ sẵn - nộp quỹ xong phải nấu giảm gạo, nhưng sắn trên rẫy đã to củ, ghế được - hai chị em chia nhau kiếm cá thịt. Khe Cốt lắm bùn, các loại cá tràu, rô, trê đón mưa đầu mùa ngoi lên ào ào, dòng nước to nhỏ nào cũng sẵn cá trườn rạch đến trầy vi rách đuôi, chui thẳng vào miệng đó đơm xuôi. Với mươi cái đó và lờ, có hôm Bưởi trút đến nửa tạ cá, ăn và biếu xong còn sấy để dành. Ngớt đợt cá vảy đen ngược đẻ, chị em làm đăng chặn ngang suối ở nơi chảy êm, cắm câu từng chuỗi vài ba chục cần nối vào nhau ven các bờ xoáy đục. Bảy Bòng chắn cá, lùng bắt rắn. Rắn chạy lụt rời hang hốc dưới thấp, bò lên rẫy lên gò, đôi khi chui bừa vào chuồng heo gà. Chỉ với cái chũi bốn răng sắt lắp đầu sào và mớ dây thòng lọng. Bòng xách rắn về treo sống trên sợi mây phơi áo có khi đến bốn năm con, đợi cha đến cắt lấy huyết pha rượu thuốc trước khi nấu nướng. Ông thích nhất các thứ cực độc như mai gầm, cạp nong, hổ lửa, hổ mang, hổ mây. Rắn càng độc, huyết và thịt càng bổ. Thú rừng bị nước phủ các bãi quen ăn, liều lĩnh mò vào rẫy, trúng bẫy kẹp liên tiếp mấy con nai, mang. Rồi chúng khôn ra, nhảy và chui qua rào, luồn lách tránh bẫy và chông ngày càng thạo. Năm Bưởi giữ rẫy ngủ quên trên chòi cao, để heo rừng bầy vào ủi sắn hai đêm, hại nhiều, cô tức quá, lấy mủ mít dán hai con đom đóm vào khe ngắm và đầu ruồi cây súng Nhật, mang tơi đội nón tùm hụp, cố rình mãi, mặc cho muỗi đốt và vắt cắn, rót cuộc bắn được một heo đực to, đổi thịt được khá nhiều thóc. Về ở nhà chồng, Thùy thấy mình quá vụng dại đối với đời sống vùng núi. Anh Chanh mới đầu cũng lóng ngóng, nhưng anh học theo mọi người rất nhanh, việc gì xem qua vài lần đều làm được. Thùy bận may vá kiếm sống, lo cơm nước, lại phải nương nhẹ giữ thai, bắt chước sao cho nổi. Mỗi lần Thùy ngượng ngùng than thở, Năm Bưởi lại gạt phắt: - Em học may được nhu chị còn mọt xương. Ai cũng khen chị siêng, chịu khó, tánh nết thiệt là hiền lành, không như chị Ba Song vừa tham vừa nhác, cũng không gai ngạnh cùng mình như con Bưởi này. Chị biết đó, họ nói giống bưởi có gai từng chỗ thôi, còn em thì lởm chởm dễ sợ, kêu là Năm Nhím cũng phải ! Thùy cười rũ. Chẳng biết cậu nào độc miệng gán cho Bưởi cái tên ấy mà cả xã đều biết. Hôm nọ mấy anh bộ đội đến bàn việc với nữ du kích, thật thà hỏi Thùy nhà chị Năm Nhím ở đâu. Cha mẹ đặt tên móc nôi xấu xí cho dễ nuôi, lớn lên các cô mới đổi tên đẹp, cũng có người giữ nguyên. Hồi Bưởi mới vào Quảng Ngãi với cây súng Nhật và cái thai trong bụng, Thùy rất gờm cô em chồng băm bổ ngổ ngáo này. Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng, là đi một đằng. Tính nết của Bưởi lại ngược hẳn với Thùy, ngược từng li từng tí, ở chung với nhau, e rằng như dùi với mõ. Nhưng tính Thùy xưa nay vẫn quen tìm chỗ hay chỗ tốt của người khác và nín nhịn khi trái ý, nên lần hồi Năm Bưởi mến chị dâu và mát nết đi. Lại thêm anh Cả Chanh góp sức vào với cái oai của anh trưởng nam và ông thầy cách mạng nữa, khiến Bưởi ngay trong những cơn ghét đời và chán sống nhất cũng không dám trở chứng quá quắt. Đến khi anh chị cùng thu xếp vụ “cưới giả” tạm ổn, về Linh Lâm giữ Bưởi ở chung và săn sóc Bưởi suốt kỳ sinh nở, thì Bưởi biết mình sẽ gắn với anh chị suốt đời. Vẫn sừng sỏ với người ngoài đấy, nhung với chị Thùy lại rất nhũn, ai thấy cũng ngạc nhiên. Trong gia đình ông Tư Chua mấy năm qua có những biến đổi thầm lặng. Anh Tư Quýt lấy chị Ba Song ở xóm Vạn, con một ông chủ đò dọc hạng khá giả. Trước ông này do dự không muốn gả con vào nhà thợ rèn ít của hơn, lại dây dính với cộng sản. Về sau thay bực đổi ngôi, ông Tư làm chủ tịch, lò rèn kiếm được khá tiền, trong khi nghề đò dọc bị ế ẩm và quán tạp hóa của chị Ba Song thu lãi cò con không đủ đút miệng, ông mới đánh tiếng chịu gả. Chị Ba trắng da, mập gói 1, tóc dài chấm gót, răng đen nhức, nói năng khôn khéo ít ai hằng. Chị đẻ ba năm đôi, được hai con trai cả, uy thế trong nhà vọt lên hẳn. Và chị bắt đầu làm những việc đã tính toán kỹ khi mới về nhà chồng. Từ lâu Tư Quýt cho mình là người nuôi cả nhà mà bị coi rẻ, nhưng chỉ từng lúc phàn nàn chua chát thôi. Chị Ba tỉ tê nói lợi hại nhiều đêm, Tư Quýt xiêu lòng, bàn với cha mẹ chia bếp riêng, về sau làm hẳn một nhà riêng ở cuối vườn. Để yên yên ít lâu, rồi chị Ba bàn với chồng đòi chia lò rèn, chia ruộng. Bộ đồ rèn của ông Tư Chua được góp nhặt rất nhiều năm, có nhiều dụng cụ quý ông kiếm về hoặc tự làm ra, anh em quân giới Cao Thắng lắm lúc phải đến rèn nhờ. Tư Quýt tưởng dễ, một tối đem ra nói đúng lời vợ khuyên. Ông Chua trừng mắt, nói như dao chém đá: - Hồi nào hấp hối, tao mới chia gia tài. Hễ tao chết không kịp trối thì mẹ mày với anh Cả mày đứng ra chia, sao cho đều bảy phần. Mẹ một phần, sáu đứa con sáu phần. Hay mày muốn lấy bây giờ thì cứ xẻ ra làm bảy, tao cho. Sao ? Tư Quýt biết hớ, rụt lại ngay. Cả nhà lạnh đi nhiều đối với vợ chồng Tư Quýt. Cha và con vẫn thay nhau ngồi lò như cũ, nhưng chị Ba đi đòi tiền riêng những thứ chồng mình rèn, lại tính giá đắt. Dân làng từ đó chỉ chọn ngày ông Chua ngồi lò để kéo đến thuê rèn, tự ý trả thóc và tiền ngang giá chị Ba. Họ vẫn thích ông Chua tài hoa và dễ dãi, làm hàng bền đẹp. Khi vợ chồng Cả Chanh cùng Năm Bưởi về ở Linh Lâm, gia đình ông Chua vui hẳn lên, còn vợ chồng Tư Quýt hoảng hốt thật sự. Ông anh cả “quyền huynh thế phụ” sẽ chiếm hết, chiếm sạch ! Mà nếu ông ấy ăn lương thượng cấp, không cần đồ rèn hay ruộng đất gì, thì vốn tính ngang bằng sổ ngay ông ấy sẽ chia “bằng đẳng” nhu đã nói nhiều lần, coi con trai cũng như con gái, đẻ trước ngang với đẻ sau, Tư Quýt chẳng hơn gì con Út Thanh Yên mới lên bảy, đêm còn đái dầm ! Cơn sợ hãi ấy giảm dần khi Cả Chanh được xã tạm cấp khoảnh đất của lão Xâm Tô đã chạy theo thuốc phiện về Hội An, các đoàn thể xúm lại giúp làm nhà, trồng vườn, trỉa rẫy. Chanh không tranh giành, còn dỗ Tu Quýt học nghề cho giỏi để thay cha. Ông Chua nghe khuyên chỉ cười khẩy, về sau nói với Chanh: - Nó ngồi chủ lò thì cha mẹ với em út lo sắm bị gậy, đi ăn mày lẹ lẹ ! Rất nhanh, căn nhà nhỏ của Chanh và Thùy thu hút cả nhà ông Chua, từ khi có điện và dựng hội trường thì cả thôn đến. Người ta kéo tới họp, đưa đồ may vá, nghe anh Cả giảng chính trị hay dạy văn hóa, nghe đọc báo và bản tin chép theo đài của anh em Cao Thắng. Ông Chua muốn qua ở hẳn với con trưởng, cân nhắc mãi lại thôi: Chanh sắp đi xa, ông ở với nàng dâu vắng chồng dễ bị miệng tiếng thế gian. Bà Tư chán chị Ba Song, nhưng còn phải trông hai cháu nội và lo nhà cửa. Chỉ có thằng em Bảy Bòng vui đâu chầu đấy, ngày thả trâu và kiếm thúc ăn, đêm nào không coi rẫy hay ngủ với du kích thì lại về chỗ chị Thùy, người chị dâu mà nó thấy hiền và đẹp nhất làng, lại rất cần được nó che chở. Về cái khoản nhan sắc thì Thùy sút đi nhiều vì mang thai nhưng các cụ dè dặt nhất cũng nhận là “coi được người lắm” và tiếp liền là lời khen chị tốt nết. Xắt chuối cây nửa chừng, Thùy đổi ý, hốt chuối đem trút vào máng heo cho chúng nhai tạm đỡ phá chuồng, đội nón ra vườn hái thật nhiều rau thơm. Chị ngồi xổm chứ không cúi được, nhích cặp chân xuống máu tê dại dọc luống rau mà ngắt ngọn. Chợt có tiếng quát to phía cửa nhà hội: - Tránh ra ! Tránh ! Con trăn bò giữa nhà kia ! Tiếng lên đạn lách cách tiếp liền. Thùy vội quay mặt lại, gọi dồn: - Đừng bắn ! Trăn chết rồi, chếếết rồồồi ! Thoáng bóng mấy anh bộ đội đứng trước cửa, một anh chĩa súng ngắn lăm lăm. Thùy đi vội sang nhà hội, đứng sững: - Anh Năm Chò ! Ôi chao, trông anh miết... Ai nữa kia ? trời đất, ba, ba với thằng Khiêm ! Thùy rủn hai đầu gối, ngồi ghé xuống đầu chiếc ghế dài ghép bằng tre, bật khóc hu hu hình như lâu lắm. Chị nghe loáng thoáng những lời dỗ dành, thăm hỏi, khi hoàn hồn lau mắt thì nhà hội đã đông người, hai ông bạn cũ Tư Chua và Hai Rề đang vỗ lưng nhau bôm bốp, cười vang nhà. Bên lò rèn kéo sang tất cả, chỉ thiếu vợ chồng Tư Quýt. Đông tay hơn hay làm, ai cũng gạt Thùy ra để chuyện trò với cha và em cho thỏa. Khác thường nhất chỉ có anh chàng Năm Chò, vẫn vuông vức và đen như cái tủ gỗ mun, không già đi chút nào so với lần gặp ở Quảng Ngãi hai năm trước, nhưng cái dáng rụt rè khép nép kia thì chưa từng thấy. Anh rút dao găm góp tay xẻ thịt con trăn, nghe Thùy kể đi kể lại chiến công của Năm Bưởi không bỏ sót một tiếng, mà cũng ngậm miệng không thốt ra một tiếng, chỉ nhiều lần đưa mắt nhìn ra cửa. Năm Bưởi về, cái giỏ đầy ngoắc vào bắp tay, còn lót tơi lá vác trên vai một cái đó nặng, nói trước cửa: - Ai lấy giùm cái rổ sảo ra trút cá, nhiều quá, đựng giỏ không hết ! Mau chút, để đặt lại cái đó, cá đang lên ! Nghe cha gọi, Bưởi vào chào bác sui với em Khiêm lúc này đã nhập ngũ. Nhác thấy Năm Chò, Bưởi vụt đỏ mặt, chỉ lúng búng một tiếng không rõ và quay đi. Trút xong cá, Bưởi gọi Bảy Bòng giục mang đó đi đơm, ra sau nhà rửa vội dưới vòi nước máng, tót vào buồng, trở ra với bộ quần áo đẹp nhất, khẽ phân trần với Thùy: - Đồ mới thay, bị cá nhỏ nước tanh rình... Ngớt mưa rồi, em xuống khe làm cá đây chị, chắc phải sấy thôi. Lát sau, Năm Chò rời chỗ hai cái nong đầy thịt trăn, lặng lẽ đi xuống khe Cốt. Thùy đang đun bếp, ngó theo mỉm cười một mình. Đám này coi bộ nên chuyện. Năm Chò đã gửi cho vợ chồng Thùy một lá thư dài đầy lỗi chính tả nhưng hết sức thật thà, vạch tội mình khi cầm súng cho đế quốc sài lang, kể những cố gắng sửa mình gần đây, kết thúc bằng lời tỏ tình với Năm Bưởi, nhờ anh chị nói lại giùm sao cho khéo. Anh Chanh đưa luôn thư cho Bưởi đọc. Bưởi mượn nó giữ vài ngày, khi trả vẫn lạnh như tiền. Mãi mươi hôm sau Bưởi mới nói riêng với Thùy: - Phận em là đứa sút cay gãy cán, báu tốt gì mà làm cao hả chị. Có điều em sợ tới mai hậu ảnh biết hết sự thiệt, ảnh khinh em là đứa học lừa, rồi cũng tan rã thôi chị ơi... Gác đó đã, tới khi gặp ảnh sẽ hay. Chanh viết thư báo lại Năm Chò nên gặp Bưởi, ý cũng muốn Chò trông thấy bé Chung, đứa trẻ rất xinh mà người mắt kém nhất cũng nhận ra là con Hai Khánh. Nói thật hay không tùy Bưởi. Quen tính khí cô em, Chanh và Thùy đều đoán là Bưởi sẽ nói thật trăm phần trăm. Hai ông thông gia đang chuyện trò giòn tan trên sạp, nhấm nháp rượu thuốc với đĩa thịt trăn xào rất nhiều nghệ và rau thơm. Hai dáng người trái nhau, ai nhìn kỹ sẽ thấy ông Hai Rề quen ngửa ngửa đầu và ông Tư Chua lại hay cúi cúi như luôn coi chừng tấm sắt trên đe. ---------------------------------------------------------- 1. Béo lẳn Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 04:00:19 pm * * * Anh Ba Mậu cưỡi con Hường của cụ tú Đỉnh, cậu tiểu đội phó cảnh vệ cưỡi con ngựa loét lưng chưa lành hẳn không đặt yên được, cùng về huyện họp, gặp ngay một cảnh rối tinh. Địch tung quân càn lớn từ quốc lộ 1 thốc lên Thăng Bình, Quế Sơn, đồng bào gồng gánh chạy dạt lên Tây Quảng cả chục ngàn. Một đơn vị huấn luyện hơn ba trăm tân binh cũng chuyển về Tây Quảng. Các kho thóc trong huyện cạn sạch, gạo nuôi quân mới nộp được một nửa mức trên giao, Ban cung cấp của trung đoàn 108 hằng ngày đến thúc nợ. Giữa lúc túng quẫn ấy, gián điệp lại dò ra và báo cho địch ném bom trúng y cơ quan huyện đóng trong một làng khuất vắng. Chủ tịch huyện bị thương nặng, có thể phải cưa chân. Huyện đội phó cùng ba cán bộ nữa chết cùng chỗ, bom rơi đúng hầm. Bí thư huyện ủy đang sốt rét, ngồi trùm chân dựa phên nghe báo cáo và giao việc. Huyện đội trưởng đưa đại đội địa phương huyện đi phối họp chống càn vùng Đông huyện Quế Sơn, không về được. Anh bí thư cắt ngang bản báo cáo quá dài của Ba Mậu bằng giọng lễ phép đối với người hơn mình cả tuổi đời và tuổi Đảng. - Dạ. vậy rõ rồi... Thắc mắc nhứt định là nhiều. Ác cái, bộ đội năm nay đông quá thể mà gạo hốt trơn. Giấy bạc tín phiếu in ra tới đâu mất giá tới đó, dân để lúa đổi hàng chớ không chịu bán. Trên tính sang năm sẽ đặt thuế nông nghiệp, thu bằng lúa tiện hơn... Thôi nhờ anh làm gọn cho cái thí điểm Linh Giang, cốt sao dân đừng than oán, thu được chừng vài chục tấn lúa với một số heo thịt cho bộ đội ăn đã. Hễ thấy ổn thì ta làm rộng ra toàn huyện. Còn cái vụ nông đoàn thì đừng ép, để bà con tự nguyện đưa trâu bò nông cụ vô... Chà, lại lên cơn nữa đây ! Ba giờ sau ngớt cơn, anh bí thư ngồi dậy, vừa bóp đầu cho đỡ nhức vừa thông qua rất nhanh những đề nghị của Ba Mậu, được trình bày như đề nghị chung của Đoàn chỉ đạo thí điểm và lãnh đạo xã Linh Giang. Hùng Minh hăng hái, có trình độ chính trị và chuyên môn vững, văn hóa khá, sẽ làm bí thư kiêm chủ tịch xã. Bác Mười Áng ủy viên kinh tài, giàu kinh nghiệm sản xuất lại giỏi tính toán, làm quản trị trưởng nông đoàn. Ông Tư Chua không quen làm hành chính nhưng thạo nhiều nghề, đã tự nguyện vào nông đoàn, sẽ nắm xưởng rèn và mộc. Đến Tám Doãn thì Ba Mậu dè dặt hơn. Cậu ta vốn là huyện đội phó bị thương phải nghỉ, lại chống kịch liệt các việc Ba Mậu đề ra, chắc đã kiện cáo nhiều với huyện ủy. Bị hất khỏi ghế bí thư xã, tránh sao khỏi cậu làm toáng lên... Nhưng anh bí thư huyện ủy gạt ngay vật cản ấy: - Tám Doãn phải về huyện gấp, nhận lại cái chân huyện đội phó ít lâu nữa, đợi kiếm người thay. Để tôi viết ít chữ khuyên nó. Tánh nó hay lý sự ngang phè, được cái làm việc tận tụy, đánh giặc cũng gan lì tướng quân, anh em phục lắm đó. Trước khi trở lên Linh Giang với mấy bản quyết định mới, Ba Mậu ghé thăm nhà. Vợ con anh đã lần lượt trở về Tây Quảng để trông nhà cửa ruộng vườn, cũng để thoát cái cảnh sống nhờ mà anh thấy xấu hổ. Thà ở chuồng heo còn hơn theo bên vọ, hồi chạy loạn chẳng nói làm gì, nay đá rõ là Tây không rướn nổi tới Tây Quảng, anh lại trở về nhận chức phó chủ tịch huyện, để vợ con nấn ná đất Quảng Ngãi cũng phiền. Nhiều đồng chí ở huyện bàn ngoài lề rằng nếu anh chủ tịch mất sức hay phải cưa chân thì ắt ông Ba sẽ cáng đáng thôi, ai mà thay nổi, chưa vô huyện ủy thì đưa vô luôn, khó gì, nay mai ổng còn lên tỉnh ủy kia. Cả nhà đều kêu anh mới đi vùng núi nửa tháng mà đã gầy và sạm đi. Chị vợ sai con sang làng bên cắt ngay cho anh mươi thang thuốc bổ đã gửi sẵn toa ở ông thầy lang trong họ, bắt ngay cặp bồ câu ra ràng hầm hột sen ép anh ăn một mình. Hàn huyên đủ chuyện đến khuya, chị gài chốt cửa buồng và nói vừa đủ nghe: - Cách đây đâu năm bảy ngày có anh trẻ trẻ tên là Bảy Suyền, cán bộ gì đó ở tỉnh ghé thăm nhà, đưa em một cặp xuyến vàng sáu chỉ, nói là cụ tú gì đó ở chỗ mình đang kinh lý gởi tặng riêng mình... Ba Mậu sững người, ngồi lặng. Chị vợ mở cái rương bọc kẽm từ thành phố chở về, lắp khóa chữ, lấy ra một đôi xuyến mới cọ lại sáng chói, xoay trở dưới ánh đèn dầu, trầm trồ: - Vàng này mua hồi Tây, có đóng dấu tiệm Tây ở Sài Gòn đúng độ vàng cửu. Kiểu chạm hơi xua, vậy chớ bây giờ người ta chuộng đồ xưa hơn đồ mới, được giá lắm, chắc phải ngang vàng thập. Để làm của hơn, bán lấy tín phiếu ít lâu nữa thành giấy lộn... Cụ tú gì đó nói hâm mộ mình lắm, cũng công tác ở huyện như mình mà cứ là phục riêng mình thôi. Cụ ủng hộ Chánh phủ nhiều rồi, còn bao nhiêu của cụ đem tặng riêng thôi. Cụ còn nhờ anh Suyền nói lại cái tích đời xưa ông này đờn, ông kia khen hay, em chẳng nhớ. Tính để mình coi rồi đem chôn luôn với bốn lượng vàng lá, hai lượng rưỡi vàng đồ của nhà... - Thôi, dẹp đi ! Đến lượt chị vợ ngẩn ra. Bổng lộc chạy vào tay êm ru sao anh ấy nổi cáu ? Nhiều lần người ta đem quà tới biếu, cân chè hay cặp vịt, ảnh chỉ nói đôi câu cho phải đạo rồi kêu con đem cất kia mà ? Vốn quen đón ý chiều lòng chồng, chị xoay vội sang chuyện khác: - À em quên chưa nói... Con Chín Lụng ở mướn nhà ta, em đuổi rồi, gần đây nó sanh thói gian, giã gạo khuya hay giấu lén đùm gạo đem về. Mỗi lần vài lon thôi, mà lâu cũng thành ang thành thúng. Còn mẫu rưỡi ruộng cho lão trùm Nhợ làm rẽ, em tính chuyển qua cho mụ Hai Nền làm. Lão Nhợ bạc bẽo lắm anh à, chia tô xong là không lui tới nữa, còn nói bướng là lấy một nửa mồ hôi nước mắt của lão chưa đủ sao... - Thôi mình ơi, nhức đầu quá lắm ! Bị ngắt lời lần nữa, chị vợ sập mạnh nắp rương tỏ ý bực tức, vặn nhanh các vòng khóa chữ, bỏ ra ngoài soát lại cửa ngõ. Ba Mậu thả màn nằm quay mặt vào tường, nhắm mắt cố ngủ, khi vợ vào còn vờ ngáy để khỏi phải nghe chuyện, nhưng rất nhiều mẩu câu đoạn lời cứ cồn sủi lên trong anh như bọt thác... Vàng hối lộ của phủ Đỉnh. Thay thế chủ tịch huyện. Con ở ăn cắp gạo phải đuổi. Anh em phục Tám Doãn lắm đó. Đổi cho trùm Nhợ lãnh canh. Ông Ba Mậu còn lên tỉnh ủy nữa kia. Lấy một nửa mồ hôi nước mắt chưa đủ à... Vàng xưa bây giờ được giá lắm. Ông này đờn ông kia khen hay... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 04:02:14 pm Thì đã sao nào ? Đã sao ? Làm cán bộ ăn cơm nhà vác ngà voi, ai mà khỏi nhờ gia đình nuôi thêm ? Biết bao nhiêu cán bộ giỏi phải rút lui vì quá túng đói, kiệt sức, về cuốc đât nuôi heo. Mình trụ được tới bây giờ là khá rồi. Độc lập xong, hễ người cày có ruộng thì cán bộ cũng có lương đủ nuôi mẹ già con nhỏ, mình bán nhà ở quê về thành phố là ổn, hết eo xèo.
Nhưng... đôi xuyến của phủ Đỉnh... Nặng đây, nguy hiểm đây. Đổ vấy cho vợ được không nhỉ... “Tôi lo chạy công tác quanh năm, biết gì đâu”. Mới nghĩ mà đã thấy chung quanh toàn những cái đầu đang lắc. Hồi ở sở hỏa xa, mấy tay tâm phúc thỉnh thoảng giúi cho anh cây bút Pa-ke, hộp thuốc bổ, bộ xích lip xe đạp, cao nhất chỉ một lần cái đồng hồ Ni-cơ-léx, kèm một câu đãi bôi: “thấy anh đang cần, biếu anh dùng”. Anh đón biết nhưng không bao giờ hỏi về nguồn gốc món quà, để sau này có thể trả lời đúng sự thật là “nào tôi có biết nó kiếm đâu ra”. Trong kháng chiến, bà mẹ sắm đồng hồ cho con nhập ngũ, bạn bè tặng nhau cây bút máy, cán bộ mua rẻ phụ tùng xe đạp của đồng bào từ vùng địch chiếm ra được phép mang hàng đủ một người dùng, chẳng ai để ý những thứ vặt ấy. Lần này khác hẳn. Hối lộ rõ quá. Anh bao che cho phủ Đỉnh, nếu không thoát hẳn Quỹ tổng động viên thì cũng kịp bán chạy tất cả các thứ có thể phải nộp. Thoát càng nhiều, lễ tạ sẽ càng hậu... Anh vỗ bép vào trán. May là chị vợ đã ngáy, không mở tiếp cái máy hát với những đĩa cũ mòn. Làm quan lâu năm có khác, lão đút lót khéo vô cùng, chỉ nhắn một lời văn vẻ là Bá Nha gặp Tử Kỳ. Chắc suốt đời lão không mắc vạ miệng, cũng không để Ba Mậu mắc theo. Bảy Suyền còn trẻ mà khôn hơn cáo, anh đã biết khi ở chung nhà phủ Đỉnh, hẳn nó câm như hến. Vợ anh bép xép nhưng động đến khoản của chìm thì kín tựa hòm khóa chữ. Thôi đành, đã trót thì trét, chỉ một lần này thôi, coi như nhập khẩu vô tang. Chấm dứt hẳn ! Audaces fortuna fuvat ! Câu thành ngữ la-tinh ấy, được ông giáo sư Pháp trường Khải Định ưa nhắc, chợt đến với Ba Mậu. Thần Tài phù hộ những kẻ táo bạo, đúng. Anh không táo bạo cầu tài, chỉ tình cờ nhặt được một xu lẻ thần đánh rơi, đáng kể gì mà băn khoăn ! Anh yên bụng ngủ thiếp đi, hôm sau dậy trở nên vui tính, cười cười bảo vợ đừng lo cắt thuốc chữa nhức đầu. Bấy nhiêu cũng đủ cho chị vợ nguôi hết ấm ức. Là con ông chánh tổng cóc vàng nhà quê, ruộng nhiều chữ ít, chị chỉ biết đọc biết viết, coi ông chồng tú tài tây đã đưa chị đến với thành phố văn minh là ông thánh sống. Chị sai người nhà đi hỏi mua góp thêm hà thủ ô cho chồng mang theo. Anh Ba máu xấu, mới ngoài ba mươi tóc đã điểm bạc, ra tù sau đảo chính Nhật đầu anh trắng đến một nửa, chị ép uống hà thủ ô rõ nhiều mới đen lại đôi phần, giờ trông anh vẫn có vẻ cao tuổi hơn các ông cùng lứa bốn mươi lăm. Vậy cũng hay. Làm ông giám đốc quanh năm được cấp dưới thưa trình, nay về quê làm ông huyện thường cưỡi ngựa thăm dân, có mái tóc hoa râm người ta đã trọng càng thêm nể, bọn gái lẳng lơ cũng ít dám liếc nháy, chị ngắm chồng và nghĩ lui tới thế. Bốn ngày sau, Ba Mậu bị bất ngờ một lần nữa. Xã Linh Giang mở cuộc họp chung chi ủy, ủy ban, các tổ trưởng Đảng, cán bộ đầu ngành các đoàn thể, được gọi tên chữ là “khuếch đại hội nghị” nghe thật long trọng. Cán bộ xã thôn thích kiểu họp ấy cho đỡ mất thì giờ bàn việc nhiều nơi, phổ biến nhiều cấp. Ba Mậu đọc các quyết định mới. Anh sửng sốt khi thấy những người mới tuần trước vặn lý anh đến mướt mồ hôi lúc này lại nín lặng với vẻ mặt lầm lì khó hiểu, đợi anh hỏi gặng, Tám Doãn mới đề nghị lập một ban kiểm tra theo dõi Quỹ tổng động viên và Nông đoàn. Doãn vừa dứt lời thì hội nghị lên tiếng đồng ý cả, rập một giọng như hẹn nhau trước. Ông Tư Chua được cử làm trưởng ban, trong số bốn ủy viên còn lại có chị Năm Bưởi cứng đầu mà Hùng Minh rất ghét. Đồng chí bí thư kiêm chủ tịch vừa được huyện chỉ định cứ ngồi im xo, không cho ra những tràng nói chữ theo thói quen. Dân xứ núi này quả là kỳ cục, bí hiểm khôn lường. Ba Mậu nghĩ vậy, cho giải tán. Dù sao số ngang bướng nhất đã chịu xuống gối, công việc ắt sẽ trôi chảy. Anh cẩn thận gọi riêng Hùng Minh và Mười Áng đến nhà cụ tú Đỉnh, hỏi thêm. Cả hai cùng đắn đo như nhau, cùng thưa rằng “đồng bào đây quen phục tòng Chánh phủ, cho cãi vã thì họ cãi xả láng, hễ thượng cấp hạ lệnh thì họ y lệnh mà làm, vậy thôi”. Anh cán bộ kinh tế huyện được cử ở lại nắm tình hình cũng ngập ngừng nhận như thế, về sau chú nhỏ liên lạc mới mách rằng anh ta chỉ lùng mua mật gấu, xương khỉ, quế kẹp Thượng du, lên làng Thượng đổi một bộ xương cọp để nấu cao hổ cốt toàn tính, chẳng để ý tới công tác. Nhân đợt tạnh ráo, Ba Mậu định tổ chức mít-tinh từng thôn để hô hào thật mạnh, quay phong trào lên thật bốc. Nước trời chợt tuôn xối xả và nước sông suối dâng nhanh khiến anh đổi ý ngay. Để anh em ở xã tự lực lợi hơn, cấp huyện vươn tay đến tận thôn dễ bị trách là bao biện, làm thay ! Đoàn chỉ đạo thí điểm ở lại cũng thừa, Ba Mậu cho “lữ thứ hành quân” trở về huyện. Anh báo cáo thu được thắng lợi bước đầu, để dành chữ “rực rỡ” và những từ to đẹp khác cho các bước kế tiếp, khi đoàn dân công từ Linh Giang gánh lúa khiêng heo xuống nộp, hay khi làm xong lễ thành lập Nông đoàn. Đó là chuyện về sau, còn phần thắng lợi nắm được trong tay là những thứ mua rẻ, được biếu hoặc chủ động xin, như xương thú quý, nhung hươu, gạc nai, quế kẹp loại “cao sơn ngọc quế”, khá nhiều mật ong, chè cực ngon và thuốc nguyên lá hạng nhất, chất đầy lưng con ngựa huyện và con Hường mượn được, không kể sức gùi cõng của anh em trong đoàn. Riêng ông phó chủ tịch thì rất gương mẫu, nhận phần mình rất ít, được anh em xuýt xoa khen mãi. Ba Mậu không hiểu được những gì xảy ra ở Linh Giang trong một tuần anh về huyện và thăm nhà. Những điều ấy khó hiểu không chỉ đối với anh, mà đối với cả những cán bộ làm nông vận lâu năm nhưng chưa sống ở vùng hẻo lánh. Anh ra đi buổi sáng, đến trưa Hùng Minh cho phát loa gọi mít-tinh toàn thôn Linh Lâm để phổ hiến chủ trương đặc biệt, ngay tối hôm ấy. Độ ba phần tư bà con trong thôn đã biết chủ trương ấy là gì, nhưng vẫn đến đông đủ nhằm nghe thêm có chuyện mới chăng, thời buổi đánh Tây này cái mới xảy ra từng giờ từng phút. Không có gì lạ cả. Chẳng qua anh chàng Ba Mít láu táu muốn lập công đầu, đứng ra hiệu triệu toàn dân bằng những câu hay chữ lỏng thường được bà con lặp lại để làm trò cười. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 04:06:05 pm Yên trí rằng toàn thể đồng bào đã thấm nhuần triệt để, sáng hôm sau Hùng Minh kéo năm bảy thanh niên đi xóm Mới thử thu góp nửa tài sản của một số nhà coi ra sao. Anh ta chọn nhà chị Thùy làm trước tiên, bởi biết rằng vợ chồng Cả Chanh bao giờ cũng gương mẫu, gia đình ấy đã xung phong dẫn đầu thì dân sẵn lòng theo. Quả nhiên chị Thùy chỉ phân vân đôi chút, rồi để anh em trút số lúa ít ỏi trong bồ, thu cái nồi đồng, tháo gỡ máy phát điện, ghi sổ số heo gà sẽ nộp. Chỉ có Năm Bưởi dứt khoát không giao súng, đành tạm gác đấy. Sang lò rèn ông Tư Chua cũng dễ như vậy, nhưng ông khất vài ngày để làm một việc khiến Hùng Minh chột dạ:
- Đồ rèn, tôi tính soạn làm hai phần, đánh dấu khác nhau, Ban quản trị ưng phần nào lấy phần đó. Trâu, tôi đóng dấu lửa vô mông đít. Lúa bắp nồi niêu, ghi cặn kẽ vô biên lai. Tôi hiến nửa tài sản cho Chánh phủ Cụ Hô để tổng phản công giành độc lập, chẳng nề hà gì, vậy chớ thằng nào chấm mút vô đó thì tôi xách búa tạ rượt theo tới Đà Nẵng ! Tới nhà thứ ba, một bé gái cõng em bảo đi vắng hết. Nhà thứ tư, hình như đã kịp đưa của ra rừng - nhà nào cũng có kho mật từ đầu kháng chiến, phòng địch càn hay ném bom - chỉ còn lèo tèo một ít bắp lúa với một heo choai trong chuồng. “Các anh ưng lấy sắn tươi, để tôi đào cho...”. Nhóm thanh niên đi theo Hùng Minh mượn cớ mang các thứ chị Thùy nộp về trụ sở, biến hẳn không quay lại. Hùng Minh phải rút êm. Tin đồn Ba Mít đến thu tài sản anh Cả Chanh trước tiên được truyền đi rất nhanh, thêm dấm ớt tùy người kể. Ai cũng thấy chướng lè. Người ta tù đày lăn lộn bao nhiêu năm, hai vợ chồng về làng ốm liệt và nghèo xác, bà con thương xúm vào giúp mới có túp nhà miếng cơm, nay thằng ba hoa ấy lại bắt ưu tiên đóng góp trước ! Cái máy điện vất đi, hai cha con với anh em quân giới hì hụi sửa mãi mới chạy, dùng chung cho cả làng, nó cũng lấy bỏ xó ! Anh Cả Chanh đi “đánh giặc quốc tế” xa tít mù khơi, chị vợ bụng mang dạ chửa, hiền như phật đất mà dễ mến vô cùng, bị nó ép bức thiệt tàn tệ ! Chuyện này nếu xảy ra ở vùng xuôi thì chỉ có dư luận chê trách hay vài tờ khiếu nại, ở Linh Lâm lại khác. Từ thời quy dân lập ấp, dân Linh Lâm sống xa nơi quan quyền, phải bó kết với nhau mới chống nổi trăm thứ đe dọa của rừng núi và kẻ dữ. Cả làng quen kéo nhau vây hội giết cọp, báo động và đào hố bẫy chống voi bầy, chạy cứu nhau khi bị “mọi đi ăn đầu”, vác giáo mác theo ông Hường Hiệu đánh Tây, cho đến gần đây càng thêm khăng khít khi cùng theo Việt Minh lập du kích, nổi dậy giành chính quyền từ làng đến tỉnh. Gọi đó là truyền thống đoàn kết đấu tranh hay gì gì tùy lòng, chỉ biết nó là một nếp nghĩ chung rất đậm nét, hằng ngày chìm lắng đâu đó trong người, gặp dịp mới bùng lên hừng hực. Hồi trước cách mạng, oai vệ như phủ Đỉnh hay giảo hoạt như Cửu Áng đều phải xử nhũn, nhu nhiều hơn cương, vì biết “dân đây nó hung lắm”. Bạo tay nhất là lão chủ đồn điền La-phạt thì chút xíu nữa bị tuyệt tự, nếu Năm Chò giết được đứa con trai một ! Tám Doãn đang bị viên đạn trong phổi hành cho nằm bẹp, nghe tin phải nổi khùng chồm dậy. Từng học theo tính nguyên tắc của Cả Chanh, thêm những năm làm huyện đội phó và nhiều lần đưa quân ra trận dự chiến, thêm vai trò bí thu chi bộ xã nữa, anh được tiếng là điềm đạm, chín chắn. Lần này anh bốc máu Từ Hải, làm một việc khác thường. Anh cho người mời từng nhóm cán bộ chung quanh xã đến nhà mình bàn riêng. Hôm sau, anh nhờ hai người khỏe chống xuồng đưa đi ba thôn kia, cũng chỉ gặp từng nhóm. Sang ngày thứ tư, anh triệu tập một cuộc “khuếch đại hội nghị” quen thuộc nhưng không có Hùng Minh, đến quá trưa mới cho mời đồng chí phó bí thư kiêm phó chủ tịch. Ban đầu cậu tức khí định không đi, rồi vừa đi vừa sắp sẵn những lời phản đối gay gắt nhất. Nhưng bước vào phòng họp, thấy mấy chục bộ mặt hằm hằm nhìn xói vào mình, cậu ta nguội rất nhanh, bắt đầu thấy lạnh xương sống. Tám Doãn chỉ chỗ ngồi, nói bằng giọng giá ngắt: - Chúng tôi là những người có trách nhiệm quan trọng ở xã này, cần gặp anh để nói thẳng đôi điều. Yêu cầu anh nghe cho kỹ, nghĩ cho chín rồi hãy trả lời. Đây là hội nghị chớ không phải mít-tinh, anh không cần hiệu triệu đâu. Mồ hôi rịn lấm tấm trên chót mũi Hùng Minh. Chết nỗi, nếu Tám Doãn đứng ra lập phe chống mình... thì hắn đè bẹp mình không kịp ngáp. Mười Áng ngồi đó cứ ngậm câm. Mấy đứa xun xoe tâng bốc mình coi bộ cũng tính tát nước theo mưa... - Chúng tôi họp sáng nay, chưa cho anh dự là tại anh vừa ba hoa vừa lắt léo, hết cả buổi. Tôi tóm tắt anh nghe ý kiến chung đây. Lâu nay chi bộ bầu anh vô chi ủy, chi ủy cử anh làm phó bí thư, là do thời buổi kháng chiến phải chạy chân không bén đất, cần có người lo việc giấy tờ tại chỗ, trên đồng hồ kim xoay thì con số phải đứng. Dân tin theo Đảng, để anh làm phó chủ tịch cũng vậy. Ban đầu anh làm việc khá, gần đây anh đâm hư ra. Những vụ tư lợi của anh, chúng tôi biết mà nhắc sơ sơ thôi, để anh tự sửa, anh lại tưởng chúng tôi hiền giả quá ngu. Anh đưa người cùng phe cánh vô Đảng, vô ủy ban, chúng tôi cũng châm chước vì thiếu người lo công tác, anh nghĩ chắc tụi này dốt như trâu, hô đi hét đứng. Tánh nết anh là xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ, chúng tôi cười giễu cho qua, anh đoán ai cũng phục anh giỏi. Nhắc bấy nhiêu thôi để anh giật mình... Im lặng ! Tôi nói xong mới được cãi... Đến vụ nghiêm trọng đây. Anh nịnh bợ ông Ba Mậu, tính dựa vô Ba Mậu để giựt hai cái ghế chủ tịch, bí thơ. Anh nhơn có chủ trương thí điểm, cố lập công để ngoi lên, mà lại cố giữ cái chỗ moi được lúa được tiền là nhà ông phủ Đỉnh. Cùng một lần, anh muốn có chức, có quyền, có tiền, có tiếng, có vợ con ở đây, có cả nhơn tình ở Huề Bình. Tham quá rồi đó ! Hết chịu nổi rồi đó !... Bây giờ tới chủ trương mới. Ba Mậu làm sai chủ trương của huyện rõ ràng. Huyện ủy biểu kêu gọi đồng bào Linh Giang ủng hộ một nửa số lúa bắp đang có, rán ăn tăng khoai sắn để nhường cơm cho bộ đội đánh giặc. Ba Mậu về đây đòi hiến một nửa tài sản, tính lấy cả trâu bò, cày cuốc, nồi đồng mâm thau. Huyện dặn vận động, Ba Mậu về ra lệnh, dọa xa rồi dọa gần. Huyện thấy đồn điền La-phạt bỏ trống, dặn kêu gọi dân làm tập thể, tự nguyện góp công của vô, Ba Mậu tính huy động tràn lan, đưa đồ tịch thu qua mà nhử dân... Tôi đang bệnh, phải lết xuống huyện hỏi lại anh chủ tịch, té ra khác hết, có điều bây giờ búi việc quá, ảnh dặn đừng làm tùm lum lên. Ngay cái vụ miễn hoãn cho phủ Đỉnh, huyện cũng không hề biết. Bậy hung rồi đó ! Tám Doãn bật ho một hồi sù sụ. Ba Mít mấp máy miệng chực nói chen ngang, kịp nín tắp trước những cặp mắt dữ tợn chưa từng thấy. - Mới nghe năm bảy phút đã ngứa miệng rồi hả ? Sắp xong đây. Chúng tôi nhứt trí với nhau sẽ góp lúa bắp cho bộ đội, có thể được gấp rưỡi số huyện đề ra, chừng ba chục tấn. Heo bò vài chục. Cũng nhứt trí lập Nông đoàn thí điểm, tập làm chung hưởng chung. Nhưng mà kèm theo điều kiện Ba Mậu với Ba Mít không được dính vô. Các anh xía vô là trắng hóa đen, tròn ra méo lập tức... Tôi điểm chót. Anh mê cái chức trưởng, ai cũng biết. Bác Tư Chua giỏi nghề mà ngại làm hành chánh, xin thôi chủ tịch. Tôi bị thương yếu nhớt vầy, cứ bị ép làm bí thơ. Anh bớt bớt cái chủ nghĩa cá nhơn đi, rán lo việc chung cho tốt, chúng tôi xin bàn giao liền chẳng đợi ai nhắc. Bây giờ chưa được. Hễ ông Mậu ưa bợ đỡ đưa anh lên, chúng tôi sẽ để yên coi anh biết hối biết sửa hay không. Sửa được thì làm tiếp. Cứ chứng nào tật đó, chúng tôi biểu quyết khai trừ anh khỏi Đảng, đề nghị trên cách chức, coi thử anh còn sống nổi ở đất này hay phải cuốn gói trốn thiệt xa ! Thằng Tám Doãn này nói có trời soi vô miệng, có hết thảy đồng chí đây làm chứng, hễ dám nói không dám làm thì nó là con chó ăn cứt cả làng !... Phần tôi xong rồi đó. Các đồng chí thêm vô, gọn gọn thôi, đừng bắt chước ông Hùng Minh lên huấn thị ! Chung quanh cười ồ, xôn xao ném tới một loạt đồng ý, tán thành, nhứt trí, hoan nghênh, phải, đúng, hay, ngon. Ngay Mười Áng rất thích đóng vai “tôi ở giữa, tôi chữa đôi bên” cũng chỉ cười ruồi. Hùng Minh cúi mặt, lúng búng nói mấy câu nhận lỗi, hứa sửa đổi. Ba Mậu trở lại Linh Giang sau cuộc họp ấy, không biết mình gặp một ca phép vua thua lệ làng, chỉ thấy mọi việc êm xuôi cả. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2016, 04:07:38 pm Tám Doãn xuống huyện gấp thay chân huyện đội phó, đến gặp anh bí thư huyện ủy nhận lỗi đã họp sai nguyên tắc. Bí thư ngẩn ra một lát, rồi cười dài:
- Nguyên tắc sai mà nội dung đúng, hơn bù kém, cũng được. Ông Mậu về nói là toàn thể cán bộ đảng viên muốn đưa Hùng Minh lên. Mình đang sốt mà bận ngập đầu, anh chủ tịch nằm viện, phải nghe phó chủ tịch chớ biết nghe ai... Hay là thu hồi, hủy bỏ quyết định về Ba Mít ? - Cứ để anh ạ, có anh em giám sát. Hắn sửa được càng hay chớ sao ! Vài phút sau, Tám Doãn đã chúi mũi vào tấm bản đồ lớn, theo dõi đầu cây bút chì của anh bí thư nhích theo lời thuật tình hình. Huyện đội trưởng đưa quân ra trận, Tám Doãn phải nắm gấp phần việc làm tiếp. Du kích đi dự chiến. Dân quân lập tuyến bố phòng chống càn. Ba trăm dân công tiếp tế. Cọc chống nhảy dù ở các trảng rộng. Kiếm gấp thêm tơi nón cho trung đoàn 108. Mở lại đường tải thương khác tránh bom... Những người và việc ở Linh Giang chìm nhanh dưới một núi lo toan mới, viên đạn trong ngực Tám Doãn cũng chìm theo. Trận càn từ quốc lộ 1 thốc lên bị chặn cứng, địch sùng sục như nước lũ húc vào đập. Tiếng đại bác và súng cối vọng lên, chỗ cơ quan huyện vừa chuyển tới nghe rõ. Máy bay lùng đánh dồn dập, đôi lần rất trúng đích, đã quá rõ là nhờ gián điệp chỉ điểm. Cùng với loại Xpít-phai cổ rùa quen thuộc có thêm những tốp máy bay kiểu mới thân dẹt như cá, cánh ngắn và lùi về sau, đồng bào gọi là tàu cổ ngỗng, còn giới quân sự báo là loại Cô-bờ-ra của Mỹ mới trao thêm cho Pháp gần đây. Mỗi buổi ngớt mưa hửng nắng, vùng trời huyện Tây Quảng lại ầm ỹ tiếng cổ ngỗng cổ rùa bay đến từng nhóm bốn chiếc, quần đảo tìm mồi mấy vòng trước khi xếp hàng dọc chúi xuống chồm lên như rắn lộn. Bom rơi nhiều nhất xuống các xã phía Đông, giữa và sau các tuyến chống càn, dựng những vườn cau vườn dừa bằng khói mọc rồi tan, lại mọc rồi tan. Luồn lách qua những xóm xanh cây, những gò phủ sim, mua, du dẻ, từng đoàn từng đoàn người gánh và cõng, có súng hay không súng nối nhau kéo xuống nơi bom pháo dày đặc, tiếp sức cho các đơn vị đang chặn địch. Trong số ấy có khoảng hai trăm dân công tiền tuyến của Linh Giang do ông Tư Chua chỉ huy. Rất ít người biết ông đã thôi làm chủ tịch, vì Hùng Minh đủ khôn để không họp mít-tinh “hiệu triệu quốc dân đồng bào” với cương vị mới. Bà con quen thấy ông Tư cầm đầu dân công ra mặt trận nhiều chuyến, chẳng hỏi gì. Đi theo ông Tư thì chớ có ẩu mà khốn. Đòn chắc, giỏ bền, có chân, lá khô lót dày. Ngoài tơi nón cho người còn phải chằm hai tấm tơi che mưa cho hàng, vòng ngụy trang cũng phải một cho người hai cho hàng. Đang nắng đổ mưa: vòng lá treo đầu đòn, tơi phủ hàng trước người sau. Đang mưa hửng nắng: ngược lại. Người ướt không sao, hàng ướt thì ông nạt bắt sửa tại chỗ, về xã còn thêm một lần “bêu dương”. Dân công Linh Giang đưa tám tấn nạo và bắp xay đến kho huyện là hết nhiệm vụ. Anh bí thư huyện ủy, quyền chủ tịch, bàn với Tám Doãn và ông Tư kêu gọi bà con đưa thẳng tới mặt trận luôn. Anh Ba Mậu định phát huy thắng lợi rầm rộ, anh bí thư can vội: phải để hai đồng chí Tám Doãn và Tư Chua nói bà con mới thông, chịu đi và về thêm hai ngày nữa, đừng chen vào mà rối. Sau vài chục phút động viên, cả hai trăm đều bằng lòng: một lần đi một lần khó, nhập kho xuất kho thêm phiền, anh chị em đánh giặc đang đói, đi ta hè ! Chỉ thay đổi chút xíu: tổ du kích của Năm Bưởi xếp cuối làm thu dung được chuyển lên đầu làm trinh sát, cơm gói mo một bữa phải tăng thành hai bữa để tránh đốt khói nơi gần địch. Ông Tư Chua nhấc cái còi sừng trâu từ ngực lên miệng thổi hiệu xuất quân, nói to một câu chào chung các đồng chí ở huyện, xốc cái gùi tre cật cõng năm ang gạo của mình lên, chống gậy khom lưng bước vào giữa hàng. Anh Ba Mậu nhìn ông, quay nhìn thoáng Tám Doãn, hai người vừa được anh báo cáo là thiếu năng lực và uy tín cần phải thay bằng đồng chí Hùng Minh. Anh lẳng lặng bỏ đi không nói, trong khi Tám Doãn cùng bí thư huyện ủy bàn cách tiếp nhận số gạo bắp và heo bò sẽ xuống đợt sau. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 03:49:47 pm Chương XII Ngày 27-5-1951 Cuối cùng, tôi đã ghép được một bộ chữ mật để ghi tên người, tên đất, ngày tháng, cùng những ý nghĩ riêng tư nhất. Các thứ tiếng Pháp, Anh, cả tiếng Đức và Tây-ban-nha mà tôi học gạo lâu nay qua bộ sách Assimil dạy ngoại ngữ tình cờ tìm thấy trong đống sách táp nham của Bảy Suyền, đều dùng chữ viết la-tinh như tiếng Việt, thế mới phiền. Tôi không muốn rơi vào tình trạng của cậu Tư Quả trong Ban địch vận, ghi nhật ký chăm chỉ và thật thà bằng tiếng Việt, bị cán bộ bảo vệ bí mật tìm đọc, nay đã được chuyển vào một cơ quan rất xa mặt trận và chắc chắn đang được theo dõi sít sao. Trong chiến tranh đẫm máu, mọi sự đề phòng đều là cần thiết, tôi đồng ý, nhưng khi quyền quyết định số phận của một trí thức đầy suy nghĩ phức lạp lại rơi vào tay những cán bộ i tờ thì khó lòng tránh khỏi những bi kịch kiểu Racing hay Euripide ! Từ hôm nay tôi sẽ tiếp tục viết nhật ký sau năm năm bỏ dở. Xin nhắn những ai mai sau thử mở khoá mật mã để đọc nhật ký của Hai Khánh tức Ung Viết Khánh - cái họ Ung sao mà đáng ghét ! - rằng xin các bạn chịu khó học các mẫu tự Hi-lạp và Ka-ta-ka-na của Nhật, tiếp đó xin học kỹ tiếng Anh và ít nhiều tiếng Đức, để cuối cùng khám phá ra những dòng ghi ở đây không dẫn đến kho vàng Ali-Baba nào cả, mà chỉ biết thêm thằng Hai Khánh đã sa vào tay các cô gái như thế nào và lúc này đang nhớ đứa con bỏ rơi của nó đến cuồng dại ! Chung ơi, con ơi, thiên thần và quỉ dữ của ba ơi, con đừng ám ảnh ba nữa đi, ba sắp điên rồi đây ! Ngày 29-5-1951 Mea culpa, mea culpa, mea culpa ! Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi lại tôi mọi đàng... Tại sao, khi Năm Bưởi đến báo tin có thai sau những đêm ngủ với tôi, tôi lại sững sờ kinh hoàng đến câm lặng, chỉ nghĩ đến một từ pháp lý là “thủ tiêu tang vật” như một tên trộm hạng bét ? Bưởi nhận ra ngay chân tướng của tôi, ôi chao, một con tinh chồn thò đuôi sau cái lốt thư sinh tuấn tú. Còn may là Bưởi chỉ cười khẩy mỉa mai, không quờ tay vớ khẩu súng trường kỵ binh Nhật dựng chéo mé sau, chỉ buông câu vĩnh biệt và đi biến. Đến nay, con tôi đang trả thù tôi. Thằng Chung thiên thần nhún nhảy trên đầu gối tôi, túm tóc tôi giật mạnh - tôi ghé đầu cho con giật hẳn đi cả một mảng tóc, nhưng Thùy đã trừng mắt gọi cháu, và con tôi ngoan ngoãn chạy đến xin bàn tay vuốt ve của Mẹ Xùi - tôi chỉ là Chú Hai đến đưa vải may quần áo và ngồi chơi đợi lấy các thứ may xong, bấy nhiêu thôi. Một trong số trăm ngàn chú bộ đội đã vui tay bồng ẵm nó trong khi mẹ Xùi đạp máy may trên bộ quân phục xi-ta hay tấm vải mang đến. Năm ngoái, về Linh Lâm theo lời nhắn của ông dượng ghẻ muốn chạy chính sách và đã chạy được nhờ ông Ba Mậu phó chủ tịch huyện, tôi gặp con lần đầu. Chỉ vì tò mò thôi: người ta đồn nó rất giống tôi. Ra về, tôi nhớ con. Nỗi nhớ tăng lên dần từng ngày. Những sợi tóc của giống Tí Hon trói Gulliver phình to mãi, thành dây buộc trâu. Tôi quay lại Linh Lâm trước Tết ta, vẫn nhờ Bảy Suyền và Sáu Bòng làm trinh sát, tôi đến với con được hơn một ngày trong khi Bưởi đi Linh Hạ làm gì đấy cho nữ du kích. Thùy đã biết tôi là ai, khỏi cần nói dối, chỉ tủm tỉm cười giao thằng Chung và thong thả may cho tôi một bộ quân phục xi-ta, không vội. Không mời tôi ở lại ăn trưa, có lẽ ngại đến tai cô em chồng hung hãn. Bốn giờ chiều, Thùy giao bộ áo quần mới, nói gọn: anh đi được rồi. Giọng thương hại, không một lời hỏi ý định tôi đối với Bưởi và con, hẳn đã biết Bưởi căm ghét tôi đến độ nào. Đáng lẽ Tết vừa rồi tôi vui khác thường mới phải. Thằng em, nhạc sĩ Viết Chương bắt đầu nổi tiếng, đem cho tôi hai lá thư của me tôi kèm ba nhẫn vàng một đồng cân. Me cùng em gái tôi từ Hà Nội bị chiếm đi vào Quy Nhơn thuộc vùng ta theo những chặng đường quanh co lắt léo, tìm mãi không hai đứa con trai theo kháng chiến, đành phải gửi thư và quà cho một bà bạn cũ buôn con thoi giữa chợ Bình Định với thị xã phá hoại, gặp ai cũng nhắn nhạc sĩ Viết Chương tìm đến bà kia mà lấy. Ngót một năm sau lời nhắn mới đến tai, Chương đến, được bà kia giao thư và một phần quà: một lượng vàng còn lại sáu chỉ. Chương cười xòa: bà nói mượn tạm, nhưng nghe khẩu khí thì biết lấy luôn. Một mớ quà khác, có đồng hồ bút máy và áo quần, được bà cho biết là bị bom cháy hết. Thôi đành, vớt vát được một phần ba còn khá, thiếu gì người bị ăn chặn mất trắng ! Chương thấy tôi như người mất hồn, phờ phạc, chỉ đoán là do làm việc quá nhiều. “Anh gương mẫu vừa vừa chớ !”. Nó ở chơi ăn Tết một tuần, lại quay về Đoàn văn nghệ liên khu. Luôn luôn cười hô hố, vui đâu chầu đấy, gia tài chỉ một cây đàn ghi-ta róc véc-ni nhưng còn tốt, làm nhạc quân hành song song với những bài quậy tếu hay mộng mơ sướt mướt được chép tay truyền miệng khá rộng. Gần chia tay tôi mới biết nó bị thương hai lần, một ở Khánh Hòa nhẹ thôi, một ở Tây Nguyên suýt chết, còn sẹo trên thân, vẫn cười hoang hoác: “lính mà, còn sống là may, đủ chân tay càng tốt !”. Nó chơi nhạc, chơi cuộc sống bướm hoa, đi qua kháng chiến như đi chơi dài dài, vẫn luôn kính phục ông anh nặng nề duy lý là tôi. Nếu nó biết tất cả những gì tôi che giấu... Ngày 2-6-1951 Chung ơi, con ơi, hãy buông tha một lát cho ba ngủ ! Ngày 3-6-1951 Họp cán bộ trưởng và phó các ngành trong tỉnh đã hai ngày, học các nghị quyết của Đại hội Đảng Lao động Việt Nam. Nóng điên người, mệt, buồn ngủ, nhai cơm như rơm, lại thêm cái nạn ông báo cáo viên Đậu Chí Xích nói ề à giọng thầy cúng, từng lúc lên kính đọc ấp úng từng đoạn tài liệu với điệu bộ nheo mắt nhăn trán vất vả quá, anh em thương hại ông đến nỗi không nỡ phê bình. Biết ông là chính hiệu nông dân đây, ông vào Đảng từ 1930 đấy, tên ông có nghĩa là “cực đỏ” đấy, nhưng khi lên lớp anh em vẫn thèm nghe ông Bảy Quý giàu suy nghĩ sâu sắc, anh Tô Xáng rất hóm và thẳng ruột ngựa, nếu cần thì anh bạn cố tri của tôi là Phan Chanh nói năng điềm đạm nhưng đầy chất lửa giảng bài cũng tốt. Nghe đâu ông cụ tóc trắng này ở Ban tổ chức liên khu đã từng chạm trán với Cả Chanh một lần, nhân vụ Ba Mậu là người được ông che chở bày mưu hất Chanh khỏi chức giám đốc hỏa xa, chẳng rõ đúng sai. Thời buổi giặc giã, mỗi đơn vị là một khoang đóng kín như trong tàu chiến, một khoang bị bắn thủng thì chiếc tàu vẫn không chìm, không cháy lan. Mỗi nhóm thủy thủ chỉ cung cúc làm phần việc được giao, những gì xảy ra trong từng khoang có thuyền trưởng và cấp trên nữa được biết. Hôm nay, trong buổi thảo luận tổ, tôi ngứa mồm đề ra câu hỏi: “Xin cho biết nhận định của trên về chủ trương chuẩn bị Tổng phản công”. Anh em nháy nhau cười. Vẫn cái nếp lâu nay: đưa thắc mắc để tỏ ra mình có theo dõi bài giảng, có suy sâu nghĩ kỹ, mà chớ nên để cấp trên phải lúng túng nói quanh ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 03:54:19 pm Ngày 4-6-51
Biết mà ! Ông Cực Đỏ giải đáp một buổi. Suốt hai giờ ông lặp lại đến lần thứ bao nhiêu về “thế giới hai phe bốn mâu thuẫn, kháng chiến ba giai đoạn”. Ông dành một giờ để lè nhè chỉnh những cán bộ mất lòng tin, gieo hoài nghi trong tập thể và cho cấp dưới, có thái độ xoi móc mỉa mai thiếu xây dựng đối với các chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ. Vì là cán bộ tổ chức, ông không ngớt nhấn mạnh phải tin tưởng tổ chức, phục tùng tổ chức, chống bệnh tự do vô tổ chức. Chỉ lèo một câu buông rơi đằng cuối: “Về khẩu hiệu chuẩn bị Tổng phản công, phải đợi ý kiến chính thức của Trung ương”. Hết gọn. Và tất cả những chủ trương to tướng như quỹ Tổng phản công, những đợt tuyển quân khổng lồ để Tổng phản công, gì gì nữa coi như không hề tồn tại ! Tôi chán ngấy, định kiếm cớ chuồn trước. Tôi gửi con ngựa ở nơi kín đáo cách vài cây số để tránh bị ghen tị, cố ý mặc bộ xi-ta xám tàng tàng như mọi người, nói năng dè dặt và chất phác (chỉ trừ câu hỏi trái khoáy kia thôi). Ít ai chú ý đến tôi. Anh trưởng ban địch vận dễ dàng gật vì quen khoán trắng từ hàng binh Âu-Phi cho tôi, tán hươu vượn gì anh cũng ừ. Chuồn thôi. Rất may, nhóm anh Tô Xáng từ Đại hội Đảng đột ngột về đến nơi. Cả lớp mừng rơn. Anh ở lại ít lâu để làm việc với Trung ương mới, một lần đi một lần khó, vẫn cái dáng cao gầy nay đen sắt lại, hàng rào râu mép đen tua tủa bây giờ kéo dài đến tận hai khóe miệng. Vẫn bộ sơ-mi cụt tay và quần soóc (anh chỉ mặc đồ dài khi lạnh chịu không nổi), vẫn đi chân không (anh chỉ đi dép khi đường lắm gai và đá nhọn, đôi dép cao-su cực tốt thường chỉ treo thắt lưng), vẫn giọng oang oang ăn sóng nói gió của dân chài kèm hai bàn tay băm bổ. Lập tức, anh làm việc với lãnh đạo tỉnh và ban phụ trách lớp trong buổi sáng, để dành một chiều và một tối báo cáo với học viên về Đại hội Đảng. Người nói lẫn người nghe đều say, bốc, đến gần nửa đêm mà chúng tôi còn nhao nhao đòi anh kể tiếp. Ôi chao, đoàn Quảng Nam được gặp Cụ Hồ tới gần một tiếng ! Còn anh Bảy Quý sẽ hằng ngày ở bên Cụ, vì anh được giữ lại làm việc trong cơ quan lãnh đạo tối cao sau khi trúng Trung ương ủy viên chính thức ! - Về Tổng phản công thì ý kiến sơ bộ các ảnh vầy đây nè. Ông bạn Liên Xô ở xa mình quá, cách trở quá. Ông bạn Trung Quốc sát bên mình, to lớn thiệt đó, nhưng trong nước đang khó khăn nhiều về chánh trị kinh tế, giúp Triều Tiên đánh Mỹ rất gay go. Ổng tuyên bố vang trời đất cho đế quốc nó sợ, vậy chớ chỉ có thể giúp mình một số võ khí quân trang cho mấy đơn vị chủ lực, giúp một số cố vấn. Được bao nhiêu quý bấy nhiêu, ta cảm ơn, lâu nay ta tự lực đánh Tây chớ đâu có đợi ai viện trợ ! Còn ở Đông Dương thằng Mỹ nhảy vô tiếp sức thằng Pháp, trút võ khí với đô-la vô ào ào, con số ghi rõ trong tài liệu, đó rồi các đồng chí đọc. Nó nhiều súng nhiều tiền quá ể, tổ cha nó chứ ! Pháp với Mỹ nhứt quyết không để cộng sản thắng ở Đông Dương, tốn mấy cũng rán chịu, bởi nó sợ mất hết cả Đông Nam A... Bởi vậy, ta chưa đủ sức tự mình tổng phản công đâu ! Còn phải lo trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh mấy năm nữa ! Tạm hoãn cái đã, cứ lo xây dựng bộ đội với du kích cho mạnh, mở các chiến dịch ngày càng lớn, xây dựng hậu phương thiệt vững, giúp các bạn Lào Miên thiệt nhiều, hồi nào đủ sức thì ta hẹn nhau quật một đòn chí tử khắp Đông Dương. Hồi gặp Bác Hồ, tôi uống mật gấu làm dạn hỏi Bác: “Dạ thưa Bác, nhắm khi nào ta thắng ?”. Bác cười xòa, nói giỡn: “Khi nào Pháp Mỹ nó thua !”. Hội trường cười ầm, vỗ tay dài. Thẳng thắn với nhau như thế thật dễ chịu, tuyệt ! Còn ông Cực Đỏ lại hằm hằm úp chảo gang cho những ai dám nêu câu hỏi, tự suy ra những động cơ tồi tệ ! Việc thu trâu bò nồi niêu cày cuốc của nhân dân đưa vào quỹ Tổng động viên cũng bị Trung ương phê phán là sai lầm “tả” khuynh, chủ quan nóng vội, có văn bản hẳn hoi. Anh Tô Xáng nhận lỗi chính về phần mình, tuy ai cũng biết là anh lăn lộn nhiều nhất ở nửa tỉnh tạm bị chiếm phía Bắc, khó biết sau lưng mình diễn ra những việc gì. Tôi không định đánh bài chuồn nữa, háo hức ở lại học tiếp. Ngày 6-6-51 Cậu Thạch Sơn từ nơi nào ngoài Bắc được điều vào liên khu 5, cùng đi với nhóm anh Tô Xáng, đến nhà trọ thăm tôi sau giờ bế mạc lớp. So với hồi cùng đi mua súng Nhật ở Hà Nội, cậu ta gầy đi nhiều, môi thâm sốt rét, trán hói đi quá sớm, có lẽ do chuyến đi vượt núi dài ba tháng, tội nghiệp. Tôi rất mừng, nhờ bà mẹ chủ nhà đun nước sôi pha trà, mở gói kẹo gương Quảng Ngãi ngon nhất, hỏi trăm thứ chuyện. Thạch Sơn chỉ hồ hởi được mươi lăm phút, sau đó bắt đầu giữ miệng. Hỏi về công tác của cậu từ ngày chia tay, cậu đáp lừng khừng: “Ờ, vẫn theo ngành cũ”. Chắc là ngành công an xung phong hồi chống Việt quốc, Việt cách năm 1946. Càng hỏi, cậu ta càng nhát gừng. Tôi thấy mình là cơn gió trước một cánh cửa, mỗi lần thổi cửa lại khép thêm. Sau chừng một giờ, tôi chủ động chấm dứt câu chuyện đã nhạt như nước ốc: “Xin lỗi, mình hơi mệt. Chúc cậu về liên khu Năm công tác tốt”. Xong. Tôi đã thổi cho cửa đóng kín luôn. Thiên lý tha hương ngộ cố tri, thường ai cũng mừng, sao Thạch Sơn lại thế ? Có thể vì cậu ta làm một nhiệm vụ tuyệt mật nào đây, như tình báo chiến lược, phản gián, an ninh nội bộ. Cũng có thể tôi là phần tử được báo trước là đáng ngờ, cần điều tra. Cũng có thể cậu ta bị méo mó nghề nghiệp, nhìn đâu cũng thấy địch. Thôi đành, chẳng cần nối lại một tình bạn khi nó trở nên gượng gạo, hờ hững. Auf wiedersehen !1 Ngày 8-6-51 Đã có chứng cớ Bảy Suyền lén đọc các tài liệu tôi để trong buồng riêng khi đi dự lớp. Tôi xem lại các tài liêu mật: những sợi tóc kín đáo thả vào các trang số chẵn, hoặc những trang 5-10-15-20 của các bản dày, đều đã rơi mất hoặc nằm sai chỗ. Hắn tò mò như những người trẻ tuổi khác, ưa vây vo rằng mình được tin cậy đặc biệt và biết nhiều bí mật quốc gia, hay muốn điều gì khác, nằm trong tay kẻ nào núp chỗ tối ? Chưa hiểu nổi. Chưa tai hại gì: những tài liệu đóng dấu mật chỉ là những thứ mới dự thảo chưa phổ biến chính thức, hoặc những thứ lấy của địch mà ta không cho đọc rộng rãi. Tôi đã mang theo tất cả tài liệu tối mật để trả lại cho tỉnh. Từ nhỏ đi học xa nhà đến nay, chưa bao giờ tôi được săn sóc như khi ở với Bảy Suyền. Sinh hoạt phí chẳng đáng gì mà mâm cơm dọn riêng cho tôi với hắn bao giờ cũng rất ngon, đầy chất bổ, kèm rượu thuốc quý khai vị và trái cây tráng miệng. Trên bàn tôi luôn có vài bao thuốc lá đắt tiền, phi Cô-táp cũng là Grăng Pranh-xơ, Phi-líp Mo-rix. Sau khi tôi khéo léo cho cậu liên lạc thôi việc để tránh bị dòm ngó và đồn đại, tôi được phục vụ tốt hơn gấp bội. Áo quần được giặt kỹ, là bằng bàn là nung than. Cây đèn măngsông cỡ nhỏ rất sáng được che ba phần tư cho bên ngoài khỏi thấy. Tiền tiêu thoải mái với những phong bì “bác tú Đỉnh gửi anh”, đôi khi không kèm chữ nào, khiến tôi rất nghi là của Suyền biếu. Mỗi lần tôi tỏ ra áy náy, Suyền lại thiết tha: anh nhận cho em khỏi tủi thân, em phục tài anh, em coi anh như ông thầy, em quen tánh tôn sư trọng đạo, anh còn bày dạy em cả đời... Trong thiên hạ vẫn nhiều người như Suyền thật, hiến cả gia tài đi theo thầy học văn học võ như các tông đồ bỏ tất cả theo ông Giê-xu. Nhưng đôi lúc tôi ngờ ngợ: phải chăng tôi đang gặp một Lã Bất Vi tung vàng ra để tạo nên Tần Thủy Hoàng ? Tạm gác đấy đã, thiếu gì ông cán bộ tỉnh hay trung đoàn nhận làm con nuôi hoặc con rể những nhà giàu sụ, cóc vàng nhà quê hay con buôn phất tấy ngay trong kháng chiến ! Tôi mới hưởng một ít miếng chín của người dưới quyền và ông bố dượng, đáng gì mà băn khoăn ? Ngày 9-6-51 Bảy Suyền mang về một phong bì thư nhỏ mang mảnh giấy con, nét chữ nắn nót tôi thấy lần đầu. “Năm Bưởi đi dự chiến nửa tháng ở Duy Xuyên. Anh muốn gặp con thì tới từ 3/6 đến 16/6, đừng để ai biết - Thùy”'. Thư đến muộn nhưng trước mắt tôi còn những bảy ngày để về Linh Lâm ôm trong tay thằng bé Chung vàng ngọc của tôi. Nó đã bén hơi tôi dù chỉ biết “chú Hai bộ đội”. Tôi vẫn sợ. Không sợ đôi mắt gườm gườm thù oán của Năm Bưởi cùng cây súng kỵ binh lên đạn sẵn, mà sợ Thùy. Sợ khuôn mặt ngày càng đẹp lộng lẫy của Thùy sau khi lành bệnh hẳn và sinh con. Sợ tình yêu son sắt của nàng với Cả Chanh, người bạn tôi quý mến thật lòng. Sợ tính cả tin nguyên phiến mà cả hai vợ chồng dành một phần cho tôi. Sợ nỗi thương hại tràn trề nhân đạo đối với một người cha bị cấm nhìn mặt con trai, mà nàng suy ra từ tình mẫu tử của mình, quẫn trí sau khi mất con... Ý nghĩ đầy tội lỗi ấy đã lởn vởn từ trước. Trong lần gặp gần đây nhất, khi nhìn bé Chung ôm cổ mẹ Xùi cười rúc rích, đòi được thơm đủ hai bên má - một cảnh đẹp như tranh Ý thời Phục Hưng - nó chợt bùng lên thành cơn thèm khát sắc nét và rất mạnh: tại sao mẹ của bé Chung không phải là Thùy ? Tim tôi đầy những rối ren chằng chịt không gỡ nổi. Ngày 14-6-51 Sau một ngày cố cưỡng lại mình, tôi vọt về Linh Lâm với một kiện vải may áo quần cho tù binh Âu-Phi, đủ cho Thùy may mươi hôm. Chỉ sau hai buổi chơi với bé Chung, vỗ về một ít, đứa con gái bắt đầu biết bò của Thùy, tôi phải vội bỏ đi. Tôi chạy trốn Thùy. Nếu ở lâu hơn, trong một cơn choáng váng nào đó tôi sẽ điên cuồng dang rộng hai tay, ôm ghì cả Thùy và Chung vào lòng: hai nỗi yêu thương lớn nhất trên đời. Hẳn Thùy sẽ không quát, không tát, không chụp cây mác gài trên phên kia. Nàng hiền vô cùng. Nhưng Thùy sẽ giết tôi bằng cái nhìn ghê tởm kèm một câu khinh bỉ tận xương, na ná như: “Hèn gì con Bưởi nó gớm mặt anh”. Và tôi sẽ vĩnh viễn mất cả con lẫn Thùy ! Nàng cứ thong thả đạp máy, thỉnh thoảng nhìn cha con tôi bằng đôi mắt tươi cười che chở, quờ tay kéo sợi dây đưa nôi con mình. Mới kịp may hai bộ thôi, tôi lấy lại kiện vải, mượn cớ vừa được tin cấp trên sắp phát áo quần may sẵn cho tù binh. Không thể giao vải cho Thùy làm tiếp, Năm Bưởi về sẽ biết ngay những áo quần ngoại cỡ rất khác kiểu ấy do ai đặt làm. Tôi vẫn không thể tưởng tượng một ngày nào đó sống chung với Bưởi. Thà chết còn hơn ! Tôi phóng ngựa về nhà Bảy Suyền, gặp thằng em nhạc sĩ đợi sẵn. Không có tiếng cười hô hố và những câu chuyện tiếu lâm mới của nó, tôi đến hóa rồ mất ! ------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Đức: tạm biệt ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 03:59:53 pm * * * Trong ngôi đình cổ kính chưa bị bom, dưới ánh sáng xanh của cặp đèn măng-sông khá sang, hoạt cảnh vui “Lên cung Quảng thăm chị Hằng” chuyển réo rắt từ Bình bán qua điệu khác trong khi các tiên nam nữ lượn lờ: ... Thực là một sự lạ thường Nguyệt lầu đèn điện sáng trưng Chốn cung Quảng phấn hương nồng mùi Quạt máy trên trần quay tít Kèn hát cất tiếng vàng thau Nhạc mới đánh gắt và mau Các tiên tử ôm nhau nhảy đầm... Giữa tiếng khán giả cười đùa xôn xao, chị Hằng ngoe nguẩy uốn éo bước ra, một cậu trai giả gái diện tân thời theo kiểu lố lăng nhất. Nhóm đồng ca càng cao giọng: ... Chị ấy trông trời ơi choáng Quần trắng phết gót giày cao Mặc áo đúng mốt làm sao Rõ ra vẻ ngôi sao hợp thời... Tiếng cười rộ lên từng đợt ngắn trước điệu bộ của vai hề, lại nín để nghe lời hát quấy nhộn, đến cuối mới nổi ào ào. Hai Khánh cũng cười xả láng như mọi người. Liếc sang trái, anh thấy Viết Chương ghi dấu O cạnh tên tiết mục vừa diễn. Anh ngạc nhiên rỉ tai em: - Sao, kém à ? Chương lắc đầu, đáp nhỏ: - Défendu d'avance. - Pourquoi ? - On dira que c’est a politique, donc nuisipble. Mieux vaut éviter pour eux ung déception. 1 Viết Chương về đây sau chiến dịch Hoàng Diệu ở Bắc Quảng Nam, được giao chọn tiết mục của một số đội văn nghệ xã trong huyện để đưa đi dự Hội diễn của tỉnh sắp mở. Chương lôi Khánh đến chỗ tập hợp các đội cách trại tù binh mươi cây số, trong một làng lớn gần thị trấn Tam Kỳ đã phá hoại nhưng còn nhiều tiệm quán bằng tre tranh. “Giải trí một chút, không thì anh biến thành ông đạo sĩ tu ép xác mất”. Cậu ta vẫn đinh ninh thế. Chương cười hoang hoác trong khi chế giễu những lệnh cấm vô tội vạ đối với ca nhạc, do các ông lãnh đạo tùy hứng ở mỗi vùng, mỗi đơn vị, cấm ca vọng cổ (nhạc mất nước). Cấm những bài nói đến tình yêu (làm cho chiến sĩ nhớ nhà, sinh tư tưởng hủ hóa), cấm những bài đặt lời mới theo nhạc nước ngoài, kể cả nhạc Hướng đạo (của đế quốc sài lang). Có nơi còn cấm chơi nhạc không lời (không đại chúng), cấm kịch thơ (trái tự nhiên), sắc bùa (mê tín), bài chòi (cờ bạc). Chỉ còn lại một số bài ca yêu nước của sinh viên, các hành khúc soạn sau Cách mạng tháng Tám, và tùy từng nơi có thể cho phép một số điệu hò tập thể... - Thiệt may đó anh. Vài năm gần đây thông đường Bắc Nam, hài hát mới từ Việt Bắc với liên khu Bốn tràn vô nhiều, Trung ương cũng uốn nắn riết, mấy ổng mới bớt bớt cái thói vua con một cõi đối với văn nghệ. Nếu không, các ổng vừa cấm lu bù, vừa thúc ép tụi này đẻ sòn sòn những hài hát thời sự: ca ngợi chiến thắng Sông Lô hay Tây Nguyên, tố cáo đế quốc thực dân, cổ động tiêu tín phiếu và bài trừ ngoại hóa, có khi còn kêu gọi dùng phân bắc nước giải bón cây nữa... Cãi cù cưa thì bị trấn áp, kiểm thảo, chí ít cũng lườm nguýt, thôi cứ đẻ bừa đẻ non cho yên thân, bài hát chết yểu kệ nó. Thằng Xuân Chỉnh tài nhứt anh ơi: nó lãnh trợ cấp sáng tác đi chơi rông cả tháng, đêm cuối cùng nó ngoáy ba giờ được ba bài. Thằng Hà Mộng Hân chậm chạp hơn, lâu lâu lại chơi trò đánh tháo: lấy một bài cũ của chính nó đặt lại lời mới - lời dựa theo xã luận trên báo - đem nộp quyển, rủi lộ tẩy thì cãi chày cãi cối: bài hát có lời hai lời ba là thường, nó chẳng ăn cắp của ai ! Nói cho công bằng thì tại anh, tại ả, tại cả đôi bên ! Trên phần nền nhà cao hơn dùng làm sân khấu, một cậu trình bày một bài hát về Bình dân học vụ, tự đệm đàn bằng măng-đô-lin, là sáng tác tập thể của một nhóm giáo viên. Chương che miệng ngáp khi nghe hát lần thứ hai, đánh dấu X vào danh sách: được chọn. Cậu thì thào với Khánh: “Khuyến khích đề tài học Bình dân, khuyến khích nội dung chánh trị, khuyến khích sáng tác tập thể. Chỉ thị vậy đó”. Tới đờn ca Huế, bài Cổ bản đệm đờn cò 2. Người hát là một cô gái bẽn lẽn chưa đến hai mươi, được Chương giới thiệu khẽ là ca Nam ai hay tuyệt diệu, nhung điệu ấy bị cấm vì quá ai oán, “nhạc mất nước”. Ông cha tự đệm đàn cho con, cha con từ Thừa Thiên tản cư vào từ ngày về mặt trận Huế. Ông xin lỗi là buộc phải hát như hồi phong kiến lạc hậu vì chưa ai đặt cho lời mới. Duyên thắm duyên càng đượm Ấy giống đa tình Thêm nhiều ngày mặn nồng càng xinh Bực khuynh thành thiệt là tài danh... Giọng hát trong veo, đằm thắm, thật điêu luyện nhưng vẫn giữ lại một nét gì đó như ngây thơ không biến uốn éo làm duyên. Ngón đàn âu yếm của người cha quen đỡ con từ nhỏ cứ quyện lấy tiếng người, nâng nhẹ lên từng lúc, luồn thêm vào vô vàn rung ngân kín đáo. ... Thôi thôi đừng, thôi thôi đừng, Thôi đừng năn nỉ, suy nghĩ thêm sầu Mặc ai dầu thương yêu, mặn nồng bao nhiêu chi được lâu... Giọng hát bỗng rướn lên, thống thiết buốt lòng như tiếng thổn thức. Khánh chợt nghe đau nhói đâu đấy trong ngực, vội cúi mặt giấu đôi mắt hơi ướt. Dứt bài, khán giả lặng ắng đi mươi giây trước khi vỗ tay đến rung cả mái đình, hét ầm: “Hát lạạại !”. Viết Chương cắn bút chì khá lâu, rồi mím môi ghi dấu O vào cạnh tên tiết mục. Cậu ấn mạnh tay đến gẫy cả đầu chì nhọn. Lại thầm thì tiếng Pháp với Khánh: - Thà từ chối thô bạo từ đầu, còn hơn đưa những tài năng như thế đến một sự hắt hủi muộn mằn ! Khánh nể em, định đến giải trí một tối, sau ở lại thêm một ngày nữa đến khi mãn cuộc. Chương vác cây ghi-ta, khoác cái túi dết chứa tất cả gia tài, cười rộng miệng, bước xổng xểnh, đi tiếp lên huyện Tiên Phước với hai cậu nhạc sĩ trẻ bám theo học nghề. Trở về nhà Bảy Suyền, Khánh gặp một nhân vật mới: một cô chừng 24 đến 25 tuổi, trắng trẻo, còn khá xinh, có dáng vẻ một ả hàng xén không biết đến mưa nắng. Suyền giới thiệu chị Lệ Châu là chị họ ở gần chợ An Tân, bị bom cháy nhà phải đến ở nhờ, tính mở một quán giải khát ở ven con đường tỉnh đi xuống Tam Kỳ. Có lẽ Suyền đã kể về Khánh nhiều điều tốt đẹp nên ngay lúc mới gặp cô đã nhìn Khánh bằng cặp mắt đắm đuối, xưng hô anh em ngọt hơn mía lùi. --------------------------------------------------------- 1. Tiếng Pháp: - Bị cấm từ trước. - Tại sao ? - Người ta sẽ bảo là phi chính trị, tức là có hại. Nên tránh cho họ một thất vọng thì hơn. 2. Đàn nhị. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:02:35 pm Chương XIII Cơn dông chiều từ dãy Trường Sơn ào xuống hung hãn, đen kịt, bủa sấm chớp đầy trời, nhưng chỉ trút vài loạt mưa như vãi sạn rồi bỏ đi nhanh khi gió đất quét tấm thảm mây đen xuống phía biển. Bộ đội từ các hầm hào thấy mưa rắc hạt đã vội mặc nguyên áo quần chạy ào ra chỗ trống, định tắm xong sẽ cởi ra hứng nước giặt luôn, lúc này đành mặc bộ xi-ta ướt sũng, chửi vuốt đuôi và nhìn theo cơn dông: dưới nắng chiều đã sáng chói trở lại, mảng mây bên trên trôi lừng lững, buông chéo xuống đất một tấm màn trắng chở đầy chỗ mỏng như lưới quét đính vào bè tre của phường dẫy cá trên sông Linh. Ba Dĩnh cởi đồ ướt, dùng nó lau ráo người và cọ cái đầu cạo trọc, vắt ráo bộ đồ, đưa lẽn mũi ngửi và nhăn mặt vì nó hôi quá. Chỉ để lại trên người quần đùi và áo cổ vuông, anh loay hoay căng áo quần dài vào các mấu tre gỗ trên vách hầm, đeo nịt súng ngắn vào lưng, bước tới lay Năm Cho đang ngáy như kéo bễ trên tấm sạp tre: - Dậy Năm, bốn giờ rưỡi rồi ! Tiếng ngáy tắt phụt. Năm Chò ngủ say nhưng có thói quen dậy rất nhanh, rất tỉnh, nhất là khi được đánh thức bằng tiếng súng trường hay tiểu liên nổ gần. Chò mở to mắt nhìn quanh vài giây, hỏi lại giờ, lắc đầu: - Sớm quá, tàu bay nó lên băm vằm... Nó chơi thứ bom xăng đốt trụi cây cỏ lùm bụi, mình hết chỗ núp, trời khô hanh này thứ gì cũng cháy. Đợi tối chút nữa, ta ăn pháo cối mà bớt được tàu bay. Ba Dĩnh nói ngập ngừng, không tự tin mấy: - Trời mới mưa, cũng đỡ ngại na-pan... Năm Chò cười ồ ồ, răng lóe trắng trên khuôn mặt đen trũi: - Ông bị mắc lừa thằng cha Thiên lôi, hả ? Mình nghe sấm tưởng là ca-nông, dòm thử, thấy ông đứng ngửa mặt chào cờ, khấn lầm thầm cái gì như “lạy trời mưa xuống”, phải chưa ? Hự ! Anh vừa bị chính trị viên cho một thoi nặng vào vai. Hai người bước ra khỏi hầm, nheo mắt một tí cho đỡ chói, rẽ về phía trung đội trợ chiến do trung đoàn cử xuống phối thuộc, cùng một trung đội công binh mới xây dựng cho đi thực tập. Sau khi rút kinh nghiệm chiến dịch Hoàng Diệu và học tập kinh nghiệm chiến dịch Cao Lạng ở Việt Bắc, trung đoàn mở tiếp chiến dịch Nguyễn Duy Hiệu trên vùng bắc sông Thu Bồn. Trong buổi giao nhiệm vụ, anh trung đoàn trưởng cười cười, nói nửa đùa nửa thật bằng giọng Quảng Ngãi: - Còn cái đồn 76 lì lợm này, chắc là Năm Chò xung phong lãnh phần bao vây tiêu hao, hay là hốt trụi được càng hay ! (Anh quay sang nhóm quân báo) Thằng đại úy La-phạt nổi tiếng khát máu là con mồi riêng của ông Năm đó nghen. Nó còn bám đó hay đi rồi ? Ban chỉ huy đại 8 biết rõ, nhưng đợi mấy tay “báo quân”, tức là báo hại quân ta, trả lời sao cho biết. Anh trưởng tiểu ban quân báo, liếc anh phó, anh phó nháy anh đội trưởng. Đội trưởng chẳng còn ai để đưa mắt cầu cứu, đành đáp nhát gừng: - Dạ thưa, tụi em chưa nắm được tên thằng đồn trưởng. Chỉ biết nó là trung úy chớ không phải đại úy. Nhân mối ngụy trong đồn nói nó còn trẻ, không biết tiếng ta, chỉ huy bắn pháo cối giỏi mà ít ra khỏi đồn, chắc mới từ bên Pháp qua... Năm Chò bực quá, buột một câu gằn giọng: - Thằng Tây Bia đi Lào tám mươi đời rồi ông ơi ! - Sao ? Tây Bia là thằng nào ? - Báo cáo, nó là thằng Pi-e La-phạt, tôi giết hụt nhiều lần. Tây thuộc địa chánh hiệu con nai vàng, ăn mắm ruốc uống rượu lậu, nói tiếng mình róc róc. Nó ác số một mà xảo trá cũng số một đó anh... Xin tùy trung đoàn cắt đặt thôi, tụi tôi quen địa hình vùng đó, thằng Tây Bia ở hay đi mặc kệ ông cha cố tổ nó ! Trung đoàn trưởng xoa dịu cho cánh quân báo đỡ mất mặt: - Ờ, ờ... ai biết cho bằng mấy cha thổ công thổ địa. Vậy nghen, ông Chò, ông Dĩnh lãnh cái 76 được rồi. Không cho đưa quân thọc ra, không cho biệt kích sau lưng mình, không cho dộng pháo cối xuống yểm hộ các đoàn tiếp viện bị mình đánh... - Báo cáo, không cho lính ra thì được, mà tụi tôi lấy gì bịt họng pháo cối của nó ? Hai cây xoa-xăn-keng, thêm hai cây Bô-pho liên thanh của Mỹ mới đưa về bắn từng loạt năm trái bốn mươi ly, thêm bốn cây cối tám mốt, không kể cả lô súng cối sáu mươi lính nó vác theo khi hành quân... Tụi tôi lấy thân lấp lỗ châu mai cũng chỉ chặn được một lỗ trong vài phút thôi, mà tụi nó có tới mấy chục lỗ, bắn dai cả ngày đêm ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:05:45 pm May cho Năm Chò, anh đại đội trưởng đại 8 độc lập quen ăn nói ngổ ngáo, được gặp trung đoàn trưởng là người lăn lộn nhiều năm ở địch hậu, quen bỏ qua cách nói để lọc lấy phần đúng nhất trong lời nói, thường gờm những lối “dạ thưa anh” mà chịu khó đưa tay đón những con nhím dựng lông của những ai đã từng sứt đầu mẻ trán trong chiến trận. Anh đứng thừ ra một lát, hỏi lại:
- Năm à, ông tính tháo gỡ cách sao, bàn thử coi. Khuôn mặt đen trũi và to bè bè của Năm Chò từ từ dãn ra. Anh đã lên gân sắp sửa húc báng như trâu đực, bởi rất ít tin cậy những người mà anh quen gọi là “phóng văn lình”, tức lính văn phòng, gồm tất cả những ai không tự tay cầm súng bắn Tây mà vẫn mặc quân phục, đeo sao mũ có một hay hai vành vàng, xuống tới đại đội đã tự coi như xông pha khói lửa cực kỳ hiểm nguy rồi. - Báo cáo trung đoàn, tụi tôi vây dưới thấp, đồn nó trên chóp núi, thép gai với rào tre trải xuống tới ruộng, thêm mấy chục mẫu đất hoang chuột chạy cũng thấy... Súng bắn thẳng không xỉa vô miệng pháo nó được, cối sáu mươi lắp hết liều phụ cũng bắn không tới, đặt giữa ruộng thì đèn dù nó soi xỏ kim được, mà bắn gấp vác chạy cũng không phá được nắp hầm pháo của nó. Dân bị bắt đi cỏ-vê trên đồn nói nó đắp nắp hầm bằng gỗ nguyên cây, tre đực, đất sét, dày tới nửa thước, trên còn xếp bao cát nữa, đạn cối sáu mươi gãi ngứa thôi. Mấy anh tác huấn nói nghe thiệt ngon, bàn tới lui những là vi thành công viện hay là công thành diệt viện, xin các anh bày cách khóa họng pháo cho tụi tôi nhờ với !... Ông Dĩnh ơi, bấm đùi tôi miết chi vậy ? Chuyện xương máu anh em, nói lấy lòng thì chết lẹ lẹ ! Hội nghị xôn xao lên một lát, tìm cách gỡ bí. Nhóm địch vận bàn lấy đồn bằng phản chiến, ở đó có hai trung đội ngụy, đủ sức diệt trung đội Âu-Phi chuyên bắn pháo cối. Đại đội trưởng đại 9 đã ăn ngon một đồn bằng cải trang kỳ tập, rất dè dặt khi được hỏi ý kiến: địch mắc lừa vài lần rồi bây giờ e khó, đồn này lại nhiều lính lê-dương. Hay là xin liên khu đưa cây pháo 75 đóng đinh thay kim hỏa ra đây, ngắm qua nòng bắn thẳng ? Nó hết đạn từ khuya, tháo vụn đút kho rồi. Hai cây sơn pháo Nhật cũng hết đạn, ta làm đạn nội bắn thử, toác nòng mất một cây rồi. Ban chỉ huy trung đoàn xúm vào xem sơ đồ khá lâu, đi tới quyết định: đưa về phối thuộc đại 8 một trung đội trợ chiến, một trung đội công binh mới lập. Tan họp, trung đoàn trưởng giữ Chò với Dĩnh lại dặn thêm: - Công binh mới học phá cầu đường, đánh mìn giao thông, đào công sự, chưa biết rà mìn Mỹ hay cắt thép gai đâu nghen. Trợ chiến khá hơn, có hai cây phóng bom, hai SKZ của Cao Thắng mới chế theo mẫu của bộ Tổng đưa vô, bốn ba-dô-ca bắn gần. Các cha gặp anh em hỏi kỹ thêm, đừng như tay Giáo đại 6 cứ đòi SKZ đặt xa nửa cây số mà diệt lô-cốt xây bê-tông ! Bước vào chiến dịch, công binh chỉ làm được một việc là cho nổ ba cây cầu xi-măng ngắn trên con đường tỉnh lên đồn 76, sau đó chuyên đào hầm hào cho đại đội bộ và cho mình. Trợ chiến làm ăn rôm rả hơn: SKZ và ba-dô-ca của họ đánh toác cái lô-cốt đất giữ cầu cho công binh đặt mìn phá thoải mái. Địch rút bỏ cái lô-cốt gác đường dưới chân đồi 76, chỉ có một tiểu đội Bảo vệ quân chuyên chặn thu gà rượu của dân buôn. Cái lô-cốt ngoại vi thứ ba, gác con đường lấy nước từ đồn xuống sông Thu Bồn, được địch vận trước, mang súng theo ta sau mấy loạt súng và vài quả lựu đạn nổ che mắt địch, cho Tây khỏi hại gia đình lính ngụy. Cái đồn chính vẫn trơ trơ, ỳ thần xác ra đấy. Vây thành đánh viện, mà nó chẳng thèm viện, biết làm sao ? Quân vây bắn tỉa nó xổ vài băng trọng liên đặt trên mi-ra-đo ngất nghểu, coi như báo tin ta vẫn thức đây. Nửa đêm, khi quân ta luồn dưới pháo sáng đến sát hàng rào tre gai bao quanh chân đồi, đặt súng phóng bom, tống vội vàng lên đồn năm bảy quả rồi vác súng chạy xăng mét dưới mưa đạn đủ cỡ trút xuống đầu, anh em còn tin rằng mình phá được thứ gì đó của địch. Sáng hôm sau, khi đơn vị bạn nổ súng đánh xe, họ ngây mặt ra mà đếm tất cả các họng pháo cối địch vẫn khạc đạn đều đặn, rồi xịu mặt khi nghe tin nhân mối báo lại rằng đạn phóng bom của họ quả nổ quả không, nổ cũng trật bậy ở nơi rất xa chỗ có lính. Ba-dô-ca chỉ bắn tầm gần, được điều ngay cho các đơn vị đánh xe. Còn SKZ nội hóa, tuy hay tịt ngòi và bay tùy hứng, vẫn được dùng thử. Bộ đội tìm cách cắt một lỗ ở rào tre, một chỗ luồn qua rào thép gai, liều đưa súng vào sát lớp xoắn bùng nhùng mà bắn phá hầm pháo 75. Chưa xơi được gì đã bị thương vong hai lần, lần đầu vì mìn chồn nối dây vào cọc tre, lần hai vì địch nghe động xối đạn xuống. Đành chịu để cấp trên điều SKZ đi nơi khác, không xin xỏ kiện cáo gì nữa. Trung đội trưởng trợ chiến Trừng - một cán bộ trẻ, hồng hào, rất tháo vát - trong cơn tức tràn hông, đã mượn ngựa đi thâu đêm về xưởng Cao Thắng II đóng mé trên làng Linh Lâm. Cậu mới trở về trưa nay, đưa theo cả một đoàn vài chục người: hai anh kỹ thuật đi xem bắn thử loại phóng bom mới, mười lăm dân công khiêng súng gánh đạn, ba phái viên tác huấn và quân báo, lại có một cán bộ Trường lục quân đi theo chẳng biết để làm gì. Năm Chò “hừ” trong mũi khi nghe báo cáo: - Lão Lý Đằng lại cho tay sai xuống bắt bẻ, vặn vẹo ! Ngán cái ông tướng Tàu vàng đó tới cổ rồi ! Sau mấy tháng làm việc trong Tiếp phòng quận - bộ phận quân ta được cử đi kèm quân Pháp sau hiệp định 6-3-1946, khi hai bên tạm ngùng bắn và Pháp đổi gọi những trận càn quét ở miền Nam là hoạt động cảnh sát - ông Lý Đằng được cử làm phó giám hiệu Trường lục quân Quảng Ngãi. Ông nói tiếng Việt khá hơn trước, nhưng vẫn nổi tiếng hách dịch, quân phiệt. Năm Chò ghét ông ta, ghét lây cả những ai từ chỗ ông ta đến đơn vị. Tuy anh không nói toang toang phổi bò như trước, nhưng tiểu đoàn và trung đoàn đều biết bụng dạ anh. Mỗi khi cán bộ khung Trường lục quân đưa học viên đi thực tập chiến trường, muốn về đại 8 nổi tiếng đánh giỏi với anh chỉ huy Năm Phi Đao rất độc đáo, Ban tham mưu thường kiếm cớ lái khéo họ sang đơn vị khác, dù có khi đại 8 đang luyện quân rất gần trung đoàn bộ. Chẳng hiểu vì sao lần này một cán bộ Trường lại lọt lưới đến chỗ Năm Chò ! Vây đồn đến ngày thứ sáu rồi, bộ đội đói và bẩn, mất ngủ phờ phạc, thương vong đến bảy người mà vẫn không chặn được pháo cối địch, trái lại cứ phải giơ lưng mà ăn bom đạn đủ cỡ của chúng ! Lính cáu kỉnh, Ban chỉ huy bực tức, anh chàng lục quân nào đó lơ ngơ đến đại 8 hãy liệu hồn ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:09:05 pm Khác với các hầm của công binh rất chắc và gọn sạch, bốn căn hầm của trung đội trợ chiến khá là nhếch nhác, tạm bợ, chỉ được cái rộng chỗ vì SKZ và ba-dô-ca đã đi nơi khác. Nhờ vậy đoàn dân công có chỗ ở tạm đến mờ sáng mai, sẵn sàng làm cái việc mà cán bộ của xưởng Cao Thắng cũng như của đơn vị đều nghĩ thầm nhưng kiêng nói: nếu loại súng mới này bắn không ra gì, ít nhất cũng có người khiêng súng gánh đạn trở về xê-ca đơ.
Năm Chò bước vào hầm, giụi mắt cho quen ánh sáng chợt sầm xuống, bước ngay lại chỗ để súng, chỉ đáp vội câu chào của hai anh kỹ thuật Cao Thắng đã gặp anh ở Linh Lâm, ngồi xổm xuống bên hai khẩu phóng bom đã chùi sạch, kê dựng nòng. Khác với loại cũ, hai khẩu này to và dài hơn, có chân xếp được như chân cối, đế làm theo kiểu khay úp sấp chống lún trượt và có khớp tròn để xoay trở. Quả đạn to đặc biệt, có chuôi gỗ tiện tròn lắp khít nòng. - Báo cáo anh Năm, thứ này đạn nặng tới mười một ký, nhơn đó tụi tôi đặt ký hiệu là FB.11 cho dễ nhớ. Nhồi đạn bằng thuốc tô-lít, tức là thuốc nổ TNT trong bom cưa ra. Liều phóng không dùng thuốc đen nội nữa, mà lấy thuốc không khói trong trái đạn cà-nông, nó chịu ẩm tốt hơn... Góc hầm hên kia chợt bật lên tiếng kêu của Ba Dĩnh, rất khác thói thường điềm đạm của anh: - Giỡn chi vậy đồng chí ! Thằng Cam đang học ở khu Tư kia mà ! Năm Chò quay phắt lại. Mắt anh đã quen bóng tối trong hầm, thấy ngay một anh bộ đội khá cao to, râu quai nón rậm đen bọc gần kín nửa mặt, tóc cạo trọc mới mọc lại chừng một phân, mặc bộ quân phục nhuộm vàng may khác kiểu: cầu vai và nắp túi rất nhỏ, lơ-vê quần chỉ vài phân và có khuy gài túm ống. Anh đứng ngẩn ra phân vân trong khi anh kia cứ ngồi xếp bằng tròn, dựa vách hầm, lặng lẽ nhăn răng cười muốn đứt đôi cái mặt. Đôi mắt xếch, cặp lông mày nét mác, cái cằm chẻ đôi... thiệt nó không... trùng tên... ghẹo nhau chơi... mà đúng nó rồi, cái thằng quỷ tha ma bắt, trời đánh thánh vật kia vẫn cứ đóng kịch với Ba Dĩnh, nhưng nó làm sao qua mắt được Năm Chò ! Anh bước tới gần, rít khẽ trong mũi, chìa ra hai tay run rẩy. Cậu kia không chịu nổi nữa, chồm vọt lên, nhào vào tay anh. Ngực cậu ta nẩy liên tiếp trên ngực Năm, truyền sang anh những tiếng nấc cố nén. Anh ngửa đầu ra sau để nhìn mặt Cam, chợt thấy mắt mình chỉ ngang cái cằm rậm râu của nó. Dễ sợ chưa ! Tiếng Ba Dĩnh ồm ồm ngay bên tai đánh thức cả hai anh em: - Vậy mà nó tự xưng là cán bộ Trường lục quân, giấy cũng đề vậy, làm tao tưởng trùng tên ! Sáu Cam buông anh Năm, dặng hắng vài lần mới nói được: - Thì em ở Trường về đây thiệt chớ. Ở Thanh Hóa vô đây... - Hừ, sao lại Thanh Hóa ? Quảng Ngãi ra chớ ? - Em chưa vô tới Quảng Ngãi. Vô tới Trung Phước, nghe tin các anh đang vây đồn 76, em xin phép hỏa tốc thăm các anh. Anh Ba coi lại giấy đi: Trường lục quân trung học Trần Quốc Tuấn, phân hiệu Trung Bộ, đoàn cán bộ bổ sung liên khu Năm... - Ờ, ờ... mà thiệt vậy... trong hầm tối mù khó đọc quá... mà cũng tại mày nữa, thằng khỉ... mới nhổ giò đã lớn như Tây lê-dương ! Trung đội trưởng trợ chiến bước tới chỗ bộ ba đang hồ hởi, nói lễ phép nhưng lộ rõ vẻ sốt ruột: - Báo cáo Ban chỉ huy, xin cho xuất phát ! Cậu Trừng đã cho đào từ trước, ban đêm, một số hầm hố cho người và đạn, đào đắp chỗ đặt súng. Không đủ hầm cho dân công ở nơi bắn, mỗi cán bộ đi quan sát đều vác mỗi người hai quả đạn. Tất nhiên Sáu Cam cũng được đi. Năm Chò xốc đạn lên vai: - Bồng em mà bỏ vô nồi... chà, em nặng ký đây... Mày biết bắn phóng bom không Cam ? - Dạ không, tụi em học vũ khí bộ binh thôi, một số cuối khóa còn đi học tiếp pháo hay trợ chiến. Em được cử đi học pháo, mà sốt ruột quá, xin về liên khu mình lẹ lẹ. Lúc này nắng chiều cuối hè đã đổ bóng các đồi gò xuống phủ màn sẫm trên khúc đường trũng họ đi, trong khi ngọn đồi 76 cao nhạt vẫn sáng gắt từ hàng rào tre bọc chân đồi trở lên. Điều kiện bắn rất tuyệt: địch nhìn ngược sáng bị chói mắt, cứ phơi ngực ra hứng đạn. Bộ đội luồn dưới những đám bói xơ xác, đến các công sự đào sẵn mà không phải bò toài vất vả. Trong khi nhóm pháo thủ hối hả mở ba-lô lấy đầu nổ, thuốc phóng, đạn không đầu làm mồi lửa, hai anh Cao Thắng kéo cậu Trừng ra mép vạt bói, gắt khẽ: - Đã dặn các anh trí súng cách ba trăm thước thôi, là tầm bắn hết liều, các anh đặt đây cách mi-ra-đo của nó tới hơn bốn trăm, đạn rớt ngoài rào hết ! - Nói anh biết, tụi này bắn súng cầu vồng mòn da tay, còn các anh nằm miết trong núi du di... - Đồng chí đùng nóng. Chúng tôi thử súng, phải kéo dây đo đúng từng thước để chỉnh tầm chỉnh hướng, quen ước lượng bằng mắt rồi... - Dẹp ba cái lý thuyết suông đi ! Anh em xong chưa ? Chuẩn bị ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:12:38 pm Ba Dĩnh khoát tay cho mọi người xuống hầm hố. Trung đội trưởng hầm hầm bước tới bên đế súng, ngồi xổm, xem lướt qua các bộ phận, xoay thử quả đạn cắm chuôi vào nòng, buông cộc lốc:
- Núp kỹ chưa ? Tôi nổ đây ! Tách, bụp... uỳnh ! Kim hỏa đánh xuống, viên đạn nhỏ không đầu phụt lửa, liều thuốc phóng xoẹt nổ thành tiếng trầm và rền như bom nổ sâu trong lòng đất. Khói trắng đục phì thành luồng vừa phải, không đen đặc như thuốc tự tạo. Quả đạn bay lên trông thấy rõ, đầu đen rung nhẹ, cái chuôi gỗ ngoáy ngoáy. Nó dừng lại trên không thành một chấm đen nhỏ tí, chúc đầu rơi xuống, biến mất. Rầầầm ! Anh em đã nhảy hết lên mặt đất, reo khẽ, trầm trồ. Phóng bom có khác, nổ bằng quả bom thứ thiệt, chết mày Tây ơi ! Năm Chò vừa toét miệng cười, bỗng nghiêm ngay. Quả đạn dựng cột khói bên trong hàng rào tre, chưa rướn tới ba lớp rào thép gai và con hào lởm chởm chông, cách bức tường gỗ đất và các lô-cốt xây liền tường những hơn trăm thước ! Địch nghe tiếng nổ lạ, chưa bắn trả. Có thể chúng tưởng con gì chạy vướng mìn chôn giữa các hàng rào, không định hướng được tiếng nổ rất trầm và không thấy làn khói nhẹ tản trong bói. Trừng hỏi giật giọng hai pháo thủ đang nhồi thuốc phóng vào nòng: - Lắp liều mấy ? - Dạ liều ba... cũng như phát trước... Trừng vung tay. Cậu kia né đầu không kịp, bị cái tát bật ngửa, máu mũi bắt đầu túa đỏ. - Tao đã dặn lắp liều tối đa, liệu hồn ! Mày cố hại tao hả ? Pháo thủ thứ hai lẳng lặng nhét thêm một túi vải tròn dẹt như cái bánh dày vào nòng, dùng cây gỗ tròn thúc nhè nhẹ. Hai anh Cao Thắng nhào tới: - Bắn liều bốn phải núp hầm, dùng dây kéo cò, anh quên à ? - Xê ra ! Đái trong quần rồi hả ? Năm Chò không kịp chặn, chỉ khoát tay ra lệnh tất cả xuống hầm. Trừng ấn cò. Đất rung mạnh hơn, tiếng nổ đầu nòng to hơn, đạn vọt nhanh hơn. Cột khói thứ hai dựng lên giữa hàng rào thứ nhất và thứ hai, cách bờ tường độ năm chục thước. Cuộc bắn thử thất bại ! Năm Chò quát khẽ một lệnh gằn giọng: - Thôi bắn, thu pháo xuống hầm, đợi địch phản pháo xong sẽ về rút kinh nghiệm. Trừng, nghe rõ không ? Thu pháo lập tức ! Mặt đỏ tía, mồ hôi nhỏ giọt dưới cằm, mắt vằn máu và lồi hẳn ra, trung đội trưởng trợ chiến đáp lệnh bằng một câu chửi rất tục. Cậu tự tay vơ những túi thuốc phóng nhồi hấp tấp vào nòng. Một anh Cao Thắng rít qua kẽ răng: - Nguy rồi, hắn lắp liều năm, liều hủy pháo ! Vừa lúc ấy, một tràng đạn trọng liên từ trên mi-ra-đo xổ xuống chung quanh chỗ đặt cây phóng bom. Đạn xóc vào đất đá, nổ lại tóe lửa. Chíu chíu, tốc tốc, phụp phụp, pằng pằng. Còn may bóng tối đã khá sẫm, địch chỉ xăm tràn lan trong khi pháo 75 và cối 81 vội vã xoay nòng. Bộ đội nhảy ào cả xuống hầm. Trên đồn dội lên bốn tiếng đê-pa của súng cối, pì-pì-pì-pình ! Nhưng pháo địch lúc này không nguy hiểm bằng pháo ta... Rầầầm ! Tất cả những cặp mắt nhô trên mép hầm cùng thấy quả đạn phóng bom vọt nhanh như chớp, cái chuôi gỗ gãy nghiến xoáy tít trên họng súng, bụng khói đặc sệt phì tung toé chung quanh đế súng, một hình người văng khỏi mặt đất và rơi ngửa ra sau. Tiếng ù ù ong ong trong tai chưa dứt, mọi người nhận ra ngay tiếng rít xé vải của loại đạn cối 81 rơi thẳng xuống đầu. Địch chỉ băm vằm trận địa chừng hai chục phút. Hẳn chúng đoán Việt Minh bắn quấy rối xong đã vác súng chạy xa. Bị bao vây sáu ngày, chỉ tiếp tế bằng thả dù, chúng hà tiện đạn hơn trước. Đoàn bắn thử rút về, khiêng theo một xác chết, ba bị thương, một cây phóng bom toác nòng và văng mất bộ máy cò, chỉ đem về để nghiên cứu. Đêm ấy hầu hết đại 8 không ngủ. Cán bộ họp gấp, quyết định giữ lại cây pháo còn tốt và nửa số đạn, tuy hai anh Cao Thắng nổi khùng cứ nằng nặc đòi rút về hết. “Tụi tôi chế súng đạn cho cả liên khu, chẳng sợ ế khách đâu !”. Ba Dĩnh phải dỗ ngọt rất lâu họ mới chịu ở lại một người, anh kia bị thương trên trán phải về chữa. Sáu Cam ngủ với Năm Chò trên tấm sạp tre hẹp lót đáy hầm, ngửi thấy mùi rượu trong hơi thở của ông anh nặng nợ Lưu Linh. Ba Dĩnh túm chăn làm võng nằm góc bên kia, thỉnh thoảng nhắc cầm canh là phải ngủ, đến nửa đêm sẽ đi coi trợ chiến đào công sự cho pháo và người ở chỗ mới. Im một lát, rồi một trong ba anh em lại trằn trọc, ngọ nguậy, ngồi lên hút thuốc hay đi tiểu, thì thào mở đầu một câu chuyện mới. Ai nấy đều tránh nhắc tới cuộc thử súng ban chiều. Sau một loạt cối địch bắn hú họa. Năm Chò vùng dậy hẳn, đánh bật lửa châm vào cái đèn thẫu dầu dừa - trong hầm thắp loại này đỡ khói khét - bảo Cam: - Nói nhỏ cho cụ Dĩnh ngủ... Kể tao nghe coi, mày làm gì học gì ngoài khu Tư lâu lắc vậy ? Cam tóm gọn: học chuyên khoa văn học năm thứ nhất tám tháng ở trường Huỳnh Thúc Kháng, trở về đại đội địa phương huyện làm cấp dưỡng, học Trường lục quân mười lăm tháng, hành quân vào thẳng đây. - Trên nuôi khá lắm hay sao mày cao to nhu Tây vậy ? Cam cười xoà. Khá thì không, nhưng mỗi ngày tám lạng gạo đủ no, chế độ phòng bệnh tốt. Thức ăn bốn lạng gạo quy ra tiền, chỉ có một ít moi khô rang mặn, vài đũa rau muống... - Có gặp tay nào quân phiệt như Lý Đằng không ? - Mấy tháng đầu cũng có. Sau Bộ Tổng cử một đoàn vô chấn chỉnh rất gắt, chấm dứt được, nửa khóa sau không khí ủng cán ái binh tốt lắm. A mà anh không biết ông Lý Đằng ra Bắc rồi à ? Em gặp ổng ở chiến khu Ba Lòng, chỗ phân khu Bình Trị Thiên đóng, ổng đợi xoi đường Chín đang bị bít cứng. - Chắc lão đi ngựa, lên yên phải có người bưng đít... - Gớm, làm gì ! Chống gậy đi bộ, ưu tiên được khỏi mang ba-lô... Em nói thiệt cái này, anh đừng giận nghen. Các anh đang bế tắc cái vụ đánh công kiên, phải chưa ? - Mày thấy đó. Quấy rối kềm chế cũng chẳng được, nói gì công với thủ ! - Khóa tụi em đáng lẽ xong lâu rồi. Bộ Tổng giữ lại cho học thêm ba tháng công kiên chiến, một tháng liên tục vận động. Học công kiên phải rút vô vùng Mường giữa núi, đắp đồn thiệt, đào hầm hào thiệt, giựt bộc phá thiệt, mệt kinh khủng mà cũng ham ghê gớm. Em được xếp loại khá về chỉ huy liên tục bộc phá với lại giá thiết, đánh tung thâm cũng đường được... - Sao mày nói đầy tiếng Tàu như Lý Đằng vậy nhỏ ? - Hì hì hì... Là tại cán bộ nhà trường đi tập huấn với cố vấn Trung Quốc, trúng mấy ông phiên dịch không biết nói nôm ra sao, cứ chuyển qua âm Hán - Việt cho mau. Các anh đọc cuốn “Sửa đổi lối làm việc” rồi chớ ? Đó, Bác Hồ chê gắt cái tật nói chữ, lắm khi nói trật bậy làm trò cười, vậy mà mấy ông dưới có chừa đâu. Mới đầu tụi em nghe cũng ngớ ra: tính co giãn thì nói là thân xúc tính, tổ thang cầu kêu là giá thiết đội, khêu gợi cho anh em nói để hiểu thì làm một tràng “đả thông trên tinh thần khải phát”. Cứ như anh Năm tập cho du kích hay chen tiếng Tây vô, hồi trước khởi nghĩa ! - Thì tao chịu dốt chứ có khoe khôn đâu mày ! Hỏi thiệt nghe Cam, thứ công kiên chiến mày học, đem đánh mấy cái đồn to cỡ này nhắm có phủng không ? Cam nín lặng vài phút, đáp rất cứng giọng: - Được anh à. Đại 8 mình đây, cho tập vài ba tuần, phối thuộc thêm năm bảy cây trung liên đại liên, em cho đủ sức diệt cái 76. Mình vô được trận nội rồi, đánh lính pháo thủ không khó đâu. Em nghe mấy anh tham mưu liên khu đón đoàn em ở Trung Phước, nói liên khu tính mở gấp một đợt huấn luyện công kiên chiến, cán bộ trước, chiến sĩ sau. Anh nên đi, anh Năm ơi. - Ờ, tao thọ giáo thằng Cam chẳng xấu mặt nào ! Ba Dĩnh nằm im từ nãy, bỗng chen vào một câu tỉnh như sáo: - Cha Năm không đi, để tao đi cho. Mỗi lần đụng đồn lũy nó là một lần trầy vi tróc vảy, ngán kinh ! - Cụ chỉnh tôi hoài chuyện nhác học, giờ tôi sửa... Nói tình thiệt, hễ thằng Tây La-phạt còn bám cái đồn này, đừng hòng tôi đi đâu xa, nhứt quyết ở đây mà đổi mạng với nó. Phóng bom chẳng ăn thua thì tôi phóng dao ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:18:32 pm * * * Năm Chò lầm to. Thằng đại úy Pi-e La-phác-sơ mắc kẹt trong đồn 76 suốt những ngày bị vây hãm, do một sự tình cờ hiếm có. Hắn không nắm quân, mà đến để sắp xếp “kế hoạch X”. Dân chúng ngoại ô Viêng Chăn, gần khu đóng quân của Bộ chỉ huy quân khu Thượng Lào, ngày càng khiếp ông xắc xảm bạ 1 và nhóm tay chân của ông ta. Hễ thấy từ xa hai ba chiếc xe Gíp tung bụi phóng ào tới, dân đi đường cứ là mạnh ai nấy tránh, dù phải vọt xe lên vỉa hè hay nhào vào cửa tiệm gần nhất. Trên các xe Gíp chất đầy những sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp say mèm, cười hô hố, bắn loạn xạ, ném vỏ chai rỗng vào tủ kính dọc phố. Vương quốc Lào trương lá cờ voi ba đầu che lọng trắng trên các công sở mới được Pháp bố thí cho, thường hạ cờ với một mớ lỗ thi bắn. Những bóng điện đường là đích được ưa thích khi xe chạy nhanh. Điểm bắn tầm xa là những thuyền độc mộc trên sông Mê-công khi tan chợ chiều: bắn hạ người hay toác thuyền còn tùy theo người cá cược. Sau vụ kiện căng thẳng nhất, có cả bộ trưởng Bộ nội vụ Lào ký đơn - bù nhìn đến mấy cũng phải mở miệng khi hai cảnh sát Vương quốc bị ném từ trên cầu xuống sông, chết đuối một - cha con La-phác-sơ quần thảo một trận chí tử. Cha tát con tới tấp, con đạp cha ngã ngửa và chĩa súng dọa bắn. Mãi đến gần sáng mới tạm hưu chiến, đi ngủ. Lão Lê-ông thăm dò khắp nơi, thấy Pi-e lâm nguy thật sự. Tòa án quân sụ khui các vụ cũ ra xử gộp, không tử hình cũng tù rục xương, bởi lúc này đang phải điểm phấn tô son cho cái triều đình Vương quốc đã trót đánh đĩ nhiều nơi. Pi-e có thể là con vật hiến tế công khai, trong khi các sĩ quan khác vẫn tha hồ giết, cướp, đốt, hiếp trong các trận càn quét xa kinh đô. Đêm tiếp theo, cha con không đấu võ mà đấu khẩu. Tội vạ rành rành đấy, nhưng Pi-e vẫn xa xả kể tội cha: giàu tấy lên đến cái độ xúc tiền bằng xẻng mà keo kiệt với con, giấu của để hút xách, bao gái, hay chỉ vì máu ham vàng của lão Grăng-đê. Hắn nói trúng tim đen, nhưng lão Lê-ông đã trở lại là tay chạp áp-phe máu lạnh, cãi ít tính toán nhiều. Dù sao Pi-e cũng là đứa con trai độc nhất của lão... Quyết định cuối cùng: lão cấp tiền cho Pi-e đi xa chừng ba tháng, rời hẳn đất Lào, làm một số việc dễ dễ trong “Kế hoạch X”. Lão ở lại Viêng Chăn, tìm cách ỉm vụ bê bối này cùng các vụ trước bằng tiền lót tay đấm mõm. Nếu tạo được bằng chứng giả để biến tên cảnh sát chết đuối thành người của Neo Lao-Itxala 2 thì hay tuyệt, tội của Pi-e sẽ hóa ra công ! Lão Lê-ông cấp tiền mặt chỉ ba chục ngàn, nhưng ký ba cái séc lãnh tiền ở ba chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Mác-xây, Sài Gòn, Đà Nẵng. Việc của Pi-e đơn giản thôi: áp tải một chuyến hê-rô-in sang Mác-xây bằng máy bay và giao cho mạng lưới bán lẻ của thằng Ghê-ri-ni, chơi rông ở chính quốc ít lâu, về Đông Dương thu xếp mấy bãi thả dù trong khu vực Sài Gòn, Đà Nẵng. Pi-e được món tiền khá to, đã trở lại ngoan ngoãn. Lão Lê-ông mở bản đồ lớn ra giảng giải: - Việc ba làm, ngày càng khó giữ bí mật. Bọn Mỹ trút đô-la vào đây, cũng trút bọn ngoại giao, điệp viên, nhà báo vào theo lu bù. Thêm các nước đồng minh hờ tới cắm cờ nữa. Phải đưa hê-rô-in lánh xa các thành phố lớn, căn cứ lớn, sân bay lớn. Ngay cái xưởng LX.01 trong sân bay quân sự này chưa chắc đã kín, ba đang cho xây một xưởng dự trữ trong rừng sâu, hễ lôi thôi thì tháo máy chuyển gấp đi. Trạm máy bay đỗ dọc đường đặt ở Pạc-xê, được, bọn chó săn ít dùng chỗ ấy. Sân bay Tân Sơn Nhứt bị cấm hẳn rồi, Ô Cấp với Cam Ranh bắt đầu bị để ý. Đại tá Ben-lơ với số sĩ quan làm “Kế hoạch X” bàn với ba nên chọn điểm thả dù là hay nhứt, ngoài nhìn vào hệt như tiếp tế bình thường. Bãi thả đặt ngay trong đồn hay sát đồn, xa thành phố lớn nhưng có đường bộ tốt để áp tải hàng đến sân bay, bến cảng, chạy ban đêm... - Ba mới nói Tu-ran... à, Đà Nẵng... nó trái đường sang Pháp kia mà ! - Xem bản đồ đây. Từ Pạc-xê hay xuyên ngang Đông Dương đến Đà Nẵng trên xấp xỉ cùng vĩ tuyến. Nó trái đường sang Pháp nhưng rất thuận đường đi Hông-công, Đài Loan, Phi-líp-pin, Nhật, từ đó hàng của ta tuôn sang Hoa-kỳ là cái thị trường lý tưởng, nhất thế giới. Hễ bí đường bay thì còn tàu chiến, còn cái va-li đút dưới giường ngài đô đốc... Hôm trước ba gặp thằng thiếu tá Tranh-ki-ê, nó bảo cái đồn 76 con chỉ huy năm ngoái bây giờ mở rộng thêm, tăng quân tăng pháo, làm được một sân bay dã chiến khoét vào sườn núi. Đường bộ từ đó xuống biển hay về thành phố đều tốt, có cảng biển, sân bay. Con ghé về đấy xem thử. - Chỉ có một trở ngại: Việt Minh !... - Thứ ấy thì nơi nào cũng sẵn ! Pi-e giao xong hàng tại Mác-xây, đến ở một khách sạn loại sang trên phố Brơ-tơi gần Cảng Cũ, háo hức đi xem cái thành phố gốc tích của gia đình hắn, cánh cổng lớn mở đến các thuộc địa, nơi dày đặc những băng lưu manh hung dữ và các tổ chức thợ thuyền thân cộng sản chai lì nhất, giờ đây là căn cứ hậu cần khổng lồ của chiến tranh Đông Dương. Chỉ sau năm bảy ngày hắn đã chán. Tìm bà con họ hàng, chẳng còn ai. Dạo phố trong bộ quân phục gắn lon đại úy, người dân thường ngoảnh mặt không thèm ngó. Vào tiệm ăn, bồi bàn đón xoắn xuýt nhưng mắt gườm gườm trông chừng, sợ ăn quỵt hay phá phách, lính sắp xuống tàu qua Đông Dương thường tự coi như đi xuống mồ. Cha hắn lắm lúc mơ màng nhắc tới các món ăn Mác-xây. Hắn nếm thử sò huyết sống; thấy lợm cổ. Thứ cầu gai 3 vỏ như nhím, ăn chỉ nhạt phèo. Hắn cố tìm ra một quán bán ca-la-mai-ô, thứ xúp nấu bằng bạch tuộc mà cha hắn rất mê, rồi phải bỏ lại hai phần ba đĩa xúp đầy những khúc vòi màu đỏ pha tím. Cả món cháo cá nổi tiếng khắp vùng ven Địa Trung Hài, cháo bui-a-bét-xơ cay thơm, chẳng là gì cả so với các của ngon Viễn Đông. Và tất cả đều đắt lòi con ngươi. Một bữa ăn trên đại lộ Ca-nơ-bi-e theo khẩu vị đảo Coóc-xơ đắt gấp bốn năm lần một bữa y hệt ở Sài Gòn, cũng do đầu bếp người Coóc-xơ nấu nướng ! Không, hắn không sống ở Pháp được đâu. Không chút kỷ niệm nào kéo hắn về với nước mẹ. Tiếng Pháp ư ? Hàng mấy chục nước to nhỏ dùng tiếng Pháp, sang đến Ca-na-đa cũng có hàng triệu dân gốc Pháp kia mà ! Hắn sinh tại thuộc địa, đời hắn xích chắc vào thuộc địa, và đối với một sĩ quan thì ở thuộc địa có nghĩa là đánh nhau chí tử để giữ lấy thuộc địa. Hắn không có nghề gì khác ngoài binh nghiệp, nghề vĩnh viễn cầm súng. Một định mênh quái ác ! --------------------------------------------------------- 1. Tiếng Lào: quan ba điên 2. Mặt Trận Giải phóng Lào 3. Một loại nhuyễn thể có vỏ cứng hình cầu phủ gai (tiếng Pháp: oursin) Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:20:24 pm Pi-e về Sài Gòn sớm hơn dự định, giấy giới thiệu đặc biệt của cơ quan phản gián SDECE giúp hắn tranh chỗ trên máy bay rất dễ. Tìm thằng bạn đại úy thiết giáp, chơi động trời với nhau dăm ngày, rồi hắn theo đoàn công-voa tiếp tế lên thăm vợ chồng em gái, mang theo lá thư mật của cha hắn gửi con rể Ăng-đrê Ri-sô.
Đồn điền Ri-sô xem chừng ăn nên làm ra. Khúc đường rẽ vào khu nhà chính được mở rộng và rải nhựa, xe tải tránh nhau được. Nhà phụ xây chắp thêm một dãy dài lợp ngói mới. Máy phát điện chạy rù rù giữa ban ngày, kèm nhiều tiếng xoèn xoẹt của máy cưa và các thứ động cơ khác. Hai xe tải, một lớn một nhỏ, đậu trước nhà kho đang chất hàng, trong khi chiếc máy kéo bánh cao-su lắp rơ-moóc nằm đợi chỗ góc sân. Một giám thị có nước da của người Ả-rập đang chỉ trỏ giữa mấy chục phu khuân vác. Gia-nét đã sinh con thứ hai, thân vẫn gọn và mặt vẫn trẻ như hồi con gái. Ăng-đrê thay đổi nhanh hơn nhiều, má sệ và bụng bắt đầu phệ, đỉnh đầu đã thưa tóc, từ dáng vẻ hoạt bát của một kỹ sư nông nghiệp ngả sang oai phong của ông chủ đồn điền đứng tuổi. Hai vợ chồng đón Pi-e niềm nở nhưng hối hả. Ăng-đrê hỏi thăm sức khỏe anh vợ và cha vợ, mắt vẫn nhìn sang chỗ đám phu bản xứ đang chất những kiện cao-su sống lên xe. Gia-nét hôn anh rối rít, lau mắt, giục người ở dọn buồng, mở nước bể tắm, làm cơm cho anh, xong chạy vào với con. Chỉ mươi phút sau, chỉ còn Pi-e ngồi lại một mình trên ghế bành trong phòng khách rộng và mát như hang đá, lúc này bật đèn nê-ông sáng tựa ban ngày. Ăng-đrê nhét túi lá thư của cha vợ, chưa kịp đọc. Đồn điền Ri-sô còn một khoảnh đất chừng năm chục héc-ta bên kia đường ô-tô, chạy dài đến chân đồn, còn bỏ cho năn lác mọc chứ chưa trồng nốt cao-su vì Ăng-đrê ngại bọn lính đồn hay bắn xỉa xuống vung vãi. Lê-ông La-phác-sơ muốn dùng nó làm bãi thả dù. Chỉ cần Bộ chỉ huy ra lệnh và nhóm “Kế hoạch X” giúi tiền, đám sĩ quan trên đồn và chỉ huy thiết giáp sẽ đón hàng và chuyển hàng dễ như chơi. Pi-e ngủ đến ba giờ chiều, ra phòng khách, thấy Ăng-đrê đeo kính gọng vàng ngồi trầm ngâm, còn Gia-nét cầm thư cha trên tay với cặp mắt hơi sưng. Ăng-đrê nói gì ấp úng, bỏ đi vội. Gia-nét bật khóc thút thít: - Nhân danh Chúa... em van ba với anh, đừng bắt chúng em dính vào những... những vụ khủng khiếp ấy... Ba về đây đi sục khắp nơi, nói là muốn góp vốn mở rộng đồn điền, em tưởng thật... Ba hứa chia lãi to lắm, xấp xỉ số lãi đồng niên của đồn điền, coi là đặc ân cho vợ chồng em, nhưng lạy Chúa, em sợ đồng tiền ấy lắm. Ăng-đrê bàn cứ làm thử một vài năm, kiếm thêm ít vốn rồi ngừng, em can anh ấy... cắn vào lưỡi câu rồi làm sao nhả được... Pi-e ngồi lặng cả trong khi Gia-nét kể lể tiếp những gì không rõ về chiến sự, con cái, thuế nộp cho Bảo Đại và Việt Minh, cuộc sống hậu chiến. Hắn chỉ nghĩ chua chát rằng vợ chồng em hắn dứt khoát thu mình trong cái ốc đảo trung lập này, ôm ghì lấy mảnh đất kiếm sống sau nhiều năm lên voi xuống chó, sẵn sàng chấp nhận sống với cộng sản hay quỷ Xa-tăng nếu cần. Trong khi đó cha hắn vẫn gửi tiền về giúp con gái và cháu ngoại, hắn vẫn đánh nhau trật xương để ngăn chặn cộng sản chiếm hết Đông Dương. Cái bụng phệ của Ăng-đrê ngày càng phệ hơn, bầy con đẻ sòn sòn của Gia-nét ngày càng đông hơn, sức ỳ của chủ đất ngày càng nặng hơn, đừng hòng lay chuyển ! Chuông điện thoại chợt réo chỗ góc phòng. Gia-nét bước vội đến nhấc máy: - Vâng, đồn điền Ri-sô đây. Tôi là bà Ri-sô, rất hân hạnh... Ba vị đến, chín giờ sáng mai, vâng... Ồ, sao lại phiền ? Trái lại, là vinh dự đối với một gia đình chỉ biết cao-su và cao-su... Xin được ghi để báo cho chồng tôi... Xin nhắc lại xem đúng hay sai: ông Giêmx Kít-man, hãng UPI, bà Mỹ Duyên, hãng AFP, một phóng viên nhiếp ảnh... Vâng, nói tiếng Pháp được cả, thật may mắn cho anh Ri-sô nhà tôi, anh ấy chỉ nói tiếng Anh được câu đón chào và tạm biệt... Sáng mai nhé, bai bai ! Pi-e hất hàm ra ý hỏi. Gia-nét cười: - Bọn nó muốn phỏng vấn một chủ đồn điền sống trong vùng thiếu an ninh. Ăng-đrê đã tiếp vài nhóm như thế rồi, anh ấy đối đáp rất khéo, Việt Minh nghe trên đài bá âm cũng chẳng mếch lòng. Quên không hỏi, anh biết Mỹ Duyên là ai không ? Pi-e nhăn trán, cố nghĩ, không nhớ ra. Một ả giang hồ nào hắn gặp giữa lũ gái điếm ? Một mụ vợ tướng tá bản xứ nào mà hắn phải tởm lợm khi mời nhảy trong dạ hội ? - Em nhắc nhé. Đó là người vợ ba của lão tri phủ tên là Đinh hay Đính gì đó, một chủ ruộng ở sát đồn điền của ba tại tỉnh Quảng Nam, hồi xưa. Ả này học trường đầm ra, nói tiếng Pháp rất khá, tiếng Anh cũng trôi chày, thuộc loại phóng viên sắc sảo của AFP, đến đây lần này là lần thứ ba. Mới khoảng hăm ba, hăm tư, tất nhiên chẳng ai hỏi tuổi phụ nữ, mà em đoán thế... Nhớ ra chưa ? - Chịu thua ! Trước sân nổi lên ba tiếng còi bấm giục. Y hệt lần trước Ăng-đrê đã lái chiếc xe tải nhỏ đến trước thềm, chờ đưa Pi-e lên ngủ trên đồn. Gia-nét rút từ đâu đó ra chiếc cặp lồng ba ngăn kèm một chai cô-nhắc Mác-ten, nói lại lời dỗ ngọt dạo trước: “Anh đừng giận, ban đêm không yên ổn...”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:22:36 pm Pi-e được mời dự cuộc cặp các phóng viên sáng hôm sau. Rõ là hắn chưa từng gặp Mỹ Duyên. Khi biết Pi-e mãi đến năm ngoái còn đóng đồn tại Quảng Nam, Mỹ Duyên hỏi dồn dập về làng Linh Lâm và gia đình phủ Đỉnh. Pi-e không biết gì ngoài việc ông phủ và con trai ông ta là Khánh đều sống trong vùng Việt Minh, hình như làm quan chức Việt Minh.
Ngắm Mỹ Duyên hồi lâu, thầm khen nàng khéo giữ nhan sắc, Pi-e buông một câu nịnh đầm: - Với tư cách phóng viên, với tài năng và sắc đẹp của bà, bà có thể đi thẳng vào vùng kiểm soát của họ mà viết phóng sự, khó gì ! Mỹ Duyên cười rất tươi: - Tôi chỉ là phiên dịch, mới chuyển qua phóng viên tập sự, lại làm việc cho một hãng tin của Pháp kia mà. Nói theo người Việt Nam, ông đang xui tôi đi vào chỗ hàm chó vó ngựa... Xin lỗi ông, tôi tiếp tục hỏi ông bà Ri-sô mấy chi tiết. Nhưng Mỹ Duyên không chen được vào câu chuyện thao thao của Kít-man, một người Mỹ mặc áo ngắn quần soóc, phơi tay chân rất rậm lông nâu: - Ông bà đã bị cộng sản bắt đi huấn luyện chưa ? Tức là chúng làm brain-washing... cô Duyên, brain-washing tiếng Pháp là gì ? - Tẩy não. Ăng-đrê khoát tay: - Không lần nào. - Nhưng tôi nghe Phòng Nhì bảo ông từng bị cộng sản bắt giữ, họ đã hỏi ông về vụ này ? - Ồ, chuyện vớ vẩn. Tôi với Mô-ham-met A-li, giám thị người An-giê-ri, đi săn trong rừng hoang. Mải theo dấu con nai to, chúng tôi lạc xa đường ô-tô chừng năm sáu cây số, gặp một toán du kích mươi người. Họ giữ chúng tôi lại, thu súng, đi gọi chỉ huy. Chừng hai mươi phút sau người chỉ huy đến, nói tiếng Pháp thạo, xem giấy tờ, ra lệnh trả súng lại, cho một nhóm dẫn chúng tôi trở ra đường cái. Xong ! - Chúng lấy cung, hăm dọa, bắt nộp tiền chuộc ? - Không. Họ chỉ dặn đừng vào rừng sâu như thế, có thể dẫm mìn hay rơi xuống hố chông của họ. - Cũng là một kiểu hăm dọa, cản trở tự do... Chúng thường gặp ông bà ngay tại nhà, nói chính trị nhiều ? - Trung bình mỗi tháng một lần, hay một tháng rưỡi. Họ dặn chúng tôi cứ làm ăn bình thường, đừng chống lại phe Kháng chiến, đối xử tốt với phu đồn điền, nhắc chúng tôi đào nhiều hầm tránh bom đạn vì chiến sự có thể bùng lên đột ngột. Gã phóng viên Mỹ thất vọng ra mặt: - Xin lỗi, tôi không nghi ngờ lời ông, nhưng người Mỹ chúng tôi ưa thẳng thắn... Tôi không tự giải đáp được chỗ khó hiểu này. Ông là người Pháp, xin lỗi, là thực dân Pháp đang đánh Việt Minh. Ông lại là chủ tư bản, địa chủ lớn theo tiêu chuẩn xứ này, ông bóc lột nhân công và theo đạo Thiên Chúa. Tất cả đều trái ngược với Việt Minh cộng sản, chúng là vô sản, vô thần, căm thù thực dân, tư bản, địa chủ, luôn luôn tuyên truyền chống Pháp, chủ trương đấu tranh giai cấp để diệt hết bọn bóc lột. Tại sao ông có thể cọ xát với những kẻ cuồng tín như vậy mà không gặp nguy hiểm ? - Ồ, ông Kít-man, tôi chỉ là người trồng và bán cao-su, làm sao hiểu nổi bấy nhiêu điều huyền bí ! Ông đã quen với Phòng Nhì, họ sẽ giúp ông khám phá những vấn đề chiến lược ! Kít-man bật kêu lên như reo, vỗ trán: - Tôi quên, tôi vừa nghĩ ra... Hẳn chúng nó xem ông như con bò sữa nuôi chúng, như một con tin chúng nắm trong tay để đem ra mặc cả khi cần đổi người của chúng bị Pháp bắt, như tai mắt của chúng để theo dõi tình hình quân Pháp, tình hình các thành phố ? Giọng Ri-sô lạnh như băng: - Trí tưởng tượng đưa ông đi quá xa rồi đấy, ông Kít-man ! Ngồi hơi lùi ra mé sau, Pi-e chưa hề lên tiếng, lúc này bỗng chen vào: - Đến lượt tôi muốn hỏi ỏng Kít-man một câu, được chứ !? - Rất sẵn sàng, thưa đại úy. Ông đến làm việc với ông Ri-sô ? - Xin tự giới thiệu: tôi là Pi-e La-phác-sơ, anh ruột bà Gia-nét Ri-sô, đến thăm em gái từ trưa hôm qua. Tôi đánh giặc ở Đông Dương từ những ngày đầu nổ súng. - Hân hạnh tuyệt vời ! Dịp may hiếm có ! Tôi mong được ông soi sáng... - Tôi không muốn và không thể soi sáng cho ai cả. Tôi chỉ cần biết một điều: ông Giêmx Kít-man là ai ? Là nhân viên tình báo Mỹ, là sĩ quan Phòng Nhì hay phản gián Pháp, hay cũng có thể là một phóng viên chuyên moi chuyện người để viết theo ý mình ? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:25:53 pm Mỹ Duyên che miệng cười. Ăng-đrê ngoảnh mặt đi, nhắc vợ lấy thêm rượu và cà-phê, rõ ra ngượng gạo. Gia-nét hơi tái mặt, đứng dậy ngay. Trước cặp mắt gườm gườm vằn đỏ của Pi-e, mặc quân phục và đeo đủ huân chương, gã người Mỹ ngớ ra, nuốt nước bọt liên tiếp, mặt hết đỏ lại nhợt, bàn tay gãi đùi như máy. Mãi gã mới buông ấp úng:
- Sorry, very sorry... It’s only a misunderstanding 1… Chúng ta là đồng minh, là bạn, phải không nào ? - Tôi chờ được trả lời: ông là ai ? Từ đường ô-tô chợt dội vào ba tiếng trọng liên nổ rời nhau, cách chừng vài cây số. Bẵng mấy giây, lại thêm ba tiếng nữa. Kít-man hớt hải vồ lấy cái máy ghi âm đang chạy, nhét bừa vào túi du lịch, đứng vọt lên. Mỹ Duyên xua tay: - Đừng vội, Giêmx. Đoàn công-voa trở về Sài Gòn đang báo cho ta kịp sửa soạn đi chung, mươi phút nữa họ sẽ qua trước đồn điền. Tất nhiên, nếu anh muốn đi tách riêng cho thoải mái... - I’m not a fool, no 2! Xin cảm ơn ông bà Ri-sô về cuộc gặp gỡ rất bổ ích và thân tình. Còn về câu hỏi của ông đại úy, thời gian sẽ cho biết ai là ai. Mọi sự chưa đến gần chỗ kết thúc đâu, thưa ngài sĩ quan viễn chinh Pháp ! Dứt câu nói hằn học, Kít-man bước thẳng ra chiếc xe du lịch sơn đen đậu trước thềm. Lái xe người Mỹ da đen ngồi trong xe như tượng suốt hai giờ qua, Gia-nét thương tình đã bưng ra cho gã một khay bánh mì kẹp thịt và nước cam chai. Cửa xe đóng sầm sầm, xe vù đi tung bụi. Lập tức Gia-nét trách ông anh nóng nảy, gây thù kết oán với bọn Mỹ thêm phiền. Pi-e lắc đầu: - Em chưa biết. Chúng nó mới sang, kiêu ghê gớm, tưởng bỏ đô-la ra sẽ mua được tất cả, khinh người Pháp chúng ta là đồ ăn hại đái nát. Nếu Ăng-đrê tỏ ra nhút nhát, chúng nó sẽ bám dai như đỉa đói, truy ngược vặn xuôi, kỳ cho vợ chồng em chịu nhận có nộp thuế cho Việt Minh, nín lặng khi bắt gặp Việt Minh hoạt động, mua thuốc mua vải gì đó cho Việt Minh. Chúng không mách cho Pháp biết đâu, mà dùng những vụ “tiếp tay đối phương trong chiến tranh” để ép vợ chồng em làm việc cho CIA, từ dễ đến khó. Các em sẽ biến thành kẻ thù của lực lượng Pháp tại Đông Dương. Nguy hiểm sẽ đến từ mọi phía: Việt Minh có thể bắt cóc các cháu đòi tiền chuộc, quân Pháp và bọn Bảo Đại muốn ám sát một điệp viên, ngay CIA cũng không ngần ngại khi cần bịt đầu mối. Rõ chứ, Gia-nét ? Nay bọn Mỹ mới sang, lạ nước lạ cái, chỗ nào cũng thò tay nắn gân thử tìm thịt mềm, các em phải gạt ngay chúng nó sang bên, đừng cho quấy rầy nữa. Ăng-đrê nghĩ sao ? Ăng-đrê trầm ngâm gãi cằm khá lâu, rồi thở dài: - Anh nói đúng. Không còn cách nào khác. Gia-nét trố mắt nhìn ông anh được cả nhà coi là võ biền thô bạo, buột miệng: - Pi-e-rô, pô-li-si-nen... Anh đầy mưu mẹo như bộ trưởng ngoại giao từ bao giờ thế ? - À, cái khôn nó ngấm vào người qua nắng mưa nhiệt đới và đạn Việt Minh thôi ! Cuộc thương thuyết về bãi thả coi như hỏng. Pi-e không ân hận. Hắn đã thấy vợ chồng Gia-nét đi trên dây, cố giữ thăng bằng giữa cơn xoáy lốc. Hãy để cho ít nhất một người trong gia đình La-phác-sơ được đứng hơi xa bom đạn đôi chút - cũng không xa lắm đâu, đồn lính bên cạnh có thể bị đánh - sống yên ổn bấp bênh trong ốc đảo trung lập được ngày nào hay ngày ấy. Hôm sau Pi-e bám công-voa về Sài Gòn. Chơi đã, hưởng đã, quên sạch đã. Hắn tìm đến trụ sở hãng tin AFP, rủ Mỹ Duyên đi chơi. Duyên đáp tỉnh khô: “Tại sao không ?”, cùng hắn đáp tắc-xi vào Chợ Lớn ăn cơm Tàu, tiếp ghé vào Vườn chơi Đại thế giới. Đảng cướp Bình Xuyên quy hàng Pháp, được giao quyền giữ trị an Hòn ngọc Viễn Đông, tha hồ ăn hối lộ và tống tiền, đã nắm trọn và mở rộng khu sòng bạc khổng lồ này cùng nhiều chỗ nướng gia tài khác nữa. Mỹ Duyên vào các sòng sang nhất, không đánh bạc, chỉ xem kỹ từng khuôn mặt khách làng chơi. Pi-e nghĩ cô ả lại sắp viết phóng sự mới về nạn cờ bạc. Đang tập sự chắc là hăng lập công lắm. Trên tắc-xi quay về, Pi-e vòng tay ôm hôn Duyên. Nàng né đầu, nhẹ nhàng gỡ tay hắn: - Chưa qua sông, anh đã định cho nổ cầu ? Pi-e cho địa chỉ để đưa xe về khách sạn hắn ở. Duyên tiếp ngay: - Trước đó, anh cho tôi xuống đường Mắc Ma-hông. Tôi sẽ chỉ chỗ. Duyên xuống xe, đi vào một trong những ngõ hẻm quanh co mà Sài Gòn có rất nhiều, chỉ ném lại một câu ngắn: “Cảm ơn vì tối vui, sẽ gặp lại”. Pi-e nhìn theo, nhún vai. Đất này vô số gái điếm, phải vạ mà bám theo cái ả kênh kiệu ấy, đến những ổ cướp mà cảnh sát không dám vào ! ----------------------------------------------------------- 1. Tiếng Anh: Đáng tiếc, rất tiếc... Đây chỉ là một sự hiểu lầm... 2. Tiếng Anh: Tôi không phải đồ ngốc đâu, không ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 03 Tháng Tám, 2016, 04:28:52 pm Năm hôm nữa qua. Hai món tiền to lĩnh ở Mác-xây và Sài Gòn gần cạn, Pi-e lại tìm Mỹ Duyên, mời đi chơi một chuyến vét túi trước khi ra Đà Nẵng. Họ ăn cơm Ý trong một quán của người Coóc-xơ, uống rượu nho chi-an-ti đến say mèm. Lứa người Pháp đầu tiên sang Đông Dương gồm phần lớn dân đảo Coóc-xơ và khu vực Mác-xây. Đánh nhau ít lâu, dân Coóc-xơ thường ra khỏi quân thuộc địa, xin môn bài với thuế nhẹ mở tiệm ăn, thường kiêm thêm buôn lậu thuốc phiện, vàng, giấy bạc.
Mỹ Duyên ngất ngưởng chỉ vào mình: - Tôi lạc chồng trong chiến tranh. Dân Sài Gòn gọi những kẻ như tôi là “bò lạc”, theo nghĩa xấu nhất, uống nữa đi. Chắc anh mê cô-nhắc hay huýt-xki hơn rượu nho Ý ? - Phải, cô-nhắc... Một chai Mác-ten đây, ông chủ... Có vé rồi, ngày kia tôi đi Tu-ran... từ trên máy bay quan sát, tôi sẽ nhìn xuống đồn điền La-phác-sơ, thấy ông chồng già của cô ngồi dưới hầm trông lên... - Phịa ! Đại úy mà làm như ông tướng ! Anh phải dành dụm mấy tháng mới đãi tôi được một chầu thế này ? - Hà hà hà... cô em ngây thơ lắm... Trong chiến tranh thuộc địa, có thằng chết đói, có thằng chết vì phát phì... có con gái làm điếm tự tử vì giang mai, có ả một đêm nhảy lên bà đại tá, bà bộ trưởng... Tôi có nguồn tiền không bao giờ cạn, đến từ vùng Tam giác vàng. Ô, ly cô em vẫn đầy ! - Cạn đây ! Tôi còn đủ tỉnh để nghe anh nói khoác ! Riêng Pi-e dốc cạn hai chai chi-an-ti, một chai Mác-ten nặng độ. Hắn say đến líu lưỡi, mờ mắt nói mê, cũng chẳng biết đã nói những gì trong cuộc rượu kéo dài gần ba tiếng ấy. Mỹ Duyên phải giúi tiền kha khá nhờ hai người hầu bàn lực lưỡng gọi tắc-xi, dìu Pi-e ra xe, cùng theo xe đến khách sạn để xốc Pi-e lên tầng hai. Trưa hôm sau, Pi-e dậy, thấy mảnh giấy đặt trên bàn ngủ: “Trách anh đấy nhé, làm hỏng chuyến đi chơi Sở Thú. Tối nay tôi lại bận, tiếc lắm - Bức tường cao-su của anh”. Mỹ Duyên tự gọi như thế, đúng quá rồi ! Bay ra Đà Nẵng trên máy bay quân sự, Pi-e nhẵn tiền đến nỗi phải nhịn đói ngót một ngày, hỏi Ngân hàng nghỉ việc. May sao đến tối hắn gặp người đang tìm là đại úy Xa-va-ni, vừa lên thiếu tá cách một tuần, cũng là sĩ quan nắm “Kế hoạch X”. Xa-va-ni mời hắn uống rượu ngay tại Câu lạc bộ sĩ quan cho kín đáo, ngạc nhiên khi thấy hắn ngốn đến chiếc xan-úych kẹp dồi thứ năm, chiêu bằng bia, bởi các thứ ngon hơn đã bán hết sạch. Pi-e nói dối đã nhịn đói theo lệnh bác sĩ, do rối loạn tiêu hóa. Xa -va-ni đồng ý cho Pi-e đi thị sát khu vực đồn 76. Trực thăng của hiếm chỉ dành cho cấp tướng và tải thương. Xa-va-ni mượn cho Pi-e được một chiếc máy bay thám thính Mô-ran Xôn-ni-ê hai tầng cánh từ Đại chiến thứ nhất còn lại ở Đông Dương, đã vào bào tảng rồi được lôi ra để phi công tập lái vỡ lòng. Xa-va-ni vỗ vỗ vào lớp cánh khung nhôm bọc vải sơn của nó: - Cậu yên trí. Nó xấu xí, bay chậm như rùa, nhưng rất hợp với việc của cậu. Máy mới thay, đã rà trơn đúng độ, khó hỏng. Địch bắn rách năm bảy lỗ trên cánh hay thân, chẳng hề gì. Bị trúng đạn toác máy, nó vẫn bay là là kiểu tàu liệng xuống tới lộ Đông Dương số Một, đáp thoải mái xuống bất cứ sân bay dã chiến nào, hay là sân đá bóng, mặt đường, bãi cát, không dùng động cơ. Tiếc rằng nó chỉ có hai chỗ ngồi, mình không đi chung với cậu được. Lái chiếc máy bay cổ lỗ này là một phi công cũng cổ lỗ không kém, tóc bạc một nửa, đã luyện bay vỡ lòng ở Bắc Phi suốt ba chục năm. Lão nháy nháy mắt: - Đi với tôi khỏi lo. Có những hai bà vợ, một tá con và vài tá cháu sống dựa vào tôi, phải giữ sổ lương cho chúng nó. Mỹ mới đưa sang mấy chiếc L.19 trinh sát tiền phương loại nhẹ, tôi vẫn thích cái chuồng gà cũ rích này hơn. Trong ngày đầu, Pi-e đi quan sát khu vực đồn 76 và hai bờ sông Thu Bồn. Yên ắng cả. Như Việt Minh đã rút quân về phía Nam để mở những lớp học chính trị hay quân sự dài lê thê của chúng. Chiều, sau hai giờ xem địa hình, có lúc rà cách mặt ruộng chỉ vài chục mét, Pi-e cho đáp xuống đồn 76 nghỉ đêm. Lão phi công trổ tài cho viên đại úy trẻ xem mà tin: lão lên cao, tắt máy, đáp là là xuống sân bay dã chiến nằm dọc sườn đồi, chỉ dùng có non một trăm mét trên chiều dài hai trăm rưởi mét của đường băng ! Nhưng lão nhất quyết không để máy bay tại đồn, nói như dao chém đá: - Về, mai tới đón. Tại sao à ? Đạn moóc-chê Việt Minh. Trinh sát bò vào giật thuốc nổ. Lính đồn ăn cắp phụ tùng. Lũ trẻ đâu, tránh ra tao lên ! Hẹn chín giờ sáng mai ! Chẳng cần nghe đại úy Pi-e nói thêm, lão nổ máy vù luôn, chỉ dùng đoạn đường băng còn lại trước mặt. Pi-e ê mặt, vẫn phải chịu lão nói có lý. Đêm ấy, các sĩ quan từ chuẩn úy trở lên họp với Pi-e. Việc đơn giản thôi, chỉ cò kè lâu ở giá cả. Bọn sĩ quan đoán ngay loại hàng của Pi-e là hàng gì, đòi được trả thật hậu mới nhận, kém tiền thì chả bõ liều cả cuộc đời võ nghiệp để làm việc phi pháp. Rốt cuộc, Pi-e thu xếp được với hai phần ba cái giá cha hắn cho phép. Một phần ba còn lại sẽ vào túi Pi-e, tất nhiên, riêng nó đã bằng xấp xỉ mười lần lương đại úy. Pi-e vẫn vò đầu bứt tai, kêu sắp bị trừng phạt vì vung tay quá trán. Một giờ sáng. Một loạt tiếng nổ vang dội dựng cả đồn dậy. Pi-e lăn xuống đất, lôi tấm đệm giường theo, phủ kín người tránh mảnh pháo cối. Đèn dù vọt lên tới tấp, các lô-cốt xổ đạn tơi bời. Đến sáng mới biết Việt Minh đã phá sập tất cả các cầu cống từ quốc lộ Một lên đồn 76, còn đào toang hoác những chỗ nước xói, đắp nhiều ụ đất đáng ngờ có gài mìn. Chúng vây đồn 76 ! Chiếc máy bay già nua rè rè đến đúng hẹn lúc chín giờ sáng. Lão lái nói đều đều qua điện thoại vô tuyến trong khi quần cao trên đồn: - Đường tỉnh và đường rẽ lên đồn 76 bị phá nhiều chỗ. Cái chuồng gà của tôi trúng đạn cỡ nhỏ ba phát, một ở thân và hai ở cánh, chưa nguy hiểm. Yêu cầu đồn 76 yểm trợ hỏa lực mạnh cho tôi hạ cánh. Tất cả các cỡ súng trên đồn cùng bắn xối xả, băm vằm những chỗ nghi Việt Minh giấu quân, đặt súng. Máy bay sà sà xuống theo đường trôn ốc, không tắt động cơ. Đến vòng quần cuối cùng, khi bánh xe sắp chạm đất, dăm quả đạn cối 60 và phóng bom nhỏ chợt rơi chung quanh nó. Đạn không rướn tới đồn, nhưng sân bay lưng chừng đồi nằm trong tầm bắn. Còn may là Việt Minh bắn hơi sớm và ít trúng đích ! Pi-e nằm sấp dưới rãnh thoát nước, áp máy bộ đàm vào tai, tức điên khi nghe cái giọng tỉnh bơ từ chiếc Mô-ran đang ngóc đầu, tăng tốc: - Điểm hạ cánh không an toàn. Tôi trở về căn cứ theo đúng điều lệnh. Chúc đại úy may mắn. Lão bay lên bằng động tác “dựng cây nến” nhanh nhẹn không ngờ, chuồn thẳng. Một trung đội thám sát băng ruộng đến gần đồn 76, bị du kích bắn tỉa không ngớt, phải lui. Tới cánh quân giải tỏa, hai đại đội Âu-Phi và một đại đội Bảo vệ quân Bảo Đại, có xe tăng và xe lội nước mở đường, công binh bắc cầu, bị chủ lực Việt Minh tới số ngàn đánh cho tơi tả, mất hơn nửa số quân, phải bỏ súng bỏ xác mà chạy thục mạng. Từ đó, đồn 76 gồng mình chịu vây. Đà Nẵng báo không úp mở: cho quân giải vây là mắc bẫy địch, hãy tử thủ ! Máy bay Đa-cô-ta lên thả mỗi ngày mươi chiếc dù giữa vòng quần của lũ Xpit-phai và Cô-bra bắn xăm đất. Cả quan lẫn lính đều chửi như hát hay: Đà Nẵng cho thả đạn xuống nhiều hơn cái ăn cái uống. Nước đựng trong phuy xăng chưa súc kỹ, bốc hơi nồng mùi bùn, xăng, gỉ sắt. Thức ăn chỉ có gạo mục, bánh mì mốc, đồ hộp quá hạn phồng hai mặt, từng lúc chen những kiện kẹo cao-su Mỹ cực kỳ vô dụng. Thương binh kêu rống trong hầm, chết lác đác. Một trực thăng tải thương đến, bị mấy tràng trung liên bắn hụt, lại chuồn không dám đáp. Sáng ngày thứ mười chín, Việt Minh chợt biến sạch. Chiến dịch chấm dứt sau ba trận phục đánh quân viện cỡ tiểu đoàn trở lên, vài chục trận nhỏ hơn, một tá bót gác và lô-cốt lẻ bị diệt bằng đạn lõm, Phòng Nhì ước tính số súng đạn lọt vào tay địch đủ dùng cho một tiểu đoàn mạnh. Từ trong hầm chỉ huy đồn 76 bước ra một đại úy lạ mặt: tóc phủ tai, râu xồm hệt cố đạo, má hõm, mắt sâu hoắm và đờ đẫn như người mất trí, bùn khô dính lòng thòng vào lông mũi thò dài và bong từng mảng trên cổ, mặc bộ quân phục rách đầu gối cùi tay và giòn cứng như bánh tráng, vồ lấy chai rượu đầu tiên hiện trước mặt và tu một hơi cạn nửa chai, trước khi lăn ra ngủ còn quát y tá đưa ngay một liều thuốc chữa lỵ a-míp, liều cao. Đất Quảng Nam quen thuộc đã đón đại úy Pi-e La-phác-sơ về thăm như thế. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 10:48:27 am Chương XIV Mặt trời đã lặn già nửa sau núi. Một người bước chậm chạp trên chiếc cầu sườn gỗ sạp tre bắc qua khe Cốt. Cây súng đeo chéo trên lưng, bao gì như đòn bánh tét lớn vác vai, thêm cái tay nải buộc thít ngang lưng, như nịt đạn. Qua gần hết cầu, người ấy dừng lại, đặt cái bao xuống sạp, dựa nghiêng vào tay vịn cầu, đứng lặng. Ông Tư Chua về nhà. Ông không muốn bước mươi bậc cấp cuối cùng xắn vào sườn dốc để vào căn nhà mà ông đã dựng cho vợ chồng Cả Chanh. Cũng như khi đến Linh Lâm. Ông đi vòng xa xóm để khỏi gặp dân làng, khỏi bị thăm hỏi. Hoàng hôn ở làng ven núi là cảnh tấp nập, ồn ào: Trong xóm dồn dập tiếng giục trâu từ sông về chuồng, tiếng gà gọi con đi ngủ, tiếng loa báo họp đêm, tiếng réo mắng trẻ con chơi rông. Nơi xa làng này cũng nhộn nhịp không kém với lũ chim ngày rủ về tổ hay giành cành đậu, chim đêm kêu nhau đi kiếm ăn, những chuỗi cò xếp hình tam giác hay ngược sông về hướng núi Ngọc Linh, những bầy két nối đuôi vừa phóng vun vút qua sông vừa keng kéc inh ỏi như sợ đến trễ mất phần, đàn chim đớp muỗi lông xám lốm đốm bay thấp phần phật tiếng cánh, trong khi những con dơi cụ to bằng diều giấy ngoặt đảo nghiêng ngửa hệt lá khô trong gió xoáy. Tiếng voi rống cọp gầm một dạo đã lùi vào núi sâu, nay xuống gần làng hơn trong mùa đại hạn. Vũng và suối trên núi khô cạn, thú rừng phải xuống tìm nước ở các cửa khe, nhánh sông. Nai mang đến đâu, cọp beo theo đó. Rồi ông cũng phải xốc bao, leo dốc. Hai Thùy đi đâu vắng, chỉ có hai đứa trẻ, con trai lớn của Năm Bưởi và con gái nhỏ của Hai Thùy, nằm ngủ mê mệt trên chiếc giường tre đôi buông màn tém kín, thêm một mẻ un muỗi nhả khói lá quế thơm cay trong góc nhà. Con dâu ông giữ đúng lời dặn chống sốt rét của chồng, dù bây giờ phải sống như gái góa. Điện bị tháo từ lâu, Câu lạc bộ Thanh niên trúng trái bom lạc đổ sập và sau đó bị dỡ xếp đống chỗ góc vườn. Năm Bưởi ngày càng bận công tác ít mó vào việc nhà, dân làng ngày càng khó kiếm ra vải đem đến may, hột gạo đổ vào nồi ngày càng ít ỏi trong năm đại hạn này. Lại trúng vào năm Nhâm Thìn mới thật lạ, các cụ tra lịch đều nhắc tới chín con rồng lấy nước, chỉ phải lo lũ lụt liên miên thôi. Thà rằng theo lịch tây, gọi là năm 1952 gọn trơn, khỏi bói toán gì hết ! Ông Tư đánh bật lửa, châm ngọn đèn dầu lai, bấc vải thả vào đĩa đất nung. Vừa lúc Hai Thùy lôi lệt sệt vào nhà một bụi sắn to, nhác trông cũng biết là thứ sắn hai ba tuổi, sượng sần và đầy xơ. Mặt Thùy đỏ ửng, mồ hôi nhỏ giọt, có hai đường gai cào trên má và cổ, tay áo lấm đất nâu. Thùy thả ngay khúc gốc sắn đang túm kéo, chạy vọt tới: - Cha đã về... được tin gì không ? Ông Tư khẽ lắc đầu. - Cô Năm về chưa cha ? - Về sau... ít bữa nữa... Nè con, có hai ang nếp đây, con nấu cho hai đứa nhỏ nó ăn một nữa no, để thèm lại miết... - Dạ, cha với mẹ ba, nhà chú Tư năm, đây hai đứa vị chi chẵn một chục. Nấu chín lon được không cha ? - Mày nhịn à ? - Ối, con ăn xía với sắp nhỏ, đàn bà ăn bao lăm ! Con mới tìm ra cách ăn sắn hay lắm, như bánh dày người Bắc, lát cha nếm. Cha rửa rồi ngả lưng một giấc, cơm chín con kêu. Nằm mùng với hai đứa cháu, cho tụi nó quen hơi ông nội ông ngoại ! Mạch nước sườn núi đưa nước xuống ao cá đã khô, ông Tư xuống khe Cốt rửa. Khe này mùa lụt rộng hằng nhánh sông, nay chỉ còn là dải nước rộng một sải, cạn đến gối, chiếc xuồng nan be gỗ rất nhẹ vẫn ghếch thân lên bãi, sợi dây buộc vào chân cầu chùng như võng. Trong khi bắc nước chờ sôi, Thùy đã kịp đốt đống lá quét dọn ở góc vườn, bỏ thêm ít lá quế cho khói nồng tỏa vào nhà. Ông Tư không buồn ngủ, chỉ thấy mệt rã rời đến từng sợi gân, đốt xương, tuy trên đường về ông quá giang ghe nhiều hơn đi bộ. Ông vừa ngả lưng, lập tức chìm ngay vào một giấc mê thiếp không cưỡng nổi. Thùy lay ông dậy khi bên ngoài đã sẫm đen. Ngồi quanh ngọn đèn dầu lai bó thêm bấc có bà Tư, vợ chồng Tư Quýt với ba đứa con đang giành nhau mấy đĩa xôi nhiều ít, kêu chí chóe, dì Thanh Yên can không được. Ông Tư liếc nhìn cái nồi nhôm gò của anh em Cao Thắng tặng Cả Chanh, thấy ngấn cơm nếp lên đến gần miệng nhưng trong nồi chỉ còn một phần tư. Thùy đơm cho ông một đĩa xôi tú hụ, đặt bên cạnh một đĩa cá sông thính chua và nửa chai lùn rượu sắn ngâm thuốc, một mớ chuối khế và rau thơm kèm chén mắm nêm nhiều ớt. Thùy hơi vội khi bốc một miếng gì tròn dẹt như bánh dày rắc đậu trên mặt, quệt vào mắm nêm, cười: - Con vô phép ăn trước nhiều rồi. Ngon cực kỳ, sắn nhiều xơ thì hầm thiệt nhừ với chuối già, hột mít. Tuốt bỏ xơ lấy bột, bỏ vô cối quết chung ba thứ, rắc dầu lai vụn lên trên, bọn con nít nhà này ăn tới phình bụng, thở không được ! Cà nhà đang chờ ông Tư kể chuyện thằng Bảy Bòng nhảy về vùng địch ra sao. Nể lời Thùy, ông gắp một đũa xôi nhai trệu trạo, thêm một đũa cá thính kẹp chuối khế, nhấp một chén rượu thuốc, nuốt tất cả như ăn rơm. Ông buông nhát gừng: - Con Năm dự chiến phía Duy Xuyên nhiều trận, quen lu bù... ủy ban, du kích công an, mấy bà cơ sở mình hay xuống vùng địch... Tìm hỏi khắp nơi, không ai biết... Chỉ có Thùy hỏi dồn dập, những người khác nín lặng với vẻ mặt u ám như khách dự đám tang. Bà Tư chống bàn tay đang cầm đũa vào cằm, ngồi quay mặt né ánh đèn, không hé miệng. Tư Quýt ăn xôi uống rượu đều đều, sau mỗi hớp rượu lại thổi “phì” một hơi dài. Chị Song luôn tay đơm xôi cho chồng và bầy con mình, luôn mồm đe nẹt dỗ dành, chỉ cố nói khẽ vì gờm ông Tư chứ không vì sợ chồng. Con Thanh Yên với thằng Chung len lét ăn trong góc tối, chúng cảm thấy người lớn đang gặp chuyện buồn. - Cha có tới chỗ đám đi buôn ngủ trọ không ? - Đó là cái nhà tranh bỏ hoang, chủ nhà tản cư. Dân buôn trình giấy, du kích cho họ ngủ tạm đó chờ người dẫn, lần nào cũng vậy. Thùy ngập ngừng lâu mới nói: - Mấy anh Cao Thắng đi móc hàng dưới đó về, ghé đây, nói họ bị Tây phục kích chết hụt. Họ còn kể chuyện dân buôn phản nhau, giết nhau cướp tiền, về đổ cho Tây bắn chết... Con nghe bắt run... - Ngủ giữa làng kháng chiến, du kích bộ đội đóng đầy. Trong số tám người Linh Trung Linh Hạ đi chung chuyến, thằng Bảy khỏe mạnh nhứt, cũng quen biết nhau hết, đi chung nhiều lần rồi. Bà Tư dường như ra khỏi cơn tê điếng, cất giọng khàn khàn: - Nó đi cà thảy mấy chuyến, Hai ? - Cuối năm ngoái, hồi Nông đoàn giải tán, nó đi hai chuyến. Từ Tết lại đây năm chuyến nữa, vị chi bảy. Vài chuyến đầu nó chưa có vốn, gánh thuê thôi, về sau nó mới có vốn buôn riêng, cũng thua số buôn nghề. Thùy giấu biệt hai điều: nó nhận tiền làm tay trong cho Hai Khánh bí mật về thăm con, nó mượn cái nhẫn vàng một chỉ của bà mẹ cho Thùy để làm vốn. Nó thương Thùy nhất nhà, Thùy cũng rất thương nó. Mỗi khi nó trở chứng ngang bướng với cha mẹ hay cãi lộn với Năm Bưởi, chỉ có Thùy mới can nổi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 10:50:28 am Tư Quýt chừng đã no, bắt đầu góp chuyện bằng cái điệu cố làm ra bệ vệ của một ông chủ gia đình biết răn dạy vợ con:
- Tôi nói nè. Việc này rồi to chuyện đây, mất hết thanh danh đây. Rồi người ta nhổ vô mặt mình, kêu là nòi Việt gian một lũ với nhau, tôi cũng bị vạ lây. Hồi trước tôi bày biểu nó một câu, nó đã móc lại ba câu, cả nhà còn nghi tôi vụng đường ăn ở để em út nó ghét. Bây giờ cháy nhà ra mặt chuột rồi, nó trở mặt theo Tây rồi, ai bênh nó nữa không ? Thùy buông cái bánh dày trở xuống mâm, nói run run: - Khoan đã chú Tư. Thằng Bảy có về vùng địch, cũng chưa chắc nó làm... làm Việt gian đâu chú. Chỗ mình mất mùa liên tiếp, đồng bào tản cư tới đây năm sáu năm, dựng nhà phát rẫy đủ hết, bây giờ cũng xin giấy hồi cư về vùng địch. Ủy ban mình cấp giấy chớ có cấm đâu. Thằng Bảy còn trẻ, đi buôn có tiền lần hồi học đòi ăn chơi, chắc nó bỏ chỗ cực tìm chỗ sướng... Tư Quýt gắt to, hằn học: - Tới cơ sự này chị còn bênh nó, hèn gì nó hư ! Báo cho chị biết, vụ này họ truy chị trước hết đó nghe, họ không nể vợ ông giám đốc giám điếc gì đâu. Thằng Bảy lần nào xin giấy cũng nói đi mua phụ tùng máy may, chỉ ngoại, vải ngoại về cho chị may đồ bán, hễ công an không cho mua vài tấm thì nó mua đồ may sẵn về cho chị sửa, khi qua trạm gác nó mặc bốn năm hộ trên mình. Hồi trước Tết nó bị chặn bắt gần Trà Kiệu, công an tư giấy về xã, chủ tịch Ba Mít kêu chị ra vặn vẹo miết, bắt phải nhận là cho nó về bắt liên lạc với họ hàng phía cha chị, dân công giáo nòi hết, bỏ ông bà theo đạo Tây hết. May con Năm nghe tin tới cứu viện, chị mới khỏi đi cải hối thất. Thời buổi này, cha làm ông xã, chồng làm ông tỉnh, họ cứ coi chị là mụ thợ may chỉ biết có Chúa Trời là một, đồng tiền là hai ! Ánh đèn dầu lai lù mù vẫn soi rõ khuôn mặt của Thùy tái dần đi, cặp môi chị trắng hẳn ra trong khi Tư Quýt tuôn những lời cay độc. Ông Tư bỗng đập mạnh tay xuống cái bàn mặt tre - may là chị Song đã bưng hẳn mâm xuống giường cho bầy con mình ăn xả láng - trừng mắt quát: - Câm họng ! - Tôi còn lạ gì, nhà này chia phe đã lâu... Ông Tư quờ tay kéo cây súng ba nòng dựng chỗ góc phên, rít răng: - Mày nói một tiếng nữa, tao cho một phát liền tay. Bắn què chân thôi, không bắn chết ! Cả nhà bật kêu nhốn nháo. Chị Song xốc đứa bé nhất sắp vọt chạy. Thùy gắng gượng nhỏm dậy, lại ngồi bệt xuống giường, tóc đổ xuống mặt như sắp ngất. Chỉ có bà Tư tỉnh hoàn toàn, bước tới xô mạnh vào vai Quýt, gằn giọng: “Đi, đi cho rảnh !”. Bà nắm lấy nòng súng, kéo nó lệt sệt trên nền đất, đem dựng vào góc phên cạnh mình, nói điềm đạm: - Chấp chi thằng say rượu, ông. Nó hỗn ẩu thì la rầy nó, rồi con cứ là con mình thôi. Tư Quýt đã biến mất. Chị Song tay bồng tay dắt đã lôi lũ con ra khỏi nhà, mỗi đứa còn cầm một miếng xôi cháy vét nồi. Thùy ngồi hai tay bưng mặt, đến đấy mới từ từ nấc, những tiếng nấc nghẹn cổ nín vẫn cứ bật qua mũi, qua mỏi. Dì Thanh Yên, mới mười tuổi ta đã có tới năm cháu gọi bằng o và dì, thường bắt lũ trẻ gọi là dì cả cho tiện và cũng ngọt tai hơn, đang quạt cho thằng Chung và con Bình ngủ, đông người không buông màn được. Im lặng. Tiếng vạc kêu sương dội xuống mấy tiếng quang quác, rồi giun dế lại hòa giọng nỉ non nghe to hẳn lên. Ông Tư nhấm nháp bát nước chè đậm bà Tư bưng đến, bẻ một đầu lạt tre buộc phên làm tăm xỉa răng. Bà Tư bưng hai bát nước nữa cho mình và cho Thùy, cứ nín thinh, xưa nay bà vẫn ít lời ít tiếng. Thùy nuốt xuống được tiếng nấc cuối cùng, vơ mảnh vải cũ dùng làm khăn lau mắt, lau cả mặt và cổ, đặng hắng vài lần, hỏi khản tiếng: - Bao giờ cô Năm về, cha ? - Nó ở lại dò thêm... vài ba ngày gì đó... cầu may thôi... Lại im lặng. Mỗi người đeo đuổi một ý nghĩ riêng, che giấu một hay nhiều bí mật riêng. Thùy che giấu chuyện Năm Bưởi chửa hoang, chuyện Bảy Bòng xoay tiền, chỉ vì thương hai đứa. Bà Tư ở mãi chỗ nhà cũ, vườn cũ cùng con Thanh Yên, với ý nghĩ: mình qua ở với Hai Thùy, Năm Bưởi thì vợ chồng thằng Quýt nó chiếm hết sạch, về sau nó dám đuổi cả cha mẹ em út lắm. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 10:51:56 am Ông Tư chia cho Tư Quýt nửa bộ đồ rèn, nhất định vào ở rèn cho Nông đoàn chứ không về chỗ Thùy và Bưởi, dù lệ thường cha mẹ ở với trưởng nam là phải, và tất cả các con đều thúc giục ông lập lò rèn mới dưới vạt dầu lai cổ thụ, Tư Quýt cũng muốn vậy. Ông nghĩ xa hơn: dâu là con, rể là khách. Thằng Cả đi vắng, ông ở với dâu, con Năm đi trận mạc luôn, lỡ mấy đứa xấu phao tin ông bậy bạ với nàng dâu thì tội loạn luân trốn đâu cho thoát. “Bà gia lấy rể có thể quan cho, ông gia lấy dâu bán trâu mà chạy”. Con Thùy vào loại xinh đẹp nhất làng, biết nó có giữ thân được không, hay khi hữu sự lại đổ vấy cho ông cha chồng ở chung nhà ? Lứa trẻ mới lớn hay liều mạng, cùng đường thì bỏ xứ đi biệt, chứ ông đã bứng rễ từ Hòa Vang lên cắm sâu đất này, làm sao vất bỏ hết thảy khi đã ngoài năm mươi ?
Những tính toán của Tư Quýt sâu hơn cả, được người vợ con buôn giúp thêm lắm mưu mẹo. Hơn chục năm qua, Quýt vẫn tự coi như vai trò không nhất thì nhì trong nhà. Hồi xưa, khi ông Tư quanh năm ngồi lò, Quýt là nhì. Từ khi ông Tư “tập làm chánh trị”, lãnh chức này việc kia lăng xăng, Quýt tự coi là người nuôi cả nhà. Bà Tư với Năm Bưởi lo ruộng rẫy, đó là công phụ giặm của đàn bà thôi, tay làm vừa đủ hàm nhai. Cả Chanh làm cách mạng thì chánh phủ trả công, chớ nên cho xơ múi gì vào của cải do Tư Quýt làm ra phần nhiều. Mấy đứa em lớn lên hằm hằm đi bộ đội, cán bộ, cơm vua ngày trời có chánh phủ nuôi. Tốt nhất là cha mẹ giao trụm nhà cửa, ruộng vườn, đồ nghề cho Quýt, về ở giữ con và làm việc nhà cho Quýt, hưởng miếng chín mà khỏi phải lo đời, khi trăm tuổi còn có đứa vuốt mắt đưa ma. Gọi xa thúc gần mãi, cha mẹ mới chịu chia cho Quýt nửa số ruộng bậc thang, hạn mấy cũng được ăn nhờ nguồn nước đập (Xì, mấy miếng đầu trâu trán khỉ, gặm không nổi mới chịu nhả ra...). Ông Tư chia đôi bộ đồ rèn tích cóp lâu năm, lắm thứ xưởng Cao Thắng cũng thèm, để cho Quýt tự ý bắt phần trước khi đem phần mình vào Nông đoàn, Quýt vẫn thấy chưa đủ: “Nông đoàn thì chỉ có đóng cán cuốc với mài lưỡi rựa chớ rèn đúc gì...”. Một lần ông Tư phát ngán, nói toạc: “Tao coi bụng mày như đứa đi săn, bắt được dấu máu con nai trúng đạn rồi, nhịn đói đạp gai cũng rán theo miết, lấy cho được con mồi !”. Quýt hiểu nhưng lặng im, coi như cha giỡn cho vui. Thất vọng đến từng bước một. Khách rèn cứ bám ông Tư, ông thợ tài hoa và dễ tính. Lò Tư Quýt ngày càng ế vì Quýt rèn vụng và Ba Song tính công đắt. Ba Song không quen làm ruộng rẫy, lại vướng bầy con không đi buôn được, lúa khoai trong bồ vơi hẳn đi. Vợ chồng cãi nhau mấy trận. Bao giờ Quýt cũng thua, vì Ba Song có tài cãi dai sức, có thể nói vài ba giờ liền không mỏi miệng, ai nín trước là người ấy thua, cha mẹ đẻ và anh chị em ruột cũng khiếp cái tính ấy. Rồi mỗi người lại tự nghĩ ra cách bòn rút khác. Tư Quýt siêng qua Nông đoàn thăm cha, mỗi lần lại đem đồ khó qua nhờ rèn và mượn mấy thứ dụng cụ loại hiếm quý mang về: máy khoan quay tay, lưỡi dao gọt sắt cực tốt, các loại giũa hay lưỡi cưa thép mua trước chiến tranh. Muốn lấy luôn mà không lấy được: đồ nghề ông Tu có đánh dấu riêng, bán không ai dám mua, lâu lâu ông Tư về thăm nhà lại đếm ra vanh vách và soạn lấy đủ. Nếu Quýt đi vắng, nhờ Năm Bưởi hay Bảy Bòng đốt than cho lò, chúng nó làm vài lần rồi dứt khéo, đành phải bỏ tiền mua. Những người hồi trước hay đến la cà tán gẫu và tự ý phụ việc cho ông Tư hàng buổi nay biến hết, phải hỏi thuê, và họ mặc cả phải trả công bằng thóc chứ không nhận thứ tín phiếu rách của bà Song. Ba Song về bấu xấu cha mẹ đẻ, nhưng hai bên đều thạo tính toán nên chẳng được gì. Hai Thùy chuyên may áo quần cho cả nhà Song, còn phải may thêm những thứ “bà con nhờ”, chẳng biết bà con nào mà không hề thấy mặt tuy chị quen khắp làng. Bà Tư thường được cháu bưng cái mủng hay cái bát qua mượn bà ít gạo hay tô mắm, “bận quá không kịp xay giã, đi chợ”. Buồng chuối trái mít trong vườn thì bà ít để ý, cho cháu mình chứ cháu ai. Phiền nhất là Ba Song chuyên đùn con cho bà giữ. Cho con ăn sáng, gói mo cơm trưa phần mình xong, Ba Song gọi các con ra sân, vừa gài cửa bên ngoài vừa nói: “Mấy đứa qua chơi với bà, với o Út, mẹ đi chiều mới về”. Đứa đầu cõng đứa cuối, đứa giữa lũn cũn chạy theo, qua hết vườn rộng thì Ba Song đã đi xa. Bà Tư đành bỏ một ngày làm cỏ ruộng hay vun gốc sắn để trông các cháu, tắm rửa và nấu ăn trưa cho chúng, có hôm bà Tư bận đi sớm, lũ trẻ dắt nhau qua nhà bác Hai Thùy, nhập chung với hai đứa bên ấy chơi rất vui, bác Hai lại dễ thương và luôn ở nhà. Vài lần như thế, đến khi o Năm Bưởi thấy bác Hai bị quấy rầy quá, phải bảo chúng: - Bác Hai lo làm nuôi tới năm miệng ăn, bay thấy đó: hai đứa nhỏ, tao, chú Bảy, cái miệng bác nữa, sức đâu lo thêm ba đứa ngày nào cũng tới. Về nói với ông Quýt bà Song là o Năm cấm tụi bay không được qua đây, nhớ chưa ? Lũ trẻ bén hơi nhau vẫn cứ sang, dù Năm Bưởi nói thẳng với vợ chồng Tư Quýt. Họ gờm cái tính đốp chát của Năm Nhím gai ngạnh cùng mình, không dám lấn lướt nặng lời, nhưng vẫn để con đi đâu thì đi. Hai Thùy mát nết, thương trẻ con, lúc nào cũng sẵn lòng đón các cháu. Đến một hôm Bảy Bòng đi bứt mây xa, bị beo rượt phải vừa ném đá, hú hét, vung đòn xóc vừa chạy hăng gai gốc đến trầy truột khắp người, về tới nhà lại gặp lũ trẻ đang cấu xé chửi bới nhau - các con Tư Quýt nhiễm thói chửi tục của cha và thói vùng vằng lắm điều của mẹ, hay gây sự với thằng Chung con Bình ngoan hơn nhiều. Bòng bẻ roi quất cho hai đứa lớn khá đau, xua chúng bồng dắt nhau chạy về như vịt, Thùy đang cuốc khoai trên rẫy, không biết gì. Từ đó Quýt thề không nhìn mặt Bòng nữa, cũng lạnh mặt với Thùy tuy Ba Song vẫn nhờ vả như cũ. Cuộc sống của vợ chồng Tư Quýt ngày càng hiện ra cái thế kiến bò vào sừng trâu. Còn một bí mật nữa của Năm Bưởi, ông Tư đoán biết nhưng khó nói ra. Bưởi ở lại sau, gửi cây súng kỵ binh Nhật cho đội du kích quen, mượn áo quần son phấn giả làm gái buôn vùng tề, nhét lựu đạn trong giỏ trầu cau vàng hương, quyết đi lùng cho ra cái thằng phản phúc đang bôi nhọ cả nhà. “Làm gì hả ? Tới đó rồi sẽ hay !”. Chưa bao giờ gia đình ông Tư Chua cần Cả Chanh có mặt như lúc này. Cũng như chưa bao giờ làng Linh Lâm và cả xã Linh Giang trông ngóng Cả Chanh như trong năm qua. Ở đây cần một người rất sạch tay, thạo việc, biết hỏi và nghe khắp mọi người, nhưng khi quyết làm thì trời gầm không nhả. Ông Tư ngậm miệng lâu đến nỗi bà Tư phải buông màn cho ba đứa trẻ ngủ, trong khi Thùy rót thêm dầu vào đĩa đèn. Rồi ông như chợt tỉnh, đập mạnh tay vào trán: - Phải vậy thôi, bà. Thuộc nết chồng, bà Tư đợi ông tự nói tiếp. - Bà với con Út, mẹ con Hai Thùy, thêm thằng Chung này nữa, dồn vô ở nhà cũ, rào vườn lại, đem trích lục ra xã làm giấy chia phần ruộng cho thằng Tư, cấm cửa luôn không cho tụi nó bòn rút nữa. Tôi với con Năm mở lò rèn bên này, lo luôn cái nhà kiếm miếng ăn thêm. Hồi ở Nông đoàn tôi có mấy thằng nhỏ xin ở chung học nghề, tôi đưa về đây phụ rèn là đủ. Bà Tư ngẫm nghĩ và thất vọng: - Ông với con Năm mở lò ở đây là tốt. Có điều tôi với con Hai về bên kia nhắm có êm xuôi với vợ chồng thằng Tư không ? - Rào vườn, rấp ngõ, cấm lui tới ! - Đâu có dễ vậy ! Thì ông chớ ai, cãi lộn với nó buổi chiều, chút xíu nữa tát tai nó, mà tới tối nghe con nó sốt nặng ông chạy ào qua, bồng cháu chạy vô xóm Chợ tìm thày thuốc ! Tôi với con Thùy nghe lũ con nó khóc đói bên kia hàng rào, bụng dạ cứng bằng đe lò rèn cũng phải mềm ! - Ờ, hay là tôi với con Năm dựng lò bên kia, bà về đây với ba đứa nhỏ, con Hai may, bà làm nà, cần thì tụi này phụ thêm ? - Để rài rài rồi tính, chẳng gấp rút gì... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 10:54:02 am * * * Vô tình, bà Tư nhắc lại các câu đầu lưỡi “rài rài rồi tính” của cán bộ xã thôn trong năm qua. Một năm nhiều biến động thầm lặng ở Linh Lâm. Ở đây không có những đảo lộn đẫm máu và đày tro như vùng chiến sự, nơi chỉ cần một giờ để biến một làng đông dân và giàu có thành bãi cháy rải đầy xác chết, sau trận càn quét lớn hay đợt ném bom hủy diệt. Địch có thọc lên xê-ca đơ vài lần, phải bỏ cuộc vì không đủ sức băng núi, không dám cho ca-nô ngược sông Thu Bồn lắm thác ghềnh. Máy bay Mỹ mới đưa sang không thể rà bắn tỉa từng con trâu, nã chìm từng chiếc thuyền đánh cá như dưới xuôi. Bom na-pan không đốt được rừng rậm và ruộng bậc thang, bom tạ bom tấn ném hú họa từ trên cao không phá được hầm hố khoét vào sườn núi. Hai chiếc Cô-bra đã rơi chìm dưới vòm xanh bí hiểm kia, một bị bắn và một do liều lĩnh lao xuống. Tây chẳng biết rơi đâu mà tìm, lấy gì mà tìm. Trong các xóm Linh Lâm đã lùi vào chỗ rậm rạp và đào hầm ngày càng sâu, bà con Linh Lâm trải qua nhiều lần động não, bàn cãi, xáo trộn. Giáp Tết năm Tân Mẹo 1951, đội thông tin xã đi kẻ khẩu hiệu mới trên những bức tường còn lại của ngôi đình đã dỡ mái tiêu thổ. Bên cạnh những khẩu hiệu Tổng phản công, họ viết hoan hô chiến dịch Biên giới, chiến dịch Hoàng Diệu của Quảng Nam. Sau Tết ít lâu, họ quét vôi phủ sơ sài trên khẩu hiệu Tổng phản công, viết khẩu hiệu chào mừng Đảng Lao động Việt Nam. Vài tháng sau nữa, họ lại quét vôi trên những câu hoan hô chiến dịch, viết lại thật đậm những lời đã thuộc từ ngày cả nước cùng nổ súng: Toàn dân kháng chiến Toàn diện kháng chiến NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI ! ! ! Trường kỳ kháng chiến Người dân thường ít để ý đến các khẩu hiệu, bởi mạnh ai nấy viết từ việc lớn đến việc nhỏ và câu nào cũng đúng cả. Tòng quân, tiêu tín phiếu thay bạc Cụ Hồ, đả đảo đế quốc Mỹ can thiệp vào Đông Dương, uống nước chín và ăn đũa hai đầu, chửi bù nhìn Bảo Đại, thi đua dùng phân bắc nước giải, thực hiện bảo mật không biết không thấy không nghe, chế giễu người mù chữ phải chui “cổng mù” khi đi chợ... nhớ sao cho hết được chứ ! Người dân quen đón hỏi cán bộ, mà chỉ hỏi những cán bộ họ tin cậy nhất: có gì mới không, nói nghe thử ? Linh Lâm có nhiều chuyện mới. Đầu tiên, sau phần giới thiệu Đại hội thành lập Đảng Lao động, là nghe đọc chỉ thị của liên khu 5 giải thể quỹ Tổng động viên, phê bình việc thu gom trâu bò, cày cuốc, nồi niêu của dân là sai lầm. Của ai sẽ trả lại người ấy, riêng các thứ đã đem ủng hộ bộ đội thì được trừ vào khoản Đảm phụ quốc phòng, trừ chưa hết sẽ tính vào Thuế nông nghiệp sắp ban hành. Vụ này khá là rắc rối. Trả lại các thứ không ăn được thì dễ, bà con theo gương ông Tư Chua đã đánh dấu riêng vào mọi thứ nộp kho. Nhưng chủ tịch xã Hùng Minh và chủ tịch Liên Việt Mười Áng gây nhiều nghi ngờ. Mới tập trung bốn con trâu - vùng ven núi này lắm trâu bầy, bà con dễ nộp - ông Mười Áng đã tính công giữ trâu cho quỹ mỗi ngày một ang thóc, bằng công gặt ngày mùa gấp rút. Người nhận lại là con Hùng Minh. Cãi qua lại ít nhiều, rồi cả làng cho trôi: do tư tưởng không nặng gia đình, đồng chí Hùng Minh bỏ bầy con đói rách và nhà cửa dột nát đến thảm hại, chỉ chăm lau sửa chiếc xe đạp và gây cơ sở phụ nữ dọc đường xuống huyện, tất cả để phục vụ nhân dân tốt hơn. Trả mỗi ngày một ang cái công dắt trâu ra buộc dòng dây vào cọc, chiều dắt đi uống nước, thôi cũng coi như cứu tế lũ nhỏ. Lại thêm cái khoản cơm đãi khách: ba mươi bảy ang rưỡi và ba con heo xẻ lần lượt, nấu nướng tại nhà Mười Áng. Cậu thôn đội phó nắm an ninh lật sổ khách đến và đi ra đọc: đoàn ông Ba Mậu được cụ tú Đỉnh bao nuôi hoàn toàn, từ đó trở đi chỉ có bảy khách đến xã, cộng số ngày người là hai mươi chín. Không phải khách ba chủ nhà bảy. mà một khách những hơn mười chủ ! Giằng co một hồi, rồi cậu an ninh nói toang toang: “Ăn lâu rồi, cứt trôi quá biển Đông rồi, để thì giờ hỏi kỹ vụ năm heo !”. Vụ ấy không truy ra được. Hùng Minh hối hả cho bắt năm con heo to đã ghi sổ nộp quỹ, bảo rằng có một tiểu đoàn Liên khu Lào - Việt sắp vượt biên giới mà thiếu lương khô, nhờ xã giúp gấp. Cậu ta cùng một người bà con chủ đò dọc chở năm con heo ấy xuống một trạm nào đó rất chi là bí mật quân sự đặt ven sông Thu Bồn, giao heo xong mang về một lá thư cảm ơn dài, không có con dấu, đọc lên thì rất rõ lời văn hiệu triệu dốt hay nói chữ của ông chủ tịch. Bà con vặn dồn tới tới, phe Hùng Minh trả lời ít mà phàn nàn nhiều về tình nghĩa quân dân sa sút. Đơn vị đang hành quân không kịp khắc dấu. Các anh Cao Thắng nói ở Quảng Nam không có đơn vị nào là tiểu đoàn 33 cả, bởi họ không thể biết hết bộ đội liên khu Năm, nhất là các đơn vị quốc tế tối mật cực kỳ. Đến hai giờ sáng, dân làng đành hậm hực ra về. Thiệt thòi nhiều nhất là vợ anh Cả Chanh, vì anh dặn phải làm gương mẫu đầu tàu cho dân theo. Mất hẳn một heo. Được trả cái soong to bằng đu-ra gò, vợ Cửu Áng nấu cháo bị cháy đáy. Cái máy phát điện đút tận đáy kho - nhà gạch của lão nghiện Xâm Tô đã được phép về thành phố - trúng chỗ ẩm và dột, bị gỉ nát. Dây điện được nhà Ba Mít căng phơi áo quần, đứt nối lung tung. Bóng điện vỡ gần hết. Anh em Cao Thắng đến giúp ông Tư Chua tháo sửa máy hai ngày, chịu bó tay. Tiếp đó ít lâu, Câu lạc bộ bị hơi bom nổ gần thổi sập, Đoàn thanh niên đành giỡ xếp đống, rầu rĩ nhắc lại những đêm diễn kịch và học văn hóa trong hội trường rực ánh điện y hệt thành phố. Gia đình ít mất của hơn cả lại là ông Tư. Ông nộp trâu, nay trâu lại về, gầy đi nhưng vỗ béo dễ. Nộp nửa bộ đồ rèn bôi đẫm mỡ bò, nay thu lại gần đủ, ai có “cầm lầm” kìm búa của ông rồi cũng trả, bởi đem ra dùng thì cả làng đều thấy và nhận ra đồ ông Tư. Riêng cây súng ba nòng của hiếm được trả trước lâu. Ông nộp súng kèm năm bảy viên đạn cho phải phép, giấu biến số đạn dự trữ cùng bộ dụng cụ lùa vỏ, giập hột nổ, đúc viên chì to nhỏ, do ông vào xưởng Cao Thắng mượn máy của họ làm trong mấy ngày, anh em đều phục ông khéo tay. Vỏ đạn đồng của ông nhồi được nhiều lần, bằng vỏ 12 ly 7 nống đầu hay 13 ly 2 gọt đít, trông đẹp và dùng bền như đồ ngoại. Khi thiếu phun-mi-nát và thuốc súng lấy ở đạn thối, ông tự làm hột nổ bằng đầu diêm và thuốc đen phân dơi, vẫn bắn được. Cây súng vào tay Ba Mít, anh ta cùng số theo đuôi đi bắn công và khỉ về nhậu, chỉ vài lần là hết đạn. Anh ta làm công văn đóng dấu, cử người đến trạm liên lạc của Cao Thắng nhờ giúp đạn hoặc cho vào xưởng để mượn đồ làm đạn, bị từ chối gọn. Ông chủ tịch thân hành đi, vẫn không được giúp, không được vào. Các anh lãnh đạo Cao Thắng II thường ra làng, quen rộng, biết rõ Hùng Minh được huyện chỉ định nhưng xã kềm chắc, hễ tìm được người thay là cho rớt tức khắc. Đành phải ngậm ớt mà trả súng cho ông Tư, lại ngậm ớt mà nghe tiếng súng săn lâu lâu nổ một lần kiếm thức ăn cho du kích. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 10:56:24 am Nhà ông Tư bỗng có cuộc vui lớn: Năm Chò cưới Năm Bưởi, có Sáu Cam từ ngoài Bắc về kịp dự, và cũng tình cờ ông Hai Rề sửa xe lửa ở tận Quảng Ngãi ra thăm con gái đúng ngày làm lễ, với cái đầu ngưỡng thiên và một ba-lô đường phổi, đường phèn, kẹo gương.
Năm Chò giao đại đội cho Ba Dĩnh và một đại đội phó mới đề bạt, về liên khu dự tập huấn hai tháng đánh công kiên. Được Ba Dĩnh bỏ nhỏ trước, trung đoàn cho Năm Chò đi sớm hai mươi ngày để cưới vợ, lại làm công văn nhờ xã giúp đỡ. Tờ công văn ấy là thừa: Năm Phi Đao về Linh Lâm như cọp về rừng. Hồi xưa là chỉ huy du kích, sau này là ông chỉ huy đầy huyền thoại ở địch hậu Quảng Nam, là anh đồng hương thân thiết mà tất cả các đội du kích đi dự chiến đều xin đến phối thuộc. Dù cả nhà ông Tư sợ mang tiếng xài phí, nhưng bà con cứ nhất định làm linh đình và không để cho gia đình bỏ ra đồng nào. Mới gặt mùa tháng năm trúng khá, dân làng đem nếp tẻ đến thừa dùng, còn chia nhau xay bột làm bánh xèo, mì Quảng. Phụ nữ làm bánh ở nhà mang tới nhiều nhất là thứ bánh phu thê quen được gọi là su sê chẳng hiểu tại sao. Các bạn Cao Thắng nhồi cho hai chục đạn tốt, cho mượn đèn đeo trán để bắn đêm, anh em du kích khuân về một nai đực to, ba heo rừng, sang ngày cưới còn cõng về hai con mang tơ và hối hả làm tái nhúng dấm. Thứ rượu sắn thập thò xuất hiện, ban đầu là chút rượu thuốc nhấp khai vị qua loa, về sau ra công khai ngự trên mâm, đến cuối là những chai đế trong veo không hề có mùi sắn. Khách đến cứ oang oang: “Cả làng góp gạo nấu cơm chung, tay mình đãi miệng mình chớ đi đâu mà sợ phí !”. Quà biếu còn nhiều hơn cái lần Cả Chanh đi Lào, bởi ai cũng thấy cặp vợ chồng mới quả là mình trần thân trụi. Một nỗi vui lại hóa ra hai: Năm Bưởi được bầu vào thường vụ Đảng ủy xã, được cử làm xã đội trưởng. Sau một loạt thư tố giác của đảng viên và nhân dân xã Linh Giang, huyện ủy mới giật mình thật sự. Vùng căn cứ địa mà “bộ sậu nát bét” thì rất nguy. Anh bí thư huyện ủy cùng Tám Doãn lên tận nơi để chấn chỉnh, nhân đây cho học luôn về thuế nông nghiệp. Soát lại hàng ngũ đảng viên, anh bí thư thấy chừng một phần ba được kết nạp ẩu: không làm đơn, không khai lý lịch, chỉ xếp hàng một dãy và cử một người lên hứa hẹn chung, cứ như thanh niên tòng quân. Dân làng gặp anh đều túm tay níu áo, buộc phải nghe hết những vụ bê bối của Hùng Minh, Mười Áng và số tay chân. Anh phải cho liên lạc hỏa tốc xuống huyện điều thêm một số cán bộ tổ chức, kiểm tra, tư pháp, nông hội về Linh Giang để gỡ rối. Số vào Đảng không hợp lệ được mời riêng đến bàn bạc. Một số ít sửng cồ, trách móc. Phần đông vui vẻ rút lui với nhiều lý lẽ khác nhau. Nghe nói vô Đảng được nhiều quyền lợi, té ra chẳng có gì, thôi trót. Dạo này tôi bận quá không đi họp được, để khi rảnh rảnh xin vô lại. Đảng còn bí mật thì dễ, dân chẳng biết ai Đảng ai không, giờ ra công khai bị bắt phải làm gương, kham không nổi. Để hồi nào mấy ông cầm đầu khá khá hơn, tôi làm đơn xin tái đăng, chớ Ba Mít làm bí thơ thì quá ngán... Thường vụ huyện ủy nhất trí với anh bí thư, ra quyết định thành lập Đảng ủy xã Linh Giang, đề cử Tám Doãn làm bí thư, nếu bỏ phiếu kín không trúng thì trở về làm huyện đội phó chứ không bầu ép. Mấy vụ xử trí sai được sửa, trong đó có Năm Bưởi bị treo sinh hoạt Đảng vì đứa con giống Hai Khánh. Anh bí thư cười xòa: - Thì Tám Doãn đó, một chị ở Quảng Ngãi ra tìm chồng, cứ thề thốt hắn là chồng chị ta mà thay lòng đổi dạ, không nhìn vợ ! Thiên hạ thiếu gì người giống nhau ! Đại hội Đảng bộ họp ba ngày, nói xả láng, bầu dân chủ. Tám Doãn được số phiếu cao nhất, điều lạ là Năm Bưởi theo sát nút. Ông Tư Chua được đề cử nhưng xin rút: “Tánh tôi nó bộp chộp bỗng chảng lắm, đập sắt được mà lãnh đạo trật trìa, làm chủ tịch bấy nhiêu năm bà con dư biết rồi”. Hùng Minh cũng được đề cử nhưng rớt đội sổ. Năm Bưởi không nhận làm bí thư hay phó bí thư chỉ xin nắm du kích, trúng vào thường vụ. Đồng chí Mười Áng chỉ cười hề hề, bắt tay chúc mừng các đồng chí trúng cử, nói đưa đẩy nhũng câu lấy lòng hay phân trần nhẹ nhàng. Xã không có Hội đồng nhân dân, anh bí thư chiều ý Đảng ủy mở một cuộc “khuếch đại hội nghị” gồm hơn một trăm cán bộ Đảng chính quân dân cấp xã và thôn, bỏ phiếu bầu ủy ban kháng chiến. Kết quả có khác: Tám Doãn chủ tịch, Tư Chua và Mười Áng phó chủ tịch, Năm Bưởi xã đội trưởng kiêm trưởng ban an ninh, riêng “cây ăn nói” là Ba Mít vẫn được đề cử và vẫn rớt đội sổ ! Tiếp đó, toàn dân học chính sách thuế nông nghiệp. Đoàn cán bộ huyện ngạc nhiên khi nghe dân nêu thắc mắc rất ít, tuy anh nông hội huyện luôn nhắc nhở cán bộ xã thôn “đề cao khải phát tính”, anh bí thư phải dịch lại là khêu gợi cho dân nói. Dần dà mới biết: thuế công bằng hợp lý đã đành, dân ven núi lại sống dựa vào rừng và rẫy nhiều, mức thuế nông nghiệp của họ như thế là thấp, dễ nộp, chẳng phải như trước cứ kêu gọi ủng hộ mỗi năm vài chục lần. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 10:57:49 am Huyện rất lúng túng trước nguyện vọng lập nông đoàn. Vận động hăng nhất cho nông đoàn lại là những người trong sạch, đáng tin cậy. Tư Chua lãnh đạo vụng nhưng có uy tín lớn. Tám Lầu từ du kích Linh Trung đi bộ đội, lên tới trung đội trưởng, nay cụt tay giải ngũ về xã. Hai Xuyên mới trúng bí thư nông hội sau đại hội Đảng bộ xã. Hầu hết những người xin ghi tên vào nông đoàn là tá điền của tú Đỉnh ở xóm Ấp. Gặp bí thư huyện ủy, họ nói rất có lý:
- Nghe nói vài năm trước chánh phủ mình ra lệnh giảm tô, nhà giàu không chịu giảm, cán bộ xã thôn không ép được họ. Tụi tôi ở đây làm căng, chắc cấp trên coi là vô kỷ luật, tự ý bày ra đấu tranh giai cấp. Muốn người cày có ruộng phải đợi tới độc lập, nhưng mà trường kỳ kháng chiến kiểu này thì tới đời con đời cháu vẫn còn đánh. Chi bằng sẵn đất đồn điền của Tây đó, tụi tôi kéo qua khai khẩn, không được cơm cũng được cháo. Đem chia hả ? Chia đất cũng được, mà ít lại hơn. Nghề nông phải tránh cái cảnh một chốn đôi quê, một nhà ở nhiều nơi. Huống chi bây giờ người khỏe phải đi lo việc nước hết, cuốc rựa khó sắm, đờn bà con nít ở nhà vừa làm ruộng vừa lo đất nà sao cho nổi... Tám Doãn ủng hộ dè dặt, thật ra anh không mấy thạo nghề ruộng rẫy, chỉ quen lùng rừng và chống bè. Mười Áng cũng xin đứng ngoài vì chỉ biết ruộng, không biết làm rẫy làm nà. Năm Bưởi đùng đoàng giỏi hơn sản xuất. Nhiều ông lão nông tri điền, số cai đồn điền La-phạt ngày xưa biết cách điều khiển công việc hàng trăm người, mấy cụ trải bốn năm chục năm vỡ hoang lấn núi, đều được mời đến hỏi kinh nghiệm. Họ nói khác nhau, kẻ vun vào người cào ra, và không ai nhận vào Ban quản trị: tuổi cao, đông con cháu, ngại thiếu vốn, lo nước độc, nghề cũ lạc hậu, số lớn kêu bận việc nhà. Đảng ủy đề nghị cứ cho làm thử. Huyện đồng ý, chỉ nhấn mạnh là phải hoàn toàn tự nguyện. Hơn một trăm gia đình nộp đơn. Ban quản trị Nông đoàn Linh Lâm được bầu phiếu kín: Tư Chua chủ nhiệm kiêm các ngành nghề. Hai Xuyên phó phụ trách nghề nông, Tám Lầu phó phụ trách trật tự kỷ luật, một cậu học sinh đệ nhị niên trung học làm thư ký kế toán, một chị cứu thương từ bệnh viện Huề Bình về nắm tổ cấp dưỡng, y tế. Đại hội bàn rất bốc, riêng ông Tư Chua hứa sẽ lập đội rèn, đội mộc, đội chài lưới và đóng thuyền. Bảy tháng sau, nông đoàn tan rã. Cuộc họp thanh lý tài sàn chỉ có hơn ba chục người dự, giục quầy quầy làm nhanh để về. Tám Doãn lên báo cáo những kết luận của Đảng ủy, bà con nghe dửng dưng vì biết cả rồi. Hoàn toàn không ai cầm dầu dính tay, rất tốt. Nhưng quản lý sản xuất thì quá kém: máy móc, luộm thuộm, nóng đâu phủi đó, lãng phí công sức ghê gớm, đặc biệt về kỹ thuật trồng trọt thì trật bậy hết. Kèm theo đó, xã viên rất nặng tính toán riêng tư, dựa dẫm vào tập thể, con rô cũng tiếc con giếc cũng muốn, thứ gì cũng đợi chánh phủ cấp. Tám Doãn và các chủ nhiệm, phó chủ nhiệm được gọi xuống huyện để báo cáo. Ủy ban huyện chỉ báo cho mươi cán bộ đến nghe, nhưng số người dự vọt lên tới hơn bốn chục. Ai cũng muốn biết thêm về cuộc thí nghiệm đầu tiên bước qua ngưỡng cửa ngôi đền xã hội chủ nghĩa, diễn ra ở cái làng đã lập chính quyền Việt Minh đầu tiên trước Tổng khởi nghĩa. Tám Doãn đọc biên bản kiểm điểm của xã ủy và ủy ban, đọc vất vả vì chép trên giấy rơm nội hóa vàng sẫm và rất nhám, chữ bị méo mó và mất nét. Phần nói miệng thoải mái hơn nhiều. Ông Tư cứ nói kiểu nửa thợ nửa nông: - Thưa thiệt quý anh em đồng chí, làm chủ tịch xã mấy năm tôi biết tôi dốt chánh trị, giờ làm nông đoàn mấy tháng tôi biết tôi dốt kinh tế. Thứ gì rờ tay vô được thì tôi chẳng thua ai, sắt gỗ tre nó chịu phục tòng, chớ chỉ huy con người sao khó quá ! Thôi, Tư Rèn xin lui về làm Tư Rèn là phải chỗ nhứt ! Tám Lầu quyết xây dựng nề nếp quân sự hóa trăm phần trăm. Kẻng dậy, kẻng thể dục, kẻng ăn sáng, kẻng đi làm, cứ thế đến kẻng sinh hoạt tối và kẻng ngủ. Tháng đầu còn dứt khoát nghỉ ngày chủ nhật dù nắng ráo, làm ngày thường dù mưa to, sau mới bỏ. Thi đua bảo đảm quân số ra đồng, tuy có hôm mỗi người chỉ làm nửa giờ là hết việc, hoặc không kiếm ra việc để làm. Đến Hai Xuyên là người bị chê trách nặng, làm nông đến tay chai vai mòn mà để mất ăn. Chẳng qua anh cả nể, theo đuôi nông đoàn viên. Đất đồn điền hợp với cây công nghiệp, nhưng ai cũng lo cái ăn là chính. Khoai đất lạ, mạ đất quen, anh bàn trồng khoai, gặp nắng hạn thì chịu tốn ít công gánh tưới chờ mua, mưa vùng núi đến sớm hơn dưới xuôi. Bà con lại bác: nhà nào cũng thiếu lúa chứ không thiếu khoai sắn trên rẫy, thời vụ này chỉ tránh trỉa lúa rẫy hay cấy lúa ruộng, chứ sạ giống lúa ngắn ngày còn kịp đón mưa. Hai Xuyên không tin mấy nhưng đành “thiểu số phục tùng đa”. Ông trời chơi xấu cho mưa chậm nửa tháng so với mọi năm, lúa chết héo một phần, sườn đồi dốc không tưới cứu lúa được. Lúa sót lại đang trổ đòng gặp mưa dầm tháng chín - mười âm lịch, bị luôn một trận bão quét rụi hết. Coi như trắng tay. Đến phần nông đoàn viên, anh nông hội huyện nói như dao chém đá rằng “tất cả khó khăn đều do ta gây nên”, ta đây là cán bộ đảng viên, không được trút bớt gánh nặng lỗi lầm cho quần chúng. Anh bí thư huyện ủy phải can, bảo cứ để các đồng chí Linh Giang nói bằng hết. Một người thêm vài ý, dần dà mới vỡ lẽ. Thì ra bà con tá điền ở xóm Ấp Linh Lâm, đội chủ lực của nông đoàn, có nhiều mặt mạnh mà cũng không ít mặt yếu. Họ căm ghét vợ chồng phủ Đỉnh từ xưa, nhất là mụ vợ cả riết róng vét tô tức, nhưng không dám rời số ruộng lĩnh canh khi dân tản cư đến nhiều, chỉ quen ruộng không quen rẫy, sẵn sàng đem gà rượu đến xin làm rẽ chia đôi mỗi đám họ nhả ra. Họ rất thèm khát có ruộng đất riêng, sống ung dung như những trung nông chẳng phải lụy ai, mà lại không đủ trâu bò, cày cuốc, giống má như trung nông, cũng không biết cách lo gần tính xa, sắp xếp mọi công việc cho già trẻ lớn bé trong nhà như trung nông. Vì ở cách biệt, họ ít được học Bình dân, càng ít đi học chính trị, họp đoàn thể, nghe chính sách mới. Quỹ Tổng động viên ít động đến họ, cụ tú Đỉnh nói là nhờ cụ xin dưới huyện cho tá điền được miễn, ngẫm cũng phải. Hiểu lõm bõm về thuế nông nghiệp, họ tin rằng hỗ càng nhiều ruộng đất càng bị thuế lũy tiến cao hơn, họ ngại nhận đất chia có giấy tờ, ưa tự tìm chỗ phát rẫy đồi núi kiểu người Thượng, hễ chánh phủ đánh thuế thì bỏ luôn, và cụ tú Đỉnh khen họ biết nghĩ xa. Họ xin vào nông đoàn nhiều vì nó là của chánh phù mình, khỏi nộp thuế, thiếu thứ gì có chánh phủ lo y như bộ đội hay công nhân Cao Thắng, thợ dệt Linh Hạ. Nhưng mỗi gia đình chỉ đưa vào nông đoàn một người thay mặt, thường là ông già hay thiếu niên, coi như ghi tên xí chỗ cho khỏi mất quyền lợi. Cả nhà vẫn cày thuê cấy rẽ cho cụ tú Đỉnh như xưa. Nông đoàn hỏng ăn, từng người lặng lẽ khoác tay nải hay cõng gùi, vác cuốc về nhà, sau những tháng dựa dẫm nhau, chân trong chân ngoài, chờ chánh phủ cấp cho mọi thứ. Chẳng ai thiệt thòi gì cho mấy, chỉ có Đảng và ủy ban xã một lần nữa bị sứt mẻ lòng tin của dân, cái khoản này thì chẳng ai bẻ thước mà đo được. Sau vụ nông đoàn, ông Tư Chua chở bộ đồ rèn phàn mình về nhà, xin thôi phó chủ tịch. Ủy ban xã không chịu, cử ông làm trưởng ban đỡ đầu dân quân du kích và bảo trợ học đường. Thôi cũng được, lo cho con cháu mình chứ cho ai, ông nhận. Ông gần nhu quỵ hẳn khi Bảy Bòng nhảy về vùng địch. Tư Quýt thù Bòng và không ưa Hai Thùy, ghen với Cả Chanh, mượn chén rượu xổ ra một tràng căm hận đã dồn nén nhiều năm. Ông Tư cảm thấy gia đình mình đang rã, rã theo những vết nứt từ xưa mà ông ít để ý, vết nứt mở ra thành vực, ông đang từ tù trượt xuống vực, mắt thấy những gì mình xây đắp cả đời đang thong thả sụp đổ mà ông không níu giữ được, cũng không thể bấu víu vào đâu cho mình ngừng trượt xuống đáy. Nằm trên bộ ván nhà trên, ngửa mặt nhìn cái mùng nội mà Cả Chanh mua về buộc ông phải buông chống muỗi trong cả những đêm nóng nực nhất, ông nhớ thằng con đầu như xưa nay chua từng nhớ bất cứ một ai. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 11:03:13 am Chương XV Trên một gò nổi rậm cây nằm sâu trong vùng đầm lầy của làng Kiệt Ngông, cách quốc lộ 13 chừng mươi cây số, có một cụm năm sáu cái kho thóc dựng rải rác dưới những tán cây cao nhất. Thoáng nhìn cũng biết các kho này dựng khéo. Bốn chân cột to và cao đủ tránh nước ngập mùa lụt, mặt sàn cách đất tới hơn hai thước. Gần mặt sàn, mỗi đầu cột được lắp một tấm gỗ tròn như cái mâm, mặt dưới bào trơn, mặt trên quấn thêm những sợi mây để nguyên gai: chuột dưới đất đừng hòng bò lên. Mái kho bằng gỗ hoặc tre chẻ đôi, rất dốc, phủ đầy những khúc dây rừng có gai nhọn hoắt. Chim, gà rừng, cả những thứ chồn bay sóc bay đáp là là từ các cành gần đấy xuống phá kho cũng đập cánh nhảy trốn nếu không thủng bụng lăn xuống đất. Riêng lũ khỉ tinh ranh lắm mẹo, nếu vượt qua được bấy nhiêu vật cản, cũng khó thoát những bẫy đập bẫy kẹp được gài ở mép sàn, chỗ nhô ra dưới bốn vách gỗ, chúng thường dè dặt khi mới đến nhưng hăng máu quên ráo khi luồn được vào chỗ người giấu lúa bắp khoai sắn. Duối cà-làng 1 một kho như thế, hai người ngồi trên võng buộc vào cột đang nói chuyện. Một người cởi trần, quấn cái phạ-phe kẻ ô vuông trắng đen, mỗi đầu chạy ngang mấy sợi đó, đi chân đất, đeo nịt súng ngắn. Người kia khác xa, mặc com-lê trô-pi-can, cà-vạt đã nới nhưng còn mắc trên cổ, ống quần chỉ gấp lên vài nếp và đi chân đất, nhưng trên tảng đá nhô cạnh võng còn đặt các thứ vừa lột ra: cái mũ phớt Flê-sê, đôi giày da đen bóng có tất ni-lông bỏ trong, cái cặp da giả cá sấu mới tinh, có cả một cây can đắt tiền bằng mây song chạm trổ và bịt hạc. Họ nói với nhau bằng tiếng Việt pha Lào, từng lúc vỗ đùi nhau cười hỉ hả. Anh Hai Thỉnh, chính ủy Quân tình nguyện khu Hạ Lào - Đông Bắc Miên, cải trang làm một nhà buôn Hoa kiều ở Thái Lan lâu năm, đi họp Đại hội II của Đảng, đã về đến nơi trót lọt. Chiếc xe chở anh theo đường 13 từ Pạc-xê xuống phía Nam đã bị quân It-xa-la y hẹn ra chặn đường, soát giấy, bắt riêng anh về tra xét, chủ xe sẽ không bị rầy rà. Tiểu đội chặn bắt đưa anh về chỗ đồng chí Chanh, bí thư liên chi, đứng đợi cách đường chỉ một trăm thước. Họ đi gấp về chỗ chỉ huy sở tiền phương phòng địch đuổi theo hay bị biệt kích quấy nhiễu. Từ dưới mẻ nước chợt vọng lên tiếng con gái: - Hưa đi lấy cưa của anh Chín, mưa chưa ? 2 Anh Hai Thỉnh cười to: - Lính của cậu Lào hóa mau thiệt chớ. Sao không nói hẳn tiếng Lào với nhau ? Cả Chanh đập con muỗi bám vai, tủm tỉm: - Nhỏ này mới lên năm ngoái. Gặp nó chắc anh nhìn ra. Nó mới chẵn mười tám, con Hoàng Lan ở gần nhà vợ tôi. Mẹ nó là bà giáo Hạnh, em nó là Bạch Lan, cùng chết bom một lần với hai đứa nhà tôi, thằng con đầu với thằng em vợ. Anh nhớ chưa ? Từ khi Thùy sinh con Bình yên lành - thư báo tin đến chậm một tháng rưỡi nhưng vẫn là tin - Chanh đã có thể nhắc tới đứa con đầu lòng bằng giọng bình tĩnh, nhưng không bao giờ kể rằng nó chết thui trong nhà cháy. Cô y tá trẻ bước tới, nói hối hả: - Em đi nghe anh Chanh. Hưa anh Chín còn chỗ nằm, đi gấp, mà anh Vận với anh Chăn Bun coi bộ nặng, sợ sinh chuyện dọc đường. - Ờ, Lan cứ đi. Đưa giùm các ảnh hộp sữa Con Chim đây, nói anh đang bận, chúc các đồng chí... nói sao cô biết rồi. - Nói dễ, kiếm sữa mới khó ! Hoàng Lan cười khúc khích, bỏ đi tất tưởi. Anh Hai Thỉnh nhìn kỹ khuôn mặt khá xinh và vóc người thon gọn, nhăn trán nghĩ. Má trắng tròn, môi bậu đỏ, mi dài tóc dày, bao nhiêu cô gái có những nét ấy ! Anh không nhớ ra tuy đã ghé thăm vợ chồng Chanh nhiều lần ở Sông Vệ, có khi kẹt xe lửa đêm phải ở đợi cả ngày, được bà giáo mời qua ăn chè rất ngon. Nhớ sao cho hết ngàn vạn con người đã gặp... ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Lào: mặt đất dưới sàn nhà. 2. Tiếng Lào và Việt: thuyền đi lấy muối của anh Chín về chưa ? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 11:09:28 am Vốn là người trong hoàng tộc ở Huế, là mệ Vĩnh Thỉnh hẳn hoi, anh học tới đệ tam niên trường Pen-lơ-ranh thì phải rẽ ngang kiếm việc làm vì mẹ chết, nhà cùng quẫn, cháo cám không còn mà ăn nữa, trong khi mệ Bửu Khả cha anh chỉ quanh quẩn ở nhà trên, nhấm nháp rượu cúc trà sen, đóng bộ khăn đen áo dài để vài ngày một lần tiếp khách. Sau khi chị và em gái đã chật vật kiếm được chồng, anh không chịu nổi nữa. Anh chán ngán đến thù ghét tất cả: cẩm cò Tây, vua quan nhà Nguyễn, các mệ phá sản hay lui tới nhà anh với giọng điệu kênh kiệu đến chết không chừa (mi dâng mệ một xu, mệ chém đầu củ khoai coi nà...). Anh đá tung hê tất cả, dặn cha bán nhà vườn mà tiêu, bỏ sang Ai Lao tìm vàng, dạt qua tới Tân-gia-ba, Xiêm La, Diến Điện, lại quay về Xiêm, tính ở lâu và học nghề. Hồi ấy đi lại còn dễ, vốn tiếng Pháp giúp anh đỡ lóng ngóng. Anh tình cờ gặp Thầu Chín ở Xiêm, nghe ông nói chuyện vài lần với Việt kiều. Anh đoán ông này là người yêu nước chưa gặp vận như các cụ Phan Bội Châu hay Phan Châu Trinh, chỉ ngạc nhiên sao Thầu Chín lại biết chuyện Pháp Anh Nga Tàu sâu đến thế, tính nết dễ gần dễ mến đến thế. Anh được kết nạp vào Đông Dương cộng sản đảng năm 1940, vẫn chưa biết Thầu Chín là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lừng danh khắp nơi, vẫn đinh ninh đồng chí Nguyễn đã chết oan ức trong nhà tù Hương Cảng.
Cuộc sống lang bạt kỳ hồ ấy để lại cho anh nhiều hiểu biết về đất nước và con người Lào, Thái Lan, vài nước nữa ở Đông Nam Á. Đồng chí Nguyễn Phước Thỉnh là người không thể thay thế khi liên khu ủy chọn một cán bộ làm chính ủy Quân tình nguyện sang Hạ Lào - Đông Bắc Miên. Ít lâu sau, anh được bổ sung vào liên khu ủy. Lâu lâu có việc phải vào một thành phố Lào, anh hay mượn áo quần đồ đạc thật sang, chừa tóc dài chải bóng và tỉa ria mép con kiến, dùng giấy tờ mua của chính quyền Thái Lan, đóng vai một nhà buôn gốc Hoa sinh ở Thái, từ Kroong-thệp tức Băng-cốc qua Lào kiếm mối hàng. Ở Lào và Miên, người Hoa người Thái ít bị nghi, Pháp với bù nhìn chỉ chăm nã tiền và bắt bớ bà con Việt kiều. Anh nhập vai tốt nhờ mấy năm giữ sổ và bán hàng cho một má chín ở Kroong-thệp, thêm cô con ông chủ mê anh, cứ quấn quýt cả ngày để dạy chữ và tiếng quan hỏa cho anh. Còn tiếng Thái thì anh giàu, qua Lào chỉ cần bớt rung lưỡi và thay một ít từ ngữ là dùng được gọn. Riêng đối với tầng lớp trên thì chẳng cần thêm bớt gì cả: các nhà trưởng giả thích gửi con qua học bên Thái Lan, lâu hay chóng đều được, để về nói giọng Thái nghe cho sang. Lần này, anh không phải leo núi về liên khu, tiếp đi bộ nhiều tháng ra Việt Bắc, mà được phép “đi hợp pháp”. Lượt đi anh mua vé ô-tô theo đường 13 lên Thượng Lào, lại mượn cớ tìm lâm thổ sản đi xe hàng lên gần biên giới Lào -Việt, tạt vào rừng ở chỗ hẹn, mấy tên chức dịch cấp dưới được dúi tiền và ngại gây thù đều kín miệng. Xong Đại hội Đảng, làm xong việc với các cơ quan Trung ương và với Đoàn đại biểu liên khu Năm, anh lại trở về hợp pháp. Sợ đường cũ lộ, anh đi vòng xa hơn. Anh đón xe và đổi xe vài làn, về gần Viêng-chăn, được cơ sở It-xa-la nửa đêm lái xuồng máy chở sang sông, vào đất Thái. Xuống tít phía nam, anh bật sang thị xã Pạc-xê thuộc Hạ Lào, để sau đó bị It-xa-la đón bắt trên đường 13, trong túi còn vé mua đi Khôổng-xê-đon giáp đất Miên. Cả Chanh ngắm không mỏi mắt con người kỳ lạ trước mặt mình, nghe như nuốt từng chữ, cuối cùng mới nói: - Y như trinh thám ! Không gặp anh, nghe kể lại, chắc tôi chẳng dám tin. - Ở đời thiếu gì chuyện khó tin. Cậu cũng có một chuyện ly kỳ, mình đang muốn hỏi đây. Gần cụm kho có một nhà sàn nhỏ làm theo kiểu thiểng na 1 nhưng rộng và cao hơn, ấy là nhà bí mật của anh xã đội trưởng cùng vợ và hai con trai lớn. Sau mấy trận chống càn, anh cùng tiểu đội du kích bí mật bị lộ, địch đốt nhà và bắt cha mẹ lên đồn tra khảo. Dân làng kéo lên đồn nhiều lần đấu lý, địch mới thả. Du kích bật cả ra vùng bung, ở rải rác nhưng gần nhau, đi lại bằng xuồng độc mộc, đánh tiếp. Chị Đeng thấy mặt trời gần lặn, nhen lửa nấu tối. Anh Đeng về, một tay chống mạnh xuồng cho mũi trượt ghếch lên bờ, tay kia cầm gì như hai chiếc đèn lồng bằng quả bưởi treo vào đầu hai nhánh cây nhỏ. Anh gài hai vật lạ vào một kẽ đá cho nhô ngang lủng lẳng, nói to về phía hai anh Việt: - Tối nay ăn chung đây, cả hai. Còn ai nữa không ? Chanh đáp: - Đi cả rồi. Chúng tôi đợi anh em đem cơm típ về cũng được. - Hoại ! Đội trinh sát đường lớn sáng mai mới về, tổ xây dựng cho dân làng học tình hình tới khuya, các anh nhịn đói à ? Anh nhịn quen, chứ ông Chệt đeng 2 chắc chưa quen ! Anh xã đội trưởng cùng đi với đoàn bộ đội It-xa-Ia chặn soát xe, biết rằng ta đón một nhà buôn người Tàu. Tàu của ta, ắt là Tàu đỏ chứ gì nữa, cũng như khi họp Đảng Nhân dân Lào, anh vẫn gọi các vị có ảnh treo cao nhất - Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Xta-lin - là bốn ông Tây đỏ, để tránh nói sai bốn cái tên khó nhớ. Thấy chồng rút tấm lưới chài ôm xuống thuyền, chị Đeng lẳng lặng nhen thêm bếp thứ ba, đặt thêm cái nồi rộng miệng. Bếp dầu đồ xôi bằng cái nồi đất hình trụ cao, trên đặt cái rá tre hình phễu dựng nếp đã ngâm mềm. Bếp nhì đun một soong nước. Khi nó sôi, chị rút hai cái đèn lồng khó hiểu kia nhúng lần lượt vào soong, lắc lắc mươi lần, ném ra hai chùm lá dính bết vào nhau ở đầu nhánh cây. Lúc này anh Thỉnh mới hiểu chị nấu canh bằng tổ kiến vàng, giống kiến to chuyên kéo lá kết lại thành tổ trên cây. Chanh cười, hỏi: - Anh Thỉnh chắc thạo các kiểu ăn Lào lắm hè ? - Không. Mỗi vùng một khác, biết sao cho hết được. Mình chưa ăn canh kiến bao giờ. - Ngon đấy. Cay cay chua chua, kiến non với trứng hơi béo nữa. Nấu kỹ, không ngại vi trùng đâu. Anh Thỉnh hơi ngượng. Anh ở Lào lâu, nhưng chỉ ở thành phố, thị trấn, chỉ vào các làng khi thật cần, ít sống với nông dân. Sau này trở lại Lào với Quân tình nguyện, anh nằm dưới quyền một đồng chí cần vụ kiêm bảo vệ rất khắc nghiệt, được chi bộ cơ quan khu bộ giao nhiệm vụ giữ không cho anh đi lang thang và ăn những thứ đáng ngờ. Còn khi sống tại cơ quan, tất nhiên cấp dưỡng chuyên nấu theo kiểu chém to kho mặn của bếp tập thể. Anh thầm ghen với Chanh: hắn ta lăn lộn trong dân quanh năm, hèn chi học tiếng Lào chữ Lào rất nhanh, nổi tiếng là anh Việt được dân và cán bộ It-xa-la rất tin mến. Bao nhiêu lần Ban cán sự khu định rút hắn về, cả Lào lẫn Việt đều năn nỉ xin giữ hắn lại đất Châm-pa-xắc này. ------------------------------------------------------------------------ 1. Trại làm ruộng 2. Tàu đỏ Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 11:13:47 am Họ chỉ nghe anh Đeng vãi chài hai lần, ngay gần chỗ ở. Nước trong cái nồi thứ ba chưa sôi hẳn, đã thấy chiếc xuồng nhô đầu trườn lên bãi đậu. Anh Đeng tới bên vợ, đặt cái giỏ cá khá nặng và ném xuống đất con rùa to, dùng chân hất ngửa nó ra:
- Làm cá đi, con rùa để đó tôi. Trong ánh chạng vạng, anh thoăn thoắt căng lưới ra phơi, buộc thuyền. Chanh bảo anh Thỉnh ngả lưng một lát, rút củi đỏ ra nhen thêm một bếp nữa trước nhà, kê lại ba hòn đá để sẵn đấy. Thỉnh cũng bước lại, cười cười với chị Đeng: - Tôi vụng lắm, chỉ biết chụm lửa. Chị giao bếp cho tôi để làm món ăn. - Ờ, được. Cả ba bếp anh cho nhỏ lửa thôi. Anh Chệt đeng nói giọng Thái, mới từ Thái qua đây ? - Hồi xưa tôi ở Thái nhiều... Cà-boong 1 để đâu, chị ? - Dưới sạp kia, hai cái đế... Anh thắp luôn hai cây cho sáng, đây chẳng thiếu dầu rái. Bên Thái có thắp thứ này không ? - Nhà nghèo dùng chứ, chị. Tính nấu cá sao đó ? - Cá trắng với cá tràu tôi kho. Hai cá trê làm lạp ăn sống, ngon nhất. Hễ anh chưa quen, tôi xào chín phần anh ăn riêng. - Quen chứ. Lạp cá trê ai chẳng thích ! Nói thế nhưng anh Thỉnh đã chục năm qua không nếm món ấy. Chanh đã mặc đủ bộ quân phục xi-ta, tay buông cài cúc, còn quấn cái phạ phe trùm đầu và cổ. Mặt trời lặn là dứt nóng ngay, cũng là lúc những đám mây muỗi tràn ra kiếm ăn. Trong bưng làng Kiệt Ngôông ít có loại muỗi chổng đít truyền sốt rét, nhưng con muỗi lại to như con nhện nước, vòi chọc xuyên ba lớp vải dễ dàng. Xoay xở mãi rồi Chanh cũng kiếm đủ mùng và ép buộc được anh em nằm mùng. Than hồng đã nhiều. Chanh đặt con rùa nằm ngửa trên ba hòn đá. Đầu và bốn chân nó thò thụt vài lần, rồi nó nhô hết đầu chân ra bơi ngửa cuống cuồng, trong khi đằng đít phụt ra từng chuỗi vỏ ốc, yếm ốc, càng cua que cua. Nó dần dần cứng đờ. Hơi nóng dồn ứ bên trong lớp da vẩy sẽ hầm cho thịt nó chín. Anh Đeng xong việc đến bên Chanh, gật gù, lật sấp con rùa lại cho lửa đốt dưới yếm, thịt chín đều. Khi chị Đeng bày mâm trên sạp, cái mâm to tròn khung tre mặt mây, anh Đeng mới rút con dao rừng lắp vỏ đeo bên hông, cạy bật lớp yếm rùa cháy sém, lột nhanh lớp da bọc đầu và chân: cạnh mâm hiện thêm một chậu to đựng thịt và lòng rùa chín tới còn bốc khói. Chị Đeng lại ân cần: - Anh Chệt đeng chưa quen ăn như ta, để tôi gỡ thịt ra xào... - Chưa quen cũng tập cho quen chị ơi. Chúng tôi sẽ tập cho anh Đeng ăn thịt chó thịt mèo nữa. Chệt kin meo, Keo kin mả 2 chị biết rồi đó. - Ôi trời, đừng, đừng nếm thứ ấy ! Ba người đàn ông cười ầm. Anh Đeng còn trêu thêm: “Ai chứ ông Chăn-thi đã nói là làm, ổng ra lệnh tôi phải theo thôi !”. Chị Đeng biết mình bị lỡm, đi lấy ra một chai rượu đế cất bằng nếp mời khách, nói chữa thẹn: - Anh ăn đồ kiêng, dân làng xua ngay ra ở rừng như phỉ pọp. - Thì tôi đang ở rừng chứ ở đâu ! Bữa cơm lạ miệng, anh Thỉnh ăn rất ngon, lại rầu rĩ nghĩ đến khi trở về dưới chế độ độc tài của cậu cần vụ, vĩnh biệt các thứ cá trê băm sống, canh kiến cả tổ, thịt rùa đốt trong mai. Cuối bữa, Chanh ra sân đào lên món tráng miệng. Anh đã khoét một hố giữa lòng bếp, trút xuống một mớ than hồng, đặt lên một quả bí đất chừng hai cân - giống như bí đỏ nhưng nhỏ, vỏ cứng, rất ngọt - phủ một lớp than hồng nữa, lấp đất, chụm cho lửa cháy nhỏ ngọn bên trên. Anh đào nó đặt trên mẹt, bổ ra trước ánh cà-boong và ngọn lửa đuốc dầu rái mờ đi một lúc khi quả bí nhả khói thơm ngào ngạt. Chị Đeng hối hả kiếm thìa, được hai thìa nhôm, một thìa sành, một thìa nứa gọt, trao cho từng người xúc ăn. Thịt bí ngọt như đu đủ chín, nhưng săn và béo như lòng đỏ trứng gà. Cảm ơn vợ chồng anh xã đội xong, Chanh và Thỉnh lại ra chỗ nhà kho cũ buộc võng bàn việc. Chanh đốt lửa dưới cà-làng, lôi đặt vào đấy hai cây gỗ to, thả vào mớ lá tươi bốc khói khét xua muỗi, phủi đập hai chân nằm vào võng mình: - Tôi chẳng có chuyện gì bí mật. Mời anh lấy cung đi. ----------------------------------------------------------------------- 1. Đuốc dầu rái 2. Tục ngữ cũ: “Tàu ăn mèo, Việt ăn chó”. Dân Lào thường kiêng hai món này. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 01:49:56 pm Hai tháng trước, khi từ khu bộ nằm trong tỉnh Ắt-ta-pư đi về phía Tây, đến quốc lộ 13 chạy ven sông lớn Mê-công để kiếm xe lên Thượng Lào, anh Hai Thỉnh đã ghé một ngày đêm ở cơ quan liên chi và Ban chỉ huy mặt trận Tây-Nam của Quân tình nguyện. Đồng chí Chanh tức Chăn-thi đi vắng, người tiếp và nói chuyện nhiều nhất với anh Thỉnh là Chín Khiết tiểu đoàn trưởng, khét tiếng hay đuổi chính trị viên và quật đổ các bí thư liên chi ở Tây-Nam. Hai Thỉnh sửng sốt khi nghe Chín Khiết nhắc lại nhiều lần rằng anh rất lo đồng chí Phan Chanh bị trên rút đi nơi khác, mong Ban cán sự khu cứ để anh ở mãi đây, vắng anh thì bộ đội và cán bộ Việt sẽ khốn đốn to.
Chín Khiết không nói rõ vì sao như thế. Đó là chuyện lạ mà chính ủy Thỉnh muốn hỏi Chanh. Chanh nghe câu hỏi, vẫn hút từng hơi ngắn ở điếu thuốc quấn lá chuối luộc buộc chỉ trắng mà chị Đeng giúi cho. Rồi anh buông thõng: - Chín Khiết đề nghị, sao anh không biểu báo cáo lý do ? - Anh ta nói tránh chớ hoài. Chịu. - Chắc anh nghĩ là tôi xuôi chiều theo ảnh, hay kết phe cánh với ảnh ? - Ui cha, mi nói chi dễ sợ rứa Chanh ? Ốt dột rứa ? Chỉ khi xúc động hay sửng sốt quá Hai Thỉnh mới buột miệng cho ra những câu đặc Huế. Chanh không muốn nắn gân anh chính ủy thêm nữa, cười ỡm ờ: - Anh không nghĩ vậy, càng may cho tôi chớ sao. Tôi cũng muốn kể hết anh nghe, nhưng chưa biết anh ưa thứ gì. Người Việt ăn mặn và ngọt nhiều, người Lào thích ăn đắng, cay, chua. Báo cáo với anh theo khẩu vị nào ? - Cậu bị Ba Mậu nó phản thùng một lần, đâm ra đa nghi hơn Tào Tháo. Khẩu vị mình hả ? Cơm mắm thắm về lâu ! Chanh lặng im một lát, rồi ngồi dậy trên võng, nói nghiêm chỉnh như trước hội nghị: - Hồi tôi mới về, Chín Khiết giữ ý với tôi rất ghê. Tôi xuống cơ sỏ vài tháng, thu góp ý kiến anh em mình, các đồng chí Lào nữa. Khiết được khen là đánh giặc giỏi, gương mẫu, không sợ chết sợ khổ, lại bị chê là rất độc đoán, quân phiệt, không bao giờ chịu nghe phê bình. Tôi họp liên chi ủy, kể lại những lời khen chê. Ôi trời, trận ấy sấm sét mưa gió không can nổi ! Tôi tỉnh khô. Tháng sau liên chi ủy họp, tôi lại nhắc lời phê bình cũ, Chín Khiết chỉ nặng mặt không nói. Một đại đội trưởng nổi xung, đòi bầu người khác thay Chín Khiết làm phó bí thư liên chi, tôi không tán thành, ảnh có rất nhiều mặt mạnh. Tôi để ý thấy ảnh đi các đơn vị nhiều hơn, gợi cho anh em góp ý với mình, bắt đầu học tiếng Lào chữ Lào. Mất hơn tháng nữa, tôi mới nhận được mấy chữ ảnh gởi, ảnh muốn gặp tôi vài tiếng ban đêm. Hóa ra không phải vài tiếng mà vài chục đêm treo võng rù rì miết với nhau. Vậy thôi ! - Mình vẫn chưa hiểu cậu thu phục được ảnh cách nào... - Nói cho công bằng, có chỗ tôi thu phục ảnh, có chỗ ảnh thu phục tôi. Chắc anh nghĩ ngay thằng này hữu khuynh, phải chưa ? - Dẹp cái giọng cay chua đó đi Chanh ! Theo cậu, anh Khiết là người thế nào ? - Là người có tài đức, cũng nhiều khuyết điểm, nhưng bị thành kiến nặng, muốn bỏ chiến trường này trở về Việt Nam. - Thành kiến... cậu nói rõ hơn được không ? Chanh bước tới đống lửa đốt giữa hai cái võng treo hình chữ V dưới cà-làng, sửa lại hai cây gỗ khô lúc này đã đứt rời thành bốn khúc, treo cái soong có quai vào một móc buộc thòng sẵn dưới sàn kho. Anh quờ tay lấy cái ống tre trên đầu cột, mở nắp ngửi thử: - A còn thơm, chưa phải rang lại. Vùng này không trồng được chè, tụi tôi không có tiền gởi mua ở tiệm, quanh năm uống nước gạo rang cháy. Uống riết rồi, cũng ghiền như ghiền cà-phê, mà khỏi mất ngủ. Anh trở lại ngồi võng, bỗng nói nhanh và to hơn, không đắn đo lựa chữ nữa: - Từ ngày quân mình thọc mạnh qua hết tỉnh Ắt-ta-pư, tiến vô Châm-pa-xắc, lập mặt trận Tây-Nam, ở đây liên tiếp thay bốn bí thư liên chi kiêm chánh trị viên mặt trận. Đầu tiên là anh Sanh người Bắc vô Nam tiến, ở với Chín Khiết đã lâu, được bộ đội thương lắm. Khiết cũng phục. Ảnh chết trận bên kia sông Nặm Khoỏng, chôn tại chỗ, khỏa bằng mộ, anh em tập hợp cùng nhớ dấu để sau tìm bốc về. Cả chục anh em chôn kiểu đó... Khu cử người thay là anh Hân. Đào Hân, ủy viên Ban cán sự, phó ban chánh trị trung đoàn, anh nhớ không ? Tốt ! Ông này quyết xây dựng nề nếp chánh quy, đầu tiên là ở mặt trận bộ. Cơ quan dời đô thiệt xa chỗ đánh nhau, tới chỗ giáp ranh Ắt-ta-pư, rút vô rừng sâu lập trại. Từ chỗ ông Hân về khu gần hơn tới chỗ bộ đội Lào - Việt đang hoạt động, hai bên bờ Nặm Khoỏng. Lần hồi, tất cả cơ quan biến thành người phục vụ cho ông Hân với vài vị ủy viên thường vị kiểu nhu ổng: cấp dưỡng, cần vụ, cõng gạo, đánh cá, săn bắn, không kể mỗi vị một thư ký riêng, một liên lạc. Bộ đội gọi là ông Đào Hang. Tới đại hội liên chi, ổng rớt trụi lui, chi ủy cơ quan cũng không trúng. Vậy là phải thay... Hồi đó ta bắt đầu học chỉ thị mới của liên khu “dân vận là chính”, đúng thôi, nhưng các ổng trên khu hiểu cách sao đó, cử về một cán bộ dân vận làm bí thư, tức là anh Chế Cương. Ảnh theo cách mạng lâu nhưng chỉ chuyên soạn sách giáo khoa ở Sở giáo dục liên khu, hình như sách dạy lớp tư thì phaei. Học xong hai năm Trung học Bình dân ảnh lên Lào. Ảnh nghe bom đạn là tái xanh, chạy trốn gấp. Sợ địch, sợ cả bộ đội ta nữa, ít dám gặp. Kể ra anh em cũng hay châm chọc, hay giở trò báo động giả cười chơi. Ảnh chịu khó học tiếng Lào, các bạn Lào cũng thương, nhưng là thương hại thôi. Ảnh cố chịu được ít lâu, rồi tự ý xin về khu, bây giờ đang làm tờ tin của khu, ở Ban chánh trị. Là ba. Anh Huỳnh Dinh tới thay. Anh này cũng là cán bộ dân vận đã từng làm bí thư huyện ủy ở địch hậu Quảng Nam, năng lực có thừa, sống khắc khổ gương mẫu, chỉ bị cái đau khớp lâu năm, lên Lào ở rừng nhiều càng phát nặng. Anh tuyên bố sẽ kiên quyết đưa đám kiêu binh ở đây vào khuôn phép, gạt bỏ những kẻ làm vua con bằng cách lấy lòng chiến sĩ. Đầu tiên là chỉnh huấn từng đơn vị. Anh Dinh lên lớp ngày hai buổi, đôi khi cả đêm. Anh vạch ra vô vàn tội lỗi của anh em, quy vô tư tưởng và hành động phản dân phản Đảng. Bộ đội cứ ngớ ra mà nghe anh chửi sa sả, đay nghiến, quát tháo, thường về cuối ảnh khóc vì đau đớn trước những con người lỳ lợm, mặt câng câng ra. Học chừng một tuần, làm bản tiểu kết, hễ thiếu mấy chữ phản dân phản Đảng thì đừng hòng được ghi “tương đối thành khẩn”. Chín Khiết nín thinh, chỉ mượn cớ bận không thể tham gia chỉ đạo, hay bỏ đi xếp chỗ đánh. Anh Dinh thường trả lời cắn cưa, kiểu đơn giản nhất. Xin về phép hả ? Đó là tư tưởng “về Việt”, cá nhân chủ nghĩa. Trước hứa đi chiến dịch từ sáu tháng đến một năm sẽ về nước, bây giờ sao ? Bây giờ khác rồi, hồi nào nước bạn không cần đến ta nữa thì về. Đề nghị đề bạt hả ? Bộ đội đang giảm dần quân số, teo dần lại, chưa có nhu cầu đề bạt. Khen thưởng hả ? Lỗi lầm chất đống chưa sửa, khen cái gì. Cho đến một việc dễ hiểu như góp thóc nuôi quân, hễ kêu đói cũng bị độp: tự làm mà ăn, dân đang thiếu, lấy của dân là ăn giành, ăn cướp. Từ đó xảy liên tiếp nhiều vụ đào ngũ: về biên giới lãnh võ khí thì đào ngũ về Việt Nam mất sáu cậu, bí đường quá thì đào ngũ theo địch, ba cậu, mất hai súng. Không khí rất khó thở, rất ít tin nhau. Đùa một câu thôi, đến lần chỉnh huấn sắp tới có khi các bạn đấm ngực sám hối, ông Dinh hiểu khác đi lại úp chảo gang cho. Thiệt tình, khi ông Dinh về nước chữa khớp nặng, anh em thở phào nhẹ người. Chanh nhấc cái soong xuống đất, trút gạo rang ra nắp ống tre, rắc đều vào nước sôi, đậy vung. Anh lấy ra hai cái gáo dừa nhỏ gọt trơn tru, dùi lỗ đóng tay cầm bằng tre uốn cong thành cái cốc màu nâu đen. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 01:54:57 pm Hai Thỉnh chống cằm, trầm ngâm:
- Bây giờ thì sao cậu ? - Lần hồi tháo gỡ thôi. Trên đưa xuống chánh sách luân lưu, anh em bình với nhau, ai cần thì về trước, cũng tốt. Tính leo núi khứ hồi mất hai tháng, thăm nhà và chữa bệnh hai tháng. Có cậu nhà ở địch hậu Hòa Vang hay tận trong Phú Yên, xin Phòng biên chính cho thêm. Bệnh thì lu bù, mặt bủng da chì, báng số ba số bốn. Thường phải mất nửa năm một lần phép. Chỉ được đi một phần mười quân số, vị chi năm năm mới đi được giáp vòng. Anh em bàn: năm năm, cộng với mấy năm chưa có chánh sách nữa là bảy tám năm, mà cũng được, nói tới phép tắc không bị mắng nhiếc là hay rồi... Tới đề bạt. Ban cán sự thấy đề bạt là phải, đánh giặc năm sáu năm vẫn cứ đội viên trơn cũng tội, coi như vinh dự thôi chứ chẳng có đồng xu phụ cấp nào, chẳng có lính mà chỉ huy. Danh sách chúng tôi đưa lên được duyệt hết, nhưng bản quyết định thì ghi tất cả đều “quyền”. Quyền tiểu đội trưởng, quyền tiểu đội phó. Vì khu chưa được liên khu quy định bằng văn bản là được phép đề bạt đến cấp nào ! Tới cái ăn. Gạo nuôi quân ưu tiên cho bộ đội Lào, đồng ý cả. Còn sản xuất tự túc của ta thì đặt nhiều mức: các đội Xây dựng vùng giải phóng, các đội Xung phong công tác ở địch hậu thì vừa sản xuất vừa xin dân, trên không cấp. Cơ quan tự túc sáu chục phần trăm, các trung đội tập trung bốn chục, riêng bệnh xá được cấp đủ. Hễ đầu mùa mưa là bộ đội chia tổ ra ở với dân, giúp dân cày cấy, cũng tập dân vận luôn. Giữa mùa mưa dồn quân đi đánh, lúa chín thì về gặt, dân cho thóc gánh đổ kho bí mật. Được khá lắm anh. Đây ruộng không thiếu, chỉ thiếu người làm. Tánh người Lào lại rộng rãi, thương anh em lắm, có tới hơn một nửa được họ nhận con nuôi, làm lễ phục khẻn 1 đàng hoàng nghen. An ủi tình cảm vậy, bộ đội đỡ nhớ nhà. Hết hẳn đào ngũ... Đó, anh Hai thích khẩu vị Lào thì tôi dọn món khổ qua trộn ớt, thêm nhiều me với khế ! Hai Thỉnh cười dài. Những chuyện rối ren ở Tây-Nam anh đã nghe báo cáo từ trước, nhưng rất chung chung và hay bị bóp méo vo tròn.Các bí thư liên chi bật ra thường chĩa mũi dùi vào Chín Khiết, bởi cán bộ cấp dưới về cơ quan chỉ chào họ rất lễ phép, sau đó đi tìm hoặc đợi anh Khiết để bàn việc. - Vậy là Chín Khiết không hất ai ? - Không. Chỉ góp ý ngang mức mọi người. Nhưng ác cái, ảnh không tin ai thì đừng hòng bộ đội tin người đó. - Còn vụ diệt tề bên kia Nặm Khoỏng, giết tay phò bạn ? - Ảnh nhận lỗi, tự đề nghị cảnh cáo trong Đảng, hạ một cấp. Liên chi ủy bàn lâu rồi cho qua. Hồi đó bộ đội mới sang, nắm chánh sách rất lơ mơ, chánh quyền Lào chưa có. Anh quen nếp địch hậu bên Việt Nam, khi gấp rút quá cứ tiền trảm hậu tấu. Chúng tôi có thông báo khắp mặt trận Tây-Nam, phê bình ảnh để bộ đội rút kinh nghiệm, cũng sốt ruột vì anh em bị đánh úp, chết nhiều. Hai Thỉnh nhấm nháp chén nước gạo rang khá thơm và đắng: - Còn cậu, không cố gây cảm tình với Khiết à ? - Gây sự chớ gây cảm tình ! May là ảnh biết tôi thiệt bụng, chẳng kèn cựa tranh giành gì hết. Anh hơn tôi đến bảy tuổi đó anh. Tôi băm hai, ảnh băm chín. Vợ con bị Tây càn giết sạch một lần, tội lắm. Nhà nào có con nít là ảnh ghé vô, bồng ẵm hôn hít không chán. Trước mắt Hai Thỉnh hiện rõ nét vóc người cao gầy, bộ mặt dài và xương, đôi mắt trũng thành bọc của anh tiểu đoàn trưởng lầm lì, hay buồn một mình, có lúc bị anh Huỳnh Dinh ghép vào bệnh “ba tê”, tức là thiếu tinh thần. Khiết chỉ ngậm miệng nhường anh em cãi hộ. Anh tự hứa sẽ gặp Khiết nhiều hơn. Thỉnh và Chanh bàn về thông báo mới đây của liên khu cho biết nạn đói dữ dội ở vùng tự do, nặng nhất là vùng ven biển Nam Ngãi, bộ đội phải tản ra nhịn ăn cứu đói, cứu bệnh. Việc tiếp tế cho các chiến trường xa như Hạ Lào - Đông Bắc Miên hay Cực Nam Trung Bộ sẽ phải giảm, riêng phần viện trợ trực tiếp cho bộ đội Lào thì nguyên như cũ. Giữa lúc ấy, một tiếng “uỳnh” to và trầm dội lên, chỉ cách họ vài cây số. Đúng một lần nổ là hết, không có tiếng súng nhỏ hay lựu đạn tiếp theo. Chanh vọt dậy, lắp bắp: - Mìn... mìn biệt kích... đúng hướng Kiệt Ngôông... Anh Đeng hộc tốc chạy đến, tay cầm trường Mỹ, tay xách nịt đạn. Con trai anh chạy theo, khoác cây súng kíp, túi thuốc đạn kịp choàng qua vai. Đeng nói hụt hơi: - Đã dặn đi một đường về một đường, chúng nó cứ ẩu. Tôi đi đây, Chăn-thi ! - Tôi cũng đi ! - Đừng. Anh bỏ khách cho ai ? Chanh lẳng lặng ngồi xổm xuống, kéo củi ra cho lửa hết bốc ngọn. Nhà anh Đeng cũng tắt đuốc dầu rái. Tổ trinh sát sáng mai sẽ đưa anh Hai Thỉnh về khu, nay vắng cả. Tổ Xây dựng vấp mìn. Chỉ còn anh để đưa đồng chí chính ủy khu đi lánh nếu địch ập tới. Làng Kiệt Ngôông bị khủng bố nhiều lần, vẫn sống hợp pháp trên đất cũ, chỉ cán bộ và du kích ra ở bưng. Địch không dám làm quá tay, sau khi những làng bị chúng đốt đều rút vào rùng sâu, biến thành làng kháng chiến lởm chởm như xương rồng. Sục vào bưng bằng xuồng vài lần, chết nhiều phải lui. Cán bộ It-xa-la hay vào làng ban đêm, điệp báo tin nhưng địch không dám đánh úp ngay trong làng, sẽ bị dân kiện hàng tháng, tỉnh trưởng lại là dân làng này. Bọn biệt kích nghĩ ra cách đánh riêng: chúng rình xem It-xa-la vào làng đường nào, bí mật gài mìn vướng nổ hay mìn bấm điện, giết họ trên đường về bưng. Mấy tháng trước một nhóm đã bị phục bằng súng, may sao đêm đen khó bắn, chỉ một đồng chí bị thuơng. Nay chúng đổi dùng mìn... Hơn một giờ sau, hai chiếc xuồng ghé bến. Đèn pin bọc vải xanh loang loáng. Du kích khiêng lên ba người: tổ trưởng Xây dựng chết nát thân, hai cán bộ một Lào một Việt bị thương, chỉ sót một đội viên Lào ghé thăm vợ con đi sâu xa mới thoát quả mìn vướng nổ cỡ to, được gài sau khi họ vào làng. Hai Thỉnh lo lắng: - Cô gì y tá... à cô Lan, lại theo bệnh binh về mặt trận bộ mất rồi, làm sao Chanh ? Chanh không đáp, leo vội lên kho thóc, lôi xuống một cái bồ có nắp, giốc ra võng mình. Cả mớ những thang thuốc nam trong lá chuối khô, những túm rễ lá, những lọ bột có nhãn, mấy cái túi nhựa trong đang còn là của hiếm. Anh chọn lấy vội mấy thứ, chạy đến nhà anh Đeng, nơi hai đồng chí bị thương đang rên, giãy. Ga-rô chặn động mạch. Thuốc tím rửa vết thương, cầm máu bằng lông củ cu-li 2 vàng rộ, băng bằng vải hoặc bẹ chuối lột vỏ xanh tùy chỗ khó dễ, tất cả đều đã luộc sẵn, gói kín. Hai Thỉnh ngạc nhiên khi thấy Chanh rút ra một hộp nhôm đựng ống tiêm và kim, nấu lại, pha nước cất vào lọ pê-ni-xi-lin, bơm thử dưới da trước, sau đó tiêm cho mỗi người nửa lọ kháng sinh, thứ này ở bệnh xá khu cũng xếp lại quý hiếm. Đợi khi ngớt việc, Hai Thỉnh mới hỏi rụt rè: - Chớ cậu học nghề thuốc hồi nào tài vậy ? - Học thuốc nam với cụ Chín Chưởng ở Huề Bình. Học thuốc tây mỗi khi nằm bệnh viện. Thuốc tôi gởi mua ở Pạc-xê, đôi khi cơ sở Lào gởi tặng. Tiêm sẵn pê-ni-xi-lin, đỡ lo thối thịt, mờ sáng mai khiêng về bệnh xá mặt trận. Hai thương binh đã thiêm thiếp. Thỉnh trở về võng mình, ngả lưng. Rõ quá rồi, không thể để cậu Chanh ở đây mãi. Thường vụ Ban cán sự khu đã nhất trí điện về liên khu đề nghị đưa Chanh vào ủy viên thường vụ, để ở lại Tây - Nam ít lâu nữa cho ổn nội bộ, rồi rút về làm trưởng Ban chính trị khu. Anh trưởng ban hiện nay vẫn tốt nhưng không hiểu gì về chiến trường này cả, từ ngày lên Lào chỉ chuyên ở cơ quan như một công chức cần cù gắn với bàn giấy, cần đưa về địa phương ít lâu cho hiểu đất Lào người Lào. Khi Chanh trở về võng mình thì Hai Thỉnh đã ngủ say. Chanh nhẹ nhàng treo cái mùng dã chiến của mình phủ lên trên võng anh chính ủy, nhen lại lửa, bỏ thêm lá xông khói, buông thân hình mỏi nhừ của mình xuống võng, kéo tấm vải đắp trùm kín người, rơi chìm vào một giấc ngủ lắm tiếng nổ. ------------------------------------------------------------------------ 1. Lễ buộc chỉ cổ tay, để chúc phúc hay kết thân. 2. Còn gọi là cẩu tích. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 02:26:59 pm Chương XVI Tiểu đoàn phó Năm Chò cầm ngang cây tiểu liên Tuyn còn xếp băng và chưa rút báng trên hai bàn tay ngửa, toài thật êm đến bên trung đội trưởng Sáu Cam. Cam ngồi trong hố sâu nửa mét, nhô đầu nhìn quanh, nhẩm lại cho thuộc hình dáng đồn 76 đã xem ban ngày, sờ nắn ban đêm, phần trong ruột được trinh sát trình bày trên sa bàn. Trước mặt họ, cái đồn rất quen như nín hơi, nhắm mắt giả vờ ngủ, trong khi các họng súng đều chĩa sẵn đợi siết cò. Cơ sở nội tuyến báo chúng đã tăng tuần gác lên gấp đôi, sửa kỹ công sự, trữ thêm đạn, gạo, nước từ khi gián điệp cho biết có quân của trung đoàn 108 lảng vảng trong vùng. Cam căng mắt ngắm nó, chỉ thấy lớp hàng rào tre ngoài cùng dựng chổi chà trên nền trời đầy sao, trong xa có thêm cái chuồng cu của mi-ra-đo nhô thấp thoáng. - Mấy phút nữa anh ? - Mười ba. Nhớ nghen: đặc công bên Chiêm Lâu nổ trước, ta tiếp liền. Mà được đột phá khẩu thì tao mày cùng lên, mày bên mặt tao bên trái, chỉ đường cho xung kích vô tung thâm. - Dạ nhớ. Anh xuống hố nghỉ một chút. Năm Chò xuống hố của mình do trinh sát đào hộ, sâu hơn của Cam. Trong tối, Cam mỉm cười khi nghe tiếng nước óc ách khẽ, rồi mùi rượu bay thoảng. Dạo này anh Năm uống ít và kín đáo, không hề say. Cái hồ lô nước thánh của anh không giao cho ai nữa, chỉ nằm trong đáy ba-lô, ra trận anh mới đeo vào nịt trong bao vải U.S. Sắp rồi. Cam xốc lại cây Tuyn xếp gọn đeo chéo trên lưng, đẩy ba băng dự trữ ra sau mông - súng đạn chưa dùng đến ngay - trườn sang hố bên cạnh. Tổ trưởng tổ mật bộc xoay đầu lại, mắt thao láo. Phần việc của cậu nhàn nhất trong Đội bộc phá giá thiết, tức là đội đánh thuốc nổ và bắc thang cầu. Đặt quả bộc phá sẵn vào hàng rào tre, nghe hiệu lệnh là giật nụ xòe và rút, xong, địch chưa kịp đối phó. - Lên rào đi, đợi Chiêm Lâu nổ là giựt. Mấy phút cuối cùng bò chậm hơn rùa. Rồi một loạt tiếng nổ âm âm của thủ pháo lọt trong lô-cốt dội tới từ đồn Chiêm Lâu. Dưới chân hàng rào tre, cách Cam hơn chục thước, một tia lửa đỏ phụt ra, xì xì, cậu mật bộc chạy xuống, giúi vào tay Cam sợi dây giật nụ xòe. “Xuống dự bị !”. Cậu chạy thẳng xuống dốc. Cam cúi đầu tránh tre gỗ văng. Oàng ! Bên mũi phụ công, quả bộc phá cũng nổ sát nút. Mũi dương công trên sườn đồi bên kia châm lửa đốt dãy nhà tranh địch dùng để điểm phu làm đồn hay dồn người bị bắt. Trong và ngoài đồn 76 hiện cảnh động đất và núi lửa phun. Đạn đủ cỡ rít réo, vạch đường lửa xoắn nhau, đan lưới vào nhau. Đám cháy chập chờn không soi thẳng vào chỗ mũi chủ công, đỡ lộ, vẫn giúp cho hai khẩu ĐK.57 sửa đường ngắm, thúc đạn lõm vào hai lô-cốt nằm hai bên hướng đột phá. Tre gỗ còn rơi lả tả. Cam đã hét to át tiếng ồn nhức tai: - Tổ Hai lên ! Tổ này đánh hàng rào cũi heo bằng bộc phá ruột tượng. Tổ trưởng huỳnh huỵch chạy lên, bao vải dài vắt qua vai như cõng gạo. Chỉ một tổ viên theo sát, đeo chéo qua hai vai một túi lựu đạn, một túi dết đựng vôi bột, vừa chạy vừa bốc vôi rắc trên mặt đất làm lộ tiêu. Địch vẫn chưa nhận ra hướng chính của ta. Phía mũi dương công, hàng rào tre gỗ được tưới dầu lửa từ trước bắt đầu cháy mỗi lúc một to, địch xối đạn vào đấy. - Tổ Ba lên ! Thép gai ruột gà thả bùng nhùng, đánh bằng bộc phá ống. Tổ trưởng vác cái ống tre chọc mắt dài hai thước giống ống lấy nước của đồng bào Thượng, tổ viên theo rắc tiếp lộ tiêu. Quái, sau lâu quá vậy ? Không nổ, cũng không thấy nụ xòe xì xì. Bánh khảo tịt ngòi... Cam chạy vọt qua hai lỗ hổng đã mở, nhào sấp xuống. Đúng, hỏng phần điểm hỏa. Cam rít răng: - Tao dặn lắp hai nụ xòe. Sao ? - Thấy đồ mới tinh, em tưởng... - Đầu cha mày chớ tưởng ! Xuống, tao đánh ! Cam luôn luôn đeo trên nịt vài bánh thuốc nổ tự nấu đúc cỡ hai lạng, lắp dây cháy chậm dài hơn lựu đạn, buộc sẵn dây cao-su. Xô cậu tổ trưởng sang bên, Cam buộc hối hả một bánh vào đít ống bộc phá, đánh cho kích nổ cả ống. Nụ xòe xịt lửa. Cả ba chạy nhào xuống. Một tràng 12 ly 7 chợt quét ào ào trên lưng họ. Địch trông thấy bóng họ lọt đến rào bùng nhùng, đã đoán ra mũi chính. Đèn dù bay lên tới tấp. Ống bộc phá nổ, hắt tung thép gai sang hai bên, lỗ hổng thứ ba hiện rất rõ dưới ánh sáng chói mắt. Các nòng súng lớn nhỏ xoay vội về phía Cam, thêm lựu đạn phóng, lựu đạn tay, đạn cối bắn dựng đứng nòng. Gay go lắm rồi. Cho tổ thang cầu lên, chúng quét chết tươi ngay. Tổ trưởng thang cầu Một, đen lùn và rất vạm vỡ, sẵn sàng vọt khi có lệnh, không do dự. - Anh Sáu cho lên ? - Khoan, đợi hỏa lực kềm chế bớt. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 02:31:18 pm Đội hỏa lực từ nãy chỉ thong thả thổi tùng phát ĐK.57, lúc này mới rộ lên một lượt. Sáu cây trung liên nhả đạn thuốn vào các lỗ châu mai đang chớp lửa, bốn khẩu cối 60 cũng vừa bắn vừa chỉnh, cố cho trúng các hố đặt súng cối trên đồn. Đã bước vào cuộc đọ gang thép, đèn soi cho nó cũng soi cho ta. Một phát DK ngắm kỹ phá toác hẳn cái lô-cốt bên trái. Cam thấy rõ cái hốc đen ngòm méo mó.
- Thang cầu Một lên ! Tổ lựu đạn chày yểm hộ ! Số lựu đạn cán gỗ mới ra lò chưa nhiều, lựu đạn đập ta làm hay thối, bộ đội thích dùng lựu đạn địch hơn. Thứ đó ở địch hậu dễ kiếm, bọn hương dõng vệ sĩ được phát nhiều thường bán hay gửi biếu ta lấy lòng, nổ ngon nhưng không ném được xa. Cam lập riêng một tổ lựu đạn chày, chọn những cậu ném xa và trúng đích nhất, cho tập thêm cách phối hợp với bộc phá giá thiết và xung kích, giao cho mỗi người mười lăm quả và một mã tấu, trông hơi lạ mắt. Một trận trước, tổ này đã ném hơn bốn chục quả, cứu được tổ bộc phá đánh lô-cốt bị mắc kẹt cách lỗ châu mai chỉ mấy sải tay. Tổ thang cầu khiêng “cái chõng” chạy lên lạch bạch. Cam đổi ý, khoát tay hét, chỉ cho lên hai người xách túi lựu đạn. Phải để dành cho các bước sau. Hỏa lực địch yếu hẳn đi chệch choạc, nhiều luồng tuôn chéo lên cao, thằng bắn không dám nhô đầu. Năm Chò lom khom chạy tới nằm bên Cam: - Cần gì nữa không, Cam ? - Đạn thẳng đỡ rồi. Rán trị bọn cối dựng nòng thử coi. Đó, nữa, mẹ cố tổ nó ! Những quả cối 81 và 60 vẫn rơi vung vãi giữa các lớp rào. Vừa lao xong cây cầu tre có chân chống qua hào chông, một tổ viên bật ngửa, ngã vật ra, hai vết sẫm loang nhanh trên ngực và bụng. Một cái bóng chồm tới xốc bạn, cõng chạy xuống. Hai cậu lựu đạn quỳ lên, giơ tay dứ dứ lấy đích, giật nụ xòe, ném hết đà. Chớp lửa mé trong tường đất quá gần, mà trên sa bàn các hố súng cối nằm giữa rốn đồn, chung quanh lô-cốt mẹ. Cối 60 ta chỗ rốn ấy, nóng lòng đợi tiếng rền trời của một đống đạn trong hố nào đó bị kích nổ theo. - Tao cho phóng bom nghe Cam ? - Dạ. May nhờ rủi chịu ! Năm Chò vọt đi. Một tràng đại liên xóc chiu chiu bên chân anh, tung những búng đất bột như bốc khói, không trúng. Đội bộc phá giá thiết gờm phóng bom vì hay sai tầm lệch hướng, họ càng đến sát lô-cốt càng dễ bị đấm lưng. Xung kích còn chờ bên ngoài không ngại mấy. Bịch, bịch bịch ! Cam hét hai tổ trên kia nằm xuống, cũng thùa, họ đã dán bụng xuống đất. Ba quả bom 11 cân nổ rung đất trong ruột đồn. Hay lắm, tiến bộ lắm, yên bụng rồi ! Tiếng xì xào của tổ bộc phá Bốn nghe rõ. Lại ba trái bom nữa bay lên sau những tiếng phóng nặng trịch. - Tổ Bốn lên ! Hễ nghe bom rít phải nằm ! Tổ này phá lớp rào chống giáp tường đất và lô-cốt cũng bằng bộc phá ống. Ba người ôm hai ống dưới nách lao tới. Vào sát địch phải kín võ với nó. Có thể người trúng đạn, ống không nổ, nổ mà không quét hết chông - thứ chông tre đực cao đến ngực, đóng bằng vồ xuống đất, có mìn nối dây chôn bên dưới. Ống dài hai thước, lớp rào có thể dày bốn thước... Gì thì gì, bộc phá viên cũng chỉ được chạy con thoi từng nhóm nhỏ, không được dồn cục hay xếp dãy bám đuôi nhau ở nơi không hầm hố. Một đội bộc phá ở tiểu đoàn bạn quá liều lĩnh, mở rào tới đâu đưa đội hình mũi nhọn bò lên tới đó, bị thương vong gần hết chỉ vì một tràng đại liên từ trên mi-ra-đo rỉa xuống lưng dưới đèn dù sáng rực. Bị lắm người chê là nhát, Cam cứ phớt: cho lên từng tổ, đội trưởng không rời vị trí chỉ huy bên ngoài rào, chỉ nhảy khỏi hố khi rất cần. Chết e ? Dễ thôi, nhưng chỉ được phép chết sau khi mở toang đột phá khẩu cho xung kích lao vào ruột đồn ! Tổ Bốn đánh cả hai ống. Tổ trưởng ào xuống giúi cho Cam những bốn sợi dây giật nụ xòe: - Sạch lắm, anh Sáu. Bánh chưng lên ngon ! - Tổ Năm lên ! Hai lựu đạn nữa lên ! Cam chợt nhận thấy tay và giọng mình run. Đây là quả cuối cùng, quyết định thắng bại. Tám cân thuốc nổ gói nén kiểu bánh chưng, buộc thêm hai chân gỗ choãi ra để dựng vào tường lô-cốt, lắp ba nụ xòe còn thêm tám kíp phụ tăng sức nổ. Đây là quả thằng địch khiếp nhất, còn bao nhiêu đạn dốc ra bắn chặn, bắn trượt thì thằng gần cửa đâm đầu chạy, thằng mắc kẹt cố dùng súng lắp lê thọc qua lỗ châu mai hất ra xa tường. Đây là quả mà đôi khi các anh hùng bộc phá, đạn xóc đầy thân, cố bò lên để ép ngực dựa vào nó không cho địch hất ra, gượng hết sức tàn giật các nụ xòe, về sau đồng đội chỉ còn cúi đầu trước một ngôi mộ tượng trưng. Đây cũng là quả mà trung đội trưởng Cam thèm tự tay đánh. Thèm đến phát cuồng. Cấm lên sớm. Đội mất chỉ huy là rắn mất đầu. - Tổ Năm dự bị, sẵn sàng chưa ? - Sẵn sàng ! Lúc này không thể hà tiện. Các trung liên, đại liên, súng cối ta bắn như mưa bão, phóng bom tống đạn túi bụi, đất này dồn dập xốc bụi bay mù. Bốn tổ viên lựu đạn đứng thẳng người, ném như máy. Sấm sét của ta trùm hẳn lên góc đồn này, đè chúng nó xuống bẹp gí, chỉ còn phát ra những tiếng òng ọc tử thương. Chớp trắng. Trắng chói mắt. Tiếng nổ quá to lại nghe ra nhỏ khi tai chịu không nổi. Gạch đá đất gỗ bay lên trời, trông rất chậm trong lửa loe lóe, và muốn dừng lâu trên cao chẳng chịu xuống. Tổ trưởng tổ Năm dự bị gào vào tai Cam đang ngập tiếng ve trưa hè: - Tiếp trái nữa, anh Sáu ? - Khoan. Đợi tôi lên ! Năm Chò chạy tới, chỉ đập vào vai Cam không nói, cầm tiểu liên thốc lên cửa mở. Cam cùng tổ năm dự bị lao theo, cầu tre nhún dưới chân. Một sợi thép gai rơi vãi xé vải và thịt trên đùi Cam. Cam quát tổ dự bị: “Dọn sạch đường lên !”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 02:32:39 pm Tổ Năm đánh rất tốt. Quả bánh chưng được kê vào chỗ giáp mí của tường đất nối vào lô-cốt xây đá và xi-măng, phá toác được cả hai. Đá to gỗ lớn đã rơi hết, chỉ còn mảnh nhỏ rắc lộp bộp xuống đầu và vai. Cam nhoài người qua chỗ tường hổng, quét hú họa mấy loạt ngắn phòng địch ùa tới chặn cửa. Năm Chò rút đèn pin chĩa xuống chân đồi, nháy ba lần, ngừng, lại nháy ba lần. Đội xung kích Một chạy lên từng tổ rời, thở hồng hộc, lao qua trước mặt Cam, biến vào các con hào trong đồn. Những súng trường không lưỡi lê đều có dao găm buộc đầu nòng.
- Phần mày xong, thu dọn đi Cam ! Năm Chò thay băng tiểu liên, nhảy xuống hào theo xung kích. Cam dợm chân định lao tới, lại kịp ghìm chân, chỉ gọi tổ Năm dự bị ôm quả bánh chưng thứ hai bám anh tiểu đoàn phó, phòng khi phải đánh lô-cốt mẹ - một boong-ke xây bê-tông rất chắc, e rằng DK dùi không thủng. Cam thong thả đi xuống chân đồi, cảm thấy mỏi nhừ khắp thân như sau một ngày cõng nặng leo núi. Trung đội phó đang thu quân, kiểm vũ khí, cho tải thương khiêng một tử sĩ và hai thương binh về trạm phẫu. Đánh một đồn to bằng cường tập, bộc phá giá thiết mất như thế là nhẹ. Cam sửng sốt khi nghe trung đội phó bảo từ quả đầu đến quả cuối chỉ mất mười sáu phút, cậu ta làm đốc chiến ở cuối đội hình nên rảnh rang hơn. Cam tưởng chừng mình vừa đánh suốt một buổi. Bốn khẩu pháo 105 nãy giờ bắn bủa lưới chung quanh đồn Chiêm Lâu bắt đầu tách đôi, hai khẩu nhả đạn chung quanh đồn 76. Ta với địch đang quần nhau trong đồn, chúng không dám bắn gần. Đạn nhổ nhiều nhất ở quãng giữa Chiêm Lâu và 76: Việt minh đánh hai đồn một lần, ắt là đặt sở chỉ huy ở giữa chứ sao ! Ba giờ sáng, Năm Chò về đến hầm chỉ huy, để Ba Dĩnh và đại đội phó ở lại thu dọn chiến trường thật sạch bong. Cô y tá vồ lấy anh chỗ cửa hầm, mếu máo: - Chú coi thử, anh Cam bị gì mà lịm chết giấc, có dấu máu to ở đùi. Cháu lay miết, ảnh hự hự trong mũi, gạt tay cháu ra. Năm bước sấn vào hầm, nhấc cái đèn thẫu dầu dừa soi lên mặt và người Cam, sờ trán nắn ngực, bật cười: - Thằng khỉ, ngủ không ngáy làm người ta hết hồn. Máu ở đùi hả ? Thép gai quệt rách quần rách da, nó bôi thuốc đỏ tùm lum, coi dễ sợ. - Thiệt không chú, ngủ gì như người tắt thở... - Cô chưa ngủ với nó lần nào, biết sao được ? Cô y tá thụi vào sườn tiểu đoàn phó, chạy biến. Năm Chò biết cô này mết Sáu Cam từ khi mới gặp, Cam phớt đều. Tốt thôi, nó mới hăm mốt, chẳng vội. Càng lớn lên nó càng đẹp người, cao to, râu quai nón rậm, tóc bồng dọn sóng, chỉ hưởng của ông Tư Chua cặp mắt xếch với lông mày nét mác, cái cằm chẻ đôi. Lời ăn tiếng nói cũng đĩnh đạc, chọn lọc, rõ ra cậu học sinh chuyên khoa Văn được rèn tiếp trong trường chính quy Lục quân, mà vẫn nhớ những bài học của cái thời ở mướn, ăn xin, làm chú nhỏ liên lạc theo bộ đội Nam tiến. Ở lớp tập huấn đánh công kiên, Năm Chò nhiều lần nổi khùng khi huấn luyện viên Phan Cam thổi còi đánh toét, hô hai tiếng đáng ghét: “Làm lại !”. Sai một chút, quên một tí xíu, hở một ly lai nào đó: làm lại. Cam nói lạnh ngắt: “Khi ứng dụng, xin tùy các đồng chí đánh sao cũng được, bây giờ đang học thì yêu cầu phải đúng trăm phần trăm”. Cuối lớp, Năm Chò cố thuyết ban chỉ huy trung đoàn xin Cam về, rồi lại năn nỉ ỷ ôi để đưa đội bộc phá giá thiết của Cam đến phối thuộc đại đội 8 liên tiếp mấy trận. Thắng to thắng nhỏ, chưa trận nào thua, anh chỉ có một mối lo canh cánh, lo nó chết hay què cụt. Bộc phá viên rất dễ thương vong, mà mấy khi được một đứa như nó trong hàng cán bộ... Năm Chò ngả lưng xuống tấm sạp tre lót đáy hầm, bên Cam. Tiếng răng rắc và mùi mồ hôi nồng đánh thức Cam dậy. Cam chớp mắt liên lu, xoay đầu, hỏi ngay: - Anh Năm hả ? Đánh trận nội ra sao ? - Hơi rắc rối, nó có hầm ngầm dưới lô-cốt mẹ... - Xài bánh chưng không ? - Khỏi. Lựu đạn thủ pháo đủ ngon. Nó mới đào thêm, chưa lắp cửa, tính xoi đường hầm ra ngoài rào, mới được chục thước... Ngủ đi mày. Thức trắng mấy đêm rồi, phờ râu. - Anh em mình bị nhiều không ? - Ít. Ngủ đi, tao cũng nhắm mắt một lát. Năm Chò chợp được một giờ. Ba Dĩnh dựng anh dậy, đưa lệnh viết của trung đoàn cho đại 8 rút qua sông Thu Bồn để nghỉ ngơi chấn chỉnh, trong khi các đơn vị bạn tỏa ra đánh viện. Riêng với Năm Chò có cái lệ ấy: lệnh tiến quân nói miệng cũng được, lệnh lui dứt khoát phải viết. Trung đoàn trưởng nói qua điện thoại, gắt, chửi, anh chỉ cho bộ đội chuẩn bị chứ chưa lui ngay, đợi giấy đến tay. Anh bị vài lần hớ khi mấy ông cấp trên chối lỗi bay biến, người biết rõ cũng ngậm câm, ai dám bênh anh thì cầm chắc trầy vi tróc vảy. Từ đó anh thề nắm đằng chuôi chứ không nắm đằng lưỡi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 02:35:09 pm * Cánh quân lên đóng lại đồn 76 bị đánh tơi tả. Địch bỏ hẳn điểm cao ấy, lập đồn khác gần quốc lộ Một dễ ứng cứu hơn, xây lại theo kiểu ngôi sao bốn cánh với những boong-ke đúc chìm rất chắc, nhiều hầm ngầm, trông xa như con nhện nằm giữa lưới thép. Kiểu đồn mới này trông oai vệ nhưng rất hiểm độc, địch có thể xả ít nhất bốn luồng đạn chéo cánh sẻ vào bất cứ điểm nào bên ngoài hoặc giữa các lớp hàng rào dày đặc mìn nổ, mìn đèn. Đại 8 đánh thêm vài trận giao thông nữa, rồi được rút xa hẳn về phía Nam sông khi mùa lũ lụt năm 1953 bắt đầu, đúng lệ vào tháng 10-11 dương lịch. Bộ đội kéo đi lãnh vũ khí, tân binh trẻ măng lũ lượt đến, dân công gánh gạo và đạn ùn ùn từng đoàn. Cả một vùng năm sáu làng to, chưa hề bị bom, đầy những người đeo vòng ngụy trang đi chật đường, mặc đủ kiểu và vác đủ thứ trên vai. Máy bay địch sục tìm không ngớt, nhưng dồn sức đánh phá cầu đường và bến đò nhiều hơn. Ba Dĩnh phải chia tay với anh em: anh lên phó chính ủy trung đoàn, được điều về một trung đoàn chủ lực thuộc liên khu đang xây dựng ở Bình định. “Cụ Ba thầy tu” đành gãi gãi cái đầu cạo bóng từ xưa, nói lời tạm biệt trước một đại đội bùi ngùi. Ba đại đội số 5, 7 và 8 nhập lại thành tiểu đoàn 578, Năm Chò lên tiểu đoàn trưởng, ban chỉ huy được bổ sung đủ bốn người. Chò nằn nèo, giữ được Sáu Cam và đội bộc phá giá thiết ở lại tiểu đoàn của anh. Trung đoàn xét Cam đánh 11 trận lớn nhỏ đều tốt, đề nghị đưa Cam lên đại đội phó, nhưng liên khu không duyệt: danh sát đề nghị đề bạt rất dài mà Cam còn ít thâm niên. Đề bạt non thì cán bộ trẻ sinh kiêu và chung quanh so bì, hậm hực. Khen thưởng ở mức bằng khen giấy khen thì được, chứ huân chương tại liên khu Năm là của rất hiếm, bộ đội chỉ trông thấy vài huân chương chiến sĩ sao bạc trong các đại hội thi đua, hay xúm lại trầm trồ sờ nắn. Đợt học chính trị tiếp đó sôi nổi đặc biệt, chưa từng có. Liên khu đã làm thí điểm phát động quần chúng giảm tô ở các tỉnh. Mấy chục cán bộ trong trung đoàn được rút đi giúp phát động tại vùng tự do Nam Quảng Nam, nay chia nhau đi báo cáo trước những đơn vị say bốc, nghe đến khuya vẫn hò kể nữa, nói nữa. Lính ta bàn xôn xao, mặt tươi nở, háo hức đợi tin “phát” ở xã mình, thôn mình, lại nhắc nhau đừng nôn nóng, càng làm sau càng dày kinh nghiệm chứ sao. Ừ thì chưa phải người cày có ruộng, nhưng giảm được tô tức là đủ mừng lớn rồi. Ai lại để mãi cái cảnh ngược đời, mình đi đánh giặc cứu nước, chẳng biết khi nào mất mạng hay mất chân tay, trong khi cha mẹ già cùng vợ yếu con thơ cứ ăn cơm vay cày ruộng rẽ mãi mãi, vỗ cho mấy nhà địa mập ú ! Anh em giấu nhau gửi rất nhiều thư lên trung đoàn, xin được ghi tên trước để khi xã mình phát động thì được đi phép về góp một tay. Bước vào học chỉnh huấn quân sự. Nắng thì ra đồi học “ngũ đại kỹ thuật”, mưa ngồi dồn trong lán học lý thuyết. Năm Chò và Sáu Cam cùng đăm chiêu: kiểu đồn mới của địch khó đánh, cố đánh thì rất hao quân. Hai anh em thì thào rất nhiều về chiến thuật đặc công. Cái tên đã bí mật lại còn phủ thêm một lớp ngụy trang nữa là CK.1, đọc xê-ca-oong, tưởng như tên chiến khu nào mới lập, nhưng chỉ là một lời khen kín: công kiên số một, công kiên nhất. Rước được thày từ Nam Bộ ra dạy đàng hoàng, nhưng mới tập trung dạy ở liên khu thôi. Các đội CK.1 đến phối thuộc trung đoàn 108 thường gồm vài chục người, đầu cắt gần trọc và thân dẻo như bó gân, cõng ba-lô da khá nặng, chọn ở nhà có phên vách kín và ít người lui tới. Họ không vào hàng quán, không hút thuốc, chỉ ăn những thứ chọn kĩ và tự nấu, trời hơi trở gió đã lo quấn cổ. Họ tự làm bãi tập riêng ở góc rừng kín. Rất nhiều cán bộ đã rùng mình khi bàn phương án tác chiến: các đồn khác dùng tiểu đoàn hay đại đội tăng cường để đánh, nhúm người của họ nhận riêng một đồn, chỉ mượn thêm mấy cây tiểu liên và xin một đoàn dân công để thu chiến lợi phẩm ! Một hôm mưa to, Năm Chò đến cái “xưởng tre” của Cam. Đội bộc phá giá thiết đi đâu kiếm tre đấy, hễ nghỉ tập là xoay ra cưa, chẻ, đục, đan, làm các thứ thang, cầu, sạp, ống bộc phá và khung bánh chưng, xong đến đâu đem gửi giàn bếp nhà dân đến đấy cho khô, hong khói chống mọt, có lệnh là rút xuống nhồi thuốc. Một tiểu đội công binh được phái đến cưa bom nấu thuốc nổ tại chỗ, đỡ phải khiêng về xưởng như trước. Chò vẫy Cam ra đầu hè, nhăn nhó nói khẽ: -Trung đoàn lựa người đi học đặc công đó mày. Tao xung phong, không trúng. Các ổng nói tiểu đoàn mới ra lò, bỏ cho ai mà đi, nghe tức ói. - Hay anh cử tôi đi ? - Tao mới ướm thử, cũng bị gạt luôn. Kêu là không phải đồn nào cũng chơi đặc công được. Bây giờ tao đang đòi cho kiến tập, coi nghề ngỗng mấy chả ra sao mà đánh ngon kì cục. Tao học mót về bày cho mày. - Đành vậy. Với lại... hì hì... Đặc công họ tránh bay mùi, mà anh thì nồng nặc mùi thuốc, rượu, hôi nách nữa, vô chưa tới rào chó bẹc-giê đã sủa nhức tai... - Phản tao hả ? Tao chừa được, chừa hết ! - Chẳng cần bò lết theo Xê-ca-oong đâu, anh chừa được chị Năm thưởng anh liền một khi ! - Thưởng gì ? - Một thằng con mập ú ! Năm Chò bật cười, rồi trầm ngâm: - Chị Năm mày một mình nuôi con, công tác ngập đầu, thôi cứ nuôi thằng Chung cái đã. Hồi chị mày mới kể, thiệt tình tao ngứa ngáy lắm, như nổi rôm xảy cùng mình. Lần hồi tao lại thương nó như con đẻ, tại nó dễ thương quá mà. Trâu nhà ai mặc kệ, sanh nghé tao cứ lùa ! Với lại phần tao cũng chẳng mẫu mực gì mà chê thiên hạ... - Quên không hỏi, lâu nay anh gặp chị Tư Toản không ? - Có, gặp ở Tam Quan. Lấy chồng rồi, hai con, vẫn buôn lậu mày ạ. Buôn hàng chạy dọc xe lửa, công an tịch thu cả chục lần chưa kinh. Nó không xài kiểu “đầu phồng đá lửa, bụng chửa ka-ki” đâu nghen, cũ rồi, mà nhờ bộ đội ngồi toa công hành chuyển hàng. Coi tướng rất tài, biết anh nào khôn anh nào khờ. Chồng nó sửa xe đạp, hơi đần đần. Nó còn tiếc tao đó Cam ! Hai anh em cười rúc rích. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2016, 02:37:37 pm Trong nhà chợt có tiếng gọi to át tiếng gõ đục lách cách:
- Anh Năm có đây không ? Nghe nói ảnh qua đây... - Có cái mẹt ! Một đại đội phó vừa về xưởng Cao Thắng sửa mươi cây súng hư và lãnh thêm dây cháy chậm bích-pho, bước tới đưa cho Năm Chò một bì thư khá dày, chưa có dấu kiểm duyệt của trung đoàn. Năm chúa ghét cái lệ kiểm duyệt thư, vẫn ỡm ờ: - Phạm bảo mật rồi đó ông bạn. Học lệnh 154 rồi chớ ! - Ối, thơ vợ gởi cho chồng, kiểm làm trò cười à ? Còn gói quà nữa, tôi để chỗ tiểu đoàn bộ, đưa thơ trước anh mừng. Cam vào nhà lo việc mình, để Năm đứng nguyên chỗ đầu hè đọc thư Bưởi. Càng đọc anh càng thấy lạnh người như áo quần dầm mưa gặp gió thổi tăng dần. .. Qua được nạn đói, tiếp được mùa thì bà con phấn chấn lắm anh à. Bộ máy xã mình bầu lại vững chắc nói dân rất nghe. Đội phát động giảm tô về cho cán bộ nhân dân học chánh sách bảy đêm, bà con bồng con bế cái đi học ham lắm, kì này đội không dầm dề nhà phủ Đỉnh nữa mà sâu sát dân nghèo hỏi thăm từng chút, làm việc với Đảng ủy xã, ủy ban chặt chẽ. Tiếp cán bộ đội về huyện họp mấy bữa, khi trở xuống Linh Giang thì đưa quyết định tạm ngừng công tác Đảng ủy ủy ban, cử ra một Ban giảm tô năm người nắm hết các việc và giúp đỡ đội lãnh dạo. Anh Tám Lự cố nông, tá điền xóm Ấp làm trưởng, anh này nhà nghèo đông con lâu nay không tham gia gì, kéo vô du kích cũng không vô. Cô Chín Mẹo bần nông ở Linh Trung làm phó, cô này ngoài hai mươi chưa chồng, cũng là người tốt mà bị cái tật nói ba hoa, nói thêm thắt, bà con hay ghẹo là “mồm mép như con Mẹo”. Còn lại một cố nông, một bần nông, một trung nông dưới nữa, đều ít tham gia chắc anh không quen. Tám Doãn tốc xuống huyện hỏi, té ra huyện ủy không được dính vô cách xếp đặt của đoàn giảm tô. Mà Ba Mít làm thơ ký cho đoàn huyện mới kì ! Hồi rớt bí thơ chủ tịch, ảnh xin sao đó được rút về Nông hội tỉnh trót năm rồi, giờ lại có quyền lắm, chắc họ thấy nhà cửa vợ con ảnh xơ xác thì tưởng là trong sạch, chẳng biết ảnh bớt xén lu bù để ăn chơi và nuôi nhơn tình. Ông Ba Mậu thôi phó chủ tịch cũng hồi đó, lên tỉnh làm ty phó ty Giáo dục, vì nhiều ruộng đất không đi phát động được nhưng mà cũng được hỏi ý kiến hoài. Còn một chuyện nữa rất lạ là cha em bị qui vô cường hào gian ác, tại hồi xưa có làm hương kiểm mấy tháng, sau làm chủ tịch đôi khi cũng nổi nóng quát nạt dân. Họ xoay trở cách sao mà các chỗ sai lầm Quĩ tổng động viên hay là Nông đoàn thất bại cũng tại cha em hết. Việc này Tám Doãn hỏi dò người quen chớ chưa ra công khai, cha em cũng chưa biết, trên đoàn dưới đội bàn tính để đấu phủ Đỉnh xong rồi mới qua Mười Áng với cha em, không làm vậy thì nông dân mất khí thế, phải chi đấu thằng Tây La-phạt với lão bợm ghiền Xâm Tô thì nhứt rồi. Linh Trung có nhà Phó Hửng, địa chủ phá sản lâu rồi nhưng đem truy tội cũ cũng được. Họ đang sốt ruột vì Linh Hạ Linh Sơn chưa tìm ra địa. Em bây giờ lại hóa thảnh thơi, lo ruộng rẫy với phụ may cho chị Thùy. Có lệnh thu hết súng, cha lại nộp cây ba nòng không đạn, còn em thì thà chết không rời võ khí, đừng gây sự với con Năm Nhím mà dại ! Có tin đích xác thằng Bảy Bòng về tề đi buôn, đã bị bắt vô lính ngụy rồi, tránh né đâu thoát. Mà cũng tại chuyện đó họ mới ghép thêm tội cho cha, Ba Mít nói cha thông đồng cho nó trốn, còn nói chị Thùy cho nó về Trà Kiệu bắt liên lạc với họ hàng xứ đạo. Sao thằng đó nó trả thù quá quắt vậy hè ? Hai đứa nhỏ chơi luôn, ít bệnh như năm ngoái. Nghĩ mà khiếp, hễ đói là sanh chứng bệnh, lo chạy ăn tới phát đau ốm. Hồi đó nhà phủ Đỉnh phát tài to lắm, dân đói đem tới cái nồi đồng thì vợ lão đong cho đúng một nồi gạo, đổi lấy cái nồi, đồ thiệt mới mụ trả thêm vài lon nữa. Mụ chết cách đây vài tháng, chòm xóm nói là trời có mắt. Em đoán trước sau phủ Đỉnh cũng trốn thôi, mà đám du kích cứ kêu trốn không lọt, ít ngó chừng lắm, em bị ngưng công tác thành thử đốc thúc tụi nó không tiện. Nam nữ thanh niên, du kích, anh em Cao Thắng vẫn mật thiết với nhà mình lắm anh à, họ nói tức cười là hồi trước ông Ba Mậu về đưa Ba Mít lên ngai vàng, ổng đi chưa lâu thì vua Hùng Minh rớt cái chủm, chạy lưu vong. Bây giờ bộ sậu lớ ngớ mới lên thua tài mánh lới rất xa, chắc đội rút là họ lạy dài xin thôi việc. Ngay anh Tám Lự làm đội trưởng ban giảm tô cũng đến gặp Tám Doãn với em nói thiết cốt là bị đội tới bắt rễ xâu chuỗi rồi bắt nhận việc, cãi không được. Anh Tám với em khuyên chung cả Ban là cứ rán làm, cốt sao đánh bại được phủ Đỉnh với số địa khác, giảm tô tức được khá khá là có công với đồng bào rồi, hễ làm tốt thì lứa tụi tôi góp sức ủng hộ chớ không ganh ghét gì đâu. Còn sau này ai làm ai nghỉ là do Đảng bộ với nhơn dân bầu lên, quan nhứt thời chớ dân vạn đại. Nghe vây họ cũng yên bụng. Nghĩ cũng thiệt lạ chớ anh. Ông này về hô hào là trắng, ai không nói trắng thì trị. Khi nát việc thì ông trước trốn biệt, ông sau về hò hét là đen, ai không chịu đen cũng bị trấn áp. Rồi tiếp ông nói xanh, ông nói đỏ, mà lỡ có ai khui chuyện cũ ra hỏi thử có kiểm thảo rút kinh nghiệm không thì ông nào cũng gạt bay luôn: thôi cho qua, cho qua, để bàn chủ trương mới, giữa hồi đánh giặc máu đổ thịt rớt ta chớ nên bươi móc nhau. Cái kiểu đánh trống bỏ dùi đó còn kéo dài bao lâu ? Nghe nói bộ đội các anh bây giờ nghiêm lắm, đánh xong trận là bình công, bình tội, bình chỉ huy, bình thương vong, đủ thứ, có vậy mới tiến lên được chớ. Làm như xã nầy thì sa lầy tới trăm năm thôi anh à... Năm Bưởi nhận được mấy thư chồng có chỗ bị kiểm duyệt gạch đen kịt nên thường viết thư ngắn và chung chung. Có lẽ lần này Bưởi gửi tay cho đồng chí cùng đơn vị với chồng nên viết rất dài và nói thẳng. Nhét thư vào túi, Năm Chò còn đứng ngẩn ngơ một lúc chỗ đầu nhà, mưa to tạt ướt quần không hay. Nên đưa thư cho Cam đọc không nhỉ ? Nên về tận nơi xem sự thật ra sao ? Một số cán bộ về quê gặp lúc phát động đã chen vào góp ý, dằng co cãi lí, bị đội và đoàn gửi thư đến đơn vị nói là phản ứng giai cấp, đề nghị kỷ luật. Số ấy chưa nhiều vì diện phát động còn hẹp, nhưng cấp trên đã nhắc coi chừng. Anh tìm cậu đại đội phó hỏi thêm, nhưng cậu này chỉ tạt qua đưa thư anh cho Bưởi, vào luôn xưởng Cao Thắng, vài hôm sau chỉ ghé qua một lát để nhận thư và quà của Bưởi, không biết trong làng có chuyện gì. Năm Chò nghĩ cáu kỉnh: “Mình lo suy tính bộc phá với đặc công, đằng sau lưng mấy chả quấy đảo tùm lum, ớn quá !”. Anh không đưa thư cho Cam đọc, định để một người nhức đầu là đủ rồi. Anh xin được cho Cam dự lớp huấn luyện đặc công, bởi các chỉ huy đánh công kiên phải hiểu chiến thuật kỹ thuật của nhau mới phối hợp tốt được. Đang học nửa chừng, Cam được Ban chính trị trung đoàn gọi lên hỏi về thành phần và liên quan gia đình. Lâu nay Cam vẫn tự khai trong lý lịch: cha là công nhân tự do (thợ rèn), bản thân là học sinh (phụ thuộc). Hai cán bộ già trong Ban chính trị nói xa xôi đến tội khai man lý lịch, nói dần đến ý kiến địa phương xếp ông Tư Chua vào loại cường hào gian ác, đối tượng đấu tranh của nông dân, còn Cam có thể được chiếu cố xếp vào tiểu tư sản vì xa nhà lâu. Đã học sinh thì ắt phải là tiểu tư sản, chứ học sinh không phải là tầng lớp hay giai cấp. Quân nhân cánh mạng cũng không được, ở bộ đội cả đời đi nữa bàn cố vẫn là bần cố, phú địa cứ là phú địa. Vả lại Đảng ta không có thành kiến giai cấp, biết rõ thành phần để giáo dục sắp xếp cho thích hợp thôi, chẳng ai tự chọn muốn sinh ra trong gia đình nào... Cam bối rối, nghĩ mãi rồi đề nghị cấp trên cứ quyết định sửa lý lịch cho mình, chứ Cam không biết rõ để tự sửa. Cò cưa lâu, sau đó chia tay lạnh nhạt. Mấy hôm sau, trung đoàn thông báo nội bộ cho phép một số cấp ủy viên được rút ra khỏi cấp ủy để thuận tiện cho sự tu dưỡng, trong đó đồng chí Phan Cam được ra khỏi chi ủy đại đội, người thay thế là một tiểu đội trưởng bần nông trong trung đội. Cậu này tốt, đánh khá, chỉ có cái lạ là hoàn toàn không biết làm ruộng và rất sợ đỉa, mỗi khi đơn vị giúp dân cày cấy thường giao cho cậu nấu ăn, cậu lớn lên trong nhà ông bác bán cơm gánh, cơm quán, tập nấu khéo. Đến đây Cam mới được đọc lá thư dài của chị Năm Bưởi. Cam bực mình mấy hôm, lại nghĩ: “Chào ôi, chẳng chết ai ! Mình đi đánh giặc là thân trai đền nợ nước, tới hoàn toàn độc lập thì mỗi đứa còn sống tự kiếm nghề làm ăn chớ đâu có đi lính cả đời”. Cam nghĩ thôi, không ngỏ với ai, ngại bị chụp thêm cái “tư tưởng hòa bình hưởng lạc”. Nửa tháng sau trung đoàn ra quân, lao vào con xoáy của chiến dịch Đông - Xuân 1953 - 1954, trong đó những băn khoăn của Năm Chò và Sáu Cam rơi rụng lúc nào chẳng biết. Thảng hoặc có nhớ lại cũng chỉ chép miệng: “Xong thằng Tây đã rồi tính”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 10:58:51 am Chương XVII Đồng chí liên lạc của Ban địch vận tỉnh sờ nắn cái cổng gỗ lớn, mừng rỡ: - May họ chưa khóa. Vườn rộng, nhiều khi kêu cửa lâu lắc anh à. Anh vô thẳng phía sau, chỗ cửa hé có đèn sáng hung đó. - Cậu vào luôn chứ ? - Dạ không được. Cấm. Chỗ anh Hai nhiều tài liệu mật, của Tây với Mỹ không hà. Thạch Sơn xốc ba-lô, đi hết khúc đường rải đá băng vườn nhà Bảy Suyền, qua nhà trên, bước vào căn buồng được chỉ. Anh chớp và nheo mắt vì măng-sông sáng chói, trong khi nghe tiếng Hai Khánh và Bảy Suyền kêu ồn, chào, giục bỏ ba-lô ngồi nghỉ, uống nước. Anh bật ho khi hít khói thuốc lá dày đặc, thứ khói thơm đặc biệt ít bay mùi trong các hội nghị. Khánh, Suyền và một người đàn bà trẻ ngồi quanh bàn đứng dậy xoắn xuýt đón Sơn. Anh đặt ba-lô, cởi túi đết, úp mũ nan lên trên, chào lại và nhìn quanh. Trên bàn đặt một chai và mấy li nhỏ, một chùm nem chua và chả lụa to, một gói thuốc lá, dưới đất vất đầy lá chuối lột ra. Khánh chừng đã ngà ngà, rót rượu mời Sơn. - Rượu ngon không có bạn hiên... trời rét, làm một li ấm bụng đã Sơn. Suyền đỡ lời ngay: - Đúng anh Sơn có cái lộc ẩm thực. Chị Lệ Châu, là chị họ em, mới ở An Tân lên thăm, đem cho mấy thứ ngon lâu ngày không đụng, mời anh Hai liên hoan phá giới một trận thử coi. Cha, lạnh vầy mà anh Sơn đeo trấn thủ trên ba-lô chớ không mặc, đúng người Bắc giỏi chịu lạnh. Sơn đón li rượu a-nít, điếu thuốc Cô-táp, que tăm xóc nem chua, lóng ngóng chưa biết đối đáp ra sao. Suyền đóng ngay nút chai, xốc bốn góc tấm vải dầu trải bàn, tụm gọn mọi thứ và nói rất tự nhiên: - Khai vị bấy nhiêu thôi, ép nữa anh Hai lại la rày cho coi. Chị hốt lá rồi bưng cơm lên mời các ảnh đi. - Đủ cơm mời khách không, Bảy ? - Tụi em ăn sau cũng được, khỏi lo. Mâm cơm bưng lên rõ là cố ý giả nghèo. Trên cái mâm gỗ nứt nẻ, chỉ có cái âu sành đụng cơm, đĩa rau muống luộc, bát nước rau, một khúc cá chuồn muối mặn chát. Đã thế Bảy Suyền còn lèo thêm: - Trên chưa phát khoai sắn khô, cú ăn cơm trắng về sau ta bù. Hai Khánh cười thầm, khen Suyền đóng kịch giỏi. Anh cố lắm mới nuốt được chén rưỡi, còn Sơn cứ quét sạch mâm. Đợi khi chỉ còn hai người ngồi uống chè nhấm nháp, thứ chè gián rất đậm nước của Quảng Nam, Thạch Sơn mới cà rà hỏi thăm chuyện Khánh. Khánh đáp dè dặt, anh không ưa kiểu núp trong tối dòm ngoài sáng của Sơn, cũng không bằng lòng vì Sơn xồng xộc vào nơi anh ở. Sơn hỏi như chợt nhớ ra: - Khánh này, cậu có quen phụ nữ nào tên là Duyên không ? - Duyên... Hàng trăm cô lấy tên Duyên, cả những cô thái thậm là vô duyên ! - Cô này là Trần Thị Mỹ Duyên, Xi-mo-nét Mỹ Duyên, hồi ở Đà Nẵng gặp cậu nhiều. Nhớ ra chưa ? Một làn hơi âm ấm tỏa nhanh trong ngực Khánh, bỗng chốc nóng dội lên đến khó thở. Sơn hiểu được gì về Duyên ? Bình tĩnh, chớ vội... - Mỹ Duyên thì biết quá đi chứ. Bà ấy là vợ ba của ông bố dượng mình, ông tú Đỉnh ở Tây Quảng đó. Mình là con bà hai, gọi bà Duyên là dì Ba. - Sao bà ấy có vẻ...à... thân thiết với cậu rất ghê... gọi anh, xưng em của anh... - Cậu gặp bà ta bao giờ ? - Ấy là trong thư, chứ bà ta ở vùng địch... Làn hơi nóng ban nãy dồn cả lại, bốc ngùn ngụt lên đầu Khánh. Anh bật dậy đi qua lại, gằn giọng: - Ra thế đấy. Bà dì Ba gửi thư cho mình, cậu chặn bóc xem, mừng hí hửng: tuyệt, ta nắm được bí mật thằng Khánh rồi, nó trai gái với dì nó, thế là loạn luân, trị được rồi. Bây giờ cậu lấy cung mình. Cậu là công an mật hay thứ gì chẳng biết, lâu nay giấu không nói, mặc kệ cậu. Mình chỉ nhắc rằng chúng ta đều học luật ít nhiều, muốn trị mình thì phải đưa ra tòa, mình có quyền cãi. Giả thử mình nói bà Duyên chán ông chồng già, muốn ve vãn mình, mình cóc thèm của thừa, thì cậu truy mình vào đâu ? - Khánh, Khánh, sao cậu nặng lời thế ? - Hồi bé, có lần mình nấp trong nhà thờ xem con chiên xưng tội với cha đạo. Ông cha ngồi chỗ kín như buồng đẻ, lên giọng âm u hỏi con đã phạm tội gì trước Đức Chúa trời. Con chiên quì bên ngoài, đấm ngực khóc lóc. Cậu thích vai cha cố lắm hở ? Thạch Sơn dường như thấy mình quá vụng về. Anh hối hả rút trong túi dết ra cái bì thư giấy tốt có in hình máy bay nhiều màu, đặt lên bàn: - Đây, thư đây… Cậu nóng khiếp đấy Khánh... Khánh đến cầm bì thư, lật qua lại, thấy rõ nél chữ Mỹ Duyên cùng dấu bóc ra dán lại, nói xẵng: - Cậu đem thư đến nhằm mục đích gì, cho ra quách đi. - Thì chúng mình biết nhau bấy nhiêu năm, ghé thăm nhau... - Nếu chỉ có tình cũ thì mình cảm ơn cậu. Ta đi nghỉ, sáng mai mình sang Trại sớm, bên ấy lắm việc. - Mình muốn nhờ cậu giúp bắt liên lạc với Mỹ Duyên, thế ! - Xin thưa thật: nếu đồng chí Thạch Sơn muốn nắm thêm chứng cớ viết tay của tôi về vụ vi phạm đạo đức, thì tôi đủ khôn để từ chối. - Trời đất, sao cậu nhìn đâu cũng thấy thủ đoạn thế hở Khánh ? Khánh bước ra cửa buồng, gọi Bảy Suyền thật to: - Kìa ông chủ nhà, bỏ khách cho tôi tiếp một mình à ? - Dạ, để mời anh Sơn đi rửa ráy đã, chỗ nằm có rồi. Ăn hết nhiều, ở hết bao nhiêu. Đợi Sơn buồn rầu theo Suyền ra ang nước. Khánh mới cài then buồng, bóc xem thư Duyên. Bảy năm rồi. Bảy năm. Bảy năm... Con số ấy gõ nhịp trong lòng Khánh như tiếng đập của toa xe lửa, của lò rèn, của trái tim nào rất to và chậm. Một nàng Kiều cũng không thể long đong hơn... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:02:20 am Pháp nổ súng chiếm Sài Gòn, anh ruột đi về theo Đệ nhứt sư đoàn. Mỹ Duyên vào cứu thương. Vô mặt trận, dạt về Mỹ Tho, rời Cần Thơ, sắp chạy vô Đồng Tháp, địch vây bắt trọn gói cả y sĩ, y tá, cứu thương.
Nhờ biết cách tự làm cho xấu và vàng da như đau gan, Duyên không bị hiếp, ít lâu sau Tây dùng làm thông ngôn để hỏi cung người bị bắt tới số trăm. Ngót năm sau ra khỏi trại giam, Mỹ Duyên về thành và thấy gia đình tan nát: anh ruột hy sinh, em gái lớn bán bar kiêm điếm lậu, em gái nhỏ loay hoay nuôi bà mẹ bại liệt hai chân ở nhà người bà con, nhà Duyên đã cháy trụi. Mài guốc tìm việc làm, tìm không ra. Chủ nhà giục đi nơi khác, họ cũng ngột ngạt với hàng chục họ hàng chạy giặc đến nhờ vả. Duyên lui vào một con hẻm ở khu Bàn Cờ, thuê căn nhà tranh nhỏ, mở quán bán quà vặt, trà thuốc, hằng ngày đẩy cái ghế có bánh xe đưa mẹ ra trông hàng. Hai chị em hai gánh quà bán rong qua các xóm nghèo, chị bò bún, em xôi chè, đi có cặp cho đỡ sợ lính và du côn. Khi hàng ế hay bị phạt vạ đến sạt vốn, Duyên làm công nhựt phụ thợ nề, phụ bếp ở các quán to, lãnh cộng sổ cho các tiệm Tàu ngày vài giờ... ... Em làm đủ mọi nghề nhằm tránh quay lại cái nghề kinh tởm ngày xưa: nghề gái nhảy, me Tây me Tàu me quan me trọc phú. Trẻ là đĩ quí phái, tuổi sồn sồn làm me, bị đuổi ra thì làm đĩ có giấy phép, gom tiền mua em út để mở nhà chứa làm mụ chủ dầu. Nhiều lúc túng đói quá, em chút xíu nữa trượt vô vết xe cũ anh à, xưa vung tiền một đêm bạc ngàn mà bây giờ nói khô cổ mới vay được vài chục đồng, trả lãi mỗi ngày năm phân đúng. Mà rồi em cưỡng được, em cưỡng tới lần thứ ba thứ tư thành quen... Bà mẹ chết. Con em nhỏ học được nghề thêu đan, kiếm đủ ăn. Mỹ Duyên vào làm thư kí cho một hãng buôn đồ mĩ nghệ của người Việt, chủ là một khách làng “nhót” rất quen đã thôi ăn chơi, cố làm giàu, cũng giàu lên nhanh. Duyên bị ép mãi phải ra quầy làm chân tiếp khách chào hàng, lương gấp đôi các nhân viên khác vì thạo tiếng Pháp và biết tiếng Anh, khách ngoại quốc đến mua ngày càng đông. Mấy năm khốn đốn nhất đã qua. Duyên giao thiệp nhiều với các nhà báo nước ngoài, họ hay thuê Duyên dịch các bản tin hàng ngày, vừa rẻ, vừa nhanh. Ghé qua tiệm mĩ nghệ, ném mảnh báo tiếng Việt cắt sẵn cho Duyên, bước sang tiệm giải khát bên cạnh làm vài li, khi quay lại đã có bản dịch Duyên ngoáy vội khi quầy vắng. Chủ hãng cũng ưng ý: khách ngoại quốc ra vào tấp nập là cách quảng cáo tốt nhất không mất tiền. Và đến đây, Duyên bỗng đổi giọng hẳn: ... Làm gì đi nữa, em vẫn giữ tâm hồn của nàng Madeleine ăn năn sám hối mỗi khi nhớ lại khúc đời xấu xa trước kia. Em vững lòng tin ở chân lí của Chúa, hướng về Đấng Cứu Thế đang cứu chuộc chúng ta, dù cho đến nay em chưa lãnh phép thông công, chưa được dự lễ. Anh may mắn hơn em rất nhiều, em muốn tìm đến anh lắm. Nếu tình xưa nghĩa cũ đang còn thì nhứt rồi, không thì em cũng được anh rao giảng cho những lẽ đạo huyền diệu. Nhưng nào biết anh ở đâu, anh ở đâu ? Một tín đồ nhận chuyển thơ này tới tay anh, em tin ảnh trọng lời hứa nên viết dài. Em nhắc lại lời cầu nguyện đêm đêm của người con gái mồ côi: cầu chúc anh mãi mãi bằng an trong tay Chúa. Với muôn ngàn yêu thương Mỹ Duyên Khánh đang đọc lại lần thứ hai thư Duyên, nghe tiếng gõ cửa đúng ám hiệu: hai tiếng nhanh, ba tiếng rời. Cô Lệ Châu đến ngủ với Khánh như mọi đêm. Khánh ngồi nín lặng. Gõ nữa. Lại gõ. Khánh bước tới cáu kỉnh rút then. Lệ Châu bước vào không tiếng động, êm như mèo, cài then ngay: - Lão công an mật ngủ rồi. Anh mắng lão, em nghe sợ quá. - Tối nay anh bận, em ngủ chỗ khác nhé. Chịu khó tí. - Thơ Mỹ Duyên còn đó chớ chạy đâu ! Anh không nói chớ em biết rành lắm. Gái ca-va khét tiếng ăn xài ở Đà Nẵng, nhơn tình của anh, lạ gì. Phủ Đỉnh bao vợ ba, vợ ba bao lại con trai vợ hai... Tưởng ô-voa lâu rồi, mụ còn nhào vô kiếm chác... - Im ! Đi ra, đi ! Lệ Châu bĩu môi. Ả có sẵn cái môi dưới thưỡi ra, khi bĩu môi thì nó dài phát khiếp, trông có vẻ gì ma quái. Ả giật mạnh cửa, nện gót đi ra, không kín tiếng nữa. Mọi hôm ả hay nhắc: “Em giữ ý là giữ cho anh thôi”. Khánh đọc kĩ lại lần nữa. Thư viết sao cho lọt vào tay địch cũng chẳng mắc vạ, nói đến Cách mạng bằng giọng của giáo dân. Ngày viết đề cách đây bốn tháng, bì và thư đều nhàu, chắc qua nhiều tay đọc và mổ xẻ. Duyên còn làm chỗ cũ, còn dịch cho nhà háo nước ngoài nữa không ? Khánh vặn cho đèn măng-sông xì hơi, thắp cái đèn thẫu heo hắt, nằm trằn trọc. Anh chợt nhớ ra: Thạch Sơn chỉ thấy tên trong thư là Mỹ Duyên, nhưng lại nhắc vanh vách là Trần Thị Mỹ Duyên, Xi-mo-nét nữa. Cậu ta từ Việt Bắc vào chưa lâu... Lại thêm ả Lệ Châu, biết rành rọt hết, do đâu ? Bí mật thành bật mí, chắc chắn phủ Đỉnh đã rõ ngọn ngành từ xưa mà không muốn ra tay trị mình, có thể muốn nhường lại Duyên cho mình. Mình sạc thằng Sơn quá lời. Nó bị méo mó nghề nghiệp, mắt hay gườm gườm, lời nói ậm ờ quanh co, chứ thiếu gì cậu tình báo chiến lược hay cơ sở luồn sâu leo cao của ta trong lòng địch vẫn giữ được vẻ hồ hởi, xởi lởi ? Cái khó nhất lại nằm ở mình. Mình còn yêu hay hết yêu Duyên ? Mình đã trót “già nhân ngãi” nay có nên “non vợ chồng” ? Biết bao lần mình cứ phải tự hỏi: tôi là ai ? Tôi có thật sự nghĩ đúng những điều đang nói đang làm không ? Tại sao trong người tôi luôn luôn có ít nhất một đôi kéo cưa lừa xẻ ? Tại sao vô số người khác có thể tin Đảng, tin chính nghĩa Kháng chiến, tự tin khi theo cánh mạng, còn tôi lại cứ chập chờn, ngả nghiêng, chao đảo, không tin ai mà cũng chẳng tin mình ? Bên ngoài nhìn vào, tôi còn giữ được cái vai trí thức tiến bộ, có lẽ tôi biết ngoại ngữ nhiều nhất trong toàn liên khu, làm việc không hăng bốc nhưng cũng không quá bê trễ. Dạo này tôi nghiện thuốc lá, thích rượu nhưng không uống say hay la cà nhậu nhẹt, có nhân tình biết tránh thai và tránh tiếng, đó là những tật xấu không quá quắt, phê cứ phê nhưng có thể ngoảnh mặt được... Bên trong, tôi vẫn không biết mình thực sự là ai ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 11:06:02 am Sáng hôm sau, Khánh và Sơn được dọn mâm riêng “để các anh bàn công tác cho dễ”. Một đĩa khoai luộc chấm muối đậu phụng, một âu cháo trắng ăn với muối hầm, Suyền vẫn giả nghèo. Hai người lặng lẽ húp cháo, ăn khoai. Khánh mở chuyện trước:
- Mình nhận đêm qua có nóng với cậu. Mình không thích cái kiểu úp úp mở mở của cậu. Ừ thì cậu có dính vô tổ chức bí mật trong thành, mình không tò mò, nhưng cậu nên nhớ Ban địch vận tỉnh chiến trường này cũng nắm không ít cơ sở ngụy quân ngụy quyền, nhân mối nội tuyến đủ hết, mà mình là phó ban chứ không phải chị cấp dưỡng hay chú liên lạc. Cậu thấy đấy, mình chưa hề kể làm quà cho cậu tí bí mật nào của ngành mình. Hay là cậu mới được biết thằng Khánh thuộc thành phần địa chủ quan lại, hãy cảnh giác ? Sơn bật cười ồn: - Mình biết cậu là con quan phủ từ dạo ở Hà Nội kia, ông mãnh ạ ! Chẳng qua mình vụng ăn nói, với lại... cậu đừng giận... ngay dạo ấy mình đã khác cậu. Mình quen nếp suy tư đơn giản, theo đường thẳng tuột, còn cậu... thế nào ấy... theo hình sin ngoằn ngoèo... không, hình hy-péc-bôn đúng hơn, có khi đột ngột nhảy từ vô cực âm lên vô cực dương hay ngược lại... mình không nắm bắt kịp ý tưởng của cậu, đành ngậm mồm. Nhưng vẫn quí cậu, tin cậu lắm chứ, vì đường trục tung độ và hoành độ của chúng ta là một, chỉ khác nhau ở nét đồ thị. Chúng ta cùng theo cách mạng, mỗi đứa một kiểu, đã sao ? Cậu hiểu mình chứ ? Khánh lặng lẽ chìa tay qua bàn. Sơn cầm lấy, bóp mạnh không nói. - Xong một mục. Tới khoản thứ hai: cậu muốn mình giúp gì về Mỹ Duyên ? Đã nắm được chưa ? - Nắm được đã chả nhờ đến cậu ! Cô ấy không viết trong thư, nhưng ngót năm qua được thằng phóng viên Pháp mê dài, giới thiệu về dịch tin cho hãng AFP chi nhánh Sài Gòn. Cố vấn tin cậy nhất của cô là đảng viên ta, cô phục mà không biết chỗ ấy, được hỏi ý kiến. Chị cố vấn khuyên cô nên làm, nay mai nếu tụi AP hay UPI của Mỹ muốn tuyển thì chớ do dự. Duyên còn ngại cái tiếng xấu Việt gian, tay sai của Tây, phải thuyết khá lâu mới chịu. Gần đây chuyển sang tập sự phóng viên, hay đi với tụi Anh Mỹ, diện ngất trời, nhanh nhẹn nổi tiếng, tụi nhà báo Việt Nam phải ghen: “Cô ấy dùng nụ cười tình mở được mọi cửa”. Các nhà báo còn đang đấu khẩu với cảnh sát bên ngoài, đã thấy Mỹ Duyên đi ra, máy ảnh có hình và máy ghi âm có tiếng rồi, AFP dùng xong cô bán những chỗ đầu thừa đuôi thẹo cũng được khối tiền tiêu thêm. Tối qua thấy cậu bực, mình chưa rút ra cái khoản này... Sơn móc túi đặt lên bàn một xâu năm chiếc nhẫn vàng đánh trơn, mỗi chiếc ước một đồng cân, kèm một mẩu giấy nhỏ: “Hễ anh từ chối, suốt đời em oán trách”. Khánh xem giấy, ngẫm nghĩ rồi khoát tay: - Nộp quĩ kháng chiến hộ mình, trả lại cũng khó. - Nhưng Duyên biếu riêng cậu ! - Mình nhận của một người làm trong cơ quan Pháp, ăn lương Pháp, chưa phải đồng chí ta. Tất nhiên là mình giấu kĩ. Còn cậu, đến đợt chỉnh huân sắp tới, cậu sẽ thành khẩn khai đã đồng lõa với việc làm xấu xa của mình, không đấu tranh can ngăn. Mình sẽ làm bao nhiêu bản phản tỉnh, chịu bao nhiêu lời phân tích mổ xẻ ? Nếu sợ lộ bí mật, khó ghi tên người ủng hộ vào sổ, cậu vất xuống sông hồ nào đó, hay là chọn nhà nào khốn khổ quá cậu đánh rơi vào một chiếc. - Khiếp quá Khánh ơi, cậu làm mình choáng váng mất ! - Nếu cậu ngậm miệng trong chỉnh huấn, lương tâm có để cậu yên không ? Thạch Sơn rên một tiếng trong mũi, thong thả nhét xâu vàng vào túi. - Mình biết chuyện nhà cậu, Sơn ạ. Nghèo, chắt bót cho con đi học không đủ, lên khỏi tiểu học đã phải làm prê-xép-tơ 1 ăn miếng chín, nhảy vào luật vì cả làng kéo đến van vỉ sau nhũng vụ xử kiện oan ức không mướn được thày cãi, cậu quyết chí làm trạng sư chứ không làm quan tòa hay quan huyện. Cậu dồn ý chí như mũi đinh nhọn, mình rất trọng cậu, cậu gọi một tiếng theo Việt Minh là mình theo ngay... Hoàn cảnh mình cậu biết rồi đấy, từ bé đã thấy cảnh đời phức tạp, phải uốn mình theo bao nhiêu lề luật đối xử ăn nói phức tạp, bảo làm thế nào mình suy tư theo đường thẳng được. Cùng một hàng bà mẹ, mình phải gọi mụ phủ Đỉnh bằng mẹ, người sinh ra mình là me, người vợ lẽ nhỏ hơn em mình là dì, đóng cẩn thận vai đứa con ba mẹ, lỡ sai một lần là bị lườm nguýt hàng tháng. Bố đẻ là cha, bố dượng là ba, cấm lẫn. Mình loay hoay trong bụi gai tre, còn quí vị lãnh đạo chỉ dán cho mình cái nhãn ghi rõ: “Xuất thân địa chủ quan lại, bản thân tiểu tư sản (lớp trên)”, coi như hiểu hết về mình rồi, khỏi phải đánh vần từng trang tự khai lí lịch với kính lão không đủ số và đèn dầu lù mù ! Cậu cho mình được yên thân đi Sơn ! - Cậu viết thư cho Mỹ Duyên chưa ? - Chưa. Đang phân vân. - Sao thế ? Khuyên theo kháng chiến thôi mà. - Duyên không chờ đợi nhiều lời. Chỉ cần ba chữ “anh yêu em” là giao công tác gì cô cũng nhận. Xa nhau bảy năm, mình viết thế sợ giả dối. Con người khác xưa nhiều quá. Thạch Sơn đắn đo: - Hay là... bây giờ qua lại giữa hai vùng không khó lắm... mình cho cơ sở đón cô ấy ra vùng ta gặp cậu mươi hôm, ở nơi khuất vắng gần đây, tha hồ chuyện trò, tìm hiểu lại. Cậu khuyên bảo cô ấy... Chắc Mỹ Duyên sẽ đi. - Chắc chắn đi. Chí ít cũng để biết nên đợi mình nữa hay nên lấy chồng. Duyên hăm bảy tuổi rồi, gánh nặng mẹ già em dại đã giảm, hẳn nghĩ nhiều đến mai hậu. - Thỏa thuận thế nhé. Cô ta thỉnh thoảng vẫn đi lấy tin viết bài ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng cho AFP và các báo nước ngoài nữa đấy. Tự dưng cái máu châm chọc quái quỉ của Khánh nổi dậy. Anh nói nửa thật nửa đùa, mà lại kinh sợ khi cảm thấy mình quá chua chát: - Mỹ Duyên được dẫn về trạm hẹn, háo hức chờ được viếng thánh địa là vùng tự do, chờ được gặp thiên thần hộ mệnh riêng là Hai Khánh đã được cô chắp thêm hai cánh trong tưởng tượng. Đồng chí Khánh được lệnh công tác xa. Đồng chí Thạch Sơn, vô tình hay cố ý, cũng vắng. Cô phóng viên đầy người phấn sáp lụa là - phải làm đẹp để gặp người cũ chứ - được dẫn tới gặp cán bộ ta. Một vị cán kì cựu, chân chất nông dân, mặc bà bà đen vá với khăn cháo lòng vắt vai, ngồi co một hay hai chân lên ghế nhả khói thuốc rê, hoàn toàn đúng mốt hiện nay. Để thêm phần long trọng, vị ấy sẽ nói toàn những từ ngữ mà đám thị dân ở với Tây bấy lâu ít được nghe: “chị gì...à chị Duyên... Yêu cầu chị thành khẩn báo cáo quá trình phục vụ âm mưu nô dịch của đế quốc khi chị công tác tại cơ quan gì của Tây... phải, hãng thông tấn, tức là điều tra tình hình kháng chiến cung cấp cho thực dân xâm lược. Giấy mực đó, viết đi, khai cho triệt để, không được viết tắt hay xen chữ Tây vô...”. Thạch Sơn bật kêu: - Cậu đang kể chuyện năm Bốn mươi lăm ! - Năm ấy tự vệ cầm giấy ngược. Mình nói chuyện mới tinh khôi. Hôm trước mình đi Thăng Bình, trạm gác biết đọc cả, nhưng nhất định đòi xem giấy giới thiệu con ngựa. Dằng co lâu, họ bàn riêng cũng lâu rồi cho đi, dặn lần sau con ngựa phải có giấy tùy thân của nó ! Việc như trên dám xảy ra lắm chứ ! Sơn quàng túi dết qua vai, khoác quai ba-lô, cười gượng: - Thôi để cậu nghĩ thêm, chả vội. Cậu không ưa bị thành kiến, nhưng... cậu cũng mang nặng thành kiến với những người ít học, mộc mạc, mà cậu xếp chung cả gói vào nông dân... Lần sau ta bàn tiếp, còn gặp nhau nhiều ! - Ấy cũng tại thiên lí tha hương ngộ cố tri, hay mình bị đa thư loạn tâm chăng. Xin quan anh cho hai chữ đại xá ! Con nhà địa mà dám chê nông dân, liệu thế cũng quá liều ! Con người thứ hai trong Khánh nổi cáu: “Độc mồm vừa chứ !”. ----------------------------------------------------------------------- 1. Dạy kèm trẻ, gia sư Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 02:34:52 pm Đợi đến bữa tối vắng Lệ Châu - có lẽ hờn dỗi - Bảy Suyền mới khuyên nhẹ nhàng:
- Em nghĩ anh Hai nên làm lành với anh Thạch Sơn, gặp hay viết thơ tùy anh. Anh Sơn ngủ chung với em, khen anh Hai nhiều lắm, mà anh Hai cứ ngạo ảnh hoài, như chọc tức... - Cậu nghe hết đầu đuôi à ? - Dạ, cũng có. Khánh cười khô khốc, tuôn thẳng thừng: - Tài liệu của mình cậu lén đọc cả. Chuyện riêng của mình với Mỹ Duyên cậu dò ra cả. Mình cãi với bạn cậu rình nghe cả. Nhiều lần mình muốn hỏi cậu: cậu đón mình về vỗ béo lâu nay để làm gì ? Nuôi heo gà đến bao giờ cắt tiết ? Mà nói cho cùng, cậu là người thế nào hở Suyền ? Mặt hơi tái, Suyền thò tay lấy chai rượu đế “vỏ dền” cạnh mâm, định đút xuống dưới bàn. Khánh giữ lại: - Đừng cuống. Chai chưa khui mà cậu lo mình say ? Chẳng qua mình lên một cơn chán ngán, muốn đập bát đĩa, xô bàn ghế, hét to những lời kiêng kị phạm húy, ngược ngạo một lần cho xả hơi. Mở ra, rót đi. Mình uống cho tửu nhập ngôn xuất, lột bụng dạ ra như bóc bánh chưng, cậu nhấp cầm chừng cho tỉnh mà nhớ đúng nguyên văn, khỏi xem trộm nghe rình mất công. Khánh dốc cạn một li nguyên, nhai một lần ba miếng nem chua. - Mình cóc cần cậu trả lời. Cậu là con người gì, theo ai chống ai mặc cậu, thì thầm thì thụt với những phủ Đỉnh, Ba Mậu, Hùng Minh, Lệ Châu, dăng lưới nhện chung quanh mình, kệ xác, mình cứ làm việc của mình. Kháng chiến xong mình sẽ đi học thêm, dạy ngoại ngữ, dịch sách, lấy vợ đẻ vài đứa con cho vui nhà. Không còn địch đâu nữa mà vận, mình thất nghiệp, không phải đảng viên khó được tin dùng, xin được làm đứa lao động trí óc kiếm sống thôi. Bảy Suyền đã trở lại nước da xanh vừa phải. Cậu ta rót tiếp cho Khánh đầy li, nhìn thẳng vào mặt Khánh: - Anh Hai bực chi nói vậy, chớ bao nhiêu chỗ muốn rước anh Hai ! - Ai rước ? - À.. như em đây... rước anh về làm thầy, làm cấp trên, làm anh cả trong nhà, hễ làm luôn anh rể nữa thì số dách ! Khánh lại cạn li, cười phì phì: - Lệ Châu à ? Vĩnh viễn không, cô ấy bĩu môi trông kinh quá. Cậu chọn cho mình đám khác nhé. Người hiền lành phúc hậu, nhu Hai Thùy trên Linh Lâm đang giúp nuôi thằng con mình. - Anh thích chị Thùy lắm à ? - Xin nói rõ, mình thích những người như Thùy. Chứ mình coi Thùy như bà Ma-ri-a trong tượng ảnh, coi Cả Chanh như ông thánh Giô-dép thợ mộc, có ai đi mê người trong tranh như Tú Uyên thời xua... Li nữa mày ! * * * Khoảng một tuần sau lần gặp Thạch Sơn, Trại tù hàng binh đón rất nhiều khách mới. Hàng binh không còn lính lê-dương gốc Đức hay lính Nhật như xưa, hầu hết là lính Bắc Phi thuộc Pháp, gốc A-rập. Tù binh lê-dương cũng hiếm hoi, chiến tranh càng ác liệt thì sắc lính nhà nghề ấy càng ít kẻ ham tuy lương to nhất trong quân đội Pháp. Trại tù binh đầy những lính quân dịch Pháp, mặt bấm ra sữa, suốt ngày mếu máo sướt mướt nhắc mãi điệp khúc: “Tôi bị động viên, tôi không thề chống luật”. Trại tù hàng binh ngụy ở xa cũng đầy những nhóc con bị bắt lính, nghe rối mù những cái tên bảo vệ quân. Việt binh đoàn, thân binh, vệ sĩ, bảo hoàng, hương dõng, hương vệ, khố đỏ, khinh quân... trăm thứ bà dằn, chỉ có cán bộ chuyên môn mới hiểu hết được. Khánh bận lên lớp ngày hai buổi cho tù binh mới, giao hẳn việc lập hồ sơ cho Bảy Suyền và anh Tư Tuyển mới nhận việc. Ai cũng rối mù. Tư Tuyển là anh bạn học của Khánh hồi nhỏ ở Quy Nhơn, đã cho Khánh mượn sách cấm về chủ nghĩa Mác trước Tổng khởi nghĩa. Tản cư khỏi thành phố tiêu thổ, với gánh nặng sáu đứa con - sau thêm hai nữa là tám - với bà vợ rất đoảng và bà mẹ vợ ốm yếu, Tư Tuyển chạy ăn đến bạc mặt. Sáng dạy trường công, chiều và tối dạy tư kiếm thêm, lúc nào anh cũng tất tưởi như ma đuổi. Cha làm thầy mà con chỉ học không quá tiểu học, đứa lớn lo làm nuôi đứa nhỏ. Qua sáu bảy năm, vợ bớt đoảng đã làm được bánh kẹo cho con đi bán, con nối nhau học nghề kiếm ăn, Tư Tuyển mới nổi máu xông pha khói lửa cho biết mùi kháng chiến, lâu nay anh chỉ chống Pháp bằng động tác nhảy hầm tránh bom. Khánh ghé thăm Tuyển nhân một chuyến đưa tù binh về trại chính liên khu. Ngắm người bạn trẻ hơn, đã cao lớn càng cao lớn hơn trong bộ ka-ki ngoại, đôi đờ-mi bốt lộp cộp, súng ngắn ngang lưng, mũ nhựa Mỹ hình mũ sắt trùm đầu, xắc-cốt chữ nhật bên hông, Tuyển rầu rĩ gãi tai: - Trông cậu oai phong lẫm liệt, mình mê quá. Mình bị ông bà già ép cưới vợ sớm, vướng một chùm vợ dại con thơ, mất gọn mấy năm đánh Tây, nghĩ thiệt xấu hổ... Ờ, mình dạy học, đào tạo nhơn tài, đồng ý... nhưng xin thú nhận là mình bán cháo phổi để kiếm tiền chớ chẳng yêu nghề, mà học trò cũng chẳng ham gì môn mình dạy. Mình giảng văn học Pháp từ đệ nhị đến đệ tứ niên, đọc thuộc lòng kịch Coóc-nây, Ra-xin, thơ Vi-nhi, Muýt-xê, văn Huy-gô, Ban-dắc cho những đứa mới bập bẹ tiếng Pháp, ưa chọc thầy cười chơi, cái đám lèo-lèo mè-dồng lo bố-cu tết bớp 1 chỉ giỏi nghề quay, cóp... Cậu có công tác gì gần mặt trận hơn, cho mình theo với. Ra Quảng Nam dạy tù binh, được lắm chớ. Người thay mình sẵn rồi, có một cậu đíp-lôm đang làm văn phòng, đôi khi dạy thay mình thường được bọn học sinh khen là giảng dễ hiểu, trình độ thầy trò xấp xỉ nhau mà ! Tư Tuyển mang ba-lô ra Quảng Nam, nhận việc ở Trại mới năm hôm thì gặp đợt tù binh mới. Khi lập hồ sơ mới vỡ lẽ ra: bọn quân dịch người Pháp tự viết bản khai được phần lớn, số lính gốc nước khác viết rất chật vật, có đứa mù chữ, còn số lính gốc A-rập hay châu Phi đen thì chịu bó tay. Đành phải gọi từng đứa một lên lấy khẩu cung và viết hộ để chúng vẽ chữ thập hay điểm chỉ vào, mất lắm thì giờ. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Pháp đùa: học trò nhà nước đầu bò lắm Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 02:37:28 pm Hai Khánh cho Bảy Suyền đến Ban địch vận tỉnh mượn tài liệu về tình hình chính trị xã hội các xứ châu Phi thuộc Pháp, về chế độ quân dịch Pháp gần đây đã sửa đổi. Suyền có xe đạp, đi và về chỉ mất một ngày. Lần này cậu ta đi đến ngày thứ ba chưa về. Khánh sốt ruột nghĩ: “Hắn bị bom dọc đường hay nhảy về tề ?”.
Chiều ấy Khánh rời Trại sớm vì ngấm mệt. Suyền đợi ở nhà với mâm cơm bày sẵn úp lồng bàn, nói vội: - Xin lỗi anh, em phải về Linh Lâm đón bác tú Đỉnh. Bác đang chờ gặp anh cách đây hơn chục cây số. Mời anh ăn sớm ta đi cho kịp. Gấp lắm. - Việc gì thế ? - Dạ, bác về thành. Ghe biển đón khuya nay. Khánh ngồi phịch xuống ghế, trừng mắt: - Ai cho phép cậu chỉ huy mình ? Ông phủ Đỉnh đi đâu tùy lòng ông ấy, mình không phải thằng hầu bưng tráp theo quan ! Suyền vẫn nhũn nhùn nhùn: - Dạ, đó là bác tú nhắn anh, em đâu dám lệnh lạc gì. Có điều bác dặn nhứt thiết phải gặp anh trước khi đi, quan trọng cực kì, bắt em đạp xe về hỏa tốc. Hễ anh thấy gặp bác không tiện thì để em chạy báo lại cho bác khỏi trông. Khánh nhấc lồng bàn ném vào góc nhà, xới cơm ăn, không nói. Rốt cuộc mình chỉ vùng vằng suông làm điệu, mình sẽ làm theo tất cả những gì ông phủ Đỉnh với Bảy Suyền đã sắp xếp sẵn. Đêm nay chắc phải đi, nào biết được ông phủ sẽ truyền lại những gì. Một bản đồ tuyệt mật đi tìm kho vàng chôn giấu trong rùng núi Linh Lâm ? Một số đầu mối riêng để bắt liên lạc với ông ta, nhận vàng hay tiền, trao tin mật, sẵn sàng đưa người về tề ? hay chỉ đơn giản là nghe những lời xót của, đã không lấy được đất La-phạt còn phải bỏ luôn ấp Hường Hiệu cùng tất cả nhà cửa, giường tủ, số trâu bò chưa bán kịp ? Bảy Suyền đợi Khánh ăn gần xong mới báo thêm: - Dạ thưa, bác tú còn dặn là nếu anh muốn đi với bác thì mang đồ theo luôn, giây tờ với đồ quí thôi, ghe còn đủ chỗ, an toàn lắm... - Câm đi Bảy ! Mình gặp ổng lần cuối cho trọn tình nghĩa, hết ! - Thì bác nhắn sao, em thưa vậy... Cưỡi ngựa dễ lộ, hai người đèo nhau trên chiếc xe đạp của Suyền. Các trạm gác vắng người trong đêm mưa khá rét. Cách biển vài cây số, Suyền gửi xe đạp nhà quen, dẫn Khánh đi bộ qua nhiều trảng cát và rừng phi lao, đến một chòi ven biển của dân chài bỏ trống. Sóng đêm vỗ bờ ì ùm bên ngoài, nơi bãi ngang vắng ngắt không nhà không thuyền. Tàu nhỏ của Pháp hay vào gần bờ, xổ đạn lửa bắn cháy tất cả những gì cháy được, nên cái chòi này nép rất kín giữa những bụi phi lao thấp, đến tận nơi mới thấy. Ông phủ Đỉnh trông hơi gầy hơn dạo làm tang cho bà vợ cả chết vì thương hàn, nhưng vẫn rất quắc thước với bộ râu đen nhánh, rậm và dài, được nuôi để hóa thân thành cụ tú Đỉnh phó chủ tịch Liên Việt huyện Tây Quảng. Ông mặc bộ bà ba đen bạc màu lẫn bùn ở gấu quần, đeo cái tay nải to chéo trên lưng, nón ướt đặt bên cạnh, đúng là ông lão nông gia trưởng tản cư xa về thăm quê, ngại tàu bay tàu biển nên phải đi đêm, ghé nghỉ chốc lát. Chị Tôn Nữ Huyên Tâm thập thò sau lưng cha, mặc kiểu gái buôn, tóc búi. Còn một anh chàng lực luỡng nữa có gánh đôi bầu to nặng đi theo, nhác thấy Suyền vào đã vội mang tơi đội nón ra ngoài đứng gác, Khánh thoáng thấy hai quả lựu đạn cài móc vào thắt lưng quần đùi. Suyền báo tin yên ổn cả. Ông phủ dựng lại tấm phên che cửa, sửa mảnh quạt mo cau che ánh đèn dầu. Chị Huyền Tâm bưng đặt trên chõng khập khiễng một cái mẹt nặng. Khánh tò mò ngắm mâm nhậu khác thường: tất cả đều là đồ hộp mở vất nắp, hình tròn và quả trám, vuông và chữ nhật, cao và thấp. Chỉ có ổ bánh mì hình gối, mấy gói bích qui và kẹo được gói trong giấy kính, nhúm muối riêu cùng mấy quả ớt đặt trên giấy rơm nội là không đóng hộp. Anh không thấy phủ Đỉnh đưa mắt hỏi Suyền, hất hàm phía anh. Bảy Suyền lắc đầu. Phủ Đỉnh cau mày một loáng lại tươi mặt ngay, xòe hai tay: - Các thứ là của anh em đồng chí gởi cho con đó Khánh. Đưa về chỗ con bất tiện, ta mở tiệc ở đây hưởng chung cái lộc của con. Con nhớ anh Trọng Béo chớ ? Tức là Tô Trọng Huân ? Khánh giật mình: - Trọng Béo, làm Việt quốc ở Hà Nội hồi xưa ? - Đích thị, ảnh rất nhớ con, khen con, cứ tiếc hoài con không bắt liên lạc với đảng bộ Quốc dân ở Quảng Nam. Bây giờ ảnh về Huế, lãnh chức cao ở chỗ Thủ hiến Trung Việt. Ảnh gởi quà theo ghe, nhắn con muốn tống cựu hay nghênh tân tùy ý. Thêm mấy chai cô-nhắc với sâm-banh đây. Ta vừa nhấm nháp vừa bàn chuyện còn gần ba tiếng nữa. Chung quanh gác kỹ rồi. Khánh như đang chiêm bao. Trong vùng của ta, Việt quốc đã dựng lưới ngầm đến đâu, móc nối những ai ? Việt quốc hàng Pháp, làm gián điệp cho Pháp, nói mẽ rằng dựa vào Pháp giành độc lập, Pháp không nguy hiểm bằng cộng sản tay sai Nga-xô Trung-cộng, Khánh đã đọc cả mớ truyền đơn và tài liệu mật của chúng đưa về Ban địch vận, chẳng lạ gì. Chỉ vô cùng lạ là Khánh đang đón ly rượu từ tay một đảng viên Quốc dân gọi anh bằng con, bên một đứa cũng là Quốc dân lâu nay vờ tôn anh làm thầy. Khánh là con ruồi sa lưới, sa lưới... Cũng trong chiêm bao, Khánh cầm thìa xúc mọi thứ được trút vào cái vỏ hộp to và dẹt dùng làm đĩa trên tay mình, không phân biệt được xúc-xích, giăm-bông, cá trích trong dầu ô-liu, ba-tê gan, phó-mát cứng và mềm, tôm hùm bóc vỏ, dưa chuột muối chua. Anh cắn nhai hú họa lát bánh mì phết bơ được giúi vào tay, buông nó để đón ly rượu ai đó mời, chạm vào mấy cái ly chìa trước mặt, uống cạn một nửa. Anh quyết giữ không say, nhưng sao cứ choáng váng thế này ? - Trên Linh Lâm tụi nó chưa bày trò gì căng lắm đâu con. Ban đầu cũng tính đấu ba làm cái điển hình. Ba xuống huyện xuống tỉnh, lễ phép thưa quí đồng chí vầy đây: “Tụi địa chủ quan lại có nợ máu ở lại hết trong thành, đứa nào mắc kẹt cũng tìm đường trốn. Tôi tự xét có lỡ dại làm quan với đế quốc phong kiến, mang tội với đồng bào thiệt đó, nhưng mà còn nghĩ tới tổ tiên nòi giống, rán ở lại vùng chánh phủ Cụ Hồ để lập công chuộc tội, Đảng biểu sao tôi làm vậy. Tôi biết trước sau cũng phải xóa bỏ giai cấp địa chủ, trả ruộng cho nông dân mới là công bằng xã hội. Đảng chưa biểu nộp thì tôi nộp cũng chẳng ai nhận. Bây giờ Đảng chưa cho nộp mà ra lệnh giảm tô triệt để, tôi đâu dám cãi chối gì. Thôi thì xin cho tôi trả lại cái Liên Việt, tôi lui về làng phục tòng quí ông bà nông dân, đem ra đấu tố tôi xin quì nhận hết là xong !”. Nói vậy rồi về. Các chả bàn sao đó, chắc có uốn nắn cho đội phát động ở xã, về sau tụi nó chỉ kêu ba ra trụ sở, cấm không cho thu tô hơn mức hăm lăm phần trăm, bắt xóa hết nợ lưu niên. Bấy nhiêu thôi ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 02:38:39 pm Khánh thốt luôn câu hỏi nằm trên đầu lưỡi:
- Họ nhân nhượng vậy, sao ba đi ? - Ở lại mà bị bao vây như quản thúc, chẳng làm được gì, biến là phải. Câu hỏi tiếp của Khánh tự nó bật ra: - Ba làm gì ? - Chuyện hơi dài... thôi để cháu Suyền kế sau. Ba với ba nó một dạo thân thiết lắm. Suyền nó nói con chưa đi nó cũng ở lại, trò phải theo thầy tới đâu thì tới (Khánh nghĩ nhanh: nhện chưa xực hết con ruồi, đời nào nhả !)... Ba đi, để khó khăn lại cho con đó. Tụi nó không bắt bớ hay cách chức con ồn ào đâu, sợ rút dây động rừng, số trí thức về trùm chăn hết. Chỉ có chỉnh huấn dài ngày, truy liên quan, phản tỉnh, tập thể xúm vô xây dựng. Sau đó đẩy nhẹ qua chỗ vô quyền, hằng ngày ngồi dịch một chồng tài liệu tiếng Pháp Anh thu của địch để các vị lãnh đạo đọc tham khảo, hay là mở đài chép tin đọc chậm... Con cứ làm. Tới khi thiệt ngán rồi thì Bảy Suyền nó lo liệu. Anh em bên kia vẫn quý con lắm đó... Chà, ngồi miết mỏi chân, uống nước rồi ta ra ngoài một lát đi con. Chị Huyền Tâm không hề mở miệng, rót trà Long Tỉnh pha trong hộp sữa bột Chi-gô ra mấy cái chén sứ. Khánh nhận ra bộ chén đời Minh rất đắt tiền được phủ Đỉnh xếp vào gia bảo. Một viên công sứ đã vật nài xin đổi ngang trọng lượng vàng tây, không được, phải ngang vàng diệp kia. Phù Đỉnh khoác trùm lên người và tay nải một cái ba-đờ-xuy sờn rách quấn khăn quàng trùm tai, bước ra ngoài. Mưa đã dứt, gió dịu, tiếng sóng bớt hung hãn. Khánh choàng áo mưa chiến lợi phẩm, bước theo. Lão sắp nói riêng gì đây ? Đừng hòng moi lấy một chút bí mật hay một lời hứa hẹn nào nhé. Tôi để ông đi thoát thân là may rồi, chớ có vòi vĩnh ! Men theo rìa rừng phi lao, họ đi qua một bóng đứng gác trong tối, đi xa thêm vài chục bước nữa, dừng dưới bóng cây. Một bàn tay mập run run nắm ngửa tay Khánh. Bàn tay kia nhét vào đấy một gói nhỏ và nặng, uốn các ngón tay cụp lại. - Ba tích cóp nhiều năm, gần đây cố vớt vát thêm, con cầm năm lượng mà tiêu. Vàng diệp hay hột xoàn khó bán, ba đưa toàn thứ khâu vàng cửu một hai chỉ... Khánh giật mình, ấn trả gói vàng vào tay phủ Đỉnh. Không kịp. Phủ Đỉnh nói nghèn nghẹn: - Ba biết lắm, xưa con đã ghét ba, về sau con vừa khinh vừa gờm, nhứt là từ khi con... con thân với Mỹ Duyên, ba với con thành tình địch. Mới đầu ba giận hết sức, lần hồi ba nguôi, lại cứ thương con. Ba già rồi, say mê chốc lát vung tiền ra bao Mỹ Duyên. Ít lâu cũng chán. Con với Duyên còn trẻ, sống được với nhau cả đời, ba đâu nỡ phá đám. Ăn ở không giá thú, chia lìa khỏi cần giấy tò, phần ba khỏe ru. Chỉ muốn phần con thu xếp sao khéo khéo, tránh được tiếng đồn thế gian, ở với nhau nơi nào thiên hạ ít quen như Sài Gòn, Đà Lạt, Hải Phòng, cần tiền ba chu cấp thêm. Muốn vậy mà ba chẳng nói ra được. Dù sao ba cũng còn cái sĩ diện của ông quan, của người cha dượng... Với lại, ba nói thiệt, nói hết... về già không con, ba khao khát có con lắm, ba thèm được một đứa như con lắm. Mỹ Duyên hay ác khẩu, nói ba vãi tiền ra mua Khánh, ba lợi dụng Khánh. Bậy. Muốn dùng con như người tâm phúc thì có, lợi dụng thì không. Ba chết đi, để gia tài cho ai ? Cho mẹ con bà cả riết róng, chịu nhịn đói làm giàu ? Cho me con là người lạnh lùng với ba ? cho Mỹ Duyên để ăn chơi phá tán ? Mỗi lần xuống sức ba lại làm di chúc, dành của nổi cho các bà vợ, dành tất cả ruộng đất nhà cửa trâu bò cho con. Sau mỗi làn gặp con ba lại thất vọng, lại xé, lại rầu. Con tin ba hay không tùy bụng, lần này xa nhau chưa biết còn gặp lại hay là vĩnh biệt, ba mới bộc bạch cho con thông tỏ ngọn ngành. Con coi phủ Đỉnh là đứa lắm thủ đoạn, đúng, vậy chớ nó còn nghĩ tới tình cha con, tình đời ấm lạnh ! Cơn mê quái gở dẫn Khánh đi tiếp. Những tiếng ám hiệu gõ cộc cộc bằng bơi chèo. Tiếng chào kèm tiếng thở dài muôn thuở của chị Huyền Tâm bạc phận. Vòng tay ôm ghì đột ngột của phủ Đỉnh chung quanh vai anh. Đôi bầu to kĩu kịt nhấc đặt lên xuồng. Mây đen dãn ra cho sao hiện rậm nhấp nháy. Xuồng nhỏ vào sát chân sóng, chuyển người và đồ đạc ra chiếc thuyền to có cột buồm đậu mé ngoài. Vòng ra biển chỉ một tiếng là xong, thắp đèn hiệu cho tàu tuần của Pháp khỏi bắn lầm, dựng buồm hay chèo tay tùy gió, thong dong vào cửa Đại, sáng mai lên bến ăn cao lâu Hội An trả tiền Đông, mua hay mượn đồ thay đi dạo phố, đợi giờ vào trình diện ở nơi đón tiếp hồi cư... - Về được rồi, anh Hai ! Tiếng Bảy Suyền đánh thức Khánh dậy. Anh thấy mình đứng gần chân sóng, thủy triều lên đã thè lưỡi đến gấu quần. Túi ngực Khánh nặng lệch một bên với gói vàng năm lượng. Me gửi vàng, Mỹ Duyên gửi vàng, nay phủ Đỉnh cũng ấn vàng vào tay, những chiếc nhẫn dễ bán tiêu nhất không ai nghi ngờ... Thì đã sao ? Đã sao ? Thiếu gì cán bộ đọc bản phản tỉnh đã thông đồng với quản lý ăn xén từng chút gạo chút mắm của đơn vị để sắm ka-ki ngoại, mua đồng hồ Vi-le hay Mô-va-đo, thậm chí ăn bớt cả tiền hòm của tử sĩ, cho bó chiếu đem chôn, để dồn mua xe đạp Xtéc-linh ? Thiếu gì đứa sấn vào xin làm con nuôi nhà đại địa chủ, cưới vợ trùm buôn lậu, bị lật tẩy thì nhảy theo địch ? Mình dại ở chỗ quá thật thà, quá lí tưởng hóa con người cách mạng, quá nghiêm khắc với bản thân, buộc thằng Khánh phải tự lột xác như ve sầu lột vỏ mà chẳng cần biết đến mưa to gió lớn bên ngoài. Mình chẳng chừa một khoảng lề để xoay ngang tạt ngửa... Khánh ngồi trên chỗ đèo hàng cho Bảy Suyền đạp hổn hển, chìm vào suy nghĩ miên man, cả khi phải bước xuống leo dốc. Anh mặc nguyên áo ướt vấy bùn lăn ra giường, lịm đi trong giấc chiêm bao kéo dài đã nhiều giờ, mặc cho Lệ Châu loay hoay cởi dép, xếp gọn chân tay, buông màn, ghé nằm bên cạnh. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 02:46:25 pm Chương XVIII Chín Khiết qua lại hỏi Cả Chanh: - Mấy giờ rồi mà coi trưa trật vầy ta ? Chanh cẩn thận xem lại kim giây, thấy nó nhích đều mới đáp: - Tám giờ mười bảy. - Gay go rồi. Dự kiến quân nó chín giờ qua cầu. Mình trễ là đánh hụt hay vuốt chút đuôi, làm trò cười cho bạn Lào... Truyền lên: “Các đại cho chạy thường, nới rộng cự li - Khiết”. “Bổn đâu ? Bổn ! Chạy luồn lên đầu nhắc đúng lệnh, nói thêm là phải bôn tập, trễ giờ rồi. Chú liên lạc, học sinh Việt kiều từ Pạc-xê ra vùng ta năm ngoái, vội cởi tấm choàng nhựa cài vào nịt, lánh qua lại trên đường rừng chật, vọt lên phía trước. Khiết lắc đầu: - Số tân binh mới lên chỉ được học hai tháng, lơ ngơ lắm, mình cho truyền lệnh thử vài lần sai bét, gà không hóa quốc mà hóa ra voi ! Chanh sực nhớ: - Đồng hồ bảnh đâu mà ông hỏi giờ ? - Tông vô đá bể nát hôm kia. Tiếc cái Pranh-ta-ni-a mới tinh hảo, hăm mốt ruy-bi, chạy đúng từng giây... - Chà, chỉ huy không có đồng hồ thì đánh chác sao. Ông đeo tạm cái Tăng-cô của tôi, thứ rẻ rề, may mua trúng cái dùng được. Kiếm được cái tích tắc chiến lợi phẩm nào khá khá, tụi tôi làm lễ trao tặng ông cho oai. - Ừ, hễ vô hòm rồi thì bỏ theo nghe ! Khiết cười, cài vội cái đồng hồ loại bán từng cân vào tay, trong khi hàng quân trước mặt anh bắt đầu rùng rùng chạy. Sau trận tập kích Na Khảm diệt hai trung đội Cọp Rừng, tiểu đoàn 75 được Ủy ban Kháng chiến Lào khao hai con trâu béo như sim, chiều qua xẻ thịt cả cặp làm lương khô và liên hoan ra quân trận mới. Trời mưa dầm, cấp dưỡng xài hết sạch số củi sấy khô trong các lán, mệt ngủ vùi, hai giờ sáng dậy nấu cơm nắm và nước uống bằng củi ướt ngoài rừng, vừa quạt vừa ho sặc. Cán bộ giục mãi chỉ nghe đáp giữ nhịp: báo cáo sắp xong, chút xíu nữa, xong đây... cứ thế hàng giờ. Chín Khiết lâu nay bớt máu Trương Phi nhiều, nhưng vẫn rất khắc nghiệt khi bước vào chiến đấu, anh em hay đùa là “ở nhà nàng dâu, ra trận mẹ chồng”. Lính rất thích người chỉ huy như thế. Một chút ẩu hay lười khi chuẩn bị có thể hại hàng loạt mạng sống khi giao chiến. Lần này cũng vậy, dù lo trễ, anh cũng nhất quyết không cho xuất quân thiếu cơm nước. Phục kích đánh đoàn xe quân sự, tiểu đoàn ra đến đường 13 có thể nổ súng ngay, cũng có thể phải nằm đợi suốt ngày dưới những đợt mưa nắng mươi phút một lần thay đổi. Bộ đội quen chịu đói khát là nết quí của bộ đội, chỉ huy để bộ đội đói khát là chỉ huy có tội. Vả lại sức người có hạn, khi địch dẫn xác đến thì quân ta đã tê bại cả người, xung phong run đầu gối, thét tiếng “sát” hụt hơi, đuổi theo địch cứ ngã lăn ra sùi bọt mép như động kinh... Sùng sục như cọp đói trong chuồng, Chín Khiết sải cặp chân dài rảo qua các bếp, vung súng ngắn đánh thức mấy cậu quản lý gật gà, hò hét quát tháo, xẻ thử những nắm cơm đang bốc khói và phát hiện ra cơm sống, cố ghìm quả đấm chực vung lên, nói gằn: - Sau hai mươi phút tôi sẽ xẻ cơm coi lại. Hễ còn cơm sống... Thông cảm hả ? Thông cảm với đứa tính đầu độc anh em ? Chín Khiết đã mệt và khản giọng khi các đại đội nhận đủ mỗi người hai nắm cơm thật chín, riêng khoản nước rót ống tre thì đành dựa vào suối khe. Còn may chiến sĩ đã được mỗi người hai viên thuốc tím từ liên khu gửi lên để tự rửa vết thương nhẹ, có thể cạo vào nước lã để uống. Cả Chanh cũng tất tưởi đi thu xếp cơm nước, ngượng chín cả người. Đêm mưa anh thức khuya duyệt các đơn xin vào Đảng, phần cơm áo gạo tiền đã giao rành mạch cho tiểu đoàn phó và các đại đội phó, nhưng dù sao anh cũng tạm kiêm chính trị viên D.75 khi trên chưa kịp cử người về hay đề bạt từ dưới lên. Đáng lẽ cán bộ chỉ huy phải được dồn óc lo phần tác chiến... Anh đã vào Thường vụ Ban cán sự khu, nhưng được ở lại mặt trận Tây-Nam chỉ vì chưa có ai đủ sức thay anh tại đấy. Anh không phải về làm trưởng Ban chính trị khu nhu chính ủy Hai Thỉnh rất muốn và Đảng bộ Tây-Nam rất không muốn. Trong năm qua, quân tình nguyện Tây-Nam có những biến đổi thầm lặng. Lần đầu, các chiến sĩ thấy chính trị viên và cả cán bộ dân chính đến học chung lớp với tân binh, hò hét đâm lê vào bù nhìn rơm, rón tay tập gài mìn. Cũng lần đàu, cán bộ quân sự chong đuốc cà-boong học tiếng và chữ Lào, tập viết nắn nót: “Thửng Kh-ná câm-ma-can Tò tạn Khoẻng Châm-pa-xắc thì nặp thử xạp” 1. Số cán bộ khu thường lui tới vùng này kinh ngạc khi nghe anh Chín Khiết, người nổi tiếng hay kình với chính trị viên, nói tự nhiên: “Ta bàn vậy đủ rồi, tôi sẽ xin ý kiến anh Chanh trước khi quyết định”. Cả Chanh cười cười khi họ đến: “Rửa ráy ăn cơm cái đã, lát anh Khiết về ta họp”. Các đồng chí Lào, vốn biết khá rõ chuyện nội bộ của anh em Việt nhưng giữ ý không để lộ, nay khỏi phân vân hỏi nhau: “Việc này nên bàn với ai nhỉ ?”. Với ai cũng được. Một chất kết dính nào đó trong suốt khó thấy cứ lan mãi trên vùng ruộng lầy chen rừng bằng ở tận cùng phía nam nước Lào, giáp Miên và Thái. Nó từ đâu đến ? Từ những sửa chữa chính sách, từ những chiến thắng hào hùng khắp Đông Dương, từ hàng loạt tin vui hậu phương liên khu Năm gửi lên ? Hay như Chín Khiết và một số cán bộ nữa muốn qui công cho đồng chí bí thư Phan Chanh ? Thật khó tách rời phần ai đóng góp nhiều ít, thôi coi như công chung là gọn nhất. ----------------------------------------------------------------------- 1. Kính gửi Ủy ban Kháng chiến tỉnh Châm-pa-xắc Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 02:50:12 pm Bước vào năm 1954, phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, cả miền giữa này của Đông Dương rung chuyển trong cơn động đất chưa từng thấy từ đầu kháng chiến, có lẽ từ khi vượn biến thành người nữa kia. Các trung đoàn chủ lực cũ và mới của liên khu Năm đánh thông thốc lên Bắc Tây Nguyên. Ta dựa rừng núi thì địch dựa biển: địch trút hàng vạn quân vào Phú Yên, Bình Định, đâm giáo vào lưng ta buộc phải quay mặt lại. Nhưng các mũi Tây Nguyên vẫn băm nát đồn to bốt nhỏ, trong khi chiến dịch Át-lăng của Pháp - Mỹ sa vào trận đồ bát quái của bộ đội địa phương và du kích.
Sư đoàn chủ lực 325 từ liên khu Bốn ào ào vượt biên giới đánh sang Trung Lào, quét địch đến tận sông Nặm Khoỏng, đánh tiếp xuống phía Nam. Khu Hạ Lào - Đông Bắc Miên hối hả gom quân phối hợp, chủ lực rất cần những chiến sĩ quen đất quen người khi đến một chiến trường hoàn toàn mới lạ. Thắng, thắng to, thắng như trẻ tre, nhưng cũng gặp chỗ tre có nhánh cưỡng lại bất ngờ, cứa tay, tóe máu. Dứt thì băng, rút kinh nghiệm, nậy cho bật khỏi mắt, lại chẻ tre tiếp ! Rồi đặc công của liên khu Năm cũng sang thêm với đầu trọc và ba-lô cồm cộm những thủ pháo nhiều cỡ, lẳng lặng nhận đánh cái đồn nào xây bê-tông dày nhất, đặt nhiều đại bác lớn nhất, chong đèn điện sáng nhất. Họ lại ngại đánh những đơn vị đóng dã chiến vội vã, lính nằm lộn xộn trong những hầm hố mạnh ai nấy đào, thắp rải vô tội vạ những đèn dầu xem giờ đổi gác. Bàn kế hoạch với các đơn vị khác, họ chỉ hỏi: “Thích đánh bỏ hay đánh lấy ?”. Nếu đánh bỏ, họ diệt đồn xong sẽ biến mất, cấp trên muốn đánh lấy thì cho quân bộ và dân công phối thuộc, đánh xong họ sẽ bắn pháo hiệu cho vào thu chiến lợi phẩm, tất nhiên là vào đằng cổng chính. Ngon trớn theo chiến dịch được vài tháng, khu bỗng ra lệnh rút đại đội tập trung duy nhất của mình về, cùng tất cả số cán bộ chiến sĩ trước đây thuộc hai đại đội mạnh đã phân tán sau khi lên Lào, số này chỉ còn hơn một trăm sau nhiều năm đánh giặc không bổ sung. Tân binh từ liên khu Năm lên được ráp vào khung, tiểu đoàn 75 ra đời. Định ghép phiên hiệu ba đại đội cũ lại để giữ truyền thống, nhưng số ghép quá dài, đành đem cộng lại thành số 75, được trên duyệt. Chín Khiết làm tiểu đoàn trưởng, đề bạt được tiểu đoàn phó và chính trị phó, khuyết chính trị viên. Vì địa bàn hoạt động chính của D.75 là Tây-Nam, Cả Chanh được giao tạm kiêm chính trị viên. Ban tham mưu khu, vẫn mang cái tên khiêm tốn là Ban nghiên cứu quân sự, thúc D.75 ra trận gấp. Ban chỉ huy tiểu đoàn dằng co xin hai tháng xây dựng, luyện quân. Anh chỉ huy phó khu giục mãi không được, tốc về Tây - Nam xem “chúng nó ỳ ạch đến bao giờ”. Anh sa luôn vào một tổ ong ngày đêm không ngớt việc. Thành lập Đảng bộ các cấp, học quan hệ Lào-Việt và các chính sách, sắp xếp bộ máy cho đến tổ trưởng tổ ba người, tất cả dồn về đêm. Ban ngày lo tập, tập và tập. Là cán bộ từ liên khu mới lên, anh sửng sốt trước kiểu luyện quân đánh đường rừng của Chín Khiết. Cũng quả lựu đạn ấy, ở rừng không thể ném theo đường cầu vồng, nó trúng cành cây bật lại sẽ giết người ném, phải tập kiểu lẳng ngang giữa các góc cây. Cái xẻng đào hố và cặp vòng ngụy trang, những chữ thọ của lính đồng bằng, không cần bằng kỹ thuật định hướng cho khỏi lạc rừng, dùng dao mở đường, cách tận dụng các ụ mối và gốc cây trong chiến đấu. Kiếm ăn trong rừng cũng phải học kỹ... Anh chỉ huy phó bám theo một đại đội tập chiến thuật. Ta với địch luồn rừng đụng nhau là thường. Lúc ấy địch bắn như điên, còn quân ta dạt ra hai bên đường mòn, tự tìm chỗ núp. Sai ở đó. Địch theo đường mòn đi tới, sa vào hai làn đạn của ta xả từ hai bên, sẽ nằm bẹp bắn trả. Bị cây lá che khuất, quân ta có thể quét đạn vào nhau. Khiết cho tập lại: khi tao ngộ chỉ nép ngay mép đường, nhìn rõ chỉ huy, tùy lệnh tay hay lệnh miệng mà cùng dạt về một bên, lại phải trông thấy nhau để bám đuôi vận động tiến lùi, vòng đánh bọc sườn hay chặn đuôi cánh quân địch... Trang bị nữa. Liên khu gửi áo quần xi-ta loại tốt lên, bị dầm mưa dãi nắng dọc đường quá lâu hóa bở như giấy ướt, có kiện áo quần rơi trúng gốc cây phạt nhọn bị xuyên suốt từ dưới lên trên như giáo đâm cật lực. Đành có gì mặc nấy, chỉ nhuộm lại. Bỏ đi những cái mũ ngụy rộng vành có khuy bấm một hên tránh vướng nòng súng. Đội thứ này trong rừng rất dễ bắn lầm nhau, phải thay đồng loạt bằng mũ nan bọc vải xám, thường có lớp nhựa lót trong. Súng đạn vẫn là nỗi thèm khát kinh niên của bộ đội. Nói đủ súng cũng được thôi, mà bảo hỏa lạc rất yếu chẳng phải là ngoa. Non nửa số súng góp nhóp được là súng bảo tàng. Mút-cơ-tông và Anh-đô-si-noa, cả Lơ-ben nữa, đã qua hàng chục lần sửa mà kim hỏa không đủ sức in vết vào hột nổ đạn ĐAM. Trường Nhật hỏng ít hơn nhưng mỗi cây còn bốn năm viên đạn, ước nổ được một nửa. Rồi súng Nga hoàng dài thòng, súng thất cửu và trường Đức đều rỗng bụng, trường Anh đầu bằng hay đầu nhọn đã nhường đạn cho trung liên Bren và tự nguyện chui vào kho mật. Lấy súng địch đánh địch là lẽ đương nhiên, nhưng chỉ có thể lấy được súng đạn kiểu mới của Mỹ và Pháp. Lọc đi lọc lại, được trường Mỹ từng phát của đại chiến Một và Ga-ran nửa tự động của đại chiến Hai, chung loại đạn với trung liên Brao-ning, xếp hạng quí nhất. Tiếp tới trường Mát 36 và trung liên 24 - 29 cùng loại đạn mới của Pháp, địch đang dùng lẫn với đồ Mỹ. Tiểu liên Xten quá xộc xệch nhường đạn chín ly cho số Tuyn mới lấy. Tom-xơn, Các-bin, PM, Max, kiếm đâu xài đấy tùy vận may... Anh chỉ huy phó thấy rõ chiến sĩ ôm cây súng dùi cui gọi là có, loay hoay chắp thêm cho nó một mũi gì đâm được - con dao tông thay lưỡi lê của bộ đội Việt Bắc đã được truyền tới đây - thấy mỗi lúc một thêm động lòng. Anh về khu với nhiều ý định mới. Tiểu đoàn 75 được phép xây dựng và luyện tập đủ hai tháng. Không hẹn trước, trên khu bỗng gọi cho nhận hơn một trăm súng Mỹ và Pháp, mỗi cây hai cơ số đạn tức 60 viên, cùng nhiều thứ khác lấy của địch. Cấp thêm cho đủ mỗi đại hai súng cối 60 ly, mỗi cây ba chục đạn. Cả tiểu đoàn nở mày nở mặt, chuyển vội những súng đói cho du kích: họ bắn vài phát lại rút vào rừng, tự nhồi lại đạn đánh tiếp, sẵn sàng nhận tất cả các loại súng thải ra. Trận đầu chỉ cò con, “đánh cho tân binh ngửi thuốc nổ”, diệt một trung đội Koong Pạp đi tuần. Trận nhì tập kích Na Khảm được thưởng hai trâu. Đến trận này mới thực sự đánh to, diệt một đại đội Âu-Phi cưỡi ô-tô, có ít nhất hai thiết giáp mở đầu bịt đuôi. Nếu nó hỏng chỉ vì củi ướt cơm trễ... Chín Khiết nghiến răng chạy lách lên. Cả Chanh chưa hết xấu hổ, đi sau đại đội Một. Ức thật. Sai một ly đi một dặm ! Hàng quân đằng trước chạy chậm dần lại, rồi đi thường. Lệnh mới truyền từ trên xuống: “Dồn cự ly, nghỉ mười phút - Khiết”. Trời đã ngớt mưa nhưng nền mây xám vẫn dăng thấp và dày đặc, càng đỡ tàu bay. Từng người tìm chỗ ráo ngồi thở, uống nước tre, các vệ sinh viên tiểu đội cầm ca nhôm đi rót thử và khủng bố những cậu ngại pha thuốc tím. Vài chàng háu đói mở miệng túi cơm, ngoạm vào nắm cơm nếp dẻo, vùng này không có gạo tẻ. Khói thuốc lá tỏa trắng mờ, bay mùi khét của thứ thuốc trộn đến một nửa lá rù rì khô hay thứ lá rừng khác. Chanh len lên đầu, chợt nghe tiếng chặt cây nổi lên chan chát, dồn dập ngay bên đường mòn. Trên một thân cây ghim sẵn mảnh giấy ướt nhoẹt viết bút bi độc một chữ PHẪU, lúc này có thêm tấm vải trắng căng đứng, khâu chữ thập đỏ. Quân y đã cố ý treo sớm cho bộ đội đi qua thấy rõ và nhớ chỗ, khiêng thương về không phải hỏi đường. Lúc này anh em đang chặt cây làm lán phủ lá chuối, làm những sạp mổ cao ngang ngực. Tù đây ra đường 13 còn hai cây số rừng nữa, vừa đủ để tránh bom pháo và quân bọc sườn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 02:51:42 pm Cô y tá Hoàng Lan từ chỗ rậm chui ra, vác một chồng lớn lá chuối tươi, đi lom khom tránh dây gai xé lá. Nhác thấy Cả Chanh, Lan đặt vội lá và dao xuống một thân cây đổ to bằng thân trâu, chạy đến:
- Sao đó anh ? Nhắm chừng tụi em làm việc nhiều hay ít ? - Đợi anh hỏi lại thằng Tây coi. - Khiếp anh... Chị Thùy có thơ nào mới chưa ? - Cũng đợi, đợi cô có thêm một anh chồng nữa đem thơ lên ! Lan cấu vào vai Chanh, chạy biến. Lên Lào hai năm mà giữ chưa bị sốt rét, tài thật. Lan gầy đi đôi chút nhưng vẫn gọn khỏe, nước da sẫm đi trong mùa nắng đã trở lại trắng hồng sau vài tháng mưa. Tháng trước Lan đột ngột xin phép tổ chức cho đính hôn với cậu Tám Thống, một đại đội phó từ liên khu mới lên. Chanh gặp riêng Lan, căn vặn kỹ, anh tự thấy phải chăm lo cho cô bé mồ côi đã sống nhiều năm bên nhà Thùy trong cảnh tản cư, tới mức hai nhà như một. Thì ra cô cậu quen nhau đã lâu, thư từ cũng lắm, và Thống rất cả ghen. Cô y tá hạng xinh giữa vòng vây của vô số chàng chưa vợ, ắt được hàng chục anh tán tỉnh cùng một lần. Thống cậy cục xin lên Lào, thú thật với Lan rằng cố đuổi theo người yêu, chứ đánh giặc nơi nào cũng là đánh. Cậu nằng nặc đòi cưới ngay. Lan luống cuống, đang ở địch hậu xa tít mù mà lỡ có thai thì khốn. Đành thỏa hiệp tạm: xin đính hôn công khai để Thống đỡ lo, đỡ ghen, mà Lan cũng đỡ phải trả lời những chục lá thư tỏ tình mỗi tháng. Các chàng kia thở dài ngả sang bóng hồng khác, bắt đầu gọi Lan bằng chị. Chanh cười xòa, thấy cũng phải, tuy ở chốn ba quân chẳng ai dạm vợ theo kiểu cổ lỗ ấy. Khi biết Tám Thống sắp lên Lào, Lan viết thư bảo cậu phải ghé ngang qua Linh Lâm gặp chị Hai Thùy hỏi tin, lấy thư và quà cho anh Chanh. Cậu đại đội phó si tình đi hỏa tốc vượt lên trước đoàn, ở lại nhà chị Thùy hai ngày, nhận đưa lên cho Chanh chừng ba cân quà tuy đường xa và ba-lô đã rất nặng, chưa kể một thứ vũ khí nào đó bắt buộc phải chuyển đến chiến trường. Lệnh của Hoàng Lan thiêng thế ! Cán bộ các đại đội đi sau được gọi lên họp, trong khi bộ đội xốc súng đi tiếp. Chín Khiết không truyền lệnh giục. Anh đợi cán bộ tới đủ mới bảo nhóm trinh sát đón quân: - Các cậu nhắc lại tình hình đi. Tiểu đội trưởng trinh sát nói gọn và rõ: - Báo cáo, đến tám rưỡi tụi Âu-Phi vẫn dồn trong đồn Thông Vải, chưa nhúc nhích. Cụm ô-tô với thiết giáp không nổ máy thử, nằm xếp hàng trên sân. Lính cắm lều vải trên sân bay dã chiến chưa thấy nhổ lều. Chỗ đài quan sát ngó thấy rõ... A, hồi nãy em quên chưa nói. Chiều qua có chuyện kỳ lắm. Quân Âu-Phi tới đồn hồi bốn giờ, xếp xe, cắm trại, nấu ăn. Chừng năm giờ, tụ dưng tụi nó chạy ùa ra chỗ trống, chĩa súng bắn lên trời ào ào... - Lên trời ? Chắc không ? - Dạ chắc chớ. Băng nào cũng lắp xen đạn lửa. Hồi đó tạnh mưa, trời còn sáng. Đèn dù, pháo hiệu xanh đỏ bắn lung tung. Ngụy Lào trong các lô-cốt ra sân bắn bổng. Cối 60 với 81 bắn đạn đến, đạn khói, đạn nổ, nhắm vô gò hoang thôi... thiệt khó hiểu... Đợt bắn ấy, cả tiểu đoàn cùng nghe khi sắp ngồi vào các mâm thịt trâu, ở chỗ bàn đạp. Tiếng súng nhỏ chìm trong tiếng mưa và suối, nhưng đạn cối vẳng đến khá rõ. Lệ thường vẫn thế: chúng bủa lưới phòng hờ chung quanh đồn để quân mới đến có thì giờ thu xếp ăn ngủ và phòng ngự ban đêm. Càng chắc là sáng mai có địch mà đánh, tránh được cái nạn nằm suông về không. Chín Khiết đứng lặng, gãi cằm. Khuôn mặt mai mái xám xanh của anh sắt lại, như thêm dài và xương, mí mắt trũng thành bọc hơi giật giật. Anh hỏi bâng quơ: - Đoán ra chuyện gì chưa ? Thêm nửa phút im lặng. Anh “hừ” một tiếng trong mũi: - Thôi được. Ta làm phương án hai, các cha coi được không. Tôi nhắc lại: cho anh em ra chỗ phục, dọn đường tiến đường lui cho khéo, xong lùi về sau chừng hai trăm thước, cho ăn cơm, nghỉ, đợi. Mỗi đại cho đến chỗ điện thoại đây hai giao liên để sẵn sàng nhận lệnh xuất kích. Ai ý kiến ? Chỉ vài cán bộ hỏi thêm chi tiết. Kế hoạch đã bàn nát nước khi cùng đi xem thực địa, khi lên sa bàn, thông cả rồi. Sở chỉ huy tiểu đoàn đặt cách đường độ ba trăm thước, cạnh một gốc cây rất to có hốc bằng cái hang, thêm mấy tảng đá lớn có thể che mảnh bom pháo. Một đường dây điện thoại chạy từ hốc cây ra phía đường, leo lên đài quan sát. Đài này đặt trong tán một cây cao và rậm, mọc trên gò nên không nhô lên thành mục tiêu dễ chú ý. Trinh sát đã buộc một cái giàn đủ cho ba bốn người ngồi chen trong lá, trên nhìn xuống hay dưới trông lên đều không thấy. Họ thay nhau trực trên ấy trong hai tuần qua để nắm quy luật của bọn tuần đường, gác cầu, giữa đồn Thông Vải, đổi gác bằng thang dây thả xong rút lên ngay. Chín Khiết và Cả Chanh đã lên đấy dùng ống dòm xem khắp một vùng rộng dọc đường 13, con đường cổ họng của nước Lào. Khiết vào hốc cây, quay máy hỏi tin mới. Đài quan sát vẫn báo địch không có vẻ gì muốn nhúc nhích. Anh em tiểu đoàn bộ đã căng những tấm tăng nhựa ba thước làm lều trú mưa, không buộc võng, chỉ bẻ lá lót ngồi ăn cơm, cái phạ phe buộc thành tay nải dẹt vẫn thắt trên nịt đạn úp sau lưng. Họ quệt từng mẩu cơm nếp vào chèo pa tầu 1 dẻo màu nâu đen từ trong ống lương khô lấy ra nắp tre. Cả Chanh không giấu được thích thú khi nhìn thấy anh em nằm ngồi dưới tăng nhựa. Tiểu đoàn ra đời trong mùa khô, bộ đội chỉ có tấm choàng che mưa từ nơi phân tán đem về. Tất nhiên liên khu và khu không có ni-lông để phát. Chanh lo xa, cho người đánh voi chở cá khô lên Bô-lô-ven đổi cà-phê hạt và thuốc lá thái sẵn, thổ sản của vùng cao nguyên đất đỏ, về bán tại vùng tranh chấp, mua thật nhiều súc ni-lông đang hạ giá. Ai xin cha mẹ nuôi Lào được, cứ xin. Khi mưa tuôn xuống, mùa mưa dài nửa năm trên đất Lào, cả tiểu đoàn đã có đủ võng và tăng để khỏi nằm đất dưới mưa như một số đơn vị kém lo khác, chỉ lo gom quân mà quên những khó khăn riêng của bộ đội tập trung. ---------------------------------------------------------------------- 1. Thức chấm làm bằng cá ống. Pa tầu: cá nhỏ hấp, nén vào ống tre to để dự trữ. Khi dùng đem nướng và quết dẻo với muối, ớt, sả.v.v... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Mười, 2016, 02:59:02 pm Khiết gọi Chanh đến dưới một lều:
- Ăn quách cho xong, lỡ có binh tình gì mới. Muốn chửi cha thằng Tây mà nó ở xa quá. Một cậu liên lạc trải hai tàu lá chuối trước mặt họ, đặt lên đấy ống lương khô thịt trâu, một nắm lá chua me và đọt vừng chát hái dọc đường: - Anh Trượng với anh Giản có ống khác rồi, các ảnh ra coi chỗ phục. Đang cởi túi cơm nắm của mình ra, chợt Chanh thấy tiểu đội giao liên ăn cơm với pa tàu như mọi hôm. Anh hỏi sang mâm kia: - Hà tiện dữ ta, thịt trâu để dành à ? Anh em liếc nhau ngượng nghịu. Cậu Xào nổi tiếng bẻm mép đáp thay: - Dạ, để dành trong bụng là chắc nhứt. - Sao ? Liên hoan bấy nhiêu các cha chưa đã ngán à ? ăn hết thiệt à ? - Tụi em nhận phần về làm lương khô, mỗi đứa bảy lượng. Bàn lui tính tới thấy trâu teo heo nở, lương khô chẳng được bao lăm, thôi sẵn cái thùng thiếc ta hâm luôn thùng cháo... - Ăn no ứ tử, còn thêm cả thùng cháo ? - Khuya tụi em tiêu diệt hai phần ba, sáng nay thêm một mách nữa, xong. Chanh rướn người trao ống lương khô sang cho họ, càu nhàu như mẹ rầy con để cố nín cười: - Ăn đi ăn lại, ăn tái ăn hồi, ăn lủng nồi trôi rế... Nhồi vô đầy diều vậy, lỡ thương thực bỏ chiến đấu thì sao ? - Ngay bây giờ, Ban chỉ huy cho một thùng cháo phụ vô cơm cục, tụi em biểu diễn ăn thi lấy giải hen. - Đó, chia mỗi đứa ít miếng. Đánh xong về, bắn trả tao con nai. - Dạ được chớ, bắn nai cái để cắt mời anh Cả khúc đuôi ! Mọi người nổi cười ầm, lại nín tắp khi Chín Khiết khoát tay chỉ ra phía đường 13. Lính rừng kì cựu biết rõ “đuôi nai cái, dái dộc già” là hai thứ kích thích dữ dội nhất đối với đàn ông độc thân. Chín Khiết nói trầm ngâm như đang tiếp câu chuyện dở dang: - Lệnh mới sửa lệnh cũ là sự thường. Có thể đoàn công-voa lớn đi sau bị kẹt, tụi Âu-Phi dọn đường dừng lại đợi. Mình không đoán được cái kiểu đốt pháo Tết của nó. Hôm qua hăm mốt tháng Bảy, có trúng ngày lễ lộc gì của Tây không hè ? - Không. Ngày quốc khánh của Tây là cát-to giuy-dê, mười bốn tháng Bảy... Ờ, hay là lính nó phản chiến hả ông ? Lính phản chiến, bắn chỉ thiên dọa sĩ quan ? - Trinh sát nói lính im xo, chẳng tỏ vẻ gì lộn xộn. Lại thêm nhiều bếp nổi khói. Thường chỉ có xe bếp lưu động nấu đồ nóng, lính đốt viên cồn hâm đồ hộp trong lều không có khói... Nó trổ cơ mưu gì nữa đây ? - Mấy bữa đi dã chiến không nghe đài. Hay là nó gãy xuơng sống ở Điện Biên Phủ, nó chịu hàng mình ? Dám lắm chớ ! - Trên dặn “đàm cứ đàm, đánh cứ đánh”, nhớ ghim trong ruột rồi. Thua à ? Không dễ bó giáp quy hàng vậy đâu. Bên Triều Tiên, phía ta cả triệu quân Trung -Triều mà chỉ đẩy được nó trở xuống lằn ranh cũ. Bên này Pháp với Mỹ chung lưng đấu cật, quân nó còn trụ khắp Đông Dương, đừng hòng nó chịu hàng ! - Cũng có khi tạm ngừng bắn ít lâu để lo cho thương binh tử sĩ... - Có lý. Mà phải đợi hạ hồi phân giải ! Mải nói chuyện, hai người không để ý anh em giao liên lúi húi làm gì chỗ đầu lều bên kia. Cậu Xảo bưng đến đặt trước mặt họ hai cái ca nhôm Pháp bốc khói: - Có đi có lại mới toại lòng nhau. Mời các anh chén cà-phê cho tỉnh táo. Cà-phê Nét, đường tây, viên xăng đặc, lấy của đế quốc sài lang hết thảy đó... A quên, thằng Vĩ xuất kho một gói bích-quy, mau ! - Có ngay ! Đó là những thứ lính giữ xài riêng, ông chỉ huy nào được mến và tin mới cho hưởng phần. Hễ giở lý thuyết xã luận ra thì lính rút vào bí mật tức khắc, đố ai moi ra. Chín Khiết nhấp cà-phê, nhai bích-quy tự nhiên chẳng đợi mời thêm, như bất cứ một đội viên giao liên nào có quyền được chia gia tài. Anh lao đến máy điện thoại khi chuông reo, lại trở về lều với mặt xịu: - Y nguyên như cũ, mẹ cố tổ nó ! - Hay ta lên chòi quan sát ? - Trượng với Giản dồn cục trên đó nãy giờ. Thôi, mình ngủ gật một lát. Khiết chui hẳn vào hốc cây, vo lá khô lót ngồi, rút cái lưỡi lê các-bin kiểu dao găm đẽo vội những mẩu gỗ nhọn, dựa lưng ngủ bên máy điện thoại. Trận địa tiểu đoàn lúc này hoàn toàn ắng lặng, chỉ còn nghe tiếng lao rao của gió trên lá và những giọt nước đọng rơi lộp hộp từng đợt như vãi sạn. Cả tiếng máy bay rè rè tuần đường, tiếng xe, tiếng súng lẻ gọi phu hay săn bắn của lính đồn đều tắt sạch. Không khí sôi sục lúc gà rừng chưa kịp gáy đều từ từ nhường chỗ cho trạng thái tẻ nhạt của một trận “phục kích chết”, “đợi địch cầu may”, trong đó người lính ngủ lịm bên đầu mối sợi dây giật mìn, đôi khi cả đại đội địch kéo qua như bầy trâu rừng vẫn không thức giấc, bốn năm ngày căng đầu căng mắt đủ cho anh ta tê liệt thần kinh. Cả Chanh cũng buồn ngủ nhưng cố giữ cho tỉnh, ca cà-phê đặc không quen uống cũng giúp anh chong mắt. Anh đi rảo qua một lượt các bộ phận phía sau. Trạm phẫu sẵn sàng. Tải thương đủ võng và băng-ca tre, tùy trường hợp mà dùng. Cấp dưỡng các đại đội chuộc cái lỗi ban sáng, nhân lúc trời mưa mây mù đã hầm những nồi xương trâu với măng ngọt lừ gánh cho bộ đội ăn đỡ háo, cùng những thùng nước gạo rang đậm đen. Khác với những trận lớn bên Việt Nam, ở đây vắng những đoàn dân công tiền tuyến để đưa gạo và đạn đến, chuyển thương binh và chiến lợi phẩm đi. Vùng bưng này đất rộng người thưa, đàn ông khỏe hoặc vào du kích, bộ đội, hoặc bị địch bắt lính cả. Dân công, phụ nữ chỉ có ở vùng các dân tộc thiểu số, chứ phụ nữ Lào lùm 1 rất ít biết cõng hay gánh nặng... - Chăn-thi ! Chăn-thi đấy à ? Đúng rồi ! Người gọi giật Chanh bằng tiếng Lào chính là anh Pheng, đang đi giữa hai đội viên trinh sát về phía sau, vẫn nước da sẫm và cái đầu tóc cắt ca-rê ấy, vóc người cao gầy và hai khúc chân trổ chàm trên dưới đầu gối ấy, chẳng khác chút nào so với hồi anh dẫn Chanh đi gặp các cơ sở bên kia sông Nặm Khoỏng, cũng trong mùa mưa như thế này. - Chan Pheng ! Sang bên này sông, lạ lắm sao mà phải có người dẫn ? - Không phải dẫn. Mình bị bộ đội bắt ! - Bắt ? Anh tỉnh ủy viên Lào cười rất rộng miệng, nói với hai cậu trinh sát: “cho nghỉ tí nhé”. Cả hai cậu đều chưa thạo tiếng Lào, ngớ ra. Chanh cũng cười, nói tiếng Việt: - Giao anh này cho mình. Cán bộ của ta đấy, hoạt động bên kia sông. - Báo cáo, ông ấy đi một mình trong rừng, vấp đường dây điện thoại, theo dây đi mãi, chúng em nghi lắm... - Theo dây đi tìm ta là phải, các cậu bắt cũng phải, cho một đều ! Anh Pheng đặt cái gùi mây trên lưng xuống đất, rút ra cái thẫu thủy tinh nắp nhựa, mở nắp, dí tận mũi Chanh bắt ngửi một thứ mắm gì đó thơm nồng, làm bằng những hạt nhỏ màu hồng: - Vợ mình muối được vò trứng cá pa bức ngon tuyệt, bắt mình phải đem cho bạn Chăn-thi một bình, đưa tay chứ không được gửi... Mình qua sông gấp vì thằng trưởng đồn Thôông Vải gửi thư cho It-xa-la xin nộp đồn về hàng ta, vợ nó ở làng Don Khảm quen con cháu mình. Nó xin hàng mà mình cứ đánh, tội nó lắm, mình cũng tốn máu thêm. Cơ sở mật chèo xuồng đưa mình qua khi mờ sáng, mình bắt về ngay kẻo lộ, đợi sáng mình mới băng rừng, trúng chỗ anh em phục, mình nói bạn của Chăn-thi lãnh đạo mặt trận Tây -Nam, chẳng ai biết Chăn-thi cả, mình nói cứ giải về sau chắc gặp... Hay lắm, khỏi phải tìm lâu ! Chanh bị cuốn theo tiếng cười của đồng chí Lào vui tính. Hỏi nhau vài câu nữa, anh dẫn anh Pheng đến sở chỉ huy. Trượng và Giản đã về đấy, mặt đăm chiêu. Khiết nói độp luôn: - Bọn Âu-Phi lên xe nổ máy. Mình đưa lệnh bộ đội ra vị trí phục kích. Quái quỉ thiệt, tụi nó quay xe trở xuống phía nam, hướng Mường Khổổng ! Chẳng ai hiểu gì nữa ! - Anh Pheng đây, tỉnh ủy viên Lào, mới cho biết thằng đồn trưởng Thôông Vải gởi thơ xin nộp đồn theo ta. Hay là vì chuyện đó ? Khiết lơ đãng chào Pheng, bóp trán nghĩ, lắc đầu: - Muốn hàng ta, càng phải kín tiếng cho tụi cơ động không nghi. Hễ lộ, quân Âu-Phi đủ sức bắt giam trưởng đồn, tước súng lính ngụy liền, lèo tèo hai trung chớ mấy. Đây đồn yên tĩnh, cả lũ bắn chơi như pháo Tết, nấu ăn thêm lu bù, bây giờ trở đầu xe chạy ngược là sao ? Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định đợi thêm hai tiếng nữa phòng địch làm động tác giả lừa ta, sau đó sẽ rút quân về bàn đạp. Lệnh chưa kịp truyền bỗng một tốp lố nhố đi xộc tới, hối hả gọi anh Chanh anh Khiết. Dẫn đầu là đồng chí thường vụ liên chi ủy, được giao trực tại cơ quan. Mấy cán bộ mặt trận nữa, mồ hôi ướt áo bên dưới tấm choàng che mưa, thở hồng hộc. Chanh đón thư, xé bì, đọc lướt qua tờ chỉ thị từ khu ủy gửi xuống đóng dấu hỏa tốc, chợt thấy chóng mặt và hoa mắt. Tờ giây sang tay Khiết. Anh chỉ xem mà không đọc thành tiếng, lại trao cho hai đồng chí cấp phó, sau đó ngồi dựa ngửa, nhắm mắt. Đó là lệnh ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương, theo hiệp định Giơ-ne-vơ mới được ký kết. Văn bản chính thức sẽ gửi sau. Tờ giấy ngấm ẩm mồ hôi được chuyền tay gượng nhẹ, cố giữ cho khỏi rách. Nó rất dễ rách. ------------------------------------------------------------------------ 1. Người Lào ở thấp, tức dân tộc đa số Lào. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 03:48:43 pm * * * Trung đội bộc phá giá thiết của Sáu Cam, cõng nặng bánh khảo và khiêng cầu vác thang lích kích, dừng nghỉ trong khu rừng thưa bên đường mòn. Cam đi gặp trung đoàn trưởng ngay theo lệnh đã báo dọc đường. Các bộc phá viên đang quạt, thở, uống nước, quấn thuốc sâu kèn, chợt nhận ra một đoàn dân công nữ đến trước đang ăn cơm nắm bên chỗ họ. Đoàn này khiêng toàn thứ thùng gì lạ mắt, hẹp mà rất dài, sơn màu nâu, buộc vào đòn tre vừa hai người kê vai. Lính ta xì xầm: - Chắc võ khí mới ra lò bay ơi, cối lớn, hay là DK cỡ cây chuối ? - Ông Liên Xô có thứ hỏa tiễn to lắm, mình thấy trong phim “Công phá Bá-linh”, dám trúng thứ này... - Dốt hết. Súng đạn bự chác vậy, hai cô một đòn tre mà khiêng nổi, tao đi đầu xuống đất ! Lính cũ giữ ý không xáp vào chỗ nhiều cô trẻ. Lính tuổi hai mươi quen nếp học sinh và đoàn viên trai gái trêu trọc nhau, cứ xung phong tiếp cận. Thì ra các cô khiêng năm sáu chục cái quan tài rỗng để chôn tử sĩ. Chỉ mấy phút sau, các cậu măng tơ đã nhảy vào nằm ngồi thử trong các hòm đùa toang toang: - Cái của tao hơi bó vai. Đứa nào nằm rộng tao đổi ! - Thằng Liễn ngu, ham nước sơn, lụa trúng cái bị nứt. Chôn hòm nứt xui lắm đó nghen. Mải đùa với nhau, anh em không để ý các cô rớm nước mắt, quay đi lau lén. Đến khi mấy cô ngồi thụp xuống, úp mặt vào tay khóc hu hu to tiếng, chị chỉ huy dân công phải bước tới, nói to: - Đề nghị các đồng chí đừng giỡn nữa, ảnh hưởng tới chị em. Yêu cầu trở về chỗ nghỉ ! Một cậu đã bước ra khỏi quan tài, còn tiếc rẻ vỗ vào sườn nó một loạt thình thình như đánh trống ếch, lên tiếng cãi: - Người chết không sợ, người chôn mất tinh thần là sao ? Nói như chị là hạ thấp phụ nữ ! - Hạ thấp hay không để đó bàn sau. Mời các đồng chí trở về vị trí ! Chị chỉ huy dân công đeo cây súng kị binh Nhật chéo lưng, có đôi mắt sắc trên gò má nhọn và nhiều mụn cá, quần đen xắn trên gối. Đám lính trẻ rút lui, còn thì thào: “Tướng này coi bộ bà La Sát lắm, đừng chọc tức mà dại !”. - Ủa, chị Năm ! - Ôi trời, thiệt em hả Cam ? Thiệt mi hả ? Đứng trước Năm Bưởi là một anh bộ đội cao hơn chị hẳn cả cái cổ lẫn đầu, vai rộng, râu quai nón rậm rì như cố đạo, nhác trông hơi dễ sợ. Năm Bưởi chụp hai vai em, cố ghìm tiếng nấc dồn trong họng. - Lính em làm gì mà chị phải chỉnh ? - Không, không gì hết, giỡn chơi chút thôi.. Anh Chò đâu em ? - Ảnh đi lên trước coi thực địa, ít bữa nữa quay lui. Tụi nó cố giữ Plây-cu, mình cố lấy. Địa hình gần Plây-cu hơi khó đánh, núi không, rừng mỏng... Chị đưa dân công tới bữa nào về ? - Hết đợt hôm kia. Chị kêu gọi xung phong đợt nữa, chừng một phần mười xin về, số lớn đi tiếp. Chiến thắng lù lù ra đó, chị em ham lắm, đi qua thị xã Công Tum cứ trầm trồ miết. Hai chị em kể chuyện hối hả chừng mươi phút nữa, rồi bộ đội và dân công lại rời nhau, đi tiếp. Con đường mòn rắn lượn xuyên rừng chạy sóng đôi với quốc lộ 14 nhưng cố tìm chỗ khuất máy bay. Sau những dốc dựng cheo leo từ đồng bằng lên, các đường mòn Tây Nguyên càng duỗi về nam càng ít dốc, ít đá nhọn, đất mịn lài lài dễ đi, phải cái nạn khó che mắt máy bay địch khi qua những rừng non hay đồi lau trống trải. Mấy cậu trẻ đùa dai ban nãy chột dạ khi thấy trung đội trưởng Cam bước lầm lì giữa hàng, không bỡn cợt hồ hởi như mọi hôm. Chị chỉ huy dân công vồ vập anh, nói rất lâu với anh, chắc không khỏi kể tội phá quấy của lính bộc phá. Các cậu đâm dè dặt, chỉ thì thào với nhau và ra hiệu bằng tay hay mắt. Sáu Cam đang nghĩ về làng Linh Lâm, cái thung lũng dài dưới chân núi rất độc đáo không giống bất cứ một làng nào Cam đã đi qua trong bấy nhiêu năm lang bạt kỳ hồ, nơi gửi lại vô vàn vui buồn của tuổi nhỏ. Ghép những thư gần đây với tin mới nhất của chị Năm Bưởi, Cam thấy rõ một ấn tuợng chung nhất: sự chao đảo, chập chờn, ngả nghiêng của những người có tránh nhiệm. Ở đơn vị chiến đấu không ít rối ren, nhưng phải gỡ rối thật nhanh, thật dứt khoát tận bờ sát góc, không được cù cưa bạc nhạc. Nơi hậu phương khác nhiều. Người tốt không thiếu, tại sao những ông quan cách mạng như Ba Mậu chỉ nhấc đít từ ghế này sang ghế khác, những đứa sọc dưa ba rọi như Ba Mít vẫn bám mãi vào chính quyền ta như đỉa bám cổ trâu ? Cha con phủ Đỉnh trốn về tề, đội phát động như bị tháo mất ngòi nổ. Ban đầu họ định làm cuộc cách mạng ruộng đất thật kinh thiên động địa, đẩy khí thế nông dân lên bằng những đợt đấu tranh lớn, riêng Linh Lâm sẽ làm phủ Đỉnh trước, Mười Áng và Tư Chua tiếp theo và nhẹ hơn. Bây giờ bị hẫng. Đưa Mười Áng ra, dân sẽ tố khổ bằng chuyện thời Pháp thuộc nhiều hơn, chĩa mũi nhọn vào kẻ khác chứ ít oán thù ông lý trưởng nổi tiếng bình dân, còn lớp trẻ lớn lên sau Tổng khởi nghĩa sẽ ngáp, ngủ gật, chuồn khéo. Đấu Tư Chua càng khó nữa, có làm hương kiểm nhưng chưa kịp phạm tội, ngày nhận việc làng cũng là ngày được Cả Chanh giao công tác. Dù Ba Mít đã kể những vụ nóng nảy, ngang bướng, “vạch trần âm mưu bóc lột sức lao động” của Tư Chua, đội phát động vẫn ngờ ngợ: đem sắt tới lò rèn và ngồi thổi bễ cho thợ làm đồ của mình, trả công rèn bằng công cấy gặt với giá phải chăng, khó ghép vào bóc lột lắm. Lời tố cáo ông Tư Chua được đội ghi nhận, chưa kết luận, gửi lên đoàn phát động giảm tô của huyện. Ba Mít ở vai trò thư ký, lén xóa đi năm bảy chỗ và biến thành báo cáo chính thức, trình lên đoàn ủy. Lãnh đạo đoàn duyệt hồ sơ cường hào gian ác nhưng không cho đấu vì không phải địa chủ, không bóc lột tô tức. Tiếp đó, nhiều chỉ thị thông báo từ trên xuống, uốn nắm những gì nóng vội, quá “tả”, cơ hội, mượn phát động để trà thù riêng hay giành chức, hôi của. Đội phát động xã Linh Giang tê liệt dần, teo dần, biến thành một cơ quan trọng tài hỏa giải những vụ tô tức vụn vặt. Làm xong việc tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho các hộ tá điền xóm Ấp và một số bần cố nông các xóm khác, tạm chia vườn chè, trâu bò, nông cụ của phủ Đỉnh bỏ lại, đội họp mít-tinh tổng kết và ra đi thở phào nhẹ nhõm, mỗi người mang ba-lô trở về ngồi ghế cũ, sống giữa vợ con. Các nhà cách mạng tài tử ấy bỏ lại sau lưng một mớ bòng bong. Cái ủy ban năm người xếp theo cố, bần, trung nông dưới ngơ ngác nhìn nhau và chờ tới một hội nghị nào gần nhất để xin giao trả quyền hành. Đảng ủy và ủy ban cũ được lệnh tạm ngừng hoạt động, nhưng không có lệnh mới cho hoạt động lại, cũng ngơ ngác nhìn nhau. Những xấp hồ sơ nộp lại cho đoàn nằm trong từ “tối mật”, trong đó ông Tư Chua vẫn là cường hào gian ác, chẳng ai có thì giờ đọc, nói chi đến nghiên cứu điều tra ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 03:51:03 pm Một cậu liên lạc đợi sẵn bên đường, trao cho Cam mảnh giấy của tham mưu trưởng trung đoàn: “Tối nay đồng chí với hai trung đội phó lên Ban tham mưu họp, bàn cách đánh mới. Nhớ mang các thứ chứng minh”. Cam tách sang bên, đợi đi chen sau lưng cậu trung đội phó nắm tiểu đội CK.1 mới nhập vào trung đội bộc phá giá thiết. Hai người đã cùng đưa lên tiểu đoàn và trung đoàn một đề nghị: phối hợp giữa cánh đánh liên tục bộc phá và CK.1, mở tung cửa qua nhiều lớp rào cùng một lần, tiếp đó các tổ thang cầu nối nhau lên trong khi gạch đá chưa rơi hết, địch choáng váng chưa kịp dồn hỏa lực chặn cửa đột phá.
Tiền trạm đón quân dẫn sâu vào rừng già, nơi tập kết của trung đoàn để tối mai đánh đồn. Nhìn anh em hối hả làm lán lá chuối, trải tơi lá trên mặt đất lấy chỗ nằm, Cam nhớ tới mấy câu trong thư anh Cả Chanh khoe rằng D. 75 của anh đã sắm đủ tấm choàng đi mưa, tăng nhựa ba thước, võng bằng các loại vải đủ cho không ai phải nằm đất. Ai bảo địch hậu nghèo khổ ? Lính chủ lực liên khu trong mùa mưa chỉ có tơi lá nón lá, khi trải khi choàng. Đánh đồn còn đỡ, khi bôn tập hay truy kích thì vất trụi cả, sau đó ai mà lo nổi tơi nón cho mấy ngàn lính ướt ? Trong cuộc họp tối hôm ấy, Ban chỉ huy và Ban tham mưu trung đoàn cho phép trung đội của Cam đánh thử theo lối mới. Phương tiện chưa sắm đủ, tối mai vẫn phải đánh kiểu cũ thôi. Khi nhóm của Cam rập chân chào ra về, trung đoàn trưởng xua tay: - Đợi chút, mang cái này về luôn. Quà cho lính các cậu đó. Hai cái bao tòi sọc xanh khá to được nhấc đặt lên mặt bàn ghép bằng nứa. To nhưng không nặng lắm, vác được. Theo ánh đèn bão lúc lắc, ba anh em về đến trung đội, mở ra xem. Bốn chục gói quà hậu phương quen thuộc với khăn tay, thuốc hút, kẹo, thư thăm hỏi. Kèm theo còn thêm bốn tút thuốc lá Bax-tô, bốn hộp chanh bột, bốn hộp Nex-ca-phê, bốn túi đường trắng, hẳn là đồ lấy của địch. Một gói nhỏ rơi ra, Cam mở xem: hộp dao bào cùng một chục lưỡi Gi-lét, kèm mấy chữ của chính ủy trung đoàn “Tặng riêng ông cố đạo”. Bộ đội xúm vào xem, cười ồ: râu xồm cố đạo chỉ có ông Sáu Cam thôi. - Anh Sáu xin cách sao mà trên cho nhiều vậy ? - Không xin, mà kể khổ đôi chút... Trưa nay lên hội báo, chính ủy nhắc Cam đừng để râu như Tây, anh em dễ bắn lầm. Cam gãi râu, thú thật: - Em mới hăm hai mà sao râu nó đâm ra ghê quá. Nhổ đau lắm, dao cạo không kiếm được... - Đánh bấy nhiêu trận mà không kiếm ra con dao ? - Lính bộc phá vậy đó anh. Phơi thân đánh toác cả chục lớp phòng ngự, lót đường cho xung kích vô đồn, khi đánh trận nội thì tụi em lo thu dọn bên ngoài, số chết không kể, số bị hơi nổ hộc máu nằm ngất phải khiêng về nhiều lắm, có cậu bị lột trần truồng từ đầu tới chân. Lại còn khiêng thang cầu, gánh bánh khảo thừa... Chưa bao giờ tụi em lọt vô chỗ có chiến lợi phẩm đâu anh. Xin thêm ít bộ xi-ta còn khó, đừng hòng xin các thứ của Tây ! Anh chính ủy nhìn Cam từ đầu đến chân. Mắt anh lướt qua những mảnh vá vụng ở vai, cùi tay, đầu gối, dừng lại ở hai bàn chân xéo lấm: - Dép đâu ? - Bánh khảo thổi bay mất, cách nửa tháng. - Hậu cần không phát bù ? - Họ nói không có. Tiêu chuẩn hai năm một đôi, muốn cấp đặc biệt phải có lệnh trung đoàn. - Sao cậu không xin trung đoàn ? - Các anh bận rối mù, dễ gì được gặp. Chính ủy đắn đo một lát, thấp giọng hỏi tiếp: - Chiến sĩ của cậu thắc mắc nhiều không ? - Nhiều anh ạ. Rồi cũng tự giải quyết với nhau, giải không nổi thì gói để dàn bếp. Lý lẽ chính là vầy: trên đâu có ép mình vô bộc phá hay CK.1, mình phải viết đơn xin hẳn hoi. Chịu không nổi thì xin rút, trở về đơn vị cũ, êm ru bà rù. Chưa có ai chạy làng đâu anh. - Tiểu đoàn không can thiệp à ? Năm Chò là anh rể cậu, gặp dễ lắm chớ ? - Anh Năm kêu giùm miết rồi cũng bó tay. Lâu lâu ảnh lại dỗ các cậu ở tiểu đoàn bộ ít bị hư hại san sẻ bớt các thứ cho trung đội em, coi như lá lành đùm lá rách... Chính ủy không hỏi gì thêm, chỉ bóp mạnh tay Cam hơn mức thường. Cán bộ đã lên sa bàn và xem thực địa từ trước. Đêm ấy Cam được ngủ đẫy giấc. Hôm sau trung đội mở “xưởng đồ tre”, dưới máy bay địch đánh khi xa khi gần, chặn đường ta tiến xuống Plây-cu. Pháo lớn từ Plây-cu cũng nã tới từng đợt dập dồn hàng trăm quả theo máy bay chỉ điểm, một cặp Đa-cô-ta quần treo đèn rất chậm theo đường bay hình số 8, số 6. Năm Chò từ phía trước về, hối hả báo riêng cho Cam biết cái đồn Đác Mên sắp đánh đã tăng thêm một trung đội lính Re từ huyện Sơn Hà rút lên, gài thêm vô số mìn nhảy kiểu mới của Mỹ. Cam giục anh tìm gặp chị Năm Bưởi gấp, sau trận sẽ đi khác hướng nhau. Mìn nhảy... chà, phiền đây. Lính bộc phá gờm thú này hơn các loại mìn khác. Bộc phá ống hay ruột tượng quét được các loại mìn cũ, lắm khi chỉ kích thích mìn nhảy đủ cho nó tống quả đạn lên ngang đầu, nổ tóe mảnh trong vòng bán kính mươi mét. Cả một tổ bộc phá ống của Cam hi sinh như vậy, khi đánh trúng bãi mìn nhảy: ống hai thước mở được cửa qua rào cũi heo, nhưng hai bên cửa phùn phụt vọt lên hàng chục trái đạn xì lửa và bùn chớp trắng, mảnh xăm nát đất. Lần này địch gài rải rác hay dồn thành bãi ? Cam đưa một trung đội phó và một tổ lên thẳng Trung đoàn xin ra đài quan sát để cố trả lời câu hỏi ấy, vì không thể hoãn trận đánh để dành một đêm bò vào sờ tận tay. Tham mưu cho anh em đi, buộc Cam ở lại vì là cấp trưởng. Hai giờ chiều, Cam được lời giải trong khi uống chè đặc Linh Lâm với anh Năm Chò tại tiểu đoàn bộ: chúng không dám gài gần lô cốt và tường bao, dồn tất cả mìn nhảy vào khoảng giữa hàng rào cũi heo và ruột gà bùng nhùng. Trung đội xúm vào bàn rất gấp, tìm ra cách đánh: bãi mìn và hai lớp rào ấy sẽ được quét bằng hai ống chất nổ tăng liều, tăng độ dài, lắp kíp điện. Đặt các ống thật nhẹ tay, dòng dây điện dài ngoài tầm văng mảnh, bấm cho nổ từ xa. Chọn người đánh, thử lại dây và pin, nối các ống, cho nổ thử một kíp điện trong hang đá, cập rập mãi đến gần cơm tối mới xong. Tiếp đó là những chặng đường quá quen thuộc trong đời lính chủ lực chuyên lấy đêm làm ngày, với lắm thứ khiêng vác lỉnh kỉnh đi mò trong rừng đen kịt, cố giảm bước trượt bước lăn bằng cây gậy và mảnh vỏ lân tinh gài vào mũ người đi trước, bằng những câu báo vũng lầy hay cây đổ phải vượt nhanh kẻo đứt cự ly. Vào chỗ nằm chờ đánh, người lính mệt nhoài chực thiu thiu lập tức được bấm vào tay, khi cán bộ các cấp đi sửa lại đội hình, soát lại vũ khí, nhắc điểm nào phải thuộc lòng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 03:52:38 pm Giờ G nửa đêm. Giờ nổ súng là G cộng 45.
Ba mũi cùng nổ bộc phá trước sau mươi giây, bảnh rồi. Cam đánh mũi chủ công, cho các tổ nối nhau lên tới tấp. Quãng đáng ngại nhất là bãi mìn nhảy giữa hai lớp rào được quét khá gọn. Cam còn cẩn thận cho đánh thêm một ống nữa vào sâu hơn trước khi bắc cầu qua hào chông. Con nhện sắt bị chọc vào bụng mà chỉ hai chiến sĩ trúng thương nhẹ, ngon xơi quá sá ! Chính ủy trung đoàn rời đồn lúc ba giờ rưỡi, trở về nơi tập kết cùng mấy anh phái viên. Pháo từ các đồn bắn tới cứu Đác Mên còn nổ đều đều nhưng hú họa, chặn đường xuống phía nam là chính. Chỉ riêng hai khẩu nòng dài rướn tầm xa hơn, rải đạn xuống mạn bắc Đác Mên, đánh những nơi chúng nghi là bàn đạp của ta. Có lúc hai khẩu ấy chuyển làn, đạn hú rít qua đầu đơn vị thu dọn chiến trường. Dân công và bộ đội đều nổi đuốc. Đường về hiện thành con trăn lửa khổng lồ bò chỗ hở chỗ kín. Ngậm tăm và nín hơi mãi, lúc này tha hồ cười đùa chọc ghẹo nhau. Nhiều chỗ qua rừng lau trống, khi tiến quân phải len lỏi và ngụy trang vết mòn, giờ được đạp rộng loang ra năm bảy thước như đường ô-tô đỏ loét, chỉ để cho thỏa lúc lựa chỗ đặt chân. Hai người hối hả đi ngược chiều, soi đuốc xem mặt bộ đội, dừng trước mặt chính ủy và trao một mảnh giấy. Anh đọc lướt nó dưới luồng sáng thu nhỏ của đèn pin, bật một tiếng “à”, giục mọi người đi nhanh. Vượt qua những tốp dân công gánh nặng, những nhóm bộ đội vác mỗi người một bó súng lặc lè, họ đến một đơn vị khiêng thang cầu khá cồng kềnh. Chính ủy nhận ra ngay trung đội Sáu Cam. Ra về sớm, sao bây giờ lính bộc phá mới tới đây ? Chính ủy lách vội lên trước, gặp hai khiêng thương bằng võng buộc đòn tre, chăn phủ qua đòn. Nhận ra cậu trung đội phó đi giữa hai cáng, anh hỏi độp: - Ai đó ? Trung đội phó giật mình ngửng đầu, giơ cao đuốc, đáp hấp tấp: - Báo cáo chính ủy, chúng tôi là trung đội... - Biết rồi. Mình hỏi khiêng ai đó ? - Dạ, anh Cam với Tư Lượng, tiểu đội phó. - Lạ chưa, mình mới gặp Sáu Cam hồi nãy, ngoài đồn, khoẻ đánh như ăn gỏi... - Đi khỏi đồn hơn cây số, trúng một trái pháo tầm xa. Lượng tắt thở rồi, anh Cam chưa. Tụi em dừng lại băng tạm cho đỡ ra máu. Cậu trung đội phó đeo một ba-lô trên lưng, một ba-lô úp trên ngực, vác hai tiểu liên. Cả bốn thứ đều nặng tới mức nói hụt hơi, hay giọng nặng nề ấy tả nỗi đau dồn nén ? Vẫn đi chen, chính ủy hỏi khẽ: - Nhắm chừng qua được không ? - Khó lắm anh. Mảnh găm cùng mình... Chính ủy tần ngần nín lặng. Rồi anh bấm đèn pin, bước nhanh qua những người khiêng đang thở hồng hộc, làu bàu một mình bằng giọng Quảng Ngãi: - Vô duyên quá thể ! Vô duyên cảy, trăm lẻ bảy cái vô duyên ! Trong túi anh là lệnh đình chiến khắp Đông Dương. Sáu Cam đã ngã xuống trong trận đánh cuối cùng ở Tây Nguyên, cũng có thể là trận cuối cùng của chín năm chống Pháp. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 03:55:28 pm Chương XIX Năm Chò đạp xe từ quân y viện ra đến đường cái, gặp một chiếc xe ngựa lóc cóc chạy qua, lắc lư trên những hố chống tăng hình nanh sấu mới lấp lại. Vết xe còn hằn rõ trên đất chưa kịp dẽ chắc: xe ngựa, xe bò bánh gỗ, xe than chắp vá xộc xệch, cả một số xe quân sự kéo đại bác lấy của địch. Trong mấy tháng cuối kháng chiến, quân ta cố lấy cho được xe và pháo địch đem về, ít hủy bỏ như trước. Một ý nghĩ chợt lóe trong đầu Năm Chò, xe ngựa... Được lắm chứ. Thương binh ngồi trên xe ngựa dự lễ, vẫn nghiêm chỉnh thôi. Phải tìm thằng Chín Mén, thằng bạn khố đỏ thời Tây, luôn miệng nói sắp xông pha khói lửa sa tràng mà rốt cuộc cứ bám lấy hậu phương làm giàu. Đó là người bạn đánh xe ngựa ở mé trên thị xã Hội An đã từng giúp ba anh em Cả Chanh ở kín tiếng khi từ Quy Nhơn mới trở vô xứ Quảng sau đảo chính Nhật. Người vợ xấu bụng đã bỏ anh ta theo nhân tình cũ. Anh tản cư vào Quảng Ngãi, đứa con trai vắng mẹ ốm chết, anh phẫn chí uống rượu như hũ chìm. Về sau anh cưới một chị góa chồng không con, may gặp người tốt và đảm, khéo khuyên chồng. Ba năm trước Năm Chò gặp anh ta gần thị xã phá hoại, thấy anh đã được hai “đực rựa”, vợ bán quán và chồng vẫn đánh xe ngựa. Lại làm với nhau một cái lễ “tái kiến” túy lúy cả ngày. Quán xá lâu nay nép dưới rặng tre vườn cây đã được dời cả ra mép đường nhựa, dựng chắc và mở rộng hơn, lác đác có rèm cửa sổ bằng vải màn nội nhuộm màu tươi xanh đỏ, mặt bàn ghế bằng gỗ bắt đầu thay những tấm tre nứa chông chênh. Quán của Chín Mén cũng vậy, còn thêm một tờ giấy to viết quảng cáo: “Bún bò gạo - Mì Quảng gạo - Nguyên chất, xin kính mời”. Lệnh cấm chế biến gạo trong năm đói đã bỏ, các quán thôi bán phở sắn và không phải nhuộm mì bằng nghệ để giả hột bắp nữa. Chị vợ nhớ mặt Năm Chò, bạn rất thân của chồng, hồ hởi bỏ ra một chùm nem chua và rót một li “rượu thuốc”. Thói quen kháng chiến vẫn mạnh, dân nhậu chưa hết xấu hổ, các chủ quán thường “nhuộm rượu” có tí màu cho đỡ ngượng. Hẳn đã nghe cán bộ qua lại giải thích nhiều về hiệp định Giơ-ne-vơ nên chị không hỏi thêm, chỉ lúi húi bán hàng. Năm Chò nhấp nháp trong khi ngắm cảnh ngoại ô thị xã đang sống dậy mau chóng. Các mặt hàng khan hiếm mấy tháng trước đây túa ra thị trường rất nhanh. Xe đạp Xtéc-ling, Méc-xi-ê đu-ra nhẹ bỗng, cả thứ “xe trâu” nặng và chắc để thồ hàng, tràn vào từ vùng tề cùng với vải ngoại, thuốc tây, ni-lông đi mưa, đồ nhôm nhựa. Chính phủ ta cũng tung hàng ra bán để thu về tất cả số giấy bạc tín phiếu còn trong dân, địch nhất định không chịu đổi tín phiếu lấy bạc Đông Dương ở những vùng chúng tiếp quản. Nông dân góp tiền mua chung trâu hạ giá, đồ sắt, vải, muối, đường, trong khi dân thị trấn chung vốn mua máy cũ, xe cũ, thuyền vận tải, tranh tre gỗ nứa dự trữ của bộ đội, những thú không thể chở tàu biển đi tập kết ra Bắc. Ngày càng nhiều áo trắng áo hoa trên đường trống, trên các dây phơi. Ngành xe lửa chất đầy tà-vẹt là trụ cầu cho những đầu máy hiếm hoi chạy ban ngày với số toa ít và chở nhẹ, lắm chỗ phải tăng-bo hoặc đẩy mạnh cho toa rỗng trượt qua cầu trước, đầu máy bò cách quãng theo sau, cùng dừng lại để đợi khách cuốc bộ leo trở lên toa. Cam-nhông-ray chạy nhiều hơn, đỡ trục trặc hon. Chưa đến lễ Quốc khánh 2 tháng 9 mà nhiều nhà nhiều xe đã cắm cờ đỏ sao vàng mới may lại bằng vải ngoại, thay cho những lá cũ bạc và thôi màu. “Treo coi cho sướng con mắt, vậy thôi”. Các em nhỏ sắp vào năm học mới trong khi học sinh lớp lớn mang khăn gói đi tập kết. Chưa biết thầy cô nào sẽ dạy, các em cứ kéo đến trường để tập hát và đánh trống. Trống ếch nội tăng giá vòn vọt, phải lôi ra tất cả các loại trống còn sót: trống chầu phường hát bội, trống nhà trường, cả những trống con của đám sắc bùa hay trống khẩu đưa tang còn sống sót qua những đợt “hài trừ hủ tục phong kiến”. Tiếng trống tiếng hát dội xa gần, ngày đêm, bổng trầm, gợi lên không khí của hội làng trong khắp vùng tự do. Các làn điệu xưa cũ đều xài tự do, xả láng. Nhưng đó chỉ là mặt ngoài. Trong lòng người dân và người lính liên khu Năm đang cuộn xoáy những lo lắng rối bời. Khi nhận được lệnh ngừng bắn đầu tiên, chưa ai nghĩ rằng đất nước tạm chia đôi. Cả nước cùng đổ máu đánh giặc, ắt là sướng chung khổ chung, lẽ đương nhiên phải vậy. Đến khi cầm đọc văn bản hiệp định, vẫn còn rất nhiều người nghĩ rằng vùng tự do của ta thì ta cứ giữ, thằng Tây bể đầu ở Điện Biên Phủ phải giao miền Bắc cho ta chứ sao nữa... Đến khi vỡ lẽ rằng đối phương sẽ tiếp quản khắp nơi từ Bến Hải trở vào, đám mây đen thất vọng mới úp chụp xuống miền Nam, ngày càng dày đặc và sà thấp. Thùng thùng thùng... tom tom tom... thình thình thình... Hòa bình trở lại Ngày mai sáng bừng Ta giương cao cờ chiến thắng vinh quang Xôn xao xóm làng Vui như tiếng đàn... Vô số đêm kịch hát, mít-tinh, liên hoan quân dân. Ừ thì vỗ tay, hoan hô. Biết bụng nhau rồi, dân lau mắt thì lính cũng khóc thầm. Hòa bình trở lại nhưng ngày mai không sáng. Xóm làng xôn xao thật đấy nhưng nào có vui... Cấm trả thù người kháng chiến cũ ư ? Tin dữ hai đầu dội tới đầy náo động. Trong kia là Ngân Sơn, Chí Thạnh. Ngoài kia là Chợ Được, Cây Cốc. Những vụ to mới được đem ra mít-tinh đả đảo, kiến nghị phản đối, còn bao nhiêu vụ giết hại lẻ tẻ thầm lặng nữa ? Còn từng trăm từng ngàn người mẹ người vợ từ các thành phố và vùng tề luồn lách vào vùng tự do, lang thang tìm chồng con để biết còn sống hay không, khi gặp được chỉ thổn thức một câu hỏi: “Bao giờ về ?”. Liệu có chắc hai năm như hai ngón tay giơ lên vẫy nhau không ? Và sau hai năm sẽ ai còn ai mất ? Năm Chò ngồi lặng ngắt, quên cả mình đang đợi Chín Mén đánh xe về. Vợ Chín Mén rót đầy li nữa, anh không để ý, không đụng đến chùm nem trên bàn. Vừa được lệnh chuẩn bị tập kết ra Bắc, Năm Chò cùng một số quê ở Quảng Nam được đi phép gấp để thu xếp việc nhà, vì đối phương sẽ tiếp quản Nam Quảng Nam sớm nhất, chặn ngang ranh giới Quảng Ngãi. Anh hỏa tốc băng núi về Linh Lâm, gặp lúc thằng nhỏ Chung đang ốm nặng và kéo dài, mềm oặt như dưa héo trên tay mẹ. Địu nó từ vùng ven núi này vào tới cảng Quy Nhơn, chắc chết dọc đường. Năm Bưởi đành ở lại theo cách đổi vùng: nếu địch dợm bắt thì chị sẽ trốn đến ở nơi xa lạ, giấu tông tích. Ai chứ Năm Buởi thì chẳng thiếu người đùm bọc ! Chị Hai Thùy chẳng phải cán bộ đầu ngành trong xã, không được vào danh sách tập kết của Linh Giang. Nhưng phía quân đội lại cho phép cấp tiểu đoàn phó trở lên đưa vợ con theo, chị được đi. Anh Cả Chanh biệt tăm chưa về, chị sẽ đi với ai, bằng cách nào, khi hàng vạn người dân đang gánh gồng bồng bế nhau tuôn đến cảng Quy Nhơn cùng với hàng vạn bộ đội từ khắp các mặt trận xa tít miền Trung Đông Dương cũng kéo về như những dòng suối lặng lẽ xuyên rừng ? Chị Thùy ra vào, xếp gánh mở gánh, than ngắn thở dài, xong lại soạn máy may ra sửa những bộ quân trang anh em xưởng Cao Thắng II vừa mới được phát trước khi rời mảnh đất Xê-ca đơ đầy kỷ niệm. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 03:59:00 pm Ông Tư Chua vấp nhiều hơn. Tám Doãn mang danh sách tập kết của xã Linh Giang xuống huyện, Ban tập kết rà lại và gạch tên ông. “Nguyên chủ tịch hả ? Không được. Cho đi chủ tịch đương chức thôi, tàu biển đông nghẹt rồi !”. Tiếp đó là cái nháy mắt của anh cán bộ mới ngoi lên, đang nhấp nhổm cuốn gói theo vợ con đã cho đi trước vào Quảng Ngãi: “Cường hào gian ác, ra Bắc làm gì thêm quấy rầy ?”. Tám Doãn về xã không dám kể hết, may sao ông Tư Chua đã nói thay:
- Chú Tám biết nhà tôi đó. Tôi đi, bỏ bà Tư ai nuôi, hay phải ở mướn bồng con cho thằng Quýt ? Tôi không gì cũng già rồi, đóng góp bấy nhiêu năm lên voi xuống chó đủ rồi, đi hay ở cũng một lòng trung với Cụ Hồ, với Đảng mình, hễ sai trái gì thì sau hai năm xin lãnh một hòn đạn của anh em đồng chí ! Ba người thân nhất của Năm Chò nơi quê gốc đã ở lại cả ba, khổ chưa ! Anh đuổi kịp tiểu đoàn tại huyện Sơn Tịnh, thuộc Quảng Ngãi. Trong buổi họp đầu tiên với liên chi ủy, anh kể hết những băn khoăn của mình đối với người kháng chiến cũ không ra đi. Các đồng chí đang bóp trán thì anh chính trị phó tiểu đoàn giơ tay. Anh này mới về thay đồng chí cũ bị sốt rét ác tính gần chết. Tuy thuộc thành phần bần nông nhưng anh chỉ xuống ruộng khi hành quân trượt chân, gần đây được đưa vượt cấp từ đại đội phó lên chính trị phó tiểu đoàn sau bốn tháng đi phát động giảm tô. Anh ta thấy cần phải xây dựng cho tiểu đoàn trưởng thoát khỏi tư tưởng dao động, cầu an, hoài nghi, thiếu tin tưởng ở đường lối đấu tranh hòa bình của Đảng và sức mạnh của nhân dân miền Nam, sẽ buộc đối phương thi hành hiệp định quốc tế được ký kết long trọng với sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc. Khi anh bắt đầu phân tích sâu sắc về ảnh hưởng của thời kỳ làm lính thực dân đế quốc đối với đồng chí Năm Chò, chính trị viên tiểu đoàn bỗng cắt ngang rất phũ: - Bấy nhiêu đủ rồi, đừng đi tới chỗ phá hoại hòa bình thế giới ! Ta tính giùm anh Năm coi có cách gì gỡ rối được không? Bàn mấy cũng không tìm được cách gì cả... Chiếc xe ngựa rẽ dừng trước quán chỉ khiến Năm Chò ngửng nhìn dửng dưng. Người đánh xe là một cậu trẻ mặc bộ xi-ta cũ, nặng nề bước xuống và đi vào quán với một cây nạng chống vào nách bên phải. Tiếp một xe thứ hai với Chín Mén ngồi trước, nhảy phịch xuống đất và ném dây cương vào một cành cụt của cây phi lao bên cửa, cười hoang hoác khi đi vào: - Bữa nay trúng lắm nghen bà xã. Khách ra hồi cư, khách vô tìm chồng con, giới đàn bà vừa sùi sụt vừa đưa tiền, đỡ lắm... Ủa nè, ai như Năm Phi Đao vậy ta ? - Chớ ai vô đó nữa ? - Trời đất, tưởng mày lên ông bự chê tao không ghé ! Mụ tao để khách ngáp ruồi à ? Ồ, có cay có chua, khá. Ba kí thịt trâu đây, trâu to sụp hố què chân, nhúng dấm gấp mụ ! Năm Chò ngắm anh bạn cũ từ đầu tới chân, cười: - Bỏ giùm tao cái tên Chín Mén 1 đi mày. Đổi ra Chín Bồ, Chín Bịch, Chín Ú, chớ cái bụng sệ ra bằng heo chửa cứ Mén hoài ! Chín Mén cười đến ho sặc: - Đúng miệng lưỡi Năm Phi Đao, chẳng sai một li ông cụ ! Tao sệ là tại bà xã. Bả nuôi heo, nuôi con hay nuôi chồng đều thiệt khéo, mập tròn hết. Anh ta cố ý nói to cho vợ nghe, vừa lúc chị vợ bưng đặt trên bàn cái âu đất nung đựng than hồng, bên trên có cái bát nhôm chứa dấm bắt đầu sủi. Chị dọn thêm đĩa rau thơm, chén tương ngọt, lọ tỏi ớt ngâm, đặt lên trên vài cái bánh tráng nướng, lườm anh chồng đang mở nút một cái be sành: - Sơ sơ thôi ông, đông khách, lát phải đi tiếp. - Thằng út đâu ? - Vô xóm rồi. Hở một lát lại chạy tới con Lụa, chắc nên chuyện. Đĩa thịt trâu ra mắt cuối cùng xắt ngang thớ mỏng tang, mịn và hồng như bò non. Chín Mén rót ra hai ly rượu nếp thơm lùng, không nhuộm: - Nhịn thèm mấy năm, giờ mới kiếm được thứ đặc biệt, để dành chớ không dám đụng vô, mày thấy bụi phủ đầy bình đó... Dạo này mày mấy chai một ngày? - Chừa rồi, lính chiến mà. Có khi vài tháng không một giọt, đi chiến dịch kiếm đâu ra. - Chịu mày giỏi. Ăn chơi trời sợ, thiên lôi đánh trật búa, khi tu thì chừa ráo cạo... A-lê, cụng ly mừng tái kiến ! Rượu quả là đặc biệt. Năm Chò đã chừa tật ngưu ẩm, chỉ nhấp thong thả để hưởng vị thơm ngon trên lưỡi. Đúng với lệ chung của những bữa cơm khách, Chín Mén nhấc bánh tráng lên bẻ đánh rốp báo hiệu mở màn cuộc nhậu. Năm Chò ăn nhúng tái. Chín Mén chỉ khỏa nhanh miếng thịt qua dấm sôi, gần như ăn sống. - Mày bây giờ hai ngựa hai xe, giàu rồi hả ? - Nhờ ơn bộ đội đó. Thằng út em ruột tao đi lính trung đoàn 803, bị bom cụt chân, về ở với tao trót năm chẳng kiếm ra việc gì cho đáng việc. Mới đây bộ đội rao bán đồ dư, tao vét hết tín phiếu, đập vô cái xe đạp nữa, mua được con ngựa tốt với cái xe hư, sửa cho thằng Út chạy. Đi đâu tao cũng kèm đằng sau, hễ có trục trặc tao lo, chớ nó chân gỗ khó xoay lắm. Tao cho nó con Nu già hiền hơn, nay ngựa thuần cương thạo rồi. Kiếm được nghề rồi, nó đang kiếm vợ, hì hì... Cỡ tao đã kể vô chủ tư bản chưa ? Năm cười xòa: - Không ốm không đau, làm giàu mấy lát... Ít nữa làm lễ chiến thắng to lắm, biết chớ ? - Biết thừa. Cán với quân ngồi xe tao nói miết. Xe hơi kéo đại bác cũng tới sân vận động rồi, nghe nói duyệt binh lớn lắm, lễ cát-to giuy-dê hồi Tây chỉ bằng ngón út. Tao thèm coi quá mà gác nghiêm lắm, có giấy mới vô được. Còn làm lễ Ihành lập đại đoàn sư đoàn gì đó nữa. So với hồi tụi mình ở khố đỏ... - Mày muốn vô coi không ? Chín Mén đặt ly xuống, mở to mắt: - Ngu, tao ngu thiệt. Ngồi với ông bự mà quên xin giấy ! Cho tao vô nghen. Xưa nay chưa có lễ nào to tới vậy, sắp tới cũng chẳng còn mà coi, uổng đời. - Cho mày vô, mà ngồi xe ngất ngưởng, có lính giẹp đường, xếp hàng đầu ! - Tàu bay giấy ! Năm Chò nói ý mình. Anh em thương bệnh binh ở quân y viện muốn dự lễ, số bị nhẹ tự đi được, còn mươi anh em trúng chân hay chưa đủ khỏe cũng muốn đi. Anh định xếp vài cái xe ngựa cho họ ngồi vào dự, với biển căng hai bên “Xe thương binh dự lễ”, có y tá và cán bộ mang giấy đi kèm. Đánh xe phải là người đáng tin cậy. Chín Mén đã từng giấu Việt Minh trong nhà, lâu nay cũng được tiếng tốt trong giới đánh xe... - Phải, phải, mày nhắc tao mới nhớ hồi bóng tối tao có chút công đó, quên ráo. Tao sơn lại xe, chải ngựa, mượn đồ xi-ta mặc vô, bảnh hơn xà-ích đánh xe cho quan giám binh Tây. Bảng treo thì mày biểu viết thiệt đẹp nghen. - Có điều... mày đừng phiền... bà xã kèm hai đứa nhỏ ngồi với thương binh không tiện... - Ối, đừng sợ ! Hội hè là ngày bả phát tài. Khiêng bả thả vô sân, bả cũng lén trốn về bán quán ! Sắp nhỏ vô đó, ai lo chuyện ỉa đái, đói khát, khóc đòi về ? Hai xe đủ không mày ? Còn vài đứa nữa cũng tốt nết lắm, cho đánh xe vô được chớ ? Còn thứ lưu manh cầm cương thì lạy sống cũng không cho, lỡ ăn tiền của Tây ném vài trái lựu thì tao bị xử tử oan ! Thỏa thuận cuối cùng là bốn xe. Hai người được chọn sau là một bác có ba con liệt sĩ, một trung đội phó xuất ngũ. Cả bốn xe đều phải chỉnh tề như xe giám binh, ngựa chứng phải thay, cờ mũi xe phải mới. Chín Mén nhận chỉ huy. Năm Chò vui vẻ đạp về trung đoàn. Trong dịp lễ lớn sắp tới, anh bị điều lên Ban tham mưu trung đoàn để tổ chức duyệt binh. Bộ đội đang tập đi đều hàng tám, thêm cái động tác đi nghiêm với chân duỗi và tay đánh ngang vú mới trông hơi tức cười, trong đội hình lại oai phong lẫm liệt. Nỗi băn khoăn dày vò anh về người ở lại chìm sâu dưới những trăm lo toan hàng ngày, chỉ trồi lên hành hạ anh về đêm, mỗi ngày đêm như thế lặng lẽ khắc sâu thêm đường nhăn trên trán và để lại thêm một vài sợi bạc trên tóc. ----------------------------------------------------------------------- 1. Mén: bé, nhỏ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 04:02:36 pm * * * Lễ mừng chiến thắng lớn chưa từng có của bộ đội và nhân dân liên khu Năm đã xong, chỉ rủi ro một chút là trời kéo mây mù, tiếp đổ mưa. Các phóng viên chụp ảnh và quay phim của liên khu và Bộ tổng tư lệnh vò đầu bứt tai, trong khi lính rỉ tai nhau: “Lễ này mưa mù là phải, thống nhứt xong mới có lễ nắng đẹp”. Sân vận động đầy nghẹt những đơn vị bộ đội đã vào lần lượt suốt đêm, đúng giờ phút quy định nhằm tránh chen chúc, tranh chỗ. Đại biểu nhân dân phải hạn chế. Hàng vạn dân dầm mưa đứng đầy hai bên đường đợi lễ tan, bộ đội đi đều ra khỏi sân, để căng mắt tìm người thân trong những khối diễu hành. Tìm cầu may thôi, chỉ mươi phút đã hoa mắt váng đầu, thấy anh nào cũng giống người đang tìm, đành nán đợi hàng quân cuối cùng qua hết mới lau mắt và xoa dầu cù là vào thái dương. Các trung đoàn tiểu đoàn lại nhích dần đến cảng Quy Nhơn theo kiểu cuốn chiếu. Hai tàu biển lớn của Ba-lan và Na-uy chạy con thoi đón vợi người ở phố cảng, lập tức có đơn vị khác lắp vào đợi sẵn. Riêng các bộ phận cồng kềnh như quân y không phải bước tới xếp hàng từng chặng ngắn như thế, mà lâu lâu mới chuyển một chặng dài, dừng ở nơi có tiện nghi khá nhất. Vì thế quân y viện 108 còn ở lại gần thị xã Quảng Ngãi sau khi trung đoàn đã tiến tới một quãng xa. Bốn xe thương binh vào sân dự lễ đã thu hút sự chú ý chung. Chín Mén rất chững chạc dẫn đầu, bên cạnh có Năm Chò ngồi với phù hiệu sao tròn hai vành vàng của cán bộ tiểu đoàn trở lên. Bộ phận gác cổng quen mặt anh do đến thu xếp nhiều lần, chỉ đứng nghiêm chào và giẹp đường xe đi. Phía trước lễ đài không còn chỗ, ở đấy có mấy đơn vị danh dự vác quân kì, đội nhạc binh, đoàn phóng viên, những dãy pháo cối chiến lợi phẩm to nhất. Bốn chiếc xe vẫn được đỗ hàng đầu, nhưng là đầu mút, không thể ưu tiên hơn nữa. Trong xe Chín Mén có một anh thương binh cao lớn, râu quai nón cạo xanh má, đầu băng trắng và tay trái bó bột, chống gậy đi nhúc nhắc. Chín Mén không thể ngờ đó là thằng nhỏ Sáu Cam mà vợ trước của anh bắt gánh nước thuê trả tiền cơm trọ. Cam đã dặn anh Năm Chò đừng giới thiệu, đừng nhắc tích cũ, để anh Chín quên luôn đi là hơn. Cam bị thương khá nặng nhưng không chết. Sau hai đợt mổ, bác sĩ nói đùa đã thu được nửa ki-lô sắt vụn trong thịt Cam. Tám vết thương tất cả, mất máu nhiều, nhưng sức trai khỏe và thuốc dùng hào phóng nên mau lại sức - khi biết ta ngừng bắn rút quân, các thầy thuốc trút cho Cam nhiều thứ thuốc quí để dành dùng đủ một mùa chiến dịch. Nay Cam chỉ còn cánh tay trái gãy xương, trong khi hai vết ở trán và đùi đang kéo da non. Vết rạch bụng tưởng nguy, may chưa xé rách màng bụng, chưa phá ổ bụng, lại lành trước. Anh Năm Chò chạy lo việc đơn vị, gần cuối buổi đến giúi cho Cam mấy chữ nguệch ngoạc: “Xong lễ, E mình cuốn chiếu một khúc nữa. Anh cả đã về tới đây, khỏe. Ảnh có ghé qua Linh Lâm, ở đó thường hết, địch chưa lên tới vùng trên, mới quản dọc đường Một. Anh sẽ ghé thăm em nay mai”. Hôm nay nắng ráo, Cam ra sân chống gậy tập đi. Nằm mãi, chân tay bị chuột rút và tê dại, lưng dễ bị loét. Đi được hơn năm chục thước mới đau đùi, tiến bộ rồi. Chỉ phải cưỡng lại những cơn ngứa của thịt lên da non, ngứa cả bên trong lớp bó bột mới rầy. Chiếc máy bay thứ ba trong ngày lừ lừ qua thấp, lấy đường Một làm cữ để đáp xuống sân Qui Nhơn. Loại Ca-ta-li-na bụng chửa, đậu thủy bộ đều được. Máy bay vào Sài Gòn bay xa ngoài biển... Bấy nhiêu năm qua, tiếng ù ù trên trời luôn luôn gây phản xạ y hệt: tìm chỗ núp, sửa vòng ngụy trang, chờ lệnh bắn hay lệnh chạy xa chỗ quả khói chỉ điểm. Nay mới luyện phản xạ mới: nó bay kệ nó, việc ta ta làm. Có thêm tiếng ù ù trên quốc lộ. Tiếng ô-tô. Quân y viện đóng tạm trong một trường tiểu học khung tre lợp lá dừa dựng kín dưới rặng tre cao, cách đường cái năm chục thước. Đường vào mới mở rộng gần đây, khi các em nghe tin thương binh được xe đưa đón. Sửa xong đường mới bật cười: đó chỉ là những chiếc xe ngựa lóc cóc chạy đêm với cái đèn dầu lúc lắc trên càng của thời chiến. Chiếc xe Gíp chạy chậm xem đường, rẽ vào trường. Lại một vị cấp côi nào đó sực nhớ tới thương binh, đến nói mươi câu an ủi. Mới hôm kia, một ông phái viên béo trắng của liên khu đến bằng ngựa, mời thương binh dồn vào phòng lớn - hai lớp đã tháo liếp cho thông - giảng một giờ về hiệp định, đả thông tư tưởng, chỉnh đốn tác phong, hẹn chắc hai năm sẽ thống nhứt chẳng sai. Thương binh không vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, không đáp từ hứa hẹn, cũng không thắc mắc xin hỏi. Ông phái viên ra đi, trên bộ mặt béo trắng ẩn hiện chập chờn hai vẻ ngược nhau: thỏa mãn với bài diễn thuyết của mình, khó chịu trước sự thờ ơ đáng trách của thương binh đối với quốc gia đại sự. Ngả lưng xuống tấm ván cửa kê trên ghế dài làm giường, anh tiểu đoàn trưởng nằm hên Cam thở mệt nhọc: - Tay đó mình biết, đại đội trưởng quân nhu, cả đời chưa hít mùi khói súng. Ba hoa thề thốt làm gì để về sau phải chối quanh lánh mặt ! Thà cứ nói rằng chúng ta là lính cách mạng, hễ còn giặc thì lính còn đánh, hễ cách mạng chưa xong thì còn phải đấu tranh, vậy thôi ! Xốc một làn bụi mỏng, chiếc Gíp vòng tránh trụ cờ mới dựng, đỗ ngay trước thềm. Ba anh cán bộ bước xuống nhìn quanh, sửa áo mũ, đi vào căn phòng giáo viên có dán tờ giấy chữ to: Quân y trưởng. Ngồi chỗ góc sân, Cam nhận ra ngay Năm Chò trong nhóm, hai anh kia lạ mặt. Mươi phút sau, y tá ra sân gọi to mời thương binh vào họp ở phòng lớn. Đợi mươi phút nữa, nhóm khách cùng đi với bác sĩ quân y trưởng vào phòng. Bác sĩ nói hồ hởi: - Xin giới thiệu với các đồng chí, có đồng chí Phan Chanh, chính ủy trung đoàn thuộc Tình nguyện quân Hạ Lào - Đông Bắc Miên, nhơn khi đơn vị hành quân tập kết qua đây, ghé chào và chúc sức khỏe anh em ta ! Lần này thương binh vui vẻ vỗ tay. Lính với nhau cả, nhưng ai cũng biết lính Hạ Lào phải đi xa và chịu khổ rất nhiều, còn gian nan hơn lính Cực nam là nơi mỗi ngày chỉ được một ca nước. Anh cùng đi có lẽ là thư kí, không nghe giới thiệu. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 04:03:57 pm Cam không tin ở mắt mình nữa. Cam chờ gặp một anh Chanh quấn váy kẻ ô xanh đỏ quanh lưng, trùm khăn trên đầu, đi chân đất, như mấy cán bộ đội Hạ Lào về phép luân lưu gặp Cam đã tả. Đây khác hẳn. Anh Cả Chanh như vừa rời tiệm hớt tóc và tiệm may hạng nhất tới thẳng quân y. Anh mặc bộ áo quần kiểu đại quân hay đại cán gì đó, Cam chỉ thoáng thấy mấy anh từ Bộ tổng tư lệnh vào diện trong dịp lễ: áo bốn túi bằng thứ vải xanh lá trơn đẹp, quần ủi nổi đường li sắc lẻm, giày da đen có cổ đế cộp đánh bóng soi gương được, mũ phủ vải mới đính sao hai vành vàng, súng ngắn có dây choàng vai đeo bên sườn trái, xắc-cốt da cùng màu vàng sẫm với bao súng. Cán bộ liên khu chưa có ai sang đến thế. Mà lại đi xe Gíp chạy xăng, có thư kí xách cặp theo sau !
Cả Chanh nhận ra Cam ngay, anh nháy mắt gật đầu rồi thong thả đi từng giường. Nhiều cán bộ nhận ra “ông Chanh xe lửa”, tán chuyện thoải mái. Sau nửa giờ anh mới đến chỗ Cam, người cuối cùng, rỉ nhỏ: “Ta ra sân một lát, em !”. Cam chống gậy nhúc nhắc bước ra, Cả Chanh và Năm Chò đỡ hai bên. Sau phút mừng đầu tiên, Cam thấy cái cảm giác ngờ ngợ không vui cứ tăng dàn. Chẳng ai ép anh Chanh chịu cực mãi, trên cấp cho thì hưởng thôi, nhưng giữa lúc lính và dân đang thiếu thốn, anh xài bảnh quá cũng khó coi. Cán bộ trung đoàn đã oách vậy, các cấp rất cao chắc phải ngất trời: ăn cơm như tiệc, đi máy bay riêng, một lô hầu cận theo sau, đi đâu lính dàn ra đón tới đó... Ba người ngồi xuống cái ghế dài kê dưới bóng cây để thương binh hóng mát. Cả Chanh tủm tỉm nói ngay: - Năm Chò biết rồi, em Sáu chưa biết. Anh đóng kịch khá đó chớ ? - Đóng kịch ... - Đóng kịch tập kết, rồi ở lại miền nam. - Ủa... bộ đội mà, sao anh... nó giết mất còn gì ? - Nó muốn giết, ta đừng để nó giết ! - Anh về thành phố... hay ở bí mật ? - Tùy cơ ứng biến. Hễ thằng Ngô Đình Diệm biết nể hiệp định, ta về thành phố lập hội, đóng trụ sở, trương cờ. Nó khủng bố thì về nông thôn, vô rừng núi. Được như các đảng cộng sản Tây Âu là hay nhứt, mà chắc không được, Mỹ với Diệm chống cộng trắng trợn lắm, ác hiểm lắm. Mình làm đúng hiệp định, đưa quân đội với chính quyền đi. Nhưng Đảng mình là đoàn thể nhân dân, dân có quyền tự do lập đoàn thể, đảng viên ở lại chẳng có vi phạm vi phiếc gì hết. Lý thuyết vậy, thực tế bây giờ là nó lùng giết mình, mình phải lánh né cái đã... Cam thốt ra câu hỏi nóng cháy của mọi người: - Anh Cả có tin hai năm nữa thống nhứt không ? - Cứ rán hết mức, hai năm xong càng hay, chưa xong phải làm tiếp chớ chịu bỏ à ? Hồi mới đánh Tây, chẳng ai nghĩ đánh tới chín năm, anh cũng vậy, trên nói trường kỳ anh cho là mấy ổng phòng xa, hà hà... Cả Chanh thu xếp việc rút quân ở mặt trận Tây-Nam khá chật vật, phải phóng người đi gọi các đội Xung phong công tác ở sát biên giới Thái-lan, thuốn sâu vào địch hậu Đông Bắc Miên. Rứt ra khỏi dân thật không dễ, phải thăm viếng chào hỏi, đợi làm lễ chúc phước cho các mẹ vui lòng, năn nỉ các cô đã dìm thuyền nơi vắng để giữ chân anh em. Chanh được thư hỏa tốc gọi về khu. Anh Hai Thỉnh trao điện tối mật: Chanh sẽ ở lại miền Nam, cần về ngay Quảng Nam nhận chỉ thị mới. Đến trạm biên giới, một thư của anh Tô Xáng đợi sẵn, dặn Chanh phải ghé Linh Lâm để chào từ biệt đi tập kết, có thể cho một người tin cậy trong nhà biết mình ở lại nhưng phải cấm để lộ, địch biết sẽ hại cả nhà. Thư cũng hướng dẫn đường dây băng núi vào Quảng Ngãi gặp liên khu ủy, nhận thêm chi thị về tổ chức bí mật của Đảng. Chanh chỉ ở Linh Lâm hai ngày, đủ đi chào và bàn việc nhà. Năm Bưởi không đi được, ông Tư Chưa không muốn đi. Hai Thùy được biết chồng ở lại, cũng tháo gánh không chịu đi, Chanh dỗ mãi chẳng ăn thua. Chị lựa lời nói với chòm xóm: “Đợi ảnh bấy nhiêu năm còn được, hai năm nữa là bao !”. Anh băng núi đi xuống, vòng tránh những chỗ địch đóng, đến thị xã Quảng Ngãi kịp dự lễ chiến thắng 2 tháng 9. Bàn xong công việc, liên khu còn buộc anh đóng kịch thêm một tuần: mượn đồ sang đi phô trương nhiều nơi, vì quá nhiều người biết mặt anh trong những năm làm xe lửa, sau đó đóng vai dân ruộng hay dân buôn luồn núi trở về Quảng Nam tìm anh Tô Xáng. Nghe thủng chuyện, Cam mới thấy mình quá trẻ con. Trước mắt Cam, anh Cả lớn vọt lên như hồi xưa ở Qui Nhơn Cam đã trông thấy sau những ngày ăn xin đói khát. Những gì nữa đang đợi người anh chưa từng được hưởng chút gì từ ngày biết Đảng, chỉ cống hiến và hi sinh ? Năm Chò rủ tất cả ra quán Chín Mén làm một chầu tiễn đưa. Cả Chanh bằng lòng ngay, chỉ dặn ra đó phải giúp anh diễn tiếp vai kịch sắp xuống tàu. Chín Mén lóa mắt khi gặp lại ông Cả Trà oai hơn giám binh đến bằng xe hơi với cả bộ ba Hội An năm xưa. Anh ta cười đứt đôi cái mặt, giới thiệu với khách ăn ngồi đầy quán về ba người đi tập kết. Sáu Cam không giấu mình nữa và anh Chín đã quên hẳn chuyện người vợ cũ. - Cụng li anh Cả ! Hai năm nữa ta làm lễ tái kiến, ở đây hay Hội An gì đó, em xin chôn mấy bình đặt biệt chờ ba anh em trở về cố quận ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 04:06:07 pm * * * Đồng chí giao liên trẻ măng, vác rựa cõng gùi như người lên núi róc vỏ sim hay bứt mây, dừng lại nói với Cả Chanh: - Chỗ này ngó xuống thấy rõ nhứt đây anh, lên khúc nữa là khuất. - Ta nghỉ chút hè. Chanh đặt cây đòn gánh có cuộn dây dừa buộc ở đầu, cởi mấy cúc áo trên hứng gió, nhưng vẫn giữ cái tay nải quàng chéo trên lưng, đúng thói quen ở Lào phòng địch đánh úp. Trở về Quảng Nam, Chanh phải vòng xa hơn trên đồi gò, tới đây rẽ lên núi hẳn. Đối phương đã tiếp quản thêm một quãng nữa, cắm thêm một số bót gác phía tây quốc lộ Một khi con đường “tập kết trễ ngày” bị lộ. Sau những vụ khủng bố đẫm máu không dấu được, nhân dân cả vùng tự do lẫn vùng bị chiếm đấu tranh rất dữ, chúng chùn tay phần nào, bắt và giết người kín đáo hơn. Từ mỏm cao này nhìn xuống thấy được hai chỗ chúng đóng quân, với cờ tam tài và cò sọc dưa treo song song trên chỗ hơi cao, chỉ khác trước là không rào dày đặc và không bắn pháo cối cầm canh ra chung quanh. Bọn tâm lí chiến làm ăn ráo riết. Vừa kéo cờ lên buổi trưa, xế chiều đã có loa chạy khắp nơi mời đồng bào đi coi phim không mất tiền, đêm đã có một vùng đèn điện sáng rực và ca nhạc vang dội qua máy phóng thanh. Nếu “đồng bào thân quí” lánh né liên tiếp mấy đêm không đến, chúng mới cho quân vác súng đi lùa tới dự mít-tinh ban ngày, bắt đầu hăm dọa. Trong khi đó gián điệp của chúng luồn vào vùng ta phá rối đủ cách, từ cắt dây điện thoại đến gài mìn chỗ trẻ em hát múa. Chanh ở lại vùng tự do chẵn mười ngày. Một vùng tự do đang thu hẹp dần, co dần hai đầu, để biến hẳn sau hạn cuối ba trăm ngày. Anh gặp may khi vào tới liên khu ủy. Chánh văn phòng là người quen cũ ở nhà lao Công-tum, mừng rỡ xô ghế bước ra vồ lấy anh trong khi hai máy điện thoại trên bàn cùng réo - có tất cả năm máy dã chiến kê thành dãy. Anh Hồng Long đi tàu biển ra Bắc gặp Tổng quân ủy vừa về, đã quy định xếp ưu tiên một cho các đồng chí ở lại cần gặp anh. Bí thư liên khu ủy làm việc với Trung ương chưa xong. Đặc biệt có anh Bảy Quý, ủy viên Trung ương và phó Ban tổ chúc cũng theo tàu vào, hỏi thăm Chanh nhiều nhưng nay không gặp được: anh đang ở các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, giúp xây dụng các tỉnh ủy bí mật tại vùng đất cũ của mình. Anh Hồng Long tiếp Chanh ngay chiều hôm ấy, với bộ mặt thiếu ngủ bơ phờ. Vừa bắt tay xong, anh hỏi một câu không ngờ: - Chanh bên Lào về, có thèm thịt chó không ? Chanh ngẩn ra, phì cười: - Thứ đó ở đâu chẳng thèm ! - Hai Thỉnh về đây họp, được chế độ bồi dưỡng chiến trường, hắn ta dặn cấp dưỡng mỗi ngày mua cho một món thịt chó, hồi nào ngán sẽ báo lại. Tưởng mệ là dân Huế, mệ kiêng thứ đó chớ ! Mà sao hắn nói dân Lào tởm cái món cờ tây ? - Khu bộ đóng trong rừng sâu, kiếm đâu ra cờ tây ! Tụi tôi sống với dân, họ không ăn mà cũng chẳng cấm. Hễ thôi không nuôi nữa, họ nhắn anh em tới bắt, thường họ dắt chó ra rừng cột vô gốc cây, anh em mình đem đi xa mà chén với nhau, tránh làm trong làng là được. - Ồ, vậy tối nay cậu ăn mộc tồn nhà mình. Phu nhơn mình nấu thứ đó khéo đặc biệt, bả mới kiếm được một con giá rẻ còn to, tính tiễn đưa mấy đồng chí trở vô lại Cực Nam. Anh Long ngoáy vội mấy chữ, bước ra hè gọi một chú bé đang gọt cây súng gỗ nơi góc sân: “Đem về nhà bác, đưa cho bác gái nghen”. Cơ quan liên khu ủy và bộ tư lệnh liên khu đóng tạm trong một khu nhà tre lá dựng tách ra khỏi xóm cho đỡ lộ bí mật. Trong khi đợi xuống tàu, anh Long và vợ con ở một gian nhỏ chỗ khuất. Dân khu Năm được bộ đội nam tiến tập cho nấu và ăn chó, nhưng phụ nữ thạo nấu cầy còn rất hiếm. Chỉ đôi người như chị Long, vốn là du kích Ba Tơ đã nhào vô chém lốp xe Nhật, mới ngang tàng học cái nghề thiên hạ ngán ấy. Ba đồng chí cán bộ tổ chức và bảo vệ được gọi đã đến. Năm người bắt tay vào việc. Theo đề nghị của anh Xáng bí thư Quảng Nam, liên khu ủy đã chỉ định Chanh làm phó bí thư tỉnh ủy bí mật, vì Chanh có kinh nghiệm hoạt động xây dựng cơ sở mật hồi Pháp thuộc cũng như ở địch hậu Hạ Lào sau này, lại quen nhiều với cán bộ các tỉnh bạn, thạo đường sá, thạo nếp sống thành thị. Những hiểu biết ấy sẽ giúp anh đối phó với vô vàn tình huống phức tạp sắp gặp nay mai. Chanh phải học thuộc lòng hàng loạt tên người, bí danh, bí số, mật hiệu (Chanh thoáng nhớ anh Bảy Quý năm xưa: bắt học thuộc lòng và trả bài cẩn thận !). Chanh thấy như mình mang đến một tấm bản đồ in sẵn, vô danh. Từng đồng chí một dùng bút màu riêng, đang lần lượt vẽ lên đấy những đường ngoằn ngoèo, những dấu chéo, tròn, tam giác, ghi rất nhiều tên không in, nhiều con số khó đoán. Hệ thống tổ chức mới của Đảng hộ liên khu và các tỉnh sẽ hoạt động khác hẳn... - Ta trở lại thời kỳ tiền khởi nghĩa, anh Long hè ? Anh Hồng Long trầm giọng: - Với những khó khăn lớn hơn... Ở vùng bị chiếm hay tranh chấp còn đỡ, hầu hết cơ sở ta nằm chìm, chỉ một số ít cán bộ với du kích ra mặt chống địch, nay cho đổi vùng, mai phục, tập kết, dễ thôi. Ở bốn tỉnh tự do tất cả đều công khai, địch biết rõ danh sách đảng viên, đoàn viên, hội viên các Hội cứu quốc, chẳng sót ai. Nếu ai dính vô kháng chiến đều đi cả thì phải tập kết toàn dân, cả lão thành cứu quốc, nhi đồng cứu quốc ! Địch biết ta quá rõ, mà ta biết bọn thù mới lại quá ít. Thằng Mỹ chống cộng khác thằng Pháp ra sao ? Thằng Diệm khác Bảo Đại ra sao ? Tôi hỏi nhiều, mà các đồng chí ở Tổng quân ủy và Bộ tổng tư lệnh chưa giải đáp được mấy, hứa sẽ nghiên cứu thêm thật gấp. Đành vậy, trên tìm hiểu thì ta cũng tìm hiểu, vừa thăm dò vừa tiến công, tự nghĩ cách ứng phó thôi ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Mười, 2016, 04:08:48 pm Sau ba ngày làm việc ở liên khu, Chanh mượn áo quần và xe hơi sắm vai tập kết. Gặp Năm Chò và Sáu Cam trước, để lâu khó tìm. Tiếp đó anh đi gặp “giới xe lửa”. Giám đốc hỏa xa bây giờ là một lái xe ở ga Tua-chàm, cơ sở của anh Bảy Quí từ 1942, sau Tổng khởi nghĩa vào bộ đội, được điều về làm xe lửa khi đang giữ chức trung đoàn phó. Theo lời ông Hai Rề thì anh này được công nhân khen là chí công vô tư, lãnh đạo khá, nhưng chuyên môn thua xa Cả Chanh.
Giới xe lửa sẽ tập kết theo những chuyến tàu cuối cùng, bởi phải lo chở người và hàng về khu vực ba trăm ngày. Ông Hai Rề ra khỏi hố khám gầm xe đã nhiều năm, bớt cái tật ngưỡng thiên, chỉ thỉnh thoảng hất cao cái đầu như người chợt nghe tiếng máy bay. Ông buồn rầu cho biết trường hợp Bảy Tộ hi sinh cứu xe. Đêm ấy Bảy Tộ lái một chuyến tàu công hành chở toàn bộ đội, thương binh, chất nổ. Qua cửa Sa Huỳnh bị pháo tàu chiến bắn chặn mất một tiếng, tiếp đợi sửa đường ray chừng tiếng rưỡi nữa, đến Tam Quan khi đã sáng bạch. Hối hả trút người xuống, rồi Bảy Tộ cho tàu chạy trở ra núp đường hầm, toa trước máy sau. Bốn chiếc Co-bra cổ ngỗng bay đến, có lẽ tình cờ chộp được mồi ngon, đã vượt một quãng rồi còn quay lại, nhào xuống ném bom. Đầu máy rất hiếm quí, mà hơn một tấn chất nổ nếu trúng bom thì cũng rất nguy. Bảy Tộ bị nhiều mảnh bom, vẫn đứng mở hết ga cho đoàn tàu chạy thục mạng, lao tuột vào hầm sâu. Khi anh em thắp đuốc chạy tìm thấy thì Tộ đã hãm máy nằm hấp hối. Thợ xe lửa chết và bị thương nhiều hơn hồi còn Cả Chanh, do máy bay đánh nhiều hơn, vào sâu hơn, rà bắn đến từng con trâu một cố gây nạn đói: “Giết một trâu bằng giết mười lính Việt Minh”, chúng rao như thế. Nghề chài lưới cũng tan hoang. Vũ khí Mỹ tốt hơn Pháp mỗi năm đổ vào một nhiều. - Cả nè, nhắm chừng cha không kịp về thăm con Thùy đâu. Để cha viết thơ, gặp ai trở về ngoải nhờ chuyển cho nó. Ra Bắc chưa biết ai ở đâu làm gì, cha con mình nhớ tìm nhau nghen. Cha thì chắc vô hỏa xa rồi. Con thì ở quân đội, làm chánh ủy, vậy là thuộc Ban chánh trị... ờ, Tổng cục chánh trị, cha cứ gởi vài ba lá cho con ở Tổng cục chính trị, thời nay nó đụng... Chanh muốn ôm ghì ông cha vợ, nói thật luôn, lại cố ghìm được. Ông sẽ chật vật viết thư, lận đận đi tìm con rể, chán rồi cũng thôi. Nay ông đang lãnh thư ký công đoàn hỏa xa, không nắm quyền hành gì mà lại làm dâu trăm họ. Tuy anh Hồng Long cho phép xài xăng thả giàn vì ta ít xe, Chanh chỉ dám chường mặt thiên hạ đến Bồng Sơn rồi trở ra. Vây vo bấy nhiêu đủ rồi. Tin mới từ Quảng Nam dội vào ngày càng đáng lo. Một nhóm cán bộ tỉnh đoàn thanh niên cứu quốc đi “tập kết trễ” cho biết Hai Khánh và Bảy Suyền trong Ban địch vận tỉnh đã về thành Đà Nẵng, chưa chửi ta trên đài hay ký truyền đơn rải máy bay như một số nhảy trước. Số “tập kết chạy hoảng” tăng lên từng ngày. Đó là những cán bộ được bố trí ở lại hay cảnh nhà khó khăn phải ở lại dưới nhiều hình thức: ở công khai làng quê, đổi vùng và giấu tông tích, sống bí mật nơi rùng núi. Khi thấy địch bắt giết nhiều, cơ sở chịu đòn không nổi khai báo nhiều, họ đưa gia đình hoặc một mình chạy bừa vào vùng ta xin tập kết. Một trong những người gặp Cả Chanh dọc đường là anh Tám Lự, cố nông ở xóm Ấp Linh Lâm, được đội phát động đưa lên làm trưởng ban giảm tô xã Linh Giang nhưng không biết làm việc, nay đem một vợ năm con chạy vào, còn gửi lại ba đứa cho bà con nội ngoại. Nghe Tám Lự kêu đói khổ, mà đúng đói khổ thật, Chanh vét hết số tín phiếu ít ỏi còn lại biếu anh, anh còn năn nỉ xin thêm để “ăn rau cháo chờ tàu”. Lại hiện ra thêm những trường hợp không ngờ, là số “tập kết đối phó”. Đó thường là số trẻ tuổi độc thân, lâu nay tránh đi bộ đội ta, nay sợ địch bắt lính, rất dễ bị địch vung tiền biến thành lưu manh, chỉ điếm, lâu dần thành kẻ ác. Cơ sở ta, cả cha mẹ số này nữa, xúm vào dỗ dành họ đi tập kết, nói khoác lu bù về thiên đường miền Bắc, họ chỉ gật đầu một cái là mổ heo giết gà làm lễ tiễn đưa gấp để chặn đường lui. Còn nữa. Còn những trai gái trẻ hay người vợ lớn tuổi từ các huyện bị chiếm và các thành thị của Bắc Quảng Nam, vào tìm cha anh chồng con đi đánh giặc nhiều năm, quyết theo tìm tận miền Bắc, cũng ngây ngất vì không khí “xả láng ta với ta” đầy men say, đột ngột đến Ban tập kết đòi đi. Còn những gia đình gốc Bắc đã định cư từ xưa trong này, nhận được thư họ hàng ở Thái Bình hay Vĩnh Yên gửi vào theo tàu biển, bỗng nôn nao xin trở về quê cha đất tổ. Còn những đứa đã qua nhiều lớp huấn luyện của CIA và Phòng Nhì, nay nhận kế hoạch rình mò và phá hoại cùng với nhiều vàng, nhiều giấy bạc Đông Dương và giấy bạc miền Bắc, khoác khăn gói nghiễm nhiên xuống tàu Ba-lan... Lác đác cũng gặp những bèo bọt trôi ngược dòng. Một lính trẻ lên cơn nhớ nhà nhớ vợ không chịu nổi, bỏ trốn. Một viên chức đã cưỡng được căn bệnh bất mãn, nay nó tái phát nặng hơn. Một cán bộ xã nghe tin cha già mẹ héo bị địch bắt, quay về đầu hàng. Và đôi người như Hai Khánh... người đồng chí tài hoa sắc sảo năm xưa mà Cả Chanh quí mến, cũng được Đảng coi trọng, đã vất bỏ tất cả để rẽ cương lối khác. Chanh hỏi lại liên khu ủy cho chắc: quả thật Hai Khánh không phải do ta gài vào hàng ngũ địch. Thêm một bài học nữa để “ông Cả Tin” trắng mắt ra. Đố ai bẻ thước mà đo lòng người ! Hai miền Nam Bắc chưa tách rời nhau mà trước mắt Cả Chanh đã hiện lên một rừng câu hỏi, cứ như bãi rau dớn với những đợt xoáy tròn mọc bên bờ suối. Và lúc này, ngồi lặng trên mỏm núi, Chanh nhìn xuống vùng tự do liên khu Năm khi nó sắp thuộc về quá khứ. Anh Hồng Long bảo ta giữ cơ sở ở đây khó hơn các nơi bị chiếm hay giành giật. Đúng vậy. Chúng ta rời những nơi ấy với vô vàn thương nhớ ít lo ngại. Anh tránh không nhắc đến nỗi đau của người cộng sản liên khu Năm khi phải trao đất và dân đã bóc hết lớp vỏ bí mật vào tay quân cướp nước (báo chí đổi gọi là đối phương, in cả ảnh lính ta và lính Pháp cắm hoa đầu nòng súng ngồi toét miệng cười với nhau, tùy ý các vị thôi chứ đối với tôi giặc vẫn là giặc, máu đã ngừng chảy đâu !). Sẽ biến đi khu căn cứ lớn nằm giữa bốn bề giặc vây đánh, cắn răng giữ được qua suốt chín năm xương máu. Tiếc buốt ruột một mảng Tổ quốc độc lập treo lơ lửng quãng giữa, đầu không đến trời chân không đến đất, xa Trung ương và xa cả Trung ương cục miền Nam mà vẫn bám chắc bộ óc của Đảng. Giày đinh của Pháp - Mỹ - ngụy sắp đạp trên dải đất nghèo và hẹp đã sinh ra và nuôi lớn những vạn người cầm súng nối tiếp nhau, đã làm ra và khiêng gánh những vạn tấn súng đạn, gạo muối, áo quần đến các tuyến lửa Bắc Nam Tây Đông, sang tận Lào Miên giúp bạn. Lớp người mai sau sẽ học rất kỹ về chiến thắng Điện Biên “chấn động địa cầu”. Chắc chắn phải thế. Nhưng họ sẽ dừng hay chăng khi lật đến phần đuôi được ghi nhan đề chung là “Các chiến trường phối hợp” ? Họ có tò mò đọc những dòng rút gọn viết về chiến dịch bão táp giải phóng Bắc Tây Nguyên, trận diệt gọn binh đoàn cự phách GM.100 từ Triều Tiên sang, cuộc đánh vật dữ dội để hất xuống biển hơn bốn chục tiểu đoàn ùa lên chiếm vùng ta ? Họ đủ kiên nhẫn hay không để nghe kể rằng bộ đội chữa sốt rét bằng một viên kí-ninh vàng hòa cho sáu bảy người uống, xỏ tai búi tóc đóng khố để kéo từng người dân Thượng đến với Bok Hồ, chết lặng lẽ không tìm ra hài cốt bởi tất cả những ai nhớ chỗ chôn đều lần lượt ngã theo ? Họ sẽ cười, ngáp, nhún vai, hay sẽ động lòng thương xót khi biết chiến sĩ ta có thể sống hàng năm bằng củ rừng, lá cây, ốc suối, cũng có thể tắt thở sau vài giờ sốt mê man và bị vắt đói bò khắp thân, hút cạn máu ? Họ sẽ tiếp bước cha anh lao vào những chỗ mũi nhọn cách mạng, hay cố xua đi những kỷ niệm lẩm cẩm, u ám và lỗi thời của cha anh ? - Đi anh hè. Đường vô nóc ông Xim đêm khó mò lắm. Phải đi. Đường dài còn muôn ngàn trắc trở, khi trời tối giữa núi cũng như khi dạo đường phố dưới nê-ông xanh đỏ, khi đầu gối thúc cằm leo vào nóc Thượng và cả khi bấm nút thang máy vút lên lầu mười. - Ờ, ta đi. Nhấc cây đòn gánh lên vai áo bà ba vá một mảnh to, úp cái nón lá rách vành lên đầu, Cả Chanh đi tiếp. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Mười, 2016, 02:43:36 pm Chương XX Sáu Cam cõng ba-lô, chống gậy ngắn bằng trúc già, đi nhúc nhắc trên sân rộng của Trạm thu dung, tay trái co duỗi đều đều theo một góc hẹp. Kể ra tập đi ngoài vườn xoài cổ thụ thì mát đầu êm chân hơn, nhưng Cam cố ý biểu diễn cho các thầy thuốc biết anh đủ sức ra viện. Trong nhà, các sòng tu-lơ-khơ dàn ra khắp nơi, ồn nhức óc, khiến các tiên ông cờ tướng từng lúc phải gào lên: “Bớt bớt cái loa chớ !”. Bộ đội sau đình chiến đánh tu-lơ-khơ mọi nơi mọi lúc. Dân làng chê thẳng: “Chưa bao giờ thấy quân mình ham đánh bạc tới vậy”. Chê rồi lại xóa lỗi: “Thì cũng để anh em giải trí cho khuây, nằm gác tay nghĩ riết rồi sanh nghĩ bậy”. Về sau “phong trào cơ bích” được uốn nắn lại, giảm dần để nhường thì giờ cho lao động giúp dân và tập văn nghệ. Riêng những nơi đón thương bệnh binh như trạm này thì cho chơi thả cửa, chỉ buộc ngừng vào giờ thể dục trị liệu, nghỉ, ăn, làm thuốc. Các đơn vị từ những nơi xa xôi hiểm hóc nhất đều chở, khiêng, dìu tất cả thương bệnh binh của mình về, dù đồng bào năn nỉ xin giữ lại nuôi cho lành rồi đi sau. Vài đơn vị xuống tàu đầu tiên thiếu kinh nghiệm, giấu giếm theo thương bệnh binh vì sợ anh em tủi thân, oán trách: “Băng rừng rúc núi về đây còn được, huống chi có tàu đưa xe đón, bước thêm mấy bước tới đất xã hội chủ nghĩa rồi nghĩ sau !”. Chẳng ngờ chặng đường biển trung bình ba mươi sáu tiếng ra Cửa Hội lại cam go đến thế. Thương bệnh binh gặp sóng to gió lớn đã nôn mửa, ngất, vết thương bật máu, bệnh nặng thêm, một người chết trên tàu. Có thể dìu nhau leo cầu thang xếp từ thuyền hay tàu há mõm lên boong tàu lớn, nhưng đôi người đã phải dùng cần cẩu nâng đặt chật vật xuống xà-lan đang chồm chúi giữa sóng Cửa Hội. Trạm thu dung được đặt gấp rút trong khu vực ba trăm ngày, mé trên cảng Qui Nhơn chừng năm sáu cây, sát bên một làng may mắn không bị Tây đốt trong chiến dịch Át-lăng vì nằm nơi khuất nẻo. Các đơn vị ta xếp hàng tiến từng quãng xuống cảng, dừng đâu giúp dân đó: dựng nhà, làm trường, đắp đường, đào kênh, thi nhau để kỷ niệm lại trước khi tập kết. Đến đây, anh em xúm vào giúp trạm thu dung của quân y liên khu. Cũng chẳng mất đi đâu: cuối ba trăm ngày, mọi thứ của Trạm sẽ được tặng lại dân làng để làm trường học. Trung đoàn đã xuống tàu cùng đại đoàn mới lập. Ban chỉ huy đến thăm Cam, giao lại cả xấp hồ sơ cá nhân bởi ngại ra Bắc có thể bị điều động lung tung, nhất là cán bộ trung đội trưởng trở lên. Hồ sơ có thêm hai bản sao công văn: đề nghị đề bạt, đề nghị huân chương. “Cậu đỡ rồi, cầm hết cho chắc, nắm đằng chuôi đi. Ra ngoải, rán xin cho được về 108 nghen, hễ gặp trục trặc gì thì biên thơ hay đánh điện, tụi mình sẽ làm công văn kêu đích danh cậu...” Trung đoàn còn tặng Cam một đồng hồ Ni-klex cũ nhưng còn tốt. Một đồng chí tham mưu cùng đi rỉ tai cho biết nó từ đâu ra. Trong một đợt kiểm tra bất ngờ, anh em tìm thấy trong ba-lô của một đại đội phó hậu cần hơn hai chục đồng hồ, một mớ nhẫn và lập-lắc vàng có khắc tên, chừng mười ngàn đồng Đông Dương. Cậu này nắm bộ phận thu dọn chiến trường trong chiến dịch vừa rồi, về vét chiến lợi phẩm nhét túi trong khi thương binh nằm rên mất máu. Chưa bán vì đem cả đống tín phiếu ra Bắc cũng vô dụng. Nay đang giam đợi giải ra ở tù, lính đòi xử thật nặng làm gương. Năm Chò đến sau, tươi roi rói, chưa mở miệng đã móc thư ra khoe. Mấy anh ở xưởng Cao Thắng II băng núi mới đến Bình Định. Họ nán lại Linh Lâm chôn kỳ hết số súng hư đạn thối không chở đi được, đã gặp anh Năm ở Gò Găng. Một cái nháy mắt dành cho người tin cậy: “Là đồ hư thối nhưng đã sửa rồi. Tụi nó đang giết dân mình kia... Thiệt thà là cha đứa dại !”. Không ít đơn vị và địa phương đã quá thật thà, nơm nớp sợ “vi phạm” đến từng câu nói ! Họ đưa thư mới nhất của chị Năm Bưởi. Chị báo rằng một trung đội lính Diệm đã lên chợ Huề Bình tuyên truyền vài ngày rồi rút, trong đó thằng Bảy Bòng đeo lon hạ sĩ dẫn đường nhưng chưa chỉ điểm bắt ai. Chị gạch dưới một câu bí hiểm: Báo tin anh mừng là có rồi, em đang rán giữ. Cam quá dốt nên phải hỏi, anh Năm rạng rỡ khoe chị Bưởi đã có thai. Việc gia đình chưa thêm gì mới. Địch vẫn gờm xứ núi Linh Lâm, chưa dám vào cái ổ “Việt Minh rặt” ấy. E rằng khi dám vào, chúng sẽ phá dữ hơn vùng xuôi. Tiếng gọi khàn khàn dội tới chỗ Cam: - Thằng Cam nghỉ đi. Mày làm bung da non lại hành tao thêm cực ! - Cháu đạt một cây số rồi đó bác. - Cây ! Cây xoài hay cây tre ? Tao ngó chừng mày miết, mắt kém chớ chưa đui ! Ông quân y trưởng tóc bạc này tên là Cừng, lính lén gọi là Gừng để chê cụ cay nghiệt. Cụ không giận: “Gừng càng già càng cay, càng nên thuốc, kêu vậy cũng hay”. Cụ là y sĩ Đông Dương lớp xưa, có bốn con đi bộ đội, anh trẻ nhất hăm mốt tuổi hi sinh mấy tháng trước đình chiến. Từ đó cụ thấy chiến sĩ trẻ “giống thằng út tao” ngày càng nhiều. Đố ai buộc được cụ kêu anh em bằng đồng chí, hễ không mày tao thì ắt là bác cháu. Cụ thương bộ đội hết lòng, mổ thương binh suốt ngày đêm đến ngã ngất, vừa mở mắt đã hỏi: “Còn sót thằng chó con nào không ?”. Cam vâng lời cụ Gừng, đi vào nơi yên tĩnh là phòng sách báo. Cụ quân y trưởng bước theo, nhấc thử cái ba-lô rỗng, bật “xì” một tiếng: - Qua mắt ai chớ đừng hòng phỉnh tao, Cam ! Chưa đi là chưa đi ! Cụ thích đến đây khi rảnh. Ngồi nhiều ở phòng sách báo thường là cán bộ ba mươi tuổi trở lên, ham đọc và viết thư hơn đánh bài đánh cờ. Cam bị cụ ép làm chủ bút bích báo vì tình cờ cụ moi ra thằng đặc công này đã học chuyên khoa văn học ở miền Bắc. Bù lại những giờ Cam gò lưng tô màu chép bài, cụ cho Cam đi chơi tùy ý, không phải theo qui định nghiêm ngặt là đi đâu phải từng tổ ba người, đề phòng điệp gây sự hay nhớ nhà bất tử. Trong phòng đang có mươi cán bộ trung, đại đội. Họ ngừng đọc và viết để đợi cụ Gừng kể nỗi lòng sâu kín mà họ đã nghe hàng chục lần. - Tao ngó thằng Cam mà rầu. Tống cổ tụi bay, tao rảnh nợ chớ được ăn giải ăn giỗ gì. Đi trước đi sau tụi bay cũng tập kết chớ ai dám bỏ lại. Bay coi tao như thằng gác tù, tao ức lắm. Coi đó, dân mình đang thiếu ăn mặc, thuốc men, mà nuôi tụi bay như nuôi gà thiến tế đình. Thứ gì ngon dân đem tới, quà gì quý Cụ Hồ gởi vô theo tàu, trên dồn hết cho tụi bay mau lành mau mập... Ban tập kết tới đây nói đứt lưỡi chuyện sóng gió ngoài biển, thêm chuyện không đủ xe cộ chở tụi hay đi khỏi Cửa Hội, thêm cái lạnh nhức xương ngoài đó... Coi bộ nếm lạnh mới có mình thằng Cam, chớ lũ trẻ khờ câm. Cam, mày nói cái lạnh ngoài đó coi. Phải mặc tới thứ áo bông dày có tay, phủ bụng, đắp mền bông nặng tới năm sáu ký, đầu đội mũ bông bịt tai, chân đi giày có tất, hai tay xỏ vô găng như chực đánh bốc-xơ, tức là quyền Ăng-lê đó. Đêm nằm phải hốt rơm trải cả gang tay dưới lưng không thì run hết đêm. Cứ hỏi thằng Cam với anh em ngoài Bắc vô thử tao bày đặt hay không. Đó là chưa kể khi tụi bay theo đơn vị lên núi cao, xứ Thổ xứ Thái, đất phủ tuyết với nước đóng băng, bay chịu không thấu lăn đùng ra làm tội anh em. Phải biết thương đồng đội với chớ ! Thương binh liếc nhau tủm tỉm. Ngồi quanh cụ Gừng là những cán bộ hàng ngày phải giảng cho chiến sĩ những điều na ná nhu thế, nhưng đến nay lâm sự chính họ đang lo ngay ngáy, lo bị tách khỏi đơn vị cũ. Trong những năm đánh nhau có rất nhiều chế độ chính sách phải tạm gác, tạm hoãn, tạm ghi để đấy, nay đến lúc giải quyết thì họ có thể bị bật đi xa tít tắp, ra khỏi quân đội không chừng ... - Về đơn vị vận tải K.83 hả ? Giải thể rồi, mỗi người một nơi, sổ sách nộp liên khu hết. Quân rút, vận cho ai nữa ? ... về tiểu đoàn độc lập 59 ? Nhập vô E.803 rồi. Để coi.. 803 đủ cán bộ đại đội, vừa đề bạt vừa bổ sung, không nhận thêm. Chẳng lẽ để đơn vị thiếu chỉ huy, đợi các đồng chí về ? Mà ra viện có còn sức nắm đơn vị không hay phải chuyển qua công tác nhẹ, hay phải ra khỏi quân đội ? Tiểu đoàn 76 Nam Tây Nguyên ? Xuống tàu tháng trước, ra Bắc chưa biết xếp ở đâu, ghép vô sư nào, cứ ra rói hỏi thêm... Đó mới là một liên khu, và cũng chỉ vài tháng sau lệnh ngừng bắn. Nghe đâu ra Bắc còn xốc xới mạnh hơn nữa, tất nhiên thôi, miền Bắc rộng mênh mông thế, và cán bộ không thể đưa xuống làm đội viên để lắp đâu cũng được. Sáu Cam chỉ có hai việc chưa xét là đề bạt, khen thưởng, chứ lắm đồng chí khác có hàng lô mối dây ràng rịt vào đơn vị cũ: sắp kết nạp Đảng, sửa soạn cưới một cô văn công hay y tá, tiền chưa truy lĩnh, cả đồng hồ và nhẫn đồng đội giữ hộ khi bị thương cũng chưa kịp nhận lại ! Rủi ro mà đơn vị đóng sát Thượng Lào, mình bị điều về Quảng Bình thì sầu đời quá, mới qua chiến tranh ác liệt đâu có sẵn tàu xe cho người thân đi tìm nhau ngay ! Chẳng ai đem kể tồng tồng những chuyện ấy với cụ quân y trưởng gần sáu mươi tuổi. Cụ bước xuống Cửa Hội, chỉ cần ới một tiếng qua điện thoại là từ ông tư lệnh liên khu trở xuống, ai ở gần nhất phải vội đánh xe tới rước. - Mới tháng trước đây thôi, gặp hồi trở lạnh, tao kể cho sắp nhỏ mấy năm tao học trường Thuốc Hà Nội phải khổ vì lạnh ra sao. Mấy thằng vắt mũi chưa sạch, lên lớp cho tao vầy đây: “Bác khác, tụi cháu khác. Bác học làm quan đốc-tờ, bác là học sinh tiểu tư sản, nhà giàu đứt tay ăn mày đổ ruột. Tụi cháu nông dân mặc áo lính, từ nhỏ đã chai sạn rồi, chịu cực dễ hơn bác”. Nghe mà điên đầu ! Tao vừa học vừa kèm trẻ kiếm ăn, khi túng quá phải rửa nứa hay đẩy xe bò ngoài bến sông Hồng tới khuya, nó lại nói tao tiểu tư sản sướng quá hư thân ! Một mũi nhọn nào đó chích nhẹ trong ngực Cam. Một kỉ niệm không vui. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Mười, 2016, 02:46:43 pm Đầu năm nay, trước khi mở chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Cam dự một lớp chỉnh huấn ngắn ngày dành cho cán bộ trung đại đội. Cam đưa ra ba thắc mắc:
- Đội phát động giảm tô quy cho cha là cường hào gian ác, xong đi biến, rõ ràng quy sai. Nay Cam phải khai thế nào về thành phần gia đình ? - Các văn kiện đều viết rằng sau ba năm làm nghề khác thì thay đổi thành phần bản thân. Tại sao mãi đến nay anh Năm Chò vẫn phải để trong lý lịch là “binh sĩ đế quốc” mà không đổi ra “quân nhân cách mạng” ? - Tại sao đã là học sinh thì cứ phải thêm “tiểu tư sản” kèm theo ? Lãnh đạo chỉnh huấn là một cán bộ dân chính mới đưa vào quân đội, chuyên mở lớp về phát động nông dân. Anh đến họp tổ và trả lời riêng thắc mắc của Cam vì thấy chưa đáng đưa ra nói trước cả lớp. Trường hợp Năm Chò sẽ hỏi lại cấp trên. Đội phát động đã quy, dù đồng ý hay không, Cam vẫn phải ghi đúng như thế về thành phần gia đình, nếu cần thì viết ý kiến mình ở phần tự khai trong ruột lý lịch. Tiểu tư sản học sinh là đúng, vì đi học càng lâu thì con người càng quen lối sống tiểu tư sản, nhiễm sâu tư tưởng tình cảm tiểu tư sản qua sách vở, bài giảng... Cam định ngậm miệng nghe thôi, nhưng cái máu “Quảng Nam hay cãi” hừng hực bốc nhanh: - Theo ý đồng chí, hễ tôi cứ ở mướn giữ ngựa nhà quan phủ thì là cố nông, về cày ruộng rẽ với cha mẹ thì được xếp bần nông. Bậy cái là tôi được Chánh phủ nuôi cho học hết Trung học bình dân, bộ đội khu Tư cấp sanh hoạt phí cho học tiếp chuyên khoa, vậy là tôi biến thành tiểu tư sản. Từ đó suy ra đi học là sai, là dại, dù tôi học nhà trường kháng chiến, phải chưa ? Học càng ít, tinh thần cách mạng càng cao, phải chưa ? Trường ta là nơi đào tạo từ công nông ra tiểu tư sản đồng loạt, phải chưa ? Đồng chí kia rõ là chỉ quen nói chứ không quen nghe, đỏ bừng mặt. Anh em đều biết đồng chí mới thoát mù chữ, nhắc nhau ghi thắc mắc nộp lên phải viết chữ to và rõ, càng ngắn càng tốt, và chớ nên cười khi ông ấy viết trên bảng những chữ lạ: tổ quất, dan sơn, dăm tô dăm tứt. Mà ông ấy lại ưa tự tay viết bảng đen “để học viên vừa nghe vừa coi cho nhớ lâu”. Phó chính ủy trung đoàn làm phó cho ông ấy phải bỏ nhỏ với cán bộ của mình: “Dụng nhơn như dụng mộc, trong phát động phải dùng những người như ảnh mới kiên quyết làm tới tới”. Cam không nghĩ mình sẽ lay chuyển được tảng đá trước mặt, nhưng cũng không chờ đợi cặp mắt trừng trừng với cái giọng trấn áp ấy: - Đó, chỉ bấy nhiêu câu là đủ thấy đồng chí Cam lộ rõ bản chất tiểu tư sản ! Nói vậy còn nhẹ, thiệt ra phải truy kích tới cùng để thấy tư tưởng địa chủ đang phản ứng giai cấp. Cuộc cách mạng ruộng đất long trời lở đất vậy, toàn dân hò reo hưởng ứng, một mình đồng chí lo vạch lá tìm sâu là sao ? Ngay trong bộ đội ta, các đồng chí thuộc gia đình địa chủ đều hứa hẹn cắt đứt quan hệ với gia đình, mấy đồng chí hứa hôn với con địa chủ cũng dứt khoát thẳng tay. Đồng chí khoe hồi nhỏ ở mướn, ăn cơm vay cày ruộng rẽ, tôi chưa biết đúng sai. Bây giờ khác rồi. Trong lúc bộ đội đổ máu, nông dân một nắng hai sương làm ra cơm gạo, đồng chí ngồi năm này qua năm khác trên ghế nhà trường lật từng trang sách, vậy có công bằng không ? Ăn bám Chánh phủ để đi học miết vậy, không biết xấu hổ à ? - Tôi không việc gì xấu hổ. Tôi đi Nam tiến đánh giặc từ mười ba tuổi, nay đang chỉ huy bộc phá. Đồng chí đã đổ giọt máu nào cho Tổ quốc chưa, hay là chỉ bám chắc hậu phương, đợi cờ đến tay để ngoi lên làm ông lớn ? Tôi cũng căm thù địa chủ đến xương tủy, nhưng tôi không chống địa chủ bằng lưỡi mà bằng tính mạng của mình ! Hừ, hết bản chất tiểu tư sản tới tư tưởng địa chủ, phản ứng giai cấp, lưỡi không xương... Cam vừa nói vừa biết mình đang quá lời, nhưng không kìm lại được. Tổ trưởng hối hả cắt, can đôi bên, còn xuýt xoa gỡ tội cho cậu tổ viên trẻ: - Anh thông cảm cho, tụi tôi lính chiến ăn nói thô kệch... - Học tới tú tài thì thô kệch cái thớ gì ! Đồng chí lãnh đạo chộp cái làn dẹt bằng cói đan theo kiểu cặp da, nhấc cái nón lá Gò Găng móc trên phên úp lên đầu, vùng vằng ra về. Ông ấy mặc quân phục xi-ta nhưng thích có những thứ của nông dân kèm theo người, tỏ ra mình giữ được gốc gác. Cả tổ cán bộ cùng bàn quanh vụ đấu khẩu, trừ vài người dè dặt còn hầu hết thấy Cam nói đúng. Cam chờ đợi mình bị cảnh cáo về thái độ, hay nhẹ hơn là một chầu mổ xẻ trước cả lớp. Không gì xảy ra. Người tổng kết cuối khóa lại là anh phó chính ủy, ông cán thường tự xưng là “nông dân thuần túy” kia đã đi giảng bài nơi khác. Phó chính ủy chỉ dành vài câu cho một số đồng chí thiếu bình tĩnh trong khi tranh luận, gây ra hiểu lầm đáng tiếc. Ít lâu sau Cam mới được rỉ tai cho biết: ông kia đề nghị đuổi Cam ra khỏi Đảng và cách chức xuống đội viên. Bị trung đoàn ủy chống bằng phiếu kín, ông nổi cáu bỏ đi tuy chưa hết khóa. Đến đấy Cam thốt giật mình. Một cái gì như phản ứng ngược buộc Cam phải nghĩ: mình từ nông dân mà ra, tại sao bị một ông cán bộ nông dân cho roi vọt nặng tay đến thế ? Mình có biến chất, nhiễm sâu tư tưởng tiểu tư sản hay địa chủ như ông ta đập chăng ? Hay mình mắc bệnh hoài nghi, cái gì cũng lật xem mặt phải mặt trái, đòi mắt thấy tay sờ mới chịu thừa nhận, khác với đồng chí đồng đội có lòng tin đơn giản hơn ? Nói cho cùng, lòng tin đơn giản trong cách mạng là đúng hay sai ? Cam chưa tự trả lời được những câu hỏi rối rắm ấy. Gạt bỏ chúng đi cũng chẳng được, chúng cứ luồn lách lúc nhúc như đỉa ruộng tháng Năm. “Chà, lời xưa bảo đa thư thì loạn tâm. Mình học lem nhem, chưa đa thư mà đã đa tư thế này, quả là mua dây buộc mình !”. ... Cụ Gừng gặp lúc rảnh việc, nán lại kể chuyện hơi lâu, kéo từng khói ngắn từ cái ống vố to tướng nhồi thuốc rê. “Cái píp này bằng tuổi thằng Hai tao, thằng tiểu đoàn phó đó”. Anh em ban đầu chỉ nghe vì lễ phép, dần dà bị cuốn theo những kỷ niệm của cụ về đời sống Hà Nội và các thành thị trong những năm hai mươi, ba mươi, với nhiều chuyện lạ hết sức. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Mười, 2016, 02:52:16 pm Tiếng vó ngựa lọc cọc kèm tiếng cán roi kê vào nan hoa thay chuông nổi to dần. Ít ai để ý. Tiếp phẩm của trạm thường thuê xe ngựa chở gạo củi về, gần đây họ đâm ra ngại gánh. Nhưng lần này thêm tiếng rì rì của ô-tô chạy chậm theo sau, báo rằng thương binh nặng sắp đến. Người trong các nhà đều túa ra sân.
Hai chiếc xe ngựa chở thương binh vừa và nhẹ. Từng người được đỡ xuống, dìu vào chỗ nghỉ. Chiếc xe Uy-Iix của Mỹ cỡ nhỏ, được sửa bên trong để xếp gọn bốn cáng trọng thương, chở ba người nằm in lìm phủ chăn. Một cô y tá nhảy xuống, moi túi dết lấy giấy tờ, được cụ Gừng đứng chìa tay đợi sẵn. Cô này trông khá lạ mắt. Đầu tóc kẹp không mũ, mặc một bộ quân phục đàn ông còn cứng nước hồ nhưng đã nhàu, quá dài nên phải gấp nhiều nếp ở tay áo ống quần. Chân cô lại đi một đôi giày rừng của quân ngụy, đế cao-su dày nặng in vết răng chó trên đất mềm. Cái túi dết bên sườn, khâu chữ thập đỏ, làm bằng thử vải dày màu chàm dệt rất nhiều sợi chỉ vàng chỉ bạc và chạy nhiều sọc đỏ. Trong khi y tá khiêng ba cáng thương vào phòng cấp cứu, cô lúng túng hỏi cụ Gừng: - Dạ thưa bác... cháu xin gặp đồng chí quân y trưởng... cháu tới lần đầu chưa biết... - Là tao đây, khỏi tìm đâu xa. Ờ mà tao quên bọc cái kính lão theo, mày nói miệng cho mau. Bao nhiêu, phân loại gì, đơn vị ? - Dạ, ba trọng thương, chín trung thương, không có khinh thương. Còn thêm tám trung thương ở sân bay, xe đi đón lượt nữa. Bộ đội tình nguyện Hạ Lào - Đông Bắc Miên. - Ủa, tụi bay khiêng thương về tới đây ? - Dạ không, số bị nhẹ đi bộ theo đơn vị, số nặng hay trúng chân, khiêng đường trường không nổi, ta phải đấu dữ lắm tụi Pháp mới cho một chuyến khường bin... à, tàu bay... chở anh em từ Pạc-xê về Quy Nhơn. Giằng co miết nó mới chịu nhận số hai chục thương binh với hai y tế, bấy nhiêu thôi. - Cố tổ thằng Tây ! Tao chữa lành tù binh của nó tới số ngàn, mấy kỳ trao trả còn vét đủ thứ xe cộ đưa tới cảng. Đứa nào đứa nấy đỏ au, đứa chưa lành cũng chụp tay tao mà hôn hít, khóc, cảm ơn cứu mạng ! Anh y sĩ trực ra sân, giúi cái kính lão vào tay cụ Gừng, nói gọn: - Báo cáo, không ai biến chứng. Đang cho hồi sức, một tiếp xê-rom. Cụ đeo kính, lật nhanh các giấy giới thiệu, bật kêu: - Mày nói hai chục, ở đâu thêm năm đứa khinh thương nữa: Nhận thêm gián điệp hả ? Hay mày để rớt trên tàu bay ? - Hì hì... thưa bác, có tờ giấy dưới cùng... Anh em đó lánh né theo đơn vị, tới đợt kiểm tra chót ở cảng mới lộ, quân y giữ lại bắt đi sau. Cũng là tha-hẳn a-xả xơ-mắc... dạ, là lính Hạ Lào hết thảy, họ ghép vô đoàn cháu về thu dung cho tiện. Từ nãy Cam đã thấy cô y tá này rất quen và chưa nhớ ra gặp ở đâu. Đứng sau nghe lỏm câu chuyện, Cam thốt lẩm bẩm: “Hoàng Lan, đúng Lan rồi !”. Anh Chanh có kể lướt qua vụ đính hôn của Lan ở Lào, Cam cười dài. Thời buổi này người ta cưới tập thể cả chục đôi một lần, lại đi bày cái trò cũ rích ! Đợi cụ Gừng cầm xấp bệnh án đi vào nơi cấp cứu, Cam bước tới: - Chào Hoàng Lan ! Đã quên hẳn chưa ? Lan mở to mắt nhìn anh bộ đội cao chừng thước bảy, râu quai nón bọc nửa mặt, ngập ngừng: - Đồng chí... dạ, anh là ... xin lỗi, tôi chưa kịp nghĩ... - Lấy chồng nhớ mặt chồng thôi, bạn cũ quên ráo. Tản cư Sông Vệ, hai nhà bị chung một trái bom... - Ui trời, anh Sáu Cam ! Thay đổi dữ ác vậy, hoại, mắt thánh mới nhìn ra ! Cam xốc ba-lô của Lan đưa vào phòng khách, cố giấu bước chân tập tễnh. Lan chạy đi thăm thương binh và bàn giao một lúc lâu, khi quay lại Cam đã kịp bày trên bàn một ấm tích nước chè, hai cái cốc gọt bằng vỏ dừa nâu bóng, một lạng kẹo thèo lèo mua ở căng-tin, loại kẹo tổng hợp bốc mỗi thứ một nhúm. Cô gái trước mặt Cam càng nhìn thấy hiện thêm những nét hồi nhỏ ở Sông Vệ. Có lẽ vì cô giống bà mẹ chết bom với cặp mắt to và đăm chiêu, với khuôn mặt tròn, má tròn, cằm tròn, miệng cũng tròn, tất cả dường như bị đặt lầm chỗ trên cái cổ ba ngấn và thân hình thon dẻo, cao dong dỏng. Ở rừng núi lâu mà không bị nước da xanh sạm với môi thâm, hẳn y tá biết tự chống sốt rét. Vừa từ Lào vù thẳng về nước, Hoàng Lan còn nói chen tiếng Lào như lính tình nguyện quen nói với nhau. - Anh Cam sang ghê ta ! Mà anh không giống hồi trước chút xíu, giờ như Tây lê-dương ngó lạ hoắc... Hôm đám cưới, Lan tiếc hoài không có anh Cả Chanh thay mặt nhà gái, chỉ có mấy chị em bệnh xá. Anh biết anh Tám Thống không ? Hụ chắc bò ? Không à ? Tại anh Tám đó. Mới nghe ta rục rịch tập kết là ảnh đòi cưới liền tay, một hai phải cưới. Thôi, cho nó xong trớt đi... Thiệt tội nghiệp lính Hạ Lào. I-tôn ại noọng thẹ ! Chỉ có số đơn vị ở gần biên giới mình kịp kéo về liên khu Năm thôi, qua thị xã Công-tum, đồn Mang Đen mình diệt, đổ dốc xuống Sơn Hà, tới Quảng Ngãi. Các mặt trận xa rút về không kịp, Pha-lăng chặn hết đường, phải hành quân băng xéo qua Trung Lào ra thẳng Quảng Bình. Anh Cam nghĩ coi, mùa mưa này mà lặn lội rừng núi, sông suối ! Nhiều anh sang Lào từ Bốn mươi chín, Năm mươi, nhiều chị Việt kiều ở Thái-lan qua, ở Pạc-xê hay Thà-khẹc, bây giờ phải chịu pây tậu hôm thang phu 1 tận miền Bắc luôn, mất về thăm quê, mất gặp cha mẹ vợ con, lại đi xa gấp đôi, thương lắm anh ơi ! Anh Thống lại ở lại tìm mồ mả liệt sĩ, Lan ở lại giúp chữa thương binh cho đủ sức kéo bộ đường trườn, mắc kẹt cả hai. Bây giờ anh Thống theo đơn vị Châm-pa-xắc ra Quảng Bình. Ảnh tự an ủi là ở liên khu chẳng còn ai, nhà ảnh chết ráo y như Lan vậy, còn số họ hàng thì hai năm sau gặp lại cũng được. Lan sửa soạn đi bộ với ảnh, mà trúng dịp chuyển thương mới theo khường bin. Với lại... bí mật, anh Sáu đừng cười nghen.. Lan thấy mình hơi khác khác... phải lo liệu... - Lan khác lắm chớ ! Qua từng ấy năm nhứt định là khác rồi ! - Ông khờ lắm ông tướng ơi ! Để sau rồi hiểu... Tức cười, thằng Tây làm Ủy ban liên hợp với ta ở Pạc-xê nói tiếng Việt róc róc mà lại dốt tiếng Lào, nó khoe cha nó mở đồn điền ở Quảng Nam, nó gởi lời hỏi thăm ông Phan Chanh là hàng xóm cũ, ông Năm Chò là người rình giết hụt nó nhiều lần. Tới vụ tàu bay chở thương thì nó lắc đầu miết như người kinh phong: thiếu tàu bay, tàu cũ lắm mà còn bị các ông bắn hư, không an toàn, chở thương lỡ rớt chết chùm thì các ông kiện rùm beng ai chịu nổi, nói nghe tức ói. Anh Thỉnh chính ủy đấu lý suốt không được, phải dọa đóng quân tại chỗ không đi đâu hết, thêm Ủy ban quốc tế khuyên vô, nó mới chịu. Vậy chớ khi lên tàu bay Lan cũng sợ, lỡ bay qua chỗ vắng nó hất anh em mình xuống thì nguy. Anh Thỉnh cười, nói chờ điện của ta từ Quy Nhơn đánh qua ảnh mới nhúc nhích... Trong giấy của y tế Hạ Lào ghi chuyển Lan cho quân y liên khu, xếp ở đây hay cho đi trước tùy lòng. Cụ Gừng đến mé sau từ nãy, nói ồm ồm: - Mày mang lính bệnh lính què tới thì mày ở đây lo cho tụi nó, chớ bỏ cho ai ? Còn thằng Cam nữa, râu xồm mà dại, nó nói khác khác là nó mang bầu, bấy nhiêu không đoán ra ! Tao coi bản sao giấy đi đường của Pháp, thấy ký dưới là thằng thiếu tá Pi-e La-phác-sơ, tao dự trao trả thương binh Pháp ở Quy Nhơn mấy lần, không gặp thằng này. Chắc nó họ hàng gì đó với lão Lê-ông La-phác-sơ, thằng chủ đồn điền bợm ghiền mở đồn điền, vậy nó là con lão Lê-ông đích thị ? Lão Lê-ông nói tiếng Việt cũng rành lắm, ăn được cả thịt chó chấm mắm ruốc ! Cam bật cười to: - Cùng một chuyện mà cháu ba lần bị mắng là ngu, dại, khờ ! - Chuyện gì ? - Chuyện đàn bà chửa ! Anh Năm Chò một lần, cô Lan một lần, tới bác là lần thứ ba. Các bà cứ như đố mẹo: có rồi, khác khác... Lan đỏ mặt, cười rũ. Đợi cụ Gừng đi khỏi, Lan mới thì thào: - Con gái mới lấy chồng hay giấu chuyện đó, xấu hổ chết. Chẳng hiểu tại sao Lan đem kể thẳng với anh... Chắc tại hồi xưa hai nhà như một, bây giờ thì... thì Lan không còn ai nữa... hết trơn... Đợt thương binh thứ hai chưa đến. Hoàng Lan lẳng lặng sang phòng hồi sức xem lại ba trọng thương, giữa những cặp mắt tò mò nhìn theo kiểu ăn mặc lạ mắt của cô. Các sòng tu-lơ-khơ đã vãn nhiều, đỡ ồn. Anh em cũ xúm vào số trung thương và khinh thương mới đến, hỏi đủ chuyện hành quân trên trời dưới đất. Ban đồng ca của trạm bắt đầu ôn hài hát mới cho đêm liên hoan quân dân sắp tới: ... Hai năm nữa con sẽ về Hai năm nữa con sẽ về Xóm làng mừng vui đón con, hoa tươi trên đầu súng... Cam khập khiễng đi vào chỗ góc dành cho nhóm bích báo, soạn các thứ mực xanh, tím, hòa mấy viên ki-na-crin vàng và lấy lọ thuốc đỏ sát trùng ra, vẽ tiếp những hoa bướm với bồ câu hòa bình trên tờ giấy to. Cam mỉm cười tự nhủ: “Hãy bớt nghĩ ngợi bao đồng đi cho dễ sống, Cam ơi !”. ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Lào: đi tập kết đường núi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Mười, 2016, 02:55:00 pm * * * Chọn được một chỗ ngồi sát be tàu, có thể nhìn thấy rõ hướng tây và không vướng ai cả, Cam đặt cái ghế xếp tự làm và ngồi lì đấy đợi giờ kéo neo. Chiều nay đẹp tuyệt. Vào cuối tháng mười một dương lịch này, vùng nam đèo Hải Vân đã hết mùa mưa lũ nhưng chưa bị nhiều gió bấc, nền trời trong veo dâng rất cao, không khí êm mát rười rượi. Mặt biển chỉ gợn sóng lưỡi búa nhỏ, nghe bảo tàu ra khỏi vịnh mới gặp sóng lừng, say sóng hay không đợi ra khơi mới biết. Hôm trước, cụ Gừng đã dễ dãi cho chủ bút bích báo theo mình xuống Qui Nhơn để sắm mấy thứ cho câu lạc hộ của Trạm. Ở suốt ba trăm ngày đâu có thể tạm bợ. Nhờ giấy của cụ, Cam được vào vùng cấm sát bến cảng, xem cảnh tàu lớn dùng cần cẩu nhấc những khẩu đại bác chiến lợi phẩm, tiếp đó là mấy con voi vận tải. Một số cán bộ đơn vị tưởng Cam là người của cảng, đứng phân bua rất dài rằng đó là những chàng voi có huân chương, khôn như người và hơn người nữa, biết tụ núp máy bay, tự bỏ lá ngụy trang cho mình, biết cứu hàng trên lưng khi trúng bom đạn, biết góp sức luyện voi non mới vực thành voi thuần. Ngựa hay trâu còn bán được cho dân để thu hồi tín phiếu, giống voi thì bán cho ai ? Lùa thả vào núi chúng không chịu đi, mà có đi cũng sẽ bị lính địch lùng hắn chết lấy ngà... Chắc hẳn anh đã cãi nhiều phen nên luôn lý lẽ rất hùng hồn, trôi chảy, trong khi các nài voi và bộ đội choàng lót dưới bụng voi những tấm lưới đan bằng sợi dây dừa to buộc ghe bầu, chằng níu rất chắc. Voi đứng im cho làm, cứ thế bước xuống xà-lan như thú rừng mắc lưới. Cam mượn cái ống dòm, xem cảnh cẩu voi lên tàu: chúng bơi bơi bốn chân, chổng vòi lên, há mồm, chắc là rống khẽ nôn không vọng tới bờ, trong khi quản tượng đứng trên lưng chúng, tay níu thừng, dẫm chân hết lời dỗ dành. Chiếc tàu Ba-lan Ki-lin-xki sơn màu sữa không vào gần bãi được, phải chuyển tải bằng tàu há mồm của Pháp với xà-lan, thuyền buồm của ta. Mỗi lần cụ Gừng gửi đi “một gói sắp nhỏ”, tức vài chục thương binh ra viện, các thày thuốc lại dặn đứt lưỡi về các qui định xuống tàu lên bến, các hộ lý và đội phụ nữ trong làng đến giúp Trạm lại tíu tít giúp anh em sửa soạn. Ba-lô buộc chắc và trơn tru, không vướng các mấu móc. Thức ăn khô phải đủ cho hai ngày đêm, trên tàu chỉ cấp nước sôi hay nước vô trùng. Tất nhiên thương binh không thể nhai gạo rang như lính chiến, phải có bánh tét, bánh nổ, một chồng bánh tráng gạo để nhúng nước ăn với tôm thịt kho mặn nhồi ống. Mỗi người một thứ vỏ hộp hay túi chịu nước để nôn, ai hay say sóng phải dán cả chồng túi bằng lưỡi rựa nóng rạch trên ni-lông đi mưa. Cả giấy đi ngoài cũng phải chọn thứ giấy dễ rã trong nước, thứ giấy rơm nội mỏng là tốt nhất. Phải tăng liều thuốc phòng sốt rét, ai cũng mang trong máu cả mớ kí sinh trùng đang rình khi mệt trên biển là quật tiếp luôn cho đứ đừ. Cụ Gừng tất tưởi chạy kiểm tra, la rầy, nhắc mỗi ngày chục lần: “Tụi bay ăn chưa no, lo chưa tới...”. Vẫn chưa hết. Còn qui định không được hoan hô hay tỏ ra vui thích quá đáng khi tàu há mồm của Pháp ghé vào bãi đón quân ta, cần hoan hô vang dội khi vào sát cầu phao và thang xếp của tàu lớn Ba-lan. Nếu trúng chuyến tàu thuê của Na-uy thì cứ lẳng lặng mà lên, họ lạnh như tiền thì ta cứ tỉnh bơ như hành khách mua vé. Chiếc Ki-lin-xki trông xa tưởng to vừa thôi, khi lên mới thấy là cả một thành phố nổi. Thủy thù dàn trên cầu phao, đỡ từng người mất thăng bằng, dìu người yếu hay cõng nặng lên cầu thang xếp lắc lư. Những đồng chí phe ta, sao mới gặp đã muốn ôm ghì đến thế ! Thương binh được phép lên boong thượng hóng gió, trong khi người khỏe phải xuống thẳng sàn hai, sàn ba, nhận chỗ nằm trên những giường ba bốn tầng chưa hết mùi thơm nồng của gỗ thông mới đóng để biến chiếc tàu chở hàng này thành tàu chở quân. Điện sáng rực, quạt chạy trong khi những ống thông gió hình ống vố chưa lùa không khí xuống vì tàu đứng im. Bộ đội chơi gì thì chơi nhưng chịu khó khom lưng vì giường tầng đóng thấp, và chỉ lên boong thượng vào những giờ cho phép. Cứ thế các chuyến tàu há mồm trút người từng đợt vào bụng tàu lớn chứa mãi không đầy. Cam ngồi lạng chỗ cũ, nhìn vào đất liền. Nắng chiều từ phía tây chiếu xuống hiên đã nhồi các màu xanh vào nhau cho ngả dần sang đen. Các lớp phông đang trộn lẫn. Mới ban nãy, Cam còn nhận ra được chân sóng sủi trắng, bãi cát vàng, rặng dừa xanh sẫm, vùng đất bằng hơi nhạt màu hơn, lớp núi gần pha xanh trời, những rặng cao và xa hơn chìm vào nền xanh lơ ở nơi đất trời không còn ranh giới. Cam đã nổ nhiều cân bộc phá và tưới máu ở nơi mịt mù kia, và bây giờ tất cả đang ép sát vào nhau, ghép lại thành bức tường nhà cháy nhô đỉnh long lở và thân phủ muội dày đặc, cả một dãy tường như thế đang đợi bàn tay ta xây lại. Còi tàu nổi lên ba hồi dài ù ù.. Máy kéo xích neo dưới ghế Cam quay rong róc. Động cơ đã rền dưới sâu từ nãy, giờ bùng to hơn. Con tàu chuyển mình rất êm, chỉ lắc nhẹ, Cam cúi nhìn xuống biển mới thấy mũi tàu bắt đàu rạch sóng cho sủi một dải bọt đang dài thêm dần. Ngửng lên, lại tưởng như tàu đứng im, khẽ đung đưa tại chỗ. Cuộc chia tay xa bờ thật là lặng lẽ, không chút nào giống cảnh xe lửa rời sân ga hay con thuyền tách khỏi bến với rất nhiều người vẫy nhau, gọi nhau, dán mắt vào nhau trong phút cuối. Dọc br tàu lúc này, cả một dãy thương binh và bộ đội đứng ngồi chen chỗ nhìn vào đất liền, không một cử động hay lời nói. Tự dưng Cam muốn thoát ra khỏi cái dáng hòn vọng phu này, nó kéo dài vì tàu chạy chậm và biển rộng. Cam vén tay áo trái lên, nắn cùi tay và tập co duỗi. Cùi tay trúng mảnh pháo sau khi tháo bột đã hiện rõ bị tật, tập ít lâu sẽ duỗi thẳng được nhưng chỗ khớp vẹo sẽ thành cáng vá, các thầy thuốc hội chẩn cho biết nó còn lại chừng sáu bảy chục phần trăm sức cũ. “Vậy là may đó Cam, khỏi bị tháo khớp hay cưa bỏ”, cụ Gừng bảo thế, Cam thấy phải. Những người thương tật hay tự so sánh với anh em rủi ro hơn, và tất cả đều thấy mình may mắn khi nhớ tới các đồng chí họ đã đưa xuống huyệt... Cam thoáng buồn cười khi nhìn tay áo xi-ta xám mới được phát “để ra Bắc cho chỉnh tề”. Tin báo trước rằng bộ đội sẽ nhận ở Cửa Hội mỗi người một bộ “đại quân” với áo vá vai hai túi bỏ ngoài quần, nhưng đồ xi-ta còn dùng xen kẽ ít lâu nữa. Vẫn những bộ nhuộm xám với nhiều chỗ đậm nhạt khác nhau đo cắt ở nhiều súc vải, vẫn những cúc vỏ dừa lâu nay, nhưng lứa quân trang may sau đình chiến này đã chiếu cố mốt mới của lính, cắt cầu vai và nắp túi to tướng, quần ống bó và nếp lơ-vê cao đến một tấc. Bộ cuối cùng của kháng chiến mà, chiều lòng nhau tí ! Cậu cưa chân ngồi bên Cam gọi khẽ: - Xuống anh hè. Lạnh rồi. Con tàu đã ra khỏi vịnh, gió thổi mạnh hơn. Tất cả các đèn điện đầu đuôi cao thấp cùng bật sáng, hai đèn pha quét qua lại trên biển. Cam không muốn nhìn đất quê hương chìm biến vào đêm, đứng lên, xếp ghế cầm tay, ghé vai cho bạn vịn, bước tới giữa boong. Chỗ đầu cầu thang rất dốc đi xuống sàn dưới có dựng một cửa vòm gỗ hình hộp che mưa nắng. Cam dừng trước cửa, hấp háy đôi mắt chói đèn, từ khoang tàu rộng đầy người thốc lên tiếng cười đùa, màn tuồng và ca bài chòi nghêu ngao, reo cắt phăng teo. Gió lùa qua các ống thông tận đáy đẩy ngược lên cửa mùi nồng nồng của hơi người đông đúc pha lẫn khói thuốc rẻ tiền, cái mùi ấm áp quen mũi ở nơi lính ôm nhau úp thìa ngủ chen chúc mùa rét. Trong Cam bỗng cồn lên, trào lên mãi niềm vui được hòa vào đám trai trẻ nhộn nhịp kia, được hóa thành một tế bào giữa đoàn quân thắng trận đang ra đi. Đà Nẵng 11.1987 Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:31:50 am NGƯỜI CÙNG QUÊ
(TIỂU THUYẾT) Tập III Tác giả: Phan Tứ NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 1996 Khổ 13 x 19 Số trang: 682 (2 quyển) (http://i1312.photobucket.com/albums/t538/hoi_ls/Scan-150122-0002_zpsswoivylc.jpg) (http://i1312.photobucket.com/albums/t538/hoi_ls/Scan-150122-0001_zpsaiobtnrn.jpg) Chương 1 Buổi sáng cuối hè ấy, dường như tất cả các hoa phượng đỏ và vàng trên đường Lê Thánh Tôn cùng nở vét sòng một lần cuối trước khi tàn rụng vào đầu thu. Ve sầu trên dãy sấu cổ thụ dọc đường Lý Thường Kiệt cũng thi sức réo từ sáng sớm tuy đêm qua đã hòa nhạc rất khuya. Một anh bộ đội đang đi dọc Lý Thường Kiệt về phía Lê Thánh Tôn. Anh này cao hơn mức trung bình, mặt lún phún râu quai nón, mặc bộ quân phục đại quân vá vai hai túi được phát cho cấp trung đội trưởng trở xuống, đeo lủng lẳng một bên vai cái ba-lô lép kẹp, kiểu đeo đỡ nóng lưng của người lính đi xa đơn vị. Ngôi nhà lớn bệ vệ có chữ đắp nổi rất chung chung là “Đại học Việt Nam” đang dậy tiếng loa phóng thanh báo tin trúng và trượt trong kỳ thi vào Trường đại học Tổng hợp. Anh bộ đội càng đến gần tiếng loa càng bước ngập ngừng, như tim óc muốn đi mà đôi chân ngại nhích tới thất bại. Anh tới cổng vào sân trường khi một loạt trai gái trẻ tuồn ra. Nhìn qua nhận thấy ngay ai trúng ai trượt. Trúng thì mặt đỏ, cười nói ríu rít, từng lúc cố tự hãm và vui mừng trước các bạn rủi ro, buông đôi câu an ủi chung chung. Thất bại thì cố gượng cười để buông đôi lời tỏ vẻ bất cần, cũng dễ thấy “tiếu tựa văn nhân lạc đề thi”, trước khi nhanh chóng tách khỏi đám đông để tìm nơi giải sầu. Anh bộ đội chọn một người mặc quân phục giống hệt mình, mũ còn quân hiệu như mình, ghé lại hỏi: - Thế nào, xướng danh tới đâu rồi cậu? - Sắp xong khoa học tự nhiên, chưa tới các khoa xã hội. - Phần cậu ra sao? - Vỏ chuối. Lính đi thi hầu hết vỏ chuối. Chả có thì giờ học ôn, ganh đua thế nào được với học sinh trong thành. Tớ thi vào Lý, đề ra hỏi điện, mà chục năm nay tớ chỉ dùng đuốc với đèn dầu. Vào đi cậu, sắp sang phần xã hội đấy. Chúc may mắn hơn tớ! Anh bộ đội bắt tay người bạn chưa biết tên, đi vào sân trong trường vừa lúc máy phóng thanh báo tin sang các khoa Xã hội. Khoa Sử đọc trước, một chọi hai. Khoa Ngữ Văn một chọi năm, lại thêm cả một loạt ưu tiên cho các dân tộc thiểu số, cho học sinh nữ. Nhà trường dành ba điểm ưu tiên cho thương binh, bộ đội trên năm năm chiến đấu, trên tổng số 40 điểm, nhưng chỉ tính riêng số này cũng đã gấp đôi chỉ tiêu được tuyển vào năm đầu khoa Ngữ Văn. - Số ba: Nông Thị Ân. Số chín: Nguyễn Châu Bình. Số mười bảy: Phan Cam. Số hai mươi ba: Trần Đình Giang... Anh bộ đội Sáu Cam đã rập chân đứng nghiêm và đáp “có” thật to khi tên mình được gọi giống hệt khi điểm danh ở đơn vị, khiến cho các thí sinh trên sân trong của Trường đại học đều quay lại nhìn và bật cười to nhỏ, gái che miệng và trai cười ra tiếng, ồn ào hô hố. Mười phút sau, Cam lại đeo ba-lô một bên vai, ra khỏi cổng trường. Có một mảnh đất tí xíu bên kia đường Lê Thánh Tôn, cắm biển là Vườn hoa Tao Đàn. Cam ngồi xuống một ghế đá gra-ni-tô sứt mẻ, nhìn lại quãng đường Lý Thường Kiệt và Lê Thánh Tôn mới đi qua sáng nay. Sợ mình nghe lầm, Cam còn ghé xem danh sách trúng tuyển được đánh máy và dán bên trong một tủ lưới mắt cáo. Đúng thật rồi. Anh lặng lẽ đi ra, không quen ai để tán ríu rít như mấy cô cậu sát bên cạnh. Hai con đường Cam quen qua lại trong đợt thi bỗng dưng đổi màu. Lá xanh tươi hơn, hoa đỏ, vàng nổi sáng hơn, tiếng ve vui hơn. Cam hỏi giờ một cậu trẻ tuổi lững thững đến ngồi ghế đá bên cạnh, vò nát điếu thuốc lá trong đôi bàn tay chán chường. Còn những ba tiếng nữa mới có xe lửa ngược lên thị xã Phú Thọ. Và còn sáu ngày nữa Cam mới hết hạn phép. Nằm trạm đón tiếp quân nhân trên đường Cột Cờ thì suốt ngày nhức tai vì loa truyền thanh và các sòng tu-lơ-khơ trong căn buồng kê mười sáu giường chân niễng. Về căn buồng tí xíu của Hoàng Lan trong bệnh viện Phủ Doãn, dứt khoát không được. Đành la cà đâu đấy quanh hồ Gươm đã được đám miền Nam tập kết gọi là hồ Tìm Kiếm. Thế nhưng... sao mình chợt mệt mỏi đến thế? Đời lính chiến đấu có hai kiểu mệt. Đánh trận bị thua, không thắng không bại cũng là thua, lính mệt đấy nhưng vẫn bị nỗi đau chích nhoi nhói vào thịt, buộc từng người bật dậy, sửa soạn cho trận phục thù sắp tới. Cái mệt sau khi thắng lớn lại khác. Thân thể và đầu óc lính ta đều đòi được nghỉ, được ngủ, được ăn, được tắm giặt sau những đêm ngày ác liệt, và đòi hỏi ấy rất chính đáng, không ai chối cãi được. Một cơn mệt thắng trận như thế đang tỏa khắp người Cam, sau nhiều tháng năm tìm chỗ khuất trong doanh trại chong đèn học gạo rất khuya, chỉ tắt một lúc khi trực ban và tổ tuần tra chộp được, đợi họ đi xa là thắp lại. Cam móc quai ba-lô vào cánh tay trái, duỗi tay vịn dài trên lưng ghế đá, móc quai mũ đính quân hiệu dưới cằm, nhắm mắt. Lập tức, anh cảm thấy chiếc chế xoay tròn dưới thân mình, từ từ bốc lên cao... Một bàn tay đập trên vai Cam. Lại vỗ mạnh hơn. - Nè anh lính Cụ Hồ, dậy, kẻ cắp lấy sạch trơn rồi kìa ! Cam dụi mắt nhìn quanh, bỗng chồm đứng. Mũ và ba-lô biến từ bao giờ? Cam bước ra xa ghế, ngó quanh, chẳng thấy một ai. Tiếng cười rộ lên sau lưng khiến anh quay lại. Thêm một lần sửng sốt nữa: anh Năm Chò và anh Ba Dĩnh chứ ai đâu xa lạ. Năm Chò cúi xuống lôi ba-lô và mũ của Cam giấu dưới ghế đá ra, vẫn cười: - Mày sống miết với dân ruộng dân rừng, về Hà Nội lũ móc túi được món phát tài. Hỏi mày luôn: đậu hay rớt? - Đậu anh à. Chắc là đội sổ. Họ không báo điểm từng người. - Làm điệu hoài. Anh em ở Đoàn 81 nói mày học giỏi lắm, năm ngoái Ban chính trị thiếu trợ lý văn hóa không cho mày đi thi vô đại học, bị đấu một trận ra trò, năm nay mới chịu nhả mày ra, phải chưa? Qua bấy nhiêu năm trung đội trưởng mà vẫn mặc vá vai hai túi à? Cam cười xòa, quay sang hỏi chuyện anh Ba Dĩnh. Anh Ba lên tới chính ủy trung đoàn, gần cuối kháng chiến đạp phải mìn Gip phải cưa chân dưới gối, lắp chân giả. Sau một năm tập kết, anh được điều về làm bí thư Đảng ủy một khu mỏ ở Quảng Ninh. Còn Năm Chò không dính mảnh dính đạn lần nào, rất khỏe, nhưng văn hóa quá thiếu, thi vào Học viện quân sự bị trượt, thi vào lớp bồi dưỡng cán bộ trung cấp trượt, thi vào trường Lục quân đào tạo cán bộ sơ cấp cũng trượt nốt. Ưu tiên đến mấy cũng không bù nổi. Hai năm trước, nghe lời rủ của Ba Dĩnh, anh chuyển ngành về vùng mỏ, nhưng nhất định không nhận làm anh cán bộ tổ chức bên cạnh Ba Dĩnh: - Mày biết đó, Ba. Làm tổ chức thì phải biết nghề, biết người. Nghề mỏ tao dốt đui, làm sao đánh giá được năng lực anh em. Còn người là dân tứ xứ, người Việt cũng cả chục tỉnh kéo tới, chưa kể người Hoa, người Nùng, người Thổ Thái Mèo Mường, tao từ trong Nam ra Bắc lần đầu, biết gì mà tổ chức họ. Để tao cuốc than vài ba năm đã. Anh làm đúng như đã nói. Ban đầu cuốc than trên tầng lộ thiên, thoáng gió nhưng phơi nắng và lương thấp. Nửa năm sau anh xuống lò, cuốc xúc trong đáy hầm sâu. Cậu thợ phụ đun xe vào loại khỏe và chăm. Lương chính của anh cộng với tiền sản phẩm được trên dưới 150 ngàn, gần sấp đôi lương cán bộ tiểu đoàn. Tuy vậy, anh đang tính chuyển về nông trường Sao Vàng ở Thanh Hóa. Ở đấy anh sẽ nhận lương bằng một phần ba so với khi làm thợ mỏ. Anh chưa nói vì sao định làm thế. Mắt anh Năm Chò sáng lên khi nghe Cam còn thừa sáu ngày phép. Anh xốc cái ba-lô lép kẹp của Cam ngoặc vào vai: - Mày đi thăm vùng mỏ với tao, với anh Ba. Tao phải về chào từ biệt anh em vài ngày, gói ghém đồ đạc mang về nông trường. Anh Ba có cùng rủ mày hay biểu mày can gián tao, mày cứ lờ đi cho tao nhờ, hẹn rồi nghen. Mày còn gì ở trạm Cột Cờ không? - Sạch trơn anh à. Còn một gói sách giáo khoa em gửi ở nhà Hoàng Lan, khi trở về Phú Thọ em ghé lấy. - Sao mày không ở nhà con Lan cho yên tĩnh mà học ôn? - Cậu Thống đi xa, em tới ở dễ mang tiếng. Vợ lính vắng chồng... - Phong kiến bỏ mẹ! Mà cũng phải... Tao đi hè. Chiếc xe com-măng-ca vẫn đợi từ nãy bên kia đường, cậu lái ngủ gật. Ba người cùng đẩy một quãng cho xe nổ máy, chạy xuống Hải Phòng, sẽ đi tiếp ca-nô đến thị xã Hòn Gai. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:36:38 am * Suốt hai ngày trên xe và trên ca-nô, Cam nghe chuyện anh Năm Chò, lắm lúc nghĩ: bốn năm tập kết ra Bắc đối với anh cứ trôi thẳng tuột, nhẹ nhõm. Còn đối với mình, sao cứ phải lo toan quanh quẩn mãi thế? Cam tập kết theo chuyến tàu Ki-lin-xki gần cuối. Sau vài tuần đợi ở đơn vị thu dung, một anh ở Tổng cục cán bộ đến bảo khai lý lịch và nguyện vọng. Mươi ngày sau anh trở lại, gọi từng người đến giải đáp. Cam cũng như anh em khác đều muốn trở về đơn vị cũ. Không được, sư đoàn 305 đã lắp đủ cán bộ, đề bạt có, trên điều về có. Trong một buổi “đả thông” chung, anh càng nói càng bốc, đến khi tới đỉnh cao thì anh tuyên bố: - Tinh thần yêu nước có nội dung từng giai đoạn. Trước kia các đồng chí xung phong đi chiến đấu là yêu nước, đến nay hòa bình đã lập lại, đất nước lo xây dựng kinh tế, các đồng chí bị sức khỏe giảm sút và không thạo kinh tế, cho nên lúc này tình nguyện ra khỏi quân đội mới là thực sự yêu nước... Một đại đội trưởng tóc sớm bạc, đi Nam tiến từ năm 1946 nay trở ra Bắc, để lại một vợ hai con trong Nam, dơ tay xin nói. Anh nói rất thong thả: - Tôi hỏi thăm nhiều người quen, được biết đồng chí nhập ngũ năm Năm mươi mốt, qua Trung Quốc học trường Lục quân và ở lại làm cán bộ nhà trường, mới về nước cách đây một tháng. Chúng tôi rất sẵn sàng ra khỏi quân đội để giảm gánh nặng cho dân, chỉ mong không phải nghe những lời nhảm nhí của những kẻ chưa hề nghe tiếng súng. Anh phái viên đỏ bừng đến tận cổ, càng nổi rõ bộ áo quần ngoại mới tinh được là rất kỹ. Anh vừa mở miệng ấp úng, chợt có một thương binh cụt hai tay mặc bộ xi-ta cúc dừa vá nhiều chỗ đứng vọt lên, hét to: - Đề nghị khinh mười phút! Anh em ùn ùn kéo ra khỏi phòng họp, một phòng ngủ hai mươi giường khung tre lợp lá cọ. Chưa nói đâu xa, chỉ riêng trong tiểu đoàn thu dung cũng đã lắm tiếng dội rất căng từ bên ngoài. Cấp trên luôn nói trong quân đội không có chủ nghĩa thành phần, nhưng lặng lẽ rút đi một tiểu đoàn trưởng gốc phú nông, một chính trị viên con nhà địa chủ có sáu mẫu ta Bắc bộ, có phát canh thu tô vì bảy người con lần lượt theo kháng chiến cả. Hai người được đưa về thay: một trung đội phó mắc tật nói cà-lăm làm chính trị viên, một trung đoàn phó “có vấn đề” làm chỉ huy tiểu đoàn. Rồi một đêm nọ, ba người gần như trần trụi chạy xổ vào đơn vị. Anh em kinh hoàng nhận ra bí thư Đảng ủy xã, chủ tịch xã, xã đội trưởng. “Họ ghép chúng tôi vào Quốc Dân Đảng cả. Tổ chức địch lồng trong tổ chức ta mà lị”. Anh em bàn nhau cùng giấu. Giấu sao được. Chỉ sau hai ngày, cả ba đều bị số du kích “nòng cốt” đến trói tay, giải ra Tòa án nhân dân đặc biệt, cô chánh án mười tám tuổi vừa xử vừa quay đầu lại hỏi “anh đội” ngồi sát sau lưng. “Tụi nó hay hô khẩu hiệu lừa mị dân, ra vẻ mình bị bắn oan”, một cô du kích đã giảng cho bộ đội ở nhà mình như thế. Cô này khá xinh, trẻ măng, không giấu lòng tin mến với anh Sáu Cam, cũng không chút dè dặt khi Cam nói rõ bố mình là cường hào gian ác, mình là tiểu tư sản học sinh. “Ối, hơi đâu tính đường xa”. Em thấy anh chả có gì là cường hào hay tiểu tư sản cả. Bộ đội Cụ Hồ ai cũng như ai”. Nhưng Cam không thể quên cặp mắt long sòng sọc và bộ mặt đàng đằng sát khí khi cô bắn và lên đạn rong róc sau mỗi phát súng. Cam lảng xa cô, giả tảng không thấy những ánh mắt tủi hờn. Ngày hẹn hiệp thương trôi qua. Ở vương quốc Cam-pu-chia, lực lượng kháng chiến không được ghế vào trong bầu cử. Phía vương quốc Lào, hai tỉnh tập kết của Pa-thét Lào bị tấn công rất dữ. Sai lầm trong cải cách ruộng đất đợt năm ngày càng hiện rõ. Đơn vị đóng ở Phú Thọ, cách thị xã độ bảy cây số. Cam xin giấy giới thiệu, đến trường cấp ba Hùng Vương mé trên thị xã, xin mượn sách giáo khoa về tự học thêm, mượn được giáo trình các thầy cô giáo càng tốt. Nghe mãi nghĩ mãi chỉ thêm rối đầu rụng tim, cứ chúi mũi tự học cho nó khuây. Vẫn không được yên để khuây khỏa. Tiểu đoàn trưởng gọi lên giao làm báo tường sau khi đọc lý lịch. Chỉ sau năm ngày, anh chính trị viên nói lắp lại gọi lên giao việc khác: dẫn một trung đội thu dung đi bảo vệ cho cải cách ruộng đất ở xã gần bên. Đêm gác, tuần. Ngày giúp dân làm ruộng, đào mương. Được vài tháng, đơn vị gọi Cam về “vì lý do sức khỏe”, tuy dạo ấy Cam đã lành hẳn các vết thương, chỉ có khuỷu tay trái bị vẹo cáng vá còn trên năm chục phần trăm sức cũ. Chính trị viên tiểu đoàn lạnh nhạt nhắc lại lý do bằng giọng lắp quen thuộc. Anh biết, và biết Cam cũng biết, rằng Cam bị rút về vì hai lá thư. Một do Cam gửi về Đoàn thu dung, phê bình anh đội trưởng xử sự theo kiểu “nhất đội nhì trời”, cố đẩy phú nông lên địa chủ cho đủ chỉ tiêu 5 phần trăm do trên giao, đôn trung nông khá lên phú nông và tuyên bố “cô lập phú nông” tuy chính sách là trung lập phú nông. Lá thư thứ hai là của ông đội trưởng kia ghép Cam vào tội chung chung là “mất lập trường” đối với các giai cấp bóc lột... Tiểu đoàn chẳng đủ sức đi tận nơi xem xét, cứ rút Cam về cho gọn. Càng hay thôi, Cam lại chúi mũi học ngày học đêm trong khi chờ lệnh mới. Đợt sửa sai đến khi Cam học gần xong chương trình cấp ba, chỉ thiếu phần Lý Hóa thực hành. Anh chính trị viên tiểu đoàn được điều đi lặng lẽ, nghe nói về sau anh được xếp trung đội trưởng, lên một cấp so với trước. Sau một tháng học về năm đợt Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức, cán bộ được phép viết lại lý lịch. Cam viết đúng như sự thật, rất khác bản xác nhận hằn học của Ba Mít tức là Chủ tịch Hùng Minh. Hai bản khác nhau đến nỗi chi bộ và tổ học tập không dám thông qua, đòi phải có cán bộ cùng quê viết ý kiến gửi đến. Được thôi. Cam viết hàng chục thư gửi tất cả cán bộ được biết địa chỉ. Đoàn thu dung định điều Cam đi sửa sai, Cam từ chối mềm dẻo nhung dứt khoát: - Tôi là tiểu tư sản, con cường hào gian ác, nay lý lịch không rõ ràng, nói chẳng ai tin, lại mới bị ghép “thiếu lập trường” nữa, xin hoãn ít lâu đợi điều tra thêm. Năm Chò đang ở vùng mỏ, được thư vội chạy về Hà Nội, lùng khắp nơi, lấy được cả thư có đóng dấu của anh Bảy Quý ủy viên Trung ương Đảng, cả một lô giấy xác nhận của cán bộ từ cấp đại đoàn, trung đoàn trở xuống, đánh điện báo trước cho để khỏi đi xa khi anh đến. Cam nhận điện một ngày sau khi bản lý lịch mới được duyệt rất gọn, chỉ mất mười lăm phút. Về sau Cam mới biết: anh Bảy Quý, phó Ban tổ chức trung ương, được thư Cam đã gọi dây nói đến thẳng chính ủy Đoàn thu dung qua mạng lưới của quân đội, nói những điều cần làm rõ đối với cậu cán bộ trẻ lắm thành tích và thương tích bị rơi vào chỗ không ai quen biết và không ai đi xác minh ở quê quán được. Cam được gọi lên tiểu đoàn, gặp lúc anh Năm Chò đang ném ra trước mặt Ban chỉ huy cả một xấp giấy đóng dấu đỏ, mặt đỏ bừng hung hãn, tay áo xắn cao và mở hai cúc cổ, cả thân hình vuông và đen như tủ gỗ mun chồm tới như sắp lao vào đánh vật. Cam ấn xấp giấy vào túi dết, kéo anh về chỗ ở. Lát sau hai anh em đã cười nghiêng ngả, nói chuyện khác. - Tao đem cho mày năm chục ngàn... Đừng lo, tao về mỏ, đi lò lãnh khá lắm, mỗi tháng trên dưới trăm rưởi ngàn, có khi hơn hai trăm ngàn là thường. Mày bì sao được, phụ cấp trung đội trưởng đủ hút thuốc sừng bò nửa tháng, về sau là ngửa tay hay lượm tàn. Ông Bảy Quý phò trợ mày về chính trị, còn tao lo cho mày tiền tiêu. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:38:44 am Cam đi sửa sai ở Thanh Hóa với niềm vui đơn giản. Ba tháng sau anh trở về với mặt sa sầm, giọng nhát gừng. Nông thôn ta bị đảo lộn quá mức tưởng tượng. Mấy gia đình đã đón và giúp đỡ Trường Lục quân năm xưa đều có tang, có người bất mãn đòi “rạch mồm bọn tố điêu”, có người quay lưng bỏ đi khi nghe nói sửa sai, có những bà mẹ ôm Cam khóc ròng khi nhắc tới kỷ niệm của lớp lính trọc đầu ngày ấy chuyển lang thang qua các huyện Thọ Xuân, Nông Cống, Tĩnh Gia, quần quật từ bốn giờ sáng đến chín giờ rưỡi tối. “Các con về thăm thì cha mẹ mừng, về kêu gọi thì đừng thì chớ. Bọn ăn ốc trốn biệt cả rồi, xui các con về đổ vỏ đấy...”. Ngón tay các mẹ chỉ lên tấm ảnh viền đen trên bàn thờ.
Cam đã gào to đến khản cổ trong những mít-tinh không có máy phóng thanh, đã nhiều phen cởi áo sơ-mi phơi các vết sẹo chi chít trên thân, đã túm tay cán bộ bị quy oan buộc phải xóa thù cũ với số cốt cán lựa gió phất cờ trong Cải cách. Người dân chưa tin Cam mấy, nhưng dù sao cũng nể anh bộ đội chỉ biết hiến máu thịt mà chẳng xơ múi gì, bỏ bố mẹ anh em lại trong Nam để ra xây dựng miền Bắc. Chỉ trong ba tháng, Cam bị các vết thương cũ nổi loạn, nằm liệt giường, phải trở về Đoàn thu dung với bộ mặt hốc hác và bước chân lê lết, trong khi các nơi Cam đến đều tạm yên, lắm báo cáo còn đề nghị khen thưởng đồng chí đội phó đội sửa sai. Tiểu đoàn chỉ nói qua cho Cam biết, sau đó lặng im luôn. “Công chung tập thể chứ công riêng gì ai, xấu đều hơn tốt lỏi. Đằng nào cậu ấy cũng ra khỏi quân thường trực...!. Nước ta tuyên bố giảm quân số tám vạn. Đoàn thu dung cố đưa về phục viên (trước quen gọi là xuất ngũ), nếu có nơi nhận thì cho chuyển ngành, cũng khá nhiều được sang nông binh vào các nông trường quân đội mới mở. Riêng Cam và một số anh em được giữ lại làm trợ lý văn hóa hay giáo viên văn hóa, giúp cho anh em chưa xếp chỗ được học thêm ít nhiều trước khi ra khỏi quân đội, cũng để giảm bớt những cơn sốt ruột đâm nói bậy. Ừ thì làm. Quân đội nuôi mình học chữ ở Liên khu Năm, Liên khu Bốn, nay giúp lại đồng đội là phải. Cam lại hùng hục lao vào việc mới, và làm được việc đến nỗi Đoàn bác bỏ đơn xin dự thi vào đại học mùa hè năm 1957 vì lý do “đang phục vụ xây dựng quân đội”. Cam chỉ được phép dự thi vào đại học Tổng hợp I Hà Nội sau khi Đoàn thu dung được quyết định “kết thúc nhiệm vụ”, tức là giải thể. Chỉ được một tháng ôn thi, nhưng Cam vẫn trúng tuyển. Lần đầu về Hà Nội, Cam phát khiếp khi gặp số học sinh phổ thông lên, họ đọc làu làu như cháo chương trình cấp ba, rất thương hại anh lính lớ ngớ tỉnh lẻ đi thi cầu may, mà lại thi vào khoa Ngữ Văn hóc búa, năm người chọn một, chẳng phải như khoa Sử ba người lấy hai, khoa Hóa hai người lấy một. Và như thế, đồng chí Sáu Cam thương binh bước vào đời sinh viên. Anh Ba Dĩnh cười tủm tỉm: - Tao tới trường hỏi kỹ rồi. Học bổng toàn phần sinh viên hăm hai ngàn. Học bổng cho cán bộ bộ đội trên năm năm công tác là ba mươi lăm ngàn. Nhắm mày chịu nổi không? - Chịu nổi. Ngày hai bữa cơm, được học tiếp là quý rồi. - Thôi được, mày có ông anh đào mỏ khá tiền, ổng bù đắp thêm. Đừng ép xác quá nghen Cam, ho lao nửa chừng lại mệt tụi tao. Ảnh có kế hoạch bơm xăng cho mày đó. Kèm đấy là một phát vỗ lưng đến nảy ngược cả người. Sau anh Cả Chanh, biết bao nhiêu ông anh đã nện vào Cam như thế? Tháng Tám năm nay mưa muộn, mà cũng có thể do vùng khí hậu ven vịnh Hạ Long, chỉ đổ rào xuống từng đợt ngắn. Ba anh em đứng dựa mạn ca-nô ngắm cảnh, tán dông dài, và ý nghĩ dạo nào trước khi tập kết lại láy mãi như điệp khúc trong Cam: “Nghĩ vừa vừa thôi cho dễ sống, Cam ơi”. Anh Năm Chò ra đi với đứa con trong bụng chị Năm Bưởi, nay vẫn chưa biết con trai hay gái, sống hay chết, vợ được yên thân hay chăng, mà anh cứ cười nói tỉnh bơ. Mới đến Hải Phòng, anh Năm đánh điện ngay cho Đoàn thu dung, báo tin Cam phải làm thủ tục một tuần nữa mới xong. Thấy Cam áy náy, anh gạt phăng: “Chúng nó bày việc ra cho có vẻ tận tụy đến phút cuối cùng, vậy chớ ai cũng lo cuốn gói”. Sự thật cũng đúng thế. Cùng lắm thì ghi vào số ngày phép mà Cam chưa từng dùng đến sau bốn năm tập kết, bởi cấp trên đã nói cắn cưa: đi phép thăm cha mẹ vợ con hay anh chị em ruột mới được cấp giấy phép, được thanh toán tàu xe. Cam đành bó tay vì anh Năm không phải anh ruột, lý lịch ghi rõ như thế. Biết bắt đền ai nếu miền Nam chưa được giải phóng? Hải Phòng trông bình dân hơn Hà Nội nhiều với những sơ-mi cộc tay bỏ ngoài quần soóc, mũ lưỡi trai mềm, áo ngắn nữ, rất nhiều quán ăn nhậu xuề xòa ầm ỹ. Tàu nước ngoài vào ăn a-pa-tít màu nâu đen nhiều: tàu Đai-un Ma-ru của Nhật, Plê-i-at của Hi-lạp, Ki-rốp của Liên Xô, Đi-mi-trốp của Bun-ga-ri... Tàu ta có ba chiếc nhỉ, anh Ba Dĩnh bảo là loại chở 600 tấn, Hòa Bình, Hữu Nghị, Việt Xô 57, đều chở than cám. Các chị lái máy kéo nối một chuỗi moóc đều đội nón lá và phô đôi mắt sung húp, chắc phải làm ca đêm nhiều. Loa truyền thanh đang phát buổi tiếng Trung Quốc, nghe lạ tai. Các biển hiệu đều viết bốn thứ tiếng: Việt, Hoa, Anh, Pháp. Đến thị xã Hòn Gai, trong khi anh Ba và anh Năm lo các giấy tờ thuyên chuyển. Cam để một ngày đi thuyền buồm thăm vịnh Hạ Long, một ngày đi các nhà máy than luyện, than cốc, nhà sàng, hơi hàn, cơ khí. Sang ngày thứ ba ở Hòn Gai, anh Năm đánh thức Cam dậy lúc ba giờ rưỡi sáng để đi “chào tạm biệt”. Tạm biệt ai vào lúc đêm đen kịt này? Cam ríu ríu làm theo lời ông anh: thay mặc bộ “áo quần chiến thuật” đã vá nhiều chỗ, đội giày vải rách, đeo túi dết và cái bi-đông rỗng. Hai anh em đi ngược dốc đến chỗ xe lửa đậu, loại Đờ-cô-vin đường hẹp xe nhỏ. Anh Năm chìa bi-đông cho bà hàng rót đầy nước chè xanh vào, lấy hai gói xôi đậu đen bày sẵn trên chõng. Tất cả bảy trăm, anh đưa tờ một ngàn và phẩy tay nhẹ, bỏ đi. Quen nhau đến nỗi không cần nói tiếng nào, cả chủ lẫn khách! Trong toa xe hẹp và tối om bò chậm như xe đạp, hai anh em giở xôi ra ăn lặng lẽ. Anh Năm vẫn lì lì như cóc cắn. Cam liếc nhìn anh nhiều lần, không nhận ra nét gì trên khuôn mặt đen trũi lẫn vào bóng đêm. Chắc có gì trái ý trong hai ngày làm thủ tục chuyển đi xa, anh vốn ghét giấy tờ đến cái độ kinh niên. Đợi đấy, chớ hỏi, anh sẽ tồng tồng kể hết. Một bác rậm râu ngồi cạnh, cặp lồng cơm trưa kẹp giữa hai chân, rít mồi thuốc lào rõ dài, nói to hơn với anh thợ trẻ đang gật gà cạnh sườn: - Thế đấy Súy ơi, một tuần phép có vui có buồn. Thằng em tao lên vù vù trong giảm tô, trong cải cách đợt năm, qua kiểm tra chững lại, đến phúc tra mới cắp chiếu hầu tòa, án bảy năm, nay về nhà mổ lợn ăn mừng rồi. Cũng là bọn ghen ăn ghét ở, đội sau lật ngược đội trước lấy tí thành tích. Cái khoái nữa là tao gặp đích thị thằng đội trưởng phúc tra ở Hải Phòng... Nó không dám về quê, cũng không về nơi nó cải cách, lang thang kiếm không ra việc. Cái thằng dạo trước tao nói đấy, nó bắt cốt cán phải thuộc lòng: “Ơn Bác, ơn Đảng, ơn Đội”, thiếu hai chữ ơn Đội thì sau phải vớt thêm vào cuối mít-tinh. Nó không nhận ra tao, khi ngồi ăn cơm vỉa hè nghe tao nói chuyện làm mỏ, nó sấn vào nằn nì tao giúp nó làm thợ phụ. Dạo tao về làng, bao giờ cũng ngồi rìa dưới cùng vì tội liên quan thằng em, còn nó mặc đại cán chễm chệ trên ghế chủ tịch... - Bác cho nó mấy quả? - Không quả nào. - Hừ, bác lành quá đấy, gặp cháu thì nó vỡ quai hàm. - Ghét thì vưỡn. Mà đánh kẻ chạy đi chứ ai nỡ đánh đứa chạy lại. Nó khỏe vâm mà nhếch nhác, hốc hác, bệ rạc quá mày ơi. Hay ta cho nó vào cúp mình, hở Súy? - Thay cháu à? - Đời nào! Thay cái Hợi, nó ễnh bụng sáu tháng rồi xúc hai xẻng than đã thở thụt bễ, hư thai có ngày. Đưa nó về Nhà sàng ngồi nhặt đất đá cánh mình tom góp giúp tí sữa tí tã, để phúc cho con cháu... Ra thế. Những làn sóng dội xa của Cải cách đợt năm và của đợt sửa sai tiếp liền theo đó đã lay chuyển từng anh bộ đội, từng bác thợ mỏ, gắn với nếp nghĩ Việt Nam ngàn năm là “bầu ơi thương lấy bí cùng”! Nhiễu điều phủ lấy giá gương!. Đâu phải là họ dễ dãi. Đổ xương máu và hiến mạng sống suốt cả một cuộc Kháng chiến trường kỳ không thể là những người ngây thơ, ba phải. Xóa bỏ được bấy nhiêu thù oán trong sai lầm cải cách chỉ có thể là những người vô cùng nhân đạo, vô cùng yêu nước yêu dân, vô cùng tin ở Đảng và Bác Hồ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:41:58 am Xe lửa dừng ở Hà Lầm, thợ lò chuyển sang ô-tô. Anh Năm chỉ ghé thoáng qua một nhà bên đường, nhận một gói to bọc giấy báo, ném ra mấy tờ giấy bạc rồi đi tiếp, hẩy tay cho Cam trèo lên một xe Ta-tra thùng vuông đóng thêm thang sắt lên xuống và nhiều tay vịn dọc, người đứng ép nhau như cá hộp. Xe chở thợ lên lò 87 và 88 cách Hà Lầm ba cây số. Đến hai giờ chiều tan ca một, phần lớn thợ cuốc bộ xuôi dốc, ai mệt quá mới đi ô-tô.
Sườn núi quanh các lò nham nhở than đen và đá xít cũng đen nhưng không bóng, xa miệng lò mới thấy đất đồi đỏ pha vàng. Một anh thợ trẻ mặc bộ quân phục lắm chỗ vá như Cam, cũng quen anh Năm rối rít hỏi thăm về đại đoàn Ba lẻ tư mà Cam mù tịt. Cậu chuyển ngành làm thợ xúc than ở một cúp xoi tít vào đáy sâu, lương chính và tiền sản phẩm xấp xỉ hai trăm ngàn, phải cái làm vất vả. Anh bạn mới gặp đã thân, rót vào tai Cam vô số lời hướng dẫn. Cam nghe mãi đến mụ cả đầu. Chỉ nhớ loáng thoáng về lò cái, lò chợ, lò gió, lò cúp, ga cho xe goòng tránh nhau, đĩa sắt xoay goòng đun than. Và rất nhiều tên cho gỗ chống lò, cột bích, cột mộng, cây xà, cây văng, cây chèn nóc, cây chèn vách, cây thìu. Cam chỉ nhớ ấn tượng chung là bước qua cửa lò thấy nóng, ngạt, ẩm, chỉ ngớt khi qua chỗ quạt 17 mã lực hút không khí lên cao, lò gió bên dưới tỏa mát ngọt vào mũi. Lắm chỗ không khí ép phun phì phì như đầu máy hơi nước qua những ống thép và cao-su dày. Đi phải coi chừng: trên đầu lắm nước dột, bên sườn căng dây tời điện kéo goòng rỗng lên lò, dưới chân là đường goòng và nhiều vũng nước đọng. Càng vào sâu càng chật và bí hơi, có đoạn phải bò bốn chân mới lọt. Anh Năm đã mượn mũ nhôm và ủng cao-su cho cả hai, một đèn đất xỉ lửa ngang đủ sáng để tránh đường goòng dưới chân và nhận ra những chữ phấn kèm mũi tên trên vách: “Hay cặm”, “dễ lật”, “đĩa xoay”, “đường dãn”. - Anh Năm, ới anh Năm Phi Đao! Rẽ cúp này chứ! - Ơ... chúng mày đến đây rồi à? - Theo vỉa mới, chưa kịp đặt ray. Được khá lắm anh. Mới kéo tạm bằng xe ba gác đã gấp rưỡi cúp cũ. Cầm chắc tháng này hăm lăm vạn, tính cả phần ông phi đao đấy! - Thôi để chúng mày đỡ cho vợ con. Rửa qua cái tay, ta làm lễ tạm biệt. Tao vào Thanh Hóa làm ruộng nông trường, móc nối để trở về miền Nam đây. Giữa rất nhiều tiếng xuýt xoa ồn ào, anh Năm giở cái gói nhận ở Hà Lầm, bỏ ra một chai rượu ngang, nửa tút thuốc lá Hoa Hồng, một gói chả lụa còn nóng. Anh rót rượu ra một ngăn cà-mèng và chuyền tay nhấp mỗi người một ngụm. Ông bác ngoài năm mươi tuổi ngồi xổm cạnh Cam nâng ngăn cà-mèng rượu lên: - Tiếc anh lắm lắm, mà cơ sự ra thế thì chúc anh đi chân cứng đá mềm. Trộm phép anh, chứ đám này bảo nhau người như anh Năm là của hiếm. Cầm quân đánh giặc bao năm ròng, về mỏ không chịu làm ông quan bàn giấy, chui vào lò hùng hục xúc đất cuốc than với dân thợ chúng tôi, chia nhau nắm cơm vấu cháo... Anh Năm vẫn ít mở miệng, nhưng mặt anh tươi dần lên. Anh tự đứng lên trước, túm hai tay lắc vai từng người trong tổ, ngoài anh ra còn lại năm. Ra khỏi lò, gió mát rượi quạt vào mặt. Gặp một cô rỗi việc đang soi gương chải tóc, Cam mượn gương soi mình, bật cười khi thấy mặt nhọ nhem, nhìn xuống thì cả ủng lẫn quần vấy đầy bùn than, trong khi anh Năm sạch sẽ hơn nhiều. Anh Năm rửa và trả các thứ mượn, kéo Cam lên một xe ben tuy đã được báo lệnh mới là thợ mỏ không được đi xe ben vì thùng xe trơn tuột, người dễ văng ra ngoài. Xuống chợ Hà Tu gần trưa, họ vào một cửa hàng mậu dịch nhỏ. Anh gật đầu chào chị bán vé, búng tay đánh tách và giơ hai ngón, cụp xuống, lại giơ hai ngón như người phương Tây chúc hai lần thắng lợi. Vài phút sau, trước mặt mỗi người đã có một bát phở lợn giá ba trăm, chai bia Trúc Bạch, cốc vại bỏ đá. Cam ăn gần hết hát phở, lại nghe tiếng búng tay và nhận rất nhanh bát phở thứ hai, lần này là phở bò tái, rất khó gặp vì Chính phủ cố chặn bớt việc giết trâu bò. Hình như anh Năm dựng hai ngón xong còn thêm ngón cái dựng đứng, Cam thoáng thấy thế. Chắc là ám hiệu khách quen sẵn sàng trả thêm. Từ Hà Tu lên khu mỏ lộ thiên Bàng Danh B chừng bốn cây số. Một xe Ta-tra ấn còi gọi, rồi lái xe nhảy hẳn xuống đất vành loa quanh miệng gọi anh Năm, anh chỉ xua tay, nắm hai tay giơ cao giật giật như bắt tay từ xa, kéo Cam đi bộ. Cam nghĩ ngay: giờ tâm sự bắt đầu! Đúng thế. Vừa xa khu chợ, anh mở miệng: - Tao nhắc chuyện tao thêm phiền cho mày, thôi cứ diễn hề cho mày đỡ tủi. Tao cháy ruột đó Cam. Chị Năm Bưởi bị tù từ sau Giơ-neo, đẩy tù lao này qua lao khác, con tao sanh ra chưa biết trai hay gái, sống hay chết. Cả nhà mình ở Linh Lâm bị treo tấm bảng to tướng: “Tình nghi can cứu, loại A!”. Bọn tề ngụy đi đâu cũng ghé vô hạch sách, khám nhà, hỏi giấy, sau đó phải một nồi xôi hay cháo gà cho vài chục đứa ăn khuya... Ở nông trường Sao Vàng được đón anh em vượt tuyến ra Bắc nhiều lắm, dân Quảng Nam cũng khá đông. Còn ở mỏ đây, mấy ai có thì giờ nghĩ tới miền Nam đâu. Đào nhiều than, kiếm lắm tiền, đem về nuôi vợ con ở quê, bấy nhiêu thôi. Tao nói chuyện miền Nam, họ nghe lát lại tưởng là chuyện ở Nam Định hay tỉnh Hà-Nam. Ngay Ba Dĩnh là cỡ khá trong Đảng ủy mà cả năm nay đề nghị mua vài tờ báo Thống Nhứt cho khu mỏ cũng chưa được, “hết kinh phí”, xin bó tay. Mày kể tao nghe bốn năm không được đi phép vì không có cha mẹ hay anh chị em ruột ở miền Bắc, mày hiền quá đó, tao cứ như xe ủi đất, thách đứa nào dám cản... Tao về nông trường Sao Vàng để sống với anh chị em miền Nam, họ báo trước mỗi tháng trả không quá bốn vạn. Kể gì đâu Cam, tao ra Bắc để đợi ngày về Nam, đâu tính làm giàu. Tiếc một chút là Chánh phủ cho mày ít quá. Ở nơi củi quế gạo châu như Hà Nội mà mỗi tháng ba vạn rưởi, sợ mày học gạo chịu không nổi, rút dù nửa chừng... - Chịu được quá chớ anh Năm. Con nhà lính mà! - Ừ thì lính. Cũng là lính, mà lính địch hậu khác lính chủ lực, lính chủ lực khác lính văn phòng, lính văn phòng khác lính hậu cần, lính kiểng lính ma, mới nhập ngũ đã qua học bên Liên Xô, Trung Quốc nhờ ơn các ông tướng tá vun vén cho nhau... Mày cứ học tới tới đi nghen, đừng để tụi nó coi khinh lũ dân nghèo mình. Nhà mình dốt nát, anh Cả Chanh chỉ học trong tù, tao dốt đui thi đâu có rớt đó, trông cậy còn mình mày ngoi lên trí thức cách mạng, vinh dự cho cả nhà... Anh Năm rài rài không ngớt trên bốn cây số leo dốc lên tầng mỏ lộ thiên Bàng Danh B, nơi anh lần đầu vung cuốc chim xắn vào than đá. Lại một chầu ngừng tay tạm biệt nữa dưới nắng gay gắt. Hai anh em về Hòn Gai theo xe lửa đầu ca hai quá hai giờ chiều. Tắm rửa xong, Cam bước về buồng trọ được xếp, thấy anh Năm chống tay cằm nhìn xấp giấy bạc trước mặt: anh em trong cúp gửi anh những năm chục vạn đồng, kèm một mẩu giấy viết nguệch ngoạc, đầu vết than bẩn: “Anh Năm không nhận thì chúng em biểu tình, liệu hồn!”. Anh Năm đưa hai mu tay lau mắt, nói nghẹn: - Quái quỷ, mình ở thì chán tụi nó, cầm quyết định ra đi cứ ruột gan cồn cào. Cam, mày biểu tao làm gì... Với tụi ở mỏ chớ ai nữa... Sao tao thương quá, Cam ơi, sợ tao rứt đi không nổi. Bấy lâu đùm bọc nhau còn hơn máu thịt. Gắn bó quá sá rồi, tao ra đi như cắt ruột... Cam biết, anh Năm sẽ đi thêm một bước về gần miền Nam, sẽ kiêu hãnh vì chịu lương rất thấp, sẽ trở về với những người cùng quê. Cam trở về Đoàn thu dung, được đọc ngay bản quy định mới nhất của Tổng cục cán bộ: một số quân nhân đỗ vào các trường đại học và cao đẳng có thể trở về phục vụ trong quân đội như ngành Y, Dược, Sư phạm thì cho phong quân hàm, hưởng chế độ như khi tại ngũ. Trong số các ngành khác mà quân đội chưa cần, có nêu rõ tên đại học Tổng hợp, Nông lâm, Thủy lợi... Cậu cán bộ chơi thân ở văn phòng kéo Cam ra sân, rỉ tai: - Mày đi là phải. Mày thâm niên trung đội trưởng thành tích có thừa, thế mà khi xét đề bạt Đảng ủy cũng bác, “chưa cần thêm cán bộ”, là lý do thôi. Khi xét đề nghị phong quân hàm, các ông ấy chỉ để mày cấp chuẩn úy, lại lý do là “khuyến khích phấn đấu, khiêm tốn học hỏi”. Chuyển ngành thôi, Cam à. Còn may là cái huân chương Chiến thắng hạng ba của mày về kịp rồi, tao đang giữ hộ. Các thứ huân huy khác chỉ có giấy, chẳng được tí đỏ ngực nào, chỉ có huy hiệu Điện Biên được phát thôi, cả những đứa ở xa Điện Biên mấy trăm cây số cũng nhận. Lính địch hậu cánh mình đánh bọp xẹt như du kích xã, chắc các cụ nghĩ thế, không nhìn vào bản thống kê mới đây là tỉ lệ thương vong của lính địch hậu cao hơn nhiều so với lính các đại đoàn chủ lực. Cam nghĩ nhanh tới lời động viên đã từng nghe: trước kia yêu nước phải tòng quân, đến nay yêu nước là ra khỏi quân đội!. Dù cậu cán bộ kia nói hớ, thì cách xử sự của đơn vị chẳng khác là bao. Ra đi thôi. Hãy dồn sức vào chiến dịch mới: cuộc tấn công vào thành trì khoa học. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:45:44 am Chương 2 Hai Thùy đang tính sổ, cộng các khoản nợ công may, nợ vải, xem có đủ nộp ba ngàn đồng vào “quỹ tố cộng” hay chưa, chắc bà Tư mẹ chồng đi đòi rã chân cũng chỉ thu được một nửa. Nhà hết cả những thứ bán ra tiền. Khách đến may cứ khất lần hồi, tới mùa lúa hay mùa nhập lâm sẽ trả. Không cho nợ thì bàn máy bỏ không, lò rèn ông Tư cũng ế lây, dân làng thường dành một buổi làm hai việc. Tiếng vó ngựa và chân người đi qua cầu gỗ bắc ngang khe Cốt khiến chị ngừng tay, rướn cổ nhìn xuống cầu. Mười mấy người đang ngược dốc lên phía nhà chị. Chị đút vội cuốn sổ vào ngăn kéo máy may, vơ lấy một cái quần lính rằn ri chưa vá, bất đầu đạp. - Nè chị kia, đứng dậy, ra góc nhà đợi đó! Hai thằng lính và một công dân vụ quen mặt nhưng không biết tên vừa ập vào, súng chĩa ngang, mặt hầm hầm như sắp bóp có. Đừng lý sự với bọn này, lý sự cùn vài câu là nện. Chị lặng lẽ đến chỗ chúng chỉ. Tên công dân vụ thò tay rút hai ngăn kéo hai bên máy may, lấy ra cuốn sổ đang cộng dở, hừ hừ trong mũi. Mấy người cưỡi ngựa cũng vừa dừng trước cửa. Thùy liếc nhìn qua, thấy một đứa đeo hai bông mai bạc, trung tá. Một đứa một bông mai vàng, thiếu úy. Một lão có khuôn mặt rất quen nhưng không nhớ gặp ở đâu, chừa ria mép, mặc bộ com-lê xám có thắt nơ đen trên cổ sơ-mi, đội mũ phật tử rộng vành, áo dài rất căng trên bụng phệ. Còn thêm một đứa bị phỉ nhổ nhiều nhất trong xã Linh Giang, nay đổi gọi Tây Giang, là đồng chí Hùng Minh tức Ba Mít, đi đâu cũng tự xưng là “cán bộ Việt Minh từ hồi bí mật, nay ăn năn hối cải trở về với chánh nghĩa quốc gia, được nhứt tề trọng đãi, vừa được trên cử làm đại diện xã mình”. Dân các làng ven sông Linh đều ghê tởm cái đứa trở cờ này. Tên trung tá ỳ ạch xuống ngựa, bước tới trước tiệm may: - Gì đó bay? - Dạ thưa trung tá tỉnh trưởng, mụ này có sổ ghi dân chúng góp tiền gạo nuôi Việt Cộng! Hai Thùy tức quá, nói to: - Không phải Việt Cộng! Là ghi nợ may chưa trả... - Câm họng, ai cho chị mở miệng hả? - Ông vu oan để giết tôi... Người mặc com-lê vất cái mũ dạ phật tử trên máy may, rút kính lão đeo lên mắt, lật nhanh các trang ghi bút bi, đưa lại cho Thùy: - Cháu viết tắt nhiều, bác coi không ra. Đọc bác nghe ít dòng từ trên xuống thử. Thùy đọc gằn giọng: - Cái Hĩm, bà Thuần Linh Thương, một bộ áo đầm tám tuổi, vải mười sáu, công mười hai, cộng hăm tám đồng... Thằng Trĩ, ông Ba Xíu, một bộ bà ba, vải không, công mười bốn đồng... Chó Rớt, chị Chín Huê, một bộ con nít xẻ đáy... Lão kia giơ tay cầm sổ xem lại, bật cười: - Ông trung tá coi đó, Việt Cộng toàn con nít dưới mười tuổi! Tên lính vừa gây sự với Thùy xoay người lại, chị thoáng thấy lon chữ Y hạ sĩ trên tay áo trái của hắn: - Bẩm quan, con còn bắt được một đứa mọi cái núp ở nhà sau. Nhà treo bảng cô lập hạng A mà nó dám vô... Rất không ngờ, tên trung tá tát bốp vào mặt tên hạ sĩ giữa câu nói, bồi thêm một tát tay trái. Máu mũi bắt đầu rỉ xuống cặp môi thâm đen. - Tao dạy rát cổ mà tụi bay ngu cứ nhứt định ngu. Bẩm quan, quan lại đâu còn mà bẩm! Mọi cái là thứ gì? Phải kêu là Thượng nữ, nữ Việt Thượng. Hễ đủ hồ sơ Việt Cộng thì phải kêu là nữ Việt Thượng Cộng phỉ. Nhắc lại tao nghe! Bọn lính đã lôi cô em gái anh Tơ-rin từ nhà trong ra. Cô vùng vằng co kéo, nói hàng tràng tiếng Cà-yoong, chẳng ai hiểu. Cô này khá xinh, nhưng đã cẩn thận bôi nước nghệ cho da vàng khè, vuốt ngược tóc cho xù lên và rắc thêm nhiều tro, mặc bộ áo váy lấm bùn trước khi đến gặp Thùy. Tên trung tá nheo mũi khịt khịt, bước ra ngoài, để tên công dân vụ hỏi cung. - Nhà này là loại A cô lập, sao mày tới núp trốn? - Cô lập là cái chi? - Bảng treo trước nhà, mày còn chối! Ra đây coi! Đứng trước tấm bảng, cô Tơ-bon cứ lắc đầu: - Dân tui trên núi, không có cái chữ ni. Không có chữ chi hết. Tui đem đồ tới chị Hai may, tui giữ con cho chị may. Bọn lính soát cái gùi của To-bon, ném ra mấy thứ đồ rách, một xấp vải nhuộm chàm, mấy bó trầu và vỏ ăn trầu. Không có gì đáng gọi là “tiếp tế Việt Cộng”. Tên trẻ tuổi đeo một bông mai vàng thiếu úy cười gằn: - Chẳng có gì chấm mút được đâu, thôi cuốn xéo! Lão mặc com-lê chừa ria mép nói với theo: - Trình trung tá cứ đi trước, coi địa thế, tôi với ông đại diện đi sau. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:48:15 am Lão ngồi xuống cái ghế bên cạnh máy may, cười khẽ:
- Một ngày lạ thói sai nha, làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền... Cháu Hai chưa nhìn ra Bắc à? - Dạ... cháu mắc lo con cháu, chẳng mấy khi đi hội họp… - Ờ, thiệt vậy, cháu một đứa, Năm Bưởi đi tù giao lại hai đứa. Mà sao nhà vắng quá vậy? - Cha cháu đi học tố cộng đợt hai, giai đoạn hai, chắc bị giữ lại nửa tháng là ít. Con Út Hiền ngày đem cơm cho cha hai lần, ở Huề Bình. Mẹ cháu giữ con cho anh Tư Quýt rèn, chị Ba Song bán tiệm ngoài xóm chợ. Một mình cháu lo việc nhà, may vá kiếm tiền nộp quỹ tố cộng. - Nộp bao nhiêu? Thùy liếc thấy Hùng Minh kín đáo xua tay, nhưng cứ giả vờ không thấy. Chị không giấu những việc cả làng đều biết: - Giai đoạn một, Hội đồng hương chánh hẹn nộp bốn ngàn thì được xuống hạng B, chưa cấp thẻ kiểm tra nhưng được giấy phép đi lại trong xã. Cha cháu bán trâu nộp đủ, mà bảng cô lập cứ y nguyên, không được ra khỏi thôn, các thứ đóng góp, canh gác, làm xâu công ích cho xã cho quận, thứ gì cũng được ưu tiên số một hết. Nghĩa là phải đóng nhiều, làm nhiều, học tố cộng nhiều, mà phải đi trước hàng xóm. Cháu thưa thiệt vậy đó, có ông đại diện đây biết rõ. Bây giờ đang lo chạy tiền không đủ để nộp quỹ tố cộng giai đoạn hai. Năn nỉ miết, hội đồng mới hạ xuống ba ngàn, là chưa kể hơn hai chục khoản đóng góp khác. - Họ có phát biên lai không? - Nộp các thứ thuế có biên lai. Quỹ tố cộng thì ông đại diện đây nói không cần, ghi sổ là đủ, coi như tiền chuộc mạng để quốc gia cho sống sót. Bộ mặt điểm ria mép quay về phía Ba Mít tức Hùng Minh: - Đúng vậy không, ông đại diện? - Dạ bẩm cụ, hơi đâu nghe mấy mụ cộng sản nói xàm xàm… - Tôi hỏi ông: đúng vậy không? - Dạ thưa, để cháu trình cụ sau. Dân đây theo Cộng đỏ lòm hết, cụ biết rồi đó, họ nghe một thổi lên thành mười, làm mất uy tín cán bộ quốc gia... - Cho anh ra ngoài. Đi! Ba Mít trừng mắt dọa Thùy, lẳng lặng ra cửa, bộ mặt rỗ còn tái xanh dưới mái tóc tém đít vịt và chừa gọng kính. Lão com-lê rút thuốc châm hút, dùng bật lửa gì mà xì ngọn dài tới ba phân, Thùy chưa từng thấy. Chợt lão vớ cây gậy mây to uốn cong đầu, bước ra cửa. Quả nhiên Ba Mít đang rình nghe chỗ góc nhà che liếp, không biết rằng liếp tre chưa trát đất để lộ rõ bóng hắn. - Mày dò xét cả tao nữa hả thằng Mít? Muốn vô xà-lim hả? Có tiếng gậy vút, kèm tiếng bịch của gậy đánh vào thịt. Ba Mít kêu “úi” một tiếng khẽ, rồi chạy xa. Lão kia quay vào, mặt còn đỏ. - Cố tổ nó, làm tới tỉnh phó mà nó còn theo rình rập! - Ổng rình nghe cháu nói gì với bác, để sau rồi trả thù. Phép vua thua lệ làng mà bác. Lão bật cười: - Vậy là nhận ra Bắc rồi nghen. Tên gì nói thử coi? - Dạ, là quan phủ Đỉnh, hồi chín năm Việt Minh là cụ tú đỉnh làm Liên Việt, bác nói tỉnh phó cháu mới sực nhớ... - Nhớ gì? - Mấy ông ở xã nói làng mình được nhiều người làm to lắm, như cụ tú theo quốc gia lên tới tỉnh phó. - Bác so với Cả Chanh thì nước non gì. Hồi thằng Cả lên phó chủ tịch tỉnh, mới ngoài hai mươi tuổi, đâu chừng hăm lăm thôi. Còn bác tới nay gần sáu chục mới tới tỉnh phó, lên voi xuống chó đủ đường... Hỏi thiệt cháu nghen, phe thằng Ba Mít ngoi lên đại diện, có sanh sự với nhà cháu nhiều không? Thùy đắn đo một tí, rồi cứ đáp thẳng thừng: - Dạ nhiều lắm, kể không xiết đâu bác. Hồi Việt Minh ổng tới tịch thu nửa gia sản nhà cháu, báo lên trên xếp cha cháu vô cường hào, thêm cái gian ác nữa. Giờ ổng theo quốc gia, lại ghép nhà cháu vô tình nghi can cứu loại A, nộp tiền tới tới mà ổng không chịu rút bảng, còn nói trong lớp tố cộng là cả họ nhà Tư Chua Cả Chanh phải đi ăn mày ổng mới ưng bụng. Cái lập trường của ổng thiệt là sắt đá. Phủ Đỉnh vân vê điếu thuốc Xa-lem, trầm ngâm: - Ai nghĩ sao tùy họ, riêng bác nghĩ khác. Nói tình thiệt với cháu, bác chỉ thắc mắc cái vụ quỹ tổng động viên với đợt giảm tô hồi Việt Minh, chớ thâm tâm bác quý trọng người kháng chiến lắm. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, nhà này phải kể nhứt thằng Cả chồng cháu, nhì ông Tư Chua, ba tới con Năm Bưởi-gai ngạnh cùng mình mà ở tù gần hai năm nay, rồi tới cháu vừa may vá vừa cày cấy nuôi cả nhà... Bác không nói lấy lòng đâu cháu, đừng cãi. Bác theo quốc gia, thiệt đó, mà cứ ước sao phía quốc gia được những người như nhà cháu mới trụ vững được. - Bác làm ông to, chớ cháu nói vậy thì đi tù tức thời! - Chỗ thân tình bác mới nói thiệt. Hễ cháu gặp chồng thì cứ kể đúng y lời bác, để Cả Chanh nó hiểu bụng dạ... - Anh Chanh đi tập kết, làm sao cháu gặp được! - Giỡn chi vậy Hai! Có mật báo rành rành là cháu vô chỗ Xê-ca Đơ cũ gặp chồng tháng sáu năm Năm sáu. Tới tháng Mười Cả Chanh bị dân vệ Tiên Phước bắt giam hai ngày, được một dân vệ nửa đêm cắt dây cho trốn thoát, công an tỉnh yết thị rồi… Giọng Thùy lạnh như nước đá: - Vậy đó, bác ghép tội cháu còn nặng hơn ông đại diện nữa. Ổng mới truy cái tội kháng chiến cũ, không chịu ký giấy ly hôn, còn bác gài vô tội liên lạc, tiếp tế cộng sản trên núi. Dễ thôi bác à. Cứ biểu mấy ông khai thác đánh cho nhừ tử, thịt lộn xương xương lộn thịt, thì mấy chục giấy cháu cũng ký. Ông tỉnh phó Ung Viết Đỉnh lúc này luống cuống thật sự. Ông dặng hắng vài lần, châm điếu Xa-lem, rít vài hơi mới mở miệng: - Cháu cay đắng trăm bề, gì cũng nghi ngờ là phải. Là bác nhắn tin vậy để Cả Chanh với ông Tư biết trước mà giữ thân, chớ bác nói tin mật với cháu ích gì, cứ để cho quận với xã họ làm, phần bác nhắm mắt bịt tai là xong. Thằng Chung đâu rồi? - Dạ, nó ngủ mê lắm. Hồi nãy bắt con nhỏ Thượng tới may đồ, nộ nạt rầm rầm mà nó không thức dậy. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:50:24 am Phủ Đỉnh bước vào buồng trong, vén màn, giật mình khi thấy đứa bé trai lên chín nằm ngáy phì phò bên hai đứa gái nhỏ. Mặt thằng Chung đúng là bộ mặt của ba nó-Hai Khánh-thu nhỏ lại và còn đẹp hơn, hồng hào phốp pháp hơn. Hai Khánh nhờ lão nói khó với cả nhà ông tư, đặc biệt là với Năm Bưởi và Hai Thùy, mẹ đẻ và mẹ nuôi thằng Chung, cho nhận bé Chung về nuôi. Mấy lá thư thống thiết gửi cho Bưởi và Thùy đều không được hồi âm. Bên ngoài, Thùy đã đạp máy may lạch cạch, sửa bộ áo quần rằn ri của tên lính nào đó, chắc hẳn không công. Quỹ tố cộng thúc sau lưng, ba ngàn đồng, trong khi lão ký một cái giấy bá láp nào đó là được lễ tạ năm chục ngàn tới vài trăm ngàn. Một cảm giác gì vừa nóng vừa lạnh bỗng trào lên ngực lão. Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu, gieo gió gặt bão, cuộc đổi đời hồi Việt Minh đã dạy lão chớ coi thường lũ dân đen mà khốn có ngày. Lão quyết định ngay: thu xếp cho Năm Bưởi ra tù, nhà ông Tư Chua xuống loại B khỏi bị cô lập. Riêng vụ trả thằng Chung về cho Hai Khánh thì sau đó sẽ hay.
Lão quay ra chỗ Thùy đang may, vồn vã: - Đừng hiểu lầm bác nghen. Sắp tới bác cho tháo bảng cô lập, miễn nộp quỹ tố cộng, tìm cách đưa Năm Bưởi ra tù. Nói suông chẳng ích gì, cháu cứ đợi năm bảy ngày coi bác tình thiệt hay đãi đưa lấy lòng. Cháu cứ nói lại trong nhà lời bác nhắn. Tạm biệt cháu. Lão cầm cây ba-toong bước ra, vừa gặp nhóm sĩ quan và lính quay lại. Lên ngựa xong, lão hỏi tên trung tá: - Ông quyết định ra sao? - Ờ, cắm bốt mé Nam đường 56, kiểm soát cả đường sông đường bộ. Dời mấy làng Thượng xuống dọc bờ sông, cho đám giáo dân di cư kèm chắc. Ý cụ hay đó. Cơ mà lập thêm bốt giữ mé sườn đồn điền của cụ thì khó đấy. Bảo an hết quân rồi. Tổng đoàn dân vệ chỉ được một trung thiếu, phải lo giữ chung quanh chợ Huề Bình. Hay là cụ bỏ ra ít nhiều, nuôi bọn Thanh niên xung kích hay diệt cộng gì đấy, mua cho chúng nó vài khẩu cà-là-gỉ với chục lựu đạn, trả mỗi tháng ba trăm một đứa, nó gác cho cụ ngủ yên. Việt Cộng theo đường lối hòa bình mà, vất hết súng đạn, có súng cũng không dám bắn, cụ chả phải lo. - Lo chớ, là lo bọn Thanh niên ấy trộm cắp như quỷ sứ! - Hà hà, có thế. Cũng phải cho nó kiếm tí chất tươi chứ. Cơm trưa ở đâu, ông đại diện? Ba Mít chạy bộ sấn lên trước, hổn hển: - Trình trung tá, em đặt ở tiệm khá nhứt xóm Chợ, toàn thứ lạ miệng như trăn, rắn, gà rừng, heo rừng, rượu nếp thứ chánh hiệu. - Biết điều đấy. Đi thôi. Ba Mít chạy bộ trước đoàn ngựa, bọn lính chạy bộ theo sau, qua cầu khe Cốt về hướng xóm Chợ. Mươi phút sau, Thùy khép phên liếp, gài cây ngáng, đi vào lò rèn ông Tư dựng cách nhà ở mươi thước, dưới bóng những cây dầu lai cổ thụ. Cô Tơ-bon đang ngồi dựa cột, ngủ gật, choàng tỉnh dậy, nhoẻn cười: - Đi hết chưa chị? - Hết. Hồi nãy em sợ không? - Sợ con khỉ gì. Em giả dại, giả dốt thôi. Cô gái mười sáu tuổi này đã học hết lớp bốn tiểu học hồi Kháng chiến, nói tiếng Kinh sõi hơn cả ông anh Tơ-rin đang là huyện ủy viên Tây Quảng, nhưng đóng kịch ậm ờ ú ớ rất tài. Xuống làng Kinh dễ bị lính Diệm chọc ghẹo, cô tự làm xấu và bẩn hết cỡ, ít bị quấy phá. Cô đưa cho Thùy nửa mảnh đá cuội dẹt và tròn. Thùy ra góc vườn, nhặt vào nửa mảnh đá khác. Hai mảnh ráp vào nhau vừa khít. Tơ-bon cũng xem kỹ, đúng là một tấm cuội dẹt đập vỡ đôi. Cô đến chỗ đống lá khô góc nhà, nhặt lên hai lá mít khô dán lưng vào nhau, thư nằm gọn ở giữa. Giao liên hay mang thư tối mật theo kiểu này, bị địch chộp bắt hay bắn chết tươi cũng kịp vất thư vào bụi rậm hay cỏ rừng, địch chỉ lục soát trong áo quần đồ đạc. Thùy vào buồng, gài cửa, đọc vội mấy dòng của chồng: “Tối nay, từ 11 giờ trở đi, em đến gặp anh tại chỗ cũ được không? Đi theo người đưa thư. Hễ được, em phơi trên dây trước nhà một bộ áo quần cỡ thằng Chung mầu sẫm”. Tắc. Tắc là tên mới của anh Chanh, cũng là thứ quả chua như Thanh Trà, Quất, Sấu. Lâu lâu anh lại thay bí danh một lần. Cả người Thùy chợt nóng chợt lạnh từng cơn. Chị không kịp tính lại giờ nào bọn Bảo an hay Dân vệ bắt đầu đi gác đi tuần, giờ nào giới nghiêm, giờ nào bọn chúng ập vào đòi ăn khuya, ít nhất cũng phải một nồi cháo gà hay cháo cá. Đêm qua chúng quậy phá đến hai giờ sáng, lũ trẻ sáng nay ngủ say vì thế, đêm nay sẽ ra sao? Chị rối ruột quá, đành chậc lưỡi: chồng về bên kia sông Linh, còn so đo gì nữa. Lão phủ Đỉnh chỉ được mật báo chị gặp chồng một lần, thật ra những bốn lần kia. Lỡ có thai với chồng thì tụi nó đánh chết, khai ra mình lang chạ thì lời nói mắc cứng trong họng. Thuốc ngừa thai hết sạch. Chị cầm mảnh thư chồng trong bàn tay run rẩy, bật khóc thút thít: “Khổ thân em quá anh ơi... Tụi nó tra em hai lần, em cắn răng không khai, không ký ly hôn anh, nhưng mà cả nhà chỉ một mình em may vá tới bại chân mờ mắt, nuôi ba đứa nhỏ, nuôi cha, thăm nuôi em Bưởi ở tù Hội An, tiếp tế cho anh, em đi tù thì cả nhà chết đói hết... Anh thương em, anh đừng bát em làm bổn phận người vợ... cho em xin nghen anh… Sống chết em cũng tới với anh... Chị đứng thừ hồi lâu, đọc lại thư chồng, đưa giấy vào miệng nhai chầm chậm, nuốt biến. Chị hối hả bước ra chỗ cô Tơ-bon đang chờ. - Đêm nay chị đi với em. Tụi nó tới coi sổ gia đình, chị để Út Thanh Yên nó đối đáp. Có điều em ở nhà cô lập, dễ sanh chuyện... - Thiếu gì chỗ. Chị cứ may bộ vải chàm của em đi, em tới ngủ mấy nhà thương lái, tới khuya em đón chị. Thùy chạy qua lại mấy nhà quen kiếm tiền, mua hàng. Quỹ tố cộng tới sát bên hông, các ổng còn dọa phạt nộp trễ, nhờ bác (anh, chị) cho xin mấy món đồ may đã lâu mấy tháng. Là gặp hồi bí rị mới phải hỏi tiền công, tiền vải, chớ tôi chẳng phải đứa quên tình nghĩa bà con… Hầu hết các bà và các chị em biết cảnh “gia đình cô lập” ra sao, và rất nể bà con ông Tư Chua và Cả Chanh. Họ xoay xở mọi cách để trả tiền vải tiền may cho Thùy. Có bà lẳng lặng vào buồng xúc tới hai ang gạo, mười sáu ki-lô, bắt con phải tự gánh tới nhà chị Hai, tuy nợ may chỉ đáng ba ki-lô. “Trả nợ cho chị một phần, trả nợ người khác một phần, chị đừng nói nhiều”. Chỉ khó khi Thùy đến nhà vợ chồng Tư Quýt và Ba Song. Quýt là em ruột Cả Chanh đấy, chỉ vuốt bộ râu ba chòm, cười khẩy: - Chị nàng dâu trưởng mà riết róng với em út ghê thiệt. Thằng này sanh sau đẻ muộn, mà cả chục năm nay làm nuôi cả mấy vị cán bộ thượng cấp, cả ông gì, anh Chanh, cô Năm. Chị Hai đòi nợ, mời chị đòi các vị kia trước cho tôi nhờ. Chị Ba Song đế thêm ngay: - Mà có gì đâu, mấy cái đồ con nít ranh, tưởng chị làm giùm, không thì tui đem vô xóm Chợ, tùy lòng chị đó. Nhà chị Ba Song đang giàu tấy lên. Sau đình chiến, cha chị xuôi đò dọc tới tận Hội An, Đà Nẵng, chở theo mấy tấn quế khô mua vét rẻ như củi mắc kẹt trong chiến tranh, chở về những chục kiện hàng ngoại một vốn bốn lời. Chị Song mở ngay một tiệm buôn chỗ ngã tư đường 56 gặp sông Linh, ban đầu chỉ tranh tre nứa, hai năm sau xây gạch ngói đàng hoàng. Chị giao cho Tư Quýt với bà me chồng nuôi hai đứa nhỏ hơn, đem hai đứa lớn theo chị tập bán hàng và trông nhà. Từ đó chị ngày càng hồng hào mỡ màng ra, càng coi khinh lão chồng thợ rèn ế khách, lánh xa nhà chồng dây dính với cộng sản. Làng xóm xì xào những vụ chị bê bối với bọn sĩ quan Diệm, với đám tề trẻ, chị vênh mặt lờ tịt, và Tư Quýt không dám mở miệng hỏi lần nào. Bà Tư vẫn ở chỗ vườn cũ, cố giữ khư khư mảnh vườn và cái nhà tranh cũ nát cho thằng Cả. Ông Tư, sau khi biết rõ Cả Chanh ở lại nằm vùng chứ không tập kết, đã dời lò rèn của mình về ở với Hai Thùy và Năm Bưởi, lò của ông vẫn đông khách gấp bốn năm lần lò Tư Quýt. Gần đây Năm Bưởi đi tù Hội An, ông phải học tố cộng trung bình mỗi tháng hơn chục ngày; lò rèn thường để lạnh, trăm khoản đóng góp chi tiêu chỉ dựa vào máy may của Thùy. Bữa cơm đem cho ông ở nhà lao xã Tây Giang còn khá, cơm nhà chỉ có một hột gạo cõng một khúc sắn, ăn với bát canh láo nháo vơ bòn quanh nhà. Có hôm trung sĩ Bảy Bòng về thăm nhà với bộ mặt đẫm rượu đỏ gắt, trông vào mâm cơm chợt tỉnh rượu, thấp giọng: - Bấy lâu không về, ông già khó tánh làm em ra người dưng, đâu ngờ chị Hai khổ cực quá vậy... Nói thiệt, cả làng này phục anh chị, thương anh chị, em cũng vậy. Thôi chị cầm đỡ chút ít của em, đừng gạt đi mà em tủi thân. Sắp tới cấp trên tính đưa em về xã này làm cảnh sát trưởng hay phó gì đó, rồi em liệu đàng tháo gỡ cho cả nhà... Hắn nhét một xấp giấy bạc dưới gối con Bình, bỏ đi gấp không để Thùy kịp trả. Chuyện ấy cách đây hai tháng, Bảy Bòng chưa trở lại. Sáng nay lão phủ Đỉnh tỉnh phó lại thốt những lời ơn phước với Thùy. Chớ tin mà mắc lùa. Qua hai lần bị bắt, Thùy đã quen với đứa trước nói như lột lá bánh chưng, bước qua buồng khác bị đạp ngã dúi và quất roi ba cạnh nát người. Đến chiều, Thùy đã kiếm đủ những thứ cần mang cho chồng: hai ký muối, nhựa đi mưa, thuốc sốt rét clô-rô-kin mua lậu, ba hộp vị tinh Hồng Công, một bộ quai dép cao-su, hai thước đúp vi-ni-lông màu xanh lá làm võng cùng mười thước dây dù mua lậu... Mỗi lần gặp chồng, Thùy soạn bao lưng anh thấy thiếu những thứ đã tiếp tế đợt trước, anh lại cười: cho rồi, anh em thiếu quá... Thùy nóng mũi, định kể cho anh nghe bao nỗi cơ cực trong nhà, chỉ sau vài phút lại xấu hổ: so bì sao được với các đồng chí quanh năm đói lạnh, leo núi ngủ rừng. Thùy lại ngồi vào may gấp, sau khi dấp nước một bộ áo quần sạch của thằng Chung đem treo trước nhà. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:54:25 am * Bên kia sông Linh, khi mặt trời sắp lặn và chim cỏ từng đàn bay ngược sông về vùng núi Ngọc Linh, một ông lão người Thượng từ trong rừng bước xuống bờ sông. Cũng như các con sông trái chứng trái nết trên vùng núi, sông Linh ưa đổi dòng sau mỗi mùa lũ lụt như cố ý buộc con người phải coi trọng nó. Năm kia, nó xoáy lở đến sát những căn nhà tranh xóm Vạn, trên bờ phải. Nhiều nhà hoảng hồn đã dời vào vườn cách vài chục thước. Năm ngoái, nó tha cho bờ phải, dồn nước sang mé Tây, bờ trái, quét sạch đi một dải đất pha cát, để lại một bãi cuội dài trơn nhãn, với những cây rù rì và cây rau vừng lá xanh tím đứng dầm chân đuổi nước xâm xấp mắt cá. Trẻ con trong làng ra bãi mới lộ ấy với cái rổ xúc tôm và cá đép, nhũng con cá hệt cá đuối thu nhỏ bằng móng tay cái, bám dính vào cuội. Chúng bóc tôm sống và cả cá đép đút mồm nhai rau ráu. Ông già Thượng không đem rổ, chỉ bật bằng tay. Cái gùi nhỏ của ông đặt bên cạnh cây giáo dài cắm đứng bên mé nước. Tóc hoa râm búi củ hành sau gáy, hai miếng ngà voi tròn to xỏ căng hai dái tai, da cháy nắng, cái khố bạc màu phơi cặp mông lê trên sàn mốc thếch, tất cả cùng lọt vào ống dòm của tên trung tá đứng trên đồi cao nhìn cảnh toàn vùng. Trao ống dòm cho phủ Đỉnh, hắn gật gù: - Cụ ưng ý nhá? Đồi này đóng bốt là nhất. Đui-xết quét đâu cũng đến, chỗ khuất ta nện moóc-chê... Cộng phỉ muốn đến đồn điền cụ phải qua lưới lửa chúng tôi, chúng tiềm hành thoát thì cũng chết sạch khi qua sông, rút lên núi.. Cụ xem, lùa bọn Thượng xuống bờ sông này có khó lắm không? Phủ Đỉnh vừa chỉnh xong ống dòm, đang ngắm lão già Thượng chăm chú. Quái lạ, lão này gặp ở đâu mà trông rất quen. Nhiều nét giống Tư Chua. Chòm râu thưa, cái miệng nhai trầu... Nhưng Tư Chua ngồi lò và nhốt vào lớp tố cộng mãi, đâu có đen nhẻm thế, và tóc hớt ca-rê lấy đâu mà búi... Phủ Đỉnh cười khẽ. Thì mình đây chứ ai, từ khi đổi áo gấm mặc com-lê tuýt-xo, cạo râu cằm chừa ria mép con kiến, mỗi tháng một lần nhuộm tóc đen, lũ đàn em cũ cứ ngờ ngợ mãi, rồi khen rối rít: - Dạ bẩm cụ... dạ thưa bác... cụ trẻ lại tới chục tuổi, ờ, tới hai chục là ít... Cụ cho phép tụi con thưa bẩm bằng gì cho phải phép, cho xứng ý cụ... - Hà hà, thời này cộng hòa rồi, Bảo Đại rớt rồi, bay cứ nói miệng hay viết giấy là “Trình ông tỉnh phó”, gọn nhứt. Tao thôi làm quan, bay cứ dân chủ như lời cụ Ngô... Tên trung tá lặp lại câu hỏi. Phủ Đỉnh đáp vội: - Ờ, bọn Thượng xuống núi định cư là cái chắc. Chắc tụi nó cù cưa, mình nói rã họng cũng giả đui giả điếc. Cứ cho quân lùa xuống hết, ta gài người rình lâu cũng nắm đầu được bọn cộng sản giấu mặt. Nơi chưa lùa được thì chặn không cho muối sắt vải lên, cấm thương lái lên. - Cụ quên mối lợi quế với các thứ lâm sản à? - Cắm đồn, buộc phải bán cho chánh phủ hết, giá cả tùy mình đặt ra, hà hà... - Cụ chúa thật đấy. Mà chiều nay cụ khao lính món gì? - Đổi món, làm hai dê tái, rượu tiết dê, đã cho hai con uống rượu rồi đánh chạy tơi bời cho vã mồ hôi, hết mùi. Ông thích thêm món gì cứ lệnh cho lũ bếp nhà tôi. - Gỏi tôm suối bóp sống, dẫn lửa khá lắm đấy cụ. - Có ngay. Cần cả làng Linh Lâm kéo đi bắt tôm tươi, hầu ngài trung tá! * Ông lão Thượng lọt vào ống dòm là Cả Chanh. Anh xuống bờ sông, thấy ngay bộ áo quần xanh biển của bé Chung treo trên dây phơi. Nhác thấy bọn người ngựa đứng trên đồi đang nhìn quanh, anh phải nấn ná một lát cho chúng khỏi nghi. Nhai được mớ tôm và cá đép sống, dù sao cũng đỡ cơn đói cồn cào. Hai ngày qua, anh chỉ được một khúc sắn luộc với ít măng, chỉ có nõn cây chuối rừng được ăn xả láng, không muối. Đợi mãi chẳng thấy giao liên tới đón, anh không thể đi liều, thoát phục kích cũng dễ xóc chông, đạp bẫy thò của dân Thượng chống thú rừng. Một trung đội Bảo an cùng mười đứa Thượng du vận đang đóng chắc cứng trong làng Bà-lam, không chỉ lướt qua như mấy lần trước. Chúng nghi làng này là ổ Việt Cộng nằm vùng, mà cũng đúng thế thật. Chưa có lệnh đốt và giết, chúng chỉ tra hỏi vặn vẹo, đi phục kích và tuần tiễu quanh làng, sục các rẫy tìm dấu chân lạ. Bắn chết một Việt Cộng chặt đầu hay cắt tai đem về được thưởng năm ngàn đồng, hơn bốn tháng lương lính, tám tháng lương dân vệ, đâu có ít. Hai tên Bảo an thua bạc rình bắt được một em mười hai tuổi, nhét giẻ vào miệng, vác chạy từ chỗ ven rừng vào đến suối cách một cây số, bắn chết và cắt lấy hai tai, còn trút một mớ gạo bên cái xác để vu em “tiếp tế cộng sản”. Cả làng đang phải ngồi nghe diễn thuyết về chánh nghĩa quốc gia, chỉ có một bà già câm trông thấy em bị bắt cóc. Bà chạy ùa tới nhà làng, kêu ú ớ, chỉ trỏ. Mất hồi lâu dân làng mới hiểu, tỏa ra đi tìm. Tiếp đó là một vụ kiện động trời. Gạo bên xác em là gạo Sài Gòn chở ra, rất khác thứ gạo đỏ lúa rẫy. Đôi tai cũng chỉ bằng một nửa tai người lớn. Tên quận phó bị các đoàn kiện kéo tới làm rầm rầm, phải đi ngựa lên tận làng điều tra, cấm không được “trả đầu”, bồi thường hai chục ngàn, đưa hai tên Bảo an kia về quận vì biết ở nán lại có thể bị đâm chết. Nhưng chúng vẫn không rút quân, tuy dân làng chửi và tẩy chay hết cỡ. Sắp có lệnh dồn dân, cơ sở ta trong văn phòng quận Tây Quảng báo như thế. Lội ngược một nhánh khe nhỏ, không có trên bản đồ nhưng đủ nước để đun nấu và xóa dấu chân, Chanh về đến cửa “hang nổ”. Hang này nhỏ nhưng sâu và khô ráo, năm xưa anh em quân giới dùng để cất chất nổ, tránh mưa, sấm sét, bom đạn máy bay. Sau ngày tập kết, đồng bào Kinh và Thượng đồn ầm lên là ta gài mìn vô số, dọn chưa hết. Thỉnh choảng trong những đêm vắng lặng, chợt dội lên trong vùng rừng quân giới một tiếng nổ lớn và lẻ loi. “Lại con gì vấp mìn rồi!” Có lần dân Blam khiêng xuống xóm Chợ một heo rừng lòi ruột vì mảnh mìn, bảo nó bị thương lê ra gần đường mới chết. Ai cũng lắc đầu lè lưỡi, chỉ vài người tinh ý thấy vết kẹp sắt bập vào chân nó. Bọn lính và dân vệ bắng nhắng mấy cũng không dám sục vào đấy, đợi công binh về rà mìn đã. Chanh rút cái gương con vùi dưới lá khô, soi lại mặt, bật cười khi thấy ai đó rất xa lạ trong nương. Anh xổ búi tóc có rắc ít vôi bột cho thành hoa râm, giũ cái chang tóc ghép thêm cho đủ búi. Tới đôi “bông tai”, mỗi bông làm bằng hai miếng ngà voi tròn, mài rất mỏng, lắp vào dái tai bằng một cái kẹp mỏng gắn bên trong, cắt từ một kẹp tóc đàn bà. Bộ râu đen không thể cạo trước khi gặp vợ, nuôi cả năm nó chỉ dài được hơn một tấc. Quấn cái khăn hay tấm khố sạch lên tới cằm, che bớt râu là được, tối trời nhà ngói cũng như nhà tranh! Anh xuống khe tắm giặt trước khi tối hẳn. Ở xứ núi này, mặt trời lặn sớm nhưng hoàng hôn kéo dài; dưới rừng sẫm màu mà nền trời vẫn sáng. Tới bữa cơm chiều, một vốc măng luộc, một mớ thân chuối rừng xắt mỏng. Cô Tơ-bon lách được ra khỏi làng, nhưng anh Tơ-rin dặn rất nghiêm là hễ mang tài liệu hay thư mật thì cấm mang gạo muối, địch chộp được đồ tiếp tế sẽ khám người rất kỹ, lộ hết. Trong hang có một tấm sạp tre hai người nằm, phủ một tấm chiếu mỏng đan bằng lá duối dại, mấy cái nồi niêu đất, những thứ thợ rừng hay để sẵn phòng khi mưa lũ không về làng được. Chanh dựng tấm sạp che bớt lửa, đun một nồi nước chè tươi bẻ từ vạt chè của quân giới bỏ hoang, cây không xén cứ mọc thẳng đứng như dương liễu, uống tha hồ, nhưng bụng đói uống chè đậm vào càng xót ruột. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 10:59:48 am Anh Tơ-rin đang chạy con thoi giữa các làng Thượng sắp bị dồn. Một huyện ủy viên nữa ở hầm dưới kia, nắm cơ sở Kinh. Bí thư huyện ra cánh Bắc Quảng Nam họp với anh Tô Xáng. Chanh nhận thư muộn, ra sau. Một huyện ủy nữa bị địch bắn chết gần quận lỵ, làm lễ chiến thắng to lắm, gọi anh là ủy viên Thường vụ khu ủy để được khen thưởng nhiều. Một nữa rút lên núi cao, ở với anh Tô Xáng, cứ treo võng nằm thở dài sườn sượt: “Trước sau rồi ta chết hết. Không chết vì địch cũng chết bệnh, chết đói”. Thường vụ tỉnh ủy đã quyết định cho anh theo anh Tô Xáng sắp ra Bắc họp với Trung ương, để lại lâu sẽ lây lan qua người khác, cũng có thể anh ta trốn ra đầu thú, khai báo lung tung.
Cơ quan cánh Nam bám đồng bằng chỉ được hơn một năm, mất bốn đồng chí bị giết và bắt, phải bật lên núi, nay đóng trong vùng rừng hẻo lánh thuộc huyện Trà Mi. Cả Chanh nắm cánh này cùng với hai Thường vụ tỉnh ủy, bốn tỉnh ủy viên chia nhau nắm các huyện, trong đó có Tây Quảng. Anh ít ghé về xã quê vì quá quen mặt, dù địch không bắt được thì gia đình cũng dễ bị dinh điền khi kẻ xấu mật báo. Năm kia anh bị bắt ở Tiên Phước, mới bị tra một trận roi ba cạnh và giam hai ngày. Anh đã cố ý đến chỗ xa đường sắt và quốc lộ Một, núp trong buồng kín, đêm khuya mới đi gặp cơ sở. Cả nhà đều một lòng che giấu, chỉ có một trong số nàng dâu sợ liên quan bỏ về nhà mẹ, rỉ tai ông cha đẻ. Ông này sợ con gái khai vấy cho mình-không khí chung trong làng xóm và trong từng gia đình là vậy, không ai dám tin ai-miễn cưỡng lên báo cho hội đồng xã. Một nhân viên nghe lỏm được, cuối buổi hối hả đạp xe đi báo cho Chanh, qua cổng đã thấy bọn dân vệ đang trói Chanh cùng cả nhà. Dân làng được gọi đến nhận diện, ai cũng bảo không biết anh lái buôn heo này, chỉ mấy đứa xấu lén nói riêng với cảnh sát trưởng: đúng ông Chanh đường sắt rồi đó, hồi Việt Minh mới lên ổng làm phó chủ tịch tỉnh, giờ chắc tối cấp trung ương là ít. Mười mấy năm rồi mà! Dạo ấy đang giữa mùa lụt. Sông suối dâng thành những thác bùn, đò phà ngừng chở, cầu tre gỗ trôi gần hết, sót lại một cầu gỗ ô-tô qua được, tối hôm Cả Chanh bị bắt nó cũng trôi nốt. Hội đồng xã không cho người xuống quận báo tin được, chỉ trói Chanh nhốt vào trại giam, cho hai tiểu đội dân vệ thay nhau gác. Chúng tra tấn không quá nặng tay, sợ “ông Việt Cộng bự” này trúng chỗ hiểm chết, cỡ ấy phải nộp nguyên vẹn về tận cụ Ngô trong Sài Gòn để cụ dạy và dùng. Tới đêm thứ hai, tiểu đội gác được ứng trước mỗi đứa năm trăm tiền thưởng, góp mua một con cầy tơ, mươi chai rượu lậu, hí hửng làm một mâm “cờ tây”, khá ngon. Trói thêm cả hai chân người tù thật chắc, khóa cửa bên ngoài, rồi ngả ra đánh chén lu bù. Chanh cố lê đến khe cửa nhìn ra. Khó thoát lắm. Chỉ hơi lạ là các chai rượu cứ như nồi Thạch Sanh, vơi một lát lại đầy. Hai tên không uống chén, ngửa cổ dốc nguyên chai vào họng, mới nhậu nửa giờ đã lảo đảo chạy ra hè, nách vẫn kẹp chai rượu, vào lại tu cạn chai trước khi lăn đùng ra ngủ chảy dãi. Bọn còn lại thi sức trăm phần trăm với nhau. Sau ba tiếng mới mãn cuộc. Tên tiểu đội trưởng cùng hai đứa gác phiên đầu tiên loạng choạng bước tới cửa trại giam, lắc thử ổ khóa, kêu lè nhè: - Nè, ông Chanh! Chanh đã lê vào chỗ cũ, nói như người hấp hối: - Mở trói bớt đi. Đã nhốt người ngay, còn trói cứng tay chân là sao? - Hơ hơ, mở dây để ông giỡ mái leo ra ngoài, hay là treo cổ tự tử để lên thiên đường cộng sản, đúng không? Chanh lặng im đợi chúng bỏ đi. Hai tên gác nhấc ra hai ghế đẩu ngồi chặn ngoài cửa, súng tựa vai, lát sau đã ngoẹo cổ ngủ thiếp đi bên cây đèn bão vặn thấp ngọn. Trốn rất khó. Tường xây gạch, trên không có trần nhưng căng dây kẽm gai ngang dọc như đan lưới dưới mái. Chanh không nghĩ ra mẹo gì, chịu ngồi nép vào góc nhà, ngủ chập chờn. Khoảng một giờ sáng, tiếng quát bên ngoài đánh thức anh dậy: - Ai? Đứng lại, giơ tay lên! - Tao đây, Sơn Đông mãi võ đây! Tụi bay tỉnh ngủ, tao khen đó. Tù còn không? - Dạ y nguyên. Trình anh Ba coi lại. Luồng đèn lắp bốn viên pin sáng chói quét qua lỗ hổng bằng trôn bát, rọi đỏ hai mí mắt nhắm của Chanh. Anh vẫn vờ ngủ phì phò. - Sao nó không nằm ta? - Dạ, trói hai bàn tay ra trước, hai cùi tay ra sau, trói cả cổ chân với đầu gối nữa, buộc nó phải ngủ ngồi miết rồi cóc phải mở miệng. Tên cảnh sát trưởng rọi đèn pin đi tiếp dưới mưa nặng hạt. Vài phút sau, có tiếng mở khóa, một tên gác rón rén vào, nhẹ tay khép cửa. Chanh nhận ra vóc dáng cao gầy của tên dốc chai rượu vào mồm ban nãy, nhưng hắn không có vẻ say, khi ghé tai anh cũng không bay mùi rượu: - Cháu hỏi thiệt, bác có phải bác Cả Chanh không? - Tra vấn hai ngày rồi, hỏi gì nữa! - Dạ thôi. Nhưng chắc bác là người phía cách mạng? - Nếu đúng thì sao? - Hễ đúng thì tụi cháu dẫn bác đi trốn. - Không phải cách mạng, tui cũng muốn trốn. Các ông giết lầm hơn bỏ sót, chẳng dại gì chết oan.. Tên dân vệ ghé chỗ lỗ tròn trên cửa: “Cẩn, Cẩn, vô đây”. Tên kia cũng vào, khép cửa. Cả hai rút dao găm sờ soạng cắt dây trói bằng đay, bốn mối tất cả. Chanh gượng đứng dậy, lại ngã ngồi xuống. Tay chân anh ứ máu tê dại. Một dân vệ rót rượu vào cái khăn mặt, thoảng mùi gừng, hối hả nắn bóp dọc chân anh. “Bác nhấp một chút, có gừng, trật đả hoàn, đường đen, cho máu tan mau”. Chừng năm phút sau, Chanh đã đứng dậy đi nhúc nhắc được. Anh uống thêm một ngụm rượu thuốc nữa, rót rượu ra khăn để tự bóp hai tay. - Mụ xã đâu, Cẩn? - Đang in dấu dép từ đây xuống bến đò, cả dấu giày răng chó nữa. Tụi mình đi chân không ... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 03:13:18 pm Họ dìu Chanh đi chập chững. Cẩn sốt ruột, ghé tấm lưng to khỏe của mình cõng anh luôn.
- Khôn đó. Chỉ còn dấu chân hai người. Đi mau! Người cao gầy nhặt ngoài hiên một mớ bao tải rách, thả thành một đống bùm xùm, đắp chiếc chiếu rách lên trên cho giống hình người ngủ nằm co trong góc buồng, bước theo ra và bấm ổ khóa. Họ đi thẳng một hơi qua những đường bờ ruộng, qua nhiều vườn vắng chủ vì đi di dân, hai tiếng sau mới dừng nghỉ trên gò hoang, chỉ có sim, mua, chà là. - Thoát rồi đó. Chắc bọn kia ngủ tới khi mặt trời xỏ vô mũi, bọn hội đồng tới đánh thức. Chìa khóa đâu anh Muồng? - Đây. Hồi móc túi thằng Dành, tao run quá. Hễ nó túm được tay, tao tính trối vái nó, kêu túng tiền định mượn anh vài trăm xài đỡ. Muồng vung tay định ném chìa khóa xuống vũng lầy, nghĩ sao lại đưa cho Chanh: - Anh Cả giữ làm kỷ niệm. Em là đảng viên đơn tuyến, thằng Cẩn là em con ông chú, đoàn viên bị khai trừ trước Giơ-neo. - Vì sao? - Dạ, tội hủ hóa. Vợ nó là bí thơ chi đoàn cũng khai trừ. Hai đứa nó ưng nhau, hai gia đình cũng bằng lòng, mà nghèo không đủ tiền ăn hỏi cưới xin. Có bầu bốn tháng rồi, phải đi vay nợ cưới gấp. Làng xóm chỉ cười năm bảy ngày, nhưng chi đoàn rất găng, chưa cưới mà chửa là ái tình bất chính, Đoàn mất oai tín, đuổi cả hai... Vợ nó tối nay hốt một mớ giày dép cũ đàng sau trụ sở, của tù bị giết hay lính quăng ra, đi in tới in lui từ bến sông tới nhà lao, coi như cộng sản đi nghe rất đông về cứu bác, bắt gọn hai đứa cháu... Chắc bác còn nửa tin nửa ngờ, thôi cứ lên núi cái đã. Bác cứ để nó cõng cho đỡ dấu chân, bác ốm nhom mà nó mạnh như trâu chọi. Muồng xốc hai cây súng trường 86-93 dài như sào đuổi vịt, Cẩn lại ghé vai cõng Chanh xuống một con suối, chọn được chỗ lội đến ngực. Họ đi men bờ suối một quãng xa cho đứt dấu chân, bất đầu leo dốc theo đường mòn của thợ rừng. - Súng nổ trống đánh trong làng rồi đó, mặc sức mà tìm. May tụi nó không có chó bẹc-giê. Hết lụt đưa chó lên thì mưa to cũng tan hết mùi. Chiều ấy, Chanh dẫn họ đến một làng Thượng gần trạm giao liên, vào làng lấy cơm ra cùng ăn, tối vào ngủ ở trạm. Nếu lộ thì trạm dời rất dễ, còn dân Thượng cho cơm là chuyện thường, thương lái hay người chặt củi đốt than đều xin ăn được. Vài ngày sau, một cơ sở Thượng được phóng xuống xã, về kể: - Dưới đó rầm rầm. Hội đồng bắt cả nhà hai anh lính, người làng kiện lung tung, nói không biết các ông giết lén hay cộng sản bắt đi. Họ đòi chỉ cái mả, coi cái xác. Họ biểu mấy cái làng dọc sông thấy ba cái xác nổi lên thì kêu gấp họ tới coi mặt thử, coi bị đâm hay bị bắn. Ui cha là rầm rầm! ... Chanh mở mắt choàng dậy. Mới mười giờ, phải đợi. Mà sao tim mình đập ghê quá, như khi bò đến sát hàng rào chờ giờ G. Anh nhấc cái gùi đan bằng mây đã hun khói ngả nâu đen, gùi hai đáy. Anh đặt nó trên đầu gối, tháo đáy dưới. Một khẩu súng ngắn tuột dọc vào bụng anh, kiểu rất lạ. Đó là khẩu súng săn ba nòng mà anh đã giấu lại trong đáy hàng này, gói chung với cây súng kỵ binh Nhật mà anh giả vờ đem đi nộp khi tập kết, bôi đẫm mỡ, gói nhiều lớp ni-lông và nhét vào một hốc đá khô ráo. Mùa lũ năm ngoái, ông Tư Chua đã đến hang này với cưa, giũa, khoan, sửa cây súng săn theo ý con. Báng súng được cưa trên chỗ eo, vừa đủ cầm một tay. Ba nòng súng được cưa chỉ còn một gang tay, thép tốt làm gãy răng hai lưỡi cưa Mỹ, cùn tới ba lưỡi khoan. Đêm sau ông quay lại, sửa sang cho thật vừa bụng, còn tán thêm một đầu ruồi cho cây súng tuy nó không cần mấy. - Cả nè, súng cưa nòng nó giật mạnh lắm, để cha bớt thuốc thêm chì cho con dễ bắn. Chanh đã kiếm được vài chục đạn súng săn của bọn dân vệ và Thanh niên diệt cộng, kèm theo những cây súng săn bắn phát một được gọi là “súng Mã-lai”. Đạn chì chín viên có, đạn bằng hạt mè có, đủ các thứ có thể bắn chết Việt Cộng hay bắn bị thương để bắt sống. Ông Tư chia hai loại đánh dấu riêng, nhồi thêm cho Chanh một chục đạn trường Anh sau khi sấy thuốc súng và hột nổ, còn vuốt kỹ sáp ong cho khỏi ngấm ẩm. Vừa làm, ông vừa hỏi cà rà về đường lối hòa bình của ta, của cả phe ta. - Mình nói hòa bình, nó cứ binh hỏa. Mình đấu tranh thì nó đánh trâu. Mình ngừng bắn, nó bắn gấp mười hồi xưa. Vậy là sao hả Cả? Chanh bị khóa họng, không được phép nói sai nghị quyết Trung ương, chỉ gượng gạo: - Rán đợi ít lâu nữa cha ơi. Nó vi phạm miết rồi ta mới đánh. - Tới đó thì đảng viên với kháng chiến cũ chết hết! Mày gần cấp trên hơn tao, phải thưa thiệt với Cụ Hồ nghen. Đài mình cứ nói hoài là cách mạng miền Nam đang đi sâu, đang mở rộng khắp nơi, mà tao cứ thấy lần hồi chết, tù, đầu thú, sám hối tố giác lu bù. Thằng Tư Quýt đi học tố cộng ở xã với tao, cằn nhằn cả ngày: “Ông Chanh theo cộng sản thì ở tù ổng chịu, làm cấp to ổng nhờ, tôi làm rèn nuôi cả nhà sao cứ bắt tôi cái tội liên quan cộng sản? Nay mai cộng sản lật ông Diệm, lên nắm quyền, cũng ông Cả Chanh hưởng chớ đâu tới phần tôi? Dân như khúc gỗ lăn tròn...”. Anh em ruột mà nó kêu than vậy đó. Chẳng giấu gì mày, tao nghĩ hễ mày chết hay đi tuốt ra Bắc thì vợ chồng nó mừng hết lớn. Bớt một phần chia gia tài nè, hết liên quan cộng sản nè, đủ thứ... Chanh nín lặng, chỉ giữ miệng súng xoèn xoẹt. Anh đã gặp quá nhiều gia đình chia năm xẻ bảy, tố giác lẫn nhau, chỉ đau lòng khi mấy anh chị em trong nhà cũng theo cái đà chung ấy. Cơ sở trong văn phòng quận cho biết hai bản tố giác Năm Bưởi rất nặng là của Tư Quýt và Bảy Bòng. Bảy Bòng biết chị đã từng giấu lựu đạn đi lùng mình khi nhảy về tề, nay muốn trả thù còn có lý. Tư Quýt tố giác em gái để kiếm chác gì? Trút tội liên quan cộng sản, hay cố thu góp gia tài? Đạn súng săn đã được bớt thuốc, tăng thêm chì vụn. - Anh! Chanh giật mình ngửng lên, tay vẫn cầm súng. Trong ánh lửa bếp chập chờn, anh ngây người nhìn Thùy. Vợ anh đứng bên ngoài tấm liếp che, mặt tái nhợt, run rẩy, miệng cười như mếu. Anh bước ra đón cũng vừa lúc Thùy thả rơi cái bao vác vai, ngồi thụp xuống. Anh dìu Thùy vào hang, che lại liếp, và chợt nhớ phải quấn chiếc khố che râu cằm. Thùy úp mặt trên hai đầu gối anh, bật khóc hu hu. Cô Tơ-bon vào sau, đặt cái gùi rất nặng xuống theo lối người Thượng: ngồi bệt xuống đất, cởi quai gùi sau. Cô kể vội: - Chị Hai sợ anh đi một mình, không nổi cõng. Em biểu có gì cứ đem, anh Cả có giao liên cõng giùm, lấy người làng tốt cõng đồ cũng được. Bây giờ em đi gác ngoài kia. - Tơ-bon, hay em về làng? - Tụi nó hay phục kích đêm, khó về. Đợi mặt trời lên cao cao, em vác củi vô, nó không nghi. Em ra ngồi núp gần đường, có chi em vô báo. Tới ba giờ, anh ra tróc lưỡi ha tiếng kêu em. Chanh lục vội trong gùi, ném cho cô bé chiếc võng ni-lông dầu màu xanh lá cây, tấm dồ Thượng để đắp. Đợi cô ra khuất, anh đưa hai tay nâng khuôn mặt đẫm nước mắt của Thùy. Tuổi nhích khỏi ba mươi, trải bấy nhiêu khốn khổ mà Thùy vẫn đẹp, vẫn được coi như hoa khôi của làng Linh Lâm, vẫn thu hồn bọn quan và lính đến tiệm may ngồi tán tỉnh. Trai làng không dám quấy nhiễu vì sợ oai ông Cả Chanh, chỉ có đám từ xa đến dám buông lòi chọc ghẹo. Thùy bỗng mở to mắt, chồm tới ôm ghì chồng, truyền cho anh những tiếng nấc cố nén trong ngực, nói dồn dập: - Xôi còn nóng, anh ăn đi... Nghe anh bị bắt, em muốn phát điên quá... cởi áo em coi có chỗ nào bị thương... Sao anh toàn là xương với da, chắc quá đói... Đau bao tử nữa không anh... Thuốc sốt rét hết chưa? Thùy hỏi đến ríu lưỡi mà không cần trả lời. Rồi chị liếc nhìn ra cửa hang, thong thả cởi áo, phơi bộ ngực trần nở nang, trắng muốt: - Để dành miết cho anh đó. Muốn coi vết sẹo cũ không? Chanh ghé môi hôn vết mổ ruột thừa, kỷ niệm một cơn đau chết người hồi Kháng chiến. Làn da đàn bà thơm mát khiến anh choáng váng. Anh quên bẵng lời tự hứa lần này sẽ không đưa tai họa vào bụng vợ, có chửa bảy tám tháng vẫn bị bọn tề đánh cho sẩy thai. Anh chỉ đủ tỉnh táo để hỏi gượng một câu cuối: - Em có thuốc ngừa... ấy không? - Có, uống rồi... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Mười, 2016, 03:14:52 pm Ông Tư giụi cây đuốc sặt cho sáng hơn, gọi Chanh đi vào đáy hang sâu. Ông chọn chỗ vách đá phẳng nhất, bắn liền hai phát vào hai chỗ, lại ngắm một phiến đá xa hơn bắn một phát trường Anh. Ông soi xem dấu đạn, gật gù: phát đầu lắp đạn ria vào nòng có khương tuyến, ra khỏi súng cách sáu thước đã xòe rộng bằng cái nong. Phát nhì lắp chín viên chì, chỉ chụm bằng cái đĩa. Phát thứ ba giật rất mạnh, súng muốn văng khỏi tay, đầu đạn súng trường phá vỡ đá và trượt réo trên vòm hang. Lại phải bớt thuốc trong những đạn trường Anh, thêm mã tử.
Ông Tư vừa làm vừa hỏi cà rà: - Cán bộ huyện cấm đeo súng, dao găm cũng cấm, sao mày làm khác hả con? - Con đi rừng núi tứ xứ, gặp con beo trăn gấu, phải giữ thân chớ! - Phải. Giả dụ gặp bọn dân vệ hay dân canh, mày bắn không? - Cũng tùy từng khi... Về sau, Chanh đưa anh Tô Xáng xem khẩu súng dưới đáy gùi. Anh Xáng tần ngần hồi lâu mới thấp giọng: - Phó bí thư tỉnh ủy nổ súng, anh em mình nổ theo hết... - Ừ, chà... một thằng dân canh quật ngang chân một gậy, đem phó bí thư về lãnh vài chục ngàn tiền thưởng, sướng quá đi chớ... Hay là cái mạng tôi rẻ hơn một vết thương trên mình bọn chống cộng? - Thì ý tao là mình theo đường lối hòa bình... phải gương mẫu... - Phải. Một phát súng có thể gây ra đại chiến thế giới thứ ba, tôi nghe hoài hoài. Còn Mỹ-Diệm bắn một triệu phát thì chẳng sao hết. Anh cứ việc khai trừ tôi, tôi về ở với dân Thượng cũng được. Chanh sừng sộ hẳn trong khi anh Xáng ôm đầu. Lát sau hai người thỏa thuận: Chanh cứ giữ súng nhưng đừng cho ai biết, chỉ bắn khi bị vây bắt, và phải nói đúng nghị quyết đấu tranh chính trị của Đảng. - Tôi không bướng đâu, anh Xáng. Anh coi lại thử Đảng bộ tỉnh mình lớp chết, lớp đi tù Côn Sơn, lớp ra đầu thú, sót lại bao nhiêu đồng chí? Anh không áy náy gì sao? Tô Xáng lặng im. Cả tỉnh có một máy thu phát bằng mật mã liên lạc với Trung ương, anh đã đưa xem các bức điện báo động đánh ra Hà Nội, nhưng chưa hề nhận được một câu trả lời nào cho phép dùng võ khí để tự vệ. Anh đánh vật với chính mình trong những đêm thao thức, nhất là khi đọc báo cáo các huyện gửi về, hay khi Thường vụ tỉnh ủy phải ra nghị quyết cấm nạn dịch tự sát trong đảng viên. - Phải giữ gìn gì không em... Thùy ơi! - Tự do đi anh... vợ gặp chồng còn giữ quái gì... Cả hai chìm hẳn vào cơn mê loạn, trong khi bếp lửa lụi dần và tắt ngọn. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 09:58:21 am Chương 3 Mãi gần mười hai giờ đêm, cả đoàn xe Gip kéo theo một chuỗi xe Hon-đa, Vet-xpa mới ập đến khu nhà sĩ quan được rào riêng trong trại gia binh. Tên quân cảnh đang gật gà trong chòi gác choàng tỉnh dậy. Hắn chộp cây tiểu liên và chiếc đèn pin dài bằng dùi cui cảnh sát, vọt ra cổng, kêu lớn: - Quá giờ giới nghiêm, không được vô! Một bàn tay thò ra khỏi chiếc xe Gip dần dần, tát bốp vào mặt hắn: - Mày đui hả? Soi thử biết mặt đại tá không? Mở! Luồng sáng đèn pin chiếu đúng bộ mặt sệ mỡ của đại tá sư đoàn trưởng. Hắn rập chân chào kính, hối hả chạy vào mở khóa cổng. Đại tá khoát tay đầy khoan dung: - Khen mi đó. Ai muốn vô, mi cứ làm rứa cho tao. Việt Cộng giả làm sĩ quan còn phải coi giấy nữa chớ. Đoàn xe bốn bánh và hai bánh luồn lách qua mấy chỗ rẽ lắt léo nữa mới đến căn nhà được chia cho thiếu tá Ung Viết Khánh, nhận lon lên khỏi cấp đại uý từ sáng hôm qua. Sau khi xem một lượt ba buồng cùng các thứ bếp núc và vệ sinh, đại tá lắc đầu nhiều lần: - Tồi quá. Tụi nó xếp thiếu tá chưa xôm đâu. Hay là toa vô phi trường ở với moa, xây luôn một vi-la trong đó? - Trình đại tá, em còn độc thân, ở bấy nhiêu là vừa. Đại tá bật cười to, làm nẩy bật cả ba lớp cằm, khúc cổ đầy mỡ, cái bụng to vượt mặt: - Ấy đấy, biết, tớ biết. Có ai thêm bận vì ai, không ai giường rộng chiếu dài dễ xoay... Cậu tha hồ bồ bịch, mươi ngày nửa tháng lại thay một ả mèo mới trong cái tổ quỷ của cậu, chẳng sợ ai đánh ghen hay xịt a-xít vào mặt các nàng được chọn... Chúc cậu may mắn hơn chúng tớ! Nhóm sĩ quan cười như chợ vỡ. Ngài đại tá gốc Bùi Chu này đã Nam hóa khá nhanh sau khi đứng về phía Ngô tổng thống, cầm quân đánh bọn Bình Xuyên và các giáo phái thân Pháp ở Nam phần đánh tiếp lũ quân ô hợp của Quốc dân đảng ở Nam Ngãi, của Đại Việt ở Trị Thiên. Chỉ trong hơn ba năm, lão nhảy vọt từ đại úy lên đại tá ngon ơ. Phải cái lão ít được học, nhờ đại úy Khánh dạy thêm tiếng Anh ban đêm khá lâu mà chỉ đủ để nói mấy tiếng Anh bồi với các cô chiêu đãi viên trong tiệm rượu. Đám khách không mời mà đến đã ra đi trong tiếng xe cùng một lần nổ máy rầm rĩ. Thiếu tá Khánh lảo đảo đi vào buồng vệ sinh, nôn ọe suốt mười phút, trở ra lăn kềnh trên giường ngủ. Cuộc khao vinh thăng lên thiếu tá vừa rồi sẽ phải trả giá đắt đây. Mạnh ai nấy gọi, uýt-ki, sâm-banh, vốt-ca Nga, chian-ti Ý, cô-nhắc Pháp, cả rượu đế lậu chánh hiệu Việt Nam, mọi thứ đều có đủ và đều tính giá gấp đôi gấp ba giá chợ Đà Nẵng. Hai Khánh mặc nguyên bộ lễ phục trắng mang đủ các thứ lon, dây biểu chương lòng thòng, huy chương và huy hiệu, lăn trên giường phủ vải trắng, chỉ vất bất bớt cái mũ lưỡi trai cồm cộm trên đầu, lịm đi rất nhanh trong vô vàn cơn mê xuôi ngược chẳng nhớ nổi sau khi tỉnh dậy. - .... Trình thiếu tá... mười hai giờ trưa rồi... - Hừ, cút mẹ mày đi. Tao mệt. Dường như chỉ một phút sau, thằng lính chó má đã gọi tiếp: - Trình thiếu tá, đã hai giờ chiều. Có một người đàn bà dẫn một đứa nhỏ tới nói là con đẻ của thiếu tá. Em biểu ngồi chỗ buồng khách, đợi lệnh thiếu tá. Hễ cần thì em đuổi ra. - Để đó cho tao, ra gác đi... À mà mày coi giấy soát đồ nó chưa? - Dạ, em làm kỹ hết cỡ. Nó là Phan Thị Bưởi, không có thứ gì bậy bạ. Thằng nhỏ là Phan Chung, mặt nó giống quá...hề hề... Mươi phút sau, Khánh bước ra phòng khách với bộ mặt bừ bự đờ đẫn của người ra khỏi cơn say, vẫn mặc bộ lễ phục hơi nhàu sau giấc ngủ. Năm Bưởi ngồi trên ghế bành, trong khi thằng bé Chung chạy loăng quăng xem các tranh khỏa thân cùng các ảnh đào xi-nê hở hang trên tường, cười rinh rích. Bưởi hơi nhỏm dậy, lại ngồi xuống, nói lạnh ngắt: - Chào anh. Tôi mới ra khỏi tù, về Linh Lâm, thấy cả nhà quá khổ cực. Chị Thùy cho coi lá thơ, thơ thứ mấy chẳng nhớ, anh muốn đòi thằng Chung về cho anh nuôi. Thân tôi bị bắt lên bắt xuống, tra đánh nhừ xương, hai đứa con tròng vô cổ cha mẹ với chị Thùy, còn thêm lâu lâu đi thăm nuôi con Bưởi nữa, mỗi lần đi là một lần lót tay mấy trăm... Tôi mệt rồi, ngán quá rồi. Tôi đem thằng Chung cho anh đó. Chẳng đòi anh trả xu nào đâu, đừng sợ. Bưởi nấc nhẹ trong họng, cố nén một lúc, lại nói qua hai bàn tay bưng mặt: - Tôi xin anh, tôi lạy anh trăm lạy... anh đừng để thằng Chung nó hư hỏng, nó mang nợ máu, nó chửi cả ông bà nó... Bấy nhiêu thôi, tôi chắp tay van anh... anh thương nó... Hai Khánh duỗi hai tay đón đứa con đã bao năm ám ảnh mình. Nhưng nó không sà vào tay anh. Nó đưa một bông lay-ơn vừa rút trong bình hoa cho mẹ, hỏi đột ngột: - Răng Thùy không đi hả mẹ? Về đi mẹ, về chơi với con Binh, con Lúa. Con cũng phải học để lên lớp chớ mẹ! Bưởi cười như mếu: - Con Bình là con chị Thùy, đứa trước chết bom, anh biết rồi. Con Lúa lên ba là con anh Năm Chò với tôi. Thằng Chung, lấy họ Phan của tôi, giờ anh muốn nuôi thì khai sanh lại, tùy ý anh. Chị Thùy cực hết chỗ nói mà tối nào cũng dạy cho nó biết chữ, rồi cho đi học trường làng, hồi xưa kêu là lớp Hai, nay đặt lại là lớp Tư tiểu học... Hai Khánh nghe kể lơ đãng, chỉ nhìn kỹ bộ mặt hốc hác và xanh bủng của Năm Bưởi sau gần bốn năm tù không án, với tất cả những vết roi hằn chưa lành hẳn, thêm chi chít những nốt đốt của muỗi và rệp xà-lim không kịp tan. - Cả nhà tôi muốn nhắn anh điều này nữa: anh đừng theo đuổi chị Thùy mà mất thì giờ vô ích! Khánh cảm thấy mặt mình nóng rực, nói ấp úng: - Ai đồn lung tung vậy? - Cả làng Linh Lâm đồn. Anh giấu uổng công, theo đuổi cũng uổng công, làm phiền cả nhà tôi uổng công. Anh dùng quyền phép uổng công. Có tra điện mười lần, cho đi tàu bay tàu lặn tới mấy, chị thà cắn lưỡi chết, treo cổ chết, nhịn đói chết, chớ không chịu ký giấy ly hôn đâu, không, không, không gì hết... Tôi nói vậy để anh đừng tưởng cái lon thiếu tá mới vinh thăng là to lắm. Giấy tờ của thằng Chung đủ hết trong gói đồ tôi đem tới đây. Chị Thùy may đủ cho nó mặc ở tuổi lên chín, lên mười, anh khỏi lo... Nó chạy ra vườn rồi. Tôi đi lén cho nó khỏi khóc lăn lộn... Giọng Năm Bưởi vỡ ra khi nói mấy tiếng cuối cùng qua cặp môi run rẩy và bộ mặt không chút máu. Bưởi chạy ra cổng như người bị ma đuổi, nhảy vội lên chiếc xích-lô máy chợt đi qua, úp mặt vào bên vai, cả người rung giật trong tiếng nấc. Khánh chỉ ngây người nhìn theo. Vài phút sau, thằng Chung chạy vào phòng khách, lập tức gào lên đòi mẹ, đòi mẹ Thùy (không phải mẹ Xùi) lật mình như điên trên tấm nhựa mô-két trải thay thảm cho dễ cọ rửa: - Cháu hổng ở với chú… Cháu về với mẹ Thùy, mẹ Bưởi, với em... Chú Khánh bỏ tù mẹ cháu rồi, mẹ cháu bị tù lâu rồi, o Thùy dạy cháu học, chắc cũng bị chú bỏ tù... Chú thiệt là ác, chú bỏ tù hết thảy... Cháu cũng vô tù... Răng chú ưng bỏ tù cả nhà cháu rứa? - Chung ơi, con ơi, con đừng ghét ba quá vậy đi con! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 10:01:31 am Có một điều Năm Bưởi không muốn nói với Khánh, là mấy năm ve vãn chị Hai Thùy đã gây rối trong gia đình Bưởi khá nhiều.
Ông Tư đưa lò rèn về Chỗ Hai Thùy. Sau khi ta tập kết và sau vô vàn lớp “cải huấn” trong các chiến dịch trị an, chiến dịch tố cộng đợt một, hai ba, tiếp chiến dịch tố cộng giai đoạn hai nay chưa chấm dứt, nay ông biến thành một ông lão hầu như câm điếc và bắt đầu lẩm cẩm tuy chưa đến tuổi sáu mươi. Lắm lúc ông để mặc cho sắt nung trắng trong lò, ngồi ngây ra máy môi nói gì trong miệng với ai đó chẳng rõ, đến khi người thụt bễ giục to tiếng mới giật mình, thò cây kìm cán dài vào đống than đỏ rực. Chắc tại ông bị tra tấn và chịu đòn quá nhiều nên đầu óc đâm rối. Ông dửng dưng khi người làng nói xa gần về những lần Hai Khánh về thăm thằng con bị bỏ rơi nhưng lại ngồi từng buổi từng ngày bên máy may của Thùy. “Nó ngồi chai đít nó mặc kệ, tao ngồi rèn cũng chai đít thì sao?”. Ngược lại, bà Tư lồng lên như ngựa chứng. Vốn là cái bóng của chồng, nay bà muốn trút tất cả máu uất lên đầu nàng dâu trưởng. Lại thêm vợ chồng Tư Quýt mỗi ngày mươi lượt rót vào tai bà những lời xúc xiểm. Bà coi như Thùy đã phản chồng-chưa phản hẳn thì về sau cũng trở mặt-bỏ thằng Cả Chanh để theo thằng Khánh. Cứ rao trước, chửi trước đi là vừa. Bà đã giận từ xưa, khi Chanh với Cam mỗi người một gánh đưa cô nàng dâu loạn trí về Linh Lâm: nó để cháu nội bà chết bom, rồi giả điên cho chồng nó phải bỏ nghề bỏ chức mà hầu hạ nó. Suốt chục năm qua, Thùy lành bệnh và đạp máy hùng hục từ gà gáy đến khuya kiếm tiền nuôi sáu miệng ăn, bà chỉ coi là phận làm dâu ắt phải vậy. Từng lúc, khi bà quá lời hoặc quá ồn ào, ông Tư hay Út Thanh Yên phải can, thằng Bảy Bòng trung sĩ ghé qua nhà cũng phát gắt. Thằng Ba Mít trở cờ theo “quốc gia” cho bà biết cả nhà Hai Thùy theo đạo Thiên chúa. Khi bà hỏi dò, Thùy kể thật ngày xưa Thùy là An-na, ông Hai Rề là Phê-rô, chỉ là chuyện xưa bày nay bắt chước. À, à, à, quá rõ rồi. Hèn gì cả nhà bà bị tù đày, cô lập, cải huấn, nhảy núi, sống nay chết mai, chỉ riêng cái con theo đạo Tây từ bỏ ông bà là yên thân, chỉ bị gọi đi học tố cộng mỗi đợt vài ba tối ở ngay trong làng. Bà quên rằng Thùy lo kiếm ăn đến phờ phạc, trên rẫy ruộng và trên bàn máy, không hề dính tới một chức gì ở thôn xã hồi Kháng chiến, nhưng vẫn bị giam mấy đợt vì tội không chịu ký ly hôn. Đòn tra không nhiều lắm, vì hầu hết những ai có chồng tập kết hay “lên xanh” đều chống cự như chị, đánh cả tháng chưa khắp lượt. Làm cho chị chửa hoang để dứt tình với cộng sản cũng chẳng dễ, chị sẽ la hét vang xóm, và mũi súng của Cả Chanh cùng Bảy Bòng sẽ chĩa tới từ hai phía ngược nhau. Chẳng cần hỏi ông Tư, như muốn tỏ ra mình hất bỏ cái gánh phu xướng phụ tùy, bà lẳng lặng xuống ngôi chùa gần chợ Huề Bình xin quy y tam bảo, nộp tiền vượt mức để rước về một lá cờ Phật năm màu, một thẻ đi chùa, một tờ phái trong khung gỗ lồng kính, một bộ Nghi thức tụng niệm in chữ to dành cho người cao tuổi, nhân tiện mua một cặp kính lão thay cho cặp cũ nhẹ độ. Lần sau bà sắm thêm một bộ chuông mõ, nộp nguyệt phí và tiền công đức, tốn tất cả một con heo choai chừng hai chục ký. Những bản kinh tiếng ta bà đọc được, hồi Kháng chiến học Bình dân chưa quên hết. Kinh Hán-Việt khó hơn, bà hiểu rất ít. Đến những kinh bằng tiếng Tây trúc thì bà đếm từng chữ chật vật, tiếng mõ thưa hẳn đi như ngái ngủ: - ... A lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da... - ... Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ny đế, ny ha ra đế, tỳ lê nễ dế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha.... Bà không sao thuộc được những chơn ngôn với thần chú từ chín phương trời, mười phương phật ban xuống cõi trần. Bà chỉ ghi lòng một điều: theo đạo Chúa thì vứt bỏ ông bà cha mẹ, theo đạo Chùa thì giữ được ông bà cha mẹ. Chánh phủ bây giờ ghép tội những ai không theo đạo nào cả-như ông Tư chồng bà-là chống cái món duy linh gì đó của tổng thống, là theo bọn cộng sản duy vật, theo bọn “vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo thần linh”, trong đó Cả Chanh hay được chúng nêu tên trong các lớp tố cộng. Bà tức tím ruột mà cãi không nổi với đám đầy tớ thằng Diệm. Thôi đành, để được yên thân, bà phải theo cái đạo nào hiền lành nhất, chứ không chịu nhận cái “thập ác”, như các ông già bà lão thường rỉ tai nhau: phải làm đủ chục điều ác mới được lên thiên đàng. Tính lui tới, bà Tư thấy tiền cúng chùa khá nặng, trong khi chịu rửa tội theo Chúa thì được cấp ngay vài chục ký gạo, tiền khoảng một ngàn, sa vào vụ rắc rối nào thì cha cố xin tha cho, tổng thống Diệm cũng phải quỳ xưng tội với các cha. Đi đạo kiếm gạo mà ăn... Bà tự hứa sẽ không bốc đồng, tin gì cũng một vừa hai phải thôi. Cũng như cha con ông Hai Rề thờ Chúa chơi chơi vậy. Buổi chiều cuối hè ấy, mưa đổ rào từng cơn ngắn lại tạnh trên sông Linh, lúc này đang đón nước nguồn từ vùng núi Ngọc Linh nằm chìm trong làn khói núi màu tím nhạt phủ trùm mé Tây-nam làng Linh Lâm. Nước đến trước, mưa đến muộn hơn, cho tới khi hai tháng lũ lụt chín và mười theo lịch âm gây tràn ngập tất cả. Mùa ấy chưa đến. Một người đàn bà bước xuống khỏi xe đò đậu tại chợ Linh Lâm, thất thểu đi về xóm Mới. Hàng chục người gặp chị dọc đường, chỉ vài ba người nhận ra cô Năm Bưởi chỉ huy du kích từ hồi Việt Minh đang trong bóng tối. Nhưng tất cả đều biết chị ta mới ở tù ra, khi thấy nước da bủng beo và những nốt đỏ hay nâu trên mặt, trên cổ. Vài bà kín đáo giúi tiền vào tay chị. Chị gật đầu cảm ơn, giúi trả. Vẫn với bước đi như ma lạc mồ, chị về chỗ lò rèn ông Tư Chua nằm cạnh tiệm may của Hai Thùy. Lò ông Tư đã dứt buổi rèn. Ông đang ngồi trên chiếc đòn kê thấp, tiếp chuyện một lính ngụy mặc đồ ka-ki vàng của lính Bảo an. Khi hắn quay lại nhìn chị trân trố, chị mới nhận ra hắn là thằng Bảy Bòng em ruột, tuy nó đổi nước da đen trũi và to béo hơn hẳn trước. Giọng nó vồn vã: - Tôi làm găng hết cỡ, họ mới chịu thả chị về đó nghen. Tôi dứt khoát không nhận chức cảnh sát trưởng xã Tây Giang, chừng nào chị tôi còn ở tù, nhà tôi treo bảng cô lập hạng A... Họ đưa tôi lên thượng sĩ Bảo an, mới đây thôi, nhà mình khỏi bị quấy rầy, lôi thôi gì cứ để tôi lo hết, đừng ngại... Cái giọng che chở ấy dường như gây buồn nôn cho Năm Bưởi với ông Tư Chua. Ông Tư ậm ờ trong miệng không rõ tiếng, đúng kiểu “thủ khẩu như bình” trong những đêm quỳ sám hối trước hình Diệm lồng trong gươm súng-từ quỳ nền nhà tới quỳ trên sỏi, trên gai mít, quỳ dang hai tay đỡ hai viên gạch, quỳ theo đèn sáp thắp nối nhau có khi tới bốn đèn, ai lăn ra ngã ngất thì được lôi ra ném vào thùng phuy đầy nước cho tỉnh, chết ngạt thì kêu người nhà tới lãnh xác đem chôn nhưng cấm quần tam tụ ngũ làm đám ma. Năm Bưởi không ngậm miệng. Ngót bốn năm tù không án và đứa con vừa đem đi trả đã khiến chị muốn nổi khùng, sẵn sàng thí mạng. Chị gằn giọng: - Cũng cái vụ tôi ra tù, nhà mình xuống loại B, mà lu bù người xưng là công lao mình… Ông phủ Đỉnh nè, ông đại diện xã là Ba Mít nè, ông thiếu tá Hai Khánh nè (chỗ ấy chị buột miệng nói thêm vào), bây giờ tới cậu cũng kể ơn nữa. Nhiều ơn quá, nhà mình trả sao cho xiết? - Chị muốn dứt hết tình nghĩa à? Cứ giở cái giọng bà Năm Nhím xách giỏ lựu đạn đi tìm thằng Bảy Bòng trốn theo Tây! Đừng cãi, tôi biết hết. Chị không giết được tôi, chắc là tiếc lắm hè. Giờ chị tính sao đây? Tôi làm cảnh sát trưởng xã Tây Giang, nắm quyền sanh sát mấy ngàn dân, thằng Ba Mít sợ tôi bằng sợ cọp, chị muốn giết tôi nữa không? Nói thử? Đến đấy, ông Tư Chua mới cất tiếng gắt to: - Thằng Bảy, mấy lâu mới gặp chị mày ra tù, mày gây gổ quá rồi đó. Tao thương ai ghét ai, để dành trong bụng hết, tụi nó ăn gan cắt mật kệ cha cố tổ nó, chị mày cũng vậy thôi. Mày tính rạch bụng tao hay chị Năm mày, cứ làm đây luôn cho thiên hạ thấy! Ông Tư vén áo, vạch bụng, ngửa đầu ra sau, đưa tay vuốt chòm râu thưa và khìn khịt trong mũi. Bảy Bòng ngẩn mặt nhìn cha, nhìn chị Bưởi. Cuộc vinh quy bái tổ của hắn khi nhậm chức cảnh sát trưởng coi như nát bét. Hắn nặng nề đứng lên, lắc vai, úp mũ vải lên đầu, vẫn chưa tìm ra câu đáp nào xứng ý. Hắn đã đem tiền về giúp chị Hai Thùy và biết một phần tiền ấy sẽ tuồn sang anh Cả Chanh đang lẩn lút trên núi... Hắn thật tình thương anh Cả và chị Thùy, mà vẫn ghét vợ chồng Tư Quýt với Ba Song, nuôi thù oán với chị Năm Bưởi, và đạo làm con vẫn buộc hắn không được để ông cha vô thần với bà mẹ thờ Phật quá khốn khổ... Nhưng dường như cả nhà hùa nhau tẩy chay hắn, ghê tởm hắn như đứa mắc dịch. Tại sao? Tại sao? Hắn phải làm gì cho cả làng đỡ xa lánh? Bảy Bòng ra đi một lát, Út Thanh Yên mới đến dòm qua cửa. Nó chạy nhào tới ôm chị Năm, nghẹn lời rất lâu mới thốt được: - Coi chị như ma chết trôi mới vớt... Thằng Chung chịu ở với ông kia không? Nó đi mới mấy ngày mà em nhớ quá đi chị, bồng nó từ nhỏ tới giờ, thương hết chỗ thương... Thôi chị đừng rầu, nghỉ đi, cắt thuốc bắc uống cho lại người, còn phải nuôi con Lúa nữa chớ... phải đợi anh Năm Chò về, sanh thêm một chùm con với chị... Bưởi nín lặng, chỉ vuốt tóc em gái. Thanh Yên buông chị, lau mắt vội, cười gượng qua môi run run: - Chắc chị thấy lạ. Làng mình bây giờ khác lắm chị. Một phần ba mắc học tố cộng với ở tù, một phần ba lo đi xâu công ích với cộng đồng kiến thiết, còn lại một phần ba làm lụng nuôi mấy phần kia. Thứ gì cũng sẵn, chỉ có đồng tiền quá thiếu, thành ra đi thăm nuôi chị ở nhà lao chẳng có gì ra hồn. Chị Ba Song làm giàu tới tới, mà sợ dây dính với cộng sản, đi nhờ ghe nhà chị phải năn nỉ miết... Cực nhứt là chị Hai Thùy... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 10:04:03 am Sau đêm sống với chồng trong “Hang nổ”, Thùy nơm nớp chờ tai họa cùng hạnh phúc trút xuống đầu mình. Thùy muốn được thêm một đứa con, con trai càng hay, chị Bình nó sẽ trông em. Nhưng bọn nắm quyền kia hung ác quá chừng, hễ không khai ra có chửa với ai thì chúng đánh chết cả mẹ lẫn con.
Nhân dịp nhà được lột bảng cô lập, xuống hạng B, được phép đi lại trong xã, Thùy đến chợ Huề Bình xin toa thuốc ngừa thai. Mấy chị quen thân lại rỉ tai: “Đừng uống thuốc của ổng. Ông theo đạo Cao Đài, hay thứ gì đó, thò một con mắt, ổng cho thuốc “giải thương” tức là dưỡng thai chớ không cho phá, sợ tội sát sanh. Thôi chịu mất tiền, tìm ông khác”. Sau đó, Thùy vừa mừng vừa đau lòng khi kinh nguyệt lại ra. “Khốn khổ, em muốn có con với anh, mà sợ có con. Sao vợ chồng mình cực nhục tới dữ vậy anh? Bao giờ hai đứa mình mới yên ổn?” Rất nhiều đêm, Thùy đã ôm ghì con Bình đang ngủ say, trằn trọc nhai cắn cái gối nhồi bông gòn, thầm thì nói chuyện với anh Chanh vắng mặt liên miên sau ngày cưới-luôn luôn chạy theo việc hỏa xa, tiếp đi qua Lào, nay nằm rừng ngủ núi với cái đầu được bọn địch treo giải năm chục ngàn đồng. Chị biết rõ, tụi nó để chị yên làm con tin, làm đầu mối dây khi chồng kiệt sức chịu ra hàng “chánh nghĩa quốc gia”. Quá rõ là anh thà chết không hàng. Nhưng anh có tin những lời bôi xấu của vợ chồng Tư Quýt với cơn lũ nguyền rủa của bà mẹ chồng khắc nghiệt trút vào em không, anh yêu quý nhất của em? Hễ anh tin, em không sống nổi thêm một ngày nữa, em chỉ nhảy xuống thác sông Linh là xong. Mà thiệt tình cũng chẳng xong đâu. Cái bọn ác ý độc miệng sẽ nói: “Chị ta chửa hoang với Hai Khánh, bị ông ta bỏ rơi như Năm Bưởi hồi trước, hết đường lui tới...”. Em năn nỉ anh cho em lên núi rừng với anh, nhưng bị gánh nặng cả nhà anh níu lại. Ai nuôi lũ con nít? Ai phụng dưỡng cha mẹ anh đang mỗi năm một xuống sức? Ai dành dụm từng đồng để sắm áo quần thuốc men gửi xuống nhà tù Hội An cho Năm Bưởi-gửi theo các bà các chị loại B hay C, có người nhà cùng bị giam ở đấy, chứ con đò dọc của nhà chị Ba Song vẫn lên xuống liên miên mà không nhận chuyển quà... Còn một chút may mắn, là lò rèn ông Tư với bàn máy của Thùy, dù vướng cái bảng cô lập, vẫn còn đủ việc làm. Bọn Ba Mít và tay chân biết dân làng lui tới để rèn và may ở đấy, cũng làm ngơ đi, một phần để vét tiền thuế cứ leo thang lên mãi, phần khác cũng có cái gì đó sờ sợ, nể nể đối với gia đình “cộng sản nòi”, lại ăn ở được lòng dân xưa nay. Sau đình chiến, công nhân quân giới cùng gia đình họ rút đi hết, lớp đi tập kết, lớp trở về quê làm ăn, bỏ lại nhiều đất khai hoang ở ven sông và trên các gò thấp, có cả ruộng bậc thang tưới bằng nước suối. Đồn điền La-phạt từ lâu đã thành đồi tranh và lau lách, chỉ lấp ló những chòm cây cà-phê và chè tàn lụi. Các chủ cũ chưa mò về được, vì khắp vùng này đang lâm vào “cái nạn Tam quốc” như các cụ ở Linh Lâm thường gọi. Nhân khi phe thân Mỹ đánh phe thân Pháp ở Sài Gòn, bọn Quốc dân đảng ở Tây Quảng định phỗng tay trên bọn Diệm, dựng lên bộ máy cầm quyền, giống như mấy huyện khác ở Quảng Nam. Mới kiếm được một ít súng hạng bét, chúng đã hối hả ra oai bằng cách “xối máu cộng sản”, trả thù cả những người không dính tới cộng sản hay kháng chiến. Rồi Diệm hất luôn Bảo Đại trong cuộc “trưng cầu dân ý” có mật vụ hốt phiếu bỏ vào thùng, ai làm khác lời dặn “xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ thùng” lập tức bị bắt khi ra khỏi chỗ bầu cử. Quốc dân đảng rầm rộ ra tuyên ngôn “ly khai phe thằng Diệm”, vét gạo tiền của dần để lập chiến khu chống Diệm và chống Cộng, bắt đầu tập đánh du kích. Quân Diệm kéo lên vùng ven núi, còn bỡ ngỡ nên cố lấy lòng dân, định đánh Quốc dân đảng trước rồi diệt Cộng sau. Cộng sản đã rút đi hầu hết, nhưng vẫn nắm được dân “vùng đỏ” này, phải mất nhiều năm mới tẩy não được. Bọn Việt quốc bị dân căm ghét, tránh như tránh tà, lần hồi kéo nhau ra hàng cả. Người dân vui mừng không lâu. Nhũng tên ác ôn nhất trong Việt quốc lại được phe Diệm dùng lại, phong chức, có khi thăng chức nữa, mở đầu giai đoạn tố cộng. Chỉ có thay đổi tí chút: huyện thành quận, chủ tịch xã gọi là đại diện, tên xã Linh Giang sửa ra Tây Giang, còn sự hung dữ thì tăng chứ không giảm. Đến đấy, hai người cùng quê Linh Lâm trở về làng: ông phủ Đỉnh và Hùng Minh tức Ba Mít. Ông phủ theo Việt quốc từ lâu khôn hơn bọn trẻ rất nhiều, không dính vào vụ ly khai và lập chiến khu, chỉ đi tuột vào Sài Gòn để móc nối với đám quan Nam triều cũ đã rời Pháp để bám Mỹ. Nhờ thần thế và công lao chống cộng, ông ngoi lên quận trưởng, gần đây lên tỉnh phó. Để học theo cụ Ngô, ông cạo bộ râu cụ tú, chỉ chừa tí ria mép gọi là, mặc thay đổi âu phục và quốc phục, nộp lễ mừng rất hậu hĩ cho ông Cố Trầu Ngô Đình Cẩn. Cũng như xưa, ông đi khắp làng chào hỏi niềm nở, nhắc lại mãi: “Thời buổi nào, chế độ nào thì dân vẫn là dân, có chánh phủ nào sống không dân được đâu!”. Ba Mít được đi tập kết nhưng lén ở lại, sau mấy lần hầu chuyện “ngài quận trưởng”, được ông phủ dùng làm đứa sai vặt trong quận, ông thí cho đồng nào hay đồng nấy, chỉ đủ cho hắn sống cầm hơi. Ông còn bấm riêng Bảy Suyền, kẻ nắm mối liên lạc giữa ông với đám cầm đầu Việt quốc trong các thành phố bị Pháp chiếm, nay được Diệm dùng làm cán bộ tố cộng loại kha khá trong tỉnh: - Cháu nắm cổ thằng Ba Mít, cho nếm mùi khai thác trong lớp tố cộng loại A để nó biết thân biết phận. Thằng đó như con lươn, ai sài nó cũng bị tuột khỏi tay, nay mai Việt Cộng gây rối hay là quân Bắc Việt đánh vô là nó phản mình tức thì! Hai Khánh dạo ấy chưa ra ở nhà thuê riêng, cũng chưa nhận vào quân đội Diệm, có mặt khi ông phủ nói thế. Anh thấy phải can ông phủ: - Ba không tin nó thì tống cổ nó đi, bắt ăn đòn tố cộng làm gì? Ông phủ đáp ngọt ngào: - Thằng Mít là con chó, bỏ chủ Việt Minh chạy về với ta. Giống chó quen ăn cứt, dơ thiệt đó, có điều muốn săn thú phải dùng chó, muốn giữ nhà phải dùng chó, muốn dọn con nít ỉa bậy cũng dùng chó. Hễ nó hết bấy nhiêu việc, ta bán cho cửa hàng “cờ tây”, mất gì đâu con? Cứ thử coi nó thiệt lòng theo ta hay là do Việt Cộng gài lại! Qua một lớp “cải huấn tố cộng loại A” dài hơn tháng, Bảy Suyền trao cho ông phủ một xấp giấy vài chục trang viết tay, cười toét miệng trên khuôn mặt xanh nhợt của kẻ sớm bị bệnh di tinh: - Thằng mộc tồn khai đây. Bác coi thử nó giấu chút gì không, từ hồi Việt Minh bí mật tới nay. Phủ Đỉnh đọc cẩn thận bản “phản tỉnh” của Ba Mít, gật gù. Nó khai ráo cạo, cả những điều ông chưa biết, nặng lời thề thốt sẽ chịu xẻo từng miếng thịt “nếu chưa thành khẩn hết mức với chánh nghĩa quốc gia, với chủ nghĩa duy linh nhơn vị của Ngô tổng thống anh minh luôn luôn cải huấn”. Cái bệnh dốt ưa nói chữ vẫn còn, nhưng coi bộ thằng này xài được. Miễn nó ăn cắp vừa phải, ông có thể dùng nó làm quản lý, giữ khu ấp Linh Lâm cho ông, chứ cô Huyền Tâm đau tim và ế chồng chỉ còn là một bà vãi tu tại gia, nửa ngây nửa dại. Tiếp đó là một đột đổ bộ ồ ạt của dân Bắc di cư. Họ được xe nhà binh chở lên theo đường 56, được ca-nô ngược dòng Thu Bồn và sông Linh lên, trút vào vùng đất của các gia đình quân giới bỏ lại. Tổng ủy di cư cấp cho họ gạo tiền và những căn nhà khung gỗ lợp tôn làm sẵn, các cha cố và chánh trương, trùm họ đứng ra chia hàng Mỹ viện trợ. Thôn mới Linh Thượng ra đời. Ông phủ Đỉnh chỉ khoanh lấy ba trăm mẫu tây dễ tưới nhất trong đồn điền La-phạt, họ hưởng phần còn lại, vỡ ra trồng khoai sắn, dựng lên xóm Tây của thôn Linh Lâm. Chắc hẳn họ đã được các đấng chăn chiên và các vị cầm quyền căn dặn nhiều về dân vùng đỏ và Việt quốc, nên khi mới tới mặt ai cũng gườm gườm. Tất cả đều đeo thánh giá, và nói với nhau bằng giọng gì rất lạ, khó hiểu. Mãi về sau dân Linh Lâm mới biết họ đến từ Nghệ An, rời quê khi được tin “Chúa đã vào Nam, Hoa Kỳ sắp bỏ bom nguyên tử ở miền Bắc”. Họ dựng nhiều nhà nguyện với chữ thập thật to trên đỉnh, chuông sớm chuông chiều giật vang động dọc sông Linh. Tiếp nữa, họ nhận kẽm gai về rào quanh khu định cư, và những tốp vệ sĩ bắt đầu gác và đi tuần với súng và lựu đạn. Đã hiện rõ họ là tấm bình phong chống Cộng được dựng lên dưới chân dãy Trường Sơn. Cuộc sống cứ thế trôi qua. Những kỳ hẹn hiệp thương hay tổng tuyển cử chỉ là dịp để chính quyền mở những đợt tố cộng dữ dội hơn trước. Những người dân cũ và mới lần hồi quen nhau, bớt gờm nhau, bởi dân di cư mất nguồn viện trợ phải kiếm sống ngày càng chật vật, nhiều nhà cuốn gói ra đi. Không ít người xin làm thuê ở đồn điền phủ Đỉnh hay các nhà giàu trong xóm Chợ Linh Lâm, máu hăng chống cộng dường như nguội đi, niềm kiêu hãnh làm “dân nước Chúa” chẳng còn mấy. Nhờ đó, lò rèn ông Tư Chua và bàn máy Hai Thùy đông khách hơn trước. Trong khi chờ lấy đồ may vá, đã có những đồng bào di cư sốt sắng giúp Thùy: “Để tui lôông cho mấy cơn ná trữa cươi để phơi đồ áo”, và Thùy đã hiểu họ muốn làm gì, dịu nhẹ cảm ơn họ. Người khỏe hơn thì kiếm đôi thùng “xuống rào sương nác”, nghe vui vui. Gia đình ông Tư vượt qua được bốn năm thử thách đầu tiên dưới chế độ mới mà chưa mất mạng nào, nhưng các vết rạn nứt ngay trong nhà đã hiện rõ. Chỉ có một người đủ sức hàn gắn là Cả Chanh, bao giờ anh mới trở về được, nếu sống sót để trở về? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 01:45:38 pm Chương 4 - Chúng mày ơi, thằng Phu mới tậu một đồng giờ Pôn-giốt mặt đen, mới bóc tem nhá. Kính mời nhà A4 cùng chiêm ngưỡng! Lớp trưởng Lê Tùng rao to tiếng khi kẻng khu ký túc xá khua báo hết giờ tự học, sắp ăn cơm. Anh chính trị viên đại đội chuyển ngành đi học này, thân cao to với mắt hơi lồi, bị chứng thấp khớp đục khoét bên trong, chỉ thiếu gương mẫu vào các giờ thể dục sáng sớm và thể thao chiều. Sáu Cam nằm trên giường tầng hai, đang nghiền ngẫm cuốn Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu và kiếm ý để làm tiểu luận, phải lồm cồm leo xuống? - Đưa mình coi thử... - Trước khi xem, phải tạ ơn Bác Tôn, trưởng ban Bổ túc văn hóa trung ương. Thằng Phu dạy bổ túc sáu tháng mới mua được đồng hồ. - Ờ, xin tạ ơn Bác... Mà này, chúng mày học Trung Văn, mù chữ Nga là phải. Phải gọi là Pa-liốt, trọng âm ở iốt, nghĩa là chuyến bay. Các cô mậu dịch lại cười cho! - Hơi sức đâu! Các cô nhìn cái biển xanh trên túi áo mình, Trường đại học Tổng hợp lại đọc ra Bách hóa Tổng hợp, cánh ta thành mậu dịch tất! - Ơ hơ hơ, cùng nghề càng đỡ chẹt nhau chứ sao! Trong căn nhà nền cao lợp lá cọ, đặt mười hai giường đôi của sinh viên trong khu ký túc trên bãi Phúc Xá, bên ngoài đê sông Hồng, tiếng khua bát đũa nổi dậy. Sinh viên túa ra sân trong khi nhà bếp hối hả bày thức ăn, bưng cơm. Loa truyền thanh ồm ã đưa tin, vang động khắp mười căn nhà lá cùng kiểu với nhà A4 của sinh viên đại học Tổng hợp I Hà Nội. Các trường đại học mọc lên rất nhiều sau ngày ta tiếp quản miền Bắc, trường sở chen lấn nhau, các khu ký túc được dựng hối hả và cố nuôi sinh viên với giá rẻ nhất-học bổng hăm hai đồng, tiền ăn tháng mười lăm đồng, tiền nhà điện nước không phải trả xu nào, sinh viên đi dạy thêm hay làm thêm tự do kiếm tiền bỏ túi, nhà nào khá giả thì hưởng thêm của nhà chẳng sao. Giới sinh viên đã hiện rõ ba tầng: từ các tỉnh xa và thôn quê ra Hà Nội học thường nghèo, đi bộ và nhịn quà sáng; cán bộ và bộ đội chuyển ngành vào trường sống khá hơn nhờ được hưởng 95 phần trăm lương tại chức thay vì học bổng 35 đồng trước đây. Còn sinh viên con nhà giàu hay công chức lưu dụng vẫn sang nhất-một thư ký đánh máy ở sở nào đấy cứ lĩnh lương cao hơn Bác Hồ. Thôi thì nước ta chưa thống nhất, đành chịu những bất công kéo dài ít lâu nữa, dù miền Bắc đã giải phóng đến năm năm. Số này đi học bằng xe Mô-by-lét, Xô-lếch, về ở nhà lầu hai ba tầng, nhưng hay than thở ngày nay khó sống hơn trước, và nơm nớp sợ tư sản sẽ bị cải tạo, sợ công chức lưu dụng phải xếp lại theo lương cán bộ kháng chiến về, sợ không được ở Hà Nội khi ra trường. Oai nhất trong giới trung lưu ở lớp Ngữ Văn khóa Ba là “bố” Lê Tùng. Anh ấy cũng là người Sáu Cam mến nhất trong lớp, tuy chỉ phục vừa vừa thôi, vì mải lo vợ con nên học ở mức trung bình. Các thầy cô giáo, lứa nghiên cứu sinh và trợ lý trẻ được giao lên lớp một số giờ chuyên đề, thường bối rối hoang mang khi thấy cậu sinh viên đồ sộ này bước vào lớp trong bộ quân phục sĩ quan, đi giày cộp bằng da đen, gọi thầy cô bằng đồng chí. Khi biết Tùng là phó bí thư chi bộ toàn khoa-cán bộ giảng dạy cùng chung chi bộ với sinh viên-lương và thâm niên cộng lại lĩnh cao hơn so với thầy cô, thì người trên bục giảng đến giờ nghỉ lại sán đến Tùng, nói rụt rè và bẻ ngón tay không ngớt: “Em là đoàn viên đã lâu, học lớp cảm tình Đảng, nhờ anh theo dõi giúp đỡ...”. Và Tùng giúp đỡ họ thật tình, xoa dịu bớt những lời chê trách đối với các thầy cô non kém, vực lên được không ít người có vết đen hay lỗ hổng trong lý lịch xin vào Đảng. Anh cũng quý cậu lớp phó thua mình tám tuổi, gốc miền Nam và luôn bốc, hăng, lắm lý sự nhưng sẵn sàng nghe anh em đập mình, sẵn sàng gánh việc vặt khi lớp trưởng về Hải Phòng thăm vợ con. Chiều nay, Tùng và Cam cầm bát đũa xuống nhà ăn cùng một lần. Tùng huých tay Cam khi đến gần sân bóng chuyền đầy người hò hét chung quanh cuộc đấu giữa hai đội Toán và Hóa: - Lại đằng này, tớ hỏi tí chút. Hai đội đang hăng phục hận, cổ động viên bên ngoài gào thét đứt hơi đến át cả còi trọng tài. Bố Tùng kéo Cam vào góc vắng nhất, thấp giọng: - Tớ bảo, tình bạn thôi nhá.... Cả lớp với cả phòng A4 đều bảo cậu đang bị rối tình cảm. Cậu về ký túc rất khuya, ngủ trằn trọc, ngồi viết thư hàng buổi. Ông Yên đọc bản khóa luận về văn học dân gian liên khu Năm của cậu, bảo chỉ đáng điểm ba, cậu làm lạo thảo cho xong. Lớp điền kinh buổi sáng cậu cũng bỏ... Mình không tò mò đâu, nếu có gì mình giúp được thì cứ nói, không thì cậu giữ riêng... Mình cũng chẳng ưa những người nhảy vào ngồi xổm trong đời tư người khác, dựa cái thế hơn tuổi, hơn cấp, lên lớp dạy đời. Tùy cậu trăm phần trăm đấy... Cam liếc nhìn những nét lo lắng rất thật tình trên mặt ông anh cùng lớp, cảm thấy không muốn giấu chút gì với anh cũng như với anh Năm Chò. Nhưng vẫn phải hỏi thêm: - Tối qua, nghe bảo bà nào nặng một tạ đến gặp anh, chắc lại đưa thư tố cáo tôi lần nữa, bà Ất chứ ai! - Tớ cũng định nói. Bà ấy than vãn mãi rằng cậu bỏ rơi mẹ con Hoàng Lan hàng nửa năm không lui tới, cả nhà trách cậu lắm. - Ừ ừ, cái mụ thần nanh đỏ mỏ ấy, mụ La Sát ấy, chửi tôi nát mặt khi gặp tôi đến thăm Hoàng Lan, còn gửi thư đến Đảng ủy nhà trường ghép tội cho tôi ve vãn vợ lính vắng chồng. Còn may là anh làm chứng hộ. Mụ ấy đầy bụng rắn độc. Ôi, chuyện tận đẩu đâu, các anh biết thế nào mà xử, chỉ đánh một dấu hỏi to tướng vào lý lịch thằng Phan Cam về khoản đạo đức! Kẻng lại khua báo ăn cơm. Cơm nghèo thôi, mỗi ngày hai bữa đủ no nhung rau nhiều đạm ít, một bát canh chỉ nổi tí váng mỡ gọi là có con lợn sổng chuồng chạy qua vườn rau muống hay bắp cải. Rất may là bố Tùng nẩy sáng kiến “kết nghĩa” với một mâm sinh viên gái, các cô ăn yếu nên sáu người chỉ xơi được hai phần ba số cơm, chỗ còn lại họ đưa sang cho mâm Tùng và Cam vét sạch. Bù lại, mâm con trai chở các cô bằng xe đạp từ bãi Phúc Xá đến hai cơ sở của trường Tổng hợp ở cách khu ký túc đến bốn cây số. Trận đấu bóng chuyền ngoài kia sôi nổi. Cấp dưỡng khua kẻng mỏi tay, cả dãy bàn nhà ăn vẫn bỏ trống. Hai vị lớp trưởng Toán và Hóa nhân lúc đổi sân, hổn hển chạy vào bếp, vừa vuốt mặt đầm đìa mồ hôi vừa thề độc rằng anh em ăn xong sẽ rửa sạch mọi thứ, các chị cứ bỏ đấy về nhà, chưa nghe trả lời đã co cẳng chạy biến vì trọng tài đã toe toe xướng giao bóng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 01:47:14 pm Xong bữa cơm đạm bạc, bố Tùng kéo Cam ra khỏi cổng ký túc, rẽ sang phía bãi sông Hồng có một đoạn đường khô ráo, giúi cho Cam một điếu Hoa Hồng loại bốn hào một gói. Diêm Thống Nhất dạo này tệ quá, đánh ba que mới châm được một điếu, tiếp đó mồi chuyền cho nhau. Tùng dặng hắng vài lần, thấp giọng:
- Tớ báo tin mới nóng giòn đây. Cậu Thống hi sinh trong đợt tiễu phỉ trên biên giới, mãi tận Hà Giang. Cam sững người, ấp úng lâu mỏi thốt: - Anh không nói ngay với tôi... - Đêm qua cậu về khuya, vật vã mãi mới nghe tiếng ngáy. Thống nó bị hàng chục viên tiểu liên vào ngực, anh em khiêng ngót một ngày mới đến trung đoàn. Đường xa quá không chở về được, không đợi được, phải chôn vào nghĩa trang xã. Xe con Tổng cục cán bộ đưa gấp cô Lan với thằng bé... gì nhỉ... là thằng Nhứt... lên Hà Giang chiều hôm qua, nhận mồ mả, sau bốc về đâu tùy ý. Chắc vài hôm nữa mới làm truy điệu được. Thống là chiến sĩ thi đua Quân khu nhiều năm, có thể phong anh hùng quân đội. Mình chỉ gặp vài lần mà mê nó ra phết. Đến quãng lầy lội, Tùng xoay người trở bước thong thả: - Hồi Đảng ủy cử mình đi tìm sự thật về lá thư bà Ất, may gặp nó về họp ở Hà Nội. Lan giận phát khóc, Thống ta lại bật cười, thằng Nhứt thì hàng chục lần đòi mình dẫn đến chú Cam, lăn ra đất. Bà con xa, pháo trăm lẻ năm bắn không tới, nhưng bà Ất mắc cái bệnh khác oai quyền kinh khủng, Thống nó bảo thế. Trên đường về mình ghé vào thăm bà ấy ở Phà Đen. Ông chồng dạy tiểu học gầy như que củi, bà vợ phát phì, đặt bên nhau thành con số 10. Tập kết mang ra bốn con, sinh liên tiếp thêm hai đứa nữa, nhà chật chen không lọt, ầm ĩ ngày đêm những chửi, cãi, khóc. Bà ấy nói ráo hoảnh: “Chặn trước thằng Cam với con Lan thì vừa, lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. - Bây giờ xoay ngược trăm tám mươi độ, trách tôi bỏ rơi! - Có thể vì Thống hi sinh rồi, bà ấy hối... Sáng nay tớ gọi nhờ dây nói văn phòng, mấy cậu quen ở Tổng cục hẹn bao giờ truy điệu sẽ gọi điện về ký túc cho mình hay cho cậu, phải đợi Hoàng Lan về. Tội nghiệp, cả hai vợ chồng đều mồ côi bố mẹ, Thống lại lặn lội quanh năm trên biên giới, thảo nào thằng Nhứt nó đòi cậu đứt hơi... Đèn điện trước cổng ký túc đã bật, tiếp các nhà đều lên đèn. Mỗi nhà hăm bốn chỗ nằm chỉ được thắp hai bóng 75 oát, điện yếu hẳn so với năm ngoái, nhiều sinh viên phải tự túc thêm đèn dầu nhỏ thắp riêng, dù Ban quản trị đã nhắc mãi nội quy chống cháy. Dừng trước cổng, Sáu Cam ngập ngừng: - Còn câu hỏi đầu tiên của anh, để lúc khác tôi nói rõ. Tóm gọn là chuyện trở về miền Nam anh ạ. Anh Năm Chò tiểu đoàn trưởng chuyển về nông trường Sao Vàng ở Thanh Hóa viết thư báo đã nhận giấy gọi tái đăng, tiếp đó gặp mấy cán bộ vào bàn việc vào Nam. Thế nhưng anh ấy cấm tôi không được rời trường, tốt nghiệp rồi sẽ hay. Tình cảm có rối thật đấy. Anh bảo tôi làm gì bây giờ? Bố Tùng gãi cằm hơi lâu mới đáp: - Chà, cái này... mình không có quyền tò mò... việc tối mật... - Thì tôi nhắc lại câu anh ban nãy: tình bạn thôi mà! - Mình không biết chủ trương mới nhất ra sao. Để mình nhờ mấy đứa quen hỏi dò hộ cậu. Tạm xếp lại, tạm gác đấy đã nhé. Anh Tám Thống đền nợ nước đã trên hai tháng, dãy bằng và huân chương từ quân công hạng ba trở xuống đã lồng kính treo san sát trên căn buồng chín mét vuông dành cho vợ con anh ở khu nhà nhân viên y tế nép vào một góc bệnh viện Phủ Doãn, mà cô vợ Hoàng Lan vẫn chưa ra khỏi vẻ người và dáng vóc đờ đẫn của người mới góa chồng. Một ông cán bộ tổ chức nào đó thử gợi ý rằng chị ta chưa thỏa mãn chính sách, mắc tư tưởng công thần, bị cả chi bộ quật cho ngay không kịp thở, phải nhanh chóng xua tay rút chạy? “Tôi chỉ nêu vấn đề để các đồng chí suy xét...”. Nhưng vẫn không thoát ngón tay chỉ mặt của cụ bí thư: “Anh tưởng ai cũng là đứa đểu giả như anh?”. Cộng hòa dân chủ Đức bắt đầu viện trợ cho bệnh viện Phủ Doãn. Cả một hệ thống hiện đại để nấu ăn, xay thịt, rửa bát đĩa bằng điện dưới vòi nước áp lực cao, vòi thuốc tẩy, vòi nước sôi giội sạch cuối cùng, lò sấy khô, tính ra giá thành tốn gấp sáu lần khi rửa mọi thứ bằng tay vì nhân công đang thừa. Nhân viên và bệnh nhân đang xin được miễn ăn các thứ thịt cá táp nham cho vào máy xay điện, biến thành bột nhão tổng hợp. Hoàng Lan cùng với con được ưu tiên xếp vào các nhà được viện trợ, dựng chỗ góc sân bỏ hoang lâu nay. Nhìn ngoài trông xinh gọn, dọn vào ở khi còn rét cũng rất ấm áp dễ chịu. Mái lợp tôn mạ chống rỉ, vách bằng bìa dày phủ nhựa bóng loáng, nền gỗ dán dày cách mặt đất năm tấc, chia thành những căn hộ chừng trên dưới hai chục mét vuông, khối người thèm muốn. Đến mùa nóng bức mới từ lo lắng đến hoảng hốt: nhà chống rét chứ không chống nóng. Cửa sổ bé tẹo, tất cả các chỗ hở trên vách đều theo hướng Đông Tây để hứng ánh mặt trời, không có lỗ cắm phích mở quạt trong các buồng nhằm chống cháy, các giàn chạy nước nóng ven tường vách được nghỉ chơi dài ngày trong khi chủ nhà dắt con sơ tán ra những nơi có quạt, có bóng cây che mát đến xế chiều. Không một lời nào trách các bạn Đức đã hiểu quá ít về đất nước nhiệt đới chúng ta. Họ làm việc hùng hục giúp ta, ai cũng thấy, ai cũng mến phục. Nhưng bấy nhiêu kẻ ăn lương kỹ thuật, kế hoạch, xây dựng, đều mù câm điếc cả hay sao? Phê bình họ chỉ là húc vào bức tường cao-su, cũng đôi lúc là tường đá tảng gây u đầu sứt trán. Các vị cao cấp nhất của bệnh viện là những nhân vật tầm cỡ quốc gia và quốc tế, may ra vài tháng mới trông thấy đi qua một lần, chỉ dừng nửa phút để nghe ông chủ nhiệm khoa khoát tay về phía nhân viên nói đôi câu về đời sống, lại gật gù và đi tiếp. “Ờ, được, thế là khá, cố lên nhé”. Cũng chẳng ai trách các vị ấy được. Họ chăm lo đẩy khoa học thế giới lên các đỉnh cao mới, chớ nên quấy rầy họ. Chỉ ngại là đám lau nhau trung gian, đã từng được gọi “trung thì ít, gian thì nhiều”, do nhiều lần trôi giạt mà biến thành những cán bộ lăng xăng “nay tuyên huấn, mai tổ chức, ngày kia bảo vệ”. Đến đâu họ cũng tỏ ra mình thạo việc bằng cách “nêu vấn đề” để tỏ ra mình có mặt là vô cùng cần thiết. Cho họ đi học có hệ thống ư? Học bấy nhiêu năm không tăng lương là thua bạn đồng cấp, là bất công, là dại. Ai cũng nhắc như tụng kinh: “Cán bộ phải vừa đỏ vừa chuyên”, nhưng khi xét người xét việc thì phần lớn các vị cấp trên chỉ xét theo lý lịch, thâm niên, tính ngoan ngoãn dễ bảo được coi là đỏ, còn chuyên là tài luồn lách xoay xở qua hàng trăm bàn giấy để kiếm cho được mươi con dấu đỏ trong hạn ngắn nhất. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 01:48:43 pm Căn buồng mới nhận mười sáu thước vuông của mẹ con Hoàng Lan chiều nay ầm ĩ. Thằng Nhứt không chịu tắm nước lã tuy trời đã trở nóng. Nó lên năm tuổi, mặt mũi giống hệt Tám Thống, chỉ bấy nhiêu cũng đủ cho mẹ nó chiều hơn chiều vong. Suốt mùa rét Lan đun nước tắm cho nó chỗ gần chuồng lợn tập thể bằng bếp mùn cưa, trấu, dầu lửa, tiếp đó nấu thêm món gì phụ vào một suất rưỡi cơm cặp lồng, tắm xong cho con và dọn rửa xong mọi thứ thường đã tám giờ tối. Ngày quần quật từ bốn giờ rưỡi sáng đến lúc này mới tạm dứt. Còn may là Lan đã chữa lành các chứng bệnh từ địch hậu Hạ Lào mang ra Bắc, mới một con, anh Thống đi vắng lâu và chịu khó cùng vợ giữ kế hoạch mỗi khi về Hà Nội, để lại cho Lan tới hai phần ba số tiền anh được nhận, cả trước và sau khi phong quân hàm. Lắm chị vợ bộ đội sống vất vả hơn Lan nhiều. Nhưng hầu hết đều chê Lan: “Chị cưng con quá đó: Cứ như con nhà giàu cầu tự. Năm tuổi mà hờn mẹ còn lăn ra đất, mẹ ngồi bên khấn vái, chị leo cửa sổ trốn con đi làm... nói chị đừng giận, đúng là con hư tại mẹ...!”.
Lan biết mình dạy con sai phương pháp. Nhưng mỗi lần nó khóc ầm nhà, lăn ra đất, mẹ càng van xin nó càng vật mình, đập đầu côm cốp, người mẹ nào không mềm nhũn ra? Anh Thống nhiều lần thấy cảnh ấy. Anh phớt tỉnh, túm tay vợ kéo lại khi Lan chực lao tới xốc con dậy, kéo tay Lan ra khỏi buồng và khóa cửa đánh tách, nói thật to: “Cứ nằm đấy, ba má đi coi xi-nê”, và giả điếc không nghe tiếng gào xé họng của đứa con sau lưng. Lan bật run cả người, nhưng anh ấy rỉ tai: “Anh dặn bà Tiệp rồi, lát nữa bà ấy bồng con về, rửa ráy, cho ăn, cho ngủ. Anh biếu bà hai lít mật ong, một lạng hổ cốt toàn tính, quà biên giới mà. Em để con hư quá rồi đấy!”. Anh Thống kéo Lan đi thăm một ai đấy, xem kịch hay phim mới ra lò nào đấy, Lan cứ loạn ù vì tiếng khóc của con đuổi mãi sau lưng. “Thằng Nhứt hư, cả bầy em nó hư theo, nhà mình thành địa ngục mất thôi”. Anh Thống luôn luôn có lý. Có lý mà thiếu tình. Và tất cả những lời dặn khôn ngoan ấy chỉ đến với Lan mỗi năm vài lần, mỗi lần vài ba ngày, may lắm được bốn năm ngày. Ai dám ngăn anh làm nhiệm vụ vào? Chắc chắn không phải Lan, người đồng chí và đồng đội sống giữa lòng thủ đô Hà Nội, chỉ làm y tá mỗi ngày tám tiếng, chỉ đánh vật với đứa con cứng đầu, tiền nuôi nó lại là của người chồng sống nay chết mai nơi rừng núi. Mỗi lần anh về thăm vợ con, Lan sa ngay vào cơn hốt hoảng khi nhận thấy anh gầy đi, da tái sạm hơn, môi thâm sốt rét rừng khi nói những lời âu yếm và soạn ra tất cả những gì sắm nắm hàng nửa năm để mang về giúp vợ con nhưng vẫn áy náy vì thằng kia đứa nọ chưa được may mắn như mình, lâu nay vẫn thân cò lặn lội, vợ con nó ở tít tỉnh Thừa Thiên bên trong giới tuyến, còn chưa nói đến đám đồng đội quê gốc ở Liên khu Năm và Nam Bộ. “Em phải thấy vợ chồng mình ít khổ như ngàn vạn cặp chia cắt khác, còn được lâu lâu gặp nhau...”. Dù sao, thằng Nhứt vẫn đòi có ba nó. Ba Thống gặp nó ít quá, như ông khách lạ ghé ngang, và mỗi lần Ba Thống về nó lại bị đem đi gửi ở một buồng bà hay cô nào đó vào ban đêm đến tận sáng. Ba đem cho nó kẹo bánh nhiều, nhưng nó không được ở buồng má, nằm chung giường với má, nghe má kể chuyện đời xưa, được má quạt hay gãi lưng cho ngủ. Ba Thống cho kẹo bánh, chở xe đạp nó đi chơi, mua các thứ nó thích ở cửa hàng mậu dịch thiếu nhi, nhưng nó cứ mê chú Sáu Cam hơn ba nó. Đôi lúc nó tần ngần tự hỏi: “Ba Tám Thống tốt hơn hay chú Sáu Cam tốt hơn?”. Nó thường ngủ thiếp đi trước khi tìm được lời đáp. Sáu Cam bước vào căn buồng lắp ráp trong khu nhà viện trợ của Hoàng Lan. Đúng cái cảnh mà anh đoán trước: con nằm lăn lộn trên sàn ván, gào thét và quật gáy côm cốp để dọa mẹ, còn cô bạn cũ Hoàng Lan đang thút thít lau mắt: - Anh Sáu à... nhà hết các thứ nấu nước sôi rồi, mà nó cứ nhứt định tắm nước nóng như hồi còn lạnh... Nó chạy chơi té xuống cống, hôi rình từ cổ xuống dưới, không tắm thì sanh ghẻ lở đủ thứ, Lan làm sao? Bộ mặt của Sáu Cam với bộ râu quai nón rất oai, bỗng biến thành một dấu hỏi to tưởng với đôi mày dựng ngược, cái mồm mở há như con cá hớp không khí, kèm hai bàn tay xòe giơ cao xin đầu hàng: - Không phải, chị coi lầm rồi, thằng Nhứt là chiến sĩ quân đội ta kia mà. Nhứt nó theo ba nó đánh giặc khắp ba nước Đông Dương, nó hẹn chắc rồi, đâu có sợ tắm nước lạnh? Nhứt lồm ngồm chống tay ngồi dậy, rướn mình định đứng dậy, lại ngồi bệt duỗi hai chân chống hai tay. Nó không thể nằm lỳ vì chú Cam cú giụi mắt xem có phải lính Cụ Hồ nằm vạ không, nhưng không đứng được vì sợ mẹ coi như nó chịu thua. Trên khuôn mặt hơi dài với nước da trắng và đôi mày thưa giống cha, rất dễ thấy những nét bẽn lẽn và hờn dỗi tranh chỗ nhau. Sáu Cam khoắng tay vào chậu nước bằng tôn đặt chỗ góc buồng, bên chiếc ghế đặt khăn tắm và bộ quần áo sạch, trầm ngâm: - Con nhà lính, tắm bấy nhiêu nước ăn thua gì. Phải tắm sông tắm biển kia. À mà nước cũng hơi lạnh thiệt đó, hơi hơi thôi, chắc ra khỏi vòi lâu rồi hả? Nhứt chồm hẳn dậy, kêu như reo: - Cháu nói rồi, má cứ nói không lạnh gì hếếết! - Đồng chí Nhứt chú ý, nghiêêêm! (Thằng bé rập chân đứng nghiêm, trên còn áo, dưới cởi truồng). Giờ thể dục bắt đầu! Xuống sân, đi thường, bước! Hoàng Lan cố nín cười trong khi hai chú cháu bước xuống hai bậc cấp bằng gỗ, tiếp những tiếng hô rất chính quy của Cam: - Thành một hàng ngang, tập hợp! Phút khởi động bắt đầu, chạy tại chỗ, chạy! Tay cao... tay ngang... tay sau... chạy thường... tay trước... tay cao... Hai tiếng chân chạy lộp cộp trên nền đất bên ngoài. Chừng mươi phút sau, có tiếng thằng con hổn hển: - Mệt rồi chú... nực quá... chảy mồ hôi... - Ngừng chạy, hồi tĩnh, thở đúng động tác! Cam vọt lên nhà, vơ bộ áo quần sạch, khăn, cái gáo to có cán, cả tấm chăn bông chần màu ka-ki của Lan, chạy xuống chỗ thằng bé đang hít thở bàng cả hai tay lẫn bộ ngực khi cúi khi vươn. Cả hai túm tay nhau vừa chạy vừa cười ập vào một ngăn trong dãy nhà tắm công cộng của khu tập thể đang trống cửa. Lan hơi hoảng: anh ấy có giữ cho con khỏi bị viêm họng, cảm lạnh, bệnh phế quản, hay cứ coi nó như một người lính mà anh chỉ huy? Mười lăm phút sau, Cam bế xốc chạy về buồng một bó chăn kín bưng, từ đó dội ra tiếng oai oái: “Nực quá chú ơi, cho cháu ra chút, má đâu chú? Má đâu?” Không một người mẹ nào cưỡng nổi tiếng gọi của đứa con mồ côi cha lên tiếng gọi má. Từ trong đống chăn tùm hụp chợt nhô ra cái đầu đỏ hồng tươi nở của đứa con chuyên bắt nạt mẹ: - Thích lắm má ơi, má tắm cho con y như chú Sáu nghe má. Ba Thống đi miết, má dặn chú Cam tới miết nghe má! Sáu Cam và Hoàng Lan đều giả vờ không nghe tiếng gọi của đứa bé. Cam ra đi ngay để tránh những cuộc giảng đạo của bà Ất hay đến vào buổi tối. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 01:55:43 pm * Một tuần sau lần Sáu Cam quay lại với mẹ con Hoàng Lan ấy, hai người lại gặp nhau ở chỗ Lan ghi hẹn là vườn Bách thảo, dưới chân núi Nùng. Lan không muốn có đôi mắt gia trưởng đến mức chuyên chế của bà Béo luôn tự coi mình là người dang tay che chở cho người cháu xa lắc là Tám Thống. Bà chỉ chuyên phá rối người khác, chẳng giúp được gì ra hồn. Hai đồng đội cũ đi dạo thong thả quanh các chuồng khỉ, chuồng hươu cao cổ, dừng ở bên chuồng lạc đà có rào sắt và điện khá sáng, như cùng muốn tỏ cho ai đấy gặp tình cờ rằng họ chẳng có gì phải tìm đến chỗ tối. Dưới chân họ còn rải rác những dải giấy và mảnh công-phét-ti nhiều màu chưa quét hết, dấu vết rớt lại của ngày Hội thanh niên mừng Đảng ta ba mươi tuổi. Hôm ấy Cam đi giữa đám bạn cùng lớp, gặp mẹ con Lan, chỉ đưa tay vẫy kín đáo và đi thẳng. Còn may thằng Nhứt không trông thấy, Cam không bị nó réo gọi ồn ào. - Anh Cam còn giận hả anh? Lan đã nói bà ta hối lắm mà. - Hối hay không là việc riêng của bả, tôi không biết, cũng không cần biết. Bao nhiêu năm ăn cơm góp thiên hạ, tôi quen ngàn vạn người, hơi đâu để ý đến một bà Béo gặp thoáng qua. Nhưng cố ý gây sự với tôi là dại. Anh Tùng không can, tôi đã xốc tới cơ quan của bả, đưa lá thư bả, ghép bả vô tội vu khống, bôi nhọ danh dự... - Anh... anh Cam... coi vậy chớ bả tốt bụng thiệt đó anh. - Tốt hay xấu tôi không muốn để ý. Tôi quý anh Thống tôi thích đến thăm, đưa thằng nhỏ đi chơi, chạy giúp đôi việc lặt vặt. Bây giờ không thích nữa, vậy thôi. Tôi thiếu gì bạn! Lan tắc họng, mắt bốc nóng rất nhanh, nước mắt đã bắt đầu ứa. Nhưng thói quen ghìm mình của cô bộ đội cũng nổi dậy đúng lúc. Lan buông với cái giọng lạnh ngắt của Cam: - Tùy ý anh. Về hè! - Chào Lan. Mỗi người đến lấy xe đạp của mình dựng tựa hàng rào sắt. Cam gật đầu chào lần cuối, đạp về ký túc theo đường Thanh Niên, biến nhanh. Lan thong thả về theo đường Phan Đình Phùng, lúc này còn đông người qua lại. Cơn tức nghẹn dịu xuống dần, trong khi cả một búi tơ vò những xúc động từ từ dâng lên mãi, nở to mãi. Lan rẽ sang vườn hoa Hàng Đậu, ngồi vào chiếc ghế đá thấp không lưng dựa của trẻ con, úp hai tay vuốt mặt, từ từ cúi đầu. Hai cậu trai trẻ ngất ngưởng bá vai nhau đi qua, hình như nhậu nhẹt đã ngà ngà. Họ dừng cạnh chiếc xe đạp của Lan, rỉ tai nhau lè nhè nhưng vẫn lọt tai Lan: - Bò lạc mày ạ. Xe còn mới. - Mới sơn lại chứ tồng tộc rồi. Tã! Xem con bé thế nào? Lan đã gặp vài chầu bị ghẹo. Hồi còn mặc mấy bộ quân phục còn lại khi chuyển ngành sang làm y tá, các tay du đãng mới thấy đã lảng xa. Đừng trêu vào các ả “lính cái” mà hốc xực. Con người thì vêu mõm, nó ới một tiếng thì bất cứ ai mặc đồ lính hay công an đều lao tới bênh, mà có đứa sao quả tạ chiếu mệnh tưởng được ôm văn công xinh giòn lại bị các mẹ đặc công khóa tay vất nằm la liệt trên hè phố, đã khốn lại nhục với các bóng hồng nhẵn mặt cứ che miệng cười khi bước qua vội. Lắm đứa ê ẩm quá phải lặn về Hải Phòng hay Nam Định khá lâu, được bạn nhắn tin mới dám trở về Hà thành chốn cũ. Sau một tiếng è hèm rõ to trong miệng, Lan nhấc cái mũ cứng bộ đội úp lên đầu-dù chỗ gắn quân hiệu chỉ còn là hình tròn sẫm trên mài ka-ki đã bạc, nhưng Lan vẫn đội khi không thích ai nhận ra mình, khi phải trả lời câu hỏi đầu lưỡi: “Đi đâu đấy?”. Đi gặp anh Cam càng phải úp mũ sâu hơn, tận mắt. Hai tay Lan bắt đầu xắn đôi tay áo vét diện nhất bằng xi-mi-li. Hai cậu kia chừng đã nhận ra dấu hiệu chẳng lành, níu vai nhau ngả nghiêng đi tiếp. Chỉ qua bấy nhiêu phút thôi, những búi tơ vò chợt vỡ tung trong ngực Lan. Mình là gì hở Lan? Em là gì hở anh Thống? Và... Lan là gì, em là gì đối với anh Cam? Zê-rô. Số không. Một mảnh con gái mồ côi cha mẹ. Một tình yêu vội vã nơi chiến trường nước bạn, trăm trai chỉ có một gái. Một người được thương hại khi tập kết ra Bắc, chồng vắng xa, con nuông đến hư, cần bàn tay đàn ông giúp, phải chiều lụy rất nhiều người để gửi con một buổi bận họp, một tối học thêm, một vài chuyến mua gạo củi và các thứ khác theo tem phiếu, và cả vai trò ngoáo ộp để buộc con chịu tắm rửa hay cho mẹ trốn qua cửa sổ đi chợ. Còn anh Sáu Cam... Em quen anh lâu rồi, mến anh lâu rồi, cũng bị xa anh quá lâu rồi. Nhưng khi lấy chồng, em lại lấy anh Thống. Nếu ai hỏi tại sao, em sẽ không trả lời được, hay chỉ đáp chung chung: tìm hiểu lâu, thấy hợp nhau, cùng xây dựng. Chung quanh sẽ gật đầu ưng ý cả. Không ai có thể chê trách tí gì về anh Tám Thống, về đám cưới vội vã trước khi tập kết hai người hành quân hai nẻo, mà chỉ có những lời than giùm thở hộ rất thật bụng, sau đó ít lâu là những lời chia vui khi hai ngả đường gian nan lại giáp mối tại miền Bắc, khi đứa con đầu lòng dẫm chân trên đùi mẹ nhảy những bước đầu đời vào chủ nghĩa xã hội. Bà nào, chị nào buồn nhớ đến chồng con ở lại “nằm vùng” trong Nam cũng chỉ cười gượng mà không dài lời kể khổ trước bộ ba rất xứng đáng được sum họp này. Nhưng, khốn làm sao, Lan cùng với con vẫn luôn cảm thấy có chút gì đấy khang khác giữa Tám Thống và Sáu Cam. Đứa bé chẳng có lỗi gì: ba Thống mang quà về cho nó lắm khi quên lời hứa hay chọn những thứ nó không ưa, dù đã hết lòng thương con: cho một đôi đũa ngà voi rừng, nó lại thích đũa nhựa trắng rẻ tiền hơn; một tượng gỗ lâu năm của đồng bào Tày, nó chỉ chơi vài phút rồi đút gầm giường để mải mê theo chiếc ô-tô sắt tây có chìa vặn cót. Chú Cam ít đến, nhưng mỗi khi đến thì thằng bé bám chú không rời một phút. Chú không bắt nó ngủ nhà khác xa mẹ, đành rồi. Chú cũng không mang quà gì nhiều, không vuốt ve nó hay khen bé ngoan, bé khỏe, chẳng hiểu vì sao nó cứ coi chú như người toàn quyền ra lệnh cho nó, chú cứ chỉ huy và nó cứ vui vẻ phục tùng, lo lắng khi chưa hiểu ý chui muốn nó làm gì. Và nó chỉ chống chọi từng tí một khi Lan gắng gượng uốn nắn nó. Anh Thống, anh Cam, các anh có hiểu được lúc này em đang cần một người đàn ông trong nhà không? Khi đánh giặc, em chưa hề bị ai chê là sợ chết, sợ khổ. Đến quãng đời này, sao em mềm nhũn đến thế? Anh Thống qua đời rồi, ai sẽ giúp em đi tiếp chặng đường nuôi con khôn lớn? Anh Cam ư? Dứt khoát không là không. Một người bạn chân tình đã chấm dứt tình bạn, ra đi không ngoái cổ lại. Bà Ất ư? Bà ấy sẽ say sưa cầm quyền bên ngoài đám chồng con đang tìm đường chạy trốn khỏi cái ách độc tài của bà, để thống trị em, dù cháu bà đã hi sinh trên biên giới. Về đến căn buồng mới được phân mười sáu mét vuông, với các thứ nhà tắm nhà xí mới sửa sang lại nằm cạnh khu chuồng lợn tập thể, Lan sang buồng bên bồng thằng Nhứt về sau khi giúi một gói kẹo mua dọc đường vào tay con chị hàng xóm. Thằng bé yêu quý nhất của Lan vẫn ngủ say, giẫy chân, từng lúc gọi ú ớ, Lan ghé tai nghe. Nó không hề gọi tiếng gì có thể hiểu là Ba Thống. Lan tắt đèn, ôm ghì con trong tay, khổ thật, nó nói mơ vài lần lại một lần gọi chú Cam. Làm sao cho nó hiểu, chú Cam đã xóa sổ mẹ con ta ra khỏi danh sách hàng ngàn vạn người bạn của chú? Chú đang xoay xở mọi cách để trở về miền Nam, đâu muốn vướng mẹ con mình? Ngủ yên đi con, đứa con vô cùng yêu và quanh năm làm khổ mẹ, cố gắng ngoan thêm cho mẹ được nhờ... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 01:56:46 pm Trong những ngày làm lại bản khóa luận về văn học dân gian liên khu Năm-Cam cứ phải chấp nhận một cách gọi miễn cưỡng theo kiểu hành chính, vẫn luôn ghi chú thích cuối trang là bao gồm phần đất từ đèo Hải Vân đến Tây Nguyên, giáp với Đông Nam Bộ-cậu sinh viên chuyên mặc áo cũ vá vai hai túi dường như quên cả giờ, ngày, tháng, mặt mày phờ phạc ngẩn ngơ đến quên cả tên các bạn trong ký túc, sau bữa cơm không nhớ đã ăn hay chưa. Cam đang chuộc tội. Mồm cứ cao đàm khoát luận về trách nhiệm đối với vùng đất quê hương, khi viết về vùng đất ấy lại đẻ ra một mớ giấy loại mà người xứ xa cũng phải lắc đầu, quá ư là sượng mặt...
Mỗi mùa thi, ký túc linh động cho phép anh chị em xuống nhà ăn bật đèn học gạo sau kẻng ngủ, nếu là một nhóm năm bảy người trở lên và được trưởng lớp đề nghị. Cam chẳng muốn phiền ai, mỗi tối ôm xuống nhà ăn một chồng sách tham khảo với cây đèn dầu tự sắm, cố moi những tư liệu hiếm hoi về đất nước và con người ở quê mình, từng lúc chép miệng ghen với các bạn đang viết về hát dặm Nghệ Tĩnh hay ca dao vùng mỏ, dân ca Mường Thái Tày Nùng, có thể săn lùng tư liệu tại chỗ, không bị giới tuyến nào cắt ngang. Sau mỗi buổi lên lớp, Cam lại hớt hải chạy tìm các ông bà đồng hương cao tuổi, chỉ có thể gặp ngoài giờ hành chính, cùng nhau chìm đắm vào những chuyện xa xưa, cố ý không biết đến những vòng xoáy trôn ốc của các con cháu khua chén đĩa mỗi lúc một to, cùng các bà vợ gốc Bắc cưới sau năm tập kết rất cả ghen và đầy nghi ngờ cứ đem mũ và áo mưa của Cam đặt thành đống trước mũi khách, tiếp đó lại bảo người nhà bưng mâm cơm đặt đè lên tất cả mớ giấy tờ bày trên mặt cái bàn tự đóng bằng gỗ thùng, phủ lớp ni-lông cho dễ lau. Đó là tín hiệu cuối cùng buộc khách ra về, còn may đó là một cậu trai trẻ có thể làm rể gia đình, chứ không phải ả đang ngứa ngáy kiếm chồng theo khẩu hiệu mới là “tình yêu lớn không bằng đám cưới nhỏ”. Rồi bản khóa luận mới cũng xong. Theo lệ thường, lớp trưởng Tùng xua tay hối hả: “Tớ biết gì mà đánh giá! Cậu đưa thẳng lên bộ môn, lên khoa, đừng hỏi tớ!”. Nhưng Sáu Cam biết rõ anh trốn xuống nhà ăn vào lúc vắng, kín đáo đọc bản khóa luận đến khuya, sáng hôm sau đưa trả với một nhận xét rất gọn: “Có thể điểm năm”. Các trường hồi ấy đều cho điểm phân loại từ 1 đến 5 theo kiểu Liên Xô. Một tuần sau, Cam được bộ môn văn học dân gian biểu dương trước lớp, trên khóa luận có hai thầy một cô đều cho điểm năm bằng mực đỏ, kèm theo những lời khen nhiều mức độ và chữ ký rất chính quy. Ông bạn Lê Tùng được Cam kéo ra một quán cóc gần ký túc đãi một chầu cà-phê, cà phê phin hẳn hoi chứ không phải thứ cà-phê túi hay bít-tất đun từng nửa lít trên bếp than quả bàng bán rẻ tiền cho học trò và các lớp dân nghèo khác, kèm theo khoai sắn luộc. Một thứ nước đăng đắng lờ lợ có họ hàng xa với những giọt đen đang rỏ trong ly. Thuốc lá Hoàn Kiếm năm hào mốt một gói, bằng năm trăm đồng cũ, hút từng điếu lẻ cũng vừa túi tiền. Anh Tùng dặng hắng vài lần trước khi nói khẽ: - Mấy đứa mình quen có hỏi hộ cậu... (Cam nghĩ nhanh: ông ở Tổng cục chính trị nhiều năm, quen rộng khiếp!). Trung ương mới chọn một số rất ít đưa vào miền Nam cậu ạ. Mười hay mười lăm đơn mới lấy một. Trong ấy mới cho dùng vũ trang để tự vệ thôi, chưa được đánh to như hồi chống Pháp đâu. Nhiều đồng chí mình cắt máu viết đơn vẫn chưa được duyệt. Cậu đừng nản, đừng rầu Cam nhé. Học nữa đi, học nhiều vào, miền Nam đang thiếu trí thức cách mạng để sắp tới ăn nói với trí thức trong thành. Ông bạn lớp trưởng nói dè dặt, ngả sang chuyện quấy tếu. Sáu Cam đột ngột được gọi lên gặp Ban giám hiệu mười hôm sau, đầu giờ văn học Trung Quốc. Cạo hay khen, giao thêm việc hay bớt việc, giảng đạo đức hay đánh giá học lực? Trong mười lăm phút ngồi chỗ cô văn thư, chờ Ban giám hiệu xong việc hỏi đến, Cam chỉ ngồi lim dim mắt, không để ý đến cô văn thư niềm nở rót nước chè mời không giống lệ thường, cũng chẳng biết cô ngừng tay đánh máy để ngắm khá lâu cậu sinh viên áo lính. Được gọi vào phòng hiệu trưởng, Cam gặp ba người đợi sẵn. Bác bí thư Đảng ủy, anh phó phòng tổ chức trẻ hơn, và một ông tóc hoa râm nói giọng Cực Nam Trung Bộ, quãng từ Nha Trang đến Phan Thiết, được giới thiệu là “đồng chí vụ phó trong Ban tổ chức Trung ương”. Cam nhận thấy ngay: không nói tên, không xưng vụ nào trong Ban, nhưng đang cầm tập hồ sơ do Cam tự viết tay đã nộp thẳng lên Ban tổ chức, qua bác chủ tịch Hội đồng hương tỉnh Quảng Nam chứ không nhờ nhà trường chuyển. Sau Nghị quyết Trung ương Đảng giữa năm 1959 cho phép Đảng bộ và cơ sở miền Nam tự vệ bằng vũ trang, trong mấy chục vạn cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết cùng bà con họ hàng gốc Nam gốc Bắc của họ đang diễn ra nhũng đợt sóng ngầm dữ dội. Gọi là sóng vì mỗi gia đình đều cảm thấy nền nhà rung chuyển, khi người chủ gia đình hay mấy đứa con mới lớn lên đùng đùng bỏ việc, bỏ học, đòi lao về miền Nam đánh Mỹ-ngụy. Gọi là ngầm vì tất cả những vụ mộ quân gọi lính ấy đều diễn ra trong vòng tối mật, bên ngoài bộ máy Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức bên dưới. Các Đảng ủy và thủ trưởng chỉ được biết một đồng chí A hay B nào đấy được điều đi công tác đặc biệt, cắt biên chế, cắt hộ khẩu, xóa tên trong quỹ lương, hiểu sao đó thì hiểu, muốn đoán mò là đi miền Nam, sang Lào, sang Cao Miên, đi làm tình báo chiến lược ở bất cứ nước nào trên trái đất cũng chẳng cần biết. Những người từ chối nhiệm vụ đặc biệt này cũng không ít. Vô vàn lý do được nêu lên để lẩn tránh: sức khỏe kém, đang say mê công tác, nặng gánh gia đình, nghề chuyên môn không hợp với miền Nam lúc này... ông Ba Mậu, ty phó một ty Giáo dục tỉnh đang cố ngoi lên làm ty trưởng, đã rặn ra ho khan một hồi khi được cán bộ đến thăm dò. Ông khôn hơn nhiều so với một trí thức khác khi nói toạc móng heo rằng “đưa vào miền Nam chỉ nên thí quân chứ không nên thí tướng”. Ông vụ phó trước mặt Cam lúc này nom hiền như ông bụt. Ông lơ đãng lật từng tờ trong hồ sơ của Cam, cất giọng rì rì: - Hồi đánh Tây, tôi được dịp tới Tây Quảng nhiều lần, gặp anh Cả Chanh, anh Năm Chò, bác Tư Chua, chị Hai Thùy... ai cũng nói thằng Sáu Cam, xin lỗi, là đồng chí Phan Cam đây, phải là người học giỏi nhứt trong huyện, ít nhứt là trong họ Phan... Nguyện vọng vậy, ta không bu theo đâu, nhưng chánh sách chung là ai đang học nửa chừng ở miền Bắc thì không rút vô Nam. Hoãn lại ít lâu thôi, chắc đồng chí Cam thông cảm... Tốt nghiệp rồi, xin hẹn đem xe tới rước!. Cả xấp hồ sơ xin về Nam của Cam được gửi lại Đảng ủy nhà trường. Khi bác bí thư Đảng ủy hỏi lần cuối: “Thông rồi chứ?”, Cam chỉ cười gượng, đáp kiểu con nhà lính: “Chưa thông thì đả cho thông”, theo kiểu chỉnh quân hồi cuối kháng chiến, quen nói “đả thông tư tưởng”. Thôi thì đành, học đi, gián tiếp làm gì cho miền Nam cứ làm đi Cam ơi, đừng vùng quẫy thêm rối chuyện. Sáu Cam lại lao vào học như đứa dại gái, săn lùng tài liệu hiếm hoi về cụ Đồ Chiểu và các tác giả hữu danh cũng như khuyết danh ở liên khu Năm, ghi đầy nhiều cuốn vở trăm trang về tư liệu văn học, tiếp đó lại ngồi thừ ra hàng giờ để coi lại mình đã làm việc có ích hay vô dụng. Mãi đến khi một tạp chí lớn của trung ương đăng bài khóa luận về văn học liên khu Năm của Cam, có sửa đôi chút nhưng kèm theo Lời tòa soạn khen ngợi kha khá, Cam mới nghĩ rằng mình có thể đóng góp tí xíu nào đó cho quê mình. Duy có một điều Cam cố giấu mà vẫn bị lộ: Cam bỏ tập điền kinh khi dứt môn đẩy tạ, phóng lao, chuyển sang xà đơn, xà kép, xà lệch. Anh huấn luyện viên thúc ép mãi không được, cáu sườn, lên Phòng tổ chức nhà trường lục xem hồ sơ chuyển ngành của Cam, lật tẩy được cậu lính cũ này bị tật ở khuỷu tay trái, chỉ còn xấp xỉ một nửa mức thường. A hà hà, người ta khai tăng thương tật để lĩnh thẻ thương binh loại cao, còn hắn cố giấu thương tật để xin về đánh Mỹ ở miền Nam, không chịu đi giám định thương tật. Anh huấn luyện viên chỉ quen đánh giá con người theo số điểm thi đấu, phải mất mấy ngày băn khoăn trước khi gạch tên Phan Cam trong số gà nòi của anh sắp dự thi sáu môn, tám môn, mười môn phối hợp giữa các trường đại học và cao đẳng toàn miền Bắc. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Mười, 2016, 01:58:36 pm * Từ trường bồi dưỡng những người vào Nam, anh Năm Chò tạt về thăm Cam. Con người anh không hề đổi khác: vuông vức, đen như củ súng, tóc cắt ca-rê, áo quần con nhà lính. Chỉ khác khi anh nói và viết: ở nông trường Sao Vàng anh đã học hết chương trình cấp Một, lấn sang cấp Hai, và mấy tháng chính trị học chính quy cũng giúp anh nhích cao hơn thời làm thợ đào than ở vùng mỏ. Anh nói thật tình: - Hồi trước tao nói với mày miền bắc bỏ rơi miền Nam là sai nặng, Cam à. Không phải vậy. Dạo đó Đảng mình lo sửa sai, tao quá ngán rúc xuống lòng đất đào than kiếm tiền, bạn bè ca kíp chẳng hiểu gì hơn tao, tốt bụng thiệt đó mà dốt chánh trị cả lũ... Chỗ nông trường Sao Vàng đón anh em miền Nam ra nhiều lắm, ngày đêm bàn tính chuyện giải phóng miền Nam cách nào ít tốn xương máu nhứt. Anh em ra đi nhiều rồi. Đứa nào cũng đổi tên, làm lý lịch giả, để bọn ngụy trong kia khỏi làm hại cha mẹ vợ con. Học chánh trị ở trường Sơn Tây lu bù, còn thêm những đêm thề giữ khí tiết cách mạng, thà chết không khai báo, úi cha cha! Là tại ủy ban quốc tế cứ ngả nghiêng hoài, bọn Mỹ-Diệm trong kia la ó rầm trời là ta đưa từng trung đoàn, sư đoàn miền Bắc vô đánh nó, mỗi đứa nói một phách, cả thế giới đang chưng hửng... Thế nhưng động đến số phận của Cam thì anh vẫn cắn cưa, trước sau như một: - Học đi em, học giỏi đi cho làng xóm với bàn dân thiên hạ được nhờ. Bao nhiêu lý lẽ, anh Cả mày với cả nhà nói hết rồi, thành nghị quyết rồi, cứ vậy mà làm, đừng ý kiến ý cò lôi thôi! Không sao cưỡng được nữa, Cam chịu khuất phục. Chỉ còn biết cười chua chát: - Tiếu tựa văn nhân lạc đệ thì... - Là sao? - Cười như cậu bé hỏng thi... Coi như em thi rớt một keo chớ sao! Anh Năm trở về Sơn Tây, hẹn sẽ đến thăm Cam nhiều hơn. Dạo này chuyển sang học quân sự, số cán bộ dân chính lóng ngóng vất vả trong khi lớp chỉ huy chiến đấu cũ được rảnh rỗi hơn. Guồng máy của đời học trò quay mỗi ngày một nhanh khi tiết trời ấm lên và đợt kiểm tra cuối năm nhích dần tới. Cam không còn trằn trọc trên “kiến trúc thượng tầng” của chiếc giường ký túc nữa. Chẳng biết có bàn tay sắp xếp của lớp trưởng Lê Tùng không, mà cả lớp đột ngột bầu Cam làm cán sự bộ môn lý luận văn học, một việc hóc búa bị sinh viên đùn đẩy cho nhau, ngay Cam cũng đã một lần từ chối trong khi chờ trên xét đơn xin về Nam. Lần này thì nhận. Làm việc chúi mũi cho nguôi thất bại, phần nữa cũng vì các thầy chủ nhiệm Khoa và bộ môn gọi Cam lên dỗ dành khá lâu. Kết quả học tập của sinh viên đang xuống dần đến mức báo động. Đầu năm ngoái, sau hai tháng về giúp nông dân gặt mùa làm chiêm và xây dựng các hợp tác xã thí điểm, nhà trường rầm rộ phát động phong trào “cần công kiệm học” theo kinh nghiệm các trường Trung Quốc, song song với phong trào “tiến nhảy vọt” trong các ngành kinh tế. Các đoàn tham quan Trung Quốc về đi báo cáo về những chuyện thần kỳ: ruộng lúa cao sản tới bốn chục hay sáu chục tấn một công mẫu, lợn cắt mẩu tai và ăn phân trâu to bằng con bò, gang thép nấu bằng rơm rạ đã vượt nước Anh... Trường đại học Tổng hợp I say mê nhảy vọt. Sáng chế, sáng tạo, sáng tác, sáng kiến... Ai cũng thấy mình đang đổi mới tất cả các ngành khoa học tự nhiên và xã hội đang bị tư tưởng sùng bái phương Tây đè bẹp dí, kẻ nào dám nhắc đến các sách giáo khoa Âu Mỹ hay cả của Liên Xô, Đông Âu nữa, đều bị coi như phần tử phái hữu, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, gì gì nữa. Lồ hũ, là tiếng quen nghe mỗi khi ai đó rụt rè nêu câu hỏi về những bức ảnh chụp năm bảy chục người đứng trên ruộng lúa cao sản sắp gặt mà bông lúa không hề lún. Còn rất may là Đảng ta, nước ta không bắt chước rập khuôn bất cứ ai. Kể chuyện nước bạn cứ việc kể, ta cứ làm theo hoàn cảnh của ta, tránh được nạn đói và nỗi thất vọng sau đột bốc đồng “phấn đấu ba năm, hạnh phúc muôn đời”. Nhưng sinh viên năm thứ nhất và thứ hai học kém đi khá rõ. Cán bộ giảng dạy nhắc nhở ngày một nhiều, cho điểm kiểm tra ngày một thấp tuy bị sinh viên chê trách là mắc bệnh “chuyên môn thuần túy”, đôi khi bị ghép vào tật “sùng bái phương Tây”. Một loạt cuộc họp chẩn bệnh và chữa bệnh diễn ra khắp các khoa. Kết quả nhiều chỗ trái ngược nhau. Bên phía khoa học tự nhiên, như Toán, Lý, Hóa, Vạn vật... số đông cán bộ và bộ đội đi học bị đuối, phải xếp số học sinh phổ thông lên giúp đỡ, giảng lại bài, không kể giờ các thầy cô phụ đạo. Còn phía khoa học xã hội thì ngược lại: quá nhiều học sinh trẻ ngẩn ngơ trước những tác phẩm Văn, Sử, Địa hoàn toàn xa lạ đối với những học sinh chưa một lần bước ra khỏi các thành phố bị Pháp chiếm, đọc các cuốn sách của tác giả kháng chiến cứ như chim chích lạc vào rừng. Phải mất nhiều thì giờ để cho họ hiểu đời sống của bộ đội, du kích, dân công, súng K.50 là thứ gì, mìn muỗi nó ra sao, tại sao chiến trường Đông Dương lại chia lắm khu vực đến thế, và miền Nam nước ta đối với họ là một vùng đầy bí ẩn như lưu vực sông A-ma-zôn hay các dải đất cực bắc Xi-bir của Liên Xô chưa được khai phá. Khoa Sử ngừng nấu các thứ hóa chất gây quỹ. Khoa Ngữ Văn ngừng bán sách lăng nhăng trên tàu điện, ngừng nấu xôi sáng bán ở cửa ký túc. Ai cũng muốn “cần công kiệm học” theo đúng ngành nghề, nhưng sinh viên Sử mới vào trường thì ai chịu chi tiền cho đi nghiên cứu Sử, khoa Ngữ Văn muốn lập nhà in thì ai chịu bỏ vốn cho số tài tử ấy mở nhà in? Và ai chịu in những tập lạo thảo ấy của những kẻ mới tập tọng vào nghề? Lại phải quay về với lời dạy của Lê-nin thôi? “Học, học nữa, học mãi”. Và Sáu Cam, sau bấy nhiêu tháng băn khoăn chao đảo, lại tìm an ủi trong học tập và công tác. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười, 2016, 10:23:57 am Chương 5 Dường như trước mặt Mỹ Duyên, tất cả khối tự tin của thiếu tá Ung Viết Khánh bị rã rất nhanh như những lâu đài đắp bằng cát bãi biển gặp con nước dâng. Bà dì Ba kiêm nhân tình nhân bánh năm xưa của Hai Khánh vẫn diện như bà hoàng, theo mốt mới nhất châu Âu. Vẫn cái túi dết cồm cộm bên sườn, chứa máy ảnh, máy ghi âm, một sổ tay có thể lột rời từng tờ, năm bảy cây bút bi, và ai biết có cây súng ngắn 6 ly 35 kiểu bật lửa hay bút máy? Đây là lần gặp thứ năm giữa hai người tình cũ. Hai lần gặp sau khi Khánh về Đà Nẵng, còn ở nhà ông cha dượng Phủ Đỉnh, phải hẹn nhau ở bãi tắm Mỹ Khê ở đoạn bờ biển vắng nhất. Dồn đi xóc lại, Mỹ Duyên chỉ muốn hiểu một điều: Khánh về thành do Việt Minh gài vào hay tự nguyện? Lần thứ ba, Mỹ Duyên đến căn nhà ông thầy dạy tư tiếng Anh Pháp, thuê riêng trong một ngõ hẻm đầy dân Hoa kiều, lánh xa mọi thứ gì dính dáng với chính quyền Bảo Đại và Diệm khi các phe thân Mỹ và thân Pháp sắp nổ súng diệt nhau. Sau những giờ ái ân mê cuồng, Hai Khánh kể hết sự tình: - Anh mệt rồi, kiệt sức rồi sau bấy nhiêu năm theo kháng chiến. Me anh, các em anh, cả em nữa Mỹ Duyên à, cả ông Phủ Đỉnh, ở lại hết trong này. (Anh đủ tỉnh táo để không nhắc tới đứa con không thừa nhận và cô Hai Thùy không ngớt ám ảnh mình). Anh muốn trở lại cảnh sống bình thường của một trí thức bị cuốn vào con xoáy lốc của chiến tranh, nay trở về với nghề chính của mình. Anh nhận dạy các trường tư tiếng Anh, tiếng Pháp, kiếm đủ sống để soạn sách giáo khoa sinh ngữ. Kháng chiến chắc không nỡ bắt tội anh đâu, Duyên ơi! Kháng chiến không bắt tội, nhưng một loạt hành động đáng ngờ của Khánh gây nên tội. Hàng loạt sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp được ta trao trả nhận ra ông trưởng trại tù binh chuyên giảng bài và rất nhân từ đối với họ đã về Đà Nẵng, ở chung nhà với ông phó tỉnh trưởng mà ông ấy gọi là pa-pa. Họ báo nhau, rủ nhau, kéo từng nhóm đến thăm ông Khánh, kéo ông ta đi những cuộc ăn nhậu triền miên do các sĩ quan Pháp vung tiền ra đãi trước khi quân đội viễn chinh Pháp bị buộc phải cuốn gói khỏi Đông Dương, nhất là sau khi dân thuộc địa An-giê-ri bắt đầu nổi loạn... - Đông Dương khác Bắc Phi. An-giê-ri sát nách nước Pháp, là lãnh thổ Pháp, người Pháp định cư đông vô số, không cựa quậy được đâu!-Các sĩ quan quân viễn chinh Pháp đều ít nhiều tin như vậy, dù trên trán mỗi người còn in chấm đen kinh khủng của Điện Biên Phủ, không tẩy được. Ngài tỉnh phó cha dượng của Khánh, dù bỏ vùng Việt Minh về với quốc trưởng Bảo Đại với nhiều công lao làm việc cho quốc gia trong lòng địch, tỏ vẻ băn khoăn ngày càng rõ. Ông tránh không dự các cuộc đổ bộ ồn ào của quý vị đội mũ hình ống bơ vào nhà, chỉ chào lịch thiệp rồi né lên gác hay gọi lái xe ra phố. Bà mẹ Hai Khánh theo em gái định cư ở Sài Gòn với đứa con gái duy nhất chịu theo mẹ, không phải nơi ông đến. Trong số con hai trai hai gái của bà Lợi Thịnh nửa Bắc nửa Nam xưa kia, thằng Chương nhạc sĩ lang thang đã theo hẳn Việt Minh tập kết với các bạn văn công của nó, thằng Khánh chán đời chỉ muốn sống đời cao ẩn ở thị thành, con Chuân chạy lên xuống giữa khu vực ba trăm ngày Hải Phòng với Hà Nội đã giao cho Việt Minh tiếp quản, bỗng phải lòng một anh đại đội phó Việt Minh và vù trở về Hà Nội theo người yêu, chỉ bỏ lại một lá thư xin lỗi khi me và em sắp lên tàu biển vào Nam. Bà Lợi Thịnh xuống tàu di cư với đứa gái út và một bà em gái túm tay dẫn đi như người mộng du, khóc thút thít, còn may chưa bị mất hết của cải như lắm người khác. Hơn trăm lạng vàng đem theo còn nguyên, đủ cho bà mở lại một cửa hàng buôn vải cùng áo quần may sẵn nuôi hai mẹ con ở Sài Gòn, gần khu Chí Hòa lắm khách mua đồ rẻ. Nhưng đầu óc bà bị rối đến mức cô Nguyệt con út phải nháy mắt ra hiệu mỗi khi mua bán, để quý khách đừng băn khoăn khi bà chủ hiệu bắt đầu lảm nhảm chuyện xưa chuyện nay. Đến lúc nào đó, ông Phủ Đỉnh đóng cửa phòng khách và nói riêng với Hai Khánh: - Khánh à, ba nói con đừng giận, đám sĩ quan Pháp tới nhà mình nườm nượp kiểu đó đang gây vô số khó khăn đó con à! - Lạ chưa? - Ba cũng biết chuyện lạ. Có điều... Thủ tướng Ngô Đình Diệm sắp sửa lật nhào ông Bảo Đại đó con. Tức là Hoa Kỳ hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương. Con đừng dính nhiều với bọn sĩ quan Pháp sắp sửa rút lui, gây rắc rối cho con, cho ba nữa... Tìm chỗ trốn mà vẫn không yên, Khánh nghĩ vậy. Vào Hội An hay Sài Gòn, tìm đâu ra chỗ dạy tư kiếm ăn, hay trúng nơi người khôn của khó khi người Bắc di cư vào ồ ạt với tất cả ưu tiên dành cho công giáo? Khánh lại loay hoay tìm ra một căn buồng cho thuê còn trống vì cả nhà theo đạo Phật không muốn cho dân Bắc di cư vào ở chung, giá vừa phải, lại từng biết anh Khánh đã từng theo kháng chiến chín năm nên tình riêng có trọng nể hơn. Khánh về ở đấy sau khi cảm ơn ông cha dượng. Ông phủ Đỉnh không nói ngoa để đuổi Khánh, còn giúp anh thu xếp dạy tiếng Pháp và Anh ở bốn trường tư với lương hậu hĩ, còn dạy thêm mỗi tuần hai tối cho các bà vợ công chức và sĩ quan cấp cao muốn giúp chồng con thêm lương thêm lon. Trong những trận nổ súng dữ dội cố diệt nhau giữa hai phe thân Mỹ và thân Pháp, có hai ông chủ đàng sau giúp sức giúp mưu, ông phủ thoát và Khánh cũng không bị quấy rầy. Lẻ tẻ trong các lớp Khánh dạy hiện ra những khuôn mặt mới: mấy sinh viên và học sinh trẻ lần lượt vượt tuyến vào Nam sau khi hết hi vọng ở hiệp thương và tổng tuyển cử để thống nhất hai miền, ít nhất cũng để đi thăm gia đình ở miền Nam. Khánh rủ họ ra bãi biển Mỹ Khê hay Thanh Bình, cà rà hỏi chuyện ngoài Bắc. Khác với số “nạn nhân cộng sản” ăn tiền của Tâm lý chiến hay Công dân vụ đi nói thuộc lòng mấy bài tố cáo tội ác cộng sản ở hàng trăm lớp tố cộng, số này kể thật tình hơn. Họ không ghét gì chế độ miền Bắc cả. Sau đợt sửa sai, miền Bắc khỏe hẳn lên. Miền Bắc dạy học miễn phí, sinh viên được Nhà nước nuôi, chưa khá lắm đâu nhưng gọi là đủ sống, vào Nam họ mới luống cuống khi phải kiếm tiền ăn ở và trả học phí ngày càng tăng. Ờ, mấy ông Nhân văn-Giai phẩm-Đất mới ra báo tư, công kích Đảng Lao động hay chủ nghĩa xã hội, tùy các ổng thôi, học trò bù đầu với giáo khoa giáo trình chỉ đọc lướt qua cho biết. Chỉ có điều là các gia đình miền Nam gửi con ra học Hà Nội bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, là chương trình khoa học xã hội phải sửa lại gần như hoàn toàn trong khi các thầy cô giáo lóng ngóng chưa soạn được giáo trình mới, là các trường chuyển sang dạy ngoại ngữ bằng tiếng Nga tiếng Hoa trong khi họ chỉ chuyên học tiếng Pháp tiếng Anh từ nhỏ đến lớn. - Thầy biết đó, con cá hồi sinh ở nước ngọt, lớn lên xuôi dòng sông ra biển, khi sắp đẻ lại từ xa ngàn dặm tìm về bơi ngược dòng nước ngọt đã nở ra mình, dù trải bao nhiêu thác ghềnh, đập nước, lưới chặn, cứ nhất định quay về gốc tích. Cóc chết ba năm quay đầu về núi. Thầy đừng nghĩ xấu cho bọn con... Khánh không nghĩ xấu về họ, nhưng cũng bớt xấu hổ vì mình, đỡ áy náy cho thân phận mình, vì đã né tránh không đi tập kết. Ra đấy, còn địch đâu nữa để Khánh làm cán bộ dạy tù binh. Ai học tiếng Pháp để Khánh đi kiếm một chân giáo viên trường công hay tư. Ngoại giao với các nước phương Tây còn rất sơ sài, và Khánh đâu có được tin cậy để lọt vào ngành ấy. Được chiếu cố đến mấy cũng chỉ làm một chân dịch bản tin thông tấn xã hay tài liệu tham khảo trong xó vắng nào đó bên rìa bộ máy Nhà nước khổng lồ để chờ đến ngày về hưu. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười, 2016, 10:28:18 am Rồi một kẻ thân tín của ông phủ Đỉnh đến báo tin: mật vụ của ông Ngô Đình Nhu đang theo dõi Khánh, nghi là Việt Cộng nằm vùng. Khánh phân vân: hay lại một đòn âm của ông phủ đang muốn đưa Khánh về làm quản lý đồn điền của ông, lúc này đã lan qua sông Linh và lấy thêm được tới vài trăm mẫu tây của khu đất La-phác-sơ?
Khi Mỹ Duyên xẹt qua chớp nhoáng và bảo Khánh sắp bị bắt, khuyên Khánh cố chịu đòn đừng khai bậy, thì đã rõ sấm sét đã rùng rùng trên đầu. Khánh xếp đồ vào va-li định trốn gấp vào Sài Gòn với me và em gái, bị chộp ngay tại trận lúc gần nửa đêm, ném lên xe cây với còng khóa tay và giẻ nhét miệng, hai chiếc va-li được coi như tang chứng tự biết có tội. Ở miền Nam có quá nhiều tổ chức rình mò đơm đặt, mỗi cơ quan lại chia nhiều phe cánh thuộc phe ông nọ bà kia, cố chặn nhau và hạ thủ lẫn nhau đến rối mù. Khánh bị giam non một tháng, nếm ba lần tra điện, một lần “tàu ngầm” rót nước xà phòng, hai trận, “tẩm quất” bằng roi da đóng đinh và roi tre ba cạnh khá nhừ tử. Khánh chẳng có gì để khai, cũng chẳng khai vấy đổ vạ cho ai. Các bạn tù xúm vào săn sóc Khánh, phần lớn là đảng viên cộng sản không chịu ký ly khai, chống xé cờ Đảng và đạp lên ảnh Cụ Hồ. Một chế độ mà Khánh không chấp nhận, sao lại sinh ra những con người tốt bụng đến thế? Còn một chế độ mà Khánh thấy hợp với mình hơn, lại hành hạ Khánh hung bạo đến thế? Không gì báo trước, Khánh được gọi ra khỏi nhà lao, cho tắm rửa, cắt tóc, thay áo quần, đưa đến Ty Công an ở đường Gia Long, Đà Nẵng. Một đại tá đeo ba bông mai bạc, một thư ký, và ông phủ Đỉnh ngồi sẵn đón Khánh, một mâm cà phê bánh ngọt đặt trên bàn. Viên đại tá hầu như độc tấu trọn buổi. Đợt bắt giam và khai thác tàn nhẫn vừa qua được coi như tại Việt Cộng cố ý phao tin chia rẽ, khiến hàng ngũ quốc gia nghi ngờ lẫn nhau. Ngô tổng thống đã xóa tan sự hiểu lầm ấy. Ông cố vấn Trung phần Ngô Đình Cẩn đích thân duyệt hồ sơ của giáo sư Ung Viết Khánh và xóa tội. Ông tỉnh phó Ung Viết Đỉnh đích thân đứng ra bảo lãnh. Tốt rồi. Nhưng để chấm dứt mọi sự phiền nhiễu về sau-cần nói rõ là khó tránh khỏi-giáo su Khánh nên tình nguyện vào quân lực Việt Nam cộng hòa, tỏ thực tâm muốn theo về chính nghĩa của cụ Ngô, chung sức diệt cộng, bài phong, đả thực. Để giáo sư biết mình được trọng dụng, chúng tôi đã xét tỉ mỉ chức vụ và cấp bực của giáo sư khi cộng tác với Việt Minh, sẵn sàng phong cấp đại úy và xếp giáo sư vào ngành tâm lý chiến, thích hợp với năng lực của giáo sư hơn các ngành khác. Sau một thời gian ngắn, rất ngắn, với vài thành tích tỏ rõ sự tâm phục của mình, giáo sư có thể lên thiếu tá mà không ai dám ghen tị... Khánh chợt để ý thấy ông phủ Đỉnh đeo cây thánh giá bạc trên ngực, nhân lúc ông cởi cúc áo vét-tông cho đỡ nóng. Con tắc kè đổi sắc nhanh thật. Từ Việt quốc nhảy sang Cần lao nhân vị, từ thờ ông bà sang thờ Chúa, từ tri phủ sang chủ tịch Liên Việt sang phó tỉnh trưởng, thời nào ông vẫn ngoi lên đỉnh sóng được. Gọi ông là phủ Đỉnh quả là chẳng sai một ly ông cụ nào! Khánh xin được suy nghĩ thêm về những lời căn dặn của đại tá. Ông này cười khẩy, mặt lạnh hẳn đi, cái giọng Bùi Chu gần nguyên vẹn trở nên gằn gằn: - Tùy giáo sư, nghĩ bao lâu cũng được! Sau một lần tra điện và một đợt nước vôi vào phổi nữa, Hai Khánh run tay điền vào bản rô-nê-ô in sẵn, ký tên xin đầu hàng. Rất nhanh, từ thân tù kiệt quệ anh bước vào quân lực, nhận lon ba bông mai vàng đại úy, để ít lâu sau được vinh thăng lên thiếu tá. Khánh đã chứng minh được lòng trung thành với Ngô tổng thống bằng những chiến công chẳng mấy ồn ào của ngành tâm lý chiến. Và Khánh nghĩ: mình còn dám chê ai là tắc kè! * Kéo theo mình cả một làn hơi say người của nước hoa Pháp, một làn mây trắng của voan nhẹ Ca-sơ-mia, Mỹ Duyên đi xem tất cả căn hộ của Hai Khánh, soát từng bức tường, nền nhà, trần buồng, căn bếp, chỗ tắm và vệ sinh. Khánh ngây mặt nhìn theo và hít những mảng sương khói sau lưng người yêu đã Âu hóa hơn cả các mụ đầm Pháp và Mỹ ở Đông Dương. Duyên châm một điếu thuốc lá dành cho phụ nữ, dài và nhỏ bằng mút đũa, lắc đầu: - Thiếu bàn tay người đàn bà. Anh phải lấy vợ đi, ba mươi lăm tuổi chớ nhỏ nhít gì nữa! - Ba mươi sáu. Duyên ba mươi ba. Trai ba mươi tuổi đang xoan, gái thế nào xin tự biết. Đợi Duyên lấy chồng trước đã. - Bộ anh lẫn rồi hả? Ông chồng ngồi lù lù trong tỉnh đường đó, gần sáu chục mà trẻ măng. Răng giả, tóc nhuộm, diện mốt cực kỳ, vẫn bao gái mỗi tháng thay một ả. Còn anh, lấy vợ cho có người đỡ đần, chơi bời bấy nhiêu là vừa. Tu thân đi! Thoát cái, Mỹ Duyên bỏ giọng bỡn cợt, nói khẽ: - Một lão Tây già, giàu ngầm cực kỳ, nhờ em mách mối gặp anh. Lão đoán chắc anh còn nhớ tên là Lê-ông La-phác-sơ, chủ đồn điền ở Linh Lâm hồi xưa,... - Sao không nhớ! Tưởng lão đói thuốc phiện chết lâu rồi, hay là sang An-giê-ri với thằng con, hay về Pháp... Thằng thiếu tá Pi-e La-phác-sơ còn ở Bắc Phi chứ? Nghe bảo con gì em thằng Pi-e lấy chồng chủ đồn điền cao su trong Nam phần. Thằng Pi-e chưa hề bị ta bắt, mà nó theo lũ bạn tù binh cũ đến gặp anh, quậy phá om sòm tới mờ sáng, anh phải bí mật cuốn khăn gói đi thuê nhà ở riêng trong hẻm phố người Tiều, cho khỏi phiền ngài tỉnh phó. Tức cười, nhậu say vô là nó túm anh tâm sự lè nhè là cha nó mê thuốc phiện hơn con gái, là em gái nó lấy phải thằng chồng bụng phệ, mũ ni che tai, sống với Pháp, Mỹ, ông Diệm, Việt Cộng hay Việt Minh gì gì cũng được, miễn là mức thuế vừa phải. Bí quá thì hắn bán vườn cao-su, nhảy sang nước khác biết dùng nghề cao-su của hắn. Hắn giỏi nghề lắm lắm, nhưng ngán các biến động chính trị.., nè, lão Lê-ông còn nhắc anh thiệt à? - Nhớ. Mà ngày càng nhớ. Lão chạy con thoi giữa Sài Gòn, Nông Pênh, Viêng Chăn, Băng Cốc, ghi hết lý lịch tụi mình đó. Ngoài sáu mươi mà đầu óc chẳng thua máy tính IBM. - Tình báo Pháp hả? Hay làm việc cho CIA? - Ngược lại. Lão lánh né tụi đó như rắn độc. - Này, Xi-mô-nét, chỉ nên thả vịt vào các bản tin hay bài báo thôi nhé, đừng cho bồ xơi vịt giấy. Quỳ xuống, xưng tội đi, hỡi quỷ Xa-tăng mang hình Vệ-nữ! - Chớ có phạm thượng. Vệ-nữ đang là thần Flô-ra rắc sang giàu xuống kẻ khù khờ là anh. Mèo mù sắp vớ được cá rán, hiểu chưa? - Chưa... Hình như một lần Duyên kể hồi xưa đụng đầu với thằng Pi-e ở đồn điền cao-su của em nó, khi đi với một thằng Mỹ phóng viên kiêm điệp viên. Sau đó về Sài Gòn, Pi-e theo tán em riết. Thế mà chẳng bị phe nào quấy rầy, quái thật. Mỹ Duyên bật cười lanh lảnh, lắc lư mái tóc và khuôn mặt vừa được mỹ viện sửa sang rất đắt tiền, trẻ lại đến năm bảy tuổi: - Xin tự giới thiệu lần thứ n-ième, kẻ nữ nhi này là phóng viên và thông tấn viên cho hàng chục hãng thông tấn, báo chí và đài phát thanh ở Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Đức, Úc-đại-lợi, thỉnh thoảng cũng bí mật bán tin và ảnh cho các nước cộng sản nữa. A free-lance reporter in South-East Asia, please mind that! 1 Em chưa hề làm quan chức Bảo Đại, cán bộ Việt Minh, sĩ quan ông Diệm, hồ sơ tư pháp trắng xóa, muốn gây sự cũng chẳng có cớ. Còn cái vụ anh mới nhắc đó, là Pháp với Mỹ nán gân nhau qua loa, em lén thu bằng cái rì-coóc-đơ nhỏ giấu trong xắc, để dành đó, về sau ai mua thì bán... Lão Lê-ông dò ra chỗ này; anh chơi thân với trung tá Bửu Thái, đúng chưa? - Bạn học cũ ở trường Luật, cũng hay lui tới. Mà sao? - Cậu ta đến đây thăm anh hay anh vô sân bay chơi? - Có đi có lại. Hắn lấy bà vợ già mà giàu sụ, ngoài xe nhà binh đưa đón còn sắm thêm xe du lịch Pác-ka rất bảnh. Lão Lê-ông định giở ngón gì mà thò mũi sâu thế? - Em cũng có nguồn moi tin riêng, sẽ nói sau. Lão là thường dân, là Pháp, không xin được giấy vào chỗ máy bay vận tải quân sự. Bửu Thái thì không muốn ra ngoài nhiều, lộ mặt. Lão Lê-ông tính nhờ anh năm ngày chuyển cho Thái một gói quà, vậy thôi. - Tưởng gì! - Mỗi lần chuyển trót lọt, lão xin tạ anh hai trăm ngàn hay ba trăm ngàn, bằng loại giấy bạc gì tùy anh chọn. Hai Khánh ngây mặt ra, cứng lưỡi. Rồi một tia chớp chợt lóe: lão Lê-ông nghiện thuốc phiện chắc là buôn thuốc phiện. Thuốc phiện thô là thứ cồng kềnh, chắc lão buôn hê-rô-in tinh chế, sơ chế, hay ít nhất cũng là moóc-phin, Khánh nhớ có đọc một bài nghiên cứu khá sâu về các loại ma túy từ vùng Tam giác vàng tuôn đi khắp thế giới. Mỹ Duyên cười tươi: - Anh đoán đúng rồi đó. Bửu Thái nắm trong tay tám chiếc vận tải C.47, hai chiếc C.54 mới mua thêm, mà hắn chỉ dùng vài tay phi công tin cậy nhứt để chuyển hàng ra khỏi nước, hay đón hàng từ Thượng Lào mang về. Nếu anh ưng bụng, lão chịu ứng tiền cho anh mua một xe riêng, anh tự lái, từ đây vô sân bay anh xẹt vô tiệm mua thứ gì đó, gói quà đút dưới ghế lái, xong. - Nhưng.... nhưng mà ông Diệm cấm ghê lắm, kêu gọi biểu tình cấm tứ đổ tường, bỏ tù cả ngàn người nghiện... - Là để quét dư đảng Bình Xuyên, giành mối lợi đó thôi. Hết đợt lâu rồi. Bây giờ Sài Gòn có tới ba chục ngàn tiệm hút. Chánh quyền Mỹ rót tiền cho CIA bao nhiêu cũng thiếu. Ông Nhu cố vét thêm tiền cho các khoản chi quá lớn: mộ thêm thiệt nhiều mật vụ, tình báo, đút tiền mua các tướng tá cứ hằm hè đảo chánh, nuôi cả một đảng Cần lao nhân vị, với lại còn phải chuyển vốn riêng qua Thụy Sĩ phòng khi bị lật nhào nữa chớ… Lão Lê-ông hồi Pháp là chuyên gia ma túy, kiếm được cả triệu đôn, hồi Diệm hò hét thì lão rút vô bí mật, thuê máy bay tư của mấy hãng bay con thoi giữa Thượng Lào với Nam phần, Thái-Lan, do bọn phi công người Coóc-xơ giải ngũ lập ra. Tốn kém, mà dễ bị soát xét, hãng tư mà. Lão mò ra được Bửu Thái, mò ra anh, móc xích sang em. Lão thuê một dược sĩ có bằng, mở tiệm thuốc tây che mắt thế gian, thuê em viết một bài đăng báo Pháp về cuộc sống của những người Pháp lương thiện ở lại Đông Dương sau khi quân viễn chinh rút, trong đó lão được “bêu dương” là một trình dược viên cao tuổi và nghèo khổ đã ngoi lên mở được tiệm tân dược ích nước lợi nhà. Dám trả em hai trăm ngàn đó nghen! “Mình đang trượt dài xuống vũng bùn. Nhận vàng của ông cha dượng, ngậm tăm để ông ra đi theo chính quyền bán nước và Quốc dân đảng, bỏ hàng ngũ kháng chiến về thành, đầu hàng đòn tra tấn, nhận lon sĩ quan, tới nay buôn lậu đồ quốc cấm kiếm tiền... đến một lúc nào đó, mình sẽ xé cờ đạp ảnh, gào thét chống cộng, tự tay bắn chết đồng chí cũ để tỏ dạ trung thành với Mỹ-Diệm, có khi phải tập uống máu ăn gan cộng sản. Không thể bước lùi hay tự níu giữ trên sườn dốc lầy lội... Khánh ơi, ai chịu để cho mày mai danh ẩn tích trong cái xã hội đầy hiểm ác này, làm một anh giáo quèn dạy ngoại ngữ, trùm chăn đợi ngày thống nhất đoàn tụ?” Một làn môi thơm lướt nhẹ trên má Khánh. Duyên ra về. Trong làn sương mù của tấm voan Ca-sơ-mia và làn gió thơm lừng của nước hoa Cô-ty hay Sa-nen chẳng biết, nàng bước ra cửa. Nhưng nàng lại quay lui mấy bước, đứng bên Khánh, thì thào: - Em hiểu anh. Anh mệt mỏi sau bấy nhiêu năm kháng chiến. Anh muốn nghỉ ngơi, học thêm, sống đời cao ẩn ở thành phố, học luật, soạn sách, làm người trí thức hữu dụng. Nhưng họ không để anh yên đâu. Họ treo anh lên đánh nhừ tử vì nghi anh do Việt Cộng để nằm vùng. Họ lại vật anh ra xổ điện vô người vì nghi anh là tình báo Pháp. Anh muốn vượt giới tuyến ra Bắc, ngoài ấy không tù đày nhưng chẳng tin anh đâu, dùng anh làm người dịch các bản tin phương Tây là cùng. Du học nước ngoài thì chẳng có ai bảo lãnh, chẳng ai gởi tiền nuôi, mà mua được cái giấy xuất biên cả bạc triệu, kiếm đâu ra? Em còn để dành cho anh một lối thoát cuối cùng nữa, chưa tới lúc nói ra. Cứ nghĩ thêm về vụ làm giàu với lão Lê-ông đi, đừng áy náy, lương tâm nên dành cho chỗ khác! Duyên mở chốt cửa, thấy ngay một thằng bé chừng hơn mười tuổi đúng sát bên ngoài như rình nghe trộm. Mặt nó giống Khánh như lột, mặc sơ-mi trắng toạc vai và lấm bùn, quần xanh cũng bê bết đất, đi chân đất. Nàng đoán ra ngay đứa con bỏ rơi mà cô Năm Bưởi đã đem trả. Đáp tiếng “chào cháu” của Duyên, nó làu bàu gì trong miệng như “đồ đĩ ngựa”, không nghe rõ. Câu chuyện giữa Khánh với Duyên nhiều tiếng lóng và tiếng Pháp, Anh, nói thì thầm, may ra nó không hiểu. Hú vía! ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Anh: Một phóng viên tự do ở Đông Nam Á, xin nhớ cho. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 28 Tháng Mười, 2016, 10:35:44 am * Không đợi Hai Khánh mờ miệng nhận lời, một tuần sau Mỹ Duyên tự lái vào chỗ Khánh ở một chiếc xe Fiat loại phế thải, vỏ xây xát và đôi chỗ móp méo chưa sửa, được cái cốp sau đuôi khá to và có thể lật băng-két sau làm chỗ chất hàng, kiểu xe nhà buôn hạng trung cần lãi hơn mốt. Duyên chặn ngay lời chê của Khánh, rỉ tai: - Lão Lê-ông biếu anh đấy. Máy lắp mới tinh, bảy mươi hai ngựa chạy trên hai trăm cây số giờ, xe quân sự rớt sau xa. Biển số xe có tới ba tấm, nút bấm ở đây, bị rượt lần đầu ghi số nhứt, điện thoại chặn đường gặp số hai, vù tới chặng ba số lạ hoắc. Sức mấy mà tìm các thứ xe cà cộ, xe tư hay tắc-xi cà-là- tàng chạy đầy phố... Với lại anh vừa lên thiếu tá, chưa kịp hốt bạc làm giàu, cứ giả nghèo giả khổ là tụi nó ít nghi. Nghi gì hả? Nghi ăn tiền CIA, nghi ăn tiền Pháp, nghi Việt Cộng bơm tiền cho anh nằm vùng, nghi tới bàn tay Mạc-tư-khoa hay Bắc Kinh... Anh lái trong thành phố phải hết sức khiêm tốn, cùng lắm mới xoay bảng số, vù hết tốc độ, cho cảnh sát ăn bụi. - Em nói lương tâm dành chỗ khác. Dành ở đâu? - Tương lai trả lời. Lão Lê-ông giao hẹn mỗi gói quà sẽ dưới mười ki-lô, ngụy trang trong thùng thuốc tây, đồ hộp hàn kín, sữa bột Ghi-gô gởi cứu tế nạn nhân An-giê-ri, đủ thứ. Hai ngày nữa, anh ghé nhận chuyến quà đầu tiên ở tiệm Hu-man-xây-vơ 1 hai tạ thứ thiệt, mười ký hàng lậu. Hai giờ chiều tới là vừa, giờ thiên hạ mệt đừ ngáp ngủ. - Xe chưa sang tên anh... - Giấy tờ đủ hết đây. Vài chục ngàn, ba phút xong gọn. Khánh lại đầu hàng một lần nữa. Lão Lê-ông làm đúng lời hứa. Lão trả Khánh hai trăm năm chục ngàn vì chuyến đầu gửi ít hê-rô-in, chia cho Mỹ Duyên năm chục ngàn, theo giá chợ đen thì cả hai được chừng năm ngàn đô-la. Bửu Thái kín miệng, nhưng chắc được gấp năm bảy lần bấy nhiêu. Mụ vợ già luôn miệng khoe được hưởng gia tài đôi bên phụ mẫu nên phất tấy lên, nay mới biết là phun hỏa mù. Các bạn sĩ quan vẫn thương hại thằng Khánh tồ tệch ngộc nghệch, đeo lon cấp tá mà chỉ biết ngồi cạo giấy với lũ tâm lý chiến, ở căn nhà trần trụi với đồ đạc mua vét chợ trời, mua rẻ được cái xe Fiat cóc gặm mà lái tắc-xi chẳng thèm, không thuê nổi người ở dọn dẹp nấu ăn, còn nói chi tới lấy vợ và bao thêm gái! Năm ngày sau, chuyến quà thứ hai, Khánh nhận ba trăm ngàn, mười tháng lương thiếu tá độc thân. Duyên mang tiền đến đưa tận tay Khánh, không nhận phần mình: - Em làm môi giới một lần, được chia bấy nhiêu đủ rồi. Giúp cho anh phất lên thôi. Anh đừng mua sắm đồ bảnh, đừng để nhiều tiền mặt trong nhà, gởi ngân hàng chừng vài triệu thôi, hễ lộ thì nói là hưởng gia tài hay là me anh cho làm vốn. Còn thì gởi ngân hàng Hồng-công hay Xin-ga-po, bọn Ba Tàu kín miệng lắm. Chuyển thành đô-la hay frăng Thụy-sĩ, giàu nữa thì đưa vô number-banking 2 , như đám tỷ phú hay làm, nay chưa cần. Anh thấy không, em có xe hơi hạng sang, mà tới đây toàn đi xích-lô, mưa to mới thuê tắc-xi. Thiếu tá nghèo thì bồ cũng chịu nghèo theo chớ sao... Lão Lê-ông muốn gặp anh đó. Anh hẹn ngày, lão xếp chỗ, báo tin sau. - Dám đưa anh lọt vô hang ổ sao? - Đời nào! Chắc là tầng chót vót ở khách sạn nào đó trong Chợ Lớn. Lão ranh lắm, biết hết chuyện anh bị vật nhào xuống đánh gần chết, lại bị đè ngửa ra gắn lon quan ba cạo giấy. - Làm tay sai ông Nhu thì cái gì chẳng biết! - Cố Nhu là thái thượng hoàng thôi. Tể tướng vụ này là Trần Kim Tuyến, trùm mật vụ. Mà ngay trong số mật vụ cũng một số ít được giao việc thôi. Lựa người kỹ lắm, có khi một cha lái xích-lô máy, một bà buôn cá lại ngon xơi hơn trung tướng hay quốc vụ khanh. Đồng ý gặp chớ? Xô-gla-xen? Ain-ver-xtan-đen? Con-for-mee? Đac-cor-đô? Hảo 3. Khánh bịt tai làm bộ nhức đầu, lại buông tay: - Méo mó nghề nghiệp rồi, thưa bà... quên, thưa cô nhà báo. Mới nhập cảng thêm được mấy thứ tiếng giả cầy nữa? - Đủ lòe ngài giáo sư ngoại ngữ bị mất dạy, được nếm đòn để vô khuôn phép... Cặp tình nhân sà vào tay nhau chỉ được vài phút. Tiếng chuông ngoài cổng mắc vào nhà bỗng réo lanh lảnh, ngừng, réo dài hơn, rồi réo mãi đến váng óc. Mỹ Duyên chạy vội đến trước gương tủ, sửa lại đầu tóc và cài lại cúc áo ngực. Khánh cũng vội vào buồng tắm lấy khăn ướt lau vội mấy vết son trên mặt và cổ. Chuông cứ réo. Chỉ có tay nào cấp tướng hay bọn an ninh quân đội mang lệnh bắt đến mới hách đến thế. Quanh vườn và sân cỏ xây tường cao quá đầu, trên căng thêm sáu đường kẽm gai, mé trong thêm kẽm gai xoắn ruột cà nữa. Từ khi tin đưa dồn dập về Việt Cộng chuyển qua nổ súng, quân chủ lực Bắc Việt lũ lượt kéo vào theo đường núi, võ khí Nga Xô, Trung Cộng kiểu mới nhất trên vai, các ngài cao cấp và các vị cố vấn Hoa-kỳ ngày càng lo giữ. Lưới thép chống B.40 và B.41 được xuất xưởng và chở sang từng ngàn tấn mỗi chuyến, chất đầy nghẹt các hải cảng, căng đầy chung quanh các dinh thự, tiệm rượu dành riêng cho người Mỹ - For Americans only. Về sau, khi lính Mỹ da đen, dân Mỹ tứ xứ pha màu đen, vàng, In-di-an tức da đỏ, các biểu ấy được ghi thêm bên dưới thật đậm nét: Người da màu không được vào (No colored people allowed). Sĩ quan người Việt dù deo cả chùm mai bạc của cấp tá, nếu không có một ông Tây nào mũi lõ mắt xanh khoác tay dẫn vào, đều bị lễ phép mời ra, mà kẻ đuổi lại là một tay anh chị đâm thuê chém mướn dưới trướng ông Bảy Viễn lừng lẫy một thời, lên cấp tướng mà còn mù chữ. Cổng nhà riêng của thiếu tá Hai Khánh được lắp tôn kín bưng, chỉ chừa một lỗ vuông nhỏ đủ thấy mặt khách. Khánh ra mở cổng, cẩn thận nhìn qua lỗ vuông, chẳng thấy ai cả. Mà chuông cứ gào trong nhà như hóa dại. Anh cáu sườn, rút súng Côn 45 lên đạn cầm tay, đột ngột giật toang tấm cửa bọc tôn, chĩa súng vào đứa trẻ đang ấn chuông như hóa dại. Nó đứng trên cái ghế đẩu mượn ở quán cóc gần cổng, vừa bấm chuông vừa nói chuyện tục tĩu với lũ trẻ đứng vây quanh. Lại thằng Chung ! Lũ trẻ chạy vù như bầy chim sẻ. Thằng Chung bước xuống đất, cười tươi, chẳng hề để ý đến vẻ mặt hầm hầm và cây súng chực nhả đạn: - Tụi nó nói ba đang chơi đĩ trong nhà. Chơi đĩ lâu thì tốn tiền, hại sức. Nó biểu con leo lên chế, bấm chuông miết miết cho ba dứt sớm con đĩ ngựa ra chưa hả ba? Tụi nó nói thứ đĩ này xài bảnh hạng nhứt, ba mà bị nó đá đít là trụi lủi, cho thằng Chung đi ăn mày. Hễ đi ăn mày thì con về Linh Lâm ở với mẹ Bưởi, mẹ Thùy, thôi luôn ba đó nghen! Chưa bao giờ nó nói cái giọng bụi đời sừng sỏ ấy với Khánh. Ai mới bày cho nó? Mỹ Duyên đang ở trong nhà, không thể nạt nộ bắt nó im. Khánh đút súng vào bao, dịu giọng: - Con đừng hỗn. Bà đó là vợ nhỏ của ông nội con, con phải kêu là bà Ba. Bà tới bàn chuyện công vụ với ba. Ai bày con kêu là đĩ? - Tụi nó... Cả con nít, người lớn... - Thôi, vô cất cặp sách, chào bà Ba đàng hoàng, rồi ba cho tiền đi coi phim, ăn cà-rem. Thằng bé reo khẽ một tiếng, chạy ù vào nhà, chắp tay chào bà rất lễ phép, vất cặp sách, nhào ngay ra cửa. Khánh rút ví cho nó hai chục, nó thò tay rút thêm một tờ mười đồng nữa, cười hi hí, vù luôn ra cổng. Mỹ Duyên cũng xách ví ra về. Nàng buông khẽ: - Thằng Chung của anh đổi nết ghê quá. Được mười tuổi chưa? - Mười một. Nhiễm bệnh xã hội rất nhanh, chuyên cúp cua chơi rông. Khánh tiễn Duyên qua cổng trạm gác khu gia binh, vẫy xích-lô, lật mũ chào kiểu dân sự cho mọi người trông thấy, kèm những tiếng thưa dạ thật lễ phép cùng tiếng “dì” rõ to. Mấy ngày sau, trong bữa cơm tối, thằng Chung bật hỏi: - Chạy áp-phe là sao hả ba? - À... tức là buôn đàng này bán đàng kia, kiếm tiền lời từng chuyến, không mở tiệm. Con nghe ai nói vậy? - Họ nói bà Ba không phải đĩ ngựa đâu. Bả chạy áp-phe với ba thôi. Ba nghèo, bả như bà hoàng, có bắt bồ cũng lựa cỡ đại tá hay cấp tướng. Như ba thì chơi nhà thổ trong khu gia binh mỗi đêm một hai trăm là cháy túi. Cả xóm đồn vậy đó ba. Khánh kinh hoàng đến tắc họng. Thằng Chung đẹp như thiên thần, bò theo ôm chân mẹ Xùi chờ một bàn tay vuốt má, sẵn sàng nhảy chồm chồm, trên hai gối chú Hánh đang đợi lấy đồ may gấp, yêu thương tất cả những người yêu nó, là đứa trẻ hàng chục năm ám ảnh Khánh đến cái độ phải bày mưu tính kế để lâu lâu được ôm nó trong tay một lần, nay được trả vào tay Khánh chưa bao lâu đã trở giọng con ranh con lộn khủng khiếp. Mươi năm nữa, nó sẽ ném vào mặt ba nó những gì nữa? Trong tay Hai Thùy nuôi dạy, sao nó ngoan đáng yêu đến thế? Vào tay Khánh, sao nó sừng sỏ ngổ ngáo đến thế? Lấy vợ ư? Còn lạ gì cái cảnh dì ghẻ con chồng quanh năm kình lộn, nhất là bà dì ghẻ có con riêng, vài lần xử kiện con anh con em đánh con chúng ta là đủ bạc tóc, chưa kể cả số chục số trăm người họ hàng hang hốc phía bên cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ trưởng, mẹ kế, vợ anh, xúm vào vắt sữa con bò bị buộc dây mũi vào cọc này. Sự đời nó thế: của cải có thể mất, chức tước bị xóa, bằng cấp bị thu, chỉ có thứ chỗ ngồi trong dòng họ là không bao giờ đổi, từ khi mới đẻ tới giờ xuống mồ. Để tránh thuê người ở, Khánh tìm được gia đình một thượng sĩ ở gần cổng khu sĩ quan, nhận nấu cơm tháng cho hai cha con. Trong nhà có chị vợ dậy sớm làm bánh bèo bánh cuốn gánh đi bỏ mối, bận mấy đứa con nhỏ không thể mở quán ngồi luôn ở chợ. Bà dì không con cháu về ở chung đấy, giúp việc vặt, mỗi ngày đến quét dọn buồng Khánh một tiếng, nhận áo quần về giặt ủi kiếm tí tiền còm. Nhà này ăn ở biết điều, năm đứa con đều chăm và ngoan. Thượng sĩ Chính Bổn này hồi chống Pháp có vào du kích vài năm, bị thương ở chân đi hơi nhúc nhắc, phải xuất ngũ trước Giơ-ne-vơ bốn năm, về dựa bà con ở Đà Nẵng để chữa vết thương rồi ở lại luôn, bị hốt bừa vào lính Bảo an, chuyên đi gác xách vì không chạy được. Anh ta đang nhờ Khánh xếp làm lái xe riêng cho thiếu tá, Khánh khuyên anh ta học lớp lái tiểu xa lấy bằng trước đã. Nhà Chín Bổn chỉ cách nhà Khánh vài chục thước, gọi to cũng nghe, xe Khánh đỗ ngay trước thềm rất tiện. Nhưng gặp lúc đang làm ăn với Lê-ông La-phác-sơ, Khánh chỉ tự mình lái, Chín Bổn ghé qua lau sửa xe, có khi mượn tập lái qua lại trong khu gia binh cũng được. Lũ con Chín Bổn gờm thằng Chung ngày một rõ. Nó góp nhặt ở đâu về những lời mất dạy, những lối cư xử quái gở nhất, ít chờ đợi nhất. Bên trong cái hình vóc rất cân đối, bộ mặt trắng trẻo đẹp trai, là một dòng máu đang pha thêm mực đen mỗi ngày vài giọt. Từng lúc, Khánh nhớ nó đến phát cuồng, khi gặp nó một lát lại tức điên với kiểu hỗn xược đâm họng luôn luôn khác hôm qua. Cả nhà Chín Bổn cùng khuyên: “Đợi nó lớn, nó khôn ra”. Nó sẽ khôn ra hay thêm tồi tệ? Nó sẽ thôi ném đá vào cửa sổ, hay sẽ thay đá bằng lựu đạn? Nó đấm bạn bằng tay, sẽ ngừng đấm hay thay bằng mũi dao, họng súng Côn 45? ------------------------------------------------------------------------ 1. Tiếng Anh: Cứu nhân loại. 2. Tiếng Anh: gửi tài sản ở ngân hàng bàng bí số. 3. Tiếng Nga, Đức, Tây-ban-nha, Pháp, Hoa, cùng một nghĩa: Đồng ý chứ? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười, 2016, 02:55:25 pm * Vào cuối giờ làm chiều, Khánh xếp gọn chồng báo dày hơn một tấc lại, tắt quạt. Ba sĩ quan và hạ sĩ quan dưới quyền cũng sắp xếp ra về. Bộ phận Khánh chuyên đọc và moi tất cả các tin tức của các hãng thông tấn, báo chí, đài phát thanh trên thế giới, cả Âu Mỹ, phe cộng sản, thế giới thứ ba, cung cấp những bản trích hay tóm tắt cho các cơ quan trong quân lực Việt Nam Cộng hòa. Một việc không mật nhưng tốn nhiều thì giờ, mà các vị tướng hay nhóm đứng đầu Dinh độc lập phải dành hầu hết thì giờ để kiếm tiền, kiếm chức, kiếm tay chân làm đảo chính khi có dịp. Chuông dây nói réo trên bàn Khánh. Máy thành phố, không phải đường dây nội bộ. Giọng Mỹ Duyên nói chỉ đủ nghe: - Anh Hai đó hả... Em đây. Ông Lê mời anh chiều nay đi nhậu ở quán bà Bảy, cuối giờ. Đi chớ? - Ô-kê! Ông Lê là lão Lê-ông. Quán bà Bảy là tên mật của một tiệm may, không có thứ gì ăn nhậu, nhưng có nhiều buồng kín để khách vào thay quần áo, lại có hành lang sâu luồn tới một con hẻm rất vắng, trốn sang phố khác nếu biết cách mở vài chỗ tủ xoay, gương lật ngược, cửa nhà xí đã hỏng. Khánh gặp lại một lão Tây La phạt khác xưa quá quắt. Chàng tròn mắt nhìn cái sọ không có tóc, chỉ sót mấy sợi lông nâu mé trên tai, thân thể chỉ còn xương và gân, bộ mặt róc hết thịt như đầu lâu. Thế nhưng Mỹ Duyên đã dặn nhiều lần là lão ranh ma như quỷ. Lão không cố ý lừa ai, trả công xá phải chăng, nhưng đừng cả tin mà dại, cứ tiền trao cháo múc là nhất. Chuyến hàng này nhỉnh hơn mấy lần trước, lão Lê-ông trả bốn trăm ngàn. Lão đưa gói giấy bạc, nhắc Khánh một câu khiến Khánh và Duyên cùng giật mình: - Nếu bọn mật vụ nắm được số tiền ông gởi ngân hàng đã lên tới gần một triệu trong thòi gian ngắn, ông sẽ đối đáp thế nào? - Ờ... Hưởng gia tài chăng? - Nó phăng mối rất nhanh. Ai chia gia tài? Một cú điện thoại là biết được ngay. Vậy ư? Ai cho vay? Ba người đều nói tiếng Pháp để tránh bị nghe lỏm hay hiểu sai ý nhau. Đợi vài phút, lão mới đủng đỉnh: - Tôi đứng tên thì rất đáng ngờ. Tốt nhất là bà Mỹ Duyên đây cho vay... hay là bà cho ông cầm cố thứ gì đấy, lấy tiền xây nhà riêng chứ ở trung khu gia binh gò bó lắm. - Cầm đồ... lấy gì mà cầm? - Chiếc xe Fiat đấy. Bà cho ông cầm, trao tiền mặt, nhưng bà đã có xe riêng đẹp hơn, ký giấy cho ông mượn dùng tạm ít lâu nữa... - Ai lại thế! Xe ấy của ông, máy còn tốt nguyên... - Giấy tờ sang tên ông tất cả rồi. Bà Duyên nghĩ sao? Mỹ Duyên bật cười: - Cũng chỉ còn cách ấy. Cho anh Hai mượn xài bao lâu cũng được. Em không dám lái thứ đó đâu, bề ngoài như giẻ rách mà bay như hỏa tiễn, bể sọ như chơi. Gớm, bữa hôm anh nghi hai đứa bị bám đuôi trên quốc lộ, anh vù đúng nửa phút là rớt rụng sạch trơn. Mà sao trên bảng tốc độ nó chỉ để mức cao nhứt là trăm hai chục cây số/giờ, ông La-phác-sơ? - Bảng giả, tôi dặn ông Hai rồi. Một cây số trên bảng là hai cây số trên đường. Tôi thử một lần bằng máy đo chính xác, mức cao nhất của nó là hai trăm sáu chục, đủ sức cho tất cả các xe ăn bụi... Tôi khuyên ông Hai nhé: mức ngân hàng dừng dưới một triệu, kiếm thêm bao nhiêu ông dự trữ vàng chứ đừng ham kim cương hay các loại ngọc, ông không sành hay trúng đồ giả. Chôn giấu mươi cân vàng là quá dễ. Mong rằng chúng ta sẽ làm ăn với nhau lâu dài. Nguồn của cải từ Tam giác vàng tuôn đi khắp thế giới sẽ không bao giờ cạn: chính quyền thuộc địa Đông Dương cần, quân viễn chinh Pháp cần, phe ông Diệm hò hét rất ồn nhưng đang rất cần, Mỹ đóng vai đạo đức nhưng CIA đang cần. Tôi đang xoay tiền cho Bửu Thái lên đại tá nắm số tàu bay vận tải ở đây, nhưng Nguyễn Cao Kỳ đã ngửi mùi nhựa nâu đẻ ra đô-la, chặn Bửu Thái đòi chia phần, chắc phải mất với thằng Kỳ năm bảy triệu là ít... Lão châm một điếu thuốc lá quấn tay có mùi riêng, Hai Khánh nhận ra ngay mùi khen khét của ma túy. Lão trầm ngâm: - Cách vài tháng, tôi theo một đoàn sĩ quan lên Linh Lâm, thăm lại cảnh cũ người xưa, cũng tìm một dropping zong 1 nơi đất quen. Đồn điền cũ của tôi bị ông phủ Đỉnh chiếm một phần, dân công giáo di cư chiếm số còn lại, Quốc dân đảng ly khai ông Diệm ra hàng rồi chẳng tính làm gì, chỉ đáng lo là Việt Cộng bắt đầu cầm súng đi diệt ác trừ gian. Ông Hai về thăm quê, khổ hơn trước rồi đó. Tôi chống gậy đi quanh xóm Linh Lâm, chẳng ai gây sự mà cũng chẳng ai niềm nở, chỉ dặn mãi là dạo này Việt Cộng về võ trang tuyên truyền nhiều, bắt giết hai người có nợ máu với dân, gài cáo trạng trên xác. Họ không gây sự với tôi vì mấy chục năm qua tôi chỉ là Pháp kiều, họ nói rõ là cho qua chuyện cũ. Coi như họ dễ tính, biết điều. Bỏ qua vụ ruộng đất, ta lao vào chuyện mới này kiếm ăn dễ hơn nhiều, ông bà cứ cân nhắc sẽ thấy tôi có lý. Chuyến con thoi này cũng trót lọt nữa. Theo lời Duyên, Khánh tìm lại căn nhà thuê năm kia trong hẻm phố người Hoa làm chỗ hẹn hò. Chòm xóm chung quanh chỉ biết Khánh là ông giáo nghèo, độc thân, hay bị cảnh sát quấy rầy nhưng rốt cuộc vẫn sống yên lành, dạy tư kiếm ăn. Trời nắng đi xe đạp cọc cạch, mưa vừa đi bộ, mưa quá to mới kêu xích-lô. Ông bà chủ không biết Khánh ngày nay làm gì, chỉ xuýt xoa: - Cả nhà tôi nghe thầy Hai bị bắt lên bắt xuống hoài, thương để bụng chớ đâu dám ho he, theo kháng chiến cực khổ trăm đường, các ông cầm quyền nói đả thực mà cứ nhè mấy ông chống thực dân mà đả hoài hoài. Thôi thì thầy Hai về ở với tụi tôi cho vui, tiền nong chẳng phải tính gì, thầy ra đi cả xóm dân nghèo đây nhắc thầy biết, người kháng chiến về thiệt là theo đạo Cụ Hồ, chẳng tôn giáo nào mà yêu nước thương dân in hệt Cụ Hồ dạy, xin lạy Cụ trăm lạy ngàn lạy, mong Cụ đừng bỏ dân miền Nam mình. Có tiền thầy trả, không tiền thì để đó tới ngày nước mình thống nhứt, mình xóa hết đi cho gọn. Coi như phần đóng góp vô kháng chiến là xuôi hết, phải không thầy? Lũ trẻ con quanh xóm tự dưng bật hát to: - Xiao pín yiao ai lai xai ù Ni xấn ươn ai lai xai ườ Xoong bọọng xin, xoong tẹng tín... Tầng bốn nhà trước mặt, một ngôi nhà mới mọc hơn năm, chợt dậy lên tiếng cười hô hố chen lẫn tiếng lách cách của những thẻ bài mà-chược. Ông chủ nhà Khánh lắc đầu: - Kêu miết là bài trừ tứ đổ tường, mà ngó qua bên kia thấy đủ mọi thứ: tầng một, rượu; tầng hai, đĩ; tầng ba, thuốc phiện; tầng bốn, cờ bạc. Mỗi tháng bỏ nửa triệu nuôi cảnh sát với du côn, yên ổn lắm, chẳng cần che giấu gì hết. Khánh bằng lòng thuê lại căn buồng nhỏ năm kia, ngả giá phải chăng, chỉ thẹn thò nói khẽ rằng đang cầu thân với một cô góa chồng tuổi hơn ba mươi, cả hai đều xấu hổ vì muộn chồng muộn vợ, thỉnh thoảng xin được gặp nhau ở đây. Ông chủ cười muốn sặc: - Thầy rước luôn chị ta về ở chung cho gọn. Gần bốn chục cái xuân xanh, chưa vợ con, mắc cỡ nữa thì bạc hết tóc! Chỗ ở của Khánh trong khu gia binh đã lộ liễu, còn thêm thằng Chung phá quấy. Nó hết gọi Mỹ Duyên là đĩ ngựa, tới mụ áp-phe, gần đây đổi gọi là me Tây, là gái lộn chồng-chồng nào nó không biết vì chưa từng gặp ông phủ Đỉnh từ ngày về ở với cha. Khánh đành phải tìm chỗ trốn con trai khi cần gặp người tình. ----------------------------------------------------------------------- 1. Tiếng Anh: khu vực máy bay thả hàng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười, 2016, 02:58:15 pm Chương 6 Suốt đêm ấy, trong căn lều rách tướp giữ rẫy của bà con Cà-tu, có bốn người nằm chung với nhau mà không một lúc ngủ chung. Không ngủ được. Sáng mai sớm, giao liên đến đón khi gà gáy đầu. Anh Tô Xáng ra họp Trung ương với bộ râu mép của cai lục lộ, cùng anh Hai Thỉnh với tất cả bộ dáng tư sản vòng quanh Đông Dương sang trọng của anh. Còn lại ở chỗ căn cứ vùng Cà-tu này đồng chí Thanh Trà tức Phan Chanh, mới nhìn là một ông lão người dân tộc ở Tây Quảng Nam, xỏ tai búi tóc cởi trần đóng khố, cõng lek vác dáo, miệng còn nhai trầu bỏm bẻm và nói nhiều thứ tiếng Cà-tu, Ve, Cà-dong, Kor. Người cuối cùng là đồng chí Pheng, mặc phạ-xà-lùng và áo ngắn Lào từ bên kia mang sang, bắt liên lạc với bên ta, nói gì cũng phải qua anh Hai Thỉnh hay Cả Chanh dịch nghĩa. Từ những năm trước cùng đi với Chanh, anh đã có màu da sẫm, mái tóc búi ca-rê, thân gầy, đôi chân trổ chàm từ trên tới dưới đầu gối, nên có lẽ anh là người ít đổi hình dạng nhất trong bốn người Lào-Việt nằm trên sạp và võng đêm nay. Các bạn Lào đã khởi nghĩa võ trang sau khi các lãnh tụ Pa-thét Lào thoát nhà giam và thoát án xử khó tránh khỏi cùa Mỹ-ngụy Lào. Phái Việt Nam đã có Nghị quyết Trung ương 15 cho phép dùng võ khí để tự vệ, không để địch giết cộng sản xả láng nữa. Anh Tô Xáng được cử ra Trung ương dự Đại hội III của Đảng, còn được nhận lời dặn quyết liệt của Cả Chanh: hễ anh biểu quyết giải phóng miền Nam và thống nhứt nước nhà bằng hòa bình, tôi sẽ là đứa đầu tiên bỏ phiếu khai trừ anh ra khỏi Đảng, vì lý do anh là phần tử cơ hội, đầu hàng. Tình nghĩa chúng ta sẽ được đo bằng lá phiếu của anh, nếu cần tôi xin trả tiền mấy bữa cháo cá của anh chị trên sông Cửa Đợi hay sông Linh! Anh chị ghét tôi mãn đời, tôi xin chịu tội trước anh chị, mà không chịu tội trước Dân, trước Đảng! Có người dè dặt, có người bạo mồm như Chanh, nhưng không khí chung của cuộc họp tỉnh ủy là thế-cuộc họp của số đồng chí còn sót lại trong tỉnh ủy. Chưa cộng được con số đúng, đã ước tính được đến chín mươi phần trăm đảng viên ở lại trong tỉnh đã bị giết, bị tù gần đày xa, bị đánh tàn phế, đã ký giấy xuất thú đầu hàng để sống gắng gượng từng ngày quản thúc, cũng có kẻ trở mặt thành chó ngựa cho giặc trăm phần trăm. Đã có Nghị quyết Trung ương 15 thật đấy, nhưng Đại hội Ba sẽ duyệt hay bác bỏ? Đối với đồng bào lối xóm, cả những đảng viên ít học ở thôn xã, bất cứ anh nào cõng bao chống gậy đi đêm đều là cán bộ, đều nói tiếng nói của Đảng cả, dù đó chỉ là một anh tiếp phẩm đi lùng mua muối cho cơ quan huyện. Các tỉnh ủy viên, khu ủy viên gánh trách nhiệm đổi với từng câu từng chữ trong nghị quyết của từng cấp, nói lịch sự là sai một ly đi một dặm, nói sừng ngổ như cậu Bảy Chẩn “đái một bãi đái, sái một chuyến buôn”. Nhắc tới thằng Chẩn, cả tỉnh ủy hay rơi vào một phút ngậm ngùi. Ai cũng muốn gài cho nó một cái hiệu thật độc đáo: thằng liếng khỉ, thằng rắn mắt, thằng con ranh con lộn, thằng đá cá lăn dưa, ôi đủ thứ. Nhưng khi tỉnh ủy tự bầu bổ sung thay một vị kỳ cựu ra đầu thú giặc, nó trúng hầu hết số phiếu kín, chỉ thiếu lá phiếu của chính nó. Các đồng chí nghĩ kỹ lại đi, tôi mới hăm tám tuổi, tánh nết như Tôn Ngộ Không, chẳng gương mẫu chút xíu nào hết, đưa tôi vô cho nát tỉnh ủy à? Uy tín chẳng có, nói ai dám nghe? Vậy mà cứ trúng. Nó gương mẫu theo kiểu lính đánh Tây, việc vặt nó chẳng kể, vào việc lớn nó nghiêm đến phát khiếp. Nó ở chung cơ quan với anh Tô Xáng “cai lục lộ”, nhưng lăn lộn với bà con Thượng và Kinh mỗi tháng ít nhất hai mươi ngày đêm, khó biết nó ngủ lúc nào, lên biên giới Lào hay xuống đồng bằng lúc nào. Lần đầu gặp Cả Chanh từ cánh Nam Quảng Nam về họp, nó đã phong luôn cho anh là “ông cụ người Thượng”, tiếp đó nó tự rút gọn thành “cụ Thượng”, hiểu là cụ Thượng thư hay cụ Thượng du đều được. Nó bị địch phục bắt mươi ngày trước khi họp tỉnh ủy. Cơ sở báo tin về, đau buốt ruột: nó bị một tên phản bội nhận ra, chỉ nhất định nói tên giả, tuổi giả, quê giả, là thanh niên trốn quân dịch phải lên rừng, đói quá tìm về xin ăn các làng. Bọn ác ôn giết lầm hơn bỏ sót, tra đánh đủ kiểu không được gì, nổi điên, rút dao rừng Mỹ chặt tay trái nó. Im lặng. Chặt tiếp tay phải nó, im lặng. Chặt chân trái nó, im lặng. Chặt nốt chân phải nó, im lặng. Khi tự biết trong thân cạn máu, nó mới lấy hết sức nói to: “Trong số đứng đây, tao tin có đứa sẽ còn lương tâm để về sau dám nhắc chuyện cũ. Tao chính tên là Hồ Văn Chẩn, Bảy Chẩn, tỉnh ủy viên Quảng Nam, đến hơi thở cuối cùng vẫn tự hào là người cộng sản, không hề khai báo một câu, không hề phản Dân phản Đảng. Tao chết để cho dân mình sống, Đảng mình sống. Thằng nào dám nói sai, tao về vặn họng cả nhà, ba đời không cho ngóc đầu lên nổi. Hễ nhắc tên tao, Hồ Văn Chẩn, tụi bay phải khấn kèm theo là “Đảng Lao Động Việt Nam muôn năm” với “Cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Khấn vậy, tao mới phù hộ cho cả nhà làm ăn khá giả, con cháu mạnh khỏe... Tao chết trúng ngày thiêng, giờ thiêng, bay liệu hồn mà khấn cho đúng. Còn cái bọn ăn gan uống máu đâu, bay để đó cho cách mạng trị, tao cũng về trị cho trắng máu... Hẹn gặp nhau trước tòa Diêm Vương nghen!”. Lời trối trăng độc đáo của đồng chí tỉnh ủy viên rất trẻ chẳng ngờ lại gây tiếng vang hiếm có trong ngụy quân và ngụy quyền, đang đua nhau theo các tôn giáo theo chủ nghĩa duy linh của Ngô tổng thống: số kiếm chức kiếm quyền xin cải đạo Công giáo như ông phủ Ung Viết Đỉnh, số chờ thời Mỹ giúp theo đạo Tin lành, số đông muốn được giữ thờ ông bà và làm điều lành đều xin theo đạo Phật, được cúng dường vừa phải và không phải dẹp bài vị ông bà cha mẹ, hợp lý người dân cày, mà cũng tránh được tiếng theo cộng sản vô thần. Đến cái ông tỉnh ủy Hồ Văn Chẩn này thì thật khác lạ, buộc phải khấn thêm Đảng Lao Động Việt Nam với Cụ Hồ Chí Minh mới chịu phù hộ. Xin sẵn sàng khấn, Cụ Hồ với Đảng mình thì nằm sẵn trong ruột gan xương cốt mỗi người dân rồi, kính phục thương yêu đã lâu quá rồi, ông Bảy Chẩn cho phép khấn-hồi xưa chê là phong kiến-là hay, là phải. Chỉ xin được khấn thầm cho chánh quyền khỏi bắt, bấy nhiêu thôi. “Cụ Thượng” Cả Chanh được cử làm quyền bí thư tỉnh ủy Quảng Nam thay “ông cai lục lộ” Tô Xáng. Lập tức trước mắt Chanh trồi lên cả một núi việc phải làm, đến dễ sợ. Bà con Thượng hối hả cắm chông, đặt bẫy thò, hàng trăm kiểu chông thò khó đoán biết được, anh chị em Kinh đi đâu cũng sợ rút gân, đoạn đường trước tự đi nay phải nhờ du kích-cả bà già, trẻ em-dẫn đi mới thoát. Quân địch hay gián điệp xưa lùng lội thả cửa, nay co vòi nhiều. Nhưng địch quật lại ngay: dồn dân xuống vùng chúng kiểm soát, chặn muối vải sắt lên vùng Thượng, cho máy bay trinh sát và chiến đấu lên tìm nơi xối bom đạn, cấp giấy cho từng người lên xuống. Là một trong những đồng chí đòi nổ súng ồn ào nhất trước Nghị quyết 15, Cả Chanh phải chịu tự mình tháo gỡ trước hết. Các bạn Lào sang gặp tỉnh ủy, dù thân thương nhau vô vàn, nhưng kiếm đâu ra võ khí giúp các bạn, khi chính anh cũng chỉ có cây súng lục ba nòng tự tạo để giữ thân? Anh đã sục nhiều lần trong các hang đá giấu vũ khí cỡ nhỏ của CK.II để lại. Kho lớn nhất bị sụp, cả mảng núi đè lên. Các kho nhỏ chứa lựu đạn và mìn còn lấy được, nhưng bị ẩm lâu năm, lựu đạn đem thử mười quả hỏng đủ mười. Chông thò cản giặc được phần nào đấy, nhưng các cánh các mũi võ trang tuyên truyền từ căn cứ miền núi phóng xuống vùng ven núi, húc ngay vào các hàng rào chống Cộng lởm chởm đủ thứ rào hào gai chông, với hàng trung đội biệt kích, dân vệ, thôn vệ, thanh niên diệt cộng núp đằng sau, với cả ngàn dân bị ép buộc mang gậy dây và dao phay rựa bò túa ra hò hét: “Ươ làng, Việt Cộng về!”. Vài phút sau đó, các bà mẹ chiến sĩ năm xưa nhét gói gạo muối gói sẵn vào túi con cháu, buộc gói cá thu cá ngừ kho khô vào bao lưng anh nào đó đã xô tay đẩy đi, lại đánh mõ giơ đuốc đầu lửa và gào: “Uơ làng xóm, Việt Cộng về!”. Không ít anh em từ thành phố lên hay từ miền Bắc vào, sau một cuộc thử lòng đau đớn như thế, trở về căn cứ trên núi bỏ cơm nằm dài: “Đồng bào miền Nam theo địch hết rồi, mình giải phóng ai?”. Một huyện ủy viên xa dân lâu ngày, khi bị xua đuổi tàn tệ đến thế, đã hét trả lại thật to: “Tới ngày giải phóng miền Nam, làng này sẽ bị khai trừ khỏi dân tộc, đi đâu thì đi!”. Rồi dần dần mối tơ vò cũng được gỡ từng nút. Nước với dầu chẳng bao giờ pha lẫn được. Các mẹ lại ki cóp từng lon gạo nhúm muối cho “mấy đứa”, các cô em đánh mõ la làng lại giấu các thứ nuôi người trong gánh tro bón ruộng hay đôi giỏ cắt lá phân xanh, thanh niên diệt cộng gửi đạn và lựu đạn cho cách mạng kèm lời xin lỗi: “Mỗi lần tôi gửi chút ít thôi, gửi nhiều tụi nó nghi, thu súng lại hết”. Rồi các gia đình có con đi lính cộng hòa chánh quy, lính bảo an ở tỉnh, lãnh súng dân vệ ở xã, đều cố tìm gặp cán bộ mình trong những đêm thì thào nơi vắng nhất: làm sao đưa thằng trai nhà tôi đi mà địch nó không kiếm cớ bắt quy khu, không đưa vô khu trù mật cũng bắt đi thiệt xa như dinh điền trên Cao Nguyên cả nhà tôi, các anh xếp đặt giùm… Lớp trai trẻ bị săn lùng ráo riết nhất. Lên núi theo Bộ đội giải phóng-thường gọi tắt là Lực lượng-thì cực quá chịu không nổi, ăn sắn chấm muối cũng chỉ dám chấm đũa đứng chứ không dám chấm đũa nghiêng, mà có khi cả tháng không có gì mà chấm. Nhà giàu còn có tiền mua giấy miễn hoãn từng đợt cho các con, càng lắm con trai càng tốn kém. Nhà nghèo cho con “chạy trong”, tìm nơi lánh né, gặp hồi không kịp trốn bố ráp mới phải xì tiền ra mua thêm những ngày sống bấp bênh. Con nhà thương binh liệt sĩ được chọn cho đi đường núi ra Bắc học, tiếp đó có thể được xuất dương du học nhiều năm, là một vinh dự rất hiếm hoi, mỗi xã năm bảy ngàn người mới được một vài em. Trốn đâu, chạy đâu, kiếm đâu ra tiền hối lộ, chữ nghĩa đâu khi ra Bắc với học lực mới thoát mù chữ và lứa tuổi quá lớn? Ở miền Nam bỗng hiện ra những em bé mười bốn tuổi cao một mét sáu và nặng sáu chục ký, những ông già cầm thẻ cử tri năm mươi tuổi mà mới kịp nuôi một chòm ria mép lưa thưa, như cùng thi nhau đóng kịch mà diễn viên tự kiếm tiền trả cho bọn cảnh sát chuyên lùng đám “trốn quân dịch”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 29 Tháng Mười, 2016, 03:13:45 pm Tiếng gà rừng gáy te te giọng thanh thé. Cà Chanh biết chừng một giờ sau sẽ được nghe tiếng hú của vượn gọi sáng trên các đỉnh cây cao. Ông “cụ Thượng” sống với chúng nó nhiều năm rồi, từ tiếng chim “Có bóp thì bóp” cho đến khi lũ chim bồ chao kéo bày cãi nhau trong bụi rậm với tia nắng đầu tiên.
Bữa tiệc tiễn đưa tối qua chợt nhớ lại khiến Chanh bật cười khẽ. Anh Tô Xáng treo võng ngay cạnh lên tiếng ngay, tỉnh rụi: - Cũng không cưa gỗ được chút nào hả? - Anh kéo bộ một ngày dốc mới phải cưa. Tôi ở lại mặc súc li bì... Nhớ bữa cơm chiều mà tức cười. - Khá quá chớ sao lại cười? - Thôi, ông cai lục lộ rán chợp mắt một lát. Dốc Quảng Nam, gan cộng sản, coi thử ai hơn ai. Ông đổ xuống lại làm khổ anh em. - Còn khuya! Ông Bát Đập cãi gượng tí chút, rồi bắt đầu thở đều, chắc giả vờ ngủ cho Chanh vui bụng. Từ trưa hôm qua, biên bản bàn giao đã được ký, và đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị cho anh phải ngủ thêm trước khi lên đường... Tội nghiệp thằng Chanh! Lỡ nó gục xuống, ai sẽ thay nó, cái thằng đặc giống Quảng Nam hay cãi, bao giờ cạn lý mới chịu thua, nhưng đã chịu thua thì chẳng ai làm được hơn nó? Đáng lẽ nó đi họp Đại hội Ba của Đảng mới phải, nhưng tỉnh ủy đã bỏ phiếu kín, anh hơn nó chỉ hai phiếu, dù anh đã gặp riêng từng đồng chí để xin phiếu cho nó. Thôi giẹp, giẹp hết, đi là đi, nó hi sinh sẽ có người thay. Nhưng ai thay, ai thay được một đứa như nó? Cả Chanh không ngủ được, mà nghĩ đến chuyện khác xa anh Xáng. Sau hai giờ làm việc với anh Hai Thỉnh và đồng chí Pheng-anh Thỉnh sang để cùng đi với anh “cai lục lộ”, anh Pheng qua biên giới bắt liên lạc với ta-Chanh xuống bếp bên suối xem bữa cơm tiễn đưa ra sao. Bác cấp dưỡng ngoài ngũ thập, rời nhà lên núi, khoe với Chanh là tự bỏ ra một bộ bà ba đen vợ từ đồng bằng mới gửi lên, đổi được một chú cầy ngót mười ki-lô, nấu bảy món đãi khách. “Tuyệt vời, tuyệt diệu, ăn vô bảy ngày còn thơm trong miệng”. Chanh điếng người, chẳng lẽ làm bác ấy cụt hứng, nhưng người khách Lào không quen ăn chó. Hỏi một lát, hóa ra anh em đi tát vũng hôm kia đã ăn tất cả các thứ cá vảy trắng, cá tràu, cá rô, còn năm bảy con cá trê thả ngâm cho nhả chất bẩn, chưa ăn. “thứ cá ở hố mả, dơ lắm, ngâm vài ngày chưa sạch đâu”. Chanh tự tay lóc thịt thứ pa-đúk, băm sống, bảo anh chị em cơ quan rang cháy và giã mịn bột nếp, kiếm rau thơm, đồ xôi-anh chị em cơ quan chán ngấy sắn luộc và củ mài luộc, đã nghĩ ra hàng chục kiểu ăn, trong đó có món xôi đồ với gạo nếp rẫy. Bữa cơm thết khách vắng món thịt chó nhưng có những đĩa lạp cá trê sống, bát canh măng nêm lá da nang, xôi nếp kèm củ mài thơm ngọt, anh Pheng vừa ăn vừa khen mãi. Anh Tô Xáng không quen các món Lào, được cho ăn lạp khụa, là cá trê băm sống đã kho lại cho chín. Và cái khoản rượu tà-vạc đặc sản vùng Cà-tu này bốc men nhẹ, vị ngọt và đắng như bia đậm, anh em đã cõng về căn lều cả một ché, nhậu suốt ba tiếng không hết hai phần ba. Sắp chia tay rồi. Cuộc chia tay dưới bom đạn, giữa vòng vây của Mỹ và các đạo quân ngụy giăng khắp Đông Dương, luôn luôn có thể là lần vĩnh biệt. Cả bốn đồng chí trằn trọc trong lều giữ rẫy, trên võng và trên sạp tre đều biết cần ngủ để mai leo dốc sớm, nhưng không ai ngủ được, không ai nỡ ngủ, mà ai cũng phải giả vờ ngủ. Rồi cuối cùng các đôi vượn vẫn hú tìm nhau trên ngọn cây cao. Từng người được giải thoát, nhỏm dậy vươn vai ngáp, tuy suốt đêm chưa từng chợp mắt. Bác cấp dưỡng khệ nệ xách lên lều một gùi cơm nắm trong lá chuối hơ héo, một chùm ống tre lồ-ô đầy nước chè rừng có quai đeo vai bằng mây đan. Chắc bác cũng không hề ngủ. Anh Pheng sẽ ra đi với một tổ trinh sát của ta, xoi đường liên lạc từ vùng núi Quảng Nam với tỉnh Miền Đông của các bạn Pa-thẹt Lao, cái tên lẩm cẩm bị đưa vào hiệp định Giơ-ne-vơ. Tên gì cũng được, chỉ cần dân Lào hiểu đó là Lao Cụ-xạt (Cứu quốc), là Lao It-xa-la (Giải phóng Lào). Đặt ra bao nhiêu tên mới, như đám chính khách Lào làm không ngớt, người Lào chỉ cần nghe cái tên gốc của những người cách mạng gốc, là đủ hiểu ai là cách mạng giả, ai thật. Anh Bát Đập sẽ ra đi theo giao liên cùng anh Hai Thỉnh ra Bắc dự Đại hội Ba của Đảng, mang theo lời hăm dọa và lòng tin yêu của tỉnh ủy Quảng Nam, trước hết là của Cả Chanh. Cả gia đình anh đang bị địch quy khu ở Tam Kỳ, có thể bị địch giết sạch trong mấy phút. Chị Xáng không tập kết được vì vướng bầy con, sau đình chiến còn thêm hai cháu ngoại nữa. Cũng như vợ con Cả Chanh, chị bị giữ chắc, hăm dọa liên miên, nhưng chưa bị bỏ bao thả sông chỉ vì địch cần chị làm con tin. Giao liên đến, một đồng chí đoàn viên Thanh niên Lao động người Ve mới “hai chục mùa rẫy”. Anh Tô Xáng ngẩn mặt ra như sợ quên cái gì, vẫy Chanh ra góc suối vắng, nói lại đến lần thứ bao nhiêu không nhớ: - Hễ Trung ương kêu thì mày phải ra Bắc. Ra thì đem vợ con theo, chớ có bỏ lại. Không nghe lời, tao tẩy chay mày. - Còn vợ con anh, vợ con Năm Chò, thí hết cho địch à? - Thằng lỳ, lỳ vừa vừa chớ... Anh đặt hai tay trên vai Chanh, nấc dồn trong cổ, bỗng ôm ghì Chanh, cọ bộ râu mép cứng rậm vào má Chanh. Qua bấy nhiêu năm cùng làm Cách mạng tháng Tám, cùng đánh Pháp ở nhiều mặt trận, cùng cãi nhau những trận nảy lửa sau đình chiến, cái thằng tự gọi là “phu xe lửa” này đang gánh trên vai những gì anh trút lại sau khi Trung ương nhận là nó đúng. Miền Nam phải tự vệ bằng võ trang, nếu không Đảng bộ miền Nam sẽ bị tiêu diệt trong cuộc chiến tranh một phía. Và ngay lúc này, anh Xáng lại phải ra đi, nhấc gánh đặt sang người không ngớt cãi lại mình trong nhiều năm. Gặp anh Bảy Quý, “ông già Cửa Đại” đã luống tuổi, anh sẽ trả lời sao nếu bị hỏi: “Thằng Chanh chết, nhắm ai thay được nó?”. Nói là để tập thể bầu, được thôi, nhưng chính anh Xáng sẽ bỏ phiếu bầu ai? Tắc tị. Bí rị. Chỉ mong sao nó đừng nghẻo củ từ, xuôi cẳng sáo trước khi có đứa trẻ hơn đủ sức thay nó... Cả Chanh rất ngại những cảnh chia tay trên sân ga hồi làm hỏa xa, khi lời tiễn đưa đã nói hết, nước mắt đã ráo, mà kẻ ở người đi cứ phải ngây mặt ngó nhau trong khi xe lửa cứ ỳ ra đấy. Tiễn nhau trên núi rừng này gọn hơn nhiều. Bây giờ các đồng chí đã đi theo giao liên, khuất cả rồi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:15:26 pm Anh ngồi xuống một thân cây đổ ngay trước lều, chợt cảm thấy mỏi nhừ khắp thân thể, đến từng sợi gân, khớp xương, chân tóc. Dù lăn ra sạp cũng không ngủ bù được, anh biết. Đã quá lâu anh không còn biết giải trí, họa chăng chỉ đỡ căng đầu khi làm rẫy, kiếm măng rau, soát bẫy thú, đan gùi hay lek trong ánh lửa bếp hay que thông nhựa.
Bàn tay trái anh buông thõng bỗng âm ấm, ướt dần. Chanh cúi xem. Con chó của anh biếu anh Xáng ở lại với anh, vẫn nhớ chủ cũ, liếm tay chủ, nhận theo anh. Con Dồ, chó săn nòi của ông Tư Chua, bị thằng Ba Mít tức Hùng Minh đòi giết trong mấy năm đầu kháng chiến. “Cả nước được lệnh giết chó để du kích dễ đánh giặc. Bác là chủ tịch xã phải gương mẫu trước chớ!”. Ông Tư Chua không nỡ xử tử con chó tuyệt khôn của mình, mang nó lên gửi làng Thượng cho anh Tơ-rin nuôi hộ. Nó lấy vợ trên ấy, một cô chó vàng giữ nhà rất xinh đẹp, đẻ hai đợt được hơn chục con. Chồng là chó săn lông xanh lá, chuyên săn thú dữ, vợ là chó giữ làng suốt đêm thức đuổi chồn cáo, hai giống gặp nhau sinh được lũ con được cả làng ưa thích. Ông Tư chọn được ba con khôn nhất, một ông nuôi, một cho Tư Quýt, một cho Cả Chanh. Con chó Cả Chanh được cả cơ quan xúm vào tập luyện, nó như con chó xiếc, gần như hiểu tiếng người: nó đi hai chân, vẫy tay bao lần thì nó sủa bấy nhiêu tiếng, anh em đi đâu nó chạy trước chừng trăm thước, gặp “mùi ta” thì không sủa, quay lại rít khẽ báo hiệu, ngửi mùi địch là ka-ki dày ngấm mồ hôi và xà-phòng lạ thì vừa lùi vừa sủa vang ầm, địch có bắn thì nó bò thấp trở về. Gia tài anh Tô Xáng để lại quý nhất là Dồ Con, và nó quen sống với hai ông chủ, chỉ cần Cả Chanh xua tay và anh Xáng gọi là nó biết phải đi trinh sát cho ông chủ nào. Từ khi nó lập công cứu cơ quan tỉnh thoát một trận tập kích-gián điệp dẫn một đại đội biệt kích định đánh úp lúc tờ mờ sáng - Dồ Con được xếp hẳn vào làm nhân viên cơ quan, lãnh xuất ăn như người, dự chung mâm với người. Nó chỉ ngạc nhiên vài lần đầu, sau đó khi nghe mõ báo cơm nó cũng chĩnh chện đến ngồi vào mâm, hơi lùi về mé sau ra vẻ khiêm tốn, chờ suất ăn của nó được dọn và nhận câu mời đùa của bác cấp dưỡng gấp mười tuổi nó: “Mời cậu Dồ Con cầm đũa trước”. Nó thò mõm kéo cái mẹt và cái máng tre đựng suất của nó lùi ra sau nửa sải tay, ăn không chừa một hột cơm vãi. Mỗi người khách đến cơ quan thường phải nghe vài ba lần kể thành tích của Dồ Con. Trong trận tập kích nói trên, nó nghe tiếng giầy rừng sột soạt từ xa, chỉ lẳng lặng bò sát đất ra đánh hơi. Đúng mùi địch chẳng sai, chúng tiến vào rất chậm vì phải đợi tảng sáng mới nổ súng, cho khỏi bắn lầm nhau. Nó lặng lẽ vào lán cơ quan, cắn tay áo hay góc võng từng người một đánh thức dậy không hề gây tiếng động, chỉ rít khẽ trong mũi. Nửa giờ sau, địch bắn pháo hiệu loe lóe, nổ súng như bão vào cơ quan, lao vào kiếm tai hoặc đầu cộng sản lãnh thưởng, thì bốn căn lều lợp lá mây, lá tà-vạc, tranh, lau, đều trống hoang toàng. Địch chỉ còn biết chọc thủng mấy cái soong nhôm gần nát, quật vỡ một mớ ống tre chứa nước hay thức ăn, châm lửa đốt các lều để về treo ảnh làm “Lễ chiến thắng” và kiếm tiền tiêu thêm. Dồ Con được từng anh chị em ôm ghì hôn hít, nó hiểu công lao hay không chẳng biết, chỉ biết là ai cũng thương yêu nó. Con số yêu thương được nâng lên ba người: ông Thượng có râu, ông Râu mép, ông Râu mép in ít thôi không thấy trở về, thường nghe gọi là anh Chẩn, mỗi lúc rảnh lại gọi nó ra bờ suối tập vô số trò lạ, sau đó lại tắm xà-phòng cho nó và cho một món ngon gì đấy để dành trong bao lưng. Ông Chẩn này không thấy trở lại. Ông đi đâu, ai biết được? - Dồ ơi, lên đây con! Giọng ông chủ Chanh sáng nay sao mà dịu, mà buồn. Nó đợi tí nữa, thì ông Thượng nhiều râu và nồng mùi khói củi vỗ tay trên sạp, mới nhảy lên sạp tre thật nhẹ, nép mình bên Chanh, khẽ hít và rên trong mũi để nhận chủ. Và khi ông chủ có mùi bếp Thượng rất đậm vòng cánh tay phải ôm nó, Dồ Con hiểu ngay rằng nó sẽ sống rất lâu với người đã ẵm nó từ khi nhỏ xíu, nhường nó cho nhiều ông chủ khác mà vẫn yêu thương nó. Mãi khi ông chủ Thượng đã ngáy phì phò, nó vẫn lặng lẽ liếm tay Chanh. Cả Chanh lại leo núi trở về cánh Nam Quảng Nam, với Dồ Con chạy trước chừng trăm thước dò đường, với ba đồng chí tỉnh ủy về các huyện kể thuộc lòng nghị quyết mới. Nhớ đến đâu nói đến đấy, không được mang tài liệu theo người. Anh dùng dằng đôi chút khi đến trạm giao liên Bà-lam, nơi thường phóng cơ sở Thượng xuống nhà anh với mảnh cuội dẹt đập vỡ đôi làm tín hiệu. Nhưng cả đoàn cùng đi đã buộc anh ở lại thăm nhà. Ai cũng biết Hai Thùy và Chanh thương yêu nhau kinh khủng, đã hai con với nhau mà như vợ chồng mới cưới, chẳng giống các đồng chí cao tuổi được cha mẹ đi hỏi vợ khi còn nhỏ, hay những cậu trẻ yêu vợ đấy nhưng coi đó là tầm thường, yếu đuối, ai nhắc tới lại gạt phắt. Còn Cả Chanh với chị Thùy không một lần che giấu tình vợ chồng, trước mặt bọn địch buộc phải “ly hôn cộng sản” cũng như trước những ông bà cán bộ chê trách “tình cảm cá nhân” khi đất nước ly loạn. “Tôi yêu vợ tôi chớ không mê vợ người khác. Hai chúng tôi sống nay chết mai, hễ sai chỗ nào xin các đồng chí cứ nói”, và chẳng ai nói được gì cho ra lẽ. Và vợ chồng Cả Chanh cứ yêu. Lần này Thùy không lên núi, mà gửi con em Út Thanh Yên bồng con lên cho ba nó thỏa lòng hôn hít. Chị không chịu ký giấy ly hôn đã in mẫu sẵn, với thằng trưởng ban tố cộng và Ba Mít ngồi hờm sẵn trước mặt. “Giết tôi thì giết đi, chẳng sá gì một mạng cho thợ may nghèo đói”. Bọn địch không dám giết, không dám đẩy chị đi tù xa, không dám đẩy chị vào những lớp tố cộng gay gắt nhất, bởi chúng nó sợ. Các mũi súng của Giải phóng đã đẩy đạn lên nòng, chĩa vào những kẻ trước hết được xếp loại ác ôn. Ba Mít sợ. Cả Hội đồng xã sợ. Bọn lính Bảo an bị đưa lên xứ núi Linh Lâm, đóng đồn mới ở ngã tư sông Linh gặp đường 56, đều sợ. Kiếm được gì, bọn xã quận hưởng hết. Bọn Bảo an do tỉnh đưa lên lập đồn chỉ ăn đạn chứ ăn gì. Dân vệ, thôn vệ chỉ vặn cổ trộm gà, chụp bao cát đựng tro trộm heo, và hứng chịu vô số tràng chửi rủa, đúng có và oan cũng chẳng ít. Cả Chanh thất vọng khi thấy Út Thanh yên cõng con Thanh Bình đến trạm Bà-Lam, chỉ trong vài phút thôi. Rồi anh vồ lấy đứa con gái thứ hai đã ra đời thay thằng con đầu chết cháy đã làm vợ anh loạn óc. Con bé Thanh Bình của anh tính đủ năm đã lên chín, đi mỏi lại bắt o út cõng, gây giờ thụt lùi mãi như trâu mới vực thấy ách trước cái ông râu tóc rậm rì và bốc mùi khét, dù Chanh đã thay mặc bà ba, bỏ khố và tấm dồ nhuộm chàm. Mỗi lần dầm mưa hay ngã xuống suối, lại một lần hong lửa bếp, tẩm vào than và áo quần thêm một lớp khói củi đọng thành mồ hóng. Chanh ôm con. Nó giãy ra, kêu o út, réo đòi mẹ. Anh ứa nước mắt vài lần, tự lau kín đáo, nhưng không giấu được con Út Thanh Yên. Nó mười bảy tuổi, đi liên lạc và tiếp tế cho ta suốt ba năm qua. Nó nói đĩnh đạc đến nỗi Chanh sửng sốt: - Em quen mấy anh tập kết về, trên núi xuống, con nít sanh sau đâu biết cha nó là ai. Anh đừng phiền tụi nhỏ, về sau tự nó thương nhó đi tìm cha mẹ đó anh... Chị Thùy bị Ban tố cộng kêu xuống chợ Huề Bình từ sáng tới giờ chưa về... Tim Chanh nẩy mạnh trong ngực. Anh ngừng thở, định hỏi, nhưng nghẹn họng không nói được. Còn may trời đã nhá nhem trước cửa hang đá, Thanh Yên không thấy mặt tái dần, thong thả tiếp: - Cha với chị Năm coi giấy hôm qua, hoảng lắm. Cũng tính theo chị Hai xuống xã coi tụi nó giở trò gì, mà bị xếp loại A tình nghi can cứu, nó bắt trụm cả gói, mà cũng không được phép ra khỏi thôn. Em phải lo cho con Bình, con Lúa... chắc anh nhớ, nó là con chị Năm với anh Chò... Vậy mới nhớ đến anh Bảy Bòng. Anh đưa trung đội dân vệ lên ráp cộng sản ở mấy dương gò dọc sông Linh, về nhậu ở chợ Linh Lâm. Em chạy tới kêu ảnh, trúng bữa nhậu. Ảnh kéo em vô quán, biểu rót rượu cho đầy ly hết thảy, rồi nói trước mặt dân vệ, hội đồng xã, đứng dậy giơ ly lên nói tỉnh rụi, chắc không say đâu: “Con em tôi báo tin Ban tố cộng quận Tây Quảng đạt lệnh bắt chị Hai Thùy sáng mai xuống nghe cái gì đó. Tôi sẽ chở chị Hai xuống xã bằng xe đạp, ngồi đó cả ngày với cây Bar, năm trăm đạn... cả nhà tôi, tính hết quốc gia với cộng sản, tôi phục nhứt là anh Cả Chanh, thương nhứt là chị Hai Thùy, ghét thằng đần nhứt mà tham nhứt là thằng Tư Quýt, vừa bực vừa thương là cha tôi với chị Năm Nhím. Mẹ tôi xin để ngoài vòng... Mai, đứa nào muốn tâu nịnh với cấp trên cứ việc tâu, tôi đi tù năm ba năm cũng chẳng sao, khi về sẽ nói với nhau bằng thuốc nổ. Tôi leo núi lùng Cộng sản trước mắt các chiến hữu, đổ mồ hôi sôi nước mắt chớ không phải ngồi bàn giấy ôm con dấu như ông Hùng Minh kia, ăn hối lộ như mỏ khoét, theo Việt Minh rồi phản Việt Minh, theo quốc gia rồi chưa biết ngày nào phản quốc gia...”. Lạ thiệt đó anh, ai cũng vỗ tay hết, thằng Ba Mít trở cờ cũng bộp bộp mấy tiếng. Em tưởng ảnh nói rồi quên, mà mới sáng sớm ảnh đã đi cái xe bình bịch của quận cấp cho xã, tới đón chị Hai, đằng sau cột một cây trung liên với cái ba- lô đạn to tướng. Ảnh nói với cha: “Con chĩa súng vô mặt nhau, chẳng ai nể ai, con út nhỏ nhắc lại mấy lời anh nói hôm qua cho cả nhà hiểu bụng anh. Hễ tự ý sửa, anh về vặn họng đó nghen!” Chắc tụi nó thấy anh Bảy dữ dằn vậy, không dám sanh sự đâu anh! Cả Chanh không nghe rõ những lời cuối. Anh đang bị rối. Trong đầu anh đang thêm một con đỉa to tưởng, cỡ đỉa voi vùng bưng bên Lào đang bò quanh co mãi. Tại sao gia đình mình lại rối đến thế? Qua hai lần về thăm nhà trong đêm khuya, mẹ đã bớt lo ngại con dâu cả Hai Thùy bỏ chồng tập kết và chịu ký giấy ly hôn theo lệnh chính quyền mới, bớt nói “chặn họng” trước vì hiểu lầm, vì con dâu thờ đạo Chúa Trời sẽ vất hết bài vị ông bà cha mẹ ra vườn hay xuống ao. Hai Thùy cười rất lành: “Bà con thờ Chúa là tại ông bà biểu thờ. Anh Chanh với con có thờ ai đâu? Tụi con thờ ông bà cha mẹ, là những người có sống thiệt, có công sanh thành dưỡng dục đối với tụi con, mẹ thấy sai chỗ nào?”. Tất nhiên là không sai. Bà mẹ chồng chỉ thêm là nên thờ Phật để tu tâm dưỡng tánh. Chỉ mươi ngày sau, lá cờ năm màu và tờ phái đã được bày trong nhà Hai Thùy. Thùy ngừng đạp máy may, vẫn cười nhẹ: “Con rước Phật về nhà, chớ không rước Pháp với Tăng đâu. Rước đủ Tam pháp bảo, phải đợi anh Cả quyết định. Hồi nào ảnh về, mẹ hỏi giùm con”. Nụ cười hiền của Hai Thùy đã tước võ khí tất cả những ai không ưa vợ chồng Chanh, kể cả những ai đầy thù hận đối với cộng sản, với kháng chiến, với cả “bọn theo đạo Chúa bỏ ông bà”. Còn đối với bà mẹ chồng đầy nghi ngờ và bắt đầu khắc nghiệt, chiều ý Cả Chanh là hợp đạo tam tòng. Trong đêm về thăm nhà, Cả Chanh vẫn mang bộ lốt lởm chởm râu tóc của ông già Thượng, nhưng mỗi lời của anh được coi như lời của cách mạng, chỉ có Bảy Bòng vắng mặt và Tư Quýt tranh gia tài không muốn gặp. Bà Chanh thấy mình đã xử oan đối với con dâu, cũng rầu với thói tham vặt của Tư Quýt và cái giọng hợm giàu của Ba Song, ngày càng đến với Hai Thùy nhiều hơn, tuy vẫn ở nhà vườn cũ để “giữ phần cho thằng Cả”, và hay đánh tiếng với chòm xóm là ông Tư Rèn dạo này cần được bà coi ngó nhiều hơn, xuống sức lắm. Thế nhưng Cả Chanh xót xa nhất vì một mũi gai không ai biết: dường như cả nhà anh và vợ con anh đều chịu ơn che chở của Bảy Bòng, đứa em đã bỏ kháng chiến theo quân ngụy, nay là thượng sĩ quân Bảo an, cảnh sát trưởng xã, đảng viên Cần lao nhân vị của Diệm-Nhu, được cơ sở ta xếp loại ác ôn phải xử tử. Bảy Bồng che chở cho gia đình vì chưa cạn hết tính người, nhưng nó săn lùng cộng sản ráo riết, sẵn sàng chặt đầu cắt tai kiếm thưởng, còn thêm tin đồn là nó nhiều lần ăn gan và uống rượu máu cộng sản. Thật không? Thật không hở trời? Tại sao cách mạng đã lép vế đến cái độ cả một nhà theo cách mạng bấy nhiêu năm bỗng phải núp bóng một “ác ôn phò trợ”? Về sau anh em gặp lại nhau, bốn đốm lửa mắt xói vào nhau, hai họng súng chĩa vào nhau, ai sẽ bóp cò trước một giây? Khi phút ấy đến, Chanh có run tay vì nhớ Bảy Bòng phục anh nhất, quý chị Hai Thùy nhất, và đã xử sự y hệt như lời? Phần anh, phần anh là thế, nhưng thằng em bóp cò trước thì sao? Lúc này anh là quyền bí thư tỉnh ủy, anh chết là sự rất thường, nhưng ai sẽ lo cho bấy nhiêu đồng chí, cơ sở, hơn một triệu đồng bào đang cần đến anh? Chết và sống đối với anh từ lâu đã lùi rất xa mọi thứ lo toan, nhường chỗ cho hàng chục hàng trăm mối lo lớn hơn, xa hơn, như các đồng chí đi trước hay nhắc: “Sống hay chết là phụ, làm trọn nhiệm vụ trước Dân trước Đảng mới là chuyện chính. Xin bàn vô chuyện chính”. Con bé Thanh Bình nhất quyết không chịu ăn các thứ mà ông già Thượng hôi khét lòm kia bày trước mặt nó. Cơm gì mà nấu trong ống tre, nặc mùi ruột tre? Cái bánh nếp lột ra dỗ nó ăn, nhân chuối ngon ngọt chứ không phải bánh tét mẹ nó làm? Bát canh của ông già Thượng cũng hôi rình thứ lá cây gì trên núi? Nó kéo áo o út đòi về mãi không được, o út nói chuyện mê mải, nó lăn ra sạp ngủ thiếp lúc nào chẳng biết, người lớn hay bàn nhau những chuyện chẳng ai muốn nghe. Rất khuya, bị cơn đói đánh thức dậy, nó lờ mờ nhớ o út đã đưa nó lên núi và buộc nó gọi một ông già Thượng lạ mặt là “Ba con đó”. Và khi mẹ ôm ghì nó, nức nở: “Con gặp ba con, không biết à?”, nó bỗng ôm lại mẹ, con biết chớ, mà ba khác quá. Mẹ cho con lên núi gặp lại ba, con khờ quá mẹ ơi, chắc ba ghét con lắm, con gặp lại cho ba đừng ghét nữa. Mẹ lau mắt, chỉ nói thêm: anh Tuấn con chết bom rồi, ba với mẹ còn một đứa là con, ba ghét sao được? Ba buồn thì chắc là buồn, thôi rán chịu, về sau con làm cho ba vui là được. Con nghe lời ba với mẹ là cả nhà mình vui nhứt. Sáng hôm sau, Chanh lại dậy theo tiếng vượn hú trên vách đá, ăn uống cơm lam bị con hất ra khỏi tay, mang theo khúc bánh tét nhân chuối đã bóc ra phải gói lại, thay mặc cái khố và tấm dồ choàng, chống ngược cây giáo để xốc gùi đứng dậy. Con chó Dồ dò đường chừng trăm thước đàng trước, tới cậu giao liên cầm cái ná to và đeo hai ống tên, tới Chanh cõng gùi bằng đôi vai gò xuống như cái gùi bỗng trở nên quá nặng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:16:59 pm * Lò rèn ông Tư Chua đặt dưới những tán cây dầu lai già, mé sau nhà ở của Cả Chanh vài chục thước, vừa đủ chống cháy lan, đã được lợp thêm một lớp đất sét nhồi rơm với phân trâu, một lớp mái bằng sạp tre ngâm. Ông Tư bị vài lần hoảng khi các cháu nội ngoại của ông chơi gần lò gặp cơn gió mạnh, những quả dầu lai to gần bằng nắm tay rụng từ trên cao xuống đầu vào lưng lũ trẻ, chúng khóc ré và chạy tán loạn, may không đứa nào bị nặng, chỉ u đầu và đau vai, đau lưng. Hồi Cả Chanh được nghỉ chữa bệnh cho Thùy và cho mình, anh thường leo lên các cây dầu lai, cưa hay chặt bớt những cành nhô ra chỗ nhà ở, chỗ đi lại, khỏi lo trái rụng trên đầu. Qua chục năm, chẳng ai lo chuyện vặt ấy nữa, khi lò rèn chưa có và lũ trẻ còn nằm trong nôi. Bây giờ khác rồi. Ông Tư đi hỏi mua tre, chẳng nhà nào nhận bán nhà treo bảng đen loại A tình nghi can cứu. Ông mướn người giúp leo cây, sửa mái, chẳng ai nhận thuê. Nhưng chỉ một vài hôm sau, dân Linh Lâm đến nhà ông, vác theo vài cây tre mà ông biết đã ngâm tới mọc rong rêu, ném uỳnh xuống, nói to là trả công rèn cuốc rựa gì đó mà ông chưa hề làm cho họ. Đống tre chất cao đến nỗi thằng Ba Mít đại diện xã phải đến căn vặn hồi lâu. Còn những đám trẻ không nhận ông thuê, lại đến vì không đủ tiền trả công rèn, nói phải làm một buổi thay cho một ang lúa nhưng nấn ná tới ba ngày, năm ngày. Rốt cuộc, ông chỉ tốn mấy bó chè tươi và mấy xấp thuốc Thượng, mà cả lò rèn lẫn nhà ở đều đổi mới. Dường như cả cái làng Linh Lâm này phải tập trí trá. Giặc ở xã, ở quận, giặc chống cộng nằm ngay trong nhà ông Tư Chua và anh Cả Chanh. Không biết bao lần có một người Kinh hay Thượng bỗng mang tiền, mang đùi heo rừng, mang quế đến tiệm may chị Hai, ném vào đấy, nói là trả công may, dù Thùy xem sổ ghi hằng ngày không hề có tên họ. Ngay cả những thôn xóm công giáo di cư cũng dần dà quen cái nếp “trả nợ khống” như thế, tuy có nhiều vị chánh trương, trùm trưởng đã trình Cha và báo cáo con chiên biết Hai Thùy là đứa bỏ đạo, không đạo, lấy thằng chồng cộng sản “vô Tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo thần linh”. Nhưng họ vẫn ngoảnh lưng đối với các tiệm may di cư, đến may ở tiệm chị Hai. Chị may kỹ, giá phải chăng, cho thiếu nợ, và chẳng thấy khô khan với ai cả, dù đã rước cờ Phật và tờ phái của đạo Phật về nhà theo ý muốn của nhà chồng. Mình may đồ cho mình, cho chồng con, chớ có may cờ cho đạo nào đâu. Và cứ thế họ kéo đến tiệm may chị Hai, lò rèn ông Tư, bỏ sau lưng những đồng đạo vừa tham vừa vụng. Dần dà nữa, họ ngồi kể lể dây mơ rễ má với cả nhà “thân cộng”, có biển treo đàng trước, trong khi chờ may đồ hay sửa thứ gì bằng sắt thép. Cộng sản xấu ở đâu chẳng biết, nhưng cộng nhà này thì dễ thân, dễ gần, thật thà tốt bụng. Dân Linh Lâm biết thế từ lâu, nay dân công giáo “theo Chúa vào Nam” cũng nhận ra thế. Sáng nay tiếng búa lò rèn ông Tư nổi lên sớm. Không phải ba thứ tiếng búa quen nghe của ông Tư rèn lớn, tiếng búa nhẹ hơn của con cháu hay đám trai trẻ làm nguội những thứ rèn xong, tiếng gõ đập vô tội vạ của bà con đến lò tự sửa đồ sắt hỏng. Tiếng búa sớm nay dịu nhẹ như thợ kim hoàn đập vàng bạc khi mạnh nhất cũng chỉ bằng thợ dát nồi đồng hay thợ gò đồ nhôm đi rong kiếm việc. Tiếng búa lạ ấy là của Năm Bưởi. Ông Tư cùng một thợ phụ đi đốt than, bỏ lò vắng. Bưởi đã tập cho con Thanh Bình biết thổi bễ hai ống đều tay, nó làm được khá. Sau nhiều năm ở tù, nhiều đợt tra tấn quá dữ, Bưởi về nhà với thân hình còm cõi, hay khạc ra máu, mang thêm nỗi đau phải trả thằng Chung cho Hai Khánh, cha nó. Cô xã đội ngổ ngáo năm xưa, với gò má nhọn và nhiều mụn cá, dám ngồi rèn hay đánh búa chẳng thua ai, đi đâu cũng khoác cây súng kỵ binh Nhật, lý sự đến mức bị gọi lóng là Năm Nhím. Nay chỉ là người đàn bà khặc khừ, xếp loại A bảng đen, cấm ra khỏi thôn, mà không cấm cũng không tự đi nổi. Hai người đã vực Năm Bưởi sống lại: ông Tư và chị Thùy. Cha với chị thắt lưng mình và bóp miệng con cháu để chạy thuốc thang cho Bưởi ra sao, chị biết hết. Hễ nói thì bị gạt ngay: nói bậy, nhà ăn mặc đủ hết, còn người còn của... Và Năm Bưởi khỏe lại sau nhiều tháng được săn sóc. Năm lân la ghé chỗ bàn may chị Thùy, thùa khuy, khâu cúc, đuổi đi chẳng được. Năm lo ăn uống giặt giũ cho con mình, con chị hai. Rồi lo hết việc nhà cho cha với chị rảnh tay làm ăn. Hôm nay, khi cha vắng lò, Năm muốn thử lại mình mà không bị đuổi. Con dao cau lưỡi mỏng cán dài, phải rất sắc, cha nhận làm một chục, thép có đấy nhưng việc quá nhiều. Bưởi thử sức bằng thứ dao ít nặng công nhưng cần tay khéo. Cha mua rẻ được mớ thép phế thải của xe quân sự, xe Gip hay Uy-lít Mỹ, đã chặt khúc để sẵn. Bưởi ngồi lò một mình, chỉ cần nhắc con Binh tăng giảm mức thổi bễ, tự đập bằng búa tay là vừa, mệt đâu nghỉ đấy. Bộ phổi tốt hơn trước, máu không ra theo đờm nữa, chỉ từng lúc khó thở cần ngưng tay. Con Bình nhắc Bưởi nhiều lần trong khi thụt bễ: - Nghỉ đi o. Mặt o tái rồi kia. Ông với mẹ cấm o rồi mà! - Sức mấy mà cấm con Năm Nhím! - Sao lại Nhím? Nhím là ai, o? Bưởi cười, nghỉ uống nước mấy phút, lại rèn tiếp. Tối ấy, ông Tư gánh đôi giỏ than trĩu đòn về lò, thấy một chục lưỡi dao cau đã rèn và làm nguội xong, đúng “mác lò ông Tư”, chỉ còn phải đóng cán gỗ, cái đó thì Bưởi còn vụng lắm. Ông Tư không bao giờ để con cháu thấy mình yếu lòng. Ông xuống suối tắm xong, lên vặn cổ một con gà mái tơ, tự mình hầm một nồi cháo gà với nếp, buộc Năm Bưởi phải ăn ít nhứt hai tô, nếu chưa hết thì ông không cầm đũa. Bà Tư bỗng sang thăm con cháu. Ông lại ép ăn. “Mấy tháng nay mới nấu một gà, đừng tiếc nghe bà!”. Từ hôm ấy, việc cơm nước trong nhà được giao cho con Thanh Bình, chỉ bày vẽ vài lần là nó thạo từng bước: nấu cơm, luộc rau, hâm cá, đun canh. Các thứ gì rắc rối đã có người lớn nhắc, nó nghe và nhẩm đến thuộc lòng. Nó làm việc nhà với ý nghĩ ám ảnh: cha lội rừng rúc núi, mẹ thức khuya may đồ, ông nội với các o xúm lo cho nó ăn no ngủ ấm, nó lại nỡ hắt hủi ông già nhiều râu tóc mà o Út gọi là cha nó. Phải chuộc tội, chuộc tội. Năm Bưởi trong bữa cơm chung được nghe nhiều lời can ngăn, rốt lại ông Tư phong cho chị một chức mà Xưởng quân giỏi CK.II rất nể: kiểm tra kỹ thuật. Hồi ấy, có những anh chỉ huy nóng tính đã cùng đi với lính gánh trả mìn điếc, lựu đạn câm, đạn tịt hay nổ phá nòng, đến ngay chỗ làm việc của Ban lãnh đạo xưởng, quát tháo và rút súng lục dọa, xong rồi tự tay đập từng trái lựu đạn hay giật từng quả mìn chục ki-lô, vất dưới các thứ bàn ghế bằng tre nứa khiến cho cả cơ quan chạy tán loạn. Ông Tư hay đến Xưởng, có lần phải nhào tới ôm ghì một anh như thế, hét vào tai: “Anh chẳng nể ai, cũng phải nể thằng chủ tịch già này chút chớ!”. Anh kia giật mình ngừng tay. Anh cáu với đồng đội chứ không bực với nhân dân, ý dân là ý trời, dân ghét thì bộ đội coi như lúa đời, tàn rụi. Và ông chủ tịch này lại có tóc hoa râm, râu chòm, nghe nói được dân tin yêu lắm. Ông Tư dắt tay anh tiểu đoàn trưởng hùng hổ kia về nhà, mời anh một bữa tối có thịt khỉ và cá chình sông Linh-ngon bằng mười cá chình biển. Sáng sau, anh ra về sau khi chắp hai tay vái ông Tư : “Ba cho con cơm tối cơm sáng, con vái một vái. Ba cho con một bài học về tình nghĩa đồng chí, xin cho con thêm ba vái nữa.. Con thề xin chừa cái thói hung dữ”. Vài tháng sau, một đồng đội của anh mang đến một gói to kèm mấy chữ run rẩy: “Con còn sống vài giờ nữa thôi, con xin được ba nhận làm ba nuôi. Con gởi ba chút kỷ niệm đời lính nghèo không có gì hơn, ba nhận cho con đỡ tủi thân. Ba nói giùm con thương quý cả nhà. Con sắp chết, chữ khó đọc, ba… biểu... đọc ba nghe... Con đi đây...”. Ông Tư chồm lên, đòi đi đám tang. Không có tang. Anh tiểu đoàn trưởng đánh Tây trên đèo Hải Vân, cho quân về trước để nắm trung đội chặn hậu, trúng bom tan xác. Tây nó ném các mảnh xác còn lại xuống biển hết cho đỡ thối, đơn vị chỉ làm lễ truy điệu khi được tin đích xác là anh đã chết. Ông Tư hỏi từng tí, bởi tên thật anh tự nhận làm con nuôi ông cũng chưa biết. Té ra anh là người Thổ ở tận Lạng Sơn, mang cái tên thật khó đọc, vào Nam phải đổi tên Kinh cho dễ nói. Cái gói anh gửi chứa một chiếc dù sĩ quan Pháp, tốt hơn dù lính dù hàng, bốn phía đều in MADE IN USA, đồ Mỹ. Ông Tư giấu kỹ món quà, và mỗi lần thắp hương cho đứa con nuôi rơi vào tay ông như quả thị rớt bị bà già, ông lại bày các thứ dễ kiếm ở Linh Lâm như thịt khỉ, cá chình kho, nhà không sẵn thì hỏi vài ba nhà cũng kiếm được đủ cho con nuôi vui bụng. Năm Bưởi biết mình đang kế vị những người đã bị anh con nuôi đuổi chạy, đã lập ngay tổ kỹ thuật ở xưởng để khỏi bị dọa ghê gớm như “hồi chín năm”. Làm kỹ thuật chỉ cần biết nhiều, tinh mắt, giữ được khách cho “mác ông Tư Chua”, thay cho các lò lôm côm làng nhàng khác. Đôi lúc chị phải tự tay đập, gọt, giũa tí chút, nhưng không phải làm nặng. Và cứ như vậy, lò ông Tư Chua cùng tiệm chị Hai Thùy hút khách hàng về mình. Chỉ riêng Út Thanh Yên vắng nhà nhiều hơn. Trẻ con hỏi mãi, chỉ được nghe chung chung: “O út kiếm nghề làm ăn”, khi ỡm ờ thì nói: “O út bắt bồ rồi, phải kiếm chồng chớ”. Người lớn sao mà lắm chuyện khó hiểu! Sự thật là Út Thanh Yên đã được vào Đoàn Thanh niên Lao động, xếp cảm tình Đảng, đang dự nhiều lớp về Đảng và Đoàn ở vùng núi của Tây Quảng, có thể được phép thoát ly lên xanh. Thanh Yên đã mười bảy tuổi, ai bàn sự khôn dại tùy ý, chỉ xin được vài ba năm cùng chịu đựng với các anh chị là đủ cho cả một đời khỏi nghĩ mình xa lánh đất nước, cách mạng, xa những người đáng kính yêu nhất. Cô út chỉ đủ sức nghĩ tới đó. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:21:09 pm Chương 7 Lá thư dài tám trang đến với Hoàng Lan như một viên ngói từ tầng bốn hay năm rơi xuống đầu. Lan sửng sốt, choáng váng đến cả tuần quên ăn ngủ, một hai giờ sáng lại bật đèn đọc lại tới bao lần không nhớ, đến thuộc lòng mà vẫn phải đọc, cố tìm bên dưới những trang giấy mỏng một con lươn, con rắn, con đỉa nào đó nằm nép ở nơi khuất kín nhất. Nhưng không tìm ra gì cả, mà chỉ gặp mấy tiếng hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc. Cái hạnh phúc vô cùng khao khát đang đến với Hoàng Lan. Anh Cam ơi, em sẽ liều hay sẽ lùi? Lá thư viết: Anh đang ở Nông trường Sao Vàng, Thanh Hóa. Anh Năm Chò lên đường vào Nam, cười tươi cả ngày. Anh khóc thầm vì bị từ chối chưa được vào. Sáng mai anh sẽ đi thăm các gia đình đã nuôi anh khi là lính Lục quân rày đây may đó, cũng như khi là lính 304. Anh viết ngay một câu bấy lâu đọng dưới lưỡi, kẻo qua trang sau thì tất cả can đảm của anh sẽ rơi rụng hết: anh yêu em, anh yêu con em, anh muốn là chồng em, em có chịu làm vợ anh không? Lan ơi Lan, trả lời thật rõ đi em... Những trang sau nhắc lại vô vàn kỷ niệm ở Sông Vệ, hay khi Lan đã lấy chồng và mang bụng chửa về nước, ra Bắc mới sinh đứa con anh Tám Thống, anh Cam từng lúc đến thăm như người bạn được cả nhà quý mến. Bạn thôi. Nhưng chồng tái giá lại rất khác, khác quá xa. Hoàng Lan trả lời rất ngắn bằng điện tín: “Về Hà Nội bàn sau”. Mùa hè 1960, anh Cam lang thang khắp Thanh Nghệ Tĩnh, chỉ gửi thư về. Anh xin được giấy vào Vĩnh Linh nữa. Nhưng thư nào của anh đều nhắc lại ý cũ. Hoàng Lan muốn phát điên lên mất. Cứ gửi thư xong lại đi rong ruổi, ai muốn lấy vợ theo kiểu tài tử như anh? Khốn khổ, em lại không thể quên anh, hãy cho em được gặp anh đàng hoàng một chút chứ! Anh luôn nhắc là anh yêu em, sao không để em gặp và nói yêu anh? Lẽ nào tình yêu là độc quyền của đàn ông con trai? Nhưng anh Tùng lớp trưởng biết tính Cam. Cuối đợt nghỉ hè, Cam vừa trở về nằm giường hai tầng trong ký túc ở Phúc Xá, anh mắt lồi đã quay điện thoại báo ngay cho Hoàng Lan, còn thêm là Sáu Cam đang buồn vì nhiều bạn vào Nam mà nó không được về vì các vết thương cũ và tay trái rất yếu, nó cần được an ủi. Chỉ mấy câu ấy đã buộc Hoàng Lan tức tốc đạp xe lên Phúc Xá. Bãi rác hôi nồng trong tiết nắng ngày mưa đêm, khúc vào ký túc ngập bùn và không điện, Lan vác xe lên vai, xắn quần quá gối, chỉ nhớ một điều là ảnh buồn, đang cần an ủi. Ảnh đã bao lần đến với mẹ con Lan với nụ cười phớt đời của lính, ai đoán được ảnh có thể rầu rĩ? Bác thường trực cấm Lan vào buồng sinh viên đang giờ học. Lan nhờ một cậu đi qua ghé gọi anh Sáu Cam. Tay này nháy mắt: “Ai jấn, nhi-viét -xta mới gọi được”. Chẳng hiểu tiếng Hoa tiếng Nga là gì, Lan cứ gật bừa. Năm phút sau Cam ra chỗ thường trực, vì ký túc sinh viên không bao giờ tránh gọi nhau khi tình yêu gọi, theo lệ “dễ người dễ ta”. Cam với Lan đi quên đường, quên giờ, quá nửa đêm Cam mới giật mình, tính về leo qua tường ký túc. Lan nói đanh: - Anh về ngủ nhà em. Sợ lắm à? - Hàng xóm, bà Béo, con nít... anh giữ tiếng cho Lan... - Anh chưa vợ, em góa chồng. Anh sợ về sau bị các cô Y Dược hay Sư phạm vạch tội, đúng chưa? Thằng Nhứt gửi sang buồng chị bạn của Lan đang ngáy như cưa gỗ. Hai người về buồng Lan. Lan chỉ hỏi lại mấy câu cũ: - Nói dứt điểm đi, anh yêu em hay thương hại mẹ con em? - Anh yêu em, việc quái gì phải nói dối. - Không thương hại cảnh mẹ góa con côi? - Không. Nếu thương hại, phải thương cả triệu người khổ hơn mẹ con em trước đã. Mà anh chỉ yêu được một người là Lan. - Về sau anh có hối không? - Khó nói trước, còn tùy Lan nữa chứ. Bị đẩy tới chân tường anh có thể hối. Vui vẻ với nhau, biết điều với nhau, chác không ai hối. Anh hứa trước là bốc đồng, nói nhảm. - Rất tốt, rất thẳng thắn. Đêm nay chúng mình là vợ chồng! Lần đầu tiên trong đời, Sáu Cam biết làm chồng. Lan càng biết rõ Cam hơn, những vụng về của trai tân đối với đàn bà đã một đời chồng con rất dễ nhận ra. Lan tỉnh giấc, thấy Cam đang nhen bếp lò đun trấu. Giấy loại, củi vụn, cái chai làm nòng đã rút, lửa đang bén trấu. Lan đến phía sau, vòng tay ôm Cam: - Ông lính ơi, ai lôi ông dậy lập công với em? - Ôi, lính chiến khác phóng văn lình xa lắm. Bốn giờ sáng đã bị trực ban thổi tu-huýt, chạy nhào ra sân xếp hàng “không ba sáu chín”, chậm vài phút đã bị cảnh cáo đêm, khi điểm danh. Cam đặt ấm nước lên bếp, quay lại bế xốc Lan trên tay, đặt trên giường. Hai đôi môi gắn mãi vào nhau, đến khi Cam nhấc mặt lên, thì thào: - Hôm nay chúng mình đi đăng ký. Hà Nội có nhiều thứ đăng ký quá đỗi, Lan không nghĩ ra ngay. - Đăng ký gì hả anh? - Gái trai thì chỉ có đăng ký kết hôn thôi. Sáng nay tụi mình đi rủ bạn làm chứng, lấy giấy cơ quan xác nhận chưa vợ chưa chồng. Chiều, chờ lâu nhứt là một tiếng, cầm giấy kết hôn. Sửa soạn vài ngày, liên hoan nhẹ trà thuốc ở chỗ em, cho cánh sinh viên vui tán phét một giờ ở ký túc, xong hết! Một luồng máu nóng rực tuôn thẳng lên mặt Hoàng Lan, quét băng đi mối lo canh cánh “mình yêu ta thật hay là yêu chơi”. Đôi má Lan đỏ hồng lên, mắt Lan óng ánh dưới làn nước nóng. - Anh cho em nghĩ thêm... - Nghĩ quanh, nghĩ quẩn, đâm ra nghĩ bậy! Lan ra ngoài đánh răng, rửa mặt như người mất hồn. Gái hóa tái giá, mình chỉ trẻ hơn anh Cam nửa năm tuổi, mình già trước, mình ấn con anh Tám Thống vào tay ảnh. Hoãn binh đã. Một năm hạnh phúc, mấy chục năm chịu đựng nhau, thà Lan cứ ở góa... - Tay cao, tay ngang, tay sau, tay trước... Hồi tĩnh, chạy thường, thở sâu... thở đúng động tác chứ cháu... Chuẩn bị tắm. Vào nhà lấy áo quần, chạy thường, chạy! Hai chú cháu vọt ra khỏi buồng, cười rúc rích, lao vào một buồng mở cửa trong dãy nhà tắm tập thể. Lan nghe thằng Nhứt kêu lạnh, tiếp giọng Cam rất nghiêm: - Lính Cụ Hồ không biết nóng lạnh. Chạy thường, chạy! Mười lăm phút sau, hai chú cháu ngồi vào bữa sáng của Lan. Bánh cuốn Thanh Trì chấm nước mắm cà cuống, cán bộ lương nghèo được thế là sang. Và thằng Nhứt chỉ nói chuyện với chú Cam: - Sao chú không về ở luôn đây với má con cháu? - Sao hả... ờ... má cho phép, chú mới về ở được. - Má, sao không cho phép? Lan ngây người ra một lát mới hỏi lại: - Con muốn chú Cam thay ba Thống không? - Con muốn. Chú Cam vui hơn ba.. Ba chết rồi, chú về thay ba. Má bảo chú về ở với nhà mình đi má. Chú chỉ huy con hay lắm. Lan nhờ bạn báo đi làm trễ đôi chút, để nói nốt câu chuyện: - Em không cần nghĩ, chính anh mới cần nghĩ thêm. Thân phận em, anh biết hết rồi, khỏi cần kể lể. Anh trẻ, là trí thức, đảng viên, cán bộ, đường đời anh còn xa lắm. Em không thể tròng vô cổ anh nhiều gánh nặng, níu anh lại. Ta hẹn với nhau vầy nè: hoãn chuyện vợ chồng vài tháng, thôi cứ cho là ba tháng, để anh cân nhắc so sánh hết mức. Anh chọn lựa kỹ rồi mới lấy vợ. Trong ba tháng đó, anh cứ về với em đàng hoàng, như chồng, chưa cưới... Hàng xóm đây anh đừng ngại, họ đang giục em tái giá. - Còn họ hàng anh Thống, còn thằng Nhứt? Lan ngập ngừng: - Phía anh Thống chỉ có bà Ất thôi, cũng là bà con xa. Bả nói với em mấy lần, hễ em lấy chồng khác thì để bả nuôi con anh Tám. Lần đầu bả nói là quyền của bả, em phải giở lý ra, đừng thấy em lễ phép mà tưởng em ngu. Hai lần sau bả nói tình, nuôi giúp em vài năm cho nó cứng cáp, em đưa tiền ăn cũng được. Tánh nết bả đồng bóng, mỗi ngày ít nhứt một lần xô xát, các con bả lớn lên đều đi ở nhà tập thể, ký túc, nhà bạn thân, bả buồn lắm. Bả nuôi thằng Nhứt, anh cũng khỏi vướng... là nói hễ anh cưới em... còn không thì cứ như cũ, má với con... - Lan nghĩ kỹ chưa? Câu hỏi ném tới bằng giọng gay gắt. Lan luống cuống ngước lên: anh Cam giận ra mặt. - Em cho con về ở với một bà đồng bóng mà chồng con bả chịu không nổi. Trong nhiều năm, bả sẽ dạy nó hàng ngàn làn: má là người bạc bẽo, ông Cam kia chia rẽ má con cháu, cháu bị hắt hủi và chiếm đoạt hết các thứ ba Thống vun đắp cho cháu. Hừ, vui lắm, hai đứa mình thêm một kẻ thù là thằng Nhứt! - Ôi anh, em làm sao bây giờ? - Chẳng sao hết. Anh sẽ mua cót hay giấy dầu về ngăn căn buồng này ra. Phần trong là của chúng mình. Phần ngoài là góc học tập của thằng Nhứt, còn chỗ thì kê thêm bàn trà tiếp khách bàng chỗ quán nước vỉa hè thôi, giường thằng Nhứt kê gần cửa sổ thành giang sơn riêng khi nó vào vỡ lòng. Nó sống với má như xưa, thêm một người rất yêu nó là chú Cam... Cam không nói thêm được nữa, khi Lan đã lao cả người vào anh, ghì anh đến tức thở: - Anh Cam ơi, suốt đời anh cứ tốt bụng với má con em được như lời không? - Cứ nghĩ đi. Coi thử thằng này có dối trá bao giờ không! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:22:28 pm * Lan ân hận nhiều khi đặt mức ba tháng suy nghĩ lại cho Cam. Nhưng anh Cam cứ giữ nếp con nhà lính, nói gì cũng cắn cưa không đổi, đến cái độ Lan mong anh ấy bớt máy móc đi. Anh là chiếc xe tăng T.34 lừ lừ đi vào trận, đừng ai hòng xô đẩy ra khỏi con đường nó chọn. Mỗi cuối tuần, anh vẫn đến với Lan và con. Một chị bạn biết ý, nhận đưa thằng Nhứt đi xem phim ở rạp Kim Đồng gần đấy cùng với con chị, mỗi tối thứ bảy, thêm tối chủ nhật nữa khi cần. Chị thường đi với vài ba cháu nghiện phim thiếu nhi ở Kim Đồng, khi về thường có một cháu lớn nào đó nhận cõng thằng Nhút đã ngủ mềm vào cuối buổi chiếu, đem về xếp chỗ cho nó ngủ chung giường màn trong nhà mình. Chỉ một lần, chẳng biết nghe lỏm hay ai xui, nó hỏi chú Cam: - Chú về ở với má, cháu phải đi nhà khác, đúng không chú? - Ai nói thế? - Bà Ất nói. - Cháu không thích chú ở chung à? - Cháu thích. Thích lắm chú ơi. Chú thích ở với cháu không? Cam xốc nó lên, thổi phù-pụp vào rốn nó như mấy năm trước. Nó cười tít, giãy: “Cháu lớn rồi chú. Hồi cháu con nít mới chơi thổi rốn”. Chú Cam đặt nó xuống, nói như với người lớn: - Chú thương yêu cháu. Cháu lớn rồi, đi học võ lòng rồi, chú xếp chỗ cho cháu nằm giường riêng, có góc học tập riêng, có chỗ tiếp bạn riêng, có tủ sách vở riêng. Được không? - Được, được, cháu được lắm. Mà chú xếp ở đâu? - Ở với má, với chú chứ đâu! Nhứt cứ sợ chú Cam đùa với trẻ con rồi quên. Trong những ngày tiếp đó, nó nhắc mãi đến má sốt ruột. Nhưng chiều thứ bảy là ngày chú Cam thường đến, nó thấy chú vác vào nhà một bộ giường chân niễng thấp vừa tầm nó leo, một bộ bàn ghế trẻ em vỡ lòng, nhiều thứ nữa. Chú kê giường bàn cho nó, dán lên vách những tờ giấy màu có lời Bác Hồ dạy, lịch ảnh thiếu niên thổi kèn, một tờ mà chú đọc là thời gian biểu, một khung cỡ nhỏ chứa được mươi tập sách vở, sơn màu hồng tươi. Tuyệt vời, mê ly, vượt tất cả ước mơ của nó. Má với chú bàn nhau qua loa, rồi má đạp xe đi nửa giờ, đem về một bộ màn trắng tinh chưa giặt nước hồ, căng dây đóng đinh buộc cho nó. Giang sơn riêng của nó được xếp bên cửa ra vào, có cửa sổ đưa gió thẳng vào giường. Tối ấy nó hỏi má đến ba lần: “Bao giờ chú Cam mới về nhà mình, má?”. Má nói gì ấp úng, chỉ giục nó ăn, giục đi ngủ. Nó cởi trần mặc quần đùi, nằm trên giường mới màn mới, sờ mó mọi thứ rất lâu mới ngủ lịm. Đêm ấy Hoàng Lan thức khuya đợi anh Cam. Anh không đến. Chắc lại về nằm giường hai tầng trong ký túc, theo đúng cái hạn ba tháng suy nghĩ. Ôi cái miệng độc hại của mình, vênh mặt hếch mũi làm cao thì đành chịu phạt, biết sao đây? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:24:35 pm * Anh Sáu Cam làm đúng như lời hẹn cắn cua. Rốt cuộc, Hoàng Lan phải tự hẹn ngày cưới, vào dịp nghỉ Tết. Cam cười, nói một câu khó hiểu: “Núi không đến với Mô-ha-mét, thì Mô-ha-mét phải đến với núi thôi”. Lại một kiểu nói lóng nào đó của sinh viên đại học Ngữ Văn thôi, Lan chỉ gật đầu cho phải đạo và cho anh vui. Lan nhớ anh ngày đêm, thằng Nhứt nhắc anh ngày đêm chịu sao nổi nữa! Nhưng sát dịp nghỉ, ký túc xá chợt rối mù. Cái anh Hóa bị hạ từ phó văn phòng Trường xuống phó phòng hành chính, nay bị hạ lần thứ hai, đều với tội ăn cắp của công. Hắn về làm trưởng Ban quản lý ký túc, nhân khi nhà trường kêu gọi sinh viên cần công, kiệm học, xếp mọi việc trong ký túc cho sinh viên làm cả. Ngay khi anh chị em đi trồng ngô khoai trên bãi sông Hồng hay bên đất thừa của sân bay Gia Lâm, đẩy xe bò đi xin phân khắp nơi về bón, chia nhau thu dọn sửa sang ký túc, hắn đều làm giấy thanh toán như thuê người ngoài, lấy bỏ túi gấp mười số lương. Sinh viên được nghỉ Tết một tuần. Hắn viết phấn trên bảng, chia việc rất khoa học cho các buồng: làm vệ sinh nhà bếp, nhà tắm, nhà xí, trang trí đón khách, gác bảo vệ ngày và đêm, không quên khoản nào. Chỉ có một khoản ghi nhỏ bên dưới: Ban quản lý, cấp dưỡng, bảo vệ được nghỉ năm ngày. Ông hiệu trưởng hay ông bí thư Đảng ủy mỗi năm đến thăm chỗ sinh viên ăn ở một hai lần (thường được báo trước, thu dọn trước), đến Phúc Xá ắt sẽ khen, sẽ coi lại kỷ luật cậu Hóa có quá nghiêm không. Thế nhưng, sinh viên các buồng không có cơm ăn, đã kiếm nơi tạm trú suốt dịp Tết. Chỉ sót lại mỗi buồng lèo tèo vài cô cậu miền Nam hay người dân tộc ở quá xa, ở tận Quảng Bình Vĩnh Linh đi về không kịp vào học kỳ hai, sẽ quần quật làm thay bộ phận phục vụ, thay các bạn về nhà về quê. Số người ở lại ký túc sẽ bằng một nửa các bộ phận quản lý, cấp dưỡng, bảo vệ hằng ngày, còn phải lo giữ bộ mặt ký túc xá khi Ban giám hiệu trịnh trọng đến chúc Tết. Anh chính trị viên mắt lồi Lê Tùng bị sinh viên các buồng đến mỗi ngày mươi lần, vì là Đảng ủy viên nhà trường. Anh kéo một loạt đại biểu theo mình, mặc bộ quân phục bốn túi và đi đôi giày da mới nhất, đến buồng riêng khá rộng của anh Hóa. Đôi bên cãi lý với nhau kéo dài. Anh Tùng nói ngắn thôi: - Tôi đã soạn các thứ để về Hải Phòng ăn Tết với vợ con. Nếu các đồng chí quản lý không đổi ý, tôi sẽ ở lại với anh chị em, sau đợt nghỉ chúng tôi sẽ làm biên bản, sẽ đề nghị dùng ai bỏ ai. Dùng mới khó, bỏ rất dễ thôi anh Hóa à. Tưởng anh Tùng chỉ dọa thôi, chẳng ngờ vài hôm sau tay Hóa bị ngừng việc, làm kiểm điểm vì tội vét của công. Hóa đến năn nỉ anh Tùng nhiều lần, nhờ anh che chở. Lần nào anh cũng gọi Cam với vài lớp trưởng hay phó đến cùng nghe. Và anh trả lời luôn ngắn gọn: - Tôi ở lại để xem sinh viên sống qua mấy ngày Tết ra sao. Đám trẻ không dám nói thẳng, tôi hay đồng chí Cam đây dám nói. Chắc anh có cái ô che chở. Chúng tôi sẽ quật đổ cả ô lẫn anh. Chờ đấy xem ai thắng ai! Nhưng riêng đối với Cam, anh Tùng chỉ rỉ tai: “Cưới nhanh đi, tao dự vì thương cả bốn chúng mày, xong tao chuồn gấp. Hơi đâu bám theo đứa trộm cắp!”. Đám cưới diễn ra trong khu vực tập thể bệnh viện Phủ Doãn, được đổi tên mới là Bệnh viện hữu nghị Việt-Đức nhưng chả ai quen gọi. Chú rể lóng ngóng, cô dâu ấp úng, anh quản trò gây cười chật vật, bà con đến chỉ tán chuyện với nhau nhiều hơn, chè nước bánh kẹo để lại quá nửa. Đời sống mới thường thế. Chỉ đống quà và các phong bì để lại giúp tân hôn là đủ gấp bốn năm lần tiền cưới xin. Quá mười một giờ đêm, Sáu Cam ôm ghì vợ: - Hết lo chưa? Còn gây sự với anh nữa không? - Hết trơn. Thỏa mãn bần cố không? - Chấm dứt cái cảnh cơm treo mèo nhịn, ắt là thỏa. - Nhỏ nhỏ chút anh, con nó dậy... Bên kia tấm vách còn mùi sơn, thằng Nhứt ngáy giòn. Nó đã khoe với lũ trẻ lớp vỡ lòng là chú Cam sắp về thay ba nó, chú thương nó nhất nhà, mà nhà nó chỉ có hai mẹ con. Công đoàn và chi đoàn bệnh viện họp kín, đã góp tiền làm một tấm vách bằng cót khung gỗ, sơn hai mặt bằng sơn màu chồi non, có cửa bằng gỗ dán đi khóa về mở. Vẫn cái tay cán bộ tổ chức ưa “truy động cơ” muốn ngăn cản: - Lo cho chị Lan thế, đến anh chị em khác lấy vợ lấy chồng thì sao? Tạo ra tiền lệ ưu đãi... Bí thư chi đoàn và thư ký công đoàn đều nói lạnh: - Không phải ai cũng là vợ liệt sĩ, sống mẹ góa con côi. - Xin thêm: không phải cũng chiếm được một căn hộ sáu chục mét vuông, không kể hành lang và khu tiện nghi riêng, như anh bây giờ. Ông “động cơ” bỗng dưng hóa điếc và câm đến cuối cuộc họp. Vợ chồng rón rén ra gian ngoài. Trên phần dành riêng cho nó, thằng Nhứt ngáy giòn, chỉ mặc quần đùi may-ô, đạp tung chăn. Trời đã khá rét, nhưng nó lý sự với má: “Chú Cam nói lính Cụ Hồ không biết nóng lạnh”. Lan đắp chăn cho con, lấy kim băng cài chăn vào chiếu. Trở vào gian trong, Cam chợt ngờ ngợ: Tấm ảnh viền đen phóng to của anh Tám Thống trong khung kính, thường vẫn đặt trên nóc tủ đầu giường Lan, đã biến mất. - Ảnh anh Thống đâu rồi, Lan? Lan luống cuống: - Em cất... trong tủ... - Sao em cất? - Em lấy chồng, mắt ảnh ngó tụi mình chằm chằm, em ngại... - Ngại thì đưa đây anh. Chúng mình kính mến anh Tám, coi như người anh cả của hai đứa, còn phải nhắc thằng Nhứt nhớ ba nó cả đời. Ba Thống với chú Cam, hai người đều thương yêu nó, thay nhau săn sóc nó, sai chỗ nào em cứ nói! Lan mở tủ đưa tấm ảnh. Ngay sau đó, Cam lấy búa và đinh đóng treo ảnh ngay trên bàn nước-một bộ bàn ghế nhỏ kê gian ngoài. Các hạn đến thăm và tặng quà nhiều, Cam đều nhắc: “Anh Tám Thống là bạn và cấp trên cũ của tôi, hi sinh rồi, ảnh đây này”. Đôi khi Cam còn thêm: “Một người vô cùng tốt”. Lan hơi khiếp sợ kiểu đi xe tăng T.34 của Cam. Nhưng khá lâu sau khi tái giá, nghe con mình khoe ba Thống đền nợ nước và chú Cam về thay ba nó, Lan mới hết lo. Lan khuyên chồng bảo nó gọi bàng ba. Cam trả lời gọn: - Bao giờ nó thấy anh xứng đáng thay ba nó, tự nó sẽ cho anh làm ba. Em đừng ép mình, ép nó. Ôi anh Sáu Cam, anh có tốt mãi với mẹ con em thế không? Lan tự hỏi mình thêm một lần nữa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:26:29 pm * Bị thúc giục từ mọi phía, Cam vẫn chần chừ chưa định về với vợ con. Cam thấy cần tập làm quen với nếp sống gia đình, bỏ dần những thói quen của người độc thân đang tới sát tuổi tam thập. Có lẽ vì xa nhà quá sớm, nên những thói quen ấy hằn sâu hơn người khác chăng. Đời lính chiến kham khổ mà đơn giản. Cho gì ăn nấy, cấp gì mặc nấy, phụ cấp ít thì liều liệu mà xài, cả khi tóc dài cũng cắt cho nhau. Chiếc xe đạp tồng tộc mua rẻ của Cam chỉ mua nổi sau khi lĩnh phụ cấp chuyển ngành. Cam chỉ tập lo liệu cho mình thêm một ít, chứ ở ký túc chẳng phải nghĩ đến nhà cửa, điện, nước, hai bữa ăn trưa tối. Bây giờ khác nhiều, Cam phải lo cho mình và cho hai người kém sức hơn. Về sống với Lan, Cam không phải đạp xe đường dài, vác xe qua chỗ lầy lội, sớm tối quấn quýt bên nhũng người mà Cam thật lòng yêu quý, kể cả người vắng mặt là anh Thống. Hoàng Lan thạo sắp xếp hơn, đã bàn với chồng: ăn sáng đơn giản, bước qua cổng sau là một dãy hàng bánh mì, bún, bánh cuốn cuối tháng cạn lương thì ăn khoai sắn. Cơm trưa tối của bộ ba sẽ báo hai suất rưỡi ở bếp tập thể, tự làm thêm một món dài ngày, đầu tháng là tôm thịt cá kho, cuối tháng là vại dưa cà. Cam cười xòa: qua đợt tiếp khách sau đám cưới, anh về. Sau đám cưới, Cam không học được. Khách đông đến ngộp thở. Bạn của hai vợ chồng, bạn anh Thống, bạn đồng hương, anh Cam phải tiếp liên miên trong khi Lan đi làm và con đi học. Dù đã hạ mức chi tiêu xuống tới chè ba hào một gói và thuốc lá Bông Lúa rẻ tiền nhất, Lan vẫn phải giật lửa các bạn, vì tiền mừng hậu hĩ đã dùng để sắm thêm ít đồ gỗ, soong nồi, bát đĩa. Thật ra Cam nghĩ nhiều mà chưa nói hết. Cán bộ đi học, chỉ muốn học mà rất ngại việc lớp, việc nhà trường, việc chi bộ, chi đoàn. Cam bị tròng vào cổ quá nhiều việc: chi ủy viên, lớp phó (thường phải thay lớp trưởng thấp khớp Lê Tùng), cán sự bộ môn Lý luận văn học, thay mặt chi ủy theo dõi chi đoàn Thanh niên lao động, gần đây còn thêm chức đại đội trưởng tự vệ. Ở ký túc, có thể giải ngoáy một việc trong vài phút, trong khi cầm đũa khua bát xuống ăn cơm. Mình ra ở ngoài, trút việc lại cho ông Tùng mắt lồi, nên chăng? Nói hết, chưa chắc Lan đã hiểu. Cứ khất lần hồi đã. Cứ thế, Cam lại về nằm tầng hai trên giường ký túc, với ngọn điện đèn mờ đom đóm, với các bạn sinh viên trẻ luôn sẵn sàng dựng dậy trong giờ nghỉ trưa hay nửa đêm để kể vì sao phải cắt với cô Ngọc hay cô Hồng, để buộc anh giải quyết gấp bữa cơm không nuốt nổi hay vòi nước tắm chỉ rỏ từng giọt, để trạm gác bên cổng không đuổi một cô yêu nhất đời, khiến cô ấy thề không nhìn mặt cậu nữa. Muốn bỏ việc cũng rất khó. Cam bị buộc phải nhớ mình là đảng viên, cán bộ. “Đồng chí định trút gánh cho ai?” Ừ nhỉ, mình trút gánh cho ai? Cho thằng trộm cắp chưa bị khai trừ là tay Hóa chăng? Cho ông Tùng thấp khớp chăng? Cho anh chị em từ phổ thông lên, sống bằng học bổng, sợ bị trù dập? Cho những vị trong Ban giám hiệu mỗi năm đến thăm một hai lần với sự thu xếp mấy ngày trước? Và Cam cứ ở lỳ trên ký túc, vài tối mới về một lần với vợ con, khi vắng họp. Nhiều chức phải họp nhiều, đến nỗi Cam phải kêu cứu trong khi họp chi bộ: “Lê-nin bảo học, học nữa, học mãi, chúng ta hiểu là họp, họp nữa, họp mãi!” Bài thơ chế giễu những người tự cưa đôi để họp nhiều nơi cùng lần của Mai-a-côp-xki được chép chữ to, đóng khung đỏ, dán lên báo tường khoa Ngữ Văn ở chỗ trang trọng nhất, để đấy suốt tháng không bóc. Nhưng các quan chức có để mắt đến báo tường bao giờ, lắm vị nhớ mang máng rằng Mai-a là nhà thơ Pháp thế kỷ 17! Cán bộ giảng dạy vẫn báo động, số điểm dưới trung bình tăng đến đáng sợ. Đảng uỷ nhà trường phải nhiều lần nằn nì “xin điểm” cho sinh viên, gợi ý gần xa đến những sự khuyến khích công nông, cần tránh chủ nghĩa thiên tài, các quan điểm tư sản trong giảng dạy. Số cán bộ trẻ cỡ trợ lý, phụ giảng hay cả nể, nhưng các thầy kỳ cựu không nể, cả đảng viên cũng như ngoài Đảng, cả số tốt nghiệp Xoóc-bon, Ốc-phớt hay Mát-xcơ-va, Ki-ép đều nói gần giống nhau: “Chúng tôi cho điểm theo kết quả học tập, không theo lý lịch. Nhà trường và xã hội dùng sinh viên tốt nghiệp ra sao tùy ý, chúng tôi không có quyền can thiệp. Cố ghép chúng tôi vào tội chuyên môn thuần túy, xin chịu, mai sau sẽ xem ai đúng ai sai”. Hắc-xì-dầu nhất là các “cụ” phó tiến sĩ ngữ ngôn học, chủ nhiệm khoa Sinh vật tiến sĩ Xoóc-bon, phó chủ nhiệm khoa Địa mới lập, cùng một loạt trí thức trẻ ở các khoa. Khoa Ngữ Văn của Cam luôn bị ám ảnh vì “cụ” bộ môn Ngữ ngôn, tuy cụ mới ngoài bốn mươi và rất ham đá bóng giao hữu với sinh viên. Đến mỗi đợt kiểm tra ngữ ngôn cụ biến thành pho tượng đá lạnh ngắt, cả khi sinh viên kêu to cho nhau: “Cụ moóc-phem đến đấy, liệu hồn mà ăn ngỗng”!. Cụ cho hai phần ba lớp ăn ngỗng, sau đó lại ra sân bóng làm trung vệ, cứ tỉnh bơ như vừa khiêu vũ rất dẻo với các cô sinh viên vừa bị cụ bắt thi lại và bắt học bù trong đợt nghỉ cuối học kỳ, không còn biết Tết biết Hè là gì nữa. “Sao thầy truy chúng em ghế thế? Thầy cho chúng em hưởng tí tuổi thanh niên với chứ!”. Ông thầy mặc bộ com-lê mốt mới nhất, đang ôm lưng cầm tay cô sinh viên vào hạng đẹp nhất trong điệu tăng-gô dịu nhẹ và ru hồn nhất, chỉ dùng một trong sáu ngoại ngữ mà ông nói, đọc và viết thành thạo: “Tôi đòi hỏi nhiều ở các bạn trẻ, để tương lai các bạn không đầu hàng trước những đòi hỏi của đất nước”. Cô sinh viên chỉ còn biết xoay người theo điệu van-xơ mới nổi lên trong vòng tay của ông thầy bị coi là máy móc. Cô bạo lên, ghé hỏi nhỏ bên tai thầy: - Sao thầy không chịu lấy vợ? - Tôi đang tìm con người lý tưởng, tiếc rằng chưa gặp. - Con người lý tưởng của thầy, phác họa em nghe đi. - Ôi, chuyện quá dài... Em bị điểm ngỗng, không giận à? - Không, không... Em chỉ muốn gặp thầy nhiều, gặp mãi… Cô sinh viên đến với thầy, đến nhiều, đến mãi, cho nên khi nhận thiếp báo cưới thì chẳng ai ngạc nhiên nữa, cũng như khi Cam và Lan cưới nhau. Nhưng tỉ số cho điểm của ông thầy không tăng. Các tầng giường trên dưới ở ký túc ném cho nhau nhiều nhận xét khá ác. Nhưng học bù vẫn cú phải bù! Cam đã tàm tạm có đủ tiếng Pháp để đọc tiểu thuyết “Những người sinh viên” của Yu-ri Tri-phô-nốp qua bản dịch, khi bí thì đọc thêm bản Nga. Các bạn Liên Xô xuất ngũ có thể đánh giá được các thầy dạy, còn Cam thì không, chỉ góp ý được về cách giảng bài, cách đối xử với sinh viên. Khối hiểu biết của Cam còn quá nhiều lỗ hổng phải lấp, chưa hiểu thì học hỏi chứ chưa được nói bậy. Ông chuyên gia Trung Quốc sang ca ngợi vô vàn cái mới trong Đại nhảy vọt, sinh viên Bắc Đại trong mươi hôm đã viết xong bộ Lịch sử văn học Trung Hoa với trình độ cao hơn hẳn các bộ cũ (ông giơ cho xem những tập mới in đỏ rực), gần đây lại rất lặng lẽ, kín tiếng. Các chuyên gia Liên Xô nhắc mãi rằng tất cả các nước xã hội chủ nghĩa sẽ cùng một lần bước qua ngưỡng cửa chủ nghĩa cộng sản, nay không nghe nhắc lại. Rốt cuộc, mỗi người cộng sản Việt Nam sẽ suy nghĩ bằng bộ óc của mình. Và Cam, trên giường tầng, đắm mình trong các tập giáo trình, các bộ sách mới mua của Các Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh, tự đi tìm chân lý của người lính cộng sản, tự định hướng cho nửa cuộc đời còn lại của mình. Trong khi ấy, vợ con Cam mỗi ngày năm bảy lần nhắc đến chồng và chú vắng mặt, tươi vui ồn ào khi Cam về nhà. - Má nói chú học khuya lắm, đi họp mãi thôi. Chú về ở nhà mình đi chú. Má bảo cháu gọi chú bằng ba, chú mới vui, chú về. Chúng nó có một ba, cháu có hai ba, càng thích. Chú về nhá? Nó nói đặc giọng Hà Nội. Cam giở đủ các trò chơi của lính trẻ quen ở nhà dân đông con, quấn quýt suốt buổi tối. Nhưng sáng sớm, mở mắt ra gọi, ba Cam đã biến mất từ lâu, má cho nó ăn sáng với giọng rầu rầu: - Con cứ kêu ba Cam bằng ba, kêu miết vậy nghen con. - Dạ. Con thích ba Cam lắm má ơi. Chú hiền lắm, vui lắm. - Sao lại chú? - Con quên. Ba Cam... má có thương ba Cam không? - Má thương lắm. - Bằng đâu tới đâu? - Bằng đây tới... ờ... rạp Kim Đồng... Thằng Nhứt nguẩy: - Thảo nào... ít quá. Bằng đây tới mặt trời mặt trăng cơ. - Ăn đi con, má đi làm. - Má thương ít quá. - Ừ, ừ, má yêu bằng từ đây đến mặt trời. - Thế chú Cam mới về. À quên ba Cam. Con cũng hỏi ba thương má bằng đâu đến đâu. Ba nghĩ lâu lâu rồi bảo: bằng thương con, thế là nhất nhé! Nó cười rinh rích trong khi má chia cốc sữa đậu nành, nó được hai phần ba. Khi má dắt tay đi lớp võ lòng, nó vẫn nhắc mãi như nhẩm cho thuộc là phải gọi chú là ba. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:30:27 pm Chương 8 Cậu đội trưởng đội Võ trang tuyên truyền ở tù lâu quá, chẳng nhớ lính Cụ Hồ gọi nhau ra sao, cứ ra khẩu lệnh ang áng: “Nghiêm... phắt! Chào thượng cấp... chào!”. Rồi ai muốn chào bằng súng, nếu có súng, ai có mũ thì đưa tay lên vành mũ, ai không mũ thì nghiêng thân kiểu Nhật chừng vài chục độ tùy ý. Chẳng phải lúc bắt bẻ nhau, khi miền Nam đang nổi dậy đánh võ với Mỹ-ngụy, trong khi không có súng đạn trong tay. Mười một người, với hai cây súng 1886-93 dài như sào vịt, ba cây súng săn một nòng nghe nói của dân vệ Mã-lai thải ra đem viện trợ cho dân vệ nhà Ngô, còn lại là ná tên, giáo mác. Đội Võ trang này moi được một hầm súng trường Matx của bộ đội tỉnh, vài chục khẩu, nhưng đều thép gỉ gỗ nát cả, không dám dùng. Lựu đạn thành đá cục, lính địch bị ném chỉ bầm ngực hay u đầu. Áo quần có gì mặc nấy, từ bà ba đen lụa Mỹ-Á đến đồng phục rằn ri của biệt động quân hay thủy quân lục chiến. Anh em được giao phát động khởi nghĩa ở ba xã vùng ven dãy Trường Sơn với mười bảy ngàn dân, với các sắc lính từ thôn vệ trở lên đến bảo an tỉnh cộng tới sáu ngàn, không kể các trung đoàn, sư đoàn quân chính quy đóng ở các quận, các khu chiến thuật, vùng chiến thuật Một, với hàng lô máy bay chiến đấu, trực thăng, xe tăng, đại bác từ các đồn giăng lưới lửa, chưa kể các thứ mới sẽ được Mỹ đem sang làm thí nghiệm đã được báo chí tung ra quảng cáo. Đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy Phan Thanh Trà không cạo bộ râu đen đã nuôi nhiều năm, nhưng thay mặc bộ quân phục ka-ki do Hai Thùy gửi Út Thanh Yên mang lên, chưa bị phai màu và ám khói củi. Suốt buổi trưa, Cả Chanh cứ phải nghĩ mình phải nói gì. Dường như tất cả đang bắt đầu lại từ đầu, tù khi đội du kích Linh Lâm lóng ngóng tuyên thệ trước lá cờ sai mẫu, khi sắp sẵn đi giành chính quyền năm 1945. Cũng vẫn những chàng trai cô gái thế này đây, cũng hăng say và vụng dại như thế, cũng nỗi thèm súng và đói rách như thế. Tất cả cái vốn được xây dựng trong cả một cuộc chống Pháp trường kỳ, lẽ nào biến đi cả, để Đảng bộ miền Nam quay trở lại làm mức đầu tiên sau những năm bị tiêu diệt bởi chiến tranh một phía, chỉ có Mỹ-Diệm có quyền nổ súng? - Tôi xin nói đôi lời trước giờ xuất phát... Húúúú... oàng... phùng... Quả pháo từ đồn Linh Lâm bắn lên nổ cách chỗ đội làm lễ lên đường vài trăm thước. Pháo 105. Ba bốn cậu nhào nằm sấp, hai cậu chạy xuống rãnh suối, đám đã hít mùi thuốc súng đứng yên. Chanh cũng đứng yên. Quả thứ hai nổ xa hơn đôi chút. Quả thứ ba xa hơn nữa. Các cậu chạy tìm hố núp đã quay lại, phủi áo quần, ấp úng phân trần. - Thay mặt tỉnh ủy, tôi giao nhiệm vụ cho các đồng chí: móc nối với cơ sở ta trong các khu trù mật, diệt ác trừ gian theo danh sách đã được xét duyệt, cấm hẳn không được trả thù riêng, vận động cho nhân dân nổi dậy trở về làng... Anh biết rõ chỉ thị sẽ được biến thành việc làm rất ít. Đội sẽ nổi vài phát súng thị oai, gọi loa “Hỡi đồng bào! Hỡi anh em dân vệ!”. Gọi là móc nối, cũng chỉ đủ sức nói rỉ tai. “Sắp rồi, anh em mình sắp về”. Sau đó là mở miệng bao bột mì viện trợ Mỹ, nhận gạo, khoai sắn khô, muối, có thể thêm chai nước mắm hay túi đậu phụng, và nếu là cha mẹ họ hàng thì thêm giấy bạc nhét túi. Đến hai giờ sáng lại bấm nhau lục tục lên dương lên gò ven núi, nghỉ một lát, chia nhau xấp bánh tráng với vài bát đường đen cho đỡ mệt, rồi lên hẳn trên núi, căng võng ngủ bù đến trưa. Anh em thoát ly lên xanh, phải lao ngay vào làm rẫy, đêm xuống cõng gạo muối do cơ sở giúp, chỉ học lõm bõm được vài ba buổi chính trị, ít buổi quân sự, không đến nỗi gọi lầm mình là lính Giải phóng quốc gia, còn Việt Cộng là tàn quân Việt Minh biến thành thổ phỉ. Mười một người, có bốn mù chữ, ba mới tạm biết đọc biết viết. Theo Giải phóng, hai phần ba bảo rằng không muốn đánh nhau với cha anh đi tập kết, một phần ba để tránh nạn quân dịch. Phương thức hoạt động là sao, cả đội trưởng cũng hiểu rất lơ mơ, chỉ “ăn đong lệnh trên”. Dẫn quân “đi huậy, đi quậy”, cho đám thôn vệ, dân vệ xã bớt lùng lội, cho đồng bào biết cách mạng còn đó, thằng nào ác ôn lì lợm nhất bị bà con ghét nhất thì cố mà diệt để dân mừng. Tất cả lại phải bắt đầu lại từ đầu chăng? Trung ương hứa chi viện, nhưng lại dặn phải tự lực cánh sinh. Các trạm giao liên ba bốn thanh niên Thượng chuyền vai nhau cõng vũ khí thuốc men vào, tháng vừa rồi tỉnh Quảng Nam được nhận bốn chục ký hàng: mười ký thuốc, ba chục ký đạn, lựu đạn, mìn. Thêm một trăm ngàn tiền ngụy Sài Gòn đổi ở nước ngoài nữa. Như muối bỏ biển cả thôi. Chỉ còn bám dân mà sống, mà đánh giặc. Muốn được thế, phải chấm dứt cái tệ đánh mõ la làng, vác dao gậy và đèn gió đi săn Việt Cộng. Dân yêu cách mạng, quá rõ rồi, nhưng sợ địch cũng quá rõ. Tháo gỡ sao đây? Chanh định cùng đi với đội này, nhưng đội trưởng và anh em đều can, bảo có một tổng đoàn dân vệ-khoảng một trung đội-đóng trong khu trù mật, hay đi phục kiếm thưởng, cả đội chưa quen đường, quen cơ sở. Cũng có thể họ không muốn anh thấy quá nhiều vụng dại của lính mới. Chanh buộc võng nằm lại trong cái chòi rẫy, thắp cái đèn dã chiến bằng ve rượu bạc hà lên đọc xấp tài liệu mới. Con chó Dồ đã lon ton chạy trước, ngoảnh cổ lại thấy chủ không đi mà buộc võng, ngần ngừ quay lại, nằm gác trước cửa chòi cách vài chục thước. Nhưng Chanh đã giục cậu thư ký văn phòng đi với đội để hiểu thêm thực tế. Chừng vài giờ sau, mé đồng bằng giội về hai loạt súng máy. Có lẽ tiếng đánh mõ la làng không vọng tới đây. Súng nhỏ chỉ nổ năm bảy phát, khác kiểu nổ giao chiến. Con Dồ gừ gừ, dòm đoán ý chủ, rồi đi gác xa hơn một quãng. Nó khôn đến tội nghiệp, đi đâu cũng được vỗ về, không ai nỡ gắt một câu. Ai cho ăn, nó còn đợi chủ gật đầu mới ăn, dù chủ nó họp tỉnh ủy, say cãi gì chẳng biết. Chanh ngủ lịm đi, khi con Dồ sủa khẽ bên ngoài mới dậy. Tay trái vơ túi tài liệu khoác qua vai, tay phải túm nịt súng ngắn, chân bước êm vào góc nhà nghe ngóng: những cử động đã biến thành phản xạ. Trăng hạ tuần soi đủ rõ để nhận ra anh em trở về, thổi lửa đun nước, thắp đèn. Mỗi người lễ mễ đặt xuống một bao nặng, nhìn bên ngoài cũng biết dưới gạo trên khoai. Cậu gần cuối buộc băng trắng trên bắp tay, treo tay bằng tấm bẹ chuối, cười khì: - Đạn mới xẹt qua thôi chú. Bà Thím Thung rình coi biết chỗ tụi nó phục, thức ngó chừng, thấy bọn con đi qua ruộng, trăng mới ló, bóng in trên ruộng dễ thấy, bả chụp mõ đánh muốn toác, nổi la làng. Chòm xóm cũng nổi như ếch kêu sau mưa, lệnh tụi nó phải báo động liên hoàn mà. Thằng chỉ huy tổng đoàn tức quá, thụi bả nhào vô bụi chuối. Lão thôn trưởng dẫn tụi nó ra soi bờ ruộng, thấy rõ ràng cả mớ dấu dép, nó mới chịu lý, rút quân. Các cậu thi nhau tiếp thêm: - Tụi nó ngủ gật, bắn ăn nhằm gì chú. - Trước khi về, con bò vô nhà bả, cười với nhau miết. Bả còn cứ nhao nhao: không báo động là thân Cộng, đánh mõ cũng là thân Cộng, bây giờ chỉ thân trong vợ chồng con cái thôi. - Số cảm tình trong khu trù mật trách bác Cả đó. Các ông bà nói hờn: có Cả Chanh về tao mới tin là cách mạng thứ thiệt, tụi bay tao chưa tin, biết đâu tụi bay là quân Quốc dân đảng chưa ra hàng? Mà thôi, tao theo Phật, tụi bay đói tao cho ăn. Sau đừng chỉ mặt tao khai tội tiếp tế Cộng sản nghen. - Nói lẫy thì vậy, lát sau lại đổi: Thằng Cả Chanh cao bao lớn, to bao lớn? Bằng cỡ đứa nào trong tụi bay? Ờ, được, tao gởi cho nó bộ bà ba thằng con mới may đây, mà cấm nó không được cho ai hết. Thêm một chục cá chuồn gành đây nữa, ít chục bánh tráng ăn nhúng, nhớ hâm lại...à, đưa tiêu với vị tinh đây cho mẹ, gói riêng ra, hâm rồi nêm sau... Mà bay phải bắt nó về đây, dạo một vòng cho bà con thấy mặt chút xíu thôi, chớ tụi hội đồng xã cứ rao là bắt nó rồi, giết nó rồi, chòm xóm không tin mà cứ nóng ruột hoài. Thấy nó một lần, đủ biết tụi kia láo khoét, từ đó nói gì cũng không tin nữa. Cái hay là ở đó, mấy con à. Cá chuồn kho ngọt, bánh tráng nhúng, thêm mớ rau muống bứt dọc đường về, thêm khúc thịt heo luộc chừng nửa ký, thêm nước mắm ngon ngâm sẵn ớt tỏi, cả đội cùng liên hoan một chầu xả láng với bí thư tỉnh ủy, và con Dồ cũng được hưởng phần xứng công nó. Chanh chưa muốn anh em mất vui, sáng hôm sau mới hỏi đội trưởng đội phó xem đã làm được gì trong công tác. - Thưa thiệt với chú, chưa tới hàng rào đã bị bắn, chưa kéo vô khu trù mật được. Tụi nó bị dân làm dữ mới chịu rút. Anh em bò vô xin tiếp tế, được khá lắm, chú coi đó. Thôi đành, bài học đầu tiên của đội Vê-tê-ba là biết dân mình vẫn là của mình, dần dà sẽ học thêm, hiểu thêm. Chỗ đáng lo là đồng bào ta vẫn cứ nghĩ: có gặp ông Chanh mới đúng là gặp cách mạng thứ thiệt, gặp từng đại đội lính mặc xi-ta mới đúng là quân mình. Ừ căn cứ cách mạng lâu năm, họ chưa tin hẳn ở nhóm trẻ mặc đồ táp nham và mang mấy cây súng tèng xí của thôn vệ, tự xưng là lính nhưng chỉ gọi loa mà không dám đánh cho ra đánh, khi tuyên truyền thì ấp úng cà lăm. Quân mình hồi chín năm đánh Tây có như thế đâu! Khổ nỗi, lũ trẻ ấy là những kẻ cuối cùng sót lại dám chống quân Diệm, dám chọi với ác ôn Diệm. Đành liều lĩnh mà giúp chúng nó vậy! Ít nhất, chúng nó cũng dám tự nhận là theo Cụ Hồ, là do ông Cả Chanh phái về! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:54:54 pm * Huyện Tam Kỳ giữ được mấy xã ta làm chủ ven núi, nhưng thọc xuống vùng sâu chưa đủ mạnh. Huyện Tiên Phước dựa lực lượng võ trang hơn sức mình, chọc thủng vòng vây quá yếu. Huyện Quế Sơn hầu hết còn trong tay địch. Huyện Thăng Bình vùng trên bị kìm kẹp gắt, nhưng vùng dưới quốc lộ Một địch còn bỏ lỏng, rút hết quân lên chống Việt Cộng nơi ven Trường Sơn, đánh nhiều trận dữ dội chung quanh thị trấn Việt An. Cả Chanh trở về vùng Nam Quảng Nam, đước đặt ngay trước hàng loạt câu hỏi như thế, phải có quyết định dứt khoát. Bộ máy chính quyền Nhà nước không còn, bộ máy Mặt trận mới lập còn yếu, tất cả trút lên vai bộ máy của Đảng, phải tự quyết định và gánh chịu trách nhiệm dù muốn hay không. Anh Tô Xáng hay Cả Chanh lắm lúc thèm thuồng nhắc lại cái thời ủy ban với hàng loạt cán bộ chuyên môn, kể cả người nước ngoài, tự giải quyết những gì tỉnh ủy mù tịt. Trung ương hứa gửi cánh chuyên môn về giúp, nhưng họ chịu về hay không, và chia về cho Quảng Nam được bao nhiêu thì đố ai biết. Anh Xáng hay dỗ dành Chanh: - Thôi đành, ba anh thợ giày thành Gia Cát Lượng.. - Ba trăm anh thợ giày chỉ khiêng được xe tăng Mỹ thôi, làm sao cho nó nổ máy? - Dựa vào trí khôn tập thể chớ biết gì hơn? - Tập thể một trăm sợi bún không thay được một khúc dây thép! - Xin thua, xin thua thua. Tao biết nghề xe lửa, một thợ giỏi làm một tiếng hơn cả trăm thợ phụ lớ ngớ chạy quanh. Nghề chài của tao cũng vậy, bao giờ cũng kiếm một ông lão ngư biết coi trời mây, mưa nắng, gió xuôi gió trái. Mà kiếm đâu ra cái số thạo việc như mày nói đó? - Cố kiếm từ đồng bằng lên, xin miền Bắc cho vô. Anh nhớ phần trách nhiệm đó nghen, phải nói hết mức trước Đại hội Ba. - Mấy chục dây tròng trách nhiệm làm tao nghẹt thở rồi... ừ mà tao nhớ, nhớ nghim gút đây, lo vừa thôi khỉ ạ. Ngáy đi mày! - Thì cũng phải cùng kỳ lý vậy… - Mời “cụ Thượng” ngơi để đàn em chiêm bao một lát. Râu dài tới rốn mà cứ bốc máu đấu đá hoài! Chanh về Tam Kỳ mở lớp học thêm về Nghị quyết Trung ương 15, các nghị quyết của tỉnh ủy, kinh nghiệm đồng khởi của Bến Tre, các tỉnh Nam Bộ, của khởi nghĩa Trà Bồng và Phú Yên, cho cán bộ từ xã trở lên, riêng thành thị được cử cơ sở vững đi học. Liên khu ủy cũng cử một khu ủy viên và nhiều cán bộ đến, vì Tam Kỳ là huyện lớn, đông dân, có đủ ba vùng: núi, đồng bằng, ven biển, nay có thể gọi là bốn vùng vì thị xã Tam Kỳ và các thị trấn đều phình lên rất nhanh, dễ nắm tình hình các mặt. Mới nghe nói anh khu ủy viên sắp về là anh Sáu Phụ, bí danh là Vạn Lý, cán bộ đảng viên đã rúng xương hết. “Ngoáy sẵn tai mà nghe chửi!”. Hồi chống Pháp, anh là ủy viên thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam nắm Tuyên huấn, hay đi giảng ở các lớp chính trị, giảng bài một mà chửi tới mười, rốt lại ai cũng phải nhận mình là quá xấu, quá tệ, gần như là đứa phản động chui vào Đảng, vào kháng chiến để phá từ bên trong. Qua bấy nhiêu năm, anh không đổi tính nết. Dường như “làm cho người sợ” là cách lãnh đạo số một. Cả Chanh cùng số tỉnh ủy viên bị anh Sáu chửi phủ đầu. - Các đồng chí đòi đánh miết, trách móc khu ủy đủ điều. Bây giờ trên cho đánh, các đồng chí lại không dám đánh, chỉ đi vác loa kêu “hỡi hỡi”, xong là xin gạo muối đầy bao cõng về. Các đồng chí là con rùa, lấy núi làm mu rùa, gỗ trên lưng là con rùa rút sạch vô vỏ cứng, cả đầu đuôi tay chân. Tất cả những người dự họp đều quay nhìn Cả Chanh, người bạo mồm nhất, cũng là người thay anh Tô Xáng đi họp tận Trung ương. Chanh đã nổi máu “Quảng Nam hay cãi” từ trước, đang cố nén, theo cái lệ “không bao căng” khi đánh bóng chuyền hay chơi bóng đá. Anh lờ đi trước những đôi mắt đòi hỏi, cầu cứu. Các đồng chí trong nhóm tỉnh ủy Nam Quảng Nam rụt rè lên tiếng, tiếng sau mạnh hơn tiếng trước. - Đề nghị anh Sáu giúp chúng tôi gỡ bí... - Nam Quảng Nam là vùng tự do hồi xưa, địch nắm hết lý lịch mỗi đảng viên, cán bộ, hội viên, đoàn viên. - Hồi cấm võ trang, ai còn mang một trái lựu đạn đập cũng bắt phải ném cả xuống vực, dân canh chĩa giáo ra phải chịu giơ tay cho trói, để khỏi “vi phạm”. Bây giờ biểu tụi tôi tấn công, tấn công dũng mãnh, liên tục. Lấy gì mà tấn công? - Xin mời đồng chí Vạn Lý đi phá khu trù mật với anh em, vài đêm thôi. Đồng chí đem theo cả tiểu đội bảo vệ, đứng xa mà coi, chắc không bị đạn bị mìn gì đâu, đừng ngại. Sáng hôm sau, khi lên lớp trước những người từ khắp nơi về, anh Vạn Lý chửi ít hơn, chỉ nhấn mạnh “hoa nở trong lòng”, “không lệ thuộc lực lượng ngoại lai” và “ tự lực giải phóng”. Ấy cũng là mong muốn cháy ruột của tất cả các cán bộ đảng viên trong huyện đông dân này. Chỉ vài tháng sau, anh được chỉ thị ra Bắc xếp việc khác, có thể cho về hưu. Tình cờ, điện Trung ương đến trong khi Chanh đang dự họp liên khu ủy mở rộng. Anh Vạn Lý nghỉ vài ngày để sửa soạn, trong các giờ nghỉ hay la cà qua các lán, chào hỏi những người quen. Khi từ biệt Chanh, anh nói một câu xã giao trong giới cán bộ: - Trong công tác, tôi có gì sai sót, mong đồng chí thông cảm cho qua, cũng là vì dân vì Đảng cả. - Úi, không dám, anh vì dân và Đảng, tụi tôi tội lỗi đầy mình, thoát được cái nhãn “phản dân phản Đảng” là mừng hết lớn rồi. Anh lên đường mạnh giỏi nghen. Về sau, Chanh hối vì những lòi mỉa mai ấy, thấy mình quá độc miệng. Anh Vạn Lý với mình hiểu dân và Đảng khác xa nhau nhưng cùng chịu khổ cực như nhau, chưa đến nỗi hành hạ nhau vì bám thế hay hốt bạc. Anh ra Bắc với cái bao lưng nhẹ bỗng, giấy giới thiệu để giao liên đường 559 mang hộ ba-lô chỉ được chìa ra khi anh nổi sốt rét dọc đường chống gậy nhấc từng bước trên dọc Trường Sơn. Báo cáo về kinh nghiệm phát động quần chúng là một chính trị viên tiểu đoàn, hồi chống Pháp chuyên ở vùng sau lưng địch nên giỏi làm dân vận. Anh cùng vài cán bộ nữa được cử vào tận Bến Tre và nhiều tỉnh khác để tầm sư học đạo, từ khi ra đi đến khi trở về mất hẳn một năm. Liên khu ủy đúc tất cả mặt hay mặt dở thành tài liệu, được gọi tắt là “Bảy khâu công tác”. Hội nghị đùa ngay: - Sợi xích có bảy khâu, đứt một khâu giữa nó rớt làm hai! Càng nghe càng mê. Định làm hai buổi, sau thêm một tối, thêm sáng hôm sau nữa, vẫn chưa hết câu hỏi. Khí sắc chung lên rõ, tuy cũng có số ít lắc đầu không tin: - Học thì sáng như đèn, về xã thì đen như mực! Tam Kỳ trước đây thuộc vùng tự do, không quen làm hầm bí mật, móc nối cơ sở bí mật. Các đội được đổi tên là Võ trang công tác, kẻo anh chị em cứ tưởng mình chỉ đi tuyên truyền là đủ. Mở ngay một đợt thi đua đào hầm, bám dân không kể tối trời hay trăng sáng, móc nhiều cơ sở, rút thanh niên lên núi lập bộ đội huyện, còn ở xã thôn thì lập du kích mật. Hai tháng sau chấm giải, phần thưởng là võ khí, từ tiểu liên đến mìn, lựu đạn, còn máy thu thanh bán dẫn thì nhân dân đã cho đủ dùng.. Mức thi đua đặt vừa sức thôi, nhưng các đội quyết vượt nhau, máu trẻ ưa chơi trội mà. Các đội liên tiếp báo về những tin đánh úp dân vệ thu được súng, giật mìn bom lép diệt bót gác, dồn tề không ác đi “chỉnh huấn” mấy đêm liền, số ngày đêm bám dân tăng vùn vụt cũng như số cơ sở mới. Thăng Bình đang cho nhiều mũi xuống khoắng vùng sâu, khi địch đang dồn quân lên vùng ven núi, chặn cộng sản tràn xuống đồng bằng. Vùng cát Thăng Bình khá rộng đang vắng các sắc lính mạnh. Huyện ủy Thăng Bình xin cho nổ ngay kẻo “phong trào nguội” mất. Sau một ngày bàn cãi, soát lại sức địch sức ta, Cả Chanh cùng nhóm tỉnh ủy viên nắm cánh Nam thấy ta còn quá ham tiến mà chưa tính nước lùi, chưa biết giữ thành, không cho nổ sớm. Tiên Phước, Quế Sơn, Tây Quảng đều chưa sẵn sàng nổ. Các huyện ủy đưa ra vô số lý do, nhưng lớp lãnh đạo quen “bắt mạch phong trào” như Chanh đều hiểu ngầm rất nhanh: Đảng bộ chưa quyết tâm. Có nơi huyện ủy quyết mà dưới chưa quyết, có nơi ngược lại, cấp dưới đòi mà trên sợ trách nhiệm nếu cuộc nổ thất bại. Lắm lúc Chanh cảm thấy đầu mình muốn vỡ toác trước bấy nhiêu rắc rối. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:57:31 pm Anh gọi con Dồ rất trung thành theo mình ra con suối gần nhất, tự xát xà phòng cho nó tắm thật sạch, vừa chà xát vừa vuốt ve, cho nó lên rùng lông phơi nắng mà vẫn nằm xa chủ vài chục thước, quay đuôi về phía chủ, dỏng tai căng mắt về chung quanh, gác cho chủ tắm tiếp. Ông Cả tắm lâu, mặt trầm ngâm, tức là ông Cả không vui. Con chó đã hiểu tính người, tiếng người tới mức nghe kêu “anh Cả”, “chú Cả” là chạy tới ngay xem chủ vui hay buồn, sai bảo gì không. Nếu ai đó sừng sộ, quát tháo, vung quả đấm vào ông chủ, nó sẽ lao vào cào ngực, cắn xé, có thể cắn đứt cổ họng, chỉ ngừng khi nghe tiếng quát: “Dồ, thôi, nằm xuống”. Nó lùi, nằm bén chân ông Cả mà vẫn gừ gừ tỏ ý sẵn sàng lao tới lần nữa, liệu hồn, chỉ cần ông Cả chỉ một ngón tay và quát: “Dồ, xung phong!”.
Và phần thưởng của nó chỉ là lúc ông chủ tắm cho nó, hay vuốt đầu nó đôi lần, vỗ lưng, khen giỏi. Nó được ông chủ khoe nhiều lần với các ông bà khác, nó hiểu qua ánh mắt và lời giọng dịu dàng khi các ông bà cùng nhìn nó. Nó dựng tai nghe đôi chút, len lén đến bên chỗ ông Cả ngồi, sực nhớ đến vai trò lính gác mới chạy ra ven rừng. Nó chỉ xem kỹ ông Cả cười hay nghiêm, ai thân và ai giận dữ với ông. Ông chủ ngủ trên võng, ít ngủ sạp. Tối khuya, con Dồ mới rời chỗ gác, vào nằm sát bên võng, ngủ chập chờn như chỉ nhắm một mắt, cụp một tai và dựng tai kia. Gần sáng, ông chủ đi tiểu, nó chạy theo trông chừng, và nhận phần thưởng bằng đôi lần vỗ đầu: “Tội nghiệp con Dồ”. Đôi lần ông ôm đầu nó, thì thào gì đó chẳng hiểu. Nó run lên trong nỗi vui không chờ đợi, khó hiểu, chỉ biết rằng mình được thương yêu. Nó chỉ cần được thương yêu. Sinh trên núi, nhiều năm lớn lên trên núi, cha mẹ dần dà coi nó là kẻ dưng, lũ chó làng thỉnh thoảng gào thét xông vào con chó khác tầm vóc lông lá, nó quen tự kiếm ăn ngoài rừng, quen đánh nhau, quen nếp sống một mình. Nó chỉ gặp những người tốt bụng từ khi ông Cả nhận nó về, nó vâng lời chịu theo ông có râu mép lâu nay. Nó được trở về với ông Cả, rất mừng, mà ông Cả cứ thương nó như xưa. Nó cố đoán ý chiều lòng chủ, để được thương mãi mãi. Ôi tội nghiệp con Dồ! Nếu nó được biến thành người thì Cả Chanh xin nhận ngay làm con. Mà ngay bây giờ anh đã coi nó là con. Giữa lúc cơ quan tỉnh bị đói, có người bàn xẻ thịt con Dồ, anh Tô Xáng đã cự: “Nó là con nuôi Cả Chanh, lại có công với cơ quan, đói quá thì làm thịt tao chớ đừng động tới nó!”. Chẳng ai dám ho he nữa. Đem áo quần đi đổi chó ở các làng Thượng là chuyện thường, anh em đánh chén tự nhiên, xẻ thịt con Dồ thì không nỡ nuốt. Cũng như chỗ khác nhau giữa con trâu cày đã làm giàu cho cả một nhà nông với con trâu hoang phải rình bắn, giữa con voi tải hàng có huân chương với con voi rừng về phá rẫy phá làng, giữa con mèo lạc hóa cáo chuyên trộm gà với con mèo khôn biết ngồi gác mâm cơm không lồng bàn cho chủ. Sau một lần kiểm tra nữa, nhóm tỉnh ủy viên ở Nam Quảng Nam bật đèn xanh cho vùng cát Thăng Bình nổ, nhân khi địch đóng thưa thớt và chưa ngờ bị đánh sau lưng. Dù bị can ngăn, Cả Chanh nhất định xuống đấy trước và sau vụ nổ nhiều xã. Anh mặc bà ba, giữ nguyên bộ râu dài, gài cây súng ngắn ba nòng vào lưng quần-có thể vùi hay ném nó khi bị phục, bóp cò khi bọn địch lèo tèo, khai mình là dân bị ép đi phá rào, lấp hào chông. Và anh phải giao hẹn với huyện ủy là mình chỉ đi xem. Đột phát động ở đấy khá mạnh. Một chục cổng chào căng khẩu hiệu của ta, nhân dân biểu tình từng xã trên số ngàn, đèn măng sông từ các tàu thuyền rớ đem lên sáng rực, chỉ phải xử hai tên ác ôn đã được duyệt án. Đồng chí bí thư tỉnh ủy chỉ khoanh tay xem huyện xã làm ăn ra sao, không chịu “cho ý kiến”. Và huyện ủy phải trả lời một loạt căn vặn ráo riết của “cụ Thượng” về cuộc càn quét không tránh khỏi của địch, có thể đến cỡ trung đoàn. Ba ngày sau, địch tung quân đến “giập lửa” thật ra là tung lửa, đốt hơn một trăm nhà bị nghi “che giấu Việt Cộng” đốt bảy chục tàu thuyền lưới của các gia đình “bảng đen”, bắt chừng hai trăm dân bị ghép tội “ủng hộ Việt Cộng”. Chúng làm dữ đến nỗi bọn tề, dân vệ, địa phương quân phải kéo nhau đi kiện đòi thả người nhà, dân cùng làng xóm. Cha mẹ vợ con họ cũng phải sống yên lành gây thù kết oán mãi thì ai chịu đòn cho? Vụ kêu kiện sau đợt khởi nghĩa kéo dài nhưng thành công. Địch phải thả số dân bị bắt, bồi thường những nhà cửa thuyền lưới bị đốt, tuy chua đủ số tiền nhưng cũng kha khá. Du kích các xã tăng gấp rưỡi, các đội Võ trang công tác đông vọt lên, biệt kích và dân vệ đêm đêm vào đồn hay tìm gò cát ngủ, “nhường dân cho Cộng”, khi sợ quá thì mỗi đêm đổi chỗ ngủ vài lần. Hoa nở trong lòng thế là tàm tạm được. Các nơi khác sẽ làm được không? Cả Chanh lại đi tiếp với mảnh khố và tấm bản đồ nhuộm chàm qua các huyện, kể kinh nghiệm khởi nghĩa các xã vùng sâu Thăng Bình. Con Dồ chạy trước một trăm thước, tới giao liên, tới “cụ Thượng”. Cứ thế mà đi một đợt phát động Nam Quảng Nam, trước khi trở ra cánh Bắc để làm những việc anh Tô Xáng đã giao, cũng chẳng ít hơn số thòng lọng mà Chanh đã tròng vào cổ anh Xáng trước khi anh ra Bắc. Anh Xáng ra Hà Nội, đã có một rừng việc chờ sẵn. Anh biến ngay vào khu nhà của Trường Nguyễn Ái Quốc trung ương, và lời đầu tiên của ban tổ chức là “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Các đại biểu từ miền Nam ra, nếu phải tiếp khách thì mỗi ngày tiếp mười hai tiếng chưa đủ, nói chi đến làm việc, nghỉ ngơi. Có hôm, các đoàn Trị Thiên Huế, Liên khu Năm, Nam Bộ có đến năm sáu trăm khách, chỉ vài ba chục người lọt được tới chỗ thường trực vì buồng tiếp quá nhỏ, còn bao nhiêu dựng xe đạp bao vây ngoài cổng như biểu tình ngồi, gửi tiền cho nhau mua bánh mì, nước chanh cam, kiên nhẫn cắm trại chờ khi ngớt họp để may ra hỏi được tí chút về gia đình, đồng chí, đồng bào ở trong kia. Bà con tập kết nhậy thật, chỉ cần một ai đó trong Ban đồng hương lỡ miệng hay rỉ tai một người thân, là đủ cho tin bay như gió, tất nhiên là Hà Nội trước, các tỉnh sau. Các đồng chí miền Nam đọc cả tập dự thảo văn kiện được đóng dấu “Tối mật, thu hồi sau Đại hội”, đọc nhiều lần cho thuộc. Sau phần Đại hội công khai, họ phải đáp lễ hàng loạt nơi đã mời, không thể dứt áo ra đi ngay, dù họ sốt ruột đến mấy cho nơi quê hương đang đổ máu từng phút. Mất một giờ để nghe bà vợ của một ông tập kết nào đó kể dây mơ rễ má về căn buồng bị phân cho người khác, người được nhờ can thiệp lại có nhà cửa bị đốt, vợ con bị nhốt trong khu dồn và lang thang đói rách, thật là thử thách chẳng vừa. Nhưng anh Tô Xáng đã kịp nhắn cho Sáu Cam và Hoàng Lan viết sẵn thư để anh mang về Nam, một tối nào chưa hẹn trước anh sẽ đến lấy, có thể là sau ngày liên hoan lớn của Đoàn thanh niên mừng Đại hội Đảng thành công. Từ đó Cam về nhà Lan tất cả các tối. Anh Xáng đến, ngơ ngác trước anh chàng cao kều, râu quai nón, mặc bộ đại cán ka-ki Liên Xô màu sẫm. Không có gì giống với thằng nhỏ mà anh gặp đôi lần hồi chống Pháp, cũng rất ít những nét giống ông Tư Chua và Cả Chanh, cả giọng nói cũng gần với Hà Nội hơn Quảng Nam. Lan thì anh chưa gặp, hay gặp mà không nhớ nổi. Anh hối hả trả lời tới tấp chuyện nhà, chuyện làng xã, chuyện phong trào trong tỉnh, trong liên khu. Còn may là Chanh hay kể rành rọt chuyện nhà cho anh nghe như với người anh ruột, anh không đến nỗi ấm ớ. Trong ba-lô trở về Nam của anh Xáng có thêm một xấp thư và gói quà nhỏ. Lan ở Hạ Lào không lâu, cũng chưa một lần gửi quà về nhà sau khi mẹ và em chết bom, đã gói một gói to tướng áo quần bánh kẹo định gửi cho nhà chồng. Cam trông thấy, kịp ngăn: - Em bắt anh Xáng cõng bấy nhiêu thứ, leo Trường Sơn hàng tháng về Quảng Nam à? - Em đã ở Quảng Nam bao giờ đâu mà biết! - Dốc Quảng Nam, gan cộng sản, đường sá lên Hạ Lào còn dễ hơn ra Bắc. Lan đi bán lại các thứ vừa mua, còn Cam vét tiền tiết kiệm mua được ba lạng sâm Triều Tiên, gửi cho cha mẹ, vợ chồng anh Cả, chị Năm Bưởi bị tù và tra tấn nhiều chưa khỏe hẳn. Tính mua thêm một chỉ vàng nhưng không đủ tiền. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Mười, 2016, 02:58:51 pm Anh Tô Xáng đến lần thứ hai trước khi lên đường, vui lòng nhận mang thư và quà về quê. Lần này anh nhờ bạn đèo xe đạp, khỏi sốt ruột vì anh lái xe cùng với xe con Vôn-ga mới tinh nhé-phải chờ ngoài cổng sau bệnh viện. Hai anh cùng thưởng thức chầu mì Quảng của Lan làm, uống bia Trúc Bạch, cà rà tán chuyện xa gần.
- Nè Sáu, hay gặp anh Bảy Quý không? - Em tới dinh anh Bảy hai lần. Vi-la sang lắm, lính gác ngoài cổng không cho vô, lần đầu là vì ảnh đi vắng, lần sau là ảnh dặn có giấy giới thiệu mới cho vô. Quan lớn rồi anh à! - Mày tự ái hả Sáu? - Tự trọng đúng hơn. Em nghĩ tình cũ đến thăm, công an tới bảo vệ tới văn phòng tới thư ký đều coi mình là thằng ăn mày. Có thể anh Bảy cũng coi em như ăn mày... Em đợi tới khi ảnh về hưu, mặt trời lặn em tới thăm, chớ bây giờ mặt trời đang rực lửa, càng gần càng nóng! Anh Tô Xáng lên đường, còn kịp nhắc những lời gay gắt của Sáu Cam với anh Bảy Quý trước khi rời Hà Nội. Chẳng ngờ, vài ngày sau, anh Bảy Quý cùng chị Sáu Lễ đến thăm Lan và con trong khu tập thể bệnh viện. Chẳng biết ai là ai, Lan cuống quýt thu dọn căn buồng. Đi xe Vôn-ga đến, có người báo trước và gác ngoài, chắc là các ông to bà lớn. Chị Sáu Lễ kéo Lan và con lên ô-tô, đi về ký túc Phúc Xá. Chiếc xe qua vùng bãi rác nồng hôi, lại lội bùn ngập nửa bánh, đến cổng ký túc. Cam đi vắng bị gọi đi họp xử lý vụ trồng khoai ở Gia Lâm và trồng ngô trên bãi sông Hồng, bị mấy tay quản lý ăn chặn-gần hết rồi vợ con họ đem luộc bán lại cho sinh viên ở ký túc ăn sáng theo giá chợ! Trên đường về, hai anh chị nói thật tình là không biết có Cam đến thăm. Khách của anh chị mỗi ngày ít nhất vài chục, công an gác chẳng biết ai là ai, làm nhiều người phật ý chứ không phải riêng Cam. Nhờ anh Tô Xáng báo mới biết địa chỉ vợ chồng Cam, anh chị vội đến ngay. Lan không thấy chị kín đáo nhét một gói gì dưới gối thằng Nhứt đã ngủ say từ trên xe. Lan chỉ thấy nó khi buông màn, sửa gối. Có lẽ anh Xáng bảo Cam lấy vợ gần đây thôi, đã một con, nên chị Sáu Lễ đã mua quà cho cháu đầy tuổi tôi: lụa hoa màu sặc sỡ, đồ chơi nhựa cho trẻ mới biết đi, thuốc bổ cho phụ nữ đang cho con bú, kèm theo mảnh giấy nhỏ “Tặng cháu và Cam-Lan” kèm số điện thoại và câu tái bút: “Khoảng 8 giờ tối trở đi anh chị thường rảnh, các em tới chơi nhé, nên gọi điện báo trước để anh chị đón”. Quà của chị Sáu chắc là do chị nào đấy chọn giúp, chứ chị mới sinh con đã bị bắt ngay, và đứa con đã chết trong khi anh chị ở tù nơi xa. Khổ thân chị, đã từng nuôi trẻ đâu mà biết! Anh Tô Xáng leo dốc tuột dốc một tháng rưỡi thì về đến cơ quan tỉnh ủy Quảng Nam. Bộ tổng tham mưu đã cấp lệnh cho giao liên đường 559 mang cho anh một gùi hàng hai chục ki-lô, tưởng là thừa thãi, anh chỉ cần ung dung chống gậy đi người không. Chẳng ngờ số thư và quà lên đến gần bốn chục ký, không kể số gạo muối phải mang thêm trên những chặng đường thiếu tiếp tế. Anh lại phải cõng nặng chẳng kém giao liên. Trong cuộc họp tỉnh ủy mở rộng tiếp liền đấy, các gói thư, ảnh, quà được giao cho cán bộ để mang về trao tay cho các gia đình, bị anh Xáng bắt ký nhận vào sổ như bưu điện. Anh chị em nhấc nhấc từng gói trên tay: - Chỗ này ít nhứt là hai chục sải lưỡi cước. - Nhà này tôi biết, hạng khá giả, phải con heo nửa tạ. Cả Chanh ngờ nghệch hỏi tại sao, họ cười ồ: - Cụ Thượng ở núi lâu, quên hết lệ làng. Các gia đình có chồng con tập kết hay ở lại ngoài Bắc sau Giơ-ne, nhận được thư quà gởi vô, mừng hết lớn, hay tìm cách tạ lại cách mạng, nhiều ít tùy tâm. Mới đây có chủ tiệm thuốc Tây tặng cách mạng cả lô thuốc bị cấm, trụ sinh với chống sốt rét, chỉ xin ta giúp liên lạc với hai con đi tập kết. Nhà nghèo thì gánh lên một gánh mắm, cá chuồn muối, họ biết địch bao vây muối vùng mình. Đoàn anh Xáng mang về rất nhiều kinh nghiệm quý. Ngoài các nghị quyết Đại hội, các anh còn tìm gặp các đoàn miền Nam khác, nói một lát thì hai bên cùng bốc, lắm khi quá nửa đêm mới đi ngủ. Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban bí thư cũng gặp nhiều để hỏi và bàn việc. Mệt quá, ngủ ít quá, chẳng ai lên cân được tuy tẩm bổ rất khá. Lại thêm đường về vất vả, các anh đều gầy và đen trũi. Một câu hỏi được nhắc nhiều lần: - Trung ương đánh giá Đảng bộ tỉnh ta và toàn miền Nam ra sao? Hay là coi thống kê, tưởng hầu hết đảng viên đã đầu hàng đầu thú? Số còn sót thì lên núi sống như Bá Di, Thúc Tề, Giới Tử Thôi đời xưa? (ý này do một huyện ủy viên tóc bạc nói). Hội nghị định họp hai ngày, phải kéo thêm một ngày đêm nữa. Các đồng chí ra về hãy còn thòm thèm. Từ giữa năm 1961 đến cuối năm, các đội Võ trang công tác bỏ dần kiểu vác loa đi đêm gọi “hỡi, hỡi”, xong lại leo lên gò lên núi với những ba-lô đầy ắp, đánh chén xong lại ngủ dài. Anh chị em quen dần với hầm chìm hầm nổi và nếp bám dân dài ngày, kể cả những ngày đêm mưa dầm nước ngập đầy hầm và những trưa hè ngột thở dưới cát nóng như rang. Dân cho ăn đến mấy cũng khó nuốt khi sống như thế. Nhưng bấy nhiêu khổ cực được đền bù khi xã mình, khu vực mình “khởi” được, khi người dân được “phát” mãi đã “động”, khi cả tề lẫn lính ra hàng hoặc kéo nhau chạy vào đồn to xin được che chở, khi hàng ngàn dân họp mít tinh mừng ủy ban và đội du kích ra mắt, và kéo biếu tình rầm rộ qua các thôn, đánh thức nốt những ai đang còn ngờ vực, bàng hoàng, gờm cộng sản. Các sông suối luôn luôn có dòng nước ngược hai bên bờ, kéo theo các thứ rác cùng bọt bèo ứ đọng. Các đội du kích vẫn còn người ra hàng địch với súng hay tay không. Dân trụ bám tại chỗ, dân vùng dưới chạy lên, cũng không ít dân sợ tàu bay đại bác chạy xuống vùng địch, sống vất vưởng trong các khu dồn dân, trong cái thế ngày nay chưa biết ai thắng ai. Ai cũng tiên bố mình sẽ thắng! Có một đôi điều cấp trên dặn mãi là phải đẩy đấu tranh chính trị lên, đừng “cà nhắc một chân”. Nhưng lời dặn ấy xuống đến xã thôn thường rơi rụng hết, mà cứ làm như hồi chống Pháp: địch càn thì dân gánh gồng bồng bế nhau chạy về nơi vắng tiếng súng, du kích và cán bộ cố cản địch, lùi dần từ hàng rào kháng chiến vào các tuyến giữa, tuyến sau, bí hẳn thì xuống hầm bí mật, thường được gọi đùa là hầm bí. Khi huyện và tỉnh sạc mạnh, họ phân trần: - Nói miết là phải giữ thế hợp pháp, không đấu tranh được nhiều cũng chặn được giặc đốt nhà, bắn trâu bò, mà bà con cứ nghe súng nổ là soạn gánh tản cư, cấm sao được! Những đợt “khởi nghĩa từng phần, du kích cục bộ” ở Quảng Nam đã mang lại những xã thôn giải phóng đầu tiên dưới chân dãy Trường Sơn, mở những mũi chọc thủng đầu tiên từ vùng núi xuống đồng bằng, và vùng biển, tạo nên những cơn say sưa bốc đồng trong tất cả nhũng ai đang góp sức giải phóng miền Nam. Chỉ thẳng một lèo thế này là làm chủ hết vùng núi, nông thôn đồng bằng, và hái các thành thị như quả chín nẫu tự rụng. Trong khi ấy, các chuyên gia chống Cộng của Mỹ và Diệm, của Anh, Mã-Lai, Phi-lip-pin, đang xúm lại cùng phân tích chiến lược chiến thuật qua hàng ngàn trang ghi được ở mỗi tỉnh, mỗi vùng có Việt Cộng. Kế hoạch “Bình định miền Nam Việt Nam trong mười tám tháng” thành hình. Hoa Kỳ sẵn sàng trút vũ khí, cố vấn cùng mọi thứ phí tổn khác vào cho Diệm, nhiều gấp bội. Ngọn đòn quật lại của địch sẽ dữ dội và đột ngột. Nhưng xuống đến dưới xa, nó biến thành lời chế giễu: - Hồi đen tối nhứt thì các ông biểu phải tin tưởng, lạc quan. Bây giờ anh em mình phóng xe rượt ác ôn trên quốc lộ Một thì các ổng lại nhắc đừng chủ quan khinh địch mà khốn. Chỗ nào giỏi đấu tranh chánh trị, cứ làm. Tụi tôi quen làm như hồi đánh Tây, miễn sao giải phóng được đất nước, xin đừng ép. Không phải chờ đợi lâu, địch đánh trả ta trên toàn miền Nam. Tất cả những ai đã chế giễu lời căn dặn, đã đặt nải chuối cắm hương khi xuống hết dốc núi và làm lễ ly sơn đùa bỡn, nay hầu hết phải chay lên núi cao hơn trước, trừ một số ra đầu hàng địch vì quá đói hay vỡ mộng. Phong trào Quảng Nam đành lùi bước. Khó lường trước là một hay nhiều bước khi phải lùi. Trước mặt là quân bộ, xe thiết giáp, pháo nhiều tầng, sát sau lưng là trực thăng từng bầy đổ quân, sau xa hơn là máy bay giội bom đạn, và ngay trong ruột đã có sẵn những tề và điệp giấu mặt. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 02:43:54 pm Chương 9 Hai Khánh mặc thường phục, lái chiếc Vexpa trở về khu nhà sĩ quan, mặt còn giận bừng bừng. Mỹ Duyên đúng hẹn đến căn buồng anh thuê trong khu người Tàu, đưa cho Khánh một triệu đồng do lão Lê-ông La-phác-sơ trả công sau một chuyến buôn lậu hê-rô-in trót lọt. Duyên không nhận phần chia của mình: - Em có huê hồng rồi, anh chia cho đám không quân thôi. - Em được bao nhiêu? - Kha khá, biết vậy thôi. Duyên vẫn giữ kín phần đòi riêng của mình, chỉ cho biết làm phóng viên cho các hãng thông tấn và các báo nước ngoài, được tin cậy và trả lương khá. - Thiệt tình, em là ai, Duyên? - Là nhơn tình của thiếu tá Khánh, chưa chồng, đúng hơn là chưa muốn lấy chồng. Còn anh là ai? - Em biết rõ anh như lòng bàn tay... - Lầm to. Em ghét coi chỉ tay lắm, mấy cha thầy tướng nói dựa để hù dọa không hà. Em biết một chuyện thôi: anh là khúc cây chuối cắm hương cúng. - Ồ! - Họ ép anh nhận lon để chi? Các thứ truyền đơn với tài liệu tố cộng anh viết đó, ai làm chẳng được. Họ dùng anh làm mồi để câu cộng sản. Anh được vinh thăng thiệt dễ, vì các sĩ quan biết anh không đánh họ, chỉ dạy tù binh thôi, lại có ông phủ làm tỉnh phó. Phải như người khác là cán bộ, đảng viên, từng cầm súng xả đạn vô họ, thì cứ tra nhừ tử, liệu chừng phun ra hết thì cho đất lấp mặt hay vô bao mò tôm. Còn anh, họ vái như vái củ chuối cắm hương, chưa biết ngày nào ra đống rác! Duyên nói những lời cay nghiệt ấy khi hai người đứng bên cổng vắng. Trong khi Khánh ngẩn ra, tức nghẹn họng, Duyên đi thoăn thoắt đến chỗ chiếc tắc-xi đợi sẵn chỗ đầu hẻm, giật cửa lên ngồi bên tài xế, và chiếc xe vù đi ngay. Về đến trước cổng khu sĩ quan, Khánh gặp một trung sĩ dắt tay một đứa con trai chừng mười lăm tuổi, khá cao to, máu chảy thành dòng từ trán xuống mặt và ngực áo vá. Anh nhận ra bác hỏa đầu quân già, thuộc giới di cư răng đen thuốc lào, bị bắt lính muộn nên ngót mười năm mới ngoi đến trung sĩ. Bác này tính hơi khờ khạo, mang vào Nam đến hai vợ chín con, nằm chen chúc trong căn buồng lợp tôn của hạ sĩ quan trong khu gia đình mà bác quen gọi là “căng ma-dê” như hồi Pháp và Bảo Đại tóm cổ bác đi lính trong một trận càn ở Thái Bình. Đi đâu bác cũng khen thiếu tá Khánh là bình dân, là biết thương hạ cấp nghèo khổ, chẳng biết rằng mỗi lời khen như thế tạo thêm một vết đen vào lý lịch của Khánh trong hồ sơ của An ninh quân đội vốn rất đa nghi. Bác trung sĩ nhà bếp trình thiếu tá rằng cậu Chung con thiếu tá đã dùng quả đấm sắt, thật ra là quả đấm đu-ra lồng vào tay, đấm thẳng con bác đến chảy máu. Cậu đốc gác nghe kiện thưa đã ra ngoài cổng, cũng nhận có thật như vậy. Khánh đang cơn nóng, quát to: - Lôi cổ thằng Chung ra đây! Đốc gác rập chân chào kính, vào lôi được thằng Chung đang uống bia với nem chua, phì phèo thuốc lá Xa-lem với các bạn. - Sao mày đánh bạn đổ máu? - Tại hắn nói con là nửa Việt Cộng, nửa quốc gia. - Bấy nhiêu thôi, đủ cho mày đánh nó chảy máu mặt à? - Ai cộng sản, ai quốc gia, kệ họ, con nghe chướng tai là phát chưởng. Tiên hạ chủ vi cường, ba không biết à? Mà con ném đá chớ không đánh. Nó đô lắm, dại gì a vô cho nó uỵch! Bác nấu ăn hốt hoảng: “Trình thiếu tá, cháu nó bé dại trót nhỡ... Còn ăn vạ đấy à? Rồi mày chết đòn với ông”. Bác túm tay lôi con xềnh xệch. Khánh gọi lại, rút ví ra đưa bác hai ngàn đồng: - Biếu bác để buộc thuốc cho cháu, đừng đánh cháu. Nó chẳng bé dại đâu, nó nghĩ sao nói vậy là tốt. Bác kia không để ý đến giọng mỉa mai của Khánh, chỉ sáng mắt lên khi khúm núm đưa hai tay đón xấp giấy bạc, cảm ơn rối rít. Lũ con bác lành thịt, ngày nào cũng có đứa ngã sứt trán hay toạc đầu gối, chỉ bôi tí thuốc đỏ cũng khỏi. Hai ngàn, những ba tạ gạo, chỉ vì bác để nguyên cho máu chảy ri rỉ, chờ thiếu tá về thực mục sở thị! Thêm những ba tạ gạo cho lũ tàu há mồm chen chúc trong căn trại lợp tôn của bác! Khánh rẽ về nhà mình, vào ngồi trong phòng khách. Thằng Chung đã cùng các bạn nó chuồn ngả sau đâu mất, chị bếp đang thu dọn vỏ chai và quét tàn thuốc lá. Khánh mở tủ rượu, pha một cốc huýt-xki xô-đa, thêm đá, ra ngồi xa-lông, chống tay lên cằm, nhắm mắt. Thế đấy. Chỉ trong vòng nửa tiếng, anh bị Mỹ Duyên mắng là khúc chuối cắm hương, con anh bị gọi đốp là nửa quốc gia nửa cộng sản. Anh được gọi là thứ gì trong hồ sơ tối mật của an ninh quân đội hay mật vụ của triều Ngô? Bao giờ anh sẽ ra đống rác? Chỉ cần các ngài triều Ngô quên lời phán xét cũ “Kháng chiến có công, cộng sản có tội, vì cướp công phản thực bài phong của toàn dân”, Khánh không vào tù cũng bị thải hồi. Duyên làm cố vấn cho anh, nhắc mãi: “Em giúp anh làm giàu để khi ra rìa anh không đến nỗi phải bán cháo phổi ở ba bốn nhà trường tư, làm nghề Godautre”. Còn thằng Chung nữa. Mới mười hai tuổi, ai bày cho nó nói những câu bụi đời? Nó lìa mẹ như một đứa bé nhà quê, mặc một bộ bà ba quá chật và ngắn, có người đùa ác bảo nó thổi tắt đèn điện nó cũng bắc ghế lên rướn cổ thổi. Nay nó uống bia Mỹ, phì phèo thuốc Xa-lem, đi xem phim con heo, “cúp cua” liên tiếp đến nỗi trường tư cũng dọa đuổi. Ôi đứa trẻ xinh đẹp đã ám ảnh Khánh bấy nhiêu năm, ôm ghì mẹ Năm và “mẹ Xùi” ở Linh Lâm, đến nỗi Khánh phát ghen, khi về với ba nó lại thêm hư mỗi ngày một ít, cứ như nó bị nhiễm một thứ thuốc độc ngấm dai nào đấy. Còn mình thì sao? Mình là kẻ lừng khừng, chao đảo, ngả nghiêng. Nuôi ảo tưởng là đứng trên mọi cuộc loạn đả. Cố giữ tâm hồn kẻ sĩ, an bần lạc đạo, rốt cuộc thì bần không chịu nổi, mà đạo thì bị xói mòn mỗi ngày một ít. Bông mai bạc trên vai đang héo dần. Đang gắng gượng kiếm tiền bằng buôn lậu ma túy, không dám gửi tiền các ngân hàng vì sợ lộ tẩy, phải nhờ Mỹ Duyên mua vàng để chôn, nhưng chôn thấp thỏm vì sợ đảo chính, sợ mật vụ, sộ trộm cướp... Chị bếp nói đâu đó, rụt rè giọng Huế: - Thưa ông, cơm dọn rồi, ông thời cho nóng sốt. - Thằng Chung về chưa? - Dạ thưa chưa. Cậu hay đi chơi trái giờ. - Chị cứ để đó. Tôi mệt, chưa ăn. Cậu hạ sĩ hộ vệ đứng ngoài cửa, chào kính, xin phép về ăn cơm. Khánh đổi ý, gọi cậu ta vào ăn với mình. Vì độc thân, chẳng có ai chờ cơm, cậu vào giúp chị bếp dọn mâm. Khánh lấy trong tủ lạnh một chai bia, bát đá, chai cô-nhắc Pháp, đến ngồi vào bàn và tiếp người hộ vệ như khách quý, còn buộc chị bếp ngồi vào ăn chung. Anh nói như hồi chống Pháp, sau khi chạm cốc: - Tụi mình gặp nhau đã lâu mà ít được dịp nói chuyện tâm tình. Nhờ các bạn nói giùm: tôi có làm gì bậy bạ sai sót đối với các bạn, với hàng xóm trong khu này không? Hai người khách luống cuống ngó nhau, không mở miệng. Họ đã quen “thủ khẩu như bình” tránh mắc vạ miệng. Khánh chợt thấy mình vào đề quá đột ngột, vội giục: - Mà ta ăn uống đã chứ. Vầy đây: chị vô bếp, khuân hết các thứ này ra cho đàn ông tụi tôi nhậu, có thiếu thì mở thêm vài hộp thịt cá nữa. Tụi tôi tội lỗi đầy mình, không dám vô chỗ vương quốc của chị đâu. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 02:46:53 pm Nửa giờ sau, khi rượu và bia đã ngấm, họ mới khai khẩu:
- Trình thiếu tá... - Thiếu tá nào ở đây? Tôi mời hai bạn, kêu tôi là anh Hai là quá rồi. - Dạ, thưa anh Hai, bà con khen anh Hai hiền như ông thầy tu, anh Hai thương người, từ bà già tới con nít. Vậy mà họ còn nghi anh Hai đó. Họ nói anh Hai sống theo kiểu Cụ Hồ. Còn mấy ông tướng tá khác cứ làm giàu như điên... Chị bếp không quen chất men, đỏ mặt từ nãy, chêm vào: - Họ còn nói thiếu tá... ờ, anh Hai, không lấy vợ, thiệt không anh Hai? Nhà trống hoang, thằng Chung hư rõ ràng, phải có đờn bà coi ngó... - Em là lính chiến, đụng mấy thằng mật vụ tới hỏi dò đời thiếu tá, nhiều lần rồi đó, em nói ông Khánh là số rách trong số sĩ quan được phong tá. Tin hay không tùy tụi nó. Hễ anh Hai vô số đen thì em cũng khó thoát tàu bay tàu ngầm, thà nói thẳng vậy hay hơn. Hồi đảo chánh hụt, tiếp dinh Độc lập bị bom nặng, mật vụ nó rình hết thảy... Em hỏi thiệt nghen anh Hai: hay là anh Hai nghi cả tụi em ăn ở hai lòng? Anh Hai... mời ăn, đổ rượu cho say... để thử bụng nhau... Thằng này mạnh rượu lắm… không say... càng uống càng tỉnh... Đây, thiếu tá coi... Cậu ta tự rót thêm một ly nữa, dốc cạn, líu lưỡi lè nhè thêm những gì không rõ. Khánh biết cậu ta tính bộc tuệch, đang tán tỉnh chị bếp lớn hơn cậu hai tuổi, nhưng trông còn rất trẻ. Chị lấy một trung sĩ, góa chồng vài chục ngày sau lễ cưới, chồng chết vì xe vấp mìn trên đèo Hải Vân, xác văng xuống vực nào không tìm thấy. Chị được an ủi bằng một chân nấu ăn, ban đầu trong nhà một đại tá, nhưng không chịu nổi “tánh nết quan lớn” của bà chủ, được chuyển sang cho Khánh để tránh một vụ đầu độc vì cáu giận. Bây giờ chị len lén rút chai cô-nhắc khỏi mặt bàn, giấu vào một góc kín, lấy hai chai bia trong tủ lạnh kèm hai cốc đá trước hai người đàn ông, một say mèm và một chỉ hơi ngà ngà, vẫn giữ đôi mắt sắc sảo ngắm hai người hầu gần gũi nhất: - Thiếu tá đừng chấp ảnh, uống vài ly là rượu nói thay người. Tụi em như khúc gỗ lăn tròn, đui mù chuyện chánh trị, sức mấy mà nói chuyện lớn. Có điều thiếu tá cứ tin là tụi em dân nghèo kiếm ăn, chẳng muốn theo ai hay phản ai. Tụi em là dân đen, chẳng biết phe nào là phe nào, em nấu cơm cho sĩ quan ở vi-la hay ở tù cũng vậy thôi... Khánh bật cười, rõ ra cười gượng: - Không ai thử ai đâu chị, đừng nghi oan cho tôi. Vui nhậu với người nhà một lát thôi. Các thứ chị cứ úp lồng bàn để đó cho thằng Chung về vét nồi, chị mở giường xếp cho hạ sĩ ngủ đây. Dù đôi mắt chị Bếp đã ngả sang hờn giận, Khánh vẫn lẳng lặng vào buồng mình. Chị ấy muốn gài Khánh vào một vụ bê bối buộc phải cưới, nhưng Khánh không chịu mắc bẫy. Cậu hạ sĩ non choẹt kia là con mồi dự trữ, trượt thiếu tá thì đành lấy hạ sĩ chứ biết sao, mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi! Hai Khánh chợp mắt được nhờ hai viên gác-đê-nan uống cách quãng. Gói tiền một triệu không làm anh quên được những lời cay nghiệt của Mỹ Duyên. Dù giận tràn hông, anh vẫn phải nhận là Duyên nói không sai. Chỉ cần một lần đảo chính nữa, dù thành hay bại, phe phái nào nắm quyền cũng ném anh vào góc rào, có khi cho vào máng heo ăn nếu còn hơi tươi. Tất nhiên, ngài tỉnh phó sẽ cho ra một trong hàng trăm mưu mẹo để thoát thân một mình. Me anh gửi thư từ Sài Gòn ra, cho biết có tin đồn ông phủ Đỉnh sắp lấy vợ khác, tuy đã gần sáu mươi nhưng cái máu “ba mươi lăm” còn khá đậm. Bà mới này là vợ góa của một quan Tây, có hai đứa con lai, được hưởng của chồng để lại nên rất giàu, chăm đi mỹ viện nên nhan sắc không quá héo. Ông phủ rất ít gặp Khánh, chỉ sai thư ký gọi điện thoại đến nhà hoặc chỗ làm việc của Khánh nói đôi lời thăm hỏi. Khu ruộng vườn mà dân làng Linh Lâm cứ nhất định gọi là “ấp ông Hường” rốt cuộc đã lấn sang khu đồn điền La-phác-sơ bên kia sông Linh, tăng thêm chừng hai trăm mẫu tây chỗ đất tốt nhất và dễ tưới nhất bằng nước suối Blam có đập ngăn. Chỗ còn lại được giao cho dân di cư làm nương rẫy. Canh gác cho vùng đất tốt nhất và mới của ngài tỉnh phó có một đồn lính bảo an mới lập chỗ đường 56 gặp sông Linh, hai đồn dân vệ, sáu điểm gác của thôn vệ và dân canh, còn thêm một trung đội dân vệ biệt kích của xã và các tiểu đội vệ sĩ của các thôn công giáo di cư. Quản lý đồn điền của ngài là ông Cửu Áng, mà ngày nay ai cũng gọi lại cái tên hồi làm lý trưởng nắm triện đồng trước khi Việt Minh lên cầm quyền. Ông vẫn giữ cung cách lý trưởng bình dân như xưa, luôn luôn nheo mắt cười hề hề, hay đến lò rèn ông Tư Chua để cà rà chuyện “bạn già với nhau”, khi vắng thì ngả sang “bạn cũ kháng chiến với nhau”. Cửu Áng ăn cắp không thua lão Huần ngày trước coi đồn điền La-phạt, nhưng kín hơn, khéo hơn nhiều, vì biết bản lĩnh của ngài tỉnh phó cao tay ấn hơn lão Tây nghiện hút, lâu nay chỉ về Linh Lâm một lần, dạo xem đất cũ vài ba tiếng, lại đi ngay... Bốn giờ sáng, chuông điện thoại réo từng hồi dài, muốn lờ cũng chẳng được. Khánh nghiêng mình, nhấc máy. - Thưa, có phải thiếu tá Khánh không ạ? - Đúng tôi đây. Có việc gì? - Xin cầm máy, đại tá cần nói chuyện. Cũng được. Nếu định bắt giam, chỉ có một tốp an ninh quân đội kín đáo đến chặn cổng trước cổng sau, bấm chuông gọi, đưa lệnh bắt, thu súng ngắn, cho ra xe cây đóng kín, xong. Đại tá tư lệnh sư đoàn chỉ nói máy câu: - Xừ tới gặp tớ ngay nhé. Phòng Thần phong trong phi trường, tớ không ở nhà đâu. Cần cho xe hộ vệ không? Đường vô phi trường chẳng có gì rối. Việc gấp, xừ đến ngay nghe. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 02:52:52 pm Khánh đánh thức cậu hộ vệ để đi gọi lái xe, sau đó mới mặc quân phục, đeo quân hàm trên ngực theo kiểu ra trận.
Thì ra đó là một trận hành quân quét Việt Nam cộng hòa, với khá nhiều cố vấn Mỹ đi theo. Mũi chính chĩa vào huyện Tây Quảng, bản đồ tham mưu gắn nhiều mũi tên chĩa vào các làng ven sông Linh, chỗ hội tụ là cái làng Linh Lâm mà Khánh rất quen, được đánh dấu xanh biển trên bản đồ tham mưu. Đại tá nói thêm: - Địa đồ này tớ đã gửi cho không quân, lơ mơ thì tụi nó bom cả quân mình, cả ấp cụ Đỉnh, cả khu di cư. Xừ cứ yên chí lớn, tớ đi theo thiết giáp xa mà cầm máy hăm bốn trên hăm bốn, ấp cụ via chả bị lầm đâu... Phần xừ Khánh rất nhẹ: xừ cho thu tiếng vào băng, chửi Việt Cộng hăng vào, in ảnh vào truyền đơn gọi cán binh Việt Cộng ra hàng, xừ ngồi trên trực thăng hay L.19, xem nổ phát đòn tâm lý chiến tốt không, mạnh không. Đừng như hồi đầu năm, tụi không quân phát loa vùng Thượng mà nói tiếng Kinh, máy nổ rầm rầm chẳng ai nghe được, mà truyền đơn mửa ra lại bằng tiếng Ăng-lê, kỳ cục hết cỡ! Đại tá nhìn Khánh xoi mói: - Phần việc thế, có phiền gì không, xừ cứ nói. Hay xừ còn sợ dân nó chửi, các đồng chí cũ trả thù, sợ mất con đường lui khi muốn chạy sang bên kia? Một luồng nước lạnh buốt chạy dọc xương sống Khánh. Đến cái lão võ biền di cư kia mà nói trúng tim đen anh đến thế, ắt hồ sơ của anh ở an ninh quân đội, mật vụ, tổng nha công an cảnh sát đã dày lắm rồi... Khánh vười gượng, cố lấy giọng thơ ơ nhất: - Đại tá đa nghi quá. Tôi xin tuân lệnh ngay tắp lự. - Xừ khá lắm, chưa quên lối nói Hà Nội. Thế này nhé: xừ làm rất gấp năm bảy cái băng thu tiếng, viết nhanh một truyền đơn có in ảnh, đưa cho tụi kỹ thuật bắt làm hỏa tốc từ giờ đến trưa. Tớ đi theo chiếc C.47 chỉ huy, hễ quân bộ dồn Vi-xi tới bờ sông Linh, quân blocking force 1 xuống trực thăng chặn đứng sau lưng tụi nó, tớ gọi ra-đi-ô về thì xừ cho hai L.19 cất cánh ngay, chiếc trước phát loa, chiếc sau rải truyền đơn. L.19 chở ít mà máy êm, chẳng như đám trực thăng ồn nhức tai. Tớ cho lệnh rồi đấy, hai “Cô Liên mười chín tuổi” đặt dưới quyền xừ, cẩn thận thì mang theo ít tiểu liên với lựu đạn khói chỉ điểm. Hurry, hurrry up ! 2 Khánh trở về bàn mình trong dãy phòng tâm lý chiến, soạn giấy bút ra, ngồi thừ một lúc. Thế là rõ. Đâm lao phải theo lao. Một liều ba bảy cũng liều. Đã qua rồi cái thời đóng vai quân tử Tàu, vai thức giả, vai bề trên chế giễu những người dốt nát mà mình hạ cố cùng làm cuộc kháng chiến, vai thầy giáo cao ẩn chốn thị thành mà chẳng được yên. Mình đã đầu hàng từng bước, lún sâu từng bước. Triều đình họ Ngô biết rõ mình còn vương vấn tí chút với bên kia, họ cứ dùng, vì đã thấy rất nhiều người kháng chiến cố chuộc tội khi theo quốc gia, và không thân Pháp, không muốn dính vào các vụ đảo chính, cũng là một nét hay của số ra hàng. Ba bông mai vàng cấp đại úy được thay khá nhanh bằng một bông mai cấp thiếu tá cho dù lớp sĩ quan chai sạn từ thời đánh Việt Minh và sớm theo cụ Ngô đánh phe thân Pháp còn hậm hực, kêu Ngô tổng thống vắt chanh bỏ vỏ. Nhưng triều Ngô đủ khôn để tạo nên một lớp sĩ quan mới đã từng phản thực bài phong, và luyện cho họ đứt hẳn những tơ lông còn dính với cộng sản. Quen ăn thì không quen nhịn, họ phải bám chắc Ngô triều để sống còn. Nay đã hết những ngày chìm trong bóng tối để soạn tài liệu tố cộng, viết những tờ “tâm thư” cho các vị tướng, vị tỉnh trưởng, vị tư lệnh ký tên. Họ đòi thiếu tá Ung Viết Khánh phải chường mặt ra chống cộng, bằng truyền đơn có ký tên và in ảnh, bằng tiếng nói thu ri-coóc-đơ có xưng tên, buộc mình phải nhúng tay vào chàm cho hết đường lui. Cũng như họ ép các cảnh sát phải ăn gan uống huyết phạm nhân, đám đầu thú phải tự tay tra tấn hoặc bắn chết đồng chí cũ, ít nhất cũng phải xé cờ cộng sản và ảnh Cụ Hồ trong các mít-tinh đông dân, để cắt hẳn đường trở về. Khánh được coi như trí thức, của khá hiếm trong quân lực Việt Nam cộng hòa, họ không làm quá như thế, chỉ cần Khánh xuất đầu lộ diện. Không thể lùi được nữa rồi. Khánh sang bộ phận nhiếp ảnh để chụp mấy kiểu 4x6, hẹn lấy gấp để kịp in. Nháp vội một “Lời kêu gọi các bạn đã cùng tôi theo kháng chiến”, với cái điệp khúc chính thức của triều Ngô chưa thay đổi: “Kháng chiến chống thực dân là có công, cộng sản là có tội cướp công kháng chiến”. Vừa cho đánh máy xong bản truyền đơn ngắn, ảnh của Khánh được mang tới. Ghép vào nhau xong chỉ mới hơn tám giờ sáng. Bộ phận kỹ thuật đã nhận lệnh in gấp, thu gấp, tới mười giờ sáng đã xong một việc, cũng như hai “Cô Liên 19 tuổi” sẵn sàng nổ máy ở đầu đường bay. Lệnh đại tá vẫn chưa đến. Các phi công nhìn Khánh và cậu trung úy trẻ bằng cặp mắt lạnh lùng khi họ hỏi nhận dù, nói giữa hai quân bài đánh dưới cánh máy bay: - Thiếu tá tới hỏi bọn “bò sát” mà lấy. Tụi tôi chỉ được phát mỗi đứa một dù. Khánh lóc cóc đi tìm đám phát dù. Cậu thiếu úy đòi cho xem lệnh cấp dù của không quân, bởi lục quân đi trực thăng không mang dù. Khánh không có giấy lệnh, được xin lỗi và bị bỏ trơ ra đấy. Cậu trung úy lấy xe Gip đi tìm ông chỉ huy sân bay, bị quân cảnh chặn nửa đường và đuổi quay lại vì thiếu giấy phép đi lại trong cái sân bay rộng như thành phố này. Cái bông mai bạc cài trên ngực Khánh lúc này nặng như cục chì. Họ muốn giết mình thì quá dễ, chẳng thí cho rơi một chiếc L.19 đâu, chỉ cần lấp khúc dây bở dế đứt vào đầu nút của nịt bụng, về đến gần sân bay thì cho máy bay lộn ngửa một vòng quen thuộc, mình sẽ thành bãi phân trâu dưới đất, và sau đó họ đổ cho hệ thống lái bị trục trặc. Năm ngoái một trung tá dính từ xa vào đảo chính đã bị xử êm như thế. Khánh gọi điện về chỗ mình, gọi một thiếu úy đến gấp, giao lại tất cả mọi thứ để đi thay mình, vừa xong thì lệnh đại tá cũng đến, gọi tâm lý chiến lên đường ngay. Khánh chỉ kịp dặn thêm hai cậu trẻ măng kia: - Lên chỗ khu chiến, hễ đại tá hỏi tại sao tao không đi, mày nói tao đau bụng ỉa chảy. Chắc ổng hỏi đó. Nhớ kỹ tần số, mật hiệu là “Em Liên kêu Cua thép Một”. Đi tốt nghe, hai cưng! Quá trưa, hai chiếc L.19 về đủ. Chiếc thứ hai dành chỗ ngồi sau cho Khánh bị một tràng dài đạn nhỏ dưới đất bắn lên, không hỏng máy nhưng cậu thiếu úy đi thay Khánh bị nát cả hai đùi, xương lẫn với thịt, chắc phải cưa cả hai chân trên đầu gối. Trong xắc-cốt của Khánh có một bộ đạn lép của các cỡ súng thường dùng. Anh rút ra đút thử vào các lỗ đạn. Cỡ 7,5 ly của trung liên 24-29 Pháp không lọt, cỡ 7,62 ly của Brao-ning Mỹ cũng không lọt. Cuối cùng, cỡ nhỏ nhất của M.16 vừa các lỗ. Thứ này Mỹ mới đưa sang dùng thử, mỗi sư đoàn được phát mươi cây, và chưa cây nào lọt vào tay cộng sản. Số lỗ đạn trên thân máy bay nhiều hơn số hai chục viên của một băng M.16, như thế đã có vài ba cây cùng bắn, và bắn khi máy bay xuống thấp, không đề phòng. Chỗ ngồi đằng trước của phi công không có vết đạn. Có thể tin đến chín mươi phần trăm rằng các ông chiến hữu quý hóa không muốn tái bản cái trò đứt dây bảo hiểm đã gây quá nhiều xôn xao trong hàng sĩ quan, nhưng họ đạo diễn vở kịch mới còn vụng lắm. Khánh sẽ mua những ngày sống sắp tới bằng cách nào? -------------------------------------------------------- 1. Lực lượng khóa đuôi. 2. Nhanh lên, vội lên. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 03:00:57 pm * Vừa đẩy đi trót lọt được món hàng bốn chục ki-lô ma túy đắt tiền nhất-hê-rô-in loại 4-lão Lê-ông La-phác-sơ nhận được điện khẩn của Gia-nét đánh đi từ đồn điền cao-su ri-sô, gọi lão về ngay có việc rất gấp. Không báo rõ việc gì. Lão hối hả vào Sài Gòn, đẩy bớt mấy triệu đồng vào chi nhánh ngân hàng Thụy-sĩ ở đấy sau khi đổi ra phrăng Thụy-sĩ. Ngân hàng Pháp quốc cũng có chi nhánh, nhưng chẳng ai dám gửi vì chiến tranh An-giê-ri gây rối ren và lạm phát dữ dội ở chính quốc. Rồi lão cùng gã da đen Rơ-nê lái chiếc xe đua trá hình vọt lên đồn điền của con gái và con rể. Một tin sét đánh đang chờ lão: đứa con trai của lão, trung tá Pi-e La-phác-sơ đã chết, hay như cách nói triệu lần như một của giới nhà binh là “đã ngã trên trường vinh dự”. Kèm theo giấy báo tử là bản sao quyết định tặng cho Pi-e huân chương “Chữ thập chiến tranh”. Gia đình có thể nhận các thứ của trung tá tại thủ phủ An-giê hay qua bưu điện. Lê-ông dựa ngửa đầu trên ghế bành, nhắm mắt, đầu óc xoay tròn. Lúc này Gia-nét mới thấy cha mình héo hắt đến chừng nào. Tóc cha chỉ còn một phần ba vành khăn chạy qua hai mang tai và sau gáy, bạc gần hết. Cha bao nhiêu tuổi nhỉ? Sáu mốt... sáu lăm? Gia-nét từ lâu không còn nhớ ngày tháng năm sinh của cha, chỉ nhớ những dịp kỷ niệm của mình, của chồng, của ba đứa con, trong khi cha không quên một ngày nào, luôn đánh điện chúc mừng mỗi dịp sinh nhật kèm theo một tấm séc, gần đây nhất là điện và séc nhân ngày cưới của Ang-đrê và Gia-nét, giúp vợ chồng Gia-ry-nét sắm thêm được một máy xén cỏ trong đồn điền cao-su. Con tệ bạc khủng khiếp, phải không cha? Mỗi lần nhận điện và tiền, con chỉ điện cảm ơn, đôi chữ thương nhớ, nhưng vài giờ sau con quên sạch, chỉ còn biết tới mình, chồng, các con nhỏ. Anh Ăng-đrê đang phát phì với cặp má tròn, ba lớp cằm, cái bụng ngày càng đùn mỡ thành phệ, dáng đi khệnh khạng rất oai của ông chủ đồn điền. Khi nhận điện báo Pi-e chết, anh chỉ im lặng một lát như mặc niệm người chết. Khi ăn tối anh mỏi nói: “Vậy là gia tài vào tay Gia-nét cả rồi, liệu mà ăn ở với ông cụ. Nghiện ma túy không sống được lâu đâu”. Gia-nét hãi hùng ném dao nĩa vào đĩa ăn, kêu nhức đầu đi nằm sớm, không cho chồng con vào buồng ngủ. Lão Lê-ông chỉ uống một bình sữa chua, đi vào căn buồng được dọn riêng đón lão, tự tiêm một liều hê-rô-in gấp đôi mức thường để chìm vào ảo mộng, nhưng trong tất cả mộng mơ đều thấy thằng Pi-e hiện hình. Nó chế giễu, đòi hỏi, mở tròn mát nghe lời lão răn dạy, cảm ơn lão nhiều lần vì đá nhồi tiền vào ví nó, đòi thêm nữa khi nó chuyển sang Bắc Phi, rồi gửi thư cho lão với những dòng thắm thiết: “Con ngày càng nhận thấy Ba là người duy nhất trên trái đất này nghĩ đến đứa con bất hạnh nơi xa, dù đứa con hỗn xược và phá của ấy đã gây cho Ba rất nhiều cơn đau lòng”. Gia-nét bồng đứa con thứ ba vào xem cha ngủ nhiều lần. Cha nằm như lịm đi, thở rất ít, chỉ thỉnh thoảng lẩm bẩm đôi môi thâm như mớ không thành tiếng. Gia-nét cũng thấy trên môi mình dồn ứ một câu hỏi: Ai sẽ đi An-giê-ri dự lễ truy điệu và tìm cách đưa Pi-e về chôn ở Mác-xây theo nguyện vọng Pi-e đã nhắc vài lần trong thư, và nhận tất cả các thứ Pi-e để lại? Ăng-đrê? Chắc chắn anh ấy không đi. Hai người đàn ông ngày càng ghét nhau, xa nhau như sừng với đuôi tuy cùng ghép vào một thân con bò. Ăng-đrê đang mê say làm giàu, gần đây bắt nhân tình với một ả gái nhảy người Tàu lai Pháp ở Sài Gòn, Gia-nét biết rõ nhưng không dám nói gì. Định xén bớt những món tiền cha gửi cho, cũng không dám. Định gửi thư cho cha xin đổi cách khác: thay vì dùng séc, xin cha cứ trao tay cho một bà Pháp, cũng là chủ đồn điền nhưng con đã lớn, bà về ở Sài Gòn, đều đều mỗi tháng một lần về đồn điền thăm các cháu nội. Bà ta sẽ ghé ngang đồn điền Ri-sô để bí mật đưa lại cho Gia-nét. Sắp xếp vừa xong, chưa kịp viết thư gửi cha thì ngói đã sụt xuống đầu... Đành để cha tự định đoạt. Sáng hôm sau, Lê-ông uống vội ly cà-phê sữa, lật xem lịch bay của tất cả các hãng hàng không, bỗng hối hả gọi Rơ-nê xách va-li ra xe, chưa kịp ăn. Có một chuyến bay của hãng Air France vào năm giờ chiều nay. Phải đi gấp mới kịp rút tiền, mua vé bằng bất cứ giá nào, thu xếp công việc. Gia-nét dắt các con ra hôn ông ngoại, và rỉ khẽ vào tai: - Ba đừng đem cái món... món ba thường dùng ấy mà... lỡ họ khám thấy... con lo lắm... - Không đâu, ba chỉ đem tiền. Như người Việt nói, có tiền mua tiên cũng được. Đi nhé, Ăng-đrê. Chúc cả nhà khỏe. - Rơ-nê, đợi tí. Gia-nét gói các thứ ăn sáng kèm bốn chai bia và xô-đa, nhét cả vào túi lưới. Tất cả những ai quen đều nhận rằng Gia-nét trẻ rất lâu, đã ba con mà như gái một con. Họ không biết vợ chồng Gia-nét đang ngấm ngầm chán nhau. Chán vợ nhưng không chán tiền, Ăng-đrê cứ nhét túi gọn những tấm séc của cha vợ, để mặc cho vợ đánh điện hay viết thư cảm ơn, vọt về Sài Gòn bảo là để lo việc làm ăn, nhưng dường như chỉ để bao thêm nữa cho ả gái nhảy trẻ đẹp, đổi lấy chút tình hờ rất đắt tiền. Những người gần gũi Ăng-đrê đều biết anh ấy mê gái mà không dám nói. Dại gì mà nhét ngón tay vào giữa vỏ cây và thân cây. Người quản lý trước là Mô-ham-mét A-li, biết ông chủ lấy nhiều của cha vợ mà đưa rất ít tiền cho vợ nuôi con, thường xén bớt các món bổng ngoại của ông chủ để đưa lén cho bà chủ. Từ khi An-giê-ri rục rịch nổi dậy chống Pháp, Ăng-đrê sợ nuôi ong tay áo nên đuổi thẳng con người đã tận tụy giúp mình làm giàu. Ăng-đrê kén mãi mới nhận vào làm một đại úy quân đội Sài Gòn bị thải vì dính ấp gì đấy vào chính trị, trước đây đã làm quản lý đồn điền cho một thiếu tướng giàu sụ. Gã này nói thạo tiếng Pháp và Anh, làm ăn giỏi, nhưng không thương hại bà chủ tuy rất lễ phép, kiếm thêm được gì gã bỏ túi sạch, êm. Cha đi khỏi một lát, Ăng-đrê xồng xộc đi vào khi Gia-nét đang cho con bú. Anh thắt nịt đạn súng săn vào bụng, nhấc cây súng hai nòng khỏi đinh treo, còn mở ngăn kéo lấy thêm khẩu súng ngắn 6,35 ly nhỏ xíu đút vào túi quần. Gia-nét lo lắng hỏi chồng: - Có gì mà anh... cẩn thận thế? - Con bò sữa tốt nhất nhà ta bị mất trộm. Mấy đứa cu-li đồn điền trông thấy, không ngăn cản. Nhóm trộm không mang súng, chắc là dân làng thôi. Chúng nó đang đói, kiếm thịt về ăn. - Hay là... anh nhờ cảnh sát người Việt tìm hộ... Chính quyền Sài Gòn không ưa người Pháp... anh hứa thưởng kha khá... đỡ phiền về sau... - Để xem... cũng được... nhưng anh báo trước, em có thể sẽ nuôi con bằng sữa hộp phồng dộp đáy... Ăng-đrê miễn cưỡng treo súng săn và nịt đạn vào chỗ cũ, chỉ giữ trong túi khẩu 6,35 ly, ra sân quát gọi cậu quản lý và một người gác-dạo này đồn điền đã tăng số gác lên bốn người có súng săn vì dân Việt bị giam đói trong các “khu trù mật” lẻn ra trộm cắp quá nhiều. Bọn gác cũng ăn cắp, nhung cộng cả lương và số gà vịt heo chúng lấy vẫn chỉ bằng một nửa số bị dân làng chui rào ra ăn trộn đêm. Giúi tiền cho mấy thằng cảnh sát Việt tìm hộ tiện hơn. Ngay tối hôm ấy, tay cảnh sát trưởng đến đồn điền với vẻ mặt đầy hãnh diện, xách theo một bao tải gồ ghề. Ăng-đrê đã biết tiếng Việt kha khá, không cần phiên dịch, mở chai huýt-xki ra mồi. Đám cảnh sát không phân biệt được các loại huýt-xki loại Xcốt-len, loại Ken-tấc-ki Mỹ, loại dỏm Chợ Lớn, chỉ cần thấy mác huýt-xki là thấy sang lắm rồi, dù giá rẻ hơn rượu gạo mua tại chỗ vẫn tấm tắc khen ngon, nhất là khi nhắm kèm phó-mát và dồi chín, đều là made in Cholon trá hình. Tay cảnh sát trưởng lôi trong bao tời sọc xanh ra một cái đầu bò đã róc hết thịt, bốc mùi hôi: - Con bò ông Ri-sô còn lại bấy nhiêu. Xương bò ném xuống sông suối hết, tôi lượm lại cái đầu còn sừng. Ông Ri-sô coi thử, chắc đúng nó. Ông hẹn thưởng khá lắm, tụi tôi lùng riết. Ăng-đrê làm sao nhớ được sừng mỗi con bò trong số tám chục bò sữa và bò thịt của đồn điền. Nhưng hứa là hứa, anh lẳng lặng đi vào buồng trong lấy tiền, vẫn chưa tin bộ xương đầu hôi rình kia là con bò sữa giống Hà-lan đã cho sữa tươi nuôi các con mình bấy nhiêu năm qua. Thôi đành, thí cho bọn Da vàng tí chút để giữ đường sống về sau. Tên cảnh sát trưởng nhận hai chục ngàn tiền thưởng cho khối xương đầu, cảm ơn rối rít, mươi phút sau lại xin thêm cho lũ đàn em. Ăng-đrê khinh khỉnh ném ra thêm năm ngàn nữa, hẹn thêm là chỉ thưởng cho những vụ trộm cắp thu lại được tang vật trả cho chủ, không phải bộ xương đầu như lần này. Tên cảnh sát trưởng xã đã ngà ngà, thề làn sau sẽ khác. Gia-nét ôm con nhỏ, hỏi qua loa: - Với cái đám ăn trộm bò, ông xử thế nào? - Ồ, bà ơi, xử chi cho phiền rầy. Trói chân tay, vô bao tời, cột đá, thả xuống sông là xong, xong hết. - Lạy Chúa tôi, giết người vì một con bò ư? - Ghép vô Việt Cộng thì ai trách được tôi với ông bà? Xin kiếu nghen. Lần sau ông cứ báo liền tay, tụi nó không kịp cắt cổ bò. Một con bò bị cứa cổ, vài ba đứa đền mạng. Ưng chưa? Đêm ấy, Gia-nét hỏi chồng thêm về vụ con bò. Ăng-đrê đáp giống tên cảnh sát trưởng người Việt, còn thêm: - Tại nó ăn tiền cắt cổ lẫn nhau, ai ngăn được? Em khuyên anh tung tiền ra thay đạn, đúng, cảm ơn. Nhưng khi bọn Vàng nổ súng vào nhau thì sẽ phiền phức đấy. Sống ở đất Đông Dương này cứ như làm xiếc đi trên dây thép. Khốn nạn cả một lũ! Gia-nét nghĩ ngay: người tình của anh không xếp vào khốn nạn! Ý nghĩ ấy không kéo dài, vì đứa con thứ ba nổi khóc đòi bú trong buồng bên cạnh, và chị vú em chắc đã ngủ say đến sùi bọt mép, bị dựng lên lại nằm vật xuống như người bị thuốc mê. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 03:14:18 pm Chương 10 Trận càn quét lớn vào vùng ven núi hai huyện Tây Quảng và Quế Sơn kéo dài nửa tháng. Sau năm ngày đánh phủ dầu dữ dội bằng tất cả số quân và vũ khí có trong tay, địch rút bớt một số tiểu đoàn về, chắc để đi càn nơi khác, chỉ để lại những đại đội lo dồn dân và đốc thúc dân xây nhiều đồn mới. Hai mũi biệt động quân phóng lên dồn dân hai làng Blam và Blin xuống bên bò sông Linh bị xóc chông sa bẫy nhiều. Du kích làng Blam đánh khá, tuy chỉ có ná tên. Du kích làng Blin yếu hơn, lại bị mấy ông già làng, thầy cúng, thầy đồng cản mũi kỳ đà, vì sợ địch trả thù ném bom giết cả làng. Địch cay cú vì chông bẫy quá nhiều, lùa dân Blam rất gấp, bắt khiêng đám lính bị thương, khiêng cả heo bò gà mà chúng đã cẩn thận bắn chết. Tên chỉ huy tiểu đoàn này rất khôn, hắn biết các loài dân Thượng nuôi đều thả rông nên tự tìm đường về làng về nhà rất giỏi, dân bị dồn thường lén thả dọc đường, đã có số du kích và thanh niên lánh vào rừng trở về cho súc vật ăn. Vì cần lùng sục kỹ cả khu vực Xưởng quân giới cũ nên chúng chưa đốt làng, chỉ bắn số trâu ăn rong mò về làng kiếm muối, dò dẫm đi vào “hang ổ cộng sản” mà ngày xưa Pháp biết rõ nhưng không đưa quân tới được, đại bác bắn cũng rơi đạn dưới rất xa, máy bay ném bom không trúng lần nào. Làng Blin đánh yếu, dằng co với địch càng yếu. Các ông lão làng già nhất và nhát sợ nhất là nạn nhân đầu tiên. Tên tiểu đoàn trưởng chỉ chọn để dồn những người trẻ khỏe, cả đám con nít sẽ lớn lên. Hắn lọc ra vài chục ông bà già nhất, nói mấy câu xì xồ tiếng lạ với tên thiếu úy, và tên này dẫn số mắt lòa chân chậm vào rừng. Mươi ngày sau, đội du kích nghe ngớt tiếng súng mới lò dò từ núi cao xuống làng, theo mùi thối và dấu chân đi tìm, gặp hơn chục cái xác rữa nát đã bị thú dữ xé từng mảnh rời đi ăn, bỏ xương rải rác. Làng bị đốt ngay sau khi dân bị lùa, tro than đã nguội từ lâu. Trâu heo gà thấy bóng người là chạy biến vào rừng: các ông bà chủ bỏ chúng không cho ăn nữa, bắn vào chúng, xin để chúng tự kiếm sống trong rừng núi, từ bỏ loài người độc ác và bạc bẽo. Các đội Võ trang công tác và các đội du kích đã chọc xuống tận quốc lộ Một, được dân cho và tự mua những ba-lô nặng trĩu vải ka-ki, máy thu thanh bán dẫn và pin, vị tinh, ni-lông dầu làm võng, ni-lông-mút may áo quần, bị địch vỗ mặt và chặn lưng giữa lúc ít ngờ nhất, đã vất cả ba-lô, xe gắn máy và xe đạp để rượt ác ôn và chạy liên lạc, chạy dạt lên các gò đồi hay rừng núi tùy nơi nào gần nhất được coi là yên thân nhất. Anh chị em đay nghiến nhau khi nhắc lại những lời căn dặn từ trên dội xuống: “Phải đề phòng khi địch phản kích mạnh theo kế hoạch Xta-lây Tay-lơ bình định miền Nam trong mười tám tháng”. Lác đác có những đội viên vác súng ra hàng địch. Cả Chanh đi vội về Tây Quảng khi trận càn mở đầu. Cơ sở trong sĩ quan ngụy chỉ được biết về trận phản công Việt Cộng vài giờ trước khi trực thăng cất cánh, báo tin không kịp. Cơ quan huyện Tây Quảng đóng gần làng Blam, gọn nhẹ, chuyển lên núi cao chẳng khó khăn gì. Các đội võ trang công tác từ núi tỏa xuống đồng bàng, ắt sẽ vọt trở về nơi ra đi. Cũng có thể một số đội trụ bám dân, nhất là ở vùng sâu gần biển đã sắp xếp được hầm chìm hầm nổi sau lưng địch. Anh Tơ-rin vạm vỡ, nay đã điểm tóc bạc, được bầu làm bí thư Đảng ủy xã và huyện ủy viên Tây Quảng, đón Chanh ở trạm giao liên mới đổi chỗ trong càn. Anh vuốt ve con chó Dồ con mà anh đã nuôi từ khi mới đẻ, chưa quên ông chủ đầu tiên có mùi lạ khác mấy ông chủ sau này. Nó ngửi một lát, bắt đầu liếm bàn tay ông chủ cũ đặt trên lưng nó. Nồi sắn tươi trên bếp đã bốc hơi. - Anh Cả đừng lo. Dân ở núi khác tui không biết, chó dân làng Blam tui biết, không dồn được mô. Tụi nó dọa giết quá phải đi, lần hồi họ trở về hết cho coi. Đốt làng cũ thì rút vô chỗ thiệt kín dựng làng mới, dân tui xưa tới nay dời làng cả trăm lần, khó chi mô. Lệ làng tui hễ rẫy xấu, bịnh nhiều, chết nhiều là dời làng. Tỉnh ủy với Cụ Hồ lo nhiều, thương nhiều, quý lắm đó, mà dân làng tui cũng phải lo cho mình nữa chớ! Đợi trên lo giùm hết, mình như con nít đòi bú mẹ, xấu lắm lắm! Suýt nữa Cả Chanh đã lao qua đống lửa trong hang đá để ôm ghì người đồng chí hết sức đáng yêu. Dần dà, góp từ nhiều nguồn tin, Cả Chanh đã làm được báo cáo về trận càn hung hãn nhất từ ngày đình chiến tới nay. Các đội Võ trang công tác và du kích xã cộng dồn hai huyện chỉ chết ba, bị thương tám, bị bắt hai, ra hàng một có súng săn một nòng. Phía địch, biệt động quân bắt dân khiêng về hai mươi bảy đứa xóc chông sụp bẫy, có lẽ không chết vì du kích được chỉ thị chưa dùng tên ná hay chông tẩm thuốc độc. Hai lính chết vì đạn. Cay nhất là trung đội vệ sĩ thuộc các thôn di cư Linh Thượng và đồn điền Tây: vừa được phát xong vài chục cây súng loại phế thải, phía núi. Hai chiếc T.18 bay tới, chẳng biết mô tê nào cả, lao xuống nện xuống đầu họ bốn quả bom diệt bộ binh, cả trung đội chết, bị thương, vất súng trả “quốc gia” hết sạch. Các cha cố chạy gấp lên an ủi con chiên, nói tội ấy là của phi công theo đạo Phật, theo Tin Lành, theo Việt Cộng, không ai cãi mà chẳng ai tin. Thôn Linh Hạ lâu nay hiền lành bị đại bác bắn lầm, chết bảy và cháy mười tám nóc nhà. Việc còn lại sau càn: chổng dồn dân, phóng các đội trở về vùng hoạt động cũ xuyên qua lớp đồn bót chằng chịt mới mọc lên sau trận càn lớn. Đợi quyết định cuối cùng của anh Tô Xáng “cai lục lộ” thì quá lâu, “cụ Thượng” Cả Chanh cho in ngay một chỉ thị bằng rô-nê-ô gửi đến từng chi bộ. Phải quyết bám dân không rời, mất dân là mất hết. Dân đi đâu, đảng viên phải theo tới đó, bị gián điệp, tố cáo thì cố chịu đòn tra tấn cho hồ sơ trắng, lại trở về bám dân mà hoạt động cách mạng. Chanh tự biết chữ ký của anh trên tờ rô-nê-ô có sức nặng không nhỏ, chỉ vì anh đã từng làm những gì anh đòi hỏi ở các đồng chí. Các anh chị có tuổi sống trong vùng địch hay nhắc con cháu: “Đừng tin ngay mà khốn, quốc gia giả cộng sản nhiều lắm. Có ông Cả Chanh về mới là cách mạng thứ thiệt. Bây mới lớn lên chưa biết mặt ổng, chớ tao chưa quên. Đợi tao coi trước đã”. Nhiều ông bà giả đi buôn Thượng, lên dò tin và kiếm cách gặp ông Chanh, đã đi qua trước mặt “cụ Thượng” mà không nhận ra Chanh. Mỗi khi về gặp cơ sở, Chanh phải tháo búi tóc giả, các mảnh ngà voi kẹp tai, quấn khăn che miệng để giấu bộ râu không nỡ cạo, đeo súng ngắn và máy bán dẫn ra ngoài áo bà ba. Gián điệp đưa tin ông Chanh cộng sản gốc cứ phải kèm theo một dấu hỏi trong ngoặc đơn, để về sau nếu sai khỏi bị quốc gia bắt vạ. Vùng núi được rắc đầy truyền đơn có chữ ký và ảnh của Hai Khánh gọi các đồng chí cũ ra hàng, “trở về với chánh nghĩa quốc gia”. Các loa phóng thanh trên máy bay L.19 hay trực thanh H.34 tuôn xuống đất những lời thống thiết của thiếu tá Ung Viết Khánh. Cả Chanh nổi xung điên khi nghe lần đầu tiếng Khánh trên loa, đọc tờ truyền đơn đầu tiên có ảnh và chữ ký của Khánh. Chanh đã trót dại tin ở lương tâm của một trí thức đã giúp Việt Minh trước khởi nghĩa 1945 chăng? Gã trí thức ấy, chao đảo ngả nghiêng mãi hồi chống Pháp, nay đã quay lưng với các đồng chí cũ, dốc lòng thờ Mỹ-Diệm làm chủ? Lá thư phân trần mà Khánh gửi cho Chanh trước khi nhảy về vùng tề, chỉ là một trò lá mặt lá trái nữa ư? Và mình đã khờ dại tin ở lương tâm của một kẻ không có lương tâm? Chanh đã gặp quá nhiều đứa lựa gió phất cờ qua bấy nhiêu năm cách mạng thăng trầm, sẵn sàng giết đồng chí cũ để lập công chuộc tội. Rồi Cả Chanh lắng tai nghe giọng Hai Khánh đến lần thứ tư qua loa phóng thanh ghép cạnh sườn máy bay tâm lý chiến như cái bướu. Lời lẽ trong truyền đơn chống cộng rất khác lối nói hằng ngày của cậu sinh viên Luật khoa Hà Nội mà anh đã quen nhiều năm, giọng nói cũng pha Nam Bộ: - Chánh quyền của chí sĩ Ngô Đình Diệm, cùng các vị thân cận hơn hết, là chánh quyền hợp pháp ở miền Nam Việt Nam, được Hoa-kỳ quốc, Anh quốc, Pháp quốc, cùng nhiều quốc gia khác thừa nhận và viện trợ. Tôi xin góp một lời kêu gọi các chiến hữu phản thực bài phong với tôi năm xưa, hãy cộng tác với chúng tôi để Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng của chúng ta được độc lập và thống nhứt, thoát khỏi mọi sự đô hộ của ngoại bang và sự chia cắt non sông ngày nay... Kể ra, cậu ta cũng chưa quá tệ, không gào thét chống cộng, cũng không muốn mất lòng các ông chủ mới. Nhưng khi tình thế căng thẳng hơn thì cậu ta sẽ lùi thêm, lùi mãi đến tận chân tường, với một đống tội phản dân hại nước. Cô Mỹ Duyên, qua những báo cáo miệng, đã đoán trúng mặt tốt mặt xấu của anh chàng này, nhưng chưa moi được những bí mật quân sự vì chính Hai Khánh cũng bị gạt ra ngoài cái nhóm được tin cậy. Hai Khánh sẽ ngả sang phía nào? Chưa biết, và cũng khó đoán trước. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 03:17:40 pm Hơn mười cái đồn mới cắm ở Tây Quảng cùng hàng loạt ấp chiến lược mọc lên đã làm cho các đội Võ trang công tác và du kích rúng xương, quay về bám chắc rừng núi, bước xuống đồng bằng là thấy địch vây bốn phía, chỉ vội vã kiếm gạo muối đầy bao đầy gùi là chạy lên xanh.
Chính lúc này, lớp dân trung kiên phải dỗ dành những người rời nhà theo cách mạng: - Rán chịu cực nghen con. Con ra đầu thú, khai báo lung tung, chết dân cả làng, tội nghiệp lắm. Khổ mấy cũng chưa bằng hồi “bể hiệp thương, bể tổng tuyển cử”, mấy năm sau đó nữa, cán với dân lớp chết, lớp tù, lớp bị đòn tới, cả đời thân tàn ma dại... ừ, thì nó đóng đồn chớ sao. Nó đóng trên gò cao, mình đi né tránh lại dễ hơn năm xưa nó ăn chung ở lộn trong làng. Bọn con trai lãnh súng vô thôn vệ, dân vệ, là để kiếm ăn với trốn quân dịch đó thôi. Các con đánh được vài trận như hồi bộ đội mình đánh Tây, làng xóm hù dọa ráo riết, là nó rã đám liền hà. Dân bị nhồi nhét vô ấp chiến lược đói kém lắm, phải tháo đòn tay nhà mà nộp làm hàng rào, bỏ làm ăn đi đào hào, cắm chông, dựng tường, đắp lô cốt. Tụi hội đồng xã nói miết là xây ấp chiến lược hay xây đồn cũng vậy, xong thì mới thôi, không tính ngày công như xâu cộng đồng kiến thiết. Bà con kêu đói quá làm không nổi, tụi nó mới chịu trả mỗi ngày hai lon gạo, lon gạt đó, hai lon chừng nửa ký cho cả nhà còn ăn hết nhịn. Các con cứ nổ súng, kêu loa, ra lệnh cho dân đốt rào ấp, ai nấy trở về làng cũ nhà cũ, là bà con ríu ríu làm theo hết, không phải như hồi bên mình kiêng kỵ nổ súng... Nó đốt làng giết dân à? Đâu xa chẳng biết, chớ làng này kêu rập một giọng: cả trung đoàn Việt Cộng mang đủ súng lớn nhỏ, chĩa súng bắt dân phá ấp về làng cũ, làng với lính chạy ráo, dân tôi tay không dám chống lại à? Lúc này vai trò đang đảo ngược. Năm xưa cán bộ cố khuyên dân bình tĩnh chịu đựng. Nay bà con chòm xóm phải khiêng cán bộ và du kích đừng hoảng sợ, chớ ra hàng giặc, và nhịn ăn mặc để nuôi đám trẻ nhảy núi chưa quen chịu cực. Út Thanh Yên bị đứt liên lạc, tự ý mò lên núi, còn may không trúng chông bẫy. Làng Blam bị dồn xuống ven sông Linh, nhưng lớp trai gái trẻ rút vào núi sâu đã trở về bám làng cũ vẫn bị đốt trụi sau khi quân địch rút hẳn. Cô em đồng chí huyện ủy viên Tơ-rin dẫn Thanh Yên vào chỗ ở mới của huyện ủy Tây Quảng, Cả Thanh đang còn ở đấy, sắp ra cánh Bắc Quảng Nam. Vừa thấy anh Cả, Thanh Yên đã nhào tới ôm ghì anh, nức nở không nói được. Chanh vỗ về cô em út, đợi em báo nhiều tin dữ. - Út ơi, nói đi, nhà mình… có chuyện gì? Thanh Yên lắc đầu, khá lâu mới kéo một góc tấm dồ Thượng mà anh Cả đang khoác trên thân, lau mắt, giọng bớt nghẹn: - Không gì đâu anh. Cha mẹ, chị Thùy theo bảng A cô lập mà tụi nó không bắt. Chị Năm Bưởi ho hen miết, cũng được ở nhà với cha, chị Thùy. Anh Tư Quýt có nhà với lò rèn chỗ xa xóm Mới, bị dồn vô ở xóm Chợ với nhà vợ, che cái chòi lò rèn trong góc vườn, cả nhà chị Song coi ảnh như đứa ăn bám vợ ở xó chuồng heo... rầu nhứt là anh Bảy Bòng... - Nó ra sao, Út? - Ảnh hư rồi, hư quá sá... Đi học một lớp tố cộng nửa tháng về, người ta hẹn hễ lập công diệt cộng tốt thì họ cho lên thứ gì úy đó, chưa kể phần thưởng tiền, mề-đay. Đi đâu ảnh cũng bô bô: “May là cha tôi với chị Năm Nhím đã đầu hàng quốc gia, chớ còn ho he tôi chặt đầu. Ông Chanh là anh ruột, nắm đầu được tôi cũng không tha”. Nói vậy thì còn chút máu mủ gì. Vài anh dân vệ quen nhà mình ghé nói giống nhau: họ nghe lén hội đồng xã họp, soát lại cách xử sự với số gia đình có người nhảy núi, tập kết. Lão Ba Mít nhứt quyết làm dữ, đẩy mấy nhà loại B lên loại A cô lập. Ông Cửu Áng, vừa quản lý ấp phủ Đỉnh vừa làm ủy viên kinh tài xã Tây Giang, ổng biết Việt Cộng chẳng vừa đâu, anh Cả về thì lãnh đủ một loạt súng máy. Chính anh Bảy Bòng nhà mình chê lão nhát gan. Cãi một hồi, anh Bảy chịu cho chị Năm học tố cộng ở xã vì đã được huấn chánh trong mấy năm ở tù, giam nữa chắc chết trong tù. Còn anh Tư Quýt mập ú ra, cứ xuống quận học tố cộng cho xuống ki-lô cũng hay. Tư Quýt đã mang khăn gói quả mướp xuống quận lỵ Tây Quảng, và chị Song vợ anh vội đi rao khắp nơi rằng ai làm nấy chịu, chị không dính tới việc của chồng... Anh Bảy nói trong hội đồng xã: cha tôi bị ông Ba Hùng Minh đây, hồi còn làm chủ tịch, bí thơ, hất cẳng cho về vườn trước đình chiến lâu lắm, ghép vô loại A cô lập là quá rồi. Mẹ tôi một chữ bẻ đôi không biết, chẳng tội vạ gì. Chị Thùy mắc bệnh điên, chữa lành thì lo may đồ nuôi cả nhà, họp làng họp xóm cũng ở nhà giữ sắp nhỏ, tới nay chưa biết là chồng tập kết hay ở lại trên núi, cộng tác viên công an đi lùng miết không gặp. Hễ gặp thì các ông bắt, tôi cũng hô bắt, mà phải nộp về cho quận, tỉnh, tòa đại diện Trung phần, có khi phải giải vô tới Sài Gòn để tổng thống với ông Nhu xét hỏi, ai giết ổng hay để ổng tự tử thì cầm chắc vô nhà đá nghỉ mát. Trên xuống lệnh vậy, tôi là cảnh sát trưởng cứ lệnh mà làm. Chắc ông Hùng Minh với ông Cửu chưa ưng bụng, trước đây lập công với Việt Minh, bây giờ quay ngược mặt sau ra mặt trước, giết cộng sản càng nhiều càng được tin cậy, tùy ý các vị. Tôi nói cắn cưa, ai chống cứ chống, thằng này không sợ... Cả Chanh ngập ngừng hỏi: - Nó... thằng Bảy... có làm gì quá quắt không Út? - Em nghe nhiều tin đồn, chưa chắc đúng... Ảnh về Linh Hạ, tra tấn hai đảng viên cũ, một chết liền, một bị gẫy xương sườn, dập phổi, mắc bịnh cả năm chưa lành... Họ còn đồn ảnh... uống huyết pha rượu, quế bột, gừng, ăn gan xẻo mật anh thôn đội trưởng hồi chín năm Việt Minh, cụt chân không đi tập kết được, ở Linh Trung... Em chưa tin đâu anh Cả, mà sao cứ ngờ ngợ... biết đúng biết sai ra sao… Cái miệng ảnh độc địa vậy, thêm đám chống cộng chung quanh khích vô, đổ rượu thêm vô, dám chác ảnh làm như lời... Giữa những câu run rẩy, Út Thanh Yên vẫn nhớ soạn các thứ đem cho anh Cả được vùi dưới đáy hai giỏ to đan bằng tre mà dân làng thường gánh khi đi cắt lá độn chuồng trâu. Chừng mười ki-lô muối, hai bộ bà ba, thuốc trụ sinh và thuốc sốt rét clô-rô-kin, toàn những thứ bị địch cấm bán lên vùng “mất an ninh”. Cả nhà trước Cách mạng tháng Tám, Thanh Yên đã lớn lên thành cô gái mười chín tuổi, da hồng hào và dáng người gọn chắc, khá xinh đẹp, có lẽ trong nhà về phần nhan sắc chỉ thua chị Hai Thùy thôi. Thùy vẫn được xem như hoa khôi Linh Lâm tuy đã hai con, như cái boong-ke cố thủ không chịu ly hôn, và được những họng súng vô hình của ông Cả Chanh cũng như súng dài ngắn của Bảy Bòng sẵn sàng nổ vào những ai muốn cưỡng hiếp. Chanh đùa một chút cho em gái bớt buồn: - Út ơi, em chưa nói chuyện riêng với anh. Đã thương ai chưa, có bồ bịch gì chưa? Thanh Yên đang lau mắt bỗng bật cười: - Ở cái chỗ tối mịt, đen thui, em bắt bồ với ma quỷ à? Mà em nói thiệt với anh Cả, anh không cho em nhảy núi thì em ra Huế, vô Quảng Ngãi, xin thoát ly cho gọn, chẳng cần anh cho phép, nhà mình cũng khỏi bị liên can gì. Nói thiệt đó anh! - Úi chà, khoan đã út. Em chưa bị nghi, rán chịu lâu lâu nữa, bên mình gài được một cơ sở trong vùng địch khó quá em à. Tới khi em bị lộ, anh cho người xuống đón em liền một khi, đừng ngại. Thanh Yên không cãi, mà rõ ràng sẽ làm theo ý mình. Thùy cũng nói gần gần như thế. Năm Bưởi cũng đòi lên xanh, nhưng còn lo bệnh tật sẽ làm phiền các đồng chí. Con đường Thống Nhứt ra Bắc đã mở, những ai đủ sức leo núi vài tháng mới dám đi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 03:19:38 pm Ba giờ sáng, gà rừng đã gáy te te lảnh lói, Thanh Yên mói chịu ra về, theo sau cô em đồng chí Tơ-rin.
Cả Chanh ngả lưng trên tấm sạp tre, kéo tấm dồ Thượng trùm kín thân, trong khi đống lửa trong hang đá ngớt cháy nhưng còn tỏa khói đủ xua muỗi. Anh chưa ngủ được ngay. Cuộc sống hỗn tạp đầy rối ren đang chen vào gia đình anh ngày càng sâu, xốc xói lên những thứ đau xót tưởng đã chìm sâu dưới đáy trong thời chống Pháp: mẹ chồng nàng dâu, anh em ruột giành gia tài, chị mang lựu đạn đi lùng em, em để mặc cho chị ở tù... Út Thanh Yên đã dọa thêm: em lấy chồng ác ôn đó nghen, tội vạ gì mà không hưởng của nhà Ngô. Hay là chị Hai Thùy chịu ký ly hôn, tái giá, em cũng mặc kệ, không vun vào cũng chẳng cào ra, anh tính sao đó tính. Xã hội miền Nam đang phân hóa ngày càng gay gắt. Không ít đồng chí ở núi lâu hay từ Bắc về đã trả giá rất đắt vì không thể tưởng tượng một đảng viên lâu năm biến thành gián điệp, một người gần gũi trong nhà lén chỉ hầm bí mật cho địch khui, anh mang súng ra hàng trong khi em đang bắt mối để lên xanh. Những tiếng “đầu thú, cơ sở phản, đào ngũ” đã ngớt một dạo, sau trận càn lớn lại được truyền miệng nhau như hồi đen tối nhất sau đình chiến. Các đội Võ trang công tác và các huyện ủy viên trẻ đang dần dần thay thế lớp đảng viên cao tuổi, đã ngán ngẩm hay kiệt sức. Trong đại hội một Đảng bộ huyện, tuổi trung bình của đảng viên là bốn mươi, nhưng qua bỏ phiếu kín thì lứa tuổi trung bình của huyện ủy mới là hai mươi lăm, bí thư mới hai mươi bốn tuổi, Út Thanh Yên đang được đội Tây Giang rất tin cậy, đưa vào cảm tình Đảng, có thể kết nạp ở tuổi tròn mười chín, cũng không sớm lắm so với nhiều anh chị em khác. Cả Chanh chợt bật cười khẽ, khiến con Dồ gác ngoài cửa hang quay đầu rướn cổ dòm... Buồn cười thật, mình mới ngoài bổn mươi mà đã suy nghĩ theo kiểu ông già, tính bàn giao cho con cháu! - Mình nuôi bộ râu dài để giả làm ông già Cửa Đợi, cái đầu tưởng thiệt cũng già theo! Anh Bảy Quý đã đùa như vậy trên chiếc thuyền liên lạc của chị Xáng, khoảng mười bẩy năm trước. Đến lượt Cả Chanh nuôi râu làm “cụ Thượng”. Lứa tuổi nối tiếp có phải đóng kịch như anh không, hay là sẽ mặc com-lê, xách cặp da, bước vào ô-tô du lịch? Đồng chí Tơ-rin hẹn sẽ đến đón rất sớm, vì đồn lính bảo an giữ bờ Tây sông Linh hay cho quân đi phục ban đêm và luồn rừng ban ngày, đánh úp ta và vét nốt những xóm Thượng đã rút vào rừng sâu. Chanh lại búi tóc, rắc thêm phấn cho thành hoa râm, kẹp ngà voi vào tai, hay mặc cái khố đã bạc màu chàm, nhét cây súng ngắn ba nòng vào lớp khố quấn quanh bụng. Thằng địch quyết dồn dân Thượng xuống gần đồn nhưng gặp người già đi lẻ không súng thì chúng chặn bắt, chưa giết thêm nhiều, sợ bị “trả đầu”. Con Dồ nhỏm dậy, gừ gừ trong mũi, rồi rên rên đón ông chủ cũ đã nuôi nó từ khi mới đẻ. Họ lại ra đi theo thứ tự quen: con Dồ trước xa, giao liên đeo lựu đạn cầm ná, anh Tơ-rin vác cây trường Mátx đã sứt đầu ruồi và cõng bớt các thứ sách báo cho Chanh, Cụ Thượng cõng gùi và cầm giáo dài, đi khóa đuôi. Cả Chanh lại trở về nắm các huyện Nam Quảng Nam. Anh Tô Xáng cùng đoàn đại biểu Quảng Nam chia nhau đi các nơi kể chuyện Đại hội Ba, gọi họp từ chi ủy viên trở lên. Thiếu gạo muối, chỉ họp hẹp và ngắn thôi, nhưng người nghe không chịu thường phải kéo dài thêm một ngày đêm nữa mà hãy còn thòm thèm. Cánh Nam Quảng Nam được chia của một tổ điện đài, mật mã, do anh Tô Xáng xin được và dẫn về, tầm liên lạc chỉ đến cánh Bắc và khu ủy Năm. Một trong những bức điện đầu tiên là chỉ thị của khu ủy, đánh ba lần liên tiếp: “Đ/c Thanh Trà ra ngay cánh Bắc”. Cũng thêm một điện của cánh Bắc gọi anh Thanh Trà trở ra hỏa tốc, tuy mới chia tay nhau chưa đầy hai tháng. Có chuyện gay go rồi. Vẫn theo đuôi con Dồ, theo lưng giao liên Thượng, Chanh đi hỏa tốc theo con đường xuyên núi đã dời lên cao hơn. Đường mới phát đầy những gốc nhọn và lúc nhúc vắt đen, nâu, vắt lá leo lên tận cổ và nách mới chịu hút máu. Đi từ tờ mờ đất đến tối mịt phải thắp đuốc, mỗi ngày vượt hai ba trạm, Chanh vẫn mất bốn ngày mới đến huyện Giằng, vùng dân tộc Cơ-tu, để nhận cái tin sét đánh: anh Tô Xáng bị địch giết! Thật không, anh ơi, “ông Bát Đập” ơi? Anh em đã can không để anh xuống vùng ven biển Hòa Vang, anh chỉ cười cười: “Tiếng nói của Đảng mình chỉ loan tới vùng núi thôi à?”. Anh cứ đi, cứ gặp đảng viên và cơ sở vùng sâu, dù chỉ vài ba người anh cũng tỏ bày cặn kẽ như trước những đám đông hàng vạn người hồi chống Pháp. Trên đường về, anh rơi vào vòng phục kích, một loạt đạn cắt ngang người. Bọn dân vệ ngu đần đến nỗi buộc dây vào chân anh, kéo về nộp cho xã và quận một cái xác đã nát mặt mày, gọi ai đến xem đều nói người lạ. Các điện đài ta sợ lộ, không nói rõ cái điều mà địch chưa biết, vợ con anh Tô Xáng bị đẩy đi dinh điền Cao nguyên Trung phần cũng chưa biết. Một điện mới nữa từ khu ủy Năm phóng về: “Bắc Ân cử Thanh Trà thay người đã khuất, sau sẽ bầu chính thức”. Thay anh sao được, anh Xáng ơi? Tôi đã tính những người thay tôi làm “cụ Thượng”. Nhưng có bao giờ tôi nghĩ phải thay “ông cai lục lộ” với bộ ka-ki vàng và bộ râu mép rậm rì với cái cằm nhổ trụi? Anh Xáng ơi, mộ anh chôn đâu em chưa biết, chỉ xin cúi đầu tưởng nhớ anh trong lễ truy điệu hôm nay. Em tiếp bước theo anh, sẵn sàng hi sinh như anh, dù mai sau có nhiều kẻ bĩu môi chê chúng mình khờ dại, thời xưa gọi là “ngu trung”, ngày nay có kẻ xếp vào “cuồng tín”. Chúng mình đã qua nhiều trận cãi nhau nẩy lửa và kéo dài khó dứt. Cãi trong hội nghị chán rồi kéo ra rừng cãi tay đôi, cãi ngày chưa đủ lại treo võng bên nhau cãi đêm, đúng cái máu “Quảng Nam hay cãi”. Thế nhưng chưa bao giờ anh với em giận nhau, lạnh mặt nhau, bởi hiểu lòng nhau chỉ vì dân vì nước, chẳng hề mưu toan gì cho riêng mình. Anh Xáng ơi, tại sao em không được thế mạng anh? Một đồng chí trong thường vụ tỉnh ủy được cử vào nắm cánh Nam thay Chanh. Anh ở lại cơ quan tỉnh ủy, quyền bí thư. Làng Linh Lâm và huyện Tây Quảng trở nên xa vời vợi. Địch không biết rõ cái xác bị buộc chân kéo lê đến nát mặt có phải là “tên cộng sản ngoan cố Tô Xáng tức Bát Đập” hay không. Cứ để cho chúng nghi ngờ chán, xác quá thối phải đem vùi. Cả Chanh thay anh đang làm quen với các huyện cánh Bắc, sửa soạn họp đại hội tỉnh sắp tới. Khi mình bị giết, ai sẽ thay? Câu hỏi ấy nhoi nhói ngày đêm trong lòng đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy. Và các đồng chí còn lại-sống sót-trong Thường vụ tỉnh ủy cùng an ủi: tới đó tụi tôi sẽ lo bầu đúng người, việc chi anh phải nghĩ xa? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 03:22:14 pm * Các đội Võ trang công tác, du kích, các chi bộ bí mật trong vùng địch đã hoàn hồn sau trận càn dữ dội để lập đồn và xây ấp chiến lược. Những con đường liên lạc và tiếp tế phải thay đổi, nhưng vẫn là đường. Nơi ẩn náu của các đội phải đổi chỗ, nhưng vẫn ẩn náu được. Cơ sở giấu mình trong vùng địch vẫn là nơi đưa tin, cho gạo khoai, càng xuống vùng sâu càng ít rung chuyển. Làng Linh Lâm, cũng như các làng khác ở ven núi, được biến thành “hàng rào chống cộng”. Địch biết không thể đóng đồn trên núi cao thăm thẳm, chỉ lùa dân xây ấp chiến lược “hai sông ba núi”, giam đói cộng sản trên vùng không người, tát cạn nước để bắt cá. Bản đồ Linh Lâm được vẽ lại khác hẳn. Trên bờ Tây sông Linh mọc lên hai đồn lính bảo an, một đồn dân vệ, năm bót dân canh, chặn hết các ngả từ vùng núi xuống. Thêm một thôn mới ra đời, thôn Linh Sơn gồm dân Thượng hai làng Blam và Blin vừa bị dồn xuống, kẹp giữa các đồn bót to nhỏ. Trên vùng đất phía Đông sông Linh, được coi như dễ kiểm soát hơn, được giao cho hai đồn dân vệ cùng bốn bót dân canh, người và súng ít hơn lính bảo an. Trong đám con cháu ông Tư Rèn, chỉ có Tư Quýt bị dồn. Công lao giành vườn, giành đất, giành đồ rèn của Tư Quýt bị đổ xuống sông cả, chỉ vì cái tội ở nơi khó kiểm soát. Vợ chồng Tư Quýt chạy đôn chạy đáo, tốn rất nhiều tiền đút lót và nói tình nói lý chán chê mà chẳng được ai bênh, cả chú em là cảnh sát trưởng Bảy Bòng cũng ngoảnh mặt. Hắn nói thẳng thừng: “Thà theo cộng sản hết lòng như anh Cả hay chị Năm, tôi coi như thù mà còn coi trọng, bắn chết rồi tôi còn quỳ gối lạy anh chị. Còn anh Tư chỉ bám đáy quần vợ, vơ vét cho mình, tôi coi như rác, để chết bỏ”. Lò rèn Tư Quýt dời về góc vườn nhà vợ, chẳng ai đến đặt rèn, cả nhà vợ lườm nguýt khinh rẻ, tiếp đó lại phải bán đi những thứ kìm búa vét được của cha để có tiền đi học tố cộng hai tháng ở quận Tây Quảng. Căn nhà và lò rèn ông Tư, bà Tư cùng dâu con trong vườn dầu lai cổ thụ được để yên vì bọn dân vệ đóng gần, đi tuần đêm cần có chỗ ghé vào uống bát nước, nhờ nấu nồi cháo khuya, thường là với những thứ chúng kiếm chác được khi trút trộm các đăng đó, nò tôm, hốt ổ gà, có khi cả heo con bị chụp bao tro vào đầu chặn tiếng kêu. Bù lại, có đứa không quá xấu còn đến giúp sửa nhà, cưa bớt cành dầu lai cho quả khỏi rụng xuống đầu trẻ con, giúp ông Tư thổi bễ hay gọt cái cán rựa. Dân xóm Mới, được coi như ổ nuôi cộng sản, phải dời nhà ra bờ sông, cắm lều ở từ lò ông Tư đến xóm Chợ, mất nhiều ngày công và tre gỗ rào ấp chiến lược, lại phải rào hết ruộng rẫy chống heo rừng, nai, mang, vì ban đêm ấp bị khóa cứng, không ai được ở chòi rẫy để canh thú rừng. Bẫy kẹp, thò, chông đều bị cấm, coi như gài chống quốc gia, chừa lối đi cho cộng. Lên núi đốn cây về rào ấp cũng phải đút tiền cho ông Kinh tài là Cửu Áng, xin giấy phép. Linh Lâm ngạt thở. Chưa chết hẳn cũng khó sống nổi. Dân di cư đến chiếm đóng đồn điền La-phạt, làm chủ vùng đất các gia đình quân giới CK.II vỡ hoang sẵn, nay đã rõ mình chỉ là cây gậy chống cộng trong tay chí sĩ họ Ngô. Đồng đạo mà không đồng lòng, đồng tình. Họ kết thân với dân sở tại ngày càng gắn bó, dù các cha cố vẫn rao giảng về hiểm họa cộng sản, nghe mãi đến chán ngấy. Đòi di cư xa hơn nữa, không được. Đòi nới bớt ràng buộc, không được. Trong chín bót dân canh, họ được coi như chỉ điểm, nòng cốt, xin được giảm bớt số đêm canh gác, không được. Các cha đã giảng rằng Ngô tổng thống che chở. Nhưng cụ Ngô chỉ cho họ sáu tháng gạo ăn, mấy tấm tôn lợp nhà, vài bao xi-măng, hết, may dùng họ như nô lệ da vàng! Một chuyện lạ đang diễn ra: dân di cư xin được giấy nhập lâm, gặp cộng sản và nghe họ tuyên truyền, về hẹn nhau giữ kín: “Ai phản bà con đi báo cáo, người khác sẽ mời cách mạng về cho ăn chì lập tức”. Hàng rào chống cộng vùng ven núi mới dựng lên đã ruỗng nát từ bên trong. Nhưng nó vẫn chĩa bộ mặt lởm chởm đầy hăm dọa về vùng núi phía Tây. Các đội công tác và du kích, bật lên núi trong cuộc phản kích của địch, nay dò dẫm trở về bám dân trong tâm trạng khiếp sợ: cái gì đang chờ giết họ đằng sau bấy nhiêu lớp hào chông, rào lông nhím, rào kẽm gai? Chông cỡ to có ngạnh phải dùng thuổng đóng sâu, dưới đáy gài mìn chống nhổ? Rào kẽm gai xoắn ruột gà, rào hình cũi heo, có mìn nhảy mìn đèn khắp nơi? Và những cây súng chực sẵn, mấy chục lần nhiều hơn nhũng thứ góp nhặt của họ, viên nổ viên lép? Và pháo cối từ các đồn xa gần giội tới, máy bay thả đèn dù và thả bom trên lưng? Tỉnh ủy, các huyện ủy, tiếp tới các Đảng ủy và chi bộ xã phải dẫn đầu các mũi chọc qua hàng rào chống cộng, thuốn xuống đồng bằng. Chết nhiều. Chết rất nhiều. Truy điệu mỗi tháng năm bảy đồng chí, đến nỗi người đọc điếu văn thuộc lòng lời phải nói. Rốt cuộc, những người cộng sản và thân cộng từ núi rừng miền Trung vẫn chọc thủng vành đai “ngăn cộng” để tuôn xuống vùng đồng bằng và ven biển. Tất cả đã khác trước nhưng sắp xếp lại gần như trước. Còn Thùy nữa... Chị Hai Thùy, chị Chanh, hay gọi theo tên con đầu lòng còn sống là chị Bình, tùy ý mỗi người quen, cũng là người khác thường ở Linh Lâm. Gọi là con tin, là gái cứng đầu không chịu ly hôn với chồng cộng sản, là hoa khôi gàn dở, là người khó động đến, gì cũng được. Trong xã chỉ có Ba Mít muốn trị chị Thùy để phô bày “lập trường chống cộng”. Cảnh sát trưởng Bảy Bòng đã dọa bắn đứa nào động đến bà chị hiền lành như Quan Âm. Cửu Áng vốn quen “tôi ở giữa, tôi chữa đôi bên”, làm chứng rằng chị Thùy chỉ biết may vá, giữ sắp nhỏ cho cả nhà đi họp làng xóm, ngoài cái vụ lấy anh chồng cộng sản gộc thì chẳng có tội tình gì với quốc gia. Thùy bị gọi lên xã vài lần vì không ký ly hôn. Chị không lý sự dài, chỉ cười nhẹ: - Hồi nhỏ tôi đã nghe các cụ các bác dạy “tòng nhứt nhi chung”, phận gái chỉ một đời chồng. Cha tôi thờ Chúa, nhà chồng thờ Phật, mà các cụ thờ đức Khổng Tử cũng dạy vậy. Bây giờ các ông biểu tự tôi bỏ chồng, tôi không dám, sợ trái cái đạo duy linh của cụ Ngô, về sau đâu dám ngó mặt ai? Và cứ thế, chị ra về tươi tỉnh, còn ghé chợ mua bánh cho con và cháu. Cả Chanh nghe kể, nghẹn lời khó nói. Em ơi, người vợ và người yêu trọn đời của anh ơi, sao em lại chọn anh làm chồng để rước lấy khổ vào thân, vì anh với cả nhà anh chịu những cái eo xèo trong nhà, nỗi cay cực kiếm chén cơm ghế khoai sắn nuôi và thăm nuôi bấy nhiêu người ở nhà, ở lớp tố cộng, ở tù, ở núi? Sắc đẹp của em, trỗi dậy sau cơn đau ghê gớm đến loạn óc vì đứa con đầu xinh xắn của chúng mình bị cháy thui, vẫn làm cho anh chàng Hai Khánh giàu sang và tài hoa kia mê mệt, cũng như lắm kẻ quyền cao chức trọng phải thèm thuồng. Nhưng em chỉ dành riêng em cho anh, một ông lão người Thượng đóng khố và đầy râu tóc. Mỗi lần lên rừng gặp anh, em hay báo trước là rất sợ có thai, địch đánh chết thì con cháu không ai nuôi. Chỉ nửa giờ hay một tiếng sau, em đã tự lao vào tay anh, tự hiến thân cho anh như một cô gái trinh lần đầu biết ái ân. Và anh cũng không cưỡng nổi mình, anh quên hết, quên rằng tất cả tội vạ sẽ do em lãnh đủ. Thùy ơi, có trách anh ích kỷ không em? Sau mỗi cơn cuồng loạn, khi anh trằn trọc hối hận, em lại ôm ghì anh, dỗ dành như quen dỗ trẻ trong nhà: - Anh đừng lo. Hễ có mang, em khai là lỡ dại chịu với anh buôn quế hay thằng biệt động quân trẻ trai nào đó. Vợ vắng chồng lâu quá, gặp hồi yếu đuối, tránh sao khỏi... Nhiều chị em không chịu bỏ chồng nhưng có một hai đứa con “tự túc”, là chuyện thường mấy năm qua. Những cái tên mới ra đời ở mỗi làng xóm đã hay chưa giải phóng là “chị Ba tự túc, chị Sáu hai riêng, chị Tám lỡ dại” được đặt cho những chị có chồng tập kết hay lên núi quá lâu, lo hết lứa tuổi sinh nở, tự kiếm đứa con phòng khi về già. Chẳng có thư từ gì suốt bấy nhiêu năm, người chồng lấy vợ khác hay chưa không biết, các chị chỉ cần một đứa con làm bạn. “Con tôi đi kiếm về đây muốn cho nó gọi bằng thầy thì cho”. Thầy là cha là ba, theo kiểu nói người Bắc. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 03:25:23 pm Anh Tô Xáng mang về rất nhiều chuyện ngoài Bắc. Anh em cười bò ra khi nghe chuyện “vợ tôi khuất núi rồi”. Một anh muốn lấy vợ Bắc, làm bản khai có câu như trên. Cụ trưởng Ban đồng hương tỉnh hiểu theo nghĩa xưa, ký xác nhận là anh ta góa vợ, tái giá chẳng có gì sai luật Hôn nhân gia đình. Cấp trên không đủ sức theo dõi hàng chục vạn người tập kết, cũng ký cho phép. Sau hàng chục lá thư của chị vợ chính thức gửi ra Bắc, Ban đồng hương gọi anh ta lên kiểm điểm, anh nói gọn trơn: “Khuất núi là ở nơi xa, núi sông cách trở, không gặp nhau được, tôi chẳng hề nói vợ tôi ở miền Nam đã chết!”. Và đành cho qua, sau thống nhất các đương sự sẽ tùy lòng tính với nhau!
Thùy của anh ơi, em biết không, trên núi này có rất nhiều cô văn công, cô y tá, cô thư ký, cô giao liên trẻ măng xinh đẹp muốn làm vợ anh bí thư tỉnh ủy? Nhưng anh vĩnh viễn đã thuộc về em rồi, Thùy ơi, người đã nuôi anh trước Cách mạng tháng Tám, người đang nuôi anh sau bấy nhiêu năm đen tối của miền Nam, thà nổ súng vào đầu còn hơn phụ bạc em! Trước khi ngủ thiếp đi dưới lều nhựa, trên võng, trùm tấm dồ Thượng ở quãng rừng vắng nào đó, Chanh vẫn dành cho Thùy những ý nghĩ cuối cùng. “Thùy ơi, vợ anh ơi, chúng mình sẽ có ngày sum họp, em cứ tin thế nhé. Anh sẽ bế hay dắt tay con mình, ba chúng ta cùng chụp hình ở công viên nào đó, em sẽ đẹp rạng rỡ trong áo dài màu và trong hạnh phúc chiếu sáng từ trái tim nồng nàn...” Ước mơ đẹp đưa đến những chiêm bao đẹp, để mỗi sáng sớm Chanh tỉnh dậy theo tiếng gà rừng hay vượn hú, lại phải đón nhiều nỗi đau mới trong lòng và trên thân thể. Số đồng chí còn lại từ thời chống Pháp bị giết và bị bắt đang tăng lên đến mức báo động, khi dẫn các mũi nhọn thọc xuống các vùng sâu. Anh chị em tập kết trở về còn ít và hiểu rất chung chung về xã hội miền Nam, còn số trai gái trẻ mới đưa vào các đội được cái hăng, bốc, nhưng chưa tùng được học gì về chính trị, quân sự, hầu hết mới thoát mù chữ hay đang còn mù chữ. Móc lại số đảng viên cũ đã xuất thú trong những năm đen tối đầy thất vọng, phần lớn cú lừng khùng, cùng lắm chỉ gửi ít tiền hay cho gạo muối, còn dặn lớp trẻ “đừng làm căng quá, tụi nó giết hết dân lành”. Sau Đại hội Ba của Đảng, miền Bắc đưa người và của vào mạnh hơn, nhiều hơn, nhưng mỗi ngày mươi gùi hàng cõng trên lưng cho nửa nước đang mặt đối mặt đánh Mỹ-ngụy chỉ là muối bỏ biển. Súng đạn tước được của dân vệ, thôn vệ, thanh niên diệt cộng chỉ là những thứ thải bỏ, làm sao diệt được quân chính quy dùng toàn súng Mỹ tối tân, hay bọn bảo an của tỉnh để lấy những thứ kém chút ít nhưng vẫn khá, đỡ trục trặc? Còn cái xác phàm của Chanh này nữa... Sức người có hạn, đá tảng còn đổ mồ hôi nữa là người. Những cơn sốt rét quật anh ngã từng đợt, ngày càng kéo dài và khó chữa. Các thứ bệnh khác cũng thừa cơ nổi loạn: những thang thuốc nam của cụ lang Huề Bình vô cùng tốt bụng dường như không nghiệm nữa khi anh lên cơn đau dạ dày, và chứng thấp khớp từ Hạ Lào mang về sau những năm lặn lội trong vùng bưng lắm đầm lầy và đá ong đang tấn công gắt hơn sau những năm ở hang, nằm núi ẩm ướt, ngay trên tỉnh quê mình. Bốn mươi tuổi mà chịu đầu hàng bệnh tật ư? Không sợ Pháp, không sợ Mỹ, mà lại sợ các thứ vi trùng vi khuẩn đục khoét xương thịt mình? Chanh cố chống đỡ bằng mọi cách. Anh chịu bớt gương mẫu trong nghĩa vụ sản xuất-được quy định mỗi ngày một buổi cho cơ quan tỉnh, và anh từ chối không nhận miễn giảm-dành thêm giờ tìm hái thuốc nam, tự sao tẩm và sắc, tán, uống thuốc nước khi ở cơ quan, thuốc tễ khi đi đường dài, ngoài cái tên “cụ Thượng” lại được phong thêm chức “cụ Lang”, vì chữa lành được những bệnh nhẹ cho cơ quan và dân các làng Thượng ở gần. Soạn các tài liệu anh Tô Xáng để lại, anh gặp ba bức điện đánh ra Trung ương đề nghị đưa đ/c Thanh trà ra Bắc hay sang các nước bạn chữa bệnh và an dưỡng ít lâu. Anh Xáng ghi rõ: phải có chỉ thị, Trà mới chịu đi. Nước mắt Chanh đã chảy nhiều khu truy điệu ông “cai lục lộ”, không chảy nữa, nhưng anh vẫn úp các bản điện tín vào mặt hồi lâu, nấc nhẹ trong cổ, khi tỉnh hẳn mới đọc lại và hiểu rằng người cãi vã với mình nhiều nhất vẫn là người yêu quý mình thắm thiết nhất. Điện anh Bảy Quý trả lời rất gọn: “Cố thuyết phục Thanh Trà, vì lợi ích lâu dài CMMN”. Thằng Chanh cứng đầu không nghe lời thuyết phục, nay đang phải thay anh Xáng ở chỗ đứng đầu Đảng bộ Quảng Nam, đùn đẩy cho ai mà ra Bắc? Những nỗi đau như thế từng ngày, từng ngày xói mòn thân xác và tim óc của Cả Chanh, thuốc nam hay bắc đều bó tay lần lượt, các thứ thuốc tây thứ thiệt hay thú “dởm” xin chịu chàng thu cả các thang thuốc gia truyền của cụ lang Chín trao lại kèm theo câu đùa: “Người khác tôi chẳng tin đâu, với chú Chanh thì tôi chịu úp niêu cơm bí mật gia truyền để chú lành bệnh, lo giúp cho dân mình”. Và quả thật cụ Chín đã giúp Chanh cầm cự với bệnh tật mãi tới nay. Có lẽ các loại bệnh đã lờn thuốc hay sao, dù Chanh đã tra cứu các sách Đông Tây y để gia giảm cho hợp với mình. Với chút tiền của Thùy gửi cho, anh nhờ các đội và cơ sở vùng bị chiếm mua thêm các vị chưa tìm thấy, như đỗ trọng, ngưu tất. Không phải ai cũng hiểu rằng Chanh cố chặn bớt các bệnh để bám chiến trường, chỉ đợi có người thay là đi chữa. Một số đồng chí từ thành phố lên hay từ miền Bắc về, hồng hào béo tốt, hay xì xào chê anh Chanh thiếu gương mẫu, lo cho thân xác mình quá nhiều, cố bám địa vị quyền bí thư tỉnh ủy, chưa chịu rút lui. Trong một cuộc họp chi bộ cơ quan tỉnh ủy, vài đồng chí đã nói rõ. Chanh chỉ chống tay lên cằm, ngồi nghe, buồn tê tái. Tôi khao khát rút lui từ lâu lắm rồi, sao các đồng chí không bầu người khác cho tôi được nhờ? Trong đại hội Đảng bộ tỉnh, tôi từ chối không nhận đề cử vào tỉnh ủy, tại sao hầu hết đại biểu lại bác bỏ không cho tôi rút? Tôi ra Bắc, có thể được chữa bệnh, xếp lương, trở về với nghề xưa đường sắt, với con tôi được học tiếp và vợ tôi vào một xưởng may nào đó. Tôi đâu có tranh giành gì ở đây? Tôi bám quê hương, bám đất, bám dân, bám Đảng, đâu có bám cái ghế đói khổ của một quyền bí thư sống nay chết mai, với người bạn thân nhất là con chó Dồ luôn chạy trước chủ, với tất cả gia tài là một cái gùi trên tấm lưng cởi trần đen thui! Những thứ bom pháp từ phía địch giội tới, những mũi kim nhọn chọc sau lưng, Cả Chanh đều cố chịu, cũng như cố chặn mỗi đợt phản kích của bệnh tật đang quật lại mình từ bên trong. Nhưng anh sẽ chống chọi được đến bao giờ? Đi đêm rồi cũng có ngày gặp ma. Anh chị em dần dà quen với mỗi chiều “cụ Lang” cõng gùi cầm rựa ra đi hái thuốc với con chó Dồ không đợi gọi cũng tự ý chạy vượt lên trước chủ. Hôm ấy anh chợt nhớ đến một cụm gân voi ở hơi xa cơ quan, thứ củ của nó sắc uống chữa đau khớp cũng khá lắm. Anh gọi thêm cậu y tá, học nghề ở Đà Nẵng nên không biết thuốc nam, vác cái thuổng cùng đi để biết cây biết củ. Giữa lúc Chanh đang chỉ cho cậu trẻ kia nhận ra thân và lá, con Dồ chạy sục chung quanh bỗng đến cào móng vào chân chủ, ngoảnh đầu về phía con suối khô cách chừng trăm thước, gừ gừ khẽ, lại cào chân anh. Có chuyện rồi. Thú dữ rình chăng? Anh vỗ đầu con Dồ, nhìn vào mắt nó, nhưng nó cứ cào, gừ, quay đầu về hướng suối, trong mắt hiện rõ nỗi lo và đau khổ vì không biết nói. Cậu y tá có hai quả lựu đạn Mỹ da láng xanh đeo thắt lưng. Chanh có súng ngắn ba nòng. Anh cẩn thận nhét lưng khố túi đạn dự trữ. Cả hai cầm giáo và rựa rón rén theo con Dồ. Nó cố ý đi thấp chân giống kiểu gặp địch để ông chủ hiểu, không một tiếng động. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 21 Tháng Bảy, 2017, 03:28:14 pm Họ bắt gặp sáu tên biệt kích mặc đồ rằn ri trên bờ con suối chỉ còn chảy bằng một dòng nước máng tre vào làng. Chúng đang ăn cơm sấy đóng bao với đồ hộp Mỹ, uống bia lon pha huýt-xki Mỹ, rì rầm nói gì với nhau chẳng rõ. Chúng được trực thăng thả xuống tìm cơ quan tỉnh, không nói cũng biết.
Chanh liếc nhìn cậu y tá mặt tái xanh, tay run, miệng hớp hớp như cá lên cạn. Anh bò đến gần, rỉ tai: - Đưa lựu đạn đây, cả hai trái. Cậu rút thẳng về cơ quan, báo động, nhớ nói rõ là chưa có lệnh đổi chỗ. Chỉ còn anh với con Dồ đánh tốp biệt kích. Anh thong thả cắn chốt cả hai quả da láng, xem lại cây súng ba nòng đặt bên tay phải, cây giáo sắc để tự vệ cuối cùng, trước khi tấn công. Hai quả lựu đạn nối nhau rơi nổ giữa mâm cơm biệt kích, chúng hét vang ầm khi chạy tản. Hai tên gác đầu và cuối chỗ mâm ăn, vừa chạy xô tới vừa gào. “Việt Cộng”, cùng bị hai phát đạn ria vãi xòe như hai nong sạn hắt tưới vào thân, úp chụp lên những tên kịp nhào sấp xuống tránh mảnh lựu đạn. Một tên ăn xong trước, qua bên kia suối chừng để đi ngoài, chộp vội cây tiểu liên Tom-xơn, nép sau một tảng đá, đảo mắt tìm. Hắn lỳ mà dốt: đáng lẽ thu hình kín và rướn cổ bên phải chân tảng đá cho dễ xem và dễ bắn, hắn lại nhô đầu trên đỉnh vật che đỡ, nhờ đó Chanh không bị thấy trước, quét đạn trước, vẫn nằm sấp, anh kê súng ngắn trên rễ cây to, ngắm kỹ, bấm cò nòng thứ ba. Viên đạn trường. Anh trượt trên đá, nòng cưa ngắn bắn khó trúng, nhưng vẫn bật lên xóc vào mặt tên lính rằn ri. Hắn rít một tiếng ngắm, thả rơi tiểu liên, ngã vật xuống. Chanh vỗ lưng con Dồ, cầm giáo và cây súng rỗng chạy thục mạng, vẫn nhớ tạt qua các bụi gân voi ban nãy để lấy gùi, rựa, thuổng, vác tất cả chạy về cơ quan, chỉ dừng vài phút để lắp đạn vào súng ngắn ba nòng, lại chạy nữa. Cậu y tá về trước đã báo động. Nói lắp bắp sao đó, anh chị em lại tưởng anh bí thư bị địch vây bắt rồi, chúng đang dò đường vào cơ quan tỉnh. Vài người nhát sợ nhất đã xốc ba-lô định lủi êm. Anh chánh văn phòng và cậu bí thư chi bộ, một già một trẻ, phải nhảy ra chỉ huy. Người đang sốt rét, già yếu, phụ nữ vướng con mọn, phải thu dọn các thứ tài liệu, các máy chữ và thu thanh, lùi xa ít nhất một buổi đường núi, đợi nhau ở căn cứ Hai. Điện đài tách một nửa cõng máy theo nhóm này, một nửa ở lại đánh. Nồi soong dìm xuống vực, heo gà mở chuồng thả vào rừng, chúng sẽ tự trở về nếu vắng tiếng súng. Địch vào đốt phá mặc chúng, ta về làm lại nơi khác khó tìm hơn. Con chó Dồ, con cưng của mọi người, lon ton chạy về, chỏm đứng hai chân trước cậu bí thư chi bộ, quẫy đuôi rất vui như báo tin mừng với những người hiểu nó. Cậu bí thư chi bộ đang lắp thêm đạn vào băng Tuyn cải tiến - dùng đạn K.50 thay đạn chín ly của Pháp, từ miền Bắc gửi vào, đã được cẩn thận đeo trên ống tản nhiệt một vỏ đạn K.50 rỗng cho khỏi dùng sai đạn to hơn nòng - chợt nhận ra những nét mừng mà con Dồ cố làm cho người hiểu. Mươi phút sau, Cả Chanh trở về giữa bấy nhiêu tiếng thở phào nhẹ nhõm, với gùi, giáo, súng ba nòng, bộ dạng ông già Thượng không hề sứt mẻ. Cậu bí thư trẻ lao ra sân ôm ghì anh: - Thấy con Dồ chạy về một mình, cả cơ quan lạnh ngắt xương sống hết, chắc chú bị gì rồi. Đang xếp quân đi giải cứu chú. Có phải tản cư chưa chú? - Chưa cần. Anh chị em đã xếp gùi cứ lùi ra sau cơ quan cho chắc. Số trẻ mang võ khí đi dò lại chỗ suối cạn mà Chanh đã một mình đánh úp toán biệt kích. Chúng bỏ lại ba xác chết, bốn tên bị thương, cái máy bộ đàm bị lựu đạn phá võ toác, bốn cây tiểu liên và các-bin còn tốt, một súng ngắn Côn 45, một súng bắn pháo hiệu có nhiều đạn màu, chín cái ba-lô đầy những tăng võng và đồ hộp. Một tên đeo lon hạ sĩ không đợi hỏi, đã hối hả khai để chuộc mạng. Chúng ra đi từ đồn quận Khâm Đức, mười hai tên tất cả, sục rừng tìm mật khu cộng sản cấp tỉnh đã ba ngày, báo trước cho trực thăng sáng mai tới đón vì chưa tìm ra, phải về quận vì lội leo quá mệt. “Khi bị quý ông vây đánh, toán biệt kích tui đã yên trí vùng này không có cộng sản, chỉ cần tránh chông bẫy của “bọn mọi” là yên ổn về đồn”. Trừ số bảy tên bị bỏ lại, còn năm tên thoát, kể cả lành lặn hay bị thương nhẹ còn đi được. “Chắc hẳn chúng theo bản đồ trở về Khâm Đức thôi, quý ông theo dấu chân là bắt trụm hết”. Tên hạ sĩ cay cú vì bị vất lại, muốn đưa hết số đồng đội phản phúc kia vào trại giam chung với mình. Cậu bí thư chi bộ trẻ tuổi muốn kéo ngay đội tự vệ đuổi theo dấu chân những tên sống sót. Ông chánh văn phòng tóc hoa râm cản ngay: “Nhiệm vụ chúng ta là bảo vệ Thường vụ tỉnh ủy chứ không phải truy lùng biệt kích. Lỡ khi mình say máu rượt theo tụi nó, một mũi biệt kích khác đánh úp vô cơ quan, bệnh xá, điện đài, giết cán bộ với thương binh, lấy sạch tài liệu tối mật? Rõ ràng là lợi bất cập hại”. Và tất cả đội tự vệ cơ quan khiêng đám biệt kích bị chết đi chôn, cắm biển tạm bằng gỗ đề tên người, lại khiêng các tên bị thương về bệnh xã chữa chạy, khuân vác mọi thứ chúng bỏ lại đến còng lưng. Còn may vô vàn là giới y tế vừa nghe kinh nghiệm của dân Thượng dùng loại dây leo lôông tơ-uyn, có tính kháng sinh rất cao, đun nấu đến thành cao đặc cũng không đổi tính, có thể thay cho các loại xi-lin hay my-xin trong tây y trong những năm bị địch bao vây thuốc này. Trong bốn tên bị thương, khi được chữa lành, hai đã xin ở lại với cách mạng. Hai nữa xin về thăm nhà, sau đó một trở lên căn cứ, chỉ một gửi thư xin được yên thân làm ăn vì đã ba con, xin thề suốt đời không hề phản Cụ Hồ, chống “quý ông giải phóng”. Tay này đút lót trốn lính cho bọn tề thôn xã, cho Quân vụ thị trấn được hơn một năm thì cùng kiệt, phải đùm túm cả nhà sáu miệng ăn đi dinh điền đâu tận phía Nam tỉnh Đắc-lắc, không dám gửi thư về quê nhằm tránh bị giấy đòi quân dịch rượt theo. Nhà khá giả cho con trốn lính ngay trong làng, trong nhà, nhà nghèo phải trốn thật biệt tăm tích mới thoát, chỉ mất một lần tiền mua giấy tờ giả là xong. Đồng chí quyền bí thư tỉnh ủy Thanh Trà, sau khi được gọi là “cụ Thượng, cụ Lang”, nay được thêm tên mới là “đơn vị một người”. Năm tên biệt kích sống sót đưa nhau về đồn quận Khâm Đức, theo cơ sở nội tuyến báo lại, đã khai bị sa vào vòng vây của một đại đội Việt Cộng có đủ súng moóc-chê, đại liên, còn thêm thứ súng tối tân hắt đạn vào thân như mưa đá. Chỉ đường cho đại đội ấy là một tên “Việt Thượng cộng phi” đóng khố vác giáo, râu tóc lòa xòa, thuộc rừng núi như lòng bàn tay. Lính ngụy ở Khâm Đức hầu hết là số không đủ tiền nộp để làm “lính ma, lính kiểng”, ghi tên ở Khâm Đức nhưng thân xác gửi ở các snack-bar từ Sài Gòn ra đến giới tuyến Bến Hải. Sống hay không sống? To be or not to be? Thằng nào dại cứ kiếm lon, kiếm thưởng, kệ mẹ cha chúng mày, tao mãn hạn quân dịch là về cày ruộng, xới vườn, buôn chuyến, đợi khi có dịp là tao bay vù đi đâu mặc kệ, miễn là không nằm sấp giữa hai làn đạn chiu chiu trên gáy. Mỗi khi nghe cái tên dài mới được phong, Cả Chanh lại lắc đầu, vỗ vỗ con chó Dồ: - Công lao phải chia ba. Con Dồ tìm ra địch, cậu y tá đem hai trái lựu theo, mình có công nổ lựu đạn, nổ súng. Chia ba là phải. Phần con Dồ, cho nó ưu tiên, ăn khá, thưởng bằng khen nó chẳng đọc được, tội nghiệp thân nó! - Giỡn chi vậy anh Cả, lập công mà không được khen thì anh chị em khác cũng bị cụt hứng, chẳng ai muốn xông lên tấn công như anh nữa... - Có lý. Vậy các bạn viết cho mình ký ba cái giấy khen: đồng chí Thanh Trà khen đồng chí Thanh Trà là một, khen cậu chó Dồ là hai... Ôi, sao lại cười? Nhớ thử coi, hồi xưa trên hành lang từ Quảng Nam lên Hạ Lào-Đông Bắc Miên có mấy con voi được thưởng huân chương đó nghen. Khi chở hàng, muối hay súng đạn, mình chẳng có cân to, hễ chất lên bành quá nhẹ hay quá nặng thì các ông voi đó quất vòi ra sau, cứ quỳ phục bốn chân không chịu đứng dậy, rống theo kiểu riêng mà quản tượng mới hiểu. Chưa hết đâu. Khi làm lễ mừng chiến thắng, mấy ông đó thấy thiếu cái huân chương buộc dây dài nhằng qua cổ là cứ đứng dẫm chân và rống dài dài, đợi đeo xong huân chương mới tới dự lễ gật đầu đưa vòi chào các quan khách rất là đàn anh… Con chó Dồ không biết nói, mà nó hiểu hết đó... Coi kìa... Con Dồ nghe tên nó được nhắc nhiều lần với cái giọng trìu mến, đã bò bốn chân rất khiêm tốn đến giữa hai chân ông chủ mà nó nhớ được gọi là ông Cả, anh Cả, nói rất nhiều tiếng lạ khiến nó rối óc, chỉ biết rằng ông chủ này luôn thương nó. Cả Chanh đùa, đánh trống lảng cho qua cái trận cò con. Mà không thoát. Khoảng một tháng sau, nhóm phái viên của Quân khu 5 về nghiên cứu chiến trường trọng điểm Quảng-Đà, bàn mảnh sao đó với chi ủy cơ quan tỉnh, mời tất cả cơ quan họp một tối nghe tình hình chung trong khu. Tất nhiên Chanh đến dự. Các ông khách đột ngột đưa ra một bằng khen của Quân khu 5 tặng đồng chí T. đã đơn độc tiến công một đơn vị biệt kích, giữ an toàn cho các đơn vị ở hậu cứ của tỉnh. Tới đó mà từ chối mãi cũng khó coi. Chanh đứng lên nhận, nói đôi lời hiếu hỉ cho xong chuyện. Dứt cuộc sinh hoạt đêm, anh gọi cậu văn thư đến, ghi thêm mấy chữ vào dưới tấm bằng, bảo cậu ghép vào hồ sơ anh Tô Xáng để trong kho mật. Cậu kia trở về lán mình, châm cây nhựa thông dùng thay đèn, đọc dòng chữ Cả Chanh đề dưới góc: “Quân khu 5 truy tặng đ/c T. tức Tô Xáng, đã hi sinh anh dũng vì dân vì nước”. Sức mấy mà cãi lại “cụ Thượng”. Đành phải làm theo thôi! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:25:10 pm Chương 11 Trời Hà Nội đang kỳ rét lộc và mưa phùn, đường phố phủ bùn nhem nhép lỏng. Đàn ông đi dép bốn quai hay giày vải có cổ còn đỡ bẩn, các bà các chị ngại trơn trượt phải đi guốc cuốc bộ, mỗi lần gót guốc nẩy lại hắt thêm năm bảy giọt bùn to nhỏ lên ống quần đằng sau, chỉ qua vài trăm thước là đủ hiện rõ hai mảng bùn hình tháp nhọn, dưới đậm trên nhạt, đỉnh lên tới nửa đùi dù đã cố rón rén. Nền mây đệm bông xám trên đầu tỏa xuống một ánh sáng hoàng hôn kéo dài suốt buổi chiều. Điện đường đợi đúng giờ mới bật, lúc ấy trên phố đã có nhiều xe đạp vấp nhau, kêu oai oái. Và điện đường chỉ để lại bóng to ở các phố chính, đã thay bóng nhỏ ở hẻm các phố nhỏ, tháo bớt bóng để soi cách quãng trong các hẻm và khu nhà tập thể gần ngoại thành, chỉ đủ đánh dấu con đường chứ không soi sáng, vì điện thế xuống quá thấp, lắm lúc bóng dây tóc chỉ đỏ lên như hòn than củi. Các nhà có con đi nước ngoài nổi rõ lên vì ánh sáng chơi trội, nhờ những bộ tăng áp gửi về, tuy nằm lọt giữa một khu tập thể “quạt chạy lờ đờ, đèn mờ đom đóm”, ấy là khi không bị cúp điện. Hoàng Lan xếp hàng đến gần bảy giờ tối thì mua được số gạo và ngô xay theo số lương thực. Đang loay hoay buộc hai cái bao tự may bằng ống quần cũ của chồng vào chỗ đèo hàng xe đạp, Lan nghe tiếng kêu than và la hét dội lên trên cái đuôi dằng dặc đang xếp hàng. Không cần nhìn lại, Lan đã biết là bảng “hết hàng” đã treo, cửa nhận hàng đã đóng, nhưng bao giờ khách hàng cũng kịp thấy những bao tải đầy căng còn xếp cao bên trong cửa hàng lương thực trước khi các vị “nội trợ của nhân dân” đóng cửa ghi-sê trước giờ bán đã quy định lại. Vài năm trước, khi bắt đầu bán theo định lượng, ngành lương thực đưa ra các loại tem phiếu, tiếp tới sổ lương thực, một cân gạo bốn hào. Dân ngại xếp hàng, mua gạo chợ đắt hơn vài hào nhưng tùy ý chọn, gạo ngon hơn, đỡ mất thì giờ. Đến khi gạo và thịt cấm bán tự do ở chợ, họ mới đổ xô tới chịu xếp hàng ở mậu dịch. Cửa hàng gần bệnh viện Việt-Đức cứ nhất định bán và nghỉ theo giờ hành chính: “Chúng tôi là cán bộ công nhân viên Nhà nước, phải làm và nghỉ theo giờ Nhà nước chứ sao!”. Những người ăn lương Nhà nước nếm đòn trước tiên. Giờ đi làm không thể bỏ, cả nhà vắng, lấy ai đi xếp hàng. Các bà mậu dịch dùng sổ giờ vắng khách ấy để bán từng bao, tùng chục bao tải gạo, mì sợi, ngô xay cho bọn con phe. Số này ngày càng đông, ngày càng trắng trợn, ngày càng giàu, vung tiền ra mua các vị cấp trên và công an khối phố, ăn lãi tăng theo cấp số nhân. Dân phố nói ngọt không nổi, tự tổ chức các cụ về hưu, nhờ góp sổ đi mua hộ cho nhiều nhà, có tiền thù lao. Một ả hàng quà rong mới được chồng thu xếp vào làm mậu dịch để “cải tạo tiểu thương”, đã hất cả một xấp sổ do cụ vụ trưởng tóc trắng đã hưu đưa vào ghi-sê. - Cấp trên đã bắt chúng cháu không được bán nhiều sổ một lần, bảo là tránh ăn lãi trung gian, nhà nào tự mua phần nhà ấy thôi. Cãi qua lại một hồi, tới lượt ông cửa hàng trưởng ra oai: - Tôi biết cụ trước đây là cấp trên của tôi. Hồi ấy cụ ra lệnh thì cấp dưới phải răm rắp, không phục tùng thì cụ trị cho nhừ xương. Bây giờ cấp trên của tôi ra lệnh thế đấy, mời cụ lên Cục lên Bộ mà kiện, cãi ở đây là cản trở công tác của cửa hàng. Phải mất bốn tháng điều tra, ngâm cứu, đợi xét duyệt từng cấp, đợi các vị lãnh đạo bận đi nước ngoài, đi nằm bệnh viện, đi nghỉ mát, hay có mặt tại chỗ nhưng họp nhiều đến nỗi không giải quyết chuyện vặt là giờ bán hàng và nạn phe phẩy, thì cách bán được thay đổi: sáng, năm giờ đến chín giờ, chiều, bốn giờ đến tám giờ. Dân có thì giờ mua, mà nhân viên bán cũng còn dư thì giờ để tuồn hàng cho con phe, đan len, tán gẫu, ăn quà vặt, chạy theo những đứa con bám mẹ. Các cụ hưu được xét cấp giấy phép mua lương thực cho nhiều hộ, về chia nhau. Và đến khi chia, lại nổi bật lên cái chuyện “Cân đong đo đếm”. Mậu dịch đong nhiều bao loại năm cân, mười cân, chỉ ném ra đủ số cho người mua trút vào bao mình, đem về cân lại bị hụt năm cân thành bốn, mười cân thành tám hay tám rưỡi. Lại họp dân ký kiến nghị tập thể, lại công an được cử điều tra người ký xem có vụ “Chống chế độ” nào lọt vào chăng. Lại qua rất nhiều điều tra, ngâm cứu, xét duyệt nữa, với nhiều đoàn kiểm tra đi lướt qua, mức ăn bớt xén giảm đôi chút rồi trở lại như cũ. Các thứ tem phiếu khác đều bị cắt cổ như thế. Chất đốt, thịt, dầu mỡ, sữa trẻ em, cả xì dầu và mì chính nữa, đều trở thành mồi ngon của “con phe ngoài” hay “con phe Nhà nước”. Ăn, cố ăn, chia nhau ăn, nộp phần ăn cho người có chức quyền, nếu bại lộ thì Nhà nước chỉ bắt làm kiểm điểm hay cùng lắm là đưa ra khỏi biên chế, số vốn kiếm được đã đủ để buôn lậu với tấm bình phong hợp pháp của một quán nhỏ hiền lành, với lãi buôn lậu bằng trăm lần những đứa ăn lương Nhà nước. Và phải luôn nhớ không ngớt mồm kêu đói khổ vì thuế nặng, chỉ bán lèo tèo chè chén với kẹo lạc mà các ông ấy không tha, chắc phải giẹp cái quán vỉa hè này thôi. Chỉ ít lâu sau, bà bán chè khốn đốn ấy kín đáo mua được một mảnh vườn, giỡ bỏ căn nhà tranh của chủ cũ, xây luôn một nhà gạch mái đúc bê-tông hai tầng, bên trên còn tua tủa những cây sắt nhọn để đón tầng ba. Lâu lâu gặp người quen, bà lại thở dài: “Dầm mưa dãi nắng mãi đến rạc người, mới phải ngậm bồ hòn mà thuê chỗ bán tí ăn uống mới sống tạm qua ngày”. Lúc nào cũng rên rỉ, nhưng mỗi giờ khuya đếm tiền bà lại tươi như hoa: bà mổ họng khách hàng ăn phở, uống cà-phê, bà thít cổ các cô thất nghiệp xinh giờn, bà trốn thuế, bà thuê nhà của chính bà. Mỗi ngày lãi của bà bằng lương tháng của một kỹ sư hay bác sĩ cỡ lớn đã bạc tóc trong nghề, còn đám mới ra trường chỉ bằng con số lẻ, bà hay vất cho lũ con ăn quà sáng. Hoàng Lan không dám cưỡi xe đạp vì thồ nặng và đường trơn, đèn tối, chỉ hì hụi đi bộ thồ hai bao gạo ngô và thùng dầu lửa về nhà. Chả cần ai cười chê, Lan xắn hai ống quần quân phục cũ bạc màu lên quá gối, đi giép cao-su đen, lật cái nón lá cũ ra sau gáy, từng lúc kêu to: “Tránh nhé, xe đây nhé” khi xe đạp khác lao tới trái đường. Các bà các chị dặn mãi là có thai đến tháng thứ ba rất dễ sẩy, phải giữ thân rất kỹ. Giữ thân rất dễ, nuôi thân mới khó. Anh Cam chắc đã về, lau xe đạp xong đang nấu cơm canh, luộc rau. Thằng Nhứt ăn tạm mấy mảnh bít-xcốt làm bằng bánh mì thừa sấy khô, đang chơi và nghe phát thanh bên hàng xóm. Hai vợ chồng đã dành dụm mua được một quạt bàn nhỏ Ma-re-li loại rẻ tiền không có trục xoay, thường dành cho con trong mùa nóng cho nó đỡ rôm sảy, đang tiến tới bước hai là mua một máy thu thanh, cũ cũng được, cho khỏi nghe nhờ hàng xóm và khỏi lạc hậu tin tức. Đúng như Lan đoán, anh Cam đã lau qua xe đạp và nhấc vào buồng tránh mưa, đang ngồi trầm ngâm trên cái đòn thấp trông chừng bếp trấu hâm canh. Bếp được đặt trên một mảnh sát tây gỉ cho khỏi hỏng nền buồng lát gỗ, hàng viện trợ. - Giúp em tí, anh! Cam giật mình, chạy ra cửa, xuống ba bậc cấp gỗ, xốc tất cả các thứ vợ mua về trên hai tay, đem xếp vào góc căn buồng chật. - Em đi gọi con về ăn, anh lau xe, để ướt chóng gỉ lắm. Tám giờ tối, bộ ba mới ngồi vào mâm. Thằng Nhứt vừa ăn vừa ngủ gật, hai lần đánh thức nó mới ăn đủ hai bát với canh, mấy con tôm rang mặn, vài sợi rau muống luộc mà nó rất ghét. Cam phải xốc nó trên tay khi bắt uống nước rau muống, súc miệng nước muối, rửa hai tay và kỳ cọ hai chân nó phết bùn đến gối, khi Lan rửa bát đĩa xong vào thì Cam đang cài chăn, buông màn cho đứa con đã lịm đi như ngấm thuốc mê. Chín giờ tối, hai vợ chồng mới thực sự gặp nhau kể từ mờ sáng. Cam trách nhẹ: - Anh đã bảo đến chủ nhật anh đi mua các thứ. Em đang có thai tháng thứ ba... Lời trách ấy lại như làn hơi ấm quạt vào Lan trong đêm rét lộc này. Lời trách mà là lời khen, lời biết công vợ. Nhung Lan chỉ kịp nghĩ ra một câu đáp ngớ ngẩn và hơi xẵng: - Ngày nghỉ của anh phải dài tới bốn mươi tám tiếng. Bạn chiến đấu cũ tới thăm, bạn giảng dạy đến bàn việc, bạn miền nam hỏi tin tức, sinh viên nhờ phụ đạo, bà con họ hàng phía em phía anh cần nối dây tình cảm… Trốn đâu được, anh Sáu? Sáu Cam nín lặng. Sự thật là thế. Anh không còn chút thì giờ nào để đưa vợ con đi giải trí ở rạp Kim Đồng dành cho thiếu nhi, hay đi dạo ở những nơi mà anh đã gánh đất xây dựng như công viên Thống Nhất hay đường Thanh Niên-ngày xưa là Bảy Mẫu và Cổ Ngư. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:29:35 pm Cam tốt nghiệp Đại học tổng hợp vào hạng nhất lớp. Sinh viên hay đùa nhau là “bỏ biển xanh, giành biển đỏ”. Trường dập biển tên đeo trên ngực hình chữ nhật để bảo vệ tiện kiểm soát, chỉ khác ở màu sơn nền: nền xanh là của sinh viên, màu đỏ là của cán bộ giảng dạy và tất cả các loại công nhân viên chức khác. Cam không muốn ở lại trường, nhưng phải phục tùng sự phân công như đã ghi trong đơn dự thi bốn năm trước. Các cơ quan đã đọc các bài Cam viết về Nguyễn Đình Chiểu và Lục Vân Tiên, về dân ca Nam Trung bộ, về thơ văn miền Nam hồi chống Pháp, đều đánh giá là biết nghiên cứu loại khá, đã cho người đến tìm hiểu thêm và làm công văn xin Cam về chỗ mình. Nhà trường từ chối cả. Khoa ngữ văn vừa lập thêm một bộ môn mới để nghiên cứu và giảng dạy văn học miền Nam sau cách mạng tháng Tám, đã quyết định Cam ở lại trường làm nghiên cứu sinh và trợ lý giảng dạy thuộc bộ môn này. Đưa ý kiến ý cò ra chán rồi đành nhận việc chứ sao. Và chỉ vài tháng sau, Cam bị bầu vào Đảng ủy Khoa học xã hội, làm phó bí thư chi bộ khoa Ngữ văn. Năn nỉ xin rút khỏi danh sách đề cử, không được.
Tính Sáu Cam xưa nay vẫn thế: từ chối không được thì phải nhận việc, và đã nhận việc thì phải làm hết mình. Làm hết mình là mất nhiều sức khỏe, mất tự học và nghỉ ngơi, mất giờ giúp vợ và dạy con, phải gánh thêm không ít lời cằn nhằn, mỉa mai chế giễu trước mặt và cả đòn ngầm ác hiểm sau lưng, ở đâu cũng có những người như thế: năng lực chuyên môn kém thì cố ngoi lên bằng thăng quan tiến chức, gọi mỹ miều là công tác Đảng, công tác quản lý, hay cao hơn nữa là công tác lãnh đạo. Nhưng ở trường đại học thì phải giỏi chuyên môn mới có uy tín, họ đi rỉ tai khắp nơi mà khi bỏ phiếu kín vẫn dẫm vỏ chuối. Lấy mình làm thước đo, suy bụng ta ra bụng người, họ tin rằng thủ đoạn kẻ kia cao tay hơn mánh lới của mình, những ai lạy van không nhận đề cử chỉ làm như Tào Phi ngày xưa ba lần từ chối không nhận ngôi vua, nhưng vừa ngồi vào ngai vàng đã lập túc đuổi vua cũ đi đày và trị dằn mặt lũ em ruột để trù hậu hoạn! Ông bí thứ Đảng ủy nhà trường, tú tài hồi Pháp, đã hoạt động Việt Minh trước Cách mạng tháng Tám, đã nhất quyết không chen vào những vụ tranh cãi về học thuật. Một trường với rất nhiều khoa, cả tự nhiên lẫn xã hội, hay xảy ra nhũng vụ kiện như thế, và giới cán bộ giảng dạy thường ép Đảng ủy xử kiện, nếu không muốn bị coi như bù nhìn. Trong mỗi khoa lại có lắm trường phái tùy nơi đào tạo: Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, các giáo viên cấp ba lâu năm được đưa lên vừa học thêm vừa dạy, các nghiên cứu sinh và trợ lý mới tốt nghiệp đại học vài năm gần đây. Sáu Cam bị bầu làm phó bí thư ở đấy, thấy mình là con cá bỏ giỏ cua. Thì giờ bị xé vụn tơi tả. Ở trường, đang soạn giáo trình cho bộ môn văn học miền Nam-cụ chủ nhiệm bộ môn suốt đời chưa hề vượt khỏi Đèo Ngang-bị gọi giật đi họp, đi hội ý, đi xử khiếu nại về đời sống hay lủng củng nội bộ. Về nhà, chưa kịp tắm rửa ăn cơm đã có ai đó đợi sẵn hay đổ bộ đột ngột, xin lỗi cô vợ mấy tiếng gọi là, bảo cần gặp Cam vài phút thôi. Vài phút ấy kéo thành vài tiếng với những lời dỗ dành hay gay gắt, có khi đập bàn đến đổ cốc chén: hữu khuynh, mũ ni che tai, coi khinh ý kiến đồng chí đồng nghiệp, cực đoan, phiêu lưu, tiền phong chủ nghĩa, kiêu căng ngông nghênh... Ban đầu Hoàng Lan hoảng hồn định chen vào can, liên tiếp gọi chồng đi ăn cơm kẻo cả nhà chờ. Mãi rồi quen, Lan chỉ xách một xô nước úp chậu thau và treo khăn mặt lên trên, để phần cho chồng trên mâm đậy lồng bàn, riêng cơm thì lót giấy báo và trùm chăn ủ nóng trong nồi. Lan sợ nhất khi bà Ất béo đến. Gọi là dạy bảo người cháu dâu cũ đã đi bước nữa, nhưng bà nói quên dừng lại, như vòi nước ban đêm ai đấy quên khóa. Chồng con và bạn bè chán bà “nói dai, nói dài, nói dại”, bà mở máy trong nhà bà chỉ năm phút đã vắng khách. Đến nhà Lan bà không bị khách nghe bỏ trốn. Lan cứ giặt giũ, nấu ăn, giặt đến nửa giờ hay nấu nửa giờ bên ngoài, bà vẫn kiên nhẫn giữ thằng Nhứt tuy nó cũng muốn chạy sang xóm nghe nhờ ca nhạc thiếu nhi hay sân khấu truyền thanh, nếu được một cô chú nào cho nhập bầy con đi xem phim Kim Đồng thì tuyệt. Lan vào nhà, Cam đi họp đêm về, cái đĩa hát vô tận vẫn ra rả không ngừng. Chính cái bà nặng ngót một tạ ấy, chiếc ghế nào bà đặt mông không gãy cũng rên ấy, đã gây nên một vụ cãi cọ khá găng giữa hai vợ chồng nạn nhân. Lan mở đầu trước: - Bà Ất trách anh mãi. Thấy bà ấy đến là anh mắt trước mắt sau kiếm đường chuồn. - Thì anh đã giao hẹn rồi mà. Anh sẽ chào hỏi lễ phép, pha nước, gọi vợ con ra chào, mười lăm phút sau sẽ xem đồng hồ và hối hả xin lỗi đi họp kẻo muộn giờ. - Nói dối mãi cũng lòi đuôi... - Em biết rõ anh đi đâu. Anh Lê Tùng treo biển trước cửa buồng “Xin lỗi, tôi đi vắng”. Tấm các-tông lật mặt chữ xanh là giả vờ vắng để yên thân làm việc, bạn rất thân như anh và em gõ cửa đúng tín hiệu ảnh mới ra mở. Mặt chữ đỏ là vắng thật. - Bả nói anh coi khinh bả là coi khinh anh Thống, coi khinh thằng Nhứt. Em là đứa bạc bẽo, hưởng của vun đắp của chồng cũ để nuôi con chồng mới... Cam vọt đứng dậy, chén nước trong tay chao xuống nền nhà một mớ giọt: - Cô có thấy thế không? - Em không thấy, mà người ngoài thấy. Bả đòi đưa thằng Nhứt về bả nuôi, em không chịu. Bả bắt anh phải lập bàn thờ anh Thống để hương hỏa giỗ quải. Em không hứa gì hết. Bả nói treo ảnh anh Thống chỉ là che miệng thế gian thôi, ít nhứt phải đặt làm bài vị, không cúng thì đưa bả đem về cúng. - Cô trả lời thế nào? - Em có hứa làm theo ý bả. Cam đi qua lại trong buồng hẹp, hai tay đút túi quần. Trong túi còn sót một điếu thuốc Bông Lúa đã dúm dó, loại ba hào một gói rẻ tiền nhất. Cam lập cập đánh bốn que diêm Cầu Đuống, xấu quá, que thứ tư mới chịu cháy. Cũng thêm thì giờ để tự trấn tĩnh. - Lan nghe đây nhé. Anh Thống khi còn sống đã chế giễu cái bà trong họ xa đến nỗi pháo 155 bắn không tới, dặn Lan đừng nghe lời cái bà cám hấp đến cái độ chồng con phải trốn xa, còn nhớ chứ? - Nhưng bà ấy là chỗ bà con họ hàng... - Bà con họ hàng không phải là một thứ bằng cấp được nhận từ khi sinh ra, chết đi vẫn còn giá trị. Thiếu gì kẻ ăn chơi dông dài, theo cờ bạc rượu chè chán lại theo ngụy quân ngụy quyền, sẵn sàng giết tươi những người bà con gần nhất theo Kháng chiến, kể cả anh chị em ruột. Đến lúc bí nhất, bỗng sực nhớ tói những kẻ mình đã giết hụt, cố moi ra cái tình ruột thịt máu mủ để dù xa tới mức chưa hề gặp nhau, nhờ cứu nguy không được thì chửi như Chí Phèo, đợi về sau sẽ chửi tất cả bọn cộng sản hay treo cổ cộng sản trong một cuộc bạo loạn nào đó như Hung-ga-ri. Tới đó chắc không ai trưng ra cái bằng “bà con họ hàng” mà cô thấy là thiêng liêng nữa. Anh rất quý trọng anh Thống, chính anh nhắc cô mỗi năm phải một lần tưởng niệm ảnh theo ngày sinh hay ngày mất tùy ý, và phải nhắc thằng Nhứt kính yêu ba Thống cũng như ba Cam... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:31:46 pm Cam rót uống một cốc to chè pha loãng, nhận thấy mặt Lan khi đỏ khi tái. Lan đang cố nén cơn tức. Giận mất khôn, lại sắp cãi chày cãi cối đây. Cam cứ nói chẻ hoe ra, con đi vắng, phải dứt điểm một lần với cái bà muốn làm lãnh tụ mà không ai bầu kia:
- Làm bài vị với mua bát hương không tốn mấy, nhưng nó cũ đến mục nát rồi, chẳng ai làm thế. Bà ấy được đàng chân lân đàng đầu, sẽ bắt cả nhà chúng ta góp tiền làm giỗ, lạy trước bài vị đủ bốn lạy, bắt chúng ta coi cái bà cám hấp kiêm cường hào ấy như bà mẹ, gọi đâu chạy đấy, lo liệu cho cái gia đình bị bà ta phá cho rối tinh. Sai vặt không được thì nói xấu, thì chửi, coi chúng ta như nô lệ da vàng, bả không biết hãm phanh bao giờ đâu! - Em không ngờ anh máy móc, khô khan, nghèo tình cảm đến thế! - Xin cứ tự do đánh giá. Trong vụ này, có lẽ anh với anh Thống nghĩ giống nhau, cô với bà Ất hợp ý nhau. Quy tội cho nhau chẳng ích gì. Tốt nhất, anh sẽ vắng mặt mươi ngày nửa tháng để cô có thì giờ suy nghĩ. Sáng mai báo trước cho anh Tùng kê thêm giường trong căn buồng độc thân của ảnh, chiều mai anh đi. - Anh cố lánh mặt cả em với con à? - Đúng! Tạm ly thân ít lâu, nếu thấy không hợp nhau thì nên ký giấy ly dị. Chúng ta chưa có con chung, chẳng rắc rối gì mấy. Con nhà lính cả hai, miệng nói tay phải làm, anh không quen nói suông. Chiều hôm sau, Lan run rẩy ra vào, trong khi Cam thu dọn về ở với ông Tùng lớp trưởng mắt lồi, cán bộ biên tập nhà xuất bản Sự thật. Áo quần chỉ đủ cho một ba-lô chữ nhật của quân đội, nhưng sách báo tài liệu phải đầy ba thùng bìa cứng, tất cả chở xích-lô, Cam đạp chiếc xe cọc cạch theo sau, không một nét xúc động khi chia tay. Lan cài cửa xong, gục đầu khóc nức nở. Hàng xóm tò mò hỏi, Cam chỉ nói qua loa: phải làm gấp một công trình nghiên cứu ở xa Hà Nội, mang theo bấy nhiêu tài liệu vẫn còn thiếu. Sau một tuần, Lan không chịu nổi nữa. Tuy vẫn oán anh Cam khô khan máy móc, Lan vẫn đến nhà xuất bản gặp anh Tùng. Phòng làm việc kê ba bàn của tổ anh đang vắng, anh Tùng gọi Lan lên đấy. Anh pha nước, gạt chồng bản thảo sang bên, kiên nhẫn nghe Lan kể khổ đến bốn mươi phút, chen những cơn thổn thức nghẹn lời. Anh bạn vong niên của vợ chồng Lan lặng lẽ chống cằm hút thuốc, không ngắt lúc nào, cho đến lúc Lan nhìn chiếc đồng hồ báo thức đặt trên bàn mà anh đã xoay mặt về phía Lan. “Mình nhiễm cái thói nói quên ngừng của bà Ất mất rồi”, Lan thoáng nghĩ thế. - Lan nói hết chưa? Câu hỏi đượm mỉa mai không cố giấu. Lan hơi đỏ mặt, lắc đầu. - Đã muốn nghe ý kiến anh chưa? Nếu chưa, thì để hôm khác, anh đang bận, không nói tỉ mỉ như Lan được đâu. Lan cảm thấy mặt mình nóng hơn, đỏ hơn. Mình đang bị coi rẻ, quá rõ. Một mụ đàn bà tái giá, chỉ biết chê trách, đòi hỏi, muốn đè đầu cưỡi cổ ông chồng sau rất biết điều. - Anh cần cân nhắc thêm. Tối mai anh đến nhà Lan, khoảng bảy rưỡi, được chứ? Lan chỉ đủ sức gật đầu, đứng dậy vơ xắc tay và cầm nón. Một người tốt bụng và thẳng thắn như anh Tùng mà phải dè dặt đến thế, ắt chẳng phải chuyện lành. Trong khi mở khóa xe đạp, chợt lóe một ý nghĩ khiến Lan lạnh người: tối mai, anh Tùng sẽ đến với lá đơn ly hôn mang sẵn chữ ký của anh Cam, ghi rõ lý do là “tính nết và quan điểm khác xa nhau không thể hòa hợp”. Dù đã nén tự ái, Lan vẫn phải ký, và mất luôn đời chồng thứ hai. Bà Ất Béo sẽ thống trị nặng nề hơn, thằng Nhứt sẽ chán mẹ nó, đời chồng thứ ba sẽ làm mất hết mọi mối dây tình cảm gần xa, mất cả đứa con ghét mẹ... Lan khóa xe lại, định chạy ào lên buồng anh Tùng, mới đi mươi bước lại dừng khi nhớ cái giọng lạnh lùng mỉa mai khi chào tiễn. Qua hai ngày một đêm nặng nề thao thức, anh Tùng đến đúng hẹn theo nếp quân sự, nay được gọi là “tác phong công nghiệp”, dù bên ngoài đang mưa dầm. Anh treo áo mưa vải bạt và mũ cối cạnh cửa, ngồi bên bàn nước và nói ngay: - Đừng pha nước nhé. Anh nói ngắn và nói thẳng: anh đã nghe và cân nhắc lý lẽ cả hai bên, anh thấy Cam đúng và Lan sai. Ý kiến riêng thôi nhé, muốn nhận hay bỏ tùy lòng... Tất cả những ai đến gặp vợ chồng Lan đều thấy lạ: người chồng kế luôn luôn coi người chồng trước là mẫu mực, là người anh cao quý cho cả nhà noi gương. Chuyện ấy rất hiếm có. Lan vẫn chưa vừa ý, bị bà Ất xúi bẩy đến cái mức buộc chồng làm điều quái gở, quý vợ như Cam cũng phải nổi loạn. Cái kiểu quan hệ đại gia đình phong kiến quá lạc hậu kia, hai người gặp nhau lần đầu phải cùng tính sổ hàng giờ như kế toán mới biết nên gọi nhau bằng gì, và kết luận lắm khi quái ác: ông già bảy mươi gọi thằng bé mười sáu bằng bác, xưng cháu, một chị ba con bồng một đứa bé mới biết bò trên tay và dỗ: “Ơi ời để cháu ru bà trẻ ngủ nhé”. Là tại sinh vào ngành trưởng hay ngành thứ, chi trên hay chi dưới. Anh có nghiên cứu xã hội Trung Quốc thời phong kiến: quan hệ bà con của họ không tỏa rễ to nhỏ dài ngắn quá quắt đến thế đâu, dù Trung Quốc là cái gốc phong kiến của Châu Á. Châu Âu càng đơn giản hơn rất nhiều. Ý anh là thế đấy. Lan tắc họng, dặng hắng mãi mói nói được: - Anh... anh Cam ... nhắn gì em không? - Có. Anh ấy báo cứ để Lan cân nhắc thêm một tuần nữa, nếu thích thì mời bà Ất đến ở chung, nên nghe tiếng chuông từ các phía. Anh ấy không muốn làm lành theo kiểu gượng gạo, che giấu, trong mo ngoài đất. Nếu không ai nghe ai thì sẽ bàn với Lan làm đơn ly hôn. Tính cậu ấy đã nói là làm, anh biết. Lại một cơn nóng đầu nữa bốc lên tận chân tóc Lan: - Em sẵn sàng ký đơn. Chắc anh Tùng cũng thế? - Ly hôn là do tòa án quyết định. Anh chỉ làm chứng khi kết hôn. Nhưng anh nói rõ là anh thấy quyết định của Cam không sai. Chào Lan, anh về nhé. Lan cài chốt cửa, vào ngồi gục đầu xuống hai bàn tay ngửa. Suốt mấy năm qua, anh Tùng được vợ chồng Cam coi như người anh chồng hết sức vô tư và tốt bụng, chuyên nói tình cảm. Khi vợ anh làm y sĩ ở Hải Phòng nghỉ phép lên chơi, chị nói riêng với Lan rằng anh Tùng chỉ có lỗi là lo cho vợ con nhiều quá, lo cho mình ít quá, tuy các thứ bệnh kháng chiến còn hành hạ mãi. Chị nhờ Lan thỉnh thoảng thăm anh và khám sức khỏe qua loa, Lan là y tá quân đội chắc dễ hiểu các thứ bệnh của lính cũ. Bây giờ, anh nói với Lan hai lần đều cứng lạnh như tảng đá hoa cương, và anh Cam cứ lù lù đi tới theo hướng mình như chiếc xe tăng hạng nặng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:34:18 pm Lan chịu kém ăn và mất ngủ thêm một tuần nữa, chịu đựng hai buổi lên lớp nữa của bà Ất Béo về tội thằng Cam chiếm đoạt tài sản của thằng Thống, và kinh nghiệm của đàn bà cầm cương chồng con sao cho vững. Lần đầu Lan ngắt lời bà ba bốn bận, nhẹ nhàng thôi. Lần sau thì Lan nổi loạn thật sự. Đến cuối Lan trừng mắt, gằn giọng:
- Bây giờ tôi mới thật hiểu vì sao anh Thống trước kia hay dặn tôi: giúp đỡ bà thì cứ giúp, nhưng chớ nên theo lời bà. Ảnh từ biên giới về, vợ con túng thiếu tới mấy ảnh cũng dành phần quà đến giúp bà, vì thương hại bà đông con và gia đình bà rối ren, bà lại tưởng ảnh giàu, ảnh phải triều cống bà vì một mối dây họ hàng nào đó do bà nêu ra chứ ảnh không nhớ. Bà làm mất gia đình bà chưa đủ sao, còn muốn phá quấy vợ chồng tôi nữa? Tài sản anh Thống hả? Có. Phần ảnh có nửa cái xe đạp tôi đang đi, cái tủ lưới bằng gỗ thùng phế phẩm, mấy cái ghế đẩu, ảnh về thăm nhà tự đóng lấy. Gia tài để lại cho thằng Chung bấy nhiêu, hễ bà có di chúc của ảnh thì tôi xin giao hết cho bà. Nếu không có, xin mời bà về! Lan vào ngăn buồng trong, đóng sập cửa sau lưng, nghe tiếng bà Ất chửi rít răng, rồi các bậc gỗ bước từ sàn xuống rồi rên rỉ dưới những bước chân vốn đã nặng lại dẫm mạnh hơn lúc thường. Lần này bà Ất không viết thư hay tìm gặp cấp trên của Cam và Lan nữa, vì biết mình đã già néo đứt dây, cũng sợ Cam và Lan phản công thẳng tay. Bà biến hẳn khỏi cuộc đời của bộ ba không ưa bà. Vợ chồng Lan làm lành. Lan được một bài học thấm sâu. Nhưng Cam vẫn mất thì giờ không ít, trong những trường hợp êm ả và thân thiết hơn. Các cụ các bác hưu trí bao giờ cũng ít nhiều bị “sốc” khi chuyển từ những ngày bận việc rối mù sang cuộc sống quá nhàn rỗi. Các cụ ở miền Bắc có thể lo giúp bầy con cháu, làm việc nhà. Các cụ miền Nam tập kết khổ hơn nhiều. Đã buồn vì xa vợ con họ hàng-số có tiêu chuẩn đem vợ con theo rất hiếm, ví dụ trong quân đội phải là tiểu đoàn phó trở lên-buồn vì ngày thống nhất ngày càng lùi xa và địch khủng bố gia đình những người tập kết ngày càng ác, lại buồn hơn nữa vì cô đơn trong cảnh thiếu thốn và già yếu. Mỗi lần được báo họp đồng hương, các cụ đi rất đông, nhưng các cuộc gặp mặt chay tịnh ấy cứ thưa ra mãi vì cứ phải kể cho nhau những tin đau lòng, cùng những chuyện bực mình vây quanh. Tìm nghề vừa sức để kiếm thêm tí chút bù vào lương hưu đã nhỏ lại teo nhỏ thêm vì hàng thiếu, giá tăng, tem phiếu chỉ đủ cầm hơi: phần lớn chỉ biết làm nông, không biết hay không làm nổi trăm thứ nghề ở thành phố. Kể ra làm ông gác cổng hay bà bán trà chén vỉa hè cũng được thôi, nhưng... nó cứ sao sao ấy. Từ ông bí thư Đảng ủy hay bà trưởng phòng tụt dốc đến đấy, lý đúng mà tình khó thông. Thà đóng cửa buồng mà tập làm hàng gia công cho mậu dịch hay hợp tác xã, đóng sổ hay dán túi ni-lông, hỏng mãi rồi cũng phải được, mệt đâu nghỉ đấy, mỗi tháng thu vào không bằng một ngày của cô bán hàng ở buồng bên, cô này phất tay lên nhờ buôn tem phiếu. Những cụ không kiếm ra việc phụ thường kết thành tùng nhóm theo địa phương, theo nơi ở. Sáng ra, gặp nhau chỗ vỉa hè hay bãi tập thể dục, về nấu một soong cơm ăn sáng và trưa, hâm nửa phích nước nóng còn lại cho đủ sôi để pha ấm nước uống sáng bằng loại chè mậu dịch bốn hào mà cô mậu dịch bên cạnh đem về bán với giá bảy hào một gói nửa lạng, hâm luôn cái soong con có cá tép kho với dưa cải già muối chua, món mặn này được cái qua nhiều lửa càng dễ ăn bằng độ răng lung lay khấp khểnh. Nếu còn đủ dầu lửa thì trưa và tối sẽ thêm tí canh hay rau muống luộc cho dễ nuốt. Khoảng tám hay chín giờ các bạn già sẽ đến chơi, hay mình đến nhà họ. Pha thêm chè, bày ra đĩa thuốc lá sợi, xấp giấy quấn sâu kèn, ngả bàn cờ tướng ra, thế là đủ cho một buổi tán gẫu và giải trí. Nhà nào có máy thu thanh thường được đón các bạn già nhiều nhất. Để chủ nhà khỏi thiếu thốn vì mình, các cụ thỉnh thoảng đem đến biếu một gói chè rẻ tiền hay một lạng thuốc lá sợi nâu. Tuy vậy, các cụ gặp nhau mãi cũng chán, nghe chuyện quê hương thời chống Pháp mãi rồi thuộc lòng, những tin tức hiếm hoi về miền Nam đã cũ mòn đi. Các cụ tìm đến lớp trẻ để hỏi chuyện thời thế và dạy bảo vô số điều hay lẽ phải. Sáu Cam được các cụ xếp vào hàng con em tập kết có chí, có tài, là một trong những bộ đội trẻ của Quảng Nam và Liên khu Năm sớm tốt nghiệp đại học, trong khi hầu hết đồng đội tập kết còn loay hoay với những lớp bổ túc cấp I hay mới vào trường Bổ túc công nông cấp II, cấp III. Các cụ gặp Cam rất ít, nhưng phần lớn đã từng đi toa xe lửa công hành của Cả Chanh hỏa xa. Ngày càng nhiều cụ đến làm quen với Cam. Theo các cụ thì cán bộ hay gì gì cũng chỉ làm việc ngày tám tiếng, buổi tối và chủ nhật là lúc nghỉ ngơi, chuyện vãn. Chẳng có luật lệ nào ép phải làm thêm hay học thêm ngoài giờ hành chính cả. Cụ nào cũng tưởng chỉ mình hay vài người nữa lâu lâu đến nói chuyện nhân tình thế thái và hưởng không khí gia đình với vợ chồng thằng Cam một buổi tối. Cộng dồn ba chục cụ đến nhận người cùng tỉnh, bạn của anh Chanh và bà giáo Hạnh, bạn bộ đội và cơ quan của hai bên vợ chồng, cả bạn anh Thống nữa, đã xấp xỉ con số mỗi tháng một trăm khách đến nhà. Treo bảng hai màu như anh Lê Tùng không được, Cam trốn vào buồng trong cũng khó yên, Lan học lớp ban đêm bổ túc lên y sĩ đến phải bỏ học mất. Ngân sách gia đình từ giữa tháng trở đi bắt đầu rối loạn vì các bạn từ khu Tư ra hay biên giới về không đủ tiền ở nhà trọ, không thích ở trạm đón tiếp quân đội, ghé ở với hai vợ chồng vài ba ngày, và cũng nghĩ như các cụ: hàng năm mới có bạn cũ tạt vào, chúng nó chả khó khăn gì mà ngại. Bàn đi tính lại mãi, Cam và Lan quyết định: tan tầm chiều sẽ về hối hả làm mỗi người một việc, sáu giờ mang tất cả các thứ cần cho buổi học đêm hay làm ngoài giờ, khóa cửa đi ăn cơm ở nhà ăn tập thể có bán phiếu lẻ, Lan mang theo một lọ tôm kho mặn hay muối vừng để ăn cho đủ bữa. Cơm xong, không về nhà mà chia tay luôn tại chỗ. Cam đạp xe đến nhà Lê Tùng; Lan đưa con đến gửi chị cấp dưỡng có bầy con năm đứa hay ốm vặt đã được Lan đến săn sóc lâu nay chẳng kể nửa đêm gà gáy, chị đền ơn bằng cách mua hộ con cá mớ rau mà vẫn áy náy, nay được dịp giữ hộ bé Nhứt buổi tối mới yên tâm. Lan gửi chị một chồng tranh truyện trẻ em, một bộ chữ cho lớp võ lòng chơi chung suốt tối. Lan trốn vào gian trong tí xíu của buồng y tá trực, đã kê sẵn cái bàn con bên giường chân niễng, đóng cửa ngồi học. Giờ hẹn gặp lại cả nhà là chín rưỡi. Cam và Lan đều nghĩ thương các bạn từ xa đến áo đầy bụi và quần đẫm bùn, thương các cụ lập cập đếm bước đến chơi. Biết làm sao, khi phải làm và học thêm mỗi ngày vài ba tiếng. Lan cố tìm một chỗ nào cho chồng thức đêm trong khu bệnh viện, thì bỗng một anh bạn học cũ của Cam ở trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng được chuyển đến làm bác sĩ thực tập ở khoa Huyết học, thu xếp được cho Cam làm việc ở phòng ngoài, nơi có mùi cồn nóng và máu tanh, nhưng lắp quạt và đèn nê-ông chong suốt đêm. Cam giữ riêng một chìa khóa ngoài, không phải đạp non một cây số dưới mưa đêm đến quấy ông bạn Tùng mắt lồi nữa. * Những đêm mưa và tối thế này, Cam ở nhà để cùng nấu một bữa tươi gia đình và chơi với con một lúc trước khi nó ngủ lăn ra. Thằng Nhứt không chịu ăn cơm trước khi mẹ về, nó biết ba Cam xót ruột lo con đói sẽ lấy mấy cái bánh bích-quy trong tủ ra cho nó ăn tạm, thứ này làm bằng bột mì pha nhiều bột sắn khoai, cứng và nhạt, mua không cần phiếu. Ba hay quấy thêm cho nó một cốc nước chanh bằng thứ đường vàng gọi là hoa mai hay hoa mơ gì đấy. Hết bích-quy vẫn có bít-xcốt tẩm đường. Tội nghiệp thằng bé, hàng tháng chỉ được ba bốn lần ăn nửa bát phở hay bún riêu cua thay vào bát cơm tối qua hấp lại hay mấy củ khoai chấm muối vừng mỗi sáng. Được cái nó ít ốm và không đứng “chầu mồm” khi trẻ khác ăn bánh bao và uống sữa ca-cao. Tối nay ở nhà, nó chơi xếp chữ hay tô màu tranh truyện một mình hàng giờ, mãi mới đến ôm đầu gối Cam: - Ba chơi với con một tí nhá. Cam giật mình, nhìn đồng hồ báo thức: đã một tiếng rưỡi anh quên bẵng nó để chim sâu vào một tập thơ nôm đã phiên âm và đánh máy, chua công bố, một anh bạn chỉ cho mượn đọc trong hai ngày và nhờ sửa lỗi đánh máy luôn thể. Cam xốc con đặt ngồi trên đùi: - Ờ, ờ, ba thích chơi với con lắm chứ. - Ba để con chơi mãi một mình... - Con thấy đấy, ba bận lắm lắm, bao nhiêu là giấy là sách. Con chơi gì nào? Đua ngựa nhé, hay làm ảo thuật trên tường? À, chắc con thích chơi xếp chữ, dựng nhà? Hỏi gì thằng bé cũng lắc đầu. Nó rỉ tai Cam như sợ bị nghe trộm: - Ba cho con tập nấu cơm, luộc rau, hâm canh. - Úi, con còn bé thế... - Bên nhà bác Dự, đứa năm tuổi đã biết luộc rau hâm canh. Đứa lên sáu nấu cơm ro ro. Con chả biết gì, chúng nó cứ chế là công tử bột, ngượng lắm. Ba dạy con vài lần, con thuộc, con nấu ngon cho chúng nó nác mắt ra. Nhé ba nhé? Nó đã lây giọng Thái lọ của bà cấp dưỡng rồi. Chẳng sao. Nhưng để cho một đứa bé sáu tuổi rưỡi mó vào lửa và nước sôi, lỡ bị bỏng thì những kẻ độc miệng sẽ rao lên là Cam hành hạ con riêng của vợ, sức mấy mà đi phân trần. Thấy ba ngần ngừ, thằng Nhứt vòng tay ôm cổ Cam, thơm thật to vào má. Nó biết ba thích được thơm, cũng như nó. Cam thơm trả vào má con, cả hai bên, rồi hẹn chung chung: - Hễ mẹ bằng lòng thì ba cũng bằng lòng. - Ba bảo mẹ bằng lòng đi. - Ồ, con bảo chứ. Việc của con cơ mà. Thằng Nhứt phụng phịu nhưng không hờn dỗi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:37:11 pm Từ ngày ba Cam đến ở chung, nó bớt hờn hỗn với mẹ, chỉ còn hay vùng vằng. Với ba, nó ngoan hết sức. Ba không yêu thì nó mất đi chơi các trò ở Bách Thảo hay Thống Nhất, không được đèo xe đi xem phim thiếu nhi, không ai đi mượn sách Kim Đồng ở thư viện Hà Nội về cho nó xem tranh truyện. Mẹ bận luôn tay luôn chân, ngày làm tối học, chủ nhật đi mua hàng tem phiếu, giặt giũ, tiếp khách, sức đâu mà lo cho con được chơi.
Cam ở nhà đã gánh được hai thùng nước ở khu điều trị về để sẵn. Buổi tối là giờ cao điểm ở khu tập thể. Lắm nhà lén đun bếp điện tuy đã bị cấm, nước trong đường ống bị lấy dọc đường không đến được khu nhà viện trợ chỗ cuối dòng. Rửa bát xong, Lan vào nhà khi Cam đã tém chăn buông màn cho con và quét dọn gần xong. Cam kể vắn tắt câu chuyện thằng Nhứt muốn tập làm bếp. Lan gạt ngay: - Anh lo vậy là phải, trẻ con trái chứng hơi đâu mà cưng mà chiều. Miệng thế gian em không lo, mà lo nó bị bỏng nặng hay làm cháy nhà, cháy lây cả khu này mình lấy gì bồi thường? Cam trầm ngâm một lát mới nói: - Kể ra, hồi lên năm anh đã nấu trọn bữa cơm cho cả nhà, lũ trẻ nhà chị cấp dưỡng nay cũng thế... Hay là ta bước đầu cho nó tập đóng bếp trấu, mùn cưa, quét nhà? - Cũng được, nhưng phải bắt nó đeo khẩu trang, làm xong nhớ rửa tay... Tối nay ai đến không anh? - Có ba lần. Hai cậu bạn cũ anh Thống ghé thăm Lan, vội lắm không đợi được, biếu Lan chai mật ong kia kìa. Một cô nghiên cứu sinh đến phàn nàn chính sách, ba sinh viên nhờ phụ đạo, anh đều hẹn sáng mai làm việc ở trường. Các cụ không thấy đến, chắc ngại mưa. - Với lại chúng mình tản cư đêm đã hơn tháng, khách đến vài lần không gặp cũng nản. - Anh băn khoăn nhiều. Thôi đành chịu chửi, biết sao. Tiếp đó hai vợ chồng cùng chúi mũi trên nhũng trang giấy in và giấy viết, ai đi ngủ trước thì người còn thức lấy báo che một góc đèn. Thằng Nhứt tạm bằng lòng với bước tập được cho phép. Nhưng nó muốn tránh tiếng đoảng, mỗi chiều nó lễ mễ bưng cái bếp trấu xuống nền đất trước nhà, lên xách tiếp bao trấu và cái chai, đóng bếp rất kỹ trước mắt tất cả lũ trẻ trong khu, đút bếp xuống dưới sàn nhà gỗ. Rồi nó quét dọn trước sân khi có mặt bạn, bạn về mới quét trong nhà. Nó còn nói khoác rằng đã thạo làm bếp chẳng thua ai. Còn cái khẩu trang mẹ nó bắt đeo, nó chỉ đeo ở cổ chứ không chịu bịt mũi mồm. Trong nhũng ngày ấy, Cam vẫn trầm ngâm kéo dài, rất ít nói cười. Lan đoán chồng vướng chuyện rối rắm gì ở trường, hay được tin xấu từ miền Nam gửi ra. Lan coi chồng là “con người thủy tinh” như đã thấy trong triển lãm y tế, chứa gì trong đầu trong bụng là trông rõ cả, dù anh thốt ra dịu hay xẵng, thô lỗ hay lịch thiệp. Đợi lâu quá, Lan phải hỏi: - Anh gặp chuyện buồn phải không? Cam giật mình: - Không, không... gọi là vui đúng hơn... nhưng kèm một mối lo... - Anh hay nói thẳng kia mà! - Ừ thì thẳng. Anh đang cân nhắc. Trường anh được Liên Xô cấp mười học bổng nghiên cứu sinh trong ba năm, ở Lô-mô-nô-xốp. Khoa anh được chia hai suất, những chín người muốn đi, chẳng ai chịu nhường ai. Anh sẵn sàng nhường, tập thể không chịu. Cụ chủ nhiệm khoa cho bỏ phiếu kín để thăm dò, anh được nhiều phiếu nhất. Sáng hôm sau, cụ gọi anh lên khoa xát xà-phòng một trận: “Đưa người đi học để lo cho dân cho nước, cho khoa học. Anh chị em bỏ phiếu thế là tinh đời đấy. Mình biết, lắm cậu đi để sống khá hơn, có thùng quà gửi về nhà, học tại chỗ thì bảo vệ luận án tại chỗ, còn mong được điểm hữu nghị, chiếu cố. Học ở Việt Nam, đi thi ở các nước xa lắc, trước một hội đồng chưa hề đến nước ta... Mà thôi, mình chỉ muốn cậu đừng từ chối bai bải như tối qua nữa. Cả chục thư gửi gắm ký tên từ thứ trưởng trở xuống, đây này! Cụ đập tay vào một tập giấy viết nhiều nét chữ trên bàn. Anh xin một tuần để cân nhắc thêm, cụ bằng lòng... Lan bật kêu: - Muộn mất còn gì! - Không. Học sinh phổ thông sang học Liên Xô phải học tiếng Nga một năm. Nghiên cứu sinh thì tùy người, vào học sau vài ba tháng hay năm sáu tháng cũng được, chỉ cần kiểm tra đủ điểm. - Vậy đó... anh còn lo gì nữa? - Anh lo cho Lan, cho nhà mình. Em có thai ba tháng. Thằng Nhứt ngoan đấy nhưng còn nhỏ. Đời sống ngày càng khó, em thồ hàng như tối nay trong tháng thứ ba, dễ sẩy lắm... Lan cố nén mình mỏi không lao vào ôm ghì chồng, chỉ nói bông đùa: - Hơi đâu lo con bò trắng răng hả anh? Em đẻ trong bệnh viện, bạn bè xúm xít, nhờ một tiếng là hai ba người chạy giúp. Anh quên em là y tá, đã một lần sanh rồi mà. Chị cấp dưỡng góa chồng, một mình nuôi năm đứa thì sao! Cam đăm đăm nhìn khuôn mặt gầy của vợ, càng gầy thêm khi mang thai, đôi má từ màu hồng của gái một con chuyển đần sang tai tái, mấy chiếc áo đo may trước đây nay rộng hẳn ra. Cam biết vợ kín đáo nhường miếng ngon trong bữa cho chồng con, dùng đồng lương của Cam cho mình và con rất dè xẻn, giấm giúi gửi tiết kiệm mỗi tháng năm bảy đồng phòng khi cơ nhỡ. Có lần Cam nhận nhuận bút được những hai chục, độ nửa tháng lương y tá, cao hứng đưa vợ con đi ăn một chầu phở tái và sủi cảo, cửa hàng tư. Nửa chừng Lan sực nhớ, đi xem bảng giá, quay lại hốt hoảng: - Họ chém quá anh ạ. Sủi cảo nước là nước tính bảy hào, phở tái bò dai như quai guốc cũng tám hào! - Ồ, ta bảo vệ sức kéo, chỉ cho thịt lứa bò già phế thải. Ăn mậu dịch thì rẻ, mà chỉ có phở lợn, phở ếch, phở cá. - Lần sau anh muốn ăn gì, đưa tiền em làm ở nhà. Bảo đảm ngon, sạch, rẻ. Trả tiền xong, Lan còn kéo chồng đến cửa nhìn xuống bếp: vì thiếu nước máy, cô rửa bát chỉ có bên mình một xô nước lều bều những thứ vét chưa hết trong bát, nhúng bát vào lắc một làn, đưa lên lau bằng một cái khăn đen bẩn hơn khăn lau bàn, xếp vào chồng bát sạch. Cả hai đang xem tiếp, bỗng bị một cánh cửa mở vào bên trong giập đánh sầm, suýt đập vào mặt, kèm một câu chửi tục. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:40:01 pm Từ hôm ấy Cam không một lần khen các cửa hàng tư là nấu ngon và niềm nở nữa. Muốn khao cả bộ ba-trung bình mỗi tháng một lần-Cam đưa tiền cho vợ, thường là tí nhuận bút còm của một bài đăng báo. Cam đóng lò, bổ củi, gánh nước, nhặt rau, đi xếp hàng mua một bi-đông bia hơi, pha nước chanh cho con. Lan cố nhớ lại những cách nấu rất tuyệt đã được bà mẹ dạy cho hai chị em khi bà còn sống, nay Lan chỉ còn nhớ mang máng sau bao nhiêu năm ăn cơm bộ đội và tập thể.
Trong giới cán bộ công nhân viên, có con đi học Liên Xô hay Đông Âu coi như tăng ít nhất hai bậc lương, đi nghiên cứu sinh còn cao hơn nữa. Lan nghĩ ngay đến chuyện ấy, nhưng không dám nói. Từ khi rời giường hai tầng ở bãi Phúc Xá về ở với mẹ con Cam, anh phải lo cơm áo gạo tiền và chạy việc vặt nhiều gấp bội. Xa vợ con mấy năm, chắc anh sẽ dồn thì giờ vào nghiên cứu, dồn tiền rúp mua sách, khác xa một số sinh viên lo buôn nhiều hơn học, bóc lột cả những người rất ngại đi lùng hàng như anh Cam, đến bữa ăn chỉ gặm vài lát bánh mì kẹp dồi, mắt vẫn dán vào trang sách. Đã lên phòng nằm, Cam vẫn vắt tay trên trán quên tắt đèn. Lan chờ mấy phút, Cam mới nói ngập ngừng: - Trong Nam thiếu cán bộ quá chừng. Anh hy vọng họ khám lại sức khỏe... cho đi... - Tay trái anh chỉ còn năm chục phần trăm, ai cho đi? - Năm kia họ khám theo tiêu chuẩn lính chiến. Bây giờ anh vô có thể dạy văn hóa, viết báo, sưu tầm văn học dân gian để làm luận án... làm được chút gì đó phụ giúp với đồng chí trong Nam. Đang khi nước sôi lửa bỏng, mình ở đây mà còn thao thức “ngày Bắc đêm Nam”, huống chi bỏ đi tới chỗ yên ổn, khá giả... - Thôi, anh ngủ đi. Còn ngày rộng tháng dài, thả sức mà đắn đo. Riêng phần em, đẻ nuôi thằng Nhứt một mình còn lóng ngóng, tới đứa em nó thì thạo nghề làm mẹ lắm rồi. Bạn em hay nói được ưu tiên số một so với chúng nó. Ngủ đi, chóng ngoan! Lan thức dậy lúc một giờ sáng như lệ thường, ra buồng ngoài đánh thức con dậy đái vào bô, nó thỉnh thoảng vẫn còn đái dầm. Cam cũng lồm ngồm ngồi dậy, châm một điếu thuốc, đêm nay anh hút đến điếu thứ ba rồi. Không muốn nhắc nhở chuyện hút thuốc, Lan chỉ chêm thêm một ý mới nảy ra trước khi ngủ thiếp: - Anh tính thêm coi. Sau ngày giải phóng, ai sẽ giảng văn học kháng chiến trong các trường miền Nam? Chắc phải nhờ các vị học ở Âu Mỹ về, nói tiếng Việt như “ông Tây An Nam” trong vở kịch xưa anh cho mượn đọc đó, nhắc tới văn học cách mạng là bĩu môi hay tròn mắt: “Cách mạng mà cũng có văn học à?”. Tới đó anh mới cáp sách trở về trường, lo học ôn chưa kịp, nói chi đến luận văn luận án! Hết một tuần, Cam mới trả lời chủ nhiệm khoa, nhận đi nghiên cứu sinh. Ông chủ nhiệm bộ môn tham công tiếc việc muốn giữ Cam lại nhưng chỉ có thể than thở bóng gió và đi tìm trợ lý khác thay Cam. Thay rất khó, vì số cán bộ và bộ đội tập kết tốt nghiệp ngành Ngữ văn đã ít lại không thích về trường, nơi vừa nghèo vừa hay rối. Lớp bổ túc tiếng Nga mở trên đường vào Hà Đông, gần khu Cao-xà-lá, gọi tắt ba xí nghiệp cao-su, xà-phòng, thuốc lá cùng các nhà ở kèm theo. Cam chỉ đến học mấy buổi đầu rồi xin học tại chức, vì trình độ cao hơn nhiều so với học sinh phổ thông rất kém ngoại ngữ, dẫm chân tại chỗ mãi với xát là vườn, đom là nhà. Thầy giáo đọc lá đơn viết bằng tiếng Nga của Cam, chỉ sửa hai chỗ sai biến cách (nỗi khiếp sợ của người học tiếng Nga), ghi dưới: Ya xô-gla-xen (tôi đồng ý). Anh này trẻ hơn Cam ba tuổi và đã biết tiếng Cam từ trước. Cam vẫn đến trường, giúp thầy chủ nhiệm bộ môn một ít trong khi chưa có người thay, thường tìm chỗ vắng mở bộ đĩa kèm sách dạy tiếng Nga ra tập phát âm, các bạn dạy Nga văn ở trường cũng đến tập cho đối thoại. Cam dần dà bỏ thói quen nghĩ bằng tiếng Việt rồi tự dịch trong đầu ra tiếng Nga, luyện cho mình nghĩ bằng tiếng Nga, cho các ý hiện hình trong đầu với thân hình và áo quần Nga trước khi tuôn ra ngoài. Mỗi lần kiểm tra định kỳ nửa tháng, có dịch xuôi, dịch ngược, hỏi ngữ pháp, đối thoại thầy trò, Cam lại khiến cả lớp ngạc nhiên và thích thú. Kiểm tra viết quy định hai tiếng, thường phải kéo dài ra hai tiếng rưỡi hay ba tiếng, riêng Cam chỉ cần vài chục phút đã nộp bài và nhận điểm cao nhất. Giờ đối thoại hơi buồn cười: thầy cao hứng hỏi những điều rất xa chương trình, Cam trả lời vẫn lưu loát và khá chuẩn. Lứa trẻ từ phổ thông lên kính phục đã đành, các bạn nghiên cứu sinh khác cũng sửng sốt: “Cậu ta học bao giờ mà tài thế!” Rất nhiều lần các em trẻ đứng lên đề nghị hai thầy đối thoại thật lâu để chúng em quen nghe nhiều giọng. Cam đùa luôn bằng tiếng Nga: “Và để rút ngắn số phút kiểm tra miệng của các bạn chứ gì?”. Chỉ có vài nghiên cứu sinh hiểu và bật cười, còn cả lớp ngơ ngác. Bởi phải tốn rất ít thì giờ cho tiếng Nga nhưng vẫn phải đợi cùng đi chung đợt, bộ môn đã có trợ lý khác thay Cam, Cam lao vào săn lùng văn học dân gian miền Nam, kiếm tư liệu cho luận án sẽ viết tại Liên Xô. Trường đại học không chi tiền sau khi chuyển lương sang chế độ lưu học sinh, Cam phải tự xoay xở lấy. Ông Mạnh Thường Quân của Cam là anh Năm Chò đã vào Nam, Cam phải tự túc khoản này, đi tìm gặp anh chị em tập kết. Cụ chủ nhiệm khoa tốt bụng chỉ có thể giúp Cam bàng giấy giới thiệu, mặc cho ông phó can mãi là sai nguyên tắc. Các cụ hưu giúp được rất ít: nói chính trị mãi rồi cũng bị méo mó nghề nghiệp, rất ít cụ còn nhớ tục ngữ, cao dao, dân ca. Cam phải đạp xe đi rất nhiều nơi chung quanh Hà Nội, tìm cho ra những ông bà sống gân suốt đời ở nông thôn, góp nhóp mỗi nơi một tí. Được nhiều nhất là khi gặp các bà ít chữ, cấy hái ở làng và tập kết theo chồng con làm cán bộ. Hết gần đến xa, Cam tìm về các nông trường miền Nam, ghi đêm này qua đêm khác bên các ông bà từ trung niên đến phụ lão. Tiền tiết kiệm vơi dần trong những chuyến đi xa ấy, trong khi số vở ghi tăng lên mãi. Lan nắm tất cả tiền lương của hai vợ chồng, chỉ đưa lại ruột ít cho chồng tiêu vặt. Rất may là được ở trong khu tập thể, tiền nhà, tiền điện, nước trừ vào lương rất nhẹ, nên Lan chắt bóp gửi tiết kiệm mỗi tháng được năm bảy đồng. Số bạn gần xa, hay chỉ người quen sơ sài thôi, suốt mấy năm thường vay Cam rồi chày bửa không trả, đều bị Lan chặn lại không cho vay tiếp, nói nhẹ nhưng dứt khoát thay cho ông chồng rất cả nể và đãng trí khi cho vay hay cho mượn sách vở, đồ dùng. Khi tiền tiết kiệm từ một trăm sáu tụt xuống tới dưới năm chục, Lan mới báo cho chồng biết. Cam lâu nay chỉ biết chìa tay hỏi tiền, lúc này trố mắt, gãi bộ râu quai nón tua tủa chung quanh cái cằm chẻ đôi, bật cười: - Mất khá tiền, nhưng được mấy trăm trang tư liệu mang theo làm vốn đây. Qua mấy chuyến đi, anh khai thác về Liên khu Năm với Nam Bộ đã tàm tạm. Tạp chí Nghiên cứu văn học mới đăng bài của anh về ca dao Quảng Nam, chắc cũng được vài chục. Để anh đi lấy. Cam bơm xe, đạp xe Thống Nhất cọc cạch ra đi. Trưa Lan về, thấy Cam đang ngồi viết với xấp giấy bạc năm đồng chặn hòn cuội trên bàn. Cam hí hửng rất trẻ con: - Họ chi rất khá, bốn chục đấy, ông tổng biên tập còn gạ anh viết luôn một xê-ri bài nữa, anh chưa dám hứa. Ông nói bài mới ra đã được giới nghiên cứu đánh giá cao, nhuận bút tăng thêm một chục nữa cho xứng công sức tác giả. - Anh viết ba ngày đêm bàng em làm cả tháng... - Ba ngày cộng với hàng chục năm chiến đấu, học hành, moi tiền tiết kiệm đi ngao du tứ xứ... Cam không nói tiếp được vì Lan đã cúi xuống ôm ghì chồng, ép má mình bịt miệng chồng, thì thào: - Chào thua ông quỷ sứ từ lâu rồi mà. Cam vòng tay qua vai vợ, hôn thật kêu như khi thơm thằng Nhứt. Cũng chính lúc ấy thằng Nhứt từ lớp vỡ lòng về, xô cửa vào, bật cười rúc rích: - Ô kìa, ba cũng thơm cả mẹ nữa! Vợ chồng luống cuống rời nhau. Lan đi thu xếp cơm trưa với mặt đỏ bừng, mắt lóng lánh ướt. Cam chìa hai tay đón con, nó trịnh trọng nói theo lệ thường: “Con chào ba, con chào mẹ”. Cam đáp: “Ba chào con”. Lệ ấy do Cam đặt ra, thay cho những câu phủ đầu đốp chát mà Lan cũng quen nói như các bà mẹ khác đợi con về để kể tội đánh bạn hay hỗn với cô giáo. Thơm nhau mỗi bên đủ hai bên má, Nhứt lại vặn: - Mẹ lớn thế mà ba cũng thơm như trẻ con à? - Ờ, ờ… mẹ bảo ba thơm con chưa to, ba phải tập... - Tại mẹ chủ quan... Ba xem sổ liên lạc. Các điểm học tập đều trên trung bình. Khuyết điểm hay chòng bạn giảm một phần. Tật nói chuyện trong giờ học chưa sửa chữa được mấy. Cơm xong, thằng bé không ngủ trưa, chạy xuống sân chơi với lũ bạn, thường là bi hay đánh quay. Cam chỉ giữ lại mười đồng, còn đưa hết cho Lan: - Anh đi Phủ Lý chuyến nữa thôi, gặp một đơn vị Trị Thiên-Huế, nhiều nhất ba ngày. Sau đó là chúi vào thư viện quốc gia lùng sách cũ, phòng sách tham khảo mới có. Số vốn tư liệu trực tiếp đã hòm hòm rồi đấy. - Anh định mua gì mang sang Liên Xô? - Mua gì? Áo quần ấm được cấp, va-li cũng thế. Sang bên kia có học bổng rồi. - Mấy chị ở đây bày cho em mua các thứ đồ mỹ nghệ, sang đấy bán kiếm ngoại tệ được khá lắm, mua hàng công nghiệp gửi về lại lãi thêm lần thứ hai. - Quái, anh đi nghiên cứu chứ có đi buôn đâu! Hay là anh ngồi xổm trên vỉa hè Mátxcơva, đặt một chồng giỏ mây giỏ cói, bày một mớ rèm tre với sơn mài Đồng Xuân, mời chào khách qua đường dẻo như kẹo kéo? Lan biết lặng im đúng lúc. Mình sẽ gửi tất cả cho vài cô bạn ở Mátxcơva, nhờ tiêu thụ hộ, bảo anh Cam là quà biếu nhiều nơi nhờ bạn phân phối, ảnh mới chịu mang theo. Khó, người đâu mà thiếu đầu óc thực tế đến thế! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:43:48 pm Chương 12 Hai Khánh mở mắt hồi lâu mới nhận ra mình nằm trên bệ xi-măng của xà-lim biệt giam. Lại nhắm mắt một hồi nữa, ôn lại những gì xảy ra trong hai ngày qua. Ba lần tra điện đã làm đầu óc rối tinh. Thằng gác ngục mở bật cái lỗ vuông trên cửa sắt, quát: - Dậy đi cha nội, tám giờ sáng rồi không thèm mở mắt hả? - Tao mệt. Mày cút đi! - Bộ muốn ăn thêm vài chục dùi cui hả? Dậy! - Mày cứ vô dọn dẹp. Cấm nói hỗn. Không biết thiếu tá Khánh à? Tao ra khỏi đây thì liệu hồn! Bấy nhiêu thôi. Mươi phút sau có hai tù thường phạm vào rón rén đổ thùng tiêu, bưng thau nước để thiếu tá rửa mặt, tên cai ngục rập chân đứng nghiêm: “Trình thiếu tá, dọn dẹp xong, lát nữa mời thiếu tá điểm tâm”. Khánh khoát tay: “Cho lui”. Đang thời buổi rối mù này, hết đảo chính hụt đến đảo chính thật, hàng loạt tướng tá đang thét ra lửa bỗng vào tù, hàng loạt tù bước thẳng lên ghế chỉ huy hay tỉnh trưởng, quận trưởng. Cứ như tuồng hát bội hay cải lương, vừa tháo gông cùm đấy lại đeo râu làm vua. Suất cơm tù vẫn như hôm qua, gồm “cơm giòn, cá chiên”, nghĩa là cơm hẩm đầy sạn và khô mặn cá bò, cá cơm đầy giòi, xếp trên tấm tôn dẹt kê bếp than đá cho giòi bò ra bớt, có bữa thêm vài sợi rau muống loại thái cho heo. Khánh buộc lòng phải ăn nhấm nháp những thứ ôi thối ấy, chợt cửa xà-lim lại mở. Tên gác ngục rút chìa khóa bỏ đi luôn. Một thiếu úy An ninh quân đội bước vào buồng, quát: - Phạm nhơn Ung Viết Khánh đi lấy khẩu cung! Khánh đáp mệt nhọc: - Tên tao vậy đó, mà tao không phải phạm nhơn, tao không đi. Tên thiếu úy lại quát: - Cho phép phạm nhơn ăn cơm mười lăm phút! Hắn bước ra cửa ngó quanh, vào khép cửa, rỉ tai Khánh: - Thiếu tá đọc giấy mau đi, rồi ăn thứ khác. Bà Duyên gởi đó. Đúng chữ Mỹ Duyên trên mảnh giấy rất mỏng: “Họ không có chứng cớ gì, vu cho anh là Cần Lao để kiếm hối lộ thôi. Đòi hai triệu, em chưa chịu. Rán giữ hồ sơ trắng xóa. Em sắp tới gặp MD”. Tên thiếu úy đã trải tờ báo trên bệ xi-măng, bày ra bốn chiếc bánh bao, một mớ giò chả và pa-tê gan thái sẵn, một chai bia Xan Mi-ghen cổ lùn. Khánh hết lo bị đầu độc, ăn thật no để bù hôm qua chỉ uống nước, uống mấy cũng không hết cơn khát sau ba lần tra điện. Gã thiếu úy đợi Khánh ăn uống xong mới thu dọn mọi thứ cho vào cái cặp da xách tay, hết dấu vết. Gã ngắm lại Khánh từ đầu đến chân trong bộ py-gia-ma nhàu nát mặc khi bị bắt. “Xin phép thiếu tá...”. Gã móc tay vào chỗ rách nhỏ ở ngực, xé rách tới gần thắt lưng. Gã giật cổ áo cho văng cúc áo trên cùng, phơi nửa ngực. Rồi gã lấy ra cái còng hai vòng rời kiểu Pháp, bấm cho hai tay Khánh ép sát vào nhau, buông xuống sợi xích lòng thòng trước bụng. “Thiếu tá chịu khó chút, cho phóng viên họ chụp hình. Nhớ đi kiểu bị tra tấn gần chết nghen thiếu tá”. Rẽ qua lại nhiều lần qua những hành lang và bậc cấp hôi bẩn, gã thiếu úy mở một cánh cửa gỗ dày, xô mạnh Khánh vào, hét sau lưng: - Vô mau! Mới nhảy dựng sơ sơ mà làm như hấp hối! Nhiều ánh chớp loe lóe trước mặt Khánh. Anh chưa kịp hiểu gì, chỉ nghe tiếng giày đinh bước qua bên mình. Một cái tát nổ to sau lưng Khánh. Một giọng quen chửi to: - Đ.mẹ, ngu hơn heo! Tụi bây dám hành hạ thiếu tá ra vầy há? Muốn ra tòa án binh, tao cho ra liền một khi! Mở khóa! Các ánh chớp tắt hẳn khi tên đại tá sư đoàn trưởng cũ của Khánh dìu anh đến ngồi xuống ghế dựa, tự tay mở khóa còng tay rót bia vào hai cốc, ấn một cốc vào tay Khánh, giơ cao cốc của mình như chúc tụng gì đấy. Một ánh chớp lẻ loi phóng tới. Khánh đã đủ tỉnh táo để nhận ra một trung uý tâm lý chiến vừa chụp ảnh, trong khi bốn năm người khác cầm máy ảnh ngồi yên. Khánh còn khát, uống cạn nửa cốc và đặt xuống, chờ đợi, chợt nhận ra Mỹ Duyên trong nhóm phóng viên ngồi hình vòng cung chung quanh một đầu bàn của người hỏi cung và khán cung. Đợi viên tư lệnh từ đại tá mới lên chuẩn tướng nhờ ngả theo phe đảo chính trước một buổi, đeo lon một sao mới tinh-bọn gác tù kháo như thế-trở về ngồi chỗ khán cung, Mỹ Duyên mới đứng dậy, nghiêng mình chào chuẩn tướng và ba quan chức khác ngồi sau bàn dài, nói chậm và rõ: - Kính trình chuẩn tướng và các vị, tôi là Trần Mỹ Duyên, phóng viên hãng AFP và của một số tờ báo Pháp, Anh, Mỹ, Úc-đại-lợi, Nhật Bản. Tôi được cử làm đại diện nhóm đồng nghiệp hiện diện hôm nay. Xin trân trọng giới thiệu ông Giêmx Kít-man, hãng UPI (một người cao to đứng dậy, mặc sơ-mi ngắn quần soóc phơi lông nâu từ ngực đến chân tay, chỉ khẽ gật đầu kẻ cả). Tới ông Sác-li Braonơ, hãng Roi-tơ (một người cao gầy không râu không lông hơi nhấc đít, ngồi xuống ngay), ông Oa-ta-na-bê đặc phái viên báo Yô-mi-u-ri Sim-bun (một cậu trẻ, má tròn và mắt một mí, đeo hai máy ảnh và một máy ghi âm, đứng lên gập nửa người chào rất lễ phép). Còn hai bạn đồng nghiệp Úc-đại-lợi và Phi-luật-tân nữa, xin phép đến muộn mươi lăm phút vì đang quay một số cảnh đường phố sau cuộc cách mạng mồng một vừa toàn thắng... Mỹ Duyên nhuộm tóc màu vàng sáng, mặc một bộ tay-ơ xám nhạt rất nổi màu da trắng, đi giép da cao gót cùng màu áo váy. Duyên dặng hắng, cười tươi: - Chúng tôi vô cùng cảm ơn ngài chuẩn tướng đã cho phép chúng tôi được dự thính buổi khẩu cung hôm nay. Chúng tôi đã phỏng vấn rất nhiều hạng người, hôm nay là lần đầu được nghe lời khai của một thiếu tá tâm lý chiến đã phục vụ đắc lực cho chế độ Diệm-Nhu, hình như đã bị Việt Cộng mưu sát khi đi máy bay L.19 làm nhiệm vụ kêu gọi chúng ra hàng. Một lần nữa chúng tôi xin ngỏ lời tri ân ngài chuẩn tướng. Khuôn mặt núng nính mỡ của viên chuẩn tướng mỗi lúc một đỏ, mồ hôi vã ra lấm tấm. Y lấy khăn tay lau vội. Bọn ghen ăn ghét ở cố phá mình đây. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:47:38 pm Chiều qua, trong cuộc nhậu động trời tại câu lạc bộ sĩ quan có máy lạnh, y say quên hết trời trăng. Ai đó đến rỉ tai nói gì không rõ, chìa trước mặt y một tờ giấy đánh máy. Y hoa mắt, không nghe gì đọc gì được, cũng không nhìn mặt người đưa giấy, đón cây bút bi ký ào luôn, quay lại cười hô hố với các bạn nhậu:
- Các xừ coi đó, moa làm việc theo kiểu lính chiến, không quan dạng như cánh Lệ Xuân-Nhu-Diệm đâu nghen. Một trung tá trung đoàn trưởng đứng dậy, ngất ngưởng nâng cốc. Các cô hầu bàn hối hả rót đầy các cốc đã vơi trong khi gã kia lè nhè: - Anh bình dân quá đó, anh Hai... - Anh Bảy chớ! - Đối với tụi em, anh là anh Hai, là bởi anh đứng đầu... Anh được vinh thăng lên ông tướng, tụi em mong anh thả neo miết ở vùng Một chiến thuật này cho tụi em phò tá, có đi Sài Gòn họp Hội đồng tướng lãnh thì chớ có đơn đao phó hội, mà phải để tụi em đem vài trăm quân cảm tử theo. Còn phần anh Hai thì xin nhớ con chị rị con em, con béo kéo con gầy... Một lần nữa, mời các chiến hữu cạn chén chúc mừng một ông sao trên trời mới giáng hạ xuống vai anh Hai! Tất cả đứng lên chen tới chạm cốc với chuẩn tướng. Không ai nghe những lời xì xào trong khi đám đông xúm xít: “Nó nịnh khéo ghê-Ông Bảy lên tư lệnh vùng, thì nó cầm chắc cái sư phó-Mới ba mươi, đánh ít nịnh nhiều, nhảy qua đầu tụi mình-Nhảy qua còn khá, nó ngồi luôn trên đầu mới khốn nạn-Nó nợ mình ba trăm ngàn, đòi năm bảy lần chưa được-Bao con bồ ca-va chưa đủ, còn thêm bài bạc nữa-Lão Bảy tin nó lắm mới giao cho nó kiếm gái, buôn lậu... Viên chuẩn tướng ngồi ghế chủ trì khán cung lúc này đang lơ đãng nghe những lời tri ân vắn tắt bằng tiếng Anh, do Mỹ Duyên dịch lại bên tai y, lơ đãng nhìn Hai Khánh đang uống nước suối mà không động đến các thứ đắt tiền. - Xin mời chuẩn tướng huấn thị cho vài lời trước khi lấy cung. Viên chuẩn tướng đã quyết định hẳn. Y bật cười to: - Trước hết, phải xin lỗi quý vị vì một loạt hiểu lầm liên tiếp, rất đáng tiếc. Cuộc cách mạng nào cũng có lộn xộn rối ren không tránh được. Thiếu tá Ung Viết Khánh... è hèm... là bạn tôi từ khi rời ghế giáo sư ngoại ngữ vào quân lực ta, làm sĩ quan tâm lý chiến rất giỏi, rất mẫu mực... Ác hại, tôi nhận được điện mật phải tạm giữ thiếu tá vì đã hết lòng phục vụ chế độ nhà Ngô, lại thêm cụ thân sanh làm tỉnh phó rất được lòng họ Ngô. Bọn đàn em quen thói cũ của Nhu-Diệm-Cẩn, “không có đánh cho có, đã có đánh cho chừa”, bắt ai thì đánh dằn mặt lập tức. Tôi chưa kịp ra lệnh cho tụi nó bỏ cái thói phản dân chủ ấy đi... Sáng nay cũng vậy, biểu kêu thiếu tá lên gặp các phóng viên quốc tế, tụi nó dốt đui, lại xích tay thiếu tá dắt đi lấy cung. Mong thiếu tá cùng quý vị cảm phiền cho qua. Xin thiếu tá cứ chuyện trò xả láng với giới báo chí quốc tế. Vừa lúc ấy, hai người một Âu một Á hối hả bước vào, được Mỹ Duyên giới thiệu là phóng viên Úc-đại-lợi và Phi-luật-tân. Họ xin lỗi vắn tắt, bước tới góc buồng, ngây mặt nhìn những vết máu khô và ướt trên tường, lặng lẽ khiêng chiếc ghế dài đến cạnh các đồng nghiệp, rút mấy tờ báo ra lót ngồi. Không thấy họ mang máy quay phim, hẳn đã gửi người phụ tá mang về nhà để khỏi bị tịch thu phim và máy. Họ chỉ rút máy ảnh và máy ghi âm ra. Các phóng viên hỏi bằng tiếng Anh. Mỹ Duyên thấy bốn vị trong quân lực Việt Nam cộng hòa ngây mặt trong khi Khánh trả lời cũng bằng tiếng Anh. Duyên tinh ý nhấc chiếc ghế dựa đến ngồi đằng sau viên chuẩn tướng và một thiếu tá An ninh quân đội: - Trình chuẩn tướng, mỗi nước nói tiếng Anh pha giọng riêng, khó hiểu lắm. Em nghe quen, chuẩn tướng cho phép em dịch lại. Viên chuẩn tướng được gỡ bí, làm bộ thờ ơ: - Ừ, phải... nhờ cô dịch cho mấy đứa nó nghe. Cậu thiếu úy thư ký lấy cung vội nhấc ghế đến bên Duyên, kê cặp da trên đùi ghi theo lời dịch. Biết đám sĩ quan võ biền kia chỉ đủ mấy tiếng ô-kê, oeo oèo, gút, theng kiu để làm le với gái nhảy và bán xì-néc-ba, Duyên dịch đúng các câu hỏi, nhưng vo tròn bóp méo những câu trả lời của Khánh, giũa mòn tất cả các góc cạnh gay gắt đối với bọn giam mình. - Tôi là trí thức, bị đòn tù phải buộc vào quân lực. Tôi đứng trên mọi sự tranh giành phe phái... Duyên dịch: - Tôi nguyên là giáo sư, do hoàn cảnh khó khăn phải vào quân lực. Tôi làm việc chăm chỉ, không theo đảng phái nào. - Tôi bị đối xử như con bò vào lò mổ. Một trận roi đòn, ba lần tra điện đến hấp hối. Duyên dịch: - Quả thật, tôi có bị hiểu lầm như chuẩn tướng đã nhận, có bị bạc đãi bởi những người gác chưa giác ngộ. Khánh nghĩ thầm: “Gớm, cô ả ranh khiếp. Bọn tướng tá đọc biên bản sẽ rất yên tâm. Các phóng viên gửi bài về nước, dù các ban biên tập cắt xén xào nấu lại để khỏi mếch lòng nước đồng minh, vẫn còn một số mũi nhọn tố cáo. Bọn ác ôn này có bao giờ đọc báo nước ngoài đâu mà biết. Bọn tâm lý chiến ở trung ương tinh hơn, phát hiện được, nhưng giữa lúc lộn tùng phèo này sức mấy mà vươn tay ra tới vùng Một chiến thuật, tận đèo Hải Vân! Qua một giờ nghe đối đáp qua lời dịch, viên chuẩn tướng che miệng ngáp, rồi đứng dậy: - Chắc quý vị cũng như tôi, rất bận trong tình hình mới. Trước khi chấm dứt... ờ, ờ... cuộc phỏng vấn này, tôi xin hứa hẹn vài lời. Thiếu tá Khánh sẽ được chuyển sang nhà tạm trú của sĩ quan cấp tá, ăn uống theo mức sĩ quan đồng cấp, có người đem đến tận phòng. Thiếu tá có quyền mặc quân phục nhưng tạm cất quân hàm, tiếp người nhà và nhận quà mỗi tuần bốn lần tại phòng riêng. Những đứa đã đối xử không tốt với thiếu tá sẽ bị trừng trị. Riêng tôi, là người quý trọng thiếu tá, tôi... è hèm… mong Hội đồng tướng lãnh xóa hết nghi ngờ, để thiếu tá mau mau về cộng tác với chúng tôi. Từ đó, Khánh được chuyển từ xà-lim biệt giam sang chỗ giam lỏng thường dành cho sĩ quan bị gọi về chờ xét kỷ luật. Buồng kê hai giường nhưng chỉ một mình Khánh ở, được quét dọn hơi quá kỹ: người dọn buồng xốc cả chăn đệm ra sân đập giũ, bắc ghế lên quét nóc tủ, xếp lại tập báo trên bàn cho đúng thứ tự ngày tháng, cầm những cuốn sách trinh thám tiếng Pháp và Anh lên vỗ cho sạch bụi. Bàn ghế là loại dã chiến khung nhôm, nếu có ngăn kéo chắc hắn cũng rút ra dọn hàng giờ. Khánh cười thầm trước kiểu làm ăn vỡ lòng của bọn an ninh, hay mật vụ chẳng biết. Hay đến nhất là chị bếp, mang đến những đồ dùng và áo quần của Khánh, chị vẫn ở trông nhà và cơm nước cho thằng Chung. Nó kéo cả chục đứa trong cái băng bụi đời của nó về nhà, mở nhạc điếc tai cả xóm, uống bia, hút thuốc đầu lọc, bỏ học hoàn toàn. Nó lấy đồ trong nhà đi bán lần hồi, chị bếp can bị nó chửi rát mặt. Mà nó mới mười bốn tuổi! Chưa lần nào nó đến thăm ba nó tuy không ai cấm. Đến thăm ít hơn nhưng có ích hơn là cậu hạ sĩ hộ vệ. Rất kín đáo, cậu ta giúi cho Khánh một xấp tiền kèm thư của Mỹ Duyên. Quà công khai chỉ có bia và đồ hộp Mỹ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:53:53 pm Sau hơn chục ngày giam lỏng, Khánh nhận được lá thư thứ hai của Duyên, viết trên giấy rất mỏng:
“Lão Bảy đánh hơi anh kiếm ra tiền, muốn bắt anh tạ ơn lão xếp đại úy cho anh từ đầu, sau lên thiếu tá mà chút quà cũng chẳng có. Lão quanh co miết, sau nói thẳng nhờ em nhắc khéo “ông bạn chung của chúng ta”, lão chỉ biết phần em tới mức đó. Lão khuyên anh chưa sẵn tiền thì mượn ông cha dượng hay bà mẹ trong Sài Gòn, sau trả không khó, thời buổi nhốn nháo này giàu sang mấy hồi. Phần lão được lên cấp sau ngày 1-11-63 cũng nhờ nộp gấp hai chục triệu cho Hội đồng tướng lãnh. Phần anh, lão hẹn nộp triệu rưởi thì ra tù, phục hồi danh dự và cấp bực. Một triệu thì cũng ra tù nhưng ra khỏi quân lực luôn, coi như được mãn hạn động viên. Em đang giữ của anh gần ba triệu, khỏi phải vay. Em khuyên anh bí mật cò kè với lão, thí một triệu chắc lão cũng nhận cho phục chức. Ra làm thường dân, bán cháo phổi trường tư, rầy rà lắm anh ơi. Một thằng phường trưởng, một đứa mật vụ giả hay thiệt đều có thể gây sự, vu cho anh là ác ôn cần lao nhơn vị, tay sai hạng nặng của Nhu-Diệm, buộc anh chi địa mập 1 , cứ nấn ná ít lâu nữa cho qua sóng gió rồi tính sau. Chiều chủ nhựt em tới chỗ anh-À quên, em gặp lão Bảy ở nhà riêng lão. Ra tới gần cổng chính, hai thằng an ninh chặn soát em rất kỹ, còn sai con điếm nào đó dẫn em vô buồng trong soát cả người nữa. Nói là khám võ khí, em biết coi có bí mật ghi băng recorder lời lão Bảy không. May em không mang máy ghi, không một chữ trong bloc-note. Gặp nhau, chúng ta sẽ nói như người thăm nuôi gập tù, chuyền giấy mật. Chắc buồng anh có đặt máy thu tiếng, họ mới cho anh ăn ngủ và tiếp khách trong buồng”. Khánh đếm tiền xong, đẩy về phía cậu hạ sĩ bốn ngàn đồng, chia làm hai xấp, nói to: - Tôi bị bắt oan, may có hạ sĩ với chị bếp coi ngó dùm nhà cửa, giữ cho thằng Chung đỡ phá. Chắc ít lâu nữa tôi được về nhà, sẽ kiếm chút ít tặng cậu với chị tiêu thêm. Cảm ơn nhiều nghen. Khánh kín đáo khoát tay, rồi dựng hai ngón để báo cho tiền hai người. Anh vào buồng tắm đốt lá thư trong hố xí, khi ra thì cậu hạ sĩ đã đi. Anh bước ra thềm, khẽ huýt sáo và búng ngón tay. Cậu đốc gác, cũng là lính quân dịch lên hạ sĩ như cậu hộ vệ, tươi mặt chạy vào lãnh phần quà thăm nuôi. Khánh dựng một ngón tay trên môi ra hiệu im lặng, vừa nói vừa đếm tiền: - Tôi còn mấy đồng dính túi, an ninh thấy không đáng thu, nhờ hạ sĩ ra căng-tin mua dùm mấy gói Ru-by với vài chai bia, còn đủ thì mua một ít rượu, tôi tiếp bạn bè (Khánh đẩy tới xấp tiền dày hơn). Còn mấy đồng lẻ thì cho luôn mấy cô xec-via, chẳng đáng gì (Khánh đẩy xấp tiền mỏng hơn, chỉ vào tay đốc gác, hất hàm. Cậu kia rập chân chào kính, nhét tiền vào hai túi khác nhau, ra vội). Khánh vào buồng tắm, gài chốt, đếm số còn lại được hăm hai ngàn. Để dành vất cho cái thằng quét dọn hai ngàn, nó đỡ xốc xới. Khánh gói số còn lại vào túi ni-lông, bắc ghế leo lên giấu trên trần gỗ dán, đậy nắp thông hơi như cũ. Y hẹn, Mỹ Duyên đến vào giờ thăm nuôi chiều chủ nhật. - Kính chào thiếu tá. Tôi được phép tới thăm thiếu tá, coi thử số phận một sĩ quan theo đảng Cần Lao ra sao. - Rõ khổ, tôi chưa hề được Đảng Cần Lao để mắt tới... Duyên liếc nhanh qua cánh cửa để mở, giơ trước mặt Khánh một tờ giấy viết chữ to: “Nên đồng ý phục chức. Em mặc cả lâu, lão chịu một triệu rồi. Anh còn nhiều, đừng lo”. Khánh ngần ngừ lần cuối, rồi gật đầu. Mỹ Duyên nói ngay: - Tháng mười một mưa dầm, mà mấy ngày nay nắng khô, bụi đường bay mù sau xe. Vô phép thiếu tá, tôi rửa chân tay chút xíu. - Xin mời bà... Duyên vào buồng tắm đốt tờ giấy, vừa ra ngồi chỗ cũ thì một trung sĩ an ninh xách giỏ quà thăm nuôi vào đột ngột: - Thưa bà, kiểm soát xong. - Không có đồ quốc cấm? Không chứng cớ buộc tội thiếu tá? Tên trung sĩ nhũn nhùn, xoa tay: - Thiếu tá ra khỏi đây lại cầm đầu tụi em, ai dám hỗn. Khéo nói vậy, nhưng khi Duyên trải tấm nhựa và bày quà ra bàn, thì khúc dồi thịt chín đã bị xắn làm tư, gói bích-quy đã bị xé miệng, chai cô-nhắc ba sao bị rách lớp thiếc mạ vàng bao quanh nút cổ chai, chỉ có gói thịt chà bông và mấy chai bia còn nguyên dấu, tảng pho-mat Hòa-Lan xắt sẵn thành miếng mỏng cũng vậy. Duyên đưa mu-xoa chấm mắt, cố cười thành tiếng: - Lệ thường, phóng viên chúng tôi phải thù lao cho người trả lời phỏng vấn. Trong hoàn cảnh thiếu tá hiện nay, không được nhận tiền người ngoài, xin thiếu tá nhận cho chút tặng vật... Bàn tay Duyên dưới bàn khẽ vỗ vào đầu gối Khánh. Anh luồn tay xuống, đón một xấp giấy bạc nữa. Duyên xòe năm ngón tay: năm chục ngàn. Rướn người tới nói rất khẽ: For the guards, piecemeal 2 . Khánh gật, nhét túi áo lót, tiễn Duyên xuống đến sân, cúi đầu cảm ơn bà Xi-mo-nét đã quá bước đến thăm một người bị nạn. Tối hôm ấy, tất cả tiểu đội lính gác khu nhà giam lỏng các sĩ quan tạm bị lột lon được mời vào buồng Khánh hưởng chung quà thăm nuôi. Khánh còn nhắn gọi cả tên an ninh mặc đồ thường, đeo tạp-dề vào quét dọn hằng ngày. Khánh nói rất kẻ cả: - Lâu nay mấy chú em nhọc mệt với qua, gởi xác trong rừng, mà cực vì lo qua với mấy ông tá úy ở đây biến mất. Lính mà, đứa chó nào không biết nhảy tường, ném chăn đệm vượt kẽm gai, bò hỏa lực, né hỏa châu? Mấy cưng nghe phải chưa? Bọn lính cười ồ, lại suỵt nhau khẽ mồm. - Thỉnh thoảng bị cấm trại lâu quá, quan với lính thay phiên nhau rúc rào đi kiếm gái, qua biết mà cũng nhắm mắt. Bị cái đang khi minh oan, qua đoán chắc sẽ đeo lon như cũ, dại gì làm rắc rối cho mấy cưng, cho qua nữa... Bà nhà báo Xi-mo-nét chẳng biết luật lệ gì, đem tới trả cho qua hai chục ngàn, đền công qua trả lời nhiều câu hỏi của các báo ngoại quốc. Người Âu Mỹ trả cao mà sòng phẳng lắm. Đem nộp cho trại trưởng e nó bốc hơi mất, ta nhậu với nhau thôi. Qua chỉ huy nghen: chú mày gác cứ gác, cầm chai bia với ít đồ nhậu ra chỗ bót nhấp sơ sơ, nửa chừng qua cho người ra thay. Chú nhỏ này bảnh trai, cầm tiền ra ve mấy cô căng-tin sao cho tụi đào tơ chịu vô mở kho, lấy heo quay xúc xích ra bán, chớ về đêm tụi nó chỉ bán giải khát với bánh kẹo thôi. Cùng lắm vác đồ hộp về, đủ nhậu là được. Còn ông bạn dân sự rất tận tụy đây, quen xếp dọn cả giang sơn này, nhờ ông mượn-pông-sô hay thứ gì về trải ngồi, mượn ly cốc chén đũa, vài bộ cà-mèng ăn cơm lính... Mấy đứa còn lại khiêng bàn ghế ra ngoài thềm, quét dọn. Quick, quick! Bọn lính bật cười khi nghe tiếng giục “nhanh lên”, tiếng đầu lưỡi của hàng chục ngàn cố vấn Mỹ đi kèm các đơn vị, rối rít làm theo lệnh người tù. Khánh vẫy tay hạ sĩ tiểu đội trưởng ra thềm: - Tụi bây có đứa nào mới cưới vợ không? - Thằng Sùng cưới tháng trước. Nó hiền mà hơi khờ, nghe đánh rắm cũng “dạ có tôi”. - Được, hễ bọn tuần tra tới gây sự, bây cứ nói mượn buồng tao để bắt nó khao, rồi kéo bọn đó vô cho hưởng rượu cặn đồ thừa để trám họng. - Dạ, em hiểu. Vài chục phút sau, Khánh đã ngồi xếp bằng với đám lính: - Mời các chiến hữu nâng cốc... chúc mừng cách mạng đại thắng... chúc mừng qua cùng các chiến hữu, ở tù và gác tù, đều được làm lính kiểng, khỏi ra trận! Cười rộng miệng nhưng ít ồn ào. Cốc chạm nhau lách cách. Rượu trước để nhập khẩu vô tang, xong chai nào vất vỏ chai ra ngoài rào ngay. Uống suông kiểu ấy mau say. Cuộc nhậu nửa chừng hết rượu, thực khách bắt đầu ăn nhồm nhoàm, từng lúc chép miệng vì chưa đủ nghiêng ngả. Khánh hất hàm ra hiệu. Tên hạ sĩ gật đầu, bước ra ngoài với cái túi dết. Rất nhanh, hắn trở vào xách một túi phình to gồ ghề. Hắn mở năm chai bia cao, rót đầy một lượt vào các ca sắt to úp khuôn dưới các bi-đông Mỹ, để dồn năm vỏ chai bia một chỗ. Hắn rút trong túi dết ra ba chai đế trong veo, một cái phễu, búng ngón tay, trỏ vào tên an ninh và một lính nữa, lại trở vào buồng tắm. Lát sau trên mâm hiện ra năm chai bia loại bốn mươi lăm độ, và thêm ba vỏ chai rượu nữa bay qua hàng rào. Khánh uống rất ít, tỉnh táo nhắc hạ sĩ cho thay gác và đốc gác “để hai chiến hữu nữa làm cốc bia mừng cách mạng”. Bọn lính gác chỗ thâm nghiệm này quen thủ khẩu như bình, dù say đến mấy cũng không hở miệng, lỡ lời thì cũng bị đồng đội thúc cùi tay vào sườn đau điếng. Đã có đứa quá say nói bậy, chặn không nổi, chúng phải trói tay chân, nhét giẻ đầy mồm, đem bỏ ra góc rào vắng, trùm pông-sô như mớ bao cát dự trữ bên lô-cốt. ------------------------------------------------------------ 1. Trả nhiều tiền. 2. Cho bọn gác, từng ít một. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 25 Tháng Bảy, 2017, 03:57:16 pm Mười giờ tối, giờ Sài Gòn vẫn giữ cho chạy trước giờ Đông Dương một tiếng, rượu bia đã ngấm, đồ nhậu đã gần cạn. Hai tên được lệnh thiếu tá chạy ra nhà mụ Thỉ gần đấy kiếm thêm rượu thịt, mụ là vợ một thượng sĩ già luôn có rượu lậu và đồ nhắm trong buồng kín. Chúng mang tiền và vỏ chai bia rỗng đi, xách về năm chai đế và một mớ thịt cá hộp, cả một cốc đầy tôm khô ngâm dấm và hành kiệu muối.
Bữa tiệc lại tươi lên lần nữa. Bọn lính tấm tắc khen mãi thiếu tá Khánh hết sức bình dân và chơi đẹp, không một lần đánh chửi lính, sống như ông thầy tu thứ thiệt. - Nghe đồn thiếu tá biết bảy tám thứ tiếng, đúng không? - Tao đã dặn, lon rụng rồi, kêu tao là anh Hai, anh Haaai! - Đâu dám... è... thòi buổi này biết đâu mà lường... è... - Chừng được gắn lon lại, thiếu tá đừng quên tụi em nghen. Coi đó, tụi em đâu dám hỗn hào... Híc! Híc! Chợt có tiếng còi bấm hai tiếng ngoài cổng, một chiếc com-măng-ca Uy-lítx đỗ xịch. Tên hạ sĩ chạy vội ra trong khi tên gác mở khóa, cả hai kéo đôi cánh cổng có lưới kẽm gai bọc mặt ngoài. Chiếc xe gắn biển một sao của chuẩn tướng vòng đến sát thềm. Viên tướng bước đến cửa buồng, đứng cau mày, trong khi tất cả giơ tay chào kính. Y hỏi xẵng: - Làm gì mà kéo vô đầy buồng thiếu tá, hả? Tên hạ sĩ nói dẻo hơn kẹo kéo: - Trình chuẩn tướng, tiểu đội em có thằng tửng này, thằng Sùng, binh nhứt, mới dại khùng cưới vợ. Nhà nó bằng cái lỗ mũi, ở dinh trại, nó nằm giường tầng ba, chẳng có chỗ nào mời các chiến hữu. Dạ thưa, cưới xin mà không trình làng thì bị chưởi thúi mả cả họ. May nhờ thiếu tá đây hoan hỉ cho mượn buồng chốc lát để nó mời anh em uống lai rai la-ve củ kiệu, mừng nó có nhợ cột chân, có gông đeo cổ. Thiếu tá đây cũng hạ cố cụng ly mừng cách mạng toàn thắng, mừng chuẩn tướng vinh thăng... Viên chuẩn tướng liếc nhìn hai tấm pông-sô chỉ bày những chai bia và vài thứ đồ hộp hiền lành, do dự vài tích tắc nữa, rồi bật cười rất dễ dàng: - Thiếu tá cho phép thì các chiến hữu cứ tự nhiên... anh em mình hay giỡn là xin đại tiện... Cho moa một cốc để mừng chú em sa vô vòng kẽm gai của đờn bà, để chúc thiếu tá mau ngồi vô ghế cũ, hay lên ghế cao hơn! Tên hạ sĩ hối hả rút bi-đông nước chè ra tráng gấp hai cái ca sắt, đổ vào chậu đặt góc buồng trước cặp mắt gườm gườm của tên hộ vệ. Hắn khui bia cao thứ thiệt rót đầy hai ca. Sau đảo chính, tất cả các tướng tá đều ra rả nhắc rằng mình rất dân chủ, rất thương lính thương dân. Tất cả những vụ giết, cướp, đốt, hiếp lâu nay là do cộng sản bày đặt hay do chế độ gia đình trị họ Ngô gây ra, quân lực Việt Nam cộng hòa ngăn chặn không xiết mới phải lật nhào Nhu-Diệm với bọn Cần lao. Viên chuẩn tướng xuê xoa nâng cốc: - Nào, ta uống mừng cách mạng, mừng một chiến hữu có bạn trăm năm... Chúc thiếu tá được Hội đồng tướng lãnh mau chóng ra quyết định phục hồi danh dự, chức tước! Mà sao tụi bây cứ đứng như trời trồng vậy? À, chắc hết bia. Thôi khuya rồi, đi mua thêm không kịp, moa cụng ly tượng trưng với thiếu tá thôi! Bọn lính hối hả dọn dẹp, giấu trước hết những chai rượu giả bia. Lão Bảy sai đưa ra chỗ góc sân vắng hai chiếc ghế; “Để chỗ cho tụi nó sắp đặt. Gớm, khói thuốc ngột như đốt rơm!”. Lão cho tên hộ vệ ra gác thêm bên cổng, vẫy Khánh ra ngồi đối mặt, nói vừa đủ nghe: - Tụi Sài Gòn kêu điện ra bắt moa coi lại biên bản cuộc phỏng vấn của toa. Các báo đăng lời toa khác xa biên bản, Mỹ Anh đưa tin ngắn thôi, báo Pháp viết dài mà hằn học lắm. Hay toa với bà Duyên chơi xỏ moa? - Trình chuẩn tướng, kể gì mấy tờ lá cải. Khẩu hiệu tụi đó là “nghe lời thiên hạ, viết theo ý mình”. Gửi bài về còn bị thông dịch viên dịch sai, đả tự viên đánh máy sai, biên tập viên xào nấu lại, tới tổng biên tập gạch sửa thêm bớt lu bù. Bọn em làm tâm lý chiến, biết nghề đó lắm! Như cái bài “Hà Nội khởi nghĩa đòi tự do” là bịa chữ đầu tới chữ cuối! - Ờ, thôi được. Moa cho sao gửi biên bản vô cho cái lũ bới lông tìm vết… Mà toa đừng chơi trội nữa, cho tụi lính nhậu qua loa một lần đủ rồi... Bà Duyên nói với toa chưa? - Thưa, nói rồi. - Nói to trong buồng hả? - Thưa không, bả viết giấy, em đọc xong đốt liền. Em gật ngay. Nhân đây em cũng xin lỗi chuẩn tướng, được đặc ân mà quên cảm tạ bề trên... - Xí xóa, cho qua... Có điều mình nghĩ lại giật mình: cũng cần trám miệng tụi an ninh, lỗi phải đôi chút với thằng sư phó. Hay là vầy: toa đưa thêm hai trăm, moa lo dùm chuyện đó. Phần moa nhận ra một thông báo minh oan, phục hồi danh dự cho toa, gửi cho tất cả các sĩ quan trong sư đoàn, tất nhiên là khen toa hết mức. Ngon xơi rồi đó, chịu đi! - Trình chuẩn tướng, em chưa dành dụm được gì, vay mượn khắp nơi may ra mới đủ một tê nộp tạ ơn chuẩn tướng... - Thì vay của ông cụ! - Ba em trốn biệt tăm rồi. - Yên chí lớn, ông cụ luồn lách giỏi hơn con lươn, hồi Diệm lật Bảo Đại khối đứa đi tù mà ổng từ quận trưởng lên tỉnh phó. Ổng vô Sài Gòn tìm quý nhân phò trợ chứ đi đâu. Lão Bảy càng nói nhiều càng chuyển sang giọng Bắc. Khánh phân vân. Chịu ngay thì lão thấy dễ, lại cố moi nữa, đào nữa. Mỹ Duyên dặn rất có lý: cứ dằng dai cò kè. Ở đây mất tự do nhưng chẳng kham khổ gì, bọn lính ngại chính trị nhưng sai đâu chạy đó, kiếm puộc-boa hậu hĩ. - Xin chuẩn tướng cho em tính lại thử coi vay đâu cho đủ số, em bí quá. - Ừ, đành thế. Toa cứ dùng bà Duyên làm đầu mối, thu góp đưa cho mình. Tính mình dễ, toa gặp thằng khác thì phải hai ba tê mới thoát. Moa đang cần gấp, bảo bà ấy mỗi tuần đưa một phần ba moa cũng nhận. Toa thêm hai trăm mà được tiếng thơm, nhất toa đấy. Moa đang nợ đìa ra đây, ông sao trên vai nặng cân vàng lắm, khổổổ! Lão bóp mạnh tay Khánh, bước nhanh ra cổng, lên xe. Sáng hôm sau, viên thư ký của lão ghé vào chỗ Khánh, rút ra một mớ giấy viết thư, phong bì, tem, bút bi, cả hồ dán: - Lệnh của chuẩn tướng: thiếu tá được phép viết thơ tự do cho bà con bạn bè, chỉ trừ các phóng viên ngoại quốc. Đốc gác sẽ đưa ra bỏ thùng thư bên cổng. Chào thiếu tá. Gã không rập gót chào kính vì Khánh không đeo lon. Suất ăn sáng của Khánh tăng gấp rưỡi so với các bữa trước. Bánh mì nướng giòn, ba quả trứng tráng, bơ, pho-mát mềm trắng, hai bình cà-phê và sữa riêng kèm lọ đường để tự pha chế. Anh ăn nửa chừng đã thấy lính gác bưng và một bộ đồ trà, bình thủy nước sôi, một hộp trà Thiết Quan Âm chưa khui, một chai rum nhỏ để rót vào cà-phê hay trà tùy thích. Cuối bữa, anh đang nhấm nháp cà-phê rum, tên quét dọn vào, khúm núm lấy trong làn ra một khay nhựa tròn có chân cao, xếp lên đấy cả mớ chuối, quýt, táo tây, nho ngoại. Ái chà, lão Bảy mua mình đây. Lão chẳng cần chi xu nào, ra lệnh là có tất, tiền Nhà nước chịu. Cứ xài xả láng, thiếu gì đô-la Mý trút vào vỗ béo các sĩ quan Việt! Khi cả bọn đã rút lui, Khánh mới trầm ngâm bày giấy bút ra. Nghĩ cách viết sao cho hợp pháp, vì bọn Phòng nhì và An ninh quân đội sẽ bóc xem. Thứ hồ chúng phát, Khánh đã dùng từ lâu: xếp cả lô thư vào thùng, mở một luồng khí trong bình sắt có ký hiệu mật, tất cả các bì thư đều bật nắp dán tanh tách. Thông thường tụi Phòng nhì đốt bỏ một phần tư đến một phần ba số thư kêu đói khổ, trách cấp trên kéo dài hạn quân dịch, tuôn lời bất mãn. Khánh viết thong thả, cân nhắc từng chữ: - Thân gửi bà Tuyết Trinh, Hội thông thiên học Đà Nẵng - Kính gửi chị Ánh Mai, chủ nhân vũ trường Boston Đà Nẵng. - Kính gửi bà Mỹ Duyên, chi nhánh AFP Huế - Đà Nẵng. Các địa chỉ ấy đều do Mỹ Duyên nói và bắt Khánh nhớ thuộc lòng. Phần ruột mỗi thư đều là năn nỉ vay tiền rất gấp, sẵn sàng trả lãi cao hơn ngân hàng, nhờ bà Duyên ký giấy bảo lãnh và đem vào hộ cho Khánh để trả một món nợ thua bạc cay cú. Chỉ qua một tuần, Duyên đã gom đủ và trao tay cho lão Bảy sáu trăm ngàn. Còn lại một nửa. Duyên hứa chỉ giao khi nhận được bản thông báo về Khánh, không phải chỉ in rô-nê-ô mà đăng rộng rãi trên các báo bên ngoài. Lão Bảy bị nợ thúc réo, phải ký vào-một thông báo gần giống như tuyên dương công trạng. Lão đích thân đến gắn lại lon cho Khánh, đưa về tận Phòng tâm lý chiến để Khánh ngồi vào ghế cũ. Đến đấy Duyên mới chịu đưa sáu trăm ngàn hẹn trước. Dần dà mới rõ, bằng hăm dọa và bắt bớ, lão Bảy thu được bốn chục triệu, nghĩa là một vốn một lãi. Sau lại biết thêm, lão chỉ nộp mười ba triệu tất cả. Lão vỗ tuột chỗ còn nợ khi phe Dương Văn Minh bị phe Nguyễn Khánh làm “chỉnh lý” lật đổ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:18:20 pm Chương 13 Cả Chanh vẫn chưa nhận ra giờ này là sáng hay chiều. Anh chỉ thấy một lớp sương mù đậm đặc trắng pha vàng, với những quả bóng đỏ xanh tím bay nhởn nhơ gượng đưa tay lên dụi mắt, vẫn nguyên những màu sắc cũ. Chống cả hai tay xuống sạp tre mục, cố ngồi lên, anh không nhấc nổi cái đầu, nó quá nặng. Dường như khối thủy ngân nằm im trong đầu anh bắt đầu rung rinh sau những cố gắng ấy. Anh nhỏ dần từ gần đến xa, hẹp đến rộng. Cô Tơ-bon, em đồng chí Tơ-rin, tìm thấy Chanh nằm mê man bên bờ suối, đã dìu anh đến cái chòi cũ này, nấu cho anh một ống tre nước lá mâm xôi, một nồi sắn, trước khi đi bắt liên lạc với đội du kích và những ai sống sót sau trận tập kích vào cơ quan huyện ủy. Cô đi đã ba ngày chưa thấy về. Có thể bị bắt đâu đó. Đội du kích làng Blam và Blin cũng chẳng thấy đâu. Xuân năm ngoái, trận càn lớn “tát nước bắt cá” đã lùa dân các làng Thượng mé trên sông Linh xuống làng định cư Linh Sơn kẹp giữa các đồn bót và các thôn xóm di cư. Đội du kích làng Blam còn 12 người, chỉ sau mấy ngày đã móc nối được với bà con đang dựng ấp chiến lược, mượn cớ vào rừng lấy tre gỗ để đem gạo muối cho du kích. Lảng vảng quanh các làng rút vào bí mật mà địch với tay không tới, chỉ khổ vì thiếu muối, sắt, vải. Hai cán bộ thôn bỏ cuộc, đem vợ con nhập vào làng nào có họ hàng nhiều, dựng lều phát rẫy, coi như mãn mùa cách mạng. Cái chòi bí mật này là của du kích làng Blin, nằm kín trong những lùm mua và sim gần con suối nhỏ. Họ chỉ dám xuống “trung châu” tới đó, cách thôn Linh Sơn chừng bốn giờ leo dốc và lội ngược suối. Nồi, củi, gạo giấu trong một hốc đá còn kín hơn. Cô Tơ-bon biết chỗ vì nhiều lần tới liên lạc, lần này không gặp ai, không tìm ra gạo, chỉ hối hả mót trong một rẫy cũ được một ít sắn lưu niên đầy xơ để nấu cho anh bí thư tỉnh ủy. Những bước vùn vụt đi lên sau ngày Diệm đổ đã gây một cơn bốc đồng mới. Các rào ấp chiến lược cháy suốt đêm, dân phá đồn trở về ngày càng nhiều, tề điệp co lại, ác ôn mới xế chiều đã lên đồn ngủ nhờ. Tiếp tới cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh nữa, cán bộ và du kích Tây Quảng đã bốc lại càng bốc. “Quyết chống chần chừ do dự, không bỏ lỡ thời cơ”. Các chỉ thị của liên khu nhắc mãi “tiến công mặt trước, giữ vững mặt sau”, bị quên vế thứ hai. Kéo hết xuống đồng bằng, đánh rốc một chiến dịch lấy hết nông thôn đồng bằng, chỗ nào chưa đánh trốc được thì vây đồn bắn tỉa, giam đói giam khát, buộc ra hàng. Huyện ủy Tây Quảng đã thông qua một nghị quyết giống lời Hịch tổng phản công như thế trong cuộc họp say sưa. Đồng chí Tơ-rin cũng tán thành. Thọc sâu xuống đồng bằng là giải vây cho miền núi đang khốn đốn vì địch cố chặn nguồn tiếp tế, một con gà mái ấp chỉ đổi được hai thìa muối, một heo choai mới được một lưỡi rựa sắt non. Các đồng chí trong huyện ủy đều kéo xuống đồng bằng, dù tự nguyện hay miễn cưỡng, dù đi cuối hay đi đầu các đội võ trang công tác. Cả đám y tá, thư ký, in li-tô, liên trinh, bảo vệ đều đi tiến công mở ra. Chỉ còn lại ở cơ quan huyện ủy Tây Quảng một phó bí thư đang sốt rét nặng, chị nấu ăn, cậu tiếp phẩm khỏe mạnh chuyên đi cõng lúa “đảm phụ giải phóng” và xay giã rất khuya, xong lại xuống trạm tiếp tế mật cõng muối về, đôi khi được thêm vài hộp vị tinh hay một bình mắm cô. Tháng ba năm nay, 1964, bùng ra trận càn lớn gấp bội năm ngoái vào “mật khu Đỗ Xá” của liên khu 5, kèm theo cuộc càn ác liệt vào miền Tây của các huyện Tây Quảng, Trà Mi, Tam Kỳ. Địch chặn dưới, khóa trên, cho Việt Cộng hết chỗ chạy, quyết bắt trụm cả các bộ máy của khu và tỉnh. Bắt về khai thác được là tốt nhất, chặt đầu mang về là nhì, cùng lắm là xua vào chỗ chết bệnh, chết đói, chết vì chất độc hóa học rải khắp nơi. Cả Chanh về Tây Quảng mươi ngày sau khi địch đánh lớn, thọc sâu. Cơ quan huyện dời xuống ở hẳn trong làng Linh Trung được giải phóng mùa thu năm ngoái, bị bom mảnh bom lửa rất nặng, phải bật lên rừng cách vài cây số, chỉ để lại vài giao liên bám làng, giữ các mối dây dưới lên và trên xuống. Các thôn xã giải phóng xa chỗ trọng điểm càn không bị hại nhiều, còn nhân lúc địch gom quân mà lấn tới làm chủ nhiều nơi. Cộng cả vùng đồng bằng và ven biển của ba huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, có mười bảy xã liên tiếp khởi nghĩa “hoa nở trong lòng”, áng chừng địch chỉ líp lại được một nửa. Tam Kỳ giữ được vùng giải phóng nhưng tiến công chậm. Tiên Phước dựa vào bộ đội tỉnh hơi nặng, du kích và bộ đội huyện yếu, dù sao cũng giữ nổi phần lớn bốn xã trung du bị lấn chiếm cuối năm ngoái. Tây Quảng đang là cái lá chắn cản địch từ đồng bằng cố lên hợp quân với các tiểu đoàn lính dù và biệt động được vô số trực thăng trút xuống Đỗ Xá, sục khắp núi rừng tìm diệt các cơ quan thuộc liên khu. “Bí thư phải có mặt chỗ gay go nhứt”. Anh Tô Xáng hay nhắc vậy, Chanh cũng ghi nhớ vậy. Giao công việc của tỉnh ủy cho phó bí thư và các đồng chí khác xong, anh ra đi theo thứ tự nối đuôi xưa nay: con Dồ trước xa, cậu giao liên Thượng cầm ná và đeo lựu đạn, cậu bảo vệ mang tiểu liên Tuyn cải tiến đã rút báng và đựng băng kèm ba lựu đạn chày từ miền Bắc đưa vào-thứ này ném được xa hơn nhiều so với các loại da láng da khía của Mỹ. Đến Cả Chanh, đã cạo râu và tạm trút lớp vỏ cụ Thượng từ khi cách mạng tràn xuống đồng bằng. Anh len lỏi giữa các ấp chiến lược, các đồn và cánh quân phục kích, lách qua các trận càn, và gặp may hơn anh Tô Xáng là chưa hề dính đạn, dù xuống tận mép, sóng biển hay luồn tới ngoại ô các thị xã. Đến huyện ủy Tây Quảng, Chanh không bằng lòng ngay từ đầu. Cơ quan đóng trong một trại huấn luyện tân binh khá rộng, có cả sân bóng chuyền, đường ra vào băng qua đồi tranh rất lộ liễu. Lúc này có tới gần hai chục đội viên võ trang công tác và cán bộ các ngành các xã bị bật lên núi. Đã chạy tránh giặc mà còn làm phách, họ cứ đốt lửa thả giàn, vãi súng đạn đồ đạc lung tung, mở đài oang oang tỏ ý chẳng biết sợ là gì. Ai nhắc cảnh giác thì họ xì xịt, bĩu môi, cười khẩy. Ở đâu cũng có những người như thế: cán bộ bỏ dân mà chạy vẫn làm bộ coi giặc rất xoàng, bộ đội mất tinh thần rút lui vẫn cố đánh thằng tù binh vài cái tát để tỏ ra căm thù đế quốc, tất cả đều theo kiểu rẻ tiền nhất. Ngay trong tỉnh ủy cũng có vài người như thế: hò hét tiến công và tiến công, tiếp đó ép tay trên ngực ho khan để các đồng chí hiểu cho mình ốm yếu, rất tiếc không lao vào khói lửa được. Chanh khuyên họ làm như bộ đội đánh đồn hay phục kích: giấu mình thì giấu hết sức kín, “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, khi nổ súng thì long trời lở đất. Vây vo như nơi này, ích gì? Anh phó bí thư ốm khặc khừ. Cậu chánh văn phòng, chỉ quen nếp bàn giấy, cho giao liên cõng tài liệu mật ra giấu kho mật. Số tản cư lên núi được lệnh về bám dân, chỉ bám từ nửa đêm đến một hai giờ sáng, đủ thì giờ để ăn đẫy và xin gạo muối cõng về. Đồng chí bảo vệ có mang theo một bộ câu cắm, vài chục que tre già vót nhỏ và mềm, nối nhau bằng sợi cước dài phồng cá to đớp lôi bật cần câu. Cậu ta đi mốc mồi cắm câu lúc sẩm tối, trong đêm đi gỡ cá thay mồi hai lần, Chanh nhận gỡ cá lúc mờ sáng vì quen dậy theo vượn hú. Mỗi đêm được vài cân cá, nấu với rau ranh hay măng cũng đỡ háo. Sáng hôm thứ ba Chanh đến, anh ra suối với con Dồ, đến chỗ vũng suối dài cách cơ quan nửa cây số. Hôm nay trúng khá, phần lớn các cần câu đều trĩu ngọn, rung rinh. Trời mới hưng hửng sáng, anh đã lấy được nửa giỏ, chừng hai cân, còn lấy tiếp. Tiếng súng đủ loại chợt nổ rầm rầm phía cơ quan, chen rất nhiều tiếng lựu đạn và tiếng súng phóng lựu M.79 nhỏ hơn. Mươi phút sau, tiếng súng thưa bớt và tản rộng hơn: địch lùng những người sống sót. Rồi dậy to dần tiếng trực thăng bay tới. Chanh nép gốc cây, ngửng xem: bốn tốp H.34 đến rời nhau, mười hai chiếc. Nhiều luồng khói xanh chỗ đồi tranh phụt lên đón. Từng hai tốp một, các H.34 xuống đứng, trong khi hai chiếc trực thăng phản lực vòng ra xa, xối đạn chung quanh đám cháy khu trại cơ quan, bắn dai như trâu đái cuối buổi cày. Một loạt đạn quét trúng chỗ anh núp, nhưng thân cây to che đỡ được, vẫn nghi gì đấy, cặp HU.1A còn phóng thêm vài chục rốc-két vào những chỗ cây rậm. Cánh quân rằn ri nối nhau lên trực thăng. Một giờ sau, đợi tiếng súng và trực thăng hết hẳn, Chanh mới lò dò trở về cơ quan huyện. Con Dồ chạy trước, ngửi mùi nước đái mà nó chuyên ghếch chân són mỗi quãng một tí dù đi đường quen. Nó bỗng thụp bốn chân, gừ gừ rất khẽ trước một mớ lá khô bốc mùi địch. Chanh luồn tới quét lá, tìm thấy một quả mìn Gíp vỏ nhựa, nổ đủ phá chân. Địch càn, thường để đi cuối một nhóm công binh gài mìn: một tên cầm vồ nện xuống đất, để lại một lỗ vừa khít quả mìn xanh lá giống một lát bánh tày hay bánh tét nhỏ, hất một ít lá phủ trên là xong. Địch đã khám phá ra: một Việt Cộng chết ít gây bối rối vì chỉ cần đồng đội khiêng đi chôn và truy điệu, một VC toác chân đến gối sẽ phải khiêng leo núi khá xa đến bệnh xá-ba người thay nhau khiêng, bốn người mans súng và ba-lô gấp đôi, sau đó, phải cưa cắt và điều trị lâu, phải được khiêng ra tận miền Bắc để làm chân giả vì không thể chống nạng trèo dốc. Chúng biết nghiêm lệnh của VC là không được bỏ thương binh liệt sĩ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:23:41 pm Xem dấu giày, Chanh đoán bọn biệt động này chừng một đại đội, luồn trong rừng rậm mé sau khu trại đánh úp. Anh chị em ngủ không gác, chạy túa ra mặt trước, vượt rèm cây mỏng là gặp đồi tranh còi, tha hồ hứng đạn vào gáy vào lưng. Nếu con Dồ rất tỉnh ngủ không bám theo anh đi gỡ cá, hẳn nó nghe tiếng và ngửi mùi lạ, đã sủa báo động đủ cho một số kịp chạy hay bắn trả.
Địch đã thu hết xác và giải sổ bị thương, bị bắt về làm triển lãm trong “lễ chiến thắng”. Rất nhiều dấu máu rải từ bãi tro bốc khối ra đồi. Chanh vẫn kiên nhẫn quét chổi lá dò mìn, tìm xem có ai bị thương lọt vào bụi rậm khuất mát địch chăng. - Giơ tay lên! - Bắt sống Việt Cộng... bắt sống... - Biệt động, sááát! Khẩu súng ngắn ba nòng vẫn cầm trên tay, Chanh nhào xuống khúc hào vài chục thước mà trường tân binh đào để tránh máy bay, cũng để tập đánh địch dưới hào luôn, cỏ và tranh mọc hai bên rủ xuống che gần kín miệng. Anh cúi thật thấp, chạy luồn dưới lớp che khuất. - Báo cáo thượng sĩ, có hầm bí mật! - Nó độn thổ rồi... - Dở như cứt! Lựu đạn, Em-bảy-chín, cả trái khói nữa, dộng hết xuống! Một loạt tiếng nổ to nhỏ bùng sau lưng Chanh. Con hào chạy chữ chi, các thứ mảnh không đến lưng anh được. Nhưng hào chỉ dài hơn hai chục thước. Anh thở vài hơi đỡ mệt, rướn đầu lên thật êm tìm đường thoát. Con Dồ hổn hển sau lưng anh, rên khẽ. Nó không nhảy cao được một thước sáu để lên mặt đất, trong khi anh có thể dùng cả tay chân để vượt con hào hẹp. Nhân khi bọn lính ném lựu đạn và trái khói xối xả xuống chỗ anh nhảy xuống khiến chúng cũng bị khói khó thở và che mắt, anh rút dao găm đeo dưới áo bà ba ra, khoét vội hai hàm ếch để đạp chân nhảy. Anh xốc con Dồ ném gọn lên mặt đất, vọt theo lập tức. Mấy tên đứng ngoài rìa chỗ khói kêu hoảng trong khi kéo khóa nòng tiểu liên: - Nó, nó kia, nó chạy! Báo cáo... - Bắn, bắn gấp! Đồ chó, nổ đi chớ! Chỉ hai tên kịp nổ súng, bọn ở chỗ “hầm bí mật”. Sợ trúng số này, cũng chưa kịp thấy gì, chỉ xách súng chạy nhào tới. Chanh và con Dồ đã kịp nép sau bạnh vè một cây to. Chanh đủ bình tĩnh để quỳ bắn trả hết cả ba phát trước khi chạy tiếp trong chỗ rậm. Sau lưng anh súng vẫn quét tơi bời sau những tiếng kêu thét của bọn trúng đạn. Lâu nay vẫn thế, hễ biết Việt Cộng có thể bắn trả là chẳng đứa nào vọt lên trước: dại gì chết uổng cho đứa khác lãnh thưởng! Chạy chừng trăm thước, Chanh thấy nóng rát ở đùi, ống quần bết vào chân. Anh dừng, cúi xem, thấy máu chảy xuống khá nhiều. Có tiếng trực thăng, hai chiếc chở quân H.34 và một chiếc võ trang, quần một vòng rồi đáp xuống đồi tranh. Anh đã quên bẵng thói quân ngụy: càn đường bộ hay đường không, chúng quen gài lại một bộ phận về sau, để diệt những VC đến cứu hay chạy lạc trở về chỗ cũ, và các loại mìn sẽ thanh toán những kẻ sống sót. Thỉnh thoảng có bộ phận gài như thế bị lộ, bị diệt, nhưng đấy là số ít, vài ba chục đứa thôi, thường không được nhắc tới nữa. Số cố vấn Mỹ tăng đến trên hai chục ngàn, cả một đạo quân cố vấn, có vô vàn thứ chiến cụ mới đi kèm, tha hồ mà nghĩ ra lắm trò trong cuộc “chiến tranh thí nghiệm” dùng bọn gook làm súc vật mổ xẻ. Chanh được một đồng chí địch vận cho biết từ khinh miệt ấy chỉ người Việt ta, chẳng trừ ai. Chanh đi chừng vài trăm bước nữa thì chân phải bị chuột rút đau buốt, đầu bung bung, mắt hoa. Anh nép vào bụi sim to, nghỉ và băng. Trong túi tài liệu của anh luôn có bốn thứ phòng thân: một cuộn bông băng có ống thuốc sát trùng của Mỹ, vài chục viên clô-rô-kin Mỹ chặn sốt rét, một túi muối hầm để ăn kiêng khi đau dạ dày, một ve cao lôông tơ-uyn có tính kháng sinh do bệnh xá biếu. Phải rửa trước đã. Đây vắng nước. Chanh nhắm hướng bò xuống chỗ thấp, kéo theo cái chân bị chuột rút co quắp. Đầu thấp chân cao, tuột dài từng lúc chỗ đất chài, Chanh đến một quãng suối còn nước ri rỉ. Choáng váng quá mất. Anh chỉ đủ sức mở túi muối, xát một nhúm vào chỗ quân bà ba rách che vết đạn xé thịt, ngất lịm luôn. Hình như lúc ấy gần trưa tròn bóng. Anh được cô Tơ-bon dìu về căn lều bên suối Blin, nửa tỉnh nửa mê sau đợt mất máu. Hình như anh có bảo Tơ-bon xắn ống quần lên cao, hòa nước muối rửa vết thương, bôi cao lôông tơ-uyn, băng lại, đi báo cho anh Tơ-rin và cho chị Thùy vợ anh. Suốt mấy ngày qua Tơ-bon không quay lại. Vết thương tấy ít nhưng vẫn gây sốt. Nhân đó, các chứng cũ cùng một lần “đồng khởi”. Sốt rét, dạ dày, thấp khớp xúm quật nhào Chanh đến độ cùng kiệt, hấp hối. Giữa hai cơn sốt, anh chỉ đủ sức gượng dậy, lật bật uống chút nước nồng mùi ống tre, lại nằm vật xuống sạp tre đã mục ngả đen và nổi mốc. Nước hết, anh định xuống suối, nhưng xương ống chân như đâm lút vào bàn chân, nhức đến kêu trời. Anh đeo ống tre ngang cổ, bò bốn chân đi kiếm nước. “Phen này mình chết. Chắc chết. Hãy đốt tài liệu mật, vùi súng, gượng viết mấy chữ cài trên ngực trước khi quá muộn, để đơn vị biết tên và nơi báo tử. Hãy làm như rất nhiều đồng chí khác đã lặng lẽ trút hơi thở trên khắp chiến trường Đông Dương mấy chục năm qua, chôn khắp các rùng núi trước ngày toàn thắng. Từ chỗ nằm xuống suối chỉ ba chục thước. Chanh bò xuống mất chừng hai chục phút, vục mặt xuống uống mãi không muốn ngừng. Anh vỗ vào miệng viên clô-rô-kin cuối cùng, lại uống. Rồi anh vội vã lật ngửa người, đưa tay bịt miệng bóp mũi, nuốt khan dồn dập, cố chặn cơn buồn nôn đang đẩy viên thuốc chòi lên tận mồm. Hình như sốt rét đã bị đẩy lùi, trưa nay không thấy lên cơn. Con Dồ đói nhưng không rời chủ. Chỉ khi Chanh nằm thiếp, nó mới rón rén dạo kiếm ăn chung quanh lều, cũng để gác luôn thể. Là chó săn nòi lai chó giữ làng Thượng, nó quen tự kiếm ăn trong rừng. Tuy bom đạn đã xua chim thú dạt lên núi cao hơn, nó vẫn chộp được chuột rừng, sóc từ các cành xơ xác mò xuống đất kiếm ăn. Nó vồ được cả bìm bịp nâu đen, những con chim đớp muỗi lông xám đốm trắng ngủ suốt ngày trong chỗ rậm gai chờ mặt trời lặn. Một lần bí mồi, nó ăn cả những con cuốn chiếu to tướng. Được con gì, nó tha ngay về ăn trước lều để trông chừng. Mỗi lúc tỉnh, ông chủ gọi nó vào bên chỗ nằm, chậm chạp sờ nhổ cho nó những cây gai cắm từ đầu đến mông mà nó không tự nhổ được, bôi cho nó tí cồn i-ốt vào chỗ sây sát chảy máu khiến nó rát đến phát rên. Bò được đến lều với ống nước kéo lê theo, Chanh trườn lên sạp nằm thở, nghĩ dài dài, soát lại ý định chống giặc. Dứt khoát chưa đốt tài liệu, chôn súng. Đội du kích Blin để lại trong lều cả một bó cây thông nhựa - vùng này gọi là cây ngo - chẻ ra thanh nhỏ và dài, dùng đi đêm. Chanh đã tháo cả bó ra lót dưới túi dết tài liệu, đặt cái bật lửa và hộp diêm tình cờ sót túi lên trên. Thứ ngo này bén lửa rất nhậy. Cây súng ngắn ba nòng để đầu sạp, qườ tay phải là đụng. Đạn dự trữ đặt trong cái soong thủng, đậy vung. Hễ có động, Chanh sẽ chụp súng lăn xuống đất, bắn trả ngay, đủ thì giờ thì lắp đạn bắn tiếp. Dùng toàn đạn ria hột tấm cho vãi rộng, nòng dưới bắn đạn trường Anh sẽ cố nhằm vào thằng chỉ huy, nếu có thể. Gặp bước đường cùng thì quẹt cả nắm diêm ném vào đống ngo, thả súng vào đấy. Tờ giấy cài ngực đã viết xong, nét qườ quạng: “Nhờ liên lạc trạm H.27 báo tin N.14 đã chiến đấu và hy sinh”. Nếu anh chết luôn trong một cơn sốt ác tính và địch lấy được xác cùng tài liệu thì sao? Anh tính kỹ, thấy mình không thể sốt ác tính đến chết được, vì đã nuôi ký sinh trùng ma-la-ria trong máu những hai giáp, hăm bốn năm, kể từ ngày bị Pháp bắt đưa lên căng và nhà tù trên Kon-tum, chẳng phải như số trẻ từ đồng bằng lên hay miền Bắc mới vào. Chanh nghĩ dông dài trong những ngày đêm bị các bệnh và đói khát hành hạ, để xua luôn đi nỗi ám ảnh muốn tự sát. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:26:32 pm Nạn đầu thú đi kèm nạn tự sát của các đồng chí trung kiên mất lòng tin ở thắng lợi. Nghị quyết chống tự sát của tỉnh ủy có ngăn cản phần nào nhưng không chấm dứt hẳn được những bi kịch như thế. Những đồng chí quá kiệt quệ về sức khỏe và tinh thần được đưa ra miền Bắc theo đường núi, lúc này còn được gọi lẫn lộn là đường Thống Nhứt, đường Hồ Chí Minh, đường 559. Người khỏe đi dưới hai tháng, người yếu chống gậy leo dốc xấp xỉ ba tháng tuy giao liên đã mang hộ gạo và bao lưng. Người cụt chân phải khiêng thì xuống chống nạng đi bộ khi gặp quãng đường bằng, được khiêng chỗ khó trèo. Qua khỏi đường Chín, họ thường được thồ bằng xe đạp của các đội vận tải, khi ra không chở hàng, đến Quảng Bình sẽ được ô-tô đón. Số vụ tự sát xuống còn rất ít, rồi hết hẳn. Nạn đào ngũ giảm nhiều nhưng vẫn còn. Trong đám cán bộ đã từng đánh Pháp, chai sạn với những đợt lên xuống tiến lùi của phong trào, chỉ lâu lâu mới có một người ra hàng, thường là sau khi bị kỷ luật nặng. Hầu hết số bỏ trốn, có hay không có súng, là những anh em trẻ “nhảy núi” trong một cơn bốc đồng, sau đó thấy theo cách mạng là quá cực khổ, quá dễ chết, thêm bị gia đình lôi kéo vì sợ mất con, mất chồng, bèn đánh bài chuồn.
Theo lệ thường, họ được địch đưa về một nơi rất kín đáo. không báo cho gia đình biết, để công an ngụy cho hưởng một trận tra tấn xem có phải Việt Cộng gài người vào vùng quốc gia hay chăng. Ai chịu đòn không nổi và trót nghe lời mớm cung, nhận là VC trá hàng, sẽ được đưa đi “an dưỡng đường” để nghỉ mát, tức là qua nhà lao để nằm xà-lim biệt giam, ăn cơm sạn mắm giòi và chịu mỗi đêm một lần tàu bay, tàu lặn, tàu điện, kết thúc bằng mò tôm trong bao tải buộc đá. Ai ham sống lâu hơn thì được địch giải về khui hầm bí mật hay đánh úp đồng đội cũ. Khui hầm rỗng hay cất vó hụt thì rồi đời luôn, bị bắn sau lưng và cắt tai lấy thưởng. Trận tập kích vào cơ quan huyện vừa rồi chắc chắn có đứa nào đó dẫn. Các đội võ trang công tác mắc kẹt tít dưới sâu kia, hẳn nhiều người biết cơ quan ở đâu, ở ra sao. Phải đợi cơ sở trong quân ngụy và các ấp chiến lược báo lên cho trạm H.27 mới biết được ai chết ai sống. Nhưng trạm ấy có bị đánh úp không, nếu không bị thì cũng chẳng biết đồng chí bí thư kiệt sức nằm đây như người bán thân bất toại. Bên ngoài lều, trời đã chạng vạng. Tiếng chim xao xác về tổ bớt đi nhiều nhưng vẫn còn. Đất dưới rừng ngả màu sẫm trước, nền trời vẫn sáng trong buổi hoàng hôn kéo dài của vùng núi. Con Dồ vừa ăn xong một rắn nước khá to, nuốt hết xương, bỗng đứng thẳng bốn chân, gừ gừ chạy xuống suối thật êm. Rõ ra nó chưa biết là bạn hay thù. Mươi phút sau, nó chạy lên thong thả, không sủa. Tiếng chân bước và tiếng thì thào đến gần. Chanh không lăn sấp xuống đất, chỉ nằm nghiêng và cầm súng sẵn. Cả một tốp người kéo tới. Cô Tơ-bon dẫn đầu. Còn đủ sáng để Chanh nhận ra Hai Thùy và giật thót mình. Tới Út Thanh Yên cõng con Thanh Bình. Chanh chống tay ngồi dậy, lập cập đánh bật lửa châm vào thanh ngo gài sẵn chỗ chân sạp. Chỉ có Tơ-bon mở miệng được: “Anh Tơ-rin gác chỗ khe, em xuống thay ảnh”. Lúc này Chanh mới thấy Tơ-bon cầm lựu đạn, cõng một gùi tre nặng. Cô ngồi xệp đặt gùi, cầm lựu đạn đi ra. Út Thanh Yên chợt nhớ, cũng ngồi xuống thả đứng con Bình, nói với nó bằng giọng ngủ mớ, lùng bùng không rõ tiếng: - Hừ, đòi đi, mới leo dốc sơ sơ đã bắt cõng... mười ba rồi chớ ít đâu... Thùy bỏ cái bao lưng xuống, lại đứng nhìn chồng trân trân, nước mắt chảy xuống chầm chậm. Chanh tỉnh lại, gượng cười: - Nhà không ghế, bà con chịu khó lót dép ngồi... lạ lắm sao mà ngó hoài vậy ta? Châm thêm một cây ngo nữa, Chanh được Thanh Yên đưa cho cái gương chữ nhật nhỏ. Anh soi xem mặt mình: một đống râu tóc bù xù bết đầy đất cát, bao quanh khuôn mặt chỉ còn da bọc xương. Anh nhìn xuống bộ bà ba rách như lá chuối khô và cũng đầy đất cát, chắc sau lưng cũng thế. Đồng chí Tơ-rin bước vào lều, chỉ đứng nhìn Chanh như một người đến dự truy điệu bị muộn giờ. Tiếng khóc chợt nổi hu hu cùa Thùy đánh thức mọi người. Chanh cười phá lên, rất không tự nhiên: - Gì mà như đám tang vậy hè? Chanh xe lửa đúc bằng sắt, trầy truột hay hư máy chút đỉnh, ăn thua gì! Tới đó, từng người mới lo một việc, tíu tít cả lên. Anh Tơ-rin xách ống và soong xuống suối trong khi Thanh Yên nhen bếp lửa, lấy trong gùi ra túi bột huỳnh tinh, hộp thịt nạc chà bông, muối hầm và vị tinh. Yên nói rất ra vẻ thầy thuốc: - Có gói xôi đậu xanh đó, mà anh ăn sợ thương thực. Em quấy bột nhiều, anh ăn mỗi lần một chén, nhiều lần cũng khỏe. Thùy bắt anh cởi quần bà ba bết máu ra, hòa nước muối giội vào cuộn băng đã dính cứng vào vết thương, nhẹ tay gỡ dần nó ra. Chanh buốt tận óc nhưng cố nằm im. Điều lạ là chỗ thịt bị xé dài hơn ngón tay không làm mủ, không thối. - Anh... ai làm thuốc cho anh? - Tự làm thôi. - Anh có trụ sinh hả? - Trụ sinh của người Thượng, là cao lôông tơ-uyn. Hễ ngốt cơn sốt rét, anh tự bôi. Lát anh cho coi. Nước trong soong đã sôi già. Thùy pha thêm nước muối trong cái ca Mỹ, soạn các thứ rửa và thay băng. Hồi Chanh làm xe lửa, sau về ở Linh Lâm, Thùy học mót được tí nghề y tá để giúp anh em trúng pháo, bà con trong làng cần cấp cứu bước đầu, trẻ con ốm vặt. Nhưng học thuốc nam kỹ như chồng thì không đủ thì giờ. Trong khi chờ nước nguội, Thùy cùng Tơ-rin thay nhau kể chuyện những ngày qua. Cô Tơ-bon rời Chanh đã thốc thẳng xuống Linh Lâm báo động cho gia đình Thùy, rồi trở về làng Thượng định cư Linh Sơn. Bọn dân vệ chụp bắt Tơ-bon lúc mờ sáng, đem về bót nện khá đau, Tơ-bon không nhận đi tiếp tế Việt Cộng mà chỉ đi tìm con heo sẩy chuồng: “Hắn ủi khoai sắn họ, tui lấy chi tui đền?”. Vẫn cứ bị giam ba ngày. Các ông lão làng Blam cho con cháu đi báo với tỉnh ủy viên Tơ-rin, cùng kéo lên bót kêu kiện. Trong mấy ngày ấy, Hai Thùy và Thanh Yên đi gặp Cửu Áng, phó đại diện kiêm kinh tài của xã, xin giấy vào Quy Nhơn ở với bà con phía má Thùy. Ở chỗ cậu sơn này quốc gia với cộng sản giành giật nhau liên miên, bom đạn dầm dề chịu không thấu. Cửu Áng đoán những gì chẳng hiểu, nhưng lão chỉ cấp giấy cho mẹ con Thùy được đi với cái giá lót tay năm trăm, còn Thanh Yên thì “để đó cứu xét”?. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:30:05 pm Trong trận càn lớn ở Tây Quảng phối hợp với cuộc hành quân “tiêu diệt Đỗ Xá” trên núi thăm thẳm kia, giữ Hai Thùy lại làm con mồi gọi hàng vẫn lợi hơn, nhưng lão hiểu Cả Chanh không biết hàng là gì. Y hệt ông Tô Xáng tức Bát Đập, vợ con bị đưa đi dinh điền trên Cao nguyên trung phần, ông vẫn cứ nhởn nhơ làm bí thư tỉnh ủy phớt đời, cho đến khi chết-mà đố biết ổng đã chết hay chưa? Biết đâu ổng ra Bắc nhận quân, về riềng cổ hết tụi này! Bài học từ năm Ất Dậu Việt Minh nổi dậy lật nhào mọi ông chủ cũ vẫn đọng sâu trong lão như cái nhọt bọc chữa không lành. Gây thù kết oán thì mình bị thí trước, quá rõ rồi. Lão tính đủ các lý lẽ khi ký tên và cộp dấu vào giấy phép của Hai Thùy.
- Bác không thắt ngặt với Út Yên làm gì. Ác nghiệt là trên quận tư giấy về hoài hoài, cấm không cấp giấy cho đám trai gái trẻ đi làm ăn xa. Tụi nó nói vô Sài Gòn, Bình Tuy, Cao nguyên Trung phần, lục tỉnh Nam phần, thiệt ra không phải. Đứa chưa bị nghi thì đi liên lạc cho Giải Phóng, trốn quân dịch. Mối lộ sơ sơ thì “chạy trong”, đổi vùng, thay tên. Bí nữa là nhảy núi, lên xanh, vô bưng. Quốc gia biết hết mới lịnh xuống vậy. Cháu đi họ ít nghi, bên Giải Phóng ít nhận gái lớn tuổi đem theo con nhỏ... À, Cả Chanh mạnh giỏi luôn chớ? - Ôi bác, làm sao cháu biết được! - Bác kín miệng lắm, nói nhỏ với cháu thôi nghen: mấy đứa ra hàng tả “cụ thượng” tỉ mỉ lắm, ngó xa cũng biết. Cháu nhắn ảnh đổi hình dạng đi, mặc áo dài đen đội khăn đóng làm thầy bói thầy cúng, bới tóc củ tỏi mặc áo trắng như chức sắc Cao Đài, thiếu gì cách... Cháu cặp Cả Chanh, cứ nói bác quý trượng cả nhà cháu. Bác cầm năm trăm để trám miệng thằng Ba Mít thôi, phải người khác thì ba bốn tạ gạo còn thiếu. Không, không, ơn nghĩa gì đâu Hai! Cháu xuống quận xin tiếp ký, nhớ kẹp năm trăm nữa trong đơn, nó mới đóng mộc cho. Thanh Yên ngồi lì lì chỗ góc lều trong khi Chanh ăn chén bột huỳnh tinh ngon không thể tả, vào đến đâu tỉnh người đến đấy, tiếp uống thêm clô-rô-kin và các sinh tố. Thứ cao lôông tơ-uyn tốt thật, Thùy chỉ rửa vết thương, bôi cao mới, băng sạch lại. - Lão Áng không cho giấy, em cũng vù, anh Cả à. - Nó hốt cả nhà đi quy khu... - Mai mốt nó bắt em vô lính nhà thổ... Em bị thí à? Thùy chen vào đánh trống lảng: - Con Bình ngủ ngồi kìa. Út lấy võng trong bao chị, cột đâu đó cho nó nằm. Để anh Cả tính lợi hại ra sao đã chớ. Anh Tơ-rin giữ ý, chỉ lặng lẽ thắp liên tiếp từng cặp thanh ngo. Địch sợ chông thò không dám lùng đêm, co về ngủ hai bên sông Linh, ở đây đốt lửa và chuyện trò thoải mái. Chanh chợt nhớ ra con Dồ mấy ngày nay chỉ lo gác và ăn những thứ sống sít kiếm được, nhắc Thanh Yên cho nó nắm xôi. Cô Út không nói giọng hờn dỗi nữa, mà gắt to tiếng: - Đang bàn việc em, anh chỉ nhớ tới con chó! Ừ, con Dồ bám riết bên chân anh, còn cả nhà em ăn no ngủ kỹ cho mập! - Ơ, nói gì tầm bậy vậy út? Thanh Yên vùng vằng lấy gói xôi đậu xanh trong mo cau lột, xắn một góc, dùng đũa hất ra cho con Dồ. Nó vẫn nằm ngoài cửa lều, dỏng tai nghe chừng. Nó nhìn miếng xôi rơi gần, nhìn người cho ăn có giọng nói và cử chỉ khác thường, lại ngoái đầu nhìn ông chủ. Chanh vẫy tay gọi nó vào. Nó chỉ ngậm miếng xôi chạy đến bên sạp, nhìn chủ, ngước mắt, vẫy đuôi. Ông chủ nói rất dịu: “Dồ, ăn đi!”. Nó quỳ ép bụng xuống, ăn ngấu nghiến. - Út à, con Dồ cứu anh nhiều lần, cứu cơ quan nữa, được bằng khen rồi đó... Nó nhịn đói canh chừng anh ngày đêm... Cho nó nữa đi em. Thanh Yên đã nguôi cơn tức, bắt đầu xấu hổ. Ông Tư Rèn nuôi và luyện con Dồ cha đến cả nhà phàn nàn là ông chỉ chơi với chó. Nhưng khi Dồ cha dám lao vào cắn cổ cả trăn, rắn hổ mang, vừa sủa vừa đấu tay đôi với beo gấm về bắt heo, những lời kêu ca dứt hẳn. Hai Dồ con về với Tư Quýt và lò rèn ông Chua, yên phận làm chó giữ nhà. Con này được anh em luyện nhiều, khôn nổi tiếng cả vùng Tây Quảng Nam và Quảng Tín (tỉnh này mới thành lập), đám dân vệ nhắc nhau nhớ bắn con chó trinh sát ấy. Chanh lấy mo xôi, xé một mảnh lá chuối rừng mà anh cố mang về để gài vào mái lều khi mưa dột, ép dẹt xôi xuống, rắc lên tí muối đậu phụng, lại gọi con Dồ vào ăn thêm. Nó liếm tay cảm ơn chủ, ăn thong thả như khi hưởng suất ăn khá ở cơ quan tỉnh ủy. Đồng chí Tơ-rin tới đó mới kể chuyện chống càn. Chỉ tiếc anh biết quá ít vì chỉ bám các làng Thượng, nắm các ủy ban và đội du kích Thượng. Anh vào ấp chiến lược Linh Sơn một đêm sau đảo chính Diệm đổi gọi là “ấp tân sanh”, nghe xuôi tai nhưng tất cả đều y như cũ. Thùy và Thanh Yên nói rõ hơn. Số chết và bị thương trong vố tập kích vào huyện ủy Tây Quảng được ghi trong một chuỗi tên rất dài từ tỉnh Quảng Tín đưa xuống, đứng đầu sổ là Cả Chanh, tức Thanh Trà, bí thư tỉnh ủy Quảng Nam, tiếp là mười tám VC bắt tại trận, bảy xác, cả mớ đồ súng ống trang bị của Nga Xô, Trung Cộng, Cộng Bắc Việt. Cả nhà ông Tư Rèn nhao nhác. Địch phao tin giết được tên cộng sản nòi Phan Chanh đã đến lần thứ năm thứ sáu gì rồi, nhưng lần này anh em chết nhiều quá, bị bắt cũng quá nhiều. Năm Bưởi đánh liều đút tiền đi xuống thị xã Tam Kỳ, tỉnh lỵ mới của Quảng Tín, về nói: chẳng có ai là anh Cả hết. Lần này nó triển lãm xác còn nguyên, chở trực thăng mà, không như hồi cột chân anh Xáng kéo nát mặt mũi. Đám bị bắt ngồi một dãy, mặt lạ hoắc, có anh hộc máu ngã lăn ra, nó cũng xốc dậy cho nhà báo chụp hình. Việc Thùy giả vào Quy Nhơn để đem con lên với chồng được ông bà Tư và Năm Bưởi bàn kỹ và ưng bụng. Tất nhiên phải giấu Bảy Bòng và Tư Quýt, hai người con chống cộng hăng nhất và tham lam bòn rút nhất. Tơ-ron bị giam ba ngày, địch phải thả khi dân làng Blam vây bót đòi người, càng về sau càng đông, càng kéo dài. Vừa về đến Linh Sơn, cô cho ngay hai bạn đoàn viên mật xuống đón mẹ con Thùy, với Thanh Yên nằng nặc đi theo. Anh Tơ-rin đi coi bố phòng ở các làng Thượng rút sâu trong núi, cũng về kịp... Chanh ăn tiếp bát bột thứ hai, thổi nhấp từng thìa, ngẫm nghĩ. Thùy với con lên xanh là phải, giấy tờ hộp pháp của xã có rồi, bọn thư ký quận chỉ ăn tiền cộp dấu, không mấy khi vào sổ. Thanh Yên khác. Hội đồng xã không cho đi chỉ là việc vặt, cha mẹ sẽ hớt hải đến báo: “Con út tôi theo trai trốn mất. Chắc lỡ dại với anh trung sĩ biệt động hay tới nhà”. Dân lành Linh Lâm đã quá quen với những vụ lỡ dại như thế, đều giấu cho nhau. Nhưng… - Anh nghĩ vầy út ơi. Em chưa bị nghi. Bên ta gài được một trung kiên trong ấp tân sanh rất khó, xây dựng cơ sở càng khó. Có người là cơ sở hai ba năm, chỉ làm được một việc là mua muối, pin, ni-lông cho các đội tới lấy, còn ăn lời quá quắt nữa. Hễ ta phá rào ấp hay đồng khởi là họ chạy lánh thiệt xa, em bám trụ bám ít lâu nữa... trong lòng địch... - Ờ, làm con gà luộc trên mâm cúng chớ gì? Cái giọng mỉa mai của Thanh Yên khiến Chanh nóng mũi: - Anh nghe nói chi bộ xã Tây Giang tính kết nạp em, đã cho học lớp cảm tình Đảng... Đúng không, đồng chí Tơ-rin? Tỉnh ủy viên Tơ-rin gật đầu, nhồi thêm thuốc rời vào cái ống điếu bằng khúc vỏ đạn 12 ly 7 cắm đoạn ống trúc. - Có lẽ chi bộ xã xét lầm sao đó... Đảng viên mà ương bướng lựa việc, chỉ làm cái gì mình thích, còn thua xa đoàn viên. Anh Tơ-rin nghe hết đó, tùy ảnh quyết định, cần bàn kỹ với chi bộ nghen. Huyện ủy duyệt là đủ, không cần báo lên tỉnh. Thanh Yên điếng người, ngồi cúi đầu lặng cá. Cô tưởng chỉ hờn lẫy với một người anh, đâu nhớ ảnh là bí thư tỉnh ủy! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:34:56 pm Tơ-rin chen vào cho đỡ căng:
- Tui sắp đạt ri đây. Mờ sáng mai, tui đưa anh chị với con nhỏ lên cái hang kín nhứt, để anh Chanh nghỉ thêm vài ngày cho cứng chưn. Rồi cho hai du kích theo cõng đồ dùm, đi vài trạm thì bàn giao cho giao liên đưa về tỉnh ủy. Mai sớm, à không chừng giữa cái đêm, Tơ-bon đưa cô Út về làng mờ sáng tới sông, đợi tụi lính bỏ chỗ núp rình về đồn, lội qua luôn. Chanh bùi ngùi nhìn hai cô gái chưa chồng. Tơ-bon thấp nhỏ, hơi gầy, da nâu sẫm, không nhớ tuổi mình tuy biết đọc và viết tiếng Kinh. Ngay cha mẹ cũng không nhớ con đã ăn bao nhiêu mùa rẫy, chỉ nói hú họa: “Chừng mười hai, mười ba mùa chi đó... Hắn lo đi cách mạng theo anh hắn, chưa chịu bắt chồng cho rồi”. Thanh Yên đã mười chín, xinh gái hơn, người đầy đặn, da trắng, tất nhiên không thể so với hoa khôi Linh Lâm là chị Hai Thùy. Lính bảo an và đám dân vệ thôn vệ không dám quấy rầy nhà ông Tư vì sợ cả hai phía, phía Giải phóng và phía Bảy Bòng cảnh sát trưởng. Nhưng mỗi lần càn lớn, có tụi lính ác ôn đổ về như kiến-biệt động, dù, Nùng di cư, cả lính Re sót lại sau vụ bạo loạn Sơn Hà-hai chị em phải thay mặc đồ rách, xoa nước nghệ lên mặt, cố làm đầu bù tóc rối, khiêng máy may vào buồng kín, ra ngồi lò rèn. Năm Bưởi sẵn nước da còn xanh bủng, nhai một miếng trầu để đóng vai ho lao ho tổn, ngồi gian trước trông nhà. Bót dân vệ là con Cửu Áng, được cha dạy cho cái đạo vét tiền nhiều hơn bỏ tù, nhu hơn cương, ân hơn uy, ăn ở sao cho khỏi bị kẹp chết giữa hai thớt cối xay đá. Thanh Yên kéo Thùy xuống suối, thủ thỉ khá lâu. Khi về lều, mắt Thùy ướt, mắt Yên sưng đỏ. Yên kéo Tơ-bon ra đi ngay không chờ nửa đêm, chỉ cầm theo một mớ cây ngo soi đường. Chừng hai giờ sáng, con Dồ lại sủa khẽ: có mùi lạ, nhưng không phải mùi ka-ki dày và ủng da, giày rừng ngấm đẫm mồ hôi nhiều ngày đến thối khắm của địch đi càn. Hai cây đuốc sặt cháy to đi tới, nhiều tiếng chân êm hơn giày địch. Anh Tơ-rin cầm cây Tom-xơn hờm sẵn, nhận ra người bên ta cả. Trạm giao liên H.27 không bị đánh úp, đã đón anh bí thư huyện ủy, hai ủy viên thường vụ từ vùng dưới tức tốc chạy về. Tổ du kích do anh Tơ-rin chọn trong đội làng Blam dò theo dấu chân đã tìm thấy anh chánh văn phòng bị thương nhẹ ở tay, hai đội viên Võ trang công tác bật lên núi, một chị nấu ăn bị xóc chông, dìu và khiêng về giao cho trạm. Một anh trong thường vụ đã cải trang vào xem triển lãm xác và tù Việt Cộng, cùng mấy chục súng to nhỏ bảo là thu được của VC, đủ dùng cho hai trung đội là ít. Anh điểm mặt rất kỹ, nhớ các tên. Về H.27, ghép các nguồn lại, thấy còn thiếu bốn người. Chạy lạc trong rừng núi lạ, đầy chông thò, số phận họ ra sao? Anh bí thư Tây Quảng cao lớn, tóc cắt ca-rê, hai răng vàng, trông giống một tay lơ xe chuyên vùng ma-ni-ven giành khách. Vốn nóng như lửa, anh càng tức điên khi nghe cả mấy chục người có võ khí mà chạy như thỏ. Gặp anh chánh văn phòng ở trạm, anh đã rút súng ngắn đòi bắn, mọi người can kịp. Bây giờ anh sừng sộ với Cả Chanh và Tơ-rin, chẳng để ý chút nào đến thân thể phờ phạc héo hắt của bí thư tỉnh ủy: - Tôi hỏi nè. Anh là bí thơ tỉnh, tới cơ quan thấy cả một lũ trốn giặc bỏ dân, lại làm bộ yêng hùng rơm, sao anh không can thiệp gắt vô? Anh cũng chạy trốn như họ, rồi rước vợ con lên nữa chớ! Trách nhiệm anh ném cho chó rồi hả? Anh chánh văn phòng rụt rè nhận một điều chưa dám nói: - Dạ, anh Chanh nhắc nhiều lần, anh em cứ chủ quan... - Chủ, chủ cái củ c.tao đây nè! Không phải nhắc, mà ra lệnh, không phục tòng thì trói vô gốc cây bắt nhịn đói! Anh thường vụ cũng làm chứng: - Tụi lính càn về kể chuyện, cơ sở nghe được vầy. Khi bị úp sau lưng, có mấy VC bắn lại hai băng súng máy, mươi phát súng trường, lính chết một bị thương ba. Trực thăng bốc quân đi, ém lại một trung gài bẫy. Chừng mươi phút sau gặp một trinh sát VC với một con chó. Nó nhảy xuống hầm bí mật, luồn ra xa lắm, nhảy lên đánh một mình. Nó bắn thứ súng gì của Nga Xô hay nước nào chẳng biết, đạn vãi như trấu, bị thương bốn lính nữa, có đứa đui cả hai mắt... Thêm một chỗ cho ly kỳ: con chó ấy lớn xác mà dữ lắm, nhảy vô móc mắt, cắn họng chết một đứa nữa, đem về phải chôn lén vì coi kinh quá. Thứ đó là chó chiến đấu, nòi chó sói, biết tránh đạn. Những người tìm thấy trong rừng cũng nghe súng và lựu đạn nổ đợt sau, còn dữ hơn đợt trước, nay mới biết địch dùng trái nổ ném phá “hầm bí mật”. Anh bí thư quay sang hục hặc với Tơ-rin: - Ừ thì anh Chanh dám đánh địch một mình, giỏi, vậy chớ ảnh còn hữu khuynh, không dám ra lệnh... Còn anh Tơ-rin? Mặt Chanh nóng nhưng giọng rất lạnh: - Tôi không thể qua mặt phó bí thư và hai huyện ủy viên để ra lệnh cho đội viên được. Chính đồng chí đã trách tôi mấy lần là quá dài tay, nhớ không? - Thì thôi... Anh Tơ-rin là tỉnh ủy viên, ngó thấy cũng phớt lờ là sao? Hay là lên tới rừng xanh núi đỏ lánh càn? Tơ-rin bắt chước giọng giá ngắt của Chanh: - Tui được cử theo rõi vùng núi bốn huyện để nó ý kiến với tỉnh chỉ huy họ. Tui không vô huyện ủy các anh. - Cơ quan từ Linh Trung lên núi, ở vùng núi, anh không bước tới à? - Không bước tới. Tới làm chi?... Mà thôi, miệng anh như con sông, miệng tôi như khe cạn hơi sức đâu tui cãi. Hừ, làm cái nghị quyết tiến công thiệt là sướng cái lỗ tai, rồi để cả mớ người trốn dân tránh địch, vác súng rúc núi, giữ cái mạng thôi mà giữ không nổi, bây giờ bắt đền tỉnh ủy sao không xúm vô bồng ẵm cơ quan huyện! Tồi. Anh bí thư tắc họng, ngồi câm như hến. Trong lều chật quá, Thùy giẹp võng con Bình ngủ say vào cuối sạp ba nó, moi túi gạo trong gùi tre, xách hai cái nồi đi xuống suối. Nồi của đội Blin vừa cho sáu người ăn, nồi của Thùy bốn người, đủ rồi. Nơi xa này đốt lửa được. Hai cậu rảnh việc giúp Thùy kê bếp, kiếm củi. Trên miệng mỗi nồi cơm Thùy lót lá chuối hấp vài con cá chuồn muối thính, rắc ớt bột. Nhờ một tiếng váng mặt ấy mà Thùy không phải nghe lời trách rất ác về Chanh “rước vợ con” lên trong trận càn rất dai dẳng này. Cơm được giỡ ra trên lá chuối trải nền lều, Thùy lại đem nồi xuống suối đun hai nồi nước sôi nữa. Cậu giao liên đã gạt than hồng ra, đặt ngửa cái nắp vung, rang cháy một nắm gạo để thay chè. Anh em chia nhau số nắp và ngăn ăng-gô, thìa, đũa mới bẻ bằng cành sim, không phải ăn bốc. Bưng nước lên, Thùy mới múc chén bột huỳnh tinh vét soong cho chồng. Anh bí thư đã qua cơn nóng, vừa ăn nghiến ngấu vừa hỏi: - Anh Cả không ăn cơm được à? Tơ-rin nói thay, đủng đỉnh: - Ảnh đánh giặc giữ cho cơ quan anh, trúng đạn bắp vế, không nổi đi, nằm chết giấc, máu chảy ra cả cái vũng. Con Tơ-bon xốc ảnh tới đây, sau bị bắt, ảnh đói, sốt rét, hết máu, sưng chỗ đạn. Ăn cơm liền cho mau chết hả? Cho bứt ruột hả? Anh bí thư buông thìa, ngẩn ra nhìn Chanh: một cái xác biết đi. - Ôi anh Cả, tôi quá bậy rồi, ruột gan lộn ngược hết. Anh bỏ qua cho nghen. Tôi sẽ tự xin kỷ luật sau, bây giờ lo dựng lại huyện ủy mới đã... Chanh chỉ khoát nhẹ cái thìa, ăn tiếp hết bột, uống nước. Đợi dọn dẹp xong, anh em xuống bãi cát bên suối căng võng hay trải lá ngủ, Chanh mới nói với ba đồng chí huyện ủy: - Tôi còn mệt, ta bàn sơ qua thôi. Trước hết, tôi thông báo về việc vợ con tôi lên đây (Chanh giữ lối nói mười phần chính quy). Hậu cần tỉnh bị bom, có hai thợ may thì chết một cụt tay một, máy hư. Tỉnh giao cho tôi kiếm thợ và máy về thay. Hai Thùy là cơ sở lâu năm, bảo đảm không đào ngũ, làm thợ may trên hai chục năm, có máy riêng, tôi sẽ đưa về tỉnh nhận việc. Nếu được, các đồng chí bố trí cho một chuyến võ trang công tác, đưa lệnh cách mạng trưng mua máy may ở nhà tôi, tôi đã dặn người nhà đóng bao các thứ kèm theo máy, đợi đó. Thứ hai, tôi được bổ sung làm ủy viên dự khuyết Liên khu ủy kiêm bí thư Quảng Đà, Tây Quảng thuộc ranh giới Quảng Nam, địch gọi là Quảng Tín. Tỉnh ủy còn được hai tháng nữa để tách làm đôi, bên bộ đội cũng vậy... Trong khi chưa chia tỉnh, tôi chỉ thị cho huyện ủy Tây Quảng gọi hết các huyện ủy viên về để kiểm điểm vụ tổn thất này, phê bình lãnh đạo tỉnh mặc sức. Tôi bị thương bị bệnh chưa đi nổi, sẽ ở lại dự cuộc họp. Anh bí thư cầm bản sao quyết định của Chanh, không đọc, trao qua hai đồng chí kia. Anh nói rụt rè: - Dạ... anh chị em nắm các cánh nghe tin ta bị... chắc đổ xô về, nay mai thôi. - Đồng chí quên rồi. Trong nghị quyết huyện ủy “Tất cả để tiến công mặt trước”, có ghi cắn cưa là các huyện ủy viên đi mặt trước, các đội trưởng đội phó võ trang công tác không được tự ý về huyện nếu thường vụ chưa triệu tập, đúng không? Chanh ngả lưng xuống sạp, còn dịu giọng nhắc: - Cái chính bây giờ là đừng hốt hoảng, đừng chán nản, đừng đấu nhau quá găng. Anh em mình vậy, phong trào lên thì hỉnh mũi vênh râu, địch quật lại thì vù lên núi cột võng nằm than dài. Để tôi nghỉ chút nghen. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:36:56 pm * Cả Chanh được khiêng về căn cứ Hai của trạm giao liên H.27, cách trạm chính nửa giờ ngược suối, nơi để tài liệu, gạo muối, đồ dùng. Thùy và con cũng đến đấy. Các anh từ đồng bằng lên chia của cho Chanh người một ít, anh được mặc đồ mới, cạo râu, cắt tóc bằng kéo. Thùy ở vùng ven núi, quen học lỏm mỗi nghề một tí, đã tiêm trụ sinh cho chồng hằng ngày. Con Bình quấn quýt với ba nhiều hơn, chơi đủ trò với con Dồ khôn gần bằng người, không nhớ nhà nhiều như Thùy ngại. Năm ngày sau, huyện ủy họp bất thường. Còn lại chín, một đồng chí dưới sâu mắc kẹt không báo được. Chanh, Tơ-rin, thêm anh phó bí thư tỉnh ủy nghe tin xảy tai nạn và địch rải truyền đơn với Phan Chanh đứng đầu chuỗi tên VC bị giết và bắt, đã tức tốc đi vượt trạm vào Tây Quảng. Anh chị em đã kịp rỉ tai nhau: phen này tỉnh ủy cạo cho trắng máu, kỷ luật hàng loạt cho coi. Khi Chanh không chịu nói lời khai mạc, nỗi sợ ấy càng tăng. Chanh để mặc các đồng chí đấu đá nhau mỗi lúc một bốc, văng tục, chửi nhau thẳng cánh, dọa đủ thứ hình phạt. Anh chỉ ngồi trong góc, nghe khẩu khí và ngắm mặt từng người như coi tướng. Đếm lại, trong huyện chỉ có bốn thôn bị lấn chiếm và bắt rào ấp, một thôn bị bom lửa bom nổ cháy nửa số nhà, hai thôn bị dồn xuống dưới chợ Huề Bình, bị đốt nhà nhưng ít mất của chìm giấu trong núi và của nổi gánh theo, dắt theo. Bù lại, các cánh mặt trước đã mở ra làm chủ ngày đêm hai mươi mốt thôn, phá ấp tân sanh và làm chủ từ chiều đến sáng sau được hơn ba chục thôn. Trừ hao cái phần thổi phồng, thành tích vẫn còn nhiều. Đầu buổi họp chiều, Chanh mở miệng: - Dự đây có ba tỉnh ủy viên. Chúng tôi nhứt trí đánh giá đợt tiến công vừa qua là rất tốt, thắng lớn, giành dân phá ấp được nhiều hơn một số huyện khác dẫm chân tại chỗ. Đó là ưu. Phần khuyết cũng nặng, nhưng ít hơn ưu. Tôi nhắc một điều ta đã biết: đồng chí phó bí thư, hai huyện ủy, ba đội trưởng đều chết tại trận, sổ giơ tay hàng chỉ có một đội trưởng, còn lại là số mới thoát ly… Trách nhiệm thuộc về ai, phải làm rõ. Trước hết là thuộc tất cả huyện ủy đã giơ tay thông qua nghị quyết tiến công mà quên phần “giữ vững mặt sau”. Xông xáo đánh địch, tốt lắm, đừng nhụt chí, đừng nhao nhác lên, đừng gây hoang mang trong các đội. Tỉnh ủy tạm nhứt trí gác lại các đề nghị kỷ luật. Sau khi chia tỉnh, các đồng chí cũng đến kỳ họp đại hội Đảng bộ, công và tội sẽ được xét kỹ. Chanh ngồi xuống, bỗng nghe tiếng vỗ tay dội lên rào rào, nơi xa địch này anh chị em vỗ hết mức. Anh bí thư chồm lên: - Anh Cả bẻ lái vậy đó, tụi mình sao nè? - Đồng ýýý! Lại một loạt vỗ tay nữa. Chanh sững sờ và hơi ngượng: mình chỉ nói ý kiến của tỉnh ủy, đâu có bẻ lái? Trong thời đánh Pháp và nay đánh Mỹ, vai trò một người lắm khi rất lớn. Dân bị địch giả VC lừa mãi, đòi phải ngó thấy ông Kèo ông Cột-chớp nhoáng thôi cũng được-mới chịu tin ở lá cờ xanh đỏ sao vàng treo trong mít-tinh, không giống cờ Cụ Hồ. Cho đến các đội viên, cấp ủy xã cũng tin rất ít ở những bản nghị quyết phải đánh vần của một chi ủy viên. Phải có mấy ông “hột gạo trên sàng” tự nói ra mới chắc là ý Đảng, ý Bác, mới làm theo. Anh Tô Xáng, Cả Chanh, vài ông nữa được xếp loại ấy, không kể những ông được tin cậy trong một huyện, một xã. Trong chiều ấy có thêm hai nhóm kéo tới trạm H.27. Nhóm đầu là du kích làng Blam cõng tới một con trâu xẻ, bắn trong số trâu chạy hoảng thành trâu rừng, sợ người như cọp. Nhóm sau là phần còn lại của đội Tây Giang xuống đưa lệnh “trưng mua” của huyện, cõng tất cả máy may, phụ tùng và các thứ Bưởi và Yên đã vay tiền mua, hầu hết là hàng quốc cấm: ni-lông dài ba thước làm tăng, nhựa choàng thước rưỡi, vi-ni-lông dầu xanh lá may võng, thuốc tây, pin, vải ka-ki may quân phục và vải mỏng may bà ba, đủ thứ. Chẳng cần đi đâu xa, đến nhà Cửu Áng phó đại diện xã là mua được phần lớn, thiếu món gì thì tới chị Ba Song, chị ăn lãi chẳng thua Cửu Áng. Số tiền “trưng mua” chỉ vừa đủ trả nợ tiếp tế cho anh Cả, cái máy may coi như không tính tiền với cách mạng. Hai Thùy lập tức lắp máy, may mọi thứ cho chồng, chỉ ngừng khi xuống bếp nấu cơm cho hội nghị. Mãi tới mười giờ đêm, Thùy mới kịp tắm qua loa ở chỗ suối vắng-chị cấp dưỡng xóc chông dặn mãi là phải tắm mé dưới xa, đàn ông lên tới huyện ủy cũng còn người đặc sệt phong kiến, khinh đàn bà con gái-Thùy lên chỗ căng hai võng, dưới hai tấm tăng nhựa ghép. Anh chị em ngủ say cả sau nhiều ngày đêm đói ngủ. Chanh chợt gọi rất khẽ: - Thùy ơi, anh hỏi chút. Thùy vừa cúi xuống, Chanh đã vòng tay ôm ghì cổ vợ, hôn dồn dập từ mặt xuống cổ, lên tóc. Thùy rủn người, quỳ thụp xuống ép nửa người trên ngực chồng. Hồi anh tỏ tình ở Quy Nhơn cũng y vậy, em chỉ biết cắn anh trên vai đau điếng. Trong vòng tay gầy yếu của chồng, Thùy lịm đi nhanh. Gần hai chục năm rồi, anh vẫn thường yêu em tới vậy sao? Lắm người chê anh là hẹp hòi, máy móc, quá nguyên tắc, nhưng không một ai chê anh bậy bạ với đàn bà. Anh chung thủy với em, em cũng đền đáp bằng thủy chung. Hơi thở của Chanh nóng hổi bên tai Thùy: - Thùy ơi, em... em có khi nào hối tiếc đã lấy anh không? Thùy nhấc mặt. Chanh hỏi câu ấy mới lần đầu. - Sao lại hối? - Anh đi tứ xứ, mình em lo nuôi con, nuôi cả nhà địch gây sự miết… nay lên núi cực khổ đủ đường... - Hối lắm chớ. Nè thì hối, nè trả thù! Thùy cắn vào vai chồng như năm xưa, đúng chỗ đã nhớ. - Anh đang yếu, thôi để sau sau đã nghen. Lên núi, em không ngán có bầu nữa đâu, cứ sanh được hai đứa cho chắc. Gần anh, em đỡ sợ rồi. Tụi nó cứ phao tin anh chết hay bị bắt, không tin mà cứ hoảng vía, ăn ngủ chẳng yên... Ngủ đi anh. Mà quên, anh ăn thêm gì nữa em làm? - Không. Em thả mùng cho con Bình, nó hay đạp tấm đắp, lăn ngoài mùng... Tiếng chim dủ dỉ dù dì, cớ trót thì bóp, chen những tiếng rúc của giống trùn núi to như lươn có khoang cổ, những tiếng ó-ààà của con ó ma bay ngang, đưa vợ chồng Chanh chìm vào giấc lịm mệt nhọc. Chỉ còn con chó Dồ dỏng tai lim dim. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:40:12 pm Chương 14 Cuộc mặc cả kéo dài đến quá trưa vẫn không ngã ngũ. Gia-nét ló đầu qua cửa, vẫy chồng, trỏ vào bụng. Ăng-đrê đứng lên mời khách qua phòng ăn. Gia-nét chỉ bưng dọn, chị đã ăn cùng các con dưới bếp. Người đầu bếp Việt không được vào phòng lỡ chủ khách cao hứng nhắc đến vụ áp-phe đang bàn dở, phiền ra. Mỹ Duyên cùng hai khách Mỹ tự lái chiếc Ca-đi-lắc màu sữa, bám theo một đoàn xe lội nước bọc thép M.113, lên đồn điền Ăng-đrê Ri-sô khá sớm. Xe rà mìn và trung đội công binh đi đầu làm việc rất thạo, đoàn xe không bị nghẽn lâu trước những hố phá hoại, không trúng mìn chống tăng của du kích. Chỉ có hai lần du kích bắn vào công binh, ba lính bị thương nhẹ. Sài Gòn báo trước là VC đã làm chủ một số làng dọc đường, nhưng đoàn xe sẽ đi quá đồn điền Ri-sô vài chục cây số nữa để đánh vào vùng VC lập căn cứ, đào địa đạo và làm làng chiến đấu rất vững. Đã tới cuối năm 64 mà xe M.113 vẫn do lính Mỹ lái và bắn súng máy nặng 12 ly 7. Quân Sài Gòn ngồi thùng xe, đơm súng ra ngoài. Các sĩ quan Việt hậm hực, mỉa mai: đến thứ xe này mà Mẽo rỉ tai nhau: “Giao chiến cụ cho chúng nó để tụi trên làm đảo chính, tụi dưới chở bán cho VC à!”. Theo lệnh tiểu khu báo qua vô tuyến, đồn Gò Luông cắt một tiểu đội xuống gác cho các phóng viên Mỹ-Việt hành nghề. Lính ở đồn tù chân, ham xuống đấy để được chủ đồn điền cho ăn nhậu no say, cho tiền puộc-boa nữa. Đồn này bị diệt cuối 63, mới đóng lại giữa năm nay với tàn quân bảo an góp nhóp được non một đại đội, cả quan lẫn lính đều thích “dĩ hòa vi quý” với VC. Quân chủ lực đi từng trung đoàn, đánh khó là một đàng, VC còn ham diệt các sắc quân địa phương từ dân vệ xã, biệt kích quận tói bảo an tỉnh vì quen thung thổ, nhớ mặt người, dân nổi dậy theo VC còn thấp thỏm. Đám hội đồng với cảnh sát thì lớp bị bắt, lớp trốn xa, ai liều mạng ngoi lên kể như thí mạng. Lão Lê-ông La-phác-sơ cùng con và rể đã sẵn sàng đón khách. Ăng-đrê hôn tay Mỹ Duyên, buông ngay câu nịnh đầm: - Thế mới biết người đẹp vĩnh viễn không có tuổi! - Ồ, làm sao sánh được với bà Ri-sô! Chào hỏi. Mời ngồi. Mở các thứ giải khát. Vài câu sáo mở màn. Rồi Mỹ Duyên vào đề luôn: - Vì chủ nhân là người Pháp, tôi xin nói tiếng Pháp theo phép xã giao. Xin trân trọng giới thiệu hai ông khách: ông Giêmx Kít-man đã từng đến đây phỏng vấn ông bà Ri-sô, nhưng chưa được gặp ông La-phác-sơ, và bạn ông là Rô-bớt Rốc-xơn, phóng viên tự do. Hai ông biết tôi đi khắp nơi như người Do-thái lang thang, nhờ tôi sắp xếp cho gặp ông Lê-ông La-phác-sơ và ông Ăng-đrê Ri-sô, những người Pháp thông thuộc Đông Dương. Hai ông chủ bằng lòng tiếp. Vai trò của tôi chấm dứt ở đây. Tôi xin rút lui để đi thăm một ấp tân sanh gần đây nhất, viết bài cho AFP. Mỹ Duvên thừa biết hai tay CIA giả danh phóng viên kia chỉ biết tiếng Pháp lõm bõm, không đủ dùng khi bàn chuyện rắc rối, cũng như La-phác-sơ và Ri-sô chỉ ấm ớ mấy câu giao thiệp tiếng Anh. Duyên tự dịch câu cuối cho cặp Mỹ hiểu: “I’d ask leave to go and visit a Ng w Life hamlet just ng arby, to cover it for AFP”. Khi Duyên cúi chào rất điệu và quàng quai xắc vào vai, cả bốn người nước ngoài đều luống cuống. Kít-man đưa bàn tay rậm lông lên gãi cằm, cho ra mấy câu hỏi bằng tiếng Đức, tiếng Ý. Chủ nhà không hiểu. Rốc-xơn thử tiếng Tây-ban-nha, cũng chỉ được trả lời: “Sorry, I don’t understand”, là câu đầu lưỡi của những người đến xứ lạ: “Rất tiếc, tôi không hiểu”. Mỹ Duyên đã xuống bếp, nhờ Gia-nét cho một người Việt trong số gia nhân dẫn đường, chứ đi chung với lính hay cảnh sát thì bị dân coi như thù lập tức. Gia-nét cân nhắc rồi cho cậu thư ký chấm công đi. Cậu này có cha mẹ sống trong ấp, hay rộng tay đối với dân ấp vào làm phu đồn điền, nửa công chấm thành một. Ăng-đrê đã dọa nhiều lần nhưng không đuổi. Hai người vừa đi tới giữa sân trước, đã bị gọi giật. Tay Kít-man hối hả chạy theo: - Duyên, cô Duyên, chúng tôi đã bị câm điếc! - Uống quá nhiều uýt-xki nặng rồi đấy, Giác-ky lông lá... - Ô, chưa một giọt. Tôi tưởng bọn chủ đồn điền biết tiếng Anh, té ra như tôi nói tiếng rợ Pa-pu. Cô Duyên vào dịch hộ đi. Chúng tôi sẽ tỏ lòng biết ơn bằng giấy xanh in hình Oa-sing-tơn đàng hoàng! Duyên thân yêu, sao lại lắc đầu? - Tôi không muốn nghe chuyện kín của các anh, rầy rà lắm. - Ôi nàng tiên tàn nhẫn, định đuổi chúng tôi về đấy à? Duyên ngần ngừ tí chút nữa rồi mới trở vào phòng khách. Nàng nói ngay trước khi ngồi: - Nể lời các ông, tôi nhận làm thông dịch viên có thù lao. Tôi sẽ làm việc như máy dịch điện tử tối tân không lắp bộ nhớ. Lần này lỡ rồi, tôi phải giúp các bạn đồng nghiệp. Về sau các ông cần đem theo người dịch đáng tin cậy. Nên vào một buồng khác kín đáo hơn, nếu các ông muốn. Mười phút sau, trong buồng làm việc của Ăng-đrê đã bày lại bàn ghế và đồ giải khát, cặp Mỹ chơi bài ngửa luôn: - Đây không có ri-coóc-đơ, cô Duyên và chúng tôi đã cho các túi vào tủ ngoài kia. Cũng không ai ghi chép, không để lại dấu vết. Xin nói thẳng: chúng tôi được CIA cử đến thương lượng với ông Lê-ông và ông Ăng-đrê-gọi thế nào cho thân, được chứ?-về khoản vàng đen đến từ nơi ông biết rõ. - Vàng đen? Than đá phải không? - Xin ông đừng nghi chúng tôi đến gây sự. Lời nói gió bay, chẳng có tang chứng gì đâu. Chúng tôi muốn đề nghị với ông một vụ béo bở: hợp tác buôn thuốc phiện lậu từ vùng Tam giác vàng đi các nước trên thế giới. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 03:41:55 pm Lê-ông nheo nheo mắt, chiếu tướng hai người mới gặp. Giêmx Kít-man thô lỗ, nóng vội, không phải hạng cao tay ấn. Tay kia khác xa: cao gầy, tóc cát gần trụi như lính quân dịch Mỹ, kính râm màu xanh nhạt che cặp mắt sâu, chỉ mím cặp môi mỏng mà không nói cười. Thạo tiếng Tây-ban-nha, hẳn rắt quen với các ổ buôn ma túy ở Nam Mỹ, Trung Mỹ. Mình gặp đối thủ đây.
- Sao các ông đoán tôi dính vào đấy? - Các quan chức cấp cao trong Phòng nhì và Phòng phản gián SDECE của Pháp bán bí mật do dự mãi mới bán hệ thống buôn vàng đen cho chúng tôi, cũng bán luôn các nhóm biệt kích Mẹo ở Bắc Đông Dương. Tiền trao cháo múc xong cả. Chúng tôi cần những chuyên gia giàu kinh nghiệm như ông. Phần lợi riêng không kể, hễ làm đạt mức thì lương ông và lãi được chia sẽ tính bằng sáu hay bảy chữ số. - Sao các ông không dùng các đường dây của Sài Gòn? - Chúng tôi không điên. Đánh rơi một miếng bít-tết xuống đất, cả đàn chó xông vào cắn xé nhau, chủ cũng mất thịt. Hồi Pháp trong khi ngài cao ủy và các ngài dân sự hò hét cấm, cấm trong khi Phòng nhì và SDECE hốt tiền thuốc phiện, cảnh sát Sài Gòn gác thâu đêm cho các tiệm hút Chợ Lớn. Sau này Diệm-Nhu cũng cấm, nhưng vẫn buôn lậu tơi bời, phe nào ngoi lên cũng cần quỹ đen dựa vào vàng đen. - Và họ thành công? - Ít thôi. Dân Mẹo trồng thuốc phiện không ưa người Việt hay người Lào đa số, chỉ tin ở CIA có nhiều máy bay và trực thăng đem mọi thứ đến cho họ, tất nhiên ngoại trừ số Mẹo theo cộng sản. Thuốc phiện đổi hàng ngay tại làng, lãi gấp mươi lần trồng ngô hay lúa nương, họ tính kỹ rồi. - Bộ chỉ huy MACY biết không? - Không. CIA làm ăn độc lập, MACY đánh hơi được cũng để yên. Tất nhiên phải có tí chút (Kít-man xoa xoa ba ngón tay kiểu đếm tiền). Mỹ Duyên chỉ dịch đều đều bằng giọng trung tính, trong khi bốn người cố thêm dấm ớt vào lời lẽ và nét mặt. Cũng như lão Lê-ông, Duyên cố đoán xem tay Rốc-xơn thuộc cỡ nào trong buổi sĩ quan MACY gặp báo chí hằng ngày lúc năm giờ chiều được gọi là “đợt nói khoác năm giờ”. Số phóng viên các báo và đài lớn hay làm oai, bệ vệ vào chỗ dành riêng. Những phóng viên tự do-free lance reporters-biết mình lép vế, hay lăng xăng chạy quanh lượm tin ngoài rìa, có khi mua tin của Duyên về xào nấu thành bài bán rong, cốt sao cho giật gân câu khách là đủ. Sau ba tiếng đồng hồ cò kè, đôi bên thỏa thuận được mấy điều: - Bước đầu, CIA ứng hai trăm ngàn đô-la để Lê-ông sang Hồng-công hay Đài Loan sắm phương tiện pha chế và thuê chuyên gia biết làm hê-rô-in số 4, trên 95 phần trăm tinh chất. - Cha con Lê-ông được trợ cấp một lần một trăm ngàn để thu xếp khó khăn và dọn một bãi thả mé sau đồn điền, xa dồn lính và xa dân, đón hàng ban đêm. - CIA sẽ mua đất hoang vắng, gần sân bay nào đó qua thương lượng với Vương quốc Lào, sẽ chịu chi phí để xây lại xưởng điều chế hê-rô-in thay cho chỗ cũ hồi Pháp đã bán cho Vuơng quốc. Quân cảnh Mỹ sẽ gác vùng cấm địa ấy. Lê-ông đứng ra chỉ đạo xây xưởng. - CIA nhận đổi hàng lấy thuốc phiện sống hay moóc-phin sơ chế, chở về xưởng bằng trực thăng hay các máy bay nhẹ Xét-xna, Bits-cráp mang hiệu công ty tư nhân Hàng không Mỹ. Chế xong, hê-rô-in sẽ được đưa đến sân bay, chất lên những chiếc C.47 quân sự dưới các thùng hàng khác. Đem về thả xuống đồn điền Ri-sô xong, các C.47 sẽ vòng về Tân Sơn Nhứt. Từ đồn điền, hê-rô-in sẽ được CIA cho thiết giáp lên chở, cha con Lê-ông phủi tay nhận tiền trả bằng đô-la, đưa vào ngân hàng nào tùy ý. Lê-ông và Ăng-đrê kéo ra riêng bàn mảnh, thấy chia việc như thế là được. Ăng-đrê đã sáng mắt khi được hứa trả ba chục ngàn đô-la cho công đón hàng mỗi tháng chỉ bảy tám lần trên bãi đất bỏ chó ỉa sau đồn điền, tháng thưa hàng còn hai chục, tháng ngoài mùa vắng hàng vẫn một chục cho không. Lê-ông được xếp tám chục ngàn. Lão lắc đầu: - Quá rẻ. Chúng nó đang cần mình, chớ gật đầu sớm. Ba đòi cho con năm chục, ba phải trăm rưởi. Phần lãi tụi nó vẫn còn to tướng, gấp mười vốn bỏ ra. Nhà mình còn phải vung tiền ra bôi mỡ vào chân tụi Sài Gòn và Viêng-chăn nữa, con quên à? Khi trở vào phòng họp, Lê-ông thấy cặp Mỹ đã đội mũ, lấy xắc, vào nhà dưới chào bà chủ để ra về. Ăng-đrê sững sờ, nghĩ ông cha vợ già néo đứt dây. Nhưng lão chỉ nói rất hiền: - Tiếc rằng cuộc trao đổi giữa chúng ta không đạt kết quả. Tạm biệt các bạn. Hai chúng tôi sẽ quên ráo những chuyện vừa bàn, hẳn nàng tiên xuống giúp chúng ta cũng thế. Nhưng... các bạn về Sài Gòn đơn độc thế này à? Hai chàng hiệp sĩ không tiếc mạng, nhưng nàng tiên sẽ bay lên thiên đường với những mảnh mìn cắm trên thân hay sao? Hai tay CIA liếc nhau, phân vân. Phải đợi chuyến xe quân sự nào đó trở xuống. Trận càn nào cũng có hàng loạt xe chở thương chở xác về mé sau, đợi đi chung mới yên thân, VC rất ham xổ đạn vào người mũi lõ, lạ gì. Cũng vừa gặp lúc nhà mời cơm trưa. Bữa ăn khá sang và lạ miệng. Kít-man rút chai huýt-xki ra, chỉ uống ly đầu, ngả ngay sang đế nếp lậu nước nhứt. Rốc-xơn, Lê-ông chỉ nhấp bia 33. Ăng-đrê chạm cốc bằng vang Boóc-đô, vẫn ngồi để các đàn ông đến cúi đầu chạm cốc-lễ phép phương Tây quy định đàn bà được ngồi ghế bành, khỏi đứng dậy khi được chúc mừng, không bị ép cạn cốc-nói sau khi cười dài: - Các đồng nghiệp đã chúc nhiều, tôi xin nâng cốc chúc chính quyền Sài Gòn ra khỏi nạn dịch đảo chính thời sau Diệm, chúc dân Sài Gòn không thấy con chuột Míc-Ry đột ngột nhảy lên lập chính phủ! Cả bàn cười rộ, nâng cốc thẳng tay. Câu đùa ấy mới xuất hiện trên các báo Mỹ, chẳng ai bắt vạ được. Đảo chính nối nhau với tốc độ chóng mặt. Các quan chức hôm nay hùng hổ, hôm sau bị đẩy đi làm đại sứ lưu động hay buộc về hưu, đến các vị thái thú Mỹ cũng nổi khùng. Món thịt cheo hầm được khen nhiều. Heo rừng chiên bít-tết nổi bật. Kít-man múc từng thìa gia vị cay két-sớp chan vào đĩa, xóc ăn từng miếng lớn, trong khi Rốc-xơn chỉ nếm mỗi món nột tí như sợ bị đầu độc. Pho-mát tráng mềm của Ý ăn kèm chuối tiêu quả là độc đáo. Gia-nét hứa lần sau quý khách lên sẽ mời trứng cút và chim cút chiên bơ, món đại bổ mới được tìm ra, cả Sài Gòn đang thi nhau nuôi và ăn cút. Khi đã sang phòng khách nhấm nháp rượu mùi với cà-phê, Rốc-xơn mới mở miệng: - Xin lỗi người đẹp, giúp tôi tí. Nếu tăng lên ông La-phác-sơ một trăm ngàn, ông Ri-sô mỗi mức thêm mười ngàn đô-la, các ông thấy sao? Lê-ông vẫn lạt lẽo: - Xin cho nghĩ thêm. - Cao hơn lương giám đốc công ty lớn bên Mỹ rồi đấy. - Nhưng việc chúng tôi không ghi hợp đồng, không bảo hiểm, phải dành phần không nhỏ cho bọn quan chức Sài Gòn, Viêng-chăn, lại dễ ăn đạn từ nhiều phía. Hãy xem nào: phía Sài Gòn bị cạnh tranh phía ma-phi-a quốc tế nghi tôi phản, và cả phía CIA nữa khi cần con vật hiến tế cho pháp luật! - Ông quá lo xa thế, khó làm ăn lắm! - Tôi sẽ nghĩ thêm. Nên trồng cao-su, ít lợi nhưng yên thân, hay lao theo cuộc phiêu lưu mới... - Tùy ông. Chúng tôi kiếm người thạo việc không khó, lại báo có đoàn công-voa từ mặt trận về sắp qua đồn điền. Chủ khách tạm biệt nhau lạnh lùng. Sáu ngày sau, khi Ăng-đrê đang tiếc cay đắng món tiền lớn tuột khỏi tay, lão Lê-ông nhận được điện tín khẩn: “Điều kiện được chấp nhận. Về gặp ngay MD”. Không ai ký dưới diện, hẳn là Mỹ Duyên thôi. Tụi Mỹ không tìm ra ai thay nổi ông trùm kỳ cựu là Lê-ông La-phác-sơ. Lão về Sài Gòn không lâu. Trở về đồn điền, lão ném cho Ăng-đrê một bó tướng giấy năm trăm Trần Hưng Đạo để thuê phu dọn bãi thả. Và lão rỉ tai Gia-nét: “Thằng Ăng-đrê chơi gái, mặc nó. Ba đã rút chuyển cho con một trăm ngàn đô-la làm vốn riêng, đứng tên con, lấy lãi tiêu hay để cho đẻ lãi con tùy thích. Ngân hàng Thụy-sĩ chắc nhất. Giấu kỹ giấy nhé”. Gia-nét như lên chín tầng mây, dứt hết mọi lo sợ mấy ngày qua. Khi lão Lê-ông trầm ngâm buông thêm rằng sẽ gây vốn cho con gái thêm vài ba lần bấy nhiêu, Gia-nét lao tới ôm hôn cha túi bụi. Vẫn yêu cha từ xưa, nhưng món xúp suông được thêm thịt và bơ càng thêm đậm vị, bổ béo. Anh Pi-e hung hăng đã ngã, thương thì rất thương, nhưng làm người thừa kế duy nhất của người cha giàu ngầm vẫn là nỗi an ủi lớn nhất. Đôi khi Gia-nét thấy mình nhỏ nhen bần tiện, chỉ lát sau đã quên ráo. Anh Ăng-đrê theo bồ lìa vợ, Gia-nét sẽ một mình nuôi bầy con, cha không sống mãi được với chất thuốc phiện ngấm suốt mấy chục năm, đây là lúc tỉ tê lấy gia tài. Gia-nét mở ngay chiến dịch tình cảm nhằm kiếm gấp một di chúc của người cha triệu phú. Lỡ ông cụ đột ngột qua đời, số đô-la chất đống ở Thụy-sĩ dưới một bí số không tên sẽ mất toi cả. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 04:01:00 pm * Trong nhà riêng của tướng Menđ-brao, cầm đầu phân cục CIA ở Đông Nam Á, có bốn người chung quanh bàn cốc-tai đang làm việc. Người hầu chỉ được mở cửa vào khi chủ bấm chuông, nhìn ngón tay chủ trỏ vào bình pha sây-cơ hay một đĩa nhắm nào đó, gật đầu. Chỉ nửa phút sau, cô gái Mỹ lai Mê-hi-cô đi êm và nhanh trên dép xốp đã thay cũ dọn mới như ảo thuật, biến ngay. Viên tướng tình báo này nổi tiếng khắc nghiệt về ba mặt: lao động, bí mật, thì giờ. Sau bàn giấy của lão ở nhà riêng, một câu ngổ ngáo được dán trên tường: “Việc xong, bạn còn ngồi đấy làm gì?”. Ở cơ quan, lão cho đặt dưới mỗi tấm kính lót bàn một lời dặn in chữ to: “Thì giờ là tiền bạc. Hãy nghĩ kỹ, làm nhiều, viết vừa phải, nói thật ít”. Ai được vào phòng làm việc ngăn riêng của lão, sẽ khen ông tướng này vô cùng bình dân: giữa sếp và phòng lớn kê vài chục bàn của nhân viên có một tấm kính trong suốt rộng hai mét vuông, ông sếp làm việc dưới mắt kiểm soát của cấp dưới, ắt phải gương mẫu hết cỡ. Các nhân viên biết rõ hơn: đó là kính dày chống đạn, tráng phản quang để nhìn một chiều, từ ngoài ngó vào chỉ thấy màu nâu sẫm có ánh bạc. Nhưng tướng Menđ-brao không bị cấp dưới ghét. Lão có thể buộc mấy sĩ quan dưới quyền làm việc hai mươi giờ mỗi ngày đêm, suốt tuần, sau đó cho hẳn một tháng đi R and R - nghỉ và giải trí - ở đâu tùy ý, miễn là đừng rời Đông Nam Á. Thư ký của lão được giao nhắc nhở sinh nhật từng người, những món quà ngày lễ chung, những việc cần chia vui chia buồn trong mỗi gia đình cấp dưới. Quỹ của CIA là tối mật, lại thêm nhiều nguồn thu không sổ sách, nên lão vung tiền mua lòng trung thành chẳng khó. Người thứ hai trong cuộc họp là đại tá Éđ Ram-xy chỉ huy lực lượng đặc biệt, do CIA nắm. Tay này lên cấp nhanh nhờ mấy chuyến nhảy dù xuống vùng cộng sản ở Bắc Lào, Bắc Việt Nam, Trung Quốc, mang vết sẹo từ gò má lên vành tai như tấm huân chương. Nhiều sĩ quan kháo nhau: hắn đi giải phẫu ở mỹ viện để sẹo to và dài hơn. Vốn tính ngang tàng, hắn đã chọc cười khi tướng Menđ-brao nói đến giành trái tim và khối óc của các dân tộc ít người: - Lính Mũ nồi xanh chúng tôi có cách làm rất nhậy... - Sao? Bằng cái dạ dày? Bằng tín ngưỡng? - Không. Cứ túm được hai hòn dái nó mà lôi, tim óc bụng sẽ tuôn theo hết! Ha ha ha! Thiếu tá Bóp Mắc-mo-yơ, giả làm phóng viên tự do Rốc-xơn, đã báo cáo các cuộc đàm phán với tình báo Pháp và lão chuyên gia La-phác-sơ. Tướng Menđ-brao trầm ngâm: - Bỏ vốn hơi nhiều đấy. Tiền mua tình báo Pháp mua cha con lão La-phác-sơ, mua đất lập xưởng, mua bọn Mẹo trồng thuốc phiện, mua bọn phi công chở hàng quốc cấm... liệu có lỗ không? - Thưa, bọn tình báo Pháp bảo chỉ qua một mùa thuốc phiện là thu đủ vốn, lãi chừng vài triệu đô-la. Từ năm thứ hai, lãi tăng theo cấp số nhân. Tới năm 1955, đã thua Điện Biên Phủ và sắp rút hết quân sang chữa cháy ở Bắc Phi, giao đất này cùng bọn com-man-đô rải khắp Đông Dương cho ta, họ cũng vét được ba chục triệu nữa, không kể tiền bán nhà xưởng và dụng cụ cho bọn Vương quốc thu lãi gấp đôi. Bọn tướng Lào rất ngu, chỉ sau mấy tháng đã làm nổ tung xưởng chế hê-rô-in số bốn, chết cả mớ chuyên gia, phải đền tiền. Giêmx Kít-man chen vào: - Thưa, tôi thăm dò lâu nay, thằng tướng Vàng Pao nắm vùng Mẹo Bắc Lào cũng khá, mà nó không tin ở số cầm quyền ở Viêng-chăn, Sài Gòn. Do đó sức cạnh tranh của số ấy không mạnh. Với lại, nguồn cung cấp chính của ta ở Đông Bắc Miến Điện và Bắc Thái-lan lớn hơn nhiều so với Bắc Lào và Nam Trung Hoa. Cho Vàng Pao làm đại lý thu mua là tiện nhất. Hai mươi phút sau, tướng Menđ-brao cho lời phán quyết: - Chiến dịch sẽ lấy tên là “Đảo phương Nam” để đánh lạc hướng, không nên dùng các tên để gợi chú ý. Thiếu tá Mắc-mo-yơ nắm lại các nguồn tiêu thụ ở Nam Mỹ, móc nối với ma-phi-a thật kín. Đại tá Ram-xy cho soát lại các nhóm biệt kích ở Bắc Lào, loại bớt bọn lưng chừng và nhiễm cộng sản. Giúp võ khí cho Vàng Pao xây chắc các căn cứ Loong Chẹng, Xảm Thôông, tiếp tế đều, thả xuống đủ bột ngô, muối, dao cuốc, cả vòng và chuỗi cho đàn bà. Còn cậu Giắc-ky... ờ, Kít-man, bám chắc nhóm lão La-phác-sơ cho tôi. Hình như có bóng đàn bà nào đó... Một nữ phóng viên AFP, đúng không? Bồ hả? - Thưa không, không ạ... Cô Mỹ Duyên là người tin cậy được SDECE giao lại cho ta, tôi xin thề trên Kinh Thánh! Cô ta giúp chúng tôi rất nhiều việc, thiếu tá nhỉ? Bóp gật đầu. Hắn đã cho theo dõi, thấy tất cả những cuộc mặc cả với phía Pháp không hề lộ. Nếu Mỹ Duyên có bán tin và ảnh cho các nước cộng sản, thì đó chỉ là những chuyện tán thêm ngoài rìa, AFP đã duyệt, thường đăng muộn. - Được. Nắm thêm được một Lệ Xuân trong giới báo chí, cũng hay. Nhưng mà này, Giắc-ky, cậu phải bớt rượu, bớt gái, bớt ba hoa đi. Người thay thế cậu dể kiếm thôi. Giêmx Kít-man đỏ bừng mặt, lí nhí: “Thưa vâng”. Menđ-brao dành những tin giật gân nhất để nói vào phút cuối: - Hôm qua tôi được báo mấy dự đoán của cục trưởng CIA, tối mật. Một, tổng thống Giôn-xơn sẽ tận dụng quyền đặc biệt được Quốc hội trao trong nghị quyết ngày 7 tháng 8 vừa rồi, sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, để đưa quân Mỹ sang chiến đấu ở nước này. Nhiều sư đoàn đang được huấn luyện lại cho hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Hai, Nguyễn Khánh bắt đầu tiếp xác bí mật với Bắc Việt, chưa đi tới đâu nhưng vẫn là phản phúc. Hắn bị đảo chính và biểu tình chống đối khắp nơi, nhân đây ta sẽ tước dần quyền bính, khi có người thay ta sẽ cho đi đày trong danh dự, làm đại sứ lưu động như Dương Văn Minh. Ba, Lầu năm góc đã trình lên tổng thống kế hoạch Sấm cuội, được duyệt rồi các tàu chở máy bay của hạm đội Bảy đang trên đường sang đây như các ông đã biết, tin công khai là chỉ tập trận thường lệ... Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 04:10:07 pm Tiếng hò hét vẳng từ xa đang đến gần. Có tiếng ô-tô cảnh sát vừa chạy vừa hú còi, xe lớn nhỏ rầm rập lao theo. Chợt mé sau nhà dậy lên vô số tiếng nổ của súng nhỏ, điểm nhiều tiếng lựu đạn. Menđ-brao bấm chuông gọi cô hầu:
- Bảo thằng làm vườn ra xem có việc gì, báo lại tôi. Cô vừa ra, lão bấm luôn hai cái nút khác màu gắn bên dưới mặt bàn. Cánh cửa thép bọc cao-su xốp cả hai mặt đã khép sẵn, giờ bật lên những tiếng thép của then khóa. Hai cửa sổ lớn có lưới chống B.40 căng bên ngoài theo kiểu úp lồng bàn, giờ có rèm thép buông xuống che kín. Viên thiếu tá quen nếp, bước lại bật đèn, mở máy điều hòa không khí. Các cấp dưới hỏi dồn dập những chi tiết tỉ mỉ. Menđ-brao chỉ cười khẽ: - Có những điều chính tổng thống và những người gần gũi như Mắc Na-ma-ra hay tướng Tay-lơ còn phân vân, sẽ tùy cơ úng biến. Chọi nhau với cộng sản ở Bắc và Nam, hai đồng minh là Nga và Tàu sẽ cảm thấy bị Mỹ thách thức, bị Tây Âu coi khinh, bị cả thế giới thứ ba hết tin cậy. Dù muốn dù không, họ cũng phải giúp cộng sản Việt Nam thôi. Đốm đèn đỏ trên máy điện thoại nội bộ nhấp nháy, kèm theo tiếng ba nốt nhạc báo. Trên mặt ngoài cửa thép, hễ khóa điện đóng chốt thì đèn trên cửa cũng bật trong hộp kính đục: “Don’t disturb-Use interphong ” (Đừng quấy rầy-Dùng điện thoại nội bộ). Sếp không nhấc ống nghe mà ấn nút cho tiếng nói truyền vào loa lắp trong máy. Cô hầu nói: - Thưa ngài, mặt trước nhà ta, cách cổng độ một trăm yađ, cảnh sát dã chiến đang chặn một đoàn biểu tình lớn của thanh niên và sinh viên chống chính phủ, có xô xát nặng. Gió khác chiều, khói lựu đạn cay không bay vào nhà ta như lần trước. Còn ở mé sau, một khách sạn làm lễ khai trương, nổ bốn tràng pháo lớn treo từ gác ba xuống, nhiều người dân tưởng Vi-xi đánh vào đã bỏ chạy xa. Chúng tôi đợi lệnh ngài. Thưa hết! - Cảm ơn Bét-ty nhé. Không cần gì nữa đâu, xong việc rồi. Ba người khách đứng lên chào về. Viên tướng ấn nút cho các cửa mở như cũ, gật đầu: “Chúc các bạn may mắn”. Nhà báo Giêmx và thiếu tá Bóp đã thân nhau trong những ngày chạy đôn chạy đáo cho kế hoạch Đảo phương Nam, tuy tính nết khác xa nhau. Họ cùng lên chiếc xe Gip trắng của Bóp, đi ăn trưa ở khách sạn Ca-ra-ven. Tuy gọi khinh người Pháp là “bọn ăn ếch”, nhưng họ đều thích các món và các loại rượu Pháp. Gì thì gì, chế biến bột thì nhất Ý, nấu nướng thì nhất Pháp, ăn cầu kỳ thì nhất Tàu. Hoa-kỳ còn man rợ đến cái độ ăn bít-tết áp chảo mà uống cà-phê sữa! - Buổi chiều hết việc, ta đánh đổ một chai cô-nhắc đi! Mẹ kiếp, lão sếp truy tao như cha dạy con. Ngoài bốn mươi, độc thân, không rượu gái thì còn thú vui nào nữa hả Bóp? - Nhưng cái khoản bớt ba hoa thì lão nói phải. CIA dài tay lắm đấy, chớ đùa mà dại. Hầu bàn đã bưng đến các món khai vị và hai ly mác-ti-ni Ý. Trứng cá Nga, dồi Đức, pho-mát Hà-lan, tôm hùm Bắc Phi. Bóp chửi thề rất tục, gắt người hầu Việt Nam: - Trách nào Hít-le xưa kia gọi Pháp là một dân tộc đồi bại, đánh chiếm Pháp chỉ trong mấy tuần. Chúng tôi đến đây để ăn đồ Pháp kia mà! Nước Pháp thiếu ăn đến thế à? Người hầu không hiểu gì, chỉ cúi đầu: “Thưa vâng”. Không thấy khách trả lại món nào, anh rút lui gọn. Giêmx can ông bạn: - Mày chưa biết kiểu trọng thị của châu Á. Chúng nó biết ta là người Mỹ, công dân của cường quốc số một thế giới, có mặt khắp nơi như người Anh thế kỷ trước, ắt thích các món quốc tế. Chúng bày đủ thứ đặt tên lắm nước, nhưng đều sản xuất ở Chợ Lớn. Mày đã từng ở Nga, ăn trứng cá đen và đỏ, đã bao giờ nếm thứ trứng cá mịn như hạt vừng này chưa? Giêmx chợt nghĩ ra: gọi Mỹ Duyên đến vào giờ tráng miệng, uống cà-phê rượu mùi. Giờ báo chí quen suồng sã với nhau như thế. Ăn gì, ăn ở đâu tùy thích, nhưng thường gọi nhau đến đây uống cà-phê để cho nhau những tin “tủ” sốt dẻo nhất, về sau sẽ có đi có lại. Các ổ to nhỏ dành cho Mỹ như câu lạc bộ, cư xá, sứ quán, căn cứ, cơ quan viện trợ thường bị Việt Cộng đánh bằng hàng tạ chất nổ, phóng viên chỉ đến khi rất cần, xong vù ngay. Những nơi hiền lành như Ca-ra-ven này thì chưa một lần bị chạm tới. Viên thiếu tá giả phóng viên chưa thạo nếp cư xử này, Giêmx phải giảng cho hiểu trước khi gọi điện cho Mỹ Duyên. - Ô-kê, các bạn chén đi. Nửa giờ nữa tôi đến. Mỹ Duyên đến bằng chếc mi-ni Đô-phin tự lái, mặc áo váy đầm. Nàng bước qua cửa phòng ăn, nhìn quanh, đến chỗ Giêmx đang đứng giơ tay và búng hai ngón liên tiếp. Hầu bàn cũng theo ngay. - Ciao !... Cho một kem dâu, một cà-phê sữa. Thấy Giêmx chăm chú nhìn vào ngực mình, Duyên cúi xuống: nàng quên không lột cái huy hiệu “Mặt trời mọc” cài trên áo. Nàng vừa gỡ vừa cười: - Đóng vai phóng viên Nhật để khỏi bị níu kéo... Tôi bị vài lần rồi. Sáng nay nhờ cái lá mộc này mới lọt được tới chỗ trót ngàn dân cày lục tỉnh lên biểu tình ngồi trước dinh ông Khánh. - Họ đòi gì, chống gì? - Như cũ thôi. Đòi mở rào ấp để làm ruộng, đòi bồi thường nạn nhân. Chống tàu bay đại bác phá làng, chống ác ôn đánh giết người. Tôi nói như tụng kinh: “Sorry, I don’t und derstand... Gô-men, oa-ka-ra-nai... Xin lỗi, tôi khôông haiao zi ca...”. Họ để tôi chụp ảnh và ghi âm được kha khá trước khi cảnh sát Sài Gòn xài lựu đạn cay... Mà này, các bồ định mua gì, bán gì? - Ôi người đẹp, sao thực dụng đến thế? - Người đẹp cũng cần ăn để sống như các chàng trai ngổ ngáo, còn phải học thêm võ giu-đô để quật những thằng say chực sấn vào buồng. - Giả dụ như... chúng tôi định bán tin mật về cuộc tập trận phối hợp giữa hạm đội Bảy và hải quân xứ này? - Tin loại ấy, các hãng Pháp và Sài Gòn không hám đâu. Nên bán cho Na-uy, Nam Phi, Bra-xin nếu bắt được mối. Người Việt thạo đoán lắm. Vài vết trầy sơn trên vỏ tàu Ma-đốcx là đủ cho đợt ném bom ồ ạt vào các cảng Bắc Việt và tổng thống được quyền đối phó đặc biệt. Lần này, muốn mở rộng chiến tranh ra toàn Việt Nam hay toàn Đông Dương, chác ngài Giôn-xơn phải tìm hay tạo ra lý do mới, to hơn bổn cũ tí chút. - Ái chà chà, bạn đồng nghiệp yêu quý đáng sợ thật chứ! Này Xi-mo-nét, mai là chủ nhật, ta cùng đi Vũng Tàu tắm biển được không? Hay bận dịch mật mã để đánh điện cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 04:13:42 pm Mỹ Duyên cười to, rút trong ví ra một tờ giấy in rô-nê-ô:
- Ông Thọ đang tìm tôi để tỏ tình. Đọc đi. Tờ giấy in song ngữ Việt và Anh bằng hai cột, lời lẽ rõ ràng: “MTDTGP MNVN thông báo cho các cơ sở Sài Gòn-Gia Định để chấp hành. Hiện nay có một số điệp viên giả danh phóng viên đang hoạt động tình báo ở Đô thành. Chúng ta đã nghiêm khắc trừng trị vài tên như Đặng Văn Song, Chu Tử công khai chống phá cách mạng. Còn những tên bồi bút khác như Nasyan Bosh, Hokkaijin, Simong tte MD, James Kidman... cần được theo dõi chặt chẽ để buộc chúng câm họng khi thấy cần”. Chữ ký bên dưới ngoằn ngoèo không đọc được. Giêmx há mồm, tròn mắt. Hai bắp tay rậm lông nâu rung nhẹ, tờ giấy đang cầm nhảy mạnh hơn. Bóp thò tay rút giấy đọc lại, hắn không để ý, chỉ nói lập cập: - Nhưng... tôi chưa hề công kích họ... họ hiểu lầm... - Giắc-ky ơi, hai chúng ta mới bị theo dõi, chưa bị kết án đâu. Đa nghi là một thứ bệnh chiến tranh. Xtain-béc nổi tiếng là vậy, làm phóng viên trong thế chiến Hai cao hứng viết vài dòng về những trận đánh trước thành Troy thời cổ Hi-lạp, đã bị kiểm duyệt Mỹ bôi bỏ và cảnh cáo vì “lộ bí mật quân sự”. Chúng mình ra vài bài than thở nỗi khổ tâm dân chúng xứ này trong cuộc chiến, Vi-xi sẽ xếp ngay vào loại tiến bộ... Họ dán nhãn Diều hâu hay Bồ câu rất nhanh nhậy, chẳng kém Âu Mỹ đâu! Tôi bay đây. Sáng mai nhé, đón tôi tại nhà, tám giờ sáng. Ông Rốc-xơn cùng đi không? - Xin sẵn sàng làm kỵ sĩ số hai... nếu không có đảo chính lớn, biểu tình lớn, pháo kích lớn, vụ nổ lớn do Vi-xi. - Ô-kê, bai-bai! Cô phóng viên người Việt ra khỏi cửa, thiếu tá Mác-mo-yo tự rót ly cô-nhắc đầu tiên sau bữa cơm, khi Giêmx đã dốc cạn nửa chai: - Mày nghĩ gì về tờ giấy vừa đọc? Giêmx lè nhè bốc một nắm lạc rang húng lìu, món nhắm ưu thích của hắn, hầu bàn biết tính nên luôn luôn dọn kèm đồ tráng miệng, lúc bí thì thay bàng đậu phộng da cá: - Lạy Chúa phù hộ... cô ả chắc khiếp hồn, tội nghiệp! - Ngược lại, chính ả muốn chúng ta run. Mày xem, có bao giờ Vi-xi ra lệnh mật cho các nhóm khủng bố có kèm bản dịch tiếng Anh và in rô-nê-ô phát như truyền đơn? Giêmx là tay mạnh rượu, chưa say hẳn, trầm ngâm nhai lạc. Bóp nhắc thêm rằng lời lẽ trong giấy không giống những truyền đơn Vi-xi nhét đầy những từ ngữ cộng sản quốc tế. Giêmx thốt cười hơi to, nhưng trong góc khuất này không bị để ý: - Tao ở với bọn guk 1 từ chiến tranh Pháp-Việt, đã đọc lắm tờ cùng kiểu. Có thể gọi là thứ mệnh lệnh-truyền đơn-thư cảnh cáo, giả vờ bí mật nhưng cố ý công khai. Mày đến buồng tao mà đọc hàng trăm tờ như thế. Những lệnh của Vi-xi bắt dân tự phá hàng rào ấp, quan chức Sài Gòn đi học chính sách mặt trận, lính địa phương nộp súng trình diện, vô số. Lệnh cho thanh niên làm quân dịch cho Vi-xi nữa, đi dân cộng tiếp tế... Là giả che thật, người bị ép buộc che người tự nguyện. Đánh vào một xã, một quận, người tình báo Vi-xi cũng bị trói giải về trại tù binh như cố vấn Mỹ và sĩ quan Sài Gòn, nằm chung buồng nghe lỏm, cạn nguồn thì được chuyển sang biệt giam và cho phép vượt ngục để về làm vụ khác. Mày chưa sống với đất Viễn Đông hay bọn gúk nhiều, chưa biết. Dân xứ này cũng như dân Tàu hay Nhật, đã có nền văn hóa độc đáo của họ chừng hơn ba ngàn năm trước khi các vị Tổ phụ Lập quốc bước xuống đất châu Mỹ. Họ khinh chúng ta man rợ, hiểu chưa? Cũng na ná châu Âu khinh Mông Cổ. Tối nay, bọn man rợ ấy ào tới như bão táp, với sức mạnh gang thép và hạt nhân hơn họ ngàn vạn lần, khủng khiếp hơn kỵ binh Thành-cát Tư-hãn tràn khắp Á Âu. Họ phải làm gì? Đấu ngang sức là thua ngay, họ chọi với ta bằng mưu mẹo, bằng thủ đoạn. Rồi mày sẽ thấy kiến đẩy lùi voi, muỗi diệt sư tử, chèo bẻo đuổi chim ưng... - Mày lý sự hệt một thằng Viết-níc 2 tóc dài! - Không. Như một nhà báo muốn giữ lương tâm nhà nghề. Tao ký hợp đồng với chúng mày ba năm, rồi ba năm nữa, phải. Nhưng tao vẫn là nhà báo, không muốn xực cà chua trứng thối. Về nhé. Mày lái. Chiều cuối tuần, để tao ngủ. Tao sẽ treo bảng “Đừng quấy rầy”, rút phích điện thoại, gài chốt, dặn hầu buồng trả lời tao đi vắng. Đêm Sài Gòn trôi qua yên tĩnh, chỉ nghe vẳng những tiếng còi cảnh sát phạt người về khuya phạm lệnh giới nghiêm. Ngay trong các căn cứ, cố vấn Mỹ cũng không phải đội tấm nệm cao-su-mút trên đầu để chạy ra hầm bê-tông. ----------------------------------------------------------- 1. Từ khinh miệt của Mỹ chỉ chung người Việt (gook) 2. Thanh niên Mỹ ủng hộ Việt Nam (Vietnik) Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Tám, 2017, 04:15:20 pm Mười giờ sáng hôm sau, chiếc Đô-phin nhỏ với bốn bánh lắp nan hoa của Mỹ Duyên mới đến Vũng Tàu. Duyên rất khôn khi từ chối đi theo xe nhà binh để tránh bị ném đá hay lật đốt, nhờ đó họ lách qua một cuộc biểu tình chừng năm ngàn nhà sư và Phật tử, nhiều người giơ hai ngón tay chữ Y khi các phóng viên chụp ảnh.
Vào hạ tuần tháng mười hai này, bãi tắm vắng khách Việt. Duyên chỉ bơi chừng nửa giờ đã lên trùm áo khoác, cười: - Người nhiệt đới sợ lạnh, phụ nữ càng ngại hơn. Các bạn cứ tắm, tôi bày mâm píc-níc. Rất tiếc không làm được món thịt quay ngoài trời theo kiểu tuổi trẻ Mỹ cắm trại. Giêmx ngẩn mặt nhìn Duyên đang bày các món chả ram, mực nhồi chiên, có cả một mớ viên cồn để đun sôi cái cù lao ăn thịt bê nhúng dấm với bánh tráng nướng. Một chồng đồ hộp Mỹ đặt sẵn nhưng không mở: “Chỉ để chiều các khách khó tính thôi”. Một nhóm năm người mặc sơ-mi ngắn quần soóc, đội mũ rộng vành chóp nhọn, dừng lại cách mươi bước nhìn họ. Một người đưa máy ảnh Pô-la-rôiđ lên định bấm. Duyên quay mặt đi, khoát tay xua. Họ cười hô hố, bỏ đi. Giêmx hất hàm ra ý hỏi. Duyên trút ra đĩa một túi dưa chuột và hành muối chua, mở nút một chai khai vị mác-ti-ni: - Các bạn biết đấy... Trước mắt mọi người, một ả Việt Nam đi với hai đàn ông phương Tây chỉ là một con “điếm độc”, tức là gái đĩ làm ăn lẻ... Nhưng mấy người Âu hay Mỹ vừa đi qua sao mặc đồ như phật tử hay hướng đạo, tôi thấy lạ mắt lắm. - Người đẹp ít gặp giới quân sự quá đấy. Họ chẳng phải người châu Mỹ hay Âu, mà sống ở châu Đại Dương! - Thuộc giới quân sự, sao họ không mặc quân phục? - Quân phục của Tân-tây-lan kỳ cục vậy đó. Họ sang để quan sát, thu xếp, trước khi mang cờ sang cắm ở đây. Rốc-xơn chen vào: - Giắc-ky đang mê nghề chiêm tinh đấy. - Quỷ bắt bọn chiêm tinh! Ở Triều Tiên, mười mấy nước đã đưa quân tới, đâu có giấu diếm. Bây giờ, các nước đồng minh của Mỹ đang sẵn sàng dựng cờ ở xứ này nhân danh chống cộng, đang gạ ông Giôn-xơn trả nhiều đô-la mua máu... Mày nhớ là bà chủ píc-níc đã giúp AFP tung khắp thế giới những tin mà mày xếp loại bí mật. Nay mai, nếu Tân-tây-lan, Úc, Thái-lan, Phi-líp-pin, Nhật Bản, gì gì nữa, liên tiếp trút lính sang đây, tao sẽ được phong là thiên thần báo trước! Thứ nhì là cô bạn... Duyên cắt ngang: - Một ngày không chính trị: Ăn các món Việt trước đi và cho biết tin tức về chúng. Tất nhiên tôi pha nước chấm bằng sốt đậu nành, người Việt gọi là xì-dầu hay ma-gi. Nhưng xin nhắc: phải tập ăn cơm bằng đũa, xài nước mắm, mắm ruốc, mắm cá nhỏ nguyên con của miền Trung, mới làm thân được với dân chúng. Có nhà báo Mỹ đã lập một kỳ công: ở Việt Nam hơn tháng mà không hề hỏi chuyện một người bản xứ nào, vẫn viết được hàng chục phóng sự ly kỳ về cuộc chiến trên đất này. Xin bái phục, tôn làm ông tổ nói phét! Vì dứt khoát “một ngày không chính trị”, cả ba phóng viên đều không mở máy thu thanh trên xe hoặc mang theo người. Nhưng chiều hôm ấy, khi về tới Sài Gòn, một tin mới đón họ: các ông “tướng trẻ đầu bò” đã cho về vườn Thượng hội đồng Quốc gia, tuy chưa lật Nguyễn Khánh, hẳn vì tướng Tay-lơ cấm. Ngồi giải khát trong khách sạn Ca-ra-ven, họ làm một thống kê ngắn, chỉ mấy tháng gần đây thôi: - 16-8-64: Khánh gạt hẳn Dương Văn Minh. - 28-8-64: Biểu tình lớn khắp miền Nam chống độc tài quân phiệt, buộc Khánh phải trao quyền lại cho Tam đầu chế Minh, Khánh, Khiêm. - 27-9-64: Khánh lại tống cổ Minh và Khiêm, một mình bao thầu viện trợ chống cộng. - Và nay tới cuộc đảo chính của đám “đầu bò, Thổ-nhĩ-kỳ trẻ”, tùy cách gọi của Việt hay Mỹ. Trong bốn tháng lẻ vài ngày đã bốn lần đảo lộn chính sự. Vi-xi tràn ngập khắp nơi, phá ấp, chiếm đất, giành dân. Quân Sài Gòn thi nhau trốn theo Vi-xi, trốn về nhà. Chính quyền cấp xã thôn đầu hàng du kích... Mỹ Duyên ỡm ờ tiếp lời Giêmx: - Chưa đến năm mới, tướng lãnh Sài Gòn đã tặng chúng ta một cuộc đảo chính. Vi-xi sẽ gửi quà bằng nhiều tạ chất nổ và mươi trận đánh lớn. Còn cụ Giôn-xơn sẽ biếu một bài diễn văn chống cộng hết sức hùng hồn. Bóp Rốc-xơn long mắt, thôi mím cặp môi mỏng: - Và sau diễn văn ấy sẽ có hàng chục vạn quân Mỹ và các đồng minh kéo tới đây. Bọn cầm quyền Việt Nam cộng hòa cùng quân lính và nhân viên dưới họ đang rữa nát vì tham nhũng và khiếp sợ. Nhưng thế giới tự do không chịu để mất tiền đồn này vào tay cộng sản. Nếu cần, Mỹ và đồng minh có thể gạt hẳn bọn gúk đang cắn xé nhau tranh ăn, đặt miền Nam Việt Nam dưới quyền ủy trị của Liên hợp quốc hay của Mỹ! - Ông Rốc-xơn cũng là nhà tiên tri như Kít-man, để xem ai thắng ai... Nhưng lời hẹn “một ngày không chính trị” của ta trôi theo dòng nước rồi. Tối nay mỗi chúng ta lại phải săn lùng tin tức, đánh điện về nước. Chắc ông Rốc-xơn sốt ruột nhất. Chúng tôi có lương tháng của hãng, còn ông là phóng viên tự do, sống bằng tiền bán tin và ảnh kia mà. Bai-bai các bồ nhé! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 09:25:19 am Chương 15 Bước xuống khỏi các bậc thềm của thư viện, Cam gặp ngay làn mưa tuyết cuối mùa rơi xuống, rất thưa và êm như lời chào lưu luyến của rét đông đang thong thả rời Mát-xcơ-va lui về phương Bắc. Nền mây trên thành phố vẫn trải đều như cốt chăn bông, nhưng sáng hơn, tươi tỉnh hơn, rải những bông tuyết hình tổ chim yến bay ngang dọc và như rất thích bay ngược lên cao, theo kiểu lượn của nhũng bông hoa rau tàu bay thân già cao trên các rẫy cũ Tây Nguyên. Trong nội thành Mát-xcơ-va, mùa hè đến sớm hơn ở ngoại ô. Các thùng muối chống băng trơn xếp dọc các vỉa hè đã biến mất. Các ngấn tuyết trắng đắp nổi trên các biển nê-ông chào hàng đã tan chảy cùng với những chòm râu băng buông tua tủa từ mép các ống tháo nước các tầng nhà cao xuống cống. Từng đoàn xe xúc và thổi tuyết ra xa đã trả lại ánh sáng cho những cửa sổ hai lớp kính bị ngập tuyết đến ngang lưng, và xe ben chở đi đổ vào các rừng hay sông ngòi, tránh cho các đường phố bị ngập nước khi tuyết tan. Chỉ cần vài ba ngày nắng ấm là nội thành Mát-xcơ-va được rửa sạch bằng nước tuyết. Tuy toàn thành Mat-xcơ-va đã được thông báo rằng trượt băng hay đi bộ trên sông ngòi là rất nguy hiểm, vì băng mỏng và nhiều nứt nẻ, nhưng chỉ có dân nội thành nghe theo, còn dân ngoại thành cứ phớt tỉnh khi qua sông bằng những tấm ra-két như quần vợt, không cán lắp dưới giày. Xnhég, biê-lưi xnhég... Bài hát đón mừng tuyết ấy, Cam đã thuộc. Và anh đã hết ngạc nhiên khi cuối giờ học chiều, bước ra lại thấy trời màu xanh chứ không phải màu tím nhạt như khi nhìn qua cửa sổ. Người dân Nga nguyền rủa những mùa đông ít tuyết, vắng tuyết. Các lễ hội trên xe trượt tuyết đành bó tay, còn những cánh đồng lúa mì thiếu nước tuyết tan sẽ khô héo sớm, đến cỏ cho bò sữa cũng tàn lụi. Đói, sẽ đói nặng. Người Mát-xcơ-va nói chuyện ngoài phố không còn phun khói qua mồm, cũng khỏi phải giữ cho giá buốt cắn vào mặt mũi như cháy bỏng tuy khắp thân đã trùm kín những thứ lót lông thú trông như con gấu Mi-sa trẻ con chơi. Các đội thợ xây nhà và trồng cây làm tiếp việc bỏ dở, còn các đơn vị công binh đang sắp sẵn những khối mìn phá băng cho tháng Tư sắp tới, đẩy băng trôi gấp theo nước sông để mở đường cho tàu thủy chạy. Các chàng trai cô gái trẻ phớt đều gió lạnh còn chen giữa những đợt gió Nam nóng ẩm, chuyển sang mặc blu-dông nhẹ và áo len đan, phải nói là đan khá vụng so với hàng Việt Nam. Cam ghé vào phòng chờ bên bàn của bác thường trực tóc bạc. Đôi bên chỉ gật đầu chào nhau theo lối người thân. Cam rút tờ báo Iz-vex-chia hôm nay ra tìm tin mới về Việt Nam. Chợt bác kia chìa cho Cam mảnh giấy của Ô-léc gửi nghiên cứu sinh Phan Cam, tiếng Nga mở đầu, tiếng Việt sai lung tung nối tiếp: “Anh Kam về trướk và an trướk không nên chờ tôi, tôi fai tian một ban gáy. Chuên ngiâm chinh suât đòi thât đái ma”! Cam bật cười khẽ, nhét tờ báo vào túi áo khoác, gật đầu chào bác thường trực, đi qua cổng đến bến xe trô-lây chờ chuyến đúng số đúng tuyến. Một năm rưỡi qua từ ngày Cam đến thủ đô Liên Xô. Chế độ nghiên cứu sinh rộng hơn và dễ dãi hơn chế độ sinh viên đôi chút, Cam được xếp ở buồng nhỏ một người trong khối nhà nội trú to tướng của trường Đại học tổng hợp Lô-mô-nô-xốp, khu kiến trúc khổng lô trên đồi Lê-nin, với quang cảnh tuyệt đẹp nhìn xuống sông Mát-xcơ-va và sân vận động Lê-nin. Chỉ phiền một nỗi là đường đi học quá xa: khoa Ngữ văn mà Cam theo học lại đặt ở cơ sở cũ của trường MGU, Báo chí, Sử, và cả Học viện các ngôn ngữ phương Đông. Cậu Ô-léc mới chẵn hai mươi khi vào học tiếng Việt ở học viện ấy, vì điểm thi vào các trường trên trung học quá cao, trong khi trường Ngôn ngữ phương Đông đang mở rộng cửa. Tiếng Trung Quốc khó phát âm và chữ viết tượng hình quá khó nhớ. Tiếng Nhật càng hiểm hóc nữa, ai lại một thứ tiếng mà sách báo dùng chữ chân, viết tay dùng chữ thảo, hàng xuất khẩu dùng chữ la-tinh được gọi là La-mã-tư. Và, để bức tường ngôn ngữ thêm cao dày, họ gài khắp nơi những chữ hán đọc theo kiểu đa âm tiết Nhật hoàn toàn khác gốc hán một ngữ pháp độc đáo với tất cả động từ dồn vào cuối câu. Trước đây Cam học tiếng Pháp, Nga, Anh khá nhanh, đã thử mó vào tiếng Nhật qua sách và đĩa dạy phát âm, chỉ vài tháng đã rút lui có trật tự. Cam đến ở chung với gia đình Ô-léc sau lễ Năm Mới. Bước vào năm thứ nhất khoa tiếng Việt, Ô-léc luống cuống đến hoảng sợ. Chữ viết đơn giản, ngữ pháp quá dễ so với tiếng Nga, nhưng khi nói thì uốn lưỡi như hát từng đốt nhạc, có khi từng chùm đôi, chùm ba. Suốt học kỳ một, Ô-léc chỉ được điểm hai và ba về phát âm, đã chán định bỏ cuộc, nhưng được bà mẹ dỗ dành mãi nên không rời trường. Cả nhà Ô-léc gắn bó với Việt Nam nhiều năm. Ông bố Ô-léc, kỹ sư cơ khí hàng không, đã sang giúp Bắc Việt Nam xây dựng ngành hàng không dân dụng từ 1955 đến 1960. Sau hai năm ông về phép, khuyên vợ con nên sang ở Hà Nội ở với ông. Xứ nóng đấy, nhưng chế độ chuyên gia rất khá, nhất là tình cảm của người Việt. Chỉ cần nói “tôi chuyên gia Liên Xô” là mọi người tươi mặt niềm nở. Hai vợ chồng cùng sang Việt Nam với Ô-léc mười một tuổi và em gái lên sáu là Tô-nhia. Bà Ôn-ga giáo viên cấp một có việc làm ngay: mấy chục trẻ em, con cán bộ đại sứ quán và các chuyên gia đang thiếu người dạy, không thể mở trường chính quy vì học sinh quá ít. Bà mở lớp ngay trong khu chuyên gia gần công viên Thống Nhất với hai cô giúp việc người Việt đã học ở Liên Xô, dạy giờ theo hợp đồng. Các em thích mê mỗi khi được dẫn đi học trong công viên, tuy mới làm dở dang nhưng vẫn thoáng mát. Ô-léc và Tô-nhia được sống ba năm thoải mái với bố mẹ trong khung cảnh ấy, không biết rằng người anh cả của mình bị khốn khổ đường tình duyên. Anh An-đrây mê một cô diễn viên kịch nói, lấy cô khi học xong lớp sĩ quan không quân cách đây bốn năm. Đơn vị anh đóng trải dài dọc biên giới Tây-Nam, giáp với Thổ-nhĩ-kỳ, I-ran, Ap-ga-ni-xtan. Chị vợ nhất quyết không rời Mát-xcơ-va, là nơi chị sinh ra và lớn lên, cũng chỉ ở đấy mới có những người đánh giá đúng tài năng của chị. Nhiều chàng trai mê nhan sắc đã tán đến mức tôn chị lên thiên tài, lên hoa hậu, lời chê mấy lão đạo diễn và viết kịch bản là mù và điếc, chê chồng chị coi vợ không bằng nghề tài-xế tàu bay. Chỉ sau hai năm, chị đã vất trước mặt chồng lá đơn xin ly hôn, với lý do: “tính nết và nếp sống trái ngược nhau”. Ký xong, anh thở dài: “Còn may chúng ta chưa có con với nhau”. Chị vợ cáu kỉnh: “Anh tưởng tôi vô sinh đấy hẳn? Tôi đã nạo thai một lần trong cái đợt anh đi bảy tháng không về. Đừng tiếc, con của người khác chứ không phải cái nòi giống bạc bẽo nhà anh đâu!” Tòa án cố hòa giải không được. Anh nhường chị căn hộ hai buồng, ra đi với một va-li nhỏ đồ dùng riêng và một thùng bìa cứng to đầy sách. Về đơn vị, anh gặp một thông báo của Không quân chọn người tình nguyện lái máy bay tiếp tế cho các trạm nghiên cứu ở Bắc băng dương và Nam băng dương. Lương cao, phụ cấp nhiều, nhưng được ghi rõ là nhiệm vụ nguy hiểm. Lâu nay anh chuyên lái máy bay vận tải của Không quân bay qua những đèo núi cao quanh năm tuyết phủ, những hoang mạc gió tung bão cát, nay anh muốn đi nơi nào thật xa, thật váng vẻ, để chờ vết thương ở tim kéo da non. Qua vài tháng tu nghiệp và bay thử, anh được chọn vào đội bay cực Bắc. Vừa lúc ấy cả nhà anh từ Việt Nam trở về nhà cũ ở thủ đô, hai đứa em Ô-léc và Tô-nhia mới biết nỗi đau của anh An-đrây mà cả bố mẹ cũng cố giấu. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 09:31:04 am Ô-léc bắt chuyện làm quen với Sáu Cam trong khi chờ xe trô-lây. Hai chuyến xe khác nhau nhưng chỉ cách một phút, và Cam thường ra sớm để về khu tập thể MGU. Ô-léc tập nói tiếng Việt-tuy về nước đã sáu năm nhưng vẫn còn tí Việt Nam đọng lại từ thời thơ dại-Cam sửa giọng và nhắc từ ngữ.
Chỉ sau vài tuần cùng chờ xe như thế, Ô-léc đã mến anh nghiên cứu sinh có nụ cười hiền lành và nói tiếng Nga rất khá, cố kéo Cam về nhà mình chơi. “Anh sẽ thấy, cả nhà em là một ổ thân Việt Nam. Chỉ tiếc bố em không còn, ông ấy rất chịu khó học, lắm khi làm việc với kỹ sư bên nước anh không cần người dịch”. Ông về nước được hai năm thì tử thương trong một tai nạn ô-tô. Trước khi chết ông còn làu bàu: “Một cái chết ngu ngốc nhất trần đời. Qua gần hết chiến tranh vệ quốc, chỉ dính đạn đôi lần. Ở Hà Nội cứ khỏe như vâm... Nghề hàng không mà lại bị xe chẹt giữa phố thủ đô!” Gia đình Sec-pu-khin gặp nhau đông đủ trong lễ Cách mạng tháng Mười. Anh An-đrây cũng về. Anh trẻ hơn Cam hai tuổi, thừa hưởng của ông bố cái vóc một mét chín lăm và bộ râu rậm cùng cái tính hay tán phét như người Việt nói trạng. Bị vợ bỏ nhưng anh chẳng có tí gì u sầu giống Ô-nhiê-ghin hay Pét-sô-rin cả, cứ cười hô hố và vỗ đùi người ngồi gần nhất bôm bốp. Ngay từ câu đầu, anh đã gọi Cam bằng tư và chia động từ ngôi nhì theo số ít, kiểu cậu, tớ rất xả láng. Bà Ôn-ga khác nhiều. Bà đẫy người, tóc và mắt đều màu nâu nhạt nên khó đoán được vui buồn. Sau khi góa chồng bà xin về hưu. Căn hộ ba buồng với các tiện nghi được giữ nguyên, với nạn khan nhà ở Mát-xcơ-va như thế là rất khá. An-đrây ủy lương cho mẹ vì mỗi năm chỉ về nhà vài lần, cộng với lương hưu của mẹ cũng đủ sống tùng tiệm và nuôi Tô-nhia ăn học. Học bổng ba phần tư của Ô-léc chỉ đủ cho cậu ta may sắm và đãi các bạn gái-cậu ta có quá nhiều bạn gái, Tô-nhia không ưa cái tật ấy, hay đá móc rất đau cho Ô-léc nổi khùng. Ôn-ga và Séc-pu-khin không thờ Chúa nhưng vẫn thích các cuộc vui trong lễ Giáng sinh với cây thông Nô-en chấp chới đèn màu và treo các gói quà lủng lẳng, với ông già Tuyết đắp dưới sân cắm một củ cà-rốt làm mũi. Tất nhiên Cam bị lôi đến. Trong khi chờ ăn bữa nửa đêm, anh An-đrây cù cho cả nhà cười nghiêng ngả: - Bay ở cực Bắc hả? Hễ lái chính không nhìn thấy lái phụ trong khoang, đó là trời mù. Có cách khác chứ. Tàu biển bị kẹp cứng giữa băng, máy bay đi tìm, hễ thò tay ra ngoài đụng cột buồm thì trúng chỗ rồi. - Gió thì đủ dùng. Các trạm thám hiểm đều dựng cột treo ống đo gió, bị giật đứt cả. Anh em nghĩ ra sáng kiến: dùng một vỏ bom lép của Đức loại nửa tấn, cưa bớt đi, thế là được một ống đo được gió năm trăm ki-lô-mét/giờ. - Anh lập được kỷ lục thế giới về lái máy bay vận tải, là cho máy bay bay lùi. Biết sao không? Bão tuyết thổi ngược chiều, sức gió mạnh hơn sức cánh quạt. Không hạ cánh được, xuống thấp là bị bão dập xuống như đấm vào gáy, nát bét cả. Cứ thế anh nổ máy cho bay lùi khỏi sân ngót trăm ki-lô-mét. Đáng ghi vào sách Ghi-nétx quá đi chứ. - Ở đây, đánh đổ một bình sữa hay can xăng xuống đất là mất toi, quá phí. Chỗ anh, đổ thứ gì xuống thì vẫn y nguyên, chỉ thò tay xuống bưng lên như tấm kính, nếu là sữa thì cắn nhai rau ráu, kèm theo một tấm cà-phê ăn kèm cho đậm. Sáu Cam giữ ý không đến nhà Ô-léc quá nhiều, do mặc cảm của một nghiên cứu sinh nghèo. Nhưng đến lễ Năm Mới, chính An-đrây lại đến tận nhà ký túc trên đồi Lê-nin tìm Cam: - Hai ngày nữa tớ lên cực Bắc rồi. Đi, đi ngay, cả nhà chờ cậu. Lại kiểu cách lối dân châu Á rồi, đợi túm tay lôi đi hả? - Nói nhảm! Cậu đã ở châu Á bao giờ đâu? - Chưa ở, mà tớ biết, ủng dạ đâu, áo khoác đâu? Mũ lông? Đừng nghĩ chuyện mua bánh hay rượu mang đến, rồi qua tháng giêng gặm bánh mì suông trừ bữa. Tác-xi đang đợi dưới kia, cậu làm điệu nữa thì mình phá sản vì tiền xe chờ. Cuối bữa tiệc gia đình ấy, An-đrây làm bộ chợt nghĩ ra: - Mà này Phan Cam, sao cậu không đến ở chung với chúng mình nhỉ? Mẹ mình với Tô-nhia một buồng, con bé chưa đến tuổi tiếp bạn trai trong buồng riêng (Tô-nhia nguýt anh rất dài, hai gò má chưa hết lang ben vụt đỏ rựng). Thằng Ô-léc lắm bồ nhưng còn biết sợ lưu ban, lại mến cậu lắm đấy, coi cậu là cái gương cho nó noi theo, nhưng theo sau cách một quãng xa xa thôi. Mẹ mình thì chẳng phải nói, nhắc mãi là tuổi trẻ Việt Nam hơi khắc khổ một tí nhưng đầy chí khí trong chiến tranh và kiến thiết... Khu phố Zve-nh-gô-rốt này đang xây dựng lại, có hàng loạt nhà ở, cửa hàng, câu lạc bộ, công viên, chợ nông trang, đường tàu điện ngầm đang mở dần tới đây. Mà chưa xây dựng thì cậu với thằng Ô-léc cũng đi học rất gần, bằng trô-lây hay xe buýt. Gớm, mình đến lâu đài khoa học của cậu, sao mà xa xôi rắc rối đến thế! Cam chưa đáp ngay, chỉ nhìn quanh một vòng và gặp những đôi mắt đăm đắm chờ một lời đồng ý. Cam không thể nhận, dù biết cả nhà đã bàn mọi lẽ trước khi mời. Bên nước ta, nhất là vùng nông thôn hay miền núi, vẫn quen nếp nghĩ “ăn hết nhiều, ở chẳng hết bao nhiêu”. Với bộ đội, ở càng dễ hơn nữa, nhà cửa nằm sẵn trên lưng, khi ngủ nhà dân thì một tấm chiếu hay cánh cửa ngả xuống là xong. Bên này ngược hẳn, tiền ở vượt tiền ăn khá xa. Chắc hẳn bà Ôn-ga sẽ không bao giờ nhận tiền thuê buồng và các khoản sưởi ấm, điện, nước nóng và lạnh. Nếu bà chịu nhận thì Cam cũng không đủ sức trả. Từ chối sao cho khéo để khỏi mếch lòng... Thấy Cam trầm ngâm hơi lâu, bà On-ga nói thẳng: - Con nên nhớ, chỉ trừ thằng An-đrây, còn hai bác với hai em đây đã sống trong tình thương quý của người Việt suốt nhiều năm. Hồi ấy nước cháu đang còn đói khổ lắm, mà các bạn Việt Nam đã... nói thế nào nhỉ... ờ, nhịn miệng thết khách. Có lần con bé này kêu thèm ăn táo và lê như hồi ở Nga, cô giáo nghe được và nói lên cấp trên sao đó. Một tuần sau, tất cả trẻ trong lớp của bác được phát mỗi ngày một quả lê hay táo, có khi hai quả. Ở xứ nhiệt đới đào đâu ra những quả to và ngon như thế, bác chịu phép... Cam ạ, đừng đắn đo gì nữa, về sống với bác cho vui cửa vui nhà. Đừng để bác thất vọng nhé! Cam luống cuống đưa ra những lý cuối cùng: - Cháu ngại... một người nước ngoài bỗng dưng bước vào gia đình... An-đrây và các em không tự do nữa... - Chúng nó quá tự do rồi đấy. Cả nhà bàn rồi: bác với Tô-nhia chung một buồng, cháu với Ô-léc một buồng, phòng khách dùng công cộng, An-đrây lâu lâu tạt qua thì một tấm nệm trên đi-văng là đủ. - An-đrây không thể độc thân mãi... Chàng phi công cao lớn bật cười ồ: - Có tìm vợ đấy. Mình tán tỉnh một cô gấu trắng cực Bắc, xinh ơi là xinh, đứng hai chân chỉ cao hơn mình ba tấc thôi. Mình ném mời thịt hải cẩu hay cá tươi, cô hạ cố chén sạch. Nhưng khi mình đến gần, tán sát sàn sạt, cô ấy nổi cáu và tặng mình một cái tát có thể bay nửa mặt, may mình né kịp. Rồi cô ấy vừa chạy vừa gào như gái tơ bị thằng híp-py chọc nghẹo! Mọi người cười đến chảy nước mắt. An-đrây chờ yên tĩnh lại mới nói tưng tủng kiểu cù không cười: - Mình sắp bay tiếp lên vùng băng giá, tạm gọi là thiên đường của những người muốn quên. Vườn địa đàng xưa cần có một nàng E-va, một cây táo, một con rắn, mới tạo nên sự cám dỗ và tội đi đày. Cả ba thứ ấy trên cực Bắc đều không có, phúc đức cho mình lắm lắm... Thật tình đấy Phan Cam ạ, mình sẽ rất vui mừng nếu trong nhà có một người thay mình làm anh lớn để chỉ bảo các em và... và giúp mẹ mình khuây khỏa đôi chút. Cậu gạt bỏ là phụ bấy nhiêu tấm lòng thành. Người Việt giàu tình nghĩa lắm kia mà, Cam! Cam ngồi lặng cá dăm phút nữa, rồi đến nhấc tay bà Ôn-ga lên, hôn nhẹ. Bà kéo tấm tạp-dề lên lau mắt, đi vội vào bếp. Sáu ngày sau, Ô-léc đến giúp Cam dọn nhà. Áo quần ấm mặc hết trên người, chỉ còn sách và sổ ghi chép là nặng, gần hệt như khi An-đrây chia tay vợ. Lủng củng đầu tiên xảy ra khi Cam nhờ Ô-léc đưa tiền trọ cho bà Ôn-ga. Chỉ sau mươi phút, bà đã xô cửa vào phòng Cam mà không gõ trước. Mặt đỏ bừng, bà đập xấp giấy bạc xuống bàn và sừng sộ. Cũng kiểu xưng hô thân mật bằng tư hằng ngày, nhưng chỉ có thể hiểu là mày tao: - Mày coi tao thế nào hả Cam? Chúng tao nghèo, mà chưa tới mức nằn nì mời khách ở trọ. Học bổng của mày bao nhiêu tao biết, mày đưa thế này rồi nhịn đói à? Ô-léc phải can mẹ nhiều, Cam xin lỗi khá lâu bà mới chịu bỏ qua, nhưng đặt điều kiện là Cam sẽ ăn sáng và tối ở nhà, riêng bữa trưa không về được mới ăn ở căng-tin nhà trường. Lắm khi bà Ôn-ga làm được thứ gì ngon, bà để dành một phần trong tủ lạnh và buộc Cam phải mang theo ăn trưa. Mày cũng hệt ông chồng tao hồi trước, Chúa độ linh hồn ông! Hễ bận thì ăn chỗ làm việc, nhai một khúc bánh mì kẹp thứ gì đấy chả biết, mắt dán vào sách hay bản vẽ, uống vội cốc nước chè nguội, lại hối hả ra đi. Đa-vai, đa-vai, ông giục mãi thế đến nỗi kỹ sư Việt Nam chế ông là “đồng chí Đa-vai”, hình như tiếng Việt có nghĩa là “ôông Lam đi”, chắc bác nói sai giọng. Một tối hai anh em Ô-léc và Tô-nhia ham trượt băng về muộn, Cam ăn trước để đi nghe báo cáo tình hình Nam Việt Nam ở cơ sở chính trường Lô-mô-nô-xốp. Bà Ôn-ga dọn cho Cam ăn trước, ngồi chống hai tay trước cằm theo kiểu quen thuộc, bỗng nói như buột miệng: - Này Phan Cam, con không thích gọi mẹ bằng mẹ ư? Sao cứ phải là chio-chia chứ không là ma-ma? Cái đĩa đang xóc miếng thăn gà rán suýt rơi khỏi tay Cam. Anh kêu như thổn thức: - Ma-mốt-ska mai-a 1, con muốn lắm chứ mẹ! - Xư-nốk-moi.Ăn đi con, cho kịp đi họp, mẹ chờ lũ trẻ. ----------------------------------------------------------- 1. Đa-vai: làm đi. Chiô-chia: bác gái, cô, dì. Ma-ma: mẹ. Ma-mốt-ska mai-a: mẹ yêu của con. Xư-nôk moi: con trai bé bỏng của mẹ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 09:56:21 am * Chuyến xe trô-lây về nhà, không có Ô-léc đang bận “chuên ngiam chinh”, vẫn đầy chật khách giờ tan tầm, Cam phải đứng níu tay vào thanh dọc trên đầu. Không đọc báo được. Cam xuống truớc một dặm đỗ, đi bộ cho dãn chân và đỡ chen chúc. Lớp tuyết vừa rơi đã phủ một tấm trải giường trắng trên lớp cũ đã bị đất bên dưới và chân người xéo trộn thành xám bẩn, nhưng đám đông giờ này đã để lại một vệt sẫm trên vỉa hè. Cam thong thả đi theo vệt ấy vì không mang ủng dạ mùa đông. Lá thư của Hoàng Lan gần đây nhất đang ám ảnh Cam. ... Tàu bay Mỹ đánh ra miền Bắc đang tới gần Hà Nội anh ạ. Các cơ quan đang sắp xếp để sơ tán, nay chưa đi. Em có hai đứa còn đỡ, mấy chị đông con lo cuống quýt. Một nhà chia hai bếp đã khó, con lớn theo trường hai ba nơi nữa thì ăn ở sao cho đủ. Em được nhiều tin dữ từ miền Nam gửi ra. Không thể giấu anh hoài. Em đạp xe đi hỏi lung tung, ra vầy nè: anh Năm Chò bị thương nặng mê man, địch bắt chẳng biết, đang bị nhốt ở trại Phú Quốc. Em nhờ một anh quen dẫn tới hỏi Ban thống nhất, các bác ở đó chưa có giấy báo chính thức của quân đội thì đừng tin ngay. Em thấy có lý lắm. Hồi đánh Pháp cũng như bây giờ, người có chồng con ra trận xa, vắng thơ từ vài năm, cứ phải nghe rỉ tai tối mật là chết rồi, hay cụt chân, mù mắt. Như chị Sáu Thể ở bệnh viện em, chồng đi B năm 60, tới 63 có tin ảnh bị bom B.52 tan xác. Em hỏi anh Lê Tùng, ảnh kêu là “nói dối không sách” năm 63 Mỹ chưa dùng B.52 ở miền Nam. Thiệt đúng đó anh, cách đây hai tháng ảnh trở ra họp chiến sĩ thi đua, chẳng sứt mẻ gì hết. Té ra ảnh đánh giặc trong biệt động Sài Gòn, thơ từ gởi ra Bắc rất khó mà dễ lộ. Còn may là chị Thể chưa đi lấy chồng khác! Tin nữa là làng Linh Lâm quê anh bị bom lửa hủy diệt nhiều lần sau khi ta tràn xuống làm chủ phần lớn huyện Tây Quảng. Tin này chắc chắn đúng, em hỏi mấy anh ở Quảng Nam với Tây Quảng ra chữa bệnh đều nói giống nhau, tụi nó nhắm không lấn lại được thì phá cho nát phía sau lưng mình. Nhà ba má anh không hư hại gì mấy. Ba anh làm như hồi chống Pháp là tự giỡ nhà đưa vô chỗ rậm khuất, lò rèn vẫn rèn, máy may có chị Năm Bưởi với Út Hiền làm. Em chưa được về Linh Lâm bao giờ, chưa gặp ai trong nhà chồng, nhưng cũng đoán được cảnh sống trong ta dưới bom đạn tăng gấp mười lần hồi Pháp. ... Đôi lúc em phải nghe những lời không vui. Lắm người đánh giá thiên hạ bằng cái thước đo trong mắt họ, như trong ống dòm quân sự. Có kẻ là công chức lưu dụng, không hề dính tới cách mạng và không bao giờ muốn bắt chước “bọn khờ dại” như anh Thống và chúng ta, nay xếp lương lại ngang mọi người thì khóc than liên miên. Lại có những người chỉ nghĩ đi nước ngoài là buôn bán làm giàu, trong đó có cả cái tay cán bộ tổ chức luôn luôn tỏ vẻ “lập trường vững” cũng đến nhờ em viết cho anh mua giùm cả ra-đi-ô, mô-tô, tủ lạnh. Em chỉ cho lão ta thấy căn buồng em trần trụi ra sao, lão chuyển sang giọng “ân cần thăm hỏi” như báo hay đăng, chỉ năm phút sau đã hí hoáy ghi các thứ lão cần và dặn mua cho đúng mác. Em suýt nữa nổi máu lính nhưng cố nhịn, chờ họp Đảng sẽ vạch mặt lão sâu mọt. Bao giờ bọn giun sán ấy mói bị tống vào hố xí? ... T.B. Tin mới nhất: có thể anh Cả Chanh sẽ ra họp một hội nghị mở rộng của Trung ương. Thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam cũng buộc ảnh mang vợ con ra Bắc luôn, chẳng biết ảnh chịu nghe hay cứ giữ kẽ, sợ kém gương mẫu? Hoàng Lan lâu nay vẫn thế, chỉ dành vài câu ngắn gọn về mình và hai con, thằng Nhứt và bé Bạch Lan, lấy tên theo cô bé Bạch Lan chết cùng một lần với mẹ trong trận bom ở Sông Vệ. Cam chưa quên được đêm ấy, khi Hoàng Lan một mình vượt cạn, Cam đi quanh buồng để và hút thuốc lá đến bỏng cả mồm. Cô hộ sinh quen chỉ hé cửa và gọi vội: “Gái, ba cân hai, khỏe lắm”. Bà y sĩ trực xồ đến đóng sập cửa ngay trước mũi ngườỉ chồng và bố đang đứng đi trên lửa. Hẳn bà đã có kinh nghiệm về những lang quân phát khùng vì vợ đẻ hàng chuỗi con gái, chửi xơi xơi khi vợ chưa tỉnh cơn đau đẻ khủng khiếp. Trai hay gái đều là con mình. Cam nói thế và làm hệt như thế. Hoàng Lan chỉ biết ôm hôn chồng rõ nhiều, cũng hệt khi rõ chồng thật tình quý anh Thống và yêu thằng Nhứt như con đẻ. Khác hẳn những chị em có chồng đi nước ngoài, những lá thư của Lan không “kê đơn thuốc bắc” với một lô một lốc những thứ nhà đang cần, mà chỉ dồn vào sức khỏe và học tập của Cam. “Anh vô vàn thân yêu, anh cứ theo đuổi chí hướng của anh tới cùng, đừng vướng bận vì vợ con. Anh đi Liên Xô hay vô miền Nam, em vấn đủ sức chăm lo cho các con ngoan và khỏe. Anh làm việc ra sao em biết rõ, hễ sa đà mải mê thì quên ăn quên ngủ, nếu chắt chiu gởi hàng về cho vợ con nữa thì luận án biến thành bệnh án mất!” Lan gửi kèm thư một tấm ảnh 6x9 chụp ba mẹ con, mặt sau đề tặng “mẹ Ôn-ga và các em, cùng một ngàn cái hôn”, chữ Nga viết như trẻ em lớp một bên này và đổi sai cách hai chỗ. Dù sao cái gia đình nho nhỏ của mình cũng yên ấm hơn bao nhiêu nhà khác trong cả nước, Cam nghĩ. Trông lên chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình, so đo ganh ghét như lão gì cán bộ tổ chức mà Lan xếp loại giun sán, sâu mọt ấy sẽ la ó nhức tai khi bị vất bỏ, còn bị vợ con khinh ghét nữa. Bước ra khỏi chiếc thang máy kiểu cũ chạy trong lồng sắt, Cam tự mở cửa căn hộ bằng chìa khóa riêng, cọ giày vào tấm nệm rơm, còn cẩn thận tháo giày và xỏ chân vào đôi dép nhung để sẵn dưới các móc treo mũ và áo khoác. Vài ngày bà Ôn-ga lau nhà một lần đến sáng bóng, bà than phiền nhiều vì ba người con đều mang nguyên giày đẫm bùn và tuyết chạy xổ vào nhà, in vô số vết chân to nhỏ trước khi chộp lấy những lát bánh mì kẹp dồi hay đùi lợn sấy, vội xuống với các bạn đang chờ dưới sân với những thanh trượt tuyết hay giày đế thép trượt băng. Cả An-đrây to đùng cũng làm hệt các em. - Chúng mày không thấy Cam à? Anh ấy biết thương tao thu dọn đến đau cụp xương sống... Cam nói với vào bếp “chào mẹ”. Làn này bà Ôn-ga không đáp gọn “Ờ, Cam đấy à” như mọi hôm. Bà bước ra phòng khách, hai tay lau vội vào tạp-dề: - Con cho mẹ hỏi tí. Ngồi xuống nào... Gần đây mẹ thấy con buồn hẳn đi, không cười đùa nhiều như trước. Mẹ với các em có gì khiến con trái ý không? Hay là lủng củng ở nhà trường? Vợ con vẫn như thường chứ? Cam như người từ nơi băng giá bước vào buồng sưởi ấm. Anh bồi hồi cầm tay bà mẹ Nga, nhìn khuôn mặt tròn rất phúc hậu, ấp úng một câu lạc đề: - Mẹ tốt với con quá, con yêu quý mẹ vô cùng... - Ừ, mẹ biết, mẹ biết. Thế tại sao con không vui? - Mẹ xem truyền hình, thấy cả rồi đấy. Bà Ôn-ga ngẩn người, ngồi lặng. Đối với bà, chiến tranh chỉ là ba năm tản cư về vùng Trung Á-bà cùng An-đrây ở Bu-kha-ra, sau chuyển về Ta-sken, đều thuộc cộng hòa Uz-bê-kix-tan-với hai nỗi khổ vừa sức chịu: nỗi lo cho chồng đi sửa máy bay lưu động gần tuyến lửa, và những thiếu thốn ở hậu phương thời chiến. Ông chồng trở về yên lành, trong năm cuối chiến tranh ông góp sức cải tiến những chiếc Yak và sống với vợ con. Họ hồi cư về thủ đô khi chiến sự đã chuyển sang Đông Âu, căn hộ cũ không hư hại gì, và bà sinh Ô-léc chừng nửa năm sau ngày đại thắng. Dù hay đọc báo và xem truyền hình, bà vẫn khó tưởng tượng được một xứ thuộc địa xác xơ có thể-trong cùng một năm 1945-vừa chết đói hai triệu người, vừa nổi dậy làm cách mạng lập chế độ mới, vừa đánh trả Anh Pháp Nhật, vừa nuôi báo cô hai chục vạn quân Tưởng Giỏi Thạch, vừa đối phó với bọn nội phản. Và cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ hai mươi này, đã diễn ra suốt hai chục năm qua, đến bao giờ mới dứt? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 09:59:19 am Đài truyền hình, phát thanh, các báo chí Liên Xô dồn dập đưa tin về Việt Nam, thuê không ít phim của phóng viên phương Tây ở miền Nam: quân Mỹ và chư hầu đổ bộ, B.52 ném bom rải thảm, 0.47 tuôn chất độc hóa học, cả những cảnh giết dân đốt nhà hay khiêng từng người ném lên M.113 cho đi “tị nạn cộng sản”.
Bà Ôn-ga không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ vào bếp, nơi những miếng thịt bò rán trong sanh bắt đầu bốc mùi khét. Hai con bà cũng sắp về, đói ngấu sau chầu trượt băng, sẽ ăn như sói và nói với Cam bằng tiếng Việt hay tiếng Pháp-con bé Tô-nhia chọn ngoại ngữ tiếng Pháp. Cam phải nói ba thứ tiếng để luyện cho các em và chuyện trò với bà Ôn-ga. Sau bữa tối, Cam đưa cho bà một mảnh báo cắt rời. Bà lấy kính lão trên mặt lò sưởi xuống-lò để trang trí thôi, vì nhà được sưởi bằng nước nóng-đọc chăm chú trong khi Cam mở đài truyền hình xem thời sự quốc tế, sốt ruột đợi những đoạn ngắn quay ở Việt Nam, tại trận. Mảnh báo Iz-ve-xchia là một bản tóm tắt những sự kiện chính xảy ra nơi lò lửa nóng nhất thế giới từ đầu năm 1965 đến cuối tháng Ba: - 27-1: Lại đảo chính quân sự ở Sài Gòn, cuộc đảo chính thứ bảy từ ngày lật đổ và giết Diệm -Nhu. - 7-2: Máy bay Mỹ ồ ạt đánh vào miền Bắc trong khi chủ tịch HĐBT Kô-xư-ghin đang hội đàm với các nhà lãnh đạo VNDCCH tại Hà Nội, trong một cuộc viếng thăm đã được công bố trước nhiều ngày. Dư luận thế giới coi đó là một sự thách thức láo xược. Cùng ngày, Mỹ đưa vào Đà Nẵng 24 bệ phóng tên lửa đất đối không loại Hoóc (Diều Hâu). - 11-2: Đợt mới đánh phá miền Bắc. Thêm 30 bệ phóng tên lửa Hoóc vào Đà Nẵng. Các tàu chiến cũng chĩa sẵn những giàn tên lửa biển đối không. - 20-2: Các tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu lật Khánh, nắm quyền. Là cuộc đảo chính thứ tám sau Diệm-Nhu. - 24-2: Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn thừa nhận muộn màng rằng các phi công Mỹ lái máy bay cường kích và tiêm kích có trực tiếp chiến đấu ở hai miền Việt Nam. - 7-3: Bốn nghìn lính thủy đánh bộ Mỹ thuộc sư đoàn 1 đổ bộ vào Đà Nẵng. Sau những đợt đánh thử sức vào miền Bắc, ngày 2 và 7-3, các quan sát viên đều thấy Mỹ sắp đánh mạnh và liên tục hơn vào tất cả hệ thống giao thông của miền Bắc và các vùng do Pa-thét Lào kiểm soát. - 15-3: bắt đầu những trận mưa bom hằng ngày ác liệt xuống miền Bắc, vùng giải phóng miền Nam, vùng căn cứ Pa-thét Lào. - 22-3: Bộ ngoại giao Mỹ thừa nhận Mỹ đã cung cấp vũ khí hóa học cho quân đội Sài Gòn. Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn tiết lộ: các sư đoàn và lữ đoàn Mỹ, các đơn vị máy bay chiến đấu, các loại pháo từ 105 đến 203 mm đang trên đường tới Việt Nam. Họ than phiền rằng ngành hậu cần không theo kịp cơn lũ đổ bộ. Dự kiến của các quan sát viên: - Đến cuối năm nay, số quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam sẽ lên tới xấp xỉ hai chục vạn, năm sau còn tăng tiếp. - Tất cả các loại vũ khí sẽ được đem dùng, chỉ trừ bom hạt nhân. Đặc biệt máy bay, tàu chiến, pháo binh sẽ là con bài chủ lực, không kể chất độc hóa học rải khắp rừng núi. - Quân Úc, Tân-tây-lan, Phi-líp-pin sắp tới. Quân Nam Triều Tiên, quân Thái-Lan đang sửa soạn, sẽ tới sau nhưng đông đảo hơn, có thể nhiều sư đoàn. Bà Ôn-ga lau mắt, ngửng lên, giữa lúc đài truyền hình đã chuyển sang một trận hốc-cây trên băng. Cam không ngồi đấy nữa, chắc đã về buồng để đọc, ghi, viết. Ô-léc và Tô-nhia xuýt xoa, reo khẽ, thỉnh thoảng ồ lên thất vọng. Không trách lũ trẻ được, chúng nó sống xa chiến tranh, sau chiến tranh. Hình ảnh Việt Nam có thể làm chúng xúc động năm mười phút, rồi Ô-léc lại băn khoăn vì cô bạn quên giờ hẹn, Tô-nhia rớm nước mắt khi mẹ không cho tiền mua chiếc áo khoác mới rất tốt. Bà đi nhẹ chân vào buồng Ô-léc và Cam. Hai giường song song, một bàn và bốn ghế kê giữa, mỗi người một tủ nhỏ, một giá để sách. Cam thay chỗ An-đrây thật gọn. Hai đứa em cũng quý ông anh hiền lành ít nói. Chúng nó học khá hẳn lên nhờ Cam luyện giọng, luyện cả thói quen suy nghĩ thẳng bằng ngoại ngữ chứ không qua một lần dịch nhẩm trong đầu. Thằng Ô-léc thế mà vô tâm vô tính. Nó quên không cho bà biết cánh tay trái của Cam bị thương tật, nên đôi lúc bà nhờ Cam khiêng hộ cái tủ, nhấc hộ cái bàn nặng... Tình cờ một hôm nó nói ráo hoảnh: - Anh Cam nhiều sẹo lắm, mà cánh tay bị liệt một nửa... - Sao mày biết? - Hôm ấy con rủ anh đi tắm ở bể bơi nước ấm. Anh ấy đùa, bảo số mảnh gắp trong thân ra đủ đúc một cây súng ngắn. Lúc này Cam đang soạn lại các sổ tay từ bên nước đem sang, dịch tiếp các ca dao tục ngữ miền Nam đã thu nhặt được. Ông giáo sư hướng dẫn tóc bạc trắng đã tỏ ra dè dặt sau khi đọc bản phác thảo luận án của Cam: - Em là việc sưu tầm khá. Nhưng phó tiến sĩ là người nghiên cứu. Hãy đi sâu vào nghiên cứu, nhớ nhé! - Thưa thầy, đây mới là phác thảo… - Ừ, em đánh giá thế là đúng. Nếu coi nó gần như luận án thì hỏng việc đấy. Trong hàng các giáo sư và phó giáo sư, có thầy khó tính và dễ tính, cho điểm hẹp và rộng. Thầy hướng dẫn của Cam được xếp loại nghiêm khắc và rất giỏi, đã có nhiều công trình gây được tiếng vang về văn học Trung Quốc và Ấn Độ, đang khuyến khích các cán bộ trong khoa mình đi sâu vào văn hóa Đông Nam Á. Cam nuốt gọn viên thuốc mà ông thầy đã bao đường nhưng còn đắng, lại đánh vật với những chồng sách, sổ tay, bản thảo. Sa vào đấy để quên nỗi day rứt cứ nhoi nhói, và Cam dần dà làm chủ được mình. Anh em tập kết sống “ngày Bắc đêm Nam” đã khổ, đây Cam phải ở xa vạn dặm, “ngày Xô đêm Việt”. Bà Ôn-ga đứng ngoài cửa nhìn vào có dễ đến năm phút trước khi gọi khẽ: - Này Cam... - Dạ, gì hở mẹ? - Quãng ba giờ chiều, anh nào đó gọi điện cho con. Nói tiếng Nga ấp úng, dặn con khi về gọi đến cho Son Than nào đấy ở sứ quán... à, sứ quán Việt Nam. Cam biết anh cán bộ văn hóa này. Chẳng phải ai xa lạ, ấy là con đầu lòng của ông Trà Đình Mậu, người đồng hương ở huyện Tây Quảng, nhà trí thức có bằng tú tài kiêm đảng viên kỳ cựu, trơn tuột như con lươn luôn tìm kẽ hở để ngoi cao. Sơn Thanh làm văn hóa mà thi trượt hai keo vào đại học, làm nghề ngoại giao mà ở Liên Xô ba năm chỉ biết vài mươi câu đủ mua hàng mậu dịch và đi đường, ăn ở, được anh chị em gọi là “cán bộ hàng hóa” cho đúng nết con buôn. Ông Ba Mậu, từ phó Ty giáo dục thuộc một tỉnh khu Tư, sa vào một vụ bê bối nào đó, đã được “đá lên” nhận việc tuyển sinh vào đại học, xoay ngay được căn hộ khá sang ở Hà Nội. Trong chiến tranh ác liệt, chỉ có ngành ngoại giao mới yên thân và bở béo nhất, chắc ông nghĩ thế khi kiếm chỗ cho con. Đúng như Cam đoán, cậu Thanh nhờ Cam gánh cho một đoàn tham quan, sẽ ở Mát bốn ngày, đi Len và vùng Ban-tích một tuần. Cậu ta thường chỉ xuất hiện qua loa trong buổi gặp đầu, bám riết các đoàn sắp về nước để gửi hàng, tất nhiên là không nhắc tới cước phí. - Mình làm luận án căng lắm Thanh ạ. Cậu gọi xem có ai rảnh... Đầu dây bên kia, máy đã dập xuống rất vô lễ. “Còn may là thằng đầu cơ ấy không quản lý lưu học sinh”, Cam nghĩ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 10:02:26 am Chương 16 Trận lũ lụt chưa từng nghe truyền miệng hay ghi trong sử sách vào mùa đông năm 1964, ghép thêm cơn bão số 15, đã phá tan hoang các thung lũng có sông suối chảy trong lòng suốt các tỉnh quãng giữa Trung Bộ. Quảng Nam bị nặng nhất, và gây tội nặng nhất là sông Thu Bồn cùng các dòng lớn nhỏ rót nước vào nó. Con sông Linh đón lũ từ vùng núi Ngọc Linh cao ngất, trở nên hung ác như trâu điên. Trong buổi đầu, nó thông thốc xói đổ từng mảng to đất bờ dựng đứng mé Đông, tức bờ bên phải theo dòng từ Nam lên Bắc của nó. Dân làng Linh Lâm bị một chầu kinh hồn. Nửa đêm, ấp tân sanh xóm Chợ cùng các xóm lẻ, các bót nghĩa quân (tên mới của dân vệ), cả cái đồn bảo an một trung đội đều gánh của đánh trâu chạy ráo, lính lẫn với dân, tới chỗ đất cao bên truông Dơi. Sau khi căng chiếu dựng nong tạm đỡ ướt, số người khỏe mới chạy về làng, cố vớt những ghe to xuồng nhỏ chưa bị đứt dây trôi biến, buộc mây song lôi ngược các khe, tìm vũng lặng mà neo. Trong đêm đen đầy mưa xối xả, cành gẫy bay trên đầu và nước dâng đến bụng, đến cổ, đại diện xã Ba Mít tức Hùng Minh vẫn đứng trên mi-ra-đo của đồn bảo an, cầm cái loa tôn ra lệnh khóa cồng ấp tân sanh, chặn dòng người chạy thục mạng. Hắn bấm cái đèn pin lắp sáu viên, sáng như đèn pha, nạt từng người hắn biết mặt: “Chạy theo cộng hả? Thấy mặt rồi đó, hừ, mai rồi tính...”. Hắn chỉ hò hét được mươi phút, dọa được năm bảy gia đình sợ hắn nhất, buộc trở vào ấp liều thân với lụt. Chợt từ dưới phụt lên một tràng đạn dài, đạn xuyên chen đạn lửa, xổ vào hắn trước khi hắn kịp nhào sấp dưới những tấm ri thép chống bắn tỉa lắp quanh chỗ gác trên chóp mi-ra-đo. Đèn pin tắt lịm. Dân lại phá cổng ấp chạy tránh lụt. Tên trở cờ tệ hại nhất, bị khinh và thù nhất ở Linh Lâm đã chết vì ra oai không đúng lúc, bởi loạt đạn Mỹ không rõ ai bắn. Chắc không phải Việt Cộng, họ đang lo cứu lụt, luôn gọi loa đề nghị ngừng bắn để cứu dân. Xác hắn nằm vắt ngang tấm ri trên cao, vợ con hắn bận chạy lụt không nhận xác, khi đến được cũng chỉ hờ hờ đôi tiếng gọi là, dành phần các ả gái nhện dăng khóc bù. Chẳng ai đến cả. Rồi chuyện lạ mới lại diễn ra. Sông Linh tựa hồ đã chọc võ một mảng núi dựng như đê đập nào đó tít trên thượng nguồn, chợt rẽ ngoặt sang bên trái, bờ Tây. Dòng, lũ quật dữ dội vào các thôn Linh Thượng, Linh Sơn, dãy đồn bót chỗ ngã tư sông Linh gặp đường ôtô 56, các dãy nhà dựng gần mé nước của đồn điền La-phạt. Làng mới Linh Thượng hầu hết là đồng bào di cư, không quen thung thổ nắng mưa vùng này và thích ở gần nước, gần các nhà nguyện, bị cuốn trôi sạch hơn trăm nóc nhà, chết 214 người mà chỉ tìm lại được 53 cái xác. Một nhánh sông mới, hẹp nhưng xối mạnh như thác, bọc vòng sau làng đã chặn đường chạy lên núi. Đồn bảo an hai trung đội cũng bị nước vây y hệt, gò đất đóng đồn sụt lở, trút cả đồn linh lẫn khu gia binh xuống dòng lũ. Ít chết người mất của nhất là khu định cư Linh Sơn của các làng Thượng Blam, Blin, sau thêm Bhtô. Họ quá quen với các sông suối trái chứng trái nết của Trường Sơn, nuôi người quanh năm nhưng hại người trong khoảnh khắc. Họ dựng nhà sàn chỗ cao, làm kho thóc bằng trụ chắc ở nơi đất trống không cây nhằm chống chuột và khỉ leo lên, gà rừng sóc bay đáp xuống. Gai nhọn bóc kín cả mái, sàn, bốn vách. Trong khi sông Linh tràn bờ đang thúc vào mé Đông, họ đã lùa hết trâu bò heo gà và cõng tất cả những gì đáng giá lên tít sườn núi, chỉ còn những xác nhà sàn dựng tạm bợ trong khi chờ phá khu dồn. Cả khu chỉ mất mớ nhà sàn ấy, bị sập trôi hai kho lúa đã ăn gần hết, không ai chết. Thế nhưng các già làng kéo xuống xã và quận đòi cứu tế đã khai số chết đuối đến mười lần mười ngón tay (người nói là một bác đã học hết tiểu học hồi chống Pháp, nay giả dại qua ải). Mất trụi hết lúa gạo trâu heo, con nít đói lạnh đổ bệnh lung tung, sắn non bằng ngón tay cũng phải nhổ nấu cháo với lá rừng. Cửu Áng ở với dân Thượng mấy chục năm, biết thóp cả. Nhưng chùm đạn găm đầy cái xác Ba Mít khiến lão đã khôn càng phải ranh lên gấp bội. Làm ông quyền đại diện, không đổ vạ cho ai được, lão nghe kể mà cứ chà chà, ối trời ơi. Rồi lão tự tay ghi xác nhận lời khai có ghi biên bản, khẩn thiết xin “ủy ban cứu trợ nạn nhơn bão lụt” cấp tốc giúp đỡ, chứ Hội đồng xã Tây Giang nay như rắn không đầu, một đồng chẳng có. Đoàn người Thượng đi hai ngày ròng rã, cõng về một mớ đồ cứu trợ đã bị ăn cắp trắng trợn khi chuyển từ đồng bào các thành phố, các tổ chức từ thiện của sinh viên và các tôn giáo, sang tay bọn nhân viên chính quyền nhiều cấp, nhiều ngành. Chăn len bị đổi thành chăn sợi thô, lại còn rọc đôi phát cho hai người. Xà-phòng tắm và giặt đều bị đổi và cắt đôi như thế. Tên nhân viên cấp phát nói xẵng: - Xã ấp nào chết sạch rồi, tui không phát. Xã ấp nào có Hội đồng làm việc, xác nhận đóng mộc, tui phát cho số còn sống hăm lăm phần trăm... nghĩa là bốn người một suất, về sau đồ cứu trợ tối thêm tui cho thêm. Chỗ nào Hội đồng không về làm việc được thì là vùng Việt Cộng, để tụi nó lo. Ủy ban cứu trợ của sinh viên học sinh Huế-Đà Nẵng công bố một bản điều tra: nạn nhân chỉ nhận được khoảng 5% số đồ cứu trợ từ Sài Gòn và các tỉnh không bị bão lụt gửi tới. Hoa-Kỳ hứa cho máy bay trực thăng chở hàng cứu trợ, trực thăng làm sụp hẳn những nhà lung lay nặng, bắn xối xả vào các nhóm cứu lụt của Việt Cộng đang phát gạo muối và chữa bệnh cho dân sống sót. Bản tin vừa ra buổi sáng, người đứng đầu bị bắt ngay trong đêm. Từ xã Tây Giang trở xuống, các dòng sông bị nắn sửa lại bằng bàn tay tàn bạo của Thần Nước. Dãy núi đá có Hòn Kẽm Đá Dừng đứng trụ vững, nước lũ bị bóp họng nghẹn ứ, dâng cao xoáy dữ, phá tan hoang các làng từ Kẽm trở lên. Nhiều làng biến hẳn trên bản đồ. Ước tính toàn tỉnh có 80 phần trăm số nhà ở bị trôi hay sập nát, số chết không thể dưới mười ngàn. Nhiều tờ báo đã đưa ra con số ba chục ngàn. Quân Sài Gòn lo cháy ruột cho người thân và bà con, bị hơn hai vạn cố vấn Mỹ thúc ép phải tiếp sức ngay cho các “sư đoàn nước”, vác súng đi càn mà đếm bước như ông từ vào đền. Chỉ có máy bay đại bác hung hãn nhất: các “vùng đỏ” bị phi pháo đánh nặng gấp đôi gấp ba so với trước lụt. Gia đình ông Tư Chua chạy vào truông Dơi, sau ba ngày lại gánh gồng bồng bế nhau trở về ấp tân sanh Linh Lâm. Nhà ở và lò rèn của ông vẫn nằm nguyên trong vườn dầu lai cổ thụ, chỉ bị vài cành cây gãy đánh xuống sạt một góc mái. Mất một ổ trứng, sáu con gà không kịp bắt, mấy thứ kìm búa. Bọn dân vệ cười cười, nhận là chúng nó lấy. Từ cửa nhà ông Tư đi ra bờ sông thường là bốn chục bước, nay chỉ còn hơn mười bước. Cửa khe Cốt bên phải nhà ông Tư mở rộng gấp đôi và xoáy khá sâu, ghe xuồng kéo vào đậu chi chít như bến sông để tránh cơn lũ mới. Dân ở vạn bàn góp công góp tiền sửa lại cây cầu gỗ làm từ “hồi chín năm Việt Minh”, rất chắc, không bị trôi nhưng trở nên quá ngắn. Đứng trên bờ dốc cao nhìn sang bên kia sông, ai cũng lạnh xương sống. Cả một chuỗi làng xóm, đồn bót, mà rẫy nối nhau dài gần hai cây số đã bị quét sạch, vùi sạch. Sông Linh nảy thêm nhánh phụ, tạo nên một dải cồn hẹp kéo thẳng từ Linh Thượng đến hết đồn điền La-phạt. Dấu chân và vết cuốc của những người sống sót đi tìm xác đã xới lên một lớp dày gồm toàn đá cuội, sỏi nhám nâu đỏ, pha thứ đất gì màu xám như gan gà. Dân sông Linh quen ngược sông rất xa, lên tận núi Ngọc Linh để cõng quế, săn thú, đánh cá, chưa hề gặp chỗ nào có sỏi và đất xám như thế, những bãi cuội to như thế. Chỉ có động đất lớn phá vỡ núi lớn mới đẩy những thứ ấy trồi lên mặt đất cho nước cuốn về xuôi. Ngớt lụt chỉ mấy ngày, lại có thêm bảy người chết và bị thương vì cuốc trúng các loại mìn to nhỏ của bảo an và dân vệ gài. Người gài chết, bản đồ trôi, đất đai chài lung tung, đợi lính về dò mìn chắc phải đến đời cháu. Một anh di cư đi làm “xâu cộng đồng kiến thiết” xây đồn quận, ở nhà chết sạch mẹ, vợ, năm đứa con. Anh vác cuốc đi đào như hóa rồ, sau một buổi bị tan xác vì một quả mìn cỡ to. Hai Thùy dạo ấy còn ở nhà, cùng Năm Bưởi và Út Thanh Yên ngày đêm đạp máy, may những áo quần cấp cứu đủ kiểu, đủ thứ vải. Nhiều nhất là thứ bao bột mì viện trợ Mỹ in hình “tay nắm tay”, kèm dòng chữ “Quà tặng của nhân dân Hoa Kỳ-không được bán hay đổi chác”. Nhưng giá bán cái bao tải thô đã vượt lên năm chục, cắt cổ cho dân đói. Ông Tư Chua nổi lò từ mờ sáng đến sát giờ giới nghiêm, chỉ đặt một điều kiện: khách phải tự mang sắt và than tới, vì ông bị cấm mua sắt và lên rừng đốt than. Lò rèn và máy may đều tính công bằng nửa ngày thường, khách kéo tới như lãnh chẩn, khi phải chờ thì sửa sang nhà cửa vườn tược cho mấy cha con. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 10:07:10 am Quyền đại diện Cửu Áng lo nhất cho cái số trai trẻ Kinh và Thượng được báo cáo là “chết hụt mất xác”. Lão đoán bọn này lựa dịp “nhảy núi” theo Việt Cộng, hay nhẹ nhất cũng là trốn quân dịch. Lệnh trên phải đưa gia đình đám tình nghi ấy xuống “quy khu” gần chợ Huề Bình. Như vậy sẽ phải lùa hàng trăm gia đình bảo an, dân vệ, thanh niên võ trang, vệ sĩ công giáo... chết trôi không thấy xác và không có biên bản từ trần, trận vong. Làm quá tay, lão sẽ nhận một chùm đạn vào thân và một bản cáo trạng gài trên ngực của VC, còn thứ lính quốc gia nổi khùng thì đùng nói đến chữ nghĩa.
Rốt cuộc, Cửu Áng mỗi ngày cộp dấu vài chục lần không lấy lễ tạ, đùn tất cả xuống cho níu áo đám ăn hại và ăn cắp ở quận, còn tí chút phải quấy của dân thì cứ kín đáo trao cho bà Cửu. Vừa được tiếng vừa được miếng, mấy chục năm qua nhiều chế độ, Cửu Áng vượt qua mọi thứ thác ghềnh mà chưa một lần chìm đò. Cuộc sống ở Linh Lâm rồi cũng chảy theo dòng mới của con sông đã làm lành với người. Doi đất pha trộn cuội sỏi đất-dân làng gọi là đất con trăn-được chọc lỗ, rắc bắp giống, năm tháng sau cho một mùa bắp tốt hiếm có. Ông Tư Chua dù rất bận cũng bẻ và lảy được tám chục ang bắp hột từ con trăn ấy. Lúa rẫy của ông lên tốt, thêm được trăm hai chục ang 1 nữa, coi như quanh năm đủ ăn, chưa kể tiền may, tiền rèn. Đến năm sau, 1965 máy bay Mỹ các cỡ bắt đầu ùa lên rải bom và chất độc hóa học trên núi, cách bờ Tây sông Linh mươi cây số. Gió Tây thổi hơi độc tạt về, nhiều nà bắp và rẫy sắn khoai bị tàn lụi, thối củ. Có điều lạ là mãi đến đầu năm 1967, quân Mỹ và Sài Gòn vẫn chưa kéo lên vùng ven núi và càn mạnh, thọc sâu. Quân số không thiếu: hơn bốn chục vạn quân Mỹ và đồng minh trên đất miền Nam, khoảng bốn vạn quân Mỹ ở Ô-ki-na-oa, đảo Guam, các căn cứ đóng tại Phi-líp-pin và Thái Lan ngày đêm phục vụ cho không quân, hải quân, hậu cần Mỹ. Quân Sài Gòn đã lên đến 35 vạn quân chính quy, 30 vạn quân hỗ trợ từ tỉnh đến xã. Với hơn một triệu lính trong tay, với lời cam đoan tại Hô-nô-lu-lu của tổng thống Giôn-xơn là cho quân Mỹ ra tuyến lửa chọi nhau với Việt Cộng, quân Sài Gòn lui về bình định các đô thị và nông thôn đồng bằng, tại sao chúng nó chưa kéo lên núi? Khu ủy Năm và tỉnh ủy Quảng Nam điện ra hỏi Trung ương. Thay vì trả lời bằng điện dễ lộ hoặc công văn “hỏa tốc thành hỏa tấp”, Bộ tổng tư lệnh phái vào một đại tá và hai trung tá đi bộ vượt trạm, đường hai tháng rút còn hai mươi ngày. Thì ra quân Mỹ bận mở liên tiếp các chiến dịch cỡ vừa để bẻ gãy hay nới lỏng vành đai thép đang thít quanh Sài Gòn và các thành phố lớn. Chúng bị thương vong nhiều vì mìn, chông, đạn bắn tỉa, rút cuộc chỉ như cầm dao chém nước. Đầu năm 1967, trong khi tung máy bay đánh ra sát nách Hà Nội, địch mở cuộc hành binh lớn Xi-đa Phonx, ném ba vạn quân vào vùng Tam giác sắt ở Tây-Bắc Sài Gòn. Thiệt hại nặng. Tháng 2 và 3-1967, suốt một tháng rưỡi, địch mở chiến dịch Giăng-sơn Xi-ti lớn nhất Đông Dương với bốn vạn quân Mỹ đánh vào vùng “Đầu não của VC miền Nam”. Thiệt hại rất nặng, bị coi như thất bại chiến lược, tuy vẫn được cơ quan thông tin USIS đưa tin đại thắng 2. Dự kiến của Bộ tổng tư lệnh: theo tin nội bộ của địch, Bắc Việt đã đưa ba sư đoàn đủ quân số vũ khí vào Cao Nguyên Trung phần, mỗi sư trên dưới một vạn, sẽ đánh thốc xuống đồng bằng và cắt lấy phần đất từ Quy Nhơn trở xuống ra đến Bến Hải. Ấy chỉ là đoán mò. Địch sẽ đối phó bằng cách xây cứ điểm lớn từ Ban-mê-thuột và Plei-ku xuống tới quốc lộ 1, và mở một trận càn lớn ở Tây Quảng. Vùng đồi núi trên bờ Tây sông Linh, nối vào bờ hủy diệt trăm phần trăm bằng chất độc hóa học và B.52 rải thảm, khi cần sẽ thêm pháo tầm xa và máy bay chiến thuật. Số dân sống sót sẽ được dồn về phía Đông nhưng không cho đi xa: vẫn cần có dân đi phu xây đồn, bán đồ ăn cho lính, đánh mõ la làng và làm bia thịt sống khi Việt Cộng mò tới chực đánh đồn. Ngày càn lớn chưa định trước, nhưng áng chừng vào tháng Tư hay tháng Năm, trước những đợt mưa đông vùng núi. Sau càn, Mỹ sẽ đóng lại hai đồn to của SF, tức lực lượng đặc biệt Mỹ, chặn đường tiến quân từ Kon Tum xuống đồng bằng. Nay mới biết đến đó. * Các đợt phát động chổng càn được mở gấp rút từ tỉnh xuống tận xóm, ấp. Tỉnh đội rút tất cả các bộ phận xé lẻ đi xây dựng du kích về, cũng vừa lúc bốn trăm quân từ miền Bắc vào được chia cho tỉnh, non một nửa là bộ đội tập kết gốc khu Năm. Súng đạn chưa nhiều nhưng đã khá hơn trước, vũ khí Mỹ vẫn là chính. Năm ngoái, có một dạo quân khu đã phải ra quy định “có lệnh của đại đội trưởng trở lên mới được phép bắn một quả B.40”. Mỹ-ngụy ít dùng các loại đạn lõm ở miền Nam nên ta rất khó kiếm súng chống tăng. Năm nay, ĐK.57 và B.40 vào được khá hơn, nhưng vẫn phải dè sẻn từng phát. Chông bẫy mọc lên tua tủa trên rừng núi. Dưới vùng sâu, đến tận chân sóng biển, các đội Võ trang công tác đào hầm lót ổ, móc nối thêm cơ sở trong dân và nhân mối trong các sắc lính ngụy, sẽ nổi dậy đồng loạt khi địch sa lầy trên xanh kia. Giữa những ngày sôi sục ấy, một tin dữ nổ như bom làm mọi người choáng váng: ta đánh đồn Phước Hòa bị thua rất nặng, một phần tư đại đội sống sót chỉ mang theo được một ít thương binh, bỏ lại xác đồng đội và vũ khí. Người chỉ huy trận ấy đã trốn biệt tăm! Tỉnh đội trưởng bị thương hàn nằm bệnh xá, sốt mê man. Tỉnh đội phó chạy con thoi giữa các tiểu đoàn và đại đội đóng rải xa nhau, chỉ đạo đợt học quân sự cho cán và binh. Bí thư Cả Chanh ăn như nhai trấu, thức gần trắng một đêm. Khu ủy điện về tỉnh giục cho cán bộ đi điều tra tại chỗ, nhưng buộc Chanh phải luôn có mặt tại cơ quan tỉnh. Anh được bầu bổ sung làm khu ủy viên chính thức, không phải như khi còn dự khuyết, “chưa khuyết thì dự làm gì!”. Nay đã bị xiềng chân. Anh cử đi một đoàn cán bộ do chính ủy tỉnh đội Tám Hiền dẫn đầu. Người chỉ huy, đại úy Quốc Trấn, nguyên là sĩ quan vận tải ô-tô ở quân khu Việt Bắc. Anh lên cấp chậm vì năng lực kém, cánh lái kháo nhau: “Đại úy ngồi sau tay lái thì phi trượt húc cũng va quệt”. Cuối năm 1964, anh được nhận đơn vào binh đoàn 559 Trường Sơn, nắm một đội Zin ba cầu, sáu chiếc, coi như thử sức buổi đầu. Lái xe Trường Sơn ngang tàng hơn hậu phương lớn nhiều, chỉ sau một tháng đã viết kiến nghị tập thể gửi lên binh trạm và binh đoàn xin đổi chỉ huy: “Đồng chí Phùng Quốc Trấn chỉ biết chạy lung tung và quát tháo nhức tai trong khi bom Mỹ giội xuống đầu chúng tôi, không hề biết chỉ huy, lãnh đạo, kỹ thuật”. ---------------------------------------------------------- 1. Ang: đơn vị đo lường, ở vùng này bằng 24 lon (ống sữa bò). Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 10:09:10 am Đấy cũng là lúc quân ta vây địch khắp nơi, quân ngụy rã từng mảng như lâu đài cát gặp triều cường, quân Mỹ chưa kịp đánh rộng ra cứu nguy, Quốc Trấn được chuyển về quê Quảng Nam trong không khí hồ hởi phấn chấn ấy. Bản khai lý lịch của anh kể rất dài về thành tích đánh du kích chống Pháp, khéo léo nhấn rằng những kinh nghiệm ấy bị coi thường trong các sư đoàn chính quy miền Bắc-máy bay đánh sâu hủy diệt, pháo binh phá công sự, xe tăng mở đột phá khẩu, bộ binh đi xe thiết giáp đánh tỏa vào tung thâm... Thật ra, những chuyện như thế anh chỉ nghe nói trong khi loay hoay với những chiếc Mô-lô-tô-va hay Giải phóng một cầu chạy đường nhựa vùng biên giới.
Tỉnh đội chưa có xe cho anh chỉ huy. Để tận dụng kinh nghiệm đánh du kích của anh, cũng vì nể cái quân hàm một vạch bốn sao đã cũ đến phai màu của anh, Quốc Trấn được cử nắm một đại đội mạnh: ba trung đội bộ binh đủ quân số, một trung trợ chiến có đủ cối 60, ĐK.57, đại liên 30, tất cả đều của Mỹ, có thể dùng đạn chiến lợi phẩm đánh tới mút mùa. Chỉ có tí chút sai lầm: đại úy Trấn chưa từng biết các loại súng mới của Mỹ và của ta, ngay AK.47 từ Bắc vào cũng chưa hề bắn. “Ăn thua nhau chỉ cái tinh thần”. Và anh quyết chơi trội lấy điểm, lên dây cót cho đại đội và riêng mình nữa. Cách chỗ đại đội đóng huấn luyện chừng mười cây số có một đồn lính bảo an đóng trên đồi cao, giữ cầu và đường đá từ Trà Mi chạy xuống Tam Kỳ. Chỉ có hai trung đội bộ binh và hai tiểu đội hỏa lực. Súng ống xoàng thôi: hai cối 81, hai trọng liên 50 (Quốc Trấn cứ tưởng là tiểu pháo 50 ly, sau mới biết là đui-xết 12 ly 7). Binh vận ta đã nắm được chuẩn úy đồn phó và ba hạ sĩ quan, trung lập hóa được đồn trưởng, đang cố tạo nên binh biến khi đánh lớn. Quốc Trấn không hề hỏi cấp trên khi đưa cán bộ các trung đến đồi gần đấy, chĩa ống dòm xem đồn, oai như tư lệnh sư đoàn. Chính trị viên lo sốt vó, gì thì gì cũng phải được cấp trên duyệt đã chứ. Ông không bằng lòng, tôi cũng phải về trung đoàn báo cáo. Trấn bấm cậu liên trinh thân tín nhất ra chỗ vắng: “Mày đưa ông lính cùi chỏ ấy đi lạc suốt ngày mai cho tao, tối mai tới, khuya mai ta nổ súng rồi. Trị đứa thua chứ ai bắt vạ đứa thắng!”. Tai họa bùng nổ. Đại đội bảo an đóng đồn này trước khi thay quân đã lập một mạng lưới dày đặc các loại mìn to nhỏ để giữ thân: định hướng, pháo sáng, vướng nổ, đạp nổ, nhảy nổ, bấm nổ. Sơ đồ các bãi mìn nằm trong tủ sắt khóa của đồn trưởng mới, chưa soạn ra lần nào. Ngay cậu chuẩn úy đồn phó cũng thấy chẳng cần để ý đến các lớp rào vòng ngoài trong khi móc nối chờ nổi dậy “hoa nở trong lòng”, đánh trong ruột đánh ra. Lính đồn chỉ chống cự vừa phải, đợi ta ngớt đánh là tìm đường chạy. Trợ chiến ta bắn như trút đạn, hầu hết bị trượt vì huấn luyện kém. Xung kích Một mới qua được hai lớp lưới kẽm gai đã chết và bị thương gần hết. Chỉ huy xung kích Hai cẩn thận hơn, đã đem theo ba bốn cái ruột tượng gạo nhồi thuốc bom có lắp kíp nổ, nụ xòe. Những bao ấy ném vắt ngang kẽm gai đã quét mìn và rào được mươi thước nữa, không giúp vượt hào chông sâu và rộng. Lại thêm một loạt bóng nữa ngã gục. Quốc Trấn hét: - Trung dự bị lên! Đê-ca bắn như cứt, điều lên sát địch bắn thẳng! Anh trung úy đại đội phó vừa chồm dậy, bị ngay một phát Ga-ran xuyên phổi. Ép tay trái vào ngực, anh cố gào: - Trung dự bị nằm yên đó. Rút hai trung xung kích, đem hết thương vong theo, tổ chức đánh đợt mới, kiếm đồ vượt hào chông! - Á, á... mày chống lệnh hả? Mày phản hả? Anh đại đội phó lả dần đi trong khi cán bộ còn sống sót từ các trung chạy tới sở chỉ huy, một con mương xói hẹp và sâu lút đầu người. Anh nói phều phào: - Anh em... trói cứng thằng Trấn lại... về Tòa án binh xử sau. Tôi chỉ định đồng chí... Dần... quyền chỉ huy đại đội, đồng chí... Tám Giao... quyền phó... Giở nguyên tắc lúc này... là giết hết anh em... Tôi cũng… sẽ ra toà chịu tội... Anh lịm hẳn đi. Máu đầy bọt phòi ra kín ngực áo. Nhóm cán bộ lui ra cách mấy bước để y tá băng bó cho trung úy. Dù là bí thư chi bộ đại đội, anh trung úy đòi bắt trói một cấp trên đeo bốn sao thì cũng quá quắt, phải tạm gác đấy. Họ biểu quyết gấp hai người trưởng và phó, bởi Quốc Trấn đã khản tiếng, mụ mị, ngồi rũ như gà dầm mưa, ai đến hỏi gì cũng chỉ hất một bàn tay như xua, phẩy. Chỉ trong một phứt, số cán bộ có mặt đã bầu đúng hai người do anh bí thư nêu tên. Họ hẹn nhau chớp nhoáng: giấu biệt chuyện bắt trói, phải tự bầu chỉ huy trong khi đại úy bị cối nổ gần, nửa mê nửa tỉnh, đại đội phó trúng đạn đã “gợi ý” hai đồng chí tạm thay. Dần và Giao bắt tay vào việc tức khắc, không hề nói một tiếng gọi là khiêm nhường, đãi bôi. Đã ba giờ sáng, gà rừng gáy lanh lảnh nơi xa rồi, máy bay chưa đến và pháo lớn chưa câu tới, phải đánh rốc ngay nếu không rút lui. Dưới chân đồi có một khu gia binh, vợ con lính đã chạy vào ấp tân sanh gần đấy. Tháo dỡ dãy nhà dài ấy có thể lấy rất nhiều cây tre buộc đòn tay, tôn lợp mái, dây thép chằng chống bão. Buộc tre thành bè, hai cây nữa dùng làm cần rổ để hạ khung bè qua hào chông, xung kích sẽ lao những tấm tôn lát mặt cầu cho mũi nhọn phóng qua. Tám Giao nắm hỏa lực, sẽ đưa lên chỗ rộng đã quét mìn hai trung liên, sáu tổ viên lựu đạn với mỗi người ít nhất mười lăm quả đủ loại. Không thể đưa ĐK.57 lên vì cồng kềnh và bắn quá tồi. Hẹn đúng bốn giờ kém mười lăm là công kích đợt hai. Và điều lạ mới lại xảy ra: trung đội dự bị đặt xong cầu mà không bị một phát đạn nào bắn cản. Trong đồn địch lập lòe nhiều đám cháy, điểm những tiếng nổ to nhỏ của các loại đạn vung vãi khắp nơi. Muốn cho chắc, hai chỉ huy cho bắn và ném lựu một loạt ngắn, mới phát lệnh xung phong. Đồn địch rỗng không. Địch đã rút khi ta ngớt đợt một, mang theo tất cả thương vong, hầu hết súng lớn nhỏ, chỉ bỏ lại những thứ quá nặng như bàn đế cối 81, chân trọng liên, vài thùng đạn cối và lựu đạn, mìn. Đoàn kiểm tra xác nhận cái tin “Việt cộng bỏ lại trên trận địa hàng trăm xác chết và thương binh của chúng” là do địch tung ra. Trung đội trợ chiến đặt súng khá xa nên chỉ bị thương hai. Xung kích Một chết tám, bị thương mười ba. Xung kích Hai chết năm, bị thương chín. Trung dự bị chưa lên, chỉ bị một quả phóng lựu M.79 rơi lọt vào hầm, chết một tiểu đội trưởng. Thương binh, tử sĩ được khiêng và dìu về gần hết, điểm danh lại chỉ thiếu hai đồng chí, có lẽ bị mìn to hất văng vào chỗ kẽm gai dày đặc, ban đêm khó tìm ra. Trung dự bị vắng năm người, chạy lạc đơn vị, hai ngày sau mới về chỗ tập kết, lầm lì không nói. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 10:11:04 am Trong khi chính ủy tỉnh đội lên kính lão, đọc chật vật và đọc sai nhiều con số, cán bộ chung quanh đều thấy Cả Chanh đang cố nén giận sấm sét. Anh vẫn hỏi bằng giọng gió bấc:
- Số xác đem về triển lãm ở Quảng Tín, địch kiếm đâu ra? - Báo cáo, trưa hôm sau quân viện lên, thắng L.19 bắn rốc-két khói chỉ điểm trúng vô nhà thờ công giáo. Dân nghe lời cha cố ùa vô nhà thờ lạy Đức Mẹ hằng cứu giúp, tới hơn hai trăm dân dồn cục, đang quỳ đọc kinh. Ba tốp AD.6, tiếp ba tốp trực thăng võ trang ào tới giội bom mảnh, bom bi, bom lửa, ai chạy ra ngoài bị súng máy quét trụi. Khi biệt động quân “đầu cọp” với mười hai chiếc M.113 lên đồn thì chẳng còn gì để thu dọn, trên đường về nó lọc lấy hơn trăm xác trai gái trẻ, đem về ném cho mỗi xác một thứ gì đó của Việt Cộng để xếp dãy bày hàng... - Còn Quốc Trấn giờ ở đâu? - Chắc ảnh thấy nhục nhã quá, mà cũng sợ bộ đội tức điên làm dữ, ảnh lánh mặt đâu đó năm bảy ngày... - Ý kiến của đoàn kiểm tra đối với Quốc Tuấn? - Dạ, tụi tôi thấy trong khi hoang mang bối rối, ta đừng làm căng thẳng quá, bức xúc quá. Để ảnh tỉnh hồn lại... - Cả năm đồng chí nhứt trí vậy hả? Một tiểu đoàn trưởng, tiếp một đại đội trưởng quân báo, lên tiếng đáp thay: “Tôi không đồng ý”. “Tôi không hề được hỏi ý kiến, giờ xin không nhứt trí”. Hai người nữa ngồi im, tránh luồng mắt Cả Chanh. Chanh trừng trừng nhìn anh chính ủy trong khi anh dài lời phân trần về sự thông cảm “đồng chí với nhau”, anh em trụ bám ít được học, anh em Bắc về thì lóng ngóng lạ lẫm. Như cái máy, chừng ba câu anh lại nhấp một hớp nước chè rừng, đưa tay áo quệt mồ hôi trán. Mặt anh vốn đã dài nay càng dài thêm, hai cái răng khuyết khiến giọng anh đệm hơi gió phì phì. Anh du kích Điện Bàn hồi “chín năm” vẫn trụ bám đến cùng trên quê hương, không một lần được học, được nghỉ, được chữa bệnh hay chữa vết thương. Anh chỉ gửi ra Bắc được một đứa con gái học trường miền Nam, nó càng học lên càng viết thu ít dần, thư gần nhất cách đây một năm rưỡi báo tin lấy chồng. Vợ và con thứ anh chết bom B.52 ở trại sản xuất của tỉnh tám tháng trước… Dù mới thoát mù chữ, không biết quân sự ở mức cao hơn cây mút-cơ-tông và quả lựu đạn đập, anh vẫn được lính mến. Mến mà không trọng. Nếu như ông anh nuôi già biết lo cho lính ăn ngon miệng, như chị y tá xấu người tốt nết đêm nào cũng thức khuya vá áo quần cho lính. Cách đối xử của anh có thể tóm gọn là “tình cảm, gương mẫu, sâu sát chiến sĩ”. Anh có thể dầm mưa leo núi hai ngày khứ hồi để xử một vụ nhỏ: trung đội đặc công trổ nghề riêng bò vào bắt trộm một heo của trạm giao liên “đường dây ngang”, thuộc khu ủy, tức là quân đội xúc phạm đến cơ quan Đảng! Anh đến nơi, gặp một chầu liên hoan giữa đặc công và giao liên với những tấm tăng trải rộng và mâm lá chuối đầy tú hụ thịt heo rừng, thịt nai, nộm chuối cây, kèm vài thùng rượu tà-vạc và rượu sắn men lá rừng. Họ túm anh vào cuộc, thi nhau nói lý do cuộc nhậu xiêu lán đổ cây này: - Dạ thưa anh Tám, em là trưởng trạm giao liên, viết đơn kiện mấy cha trời đánh trật búa này... Trên chưa xử, tụi nó đã nhập khẩu vô tang con heo ba chục ký. Mà cũng chẳng thèm chối nữa chớ, lính đặc công tái đăng nói ngang như cua. Tụi mình đi đường tháng rưỡi ròng, khô háo quá, mượn tạm của đồng hương đồng khói con heo, dừng chân ở đây còn lâu, hễ không đền trả thì giơ đầu cho mấy cậu chặt... Anh em trạm xúm bàn lại, mình ở một chỗ còn nuôi heo gà, đánh cá mú, anh em rày đây mai đó, cơm vắt nước muối, chẳng biết sống chết hồi nào, thôi ta cho qua trớt. Kiện một phát cho mấy cha bò thằn lằn đó nể mặt, đủ rồi... Ai dè tô đãi sao đó, đêm qua mấy chả bắn được một nai tạ rưỡi, mờ sáng thêm con heo rừng một tạ nữa, gánh tới đền trạm tới một tạ ba thịt ngon, làm tụi em muốn đeo mo vô mặt... Sau phải mở hòa đàm Giơ-neo: mấy chả nấu nướng, tụi em vô làng Thượng đổi nước cay, nhẹ có nặng có. Chính ủy lội mưa chi cho khổ thân vậy, cử đám phái viên trẻ về chứng kiến lễ ký kết hữu nghị... Xin mời dô đi, đo mạnh, mừng chính ủy đích thân về nhậu với anh em mình! Mời cả lũ bạn vàng nâng ca, nâng ống tre! Anh chính ủy bị ép phải “chan hòa” với lính. Sau một ngày leo dốc dưới mua, anh mệt nhoài, lại không quen uống rượu, chỉ sau mấy hớp rượu sắn đã choáng váng, xin kiếu. Trong khi đồng chí bảo vệ buộc võng, căng tăng nhựa cho đỡ dột, anh em còn năn nỉ anh cạn chén lần cuối: “Chúc sức khỏe chính ủy, người chị cả tuyệt vời của chúng ta!”. Anh cười xòa, làm thêm một hớp nữa, ngả lưng xuống võng với ý nghĩ vui vui: “Ờ, tỉnh đội trưởng làm anh cả, mình làm chị cả là bổ khuyết cho nhau…”. ... Những mẩu chuyện như thế chờn vờn trồi sụt trong đầu Cả Chanh trong khi nghe từng người trong đoàn kiểm tra báo cáo thêm. Lý và tình, tình và lý. Phần chủ quan, phần khách quan. Hiểu nỗi lòng Quốc Trấn như một con người, một cán bộ lâu năm, nhưng con người ấy, cán bộ ấy vừa phạm một vụ phá kỷ luật động trời, làm chết và bị thương hàng loạt những con người tốt đẹp hơn gấp bội. Vẫn lạnh ngắt, anh ngắt lời đồng chí thứ năm nói quá dài: - Trước khi các đồng chí về, thường vụ tỉnh ủy đã nắm được hầu hết các chi tiết. Chúng tôi đến thăm anh em bị thương nằm bệnh xá tỉnh đội, hỏi tỉ mỉ để đánh điện báo cáo lên trên, may còn gặp đồng chí Dần cõng đường sữa đến làm quà và xin y tá đem thuốc đến chữa tại đơn vị cho số bị nhẹ. Ai muốn nói điều gì mới? Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 17 Tháng Tám, 2017, 10:12:35 am Anh chính ủy hấp tấp:
- Tôi... có tôi... đề nghị thường vụ cân nhắc kỹ... hễ đánh thua là bị kỷ luật nặng, e ràng về sau anh em nhụt chí hết, không đánh địch mà lánh địch... - Hừ... đồng chí là tỉnh ủy viên, là chính ủy, hay là vú em? Tất cả mọi người cùng quay lại, sửng sốt. Chưa lần nào Chanh nặng lời với bất cứ ai tới mức sỉ nhục như thế, huống chi anh vẫn hằng ngày khen tác phong gần gũi sâu sát chiến sĩ của anh Tám hơn anh cần chục tuổi. - Ít nhứt, cũng phải tìm Quốc Trấn về để cho ảnh trình bày đã chớ! Đảng mình có xử lý kỷ luật vắng mặt đâu... Phiền là chẳng biết cậu ta ở đâu... - Bởi vậy, thường vụ chỉ quyết định trong một cuộc họp sau. Phải bảo đảm quyền tự bào chữa, quyền nhờ người khác bào chữa giùm. Để tránh mọi sự nể nang, sẽ bỏ phiếu kín, với hẹn trước là chỉ chấp nhận quyết định khi số phiếu đạt hai phần ba trở lên. Số ủy viên trực cùng với tôi sẽ đề nghị như vậy, để tôn trọng tập thể dân chủ... Tất nhiên, không phải dân chủ với đa số một phiếu. Cũng không phải tập thể theo kiểu một trăm sợi bún đánh lại làm dây kéo thuyền! Hôm nay chỉ giới thiệu một số nguyên tắc chung để các đồng chí góp ý thêm, làm vậy được hay chưa. Còn về đồng chí Quốc Trấn thân mến, chúng tôi đã biết địa chỉ từ tối hôm qua, được nghe cả lời nhắn nhủ đầy tình cảm nữa, nhưng phải nhường lời cho đoàn kiểm tra nói cho thoải mái. Bây giờ, xin mời các đồng chí nghe bản phản tỉnh kèm theo lời khuyên của Quốc Trấn. Sau đó, đoàn kiểm tra sẽ họp lần cuối để thông qua các kết luận chính, ghi rõ số phiếu thuận phiếu chống , các đề nghị cụ thể, gửi đến thường vụ. Không cần kể lể dông dài, các đồng chí cứ xoáy vào vấn đề gốc đã được giao: trong vụ bại trận rát nặng này, thương vong và xài phí đạn được đều ở mức kỷ lục, ai phải chịu trách nhiệm? Hay xếp nó vào loại thiên tai, chẳng ai có lỗi, cũng cứ nói. Anh đưa mắt cho đồng chí chánh văn phòng. Anh này rút trong xắc ra một máy ghi âm nhỏ, nối hai đầu dây lòng thòng vào một ống bìa chứa bốn viên pin to, vỗ đập một lát cho thông điện, vừa làm vừa nói: - Chiều qua, khi dò tìm sóng đài mình, tôi chợt nghe giọng ai quen quen, chỉnh lại, té ra Quốc Trấn đang nói trên đài Đà Nẵng. Cuối buổi, tôi nghe hẹn giờ hẹn sóng, mới chạy kiếm pin đèn, thử lại, máy còn xài được. Tới chín giờ thu ít nhiễu, chắc mỗi ngày tụi tâm lý chiến phát tới năm bảy lần... Được rồi đây. Ả xưởng ngôn viên nói ngắn về con đường tìm về với chánh nghĩa quốc gia của thiếu tá Phùng Quốc Trấn, cuộc đoàn tụ đầy mừng tủi với mẹ già cùng gia đình, để nhường lời cho kép chính: - Tôi là Phùng Quốc Trấn, thiếu tá trong quân đội chánh quy Bắc Việt xâm nhập vào miền Nam để cứu nguy cho phiến loạn Việt Cộng đang bị quân lực Việt Nam cộng hòa, quân lực hùng cường Hoa Kỳ cùng các nước đồng minh đánh cho tan tác. Tôi đã từng chỉ huy những đoàn xe poa-lua vận tải trên đường Hồ Chí Minh, và bó tay chịu bất lực khi các đoàn xe ấy bốc cháy sáng rực Trường Sơn trước khi đến nơi giao hàng . Tôi đã làm sĩ quan tham mưu ở Bộ chỉ huy tỉnh Quảng Nam, và đọc những báo cáo tuyệt vọng của các đơn vị rã rời, đánh nhỏ thua nhỏ, đánh lớn thua lớn. Tôi đã nghe vô vàn lời tâm sự sâu kín của anh em từ miền Bắc vào hay từ đồng bằng lên muốn quay súng trở về với chánh nghĩa quốc gia, với thế giới tự do. Hình như kiểm duyệt đài Đà Nẵng cắt một đoạn nên nghe rè rè tẹt tẹt, chắc đoạn băng chưa được dán lại đúng kỹ thuật. Anh tiểu đoàn trưởng gào nên như phát rồ: - Tắt máy đi, tôi chịu không nổi. Đồ quỷ sứ, đồ yêu tinh... Suốt mấy chục năm bỏ chửi tục, anh quên ráo các câu chửi. Máy tắt mười lăm phút, cũng để pin cũ hồi sức lại. Chỉ còn đoàn kiểm tra ngồi quanh máy, với vài đồng chí nữa chưa kịp nghe đến mé sau, còn phần lớn đã biến mất. Một cuộc tranh cãi to tiếng nổ ra ngay. - Nè anh Tám, thằng em cưng của anh nói hay là thằng khác giả giọng? - Sâu sát là rất tốt, nhưng sâu sát để mua lòng người cho cá nhơn mình hay để đánh Mỹ? - Hừ, è, kể về sâu sát thì bọn cầm quyền cầm súng trong các đô thị hay ấp chiến lược sâu sát gấp trăm lần anh em mình kia. Cả một đống tề ấp, liên gia, nghĩa quân, thanh niên diệt cộng, chỉ điểm, bám sát người dân gấp trăm lần chớ, mình bò vô thì thào năm bảy phút, sao dân lại theo mình? Chính ủy Tám ngồi rũ rượi, tai ù miệng đắng, mãi mới thì thào: - Cho nghe tiếp đi, có gì ta bàn sau. Máy ghi âm lại rè rè lên tiếng: - ... Tôi xin gởi tiếp mấy lời tâm huyết từ đáy lòng tối anh chị em cán binh còn mắc kẹt trong hàng ngũ cộng sản. Các bạn cố chịu đựng bom đạn, đói lạnh, với vô vàn bất công, rình mò, hãm hại, để cuối cùng nhận thấy mình đã hiến thân cho một ảo tưởng rực rỡ cầu vồng đi mãi không bao giờ tới. Mấy ngàn năm qua, bao nhiêu sử sách đã chế giễu những kẻ ngu trung, lẽ nào thế hệ chúng ta cứ nhắm mắt theo vết xe đã đổ? Lẽ nào chúng ta chịu làm trâu ngựa cho Phan Chanh, tức bí thư tỉnh ủy Thanh Trà, cùng một bầy một lũ những đứa tự phong làm tỉnh ủy, khu ủy, ủy viên trung ương cộng sản, bắt các bạn phải “trung với Đảng, hiếu với dân”. Trung với bọn quỷ dữ ấy ư? Không đời nào! Hiếu với dân, được, nhưng khi lòng dân đã căm ghét cộng sản đến xương tủy, thì tại sao chúng ta không quay súng vào bọn đỏ khát máu để thuận theo ý dân? Một quả đám nện xuống mặt bàn tre chông chênh khiến cái máy ghi âm đổ nghiêng, chỗ nối điện rút ra, dứt tiếng. Anh chánh văn phòng xem đồng hồ, đã tám rưỡi tối mà chưa ai nghĩ tới cơm nước. - Hay là mời các anh ăn cơm rồi nghe tiếp. Anh Chanh dặn có thể cho các anh mượn máy và băng, qua tỉnh đội mở cho ai muốn nghe thì nghe. Chính ủy Tám ngập ngừng lên tiếng: - Chẳng cần. Nay mai tụi nó sẽ cho tàu rà kêu loa khắp núi rừng, rải truyền đơn có in ảnh màu và chữ ký thằng Trấn. Ai đói thì ăn, cho tôi nghỉ đêm nay. Tôi... cái đầu tôi muốn nổ ra rồi. Sáng hôm sau, xong buổi thể dục và ăn sáng bằng khoai sắn chấm nước muối, một đồng chí đến gặp Cả Chanh trao một biên bản viết bút bi về cuộc họp đột xuất của đoàn kiểm tra từ một giờ đến năm giờ sáng. “Ai cũng mất ngủ anh à. Thôi họp cho xong trớt, để ai về nhà nấy”. Chanh đọc lướt qua, thấy có thêm một chi tiết mà anh đã biết nhưng đoàn chưa nói: năm người đi lạc trở về hai ngày sau không hề lạc, mà họ tự ý kéo nhau đi lùng bắt Quốc Trấn, sục bừa vào các ấp chiến lược, lại nằm phục trên đường đá từ đồn xuống Tam Kỳ, chẳng được gì. Thằng Trấn khôn hơn, chui vào buồng kín của một ả con buôn kiêm chỉ điểm, đợi cánh quân viện kéo lên mới cầm cờ trắng ra đường, đón xin hàng. Hắn được trực thăng đưa ngay về Đà Nẵng. Phần đề nghị cuối cùng: kết án tử hình vắng mặt tên Phùng Quốc Trấn. Thông qua bằng phiếu kín: 100% (5/5) Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 09:32:08 am * * * Các ủy viên thường vụ tỉnh ủy lục tục kéo về họp gấp, soát lại kết quả chuẩn bị chống càn. Khu ủy và quân khu điện xuống tới tấp, bức sau nghiêm trọng hơn bức trước. Tin tình báo cho biết thêm, ngày một ít, về lực lượng và kế hoạch của địch. Sư đoàn kỵ binh bay số 1, có sở chỉ huy ở An Khê và chuyên đánh phá vùng Tây Nguyên đến biên giới Lào, sẽ cho một phần ba số quân (xấp xỉ 15.800 tất cả) cùng các bộ phận cơ hữu như pháo cơ động (60/120 khẩu 105), xe tăng nhẹ (100/240), xe bọc thép lội nước, xe phá mìn, xe phun lửa, dùng 240 trực thăng các loại để cho đổ bộ bấy nhiêu thú xuống nơi đã ném bom dọn bãi. Không quân Mỹ sẽ dùng rộng rãi loại bom 7 tấn BLU-82B Daisy-cutter thả bằng dù lớn, xuống gần mặt đất mới nổ, xén quét sạch sân cỏ trong vòng 100 mét trở lên mà không tạo ra hố. Bốn năm quả bom như thế, cùng một buổi làm việc của các xe ủi đất, xe lăn, xe đóng cọc căng kẽm gai, năm bảy cái lô-cốt bê-tông đúc sẵn, tất cả do cần cẩu bay đặt xuống, là đủ cho trực thăng vận tải chút quân và pháo nhẹ xuống đóng chốt trước khi trời tối. Sẽ có một chuỗi chốt to nhỏ, tạm thời hay lâu dài, khóa cứng đường lui về phía Tây của Vi-xi, cố tìm các cơ quan đầu não và văn cứ của ba sư đoàn Bắc Việt rất bí hiểm kia. Sẽ có độ 50 phi suất B.52 và hàng ngàn phi suất máy bay chiến thuật sẵn sàng hủy diệt những chỗ tìm thấy Vi-xi. Cánh quân Mỹ từ phía biển đánh lên còn to hơn nhiều. Sẽ có chừng mười tiểu đoàn thủy bộ chiến cụ nặng vì chỉ theo đường bộ thuốn lên núi, còn được phối thuộc thêm các thứ nặng nhất như xe tăng 51 tấn và pháo 175 ly bắn xa hơn ba chục cây số, lần đầu đưa lên vùng ven núi dùng thử. Toàn bộ công binh của sư đoàn được tung vào đây, tới đâu mở đường bắc cầu tới đó. Hải quân thuộc trạm Đic-xi-bộ phận ngoài khơi miền Nam của hạm đội Bảy-ngoài số 80 máy bay cho mượn thêm, đã giúp một tiểu đoàn Ong biển, loại công binh có biệt tài làm công sự dã chiến và mở sân bay dã chiến nhanh như chớp. Cộng tất cả số máy bay của thủy quân lục chiến, không quân, hải quân, cánh quân phía đông có được chừng hai trăm máy bay chiến đấu, một trăm rưởi trực thăng các loại, một trăm máy bay vận tải, không kể số đặc dụng như máy bay trinh sát nhẹ hay trinh sát điện tử, vận tải võ trang từ AC.47 đến AC. 130 bay treo đèn và bắn phá suốt ngày đêm. Mạn này địch sẽ tiến chậm hơn nhưng chắc hơn kiểu “cóc nhảy mặt trước, chốt chặn sau lưng” của kỵ binh bay. Sẽ chia năm mũi từ Bắc Quảng Ngãi ra tới đèo Hải Vân cùng tiến song song lên núi, quét sạch Vi-xi, hốt sạch dân, đốt phá hủy diệt tất cả làng mạc, rẫy ruộng, gia súc, đường sá, đầu độc tất cả suối khe, đưa tất cả vùng đất chết này vào mảng đỏ tự do đánh phá. Địch phải đổi tên nhiều lần khi bị “bọn nhà báo ác ý” cố soi móc những vùng như thế: từ Free Destroy Zone (vùng hủy diệt tự do), sang Free Bomb Zone (vùng bom tự do), nay gọi kín đáo hơn là Special Strike Zone (vùng đánh phá đặc biệt). Vào cuối chiến dịch, một phòng tuyến cực mạnh sẽ được xây dựng dọc theo dòng Nam-Bắc của các sông nhỏ từ núi Ngọc Linh chảy xuống hợp thành nguồn Thu Bồn, cứ tiếp theo chướng ngại thiên nhiên ngăn cách hai vùng Đông-Tây ấy, xuống quá khu công nghiệp Nông Sơn-An Hòa một quãng xa mới thưa dần ra trên vùng đất phẳng. Các đồn ấy do quân ngụy đóng để làm phần việc bình định nông thôn, còn quân Mỹ nhận vai trò chủ lực cơ động chọi nhau với Vi-xi không hề che giấu, đúng theo bản ký kết giữa tổng thống Giôn-xơn với Thiệu-Kỳ ở Hô-nô-lu-lu năm ngoái. Đại tướng Oét-xty, tức Oétx-mo-rơ-len, cùng bộ sậu tướng sĩ tượng thở phào nhẹ nhõm: thế là hết vướng các thứ bao bì sơn phết, chúng ta cởi trần mặc xi-líp mà đánh vật với cộng sản cả Bắc lẫn Nam. Xem ai hơn ai! Cứ thế, điện và thư hỏa tốc tuôn từ trên xuống. Điện chỉ để báo tình hình. Thư mới viết về ta, nhiều bức xem xong phải hủy, ba bốn đồng chí cùng cố học thuộc lòng. Các phái viên của khu và quân khu kéo xuống liên tiếp. Phần lớn làm được việc, nhưng cũng có những tay vừa dốt vừa ba hoa, làm tham mưu mà không biết gì về quân Mỹ, làm chính trị mà không biết tên đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Lại có những vị lẩm cẩm: giữa lúc sắp đổ máu lu bù mà nhất định đòi “phát động toàn dân” nằm màn, tẩy giun, rỏ thuốc đau mắt, súc miệng nước muối. Đến khoản cuối cùng thì cả cơ quan cười ồ, vỗ tay, anh quản lý lên hoan nghênh nhiệt liệt và chỉ đề nghị tí xíu thôi: xin khu phát muối để chúng tôi súc xong thì uống luôn, địch đang bao vây muối rất gắt, trên khu nhận viện trợ của cả thế giới xã hội chủ nghĩa, chia cho tỉnh vài tấn muối mỗi tháng chỉ là con số lẻ thập phân! Cũng dễ hiểu vì sao nhà y tế rất thương dân ấy chỉ gượng ấp úng vài câu về tự lực cánh sinh, khó khăn chung, và lặng lẽ cuốn khăn gói quả mướp đi hô hào nơi khác. Trong số đoàn Cả Chanh và thường vụ làm việc thích thú và bổ ích hơn cả, có đoàn phái viên chung của Bộ tổng tư lệnh và quân khu, với một đại tá rất giỏi đứng đầu. Họ hỏi những câu xoáy như đinh vít, nghe rất kỹ, còn chia hỏi riêng tùng ngành, từng người, ngay từ đầu đã giao hẹn: “Chưa biết, xin cứ nói là chưa biết, hoặc hẹn lúc khác trả lời. Xin giảm tới mức thấp nhất những từ có lẽ, nói chung, ước chừng, đại khái là”. Chỉ qua một ngày bị vặn đến tháo mồ hôi, các đồng chí trong tỉnh ủy và tỉnh đội đã trông thấy vô vàn lỗ hổng trong hiểu biết và việc làm của mình. Giữa buổi sáng thứ hai, anh chánh văn phòng lặng lẽ đến đặt trước mặt Cả Chanh một phong bì dán bao nhựa trong veo: “Dượng Sáu Nhơn gởi chú T.Trà-Thơ riêng, xin trao gấp”. À, thư tối mật và khẩn của bí thư khu ủy đây. Chanh xin lỗi, bước sang chỗ gần đấy có bàn ghế tre chôn chân xuống đất, bóc xem. Có bản nghị quyết của thường vụ khu ủy gồm nhiều khoản. Phần Quảng Nam có mấy điều: y án tử hình vắng mặt tên Quốc Trấn, giao cho các đội võ trang công tác, an ninh giải phóng tìm cách thi hành.-Cho phép đồng chí Tám tức Trần Thượng Hiền rút khỏi tỉnh ủy và chức vụ chính ủy tỉnh đội theo đơn của đồng chí ấy gửi tỉnh và khu, điều ra Bắc để nghỉ ngơi, chữa bệnh, học thêm... Chanh hỏi nhỏ anh chánh văn phòng: - Ai cầm thơ tới? - Anh Nguyễn Văn Chò, Năm Chò, em rể anh đó. Ảnh mới được đề bạt lên trung đoàn phó, có quyết định về làm tỉnh đội phó chỗ mình. Ảnh đang tắm giặt, đợi gặp anh để đưa mấy thứ nữa. - Hay quá. Thằng chả là hà bá thổ công xứ Quảng này, đánh giặc từ hồi ta mới tuyên bố độc lập kia, tít trong Nam Bộ. Tỉnh xin miết, giờ khu mới cho. Ông hẹn giùm, cơm trưa xong tôi gặp nó. Năm Chò hay gửi thư cho Chanh, vài tháng một lá, chữ nghĩa khá hơn trước, báo tin và hỏi tin nhà. Tiếng đồn Năm Chò bị địch bắt hóa ra tin vịt. Chò phải gửi thư cho vợ và cha mẹ vợ ở Linh Lâm, cho Cả Chanh, Hoàng Lan, Sáu Cam đang ở xứ tuyết xa tít kia nữa, để mọi người hết lo. Lâu nay anh chỉ huy một tiểu đoàn thuộc chủ lực khu ở quãng An Khê lên Plây-ku, kìm chân sư kỵ binh số 1, nay mới được về quê. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 09:35:43 am * * * Lá thư riêng của anh bí thư khu ủy trên tay Chanh vẫn rung từng lúc. Năm Chò nhìn anh, chợt nhận ra: - Sao anh Cả như người mất hồn vậy ta? Bịnh sao mà tái mét vậy? Chị Hai Thùy lo nuôi thương binh, chẳng ngó ngàng tới chồng rồi! Chanh cười gượng, nhợt nhạt: - Không, không, gì đâu... làm việc hơi căng, mệt... Cậu tiếp đi. Năm Chò vẫn vuông vức như cái tủ gỗ lim đen. “Mình có ngọc rắn ngọc tre, bom chê đạn chừa, mấy chú em chưa biết à?”. Khi anh em đòi xem, Năm nói tỉnh không: “Coi sao được, bây. Thứ đó bắt được phải nuốt luôn vô bụng, cho nó ngấm tới xương thịt ruột gan chớ!” Không thạo coi bệnh và coi tướng, Nãm Chò kể tiếp dài dài: - Hồi đó em có bị bắt thiệt, anh Cả à. Thiệt tức cười. Em về huyện Tam Kỳ, đi coi địa thế ở chợ Cây Sanh, tới nhà con nhỏ cơ sở thấy nó đang nhuộm tóc. Hỏi một lát, rồi em nhờ nó mua cho thứ thuốc nhuộm tóc ra bạc, kèm thuốc tẩy nữa. Đem về thử thấy hay quá, chẳng phải rắc vôi trên đầu như hồi anh làm “cụ Thượng”, nghe kể vậy. Em mượn bà ba vá, vác cái đòn ống với cặp rọ heo, lần mò xuống tới gần quốc lộ Một. Là để coi tận mắt bọn ngụy của Mỹ khác ngụy hồi Tây ra sao, Mỹ khác Tây ra sao. Ai dè bị tụi Mỹ đi tuần chụp được. Nó bắt cởi áo, lục hết giấy tờ, nằm sấp đó đợi thông ngôn tới. Giấy tạm được, có biên lai thuế cử tri với tờ xác nhận mất thẻ nhựa căn cước vì cháy nhà, vụ đó nhiều vô số. Tụi nó kêu đứng dậy, nổi cười hí hố khi thấy cái mớ hình tầm bậy xăm chàm trên ngực với tay em. Em giả giọng ông già cũ kỹ: - Chẳng giấu gì mấy ông, hồi xưa tui làm lơ xe, sau vô lính dù của Tây. Bày ra xăm cho thiên hạ sợ chơi. Dù không bung, mình thành bãi cứt trâu, kể số gì... Giờ già rồi... - Già thì nhảy dù bà xã là vừa sức, ha ha ha! - Úi, thượng mã phong thì tiêu! Đi lựa mua heo giống về thả chuồng... Nghỉ xong, tụi nó bắt em vác một thùng đạn... quên, gánh hai thùng đạn về đồn. Còn hơn chục người nữa bị bắt khiêng bọn trúng mìn, cứ kêu trời tụi Mỹ nặng ký quá. Dọc đường nó còn đốt thêm mươi nóc nhà nữa, đốt cho đỡ tức vậy thôi... Nó giam em chỗ góc đồn Mỹ bốn ngày nữa để sai vặt, nhờ có tóc bạc nó không đánh. Em mặc sức coi Mỹ tận mắt từ sáng sớm tối giờ ngủ, cả quy luật tuần gác ban đêm nữa. Lính cổ da đã vậy, chắc các sắc lính Mỹ chẳng khác mấy. Trốn cũng dễ thôi, đi khuân vác rúc vô bụi là xong. Em nấn ná ở lại coi Mỹ coi ngụy, mấy khi mình lọt giữa rốn nó. Rồi cũng phải về, sợ anh em trông. Về tới huyện đội mới hay con nhỏ cơ sở ở Cây Sanh hốt hoảng báo tin em bị địch bắt, cỡ như chú Năm chắc phải đòn nhừ xương rồi. Em cười xòa, nói đi lạc chớ bắt bớ hồi nào. Vừa lạc, vừa gặp càn, phải lui ra gò hoang nằm với số trốn quân dịch. - Sao cậu không nói thiệt cho gọn? - Em không sợ địch, mà sợ cái số trâu già phế canh được đẩy về làm cán bộ tổ chức. Người tốt cũng có, nhưng quan liêu lạc hậu là phần nhiều. Số đó cày bừa trên lý lịch. Đọc tới hồ sơ của em, mở đầu là cai khố đỏ đã nói cảnh giác cách mạng lên, tới phần bị bắt nữa thì dấu hỏi to bằng đỉa trâu. Vậy là hạ bút đỏ phê luôn: “Lý lịch không rõ ràng. Cần thẩm tra đồng chí Chò có khai báo gì trong những ngày bị địch bắt, vì sao địch cho một tiểu đoàn trưởng trốn thoát dễ dàng”. Bấy nhiêu đủ chết toi thằng này rồi. Đợi tới ngày độc lập thống nhứt để xác minh được thì em chết trận hay chết già, xuống âm phủ mà tìm cái đứa cầm bút đỏ! Năm Chò cười to, vỗ bốp vào đùi Cả Chanh khiến anh giật mình, cười gượng. Anh là bí thư tỉnh kiêm trưởng Ban tổ chức. Anh có chức quyền trong tay, khi tỉnh ủy là trụ cột của Quảng Nam chống Mỹ, thay cho tất cả các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp chưa thể ra đời trong hoàn cảnh này. Anh có làm gì chăng để đồng chí đồng bào lên án anh, trước mặt hay sau lưng? Chanh cười buồn: - Ta nói chuyện khác, Năm. Trên đang điều mình ra Bắc đây, đưa cả chị Thùy với con Thanh Bình theo luôn. - Ủa... vậy chớ... ai thay anh? - Thiếu gì người. Tỉnh ủy bầu, có thể trúng người sắc sảo xông xáo hơn mình, ít đau ốm hơn mình. Lá thư anh bí thư khu ủy là một lời dỗ dành chí tình, sắp cử một đoàn quan trọng ra Trung ương. Trưởng đoàn là phó bí thư khu ủy, Chanh sẽ ghép vào khi đoàn đi qua Bắc Quảng Nam, khoảng nửa tháng nữa. Nhiệm vụ của Chanh là bàn giao cho phó bí thư tỉnh, thu xếp cho vợ con cùng đi với các nhóm trẻ em và phụ nữ đau yếu theo dường dây ra Bắc như đã làm từ 1965 đến nay. Đến Hà Nội, đoàn sẽ báo cáo và góp ý vào các dự thảo kế hoạch. Trong khi đợi Trung ương họp duyệt, mỗi đồng chí có trách nhiệm chữa bệnh, chữa các vết thương cũ, đi tham quan nước ngoài, dự một số hội nghị quốc tế dể mở rộng hiểu biết, chỉ trừ một số phải về gấp để phổ biến nghị quyết. “Cho dù không có cuộc họp ở Trung ương, mình cũng khuyên cậu nên đi. Chữa bệnh, nhất là nên học hỏi thêm. Cậu mới 47 tuổi mà đã đổ máu và mồ hôi trên dải đất này tới 28 năm, từ nhà tù năm xưa tới cuộc chiến tranh cục bộ ngày nay, là hột gạo trên sàng, vốn quý của Đảng của dân. Nhưng ngày càng rõ, chúng ta đều dễ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, bị cùn mòn đi. Khó khăn mới ùa tới, những bài toán hóc búa nẩy ra, chúng ta lại mở kho kinh nghiệm lấy ra những bài bản lỗi thời từ lâu để tìm cách gỡ bí...! Anh đã đánh trúng chỗ yếu nhất của Chanh. Nói những chuyện đau ốm thì Chanh đã nhàm: mười người “ân cần thăm hỏi” thì chín người rưỡi quên ngay trong ngày, còn lại nửa người thì “Chậc, anh em dưới còn khổ gấp mấy”. Chỉ đưa cái dốt nát gây tai họa ra mới khiến Chanh giật mình. Thùy đã có thai hơn ba tháng, ra Bắc sinh là phải. Con Bình mười hai tuổi, đủ sức theo các bạn thiếu nhi ra học, không thể tập viết trên lá chuối mãi được. Và anh ra đi cũng phải... Con chó Dồ đi tuần xong vài vòng quanh khu lán, đến đứng bên Chanh trông chừng ông khách lạ. Ông chủ vỗ đầu nó, nói dịu: “Chào khách đi, Dồ!”. Nó sủa khê vài tiếng, vẫy đuôi, rồi rón rén đến bên Năm Chò, ngửi quanh người để nhớ mùi riêng ông bạn mới của chủ. Chanh bỗng thấy đau buốt đâu trong ngực: sẽ phải chia tay với con vật hết sức trung thành và thông mình này nữa. - Lại đây, Dồ. Nghe giọng và liếc nhìn mặt chủ, nó biết sẽ được hưởng đôi phút thương yêu kín đáo của chủ. Nó đến bên và nhẹ nhàng kê đầu trên đầu gối Chanh, đón bàn tay vuốt từ gáy tới lưng, và đón liếm bàn tay ấy khi buông xuống. Phần thưởng chỉ cần bấy nhiêu là đủ cho nó lao vào chết thay cho chủ. Dồ là con cung của cơ quan tỉnh ủy. Nhưng vẫn có những lời đồn nghiệt ngã trong hàng cán bộ, cả những người làm cách mạng lâu năm nhưng cái khối phong kiến gia trưởng vẫn vón cục trong óc: vợ là kẻ dưới phải dạy, con thì già đòn non lẽ, giống chó là vật nuôi dạy chó trinh sát hay chó cấp cứu rất công phu, họ bĩu môi coi như chúng nó thừa tiền rửng mỡ. Phần Cả Chanh, sau khi bị chê trách là chỉ biết lo cho vợ con-dù Thùy ở tổ may hậu cần xa cơ quan tỉnh ủy, sau về làm cấp dưỡng bệnh xá càng xa hơn nữa, và con Thanh Bình là đứa trẻ nuôi sai vặt để thương binh gọi liên miên-còn bị thêm tiếng xấu là coi chó hơn người. Những người biết rõ chỉ cải chính dè dặt để tôn trọng dân chủ nội bộ, cứ thế đưa hết lên trên bởi lẽ “người nói vô tội, người nghe được sáng”. Nếu sáng quá chịu không nổi, trả chức rút lui, thì đã có ông Gia Cát Lượng là ba anh thợ giày lên thay thế. Ba anh thợ giày cãi nhau, đánh lộn nhau, thì trong số ba người cùng đi đường đã có một người có thể làm thầy... Cái nếp nghĩ đặc sệt nông dân cũ kỹ ấy vẫn còn được mang vào cuộc chiến tranh dữ dội này, khi kẻ thù mạnh nhất thế giới đang hủy diệt dân ta, nước ta bằng những thứ giết người gần như khoa học viễn tưởng. Cuộc họp trong lán nghỉ mười lăm phút. Chanh chỉ giới thiệu Năm Chò với anh em chưa quen, còn cánh ở tỉnh thì đã đấm, vỗ, huých Năm ngay từ đầu, kéo vào lát nữa họp luôn. Máy bay L.19 từng cặp đã quần liên miên mấy hôm nay. Loại AC.47 hay treo đèn nối phiên nhau, thả đèn dù và xối đạn đại liên xuống những chỗ đáng ngợ dưới rừng đêm. Một chiếc hai động cơ khá to bay lừ lù qua rất chậm, cõng trên lưng một vật gì như cái dù đi mưa dẹt hay cái lọng đan bằng dây thép thưa, đường kính bằng một nửa sải cánh. Nó bay vòng những hình số 6 rộng, qua khu trại tỉnh ủy vài lần rồi xa dần. Anh đại tá đến bên Chanh, chỉ lên những khoảng trống tỉa răng cưa giữa các tán cây cao: - Thứ tàu bay che lọng đó là loại Chòm sao, máy bay trinh sát điện tử. Nó đón tin điện từ các máy bay nhỏ, các trạm có người hay không người dưới đất đánh lên, chuyển về căn cứ để phân tích bằng máy tính điện tử.. Giọng anh đại tá trẻ chợt trở nên dè dặt: - Tôi mới hỏi qua loa về anh Năm Chò... chưa rõ lắm... Tỉnh ủy định xin anh Năm về làm công tác gì? - Chúng tôi đã bàn. Năm Chò đánh du kích khá, hồi chống Pháp vô chủ lực khu đánh cũng tốt… là với trình độ quân mình hồi đó. Tập kết, học hành chính quy mà theo không nổi. Bây giờ giao cho cậu ta làm tỉnh đội phó phụ trách dân quân du kích là vừa sức. Tỉnh này đến gần bốn vạn du kích, đang tuyển thêm, rất cần một tay như cậu ta. Anh đại tá tươi mặt lên rất rõ. Cả hai cùng lững thững vào họp tiếp. Lũ trinh sát nhẹ thỉnh thoảng rỉa một tràng súng máy hoặc thổi vài quả rốc-két thăm dò, chẳng hơi đâu để ý. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 09:37:54 am Chương 17 Bác chủ nhà khoảng ngoài năm mươi có bộ râu ba chòm lạ mắt: hai chòm trên xuống vướng mép bác xén bằng kéo, râu cằm cũng xén ngang khi quá ba phân. Nhìn kỹ, thấy tóc mai và cả bộ tóc trên đầu đều thế, khiến cho khuôn mặt vuông chữ điền rám nắng giống như cái hộp gỗ nâu. Bác là người thứ ba từ chối không nhận mẹ con Hoàng Lan ở nhờ. Nhường cho anh công đoàn lựa lời dỗ dành, Lan đưa thằng Nhứt với con Bạch Lan ra giếng rửa qua loa sau một đêm sơ tán trên chiếc xe com-măng-ca đít vuông chật như nêm cối, sáu chỗ ngồi xếp mười lăm người, lê từng quãng trong bụi đỏ mù trời của đường đất vùng trung du, sau mươi cây số mất gần mười tiếng vừa đi vừa đẩy. Rốt cuộc vẫn đến nơi quy định sơ tán với hai đứa con không sứt mẻ, kèm mười cân gạo mua sổ, bốn lít nước mắm và vài lít dầu thắp, bọc áo quần chăn màn còn nguyên, chỉ phủ bụi đỏ khắp thân người và đồ đạc. Bác chủ nhà rít xong mồi thuốc lào, xòe tay cà rà: - Anh xơi nước chứ... Cảm ơn anh hỏi thăm, nhà tôi được bảy cháu. Hai đứa lớn chưa được nhờ thì thằng đầu đi nghĩa vụ, con sau đi “ba sẵn sàng”. Đứa ba cũng là gái, vừa làm lấy điểm vừa bắn máy bay. Còn lại bốn, phú cho trời nuôi mụ dạy, chẳng biết hư nên... Làng tôi thế mà truyền thống lắm, nuôi cán bộ đằng ta tù hồi còn Việt Minh bóng tối cơ đấy. - Vâng, chúng tôi cũng nghe tiếng lành đồn xa, mới lặn ngòi ngoi nước đến nhờ các bác một chỗ trú tạm, Hà Nội ngớt bom là về bệnh viện. - Anh biết tại sao làng này ngại các ông bà Hà Nội không? Năm ngoái có một xưởng may, hay là hợp tác gì đấy ở Hà Nội lên đây. Đảng ủy, ủy ban, ban chủ nhiệm họp dân lại kêu gọi nhường cơm xẻ áo, nhiễu điều phủ giá gương, rung động lắm. Đến ở chùng ngót trăm chị em, mà trẻ con với các cụ những hơn bốn trăm, có xe tô-va tiếp tế hai ngày một lần, gạo dầu mắm muối lĩnh tất tật ở Hà Nội. Chúng tôi nhường ngôi đình to với hội trường xã để các bà các chị đặt máy khâu, thu gọn chỗ nhường buồng riêng chái riêng cho các hộ sơ tán đi khóa về mở, còn hậu hĩ hơn đón bộ đội về làng hồi đánh Tây. Ấy thế mà qua mười ngày nửa tháng, bà con ở đây phát khiếp cả, níu áo ủy ban với ban chủ nhiệm xin đưa người sơ tán đi nơi khác. Tại sao, anh đoán xem! - Ý chừng là quá đông trẻ con? Bác chủ nhà đặt chén nước, cười hô hố: - Ấy đấy, đấy... Cơ mà trẻ con đâu chả có, phải cái cứ lấn sang người lớn mối sinh sự. Chả biết các ông bà Hà Nội dạy con cháu thế quái nào, mà từ sớm chí tối các cô cậu ấy cứ tru tréo đòi ăn quà, mở mồm là chửi tục, có đứa còn lăn đùng ra đất mắng bố tát mẹ, đứa lớn dọa bám xe hàng trốn về Hà Nội... Hỏi dần mới hay, các chị ấy là tiểu thương ở chợ Đồng Xuân, Bắc Qua, bị bom Mỹ phải chạy tản ra, ban sơ tán Hà Nội mới ghép vội thành hợp tác, năm trăm miệng ăn bám theo bốn chục cái máy khâu cọc cạch, mọi thứ trông vào sổ bìa tem phiếu ở thủ đô, vừa ăn bám vừa dài cổ ra chửi đổng, kêu khổ... Tiếp cái khoản trẻ con. Mới lên còn sợ chó, sự rắn, sợ ma rừng, dăm ba ngày, đã kéo bày đi ném đá vào chó từng nhà, hàng xóm tôi bị một con chó săn què chân, một con giữ nhà chột mắt. Khủng bố được chó rồi, cả lũ ào vào nhà, đuổi “bọn nhóc nhà quê” chạy ráo, kéo ra vườn thấy gì vặt ấy, cam chanh chuối ổi mít, già non chẳng kể, còn vào nhà lấy sọt làn thúng rổ đựng mang về, tiện tay xách luôn soong nồi về đun ăn ngoài đồi. Trẻ lớn thì bắt gà, hốt trứng, đào khoai sắn non. Lũ nhóc trong làng cũng cáu, kết phe đánh chửi lại, đôi bên cùng hư. Chúng tôi đến gặp các bà các chị, bàn thu xếp dạy trẻ, thì mười bà bênh con cháu hết chín. Nhà tôi không có thói phép thế, chỉ tại đám chăn trâu gây gổ, chiều nào cũng thấy bươu đầu rách áo, khóc sưng mắt. Chúng tôi trót dại đến đây, thân cô thế cô... Huyện về cũng bí, phải huy động dân quân ba xã đến làm ba dẫy nhà lá cao ráo cách làng một quãng, rước quý vị ấy đến ở. Thế mà vẫn rủa sả: “Tình nghĩa đồng bào thế nào mà lùa chúng tôi vào ấp chiến lược như Mỹ dồn dân, hở trời!” Quen nết rồi mà. Chum nước mưa cả nhà để dành đun nấu họ đem tắm cho con đỡ phải đi giếng xa. Đi củi già buổi được một gánh, cứ rút mà đun, để dành dầu hỏa phòng khi chủ nhà ốm không hầu kịp... Chỉ đâu ba tháng, ban sơ tán Hà Nội xuống lệnh cho chuyển đi nơi khác, cả làng cùng thở phào, thoát nạn. Nói dại đổ sông đổ biển, cái đàn phá rối nông thôn ấy mà quay trở lại thì chúng tôi cứ là cuốn gói đi sơ tán tất ráo cả! Hoàng Lan tắm cho con trước sân, nghe được lõm bõm vì bác chủ nhà nói to cười lớn. Cơn tủi thân từ từ dịu xuống. Người qua trước trút vạ cho người đến sau, bà con gờm là phải. Hãy cứ tưởng xem một người như bà Ất béo hú đưa bày con đến đây, động trái ý là lao vào cào cấu bấu xé, mới hiểu bà con nông dân đi từ hồ hởi đón giúp đến chỗ gạo muối ném theo là tại ai... Lan buồn rầu dắt hai con về các dãy nhà lợp lá cọ, khung tre còn tốt, đã được đội tiền trạm của bệnh viện đến sửa, tường trình quét vôi trắng và nền nhà láng xi-măng, đào thêm giếng, đặt máy phát điện nhỏ và máy bơm nước. Ba dãy ấy chuyên dùng làm chuyên môn. Bệnh viện trưởng là giáo sư Tôn, tay dao mổ nổi tiếng thế giới, viện sĩ nhiều viện hàn lâm nước ngoài, trong nước là thứ trưởng Bộ y tế. Nhung chẳng mấy ai để ý đến những danh hiệu ấy, ngay bác sĩ Tôn cũng chỉ nhớ mình là cái ông gì mỗi khi nhận giấy mời đi họp trong nước hay ngoài nước, cả Phương Tây lẫn phương Đông. Bác sĩ chỉ nghĩ đến người bệnh đang gửi mạng vào lưỡi dao mổ của mình. Cả khi báo đăng tin bác sĩ Tôn được phong anh hùng lao động, mọi người xúm vào chúc mừng, bác chỉ hỏi lơ đãng: “Anh hùng hở? Cũng tốt chứ. Thế có ai truy mình mấy ca mổ thất bại không? Nghe bảo vợ ông gì to to đang kiện mình cơ mà… Các cậu này, đã tìm ra công thức tối ưu cho cái ca tay bộ trưởng bị xuất huyết não ấy chưa?”. Và cuộc chúc mừng biến thành tranh luận về nghề nghiệp. Bác sĩ Tôn quy định rất gắt gao: Mỗi nhà phải có hai bảo vệ ngày đêm giữ hai đầu, cửa khóa cứng. Tuyệt đối không cho cán bộ nhân viên đem con theo mẹ vào nơi làm việc, mang thức ăn tươi sống hay đốt bếp dầu hâm thức ăn trưa ở đấy. Máy bay Mỹ đánh khu vực Hà Nội ngày càng mạnh, thương vong bên ta tăng vọt. Bác sĩ Tôn nắm bốn đội phẫu lưu động cùng vài chục tự vệ có súng máy nặng nhẹ giữ bệnh viện gốc, mỗi ngày đêm chia nhau mổ tới vài chục ca, hơi đỡ là chuyển lên hậu phẫu chỗ sơ tán. Chủ nhiệm khoa hậu phẫu là một cụ quá đỗi hiền lành cả nể, để cho nơi làm việc biến dần thành nhà trẻ và bếp núc, bốc mùi nước đái trẻ con và cá tanh, dầu khét. Bác sĩ Tôn đến kiểm tra một vòng, chỉnh ông thầy cũ của mình một chầu mất mặn mất nhạt trước mặt mọi người, vợ ông Tôn là phó chủ nhiệm khoa cũng bị nạt đến sượng mặt: - Bà với tôi cũng có cháu nội ngoại rồi, ai không thương trẻ con, hở? Nhưng mà thương trẻ một, phải thương người què cụt gấp trăm. Thương mà để nơi hậu phẫu thối tha cho chiến sĩ nhiễm trùng toi mạng, tôi mời cả thầy cũ lẫn bà vợ ra tòa! Các chị có con mọn và quen nếp công tư lẫn lộn vừa sợ vừa tức, phải y lệnh mà làm, còn bị phạt một ngày chủ nhật quét rửa lau chùi và bơm thuốc sát trùng. Bác sĩ Tôn dùng ngày nghỉ ấy để cùng số trai gái trẻ, kéo thêm đoàn viên thanh niên trong xã nữa-họ nghe tiếng ông bác sĩ anh hùng rất sừng ngổ này qua sách báo-chỉ trong hai ngày đã dựng xong dãy nhà dài thú tư trong rừng cọ. Nhà được chia từng quãng làm nhà trẻ, nhà ăn, nhà bếp, nhà tắm, cách một quãng là nhà vệ sinh kiểu hố xí hai ngăn. Bệnh viện sơ tán được cấp một xi-téc chứa nước loại năm mét khối để bơm nước giếng lên giá cao ba mét, chảy qua ống vào các buồng điều trị. Không chảy ra ống cho nhà thứ tư. Ông Tôn gợi ý làm ống máng bằng tre thông mắt như hồi chống Pháp ở Việt Bắc, đưa nước vào một bể phụ xây gạch trước nhà, khi đầy thì leo lên giá xi-téc khóa vòi lại. Chỉ qua hai ngày đêm, việc công và tư đều chạy ro ro. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 09:40:47 am Hoàng Lan lên chỗ sơ tán muộn vì được ghép vào một đội phẫu, còn kiêm thêm trung đội phó tự vệ, lính cũ mà. Hàng ngày Lan gửi hai con cho bà lao công, có buồng ở bên cạnh hầm to xây xi-măng. Đến khi có quyết định tất cả những ai vướng con mọn đều phải rời Hà Nội, Lan mới đi, lâm vào cảnh trâu chậm uống nước đục, mà ngay cả nước đục cũng chưa tìm ra.
Phải thu xếp chỗ ở, gửi con vài ngày cho các bạn, trở về Hà Nội chở nốt các thứ của ba mẹ con lên, mua các thứ tem phiếu còn lại. Đi nhờ được xe tải là hay nhất, không thì thồ xe đạp. Mấy chị không khỏe hơn Lan là bao cũng thồ được năm sáu chục ki-lô vượt sáu chục cây số. Săm lốp xe Lan còn mới, hỏng vặt Lan tự sửa được. Nếu quá bí nơi ở, Lan vẫn tự làm được một cái lều như năm xưa ở Hạ Lào, chả ngại. Sau một đêm trải chiếu nằm trên nền đất nện của nhà trẻ, Lan nghe gọi mình lúc mờ sáng, rất nhiều lần. - Em đây mà. Tuyền đây. Mở cửa nhanh chị. Ngủ khiếp chưa! Lan ngáp, nhấc cây ngáng cửa: - Đi đường trắng đêm lại dắt con lang thang đi ở nhờ, đâu cũng bị xua. - Đi với em mà nhận nhà. Cách trăm thước thôi. Tuyền quê ở tít “Thái lọ”, ngót ba mươi chưa chồng vì xấu gái quá, da nâu sẫm, răng vẩu, trán gồ, thân gầy như mắm. Tính nết thì dễ thương vô kể, nhưng con trai chỉ thương mà không yêu, biết làm sao, Tuyền bị bom vùi và gẫy xương tay phải trong chuyến vào tuyến lửa Quảng Bình, giữa năm 65, phải lui về chỗ sơ tán làm hộ lý. - Mày đưa tao đi đâu, phải bảo trước chứ! - Yên chí lớn. Em ở đội kịch nghiệp dư, phải tạo tính kịch chứ. Đến rồi đây, mời công nương vào ngôi báu! Một cô trẻ mặc quân phục, đội mũ cứng có sao, chạy sổ ra sân: - Đúng chị Lan mà, em cứ sợ trùng tên thì tẽn tò. - Mày hả Mẹo? Đúng “nàng mếu” rồi. Sao mày đến đây? - Nhà em đây, mẹ em đây, em đi đâu nữa. Rõ chị lẩm cẩm. Năm ngoái, chị Lan vừa học xong chương trình y sĩ, trên liền giao ngay làm người hướng dẫn thực tập. Bằng mới tinh, nhưng Lan có kinh nghiệm nhiều năm phụ mổ ở địch hậu, hơn hẳn số học sinh phổ thông học cùng khóa. Một hôm, cô Mẹo này đến bệnh viện khóc sướt mướt, khai mình là y tá thuộc một đơn vị biên phòng được cử về thực tập ngành phẫu, đến ga Hàng Cỏ ban đêm bị bọn cướp trấn lột lấy hết sạch mọi thứ, cả đồng hồ và ví đựng tiền, giấy tờ. Cái ông tổ chức bệnh viện kiêm sâu mọt kia xem chừng không trấn lột được gì nữa, bèn nổi cơn “cảnh giác cách mạng”, cấm không cho cô qua khỏi phòng thường trực, cũng cấm không cho vào khu tập thể cán bộ nhân viên. Lan rủ vài người bạn thân nữa đến đấu lý: - Bác đuổi người ta về tận Lao Cai, bắt cuốc bộ à? Bắt xin ăn dọc đường à? - Đây là cơ quan nhà nước, không phải nơi cứu tế xã hội. Các chị có thương hại thì góp tiền giúp cô ấy, chứ không được cho bước vào bệnh viện. Lơ mơ tôi gọi công an đến cho mà xem. - Thế mẹ tôi, bố tôi đến thăm con, cũng không được vào khu tập thể? Nằm vỉa hè hàng tháng để bác điều tra lý lịch? Con chúng tôi không có giấy tờ, bác định đuổi sạch? Ai cũng bận việc chuyên môn, chỉ có lão ta quá rảnh rỗi, chỉ chờ những dịp thế này để tỏ rõ oai phong lẫm liệt của mình, may ra cũng nhét túi được tí cải thiện lẻ. Hoàng Lan chán ngấy, lôi các bạn lên gặp bác sĩ Tôn. Lão hối hả chạy theo đấu dịu: - Thôi thì các anh chị ký cho tôi cái giấy bảo lĩnh, mai sau có gì cấp trên khỏi trách cứ. Anh chị em ra ngoài bàn với nhau, nghĩ lui tới lại thương ông bác sĩ đang kiệt sức mổ ngày mổ đêm, còn bị quấy mãi vì những chuyện vặt. Đành đi đường vòng thôi. Một giấy bảo lĩnh mà sáu người ký. Lan nhận đón về nuôi tạm. Hại cậu sĩ quan quân y chuyển ngành liên lạc với Cục quân y và đơn vị biên phòng ở Lao Cai. “Nàng mếu” ở với Lan hai ngày thì công an ga Hàng Cỏ gọi đến nhận ví giấy tờ bọn gian vứt lại, các thứ khác chưa lùng ra. Dựa vào biên bản công an. Cục quân y cấp lại các thứ trang bị, rồi đơn vị biên phòng cũng gửi thêm tiền cho Mẹo đủ ăn ba tháng thực tập và mua vé trở về. Thì ra cô y tá hăm mốt tuổi này là chiến sĩ thi đua cấp trung đoàn hai năm liền. Lan trêu ngay: - Thi đua gì mày, thi mưa mói phải. Mày đeo lon trung sĩ về trạm đón lính chỗ Cột Cờ mà ở với lính, đừng ở với đám hạ sao trao lưới chúng tao. - Hứ, thách chị đuổi! “Nàng mếu” nhất định ở với Lan trong ba tháng thực tập. Chả hiểu tại sao cô ấy lắm bà con, bạn bè, cả những cậu lính mồ côi vợ đến tán tỉnh hay gạ làm quen liên miên. Các thứ quà từ biên giới Lao Cai qua suốt vùng núi và trung du, kèm theo những lá thư có chữ ký đề trên nếp dán, nối nhau tuôn mãi vào căn buồng Đông Đức của Lan. Mẹo đọc thư xong, giấu biến, phân trần vụng về: - Là tại trung đoàn em đóng rải dọc đường sắt, em phải đến từng đại đội, có khi tùng trung đội, các anh thấy tội nghiệp, ai về Hà Nội cũng mang quà... Và hôm nay, Mẹo ôm ghì Lan đến đau hai bả vai, thổn thức: - Tưởng không còn thấy chị nữa. Bọn phỉ bắn xuyên phổi, em khỏi rồi. Chị đi ở nhà khác thì chết với em tức khắc! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 09:43:28 am Mẹo đã thêm một sao nữa trên ve áo, thượng sĩ rồi. Cô về nhà đón bà mẹ ngoài năm mươi xuống gần Việt Trì giúp người chị đẻ con so ít lâu. Bà mẹ được một trai hai gái thì trai đi nghĩa vụ, một gái công nhân nhà máy chè, với Mẹo nữa là ba. Khối người gạ nhận giữ hộ nhà, vườn, chăm lợn gà cho bà mẹ, nhưng qua một mùa sống với “may mặc Đồng Xuân” cũng vô vàn lời bẻm mép nhăng cuội của các vị con buôn đa trá, hai mẹ con chẳng dám gửi nhà vườn lợn gà cho ai cả. Khi biết chị Hoàng Lan đang tìm nhà, giữa lúc mẹ con Mẹo cần giao nhà, Mẹo mừng quýnh, nửa đêm dựng cô Tuyền dậy đòi dẫn di gặp chị Lan, bị Tuyền cáu sườn xô nằm ngửa xuống giường ngủ tiếp.
- Bầm em với em bàn tất ráo cả rồi. Tám con gà vừa mái nhảy ổ vừa trống, biếu chị Lan tẩm bổ cho các cháu, đem cho thương binh bao nhiêu tùy ý chị. Cặp lợn choai chị nuôi hộ bầm em, gặp khi khô hạn quá chị cứ là tự do thịt cho thương binh có tí đạm. Trong vườn lắm thứ quả, ăn hay biếu tùy chị, mà đừng để cho bọn xấu nó chặt cây... Mà chị cũng dễ tính lắm cơ, chị cứ cãi lý mà lũ lưu manh cứ vung dao khoa gậy. Em đưa chị thứ này dùng tạm... Thượng sĩ Mẹo tháo thắt lưng to, trao cho Lan cây súng ngắn K.54 kèm hai băng đạn đeo ngoài, còn thêm chiếc đèn pin trong túi bạt. Lan tròn mắt: - Quái thật, mày cho súng cứ tỉnh bơ thế à? - Giấy phép mang súng của em đây, giữ lấy. Nhớ nhé, chị đừng bắn chết ngay, báo động thì ba phát lên trời, bị tấn công thì bắn què chân, đợi công an đến còng tay. Dọc đường hay gặp cánh lái xe biến thành giặc lái, nhớ bắn thủng lốp xe là vừa... Em bị trấn lột một lần vì coi thường vũ khí, dốt pháp luật, bây giờ học hỏi mãi đâm khôn rồi. - Em đi tay không à? - Em mới qua hai tháng học võ đặc công, thủ một dao găm lưỡi xếp nữa là thừa. Cần lắm thì xin súng khác, anh em đánh phỉ lấy được khối K.54. - Không nộp lên trên à? - Nộp chỉ mất một phút, khi đánh nhau súng hỏng hay mất xin bổ sung phải mất ba tháng, nửa năm. Tức cười, chỗ em có một đại đội vây đánh phỉ suốt hai ngày trên núi, cho người về tiểu đoàn xin thêm đạn, lựu đạn, không có, chạy lên gặp hậu cần trung đoàn, gặp một quan lớn nào đấy phán rằng, chưa có dự trù, không phát! Lan không mượn súng, ngại lôi thôi về sau, chỉ mượn con dao găm lưỡi xếp trong bao da, chiếc đèn pin. Nghe Lan bảo cần về Hà Nội lấy đồ và mua hàng. Mẹo bật reo: - Tuyệt cú mèo nhá! Em cùng đi xe con với chú dược sĩ về Hà Nội nhận thuốc, thêm chị nữa là ba. Sáng mai ta ra đường tỉnh đón xe. Hai cháu gửi chị Tuyền ngon ơ. Ừ nhỉ, bầm em cùng đi một quãng nữa là bốn ăn thua gì. Chị đi xoay giấy tờ bàn giao các thứ, chong chóng đấy. Không sao nhận ra “nàng mếu” ở cô thượng sĩ tươi rói và hăng bốc này. Lan ỡm ờ: - Có chàng rồi hả Mẹo? - Gớm chị, muốn làm lốc cốc tử à? - Tao xem tướng cái màu da mày... Đấy, từ màu vỏ lê sang màu táo Cao Bằng... đến màu bồ quân rồi kìa... Mẹo úp tay lên mặt, cười rinh rích, rồi thì thào: - Anh ấy... được lắm cơ... rất đường hoàng chị ạ... đi đường em kể sau... bí mật nhá, em chưa hứa hẹn gì đâu... Lan về thu xếp căn buồng trong bệnh viện, được một lá thư của chồng tuồn dưới khe cửa. Anh Cam thường viết thư ngắn như văn điện tín, hốt cụt những câu dài, trong khi anh ghi chép đến hàng ngàn trang văn học dân gian và săn lùng tới năm bảy dị bản cho một chuyện tiếu lâm. Lần này anh nhắn Lan đến gặp anh Lê Tùng để nhận một gói quà, và báo tin anh bảo vệ luận án phó tiến sĩ xong, còn làm tư liệu văn học Đông Nam Á, vài tháng nữa mới về nước. Anh Tùng mắt lồi trao gói quà do anh mang từ Liên Xô về sau một cuộc họp giữa các nhà xuất bản chính trị trong phe ta, kể mấy chuyện tai nghe mắt thấy đầy cay đắng trong tám ngày kẹt thời tiết xấu phải nán lại Bắc Kinh, hằng ngày dạo xem quang cảnh cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” với những vạn tiểu tướng hồng vệ binh biểu tình vung sách đỏ, chia năm sáu phe đặt loa chửi nhau, đánh nhau giành chính quyền. Anh cho biết thêm về Sáu Cam: - Hội đồng giáo sư đánh giá luận án của hắn ta vào loại xuất sắc, đề nghị cấp học bổng loại ưu đãi để nghiên cứu tiếp ba hay bốn năm nữa, mở rộng đề tài ra cả khu vực Đông Nan Á. Luận án viết bằng tiếng Nga, anh không đọc được, nhưng các bạn cùng khoa với hắn khen đứt lưỡi. Hắn sục được đủ tư liệu để xác định rằng Việt Nam mình là trọng điểm giao lưu văn hóa từ cận Đông đến Viễn Đông, từ Bắc Á đến Nam Á. Nghiên cứu văn học Việt Nam... Còi nhà hát chợt dội lên báo động, thay cho tiếng loa phóng thanh từ nãy vẫn nhắc không ngớt: “Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội sáu mươi ki-lô-mét. Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu... Đồng bào chú ý...”. Còi báo động chỉ réo gọi khi máy bay Mỹ đến cách ba chục cây số, vài phút sau đã nghe thấy tiếng pháo cao xạ nổ từ xa đến gần, kèm tiếng rít siêu âm, bom gầm, những chàng súng máy nặng nhẹ của tự vệ điểm lác đác tiếng “pình” cao tít của tên lửa SAM. Máy bay Mỹ qua khỏi thủ đô, súng ngừng bắn, những mảnh đạn cao xạ vẫn rơi “xoảng, chát, bịch” tùy khi chạm mái nhà, đường nhựa hay đất thịt. Cơ quan anh Tùng thiếu chỗ đào hầm, phải moi đất xây hầm ngay trong nhà, chừa một ngách hầm thông ra vỉa hè phòng khi nhà sụp. Anh Tùng theo ngách hầm ấy lên mặt đất, nghe những tiếng lụp bụp và nhìn những chớp lửa nhỏ bật liên tiếp phía Bờ Hồ, “hừ” một tiếng trong mũi: - Khoan hẵng lên nhá. Nó ném bom bi nổ chậm mạn Hồ nhiều đấy, chưa biết phố ta có bị không, đường tối quá. Như để trả lời Tùng, loa phóng thanh báo ngay, hối hả: “Khu vực chung quanh Bò Hồ lên phía Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang bị rải bom bi nổ chậm. Đồng bào đi đường cần tránh các phố này, đồng bào trong khu vực có bom bi cần trú ẩn nơi an toàn, chờ các lực lượng vũ trang và tự vệ khu phố đang phá bom bi. Đồng bào trong khu vực Bờ Hồ, đầu Hàng Bông, dọc Hàng Đào, Hàng Ngang chú ý nghe các thông báo tiếp theo...” Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 09:45:37 am Còi báo yên nổi. Người trong co quan ùn ùn ra khỏi hầm, xôn xao:
- Cứ mỗi chầu thế này, đem xử bắn vài thằng giặc lái! - Vướng cái công ước quốc tế... - Vớ vẩn. Chiến tranh không tuyên bố, chúng nó chỉ được coi như kẻ cướp bị bắt quả tang. - Để rồi xem, chợ Đồng Xuân hay bệnh viện Bạch Mai biến thành mục tiêu quân sự tất. - Mới tan xác sáu chiếc hôm qua mà cứ đâm đầu vào lửa... Lan theo anh Tùng lên buồng. Mới hơn tám giờ, và Lan muốn nghe tiếp về anh Cam. Tùng rót nước chè còn ấm, bày ra một đĩa kẹo mềm sô-cô-la pha sữa, hai quả táo tây vỏ hồng pha vàng, cà rà: - Chuyện của anh Cam chưa hết đâu. Anh đến sứ quán ta, họ bảo đã điện về nước xin ý kiến Bộ giáo dục ta, chứ phía Liên Xô đồng ý vẫn chưa đủ. Anh về nước, đến ngay Bộ hỏi xem. Ông vụ trưởng nắm quyền tuyển sinh và lưu học sinh là ông gì... à, Mậu, Trà Đình Mậu, nghe bảo người cùng huyện cùng xã gì đấy với Sáu Cam, dân Quảng Nam. Mấy cậu quen ở bộ kháo nhau ông ta đã cao tuổi, tóc bạc gần hết, nhưng nhất định đòi “phục vụ cách mạng đến hơi thở cuối cùng”. Chắc phải nâng lương lên ngang thứ trưởng cụ mới chịu hạ cố về hưu. Nay thì cụ mỗi năm đi ngao du nước ngoài ba bốn chuyến bằng hộ chiếu đỏ, hàng đóng thùng gửi về liên tiếp, hàng đắt giá cụ tự áp tải về nước, khỏi bị hải quan soát. Hội nghị ư, tìm hiểu tình hình lưu học sinh ư, trao đổi văn hóa ư, vô số lý do. Tay vụ phó quen anh, chỉ nói lừng khừng là trường hợp của Cam đang được xét. Anh xộc theo tay thứ trưởng, tiến sĩ tâm lý giáo dục, rất giỏi chuyên môn nhưng vô cùng lóng ngóng về lãnh đạo, quản lý, đang ngoài Đảng nên rất gờm cái thâm niên Đảng của cụ Mậu... Ô này, Lan ăn đi chứ. Phần hai cháu anh để dành rồi... Cam nó băn khoăn mãi vì vợ con phải sống chắt bóp, mà nó vét hết tiền tiết kiệm đi săn tài liệu. Quà cho vợ con cũng chỉ có mấy gói mì chính, dăm thước vải xoàng, ít thuốc tây. Nó đưa anh xem cả xấp vé xe lửa với máy bay. Khiếp, nó sục vùng Trung Á Liên Xô đến sạch túi. Uz-bê-ki-xtan, A-zéc-bai-gian, Ka-zắc-xtan... đếm trả hết đâu. Lắm hôm chỉ nhá khúc bánh mì kèm dưa hấu chấm muối trừ bữa. Anh sống với nó nhiều năm, đến nay xin phục sát đất. Thua nó xa lắm rồi. Lan uống từng câu của anh chính trị viên chuyên ngành, thỉnh thoảng cắn một miếng táo không gọt vỏ, theo kiểu ăn của đất nước xa vời bên kia. - Đến đâu rồi nhỉ... À, tay Mậu. May là lão vừa chở hàng về nước mới gặp được. Lão vồ vập ông thứ trưởng, kể khổ hàng tràng, lại hẹn cặp anh hôm sau. Biết lão nói gì không? Ờ, vô cùng lịch thiệp nhá, vì anh cùng xuất hiện với ông thứ trưởng bạn cũ mà. Chắc lão đã ăn tiền xếp chỗ cho ai dấy, nặn ra đủ thứ lý do lý trấu. Nào miền Nam đang cần nhân tài. Nào cả nước đang chiến đấu, bỏ nước đi lâu về mất gốc. Nào vô số đồng chí suốt đời hiến thân cho cách mạng mà chưa được đi thăm các nước bạn lần nào, phải nhường nhịn một tí. Nào anh Phan Cam học kém, người khác chỉ ba năm là nhận bằng phó tiến sĩ, anh ấy lưu ban thêm một năm nữa, bớt xén vào tiêu chuẩn các nghiên cứu sinh khác... Anh bấm bụng nghe, đến đấy hết kiên nhẫn Lan ạ. “Có phải người báo cáo là con trai đồng chí, thi trượt đại học, luồn lọt thế nào được vào sứ quan ta ở Liên Xô, lên giọng chê khen những người đủ sức dạy cả bố con đồng chí?” Úi chà, lão đỏ mặt như gà chọi, muốn lao vào tống cựa nhọn đúng yết hầu anh. Thế là lão nén được cơn giận mới tài, có lẽ lão đoán anh chàng trung niên xấc xược này không thuộc loại xun xoe “dạ thưa bác” vây quanh lão, đi với thứ trưởng ắt cũng cỡ “em em thứ trưởng”, mới ngoi lên nên chưa biết mặt biết tên. Lão đấu dịu, hứa sẽ điều tra lại. Đảng ta rất coi trọng nhân tài. Anh chơi luôn một đòn trâu chọi ngoặc sừng: “Rất tiếc, những người được giao chăm sóc nhân tài lại chỉ biết tiền tài. Mặt lão từ đỏ hóa xanh, trông vui lạ! Lan bưng miệng cười. Lan chưa gặp ông Mậu lần nào, nhưng nghe anh Cam nói loáng thoáng rằng lão Mậu đã từng bày mưu hãm hại anh Cả Chanh, họp đồng hương mà gặp lão thì né càng xa càng tốt. Anh Tùng chợt nhận ra hỏi dồn: - Tán gẫu mãi, anh quên... Sao Lan xanh ghê thế? - Thì cũng như hồi đánh Tây, biến đêm thành ngày. Em làm nghề phụ mổ cấp cứu, Mỹ nó đánh cả ngày lẫn đêm, thành ra hăm bốn tiếng đều là ngày cả... Thế anh Cam nghĩ sao hả anh? - Nó là thằng khùng! Thằng đa thư loạn tâm! - Ơ... - Người ta đánh giá nó ngang tầm tiến sĩ ngữ văn phương Đông. Nó đọc, viết, nói thạo tiếng Nga, Pháp, Anh, di dịch hộ cho đoàn của anh cứ rong róc, phiên dịch chuyên nghiệp cũng chào thua. Nó đang học thêm cổ văn Hán, chữ nôm ta. Nhưng nó cứ nhất quyết đòi trở về miền Nam, không dài cũng ngắn. Anh vặn nó: Mày về Nam làm cái thớ gì? Chống gậy mò đêm làm phóng viên, báo khu báo tỉnh mỗi tháng ra một tờ bốn trang giấy manh, hay gửi bài ra miền Bắc phát thanh chậm ba bốn tháng ? Nó vặn lại anh: tôi nghiên cứu văn học dân gian, từ năm 45 đến nay cả nước đẻ ra vô vàn văn học dân gian chống Pháp chống Mỹ, đã có ai lăn lộn đi sưu tầm nghiên cứu chưa? Anh thử nêu tên vài người xem? Thằng quỷ sứ, nó dồn anh sát chân tường vẫn chưa tha: anh xem đấy, thứ văn học dân gian đẻ ra trong những năm sau Đại chiến Hai ở thế giới thứ ba lâu nay bị coi thường. Tôi chưa đi được nhiều, nhưng cũng bám đuôi mấy đoàn đi An-giê-ri, Li-băng, Xy-ri, Ấn-độ, Thái-lan, mỗi nơi vài tuần, riêng Cu-ba được một tháng. Nước mình chống đế quốc mấy chục năm ròng, mới xuất bản được mấy cuốn văn học dân gian thời phong kiến hay Tây mới sang chiếm nước, ai sẽ là người nối tiếp từ Xô-viết Nghệ Tĩnh đến nay? Lan hồi hộp: - Vậy đó... ảnh muốn về không anh Tùng? - Chắc nó về. Có thể để vào miền Nam. Hay là xong cái phó tiến sĩ, về nước để bám sâu thực tế hơn, viết luận án tiến sĩ có chất hơn. Cũng khó tránh cái khoản thương vợ nhớ con, khao khát muốn hiểu quê hương miền Nam thời chống Mỹ. Gì thì gì, anh tin nó là đứa có đức có tài đặc biệt Lan ạ. - Còn anh Cam cứ khen anh hoài hoài... - Nó khen về phẩm chất, anh nhận. Nhưng tài năng thì xin bái phục nó từ khuya, nó thông minh đến phát sợ. Đọc lý lịch nó, Đảng ủy chẳng mấy ai tin hồi bé nó đi ở mướn, chăn ngựa, có lúc túng đói phải ăn xin. Cứ tưởng nó kiếm thêm cái điểm thành phần cốt cán, để đề bạt. Nó cáu sườn, đánh máy hơn chục lá thư nhờ cán bộ quen xác nhận thành phần. Anh ở Đảng ủy nhà trường ngay khi đang học, nhận được bảy thư trả lời. Anh Ông Ích Quý, ủy viên dự khuyết Bộ chính trị, với chị Sáu Lễ, phó chủ tịch ủy ban trung ương Hội liên hiệp phụ nữ, đều xác nhận nó khai đúng... Thế đấy, ta đề cao công nông, nhưng chỉ hình dung công là phu khuân vác, nông là người cày i tờ, mãi đến nay vẫn không tưởng tượng nổi công nông có thể ngoi tới trình độ quốc tế! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 09:51:11 am Loa phóng thanh ngoài phố lại dội lên với thông báo mới: lực lượng vũ trang đã thu phá được số bom bi nổ chậm trên đường phố và vỉa hè khu vực đông dân (kèm một loạt tên đường phố). Đồng bào và các xe qua lại các khu vực ấy có thể lưu thông bình thường. Đồng bào cư trú trong các khu vực ấy cần tránh đi vào những chỗ khuất tối ở các góc nhà, góc vườn, cần đợi đến sáng mai... Tiếp theo là một giọng nam ồm ồm cho biết máy bay Mỹ vừa ném xuống khu đông dân Hà Nội tám thùng bom CBU loại ba nghìn cân Anh, mỗi thùng chứa ba trăm quả bom nhỏ hình quả ổi hoặc quả dứa, quả nhỏ bắn ra ba trăm viên bi hay mảnh vụn tam giác, tổng cộng có bảy mươi hai vạn mảnh có thể gây sát thương trong một vùng đất hẹp, cần hết sức đề phòng...
- Còi báo yên rồi, Lan về đi, lát nữa lại ọ ọ ọ dọc đường, nhảy hầm tròn. Gửi tí cho hai cháu... Chắc có thư Sáu Cam trong gói. Lan hối hả đạp xe về bệnh viện, không bị báo động giữa đường. Chỉ bị một lúc giật mình: Lan chưa hề hỏi thăm câu nào về vợ con anh Tùng đang sơ tán ở Thạch Thất. Lan chỉ nghĩ đến chồng con mình, tệ thật. Gói quà của anh Cam lần này cũng chỉ tái bản các món cũ là mì chính, vải sợi bông các màu cho đàn bà trẻ con, kẹo cho các con, chỉ khác là thêm rất nhiều loại thuốc chống sốt rét, kháng sinh, khử trùng nước uống, cả bông băng cá nhân nữa. Anh quên rằng Lan là y sĩ ở bệnh viện giải phẫu đầu ngành miền Bắc! Lan cười một mình, tự dưng nóng bừng cả người, úp mặt trên mớ bông băng lẩm cẩm của chồng và bật lên nấc nhè nhẹ. Thư của Cam vẫn theo lệ thường, một cho vợ, một cho hai con để thằng Nhứt đọc cho em nó nghe. Bạch Lan được một túi bóng nhựa nhiều màu để thổi thành con thỏ con ngỗng. Nhứt được một hộp mười hai bút chì mỡ, nó ham vẽ và thèm thứ ấy từ lâu. Tội nghiệp lớn lên nó mới hiểu là trẻ cùng mẹ khác cha với con Bạch Lan, nhưng động ai nhắc đến chuyện ấy là nó hét như phải bỏng và vung nắm đấm, hung hãn như bà Ất béo cũng bị nó dọa ném đá cho vỡ mặt ra. Lan đã cắt dán tất cả tem phiếu vào một cuốn vở chia từng tháng cho khỏi quên. Lại cẩn thận mang theo xe đạp bốn năm hòn gạch bọc giấy đề tên mình, phòng khi đang xếp hàng rồng rắn bị báo động rã chạy vẫn giữ được chỗ. Mua suốt sáng xong được khoản gạo, ma-gi, dầu lửa, đến hai quầy bán đường và thịt bỗng sinh chuyện. Hai bà một già một trẻ dựng lên hai tấm bìa cứng viết cùng nét chữ: “Các ô phiếu đã cắt khỏi bìa không còn giá trị mua hàng, xin miễn hỏi”. Hỏi, họ không trả lời. Ai quy định thế? Cấp trên. Cấp trên là ai? Lên Sở mà kiện cáo, đừng lôi thôi. Năm bảy cụ hưu trí đạp xe lên Sở. Nhưng còn lại vài chục thương binh và cán bộ công nhân trẻ kéo nhau ra một góc bàn tính mười phút, sau đó ùa vào hai quầy. Họ đẩy hai nhân viên vào buồng kho nhỏ mé sau quầy thịt, cài chốt bên ngoài, còn dọa nếu kêu la ồn ào sẽ bị trói và nhét giẻ trám mồm. Rồi khách hàng tự biến thành chủ, mỗi quầy hai người, một thu tiền và phiếu, một bán. Đường thì dễ, bao giấy đã sẵn, cân hai mặt chủ khách cùng xem, anh bán còn nhấc cân lên cho khách xem mặt đáy. Thịt lợn bán khó hơn, nhưng vài bà vừa lên tiếng đòi mua miếng ngon đã bị đám đông gắt om sòm, phải phân trần chữa thẹn. Lan mua suất của mình và hai con xong thì khách đã vãn, hai vị cửa quyền được ra khỏi kho, lẳng lặng đếm tiền đếm phiếu, sợ đến mức không dám làu bàu. Các anh bán thay buộc họ phải ký biên bản, và dọa: - Báo đời các chị biết, còn dở trò trấn lột nữa là đi tù! Bốn chúng tôi ghi rõ họ tên và địa chỉ đây, cứ đưa ra tòa tự nhiên, cam đoan các chị sẽ vào nhà đá trước. Cô thượng sĩ Mẹo hẹn sáng hôm sau ghé đón Lan quãng năm giờ, ra khỏi Hà Nội thật sớm trước khi tháo cầu phao qua sông Hồng. Nhưng ngay tối ấy Mẹo cuốc bộ đến buồng Lan trong lớp vỏ “nàng mếu”, vừa mở miệng đã khóc hu hu. Kho dược quân đội dời khỏi Hà Nội khoảng ba chục cây số, phải qua phà. Bốn chiếc F.4C ào đến đánh trúng phà giữa sông, phà chìm cùng hai xe tải, hai xe con. Chú dược sĩ bơi kém chết đuối. Mẹo vớ được tấm ván sàn phà, thoát chết, cậu lái xe được đò cứu cũng thoát. Mẹo mất sạch ba lô, may còn giữ được cái túi dết đeo chéo hông, đựng giấy tờ tiền nong và cây súng ngắn. Cục quân y đã gọi điện về đơn vị, đang hối hả tìm cách vớt xác chú dược sĩ, lôi xe chìm lên, cho nhận thuốc, cấp lại quân trang, mời gia đình đến bàn lễ tang, lu bù việc. - Em về Hà Nội để gọi điện thoại cho thím ấy, quay số đến cùn ngón tay mới thông dây đến chỗ sơ tán. Chả em về Hà Nội hay đến gặp thím, đưa thư quà của chú. Em sợ chưa kịp nói đã bị cắt, phải độp ngay từ đầu: “Chú hy sinh rồi thím ạ”. Máy rè quá, nghe tiếng những ba bốn người chen vào. Em hét to: “Cháu là Mẹo đây, cùng đi lĩnh thuốc với chú, bị máy bay bắn, chú chết rồi, chết rồi. Thím về cục quân y ngay, Cục quân y...” Tới đấy bỗng cạch một tiếng, cúp. Cháu đoán quân bưu không cho nói dài, sau lại giật mình: hay là thím lên cơn sốc đau tim, ngất luôn? Thím làm biên tập viên ở báo Phụ nữ, viết nhiều bài hay lắm... Hoàng Lan bùi ngùi vuốt mái tóc gội chưa sạch bùn, còn rin rít của Mẹo: - Mày mặc đồ của ai mà rộng thênh như bao tải? - Quân phục em chưa khô, các chị cho mượn tạm... - Số mày đen như mực. Hồng nhan bạc mệnh... à không bạc phước đúng hơn. Lan soạn áo quần chia cho Mẹo. Đồ mới đưa cả lên chỗ sơ tán rồi, chỉ còn các thứ cũ, may sao Mẹo rất cần đồ lót phụ nữ, mà thứ ấy anh Cam gửi về nhiều. Hai chị em lúi húi buộc tất cả các loại hàng vào xe đạp của Lan, nửa đêm mới xong, vừa lúc trời đổ mưa mỗi lúc một to. Gay go rồi. Lan chỉ có một áo mưa, che người khô thì hàng tiếp tế ướt cả, những hơn bốn chục cân chứ ít đâu. Đành chịu người ướt hàng khô vậy, mượn đâu ra áo mưa lúc này. Chị em chia tay nhau lúc tờ mờ đất ở phố Hàng Bông. Dù Lan đã cấm, Mẹo vẫn sụt sùi khi quay đi. Vượt qua sáu chục cây số mất mười một tiếng. Cầu phao với phà ắt là chậm, khỏi nói. Lan cố đạp xe bù khi gập mỗi quãng đường kha khá, nhưng cái xe trở chứng, không chịu chở cả người lẫn hàng, chơi một phát nổ săm sau, một lần tuột cóc. Ghé chữa ở các lều dựng tạm dọc đường, đành chịu đưa đầu vào máy chém. Rời đường nhựa sang đường đá còn đỡ, đến bảy cây số đường đất cuối cùng mới khiếp. Nước mưa đọng ngập những rãnh rất sâu rộng của xe tải chở nặng, Lan dắt xe đạp đi luồn lách đến mấy cũng trượt ngã xuống hố bùn. Càng khiếp khi gặp xe to xuôi ngược, hắt bùn tóe sang hai bên như xe phun nước rửa đường ở Hà Nội. Gặp chỗ có bờ ruộng hay gò khoai sắn để đẩy xe đạp vào tránh vòi bùn là may, nếu chung quanh toàn ruộng nước thì chỉ ghìm xe đạp chịu trận, úp nón che mặt cho khỏi mù. Cánh lái xe được nhiều người tử tế, chạy chậm lại và né sang bên đường cho Lan đỡ bị tạt, nhưng không ai cho đi nhờ dù xe tải trống rỗng thùng sau, có lẽ vì Lan và mọi thứ đều đẫm bùn. Cũng có vài kẻ mất dạy nhấn ga cho nhẩy chồm chồm, sạt qua vai Lan, tưới bùn, cười hô hố và ném lại mấy câu ghẹo tục tĩu. Một xe thông tin quân đội hầu hết là nữ bị ngáng đường trêu trọc suốt mười lăm cây số, cô trung úy tức điên đã xổ hết một băng AK bắn vỡ hai bánh sau, các cô khác cũng chĩa súng tua tủa vào chiếc xe to nằm bẹp: “Chúng tao không bắn xe nhà nước, mà bắn lũ giặc lái. Biển số đây, ghi kẻo quên!”. Các cô cười lăn ra khi kể lại với Lan. Còn một cây số cuối cùng, chân tay Lan tê dại đi, mắt nhìn một hóa hai ba. Bánh xe cũng liệt không chịu quay nữa, bùn dẻo nhét đầy giữa lốp với chắn bùn, đẩy một quãng ngắn lại phải luồn que vào xoi, gạt. Cô Tuyền đang cho thằng Nhứt với Bạch Lan ăn tối, tròn mắt nhìn khối bùn từa tựa hình người đang lê lết qua sân. Dựng được cái xe vào thềm, Lan hất nón, ngồi dựa cây cột hàng hiên, thở như thổi bễ trong khi Tuyền và các con hỏi dồn không ngớt. Lan từ từ ngả người trên hiên nhà đất nện, thoáng nghĩ: “May quá, mình không ngất dọc đường...”. Lan lịm hẳn trong khi Tuyền réo gọi các bạn ở các nhà chung quanh. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 10:26:38 am * * * - Dì hai ơi con khát cháy họng! - Thằng Rốt lén uống nước khe đấy o Thùy, con nói, nó giơ trái đấm... - Con lết không nổi, hu hu hu... Con nằm đây bác sĩ à. Chị Hai Thùy cuống cuồng chạy lên xuống dọc hàng các cháu trai gái từ chín đến mười ba tuổi. Chị Bảy Xíu, sau năm năm tù ở khám Chí Hòa, cùng đi để giúp các cháu nhưng quá kiệt sức và bỡ ngỡ, chẳng giúp được gì. Cậu y tá chưa vợ tự coi mình là trưởng đoàn, đến mỗi trạm giao liên chỉ đưa giấy tờ, nhận gạo và thức ăn, xong về tắm giặt và treo võng nằm khểnh nghe đài, chờ cơm. Chung quy, mỗi tối lăn vào bếp từ khi trạm nổi còi cho đốt lửa đến khuya chỉ có Thùy, con Thanh Bình, hai cháu trai lớn nhất trong đó có một cháu người Ê-đê rất tài kiếm rau và củi. Nấu một bữa có canh và nước ngấy hương cho hăm mốt người lớn bé trong đoàn ăn xong, Thùy và những cháu giúp sức còn phải nấu cơm nắm, đun nước đổ đầy các ống tre, pha nước muối rửa chân bôi thuốc cho các cháu nhỏ nhất. Dạo này thương binh ra quá nhiều, giao liên mệt bở hơi tai, chỉ giúp các cháu được một dãy sạp ngủ trong nhà khách và cho ít dây khoai, mấy củ sắn. Ban dân y Khu 5 hứa cắn cưa: - Mấy chị mấy cháu đi cực ăn khổ mấy ngày đầu thôi, là khi còn trên đường dây Giải phóng. Ấy, là đường dây của khu với các tỉnh từ biển lên núi. Dốc Quảng Nam, gan cộng sản mà, mình thua chi ai. Lên tới đường dây xã hội chủ nghĩa coi như lên tiên. Đường Trường Sơn thuộc Bộ tư lệnh, bây giờ được cái bí danh là đường Hồ Chí Minh, bí mật nghen. Đường của Bác Hồ nhứt định phải số dách rồi. Xe hơi chạy từng đoàn vài trăm chiếc, tàu bay Mỹ hay tới đâu bắn rụng tới đó, bộ đội với khách đi đường an toàn gạo miền Bắc, đồ hộp quốc tế, nấu bếp Hoàng Cầm cả ngày đêm. Trạm nghỉ thì có chiếu phim, văn công, mệt nhẹ có bác sĩ ở trạm, bệnh nặng đưa vô bệnh viện... Không ai biết người nói là một anh y sĩ từ Đà Nẵng lên, cần cù và tốt bụng, so với các bác sĩ từ Bắc vào thì thạo hơn nhiều về các loại thuốc Âu Mỹ và Sài Gòn, lại biết tiếng Anh đủ đọc toa thuốc. Anh chỉ có một chỗ hổng trong chuyện làm việc này: anh chưa hề đi lần nào trên các đường dây Giải phóng và Xã hội chủ nghĩa, tất cả đều nghe nói lại, và anh lọc lấy cái phần mê ly nhất để bày trên mâm! Nơi hẹn “góp quân” cho hai tỉnh Quảng nam và Quảng Ngãi là bệnh xá Quảng Nam, đợt đầu cho đi ba mươi sáu cháu, lên đường Trường Sơn sẽ ghép thêm các cháu từ Tây Nguyên ra. Lính với nhau, buông một tiếng “tự lực thôi” là sự thường. Nhưng đưa trẻ ra Bắc, suốt mấy tháng leo núi dưới bom đạn thì không ai dám hững hờ. Điện bay tới tấp từ Ban giao thông vận tải của quân khu và khu ủy, điện của Bộ tư lệnh đường 559 cho các binh trạm đến trước các cháu khá lâu, còn thêm điện hỏi, điện nhắc lệnh, điện hướng dẫn bổ sung. Rốt cuộc, các cháu Quảng Ngãi vướng càn không ra kịp, lệnh trên buộc mười tám cháu Quảng Nam phải đi gấp trước khi địch càn lớn, số còn lại sẽ cho đi tiếp thành nhiều đoàn. Sự thật diễn ra trái ngược với lời anh y sĩ. Trong bảy ngày trên đường dây Quảng Nam, các cháu quả leo nhiều dốc thật nhưng dưới rừng già mát rượi, nghỉ nhiều, ăn tươi và căng rốn nhờ giao liên các trạm xúm chăm lo, thêm bà con dân tộc nghe nói “con nít của Đảng” cùng kéo tới thăm và cho gà, trứng, rau, thịt rừng thịt nước thịt bay. Lên tới đường 559 mới vỡ mộng. Những trăm chiếc ô-tô có đấy nhưng chạy đường riêng, chiến sĩ lái mỗi đêm một làn thi gan thi tài, liều mạng với không quân Mỹ, qua khỏi mỗi cung đường mới biết mình còn sống. Gạo có thật đấy, nhưng vào đến đây chỉ đủ mỗi ngày hai vắt cơm bằng quả cam, không thức độn. Mỗi chuyến gạo vào đến đây còn được một nửa coi như thắng trận, được một phần ba là trung bình. Đồ hộp “quốc tế” cũng có, nhưng chỉ là một hộp vài lạng thịt bò hầm trút vào nồi canh rau tàu hay cho một trung đội ăn. Các rẫy và vườn rau tự túc chết rụi dưới những làn chất độc hóa học rải đi rải lại, cá suối cũng chết. Đoàn trẻ em chống gậy lê lết dưới những rừng trụi lá, nắng cháy lưng, chỉ được múc nước uống ở các giếng đào cách suối mươi thước trở lên có nắp đậy bằng phên liếp phủ ni-lông, vào mùa khô này chỉ còn nước xâm xấp. Cậu y tá không chịu nổi bước đi rùa bò của đàn bà trẻ con, bứt lên trước. Giao liên khiêng thương binh phải chạy núp xúp, thương binh nhẹ tự đi được cũng ghép thành cụm. Lác đác chỉ còn năm bảy anh thương binh tạm lành vết thương được gửi ra an dưỡng cùng đi với các em cho vui, họ đều yếu và trần trụi cả. Thùy và chị Xíu cố dỗ các cháu đi một đoạn nữa, một khúc nữa. Xem những cành lá của giao liên bỏ chặn các mối đường rẽ Thùy thấy đã héo: người khỏe đi trước đã lâu rồi, hẳn lúc này đã treo võng và tắm giặt ở bãi khách, nhà khách. Nửa giờ sau, Thùy phải cõng trên lưng một cháu lên chín, bị bỏng na-pan mới tạm lành. Chị rướn chân bước gượng từng bước vào đám mây xám nâu đang chập chờn trước mặt, chen những bong bóng đỏ nhảy múa khi xa khi gần. “Đừng vấp, đừng ngã. Ngã là sẩy thai, làm khổ lây mọi người”. Đằng trước chị Xúi và các cháu khỏe đang dìu mấy đứa nhỏ nhất đi thất thểu và khóc thút thít. Trời xế trưa không một gợn mây, mặt đất không một bóng lá che, nắng lửa cứ tuôn xói qua những cây trụi đen vì chất độc, dựng như bó chổi đã đứt dây buộc. Và điều kỳ diệu bỗng xẩy ra. Qua hết quãng đồi nóng như lửa táp vào mặt, đoàn trẻ em bước vào một khu rừng già mát rượi, với nhũng cây sấu xòe rộng tán bên trên và duỗi những bạnh vè to dài ra khắp các hướng. Đi sâu vào vài chục thước nữa, thấy võng buộc la liệt cùng ba-lô, súng, thùng tôn hòm gỗ. Các anh bộ đội ùa ra đón: - Úi giời, thiếu nhi các cậu ơi! - Lần đầu nhé, lần đầu gặp trẻ em Trường Sơn! - Chào các chị. Đưa các cháu đi cực nhọc thế? À quên, các chị thở đã, quạt đã. Mồm mũi tai đang thi nhau kìa... Cháu bị na-pan, mất cha mẹ trong cùng một quả bom xăng, rên lên bằng tiếng Cù-tu: “Đác... đâng cu um đác...” (Nước... cho tôi uống nước...). Thùy nhìn quanh, thấy cái giếng mới đào trên bãi cát, bên bờ một lòng khe cạn nhưng chưa khô kiệt, phủ đầy những cánh bướm trắng nở và khép. Chị rụt rè hỏi xin nước và thuốc khử trùng. Anh em trố mắt, hỏi dồn, Thùy chỉ nói là y tá mang thuốc đã đi trước, lệnh y tế không cho uống nước lã. Máy anh lớn tuổi hơn bấm nhau ra một góc, thì thào, trong khi Thùy dỗ các cháu nghỉ và quạt cho ráo mồ hôi rồi hãy uống. Bỗng dưng, như trong trò ảo thuật, các anh khệ nệ bưng ra hai nồi nhôm to tướng, xách thêm một bọc nhựa đi mưa cồm cộm những góc cạnh: - Các cháu có ăng-gô không chị? Không có, mỗi cháu chỉ có một cái chén sành nhỏ, một thìa vỏ na-pan, một đôi đũa. Các anh lắc đầu: “Bát tí xíu, một hớp là hết... Trung Một, cho mượn nắp gô nhé”. Năm phút sau, trước mặt mỗi cháu đã bày một nắp gô đầy sữa bột pha đường và một phong lương khô bọc giấy bóng. Anh chỉ huy tóc hoa râm còn xuýt xoa: “Chúng tôi đi đường trường, chất tươi cạn ráo cả. Tội nghiệp các cháu. Các chị cần gì thêm cứ nói thật tình, chúng tôi có thì biếu, không thì xin lỗi...”. Phát đủ mỗi cháu một nắp gô sữa-pha đặc và nhiều đường - vẫn còn gần nửa soong. Các anh phải kêu gọi các cháu uống thêm cho hết. Chỉ có các cháu nhỏ nhất chìa nắp nô ra, tay ngập ngùng và mắt liếc các anh chị tổ trưởng, những vị chỉ huy còn nghiêm khắc hơn dì Thùy, dì Xíu. - Chúng tôi đi cả đại đội, vượt trạm, nghỉ đêm ở đây, bãi khách chen chúc ồn ào mà dễ ăn bom. Từ đây tới trạm còn nửa giờ nữa... ừ nhỉ... các cháu đi chậm, hẳn phải một giờ. Nhiều đồng chí xung phong cõng các cháu đến trạm rồi quay lại, các chị xem... Lúc mới gặp, thấy các chị đã phải cõng và dìu nhiều cháu, chúng tôi ứa nước mắt. Chúng tôi đi xa gùi nặng quen rồi, đừng ngại... Mỗi cháu hơn chục cân chứ mấy, chưa bằng nửa cái ba-lô... Không cháu nào chịu vượt Trường Sơn trên lưng các chú bộ đội. Nghỉ khỏe, hết khát, thêm đường sữa và lương khô tỉnh người, các cháu đều khoanh tay chào các chú rất ngoan, đi tiếp. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 10:28:30 am Nơi đến chiều hôm ấy là một trạm rất to, hỏi ra mới biết là doanh trại của một binh trạm cấp trung đoàn. Cô giao liên đón đoàn trẻ em rất niềm nở, đưa vào nhà khách dành riêng cho cán bộ trung cao cấp, buộc mọi người phải nghỉ ngơi tắm rửa, chỉ cho riêng Thùy xuống nhà bếp binh trạm để hướng dẫn cách nấu cho chị em Thanh niên xung phong, họ chưa quen khẩu vị của trẻ em. Thùy rất muốn cho các cháu ăn cháo với thịt chà bông cho khỏe, đến đêm hẵng ăn cơm. Nhưng biết tìm đâu ra cậu y tá của đoàn với hai ba-lô những của ngon được cấp, luôn đi riêng và ở riêng trong bấy nhiêu bãi khách và nhà khách rải khắp một khu rừng?
Chị bếp trưởng vừa mở các hộp thịt để cho vào cháo vừa phân trần: - Đồng chí tiền trạm nhận gạo với thức ăn mang xuống, em thấy ít quá, chạy lên kiện ông quản trị. Ông ấy chìa phiếu ra: cấp mười một hộp thịt, hai lạng mì chính cánh, ba hộp dưa chuột muối loại một cân, một lọ nước mắm kem bốn lạng, sau thêm ba cân cá khô nữa, là suất hăm bốn tiếng của hai mươi mốt thương binh nặng. Gạo ngày bảy lạng, mì sợi một lạng. Đường sữa còn đợi quân y khám sức khỏe và cho chế độ. Các cô chịu khó kiếm cho các cháu nhiều rau, ăn đỡ háo... Thế mà chúng em chỉ nhận được chừng hai phần ba tiêu chuẩn thôi. Sanh không thủng, cá đi đằng nào? Mà thôi, chị hướng dẫn thế được rồi, xuống suối tắm giặt đi, trông chị lử cò bợ thảm hại! Có hai anh cỡ trung niên vào bếp từ nãy, đứng trong góc bếp sau đống củi, nghe hết câu chuyện. Anh mặc quân phục cau mày gãi cằm, không nói. Anh mặc bà ba xám, đeo súng ngắn dưới vạt áo, bước tới: - Chị Thùy nhớ tôi không? Thùy ngẩn người, không nhớ, vẫn nói đỡ mếch lòng: - Dạ, đi mệt, vô chỗ khói... anh để cho lần hồi… - Tám Thâu đây mà. Phó ban dân y khu ủy Năm, hay tới làm việc với ông Chanh, gặp chị vài lần ở bệnh xá tỉnh. Tôi đi bàn chuyện thuốc men với quân y 559. Còn đây là trung tá Lẫm, binh trạm trưởng. Tụi tôi gặp chị Xíu với các cháu rồi, biết thêm nhiều chuyện ly kỳ. Ta về chỗ nhà khách bàn thêm đi chị. Cũng vừa lúc ấy cháu Bình vào bếp với cái ăn-gô mới tinh và rỗng: - Gặp chú Tráng rồi má ơi. Chú tới chỗ tụi con, biểu nấu thứ gì thì đổ vô đây, xách tới chỗ chú. Chú cột tăng võng xa lắm, gần bên khe nước to, đang nghe đài. Thùy không nén nổi giọng chua chát khi đáp lời các anh: - Chú Tráng là ông y tá đi theo giúp các cháu đó mấy anh. - Tụi tôi đã nghe sơ qua. Tối nay chị với các cháu nghỉ hẳn đi, chừng tám giờ tối cho các cháu ăn cơm. Các cô ở đây có bếp Hoàng Cầm, nấu suốt ngày đêm khỏi lo tàu bay. Mai nghỉ một ngày, cần thì hai ngày. Sao đó, cô trưởng ban khói lửa? Cô bếp trưởng nháy Thùy cười tươi: - Nghỉ một tháng cho lại sức chứ chú. Chúng cháu những ba chục cái sẵn sàng rồi mà! Các cháu ăn cháo thịt lúc năm giờ chiều, lăn ra sạp nằm thiêm thiếp. Nhưng hai anh thủ trưởng bám theo cháu Thanh Bình đến biệt thự của anh y tá. Tên hợp với người, anh ta to khỏe hơn mức đỏ hồng. Dưới võng anh đặt tới hai ba-lô con cóc, một bao lưng may bằng vải phủ nhựa của pông-sô, một túi dết căng phồng. Cháu Bình xách ăng-gô cháo đến, bị chê ngay, phải phân trần là còn bữa cơm ăn sau vì các cháu quá mệt và khát. - Thôi được, mày để đấy. Chốc nữa đem cơm thì mượn gô của trạm cũng được. Hai anh cán bộ lặng đi mươi phút, khi quay lại đã thấy cậu Tráng đang xé nhai một đùi gà luộc, bên cạnh là hộp thịt bò hầm mở nắp và nửa bát thịt chà bông. - Hỏi gì? - Báo cáo đồng chí, chúng tôi là đoàn từ trong ra, hết thuốc, nghe bảo đồng chí thuộc ngành y tế, nhờ đồng chí giúp cho ít thuốc sốt rét, cảm cúm... - Mấy cha đem thuốc đổi gà đổi sắn dọc đường chứ gì? Tôi cũng ở miền Nam đau thương gian khổ ra, còn định bóc lột nữa à? Lương tâm để đâu, hở? Tám giờ tối, Thùy và Xíu đánh thức các cháu dậy ăn cơm. Xốc lên lại vật xuống, gật gà mãi, nhưng khi hít mùi cơm nóng và nước mắm chưng thì tỉnh khá nhanh, ăn sạch nồi. Các cô chú trong nhà khách còn trút thêm lắm của ngon mang từ Bắc vào, tranh giúp các chị bóp chân bằng nước muối nóng và bôi thuốc đỏ cho các cháu. Ngoài ra kia, cách độ năm cây số, các loại máy bay đánh đêm vẫn gầm gào không ngớt tiếng, chớp đèn chụp ảnh loe lóe, xổ từng tràng trọng liên dai như trâu đái, giội bom từng đợt sấm rền xuống các đoàn xe tải. Thưa thớt từng lúc thấy phụt lên những tràng súng máy phòng không của ta, vạch chuỗi đóm lửa chấm chấm vọt lên trời, không dài mấy, chỉ đủ xua máy bay né bớt chỗ ngầm hay cua trọng điểm, che đỡ cho những nhóm xe bị ùn tắc. Đêm ấy Thùy thức rất khuya, nhiều lần bước ra sân xem cảnh đánh Mỹ, nghĩ đến các anh lái xe mà thương buốt ruột. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 10:29:54 am Hồi ở Linh Lâm, chị gặp lác đác những cậu trẻ nói trọ trẹ như dân Bắc di cư, tự xưng là “bộ đội Quảng Trị”. Lên tổ may mặc, rồi bệnh xá tỉnh, Thùy dần dà nhận ra lính miền Bắc vào ngày càng nhiều, quân Nam tiến lần hai đi sau lần một tới hai mươi năm. Qua giọng nói và những tiếng lóng rất lạ tai của thương bệnh binh trêu nhau. Thùy mới hiểu tỉnh nào được gọi là cá gỗ, là máy cháo, là miền chè cọ, là bồ than nhẻm. Một chút nét riêng mà Thùy nhận ra là bộ đội ngoài vào học cao hơn rất nhiều so với anh chị em từ vùng giải phóng rút lên. Họ lóng ngóng khi gửi mua mì chính, cơ sở đồng bằng chỉ tìm thấy mì sống, mì chay ông Phật. Họ không ăn được mắm nục nguyên con của Nam-Ngãi, tới bữa chỉ nhấm tí muối. Ấy là chưa nói đến các món bà con Thượng dành cho khách quý, như chuột vùi tro, phân non của các giống thú ăn cỏ, thịt rùa, rắn, khỉ, dơi cụ...
- Chị Hai ơi, cho chúng em tập mỗi ngày tí chút thôi! Chị Hai Thùy được điều về nắm bếp bệnh xá quân dân y tỉnh hơn nửa năm. So với chỗ cụm hậu cần cũ (may vá, chế thuốc nam, giữ kho thóc) thì bệnh xá ở xa cơ quan anh Chanh hơn, leo núi sáu tiếng mới tới. Các bộ phận đông người qua lại như trạm giao liên, xưởng sửa chữa võ khí đúc thuốc nổ, kho tiếp phẩm đều phải đặt xa các cơ quan mật như thế. Chỉ sau một tháng, tiếng đồn về bếp bệnh xá đã loang ra các đơn vị và cơ quan tỉnh. Và sau vài tháng, nhiều nơi đã cử người đến “học tập đội bạn”. Thùy cứ ngớ ra, không hiểu họ học cái gì. Chị cười xòa: “Một người lo bằng kho người làm, mấy đứa em đấy chưa biết lo, mới biết làm thôi. Tôi lớn tuổi hơn, làm thì thua xa tụi nó, mà quen lo liệu...”. Hỏi về ông Bí thư chi bộ kiêm quản trị trưởng, mấy chị em ngó nhau tủm tỉm. Ông này là ủy viên thường vụ huyện ủy dưới đồng bằng, rớt chức trong một kỳ đại hội vì quá nhát sợ, phải đưa lén chỗ xa địch và giao một việc ngồi chơi xơi nước. Hầu như tháng nào ông cũng trả bớt tiền bồi dưỡng của thương binh lại cho tỉnh: “chỗ núi non, chẳng có gì mua...”. Còn khá hơn một số nhân viên kinh tài, theo cách mạng vẫn theo nhưng ăn cắp vẫn ăn cắp. Ông quản trị thanh liêm này coi việc bếp núc là quá thấp kém, chỉ chuyên hô hào mọi người thắt lưng buộc bụng. Thật ra, nhóm lãnh đạo bệnh xá hơi gờm khi miễn cưỡng nhận bà vợ của bí thu tỉnh ủy về làm bếp. “Các phu nhân chỉ tay năm ngón quen rồi, lại dựa vai vế ông chường mà xỉa xói chúng mình. Ba bảy hăm mốt ngày vất vả khói lửa là chuồn thôi, làm hội trưởng Phụ nữ giải phóng hay ủy viên Mặt trận khoái hơn, nhàn hơn nhiều!”. Trong vài ngày đầu, Thùy đã nghe đồn loáng thoáng thế. Mặc kệ. Chị để ý xem, nghe, nghĩ, đánh giá, còn la cà chỗ thương bệnh binh hỏi rất nhiều. Thì ra tất cả các cơ quan và đơn vị thuộc tỉnh đều đã từng khiêng người bị thương hay bệnh nặng đến bệnh xá này, đều sẵn sàng giúp đỡ nhưng không biết giúp cách nào cho phải. Các bác sĩ, y tá mải lo chữa chạy. Ông quản trị bận nghe đài theo dõi tình hình thế giới. Các cô nấu ăn chỉ biết làm hùng hục từ gà gáy đầu đến nửa đêm, người biết lo chẳng có. May cho Thùy, bỗng có một đoàn cán bộ tỉnh đến thăm bệnh xá nhân ngày thương binh liệt sĩ, trong đó có anh tỉnh đội trưởng và anh Tám Thâu, phó ban dân y khu Năm. Các anh này đều không ưa cái trò “ân cần thăm hỏi” kiểu cầm gậy rạch nước, mà mời hết thương binh họp lại, mời nói xả láng. Thắc mắc tùm lum, nhưng sáng kiến cũng vô số. Họ họp thêm với cán bộ nhân viên một cuộc nữa, hỏi riêng chị bếp trưởng khá lâu. Thùy được cấp giấy phép đặc biệt đi liên hệ với các đơn vị và cơ quan để nhờ giúp đỡ, được quyền điều theo mình vài nhân viên hộ lý, tiếp phẩm, cấp dưỡng. Đến cơ quan thường vụ tỉnh ủy, anh Chanh đi vắng, anh phó bí thư sốt sắng làm ngay một chỉ thị kêu gọi giúp bệnh xá, gửi khắp nơi. Lãnh đạo tỉnh cho biết chỗ bệnh xá chưa lộ, có thể ở lâu, nhưng phải xây dựng căn cứ Hai cách một buổi đường, nơi có nhiều hang lớn, phòng khi cần có thể khiêng thương binh và gánh mọi thứ đến đấy. Nơi đóng hiện nay có thể sửa sang kỹ, không sọ cái nạn “nước sông công lính”, làm vừa xong đã phải bỏ. Đơn vị đầu tiên đến giúp là một trung đội công binh, tách ra từ một đại đội đang huấn luyện, có hai thương binh và ba sốt rét ác tính đang nằm bệnh xá. Họ ở lại hai ngày, đào hàng loạt hào nổi hầm chìm thuốn vào sườn núi, có loại “Bê-năm-hai chào thua”. Chị Thùy được một bếp Hoàng Cầm “siêu hiện đại”đắp bằng đất sét, với những tám chỗ đặt soong chảo, lỗ nào không dùng thì có nắp vỏ na-pan úp kín, ngày không lộ khói, đêm không lộ ánh lửa. Chất tươi đưa đến ùn ùn. Qua hẳn cái thời khốn khổ với sắn làm cơm, làm canh, thèm muối đến vàng mắt, tí đạm tí béo cũng chờ hậu cần gọi đi nhận. Của đáng tội, gạo trước lâu cũng cho đổi một bộ quân phục lấy heo bà con Thượng. Nhưng các cô nấu ăn thường nể lời anh em “cho ăn tươi một bữa đã thèm, sau ăn muối cũng được”. Lính ta hay có tật thế. Rồi thương bệnh binh bị một ngày Tào Tháo đuổi, mấy ngày sau các rổ cơm ghế sắn và canh sắn tươi nhạt muối bị ế lu bù, phải đổ cho heo. Thùy chặn được cái tật ấy: đổi được heo thì lóc nạc làm thịt chà bông cho thương binh nặng, rán mỡ để dành trong ống tre, da thái làm nộm với bắp chuối hay nõn chuối, xương hầm nấu canh ngọt lừ. Gặp khi các nơi đem về cho một đùi nai, nửa con heo rừng, một góc trâu. Thùy dỗ dành chị em chịu khó thái, ướp gia vị kiếm lá về nem muối thính, khi ăn đem nướng hay xào, chỉ ngửi mùi đủ chảy nước bọt. Cái nạn thiếu muối kinh niên được Thùy giải quyết rất khéo. Chị đến kể khó với trạm giao liên và đội tiếp phẩm, khi thật hiểu nhau mới chìa bản chỉ thị của tỉnh ra, chẳng ai thấy khó chịu. Vả lại tiền mua là của bệnh xá, người cõng cũng của bệnh xá họ chỉ sắp xếp việc mua và giá cả thôi mà. Từ đấy, bệnh xá có đều đều mỗi đầu người hai ký muối một tháng, kèm thêm những thùng dầu lạc, nước mắm, mắm nục, mắm cá cơm, và rất nhiều thứ gia vị từ đồng bằng đưa lên “theo đơn thuốc bắc của bà Thùy”. Nhà ở của tổ nấu ăn biến thành tiệm thuốc bắc thật, với một giàn treo dọc phên xếp kín những bình nhựa và thủy tinh đựng các thứ làm ngon miệng. Qua tháng thứ hai, phong trào nâng cao đời sống vọt thêm một bước dài khi mấy anh thương binh cấp tiểu đoàn đứng ra tổ chức Hội đồng thương bệnh binh và phát động cuộc “cách mạng đời sống”, nghe rất oai. Giới chuyên môn từ lâu muốn nhờ anh em giúp cho tí chút, nhưng sợ “sai chính sách” nên không dám, để anh em bị đánh tú-lơ-khơ suốt ngày, nằm tán gẫu tận khuya. Thương bệnh binh là cả một kho kinh nghiệm, một xã hội trăm nghề thu nhỏ. Tất nhiên không ai để số bị nặng động tay. Những cậu lười, hay càu nhàu nhất cũng không nhờ. Nhưng các vị chuyên gia nằm mãi ngứa ngáy cứ sấn vào làm giúp. Chuyên gia đặt bẫy có ba người, kiếm chồn, cheo, gà rừng, công, chỉ cần hộ lý kiếm cho một cây tre già và ít dây cước to nhỏ. Chuyên gia kiếm cá mò tay các hang hốc dọc suối to, sau thêm mấy sải lưới hai càng ăn to. Chuyên gia kiếm rau rừng tìm ra mấy chục thứ ăn được trong vòng nửa cây số bán kính. Riêng số nổi máu săn bắn thì rất nhiều, nhưng bệnh xá trưởng cấm hẳn: anh em ham theo thú rừng dễ rơi vào hố chông bẫy thỏ của bà con Thượng, chỉ có hộ lý hay cán bộ quen thung thổ được phép đi săn. Bếp chị Thùy ngày càng chất đầy những vò, hũ, thùng sắt tây, sọt to giỏ bé lót nhựa chứa thức ăn dự trữ: dưa nõn cây đoát muối trường, mon thục muối chua ăn xổi, măng khô, măng chua. Trên đòn tay treo từng chùm nem thịt muối thính có vòng gai chống chuột và giấy ghi như nhãn thuốc, cùng nhiều gùi thịt cá sấy khô. Anh em từ Bắc vào sẵn chữ nghĩa, sửa lại một lán cũ làm câu lạc bộ. Có chỗ đọc sách báo - xin vét nhiều nơi - máy thu thanh chạy bằng pin Mỹ đi càn bỏ lại, một tờ bích báo vẽ nhiều hoa và chim trên giấy manh học sinh dán thành khổ rộng. Người ra viện viết cảm tưởng dán lên báo những lời lưu luyến, sau nhiều tháng vẫn gửi quà chiến lợi phẩm về biếu bệnh xá. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 10:34:39 am Tin chị Hai Thùy ra đi gây một chấn động khó lường trước trong cả cán bộ nhân viên và thương bệnh binh. Kiếm đâu ra một người thay thế, cũng hiền hậu, tháo vát, thương anh em như chị? Thấy xôn xao quá, hai cô y sĩ phải rỉ tai mọi người rằng chị Thùy có thai, phải ra Bắc mới sinh nở được, ở đây quá khó.
Các đảng viên trong chi bộ đến lúc này mới nghĩ: tại sao ta chưa kết nạp chị Thùy vào Đảng? Ừ nhỉ, tại sao? Suốt cả chục năm chị là cơ sở tiếp tế của huyện Tây Quảng chứ đâu phải chỉ gửi quà cho chồng? Từ ngày lên núi, chị ở đâu cũng được tiếng khen, ngay con Thanh Bình cũng giúp được bao nhiêu việc, đâu phải chỉ dắt con theo chồng? Ông bí thư kề cà huấn thị rằng phải điều tra thêm, đừng vội, chớ mất cảnh giác. Liên tiếp số đảng viên làm chuyên môn đập lại, bác sĩ, bệnh xá trưởng cho một đòn đau điếng: “Tôi đang đề nghị hậu cần cử một quản trị trưởng thay đồng chí đấy”. Thùy bần thần khá lâu trước tờ giấy viết tay đơn xin vào Đảng. Liệu mình có kham nổi hai tiếng đảng viên không? Trong những năm đen tối, Thùy đã thấy không ít đảng viên xuất thú đầu hàng, đọc bản phản tỉnh, xé cờ, đạp ảnh lãnh tụ, có kẻ như thằng Ba Mít biến thành rắn độc. Mình dám chịu đòn đến hấp hối như Năm Bưởi, dám lăn lộn suốt nửa đời người như anh Cả Chanh, đánh hàng trăm trận sinh tử như dượng Năm Chò không? Hay tốt hơn là đứng ngoài Đảng, lo may vá bếp núc cho chiến sĩ ta là vừa sức? Nhân dịp bếp tỉnh ủy mời đến vẽ kinh nghiệm. Thùy gặp anh Chanh, hỏi ý anh trong đêm nằm ngủ nhà khách, tỉ tê đến khuya. - Thùy ơi, Đảng mình đang cần những người như em đó. - Em dốt đen, là nhơn viên hô đi hét đứng. Mà anh hay nhắc là Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lê, là cộng sản. Mác - Lê thì ngay cái hình em cũng chưa thấy, cộng sản là gì em chưa biết, mới nghe nói độc lập thống nhứt thôi. - Tạm bấy nhiêu làm vốn, về sau học thêm. Thùy còn định hỏi nữa, nhưng anh Chanh đã ôm ghì vợ đến ngạt thở. Thùy hổn hển: “Em gần ba tháng rồi. Bác sĩ nói tháng thứ ba dễ hư thai...”. Nhưng khi Chanh nới tay, Thùy lại vớt: “Nhẹ nhẹ cũng được, không sao đâu anh. Tội nghiệp...”. Đơn của Thùy được chi bộ thông qua nhanh. Chi bộ này trực thuộc Đảng bộ tỉnh đội. Khi biên bản được đưa lên, một đồng chí trong đảng ủy tròn mắt: “Ủa, tụi mình tưởng chị Thùy vô Đảng lâu rồi chớ, đang tính bầu bổ sung vô Đảng ủy đây nè!”. Duyệt gấp, lễ kết nạp cũng gọn nhẹ. Điều may cho Thùy: không ai nghĩ Thùy được kết nạp vì là vợ bí thư tỉnh ủy, mà chỉ ngạc nhiên như anh Đảng ủy tưởng chị vào Đảng từ lâu. ... Cũng như chồng, Thùy ra đi trong nỗi dằng xé của hàng trăm sợi tơ thương nhớ, của bao lo toan bỏ việc dở dang mà những ai cả nghĩ mới đeo nặng. Anh Chanh đến chào tạm biệt bệnh xá với bộ mặt thẫn thờ, Thùy ra vào như kẻ đãng trí, con bé Thanh Bình cũng đâm ra ngơ ngẩn. ... Suốt đêm ở nhà khách binh trạm, những kỷ niệm chưa lùi xa mấy cứ ám ảnh Thùy. Anh Chanh cùng đoàn cán bộ đi trước các cháu chỉ ba ngày, nhưng đi nước rút vượt trạm đã khá nhiều đường đất. Sáng hôm sau, Thùy và Xíu cho đoàn ăn xong, đang giặt đồ cho các cháu nhỏ nhất dưới suối, bỗng được mời lên gặp ban chỉ huy binh trạm. Có mặt hai đồng chí hôm qua, thêm một bác sĩ, một kế toán trưởng. Họ hỏi kỹ về đoạn đường các cháu đi qua, về chế độ ăn và thuốc men, về cách phục vụ ở các trạm. Thấy hai chị nói dè dặt, anh phó Ban dân y nói trắng: - Các chị đừng sợ tay Tráng trù úm đọc đường ra Bắc. Chúng tôi đang xếp người thay hắn ta. Ăn cướp cơm chim, dùng các cháu như đứa ở, đi riêng, ăn riêng, ngủ riêng, thứ đó bám theo các cháu để rút khỏi chiến trường mà không bị xếp vô “lính họ Đào, ngày bữa chi!” Hai chị buộc phải xem thằng Tráng đã xuất cho đoàn những thứ gì. Rất dễ, vì hầu như không có gì. Các địa phương gửi con em ra Bắc đều dồn mọi thứ tẩm bổ và thuốc men cho các cháu, chưa kể phần cấp thêm của khu ủy, quân khu, tỉnh ủy, tỉnh đội. Không ai ghen tị với trẻ em và thương bệnh binh, xưa nay vẫn thế. Sau bữa trưa, hai chị lại được mời lên ban chỉ huy binh trạm lần nữa. Ngoài bốn đồng chí ban sáng, có thêm tay Tráng ngồi co ro, mặt tái và mồ hôi ướt đầm áo. Các thứ giấu kín trong ba chiếc ba-lô và cái túi dết cỡ đại được xếp ngay ngắn trên sạp. Đồng chí kế toán đọc biên bản khám xét hành lý của Bùi Đình Tráng: - Chấp hành lệnh số 96/TS của Bộ Tư lệnh 559 về việc chống gián điệp biệt kích, ngăn chặn tệ đào ngũ và trộm cắp dọc đường dây giao liên... Thùy và Xíu ngẩn người khi nghe những lời lạ tai ấy. Chủ nghĩa xã hội vẫn còn những đứa như thế ư? Anh kế toán đọc cả một bản kê dài dằng dặc những thứ các chị chưa hề nghe nói, cả ba máy thu thanh, một cân rưỡi cao hổ cốt, hai cân cao gạc nai, bốn chục mét vải đen cùng rất nhiều kim chỉ để đổi các thứ ăn tươi dọc đường loại rẻ tiền như chuối, mía, trứng. Lại thêm mười tám chiếc nhẫn vàng loại một chỉ, bốn lập-lác vàng tây khắc tên, chức vụ, đơn vị của sĩ quan ngụy, mười hai đồng hồ Thụy-sĩ và Nhật loại đắt tiền... Trước ngày lên đường, các chị chỉ lo tăng võng, tấm đắp, sức khỏe cho từng cháu, khoán hẳn cho Tráng nhận mọi thứ quà biếu và hàng được cấp. ... Bùi Đình Tráng báo cáo đã xuất cho các cháu bồi dưỡng thêm ngoài tiêu chuẩn các trạm một ki-lô-gam ruốc thịt lợn, hai ki-lô-gam đường, hai hộp sữa bột ghi-gô, hai túi mì chính cánh loại một pao, tức hơn bốn lạng mỗi túi... Hai chị phụ trách đoàn cho biết không hề nhận được các khoản nói trên... Thùy chợt thấy mệt nhoài, mệt hơn khi leo dốc ba bốn trăm bậc. Ghê tởm nữa. Lắm khi hụt gạo, từ bác sĩ bệnh xá trưởng trở xuống đã húp thứ canh sắn tươi nấu với rau rừng sền sệt, bỏ tí muối tượng trưng, nhường gạo muối cho thương binh, đôi người đang mổ đói quá run tay phải nhờ bạn giúp... Thằng này hẳn thuộc cái bám đuôi bộ đội đánh đồn. Bỏ mặc thương binh chảy máu đến chết để luồn các xó xỉnh kiếm vàng, đồng hồ, tiền Mỹ tiền ngụy, như Thùy đã nghe vài lần... - Mời chị nhận lại đồ bị ăn cắp. Chúng tôi tạm giam thằng “họ Đào” này tại binh trạm, chờ cấp trên xử. Thay cho hắn, chúng tôi cử một bác sĩ quân y bị thương ở đầu gối phải ra Bắc mổ lại. Anh này rất khỏe, đi đường trường tốt, chỉ phải cái tật “chấm phẩy” nên không bước nhanh được, chắc là vừa tốc độ các cháu. Về tinh thần thì cực kỳ, là đại úy, chiến sĩ thi đua bốn năm liền cấp sư đoàn. Những thứ được bàn giao còn quá nhiều, tuy tên Tráng luôn miệng trả lời là hết sạch hay sắp hết phải để dành. Anh bác sĩ được mời đến nhận thuốc men, buộc mỗi cháu phải gài trên ngực một gói băng cá nhân dán kín, trong có một ống vi-ta-min K cầm máu và một ống thuốc tím bột. Hai chị phải mang một ít thuốc phòng sốt rét để dỗ các cháu uống, một gói thuốc tăng lực, một hộp nhỏ những viên khử trùng nước uống và viên xóa mùi. Mãn cuộc, anh phó Ban dân y còn giữ riêng Thùy lại, bảo cần bàn thêm. Chẳng bàn gì cả, anh chỉ nói về anh Cả Chanh: - Các ổng đi như chữa cháy, mỗi ngày hai ba trạm. Ngay binh trạm đây là chỗ nghỉ ngơi cấp phát các ổng cũng chỉ dừng một buổi, lĩnh xong các thứ là vù luôn. Anh Chanh đi khá lắm, uống ca-vét tăng liều khỏi bị dạ dày nó hành tội... À, chị biết chuyện con chó Dồ ra Bắc chưa? Chưa hả? Ly kỳ lắm nghen... Cuối ngày đi đường đầu tiên, anh em giao liên trông thấy một con chó lạ núp sau cây to gần trạm khách. Tưởng chó làng Thượng ra kiếm ăn, họ phớt lờ. Một trung đội ngoài vào nghi là chó hoang, chó rừng, định bắn làm bữa tươi. Hai cậu lò dò đến, nó vẫy đuôi mừng. Thấy lên đạn súng CKC, nó nhe răng gừ. Nòng súng mới nhấc lên, nó vọt biến. Tiếng đồn bay qua các nhà khách là có chó trinh sát đến, ta để đi lạc hay địch thả xuống chẳng biết. Cả Chanh ngờ ngợ, ra xem thử. Con chó vẫn luồn lách trong, các bụi cây, thoáng lộ cái lưng mầu xanh lá sẫm pha đen. Anh gọi thử: - Dồ! Dồ, lại đây! Con chó thập thò ra khỏi chỗ rậm, nằm xệp xuống, khẽ rên trong mũi. Nó biết mình có tội không vâng lệnh chủ, lén trốn theo chủ. - Dồ, tới đây coi! Khốn khổ, đói xép ve rồi nè. Lại đây! Ông chủ không giận, mặt và giọng rất hiền như khi vuốt ve nó, nhổ gai và bắt những con vét heo vét nai trong tai và các kẽ chân cho nó. Nó thong thả bò đến theo kiểu chờ phạt. Chanh vẫy nó theo vào nhà khách. Nhiều cán bộ hay lui tới tỉnh ủy Quảng Nam nhận ra ngay con chó trinh sát nổi tiếng: - Dồ, nhớ tao không? Nhận được bằng khen chưa. Đói sắp gục rồi hả? Còn cơm nguội với nước canh thôi, đừng chê! Cái soong hỏng đầy cơm ghế sắn rưới nước canh đã bày trước miệng, con chó vẫn đăm đăm nhìn ông chủ với ánh mắt van xin. Chanh gật đầu, nói rất dịu: “Dồ, ăn đi!”. Nó bò đến bữa ăn, đớp từng miếng nhỏ són vén, dần dà mới dám ăn như hằng ngày. Nó khôn đến cái độ đoán qua các cử chỉ âu yếm khác thường của ông chủ trong những ngày soạn sửa lén đường mà không gọi nó theo, với những ông bà cùng đi với chủ đều là người lạ, lại đi khác hướng ngày thường. Nó cố cưỡng lại thói quen vâng lời đã ăn sâu từ nhỏ, ra di sau ông chủ một lát, theo cái mùi riêng không thể lẫn của người được nó thương yêu nhất, nhưng nó còn đủ tỉnh táo để biết mình không được đến gần hay chạy trước chủ như những chuyến đi khác... Chanh rất băn khoăn vì con Dồ. Đuổi nó trở về, nó sẽ bị anh em bộ đội bắn cho vào nồi. Đưa nó đi... có đoàn nào ra Bắc mà đem chó theo? Đoàn cán bộ quyết rất nhanh: nhận nó làm chó trinh sát và bớt mỗi người vài thìa cơm nuôi nó. Khỏi bàn nữa, anh Chanh, có con Dồ chạy trước, quen đánh hơi nhận ra biệt kích gián điệp, tụi mình càng yên chí lớn. Các anh chị chỉ buộc con Dồ phải ngửi mùi mỗi người một vài phút để được làm thành viên của đoàn. Sáng hôm sau, con Dồ đầy tự tin và sung sướng đã chạy ton ton trước giao liên độ trăm thước, nghiêng nghé nhìn và ngửi hai bên đường, lách tránh rất nhậy mỗi khi các đơn vị đi vào định dùng mình làm “chất tươi cải thiện”. Hai Thùy cười mãi vì con chó khôn đặc biệt của chồng, về cuối mới hỏi thêm về thằng Tráng. Chị sợ xử hắn nặng quá cũng tội nghiệp. Anh phó ban dân y cười buồn: - Nó tội ăn cắp chiến lợi phẩm, thuốc dân y ăn bớt xén của các cháu. Tịch thu các thứ, áp giải trở về khu, vô trại cải tạo ít lâu, chuyển qua trại sản xuất đến hết hạn nghĩa vụ. Nhiều cậu “lính họ Đào” lạy van xin ở xa chỗ ác liệt trong kia, trên cũng xẹt cho làm lính gùi cõng dọc đường 559 này, không xử nặng đâu, chị đừng lo... Hai ngày sau, đoàn trẻ em lại đi tiếp, và được săn sóc tốt hơn nhiều so với đoạn đường đi với “chú Tráng”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 02:11:46 pm Chương 18 - Thưa các bác, các anh chị. Viện bảo tàng Er-mi-ta-giơ này là một trong những kho tàng văn hóa nghệ thuật lớn nhất thế giới. Từ khi lập chính quyền Xô-viết, cung điện mùa đông của Nga hoàng được mở rộng, số hiện vật trưng bày đã tăng hơn gấp ba lần, đặt trong bốn trăm phòng. Có những tranh vô giá của Lê-ô-nác-đô đa Vin-si, Ra-pha-en, Rem-branđ, Ru-benx, Go-ya và các bậc thầy cổ điển khác. Mỗi năm có trung bình ba triệu đến ba triệu rưỡi khách viếng thăm... Sáu Cam thoáng thấy một bác tóc gần trắng che miệng ngáp dài. Một ngón tay mổ nhẹ vào vai Cam. Một chị từ miền Nam mới ra thì thào: “Các ông bà này có nhiều công lao với cách mạng mới được vẽ hình triển lãm ở đây, hả anh?”. Làm sao nói để chị hiểu các bức tranh cổ vẽ hoặc khác gỗ trong i-côn không phải là chân dung những nhà cách mạng? Cam chỉ “Ờ, ờ, họ cũng tiến bộ...”. Đoàn miền Nam mà Cam đưa đi tham quan một tháng ở Liên Xô có chín cán bộ cao tuổi tập kết ra Bắc từ 1954, được đi để “giải quyết chính sách trước khi về hưu”, mang theo một bản kê rất dài những thứ vợ, các con và cháu cần mua. Trọng tâm chú ý của các bác dồn và các cửa hàng GUM, TXUM, hay “Thế giới thiếu nhi”, khi cần thì sục tận “Cửa hàng quân đội” ở Mát-xcơ-va. Mua một thứ vặt như bàn là, dây may-so, họ cũng làm Cam mất hàng giờ để giúp so sánh mặt hàng, vì tiền rúp có hạn. Ghép vào đoàn có năm cán bộ miền Nam mới ra, ít chạy mua sắm cho con cháu nhưng lúng túng trăm đường, phải dẫn đi đái, bày đi thang máy, dùng điện thoại, cách cầm dao nĩa trong bữa cơm. Cam nhận hướng dẫn đoàn này vì có anh Cả Chanh. Hai anh em ôm ghì nhau thổn thức mãi ở Mát-xcơ-va, trong phòng khách của Cơ quan đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, chưa được nâng lên cấp đại sứ quán vì chưa có chính phủ. Đại sứ quan Việt Nam dân chủ cộng hòa, với con trai ông Trà Đình Mậu vừa chuyển sang quản lý lưu học sinh - số này đều có trình độ cao hơn nhiều so với đoàn miền Nam này, có lẽ vì họ nghèo xác xơ so với các đoàn kinh tế. Chẳng khó gì khi thuyết một tràng về nghĩa vụ và tình cảm đối với miền Nam ruột thịt, trong khi người nói chỉ nghĩ đến đồng rúp hay đô-la buôn lậu và chuyển của về nước cách nào ít tốn nhất. Chỉ có mấy người như anh Cả Chanh muốn hiểu về nền văn hóa nước bạn. Vài ba cặp mắt chăm chú xem tranh, tượng. Anh Chanh cùng một bác nữa ghi sổ tay, cũng là hai người hỏi nhiều nhất, rõ ràng là cố học thêm trong chuyến tham quan này. Sáu Cam luôn ở chung buồng với trưởng đoàn là anh Chanh, đêm nào cũng rủ rỉ đến khuya. Cam hỏi không ngớt miệng, nghe như uống từng lời. Cứ giục nhau “ngủ đi” trằn trọc một lát, lại một người lên tiếng trước. Hai anh em chỉ cách nhau mười hai tuổi, nhưng Cả Chanh đã héo hắt râu tóc đã đốm bạc, còn Cam béo trắng, hồng hào cao hơn anh tới nửa cái đầu, tuy khuôn mặt vẫn nhiều nét chung như lông mày nét mác và cái cằm chẻ giữa. Vài người đã lầm anh em là cha với con đầu lòng. Anh Chanh rất mừng khi thằng em mà anh túm gáy ấn xuống ghế nhà trường năm xưa đã trở nên một trí thức cộng sản trẻ, nổi tiếng học giỏi, được số đông nghiên cứu sinh coi là đặc biệt thông minh, sẽ thành cán bộ đầu ngành về văn hóa dân gian Đông Á và Nam Á. Nó mới ba mươi lăm tuổi thôi, đường học hỏi còn dài. Đoàn khu Năm đi gấp, chỉ nghỉ vài ngày để tắm giặt và sửa soạn, báo cáo với Bộ chính trị và Ban bí thư suốt ba ngày. Sau đó mỗi tỉnh vào “thi vấn đáp” một ngày nữa, Quảng Nam là chiến trường trọng điểm của khu được ưu tiên một ngày rưỡi. Cả Chanh không cần lời căn dặn “nói thẳng, nói thật, nói hết”, cứ biết gì tuôn ra không hề kiêng nể. Có cả những điều trắng trợn: - Khi tôi mới đến Hà Nội, được gặp vài đồng chí ủy viên Trung ương đến thăm, khuyên rằng việc này chỉ nên báo cáo với đồng chí A hay B, đừng báo cáo với đồng chí C. Sao lạ vậy? Hai đồng chí trong thường vụ tỉnh ủy cùng đi trách Chanh “lần đầu gặp Trung ương đã gây căng thẳng”. Anh không đổi ý: “Đã né tránh phê bình từ dưới lên thì không còn là người cộng sản nữa”. Bác Hồ đang lúc ốm mệt, chỉ gửi mấy chữ thăm chung cả đoàn, hẹn hôm nào khỏe Bác sẽ tiếp. Chừ Bác đã hơi run nhưng còn rõ. Anh Tố Hữu mang thiếp đến cho đoàn nói thêm: “Bác bảo thăm hỏi mà nhờ người khác viết thì thiếu cái tình, để Bác tự viết mới thân thiết”. Anh chị em cầm tấm thiếp mà ứa nước mắt. Ước gì có thể mỗi người góp năm năm tuổi sống nữa, dân mình sẵn sàng quyên mười thế kỷ tuổi để Bác sống đến ngày thống nhất! Chị Hai Thùy còn lang thang trên đường 559 với bầy trẻ em, các cán bộ quen “ông Chanh xe lửa” từ hồi chống Pháp đã gọi điện ra Văn phòng Trung ương báo tin chị và các cháu đi chậm nhưng không bị bom đạn hay đau ốm, chỉ phải cái bụng mang thai của chị cứ đội áo lên to dần. Cả Chanh báo cáo xong, được xếp di tham quan Liên Xô trong khi đợi Trung ương họp toàn thể. Tin đồn mang máng trong giới cán bộ cao trung là ta sắp mở một cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam, ngày tháng nào chưa biết, chỉ đưa bộ đội, vũ khí, thuốc men vào ngày càng ùn ùn. Một ngày trước khi lên máy bay, đoàn khu Năm nhận được tin về trận càn lớn vào Tây Quảng Nam. Nó không còn lớn như kế hoạch ban đầu của Mỹ: thủy quân lục chiến Mỹ ở vùng chiến thuật Một bị điều ra Quảng Trị và đường Chín - Nam Lào nhiều, chỉ gom được ba nghìn quân đưa lên Quảng Nam. Cánh quân Kỵ binh hay từ Kon-tum xuống rút còn hơn một ngàn, chia nhiều mũi thăm dò để dùng B.52 hủy diệt, chứ tránh chọi nhau đối mặt với ba sư đoàn Việt Cộng chưa biết đang ở đâu trong núi rừng chập trùng này. Quân ngụy cũng chỉ huy động được một trung đoàn rất thiếu lính chiến tuy lương phát đủ, một tiểu đoàn biệt động quân, hai đội biệt kích Mỹ ước chùng hơn trăm quân, với hơn hai chục sĩ quan và hạ sĩ quan Mỹ chỉ huy. Cả đoàn khu Năm thở phào: chúng nó bấy nhiêu thì sức ta chọi không khó, chỉ cố xóa phiên hiệu một cánh quân Mỹ là nó khiếp. Đường bay hồi đó khá nhiêu khê. Phải đi máy bay nhỏ IL-14 lúc tối trời từ Gia Lâm sang Nam Ninh, làm thủ tục quá cảnh tại đây. Hôm sau lại đi IL-14 bay chậm và khá xóc lỗ không khí, đến Vũ Hán xuống nghỉ ăn trưa một lát, lại bay tiếp đến tối mịt mới tới Bắc Kinh. Khách sang nghỉ tại khách sạn Kinh Tây hay Bắc Kinh, khách thường vào khách sạn Tân Kiều. Thời gian chờ chuyển sang tuyến bay TU-104 của A-ê-rô-flốt Liên Xô có khi kéo dài tới ba bốn ngày, các đoàn Việt Nam đủ thì giờ cuốc bộ đến quảng trường Thiên An Môn, Bách hóa đại lầu, chợ Đông An vừa đổi ra Đông Phong , xây cách nhau không xa mấy. Đại tự báo dán nhan nhản khắp nơi, tiếng máy tăng âm đặt ở các góc chợ và ngã ba ngã tư của các phái Hồng vệ binh tố cáo lẫn nhau là phản bội Mao chủ tịch. Một bác biết chữ Hán đọc cho đoàn tham quan nghe những báo chữ to thuộc sáu phái Hồng vệ binh: Cờ đỏ, Tạo phản, Tư tưởng Mao Trạch Đông, gì gì nữa không nhớ hết. Các đồng chí ta nhìn nhau ngẩn ngơ. Các đồng chí ở Cơ quan đại diện Mặt trận cho biết chỉ qua ngót một năm đấu đá và giành chính quyền ở cơ sở mà hàng hóa đã khan hiếm như mấy năm “tiến nhảy vọt” và lập các công xã nhân dân khổng lồ. Còn may vài năm nay thóc mì được mùa, không bị đói. Thật khó hiểu, nhưng có thể nói ngay rằng không phải “cách mạng văn hóa” theo đúng nghĩa đen. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 02:19:18 pm Người dân Liên Xô hồi ấy quý trọng Việt Nam hết cỡ. Hai tiếng Việt Nam là chìa khóa mở cửa mọi trái tim. Chỉ có vài lần anh chị em ra phố mà quên đeo huy hiệu xanh đỏ sao vàng bị lầm là người Trung Quốc, gặp ngay thái độ ghẻ lạnh ra mặt của tất cả những người Liên Xô qua đường hay mua hàng.
Theo kế hoạch đã bàn với bạn, đoàn này sẽ còn tham quan hai nước Cộng hòa Trung Á là Uz-bê-ki-xtan và A-zer-bai-djan nữa. Nhưng Cam hơi nản. Đợt tham quan Lê-nin-grát này chỉ tạo hấp dẫn phần nào khi đoàn đi thăm tuần dương hạm Rạng Đông, lều cỏ của Lê-nin bên hồ Raz-líp, chỉ gây xúc động trước những mộ tập thể chôn chung nửa triệu người chết bom đạn và chết đói trong chín trăm ngày quân Đức bao vây. Về văn hóa nghệ thuật thì chỉ có ba bốn người muốn học hỏi... - Anh cả nè. Coi bộ phần lớn các bác, anh chị muốn ở lại Mát-xcơ-va hơn là đi tham quan xa, tìm thăm người thân quen hay bà con ở đó, đi chơi dạo quanh thủ đô rồi về. Em đã đưa anh tới ăn cơm nhà bà Ôn-ga coi em như con nuôi, có con là Ô-léc học cuối năm thứ hai ở Trường đại học Ngôn ngữ phương Đông, nói tiếng Việt khá, anh thử rồi đó. Nó cũng muốn đi với người Việt để thực tập. - Chưa chắc Hội Xô - Việt hữu nghị bằng lòng. Thêm một người cũng tốn kém tiền khách sạn, tiền thù lao... - Anh cứ gọi điện về Mát... tức Matxcơva, hỏi thử. Em thấy rất nhiều đoàn có một cán bộ hướng dẫn thuộc Ban đối ngoại, một phiên dịch. Vì họ biết em vừa dịch vừa hướng dẫn được nên giảm bớt một người. Mà cậu Ô-léc ở ngay Mát, ăn cơm nhà, hằng ngày đến đưa bà con ta đi dạo phố, tối ngủ nhà cũng chẳng tốn mấy. Hễ phía bạn bằng lòng, em gọi điện cho Ô-léc là nó chịu ngay, đang nghỉ hè mà. Với lại các bác có con cháu là lưu học sinh cũng hay tách đi riêng lắm. Chanh mời đoàn họp tối hôm ấy. Thì ra Sáu Cam đoán đúng. Mười bốn người trong đoàn, có tám người muốn trở về Mát trong hai mươi ngày còn lại, trong đó ba người muốn đi riêng với người thân là lưu học sinh hay cán bộ nhân viên ở sứ quán, đại diện miền Nam. Đoàn ủy nhiệm cho Cam sáng mai gọi điện cho Hội Xô - Việt, nếu được đồng ý thì cho Ô-léc biết sớm để ra ga đón. Mọi việc trôi chảy, chỉ khác tí chút là các khách sạn loại sang đã hết chỗ, chỉ còn khách sạn U-ran có thể nhận thêm mươi khách nữa. Tiền ăn thì tiếp tục phát như cũ là mỗi ngày sáu rúp, tiền ở do Hội thanh toán. Ô-léc được thù lao mỗi ngày đủ sáu rúp, ở thì tự túc vì nhà gần. Cam đưa tám vị cao tuổi lên xe lửa điện tốc hành “mũi tên xanh” lúc mười giờ đêm, nhưng trời sáng như bình minh trong đêm trăng Cực Bắc. Phải thu xếp chăn đệm, nước uống khuya, hướng dẫn chỗ nằm đúng vé, chỗ vệ sinh, tàu sắp chuyển bánh mới trở về khách sạn Châu Âu, thích thú cuốc bộ dưới quang cảnh độc đáo đã kéo theo nhiều ngày hội dân gian “Đêm trắng Cực Bắc” mãi đến cuối tháng Sáu mới ngớt dần. Cam dẫn tiếp sáu đồng chí còn lại đi Uz-bê-ki-xtan, nơi thành phố Tas-ken đã sống lại sau những cơn động đất hủy diệt năm ngoái. Các nước cộng hòa và các khu vực lớn đến giúp xây dựng lại đã đưa tất cả các kiểu kiến trúc toàn Liên Xô vào những ngôi nhà lớn do mình xây dựng, biến thành phố ngót hai triệu dân và già hơn hai chục thế kỷ này ra một vùng triển lãm kiến trúc hết sức độc đáo của rất nhiều dân tộc trong Liên bang. Rồi đi Bu-kha-ra với nhũng chuyện kể về Na-xrê-din, một nhân vật Trạng Quỳnh rất quen thuộc ở Trung Á. Cam chỉ dịch mấy câu chuyện về Na-xrê-din đủ cho cả đoàn cười tức bụng. Tiếp đi Xa-mar-kan với những thành quách, trường Hồi giáo, tu viện đồ sộ khảm sành sứ màu từ chân đến đỉnh. Và nơi kết thúc là khu khẩn hoang vùng hoang mạc Phér-ga-na, mọc lên chung quanh con kênh đào 345 cây số ra đời trước Đại chiến Hai, với cuốc xẻng nhiều hơn sức máy. Cam đã đến vùng đất rất cổ kính và giàu văn hóa này trong hai kỳ nghỉ hè liên tiếp, lần theo những con đường ngày xưa đoàn lạc đà và lừa ngựa chở hàng giữa Châu Âu và Ấn Độ, Trung Hoa, cùng các nước sản xuất đủ thứ gia vị hiếm quý ở Đông Nam Á. Lần này, Cam say sưa nói về giao lưu văn hóa Âu - Á và ảnh hưởng đối với Việt Nam, Đông Dương, một đề tài hiểm hóc chưa ai động đến, nhất là khi Mỹ, các nước trong SEATO và NATO đều đánh hoặc bao vây Việt Nam. Cả Chanh thử sức em kín đáo bằng nhiều cách. Dựa vào một bài nghiên cứu được đọc trên đài Hà Nội, anh hỏi về giao lưu giữa nền văn hóa Đông Sơn với các nước gần xa. Gặp một đoàn du lịch Ấn Độ nói tiếng Anh, Chanh gọi Cam đến dịch nói chuyện suốt buổi tối, sau đó một ông bạn biết được ít tiếng Pháp đã khen Cam nói giỏi tiếng Anh tuy chỉ tự học. Rõ ràng Cam học chăm, học giỏi không đuổi theo một học vị “chiếu cố, hữu nghị” mà một số giáo sư quá yêu Việt Nam hay cho nới điểm. Chỗ lủng củng giữa hai anh em chỉ có một : Cam vẫn nằng nặc đòi vào miền Nam “chỉ ngửi mùi thuốc súng vài tháng cũng được”. Chanh không muốn thế. Trong hai ngày ở chung với Hoàng Lan và hai đứa cháu - thêm con Dồ nữa - Chanh được nghe kể không ít chuyện vui buồn về miền Bắc chống Mỹ. Văn phòng Trung ương cho một xe con đưa anh với con Dồ lên chỗ sơ tán của bệnh viện cùng với một gói quà theo tiêu chuẩn của cán bộ miền Nam có gia đình ở miền Bắc. Anh cán hộ cùng đi nói nhỏ với Đảng ủy bệnh viện về quy định bảo vệ và bí mật, hẹn sau hai ngày sẽ cho xe lên đón. Bí mật là “bật mí”. Chỉ sau một ngày, anh chị em miền Nam tập kết thuộc bệnh viện, cả các gia đình gốc Bắc có con em đi nghĩa vụ quân sự và Thanh niên xung phong vào bên trong giới tuyến đã kéo nhau đến chật nhà. Sau đó lại kìn kìn các ông bà nông dân đã gửi con em đi chiến trường. Nhiều bà cẩn thận mang theo ảnh con trai hay gái nhờ Chanh nhận mặt xem “có gặp cháu ở đâu không”. Anh phó bí thư Đảng ủy phụ trách khu sơ tán lo cuống lên, đành phải bàn với Đảng ủy xã mời hẳn một cuộc họp mặt ở sân phơi lớn của hợp tác xã, có máy điện và phóng thanh của bệnh viện, có dân quân gác máy bay và giữ an ninh. - Nhờ anh nói giùm về tình đoàn kết quân dân, cán bộ công nhân với nông dân miền Nam... Chanh bật cười. Trong kia, cán và lính chỉ có cái bồng nhỏ trên lưng, lương bổng chẳng có, không lăn vào dân thì chết đói! Định họp hai tiếng, cuộc mít-tinh kéo dài năm tiếng, các ông bà đứng lên hỏi tới tấp như trong đại hội xã viên. Chanh không thể nói hết như trong các cuộc họp Đảng. Không tô vẽ gì, nhưng chỉ nói một phần các mặt trái, các tổn thất phía ta. Biết làm sao được. Kể hết những cảnh máu đổ thịt rơi trong khi cả nước đang đau đáu chờ tin con em mình đang chiến đấu với một đế quốc mạnh chưa từng thấy từ khi có loài người, một chọi với trăm với ngàn, chỉ gây thêm những cơn buốt lòng như xát muối. Hoàng Lan không bàn góp vào việc của chồng: - Tánh nết ảnh vậy đó. Việc nhỏ hằng ngày thì quá dễ, em tự quyết định hết, có gì ăn nấy, mặc nấy, việc nặng thì nhắc đâu ảnh làm đó. Vậy chớ đến công tác của ảnh thì em chịu đứng ngoài. Ảnh ở lại Liên Xô, về nhận việc ở ngoài này, vô miền Nam, em không khuyên gì được đâu. Ảnh phục nhứt là anh, hai anh bàn tính sao đó tùy lòng. Sức em nuôi được hai đứa con cho ảnh tung hoành phỉ chí. Thời buổi chống Mỹ này, lắm chị em nuôi cả cha mẹ chồng với ba bốn đứa con còn cực hơn em nhiều. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 02:22:03 pm Con Dồ đã kết bạn được với hai đứa trẻ và bà chủ mới, chỉ rên rỉ sơ sơ khi ông chủ để nó ở lại. Nó liếm tay hai đứa biết rằng từ nay nó phải che chở cho các con bà chủ, chưa khỏe và khôn như nó nhưng vẫn là dòng giống người thân. Trẻ con trong làng không phải nòi thân, đừng hòng nó cho sò nó.
Cả Chanh đã nghe ít nhiều về nạn dùng người trái nghề, ở miền Nam có khác, hoàn cảnh buộc nhiều giáo viên làm rẫy quanh năm, nhiều kỹ sư cơ khí chuyên dựng lán và đào hầm, nhiều chuyên viên điện tử cõng hàng dọc đường dây giao liên. Những trí thức “rấm sẵn” ấy tự nguyện kiếm việc mà làm trong những năm “thời cơ chưa đến”. Năm 1965, những tưởng ngụy đổ sụp đến nơi, họ sắp vào thành phố tiếp quản các cơ quan ngụy, nhưng quân Mỹ ồ ạt tràn vào, họ lại quay về với cái gùi, cây rựa. Ở miền Bắc không đến mức tréo cẳng ngỗng như thế, nhưng chất xám bị xài phí cũng chẳng vừa. Thà rằng tổng động viên như các nước có chiến tranh, đang làm gì cũng bỏ đấy đi cầm súng, hoặc chỉ lọc lấy một số cần thiết để ở lại hậu phương phục vụ chiến tranh như ngành quân giới, vận tải, cầu đường. Thế nhưng ta phải để dành và tiếp tục đào tạo trí thức cho mai sau, cho nên không ít người nghiên cứu khoa học xã hội như Cam về một cơ quan nào đó, lắm khi chỉ quanh năm xếp hàng mua nước mắm, xì dầu cho tập thể. Tốt hơn hết, có lẽ thu xếp cho thằng em tiếp tục nghiên cứu ở Liên xô, làm luận án tiến sĩ theo đề nghị của bạn là hơn cả. Anh Bảy Quý biết nó là đứa chỉ học chứ không ham tiền, ham ăn chơi, chắc sẽ vui lòng giúp, tiếng nói của một ủy viên dự khuyết Bộ chính trị nổi tiếng liêm khiết hẳn là nặng ki-lô lắm. Trở ngại cuối cùng lại quy vào chính Sáu Cam. Nó không chịu nổi nổi ám ảnh kéo dài: cả nước đang đổ máu hằng ngày, nó lại xa tít tắp, sống khá giả cặm cụi nhồi kiến thức vào đầu mình, không đóng góp được gì cho đồng bào đồng chí. Như thế là trốn lánh, ích kỷ, gần như đào ngũ! Không làm sao gột được cái mặc cảm ấy ở Sáu Cam. - Nè Cam, hồi ở chủ lực 108, hễ được giao làm đơn vị dự bị em cũng thấy nhục à? Hay là cuối chiến dịch, lính chủ lực lui về hậu phương chấn chỉnh và học tập, giao địa bàn cho du kích, em cũng coi như đào ngũ? Xa hơn nữa, khi mới bắt đầu đánh Tây ở Đông Nam Bộ với anh Năm Chò, trên bắt rút lui để giữ quân giữ súng, lui đâu dân chửi đó, em có coi như bỏ dân mà chạy thoát mạng không? - Hồi đó khác. Quân lệnh như sơn, ai dám trái? - Bây giờ không phải vậy? - Bây giờ chỉ có một mình em lãnh đủ. Thà rằng có ba bốn người như em thì không ai ghen ghét được. Đây các giáo sư chỉ đề nghị riêng em, đó rồi ai cũng coi như chủ nghĩa cá nhân. - Tỉnh mình chỉ có một bí thư thôi, chắc anh cũng bị ghép vô chủ nghĩa cá nhân? Cam chưa kịp nghĩ thêm lý lẽ gì, các anh chị ở mấy buồng bên đã sang rủ đi dạo phố và ăn chiều. Sáu người cùng đi Trung Á đã bàn với nhau giảm bớt thì giờ giúp lùng hàng cho Cam, đừng như mấy ngày đầu mỗi người buộc Cam dẫn và dịch mấy tiếng liền đến mệt nhoài, mà đoàn lúc ấy những mười bốn vị. Nhờ đó, Cam giới thiệu nền văn hóa nước chủ nhà được nhiều hơn, gây được lòng ham hiểu biết ở từng người. Và Cam làm thêm được một việc ngoài chương trình: giúp mỗi đoàn viên lên cân nhanh. Các khách sạn thường dọn theo khẩu vị Châu Âu cho tiện, vì khách du lịch đến đây thường là người Âu, Mỹ, Nga, với túi tiền lép của một nghiên cứu sinh, Cam thường là ngủ nhờ nhà các bạn cùng trường và kiếm ăn ở các quán nhỏ dọn món ăn địa phương, rẻ và hợp với vị Việt Nam. Nay Cam thử đưa đoàn đến ăn ở mấy nơi như thế. Các anh chị rất khoái được ăn cơm, nhiều nhất là món cơm thịt cừu plôp của khắp vùng Trung Á, cơm rang thập cẩm từ Ấn Độ truyền sang, vài quán đã quen dọn cơm trắng theo kiểu Trung Hoa, Nhật Bản. Thức ăn được ưa chuộng là sa-slức, thịt cừu nạc nướng lụi với gan và cà chua. Các món khô xào nấu khác đều rất gần kiểu Việt Nam. Cộng vào đây là mồm mép khéo tán của Cam, khiến cho mấy quán đã bày bếp điện và soong trên bàn để cho các khách Việt Nam biểu diễn ăn thịt bò nhúng dấm với cải bắp và đủ thứ rau thơm. Ông chủ hiệu nọ cao hứng mang ra mấy chai rượu nho ngon nhất, cùng chạm cốc và chơi xả láng với các bạn Việt Nam anh hùng, cuối bữa xô Cam ra cửa khi nói đến trả tiền: “Các bạn bày cho tôi một món ngon lạ miệng, tôi thù lao”. Cam làm thủ quỹ, có khi cả tuần mỗi đoàn viên chỉ tốn mỗi người mười hai rúp, mà ăn ngon hơn tại khách sạn, phải trả tiền từ giàn nhạc sống đến ông gác cửa. Cam tiết kiệm hộ cho các anh chị từng tí: đi đường khát nước thì đừng vào tiệm kem, mà ghé lại các quán trà tsai-ka na uống nước chè bằng thích, tốn chỉ mươi kô-pếch mà rất hợp với dân mình. Đêm khuya, ai đói bụng cứ đến bấm chuông buồng Cam: có bánh mì dẹt, xốp, tuyệt ngon kiểu Trung Á ăn với dồi, đùi heo sấy hay cá hộp, kèm nước chè pha bằng cái phích nhỏ luôn sẵn nước sôi. Cam cười xòa khi lấy thêm xì dầu, tương ớt ra: - Thói quen của người quen làm việc khuya, mà không thích ăn đồ ướp lạnh, vậy thôi. Anh chị thích chè hay cà-phê? Sau bốn ngày thăm khu dầu lửa trên biển Ba-cu và vùng chuyên trồng chè, Chanh ở gần biên giới Thổ-nhĩ-kỳ trở về Mát với những khuôn mặt rám nắng và béo khỏe. Cam nhận được quyết định về nước: thôi, thế là khỏi bàn cãi dằng dai. Hai cách nghĩ ngược nhau tình cờ đưa đến cách giải quyết giống nhau: về nước góp sức đánh Mỹ, về nước để nhường cho nhiều người đi “chính sách”. Theo lịch của sứ quán, Cam sẽ lên đường bằng xe lửa liên vận hai ngày sau khi đoàn anh Chanh về nước bằng máy bay. Xe lửa qua Mông Cổ, xuyên Trung Quốc, về đến Hà Nội trong khoảng một tuần, nếu không bị Hồng vệ binh chặn phá dọc đường như vài chuyến trước. Đoàn tham quan rất mê Sáu Cam giúp dọc đường về, đã cử ba cán bộ đến sứ quán xin cho Cam cùng đi máy bay với đoàn, bị lễ phép từ chối: “Giải quyết riêng đồng chí Cam như thế, anh chị em khác sẽ ghen tị”. Nhưng khi Cam đến để làm các thủ tục về nước, có tới tám vị đến gạ gửi hàng về nhà, trong đó có tới bốn năm vị chỉ lạnh lùng gật đầu mỗi khi Cam có việc phải đến sứ quán. Lại phải giở chiến thuật “đánh lạc hướng” của giới lưu học sinh: “Tôi đang ở lang thang các Ốp có bạn bè, xin gọi điện báo sau”. Đôi bên nhìn nhau và đoán ý nhau khá đúng: - Mày miễn cưỡng mang hộ, nhưng sẽ giao đầy đủ... Mày nhận và ăn bớt một phần, nói dối là hàng bị lạc hay giao lầm... Mày lấy sạch và đổ vạ cho máy bay Mỹ.... - Thưa các bác, các anh chị. Chúng tôi học gạo đến mửa mật từ phổ thông hay các trường trong nước lên, sang đây sống tằn tiện bằng học bổng chỉ có kiếm thêm chút kiến thức mang về xây dựng đất nước. Các bác sống thanh liêm thì không dám nói, còn các anh các chị dựa vào ô dù sang đây để lánh né chiến tranh, bỏ cái phần cứu nước lo cứu mình và cứu nhà, còn muốn chúng tôi biến thành con buôn chuyến để các vị làm giàu nhanh hơn nữa... Chúng tôi xin đủ! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 02:30:00 pm Cuộc chia tay ở gia đình bà mẹ nuôi Ôn-ga là một nỗi đau xé ruột. An-đrây cùng chị vợ mới cưới - điện báo viên ở một trạm Cực Bắc - đều nói rằng tình cờ về thăm nhà, ra mắt mẹ, nhưng thật ra đã nhận được điện của Ô-léc báo tin anh Cam về nước. Bà Ôn-ga lánh mặt Cam, giấu đôi mắt sưng đỏ. Tô-nhi-a đã lên mười sáu tuổi, cái lứa tuổi nữ sinh hay phải lòng thầy giáo dù thầy đã có vợ con, bỏ lớp đi lang thang từ sáng đến tối, anh Ô-léc phải gọi điện khắp nơi và đi tìm về.
An-đrây cố giở trò đùa tếu cho cả nhà vui: - Các bạn anh đọc chung thư mẹ, sửng sốt khi nghe mẹ kể nhà ta đến bữa cơm nói ba thứ tiếng Nga, Pháp, Việt. Chỉ bốn người mà như liên hợp quốc. Ô-léc khoe mình nói tiếng Việt gần bằng người Việt, thế mà trong đợt thực tập anh Cam giao có lúc phải gọi điện hỏi bạn anh Cam, mấy lần thế. - Tại có mấy ông bà ở miền Nam mới ra phát âm không chuẩn ngay trong đoàn nói với nhau đôi khi cũng hỏi lại “hả, hả?”. Cam bật cười: - Đúng thế đấy, An-đrây. Người miền Nam ra Bắc, người Bắc vào Nam, vài tháng đầu phải tập làm quen với giọng địa phương và các từ rất lạ tai... Nhưng rồi cũng đến lúc Cam phải nói lời từ biệt chính thức: - Thưa mẹ, chiều mai con phải lên tàu liên vận... Bà Ôn-ga kéo tấm tạp dề, hàng ngày chỉ rời bà khi bà ra phố hay đi ngủ, úp vội lên mặt trong khi Cam ấp úng nói những lời cảm ơn thắm thiết nhất. - Chính mẹ phải cảm ơn con. Từ ngày con về ở chung, mẹ vui hẳn lên, hai em học giỏi và ngoan thêm nhiều. Con không khuyên nhủ nhiều, chỉ làm gương bằng nếp sống mẫu mực và ý chí học tập, như một ông giáo kiểu Giăng-Giắc Rút-xô... Nay mai mẹ sẽ thấy trống vắng lắm. An-đrây bay lên Cực Bắc, Ô-léc sang thực tập ở Việt Nam, Tô-nhi-a lấy chồng và theo chồng… Đừng làm bộ, Tô-nhi-a, đừng thề suốt đời ở với mẹ, là sợi chỉ ắt theo cây kim thôi. Có đứa nào như thằng Cam sẽ đến với mẹ? An-đrây vội vớt: - Cam nó sẽ quay lại mẹ ơi. Nó về nước lấy thêm tư liệu, viết luận án tiến sĩ, sẽ sang đây bảo vệ. Ngày trao bằng, nhà ta sẽ đứng hoan hô trong hội trường. Chỉ sợ khi nó lên viện sĩ Hàn lâm, mẹ con mình tới chào, nó lại hếch mũi lên trần nhà, hỏi lại: “Hình như tôi có gặp bà và các cô cậu ở đâu ấy nhỉ?”. Nhân đà An-đrây cao hứng đùa quấy, Cam tiếp luôn: - Bấy nhiêu buồng của mẹ không đủ chứa các cháu nội ngoại đâu. An-đrây với Liu-ba sinh cháu ở Cực Bắc, không thể nuôi con trong nhà vòm xây bằng nước đá. Rồi con của Ô-léc ở Việt Nam chịu nóng không nổi, thêm bom Mỹ ngày đêm, phải về với mẹ (Cam tránh đôi mắt nồng cháy của Tô-nhi-a). Tô-nhi-a nữa... Rồi bồng một đứa con của thằng Cam lù lù hiện ra trước cửa, mẹ đón nó vì thương nó xa nhà. Tất cả cười rúc rích, xúm vào trêu bà Ôn-ga. An-đrây ôm đầu lắc lư hệt như bà mẹ: “Ôi, lũ trẻ này khiến tôi phát điên mất thôi. An-đriut-ska, mày mở nhạc be bé được không? Ô-léc trốn đâu rồi, đến phiên giúp tao rửa bát... Tô-nhi-a, thôi, đuổi bắt trong nhà vỡ hết cả bây giờ... Sao mà tôi khốn khổ thế này, hỡi chúa?”. Bà Ôn-ga rất ít đi xa. Hồi sang Việt Nam và trở về, ông chồng làm hàng không thu xếp cho vợ con đi máy bay. Bà rất lo khi nghe Cam đi xe lửa ít nhất một tuần, nếu bị quấy rối dọc đường thì khó biết bao giờ tới. Ăn trên xe lửa thì nhất định là đắt, dở, không sạch. Ngay cái tủ lạnh cũng chẳng có. Bà để hai ngày đi lùng các thứ đồ hộp loại ngon nhất, cùng các thứ không đóng hộp nhưng lâu hỏng như dồi, pho-mát, mứt, dưa chua. Cả nhà ra ga tiễn Cam, khệ nệ khiêng lên chỗ nằm của Cam cả một sọt nặng đầy của ngon. Đã rất lâu bà Ôn-ga không thờ cúng gì, chỉ gọi tên Chúa vì quen miệng. Nhưng khi tàu chuyển bánh, bà không cưỡng nổi, làm dấu chữ thập vào không khí không ngớt tay. Cam chỉ trông thấy được mấy dấu đầu, sau đó mắt nhòa không nhận ra gia đình bà mẹ Nga nữa. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 02:32:05 pm * * * Sau đợt bom ném hụt xuống cầu Long Biên, Hoàng Lan và Hai Thùy trở về buồng, vẫn căn buồng Đông Đức viện trợ đã bị mảnh đạn cao xạ rơi xuống phá toác hai lỗ trên mái tôn, trần bìa cứng, làm nứt sàn gỗ. Lan phải lấy nhiều mảnh ni-lông và thùng gỗ tạm vá cho đỡ dột. Một anh bạn đã đun hắc ín, pha dầu lửa, quét nhiều lớp trên mái tôn vì không đủ tiền thuê thợ hàn chữa mái. Con Dồ đã quen hiệu còi báo động, hay tiếng nổ trước khi báo động. Nó đến đứng trước cửa hầm lớn xây xi-măng, đợi người xuống hết mới xuống cuối cùng, ngồi trên bậc cấp gấn đấy, như hồi nào nó nằm trước cửa hang giữ cho ông chủ ngủ bên trong. Thùy ra đến Hà Nội, nghe tin anh Chanh cũng sắp từ Liên Xô về, có thể có cả Sáu Cam nữa. Sau ba tháng lẻ mười ngày lang thang dọc Trường Sơn - các cháu từ Gia Lai hay Nam Quảng Nam ra còn phải cộng thêm mười ngày, nửa tháng - đoàn trẻ em mới được ăn ngủ đàng hoàng ở K.5B, là trạm đón tiếp miền Nam đóng tại Quảng Bá. Anh bác sĩ vẹo chân đi “chấm phẩy” thương các cháu ghê gớm. Đáng lẽ tách riêng về nơi đón tiếp của quân đội, anh cứ nhất định không rời đoàn trước khi bàn giao hồ sơ từng cháu mà anh ghi đủ diễn biến sức khỏe dọc đường. Ôm lên ôm xuống vô số: sốt rét nhiều nhất, lỵ a-míp hay trực trùng thứ nhì, bệnh vặt khác thì không kể xiết. Trong khi anh đại úy quân y chạy liên hệ với bệnh viện bà mẹ trẻ em, Thùy và Xíu lo nhận tiêu chuẩn của các cháu. Mỗi cháu được hai quần dài ka-ki, hai sơ-mi dài, một sơ-mi ngắn, một đôi dép nhựa sau đổi sang cấp tiền tự sắm vì có khá nhiều cỡ chân, hai bộ đồ lót. Khó khăn nảy ra tơi tới. Bộ đội được phất quân phục theo khổ người, sửa qua là dùng được. Đây lại mỗi cháu một cỡ, trai và gái chung đoàn, giữ kích thước đến các xưởng may quân trang thì hàng tháng mới được nhận, mà để nguyên các cháu rách rưới như thế đi các bệnh viện chuyên ngành của miền Bắc thì không đành. Ông quản lý ôm đầu: “Đón đưa tới hai chục cháu mà khó hơn trang bị cho một đại đội vào Nam”. Hoàng Lan nhảy luôn vào cuộc. Bệnh viện bà mẹ trẻ em nằm trên đường Tràng Thi, gần bệnh viện Việt - Đức trên đường Phủ Doãn. Lan gửi hai con cho cô Tuyền ở chung nhà chỗ sơ tán, xung phong thay một quân y sĩ bị thương nhẹ cần lui về sau, giúp chị Thùy thu xếp. Chị đo kích thước từng cháu, cắt riêng từng bộ, đưa đi thuê may tại các gia đình Lan quen. Với số phiếu vải cung cấp bốn mét một năm, nghề may rất ế, tiền công may do K.5B cấp không bị hụt. Chỉ sau ba ngày, mỗi cháu đã có áo quần mới tươm tất. Sau một ngày nữa đo chân lại đủ giép cao-su chững chạc. Lan còn thuê xích-lô chở về một máy khâu đạp chân để chị Thùy may đồ riêng cho mình bằng các thứ vải được cấp và Sáu Cam gửi về nước. Để tránh bệnh nhân bị ùn, khi báo động, các bệnh viện chỉ nhận người ốm nặng nằm nội trú. Trạm đón tiếp có xe buýt đưa đón người bị nhẹ đi rải xuống các bệnh viện Hà Nội để khám và làm thuốc từ sáng sớm đến gần trưa, hẹn giờ họp lại cùng đi cùng về. Các cháu rất mừng khi thấy dì Hai Thùy và dì Xíu đi chung xe tới bệnh viện bà mẹ trẻ em, sau mới biết là dì Thùy đi khám thai và dì Xíu cũng mắc bệnh gì đó của “đờn bà con gái” mà dì giấu biến. ... Lên khỏi hầm đã năm giờ chiều. Cuối đợt bom ngày, chưa đến bom đêm. Hoàng Lan đóng bếp mùn cưa, Thùy vo gạo, nhặt rau muống. Bỗng con Dồ đang chạy loăng quăng lùng chuột cống dừng phắt lại, dạng chân rướn mũi, ngọ nguậy hai tai. Rồi nó chạy ào ra cổng sau bệnh viện, nơi phát ra giọng nói rất quen của ông chủ. Nó chồm dựng hai chân mà không chạm ngực chủ. Bác thường trực bỏ chỗ gác chạy ra đuổi, nó chỉ nằm bẹp xuống nhận lỗi. Bác luống cuống khi thấy ông khách mới đến mặc com-lê ca-vát, xách cặp da, đi xe Vôn-ga có lái riêng, thêm một cậu trẻ nữa chắc là thư ký. Xem dáng bộ là hàng thứ trưởng. Bác chỉ liếc qua chữ B trong vòng tròn chỗ góc giấy giới thiệu, nghĩ ngay : “Ông này khiêm tốn thật, thưa gửi và trình giấy như người nhà bệnh nhân, lại cho lái xe và thư ký đi chơi, hẹn giờ đón”. Cả Chanh đi vào khu tập thể mà anh đã đến tìm hụt Hoàng Lan và các cháu, chỉ gặp cái ổ khóa, lên chỗ sơ tán mới gặp người. Con Dồ xoắn xuýt chạy trước. - Ôi chao, Thùy! Người vợ rất yêu thương đứng sững trước mặt Chanh, nước mắt lớn từ từ. Chanh nhận thấy ngay màu da sẫm đi như tráng một lớp khói đen, đôi má gầy, cái bụng bắt đầu đội áo. Anh cười gượng: - Cùng ra Bắc một lần, mà khoảng cách tới gần hai tháng... - Coi bộ anh khỏe ra, nặng ký hơn... Vẫn theo thói quen cũ, Chanh hỏi thăm những người chung quanh trước, để dành những giờ riêng của vợ chồng cho đêm khuya vắng. Vợ và em đều thi nhau hỏi, nghe, ngót một tiếng sau mới sực nhớ bữa tối chưa kịp nấu. Chanh góp một tay cùng làm bếp, bùi ngùi khi bữa cơm chỉ có nửa gạo nửa mì sợi đã hơi mốc, bát canh rau muống luộc đánh mấy quả sấu, nửa chén ma-gi dầm ớt. Ở căn cú trong Nam thế là khá, nhưng giữa thủ đô anh tưởng phải khác chứ. Hai chị em phân trần mãi rằng các tiêu chuẩn của ngon đều làm thức ăn mặn gửi cho các cháu cả, người lớn sao cũng được. Nhưng Chanh chưa quên được những bữa chiêu đãi thừa mứa trên nước bạn, đặc biệt là vùng Trung Á... Con Dồ từ lúc đã chen vào nằm bên chân Chanh. Nó chỉ cần hít ngửi ông chủ là đủ vui. Chanh chợt nhớ đến nó: - Sao không để nó ở chỗ sơ tán, Lan? - Là tại nó... không, tại nó chút xíu thôi. Lũ chó trong làng thấy nó lạ, xúm bầy ăn hiếp, cắn nó rách tai toạc da, nó cứ cúp đuôi chạy. Anh bác sĩ quen nó đoán chắc không phải nó nhát sợ, mà không quen đánh nhau với đồng loại. Anh Chanh nói là chó săn nòi lai chó miền Thượng, chỉ quen đánh thú dữ như gấu, beo, cọp. Một hôm ảnh đi với nó gặp chó làng ùa ra, ảnh xì xịt sao đó mà nó cắn đứt họng hai trự, gãy chân một trự nữa. Kiện cáo tùm lum. Bệnh xá phải bỏ tiền ra mua cả ba, may nhờ ủy ban dỗ chủ nhà lấy giá phải chăng, bệnh viện thêm tí đạm không quá đắt. Trên ấy nhà nào cũng nuôi chó bầy, đất trung du mà, lâu lâu lại đánh một cầy, khác trong ta nhiều. Con Dồ ăn sạch cái âu cơm sứt men, vẫy đuôi cảm ơn. Chanh chỉ vào hai bà chủ nói: - Bà Hai Thùy, Thùy, Thùy, tao nhắc mày nhớ. Tới đi, làm quen đi! Còn bà này là Hoàng Lan, Lan, Lan, nhớ nghen. Lan cười xòa: - Sức mấy mà anh giới thiệu! Nó giầu tình cảm lắm anh ơi. Hai đứa con em được nó che chở mới dám đi tập múa hát ban đêm không sợ rắn rết, chó làng không nhảy ra đớp được nữa, lảng xa hết. Dồ, lại đây coi... Đó, nó liếm tay chớ không hề liếm chân, kiêu ghê chưa! Bộ ba tạm thu xếp cuộc sống trước mắt. Cả Chanh vẫn ở Văn phòng Trung ương, chỉ cách Quảng Bá độ nửa cây số, tiếp tục làm việc với đoàn khu Năm, sau đó chữa bệnh. Thùy và Thanh Bình ở Quảng Bá để chữa lành các thú bệnh miền Nam mang ra, sau đó sẽ cho con Bình đi học và Thùy đi đẻ, làm gì sẽ tính sau. Gia đình Chanh đã ra Bắc, nhưng chưa đến lúc đoàn tụ. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 02:34:49 pm * * * Liên gia Ba trước là xóm Chợ, gần cuối ấp Linh Lâm. Các nhà giàu ở đấy mất nguồn lợi buôn Thượng đã thuê đò dọc về Hội An, Đà Nẵng cả, nhưng hay để lại một vài con cháu để trông nom nhà, vườn, đến mùa thu hoạch lúa tô. Cửu Áng biết dân đây đã nổi loạn, phải dỗ đám nhà giàu đừng đòi truy thu nợ tô hồi chín năm Việt Minh hay trong hai năm Việt Cộng làm chủ các làng ven sông Linh và sông Thu Bồn, 1965 và 66. Sang năm nay 1967, tuy sắc lệnh cải cách điền địa xóa bỏ các đợt chia ruộng đất của Việt Minh được giữ nguyên, nhưng chưa thấy tăm hơi gì dân ruộng dân rẫy chịu gánh lúa nộp chủ. Ngay cụ tỉnh phó Ung Viết Đỉnh đi trực thăng về xem cơ ngơi cũng lắc đầu: ruộng đất còn đó nhưng bỏ hóa một nửa vì số đông lực điền cổ cày vai bừa làm rẽ chia đôi dưới quyền quan phủ nay chia nhau lên núi hay đi quân dịch. Ngôi nhà cụ Thượng xây làm hồi môn cho cô con gái chửa hoang bị trúng bom và rốc-két nhiều lần đã tan nát. Nhìn sang bên kia sông Linh, khu đất ngót một ngàn mẫu tây cụ nắm đủ giấy tờ để chiếm - cũng phải mất thêm nhiều triệu nữa, vì Nam triều không còn, quốc trưởng Bảo Đại bị đá bay, và người đá cũng chết toi cả mấy anh em - nay đã thành rừng non với những vạt sim, mua, bọ xít, chà là chen nhau phủ đất, bóp chết dần những trăm mẫu cà-phê, chè, trầu được trồng ngay ngắn và vun gốc dọn cỏ thời đồn điền La-phác-sơ còn thịnh. Hôm nay, làng Linh Lâm sẽ bị xóa tên trên bản đồ Tây Quảng. Tiếng bom rải thảm của B.52 mé núi cao dội về từng đợt như sấm kéo dài mùa mưa bão. Cả làng Linh Lâm được lệnh dời về hai ấp chiến lược mới khoanh chỗ ở Truông Dơi, nằm hai bên con đường tỉnh số 56, đặt tên là Truông Dơi I và II, chỉ cách sông Linh chừng hơn một cây số. Cửu Áng đã lên làm đại diện hội đồng xã, đi họp từng ấp dọc sông Linh, khoe mình khéo kiện cáo lên trên, dân mới khỏi dời xa ruộng vườn mồ mả như nhiều nơi khác. - Mà cũng phải quá đi chớ. Bà con mình còn nhớ cái lụt kinh hồn năm Thìn, tức là năm sáu tư đó, nhiều làng chết ráo cạo không ai sống sót để tìm xác cha mẹ vợ con. Dân Linh Lâm không chạy vô Truông Dơi cũng chết trụi lủi. Ta dời làng lên chỗ cao ráo, hằng ngày trở về làm ruộng rẫy như thường. Dân Thượng cứ ba bốn năm dời làng một lần đi tìm đất tốt là khôn thượng đẳng, khôn hơn người mình quá sá. Có điều lão biết và dân biết nhưng không nói ra: hai ấp chiến lược ấy gác giữ khúc đường nguy hiểm mà hồi trước cách mạng tháng Tám đội du kích Linh Lâm định phục đánh bảo an binh. Qua một cây số đường đèo lại có ba ấp chiến lược mới: khu chợ là Huề Bình I, tả hữu Huề Bình II và III, dàn thành bình phong che chắn cho khu quận lỵ mới đang xây rất gấp. Cả nhà ông Tư Chua đã soạn gánh xong, đang chờ trái đạn đèn súng cối bùng lên báo hết giờ giới nghiêm, thường là sau lúc tan sương mù. Đằng nào cũng phải đi, thì đi, lúc khác mới đấu lý được. Hôm nay mù đậm đặc và lâu tan. Bà Tư sực nhớ, rút bó hương trong gánh ra, châm cả bó, chia cắm mỗi nơi ba nén: trước cổng, hai bên cửa, bên bếp, chỗ lò rèn, chuồng trâu. Cắm đến đâu bà khấn lầm bầm tới đó, cố nhớ không bỏ sót một vị nào: thổ thần, môn hộ thần, ông bà táo, ông chuồng bà chuồng... Bà Tư cố nhớ thêm cần phải khấn các vị nào nữa. Khấn không trúng là cúng không nhằm, y nguyên lời ông bà dặn vậy đó. Cúng ông thành hoàng hay tiền hiến là việc của chức sắc nơi đình miếu không phải việc đàn bà. Đáng lẽ phải đắp mấy cái mả cô bác để nhờ các âm hồn cô hồn giữ cho nhà vườn được yên lành... Tiếng la làng nổi lên lảnh lói phía xóm Chợ. Cả nhà dỏng tai nghe. Lạ quá, mấy nhà giàu ở đó là nơi lui tới ăn ngủ liên miên của bọn bảo an và dân vệ đi tuần gác dọc hai bờ sông Linh, ai ức hiếp gì mà kêu điếc con ráy vậy? Năm bảy phút sau, hai ba cột khói từ từ bốc lên trời, tiếp theo là tiếng tre nổ rời rạc như trẻ con đốt nghịch những trái pháo tép ngày Tết. Thấy ông Tư ngứa máu “kiến ngãi bất vi”, chạy ra xem nhiều lần, Năm Bưởi cười buồn: - Cha ơi, đâu phải như hồi làm chủ tịch nữa mà nghe đâu chạy đó! Nhà mình là thân cá chậu chim lồng, cha quên sao? Có lẽ câu than thở của cô chỉ huy du kích ốm o và xanh lướt đã làm sôi máu ông thợ rèn già. Ông bước dấn ra ngõ, rẽ về phía xóm Chợ. - Ai? Đi đâu? - Tôi đây, Tư Rèn đây. Đi coi họ la làng cái gì... Tên dân vệ quen chúc mũi súng xuống. Cùng lúc, tên trung đội trưởng trong bót chạy ra: - Bác Tư về nhà đi, chưa dứt giới nghiêm, họ bắn chết tươi giờ. - Họ nào dữ quá vậy? - Biệt động quân mới về. Thằng Chín tiểu đội trưởng gác bót Chợ bị nó cho mấy trái đấm sặc máu mũi, kéo cả bầy chạy về đây. Bọn đầu cọp đó chặn đồn bảo an không cho bắn đạn đèn, để đi hiếp con gái, úp gánh cướp của, ai cuồng thì đốt nhà. Bác coi, khói lên nhiều rồi đó. Tên trung đội trưởng này là con Cửu Áng, làm đúng lời cha dặn là cố kiếm tiền chứ không gây nợ máu với dân, hết sức tránh tờ cáo trạng ác ôn và viên đạn tử hình. Riêng đối với nhà ông Tư Chua phải có biệt nhỡn, ông Cả Chanh mà nổi xung điên lên thì cả ngàn quân trên núi kéo về lập tức. Nhưng các thứ lính con cưng của Sài Gòn thì chẳng cần biết ai là ai. Biệt động quân, lính dù, thủy lục chiến, lực lượng đặc biệt, đám rằn ri đó tới đâu thì dân khiếp đã đành, mà cả bảo an, dân vệ, cảnh sát, hội đồng xã, các trưởng thôn đều rúng xương trốn kỹ. Gần đây còn thêm thứ lính bê-rê xanh rắn lục, gọi là biệt kích Mỹ nữa. Quân này do Mỹ chỉ huy, trả lương cao hơn cả lính dù Sài Gòn, chuyên rúc núi đánh du kích chống Việt Cộng. Thượng sĩ Bảy Bòng, con ông Tư Chua, lại đầu quân vào thứ lính biệt kích Mỹ này. Bảy Bòng bị hất khỏi chức cảnh sát trưởng xã Tây Giang sau một đợt rà soát và trắc nghiệm của Ty công an tỉnh. Hắn bị điểm kém ở tất cả các môn thi. Các vị cấp trên Mỹ và Việt xếp hắn vào loại cảnh sát trào Ngô Đình Diệm, hung dữ và dốt nát, chỉ biết tra khảo, hốt hối lộ đầy túi, ăn gan uống huyết cộng sản. Nay đến thời bình định nông thôn, còn gọi là cách mạng nông thôn, xây dựng nông thôn, phải cho dân thấy chế độ này là dân chủ, tự do, đầy khoan hồng nhân đạo để chiêu hồi cộng sản và dân chúng tin phục ở nước bạn Huê Kỳ. Kẻ đến thay Bảy Bòng là một mật vụ thời Diệm - cũng vào đảng Cần lao nhân vị như Bòng nhưng kín tiếng hơn - nói tiếng Anh tàm tạm, dùng mưu mẹo nhiều hơn dùi cui, mượn tay người khác để khử Việt Cộng, gạt bỏ nhũng đứa giành ăn. Giết Việt Cộng hàng loạt thì đã có sức mạnh khủng khiếp của Huê Kỳ với những trận mưa bom, những đám mây hơi độc, những cuộc hành quân trực thăng “phượng hoàng vồ mồi”. Dân vệ và thôn vệ dẫn đường cho quân mũi lõ mắt xanh là vừa sức. Chi trưởng công an quận thương tình thằng thượng sĩ trung thành, bàn với quận trưởng cho Bảy Bòng về quận làm đại đội phó đại đội bảo an thứ ba mới lập. Lại bị tên thiếu úy đại đội trưởng không chịu nhận. Bảo an chỉ lo canh gác là chính, nhưng tên này cứ bịa ra lý do là Bòng chưa hề chiến đấu, chỉ biết bốc hốt của dân, lâm trận chắc sẽ bỏ quân chạy cong đuôi. Lý lịch cũng đáng ngờ lắm: hầu như cả nhà đều là tình nghi can cứu loại A, ông anh làm gì to lắm phía cộng sản, thêm một anh rể nữa cũng là Việt Cộng thứ dữ, chí ít cũng là thiếu tá hay trung tá gì đó. Thượng sĩ Bòng được cho ba tháng nghỉ có lương để tìm việc. Không nơi nào chịu nhận. Quân chính quy rất thiếu lính, gặp thanh niên trốn quân dịch là nhào vô như chụp ếch, nhưng đưa một thượng sĩ vào thì chặn đường số lính cũ, mất một chức vụ dù nhỏ mà cũng bán được tiền bỏ túi. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 18 Tháng Tám, 2017, 02:37:29 pm Giữa lúc bế tắc ấy, có hai sĩ quan Mỹ và một phiên dịch đến quận Tây Quảng mộ quân. Họ đội bê-rê xanh rắn lục, rất khác với các sắc lính của Mỹ và Sài Gòn. Họ nói rõ hơn:
- Chúng tôi là Special Forces, là lực lượng đặc biệt trong tiếng Việt, nhưng không dính dáng tới lực lượng đặc biệt của Sài Gòn đội bê-rê đỏ. Chúng tôi không thuộc quân chánh quy của Mỹ, là đạo quân độc lập dưới quyền của cơ quan lừng danh thế giới C.I.A, tức là Cục tình báo trung ương Huê Kỳ, hiên ngang một cõi. Chúng tôi chia thành những đội A, từ 12 đến 14 sĩ quan và hạ sĩ quan, cần tuyển mộ nhiều sĩ quan và binh sĩ cũng dám liều mạng như chúng tôi. Làm việc theo hợp đồng, lương cao, chỉ một điều kiện là tuyệt đối phục tùng sự chỉ huy của chúng tôi. Đội ngũ bê-rê xanh lúc này có rất nhiều lính Nùng, lính Ê-đê và Ya-rai, nhưng chúng tôi cần thêm những người thông thuộc vùng rừng núi ở phía Tây tỉnh Quảng Nam. Nhờ quý ông cho dán các bản bích chương màu này ở tất cả các nơi thị tứ, các đồn binh trong quận. Riêng quý ông ở quận, chúng tôi xin có chút quà ra mắt, sau này còn kết liên nhiều nhiều. Các quan chức ở quận, tươi mặt lên khi viên đại úy Mỹ luồn xuống dưới tập bích chương một xấp giấy năm trăm in hình Trần Hung Đạo khá dày, không che giấu trong phong bì, để khỏi bị một mình quận trưởng ăn chặn bằng cách nhồi thay vào bì toàn giấy một trăm. Quận trưởng hiểu ý, cười gượng, nói với tả hữu: “Kiểu Mỹ vậy đó, tiền trao cháo múc. Tụi Pháp xử khéo hơn nhiều... Đừng dịch nghen!”. Bảy Bòng là một trong những người đầu tiên đăng ký tên làm lính bê-rê xanh. Nhóm mộ quân cho làm đơn qua loa, thu ngay thẻ căn cước bọc nhựa và các giấy tờ, điền tên vào khống chỉ của quận tạm dùng để đi lại, trao ngay mười ngàn đồng trợ cấp bước đầu. Số định thuê là một trăm, quận tiếp tay ăn hoa hồng mà chi được bảy chục. Ngay số sĩ quan và lính Việt trong các đại đội bảo an cũng ngần ngại, vì sắc lính này hay bị ném từng toán lẻ vào vùng Việt Cộng, hễ từ chối là bị khử bằng mọi cách, chết mất xác. Số lính mới được đưa về căn cứ Chu Lai bằng ô-tô, tiếp đi máy bay vào Nha Trang, nơi có căn cứ riêng của sắc lính S. Ba tháng để trắc nghiệm và huấn luyện. Ăn khá, thuốc men khá, chỉ tập tành rất căng, ai cũng đen trũi và to mập hẳn ra. Ngại nhất là nhảy dù với ba-lô và súng đạn, còn bơi võ trang và sục rừng núi có dễ hơn. Chỉ huy trưởng biệt kích là một đại úy người Đức, trước ở quân-lê-dương Pháp, đã từng ở tù Việt Minh hơn hai năm mới được trao trả, nói tiếng Việt kha khá. Cuối khóa, Bảy Bòng được giao chức trung đội phó trong đại đội mới lập, đặt dưới quyền một đội A toàn Mỹ, mười hai người. Đại đội lập tức được tung vào cuộc hành quân trên miền Tây sông Linh và sông Thu Bồn. Các đơn vị quân chính quy Sài Gòn và các sắc lính khác bắt đầu ghen tức khi thấy “lính Xịa” ăn lương cao gấp rưỡi hay gấp đôi mình, đi đâu có trực thăng đưa đón và tiếp tế xả láng. Chỉ còn tự an ủi là Việt Cộng rất chịu khó lùng diệt thứ biệt kích đó lắm, coi chẳng kém gì tụi thám báo của quân đội Mỹ. ... Tiếng la làng inh ỏi ở xóm Chợ nổi to hẳn lên, lúc này cố đến năm sáu cột khói hiện rõ vì trời không gió và mù đã tan. Từng tốp dân làng ùn ùn chạy tới bót dân vệ, bị chúng chĩa súng chặn. Có người còn gánh, có người chạy tay không, vài chị trung niên và cô gái trẻ đã bị xé tan áo quần, chạy bay tóc. Họ bôi nghệ trên mặt hay đầy mình, giả làm đàn bà đẻ, làm người mắc bệnh sốt vàng da và sưng gan, nhưng không qua mắt được bọn “cọp trắng rừng xanh”. Tên trung đội trưởng dân vệ nạt: - Chưa hết giới nghiêm, mấy người đụng thứ lính nào cũng bị xăm mứt gừng nát bét (hắn thấp giọng) khờ lắm, kiếm chỗ rừng rẫy gì đó rúc vô núp tạm đã. Vợ con tụi tôi chạy không kịp cũng bị với bọn rằn ri đó, muốn chạy về coi chút mà cũng chịu bó cẳng đây. Ông Tư gọi vợ con vào nhà, nói vội: - Không xong, trúng cái bọn ăn gan uống máu đó thì lớn bùi nhỏ mềm, trẻ chẳng tha già chẳng thương... Con Năm với con Út mỗi đứa một gánh, băng qua rẫy, theo con đường cắt tranh đốn củi đó, chạy tuốt tới cụm rừng sau miếu nghĩa tượng, ở đó đợi. Để hai ông bà già với con Lúa đi sau. Gấp quá rồi, đừng cãi. Con Lúa sợ quá cứ níu áo Năm Bưởi, ông cũng cho nó đi luôn, đeo trên lưng cái bồng nhỏ. Còn lại hai ông bà với hai gánh. Ông tháo cái biển gỗ đen đề chữ trắng “LOẠI A” nhét xuống đáy thúng, trong khi bà Tư sực nhớ, cắm thêm hương vào cái âu sành trong cái thổ kỳ nhỏ dưới gốc mít. Còn may, ông với Út Thanh Yên đã đánh ba chuyến xe trượt trâu kéo, chở hết bộ đồ rèn vào trong ấp, được Cửu Áng chia cho một căn nhà khung gỗ lợp ở góc khu đất, gần giếng, cũng gần dòng khe Sặt bên ngoài hàng rào - khe này chảy qua đằng sau ấp phủ Đình trước khi nhập vào sông Linh. Lão khoe chỗ ở tốt -cũng tạm gọi là tốt trong cái chuồng chật ních rào kẽm gai này, sau sẽ dựng và đào đủ hai sông ba núi. - Chỗ bạn già, tôi nói tình thiệt: tôi mua đời mà sống đó anh. Hồi nào Cả Chanh với Năm Chò về thăm, anh cứ nói giùm cho tôi mấy tiếng, đừng để cho tôi chịu phơi xác như Ba Mít là tôi mừng rồi. Dặn luôn anh nghen: rào dậu bấy nhiêu các ổng coi bằng trò con nít, vô ra như chơi. Anh cứ tiếp sao cho kín, nhắm chừng Giải phóng đi xa rồi thì đánh vài tiếng mõ cho có lệ, hễ lộ dấu chân dấu giép chẳng ai bắt bẻ được anh. Tôi có nói đôi câu giả hăm dọa, anh đừng chấp. Ông Tư giữ ý, chỉ gật. Rốt lại, ông chuyển được hết số gạo bắp và khoai sắn khô vào căn nhà tôn, khóa cứng và chốt hai cửa sổ. Cửu Áng cầm loa pin đi nói ở hai ấp mới rằng hội đồng xã cho phép dân tháo dỡ nhà cũ vào dựng lại trong ấp, vì chánh quyền quốc gia chưa đủ nhà gỗ chế sẵn để phát cho dân. Nhiều người đã về làng vớt vát được cột kèo, đòn tay, nhà mới lợp còn lấy được tranh nữa. Tại sao hôm nay lại xảy ra những vụ hiếp gái, cướp của, đốt nhà? Quân hồi vô lệnh là lúc khác, chứ dân đang lũ lượt kéo vào ấp tân sanh kia mà? Cửu Áng rỉ tai là quân Mỹ sắp đánh lên núi, từ đây lên tận xứ Lèo, dữ dội chưa từng thấy, phải xua dân né ra cho đỡ chết. Chưa thấy Mỹ lên, chỉ thấy ác ôn hại dân. Vô ấp, chịu cảnh cá chậu chim lồng, các sắc lính rằn ri xông tới thì chạy đằng nào? Tàn điếu thuốc này, ông Tứ lại móc cái chơơng đép, là hộp đựng thuốc hút đan bằng mây rất đẹp, xé một lá ra quấn kiểu xì-gà sâu kèm. Nó là vật kỷ niệm của anh Tơ-rin. Bà con Thượng bật lên núi cao, đã sống cách nào dưới những thảm bom của tàu “sừng trâu” cùng các thứ chất độc xuống như mưa phun hay sương mù? Anh em Giải phóng còn cực khổ hơn cả người Thượng nữa, đói cơm lạt muối lại thêm các thứ bệnh nó hành, vẫn cứ lăn lộn đánh giặc. Cách đây năm ngày, Năm Chò cùng đi với một tổ võ trang công tác, mở cửa sau vào nhà lúc một giờ sáng. Cà nhà dồn hết vào gian trong, khóc sụt sịt, trong khi ông Tư nắn bóp chàng rể coi thử có sứt mẻ gì không. Năm Chò vẫn vuông vức như cái tủ gỗ mun, chỉ thêm nhiều sợi bạc trong tóc. Ăn nói cứ ngang tàng như hồi nắm du kích Việt Minh. Út Thanh Yên ra gác ngoài cổng, tay cầm gậy, ám hiệu là tiếng la “chồn bắt gà”. Dưới ngọn đèn dầu buộc miếng mo che lửa, Năm Bưởi đọc thấp giọng đọc, lá thư Cả Chanh khá dài, kèm nửa trang thăm hỏi của Hai Thùy. Hễ liệu bề không cưỡng nổi thì cả nhà cứ tạm vào ấp tân sanh, về sau sẽ tìm cách phá ra. “Cha còn nhớ hồi đình chiến, Đảng mình dặn đấu tranh có lý, có lợi, có chừng mực, nay cứ vậy mà làm. Cách mạng không phải là liều mạng!”. Mãi tối gần ba giờ, Năm Chò cùng anh em mới rút qua bên kia sông Linh với mỗi người một bồng nặng muối, gạo, khoai, sắn khô, thêm một bình nhựa to mắm nục nữa. Đợi chồng đi khỏi hơi lâu, Năm Bưởi mới úp mặt trên gối khóc rung cả nửa người, con Lúa bắt chước khóc theo tuy chưa kịp mếu người cha đã vắng mặt trước khi nó ra đời... Hai chiếc trực thăng phản lực rà sát ngọn tre bay qua, quần lại, đảo nhiều vòng số 8 trên xóm Chợ đang cháy. Hình như bị đạn dưới đất quạt lên, chúng bay chéo rướn cao. Tiếp tới các loại súng to nhỏ nổ túi bụi chỗ đình Linh Lâm đã được xây đắp thành đồn lính bảo an với nhiều lớp rào kẽm gai và hầm hào lô-cốt gỗ đất. Súng ngớt chừng năm phút, một trái đạn đen vọt lên trời với tiếng kép “pình pung”. Vợ chồng ông Tư xốc gánh, đi theo con đường mòn xuyên rừng đến miếu nghĩa tượng, luồn ra đường 56, vào ấp Truông Dơi I. Hỏi nhiều người mới biết, tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng đêm qua nhậu say bét, nhớ mang máng rằng cả làng Linh Lâm vào ấp cả rồi, của để lại là của bỏ, cho lính sáng mai đi vét. Đồn bảo an chặn lại, bị chúng trói ké và tước vũ khí hết. Đại tá tham mưu trưởng cuộc hành quân Gấu Trắng đi trực thăng lên, dùng máy PRC 25 hạ lệnh rút về khu cắm trại, bị lính bắn bừa. Thiếu tướng tư lệnh quân đoàn Một phải lệnh cho hai tiểu đoàn biệt động quân còn lại bao vây bọn làm loạn. Ông Tư nói nhỏ với các con: - Tiếc quá, để chó cắn cho thiệt nhừ xương, dân mình mới sướng bụng. Mới mười giờ sáng đã dứt hết. Nghe nói bọn tưởng chơi đêm, ngủ đến trưa tròn bóng mới dậy kia mà! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:23:54 pm Chương 19 Bốn chiếc trực thăng - ba H.34 loại chở quân, một HU.1B phản lực yểm trợ - lấy đường 56 làm cữ, bay lên Tây Quảng. Các phóng viên chen chỗ nhau nhìn qua cửa sổ, xem quân Mỹ kéo lên núi trong cuộc hành quân Man-hát-tan. Bụi đường bốc thành một dải đỏ bầm không đứt quãng, như rặng cây lạ mắt mọc hai bên bờ con suối quanh co, che mắt người bay trên cao. Chỉ khi bay qua những chặng đường xâm xấp nước hay nền đá thiên nhiên, các phóng viên mới thấy những chiếc xe tăng nặng loại On-tôx và Tai-gơ, lắp đại bác cỡ lớn, vượt sông bằng phao Sno-khen, nhưng lội ruộng lầy rất kém nên ít dùng ở đồng bằng. Pháo kéo bằng xe xích và pháo tự hành đi thành chuỗi hàng cây số. Mỗi lần nhìn thấy xe pháo trên đường là một đợt lên lớp của đại úy Thi-ô-đo S.Ten-ny-brát, sĩ quan thông tin công chúng của thủy quân lục chiến đóng trong năm tỉnh vùng chiến thuật Một (Quảng Nam đã chia thành hai tỉnh mấy năm trước). Tay này vốn là sĩ quan tham mưu, vừa học thêm sáu tháng ngành tâm lý chiến, rất bốc đồng , muốn trổ tài chinh phục trái tim và khối óc của bất cứ ai không phải là Mỹ. Thật ra, hắn không xấu bụng hay tàn ác gì, cũng khá bảnh trai và vui tính. Hắn chỉ tin cắn cưa rằng chế độ Hoa Kỳ là tốt nhất, quỷ đỏ cộng sản là xấu nhất, đồng đô-la là quý nhất, hắn dính vào cuộc chiến tranh này là có lợi nhất cả phần hồn lẫn phần xác. Đồng đội hủy diệt người Việt và nước Việt Nam, hắn chỉ nghĩ: “Đến ngày phán xét cuối cùng, từng người một sẽ chịu trách nhiệm phần mình trước mặt Chúa. Ta chỉ là một hạt cát trên lãnh địa của các ngài Xê-da cầm quyền thế gian này. Ngay Chúa Giê-xu còn phải nộp thuế một đồng vàng cho Xê-da kia mà!”. Dòng quảng cáo thao thao của Tét-đy (hắn thích được gọi thân như thế, dù đó là biệt hiệu của con gấu trẻ con chơi) bắt đầu gây khó chịu. Loại H.34 chở quân này chỉ có một máy nói truyền từ hai người lái đến người chỉ huy trong khoang, Tét-đy dùng loa điện để át tiếng máy rất ồn, nhưng các vách kim loại dội lại tiếng loa chan chát và méo mó, rất khó nghe. Từng lúc, các tốp máy bay phản lực lướt qua bên trên buồng lại tiếng nổ chọc tường không khí và luồng khí xả hung hãn khiến tốp trực thăng lảo đảo như gặp lốc mạnh. Hai chiếc H.34 bay trước chở cơ quan tham mưu tiền phương của thiếu tướng Huỳnh Lâm. Chuẩn tướng Bảy đã bị hất cẳng năm ngoái vì thiếu hăng hái trong vụ đàn áp Phật giáo, tháng năm 1966, nay vất vưởng ở trường sĩ quan Thủ Đức, nay nhờ Nguyễn Văn Thiệu đang cần chân để quật nhào thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ nên mới bị bỏ kho chứ chưa lột lon. Mỗi lần nhậu say, lão lại làu bàu chửi thằng Nguyễn Cao Bồi, thằng con hoang của Hít-le, chẳng phải vì thù hắn đưa quân ra giết Phật giáo và trị sư đoàn Một cứng đầu, mà chỉ vì tước mất của lão cái ngôi lãnh chúa miền Trung béo bở, nhất là từ khi Mỹ vào. Càng nhiều Mỹ càng lắm thứ bớt xén, càng xa đám cầm quyền Sài Gòn càng đỡ bị ghen ăn ghét ở. Tướng Huỳnh Lâm tinh khôn hơn, giỏi lấy lòng Mỹ và sĩ quan cấp trên lẫn cấp dưới. Lão ra vẻ sửng sốt khi biết thiếu tá Ung Viết Khánh bị cầm chân mãi ở mức sĩ quan nhiệm chức, còn bị bắt bớ khảo của. Lão to tiếng với đại tá tham mưu trưởng trước mặt Khánh: - Viết lệnh ngay đi, đưa thiếu tá lên thực thụ. Thằng Bảy tệ quá, tệ kinh khủng... Toa đừng phiền nghen, chịu khó giúp moa ít lâu là thêm một bông mai bạc nữa. Toa đừng làm tâm lý chiến, thứ đó moa hốt mấy trăm cũng có, lấy tụi sĩ quan động viên có bằng đại học mà nhát như thỏ đế, kiếm chỗ ngồi cạo giấy ở hậu cứ, tụi nó mừng tới sống tết chết giỗ lận! - Trình thiếu tướng, vậy tôi chuyển đi đâu? - Yên chí lớn, moa không đẩy toa đi tuyến lửa đâu... Toa ở bên moa, làm sĩ quan liên lạc Việt - Mỹ, khi cần thì giúp moa đón tiếp cái lũ quan chức hay phóng viên ưa thóc mách. Moa học kém, nghe tiếng toa từ hồi hai đứa hai phe kia, moa ở Việt binh đoàn của Bảo Đại, toa ở Việt Minh. Tụi Tây được thả về phục toa lắm lắm. Khi sắp ra vùng Một này, moa hỏi thăm, biết tụi Mỹ cũng rất nể toa, nó kêu là gì hè... à, là gentleman chánh hiệu. Tiếng ta dịch là gì? - Trình thiếu tướng, đại khái là chính nhân, quân tử... Họ nhậu vui thì nói vậy thôi... Từ đó các sĩ quan trong quân đoàn Một và vùng Một chiến thuật thấy Khánh luôn luôn đi cặp kèm với thiếu tướng Lâm. Thư ký không, cận vệ không, quân sư quạt mo không, là cái ông gì vậy? Rốt cuộc là anh liên lạc Việt - Mỹ và phiên dịch, chẳng có gì đáng gờm, nhưng cũng nên lấy lòng hắn ta đôi chút để khi nửa đêm gà gáy xin vài chục phi suất hay vài trăm quả pháo đại của Mỹ trôi chảy hơn. Trên chiếc H.34 dành riêng cho tư lệnh, có một bàn nhôm và bốn chiếc ghế vặn bù-loong chắc xuống sàn. Các sĩ quan khác ngồi chịu lắc xóc trên các băng-két gắn hai bên sườn. Tướng Lâm, tham mưu trưởng và thiếu tá Khánh đều chụp ống nghe máy PRC.25 vào một tai, dành tai kia nói với nhau. Lâm đang văng tục: - Đ. mẹ, thị sát chiến trường kiểu cứt này thì không trúng đạn quân đỏ cũng trào máu họng về nằm nhà thương. Ê, Khánh, nãy giờ có thằng Yăng-ki nào kêu tao không? - Trình thiếu tướng... - Mày vứt lẹ cho tao cái loa hai sao xuống hố tiêu, thưa với trình gì giữa chiến hữu. Lỡ may trực thăng rớt xuống vùng Cộng, mày nói giùm tao một câu là thằng thiếu tướng này không cố ý gây nợ máu với dân chúng hay các đồng chí đâu, nó là lính nhà nghề kiếm lon ăn lương... À, sao, tụi Mẽo? - Thưa, chỉ có các đồn dọc đường điện hỏi FOF, tức Friend Or Foe, bạn hay thù, lấy lệ vậy thôi, không trả lời cũng mặc kệ. Hai sao gắn dưới mũi chiếc này ngó mắt thường thấy rõ. Lơ mơ, chiếc yểm trợ thổi cho bốn mươi tám trái rôc- két thì tụi nó rúc xuống đất cái cũng chết rụi. - Hớ hớ hớ, cao tay đó Hai Khánh. Cứ vậy mà nghen toa. Mình là chủ, chủ nghèo, nó là khách, khách giàu, toa cứ đĩnh đạc chững chạc như lâu nay là moa ưng ý. Mà nhớ luôn đi: khi thiệt vui gặp bạn bè cố tri, moa hay giở giọng mày tao xả láng, quên cả thằng kia hơn mình ba bốn cấp. Toa là trí thức, đừng chê tụi võ biền như moa. Trương Phi với Khổng Minh ghép lại... Trong máy nói nội bộ, chợt bật lên các tin hiệu tút tút của phi công chính: - Trình thiếu tướng, đã đến khu vực Hai hành quân, cách sông Linh tám trăm mét. Sân đậu chỉ đáp được sáu trực thăng một lần. Dưới đất đã rải vôi chữ T cho đáp, ném trái khói xanh an toàn. Xin thiếu tướng cho lệnh. - Hỏi gì nữa, đ.mẹ, đáp đi Chín, máy móc gì nữa mày! Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:27:33 pm Nửa giờ sau, khi cơ quan tham mưu đã yên chỗ các căn lều bạt cỡ lớn, nhóm phóng viên các nước ngoài tán dóc chung quanh các bộ bàn ghế nhôm, uống giải khát các thú đóng hộp ướp lạnh, với những máy quạt gió lạnh đặt ở các góc lều.
Nhân lúc đại úy Tét-đy ra ngoài để thu xếp bữa trưa, anh chàng phóng viên Ý chừa râu mép rậm và nổi tiếng lắm lời hỏi Mỹ Duyên: - Hình như bà quen với thiếu tá Khan... ờ, Khanh. Sao ông ấy cứ lánh mặt chúng ta, gặp cũng ngậm câm? - Ồ, tôi là người của AFP, hiểu sao được? Tôi hỏi một lần, ông ta tự xưng là sĩ quan liên lạc Việt - Mỹ, chỉ được nói những gì cấp trên cho phép. Từ đó trở đi, phuuuít ! Trong số hàng trăm phóng viên săn tin ở Sài Gòn, Bộ tư lệnh của đại tướng Oét-xty chọn cho theo cuộc hành quân này mười bốn người, tất cả đều chưa tùng đưa tin xấu hay viết bài xấu về quân Mỹ và Sài Gòn. Ra đến Đà Nẵng, họ chia nhau đi nhiều hướng: làm phóng sự về các căn cứ Mỹ, đi theo các hàng không mẫu hạm và các loại tàu thủy tàu bay thuộc trạm Yăng-ki của hạm đội Bảy chuyên đánh phá Bắc Việt, bám theo các đơn vị lính cổ da rải khắp vĩ tuyến 17. Chỉ còn chín người bám theo cuộc hành quân bị thu nhỏ này. Dù còn thua xa các đợt tìm và diệt của Át-tôn-bơ-rơ, Xi-đa Phônx hay Giăng-sơn Xi-ti, nhưng các phóng viên vẫn tìm thấy nhiều nơi lạ khi theo bước quân đội thọc lên con đường mòn Hồ Chí Minh đầy huyền thoại sau rặng núi lởm chởm kia, miễn không có gì nguy hiểm. Trong số chín phóng viên có năm người đến Việt Nam lần đầu. Chỉ một người Thụy Điển nói thạo tiếng Anh, còn lại bốn dùng tiếng Pháp thạo hơn, đến từ Ý, Tây Đức, Tây-ban-nha, Bra-xin. Họ hay bám riết Mỹ Duyên để nhờ dịch lại lời của Tét-đy, quen nói nhanh lua lua theo kiểu các bang công nghiệp Bắc Hoa Kỳ, và nhờ ghi những tên người đất Việt Nam mà chính Tét-đy cũng nói sai bét. Hay hỏi và đá móc nhất là tay người Ý chừa râu mép rậm và ông Thụy-điển tóc vàng mắt xanh có bộ râu cố đạo xoăn mịn rất đẹp. Họ ngồi khá lâu trong căn lều bạt khung nhôm, ngáp, bình luận rì rầm với nhau với vẻ mặt bực dọc. Anh người Ý ngả sang tiếng Pháp, hơi to giọng: - Phóng viên Mỹ ranh ma lắm. Chúng nó được tướng Oét-xty dùng làm loa để nhồi sọ cử tri Mỹ, làm xiêu lòng hai viện trong quốc hội, kiếm thêm lính thêm tiền đưa sang Việt Nam. Chúng nó kéo từng đoàn đi từ căn cứ này đến căn cứ khác, bay ra biển thăm trạm Yăng-ki phía Bắc và trạm Đic-xi phía Nam, được chiêu đãi như ông bà hoàng và tặng quà vô số, còn sang tận Phi-líp-pin và Thái-lan nữa. Tới đâu đưa tin viết bài tới đó, mất mười lăm phút hay nửa giờ thôi, sau đó đi lùng mua hàng giá rất rẻ ở Pi-écx gửi về nhà. Dại gì mà lao vào chiến tranh như chúng ta! - Sách báo viết về quân Mỹ chắc đã đến hàng trăm tấn... - Hàng vạn tấn ấy chứ! Ông bạn Đức chớ phiền lòng nhé, Gớp-ben đã từng dạy đàn em.. - Ô hô, quên sao được. Cứ nói dối mãi người ta sẽ tin. Nhưng mớ đạn mà Gớp-ben dùng để giết cả gia đình và tự sát lại khác, họng súng không biết nói dối như họng người! Cũng vừa lúc ấy có tiếng rập gót đứng nghiêm của hai tên quân cảnh Việt và Mỹ đi qua lại bên ngoài. Năm sáu người bước vào căn lều đặt máy lạnh dã chiến, đi đầu là thiếu tướng Lâm và một đại tá Mỹ đeo cấp hiệu con đại bàng. Lão Lâm nhìn quanh một vòng tỏ vẻ ưng ý, rồi lên tiếng trước, cảm ơn ông đại tá đã chăm lo sức khỏe của các phóng viên quốc tế, và ngỏ đôi lời hoan hỉ chúc tụng các bạn quốc tế đã đến tìm hiểu sự thật về nước Việt Nam đang đổ xương máu chống làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn xuống. Lão nhớ kỹ lời khuyên của thiếu tá Khánh về cách đối xử với khách ngoại bang: nói ngắn gọn, vài câu lại dừng để thông dịch viên làm việc, khi say thì kín đáo rút lui - cũng buồn cười, người Pháp gọi kiểu chuồn êm ấy là “chuồn kiểu Anh”, người Anh lại gọi nó là “chuồn kiểu Pháp”, có Chúa hiểu nổi thôi. Tướng Lâm đã tập nói ngắn và chia đoạn. Sau câu cuối, Khánh dịch xong còn dịch lần thứ hai bằng tiếng Pháp, trong khi tướng Lâm tươi mặt ngắm đám phóng viên. Lâm đã quyết định từ trước khi biết có một số phóng viên không hiểu kịp những tràng thuyết giảng của thằng đại úy nhóc con Tét-đy. - Toa soạn cho moa mấy câu nói thiệt hay, có thích lời từ Ai-xen-hao tới Giôn-xơn, sau đó toa dịch lu bù tùy thích, cho tụi Mẽo nó biết nước mình không thiếu người tài. Một thiếu tá dưới quyền moa - là nói vậy với tụi Tây thôi nghen, toa đừng giận - cũng đủ sức làm thầy cả bọn. Tên đại tá Mỹ vụng hơn nhiều. Hắn nói bằng giọng kẻ cả bề trên với những phóng viên trẻ và ngổ ngáo, các ông bạc tóc trong nghề, dạy họ không được viết hoặc đưa lên phát thanh, truyền hình bất cứ điều gì phương hại đến cuộc thánh chiến chống cộng ở đây, nếu sai trái thì sẽ bị từ chối vi-da nhập cảnh lần sau, hoặc bị trục xuất lập tức khi chưa hết hạn vi-da. Tướng Lâm đã ngồi xuống ghế, nghe Khánh dịch rì rầm bên tai, cuối cùng nghe Khánh rỉ tai rất khẽ như dịch tiếp câu cuối: “Thằng Mỹ nói phạm chủ quyền ta, thiếu tướng nên cho nó cứng họng”. Như chỉ đợi dịp ấy, ông già Thụy-điển đứng dậy nói rất lễ phép: - Xin cảm ơn ngài đại tá vừa cho chúng tôi những lời chỉ dẫn quý báu về nghề phóng viên, giúp chúng tôi sửa một điều hiểu lầm tai hại: chúng tôi cứ tưởng đến với nước Việt Nam cộng hòa, chiếu khán là do Bộ ngoại giao Việt Nam cấp. Té ra quân đội Hoa Kỳ ở đây có quyền trục xuất hay từ chối chiếu khán phóng viên các nước, đó thật là điều vô cùng mới trên thế giới! Cả đoàn phóng viên che miệng cười khúc khích, trong khi viên đại tá vụt đỏ mặt như gà chọi, xoay người đi ra không chào. Đại úy Tét -đy đưa mắt cầu cứu tướng Lâm và Khánh. Tướng Lâm chỉ đứng dậy xoa dịu bằng mấy câu chung chung, vì kẻ cần chọc quê đã chuồn mất. Lão gài thêm vào cuối giống như Khánh: “Toa cải chánh lời thằng đeo chim trên vai sao cho vui vẻ đôi bên”. Khánh bèn chuyển ý: - Ông đại tá quen nói chuyện với các phóng viên Mỹ, và ngại chúng tôi chưa quen tiếp xúc với các phóng viên quốc tế, nên đã nhắc lại những quy định của Bộ ngoại giao Việt Nam mà ông hiểu rõ và nhất trí hoàn toàn. Tướng Lâm không kịp chuồn, anh phóng viên Tây Đức đã chồm dậy: - Thưa ngài thiếu tướng, vậy ra chúng tôi từ Đà Nẵng lên đây chỉ để ăn một bữa cơm và nghe các ngài căn dặn đôi điều? Khánh dịch và lèo thêm: “Thiếu tướng nên cho họ đi xem các ấp định cư”. Nhưng lão Lâm lại hố lần nữa: - Bộ tư lệnh Hoa Kỳ thấy chiến sự trên núi đang gia tăng, chưa muốn mời quý vị lên các căn cứ dã chiến trên núi. Quý vị có thể viếng thăm vùng bình định dân cư do quân lực Việt Nam đảm trách. - Chiến sự gia tăng? Xin cho biết một vài số liệu và chi tiết. - Khu vực hành quân từ sông Linh lên phía Tây do Bộ tư lệnh Đồng minh chỉ huy trực tiếp, hằng ngày có họp báo và bàn phối hợp giữa hai bên Mỹ - Việt, thường vào năm sáu giờ chiều. Tôi hy vọng ông đại úy thông tin công chúng sẽ trực tiếp gặp các vị chỉ huy Hoa Kỳ để cung cấp tình hình đầy đủ cho quý vị. Trong khi chờ đợi, vì các vị đang dừng chân trên khu vực do quân lực Việt Nam làm nhiệm vụ. Bộ tư lệnh quân đoàn Một kính mời quý vị một bữa trưa đạm bạc của nhà binh, mong quý vị không làm khách. Khánh nghĩ thầm: “Té ra lão Lâm cũng bẻm mép ra trò!”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:29:35 pm Đoàn phóng viên mặt khó đăm đăm bước ra khỏi lều, đi vệ sinh ở những hố đổ tro và có khung vải bạt che, rửa tay và mặt. Bỗng anh chàng Ý kêu to:
- Thảo nào thằng đại tá đeo chim tránh đưa cánh ta đi xem chiến sự. Lý do trên trời kia! Dù trời nắng gắt, cả đám kéo ùa ra chỗ quang để xem. Những tốp trực thăng võ trang chở quân nối nhau bay lên núi sáng nay, những cặp cần cẩu bay chân dài như sếu bay con thoi với các cỗ pháo lớn nhỏ, các lô-cốt bê-tông đúc sẵn, hình như đã rơi vào một trận địa của Vi -xi và sập bẫy khá nặng. Liên tiếp có những bộ đôi hay bộ ba cần cẩu bay, với trực thăng võ trang Vi-king quần yểm trợ bên trên, xách về những xác trực thăng bẹp dúm hay đã gãy đôi gãy ba, những khẩu pháo vẹo nòng vỡ bánh, những xe ủi đất méo mó, và cả những gì còn lại của máy bay chiến đấu siêu âm Con ma hay Thần sấm. Trực thăng tải thương cũng nhiều. Đường bay về Đà Nẵng hay Chu Lai không xa, có thể bay con thoi một ngày nhiều chuyến. Tiếng bom và súng lớn sau rặng núi xanh văng vẳng đến khu vực chỉ huy này, chen vào giữa tiếng vo ve không bao giờ dứt của các loại máy bay thám thính L.19 hay OV.10. Từng lúc, tiếng nổ siêu âm bùng một loạt khi các máy bay chiến đấu phản lực lao lên núi hoặc từ núi trở về, các khối bom lửa bom phá và những thùng rốc-két đeo bên dưới đã biến hết. Có những chiếc đã xì đuôi khói đen dài bay lem lém lửa vẫn cố rướn về vùng an toàn trước khi phi công bấm nút cho ghế ngồi vọt ra và bung dù. Đại úy Tét-đy chưa trở lại. Khánh phải ra mời khách về lều khi cơm bày xong. Bữa cơm thành công khá đẹp. Tướng Lâm đã đặt tất cả các món ở tiệm ăn sang nhất Đà Nẵng, cho đầu bếp và hai cô hầu bàn theo, cùng nhiều bếp điện để hâm các món nóng, nhiều bình thủy nước sôi để làm khăn lau tay tẩm thơm và pha cà-phê. Có cả thực đơn đánh máy tiếng Anh và bốn loại đồ uống trong thùng nước đá cách nhiệt. Thức ăn hầu hết là Tàu nhưng đã Việt hóa bằng cách giảm béo, một số thức ăn Âu được bày sẵn, dành cho khách không quen ăn đồ Tàu là lão Lâm gọi phứa là các món dân tộc. Quan khách đói bụng và được mời mọc sốt sắng, ăn như hùm uống như rồng, tấm tắc khen, xếp Việt Nam vào hàng những nước sành ăn nhất thế giới. Tướng Lâm ghìm bớt được cái tật uống như phễu, giữ được mức của ông chủ nhà vui tính và mến khách. Lão chu đáo đến nỗi gọi đầu bếp đến dặn nhỏ nhưng đủ cho Khánh nghe: - Đây thiếu thông dịch viên, thiếu tá Khánh giúp tôi nói chuyện với khách quốc tế trên tình chiến hữu. Anh để dành phần thiếu tá thiệt sang, nghe chưa? Rồi lão quay sang tán vui, và Khánh cố điểm xuyết khá nhiều nét trí tuệ khá uyên bác kiểu Tây Âu vào lời của lão. Cả mâm tiệc trố mắt hay gật gù tán thưởng. Họ xì xào với nhau mấy câu. Ông già Thụy-điển nạy đứt dây thép buộc nút chai sâm-banh, kéo mấy cái ly chân cao về phía mình, đứng dậy với ngón tay cái giữ nút chai: - Vì là niên trưởng trong đoàn phóng viên, tôi được cử nói mấy lời với thiếu tướng, và qua thiếu tướng với các sĩ quan và binh sĩ dưới quyền thiếu tướng... Lão Lâm đưa mắt cho Khánh. Khánh chỉ nói vội: “Trình thiếu tướng, tôi sẽ sang băng sau, dễ lắm!” Ông Thụy-điển nói dài, có lẽ vì hơi men đã ngấm. Hoàn toàn không động đến cuộc thánh chiến chống cộng, bảo vệ thế giới tự do. Ông chỉ nói về nền văn hiến ngàn xưa của Việt Nam, khi Châu Âu và Châu Mỹ đang còn hoang dã. Một dân tộc như thế hoàn toàn xứng đáng được độc lập tự do. “Tôi không tưởng tượng được một vị tướng đã cầm quân đánh trận trong nhiều thập kỷ lại am hiểu đến thế về đất nước, con người và đời sống Âu - Mỹ. Chỉ qua những lời khiêm tốn của thiếu tướng, tôi thấy được truyền thống văn hóa của Việt Nam đã ngấm sâu vào tâm khảm mỗi người dân trên đất nước này...” Cùng một lần với nút sâm-banh nổ bốp trên tay vị niên trưởng, một loạt tiếng nổ bật lên chung quanh bàn. Quan khách ùa tới chạm cốc với ngài chủ tiệc tươi như hoa. Khánh chen vào nhắc khẽ: - Thiếu tướng đến chúc người phụ nữ duy nhất. Tên Mỹ Duyên, phóng viên AFP. Tướng Lâm vẫy cô hầu bàn rót đầy các ly. Rồi lão mỉm nụ cười ga-lăng nhất, cầm ly sâm-banh sủi bọt đến bên Duyên, người khách kín tiếng: - Xin được chạm cốc với người đẹp Mỹ Duyên mà tôi đã nghe danh tiếng từ lâu, một trong những người thông minh nhất trong nữ giới nước nhà! Xin mời các bạn cùng qua cạn cốc chúc sức khỏe và nhan sắc của nàng tiên cá xi-ren dùng sóng điện AFP làm tiếng hát! Theo tục lệ, Mỹ Duyên ngồi nguyên chỗ, chỉ nâng cao ly rượu khi được chúc mừng, trong khi tất cả đàn ông ghé đến chạm cốc và uống đứng. Khánh cũng đến chúc và thoáng thấy trong mắt Duyên một ánh lửa mà chàng hiểu: ánh mắt căm giận cố nén trong khi môi vẫn cười tươi. Sau tiệc, tướng Lâm ra vẫy viên thiếu úy hậu cần dặn nhỏ mấy câu. Mươi phút sau, một trung sĩ đến đứng nghiêm chào, xưng tên, đó là một học sinh rớt tú tài được tuyển làm phiên dịch tiếng Anh trong một tiểu đoàn có cố vấn Mỹ đi kèm. Lại tiếp bốn lính nữa vác đến một chục giường xếp khung nhôm phủ bạt còn mới tinh, lấy ở trạm cấp cứu của sư đoàn, quà tặng nhân đạo của Thụy-sĩ được chuyển sang quân đội xài. - Nè Khánh, toa giao việc cho thằng em đây. Toa nói mấy câu mời khách nghỉ trưa rồi đi với moa, nói là có cuộc họp quan trọng. Mình bám hoài họ lại tưởng cố lấy lòng, kệ cha thằng Tét-đy nhai dẻ rách để họ ngán cái thói chơi cha thiên hạ của Mẽo. Lão Thụy-điển ranh như cáo, cố ý so sánh người mình nghèo mà văn minh, tụi Xịa giàu mà man rợ. Moa ăn nói... có tàm tạm không? - Thật tình, thiếu tướng làm tôi sửng sốt. Một đại sứ lão luyện cũng phải bái phục! - Ờ, ờ... vợ moa là chủ mấy cái khách sạn, hay mở tiệc mời khách ngoại quốc, rèn cho moa miết cũng quen. Thêm toa lại gài kiến thức vô nữa, biến moa thành nhà văn hóa, hớ hớ hớ! - Chiều nay thiếu tướng định làm gì? - Ngủ tới khi thằng đeo chim đến báo cáo, rồi vù về Đà Nẵng, để thằng đại tá sư Hai ở đây. Moa phải lo cả năm tỉnh, cả quân đoàn, đi thị sát bấy nhiêu thôi. Toa cũng về. Phóng viên để Xịa nó liệu. - Trình thiếu tướng, tôi xin phép đi xem vùng này. Hồi nhỏ tôi hay về đây nghỉ hè. Nhà cha dượng tôi cũng ở gần đây, bây giờ tan hết. - Ồ, moa quên, tức là ông tỉnh phó Ung Viết Đỉnh hả? - Thưa phải. - Nhớ đem theo vài ba cận vệ. Mà moa đã dặn, ngoài giờ làm việc thì đừng thưa trình gì cách biệt. Moa thứ năm, kêu bằng anh Năm hay anh Lâm là moa ưa nhứt! Đem theo một PRC.10 để khi cần moa kêu về. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:32:36 pm * * * Một chiếc xe ủi đang dồn hết những đống gạch ngói còn lại của dinh quan phủ Đỉnh năm xưa, đẩy xuống ruộng. Một tiểu đội Mỹ đang dọn chỗ để đặt trận địa pháo tầm xa trên nền nhà còn chắc. Một tên khoát tay từ xa ra hiệu cho Khánh cùng bốn cận vệ không được đến gần. Khánh cứ đến trước mũi súng chĩa hăm dọa. Nhìn thấy bông mai bạc trên ngực Khánh, tên Mỹ hậm hực chúc mũi súng xuống. Khánh nghiêm giọng: - Tôi là thiếu tá, phái viên của thiếu tướng tư lệnh quân đoàn Một. Anh là chỉ huy ở đây? - Phải. - Anh hãy đứng nghiêm, xưng hô theo điều lệnh. Tên Mỹ đỏ từ mặt xuống ngang thắt lưng vì cởi trần dưới nắng, chỉ đỏ thêm một ít. Tướng Oét-xty đã chỉ thị cho quân đội Mỹ phải chào cấp trên người Việt, khi ngang cấp thì cùng chào một lần. Nhưng bọn Mỹ khinh lũ gúk, lũ da màu, cứ lánh né. Dù sao, một hạ sĩ đeo lon chữ V úp sấp mà xấc láo với một bông mai bạc thì cũng quá quắt. Hắn dựng súng, chào qua loa, báo cáo cụt ngủn: - Thưa thiếu tá, tiểu đội chúng tôi đang dọn chỗ đặt pháo lớn. Chúng tôi đang rất bận. Chúng tôi đề nghị bà đeo thẻ phóng viên trên ngực kia không chụp ảnh, đây là khu cấm. Khánh quay lại. Thì ra Mỹ Duyên lặng lẽ nhập vào nhóm của Khánh lúc nào không rõ, đi cuối hàng. Duyên bước thẳng lên, cười nhẹ: - Ông hạ sĩ có thể cho tôi gửi máy ảnh lại đây chứ? - Bà là người Nhật? - Các ông xem tướng tài thật... - Nhật thì được. Bà cứ mang theo, đừng chụp. Khánh chưa kịp nổi cáu, tên hạ sĩ đã bỏ đi. Lát sau, Khánh và Duyên đã lần đến chỗ khuất trên Dương Nai, để số cận vệ gác bên dưới đồi. Duyên leo dốc dưới nắng, mặt hồng lên như các cô ca sĩ đôi mươi. Khánh không để ý. Chàng vừa sa vào lưới nhện của kỷ niệm xưa. Khoảng cách mấy mươi năm vụt biến, hai bộ phim từ từ hiện trên hai màn ảnh đặt sát nhau, từng lúc chập chờn chồng lên nhau, khi tới khi lui... Cậu học sinh Khải Định bơi sông Hương mỗi năm chín tháng, bơi sông Linh và biển Quy Nhơn ba tháng, đoạt giải vô địch bơi của học sinh Trung Kỳ, thường được gọi là chàng trai hấp dẫn nhất Thần Kinh... Những năm sống chật vật ở Hà Nội, túi tiền và dạ dày cùng rỗng, trải chiếu nằm gạo bài trên căn gác chật và hứng mùi hôi của bãi rác... rồi đến Mỹ Duyên với những cuộc ái ân vụng trộm ở Đà Nẵng và ngay ở đây. Những tài liệu kèm mấy khẩu súng tặng Việt Minh. Chín năm chống Pháp, tiếp tới sai lầm sau đình chiến, sụp hố bẫy của Quốc dân đảng với phủ Đỉnh, Bảy Suyền, Trọng Béo, cả một bầy đeo mặt nạ... Bà me Lợi Thịnh đã sớm lẩm cẩm, cô em gái út bám riết mẹ để vét sạch số vốn đem được vào Sài Gòn, coi Khánh như kẻ giành ăn... Còn lại ai nhỉ? Mỹ Duyên với đời riêng rất khó hiểu vẫn tìm mọi cách gần gũi mình, giúp mình khi gặp nguy. Và thằng em tập kết đã khá nổi tiếng, mở đài Hà Nội thường nghe tên nhạc sĩ Viết Chương, cả sáng tác lẫn nhắn tin vào Nam cho người thân và bạn bè... - Anh Khánh! Khánh vụt tỉnh, quay lại, không biết nước mắt đang chảy trên mặt mình, Duyên quay mặt đi để Khánh khỏi ngượng, trỏ xuống một chỗ trụi, trước kia đầy những bụi sim, mua, du dễ rậm rạp: - Anh nhớ không? Chúng mình “loạn” với nhau mấy lần chỗ khuất này... - Quên sao được? Hồi chống Pháp, vắng tin em lâu quá, anh lên đây đứng trong bụi rậm chỉ thấy công múa. Tới nay anh vẫn chưa hiểu vì sao em trốn kỹ thế? - Và em cũng chưa hiểu vì sao anh từ chối không nhận vàng em gửi Thạch Sơn, không trả lời thư em. - Dễ hiểu lắm. Chính quyền Việt Minh lo đánh mặt trước, để hậu phương rối tinh, bọn xấu chui vào nhiều quá, đạp người tốt đổ nhào. Hồi ấy anh không dám tin ai. Những người tốt cực kỳ như anh Cả Chanh hay ông Tư Chua làng này rụng hết... Người lính mang PRC.10 đứng dưới gọi lên: - Trình thiếu tá, có lệnh thiếu tướng kêu về làm việc. Duyên nói vội khi đi xuống: - Về Đà Nẵng em có chuyện rất, rất quan trọng nói với anh. - Gặp đâu? - Ở buồng em, khách sạn Bảo Gia, nhỏ xíu, buồng 21, ít ai để ý. - Anh ở đêm được không? - Nhờ ông Trần Hưng Đạo giúp thì được. Bảy giờ tối mai nghen? Bóng người gác đã hiện lấp ló. Khánh đổi giọng: - Thưa bà, rất khó tưởng tượng vùng này trước kia rất trù phú, là giao điểm các nguồn hàng từ biên giới Lào xuống biển, qua đường 56 và sông Linh đổ xuống Thu Bồn. Nay đã tan hoang không còn dấu vết. - Do thiên tai, cũng do chiến tranh tàn khốc... Tôi hiểu ông. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:34:32 pm Tướng Lâm ra lệnh gọi Khánh đến lần thứ ba trong khi cả nhóm đi vội về khu chỉ huy. Lão đứng ngoài lều bạt chờ Khánh:
- Mẹ cố tổ nó chớ. Thằng thiếu tướng Mắc Kru-gơ đi thị sát mà không thèm báo trước cho moa. Năm phút trước khi hạ cánh nó mới biểu tham mưu báo cho mình. Chậm chút nữa, moa cho năm bảy cây đui-xết quét rụng cả bầy. Khánh nghĩ: “Phét, đố dám!”. Tên tướng Mỹ đang làm việc với bọn tham mưu Mỹ. Khánh có thì giờ để phanh ngực trước quạt lạnh, uống một lon bia ướp đá. Bên ngoài nghe một loạt tiếng rập gót chào của đội cận vệ. Tướng Lâm, đại tá tham mưu trưởng và Khánh bước ra đón. Tên tướng Mỹ không hách dịch như ông chủ trả lương, mà rất nhũn nhặn. Hắn chỉ bàn với tướng Lâm khoanh lại một khu vực đã giao cho quân Sài Gòn ở bờ phía Đông sông Linh đã đặt các pháo lớn tầm xa và các chiến xa hạng nặng. Tướng Lâm giả dại: - Thưa thiếu tướng, Bộ của ngài đã cho chúng tôi bản đồ ghi mấy chục chỗ đặt pháo và xe tăng từ bờ Tây sông Linh trở lên. Ngài đặt ở đây, tầm hủy diệt sẽ rất hạn chế. Hai viên tướng gườm gườm nhìn nhau bằng ánh mắt của đại bợm đụng đầu. Mỗi người nói những lời mà kẻ đối diện đã biết trước: - Các đơn vị thủy quân lục chiến và kỵ binh bay của chúng tôi đang đụng độ với hàng loạt lực lượng Vi-xi: du kích Thượng với rất nhiều loại chông và bẫy phóng lao, các đại đội và tiểu đoàn của tỉnh, hai trung đoàn thuộc quân khu Năm, và hình như cả một sư đoàn Bắc Việt mới vào, lực lượng Mỹ bị giảm trong cuộc hành quân này vì có rất nhiều tin báo rằng Vi-xi sắp đánh chiếm Đak-tô, cũng vì chiến dịch lớn sẽ mở gần giới tuyến. Chúng ta có thể thương lượng... Cuộc mặc cả kéo dài hơn một tiếng. Phía Mỹ chịu nhận sẽ yểm trợ bằng pháo và không quân đánh đêm cho khu vực Đông sông Linh, giúp tải thương ban đêm - vì quân Sài Gòn không quen bay đêm đánh đêm - kèm một khoản tài trợ lớn để định cư dân vào các ấp tân sanh mới, nhưng phải giao chánh quyền Việt Nam tại Đà Nẵng để chia thật công bằng. Một thứ tiếng lạ tai rất trầm nổi lên trên sông Linh. Tên tướng Mỹ mời tướng Lâm ra xem một loạt chiến xa mới. Dọc sông Linh có một thứ gì giống như tàu đổ bộ bay trên mặt nước chừng mười thước, chậm như trực thăng chở quân. Tên trung tá gọi gì đó trong máy bộ đàm. Ba chiếc nối đuôi nhau hạ cánh dễ dàng xuống mặt ruộng khô. - Mời thiếu tướng xem. Đây là loại chiến xa bay I-rô-côix đang thí nghiệm ở Trung Việt, đã được thử thách ở đồng bằng sông Cửu Long và ở Cao nguyên Trung phần. Nó bay bằng động cơ phản lực trên đệm không khí với tốc độ thay đổi từ 80 đến 700 ki-lô-mét/giờ, được trang bị bằng bảy súng máy nặng, nhiều phóng lựu và hỏa tiễn, bọc hợp kim cứng như thép chống pháo 37 ly của Vi-xi. Thiếu tướng đã xem họ hạ xuống đất đấy, chưa tới 150 mét đã dừng. - Chắc thiếu tướng đã phóng hàng loạt lên vùng núi? - Rất tiếc là chưa. Núi đèo ở đấy quá hiểm trở. Nhưng chúng có thể làm lá mộc vững chắc cho vùng ngài đang bình định. Ba chiếc I-rơ-côix theo lệnh nhấc mình giữa bụi mù, bay chậm theo thung lũng sông Linh, mỗi chiếc để lại một xoáy nước rất sâu dưới bụng. Xe xích đã kéo đến bốn khẩu 175 ly nòng dài với tầm bắn ba chục cây số vào chỗ nền nhà cũ của phủ Đỉnh. Lính Mỹ hối hả nhồi hàng trăm bao cát dựng thành vách che đạn súng cối và đại bác không giật nhiều cỡ của Vi -xi. Sẩm tối, các họng 175 ấy đã nhận được tọa độ và lệnh bắn. Đám dọn bãi nhai vội các khẩu phần C, uống cà-phê loãng mang đến trong các thùng nhôm, lăn ra ngủ như chết trong khi lính pháo lắp đạn và giật cò tiếng nổ đầu nòng không đủ đánh thức. Đêm ấy Khánh ngủ trong dinh trại quân đoàn vì quá mệt, nên kịp nhấc máy điện thoại khi tướng Lâm gọi lúc một giờ sáng: - Xin lỗi, và cảm ơn toa luôn luôn có mặt khi moa cần nhứt. Tụi Mẽo bị đặc công Vi-xi luồn vô đánh bãi xe tăng và pháo 175, hư hại vô số. Quân sư Khánh nghĩ moa phải làm gì? - Trình thiếu tướng, quân Mỹ nhận phần đánh đêm, tải thương đêm, ghi biên bản rồi, cứ để họ làm như đã hẹn. Bên ta nên cho một chiếc C.47 đa-cô-ta lên thả hỏa châu, một đại đội biệt động quân lùng rừng tìm đặc công, thỉnh thoảng báo cho Mỹ một tọa độ nào đó nã pháo. Chắc chắn tụi đầu cọp tìm chỗ ngủ kỹ, thay phiên nhau trực... - Hay, hay, hớ hớ hớ. Moa sẽ dặn tụi biệt động đem theo bản đồ pháo, địa bàn, phiên dịch. Mấy cha tham mưu đi ngủ với điếm hết, thằng trực dốt đui. Toa làm tâm lý chiến miết mà rành hơn bọn quân sự. - Trình thiếu tướng, cũng phải hiểu tâm lý quân ta là ban đêm thích ngủ hơn lùng rừng chứ! Lão Lâm cười to và đặt máy. Khánh xua ngay ý nghĩ về một kiểu kiểm tra đột xuất, cấp tướng không cần làm vậy, chỉ giao cho sĩ quan trực gọi và dặn đôi điều ấm ớ là đủ. Thường là “Bộ tư lệnh thông báo có thể Việt Cộng sắp phóng hỏa tiễn vô khu vực ta, phải đề phòng...”. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:38:56 pm Tối hôm sau Khánh đến khách sạn Hảo Gia theo lối vòng vèo. Tướng Lâm đã ra lệnh các sĩ quan cấp tá ngủ đâu phải báo cho trực ban để gọi khi cần. Khánh ghi tên thuê phòng ngủ ở một khách sạn lớn, gọi anh hầu phòng ra giúi cho năm trăm, dặn ai có gọi điện hay tìm thì nói thiếu tá ở đây nhưng đã đi nhậu với mấy cô ca sĩ, chưa về. Rồi chàng đi bộ đến khách sạn Hảo Gia, một vi-la to được ngăn thành sáu phòng ngủ cho thuê, hai phòng tầng trệt dành cho bà chủ to béo và hai con trai chưa đến tuổi quân địch.
Mỹ Duyên đi phố chưa về, dặn nếu có thiếu tá Hai đến thì trao chìa khóa cho lên buồng nghỉ trước. Khánh nói đúng lời dặn, nhận chìa khóa, đưa tiền nhờ mua một chai cô-nhắc với đồ nhắm. Khánh định uống thật say cho đỡ chán đời. Thằng Chung lại quậy phá không sao chịu nổi. Chiều nay thằng Chung dẫn một đứa bạn ngoài hai mươi cũng tóc tai bù xù và ăn mặc xốc xếch như nó, đi bộ thẳng vào căn hộ của Khánh trong khu gia đình. Chị bếp và anh hạ sĩ hộ vệ biết mặt thằng con bụi đời nhưng không dám cản khi nó vào ga-ra để xe hơi. Nó sừng sộ khi đòi chìa khóa xe không được, thật ra Khánh chỉ bỏ trong ngăn kéo bàn đêm. Thằng bạn nó là thợ sửa xe, loay hoay tháo ổ khóa, đấu lại nối dây điện: máy bắt đầu nổ số không. Chúng leo lên xe, sang số nhỏ, chạy qua mặt lính gác cụm nhà sĩ quan, sang số lớn húc văng cây ngáng đường ở trạm gác cổng chính. Ba lính quân cảnh nhảy lên mô-tô ba bánh, còi đuổi theo, lại dừng ngay: chiếc ô-tô ra khỏi cổng lái ngoặt sang trái quá nhanh, đã vọt qua chỗ bùng binh cho xe tránh nhau, bay tiếp qua đường bên kia, nhào ngửa bốn bánh lên trời. Hai đứa không biết xe này lắp động cơ xe đua, bảng tốc độ sửa lại một cây số thành hai. Hai đứa trộm xe văng ra ngoài, đều bị thương. Thằng lái nặng hơn, hộc máu và gãy tay vì bánh lái đánh trúng, thằng Chung chỉ toạc trán và đổ máu mũi. Chúng được chở vào bệnh xá của quân lao. Chiếc xe méo mó được kéo vào nhà thiếu tá Khánh. Khánh về sau một ngày làm việc rất căng do trận “tìm diệt” Man-hat-tan bị thiệt hại “được coi là nặng” theo kiểu chơi chữ mới của tướng Oét-xty. Suốt ngày có điện thoại gọi, điện tín đánh về, điện đàm vô tuyến, công văn đánh máy. Trực ban tham mưu đã đưa tất cả những gì thuộc quân Sài Gòn cho sĩ quan tùy tùng, nhưng phần việc còn lại của sĩ quan liên lạc Việt - Mỹ vẫn bằng khối lượng hàng tuần hay nửa tháng trước đây, hầu hết là tối khẩn, tối mật, thỉnh thoảng chen vào một hỏa tốc dành cho “đích thân” tức tướng Lâm. Phải điều thêm hai thông dịch viên “rớt tú tài”, nói tiếng Anh nội hóa ở trường, làm thêm việc thu băng ghi âm và đánh máy ra giấy khi có thể, Khánh nghe băng và dò lại trước khi “trình đích thân”. Lão Lâm đêm qua đánh một trận rượu và gái, mới ngả lưng đã nghe quân Mỹ kêu cứu, chỉ ngủ được ba tiếng, hôm nay ngáp lia lịa: - Tóm tắt đi toa... Ngắn ngắn gọn gọn, rồi toa dựa ý moa soạn công vãn hay điện trả lời. Moa chỉ trả lời thẳng với thằng trung tướng và thiếu tướng của Mẽo thôi. Khánh về nhà mình trong khu gia đình, nghe hạ sĩ hộ vệ kể tỉ mỉ, xem cái xe méo mó, vỡ đèn vẹo bánh, lắc đầu. Cứ để thằng quỷ sứ trong quân lao đó, gặp nó chỉ thêm điên tiết. Khánh chỉ dặn tay hạ sĩ nói với trạm y tế quân lao cho nó thuốc men và ăn uống đầy đủ để mau lại sức, thiếu bao nhiêu tiền Khánh sẽ gửi sau, nhưng không cho ra ngoài, đợi xét xử đã. ... Mỹ Duyên đi đâu vẫn chưa về. Khánh xem lại đồng hồ, thấy mới sáu giờ hai mươi. Trong lúc bấn loạn, Khánh đã lầm giờ, quên cả ăn tối. Chàng đi tìm Mỹ Duyên như người sắp chết đuối cố rướn tới cái phao gần tầm tay. Ly rượu mạnh bốc nóng từ bụng lên đầu Khánh. Dường như chất men xua bớt đám mây đen buồn giận trong óc. Khánh nghĩ đến thằng con càng lớn lên càng đảo ngược tính nết, cố nhớ xem nó sinh vào tháng nào trong năm 1949. Đủ mười tám tuổi thì tòa án binh xử, vì trộm xe trong khu vực quân sự. Chưa đến mười tám thì đi trại trừng giới. Trong Nam phần, có trại Thủ Đức cho đám trẻ mới phạm, tái phạm lỳ thì đi Phú Quốc, chẳng biết Quảng Nam và Quảng Tín có trại trừng giới không nhỉ... Khánh rùng mình. Vào các lao các trại ấy, nó sẽ ăn đòn nhập môn, làm nô lệ hầu hạ bọn đại ca, ngoài ra còn những trò đánh đấm đá đạp của giám thị. Tòa xử thì sẽ rất nặng: quái xế cũng lắm mức, xế điếc nhẹ, xế nổ hai hay xế nổ ba nặng hơn, đây nó lại vào tận nhà cướp xế nổ bốn trong khu quân sự... Đáp lại, thằng Chung sẽ mượn dịp chửi ba nó bằng những lời vu vạ độc hiểm nhất khi ra tòa. Khánh đã cạn ly thứ hai, rồi thứ ba. Cố nhai một miếng nem chua không thấy mùi vị gì. Chả giờ cũng vậy. Hơi nóng bây giờ dồn cả vào cổ họng, Khánh uống thêm để giập lửa... - Anh Khánh! Anh Khánh! Khánh gượng mở mắt, thấy ba cô Duyên trước mắt. Giụi mắt mấy cái, còn lại hai cô, rồi một cô với cái bóng ngấp nghé đằng sau. - Anh uống tới hai phần chai Mác-ten, dễ sợ, hèn gì say mèm. Anh ăn tối chưa? Khánh lắc đầu. - Uống bụng đói nữa! Để em giúp cho thoát say... Duyên mở cặp da, lấy đưa một viên nhộng màu xanh cho Khánh uống với nước chín trong bình. Xong, lại bảo Khánh chuẩn bị nôn. Cơn buồn nôn đến khá nhanh, Khánh chỉ kịp vào buồng tắm nôn thốc tháo vào hố xí máy, đến khi đau quặn trong bụng rỗng. Duyên mở sẵn vòi nước chỗ rửa mặt cho Khánh, còn giội thêm nước lạnh ướt đẫm tóc và đầu. Dễ chịu rồi. Khánh ra ngoài, thấy Duyên đang cắt những lát chanh mỏng kèm một đĩa con muối tiêu. Thêm một quả khế nữa. - Anh ăn cho dã rượu. Tối nay anh thích ăn gì? - Gì cũng được. Ờ, ờ, cho anh tô cháo lòng với đĩa bánh cuốn nóng, mấy thứ đó khu gia binh không có. Duyên bấm chuông gọi hầu phòng. Người mới đổi phiên là một ông tóc hoa râm, dáng bệ vệ như ông quản lý khách sạn bốn năm sao. - Nhờ ông cảm phiền cho người đi mua giùm mấy món ghi giấy đây, nhà tôi chưa kịp ăn tối. Tối nay nhà tôi nghỉ đây với tôi. - Vậy xin bà trả cho khoản phụ trội, và xin ông gởi cạc để tôi đưa cho bà tiếp tân. Dạo này cảnh sát hay đến tra sổ ban đêm tìm khách thiếu giấy tờ... - Tụi nó đòi ăn đó thôi, ông. Vợ chồng già gặp nhau mà ai đem giấy tờ làm gì. Xin góp chút xíu để ông lót tay tụi nó. Duyên cười tươi, rút đưa cho ông hầu phòng bốn tờ năm trăm, đưa thêm hai tò nữa để mua đồ ăn. Được món bổng đế vương, ông kia cúi chào và lặng lẽ bước ra. Cái nhà trọ thổi phồng lên khách sạn này chẳng mấy khi được một bà khách dễ tính và hào phóng như vậy. Khánh đã tỉnh táo hẳn sau khi nhai gần hết quả chua chấm muối. Chàng thong thả kể tội thằng Chung, kể những nỗi thất vọng liên miên từ ngày rời Việt Minh trở về thành phố mười ba năm trước, tan nát hết rồi. Duyên nghe chăm chú, nhưng Khánh cảm thấy mỗi lúc một rõ rằng Duyên biết tất cả, chỉ muốn nghe lời nói và giọng nói của chàng. - Anh chán hết mọi thứ trên đời, chỉ trừ em. Vì sao anh lại được một thiên thần hộ mệnh luôn luôn hiện lên khi anh bế tắc, buồn khổ? Anh đâu có xứng đáng với em? Duyên nhắm mắt như choáng váng sắp ngã. Tiếng gõ cửa đánh thức cả hai. Đợi người hầu phòng đặt mâm thức ăn trên bàn - có thêm bánh bao và bia, nước ngọt ngoài các thứ Khánh dặn - cúi chào và bước ra, Duyên gài chốt cửa, đến ngồi trên đùi Khánh, quàng tay ôm cổ người tình. Khánh ghì hai tay, ghì môi. Cái hôn kéo dài mãi đến khi Duyên giẫy ra, hổn hển: - Em gãy xương nghẹt thở muốn chết. Khiếp mấy ông “nhà banh” rồi. Anh ăn các thứ đi, nguội hết, no bụng em mới nói, quan trọng cực kỳ nghen. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:44:52 pm Khánh ăn vội vã tô cháo lòng còn nóng. Càng ăn càng thấy đói, chàng ngốn vèo hết đĩa bánh cuốn, thêm luôn hai bánh bao, dốc cạn một lon cô-ca cô-la mữa mới đủ no. Duyên tủm tỉm:
- Vậy mới đúng phong độ người hùng chớ, Tây nó nói: bụng đói không hề có tai. Anh sẵn sàng nghe chưa? - Buồng em có “rệp” không? - Yên chí lớn. Em dò kỹ rồi, không có máy ghi âm hay máy nghe. Mà có ai rình thì em được ông Thánh Trần 1 báo trước. Anh cẩn thận là phải. Duyên lấy máy thu thanh bán dẫn ra, mở đúng đài Sài Gòn, đem đặt sát cửa vào, cho loa chõ ra ngoài. Lại vào buồng tắm mở nước hoa sen phụt rào rào. Nàng nghiêm giọng khi nói: - Trước hết, anh cần đọc ngay tại đây ba lá thư gửi cho anh. Một là của anh Phan Chanh, bí thư tỉnh ủy. Thứ hai là của anh Thạch Sơn bạn cũ ở Hà Nội. Thứ ba, nhạc sĩ Viết Chương em ruột anh. Coi thiệt kỹ để sau phải đốt. Khánh ngẩn người khi nhận ba phong bì bằng nhựa trong dán kín chống ướt. Thư được xếp nhỏ, quấn một dải giấy mỏng ghi tắt: TS, PCh, VCh. không đề tên người nhận, rõ là thư chuyển theo đường dây mật. Phần lớn thư đến được miền Nam phải đi vòng vèo: từ Hà Nội gửi sang Pháp, Việt kiều ở Pháp thay bì chuyển về miền Nam, và phải viết rất bóng gió rằng ở Pa-ri rất nhớ quê hương, ơn Chúa phù hộ được những gì. Chương đã gửi hai lá thư như thế cho Khánh, đều có dấu vết mở ra dán lại cả, bọn mật vụ Sài Gòn rình mò rất sát. Khánh cắt túi ni-lông bọc bằng kéo con Duyên đưa, chợt thấy tay mình run. Vì sao nhỉ? Chẳng lẽ những người thân, cũ từ lâu đã biến mất lại khiến mình xúc động đến thế? Thư Cả Chanh hơi dài hơn mức anh thường viết, bốn trang giấy mỏng. Không giống kiểu chữ viết văn điện tín hớt đầu cắt đuôi như trong các thứ công tác trước đây, nhưng nét chữ không lẫn được. ... Nói tình thiệt, anh làm tất cả chúng tôi sững sờ khi nghe tin anh bỏ về Đà Nẵng với thằng S. Tới khi đọc lá thư anh để lại, chúng tôi mới hiểu thêm, chớ ban đầu chúng tôi hết sức áy náy, tự hỏi mình có gì sai sót để cho một đồng chí tham gia từ hồi bí mật phải rời bỏ hàng ngũ sau ngày kháng chiến thành công. Theo dõi bước đi của anh suốt mười ba năm qua, chúng tôi biết anh trải qua nhiều cơn sóng gió, bị hành hạ nhiều về tinh thần và thể xác nữa. Chắc anh đã có dịp so sánh thái độ của chúng tôi với cách đối xử của Mỹ - ngụy. Mong anh suy nghĩ và chọn lựa con đường đúng. Chúng ta cùng lứa tuổi còn sống lâu, còn gặp nhiều ngã ba ngã tư càng phải rẽ sao cho đúng. Tôi thiết tha mong anh rẽ về phía Tổ quốc và nhân dân đang mở rộng đôi cánh tay chờ anh... Anh ấy vẫn điềm đạm và trung hậu như xưa, trong khi bụng dạ mình cứ như một chậu đầy lươn trườn bò lung tung. Khánh đọc sang thư Thạch Sơn. Thì ra lâu nay cậu ta ở lại miền Nam. Trong các thông báo mật của vùng chiến thuật Một chỉ thấy nêu tên Phan Thanh Trà tức Phan Chanh cùng hàng trăm cán bộ Việt Cộng khác, không hề có tên Thạch Sơn tức “Sơn báo động”, Sơn A-léc, như sinh viên trường Luật hay chế, vì lúc nào cũng hối hả, tất tưởi như ma đuổi. Là người Bắc chính hiệu, chắc cậu ta ở lẫn trong số dân di cư từ Bùi Chu, Phát Diệm. Lời thư nồng nàn nhưng kín đáo. ... Về đi chứ, người giáo hữu thân mến! Sau nhiều năm khô đạo rồi bỏ đạo, bạn đã bị cám dỗ theo bọn tin vơ thờ quấy. Quỷ Satan mua được bạn bằng giá rẻ, sau đó đã đẩy bạn vào những nỗi đau buồn triền miên chẳng dứt. Hãy mau trở về, như đứa con lầm lạc trong Thánh kinh quay về nhà trong sự hân hoan chung... Giáo hữu Simon sẽ nói rõ hơn lời kêu gọi của Hội thánh và lời dặn dò của Đức giám mục... - Simon là ai, Duyên? - Là Simonette - Duyên trỏ vào ngực mình. Khánh định hỏi tiếp, nhưng Duyên ra hiệu cứ đọc hết ba lá thư. Thì ra lâu nay Khánh ngờ ngợ không đến nỗi sai. Thư của Viết Chương không có gì mới và cũng không bóng gió. Cô em gái Ung Thị Nguyệt vẫn sống với chồng sĩ quan, ba con, khá vất vả vì ông chồng thượng tá luôn luôn đi chiến trường xa trong khi “tổng Giôn” ném bom ngày càng hung ác. Nhưng con em gái chuyên khóc nhè và mê tiểu thuyết tình loại ba xu nay đã tốt nghiệp đại học sư phạm khoa Lý, và “bây giờ nó chuyên nói lý anh ạ, cả vật lý lẫn lý sự, lý luận, còn em là vịt nghe sấm. Anh chưa lấy vợ là chuyện chúng em thấy lạ, anh đã 43 tuổi mà vẫn tự do như không khí, như gió trời. Nói trộm phép cô em đầy mình lý lẽ, em là mục tiêu tấn công của khá nhiều cô văn công thích nhạc của Viết Chương đâm ra thích người, đôi khi dính tí bom đạn cho có vẻ trai hùng Nam quốc vào chốn băng bó, thì lại bị các cô từ y tá đến bác sĩ đánh đuôi nheo, phiền thế. Em cứ hô thầm khẩu hiệu: “Tự do trên hết, tự do muôn năm”, mỗi khi lộn xộn cõi lòng...” Kèm theo thư có một ảnh màu phóng nhỏ nhưng nét khá sắc của Chương đang hát, có dàn nhạc người Âu hai bên, mặt sau đề: Berlin, 10/1966. Thằng em lêu têu, học ít chơi nhiều năm xưa nổi tiếng đến thế! Mỹ Duyên ngồi im trong khi Khánh đọc rất kỹ ba lá thư, đọc lại những đoạn quan trọng, nhất là trong thư anh Chanh. Nàng vẫn loay hoay mãi, phân vân mãi: nên nói hết hay không nói? Thiếu gì người mong tâm sự riêng, sống để bụng chết chôn theo? Năm ngoái, Duyên bay gấp ra Đà Nẵng và Huế vào tháng Năm 1966, lại vào Đà Nẵng giữa lúc lính dù và thủy quân lục chiến của thủ tướng Kỳ được phái ra đánh dẹp sư đoàn Một phản chiến cùng phong trào Phật giáo, thanh niên, dân thành phố chống đối. Bọn Mỹ sợ đổ thêm dầu vào ngọn lửa chống Mỹ nên cấm trại 24 trên 24 tiếng , chỉ cho không quân đi đánh các vùng căn cứ phía Tây, để mặc cho tướng Bảy và quân của Kỳ tự lo liệu, cũng tránh giao thiệp với các tư lệnh Việt Nam vì chẳng biết ai sẽ lật ai, nạn dịch đảo chính chưa chắc đã dứt. Duyên rủ Khánh mặc thường phục đi dạo phố suốt một chiều và một tối, cố tránh những làn đạn hai bên, vào núp trong khuôn viên của một chùa lớn lúc này đang chất đầy những người dân chết và bị thương. Súng cối và phóng lựu nổ khá nhiều trong các khu đông người. Một nhóm Phật tử đang khiêng người bị thương gần đến cổng chùa bị một quả phóng lựu rơi vào giữa, sáu người lăn ra trong vũng máu. Khánh nhào ra khỏi cổng bế xốc từng người chạy vào chùa, mấy trai trẻ khác nhào theo. Các ni cô áo xám lóng ngóng rụng rời. Khánh quát: - Xé vải sạch làm băng. Vải mùng cũng được, rọc băng giấy cũng được. Pha một chậu nước muối thật mặn, nấu một thùng nước chín, mau. Kiếm dây làm ga-rô. Chạy các cửa hàng kiếm thuốc sát trùng, mua vi-ta-min K với ống tiêm cầm máu, hay thứ đóng viên cũng được… Xác chết và người bị thương vẫn ùn ùn tuôn qua cổng chùa. Một quả cối 60 rơi nổ trong chùa, nhưng chỉ phá sập tường sau, chỗ không người. Hai chiếc xe tư nhân hết khách chạy chậm rì rì đến gần, các mũi và sườn đều dán giấy chữ to XE ĐÒ. Khánh nhào ra, rút lon thiếu ta vẫy, tay kia cũng rút súng ngắn ra dọa. Lái xe dừng miễn cưỡng. Khánh ra lệnh chở người bị thương vào bệnh viện công và tư “nhân danh Bộ tư lệnh quân đoàn”. Hai người lái sợ súng hơn sợ lon, phải lái vào sân chùa. Khánh chỉ huy, thu xếp, đưa đi được hơn bảy chục người chồng chất. Chàng thu xếp mãi đến khi trong chùa chỉ còn xác chết đợi người nhà đến nhận. Tiếng súng dọc phố đã ngớt, xe xích-lô chở các bà các chị đến chùa tìm xác kéo đến mỗi lúc một đông. Khánh nhìn lại bộ quần áo đẫm máu trên mình, nhờ Duyên đến nhà quen gần đấy mượn cho một áo mưa mặc ngoài, cùng đi chung xích-lô về khách sạn Duyên ở, rồi về khu gia binh quân đoàn. Thượng sĩ chỗ trạm gác quen mặt, tấm tắc: “Thiếu tá đi sát kiểu đó, dễ trúng đạn hai bên quá!”. Duyên không sao quên được vẻ căm hờn dữ dội trên mặt Khánh cùng những câu chửi rít răng: “đồ uống máu không tanh, đồ chó má, quân ăn thịt đàn bà trẻ con..”. Duyên đã định nói với Khánh cái “chuyện ấy” nhưng Khánh bị tướng Bảy kéo theo ra tận giới tuyến, không kịp gặp lại... ----------------------------------------------------------------------------------- 1. Giấy bạc 500 đồng Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:47:10 pm Lần này, ảnh nhìn cảnh Linh Lâm cùng tất cả vùng rừng núi bị hủy diệt, đã khóc lặng lẽ nhưng không giấu nổi. Lão phủ Đỉnh bám Quốc dân đảng lâu đến thế, mà phải hối lộ nhiều đợt đến ngót trăm cây vàng mới giành và giữ được cái ghế tỉnh phó, chỉ được xếp ngang với thiếu tá thực thụ, vì tỉnh trưởng là trung tá. Còn ảnh bị tra tấn đến ngắc ngoải mới chịu bỏ nghề dạy học, nhận lon sĩ quan. Một con người rất lạ. Thể xác cường tráng nhưng tâm hồn yếu đuối, dễ hờn tủi. Vô cùng thông minh và ham học, trình độ cao hơn nhiều so với lớp trẻ đã có bằng đại học Văn khoa, nhưng ứng xử trong đời hết sai chỗ này đến vấp chỗ khác, làm khổ cô Năm Bưởi, bị thằng Chung hành hạ như báo oán, và sai nặng nhất là “đi tìm trưa tròn bóng lúc hai giờ chiều” với ảo tưởng có thể xây một chế độ dân chủ kiểu Pháp hay Anh trên đất nước này, đã đi tìm tình cảm gia đình khi mọi con người đã đổi thay... Ảnh không thể trở mặt tố cáo Duyên được, nhưng có dám vượt qua lớp rào của tự ái, của sĩ diện, để quay về không?
Ảnh hơn Duyên hai tuổi nhưng trông trẻ hơn nhiều, vẫn thân hình dẻo và chắc nhờ bơi lội nhiều, nhưng dày dặn hơn. Mái tóc cắt kiểu thể thao, khuôn mặt có nhiều nét “tây lai” thường được gọi là “kép xi-nê”, ảnh được rất nhiều cô mê tít thò lò, mà vẫn thủy chung với người tình đã từng là gái nhảy, gái bao, vợ ba của cha dượng mình... Mỗi lần nghĩ đến chỗ lạ này, tất cả con người Mỹ Duyên chợt thấy ấm nóng hẳn lên, muốn vất hết mọi việc dở dang để bay đến với ảnh, lao ngay vào đôi cánh tay vạm vỡ và háo hức kia... - Xong rồi đây, Duyên. Em thủ tiêu đi. Duyên vào buồng vệ sinh, xé vụn từng lá thư thả xuống chậu, giật nước cho trôi biến. Làm thế trong phòng không bay mùi giấy đốt. Khánh mở một chai bia, rót nhấm nháp từng ngụm. - Anh phải hỏi lần nữa đây. Em là ai, Duyên? Duyên không đùa cợt ỡm ờ như trước: - Em là cơ sở của Mặt trận Giải phóng. - Vậy anh đoán mò không đến nỗi sai. Địch vận hả? - Không, chỉ lấy tin, đưa tin. - Ba lá thư, chỉ có thư thằng Chương có đề ngày, viết cách đây hơn ba tháng. Hồi chống Pháp thư leo núi nhanh hơn... Mà quên, từ trên núi xuống đây cũng mất nhiều tuần nữa... Em gặp anh Cả Chanh với Thạch Sơn hồi nào? - Cách đây hơn một tháng. Em dự một lớp ngắn bảy ngày, anh Sơn hướng dẫn. Bí mật ghê lắm. Mấy chục người học chung mà không ai biết mặt ai. Mỗi người được phát một cái nón lá, có vải mùng bao ngoài như đàn bà Ả-rập Hồi giáo, trên nón dán giấy đề bí danh. Học xong, chẳng ai bị lộ. Anh Chanh bận chống càn quét, không tới được, chỉ gởi thư thăm chung, viết riêng cho anh. Chắc anh biết bây giờ ảnh là bí thứ tỉnh, khu ủy viên rồi. - Bọn chiêu hồi khai hết. Tụi nó nói ông Chanh là Cộng sản tới xương tủy mà có uy tín lắm. Đối với loại gạo cội, chí cốt, có sạn trong đầu đó, hễ bắt được thì giết ngay hay chuồng cọp chung thân thôi. Thằng tướng Lâm tính bắt được thì giam kỹ, nuôi khá, để trao đổi tù binh về sau... Em xem, anh có nên trả lời ngay không? - Anh định trả lời sao? Một phút im lặng. Ba phút. Năm phút, rồi Khánh ngập ngừng: - Ờ, ờ... Tôi trót dại đi lạc đường, chẳng mặt mũi nào nhìn lại đồng chí cũ... với hai tay nhúng chàm... - Anh không đủ can đảm tháo bỏ quả tạ níu chân anh? Té ra người hùng Ung Viết Khánh chỉ là đứa hèn nhát! - Ô hay, Duyên! - Anh nhảy vô cứu đờn bà trẻ nít, thấy mình cao thượng lắm, nhưng lại tiếp tay cho bọn giết dân không kịp đếm. Anh cao thượng một xu mà gây tội một đồng. Anh đau lòng trước cảnh đất nước bị tàn phá, rồi sau đó góp sức cho tụi Mỹ phá nát thêm nữa. Anh giống y nguyên bọn lái B.52 hay pháo thủ: tôi chỉ biết bấm nút thả bom hay giựt cò đại bác theo lệnh cấp trên, lương tâm tôi trong sạch trước Chúa. - Duyên, Duyên, em hiểu lầm anh quá đấy... - Xin mời nhà đạo đức giả ra về! - Em đuổi anh? - Đúng, xin mời thiếu tá về dinh! Còn may, tôi không giữ lại bằng chứng nào của cộng sản, sẽ trắng án trước tòa án quân sự... Duyên ra cửa, tắt máy thu thanh chạy pin nãy giờ nheo nhéo, mở rộng cửa, lại vào nhà vệ sinh khóa vòi hoa sen. Khánh chậm chạp bước ra, quay nhìn lại: Duyên vịn một tay trên lưng ghế, mắt long lên trong cơn giận khó ngờ mà Khánh chưa từng thấy từ khi biết nhau. Cánh cửa đập mạnh sau lưng chàng. Tiêu đề: Re: Người cùng quê (Tiểu thuyết - Phan Tứ) (3 tập) Gửi bởi: hoi_ls trong 31 Tháng Tám, 2017, 02:52:16 pm Ngày hôm sau, Khánh như người mất hồn, cầm gì rót nấy, mắt trũng thành bọc. Các đồng sự đều tưởng vì thằng Chung trộm xe, họ thi nhau kể những chuyện “con là nợ, vợ là oan gia” để Khánh thấy còn những tai họa gia đình lớn hơn nhiều. Càng nghe càng ù tai nhức óc, Khánh xin phép về nhà thu xếp. Chàng lăn ra ngủ, chỉ dậy một lần khi xưởng sửa xe quân sự được phái đến lấy xe về tu bổ. Sợ lộ phần máy ngụy trang, chàng từ chối khéo, nói xe có bảo hiểm, đợi họ đến coi hư hại đã, sau đó bán quách vì nó tã quá rồi. Vẫn chưa đủ bình tĩnh để nhìn lại bộ mặt câng câng của thằng ôn con. Đến chiều, bỏ cơm trọn ngày, Khánh mặc đồ thường đi Hon-đa ôm đến khách sạn Hảo Gia. Bà chủ nhìn Khánh xoi mói:
- Thưa ông, bà nhà trả buồng đi nơi khác rồi, không để địa chỉ. Xin lỗi ông, hình như ông bà có chuyện gì... không vui... Bà khóc đến sưng mắt, sáng sớm đã kêu bồi lên xách va -li, kêu tắc-xi... Khánh cười gượng: - Tính nết nhà tôi xưa nay... Máu ghen đủ đánh vài chục đĩa tiết canh, nghe đồn chồng có mèo mỡ là lồng như ngựa chứng... Đêm ấy, Khánh nhảy đến giờ giới nghiêm với các cô ở khách sạn Pacific, được một vũ nữ quen dìu về nhà mình khi quá say, cũng được cô chăm sóc gần như Mỹ Duyên đêm qua. Được đánh thức kịp đi làm, Khánh uống vội một viên a-xpi-rin, một viên tăng lực Mỹ kèm cà-phê nữa. Trong khi Khánh mặc áo quần và chải tóc, cô kia hỏi Xi-mo-nét là ai mà anh lảm nhảm hoài vậy. “Ờ, một cô đầm lai ở Nha Trang vừa đá đít anh để làm me Mỹ. Chuyện đó bây giờ như cơm bữa, sức mấy mà kể!”. Cô kia thấy Khánh kín đáo đút bốn tờ năm trăm vào ngăn kéo bàn đêm. Cô chìa môi: - Vội tới mức không kịp mi-mi kia à? Mà thôi, sáp môi em hay dính lắm, anh đi đi! Tay sĩ quan quân pháp cắp cặp đến gặp Khánh hỏi các giấy tờ về thằng Chung, rồi nói thân: - Thằng nhỏ con toa đủ tuồi ra tòa. Toa muốn xử kín là phải. Mà moa sợ vô nhà tù, nó quen thói con ông cháu cha, nó bị bọn trùm nhét dẻ phủ mềm uýnh chết tuơi. Trại Thủ Đức không nhận số híp-py lớn. Trại Phú Quốc giam tới hăm mốt tuổi, chẳng thiếu bọn ba dao bảy búa xin ở lại để tránh đi quân dịch, ba mươi tuổi còn ở trại trừng giới làm Khuyển Ưng cho bọn cặp-rằng, sếp lao, sống như vua con. - Toa thấy moa nên làm gì? - Xin cho đăng lính, rồi thí chút cho bọn chỉ huy để cho nó làm bàn giấy, làm lính kiểng lính ma... - Rồi nó lại về rửa hận với moa! - Phóng đại mấy tấm hình của nó giao cho trạm gác ngoài, bót gác trong, không cho vô. Ra khỏi nhà nhớ phòng bị. Thỉnh thoảng gởi cho nó đôi chút, đói ăn vụng túng làm càn mà. Toa làm tâm lý chiến biết hết rồi. Hay là nhờ ông Lâm đẩy nó vô Lục tỉnh, về sư đoàn nào đó coi chữ thọ trên hết, như sư 25 sợ Cộng hơn sợ cọp. Ngày chủ nhật, Khánh đến quân lao gặp con. Giữa mớ tóc râu bù rối, Khánh vẫn nhận ra khuôn mặt giống hệt mình với đôi mắt gườm gườm và cập môi bĩu dài khinh bỉ. Đứa con muôn vàn đáng yêu luôn đòi mẹ Xùi “xương con một xí”, về với Khánh đã là bướm hóa ra sâu róm, không giết thì phải tránh. Nghe Khánh nói sẵn sàng bảo lãnh cho ra khỏi quân lao, nó buông thõng: - Cho biết điều kiện. - Con đi quân dịch ở chỗ xa bom đạn, ba tiếp tế cho con dùng. - Ông phải lo cho thằng Chín, là thằng sửa xe đó, đang nằm y tế quân lao, ra cùng một lần với tôi. Mấy tháng bó bột là lành thôi. - Ty công an nói nó ăn trộm xế đôi, xế tư đến hơn chục vụ... - Bao nhiêu lần kệ nó. Vụ này tôi với nó uống nước cống ăn thề, cùng sống cùng chết. Cả băng cũng tuyên thệ sẽ xử tử đứa nào lừa thầy phản bạn. Một mình tôi ra khỏi tù, cả bọn xỉa dao chết liền một khi! - Băng của mày có những ai? - Bí mật nhà nghề. Luật giang hồ không cho phép khai. - Tao ra rìa hả? - Tùy ông nghĩ. - Vậy là hết tình nghĩa cha con. Trả mày cho pháp luật xử. Lần đầu, Chung thấy người cha lạnh như đồng. Nó đã đi quá mức chăng? Khi Khánh ra cửa nhà giam, nó hét to: - Ba để con chết sao, ba? Khánh chỉ quay lại một loáng với vẻ mặt hóa đá, bước đi thẳng. Nó đã quên sức chịu đựng của ai cũng có hạn. Nó ngã vật xuống sàn xi-măng lạnh, khóc rống lên. Chẳng ai nghe tiếng khóc trong xà-lim kín. Ba ngày sau, một nhóm cảnh sát đến xích ngoặt tay nó ra sau, đẩy lên xe cây bịt bùng, đưa đến một trại giam có đề chữ ngoài “lao công đào binh” tuy nó chưa hề là binh và chưa hề đào. Nó bước vào đoạn đời nối với tất cả khinh ghét của những người gác tù, là lính dân cày ít học nhưng đầy hằn học đối với đám công tử bột ở thành thị, ăn chơi xả láng trong khi họ và người thân của họ chịu đói khổ trăm đường. Roi đòn, phạt đói, nhốt hầm phủ lưới dưới nắng trưa, xà-lim biệt giam bịt bùng với cơm đổ xuống sàn nhà và mỗi ngày hai ca nước lạnh… Đến nỗi tù lao công đào binh được đưa đi lao động khổ sai mỗi ngày mười tiếng là tự coi như lên nước Thiên đàng. Suốt tháng, Khánh không sao tìm ra địa chỉ của Mỹ Duyên. Chi nhánh AFP ở Sài Gòn chỉ trả lời bằng thư rằng bà Xi-mô-nét đã xin nghỉ phép tại Pháp và Thụy-sĩ. Sau đó, Khánh được thư của Pháp quốc ngân hàng báo tin bà Xi-mô-nét Mỹ Duyên ký giấy trả nợ cho thiếu tá Ung Viết Khánh năm triệu đồng, xin mời đến nhận chi phiếu tại AFP Sài Gòn, nhận tiền mặt hoặc mở tài khoản tại chi nhánh ngân hàng, trong hoàn cảnh chiến tranh không thể giải quyết bằng điện tín, điện thoại để chuyển khoản ra Đà Nẵng được. Khánh đã để cái phao cuối cùng tuột khỏi tay. Chàng vẫn còn sức bơi, nhưng chỉ bơi một mình giữa cơn bão mỗi ngày một hung hãn. PHAN TỨ HẾT TẬP III Nhà văn Phan Tứ dự định viết tiếp tập IV hoàn thành trọn bộ tiểu thuyết này. Nhà xuất bản đã liên hệ với gia đình tác giả, được biết tác giả đã không kịp viết tập IV trước khi mất. Vậy Nhà xuất bản xin thông báo để bạn đọc biết. |