|
Tiêu đề: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2016, 02:40:10 pm Tên sách: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Sưu tầm và biên tập: -Gs.Đinh Xuân Lâm -Phạm Đình Nhân -Doãn Đoan Trinh Năm xuất bản: 1998 Số hoá: ptlinh, chuongxedap LỜI NÓI ĐẦU Trong lịch sử Việt Nam vào những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, Tôn Thất Thuyết (1839-1913) xuất hiện với tư cách một người yêu nước lẫm liệt, một bản lĩnh cương cường, một nhân cách lỗi lạc. Chính vì các ưu điểm lớn đó mà kẻ thù trước kia, từ bọn thực dân xâm lược đến bè lũ phong kiến đầu hàng, đều ra sức xuyên tạc lịch sử, vu cáo ông, nào là hiếu sát, nào là quyền thần vô học, nào là đảo ngũ v.v... Trong khi đó thì nhân dân yêu nước, ngay từ trong khói lửa của cuộc phản công tại Kinh thành Huế đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 tháng 7 năm 1885, đã sáng suốt ca ngợi ông bằng những lời lẽ trang trọng và đẹp đẽ nhất: "Nước ta Quan Tướng anh hùng, Bách quan văn vũ cũng không ai tày!" (Vè Thất thủ kinh đô) Chỉ với Cách mạng tháng Tám thành công (1945) chính quyền về tay nhân dân, Tôn Thất Thuyết mới được nhìn nhận, đánh giá một cách đúng đắn; vai trò của ông trong lịch sử mới được khẳng định, tuy rằng vẫn còn chưa thật sự được trọn vẹn. Lác đác một số bài nghiên cứu về Tôn Thất Thuyết được công bố trên tạp chí trong nước. Trong một số công trình về lịch sử cận đại Việt Nam của các tác giả trong và ngoài nước, và đáng chú ý là trong các sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học đều có đề cập tới vai trò của Tôn Thất Thuyết. Năm 1985, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày xảy ra cuộc phản công tại kinh thành Huế (7-1885) đã có một số cuộc nói chuyện về Tôn Thất Thuyết tại Huế và một số địa phương trong nước, ngay cả ở Câu lạc bộ của Việt kiều yêu nước tại thủ đô Paris của nước Pháp. Đặc biệt, ngày 29 tháng 12 năm 1995, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức long trọng tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam ở thủ đô Hà Nội lễ tưởng niệm “Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết” với sự tham gia nhiệt tình của các vị lão thành cách mạng, các cán bộ quân đội đã về hưu hay còn tại chức, các cán bộ nghiên cứu sử học, đặc biệt là của các hậu duệ của Ông và của đông đảo đồng bào Thừa Thiên - Huế, quê hương của vị danh tướng. Di tích đền thờ Tôn Thất Thuyết tại quê hương Ông, (làng Văn Thê, huyện Hương Trà) đã được Bộ Văn hoá cấp bằng chứng nhận. Sách “Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết” lần này ra mắt bạn đọc chưa phải là một chuyên khảo mà mới chỉ tập hợp một số báo cáo tham luận trong lễ tưởng niệm vị danh tướng hồi tháng 12 năm 1995, cộng thêm một số bài nghiên cứu đã đăng trên các tạp chí lịch sử trước kia và gần đây, không ngoài mục đích phát huy hơn nữa kết quả của lễ tưởng niệm và giới thiệu sâu hơn một bước nhân vật lịch sử Tôn Thất Thuyết trong sự phát triển toàn diện của cuộc đời và sự nghiệp. Tất nhiên cũng còn một số vấn đề đòi hỏi phải có thêm tư liệu nữa mới có thể giải quyết được, như mối quan hệ giữa Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Về việc chọn các bài đưa vào sách này, có trường hợp một tác giả có nhiều bài, đó là một hiện tượng đáng mừng khi có một tác giả cần cù đi vào đề tài về một nhân vật mà mình yêu mến, nhất là khi tác giả đó lại là con em của chính ngay mảnh đất đã sản sinh ra nhân vật. “Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết” còn tập hợp một số thông tin về việc công nhận di tích “Phủ Ông Tướng”, về thực trạng của di tích đó hiện nay. Cuối sách là toàn văn “Vè Thất thủ Kinh đô”, một bài sử ca ra đời ngay sau khi xảy ra sự biến kinh thành (7-1885), trong đó các sự việc, các nhân vật đều được nhìn nhận, đánh giá theo con mắt của những người dân lao động bình thường đã sống trong những ngày tháng quyết liệt đó, là những chứng nhân của giai đoạn lịch sử bi thương mà hào hùng đó của dân tộc. Chúng tôi chân thành mong đợi những góp ý của bạn đọc xa gần, và rất hy vọng nhận được thêm các nguồn tư liệu quý giá có thể còn tản mác đây đó, để tiến tới hoàn thành việc biên soạn một công trình đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về Tôn Thất Thuyết, xứng đáng với công lao của người xưa đã đóng góp hết sức mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hà Nội, ngày 19 tháng 8 năm 1998 ĐINH XUÂN LÂM Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu Lịch sử và Văn hoá Việt Nam Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2016, 02:56:19 pm CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỨU NƯỚC CỦA TÔN THẤT THUYẾT ĐINH XUÂN LÂM - NGUYỄN VĂN KHÁNH1 Sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược để giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong hai thập kỷ cuối thế kỷ XIX gắn bó chặt chẽ với cuộc đời và những hoạt động yêu nước mạnh mẽ của Tôn Thất Thuyết. Nhưng do sống và chiến đấu trong một thời đại phức tạp đầy biến động của lịch sử dân tộc, cá tính lại có những nét biểu hiện quyết liệt khác thường, nên khi còn sống và ngay cả khi đã mất, Tôn Thất Thuyết luôn luôn là đối tượng vu cáo, bôi nhọ của những phần tử chống đối. Nhiều kẻ đã cố tình dựng đứng, bịa đặt nhiều chuyện phi lý để làm mờ phẩm chất cao đẹp trong con người ông, đồng thời biện minh cho hành động đầu hàng giặc, phản bội dân tộc của chúng. Dưới con mắt của giặc Pháp và bè lũ tay sai, Tôn Thất Thuyết hiện ra như “một quyền thần vô học”, “tài năng thì kém nhưng lại hay đa nghi chém giết”, “chỉ lấy quyền thế mà đè nén người ta”, “hơi một tý thì lấy sự chém giết làm oai"2; hay là một người “không thức thời”, “hèn nhát”, “đào ngũ” 3. Tuy rằng không phải không có người cho Ông là “chân thành yêu nước”, là “một bậc người có tài trí đương thời”, “tính rất cương cường vĩ đại”4,... Có thể nói, nhìn chung cho tới gần đây việc đánh giá Tôn Thất Thuyết, cũng như một số vấn đề lịch sử liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Ông, vẫn chưa thật sự thống nhất. Nguyên nhân của tình trạng đó, trước hết do cách nhìn nhận và quan niệm của những người nghiên cứu. Nhưng một phần không kém quan trọng là do tình trạng tư liệu nghèo nàn, nhiều khi lại thiếu xác thực. Vì vậy cần phải khai thác triệt để các nguồn tư liệu thành văn hiện có, đồng thời tiếp tục bổ sung các tư liệu mới, nhất là tư liệu điều tra thực tế, trên cơ sở đó kiểm chứng lại các nhận định cũ để rồi cố gắng từng bước đi tới những nhận định đúng đắn và sát hợp hơn. * Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi (12- 5-1839) tại thôn Phú Mộng, xã Xuân Long, nay thuộc thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế). Xuất thân trong một gia đình hoàng tộc, thuộc một chi của dòng họ Nguyễn đang cầm quyền, Tôn Thất Thuyết có nhiều thuận lợi hơn so với người khác trên con đường công danh sự nghiệp. Theo thuật lại, Tôn Thất Thuyết có vóc người vạm vỡ, ham hoạt động, rất giỏi võ nghệ, và không ưa lối trang sức bề ngoài. Đương thời người ta gọi Tôn Thất Thuyết là “Quan Tướng” (để phân biệt với Quan Quận là Nguyễn Văn Tường). Vì vậy có người lầm tưởng Ông xuất thân từ quan võ, và ít được học hành. Nhưng thực ra, ông vốn là một quan văn, năm 1869 là Án sát tỉnh Hải Dương, tới năm 1870 do yêu cầu của tình hình mới chuyển sang làm quan võ cùng Thống đốc quân vụ Hoàng Tá Viêm phụ trách việc tiễu phỉ vùng biên giới phía Bắc.5 Trong công tác, ông tỏ ra năng nổ, hăng hái, lại lắm cơ mưu nên được thăng chức rất nhanh. Năm 1870 là Tán tương quân vụ Sơn Tây, sau được cử làm Tán lý quân thứ Thái Nguyên, rồi Bố chính Hải Dương. Ba năm sau (1873) ông là Tham tán quân vụ, kiêm Tham tri bộ Binh. Đến năm 1875 được cử làm quyền Tổng đốc bốn tỉnh Ninh-Thái-Lạng-Bình (Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng), sau đó được bổ chức Hiệp thống quân vụ. Chính vua Tự Đức mặc dù luôn luôn có thái độ khe khắt với Tôn Thất Thuyết, có lúc chê Ông “ít học, không thông, lại có tính nóng nảy nói càn”, “vốn có tính kiêu căng, hẹp hòi hay nghi ngờ người”6 cũng đã có lần buộc phải khen ông là “tướng có uy vũ”, “tài trí đáng khen”, “không phải là cuồng dũng như Ông Ích Khiêm, ít học như Trương Văn Để, cho nên Lê Tuấn cũng từng khen là biết lễ”7. _______________________________________ 1. Trường Đại học KHXHNV Hà Nội. 2. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt, Sài Gòn, 1968, quyển II. 3. Charles Gosselin, Vương quốc An Nam (L’Empire d’Annam), Paris, Perrin et Cie, 1904. 4. Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng, Nxb. Tân Việt, Sài Gòn, 1957. Cùng loại ý kiến này còn một số người Pháp (như A. Delvaux - Một vài điểm làm sáng tỏ thêm về một thời kỳ rối ren trong lịch sử nước Nam B.A.V.H tháng 4-6 năm 1920; Ch. Gosselin trong Vương quốc An Nam, Sđd; M. Gaultier trong Ông vua bị lưu đầy (Le Roi proscrit), Hà Nội, 1940, v.v... 5. Trong cuộc đòi chiến đấu ở ngoài Bắc, Tôn Thất Thuyết chưa hề làm thơ, mà chỉ có một số câu đối (Viếng Trần Bích San, Hoàng Diệu, Đề đền Cổ Loa). Nhưng trên đường sang Trung Quốc cầu viện, ông có sáng tác một số bài thơ (Hoạ thơ Nguyễn Quang Bích, Gửi Cầm Bá Thước, Khóc Nguyễn Cao, Chim én bay trong mưa...). 6. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 35, tr 85. 7. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 33, tr 230, 258. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2016, 03:04:35 pm Tôn Thất Thuyết thường xuyên quan tâm tới công việc phòng thủ giữ vững độc lập của Tổ quốc. Năm 1873 thấy rõ âm mưu đen tối của thực dân Pháp đang lăm le kéo quân ra đánh chiếm miền Bắc, Ông đã chủ động làm sớ tâu về triều đình: “Hà Nội là một trấn lớn ở Bắc Kỳ, rất quan yếu, xin chuẩn cho quan Khâm mạng là Nguyễn Tri Phương về trấn trị, cho nơi căn bản được vững” 1. Đến khi thành Hà Nội bị thất thủ (20-11-1873), rồi các tỉnh Hưng Yên, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định nối tiếp nhau rơi vào tay giặc, mặc dù chưa có lệnh của triều đình, ông đã hăng hái cùng Hoàng Tá Viêm kéo quân từ Sơn Tây về phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc2 phục kích đánh tan giặc Pháp tại Cầu Giấy (21-12-1873), tướng giặc là Gác-ni-ê (Francis Garnier) phải đền tội tại trận. Nhưng Tự Đức lo ngại thực dân Pháp phản ứng đã vội cử người đi Bắc đòi hai ông phải rút quân, Tôn Thất Thuyết đã khẳng khái nói: “Tướng ở ngoài chỉ biết lo việc đánh giặc”. Phái viên của Tự Đức là Nguyễn Trọng Hợp và Trương Gia Hội phải tới quân thứ bàn bạc thuyết phục, Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết mới thuận nghe, đóng binh bất động3. Trong thời gian này, có một sự kiện cần được làm sáng tỏ. Theo sử triều Nguyễn, năm 1874 khi nghe tin văn thân và nhân dân Nghệ Tĩnh dưới sự lãnh đạo của Trần Tấn và Đặng Như Mai sôi nổi đứng dậy “chống lại cả Triều lẫn Tây”, Tôn Thất Thuyết đã tức tốc đưa quân từ Bắc vào đàn áp, được Tự Đức khen là “có lòng với vua” 4. Nhưng căn cứ vào một số tài liệu của các giáo sỹ Pháp được chứng kiến trực tiếp cuộc khởi nghĩa tại Nghệ Tĩnh thì dư luận chung là “ông ta (chỉ Tôn Thất Thuyết - TG) sẽ đứng về phía những người nổi loạn ở Nghệ An và mở đường cho nghĩa quân tiến ra Bắc” 5. Cùng với các tài liệu đó, kết quả điều tra thực địa trong nhân dân vùng Thanh Chương (Nghệ Tĩnh) cũng xác nhận ý kiến trên, cho rằng “Tôn Thất Thuyết vào Nghệ An với danh nghĩa là đàn áp, nhưng cốt để tiếp xúc và trực tiếp giúp đỡ nghĩa quân” 6. Một nhà Việt Nam học Nhật Bản là ông Y. Tsuboi cũng đã nhận xét: “Lúc bấy giờ Tôn Thất Thuyết tỏ ra có thiện cảm với phe nổi dậy và kêu gọi toàn thể quan lại, nhân sỹ, thân hào hãy cùng nhân dân Bắc hà nổi dậy chống Pháp” 7. Như vậy là ngay từ 1874, Tôn Thất Thuyết đã tỏ rõ tư tưởng chống Pháp, và do đó khẩu hiệu: “Bình Tây sát tả” của cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất nhất định đã được ông đồng tình ủng hộ. Năm 1878, ông xin về nghỉ tại Thanh Hoá để chữa bệnh. Trong thời gian dưỡng bệnh ở Thanh Hoá, Tôn Thất Thuyết đã liên lạc với các sỹ phu văn thân yêu nước trong tỉnh và bàn định kế hoạch xây dựng cơ sở kháng chiến. Năm 1879 ông tìm gặp Tống Duy Tân và đặc cách bổ dụng làm Đốc học, rồi Chánh sứ sơn phòng ở Quảng Hoá (Vĩnh Lộc), để lo việc tuyển quân, tích trữ lương thực, sẵn sàng chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp mà chính ông dự đoán sẽ bùng nổ. Đến tháng 8 năm 1881, do tình hình nước nhà có nhiều khó khăn về nội trị và ngoại giao, Tự Đức đã phải gọi ông ra nhận chức Thượng thư bộ Binh phụ trách toàn bộ việc quân của triều đình. Năm 1883, ông được cử vào Viện Cơ mật, đến khi Tự Đức mất (17/7/1883) ông lại được cử làm Phụ chánh cùng Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường cáng đáng việc nước khi vua còn ít tuổi. Do nắm cả quyền chính trị và quân sự trong tay, ông đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định trong các hoạt động và đối sách của triều đình Huế hồi đó. Lúc bấy giờ tình hình triều đình Huế trở nên vô cùng rối ren. Trên đà thắng thế, thực dân Pháp ngày càng lấn tới, bắt ép triều đình ký điều ước Quý Mùi (25/8/1883), rồi điều ước Giáp Thân (6/6/1884) từng bước xác lập và củng cố nền bảo hộ của chúng trên toàn bộ đất nước ta. Trong khi đó, phái kháng chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu vẫn bí mật chuẩn bị lực lượng, như mở “đường thượng đạo”; gấp rút xây dựng hệ thống đồn sơn phòng dọc theo dãy Trường Sơn; chuyển súng đạn đại bác, kho tàng, lương thực ra căn cứ Tân Sở (Quảng Trị); ráo riết tổ chức và đẩy mạnh luyện tập các đội Phấn Nghĩa và Đoàn Kiệt,... để chờ ngày sống mái với quân thù. Tại kinh đô Huế, Tôn Thất Thuyết cho quân tập trung thêm vào thành nội, đồng thời tiến hành củng cố hào, tường thành và đặt thêm các súng lớn để tự vệ. Tôn Thất Thuyết còn cương quyết phế truất và thủ tiêu các ông vua có xu hướng thân Pháp như Dục Đức, Hiệp Hoà, hay thẳng tay trừng trị bọn quan lại và thân vương có hành động đầu hàng thân Pháp, như giết Trần Tiễn Thành, đầy đi xa Tuy Lý Vương, Gia Hưng Quận vương. _________________________________________ 1. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 33, tr 295. 2. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 33, tr 349. 3. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 33, tr 70. 4. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 33, tr 70. 5. Niên giám hội truyền giáo, số 47. 6. Theo lời kể của cụ Phan Bá Tình ở Mặt trận Tổ quốc huyện Thanh Chương (Nghệ An). 7. Y. Tsuboi. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Hội Sử học Việt Nam xb, Hà Nội, 1993, tr. 295 Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Hai, 2016, 03:10:49 pm Càng ngày thực dân Pháp càng thấy rõ Tôn Thất Thuyết là trở ngại lớn nhất cho việc thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam của chúng, cho nên tìm mọi cách gạt bỏ ông ra khỏi triều đình. Ngày 21/5/1885, Bộ trưởng ngoại giao Pháp Frâyxinê (Freycinet) điện cho Khâm sứ Pháp ở Huế rằng: “Không thể không trừng phạt hành vi của viên Thượng thư bộ Binh nước Nam... Ông hãy báo cho triều đình nước đó biết rằng chúng ta không thể chịu được Tôn Thất Thuyết còn giữ chức Phụ chánh lâu hơn nữa, ông phải đòi hỏi người ta bãi chức viên ấy và đưa đi xa”. Mối quan hệ giữa phái chủ chiến trong triều đình Huế với bè lũ thực dân Pháp và tay sai đã trở nên căng thẳng cực độ. Giữa lúc đó, tướng giặc Cuốc-xi (Roussel de Courcy) đưa quân từ ngoài Bắc vào kinh thành Huế (2/7/1885) với ý định rõ rệt là gấp rút bóp chết lực lượng chống Pháp còn sót trong triều đình Huế, bố trí bắt cóc và trong trường họp cần thiết có thể thủ tiêu Tôn Thất Thuyết. Một thầy thuốc người Pháp có mặt tại Huế lúc đó là Măng-gianh (A. Mangin) trong bức thư ngày 25/7/1885 gửi cho bạn đã khẳng định: “Cuốc-xi là một phần tử điên cuồng theo chủ nghĩa thôn tính”. Tình hình cấp bách đó buộc Tôn Thất Thuyết và các đồng chí của ông phải hành động trước, không thể bị động ngồi chờ kẻ thù tiêu diệt. Theo kế hoạch đã định, đêm mồng 4 tháng 7 năm 1885, lợi dụng lúc thực dân Pháp chủ quan sơ hở đang say sưa yến tiệc trong toà Khâm sứ bên bờ nam sông Hương, ông đã ra lệnh cho binh lính dưới quyền nổ súng tấn công vào các căn cứ của chúng. Một cánh quân do Tôn Thất Lệ (em trai Tôn Thất Thuyết) chỉ huy đánh thẳng vào toà Khâm sứ Pháp. Cánh quân thứ hai dưới sự chỉ huy của Trần Xuân Soạn tập trung tấn công vào đồn Mang Cá góc đông bắc thành Huế, nơi tập trung phần lớn binh lực của quân đội Pháp. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Nhưng do việc chuẩn bị chưa thật chu đáo, so sánh lực lượng lại chênh lệch có lợi cho Pháp nên cuộc tấn công của quân triều đình đã thất bại nhanh chóng. Ngay sau đó, Tổn Thất Thuyết phải đưa Hàm Nghi ra sơn phòng Tân Sở (QuảngTrị), và lấy danh nghĩa nhà vua xuống Chiếu Cần Vương kêu gọi sỹ phu và nhân dân cả nước đứng lên đánh giặc Pháp cứu nước, khôi phục độc lập dân tộc. Hưởng ứng Chiếu Cần Vương, một cao trào yêu nước chống Pháp đã được phát động mạnh mẽ và kịp thời trong cả nước. “Ảnh hưởng của Tôn Thất Thuyết như tăng lên hàng ngày” 1, điều khẳng định đó của một tác giả người Pháp chỉ có thể giải thích được từ việc làm hợp lòng dân của ông và phe kháng chiến trong triều đình Huế. Sau khi đến Sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị) ít ngày, Tôn Thất Thuyết định đưa vua Hàm Nghi chạy theo đường bộ ra Thanh Hoá để xây dựng cơ sở kháng chiến lâu dài. Nhưng bị giặc Pháp chặn đường, vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết buộc phải theo đường rừng phía sườn tây Trường Sơn chạy ra sơn phòng Phú Gia (Hà Tĩnh) 2. Cuộc hành trình của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết cùng đám tuỳ tùng ra Hà Tĩnh vô cùng gian khổ. Biết trước điều đó, trước giờ lên đường, Tôn Thất Thuyết không có sự cưỡng bách mà hoàn toàn dựa vào tinh thần tự nguyện của binh lính dưới quyền: “Chú nào con vợ chưa thành Cho về sở định sở sanh việc nhà. Chú nào lưa mẹ còn cha Cho về bảo dưỡng vậy mà đừng đi” 3 Thế nhưng chính mẹ già cùng vợ con ông vẫn sẵn sàng theo ông đi kháng chiến, để rồi mẹ (Văn Thị Thu) và vợ (Lê Thị Thành) phải chết dọc đường vì lam sơn chướng khí, con trai thì người bị giết khi bảo vệ vua (Tôn Thất Thiệp), người tự sát khi thấy việc lớn không thành (Tôn Thất Đàm). Và nếu chúng ta biết thêm rằng thân sinh ông là Tôn Thất Đính vì tuổi cao sức yếu không thể trực tiếp cầm quân theo con được, nhưng rất tán thành việc làm chính nghĩa của con, sau ông cũng bị giặc bắt đày ra Côn Đảo và mất tại đó. Các em ông là Tôn Thất Lệ thì sau cuộc tấn công giặc Pháp đêm 4/7/1885 thất bại đã chạy theo vua Hàm Nghi, rồi mất trong khi đi kháng chiến; Tôn Thất Hàm giữ chức tri huyện Nống Cống (Thanh Hoá) đã bỏ quan tham gia phong trào Cần Vương trong tỉnh, sau bị giặc bắt đưa đi an trí rồi tuyệt thực chết; Tôn Thất Hoành tham gia phong trào chống Pháp, bị giặc đày chết ở Lao Bảo (Quảng Trị); Tôn Thất Trọng về sau tham gia phong trào Đông du. Có thể khẳng định toàn thể gia đình Tôn Thất Thuyết đã tham gia kháng chiến, mỗi người tuỳ tài năng và sức lực đã đóng góp phần xương máu của mình vào công cuộc giải phóng dân tộc. Thực dân Pháp và tay sai đã điên cuồng phản ứng lại, ra sức đẩy mạnh việc săn lùng, khủng bố những người yêu nước. Triều đình Đồng Khánh mới được đặt lên ngôi sau sự biến kinh thành đã ra Dụ “định cách thưởng cho việc rước giá vua về và bắt nghịch Thuyết yết cáo khắp nơi, từ Quảng Trị về phía bắc... Ai hay bày kế trực tiếp đưa xe vua ra giao cho quan quân rước về thưởng cho hàm chánh nhị phẩm, tấn phong tước Nam...; bắt sống được Tôn Thất Thuyết thưởng 1.000 lạng bạc, chém được thưởng 800 lạng” 4. Sau đó chúng lại lồng lộn đẩy mạnh việc truy lùng, phóng hết đạo quân này đến đạo quân khác đi sâu vào miền rừng núi Hà Tĩnh - Quảng Bình hòng bắt cóc Hàm Nghi và “tiểu triều đình” do ông và Tôn Thất Thuyết đứng đầu. ___________________________________________ 1. M. Gaultier, trong Ông vua bị lưu đầy (Le Roi proscrit), Hà Nội, 1940 2. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 36, tr 235. 3. Vè Thất thủ kinh đô, Nxb. Văn-Sử-Địa, Hà Nội, 1959. 4. Đại Nam thực lục chính biên, Tập 36, tr. 250. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2016, 02:19:06 pm Tháng 8 năm 1886, trước những khó khăn ngày càng lớn, Tôn Thất Thuyết giao cho hai con trai là Tôn Thất Đàm và Tôn Thất Thiệp cùng các thủ lĩnh khác ở lại bảo vệ vua, còn mình thì theo đường rừng sang Trung Quốc cầu viện. Trên đường đi, ông tranh thủ gặp những thủ lĩnh yêu nước các địa phương để cùng với họ bàn bạc kế hoạch phối hợp đánh Pháp (như Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao, Tống Duy Tân ở Thanh Hoá, Nguyễn Quang Bích ở Hưng Hoá...) Đầu năm 1887, Tôn Thất Thuyết đến vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Nhưng ông đã thất bại trong kế hoạch cầu viện. Lúc này, phong kiến nhà Thanh đã ký quy ước Thiên Tân bán rẻ Việt Nam cho Pháp nên cố tình bỏ rơi ông. Thêm vào đó, sau khi đánh chiếm xong miền núi, thực dân Pháp đã tiến hành khoá chặt đường biên giới phía bắc. Mặc dù vậy, vượt qua muôn vàn khó khăn, ông vẫn tiếp tục duy trì mối liên hệ với trong nước, mua sắm vũ khí gửi về, xây dựng các đội quân vũ trang rồi tổ chức tấn công vào các đồn binh Pháp trên đường biên giới. Năm 1896, dưới sức ép của Pháp, nhà Thanh trở mặt đưa ông đi an trí ở Long Châu, rồi Thiều Châu. Lúc này phong trào kháng chiến trong nước đã bị kẻ thù dìm trong máu lửa, thực dân Pháp càng có điều kiện xiết chặt ách kìm kẹp đối với nhân dân ta. Trước sự tan rã của phong trào kháng chiến, Tôn Thất Thuyết rất đau buồn và phải sống những năm tháng cuối đời trên đất tha hương. Ông mất ngày 22 tháng 9 năm 1913 tại Thiều Châu (Trung Quốc). Về việc sang Trung Quốc cầu viện năm 1886, để lại vua Hàm Nghi trong nước vào lúc tình hình khó khăn, sau này Tôn Thất Thuyết đã bị một số người buộc tội là “hèn nhát”, “đào ngũ”... Nhưng ngày nay nhìn nhận lại vấn đề một cách khách quan khoa học, chúng ta có thể bác bỏ nhận định đó và khẳng định rằng động cơ thúc đẩy ông lên đường sang Trung Quốc là tinh thần yêu nước, căm thù giặc, mong muốn tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài cho công việc chống Pháp của nhân dân ta. Tất nhiên trong hoàn cảnh phong kiến nhà Thanh đã bắt tay câu kết với thực dân Pháp thì chủ trương đó là một sự ngộ nhận về chính trị. Song cũng phải thấy rằng Tôn Thất Thuyết vốn xuất thân từ tầng lớp quan lại, được đào tạo theo khuôn mẫu Khổng giáo nên không thể vượt ra khỏi hạn chế của giai cấp và thời đại lúc bấy giờ. Mục tiêu chiến đấu của ông vẫn là nhằm khôi phục lại chế độ phong kiến. Trong khi đó, vào cuối thế kỷ XIX một xã hội phong kiến - dù có một ông vua yêu nước chống Pháp như Hàm Nghi - cũng đã trở nên lỗi thời, không còn thích hợp nữa. Chính vì vậy phong trào Cần Vương sau một thời kỳ phát triển đã dần dần suy yếu, bị cô lập và cuối cùng đã tan rã, nó không thể thống nhất và mở rộng thành một phong trào dân tộc dân chủ sôi nổi khả dĩ cùng lúc đánh đổ cả hai kẻ thù là đế quốc và phong kiến tay sai. Ở đây cũng còn một vấn đề khác cần được trao đổi và giải quyết: đó là mối quan hệ giữa Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Trước đây có một số người cho rằng Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cùng thuộc phái chủ chiến, chỉ đến sau cuộc phản công thất bại ở kinh thành Huế mới có sự phân hoá về tư tưởng và hành động. Thậm chí còn có ý kiến cho việc Nguyễn Văn Tường nửa đường bỏ Vua quay lại hợp tác với Pháp cũng nằm trong kế hoạch của phái kháng chiến, Tường ở lại hoạt động bên trong, còn Thuyết hoạt động bên ngoài, đó là sự phân công, thoả thuận từ trước. Vấn đề này khá phức tạp, đòi hỏi thêm nhiều nguồn tư liệu trước khi có một nhận định đánh giá dứt khoát. Nhưng nếu căn cứ vào một số sự kiện và ghi chép hiện có thì thật ra quan điểm của hai người hoàn toàn đối lập nhau. Ngay vào tháng 10/1880, Tôn Thất Thuyết đã tố cáo Nguyễn Văn Tường nhập tiền giả của Trung Quốc. Ông còn khẳng định Tường đã lợi dụng chức vụ Thượng thư bộ Hộ để ăn của đút. Về tư tưởng, Tường là một kẻ chủ hoà. Trong thời kỳ Tôn Thất Thuyết còn nắm giữ binh quyền, phái chủ chiến mạnh, Tường buộc phải làm theo để giữ chức quyền. Đến khi cuộc phản công ở Huế của phái kháng chiến bị thất bại, kinh thành rơi vào tay giặc, Tường đã nhẩy ra hợp tác với Pháp. Riêng việc mới chạy ra đến Kim Long đã lẻn vào nhà thờ nhờ cố đạo Cát-pa (Caspard) đưa ra đầu thú đã nói lên rằng trước đó Tường đã có ý định thoả hiệp với Pháp. Còn Tôn Thất Thuyết không phải không nắm vững ý đồ của Tường, nhưng đặt trong tương quan lực lượng cụ thể, Tôn Thất Thuyết buộc phải tìm cách lôi kéo ông ta để tập trung lực lượng đối phó với thực dân Pháp. Dưới con mắt của nhân dân ta, Tôn Thất thuyết đã trở thành biểu tượng của tinh thần yêu nước và lòng quả cảm: “Nước Nam quan Tướng anh hùng Bách quan văn võ chẳng ông nào tày Người có ngọc vẹt cầm tay Đạn bắn cả ngày chẳng thể trúng ông”1. ________________________________________ 1. Vè Thất thủ kinh đô, Nxb. Văn-Sử-Địa, Hà Nội, 1959. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 12 Tháng Hai, 2016, 02:24:08 pm Một điểm khác cần làm sáng tỏ là Tôn Thất Thuyết không chỉ là một võ tướng, ông còn là một người giàu cảm xúc, nhạy cảm trước thiên nhiên và với con người. Nhìn chim én nhỏ chao mình giữa mưa gió, ông ngậm ngùi thương cảm hỏi chim: “Hà sự đình đài hồ bất quy, Sơn biên phong vũ cộng phi phi” (Vũ trung phi yến) (Sao không về ở chốn lâu đài, Mưa gió bên rừng cánh tả tơi) (Chim én bay trong mưa) Đối với Tôn Thất Thuyết, tình cảm yêu nước luôn luôn gắn liền với ý thức trách nhiệm. Ông tự ví mình như cột đá chặn giữa dòng sâu khi đứng ra cáng đáng sự nghiệp lớn: “Ba trung chỉ trụ chướng cuồng lưu” (Cột cao giữa sóng chặn dòng sâu) (Tôn Thất Thuyết đại nhân phụng đề thi) Nhưng vẫn lạc quan tin tưởng và hy vọng vào ngày mai: “Thử du nhược đắc thiên tâm trợ, Quy khứ Nam xa triệt hảo trình” (Phen này ví được lòng trời giúp, Trở gót về Nam lối hẳn thông) (Thơ gửi Cầm Bá Thước) Trong những năm tháng cuối đời ở nơi đất khách quê người, Tôn Thất Thuyết vẫn hướng về Tổ quốc với nỗi niềm canh cánh khôn nguôi: “Chỉ nhật quốc thù kỳ khả phục, Kinh thu thâm bệnh thả tiên trừ” (Giới yên thi) (Thù nước hẹn ngày thề trả sạch, Thân già nhiều bệnh quyết lo chừa) (Thơ chừa thuốc phiện) Con người mang nặng tình nghĩa với non sông đất nước như vậy không thể “lấy chuyện chém giết làm vui”, “cuồng dại mà lại nhát gan” 1 như một bọn bồi bút tay sai của thực dân, những kẻ thù ghét ông từng xuyên tạc. Ngay một số người Pháp trung thực cũng đã xác nhận Tôn Thất Thuyết “là một bậc anh hùng”: “Thuyết không hề bao giờ muốn giao thiệp với chúng ta (tức bọn thực dân Pháp - TG) và ông biểu lộ lòng căm ghét không cùng đối với chúng ta trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta có thể nói rằng ông ta căm ghét chúng ta: đấy là quyền và có lẽ đấy là bổn phận của ông ta” 2. Một tác giả khác cũng nhận xét: “Lòng yêu nước của Tôn Thất Thuyết không chấp nhận một sự thoả hiệp nào. Ông ta xem các quan lại chủ hoà như kẻ thù của dân tộc... Tuy nhiên, dù cho sự đánh giá ông của những người cùng thời thiên vị như thế nào, một đạo đức lớn đã bộc lộ rõ rệt trong mọi hoàn cảnh của đời ông: đó là sự gắn bó kỳ lạ của ông đối với Tổ quốc” 3. * Nói tóm lại, Tôn Thất Thuyết trước sau là một người yêu nước nhiệt thành. Bằng hành động kiên quyết, dũng cảm của mình, với ý thức trách nhiệm cao đối với dân với nước, ông đã trở thành một lãnh tụ kháng chiến tiêu biểu, và đã đóng vai trò to lớn trong phong trào đấu tranh vũ trang lâu dài và gian khổ cuối thế kỷ XIX của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược dưới danh nghĩa Cần Vương. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một tấm gương ngời sáng về tinh thần phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của dân tộc và nhân dân. _______________________________________ 1. Trần Trọng Kim, Sđd. 2. Bastide, Cuộc nổi dậy và đánh chiếm kinh thành Huế năm. 1885. (Soulèvement et prise de Huê en 1885), Paris, 1912. 3. M. Gaultier, Sđd. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2016, 04:01:18 pm NHẬN DIỆN CHẶNG ĐƯỜNG LƯU VONG CỦA TÔN THẤT THUYẾT NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN1 Tám tháng sau những ngày ngặt nghèo, gian lao phò vua Hàm Nghi từ Huế ra Sơn phòng Hà Tĩnh - Quảng Bình xây dựng căn cứ lãnh đạo phong trào kháng Pháp, vào tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết để hai con trai là Đàm và Thiệp tiếp tục duy trì sự nghiệp cần vương, còn mình cùng vài bộ tướng thân cận lên đường sang Trung Hoa cầu viện. Bắt đầu từ đây, nhiều người đương thời, và cả hậu thế chúng ta về sau cứ mãi chê trách ông. Không hề có một tiếng khen, hoạ hoằn lắm mới có đôi lời biện hộ yếu ớt cho chặng đường lưu vong lỡ bước của ông. Trong chiều hướng nghiên cứu làm rõ hơn “cái tâm” và những nỗ lực tột cùng của Tôn Thất Thuyết cùng các chiến hữu của ông trên dặm đường phiêu bạt nơi đất khách quê người, chúng tôi không có tham vọng gì hơn ngoài mong muốn được góp phần làm thay đổi những định kiến nghiệt ngã của cuộc đời luôn ám ảnh trong tâm trí của một số người trong chúng ta khi nghĩ về ông. I. Những cái nhìn nghiệt ngã Đánh giá về hành động cầu viện nhà Thanh của Tôn Thất Thuyết, những người Pháp ở phía đối nghịch - như đại uý Gosselin2, đã không ngần ngại gọi ông là tên “đảo ngũ”. Hoặc như nhà sử học Trần Trọng Kim3 thì hết sức mỉa mai khi viết: “Tôn Thất Thuyết thấy không chống nổi quân Pháp, bèn bỏ vua Hàm Nghi rồi cùng với Đề đốc Trần Xuân Soạn đi đường thượng đạo, nói rằng sang cầu cứu bên Tàu” 4. Cuộc hành trình sang Trung Hoa của Tôn Thất Thuyết được Trần Trọng Kim miêu tả như là ông muốn tìm một chỗ ẩn nấp để bảo trì mạng sống của mình: “Tôn Thất Thuyết đi đường thượng đạo ra vùng Hưng Hoá theo thượng lưu sông Đà lên Lai Châu nương tưạ vào họ Điêu (Điêu Văn Trì - NQTT). Đến lúc nghe tiếng quân Pháp lên đánh, liền bỏ họ Điêu mà trốn sang Tàu... Một người như thế mà làm đại tướng để giữ nước thì tài gì mà nước không nguy được” 5. Và cuối cùng Trần Trọng Kim kết luận: “Ông Tôn Thất Thuyết làm đại tướng mà cư xử ra một cách rất hèn nhát không đáng làm người trượng phu chút nào” 6. Không riêng gì Trần Trọng Kim, ngay cả những người làm công việc khảo cứu các gương anh hùng của dân tộc như Đào Trinh Nhất cũng cho đó là hành động trốn tránh hèn nhát: “Tôn Thất Thuyết bỏ nửa đoạn giữa đường, tách mình đi sang Tàu, nói là đi cầu viện. Sang Tàu rồi, chẳng biết rằng Thuyết đã nói chuyện cầu viện gì được với quan quyền Mãn Thanh chưa, hay là lão biết tình thế nguy hiểm cô cùng rồi, nên kiếm chuyện tìm đường trốn tránh lấy thân vậy thôi. Nhiều người Pháp - trong đó đại uý Gosselin là một, chê Thuyết hèn nhát vì cái cử chỉ bỏ vua giữa đường tách mình đào nạn như thế” 7. Ngoài những lời chê trách đầy ác ý hoặc do ngộ nhận, các công trình mang tính khách quan cũng đánh giá thấp chặng đường lưu vong của Tôn Thất Thuyết. Người ta thường cho đó là hạn chế lớn khi ông ảo tưởng về nhà Thanh, không thấy và cũng không dám tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân mà đi nhờ vả ngoại bang... nên kết luận đó là một sai lầm đáng tiếc. Quả thật là đáng tiếc cho con đường lưu vong của Tôn Thất Thuyết, nhưng cũng hết sức đáng tiếc cho chúng ta vì chưa đủ cứ liệu để hình dung hết ý đồ chiến lược của ông trong chuyến đi này. Có một điều ít được mọi người biết đến, đó là sự đóng góp của Tôn Thất Thuyết đối với phong trào kháng chiến chống Pháp tại Việt Nam vẫn liên tục, thường xuyên trên từng bước lưu vong của ông. _________________________________________ 1. Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Huế. 2. Ch. Gosselin - L'Empire d’Annam. Paris, Perrin et Cie, 1904. 3. Trần Trọng Kim - Việt Nam sử lược, quyển II. Sài Gòn, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục xuất bản, 1971. 4, 5. Như trên, tr. 329. 6. Như trên, tr. 338. 7. Đào Trinh Nhất - Phan Đình Phùng. Sài Gòn, Tân Việt, 1957, tr. 94 Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2016, 04:06:42 pm II. Thực tế và uẩn khúc Sau trận quân Pháp tiến đánh căn cứ Cửa Khe ở vùng thượng nguồn sông Gianh thuộc tỉnh Quảng Bình vào cuối tháng 1/1886, vua Hàm Nghi phải tiếp tục cuộc chạy trốn. Tôn Thất Thuyết thấy rằng khó có thể thay đổi tình thế nếu không tạo nên được một sức mạnh quân sự nào khác, do vậy ông nghĩ đến việc phải đích thân trực tiếp ra Bắc để tìm cách khuấy động phong trào kháng chiến, nghĩ đến con đường liên minh với người Trung Hoa như triều đình Huế trước đó vẫn thường làm. Ý đã quyết, ông bèn cùng Trần Xuân Soạn vượt ngàn Hà Tĩnh ra Nghệ An và đến Thanh Hoá vào tháng 3 năm 1886. Vùng đất Thanh Hoá bao la trù phú, dân cư đông đúc, sĩ khí ngất trời đã làm cho Tôn Thất Thuyết sau chuỗi ngày thất bại bỗng bình tâm trở lại, niềm hy vọng chiến thắng lại loé lên trong lòng vị lãnh tụ phong trào chống Pháp. Tại vùng Cẩm Thuỷ, Tôn Thất Thuyết triệu tập một cuộc họp để bàn bạc kế hoạch chống Pháp cùng với em ruột là Tôn Thất Hàm (vốn là tri huyện Nông Cống) và nhiều lãnh tụ Cần Vương khác. Sự hưởng ứng rầm rộ của sỹ phu và dân chúng ở Thanh Hoá làm nức lòng Tôn Thất Thuyết, nên ông không chút ngần ngại khi quyết định để viên tuỳ tướng thân cận nhất là Trần Xuân Soạn ở lại lo việc điều hành lực lượng kháng chiến vùng Thanh Hoá và khu vực phía Bắc. Sau khi đã thảo luận và vạch kế hoạch khởi nghĩa chung cho toàn tỉnh, Tôn Thất Thuyết đến tổng Trịnh Vạn thuộc châu Thường Xuân hội với Cầm Bá Thước là một tộc trưởng người Thái để bàn việc đánh Pháp. Rồi vào ngày 22/4/1886, Tôn Thất Thuyết đi ngược thượng lưu sông Mã tìm gặp tù trưởng người Mường là Hà Văn Mao ở Điền Lư thuộc châu Quan Hoá. Những cuộc gặp gỡ của Tôn Thất Thuyết đều nhằm chủ đích vận động cho công cuộc đánh Pháp ủng hộ vua Hàm Nghi, và đều thu được kết quả tốt đẹp, nơi nơi tưng bừng khởi nghĩa hưởng ứng lời kêu gọi của ông1. Tôn Thất Thuyết lưu lại nhiều ngày ở nhà Hà Văn Mao, rồi sau đó tiếp tục ra Bắc ngược lên sông Đà, đến vùng Lai Châu tìm tù trưởng Điêu Văn Trì vào tháng 6 năm 1886. Điêu Văn Trì là một tù trưởng người Thái đã tập hợp lực lượng và lập căn cứ ở núi rừng Tây Bắc để chống lại người Pháp. Tôn Thất Thuyết đến đây nhằm mục đích kích động sự ủng hộ của người Thái đối với vua Hàm Nghi, và bàn kế hoạch phối hợp trên cả hai vùng Trung - Bắc, rồi sau đó sang biên giới để tiến hành công việc cầu viện Mãn Thanh. Nhưng do cả năm trời liên tục trèo đèo lội suối, nhiễm nhiều lam chướng từ khi phải rời khỏi kinh thành Huế, nên ông Thuyết mắc bệnh khá nặng, phải lưu lại vùng này một thời gian khá dài để dưỡng bệnh. Tại Lai Châu, Tôn Thất Thuyết nhận được một thông cáo của vua Đồng Khánh đề ngày 2/7/1886 kể tội “Thuyết và Soạn” với nội dung như sau: “Tội của các ngươi nhất định là rất nặng, nhưng lòng quảng đại của Trẫm rất lớn nên Trẫm có thể cho các người trở về và tha chết cùng những kẻ mà các người lôi kéo vào con đường sai lầm. Trẫm sẽ cho lưu đầy các người tại nguyên quán và nếu sau này các ngươi biết ăn năn hối quá, Trẫm sẽ xét lại và cho phục hồi danh vị. Còn nếu cứ ngoan cố, Trẫm sẽ trừng phạt các người về những tội làm ác, làm cực khổ trăm họ. Đầu các người và dư đảng sẽ bị treo thưởng...” Đến ngày 12/7 năm Bính Tuất (11/8/1886), Đồng Khánh lại ra một đạo Dụ khác tuyên bố sẽ tha tội cho Tôn Thất Thuyết những việc làm đã qua nếu ông chịu trở về với triều đình2. Tôn Thất Thuyết không hề lung lạc tinh thần mà vẫn quyết tâm đeo đuổi sự nghiệp chống Pháp. Cũng trong thời gian Tôn Thất Thuyết ở Lai Châu với Điêu Văn Trì, quân Pháp tiến hành nhiều cuộc hành binh càn quét khu căn cứ của họ Điêu ở Sơn La và Lai Châu, nhưng nghĩa quân đã ngăn chống có hiệu quả và bảo toàn được lực lượng. Đến đầu năm 1887, khi bệnh tình của Tôn Thất Thuyết thuyên giảm, Điêu Văn Trì mới cùng với 20 thủ hạ bí mật đưa ông theo ngả Bình Lư lên Mạn Hảo và đến được tỉnh Vân Nam của Trung Hoa. ________________________________________ 1. Tôn Thất Hàm cầm đầu lực lượng khởi nghĩa ở Nông Cống, Cầm Bá Thước nổi dậy ở châu Thường Xuân, Hà Văn Mao chỉ huy lực lượng khởi nghĩa ở căn cứ Mã Cao, Trần Xuân Soạn đóng quân tại căn cứ Quảng Hoá để nối liền hệ thông cứ điểm Ba Đình - Mã Cao. 2. Phạm Văn Sơn - Việt Nam cách mạng cận sử, Sài Gòn, Khai Trí, 1963, tr. 113. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2016, 04:12:31 pm Có thể nói trước khi chính thức đặt vấn đề ngoại viện với nhà Thanh, Tôn Thất Thuyết đã không quản khó khăn gian khổ để huy động các lực lượng nội tại “mà triều đình Hàm Nghi” nắm được nhằm tiếp tục phát triển phong trào kháng Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương. Công tác tổ chức, điều phối lực lượng kháng chiến cũng được Tôn Thất Thuyết sắp xếp chu đáo bằng việc cắt Tôn Thất Đàm lo việc điều khiển các thủ lĩnh quân sự từ Hà Tĩnh trở vào phía Nam, và cử cánh tay phải của mình là Trần Xuân Soạn chịu trách nhiệm phát triển lực lượng kháng chiến ở phía Bắc1. Những điều đó chứng tỏ Tôn Thất Thuyết không hề ỷ lại hoàn toàn vào sự giúp đỡ của người láng giềng Trung Hoa, ngược lại rất xem trọng vai trò cốt yếu của lực lượng kháng chiến trong nước. Vả lại không phải đến lúc này Tôn Thất Thuyết mới nghĩ tới việc cầu viện, mà ngay trong những ngày tháng 7 năm 1885, sau khi Hàm Nghi xuống dụ Cần Vương lần thứ nhất, Tôn Thất Thuyết đã cử Nguyễn Quang Bích và Hoàng Tá Viêm (thực tế chỉ có Nguyễn Quang Bích đi sứ) mang thư vua Hàm Nghi sang cầu cứu Tổng đốc Vân - Quý. Cho nên việc sang Trung Hoa của Tôn Thất Thuyết lần này chỉ có mục đích thúc giục nhà Thanh đem quân cứu viện; và lẽ dĩ nhiên ông chẳng hề ảo tưởng quân Thanh sẽ đánh tan quân Pháp, mà chỉ mong họ gây được một số khó khăn cho Pháp như thời kỳ trước khi có hiệp ước Thiên Tân, để có lợi cho phong trào chống Pháp. Một vấn đề cần làm sáng tỏ ở đây là Tôn Thất Thuyết có ý định quay trở về Việt Nam tiếp tục chiến đấu không, và nếu muốn thì tại sao ông vẫn ở lại Trung Hoa cho đến chết? Trước hết chúng ta có thể dứt khoát khẳng định rằng Tôn Thất Thuyết nhất định quay về, bởi vì lý tưởng của đời ông là giết giặc cứu nước, và chí căm thù giặc vẫn nung nấu trong lòng ông cho đến phút cuối của cuộc đời. Việc ông cắt cử 2 con Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp trực tiếp bảo vệ vua Hàm Nghi duy trì triều đình kháng chiến, gửi con trai út Tôn Thất Trọng cho lãnh tụ Cần Vương Quảng Bình là Nguyễn Phạm Tuân, để Trần Xuân Soạn ở lại điều hành phong trào chống Pháp tỉnh Thanh Hoá và phía Bắc, vượt núi băng rừng đi vận động các thủ lãnh dân tộc thiểu số như Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao, Điêu Văn Trì ủng hộ vua Hàm Nghi... chứng tỏ ông hết mình vì sự nghiệp chống Pháp, không hề có ý định từ bỏ cuộc chiến đấu. Dự tính sang cầu viện rồi trở về nước đuổi Pháp thành công cũng được khắc hoạ rõ nét trong bài thơ Tôn Thất Thuyết gởi Cầm Bá Thước từ hải ngoại: ... “Bách tính cần vương nhân tự chấn, Nhất ngu báo quốc khách do hành. Thử du nhược đắc thiên tâm trợ, Quy khứ Nam xa triệt hảo trình”. Tạm dịch: Trăm họ giúp vua đang cố gắng Một thân vì nước vẫn long đong. Phen này ví được lòng trời giúp, Trở gót về Nam lối hẳn thông. Hay trong bài thơ “Tự thuật chí mình”, Tôn Thất Thuyết thể hiện tấm lòng vì nước rất cảm động: ... “Y hy Bắc địa du hồng nhạn, Phảng phất Nam phong trợ mã ngưu. Báo quốc đan tâm hà nhạc tại, Gian nan tương kiến mãn sương thu.” Tạm dịch: Lẻ loi đất Bắc chim hồng nhạn, Phảng phất gió Nam vó ngựa trâu. Vì nước lòng son sông núi tạc, Gội bao sương tuyết bạc phơ đầu. Thế nhưng dự tính tốt đẹp đó không thực hiện được, Tôn Thất Thuyết buộc phải ở lại Trung Hoa cho đến mãn đời và phải chịu nhiều miệng tiếng rất oan nghiệt. Trên thực tế thì Tôn Thất Thuyết đến tỉnh Vân Nam vào tháng 1/1887, được viên phó Tổng đốc Sầm Công Bảo tiếp đãi trọng hậu, nồng nhiệt. Tuy vậy chính quyền Vân Nam từ chối yêu cầu của Tôn Thất Thuyết, và đưa ông sang tỉnh Quảng Đông vào tháng 2/1887 để gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng. Tại Quảng Đông, hành tung của Tôn Thất Thuyết nhanh chóng bị bại lộ, và vào ngày 10/3/1887, gián điệp của Pháp đã biết ông ngụ tại phố Cửa Nam trong thành Quảng Đông. Tin tức này lập tức được báo về phủ toàn quyền Đông Dương thông qua lãnh sự Pháp ở Quảng Đông. Sau đó viên Lãnh sự Pháp ở Quảng Đông đưa ra lời kháng nghị, và sứ quán Pháp ở Bắc Kinh lên tiếng phản đối, nên chính quyền Mãn Thanh đã quản thúc Tôn Thất Thuyết. _____________________________________ 1. Nguyễn Thế Anh- Monarchie et fait colonial au Việt Nam (1875-1925). Paris, Editions l’Harmattan, 1992, tr. 128- 129. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2016, 04:19:10 pm Việc giam giữ Tôn Thất Thuyết được trình bày khá cặn kẽ trong công điệp của Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Chi Động gởi cho Sứ quán Pháp, nội dung như sau: “Gần đây một vị thượng quan An Nam tên là Nguyễn Phúc Thuyết cùng với mười kẻ phụ tá có đệ lên triều đình chúng tôi một văn kiện than phiền sự ngược đãi của người Pháp trên đất An Nam để tâu lên Hoàng đế. Nhưng bản chức đã... ra lệnh phát cho họ hàng tháng một số tiền là 57 lạng bạc 36 xu và uỷ cho viên Đại tá quân vụ thị trấn Quảng Đông giam giữ họ. Nhưng việc giam giữ họ ở giữa thành phố này cũng có nhiều trở ngại nên bản chức đưa họ về Long Châu để các nhà chức trách dân - quân - chính tỉnh này trông coi... Bản chức cho họ biết không được phép tăng thêm số người tòng vong dù cớ nào. Họ không được tính toán việc gì từ nay và cấm không được bước ra khỏi thành phố...”1. Mặc dù bị khước từ yêu cầu cứu viện, rồi lại bị quản thúc, nhưng Tôn Thất Thuyết vẫn tìm cách để hỗ trợ cuộc kháng Pháp tại quê nhà. Trần Xuân Soạn sau thất bại của cứ điểm Ba Đình - Mã Cao vào đầu tháng 2/1887 đã lên đường sang Trung Hoa, và gặp Tôn Thất Thuyết ở Quảng Đông. Hai ông tích cực vận động những quan lại Mãn Thanh có tinh thần chống Pháp, tranh thủ sự giúp đỡ của cựu tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, và khai thác tối đa những sơ hở trong việc tranh chấp đường biên giới giữa nhà Thanh và quân Pháp để phục vụ cho mục đích của mình. Tôn Thất Thuyết đã tổ chức đường dây liên lạc với các cuộc khởi nghĩa bên trong nước, quyên góp, chiêu mộ binh dũng, tiếp tục nhận trâu bò lúa gạo, tiền bạc từ trong nước gởi sang để mua sắm, vận chuyển vũ khí, đạn dược về lại cho nghĩa quân. “Tôn Thất Thuyết đã tiếp tế được ngày càng nhiều vũ khí cho nghĩa quân bên trong”, súng đạn không những về đến đồng bằng Bắc Kỳ mà còn tới tận Thanh Hoá2. Hoạt động của Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn ở Quảng Đông rầm rộ đến nỗi quan lại Việt Nam thuộc tỉnh Lạng Sơn hay biết. Tháng 9.1888, tỉnh Lạng Sơn báo cáo về triều đình Đồng Khánh rằng: “Lê Thuyết (tức Tôn Thất Thuyết )và Trần Xuân Soạn, lẻn đến một dải Liên Thành, Bằng Tường nước Thanh nhập bọn với Lương Tuấn Tú và bọn Hoàng Văn Tường thuộc khách tỉnh ấy, cùng nhau tụ họp”, “Lê Thuyết ở nước Trung Hoa, giả làm quan nước Thanh, chiêu mộ binh dũng...”3. Có thể nói “các tướng lĩnh ở các vùng đều có sự liên lạc với Tôn Thất Thuyết”4, đều xem ông là người chỉ huy tối cao của phong trào chống Pháp ở Việt Nam. Năm 1888, sau khi từ Thanh Hoá sang Quảng Đông được vài tháng, Tống Duy Tân lại được Tôn Thất Thuyết cử về xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hùng Lĩnh. Đến giữa năm 1889, khi nhận được tin Hàm Nghi đã bị bắt, Tôn Thất Thuyết thấy rằng cần phải có một người đứng ra đảm nhận việc điều hành chung để tiếp tục công cuộc chống Pháp, và ông lại nghĩ đến Phan Đình Phùng. Tôn Thất Thuyết liền viết thư và sai một gia nhân thân tín là Trần Thế trở về Việt Nam, tìm đến núi Vụ Quang ở Hà Tĩnh để gặp cụ Phan trao mệnh lệnh. Bức thư của Tôn Thất Thuyết nói rõ: “Hiện nay trong nước như không có trào đình, không có vua chúa, vậy thì nơi tướng quân khởi nghĩa có thể coi như nơi trung khu của nhà nước, tướng quân cứ tuỳ tiện làm việc, chọn người mà dùng, cốt giữ vững lấy đức liêm chánh công bình mà đồ việc lớn...”5. Và Tôn Thất Thuyết lấy tư cách là vị Phụ chính duy nhất của triều đình kháng chiến để phong cho cụ Phan Đình Phùng làm Bình Trung tướng quân, phụ trách việc chỉ huy phong trào chống Pháp khắp cả Trung Kỳ và Bắc Kỳ. _______________________________________ 1. Dẫn theo Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 114-115. 2. Trần Văn Giàu - Chống xăm lăng, quyển 3 - Phong trào Cần Vương. Hà Nội, Xây dựng, 1957, tr. 134, 167. 3. Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam Thực lục, tập 38, Hà Nội, Khoa học xã hội, 1978, tr. 126. 4. Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 216. 5. Đào Trinh Nhất, Sđd, tr 141. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Hai, 2016, 04:26:28 pm Từ năm 1890, các cuộc khởi nghĩa chống Pháp tại Việt Nam bị dập tắt gần hết, liên lạc giữa Tôn Thất Thuyết với các khu vực nội địa trở nên khó khăn, song ông Thuyết vẫn cùng với cha vợ là Nguyễn Thiện Thuật tiếp tục hoạt động, và cộng tác chặt chẽ với nghĩa quân Lưu Kỳ ở vùng Đông Triều - Móng Cái trong những năm 1891-1892. Thông qua Lưu Kỳ, Tôn Thất Thuyết còn nối ảnh hưởng và cung cấp vũ khí cho các nhóm nghĩa quân ở Yên Thế, hoặc cho Đốc Tít. Dựa vào sự giúp đỡ của Lưu Vĩnh Phúc và một số quan lại Mãn Thanh, Tôn Thất Thuyết cũng xây dựng được nhiều toán quân vũ trang, mà đa số là người Hoa và dân tộc thiểu số, để tiến hành đánh Pháp. Vào tháng 6.1892, Tôn Thất Thuyết phái Lương Phúc đem một cánh quân xâm nhập tổng Hoành Mô thuộc Móng Cái, phát tuyên ngôn dưới danh nghĩa Hàm Nghi để đánh Pháp. Thu Đông 1892-1893, Tôn Thất Thuyết lại cho đội quân do Vũ Thái Hà cầm đầu với khoảng 1.000 người tiến vào Bình Hồ thuộc Móng Cái tấn công quân Pháp. Cánh quân này hiệp sức với lực lượng của các toán do Tiên Đức, Vũ Ôn Bảo, Lương Phúc chỉ huy kiểm soát khắp lưu vực sông Tiên Yên từ Hoành Mô xuống tận vùng ven biển. Cho đến đầu năm 1893, quân Pháp vẫn không thể nào đẩy lui lực lượng nghĩa quân ra khỏi Móng Cái. Biết nghĩa quân luôn luôn được tiếp nhận thêm người và vũ khí từ bên kia biên giới, quân Pháp liền lập thêm nhiều đồn ải để đóng chặt con đường bị nghi ngờ là cửa ngõ tiếp tế bí mật của nghĩa quân, sử dụng lính dõng, lính cơ và bọn tề, rồi cấp mỗi làng 10 khẩu súng trường để kiểm soát biên giới1. Năm 1894, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra. Thanh triều lâm vào cuộc chiến với Nhật Bản ở vùng Đông Bắc nên không muốn dung dưỡng nghĩa quân Việt Nam dọc theo vùng biên giới Việt - Trung. Sợ quân Pháp mượn cớ gây hấn sẽ lâm vào thế hai đầu bị đánh, quân Thanh khoá chặt biên giới và bắt giết một số lãnh tụ nghĩa quân người Việt chạy sang nương náu trên đất Trung Hoa. Lúc này Tôn Thất Thuyết cùng với Lưu Vĩnh Phúc và Đề đốc Phong (tướng nhà Thanh) đang xúc tiến việc thành lập lực lượng đánh Pháp ở vùng biên giới giáp tỉnh Cao Bằng. Tháng 3.1895, Tôn Thất Thuyết cho một đạo quân tiến đánh chiếm vùng Lục khu ở Cao Bằng, nhưng sau đó bị quân Pháp đánh bại. Thấy rằng để Tôn Thất Thuyết ở gần Lưu Vĩnh Phúc thì còn sinh nhiều chuyện bất lợi, Toàn quyền Đông Dương đề nghị Đại sứ Pháp ở Bắc Kinh yêu cầu nhà cầm quyền Trung Hoa đưa ông Thuyết đi an trí thật xa, và cho người theo dõi, cô lập Lưu Vĩnh Phúc. Từ năm 1896, với sự quản thúc khắt khe của quan lại Mãn Thanh, Tôn Thất Thuyết bị cấm túc không được rời khỏi khuôn viên cư trú, những mối dây liên hệ với Lưu Vĩnh Phúc bị cắt đứt, hoạt động chống Pháp của ông coi như chấm dứt. Phẫn chí, tuyệt vọng trước tình hình, ông dùng thuốc phiện để khuây khoả. Nhưng ông không phải là một “con nghiện” tầm thường như bao kẻ lao đầu vào việc hút xách, bởi mối hận vong quốc luôn là nỗi ám ảnh lớn trong tiềm thức ông. Bài thơ “Chừa thuốc phiện“ của Tôn Thất Thuyết thể hiện đậm nét tấm lòng ái quốc: ... “Chỉ nhật quốc thù kỳ khả phục, Kính thu thân bệnh thả tiên trừ. ... Ký ngữ giang sơn đồng chí khách, Lão phu tuy quyện vị vong sơ." Tạm dịch: Thù nước hẹn ngày thề trả sạch, Thân già nhiều bệnh quyết lo chừa. Lời gởi non sông bao đồng chí, Già này dẫu mệt dám đâu ngơ. Quyết tâm chống Pháp và nỗi buồn mất nước cứ mãi đeo đẳng Tôn Thất Thuyết trong những ngày tàn bất lực, ông thường múa gươm chém chan chát vào những tảng đá trong khu an trí để thoả lòng căm phẫn. Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, Tôn Thất Thuyết vẫn vô cùng ghét Pháp và từ chối mọi cuộc tiếp xúc với họ. “Một vị cố đạo ở Quảng Đông đã theo dõi hành vi của Tôn Thất Thuyết, đã nhiều lần xin được gặp để phỏng vấn. Tôn Thất Thuyết nhận lời, nhưng chỉ gặp vị cố đạo đó vào ngày mà Tôn Thất Thuyết chết”2. Ông mất tại Thiều Châu vào ngày 22/9/1913, thọ 74 tuổi. Mặc dù định ra đi cầu cứu rồi lại trở về lãnh đạo phong trào kháng Pháp, nhưng chuyến đi đã khiến Tôn Thất Thuyết phải vĩnh viễn lưu vong nơi hải ngoại một cách bất đắc đĩ. “Nước Tàu không cứu ta và Tôn Thất Thuyết gần như bị giữ lại ở bên Tàu, không về được nữa, dù có ý muốn về”3. Chính Sogny - viên cựu Giám đốc sở Mật thám Trung Kỳ - cũng phát biểu: “Tôn Thất Thuyết là một võ tướng rất giỏi, đáng sợ lắm... Tôn Thất Thuyết sang Tàu mộ quân. Nhưng vì Tàu và Pháp thông đồng với nhau, Tôn Thất Thuyết không về được”4. Việc sang Trung Hoa cầu viện là hạn chế khó tránh khỏi của Tôn Thất Thuyết, bởi mối dây liên hệ truyền đời giữa tập đoàn phong kiến Việt Nam với tập đoàn phong kiến Trung Hoa luôn chi phối. Nhưng một thực tế cần được khẳng định là hoạt động của Tôn Thất Thuyết và các đồng chí của ông từ 1886-1895 vẫn hết sức thiết thực và có ý nghĩa lớn đối với công cuộc chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Từ năm 1896 cho đến khi mất, dù không còn đóng góp gì cho dân tộc, song tấm lòng vì nước và nỗi hờn vong quốc vẫn cháy rực trong người ông. Người Trung Hoa rất mến mộ tinh thần ái quốc của Tôn Thất Thuyết. Khi ông mất họ đã có lời ca ngợi: “Thù Nhung bất cộng đái thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng Quận, Hộ giá biệt tầm tĩnh địa, bách niên tàn cốt ký Long Châu.” Tạm dịch: Thù Tây không đội trời chung, muôn thuở tiếng thơm ghi đất Viêt, Giúp Vua riêng tìm cõi thác, trăm năm cốt rụi gởi Long Châu5. Nhân sỹ Trung Hoa đánh giá Tôn Thất Thuyết như thế đó. Còn chúng ta thì sao? Đã đến lúc cần phải nhận diện đúng đắn về tấm lòng son sắt của Tôn Thất Thuyết đối với đất nước, trả ông về đúng vị trí mà ông đã xác lập trong lịch sử dân tộc. _____________________________________ 1. Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 305-306. 2. Nguyễn Thiệu Lâu - Quốc sử tạp lục. Sài Gòn, Khai Trí, 1970, tr. 645. 3. Như trên, tr. 270. 4. Như trên, tr. 664-665. 5. Còn có một dị bản khác là: "Quý bất khả ngôn, thiên cổ trung hồn lai Tượng Quận Tôn vô nhị thượng, bách niên tàn cốt ký Long Châu" Tạm dịch: "Đáng quý không lời kể xiết, hồn trung ngàn năm về đất Việt Trên đời dễ có hai Tôn, xương cốt trăm năm gởi Long Châu" Sự thật thì Tôn Thất Thuyết mất ở Thiều Châu, chớ không phải ở Long Châu. (Xem bài: "Nghĩa tình của Nguyễn Thượng Hiền với gia đình Tôn Thất Thuyết" của Chương Thâu. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2016, 11:00:00 pm TÔN THẤT THUYỂT TÍNH CÁCH - CON NGƯỜI THUẦN HOA1 Tôn Thất Thuyết là con trai lớn cụ Tôn Thất Đính. Cụ Đính là một võ quan có học, làm đến chức Đề đốc. Ngoài học văn, thêm binh pháp của cha, cùng chí hướng với con. Vợ ông Thuyết là con một gia đình khoa cử. Làm dâu trưởng của một đại gia đình, bà xin ý kiến bố mẹ chồng cưới bà hai cho ông Thuyết để thay nhau đi theo ông làm quan các tỉnh. Bà hai người Thanh Hoá, con gái một gia đình khá giả, có nề nếp. Hai bà sống hoà thuận. Ông Thuyết giữ chức Bố chánh Hải Dương, Tuần phủ Sơn Tây, Tổng đốc hai tỉnh Bắc Ninh - Thái Nguyên. Là một quan văn có năng khiếu về võ. Lúc đó ông Hoàng Tá Viêm, một tài năng quân sự thời vua Tự Đức, giữ chức Thống đốc quân vụ đại thần tỉnh Cao Bằng - Bắc Ninh, Lạng Sơn (Cao - Bắc - Lạng), Ông Thuyết được biệt phái sang làm trợ tá cho Hoàng Tá Viêm đem quân đánh bọn thổ phỉ trên miền biên giới. Tiến quân vào Thanh Hoá dẹp loạn (Thanh Hoá quê hương của các vua ngày trước), ông được vua Tự Đức khen ngợi, sau về kinh đô giữ chức Thượng thư Bộ Binh (Bộ Quốc phòng ngày nay). Lúc còn là quan văn ở Bắc, tính tình cởi mở, vui vẻ từ trong gia đình ra ngoài xã hội, nói năng thận trọng, giao du rộng với các thân sĩ, trí thức Bắc hà. Thường hay đàm đạo văn thơ với tiến sỹ Nguyễn Quang Bích, một nhà thơ có tiếng ở miền ngoài. Sau này ông Bích là thủ lĩnh Cần Vương khu Tây Bắc, đã nói về ông Thuyết những lời trang trọng: (Đại nhân, sao Ngưu, sao Đẩu). Ông Thuyết là một nhà thơ, một tâm hồn thơ nhạy cảm, sâu lắng. Khi nhìn chim én bay trong mưa gió tơi bời, ông cảm thương và hỏi rằng: Sao chim không bay về nương thân ở chốn đình đài mà cứ bay mãi bên góc rừng mưa gió? Hà sự đình đài hồ bất quy? Sơn biên phong vũ cộng phi phi (Vũ trung phi yến) Đọc bài “Thuật hoài” (Tự nói chí mình) mới hiểu được nỗi lòng của ông: Lòng trung không nỡ bỏ Tây Châu, Giữ lấy Thao, Đà mạn thượng lưu. Họp đám cô quân nơi viễn cảnh, Cầm ba thước kiếm chém quân thù. Lẻ loi đất Bắc chim hồng nhạn, Phảng phất trời Nam gió ngựa trâu. Báo quốc lòng non sông núi tạc, Gội bao sương tuyết bạc phơ đầu. (Dịch thơ) Đế quốc Pháp chiếm sáu tỉnh Nam Bộ, khi đi kinh lý, đến đền Cổ Loa lễ tổ, Ông làm hai câu đối nổi tiếng: Tặc đáo Loa thành tuỳ diệt một Điện vô Quy nỗ dữ uy linh. (Giặc đến thành Ốc sẽ bị giết sạch - Điện không nỏ Rùa vẫn càng uy linh). Đêm ngày mồng 4, rạng ngày mồng 5-7-1885, phò Vua Hàm Nghi rời kinh đô ra đi trong khói lửa mịt mùng, ông cảm thương căn dặn binh lính: Chú nào còn mẹ còn cha, cho về bảo dưỡng vậy là cho lui... (Vè Thất thủ kinh đô). Ông Thuyết đã bị chinh phục bởi tài thơ và trí thông minh của ông Nguyễn Thượng Hiền, lại có mối thân tình giữa ông với cụ Nguyễn Thượng Phiên nên chấp nhận kết làm dâu gia, cho phép Nguyễn Thượng Hiền gặp gỡ con gái lớn của ông là Tôn Nữ Thị Ẩn. Ông có hiếu với bố mẹ, nể vợ cả, quý vợ hai, đối xử bình đẳng với các con. Ai ra đời trước làm anh, con trai bà hai sinh trước, con trai út, bà cả sinh sau phải làm em. Bà cả có ba người con trai và một gái: Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Trọng, Tôn Nữ Thị Ẩn. Bà hai có ba con trai: Tôn Thất Khánh (cậu Ba Khánh), 2 cậu nữa và hai con gái... Một người lấy ông Tiến sĩ, chú ruột thân mẫu Ông Trường Chinh, và một người nữa cũng lấy chồng khoa cử. Đặt tên các con giản dị. Con trai tên: Khánh, Trọng; con gái: Ân, Tựu... Làm quan văn không thích áo mũ xênh xang, tiệc tùng, hội họp. Người chuyển sang làm quan võ, ăn mặc dản dị hơn, cuộc sống của người chinh chiến. Sau những năm lăn lộn ở chiến trường miền Bắc, gian khổ nhưng ông thấy thoải mái, không bị câu thúc, ràng buộc bởi lễ nghi. Bạn bè chung quanh đa số chân tình, quý trọng nhau, ít kẻ thù. ___________________________________ 1. Sĩ quan QĐNDVN (đã về nghỉ hưu). Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2016, 11:02:52 pm Giờ đây ngồi trong công đường, làm Thượng thư bộ Binh (Bộ Quốc phòng), trọng trách lớn đè nặng trên vai ông. Từ vua đến quan trong triều đình, năm bè bảy mối. Chưa có một hậu phương vững chắc để rút lui khi có chiến sự. Ông không trung quân mù quáng. Tổ quốc trên hết! Ông là người có mưu lược, kế hoạch vạch ra, có thể Vua Tự Đức không phê chuẩn, phái chủ hoà chống đối. Ông cần vàng, bạc, mua vũ khí, tích trữ thóc gạo, củng cố khu sơn phòng (Tân Sở) ở Quảng Trị đến Quảng Bình, Hà Tĩnh, Ninh Bình. Phía trong từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Củng cố lực lượng chủ chiến trong triều đình, tăng cường quân đội, chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài. Việc trước tiên ông nghĩ đến con người. Đó là ông Nguyễn Văn Tường, một người có thế lực ở trong triều đình, có học vấn, mưu lược, tài biện bác, có nhiều người theo, nhưng chưa phải là người chống Pháp triệt để. Ông kết thân, tranh thủ được sự đồng tình của ông Quận Tường (Quận công), do đó phe chủ chiến mạnh hơn lên. Ông Tường giữ việc đối ngoại sau khi vua Tự Đức băng hà, ông ở trong ban phụ chánh các Vua: Dục Đức - Hàm Nghi... Về quân sự có hai người tâm đắc là Trần Xuân Soạn và Ông Ích Khiêm. Mặc dù tính ngang tàng nóng nảy, Ông Ích Khiêm vẫn chịu được ông Thuyết. Hai em trai ông Thuyết không được phong chức tước cao sang, điều đi xây dựng khu sơn phòng ở Quảng Trị - Quảng Bình. Ông thải hồi người kém cỏi, trấn áp kẻ chủ hoà muốn đầu hàng Pháp, nghiêm trị quan, lính sách nhiễu dân... tạo cho ông nhiều kẻ thù. Ồng luôn nghĩ đến Phan Đình Phùng, một con người cương trực, có tài, đức, để trấn giữ một khu kháng chiến... Từ ngày về kinh đô, tính tình ông thay đổi hẳn: không cởi mở, ít nói, hay trầm ngâm, chìm trong suy tưởng, chỉ thích một mình đơn độc, làm việc thâu đêm. Ít giao tiếp với các quan chức khác, ông được đánh giá là kẻ khinh người, ngạo mạn... Một sự kiện trọng đại xẩy ra: Vua Tự Đức băng hà. Cả triều đình, thần dân hoang mang... Theo di chúc của nhà Vua, lập Dục Đức lên ngôi. Một thời gian ngắn, từ việc cơ mật đến tin tức do thám của phe chủ chiến, đưa về cho các quan Phụ chánh một văn bản đầu hàng đế quốc Pháp của vua Dục Đức. Thù trong, giặc ngoài. Phụ chánh Trần Tiễn Thành cũng dính lứu vào sự kiện này. Ông Thuyết phải tự kiềm chế để đừng nổi giận, vì kẻ thù chỉ ở cách một dòng sông Hương. Theo luật, vua Dục Đức phải chọn một trong ba cách chết: thanh gươm, chén thuốc độc, và giải lụa điều. Trần Tiễn Thành bị phe chủ chiến xử tội. Một sự chống đối ngấm ngầm chĩa vào ông Thuyết, của hoàng tộc có: Đức Bà Từ Dũ, Tuy Lý vương, Thọ Xuân vương, Chánh Mông (Đồng Khánh), Gia Hưng quận công... và tất cả phe chủ hoà, cho ông là độc tài, háo sát. Thật ra giải quyết những công việc hệ trọng này đâu phải mình ông. Họ tung tin thất thiệt, đặt thơ, phú, hò, vè để nói xấu ông: Nước Nam có bốn gian hùng: Tường gian, Viêm dối, Khiêm khùng, Thuyết ngu. Lại thêm hai thằng vũ phu, Đề Đức, Đề Soạn dương mu chịu đòn. Hoặc: Nhất giang lưỡng quốc, nan phân Thuyết Tứ nguyệt tam vương, triệu bất Tường. Trong buổi họp triều, lại cộm lên vấn đề: Phan Đình Phùng công khai chỉ trích Ông Thuyết về vụ án vua Dục Đức. Bị Ông Thuyết trấn áp, cho bắt giam, rồi thả ra, đưa về quê an toàn, chẳng hiểu giữa hai ông có làm phép gì với nhau? Khi ông Thuyết còn ở trong nước thì Phan Đình Phùng đã treo câu đối nhắc nhở mình ghi sâu lời dạy của quan Khâm tướng Tôn Thất Thuyết: Lâm bình khâm tướng huấn Ưu nhục lãm thần tâm. Cho đến nay đúng trọn 110 năm, vẫn còn có kẻ cầm bút viết những điều xuyên tạc về ông. Khi Thành Thái lên ngôi vua, không trả thù con cháu Tôn Thất Thuyết đã tham gia xử tội cha mình là vua Dục Đức. Cho nên, chị ruột tôi (cháu ngoại TTT) lấy Vĩnh Soái là cháu nội vua Dục Đức. Vua Kiến Phúc lâm bệnh qua đời, vua Hiệp Hoà bị phế truất, triều chính trở nên phức tạp, làm hậu thuẫn cho nhóm chủ hoà, đế quốc Pháp đưa tối hậu thư yêu cầu lập vua mới phải thông qua phái bộ Pháp. Pháp đã xâm phạm chủ quyền nước ta! Ông Thuyết và phe chủ chiến phản đối quyết liệt. Với sự quyết đoán, ông chọn Ưng Lịch đưa lên làm Vua vào năm 1884, niên hiệu Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi còn trẻ, thông minh, giàu lòng yêu nước. Lúc thiết triều là Vua với tướng, lúc vắng người Vua trìu mến gọi ông Thuyết bằng thầy. Khi Vua ra ngoài chiến khu, ông cho con trai thứ là Tôn Thất Thiệp theo hầu vua, cùng một lứa tuổi. Con trai cả là Tôn Thất Đàm phụ trách một khu vực thuộc vùng kháng chiến. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Hai, 2016, 11:05:30 pm Những năm trước 1885, bà cả không ở hẳn trong tư dinh với ông, phải về trông nom các cụ thân sinh ra ông Thuyết đã già yếu. Ông Thuyết ở với hai con trai. Bà cả xin phép bố mẹ chồng cưới vợ ba để ra vào chăm sóc ông. Bà ba ở làng Kim Luông, đẹp, con gái một gia đình khá giả. Bà sinh hạ được một gái, bận nuôi con mọn bà phải ở lại nhà. Bà cả lại thuyết phục ông chấp nhận để bà giới thiệu bà thứ tư, là bà ngoại tôi. Bà tôi con gái một gia đình giàu có, có nề nếp, các cố ngoại tôi phục tài ông Thuyết nên đồng ý gả. Ông Thuyết đến một lần thăm bố mẹ vợ, xem mặt cô dâu. Đám cưới không có rể vì bận việc. Mẹ tôi ra đời cuối năm 1884. Mùa xuân năm 1885, ông cho người ra báo đưa mẹ tôi vào cho ông xem mặt. Mẹ tôi giống bố, đã 6 tháng tuổi, bụ bẫm. Chân đeo chiếc vòng bạc, có viên lục lạc. Ông lúng túng không biết bế, để nằm ở giữa sập. Chân đạp xuống sập, tiếng lục lạc kêu leng keng, miệng cười reo, mặt nhìn vào người đàn ông lạ. Ông mỉm cười theo, rồi im lặng, trầm ngâm, chốc nói với bà tôi: cô cho con về, hãy giữ gìn sức khoẻ. Mẹ tôi đâu biết rằng cuộc chia ly sắp đến. Vĩnh viễn người con gái út của ông không bao giờ biết mặt bố. Cuộc hôn nhân lý trí, thời gian sống với nhau ít ỏi, nhưng đầy tình nghĩa với bà tôi. Thỉnh thoảng ông về quê, ở nhà Từ đường, làng Văn Thê, cách cố đô 7 km. (Không có nhà riêng). Cùng với các vị võ quan bàn bạc việc quân. Tránh bọn do thám, để được yên tĩnh, ông cho quân bảo vệ về báo cho những nhà ở chung quanh Từ đường, đem gà, vịt, trâu, bò, chó đi chỗ khác. Ông quan này doạ dân, ai không tuân lệnh, ông Tướng chém đầu. Ông đến không ai biết, đi không ai hay, cũng chưa chém một người nào ở trong làng cả. Cũng có dịp để kẻ thù xuyên tạc: tính tàn ác của ông. Cũng vào đầu năm 1885, ông gọi hai em trai về. Ra nhà bố mẹ, ông mời cụ Đính ngồi lên ghế tràng kỷ, ông tự trải chiếu, chắp tay thưa với cụ Đính: Con thật là bất hiếu, không phụng dưỡng được lúc thầy mẹ già, con xin tạ tội. Ông lạy rồi khóc, toàn đại gia đình đều khóc theo. Không ai biết được sắp có một cuộc ly biệt đau đớn. Đêm mồng 4, rạng mồng năm tháng bảy dương lịch (5-7-1885); Ông phù Vua Hàm Nghi rời khỏi kinh thành, mới cho người đón mẹ và vợ cả lên chiến khu, Cụ Đính chưa kịp chuẩn bị thì bọn Việt gian đến bắt, sau đó đày đi Côn Đảo. Bà Ba và Bà Tư con còn bé quá, không theo được, sót lại con trai út của bà cả là Tôn Thất Trọng dưới mười tuổi, bác nông dân nhận là con đẻ. Khi bị bắt vẫn nói bác nông dân là bố tôi. Bác nông dân bảo nó là con tôi. Bị đánh, vẫn cứ nói thế. Bọn nó tạm tha, tổ chức kháng chiến bố trí cho trốn sang Xiêm (Thái Lan), rồi bị mất tích. Người con gái lớn trở lại Cố đô, vị hôn thê của Nguyễn Thượng Hiền, trong một tâm trạng vô cùng đau khổ. Bà nghĩ đến ông Nguyễn Thượng Hiền, nhưng bà xác định được thái độ của mình, không nên có ảo tưởng... Cụ thân sinh ông Nguyễn Thượng Hiền đang ngồi ghế Thượng thư, ông Nguyễn Thượng Hiền đỗ Hoàng Giáp. Bà dứt khoát lánh mặt, gửi lời chia tay. Ông Nguyễn Thượng Hiền đã đi tìm bà, tìm nhiều lần: Anh tìm em - Ôi! Trăm giận, ngàn hờn, ước chừng cho gặp... (Câu ca Huế). Mãi rồi cũng gặp, một chiếc đò con, mỗi người mang theo một tiểu đồng chèo ngược lên phía lăng Tự Đức. Sau 3 ngày thuyết phục, bà Ân buộc phải chấp nhận sẽ đến hôn nhân. Người con trai đi theo ông Nguyễn Thượng Hiền, phấn khởi trêu cô gái đi theo bà Ẩn: “Cậu mợ đã êm má nách - Hai đứa chúng mình lấy quách nhau đi”. Bà sinh được một trai. Ông Nguyễn Thượng Hiền xuất dương. Ở Thanh Hoá, bà Ba đem các con đi trốn, bị lùng sục, quá khổ cực phải ra đầu thú mới được yên thân. Khi cụ Phan Bội Châu bị bắt đưa về Huế, mẹ tôi đến thăm. Cụ cho biết ông Nguyễn Thượng Hiền lúc đó mới sang Trung Quốc có tìm gặp ông Thuyết. Hai cha con nói với nhau những gì và ở đâu Cụ không được biết. Còn Cụ lúc đó mới sang Trung Quốc, nhờ một người của ta ở bên đó dẫn đi gặp ông Thuyết. Cụ báo cáo với ông về tình hinh đất nước. Nghe xong vẻ mặt ông đượm buồn, chỉ nói một câu: Ở đây không có đất dung thân... Xô-nhi, tên mật thám phụ trách từ Thanh Hoá đến Huế, một tay cáo già, biết ăn mắm tôm, hút thuốc phiện, nói thạo tiếng Việt, gọi mẹ tôi đến nói: Tôi cho cô chiếc ảnh của ông Tướng, cô không nên đến chỗ ở của ông Phan Bội Châu nhiều. Chiếc ảnh đen trắng khổ 18x24, bọn mật thám chụp trộm, khuôn mặt lấy tỷ lệ ba phần tư, mặc áo, đội mũ giống người nông dân Trung Quốc. Đã đứng tuổi, giống mẹ tôi nhiều. Hai cuộc chiến tranh bức ảnh không còn nữa. Ông qua đời năm nào, tháng nào không rõ. Nhân dân Trung Quốc viếng câu đối: Quốc thù bất cộng đới thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng quận; Hộ giá biệt tầm tịnh địa, thiên niên tàn cốt ký Long Châu. Dịch: Quốc thù không đội trời chung, muôn thuở tiếng thơm lưu Tượng quận; Hộ giá yên tìm đất lẻ, ngàn năm xương trắng gửi Long Châu. (Khương Hữu Dụng dịch) Những ngày cuối đời, nỗi buồn về đất nước ở trong vòng nô lệ, thân phận ly hương, bị kiềm toả của đế quốc Pháp và triều đình nhà Thanh, hàng ngày Ông ngồi, mặt hướng về phương Nam, với con dao, tay chém xuống đống đá vụn để giải toả nỗi đau lòng. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2016, 10:41:17 am SUY NGHĨ VỂ TƯ TƯỞNG CHỦ CHIẾN CỦA TÔN THẤT THUYẾT NGUYỄN THỊ ĐẢM1 Nghiên cứu về Tôn Thất Thuyết, giới nghiên cứu đã bàn nhiều về tư tưởng chủ chiến của ông. Hầu hết các tài liệu đều ghi nhận ông là Vị tướng tài, trung dũng, kiên trì, quyết tâm tập hợp lực lượng kháng chiến chống Pháp, khôi phục lại nền độc lập dân tộc. Chúng ta thấy rõ tư tưởng chính trị, quân sự của ông qua các hoạt động phế lập vua, xây dựng lực lượng, căn cứ kháng chiến và kinh đô dã chiến. Nhưng tư tưởng kinh tế hỗ trợ cho quân sự, chính trị, cho hoạt động chủ chiến của ông thì chưa hề được bàn đến. Bài viết nhỏ này muốn bước đầu bổ sung vào sự thiếu hụt trên. Đến nay còn quá ít tư liệu để nghiên cứu về tư tưởng kinh tế của Tôn Thất Thuyết. Song có một điều chắc chắn là sau khi vua Tự Đức qua đời, Tôn Thất Thuyết đã vượt qua tư tưởng thủ cựu, ký với tư sản Pháp một bản hợp đồng kinh tế khai thác mỏ và vùng đất hoang tỉnh Quảng Yên. Bản hợp đồng kinh tế ký ngày 2/9/1884 gồm 8 điều khoản sau đây: Điều 1: Hai quan Phụ chính và ông Ba-vi-ê Sốp-phua đã cùng nhau đứng ra lập hội để khai thác các mỏ và khẩn hoang các vùng đất thuộc tỉnh Quảng Yên xứ Bắc Kỳ. Khi cần có một quyết định nào quan hệ tới hội thì ông Ba-vi-ê Sốp-phua là người có quyền quyết định như đã ghi trong điều khoản 5 của bản hợp đồng. Điều 2: Triều đình An Nam đã bán lại hai mỏ Cái Bàn và Hòn Ngọc cho ông Ba-vi-ê Sốp-phua theo đúng quy định của hiệp ước ký kết ngày 26/8/1884. Nếu thấy cần phải thông báo cho Chính phủ Pháp điều đó thì hai quan Phụ chính cũng sẵn sàng làm. Sau này nếu ông Ba-vi-ê Sốp-phua xin khai thác một khu mỏ nào khác và hai chính phủ sau khi đã xác nhận lợi ích của việc làm đó đã đồng ý, hai quan Phụ chính sẽ làm tất cả những việc có thể làm được để ông Ba-vi-ê Sốp-phua có được khu mỏ đó. Điều 3: Sau khi đã có khu đất nhượng các mỏ Kế Bào và Hòn Gai, ông Ba-vi-ê Sốp-phua sẽ tự bỏ vốn ra để khai thác hai mỏ đó. Điều 4: Theo điều khoản 2, hai quan Phụ chính đã giúp cho hội được khai thác hai mỏ Kế Bào và Hòn Gai và hứa sẽ thông báo cho Chính phủ Pháp biết về việc đó nếu thấy cần thiết, và nếu ông Ba-vi-ê Sốp-phua có xin khai thác thêm mỏ nào khác nữa thì tiến hành mọi sự vận động để ông ta có được mỏ đó. Vì những việc làm này, hội cam kết trả cho hai quan Phụ chính - hay những người thừa kế của các ông 20% số lãi do việc khai thác mỏ Kế Bào và Hòn Gai đưa lại sau khi đã khấu trừ mọi khoản chi phí, còn lại 80% số tiền lãi sẽ trả cho ông Ba-vi-ê Sốp-phua và các kỹ sư cùng nhân viên của hội, hay những người thừa kế của ông Sốp-phua. Điều 5: Hai quan Phụ chính đã trao cho ông Ba-vi-ê Sốp-phua quyền đứng ra tổ chức một Hội để khai thác mỏ than và khẩn hoang các đất đai của vùng Kế Bào và Hòn Gai, do đó việc hai ông giao cho ông Sốp-phua cả việc điều hành mọi công việc của Hội là thích hợp. Điều 6: Trong Hội này, hai quan Phụ chính chỉ giúp ông Ba-vi-ê Sốp-phua mua đất đai để khai thác, còn về khoản tiền vốn và các công việc khác của Hội thì hai ông không được tham dự. Điều 7: Hai quan Phụ chính đã có những khoản lợi khi thành lập Hội này, vì vậy hai ông tránh không ký một bản hợp đồng bán đất như vậy với người khác nữa. Điều 8: Khi trao hợp đồng này cho ông Ba-vi-ê Sốp-phua, hai quan Phụ chính đã ký tên và đóng dấu chính thức của hai ông vào, vì vậy việc quan Tổng trú sứ nước Pháp tại Huế cùng ký tên và đóng dấu vào bản hợp đồng này để thị thực là cần thiết. Làm tại Huế thành 3 bản chữ Hán và 9 bản chữ Pháp. Chỉ có bản chữ Pháp mới có giá trị mà thôi. Ngày 13 tháng 7 năm Giáp Thân (2-9-1884) Cùng ký tên. Phụ chính Nguyễn Văn Tường đóng dấu Cần Chánh điện Đại học sĩ Phụ chính Tôn Thất Thuyết đóng dấu Võ Hiển điện Đại học sĩ. Tham biện Nguyễn Văn Cử đóng dấu riêng của Nguyễn Văn Cử2. Những điều khoản thoả thuận trong bản hợp đồng trên chứa đựng một nội dung rất quan trọng của khuynh hướng cải cách duy tân cuối thế kỷ XIX. Đó là hợp tác với người Tây, học tập họ để phát triển kinh tế, tiến tới phú cường mới mong có cơ hội bảo vệ nền độc lập. Nhiều nhà canh tân đã kiên trì thuyết phục nhà vua thực hiện canh tân đất nước đặng có sức mạnh cứu nước. Họ đã thấy sức mạnh của quốc gia là ở nơi khai thác tài nguyên. Nước ta có nhiều tài nguyên, nhưng không khai thác được vì thiếu vốn, do đó đề nghị nhà vua cho người Tây bỏ vốn vào khai thác, nhà nước thu lời và nhân dân lại có việc làm3. Nguyễn Trường Tộ đã xin triều đình cho giao thiệp với một công ty Pháp để khai thác mỏ, Triều đình không kiên quyết thi hành4. Khi có phái viên nước ngoài xin khai mỏ, Nguyễn Hữu Độ tâu với vua: “Việc phái viên người Pháp xin khai mỏ ở thượng du tất phải làm. Nếu cứ cố chấp, đến lúc ấy sẽ khó, xin phái nhiều cán viên hợp tác với họ chia nhau đi đốc biện cốt sao mình nắm được lời mà họ không dám khinh nhờn ta, thế là lợi cả đôi đường”. Vua lại từ chối. Những ý tưởng tiến bộ đó không có cơ hội để thực hiện. Đến Tôn Thất Thuyết, ước vọng canh tân của lớp người đi trước đã được thực hiện một khâu: hợp tác với nước ngoài. ____________________________________ 1. Đại học Sư phạm Huế. 2. Hồ sơ lưu trữ 276 RSA/IC, Trung tâm lưu trữ trung ương II Tp. Hồ Chí Minh. Tài liệu này được Gs. Đinh Xuân Lâm dịch từ chữ Pháp ra chữ Việt và giới thiệu trên thông báo số 2 Chương trình nghiên cứu triều Nguyễn của trường ĐHSP Huế, 1993. 3. Trương Bá Cần - Nguyễn Trường Tộ, Tập I: Con người (Trung tâm nghiên cứu Hán-Nôm, 1991, tr. 94. 4. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm... Lịch sử Việt Nam cận đại, tập I, Nxb. Giáo dục, 1961, tr. 220. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2016, 10:45:09 am Theo hợp đồng ký kết trên, Tôn Thất Thuyết đứng ra cùng Ba-vi-ê Sốp-phua lập hội kinh doanh khai thác mỏ và khẩn hoang đất đai Quảng Yên với tư cách là đồng sáng lập viên. Đó là điều chưa có trong lịch sử: với tư cách đồng sáng lập viên ông có nhiệm vụ, chức năng, quyền lợi cụ thể trong Hội. Theo điều 2, điều 6 của hợp đồng, ông có nhiệm vụ giúp cho Ba-vi-ê Sốp-phua hoạt động khai thác mỏ, thông báo cho hai chính phủ về việc mua đất, vận động và làm việc để ông Ba-vi-ê Sốp-phua có được mỏ và đất mà ông ta muốn mua. Các quan Phụ chính không được bỏ vốn đầu tư, không được tham dự vào mọi việc của Hội. Điều này cho thấy chức năng quyền hạn của các sáng lập viên người Việt chỉ hạn chế trong phạm vi giao dịch hành chính giấy tờ, không can hệ đến hoạt động kinh doanh và tài chính của Hội. Với quyền hạn đó quan Phụ chính được trả 20% tiền lãi do khai thác hai mỏ than Kế Bào và Hòn Gai đưa lại như quy định ở điều 4. Còn sáng lập viên người Pháp, Ba-vi-ê Sốp-phua sau khi đã mua được đất và mỏ, ông ta có toàn quyền đầu tư vốn khai thác và điều hành mọi hoạt động của Hội như điều 3, điều 5 qui định. Với quyền hạn rộng lớn đó, ông ta được Hội trả 80% tiền lời do hoạt động khai thác mỏ đưa lại. Bản hợp đồng qui định chia lời vĩnh viễn cho các sáng lập viên vì sau các ông là người thừa kế được hưởng quyền lợi đó. Hợp đồng qui định tiền vốn đầu tư chỉ do một phía Pháp bỏ ra sau khi họ mua được đất, không có sự góp vốn của sáng lập viên người Việt, việc chia lời không theo cổ phần vì các sáng lập viên không có cổ phần, mà chia theo tính chất công việc do họ đảm nhận, do trọng trách của họ trong Hội. Điều đó cho thấy đây là một hình thức hợp tác giản đơn giữa Tôn Thất Thuyết và Ba-vi-ê Sốp-phua theo phương thức người góp của, kẻ góp công, hai bên cùng có lợi. Ba-vi-ê Sốp-phua mua đất đai và mỏ của triều đình An Nam, rồi bỏ vốn ra đầu tư khai thác, Tôn Thất Thuyết chỉ làm các thủ tục giấy tờ hợp thức cho ông ta và tham gia lập Hội kinh doanh, nhưng không được tham dự hoạt động kinh doanh. Mặc dù vậy, việc ông ký kết hợp đồng kinh tế với người Pháp vẫn là một bước tiến trong tư tưởng canh tân đất nước tiến tới phú cường. Mặt khác việc ký kết ấy trực tiếp hạn chế việc chiếm dụng tài nguyên thiên nhiên nước ta. Điều 2 hợp đồng qui định: “Nếu sau này ông Ba-vi-ê Sốp-phua xin khai thác mỏ nào khác và hai chính phủ sau khi xác nhận ích lợi của việc làm đó đã đồng ý, hai quan Phụ chính sẽ làm tất cả những việc có thể để ông Ba-vi-ê Sốp-phua có được khu mỏ đó”. Điều này như tấm biển cấm ngăn chặn sự cướp đoạt trắng trợn của tư bản Pháp kinh doanh khai thác mỏ, buộc họ phải tôn trọng chủ quyền của Chính phủ An Nam đối với tài nguyên trong lòng đất Bắc kỳ. Trong thực tế, trong quá trình xâm lược, tư sản Pháp đã tuỳ tiện chiếm đoạt một số mỏ như kỹ sư Fuchs, nhà doanh nghiệp Sốp-phua chiếm mỏ Hồng Gai, Đuy-puy chiếm mỏ Cái Bầu1. Nhưng họ biết rõ theo điều ước Pa-tơ-nốt thì đất đai và tài nguyên Bắc kỳ vẫn là của vương quốc An Nam. “Vua An Nam vẫn là chủ nhân mặt đất và dưới đất, cả tầng này cũng được bảo vệ chống mọi sự chiếm hữu. Đến năm 1881 mới chỉ có mỏ than Nông Sơn đã nhượng cho một người Hoa, còn lại vẫn là của vua An Nam” 2. Tư sản Pháp rất thèm muốn có quyền sở hữu đối với các mỏ. Họ muốn “nhà vua có thể trao cho chúng ta quyền hành của ông ta bổ sung vào điều ước 1884” 3 để hợp thức hoá việc chiếm dụng vùng đất đai và mỏ trong quá trình xâm lược. Nhưng triều đình không trao cho họ quyền đó mà bán lại cho họ theo đúng qui định của Hiệp ước 26/8/1884 với một số điều khoản cụ thể về kinh tế và mỏ ở Bắc và Trung kỳ. Sau khi bán đất, hai quan Phụ chánh đại thần cùng tư sản Pháp đứng ra thành lập Hội kinh doanh. Trước Tôn Thất Thuyết chưa ai làm được việc này. Vì theo thống kê của người Pháp, đến năm 1888 ở Việt Nam mới chỉ có hai công ty. Đó là Công ty tài chính Đông Dương (Banque de l'Indochine) lập năm 1875 và Công ty vận tải đường sông Nam kỳ (Messageries fluviales de Cochinchine) lập năm 18814. Theo Aumiphin, trước năm 1888 Việt Nam chỉ có hai công ty5. Như vậy có thể nói Hội kinh doanh của Tôn Thất Thuyết và Ba-vi-ê Sốp-phua là đơn vị kinh tế đầu tiên có sự hợp tác Pháp - Việt và Tôn Thất Thuyết là người Việt Nam đi tiên phong trong lĩnh vực này. Đó là tư duy kinh tế nhạy bén để tự cường của ông. Bản hợp đồng ký kết ngày 2.9.1884 sau Hiệp ước Patơnốt 3 tháng đã diễn ra trong bối cảnh Tôn Thất Thuyết đang hoạt động tích cực về quân sự, chính trị chuẩn bị lực lượng kháng chiến, về quân sự, ông xây dựng lực lượng quân đội, tích trữ vũ khí, xây dựng các sơn phòng và kinh đô dã chiến; về chính trị ông tạo dựng một ông vua yêu nước, dám chống Pháp để tập hợp nhân tâm; về kinh tế ông hợp tác với người Âu khai thác mỏ và khẩn hoang nhằm tới sự phú cường. Phải chăng Tôn Thất Thuyết đã có cách nhìn toàn diện trong kế hoạch chuẩn bị lực lượng giành lại độc lập. Đó là sự hoạt động đồng bộ trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự. Nếu đúng như vậy thì đó là tư tưởng chủ chiến khá đầy đủ và hoàn chỉnh. Ông đã làm tất cả những gì có thể làm để bảo vệ Tổ quốc. Điều này được thể hiện trong thư Puginier gửi Brière de l’Isle ngày 6/11/1884: "…Không còn nghi ngờ nào về mưu toan của Chính phủ Nam triều và các hành động của họ nhằm bảo toàn khả năng có thể có của Vương quốc họ...” 6. Chuẩn bị kháng chiến trong điều kiện một nền kinh tế suy đồi, Tôn Thất Thuyết đã tiên phong thực hiện duy tân cải cách kinh tế, hướng theo văn minh phương Tây, hợp tác với họ khai thác tài nguyên để tiến tới phú cường. Việc ký hợp đồng kinh tế đã giúp ông bảo vệ được quyền nội trị của triều đình, ngăn chặn giới kinh doanh Pháp không tuỳ tiện chiếm đoạt nguồn tài nguyên thiên nhiên nước ta, buộc họ phải tôn trọng chủ quyền của Vương quốc An Nam ở Bắc kỳ. Có thể nói đó là một bộ phận trong tư tưởng chủ chiến của Tôn Thất Thuyết. Sẽ là chưa đầy đủ khi nói về tư tưởng chủ chiến của Tôn Thất Thuyết mà không đề cập đến tư tưởng kinh tế tiến bộ này. ____________________________________ 1. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm… Sđd, tr. 182. 2, 3. Ximôni - Vai trò của tư bản Pháp trong cuộc khai thác xứ Đông Dương, Paris, 1929, bản dịch tiếng Việt, tr. 94. 4. Répertoire des sociétés anonymes indochinoises, IDEO, H., 1944. 5. Jean Pierre Aumiphin - Sự hiện diện của nền tài chính, kinh tế Pháp ở Đông Dương (1858-1939), Hội KHLSVN, H., 1994. 6. Nguyễn Văn Kiệm - Cuộc kháng chiến chống Pháp tiếp tục của nhà nước phong kiến Việt Nam những năm 80 của thế ký XIX, Kỷ yếu Hội nghị khoa học về nhóm chủ chiến trong triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường, 6/1996, ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2016, 11:02:18 pm MẤY SUY NGHĨ VỂ TÔN THẤT THUYẾT (1839-1913) BÙI ĐÌNH PHONG1 1. Tôn Thất Thuyết, một nho sỹ có ý thức trách nhIệm cao cả với nước, với dân. Dưới thời phong kiến, quan hệ vua - tôi đứng hàng đầu. Trung với vua không chỉ là bổn phận, nghĩa vụ mà còn là đạo lý của người dân. Tôn Thất Thuyết là người trong hoàng tộc, nên dẫu chỉ là một chi xa dòng chính, ông càng phải thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh hơn bổn phận trung với vua. Không nghi ngờ gì nữa, mục tiêu chiến đấu của Tôn Thất Thuyết là vẫn khôi phục lại chế độ phong kiến. Phong trào Cần Vương do ông đề xướng - dù Cần Vương chỉ là danh nghĩa - vẫn là một phong trào yêu nước chống Pháp thuộc phạm trù phong kiến. Tôn Thất Thuyết nhắc đến “trăm họ vì vua còn cố gắng” là điều tất yếu và dễ hiểu. Cần phải khẳng định lại rằng, cũng như nhiều sỹ phu trong phong trào chống Pháp hồi cuối thế kỷ XIX, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi để phát động văn thân, sỹ phu cùng nhân dân cả nước tiến hành cao trào yêu nước, chống Pháp là với tư cách cá nhân, chớ hoàn toàn không đại diện cho giai cấp phong kiến đã mất vai trò lịch sử. Những con người đó đã tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất của dân tộc, đổng thời họ cũng chịu tác động sâu sắc, mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cứu nước lúc bấy giờ. Tôn Thất Thuyết với Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng... đều gặp nhau ở chỗ phát huy tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, không hám danh lợi, dám hy sinh vật chất, tính mệnh, thậm chí cả gia đình, vợ con... cho nền độc lập của dân tộc. Nhưng ở Tôn Thất Thuyết, có thể nói điệp khúc cứu nước được lặp đi lặp lại gần trọn cuộc đời 74 mùa xuân của ông. Trong câu đối viếng Trần Bích San, một trong những sỹ phu có tư tưởng tiến bộ muốn tiến hành cải cách nước ta về mọi mặt, Tôn Thất Thuyết ca ngợi Bích San là “con hiếu của nhà, tôi trung của nước”. Viết thư gửi Cầm Bá Thước, một thủ lĩnh Cần Vương ở châu Thường Xuân (Thanh Hoá), Tôn Thất Thuyết tâm sự: “Trăm họ vì Vua còn cố gắng, Một mình báo Nước vẫn long đong” Ở nơi đất khách quê người, khi được tin Nguyễn Cao, thủ lĩnh chống Pháp ở ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, đã tuẫn tiết bằng móng tay dài sắc tự rạch bụng lôi ruột ra ném vào mặt giặc Pháp, Tôn Thất Thuyết có bài thơ “Viếng Nguyễn Cao” nhấn mạnh tới “đền ơn nước”: Quyết lòng vì nước lập kỳ công. Với Nguyễn Quang Bích, con người cùng chí hướng cương quyết chống lại đường lối thoả hiệp của triều đình và đã trở thành thủ lĩnh chống Pháp ở vùng Tây Bắc, Tôn Thất Thuyết khẳng định: “Lòng son lo báo nước có sông núi làm chứng”, để đến khi “gặp nhau sương nhuộm bạc phơ đầu”... Vậy là theo gương Trương Định, Trần Tấn, Đặng Như Mai, và nhiều sỹ phu tâm huyết khác, Tôn Thất Thuyết đã có ý thức trách nhiệm cao với nước, với dân. Ông có bổn phận phò vua cứu nước, nhưng đồng thời - nói như một người Pháp, ông Bastide - cũng “có quyền và bổn phận căm ghét và chiến đấu chống thực dân Pháp”. Cũng là môn đồ của “cửa Khổng sân Trình” chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, nhưng Tôn Thất Thuyết không đặt vua lên trên nhiệm vụ cứu nước, cứu dân. Có lẽ chỉ có ông, nhờ nhận thức sâu sắc rằng “thù nước một lòng phải trả”, mới dám phế truất và thủ tiêu các ông vua có xu hướng thân Pháp như Dục Đức, Hiệp Hoà, hoặc thẳng tay trừng trị bọn quan lại có hành động đầu hàng thân Pháp. Sự khác nhau và gặp nhau giữa ông và Phan Đình Phùng cũng là ở chỗ này. Phan Đình Phùng, với tư tưởng trung quân truyền thống, coi việc Tôn Thất Thuyết phế vua là sai trái. Nhưng hai ông đã gặp nhau ở mục đích cuối cùng là cứu nước. Cùng với Chiếu Cần Vương, Tôn Thất Thuyết đã mời Phan Đình Phùng ra giữ chức Hiệp thống quân vụ, và Phan đã sẵn sàng không chút ngần ngại nghe theo lời Thuyết, đứng lên mộ quân chống Pháp. __________________________________ 1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2016, 11:06:43 pm 2. Tôn Thất Thuyết là hiện thân của tư tưởng chủ chiến. Các tài liệu trước đây, bằng một số sự kiện lịch sử cụ thể, đã đề cập đến vấn đề này. Nhưng nếu phân tích thêm thời cuộc lịch sử lúc bấy giờ và đặt vấn đề “chiến hay hoà” trong thời cuộc đó, cũng như đánh giá đúng đắn những quyết sách của Tôn Thất Thuyết, chúng ta sẽ khám phá thêm cách nhìn và tầm nhìn của con người chủ chiến đầy lòng hăng hái, năng nổ và có cơ mưu này. Chúng ta đều biết “chiến bay hoà” là một vấn đề lớn của đất nước Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ XIX. Vấn đề này xuất hiện ngay khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng và có sự diễn biến, phân liệt qua từng mốc lịch sử lớn. Sau hoà ước 1862, tư tưởng chủ chiến phát triển trên bề rộng khắp Bắc-Trung-Nam, nhưng phải từ năm 1873 đến 1884 thì mới đi đến chỗ “quyết đánh cả Triều lẫn Tây”. Và chính trên cơ sở đó mà phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu mới có điều kiện bí mật chuẩn bị kế hoạch, lực lượng và hành động ở mức cao sau khi giai cấp phong kiến đã hoàn toàn đầu hàng trước tư bản Pháp. Nhân đây, để làm rõ thêm tư tưởng chủ chiến của Tôn Thất Thuyết, chúng tôi muốn bàn thêm về mối quan hệ giữa Tôn Thất Thuyết với phe chủ chiến Trần Tấn, Đặng Như Mai. Trước đây, có ý kiến cho rằng “hàng ngũ những người chủ chiến sớm bị chia rẽ sâu sắc. Có phe chủ chiến mà chống cả triều đình đầu hàng như Trần Tấn, Đặng Như Mai; có phe chủ chiến mà vẫn trung thành với triều đình như Tôn Thất Thuyết. Ông đã đứng về phía triều đình đàn áp quân khởi nghĩa (của Trần Tấn, Đặng Như Mai - B.Đ.P)1. Năm 1985, hai tác giả là Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, căn cứ vào tài liệu của giáo sĩ Pháp và tài liệu điền dã, cho rằng “khẩu hiệu “Bình Tây sát tả” nhất định được Tôn Thất Thuyết đồng tình và tìm cách ủng hộ”2. Chúng tôi muốn làm rõ thêm ý kiến thứ hai để tỏ sự đồng tình với hai tác giả. Như trên đã trình bày, tư tưởng chủ chiến ở Việt Nam có quá trình phát triển. Sự phát triển đó căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó phải kể tới thái độ của triều đình, âm mưu của kẻ thù và yếu tố chủ quan của chính nhóm chủ chiến. Nhưng yếu tố nào cũng phải lấy tình hình nước sôi lửa bỏng và việc cứu nước làm chuẩn mực. Chiến thắng Cầu Giấy (21-12-1873) đại uý Phrăng-xi Gác-ni-ê phải đền tội, trong đó có công lớn của Tôn Thất Thuyết đã liên quan chặt chẽ đến sự kiện năm Giáp Tuất (1874). Bởi vì khi tinh thần và phong trào nhân dân Nghệ Tĩnh đang sôi nổi, hào hứng sau chiến thắng Cầu Giấy thì triều đình lại hô bãi binh, ký hoà ước. Thế rồi văn thân bốn tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã thực hiện cuộc “Bình Tây sát tả”. Thái độ hoà nghị, hành động bãi binh của Tự Đức sau chiến thắng Cầu Giấy khác nào dội nước vào lửa, xoá nhoà công trạng của Tôn Thất Thuyết. Còn phái chủ chiến Trần Tấn, Đặng Như Mai với hành động “phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”, rõ ràng là một khích lệ lớn, một việc làm tiếp sức, và trên một ý nghĩa nào đó nhằm bảo vệ thành quả mà Tôn Thất Thuyết và những người chủ chiến đã thực hiện một năm trước đó. Xem thế, quả thật khó đồng tình với sử triều Nguyễn và các ý kiến cho rằng “Tôn Thất Thuyết đàn áp cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai”. Điều thứ hai, khi phân tích mối quan hệ giữa “chiến hay hoà” với “thủ cựu hay duy tân”, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của giáo sư Trần Văn Giàu khi ông cho rằng đây là những vấn đề hết sức phức tạp, thường nảy sinh nhiều nghịch lý và mâu thuẫn. “Thường nhất là thấy người chủ chiến hô hào duy trì cấm đạo, hơn nữa hô hào Bình Tây sát tả”3. Như vậy có thể nói rằng phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu rõ ràng là không có gì đối nghịch với phái chủ chiến của Trần Tấn, Đặng Như Mai, ngược lại còn đồng tình, hưởng ứng chủ trương "Bình Tây sát tả". Điểm thứ ba, nếu nói Tôn Thất Thuyết vì “chủ nghĩa trung quân” mà làm việc đó, cũng khó có sức thuyết phục. Như trên đã nói, tư tưởng chủ chiến của Tôn Thất Thuyết là liền mạch từ thập kỷ 70 của thế kỷ XIX, trong đó phong trào kháng chiến của nhân dân Hà Nội, các tỉnh Thanh-Nghệ- Tĩnh-Bình... là bệ đỡ hết sức quan trọng. Ông đã từng nói: “Tướng ở ngoài chỉ biết lo đánh giặc”. Đặc biệt sau khi Tự Đức chết, Tôn Thất Thuyết được cử làm Phụ chính trong hoàn cảnh triều đình liên tiếp ký các hoà ước Quý Mùi (1883) và Giáp Thân (1884), trong khi thực dân Pháp ngày càng lấn tới, ông càng không thể giữ tư tưởng trung quân mù quáng như một số văn thân sĩ phu đã rời bỏ hàng ngũ kháng chiến. Phái kháng chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu một mặt dựa trên tư tưởng chủ chiến của các phong trào thời kỳ trước đó, mặt khác mở ra một giai đoạn mới cho phong trào chống thực dân Pháp của dân tộc ta cuối thế kỷ XIX. Với tư cách cá nhân yêu nước chống Pháp, với mục tiêu bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ nền độc lập dân tộc trong khi giai cấp phong kiến đã hoàn toàn đầu hàng, Tôn Thất Thuyết đã cùng những người kháng chiến trở thành những người đại diện và lãnh đạo phong trào chống Pháp của nhân dân. Cuộc đấu tranh do Tôn Thất Thuyết chủ động khởi xướng trở thành cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân chống thực dân Pháp và triều đình phong kiến bù nhìn. Phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã đưa cuộc kháng chiến của dân tộc tới đỉnh cao, thành phong trào Cần Vương, trước khi cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc chuyển sang khuynh hướng mới tư sản. _____________________________________ 1. Trần Văn Giàu - Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 1, Nxb. KHXH, 1973, tr. 437. 2. NCLS, số 6 (225), 1985. 3. Trần Văn Giàu - Sđd, tr. 413. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Hai, 2016, 11:09:33 pm 3. Tôn Thất Thuyết đã hiến trọn đời mình cho Tổ quốc, cho dân tộc bất chấp mọi trở ngại dèm pha, chống đối. Nhìn chung, trong phong trào yêu nước, chống Pháp cuối thế kỷ XIX, các phần tử chủ chiến đều bị kẻ thù cố tình bôi nhọ, xuyên tạc. Nhưng thật hiếm có một người nào đó lại chịu nhiều sự vu cáo, bịa đặt như Tôn Thất Thuyết. Từ thực dân Pháp đến bọn người tay sai, cơ hội, hợp tác với giặc đều cố tình xuyên tạc hành động cứu nước chân chính của Tôn Thất Thuyết, nhằm hạ bệ “một bậc anh hùng”, “một nhân vật lớn” theo cách nói của Bastide; hay bôi nhọ phẩm chất cao đẹp của một con người “không chấp nhận một sự thoả hiệp nào” và “cả cuộc đời gắn bó lạ lùng với Tổ quốc” (lời của Gaultier M.). Sử triều Nguyễn ghi rằng “Tôn Thất Thuyết đưa quân từ ngoài Bắc vào đàn áp cuộc khởi nghĩa 1874 của văn thân Nghệ-Tĩnh”. Sách sử miền Nam dưới thời thuộc Pháp có những nhận xét về Tôn Thất Thuyết gần giống như lời vua Tự Đức: “Ít học, nhát gan, nóng nảy, nói càn, kiêu căng, hẹp hòi”. Ngay cả lúc Tôn Thất Thuyết lên đường sang Trung Quốc cầu viện với ý thức trách nhiệm cao, lo việc phục quốc và hy vọng khôi phục đất nước như lời tâm sự của ông trong bài “Cảm nghĩ về con ngựa thổ”: “Mang nặng lên cao nhọc mệt thay, Đường dài dằng dặc chửa từng hay. Khi về kiếm được đồ gia dụng, Chính thực Hy đồ để lại đây". (Dịch thơ) Thế mà vẫn có kẻ buộc tội ông là “đào ngũ”, “hèn nhát”... Qua đó mới thấy vai trò và ảnh hưởng của Tôn Thất Thuyết trong “tiểu triều đình" Hàm Nghi lớn đến mức nào! Mới hiểu rằng kẻ thù dân tộc quỷ quyệt, nham hiểm đến chừng nào! Tôn Thất Thuyết hiểu rõ điều đó và có ý thức cao về trách nhiệm của mình đối với vận mệnh Tổ quốc, của dân tộc. Ông đã chủ động tấn công trước vào các căn cứ đóng quân của giặc Pháp đêm 4-7-1885. Sau khi thất bại, ông nhanh chóng đưa Hàm Nghi lên căn cứ kháng chiến đã được bí mật chuẩn bị từ trước. Ông tổ chức một lực lượng tình nguyện hộ tống Hàm Nghi. Và khi cuộc chiến đấu gặp khó khăn, ông đã chủ động tìm cách tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài. Trên đường đi, ông không quên tìm cách tranh thủ gặp gỡ trao đổi, bàn kế hoạch tác chiến với các lãnh tụ nghĩa quân ở Thanh Hoá, Lai Châu... Những năm tháng cuối đời trên đất Trung Quốc, khi thực dân Pháp và phong kiến Mãn Thanh (Trung Quốc) câu kết với nhau nhằm tiêu diệt phong trào chống Pháp của nhân dân ta, Tôn Thất Thuyết vẫn luôn hướng về Tổ quốc và làm bất cứ việc gì để góp sức với các cuộc khởi nghĩa trong nước. Rõ ràng là mặc dầu Tôn Thất Thuyết không thể vượt ra khỏi điều kiện hạn chế của giai cấp và thời đại, tư tưởng và hành động của ông trọn vẹn thuỷ chung, gắn bó từ đầu đến cuối với cuộc đấu tranh bất khuất của dân tộc để chống xâm lược và bè lũ tay sai đầu hàng, vì nền độc lập của Tổ quốc. Đó là điểm son rực rỡ trong cuộc đời yêu nước chiến đấu của ông. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2016, 12:14:02 pm MỐI QUAN HỆ CHIẾN ĐẤU GIỮA TÔN THẤT THUYẾT VÀ PHẠM THẬN DUẬT ĐINH XUÂN LÂM1 Có thể khẳng định rằng Phạm Thận Duật (1825-1885) đã phải tiến hành công tác ngoại giao với Pháp trong một hoàn cảnh vô cùng bức bách, với những điều kiện vô cùng khó khăn. Thực vậy, tình hình Việt Nam cho tới những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XIX đã vô cùng nguy khốn. Thực dân Pháp sau khi nuốt gọn sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), đã ra sức củng cố chính quyền thuộc địa về mọi mặt bằng bạo lực và mua chuộc trong gần 20 năm dài, để đến đầu năm 1882 lại kéo quân ra Bắc lần thứ hai với dã tâm bằng bất cứ giá nào phải hoàn thành việc đánh chiếm Việt Nam. Thành Hà Nội đã bị quân Pháp chiếm vào trưa ngày 25-4-1882, Tổng đốc Hoàng Diệu dùng dải lụa treo cổ lên cành cây khi thành thất thủ để khỏi rơi vào tay giặc, sau khi đã bái vọng về phương Nam nhận tội với nhà vua vì không giữ được thành. Ngay sau đó, triều đình nhà Thanh đã cho quân vượt biên giới sang đóng trải dài trên nhiều tỉnh, từ Hưng Hoá qua Cao Bằng, Lạng Sơn xuống tới Thái Nguyên, với ý đồ rõ rệt làm áp lực với Pháp để chia sẻ một phần quyền lợi đất đai ở Bắc Kỳ. Chính vào lúc đó Phạm Thận Duật được triều đình Huế cử cầm đầu phái bộ ngoại giao sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh. Thời kỳ này ông giữ chức Thượng thư bộ Binh và được cử làm Đại thần Viện Cơ mật. Ra đi ngày 6-2-1883, chỉ trước tết Nguyên đán mấy ngày, điều đó cho thấy tình hình bức bách lúc đó đã làm cho triều đình Huế nôn nóng đến mức nào, đồng thời cũng vạch rõ ảo tưởng của vua quan triều Nguyễn đối với “Thiên triều” phía Bắc. Sau hơn một tháng trời lênh đênh trên biển cả, ngày 17- 3 năm đó Phạm Thận Duật vừa đặt chân tới Thiên Tân thì ở trong nước Henri Rivière đã đưa quân từ Hà Nội xuống đánh chiếm thành Nam Định (27-3), phải 10 ngày sau phái đoàn ngoại giao ở Thiên Tân mới nhận được tin chẳng lành này từ trong nước báo sang. Tình hình đó càng làm cho Phạm Thận Duật cùng các thành viên phái đoàn thêm bối rối, muốn thương lượng gấp với các quan lại nhà Thanh để còn lên đường về nước. Thế mà nay lần mai lữa, chờ đợi mãi mới được Tổng đốc Lưỡng Quảng kiêm Phó vương Lý Hồng Chương cho gặp. Nhưng trước thái độ hờ hững của bọn quan lại nhà Thanh, Phạm Thận Duật đã nhận rõ tâm địa xấu xa của bọn chúng, chỉ muốn “đục nước béo cò”, thương lượng với Pháp để chia mối lợi lớn trên xương máu nhân dân ta. Đã vậy, tin tức chẳng lành cứ dồn dập từ trong nước sang, hết tin vua Tự Đức chết (17-7-1883) lại đến tin quân Pháp đánh chiếm Thuận An (20-8-1883) làm áp lực buộc triều đình Huế ký điều ước Quý Mùi (25-8-1883), do Cao uỷ cộng hoà Pháp là Harmand thay mặt phía Pháp nên còn gọi là Điều ước Harmand. Với 27 điều khoản nặng nề, điều ước mới ký về thực chất là một hàng ước, triều đình Huế đã đi sâu thêm một bước vào con đường khuất phục đầu hàng Pháp. Thấy không còn có lý do để nấn ná ở lại Thiên Tân, ngày 24-1 Phạm Thận Duật xuống tàu về nước, do bị ốm nên mãi ngày 26-1-1884 ông mới về tới Huế, chỉ vài ngày trước Tết Giáp Thân (1884), các phái viên của đoàn cùng phó sứ Tôn Thất Phan đã về đến Huế từ trước. Vua Nguyễn lúc đó là Kiến Phúc được đặt lên ngôi báu từ ngày 2-12-1883, sau khi chỉ trong vòng 4 tháng liên tiếp hết Dục Đức đến Hiệp Hòa, người bị bỏ chết đói trong ngục tối, người bị đầu độc, tình hình triều đình Huế cực kỳ rối ren càng tạo thêm điều kiện cho giặc Pháp dễ bề lấn lướt. _______________________________ 1. Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2016, 12:16:48 pm Sau thắng thế tại kinh thành Huế, quân Pháp quay ra Bắc lần lượt đánh chiếm nhiều nơi, hết Sơn Tây (16-12-1883), Bắc Ninh (13-5-1884), Hưng Hoá (12-4-1884) đến Thái Nguyên (19-3-1884), Tuyên Quang (31-5-1884). Đó không chỉ là thất bại của quân đội triều đình Huế, mà còn là thất bại của quân Thanh trước đó đã vượt biên giới sang ta với chiêu bài “cứu tệ phò nguy”. Trước tình hình đó, triều đình Mãn Thanh chuyển từ thái độ giằng co tranh chấp sang thái độ thoả hiệp với Pháp về vấn đề Việt Nam. Quy ước Thiên Tân được ký kết (11-5-1884), theo đó mà Thanh cam kết tôn trọng những điều ước đã ký kết giữa Việt Nam với Pháp, rút toàn bộ quân Thanh về nước, người Pháp được tự do buôn bán ở các tỉnh Vân Nam và Lưỡng Quảng, còn phía Pháp hứa giữ nguyên biên giới phía Nam của nhà Thanh, không đòi chiến phí, không xúc phạm danh dự nhà Thanh trong các điều ước sẽ ký kết với Việt Nam. Rõ ràng đến lúc này Pháp đã có ưu thế gần như quyết định trong quan hệ đối với triều đình Huế, cũng như với Thanh triều. Vì vậy, chỉ một tuần sau khi thành Tuyên Quang bị Pháp chiếm, và chỉ 26 ngày sau khi quy ước Thiên Tân được ký, triều đình Huế đã phải ký bản điều ước mới ngày 6- 6-1884, phía Pháp gọi là Điều ước Patenôtre (tên của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Pháp tại Bắc Kinh), còn phía Việt Nam gọi theo âm lịch là điều ước Giáp Thân. Đại diện cho triều đình Huế trong việc ký kết lần này là Thượng thư bộ Hộ kiêm Tham tri bộ Công Phạm Thận Duật sung chức chánh sứ, có Thượng thư bộ Công Tôn Thất Phan sung chức phó sứ. Với 19 điều khoản nặng nề của Điều ước Patenôtre so với 27 điều khoản của điều ước Harmand ký kết gần 10 tháng trước, về cơ bản nội dung của hai văn kiện giống nhau, phản ánh cụ thể tình hình Việt Nam và thân phận nhân dân ta lúc đó, thật đúng như nhận định của Nguyễn Duy Cung - thủ lĩnh phong trào chống Pháp hai tỉnh Nam-Ngãi (Quảng Nam - Quảng Ngãi): “Chiến cuộc biến thành hoà cuộc, Nam nhân hoán tác Tây nhân.” Dịch: Cuộc chiến phút chốc biến thành cuộc hoà, Người Việt Nam trở thành người Tây. Vì vậy có thể khẳng định Điều ước Patenôtre đã đánh dấu sự đầu hàng của giai cấp phong kiến Việt Nam trước sự tấn công hung bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp, từ nay giai cấp phong kiến trở thành chỗ dựa của thực dân Pháp và đã mất vai trò trong công cuộc giải phóng dân tộc. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã sụp đổ, toàn bộ đất nước Việt Nam đã trở thành đất của chủ nghĩa đế quốc Pháp, dù tên gọi có khác nhau giữa miền này với miền nọ. Khẳng định như vậy là hoàn toàn đúng, nhưng không phải vì vậy mà phủ nhận công sức các phái viên triều đình có trách nhiệm thương thuyết với Pháp. Chánh sứ Phạm Thận Duật và phó sứ Tôn Thất Phan, trong hoàn cảnh ngàn vạn khó khăn, ván cờ thua được đã định như vậy mà vẫn cố giành giật với đối phương một số quyền lợi về cho nhân dân, cho Tổ quốc, đó là điều đáng và cần được làm rõ trên cơ sở phân tích đánh giá các sự kiện lịch sử một cách khách quan, hợp tình, đúng lý. Trước hết là vấn đề đòi lại đất đai, nới rộng phạm vi quản lý cho triều đình. Hai điều khoản 2 và 6 của Điều ước Harmand xác định triều đình Huế chỉ quản lý khu vực từ giáp giới tỉnh Bình Thuận đến Đèo Ngang, tỉnh Bình Thuận phía Nam bị sát nhập vào Nam Kỳ và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh phía Bắc bị sát nhập vào Bắc Kỳ. Ngay sau khi điều ước này được ký kết, triều đình Huế đã nhận thấy là quá nặng,vì vậy nhân khi phái viên Pháp là Tricou ghé vào Huế hỗ giao bản điều ước (5-1-1884), triều đình đã có thư nhờ chuyển sang Giám quốc nước Pháp xin sửa đổi một số điều khoản, trong đó có các điều khoản 2 và 6 nói trên, yêu cầu trả lại các tỉnh Bình Thuận và Thanh-Nghệ-Tĩnh. Đề nghị đó đã được thủ tướng Pháp là Jules Ferry chấp nhận, tất nhiên vì xét có lợi cho Pháp. Trong tờ trình lên Thượng và Hạ viện, Ferry nói rõ lý do như sau: “...Việc sát nhập Bình Thuận vào Nam Kỳ chỉ có những lợi ích bấp bênh cho xứ thuộc địa này mà thôi..., mà cũng không cần thiết gì về các mặt kinh tế và quân sự. Khôn ngoan hơn là chỉ nghĩ tới lợi ích của một cuộc bảo hộ... Muốn cho công cuộc kinh doanh của nước Pháp ở Nam kỳ có kết quả thì nước Nam không thể bị xoá bỏ..., ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh nên giao lại cho nước Nam, ba tỉnh này về địa lý và lịch sử liên quan với Huế chớ không liên quan với Hà Nội, mỗi tỉnh lại là nơi phát tích của dòng họ vua trị vì, cắt đứt các dây ràng buộc cổ truyền đó sẽ làm cho việc thừa nhận các việc đã xẩy ra trở nên khó khăn thêm”. Nhân Patenôtre trên đường sang Trung Quốc nhận chức Đại sứ có ghé lại Sài Gòn, Thủ tướng Ferry đã chỉ thị cho y phải ra Huế để bàn bạc việc sửa đổi điều khoản đó. Như vậy là về phía Pháp đã có chủ định từ trước, nhưng đến khi bàn cãi, thương lượng tại chỗ, nếu về phía triều đình không kiên trì đấu tranh với mọi lý lẽ cần thiết thì chắc gì phái viên của Pháp đã dễ dàng chấp nhận, trong lịch sử bang giao giữa hai nước không hiếm các trường hợp thay đổi chủ trương quyết định tại bàn họp, cũng không phải không có khả năng phái viên Pháp với toàn quyền hành động của mình sẽ đặt Chính phủ Pháp trước một sự yiệc đã rồi, vì nhận thấy về lâu dài việc sát nhập 4 tỉnh là có lợi, rồi sẽ báo cáo tranh thủ sự đồng ý của Chính phủ sau. Rõ ràng phái đoàn ngoại giao do Phạm Thận Duật đứng đầu lúc đó đã thành công trong việc điều đình thương lượng để điều khoản đó được sửa đổi có lợi cho triều đình Huế. Chúng ta đều biết khi phong trào Cần Vương bùng nổ (7-1885) thì các tỉnh Bình Thuận và Thanh-Nghệ-Tĩnh đã hưởng ứng mạnh mẽ nhất, riêng phong trào ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh đã phát triển sôi động suốt trong một thời kỳ dài với những cuộc khởi nghĩa và chỉ huy tiêu biểu như Ba Đình với Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Vụ Quang với Phan Đình Phùng, Cao Thắng... Một vấn đề nữa rất gây cấn lúc đó là việc ghi hai chữ “bảo hộ” vào điều ước. Về phía triều đình, ý kiến là không muốn dùng từ “bảo hộ” mà dùng từ “bảo trợ”. Đại diện Pháp tại Huế là Rheinart biết rõ qua báo cáo mật của các giáo sĩ Pháp rằng Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường, kiêm Thượng thư Bộ Lại, người trực tiếp theo dõi và chỉ đạo việc thương lượng với Pháp, cương quyết không chịu để trong điều ước hai chữ “bảo hộ”, theo ông thà nhường hẳn tỉnh Bình Thuận cho Pháp chớ không công nhận đưa hai chữ “bảo hộ” vào nội dung điểu ước. Patenôtre phải điện về Paris xin ý kiến, Chính phủ Pháp vẫn giữ hai từ “bảo hộ”, nhưng phải tu chỉnh lời văn trong điều ước cho mềm dẻo, lịch sự hơn, bỏ bớt những từ và ý xúc phạm triều đình Huế. Như điều khoản 11 Điều ước Harmand ghi: “Trú sứ Pháp tại Huế sẽ có quyền được một mình vào yết kiến riêng Hoàng đế nước Nam, Hoàng đế nước Nam sẽ không được từ chối nếu không có lý do thoả đáng“, câu này đã được sửa đổi rút gọn trong điều khoản 5 điều ước Patenôtre như sau: “Tổng trú sứ sẽ có quyền một mình vào yết kiến Hoàng đế nước Nam”. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Hai, 2016, 12:18:48 pm Xin nhắc thêm là phía Pháp trước đó đã muốn đưa hai chữ “bảo hộ” vào Điều ước Philastre (Hiệp ước Giáp Tuất) ngày 15-3-1874, nhưng bàn đi bàn lại trong chính giới Pháp cuối cùng thấy chưa thể đưa hai từ đó vào được, chúng tránh dồn triều đình Huế vào thế buộc phải ra lời kêu gọi nhân dân đứng dậy kháng chiến, như vậy sẽ là một nguy cơ lớn cho ý đồ bành trướng lâu dài của chúng. Cuối cùng chúng đành gọi Điều ước năm 1874 bằng cái tên mị dân, bịp bợm là “Hiệp ước hoà bình và liên minh” (Traité de paix et d’alliance), chúng lùi một bước để rồi sẽ lấn tới nhiều bước về sau. Một vấn đề khác cũng gây cấn trong quá trình thương lượng là vấn đề quân sự, quy định quyền đóng quân của Pháp. Điều khoản 2 cho phép quân Pháp được thường xuyên chiếm đóng Thuận An, triều đình phải triệt bãi tất cả các đồn luỹ trên hai bờ sông Hương dẫn lên kinh thành Huế. Điều khoản 5 ghi rõ đại diện Pháp tại Huế được có một toán lính hộ vệ. Điều khoản 15 nhấn mạnh nước Pháp tự nguyện bảo đảm sự toàn vẹn đất đai của nước Nam, trong thì dẹp yên loạn lạc, ngoài thì chống đánh giặc giã, vì vậy, nếu nước Pháp xét thấy trong đất nước Nam và trên địa hạt Bắc kỳ nơi nào cần đóng quân thì được quyền đưa quân tới đóng để thực hiện việc bảo hộ. Rõ ràng các điều khoản được quy định rất chặt chẽ, và với các quy định trên thì triều đình Huế đã bị đặt trong vòng vây o ép, một mạng lưới kiểm soát dày đặc ngay tại kinh thành Huế. Thế nhưng nội dung điều ước hoàn toàn không có điều khoản nào nói tới quân đội triều đình, và như vậy là triều đình Huế mặc nhiên vẫn còn có quân đội riêng ở kinh thành cũng như ở các tỉnh. Chính nhờ vậy mà phái kháng chiến trong triều do Tôn Thất Thuyết đứng đầu mới có thể tuyển mộ và luyện tập quân lính (các đội quân Phấn nghĩa, các Đoàn kiệt) ngay trong thành Huế, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh mà mọi người đều biết nhất định sẽ xảy ra. Cũng nói thêm là trước áp lực của bọn Pháp, cuối cùng phái đoàn ngoại giao cũng chỉ cho quân Pháp đóng ở Trấn Bình đài (đồn Mang Cá) ở góc đông-bắc kinh thành Huế, từ đó bọn Pháp có thể theo dõi mọi hoạt động của quân đội triều đình, nhưng không được phép đặt chân vào trong thành. Đối chiếu với tình hình triều đình và uy thế áp đảo của Pháp, lúc đó thương lượng đi tới một số quy định về quân sự như vậy, phải công nhận đó là một thắng lợi đáng kể. Một vấn đề nữa tuy không ghi thành điều khoản trong điều ước, nhưng cũng rất quan trọng vì có quan hệ tới thể diện quốc gia, kể cả thể diện Trung Quốc. Đó là số phận chiếc ấn bạc nhà Thanh ban cho Gia Long năm 1803 có ghi mấy chữ “Việt Nam quốc vương chi bảo”. Thâm ý của Patenôtre là muốn hạ nhục cả triều đình Huế lẫn triều đình Mãn Thanh nên đòi thu ấn đó để giao cho Rheinart triển lãm tại toà Khâm sứ ở Huế. Nhưng Chánh sứ Phạm Thận Duật không chịu, chỉ đồng ý cho nấu chảy chiếc ấn. Đến cuộc lễ nấu ấn, Patenôtre lại đổi ý, muốn thu chiếc ấn để gửi sang Paris khoa trương thanh thế, khoe “chiến công xâm lược” của Pháp với thế giới. Chánh sứ Phạm Thận Duật, sau khi trao đổi với Phó sứ Tôn Thất Phan, vẫn lắc đầu từ chối. Và chiếc ấn biểu tượng cho vương quyền Nguyễn và quyền tôn chủ của nhà Thanh đối với Việt Nam đã bị nấu chảy trước khi tiến hành buổi lễ ký kết Điều ước Giáp Thân (6-6-1884). Nêu lên và so sánh một vài điều khoản trong hai điều ước 1883 và 1884 như vậy để đi đến một điều khẳng định như sau: Trong mối tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Pháp bấy giờ, phái đoàn ngoại giao của triều đình Huế đã phải tiến hành thương thuyết với Pháp trong một thế bất lợi, hoàn toàn không hề có một sự hỗ trợ tinh thần và vật chất nào đáng kể, có chăng thì đó chỉ là một truyền thống đấu tranh yêu nước chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, nhưng do chính sách sai lầm, phản động của triều Nguyễn đến lúc này phong trào chống Pháp cũng đang trên con đường tan rã, phải gần một năm sau mới được phát động trở lại trong phong trào Cần Vương với lời Chiếu thống thiết của vua Hàm Nghi (13-7-1885). Thế mà, vượt qua muôn vàn gian khó và áp lực từ nhiều phía, phái đoàn ngoại giao do Phạm Thận Duật cầm đầu đã đạt được một số kết quả không nhỏ và có ý nghĩa. Qua cuộc thương lượng với địch, dù cho bị đặt trong thế yếu, các thành viên phái đoàn đã tỏ ra có bản lĩnh, khi phải nhượng bộ thì đành nhượng bộ, nhưng khi cần đấu tranh thì tỏ ra kiên nghị đến cùng. Đặt vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc đó, thiết tưởng cũng khó có thể làm hơn được phái đoàn Phạm Thận Duật. Thế nhưng trước đây và cho tới nay không phải không có ý kiến lên án Phạm Thận Duật đã ký vào điều ước Patenôtre, cho rằng như vậy là khuất phục đầu hàng kẻ thù. Nói như vậy là cố chấp, là phi lịch sử. Huống chi những năm tháng cuối đời của Phạm Thận Duật đã chẳng chứng minh cho tấm lòng yêu nước chống giặc đến cùng của ông hay sao? Nếu là khuất phục đầu hàng Pháp thì sao ông đã cương quyết đứng về phe chủ chiến trong triều đình do Tôn Thất Thuyết cầm đầu, hăng hái ủng hộ vua Hàm Nghi trẻ tuổi lên đường chiến đấu. Ngày nay tuy không có tư liệu nào ghi lại, nhưng có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng Phạm Thận Duật có vai trò quan trọng trong việc ra đời bài Chiếu Cần Vương. Với tư cách là đại thần Viện Cơ mật, Cố mệnh đại thần khi vua Kiến Phúc mất và vua Hàm Nghi lên thay, lại có mặt trong nhóm trung kiên nhất bên cạnh vua Hàm Nghi và là người có văn tài hơn cả trong số những người đó, Phạm Thận Duật nếu không phải là người trực tiếp chấp bút thì cũng là người góp ý, góp lời cho văn kiện lịch sử đó. Chính vì thái độ ông dứt khoát, vị trí ông trong phong trào minh bạch như vậy nên tướng giặc De Courcy đã cay cú cho tịch thu gia sản và bắt giam cả gia thuộc ông chờ ngày xét xử. Được cử làm Khâm sai, trên đường ra lãnh đạo toàn bộ phong trào kháng chiến ngoài Bắc, ông chẳng may bị tay sai của Pháp bắt sống giải nộp cho Pháp, nhưng trước sau ông một mực cự tuyệt không chịu khai báo điều gì, bất chấp mọi thủ đoạn mua chuộc, mọi đề nghị xảo trá của giặc, để cuối cùng bị giặc Pháp đày ra hải đảo cùng với Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Đính là thân sinh Tôn Thất Thuyết, kẻ thù không đội trời chung của thực dân Pháp. Trên đường tàu chạy ra đảo Tahiti1, đã đau buồn vì cảnh nước mất nhà tan, tuổi già sức yếu, bệnh cũ lại tái phát, ông mất ngày 29-11-1885. Theo tục lệ, xác bị ném xuống biển, và từ ngày đó sóng gió đại dương mãi mãi vang vọng tâm sự bi phẫn chống giặc giữ nước không thành, cũng như biểu dương chí khí yêu nước bất khuất của nhà văn thân họ Phạm, một trong số những nhân cách cao đẹp của nước ta vào nửa sau thế kỷ XIX. ____________________________________ 1. Đảo chính cùa vùng quần đảo Polinésie thuộc Pháp trong Thái Bình Dương. Từ 1842 đã là đất bảo hộ, đến 1880 thì trở thành thuộc địa của Pháp. Thủ đô Papeeti là nơi giam giữ tù đày các tù nhân chính trị của đế quốc Pháp. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2016, 03:35:10 pm CẢM NGHĨ VỀ MỘT HỒN THƠ BÁO QUỐC VŨ NGỌC KHÁNH1 Mấy chữ “Hồn thơ báo quốc” có thể gây đôi chút ngỡ ngàng cho người nghe. Chí nguyện hay tinh thần báo quốc thì còn dễ hiểu, chứ gọi một hồn thơ mà định tính cho nó bằng hai chữ “báo quốc” thì hình như có điều gì không ổn. Song chúng ta hãy cứ bình tĩnh cân nhắc trên thực tế để xem đúng hay sai. Thực tế, đây lại là thực tế về một nhà thơ, nhà thơ Tôn Thất Thuyết! Lại thêm một sự ngỡ ngàng nữa. Gọi Tôn Thất Thuyết là một nhà thơ, chắc khó được đồng tình. Lâu nay, ta vẫn xem ông là một vị tướng, là con người chủ chiến trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc chống cuộc xâm lược của người Pháp. Vấn đề đã khá rõ ràng trong lịch sử. Những tìm hiểu lầm về ông đã dần dần được chỉnh đốn lại, để chúng ta kính trọng và quý mến ông hơn. Nhưng bảo ông là một nhà thơ, chắc rằng người nào rộng rãi nhất cũng phải có phần dè dặt. Có lẽ một phần vì người ta đã quen với nhận định của vua Tự Đức, cho Tôn Thất Thuyết ít học, chỉ giỏi về quân sự mà thôi. Đúng là Tôn Thất Thuyết không đỗ đạt gì. Chúng ta cũng không biết thuở thiếu thời ông học tập ra sao. Thân sinh ông là một vị Đề đốc, các con của ông cũng đều là võ tướng, nghĩa là gia đình của ông không thiên về văn chương. Trong cuộc đời của ông, trải nhiều năm trong quân ngũ hoặc trong vị trí cầm quyền chính sự, ông cũng không có dịp nào gắn bó với sinh hoạt văn chương cả. Ông có những người bạn thân nào? Không rõ, nhưng chắc chắn là không có bạn thân nào là nhà văn, nhà thơ. Nhưng con người có tâm hồn thơ, không nhất thiết phải là con người tài cao học rộng, càng không phải là những người đỗ đạt hay có học vị. Thiếu gì những ông nghè, ông trạng mà thơ văn chẳng có gì hay. Trở thành một thi sĩ, cũng không nhất thiết phải làm được nhiều thơ. Có người chỉ cần vài bài, thậm chí vài câu, cũng có thể có chỗ ngồi xứng đáng trên chốn thi đàn. Với Tôn Thất Thuyết, chúng tôi cho rằng cần phải tiếp cận hẳn với thơ ông, thì mới thấy rằng để những tác phẩm của ông ra ngoài các tuyển tập thơ là điều không thoả đáng. * Ý nghĩ cho rằng Tôn Thất Thuyết không quen với văn chương, hình như không đúng lắm. Đúng là ông viết không nhiều, ông không để lại một thi tập nào cả (hay ta chưa sưu tầm được thì cũng thế). Nhưng có điều rõ ràng là ông cũng hay làm thơ, nhất là những khi cần phải diễn đạt lòng mình bằng hồn thơ và nhịp điệu. Hình như ở một số vị lãnh tụ khởi nghĩa hồi cuối thế kỷ 19 ở nước ta, thường có tình hình này. Chẳng hạn như trường hợp Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân đều là tiến sĩ, đều thích làm thơ, nhưng hình như những bài thơ của các vị ấy mà ta sưu tầm được không nhiều bằng của Tôn Thất Thuyết. Thơ của tất cả các vị đều có chung một lòng yêu nước, nhưng ở Tôn Thất Thuyết thì bộc lộ rõ ràng hơn chữ nghĩa đàng hoàng và thẳng thắn hơn. Khá nhiều anh hùng thời đại, có tiết tháo, có hành trạng trong sự nghiệp cứu nước lúc bấy giờ đều được Tôn Thất Thuyết dành cho lời ca ngợi: Hoàng Diệu, Nguyễn Cao, Trần Bích San (những người mất); Nguyễn Quang Bích, Cầm Bá Thước (những người còn). Đây cũng là điều ít gặp ở các cụ Phan, cụ Tống vừa kể trên, và còn ở nhiều nhà khoa bảng khác nữa. Rồi khi ta đọc ngay vào tác phẩm, ta luôn luôn thấy Tôn Thất Thuyết nhắc đến hai chữ “báo quốc”. Gửi cho Cầm Bá Thước ông khẳng định: “Nhất ngu báo quốc khách do hành”. Nói với Nguyễn Quang Bích, ông bảo: “Báo quốc đan tâm hà nhạc tại”. Viếng Nguyễn Cao ông viết: “Thâm kỳ báo quốc thụ kỳ huân”. Chỉ làm có mấy bài thơ, mà không bài thơ nào ông quên chữ “báo quốc” cả. Kể cả khi ông làm thơ chừa thuốc phiện, chữ “quốc” thiêng liêng này vẫn theo sát bên ông: “Chỉ nhật quốc thù kỳ khả phục”. Tôi dám chắc đó là điều chỉ thấy ở Tôn Thất Thuyết, chớ không thường trực ở các nhà thơ quốc sự khác, mặc dầu ai cũng cùng chung một tấm lòng vì dân vì nước như ông. Và quả thực, chữ “quốc” thiêng liêng này, với ông là vô cùng gắn bó. Không chỉ bằng tiếng “báo quốc” thốt ra thành lời, mà tất cả các bài thơ của ông, không bài nào là không nhắc đến tên quê hương đất nước, ở bài này, nhắc đến Nam Giao, Tây Châu, thì bài kia lại có Đức Giang (sông Thiên Đức), Thao Đà (Thao Giang, Đà Giang). Rổi bài kia nữa, những Cách Bi (miền xuôi), Mục Mã (miền núi) lại hiện ra trên những câu thơ đầy tráng khí. Không tha thiết với quê hương thì không bao giờ lại có ý thức thường trực như vậy cả. Một nhận xét khác có thể nêu lên là đọc thơ ông, ta thấy Tôn Thất Thuyết có một tâm hồn rộng mở. Luôn luôn trở đi trở lại hình ảnh của trời cao biển rộng, của non nước, gió mây. Nơi đây là “thanh sơn lục thuỷ”, nơi kia là “bắc địa nam phong”, rồi những “đại hải trường giang”, những “sơn biên phong vũ”. Đừng tưởng đây là những chữ sáo mà các nhà nho quen dùng. Vì hầu hết những từ ấy đều được Tôn Thất Thuyết đặt vào những ngữ cảnh thích hợp, chứng minh cho cách nhìn, cách nghĩ của ông. Tâm hồn của ông bao giờ cũng muốn hướng tới những không gian bát ngát, cái nhìn của ông là nhìn ra tận cõi bao la, tất nhiên là ở đất nước Việt Nam thôi. Hãy đọc những câu gửi cho Cầm Bá Thước: Thanh sơn lục thuỷ tương nghinh xứ, Đại hải trường giang vọng viễn tình. (Non xanh nước biếc nơi hò hẹn, Bể rộng sông dài nỗi ước mong.) Và bài thơ khi sang Trung Quốc với hai câu đầu: Thao giang nhất trạo nhập vân biên, Viêm cảnh tòng lai bất viễn thiên. (Sông Thao chèo thẳng chân mây Viêm bang đất vẫn kề ngay bên trời.) Thì phải nói là ý thơ rất hùng mà tứ đi rất xa. Dù biết là không hợp lắm, nhưng khi đọc câu này tôi cứ nhớ đến một tứ thơ của Lý Bạch khi làm thơ chia tay với Mạnh Hạo Nhiên: “Cánh buồm mờ tít tầng không” của Lý2 có lẽ cũng có thể so sánh được với mái chèo của Tôn Thất Thuyết lẫn vào đám mây biên giới ngoài biển khơi nối với chân trời. Ai bảo cái nhìn như thế không phải là cái nhìn của một nhà thơ phóng tầm mắt rộng? ______________________________ 1. Viện Văn học dân gian. 2. Thơ Lý Bạch: "Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu" (Cánh buồm mờ tít tầng không Trường Giang nước chảy mênh mông chân trời). Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Hai, 2016, 03:38:13 pm Và quả thực là Tôn Thất Thuyết có nhiều tứ lạ. Ông ít làm thơ, nhưng hễ làm là có những ý tân kỳ, mà chỉ tân kỳ trong niềm ưu ái với quốc gia. Ông ngắm nhìn chim én bay trong mưa, nghĩ ngay cho con chim ấy mang một tấm lòng son vương vấn (Trà mâu nhất phiến đan tâm tại). Nhìn con ngựa thồ, ông lại nghĩ đến con long mã mang trên mình bức hoạ đồ tiêu biểu cho của quý muôn đời của quốc gia1. Tất nhiên ông cũng chỉ muốn nói về ông thôi, nói về bản thân mình, cũng như con ngựa đang mang trách nhiệm nặng nề là đi cầu viện. Nhưng sao lại có thể liên hệ đến con long mã và bức hoạ đồ? Tầm khái quát của ông về văn hoá nước nhà đã sâu sắc đến mức ấy sao? Tôn Thất Thuyết còn làm một số câu đối. Và cũng phải nói rằng đó là những câu đối rất đậm chất thơ, và cũng chỉ một nội dung trước sau đậm nét trong ông: tinh thần báo quốc. Câu đối về cái chết của Hoàng Diệu: Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện; Bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khả vô tâm. Ý tứ của tác giả câu đối thật là mạnh mẽ, khảng khái, nhìn thẳng vào cái chết, nhìn thẳng vào tình hình và làm sáng lên được cái bản chất của con người anh hùng hy sinh vì nước. Chất thơ trong câu đối nằm ngay trong cái nghĩa khí của Hoàng Diệu: cái xưa, cái nay, cuộc đời bình sinh, cái chết vì bổn phận..., tất cả đều được hoà quyện tôn vinh gợi ra một dáng vẻ đường hoàng lẫm liệt. Ta không quên cái chết của Hoàng Diệu đã thành một biểu tượng cho đề tài “chính khí” được cả nước hoan nghênh, với nhiều bài chính khí ca hùng tráng. Câu đối của Tôn Thất Thuyết có lẽ làm nổi bật được chính khí này hơn cả. Còn có câu đối viết về Trần Bích San nữa! Phải nói có ít câu đối sắc sảo, ý tứ mạnh mẽ, cao cả, khái quát mà lại đậm đà chất thơ như câu đối này: Con người Trần Bích San hiện ra với bản chất trung thần, hiếu tử thật là toàn vẹn. Cả người khuất, người còn đều cùng tồn tại trong không gian đất trời, mây nước, ánh sáng và bóng tối, lặng lẽ và rộn ràng: Lân quân độc thủ cô hành, quốc trung thần, gia hiếu tử Sử ngã kinh qua thử địa, giang bán dạ, nguyệt trung thu. (Thương ông riêng tấm lòng thành, con hiếu của nhà, tôi trung của nước Khiến tôi qua đất cũ, dòng sông đêm vắng, vầng nguyệt giữa thu)2. (Bản dịch của Hoàng Tạo) Thơ văn Tôn Thất Thuyết chưa sưu tầm được nhiều. Tôi tin rằng có thể ông còn viết trong nhiều trường hợp khác, vì rõ ràng ông là người giàu tình cảm. Trước những hiện tượng gây xúc động, ông đã có cách nhìn, cách nghĩ riêng, và biết chọn những hình ảnh đậm đà chất thơ để thể hiện ý nghĩ đó. Không nên làm việc so sánh, nhưng đặt những bài thơ của ông trong kho tàng văn chương yêu nước cuối thế kỷ 19, ta cũng dễ nhận ra chất thơ trong ông hơn là trong nhiều nhà khoa bảng. Cái chung của cả tầng lớp, cả thế hệ này là tình yêu nước, là sự căm thù địch, là ý thức xả thân vì nghĩa. Nhưng ở Tôn Thất Thuyết, sự thể hiện trong thơ vẫn thường trực hơn, quyết liệt hơn. Ông không bao giờ coi nhẹ bổn phận phải lãnh đạo công việc cứu nước. Điều ấy thấy rõ trong cuộc đời chiến đấu của ông, và trong cả những ngày tàn, khi ông trở thành một ông già chém đá. Đời ông là như thế, thơ ông cũng như thế, nên nói hồn thơ Tôn Thất Thuyết là một “Hồn thơ báo quốc”, chỉ là một nhận xét công bằng. ________________________________ 1. Thơ Tồn Thất Thuyết: Nghĩ về con ngựa thồ “Hoàn thị Hy đồ vạn cổ di”. (Vẫn là bức Hà đồ của vua Phục Hy từ xưa để lại). Theo truyền thuyết, một ngày trên sông Hoàng Hà, có con Long mã hiện ra, trên lưng cõng một bức hoạ đồ. Vua Phục Hy theo hình vẽ đó mà đặt ra bát quái và chữ viết, là những sản phẩm văn hoá đầu tiên của Trung Quốc. Do đó mà có tên gọi Hà đồ. Tôn Thất Thuyết thấy con ngựa thồ mà nghĩ ra con Long mã, đồ đạc chất lên lưng ngựa, ông xem đó là Hà đồ. Sức tưởng tượng quả là độc đáo. 2. Đôi câu đối này, tôi chép theo sách Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ 19 (Văn học, H., 1970), có đối chiếu với sách Trần Bích San (Nguyễn Văn Huyền soạn, Hội Văn học nghệ thuật Nam Hà, 1994). Nhưng tôi lại được nghe nhiều người đọc, văn bản có một số chữ khác: … cô thần, khảng khái, quốc trung thần, gia hiếu tử, … thử địa, bồi hồi, giang bán độ, nguyệt tam canh. Có thể không đúng với nguyên văn, nhưng rõ ràng quần chúng khi lưu truyền câu đối đã muốn nhấn mạnh thêm phần tình cảm đậm đà, chất thơ vốn có trong Tôn Thất Thuyết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2016, 06:59:11 pm HÌNH ẢNH TỐN THẤT THUYẾT DƯỚI MẮT MỘT TÁC GIẢ DÂN GIAN QUA BÀI VÈ “THẤT THỦ KINH ĐÔ” ĐINH XUÂN LÂM - TRIÊU DƯƠNG1 Một nhân vật lịch sử mà bài vè Thất thủ kinh đô đã dựng lại hình ảnh khá trung thực là Tôn Thất Thuyết, ở đây tác giả bài vè đã dành cho Thuyết khá nhiều cảm tình đặc biệt. Không riêng Thuyết, toàn gia của ông được tác giả bài vè mô tả lại là một nhà trung nghĩa, từ hai đấng thân sinh Tôn Thất Thuyết đến cả vợ con ông. Cậu hai (con Thuyết) nghe nói đến nạn nước là “nồng gan”: Nguyện xin chiêu mộ một ngàn dân điêu2 Thân phụ Tôn Thất Thuyết (mà trong bài vè gọi là Quan Cụ) ngay từ đầu đã tỏ ra người mưu trí, giúp con những ý kiến hay trong việc đối phó với cánh Hiệp Hoà. Là một người yêu nước, khi nghe con nói về việc đánh Mang Cá, ông cụ sa nước mắt: Cha nay yếu ớt tuổi già, Không thì cha đi một đạo vậy mà với quân. Trận này mà chẳng giao tranh Một mai thái bình cự chiến làm chi? Bị giặc bắt, ông cụ tỏ một thái độ khảng khái không chịu khuất, ngang nhiên nhận mình là “quan cựu trào”: Lòng trung phò chúa qua Lào, Tôi dây sinh tử lòng nào quản chi. Bà mẹ Tôn Thất Thuyết (trong bài vè gọi là Lão bà) cũng gần được như chồng. Theo con nằm rừng lội suối, lúc sắp chết bà cụ vẫn còn chỉ trích bọn Trương Văn Để, Đinh Tử Lượng “phản lòng lúc nguy”3, thoá mạ chúng: Gian tà trời để làm chi, Cái quân phản tặc lúc ni khác loài. Ăn cơm ai, mặc áo ai, Trở lòng phản chúa, ra loài khi quân. Tới khi “gần đất xa trời” bà cụ vẫn còn nuôi hy vọng: Thành đô khôi phục còn chờ ngày sau. Đến vợ Tôn Thất Thuyết (trong bài vè gọi là bà Tướng) thì lúc “phát bệnh thũng, chân tay nặng nề”, phải nằm “li bì” một nơi cũng vẫn còn băn khoăn: Quân gia binh mã đã đến Lào hay chưa? Trận này ai chết, ai lưa?4 Cho đến khi chết, bà vẫn mang một niềm căm giận không nguôi đối với giặc. __________________________________ 1. Đinh Xuân Lâm - Đại học KHXH và NV, Triêu Dương - Giảng viên trường CĐSP Hà Nội (đã mất). 2. Dân nghèo khổ phải lưu tán đi các nơi xa quê hương để tìm cách sinh sống. 3. Trương Văn Để giữ chức Tham tri, Đinh Tử Lượng làm Thự Tả quân Đô thống theo phò Hàm Nghi, khi Tam cung về Huế thì cũng về theo. 4. Lưa: còn. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Hai, 2016, 07:08:07 pm Hình ảnh Tôn Thất Thuyết (trong bài vè gọi là Quan Tướng) dĩ nhiên càng nổi bật hơn. Tác giả bài vè không ngần ngại liệt Thuyết vào bậc “trung thần” ngay từ đầu. Hình ảnh Thuyết khi biết tin thất bại trong trận đánh vào Mang Cá qua bài vè có giống với hình ảnh một trung thần đau lòng trước cảnh “quốc phá quân vong” thường thấy trong truyện cổ:
Quan Tướng nước mắt ròng ròng, “Tưởng là hiệp chiến giao công, Khôi phục Trấn Bình1 nhà nước thung dung. Tôi xin thọ tội cửu trùng... ... Tôn miếu xã tắc tan hoang Tội tôi đã đáng tan xương bêu đầu...” Trái với vè xuyên tạc “Nước Nam có bốn anh hùng, Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu” của bọn đầu hàng, bài vè Thất thủ kinh đô đã liệt Thuyết vào bốn vị anh hùng thực sự bấy giờ: Đề Ngô2 khí khái anh hùng, Đã từng cự chiến giao công Bắc kỳ. Đề Soạn3 vũ nghệ xảo tri, Đã từng cự chiến Bắc kỳ mà vô. Quan Tiểu4 ở tại kinh đô, Tài hay nhâm độn hà đồ rất thông. Quan Tướng cũng đấng anh hùng, Hải đồ gian phỉ giết cùng chẳng tha5 Đặc biệt Tôn Thất Thuyết rất được đề cao, tới mức như anh hùng trong thần thoại: Nước ta Quan tướng anh hùng, Bách quan văn vũ cũng không ai tày. Người có ngọc vẹt6 cầm tay, Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao. Tài hay văn vũ lược thao, Khí khái nhâm độn ra vào rất thông. Bốn bề cự chiến giao công, Tây phiên nói thực anh hùng nước Nam. __________________________________ 1. Trấn Bình đài tức Mang Cá ở góc đông bắc thành Huế. 2. Đề đốc Ngô Tất Ninh sau bị giặc bắt. 3. Đề đốc Trần Xuân Soạn sau theo Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc cầu viện. 4. Tiểu phủ sứ Ông Ích Khiêm. 5. Nên nhớ trong bài vè không có một dòng nói đến cái gọi là bệnh “ham giết người” của Tôn Thất Thuyết, mà trái lại ở đây tác giả còn khen Tôn Thất Thuyết đã cương quyết tiêu diệt bọn “hải đồ, gian phỉ”. 6. Ngọc của con vẹt sống lâu năm cũng như ngọc cá, ngọc rết... mà nhân dân hay nói đến trong truyền thuyết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2016, 11:13:32 pm Điều đáng trọng nhất ở Tôn Thất Thuyết là tinh thần cương quyết chủ chiến. Ông khảng khái nhận lấy trách nhiệm nặng nề trong khi bàn bạc về việc nước với Nguyễn Văn Tường: Tây phiên đáo đến Nam đình, Nội triều lớn nhỏ hai mình sở đương. Triều trung mắc phải tai ương, Cũng hai ta xử trí, dễ nhường cho ai! Ông không chịu để Pháp chiếm đóng Mang Cá: Ở đời mình dại nó khôn, Nó qua hãm đồn như cá trong âu. Ở đời chịu chữ thụ đầu, Vô trong lầu sứ khổ lâu nhiều ngày. Ông chuẩn bị đánh Pháp một đòn quyết định để bảo toàn “tôn miếu xã tắc ông cha lưu truyền”: Quân nha binh mã dự phòng, Tây phiên dẹp giặc ở trong chương toà. Vì: Kinh thành tổ nghiệp mình đây, Nay mình thúc thủ phen này sao yên. Trước áp lực của giặc, ông không run sợ mảy may: Quan Tướng nghe nói một khi, Giận thay Phiên tặc gan thì xung gan. Quan nha binh mã sẵn sàng, Quyết đi giáp chiến kẻo Tây phiên hại mình. Mặc dầu phái chủ hoà chiếm đa số: Triều đình văn vũ chư nha, Họ ưng bụng hoà với nó mà thôi. Ông cương quyết nói với cha: Họ hoà mặc họ, con nay không hoà. Con người cương quyết chống Pháp ấy có nhiều nét đáng trọng khác. Là người trọng nghĩa khinh tài, khi Nguyễn Văn Tường nói đến chuyên “dân đạo” đút lót, hòng đem tiền bạc ra nhử ông để ông nới tay trấn áp: Nó sợ mình nó đã có lòng, Vàng kia trăm lượng lo trong với mình. thì ông thẳng thắn gạt đi: Làm tôi thì hưởng lộc trời, Mình mà thuận thính vậy thời nó khinh. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Ba, 2016, 11:23:20 pm Tài đức của Tôn Thất Thuyết còn thể hiện ngay cả trong việc dùng binh. Ông không muốn bỏ sót một lực lượng kháng chiến nào. Ông mạnh dạn sử dụng, động viên cả những người bị tù tội tham gia công cuộc chống Pháp; những lời ông nói với họ không thiếu phần thấm thía: Quan Tướng khi ấy dạy rằng: “Thương kẻ hào hiệp mà sa phận tù. Thương người lý sự văn nho, Sa cơ nên nỗi cầm tù một khi. Thương người hào hiệp ăn chơi, Sa cơ nên phải chịu thời tài hoa. Nên chi chịu tội nước nhà, Tội thì đáng chết, khó tha muôn phần. Nay tôi trộm lĩnh thiên ân, Cho ra khỏi ngục chịu phần thân chinh". Cho nên ta không lấy làm lạ khi thấy chủ trương kháng chiến của cánh ông rất được quần chúng hưởng ứng. Phe chủ chiến của Tôn Thất Thuyết tuy bị thiểu số trong triều, song không cô độc như nhiều người tưởng. Binh sĩ ủng hộ ông nhiệt liệt: Quân gia lớn nhỏ triều đình, Xin đi tiền đạo tới thành giao chinh. Rồi người giàu có thì “tiền quyên gạo góp”, đám dân nghèo khổ lưu tán cũng thấy “báo cừu phải đi”, bao nhiêu kẻ tù tội được động viên đều nhất tề “xin đi tiền đạo tới thành giao chinh”. Có “phân vân” chăng chỉ là “bách quan văn vũ đình thần”! Cương quyết, không thoả hiệp với địch, nhưng Tôn Thất Thuyết lại rất giàu tình cảm đối với những người thân. Thuyết rất có hiếu với cha mẹ1 nhưng đồng thời cũng không vì hiếu mà quên nhiệm vụ. Ông thương thân phụ: Cha già đầu bạc như tơ, Má nhăn răng rụng chưa nhờ đặng chi. Nhưng gặp lúc nước đương lắm việc, ông sẵn sàng ra đi làm nhiệm vụ: Đành lòng phụ tử một khi, Lẹ làng binh mã hồi quy bộ đường. Trên đường bôn ba, thân mẫu bị ốm, Tôn Thất Thuyết “bối rối lắm thay” vì: ' Phần thì mẹ yếu, phần lo Tây hậu đoàn. Hai bên tấn thối2 lưỡng nan, Đặng trung mất hiếu khôn toan nửa chừng. Nhưng cuối cùng sau “mấy lời dặn lại Đội Sừng” (là cháu) săn sóc cho mẹ, ông vẫn dứt áo lên đường: Tôi xin cùng Thánh chúa băng ngàn qua Xiêm. Tôn Thất Thuyết lại còn là con người rất thể tất nhân tình. Trên đường rời bỏ kinh thành, ông rất thông cảm với những người đi theo chưa quen gian khổ, đặc biệt là nữ giới: Tâu qua Thánh thượng một khi, Tam cung thị nữ vậy thì cho lui. Kẻo đường lên núi xuống đèo, Khúc quanh, khúc vạy tới lui khó dò. ... Mình đi không kể đêm ngày, Sợ hổ lang đón nẻo, thương thay phận đàn bà. Ông cũng đã nói thẳng với quân sĩ: Ra đi không kể đêm ngày, Lên ghềnh, xuống hố khổ thay những là. Chú nào lưa mẹ còn cha, Thương con nhớ vợ vậy mà cho lui. Ra đi không khóc sụt sùi, Lên ghềnh xuống hố tới lui khó lòng. Không đi thì nói cho xong, Đi thì bạc lượng tiền đồng ngài ban. Phen này bỏ họ, bỏ làng, Bỏ con, bỏ vợ băng ngàn phò vua... Những nhận xét trên đây, nhất là ở phần vừa nói đến của bài vè, có một giá trị đặc biệt. Nó cải chính một cách hùng hồn bao nhiêu lời xuyên tạc từ trước đến nay của bọn thực dân và bọn phong kiến đầu hàng vu cáoThuyết là kẻ ngu độn, khát máu, không biết gì hơn là giết người không gớm tay. Những nhận xét ấy dĩ nhiên không phải ngẫu nhiên, nó xuất phát từ quan điểm chống xâm lược của nhân dân trong bài vè mà chúng tôi mong sẽ có dịp nhắc đến kỹ càng hơn. ____________________________________ 1. Những giai thoại về chuyện Tôn Thất Thuyết có hĩếu rât nhiều. Chúng tôi sẽ trình bày trong một dịp khác. 2. Tiến thoái, tới lui. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2016, 06:12:49 pm MỘT SỐ TÀI LIỆU VÀ NHẬN ĐỊNH VỀ TÔN THẤT THUYẾT TRIÊU DƯƠNG1 Sinh thời Tôn Thất Thuyết, dư luận về ông rất phức tạp. Nhiều kẻ chê, chê hết sức; nhiều người khen, khen cũng không tiếc lời; có người khen ông điểm này, song lại chê ông điểm khác. Nghĩ rằng vai trò của Tôn Thất Thuyết là quan trọng trong giai đoạn lịch sử hồi thực dân Pháp mới sang xâm chiếm nước ta, hành động thái độ của ông tiêu biểu cho khuynh hướng tích cực của một tầng lớp trong thời kỳ ấy, phán đoán đúng về ông cũng giúp gỡ mối cho nhiều mắc mớ khác, nên chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số tài liệu và nhận định về Tôn Thất Thuyết, góp phần vào việc trả lại cho ông những cái xứng đáng của ông. Về Tôn Thất Thuyết hồi mười năm trước đây chúng tôi có gom góp được một số tài liệu định rồi viết thành sách, nhưng không may thất lạc mất cả. Chúng tôi cố gắng ghi lấy một số điểm còn lại trong trí nhớ kém cỏi, kết hợp với một số sách báo gần đây, được chừng nào xin hãy cứ trình bày chừng ấy. 1. Sơ lược về thân thế Tôn Thất Thuyết là một hoàng thân triều Nguyễn nhưng thuộc vào một chi xa dòng chính của nhà vua2. Gia đình ông cũng không phải là một gia đình bề thế ở kinh đô: ông thân sinh là Tôn Thất Đính chỉ giữ một chức vụ tầm thường; các em Tôn Thất Thuyết người làm tri huyện, người làm quan hộ vệ nhỏ, người chỉ đỗ tú tài ngay cả lúc ông đã là cực phẩm triều đình. Tôn Thất Thuyết sở dĩ bước nhanh trên hoạn lộ, chủ yếu là vì khả năng của mình. Theo lời truyền lại, Tôn Thất Thuyết người vạm vỡ khoẻ mạnh, giỏi võ nghệ, thích cắt tóc ngắn cho gọn, không ưa trang sức bề ngoài. Bằng vào câu vè chửi Tôn Thất Thuyết là "ngu" (xem phần dưới) và vào chức tước của Thuyết sau này (đương thời xưng Tôn Thất Thuyết là “Quan Tướng” khác với Nguyễn Văn Tường là Quan Quận) người ta thường cho ông là võ biền vô học. Sự thực, ông xuất thân là quan văn, năm 1869 còn làm án sát Hải Dương, năm 1870 mới chuyển qua tham gia việc binh làm chức Tán tương (cũng chỉ là chức của quan văn giúp thêm về quân sự) dưới quyền Hoàng Kế Viêm bấy giờ phụ trách quân thứ bốn tỉnh Lạng- Bình-Ninh-Thái3. Ông nổi tiếng trong những trận đàn áp nhiều vụ biến động ở miền Bắc, đặc biệt là lần bắn chết Hoàng Sùng Anh phá tan giặc Cờ Vàng ở Sơn Tây năm 1875, phá tan "giặc lá tre" của thủ lĩnh Trận ở Cổ Loa năm 1876, đánh Lý Dương Tài (Bắc Ninh) năm 1878, do đó được thăng chức rất nhanh: Hộ đốc Ninh-Thái, rồi Hiệp đốc Lạng-Bình-Ninh-Thái gần ngang với Hoàng Tá Viêm. Năm 1879, bất đồng ý với triều đình về một việc nào đó mà đến nay chưa biết, ông cáo bệnh xin về nghỉ ở Thanh Hoá. Chính vì vậy mà năm 1881 giả hạn về Kinh xin chiêm cận (gặp mặt vua), Tự Đức làm mặt giận không cho vào hầu, ông phải dâng biểu tạ tội. Sau đó ông lĩnh chức trong Ngũ quân đô thống phủ. Tháng 6-1883, ông được sung vào Cơ mật viện và khi Tự Đức mất, ông làm Đệ tam Phụ chính đại thần, sau Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường, bắt đầu giữ cương vị hết sức trọng yếu trong triều: ông làm Binh bộ Thượng thư, được toàn quyền hành động về quân sự. Nắm binh quyền trong tay, ông là lãnh tụ cương cường nhất của phe kháng chiến trong triều. Ồng phế truất, đàn áp, tiêu diệt những phần tử thân Pháp, đầu hàng... từ vua chí quan, lo tập hợp củng cố lực lượng để chống giặc, giằng co với địch từng bước một để bảo vệ chủ quyền về mặt nội trị và quân sự. Ông là kẻ tử thù của thực dân Pháp lúc bấy giờ và đã làm cho chúng thấy rõ rằng: còn ông không phải chúng muốn gì cũng được. Cuối cùng, việc thế tất phải nổ ra đã nổ ra: đêm 4-7-1885, Tôn Thất Thuyết lãnh đạo cuộc vũ trang chống Pháp, đánh một đòn quyết liệt vào sào huyệt của giặc ở Mang Cá. Thất bại, ông đưa vua Hàm Nghi bỏ kinh thành chạy ra Quảng Trị và xuống chiếu phát động Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân đân toàn quốc nổi dậy đánh Pháp. Sau khi đưa vua Hàm Nhi lên Tân Sở, vượt biên giới Lào - Việt đi đường núi ra Hà Tĩnh, vào tháng 2-1886 ông để vua và con mình ở lại, rồi cùng Trần Xuân Soạn và một số tuỳ tùng qua Trung Quốc cầu viện nhà Mãn Thanh. Trên đường xuất ngoại, qua Thanh-Nghệ-Tĩnh, Tôn Thất Thuyết đã liên lạc với những người cầm đầu phong trào Cần Vương ở địa phương như Phan Đình Phùng, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao, các tướng lĩnh chiến khu Ba Đình. Cũng trong hồi này, ông tìm cách xen vào mâu thuẫn Pháp - Xiêm trong vấn đề Lào để bẫy cho chúng mở rộng xung đột hòng làm lợi cho phong trào cứu nước của ta, song không thành. Giặc Pháp và bè lũ tay sai hết sức tìm cách dụ dỗ, mua chuộc ông không được, lại lùng đuổi rất ráo riết, treo thưởng hàng nghìn lạng bạc cho ai bắt được ông. Ông vẫn tiếp tục hành trình của mình, ra Hưng Hoá, theo đường sông Đà tới Lai Châu, tiếp xúc với hầu hết những người cầm đầu quan trọng của phong trào trong vùng mình đi qua, đóng góp nhiều với họ về kế hoạch và đường lối đánh giặc. Năm 1887, ông vượt biên giới Việt - Trung đến Vân Nam, rồi Quảng Tây. Ở đây ông đã liên lạc với Lưu Vĩnh Phúc. Bấy giờ (1888), liên tiếp nghe tin vua bị bắt, con chết, ông vẫn không nản lòng, tìm hết cách cầu viện Mãn Thanh, lo vận chuyển súng ống về nước và luôn luôn giữ vai trò động viên anh em đồng chí. Năm 1889, ông còn gửi thư cho Phan Đình Phùng bàn việc nước và trực tiếp thảo luận kế hoạch với Tống Duy Tân ở Thanh Hoá qua Ttrung Quốc gặp ông xin ý kiến. Nhưng rồi bọn quan lại nhà Thanh trước sự phản kháng của lãnh sự Pháp, bắt đầu lạnh nhạt ra mặt với ông và làm chuyện khó dễ. Ông bị an trí ở Thiều Châu và Long Châu, về sau, từ 1891 triều đình Mãn Thanh trợ cấp cho ông mỗi tháng 60 lạng bạc (món tiền này đến sau Cách mạng Tân Hợi vẫn còn duy trì), nhưng không cho ông ra khỏi địa giới của tỉnh. Dĩ nhiên ông không thể sống một cuộc đời bó buộc như vậy. Mối ưu uất của ông về việc nước do đó mỗi ngày một tăng. Tháng 3-1913 ông lâm bệnh nặng và ngày 21-6 năm ấy ông từ trần. Gia đình Tôn Thất Thuyết cũng đóng góp nhiều cho kháng chiến. Ông thân Thuyết bị Pháp đày đi Côn Đảo. Ba anh em trai ông (Lệ, Hàm, Phong) đều tham gia phong trào Cần Vương. Chính Tú tài Tôn Thất Phong là người cầm đầu cuộc đánh thành Thanh Hoá đêm 14 và sáng 15-3-1836. Hai con trai ông (Đàm và Thiệp) đều hy sinh anh dũng cho công cuộc cứu nước. ________________________________ 1. Giảng viên Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (Đã mất) 2. Vua Minh Mạng có làm 11 bài thơ tứ tuyệt, một bài về Đế hệ cho con cháu và 10 bài về Phiên hệcho anh em mình (con Gia Long), lần lượt mỗi đời lấy một chữ trong bài đặt làm họ riêng để định thứ bậc thân sơ. Về Đế hệ theo thứ tự Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo. Thí dụ Miên Tông (Thiệu Trị) rồi đến Hồng Nhậm (Tự Đức), Ưng Xuy (Đồng Khánh), Bửu Bảo (Khải Định), Vĩnh Thụy, Bảo Long… Ngoài ra, những chi xa từ trước Gia Long đều gọi là Tôn Thất. 3. Lạng Sơn - Cao Bằng - Bắc Ninh - Thái Nguyên. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Ba, 2016, 06:24:17 pm 2. Điểm lại một số ý kiến khen chê Tôn Thất Thuyết1. Những lời chê Tôn Thất Thuyết không ít. Một bài vè hồi 1885 liệt ông vào số những nhân vật phản diện đương thời: Nước Nam có bốn "anh hùng" Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu. Lại thêm hai đứa vũ phu, Đề Đức, Đề Soạn cong khu chịu đòn2. Một bài thơ khác đả kích ông là một trong "mấy đứa gian hùng loạn mối giường", lời lẽ còn thậm tệ hơn: An Nam quốc vận ngẫu tai ương Kỷ cá gian hùng cấu loạn trường Diện nhục hoành sinh Tôn Thất Thuyết Nhãn tinh đa bạch Nguyễn Văn Tường Chẩm quân thủ tước tân danh Nghĩa Sát tướng cầu quan bản tính Trương Khứ quốc khả tân minh triết giả Hà thời chiêu tuyết định cương thường. Dịch: An Nam vận nước gặp tai ương Mấy đứa gian hung loạn mối giường Khuôn mặt đầy phè Tôn Thất Thuyết Con ngươi trắng rã Nguyễn Văn Tường Hại vua lấy tước nay tên Nghĩa Giết tướng cầu quan vốn họ Trương Bỏ nước thương thay người triết giả3 Bao giờ định lại được cương thường4. Một tác giả khắc hoạ lại bài trên đây, vừa than thở vừa chơi chữ (Còn truyền có hai câu)5: Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết6 Lục nguyệt tam vương triệu bất tường7. Dịch: Một sông hai nước khôn đường nói Sấu tháng ba vua triệu chẳng lành. Xét cho cùng, qua những lời chỉ trích nặng nề trên đây, Tôn Thất Thuyết dù có "tội" cũng là nhẹ nhất. Những hành vi mà bọn đối lập bất bình nhất như "hại vua lấy nước”, "giết tướng cầu quan", "sáu tháng ba vua"... họ đều không ghép cho ông. So sánh với hình ảnh ông với hình ảnh Tường "con ngươi trắng rã" trong thơ họ, cũng đủ thấy họ căm ghét ai hơn. Cái "ngu" mà họ chửi Thuyết cũng chỉ là về nhận thức, về hành động, không phải về tâm địa như "gian" hay "láo". ____________________________________ 1. Những ý kiến khen, chê Tôn Thất Thuyết, nhất là về những lời chỉ trích, chính Phan Khôi cũng có lần mạt sát Tôn THất Thuyết rất thậm tệ. Ở đây, chúng tôi chỉ mới có thể đề cập đến những ý kiến mà chúng tôi có tài liệu kê cứu. 2. Sáu người kể đây là Nguyễn Văn Tường, Hoàng Tá Viêm, Ông Ích Khiêm, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Đức, Trần Xuân Soạn. 3. Nghĩa tức là Ông Ích Khiêm, giết vua Hiệp Hoà; Trương là Trương Quang Để, người giết Trần Tiễn Thành; “Người triết giả” là Tuy Lý Vương Miên Trinh, chú của Tự Đức. 4. Có sách chỉ chép 6 câu: 4 câu cuối bài này và 2 câu bài sau cho làm một bài. Nhưng như vậy bài thơ hoá ra thất niêm và ý thơ không thống nhất; bài này lời nào cũng kêu đích danh ra chửi, hai câu dưới lại chửi theo lối chơi chữ và lời cũng nhẹ nhàng hơn. 5. Có người cho là của Ông Ích Khiêm nhưng không phải vì chính Khiêm cũng nhúng tay vào vụ “sáu tháng ba vua”. Theo Delvaux, đây là của một viên Tá lý bộ Binh làm dán ở cửa nhà Tường, sau đó viên này từ chức. 6. Có sách chép là "thùy vô thuyết" (ai không nói); hai chữ tường, thuyết còn là tên người. 7. Tình thế lúc bấy giờ: hai bên sông Hương, một bên là đồn luỹ Pháp, một bên là triều đình Huế. Còn ba vị vua bị giết sau khi Tự Đức chết là: Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 03:53:11 pm Cái trách nhiệm họ đổ cho Tôn Thất Thuyết không phải là sự tính toán mưu lợi cho riêng mình mà là việc quốc gia: “một sông hai nước". Thế nghĩa là: dầu chê bai đúng đi nữa, họ cũng không thể nói gì tới lòng trung thực rõ rệt của ông, điều mà ngay bọn thực dân cũng phải thừa nhận. Huống chi có, thật ông ngu không? Ngu ở chỗ nào? Một số người thường cho Tôn Thất Thuyết bị Tường giật dây, Tường bảo gì ông làm nấy, "thường việc gì cũng do ông Tường xui khiến cả" (Việt nam sử lược, Trần Trọng Kim). Sự thực không phải như vậy. Nhiều điều trù tính của ông, chẳng hạn việc đánh Pháp một đòn quyết liệt vào đêm 4-7-1885, căn bản do một đường lối sắp sẵn từ trước, không đợi khi làm Phụ chính với Tường mới có. Ông có nghe Tường cũng chỉ tuỳ từng việc, cái gì thấy có lợi cho nước mới theo. Chứng cớ là nhiều khi Tường ngăn ông không nổi, phải nhờ đến Từ Dũ (mẹ Tự Đức) can thiệp. Chứng cớ là trong giờ phút cuối cùng, biết Tường biến tâm qua thái độ trù trừ, qua những lời gàn trở của y, ông tự ý xử lý hành động một mình trong cuộc tấn công vào Mang Cá. Khi biết Tường hàng Pháp, việc đầu tiên của ông là cho người đốt ngay nhà tư của Tường. Về chuyện "nhất giang lưỡng quốc”, lỗi không phải ở Tôn Thất Thuyết. Ta biết rằng mãi tới 1883, năm cuối triều Tự Đức, lúc tình thế đã khó có cơ cứu vãn rồi, ông mới tham gia Cơ mật viện và chỉ thực sự có quyền sau khi Tự Đức mất. Sự kiện "một sông hai nước" đã không do ông, mà trong thực tế thì hơn ai hết, ông lại muốn thanh toán nó sớm ngày nào hay ngày ấy nữa kia! Mặt khác, ta cần thấy rõ kẻ chỉ trích Tôn Thất Thuyết trên đây thuộc vào phe nào? Cái người "minh triết" mà họ "thương thay” vì phải "bỏ nước" là ai? Là Tuy Lý Vương, khi chống Tôn Thất Thuyết không xong đã trốn vào đồn giặc, ôm chân viên Khâm sứ De Champeaux. Ba "vua" mà họ than tiếc là ai? 1. Trừ Kiến Phúc do Nguyễn Văn Tường đầu độc, chủ yếu với động cơ cá nhân, còn Dục Đức với Hiệp Hoà đều thân Pháp. Dục Đức - kẻ mà ngay Tự Đức cũng phải cho là "đại bất thiện" - đã liên lac với linh mục Thơ, một tên gián điệp đội lốt tu hành. Còn Hiệp Hoà thì chính là kẻ chủ mưu câu kết với giặc ám hại Tôn Thất Thuyết để nhận sự "bảo hộ" của giặc. Trần Tiễn Thành mà Trương Quang Đễ hạ sát chính là tay đầu sỏ chủ hoà, thân danh đệ nhất Phụ chính đại thần mà lại luôn luôn công khai tuyên truyền tinh thần thất bại, đã có lần bị Tôn Thất Thuyết mắng mất mặt là "đồ mặt chuột" giữa triều. Thế thì quan điểm của những kẻ bênh vực cho bọn Dục Đức, Hiệp Hoà, Tuy Lý, thành ra chỉ là quan điểm phản kháng chiến, phản dân tộc, không có gì là chân chính. Họ hằn học với Tôn Thất Thuyết không phải là điều đáng lạ và nếu họ chỉ chửi Tôn Thất Thuyết được có như thế - như chúng tôi đã phân tích - là vì đức độ tiết tháo của ông đã đến một mức không dễ cho họ xuyên tạc, bóp méo quá đáng. _______________________________________ 1. Có người hiểu "sáu tháng ba vua" tức là trong khoảng 6 tháng có 3 vua nối nhau: Kiến Phúc, Hiệp Hòa, Hàm Nghi. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 03:54:17 pm Trần Trọng Kim trước kia cho rằng "Thuyết tài năng thì kém mà lại nhát gan cho nên đa nghi và hay chém giết". Tôn Thất Thuyết mà tài năng kém ư? Một đời "oai danh sấm sét, dẹp bắc đánh đông"1 giới thiệu nhiều về tài năng của ông mà ngay địch cũng phải gờm. "Các sỹ quan Pháp hạ thành Huế hầu hết đều nhận rằng quân An Nam thua là vì khí giới kém chứ không phải xếp đặt vụng" (Phan Trần Chúc). Còn nhát gan? Dưới ngòi bút của Trần Trọng Kim hình ảnh Tôn Thất Thuyết hiện ra đến thảm hại: "Xưa nay chỉ lấy quyền thế mà đè nén người ta, hơi một tý thì gây lấy sự chém giết làm oai. Đến khi phải ra theo lễ bang giao mà đối với một người tướng ngoại quốc là ông De Courcy thì trong bụng khiếp sợ không biết ra thế nào!”. Khiếp sợ mà vẫn chống địch đến cùng, nhát gan mà là lãnh tụ kiên quyết của phe chủ chiến thật là lạ! Không những Tôn Thất Thuyết có những chủ trương kiên quyết và mạnh dạn đối với giặc mà tính ông cũng rất can đảm. Chính theo tài liệu của Pháp, của linh mục Delvaux, hồi vượt biên giới Lào - Việt, qua làng thiểu số Bạng Câu, khi toán quân của Tôn Thất Thuyết đi hộ tống Hàm Nghi bị quân triều đình Đồng Khánh chặn đường đổ xô vào nhằm bắn, Tôn Thất Thuyết đã nhảy ngay lên ngựa chắn ngang võng vua và thét lớn: "Chúng mày có giỏi thì bắn vào tao đây!" Trong khi ông trấn áp tinh thần đối phương, Trần Xuân Soạn kịp thời tập hợp lực lượng đánh lui chúng. Mặt khác cần vạch rõ chỗ xuyên tạc tài liệu của Trần Trọng Kim. Có thể nói nhiều đoạn Trần Trọng Kim gần như chép lại "Hạnh Thục ca", một tác phẩm đã viết theo quan điểm đầu hàng, mà chép cũng không đúng nữa, vì đã thêm thắt, cắt xén, biến chế nhiều chỗ theo quan niệm riêng. Ví dụ trong "Hạnh Thục ca", Nguyễn Nhược Thị chỉ phê phán những kẻ "quyền thần" nói chung (có thể là Tôn Thất Thuyết, cũng có thể là Nguyễn Văn Tường) thì Trần Trọng Kim gắn riêng cho Tôn Thất Thuyết. Ông ta cố trình bày cho người đọc thấy rằng Tôn Thất Thuyết bị De Courcy bức bách mới liều đánh đồn Mang Cá, trong khi chính Nguyễn Nhược Thị cũng nói là ông có ý định khởi sự trước đó hàng ba bốn tháng. Một số người khác tuy có thừa nhận một số điểm khả thủ của Tôn Thất Thuyết, nhưng nhận xét về ông vẫn rất lệch lạc. Phan Trần Chúc cho người đọc thấy tính tình Tôn Thất Thuyết hết sức tàn bạo, trình bày Tôn Thất Thuyết như một người mất hết nhân tính. Trong "Vua Hàm Nghi" có ghi lại mấy mẩu chuyện làm dẫn chứng: "Một hôm Thuyết ra chơi ngoài phố chợt thấy một đứa bé đang chửi mẹ. Thuyết đứng lại xem và hỏi tuổi đứa bé. Mẹ nó thưa là nó lên sáu tuổi. Ngồi vào mâm ăn, đứa bé vừa trở đầu đũa thì bị Thuyết sai lính mang ra chém, cho rằng đứa bé đã khôn (biết trở đầu đũa) mà còn chửi mẹ là bất hiếu... Tại Huế, Thuyết giết không biết bao nhiêu mạng người. Người ta nghiệm rằng sáng nào Thuyết vui vẻ ra hầu thì không xảy ra sự gì. Nhưng sáng nào Thuyết ra ngồi công đường mà mặt đã cằm cặm, ngồi khom khom có vẻ tức giận thì hôm ấy ít nhất có một người bị Thuyết chém... Một viên hành tẩu bộ Binh tên là Chuyên tình cờ bị Thuyết bắt được đang đọc một câu phong dao nói xấu Thuyết, lập tức bị Thuyết sai đao phủ mang ra chém, không ai dám xin, mà dù ai xin cũng không được. Không những Thuyết không để cho phái phản đối mang cái tư tưởng hoà bình (ý nói chủ hoà - T.D.) ra thực hành mà lại còn lấy uy vũ bưng miệng mọi người, cấm không ai được phát biểu tư tưởng ấy. Thuật việc thời bấy giờ một bạn đồng liêu với Tôn Thất Thuyết là Huỳnh Côn nói: "Chúng tôi sợ lối xử trí ấy không biết ngần nào nên trăm miệng đều kín như bưng. Các quan nếu có bàn tán điều gì thì phải đóng kín cổng và giữ cực kỳ bí mật"... Tôn Thất Bá ở Bắc Kỳ vô Kinh chỉ nói có một câu: "Sức người Pháp mười phần, ta chỉ có hai phần". Đến tai Tôn Thất Thuyết, cách mấy giờ sau Tôn Thất Bá bị bắt trói và giam tại ngục Phủ Thừa, mãi đến khi Pháp hạ thành Huế, mở cửa ngục, Bá mới được ra khỏi...". Nhưng dầu việc Tôn Thất Bá và tình trạng của bọn Huỳnh Côn có đúng đi nữa thì cũng hợp lý thôi, không oan uổng gì! Một tên đào ngũ trong hồi mất Hà Nội lần thứ hai, một tên sau này cam tâm làm tôi mọi cho giặc mà bấy giờ lại còn bàn bạc hay tung ra những chuyện làm nản lòng mọi người, bị trấn áp là phải và là cần thiết nữa! ___________________________________ 1. Văn tế Tôn Thất Thuyết của Nguyễn Thượng Hiền (xem Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn của Trần Huy Liệu). Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 03:56:52 pm "Mấy năm sau cùng, vua Tự Đức đã mất hết nghị lực phấn đấu. Triều thần thì kẻ chủ chiến người chủ hoà, nhưng dù chiến hay hoà, hai phái cũng chỉ vật nhau bằng lưỡi chứ không ai chịu hành động gì cả. Mấy ông vua kế vị Tự Đức thì đối với triều đình chưa có oai quyền, với thần dân không đủ tín nhiệm. Vậy trong triều tất phải có một người có định kiến. Người ấy là Tôn Thất Thuyết. Mà muốn cho cái định kiến kia có thể thực hành được thì thế tất phải trừ những người không đồng ý với Thuyết. Triều thần người nào chủ hoà đều bị coi là thù chung của nước Nam và thù riêng của Thuyết". Lý lẽ của Phan Trần Chúc chưa thật đủ song cũng đã chỉ ra điểm đáng bênh vực trong hành động của Tôn Thất Thuyết. Cần nói rõ thêm rằng: chủ hoà lúc ấy chính chỉ là đầu hàng; rằng phe chủ hoà không những có vua, lại có cả Từ Dũ và Thọ Xuân, Gia Hưng, Hoài Đức... mẹ và chú của Tự Đức; rằng phái chủ chiến của Tôn Thất Thuyết lại đứng vào thiểu số, ông sở dĩ có thế mạnh chỉ nhờ vì nắm binh quyền trong tay. Mặt khác, cũng nên biết sự hoang mang trong quần chúng lúc ấy không phải nhỏ. Ở Huế bấy giờ người ta đồn đại nhiều về những triệu chứng "trời xui mất nước", nào là mặt trời mọc tự nhiên úa thành sắc xanh lá cây suốt một tháng ròng (tài liệu của Delvaux), nào là sao chổi, nào là tiết trời tự nhiên đổi ra rất độc, bệnh tật lan tràn... "Giữa ban ngày mà người ta tưởng chừng như có hàng trăm vạn âm binh kéo qua phố phường để tróc nã con người. Dân kinh thành rất khiếp sợ, không mấy người dám ló ra khỏi cửa" (tài liệu của Nam tử). Đến nỗi hôm Hàm Nghi tức vị, chỉ có một con dê đi qua cửa Tây hoàng thành, người ta cũng cho là điềm không lành: Tây dương (!) phạm khuyết. Trong tình thế quần chúng cực kỳ hoang mang như vậy, ở vào địa vị Tôn Thất Thuyết không thể không thi hành những biện pháp gắt gao đối với những kẻ đưa ra những luận điệu có hại cho kháng chiến. Trở lại cái bệnh "ham giết người” của Tôn Thất Thuyết mà Phan Trần Chúc chê trách. Người ta nói có lần, hồi Tôn Thất Thuyết ở Thanh Hoá, hai cô đào hát nọ đi qua dinh ông vì đội nón quai thao bỏ quai ra sau gáy mà bị ông sai lính vặn cổ từ đằng trước ra đằng sau. Và câu chuyện phổ biến là nơi nào ông đóng quân (Thanh Hoá hay Bắc Ninh cũng vậy) người chung quanh phải đập chết gà chó, đào hết dun dế là những thứ ông không thích nghe tiếng, ai trái lệnh là chém. Gần đây ông Bửu Tiến (trên tạp chí Văn nghệ) còn kể chuyện Tôn Thất Thuyết đã giết cả con trai cả của mình vì anh chàng này chủ hoà, và trước mặt người con dâu chết ngất khi thấy thủ cấp chồng đặt trong chiếc khay, Tôn Thất Thuyết "sang sảng" nhắc lại ý chí cương quyết kháng chiến của mình. Có hay không? Theo chúng tôi người ta đã quá tin vào những lời phản tuyên truyền của bọn chủ hoà, bọn đầu hàng. Tuy vậy, cứ giả thiết rằng mấy chuyện trên đây ít nhiều cũng có cái gì thực, thì chí ít hành động của Tôn Thất Thuyết cũng bảo vệ một quan niệm, một nguyên tắc nào đó chứ không phải giết để mà giết, cho thoả lòng khát máu. Do đó, luận điệu nói rằng "hôm nào Thuyết không vui, ít nhất lại có một người bị chém", cũng như kiểu Trần Trọng Kim bảo Tôn Thất Thuyết "hơi một tý lấy sự chém giết làm oai" rõ ràng chỉ là xuyên tạc trắng trợn. Vả lại giả thiết thế thôi, chứ những chuyện trên đây hoàn toàn không có gì đảm bảo. Đừng nói Bắc Ninh hay Thanh Hoá là nơi Tôn Thất Thuyết ở không bao lâu, ngay cả câu chuyện giết con trai cả mà Bửu Tiến nghe ở Huế, nơi sát Tôn Thất Thuyết nhất đấy, đã hoàn toàn sai. Sự thực Tôn Thất Thuyết chỉ có ba người con trai, hai người đầu đã tuẫn tiết vì nước (Đàm và Thiệp), người con thứ ba (Tôn Thất Trọng), ông gửi Nguyễn Phạm Tuân thủ lĩnh Cần Vương ở Quảng Bình từ lúc còn bé, sau lọt vào tay Pháp, nay nghe nói vẫn còn sống ở Hà Nội, người ta hay gọi là ông Ba Tướng1 (theo tài liệu của Pháp, sau này Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc có lấy vợ kế, nhưng không sinh thêm được người con nào). Làm gì có chuyện người con trai cả nào của Tôn Thất Thuyết bị ông giết? Người ta nhầm với người con rể hư hỏng của ông ở Thanh Hoá là cả Tốn chăng? Nhưng chính Cả Tốn cũng chỉ chết đường vì đói rét, không phải chết chém. Tuy vậy người ta có thể đặt câu hỏi: Thế thì sao lại có những truyền thuyết quá đáng như thế về Tôn Thất Thuyết? Không có lửa sao có khói? Theo ý chúng tôi, có phần chắc sự khủng bố thẳng tay của ông đối với phe chống đối, nhất là trong thời loạn ly đã gây cho người ta những ấn tượng ghê gớm rồi cường điệu thêm, dĩ hư truyền hư, bên cạnh đó không khỏi có sự xuyên tạc của bọn căm ghét ông nữa, rút cục ông mới bị hiểu sai đến thế. Vả chăng, cứ lý mà suy, một người như ông, đến địch còn phải nhận rằng "những việc bạo động nhiều khi bị thúc giục bởi tấm lòng chân thành yêu nước", một con người như thế có thể nào coi rẻ mạng đồng bào được hay không? ____________________________________ 1. Đúng ra Tôn Thất Thuyết có 9 con trai, Tôn Thất Trọng được cha gửi cho thủ lĩnh Cần Vương ở Quảng Bình là Nguyễn Phạm Tuân; sau có tham gia Đông du, rồi mất tích. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 04:08:16 pm Phân tích văn thơ của Tôn Thất Thuyết, ta càng thấy những truyền thuyết kể trên là hoàn toàn nghịch với bản chất của ông. Một con người ngắm cảnh mà tâm hồn muốn theo mây nước phơi phới ra ngoài cõi trần, lấy trăng làm đèn, nhận gió làm quạt1, một con người yêu thiên nhiên đến mức hoà vào thiên nhiên: Non xanh nước biếc cùng đưa đón. Bể rộng sông dài ít dặm khơi2. Một con người thấy chim én bay trong mưa gió mà bỗng động lòng thương xót ngậm ngùi hỏi chim: Sao chẳng nương thân chốn cửa nhà. Bên đèo mưa gió rộn bay ra? Một con người trước ngôi miếu cổ chỉ nghe chuyện người xưa mà đã thấy lòng “bồi hồi” giữa một trời trăng nước3 một con người giàu tình cảm, hơn nữa một con người tự cho mình là có "thiền tâm"4, một con người như thế có thể cho là một con người ham giết, giết để mà giết được không? Con người đã biết yêu những kẻ có tài mặc dầu ngạo ngược, đã thấy rung động được vì cảnh mẹ già con dại của người khác (xem phần dưới), nhất là con người đã từng khuyên người khác phải "công bình liêm chính", con người đó có thể khát máu, lấy việc chém giết làm trò tiêu khiển hay không? Nếu không sợ là suy diễn, chúng tôi cũng có thể viện dẫn chứng cớ cụ thể khác. Tự Đức là người rất xét nét về từng hành vi nhỏ nhất của các quan, thế mà khi Tôn Thất Thuyết vào Kinh chiêm cận, Tự Đức đang giận cũng phải mắng Thuyết "tính kiêu, lượng hẹp" (theo Quốc triều chính biên toát yếu), chớ không thấy đả động đến cái gì là giết người quá mức. Chứng cớ rõ rệt nhất là vụ Phan Đình Phùng. Khi Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế Dục Đức lập Hiệp Hoà, Phan Đình Phùng phản đối ngay tại triều, và trước đông đủ bá quan, họ Phan lên tiếng mắng Tôn Thất Thuyết. Nhưng ông chỉ bắt Phan Đình Phùng giam vào ngục, sau đó cho về nguyên quán, không những không giết lại còn bí mật cử họ Phan làm Tham biện sơn phòng Hà Tĩnh nữa. Chỉ vì một lý do là: tuy Phan Đình Phùng làm mất mặt ông trước trăm quan nhưng là người yêu nước; chống ông rõ ràng, nhưng lại cũng cương quyết chống Pháp. Điều đó chứng tỏ một cách hùng hồn rằng: cái nóng của Tôn Thất Thuyết không đến mức mù quáng, đường lối khủng bố của ông không phải bừa bãi và hoàn toàn không phại vì động cơ cá nhân, càng không phải "hơi một tý lấy sự chém giết làm oai" như Trần Trọng Kim nói. Đến ngay điểm "tính kiêu, lượng hẹp" mà Tự Đức phê bình Tôn Thất Thuyết cũng nên xem xét lại cho kỹ. Cần phải nói rằng có đi nữa cũng là sự thường thôi, một ông tướng phong kiến làm sao khỏi vết này tật kia? Nhưng có thực là Tôn Thất Thuyết kiêu và hẹp không? Người ta thường dẫn chứng bằng câu chuyện ông đối xử với Ông Ích Khiêm: Tôn Thất Thuyết trước đây làm quan dưới quyền Ông Ích Khiêm, sau Khiêm bị biếm về Kinh, lúc trở ra lại ở dưới quyền ông. Ban đầu ông vẫn cư xử như anh em, nhưng Khiêm thường tỏ ý xấc xược, không phục. Ông tức mình kiếm cớ giam Khiêm lại. Nhưng nếu chỉ có vậy thì cũng chưa có gì để quyết đoán rằng Tôn Thất Thuyết kiêu và hẹp. Một người ngang ngạnh như Khiêm, trên dưới không từ một ai, Tôn Thất Thuyết có khó chịu cũng chẳng có gì đáng lạ và đáng trách. Sau này Khiêm bị giết ở Khánh Hoà là do Tường, mà cũng do những lời thơ có tính chất đe doạ triều đình của Khiêm nữa5. Huống chi theo một tài liệu khác (Nhật Nham, tạp chí Tri Tân), việc bắt giam Khiêm lại là do Vũ Trọng Bình, tổng đốc Hà Ninh muốn tranh công. Mặt khác, đối chiếu hành trạng hai người thì khi Khiêm làm Tiểu phủ sứ, Tôn Thất Thuyết đã làm Tán tương, không bao giờ ở dưới quyền Khiêm cả. Do đó câu chuyện trên cũng không có gì đảm bảo, và một lần nữa ta lại càng thấy phải dè dặt khi nghiên cứu những truyền thuyết cũ. Vả chăng nếu Tôn Thất Thuyết hẹp hòi thì xin nhắc lại - đầu Phan Đình Phùng đã không còn. Không những không hẹp hòi, ông còn mạnh dạn đề bạt cấp dưới nữa. Trường hợp Trần Xuân Soạn là một trường hợp điển hình: họ Trần nguyên là lính chân trắng, chỉ vì trong một trận đánh ở Bắc Ninh tỏ ra gan dạ mà được Tôn Thất Thuyết một ngày thăng luôn ba trật: xuất đội - phó quản - chánh quản và cứ thế lên vùn vụt. Trong khi đó, dưới triều Nguyễn, đặc biệt là khi trận mạc, số người có khả năng bị chèn ép, bị dìm đi không phải là ít. _______________________________________ 1. Câu đối của Tôn Thất Thuyết ở đền Sòng, đền thờ bà Liễu Hạnh ở Thanh Hóa (do ông Chu Thiên đọc cho nghe): "Cổ bất sơn, sơn như bích, tuyền như trì, vân thủy siêu nhiên trần cảnh ngoại; Hoặc thứ cơ, nguyệt khả đăng, phong khả phiến, trúc tùng tự tại cổ chu trung". Nghĩa là: Cố nhiên không hẳn như thế (song cũng có thể nói là): núi dựng như vách, mặt suối phẳng như mặt ao, mây nước mơ hồ như ở ngoài cõi đời này; Và cũng có thể nói được rằng trăng làm đèn, gió làm quạt, trúc tùng vẫn đứng yên trong cái vòng cũ của chúng. 2. Tài liệu của ông Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn). 3. Khi ở Long Châu, Tôn Thất Thuyết buồn vì việc nước, khóc ra huyết lệ. Những người tùy tùng thường đưa ông đi ngoạn cảnh cho khuây khỏa. Một hôm thuyền ra giữa sông, ông nhìn lên bờ thấy có một ngôi miếu cổ. Hỏi thì được biết đó là miếu thờ một võ sinh đang ở nhà thờ mẹ, vì việc nước phải đi dẹp giặc, sau thành bị vây chết luôn với thành. Ông đọc ngay câu đối này: "Văn quân tử thủ cô thành, khảng khái, quốc trung thần, gia hiếu tử; Kim ngã tài lâm thử thổ, bồi hồi, giang bán độ, nguyệt tam canh" Nghĩa là: Nghe người giữ cô thành cho đến chết, tỏ rõ tinh thần khảng khái của bề tôi trung với nước, con hiếu nhà; Nay tôi đến đất này, lòng bồi hồi giữa lúc đò mới sang được nửa vời và trăng mới vào khoảng canh ba. 4. Theo ông Doãn Kế Thiện, trong những ngày ở Long Châu, có lần người ta khuyên Tôn Thất Thuyết cạo đầu (vì ông quay ra mộ đạo Phật nhưng không vào chùa, chỉ tu tại gia), lại cạo cả râu. Ông không nghe và có ngâm hai câu: “Thiền tâm ninh ái phát, Nam diện yếu lưu tu” Nghĩa là: Lòng thiền đâu có tiếc gì tóc, nhưng mặt nam nhi cần phải để râu lại. 5. Chúng tôi sẽ có dịp nói kỹ về Ông Ích Khiêm. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Ba, 2016, 04:13:28 pm Ở phần trên đã nhắc đến những luận điệu của bọn chỉ trích Tôn Thất Thuyết. Ngược lại phần khen ông cũng không phải là ít. Trong một số Tập san Văn sử Địa trước đây, bạn Lương An có nhắc đến bài vè "Thất thủ kinh đô" của nhân dân "đã đưa ra cho chúng ta cái hình ảnh của Tôn Thất Thuyết, một người không chịu khuất phục làm nô lệ kẻ khác, một người độ lượng, vì nước hy sinh, nói tóm lại một người yêu nước chân chính". Hình ảnh Tôn Thất Thuyết sau khi võ trang chống Pháp ở Huế bị thất bại trong bài vè là hình ảnh một trung thần đau đớn vì cảnh quốc phá quân vong mà người ta thường thấy ở những truyện cổ: Quan Tướng nước mắt ròng ròng "Tưởng là hiệp chiến giao công, Khôi phục Trấn Bình, nhà nước thung dung. Tôi xin thọ tội cửu trùng..." Có một bài thơ thời thế hồi ấy trong đó tác giả đã ca ngợi việc Tôn Thất Thuyết kiên quyết đưa Hàm Nghi đi: Cam Lộ dời ra nhờ có Thuyết Nhà Chung ở lại giận cho Tường. Người trong nước kính phục ông đã đành (xem phần dưới), người nước ngoài cũng thừa nhận ông có nhiều ưu điểm. Ngay đối phương cũng vậy: "Là một tử thù của nước Pháp, nhưng người Pháp đối với Tôn Thất Thuyết chỉ có oán với trọng, chứ không có khinh" (PTC). Đến như người Trung Quốc đối với ông thì lại càng có cảm tình. Một tác giả đã ví Tôn Thất Thuyết với Thân Bao Tư, Liêm Pha đời Chiến quốc trong bài thơ dưới đây1: Thế lộ mang mang kỷ vạn trùng, Thốn tâm như mã dục truy phong. Bôn Ngô đãi triển cô thần chí, Tồn Triệu tiên tư lão tướng công. Kiếm ngoại hoành quan tân vũ trụ, Đăng tiền tung luận cổ anh hùng, Nhất bôi dự đính quy lai nhật, Vân tể Nam thiên húc ánh hồng. Dịch: (nguyên văn) Dằng dặc đường đời mấy vạn trùng, Tấc lòng như ngựa muốn truy phong. Qua Ngô tôi độc chờ phô chí, Gìn Triệu quan già trước nhớ công. Hoành kiếm xem ngang tân vũ trụ, Trước đèn bàn rộng cổ anh hùng. Ngày về thầm định trong chung rượu, Mây sớm trời Nam rẽ ánh hồng. ________________________________ 1. Có người cho bài này là thơ tặng Trần Xuân Soạn. Chúng tôi thấy nội dung hợp với Tôn Thất Thuyết hơn. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2016, 06:58:34 am Lòng ái mộ ông đã khiến người ta không để yên mà tìm cách đính chính ngay lại chỗ thiếu nghiêm túc trong thái độ của kẻ khác đối với ông. Khi ông mất, có người viếng ông bằng đôi câu đối: Quý bất khả ngôn, vạn cổ phương danh lun Tượng quận; Tôn vô dĩ thượng, bách niên tàn cốt ký Long Châu. Nghĩa là: Cao quý không kể xiết, muôn thuở tiếng thơm còn lưu nơi Tượng quận1. Đáng trọng đến mức không còn ai ở trên, trăm năm xương tàn gửi lại chốn Long Châu. Tuy là lời khen, nhưng mấy chữ "quý bất khả ngôn", "tôn vô dĩ thượng" có hàm ý riêng sâu xa, nên có người đã chữa lại là: Thù Nhung bất cộng đái thiên2, vạn cổ phương danh lưu Tượng quận; Hộ giá biệt tầm tĩnh địa3, thiên niên tàn cốt ký Long Châu. Gần đây sự hiểu lầm về Tôn Thất Thuyết ngày càng bớt đi. Ông Trần Văn Giàu, nếu chúng tôi không nhầm, là người đầu tiên đã trả lại cho Tôn Thất Thuyết cái địa vị xứng đáng của ông trong lịch sử. Tuy vậy có một số điểm khen chê của ông Giàu, chúng tôi thấy cũng cần được thảo luận kỹ. Ông Giàu đồng ý với cuộc kháng cự bằng vũ lực của Tôn Thất Thuyết đêm 4-7-1885 ở Kinh thành, đề cao: “Công lao của cha con Tôn Thất Thuyết nằm rừng lội suối, hy sinh cả ba cho chủ quyền quốc gia". Nhưng ông vẫn tỏ dấu nghi ngờ: "Ta không thể tự hỏi tại sao chính Thuyết và Viện Cơ mật ra lệnh triệt quân rút tướng ở Bắc về Kinh từ sau Thuận An thất thủ? Tại sao lúc quân Pháp khốn đốn ở Bắc Ninh, Tuyên Quang, đại bại ở Lạng Sơn, Đài Loan mà Thuyết vẫn án binh bất động, không thừa cơ hội cuối cùng của triều đình Huế để giành lại quyền bính cho mình mà lại đợi cho đến khi Trung - Pháp chiến tranh đã xong rồi, Courcy đem thêm quân vào Huế, đợi đến lúc ấy ông mới khởi đại sự một cách trễ tràng và tuyệt vọng? (Tập san Đại học Sư phạm). Sau này, trong cuốn "Chống xâm lăng", ông lại phê phán một lần nữa "thái độ rút quân ngồi xem” của Tôn Thất Thuyết: "Ngày nay ta ngó lại lịch sử trước mà xét thì hẳn là ngay Thuyết cũng không phải lúc nào cũng quyết tâm chống Pháp để khôi phục giang sơn. Nắm binh quyền trong tay, Thuyết không sớm thừa những thời cơ hầu như cuối cùng khi Pháp thua trận ở cầu Quan Âm hay Lạng Sơn mà cổ vũ đồng bào cả nước nổi lên đánh Pháp". Ông Giàu nhìn vấn đề khá sâu, nhưng tôi sợ ông chưa nắm hết sử liệu vốn quá tản mạn của ta. Sự thực không phải mãi đến khi De Courcy hống hách áp bức triều đình Huế quá độ, Tôn Thất Thuyết mới tìm cách chống lại. Chủ trương đánh Pháp một trận quyết liệt, Tôn Thất Thuyết có từ hồi nghỉ dưỡng bệnh ở Thanh Hoá. Người ta kể lại một giai thoại4: Hồi này trong dinh Tôn Thất Thuyết có một nơi để tập hợp các nhà văn thân với ông, nơi ấy gọi là Bác Anh Viện (nơi họp của những người học rộng tài giỏi). Chính ở đây, ông đã làm nhiều thơ xướng hoạ với một danh sĩ Thanh Hoá là Đông Cao (cũng là một chứng cớ nữa để bác bỏ luận điệu cho rằng Tôn Thất Thuyết võ biền, vô học). Một hôm Xiển Ngộ thấy hai chiếc biển treo trên Viện mới chỉ có một biển ghi ba chữ nói trên, mới xin Tôn Thất Thuyết đối lại cho đủ. Ông đồng ý, Xiển Ngộ nói rằng: Bác tôi xin đối với cô, anh xin đối với chú, viện xin đối với phường. Bác Anh Viện thì phải sánh với Cô Chú Phường mới chỉnh". Vế đối trào lộng nhưng ngụ ý khuyên Thuyết sâu xa vì "cô chú" vốn có nghĩa là tiếng bạc cuối cùng, còn bao nhiêu tiền dốc ra mà đánh, tức là dùng một đòn tối hậu quyết định. Tôn Thất Thuyết cười xoà, kéo Xiển Ngộ vào uống rượu. Qua tinh thần câu chuyện, ta thấy chủ trương "cô chú" chẳng riêng gì của Tôn Thất Thuyết mà là của cả giới sĩ phu yêu nước ôm ấp từ lâu, không đợi những can thiệp thô bạo của De Courcy mới có. Cho nên khi còn ở Ngũ quân đô thống phủ, được tin Henri Rivière chiếm Hòn Gay và Nam Định, ông đã yêu cầu tăng cường phòng thủ Thuận An gấp rút và ra lệnh cho văn thân các nơi chuẩn bị chiến đấu. Khi Pháp đánh Thuận An (18-8-1883), mới nắm binh quyền hơn một tháng, ông cương quyết ra lệnh chống lại, trước giờ nổ súng người Pháp đã thấy quân ta đổ đá xây kè, cản đường tấn công của giặc. Sau khi Thuận An thất thủ, được tin quân Pháp sắp tăng viện, ông ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm phải đánh mạnh ở Bắc Bộ. Quân Việt - Trung phối hợp đánh thành Hải Dương, thắng nhỏ, nhưng 5 ngày sau đối phương phản công ác liệt, ta thất bại. Trận đánh vào Hải Phòng cũng thất bại. Hơn nửa năm sau, khi Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hưng Hoá theo nhau thất thủ, Hoàng Tá Viêm cùng Trương Quang Đản (Bắc Ninh) mới bị triệt về Huế. Ta cũng nhớ rằng, chính theo tài liệu của ông Giàu thì tháng 4-1884, trước khi bị triệt về, Trương Quang Đản đã "không chịu cùng Thanh chống Pháp... trở mặt đi đánh dẹp nhân dân". Còn Hoàng Tá Viêm cũng không đánh, rút lui để sau này về Huế cấu kết với cánh đầu hàng. Việc triệt Viêm và Đản về rõ ràng là bất đắc dĩ, tự bọn này hơn là tự Tôn Thất Thuyết. Cũng cần phải nói thêm rằng: lệnh của triều đình Huế bấy giờ ra Bắc không phải bao giờ cũng được chấp hành một cách nghiêm chỉnh, nghe hay không là tuỳ sự tính toán của tướng lĩnh địa phương. Trường hợp Nguyễn Hữu Độ, triều đình gọi về không về, cách chức không chịu, bị giáng xuống đến tòng cửu phẩm (thơ lại) mà vẫn giữ chức Hà Ninh tổng đốc một cách rất chướng, cho ta thấy rõ không phải triều đình muốn gì là được ngay. ________________________________________ 1. Tên nước ta thời Bắc thuộc. 2. Thù giặc không đội trời chung. 3. Giúp chúa riêng tìm cõi thác. 4. Ông giáo Lê Văn Uông ở Thanh Hoá kể cho nghe. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2016, 06:59:44 am Còn về sự kiện cầu Quan Âm và Lạng Sơn? Ông Giàu tiếc rẻ rằng "nếu lúc ấy mà quân đội của Tôn Thất Thuyết ở triều đình lại nổi lên đánh Pháp, Hàm Nghi còn ra lệnh Cần Vương thì cơ thắng lợi không phải là không còn nữa". Chiến thắng cầu Quan Âm vào tháng 6-1884 là lúc bọn Viêm, Đản bị triệt về rồi, Lưu Vĩnh Phúc về nước làm quan rồi, lực lương kháng chiến chính quy của triều đình ở Bắc Bộ hầu như không còn gì đáng kể. Căn cứ vào sự kiện cầu Quan Âm, ông Giàu có phần nào quên tình hình chung lúc bấy giờ chăng? Nhất là tình hình chung trong con mắt của các tướng lĩnh phong kiến chưa thể có quan điểm chiến tranh nhân dân như chúng ta ngày nay? Đến như trận quân Thanh thắng Pháp ở Lạng Sơn thì nói gì đến triều đình Huế, bản thân quân Thanh ngay khi thắng rồi cũng không chịu nhúc nhích (chữ dùng của ông Giàu) nữa là! Và không biết ông Giàu có nhớ tới tình trạng giao thông liên lạc, lối đưa tin "hòn than lông gà" hồi đó chăng? Sau chiến thắng Lạng Sơn chỉ có một tuần, Hoà ước Trung-Pháp đã ra đời, có lẽ khi "cơ thắng lợi" đưa về đến Huế thì giấy tờ rút quân của hai bên Mãn Thanh và Pháp đã làm xong từ lâu! Đến như cho rằng Tôn Thất Thuyết "rút quân ngồi xem", "án binh bất động" thì thật quá đáng. Ông lo phòng thủ kinh thành ráo riết, đồng thời "vừa bí mật liên kết với các quan văn võ ở các tỉnh ngoài Bắc, vừa chuẩn bị ở miền Trung: từ Ninh Bình trở vào Nghệ An đến Quảng Trị, nơi nơi đều có tổ chức và củng cố sơn phòng" (Trần Văn Giàu). Những sơn phòng sứ này được tu bổ ngay từ đầu năm 1884, đặc biệt là Tân Sở làm nơi rút lui nếu cần. Mặt khác ông lo tiêu diệt những lực lượng hậu bị của Pháp trong toàn quốc cũng như ủng hộ phong trào kháng chiến ở Khơ me để chia xẻ lực lượng của Pháp (3-1885, tài liệu của Delvaux). Công cuộc chuẩn bị chống Pháp một cách quyết liệt của ông hồi ấy quá rõ rệt và được nhân dân toàn quốc nhiệt liệt ủng hộ đến nỗi bọn tay sai của Pháp ở khắp nơi đều nhận thấy và đều hết sức hoang mang qua những bức thư tới tấp gửi về toà Khâm lúc bấy giờ. Ông cũng không quên việc chuẩn bị tinh thần, chính theo tài liệu của Trần Văn Giàu: "Tại Huế, Thuyết thừa cơ hội để kích thích lòng trung nghĩa. Ví như truy tặng những quan võ trận vong ở thành Hải An, chiểu theo hàm tước mà tuất ấm, sai các lính tế lễ một lượt, liệt thờ vào đền Trung Nghĩa. Những người bị can vào tội thất thủ Hà Nội, Nam Định, Thuận An mà sống thì khoan giảm, liệt Hoàng Diệu vào đền Trung Nghĩa và nêu cao sĩ khí. Bộ Binh làm danh sách 216 người lính chết trong cuộc phòng thủ Thuận An, từ quản xuất trở xuống, chuẩn tặng tuất ấm, nhiêu có thứ bậc để khuyến khích binh sĩ". Tôn Thất Thuyết càng không ngồi yên để chúng lấn dần. Chính hồi này ông đã gửi thư cho Lemaire một bức thư dài với những lời lẽ mạnh dạn mà đối phương cho là "ngạo mạn và khiêu khích" (insolent et provoquant) đòi quân Pháp rút ra khỏi Bắc Bộ, lấy cớ là các tướng Pháp bất lực trong việc trị an. Ngay ở Huế, tháng 8-1884, Pháp đòi giải tán quân đội, ông cương quyết bác đi. Trong khi Hàm Nghi tiếp Khâm sứ Pháp, Tôn Thất Thuyết không chịu lép vế từng nghi tiết ngoại giao để bảo toàn quốc thể làm chúng tức lồng lộn. Nói tóm lại, hoàn toàn không phải ông "án binh bất động”, “rút quân ngồi xem" mà chỉ là ngấm ngầm chuẩn bị cho chu đáo để nổi dậy. Công cuộc đánh Mang Cá là một tính toán từ rất lâu, rất kỹ (xem thêm: Vè "Thất thủ kinh đô”), không phải nước đến chân mới "khởi đại sự một cách trễ tràng và tuyệt vọng". (Càng không phải "dấy liều", "may rủi thừ xem" như lời nói của Nguyễn Nhược Thị trong Hạnh Thục ca; hay như Trần Trọng Kim cho rằng Tôn Thất Thuyết "thấy có điểm động đất mới nghĩ bụng rằng đây là điềm trời xui khiến bèn quyết ý sửa soạn đánh nhau... hoạ may trời có giúp kẻ yếu hèn gì chăng"... ). Người ta có thể trách Tôn Thất Thuyết tại sao tập trung phòng thủ kinh thành mà xem nhẹ các nơi. Nhưng cũng nên nhớ rằng tình hình Huế sau thất thủ Thuận An "nóng" như thế nào mà trong quan niệm của các tướng lĩnh phong kiến thì kinh thành là tất cả, cũng như ở mỗi địa phương thì tỉnh thành là tất cả. Cắt nghĩa điều đó bằng tâm lý và quan niệm chiến tranh của Tôn Thất Thuyết thì đúng hơn là nghi ngờ ông rút quân về Huế vì "không phải lúc nào cũng quyết tâm chống Pháp". Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Ba, 2016, 07:01:34 am Nói cho cùng, có lẽ chính ông Giàu cũng cảm thấy lập luận như thế không ổn, nên ông đã tìm một lối giải thích khác về điểm "mâu thuẫn" mà ông thấy ở Tôn Thất Thuyết, về điều mắc mớ vừa rồi của ông: "... Cũng có thể cắt nghĩa được bằng sự có mặt trong cánh đề kháng một số người chỉ dám đề kháng bằng mồm như Nguyễn Văn Tường”. Chúng tôi thấy nhận xét này có lý do tồn tại hơn. Sự thực, không những chỉ kháng chiến bằng mồm, Tường vì sẵn hai lòng, đã hoạt động chống kháng chiến một cách ngấm ngầm, ngăn trở công việc của Tôn Thất Thuyết một cách tinh vi. Ngày nay xem lại Hạnh Thục ca, chúng ta biết rằng chính Tôn Thất Thuyết định khởi sự ngay từ tháng 4-1885, trước hồi tấn công Mang Cá 3 tháng, ngay khi Pháp đánh lấy thành Bình Định, bắt triều đình khoá các đại bác trong thành Huế, mà ông Giàu nói là "Thuyết vẫn phải hóp bụng chịu không dám sớm cử sự". Không, Tôn Thất Thuyết đâu có chịu! Chính ông Giàu ở đoạn khác cũng có nói rằng: "Đại bác bị khoá thì Tôn Thất Thuyết lại đem nhiều bộ binh về Huế, đóng chặt thành". Và theo Hạnh Thục ca, bấy giờ: Hiếp lần Tây đã chẳng vì, Chọc gan Tôn Thuyết chiến ky phen này... Phen này Phấn lực dương uy, Truyền quân cơm gạo sắp đi sẵn sàng. Tường can không được phải vào lấy lời Từ Dụ "ân cần phân phổ” ngăn Tôn Thất Thuyết lại. Cử sự mà bên trong trống đánh xuôi kèn thổi ngược, từ ông bạn Phụ chính đến Thái hậu đều gàn trở, làm sao được? Tôn Thất Thuyết đành ngầm chuyển vận súng ống, vàng bạc ra Tân Sở. Tường lại bàn ra tán vào, cố giữ lại một số vàng bạc cho bằng được. Cũng vì vậy mà trong trận Mang Cá, Tôn Thất Thuyết "cũng chẳng đâu đạt một tay hiện hành", không cho cả Từ Dụ, Hàm Nghi và về sau cả Tường được biết. Ngày nay điểm lại những công việc của Tôn Thất Thuyết trong một hoàn cảnh đầy rẫy khó khăn như thế, trong một môi trường với bao nhiêu kẻ chống mình lộ liễu và tinh vi như thế, ta có nhiều lý do để tin vào lòng yêu nước chân thành của ông. Mặc dầu ta vẫn có thể vạch ra ít nhiều cái sai của ông về đường lối chính trị, ngoại giao, quân sự cũng như về tác phong của ông. Ngược lại ông Giàu cũng có chỗ khen Tôn Thất Thuyết mà theo ý chúng tôi là chưa được đúng. Như về việc Tôn Thất Thuyết qua Trung Quốc cầu viện. Ông biện hộ cho Tôn Thất Thuyết: "Thuyết đi qua sứ Thanh là có lợi; qua sứ Thanh, Thuyết nhân danh nghĩa là Phụ chánh có thể và đã vận động quan quân nhà Thanh ở miền Nam giúp súng, giúp người, dễ dàng cho nghĩa quân qua lại biên giới, do đó một phần mà kháng chiến kéo dài làm cho Pháp thất điên bát đảo, mãi đến 1894 Thuyết hãy còn được viện trợ. Vả lại, ra ở trên biên giới Viêt - Trung Thuyết trực tiếp với các nhà lãnh tụ Cần Vương đất Bắc, liên lạc với Lưu Vĩnh Phúc và quân Thanh giúp đỡ các đạo Cần Vương về súng ống, đạn được...". Cần phải nói ngay rằng từ 1889, Tôn Thất Thuyết đã bị quan lại nhà Thanh làm khó dễ rồi. Nhưng cho dù hoạt động được mãi đến 1894 thì việc Tôn Thất Thuyết qua Trung Quốc là đúng chăng? Đúng thế nào khi không nhằm chủ yếu vào thực lực của toàn dân mà lại trông vào nước ngoài? Nhất là khi nước ngoài ấy lại là triều đình Mãn Thanh đương sống dở chết dờ? Điều ước Trung - Pháp tháng 4-1885 không làm cho Tôn Thất Thuyết “sáng mắt” ra về sự "giúp đỡ" của Mãn Thanh hay sao? Và cứ gì phải Phụ chính đại thần mới sang cầu viện được trong khi ở nước nhà đang cần người cầm đầu phong trào, không thống nhất được chỉ huy thì chí ít cũng đề ra được một đường lối hành động, một huớng chiến đấu tập trung hơn. Chính Tôn Thất Đàm trong bức thư gửi cho tướng Pháp trước khi tuẫn tiết cũng nói: “Nếu cha tôi ở nhà thì sự thể đã khác hẳn". Đủ tỏ Tôn Thất Thuyết không xuất ngoại sẽ gây thêm được ảnh hưởng trong quần chúng tới một mức nhất định nào đó. Những vận chuyển nhỏ giọt súng ống về nước tuy chứng tỏ sự cố gắng của ông, song hỏi được bao nhiêu? Vả chăng cái kết quả đau đớn là cuối cùng "bệnh bởi lòng buồn, chết vì thế tuyệt; ôm hận suối vàng, nghìn thu uất kết " (Văn tế Tôn Thất Thuyết), điều đó nói nhiều về đường lối cầu viện sai lầm của ông. Điềm khả thủ là: mặc dầu sai lầm, hành động ấy vẫn xuất phát từ một động cơ yêu nước chân thành không phải "đào ngũ” như bọn bồi bút hồi Pháp thuộc đã vu cáo. Cũng cần nói rằng sai lầm trên đây không riêng gì của ông mà là của hầu hết giới sĩ phu yêu nước hồi ấy. Trước đó, triều đình Huế cũng đã trông mãi vào viện trợ của "Thiên triều". Trên đường bôn ba, những người theo ông cũng ôm ấp nhiều cái mộng "Giản thư nước bạn xưa từng ước”, nghĩa là muốn nhờ cậy vào Mãn Thanh. Một bài thơ thời sự rất phổ biến khi đó, đến nỗi người ta gọi là "thơ sấm", càng nói lên tư tưởng ỷ lại của nhiều ông nhà nho ưu thời mẫn thế bấy giờ: “...Hô phong hoán vũ dân do thiểu Xuất quỷ nhập thần tướng vị sinh. Hà nhật Bắc quân lai hữu ý Thử thời Tây quỷ một vô hình...” "Kêu gió gọi mưa, dân còn ít người có tài đến thế. Xuất quỷ nhập thần, tướng làm được như vậy cũng chưa ra đời. Ngày nào quân Bắc tới với ý định cứu giúp, lúc bấy giờ quỷ Tây mới vắng bóng". Dĩ nhiên so với giọng bi quan, hoàn toàn thiếu tự tin này, Tôn Thất Thuyết còn khả thủ hơn nhiều. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 08:25:06 am 3. Thêm một vài nhận xét Sinh thời, Tôn Thất Thuyết sáng tác rất nhiều, song phần lớn thơ xướng hoạ và câu đối ông làm trong khi trấn nhậm các địa phương đã tán lạc gần hết. Mặc dầu vậy, con người của ông cũng khá rõ nét qua một số giai thoại và những bài thơ hiện còn truyền tụng. Lòng yêu nước sôi nổi của ông vẫn là điểm nổi bật nhất. Yêu nước, ông có một tinh thần tự hào dân tộc rất lớn. Không ai còn lạ câu chuyện ông mắng Trần Tiễn Thành giữa triều: hồi đó Thành còn làm Phụ chánh, trong khi tranh luận Thành có ý khiếp phục quân Pháp và chê bai lực lượng quân Thanh. Tôn Thất Thuyết nổi nóng: "Ông là khách (Thành dòng dõi Minh Hương) mà ông khinh đồng bào của ông, rõ là đồ vô sỉ”. Yêu nước sôi nổi, do đó ông căm ghét giặc đến triệt để: “Há dung rắn lợn quấy thần châu?”1 Yêu nước và tự hào về quá khứ của nước nhà: “Trần, Lý dòng xưa có kém đâu!” Yêu nước cho nên luôn luôn tin tưởng vào tiền đồ của dân tộc, mặc dầu đang gặp nhiều trở lực: “Hăng hái thơ ngâm phù vận bí Cõi Nam bền vững tự nghìn thu”2 Càng yêu nước ông càng hoạt động không ngừng: “Nhắn với những ai đồng chí biết Thân này dẫu mỏi dám thờ ơ” Chính vì yêu nước mà ông dễ dàng thông cảm với những người đồng điệu. Hồi Hà Nội thất thủ lần thứ hai, Hoàng Diệu tự vẫn. Cái chết của Hoàng Diệu được nhiều người kính phục, song cũng có những người như Ông Ích Khiêm chê bai, phản đối việc truy tặng Hoàng Diệu: “Khi khởi hành ra Hà Nội, Hoàng Diệu đã đem theo một chiếc dây thắt cổ rồi, tài giỏi trung liệt gì mà truy tặng!”. Bản thân Hoàng Diệu trước đó cũng dâng biểu trần tình trong có câu: “Thành mất dù có chết cũng có tội, đâu dám nói chết là trung nghĩa”. Triều đình sau đó cũng nghe lời Khiêm, không truy tặng gì nữa. Nhưng Tôn Thất Thuyết thì rất dứt khoát trong câu đối viếng: “Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện; Bình sinh trung nghĩa, đương niên thời cục3 khả vô tâm”. Dịch: Một chết mà nổi tiếng, (dầu) từ xưa đó chẳng phải là điều người anh hùng mong muốn; Khi còn sống đã là trung nghĩa, cho nên bàn đến thời cuộc lúc bấy giờ cũng không đáng thẹn. Chính trên tinh thần ấy, khi về triều nắm binh quyền, ông liệt ngay Hoàng Diệu vào đền Trung Nghĩa. Và cũng trên tinh thần ấy, ông sẽ tỏ lòng khâm phục vô hạn người võ sinh Long Châu “khảng khái giữ cô thành cho đến chết” 4 ___________________________________ 1, 2. Tài liệu của Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn). 3. Có bản chép là “đại cục”. 4. Xem tập san Văn Sử Địa số 45, trang 23, chú thích 3. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Ba, 2016, 08:30:54 am Lòng yêu nước của Tôn Thất Thuyết đã giúp ông thoát ra khỏi những câu nệ thường tình. Ông không trung quân một cách mù quáng. Ông là người hoàng phái, Gia Long là vua khai sáng nhà Nguyễn, nhưng ông không ngần ngại nói tới “cái tội của Gia Long rước Tây vào nhà”: Đức Gia Long trước có phục tình, Viện Tây khôi phục nước mình thành đô. Mênh mông thế giới hải hồ, Nợ cha con trả biết đời mô cho rồi (Vè Thất thủ kinh đô) Vua nào đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc, ông phế đi. Chính ông đã kề gươm vào cổ Hàm Nghi bắt ra khỏi hoàng thành, nhưng cũng sẽ hết lòng bảo vệ Hàm Nghi một khi nhà vua đã là linh hồn của phong trào Cần Vương. Lòng yêu nước của con người gần trọn đời chiến đấu ấy cũng khác xa thứ yêu nước tiêu cực nhiều chất yếu đuối, than thở. Đôi câu đối của ông ở Cổ Loa thể hiện một cách nhìn nhận, một lối cảm nghĩ đặc biệt. Trong khi người ta đến đền An Dương Vương với tiếng thở dài: Cung móng rùa đâu nước đã tan. (Quy trào vô cơ quốc dĩ không - Tùng Thiện Vương) thì khẩu khí của ông rất hùng: Tặc đáo Loa thành tuỳ diệt một Điện vô cung nỗ dũ oai linh1 Dịch: Giặc đến Loa thành đều chết tiệt Điện không cung nỏ lại càng thiêng. Không cứ gì hồi ấy là hồi tư tưởng ông có trận thắng Cổ Loa làm bối cảnh, lòng tin tưởng của ông còn biểu lộ trong nhiều dịp khác mà căn bản cũng vì yêu nước. Ngay trong những lúc gian nan nhất, ông vẫn ví mình như cột đá đứng trơ giữa dòng sâu, lạc quan: Trăm họ vì vua người vẫn gắng2 Và ước ao hy vọng: Phen này ví được lòng trời giúp Lối cũ xe về lắm thú vui. _______________________________________ 1. Cạnh câu đối có dòng lạc khoản: Ninh Thái Hộ đốc Tôn Thất Thuyết. 2. Tài liệu của Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn) Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 08:29:15 am Lòng yêu nước của ông lớn quá nên mặc dầu là người giàu tình cảm, chí hiếu1 trong lúc phải gánh vác việc quốc gia ông đã gác tình nhà ra một bên. Ông hối hả lo đưa vua đi2 đến nỗi để cha sa vào tay giặc. Ông để mẹ lại dọc đường bôn ba để xuất ngoại. Ông vui lòng để hai con vào sinh ra tử vì mục đích đánh Pháp cứu nước. Yêu nước và quên tình nhà, người ta đã cường điệu điểm đó của ông trong câu chuyện “giết đứa con trai chủ hoà” mà Bửu Tiến đã ghi lại. Và cũng dễ hiểu vì sao ông rất dễ thông cảm với những người đứng trước cảnh tình nhà, nợ nước không thể đi đôi với nhau: ông vô cùng “bồi hồi” khi nghe câu chuyện người võ sinh vừa là “tôi trung”, lại vừa là “con hiếu”. Trong một số tập san Văn Sử Địa trước đây, bạn Lương An cũng đã có viết về Tôn Thất Thuyết ít nhiều, qua đoạn này ta thấy được điểm thể tất lòng người đó của Tôn Thất Thuyết: “Thuyết đã tỏ ra cương quyết với những kẻ đầu hàng, nhưng Thuyết lại mềm mỏng với những ai chống Pháp. Khi bắt đầu lên sơn phòng, Thuyết đã nói với binh lính: Chú nào con, vợ chưa thành, Cho về sở định sở sinh việc nhà. Chú nào lưa mẹ còn cha, Cho về bảo dưỡng vậy mà đừng đi. ... Không đi thì nói cho xong Đi thì bạc lượng tiền đồng ngài ban. Phen này bỏ họ bỏ làng, Bỏ con bỏ vợ băng ngàn phò vua. Qua những cử chỉ trên, ai còn có thể tin rằng Thuyết chỉ là một tên độc tài khát máu thiếu nhân tính? Ngoài căn bản yêu nước, chắc chắn Tôn Thất Thuyết đã có nhiều đức tính khác khiến người chung quanh phải cảm phục. Hồi sang Trung Quốc rồi, năm 1889 Tôn Thất Thuyết có gửi thư về cho Phan Đình Phùng kèm cả 4 chữ Liêm chính công bình. Ông Đình nguyên mà gươm sắc súng lớn không làm khuất phục được này, trước đã từng mắng Tôn Thất Thuyết giữa triều, nay ghi lời ông khuyên bảo một cách hết sức trân trọng: Liêm bình khâm tướng huấn Ưu nhục lẩm thần tâm. (Theo Đào Trinh Nhất) ________________________________________ 1. Người ta kể chuyện Tôn Thất Thuyết thờ mẹ rất có hiếu. Một lần nghe ông ở Thanh Hoá chém ngưòi thẳng tay quá, bà mẹ tức tốc ra với con. Đến cửa dinh, bà nhất định không chịu vào, chỉ hỏi ông: “Má nghe con giết người nhiều quá nên chỉ muốn ra xin con một môi canh thịt người cho đỡ thèm”. Ông biết mẹ giận, sợ quá quỳ xuống sân năn nỉ nửa ngày ròng, xin mẹ tha tội. Nếu câu chuyện có thật thì một bà mẹ nhân từ như thế, lẽ nào không ảnh hưởng tốt chút gì tới tính tình của đứa con? 2. Theo tài liệu của Pháp, khi tấn công Mang Cá thất bại, Tường tính chuyện đưa Hàm Nghi qua hàng Pháp, nhưng Tôn Thất Thuyết đã vội vã đến bắt vua đi. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 08:37:19 am Một lần khác nghe tin một đồng chí cũ, Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích, hút thuốc phiện, Tôn Thất Thuyết làm thơ khuyên răn. Nguyễn Quang Bích không những không mếch lòng mà còn vui vẻ tiếp thu ý kiến. Trong một bài thơ của họ Nguyễn làm khi được tin Tôn Thất Thuyết, người ta thấy rõ nỗi mến phục của nhà nho yêu nước và có khí tiết này đối với Tôn Thất Thuyết. Họ Nguyễn đã xem Tôn Thất Thuyết như Phạm Trọng Yêm, một trung thần đời Tống, ví Tôn Thất Thuyết với thứ quả to giống tốt làm vững lòng mọi người1. Sự thực, Tôn Thất Thuyết được đề cao như vậy cũng không có gì quá đáng. Trong khi đưa vua Hàm Nghi bôn ba trên đường phục quốc, ông đã nêu cao phẩm chất của một người lãnh đạo phong trào. Nằm rừng lội suối, làm bạn với sơn lam chướng khí, làm bạn với cả cái chết luôn luôn rình chờ mình2 ông không chút sờn lòng: “Việc nước ở mình, dám đâu mệt nghỉ” (Văn tế Tôn Thất Thuyết). Chính trong khi đó lời thơ cũng như thư từ mệnh lệnh của ông tuyệt không có gì yếu đuối, khiếp nhược, mà đầy tin tưởng, kiên quyết cương nghị. Cũng trong khi đó, doạ dẫm không được, giặc Pháp và bè lũ tay sai của chúng lại quay ra dụ dỗ, thuyết phục. Đáp lại giọng “thống thiết” của Nguyễn Hữu Độ3 và Tam Cung, ông chỉ có những lời “bốc lửa” (incendiaire - chữ dùng của đối phương)4. Cuối cùng bọn bù nhìn cũng như quan thày chúng đã rõ: Tôn Thất Thuyết là người không thể mua chuộc được. Cứ xem chỉ dụ của Đồng Khánh hồi tháng 10.1885, cũng đủ thấy bọn chúng cho ông là ghê gớm nhất trong số các lãnh tụ Cần Vương và sợ ông nhất: “Vua Hàm Nghi là em Trẫm... nếu như trở về triều thời Trẫm sẽ phong cho làm Thanh - Nghệ - Tĩnh tam tỉnh tổng trấn (trước đây đã hứa tập phong công tước và làm tổng trấn Bắc Kỳ - TD), hậu cấp bổng lộc cung cấp cho ẩm thực khí dụng, được ưu đãi như bậc vương không có biếm truất gì cả. Hiện chuẩn cựu thần Hoàng Kế Viêm khai phục nguyên hàm là cũng muốn cho yên chớ không phải cần được... Chỉ trừ tên Lê Thuyết5 thề không khai phục thu dụng được, nhưng biết giác ngộ trở về thời cho lui về nơi nhàn tản (không được làm quan mà bị an trí - TD). Còn dư ra nữa, những người làm đầu trong đảng loạn hễ ai nguyên là người lúc trước có quan chức (Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ, Lê Trực...) đều cho theo nguyên hàm mà bổ dụng... Trần Xuân Soạn, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Đình Phùng trước đây có chỉ dụ chuẩn cho phóng xá, nhưng mà biết giác ngộ quay về cũng khoan giảm tội trước cho và thưởng cho chức hàm để yên lòng phản trắc... Khoản này, nhân dịp Đại Pháp toàn quyền đại thần Pôn Be đến Kinh cận yết, Trẫm đã tận mặt thương thuyết với quý đại thần, ý hợp, quyết không nuốt lời...” (Quốc triều chính biên toát yếu). ___________________________________ 1. Tài liệu của Trần Huy Liệu (Phong trào cách mạng Việt Nam qua thơ văn.) 2. Sau khi Tôn Thất Thuyết rời Tân Sở, chính Tường đã mua chuộc một võ quan ám sát ông, nhưng không thành. Đồng thời toà Khâm gửi điện mật cho các tỉnh đặt ông ra ngoài vòng pháp luật (forclos et hors la loi). Mặt khác những sự phản bội thỉnh thoảng vẫn xảy ra. 3. Trong thư gửi Tôn Thất Thuyết tháng 7.1885, Độ có những câu: "Thánh thượng đương độ thiếu thời, thể chất yếu đuối, nếu Ngài vì ông mà gặp sự không may thì ông sẽ chịu trách nhiệm thế nào trước nhà nước, hậu thế sẽ dị nghị ông ra sao… Ông là người của hoàng gia, Tiên đế đã ủy thác cho ông làm phụ chính… Ông còn có thể chuộc một phần lỗi lầm nếu ông chịu rước thánh thượng hồi loan… Như vậy ông sẽ làm vừa lòng Tam Cung (mẹ Tự Đức, mẹ Dục Đức, mẹ Kiến Phúc) và toại nguyện thần dân trong nước…". 4. Trong lời cáo thị của Hàm Nghi, thực chất là của Tôn Thất Thuyết, khi Đồng Khánh mới lên ngôi (cuối tháng 9.1885) có đoạn: "Ta truyền lệnh cho mọi người chuẩn bị sẵn sàng để tiêu diệt hết loài bạch quỷ… Một khi ta đã cầm tù và lấy đầu hết bọn phản quốc ta sẽ thắng được người Tây. Đức Cao hoàng ngày xưa trong cơn quẫn bách như thế mà chỉ một trận cũng đã lấy lại được cả non sông…". 5. Bọn Đồng Khánh đã làm một việc rất có "ý nghĩa" là tước tên của Tôn Thất Thuyết và gia đình ông trong sổ Tôn nhân, đổi ông qua họ mẹ. Sự thực thì chúng cũng không đáng để cho ông nhận là họ hàng. Khi còn tại triều, ông đã chém đến 40 tên trong hoàng phái phạm tội thân Pháp, điều đó nói rõ thái độ của ông đối với bọn Tôn Thất phản quốc. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Ba, 2016, 10:49:15 pm Con người ghê gớm đối với giặc nên giặc sợ. Con người đó được sự ái mộ của mọi người yêu nước chân chính cũng là dễ hiểu. Chính vì yêu nước mà sau khi sang Trung Quốc, Tôn Thất Thuyết mong đợi có ngày được trở về giúp nước. Người nào tặng ông câu thơ “Tấc lòng như ngựa muốn truy phong” thực đã nhìn thấu gan ruột của ông. Sau này, khi đã tuyệt vọng về sự giúp đỡ của triều Thanh rồi, phần tiêu cực của ông đã chớm sẵn trong hồi dưỡng bệnh ở Thanh Hoá1 nay lại bộc lộ, ông quay ra mộ đạo Phật. Nhưng tinh thần yêu nước của ông vẫn không kém phần sôi nổi. Ngọn lửa nhiệt tình vì quốc gia, dân tộc đốt cháy trong lòng ông đến nỗi đêm đêm ông phải xách kiếm chém đá hàng giờ cho vơi tâm sự “cứu chữa không tài, đầy lòng nóng riết” (Văn tế Tôn Thất Thuyết). Ồng già đập đá (Đả thạch lão) là hình ảnh cuối cùng về ông còn ghi lại trong người dân Quảng Tây hồi bấy giờ. Để rồi những khi mỏi mệt ngừng tay, nỗi ưu hoài sầu xứ của ông lại tăng lên hơn bao giờ hết. Một đêm vào lúc đập đá xong, ông vẳng nghe bên hàng xóm có người ngâm mấy câu ca dao: Nửa đêm thức dậy trông trời, Ông sao bên Bắc lại dời sang Đông. Bể hồ lai láng mênh mông... Đồng thanh tương ứng, ông không nén đợi được đến rạng ngày, bẻ rào nhảy sang gặp người đồng bang mà cũng đồng bệnh đó nói chuyên suốt sáng2. Mấy câu ca dao trên đây cũng là những nỗi niềm nung nấu tâm hồn ông cho đến khi chết. Ngày nay điểm lại hành trạng cũng như tâm sự ý chí của Tôn Thất Thuyết, dĩ nhiên ta có thể vạch ra một số sai lầm trong hành động, nhận thức của ông. Những tính nết của ông, những quan niệm về trung hiếu của ông không phải cái gì cũng đáng đề cao cả. Ta cũng không quên rằng con người cương quyết chủ chiến đối với Pháp ấy đã có lần trấn áp một vài cuộc nổi dậy của nông dân. Nhưng một con người thuỷ chung không thoả hiệp với giặc suốt đời và toàn gia đều hy sinh hoặc đóng góp ít nhiều cho kháng chiến, con người ấy trước hết đáng trọng là ở điểm đó. Càng đáng trọng nếu ta đặt ông vào hoàn cảnh lúc bấy giờ: “Nó (giặc) đủ, ta kiệt, viện tuyệt thế cùng. Võ biền thì sợ giặc mà chạy hàng đàn, văn thân thì ngóng chừng mà tan cả lũ”3. Kinh đô thất thủ ngày 5.7 thì 15.7 (mười hôm sau) De Courcy đã triệu tập được đông đủ hoàng gia tại “toà Khâm” để lập một lão già chẳng trót đời làm Nhiếp quốc chính, đúng như câu chửi của nhân dân: “Càng hay Tôn Thất, Tây càng dụng”. Chính trong khi đó Tôn Thất Thuyết giương cao ngọn cờ Cần Vương yêu nước vào những giờ phút đen tối của lịch sử nước nhà. Không phải nói dài, điều ấy đủ để ta dành cho ông một địa vị xứng đáng trong cuốn sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam hồi thực dân Pháp mới sang xâm lược nước ta. ____________________________________ 1. Xem tập san Văn Sử Địa số 45, tr. 23, chú thích I. 2. Cụ Doãn Kế Thiện, người kể cho chúng tôi nghe câu chuyện này cũng không nhớ rõ tên nhà chí sĩ ấy. 3. Di biểu của Hoàng Diệu năm 1882; tình hình hồi này còn bi đát hơn thế nhiều. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 07:37:31 am TÔN THẤT THUYẾT, ANH HÀO LẮM NỖI NHIÊU KHÊ NGUYỀN QUANG TRUNG TIẾN1 Nhắc đến những khuôn mặt lớn trong lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, không ai lại không đề cập đến tên tuổi của Tôn Thất Thuyết. Song xác định đó là một nhân vật anh hùng lớn của dân tộc thì chẳng có mấy ai lại biểu tỏ một thái độ không chút e dè! I. Từ cuộc đời và sự nghiệp Tôn Thất Thuyết xuất thân từ một gia đình hoàng tộc, là cháu 5 đời của Chúa Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), hay còn gọi là Chúa Hiền (hệ tổ Hệ thứ năm của họ Nguyễn Phúc); là cháu 4 đời của thế tử Nguyễn Phúc Hiệp, tước Quốc Oai Công (người mở đầu cho sự tồn tại của Phòng thứ tư thuộc Hệ năm họ Nguyễn Phúc). Ông sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi(1839) tại làng Phú Mộng, bên bờ sông Bạch Yến cạnh kinh thành Thuận Hoá - nay thuộc thôn Phú Mộng, phường Kim Long, thành phố Huế. Tôn Thất Thuyết vốn người vạm vỡ, khuôn mặt đầy đặn, nước da hơi ngăm đen thích cắt tóc ngắn, không chuộng lối trang sức bề ngoài, ít nói nhưng nóng nảy và cương quyết, ham luyện võ nghệ và thích các hoạt động mạnh mẽ. Con người đầy “võ tính” ấy lại khởi đầu bước công danh của mình bằng con đường văn quan. Năm 30 tuổi (1869) Tôn Thất Thuyết giữ chức án sát tỉnh Hải Dương. Đến tháng 7 năm 1870 được sung làm Biện lý bộ Hộ, rồi sau đó (11.1870) chuyển sang chức Tán tương (một chức quan văn giúp thêm việc quân sự ở các tỉnh, các quân thứ) giúp Tổng thống quân vụ đại thần Lạng-Bằng-Ninh-Thái là Hoàng Kế Viêm “dẹp loạn” ở các tỉnh phía Bắc. Sau chiến dịch này, Tôn Thất Thuyết được thăng thụ “Quang Lộc Tự Khanh” và làm Tán lý quân thứ Thái Nguyên. Kể từ đây, ông chuyên hoạt động về quân sự và nổi tiếng dần qua các cuộc giao tranh với những cánh quân chống lại triều đình Huế. Tháng 12 năm 1870, Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc đánh dẹp, phá tan sào huyệt của nhóm Đặng Chí Hùng ở Thái Nguyên; tháng 3 năm 1872 ông cùng Trương Văn Để đánh tan quân Tàu Ô ở Hải Dương, giết chết Hoàng Tề; tháng 8 năm 1872 lại đánh thắng toán giặc Khách ở Quảng Yên; tháng 12 năm 1873 ông cùng Hoàng Tá Viêm phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phục binh tại Cầu Giấy (Hà Nội) giết chết viên chỉ huy quân sự trong đợt Pháp đánh miền Bắc lần thứ I là Francis Garnier; tháng 7 năm 1874 ông cùng Hoàng Kế Viêm tự động đem quân từ Sơn Tây vào Nghệ An đàn áp được cuộc nổi dậy của hai sĩ phu Trần Tấn và Đặng Như Mai2; tháng 3 năm 1875 ông dập tắt cuộc khởi nghĩa ở Cổ Loa (Bắc Ninh), bắt chém thủ lĩnh tại trận; tháng 6/1875 lại bức hàng nhóm của Dương Đình Tín ở Thái Nguyên; đến tháng 9 năm 1875 lại bắt sống được tướng Cờ Vàng là Hoàng Sùng Anh ở Thái Nguyên... Với hàng loạt quân công, Tôn Thất Thuyết được vua Tự Đức thăng thưởng rất nhanh: từ chức Tán lý quân thứ Thái Nguyên vào cuối năm 1870, đến tháng 3 năm 1872 ông được bổ làm Bố chính tỉnh Hải Dương; sang năm 1873 là Tham tán đại thần hàm Thị lang bộ Binh, rồi lên Thự Tham tri bộ Binh; tháng 3 năm 1874 vẫn là Tham tán đại thần nhưng được thăng Hữu Tham tri bộ Binh; tước Vệ Chính Nam; tháng 4 năm 1874 lại giữ chức Tuần vũ tỉnh Sơn Tây kiêm Tham tán đại thần; tháng 3 năm 1875 ông là Thự Tổng đốc Ninh-Thái kiêm Tổng đốc các việc quân Ninh-Thái-Lạng-Bằng; đến tháng 10 năm 1875 lại được bổ làm Hiệp đốc quân vụ đại thần, chức tước gần ngang với Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm. Từ cuối năm 1875 cho đến khi về Huế (1881) Tôn Thất Thuyết bịnh hoạn liên tục, có khi phải đem thầy thuốc đi theo để vừa làm việc vừa điều trị, nên việc quân nhiều lúc chậm trễ. Vả lại đất Bắc lúc này quá sức hỗn loạn, Tôn Thất Thuyết khó lòng ổn định tình thế theo ý muốn của vua Tự Đức, nên ông liên tục bị nhà vua quở trách và phạt nặng: tháng 12 năm 1874 bị giáng 2 cấp, tháng 5 năm 1876 giáng xuống Tham tri cách bớt tước Nam, tháng 10 năm 1876 giáng 2 cấp lưu, tháng 12 năm 1876 giáng 4 cấp lưu, tháng 6 năm 1877 lại bị giáng 4 cấp. Tuy nhiên, vua Tự Đức vẫn coi trọng tài năng và chí khí của Tôn Thất Thuyết nên đến tháng 12 năm 1881 ông lại được nhà vua gọi vào triều giữ chức Thượng thư bộ Binh và sang tháng 2 năm 1882 lại kiêm thêm chức Hải phòng sứ Kinh thành Huế. Năm 1883, Tôn Thất Thuyết chính thức lãnh chức Thượng thư bộ Binh và sau đó được cử vào Cơ Mật Viện (6.1883). Trước lúc qua đời, vua Tự Đức đã chọn Tôn Thất Thuyết làm đệ tam phụ chính sau Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường để giúp cho Dục Đức kế vị (7.1883) nhưng Tôn Thất Thuyết đã cùng với Nguyễn Văn Tường lật đổ Dục Đức để đưa Hiệp Hoà lên ngôi. Tháng 8 năm 1883 Tôn ThấtThuyết được thăng Điện tiền tướng quân, Hiệp biện Đại học sĩ, tước Vệ Chính Bá; nhưng vì phản đối hoà ước Harmand (25-08-1883) nên bị Hiệp Hoà đổi sang làm Thượng thư bộ Lễ, rồi Thượng thư bộ Lại. Không chấp nhận chủ trương đầu hàng của Hiệp Hoà, Tôn Thất Thuyết lại làm cuộc đảo chính vào cuối tháng 11 năm 1883, phế bỏ Hiệp Hoà để đưa Kiến Phúc lên thay, và về giữ lại chức Thượng thư bộ Binh. Dựa vào binh quyền, Tôn Thất Thuyết loại bỏ dần các phần tử thân Pháp trong nội bộ triều Nguyễn, thu tóm quyền lực trong tay để chuẩn bị cho công cuộc chống Pháp sắp tới. Việc đưa Hàm Nghi lên ngôi vào đầu tháng 8 năm 1884, sau cái chết của vua Kiến Phúc, cũng xuất phát từ ý đồ của Tôn Thất Thuyết nhằm bảo đảm cho cán cân lực lượng trong nội bộ triều đình Huế nghiêng hẳn về phía những người chủ trương chống Pháp. Dưới thời Hàm Nghi, triều đình Huế tuột dần khỏi tay người Pháp, hoà ước Patenôtre (6.6.1884) cũng chưa được công nhận, và Tôn Thất Thuyết thực sự trở thành cái gai mà người Pháp muốn nhổ ngay lập tức. Trong tình thế đó, Tôn Thất Thuyết đã ra tay trước để giành thế chủ động bằng cuộc tấn công quân Pháp tại Huế vào đêm 4 rạng sáng 5.7.1885. Mặc dù thất bại, vua Hàm Nghi phải rời bỏ kinh thành, song hành động của Tôn Thất Thuyết đã có tác dụng nâng tinh thần chống Pháp của nhân dân lên cao; và sau hai lần xuống chiếu Cần Vương, một phong trào đấu tranh vũ trang thực sự bùng nổ ở khắp hai miền Trung-Bắc Việt Nam ủng hộ những nhà yêu nước. Sau những ngày gian lao đưa vua Hàm Nghi vượt qua đất Lào để ra sơn phòng Hà Tĩnh xây dựng căn cứ lãnh đạo phong trào kháng Pháp, vào tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết để hai con trai là Đàm và Thiệp tiếp tục duy trì “triều đình Hàm Nghi” chống Pháp, còn mình cùng với Trần Xuân Soạn, Nguỵ Khắc Kiều lên đường sang Trung Hoa cầu viện. Cuộc ngoại viện bất thành, Tôn Thất Thuyết ở lại và mất tại Trung Quốc vào ngày 22.9.1913. ____________________________________ 1. Đại học KHXH-NV Huế. 2. Cần tìm hiểu thêm về mục đích cuộc đưa quân vào Nghệ An lần này của Tôn Thất Thuyết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 10:22:10 pm II. Đến những nỗi nhiêu khê Cuộc đời của Tôn Thất Thuyết quả thật đã một lòng vì nước quên mình, xả thân hy sinh tất cả để mưu cầu giành độc lập cho dân tộc. Thế nhưng, từ những góc độ chủ quan phiến diện, hẹp hòi và thiếu sự đồng cảm, người ta thường có những đánh giá không xác đáng công lao to lớn của ông trong lịch sử dân tộc. Những người mang nặng đạo lý phong kiến một cách mù quáng như Nguyễn Nhược Thị thì xem việc bỏ Dục Đức, phế Hiệp Hoà, lập Kiến Phúc, tôn Hàm Nghi của Tôn Thất Thuyết là hành động của kẻ “quên lời sách xưa”, “vì thân”, “chẳng giữ đạo trung”, “bạo tàn”, “đa nghi”, “quyền thần sâu hiểm”... 1. Những người một thời từng cộng tác với ngoại bang như Trần Trọng Kim thì xem thái độ tránh né cuộc diện kiến tướng De Courcy ở Toà Khâm sứ của Tôn Thất Thuyết là nhát gan2, và cuộc tấn công quân Pháp sáng 5.7.1885 ở Kinh thành Huế là làm “loạn”. Những người có tinh thần dân tộc, nhưng cả tin vào những giai thoại và thiếu sự xét đoán kiểm chứng tư liệu như Phan Trần Chúc thì xem Tôn Thất Thuyết là người độc đoán, hiếu sát, tàn bạo gần như mất nhân tính3. Người Pháp thì đương nhiên xếp ông vào loại thù địch, ương ngạnh, kém thức thời; song đau khổ nhất là xem việc sang Trung Quốc cầu viện của ông như một hành động đào ngũ4. Còn đối với những nhà nghiên cứu lịch sử sau năm 1954, phần lớn đều đánh giá cao nhân cách Tôn Thất Thuyết, trân trọng tấm lòng yêu nước nhiệt thành của ông; song vẫn chê trách ông không biết dựa vào dân trong cuộc tấn công quân Pháp ở Huế ngày 5.7.1885, chỉ trích sai lầm của ông về ảo tưởng cầu viện nhà Thanh chống Pháp, và xem hoạt động đàn áp khởi nghĩa nông dân của ông trong khoảng 10 năm trước khi về Huế là lỗi lầm khá nghiêm trọng... ________________________________ 1. Nguyễn Nhược Thị - Hạnh thục ca, (Trần Trọng Kim phiên dịch), Sài Gòn, Tân Việt, 1950, tr. 20-33. 2. Trần Trọng Kim – Việt Nam sử lược, Sài Gòn, Tân Việt, In lần thứ 7, 1986, tr. 550. 3. Phan Trần Chúc – Vua Hàm Nghi, Hà Nội, Chính Ký, 1952. 4. Gosselin (Ch.) - L’Empire d’Annam, Paris, Perrin et Cie, 1904. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Ba, 2016, 10:27:38 pm Cho đến ngày nay, ở Huế vẫn còn truyền tụng những câu ca dao liên quan đến Tôn Thất Thuyết như: “Nước Nam có bốn anh hùng Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu” Hoặc những câu thơ: “An Nam vận nước gặp tai ương Mấy đứa gian hung kết loạn trường Cái mặt bè bè Tôn Thất Thuyết Con ngươi trắng dã Nguyễn Văn Tường”... (Nguyên văn: An Nam quốc vận ngẫu tai ưong Kỷ cá gian hung cấu loạn trường Diện mục hoành sinh Tôn Thất Thuyết Nhãn sinh đa bạch Nguyễn Văn Tường...) Hay là: “Một sông hai nước khôn đường nói Bốn tháng ba vua điềm chẳng lành” (Nguyên văn: Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường). Những lời chỉ trích trên luôn gắn liền với tên tuổi của Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, bởi vì thực tế trước ngày Hàm Nghi xuất bôn, cả hai ông cũng có sự gắn kết mật thiết về việc nước. Song phần Nguyễn Văn Tường đã được lịch sử kiểm chứng, riêng Tôn Thất Thuyết đã bị xuyên tạc bởi giọng lưỡi của những phần tử cam tâm làm nô lệ, không có tinh thần bảo vệ và giành lại nền độc lập cho Tổ Quốc. Cái gọi là “quyền thần”, là “bạo tàn” mà người ta gán ghép cho ông Thuyết thực chất là những hành vi phát xuất từ động cơ vì nước, vì dân của ông. Một Dục Đức bất tài, hiếu dâm lại thích quan hệ với người của Pháp1; một Hiệp Hoà chủ trương thoả hiệp với giặc, muốn cắt bỏ quyền lực của phái chủ chiến; một Trần Tiễn Thành chỉ biết nói đến chữ “hoà”, chữ “bại” và muốn dẹp những gì chống lại Pháp; một Tuy Lý Vương Miên Trinh thích chuyện câu kết với kẻ thù; một Gia Hưng quận vương Hồng Hưu tính lập ngai vàng dựa vào bàn tay của địch..., tất cả những người đó đều đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của cả dân tộc, nhưng lại có thế lực lớn trong triều và được người Pháp hậu thuẫn. Nếu Tôn Thất Thuyết ra tay thiếu cương quyết, phái chủ chiến chắc chắn sẽ lâm vào thế nguy, và triều đình Huế có thể đã nằm gọn trong tay người Pháp từ sau ngày Tự Đức mất. Hơn nữa, con người của Tôn Thất Thuyết luôn lấy Tổ quốc làm trọng, xem Tổ quốc còn lớn hơn cả cái nghĩa quân thần, nên hành động của ông càng đáng được người đời sau khen ngợi. Ngay cả dưới thời vua Tự Đức, sau trận phục kích giết chết Francis Garnier (12.1873), Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết bị vua Tự Đức sai Trần Đình Túc ra bảo phái rút quân để người Pháp khỏi phản ứng trong việc thương thuyết. Bất mãn vì sự bạc nhược của triều đình, Viêm và Thuyết đồng trả lời: “Tướng ở ngoài chỉ biết lo việc đánh giặc”2, và vẫn đóng quân tại chỗ, không chịu tuân theo lệnh của nhà vua. Rõ ràng con người của Tôn Thất Thuyết vốn xem chữ “nước” là trên hết, cho nên trách cứ những hành động vì nước của ông thì chỉ có loại người thiếu tinh thần ái quốc mà thôi. Chính vì lẽ đó người Huế đương thời đã ca ngợi: “Quan Tướng khí khái anh hùng Gian đồ phỉ lệ giết cùng chẳng tha”3. ___________________________________ 1. Vua Tự Đức nhận xét về Dục Đức rằng: "Mắt hơi có tật, giấu kín không rõ ràng, sợ sau không sáng, tính lại hiếu dâm, cũng rất là không nên, chưa chắc đương nổi việc lớn". ĐNTL, tập 35, H., KHXH, 1976, tr. 199. 2. ĐNTL, tập 32, 1975, tr. 349-351. 3. Vè chống Pháp - Thất thủ kinh đô - Thất thủ Thuận An (Lương An sưu tầm, chỉnh lý), Huế, Thuận Hoá, 1983, tr. 66. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Ba, 2016, 11:36:50 am Đối với hoạt động đàn áp các cuộc nổi đậy chống lại triều Nguyễn, quả thật Tôn Thất Thuyết là người tham gia tích cực và là “hung thần” của những nghĩa quân. Có lần ở Cổ Loa - Bắc Ninh (3.1875), sau khi bắt sống được thủ lĩnh Trận, Tôn Thất Thuyết đã cho quân sĩ tiêu diệt toàn bộ nghĩa quân trong làng, không chừa một ai được sống sót, và cho treo câu đối ở trước đền Cổ Loa rằng: “Giặc mà đến Loa thành thì lập tức bị tiêu diệt Đền không có nỏ rùa thần nhưng vẫn đủ oai linh” (Nguyên văn: Tặc đáo Loa thành tuỳ diệt một Điện vô quy nỗ dữ oai linh) Hoặc vào tháng 7 năm 1874, các sĩ phu ở Nghệ - Tĩnh là Trần Tấn, Đặng Như Mai phất cờ khởi nghĩa chống lại chính sách đầu hàng của Tự Đức, phản đối hoà ước Giáp Tuất (15.3.1874). Phương châm của cuộc khởi nghĩa này là “quyết đánh cả Triều lẫn Tây”. Tôn Thất Thuyết hay tin đã không cần đợi lệnh của Tự Đức, mà tự động cùng Hoàng Kế Viêm kéo 2000 quân từ Sơn Tây vào Nghệ An để đánh dẹp. Cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị dập tắt dưới bàn tay của Tôn Thất Thuyết!1 Trong cách nhìn nhận của nhiều người hiện tại, các cuộc đàn áp do Tôn Thất Thuyết chỉ huy đã làm giảm bớt chất anh hùng, và ông không còn xứng đáng được quần chúng mến mộ, khâm phục một cách tuyệt đối nữa. Đàn áp khởi nghĩa nông dân đồng nghĩa với từ “gây tội ác”, và tiêu diệt phong trào chống sự thỏa hiệp của triều đình Tự Đức là thể hiện sự mù quáng của ý thức trung quân. Lối suy diễn kiểu như thế này kể ra thật hơi quá đáng, bởi vì chúng ta đã đem thước đo đạo đức hiện đại để quy cho một người sống cách đây hơn cả thế kỷ. Thêm vào đó, thực tế lịch sử ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1870-1880 đã chi phối mạnh mẽ hướng hành động của Tôn Thất Thuyết. Đây là thời kỳ hỗn loạn và cực kỳ phức tạp, với sự hiện diện của nhiều thế lực khác nhau, liên tục tranh giành, thanh toán lẫn nhau: quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, phỉ Cờ Trắng của Lương Văn Lợi - Bàn Văn Nhị, phỉ Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh - Lương Tích Thiên, rồi bọn cướp biển, giặc Tàu Ô, các đám thổ phỉ, các toán nông dân khởi nghĩa, rồi quân Pháp và cả quân đội Mãn Thanh cũng có mặt. Sự hỗn loạn đó đã được Giám mục giáo phận miền Đông Bắ kỳ là Colomer miêu tả: “Tình trạng xã hội và chính trị này thiết tưởng đừng nghĩ đến là hơn. Tất cả như chìm lỉm sụp đổ, đó là khung cảnh chung. Những trận lụt lội, những cuộc nổi loạn của các đám giặc cướp, những lần xâm nhập của bọn trộm cắp, bọn hải tặc và bọn cướp sông, những vụ bắt bớ trẻ em và đàn bà của những đám du thủ du thực Trung Hoa… Trong khi đó, đám dân An Nam khốn khổ không ngớt bị sỉ nhục: đối với người Pháp họ chỉ thấy toàn khiển trách và đe dọa, quân đội chính quy của Trung Hoa thì đối xử với họ còn hơn một kẻ nô lệ, kéo lê họ đi như những kẻ cu li trong những lần chinh phạt các đám giặc ở những tỉnh phía Bắc, còn đối với bọn giặc cướp, những đám quân ô hợp của người Tàu và người Thượng ở vùng núi, bọn này tàn phá, đốt nhà và chém giết tùy ý…”2. _________________________________ 1. Cần nhìn nhận, đánh giá lại hành động này của Tôn Thất Thuyết qua các ghi chép của người Pháp có mặt ở nước ta thời đó. 2. Romanet du Caillaud - Histoire de l'intervention francaise au Tonkin de 1872 à 1874, Paris, Challamel ainé, 1880, tr. 410-412. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 09:30:53 am Trong bối cảnh như vậy, sự nổi dậy của những toán nông dân chỉ góp thêm phần rối loạn trật tự xã hội, theo cách nhìn nhận của chính quyền triều Nguyễn. Tôn Thất Thuyết là người chịu trách nhiệm về việc quân trên một khu vực rộng lớn ở miền Bắc, lẽ dĩ nhiên ông phải thi hành nhiệm vụ của mình. Nếu phân loại các trận giao chiến của Tôn Thất Thuyết thời kỳ này, chúng ta mới thấy rõ tấm lòng của một vị võ tướng tuy là phong kiến nhưng lại có quan niệm đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Không chỉ những toán nông dân, những cuộc khởi nghĩa do sĩ phu lãnh đạo, Tôn Thất Thuyết còn tiến hành trấn áp các toán giặc “Khách”, các toán “Tàu Ô”, bọn phỉ Cờ Vàng, phỉ Cờ Trắng, các toán thảo khấu ở vùng rừng núi. Và đặc biệt Tôn Thất Thuyết đã chiêu phục được tướng Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc để sử dụng vào việc đánh dẹp các toán giặc cướp người Hoa lẫn thực dân Pháp trên đất Bắc. Không chỉ tích cực trong việc ổn định tình hình xã hội, Tôn Thất Thuyết còn tỏ ra có quyết tâm cao trong việc bảo vệ nền độc lập của đất nước. Ông đã góp phần chặn đứng mũi tiến quân của Pháp từ Hà Nội ra Sơn Tây, bao vây uy hiếp quân Pháp và bất chấp lệnh rút quân của vua Tự Đức. Đó là một hành động mà chỉ có những người nhiệt thành yêu nước và tâm trí sáng suốt, vì dân tộc sẵn sàng bỏ qua những ràng buộc của các giềng mối phong kiến như Tôn Thất Thuyết mới có1. Và nếu như vua Tự Đức quan tâm nhiều đến chuyện “dẹp loạn” hơn là chống Pháp, thì đối với Tôn Thất Thuyết chống xâm lược là nhiệm vụ thiêng liêng mà ngay cả nhà vua cũng không thể cấm đoán ông được. Tinh thần chống Pháp của Tôn Thất Thuyết bộc lộ mạnh mẽ đến nỗi vào tháng 10 năm 1875, khi ông đang làm Tổng đốc Ninh - Thái, phái viên Pháp ở Hà Nội vô cùng bực tức đề nghị triều đình Huế phải thay người, vua Tự Đức đã bổ ông đi chỗ khác2. Chắc hẳn do chán chường thái độ bạc nhược của triều đình trước sự lấn tới ngày càng trắng trợn của thực dân Pháp, từ năm 1876 Tôn Thất Thuyết thường lâm bệnh, muốn thôi đảm đương việc quân và dâng sớ lên vua Tự Đức bày tỏ ý muốn đi tu3. Một con người có tâm huyết lớn lao như Tôn Thất Thuyết lại mang ý tưởng thoát tục như thế, nếu không vì chán cảnh “nồi da xáo thịt”, chắc cũng vì cảm thấy bất lực trước nguy cơ mất nước đang dần đến! Từ lúc về Huế tham dự triều chính, đặc biệt là sau ngày vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết đã làm hết sức mình để biến triều đình Huế thành trung tâm đầu não của cuộc kháng Pháp. Song lực yếu thế cô, Tôn Thất Thuyết phải chịu cảnh đắng cay khi Hiệp Hoà ký hàng ước Quý Mùi (25.8.1883), phải chấp nhận xuôi tay khi Kiến Phúc cho ký hàng ước Giáp Thân (6.6.1884). Đến lúc đưa Hàm Nghi lên ngôi (2.8.1884), Tôn Thất Thuyết mới thực sự nắm được cái triều đình đã mất hết quyền lực, và ông cố chèo lái để đưa nó thoát ra khỏi những ràng buộc mà người Pháp đang thiết lập. Người Pháp phải công nhận “triều đình An Nam đã biểu thị một thái độ không hèn" song họ nhanh chóng xác định đươc “thái độ ấy do Hội đồng Phụ chính đề ra”4, và dĩ nhiên Tôn Thất Thuyết trở thành đối tượng cần thanh toán hàng đầu của người Pháp. __________________________________ . Về sau Nguyễn Trọng Hợp và Trương Gia Hội đến quân thứ bàn bạc mãi nên Tôn Thất Thuyết và Hoàng Tá Viêm mới án binh bất động. . ĐNTL, tập 33, tr. 235-236. . Như trên, tr. 358. . Marcel Gauthier - Le roi proscit. Hanoi, Impr. d’Extrême-orient, 1940, tr 41. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Ba, 2016, 09:33:38 am Không chỉ bảo vệ thể diện của quốc gia, Tôn Thất Thuyết còn trực tiếp gởi công hàm cho chính phủ Pháp yêu cầu rút quân đội của họ ra khỏi Mang Cá, phản đối việc bắt bớ quan lại Việt Nam ở Bắc Kỳ, phản đối việc khám xét tàu thuyền của người Việt ở Trung Kỳ, và nhân danh Viện Cơ Mật yêu cầu chính phủ Pháp trả lại những khoản thâu tiền thuế thuốc phiện, khai mỏ và các thuế khác. Trong thư gởi Khâm sứ Lemaire, Tôn Thất Thuyết cho rằng quân Pháp đã không thể nào bình định được Bắc Kỳ thì nên triệt hết quân đội viễn xâm về nước1. Vào tháng 5 năm 1885, người Pháp ở Bắc Kỳ tuyển mộ hai đại đội pháo thủ người Việt, Tôn Thất Thuyết viết cho Lemaire rằng: “Ý định của ngài Tổng tư lệnh là thế nào và ý nghĩa hai chữ bảo hộ là thế nào? Việc lập các toán pháo thủ là trái ngược với các điều khoản của hiệp ước”. Thư của Tôn Thất Thuyết được sao gởi đến các tỉnh Bắc Kỳ, kèm theo chỉ thị của triều đình Huế là không được nghe theo mệnh lệnh của người Pháp2. Những phản ứng trì hoãn việc thi hành hoà ước, tăng cường chuẩn bị chiến đấu và kích động các cuộc nổi dậy chống Pháp ở Cămpuchia của Tôn Thất Thuyết đã khiến thực dân Pháp quyết tâm loại bỏ ông ra khỏi triều đình Huế. Ngày 21.5.1885, Bộ trưởng ngoại giao Pháp Freycinet lệnh cho Khâm sứ Huế “phải cương quyết trừng phạt hành vi của viên Thượng thư bộ Binh nước Nam”, “không thể để Thuyết ở chức Phụ chính lâu hơn", phải “bãi chức của Thuyết và đày đi xa”3. Ngày 1 tháng 7 năm 1885, trên đường vào Huế để giải quyết vấn đề triều đình An Nam không muốn lệ thuộc vào người Pháp, tướng Roussel de Courcy viết: “Trễ còn hơn không, ta sẽ bắt Tường và Thuyết hoặc ta sẽ làm cho chúng hết phương phá hoại ta”4. Thấy rõ dã tâm của De Courcy, Tôn Thất Thuyết chủ động đi trước một bước, tổ chức cuộc tấn công quân Pháp vào đêm 4 rạng sáng 5.7.1885. Kết quả là vua Hàm Nghi phải rời bỏ kinh thành Huế ra Tân Sở, sang Lào rồi ra Sơn phòng Hà Tĩnh, và Tôn Thất Thuyết dưới danh nghĩa nhà vua đã phát động một cuộc đấu tranh vũ trang thực sự ở hai miền Trung - Bắc chống lại người Pháp. Mặc cho ba bà thái hậu và nhiều quan lại nhủn chí chấp nhận quay về làm tay sai cho giặc, Tôn Thất Thuyết vẫn khẳng khái tuyên bố: “Về Huế là tự mình đưa chân vào ngục thất, mà người cầm chìa khoá là quân Pháp. Thừa nhận hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quí, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gầy dựng, và còn có tội với hậu thế"5. Đại uý Ch. Gosselin cay đắng viết: “Quan lại, đặc biệt là các quan lại cao cấp hầu hết đều bỏ đi, nhập bọn với Tôn Thất Thuyết. Ảnh hưởng của Tôn Thất Thuyết như là tăng lên hàng ngày, sĩ phu nổi lên vũ trang tranh đấu khắp nơi, không còn ai để cắt lúa chín ngoài đồng…"6. ___________________________________ 1. Phạm Văn Sơn – Việt Nam Cách mạng cận sử. Sài Gòn, Khai Trí phát hành, 1963, tr 23. 2, 3. A. Delvaux- "La prise de Huế par les Francais", B.A.V.H, tháng 4-6 năm 1920, tr 7. 4. Ch. Gosselin - L'Empire d'Annam. Sđd, tr. 197. 5. Phạm Văn Sơn – Việt Nam Cách mạng cận sử. Sđd, tr. 44. 6. Ch. Gosselin - L’Empire d'Annam. Sđd, tr. 247 Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:55:03 am Cuộc chiến đấu giữa quân kháng chiến và thực dân Pháp ngày càng ác liệt, nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, nghĩa quân nhanh chóng bị yếu thế. Là người phát động và lãnh đạo phong trào kháng Pháp, Tôn Thất Thuyết phải có một phương sách để đưa cuộc chiến đấu giành thắng lợi. Vì vậy ông nghĩ đến việc ra Bắc để quấy động sĩ dân ngoài đó vùng dậy, nghĩ đến việc liên minh với những người Hoa có nhiệt tâm cùng ông chống Pháp như Thượng tướng Lưu Vĩnh Phúc trước đây... Do đó vào tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết vượt ngàn Hà Tĩnh rồi Nghệ An, đến tháng 3 năm 1886 ra tới Thanh Hoá. Ông đã dừng chân tại Cẩm Thuỷ một thời gian để thảo luận cùng Trần Xuân Soạn và em ruột là Tôn Thất Hàm kế hoạch khởi nghĩa, rồi cắt Soạn ở lại để lo phát triển phong trào. Sau đó ông Thuyết đến tổng Trịnh Vạn thuộc châu Thường Xuân hội kiến Cầm Bá Thước, ở lại đó cho đến ngày 22 tháng 4 năm 1886. Từ đấy ông băng qua vùng thượng lưu sông Mã, đến châu Quan Hoá để gặp tù trưởng người Mường là Hà Văn Mao. Điểm dừng chân lâu nhất vào tháng 6 năm 1886 là nhà tù trưởng Điêu Văn Trì, bởi lẽ lúc này ông đã mắc bệnh rất nặng, không thể đi được. Phải qua đầu năm 1887, Tôn Thất Thuyết mới tiếp tục lên đường, đi Vân Nam, và đến Quảng Đông vào tháng 2 năm 1887. Tại đây ông gặp lại viên tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, nhờ vậy cũng được sự giúp đỡ khá nhiều. Lúc này tại Thanh Hoá, cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã bị dập tắt, căn cứ Quảng Hoá của Trần Xuân Soạn cũng không tồn tại được, Trần Xuân Soạn vượt biên giới sang Tàu và gặp ông Thuyết tại Quảng Đông. Sự có mặt của ông Thuyết và ông Soạn đã nhanh chóng bị lãnh sự Pháp báo cáo cho Toàn quyền Đông Dương rõ, nên họ liền bị chính quyền Trung Hoa quản thúc. Việc cầu viện dĩ nhiên bất thành, tuy nhiên dựa vào tình cảm cá nhân của một số quan lại Mãn Thanh chống Pháp, khai thác những sơ hở trong việc tranh chấp đường biên giới giữa nhà Thanh và quân Pháp, Tôn Thất Thuyết cùng các đồng sự của ông đã tổ chức liên lạc được với các cuộc chống Pháp bên trong nước, mua sắm vận chuyển vũ khí, đạn dược về cho nghĩa quân. Trâu bò, lúa gạo từ Việt Nam được chuyển sang để đổi lấy vũ khí đưa về. “Tôn Thất Thuyết đã tiếp tế được ngày càng nhiều vũ khí cho nghĩa quân bên trong”, súng đạn không những về đến đồng bằng Bắc Kỳ mà còn tới tận Thanh Hoá1. Việc tiếp tế này được duy trì mãi đến năm 1894, khi biên giới Việt - Trung bị khoá chặt mới kết thúc. Từ lúc sang Quảng Đông đến sau khi Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Thuyết vẫn nhân danh Phụ chính đại thần điều hành một số hoạt động chống Pháp ở bên trong nước. Tống Duy Tân sau thất bại ở Thanh Hoá liền sang Quảng Đông gặp Tôn Thất Thuyết, nhưng năm 1888 Tôn Thất Thuyết lại cử ông trở về xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hùng Lĩnh. Sang năm 1889, khi hay tin vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Thuyết cử người về núi Vụ Quang ở Hà Tĩnh phong cho Phan Đình Phùng làm Bình Trung Tướng quân. "Hầu hết các tướng lĩnh vùng Đông Bắc và Bắc kỳ đều có sự liên lạc với Tôn Thất Thuyết”2. Từ năm 1890, phong trào chống Pháp bị dập tắt gần hết, Tôn Thất Thuyết cùng Nguyễn Thiện Thuật vẫn hoạt động, cộng tác với nghĩa quân Lưu Kỳ ở vùng Đông Triều liên tục trong những năm 1891-1892. Từ 1892 đến 1895, mặc dù đã bị mất liên lạc trong nước, Tôn Thất Thuyết vẫn tiếp tục vận động, tổ chức lực lượng với sự giúp đỡ của Lưu Vĩnh Phúc và nhiều người khác. Ông đã xây dựng nhiều toán quân có vũ trang (chủ yếu là người Hoa và dân tộc thiểu số) tiến hành việc đánh Pháp. Chẳng hạn tháng 6 năm 1892 đưa cánh quân do Lương Phúc chỉ huy xâm nhập tổng Hoành Mô thuộc Móng Cái, phát tuyên ngôn dưới danh nghĩa Hàm Nghi để đánh Pháp; đầu năm 1893 cho Vũ Thái Hà chỉ huy một đội quân khác dưới danh nghĩa Cần Vương tiến vào Bình Hồ cũng thuộc Móng Cái tấn công quân Pháp. Tháng 3 năm 1895, Tôn Thất Thuyết cho một đạo quân tiến đánh Cao Bằng, chiếm vùng Lục Khu, nhưng nghĩa quân cuối cùng cũng bị Pháp đẩy lui. Từ năm 1895, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra, biên thuỳ Việt - Trung bị kiểm soát chặt chẽ, người Pháp lại yêu cầu nhà Mãn Thanh quản thúc Tôn Thất Thuyết theo dõi Lưu Vĩnh Phúc nên các hoạt động chống Pháp của ông chấm dứt. Tôn Thất Thuyết bị cấm túc, không được ra khỏi khuôn viên cư trú. _________________________________ 1. Trần Văn Giàu – Chống xâm lăng, Quyển 3 - "Phong trào Cần Vương". Hà Nội, Xây dựng, 1957, tr. 134, 167. 2. Như trên, tr. 202. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Ba, 2016, 08:56:02 am Trong những năm cuối đời, ông Thuyết thường có những cơn điên dại, và thường múa gươm chém vào những tảng đá trong vườn. Có lẽ hoài bão cứu nước và lòng khát khao đánh Pháp, giành lại nền độc lập dân tộc vẫn còn cháy hừng hực trong huyết quản của ông cho đến phút lực tàn sức kiệt. Nhân dân vùng Long Châu (Quảng Đông, Trung Quốc) vô cùng trân trọng vị thân vương nước Nam, và gọi Tôn Thất Thuyết là “Đả thạch lão” (Ông già chém đá). Điểm qua các hoạt đông của Tôn Thất Thuyết trên đất Trung Quốc, ta thấy rằng con người một lòng vì nước đó không hề biết chuyện nghỉ ngơi, vẫn tiếp tục công cuộc chống Pháp mà ông đã theo đuổi. Những hoạt động của ông vẫn đóng góp tích cực và trực tiếp vào phong trào kháng Pháp của dân tộc nói chung, vì thế không bao giờ lịch sử có thể gọi ông là “tên đào ngũ”. Và nếu như cho rằng cầu viện nhà Mãn Thanh là một sai lầm đáng tiếc của Tôn Thất Thuyết thì cũng phải thấy được đó là hạn chế khách quan của lịch sử, và Tôn Thất Thuyết dẫu sao cũng đã tận dụng được tất cả những điều kiện ngoại viện có được để đóng góp thêm phần sức mạnh cho cuộc chiến đấu chống lại quân thù. Biết bao mất mát, đau thương dồn dập đổ lên đầu vị lãnh tụ khởi xướng phong trào kháng chiến, những đóng góp máu xương của gia đình ông đối với Tổ quốc cũng thật vô cùng vĩ đại: gia sản bị tịch biên, gia đình chịu ly tán, bản thân Tôn Thất Thuyết trở thành một phần thưởng mà nếu ai bắt sống thì được 1000 lượng bạc, còn nếu chém chết thì cũng được 800 lượng. Người cha già 70 tuổi là Tôn Thất Đính bị bắt tại Quảng Bình, khi đang tìm đường theo vua Hàm Nghi, bị đày đi Côn Đảo và sau đó an trí tại Huế cho đến chết (5.7.1893). Bà mẹ ông là Văn Thị Thu theo hộ giá vua Hàm Nghi đến cùng, không chịu nổi lam khí đã chết tại Mường Bò (Hà Tĩnh) vào 19.9.1887. Bà vợ là Lê Thị Thành cũng một dạ theo chồng phò vua, bất chấp khó khăn gian khổ và chịu chết tại núi rừng Hà Tĩnh vào 26 9 1885. Em ruột là Tham biện Sơn phòng Tôn Thất Lệ đã cầm đầu cánh quân tấn công toà Khâm đêm 5.7.1885, sau đó hộ giá vua Hàm Nghi xuất bôn và hy sinh anh dũng trong trận đánh ở Mai Lãnh - Quảng Trị để bảo vệ nhà vua chạy thoát vào cuối tháng 7 năm 1885. Một người em khác là Tri huyện Nông Cống Tôn Thất Hàm tích cực tham gia phong trào Cần Vương ở Thanh Hoá, khi bị bắt đưa vào Đà Nẵng đã tuyệt thực mà chết (11.1892). Người con trẻ Tôn Thất Thiệp, cùng tuổi với vua Hàm Nghi, đã bao lần vào sinh ra tử để bảo vệ ngọn cờ của cuộc kháng chiến, cuối cùng đã hy sinh thân mình trước mặt nhà vua đêm 1.11.1888 tại núi rừng Tuyên Hoá - Quảng Bình. Con trai trưởng là Tôn Thất Đàm, Khâm sai Tán lý quân vụ đại thần, trụ cột của “triều đình Hàm Nghi” kháng chiến, đã chiến đấu anh dũng, và khi hay tin nhà vua bị bắt đã tự thắt cổ mà chết giữa ngàn Hà Tĩnh vào 15.11.1888. Cha vợ của Tôn Thất Thuyết là Tán tương Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh của nghĩa quân Bãi Sậy, chiến đấu chống giặc đến cùng, và khi thất thế chạy sang Tàu, vẫn tiếp tục cùng ông hoạt động. Con rể là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền cũng tham gia cách mạng, là đồng chí của các cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, là người duy nhất trong gia tộc tiễn đưa Tôn Thất Thuyết về nơi an nghỉ cuối cùng... Ngoài ra, còn có những người con khác của Tôn Thất Thuyết, như là Tôn Thất Hoàng bị bắt cùng Khoá Bảo ở Cam Lộ (Quảng Trị) và bị đày lên Lao Bảo cho đến chết; Tôn Thất Trọng thì về sau hưởng ứng phong trào Đông Du rồi thất tích ở nước ngoài. Tất cả những người thân của Tôn Thất Thuyết đều đi theo con đường vì nước mà ông đã chọn, điều đó khiến gia đình của ông trở thành mẫu mực mà mọi người cần noi theo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Gia đình Tôn Thất Thuyết thật sự xứng đáng với bốn chữ mà người đời xưng tặng là “TOÀN GIA YÊU NƯỚC”. Cả một đời dấn thân vì việc nước, không hề mưu lợi riêng tư, dám tự mình đứng ra gánh lấy nghĩa lớn trong thiên hạ, khi chết vẫn canh cánh bên lòng mối hận vong quốc..., con người đó nếu không phải là bậc anh hùng thì vẫn xứng đáng là một trang hào kiệt. Huống gì trong thực tế lịch sử, Tôn Thất Thuyết có những đóng góp vô cùng to lớn cho việc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, và sau đó ông lại là người đầu tiên phát động cao trào đánh Pháp trên quy mô toàn quốc để giải phóng dân tộc (hẳn nhiên là dưới ý thức hệ phong kiến). Cuộc đấu tranh của những người cần vương cứu nước không thành, bản thân Tôn Thất Thuyết cũng gánh chịu sự thất bại trong ý đồ cầu ngoại viện, song điều đó không hề làm giảm bớt ý nghĩa lịch sử mà ông đã tạo dựng trong quá khứ. Tôn Thất Thuyết đáng được xếp vào một vị trí trang trọng trong lịch sử dân tộc, và mỗi chúng ta ngày nay cần phải hiểu đúng con người của ông. Trên 80 năm đã trôi qua, kể từ ngày “Ông già chém đá” ấy ôm theo mối hờn vong quốc vùi thây nơi xứ lạ quê người. Tâm huyết của ông cũng đã được cả dân tộc thực hiện cách đây đúng nửa thế kỷ. Nhưng dưới chốn tuyền đài, hẳn linh hồn ông vẫn còn trăn trở không nguôi vì những tiếng thị phi mà cả người đời xưa lẫn kẻ đời nay đã gán cho ông. Hậu thế thật khó lòng gột sạch cho Tôn Thất Thuyết những nỗi niềm chua xót đó!1. __________________________________ 1. Tôn Thất Thuyết đã được xác nhận là một "danh tướng yêu nước". Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:30:23 pm CHÍ LỚN NGHĨA TRỌNG CỦA TÔN THẤT ĐÀM NGUYỀN QUANG TRUNG TIẾN1 Từ trước đến nay, nếu như cuộc đời và hành trạng của Tôn Thất Thuyết không thể dễ dàng được tất cả mọi người khâm phục, thì trái lại chẳng có mấy ai phủ nhận tính cách anh hùng của hai người con là Tôn Thất Đàm2 và Tốn Thất Tiệp3 trong việc phò vua Hàm Nghi phất cờ Cần Vương cứu nước. Tuy nhiên, công tích của hai vị anh hùng trẻ tuổi này vẫn chưa được nhận diện một cách đúng đắn, và họ chỉ như những cành cây non trước các đại thụ của một giai đoạn lịch sử đầy bi thương song anh dũng của dân tộc. Đó là một khiếm khuyết mà chúng ta cần phải khắc phục. Tôn Thất Thuyết có 5 bà vợ, nên mặc dầu mới ở tuổi 46 vào lúc nổ ra cuộc tấn công quân Pháp tại kinh thành Huế năm 1885, Ông đã có được 15 người con, gồm 9 nam, 6 nữ. Trong số 9 người con trai của ông lúc ấy, mới chỉ có một mình Tôn Thất Đàm ở tuổi trưởng thành, còn lại đều đang nhỏ, ngay cả Tôn Thất Tiệp là con trai thứ hai cũng chỉ mới 15 tuổi. Tôn Thất Đàm lớn lên trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều nguy biến, cha của ông lại là người binh nghiệp, ấp ủ mưu đồ chống Pháp, nên ông đã rèn luyện kiếm cung từ thuở nhỏ, và từng tham gia việc nước với tư cách là người phò tá của Tôn Thất Thuyết. Chính vào ngày 18-8-1883, khi quân Pháp do Thuỷ sư đô đốc Courbet chỉ huy gởi tối hậu thư buộc quân đội triều đình phải giao nộp cửa Thuận An, rồi dàn hạm đội triển khai cuộc tấn công, Tôn Thất Đàm đã cùng cha đốc thúc đại quân từ Huế vận chuyển thêm súng khoa sơn xuống các đồn trấn thủ cửa Thuận để chiến đấu. Biết con có lòng quả cảm, vì nước sẵn sàng quên thân, nên sau sự biến Kinh thành Huế, khi bà Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ triệu tập cuộc họp Hành cung Quảng Trị vào chiều 8-7-1885 để sau đó trở lại Huế, Tôn Thất Thuyết chọn ngay Tôn Thất Đàm vào đoàn hộ tống vua Hàm Nghi lên Tân Sở để chống Pháp. Từ đó cho tới lúc ra đến Sơn phòng Hà Tĩnh, Tôn Thất Đàm là một trong những võ tướng trụ cột của đội quân bảo vệ vua Hàm Nghi, và ông đã góp phần không nhỏ trong hai trận chiến thắng quân Pháp ở núi Lập Cập (còn gọi là Eo-Len thuộc tỉnh Quảng Bình vào tháng 12-1885, và trận cửa Khe (ở vùng sông Ve, cũng thuộc tỉnh Quảng Bình) vào tháng 1-1886. ________________________________ 1. Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Huế. 2. Nhiều sách chép là Đạm, có khi là Đãm, tên đúng theo gia phả dòng họ là Đàm. 3. Nhiều sách chép là Thiệp, có khi là Thiếp. ĐNTL tập 38, H., KHXH, 1978, tr. 141-148, ghi là Hợp, tên đúng theo gia phả là Tiệp. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:32:39 pm Vai trò của Tôn Thất Đàm thực sự trở nên quan trọng từ sau trận đánh ở cửa Khe lần thứ hai vào cuối tháng 1-1886, bởi vì Tôn Thất Thuyết lên đường sang Trung Hoa cầu viện (2-1886), Tôn Thất Đàm được giữ chức Khâm sai Chưởng lý quân vụ đại thần, trực tiếp ban phát mệnh lệnh của vua Hàm Nghi cho các tướng sĩ khắp nước, đồng thời phụ trách việc điều động binh đội các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình trở vào Nam. Việc điều động các toán quân từ Nghệ An trở ra Bắc được Tôn Thất Thuyết giao cho Trần Xuân Soạn1. Với chức vụ Khâm sai, đồng thời phải gánh lấy trách nhiệm thay cha chủ trì đại cuộc từ sau khi Tôn Thất Thuyết lên đường sang Trung Quốc, Tôn Thất Đàm thấy cần phải xây dựng một cơ sở cố định để nắm bắt tình hình và điều hành cuộc kháng chiến, nên vào tháng 4-1886 ông kéo quân từ vùng Thanh Lạng thuộc Quảng Bình sang đất Hà Tĩnh. Tôn Thất Đàm đem một viên tá sự, một viên tham biện cùng 30 nghĩa quân đến xóm “Cộc” cạnh chùa Vàng Liêu ở Thác Đài thuộc làng Cổ Liễm, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, cách chỗ vua Hàm Nghi ở trên đất Quảng Bình chừng sáu, bảy mươi dặm để thiết lập một văn phòng thu nhận tin tức, tấu sớ của các thủ lĩnh Cần Vương từ khắp nơi gởi đến. Văn phòng này có nhiệm vụ tập trung toàn bộ giấy tờ rồi chuyển cho vua Hàm Nghi phê duyệt và nhận chỉ thị trực tiếp từ nhà vua để truyền đạt lại2. Tôn Thất Đàm trở thành người thay mặt vua Hàm Nghi điều khiển mọi hoạt động của nghĩa quân Cần Vương cả nước, các thủ lĩnh đều răm rắp nghe lệnh vị tướng quân trẻ tuổi3. Chỗ dựa của Tôn Thất Đàm ở miền thượng Quảng Bình là lực lượng kháng chiến của nguyên Tri phủ Nguyễn Phạm Tuân, ông này được vua Hàm Nghi phong làm Hồng Lô Tự Khanh sung Tán lý quân vụ, về sau thăng hàm Thượng thư. Căn cứ kháng chiến của Nguyễn Phạm Tuân ở vùng Yên Lương-Cổ Liễm thuộc thượng nguồn sông Gianh, sát vị trí ẩn náu của vua Hàm Nghi tại vùng sông Ve, huyện Tuyên Hoá, nghĩa quân có đến ngàn người. Nguyễn Phạm Tuân đã cùng Tôn Thất Đàm chiến đấu bảo vệ vua Hàm Nghi rất tích cực. Vùng thượng Rào Nậy và sông Gianh bao quanh khu vực vua Hàm Nghi ở đều có nghĩa quân đóng giữ. Tại vùng trung lưu sông Gianh, Đề đốc Lê Trực xây dựng căn cứ kháng chiến ở Thanh Thuỷ, tạo thế liên hoàn cho việc duy trì “triều đình Hàm Nghi” chống Pháp, và lực lượng của ông cũng dưới quyền điều động của Tôn Thất Đàm, với khoảng 2000 nghĩa quân. Ngoài ra còn có nguyên Lãnh binh Phạm Văn Mỹ. Lãnh binh Dương Môn, Lãnh binh Khiêm cầm đầu các toán quân chia nhau chống giữ để bảo vệ Hàm Nghi. Nhiều lần nghĩa quân của Lê Trực phối hợp với lực lượng của Nguyễn Phạm Tuân và Tôn Thất Đàm chiến đấu chống các cuộc hành binh của Pháp ở thượng nguồn, bảo đảm sự an toàn cho nhà vua. Mạng lưới quân sự do Tôn Thất Đàm điều khiển đã giành được quyền kiểm soát một khu vực hành lang dọc theo thượng nguồn sông Gianh, chia cắt lực lượng quân Pháp ở Hà Tĩnh và Quảng Bình. Tài liệu của Pháp cho biết: “Từ mùa xuân, vùng thượng lưu giữa Rào Nậy và sông Gianh không liên lạc được với nhau, các làng đặt dưới quyền kiểm soát của quân phiến loạn“ (tức nghĩa quân)4. _____________________________________ 1. Nguyễn Thế Anh - Monarchie et fait colonial au Vietnam (1875-1925), Paris, Nxb. L'Harmattan, 1992, tr. 128-129. 2. Bourotte (B) - L’aventure du Roi Ham Nghi, B.A.V.H số 3-1929, tr. 139. 3. Phan Trần Chúc – Vua Hàm Nghi, Hà Nội, Chính Ký 1952.tr. 147. 4. Gosselin (Ch) - L'Empire d'Annam, Perrin et Cie, Paris, 1904, tr. 271. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:36:10 pm Trong suốt năm 1886, quân Pháp trực tiếp tổ chức nhiều cuộc hành binh tiêu diệt nghĩa quân Cần Vương, nhưng không sao dẹp được đành quay sang sử dụng lá bài chiêu dụ dưới danh nghĩa triều đình Huế. Vào tháng 12-1886, Hoàng Kế Viêm được vua Đồng Khánh khôi phục nguyên hàm, phong làm Hữu trực kỳ An phủ Kinh lược đại sứ, rồi phái ra Quảng Bình chiêu an và kêu gọi vua Hàm Nghi cùng bá quan văn võ Cần Vương giải giáp, hạ khí giới. Việc làm của vua Đồng Khánh không đạt được kết quả gì lớn, ngược lại thừa lúc quân Pháp án binh bất động chờ tin của Hoàng Kế Viêm, Tôn Thất Đàm đã triệu tập Nguyễn Phạm Tuân và Lê Trực lên tổ chức một đội nghĩa quân ở vùng thượng lưu sông Nam và tiếp nhận các toán quân từ phía Bắc do Trần Xuân Soạn cử vào. Lực lượng nghĩa quân ngày càng mạnh thêm. Biết không thể dụ hàng được, quân Pháp một mặt tăng cường triển khai bao vây căn cứ vua Hàm Nghi bằng cách chặn các con đường tiếp tế của nghĩa quân, xây dựng nhiều đồn bốt dọc theo sông Gianh, đẩy lực lượng của Tôn Thất Đàm cách ly khỏi chỗ trú của vua Hàm Nghi, cắt đứt liên lạc giữa dân chúng với quân kháng chiến, đồng thời đẩy mạnh việc tàn phá, khủng bố dã man để uy hiếp tinh thần của những người chống đối. Để thoát khỏi thế bị bao vây, tiến lên tiêu diệt quân Pháp, nối lại đường dây liên hệ với vua Hàm Nghi, Tôn Thất Đàm quyết định tập trung lực lượng đánh đồn Minh Cầm của Pháp ở Quảng Bình. Đồn Minh Cầm mới được viên đại uý Mouteaux đem lính thiết lập vào đầu tháng 2-1887, nằm ở mé trên làng Thanh Thuỷ, chia cắt vùng thượng lưu và trung lưu sông Gianh, cản trở lớn đến sự phối hợp lực lượng của Tôn Thất Đàm, Nguyễn Phạm Tuân và Lê Trực. Để thực hiện cuộc công đồn được ước định vào tối 20-2-1887, Tôn Thất Đàm vạch ra kế hoạch khá chu đáo, huy động nhiều toán quân tham gia, kể cả cánh quân của Lê Trực ở vùng Thanh Thuỷ. Ông còn cho quân lính ăn mặc giả làm quân Tàu để uy hiếp về tinh thần quân Pháp. Một điều không may là kế hoạch đánh đồn của Tôn Thất Đàm bị cố đạo Tortuyaux ở nhà thờ Hương Phương hay biết, và ngày 15-2-1887 ông ta đã viết một bức thư mật gửi cho Mouteaux trong đó nói: “Xin báo để cho ngài biết tôi vừa được tin nay mai sẽ có 800 quân vừa Tàu vừa Nam ăn mặc kiểu Tàu đến đánh đồn. Đội quân ấy do con trai cả của Tôn Thất Thuyết chỉ huy. Thủ lĩnh các nơi bất cứ là đã hay chưa ra hàng đều ùa theo đạo quân này và do đường núi xuống Quảng Bình, hiện họ còn đóng ở thượng lưu sông Nam, ngang làng Đông Lao và cách làng này chừng một ngày đường. Dân miền hạ lưu sông này đã dự bị giao chiến và chôn tất cả các vật quý xuống đất. Vừa đây tôi lại tiếp tục nhận được thư của cụ cố trụ trì nhà thờ Troóc, trong thư cũng nói như thế, Lê Trực hiện không còn ở Thanh Thuỷ, mai mốt đồn ngài sẽ bị đánh...”1. Bức thư của Tortuyaux đến tay viên trưởng đồn Minh Cầm trước thời điểm nổ súng của Tôn Thất Đàm 3 ngày, nên quân Pháp có đủ thời gian phòng bị. Đêm 20-2-1887, sau khi bắn đại bác vào đồn nhưng quân Pháp vẫn không động tĩnh, Tôn Thất Đàm biết có phục binh liền cho nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng. Từ sau lần đó, Tôn Thất Đàm còn phái Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân tấn công tiêu diệt đồn Minh Cầm thêm nhiều đợt nữa, nhằm giảm sức ép từ phía quân Pháp đối với khu vực hoạt động của vua Hàm Nghi và nghĩa quân. Nhưng không được, ông liền quay sang dùng kế cài nội gián để kiếm cớ đầu độc quân Pháp. Nguyễn Trọng Duật2 người làng Thanh Thuỷ nơi Đề đốc Lê Trực đóng căn cứ, được Tôn Thất Đàm giao nhiệm vụ trá hàng. ____________________________________ 1. Dẫn theo Phan Trần Chúc - Sđd, tr. 151. 2. Theo Phạm Văn Sơn – Việt Nam cách mạng cận sử, Sài Gòn, Khai Trí phát hành, 1963, tr. 86 thì người này tên là Dưa. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:45:37 pm Tôn Thất Đàm liên lạc với nhân dân Mường ở tổng Cơ Xá chuẩn bị thuốc độc sẵn sàng trước, rồi đưa vàng bạc cho Nguyễn Trọng Duật đem về đút lót viên Bang tá đã đầu thú Pháp là Nguyễn Phiên, nhờ Nguyễn Phiên tiến dẫn Nguyễn Trọng Duật với viên quản đồn Minh Cầm (theo kế hoạch, nếu Nguyễn Trọng Duật được người Pháp tin dùng thì y sẽ xin cung cấp các loại thực phẩm như thịt lợn, chè để tạo lòng tin trước, sau đó đưa người Mường đến bỏ thuốc độc vào thức ăn của quân đội Pháp). Khi Nguyễn Trọng Duật đến giả đầu thú, viên đại uý Mouteaux lập tức thu dùng, nhưng vẫn đề phòng theo dõi cẩn mật. Trong nửa tháng đầu, Nguyễn Trọng Duật liên tục dẫn đường cho quân Pháp đến đúng những nơi vốn là các căn cứ nhỏ của nghĩa quân, song không có cuộc chạm súng nào, do nghĩa quân đã được báo trước. Lúc này Mouteaux bắt đầu giảm bớt sự đề phòng và có ý tin dùng Nguyễn Trọng Duật, chuẩn bị giao cho hắn nhiệm vụ đi mua voi của người Mường. Nhân cơ hội này, Tôn Thất Đàm vạch kế hoạch đưa người Mường giả làm người mang voi đến nộp cho đồn, rồi thừa cơ đầu độc hoặc tấn công quân Pháp, và lệnh cho Nguyễn Phạm Tuân chuẩn bị lực lượng nghĩa quân sẵn sàng ở vòng ngoài để hỗ trợ. Công việc đang được xếp đặt gần xong thì tình cờ khi quân Pháp đánh một căn cứ nhỏ của nghĩa quân đã bắt được một số công văn quan trọng, trong đó có thư của Nguyễn Phạm Tuân lệnh cho người chỉ huy toán quân ở đó chuẩn bị sẵn sàng giúp Nguyễn Trọng Duật tiến hành đầu độc lính Pháp; và một số tờ “sức” cũng của Nguyễn Phạm Tuân cho biết kế hoạch cài nội gián vào đồn Pháp để đầu độc của quan Khâm sai Hà Tĩnh (tức Tôn Thất Đàm). Trước những chứng cớ khó có thể chối cãi lại và bị Mouteaux đe doạ chém đầu, Nguyễn Trọng Duật đã phản bội, trở mặt dẫn đường cho quân Pháp tấn công nghĩa quân. Vào ngày 8-4-1887, Nguyễn Trọng Duật làm hướng đạo cho Mouteaux kéo quân lên đánh căn cứ của Nguyễn Phạm Tuân ở vùng Yên Lương trên sông Rào Nậy. Nguyễn Phạm Tuân bị bắn trọng thương, bị bắt và ngày hôm sau thì chết, các tướng lãnh dưới quyền ông đều bị xử bắn ở chợ Minh Cầm. Trong trận này em trai Tôn Thất Đàm là Tôn Thất Trọng (con trai thứ 9 của Tôn Thất Thuyết được đích thân ông gởi gắm cho Nguyễn Phạm Tuân trước khi sang Trung Quốc), lúc đó chừng 8 tuổi cũng bị Pháp bắt đưa về Huế. Trừ được Nguyễn Phạm Tuân xong, ngày 19-6-1887 Mouteaux bất ngờ kéo quân đánh xuống căn cứ Thanh Thuỷ của Lê Trực, bắt sống hầu hết các chỉ huy và vợ con của ông. Lê Trực cùng một ít nghĩa quân chạy thoát được ra ngả Hà Tĩnh, dựa hẳn vào lực lượng của Tôn Thất Đàm. Ngày 20-6-1887 toàn bộ số tù binh, kể cả đàn bà và trẻ con đều bị Pháp xử tử ở đồn Minh Cầm. Sau khi căn cứ của Lê Trực bị đánh tan, các vùng trên sông Gianh lần lượt lọt vào tay Pháp, vòng vây của giặc quanh chỗ vua Hàm Nghi được xiết chặt dần, bản doanh của Tôn Thất Đàm và lực lượng Lê Trực bị cô lập giữa núi rừng Hà Tĩnh. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:46:28 pm Từ đầu năm 1888, quân Pháp đóng đồn ở thượng lưu Rào Nậy và Tôn Thất Đàm không còn liên lạc được với vua Hàm Nghi nữa, song ông vẫn cùng Lê Trực tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu một cách cương quyết, không hề nản chí. Quyết tâm vì vua giúp nước của Tôn Thất Đàm và em ông là Tôn Thất Tiệp làm cho giặc Pháp vô cùng căm hận. Song họ cũng không che dấu nổi sự thán phục tính cách của hai viên tướng trẻ tuổi, nhiều người Pháp trong số đó có đại uý Gosselin đã ngợi khen hai người con trai của Thuyết - Đàm và Tiệp - là “hai thiếu niên anh hùng”1. Đại uý Gosselin, người trực tiếp tham gia càn quét lùng bắt Tôn Thất Đàm và Lê Trực thú nhận rằng: “Mặc dầu chúng tôi hết sức mệt mỏi, chúng tôi không sao bắt được hai địch thủ này, chúng tôi phải ngợi khen họ, tuy phương tiện eo hẹp, binh sĩ đơn sơ mà họ vẫn chiến đấu hăng hái, họ đã có những cử chỉ cao quý, có lòng trung kiên đối với quốc gia ở vào một tình trạng tuyệt vọng, khiến chúng tôi phải kính phục hết sức"2. Đầu tháng 11-1888, khi hay tin vua Hàm Nghi đã bị bắt, em ruột là Tôn Thất Tiệp bị giết, Tôn Thất Đàm cảm thấy mình là người phải gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm trong việc để vua sa vào tay giặc. Ông vô cùng đau đớn vì đã không làm tròn sứ mạng người cha đã giao phó, đành quyết định cho số binh lính còn lại ra đầu thú, còn mình thì chọn lấy cái chết để đền nợ nước và đáp nghĩa quân thần. Ngày 8-11-1888, trước khi tự kết liễu đời mình, Tôn Thất Đàm viết một bức thư gửi quân Pháp ở đồn Thuận Bài, yêu cầu chúng đừng giết hại những tướng sĩ của ông sẽ ra đầu thú. Lời lẽ trong thư ông rõ ràng, minh bạch, đáng mặt anh hào: “Khâm sai đại thần Tôn Thất Đàm Thư kính gửi sĩ quan Pháp, quân Pháp đồn Thuận Bài. Những việc khốn nạn vừa xảy ra ở nước tôi bắt buộc tôi phải viết thư cho ngài. Cha tôi, vì việc nước phải xuất dương hiện chưa về, tôi phải kế cái nghiệp lớn lao mà Vua tôi chẳng quản tôi tuổi trẻ tài hèn, đã phó thác trách hhiệm cho tôi. Tôi không hiểu sao trời lại xui khiến Vua thác cho tôi cái trách nhiệm quan trọng ấy, và tôi rất tiếc rằng không được ở cạnh Vua để cứu giá và giết chết bọn phản thần, hoặc cùng chết với em tôi khi quân phản nghịch bắt Vua mà nộp cho quân địch. Nếu bọn giáo dân không xen vào giữa người Pháp và người Nam, thì không bao giờ có chiến tranh. Về phía chúng tôi thì tự nhiên chúng tôi không bao giờ khiêu chiến với người Pháp. Nếu chúng tôi cố chống đối người Pháp, chẳng qua là vì phận sự phải che chở bờ cõi, và hết lòng trung thành theo Vua, khi ngài rời bỏ Kinh thành. Nay chúng tôi bị thua, cái thẹn của chiến bại đã đến bước đường cùng. Vậy xin ngài cho các tướng sỹ được về quê hương an chí làm ăn và không phải ra thờ triều đình mới”3 ___________________________________ 1. Đào Trinh Nhất – Phan Đình Phùng, Sài Gòn, Tân Việt, 1957, tr. 93. 2. Bản dịch của Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 87. 3. Dẫn theo Phan Trần Chúc, Sđd, tr. 173-174. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Ba, 2016, 09:48:05 pm Kèm theo bức thư trên, Tôn Thất Đàm cũng gởi cho vua Hàm Nghi một lá thư, trong đó xem mình là kẻ có tội, nhưng vẫn khẳng định lòng sắt son vì vua, vì nước của mình: “Thần Tôn Thất Đàm, Khâm sai Chưởng lý quân vụ cúi đầu dâng Ngự lãm. Không được ở bên cạnh Hoàng thượng để hộ giá khi có kẻ phản thần làm việc ám muội, thần mang tội rất nhiều. Song đấy là mệnh trời xui, nên nước ta gặp bước gian nguy và các công thần không được gần vua để cứu giá. Các quan văn võ sẽ mang hận suốt đời, vậy xin hoàng thượng tha thứ cho và thề sẽ hết lòng trung cho đến thác"1. Biết Tôn Thất Đàm là dũng tướng có chí khí, người Pháp rất mến mộ và tìm cách dụ dỗ ông về nhận một chức quan lớn trong triều đình mới. Trong bức thư trả lời Tôn Thất Đàm, viên Thiếu tá Dabat, trưởng đồn Thuận Bài viết: “Thay mặt các binh sĩ Pháp, tôi xin nói để ngài biết rằng các tướng Pháp rất kính phục ngài. Xin mời ngài ra đồn Thuận Bài. Tôi xin cam đoan rằng người Pháp sẽ đãi ngài một cách trân trọng, xứng đáng với tài đức và địa vị của ngài trong hoạn giới”2. Chí đã quyết, lòng đã định, Tôn Thất Đàm không dễ gì thuận theo lời đề nghị của người Pháp. Ông triệu tập toàn bộ binh tướng còn lại để truyền mệnh lệnh “cho” phép ra đầu thú, nhưng khuyên mọi người nên về quê làm ăn sinh sống, chớ đừng ra hợp tác với giặc, và nói một cách khẳng khái rằng: “Còn ta, nếu người Pháp có hỏi, các người cứ bảo họ vào trong rừng này tự khắc tìm thấy ta”3. Sau đó Tôn Thất Đàm thắt cổ tự tử vào ngày 15-1-1888, lúc ấy mới 22 tuổi đời4. Quan quân dưới trướng vô cùng thương tiếc vị anh hùng trẻ tuổi, hết sức đau buồn và tiến hành chôn cất ông tử tế. Ngày 17-11-1888, 24 tướng sĩ Cần Vương ra đầu thú theo lời khuyên của chủ tướng, bốn ngày sau đó Đề đốc Lê Trực và số nghĩa quân còn lại của ông cũng ra hàng, chấm dứt sự đối đầu của lực lượng Cần Vương do Tôn Thất Đàm trực tiếp chỉ huy tại Quảng Bình và Hà Tĩnh. Được tin người cầm đầu cuộc kháng Pháp giúp vua Hàm Nghi đã tự sát, người Pháp thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng. Song họ chỉ thực sự an tâm khi tận mắt nhìn thấy ngôi mộ và lưỡi gươm lúc sinh tiền của ông cắm trước mộ5. Trong những năm cầm đầu cuộc kháng chiến, bảo vệ vua Hàm Nghi, Tôn Thất Đàm thường cùng tướng sỹ chọn địa điểm cạnh chùa Vàng Liêu giữa đại ngàn Hà Tĩnh làm nơi bái vọng xã tắc và truy niệm tổ tiên mỗi lần khánh tiết. Giờ đây, ông tìm đến đó để gởi thân vào chốn vĩnh hằng, với mong muốn được ở cạnh các bậc tiền nhân anh hùng mà ông từng ngưỡng vọng. Cái chết của Tôn Thất Đàm tỏ rõ sự bất lực và tuyệt vọng của những người Cần Vương trong sự nghiệp đấu tranh chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Song hành động tự kết liễu đời mình của Tôn Thất Đàm để khỏi phải sống trong vòng kiềm toả của giặc vẫn là một sự tiếp nối truyền thống hào hùng, bất khuất của dân tộc. Dù tuổi đời còn quá trẻ, nhưng Tôn Thất Đàm lúc sống đã đóng một vai trò khá lớn đối với lịch sử đất nước, và lúc chết ông cũng giữ được phong thái hiên ngang của những nhà lãnh đạo phong trào yêu nước lớn của dân tộc. Tôn Thất Đàm xứng đáng được xem là một bậc anh hùng, chớ không chỉ ngang tầm mức một “thiếu niên anh dũng” như đại uý Gosselin đã tỏ lời khen ngợi và cảm phục. ___________________________________ 1. Như trên, tr. 172-173. Bức thư này được trung uý Bonnafoy chuyển đến vua Hàm Nghi vào chiều 14/11/1888 khi nhà vua đang bị giam tại đồn Thuận Bài ở Quảng Bình. 2, 3. Như trên, tr. 174. 4. Nhiều tài liệu và gia phổ dòng họ Tôn Thất Thuyết nói ông Đàm chết lúc 22 tuổi. Ông Tôn Thất Hứa trong bài "Quanh sự kiện Tôn Thất Thuyết", Viên Giác, số Xuân Quý Dậu (1993), tr. 128 nói Tôn Thất Đàm sinh năm 1865, lúc chết 23 tuổi. 5. Theo Phạm Văn Sơn, Sđd, tr. 97, thì người Pháp đã đào mộ Tôn Thất Đàm để truy coi hình dáng và nhận diện, rồi cải táng ông ở gần chùa Vàng Liêu. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:23:38 pm NGHĨA TÌNH CỦA NGUYỄN THƯỢNG HIỀN ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH TÔN THẤT THUYẾT (Tư liệu văn học và lịch sử) CHƯƠNG THÂU1 Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) hiệu Mai Sơn và Đỉnh Nam, người làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, Tỉnh Hà Tây. Ông là con thứ của cụ Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Phiên (1829-1907). Sau một thời gian ra làm quan, cụ Phiên xin về nghỉ tại nhà riêng ở Lan Châu, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Tại đây, gia đình cụ đã sớm có quan hệ thân tình với Tôn Thất Thuyết là người từng làm quan ở Thanh Hoá. Nguyễn Thượng Hiền, do xuất thân trong một gia đình khoa bảng, vốn có tư chất thông minh học giỏi, nên 17 tuổi (1884) đã đỗ Cử nhân. Năm sau (1885), thi Hội đáng lẽ ông được đỗ đầu, nhưng chưa kịp truyền lô thì Kinh thành thất thủ, kết quả của khoa thi bị xoá bỏ. Năm 1889, vì có tang mẹ, ông không dự thi; đến năm 1892 ông vào thi Hội, trúng Nhị giáp tiến sĩ tức Hoàng giáp. Thế là, với cái tuổi 25, ông đã “đại đăng khoa”, nay phải vâng lời thân phụ tính đến việc “tiểu đăng khoa”. Trong việc cưới vợ này, Nguyễn Thượng Hiền vấp phải một điều nan giải. Gia đình đã chọn cho ông cô Tôn Nữ Thị Diện, con gái Thượng thư Tôn Thất Phan. Nhưng theo ý ông lại muốn kết hôn với người bạn tri âm từng ước hẹn là Tôn Nữ Thị Ẩn, con gái Tôn Thất Thuyết. Không thể trái ý cha, nhưng cũng không thể từ hôn với bạn, nhất là gia đình Tôn Thất Thuyết đang lâm vào thế kẹt phải mặc cảm nặng nề bị chính quyền thực dân Pháp và quan lại Nam triều o ép truy bức, phân biệt đối xử... ông đã mạnh dạn quyết định cưới cả hai Tôn Nữ cùng một ngày, và coi “cả hai vợ đều là vợ cả”. Tuy đỗ đạt cao khoa, Nguyễn Thượng Hiền không muốn ra làm quan, mà lại xin về ở vùng núi Nưa (Thanh Hoá) mười năm “để ở nhà đọc sách”, nhưng triều đình không nghe, chỉ cho nghỉ ba năm. Trong thời gian này tư tưởng của ông có phần ngả theo trào lưu tiến bộ, cũng có phần muốn làm người ẩn sĩ theo đạo tiên, song việc đời, việc nước không bao giờ có thể rời khỏi tâm trí ông. Năm 1895, buộc lòng phải nhận một chức quan nhỏ, ông xin vào Quốc sử quán và được ít lâu lại xin từ chức. Bấy giờ ông bắt đầu tìm đọc nhiều “tân thư” và đi nhiều nơi tìm bạn đồng chí, bắt liên lạc với những người yêu nước như Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và viết nhiều thơ văn kêu gọi lòng yêu nước, đả kích bọn làm tay sai cho thực dân Pháp khiến bọn thống trị phải lo ngại. Muốn buộc bớt chân ông lại, chúng cử ông làm Đốc học Ninh Bình, rồi Nam Định. Nhưng sau đó mượn cớ để tang cha, ông lại xin nghỉ và chuẩn bị xuất dương vào năm 1908. Gặp Phan Bội Châu ở Quảng Đông, ông cùng Phan sang Nhật Bản gặp Cường Để, rồi lại về Trung Quốc. Hoạt động trong Duy Tân hội, ông đã cùng Phan Bội Châu góp phần quan trọng tổ chức và lãnh đạo phong trào Đông du trong những năm 1908-1909. Năm 1912, Nguyễn Thượng Hiền lại tham gia Đại hội thành lập Việt Nam Quang Phục hội và là một thành viên trong Bộ Bình nghị của Hội, mà lúc này tổ chức Hội gần giống như một Chính phủ lâm thời do Đại hội VNQPH bầu ra. Năm 1915, ông đại diện cho tổ chức VNQPH sang Xiêm liên hệ với công sứ Đức, Áo để tranh thủ sự giúp đỡ của họ trong việc đánh Pháp. Nhưng việc đánh Pháp ở biên giới Trung - Việt mà ông được phân công phụ trách bị thất bại và phong trào cách mạng ở hải ngoại liên tiếp gặp nhiều điều bất lợi, ông nản chí bỏ đi tu, rồi ốm chết trong tâm trạng phiền muộn. Ông mất ngày 28-11-1925 tại một ngôi nhà chùa ở Hàng Châu tỉnh Triết Giang (Trung Quốc). Trong quá trình sống và hoạt động cứu nước của mình, Nguyễn Thượng Hiền có sáng tác khá nhiều thơ văn yêu nước, trong đó có một số tác phẩm nói lên tấm lòng kính yêu, trân trọng với một tâm cảm và tình cảm sâu sắc đối với gia đình nhạc phu Tôn Thất Thuyết như sau: _______________________________ 1. Viện Sử học - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:26:46 pm 1. Tư liệu 1: Đối với cụ Tôn Thất Đính, thân phụ của Tôn Thất Thuyết. Cụ Tôn Thất Đính bị giặc Pháp bắt lưu đày ra hoang đảo nơi viễn dương cùng với Phạm Thận Duật và Nguyễn Văn Tường năm 1885. Về sự kiện lịch sử này, Nguyễn Thượng Hiền đã trân trọng chép lại trong tác phẩm Tang hải lệ trần (Giọt lệ bể dâu) lần đầu tiên đăng trên Vân Nam tạp chí số 20 (1911) ký tên tác giả là “Giao Chỉ khách”. Đoạn văn đó, dịch như sau: “Ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (1885) là ngày kỷ niệm lớn cho việc nước bị phá, vua bị mất của nước chúng tôi vậy. Trước đấy, hàng năm đánh luôn không thắng lợi. Thống đốc quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương, Tổng đốc Hoàng Diệu đều nối nhau tuẫn tiết. Bắc Nam hai kỳ đã bị hãm, chúng mới đem trọng binh đến áp bức kinh thành, Chính phủ chúng tôi phải ký điều ước mới. Quan Điện tiền tướng quân Vệ Chính hầu Nguyễn Thuyết (tức Tôn Thất Thuyết) vốn là người chủ chiến, bấy giờ càng thêm tức giận. Nhân lúc đương đêm tiến quân vào, toan kéo thẳng đến chỗ yếu hại của chúng mà giết hết. Không ngờ chúng đã phòng bị trước, bèn xua quân đánh giữ, đến lúc sáng ngày thì kinh thành bị hãm. Tướng quân phò giá ra Cam Lộ (một huyện sơn phòng ở phía bắc tỉnh Quảng Trị). Chúng đuổi theo kịp, mới bắt cha già của tướng quân đày ra hoang đảo. Lấy ông già ốm yếu ngoài tám mươi tuổi, thần khí đã hôn mê, hầu như không biết việc đời là gì, mà cũng bắt tội đày đi nơi đất chết, phải đem tấm thân tàn ra làm bạn với ma thiêng nước độc, mà chúng vẫn còn tự cho mình là văn minh, huống hồ còn có lắm thứ luật lệ dây mơ rễ má liên luỵ đến nhiều người. Ôi! Dân mất nước, thật là bị rơi xuống chín tầng địa ngục, mà không biết kêu van vào đâu vậy!”1 ______________________________________ 1. Trích dịch theo nguyên văn chữ Hán trong Vân Nam tạp chí tuyển tập. Khoa học xuất bản xã Bắc Kinh 1958 tr. 724. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Tư, 2016, 06:32:34 pm 2. Tư liệu 2: Đối với Tôn Thất Đạm, con trai của Tôn Thất Thuyết. Cũng gọi là Tôn Thất Đàm, Nguyễn Đàm (1866-1888) tên chữ là Nhược Trứ. Khi Kinh thanh thất thủ (1885), vua Hàm Nghi xuất bôn, ông cùng với em là Tôn Thất Thiệp theo cha trong đoàn cận vệ nhà vua. Năm 1888, vua bị bắt, em bị hy sinh, ông đau đớn uất hận quá, vào núi thắt cổ tự tử. Sự kiện lịch sử này, được Nguyễn Thượng Hiền ghi lại qua hai tư liệu: một bài thơ và một trang văn. a) Bài thơ: Quá Nguyễn Nhược Trứ cố cư, hữu cảm (Qua nhà cũ của Nguyễn Nhược Trứ, có cảm xúc làm bài thơ): Tuyệt tái trì khu huyết tiện qua, Ngũ hồ1 qui kế cảnh sa đà. Sơn Dương địch2 lý vô cùng hận, Tà nhật bi phong nhẫn trụng qua. Dịch nghĩa: Tiểu dẫn (của tác giả): Nguyễn Đàm, tên chữ là Nhược Trứ, là con Điện tiền tướng quân Nguyễn Thuyết. Năm Ất Dậu Hàm Nghi nguyên niên (1885), vua ngự giá ra Quảng Bình. Nhược Trứ làm chức Binh bộ Tham tri đem nghĩa binh đánh giặc. Sau được tin vua bị Pháp bắt, Nhược Trứ theo cứu không kịp, liền vào núi tự tử, dân địa phương thương xót lập đền thờ, thường năm cúng lễ. Ông có ngôi nhà cũ ở phía đông thành Thanh Hoá. Vẫy vùng ngoài ải xa, gươm dây đầy máu, Định kế lui về năm hồ mà còn dùng dằng. Tiếng sáo Sơn Dương chứa chan mối hận, Ác tà gió thảm nỡ nào qua đây. Dịch thơ: Nhuộm máu gươm dong chốn ải xa, Năm hồ lui bước vẫn sa đà. Sơn Dương giọng sáo vô cùng hận, Gió thảm trời chiều nỡ lại qua!3 ___________________________________ 1. Ngũ hồ: Năm cảnh hồ ở Trung Quốc. Ngày xưa, Phạm Lãi cùng nàng Tây Thi đến dạo chơi ở đây sau khi đã giúp Câu Tiễn diệt Ngô, khôi phục cơ đồ nước Việt 2. Sơn Dương địch: Hướng Tư đời Tấn khi đi qua nhà cũ ở Sơn Dương nghe ngưòi hàng xóm thổi còi, nhân đó làm bài “Tư cựu” (nhớ bạn). Trong bài phú này tả tình nhớ nhung người cũ rất đau xót. 3. Theo Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1959, tr. 58-59. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2016, 08:50:28 pm b) Bài: Lược truyện của Nguyễn Đàm, hiệu Nhược Trứ. “Từ khi giặc Pháp sang xâm chiếm nước ta tới nay, đất nước chông gai, từ quan chí dân ai cũng căm giận. Những người đã liều mình vì nước, kể không sao xiết. Trong họ nhà vua, người có khí tiết vững bền hơn cả là bác Nhược Trứ, bạn tôi. Bác tên là Đàm, con trưởng quan Điện tiền tướng quân Anh Phố công Nguyễn Thuyết. Năm Tự Đức Kỷ Mão (1879), Anh Phố công làm Tổng đốc Ninh Thái (Bắc Ninh - Thái Nguyên), nhân có bệnh về nghỉ nhà riêng ở Thanh Hoá, cho bác và người em là Tiệp (Nguyễn Thiệp hay Tôn Thất Thiệp) học với ông thân sinh tôi. Các ngày đêm đọc sách, lúc rỗi lại tập việc binh. Sang năm sau, Anh Phố công được triệu tập về Kinh làm Thượng thư bộ Binh, bác ở lại Thanh Hoá giữ mình khắc khổ, không ưa săn bắn, đàn hát. Tính bác lại nghiêm trang, mọi người đều phải kính nể. Năm bác 19 tuổi, nghe tin thành Hà Nội thất thủ, liền rèn luyện đội hùng binh nghìn người, đợi dịp chống chọi với giặc. Sau Anh Phố công gọi bác về kinh đô, ngày đêm hầu bên cạnh, giúp đỡ việc quân. Khi bà mẹ bị đau, bác săn sóc thuốc thang, hàng tuần không kịp cởi áo. Anh Phố công cưới cho bác người con gái ông Bố chánh họ Cao, hàng năm bác không tới buồng, mẹ hỏi bác thưa: “Nước nhà đương lúc lắm việc, con phải chia lo cùng cha, đâu dám nghĩ đến tình riêng nhi nữ”. Năm Hàm Nghi Ất Dậu (1885), Kinh thành thất thủ, bác theo cha phò vua ra Quảng Bình, lấy chỗ sơn trại của thổ quan là Trương Quang Ngọc làm nơi vua ở. Rồi cha sang Trung Quốc cầu viện, để bác ở lại giúp vua. Sau đó, bác phụng chỉ: lấy hàm Binh bộ Tham tri sung chức Khâm sai đại thần, coi cả việc quân hai tỉnh Hoan (Nghệ An), Ái (Thanh Hoá). Bác lưu người em là Tiệp ở hầu vua, tự mình tiến binh ra Hà Tĩnh tiếp ứng với bọn ông Phan Đình Phùng để chống giặc. Quang Ngọc làm phản, thừa lúc không phòng bị, dẫn quân giặc vào sơn trại. Tiệp múa gươm chống cự, bị giặc giết chết. Giặc bắt vua về tỉnh lỵ Quảng Bình, rồi do đường bể đưa sang thành A Nhĩ Nhiệt (Alger) châu Phi. Bác nghe tin liền viết bài biểu tự kể tội mình giúp vua chẳng xong, xin chết để tạ vua và cha. Viết đoạn, sai người đem dâng vua, rồi họp các quan lại, bảo: “Đàm này tài trí kém cỏi, phòng bị không cẩn, để nhà vua mắc nạn là bất trung, cha giao cho việc lớn mà nay để đến thế là bất hiếu, còn mặt mũi nào đứng trong trời đất. Xin các ông cứ theo chí mình mà làm, đừng nghĩ đến Đàm nữa”. Nói xong, tự sát luôn. Các quan đem táng vào trong núi. Sau, người miền đó cảm bác là bậc trung liệt, lập đền thờ, hàng năm tế lễ.” Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 03 Tháng Tư, 2016, 08:54:55 pm 3. Tư liệu 3: Đối với bà vợ Tôn Nữ Thị An, con gái Tôn Thất Thuyết. Bà vợ này sinh với Nguyễn Thượng Hiền một người con gái đặt tên là Nguyễn Thị Nưa (kỷ niệm những năm tháng sống với nhau ở Núi Nưa - Na Sơn, Nông Cống, Thanh Hoá) và một người con trai tên là Nguyễn Thượng Nghi. Sau khi Nguyễn Thượng Hiền xuất dương (1908) bà và con cái vẫn sống tại đây. Bà bị bệnh và qua đời vào năm 1911. Được tin đau đớn này, từ Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền đã gửi về đôi câu đối viếng bà, lời rất cảm động. Nguyên văn: “Ngưỡng quan thiên, thiên dĩ âm mai tứ tái, phủ quan địa, địa dữ kinh cức hoành sinh, trì khu sở thiên lý, khiết tuyết sơn phong, thương hải vi năng điền, thệ ngã tráng tâm khởi phục hương khuê oanh lữ mộng; Thiếu tòng phụ, phụ dĩ vương mệnh xuất bôn, trưởng tòng phu, phu dĩ quốc nạn viễn tị, thuỷ chung tam thập niên, hàm tâm nhự khổ, bạch đầu ưng cánh thậm, đa khanh tảo thức, tiên ly trọc thế đoạn tình căn"1. Dịch nghĩa: Ngửa trông trời, bốn phương trời đã phủ đầy mây đen, cúi nhìn đất, đất đã mọc đầy gai góc dọc ngang, rong ruổi mấy ngàn dặm, nhai tuyết ăn gió, biển xanh chưa lấp được, lòng dũng tráng ta đã thề nguyền, há lại có những phút mộng vấn vương cảnh ấm cúng phòng khuê ở nơi đất khách; Lúc bé theo cha, cha vâng mệnh vua phải theo đi, khi lớn theo chồng, chồng vì nạn nước phải lánh xa, trước sau ba chục năm, ngậm cay nuốt đắng, tới lúc đầu bạc lại thêm cơ cực, nàng đã sớm biết, dứt lìa đời tục, trước cắt đứt nợ tình duyên. Dịch đối: Ngửa trông trời, trời phủ mây đen khắp ngả; cúi trông đất, đất ngổn ngang đầy ngập chông gai, ruổi rong vài ngàn dặm pha phôi, những là ăn gió uống sương, hận biển xanh chưa chút đắp bồi, tôi quyết thề lòng, giấc mộng huơng khuê đà dứt nẻo; Bé theo cha, cha vâng mệnh chiếu ra đi; lớn theo chồng, chồng tránh lánh xa lo nạn nuớc, sau trước ba mươi năm đằng đẵng, bao nỗi ngậm cay nuốt đắng, lúc đầu bạc thêm càng lận đận, nàng sao sớm tỉnh, tơ tình trần thế trước chia ly! (Nguyễn Văn Bách dịch. Theo: Tổng tập văn học Việt Nam, tập 22, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1996. tr, 703-704.) ___________________________________ 1. Khảo dị: Trong tập sách Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền do nhóm Lê Thước, Hà Văn Đại, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Văn Hạp, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu và Vũ Đình Liên trích dịch và giới thiệu - Nxb. Văn hóa, Bộ Văn hóa, Hà Nội, 1959, tr. 167 chép "câu đối khóc vợ" này, có vài chỗ sai biệt như sau: - Ngưỡng quan thiên, thiên dĩ vân mai tứ tắc, phủ quan địa, địa dĩ kinh cức hoành sinh, bôn trì thiên vạn lý, khiết tuyết thôn chiên, thương hải vi năng điền, thệ ngã thử tâm trường đối giang sơn oanh lữ mộng; - Thiếu tòng phụ, phụ dĩ vương mệnh xuất bôn, trưởng tòng phu, phu dĩ quốc nạn viễn tị, tiền hậu tam thập niên, hàm tâm như khổ, bạch đầu ưng cánh thậm, đa quân tiên giác, tảo ly trần giới đoạn sầu căn. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Tư, 2016, 10:21:21 am 4. Tư liệu 4: Đối với Tôn Thất Thuyết Trong Thơ văn Nguyễn Thượng Hiên có hai "Tư liệu lịch sử và văn học" rất quan trọng nói lên nghĩa tình sâu đậm của ông đối với vị tướng quân, đồng thời là nhạc phụ khả kính của mình. a) Bài thơ: Thiều thành lữ dạ1 (Đêm ngủ trọ ở Thiều thành) làm khi Nguyễn Thượng Hiền trên đường đi qua Quảng Đông. Nguyên văn: Bắc hướng Thiều quan lộ Thiên sơn nhiễu cổ thành Trường không tân nhạn quá Dao dạ tướng tinh minh2 Khứ quốc tâm như đảo Khuông vương kế vị thành Nguyên Long3 hào khí tại Hộ tửu cộng luận binh Dịch nghĩa: Lên phía bắc nhắm đường Thiều Quan Bức thành xưa ngàn núi bao bọc Khoảng trời không, chim nhạn bay qua Suốt đêm ngồi, sao tướng sáng rạng Xa nước lòng đau như cắt Phò vua mưu kế chưa thành Nguyên Long vẫn còn khí khái Gọi rượu cùng bàn việc binh. Dịch thơ: Thiều Quan đường thẳng tới Thành xưa núi bọc quanh Vùng trời bay chiếc nhạn Sao tướng sáng năm canh Xa nước lòng như cắt Phò vua kế chửa thành Nguyên Long còn khí khái Gọi rượu cùng luận binh. (Theo Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền, Sđd, tr. 100-101). __________________________________ 1. Thiều thành: tức là phủ Thiều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) nơi có Thiều Quang thị (thành phố Thiều Quan), một địa điểm du lịch ngày nay. 2. Tướng tinh minh: ngôi sao tướng sáng ngời, chỉ tướng quan Tôn Thất Thuyết hiện trú ngụ lâu ngày tại Thiều Châu, tuổi ng0ài 70 mà tinh thần vẫn sáng suốt. 3. Nguyên Long: Trần Đăng, người đời Đông Hán, tên chữ là Nguyên Long, tính trung thực, có chí giúp đời cứu dân. Lưu Bị và Hứa Phiếm bình luận nhân vật, Hứa Phiếm nói: "Nguyên Long là một người hồ hải, hào khí chưa hết…". Ý tác giả mượn tích này để chỉ Tôn Thất Thuyết vẫn hăng hái. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Tư, 2016, 10:26:43 am b) Bài văn tế: "Điếu Tôn Thất Thuyết Thượng tướng tế văn" (Văn tế Thượng tướng Tôn Thất Thuyết) Nguyễn Thượng Hiền làm bài văn tế này đọc vào ngày rằm tháng Sáu năm Giáp Dần (1914). Bấy giờ ông đang ở Trung Quốc, nghe tin Tôn Thất Thuyết đã mất ở Thiều Châu năm trước, nên cùng Trần Xuân Soạn làm lễ tế vọng. Nguyên văn: Kính duy ngã công Gián thế anh kiệt Thiên hoàng dục tú Uyên ban tinh liệt1 Xuất quân nhung phù Lôi oanh điện xiết Đông chinh bắc thảo Tồi đảng hung nghiệt Anh hoàng2 chi thế Pháp kỳ đông yết Xâm ngã bắc địa Đằng hung sinh nghiệt Công quắc kỳ cư Tắc cơ điển diệt Nghĩa thanh tứ trấn Lôi đình tỷ liệt. Quốc sự nhất phi, Hồ thử bằng huyệt. Tuy chấp trung khu, Nan chi phúc triệt. Bội thành tá nhất, Khí cương chí quyết. Thiên thực kiêu Pháp, Dĩ táng ngã Việt. Phục sở hữu hoài3 Dị bang ác tiết Táp tải cơ tung, Nhất xoang nhiệt huyết. Bệnh duyên chí phẫn, Vong do thế tuyệt. Tê chí tuyền đài, Thiên thu uất kết. Hu ta tiểu tử, Tài trí nô liệt. Ấu vọng tước bình4 Trường du tiên khuyết. Hàm ân thệ báo, Cảm cố điên quyết. Chích thân hàng hải, Giả đạo Đông Việt5 Bái công vu Thiều6 Bi hỉ giao thiết. Liệu kha vô thuật, Trung trưởng di nhiệt Quốc sự tại cung, Phất cảm hưu yết. Huy chiện nhất khứ, Toại thành vĩnh quyết. Bi tai quốc nạn Sơn hà băng liệt. Nguyện kế công chí, Xanh phủ nhật nguyệt. Tha niên hữu hạnh, Tảo thanh hồ yết. Kiêu bỉ quần hung, Dĩ cáo tiên triết. Vạn lý tâm hương, Nhất bôi bạc xuyết. Anh linh phất viễn, Lâm phong tồi yếu. Ô hô! Thống tai! Thượng hưởng! (Tài liệu của Trần Huy Liệu) __________________________________ 1. Ban đầu Tôn Thất Thuyết là một vị quan văn, sau mới chuyển sang tham gia việc binh. 2. Tức là Dực Tông Anh hoàng đế, miếu hiệu của Tự Đức. 3. Phục Sở: xem chú thích về Thân Bao Tư ỏ bài. 4. Vọng tước bình: Theo Đường Thư, Đậu Nghi là quan Thượng trụ quốc thời Nam Bắc triều, có người con gái yêu, muốn kén rể sai vẽ một con công (khổng tước) trên bức bình phong, hẹn hễ ai bắn trúng mắt công thì gả con gái cho. Lý Uyên (sau là Đường Cao tổ) bắn trúng, được lấy con gái Nghi. Nguyễn Thượng Hiền hồi chưa đỗ đã định lấy con gái Tôn Thất Thuyết. 5. Việt: Quảng Đông (Trung Quốc). 6. Khi mới sang Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền có đến gặp Tôn Thất Thuyết ở Thiều Châu, nhân dịp đó có làm bài Thiều thành lữ dạ như đã dẫn ở trên. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Tư, 2016, 10:28:49 am Dịch nghĩa: Văn tế Thượng tướng Tôn Thất Thuyết Kính thay tướng công ta, Anh kiệt hơn đời, Nòi giống nhà vua, Đứng vào hàng quan văn Ra quân giúp việc binh nhung, Như thể sấm vang chớp giật. Đánh phương Đông, dẹp phương Bắc, Bẻ gãy phe đảng của giặc dữ. Đời vua Dực tông Anh hoàng đế Cờ giặc Pháp giương về phương Đông Xâm lấn đất Bắc của ta, Làm điều hung bạo độc ác. Ông đã diệt tên đầu sỏ Thế giặc bị dập tắt. Tiếng tăm nghĩa khí vang bốn phương, Tựa như sấm sét lừng lẫy. Vận nước mỗi ngày thêm sai trái, Giống cáo chuột ẩn hang sâu phá hại. Tuy ông nắm được bộ máy chủ chốt, Nhưng khó lòng giữ được bánh xe đổ. Tựa lưng trận vào thành quyết một trận. Chí khí rất là cương quyết. Nhưng trời thực nỡ giúp giặc Pháp tàn ác Để làm mất nước Việt ta. Có mang lòng khôi phục nước Sở, Cầm cờ tiết ở nước ngoài. Ba mươi năm lo tính mưu cơ, Với một bầu máu nóng, Vì giận bực sinh ốm đau, Do đời đã tuyệt mà chết. Nhưng xuống tới suối vàng Ngàn thu vẫn còn mang nỗi uất kết. Than ôi! Tôi là kẻ tiểu tử, Tài trí đều hèn kém. Lúc còn nhỏ nhằm ngắm bắn sẻ ở bình phong, Lớn lên qua lại cửa nhà ông, Mang ơn thề sẽ báo đền, Đâu có dám ngại chi gian khó. Một chiếc thân vượt biển khơi, Trên đường đi qua Quảng Dông. Bái yết ông ở Thiều Châu, Tủi tủi mừng mừng khôn tả hết. Không có pháp thuật chữa bệnh nặng nề, Trong cõi lòng rất là nôn nóng. Việc nước ở trong thân mình, Đâu dám nghĩ tới chuyện nghỉ ngơi. Vẫy roi ngựa ra đi, Ngờ đâu thành ra từ đấy vĩnh biệt. Xót thay lúc nước bị tai nạn Núi sông tan vỡ, Tôi xin nối chí của ông, Thề chống giữ lấy mặt trời mặt trăng. Năm khác có cơ hội may, Quét sạch quân giặc Hồ. Bêu đầu lũ hung ác Để cáo với các bậc tiên triết. Nén hương lòng nơi vạn dặm Với một chén rượu nhạt Linh hổn ông chẳng xa xôi Xin giáng lâm tới soi xét. Than ôi! Đau đớn thay! Thượng hưởng. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Tư, 2016, 10:29:32 am Dịch thơ: - Kính thay tướng công! Anh hào bậc nhất Đứng hàng văn ban Dòng dõi tôn thất Cầm lệnh ra quân Sấm vang chớp giật Dẹp bắc đánh đông, Tan tành đảng giặc. - Thời vua Dực Tông, Cờ Tây kéo tới. Lấn đất Bắc ta, Mưu lòng lang sói. Ông diệt tên trùm, Thế giặc tàn lụi. Tiếng nghĩa lẫy lừng, Bốn phương vang dội. - Vận nước ngày suy, Cáo hang, chuột ổ. Dẫu nắm quyền đầu, Khôn ngăn xe đổ. Một trận tựa thành, Chí khí đã tỏ. Trời giúp giặc Tây, Xui nước ta vỡ. - Ôm tiết nước người, Lòng lo phục Sở. Ba mươi năm trời, Một bầu máu đỏ. Ốm bởi lòng căm, Chết vì dứt nợ. Suối vàng ngàn thu, Mất hờn khôn gỡ. - Tôi phường tiểu tử, Tài mọn trí nông. Nhỏ làm con rể, Lớn theo đòi ông. Đội ơn thề báo, Dám quản ngại ngùng. Chiếc thân vượt biển, Đường qua Quảng Đông. - Gặp ông ở Thiều, Tủi mừng khôn xiết. Chữa bệnh không tài, Lòng đau da diết. Việc nước nặng mang, Nghỉ ngơi dám biết. Tạm biệt ra đi, Ngờ đâu vĩnh biệt. - Xót thay vận nước! Sông núi tan tành. Nguyện noi chí ông, Chống giữ trời xanh. Mong sao mai mốt, Giặc Tây quét thanh. Bêu đầu quân cướp, Cáo với tiên linh. Hương lòng muôn dặm, Một chén lòng thành. Anh hồn xa thấu, Chứng giám tâm tình. Than ôi! Thượng hưởng! (Nguyễn Văn Bách dịch) (Theo Tổng tập Văn học Việt Nam - tập 22, Sđd, tr.706-713) Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Tư, 2016, 10:32:42 am * Qua 4 mục tư liệu "văn - sử" trên đây, chúng ta thấy rõ quan hệ tình cảm giữa nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Thượng Hiền với gia đình tướng quân Tôn Thất Thuyết thật là gắn bó mặn mà. Lòng yêu nước căm thù giặc của Nguyễn Thượng Hiền luôn hướng theo vị tướng "Cần Vương chống Pháp" Tôn Thất Thuyết. Trong bài Văn tế Tôn Thất Thuyết của Nguyễn Thượng Hiền cũng đã cho chúng ta biết rõ Tôn Thất Thuyết mất tại Thiều Châu tỉnh Quảng Đông, chứ không phải mất tại Long Châu tỉnh Quảng Tây như lâu nay vẫn lưu truyền. Hơn nữa, theo sách Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu thì Tôn Thất Thuyết sang Quảng Đông cầu viện. Người Pháp xin với triều đình Mãn Thanh ngăn trở việc ấy. Chính phủ Thanh sợ Pháp, bèn an trí ông ở Thiều Châu. Theo sách Việt Nam tranh đấu sử của Phạm Văn Sơn thì ông mất tại Thiều Châu. Đại thần nhà Thanh là Lý Căn Nguyên ở Bắc Kinh (ông này trước năm 1911, phụ trách tờ Vân Nam tạp chí, đã từng cho đăng bài Tang hải lệ trần của Nguyễn Thượng Hiền), qua Nguyễn Thượng Hiền mà biết tin Tôn Thất Thuyết từ trần, đã tỏ lòng xót thương con người trung liệt, nên đã cho xây mộ và dựng bia ông ở Thiều Quan. Trên bia đá dựng ở mộ ông đề rõ dòng chữ "Nguyễn Phúc Thuyết, ngự tiền thân vương chi mộ". Hai tài liệu này cũng góp phần chứng minh Tôn Thất Thuyết khi sống cư trú tại Thiều Châu và khi chết cũng an táng tại Thiều Châu. Vậy chúng ta có thể lần theo những "ghi chú" này để tìm lại phần mộ của vị tướng quân anh dũng chống Pháp lừng danh này tại "Thiều Quan thị, Thiều Châu phủ" ở Quảng Đông, Trung Quốc. Và như vậy, đến nay, xuất phát từ một đôi câu đối điếu Tôn Thất Thuyết của một nhân sĩ ở Quảng Châu (Trung Quốc) gửi điếu, mà có lẽ tác giả Phan Trần Chúc là người đầu tiên trong cuốn sách “Vua Hàm Nghi”1 đã chép lầm hai chữ “Thiều Châu” thành ra “Long Châu”. Câu đối đó nguyên văn phải là: "Thù nhung bất cộng đái thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng Quận; Hộ giá biệt tầm tĩnh địa, thiên niên tàn cốt ký Thiều Châu". Dịch: Thù giặc chẳng chung đội trời, muôn thuở danh thơm lưu Tượng Quận; Giúp vua tìm riêng cổi thác, nghìn năm cốt rụi gửi Thiều Châu. _____________________________ 1. Phan Trần Chúc - Vua Hàm Nghi, Hà Nội, Chính Ký, 1952. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Tư, 2016, 10:38:28 pm NGUYỄN THƯỢNG HIỀN NGƯỜI CON RỂ CỦA TÔN THẤT THUYẾT1 NGUYỄN HIẾN LÊ Cụ Nguyễn hiệu là Mai Sơn, sinh năm 1868 ở làng Liên Bạt (Hà Đông), con cụ Nghè Nguyễn Thượng Phiên, Thượng thư. Người bé nhỏ, trắng trẻo, thanh nhã như con gái, tính tình điềm đạm, đã thông minh lại ham học, ngay từ nhỏ đã khăn áo chỉnh tề như người lớn, 16 tuổi đậu Cử nhân, năm sau thi Hội, đỗ Đình nguyên, nhưng chưa kịp truyền lô2 thì kinh thành thất thủ (1885), khoa đó xoá bỏ. Năm 1892 thi lại, đậu nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), còn Vũ Phạm Hàm đậu nhất giáp Tiến sĩ, làm Toản tu ở Quốc sử quán. Văn thơ cụ rất lưu lợi, thanh dật, có giọng xuất trần, khác hẳn giọng tình tứ, bóng bảy của họ Vũ như bài Chơi núi Sài Sơn lần thứ nhì, dưới đây: Non sông đã biết hay chưa? Khách chơi năm trước bây giờ lại đây. Hỏi thăm những gió cùng mây, Dấu thơ này những lối này phải không? Nực cười ta với non sông, Càng trông thấy cảnh mà lòng càng ưa. Thôi thời danh lợi cũng vờ, Lên mây xuống hạc ta chờ bạn ta. Tấc riêng gởi áng yên hà, Nghìn năm phải lấy đây là chốn hơn. Không ngờ con người tiên phong đạo cốt như vậy mà lại rất nặng lòng với Tổ quốc, đồng bào. Thi đậu ít lâu, cụ được bổ Đốc học Ninh Bình, rồi đổi Đốc học Nam Định. Năm 1907 Chính phủ Bảo hộ phế vua Thành Thái, cụ đến tận phủ Toàn quyền để kháng nghị, rồi bỏ quan về vườn. Pháp ghét cụ, nhưng vì lẽ này lẽ nọ chưa hạ thủ, thì ít tháng sau biết ở nữa sẽ không yên, cụ bí mật ra đi, không cho một ai hay, cả cụ bà cũng không biết. Cụ cải trang làm đàn bà, do đường Móng Cái qua Quảng Đông tìm cụ Tôn Thất Thuyết là nhạc gia của cụ3. Sau cụ liên lạc được với cụ Sào Nam4 qua Nhật, rồi lại về Trung Quốc. Chúng tôi xin giới thiệu dưới đây một bài thơ chữ Hán của cụ mà ít người biết: LỮ NGÔ5 Thặng thuỷ tàn sơn lạc nhật dao, Quốc hồn điểu điểu cánh nan chiêu. Sinh vi độc hạc qui hà ích? Tử hoá ai quyên hận vị tiêu! Hoàng hải nộ đào thu phủ kiếm, Ngô môn hàn nguyệt dạ xuy tiêu. Duy dư tráng trí hồn như tạc, Vạn trượng hồng nghê quán tử tiêu. Ở TRỌ ĐẤT NGÔ Nước thẳm, non xa, lặn bóng chiều, Chơi vơi hồn nước biết nơi nào? Sống làm hạc lẻ về vô ích, Thác hoá quyên sầu hận chửa tiêu! Hoàng hải chống gươm thu sóng réo, Ngô môn thổi sáo6, tối trăng treo. Còn chăng, tráng chí nguyên như cũ? Lên vút từng mây muôn trượng cao! Đông Xuyên dịch Giọng thơ của cụ vừa bi hùng, vừa phiêu diêu, nửa như tiếng hạc, nửa như tiếng quyên, nửa như tiếng sóng, nửa như ánh trăng, thật đúng với đời của cụ. ____________________________________ 1. Tên bài do chúng tôi đặt. Trích trong sách Đông Kinh nghĩa thục, Lá Bối xuất bản 1968, Sài Gòn; Lá Bối tái bản năm 1974, Sài Gòn. 2. Gọi loa công bố kết quả thời thi phong kiến (Chú thích của người trích dẫn). 3. Tôn Thất Thuyết đã sang Trung Quốc năm 1886 với mục đích cầu viện triều đình Mãn Thanh để chống lại Pháp, nhưng đã thất bại, rồi mất ở bên đó. 4. Cụ Phan Bội Châu. 5. Trung Quốc. 6. Ngũ Tử Tư đi trốn, đến Lăng Thuỷ, thấy đói, vỗ bụng, thổi sáo, lại chợ Ngô xin ăn. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Tư, 2016, 06:57:17 pm MỘT DÒNG TÔN THẤT VINH DANH NGUYỀN QUANG TRUNG TIẾN1 Trong chín hệ Tôn Thất của nhà Nguyễn2, hệ Năm là nơi trực tiếp phát xuất dòng dõi của Tôn Thất Thuyết. Hệ tổ hệ Năm là chúa Nguyễn Phúc Tần, còn gọi là chúa Hiền, ông là con thứ hai của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648)3, sinh vào ngày 19 tháng 6 năm Canh Thân (tức 18.7.1620). Từ thời còn trai trẻ, Nguyễn Phúc Tần đã tỏ ra là một võ tướng có tài. Tháng 5 năm 1643, được tin tàu chiến của Hà Lan kéo đến ngoài khơi cửa Thuận An giúp quân Trịnh và cướp phá tàu thuyền của Đàng Trong, Nguyễn Phúc Tần liền tự mình đem quân đi đánh, phá được 10 tàu chiến của giặc4. Sau chiến công đó, chúa Thượng rất ngợi khen Nguyễn Phúc Tần và có ý muốn dựng làm người kế nghiệp chúa, ban tước Dũng Lễ hầu. (https://lh3.googleusercontent.com/-wnUweJi0lQU/VsCvTu_E8JI/AAAAAAAAC6I/NtiNmsqYOLMHG2sreLQ85uC6Y5MH5h1oQCCo/s720-Ic42/PhaheTTThuyet.jpg) Tháng 2 năm 1648, quân Trịnh tiến đánh Quảng Bình, Nguyễn Phúc Tần được chúa Thượng cử làm Tiết chế các dinh, đem binh chống giữ, giành được thắng lợi lớn cho quân Nguyễn. Sang tháng 3 năm 1648 chúa Thượng lâm bệnh qua đời, Nguyễn Phúc Tần được kế ngôi, tự xưng làm “Tiết chế thuỷ bộ chư dinh kiêm Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, Thái bảo Dũng quận công” (đến năm 1653 triều thần lại tôn xưng là Thái phó Dũng quốc công”5 Suốt thời gian làm Chúa từ 1648 đến 1687, Nguyễn Phúc Tần đã đẩy công cuộc khẩn hoang miền Nam đến tận Biên Hoà, Mỹ Tho và tiến hành 3 cuộc giao tranh lớn với quân Trịnh ở phía Bắc, vào các năm 1655,1661, 1672. Trận đánh năm 1672 đã chấm dứt cuộc chiến tranh Nam - Bắc, hai bên lấy sông Gianh làm ranh giới hai miền, từ đấy không đánh nhau nữa. _________________________________ 1. Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Huế. 2. Để phân biệt trong nội bộ hoàng tộc, vua Minh Mạng định ra chánh hệ từ đời vua Gia Long trở về sau, còn con cháu các chúa Nguyễn thì xếp vào hệ Tôn Thất. Mỗi chúa đứng đầu một hệ, gọi là ngài hệ tổ. Con trai của Hệ tổ (trừ người kế nghiệp chúa) tạo ra các phòng của hệ, gọi là đức Tiên công của Phòng. Có tất cả 9 hệ Tôn Thất là: Hệ Nhất: do con cháu của Nguyễn Kim (1468-1545) hợp thành. Hệ Nhì: do con cháu của chúa Tiên - Nguyễn Hoàng (1525-1613) hợp thành. Hệ Ba: do con cháu của chúa Sãi - Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) hợp thành. Hệ Bốn: do con cháu của chúa Thượng - Nguyễn Phúc Lan (1601-1648) hợp thành. Hệ Bốn hiện nay đã tuyệt tự. Hệ Năm: do con cháu chúa Hiền - Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) hợp thành. Hệ Sáu: do con cháu của chúa Nghĩa - Nguyễn Phúc Thái (1649-1691) - trước đây thường bị nhầm là Nguyễn Phúc Trăn - hợp thành. Hệ Sáu hiện nay đã tuyệt tự. Hệ Bảy: do con cháu của chúa Quốc - Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) hợp thành. Hệ Tám: do con cháu của Ninh vương - Nguyễn Phúc Trú (1696-1738) hợp thành Hệ Chín: do con cháu của Võ vương - Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765) hợp thành. 3. Chúa Thượng - Nguyễn Phúc Lan chỉ có 3 người con trai. Con đầu là Nguyễn Phúc Võ, con thứ ba là Nguyễn Phúc Quỳnh đều chết lúc trai trẻ, chỉ còn người thứ hai là Nguyễn Phúc Tần kế nghiệp. 4. Lê Quý Đôn – Phủ biên tạp lục, H., Khoa học xã hội, 1977, tr. 55. 5. Trước thời chúa Nguyễn Phúc Thái (trị vì từ 1687 đến 1691), các chúa Nguyễn khi mới nối nghiệp chỉ tự xưng là “Thái bảo quận công”, vài năm sau triều thần mới tôn xưng là “Thái phó quốc công”. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Tư, 2016, 07:01:09 pm Năm 1687, chúa Hiền - Nguyễn Phúc Tần ở ngôi 39 năm thì mất, được chúa Nghĩa - Nguyễn Phúc Thái dâng thụy hiệu riêng là “Đại Nguyên suý Tổng quốc chính Dũng Triết vương”, đến đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), Nguyễn Phúc Tần được truy tôn là “Nghị tổ Tuyên uy Kiến Vũ Anh minh Trang chính thánh đức thần công Hiếu Triết vương". Thời vua Gia Long (1802-1820), Nguyễn Phúc Tần lại được truy tôn là “Tuyên uy Kiến vũ Anh minh Trang chính Thánh đức thần công Hiếu Triết Hoàng đế", miếu hiệu Thái Tông, gọi tắt là Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế. Nguyễn Phúc Tần có tất cả 6 con trai và 3 con gái. Trong số 6 con trai của Chúa, công tử1 thứ năm là Nguyên Phúc Niên và thứ sáu là Nguyễn Phúc Nhiễu đều chết lúc nhỏ. Bốn người còn lại thì trừ nhị công tử Nguyễn Phúc Thái ( sinh năm 1691, thường gọi là chúa Nghĩa, trở thành Hệ tổ hệ sáu ), ba công tử kia tạo thành 3 phòng của hệ Năm là: Đại công tử Nguyễn Phúc Diễn, tước Phúc Mỹ hầu, mất vào mùa đông 1684, về sau được truy tặng là Phúc quận công, là Tiên công phòng Nhất của hệ Năm. Tam công tử Nguyễn Phúc Trăn (hay Trân), tước Cương Lĩnh hầu, mất vào mùa thu năm 1685, về sau được truy tặng tước Cương quận công, là Tiên công phòng Ba của hệ Năm. Tứ công tử Nguyễn Phúc Thuần, tước Hiệp Đức hầu, mất vào tháng 7 năm 1675, được truy tặng tước Quốc Oai công, là Tiên công phòng Tư của hệ Năm, nơi trực tiếp sản sinh chi phái của Tôn Thất Thuyết. Nguyễn Phúc Thuần là người có võ công khá lớn dưói thời chúa Hiền - Nguyễn Phúc Tần. Tháng 7 năm 1672, quân Trịnh mang đại binh từ Bắc đánh vào, chúa Hiền đã phong Nguyễn Phúc Thuần làm Nguyên suý cất quân chống giữ. Đây là lần giao tranh ác liệt có tính chất quyết định đến xu hướng của cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn. Kết quả của lần giao chiến này là sự thoả thuận cùng bãi việc binh đao giữa hai bên, lấy sông Gianh làm phân giới giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong từ đó. Hiệp Đức hầu Nguyễn Phúc Thuần có công rất lớn trong chiến dịch đầy ý nghĩa lịch sử đó, nên khi kéo quân ca khúc khải hoàn vào tháng 3 năm 1673, ông được chúa Hiền ban thưởng rất hậu, tặng 100 lạng vàng, 100 lạng bạc, 50 tấm gấm. Sau cuộc chiến, Hiệp Đức hầu Nguyễn Phúc Thuần giải nghiệp binh đao, chấm dứt đời làm tướng, từ bỏ cuộc sống gia đình, dựng am sống một mình, đóng cửa không tiếp khách, ăn chay và tham cứu triết lý đạo Phật. Vào tháng 7 năm 1675, mặc dù còn rất trẻ, song do nhiễm bệnh đậu mùa nặng nên Nguyễn Phúc Thuần qua đời, hưởng dương được 23 tuổi2. Thời vua Gia Long, vào tháng 9 năm 1806, Nguyễn Phúc Thuần được xếp vào loại “quốc sơ thượng đẳng công thần”, cùng với Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Cảnh; triều đình cho mỗi ông một người cháu làm Ấm thụ đội trưởng, ban cấp 6 mộ phu và 15 mẫu tự điền nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng để lo việc thờ tự. __________________________________ 1. Thời các chúa Nguyễn, con trai của chúa đều được gọi là công tử. Con đầu vẫn gọi là đại công tử, rồi đến nhị công tử, tam công tử... 2. Theo gia phổ của dòng họ và “Đại Nam liệt truyện tiền biên" thì Nguyễn Phúc Thuần mất năm 1675, lúc mới 23 tuổi; như vậy ông sinh vào năm 1653 là hợp lý, vì người anh thứ hai là Nguyễn Phúc Thái (tức chúa Nghĩa) sinh năm 1649; anh thứ ba là Nguyễn Phúc Trăn sinh năm 1652. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Tư, 2016, 07:04:02 pm Khi còn sống, Nguyễn Phúc Thuần được ban tước là Hiệp Đức hầu, về sau khi đã mất ông mới được truy tặng tước Quốc Oai công. Có lẽ do Nguyễn Phúc Thuần trùng tên với Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1775), nên thời Nguyễn đã tránh tên huý và chép ông thành Nguyễn Phúc Hiệp. Tên Hiệp có thể là do lấy từ tước cũ Hiệp Đức hầu trước đó. Hiện nay ông thường được gọi là Nguyễn Phúc Hiệp hoặc Tôn Thất Hiệp, song kỳ thật vào thế kỷ XVII ông mang tên là Nguyễn Phúc Thuần. Nguyễn Phúc Thuần (tức Hiệp) có 4 con trai là Nguyễn Phúc Nhuận, Nguyễn Phúc Lộ, Nguyễn Phúc Thiều, Nguyễn Phúc Phan. Nguyễn Phúc Nhuận là con đầu của Nguyến Phúc Thuần, được thăng đến chức Chưởng dinh1, hàm Thiếu phó quận công. Ông Nhuận sinh được 5 con trai là Nguyễn Phúc Vân, Nguyễn Phúc Khoan, Nguyễn Phúc Thành, Nguyễn Phúc Nghiêm, Nguyễn Phúc Sử. Nguyễn Phúc Thành (cố nội của Tôn Thất Thuyết) là con thứ ba của Nguyễn Phúc Nhuận, làm quan võ đến chức Cai cơ, sinh được hai người con trai là Tôn Thất Trung và Tôn Thất Lộc2. Tôn Thất Lộc (ông nội của Tôn Thất Thuyết) là con thứ hai của Tôn Thất Thành, làm quan võ đến chức Quản cơ, thụy phong là Minh nghĩa Đô uý3. Ông Lộc có sáu con trai là Tôn Thất Hoà, Tôn Thất Thuận, Tôn Thất Tường, Tôn Thất Tùng, Tôn Thất Đính, Tôn Thất Di. Tôn Thất Đính (cha của Tôn Thất Thuyết) là con thứ năm của Tôn Thất Lộc, sinh ngày 7 tháng 6 năm Nhâm Thân (tức 15.7.1812): Tôn Thất Đính là Vệ uý Chưởng doanh Kỳ vũ được thăng thụ chức Chưởng vệ. Năm 1861 làm Tán lý quân thứ Gia Định, đã từng theo Hộ bộ Thượng thư kiêm Khâm sai quân vụ đại thần Nguyễn Bá Nghi đem quân vào Biên Hoà chặn quân Pháp. Đến năm 1864, lúc đang giữ chức Đề đốc4 quân thứ Hải Dương, Tôn Thất Đính lấy cớ đau ốm xin nghỉ nên bị vua Tự Đức giáng tám cấp, sau đó mới về an trí tại Huế. Năm 1885, mặc dù đã già nhưng ông vẫn ủng hộ chủ trương của con là Tôn Thất Thuyết, quyết tâm đánh Pháp. Ông Đính bị giặc bắt vào tháng 7 năm 1885, lúc đang tìm đường đi theo vua Hàm Nghi. De Courcy ra lệnh đưa ông vào Gia Định, và đến tháng 9 năm 1885, Pháp đày cả ông Đính lẫn Phạm Thận Duật cùng Nguyễn Văn Tường xuống tàu đi Côn Đảo. Phạm Thận Duật sức yếu không chịu nổi đã chết trên đường đi, Nguyễn Văn Tường bị đưa tiếp sang Tahiti, còn Tôn Thất Đính bị đày tại Côn Đảo, về sau ông được Pháp trả về lại Huế, và sống những ngày còn lại tại chùa Phổ Quang, gần chợ Bến Ngự5. Ông mất vào ngày 28 tháng 10 năm Quý Tỵ (tức 5.12.1893). __________________________________ 1. Thời các chúa Nguyễn, quan võ có các chức là Chưởng dinh, Chưởng cơ, Cai cơ, Cai đội. Dẫu là họ hàng quyến thuộc của chúa, và được tin dùng đến mấy cũng được phong ngang chức Chưởng dinh là cao nhất. Nguyễn Phúc Nhuận giữ chức Chưởng dinh, và khi chết được truy tặng hàm Thiếu phó quận công, chứng tỏ ông có vị trí lớn trong dinh chúa. 2. Từ năm Minh Mạng thứ 3 (1822), những người trong Hoàng tộc thuộc dòng dõi các chúa bắt đầu được gọi là Tôn Thất thay cho họ Nguyễn Phúc. Từ đời con của Nguyễn Phúc Thành trở về sau đều mang chữ Tôn Thất thay cho họ, vì vậy hai người con của ông được cải lại là Tôn Thất Trung, Tôn Thất Lộc. 3. Thời Gia Long trở đi, Quản cơ là chức quan võ thuộc hàm chánh tứ phẩm. Các chức quan võ hàm chánh tứ phẩm đều được thụy phong là Minh nghĩa Đô úy. 4. Đề đốc là chức quan võ hàm chánh nhị phẩm. Tôn Thất Đính là Đề đốc Hải Dương hưu trí chứ không phải là Đề đốc Hộ thành Thuận Hóa như một số tài liệu đã nhầm. 5. Tôn Thất Hứa - “Quanh sự kiện Tôn Thất Thuyết”. Viên Giác, số Xuân Quý Dậu (1993), tr. 128. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2016, 10:56:23 pm Tôn Thất Đính có 3 bà vợ, sinh hạ được 6 trai và 5 gái. Sáu người con của ông Đính theo thứ tự là: Tôn Thất Dụ, bị mất từ sớm. Tôn Thất Thuyết, sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi (tức 12.5.1839) tại xóm Phú Mộng, làng Phú Xuân, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, cạnh Kinh thành Huế (nay thuộc tổ 13 khu vực II, phường Kim Long, thành phố Huế)1. Tôn Thất Hàm, sinh năm 1842, làm quan giữ chức Tham biện Sơn phòng Thanh Hoá, từng được bổ làm Tri huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Ông tham gia phong trào Cần vương tích cực, về sau bị bắt đưa vào Đà Nẵng liền tự tuyệt thực mà chết vào ngày 9 tháng 12 năm 1892 (21 tháng 10 năm Nhâm Thìn). Tôn Thất Lệ sinh năm 1851, làm quan giữ chức Tham biện Sơn phòng Quảng Trị, là người chỉ huy cánh quân đánh toà Khâm sứ ở Huế hôm 5.7.1885. Ông đã hy sinh anh dũng trong trận đánh ở Mai Lãnh thuộc Quảng Trị để bảo vệ vua Hàm Nghi vào cuối tháng 7 năm 18852. Tôn Thất Chiếu mất từ nhỏ. Tôn Thất Chí sinh năm 1873, mất năm 1921. Như vậy, trong 6 người con trai của Tôn Thất Đính, ngoại trừ Tôn Thất Dụ và Tôn Thất Chiếu chết sớm, Tôn Thất Chí còn nhỏ, ba anh em còn lại là Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Hàm và Tôn Thất Lệ đều tham gia việc nước, tất cả đều là quan lại triều đình. Nếu tính từ ông tổ của hệ Năm là chúa Nguyễn Phúc Tần cho đến đời của anh em Tôn Thất Thuyết, không có đời nào của dòng họ này lại không theo đuổi binh nghiệp. Trực hệ của Tôn Thất Thuyết luôn giữ những chức vụ không nhỏ trong guồng máy chính quyền của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn, và rất có uy tín với triều đình. Đây là một đặc trưng nổi bật của dòng họ Tôn Thất Thuyết, và đến đời anh em Tôn Thất Thuyết thì đặc trưng đó đã trở thành truyền thống được hun đúc mạnh mẽ. _________________________________ 1. Xem thêm: Thái Trưòng Huy Thanh - “Về nơi sinh của danh nhân Tôn Thất Thuyết”. Huế Xưa và Nay, số 14, 1995, tr. 27-29. Nguyễn Quang Trung Tiến: “Tôn Thất Thuyết - Anh hào lắm nỗi nhiêu khê” - Tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ, Sở KHCN&MT Thừa Thiên Huế, số 2, 1995, tr. 146-158; và “Nhận diện chặng đường lưu vong của Tôn Thất Thuyết”, tạp chí đã dẫn, số 4, 1995, tr. 40-47. 2. Ông Tôn Thất Hứa (trong bài đã dẫn) dựa vào gia phổ để cho rằng Tôn Thất Lệ hy sinh tại Mai Lãnh, Quảng Trị vào ngày 11/7 năm Ất Dậu (20.8.1885). Theo chúng tôi Tôn Thất Lệ hy sinh vào cuối tháng 7 năm 1885 (sớm hơn gần một tháng) thì mới hợp lý; vì các trận đánh truy kích đạo quân vua Hàm Nghi ở vùng Mai Lãnh, Quảng Trị xảy ra vào cuối tháng 7.1885. Từ đầu tháng 8.1885 Tôn Thất Thuyết đã phò vua Hàm Nghi sang Lào, không còn đánh nhau nữa, và cũng không có dấu hiệu chứng tỏ Tôn Thất Lệ còn sống đến lúc ấy. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Tư, 2016, 10:58:13 pm Kế thừa truyền thống binh nghiệp của cha ông, Tôn Thất Thuyết đã đem hết tài năng quân sự phục vụ triều Nguyễn, và thực sự đã chinh phục được vua Tự Đức. Có lẽ khi Tôn Thất Thuyết được vua Tự Đức tín nhiệm và giao trọng trách đảm nhận việc nước, phần nào đó cũng là do ông có một nguồn gốc xuất thân đáng kính nể từ dòng tộc đã trên 200 năm làm tướng (!). Hổ phụ sinh hổ tử! Thế hệ con cái cũng không làm hổ danh dòng họ. Năm bà vợ của Tôn Thất Thuyết đã sinh cho ông 9 người con trai là Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Diên, Tôn Thất Tấn, Tôn Thất Khởi, Tôn Thất Khánh, Tôn Thất Lượng, Tôn Thất Hoàng, Tôn Thất Trọng; và 6 người con gái là: Tôn Nữ Thị Huyền, Tôn Nữ Thị Ẩn, Tôn Nữ Thị Năng, Tôn Nữ Thị Tri, Tôn Nữ Thị Thọ, Tôn Nữ Thị Tựu. Trong các người con của Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Đàm là con trai trưởng, tham gia việc nước từ sớm, đảm nhận chức vụ Khâm sai Chưởng lý quân vụ đại thần, thay cha điều hành “triều đình Hàm Nghi” kháng chiến từ tháng 2 năm 1886 đến tháng 10 năm 1888 ở vùng núi Quảng Bình - Hà Tĩnh, và đã anh dũng tự sát vào 15.11.1888 khi hay tin vua Hàm Nghi bị lọt vào tay giặc. Con trai thứ hai là Tôn Thất Thiệp tuy còn trẻ (sinh năm 1871), nhưng biết bao lần đã vào sinh ra tử để bảo vệ ngọn cờ kháng chiến của phong trào Cần vương, cuối cùng cũng hy sinh quên mình trước mặt vua Hàm Nghi khuya ngày 1.11.1888 tại núi rừng Tuyên Hoá tỉnh Quảng Bình. Con trai thứ tám là Tôn Thất Hoàng cũng dính dáng đến cuộc khởi nghĩa Trung kỳ năm 1916 (có sự tham gia của vua Duy Tân) nên bị giặc Pháp bắt cùng với nhà hoạt động Khoá Bảo tên tuổi ở Quảng Trị, và bị đày đến chết trên nhà tù Lao Bảo1. Con trai thứ chín là Tôn Thất Trọng lúc mới tám tuổi đã bị giặc Pháp bắt cùng với thủ lĩnh nghĩa quân Cần Vương Quảng Bình là Nguyễn Phạm Tuân (4.1887), về sau lại hưởng ứng phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và mất tích ở nước ngoài. Ngay cả những người con rể cũng chịu ảnh hưởng khí phách dòng tộc Tôn Thất Thuyết, tham gia chống Pháp như Nguyễn Thượng Hiền (chồng bà Tôn Nữ Thị Ẩn) là nhà cách mạng đầu thế kỷ XX hoạt động cùng cụ Phan Bội Châu; Nguyễn Thượng Ý (chồng bà Tôn Nữ Thị Tựu) là Phụ giáo của vua Duy Tân. Có thể nói rằng, nếu Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Hàm, Tôn Thất Lệ... là kết tinh của một truyền thống binh nghiệp của dòng tộc chúa Nguyễn Phúc Tần, thì các con của Tôn Thất Thuyết đã góp phần đắc lực trong việc hoàn chỉnh vẻ oai danh cho thế tộc của mình. Sự đóng góp máu xương của anh em, gia đình và dòng tộc Tôn Thất Thuyết với lịch sử dân tộc vô cùng to lớn. Chính vì điều đó mà thế tộc của Tôn Thất Thuyết đã trở thành một thế tộc vang danh cho đến ngày nay, và luôn được người đời hết sức ngưỡng mộ. ____________________________________ 1. Tôn Thất Hứa, bài đã dẫn, tr. 129. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2016, 09:27:28 pm VỊ HOÀNG ĐẾ TRƯỞNG THÀNH TỪ NIÊN THIẾU NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN1 Kể từ ngày vua Tự Đức mất, mặc dù các Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết nắm trọn quyền hành trong việc phế bỏ vua này, truất ngôi vua khác, nhưng họ lại rất bị động trong việc tìm người trong Hoàng tộc có cùng chí hướng để đưa lên ngôi báu. Cả vua Hiệp Hoà lẫn vua Kiến Phúc đều lần lượt đi ngược lại đường lối của phái chủ chiến, trở thành những phần tử không thể không bị loại bỏ khỏi việc triều chính đang đến hồi thực sự gây cấn. Cái chết đột ngột của vua Kiến Phúc đêm 31.7.1884 đã đẩy phái chủ chiến trong triều đình Huế vào cái thế phải dứt khoát lựa chọn bằng được một ông vua ủng hộ lập trường chống Pháp. Song họ không tin được người nào trong số các hoàng tử con vua Thiệu Trị, ngay cả người con nuôi thứ hai2 còn lại của vua Tự Đức là Chánh Mông - Ưng Kỹ cũng vậy. Cho nên họ đã hướng tầm nhìn ra khỏi Hoàng thành để chọn một người có đủ tư cách về dòng dõi, nhưng chưa bị cuộc sống chốn gác ngọc cung son làm vẩn đục tinh thần tự tôn dân tộc, và quan trọng hơn hết là họ có thể lái chèo được nhà vua hướng về đại cuộc của quốc gia một cách dễ dàng. Người được chọn ấy chính là cậu bé Ưng Lịch, con thứ năm của Kiến Thái Vương Hồng Cai (hoàng tử thứ 26 của vua Thiệu Trị) và cũng là em ruột của Chánh Mông - Ưng Kỹ và vua Kiến Phúc. Ưng Lịch sinh ngày 3 tháng 8 năm 1871, từ nhỏ sống trong cảnh bần hàn với mẹ ruột là bà Phạm Thị Nhờn, chớ không được học hành, nuôi dạy tử tế như hai anh ruột ở trong cung. Mũ áo xênh xang và cuộc sống vương giả hoàn toàn xa lạ với cậu bé quen sống trong cảnh dân dã. Khi thấy sứ giả của triều đình đến đón, cậu bé vô cùng sợ hãi và không dám nhận lấy áo mũ mà người ta dâng lên cho mình với thái độ cung kính như đối với một bậc quân vương. Vào sáng ngày 2 tháng 8 năm 1884, cậu bé Ưng Lịch được dìu đi giữa hai hàng thị vệ, tiến vào điện Thái Hoà để làm lễ đăng quang, trở thành vua Hàm Nghi lúc vừa tròn 13 tuổi. Việc đưa Ưng Lịch lên ngôi là chủ trương của phái kháng chiến, đứng đầu là Phụ chính đại thần kiêm Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết, nên đã vấp phải phản ứng quyết liệt của người Pháp, và cũng không tránh khỏi sự đả kích của các phần tử thân Pháp trong nội bộ hoàng tộc. Là một vị vua mới 13 tuổi, dĩ nhiên vua Hàm Nghi chưa thể nào có được ý thức đầy đủ về thù nhà, nợ nước, cũng như chưa thể nào hiểu được vai trò của một vị hoàng đế trong bối cảnh đất nước bị ngoại bang thống trị. Cho nên mọi việc triều chính hầu như đều do Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường sắp đặt, còn nhà vua thì chỉ việc y theo. Công việc đầu tiên mà vua Hàm Nghi phải thủ vai, dưới sự hướng dẫn của Tôn Thất Thuyết, là tổ chức đón phái đoàn Pháp từ Toà Khâm sứ ở bờ Nam sông Hương sang điện Thái Hoà làm lễ tôn vương cho nhà vua. Đây là kết quả thắng lợi mà phe chủ chiến của triều đình Huế đã đạt được trong việc bảo vệ ngai vàng của Hàm Nghi. Còn đối với người Pháp thì sau những yêu sách, đòi hỏi bất thành, họ đành phải nhân nhượng để tránh thêm những rắc rối mới bằng cách chấp nhận một sự việc đã rồi. ______________________________ 1. Đại học KHXH-NV Huế. 2. Vua Tự Đức vì không có con nên đã nhận 3 người cháu ruột làm con nuôi là: - Dục Đức - Ưng Chân, sinh ngày 23/02/1852, con của Kiến Thuỵ Vương Hồng Y (hoàng tử thứ 4 của vua Thiệu Trị). Ưng Chân kế ngôi vua Tự Đức mới được ba ngày, chưa kịp đặt đế hiệu thì đã bị truất ngôi, nên thường được gọi là vua Dục Đức. Dục Đức bị chết đói trong ngục ngày 24.10.1884. - Chánh Mông - Ưng Kỹ, sinh ngày 19.02.1864, con của Kiến Thái Vương Hồng Cai (hoàng tử thứ 26 của vua Thiệu Trị). Ưng Kỹ về sau được đưa lên kế ngôi Hàm Nghi từ 14.01.1885 đến 28.01.1889, hiệu là Đồng Khánh. - Dưỡng Thiện - Ưng Đăng, sinh ngày 12.02.1869, em ruột của Ưng Kỹ, kế ngôi vua Hiệp Hoà từ 30.11.1883 đến 31.07.1884, hiệu là Kiến Phúc. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2016, 09:30:09 pm Lúc 9 giờ sáng ngày 17.8.1884, phái đoàn Pháp gồm đại tá Guerrier, Khâm sứ Rheinart, thuyền trưởng Wallarmé cùng 185 sĩ quan, binh lính kéo sang Hoàng thành Huế. Guerrier buộc triều đình Huế phải để toàn bộ quân Pháp tiến vào Ngọ môn bằng lối giữa, là lối chỉ dành cho vua đi, nhưng Tôn Thất Thuyết nhất định cự tuyệt. Cuối cùng, chỉ có ba sứ giả được vào cổng chính, còn số sĩ quan, binh lính tháp tùng phải đi theo lối hai bên. Trong Hoàng thành, lính Cấm vệ và bá quan văn võ của triều đình Huế đội ngũ nghiêm chỉnh, xếp từ Ngọ môn đến điện Thái Hoà. Vua Hàm Nghi được bố trí ngồi yên trên ngai, không bước xuống và cũng không đứng dậy khi phái đoàn Pháp vào điện. Bực tức vì không được thoả mãn ý đồ, Guerrier đã không theo đúng những nghi thức do bộ Lễ đã bàn trước, mà chỉ bước đến bệ rồng chào vua Hàm Nghi, sau đó mở chiếc hộp màu đỏ cầm sẵn trên tay rút ra bản chúc từ, rồi nhân danh Chính phủ Pháp tuyên đọc để công nhận việc lên ngôi của vua Hàm Nghi, kèm theo những lời chúc tụng chiếu lệ. Vua Hàm Nghi đáp lễ bằng cách sai một đại thần hỏi thăm sức khoẻ Tổng thống Grévy của nước Pháp cùng các quan chức Pháp đã từng sang Việt Nam công cán. Cả phía triều đình Huế lẫn phái đoàn Pháp đều mang tâm trạng hậm hực không vừa lòng nhau, nhưng buổi lễ thọ phong cuối cùng cũng kết thúc êm thắm. Khi phái đoàn Pháp cáo từ, Tôn Thất Thuyết ngầm lệnh cho quân lính đóng cửa chính ở Ngọ môn lại, quân Pháp đành phải nuốt giận theo lối cửa hai bên mà về. Thái độ của triều đình Huế và vua Hàm Nghi trong buổi lễ tôn vương, mà người xếp đặt là Tôn Thất Thuyết, đã khiến cho người Pháp vô cùng căm tức, nhưng quan lại và dân chúng Việt Nam khắp nơi đều hả dạ và bày tỏ thái độ hoan nghênh nhiệt liệt. Nhìn nhận về sự kiện này, Marcel Gaultier viết: “Vua Hàm Nghi đã giữ được tính chất thiêng liêng đối với thần dân mình. Vô tình vị vua trẻ tuổi đã làm một việc có ảnh hưởng vang dội khắp nước: với ý chí cương quyết độc lập và dù người Pháp có đóng quân tại Huế, triều đình An Nam vẫn biểu dương một thái độ không hèn. Thái độ ấy do Hội đồng phụ chính đề ra, hội đồng ấy rất có lý mà tin chắc rằng dân chúng trông vào thái độ của nhà vua để noi theo, xem thái độ ấy như là mệnh lệnh (chống lại người Pháp - TG) không nói ra bằng lời...”1 Sau cuộc đối phó thành công với người Pháp trong việc tôn lập vua Hàm Nghi, phái chủ chiến ra sức củng cố thế lực, kiên quyết trừng trị các phần tử thân Pháp chống đối ngôi vị của vua mới. Thông qua bộ tham mưu của phái chủ chiến, vua Hàm Nghi đã kết tội Kỳ Phong Công Hồng Đình (hoàng tử thứ 23 của vua Thiệu Trị), bởi vì ông này có tính tình phóng đãng, lại nghiện ngập bê tha, và quan trọng nhất là đã dám phản đối cuộc lên ngôi của vua Hàm Nghi, dám nhục mạ vua là đứa con hoang vô thừa nhận. Hồng Đình bị bắt giam vào ngục như Dục Đức và bị bỏ đói đến chết vào ngày 19 tháng 9 năm 1884. Sau đó, vua Hàm Nghi còn ký lệnh cho Nguyễn Văn Tường bắt giam luôn Gia Hưng Quận vương Hồng Hưu (hoàng tử thứ 8 của vua Thiệu Trị, cựu Phụ chính đại thần triều vua Kiến Phúc, và là người cầm đầu phủ Tôn Nhân), bởi vì ông này có ý đồ hạ bệ Nguyễn Văn Tường - Tôn Thất Thuyết, chống đối ngôi vua của Hàm Nghi, chống lại chủ trương chống Pháp của phái chủ chiến (thực tế trước đó viên Khâm sứ Rheinart cũng đã từng bác bỏ Hàm Nghi và đề nghị triều đình Huế đưa Gia Hưng Quận vương Hồng Hưu lên làm vua). Nhờ có Khâm sứ mới tới thay thế là Lemaire đứng ra can thiệp, Hồng Hưu thoát khỏi cảnh bị giam cầm trong ngục thất, song vẫn bị triều đình Huế lột hết phẩm tước và đày ra sơn phòng Cam Lộ vào cuối tháng 10 năm 1884, con cái bị cải sang họ mẹ hoặc đổi qua Tôn Thất. Hồng Hưu bị chết vào ngày 9.5.18852. Hàm Nghi tại vị là một thành quả lớn trong nỗ lực ổn định nội bộ triều đình Huế của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường và phái chủ chiến. Mặc dù vua Hàm Nghi còn nhỏ tuổi và chưa mấy quan tâm đến vận mệnh của đất nước, song nhờ thế mà từ khi nhà vua lên ngôi cho đến ngày thất thủ Kinh thành Huế, phái chủ chiến không còn gặp phải những trở ngại từ phía người đại diện quyền uy tối thượng của vương triều như dưới thời Hiệp Hoà, Kiến Phúc nữa. Dẫu chưa phải là người đồng chí hướng, nhưng sự hiện diện của Hàm Nghi trên ngai vàng đã bảo đảm quyền lực tối ưu cho Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, và do vậy cán cân lực lượng trong nội bộ triều đình Huế nghiêng hẳn về phía những người chủ trương chống Pháp. Chính nhờ thế mà triều đình Huế đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của thực dân Pháp để tích cực chuẩn bị cho một cuộc đối đầu bằng vũ lực, và vua Hàm Nghi nghiễm nhiên trở thành đại diện tối cao cho ý chí độc lập, tự chủ của quốc gia. ___________________________________ 1. Marcel Gaultier - Le Roi Proscrit, Hanoi, Impr. d'Extrême - Orient, 1940, tr. 40-41. 2. Nguyễn Thế Anh - Monarchie et fait colonial au Vietnam (1875-1925). Paris, Editions l’Harmattan, 1992, tr. 56. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2016, 09:34:41 pm Cuộc tấn công của quân đội triều Nguyễn, dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, vào lực lượng quân Pháp ở Kinh thành Huế vào đêm 4 rạng sáng 5.7.1885 thất bại đã đưa đẩy vua Hàm Nghi bước vào cuộc chiến đấu chống Pháp một cách bất đắc dĩ. Vào mờ sáng hôm đó, khi quân triều đình tỏ ra núng thế trước các mũi phản công của quân Pháp, Tôn Thất Thuyết đành phải tính đường rút vào Kinh thành Huế. Tàn quân được lệnh tập trung ở cửa Chương Đức, Tôn Thất Thuyết vào cung báo lại việc giao chiến trong đêm, và mời vua Hàm Nghi cùng Tam cung1 lên đường. Nghe chuyện phải rời khỏi kinh thành, vua Hàm Nghi đã thảng thốt nói: “Ta có đánh nhau với ai đâu mà phải chạy”2. Bước lên kiệu, chân vấp phải nấc thang cũng khiến nhà vua khóc ròng. Đoàn hộ giá theo lối cửa Hữu đi lên chùa Linh Mụ, rồi hướng ra Bắc một cách vội vã. Vua Hàm Nghi ngồi trong kiệu bị chao đảo liên tục, đầu nhà vua bị va đập nhiều lần vào thành kiệu đến chảy nước mắt, sau cùng vua phải xuống nằm trên võng cho lính cáng. Mãi đến chiều 6.7.1885, cả đoàn mới tới được Quảng Trị. Chiều ngày 8.7.1885, Thái hậu Từ Dũ ra lệnh họp bá quan văn võ ở Hành cung Quảng Trị, ngỏ ý muốn trở về Huế và thừa nhận hiệp ước Patenôtre (6.6.1884). Phần lớn quan lại và những người trong Hoàng phái đều đồng tình, kể cả vua Hàm Nghi, chỉ có Tôn Thất Thuyết và một số ít thuộc phái chủ chiến phản đối. Ngày 9.7.1884, dưới áp lực của Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đành từ biệt Tam cung, gạt lệ lên đường đi Tân Sở trong tâm trạng u buồn, ủ rũ. Làng Điềm ở Bảng Sơn cách thành Tân Sở hai cây số về phía Bắc là nơi vua Hàm Nghi trú chân, còn quân sĩ thì đóng ở trong thành. Khung cảnh núi đồi hoang dại và một tương lai hứa hẹn nhiều gian khó càng khiến nhà vua thêm phần nhớ Huế. Khi nhận được bức thư của Nguyễn Văn Tường3 gởi cho nhà vua đề nghị trở về, vua Hàm Nghi đã không dằn lòng nổi, liền yêu cầu Tôn Thất Thuyết đưa mình trở lại Huế, chấp nhận sống trong vòng kiềm toả của người Pháp. Trước những tình cảm nông nổi và suy nghĩ non trẻ của nhà vua, Tôn Thất Thuyết đã nghiêm mặt nói rằng nếu muốn về thì xin vua hãy để đầu lại. Vua Hàm Nghi lúc đó mới sợ và không còn dám bàn chuyện trở về Huế nữa. Việc xuất bôn của Hàm Nghi sau sự biến Kinh thành Huế đã đẩy người Pháp vào một thế lúng túng về mặt chính trị. Họ tự nhìn nhận đã “bị rắc rối vô cùng vì cuộc xung đột đổ máu đêm 5.7.1885 đã biến đổi hoàn toàn thời cục xứ An Nam. Vị vua trẻ tuổi đã rời bỏ kinh thành thì ở Huế không còn có chính phủ, không có chính quyển, không còn có ai có thể thi hành các điều ước liên tiếp mà chúng ta đã ký kết với nước này...”4. Công bằng mà xét thì đó là hệ quả trực tiếp mà Tôn Thất Thuyết và các đồng chí của ông tạo nên, còn Hàm Nghi chỉ là một nhân vật thụ động, nếu không muốn nói là nhà vua đã bị cưỡng ép. __________________________________ 1. Tam cung gồm có 3 bà là: - Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. - Trang Ý Hoàng Thái hậu, vợ cả vua Tự Đức, mẹ nuôi của Dục Đức. - Hoàng Thái phi (hay bà Học phi), vợ thứ của vua Tự Đức, mẹ nuôi của Kiến Phúc và sau đó còn là mẹ nuôi của vua Hàm Nghi. 2. Phạm Hoàng Sơn – Việt Nam cách mạng cận sử. Sài Gòn, Khai Trí phát hành, 1963, tr. 38. 3. Lúc đoàn hộ giá vua Hàm Nghi đến Kim Long, bà Từ Dũ ngầm ra lệnh cho Nguyễn Văn Tường quay lại điều đình với Pháp. Nguyễn Văn Tường đã nhờ Giám mục Kim Long là Caspar đưa về gặp De Courcy và hợp tác với Pháp, phản lại Tôn Thất Thuyết. De Courcy giao trách nhiệm cho Tường phải đưa vua Hàm Nghi về Huế và ổn định tình hình trong vòng hai tháng. 4. Ch. Gosselin - L’Empire d’Annam, Paris, Perrin et Cie, 1904, tr. 207. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2016, 09:41:54 pm Miễn cưỡng dấn thân vào cuộc chiến đấu, từ Tân Sở cho đến khi ra tới sơn phòng Hà Tĩnh, vua Hàm Nghi đã chịu nhiều khổ ải vì phải luồn lách giữa núi rừng hiểm trở, giữa thời tiết cực kỳ khắc nghiệt, giữa muôn vàn thiếu thốn, bệnh tật, đói khát và sự hiểm nguy về tính mạng luôn luôn đe doạ. Trước nỗi gian khổ và sự hy sinh không quản ngại của những người theo phò tá, của nhân dân các vùng đi qua, vị vua thơ dại dần hiểu được ý nghĩa việc bôn tẩu của mình. Sự ủng hộ, che chở, giúp đỡ và tham gia nhiệt tình của đồng bào các địa phương từ Quảng Trị qua tới đất Lào, cũng như ở vùng rừng núi Hà Tĩnh - Quảng Bình, đã làm cho vua Hàm Nghi thấy được vai trò lịch sử của bản thân mình, nên nhà vua không còn cảm thấy bị cưỡng ép như trước. Chính nhờ những chuyển biến tâm lý đó mà nhà vua đã có hùng tâm để theo nghĩa quân lên thác, xuống ghềnh, nếm mật nằm gai, vào sinh ra tử trong gần bốn năm trời. “Nhà vua bị những sự gian lao mài luyện thành người nhẫn nại, và đón cuộc phong trần bằng thái độ rất thản nhiên”1. Hai lần xuống chiếu Cần Vương, một lần gởi thư cầu viện cho Tổng đốc Vân Quý của Mãn Thanh2 và rất nhiều chỉ, dụ khác gởi các quan lại, lãnh tụ của phong trào chống Pháp đã nâng vua Hàm Nghi lên một tầm cao mới, “tên của ông ta đã trở thành ngọn cờ của nền độc lập quốc gia”3. “Từ Bắc chí Nam, đâu đâu dân chúng cũng nổi lên theo lời gọi của ông vua xuất hạnh”4. Trong suốt thời gian kháng chiến của vua Hàm Nghi, ba bà thái hậu và vua Đồng Khánh5 liên tục gởi thư kêu gọi trở về, nhưng vua khẳng khái từ chối. Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Paul Bert cũng từng nghĩ đến việc lập Hàm Nghi làm vua bốn tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh-Bình nhưng không thành. Vinh hoa phú quý cũng như sự nhọc nhằn gian khổ không thể làm lay chuyển ý chí của một con người đã giác ngộ. “Nhà vua thường nói mình ưa chết trong rừng hơn là trở về làm vua mà trong vòng cương toả của người”6. Đêm 11.1888, khi Tôn Thất Tiệp và cha con Thống chế Nguyễn Thuý bảo vệ Hàm Nghi đã bị quân phản bội giết chết, nhà vua chỉ thẳng vào mặt Trương Quang Ngọc mà rằng: “Mày giết ta đi còn hơn là mày mang ta mà nộp cho Tây”. Sau khi nghe xong bức thư của đại uý Pháp là Boulanger do Trương Quang Ngọc đọc, nhà vua vẫn nói: “Ta có quen biết với người viết bức thư này đâu, ta chẳng hiểu gì cả, ta về Huế làm gì?”7. ________________________________ 1. Phan Trần Chúc – Vua Hàm Nghi. Hà nội, Chính Ký, 1952, tr. 142. 2. Chiếu Cần Vương lần thứ nhất phát tại Tân Sở (Quảng Trị) vào ngày 13.07.1885; lần thứ hai phát tại vùng Sơn phòng Hà Tĩnh vào ngày 19.09.1885. Còn thư của vua Hàm Nghi cầu viện Tổng đốc Vân-Quý nhà Mãn Thanh thì được viết trong khoảng tháng 8 năm 1885, một tháng sau ngày nổ ra sự biến kinh thành Huế. 3. Ch. Gosselin - L’Empire d’Annam, Sđd, tr. 239. 4. Như trên, tr. 237. 5. Sau nhiều cố gắng để đưa Hàm Nghi về Huế nhưng không thành, người Pháp đã lập Ưng Kỹ lên ngôi từ ngày 14.09.1885, lấy hiệu là Đồng Khánh. Bấy giờ ở Huế có câu ca dao nói về Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh: “Một nhà sinh được ba vua 6. Phan Trần Chúc – Vua Hàm Nghi, Sđd, tr. 143.Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài”. 7. Như trên, tr. 170. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2016, 09:46:50 pm Từ cái đêm tồi tệ đó ở bên bờ khe Tá Bào (nằm ở thượng lưu sông Gianh thuộc huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình), Trương Quang Ngọc mang vua Hàm Nghi về các đồn Thanh Lạng, Đồng Ca, rồi sang Quảng Khê và đến đồn Thuận Bài vào chiều 14.11.1888. Quân Pháp tổ chức chào đón nhà vua rất long trọng, song nhà vua không hề chịu nhận mình là vua Hàm Nghi, đồng thời còn giả vờ ngây ngô không hiểu từ “Lang-sa” là gì. Lúc này, tuy đã gần 18 tuổi, nhưng nhà vua chân tay nhỏ nhắn, sức vóc yếu đuối, ra vào phải có người cõng, khiến cho người Pháp thêm phần nghi ngại. Viên trung uý chỉ huy đội quân sen đầm từ Huế ra đón là Bonnefoy chuyển bức thư của Tôn Thất Đàm gởi cho vua Hàm Nghi1, xem xong nhà vua ném lá thư xuống bàn làm như không có quan hệ gì đến mình; nhưng đêm đến, khi bốn bề vắng lặng, nhà vua lấy thư đọc đi đọc lại nhiều lần ra chiều cảm khái. Viên Đề đốc Thanh Thuỷ là Nguyễn Hữu Viết được người Pháp cử tới thăm hỏi để nhận mặt, nhà vua giả như không hay biết. Nhưng khi thầy học cũ là Nguyễn Nhuận đến thì vô tình nhà vua đứng dậy vái chào. Đến lúc ấy người Pháp mới yên trí đó là vua Hàm Nghi, vị hoàng đế trẻ tuổi mà nhiều năm qua sĩ phu và nhân dân các xứ Trung - Bắc kỳ đổ máu xả thân hưởng ứng lời hiệu triệu, nay đã nằm trong tay họ. Từ Thuận Bài, người Pháp chuyển vua Hàm Nghi qua Bố Trạch, rồi vào Đồng Hới, và tới cửa Thuận An hôm 22.11.1888. Lúc này triều đình Huế đã biết tin Hàm Nghi bị bắt, vua Đồng Khánh sai quan lại Thừa Thiên và bộ binh ra đón ở vùng địa đầu của tỉnh để đưa về Huế. Nhưng người Pháp rất sợ dân tình sẽ bị khích động một khi thấy mặt ông vua kháng chiến. Và quan trọng hơn nữa là nhà vua thực sự muốn chống lại Pháp, trở thành nhân vật hoàn toàn bất lợi cho nền thống trị của họ, nên Pháp đã báo cho Viện Cơ Mật hay rằng vua Hàm Nghi lúc này tính tình khác thường, về Kinh e có điều bất tiện cần phải đưa đi tĩnh dưỡng nơi khác một thời gian, lúc nào trong nước bình yên sẽ rước về. Kỳ thật người Pháp đã có một quyết định dứt khoát đối với vị vua kháng chiến này là đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi. Tại Thuận An, Khâm sứ Rheinart2 cùng các nhân viên Viện Cơ mật là Đoàn Văn Bình, Lê Trinh và Tham tri bộ Công là Phạm Bỉnh kéo xuống thăm hỏi, nhưng nhà vua cáo ốm không chịu tiếp. Bị thúc ép mãi, vua Hàm Nghi phải ra hội kiến nhưng vẫn giữ thái độ hết sức lãnh đạm. Rheinart báo cáo cho hay là Thái hậu đang đau nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho người rước về gặp mặt. Nghe vậy, vua Hàm Nghi sa sầm nét mặt đáp: “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ, anh em nữa”. Rồi cáo từ về phòng riêng. Trong thời gian tiếp chuyện, một sĩ quan Pháp lén chụp ảnh vua Hàm Nghi, rồi gởi đi khắp nơi để tuyên truyền việc nhà vua bị bắt là xác thực. Vào 4 giờ sáng 25.11.1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống tàu đi vào Lăng Cô. Trên đường, Bonnefoy cố dò hỏi về Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi trả lời không biết Tôn Thất Thuyết là ai và tỏ ra không hiểu gì về câu hỏi ấy. Buổi chiều, khi chạy qua Hải Vân quan, viên sĩ quan Pháp chỉ vào chiếc pháo thuyền La Comète đậu ở bến Linh Kiện nói khích rằng vì Tôn Thất Thuyết mà nhà vua sắp phải xuống đó để lìa xa Tổ quốc. Vua Hàm Nghi gạt đi và yêu cầu Bonnefoy đừng nhắc đến chuyện ấy nữa, rồi bước xuống tàu để đi Sài Gòn. Trước phút rời xa quê hương, nhà vua nhìn lên bờ, không nén được cảm xúc vì nỗi niềm riêng và vận nước nên đã oà khóc3. _________________________________ 1. Khi nghe tin vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Đàm viết hai bức thư: một gởi vua Hàm Nghi để xin tạ tội vì đã không bảo vệ được nhà vua; một gởi cho quân Pháp ở đồn Thuận Bài, Quảng Bình yêu cầu đừng giết những nghĩa quân của ông sắp sửa ra đầu thú, rồi thắt cổ chết vào ngày 15.11.1888, hưởng dương được 22 tuổi. 2. Lúc này Rheinart lại được cử sang giữ chức Khâm sứ Pháp tại Huế. 3. Phạm Văn Sơn – Việt Nam cách mạng cận sử, Sđd, tr. 93-97 và Phan Trần Chúc – Vua Hàm Nghi, Sđd, tr. 177-182. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Tư, 2016, 09:50:04 pm Nếu như trước đó người Pháp cho rằng vua Hàm Nghi vì chịu sức ép của cha con Tôn Thất Thuyết và những người kháng chiến mà duy trì cuộc đấu tranh chống Pháp, thì giờ đây họ phải giải thích như thế nào về một lựa chọn do chính bản thân nhà vua quyết định? Có thể nói cuộc lưu đầy của vua Hàm Nghi sang xứ lạ quê người là một bản án mà người ký quyết định thi hành không ai khác hơn là chính bản thân nhà vua. Hàm Nghi đã tự mình không chấp nhận thân phận một nô lệ, dẫu cho người nô lệ ấy được đặt ở vị trí một hoàng đế. Quyết tâm của nhà vua khiến cho người Pháp hết sức kinh ngạc, bởi vì lâu nay họ vẫn cho rằng nhà vua chiến đấu chống lại họ trong thế bị ép buộc từ phía những người chủ chiến, rằng những năm qua nhà vua đã miễn cưỡng trong việc duy trì một cuộc “Thánh chiến” chống lại họ. Ngay cả vua Đồng Khánh cũng cho rằng: “Nhà nước ta, trước nhân ách vận, quyền thần lộng quyền, bức bách em nhỏ ta là Ưng Lịch, lập nên làm vua để thoả lòng riêng, rồi sinh mất hoà khí, hỏng việc, ức hiếp vua phải chạy, làm mê hoặc lòng người, để hại cho trăm họ”1. Sự thật cho thấy vị vua chưa đầy 18 tuổi đã có những quyết định độc lập của riêng mình, một nhận thức đầy đủ về mặt chính trị và lập trường chống Pháp rõ ràng. Nói cách khác là nhà vua đã tự mình nhận thức được vấn đề Dân - Nước từ trong thực tiễn đấu tranh để trưởng thành thực sự. Ý chí cương quyết và thái độ không quỳ gối trước kẻ thù của vua Hàm Nghi là niềm tự hào to lớn của những con dân biết cầm vũ khí chống lại quân xâm lược, và vì thế mà hình ảnh của nhà vua kháng chiến trẻ tuổi mãi mãi không phai mờ trong tâm tưởng của mọi người. Hổ thẹn trước khí phách kiêu hùng của Hàm Nghi, và để xoa dịu nỗi bất bình của dân chúng, vua Đồng Khánh đã biện hộ cho việc lưu đày Hàm Nghi rằng: “Công ấy (vua Hàm Nghi - TG) hiện nhân khí lam chướng, tích thành cố tật, nước ta đã chữa chạy sợ không được khỏi, quý đại thần (người Pháp) rất không yên tâm, chi bằng danh y ở quý quốc (nước Pháp) học thuật giỏi hơn, nên giao cho quý quốc, chọn nơi nuôi nấng giữ gìn, ngày thêm thuốc chữa, quyết hẳn sớm yên, sẽ lại đưa về, xin đừng quan ngại”2. Từ Sài Gòn, ngày 13.12.18883 vua Hàm Nghi bị đưa xuống chiếc tàu mang tên “Biên Hoà” vượt đại dương đi Bắc Phi. Do không quen đi đường biển, nhà vua bị say sóng liên miên, cơ thể vật vã, nhưng vẫn không hề thốt ra một lời kêu ca, oán thán. Sau cả tháng trời lênh đênh giữa biển, vua Hàm Nghi đã đặt chân đến Algérie vào ngày 13.01.1889. Lúc này nhà vua vừa bước qua tuổi 18. Tuổi xuân của vị hoàng đế đã bắt đầu, nhưng nghiệt ngã thay lại diễn ra trong cuộc sống lưu đầy nơi xứ lạ quê người! Vua Hàm Nghi được bố trí ở tại một ngôi nhà thuộc làng El Biar nằm trên dãy đồi cao Mustapha. Đây là một vùng hẻo lánh chớ không đông đúc, nhộn nhịp như ở thành phố Alger cách đó vài cây số. Những ngày mới sang, nhà vua không chịu học tiếng Pháp vì cho rằng đó là ngôn ngữ của kẻ thù, và vẫn dùng khăn lượt, áo dài theo nếp cũ ở quê hương. Khoảng một năm sau, vì nhu cầu hiểu biết, và để tránh bớt sự hiếu kỳ của dân bản xứ, vua Hàm Nghi thay đổi cách ăn mặc và bắt đầu học tiếng Pháp. Người dạy vua Hàm Nghi là thầy dòng Néopold4 thường khen ngợi óc thông minh và sự ham học của nhà vua về các môn toán học. Thời gian đầu vua Hàm Nghi nói còn kém, nhưng vài năm sau đã nói đúng giọng và thông thạo tiếng Pháp một cách đặc biệt, khiến ai cũng phải ngạc nhiên. Vua Hàm Nghi còn có biệt tài và năng khiếu về cả hai môn âm nhạc lẫn hội hoạ, hai môn này đã làm khuây khoả bớt những nỗi chua xót mà nhà vua âm thầm chịu đựng và không bao giờ quên được. Người dân bản xứ kính trọng gọi nhà vua là “ông Hoàng An Nam”, về sau nhà vua lấy một người vợ thuộc giới quý tộc Pháp, con gái của chánh án toà án thành phố Alger, sinh được một hoàng tử tên là Minh Đức và hai nàng công chúa, trong đó có một người đỗ kỹ sư nông học. Nhà vua vẫn ở tại El Biar một cách bình dị cho đến những ngày cuối cùng của cuộc sống lưu đày. Năm 1943, vị vua kháng chiến qua đời, mang theo nỗi hờn vong quốc không bao giờ nguôi ngoai trong tâm trí. Vua Hàm Nghi đã thực sự để lại nhiều nỗi cảm phục, luyến tiếc và xót thương cho những người dân Việt. ____________________________________ 1. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập XXXVIII, H., Nx. KHXH, 1978, tr. 142. 2. Như trên, tr. 143. 3. Nguyễn Thế Anh - Monarchie et fait colonial au Vietnam, Sđd, tr. 134. 4. Về sau Néopold sang Việt Nam và mất tại trường Pellerin ở Huế vào năm 1912. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Tư, 2016, 10:49:07 pm VUA HÀM NGHI VÀ SỰ MỞ ĐẦU PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG TỪ ĐẤT QUẢNG TRỊ PHẠM HỒNG VIỆT1 Đêm mồng 4 rạng sáng ngày mồng 5 tháng 7-1885 (lúc 0 giờ 40 phút), Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn nghĩa quân mở cuộc tấn công quyết liệt vào đồn Mang Cá, khu nhượng địa, khu sứ quán của thực dân Pháp ở Huế. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Quân Pháp chết mất 4 sỹ quan và 60 tên lính. Nhưng về phía người Nam thì vừa dân vừa lính chết chừng 1500 người. Ngày 5-7-1885 ấy chính là 23 tháng 5 Ất Dậu. Ở Huế ngày 23-5 được coi là ngày “Quảy cơm chung”, cũng là ngày kỷ niệm “Kinh thành thất thủ”. Tảng sáng ngày 5-7, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi cùng Tam Cung (Từ Dũ - mẹ vua Tự Đức; Trang Y - vợ vua Tự Đức và mẹ nuôi vua Dục Đức; Học Phi - vợ Tự Đức và mẹ nuôi vua Kiến Phúc) rút khỏi kinh thành. Cùng ngày 5- 7-1885, đoàn của Hàm Nghi đến Trường Thi (La Chữ), trưa đến xã Văn Xá. Tôn Thất Thuyết ra bản thông báo cho khắp nước biết việc vua Hàm Nghi xuất bôn. Trong ký ức của một số người dân Quảng Trị trước năm 1945, có hình ảnh của vua Hàm Nghi trên đường ra Tân Sở. Ở vào khoảng nửa chặng đường dài chừng mười ki lô mét trên con đường thiên lý từ thị xã Quảng Trị cũ vào lỵ sở phủ Hải Lăng (thôn Diên Sanh, nay thuộc xã Hải Thọ), ngày ấy “cả bức vườn rộng - một vườn cau - nằm đầy lính tráng. Có hai thớt tượng, không đưa được vào trong vườn, phải để ngoài đường cái...”. Bà con còn kể lại rằng không ít người đã đi theo vua. “Trong làng có một số người yêu nước lần ấy theo vua Hàm Nghi ra đi kháng chiến và không bao giờ trở lại”. Nhà báo Phan Quang có kể lại sự ra đi của một người cụ thể như sau: “Cha ông lý Bản là một . Nhà ông lý cách nhà tôi có một lối đi, nối đường quan đến bờ sông, nó là cái ngõ dùng chung cho mấy gia đình trong xóm. Tôi có được mấy lần theo cha sang ăn kỵ bên nhà hàng xóm. Cha tôi nói nhỏ với tôi trước khi đi: “Hôm nay không đúng là ngày kỵ thật đâu. Không ai biết “ổng” mất ngày nào. Con cháu chỉ lấy ngày ông bỏ làng cùng với vua ra đi để làm ngày giỗ, coi như ngày ông mất vậy thôi2. ____________________________ 1. Đại học Sư phạm Huế. 2. Xem: Phan Quang – Vua Hàm Nghi ghé làng tôi, Tạp chí Sông Hương, số 37, tháng 5-1989. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Tư, 2016, 10:50:05 pm Ngày 6-7-1885, vua Hàm Nghi tới tỉnh thành Quảng Trị. Chiều mồng 8-7, theo lệnh Từ Dũ Thái hậu, các quan văn võ họp cả ở Hành Cung. Thái hậu ngỏ ý muốn về Huế. Nhưng Tôn Thất Thuyết không thuận và nói: “Về Huế là bước chân vào nhà ngục mà người cầm chìa khoá là quân Pháp. Là người, đành rằng ai cũng muốn an hưởng thái bình, nhưng nếu không lo khôi phục chuyến này thì không những Thuyết sẽ mang tiếng là bỏ mối giang sơn của Tiên triều gây dựng mà lại còn đắc tội với hậu thế”. Thuyết quả quyết rằng còn một hơi thở là còn đánh. Các quan có một số người tán thành với Thuyết. Cuối cùng đạo Ngự được chia làm hai phái: một phái là Thái hậu, các quan lại già yếu, một số người trong hoàng phái quay về Huế; phái còn lại có nhà vua cùng Tôn Thất Thuyết, một số võ tướng văn quan có khí phách cùng lên Tân Sở. Ngày 9-7-1885, Hàm Nghi rời tỉnh thành Quảng Trị; ngày 12-7-1887 thì tới Sơn phòng Quảng Trị. Trong năm 1885, Hàm Nghi và Tôn Thất thuyết có hai lần ra chiếu Cần Vương, lần thứ nhất tại Sơn phòng Quảng Trị ngày 13-7, và lần thứ hai tại Ấu Sơn (Hà Tĩnh) ngày 19-9-1885. Chiếu Cần Vương lần thứ nhất rất quan trọng, nhưng chúng tôi nhận thấy lại ít được dẫn ra tương đối đầy đủ trong sử sách. Bản chiếu Cần Vương này, in bằng chữ Hán trong quyển “Trung- Pháp chiến tranh tư liệu”, tập 7 và đã được dịch ra tiếng Việt. Sau đây là một số đoạn trích trong chiếu Cần Vương này: ... “Từ xưa, kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh giữ, hòa. Đánh thì chưa có cơ hội, giữ thì khó định hạn được sức, hoà thì họ đòi hỏi không biết chán. ...Nước ta gần đây ngẫu nhiên gặp nhiều việc. Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ đến tự cường tự trị. Kẻ phái của Tây ngang bức, hiện tình mỗi ngày một quá thêm... Hôm trước chúng tăng thêm binh thuyền đến, buộc theo những điều mình không thể làm được...Trong triều đình, đắn đo về hai điều: cúi đầu tuân mệnh, ngồi để mất cơ hội, sao bằng nhìn thấy chỗ âm mưu biến động của địch mà đối phó trước? ...Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này không thể hết sức giữ được, để đô thành bị hãm, xa giá phải dời xa, tội ở mình Trẫm cả, thật xấu hổ vô cùng. Nhưng chỉ có luân thường quan hệ với nhau, bách quan khanh sĩ, không kể lớn nhỏ, tất không bỏ Trẫm: kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, giàu có bỏ của ra giúp quân nhu, đồng bào đồng trạch chẳng từ gian hiểm, như thế là phải. Cứu nguy chống đổ, mở chỗ truân chuyên, giúp nơi kiển bách, đều không tiếc gì tâm lực, ngõ hầu lòng người giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại bờ cõi. Ấy cái cơ hội này, phúc của xã tắc tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cùng nghĩ với nhau, há chẳng tốt lắm ư...?”. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Tư, 2016, 10:53:21 pm Sau khi ra chiếu Cần Vương, Tôn Thất Thuyết muốn đưa Hàm Nghi ra Bắc. Ở Bảng Sơn hơn 10 ngày, xa giá lại đến Cam Lộ, Bảo Đài (giáp Quảng Bình) để ra Bắc với số lính, dân phu độ 700 người, rất nhiều người trong số này sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị (ngày 20-7-1885). Nhưng rồi ngày 22-7-1885, Hàm Nghi phải trở về phủ thành Cam Lộ (Quảng Trị), vì thấy chiến thuyền Pháp phong toả ở Nhật Lệ. Ngày 26-7-1885, Hàm Nghi ngược thượng đạo, vượt qua đèo Mai Lĩnh (Quảng Trị) đến đồn Chấn Lào. Nhân dân các địa phương có vua đi qua đã cương quyết ngăn chặn không cho quân địch đuổi theo nhà vua, giúp vua có thì giờ chạy thoát, mặc dù các địa phương đó đã bị giặc đốt trụi. Đồng bào dân tộc thiểu số tận tuỵ nuôi nấng nhà vua, nhiệt tình dẫn đường và bảo vệ nhà vua. Cuối cùng nhà vua cũng sang được đất Lào để ra Hà Tĩnh. Tại Ấu Sơn, Tôn Thất Thuyết lại thảo chiếu Cần Vương thứ hai, lấy chữ vua Hàm Nghi phê chuẩn gửi đi các tỉnh. Trong chiếu Cần Vương lần này, có viết: “Núi non cách trở, Trẫm đã hai tháng mới tới miền này. Sự chậm trễ đó đã giúp cho quân địch có đủ thì giờ để bịa ra những chuyện làm cho lòng dân chán nản. Hiện Trẫm cùng với Tôn Thất Thyết đã tới Ấu Sơn thuộc huyện Hương Khê. Các quan trong ngoài đều tề tựu cả ở miền này”1. Từ Sơn phòng Quảng Trị và từ Ấu Sơn Hà Tĩnh, chiếu Cần Vương của Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đã phát động, làm sôi động trở lại cuộc chiến đấu chống Pháp của cả nước. Việc vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết dời kinh thành ra Quảng Trị, không chịu về Huế, đã gây nhiều trở ngại cho âm mưu của thực dân Pháp. Trung tướng Đờ Cuôc-xi tuy đã làm chủ được kinh đô, nhưng rất bối rối. Vua đã chạy rồi thì còn biết “bảo hộ” ai? Đổi “bảo hộ” ra “thuộc địa” thì sẽ gặp sự phản ứng quyết liệt từ nhiều phía; lập vua khác thì cũng là chuyện không hay ho gì với cả người Pháp. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhiều sĩ phu đứng lên khởi nghĩa. Dựa vào sự ủng hộ của nhân dân, họ tổ chức cuộc kháng chiến chính nghĩa dưới danh nghĩa phò vị minh quân yêu nước, vì sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. ________________________________ 1. Bản Chiếu Cần Vương này sau được in bằng chữ Pháp trong cuốn “Le Laos et le protectorat Français” (Nước Lào và nền bảo hộ của Pháp) của Gôtxơlanh (Ch. Gosselin), Paris, 1890. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Tư, 2016, 10:54:59 pm Ca dao thời ấy có câu: “Đồng Khánh ở giữa, Hàm Nghi hai đầu”. Đồng Khánh thực ra đã là công cụ của thực dân, hoàn toàn là bù nhìn. Còn cả phía Nam, phía Bắc của kinh thành Huế (thực ra là trên hầu khắp cả nước), đâu đâu cũng có phong trào Cần Vương. Ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Bình Định có Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Duy Cung Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận, Phạm Toản; ở Quảng Ngãi và Quảng Nam có Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Trần Văn Dự, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Hàm; ở Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên có Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực, Nguyễn Tự Như, Trương Đình Hội, Đặng Hữu Phổ, Hoàng Văn Phúc; ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá có Lê Ninh, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ, Phan Cát Xu, Nguyễn Đôn Tiết, Nguyễn Hanh, Đinh Nhạ Hành, Nguyễn Phương, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Trần Xuân Soạn, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cao Điền; ở Thái Bình, Nam Định có Tạ Hiện, Lã Xuân Oai, Đỗ Huy Liệu, Vũ Hữu Lợi, Nguyễn Đức Huy; ở Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương có Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Cao; ở Phú Thọ có Nguyễn Văn Giáp; ở miền Tây Bắc có Nguyễn Quang Bích... Rõ ràng lời kêu gọi từ Sơn phòng Quảng Trị đã dấy lên một phong trào rộng lớn. Điều đáng tiếc là bấy giờ thiếu một sự liên kết tốt, một cách tổ chức tốt, một đường lối tốt, điều mà giai cấp phong kiến bấy giờ đã không thể đáp ứng được. Đêm 1-11-1888, tại một vùng rừng núi Quảng Bình, do sự phản bội của Trương Quang Ngọc, vua Hàm Nghi đã bị bắt. Nhà vua nói với Ngọc: “Mày giết ta đi còn hơn là mày đem ta nộp cho Tây”. Khi bọn Ngọc đọc lá thư của đại uý Boulanger gửi cho vua Hàm Nghi, nhà vua lắc đầu: “Thư ấy gửi cho các ngươi đấy, chứ có gửi cho ta đâu”. Bị bắt rồi, nhà vua vẫn rất điềm tĩnh. Vua tự giải thích thất bại của mình: “Mệnh trời ta tránh sao được!”. Thực dân Pháp đưa vua về Huế rồi đày sang Châu Phi (An-giê-ri). Tại đây nhà vua sống cuộc đời lưu đầy biệt xứ, nhưng vẫn hằng ngóng trông về quê hương đất nước, vẫn giữ vững khí tiết của một ông vua yêu nước chống Pháp cho đến khi mất (1943). Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Tư, 2016, 10:55:23 pm Việc vua Hàm Nghi xuất bôn làm cho lòng dân thêm phấn khởi. Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp của nhân dân ta càng có danh chính ngôn thuận. Những hoạt động yêu nước của Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết cùng nhiều nhà yêu nước khác trong thời gian từ 1885-1888 (khi vua bị bắt) có nhiều hy sinh và tổn thất, nhưng đã làm cho thực dân Pháp lúc ấy lao đao, đã góp phần xây dựng ý chí giải phóng đất nước của dân tộc. Trong Hồi ức của toàn quyền Pháp Catơru (Catroux) có đoạn viết: “Vua Hàm Nghi là tượng trưng cho phẩm chất cao quý. Sống trong cảnh đi đày, nhà vua luôn luôn nhớ đến quê hương và lo lắng cho số phận của đất nước..."1 So với Đồng Khánh, Hàm Nghi cao hơn, đẹp hơn rất nhiều về bản chất. Đó là lý do để dân gian nhận định: “Hàm Nghi chính thực vua trung. Còn như Đồng Khánh là ông vua xằng”. Năm 1922, khi viết bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” đăng trên báo L’humanité (Nhân đạo), Nguyễn Ái Quốc đã phê phán Khải Định thật không xứng đáng với Hàm Nghi và đã chỉ trích thái độ của thực dân Pháp đối với nhà vua yêu nước này: “Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân - những người ở ngôi ngay trước mi (mi = chỉ Khải Định). Chính những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục, luật lệ nước ta đã đày ải ba vị.” “Những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục luật lệ nước ta” ở đây chính là thực dân Pháp. Trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hàm Nghi trước sau vẫn là biểu tượng của một ông vua yêu nước. Năm 1948, từ Việt Bắc, trong một bức thư gửi cụ Ưng Uý là thành viên trong hoàng tộc và nguyên là Thượng thư Bộ Lễ của triều đình Huế, Người viết: “Xin mời Cụ tham gia kháng chiến để chúng ta tiếp tục sự nghiệp bỏ dở của các vị tiền bối Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, là đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc”. ____________________________________ 1. Xem: V. V. Rênatruc - Người bạn gái của vua Hàm Nghi; Nguyễn Thạch Giang (sưu tầm); Đỗ Thanh (dịch). Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2016, 08:26:15 am PHỤ LỤC PHỦ “ÔNG TƯỚNG” - DI TÍCH LỊCH SỬ VỪA ĐƯỢC NHÀ NƯỚC CÔNG NHẬN Bên bờ sông Như Ý, làng Văn Thê, xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, cách thành phố Huế khoảng 7 km về phía nam, có một ngôi nhà toạ lạc trên một khu đất khá rộng. Chưa có tư liệu nói chính xác về thời gian xây dựng ngôi nhà, chỉ biết ngôi nhà do Vệ Quốc Thượng Tướng quân, chức Phụ Chánh đại thần, tước Chánh Hầu Tôn Thất Thuyết cho xây dựng để thờ phụng các bậc tiền nhân và cũng là nơi ông thường lui tới tĩnh dưỡng những lúc ưu phiền. Nhân dân quanh vùng quen gọi là Phủ Ông Tướng, cái tên Phủ Ông Tướng ra đời từ ấy. Tôn Thất Thuyết là con thứ hai của cụ Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu, sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi (tức ngày 12-5-1839). Tôn Thất thuyết là cháu 7 đời Đức Thúc Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế, tục gọi là Chúa Hiền hay Hiền Vương (1619- 1667). Tính tình cương trực không ưa bề ngoài, ham hoạt động, có trí dũng, giỏi việc binh. Năm 1870 khi Hoàng Tá Viêm được Tự Đức suy làm Thống Đốc quân vụ đại thần ở các tỉnh phía Bắc, thì Tôn Thất Thuyết được cử sung Tán tương quân vụ dưới quyền Hoàng Tá Viêm. Ngày 21 tháng 12 năm 1873, theo lệnh của Hoàng Tá Viêm, Tôn Thất Thuyết đã đem quân mai phục ở khu vực Cầu Giấy (Hà Nội) và cho một nhóm đến sát thành Hà Nội để khiêu chiến. Lúc bấy giờ Phơ-răng-xi Gác-ni-ê đang hội đàm với Trần Đình Túc trong thành, thấy động Phơ-răng-xi Gác- ni-ê đem quân nghênh chiến và đã bị quân của Tôn Thất Thuyết đánh bại, tướng Pháp bỏ xác trong trận này. Tháng 3 năm 1874, xét công lao thành tích trong trận đánh trên, triều đình đã phong cho Tôn Thất Thuyết làm Binh bộ Hữu Tham tri, phong cho tước Nam. Năm 1875 tại Tuyên Quang, quân Cờ Vàng hoạt động trên phạm vi rộng, bấy giờ Tôn Thất Thuyết đang làm quan Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây đã chỉ huy một trận đánh lớn tại làng Châu Thượng thuộc phủ Vĩnh Tường. Hoàng Sùng Anh chỉ huy quân Cờ Vàng đã bị Tôn Thất Thuyết bắt sống. Năm 1881 Tôn Thất Thuyết được phong chức Thự Binh bộ Thượng thư. Trong bài dụ của vua Tự Đức nhân việc Tôn Thất Thuyết được phong chức có đoạn rằng: “Nguyên Thự Tổng đốc sung Hiệp đốc Tôn Thất Thuyết bị bệnh đã lâu. Trước đã giải chức để về điều trị bệnh, nhiều lần cấp thuốc thang và cho thăm hỏi, nay đã khoẻ lại biết gắng lên xin lai kinh sung chức để báo đáp ơn sâu. Trẫm khen là người có lỗi mà biết sửa đổi... Vậy nay điều bổ cho chức Thự Binh bộ Thượng thư để cho xứng chức”. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2016, 08:26:51 am Ngày 19-7-1883 (tức ngày 16 tháng 5 năm Quý Mùi), sau 35 năm trị vì đất nước, vua Tự Đức qua đời. Dưới thời Tự Đức, triều đình Huế đã ký kết với thực dân Pháp, biến lục tỉnh thành thuộc địa của chúng và chuẩn bị cơ sở cho hiệp ước tiếp theo nhận sự “bảo hộ” của thực dân Pháp. Vua Tự Đức băng hà, nội bộ triều đình Huế bước vào thời kỳ khủng hoảng... Tuy là thiểu số, nhưng nhờ nắm binh quyền (Phụ chính đại thần) nên Tôn Thất Thuyết vẫn giữ được ưu thế, ông vừa bí mật liên kết với các quan văn, võ ở các tỉnh kháng chiến ngoài Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng tích cực ở miền Trung từ Ninh Bình đến Nghệ An, Quảng Trị. Ở mọi nơi ông đều tổ chức củng cố sơn phòng, ông đã cho xây dựng căn cứ địa, phòng khi đưa vua lên đó. Tại kinh đô Huế, Tôn Thất Thuyết tìm mọi cách kích thích lòng trung nghĩa, kêu gọi lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước trong đội ngũ quan lại trong triều đình. Trong khi Tôn Thất Thuyết đang tích cực chuẩn bị lực lượng cơ sở vật chất chống Pháp, thì đa số đình thần và cả vua Kiến Phúc lại tư thông với Khâm sứ Pháp. Trước tình hình đó, tháng 1 năm 1884 Tôn Thất Thuyết bí mật lập phái nghĩa quân và giao cho tướng Trần Xuân Soạn chịu trách nhiệm trực tiếp. Ngày 6-8-1884 tức là sau hai tháng ký hoà ước, hai đội pháo binh và thuyền chiến cùng với 600 quân Pháp do tên đại tá Ghê-ri-ê cầm đầu vào Huế với nhiệm vụ chiếm Hoàng thành nếu Viện Cơ mật không tuân theo tối hậu thư của hắn, và hắn đã bị Tôn Thất Thuyết cự tuyệt. Trong khi đó, nội bộ triều đình phe chủ hoà đã chiếm số đông; mặc dù vậy Tôn Thất Thuyết vẫn kiên quyết bất hợp tác với thực dân Pháp, chủ động theo đuổi mục đích đã lựa chọn, vì nước, vì dân tộc. Và thế là cuộc chiến đấu không cân sức bắt đầu. Đêm 4-7-1885 (22-5 âm lịch), trong khi quân Pháp mở tiệc chiêu đãi thì Tôn Thất Thuyết cho đánh úp vào toà sứ Pháp và doanh trại của quân Pháp ở Trấn Bình Đài. Mặc dù trận đánh không thành, nhưng một lần nữa khẳng định lòng yêu nước, ý thức dân tộc của tướng quân Tôn Thất Thuyết. Sau trận đánh này Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi và Tam Cung cùng hơn một trăm quân hộ tống rời thành đi Quảng Trị, và trên đường đi, tờ Hịch kêu gọi mở đầu cho Phong trào Cần Vương đánh Pháp được truyền đi cả nước, nhiều văn sĩ động lòng gác bút giúp vua. Mặc dù cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương do Tôn Thất Thuyết khởi xướng không thành, nhưng một lần nữa khẳng định tư tưởng, con đường ông chọn là đúng đắn, Tôn Thất Thuyết là người tiêu biểu đại diện phái chủ chiến trong triều đình Huế lúc bấy giờ. Những đóng góp của ông trong những năm cuối thế kỷ 19 là bằng chứng hùng hồn chứng minh cho một thời kỳ lịch sử đầy biến động của dân tộc, nó càng khẳng định lý tưởng và con đường mà ông chọn là đúng đắn, phù hợp với quy luật lịch sử, ông là biểu tượng của lòng yêu nước, của ý chí kiên cường độc lập tự chủ, là tấm gương sáng ngời, là bông hoa trong vườn hoa những anh hùng dân tộc, cho đất nước và quê hương, xứng đáng là tấm gương cho thế hệ sau noi theo. Việc Phủ Tôn Thất Thuyết được Nhà nước công nhận chắc chắn sẽ phát huy có hiệu quả trong công tác giáo dục truyền thống ở địa phương. TRỊNH NAM HẢI (Bảo tàng Thừa Thiên - Huế) Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2016, 08:28:43 am VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ TỪ ĐƯỜNG CỦA TÔN THẤT THUYẾT "Tứ nguyệt tam vương" một thời lịch sử. Vua Tự Đức không có con, nuôi ba người cháu làm con nuôi, cho ở và học hành ở ba nhà riêng biệt, đó là Dục Đức đường (phong làm Thuỵ Quốc Công), Chánh Mông đường (phong làm Kiên Giang Quận Công) và Dưỡng Thiện đường (Kiến Phúc). Khi Tự Đức mất, nhà vua lập di chiếu cho con nuôi lớn là Thuỵ Quốc Công Dục Đức được kế vị, cử ba ông Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường và Trần Tiễn Thành làm Phụ chánh đại thần để giúp vua mới (1883). Nhưng mới dược ba ngày, ông Thuyết và ông Tường đổi di chiếu, phế bỏ Dục Đức mà lập em vua Tự Đức là Lãng Quốc Công Hồng Dật lên làm vua (Hiệp Hoà). Triều đình có nhiều người bất bình, quan Đình nguyên Phan Đình Phùng lớn tiếng phản đối, bị hai ông Tường và Thuyết bắt giam, sau đó cách chức đuổi về. Dục Đức bị mang về an trí ở Dục Đức đường. Vua Hiệp Hoà cùng quần thần thấy ông Thuyết và ông Tường ngày càng chuyên quyền, muốn tìm cách để khống chế nên đổi Tường qua làm Thượng thư bộ Binh và Thuyết làm Thượng thư bộ Lại. Thấy thế, hai người vào tâu với bà Từ Dũ và lập ông Dưỡng Thiện làm vua, bắt vua Hiệp Hoà ra an trí tại phủ Dục Đức rồi ép uống thuốc độc chết, Hiệp Hoà chỉ làm vua được bốn tháng. Quan Phụ chánh Trần Tiễn Thành phản đối cũng bị giết chết. Tháng 9 năm Giáp Thân (1884) Tường và Thuyết đem ông Dục Đức giam vào nhà tối, không cho ăn uống cho đến chết. Đó là giai đoạn “Tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng có ba vua). Những ngày lao đao của hai ông Tường và Thuyết. Ngày 7-10 Quý Mùi (1883) ông Dưỡng Thiện lên làm vua, hiệu là Kiến Phúc (15 tuổi). Nhưng Kiến Phúc cũng chỉ làm vua được sáu tháng, đến ngày 6 tháng 4 năm Giáp Thân (1884) thì mất. Ồng Ưng Lịch lên thay, tức là vua Hàm Nghi. Sau binh biến kinh đô đêm 22 rạng 23 tháng 5 năm Ất Dậu (4-7-1885), Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi lên Tân Sở. Ngày 28-7 năm đó, De Courcy bắt Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính (cha của Tôn Thất Thuyết) đày ra Côn Lôn. Sau đó Nguyễn Văn Tường bị đày qua Tahiti. Ở vùng núi Quảng Bình thấy lực lượng quá mỏng, không đủ chống nhau với quân Pháp, Tôn Thất Thuyết đã để vua Hàm Nghi ở lại đồn Ve (huyện Tuyên Hóa, châu Quy Hợp cũ), giao cho 2 con là Tôn Thất Tiệp (sử cũ viết là Tôn Thất Thiệp) và Tôn Thất Đàm cùng Đề đốc Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân ở lại phò vua. Tôn Thất Thuyết cùng Đề đốc Trần Xuân Soạn đi đường bộ qua Trung Hoa cầu cứu nhà Thanh. Đến Trung Hoa, không được nhà Thanh giúp đỡ (Trung Hoa lúc này cũng đang bị các cường quốc Tây phương xâu xé), Ông Thuyết sinh ra thất chí, ngày ngày mang gươm đi chém đá nên người Long Châu gọi ông là Trảm thạch hầu (ông quan chém đá). Được mấy năm thì ông mất ở Thiều Châu (Quảng Đông), nằm úp mặt trên một tảng đá lớn bên đường, thanh gươm cùn trong tay và bộ triều phục Việt Nam tả tơi trên người (theo một bức ảnh cũ). Ồng Thuyết thuộc dòng dõi chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (hệ 5, phòng 4). Sau vụ binh biến ở kinh đô, dưới áp lực của người Pháp, ông bị gạch tên khỏi Nguyễn Phước tộc, tài sản bị quản lý nên không có từ đường riêng, cho mãi đến khoảng 1930 người ta mới đề tên ông trở lại trong danh sách Nguyễn Phước tộc và con cháu thờ ông tại đình thờ “ông Tướng”. Đây là đình thờ Nguyên soái Nguyễn Phúc Luân (sau đổi là Nguyễn Phúc Hiệp vì trùng tên thân phụ vua Gia Long), một danh tướng dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Đình thờ ở tại thôn Văn Thê, xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, cách thành phố Huế khoảng 7 km. Ông Tôn Thất Thuyết được thờ ở một án thờ riêng trong đình thờ “ông Tướng”. HOÀNG TRIỂU (Báo Thừa Thiên Huế) 11-10-1994 Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2016, 08:29:32 am TƯỞNG NIỆM NHÀ YÊU NƯỚC TÔN THẤT THUYẾT (1839-1913) Ngày 29-12-1995, tại hội trường Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam, 25 Tôn Đản, Hà Nội, đã diễn ra Lễ tưởng niệm danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết, nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của ông. Sống những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ông là nhân vật ở trong thời điểm khó khăn nhất của lịch sử đất nước trước hoạ xâm lăng của tư bản phương Tây. Đứng về phe chủ chiến, lại là người nắm quyền bính có vị trí quan trọng chỉ sau vua, ông gần như là người đại diện của phe khẳng định quyết tâm đánh Pháp, không cho chúng đặt ách đô hộ lên đất nước ta. Hành động chống Pháp của ông rất quyết liệt; biểu hiện qua việc với quyền bính trong tay, ông sẵn sàng phế bỏ những ông vua có tư tưởng cầu hòa hoặc đầu hàng giặc. Việc này đã khiến ông bị hiểu lầm như là sự lộng quyền. Một bằng chứng nữa khẳng định lòng yêu nước của Tôn Thất Thuyết, đó là việc khi phò vua Hàm Nghi - một nhà vua yêu nước - ra Hà Tĩnh, chính ông là người thay mặt vua thảo chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân giúp vua đánh đuổi xâm lược. Từ đấy đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang ở khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam (phong trào Cần Vương), lớn nhất có cuộc khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) do Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài gần 11 năm trường (1885-1896). Tôn Thất Thuyết mất năm 1913 tại Trung Quốc. QUỐC KHÁNH (Báo Sài Gòn gỉảỉ phóng) Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Tư, 2016, 08:30:47 am DI TÍCH PHỦ TÔN THẤT THUYẾT BÂY GIỜ... “Di tích lịch sử phủ Tôn Thất Thuyết được công nhận ngày 1.11.1994 (cách thành phố Huế 12 km). Tôn Thất Thuyết (1839-1913) Phụ chính đại thần, Thượng thư bộ Binh, đứng đầu phe chủ chiến, phò Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Đây nguyên phủ thờ Oai quốc công Nguyễn Phúc Hiệp danh tướng, con trai Chúa Nguyễn Phúc Tần, được Tôn Thất Thuyết xây dựng làm phủ thờ Nguyễn Phúc Hiệp và hệ phái. Hiện nay di tích này đang bị xuống cấp nghiêm trọng.”. Gọi cửa mãi, rồi phải chờ hơn chục phút tôi mới được một người ra đón vào. Nhìn người đàn ông già nua, gầy đét, dáng vẻ nông phu mộc mạc có thoáng một chút dè dặt, khó ai biết đây là hậu duệ của những danh tướng Nguyễn Phúc Hiệp, Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đàm, v.v... Ông tên là Tôn Thất Cử. Ngôi vườn phủ đệ nay chỉ còn lại những cây chuối tiêu xác xơ héo lá, những vồng sắn cao không quá nửa mét cằn cỗi, và còn lại lẩn khuất giữa um tùm bụi rậm, gai dại... một dãy chuồng heo bỏ hoang của HTX Thuỷ Thanh trót xây vào năm 1988. Tôi hỏi cậu bé con trai bác Cử sao mười năm rồi người ta không đập bỏ dãy chuồng này, em trả lời: “Chờ hoá giá ai mua thì tự đập lấy vật liệu”. Đi sâu vào từ đường cùng bác Cử, gian trước chính giữa thờ Tôn Thất Hiệp, gian sau thờ Tôn Thất Thuyết, trong cái ánh sáng mờ nhạt không đèn, không nến vì mất điện, tôi ngước lên ngắm bức chân dung của Tôn Thất Thuyết được gửi tặng trong Ngày thành lập QĐNDVN 22.12 năm ngoái. Vóc người tầm thước, khuôn mặt tướng võ đầy đặn nhưng không dữ, nổi bật vầng trán cao trên đôi mắt kiên định. Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29.3 năm Kỷ Hợi (1839), vào thời điểm binh biến kinh thành ông mới 46 tuổi, sung chức Ngũ quân đô thống, đại thần, kiêm Binh bộ Thượng thư, sung Cơ mật viện. Là Điện tiền đại tướng quân tiền đội hữu quân hữu dực giá thần, ông đem quân đội của nhà vua đánh vào toà Khâm sứ Pháp và đồn binh Pháp. Bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Quảng làm phản nên thất bại, Tôn Thất Thuyết đem vua Hàm Nghi rút lên miền núi tỉnh Quảng Trị. Ngày 13.7.1885, từ Sơn phòng Quảng Trị, Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương hô hào nhân dân ra sức phò Vua cứu nước. Tôn Thất Thuyết để hai con trai là Thiệp và Đàm bảo vệ Vua, còn ông sang nhà Thanh cầu cứu. Tôn Thất Thuyết có bốn bà vợ, sinh được 6 con gái và 9 con trai. Cả 9 con trai của ông đều hy sinh vì nước, chẳng biết phần mộ ở chỗ nào. Ở nhà thờ của Tôn Thất Thuyết có treo chân dung nhà ái quốc Nguyễn Thượng Hiền, vì ông là rể của Tôn Thất Thuyết. Theo gia phả bác Tôn Thất Cử cho xem, từ 1885 Tôn Thất Thuyết bị cô lập ở thị trấn Long Châu, tỉnh Quảng Đông cho đến khi qua đời ngày 22.9 năm Quý Sửu (1913), hưởng thọ 74 tuổi. Bác Tôn Thất Cử than thở: “Con cháu chỉ mong được phép cải táng mộ cố Tôn Thất Thuyết bên Long Châu về nước để ngày đêm hương khói cho Người”. Ở đây, ngôi nhà cũ mặc dù đã được trùng tu năm 1997 với kinh phí 30 triệu đồng, nhưng chẳng thấm vào đâu vì sự xuống cấp trầm trọng. Mái nhà thờ chính còn phải lợp tạm bằng phibrô xi măng. Hậu liêu và nhà ngang vẫn giữ y như cũ, quá tối tăm, ẩm thấp. Biến cố 1885 trong lịch sử đánh Pháp sống mãi trong lòng người Việt Nam như một quá khứ đau thương và tang tóc không bao giờ quên được. Ngày nay nó vẫn là lời nhắc nhở lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta, trong đó có vai trò chủ chốt của Tôn Thất Thuyết và Vua Hàm Nghi. Tôi về thăm phủ Tôn Thất Thuyết ở làng Vân Thê, Thuỷ Thanh, Hương Thuỷ trong những ngày đầu tháng 5 âm lịch. Khi đứng trước sân phủ thờ Tôn Thất Thuyết, ngắm nhìn mái ngói phibrô xi măng như đang nhảy múa dưới nắng chói chang, chúng tôi không khỏi tự hỏi: Tôn Thất thuyết, anh linh Ông giờ đang ở đâu, Long Châu hay trở về cố xứ? Dẫu sao cũng còn một chút an ủi đối với người anh hùng không gặp may mắn, nhiều người dân Huế vẫn không quên ông dù đã trải qua hơn trăm năm dâu bể. ĐOÀN HÀO VŨ (Lao động, số 114/98, 18.7.98) Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 09:18:49 pm MỘT TÀI LIỆU VÔ GIÁ, MỘT DI VẬT LỊCH SỬ QUAN TRỌNG... Lý Hoà - một làng nằm bên cửa sông thuộc xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình là nơi có truyền thống hiếu học và nổi tiếng là đất khoa bảng xưa và học hành đỗ đạt ngày nay. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, cả những biến động của thiên tai địch họa, dòng họ Hoàng ở Lý Hoà vẫn giữ được nhiều văn bản cổ, trong đó có hai hiện vật gọi là “Mật lệnh” và “Mật kế đồ” của nghĩa quân Cần Vương. Sau khi xem xét tài liệu và hiện vật nói trên, Giáo sư Hà Văn Tấn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học (Trung tâm KHXH và NVQG) đã có những nhận xét rất kỹ và đi đến kết luận: “Tôi hy vọng rằng hiện vật này cũng như các văn bản cổ mà dòng họ Hoàng còn giữ được sẽ được bảo quản tốt, vì đó không những là của báu của dòng họ mà còn là di vật lịch sử quan trọng đối với lịch sử dân tộc”. Mật lệnh (Phiên âm và dịch) Giao quan phòng sứ Hà Đông Thái khẩn báo huyện nhân, đáo địa giới Lý Hoà, lập căn cứ thuỷ binh tòng kế Trần Dụ Tông lưỡng diện Bắc Nam, Tự Đại (-) xuất tam tằng tiểu sơn giáp tiểu khê hữu triều quân Tây Bắc, Tây Nam. Quá giang môn giáp quần thạch đệ nhất cập, quan lục lộ Hoàng Phúc phối tác. Mong tướng công phương lự. Tướng công Tôn Thất Thuyết Dịch nghĩa (bản dịch của Viện Nghiên cứu Hán - Nôm): Giao cho quan phòng sứ là Hà Đông Thái báo cấp cho người trong huyện đến địa giới Lý Hoà, lập căn cứ thủy binh theo kế sách hai mặt Bắc Nam của Trần Dụ Tông, Từ Đại (-) ra đến dãy núi nhỏ giáp con suối nhỏ có quân của triều đình ở hai mặt Tây Bắc và Tây Nam. Qua cửa sông giáp dãy đá thứ nhất, cùng phối hợp với quan lục lộ Hoàng Phúc mà làm. Mong tướng công hãy lo liệu. Tướng công Tôn Thất Thuyết. Về bản “Mật lệnh” này, Giáo sư Hà Văn Tấn nhận xét: “Có thể đoán rằng đây là kế hoạch bố phòng ở vùng Lý Hoà lúc Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi xuất bôn về phía Bắc. Hoàng Phúc là một tướng của Tôn Thất Thuyết đã được nhiều tài liệu khác nói đến. Người ta cho rằng Cô Tám, một nhân vật liên quan đến cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng là con gái của Hoàng Phúc”. Ngoài bản “Mật lệnh”, con cháu họ Hoàng còn giữ được một ống bút làm bằng đá quý. Trên ống bút cổ này có khắc chữ “Tôn Thất”, “Tướng công” dưới có khắc hình một bản đồ. Trên bản đồ có mấy chữ “Địa giới” “Lý Hoà”. Bên phải bản đồ khắc: “Mật kế đồ. Triều Nguyễn Hoàng Phúc kế lập". Bên trái có thể đọc được mấy chữ: “Trần Dụ Tông”, “Căn cứ” và những ký hiệu. Giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng: “Đây là bản mật lệnh đã được mã hoá để giữ bí mật... Có thể cho rằng ống bút này là của Tôn Thất Thuyết hay là của Hoàng Phúc ghi lại mật lệnh của Tôn Thất Thuyết... Tôi nghĩ rằng ống bút này là một tài liệu vô giá liên quan đến những sự kiện mở đầu cho cuộc đấu tranh chống Pháp bắt đầu từ cuối thế kỷ 19” Hiện nay, các di vật nói trên đang được con cháu dòng họ Hoàng cất giữ. Theo chúng tôi, để tránh thất lạc, tỉnh Quảng Bình nên có kế hoạch đưa về lưu giữ ở Bảo tàng để tiện cho việc nghiên cứu sau này. NGUYỄN THỂ THINH (Thanh niên, số ra ngày 14-6-1998) Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 09:26:59 pm VÈ THẤT THỦ KINH ĐÔ PHẦN THỨ NHẤT Năm Mùi thất thủ Thuận An1, Tài gia bá hộ2 các làng kêu ca. Đàn ông cho đến đàn bà, Hưu trí hưu dưỡng3 ai mà cũng xung4 Nam triều chán chi kẻ anh hùng, Để Thuận An thất thủ, khổ trong đoạn tình. Việc triều đã có quân binh, Hãy còn việc mình ta phải dụ dân. Đồng tiền hột gạo là của phù vân5 10 Còn ăn hết nhịn, miễn tấm thân cho toàn. Kẻo Nam triều đang lúc gian nan, Minh giàu của vạn của ngàn, cũng như không. Một mai nó chiếm hãm triều trung6 Gia tô nó lại a tùng7 lấy chơi, Hãy còn ở đời nó niết dân ta. Làng nào cũng có tài gia, Có anh bá hộ lãnh mà bằng quan8. Trước thưa bộ viện viên quan, Sau thưa dân làng e phải thân chinh. ___________________________________ 1. Tức năm Quý Mùi, đối chiếu dương lịch là năm 1883. Ngày 15 tháng 7 năm Quý Mùi (18.8.1883), quân Pháp do Thiếu tướng hải quân Courbet cùng toàn quyền Harmand chỉ huy tấn công cửa Thuận An. Đến ngày 18 tháng 7 (21.8.1883) thì Thuận An thất thủ. Ngày 22 tháng 7 (25.8.1883), Pháp buộc triều đình Huế ký hòa ước năm Quý Mùi (1883) gồm 27 khoản. Bên phía Pháp có Harmand và De Champeaux, bên triều đình Huế có Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp ký. 2. Chỉ những người giàu có. 3. Quan và lính đã đến tuổi về nghỉ việc. 4. Tức giận. 5. Là đám mây bay khi tan, khi hợp, khi có, khi không. 6. Triều trung là ở trong triều. 7. Theo hùa, dựa vào thế lực của ai để làm bậy. 8. Trước khi có sắc của vua ban, những người được ban thưởng chức tước đều có nhận bằng do quan chứng nhận. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 09:36:23 pm 20 Ngọn rau tấc đất sở sinh, Nó chiếm, nó đoạt mất tình thông thương. Bao nhiêu xóm, lại mấy phường, Phải làm xích hậu1 ngày phòng đêm canh. Việc triều có luỹ có thành, Việc làng thì phải đêm canh ngày phòng. Điếm ngoài cho đến điếm trong, Phe trên phe dưới đề phòng cắt phiên. Há lo hết gạo hết tiền, Có tài gia cấp phát mới yên việc làng. 30 Việc triều súng vác khiên mang, Còn như việc làng phải sắm dao phay, Không dao thì cần mác dài cho thông. Xin về nhóm tại đình trung, Giáo mác cắm vòng để phòng hộ thân. Nơi xa cho đến nơi gần, Lệnh truyền cung đức2 lãnh phần mà đi. Dấn mình chịu khổ một khi, Kẻo quốc vương thuỷ thổ3 vậy thì của ta. Quan Tướng đánh4, quan Quận hoà5 40 Và vừa các cố các cha có lòng. Các người đáo đến bộ phòng6 Nơi cung quan Quận việc trong nước nhà: "Cái đất Nam Việt mà có Tây qua, Cũng vì tiên đế7 giao hoà thông thương. Tây qua Khách lại cũng thường, Vì chưng lối trước hai đường giao lân. Quan Tiểu8 vâng lệnh triều đình9 Cứ đánh giết đạo, đạo cũng dân Nam triều. Đánh Tây giết đạo làm chi? _________________________________ 1. Xích hậu là điếm canh. 2. Lệnh từ trong cung vua truyền ra. Có bản ghi: Lệnh trên quan sức. 3. Quốc vương là vua trong một nước; thủy thổ là đất nước. Đất nước của quốc vương, tức là giang sơn cơ đồ của nước nhà. 4. Quan Tướng là Tôn Thất Thuyết. 5. Quan Quận là Nguyễn Văn Tường. 6. Bộ phòng là đi đến bộ Lại, nơi Nguyễn Văn Tường làm việc. 7. Tiên đế chỉ vua Gia Long. 8. Ông Ích Khiêm, người tỉnh Quảng Nam, văn võ kiêm toàn, giữ chức Tiểu phủ sứ, một phần tử tích cực của phe chủ chiến bấy giờ. 9. Có bản ghi: cãi lệnh đình thần. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 10:24:59 pm 50 Đạo dân Nam triều cũng sinh hạ ở đây. Mặc lòng thiên hạ với Tây, Có tài thì đánh, đạo rầy không biết chi". Quan Quận thưa lại làm ri: "Thưa cùng các cố vậy thì các cha. Tôi đây trăm việc đồ hoà1, Tôi không ứng sự tung ra lịnh này. Đình thần cũng có nhịn Tây, Mà đánh giết đạo bởi đạo hay đưa đàng. Tây phiên đáo đến Giao Nam2 60 Cũng vì bên đạo đưa đàng Tây qua. Quan Tướng vẫn có lệnh ra, Mộ dân lục huyện3 đông đà rất đông. Tài gia bá hộ có lòng, Tiền quyên gạo góp đề phòng phát ra. Đến đêm ăn thịt vịt, thịt gà, Nguyện cùng giao ước tài gia hết lòng. Sửa sang binh mã gần xong, Chẳng chầy thì gấp có công báo cừu4 Tôi nay ưng chữ hoà hưu5 70 Có tài không mạnh bằng dùng mưu lập thành". Các cố nghe nói thất kinh, Các cha nghe nói giật mình, ai ôi! "Tôi thưa quan lớn một lời, Xin ngài làm phúc vậy thời xuống tay. Đạo tôi kham khổ nhiều ngày, Tính một lần phân tháp6 khổ hai những là. Đàn ông cho đến đàn bà, Vạch mặt đề chữ khổ đà đa phiên7 Than rằng người trọng của hèn, _______________________________ 1. Chủ trương giao thiệp hòa hảo với nhau. 2. Chỉ giặc Pháp. Giao Nam: tức nước Việt Nam. 3. 6 huyện tỉnh Thừa Thiên là: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thuỷ, Phú Lộc. 4. Báo cừu là báo thù. 5. Hòa thuận vui vẻ với nhau, không có xích mích xung đột. 6. Đưa dân ở xứ gần đi đầy vào xứ xa và bắt tháp cư ở đấy không cho về nguyên quán. 7. Năm Nhâm Thìn (1712) đời Lê Dụ Tông, chúa Trịnh Cương đã bắt những ngưòi theo đạo phải cạo trán và khắc vào mặt bốn chữ "học Hoà Lan đạo". Dưới triều Nguyễn từ năm Mậu Thân (1848) là năm Tự Đức nguyên niên, đã có dụ cấm đạo, định rằng những người ngoại quốc vào giảng đạo thì phải tội chết, những người đạo trưởng trong nước mà không chịu bỏ đạo thì phải khắc chữ vào mặt, rồi phải đày đi nơi nước độc. Đa phiên là nhiều phen. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 10:31:37 pm 80 Vàng kia trăm lượng làm quen thực tình. Xin về dẹp tướng bãi binh, Cho tôi trở lại sách đình Nhà Chung." Gần ngày hợp chiến giao công, Quan Quận khi ấy nói cùng quan Tôn1: "Ngài ôi ngài hỡi, mình đã hư luỹ nát đồn, Thuận An thất thủ chớ nôn2 báo cừu. Chi bằng lấy chữ hoà hưu, Sửa sang binh mã để báo cừu với Tây. Xá chi người đạo ở đây, 90 Mình mà tiêu diệt, Tây rầy hại tan. Giao hoà để lo việc tiên hoàng3 Cho ngài sinh thuận tử an việc đời4 Gia Tô5 nó cũng con trời, Nó qua trú ngụ ở nơi nước mình. Ngọn rau tấc đất sở sinh, Binh lương, thuế lệ thời mình không tha. Mình chớ sợ kẻ tây tà, Mà đi giết đạo, đạo mà kêu oan. Sống thì mắc tội Ngọc Hoàng6 100 Chết về Thập điện mang nàn Diêm Vương7 Chi bằng lấy chữ thủ thường, Mình làm Tể tướng phải thương dân tình. Cớ chi nó dể nó khinh, Thì ta tiễu sát8, thì mình chẳng dung. Nó sợ mình, nó đã có lòng, Vàng kia trăm lượng lo trong với mình. Xin truyền dẹp tướng bãi binh. Truyền cho các xã dân tình làm ăn" Quan Tướng khi ấy than rằng: _________________________________ 1. Chỉ Tôn Thất Thuyết. 2. Nôn nóng, hấp tấp. 3. Tiên hoàng là vua Tự Đức. 4. Sinh thuận tử an: lúc sống được may mắn, lúc chết được yên thân, ý muốn nói nên giao hoà để lo việc chôn cất Tự Đức. 5. Gia Tô: chỉ những người giáo sĩ đạo Thiên chúa. 6. Theo tín ngưỡng của đạo Lão, Ngọc hoàng là thần trời. 7. Diêm vương: vua âm phủ. Thập điện: đền của 10 vị minh vương ở dưới âm phủ. Theo tín ngưỡng đạo Phật, người ta lúc sinh thời làm nhiều tội ác thì đến khi chết phải chịu trừng phạt dưới âm phủ. 8. Giết trừ. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 10:40:45 pm 110 "Can chi quan Quận nỉ năn hết lời? Làm tôi thì hưởng lộc trời1 Mình mà thuận thính2 vậy thì nó khinh. Một mai thấu đến triều đình Mình làm Tể tướng chẳng minh nữa là. Mình mà thuận thính lâu la3 Tham tài hại đạo vậy mà như Tây. Nó đã cố hại mình rày, Nên chi nó quyến rũ một bầy lâu la Hồng Mao4, Mỏ Quạ, Chà Và5, 120 Tới thành Nam Việt lân la báo đời". Quan Quận khi ấy mở lời, Nói cùng quan Tướng sự đời can qua6: "Ngài ôi đừng nghĩ gần xa, Bạc là phấn thổ7, phúc là ngày sau. Nó đã thụ tội giao đầu8, Dung đi một buổi, ngày sau sợ mình. Xá chi người đạo giao chinh, Xin ngài dẹp tướng bãi binh hồi triều". Các quan khi ấy hồi triều, 130 Gẫm trong nhà nước nhiều điều phân vân. Bách quan văn vũ đình thần, Ai ai đều cũng phân vân đoạn tình Hai chàng9 đoạt thủ phá binh, Không sợ phép nước, không khinh oai trời. Làm tôi mà lỗi đạo tôi, Văn danh10 thiên hạ đồn thời tứ phương. Tà thần thì y bằng chữ dương11, Tâm xà khẩu phật lập lường trị dân12. Đại tướng ngôn bằng chữ đoài13, ___________________________________ 1. Lộc nhà vua. 2. Thuận nghe theo. 3. Những bọn côn quan, trộm cướp. 4. Hồng Mao: chỉ người Pháp. 5. Mỏ Quạ và Chà Và... có bản ghi là mồ hóng... chỉ những người lính châu Phi trong quân đội xâm lược Pháp lúc đó đầu quấn vải như hình mỏ quạ, da đen. 6. Can qua: Là giáo mác, là việc dùng đến binh mã. 7. Đất đai ghét rác. 8. Cúi đầu nhận tội. 9. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. 10. Văn danh là nghe tiếng. 11. Y bằng chữ dương là chữ tường, tức Nguyễn Văn Tường. 12. Tâm xà khẩu phật là trong bụng thì dữ độc như con rắn, mà ngoài miệng thì hiền lành như ông Phật. 13. Ngôn bằng chữ đoài là chữ thuyết, tức Tôn Thất Thuyết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 10:49:14 pm 140 Trung thần lấy câu hỷ nộ ân oai những là. Gửi vâng hạ sắc1 dạy ra, Ngài phê2 quan lớn lĩnh mà Thượng thư3 Ngài mà lĩnh chức Thượng thư, Bua quan4 những việc lý từ bày ra. Nội trong lục bộ chư nha5 Chư quân dinh vệ ai mà cũng kinh Quan viên suất đội triều đình, Roi đòn cứ đánh, niết tình vân vi. Hai chàng ngọc diệp kim chi6 150 Với quan phò mã7 vậy thì đồng tâm. Lập lường mưu kế âm thầm, Cũng đều đứng phiến8 tâu thầm đêm thanh. Nghinh vô trí tại hoàng thành9, Thánh hoàng ngự lãm10, sự hành ban ra. Mưu người thâm thuý thực là, Cứ lời niêm lẹ giao qua mật phòng11. Có quan Tể tướng triều trung12 Dở ra, khai chước nội công chiến ngoài13. Cũng đều đứng phiến liệt bày, ____________________________________ 1. Vua xuống chỉ dụ cho quần thần hay nhân dân. 2. Vua phê. Xứ Huế gọi vua bằng ngài Ngự. Đây chỉ vua Hiệp Hoà. 3. Chỉ Tôn Thất Thuyết được cử làm Binh bộ thượng thư. 4. Bua là vua, tức là việc vua quan. 5. Triều đình lúc đó gồm 6 bộ (Lại, Binh, Hộ, Hình, Lễ, Công) và các nha chuyên môn như Khâm Thiên giám, Quốc Tử Giám, Đô Sát Viện, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện, Quôc Sử Quán... 6. Cành vàng lá ngọc, chỉ những người thân thích nhà vua. Hồng Sâm, Sung biện nội các là con trai Tuy Lý Vương và Hồng Phi, Tham tri bộ Lại là con trai Tùng Thiện Vương, dâng mật sớ xin giết Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Sau chuyện bại lộ, Hồng Phi bị giết, Hồng Sâm cũng bị tống giam và bị giết ngày 30.12.1883. 7. Phò mã là rể vua. Đây chưa rõ chỉ ai. 8. Đứng tên hay là ký tên trong tờ phiến để tâu lên vua. 9. Rước vào đặt ở. 10. Ngự lãm là vua xem. 11. Niêm phong lại. Mật phòng là nơi bàn việc bí mật. 12. Tức Trần Tiễn Thành. Sử chép rằng nhờ có viên thái giám tên là Phạm Tạc đem việc ấy báo nên Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết mới biết. 13. Trong thì nội công, ngoài thì đánh vào. Đây là âm mưu của cánh đầu hàng trong triều lúc bấy giò định phối hợp với quân Pháp ngoài đánh vào, hòng lật đổ cánh chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Tư, 2016, 10:55:17 pm 160 Lập lường mưu kế huy tai hại người1. Quan Tướng nửa giận nửa cười, Nhịn thời nỏ nhịn, cười tươi cười mừng. Đêm khuya bán dạ2 băn khoăn, Ơn trong thiên địa thổ thần cho hay. Không thời mắc phải mưu này, Cũng vì các ả3 biểu bày sự sinh. Bước qua ngày ấy bình minh, Ngài4 miễn triều điện từ thành lui ra. Quan Tướng về bộ những là, 170 Kêu: "Ôi quan Quận, vậy mà đục trong, Mới hay thiên tử phản lòng, Kim chi ngọc diệp, nội công chiến ngoài, Cũng đều đứng phiến liệt bày, Nội triều lớn nhỏ, một ngài với tôi! Cơ mưu nó đã lập rồi, Ơn trong thiên địa việc trời chưa cho. Kim chi ngọc diệp không lo, Tôi khen ông Phò5 gan đã quá gan! Cái chức phò mã mấy ngàn, 180 Vin theo oai sấm6 chập choang hại mình". Quan Quận nghe nói thất kinh, Nói cùng quan Tướng sự tình âm hao7: "Nay ta phải lấy phép trào, Cho người tầm tróc8 bắt vào nơi đây Hơn thua cho hẳn lời này, Kẻo oan dạ nó thời rầy lòng ta". Quan Tướng khi ấy nói ra: "Như lời quan lớn tôi mà đành tâm9. Cho người đi tróc đi tầm, ___________________________________ 1. Huy tai là làm hại, giết người. Có bản chép: nguy tai hại người. 2. Bán dạ là nửa đêm. 3. Trong cung điện nhà vua, vua gọi mẹ là ả; tiếng Huế cũng có lúc gọi đàn ông bằng ả. Đây chỉ Hồng Sâm và Hồng Phi. 4. Ngài: chỉ vua Hiệp Hoà. 5. Phò mã: rể vua. 6. Nghĩa đen là sấm sét, oai trời, nghĩa bóng là oai vua. 7. Tin tức. 8. Tầm tróc: đi tìm bắt mang về. 9. Bằng lòng, yên tâm. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 04:24:15 pm 190 Bắt hai chàng1 về cầm giữ ngục môn". Hồng Bà2 khôn đã quá khôn, Nói với đạo, đạo không cứ, nói với Tây, Tây cũng không bằng lòng. Rối này mà gỡ không xong, Vào triều chịu tội với cùng bách quan. Thương thời danh tiết còn toàn, Ví dù nói muốn cho cam sự đời. Hai chàng3 trách giận mà thôi. 200 Hường, Phò hai gã vậy thời tiến tra. Hãy còn phụ tử Hồng Bà4, Phản thần phi lệ tội đà rất to. Cha con đều cũng đày vô, Đày tam thiên lý chớ cho phản hồi5. Hai chàng trách giận mà thôi, "Lập trường mưu kế bấp bôi6 ông Hiệp Hoà. Bọn này đã cố hại ta, Cứ câu hình lý vậy mà chẳng dung. Bên văn đã có ba ông7, 210 Bên vũ dự đồng quan Chưởng Thần Cơ8 Phải dàn đồ trận binh cơ, Mình đã chiêu mộ phải nhờ phương dân. Việc này phải giấu đình thần, Chớ có mưu lộ khôn phân nhưng là". ________________________________ 1. Chỉ Hồng Sâm và Hồng Phi. Có bản chép: Hường Phò, hai gã cầm ngục môn. Có tài liệu nói là Hồng Sâm và phò mã, nhưng không rõ tên thực là gì. 2. Tuy Lý Vương Mân Trinh, là chú Tự Đức và bố Hồng Sâm. Sau khi thấy vua Hiệp Hoà bị giết và con trai là Hồng Sâm bị tống giam, vương sợ nên bỏ trốn ra Thuận An xin yết kiến lãnh sự Pháp De Champeaux, ý muốn nhờ thế lực Pháp để diệt Thuyết và Tường. Nghe tin vậy, Thuyết lập tức cho vây phủ Tuy Lý Vương và bắt hết con cái tống ngục. Đồng thời tranh đấu với Pháp buộc phải giao trả Tuy Lý Vương cho Nam Triều. Vương cùng các con bị giam, sau Hồng Sâm bị xử tử còn vương cùng gia đình bị đày đi ba nơi là Bình Định, Phú Yên và Quảng Ngãi. 3. Chỉ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. 4. Chỉ Tuy Lý Vương với con trai đầu là Hường Tu. 5. Đày đi xa ba nghìn dặm không cho trở về. 6. Tiếng thổ âm Huế; ý nói là gian trá xảo quyệt. 7. Ba ông là Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường và Ông Ích Khiêm. 8. Tức Đề đốc Trần Xuân Soạn giữ chức Chưởng vệ đạo quân Phấn nghĩa. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 04:35:52 pm Quan Tướng khi ấy truyền ra, Truyền quân võng giá về nhà phụ thân1 Kêu: "Ôi thân phụ nhất thần, Tôi làm nên Tể tướng cũng nhờ ân phúc nhà. Thánh hoàng ngài mới băng hà2 220 Việc tôi xử trí thực đà chính minh. Bởi ai tranh vị nhượng quyền, Chọc trời tính chuyện xung hờn3 hại tôi. Xin thưa thân phụ một lời, Dưỡng hổ di hoạn4 vậy thời chẳng dung. Chữ rằng khỉ vô Bái công5, Thưa rằng thân phụ vậy cùng thân chinh6 Bề trong sở cậy triều đình, Bề ngoài cha phải, thân chinh một đàng". Cậu Hai7 khi ấy nồng gan, 230 Nguyện xin chiêu mộ một ngàn dân điêu8 Người thì ngụ đất Nguyệt Biều9 Người Kim Long10 kẻ An Cựu11, người lưu Kẻ Tràng12 Người thì ngụ đất Vân Giang13 Người Bao Vinh, kẻ Nam Phổ14, một đoàn dân lưu. ________________________________ 1. Tức Tôn Thất Đính là bố Tôn Thất Thuyết. Sau khi kinh đô thất thủ, Thuyết rước vua Hàm Nghi chạy ra phía Bắc, Tôn Thất Đính tuổi già sức yếu không chạy theo kịp bị De Courcy bắt và đày ra Côn Đảo cùng Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật. 2. Băng hà: vua chết, đây nói vua Tự Đức mới chết. 3. Có bản ghi: lộng hành hại tôi. 4. Nuôi cọp để sự lo về sau. 5. Sau đời Tần Thuỷ Hoàng, Hạng Vũ với Bái Công đánh nhau giành ngôi báu. Hạng Vũ muốn giết Bái Công, có người cho rằng: Bái Công này tuy chết, trong thiên hạ há lại không có Bái Công khác nữa hay sao? Đây ý nói: bỏ vua Hiệp Hoà thì lập vua khác. 6. Thân chinh; tự mình đi đánh trận. 7. Con trai thứ hai của Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Thiệp. 8. Những người nghèo khó lưu tán. 9. Nguyệt Biều: một thôn ở phía Tây Nam thành Huế. 10. Kim Long: một thôn ở phía Tây thành Huế. 11. An Cựu: một thôn ở phía nam thành Huế. 12. Kẻ Tràng ở phía tây Bắc, gần An Hoà. 13. Vân Giang: một thôn ở phía Nam thành Huế. 14. Thôn La Vân, thôn BaoVinh ở phía Bắc Huế, Nam Phổ ỏ phía Đông. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 04:42:31 pm Vô gia1 phải chịu chữ lưu2, Công danh muốn lập báo cừu phải đi. Quan Cụ3 mới nói một khi, Nói cùng quan Tướng vậy thì hơn thua: "Thiên hạ có một ông vua, 240 Giả như trong chùa có một ông sư. Bỗng mình sinh sự làm hư, Triều đình không thuận thính, e khổ chừ mà thôi! Bắt câu lỗi đạo luật trời, Bất trung thiên tử, vấn thời tam ty4. Đành lòng phụ tử một khi, Lẹ làng binh mã phản qui5 những là". ____________________________________ 1. Vô gia là không có nhà. 2. Dân lưu tán đi ở xứ khác, cũng có nghĩa là đi đày. 3. Quan Cụ: Bố Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đính. 4. Tam ty là bộ Hình, viện Đô Sát, nha Hộ Thành là ba nha hội đồng chuyên việc tư pháp. Vấn là hỏi tội. 5. Trở về, trở lại. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 04:52:01 pm Quan Tướng khi ấy truyền ra, Lấy hai chữ lai ước vậy mà triều trung Triều trung thượng hạ dự đồng, 250 Cũng đều kiềm ký1 cho xong những là. Đã đành lục bộ chư nha, Quan Trần Tiễn Thành vậy mà ngạnh ngôn2: "Nội triều quan Hiệp, quan Tôn3, Lại thêm quan Tiểu4 dị ngôn tranh tài5. Bách quan văn vũ hàng lai6 Mưu này kế nọ bởi hai người sự sinh. Ngày xưa ai đấu ai tranh, Long cây bộ khúc lá ngành héo hon7. Đã hại một người, bắt tội dâu con, 260 Ngục hình cầm hãm, tội còn chưa tha. Bấy giờ tội thủ phận già, Mặc lòng văn vũ chư nha trong triều. Ngày xưa tôi ngụ Nam triều8, Tài hay thi trúng9, lược thao10 trong triều. Nên chi Thánh đế ngài yêu11, Cho làm tể tướng đông triều bách quan. Chẳng may tiên đế băng ngàn, Thấy triều đa lịnh, phải toan phận già12. Ngoài thì một lũ lâu la, 270 Lại thêm trong nhà sinh sự hại nhau. Thách tài địch sức với nhau13, Thuận An thất thủ, một câu lai hàng. Thôi thôi mặc dạ bách quan, Tôi nay thủ phận quan tàn mà thôi". ___________________________________ 1. Đóng ấn và ký tên vào. 2. Nói chống đối. 3. Nguyễn Văn Tường hàm Hiệp tá đại học sĩ và Tôn Thất Thuyết. 4. Quan Tiểu tức Ông Ích Khiêm. 5. Dị ngôn tranh tài là lấy lời nói khác để tranh hơn thua với nhau. 6. Hàng lai: đều chủ hoà. 7. Ý nói Tường, Thuyết lộng hành tàn sát tôn thất nhà vua làm cho cành vàng lá ngọc khổ sở. 8. Trần Tiễn Thành là người làng Minh Hương, tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên. Làng Minh Hương tục gọi là Phố Lở. Họ Trần nguyên gốc ở làng Ngọc Chân, huyện Long Khê, phủ Chương Chân, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Sau khi nhà Minh mất ngôi đã chạy sang Việt Nam, vào trú ngụ tại làng Thanh Hà xứ Thuận Hóa, rồi dần dà lập ra làng Minh Hương. 9. Thi trúng là thi đậu. Năm 21 tuổi, Trần Tiễn Thành vào Quốc Tử Giám, nổi danh học giỏi, 25 tuổi thi đậu cử nhân, 26 tuổi đậu tiến sĩ. 10. Lược thao là giỏi binh cơ đồ trận. 11. Sau khi thi đậu vào làm quan tại triều, Trần Tiễn Thành được vua Tự Đức rất yêu. Lúc đầu giữ chức Thự tả Thị lang bộ Công, Sung Các vụ, sau được thăng hàm Văn Minh điện đại học sĩ, lãnh chức Binh bộ thượng thư. 12. Nhiều người ra lệnh, nhiều người cầm quyền. Sau khi Tự Đức mất, thấy thế lực Thuyết mạnh, Trần Tiễn Thành sợ, đã có lúc xin cáo về, nhưng triều đình không thuận, Thành phải từ chức Binh bộ thượng thư và lui về Quốc sử quán. 13. Có bản chép: Xưng tài ta kể chước mầu. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 04:57:22 pm Ba ông1 tức giận bồi hồi, Lập lường mưu kế bấp bôi một lần. Lập lường mưu kế mà phân, Bề trong binh mã, ngoài dân dự phòng. Mùa đông tiết lạnh mưa ròng, 280 Ông Hầu2 lấy lính Tuyển Phong3 tiên hành4 Đương khi bán dạ tam canh5 Ông Hầu ra thành binh mã đáo gia6. Đến nơi đèn đuốc sáng loà, Gọi ơi quan lão, người ra thọ đầu! Than rằng đương lúc đêm thâu, Quan lão thượng lầu mắc phải huy đao7 Nhộn nhàng chẳng biết ai nào, ___________________________________ 1. Chỉ Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường và Ông Ích Khêm. 2. Sau khi đã giết Hiệp Hòa, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sai lực sĩ đương đêm đến tận nhà riêng Trần Tiễn Thành ở xóm Đông Ba giết chết Thành. Ông Hầu đây có lẽ là Tham tri Trương Văn Để, một tay chân đắc lực của Tôn Thất Thuyết. Có tài liệu lại nói lính Phấn Nghĩa này do Hường Hàng, Hường Chức và Hường Tề đều thuộc họ nhà vua chỉ huy. 3. Lính thuộc vệ Tuyên Phong. 4. Đi trước tiên. 5. Nửa đêm canh ba. 6. Đáo gia là đến nhà Trần Tiễn Thành. 7. Huy đao là đao chém phải. Tài liệu chép là khi toán quân Phấn Nghĩa kéo vào, bọn cầm đầu nói lớn rằng có việc cơ mật, mời quan lớn xuống. Trần Tiễn Thành lấy áo dài đen mặc rồi do người hầu dìu xuống thang gác. Nhưng mới được nửa chừng thì bị một tên lính lấy mác đâm vào hông bên hữu, rồi mấy tên khác đâm lia theo. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 05:06:11 pm Dâu con than khóc lao xao kêu trời: "Ông ôi, ông hỡi, ông hời! 290 Miệng đà kêu trời khó thở khó than. Khi không mắc phải tai oan, Đã vô tòng tra cứu, kẻ gian sờ sờ1 Sự tình đã rối như tơ, Trang hình ngồi đó xin nhờ hai ông". Cậu Hai2 đã bẩm hai ông3 Hỡi người cứu nghị4 với tình làm sao. Cha tôi tể tướng trong trào, Xin người cứu nghị làm sao những là. Đương khi giờ tý canh ba. 300 Đèn đuốc sáng loà, binh mã lao xao. Đến nơi đấm cửa lại vào, Tôi ngờ ăn cướp lao xao canh chầy. Tôi tưởng là đạo với Tây, Thấy quan nhiều của tới vây cướp đồ. Chẳng hay họ hỏi quan lớn đi mô Mời ngài ra phụng dụ, đặng họ vô kịp chừ! Chẳng hay mắc phải binh cơ, Trang hình ngồi đó xin ngờ hai ông" Quan Thừa5 nghe nói hãi hùng, 310 "Tôi phân qua với cậu thuỷ chung sự tình. Cậu lui về bẩm quan Thượng bộ Hình6 Đặng tôi sắm sửa đáo dinh thăm ngài7. Một là mắc phải đoạt tài8 Hai là oán hận chi ai nhưng là! Xin cậu chớ khóc đừng than, Cậu về mai táng, sự hoàn9 lại hay. Ai mà trở dạ chém tay, Tội với trời đất có ngày sa cơ10 Hiếu trung cậu phải thân hoà, _______________________________ 1. Không biết tra cứu vào đâu. Kẻ gian sờ sờ là ý nói biết rõ việc này do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chủ động. 2. Con trai thứ của Trần Tiễn Thành. 3. Hai ông tức là hai chức Phủ Doãn và Phủ Thừa, đứng đầu tỉnh Thừa Thiên. 4. Cứu nghị: tra cứu, xét xử. 5. Quan Thừa tức quan Phủ Thừa, một chức quan ở kinh đô phụ trách việc hình, tương đương với chức Án sát các tỉnh. 6. Hình bộ Thượng thư chuyên trách việc án từ. 7. Là đến dinh viếng linh hồn Trần Tiễn Thành. 8. Đoạt tài là cướp của. 9. Công việc xong xuôi đâu đấy. 10. Có bản chép thêm bốn câu sau: "Ngày xưa Cao Phách chịu chữ hạm ba, Người đời dàn việc thanh thô, Cực mình phải chịu cực, cậu mà tới dinh. Ruột rà phụ tử khổ tình kêu ca", [nghĩa chưa rõ]. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 05:12:08 pm 320 Anh hùng mắc nạn mới ra anh hùng. Bao giờ cho nịnh mang gông, Gian sàm nịnh tấu1 anh hùng mắc tai. Cậu đừng than ngắn thở dài, Cậu con quan lớn như cậu Hai bên nhà2 Quan Tướng khi ấy truyền ra, Lục dinh thành ngoại đêm canh ngày phòng. Bao giờ các cửa niêm phong, Nội khoá thu lạo nạp cùng bản dinh3, Tư ra các vệ các dinh, 330 Phen này thời phải tận tình xông pha. Đương khi giờ tý canh ba4, Người truyền mở cửa vậy mà Chánh Tây Bắt cho tuỳ phái các thày, Vũ sinh hai vệ5 bưng cây trên rừng6. Nội triều lớn nhỏ đều ưng, Tuy cây trên rừng, cốt cách trầm hương. Thánh hoàng7 năm trước ngài troàn8 Dĩ vi dưỡng tử9 văn chương rõ ràng. Triều đình văn vũ bá quan, ___________________________________ 1. Nịnh là gian nịnh, tấu là tâu vua, là tâu hót một cách gian nịnh. 2. Xem như em trai tôi bên nhà. 3. Tức dinh quan Tướng. 4. Canh ba tức nửa đêm. 5. Là hai vệ lính mới tuyển đang luyện tập. 6. Sau khi đã phế vua Hiệp Hoà, Tôn Thất Thuyết cho người lên Khiêm Lăng (Lăng Tự Đức) rước thái tử Dưỡng Thiện về tôn lên ngôi, tức vua Kiến Phúc (29.11.1883). 7. Thánh hoàng tức Tự Đức. 8. Ngài troàn là truyền lịnh (tiếng Huế). 9. Dĩ vi dưỡng tử là lấy làm con nuôi. Kiến Phúc cũng như Hiệp Hòa đều là con nuôi của Tự Đức. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 05:18:29 pm 340 Ai ai đều cũng một lòng đều ưng. Nửa đêm băng núi băng rừng, Quan Tiểu1 khi ấy xem chừng can qua2. Đường đi những hói với hà, Xóm làng ngủ hết vậy mà lặng tanh. Đến nơi gọi mở cửa thành Võng điều vô, võng đứng quanh hãi hùng3. Hú hồn hú vía cho ông, Ông chớ hãi hùng, đừng sợ, đừng kinh. Đủ mặt văn võ triều đình, 350 Xin ngài về trị vị4 thái bình nước Nam. Triều đình văn tứ, võ tam, Thượng thư tứ trụ5, sửa sàng đã xong. Mở lời tôi dám hỏi ông, Thượng trình hậu giá6 để hòng hồi qui7. Bộ hành băng qua núi khe, Qua đò Phường Đức8 trống thì tan canh. Đi về mới đến dinh thành, Mưa sầu gió thảm, đứng quanh hãi hùng! Lỡ chân mới lệnh cũng không, 360 Những quân chiêu mộ băng rừng chạy tan. Vào thành những thấy bách quan, Lại thêm binh mã nhộn nhàng tiếp nghinh. Đủ mặt văn vũ triều đình, Ai ai đều cũng hữu tình trông sang, Bề nào danh tiết chẳng toàn, Rưng rưng nước mắt hai hàng nhỏ sa. "Triều đình văn vũ như nha, Đều nghe hai ả9 vậy mà hại tôi!" Vợ hầu nước mắt hỡi ôi, _________________________________ 1. Quan Tiểu là Ông Ích Khiêm. 2. Can qua: nghĩa đen là giáo mác, đồ binh khí. Đây có nghĩa là phụ trách đôn đốc mọi việc dọc đường. 3. Võng nhuộm màu đỏ. Thời phong kiến ngày xưa, quan lớn đi võng điều. 4. Lên ngôi làm vua. 5. Tứ trụ: Cần Chánh, Văn Minh, Võ Hiển, Đông Các là bốn trọng chức trong triều. 6. Thượng trình là lên đường, hậu giá là hầu xa giá nhà vua. 7. Hồi quy là đi về. 8. Đò Phường Đức nằm trên con đường giữa Huế và Thiên Mụ. 9. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 10:20:00 pm 370 Rưng rưng lệ chảy vậy thời chứa chan! Thị vệ vâng lệnh bách quan, Đi vào tâu đối với bà Từ cung1 Bách quan văn vũ triều trung, Đặt bàn khấn nguyện với cùng hoàng thiên. Đồng triều văn vũ cầu nguyền, Lạy cùng thượng giới hoàng thiên những là: "Nay xin gởi đứa Hiệp Hoà, Tôn đức Kiến Phúc, nước nhà thung dung" Thánh mẫu2 nghe nói hãi hùng, 380 Hai hàng nước mắt ròng ròng tuôn rơi. Bách quan văn vũ một lời: "Xin đừng bắt tội, vậy thời làm chi? Cho người xuống phủ3 một khi, Xin đừng bắt tội vậy thì nó oan". Thị vệ vâng lệnh bách quan, Phải nghe hai ả, tam ban ngục hình4. Thị vệ vâng lệnh triều đình, Thưa cùng hoàng đệ5 thượng trình lui ra. Rộn ràng hầu vợ thần gia6, 390 Lui ra môn nội7, khóc là van ri. Mặt trời bóng chếch về tây, Rộn ràng binh mã bao vây bịt bùng. Chừ thời nghe lệnh quan ông, Bao nhiêu hầu vợ vậy thời cho lui. Hầu vợ nước mắt sụt sùi, Con người hai mẹ cho lui phủ đàng8 Tam ban triều điển đưa sang, Ra đến phủ đàng, thân lại sát thân. Đông tây nam bắc xa gần, ___________________________________ 1. Tức Từ Dụ hoàng thái hậu, là mẹ Tự Đức. 2. Tức Từ Dụ hoàng thái hậu, là mẹ Tự Đức. 3. Phủ là nơi các ông hoàng ở, đây là Dục Đức đường. 4. Tam ban ngục hình: ba thước nhiễu điều, một chén thuốc độc, một thanh gươm, để cho tự tử. Đời phong kiến xưa, vua mà bị truất ngôi thì đưa ba thứ này cho chọn lấy một thứ mà tự sát. 5. Hoàng đệ: chỉ Hiệp Hoà sau khi bị phế. Hiệp Hoà là em vua Tự Đức. 6. Thần gia là gia thần, là tôi tổ. 7. Môn nội là trong cửa. 8. Hiệp Hoà là con út vua Thiệu Trị, em vua Tự Đức, do bà Thuỵ Tân họ Trương sinh ngày 1.11.1847. Do đó cũng gọi bà Từ Dụ là mẹ. Nên câu thơ nói là người hai mẹ. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Tư, 2016, 10:29:01 pm 400 Trẻ già con nít cũng thương thân ông Hiệp Hoà1 Liệt bài2 sinh quản3 âu ca4, Triều đình văn vũ chư nha ứng hầu. Chúc rằng: Vạn thọ một câu, Nhất nhân hữu khánh đứng đầu nước Nam5. Dụ đề văn tứ vũ tam6, Thượng thư tứ trụ7 phẩm hàm gia thăng. Quan thì vàng thưởng chức thăng. Tự ngũ chí cửu8 chức hàm gia ân. Đông tây nam bắc xa gần, 410 Công sưu thuế lệ chẩn thân9 những là, Bao chừng tù ngục cũng tha, Tư sưu10 thuế lệ vậy mà cũng dung. Thánh hoàng11 phán trước triều trung: "Tây phiên12 chiếm hãm tính cùng làm sao? Y như ngày trước tiền trào13 Giao hoà với nó tốn hao bạc vàng. Hại mình nhiều đoạn gian nan, Nay mình thúc thủ lai hàng14 khổ âu. Tây phiên lòng hiểm dạ sâu, _________________________________ 1. Sau khi âm mưu lật đổ Tôn Thất Thuyết bị bại lộ, vua Hiệp Hòa bị buộc phải uống thuốc độc chết ngày 29.11.1883. Sau đó, quân lính nhặt xác bỏ lên võng khiêng về phủ riêng tại Kim Long. Người nhà sợ hãi cuốn xác vào chiếu rồi vùi xuống một cái huyệt dân làng mới cải táng. Mấy hôm sang, việc triều tạm yên, người nhà mới đào xác lên, rồi mai táng theo lễ nghi người thường. 2. Liệt bài là bày ra. 3. Sinh quản là đàn sáo. 4. Âu ca: Khi làm lễ tấu tôn vua mới, thường cử âm nhạc. Đây nói về lễ tấn tôn vua Kiến Phúc. 5. Một người có việc phúc lành, có việc vui mừng. 6. Quan văn từ nhất đến tứ phẩm, quan vũ từ nhất đến tam phẩm. 7. Lục bộ thượng thư và bốn chức Cần Cháng, Văn Minh, Võ Hiển, Đông Các. 8. Từ ngũ phẩm đến cửu phẩm. 9. Chuẩn y cho miễn thuế thân. 10. Việc phu đài tạp dịch riêng, như là tư ích. 11. Chỉ vua Kiến Phúc. 12. Chỉ giặc Pháp. 13. Triều vua Tự Đức. 14. Bó tay lại mà hàng địch. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Tư, 2016, 11:24:19 pm 420 Lập lường lấy nước công hầu chi ai? Tiền triều1 thuở trước hàng lai, Nay mình cống thuế dụng tài Tây phiên! Nó qua quân lính phân phiền, Hao vàng tốn của mới yên nước nhà. Tiền triều trước có phê ra, Phương dân phân tháp2 đạo mà cho xong. Đời mình, mình đã thứ dung, Ngày nay nó nhắng với cùng Lang Sa3. Đời ông cho đến đời cha, 430 Nó qua trú ngụ đất ta nước mình. Ngọn rau tấc đất sở sinh, Nó ăn nó mặc, mặc tình thong dong. Nay nó tích hận triều trung4 Nên chi Tây biết anh hùng đích danh. Tây phiên nó ở Tây thành5, Can chi nó biết đích danh bốn người6. Nội triều nó chẳng hỏi ai, Đích danh bốn người văn vũ bốn ông! Đề Ngô7 khí khái anh hùng, ____________________________________ 1. Triều vua Tự Đức. 2. Phân tháp là đưa dời dân đi đày ở xứ xa, rồi không cho trở về quê quán cũ. 3. Chỉ giặc Pháp, do phiên âm chữ France mà ra. 4. Tích trữ mối hờn giận trong lòng đối với triều đình. 5. Quân Pháp đóng trong đồn Mang Cá và trong toà lãnh sự hai bên bờ sông Hương. 6. Bốn người tức Tôn Thất Thuyết, Ngô Tất Ninh, Ông Ích Khiêm, Trần Xuân Soạn. 7. Đề Ngô là Đề đốc Ngô Tất Ninh. Sau khi Bắc kỳ thất thủ lần thứ hai (1882) ông được gọi về kinh. Theo Đô thành hiếu cổ số 3 (1941) có nói rõ là ngày 26.7.1885, khi Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi rời Tân Sở vượt đường thượng đạo sang Lào, thì Đề đốc Ngô Tất Ninh cùng Hộ bộ Thượng thư Phạm Thận Duật đã ở lại, định chạy ra vùng Hà Tĩnh thì bị viên tri phủ Triệu Phong (Quảng Trị) bắt giải về Huế. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Tư, 2016, 11:29:33 pm 440 Đã từng cự chiến giao công Bắc Kỳ. Đề Soạn1 vũ nghệ xảo tri, Đã từng cự chiến Bắc kỳ mà vô. Quan Tiểu ở tại kinh đô2, Tài hay nhâm độn3, hà đồ rất thông. Quan Tướng4 cũng đấng anh hùng, Hải đồ gian phỉ giết cùng chẳng tha. Hãy còn cái việc nước nhà, Chẳng chầy thì cấp nó mà giao công. Một là bên đạo thông đồng, 450 Hai là có kẻ triều trung tự tình5. Tư ra các vệ các dinh, Chiêu người võ cử luyện binh thi tài. Văn thần sổ sách thư lai, Võ tướng coi ngoài, văn tướng việc trong". Quan Tiểu vâng lệnh cửu trùng6, Chiêu người về tập để dùng hậu thương7. Ngày thời gánh đất đổ đường, Đêm thời tập súng hậu thương cho thành. Khai hồ đắp luỹ xây quanh, __________________________________ 1. Đề đốc Trần Xuân Soạn người làng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn (Thanh Hoá), nguyên lĩnh chức Đề đốc dinh quân thứ ở Bắc Kỳ. Sau lễ tấn tôn vua Hiệp Hoà (tháng 7.1883) được gọi về Huế giữ chức kinh thành Phó Đề đốc kiêm chỉ huy đội quân Phấn Nghĩa. 2. Quan Tiểu tức Tiểu phủ sứ Ông Ích Khiêm. 3. Nhâm độn là môn bói toán để biết trước việc tương lai. 4. Quan Tướng chỉ Tôn Thất Thuyết. 5. Thông mưu với Pháp. 6. Cửu trùng nghĩa đen là chín lần, chỉ nơi vua ở. Cũng chỉ vua. 7. Tên một loại súng nạp đạn đằng sau (không rõ có phải loại súng điểu thương thời Nguyễn không). Khác với loại súng khai phúc là súng cò máy đá nạp đạn đằng trước. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Tư, 2016, 11:35:31 pm 460 Bắn đồ chữ thập1 kinh thành rất hung. Bách quan văn vũ triều trung, Đều khen ông Tiểu vậy cùng đa mưu. Đóng đồn đặt súng báo cừu, Thành tan luỹ nát chẳng xong mọi bề. Quân dân thất tán một khi, Người thì chết nước, kẻ thì chết khô. Gạo tiền đổ xuống biển hồ, Đông tây nam bắc ai mô đều sầu. Tròng ngao, tròng ốc, tròng câu2, 470 Tầu đĩa, tầu bầu, khổ nỗi thông thương, Triều trung mắc phải tai ương, Đã bỏ đồn mà chạy, còn lập lường giao công. Nước ta quan Tướng anh hùng, Bách quan văn vũ cũng không ai tầy! Người có ngọc vẹt3 cầm tay, Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao! Tài hay văn vũ lược thao, Khí khái, nhâm độn ra vào rất thông. Bốn bề cự chiến giao công, 480 Tây phiên nói thực anh hùng nước Nam! Tài hay vô độn ra nham4, Khi thịnh thì gặp, suy làm sao hay? Bắt mình tự vẫn cùng Tây, Thánh hoàng bắt tội mộ rày Phấn Hoa5. Tiền triều trước có giao hoà, Tôn miếu xã tắc quốc gia hoàn toàn. Cớ chi cự chiến phiên bang, Đồn tan luỹ nát bạc vàng hư hao. Huống chi làm chức tá lý6 nội triều, _____________________________________ 1. Chữ thập là dấu thánh giá đạo Thiên chúa. 2. Tiếng Huế gọi thuyền là tròng. 3. Ngọc vẹt là ngọc chim vẹt; theo truyền thuyết trong nhân dân thì những con vật sống lâu năm đều có ngọc quí, có tính lạ bắn đạn không trúng. 4. Nham: tức chữ nhâm đọc trệch ra. 5. Phấn Hoa: có lẽ là đạo quân Phấn Nghĩa của Tôn Thất Thuyết. 6. Tá lý: một chức quan nhỏ vào hàng tứ phẩm. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Tư, 2016, 11:41:47 pm 490 Tài hay bao nả, cự chiến lẽ nào cho hay. Giáp thân nhị nguyệt1 bằng nay, Quan Tiểu bẩm bộ xin rày hồi hương. Vào triều tâu lại thánh hoàng, Xin về tỉnh thăm mẫu đàng tại gia2. Lấy câu trung hiếu nghĩa hoà, Làm nên danh vọng ruột rà sở sinh. Thưa qua văn vũ triều đình: "Tôi xin về nhất nguyệt, thượng trình hồi đô3 " Tháng ba quan Tiểu trở vô, 500 Tháng tư4 Tây lại hải hồ thiên binh5. Vừa vâng lệnh chỉ triều đình, Vô đòi quan Tiểu lai kinh hồi triều. Hỏi ngài cớ sự làm sao, Xin về nhất nguyệt lẽ nào không ra? Ví dầu bối rối việc nhà, Thư lai trình thuyết6 chư nha tỏ tường. Thánh hoàng cũng rộng lòng thương, Cho về tảo mộ từ đường tại gia7. Tháng tư quan Tiểu trở ra, ______________________________________ 1. Nhị nguyệt: tháng 2 năm Giáp Thân, theo dương lịch là tháng 3 năm 1884. 2. Xin về quê thăm mẹ già. 3. Về nhà một tháng, rồi lên đường trở lại kinh đô. 4. Tháng tư, tức tháng 5.1884. Sau khi đã dùng vũ lực uy hiếp triều Thanh buộc ký hoà ước Thiên Tân lần thứ nhất (11.5.1884), Patenôtre có lực lượng quân sự đi theo làm áp lực đã ghé vào Huế (30.5.1884) cùng triều đình Huế ký bản hoà ước ngày 6.6.1884. 5. Thiên binh vạn mã, ồ ạt như bể, như hồ. 6. Viết thư đưa lại mà trình bày. 7. Cho phép về thăm mồ mả, thăm mẹ già ở nhà. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Tư, 2016, 11:46:50 pm 510 Tâu cùng thánh đế chư nha tỏ tường: "Khó thay thúc ngựa dời cương, Tôi ra thời đó1 mà thương mẹ già. Giận thay một lũ lâu la, Muốn hồi triều cự chiến, quan Quận2 lại mà đón can! Giận thay một lũ phiên bang. Tôi về có kẻ nịnh gian biểu bày. Nó qua yến ẩm no say, Nịnh gian biểu bày nhiều chuyện lân la". Quan Quận đặt gối tâu qua: 520 "Tâu cùng thánh đế, ông Tiểu mà khi quân3. Người đà nghịch lý khi quân, Đày vô Bình Thuận, lên tuần Ai Lao4. Chớ cho lai vãng nội trào, Cường ngôn nghịch lý, e phản phao đến mình". Quan Tiểu mắc phải vi binh5, Người trung mắc nạn, lý hình nịnh gian6. Cho nên thất thủ Thuận An, Tây qua đóng luỹ đóng đồn đã lâu. Nó qua Nam Việt thụ đầu7 _________________________________ 1. Có bản chép: Đi thì đặng đó... 2. Quan Quận tức Nguyễn Văn Tường. 3. Khi quân là dối vua. 4. Đày lên Lao Bảo. 5. Nghĩa đen là bị quân vây. Đây nói người trong vòng hoạn nạn. 6. Quyền xử đoán việc hình trong tay bọn gian tà xu nịnh. 7. Thụ đầu là đầu hàng. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Tư, 2016, 11:51:05 pm 530 Nó xin làm lầu Bình Thuỷ một dinh. Tây phiên lĩnh chỉ triều đình1, Nó xin Trấn Bình2 trú ngụ thông thương. Trước thì cống thuế Nam Vương3 Chỗ nào giặc giã chịu đường cự khôi4. Thánh hoàng phán chỉ một lời: "Nó xin mặc nó, mình thời chớ cho! Lập lường mưu kế đóng đô, Mình là Nam Việt dễ phò lâu la!" Quan Quận đặt gối tâu qua: 540 "Tâu cùng thánh đế chư nha hội đồng, Mình xá chi chút đất Trấn Bình, Để cho nó ở kết tình mà chơi. Ăn lộc nước, phải trả nợ đời, Tôn miếu xã tắc vậy thời của ta. Tiền triều5 trước có giao hoà, Tôn miếu xã tắc quốc gia hoàn toàn. Cớ chi cự chiến Tây bang? Hao vàng tốn bạc mới an nước nhà! Thưa cùng văn vũ chư nha, ______________________________________ 1. Có bản chép: Đến năm Giáp Thân thượng điệp đơn đình. 2. Trấn Bình tức đồn Mang Cá là góc phía Đông Bắc thành Huế. Theo điều khoản 5 hòa ước 6.6.1884 thì viên trú sứ Pháp và một đơn vị quân đội Pháp có quyền đóng tại Mang Cá. Đó là một điều rất nguy hiểm cho ta và lợi cho địch, vì đóng tại Mang Cá là quân Pháp đã chiếm được một cứ điểm quân sự quan yếu để uy hiếp toàn bộ Huế và kiểm soát triều đình. Cho nên Tôn Thất Thuyết cố tình không thi hành điều khoản này, mãi đến tháng 8.1884, trước áp lực ráo riết của Pháp, mới buộc lòng để chúng vào đóng tại Mang Cá. 3. Có bản chép: nó xin chịu trấn Nam phương. 4. Cự khôi là chống chọi, là cự chiến. 5. Tiền triều chỉ triều vua Tự Đức. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Tư, 2016, 11:59:34 pm 550 Trấn Bình, Trường Định1 giao mà cho Tây!" Quan Tướng nói lại làm vầy: "Tôn miếu xã tắc nay chừ e hư! Người không vâng lệnh thánh từ2 Tôn miếu xã tắc e hư phen này! Bởi tiền triều khôi phục dụng Tây3 Đô thành Nam Việt nổi bầy lâu la4. Hồng Mao cho đến Chà Và, Thụ tài bất chính5 nó qua hãm đồn. Ở đời mình dại nó khôn, 560 Nó qua hãm đồn như cá trong âu. Ở đời chịu chữ thụ đầu, Vô trong lầu sứ khổ lâu nhiều ngày". Quan Quận nói lại làm vầy: "Ở đời một rủi một may, Chung rồi lại thuỷ6 dở hay khôn lường. Ăn cơm chừ, nhớ đến xưa, Tôn miếu xã tắc phải lo phen này. Tiền triều khôi phục dụng Tây, Nên mình mới được thành xây lầu toà. 570 Nó qua nó lại trở về, Nó không lập cảnh lập quê ở đời, Cho nó trú ngụ mà chơi, Đô thành Nam Việt mấy đời đem về Tây". Giáp Thân lục nguyệt bằng nay, Vừa đức Kiến Phúc ngài rày thăng thiên7. Bách quan văn vũ phân phiền, Gẫm trong nhà nước không yên bề gì! Hồi triều8, tôn đức Hàm Nghi9 Người lên trị vì ai cũng cầu yên. ________________________________________ 1. Trường Định ở gần Mang Cá, về phía Tây, trong thành Huế. 2. Thánh từ: lòi nói của vua. 3. Gia Long nhờ tư bản Pháp giúp mới cướp được ngôi. 4. Chỉ bọn giặc Pháp và tay sai. 5. Thụ tài bất chính là dùng người không chính đáng. 6. Chung rồi lại thuỷ là sau rồi lại trước. 7. Vua Kiến Phúc sinh ngày 12.2.1869, mất ngày 31.7.1884 một cách mờ ám. Có thuyết cho là bị Nguyễn Văn Tường đầu độc. 8. Toàn thể các quan văn vũ trong triều họp lại. 9. Vua Hàm Nghi là con thứ năm của Kiên Quốc công, sinh ngày 3.8.1871, lên ngôi ngày 2.8.1884. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Tư, 2016, 07:49:12 pm 580 Giận thay một lũ Tây phiên, Đến triều Nam Việt ỷ quyền mà thôi! Quan Tướng khi ấy mở lời: "Thưa cùng quan Quận sự đời thiệt hơn. Hai ta cao chức lớn quyền, Ngài ôi, phải nghĩ thiệt hơn sự tình, Tây phiên đáo đến Nam đình1 Nội triều lớn nhỏ hai mình sở đương2. Triều trung mắc phải tai ương, Cũng hai ta xử trí, để nhường cho ai! 590 Phen này ta phải ra tài, Chiêu người dinh vệ trong ngoài cự khôi” 3. Quan Quận khi ấy ngỏ lời: "Nói cùng quan Tướng người thời phải suy. Người là ngọc diệp kim chi4, Tôi là bách tính5 lo gì phận tôi. Chừ ra chiến đấu cự khôi, Đồn tan luỹ nát vậy thời hư hao! Lánh nơi cửa kín thành cao, Oai quyền ra đến chỗ nào cũng tan, 600 Năm Mùi thất thủ6 Thuận An, Bao nhiêu bạc vàng đổ xuống biển Đông. Thiên hạ ai cũng đau lòng, Đông tây nam bắc vậy cùng than van. Chừ ra cự chiến phiên bang, Đá liều đá đánh, với vàng vàng hao7. Ai tài ra chốn binh đao, Miễn an nhà nước lẽ nào dám can!" Quan tướng khi ấy nói sang, Nói cùng quan Quận rõ ràng đục trong: ____________________________________ 1. Triều đình nước Nam, ý nói quân Pháp kéo sang thôn tính nước ta. 2. Đảm đương mọi việc. 3. Cự khôi là chống cự lại. 4. Ngọc diệp kim chi nghĩa đen là cành vàng lá ngọc, nghĩa bóng là dòng dõi nhà vua. 5. Bách tính là trăm họ; ý nói mình không phải là dòng họ nhà vua. 6. Đây nhắc lại sự kiện Thuận An thất thủ hồi tháng 8.1883. 7. Vàng hao: tự ví mình là “vàng”, còn cho Tây là “đá”. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Tư, 2016, 07:54:02 pm 610 "Hai ta tể tướng triều trung, Có tài cự chiến giao công làm thần. Ăn cơm vua, dễ nại tấm thân, Trời sinh ra nước, quân thần làm chi! Tây phiên chiếm hãm thành trì, Bạc vàng cống thuế lấy gì lưu lai1? Phen này ta quyết ra tài, Ví dù thúc thủ hàng lai cũng đành2 Chớ cho hổ tiếng bia danh, Hai ta toạ hưởng kỳ thành3 sao xong? 620 Quân nha binh mã dự phòng4, Tây phiên dẹp giặc ở trong chương toà"5. Triều đình văn vũ chư nha, Chư ông hoàng tử phải qua bên lầu6. Bách quan văn vũ quì tâu, Nay qua bên lầu thương thuyết việc chi? Triều đình văn vũ cùng đi, Chư ông hoàng tử vậy thì cùng sang. Tới nơi cung quán phiên bang7, Rượu bay yến ẩm toạ bàn nhất bôi8. _____________________________________ 1. Còn để lại cho con cháu đời sau. 2. Thúc thủ là bó tay; hàng lai là đầu hàng. 3. Không làm việc gì, cứ ngồi yên mà hưỏng sự thành công. 4. Chuẩn bị sẵn sàng để hành động. 5. Đây chỉ toà Khâm sứ và đài Trấn Bình. 6. Là lầu Tây, tức toà Khâm sứ bên kia sông Hương, đối diện vối Hoàng thành. Tới Huế ngày 3.7.1885 thì liền ngày hôm sau, Cuốc Xi (De Courcy) mở tiệc mời các quan triều sang. Riêng Tôn Thất Thuyết cảnh giác, sợ bị bắt cóc nên thác ốm không sang. 7. Phiên bang tức nước Pháp, đây chỉ toà Khâm sứ. 8. Ngồi vào bàn ăn; nhất bôi là uống một chén rượu. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Tư, 2016, 10:32:31 pm 630 “Tôi thưa qua văn vũ một lời1, Thốn tình nhất tịch2 nhất bôi, hả hề! Nam Việt tình muốn giao hoà, Vàng thì muôn lượng, bạc thì muôn thoi. Bạc thoi vàng lượng đã rồi, Tiền thì đóng vỉ3 vậy thời hai ngàn quan4. Có đành nhà nước mới an, Ba ngày thì phải đem sang bên toà. Đủ mặt văn vũ chư nha, Can chi quan Tướng không qua triều đình? 640 Hay là lập trường mưu kế quân binh? Bước qua hai bốn5 đáo đình bắt chơi! Bây giờ mãn tiệc hạ hồi6, Bách quan văn vũ vậy thời hồi qui". Các quan trở lại thành trì, Quan văn về bộ, vũ thì về dinh. Quan Quận đáo đến bộ đường7, Nói cùng quan Tướng tỏ tường mấy câu: "Bách quan văn vũ đến lầu, Rằng nghe Tây nói mấy câu rõ ràng. 650 Tiền đồng xin hai ngàn quan, Còn bạc với vàng vô số kỳ đa. Ba ngày thì phải đem qua, Không thời hai mươi bốn đáo gia8 bắt ngài. Đêm khuy vắng vẻ không ai, Tôi nói với ngài, chẳng để làm chi". _____________________________________ 1. Đây là lời của Trung tướng Cuốc Xy (Courcy), Thống đốc quân dân sự vụ Bắc Kỳ, mới kéo non 100 quân tới Huế ngày 3.7.1885. 2. Thốn tình là chút tình, nhất tịch là một buổi tiệc. 3. Xưa dùng bị cói để đóng tiền. 4. Có bản chép là hai chục vạn quan. Theo tài liệu của Pháp thì Cuốc Xi đặt điều kiện cho triều đình là trong hạn 3 ngày phải nộp 2 vạn lạng vàng, 20 vạn thoi bạc và 20 vạn quan tiền đồng. 5. Cuốc Xi doạ đến ngày 24 tháng 5 năm Ất Dậu (6.7.1885) sẽ sang bắt Tôn Thất Thuyết. Do đó, Thuyết buộc phải hành động gấp vào tối ngày 22 (4.7) rạng ngày 23 tháng 5 (5.7.1885). 6. Ăn tiệc xong thì ra về. 7. Bộ Binh, nơi Tôn Thất Thuyết ở. 8. Đáo gia là đến nhà. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2016, 05:44:05 pm PHẦN THỨ HAI Quan Tướng nghe nói một khi, Giận thay phiên tặc, gan thì xung gan. Quân nha binh mã sẵn sàng. Quyết đi giáp chiến kẻo Tây phiên hại mình. 660 Nói cùng các vệ các dinh, Gắng lấy khôi phục Trấn Bình nước ta. Nói cùng chư vệ chư nha: "Tôn miếu xã tắc ông cha lưu truyền. Nay mình thúc thủ Tây phiên, Ông cha lưu truyền nỏ để làm chi! Cửa Thuận nó đã lấy đi, Tuyên, Cao, Thái, Lạng1 vậy thì về Tây. Kinh thành cơ nghiệp mình đây, Nay mình thúc thủ phen này sao yên!" 670 Dàn quân mặt trước có lính Long thuyền2, Vũ sinh xuất nhập côn quyền xảo tri3. Trong thành có lính Cẩm Y, Kim Ngô4 hai vệ võ thì rất hay. Vũ Lâm5 hai vệ ở đây, Sinh sơ vũ nghệ6 đóng đầy đồn trong. Đông Ba7 năm vệ Tuyển Phong, Kẻ Trài, Trường Định8, Vũ Long9 cũng dàn. Cửa Hữu10 với cửa An Hoà11, Lính thì mười vệ vậy mà chia hai. ___________________________________ 1. Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên và Lạng Sơn. 2. Thuyền rồng, chỉ đội thuỷ quân của triều đình bấy giờ. 3. Xảo tri là tài giỏi. 4. Tên hai vệ lính trong thành. 5. Vũ Lâm, Tuyển Phong là tên 2 vệ lính trong thành. 6. Lính mới luyện tập. 7. Cửa Đông Ba, chính tên là cửa Chánh Đông. 8. Cửa Kẻ Trài, chính tên là cửa Đông Bắc, đối diện xóm Kẻ Trài thuộc làng Thế Thượng bên kia sông Đông Ba. Cửa Trường Định sát đài Trấn Bình. 9. Tức vệ quân Long Võ. 10. Cửa Hữu phía tây nam, đối diện với làng Vạn Xuân (tục gọi làng Vạn) bên kia sông. 11. Phía tây bắc thành, đối diện với làng An Hoà bên kia sông. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2016, 06:18:15 pm 680 Cửa Tả1 năm vệ Võ Oai, Chính Tây2, Hùng Nhuệ đóng đầy Thần Cơ. Phấn Nghĩa3 hai vệ chực ngừa, Thượng Tứ4 sẵn chờ hai vệ binh oai, Sai voi một thớt hai nài5, Cũng đều mẹp xuống trong ngoài hai ông6 Thuỷ sư7 mười vệ bên sông, Cũng đều tập súng8 như đồng bên ni. Hạ tuần ngũ nguyệt9 cập kỳ, Quan Tướng khi ấy vậy thì truyền ra. 690 Truyền cho trấn giữ chư nha, Ngục hình cầm cố, tù mà cũng dung. Chặt xiềng rồi lại mở gông, Tiền ban bạc phát vậy cùng ăn chơi, Binh tù khi ấy mở lời, Gẫm lại sự đời mình đặng chữ túng dung10. Mấy lâu ăn chịu mang gông, Bây giờ ra khỏi như chim lồng đặng bay. Ăn chơi mới được ba ngày Ngài11 lại ban kiếm cầm tay giữ mình. _________________________________ 1. Cửa Tả không rõ có phải là cửa Đông Ba không. 2. Cửa Chánh Tây đối diện với xóm Kim Long bên kia sông. 3. Võ Oai, Thần Cơ, Phấn Nghĩa là tên các vệ lính trong thành. 4. Cửa Thượng Từ phía đông nam thành, chạy thẳng ra sông Hương. 5. Một thớt là một con voi, hai nài là hai quản tượng quản voi. 6. Là hai con voi. Ở Huế gọi voi bằng ông. 7. Chỉ thuỷ quân đóng dọc bờ bên kia sông Hương. 8. Có bản chép: Đêm ngày luyện tập. 9. Cuối tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7.1885). 10. Có bản chép: thung dung. 11. Chỉ Tôn Thất Thuyết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2016, 06:24:07 pm 700 Ngồi tù mà đặng chữ binh, Có vàng muôn lượng chuộc mình không ra! Quan Tướng khi ấy dạy ra: "Thương kẻ hào kiệt mà sa phận tù. Thương người lý sự văn nho, Sa cơ nên phải chịu thời tài hoa. Nên chi chịu tội nước nhà, Tội thì đáng chết, khó tha muôn phần. 710 Này tôi trộm lĩnh thiên ân1, Cho ra khỏi ngục, chịu một phần thân chinh”. Nội tù lớn nhỏ cũng đành, Xin đi tiền đạo2 đến thành cự khôi. Quan Tướng khi ấy đành rồi, Về thưa thân phụ một lời đặng hay: "Cha ôi! một rủi một may, Họ hoà mặc họ, con nay không hoà! Triều đình văn vũ chư nha, Họ ưng bụng hoà với nó mà thôi! 720 Sự tình giao ước đã rồi, Bạc muôn thoi, vàng muôn lượng, vậy thời cầm sang. Giận thay một lũ Tây man, Đòi vàng đòi bạc đến nhà3 hại tôi! Thưa cùng thân phụ một lời, Nhất sinh nhất tử4 vậy thời giao công. Kẻo Tây phiên khi anh hùng, Giận thay có kẻ triều trung biểu bày. Thưa cùng thân phụ đặng hay, Tôi đã định ngày đêm hai mươi hai5 __________________________________ 1. Là ân trời, tức ân vua. 2. Là đội quân tiên phong, đi trước hết. 3. Có bản chép “sẵn sàng”. 4. Một sống một chết. 5. Tức đêm hai mươi hai rạng hai mươi ba tháng 5 Ất Dậu (đêm 4.7.1885 rạng 5.7.1885). Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2016, 06:28:26 pm 730 Đề binh việc đã yên rồi, Hăm ba nguyệt kỵ, hăm hai lấy giờ. Cha già đầu bạc như tơ, Má nhăn răng rụng chưa nhờ đặng chi. Tôi mà khôi phục thành trì, Ấn vàng chữ đỏ vậy thì sắc phong". Quan Cụ mới rõ đục trong, Nghe lời quan Tướng ròng ròng nhỏ sa: “Cha nay yếu ớt tuổi già, Không thời cha đi một đạo vậy mà với quân. 740 Trận này mà chẳng giao chinh, Một mai thái bình cự chiến làm chi?” Đành lòng phụ tử một khi, Lẹ làng binh mã hồi qui1 bộ đường. Quan quân hầu hạ chật đường, Đèn lồng đèn giỏ lên đường Hậu Bô2. Thiên binh vạn mã hải hồ3, Tôn miếu xã tắc kinh đô của mình, Lạy cùng thiên địa chư linh, Nguyện xin khôi phục Trấn Bình nước ta. Nội triều lục bộ chư nha, 750 Một mình quan Tướng với mà vũ ban4 Quân gia binh mã sẵn sàng, Phen này quyết đánh cho tan Tây thành. Quân gia lớn nhỏ triều đình, Xin đi tiền đạo tới thành giao chinh. Canh hai5 cơm gạo sắm sanh, Hai bên phường phố lạnh tanh như tờ. Canh ba dàn trận binh cơ, Canh tư lấy giờ phát lệnh giao công. __________________________________ 1. Hồi qui là đi trở về. 2. Chính là chữ Hậu Bố tiếp với cửa Hòa Bình là một khu đất rộng phía sau hoàng thành, nơi để thuốc đạn. 3. Hải hồ là biển với hồ, ý nói số đông lắm. 4. Vũ ban là hàng các quan võ. 5. Vào khoảng gần 10 giờ tối ngày 4.7.1885. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2016, 06:32:13 pm 760 Súng mình bắn đã tan tành, Tây còn ăn uống, Trấn Bình chưa ra1. Súng mình bắn đã rất xa, Bắn qua Tiên Nộn2 vậy mà hại dân. Viên cao viên thấp không chừng, Lăn qua lăn lại tới gần Bao Vinh3. Thương dân cực khổ trăm tình, Phải vây đầu đạn của mình thác oan. Lắng nghi tiếng khóc tiếng than, Tối trời mù mịt không thất đàng mà đi. 770 Thiên hạ than khóc một khi, Con thời dắt mẹ, mẹ thời bồng con. Của tiền như nước như non, Miễn trời để sống, mình còn làm ra. Thương thay những lũ vịt gà, Thương thay loài vật, vậy mà lao xao! Người chui bụi, kẻ vọt ao, Người lớn kẻ cõng, lao xao canh chầy. Tránh thân cho khỏi súng Tây, Mẹ con chạy vạy, trời rày còn khuya. 780 Lao xao như cá trong đìa, Tránh thân cho khỏi súng kia vào mình. Lạy cùng thiên địa chư linh, Nguyện xin khôi phục Trấn Bình đặng an. Giàu thì chôn bạc chôn vàng, Người chôn nồi, vạc, kẻ toan chôn tiền. Ngày sau nhà nước đặng yên, Ta về ta lấy lưu truyền hộ thân. Mình giàu còn cực tấm thân, Thảm thương cho anh thày bói chân lần tay quơ. _____________________________________ 1. Trong đồn Trấn Bình lúc đó có 900 lính Pháp mới từ Bắc Kỳ kéo vào hôm 3.7.1885. 2. Một thôn ở ven sông Hương vào khoảng giữa Huế và Thuận An. 3. Tên một làng giáp với Mang Cá về phía đông bắc. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Tư, 2016, 06:35:18 pm 790 Canh hai trời tối mịt mờ, Canh tư trăng mọc, trăng lờ bởi mây. Canh năm vắng vẻ súng Tây, Nghe tin phi báo mình nay hơn rồi! Ai ngờ nó đánh địa lôi, Nó kéo lên Trường Định, mình thời chết đi! Súng đạn đã hết một khi, Thưa cùng quan Quận vậy thì ngài hay. Quân Quận tức giận lắm thay, "Bao nhiêu thuốc đạn tao rày biết mô! 800 Bay ra sau chốn Hậu Bô, Thưa cùng quan Tướng ngài vô ngài tìm. Tao chừ thất lạc như chim, Thắng thì tao ở, bại thì tao tìm đi xa". Quan Quận khi ấy truyền ra, Truyền quân võng giá vậy mà chấp thương1 Quân gia hầu hạ chật đường, Vào thành tâu với Thánh vương những là. Đến nơi quì gối tâu qua, Tâu cùng thánh đế vậy mà vài câu: 810 "Trận này còn đánh e lâu, Xin phò thánh đế ra lầu một khi. Lánh thân cho khỏi thành trì, Kẻo bốn bề súng bắn ngó thì như tên. Bốn bề đạn bắn như tên, Ngài mà an toạ2 trong đền sao an?" Thánh hoàng nước mắt chứa chan, Lạy cùng thượng đế ngọc hoàng chứng minh. Nguyện xin khôi phục Trấn Bình, Đặng cho thiên hạ nước mình thong dong. ____________________________ 1. Chấp thương là cầm giáo gươm đi bảo vệ. 2. An toạ là ngồi yên. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Tư, 2016, 03:46:41 pm 820 Trị vì mới đặng hai đông1, Ai ngờ đế vị2 mắc vòng gian nguy. Nay mà mắc phải lâm nguy, Sự tình nông nỗi cũng vì giặc Tây! Thánh hoàng mới phán bằng nay, Gươm vàng, sách, ấn3, trận này hộ thân. Gẫm trong nhà nước phân vân, Hiển vinh chưa gặp, lĩnh phần gian nan. Loan nghi lo kiệu với tàn, Cẩm Y, Loan Giá, ngai vàng dàn ra. 830 Võ Bị, Thị Vệ, Thượng Trà Kim Ngô4 hai vệ, phò mà ba dinh5. Quân gia binh mã ròng ròng, Quan Hậu6, quan Hữu7 vậy cùng phò đi, Ra đến cửa Hữu một khi, Súng Tây nó bắn vậy thì kêu vang. Lao xao kẻ khóc người than, Gà kêu chó sủa rộn ràng như ong. Thánh hoàng8 nước mắt ròng ròng, Ai ngờ đế vị mắc vòng gian nguy. _______________________________ 1. Lên ngôi từ 1.8.1884 tính đến 5.7.1885 đúng ra chưa được một năm, nhưng đây chỉ có ý nói Hàm Nghi lên ngôi năm Giáp Thân đến năm Ất Dậu là đã hai năm. 2. Đế vị là ngôi vua. 3. Kiếm vàng, sách vàng, ấn vàng là ba bảo vật tượng trưng cho quyền nhà vua. Có ba bảo vật đó thì mới là triều vua chính thống. 4. Loan Nghi, Cẩm Y, Loan Giá, Võ Bị, Thị Vệ, Thượng Trà... là những đội lính hầu cận vua. 5. Tức ba cung là Từ Dụ (mẹ Tự Đức), Trang Ý (vợ Tự Đức và mẹ nuôi Dục Đức), Học Phi (vợ Tự Đức và mẹ nuôi Kiến Phúc cùng Hàm Nghi). 6. Tức Thự hậu quân Đô thống chưởng phủ Nguyễn Hanh. 7. Hữu quân Đô thống chưởng phủ Hồ Văn Hiển. 8. Chỉ vua Hàm Nghi. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Tư, 2016, 03:51:37 pm 840 Qua đò Kẻ Vạn1 một khi, Quan quân ai nấy vậy thì lội sông. Băng chừng vừa đến nhà Chung2 Mới hay ông Quận có lòng tà tây. Xin mời thánh thượng vào đây, Đặng tôi đình trú3 qua ngày giao chinh. Quan Hữu nghe nói tri tình, Kiếm vàng liền tuốt chỉ danh gian tà. Tay tuốt kiếm, miệng lại truyền: "Cẩm Y bay cứ băng miền phò đi! 850 Đã lánh thân ra khỏi thành trì, Vô nhà Chung đạo, như đi nạp mình”. Quan Quận nghe nói thất kinh, Vô nhà Chung đạo tránh mình ẩn thân. Quan Hầu, quan Hữu phân vân, Bách quan văn vũ giá thần không ai. Kéo lên Thiên Mụ, Chợ Mai4 Ngó về cung điện lâu đài suy vi. Mình mà mắc phải gian nguy, Sự tình nông nỗi cũng vì giặc Tây. 860 Thánh hoàng mới phán bằng nay, Làm cho hết sức phen này mới yên. Quan Hữu quì trước ngự tiền, Tâu qua thánh đế được yên những là. Bây giờ làn súng đã xa, Tìm nơi trú ngụ đặng mà liệu toan. Chừ thời thế giặc đã an5, Bước qua giờ tị6 Tây sang treo cờ. Trong thành thất lạc ngẩn ngơ, Giao chinh bốn giờ, thiên hạ suy vi. _________________________________ 1. Đò ngang qua sông Kim Long, từ cửa Hữu đi ra. 2. Nhà thờ Kim Long. 3. Dừng chân nghỉ lại. 4. Thiên Mụ là tên một ngôi chùa lớn bên tả ngạn sông Hương, cách Huế ba cây số. Chợ Mai là một chợ gần chùa Thiên Mụ. 5. Có bản chép: "Giờ thìn giặc mới phá tan". 6. Từ 9 đến 11 giờ sáng. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Tư, 2016, 03:56:12 pm 870 Đốt từ chợ Mới1 đốt đi, Hai bên phường phố vậy thì ngả nghiêng. Đốt lên đến phủ Thừa Thiên, Hai bên phường phố xem liền phân vân. Lấy kinh thành lại đốt dần, Đốt trại Long Vũ, đốt lần Tuyển Phong2. Thiên hạ ai cũng đau lòng, Cửa nhà nó đốt, nó mong hại mình. Bộ Lại cho đến bộ Binh3 Phố phường hai dãy nép mình chạy tan. 880 Bao nhiêu của cải bạc vàng, Nửa thì nó lấy, nửa thì nó đốt tàn thành tro. Đoạn đường khốn vãng khốn dò, Khen cho các đồ được của rất hung. Liều mình lấy của bỏ công, Kẻo người ăn kẻ chịu, trong lòng xót xa, Đức ông cho đến đức bà4, Phố phường quan khách, ai đà thoát thân? Gẫm trong nhà nước phân vân5, Kinh thành thất thủ, đem thân về làng. 890 Họ qua một chuyến đò ngang, Tiền đồng bạc lượng, nhiễu hàng cả cây. Ai ai cũng sợ súng Tây, Kêu đùng6 một tiếng đạn bay thấu trời. Mẹ con ai cũng chơi vơi, Kinh thành thất thủ phải rời về quê. Hai hàng nước mắt dầm dề, Cửa nhà thì bỏ, đi về tay không. Giàu thì bạc lượng tiền đồng, Sô sa, gấm nhiễu, vậy cùng bỏ đi. ________________________________ 1. Tức chợ Đông Ba bây giờ. Có bản chép là "chợ Phố". 2. Tên hai trại lính trong thành. 3. Dinh của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Sau khi đã vào thành, quân Pháp đốt hai bộ Lại và Binh cùng mọi doanh trại, khí giới, đạn dược, khói bốc ngút trời, hai ngày đêm không tắt. 4. Chỉ các ông hoàng bà chúa. 5. Có bản chép "Đông tây nam bắc xa gần". 6. Có bản chép "kêu bồng", nghĩa là gọi thuyền để qua sông. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Tư, 2016, 04:00:05 pm 900 Trời cho Tây thịnh mình suy, Quan quân chạy trước, mình thì chạy sau. Người nghèo cho đến kẻ giàu, Phố phường, quan khách, chạy sau hằng hà1. Người thì ra cửa Đông Ba, Kẻ ra An Hoà, người lại Chính Tây. Lên thành cứ việc xuống dây2, Sa cơ rớt xuống thôi thời chết oan. Trách thay quan lớn không troàn3, Trong thành thiên hạ chết oan đã nhiều! 910 Súng mình thì bắn pheo pheo, Súng Tây bắn ít, chết nhiều người ta. Kể chi của cải cửa nhà, Dắt con cùng vợ chạy ra khỏi thành. Đàn bà bỏ cửi bỏ canh, Bỏ buôn bỏ bán trong thành chạy ra, Người kêu mẹ, kẻ tìm cha, Người khóc con, kẻ tìm vợ, kẻ kêu la tìm chồng. Súng Tây nó bắn đùng đùng, Trong thành thiên hạ hãi hùng như chim. 920 Thợ may mất kéo, mất kim, Thợ rèn mất búa, mất kềm khá thương! Thợ mộc mất đục, mất tràng, Cưa bào cũng mất, khó toan lẽ gì! Thợ cưa cũng mất đà di, Kéo nhau mà chạy vậy thì mô mô! Thợ dù cũng mất hết đồ, Mất kìm, mất kẹp, lấy mô mà mần. Thợ kim bôi mất đá, mất cân, Có vàng khó thử, phân vân sự đời. _______________________________________ 1. Hằng hà sa số là nhiều lắm. 2. Từ trên thành thả dây, rồi bám dây tụt xuống. 3. Truyền. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Tư, 2016, 04:07:22 pm 930 Thợ cẩn mất vẹm hỡi ôi! Mất dao, mất ốc, sự đời khó toan! Thợ bạc mất cái mỏ hàn, Mất lò, mất bễ, khó toan lẽ gì! Thợ thiếc nghề nghiệp bỏ đi, Bao nhiêu lấy đặng một khoanh chì mà thôi! Thợ đúc mất bàng1, mất nồi. Thảm thương thợ bồi mất tượng lưỡng long2. Thợ nề mất phượng, mất rồng, Mất bai, mất búa, chửi chùng3 thằng Tây. 940 Võng thành mất thước, mất dây, Thăng bằng khó nhắm, vì Tây những là! Thợ dép mất kéo, mất da, Mất dùi, mất dép, phận đà bất nhơn4! Hãy còn một anh thợ sơn, Mất chàm, mất phấn, giận hờn thằng Tây! Thợ lọng mất lưới, mất dây, Mất đồ chằm lọng5, thấy Tây chửi ròng6! Thợ nhuộm mất cái mái xông, Mất cào, mất máng, khốn trong đạo đời! 950 Thợ thêu mất bướm, mất dơi, Mất kim, mất chỉ, sự đời thảm thương! Hãy còn thợ lược, thợ gương. Nghề nghiệp cũng mất, ra đường khóc la7! Thợ ngọc với lại thợ ngà, Kéo nhau mà chạy kêu la mất đồ! Thợ đá tìm Quảng8 mà vô, Bao nhiêu kìm búa, bỏ hồ Cầu Kho! Thợ Canh, Bái9 bỏ bễ, bỏ lò, Bỏ kìm, bỏ búa, nằm co ro một nhà10. ______________________________________ 1. Tiếng Huế chỉ cái vung. 2. Tượng lưỡng long là tượng hai con rồng. 3. Chửi trộm (chửi mà Tây không biết), có bản chép "chửi ròng". 4. Là bất nhân độc ác. 5. Chêm. 6. Chửi liên hồi. 7. Có bản chép: " Ra đường Đông Ba". 8. Quảng Nam có núi Ngũ Hành nhiều đá quí. 9. Hai làng Canh, làng Bái, đều làm nghề thợ rèn. 10. Có bản chép: "Thợ mã mất cả trách hồ; Bỏ tua, bỏ đảy mần cho một nhà". Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Tư, 2016, 08:10:44 pm 960 Thợ tiện mất sợi dây da, Bao nhiêu thớt sắt vậy mà cũng thôi! Thầy thuốc, rương, tủ bỏ rồi, Bàn nghiền cũng mất, kéo lôi sách troàn! Thầy địa1 vừa chạy vừa than, Tay thước, địa bàn, cậy mạnh thế gian. Thầy phù thuỷ mất trống mất chang2 Thầy tu mất hết đạo tràng, cổ y3. Thầy pháp mất kiếm hoàng trì4, Mỏ dâu cũng mất, lấy chi mà trừ! 970 Bàn bóng bàn tĩnh5 cũng hư! Chàng mà xa bóng, bây chừ lẻ đôi! Gia tài sự nghiệp bỏ rồi! Thảm thương anh thầy bói không biết tới lui ngả nào! Ra rồi bàn luận cùng nhau, Bao nhiêu thiên hạ lo âu về làng. Cửa nhà nó đốt tan hoang, Đem thân về làng kẻo sợ súng Tây. Quan Tướng ra cửa Chính Tây, Quan Đề Ngô, quan Chưởng Soạn ra tay anh hùng. 980 Ra tài tả đột hữu xung, Chẳng qua trời hại anh hùng phen ni! Ông Đề Soạn cưỡi ngựa một khi, Đình quân dàn đánh tại thì Anh Danh6 Rất nên hào kiệt, tài tình, Tây phiên cự chiến giao binh giữa đường. Ông Đề Ngô cưõi ngựa chấp thương7, Chém đầu phiên tặc tìm đường chạy đi. Lánh thân ra khỏi thành trì, Quan quân chạy hết, vua thì thoát thân. _____________________________________ 1. Thầy địa lý xem đất cát mồ mả. 2. Có bản chép: " Mất mõ mất tang". 3. Đạo tràng, cổ y là chữ nhà Phật chỉ áo lễ của nhà sư. 4. Kiếm làm phép của thày pháp để trừ ma quỉ. 5. Bàn thờ đồng bóng. 6. Ngã tư Anh Danh gần Hộ Thành trong thành Huế, chỗ từ cửa Đông Ba đi vào và cửa Thượng Tứ đi xuống. 7. Cầm thương. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 12:24:25 pm 990 Lấy ai chứng giám muôn dân, Đời xưa thịnh trị, trung thần mấy ông! Quan Tướng nước mắt ròng ròng: "Tưởng là hiệp chiến giao công, Khôi phục Trấn Bình nhà nước thung dung. Tôi xin thụ tội cửu trùng, Xin ngài cứu nghị với cùng cho minh! Cúi đầu tâu lại triều đình, Tôi xin phục mạng1 nạp mình thánh vương2. Tôn miếu xã tắc tan hoang, 1000 Tội tôi đã đáng tan xương bêu đầu! Sự tình kể hết mấy câu, Tôi phải nạp đầu tự vẫn trận ni. Tây phiên chiếm hãm thành trì, Trước thẹn thùng với đạo, sau hổ thì với Tây! Thất cơ phải chữ lạc loài, Trở về cung điện, đạo với Tây cũng cười". Phân bua thánh thượng hết lời, Vừa hay thân phụ3 băng đồi chạy ra. "Ơn trời con lại gặp cha 1010 Tưởng là mắc phải lâu la trở lòng. Cha con nghĩ lại đục trong, Băng miền tếch dặm Sơn phòng náu nương. Miễn là phò đặng đế vương, Trung thần nghĩa sỹ, thế thường lưu danh. Tây phiên nó đã hãm thành, Phò theo chân chúa vậy cùng toàn danh. Chú nào con vợ chưa thành, Cho về sở định sở sanh4 việc nhà. Chú nào lưa mẹ5 còn cha, ________________________________ 1. Là trói mình nhận tội. 2. Sau cuộc phản công quân Pháp đã thất bại, Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn, Tôn Thất Lễ cuối cùng rút khỏi kinh thành, rồi chạy theo xa giá, rước tạm nhà vua về nghỉ tại Trường Thi (xã La Chữ, cách kinh thành 10 cây số), sau đó cả đoàn lại lên đường chạy ra Quảng Trị. Đề đốc Ngô Tất Ninh cũng chạy ra đến nơi hành tại. 3. Chỉ Tôn Thất Đính. 4. Sở định, sở sanh là nơi quê hương. 5. Lưa mẹ là còn mẹ (tiếng Huế). Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 12:30:03 pm 1020 Cho về bảo dưỡng, vậy mà đừng đi! Tôi nay thân phụ vậy thì, Lòng ôm chữ hiếu, đã ghi chữ tòng. Phò vua lấy một chữ trung, Trời cao, bể rộng, non bồng phải đi". Kể từ ở chốn Trường thi1, Băng miền tếch dặm ra đi Sơn Phòng2. Quan Tướng nước mắt ròng ròng Bao nhiêu cung điện vậy cùng mặc ai. Thánh thượng nước mắt láng lai, 1030 Ra đi mới bỏ lâu đài kinh đô. Dẫn quan Tướng, quan hữu Hồ3, Tới nơi Văn Xá4 ghé vô ngoại từ5. Chẳng qua Nam Việt thời hư, Ghé vô ngoại từ cáo quá6 tổ tiên. Cơ chi7 nhà nước lặng yên, Thường năm cúng tế tổ tiên lâu dài. Băng miền ra chốn sơn đài, Thượng cầm hạ thú8 ai ai cũng thường. Bốn bề thiên hạ9 đều thương, _____________________________________ 1. Tại xã La Chữ, phía bắc thành Huế. 2. Miền núi Quảng Trị, ở đấy Tôn Thất Thuyết đã cho xây đồn Tân Sở định kế lâu dài chống Pháp. 3. Tôn Thất Thuyết và Hữu quân Đô thống Hồ Văn Hiến. 4. Làng ngoại của Tự Đức, cách Huế 12 cây số, trên đường ra Quảng Trị. 5. Ngoại từ là nhà thờ tổ tiên họ ngoại. 6. Cáo quá là xin lỗi. 7. Cơ chi là nếu như. 8. Nơi rừng núi, trên thì chim, dưới thì thú. 9. Có bản chép: " Thiên hạ ngó thấy...”. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 12:34:13 pm 1040 Ai ngờ đế vị thánh vương mắc nàn! Quan Tướng đặt gối tâu sang: "Tâu cùng thánh đế rõ ràng đặng hay. Bề nào chẳng đặng ở đây, Thì ta định tính1 coi ngay xuất hành2. Trung thần đáo đến rừng xanh, Cơ chi lòng nịnh, chẳng bỏ thành mà đi! Nay mà mắc phải lâm nguy, Quân thần phụ tử lên thì non cao. Sự tình kể chẳng xiết bao, 1050 Đường đi lên Mọi qua Lào còn xa! Đến nơi cung quán tam toà3, Đá ngồi thế bệ cho qua trận phiền4. Cực rồi cũng bởi Tây phiên, Nên quân thần phụ tử phải băng miền ra đi. Tâu qua thánh thượng một khi: Tam cung thị nữ vậy thì cho lui. Kẻo đường lên núi xuống đèo, Khúc quanh, khúc vạy, tới lui khó dò. Đá thì viên nhỏ viên to, 1060 Bốn bề khe núi nhấp nhô rộn ràng. Rừng xanh không xóm không làng, Chim kêu, vượn hót rộn ràng lắm thay5! Mình đi không kể đêm ngày, Sợ hổ lang đón nẻo, thương thay phận đàn bà". Thánh thượng nước mắt nhỏ sa, Phân với thánh mẫu cùng là tam cung: "Nay tôi chừ cách bệ rồng, Bà về trướng phượng tại cung điện đài. Phụng thờ tiên đế hôm mai, _______________________________________ 1. Có bản chép là "giở lịch". 2. Xem ngày tốt để ra đi. 3. Làm nhà tạm. Có bản chép: "bẻ lá làm nhà". 4. Lấy đá để ngồi thay cho bệ rồng. Qua trận phiền: qua cơn buồn. 5. Có bản chép: Rừng hoang lạc loài. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 12:38:51 pm 1070 Tôi nay đành phận lạc loài rừng xanh! Huyền Tôn xưa cũng bỏ thành1 Vì chưng Tạ tặc2, tiếng còn lưu danh. Chẳng qua Nam Việt mình hư, Nên bà xa cháu, mẫu từ xa con. Cơ chi tôi ở đặng lầu son, Trị vì thiên hạ tiếng còn thơm danh. Bà mà trở lại kinh thành, Ví mà nó tra, nó khảo, chớ xưng danh tôi nơi nào. Tôi băng miền lên chốn non cao, 1080 Bắt quân Mọi dẫn lộ qua Lào, sang Xiêm. Bề nào nó cũng tích hiềm3, Kẻo Tây phiên phản tặc nhất tâm hại rồi". Phân qua nói lại chưa rồi, Tam cung thị nữ ròng ròng nhỏ sa. Thánh mẫu nước mắt hằng hà: "Nhất sinh nhất tử, mẹ mà cũng theo con. Dẫu mà lặn suối trèo non, Lên ghềnh xuống hố, mẹ con dắt dìu. Lâm nguy chịu chữ quạnh hiu, 1090 Trở về cung điện, buồn thiu là buồn". Thánh thượng nước mắt nhỏ tuôn: "Mẹ ơi, mẹ hỡi, đừng buồn làm chi! Xin Bà trở lại thành trì, Tôi phê quan Hậu4 phò thì tam cung". Quan Hậu trở lại đình trung, Bách quan văn vũ hội đồng phò đi. Đi theo với đức Hàm Nghi, Quan Tướng, quan Đề Soạn với thì Đề Ngô. Ngũ đẳng có quan Hữu Hồ5 _____________________________________ 1. Đường Minh Hoàng bị loạn An Lộc Sơn phải bỏ kinh đô chạy vào đất Ba Thục (tức vùng Tứ Xuyên, Trùng Khánh của Trung Quốc bây giờ). 2. Tạ tặc phải chăng đây muốn chỉ nịnh thần Tạ Ôn Đình trong vở tuồng Sơn Hậu, rất được đồng bào khu 5 mến chuộng. Đây chỉ chung bọn gian thần nghịch tặc. 3. Chất chứa căm giận trong lòng. 4. Hậu quân Đô thống Nguyễn Hanh. 5. Hữu quân Đô thống Hồ Văn Hiển chỉ huy quân dinh thứ năm. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 04:01:50 pm 1100 Ngài làm thị vệ thuở mô đến chừ. Chẳng qua Nam Việt thời hư, Quân thần, phụ tử, lên chừ rừng xanh, Thổ thần trong chốn rừng xanh, Bao giờ khôi phục đặng chốn thành kinh đô. Phen này kẻ Hán người Hồ1, Thâm sơn cùng cốc tới mô nhờ trời. Quan Tướng khi ấy ngỏ lời, Nói cùng dinh vệ, vậy thời đặng hay: "Ra đi không kể đêm này, 1110 Lên ghềnh, xuống hố khổ thay những là! Chú nào lưa mẹ, còn cha, Thương con, nhớ vợ, vậy mà cho lui. Ra đi thì nói cho xong, Đi thì bạc lượng tiền đồng Ngài ban. Phen này, bỏ họ bỏ làng, Bỏ con bỏ vợ, băng ngàn phò vua. Mấy đời sãi nó bỏ chùa, Mình mà giúp nước giúp vua hết lòng". 1120 Giã từ2 y ước đã xong, Băng miền tếch dặm sơn trung những là. Lại đình lưu trú rừng xa, Mọi Mường các Mán nó ra trùng trùng. "Sơn lâm cùng cốc lạ lùng, Các người gian thế3 lên sơn trung việc gì?” 4 Ông huyện, ông tổng tâu quỳ, "Dương thế nói thực, Mọi thì đặng hay". "Tao nói cho Mán bay hay, Quốc vương thuỷ thổ xưa nay nước mình. ___________________________________ 1. Kẻ Hán người Hồ là người thì ở nước Hán, người thì ở nước Hồ; ý nói hai bên xa cách nhau. 2. Từ biệt nhau mà đi xa, còn có nghĩa là trả lời. 3. Chính chữ là thế gian, chỉ ngưòi vùng xuôi. 4. Sau khi rước vua ra Quảng Trị, Tôn Thất Thuyết thấy nơi đó trống trải và gần kinh đô dễ bị quân Pháp uy hiếp, nên ngày 27 tháng 5 năm Ất Dậu (9-7-1885) lại rước vua lên sơn phòng Quảng Trị. Rồi lại dẫn vua chạy ra phía Bắc, định bắt liên lạc với phong trào văn thân đang sôi nổi tại Thanh Nghệ Tĩnh và Bắc Kỳ, nhưng bị quân Pháp đổ bộ chặn đường. Ngày 15 tháng 6 năm Ất Dậu (27-7-1885) theo đường thượng đạo vượt đèo Mai Lĩnh đến trấn Lao Bảo, rồi đi qua Bản Kiên, Hàm Thao ra đến sơn phòng Hà Tĩnh. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 04:08:43 pm 1130 Đức Gia Long trước có phục tình,
Viện Tây1 khôi phục nước mình thành đô. Mênh mông thế giới hải hồ, Nợ cha con trả, biết đời mô cho rồi? Chẳng qua tiên đế2 về trời, Nó chiếm lấy đất, vậy thời kéo sang. Đầu thì nó lấy Thuận An, Nó bắn nó giết, quân quan chẳng còn! Nước mình đắp luỹ làm đồn, Nó phá đi tan nát không còn chút chi! 1140 Kinh thành nó cũng lấy đi, Phải phò ấu chúa3 vậy thì lên đây. Ra đi không kể đêm ngày, Kiếm nơi đình trú luận bày mưu có. Cậy cùng các Mán Cà Lơ4, Làm nhà cư trú bây giờ cho mau!" Ầm ầm các Mán kêu nhau, Làm nhà cư trú cho mau tức thì! Thượng hoàng ban hỏi một khi: "Quốc vương thuỷ thổ đây thì xứ chi?” 1150 Ông huyện, ông tổng tâu quỳ: "Địa đầu Mai Lĩnh5 thực thì nơi đây. Tâu lên thánh thượng đặng hay, Phần đất Hà Tĩnh dãy này sơn trung6". Sơn lâm cùng cốc lạ lùng, Mọi xin vô phép bẩm xong một lời: "Hay là săn bắn ăn chơi? Quả thật vua trời đem ấn ra so! Rõ ràng cho biết căn do Tuy là7 Mường Mọi, phò vua cho tường"8. ____________________________________ 1. Dựa vào thế lực của giặc Pháp. 2. Chỉ vua Gia Long. 3. Vua còn trẻ tuổi. Năm 1885 Hàm Nghi mới có 14 tuổi. 4. Người thiểu số vùng Trị Thiên là người Cà Lơ. 5. Một quả núi vùng thượng du Quảng Trị, tiếp giáp Lào, nằm trên con đường từ sơn phòng Quảng Trị đến Lao Bảo. 6. Giữa vùng núi. 7. Có bản chép: "để cho". 8. Cho rõ ràng, chính xác. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 04:18:36 pm 1160 "Đầy đủ các Mán Mọi Mường, Tao cho khai khán rõ ràng quốc gia. Chúng bay cống thuế nước nhà, Chiếu bằng vi lệ1, thuở mà đến nay. Một thì đem ấn ra đây, Tao cho khai khán biết rày đục trong!" "Dạ dạ các Mán tôi cũng ưng lòng, Thà cho hẳn sự cái vòng gian ngay!" "Bằng Bộ, ấn Phủ có đây, Hai ấn như một khổ thay nhưng là! 1170 Lấy ai chứng giám quốc gia, Vua trời thất lạc, vậy mà lên đây!" Ra đi không kể đêm ngày, Lên ghềnh xuống hố, khó lòng thay nhưng là! Hai hàng nước mắt nhỏ sa, Nam giao xã tắc há mà về Tây! 2 Quân thần phụ tử đi đây, Long An, Bảo Định3 phen này sanh sơ Tả miếu, Hữu miếu ai thờ? Hiền Lương, Trung Nghĩa bây giờ quạnh hiu4 1180 Làm chi cây ngã dập dìu Văn Thánh, Võ Thánh5 buồn thiu đã rồi! Miệng kêu ba tiếng hỡi trời! Bây chừ lăng điện vậy thời cũng xa! Công thần Lịch đại6 ông bà, Hương tàn ban lạnh thực đà thảm thương! Trung thần hết sức phò vương, Quan Hữu7, lâm bệnh giữa đường khó toan. Đêm ngày thuốc thuốc thang thang, Quan hình sát sắc8 khôn toan khó lòng. _____________________________________ 1. Chiếu bằng vi lệ là theo giấy tờ làm thể lệ từ xưa đến nay. 2. Đời xưa vua tế trời tại đàn Nam Giao đắp ở phía nam kinh thành. Xã tắc là nơi vua tế thổ thần và cốc thần. Mấy chữ Nam Giao xã tắc đây dùng để chỉ quốc gia, nhà nước. Có bản chép "thôi đã về Tây". 3. Điện Long An và cung Bảo Định là hai nơi thờ cúng trong hoàng thành. 4. Có nghĩa là tiêu điều vắng vẻ. 5. Tả miếu, Hữu miếu, Hiền Lương, Trung Nghĩa, Văn Thánh, Võ Thánh, Công thần... là tên các nhà thờ, các miếu trong thành. 6. Tên các nhà thờ, các miếu trong thành. 7. Hữu quan Đô thống Hồ Văn Hiển. 8. Là xem hình dạng và xét sắc mặt để đoán bệnh tình. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 04:22:44 pm 1190 Bộ người e ngó không xong, Người qua không khỏi, phiền lòng bách quan. Chiêm bao giấc điệp mơ màng, Vong hồn quan Hữu hiện thở than mấy lời. Kêu rằng: "Này Quan Tướng ôi, Xin ngài gắng sức phò thời đế vương. Lâm câu bán lộ1 nửa đường, Bất trung thiên tử đế vương phen này. Phò vua từ thuở đến nay. Lâm tay phiên tặc khổ thay nhưng là! 1200 Quản bao con vợ, cửa nhà, Lòng trung phò chúa cho qua trận này. Tôi nói quan lớn đặng hay, Lâm câu số hệ2 gửi thây phận già". Trong mình nước giải tuôn ra, Chân tay chính mạch thôi đà lạnh tanh! Hồn quan Hữu hiện đêm thanh, Đương khi bán lộ sao đành lúc nguy. "Lúc nguy ngài bỏ đành đi, Ai phò ấu chúa cùng thì với tôi. 1210 Ngài đà yên phận đi rồi, Truyền quân mai táng vậy thời cho yên. Bề nào hồn cũng thăng thiên, Trung thần toàn đạo một nguyền3 vua tôi. Bây chừ mai táng đã rồi, Gửi cho các Mán vậy thời ở đây, Dặn cho các Mán bay hay, Thường năm cứ một ngày này khói hương. Trung thần toàn đạo phò vương, Nay chừ phận bạc, giữa đường không ai. _____________________________________ 1. Bán lộ là nửa đường. 2. Số mệnh đã hết. 3. Có bản chép: "một niềm". Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 04:27:50 pm 1220 Ngày sau con cháu chi ngài, Đăng miền đáo xứ1 bắt khai tỏ tường. Thiệt người thân thích bản hương2, Rồi cho khai khổ sở đương cốt hài” 3 Các Mán đều cất vào tai, Y như chi tiết không sai chút gì! Hai hàng nước mắt dầm dề, Đi ra chưa biết đi về nước mô! Thảm thương quan tướng Hữu Hồ. Đời nào cho thấy kinh đô nước làng. 1230 Băn khoăn đường nọ khôn sang, Truyền cho quân Mọi đón đàng Ngài đi. Chim kêu vượn hót sầu bi4, Đêm nằm nghe tiếng tử qui5 kêu sầu. Đặt chân gần đất Cửu Châu6, Lão bà7 cam bệnh đau đầu húng hê8 Hai hàng nước mắt dầm dề: "Sao mà mẹ ốm không hề nói chi? Chừ thì mẹ muốn ăn gì? Cơm hay là cháo, mẹ thì nói ra! ______________________________________ 1. Đáo xứ là đến nơi. 2. Cùng một quê hương. 3. Mở quan tài bốc lấy hài cốt. Có bản chép "Khai khán sửa đương". 4. Có bản chép: "bốn bể". 5. Là con chim cuốc. Sách xưa kể chuyện vua Thục mất nước hoá thành chim cuốc, tiếng kêu quốc quốc nhắc tới nước. 6. Tên một làng thuộc địa phận tỉnh Savannakhet (nước Lào). Tôn Thất Thuyết tới Cửu Chân ngày 2-8-1885. 7. Là mẹ Tôn Thất Thuyết. 8. Có bản chép: "mệt mê”. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:23:37 pm 1240 Lạy cùng thiên địa ông bà, Lạy trời1 phù hộ cho qua trận này. Kẻo mà bối rối lắm thay, Phần thì mẹ yếu, phần lo Tây hậu đoàn2. Hai bề tấn thối lưỡng nan3, Đặng trung mất hiếu, khôn toan nửa chừng. Truyền cho cháu là đội Sừng, Coi phong mà lể4 sau lưng cho bà. May chỉ cảm nhẹ thì qua, Hổ đầu kim đính5 lấy xoa tức thì. 1250 Mấy lời dặn lại tôi đi" Đội Sừng là cháu kêu bà bằng o. Phen này mẹ Hán con Hồ, Thâm sơn cùng cốc, bề mô lưỡng toàn. Lạy cùng thiên địa thánh hoàng, Tôi xin cùng thánh chúa băng ngàn qua Xiêm6. Không phân sai7 mà chứng những thêm, Cơm cháo không nuốt sáu đêm ngày trời. Nằm nghe bà cụ ngỏ lời: "Đội Sừng mi cháu, mi ơi đội Sừng! 1260 Tao mang câu bán lộ nửa chừng, Xin mi cấp táng, mi đừng phụ vong. Bao nhiêu bạc nặng bông vòng8, Giao mi phụng thủ9 nội trong rương này. Chừ còn một mặt mi đây, Thành đô khôi phục còn chờ ngày sau. Ví mà chén muối bát cơm, Cô đi thúc phụ cúng đơm cho nhờ. Người chừ còn mặt mi đây, Thằng hai, thằng trưởng bị vây phương nào. _______________________________________ 1. Có bản chép: "Xin ngài”. 2. Đuổi theo đằng sau. 3. Tiến lui hai đường đều khó. 4. Dùng kim châm cứu nặn ra máu độc theo kinh nghiệm trị cảm của nhân dân miền Trung. 5. Hổ đầu kim đính là một thứ thuốc cảm trị bệnh phong. 6. Tôn Thất Thuyết dẫn vua Hàm Nghi chạy sang nước Lào tới vùng Mường Mahasay giáp Quảng Bình, lúc đó thuộc quyền cai trị của phong kiến Xiêm. Sau đó dời về vùng Bản Tong cũng thuộc đất Lào, cho hết mùa mưa mới vượt đèo Qui Hợp tới sơn phòng tỉnh Hà Tĩnh vào khoảng cuối tháng 8-1885. 7. Không giảm bớt. 8. Tiền bạc, hoa tai, vòng xuyến là đồ trang sức của phụ nữ. 9. Giữ lấy. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:29:27 pm 1270 Thằng hai, thằng trưởng bị vây, Sinh ra quốc biến1 có tay trở lòng. Ông Trương Văn Để2 triều trung, Ông Đinh Tử Lượng3 phản lòng lúc nguy. Gian tà trời để làm chi? Cái quân phản tặc lúc ni khác loài. Ăn cơm ai, mặc áo ai, Trở lòng phản chúa, ra loài khi quân". Hai hàng nước mắt rưng rưng, Đêm khuya bà cụ, đội Sừng thở than. 1280 "Bao nhiêu thuốc tán thuốc hoàn, Đổ vô mấy cũng nằm ngang yết hầu. Cháo cơm đã bỏ từ lâu, Tôi kêu ba tiếng, bà lắc đầu không biết chi! Tứ chi4 khuyết lạnh đi rồi! Con mắt đứng nhỡn5 mồ hôi ướt đầm. Ở nhà thảo mộc, cao sâm, Nay đà thất lạc sơn lâm làm vầy! Tôi xin ký táng o đây6, Dắt dìu bà Tướng7 hoạ may gặp Người!" 1290 Sơn lâm cùng cốc non đoài, Nguồn cao nước độc, tối mai dắt dìu. Dắt dìu bà Tướng lâu ngày, Bà phát bệnh thũng, chân tay nặng nề. Bà nằm một chỗ li bì, Bước qua thu tiết mưa về mù sa. "Ôi chú ơi! Chồng tôi thất lạc đi xa, Trước sau nhờ chú, thế không qua đã rồi. Tuy là o chú mẹ tôi, Con o con cậu mới một đời sinh ra. ______________________________________ 1. Là việc biến cố tai hoạ xảy ra trong nước. 2. Có bản chép là Trương Đăng Đệ, nhưng xét ra không đúng. Mà chính là Thự Tham tri Trương Văn Để, sau bỏ vua theo Tam cung về Huế. 3. Có bản chép là ông Đinh hoàng tử thì không có nghĩa. Đây là Thự tả quân Đô thống Đinh Tử Lượng, sau bỏ vua theo Tam cung về Huế. 4. Bốn chân tay. 5. Con mắt không còn chớp được nữa. 6. Chôn cất. 7. Vợ Tôn Thất Thuyết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Tư, 2016, 08:32:52 pm 1300 Bề nào thế cũng không qua, Bà già chết trước, dâu mà chết sau1 Trời đày suối hiểm non cao, Lâu ngày nhiễm bệnh xông xao phận đàn bà2. Kể từ thất thủ chạy ra, Chồng Nam vợ Bắc, biết ông già nơi nao! 3 Thánh hoàng không biết làm sao, Quân gia binh mã không biết đến Lào hay chưa? Trận này ai chết ai lưa? Tai ương như thế, không chừa ai ra. 1310 Đô thành quan Quận giao hoà, Điều hơn lẽ thiệt, nói mà với Tây Tây phiên gẫm vẫn giận thay! Đem lòng cự chiến còn đến đây làm gì? May mà Nam Việt buổi tặc suy, Mà Tây bại, đạo phen ni cũng không còn! Người mà phiêu lạc núi non Bao nhiêu nhà cửa chẳng còn ở đâu! Tây phiên thất thủ thụ đầu, Hàng lai Nam Việt, mảnh âu chẳng lành. 1320 Tây phiên trở lại Tây thành, Ở đây xấu tiếng bia danh đã rồi. Họ không cho đâm nhánh mọc chồi, Trăm dao xẻo thịt thả trôi sơn hà". ___________________________________________ 1. Ý nói mẹ Tôn Thất Thuyết đã mất trước ở dọc đường. 2. Có bản chép: "hư hao đàn bà". 3. Có bản chép: "Không biết ông gia thế nào", tức không rõ tin tức Tôn Thất Đính là thân sinh Tôn Thất Thuyết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:50:09 pm PHẦN THỨ BA Quan Quận khi ấy nói qua, Nói cùng Đại Pháp chư nha phiên trào: "Tây phiên đáo đến Nam trào1 Có lời y ước phỉ nguyền hoà giao2. Tây phiên lại với Nam trào, 1330 Tôi mà ăn ở không sao xót tình. Chừ nay sinh sự sự sinh, Cũng vì ông Tướng dĩ binh vi cường3 Đánh cho thiên hạ bại suy, Tôn miếu xã tắc vậy thì còn chi? Đánh cho thiên hạ suy vi, Người thì không mẹ, kẻ thì chết cha4, Người thì chết cửa An Hoà5, Người không con, kẻ không vợ, khổ mà sinh sơ. Ông bà không chốn phụng thờ, 1340 Vô phương sinh lý6 trời ơi hỡi trời! Người qua Nam Việt mà chơi, Chư hầu mười tám nước đến nơi sum vầy. Sắm sanh yến ẩm bằng nay, Xin cùng Đại Pháp bắt tay giao hoà". Quan một cho đến quan ba, Quan năm, quan sáu7 vậy mà cũng nghe. Đòi triệu các quan tỉnh về, Sự tình y ước, ra bề đục trong. Tin thời dạ hãy còn phòng, ____________________________________ 1. Triều đình nước Nam. 2. Ý muốn nói giặc Pháp sang ta là vì có đính ước giao hòa từ xưa. 3. Dùng biện pháp quân sự làm đầu, gây sức ép. 4. Có bản chép: "không cha". 5. Tên một cửa thành phía tây bắc. 6. Không còn cách sinh sống làm ăn. 7. Các chức quan võ trong quân đội Pháp. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 09:55:04 pm 1350 Nam triều tể tướng nó đem lòng phục binh. Quan Quận trở lại triều đình, Triệu các quan tỉnh lai kinh1 lo lường. "Đông tây nam bắc tứ phương, Triệu quan các tỉnh sửa sang nước nhà. Có quan tổng đốc tỉnh Hà2, Người cống Hồ, cống sứ, đem Tây về tỉnh Đông3. Nay Tây thịnh lấy thành trung, Phải triệu về y ước hội đồng hoà giao. Bao nhiêu thuế lệ thấp cao, 1360 Đông tây nam bắc chốn nào đặng hay. Sắm sanh yến tiệc bằng nay, Xin cùng Đại Pháp bắt tay giao hoà". Quan một cho đến quan ba, Quan năm, quan sáu, giao hoà không xong. Bách quan văn vũ hội đồng, Sai quân ra chốn sơn phòng triệu đức Hàm Nghi. Ròng ròng binh mã đều đi, Ra đến địa đầu Mai Lĩnh, người hòng đi qua Lào. Bốn bề suối hiểm non cao, 1370 Người tìm qua Lào có Mọi đưa sang. Mấy lời đã dặn rõ ràng, Có quân hậu đoàn thì cũng đừng đưa4 Mấy lời đã dặn thuở xưa, Có quân hậu tiếp5 đừng đưa khổ lòng! Đồ này6 e nói không xong, Hồi triều thưa lại đục trong rõ ràng: "Quân tôi lên hỏi Mọi Mường, Nó thì khai hết rõ ràng đục trong. Đục trong nó nói rõ ràng, __________________________________ 1. Trở về kinh đô Huế. 2. Chỉ Nguyễn Hữu Độ, lĩnh chức Tổng đốc Hà Nội từ tháng 2-1885. Một tay thân Pháp quyết liệt hồi đó, được Pháp gọi về Huế ngày 28-7-1885. 3. Tức Hà Đông, lúc đó Hà Nội còn thuộc Hà Đông. 4. Tôn Thất Thuyết trước khi ra Bắc đã dặn đồng bào thiểu số ở địa phương sau này có quân quan đuổi theo thì đừng dẫn đường. 5. Đuổi theo phía sau. 6. Bọn này, lũ này, có ý khinh bỉ. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:01:59 pm 1380 Nên chi vin nẻo tìm đường trở lui. Ba phen chẵn chẵn đôi đôi, Người thì ưng tiến, kẻ ưng lui về thành. Bốn bề khe suối rừng xanh, Chim kêu vượn hót trên cành líu lo. Bốn bề chim hót, vượn hò, Vừa gặp quan Cụ1 đương đi hậu đoàn2 Thưa qua quan Cụ rõ ràng, Ở nơi Thương Bạc3 có các quan hội đồng. Có quan tổng đốc Hà Đông, 1390 Sai quân lên sơn phòng triệu đức Hàm Nghi. Ròng ròng binh mã kéo đi, Tới địa đầu Mai Lĩnh, Ngài đi qua Lào. Bốn bề suối hiểm non cao, Ngài tìm qua Lào, quân phải lui đây. Chừ mà đã gặp người đây, Xin người trở lại cùng về với quân". Hai hàng nước mắt rưng rưng, Bảy mươi chưa khỏi cái tuần lâm nguy. Nay ta trở lại thành trì, 1400 Bề nào tra hỏi4 vua đi phương nào? Ta lui Thương Bạc tại triều, Nó có tra hỏi, bề nào ta cũng nói ra. Triều đình, Đại Pháp chư nha, Đều mừng quan Lão vậy mà phương phi. Con ngài làm được chức chi? Ngài ngó thuần hậu, phương phi tóc dài. Chẳng biết quan Cụ là ai, Ông già quan Tướng thử thời5 làm sao? "Con tôi chức lớn, quyền cao, _________________________________ 1. Tức Tôn Thất Đính là thân sinh Tôn Thất Thuyết. 2. Đoàn phía sau. 3. Từ 1875 là nơi đón tiếp sứ thần ngoại quốc, nằm trên tả ngạn sông Hương, xế cửa Thượng Tứ. Sau ngày 5-7-1885 là nơi ở của Nguyễn Văn Tường, và là nơi hội họp của tướng tá Pháp và triều đình. 4. Có bản chép: "Họ cũng hỏi”. 5. Bây giờ. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:06:52 pm 1410 Đảm đương việc nước trong trào chính minh. Đường quan chức tước triều đình, Tôi là quan Cụ thân sinh dưỡng bào1 Lòng trung phò chúa qua Lào, Tôi đây sinh tử bề nào quản chi! Sinh ra cái lúc lâm nguy, Vua còn thất lạc, huống gì là tôi! Tôi thưa Đại Pháp một lời, Tôi không điều ác, dở thời tôi mang. Chữ rằng: nhất cửu đa đoan2 1420 Tôi nay ăn nói như quan cựu trào3". "Triều đình phải nghĩ làm sao, Ông quan cựu trào mà nói đa ngôn. Cọp thác mà da hãy còn, Bắt cha ở đấy thì con phải về!". Hai hàng nước mắt dầm dề, Bao chừ khôi phục con về thăm cha! Triều đình Đại Pháp chư nha, Đến mừng quan Cụ về mà nước đây4. Việc triều lớn nhỏ từ nay, 1430 Đều có Đại Pháp với các quan đây hội đồng. Có quan tổng đốc Hà Đông, Hiệp nghị hội đồng có người tức vị5 lên ngôi. Hiệp nghị khi ấy đã rồi, Lựa trong hoàng điệt cùng thời hoàng huynh6. Bách quan văn vũ triều đình, Xem ngày tức vị thái bình đã xong. Quan Nguyễn7 khi ấy tỏ lòng, Nói cùng quan Quận đục trong rõ ràng: "Ơn trong thiên hạ thánh hoàng, _____________________________________ 1. Nuôi nấng từ lúc còn là bào thai. 2. Lâu ngày sinh ra nhiều chuyện. 3. Triều đại cũ, chỉ vua Hàm Nghi. 4. Có bản chép: "Quan tới nơi này". 5. Lên ngôi vua. Đồng Khánh lên ngôi ngày 14-9-1885. 6. Cháu và anh vua. 7. Tức Nguyễn Hữu Độ. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:12:09 pm 1440 Không dè mắc phải nịnh gian biểu bày". Quan Quận dở chiếu1 trao tay, "Do hà2 quan Nguyễn nói ai rày nịnh gian? Tôi mà có bụng nịnh gian, Trời đày xuống ngục suối vàng đã lâu. Chừ chi sinh sự với nhau, Lấy xưa mà giận, trời đâu để đời!" Tâm xà khẩu Phật3 nực cười! Người đà sinh sự, người thời phải không? Làm quan tể tướng triều trung, 1450 Mà người sinh sự khiến lão Vong thanh bình. Người mà sinh sự sự sinh, Khiến lão Vong thanh bình đáo đến hại tôi! 4 Vừa ra, nó đã tới tôi, Tưởng tình sư đệ5, tôi kêu thời vào dinh. Nó vô chịu tội với mình, Nó lại khai khổ sự tình đục trong. Hai người6 y ước dự đồng, Bách quan văn vũ ngó cùng vô tri7, Tôi vô đây, quan Tướng sai đi, 1460 Với lại quan Quận cả thì hai ông. Hai người y ước dự đồng, Sai tôi đến chốn tỉnh Đông tức thì, Đến nơi khiến hai ngài đi, Vào thành cho chức, bạc thì người ban, Lão nói đương đói khát cơ hàn, Lão tham tài tham chức, khó toan đạo thày trò. Lão ra đây nửa sợ nửa lo, Chi bằng việc thực thày trò nói ra. Triều đình Đại Pháp chư nha, _____________________________________ 1. Bài chiếu là lời của vua. 2. Là tại làm sao? Bởi làm sao? 3. Ngoài miệng thì nói lời tử tế mà trong bụng rất ác độc. 4. Không hiểu lão Vong là ai ? Theo tài liệu để lại thì vì thấy Nguyễn Hữu Độ thân Pháp nên Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phái hai người thủ túc tên là Chữ và Trang ra Hà Nội tìm cách giết Độ, nhưng bị lộ. 5. Tình thầy trò. 6. Tức Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. 7. Không hay biết gì cả. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:17:15 pm 1470 Cho tôi thưa chuyện quan Quận vậy mà đục trong. Ngài làm tể tướng triều trung, Mà sinh sự khiến lão Vong thanh bình. Ngài mà sinh sự sự sinh, Khiến lão Vong thanh bình đáo đến hại tôi. Nó ra vừa đã đến nơi, Nó mê tâm say tạng, nó thời nói ra. Đội hầu tôi mới báo bôn ba, Ra hỏi thời nó khiến mà vào đây! Trong dinh quan lớn đòi thầy, 1480 Hà vào xướng xuất giải khuây đồ bà, Hoang mang sách của bôn ba1 Vào dinh bẩm lại thưa qua chuyện này. Đội Vong, mi tỉnh hay say, Do hà cấp sự2 ra đây việc gì? "Tôi ra quan Quận sai đi, Lại với quan Tướng kể thì hai ông. Hai người y ước dự đồng, Sai tôi ra tại tỉnh Đông những là. Sự tình tôi đã nói ra, 1490 Lạy Ngài tha chết, giết tha cũng nhờ. Sự tình trong gói, trong tờ, Lạy Ngài tha giết, tôi nhờ phen ni. Này chừ con đã ra đây, Con ở lại đó, việc hay trời đền, Bao giờ chỉ triệu3 con về với ông". Thương thì dạ hãy còn phòng4, Truyền cho lính nó liền gông với cùm. Mày mò mảy chút nửa đường, Bất đắc kỳ tử5 khôn cần diện hoa. ________________________________ 1. Chạy đi chạy lại, từ nơi này tới nơi khác. 2. Vì việc gì gấp. 3. Chỉ là chỉ dụ của vua, triệu là mời về. 4. Đề phòng sợ bị phản. 5. Không phải vì đau ốm mà chết. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:24:17 pm 1500 Thưa cùng Đại Pháp chư nha, Trong triều quan Quận trở ra phản thần. Đại Pháp phải xét cho cân, Người mà phản thần nhiều kẻ chết oan. May ra phụ trái tử hoàn1, Hay thì chớ để nịnh gian trong trào. Trong trào có kẻ nịnh gian, Tiêu hao mạch nước, không an nước nhà. Thưa cùng Đại Pháp chư nha, Mời về bên nước Lang Sa hội đồng. 1510 Quan quân binh mã dự phòng, Xin về yến tiệc hai ông xuống tầu2. Xin mời yến tiệc hai ông, Mời về bên nước hội đồng Lang Sa. Gẫm trong nhà nước phân vân, Năm Mậu Tuất3 Đại Pháp đánh lần thuế thân. Nam triều đình thần phải nghĩ làm sao? E dân Nam trào lắm kẻ suy vi. Nam Ngãi4 cho đến Bắc Kỳ, Thừa Thiên lục huyện5 phen ni không từ 1520 Chẳng qua Nam Việt mình hư, Chốn mô không từ, e đánh thuế thân, Phán cùng văn võ đình thần Phải thương6 qua nói lại cho phương dân7 nó nhờ. Dân tình đồ khổ sinh sơ, Phải nói cho nó nhờ Đại Pháp dung tha! Tâu qua Thánh đế hoàng bà8, Phen này phải đến sứ toà9 hội thương. Sắm sanh võng giá chấp thương, Hầu bà Từ Dụ qua hội thương sứ toà. ______________________________________ 1. Cha mắc nợ con trả. 2. Tức Nguyễn Văn Tường và thân sinh ra Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đính. Ngày 28-7 năm Ất Dậu (11-9-1885) Cuốc-xy đày hai ông cùng Phạm Thận Duật ra Côn Đảo. Tường sau lại bị dời sang Tahiti rồi chết bệnh, thi hài được mang về táng tại quê nhà ở Quảng Trị. 3. Năm 1898, tên Toàn quyền Đu-me bắt đầu đánh tăng thuế thân ở Trung kỳ và buộc triều đình phải chấp nhận với đạo dụ ngày 14-8-1898. 4. Là hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. 5. Sáu huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên (đã chú thích ở trên). 6. Là thương lượng. 7. Là nhân dân địa phương. 8. Chỉ Từ Dụ hoàng thái hậu. 9. Toà Khâm sứ Pháp. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:30:33 pm 1530 Thuyền bồng ắp ắp chèo qua, Hãi hùng chân bước bôn ba lên lầu. "Ôi ôi chà! Tôi vô tình Đại Pháp đã lâu! Nay tôi đến lầu bàn chuyện mà chơi". Chư nha Đại Pháp liền mời, Bổ rua1 tay bắt miệng cười a lo2. Mấy khi Thánh mẫu đến toà, Chào bà Từ Dụ vậy mà qua chơi. "Khi không nói chuyện mà cười, Thuế lệ nhà nước trước thời làm sao. 1540 Công điền, công thổ thấp cao, Thu chính tráng hạng mấy hào, mấy nguyên. Nước Nam thường lệ chiếu niên, Mỗi năm tám tiền3 nó chạy không ra! Đứa thì không cửa không nhà, Đứa vô gia sản vậy mà thứ dung4. Công điền, công thổ ngoài đồng, Tới mùa gặt hái dự phòng tại kho. Công điền, công thổ ngoài đồng, Tới mùa gặt hái dự phòng tại kho. 1550 Cầm quyền nhà nước phải lo, Dân tình đồ khổ, phát cho gạo phần. Tỉnh Nam, tỉnh Bắc5 Thừa Thiên, Phát cho gạo phần, bảo hộ phương dân nó nhờ. Số bạc trí tại Tàng thư6, Xin người cứu nghị cho phương dân nó nhờ thấp cao! Tây sang bảo hộ Nam trào, Công điền, công thổ thấp cao rõ ràng. Ví mà thôi lính, thôi quan, Tên dân tráng hạng rõ ràng tên dân. ____________________________________ 1. Tiếng Pháp “bonjour” là chào mừng. 2. Phiên âm chữ Pháp “alors” có nghĩa là vậy thì, này (thường dùng để mở đầu câu chuyện). 3. Trước khi Pháp sang, theo lệ thời Nguyễn, mỗi người dân hàng năm đóng thuế thân 8 tiền. 4. Miễn thuế. 5. Nam Định, Bắc Ninh. 6. Tàng thư là kho để sách vở trong thành Huế. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:34:46 pm 1560 Chư nha, thánh mẫu, đình thần, Coi trong bài chỉ Tây đánh thuế thân Nam trào. Công điền, công thổ thấp cao, Thu dân tráng hạng hai hào hai nguyên1. Thu ra thuế đinh, thuế điền, Thuế đò, thuế chợ, thường niên thường lề. Hai hàng nước mắt dầm dề, Dân tình đồ khổ làm thuê có gì! Chẳng qua Nam Việt bại suy, Mất mùa, đại hạn, có gì mà thu! 1570 Không cha nó cực đã lâu, Đứa thì bán ruộng, dắt trâu đi cầm. Đứa thì buôn bán cũng thâm2 Dắt con đi cầm ở mướn người ta. Thưa cùng Đại Pháp chư nha, Nghĩ lấy tấm bụng lão bà một phen. Mai sau rồi nó thăng thiên3, Đại Pháp cầm quyền phải nghĩ bụng tôi. Phân qua nói lại chưa rồi, Đại Pháp phải thuận cho tôi bốn điều. 1580 Tôi thương con dại dắt dìu, Cũng vì ngành ngã lá xiêu nửa chừng. Tôi ăn no mặc ấm cũng nhờ dân, Bởi nó cần làm tích thiểu thành đa4. Thưa cùng Đại Pháp chư nha, Cho tôi xin thuế, nó đánh mà làm chi! Mình sá chi mấy việc tế vi5, Thuế đò, thuế muối, vậy thì xin tha! Kẻo nước Nam thường kỵ6 ông bà, Năm trâu bảy lợn, phải gia muối vào. __________________________________ 1. Là 2 đồng 2 hào. 2. Thâm vào vốn, lõ vốn. 3. Ý nói là chết đi. 4. Chuyên cần làm ăn lâu ngày góp ít thành nhiều. 5. Nhỏ mọn. 6. Ngày giỗ. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Tư, 2016, 10:38:36 pm 1590 Đại Pháp phải nghĩ làm sao, Thương dân Nam trào, phải nghĩ bụng tôi”. Ngồi lâu nghe nói nực cười, "Tây qua Nam Việt vậy thời làm chi? Cầu sắt đường đá rì rì, Phố hiệu loạn như núi, Tây không niết sử lấy gì Tây ăn, Hãy còn quan võ, quan văn nước nhà. Nên chi phải đánh thuế ra, Thuế đò, thuế chợ, vậy mà thuế thân". 1600 "Người mà nghĩ đặng cho dân, Kẻo dân trăm phần khổ, nó đánh thuế thân làm gì Lên non, xuống đò cũng đi, Đào sông, khai lạch, vậy thì cũng dân1 Nghĩ ra nó khổ trăm phần, Ăn sương nằm tuyết, tấm thân tồi tàn. Phần thời hàng huyện bổ quan2, Vợ con đói khát mà làng không tha. Đứa thì lưa mẹ còn cha, Tám mươi ngồi đó biết mà kêu ai. 1610 Tưởng khẩn cầu sinh đặng chút con trai, Đến khi đầu gối quá tai3 mà nhờ. Tưởng nỗi con dại bé thơ, Nuôi lớn mà nhờ, mắc bạc thuế thân. Người mà nghĩ đặng muôn phần, Cũng vì thương tới cái thân phận già. Già gần sáu mươi, cố sống thêm mấy trăm đời. Đại Pháp đã nghĩ mấy lời, Tôi phân, tôi nói qua với Đại Pháp nhiều lần. Đại Pháp phải nghĩ cho dân với cùng. ______________________________________ 1. Nhắc đến nạn phu phen tạp dịch liên miên người dân phải chịu đựng. 2. Buộc phải đi làm công việc quan, như đắp đường, đào sông... 3. Tuổi già sức yếu. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 11:31:12 am 1620 Kẻo một mai bóng chếch về đông? Dân tình eo nạo khổ trong dân tình. Tôi nay sống lại một mình, Tôi đây nhắm mắt, e dân tình phân vân. Theo nghe thánh mẫu triều thần, Nói ra thời thẳng, thương dân nước nhà. Muốn làm bá hộ1 cũng tuôn ra, Huống chi hai đồng sáu giác2 đặng ở nhà ăn chơi. Thà nghe thánh mẫu cho toàn đời, Cho dân một số cứ thời đồng hai. 1630 Nghe qua chuyện cũng phải tai, Phải thì phải, chẳng ngoài thương dân. Ngó ra nhà nước phân vân, Quyền về Đại Pháp cầm cân nước nhà. Mồ hôi thương kẻ không cha, Nên chi tôi phải đến toà phân bua. Già nỏ biết chết khi mô, Nên chi tôi đến phân bua nhiều lần. Cho tôi xin gửi triều đình, Dầu tôi chết, thương dân tới cùng. 1640 Mình ăn no, măc ấm thung dung, Thương dân tới cùng như kẻ mồ côi. Nay chừ đã mãn phận tôi, Chết đi số mạng, gửi lời âm dương. Đông tây năm bắc tứ phương, Bảng trời đã chiếu chiêm tường khôi tinh. Tôi nói ra không phải với triều đình, Tứ chi cân cốt3 trong mình e suy. Chừ nào chính nha Thái y4 Hội đồng xem mạch thế thì làm sao? ______________________________________ 1. Những người giàu có nộp tiền lĩnh bằng bá hộ. 2. Thuế nộp 2 đồng 6 hào. 3. Chân tay và gân cốt trong người. 4. Phụ trách chữa bệnh cho vua và hoàng gia. Bốn câu này là lời vua Thành Thái. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 11:35:19 am 1650 Đăng trong tạm án mạch vào, Đương trong mùa hạ, thấp cao bệnh già". "Thưa cùng văn vũ chư nha, Xem trong mạch bà nhất thiết cận nguy1. Sâm nhung, truật thảo, hoàng kỳ2, Làm thang bổ khí cho thì dưỡng hơi". "Tôi thưa văn vũ một lời, Tôi e gần đất xa trời mười phân. Tôi e qua không khỏi nhờ văn võ đình thần, Tiên hoàng rồi lại ái ân mấy lời. 1660 Tiên hoàng trối lại ái ân, Thuỷ chung cho trọn, đình thần chớ quên”. Quản ban quản lĩnh trong đền, Đứng thì xích lại một bên gần bà. Nghiêng tai nói nhỏ thưa qua: "Chừ trong bụng bà, bà muốn ăn chi?" "Gọi thày chính nha lương y, Chừ tôi muốn Cao Ly, yến sào3 Rõ ràng ngó thấy chiêm bao, Thấy đức Minh Mạng cớ sao trên đầu! 1670 Phương phi mặt đỏ tóc dài, Ngồi ngang trên đầu giống thể ông tiên". "Tây không niết sử chi ai, Con làng đã có khẩu phân ruộng làng4 Làng nào chẳng có đường quan, Tây qua làm đường, có bạc Tây thuê. Kiều lương đạo lộ5 bốn bề, Một mai Tây về cũng lại nước Nam. Thương dân bày việc mà làm, Tây về, Tây không lấy của nước Nam đem về. ___________________________________ 1. Gần nguy. 2. Tên các vị thuốc bổ. 3. Sâm Cao Ly và yến sào là thứ thuốc và món ăn quý. Cao Ly còn gọi là Triều Tiên, Hàn Quốc. 4. Phần ruộng công chia cho dân cày cấy. 5. Cầu cống, đường xá. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 11:39:27 am 1680 Tây qua đây trăm việc cũng thuê, Làm chi cũng tốn bạc, không hề lấn ai. Hèn chi nước Nam ai chết mặc ai, Nước Tây nuôi bệnh nằm ngoài nhà thương. Tai nghe mắt thấy rõ ràng, Đến năm chủng đậu bốn phương nhộn nhàng. Kể từ ngày Nam Việt Tây sang, Truyền ra chủng đậu có ngàn thiên nhân1 Nước Nam không nghĩ nguồn cơn, Để Tây mang tiếng oán hờn với dân. 1690 Tây làm hành chính cân phần, Ai đương hành công vụ2 lần lần phải khai. Dầu mà ông đội ông cai, Thập danh lý trưởng phải khai sắc bằng. Việc Tây không nói làm răng, Ai có sắc bằng chuẩn miễn công sưu3 Bảy mươi thuế cũng đã hưu, Sáu mươi lăm tuổi công sưu cũng trừ. Thuế lệ nhà nước cũng trừ, Ở làng giữ miếu ông từ khói hương. 1700 Không thu thuế, lấy chi phá núi đắp đường, Lấy chi nuôi bệnh nhà thương tháng ngày. Người buôn kẻ bán ở đây, Lên đò xuống chợ, thuở nay cũng nhiều phần. Ngày xưa Nam Việt cầm quyền, Sao Nam Việt không bắc cầu Trường Tiền4 mà qua. Rày trách Tây đánh thuế ra, Cầu Trường Tiền Tây bắc, Tây không qua một mình Tây làm hành chính công bình, Không ai nhiều ai ít, ____________________________________ 1. Rất đông người, hàng ngàn người. 2. Đang làm việc công. 3. Đi lao động công ích. 4. Cầu bắc qua sông Hương (Huế) làm từ tháng 5-1899 đến tháng 12-1900 mới xong. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 11:44:51 am 1710 Già chết rồi con nít lớn lên, Ắt còn cha trối mau quên thì đừng. Thủ bộ với liền tri hương, Văn khoa nhất nhị tam trường, Truyền quan phúc hạch cho rõ ràng. Văn khoa đậu thì khỏi thuế nước nhà, Không thì hai giác với mà hai nguyên1. Hãy còn ấm tử quan viên2 Sắc bằng không có, hai nguyên hai hào. Tây không niết sử chi làng, 1720 Làng nào trừ cho thuế lệ lý hào nhất danh3 Hãy còn viên tử thí sanh4 Thuế lệ nhà nước mỗi anh bốn hào. Dĩ tư thượng hạ thấp cao5 Không nói chùa nào, cũng trừ cho một bậc tam can6, Hãy còn các bậc, lại ròng như dân7 Ai mà sung sướng trăm phần, Ngao du tự tại8 lánh thân chùa chiền. Chùa thời thờ phật, thờ tiên, Chùa cấm con gái ngả nghiêng trong chùa. _____________________________________ 1. Hai đồng (nguyên) hai hào (giác). 2. Ấm tử và viên tử là con các quan thời phong kiến. Quan viên chỉ chung hàng chức sắc trong hương thôn. 3. Chỉ trừ thuế thân cho một mình lý trưởng. 4. Học trò đi thi. 5. Cả trên cả dưới, cả thấp cả cao mà tính. 6. Vị sư trụ trì một ngôi chùa. 7. Còn lại đều đóng như dân thường. 8. Thong thả ăn chơi tự do. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 11:49:24 am 1730 Dĩ tư bổ thượng hơn thua1 Đã xong việc chùa, thưa việc cố cha2. Ngày xưa Nam Việt nước nhà, Nay chừ Nam Việt với Lang Sa dự đồng. Bên lương xử việc đã xong, Hãy còn bên giáo phải làm đồng cho cân. Chữ rằng: pháp bất vị thân3 Mình đi nghĩ bụng thế thời không hay. Phương dân Nam Việt ở đây, Có thằng nghịch lý4 nói đạo với Tây vị tình. 1740 Thưa cha lấy phép công bình, Nay trừ đạo ngoại5 phân minh rõ ràng. Bên lương trừ thuế các ông, Ở chùa trừ thuế tam can trụ trì. Hãy còn mấy sãi từ bi, Rõ ràng luật lệ thuế thì đành tha. Bên đạo một cố, một cha, Dĩ tư bổ thượng, ai mà như dân. Chữ rằng: pháp bất vi thân, Rõ ràng minh bạch phương dân nước nhà. 1750 Nam Việt lại với Lang sa, Cũng cùng một chúa sinh ra một loài. Không bênh ai, nỏ bỏ ai, Cứ trong một số là hai đồng đều. Chuông không đánh thời không kêu. Sợ một mai mang tiếng phải nêu cho rõ ràng". "Nhờ quyền Đại Pháp sở đang6, Tôi tu kinh đạo thế gian cõi trần. Cõi trần ngoài đạo thế gian, Bỏ lương binh giáo ra đàng tà tâm. ___________________________________ 1. Lấy cái dưới đưa bổ vào cái trên mà tính hơn thua. 2. Các giáo sĩ đạo Thiên chúa. 3. Pháp luật không vì tình cảm thân thích mà châm chước. 4. Nói ngang ngược, trái với lẽ phải. 5. Là người theo đạo với người ngoài, không theo đạo, tức người bên lương. 6. Đảm đương một công việc. Từ câu này trở xuống là lời nói của các cha cố. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 11:54:31 am 1760 Chữ rằng cơ thâm hoạ diệc thâm1, Một mai tích hận e lầm cơ mưu. Đạo mình như cưỡi bám cây dâu2 Chừ mà đánh thuế bắt sưu có gì! Chữ rằng: vô địa lập chuỳ3, Bao nhiêu điền thổ của thì người ta. Lấy chi cống thuế nước nhà, Có mô của cố, của cha bồ trì4 Nhờ quyền Đại Pháp nghĩ suy, Thấp cao nặng nhẹ, vậy thì cho dân" 1770 "Chữ rằng: pháp bất vị thân, Ai bất tường hương quán5 lần lần phải khai. Nước nhà chẳng để lậu ai, Người vô căn cước6 cho khai lập làng. Hãy còn khoáng địa hoang nhàn7 Cho khai lập làng canh tác an cư. Chữ rằng thượng hạ tương tư8 Bao nhiêu thuế lệ phải trừ một anh. Mai sau hương địa đã thành9 Trừ cho thuế lệ một anh trong làng10 ______________________________________ 1. Là cơ mưu thâm chừng nào thì tai hoạ cũng lớn chừng đó. 2. Loại cây ký sinh bám trên thân cây dâu, thường dùng làm thuốc. 3. Không có đất mà cắm dùi, nghĩa bóng là rất nghèo, không có tấc đất mà ở. 4. Giúp đỡ, bù đắp vào. 5. Không biết làng chính quán sinh quán ở đâu. 6. Không có giấy tờ lai lịch rõ ràng. 7. Đất bỏ hoang chưa cày cấy trồng trọt. 8. Trên dưới giúp đỡ lẫn nhau. 9. Đất làng khai khẩn xong. 10. Trừ cho một người đứng đầu làng là lý trưởng. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 11:58:08 am 1780 Dĩ tư bổ thượng lai hàng như dân. Công sưu công ích cân phần, Triều đình hợp nghị dự đồng chư nha. Từ ngày Nam Việt Tây qua, Kiều lương đại lộ ngó đà phăng phăng. Đường đi ngoài Bắc vào Hàn1 Tính ra lộ phí biết mấy quan mấy tiền. Người đi Bình Thuận, Phú Yên, Bao nhiêu bạc tiền, gồng gánh công phu. Thiên sơn vạn thuỷ dặm cù2 1790 Tính bề lợi hại phải trù hoả xa. Làm quan ngoại trấn đường xa, Người vô Bình Thuận, kẻ ra Bắc Kỳ. Ở nhà cha mẹ chuyên chi, Ra tin Bắc Kỳ, cấp báo cũng mau. Tây không lấy của làm giàu, Thu đâu làm đó, không ngày sau đem về. Có thâu ra mọi việc cũng thuê, Củi đậu nấu đậu, nỏ cầm về làm chi. Lấp hồ phá núi mà đi, 1800 Tính đường phương tiện đồng mốt vậy thời cho thông. Ra vô bảy giác ba đồng, Một năm mười hai tháng Tây không ăn gì" "Quyền về Đại Pháp nghĩ suy, Chừ đậu không trái, ruộng trưa mất mùa. Phần thì cơm gạo đã thua, Sinh ra mất mùa, nên các tỉnh suy vi. Thưa cùng làm sao cho dân nó nhờ, Kẻo một mai tức nước vỡ bờ hư hao. Tôi3 làm quan nhị phẩm tại trào, ______________________________________ 1. Đà Nẵng. 2. Đường xa. 3. Tài liệu có ghi chú đây là lời nói của Thượng thư Nguyễn Khao, nhưng không rõ tiểu sử. Tiêu đề: Re: Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết 1839-1913 Gửi bởi: chuongxedap trong 29 Tháng Tư, 2016, 12:03:44 pm 1810 Ăn no mặc ấm, chức cao lớn quyền. Dân tình thuế lệ không yên. Ngó vô cũng phiền đáo để1 cho dân. Thưa cùng Đại Pháp đình thần, Tôi xin ân giảm lại để cho dân ít nhiều” "Sao ông quan lớn trong triều, Mà ngài ăn nói nhiều điều khác tai? Tây không niết sử chi ai, Mà ngài ăn nói như người muốn lui!" "Ai đi buôn chẳng muốn lời, 1820 Gạo mình trong nồi dễ đổ cho ai!". “Nghe qua mấy tiếng nói ngài, Triều đình văn võ ai ai cũng nực cười. Tuổi tôi gần đã sáu mươi, Tôi lại nực cười chuyện ấy khi không. Bách quan văn võ hội đồng, Nghe lời quan lớn tỏ lòng quốc gia. Kể từ ngày Nam Việt Tây qua, Bên tôi đặng hành chính nước nhà thông thương. Đầu tiên lập ra quốc học tự trường, 1830 Cho tôi Hồng lô2 trong nước, triều đường không tiếng chi. Khi không xuất ý bất kỳ, Làm sao đức Thành Thái ngự đi phương nào3 Triều thần phải nghĩ làm sao? Mình làm quan, chúa đi chừ ở trào phò ai? Chớ sao con mắt lỗ tai, Quyền đương Đại Pháp nào ai dám quyền. Lấy ai tử kế phụ truyền4 Đem ai vô đó không yên nước nhà. Lòng tôi xót xót xa xa, 1840 Đêm nằm nghĩ lại, con không cha cũng phiền. Tôi phiền một nỗi không cha, Thưa cùng Đại Pháp chư nha trong trào. Tử sinh chẳng biết ngày nào, Tôi đà lâm bệnh tổn lao nhiều ngày. Giao quyền nạp chức tại đây, Tôi về phục dược5 luôn mai phận già". Triều đình văn võ chư nha, Nghe lời quan lớn nói ra tận tình. Tôi thưa văn võ triều đình, 1850 Quê nhà tếch dặm vậy mình lui ra. ___________________________________________ 1. Rất nhiều phiền hà, vô cùng phiền phức. 2. Hồng lô là một vinh hàm do triều đình ban tặng. 3. Vua Thành Thái lên ngôi từ 1888, đến năm 1907 thì bị bọn Pháp buộc thoái vị và đưa an trí ở đảo Réunion. 4. Là cha truyền con nối. 5. Uống thuốc chữa bệnh. Hết |