|
Tiêu đề: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2016, 06:50:11 am - Tên sách: Nhiệm vụ đặc biệt - Tác giả: Thiếu tướng Nguyễn Tư Cường, nguyên Tư lệnh binh chủng Đặc công - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân - NXB Trẻ - Năm xuất bản: 2002 - Số hoá: Giangtvx LỜI GIỚI THIỆU Tập hồi kỷ “Nhiệm vụ đặc biệt” của Thiếu tướng Nguyễn Tư Cường, nguyên Tư lệnh bộ đội Đặc công, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản lần đầu vào tháng 3 năm 1987 nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập binh chủng Đặc công (3.1967- 3.1987). Mười lăm năm đã trôi qua, binh chủng Đặc công Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bước vào tuổi 35. Chiến công nối tiếp chiến công đã tạo nên huyền thoại về một binh chủng đặc biệt tinh nhuệ, như lời Bác Hồ đã từng chỉ thị khi thành lập binh chủng (ngày 19 tháng 3 năm 1967): "... Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt”. Hồi ký của Thiếu tướng Nguyễn Tư Cường giúp bạn đọc hiểu thêm về nguồn gốc hình thành và phát triển của bộ đội Đặc công, một phần những chiến công của các đơn vị trong binh chủng, đặc biệt là những chiến công của buổi đầu hình thành cách đánh đặc công trong kháng chiến chống Pháp và những chiến tích của bộ đội Đặc công trong kháng chiến chống Mỹ - những chiến tích đã trở thành kỳ tích của cán bộ chiến sĩ các đơn vị đặc công, một lực lượng đã tạo nên nỗi kinh hoàng, khiếp sợ của kẻ địch trên chiến trường. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. NXB QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN - NXB TRẺ Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 02:13:41 am Những ngày khởi đầu I Ai cũng có quê hương và ai cũng nặng trĩu một tình cảm, một trách nhiệm với quê hương. Một điều may, cũng có thể là một hạnh phúc đối với tôi, kể từ giây phút tách khỏi cuộc sống gia đình làm một thành viên trong đội ngũ Vệ quốc đoàn1 tôi đã chiến đấu một thời gian dài trên mảnh đất quê mình, cho đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kỷ kết, tháng Bảy năm 1954. Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Ninh Hòa là thị trấn nằm trên đường số 1 chưa được trăm nóc nhà. Một phố thị thật nhỏ với ngôi chợ chu vi chưa đầy 500 mét, có hai gian nhà ngói kiểu cũ và hai dãy phố ngắn hẹp nằm khép hai bên. Nhưng Ninh Hòa không phải chỉ có thế. Ngoài bông lau, ván trắc, cẩm lai là những loại gỗ có tiếng, rừng núi Ninh Hòa còn chứa bao nhiêu là của quý. Người thợ săn chỉ cần vác súng ra khỏi thị trấn độ mươi cây sô là có thể hạ được hươu, lợn rừng, có khi cả hổ, về bán chợ mai. Và mỗi khi tàu lửa từ Sài Gòn ra, từ Hà Nội vào qua ga Ninh Hòa đều dừng lại nhận hàng đặc sản từ nơi đây. Các toa đen chở hàng nhận đầy ắp gạc nai đủ kiểu. Gạc nai, lộc nhung của Ninh Hòa ngày xưa đã từng chở bán khắp noi trong nước, nhất là miền Bắc. Chiếc mắc áo bằng nguyên cả cái sừng nai Cà Tung, ở đây chỉ là một vật bình thường, gần như nhà nào cũng có. Hồi ấy khách qua lại Ninh Hòa thường không quên mua một ít hương trầm Vạn Lợi về thắp trên bàn thờ ông vải hay lễ bái đền chùa. Cái mùi thơm dịu dàng, thanh khiết của hương trầm Vạn Lợi đã góp phần làm tên tuổi Ninh Hòa được những người yêu hương trầm khắp nước biết đến. Còn chính lõi trầm cùng với kỳ nam là hai vị thuốc quý trong tủ thuốc Đông y, đã từng được xuất khẩu ra các nước Đông Nam Á, sang tận Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Đi về bờ biển Hòn Khói là bắt gặp những ô ruộng muối nối nhau như một bàn cờ to, chiếm mấy thôn liền. Muối Hòn Khói đã một thời mang lại vinh dự cho Ninh Hòa. Những người sản xuất nước mắm ở Phan Thiết, ở Hải Phòng ngày xưa có thể không biết Ninh Hòa nhưng lại biết Hòn Khói. Muối Hòn Khói to hạt, chóng tan, là loại muối để làm chượp cá tốt nhất của nước ta hồi ấy. Ngày trước Hải Phòng đã từng nhận mỗi năm hàng ba bốn vạn tấn muối Hòn Khói... Quê tôi còn có thuốc lá Lộc Ninh, thuốc lá Tân Xuân, nguồn nguyên liệu vô tận cho hãng thuốc lá Cô-táp ngày trước. Cam Đại Tân của Ninh Hòa vỏ xanh mà ruột vàng ngọt thanh chẳng kém cam Xã Đoài. Quýt vườn Ninh Hòa đỏ da, lớn quả, có hương vị quýt đường của Mỹ Lợi, Hương Cần. Ruộng Đồng Hương phì nhiêu, vườn Đại Tâm màu mỡ, bát cơm Nanh Chồn thơm phức, cây mía Dán Dòn xốp và ngọt thanh... tất cả làm nên một Ninh Hòa giàu đẹp. Đó là những gì đã để lại trong ký ức tôi - một ký ức vừa pha trộn niềm tự hào vừa gợi nhớ nỗi buồn cảm... Bởi cái giàu đẹp thời xa xưa đó đâu thuộc về nhân dân lao động! Ngày xưa triều đình Huế đã sai tay chân vào tận Ninh Hòa tìm những bộ ván gỗ trắc, cẩm lai quỹ giá đưa về trang điểm cho cung điện. Bọn thực dân Pháp cũng đã lệnh cấm rừng, dành riêng cho chúng khai thác những loại gỗ quý. Và bọn tư sản, địa chủ ở địa phương đã giàu nhanh, giàu to trong việc bóc lột sức lao động của những người thợ rừng quê tôi. Bị dồn đẩy vào bước đường cùng cực, những người thợ rừng đó đã đi hết tháng này sang tháng khác trong các cánh rừng già không vết chân người, đương đầu vời hùm rắn, lắm khi phải ăn trái cây, uống nước suối để tìm trầm đưa về nộp cho chủ. Không ít những người thợ rừng đã phải bỏ mình nơi rừng sâu cho sự giàu có của bọn chuyên nghề bóc lột. Cách mạng tháng Tám mở ra cuộc đổi đời lớn cho toàn dân tộc. Như những người nghèo khổ khác, gia đình tôi cũng được cấp một sào đất để dựng nhà ở. Tuy chỉ là căn nhà tranh đơn sơ, chật hẹp nhưng là nhà của minh, từ nay hết cảnh ăn đợ, ở nhờ. Quê tôi có Hòn Hèo nổi tiếng. Nó là một bán đảo rộng trên một trăm sáu mươi cây số vuông, với một dãy núi cao đột xuất (đỉnh cao nhất tới 819 mét) nhô lên giữa biển lúa mênh mông, tạo nên một dáng vẻ đa dạng, vừa thanh bình, vừa gồ ghề gân guốc, bao quanh dưới chân núi là các làng xóm mà tên đất đã đi vào lịch sử: Lệ Cam, Bà Bố, nơi cơ quan huyện Ninh Hòa đóng. Đầm Vân là hậu cứ của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Bãi biển Hòn Hèo đẹp, cát trắng mịn kéo dài ra xa mỗi khi thủy triều rút. Đây là nơi hàng tuần, các cơ quan quân, dân, chính, Đảng tỉnh thường tổ chức những buổi luyện tập quân sự, tha hồ lăn lê bò toài trên bãi cát rộng và sạch không gây lấm bẩn. Ngang về phía nam Hòn Hèo cách bờ chừng hai cây số là Hòn Thị, một đảo có nhiều hang động hiểm trở, đã một thời cơ quan theo dõi địch của cấp trên làm việc ở đây. Đi về phía tây, là thôn Tiên Du có một thắng cảnh nổi tiếng: Chùa Hang, nơi mà nhà sư Thích Quảng Đức đã một thời đến tu hành và có tham gia giúp đỡ đội công tác của ta mỗi khi về đây hoạt động. ---------------------- 1. Nay là Quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 02:23:10 am Đối với quân và dân Khánh Hòa, Hòn Hèo đã đi vào lịch sử như một biểu tượng của tinh thần bất khuất và niềm tin của nhân dân đối với cách mạng suốt cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Đối với ai đã từng một lần qua đây, đặc biệt là những đồng bào, đồng chí đã cùng chung sức chiến đấu, chia sẻ ngọt bùi trên chiến trường Khánh Hòa, hai tiếng Hòn Hèo từ lâu đã trở nên thân thiết gắn bó với bao kỷ niệm của đời mình. Và bản thân tôi cũng vậy, đã từng được Hòn Hèo đùm bọc những ngày đầu của cuộc kháng chiến; đã từng chiến đấu, đổ máu ở nơi Hòn Hèo; đã tưởng vết thương năm 1947 ở rừng Hòn Hèo cướp đi thân thể mình, nhưng nhờ đồng bào, đồng chí đã giấu kín dưới tán cây của dẫy Hòn Hèo này, để chăm sóc, nuôi dưỡng lành bệnh lại được trở về đội ngũ chiến đấu, trưởng thành như ngày nay, thì sao có thể quên được nơi ấy. Khí hậu thời tiết ở đây thật ôn hòa, dễ chịu. Vào những tuần trăng sau mùa gặt cuối năm, quê tôi có hội giã gạo, được dịp trai gái gặp nhau bàn chuyện trăm năm. Nhà đăng cai mở hội thường có sân rộng và có con gái đã đến tuổi thành niên. Ngoài nam nữ thanh niên chưa có gia đình riêng là chủ yếu, còn có các bậc trung niên, ông bà già đến dự, vừa chia vui với con cháu vừa chứng kiến chuyện lứa đôi. Cối giã gạo vừa đủ chứa khoảng mươi cân thóc. Ba cô gái cầm ba thanh gỗ dài đứng vòng quanh thay nhau giã một cách nhịp nhàng, chày này giã xuống chày kia nhấc lên, nghe không khác nhịp điệu bài “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” của nhạc sĩ Xuân Hồng. Vừa giã các cô vừa hát (phần nhiều là ứng khẩu) theo nhịp chày lên xuống và theo một thứ tự quy ước: chào mời, đố - thử tài, ướm hỏi và hứa hẹn kết duyên. Bên nam đứng quây quanh cối giã gạo hát đối đáp lại. Hội giã gạo kéo dài cho đến khi xuống giống mới mở đầu vụ gieo cấy năm sau thi kết thúc. Có một bài hát đố và dối được phổ biến trong tất cả người dân quê tôi, ai cũng thuộc. Đại ý bài hát đó như sau: Em đố anh: Một trăm cái hố, hố nào không nước. Một trăm sợi cước, cước gì không đo. Một trăm cây nho nho gì không trái. Một trăm cô gái, gái gì không chồng. Một trăm đàn ông, ông gì không vợ. Một trăm cái quán, quán gì không đúc bánh xèo. Và bên trai đối lại: Một trăm cái hố hố hò khoan là không có nước. Một trăm sợi cước, cước cá không đo. Môt trăm cây nho, chữ nho không trái. Một trăm cô gái, Ị gái góa không chồng. Một trăm đàn ông, đàn ông (thiếu niên) không vợ. Một trăm cái chợ, chợ ngày Tết (nguyên đán) không bán. Một trăm cái quán, quán tảy (bỏ) không đúc. Anh đã đối đặng, em phải mua heo cưới liền. Ngày tháng trôi đi, cuộc đời chiến đấu có bao nhiêu kỷ niệm đáng nhớ, vậy mà cái bài hát của ngày hội trao duyên mang sắc thái quê hương vẫn hằn trong ký ức tôi. Đêm hội giã gạo đầu tiên mà tôi tham dự là một đêm trăng thật đẹp sau Cách mạng tháng Tám thành công. Cái say sưa sôi nổi của tuổi trẻ được chế độ mới nâng đỡ, chúng tôi vui thả sức đến thâu đêm. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 02:29:05 am II Nào ngờ các đêm hội đầu tiên ấy lại là đêm cuối cùng đối với tuổi trẻ chúng tôi, bởi tình thế đã đổi thay thật mau lẹ. Được quân Nhật1 tiếp sức, quân đội viễn chinh Pháp đổ bộ từ biển lên đánh chiếm Nha Trang vào cuối tháng Mười năm 1945. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân các tỉnh miền Nam Trung Bộ2 bắt đầu. Không khí chiến tranh lan nhanh đến quê tôi. Các buổi chợ mai Ninh Hòa không còn đầy ắp những đặc sản từ Hòn Khói lên, từ đèo Ma-drắc xuống nữa! Những chuyến tàu chở các đoàn quân Nam tiến từ phía Bắc vào đến ga Ninh Hòa thì dừng lại. Từ các toa tàu từng đoàn người đổ xuống đứng lố nhố chật ních cả sân ga. Tất cả đều là thanh niên tuổi còn rất trẻ, phần lớn mười tám đôi mươi, quần áo quân phục màu cỏ úa, đầu đội mũ ca lô, nói đủ thứ giọng mà tôi chỉ phân biệt được là giọng Bắc. Một âm thanh ồn ào, náo nhiệt, xen vào những tiếng hỏi và những thắc mắc mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ: “Nha Trang phía nào, còn xa không?” - “Đường 21 đi Buôn Ma Thuột đâu?” - ‘Tại sao không đi tiếp, đến nơi có mặt trận?”. Những ngày này cứ mỗi lần có tiếng tàu từ hướng Bắc vọng về là lòng tôi lại'bùng ỉên một ước nguyện gia nhập đội quân Nam tiến. Một buổi sáng đầu tháng Mười năm 1945, sau khi đi lại nhiều lần, vừa đi vừa đắn đo suy nghĩ, cuối cùng tôi mạnh dạn đến đặt vấn đề với anh chỉ huy đặt cơ quan ở một căn nhà lá cạnh ngã ba đường vào thị trấn Ninh Hòa. - Xin anh cho tôi được... - Nào có gì đồng chí cứ nói, không có ai nghe đâu mà sợ. - Dạ thưa... - tôi sẵng ho để lấy giọng nói tiếp - tôi muốn được đi chiến đấu. Tôi vừa dứt lời, anh đã đứng dậy bắt tay tôi lắc mạnh nhiều lần, cười rạng rỡ: - Cám ơn... cám ơn đồng chí! - vừa nói anh vừa ôm lấy tôi, nhấn mạnh - Đội quân Nam tiến mà có được thanh niên địa phương tham gia thì thuận lợi biết mấy. Ngay chiều hôm ấy tôi được phân công về trung đội anh Xuân. Cái đêm đầu của cuộc đời quân ngũ thật vui, cứ chong mắt không sao ngủ được, nhưng khi nghe tiếng còi báo thức thì tôi bật dậy thật nhanh và tỉnh như sáo. Hàng ngày chỉ mong các anh chỉ huy giao nhiệm vụ, và khi nhận việc là khó mấy tôi cũng chỉ nghĩ cách làm bằng được. Một hôm, anh Xuân chỉ huy trung đội gọi tôi đến trước tấm bản đồ-nhỏ dùng trong các trường học hồi đó hỏi tôi: - Đồng chí Tư Cụ cho biết tình hình cụ thể về đường sá trong khu vực ta đóng quân. Nhìn qua tấm bản đồ tôi đã nói vanh vách các chi tiết về những đường sá quanh khu vực Ninh Hòa, về các đèo trên đường số 1 và trên đường 21, đoạn từ đèo Ma-drắc trở xuống. Nghe tôi kể xong, các anh bảo địch không dễ gì tràn vào Ninh Hòa nếu ở các đoạn đèo này ta bố trí lực lượng đánh trả, kết hợp phá hoại mặt đường. Tôi không được phép dự bàn luận về kế hoạch quân sự nhưng rất tự hào thấy mình đóng góp phần hiểu biết về quê hương của mình và ngầm đồng ý với những trao đổi của các đồng chí chỉ huy. Ninh Hòa những ngày này như hậu cứ của các mặt trận Nha Trang, Buôn Ma Thuột. Rất căng thẳng, khẩn trương nhưng cũng tấp nập, đông vui và bình tĩnh, sẵn sàng. Hậu phương và tiền tuyến nối quyện với nhau qua tin tức chiến sự được thông báo hàng ngày, qua các lực lượng được phái ra phía trước hỗ trợ và qua số anh em thương, bệnh binh được chuyển về đây cứu chữa: Hơn 1.000 quân Pháp đổ bộ lên Nha Trang từ cuối tháng Chín đến nay vẫn bị ba tiểu đoàn bộ đội Nam tiến tiến công, bao vây. Ở Ba Ngòi được ta vận động, giải thích kết họp với tiến công quân sự, nên khi quân Nhật rút về Cam Ranh đã để lại cho ta trên 1.000 súng các loại. Tại mặt trận Phan Thiết, Phan Rang, các đơn vị bộ đội Nam tiến vào chi viện kịp thời, đã phối họp với lực lượng vũ trang tại chỗ chiếm lại và làm chủ hai thị xã này. Tại Buôn Ma Thuột, ta phục kích diệt 38 xe địch, v.v... Ninh Hòa vẫn đứng vững trong tình thế bị địch bao vây từ ba phía; đông, tây, nam. Ngày 27 tháng 9 năm 1945 chúng tôi đã đuổi quân Nhật về đồn khi chúng vừa kéo ra định tập kích vào một đơn vị Nam tiến đóng gần nhà ga. Cùng ngày, chúng tôi vô cùng phấn khởi được nghe anh Xuân thông báo: Quân Nhật từ Tây Nguyên theo đường 21 tiến về Ninh Hòa đã bị một đơn vị Nam tiến phục kích sẵn ở đèo Phượng Hoàng, bắt sống toàn bộ. Bọn Nhật ở Ninh Hòa được tin này đã hoảng hốt rút chạy về Nha Trang ngay chiều hôm ấy, giao lại cho ta 240 súng các loại. Tôi được đồng chí chỉ huy trung đội trang bị cho một khẩu súng trường Nhật. Một khẩu súng và hai bao đầy ắp đạn hẳn hoi. Tôi say sưa sống những ngày kháng chiến đầu tiên trên mảnh đất quê hương mình. Có thể nói đây là những ngày tháng đầy khí thế sục sôi cách mạng đối với mỗi người dân Khánh Hòa nói chung và với bản thân tôi nói riêng. Bài học ban đầu này, cái thời điểm tuy ngắn ấy nhưng lại không thoáng qua chút nào. Bởi vì điều quan trọng nhất giúp tôi rèn luyện bản lĩnh và giàu nghị lực để vượt qua thử thách đầu tiên của chiến tranh, để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao - chính là lòng yêu quê hương, nơi đã sinh ra mình và mình không bao giờ được thiếu trách nhiệm với quê hương, đất nước. ---------------- 1. Tàn quản Nhật ở Nha Trang, Ba Ngòi (Cam Ranh) lúc này lên tới hàng ngàn tên, chúng dồn từ các tỉnh khác vé đày để đợi tàu về nước. 2. Nam Trung Bộ lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Gia Lai, Công Tum, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 02:32:16 am III Nha Trang sống trong không khí sục sôi căm thù và trừng phạt quân cướp nước ngay từ những ngày đầu, sau khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng Chín năm 1945. Vì Nha Trang là một trong những mục tiêu quan trọng mà bộ chỉ huy Pháp đặt kế hoạch đánh chiếm sớm để làm bàn đạp mở rộng tiến công ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Nhưng chúng đã vấp phải sự đánh trả mãnh liệt của quân và dân Khánh Hòa, của lực lượng bộ đội Nam tiến vào chi viện cho mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa mỗi ngày một đông. Những ngày cuối năm 1945 đầu năm 1946, đi đến đâu chúng tôi cũng bắt gặp các đơn vị Nam tiến thuộc các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nam Định, Hà Nội, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc - Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang). Riêng khu vực Nha Trang, Ba Ngòi có bốn tiểu đoàn, còn ba tiểu đoàn khác đứng chân ở thị trấn Ninh Hòa làm lực lượng dự bị. Đêm 19 tháng 10 năm 1945, Pháp đổ bộ lên đảo Hòn Cau, ven biển Nha Trang. Cùng lúc, quân Pháp trong thị xã đánh chiếm một số nơi. Nhưng chúng đã bị các lực lượng vũ trang của ta đánh trả và siết chặt vòng vây xung quanh những khu vực địch vừa chiếm đóng như nhà ga Nha Trang, nhà máy điện, viện Pa- xtơ. Địch nhiều lần tìm cách phá vòng vây và đổ quân từ biển vào đều bị ta chặn đánh. Mãi gần ba tháng sau, tức là cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai năm 1946, Pháp huy động một lực lượng khá lớn thủy, lục, không quân mở cuộc hành quân “Gô” (Gaur) do tướng bốn sao Lơ-cléc trực tiếp chỉ huy chia thành hai cánh lớn: Cánh thứ nhất xuất phát từ Biên Hòa theo đường 20 đánh Di Linh, Đà Lạt, Phan Thiết, Phan Rang, tiến ra Nha Trang. Cánh thứ hai, từ Buôn Ma Thuột, ngày 25 tháng 1 năm 1946, theo đường 21 đánh xuống. Ngày 27 tháng 1, địch chiếm Ninh Hòa. Từ Ninh Hòa, chúng phối họp với cánh quân ở Phan Rang ra đánh chiếm hoàn toàn thị xã Nha Trang... Mặt trận Ninh Hòa vỡ! Đối với tôi đây là một cột mốc đánh dấu khúc quanh trong cuộc đời chiến đấu của mình. Phần lớn lực lượng vũ trang ta phải tạm thời rút ra Đông Bồ, Tuy Hòa, Sông cầu. Một bộ phận nhỏ ở lại Tân Lâm, Trần Tri, Đại Điền. Ta lập tuyến chặn địch ở đèo Cả. Đơn vị Nam tiến của anh Xuân cũng được lệnh rút ra Phú Yên để cùng các đơn vị Nam tiến khác củng cố xây dựng thành những đơn vị chủ lực cơ động của Bộ tư lệnh Liên khu V. Số anh em chúng tôi thì trên tuyên bố: ai ở địa phương nào về địa phương đó chiến đấu. Thế là từ đây tôi phải xa đơn vị Nam tiến! Tình cảm tôi lúc này buồn vui xen lẫn. Vui vì được ở lại chiến đấu trên mảnh đất quê hương thân thiết và rất tự hào. Trong cuộc chiến đấu không cân xứng lúc đó mà Ninh Hòa vẫn cản giữ, làm chậm bước tiến của kẻ thù, ghi vào trang sử chiến công đầu của quê hương: ngày 27 tháng 9 năm 1945, quân Nhật tập kích một đơn vị Nam tiến vừa mới tới Ninh Hòa, bị quân ta đánh trả mãnh liệt, phải lui về đồn. Cùng ngày, 18 xe chở quân Nhật từ Tây Nguyên theo đường 21 về Ninh Hòa, bị lực lượng ta phục kích, bắt sống toàn bộ. Ninh Hòa bị đủ các loại kẻ thù gây rối, bị chúng bao vây tứ phía, nhưng các lực lượng vũ trang ta vẫn bám và tiến công địch gần năm tháng ròng. Niềm vui pha chút tự hào ấy không làm vợi nỗi buồn trong tôi. Buồn vì phải xa đơn vị mà tôi vừa gắn bó; buồn vì phải xa những người đồng đội tuy thời gian sống chung còn rất ngắn mà đã hiểu nhau và thương nhau nhiều. Không một chuyện riêng tư, một nỗi buồn vui nào lại không kể cho nhau nghe. Và cứ sau những giờ phút tâm sự thật cởi mở ấy, tình cảm chúng tôi lại chan hòa và gắn quyện. Những ngày sống chung với các anh, tôi đã hiểu ra được nhiều điều, đã thấy được đất nước ta qua các anh kể về quê hương mình: Hải Phòng, Thanh Hóa, Vinh và đặc biệt là Hà Nội... Từ những nơi xa xôi đó, các anh không quản gian lao nguy hiểm vào đây chung sức chung lòng với nhân dân quê tôi đánh giặc, đã có anh yên nghỉ vĩnh viễn nơi Bắc Khánh1 này! Hôm tạm biệt, tôi không sao nén nổi xúc động, đã bật thành tiếng khóc và năn nỉ xin được đi theo. Không ai gàn tôi khóc mà chỉ có tiếng nói ân cần, cảm thông, động viên tôi ở lại vì nhiệm vụ. Mãi sau này, có rất nhiều lần chia tay tạm biệt nhưng tôi vẫn ý thức đầy đủ và ro nét trong tâm khảm mình về lần chia tay năm ấy, được xem như là một trong những kỷ niệm sâu sắc bởi nó mang hơi nóng của tình đồng đội, nghĩa Bắc - Nam mà lần đầu tiên tôi hiểu biết được, nó tiếp tục được bồi đắp ngày càng sâu đậm trong suốt cuộc đời chiến đấu của tôi sau này. ----------------- 1. Tức bắc tỉnh Khánh Hòa, bao gồm các huyện Ninh Hòa, Vạn Ninh. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 02:33:35 am Ở lại Ninh Hòa, tôi được phân về đội Danh dự của tỉnh. Đội có khoảng năm sáu chục anh em người cùng quê do anh Nguyễn Sây làm đội trưởng. Năm 1947, sau trận tập kích Hố Vòng, anh Sây hy sinh, tôi được trên bổ nhiệm thay anh điều khiển đội Danh dự hoạt động ở vùng Bắc Khánh, nhưng địa bàn chủ yếu vẫn là khu vực Hòa Nghĩa quê tôi.
Tình hình lúc này có thể nói là tạm thời đen tối. Các đơn vị Nam tiến rút ra Phú Yên, lực lượng quân sự còn lại chỉ có đội Danh dự chúng tôi. Địch sau khi chiếm được Ninh Hòa, chúng liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, lập tề, đóng thêm đồn bót mở rộng vùng kiểm soát ra các thôn xã ngoại vi. Bọn cường hào ngóc đầu dậy can tâm một lần nữa làm tay sai cho chúng, dẫn lính đi lùng lục các xóm, vây bắt cán bộ và những quần chúng tích cực của cách mạng. Đêm đêm chúng phục đón lõng các ngả đường nghi ta đi lại hoạt động. Trận đánh đầu tiên của đội Danh dự là trận chặn địch trên đường 21, ở khu đèo Phượng Hoàng, vào một ngày giữa tháng 2 năm 1947. Địch thời gian này rất chủ quan, chúng cho rằng lực lượng ta đã kiệt sức phải rút ra tận Phú Yên. Đường 21, đường 1 từ Ninh Hòa ra Vạn Ninh đến Đại Lãnh, chân đèo Cả đã mọc lên hàng loạt đồn bót, tháp canh bảo vệ, hàng ngày địch đi lại trên hai trục đường này với thái độ rất nghênh ngang, ngạo mạn. Tỉnh chủ trương sử dụng đội Danh dự phối hợp với một đơn vị khác đánh đoàn xe địch cứ đều kỳ từ Nha Trang qua Ninh Hòa lên Buôn Ma Thuột. Nhận được lệnh, từ vùng sâu hậu địch, đội Danh dự khẩn trương lên đường băng qua hệ thống đồn bót địch tới vị trí trước giờ quy định. Giáp trận lần đầu, vừa háo hức vừa bỡ ngỡ. Nhưng khi nghe tiếng dộng cơ xe địch vọng về, gần tới trận địa phục kích, thì chúng tôi lại thấy mình hồi hộp thật sự. Tiếng động cơ càng to đần, nghe rõ cả tiếng rú ga, nhưng tôi vẫn tập trung tư tưởng nghe tiếng súng lệnh đến căng óc... Khoảng hai phứt sau, ba phát súng trường bắn liên tục từ phía sau đội hình - đó chính là tiếng súng lệnh. Đúng rồi! Tôi vui sướng tự nói với mình như vậy rồi hô toàn đội xung phong, thẳng hướng đoàn xe địch đang bị ùn tắc phía trước mặt do ta làm tốt khâu chặn đầu, khóa đuôi. Tôi trực tiếp chỉ huy tổ hỏa lực với năm tay súng trường bắn tập trung kiềm chế địch, để số anh em làm nhiệm vụ đốt phá xe thực hiện diệt từng mục tiêu được giao. Ngọn lửa lan nhanh, đám khói đen khét bốc cao làm mờ đục cả khu đèo. Trận đánh kết thúc nhanh gọn, 21 xe địch bị đốt và phá hủy, ta thu được nhiều vũ khí, quân trang quân dụng. Sau trận thắng giòn giã, đội Danh dự chúng tôi lại được lệnh xuống đồng bằng hoạt động ngay giữa lòng địch. Ngày ấy tuổi trẻ chúng tôi rất hăng hái, lạc quan, không sợ gian khổ hy sinh, lúc nào cũng mong có cơ hội được đánh giặc. Nghĩ như thế nhưng chúng tôi lúc đó quả thật lúng túng: Đánh địch ở đâu, bằng cách nào để thắng nó, trong khi chúng tôi hầu như chỉ tay không mà địch thì có đầy đủ vũ khí, lại đóng trong các đồn bót được bố phòng cẩn mật, có hàng rào nhiều lớp bao quanh. Đúng lúc đó, chúng tôi nhận được lệnh: đội Danh dự chuẩn bị gấp mọi mặt để đánh đồn Tân Kiều. Tân Kiều nguyên là ngôi đình làng nằm cách nhà tôi một vạt mộng, trên một vuông đất cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng năm, bảy mươi phân. Địch đã biến ngôi đình tôn kính này thành một đồn binh với đủ thứ xú uế, gây nên sự căm phẫn trong nhân dân. Nền đình cao, địch từ đó dễ dàng khống chế kiểm soát một khu vực rộng xung quanh. Quanh đồng toàn là ruộng nước, “Việt Minh” càng khó tiếp cận. Đóng chốt ở đây, địch có thêm mắt xích bảo vệ vành ngoài cho Ninh Hòa từ hướng đông, dễ dàng tổ chức càn quét, lùng sục hàng ngày để bắt cán bộ, phá sơ sở ta, chặn không cho nhân dân liên lạc với căn cứ Hòn Hèo và cũng là để bao vây cô lập căn cứ này với nhân dân. Phải nhổ bằng được đồn Tân Kiều, mới phá được ách kìm kẹp, phá thế địch bao vây Hòn Hèo để lực lượng vũ trang ta ở căn cứ đó có điều kiện bung ra hoạt động sâu và xa hơn, nối lại dây liên hệ sinh tử giữa lực lượng cách mạng và nhân dân; sau hết nếu ta đánh thắng địch ở Tân Kiều là hạ uy thế chúng, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân nổi dậy đấu tranh, thúc đẩy phong trào toàn dân đánh giặc. Nghe cấp trên phổ biến ý định trận đánh đúng với ý nghĩ nung nấu của mình, càng thôi thúc tinh thần quyết tâm chiến đấu của tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đội Danh dự. Chúng tôi ai nấy đều rất hăng hái lên đường, ngay sau khi được cấp trên đến giao nhiệm vụ. Như vậy là tư tưởng thông suốt, tinh thần sẵn sàng, không cần phải bận tâm. Vấn đề là phải tìm cách đánh sao thắng ngon và êm. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 02:34:34 am Súng chọi với súng, tất nhiên là ta không có điều kiện rồi. Vậy ta phải dùng mưu thôi. Nhưng muốn có mưu thì phải hiểu rõ địch ăn ở ra sao, đường ngang ngõ dọc của nó thế nào, mới định được cách đánh phù họp. Tôi nêu suy nghĩ trên được anh em trong đội Danh dự tán thánh - việc đầu tiên là phải đi trinh sát nắm địch. Trao đổi xong, tôi dẫn một tổ đi nghiên cứu. Địa thế đồn Tân Kiều tôi thuộc như lòng bàn tay, chỉ không biết từ khi địch về dựng bốt đến nay thì có gì khác.
Hai đêm chúng tôi trườn trên ruộng lúa để tiếp cận đồn. Đêm trước thấy động địch bắn ra rất dữ, cộng thêm pháo sáng từ đồn địch ở đèo Bánh ít bắn lên, buộc chúng tôi phải rút. Cả ngay hôm sau chúng tôi họp nhau lại rút kinh nghiệm, sở dĩ bò trườn trên ruộng nước phát ra tiếng động là vì vướng vào quần áo. Đêm sau chúng tôi quy định chỉ mặc quần đùi áo lót và vào gần đồn phải trát bùn ngụy trang. Kết quả không ngờ! Đêm ấy chúng tôi bò sát vào đồn địch, lần đếm từng hàng rào, xác định độ chắc chắn của các hàng cọc trụ. Kết hợp với nguồn tin của cơ sở báo ra, chúng tôi có được một tình hình khá chính xác về đồn Tân Kiều: ở đây có một trung đội lính bảo an, trong đó có nhiều tên ác ôn. Quanh đồn có hai hàng rào tre, giữa hai hàng rào là chông sắt. Rào ken dày bắt chéo nhau hình mắt cáo, trên đầu các cọc vót nhọn, khó chui qua và cũng khó nhổ vì chúng cắm rất sâu, có gài lựu đạn. Với trang bị và kỹ thuật như hiện nay thì tình hình bố phòng của cái đồn này có nghĩa lý gì. Nhưng với chúng tôi hồi đó, lần đầu đánh đồn giặc thì cả là một việc lớn, quá sức, đòi hỏi phải bàn bạc, suy tính dữ lắm. Dĩ nhiên muốn diệt đồn thì phải phá rào rồi. Bàn tới, bàn lui chúng tôi cũng nghĩ ra được cách làm con cúi (như néo đập lúa ở ngoài Bắc) cặp ôm vào cột dùng lực tay tì vào hai càng của cúi mà nhổ. Khi đã phá được rào, sắp vô đồn thì dùng xăng tẩm vào rơm, đốt ném vào các nhà ở của lính đang nằm ngủ hình thành vòng lửa quây tròn để diệt chúng; thằng nào chạy thì dùng súng bắn hoặc giáo mác xỉa. Rơm thì vận động nhân dân thu gom. Còn xăng lấy đâu? Thật khó! Chúng tôi tìm cơ sở tận trong thị trấn Ninh Hòa vận động họ giúp đỡ. Củng phải mất vài ngày sau mới có đủ lượng xăng cần thiết cho cách đánh “hỏa công” hiện đại của chúng tôi. Công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương và bí mật. Theo quy định mỗi ngưởi phải có hai bó rơm đóng chặt như cái bánh chưng to. Xăng đóng vào chai mang theo, đến gần vị trí triển khai tiềm nhập mới tẩm. Để biết được sức mạnh của loại vũ khí “hỏa công” này, đêm trước đi đánh, chúng tôi cho thực tập tẩm xăng và thực hành đốt, phóng. Rơm khô bó chật, xăng mới tẩm, chạm lửa là cháy bùng, ngọn lửa bốc cao, bén nhanh. Cuộc thử nghiệm thành công gây thêm lòng tin và tinh thần quyết chiến. Ai cũng mong thời gian trôi nhanh để đến mai được thực hiện. Kế hoạch như vậy là hoàn hảo, không còn gì phải bàn. Một ngày cuối tháng 7 năm 1947, trận “hỏa công” được tiến hành. Chỉ huy chung trận đánh là anh Sây. Năm mươi chiến sĩ của đội Danh dự với hơn mười khẩu súng trường và súng kíp, một số lựu đạn, còn lại là gậy gộc, giáo mác chia thành hai tổ, theo hai hướng đánh vào. Hướng Hòn Hèo vào, địch đề phòng cẩn mật, chúng tôi xác định là hướng phụ, làm nhiệm vụ nghi binh và đón lõng số địch trốn chạy; hướng tây địch cho ta là khó đánh, nên địch chủ quan, bố phòng không cẩn mật được xác định là hướng chủ yếu. Hướng này do tôi phụ trách. Đúng giờ quy định, hai tổ theo hai hướng được phân công vào vị trí triển khai chiến đấu. Trăng non đầu tuần đã lặn, trời tối xẩm, xóm làng chìm trong đêm yên tĩnh, xa xa có tiếng chó sủa vu vơ vọng lại. Tất cả đều diễn ra đúng như kế hoạch. Kỹ thuật tiềm nhập được thục luyện trước đó mấy ngày tỏ ra có hiệu nghiệm. Đồn địch vẫn không hay biết gì khi chúng tôi vượt qua ruộng nước tiến sát đến chân rào. Chúng vừa đổi gác, tên lính mới thay phiên tỏ ra còn tỉnh táo tay lăm lăm súng đi đi lại lại. Chúng tôi nằm yên, kìm chế cả hơi thở mạnh. Đêm về khuya, gió từ biển thổi vào gây lạnh khó chịu. Tôi bỗng rùng mình và như có vật gì đang bò nơi cổ họng, muốn ho. Thật là căng thẳng! Chỉ một tiếng ho dù nhỏ phát ra lúc này là hỏng việc. Tôi có im nhịn nuốt nước miếng liên tục, cổ bớt khô và cơn ho qua đi. Thật là hú vía! Các tổ lặng lẽ dùng con cúi nhổ rào, dọn cửa mở... Theo đúng kế hoạch, tôi tháo chốt quả lựu đạn ném vào hướng tên lính gác đang đứng. Một tiếng nổ đanh, là hiệu lệnh của trận tiến công đêm nay. Các bó rơm tẩm xăng biến thành những quả cầu lửa bay vào đồn địch. Ngọn lửa bốc cao, lan nhanh thiêu đốt các nhà lính đang ngủ. Sân đồn sáng rực, nhìn rõ những tên lính hoảng loạn từ nhà chạy ra, hoang mang không biết sự tình ra sao từ đâu tới. Các chiến sĩ ta bắn hạ từng tên và bồi tiếp những trái lựu đạn vào những toán lính địch đang nhốn nháo. Đồn địch cháy, ngọn lửa lan to, bốc cao sáng rực cả một góc trời. Đại bộ phận lính địch bị tiêu diệt và bị bắt sống. Trận đầu thắng giòn giã, chúng tôi càng thêm tin vào sức mình, thanh thế đội Danh dự càng lan nhanh trong nhân dân, vào cả các đồn bót địch sâu tận trong Ninh Hòa, Nha Trang, ra cả Vạn Ninh, Đại Lãnh, v.v... gây thành làn sóng hoang mang dây chuyền trong hàng ngũ chúng: Chuyện Việt Minh có phép “tàng hình” và thuật “hỏa công” được binh lính thêu dệt với các tình tiết lý kỳ, khiến chúng càng bối rối, hoang mang, phải dè chừng càn quét, tàn phá tài sản của nhân dân quanh vùng. Tân Kiều bị san bằng, ta phá được thế bao vây của địch, đường dây liên lạc, tiếp tê giữa nhân dân với vùng căn cứ kháng chiến Hòn Hèo được nối lại, ta có điều kiện phát triển cơ sở, hình thành nhiều căn cứ lõm liên hoàn, tạo thuận lợi cho đội Danh dự hoạt động đánh địch, xây dựng cơ sở, mở rộng địa bàn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 02:48:05 am IV Bốn tháng sau, đội Danh dự chúng tôi lại giáp mặt địch ở Hố Vông, dưới chân dãy núi Hòn Hèo về phía tây, chỉ cách đồn Tân Kiều chừng khoảng bảy cây số. Ở Bắc Khánh lúc này, địch đã hoàn thành việc chiếm đóng các vị trí quan trọng ở thị xã, thị trấn và trên các trục đường: đại bộ phận lực lượng ta rút ra xây dựng tuyến phòng thủ chặn địch ở đèo Cả, được thể địch càng chủ quan, một mặt chúng ra sức càn quét lùng sục, đặt thêm đồn bót, mở rộng địa bàn kiểm soát về quân sự; mặt khác chúng không ngừng huênh hoang rêu rao rằng Việt Minh đã bị tiêu diệt. Trong dân chúng một số người do chưa được hiểu thấu đáo tình hình sinh hoang mang; số ít bị địch lung lạc, bắt đầu ra làm việc cho chúng. Chủ trương của trên là phải tìm mọi cách, tạo mọi cơ hội mà hoạt động, không được thụ động nằm im. Theo kế hoạch họp đồng ngày hôm trước thì một đơn vị chủ lực của tỉnh sẽ bố trí phục kích đánh bọn địch thường ngày vẫn đi trên đoạn đường ngã ba Ninh Hòa để càn quét khủng bố nhân dân quanh vùng đường số 1; còn đội Danh dự bố trí ở Hố Vông có hai nhiệm vụ; chặn viện và phá thế vu hồi, để bạn không bị hở sườn phơi lưng, hoàn thành nhiệm vụ một cách an toàn. Mặt trời vừa nhô khỏi mặt biển như quả cầu lửa, xua tan mây mù thì đội Danh dự cũng từ căn cứ Hòn Hèo hành quân ra vị trí đã được chỉ định - Hố Vông. Niềm tự tin chiến thắng Tân Kiều vẫn còn âm vang trong lòng mọi người. Bản thân tôi cũng vậy, thấy mình lớn lên nhiều trong việc nghĩ kế đánh giặc. Trận đánh vẫn do anh Sây chỉ huy trưởng, tôi chỉ huy phó đặc trách chỉ huy tổ trung liên Brô-ninh. Thời gian như chậm lại. Mặt trời đã lên đỉnh đầu, ngoài đồng, vắng lặng không một bóng người, tất cả đều yên tĩnh, chỉ có tiếng gió rì rào lao xao qua các bông lúa đang ngả nghiêng. Bụng bắt đầu lép vì mỗi người mới chỉ được phân một suất cơm vắt nhỏ, ăn từ sáng sớm. Hay là địch phát hiện ta phục kích đón đánh nên chúng bỏ cuộc? Thoạt đầu là câu hỏi của một người sau lan nhanh thành lời bàn tán râm ran, kèm theo cả ý kiến rút thôi, chờ đến ba giờ, tầm này Tây nó sắp đóng cửa đồn đi ngủ rồi. Như thế là kỷ luật chiến đấu không nghiêm, nhỡ khi ta rút địch mới mò tới thì sao, đơn vị bạn không hoàn thành nhiệm vụ có phần trách nhiệm của ta. Tôi và anh Sây trao đổi với nhau rồi nhất trí là dù tình hình nào ta cũng không được rời vị trí chiến đấu, phải kiên nhẩn chờ đợi, đến tối hãy hay, còn bây giờ, ai nấy phải giữ vững vị trí chiến đấu. Oàng! Một tiếng nổ to đanh, không gian như giãn ra và nghiêm trọng hẳn lên. “Đúng là mìn của ta rồi!”. Tôi sung sướng hô to lên như thế, và chưa kịp nói tiếp nhận xét của mình thi súng các loại nổ theo, liên tục không ngớt từ phía Ninh Hòa vọng lại. Lúc đó mật trời đã ngả về tây, khoảng lối ba giờ chiều. Tôi vừa động viên anh em trong tổ vừa nhắc nhở mọi người cần chú ý theo dõi phía trước mặt, sẵn sàng đánh địch nếu chúng mò đến đây. Đạn nổ từ phía Ninh Hòa vẫn không ngớt vọng lại. Còn bên phía chặn viện chúng tôi thì không một động tĩnh. Trước mặt trận địa của đội Danh dự vẫn chỉ là cánh đồng lúa đã ngả màu vàng đang lao xao theo gió từ hướng biển thổi vào. Bỗng dưng từ phía Ninh Hòa súng nổ thưa dần rồi tắt hẳn. Thế nghĩa là trận đánh đã kết thúc? Lúc ấy chúng tôi đều có chung một phán đoán như thế, ai nấy đều rất tự tin rằng ta đã thắng và tự trách mình là số phận hẩm hưu, chờ từ sáng đến giờ thật uổng! Đến đây xin mở vòng ngoặc lưu ý bạn đọc là chính lúc im tiếng súng ấy là tình hình diễn biến theo hướng xấu, ngược lại với phán đoán lạc quan của chúng tôi. Số là cuộc chiến đấu không cân sức, kẻ địch hôm nay khác với những kẻ địch những ngày trước đó, chúng đi với số lượng đông hơn, có cả xe tăng đi đầu hộ tống, mà ta thì lực lượng vẫn không được tăng cường thêm. Địch tiến công ồ ạt buộc lực lượng phục chặn của ta phải tạm thời lui về nam Hòn Hèo để bảo toàn lực lượng, nhưng không thông báo cho chúng tôi biết. Giữa lúc chứng tôi đang khấp khởi mừng quân ta đã giành thắng lợi thì một bộ phận địch đánh tạt sang hướng chúng tôi. Chúng vận động bí mật, đi lom khom trên bờ các ruộng lúa sắp gặt để tiếp cận, định “cất vó” gọn đội Danh dự. Nhưng vì thằng Tây nó cao to, càng đến gần phải cắt ruộng lúa, các bông lúa động đâiy thế là chúng tôi phát hiện được liền. Nguy rồi! Địch đã đến gần chúng đang thu hẹp vòng vây. Tuy bị rơi vào thế bị động nhưng không một ai trong chúng tôi hoang mang. Tất cả ở tư thế sẵn sàng chấp nhận cuộc đối đầu mà chúng tôi đang ở thế bất lợi. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 08:44:03 pm Cuộc chạm súng bắt đầu. Bên hướng tây do anh Sây trực tiếp chỉ huy, sau khi đánh lui đợt tấn công thứ hai của giặc thì anh hy sinh vì mảnh đạn pháo 105 ly xuyên trứng ngực bên trái. Tôi thay anh tiếp tục chỉ huy trận đánh. Xót thương đồng chí, sức mạnh trong chúng tôi được nhân lên, hướng về phía kẻ thù, bắt chúng phải đền tội ác. Phát hiện ra tổ trung liên của chúng tôi thật lợi hại, đã ghìm đầu quân giặc nhiều lần, nên từ đó chúng tập trung hỏa lực diệt bằng được. Sỹ đảm trách bắn súng trung liên hôm nay phải nói là rất khá, dũng cảm, lúc nào cũng ngẩng cao đầu, nhằm trúng kẻ thù mà bóp cò. Vì thế địch càng dồn sức, liều mạng xông tới. Để bảo toàn lực lượng, tôi hạ lệnh cho toàn đơn vị rút về căn cứ Hòn Hèo. Lúc này mặt trời đã xê bóng, khoảng lối bốn giờ chiều.
Địch càng khép chặt vòng vây và dồn mọi sức mạnh hỏa lực vào mục tiêu tổ súng trung liên lức ấy có ba người: Sỹ, Tá và tôi. Khi rút qua sình lầy địch bắn càng rát. Vừa bắn chúng vừa hô đuổi bắt sống chúng tôi. Sỹ vừa vác trung liên vừa bắn trả địch yểm hộ tôi và Tá rút nhanh lên bờ ruộng cao gần đấy nằm lại yểm hộ cho Sỹ rút. Gần tới bờ ruộng cao, quay lại tôi thấy Sỹ, người vốn nhỏ bé, lúc này đã đuối sức lảo đảo như muốn khuỵu xuống. Sỹ cố vùng dậy vượt tiếp đoạn sình lầy. Nhưng không được rồi, Sỹ đã trúng đạn và hy sinh ngay tại chỗ. Vừa xót thương đông chí, vừa căm thù quân giặc, bất chấp mọi hiểm nguy, chúng tôi vội quay lại, băng qua sình lầy, ôm lấy xác Sỹ và vác khẩu trung liên từ hai tay Sỹ nắm chặt vẫn còn hơi nóng, tiếp tục rút theo hướng đã định. Một phát đạn sượt qua bắp chân làm tôi đau nhói nhưng vốn khỏe, đang hăng, tôi vẫn chạy vượt lên, địch không sao đuổi kịp để bắt sống. Lên tới vạt ruộng khô, địa hình cao hơn mặt sình lầy, tôi phải để khẩu trung liên nằm trên lưng hai chân súng xoạc ra ôm lấy cổ rồi trườn thấp dưới làn đạn địch. Tình thế càng nguy kịch, chỉ còn cách bìa rừng một cây số thì tôi bị mảnh đạn Moóc-chi-ê địch bắn chặn xuyên vào hốc cổ bên phải, máu chảy sũng vai áo, người thấm mệt, trong khi tiếng hò hét của địch đuổi phía sau nghe càng gần. Không để vũ khí rơi vào tay quân thù - ý nghĩ đó thôi thúc tôi vượt qua hiểm nghèo. Khẩu trung liên này là chiến lợi phẩm trong trận phục kích quân địch ở đèo Phượng Hoàng hồi đầu năm, được tỉnh ưu tiên trang bị cho đội Danh dự, không thể để địch cướp lại. Tôi chợt nghĩ nếu cứ chạy thẳng thì địch sẽ đuổi kịp, phải lừa địch. Nhìn phía trái thấy có bụi quít1, tôi liền rẽ theo hướng ấy và nhanh chóng chui vào giữa bụi mặc cho gai quít cào xé. Địch vẫn đuổi, lần theo vết quân ta lúc này đã rút vào sâu trong rừng. Đúng lúc này, từ trên núi cao anh em ta nổ súng bắn trả vào quân địch. Bị đánh bất ngờ, trời đã gần tối, chúng vội vã thu quân. Trên đường trở ra, chúng hoảng sợ bắn bừa bãi ra xung quanh, vào cả hướng bụi quít noi tôi đang nằm, may mà không trứng. Vết thương ra nhiều máu, tôi nằm lả, dần dần mê man chẳng còn biết gì xảy ra sau đó, quanh chỗ mình nằm nữa. Thấy thiểu tôi, anh em lo lắng đốt đuốc chia làm nhiều ngả đi tìm cùng khắp các bờ bụi. Lần đến bụi quít, nhìn tôi nằm bất tỉnh anh em liền cáng đưa tôi về đơn vị. Tưởng vết thương nặng tôi khó qua khỏi đơn vị vội chuẩn bị mọi thứ để sẵn sàng mai táng. Nhưng sáng hôm sau thấy tôi tỉnh dần, anh em hùa nhau đổ sữa, tôi lai tỉnh hơn. Có lẽ cái lả thiếp do tôi mất nhiều máu, sau này tôi nghĩ và tự buồn cười với mình là một phần còn do đói nữa. Từ đó anh em trong đội Danh dự rất thương tôi, tình thương ấy thật quý đã giúp tôi rất nhiều trong việc định hướng cho bước đi sau đó. Thú thật sau lần bị thương này, sức khỏe giảm, con người trở nên kém năng nổ, hoạt bát, nên có phút tôi sinh bi quan. Sau trận chiến đấu đó, anh em càng thực sự tin mến tôi, trận đánh tiếp theo nào cũng muốn tôi đi cùng, mà đi thì lại tức thở người như lên cơn hen. Anh em lại động viên: Tụi tôi sẽ dìu anh Tư đi tới nơi, khi nào sát đồn, anh Tư cứ ngồi ngoài, để mặc tụi tôi xáp vô lo giải quyết. Nhưng nhiều trận, khi vào gần đồn, tự nhiên thấy người thanh thản, thở vào hít ra dễ dàng, bình thường như mọi người. Thế là tôi lại cùng anh em tham gia chiến đấu. Đánh thắng, khi hành quân trở về, căn bệnh tức thở lại như cũ. Nghĩ muốn khóc, song thấy như thế là làm mềm yếu tình cảm anh em nên tôi cố nhịn. (Mãi đến năm 1956, khi tập kết ra Bắc, được các chuyên gia y tế Liên Xô khám xác định đây là vết thương hiểm nghèo vì mảnh đạn chui vào phổi, đã chỉ định cần phải mổ ngay. Ca mổ thành công, lấy ra được một mảnh đạn to vừa bằng đầu ngón tay cái). Vết thương mang đầy ắp kỷ niệm giáp trận những ngày đầu ấy nó đã dày vò cơ thể tôi một thời khiến tôi có lúc như một anh ấm đầu”, vui đấy, nhăn nhó, buồn phiền cũng liền đấy. Song cũng từ cái họa ấy - cái mảnh đạn nằm trong buồng phổi phải của tôi suốt chín năm ròng đã có lúc là “bạn đường” rất đáng tin cậy giúp tôi vượt khúc hiểm nghèo, tồn tại cho đến bây giờ để kể cùng bạn đọc một chặng đường dài đã cùng đồng đội chiến đấu. ----------------- 1. Như cây ruối ngoài Bắc nhưng có gai. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 08:49:33 pm V Việt Minh không phải là “bóng ma” mà là một thực thể tồn tại bằng xương bằng thịt hẳn hoi. Đây chính là lời thú nhận của thực dân Pháp sau những ngày đầu phải trả giá khi tiến hành chiếm đóng, bình định tỉnh Khánh Hòa. Kẻ địch tìm mọi cách để tiêu diệt bằng được lực lượng vũ trang ta. Khánh Hòa lại bước vào một thử thách mới, phải đương đầu với một âm mưu thâm độc và tàn bạo của kẻ thù. Từ Xuân - Hè 1949, các vùng du kích nổi tiếng của những năm 1947-1948 ở Bắc Khánh và Nam Khánh đều bị địch lấn chiếm; chúng tăng cường càn quét đánh phá các làng ven rừng, đẩy cán bộ và lực lượng vũ trang ta lên núi, cắt đứt liên lạc giữa núi và làng, phong tỏa các căn cứ của ta; đồng thời chúng ráo riết thực hiện kế hoạch “dồn dân ngủ đồn”, kết hợp với rào làng để ngăn chặn “Việt Minh” đột nhập vận động dân chúng. Tất cả già trẻ, trai gái đều phải vào “nhà ngủ tập trung ở gần đồn”. Bộ máy kìm kẹp với những tên ác ôn cầm đầu cũng được dựng lên để khống chế nhân dân, hòng bắt cán bộ, triệt phá cơ sở cách mạng ở hạ tầng; địch đặt ra hệ thống hương lý mới, với những chức “hương lúa”, “hương gạo” để kiểm soát lúa gạo, chặn đường tiếp tế của các lực lượng vũ trang và cán bộ ta. Vẫn chưa hết. Địch còn tổ chức các lực lượng chuyên đi lùng soát từng nhà; phục kích các đường hành lang đi lại của ta; lập vành đai trắng xung quanh các khu dân cư; bao vây nhằm vô hiệu hóa các căn cứ lõm của ta ở Hòn Hèo, Hòn Dữ, Hòn Lớn, Đồng Găng Đông Bồ. Riêng ở căn cứ Hòn Hèo đã có lúc địch huy động một lực lượng lớn hải quân và bộ binh tiến hành bao vây phong tỏa liền trong hai mươi mốt ngày đêm. Như các lực lượng kháng chiến nói chung, đội Danh dự chúng tôi cũng bị dồn vào một tình thế vô cùng khó khăn, rất có thể dẫn đến mất đất, mất dân. Vấn đề cơ bản và cũng là nóng hổi lúc ấy là phá ách kìm kẹp của địch, xây dựng và tích lũy lực lượng mọi mặt, tạo điều kiện để đưa phong trào chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Chúng tôi được lệnh phải chuyển hướng hoạt động, phải luồn vào hậu địch, tuyên truyền giáo dục và tổ chức lực lượng quần chúng, phát động quần chúng đấu tranh bằng mọi hình thức; chỉ hoạt động quân sự khi nào thấy chắc thắng và có tác dụng hỗ trợ cho việc phá kìm, diệt ác ôn, giành dân. Đội Danh dự bước vào cuộc chiến đấu mới, phân tán từng tổ nhỏ âm thầm lặng lẽ vào từng thôn ấp, đến từng gia đình làm nhiệm vụ thăm hỏi, gợi chuyện, tuyên truyền giải đáp đến những thắc mắc rất cụ thể của từng người; thỉnh thoảng lại tổ chức những đợt táo bạo thọc sâu vào hậu địch, sát cạnh các đồn bốt thực hành vũ trang tuyên truyền, kết họp tổ chức diễn kịch, ca hát theo hình thức lửa trại thật chớp nhoáng, rồi bí mật rút nhanh đến một nơi khác. Những hoạt động như vậy đã giành thắng lợi không ngờ. Biệt tài của Lý Ba và Lê Nọ đã để lại trong các đêm diễn ấy một tiếng vang, nhân dân thì thán phục, còn bọn tề ngụy thì hoảng sợ. Lý Ba, người nhỏ con, có phép thôi miên và thu gọn người - người đã nhỏ càng nhỏ như một em bé vậy. Thoắt một cái Lý Ba đứng tấn để gồng thì người lại to, bụng phình, các bắp thịt, cánh tay nổi lên rõ thớ, rắn chắc, rất khỏe như lực sĩ, nom thật rất dữ dằn. Còn Sáu Nọ (tức Lê Nọ) ngoài những biệt tài giống như Lý Ba, còn giỏi võ thuật, có tài đón bắt ác ôn. Vừa biểu diễn vừa tiến hành tuyên truyền đường lối, chính sách kháng chiến của Đảng cho những người đến xem. Uy tín, uy danh của đội Danh dự ngày càng vang xa. Trong hàng ngũ địch cũng lan truyền về chúng tôi có “phép thuật”. Một lần Lý Ba xuống vùng Phước Đa hoạt động. Ở đây, tên ấp trưởng thường nạt nộ, ức hiếp dân và cúc cung làm việc do Tây sai khiến. Vì thế dân chúng rất bất bình. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Lý Ba được giao nhiệm vụ cảnh cáo trấn áp tên ấp trưởng. Anh lọt vào nhà tên ấp trưởng ngay giữa ban ngày. Thấy tên ấp trưởng đang quát nạt một ông già ngồi ủ rũ trước mặt y, anh liền xưng danh: - Lý Ba đây! Nghe tên Lý Ba, tên ấp trưởng run bắn, nói không ra lời. Lý Ba xuống tấn, gồng, làm tên ấp trưởng càng hoảng sợ. Lý Ba thôi biểu diễn “phép thuật”, nghiêm khắc cảnh cáo những việc làm sai trái của tên ấp trưởng lần này cách mạng khoan hồng, nếu còn tái phạm thì phải chịu tội. Tên ấp trưởng mặt cắt không còn hột máu, hai tay vái lậy, cúi đầu nhận tội và hứa từ nay xin ăn năn... Sau vụ này uy danh của đội Danh dự càng được nhiều người biết đến. Bọn ác ôn có nhiều nợ máu đêm đến phải vô đồn ngủ, những tên tề khác thì bắt đầu chùn, không dám hung hăng như trước nữa. Bằng kết quả của những hoạt động vũ trang tuyên truyền bền bỉ liên tuc đội Danh dự đã cùng với cán bộ dân, chính, Đảng của tỉnh gây dựng nhiều cơ sở ở vùng sau lưng địch, làm thất bại đáng kể âm mưu tranh đất, giành dân của địch. Thắng lợi tuy chưa nhiều nhưng lại rất quan trọng. Đó là từ hoạt động ban đêm, chuyển sang làm chủ ban ngày, trước tiên ở các xã ven rừng. Quần chúng thoát khỏi sự kìm kẹp của địch đã hăng hái tham gia hoạt động cách mạng như đi dân công, tiếp tế, tải thương, đóng góp gạo tiền nuôi bộ đội. Những ngày hoạt động đầu tiên trên mảnh đất quê hương đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc, tiếp tục ảnh hưởng trong suốt quá trình chiến đấu của mình. Với nhiệt tình của tuổi trẻ, được Đảng, cách mạng bồi dưỡng, chắp cánh, chúng tôi bước vào cuộc chiến đấu bất chấp mọi khó khăn, thử thách, không nề hy sinh, từ tay không dám chống chọi và tìm cách đánh giặc bảo vệ quê hương. Quê hương - mảnh đất ruột thịt đã tiếp nguồn sữa nuôi chúng tôi khôn lớn, đùm bọc cho chúng tôi chiến đấu ngay giữa vòng vây quân thù. Có Đảng chỉ đường, có nhân dân che chở, chúng tôi đã tạo ra được cách hoạt động, cách đánh thích hợp. Trong cuộc chiến đấu đó tình đồng đội, đồng chí nảy nở, gắn bó với nhau. Chính những ngày đầu chiến đấu trong đội Danh dự trên mảnh đất quê hương đã cho tôi nhiều đáp số cho một hướng đi sau này. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 08:55:38 pm LỚP HỌC ĐẶC CÔNG NHIỆM VỤ ĐẶC BIỆT I Tháng 4 năm 1952, đội Danh dự nay đổi tên là Cảm tử chúng tôi đang hoạt động ở vùng hậu địch Vạn Ninh thì được lệnh gọi về Đá Bàn nhận nhiệm vụ mới. Về đến nơi chưa kịp báo cáo, anh Nguyễn Đường, tỉnh đội trưởng (nay là Thiếu tướng, ủy viên ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương) đã chủ động đến gặp chúng tôi. Ngay từ phút đầu anh vồn vã tay bắt mặt mừng xem chúng tôi như những người thân đi xa lâu ngày mới gặp. Số là anh Đường quê ở Quảng Ngãi, sau khi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà trong cao trào Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, anh được giao nhiệm vụ chỉ huy đội Cảm tử 2 của tỉnh Quảng Ngãi vào chi viện cho mặt trận Khánh Hòa. Trên đường hành quân Nam tiến, đội Cảm tử 2 đã tham gia đánh Nhật ở Quy Nhơn, Tuy Hòa; tới Khánh Hòa, tham gia đánh Nhật ở đèo Phượng Hoàng, sau đó tăng cường cho mặt trận Ninh Hòa đang bị quân Pháp uy hiếp từ nhiều phía. Ở đây đội Cảm tử 2 đã đánh địch trên vùng Bắc Khánh, góp phần kìm chế không cho địch đánh chiếm đèo Cả. Phương thức hoạt động của Đội Cảm tử hồi đó thường chủ yếu dùng mưu để áp sát địch diệt địch bằng lựu đạn và vũ khí tự tạo (bộc phá). Có lẽ vì thế mà ngay từ đầu anh đã rất cảm tình với đội Danh dự của tỉnh Khánh Hòa. Thời gian giữ chức chỉ huy trưởng tỉnh đội, anh đã cùng tập thể lãnh đạo tỉnh quan tâm đến việc chỉ đạo xây dựng và tác chiến của Đội Cảm tử chúng tôi. Ngoài mối quan hệ trên dưới, tình cảm giữa chúng tôi và anh có cái gì gắn bó của tình “đồng nghiệp” Gặp lần này, tôi thấy anh phấn chấn khác thường. Không cần phải vào lán, anh đứng ngoài trời nói luôn: - Tư Cụ à! - Anh vẫn nắm chặt tay tôi, hai mắt nhìn thẳng vào hai mắt tôi vừa có cái gì rất tin ở nơi tôi, vừa lại như đắn đo, thăm dò, rồi anh thấp giọng - ngoài Khu có điện vào, báo cho Khánh Hòa ta được cử người đi học. - Học gì vậy anh? - Tôi hỏi lại. Anh không trả lời ngay, mà đưa tay lấy từ túi áo ngực ra bức điện của Bộ tư lệnh Liên khu V gửi vào, rồi đọc nhanh, nhấn mạnh đoạn cuối: “Cần chọn những người chiến đấu gan dạ, sức khỏe tốt, thành phần cơ bản, lập trường vững” Anh gấp cẩn thận bức điện bỏ vào túi, rồi nói với giọng thân tình: - Tôi đã thống nhất với anh Bảy Hữu là cử Tư Cụ đi học lóp này - ngừng một lát rồi anh lại tiếp - Tư Cụ sẽ chọn thêm hai người nữa theo tiêu chuẩn như Khu đã điện, do Tư Cụ phụ trách dẫn ra ngoài đó học. Tôi xúc động không nói được câu nào. Trên tin cậy, giao cho tôi tuyển chọn người và chỉ huy đoàn học sinh Khánh Hòa lên đường đi học mãi tận Liên khu. Tuy chưa biết nội dung cụ thể nhưng ngay lúc ấy tôi đã thấy đây là dịp trên chắp cánh cho minh bay cao, bay xa. Đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa gồm mười hai anh em1, được tuyển chọn lên đường đi học với tinh thần phấn khởi, tự hào. Một số anh em, gia đình tuy ở gần cũng không tranh thủ về thăm, mà ở lại giữ sức khỏe, tập trung chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho một lần đi xa đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu. Tất cả đều hăm hở chờ ngày lên đường. Mặc dầu không được trên cấp tiền, cấp gạo, nhưng chẳng ai trong chúng tôi băn khoăn để ý tới. Các anh lãnh đạo rất hiểu cái khó khăn đó, nhưng vì hoàn cảnh quá gấp nên không có cách nào khắc phục được. Hôm lên đường, đồng chí tính đội trưởng đến bắt tay từng người, cảm động nói: - Đáng ra phải có ít gạo tiền cho anh em đi đường nhưng gạo thì hết, tiền vận chuyển từ ngoài Bắc đưa vào đang mắc kẹt ở ngoài Khu, vì địch đang có đợt đánh phá hành lang của ra rất dữ! Phút im lặng trôi nhanh, anh xúc động đưa tay vẫy chào: - Các anh em phải tự lo liệu lấy để đi đến nơi... Là người trong cuộc, chúng tôi thông cảm rất nhanh với khó khăn chung và khó khăn của Khánh Hòa lúc ấy là như thế nào rồi. Địch mở rộng càn quét đánh phá ngăn chặn, phong tỏa vùng giáp ranh, toàn bộ lực lượng ta phải rút sâu về căn cứ, không liên hệ được với đồng bằng nên việc tiếp tế lương thực, thuốc men tạm thời gián đoạn, đời sống bộ đội, cán bộ gặp khó khăn. Lương thực dự trữ có hạn đã hết. Tất cả phải đào củ rừng, rau rừng sống cầm hơi. ------------- 1. Tư Cụ. Phạm Đức Ý, Nguyễn Ba, Ngỏ Tư, Nguyễn Sách, Phạm Đăng Rơi, Lẽ Sâm, Phạm sở, Nguyễn Hòa Hiệp, Lê Sơn Hổ, Nguyễn Xuân Kỳ, Đổ Đức Rùa, Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 09:00:05 pm Không tiền, không gạo, nhưng chúng tôi vẫn thanh thản lên đường. Vừa đi vừa đào củ mài và kiếm nấm rừng để sống. Cực nhọc mà lạc quan, tự động viên nhau để tới đích. Những kinh nghiệm kiếm sống đã tỏ ra lạc hậu trước cảnh thiên nhiên rừng núi Trường Sơn mỗi nơi mỗi khác, phong phú và đa dạng... Sang ngày thứ tư một sự cố hiểm nghèo đã đến! Hơn chín mươi phần trăm quân sô của đoàn học sinh đã bị ngộ độc vì một bữa nấm rất ngon mới ăn. Tất cả đều say, người nào người nấy mồ hôi vã ra như tắm, tim đập nhanh và mạnh tưởng như muốn phá vỡ lồng ngực bung ra, hai mắt lờ đờ. Riêng tôi không bị say không phải vì có sức đề kháng đặc biệt mà do là cán bộ chỉ huy, như các ngày thường, khi có món nấm bao giờ cũng nhường anh em ăn, vì tìm nấm không phải dễ, vả lại tìm được cũng do công sức của anh em. Bữa nay cũng vậy, để anh em ăn thoải mái rồi nêu còn thừa, tôi mới ăn, hết thì mình vui vẻ nhịn.
Nhìn thấy anh em nằm lịm, tôi phát hoảng, không biết làm cách gì để cứu chữa ở giữa chốn rừng xanh không dấu chân người này. Giữa lúc tưởng chừng như bất lực, tôi bỗng sực nhớ bài thuốc dân gian qua một bà cụ già người dân tộc truyền cho: dùng phân người đốt thành than rồi hòa với nước cho uống. Tôi làm theo kinh nghiệm của cụ già kể, anh em tỉnh dần. Khi anh em khỏi hẳn, tôi thuật lại tình hình như vừa kể. Mọi người nghe xong cười ồ sảng khoái và tặng tôi danh hiệu: thầy lang chánh hiệu. Phải mất gần một tuần lễ chúng tôi mới tới được địa phận tính Phú Yên. Tinh thần anh em vẫn giữ vững, không ai tỏ ra nao núng bàn chùn. Nhưng tinh thần dù cao đến đâu vẫn có giới hạn, nếu sức khỏe cứ giảm sút thì cũng không đi tới đích được. Càng những ngày sau, dấu hiệu thể lực giảm càng thấy rõ, chuyện trò, tán vui ít, tốc độ hành quân tụt, chặng đường đi trong ngày cứ ngắn dần. Đêm đầu tiên nằm ở địa phận tỉnh Phú yên, tôi cứ trằn trọc, mặc dầu đây là phần đất tự do của Liên khu V, hết cảnh giặc giã rồi. Không phải nhớ quê hương, nhớ gia đình, cũng không hoàn toàn do cái đói cơm trong dạ dày cào xé mà lo trách nhiệm phải hoàn thành như đã hứa với cấp trên trước lúc lên đường: Khắc phục khó khăn đi tới đích học tập... Sớm hôm sau tôi dậy sớm, đồng thời đánh thức anh em cùng dậy. Không phải là để chuẩn bị hành quân tiếp mà là họp bàn một vấn đề tôi chợt nghĩ trong đêm qua. Cuộc họp diễn ra ở thượng nguồn khe cạn gần vạt rẫy cách đường số 7 không xa lắm. Thoạt đầu anh em tưởng bàn kế hoạch đề phòng máy bay địch oanh tạc, nên ai nấy dểu nghiêm túc theo dõi cử chỉ hành động của tôi. Nhìn gương mặt xanh xạm, thân hình gầy yếu của những người đồng ngũ ngồi trước mặt, tôi xúc động và chậm rãi trình bày ý định của mình: Đoạn đường tới đích ta mới đi được một phần ba. Để có thể đủ sức khỏe đi tiếp đoạn đường còn lại, chúng ta cần phải có gạo, có tiền... Tôi chưa nói hết thì có tiếng hỏi cắt ngang như thách thức: - Kiếm đâu ra gạo, tiền ở giữa chốn rừng hoang này? Tôi trả lời liền không chút chần chừ, vì việc này tôi đã nghĩ kỹ suốt đêm qua: - Hái ớt - đưa mắt nhìn một lượt như dò tìm người đồng tình, tôi tự tin nói tiếp - Hái ớt mang xuống chợ bán... Thế là một cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi, vang cả khe cạn Số đông lúc đầu không tán thành vì nghĩ bộ đội ai lại làm vậy một phần vì không quen, xấu hổ, khi ra chợ nhỡ gặp người quen nhất là phụ nữ, biết ăn nói làm sao! Một vài ý kiến đồng tình, cho là làm như vậy cũng không phạm kỷ luật gì ảnh hưởng đến phẩm chất người quân nhân. Mà hái ớt mọc hoang ở những bìa rừng đem chợ bán chứ có làm điều gì phi pháp đâu mà lo. Sau khi tất cả nhất trí, chúng tôi bàn cách thực hiện: Sẽ đan sọt lót lá kín xung quanh, ớt để giữa, như gánh gạo. Ra đến cửa rừng, chờ tối mới gánh tiếp xuống chợ bán (hồi ấy các chợ ở vùng tự do Khu V đều họp về tối đề phòng máy bay địch bắn phá). Hái ớt, đan sọt gánh ra chợ thì ai cũng vui vẻ nhận, chỉ còn việc bán thì số thanh niên trẻ vẫn tỏ vẻ ngại. Tôi liền giải đáp: - Xuống đến chợ Tuy Hòa, các anh em cứ để đấy, ai có người quen thăm người quen, nếu không có thì đi chơi chợ, để tôi và chú Ba1 lo biệc bán. Bệnh sĩ diện được giải tỏa, mọi người đều thông suốt. Những quả ớt mình nhỏ, vỏ đỏ, nhấm một tí ở đầu lưỡi đã cay ran cả người, gây cảm giác nóng ra toàn thân, đã được chúng tôi thu hái đóng thành mười hai gánh, gọn đẹp như những gánh gạo của các cổ dân công hỏa tuyến đưa lương thực tiếp tế cho bộ đội chiến đấu. ---------------- 1. Là chú ruột tôi, cũng là một thành viên trong đoàn học sinh của tỉnh Khánh Hòa ra học lớp đặc công do Khu V mở. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 09:03:11 pm Đúng vào lúc chợ Tuy Hòa đông người mua bán thì chúng tôi cũng vừa tới. Mười hai gánh ớt được đặt ở ngay giữa chợ, do tôi và chú Ba đứng bán. Người qua lại rất đông, nhìn chúng tôi bằng con mắt tò mò, ngạc nhiên, nhưng không ai hỏi mưa. Mới mười phứt trôi qua mà tôi thấy lâu quá chừng, người cứ thấy bồn chồn, bối rối. Mắt tôi cứ dán vào người qua lại, theo dõi xem có ai hỏi mua không, còn đầu óc tôi thì nghĩ mông lung đủ chuyện phiền toái sẽ xảy ra nếu ớt bị ế! Chú Ba tôi thì ngược lại, dáng điệu vẫn vô tư, lạc quan, mời chào rất niềm nở.
Một người đàn bà đứng tuổi cúi xuống xem mặt ớt, rồi hỏi chú Ba tôi: - Bác bán ớt hả? - Dạ phải. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Chú Ba đon đã mời chào: - Bác mua nhiều hay ít - chú cúi xuống bốc một nắm ớt hai tay nâng niu mời khách - ớt tôi đều quả, rất cay. - Nếu được giá, tôi mua tất. Thế là chú Ba dẫn người đàn bà đi xem hàng và ngã giá bán. Tôi như mở cờ trong bụng, thế là có tiền rồi, chuyến đi của chúng tôi tới đích có thêm thuận lợi. Mười hai gánh ớt bán được 1.200 đồng (tiền tín phiếu được phát hành dùng trong vùng tự do Khu V thời đó). Ớt bán được, anh em ai nấy đều phấn khởi. Có tiền chi tiêu dọc đường. Từ chỗ kiếm sống bằng đào củ mài, hái nấm rừng, nay có tiền đong gạo, mua thức ăn, chúng tôi đều cảm thấy lại sức phấn chấn đi tiếp chặng đường còn lại. Từ Phú Yên, phải mất tròn một tuần lễ nữa chúng tôi mới tới Quảng Ngãi, thì khóa huấn luyện thứ nhất vừa kết thúc, học sinh tốt nghiệp lớp này ai nấy đều phấn khởi, tin tưởng, chuẩn bị đi thực tâp để kiểm nghiệm những điều mình đã học. Khóa huấn luyện thứ hai được mở ngay. Các anh trong ban phụ trách gặp tôi nói: Mọi thứ đã chuẩn bị xong, chỉ chờ đoàn Khánh Hòa ra là bắt đầu; tình hình rất khẩn trương vì các chiến trường đang đòi hỏi. Trường học dặt tại huyện Tư Nghĩa, cạnh thị xã Quảng Ngãi. Học sinh lớp này gồm có đoàn tỉnh Khánh Hòa và đoàn Khu V do anh Châu Khải Địch phụ trách. Huấn luyện viên là ba anh Nguyễn Hữu Liêm, Trần Thắng Nê và Nguyễn Văn Đôi từ Nam Bộ cử ra. Thực chất của lóp học là nghe kinh nghiệm đánh đồn bót, tháp canh của chiến trường Đông Nam Bộ do ba anh truyền đạt. Những kinh nghiệm đã được các đồng chí Nam Bộ tuyển chọn, biên soạn và đánh máy bằng giấy pơ-luya trắng mang tên Kinh nghiệm chiến đấu đặc công, có hình vẽ minh họa các loại hàng rào, tháp canh - đồn bốt địch và các loại vũ khí tự tạo dùng để đánh dồn. Tập tài liệu này do anh Nguyễn Hữu Liêm mang theo dùng để huấn luyện Đặc công ở Bình Thuận, Khu V và sau đó mang ra báo cáo nộp Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu. Thời gian học tất cả là mười lăm ngày. Phần lý thuyết rất ngắn gọn, chủ yếu dành cho thực hành kỹ thuật tiềm nhập vào đồn bót địch trong điều kiện có rào kẽm gai, có bãi chông mìn, có đèn pha, pháo sáng kiểm soát, có lính địch canh phòng cẩn thận; kỹ thuật đóng gói và sử đụng thủ pháo, bộc phá, lựu đạn ném đúng lỗ châu mai v.v... Cũng chẳng có trường lớp hẳn hoi. Tất cả đều học tại thao trường. Ở đó được đựng mô hình đồn bót địch giống như trên thực tế, rồi vừa giảng lý thuyết, giáo viên vừa tự mình thực hành các động tác mẫu, sau đó từng người lần lượt luyện tập dưới sự chỉ dẫn uốn nắn của giáo viên, cho đến khi nào thành thạo mới thôi. Mọi thứ đều thiếu thốn, ăn đói, ở nhờ nhà dân, nhưng ai nấy đều yên tâm, phấn khởi học tập. Thực ra thì tất cả chúng tôi trước khi về đây đều ít nhiều đã đánh địch theo kiểu này nhưng còn thô sơ, bản năng, chỉ qua thực tế khó khăn mà nảy sinh sáng kiến khắc phục. Ví như trận diệt đồn Tân Kiều được xem như đánh theo lối đánh đặc công, chỉ khác là chưa thành bài bản hẳn hoi. Về đây học, các kinh nghiệm được đúc kết làm cho vấn đề mà mình đã thực hành có lý lẽ hệ thống, đồng thời nó cũng soi sáng những vấn đề mình đang bí hoặc chưa nghĩ ra, chính vì thế mà chúng tôi rất ham học, không nghĩ gì đến khó khăn, vất vả cả. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 09:05:40 pm II Thời gian đi thật nhanh, lớp học kết thúc trong lúc mọi người đều muốn học thêm, học nữa để có nhiều vốn liếng về hoạt động. Cả học viên khóa Một và khóa Hai chúng tôi được lệnh hành quân ra Quảng Nam thực tập (lúc này địch mới chỉ chiếm đóng một phần của tỉnh Quảng Nam, từ huyện Điện Bàn trở ra) Hướng dẫn đoàn học sinh đi thực tập là ba đồng chí giáo viên đặc công. Tháng 9 năm 1952 đoàn học sinh thực tập ra tới Quảng Nam, được Phòng quân báo Bộ tư lệnh Liên khu V cung cấp tình hình các đồn bót địch (có cả sơ đồ, bản đồ chỉ dẫn cụ thể) đóng ở hai huyện Điện Bàn, Hòa Vang và một phần huyện Duy Xuyên, Đại Lộc. Phòng tham mưu Bộ tự lệnh Liên khu V trao đổi với đoàn về hướng hoạt động, còn thực tập chiến đấu ở đâu, sử dụng lực lượng và biện pháp thực hành chiến đấu như thế nào thì do Ban giáo viên của trường chịu trách nhiệm. Ban giáo viên đồng thời là ban chỉ huy thực tập - chiến đấu suốt quá trình các đoàn học sinh có mặt ở tỉnh Quảng Nam. Kế hoạch thực tập - chiến đấu được chia làm ba đợt. Đợt một, đánh bót Trường Giảng, Gò ông Tự nằm trên tỉnh lộ 100 từ Vĩnh Điện đi Ái Nghĩa (Đại Lộc). Đây là hai bót thuộc loại cứng bảo vệ vành ngoài phía nam của căn cứ Đà Nẵng. Anh Nguyễn Hữu Liêm, trưởng ban giáo viên trực tiếp hướng dẫn, chỉ huy đoàn học sinh Khánh Hòa chúng tôi thực tập đánh đồn Trường Giảng. Nội đồn có bốn lô cốt xây dựng bằng gạch, xi măng, bao quanh là tường thành, rào kẽm gai và rào tre dăng thành nhiều lóp. Là trận thực tập đầu tiên, để gây ấn tượng mạnh mẽ đối với học viên, nên anh Liêm cho chuẩn bị thật chu đáo; anh trực tiếp dẫn chúng tôi đi trinh sát thật tỉ mỉ cụ thể, qua trinh sát rèn luyện luôn kỹ thuật bò, trườn và ngụy trang. Trên cơ sở đó, anh cùng chúng tôi trở về bàn kế hoạch đánh sát với thực tế. Trận chiến đấu đã thu được thắng lợi giòn giã, mặc dù ở một sô vị trí địch chống trả quyết liệt, nhưng toàn bộ đồn bót bị ta tiêu diệt gọn, 50 tên địch trong đồn đã bị diệt và bắt sống. Kết thúc đợt một, đoàn học sinh thực tập - chiến đấu đã san bằng đồn Cầu Đen, Gò ông Tự, Trường Giảng, Núi Chiêng. Trường Giảng bị san bằng gây sôi động cả một vùng. Địch ờ toàn tỉnh Quảng Nam được lệnh báo động, chúng bắt đầu sống trong tâm trạng hoang mang, kể cả bọn đóng sâu trong Đà Nẵng cũng nơm nớp lo âu mỗi khi đêm về. Còn nhân dân thì sung sướng, càng tăng thêm niềm tin vào kháng chiến, phong trào có thêm chỗ dựa phát triển càng mạnh, bọn ác ôn xuống thế, nhiều tên tìm cách trốn tránh về các đồn bót vùng sâu. Đợt hai, địa bàn thực tập là vùng sâu, nơi tiếp giáp giữa hai huyện Hòa Vang và bắc huyện Điện Bàn, nhằm gây thối động mạnh vào trung tâm thành phố Đà Nẵng. Đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa được giao nhiệm vụ diệt đồn Dương Hỏa thuộc xã Hòa Tiến, Hòa Vang, cách Đà Nẵng mười cây số về phía tây- nam. Sang đợt hoạt động này, tỉnh đội Quảng Nam có cử một số trinh sát viên của tỉnh này đi cùng với đoàn để học tập ngay trong thực tế. Vẫn là trưởng ban giáo viên Nguyễn Hữu Liêm chỉ huy chúng tôi thực tập - chiến đấu đánh đồn này. Anh Liêm, tôi và một trinh sát viên tỉnh đội Quảng Nam gửi sang học tập làm nhiệm vụ trinh sát trước. Đêm tối trời, chúng tôi vượt qua một hệ thống dày đặc đồn bót địch một cách tương đối thuận lợi vì có đồng chí trinh sát cùng đi quê ở vùng Điện Bàn dẫn đường. Vào đến cơ sở tập kết cách đồn địch khoảng một cây số thì dừng lại để chuẩn bị. Ba chúng tôi vào một nhà cơ sở, có hầm bí mật đặt ngay trong buồng. Chủ nhà là hai vợ chồng trạc 45 tuổi, rất vồn vã, xởi lởi nhưng cũng rất trầm tĩnh, chín chắn và cảnh giác. Ở một địa điểm sâu trong vùng địch hậu, nhìn ra bốn hướng đâu cũng có địch: đằng sau là cứ điểm Bồ Bồ với trận địa pháo đã được căn sẵn, động đâu là đạn bay tới ngay tức thì, trước mặt là căn cứ Đà Nẵng, bên phải là cầu Đỏ với hệ thống đồn bót khá vững. Vậy mà chúng tôi vẫn sống rất thoải mái, bởi được sự đùm bọc, che chở của thế trận chiến tranh nhân dân. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 09:09:02 pm Cả ngày hôm đó, ba chúng tôi thay nhau giả danh đi làm đồng để nghiên cứu hướng tiềm nhập đêm nay. Tôi hoàn toàn nhất trí với anh Liêm là chọn hướng bên phải cổng đồn. Ở đây phải qua một vạt ruộng lầy và khi vào mép đồn là có dốc, sát ngay nơi địch thường sơ hở, chủ quan. Một ngày nằm chờ thật dài. Rồi thời gian hành động đã đến. Khoảng chín giờ tối, chúng tôi tạm biệt hai vợ chồng gia đình cơ sở để đi làm nhiệm vụ. Cả ba đều quần ngắn, áo cộc tay và đầu cắt trọc, dáng điệu như ba vị sư hành hương về phía Ngũ Hành Sơn1, cũng lầm lũi, trầm tư, trên đường đi tới đích. Anh Liêm nói vui: ‘Tụi mình là sư phá giới. Sư gì mà ăn bánh tráng cuốn với cá nục chấm mắm nêm không biết chán”. Chả là biết chúng tôi đêm nay đi làm nhiệm vụ, chủ nhà đã sửa soạn bữa chiêu đãi khách bằng món ăn quen thuộc của Quảng Nam. Suốt bữa liên hoan, chủ nhà cứ thanh minh rằng dây chỉ là cây nhà lá vườn, rằng món cá nục do cô em vợ từ cửa Đại, Hội An, khi sáng lên chơi mang cho, cá ở đây rẻ lắm, chẳng đáng là bao. Còn chúng tôi chỉ biết cám ơn mỗi khi anh thanh minh và tự nhủ: Phải làm sao cho xứng đáng với lòng tin yêu và đùm bọc của nhân dân.
Khoảng 19 giờ chúng tôi vào vị trí triển khai. Đêm yên tĩnh, nhưng gió đông - bắc từ hướng biển thổi vào mạnh dần, gây lạnh. Đội hình triển khai trinh sát khi tiềm nhập: anh Liêm chỉ huy đi trước, đồng chí trinh sát viên Quảng Nam đi giữa và sau cùng là tôi. Anh Liêm bò vừa làm động tác mẫu cho đồng chí trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam làm theo. Chúng tôi trườn rất nhẹ, trên mặt ruộng nước, theo đúng kỹ thuật đã học, không gây ra một tiếng động nào. Vào đến mép đồn, dưới chân dốc, ngồi nghỉ để lấy lại sức. Gió từ biển thổi vào càng mạnh vậy mà chẳng ai thấy rét. Định hướng xong, chúng tôi bắt đầu giai đoạn hai - trườn thấp, cắt rào, gỡ mìn. Tất cả đều trôi chảy, lợi dụng lúc địch đổi gác, ba chúng tôi càng trườn nhanh. Cậu trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam phấn khởi vì vào tới nội đồn mà địch không hay biết, quay sang ghé sát vào tai tôi: - Ăn rồi, anh Tư! Tôi khẽ đập vào vai cậu hai đập - ký hiệu nhắc nhở im lặng, cần thận, không chủ quan. Làm xong nhiệm vụ, theo hiệu lệnh của anh Liêm chúng tôi quay ra. Vừa trườn bò vừa lấp lối để nguyên như cũ, sáng ra địch khó phát hiện. Công việc trinh sát như vậy là đã hoàn tất, tôi đang tự nhủ: một Trường Giảng thứ hai sẽ diễn ra trong đêm mai, thì một tiếng nổ xé trời xảy ra ở mép rào phía ngoài. Liền đó súng trong đồn bắn ra như đổ đạn vào hướng chúng tôi. Đêm tối không ai nhìn thấy ai cả, vả lại mọi người đang tìm cách lợi dụng địa hình để tránh đạn địch. Thế là tổ trinh sát chúng tôi lạc nhau, mất hướng, tôi đành cứ luẩn quẩn quanh đó; trời sáng dần, đồn địch đã hiện lên lờ mờ với lá cờ ba sắc treo ủ rũ như nhà có đám. Tình thế thật nguy hiểm. Anh Hai Liêm ở đâu, cậu trinh sát cùng đi có việc gì không, chuyện gì đã xảy ra đêm qua? Tôi tự hỏi mình mà không sao trả lời được. Lúc này cần phải tự mình bảo toàn mình đã, không để cho địch phát hiện do sơ hở của mình gây nên. Đó là điều anh Hai Liêm căn dặn khi chúng tôi nghe giảng ở lóp. Ra khỏi đồn nhưng đứng dậy bây giờ thì lính gác trong đồn sẽ phát hiện và vây bắt. Chỉ còn cách là nằm lại đây, tìm cách giấu mình, chờ đêm tối hãy hay. Tôi trườn nhanh xuống con lạch gần đó, ngâm mình dưới nước, mặt che kín, chỉ hở mũi để thở. Trời sáng rõ, mặt trời cao dần, thỉnh thoảng tôi khẽ nghển đầu đưa mắt quan sát và nghe ngóng động tĩnh. Mặt trời lên đến đỉnh đầu, rọi thẳng vào mặt, gây chói khó chịu, lúc lúc lại phải nhắm mắt để chống chói. Nhưng vẫn không thấy có sự biến gì. Chỉ thấy không còn tiếng thúc trâu của bà con đi làm đồng nữa. Trưa rồi, lúc này là giờ nghỉ. Tuy yên tâm nhưng vẫn lo, không biết tình hình sẽ ra sao! Khoảng xế chiều thoáng thấy có bóng người, tôi vội phủ kín mặt và nằm im. Một lúc lâu, khoảng mười phút tôi lại ngẩng đầu đưa mắt nhìn, vẫn thấy có người. Lần này nhìn kỹ thì đó là một phụ nữ tay xách giỏ đi qua đi lại, không phải bắt cá mà đi tìm một cái gì. Hay là người của ta? - Tôi tự hỏi như thế nhưng lại tự nhủ: phải cảnh giác, biết đâu là địch giả dạng để săn lùng bắt ta! Người phụ nữ trạc 30 tuổi cứ đi lại quanh chỗ tôi nằm. Tôi ngẩng đầu quan sát kỹ hơn, thấy dáng vẻ bồn chồn tìm kiếm chứ không phải là nhòm ngó săn lùng. --------------- 1. Còn gọi là Non Nước. Một trong những thắng cảnh của Quảng Nam, nằm về phía đong - nam thành phố Đà Nắng. Ở đây có chùa và có sư trông coi việc cúng lễ. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2016, 09:11:13 pm Tôi đứng dậy, sửa sang lại người và hắng ho như gọi chị.
Thấy có tiếng người, chị quay lại, nét đăm chiêu lo lắng biến mất trên khuôn mặt rám nắng, nhưng rồi chị lại rụt rè cảnh giác, vờ nhìn xuống vạt ruộng tiếp tục tìm cá. Đoán đúng là người minh, nhưng tôi vẫn thăm dò: - Chị đi đâu mà gần tối chưa về, không sợ địch à? Và chị cũng vậy. Nhìn tôi, chị biết là không phải địch nhưng vẫn dò thử: - Anh ở gần đây chắc biết vụ động đồn hôm qua? - Có, tôi có biết, nghe đâu có hai anh bộ đội Việt Minh hình như... Chị đến gần tôi, hết dò thử mà hỏi thẳng: - Còn anh, có phải cùng... - Dạ, phải, tôi đi cùng với hai anh ấy. Chị thở phào, với khuôn mặt thương cảm và trách nhiệm, chị như thanh minh: - Thế mà tôi cứ đi tìm hoài suốt buổi, hết cả hồn vía! Nói xong, chị đưa vội cho tôi nắm cơm đựng trong giỏ và dặn: - Anh cứ ngồi đây, nhung vẫn phải giấu mình cho kín, sẩm tối sẽ có người đến đón đưa lên núi. Đêm hôm đổ khi về lại trên núi, tôi mới hiểu được tường tận cái sự việc không may xảy ra đêm qua. Số là khi trở ra, cậu trinh sát - một học viên mới của chúng tôi lần đầu đi tiềm nhập, chưa có kinh nghiệm, khi vào thì cẩn thận nhưng khi ra có phần chủ quan, đã đạp phải mìn và hy sinh ngay khi mìn nổ. Anh Hai Liêm bị thương vì mảnh mìn. Anh cố lết ra nhưng vết thương quá nặng, máu ra nhiều, cũng hy sinh tại chỗ. Sáng hôm sau, bọn địch trong đồn kéo ra, nhìn thấy xác anh vẫn nằm trong tư thế đầu hướng về phía đồn địch, khẩu súng Lucke vẫn đeo bên hông (khẩu súng lục này do Bộ chỉ huy Liên khu Bảy - Đông Nam Bộ tặng anh trước lúc lên đường ra đây làm nhiệm vụ). Đoán đây là một chỉ huy của bộ đội Việt Minh, tên đồn trưởng cúi đầu mặc niệm và cho gọi dân quanh đó mang thi hài anh chôn cất. Nhân dân thương xót khi được tin anh hy sinh, dựa vào cái thế “hợp pháp” của tên đồn trưởng, đã thành lập một ban tang lễ. Mọi việc diễn ra nhanh gọn, tang lễ được thực hiện trong không khí trang nghiêm mà tình cảm, đông đúc nhưng lặng lẽ, tỏ lòng thương tiếc, kính phục một chiến sĩ đặc công hết lòng vì dân, không sợ hy sinh trong cuộc đụng độ với quân thù. Anh Liêm, người thầy đầu tiên của tôi không còn nữa! Chính anh đã mang lại trong tôi một kỷ niệm sâu sắc, thức tình trong tôi một nhận thức thế nào là phong cách hoạt động của chiến sĩ đặc công. Sự thành đạt hôm nay của tồi đều có phần công sức của anh. Anh ngã xuống như một chiến sĩ vô danh? - Không, anh không phải là chiến sĩ vô danh. Chúng tôi - những người học trò của anh, những người đồng đội, đồng chí của anh sẽ mãi mải không quên anh. Binh chủng Đặc công đã ghi tên anh vào trang sử vàng của mình - một trong sô những người có cồng đầu tiên xây dựng nền móng của binh chủng. Đau thương và mất mát - một thứ mất mát không sao bù đắp được của tình đồng chí, tình chiến đấu! Cả ngày hôm sau tôi và anh Nguyễn Văn Đôi sống trong tâm trạng buồn lắng kèm theo cả ân hận nữa. Anh Đôi thỉnh thoảng đưa tay lau nước mắt và giọng ngậm ngùi: "... Anh Liêm hy sinh! Cái tin đau nhói của tình đồng đội gắn bó với nhau từ chiến trường Đông Nam Bộ, qua Phan Thiết, Phú Yên ra đến đây... Sau này về trong ấy biết nói với người thân của ảnh như thế nào. Đêm qua tôi trằn trọc không sao ngủ được. Pháo ở trận địa núi Bồ Bồ bắn cầm canh, pháo sáng thỉnh thoảng lại vút lên từ đồn Dương Hỏa khiến tôi càng nhức nhối, căm thù. Tôi cứ nói thầm với mình trong đêm rằng - hứa trước vong linh anh Liêm: Anh Hai tha lỗi cho em, em sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để trả thù cho anh...” Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:30:21 am III Vài ngày sau đó, chúng tôi chuyển sang đợt ba của giai đoạn thực tập - chiến đấu với tinh thần biến đau thương thành sức mạnh. Địa bàn thực tập đợt này tiến sâu hơn, nhằm vào một số đồn bót ở bắc - tây bắc Đà Nẵng thuộc huyện Hòa Vang. Đoàn học sinh Khánh Hòa được giao nhiệm vụ đánh đồn Dốc Nhứt (chân đèo Hải Vân). Dốc Nhứt là cứ điểm kiên cố, có hệ thống công sự boong-ke hoàn chỉnh1, địa thế hiểm trở, nằm chênh vênh kề mép đường đèo: phía tây là dãy ta-luy được vạt nhẵn gần như vuông góc với mặt đường; phía đông bờ vực sâu đến hơn hai mươi mét, dưới chân là vịnh Đà Nẵng suốt ngày đêm tung bọt nước. Lại có một hệ thống tháp canh bao quanh bảo vệ, tiếp cận đã khó, tiến công càng khó hơn. Nhất là sau khi một sô đồn bót vừa bị đoàn học sinh đặc công san bằng ở nam, bắc huyện Điện Bàn thì ở Dốc Nhứt địch càng tăng cường phòng thủ, canh gác cẩn mật suốt ngày đêm. Ở đây thường xuyên có một đại đội Com-măng-đô tăng cường làm nhiệm vụ khống chế gần như toàn bộ phần đường phía nam đèo Hải Vân; bảo vệ vành ngoài của căn cứ Đà Nẵng, trực tiếp là kho xăng Liên Chiểu. Nhưng chúng tôi vẫn quyết định chọn Dốc Nhứt làm mục tiêu số một của đợt ba thực tập - chiến đấu, vì từ cái mạnh bề ngoài như kể trên, có một cái yếu cần khai thác, đó là thằng địch ở đây rất chủ quan đến ngạo mạn. Ỷ vào địa thế và công sự, chúng thường ngày rêu rao thách đố Việt Minh nếu liều mạng mò vào đây thì chỉ có phơi xác (!). Sơ hở của địch bao giờ cũng là một điều kiện thuận lợi khách quan để ta lựa chọn làm mục tiêu tiến công. Nói cách khác tìm và phát hiện những sơ hở của địch, cần thiết còn tạo cho địch mắc bẫy sơ hở là một trong những nghệ thuật tác chiến của bộ đội Đặc công. Trận thực tập - chiến đấu này tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy, vì anh Liêm không còn nữa, đồng chí Huỳnh Công Cước (nay là đại tá) là chỉ huy phó. Hận Dương Hỏa và nỗi đau mất anh Hai Liêm đã làm thành sức mạnh trong tất cả chúng tôi - những người được giao nhiệm vụ chiến đấu đợt này. Đây cũng là trận thí nghiệm đầu tiên đánh vào đồn có công sự boong-ke. Vì thế nên từ trinh sát nắm địch đến kế hoạch tiềm nhập tiến công đã được tiến hành một cách tỉ mỉ, nghiêm túc và có kiểm tra đôn đốc sát sao trong quá trình chuẩn bị. Một điều rất hệ trọng khác cũng luôn luôn được nhắc đến trong giai đoạn chuẩn bị là phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định giữ bí mật, gây cho địch càng chủ quan bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Triệt để giữ bí mật là tạo được yếu tố bất ngờ đến cùng với địch, giành được thế chủ động cũng đến cùng đối với ta. Thành công của bất cứ trận đánh nào của Đặc công không thể thiếu vắng nguyên nhân này. Điều tra nghiên cứu về địch - chúng tôi thường gọi tắt là điều nghiên - là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định thành bại của trận đánh. Có được nhận thức này là sau thất bại ở Dương Hỏa. Chúng tôi quyết định tiến hành việc này trong hai đêm và người thực hiện là tôi và đồng chí Huỳnh Công Cước. Tức là chỉ huy trưởng và chỉ huy phó phải trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra nắm địch, có như thế mới xây dựng được kế hoạch tiến công phù họp. Đêm thứ nhất, tiến hành trót lọt. Chúng tôi tìm được đường vận động, xác định được vị trí chuẩn bị và quan sát từ ngoài vào đồn, xác định lại các hướng, số lượng công sự, hầm, ụ súng. Công việc chưa gay cấn lắm nhưng rất vất vả, phải mất đúng một đêm. Thời gian cuốn hút nhiều vào việc xóa dấu vết, để ngày sau địch có mò sục sạo quanh đồn cũng không tìm thấy dấu vết khả nghi. Đêm thứ hai bắt đầu. Trăng thượng tuần mờ đục rất thuận lợi cho công việc điều nghiên, nhưng cũng là một đêm căng thẳng, phải vào đồn, sờ nắn đo đếm các thứ cần thiết, phục vụ cho xây dựng quyết tâm trận đánh đêm mai. Giờ tiềm nhập điều nghiên bắt đầu. Lúc ấy vào mười giờ. Không gian yên tĩnh, chỉ có nghe tiếng sóng biển đập ầm ầm vào bờ vịnh, cái âm thanh ấy giờ này quả có tác dụng đối với chúng tôi, nếu vì một sơ suất nào đó, gây nên tiếng động nhỏ thì đã có cái âm thanh của sóng biển kia đỡ đòn, xóa đi. ---------------- 1. Công sự chiến đấu (hầm, ụ súng, lô cốt) xây bằng xi măng cốt thép rất dày, nửa chìm nửa nổi, có sức chịu đựng áp lực cao. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:31:30 am Tụt xuống mép đường đèo, chúng tôi vận động nhanh sang đường đến một mô đá to nằm lại nghe ngóng động tĩnh, quan sát địa thế và định hướng tiềm nhập. Phía trước mặt nhấp nhô những mô đá lan vào đến tận nội đồn. Thật là một thiên nhiên đẹp và cũng tạo thuận lợi cho chúng tôi làm nhiệm vụ đêm nay. Đang vân động thuận lợi thì bắt gặp phía trước mặt một vật bất động thoạt nhìn tưởng là đá nhưng dị dạng, chưa khẳng định là đá hay người. Tôi và Cước dừng lại, lùi vào một mô đá khác to, kín hơn, tiếp tục thay nhau quan sát. Để không bỏ sót dù chỉ một giây, để quan sát mười lăm phút. Cước theo dõi trước. Hết mười lăm phút, vật trước mắt vẫn gần như bất động. Đến lần tôi, chỉ chưa đầy ba phút sau khi thay phiên cho Cước, tình hình đã khác. Vật trước mặt động đậy, tôi theo dõi một cách hồi hộp, hai mắt như dán vào vật đó. Tôi đập vào vai Cước rồi chỉ về phía trước mặt. Cước nhin lên gật đầu: Người, đúng người rồi! Theo dõi tiếp, chúng tôi nhận ra đó là tên lính gác đang ngồi ngủ gật, mặt hướng ra phía biển. Tôi và Cước trao đổi bằng ký hiệu, cả hai thống nhất là lúc y đang mơ màng nửa tỉnh nửa mê, cứ tiếp tục tiến, lặng lẽ vượt phía sau y để vào sâu trong đồn địch. Vượt được cửa ải lính gác là coi như thắng lợi. Càng vào sâu, địch càng chủ quan, tất cả đều ngủ, nghe rõ cả tiếng ngáy từ trong nhà vọng ra. Chúng tôi lần lượt xem xét từng mục tiêu: Có hai lô cốt ngầm boong-ke quay về hướng bắc và tây bắc, một ở giữa có lỗ châu mai chĩa ra bốn hướng, trên nóc đặt đại liên. Hình như địch vẫn đang tiếp tục xây thêm thì phải, vi ở cạnh đường từ cổng chính vào còn nhiều vật ỉiệu sắt thép, xi mãng chất đống ngổn ngang. Tôi thầm nghĩ: Ta quyết định đánh lúc này là đúng thời cơ, để chúng xây xong thì vấn đề sẽ phức tạp hơn.
Chúng tôi ra khỏi đồn vào khoảng mười hai giờ đêm. Trăng thượng tuần đã lặn, ánh sáng điện từ Đà Nẵng hắt lên vàng vọt và mờ ảo, sóng biển càng gầm to. Chúng tôi băng qua cánh rừng phía tây đèo Hải Vân để tới căn cứ thì cũng vừa sáng. Anh em ở nhà hồi hộp dõi theo, không thấy động tĩnh gì từ hướng chúng tôi đến, đã mừng trước bằng một việc nấu nồi chè chờ chúng tôi về “mở tiệc” khoản đãi. Vừa thấy bóng, tất cả đã ùa ra ôm ghì lấy chúng tôi. Sau hai đêm căng thẳng, sống những giây phút ớn lạnh, cô đơn khi đi làm nhiệm vụ ở nội đồn, càng thấy quí cái tình cảm của đồng đội, của tập thể, nỗi thấp thỏm lo lắng đến vui mừng khôn xiết như thế này; cái mệt trong chúng tôi biến đi đâu thật nhanh. Lúc trên đường về, chúng tôi dự định sẽ ngủ một hơi lấy sức, trưa dậy bàn kế hoạch hành động đêm nay còn kịp chán, vậy mà giờ đây thấy tỉnh táo đầu óc thanh thản như bình thường. Cũng chẳng nghỉ đến xả hơi nữa, chúng tôi bàn ngay vào việc. Hai mươi lăm con người đã tề tựu đầy đủ gồm đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa và tiểu đội trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam cử sang bổ sung, vừa là học tập thực tế vừa tham gia chiến đấu luôn. Ngay đêm thứ nhất đi trinh sát trở về, tôi đã nêu vấn đề ngụy trang khi tiềm nhập vào nội đồn là rất quan trọng, cần phải khẩn trương chuẩn bị. Cả ngày hôm ấy, anh em ở nhà triển khai thực hiện khá tốt. Tất cả phân tán vào các nhà dân, có đồng chí đi xa mười cây số để xin cạo nhọ nồi với một lượng đủ để chà kín toàn thân. Ai cũng cắt tóc ngắn theo quy định. Chỉ cần nhìn mấy chục cái đầu trọc ngồi lố nhố phía trước mặt cũng đủ thấy tinh thần quyết tâm chiến đấu của anh em là thế nào rồi. Tất cả đều tỏ vẻ lạc quan, tin tưởng và sẵn sàng đợi lệnh. Điều đó đã khích lệ động viên tôi rất nhiều. Người chỉ huy trong giờ phút chuẩn bị bước vào một trận mà được sống trong không khí như thế này quả là hạnh phúc. Đúng là đồn địch mà chúng tôi có nhiệm vụ xóa sổ nó trong đêm nay tuy cứng nhưng tôi tin là nhất định thắng vì đã điều nghiên kỹ, vì tinh thần lạc quan, kiên quyết và sẵn sàng của anh em. Tôi bắt đầu trình bày kê hoạch trận đánh với anh em sau khi đã trao đổi thống nhất với anh Huỳnh Công Cước. Chứng tôi trao đổi và nhất trí nhanh chóng. Mọi chi tiết cụ thể đều được xác định. Hai mươi lăm người sẽ chia thành hai tổ. Tổ Một do tôi phụ trách theo hướng tây tiến vào; đây là hướng chính vừa có điều kiện tiềm nhập và khi vào được nội đồn là nhanh chóng đánh vào lô cốt mẹ, bắt khẩu đại liên đặt trên cao phải câm họng, tạo thuận lợi cho toàn đơn vị đánh các mục tiêu khác. Tổ Hai do anh Cước chỉ huy vào theo hướng đông. Vì đánh công sự xây bằng ximăng cốt thép nên vũ khí của chúng tôi chủ yếu là bộc phá gói sẵn với khối lượng từ hai đến ba cân. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:32:40 am Ngay chập choạng tối hôm đó, chúng tôi xuất phát. Toàn đơn vị theo đội hình hàng dọc, cắt rừng phía tây tiến vào vị trí tập kết cuối cùng. Tại đây toàn đơn vị kiểm tra lần cuối công tác chuẩn bị vũ khí như đóng gói bộc phá, dây cháy chậm, ngòi nổ; kiểm tra nhắc lại lần nữa ám, ký hiệu dùng trong trận đánh. Đến cách đồn hai cây số, toàn đơn vị dừng lại thực hiện ngụy trang. Bắt đầu từ đây mọi người cởi hết quần áo (có bộ phận đi theo cất giữ), chỉ mặc quần lót, nhọ nồi hòa nước bôi chà khắp người. Trăng lên cao, ừời sáng rõ, nhưng nhìn ai cũng chỉ thấy là một cái bóng đen. Gió từ biển thổi vào càng mạnh, cây rừng lao xao, mang lại cảm giác lạnh giá. Nhưng nghĩ đến nghĩa vụ, trách nhiệm của các chiến sĩ đặc công, đến ý nghĩa của trận đánh thử nghiệm, lại thấy cái lạnh đi qua thật nhanh, tất cả đã sẵn sàng tiến quân. Từ đấy, chúng tôi bước những bước thật nhẹ mà nhanh, hành động thật nhiều nhưng không nói, tất cả đều theo chỉ dẫn của ám hiệu với một ý thức thận trọng và nghiêm túc, không được để xảy ra bất cứ một sơ xuất nào, dù là nhỏ nhẹ.
Mười một giờ. Súng từ phía đồn địch bắn ra như vãi đạn, nghe tưởng như chúng đã phát hiện được đối phương đang triển khai đội hình đánh chúng. Có gì để lộ khi đi trinh sát đêm qua, đêm nay địch đề phòng? Tôi hơi phân vân, nhưng cũng rất bình tĩnh, tự tin, đầu óc bắt đầu nghĩ ra bao nhiêu cách đối phó; nếu lộ thật thì kế hoạch phải thay đổi, chuyển tổ anh Cước sang hoạt động nghi binh kéo sự chú ý của địch ra hướng đông - đông nam; còn tổ của tôi tranh thủ tiềm nhập, vào đến nội đồn tách thành hai nhóm, đảm nhiệm cả những mục tiêu trước phân cho tổ anh Cước. Năm phút, rồi mười phút trôi qua, rất nặng nề, chậm chạp. Địch đã thôi bắn. Đêm yên tĩnh trở lại, tiếng sóng biển đập vào bờ vịnh Đà Nẵng cứ ầm ầm liên tục vì giờ này nước đang lên. Địch bắn cầm canh. Tôi chợt nghĩ như thế và trao đổi luôn với anh em: ta cứ tiếp cận, nếu vào đến mép rào quả thấy địch có triệu chứng đề phòng thì ta sẽ rút êm, xóa dấu vết, về lại khu vực trú quân bàn cách làm ăn khác. Nếu đồn địch vẫn yên tĩnh, thì cứ theo kế hoạch hoạch đã giao, khẩn trương cắt rào, gỡ mìn, trườn nhanh vào đánh phá các mục tiêu đã phân công. Mười hai giờ đúng, hai mươi lăm chiến sĩ mình trần, toàn thân đen mốc, đầu đội mũ cỏ đã vượt qua cánh cửa mở vào nội đồn, đến sát mục tiêu được phân công. Từ sát chân lô cốt mẹ, ba phát súng làm hiệu lệnh tiến công bay vút lên không trung. Không một tiếng người hò reo, không tiếng chân nguời vận động, vậy mà tiếng nổ của các loại bộc phá nghe đanh, liên hồi, cứ như tiếng pháo bắn cấp tập phá hoại các mục tiêu công sự. Địch không kịp trở tay, phần lớn chết trong lúc chúng đang ngủ bởi sức ép của các loại bộc phá. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, không một tên địch nào sòng sót, ta thu toàn bộ vũ khí Tôi vừa vác khẩu đại liên 12,7 ly hai nòng vừa chỉ huy anh em rút, cứ thế chúng tôi băng qua các cánh rừng cây cối rậm rạp, vượt qua các dốc một cách nhẹ nhõm. Khẩu súng chiến lợi phẩm mang về được đặt ở chính giữa khu vực trú quân, ai cũng đến nhìn sờ mó và khen súng còn mới, nước thép còn xanh. Nhiều người ghé vai vào vác thử để đọ sức khỏe với tôi. Nhưng chỉ mới đặt súng lên vai cũng thấy phải cố sức, không kể đến vừa vác vừa chạy từ đồn địch về đây đâu có gần! Cả ngày hôm đó toàn đơn vị ăn mừng thắng lợi. Tiếng là ăn mừng nhưng cũng chỉ có củ khoai, củ mì và bắp ngô, chỉ khác là ăn no hơn các bữa thường. Chiều đến chúng tôi được tin cơ sở của ta từ Đà Nẵng cho biết, ngay sáng hôm đó viện binh địch ở căn cứ Đà Nẵng dò dẫm kéo ra, vừa đi vừa bắn phá dọn đường. Khi kéo đến nơi, đứng trước cảnh chết chóc và đổ nát của một đồn binh được xếp vào loại kiên cố đáng tin cậy thì tất cả quan lính đều hoang mang, không hiểu Việt Minh đánh bằng cách gì mà khủng khiếp như thế này (?!) Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:34:38 am IV Trở lại Khánh Hòa. Thời gian trôi đi thật nhanh. Tuổi trẻ năng động và ham nhận biết cái mới đã thực sự hút tâm trí mọi người. Bốn tháng học tập và thực tập - chiến đấu thật say sưa khiến chúng tôi quên hết mọi sự. Thời gian ngắn mà học được nhiều, kỹ năng chiến đấu và bản lĩnh chỉ huy đã được thử thách qua những ngày giáp mặt với quân thù ở một không gian mới, và đoàn học sinh Khánh Hòa chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Tạm biệt xứ Quảng, chúng tôi lên đường trở lại quê hương trong thanh thản và lưu luyến. Thanh thản vì đã đi đến nơi, học tập đạt kết quả tốt, có một vốn liếng nhất định để làm ăn lớn. Lưu luyến vì người và cảnh đất Quảng tuy xa mà gần, lạ mà thân quen. Sự đùm bọc, che chở, giúp đỡ ân tình của nhân dân đất Quảng là nguyên nhân không thể thiếu để chúng tôi lập công. Bao nhiêu chuyện thể hiện tình cảm sâu đậm này đã để lại trong ký ức chúng tôi. Thời gian đoàn thực tập đóng quân ở vùng núi Ái Nghĩa (huyện Đại Lộc) thật là gian nan, vất vả, phần lo ăn hàng ngày, phần lo đối phó với những trận càn bất thần và ác liệt của địch nhằm triệt phá nguồn sống vốn đã thật ít ỏi của vùng bán sơn địa này. Nhưng ở đó chúng tôi vẫn hưởng được hơi ấm của tình dân, lòng dân vùng đồng bằng Gò Nổi - ven hạ lưu sông Thư Bồn, cứ định kỳ lên thăm và cho quà. Hình ảnh người phụ nữ đeo chiếc giỏ lần vào sát đồn địch để tìm cứu bằng được chúng tôi ở Dương Hỏa thật là sâu sắc. Làm sao lại không thương cảm và lưu luyến khi sắp phải xa mảnh đất có những người con như thế? Ngày trở về Khánh Hòa thật là một ngày vui - niềm vui của quê hương, bạn bè, người thân sau những tháng xa cách. Anh Nguyễn Xuân Hữu, bí thư tỉnh ủy, anh Phan Văn Đường, tỉnh đội trưởng gặp mặt chúng tôi, hỏi tình hình học, thăm sức khỏe từng người và hy vọng thời gian sắp tới sẽ đón nhận những thành tích của cách đánh đặc công mà chúng tôi vừa học được. Lý Ba, Sáu Nọ là hai thành viên xuất sắc của đội Cảm tử vi nhiệm vụ phải ở lại, được tin chúng tôi về, các anh cũng có mặt trong buổi đón. Hai anh lần lượt ôm ghì từng người trong đoàn; ôm thật lâu, ghì thật chặt, xa ít tháng mà nhớ muốn khóc. Các anh trong tỉnh ủy, tỉnh đội được tin đoàn học sinh Khánh Hòa ra Liên khu học tập đạt kết quả tốt, thực tập đánh tan năm đồn bót địch, khi được điện ngoài Khu báo ngày chúng tôi lên đường trở về thì lại càng ngóng trông từng ngày. Cả đoàn được tỉnh ủy đãi một bữa “tiệc” thật đã: Bắp ngô luộc và thịt lợn cũng luộc nốt, những miếng thịt luộc thái to để trên các đĩa bằng lá chuối rừng. Nhớ lại khi lên đường đi học, trong hành trang mang theo của chúng tôi không có lấy một đồng tiền, một hạt gạo. Hôm nay chúng tôi trở lại, trên “bàn tiệc” đã có thịt Cuộc sống tuy chưa nó đủ, sung túc nhưng đã đủ lương ăn. Chính ở cần cứ Đá Bàn này cơ quan lãnh đạo của tỉnh đã có đủ điều kiện để bám trụ chỉ đạo các lực lượng kháng chiến của tỉnh Khánh Hòa. Tôi không thể không nói đôi nét về quá trình xây dựng căn cứ Đá Bàn này. Như đã kể ở trên, tình hình Khánh Hòa trong những năm 1949-1950 là cực kỳ khó khăn. Có thể nói địch đã thành công một phần trong âm mưu chiếm đất giành dân. Lực lượng kháng chiến của ta rất dũng cảm, kiên cường nhưng cũng bị tiêu hao nhiều trong những trận chiến đấu chống địch vây quét. Vùng núi Hòn Hèo là căn cứ kháng chiến đầu não của tỉnh đến lúc này cũng hết vai trò. Tuy là một dãy núi cao hiểm trở, nhưng Hòn Hèo lại nằm lọt vào giữa vùng đồng bằng ven biển, bốn hướng đều có địch. Việc đi lại ra vào nơi đây rất khó khăn, thường xuyên đổ máu vì vướng phải vành đai bao vây phong tỏa dày đặc của kẻ thù. Cuối năm 1950, một đoàn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh do anh Nguyễn Xuân Hữu, bí thư tỉnh ủy dẫn đầu từ Đá Bàn về căn cứ Hòn Hèo để họp hội nghị tỉnh ủy. Khi đoàn hành quân qua rìa căn cứ Lạc Ninh đã bị địch phục kích. Đồng chí Nguyễn Sắc Kim, chính ủy trung đoàn 803 được Khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V phái vào đây tăng cường cho Khánh Hòa đã trúng đạn địch hy sinh ngay hôm đó - ngày 20 tháng 1 năm 1951, trước Tết âm lịch một vài ngày. Phải mở lên hướng tây - đến Đá Bàn lập căn cứ mới. Đây là quyết định của tập thể tỉnh ủy, trong đó không thể không nhắc đến công sức góp phần của anh Nguyễn Xuân Hữu, lúc ấy là bí thư. Sự cần thiết vừa cơ bản vừa cấp bách này là phải xây dựng căn cứ địa và hành lang phía tây, tạo thế chiến lược chỉ đạo vững chắc, lâu dài cho tỉnh và huyện, xã. về lý như vậy là thông suốt, nhưng về tình thi biết bao xao xuyến, vấn vương và cả tiếc nuối nữa, nếu như phải xa căn cứ Hòn Hèo. Không ít người đã nêu câu hỏi: - Không lẽ chúng ta bỏ mặc đồng bào Hòn Hèo mà đi sao? Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:36:32 am Đi để xây dựng căn cứ Đá Bàn và hành lang phía tây! Cái khó mới lại được đặt ngay sau đó, là đội hình hành quân với hàng ngàn con người, gồm đủ thành phần nam phụ lão ấu di chuyển qua bao hệ thống đồn bót địch làm sao bảo đảm an toàn đi tới đích không rơi rớt! Đường hành quân phải qua vùng trắng và nhất thiết phải qua vùng chiến lược: đường số 1, đường sắt Ninh Hòa - Hòn Khói, là những nơi không thể dừng lại nghỉ chân. Lại nữa phải thực hiện bí mật, hành động phải nhanh và gọn, không cho địch kịp trở tay và nếu địch phát hiện cũng phân tán sự chú ý của chúng, khiến chúng không đoán định được bộ phận chính của ta đi hướng nào...
Tất cả những khó khăn của cuộc hành quân dược nêu ra cụ thể và được bàn bạc cách giải quyết cho từng khó khăn cụ thể. Việc di chuyển đi theo hai hướng: - Hướng thứ nhất, toàn bộ cơ quan Mặt trận (thanh niên, phụ nữ, nông hội) do đồng chí Mai Hương phụ trách xuống thuyền đi theo đường biển vượt qua thị xã Nha Trang vào tây huyện Diên Khánh lo xây dựng căn cứ Đồng Găng, chỉ đạo xây dựng căn cứ các huyện thị phía nam, đồng thời trực tiếp chỉ đạo phong trào đồng bằng phía nam. Cuộc đi thật mạo hiểm, khi vượt biển vào đất liền bị địch phục kích, đồng chí Hồ Xưa và Diên, đại đội trưởng đã hy sinh. Nhưng đại bộ phận đã vào được Đồng Găng. - Hướng thứ hai gồm văn phòng tỉnh ủy, văn phòng ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, các ty trực thuộc ủy ban theo đường bộ lên Đá Bàn. Đây là đội hình chính của cuộc di chuyển. Quãng đường tuy ngắn nhưng rất nguy hiểm. Đội hình hành quân sắp xếp hợp lý, già trẻ, khỏe yếu xen kẽ; hành lý mang theo gọn nhẹ, chằng buộc chắc chắn; tất cả, không phân biệt một ai, phải đi trong hai mười bốn giờ liền, không dừng nghỉ ở bất cứ noi đâu - dù chỉ năm mười phút để tranh thủ tối đa thời gian và không gian an toàn. Còn một hướng nữa, được xem như là hướng thứ ba nhưng không nằm trong kế hoạch chung. Đó là hướng di chuyển của anh Nguyên Xuân Hữu và một bộ phận nhỏ đi cùng với anh. Anh trực tiếp giao cho tôi nhiệm vụ đưa đơn vị lên Ninh Tịnh (đông - nam Hòn Hèo) và chờ ở đó đợi lệnh cụ thể. Đội Cảm tử đến Ninh Tịnh vào lúc bốn giờ chiều, trước thời gian anh Hữu quy định. Khoảng một giờ sau thì anh Hữu đến. Sau khi phát lệnh cho hai cánh quân kia lên đường, từ Đầm Vân anh băng qua rừng đông - nam Hòn Hèo tới đây. Lúc ấy khoảng năm giờ chiều, mặt trời đã lặn sau dãy núi Phượng Hoàng, súng địch bao vây phong tỏa khu Hòn Hèo thưa dần và ngoài khơi các tàu tuần tiễu chặn phía đông đã bỏ neo. Tôi chưa kịp báo cáo thì anh Hữu đến gần, siết chặt tay tôi, hỏi liền: - Anh em đã sẵn sàng chưa? - Dạ, đã. - Ta đi ngay thôi! - Theo hướng nào? - Tôi hỏi lại. - Về Đá Bàn. Anh không nói gì thêm, nhưng tôi tự hiểu và xác định với anh em trong đội Cảm tử là chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ đồng chí bí thư tỉnh ủy về căn cứ mới. Chúng tôi xốc lại đội hình. Toàn đội chia thành hai tổ: Tổ tiền vệ, tổ hậu vệ, đoàn anh Hữu đi giữa. Lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng chúng tôi di chuyển đội hình ngay, men theo sườn bắc thôn phước Sơn, lại qua Hô Vông, Tân Kiều - những địa danh đội Danh dư đã giáp trận những ngày đầu, rồi vượt qua đường số 1 ở đoạn đèo Bánh ít. Đêm xuống nhanh, trời ập tối lại lọt vào giữa một khu vực phòng thủ của địch, buộc mọi người phải vắt óc, căng mắt căng tai ra để định hướng đi, để nghe ngóng động tĩnh, đề phòng chạm địch phục kích, tuần tiễu, tránh đạp phải bãi mìn, không kể các loạt đạn địch bắn vu vơ ra tứ phía để dọa nạt, răn đe. Suốt một đèm mò mẫm, len lỏi đoàn chúng tôi đến Đá Bàn thì vừa sáng. Trời đầy sương. Cảnh vật như chìm trong biển mây vừa huyền ảo vừa thơ mộng. Tiếp sau là đội hình chính của cuộc di chuyển cũng có mặt, đầy đủ không vắng một ai. Cuộc di chuyển cơ quan đầu não lên căn cứ mới trót lọt - như một trận đánh lớn đã kết thúc thắng lợi. Đá Bàn - cái tên thật tượng hình, nên thơ, nhưng ở đây chỉ là cảnh rừng âm u, thú rừng dữ dằn, muỗi rừng độc địa... kẻ địch ít khi dám lùng sục tới, địa thê hiểm trở rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Từ ngày cơ quan tỉnh lên đây, mới qua hai mùa phát rẫy, chẳng những đã tự túc được lương thực mà còn dự trữ đủ nuôi một trung đoàn đi làm nhiệm vụ phía trước. Tại căn cứ còn có cả một xưởng in, chiếc máy in nặng hàng tấn phải bốn mươi người khiêng, gánh các bộ phận tháo rời đưa từ vùng tự do liên khu V vào, nhờ đó mà báo chí, tin tức, truyền đơn, tranh áp phích và các sáng tác thơ văn của tỉnh in rõ, đẹp, được truyền bá khắp noi, lưu hành cả ở vùng địch tạm thời kiểm soát... Đá Bàn - cái thung lũng rộng cỡ chừng hai trăm cây số vuông, có núi Mẹ Bồng Con, có con sông nước lúc nào cũng đầy ắp trong xanh chảy qua, hai bờ có nhiều tảng đá to, bằng mặt như những chiếc bàn (không biết có phải vì thế mà gọi nơi đây là Đá Bàn không?) - đã trở thành một căn cứ vững chắc của tỉnh, là quê hương kháng chiến của chúng tôi, những người con của tỉnh Khánh Hòa. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:38:37 am V Sau ngày dừng chân ở căn cứ Đá Bàn để lấy lại sức, đoàn học sinh Đặc công được lệnh chuẩn bị làm nhiệm vụ - tham gia đợt hoạt động quân sự nhằm phối họp với mặt trận Điện Biên Phủ. Trong những ngày cuối tháng 2 năm 1954, chúng tôi đứng ngồi không yên, ai cũng một tâm trạng bồn chồn, thấp thỏm chờ mong lệnh lên đường. Số anh em đi học về cùng với anh em ở lại đã sáp nhập làm một, thành đội Đặc công trực thuộc Bộ tư lệnh Liên khu V được phái vào Khánh Hòa hoạt động. Nhưng chúng tôi vẫn xem mình là lực lượng trực thuộc của tỉnh, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ và bất cứ ở đâu do tỉnh giao. Đúng vào thời điểm này, địch đã huy động mọi nỗ lực tối đa mở cuộc hành quân “Át-lăng”, đây là trọng điểm của giai đoạn thứ nhất của kế hoạch Na-va dự định trong vòng mười tám tháng sẽ hoàn tất cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn cõi Đông Dương, kết thúc thắng lợi trên thế mạnh. Còn ta thì như quyết tâm của Bộ tư lệnh Liên khu V mà chúng tôi được phổ biến là: Phải phá tan kế hoạch Na-va, góp phần vào thắng lợi của cả nước trong Đông Xuân 1953 - 1954, trước hết là đánh bại hoàn toàn “chiến dịch Át- lăng” của địch, giữ vững vùng tự do và căn cứ kháng chiến quan trọng của ta. Để thực hiện quyết tâm này, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ của chiến tranh nhân dân bốn tỉnh vùng tự do (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) ngăn chặn đánh địch ở những nơi chúng đánh ra. Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên, chủ động tiến công vào một địa bàn chiến lược trọng yếu sống còn của địch buộc chúng phải phân tán đối phó. Đối với các chiến trường sau lưng địch, phải tăng cường hoạt động phối hợp với hướng chính và vùng tự do bằng cách bao vây uy hiếp đồn bót địch, đánh cắt giao thông; đánh sâu vào các thị trấn, quận ly, thị xã; đẩy mạnh phá tề trừ gian và vận động binh lính đào ngũ, phản chiến; đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng trong các đô thị; không cho địch rút lực lượng tại địa phương đi các nơi khác; tranh thủ thời cơ sơ hở ra sức tiêu diệt nhiều đồn bót, mở rộng vùng du kích và vùng giải phóng. Riêng với Khánh Hòa, Bộ tư lệnh Liên khu V còn giao thêm nhiệm vụ cụ thể: Phải kìm giữ cho được một trung đoàn chủ lực của Pháp không cho lên Tây Nguyên, đồng thời chặn đánh cánh quân địch đánh ra Phú Yên ở hướng đèo Cả... Như vậy rõ ràng là, với vị trí quân sự đặc biệt của mình và để nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Bộ tư lệnh Liên khu V, quân dân Khánh Hòa phải mở một chiến dịch tổng họp, đánh địch cả về chính trị, quân sự, kinh tế. về xây dựng lực lượng, phải tổ chức như thê nào để có lực lượng vừa tiến công diệt địch tốt, vừa phòng thủ vững chắc các căn cứ kháng chiến phía tây của tỉnh như: Đá Bàn, Đồng Găng, Làng Nhớt, Đất Sét và Khánh Sơn, bảo đảm đường hành lang nối thông các căn cứ này với các căn cứ của tỉnh Ninh Thuận - một hệ thống căn cứ liên hoàn đã hình thành theo tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam của Trung ương, để có điều kiện đánh địch lâu dài, vừa chuẩn bị cơ sở - địa bàn tại chỗ sẵn sàng đón thời cơ lớn. Tình hình thì khẩn trương và căng thẳng, nhiệm vụ thì nặng nề và phức tạp nhưng chúng tôi rất tự tin và lạc quan. Hơn lúc nào hết, ai nấy đều hừng hực một khí thế quyết tâm chiến đấu. Thời gian lúc này đã trở nên thật quý hiếm, một cuộc chạy đua với địch, nhưng như thế không có nghĩa cho phép ta đánh không có suy nghĩ, thiếu chuẩn bị. Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, địch xây cứ điểm, dựng đồn bót dày đặc suốt từ nam đèo Cả qua Vạn Ninh, Ninh Hòa, thị xã Nha Trang đến nam Cam Ranh giáp huyện Bác Ái (Ninh Thuận) thì đánh vào đâu là chắc ăn, có tác dụng thối động toàn bộ quân địch ở đây, giữ chân chúng lại để phối họp có hiệu quả với chiến dịch Tây Nguyên của ta và góp phần đánh bại “chiến dịch Át-lăng” của địch. Tại căn cứ Đá Bàn, ban thường vụ tỉnh ủy đã họp mở rộng để thảo luận ra nghị quyết cụ thể nhằm thực hiện quyết tâm của Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V về đợt hoạt động Đông- Xuân. Hướng tiến công chủ yếu là bắc Khánh Hòa, hướng phối hợp rất quan trong là nam Khánh Hòa bao gồm Diên Khánh và Nha Trang; điểm tiến công chủ yếu là căn cứ Cầu Đúc, cắt đứt quốc lộ, đường giao thông chiến lược - đoạn Khánh Hòa đi Phú Yên, phá kế hoạch nối vùng “hậu phương” với tiền phương của các cánh quân địch trong “chiến dịch Át-lăng” đánh chiếm vùng tự do Liên khu V; đồng thời nhanh chóng tập trung lực lượng đánh bọn địch ở ngoại vi, dùng lực lượng đặc công tiến công các cứ điểm Cầu Đúc, Lạc Ninh, Hòn Khói; và khi có thời cơ, tổ chức lực lượng đánh thẳng vào cơ quan đầu não của địch ở thị trấn Ninh Hòa, tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ giải phóng Bắc Khánh. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:40:46 am Chúng tôi được nghe phổ biến nghị quyết của thường vụ tỉnh ủy với một niềm xúc động khó tả. Những mục tiêu trên mà thực hiên được thì còn gì vui sướng bằng. Những điều thu lượm được ở lớp học đặc công nay có dịp về thực hiện; giải phóng Ninh Hòa . Bắc Khánh, tôi có dịp về thăm lại quê hương, được nhìn thấy mẹ và các em, biết bao điều dồn nén nay có dịp mẹ nói cùng con, em nói với anh; biết bao chuyện con muốn nhắn, muốn gửi nơi mẹ, nay mới có điều kiện.
Các lực lượng vũ trang của tỉnh đã lên đường thực hiện nhiệm vụ: Diệt khu hành lang chính Mỹ Lệ (Ninh Hòa); diệt đồn Đại Mỹ, tập kích khu căn cứ tiếp vận tiền phương ở Ninh Hòa, phá hủy hàng chục kho vũ khí và phương tiện chiến tranh, giết và làm bị thương trên một trăm tên giặc, gây khó khăn nghiêm trọng đến kế hoạch điều hành “chiến dịch Át-lăng” của địch mà chúng đang ráo riết chuẩn bị. Đặc biệt là tin các chiến sĩ Đặc công của trung đoàn 803 đã đột nhập vào kho xăng Nha Trang thiêu hủy gần bốn triệu lít xăng đã làm chúng tôi vừa phấn khởi tự tin, vừa bồn chồn chờ đợi. Bởi lẽ đến giờ này toàn tình đã bước vào giai đoạn hoạt động sôi nổi, ai cũng phấn khởi, đều ít nhiều đóng góp phần cụ thể của mình vào chiến thắng Đông Xuân, thiết thực phối họp với các chiến trường, thì chúng tôi vẫn chưa có dịp lập công. Tiếp đến là chiến dịch Tây Nguyên của ta đã mở màn ngày 27 tháng 1 và đến này 5 tháng 2 thì giải phóng thị xã Công Tum, quét sạch toàn bộ quân địch ở bắc Tây Nguyên... Và sau cùng được tỉnh thông báo là tại mặt trận Điện Biên Phủ, rạng sáng 13 tháng 3 ta mở đợt tiến công đầu tiên vào cứ điểm Him Lam và Độc Lập. Đang lúc chúng tôi sốt ruột, bồn chồn, có thể nói là như ngồi trên đông lửa, thì anh Phan Văn Đường xuống. Bây giờ anh là chỉ huy trưởng tỉnh đội mà trông dáng vẻ vẫn nhanh nhẹn, hiếu động như năm nào còn là đại đội trưởng chỉ huy đội Cảm tử 2 từ Quảng Ngãi vào Ninh Hòa chiến đấu. Tôi chưa kịp hỏi, anh thân mật nói liền: - Thường vụ Tỉnh ủy giao cho mình xuống bàn với các cậu về kế hoạch đánh Cầu Đúc. - Đánh Cầu Đúc hở anh? - Tôi hỏi lại với niềm vui lan nhanh như muốn reo lên thật to, loan tin này đến cho mọi người cùng vui. Nhưng tôi ghìm được ngay vì đây là vấn đề bí mật. Tôi nén niềm vui lại, tiếp tục nghe anh giao nhiệm vụ. Việc hệ trọng mà diễn ra thì thật giản dị, đượm cái không khí gia đình. Không bàn ghế, không bản đồ và ngay cả giấy bút để ghi cũng không. Chúng tôi cùng ngồi xuống đất bên một gốc cây giữa rừng trải đầy lá khô như một tấm chiếu thiên nhiên rất sạch và êm, chẳng ghi chép gì, tất cả đều nhập tâm. Anh Đường cũng vậy, không cần sổ sách, nói liền một mạch, ngắn và rõ: Trong cuộc họp Ban thường vụ Tỉnh ủy mở rộng, nói chung đều tán thành chọn Bắc Khánh là hướng tiến công chủ yếu, nhưng điểm tiến công chủ yếu thì lúc đầu có hơi ngại cứ điểm cầu Đúc “cứng” quá, khó ăn, nên đánh thị trấn Tu Bông hoặc Vạn Giã chắc ăn hơn vì là trận mở đầu. Qua phân tích yếu mạnh và vai trò của từng đồn bót địch chạy suốt từ Nha Trang ra đến Đại Lãnh (chân đèo Cả), cuối cùng Thường vụ Tỉnh ủy nhất trí chọn Cầu Đúc giữ vai trò như một “đầu cầu” của địch trong cuộc hành quân đánh chiếm vùng tự do Phú Yên từ phía nam lên; đồng thời nó khống chế phong trào kháng chiến cả một vùng đông dân của huyện Vạn Ninh. Như vậy đánh cầu Đúc là đánh chỗ mạnh nhưng cũng là nơi hiểm yếu của địch. Nếu ta diệt được cứ điểm này sẽ làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ của địch ở vùng Bắc Khánh, có tác dụng phối họp một cách kịp thời và có hiệu quả với chiến dịch của ta đang mở ở bắc Tây Nguyên, góp phần làm phá sản “chiến dịch Át-lăng” của địch... Không chờ anh phổ biến hết, tôi hỏi xen vào: - Ngoài lực lượng Đặc công, còn có đơn vị nào tham gia đánh Cầu Đúc nữa không? - Có, nhưng Đặc công là chủ yếu, - anh Đường trả lời, rồi bằng một giọng tâm tình, cởi mở mà nghiêm túc, như củng cố thêm lòng tin cho tôi, anh nói - nếu đánh theo phương pháp cường tập thì lực lượng sử dụng phải tới cỡ trung đoàn bộ binh mạnh. Nhưng lấy đâu ra trong điều kiện Khánh Hòa lúc này lực lượng mới bắt đầu hồi phục, một tiểu đoàn hoàn chỉnh cũng chưa có. Vả lại, nếu có một trung đoàn mạnh thì đánh theo phương pháp này chưa chắc đã ăn. Vì Cầu Đúc bản thân nó là một căn cứ mạnh trong hệ thống phòng thủ mạnh ở Bắc Khánh. Địch sẽ có đủ điều kiện phản ứng lại, không chịu ngồi nhìn ta đánh Cầu Đúc. Phi pháo của chúng sẽ được huy động tối đa đến đây để đập ta, chặn đứng các mũi tiến công của ta. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 06:43:53 am Như đoán được sự hưởng ứng tâm đắc của tôi, anh dừng lại và móc túi mời tôi thưởng thức điếu thuốc lá chiến lợi phẩm vừa được phân phối. Tôi vốn không nghiện chè thuốc nhưng lúc này đây Cũng nhận một điếu thuốc nghĩa tình và hút cũng thấy có cảm giác khoan khái. Một phút yên lặng sâu lắng trôi nhanh, anh lại tiếp tục phổ biến, giọng càng trở nên tâm tình hơn: Các anh trong Thường vụ sau khi cân nhắc đã khẳng định quyết tâm chọn Cầu Đúc là điểm tiến công chủ yếu hoàn toàn có căn cứ thực tiễn và giao nhiệm vụ này cho lực lượng Đặc công. Ngừng một lát, anh nhấn mạnh - Chỉ có phương thức tác chiến đặc công là phù họp với thực tiễn và nhất định chúng ta sẽ thắng. Tỉnh sẽ chi viện cho đặc công các anh một trung đội bộ đội địa phương và khoảng 300 dân công để làm nhiệm vụ tải thương, thu gom chiến lợi phẩm sau khi Đặc công đã vô đồn, thanh toán toàn bộ quân địch phòng thủ ở khu vực đó.
Như vậy quyết tâm của các anh trên tỉnh là phải thắng trận Cầu Đúc. Và giao nhiệm vụ phải thắng đó cho các chiến sĩ Đặc công chúng tôi. Mặc dầu vốn liếng tác chiến đặc công thu được sau thời gian học tập và thực tập - chiến đấu ở lóp học Đặc công Liên khu V về là khá, rất tự tin, nhưng đứng trước một nhiệm vụ mang nhiều ý nghĩa đã buộc chúng tôi phải lo toan, tính toán. Đánh như thế nào đây? - Đó là điều chúng tôi phải suy nghĩ. Kinh nghiệm diệt cứ điểm Dốc Nhứt (nam đèo Hải Vân) có còn áp dụng được nữa không, có gì cần thêm? Trước hết việc điều nghiên nắm địch phải làm thật tốt đến mức chu đáo và hoàn hảo. Đêm trước tôi cử Phạm Đình Ý, một đồng đội tin cậy của tôi, một chiến sĩ đặc công cùng tôi đi học lớp đặc công Liên khu V trở về, dẫn tổ ba người đi làm nhiệm vụ trinh sát. Yêu cầu phải vô được nội đồn, sờ mó được chân pháo, đo đếm được số lượng và chất lượng các lô cốt, ụ súng, lỗ châu mai, hàng rào kẽm gai và bãi mìn, v.v... Ý đã hoàn thành nhiệm vụ này. Rất tin các số liệu mà Ý đã báo cáo. Nhưng vẫn phải kiểm tra lại. Đó là nguyên tắc điều nghiên - trinh sát của tác chiến đặc công, hơn nữa, đây là trận then chốt chỉ có quyền thắng nên công tác kiểm tra càng trở nên nghiêm túc và cấp bách. Mà kiểm tra có nghĩa là phải tiếp tục đi trinh sát, trinh sát lần thứ hai, kiểm tra các kết quả cũ và phát hiện thêm tình hình mới. Đêm sau, tôi trực tiếp đi làm nhiệm vụ này. Cũng không cần nhiều người, ít mà tinh là được. Cùng đi với tôi có Lê Sơn Hổ, một chiến sĩ trẻ, lanh lợi, xông xáo và dũng cảm. Khoảng 19 giờ, tôi và Hổ từ hướng bắc (theo hướng mà Ý đã vào đêm qua) đột nhập vào nội đồn, trót lọt. Cuộc điều nghiên có tính chất kiểm tra này tiến hành thuận lợi. Nói chung tình hình mà Ý báo cáo cơ bản là đúng. Làm xong công việc xác minh, chúng tôi ra theo hướng nam, củng là để nắm tình hình, chuẩn bị một hướng dự bị; và cũng tìm thêm đường tiến công áp sát lô cốt mẹ - được xem như linh hồn của cứ điểm. Trên đường ra nói chung là êm ngọt, không gây một động tình gì, nhưng gần đến cổng ngoài thì gặp sự cố. Số là sau nhiều lần bị thất bại (có lẽ do cách đánh đặc công của ta phát triển) các đồn bót địch gia tăng củng cố, xây cất công sự boong-ke, dăng nhiều vật cản và tăng cường tuần phòng canh gác cẩn mật hơn. Đặc biệt cổng ra vào được địch chú ý nhiều. Ngoài cổng chính có công sự chiến đấu hai bên bảo vệ, địch còn làm thêm cổng cự mã ở ngoài cùng kề với hàng rào thứ nhất. Như các đồn binh khác, cứ điểm Cầu Đúc vào thời kỳ này được gia tăng canh gác và tuần phòng nghiêm ngặt cả nội đồn và ngoại đồn. Cứ tối đến, có một tiểu đội bí mật ra ngoài làm nhiệm vụ tuần phục phát hiện ta xâm nhập. Khi bọn này ra khỏi đồn, cửa cự mã được đóng lại và gài lựu đạn như cũ. Đến giờ quy định tiểu đội này trở về, dừng lại ngoài cổng dùng ám hiệu liên lạc với bộ phận lính gác bên trong. Đốc gác nhận đúng ám hiệu ra mở cửa, đứng nhận diện đủ số người mới cho vào, rồi đóng cửa lại như cũ. Cái quy luật này trong khi điều nghiên chưa phát hiện được. Tôi và Hổ đang ở trần như da con trăn mốc, ra gần đến cổng thì đúng lúc tiểu đội địch đi tuần trở về, đang chờ bọn lính gác ra mở cửa. Rẽ xuống vệ đường ư? Rất có thể bị mìn địch cài, chỉ cần sượt chân trong gang tấc. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 08:45:43 pm Lúc này không cho phép trao đổi, càng không có thời gian suy nghĩ vì địch và chúng tôi đã xáp quá gần, chỉ cách có hàng cự mã. Một phản ứng tức thì rất nhanh và ăn ý. Tôi nằm xuống và Hổ cũng nằm theo, rất nhẹ theo tư thế nghiêng áp bụng, ngực vào vệ đường, rất không thoải mái, dễ gây mệt mỏi và nếu tụt xuống chân đường, ở đấy chắc chắn có mìn. Nhưng không có cách nào khác, cứ phải ráng chịu. Bọn địch trong lúc đứng chờ mở cửa cổng thả sức đốt thuốc lá, gần như thằng nào cũng hút, ánh lửa lập lòe một quầng sáng mờ, nhờ, đủ nhìn thấy bóng các tên địch đứng lố nhố, tay cầm súng ở tư thế luôn luôn sẵn sàng bắn nếu có động. Tôi hơi ngẩng đầu, ngước mắt quan sát nhưng tay vẫn lăm lăm khẩu súng ngắn, chỉ chờ nếu có tên nào đó, dù hữu ý hay vô tình bước xuống vệ đường sát chỗ chúng tôi nằm thì đành phải nổ súng để triệt địch và thoát thân. Hành động như thế là bất đắc dĩ nhưng địch không phát hiện được dấu vết, yếu tố bất ngờ của trận tiến công vẫn còn. Hai phút trôi qua, bọn địch vẫn đứng tại chỗ chờ đốc gác ra mở cửa và tiếp tục thi nhau đốt thuốc chống lạnh và giết thời gian. Như thế là địch như mù, không biết gi đối phương đang nằm ngay dưới chân. Tôi mừng thầm: cơn hiểm nghèo sắp qua rồi, thì bỗng một mẩu thuốc lá hút dở còn đang cháy, không biết của tên nào ném ra, rơi trứng lưng. Tôi giật thót người vì nóng! Tôi suýt bật kêu lên như một phản xạ thông thường, tự nhiên, nhưng vội kìm ngay. Hất nó ra khỏi lưng ư? Dễ thôi, chỉ việc nghiêng mạnh là mẩu than hồng đó sẽ rơi ra khỏi lưng. Nhưng như thế chẳng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”. £)ich sẽ biết ngay, vì mẩu thuốc lá cháy đỏ ấy nhìn rất rõ trong đêm tối, chuyển động theo gió khác với rơi có lực tác động, hiện trường không bình thường ấy làm địch dễ sinh nghi. Tôi phải ráng chịu đựng để bảo đảm yếu tố bí mật tuyệt đối của nhiệm vụ. Chỉ có tạo được sự bất ngờ thì trận đánh mới giành thắng lợi, nhiệm vụ mới hoàn thành. Vấn đề chịu đựng khắc phục trong công tác đặc công, công tác điều nghiên - trinh sát thật là muôn màu muôn vẻ vì phải ứng phó với một kẻ thù địch cụ thể, nhưng thực tình trường hợp như đã xảy ra thì tôi chưa nghĩ đến bao giờ. Tôi cắn răng lại và tìm cách gỡ nóng như thế nào cho êm, địch không hề hay biết. Mắt không rời dõi theo địch, hai tay nắm chặt các lùm cỏ. Người tôi nhẹ hẳn đi, mặc dầu cảm giác đau rát ở chỗ mẩu thuốc roi vẫn còn. Nhưng ngay lúc ấy lại xảy ra sự cố khác do tôi gây nên. Vì trời tối không nhìn rõ Hổ đang nằm dưới, kế sát với mình, nên tôi nghiêng cho mẩu thuốc lá rơi nhè nhẹ như gió đưa ấy nào ngờ đốm than đang hồng lại chuyển sang lưng Hổ cũng ở trần như tôi. Nóng quá, Hổ không kêu lên nhưng thân rung mạnh như muốn hất nó ra khỏi lưng. Thấy vậy, tôi rất lo, vội lùi nhẹ, lấy tay ấn Hổ xuống. Biết ý, Hổ nằm im như bất động, ráng chịu cho đến khi mẩu thuốc đó lụi thành tán bay theo gió roi khỏi lưng một cách tự nhiên.
Đầu óc chúng tôi lúc này căng thẳng, tim đập mạnh. Bỗng có tiếng cạch, đó là tên đốc gác nhận đúng ám hiệu ra mở cổng. Tốp địch đi tuần tra lần luợt từng tên một vào cho đến tên cuối cùng vừa bước qua thì cửa cự mã đóng lại. Tên đốc gác làm các công việc xong, khóa gài đầy đủ số lựu đạn quy định xong xuôi, khoảng năm phút sau mới về vị trí của y đặt ở cổng chính. Phút yên lặng đến nhanh, bóng tôi cũng ấp theo, tôi thở phào nhẹ nhõm và Hổ cũng vậy. - Thoát rồi! - Tôi ghé sát tai Hổ nói. Hổ gật đầu đồng ý. ị Hai chúng tôi đứng dậy vươn vai khoan khoái, làm một vài cử động nhẹ cho cơ thể trở lại bình thường sau những phút giây nằm chờ gò bó và căng thẳng bên vệ đường, rồi lại cúi xuống đi lom khom thật nhanh đến cổng cự mã. Tôi mở khóa, Hổ gỡ lựu đạn gài. Chỉ một thoáng, hai người lách qua cổng ra ngoài. Xong việc, lại theo sự phân công: tôi đóng khóa, Hổ gài lựu đạn, xóa hết dấu vết khiến địch sinh nghi. Công việc của người chiến sĩ đặc công làm nhiệm vụ điều nghiên - trinh sát địch là như vậy. Không chỉ nghĩ cách thoát sao cho an toàn với bản thân, mà phải làm gì để giữ bí mật. Bởi thế bất cứ một sơ suất nhỏ nào trong giai đoạn này cũng dễ tạo nên và làm tăng thêm sự nghi ngờ đối với địch, rất có thể ảnh hưởng đến trận đánh, có khi phải trả giá đắt cho sự cẩu thả, không chú ý đến chi tiết nhỏ. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 08:46:20 pm Kiểm tra lần cuối, chúng tôi thực sự yên tâm là mình đóng cổng đúng như địch đã làm, mọi dấu vết khả nghi đã được xóa. Xong đâu đấy, cả hai bước ra khỏi đó mươi bước, tôi và Hổ nằm lại, ngửa mặt lên trời hít thở không khí trong lành của gió từ biển thổi vào, mãi ba phút sau mới đứng dậy đi tiếp. Trận đánh chưa xảy ra mà chúng tôi đã thực sự phấn khởi pha chút tự hào bởi công tác điều nghiên, đã làm tốt, đảm bảo quyết định cho thắng lợi đêm mai, bởi chúng tôi đã hành động đúng yêu cầu của người chiến sĩ Đặc công: Phải dũng cảm, kiên trì đến cùng, tìm mọi cách khắc phục khó khăn, không được và không bao giờ tự mình sơ hở để địch phát hiện. Qua mỗi trận đánh, mỗi lần kiểm nghiệm, lại thấy điều đó là đúng, trở thành một nguyên nhân thắng lợi đối với bất cứ trận tác chiến đặc công nào.
Đêm về khuya, trăng thượng tuần đã lặn từ bao giờ chỉ còn lại bầu trời đầy sao không một gợn mây, rọi ánh sáng lờ mờ, cho hai chúng tôi trở ra theo hướng đã vạch. Căn cứ cầu Đúc lui dần về phía sau và chìm trong đêm vắng. Ra khỏi cổng căn cứ một quãng xa chúng tôi đi tiếp xuôi theo hướng nam khoảng gần một cây số rồi quẹo phải, vượt đường số 1, chếch hướng tây - nam mà đi tới. Như có cái gì nâng bước, chúng tôi đi quên mệt, vậy mà gần một giờ sáng mới về đến đơn vị. Phương án chiến đấu được các anh ở tỉnh thông qua nhanh: Ngay từ phút giây đầu tiên của giờ G phải đánh sập lô cốt mẹ, bắt khẩu đại liên câm họng, bắt trạm thông tin ở đây câm mồm, không liên lạc, cầu cứu được bất cứ đâu. Đến khi đồng bọn xung quanh biết Cầu Đúc bị Việt Minh tiến công thì mọi việc đã xong, việc chi viện trở nên vô ích. Mười hai chiến sĩ tốt nghiệp lớp Đặc công Liên khu V trở về làm nhiệm vụ chủ yếu trực tiếp đánh phá tiêu diệt địch, san bằng căn cứ này; một trung đội bộ đội địa phương làm nhiệm vụ dự bị và chịu trách nhiệm tải thương; số anh chị em dân công nằm ngoài, khi có lệnh nhanh chóng vô đồn thu thập chiến lợi phẩm. Mười hai chiến sĩ đặc công chia thành hai mũi: Mũi phụ do Phạm Đình Ỷ phụ trách từ hướng bắc đánh vào; mũi chính do tôi phụ trách từ đông nam đánh thốc lên. Sở dĩ chọn đông - nam là hướng tiến công chủ yếu là vì ở đây địch sơ hở, cho là gần biển ta khó vào? và khi đã đột nhập vô nội đồn thì có điều kiện áp sát đánh vào lô cốt mẹ tương đối thuận lợi. Đánh một căn cứ có một đại đội Com-măng-đô tăng cường phòng thủ, có hệ thống công sự boong-ke hoàn chỉnh, ở địa thế sát biển mà chỉ sử dụng hơn chục chiến sĩ đặc công; lúc đầu các anh trên tỉnh còn phân vân, cho như vậy lực lượng so sánh quá chênh lệch, e mỏng không hoàn thành nhiệm vụ. Tôi tự tin trình bày với cách đánh đặc công thì lực lượng như vậy là vừa. Kinh nghiệm thực tập - chiến đấu ở Quảng Nam đã chứng tỏ khi vô nội đồn không cần nhiều người; lúc đánh Dốc Nhứt (nam đèo Hải Vân) một cứ điểm được xếp hạng vô loại kiên cố vậy mà chỉ cần số học sinh tỉnh Khánh Hòa đảm nhiệm vẫn thắng. Đã gọi là đặc công - là tiến công cứ điểm địch bằng phương pháp đặc biệt, biểu hiện cụ thể của cái đặc biệt ấy ở chỗ người ít mà tinh (tinh cả tinh thần chiến đấu cao, tinh cả kỹ thuật tiềm nhập phải thành thạo đến mức kỹ xảo, tinh cả kỹ thuật chiến đấu với hiệu quả cao...). Các anh trên tỉnh sau khi hỏi kỹ ý kiến từng người chúng tôi, liền chuẩn y và cho tôi thực hiện như kế hoạch đã định, chỉ nhấn thêm là không được chủ quan, bởi mỗi nơi thủ đoạn đối phó của địch mỗi khác. Về ngụy trang, chúng tôi vẫn dùng bột nhọ nồi, chà lên người vì ở đây vùng cỏ tranh, địch vừa đốt, để lại trên toàn bộ nền đất màu xám đen. Tất cả phải có cành lá che đầu, vì tóc để dài, đang bò trườn gặp đèn pha địch rọi thẳng là chúng phát hiện được liền. Trang bị vũ khí ngoài bộc phá FT (phá tường) có trọng lượng thông thường hai đến ba cân mỗi quà. cá biệt có loại nặng tới sáu bảy cân. Ngoài ra còn có bộc phá ném do các xưởng quân giới Liên khu V sản xuất mang vào. Loại vũ khí này đã được cải tiến, làm theo đơn “đặt hàng” của chúng tôi rút ra từ sau trận đánh đich ở Gò Ông Tự, ngoài Quảng Nam. Nhân đầy xin mở vòng ngoặc kể cùng bạn đọc về thất bại này đã dẫn tới nguyên nhân cải tiến cấu tạo một số vũ khí chuyên dùng của đặc công thời đó. Chả là đợt thực tập - chiến đấu lần thứ nhất, đoàn học sinh Khánh Hòa được phân về đánh bót Gò ông Tự (Điện Bàn, Quảng Nam). Các kỹ thuật ngụy trang, trườn bò, cắt rào, gỡ mìn, anh em làm tương đối thành thạo, tất cả đều vô nội đồn một cách êm ru, địch không hề hay biết. Nhưng thất bại là do vũ khí chuyên dùng chưa được cải tiến, vẫn dùng loại bộc phá chập điện và vẫn theo lối đánh của anh em đặc công Đông Nam Bộ dùng thời kỳ đầu. Hôm đó, sau khi anh em vào được nội đồn, đặt được bộc phá FT vào đúng chân tường lô cốt rồi từ đó dòng dây ra ngoài hàng rào ngồi chờ đợi. Một chiến sĩ khác được phân công gọi loa kêu gọi địch đầu hàng, nếu không hàng sẽ cho “nổ” súng đánh sập lô cốt (nổ súng ở đây là chập điện pin, bộc phá nổ). Theo các anh Liêm, Đôi, Nê là những giáo viên từ Nam Bộ ra hướng dẫn chúng tôi kể lại thì cách đánh này có cái lợi là kết họp được giữa tiến công quân sự với địch vận - gọi hàng, nhiều đồn bót địch trong đó đã buộc nghe theo lời kêu gọi của ta, kết quả thắng to mà lại không tốn kém. Lần thực tập này các anh muốn thử nghiệm xem còn tác dụng không. Tất nhiên là kinh nghiệm trên không còn phù hợp nữa. Sau khi ta gọi loa, không thấy địch trả lời. Trong đồn vẫn yên lặng. Tưởng địch đã dao động, tiếng loa lại dõng dạc hướng vào đồn tiếp tục kêu gọi với một niềm tự tin hơn. Thì lần này địch trả lời bằng súng đạn hẳn hoi, ngay khi tiếng loa chưa dứt. Đồng chí phụ trách bộc phá theo quy ước, đến tình huống như vậy là chập điện cho bộc phá đặt sẵn bên lô cốt nổ. Một lần, hai lần và đến lần chập thứ ba vẫn không nghe thấy tiếng nổ mong đợi, chỉ thấy súng địch bắn ra càng rát đồng chí gọi loa bị thương nhẹ do đạn súng trường sượt qua vai trái. Thế là có sự trục trặc kỹ thuật, có thể do một đầu dây đã tuột hoặc một nguyên nhân nào đó ai mà biết được. Đến lúc ta và địch đã công khai tuyên chiến thi làm sao khắc phục được bất trắc này? Cần phải cải tiến vũ khí, điều đó đã được các đồng chí ở xưởng quân giới Liên khu V thỏa mãn, khiến chúng tôi càng tăng thêm lòng tin trước khi vào trận đánh. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 08:49:13 pm Xin được trở lại câu chuyện đang kể. Đêm sau, theo kế hoạch chúng tôi bước vào trận đánh. Mọi sự chuẩn bị được kiểm tra đến từng chi tiết. Ý nghĩa chung của trận đánh, ý nghĩa riêng trong suy nghĩ của chúng tôi mà không ai nói ra, đó là trận đánh đầu tiên báo cáo kết quả học tập ngay tại quê nhà, làm chúng tôi thêm thận trọng, nghiêm túc. Đúng giờ, toàn đội triển khai đội hình tiềm nhập. Thiên nhiên lúc này không ủng hộ chúng tôi nữa. Ở hướng đông- nam là hướng chính của trận đánh bỗng mất đi cái lợi thế tự nhiên. Trời lặng gió, sóng biển thôi gầm réo. Sự động tĩnh nếu không cẩn thận rất dễ bị địch phát hiện. Và như thế súng từ các lỗ châu mai boong-ke rất gần kia cứ thế mà nhả đạn ra cái nơi tráng địa đã được căn sẵn. Phải xốc lại đội hình trước khi thực hành cắt rào là một điều hoàn toàn không nên có.
Đồn địch ở ngay trước mặt đã trở nên rất gần mà tôi thấy mình cứ lo lắng, bồn chồn. Với tư cách là tổ trưởng tôi phải .điều hành từng động tác bò trườn của các chiến sĩ kề sát bên, theo dõi đến từng cử động, vì một sơ suất nhỏ cũng dẫn đến thất bại nếu lộ, lo sao cho tất cả tám đồng đội của mình phải có mặt ở địa điểm theo đúng giờ G quy định; với tư cách lá chỉ huy trưởng trận đánh, tôi còn phải chăm chú nghe ngóng động tĩnh từ hướng bắc vọng về để nổ súng báo hiệu giờ G bắt đầu. Tuy lo nhưng tôi cũng thật tin vì anh em đã cùng tôi gắn bó thử thách qua các trận Tân Kiều, Hố Vông, đèo Phượng Hoàng, Dốc Thị, nhà Thương Chánh v.v... Mười hai con người, mỗi người một hoàn cảnh, một lý do lên đường khác nhau không ai giống ai, nhưng lại được đan kết gắn bó với nhau bởi một tình cảm chung thật đẹp, tình đồng đội vì sự nghiệp chung - giải phóng đất nước. Tất cả đã vào hết nội đồn, từng người đã đến các mục tiêu được phân công, chờ lệnh nổ súng. Giờ G - cái giờ thật thiêng liêng sắp bắt đầu thì ở mũi tôi chỉ huy bắt gặp hai tên lính đi tuần quanh nội đồn, chúng dùng đèn pin quơ lên, chúc xuống soi quét tứ phía. Tôi dùng ám hiệu ra lệnh cho anh em nằm bất động tại chỗ và dán mắt theo dõi. Rất tin ở kỹ thuật ngụy trang của anh em nhưng tôi vẫn thấy đây là phút giây cực kỳ hiểm nghèo, còn hơn cả cái hiểm nghèo hai chúng tôi đã nếm trải đêm qua. vẫn chưa hết, bất thần khẩu đại liên trên tầng hai lô cốt mẹ khạc đạn về hướng tây. Đêm yên tĩnh bị phá vỡ, pháo sáng thi nhau vút lên không trung. Đội hình tiềm nhập nằm như gí xuống mặt đất. - Có thật là bị lộ không? Nếu lộ sao địch trong đồn vẫn nằm im, chỉ có khẩu đại liên đang bắn như đổ đạn về phía rừng phía tây, như nhằm vào đội hình quân ta từ hướng ấy đánh vào, nhưng thực tế thì hướng này không có ai, kể cả dân công. Khoảng mười phút sau đó, tiếng súng thưa dần rồi câm bặt, khiến tôi liên hệ đến trận Dốc Nhứt cũng gặp phải trường họp này. Cũng khoảng gần nửa đêm, súng các loại của địch thi nhau vãi đạn. Tôi chưa khẳng định đây là hoạt động có tính quy luật, cũng có thể địch bắn thị uy để đánh đòn cân não đối phương (cái hoạt động “chiến tranh cân não” này sang thời kỳ chống Mỹ vẫn thế, thường vào giờ này các căn cứ của Mỹ đều có hoạt động tương tự để trấn an tinh thần quân lính, một mặt khủng bố tinh thần đối phương). Thế là đã yên tâm được một bề, chỉ còn lo theo dõi hai tên lính tuần đêm đi trong nội đồn. Tay phải lăm lăm khẩu súng ngắn đạn đã lên nòng, tôi tự nhủ: hễ địch khả nghi, lùng sục phát hiện là nổ súng liền, coi như giờ G đến nhanh, anh em cứ việc ập vào các mục tiêu đánh phá đã được phân công. Hai tên lính đi tuần, tay cầm đèn vẫn quơ lên hạ xuống, rồi một tên đứng lại rọi ánh sáng xuống chân. Tôi gần như nín thở, chờ đón một điều gì chẳng lành sắp xảy ra trong gang tấc, tưởng có ai đó sơ suất để lộ. Nhưng không thấy y có hành động gì thêm. Thì ra y đứng đái. Tôi thở phào và hình như lồng ngực xẹp xuống, tim đập bình thường trở lại. Hai tên lính soi đèn ngoắt sang trái đi về phía nhà ngủ. Khi chúng vô nhà đóng cửa, tắt đèn đi ngủ thật, tôi mới thực sự yên tâm. Giờ G không đến sớm mà muộn mất mười phút so với kế hoạch. Tôi dẫn tổ vào đánh lô cốt mẹ. Hổ đã áp quả bộc phá FT nặng năm cân vào sát cửa lô cốt mẹ. Chỉ trong tích tắc một tiếng nổ chói tai tưởng như bom, làm rung chuyển mặt đất nơi chúng tôi đang nằm. Cửa lô cốt bật tung, tôi dẫn tổ ba ngưòi ập vào, phát triển nhanh lên tầng hai, nơi khẩu đại liên do một tên lính to béo, cỏi trần, đang bắn xối xả ra xung quanh đồn. Hắn đang siết cò, đầu chúc xuống, lia quét tứ tung thì tôi đã đến sau lưng hắn, quát to: - Giơ tay lên! Tên lính sững sở hoảng hốt, vội bỏ súng, vái lạy: - Dạ thưa, th...ưa con xin hàng! - Hắn luống cuống như líu lưỡi, giọng ngắt quãng - Xin các ông tha t...ội ch...ết cho con! - Muốn sống tháo ngay chân súng ra! - Tôi ra lệnh tiếp. Tên xạ thủ len lét ngoan ngoãn làm theo. Khẩu đại liên trước đó mấy phút là vật nguy hiểm, nay nằm ềnh ra như một đống sắt vô dụng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 08:50:08 pm Sau khi làm chủ lô cốt mẹ, bắt khẩu đại liên phải câm họng, tôi dùng đèn quơ thành vòng tròn ba lượt theo tín hiệu quy định, báo cho các mũi biết là lô cốt mẹ đã giải quyết xong và đoàn dân công biết chuẩn bị thu gom chiến lợi phẩm. Đang quơ vòng cuối cùng chưa hết thì súng từ lô cốt đối diện bất thần bắn sang, may mà đạn đi thấp, xuyên vào cổ chân đau nhói, làm tôi khuỵu xuống. Chú Ba tôi làm nhiệm vụ đứng cạnh đó nhưng tôi giấu không cho chú biết về hậu quả cảnh giác chưa cao của mình, vẫn tiếp tục chỉ huy các hướng diệt tiếp các mục tiêu còn lại. Mãi đến khi kết thúc trận đánh, anh em mới biết tôi bị thương liền tổ chức khiêng tôi ra nhanh khỏi vòng nguy hiểm.
Đêm chiến thắng trở về thật vui. Địch thua đau còn ta thì vô sự. Đêm tối trời mà bước đi của những người chiến thắng không vấp ngã, không chậm chạp. Mười hai chiến sĩ đặc công còn nguyên vẹn sau trận đánh. Chúng tôi chuyện trò cười nói râm ran, vui như trẩy hội. Chiến thắng Cầu Đúc trở thành kỷ niệm sâu sắc trong đời chiến đấu của tôi. Nó làm chuyển biến trong tôi về cách đánh đặc công, khiến tôi bắt đầu từ đây có niềm say mê mới và càng làm tôi yêu mến, gắn bó một cách máu thịt với đồng đội của tôi, những chiến sĩ đặc công. Năm tháng trôi qua, cảm thụ của tôi về trận thắng Cầu Đúc cứ được nhân lên. Tác chiến đặc công không chỉ là kỹ thuật đặc biệt, mà còn là sự kết hợp có tính nguyên tắc giữa kỹ thuật và chiến thuật. Mỗi một chiến sĩ đặc công không chỉ giỏi về kỹ thuật mà còn phải giỏi về chiến thuật cùng hiệp đồng ăn ý với đồng đội, kết thành sức mạnh muôn người như một. Nhờ sự kết họp này mà bất cứ căn cứ, đồn bốt nào, bất cứ sân bay, bến cảng nào, bất cứ kho tàng, hậu cứ nào, dù có kiên cố đến đâu ta vẫn có cách đánh được. Nhưng đánh vào đâu, ở vào bối cảnh, thời điểm nào để phát huy được chiến thắng, như điểm đúng “huyệt” trên cơ thể con người mới là điều quan trọng. Trận Cầu Đúc là một điểm “huyệt” nói lên rằng tác chiến đặc công phải gắn chặt với nghệ thuật quân sự nhất định, Đánh độc lập là một phương thức, nhưng đánh trong đội hình chiến dịch, chiến dịch - chiến lược lại quan trọng hơn, có thế tác chiến của đặc công mới góp phần tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về so sánh lực lượng, tạo điều kiện cho việc giành thắng lợi lớn hơn. Chọn tiến công căn cứ Cầu Đúc là điểm đúng huyệt của thằng địch ở vùng Nha Trang lúc bấy giờ. Vì căn cứ này bị san bằng tức là đường số 1 bị cắt, cứ điểm đầu cầu Hảo Sơn (Phú Yên) của địch bị cô lập buộc chúng phải tiếp tế bằng máy bay; các đồn bót còn lại kể cả thị trấn Tu Bông, Vạn Giã, Ninh Hòa đều co lại và binh lính đóng ở đấy sống trong hoang mang, dao động v.v... Đánh Cầu Đúc, chỉ cần một điểm đó thôi, đã có sức thối động mạnh mẽ đến quân địch ở vùng Bắc Khánh và đến tận thị xã Nha Trang. Như cờ đã cài thế, địch khó cựa mà ta thì mở ra các điều kiện cho nhiệm vụ tiếp sau. Sau cầu Đúc, các lực lượng vũ trang Khánh Hòa được chuẩn bị chu đáo hơn để đánh tiếp cứ điểm Lạc Ninh - một cứ điểm mạnh cỡ chi khu do một đại đội chủ lực ngụy đóng giữ, được táng cường cả đại bác 75 ly phòng thủ. Lạc Ninh cùng với các cứ điểm Tân Lâm, Dục Mỹ hình thành hệ thống phòng thủ vòng ngoài của địch, nhằm khống chê căn cứ kháng chiến Đá Bàn của ta, bảo vệ đường số 1 và 21 nối liền với Tây Nguyên. Cái vỏ cứng ấy đã bị ta san bằng. Đây là một trận đánh có hiệu suất cao (ta chỉ có một chiến sĩ hy sinh), ta diệt toàn bộ quân địch ở đây bắt tù binh, thu toàn bộ vũ khí, có cả đại bác 75 ly, lấy cả xe ô tô của địch để chở đại bác về căn cứ. Thừa thắng, ta bao vây pháo kích cứ điểm Tân Lâm, chuẩn bị tiêu diệt đồn Dục Mỹ. Trước tình hình nguy ngập, địch ở hai cứ điểm này bỏ chạy về co cụm ở thị trấn Ninh Hòa, toàn bộ vùng đồng bằng tây và tây bắc Ninh Hòa được giải phóng. Trong cái phấn khởi chung, tôi có niềm vui riêng - quê hương Ninh Hòa của tôi đã được giải phóng nhiều, tôi đã có thể an toàn đi giữa ban ngày về thăm lại mẹ và các em ở Phước Sơn. Hình ảnh quê hương cứ hiện về với những kỷ niệm hồi ấu thơ, khiến có lúc nó đã thôi thúc thực sự ý định về thăm nhà của tôi. Cái ước mơ chính đáng ấy đã ám ảnh dai dẳng trong tôi nhưng tôi lại bị cuốn vào bao nhiệm vụ khẩn trương trước mắt; kẻ thù vẫn còn đó. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 08:51:32 pm VI Giai đoạn ba của đợt hoạt động phối họp với mặt trận Điện Biên Phủ ập đến thật nhanh. Lúc này là đầu tháng 5 năm 1954. Những ngày này đã trở thành một nếp sinh hoạt tinh thần quen thuộc là theo dõi chiến trận Điện Biên Phủ. Bằng nghe thông báo của tình, của cơ quan tuyên truyền và nghe qua các tin phương Tây loan ra từ vùng địch hậu, chúng tôi được biết mặt trận Điện Biên Phủ đang trong giai đoạn cực kỳ khẩn trương, quân ta đã áp sát sân bay Mường Thanh, sở chỉ huy của tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Chiến trường chính đã thực sự hối thúc. Giữa lúc ấy chúng tôi được tỉnh giao nhiệm vụ cùng với một đại đội của Bắc Khánh tiến công thị trấn Ninh Hòa. Tiến công thị trấn Ninh Hòa! Tôi xúc động vì niềm vui sướng dâng đầy, bởi cùng với chiến thắng chung của quê hương, trong đó có cả ước mơ cháy bỏng, mơ ước có một ngày về của riêng tôi. Ninh Hòa, cái phố thị như phần đầu kể cùng bạn đọc đã để lại trong tôi bao nhiêu kỷ niệm của tuổi thanh niên mới bước vào đời được ánh sáng chân lý của Đảng chiếu rọi qua hình ảnh đoàn quân Nam tiến, Hơn lúc nào hết, giờ này hình ảnh đơn vị Nam tiến do anh Xuân chỉ huy cứ hiện về trong tôi, rộn lên nỗi nhớ bật thành câu hỏi, các anh hiện ở đâu? Các chiến sĩ Nam tiến do anh chỉ huy và những đồng đội thân yêu của tôi giờ này đang làm gì, những ai còn, ai mất? Các anh có hay biết gì về Khánh Hòa, mảnh đất của Nam Trung Bộ xa xôi đã có đổi thay gì không? Ngày ấy do tương quan lực lượng còn nghiêng về phía có lợi cho địch mà mặt trận Nha Trang rồi Ninh Hòa tạm thời rơi vào tay địch. Nhưng ngày nay đang có chiều hướng ngược lại. Quân dân Khánh Hòa đã làm tốt nhiệm vụ giam chân một trung đoàn địch không cho chúng lên Tây Nguyên, tạo điều kiện cho chiến dịch Bắc Tây Nguyên của ta thêm điều kiện thuận lợi; bằng hai trận then chốt san bằng cứ điểm Cầu Đúc, Lạc Ninh, con đường số 1 Bắc Khánh (Ninh Hòa - Vạn Ninh - Đại Lãnh) đã bị cắt đứt, địch hết hy vọng từ hướng nam mang quân qua đèo Cả ập xuống đánh phá vùng tự do Phú Yên. Sau thất bại Cầu Đúc, Lạc Ninh, hai cứ điểm quan trọng khác là Tân Lâm, Dục Mỹ cũng phải rút theo, hướng chính của đợt hoạt động Đông-Xuân 1953-1954 nhằm phối hợp với mặt: trận Điện Biên Phủ đã hoàn thành nhiệm vụ, phần lớn đất đai hướng Bắc Khánh đã được giải phóng. Bây giờ đây chúng tôi đã được biết các đồng chí lãnh đạo đang bàn đến chuyện đánh vào thị trấn Ninh Hòa và thị xã Nha Trang. Các anh đã quyết định: Hướng tiếng công chính tiếp theo của đợt ba khởi đầu tháng 5 là đánh vào Nha Trang, nơi đặt sổ chỉ huy tiền phương của cuộc hành quân “Át-lăng” của địch. Ninh Hòa là hướng thứ yếu. Nhớ lại cách đây không lâu, địch bao vây chúng tôi ở căn cứ Hòn Hèo, chủng huy động cả thủy, lục, không quân để định cất vó cơ quan lãnh đạo và chỉ huy kháng chiến của tỉnh. Vậy mà giờ đây, mới chỉ chưa đầy ba năm cái mơ ước giải phóng thị trấn, quận lỵ, đánh vào thành phố đã là việc chúng tôi đang bàn với một lòng tin hoàn toàn có cơ sở... Đội đặc công của chúng tôi trong giai đoạn này được giao đánh địch ở hướng thứ yếu. Chưa thật phấn khởi khi nhận nhiệm vụ nhưng sau khi nghe các anh trên tỉnh phân tích cặn kẽ các vấn đề chung riêng thì tôi thông suốt và hăm hở trở về đơn vị cùng đồng đội triển khai thực hiện. Được biết mình không có mặt ở hướng chính Nha Trang, anh em đều nhao nhao thắc mắc, cho cấp trên không tin mình. Đã gắn bó với nhau thăng trầm nên tôi rất tin và tôn trọng anh em. Với ý nghĩa đó, tôi họp anh em lại cho mọi người trao đổi. Thảo luận rất hăng, tranh luận một chập rồi ai nấy đều vui vẻ thông suốt nhiệm vụ, chỉ một nguyên nhân, là ở trong anh em đã ẩn chứa một ý thức, ở đâu cũng là nhiệm vụ, ở đâu cũng là đánh giặc; đã là chiến sĩ đặc công thì không từ nan bất cứ nhiệm vụ gì. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 08:52:46 pm Tôi ôn tồn trình bày thêm những điều mà mình thu hoạch được qua nghe cấp trên phổ biến và qua suy nghĩ của bản thân: Địch ở thị trấn Ninh Hòa đang hoang mang dao động, không cần thiết phải sử dụng lực lượng lớn đánh vào, chỉ cần bao vây, liên tục pháo kích một cách có hiệu quả, chúng có thể hoang mang tan rã và nhất là khi ở hướng Nha Trang nổ súng, ta có thể nhanh chóng tiêu diệt bọn địch ở đây mà không cần một lực lượng lớn. Một lý do nữa mà tỉnh có ý định sử dụng lực lượng đặc công vào hướng này là để đánh phá nhà lao Ninh Hòa, giải thoát hơn bảy trăm tù chính trị của ta đang bị chúng giam dữ, đánh đập. Đây là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng, nếu ta làm được sẽ góp phần cung cấp cho kháng chiến một lực lượng cán bộ đông đảo; hơn nữa đây còn là một nhiệm vụ cấp bách vì theo tin cơ sở trong đó báo ra, địch đang xúc tiến âm mưu di chuyển số anh em tù chính trị đi nơi khác, không rõ việc làm đó của địch nhằm âm mưu gì... Mới chỉ trình bày đến đây tôi đã thấy nét mặt mỗi người như có sự thay đổi. Một không khí vừa trang nghiêm, vừa chăm chú bao trùm lên buổi trao đổi nhận thức nhiệm vụ.
Tôi nói cụ thể và nhấn mạnh thêm: Như vậy rõ ràng nhiệm vụ này chỉ có đặc công mới hoàn thành được. Bởi lẽ phá nhà lao Ninh Hòa là để giải thoát tù chính trị chứ không phải phá theo kiểu tiêu diệt như Cầu Đúc. Như thế có nghĩa là ta không thể đánh bộc phá vào các nhà giam, không từ xa pháo kích vào phá hủy công sự, lô cốt. Mà phải dùng lực lượng nhỏ tiềm nhập, diệt các tên lính gác và các lô cốt địch bảo vệ khu giam, phá cổng lọt vào, đến các nhà giam mở cửa đón anh chị em tù ra khỏi nhà lao. Ngày 3 tháng 5, từ Đá Bàn đom vị Đặc công chúng tôi băng qua các đồn bót địch trở lại đứng chân ở Suối Mỏ gần đỉnh Hòn Hèo để làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Tất cả chúng tôi đều có chung một xúc động khi trở lại đây - nơi đã đùm bọc chúng tôi sống và chiến đấu những ngay đầu, Từ đây nhìn về Phước Sơn rất rõ, đã gợi trong tôi nỗi nhớ thương da diết về người mẹ suốt đời nghèo khổ, lo toan, giờ đây lại bị địch 0 ép vì có con đi Việt Minh. Không biết mẹ, chị và các em hiện giờ ở đâu, có còn đoàn tụ hay sống trong li tán. Như có cái gì mềm yếu trỗi dậy trong tôi. Đúng là tôi buồn và hai mắt chớp nhanh để khỏi thành dòng lệ rơi. Nhìn chếch hướng tây - nam, Ninh Hòa gần ngay trước mặt. Và thế là nhiệm vụ được nhắc nhở, tôi tự không cho phép mình dược tản mạn suy tưởng. Xen giữa Hòn Hèo, Ninh Hòa là những thôn ấp và đồng lúa xen nhau, thoảng lại có con suối khởi nguồn từ các triền núi Dục Mỹ, Phượng Hoàng vắt ngang, chảy dọc nom đẹp như bức tranh. Nhưng đối với người lính đặc công chúng tôi, giờ đây không còn phải là lúc ngồi ngắm cảnh mà là sự tính toán vạch một con đường tiềm nhập sao cho ngắn nhất để vào mục tiêu. Một con đường tưởng tượng từ chân phía tây Hòn Hèo đến Ninh Hòa chỉ khoảng ba cây số, nhưng không có cách nào khác là phải qua các xóm ấp ken dày và những cánh đồng sấp nước có đôi ba chỗ là sinh lầy. Đường hành quân của chúng tôi sẽ gặp chó sủa, gặp những tên chỉ điểm nằm vùng, có thể trận đánh bị lộ ngay trên đường hành quân đến vị trí tập kết nếu không tìm được biện pháp khắc phục. Thời gian đã rất gấp, không nhanh để địch di chuyển số anh chị em của ta đi nơi khác thì không chỉ lương tâm, trách nhiệm mà là có tội với đồng bào, đồng chí. Tôi nhắc anh em ở nhà chuẩn bị đóng gói bộc phá cho tốt và tiến hành luyện tập các biện pháp khắc phục do bộ phận kỹ thuật đề ra, rồi cùng với Phạm Đức Ý, Phạm Đăng Roi, chú Ba lên đường trinh sát. Có Sáu Coóc dẫn đường (là con nuôi tên Tây Coóc, được ta giác ngộ bỏ hàng ngũ địch trở về làm việc cho kháng chiến) nên khi đột nhập vào Ninh Hòa chúng tôi không bị lạc, đi thẳng đến mục tiêu cần điều tra. Đến nơi mới biết nhà lao này được cải tạo từ hàng rượu cũ mà hồi bé tôi đã qua lại nhiều lần. Nhà lao có một đại đội canh gác do tên Tây Coóc chỉ huy. Dự kiến ở nhà trọng tâm điều tra hướng tây - bắc (phía sau của nhà lao) là hướng tiến công chủ yếu, nhưng vào thực địa thấy hướng này ken dày, dễ lộ; vả lại địch canh phòng cẩn mật hơn. Một đêm vất vả, thấy được nhiều vấn đề, nhất là việc chống ánh sáng điện khi tiềm nhập là rất quan trọng. Song nhiệm vụ chính vẫn chưa hoàn thành, chưa xác định được hướng tiến công chủ yếu. Đêm thứ hai chúng tôi xuất quân sớm hơn, theo hướng đông - nam vào điều tra cổng chính ra vào của nhà lao. Con đường tiềm nhập theo hướng này có nhiều thuận lợi, tuy phải vượt qua sông Dinh, nhưng sang đến bờ tây sông là có thể bò thuận lợi, địa hình kín, nhà dân thưa, cứ men theo bờ sông, quặt phải luồn qua một hẻm nhỏ là tới mép đường, đối mép đường bên kia là cổng nhà lao. Tôi nhìn khá rõ những đổi thay ở khu này, nhận được ngay lầu hai tầng xây từ hồi Pháp thuộc, hiện là nhà ở của thằng Tây Coóc. Một kế hoạch đánh chiếm nhà lao đã được hình thành ngay khi tôi nằm bên này đường quan sát kỹ cổng ra vào của chúng. Ta sử dụng mật tập, đưa người vào nội lao ém sẵn, chờ cho tổ cường tập vào sát phía cổng đồn, thì trong nổ bộc phá đánh trước, nhằm vào lô cốt mẹ và nhà hai tầng nơi Tây Coóc ở; các tổ khác nhanh chóng tỏa đến từng nhà giam, dùng búa phá cửa, đưa dẫn anh chị em ra khỏi nhà lao, càng nhanh càng tốt, đề phòng địch nã pháo giết hại nếu chúng thấy nguy cơ không giữ được... Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 08:54:27 pm Đêm thứ hai thì gọn việc, làm xong nhanh, tổ trinh sát trở về Suối Mỏ còn sớm, chưa đến mười hai giờ đêm. Công việc chuẩn bị ở nhà nói chung đã xong. Biết tôi về, anh em đều thức dậy hỏi chuyện, người nào trông cũng tỉnh như sáo, tất cả đều đã sẵn sàng, có thể đi ngay trong đêm.
Hôm sau là ngày 6 tháng 5. Sao chúng tôi thấy cái ngày hôm đó thật là dài, mặt trời lặn như chậm hơn mọi ngày. Đến khi mặt trời vừa nhá nhem tối là chúng tôi xuất quân và dừng lại tại chân núi phía tây của Hòn Hèo hùng vĩ để làm động tác khắc phục “vật cản” đặc biệt. Tất cả đều ở trần, mặc xi-líp, chân đất, nằm ngay xuống vệ cỏ, chân tay mỗi thẳng thoải mái để phoi sương, để tẩy hết các mùi tự nhiên của thân thể, hấp thụ các chất hữu cơ tự nhiên khác như cây cỏ khiến chó hết đường đánh hơi, nếu để chúng sủa càn gây động, địch dễ phát hiện. Phơi sương xong lại tập chống tiêng động bằng cách đi bằng mười đầu ngón chân, cũng là để chống chó nữa, vì chó phát hiện hơi lạ bằng mũi, tiếng động bằng tai, tai chó nghe tiếng động rất thính, nhất là về đêm, chỉ tiếng bàn chân nện xuống đất, chó có thể nghe rõ và sủa càn, rất dễ lộ. Đúng 19 giờ (tức là sau gần một tiếng luyện phơi sương và đi bằng mười đầu ngón chân), chúng tôi chuyển thành đội hình hàng dọc cắt qua các đồng lúa lác đác chín, men theo rìa các thôn ấp tiến vào phía Ninh Hòa, đến địa điểm triển khai tiềm nhập lúc 21 giờ 15 phút. Chúng tôi vận động vào hướng tiến công chủ yếu nói chung không gặp khó khăn trở ngại gì. Đúng là hướng này địch chủ quan, cho ta chỉ có thể từ phía tây đánh xuống. Phía này có sông Dinh là vật cản lợi hại, nên việc bố phòng của địch có phần Sơ sài. Còn ta thì nơi nào địch sơ hở đều là hướng điểm tiến công. Ta xem sông Dinh như là một địa hình che khuất lý tưởng, bảo đảm an toàn vận động tiếp cận, chỉ cần tổ chức vượt sông cho tốt là mọi việc đều ổn. Tôi đi với tổ đánh vào hướng cổng chính. Vì đèn điện quá sáng từ khu nhà lao hắt ra, nên khi toàn tổ vừa vượt qua ngõ hẻm đến mép đường nhìn sang cổng chính thì bị lính gác trên tầng cao lô cốt mẹ phát hiện, chúng liền bắn xối xả đạn các cỡ về phía chúng tôi. Thế là có sự trục trặc ngay từ đầu, kế hoạch mật tập coi như đã hết điều kiện thực hiện. Phan Đăng Rơi không nản chí, vẫn ôm chắc quả bộc phá hai cân, chỉ đợi cho súng ngớt chừng khoảng một giây là đủ thời gian đưa khối thuốc nổ vào chân ụ súng nằm ở phía cổng chính. Nhưng không sang được vì đạn địch bắn nỗi lúc càng rát thêm; lại nữa, cái ánh sáng điện, nhất là ngọn điện mắc ở giữa cổng kia hắt ra ánh sáng tai ác càng làm đậm thêm khó khăn cho chúng tôi. Như một phản xạ tự nhiên, tức thì tôi giương súng ngắn bắn trúng ngọn điện treo giữa cổng, bóng tối trùm nhanh, súng trong đồn cũng im luôn. Tôi hô liền: Tiến! Phan Đăng Rơi nhạy bén hiểu ý, bật dậy vượt đường, đặt được bộc phá vào đúng mục tiêu được giao. Tiếp theo đó là một tiếng nổ to và căng. Trong đêm vắng tiếng nổ như trái bom ấy có sức vang xa gây náo động vùng quanh thị trấn. Phan Đăng Roi hoàn thành nhiệm vụ mở cửa, ngay tiếp sau Mai Xuân Lầu dùng bộc phá sáu cân lao vào đánh mục tiêu lô cốt mẹ, nơi địch đặc đài quan sát và súng trung liên. Hai mục tiêu cần đánh đã hoàn thành, toàn đội hình tiến công tiến vào nội lao theo các nhiệm vụ được phân công trước. Tôi chuyển sang đi với tổ phá nhà lao. Toàn bộ đã xông lên với một tinh thần vì tính mạng đồng chí, đồng bào mình. Các động tác diễn ra ân khớp, khẩn trương. Cửa các nhà lao đã nhanh chóng mở nhưng nhìn vào vẫn chỉ thấy bóng tối và im lặng, khiến chính lúc ấy chúng tôi phân vân, lo ngại. Thì ra sự việc diễn biến quá nhanh chưa được báo trước nên anh chị em tù thấy cửa bật mở rộng mà vẫn chưa hết sững sờ, không hiểu sự tình thực hư ra sao, lành hay dữ. Tất cả đều ôm nhau kết thành một khối để chuẩn bị đối phó với bất trắc mà họ cũng không chủ động phán đoán do nguyên nhân gì nữa. Mai Xuân Lầu nhanh trí từ ngoài gọi vào: - Ta đây! - Giọng anh to dần - Quân ta vào phá lao để đón anh chị em đây... Trong các phòng tối có tiếng gọi nhau, rồi phút chốc vang động, náo nhiệt, mọi người ùa nhanh ra cửa. Tất cả đều muốn khóc vì sung sướng quá bất ngờ. Chúng tôi nắm tay từng người và giục anh em ra khỏi nơi đây theo hướng dẫn của các đồng chí làm nhiệm vụ. Mươi phút sau các nhà lao trống trơn, hơn bảy trăm con người đã bị giam giữ cực hình ở đây nay được giải phóng như chim sổ lồng, bay nhanh khỏi khu nhà lao, về nơi an toàn. Cái vốn quý của phong trào kháng chiến Khánh Hòa là đây, một thắng lợi không gì so sánh của trận đánh mà chúng tôi giành được. Trong khi bộ đội đặc công làm nhiệm vụ phá nhà lao, thì một đại đội của liên đội Bắc Khánh tổ chức trận tập kích thắng lợi vào khu hành chính huyện chỉ tiếc để sổng tên quận trưởng. Nhưng chính tên này đã là cái loa sống tuyên truyền cho thanh thế của ta, khiến bọn địch trong thị xã Nha Trang càng hoang mang bối rối. Chúng vội vã đưa quân ra tổ chức trận tuyến phòng thủ ở đèo Rù Rì kề sát với thị xã Nha Trang về phía bắc. Hai trận tiến công vào hai mục tiêu chính trị ở thị trấn Ninh Hòa đã gây ảnh hưởng lớn về quân sự, làm rung chuyển cả thế trận phòng thủ còn lại của địch ở Khánh Hòa lúc đó. Chỉ trong vòng sáu tháng liên tục tiến công, quân dân Khánh Hòa đã tiêu diệt, bức hàng và bức rút hai mươi bốn đồn và hai mươi chín tháp canh. Một thế trận mới thực sự đã hình thành, ta đã chuyển lên làm chủ nhiều vùng trong tỉnh... Giữa lúc quân và dân Khánh Hòa đang chiến thắng giòn giã, giữa lúc đội Đặc công chúng tội được lệnh chuẩn bị tham gia tiến công vào Nha Trang thì có lệnh ngừng bắn. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đã có hiệu lực. Ai nấy đều phấn khởi trước thắng lợi chung của cuộc kháng chiến và liền ngay đó khẩn trương chuẩn bị bước sang một giai đoạn mới của cách mạng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2016, 09:01:58 pm NHIỆM VỤ TRỞ LẠI I Chúng tôi rời thị xã Quy Nhơn trên chiếc tàu viễn dương của nước bạn Liên Xô mang tên Xta-rô-pôn vào một buổi sáng mà cảnh vật không thật đẹp. Trời vần vũ đầy mây và gió thổi mạnh, biển động. Không nhớ rõ con tàu đưa những người con kháng chiến của tỉnh Khánh Hòa ra Bắc tập kết hôm ấy là chuyến thứ mấy? Chắc không phải chuyến đầu, càng không phải là chuyến chót. Hình ảnh buổi tiễn đưa đã lùi vào dĩ vãng xa nhưng nó vẫn còn đọng lại trong tôi sự bùi ngùi, lưu luyến lẫn niềm tin ánh lên ừong khóe mắt mọi người - ráng đợi hai năm. Từ đó suốt chặng đường bồng bềnh ngoài khơi xa đến lúc tàu cập bến Cửa Hội, tôi lại sống trong tâm trạng xáo trộn giữa cái háo hức mong đợi được ra Bắc thật nhanh, nơi chúng tôi hằng ngưỡng mộ: ở đó có thủ đô Hà Nội, có căn cứ địa Việt Bắc, có Trung ương Đảng, có Bác Hồ đã ngày đêm sáng suốt chỉ đạo cuộc chiến tranh; nơi có Điện Biên Phủ - trận đánh lịch sử, chấn động địa cầu... Nhưng cũng thật hối tiếc vì chỉ có mười lăm ngày chuẩn bị với bao công việc phải làm trước khi chuyển quân ra Quy Nhơn, nên chưa làm hết những dự định gặp gỡ, dặn dò, khuyên nhủ người thân ở lại trong đó - trong vùng cai quản tạm thời của đối phương. Sau một tuần nghỉ ngoi, 500 cán bộ, chiến sĩ đặc công của các tỉnh thuộc Liên khu V được lệnh tập trung biên chế thành tiểu đoàn đặc công mang số hiệu 232 do anh Châu Khải Địch (nay là thiếu tướng, tư lệnh phó Quân khu V) làm tiểu đoàn trưởng, tôi giữ chức tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn được lệnh về đứng chân ở Xã Hương Dũng, Nghi Lộc, Nghệ An làm nhiệm vụ huấn luyện theo yếu cầu mới. Những danh từ chính quy, hiện đại, điều lệnh, điều lệ nghe rất mới mẻ đã thực sự hấp dẫn, cuốn hút chúng tôi phải tìm hiểu, thúc đẩy chúng tôi mau đến với công việc cần làm và phải làm lúc đó. Lúc ấy là giữa năm 1955, tôi đang cùng anh em học tập ngoài thao trường thì nhận được điện: về ngay cơ quan Quân khu có việc cần. Tuy hồi hộp băn khoăn không biết việc gì nhưng tôi vẫn nhanh chóng sửa soạn đầy đủ hành lý lên đường ngay. Đến nhà khách Quân khu, tôi hăm hở bước vào thì sự bất ngờ đầu tiên là nhìn thấy anh Nguyễn Xuân Hữu ngồi đó như đang chờ ai. Tôi sững lại và ngạc nhiên tự hỏi: sao anh Hữu giờ này lại ngồi đây? Tôi biết sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, anh không đi tập kết mà nhận nhiệm vụ ở lại cơ mà. Hôm ở Quy Nhơn khu vực tập kết 300 ngày, tình cờ tôi và một số anh em nhìn thấy anh đội nón lá, mang gương đen, mặc áo bà ba ngồi sau chiếc xe goòng ở ga Diêu Trì để xuôi về Phú Yên, trở lại Khánh Hòa. Anh cũng thoáng nhìn chúng tôi. Nhưng không ai hỏi ai, chỉ đưa mắt thông cảm như lời chào tạm biệt, vì biết anh đang nhận lãnh một công việc quan trọng cần phải bí mật và tế nhị, không nên và không thể có tiễn đưa công khai với những lời hứa hẹn, động viên. Vậy mà giờ này anh ở đây. Anh đi bằng cách nào ra và đến đây có việc gì. Vừa lúc đó, anh Hữu quay ra, thấy tôi anh mừng rở reo lên và đứng dậy đưa tay nắm chặt tay tôi, lắc mạnh: - Được tin cậu ở đây, mình vào thăm. Tôi cũng lắc mạnh tay anh, giọng vẫn chưa hết hồi hộp: - Tôi toát hết cả mồ hôi hột khi nhận điện của Quân khu báo về gấp! Không hiểu có chuyện gì, lành hay dữ. Nhưng khi về đây nhìn thấy anh, tôi hết lo... Phòng khách Quân khu là một căn nhà lá đơn sơ, nhưng thoáng mát, giống các lán ở căn cứ Đá Bàn mà bồi tôi và anh Hữu đã ngồi, nghe anh phổ biến nhiệm vụ. Ngoài kia con đường số 1 ra Bến Thủy, xe chạy xuôi ngược như mắc cửi, cùng với người đi bộ, đi xe đạp nối đuôi nhau tấp nập đông vui. Còn phòng khách mà hai chúng tôi đang ngồi thì vắng vẻ, yên tĩnh. Hình như các đồng chí phụ trách trạm khách Quân khu có ý định sắp xếp trước cho buổi gặp mặt này, tạo cho chúng tôi những giờ phút thật thoải mái để hàn huyên thả sức. Vẫn dáng vẻ trầm tĩnh mà lạc quan nhưng dấu ấn xanh gầy còn in hằn trên khuôn mặt kiên nghị chứng tỏ anh vừa đi xa trở về với một quãng đường dài đầy vất vả, gian truân. Anh tâm sự: Đầu tháng 10 năm 1954 từ Quy Nhơn mình nhận nhiệm vụ trở lại Khánh Hòa, giữa năm 1955 được cử ra miền Bắc để báo cáo tình hình và xin chỉ thị của Trung ương. Làm xong việc đó mình đến thăm cậu liền. Tôi thực sự cảm động và linh cảm thấy rằng việc anh đến đây không chỉ đơn thuần thăm hỏi, mà có cái gì đó xa hơn thế nữa. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:18:27 am Quan hệ trên dưới, tình đồng chí, tình anh em (anh hơn tuổi tôi) đan quyện vào nhau, trùm lên buổi gặp. Anh nói thả sức, tôi nghe chăm chú.
- Chịu được rét miền Bắc không? - Anh mở đầu buổi gặp. - Rét dữ quá anh! Nhưng đã quen dần - tôi trả lời thật lòng, hoàn toàn không cường điệu. Rồi anh hỏi tôi về sức khỏe, học tập và cả chuyện riêng yêu đương (sau này tổi mới biết sở dĩ anh hỏi đã định ở đâu chưa là có ý thăm dò nếu tôi nhận nhiệm vụ trở lại miền Nam thì có khó khăn gì). Thực sự lúc này tôi chưa có ý định xây dựng gia đình. Bởi lẽ một kỷ niệm gặp gỡ thoáng qua với một cô gái quê ở vùng ven thị xã Tuy Hòa trong đoàn dân công phục vụ hỏa tuyến đã để lại trong tôi một cái gì đó như là gắn bó. Trên đường ra Bắc tập kết tuy không được gặp lại nhau, nhưng tôi tin tưởng nếu hai năm trở lại, cô gái vẫn dành cho tôi trọn vẹn một tình cảm thủy chung. Nhìn tôi khỏe mạnh, lạc quan, da dẻ săm sắn hồng hào, như hết đắn đo, câu chuyện anh trao đổi càng rôm rả, cởi mở, nhưng vẫn xoay quanh tình hình đất nước hồi đó... Khi nói về địch, giọng anh nghiêm túc hẳn lên: kẻ địch không tuân theo hai năm đâu. Ta phải chuẩn bị sẵn sàng có thời cơ là đấu tranh vũ trang... Hai năm sẽ có hiệp thương, tổng tuyển cử, thực hiện thống nhất nước nhà, điều này đã gieo vào nhận thức trong tôi ngay khi tạm biệt thị xã Quy Nhơn ra Bắc tập kết; và cả những ngày đầu đặt chân lên miền Bắc mỗi khi anh em miền Nam gặp nhau hàn huyên đủ chuyện, có cả những dự định tương lai nhưng cuối cùng ai nấy đều có chung một an ủi: chờ hai năm sau sẽ hay. Khi gặp nhau và lúc chia tay cũng vậy đều giơ hai ngón tay - tượng trưng hai năm sẽ có thắng lợi. Nhưng rồi những ngày gần đây qua nghe báo chí, phát thanh, qua các buổi sinh hoạt thời sự của cán bộ, chúng tôi được biết tình hình đang xấu đi; Mỹ đã thay pháp dựng chính quyền Ngô Đình Diệm làm công cụ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tên tướng Cô-lin đại sứ Mỹ ở Nam Việt Nam đến Sài Gòn mang theo kế hoạch sáu điểm của Mỹ, trong đó đáng chú ý là Mỹ sẽ thành lập một quân đội “quốc gia” cho Diệm (15 vạn tên) để chuẩn bị lấp sông Bến Hải, Bắc tiến (?). Hôm nay cũng vẫn là quanh chuyện đó, do anh Hữu nói, lại có sức lôi cuốn đặc biệt sự chú ý của tôi đến thế. Anh nói về bản chất hiếu chiến xâm lược của kẻ thù đã bộc lộ rất rõ qua những thực tế anh được chứng kiến. Anh chứng minh sự nhận định của Đảng bằng những vụ việc mà kẻ địch đa gây ra ngay trên quê hương Khánh Hòa của tôi. Anh kể những chi tiết về vùng Bắc Khánh, Ninh Hòa sau khi bàn giao cho đối phương quản lý, chúng đã mở các chiến dịch “chống Cộng” đẫm máu như “Chiến dịch Phan Chu Trinh” (3-1955), “Chiến dịch Trịnh Minh Thế” (5-1955); hàng loạt những người kháng chiến cũ bị chúng trả thù; hàng loạt những đồn bót mới, nhà tù mới được dựng lên để đàn áp, bắt giam những ai nói đến hòa bình, hiệp thương chính trị, tổng tuyển cử, v.v... Cứ thế, cứ thế như một phản ứng tự nhiên hình thành trong tôi một tình cảm thương xót, một ý thức căm thù, một trách nhiệm mới đáp lại - Không thể khoanh tay ngồi yên cho kẻ thù ngang nhiên gây tội ác. Không gian căn phòng vẫn chỉ có hai chúng tôi, bỗng anh Hữu hạ thấp giọng để chỉ đủ hai người nghe, rồi đi thẳng vào vấn đề: - Theo chủ trương của Đảng, ta phải tổ chức chuẩn bị lực lượng ém sẵn, chờ thời cơ. Tôi chưa kịp hỏi cụ thể về thực hiện ý định này, thì anh dằn từng tiếng có ý khẳng định vừa rất nghiêm túc lại vừa rất thân mật theo khẩu khí của anh em trong gia đình. - Cậu sẽ chọn một số anh em tốt để cùng cậu nhận nhiệm vụ trở lại trong đó. Có đồng ý không? Như bị nén chặt, được dịp bung ra, tôi đáp lại ngay: - Tôi tuyệt đối chấp hành ý của tổ chức. Xin anh cho biết bao giờ thì lên đường. - Có thể đi ngay bây giờ nếu như chỉ có tao và mày. Nhưng đây là công việc chung, cần có nhiều người, cần có thời gian chuẩn bị; - ngừng một lát, anh lại tiếp - mày cần tìm thêm mười hai người nữa, nhưng phải là những người kiên trung, gian khổ không ngại, địch bắt đánh tra không khai... Tôi cắt ngang ý anh đang nói, một cách khẳng định tự tin: - Trong tiểu đoàn tôi không hiếm những người đủ tiêu chuẩn để nhận nhiệm vụ trở lại. - Được - như thế là tốt. Vào trong đó một số anh em này ta tìm cách cho ra hoạt động công khai, họp pháp để gây cơ sở, tích lũy lực lượng... Giọng anh đầm ấm, vừa say sưa sôi nổi vừa thủ thỉ tâm tình, không phải đắn đo suy nghĩ mà như trút hết tâm sự truyền lại cho tôi tất cả những gì mà anh tích lũy, những điều mà Trung ương đã chỉ thị trong chuyến ra Bắc lần này, kể cả những điều hệ trọng mà anh có thể cho biết. Rồi anh thân mật nói: Vô trong đó, tao với mày hoạt động bất hợp pháp là chính nhưng cũng phải lo chạy giấy tờ (căn cước) để khi có điều kiện đi lại hoạt động hợp pháp đề chuyển báo cáo trong này ra Trung ương và nhận chỉ thị của Trung ương qua địa chỉ hòm thư “chết” chứ. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:21:26 am Từ lúc gặp đến lúc chia tay, anh Hữu làm việc liên tục hết thăm hỏi sức khỏe, thông báo tình hình đến giao nhiệm vụ, trao đổi biện pháp thực hiện. Còn tôi cũng vậy, phải tập trung cao độ để nhập tâm những điều anh chỉ thị, những ý anh dặn dò. Vì thế mà ấm trà chế sẵn, bao Bông Lúa còn mới nguyên mà các đồng chí phụ trách trạm khách dành cho chúng tôi vẫn còn đó, chẳng ai uống và hút cả. Chúng tôi làm việc quên cả thời gian.
Trước khi trở ra Hà Nội, anh siết chặt tay tôi chúc sức khỏe, nhưng cũng phải bí mật. Tôi cũng từ nhà khách Quân khu về thẳng đơn vị, không ngang tạt đâu hết, với nỗi vui mừng khôn xiết nhưng lại không được chia sẻ cùng ai. Tôi thấy có cái gì đó thoải mái, lâng lâng. Đêm đó vì vui mà không ngủ được, những kỷ niệm đã qua và những sự kiến sắp tới phải làm cứ hiện về đan chéo nhau trong nếp nghĩ. Hình ảnh quê hương, bóng dáng người thân, không khí buổi tiễn đưa đầy lưu luyến ở bến cảng Quy Nhơn với lời hứa hẹn - hai năm sẽ về, cứ chập chờn khiến tôi chong mắt. Tôi mong trời chóng sáng để bắt đầu thực hiện kế hoạch chọn người. Chọn ai thì ngay khi anh Hữu chỉ thị, tôi đã có một danh sách đầy đủ đưa anh cầm trước rồi. Vấn đề lúc này là gặp từng người vào lúc nào, nói những gì để anh em thông suốt nhanh mà lại không mất nhiều thời gian, không lộ bí mật. Vì lúc này còn nhiều lý do tế nhị - việc vào Nam chiến đấu là hoàn toàn chính đáng, đây là sự nghiệp vì độc lập, thống nhất Tổ quốc nhưng không thể công khai trong lúc này. Còn phải giữ kín kể cả nếu ai đó được lựa chọn, được phổ biến nhiệm vụ, rồi vì một lý do gì đấy không đi được thì công việc vẫn không được tiết lộ, kẻ địch không từ đó mà khám phá được ý đồ lớn của ta. Người đầu tiên tôi chọn và gặp sáng hôm ấy là chú Ba (chú ruột tôi). Chú không biết chữ, nhưng tháo vát trong công việc hàng ngày, khi chiến đấu thì binh tĩnh, gan dạ. Chú là một trong số các chiến sĩ đầu tiên của đội Danh dự, đã có nhiều thành tích chiến đấu và công tác. Tôi vừa chỉ mới ướm, chú đã nói như trách móc tôi: - Ủa, sao mày lại phải hỏi? Mày không còn tin tao nữa hở Tư? - Dạ tin chớ; - tôi hơi bối rối về lời trách của chú Ba, tìm cách chống chế - cháu không tin chú thì tin ai, nhưng vì đây là công việc hệ trọng, cháu cũng phải hỏi trước chú chứ. Không cố chấp, chú hết giận, nét mặt rạng rỡ niềm vui. Thấy vậy tôi hỏi tiếp: - Trong tiểu đoàn ta, theo chú những ai có thể trở lại quê hương đợt này? - Tất cả! - chú Ba nói với nét mặt quả quyết, tự tin, nhấn mạnh - Tao tin là mày chỉ cần hô lên một tiếng vào Nam chiến đấu là cả tiểu đoàn này sẽ theo lệnh của mày. Hàng ngày tao sống với tụi nó, tao hiểu lắm chứ. Như tiếp thêm lòng tin cho tôi, vì thế công việc gặp gỡ trao đổi làm công tác chuẩn bị tiến hành rất suôn sẻ. Sau chú Ba, tôi gặp tiếp các đồng chí: Nguyễn Sách, Phạm Đình Ỷ v.v... nói chung ai cũng có tâm tư như tôi, khi biết sẽ được vô lại trong đó, thì tất cả như cái lò xo bị ép nay có dịp bung ra trút hết bầu tâm sự về nỗi nhớ về trách nhiệm với quê hương, với người thân, đều muốn nhận nhiệm vụ trở lại dù có phải xả thân cũng sẵn sàng chấp nhận. Như vậy là tôi đã lựa đủ mười hai người theo danh sách đưa trước cho anh Hữu. Tất cả đều mong ngày lên đường. Tôi đả thông anh em (tất nhiên là vẫn theo phương thức gặp riêng từng người) cứ bình tĩnh, sẵn sàng, còn ngày nào đi, đi như thế nào, chờ lệnh cấp trên. Ngay tôi cũng vậy, củng chỉ biết chọn người và chuẩn bị kỹ về tư tưởng cho anh em. Chỉ được anh Hữu cho biết thêm là ta sẽ đi theo hình thức vừa công khai vừa bất hợp pháp. Nghĩa là ta giả dạng một đơn vị quân đội đối phương đi theo bìa rừng Trường Son, có đoạn phải đi sâu hơn vào giáp núi cao, rừng già, vì thế cần phải trang bị từ súng đạn, giày dép, thắt lưng, bi đông mang theo của mỗi người, đều phải là đồ của Pháp. Kiếm những thứ này lúc ấy không khó, nhất là chúng tôi vừa qua đợt hoạt động Đông Xuân 1953 - 1954, nên ít nhiều ai cũng mang trong mình một vài thứ trang bị của Pháp. Vấn đề là làm thế nào thu được đồng bộ các thứ đó để trang bị hoàn chỉnh cho một tiểu đội mười hai người mà vẫn không lộ bí mật. Nghĩ tới nghĩ lui, tôi bàn với anh Châu Khải Địch là tập hợp đơn vị tuyên bố thu tất cả các trang bị cũ đang nằm rải rác trong đơn vị, thay bằng trang bị của ta cho thống nhất, thực hiện chính quy hóa quân đội mà. Đang lúc hào hứng chuẩn bị như thế, thì tôi nhận điện của cấp trên thu xếp đi học. Tôi hơi hoang mang: Hay là trên không tin mình nữa hoặc nhiệm vụ thay đổi chăng? Nhưng khi đến lóp học mới vỡ lẽ - là học những vấn đề cần thiết cho chuyến đi. Lớp học do Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu phụ trách với các nội dung chụp ảnh, cách làm con dấu và làm căn cước; đóng các vai sĩ quan ngụy và tư sản... Được giải thích đây là những nội dung cần thiết cho hoạt động hợp pháp (mà thật, khi đến Khánh Hòa những điều tôi học được ở lóp bồi dưỡng ngắn ngày này đã phát huy tác dụng. Tác dụng như thế nào, tôi sẽ kể tiếp dưới đây cùng bạn đọc). Từ lóp học trở về, tôi được lệnh cùng anh em chuẩn bị gấp cho ngày lên đường. Tuy nhiên ngày giờ cụ thể trên vẫn chưa cho biết. Trong cuộc đời hoạt động, chúng tôi chưa có buổi lên đường nào vừa háo hức lại vừa hồi hộp như buổi lên đường này. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:23:23 am II Đầu tháng 8 năm 1955, từ một địa điểm thuộc Quân khu IV, chúng tôi lên đường bằng một chiếc xe tải phủ bạt kín, vẫn còn sơn bóng màu rêu. Đúng là một tiểu đội lính “ngụy” thực thụ, súng Pháp thắt lưng, bi đông Pháp. Còn anh Nguyễn Xuân Hữu trong bộ đồ bà ba đen vời cây súng ngắn bên hông, giống như một nhân viên cao cấp của cơ quan tình báo cùng vời một tiểu đội có trang bị máy truyền tin 15 oát trên đường thực thi một công vụ đặc biệt gì đó. Cách cải trang này đã thực sự giúp chúng tôi thoát nhiều trường họp gay cấn. Phải giữ bí mật ngay cả với anh em, nên anh Hữu chỉ góp ý kiến qua tôi, mọi việc điều hành trên dọc đường do tôi trực tiếp với đon vị. Xe đưa chúng tôi đến thị trấn Hồ Xá, rẽ quặt hướng tây lên thượng nguồn sông Bến Hải vào lúc mặt trời vừa lặn. Trời nhà nhem tối, chủng tôi xuống ô tô, tạm biệt miền Bắc thân yêu, lội qua khúc cạn, nước chưa đến đầu gối, sang đến bờ Nam là trời đã tối hẳn. Từ đây cứ cắt rừng mà đi theo hướng nam. Không lạc hướng nhưng đầy khó khăn vất vả. Kế hoạch hành trình định từng ngày. Tùy theo tình hình cụ thể mỗi cung đoạn mà quyết định đêm nghỉ ngày đi hay ngược lai có khi ngày nghỉ đêm đi. Vào thời điểm này bắt đầu có mưa rừng Trường Sơn nên nhiều lúc phải nghỉ cả ngày chờ nước rút mới vượt sông được. Từ giới tuyến đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định nói chung là trót lọt, ít gặp địch. Nhưng chui lủi, cắt rừng cũng phải mất gần hai tháng chúng tôi mới tới địa phận tỉnh Phú Yên. Từ đây tình hình phức tạp, căng thẳng cả thiên tai và địch họa, nhất là trên các vùng giáp ranh giữa núi và đồng bằng, địch gia tăng lục soát, tuần phòng. Khi đoàn vượt qua đường số 7 thuộc địa phận Thanh Hội, xã Sơn Hà thì gặp sự cố. Chúng tôi đến đây khoảng lối tám giờ tối. Ở đây vừa có mưa to, nước đồng đầy ắp lội đến thắt lưng. Toàn đội chúng tôi dừng lại kiểm tra súng đạn, hành lý, sẵn sàng tranh thủ băng qua, chậm là không có lợi, nếu trời đổ mưa tiếp thì khó mà vượt qua đường 7 và sông Đà Rằng nội trong đêm, mặc dầu khoảng cách đoạn đường không đầy mười cây số. Điểm phải vượt trước là dãy quán ở hai bên đường chỉ dùng bán bánh kẹo và nước mát cho khách qua lại lúc ban ngày. Theo tin tức nắm đước, địch thường hay càn phục ở đoạn này, cho nên trước khi vượt, toàn đội chúng tôi dừng lại, và tôi cử N.T và chú Ba lên trước thăm dò, sau đó đứng gác ở hai đầu đoạn đường cách dãy quán năm mươi mét. Đêm tối trời lại vừa mưa, đi rất khó, đường trơn và rất dễ lạc nhau. Vận động đến cách dãy quán năm mươi mét, ngửi thấy có mùi khét của quần áo lính, sau khi ra hiệu cho toàn đội dừng lại tôi vượt lên quan sát, nghe ngóng. Càng tới gần mùi khét càng rõ. Tôi nhẹ nhàng bò tới. Đến mép đường thì phát hiện có địch đang nằm ngủ ngổn ngang trong quán. Đúng là bọn này vừa đi tuần phục về mệt mỏi, nằm vật vã ngủ liền. Tình thế thật hiểm nghèo! Vòng tránh ư? Đêm tối đen như mực này biết hướng nào mà đi. Tôi bò quay lại báo cáo với anh Hữu. Lúc này đa quá gần địch, nên khi trao đổi phải ghé sát vào tai nhau mới nghe rõ. Tôi đề nghị với anh Hữu cứ tranh thủ cho vượt ngay, vì địch đang ngủ như chết. - Đi đường nào? - Anh Hữu hỏi. - Đi giữa khoảng cách hai tốp địch đang ngủ, tuy mạo hiểm nhưng chắc chắn không gặp lính gác. Đúng là cái khoảng vượt đầy mạo hiểm, nhưng nếu tranh thủ thời cơ lúc này và động tác đi của mỗi người thật lẹ làng thì phần thắng lợi có thể tính trước. Vì lý do gì đó, chẳng hạn chậm không quyết đoán, đến lúc địch tạm no giấc, chúng tỉnh dậy, như vậy là lỡ thời cơ, tiến lui đều không được nữa. Sau khi thống nhất quyết tâm với anh Bảy Hữu, tôi ra hiệu cho toàn đội tiếp tục tiến! Màn đêm tiếp tục dăng dày vì có thêm lớp sương đêm. Hơn chục con người với đầy đủ súng đạn, tư trang và thuốc men đeo lủng lẳng quanh người, có cả máy truyền tin 15 oát, phải qua một lối đi ngắn thôi nhưng hẹp, hai bên là địch đang nằm la liệt ngủ. Đúng là kỹ thuật đi lẹ của đặc công lúc này đã phát huy tác dụng. Chúng tôi lần lượt đi qua một cửa tử mà chưa biết gọi gì trong thuật ngữ quân sự. Tôi đi sau cùng càng thấy rõ tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”! Mùi khét của quần áo lính có dính nước mưa trở thành một thứ mùi khăn khẳn khó chịu. Tiếng ngáy của bon địch cứ thi nhau phát ra hòa thành một âm thanh gầm gừ kéo dài và ngắt quãng. Trót lọt! Tôi tự nhủ thầm với mình. Tất cả đã qua đường. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:24:41 am Trước mắt là một cánh đồng lúa ngập nước và một xóm nhỏ kề bên mà chúng tôi phải vượt qua trước khi đến mép sông Đà Rằng - một con sông dài, rộng và hung dữ nhất của miền Trung. Đầu óc lúc này bớt căng, thần kinh chùng xuống, người cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái. Nào ngờ ngay lúc đó, khi một đồng chí đi đầu vừa lội xuống ruộng sâu, mới bước được một bước, gây động, chó sủa liền, rất dữ, hướng về phía chúng tôi đang lội. Có động, địch vùng dậy, phản ứng đầu tiên là chúng bắn loạn xạ như vãi đạn về hướng chó cắn, sau đó là tiếng hò đuổi bắt. Tôi rất lo, hay là đã có ai bị địch bắt? Vừa lúc ấy thì N.T hớt hải chạy đến, vừa nói vừa thở như thanh minh: mãi lúc có tiếng súng nổ tôi mới biết là có địch nằm ngay ở cạnh mình vì trời quá tối không nhìn thấy gì. Tôi thấy nhẹ nhõm. Ta không bị sa vào tay địch là quý rồi. Nhưng còn chú Ba chưa thấy về, như vậy là thế nào. Chú bị lạc hay bị địch bắt. Đã đến lúc không cho phép trù trừ. Lộ rồi, phải nhanh chóng vượt khỏi nơi đây. Chậm phứt nào nguy phút ấy, địch sẽ chặn đầu, khóa đuôi thì gay go, có muốn gỡ ra cũng khó. Vả lại, cung đường phải đi trong đêm nay còn qua sông Đà Rằng, chậm nữa, trời sáng thì khó lòng ra khỏi vòng vây của quân thù. Đang lúc rất căng thẳng như thế thì nghe tiếng chú Ba tôi la to, rất gần. Thôi thế là nguy rồi! Chú Ba đã bị địch bắt. Buồn lo lại đến với tôi cùng một lúc. Sao lại để xảy ra nông nỗi này. Tôi ân hận và tự trách mình như thế!
Chúng tôi băng thật nhanh qua cánh đồng. Lợi dụng tiếng chó sủa, tiếng súng địch bắn dọa mà vận động. Bỗng trời đổ mưa, mưa rất to! Chúng tôi đi càng nhanh. Tiếng chó không còn và tiếng sủng địch cũng thôi bắn. Chỉ có mưa rơi và sấm chóp lóe sáng bầu trời, soi rõ con đường cho đoàn quân đi. Nỗi lo đối phó địch rượt đuổi bổ vây có vợi đi nhưng tôi vẫn nghĩ về chú Ba. Khoảng gần chín giờ tới chúng tôi đến bờ sông Đà Rằng, đứng ở đoạn dự định vượt qua thì một khó khăn mới lại xuất hiện. Lũ trên nguồn đổ về ngập cả bãi ven sông và nước chảy xiết. Nhìn dòng nước cuồn cuộn từ thượng nguồn đổ về với tiếng gầm réo dữ tợn, mỗi lúc một dâng cao, lan rộng mà thấy ngán. Điểm đứng này thuộc thôn Thanh Hội, xã Sơn Hà, cách thị xã Tuy Hòa không xa lắm. Bằng bất cứ giá nào cũng phải vượt sông trong đêm nay. Tôi trình bày quyết tâm này với anh Hữu. Được anh Hữu chấp thuận, một cuộc họp bàn quân sự dân chủ diễn ra ngay trên bờ sông nước lũ vẫn đang đổ về. Quần áo mọi người vẫn còn ướt sũng. Trong đêm tối chỉ nghe giọng nói run run, cũng đủ biết anh em đang thấm lạnh. Một lần nữa tôi càng tự hào về những người đồng đội của mình khi đưa vào danh sách đề nghị lên cấp trên cho được nhận nhiệm vụ trở lại đợt này. Cuộc trao đổi diễn ra rất nhanh - phải qua sông. Chúng tôi tập trung tất cả dây dù lại để nối bện thật chắc, cột chặt một đầu ở bên này sông, đầu kia giao cho N.T cầm, bơi sang bờ nam, tim chỗ cột chắc tạo thành tay vịn cho đoàn quân bám vào đó lần bơi sang. Chỉ sau hai mưoi phút là N.T đã có một đầu dây để lần bơi sang bờ bên kia. Nhìn dáng điệu gọn gàng nhanh nhẹn như người quen nghề sông nước của N.T tôi yên tâm. Đoạn đầu nước mới ngập trên đầu gối, N.T vẫn vượt lên dòng xiết mà đi. Chúng tôi đứng trên bờ vì trời tôi không nhìn rõ sự thể sau đó ra sao, vẫn cứ tin N.T qua được, hy vọng chiếc dây sẽ nối được đôi bờ, đưa đoàn quân vượt qua một khúc hiểm nghèo. Một tiếng chờ đợi đã qua. Từ rất tin và ngóng mong tin tức, dán mắt theo dõi ánh lửa ám hiệu từ bờ nam của N.T đến nghi ngờ là anh đã gặp điều không may, có thể bị nước cuốn trôi khi ra đến chỗ sâu. Đang lúc phân vân, lo lắng chưa biết gỡ bí cách nào thì thật may có một ông già trên 50 tuổi, người cao to vác chiếc ghe câu (thuyền câu cá cỡ nhỏ) từ phía hạ lưu đi ngược lên. Tôi đành liều đến gần, vừa như muốn chặn ngang, rồi ôn tồn thưa chuyện: - Bác có thể cho tụi tôi mượn tạm chiếc ghe câu để đưa anh em qua sông, xong xin hoàn lại. Đưa mắt nhìn chúng tôi một lượt rất nhanh, ông nói to: - Bọn các ông ở gần đây nè, ra đó nhập bọn mà qua. Thế là nghĩa làm sao? Thật khó hiểu, tôi ôn tồn nói khó, biểu lộ một cách thực tình là người đằng mình nhờ ông giúp đỡ, thì ông lại nói to, chứ không hẳn khước từ. Cũng may là lúc này tuy đã ngớt mưa nhưng sấm chớp vẫn liên hồi ầm ì cả một không gian rộng nên không sợ địch nghe thấy. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:26:28 am Tôi vẫn vừa ôn tồn, vừa một tay cầm nhẹ vào thành thuyền, cố ỷ giữ ông lại để tiếp tục thuyết phục. Mà phải giữ lại thật, vì nếu ông đi, sự việc sẽ phiền phức, khó lường. Nhưng vừa kéo lại, tôi vân kiên trì năn nỉ nhờ ông giúp đỡ. Hình như trước sự ôn tồn và kiên quyết của tôi, sự giằng đi của ông đã bớt kiên quyết.
Tôi tranh thủ thuyết phục trực diện hơn nhưng vẫn là để người nghe hiểu cách nào cũng được: - Bác thông cảm cho, chúng tôi là người tốt, đang thực sự gặp khó khăn... Trầm tĩnh, thận trọng và kín đáo có phải là tư chất của ông hay không, chỉ biết rằng từ phút này, tuy không nói rõ là cho mượn nhưng ông cũng khồng giằng lại nữa, cái ghe câu vì vậy mà cứ từ từ ngả sang tay tôi. Được thuyền, tôi khẩn trương tổ chức cho anh em lần lượt vượt sông. Vì thuyền bé nên phải đi nhiều chuyến. Sau anh Hữu, là đến máy thông tin 15 oát để kịp giờ liên lạc với ngoài Hà Nội... Tôi ngồi cạnh ông già, để điều hành cuộc vượt sông, cũng là để theo dõi thái độ của ông, vì dù sao vẫn phải thận trọng và cảnh giác. Ông già vẫn ngồi, im lặng nhìn anh em vượt sông nhưng trong đầu óc ông hình như đang có sự suy nghĩ gì đó. Đến lượt tôi là người đi sau cùng. Tôi sửa soạn lại trang bị cho gọn chặt và đưa tay ra nắm lấy tay ông tạm biệt, ông hơi lúng túng, rồi cũng đưa tay nắm lấy tay tôi lắc mạnh theo nhịp lắc của tôi. Tôi siết chặt tay ông và nói: - Thay mặt anh em. xin chân thành cám ơn bác. Nhưng cũng mong được bác giúp chúng tôi đến đoạn chót, bác vui lòng sang bên đó với tôi để nhận thuyền về. Tôi vẫn nắm chặt tay ông và chờ đợi sự quyết định của ông. Rất có thể ông không chấp nhận yêu cầu theo chúng tôi sang bên kia sông nếu ông không biết chúng tôi là người như thế nào. Nhưng ông già không trả lời mà kéo tay tôi đi xuống con thuyền đang chờ. Tôi vui sướng bước theo ông. Chúng tôi ngồi thuyền vượt sông. Ông vẫn không nói mà chỉ tập trung điều khiển con thuyền qua sông một cách rất thành thạo của những người đã có bề dày của nghề sông nước. Thuyền cặp bờ nam, tôi siết chặt tay ông lần cuối: - Một lần nữa xin chân thành cám ơn bác. - Tôi xúc động thực sự nói tiếp như để nhấn mạnh - Tất cả anh em chúng tôi không bao giờ quên ơn bác... Ông già vẫn lầm lì khó hiểu. Lúc đầu thế nào bây giờ cũng thế, gần như không nói, bây giờ cũng vậy. ông chỉ trân trân nhìn thẳng vào mặt tôi - một cái nhìn kín đáo, thăm dò và trả lời bằng một từ gọn lỏn quen thuộc: “Dạ”. Vừa lúc đó thì N.T từ phía hạ lưu điểm vượt cũng tìm được về. Đúng là nước chảy xiết đã cuốn anh, may mà anh giạt được vào một bụi tre ngập nước và thoát được lên bờ. Cuộc vượt sông thắng lợi. Xốc lại đội hình, chúng tôi lại đi tiếp trong đêm, vì ở đây vẫn còn là vùng nguy hiểm, thuộc phạm vi kiểm soát nghiêm ngặt của địch. Đêm hôm ấy và cả ngày hôm sau, tôi sống trong một tâm trạng vui buồn lẫn lộn! Vui là đã cùng anh em vượt qua hai lần nguy hiểm, giờ đây có thể tự tin mà nói trước rằng toàn đội đã thoát ra khỏi vòng vây của quân thù, con đường trở lại quê hương đã được rút ngắn. Cái đích của cuộc hành quân đang ở trong tầm với. Buồn - một nỗi buồn day dứt là chú Ba tôi không còn cùng đồng đội đi tiếp cuộc hành trình, để được chiến đấu trên chính quê hương mình. Và một nỗi lo dai dẳng không kém là nếu chú Ba tôi vì sức yếu không chịu được đòn thù thì ảnh hưởng thế nào với công việc cấp trên giao cho? Và như vậy địch sẽ hiểu được chiều sâu của chuyến đi, chúng sẽ đánh phá ta trước khi ta triển khai thực hiện nhiệm vụ. Cả ngày hôm sau đội công tác chúng tôi nằm lại trên một ngọn đồi, cây mọc lúp xúp và thưa quang. Suốt ngày đội nắng - cái nắng cũng thật gay gắt chói chang. Sớm mai quần áo mọi người còn sũng nước, gần trưa đã khô rang, khát nước đến cháy họng. Nhưng đâu chỉ có ráng chịu cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà còn phải lo đối phó với quân thù bất thần ập tới. Bất cứ địch đến theo cung cách nào thì chúng tôi vẫn ở trong cái thế lọt giữa vòng vây. Chiều về, mặt trời lặn nhanh, khuất sau dãy múi Trường Sơn xa mờ. Gió từ biển thổi vào làm tan nhanh cái nóng, mọi người thấy dễ chịu, oi nồng đã nhường chỗ cho mát dịu. Tất cả đều thở phào khoan khoái. Không có hiện tượng hoạt động khác lạ gì của địch. Tôi thầm phán đoán: như vậy là chú Ba tôi tuy sa vào tay địch nhưng chúng vẫn không khai thác được gì; ông già làm nghề chài lưới trên sông Đà Rằng chắc chắn là người tốt, nên địch có mắt vẫn như mù. Chúng không hề hay biết gì về hoạt động của chúng tôi. Và niềm vui trong tôi cũng có nét riêng, nó nảy sinh từ trong nỗi lo nên tôi càng xúc động mạnh, khi về tới Khánh Hòa thì cũng là lúc chú Ba tôi thoát khỏi địch ngay trong đêm hôm ấy rồi tự mình cắt rừng theo hướng Đá Bàn mà tìm về với đội ngũ. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:27:48 am Chú cháu gặp nhau mừng tủi xen lẫn. Tôi tần ngần ngắm chú một lúc rồi mới hỏi luôn:
- Sao lúc đó chú la dữ vậy? - Tao la to cốt báo cho tụi bay biết là tao đã bị địch bắt, liệu mà tìm đường thoát, chứ đứng có vô đây là nó quây liền. Lúc đó tôi cũng thoáng nghĩ như vậy. Quả là một hành động thông minh, một ám hiệu đáng quý của người chiến sĩ đặc công. Chú Ba - một người ra đời trong áp bức bất công, không biết trường học là gì, mù chữ cho đến lúc ấy, nói ít nhưng khi hữu sự thi lại rất sáng suốt, lo toan đủ điều, khi được Đảng giáo dục thì luôn luôn hành động vì tập thể, vì đồng đội không quản gian khổ, hy sinh. Trong tình cảm của tôi, chú Ba vừa là người chú kính yêu người cha thân thương, người đồng chí, đồng đội tin cậy. Đoàn quân lại lầm lũi đi trong đêm, chếch hướng tây - nam đi về Dốc Nón - điểm tiếp giáp giữa Phú Yên và Khánh Hòa thì cũng vừa đúng một cung đường cần nghỉ lấy sức tiếp tục cuộc hành trình. Mảnh đất quê hương đây rồi! Ai cũng muốn reo lên một tiếng với nỗi xúc động bồn chồn. Dốc Nón là đỉnh mút của con đường hành lang mà tỉnh đã mở hồi cuối 1951 đầu 1952 nối thông Khánh Hòa - Phú Yên. Đi trên con đường yên vắng hôm nay tôi lại nhớ về anh Khuê, anh Chi, anh Tư trong ban chỉ huy mở đường, nhớ về anh Ma Cao, người Ê-đê, đã góp sức đáng kể trong nhiệm vụ tạo dựng lên con đường này. Anh người thôn Xuân Sơn chuyên nghề săn bắn con dộc (loại khỉ đen cổ trắng) và làm rẫy, nhưng anh lại là người hiểu địa thế vùng này, hiểu từng gành đá, suối sâu, dốc thẳm. Anh đã vạch cắt con đường hành lang không phải trên bản đồ mà bằng trí nhớ, thông thuộc của anh. Con đường mới tạo dựng với hai mưoi chiếc cầu bắc qua các suối sâu bằng thân những cây dầu rái rất vững chắc. Từ khi có con đường này cho đến khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, không một cán bộ nào của chúng ta bị địch giết hại như hồi còn dùng đường Dốc Mỏ. Cũng phải mất hai ngày nữa mới về tới đích cuối cùng của cuộc hành quân. Qua khỏi Dốc Chanh là chúng tôi tụt xuống thung lũng Đá Bàn. Chỉ mới hơn một năm thối mà cảnh vật đã thay đổi nhiều, nhất là sau trận mưa lũ lớn. Ở các rẫy cũ chuối chín, đu đủ chín không có ai ăn. Các căn nhà tranh, nơi các cơ quan của tỉnh ở trước, bắt đầu xiêu vẹo, lá khô roi đầy ắp các sân và lối đi, bốn bề tĩnh mịch. Ở trại sản xuất của tỉnh cảnh trí có khá hơn, vì khi ta rút đi có kế hoạch để một số người ở lại hoạt động bất hợp pháp, hàng ngày tăng gia sinh sống nhưng là để củng cố giữ vững địa bàn, tích trữ lương thực chờ đón cán bộ, bộ đội ta trở lại hoạt dộng, lấy nơi đây làm điểm tựa bung ra các nơi. Người đầu tiên chúng tôi gặp là Tư, cũng là một cơ sở nằm vùng do ta để ỉại. Tư khoảng 45 tuổi, khi thấy chúng tôi trở lại, thái độ anh ta tỏ ra không vồ vập nhưng cũng không lạnh nhạt. Thấy thế tôi đoán ngay, anh chàng này chắc có chuyện bất bình gì đây, nếu không thì trong tư tưởng Tư ắt có vấn đề đang đấu tranh. Tư không nói, mà tự mình đi bắt lợn giết thịt chiêu đãi đoàn. Đã gần ba tháng hành quân, lương thực dự trữ mang theo cạn dần, đã phải ăn cầm hơi và nhịn đói, người mỏi mệt, mệt cả lúc được ăn cơm no. Được bữa lợn luộc chấm muối người tỉnh hẳn, các khớp xương bỗng chặt trơn như được vô dầu, dạ dày đầy êm gây cảm giác no rõ rệt, cơ thể thêm thoải mái. Như có cái gì ngờ ngợ ngay từ phút đầu, nên khi tan cuộc liên hoan hội ngộ, tranh thủ thu xếp xong xuôi chỗ ngủ cho anh em, tôi, Ỷ và N.T sang chỗ Tư ở để trò chuyện tâm sự và cũng là để dò tìm cái thái độ khó hiểu của cậu ta. Chuyện trò cũng không nhiều bởi Tư vẫn rụt rè, lơ đãng, chỉ ừ hữ cho qua mỗi khi nghe chúng tôi kể chuyện miền Bắc, thỉnh thoảng đảo mắt nhìn chúng tôi một cách xét nét. Còn chúng tôi, trước thái độ thờ ơ của Tư, cộng với cái mệt mỏi của cuộc hành quân đường dài bắt dầu ngấm mệt tạm cắt đứt câu chuyện, khi về giường vừa ngả lưng đã ngủ lúc nào không hay. Nhưng linh tính báo có chuyện chẳng lành sẽ xảy ra, nên giấc ngủ của tôi cứ chập chờn thế nào ấy, đến khoảng ba giờ sáng thì tôi choàng dậy, ngó quanh. Không gian rất yên tĩnh, Ý và Sách đang say giấc với tiếng ngáy đều đều thoải mái. Nhìn sang giường Tư, màn vẫn buông nhưng người không thấy, nghe ngóng bốn phía của ngôi nhà cũng chỉ có cây rừng lao xao trong gió nhẹ vào buổi ban đêm đang chuyển dần về sáng. Tôi suy nghĩ và trở dậy, sang ngay nhà anh Hữu đang ngủ để báo cáo hiện tượng bất thường này. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:29:32 am Tổi khẽ đập cửa, từ trong nhà có tiếng hỏi vọng ra với giọng khô đanh, cảnh giác:
- Ai? - Dạ tôi đây, Cụ đây mà. Từ trong nhà vọng ra, giọng mềm và thân mật: - Tư hả? - Có tiếng xỏ dép đi ra phía cửa rồi tiếng anh Hữu thân mật hỏi tiếp - Có chuyện gì thế? Cửa vừa mở, tôi tranh thủ báo cáo là Tư bỏ đi đâu, tìm hoài không thấy... Tôi chưa kịp nói hết, anh Hữu ra khỏi phòng ngủ, hỏi xen vào: - Ý kiến cậu thế nào? - Chưa thể kết luận cụ thể nhưng theo tôi thì ta phải cảnh giác là hơn - Cứ thế đứng dưới sương đêm, hai chúng tôi bàn kế hoạch đối phó, phải hành động ngay trước lúc trời sáng. Được anh Hữu chấp nhận, tôi báo động đánh thức toàn đội dậy ngay trong đêm. Khi phổ biến với mọi người tôi chỉ nói chung là - theo tin tức cho biết địch đã đánh hơi thấy có lực lượng ta xuất hiện ở vùng Đá Bàn, vì vậy ta phải chuẩn bị rời khỏi nơi đây một cách bí mật. Trừ tôi, Ý và Sách ở lại, còn tất cả hành quân vào sâu hơn nữa, tận chân núi Mẹ Bồng Con, cách đây chừng mười cây số. Trên đường đi, đến đâu phải xóa dấu vết đến đấy, tuyệt đối không để địch phát hiện được tung tích. Anh Nguyễn Xuân Hữu cũng tạm thời đi với anh em lên đó. Chỉ chưa đầy mười phút sau, tất cả lặng lẽ lên đường không để lại một dấu vết gì chứng tỏ có đông người lạ mới qua đây. Sau khi đại bộ phận anh em đã di chuyển, tôi, Ý, Sách ở lại tiếp tục rà soát lại một lần nữa, xóa dấu vết của bữa liên hoan khi chiều: dọn sạch bếp, đổ tro, chôn các thanh củi cháy dở, phi tang cả các lá đựng thịt, ống bương đựng canh, noi cạo lông lợn, nghĩa là giữ nguyên cảnh tượng hoang vắng tiêu điều không người ở như vốn có, để một là, bịt “đầu mối” dò tìm của địch, giảm đến mức tối đa các cớ đẩy chúng phải nghi vấn, như thế sẽ không có lợi cho ta, ít nhất là lúc này; hai là, nếu Tư làm phản, đi báo địch lên vây càn, nhưng nếu không thấy dấu vết gì khả nghi, ắt chúng phải quay sang nghi ngờ chính người đã đi báo - tức là nghi ngờ Tư, thế là ta bước đầu vô hiệu hóa y. Trời sáng dần, khu trại sản xuất vẫn yên tĩnh, chỉ có tiếng chim rừng hót líu lo, khiến cảnh vật bớt hoang vắng, chúng tôi đỡ trống trải. Đến giờ này mà không thấy Tư, thì rõ ràng là y đã làm phản, nên ba chúng tôi vừa tiếp tục đi xung quanh phát hiện để xóa dấu vết, vừa bố trí canh gác theo dõi hành động của địch. Khoảng lối mười giờ, mặt trời cao dần, Ỷ từ trên một ngọn cây cao làm nhiệm vụ cảnh giới giật giọng gọi xuống: - Có người vô! - Giọng ý gấp gáp, phân vân - Không biết lính hay dân, đi rất đông. - Ở phía nào tới? - Tôi hỏi vọng lên. - Ngay kề chân núi trước mặt, họ đang đi về hướng mình. Tôi vọt nhanh như sóc lên ngọn cây cao, nơi Ý đang ngồi quan sát, nhìn xuống: Đúng rồi! Đúng địch đang đi về phía ta, càng gần rõ cả súng. Chúng chia thành ba ngả, y hệt như Pháp ngày trước mỗi khi chúng đánh lên căn cứ. Tôi bảo Ý tiếp tục quan sát, theo dõi, rồi tụt xuống đi kiểm tra lại lần cuối xem có còn sót dấu vết gì nữa không. Tốt, không có gì đáng lo ngại cả. Cảnh giác chủ động đề phòng vẫn hơn. Nếu để đến giờ mới chuẩn bị thì chậm rồi, rất có thể phải chạm trán với địch. Mà chạm trán với chúng giờ này ta đâu có lợi. Tôi khoan khoái thở phào, kêu Ỷ xuống vì địch đã đến gần. Ba chúng tôi ung dung rút vào nơi kín, bám sát và theo dõi địch, xem chúng giở những trò gì? Lực lượng địch khoảng hai đại đội. Đông như vậy nhưng đến đây chúng rất rụt rè hoảng hốt, bởi cái uy danh căn cứ Đá Bàn vẫn còn vang vọng đối với chúng. Chúng đóng quân ở lại một tuần nhưng không dám đi xa, chỉ quanh quẩn khu trại sản xuất. Đi tới đi lui, nhìn ra bốn phía, địch chỉ thấy cảnh vật lạnh vắng đang đi vào hoang tàn đổ nát, không có dấu hiệu gì khả nghi rằng nơi đây vừa xảy ra cảnh mổ heo liên hoan như Tư báo cáo (sau này chúng tôi được biết ngoài Tư còn có Ch. cũng làm phản, đi báo địch là tôi và anh Nguyễn Xuân Hữu đã vô trong này. Địch liền tung truyền đơn đi khắp nơi treo thưởng: Ai bắt được Bảy Hữu và Tư Cụ nộp nhà chức trách sẽ được lãnh thưởng năm mươi ngàn đồng). Lùng sục một tuần không thấy gì, địch đành âm thầm rút. Từ miền Bắc vào đến đây phải qua gần ba tháng hành quân với bao vất vả, gian lao. Nếu không cảnh giác, nhạy bén, tháo vát và bằng tác phong cụ thể, tỉ mỉ của người chiến sĩ đặc công thì tình hình đã khác. Bước đầu, chúng tôi đã giành thắng lợi, bịt được đầu mối sinh nghi đối với địch khi chúng càn lên căn cứ Đá Bàn, đinh ninh là có cộng sản vừa đến; bước đầu ly gián, vô hiệu hóa những tên phản động, khoét mâu thuẫn trong nội bộ bọn chúng với nhau, tạo được thế chủ động chính trị ngay khi mới đặt chân lên mảnh đất quê hương. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 01:32:22 am III Địch rút khỏi Đá Bàn vào buổi sáng, thì sẩm tối hôm đó, bộ phận tiền trạm chúng tôi cũng “hạ sơn” làm nhiệm vụ chuẩn bị địa bàn cho toàn đội trở lại hoạt động theo phương thức họp pháp. Trong hoàn cảnh hoạt động mới, một sơ suất nào đó - dù là nhỏ nhất trong việc chấp hành nguyên tắc giữ bí mật cũng đều bất lợi, gây bao nhiêu hậu quả làm ảnh hưởng đến hoạt động của ta cả trước mắt và lâu dài trên con đường đi tiếp để hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc... Như kế hoạch đã bàn, vượt qua mép đông đường số 1, thì Ý và Sách về thẳng gia đình tạm sống bất họp pháp chờ thời cơ. Còn tôi lần theo bìa làng đến nhà người cô họ là bà Phạm Thị Hường ở thôn Hà Thanh nắm tình hình. Là gia đình kháng chiến lại kề với đường đi của thôn nhất định địch gài điệp ngầm theo dõi (phán đoán này của tôi hoàn toàn chính xác) nên tôi phải đứng ngoài nghe ngóng quan sát động tĩnh. Thấy không có gì khả nghi, tôi vọt nhanh ép người vào cửa nhà ngang. Tôi không gọi (vi sợ lộ) mà khẽ cậy cửa lách vô. Lần qua cửa ngách nhà trên, tim tôi đâp mạnh, hồi hộp khẽ gọi: Cô! Một phút trôi qua không có tiếng trả lời. Nhưng tự nhiên tôi thấy mình trấn tĩnh trở lại và tiếp tục gọi một cách tự tin hơn: Cô! Cô ơi! - Tiếng gọi dồn dập và to dần. Tôi định gọi thêm lần nữa thì có tiếng người cựa mình và sau đó một bóng người, đúng là cô tôi, nhẹ nhàng đi về phía tôi, hỏi khẽ: Tư Cụ hả? - Vừa hỏi bà vừa quờ tay tìm kiếm và tay bà chạm vào vai tôi nắm chặt như sợ tôi chạy. Giọng bà run run như muốn khóc, hỏi dồn: Co...n ở đâu v...ề? Phút chốc cả nhà đều thức bên ngọn đèn dầu vặn nhỏ vừa đủ để nhận diện nhau. Tất cả đều mừng vui nhưng ai cũng ý thức được cái vui kiềm chế, vui để trong lòng, nói với nhau qua cái nhìn thương cảm, chứ không bằng lời, vì đêm khuya chỉ một tiếng động nhỏ cũng có thể tự mình tạo thành mục tiêu cho kẻ địch theo dõi. Bữa cơm đạm bạc đã được cô tôi sửa soạn thật nhanh. Và tôi cũng vậy, ăn xong chỉ kịp uống ly nước nguội là phải tạm biệt gia đinh để tiếp tục công việc đã vạch. Thấy tôi ra đi quá vội vã, cả nhà cầm tay níu lại. Nhất là cô tôi, trông bà lúc này xịu buồn đứng sát trước mặt tôi nói với giọng trách móc: Mày đi thật à, khuya rồi, hay là mày không tin tao hả, Tư? Bà nhìn tôi như giận dỗi. Còn tôi thì lặng người đi vì xúc động. Mãi phút sau tôi mới nghẹn ngào thưa lại: Không tin cô sao con lại vô đây trước tiên... Thấy tôi vừa nói vừa rơm rớm nước mắt, bà như hối hận, không nói mà chỉ đồng ý ngầm trên khóe mắt: ừ con đi! Từ trong nhà bước ra, bóng đêm ập đến đột ngột, khiến tôi phải ngồi lại ngoài bờ tre một lúc để định hướng rồi mới đi tiếp. Đêm khuya thanh vắng, làng xóm chìm trong yên tĩnh, cả chó lúc này cũng không thấy sủa. Lần theo các vạt ruộng ngoài bìa làng tôi đến nhà người cô thứ hai, là bà Nguyễn Thị Lới ở cùng thôn Phước Sơn với gia đinh tôi. Vì được tin tức qua cô Hường nên khi lậy cửa vô nhà là tôi cất tiếng gọi liền, khỏi phải vừa gọi vừa nghe ngóng động tĩnh như vô nhà cô Hường trước đó. Nhận ra giọng quen thuộc của tôi, cô Lới dậy liền và đàng hoàng thắp đèn để nhìn tôi được rõ. Qua ánh đèn cô ngỡ ngàng kèm theo cả lo lắng khi nhìn thấy tôi: - Ủa! tao tưởng tụi bay ra Bắc rồi? - Rồi bà bảo tôi ngồi xuống, hạ thấp giọng bà lại tiếp - Mấy bữa rồi tao lo lắm, vì tụi nó trao thưởng bắt mày; - bà cầm tay tôi nắm chặt, hít một hơi nhẹ, giọng to dần nhấn mạnh - bây giờ thì hết lo, mày đã về đây. Cứ thế hai cô cháu ngồi bên ngọn đèn để trả lời bao nhiêu câu hỏi của cô, nghe bao nhiêu chuyện ngang tai trái mắt kể từ khi chúng tôi ra Bắc tập kết. Bỗng nhiên bà quay lại hỏi: - Có Bảy Hữu về không? - Dạ! Cháu không biết nữa - như để đánh lạc hướng và giữ bí mật cho anh, tôi noi lảng - anh Hữu là cán bộ dân chính chắc không về đâu. Qua cô Lới được biết thêm một số tình hình khiến tôi càng vững tin trong nhiệm vụ sắp tới, mặc dầu khi bắt tay vào việc chắc không dễ dàng gì. Nhà thứ ba tôi đến trong đêm đầu trở lại quê hương là người chú họ Phạm Văn Oanh. Lúc này ông làm chức dịch cho địch nhưng vẫn là người có cảm tình với kháng chiến. Thấy tôi đột ngột vô nhà, ông sững sờ nhưng phút đó qua nhanh, nhường chỗ cho nỗi mừng khôn xiết và định đánh thức cả nhà dậy cùng chia vui cái giờ phút hội ngộ đột ngột này. Tôi gàn lại, vì nhà ông kề ngay đường đi, cần phải giữ bí mật về cuộc gặp gỡ này. Thấy tôi mạnh khỏe, ăn nói có phần hoạt bát, khúc chiết hơn xưa, ông tỏ vẻ mến phục cách mạng có tài dạy dỗ con người. Đang ngắm nhìn tôi, ông bỗng đứng lên đi về phía bàn rút ngăn kéo lấy ra một tờ gấp nhỏ, bảo tôi đọc coi. Tôi lướt nhanh hàng chữ đậm in mực đen ở giữa tờ giấy: Nhà chức trách sẽ hậu thưởng 50.000 đồng cho ai bắt được Bảy Hữu và Tư Cụ là hai tên cộng sản. Đọc xong tôi vừa lạnh gáy vừa thở phào tự nhủ: may là không có hình mình trên tờ truyền đơn, điều kiện hoạt động hợp pháp vẫn còn. Tôi gấp tờ truyền đơn bỏ túi làm kỷ niệm rồi nói vui như thách đố: - Cháu có phép tàng hình mà chú! Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:13:46 pm Chú Oanh trố mắt nhìn tôi nửa như ngờ vực, nửa như khẳng định lời tôi nói là đúng. Chả là như trên đã kể cùng bạn đọc, trong Đội Cảm tử của chúng tôi hồi đánh Pháp có Lý Ba và Sáu Nọ là hai chiến sĩ đã từng làm quân địch bạt vía kinh hồn về tài võ nghệ của mình, tiếng đồn lan nhanh ra khắp vùng Bắc Khánh, vào sâu trong vùng địch hậu, nến bây giờ câu nói vui của tôi khiến chú Oanh nửa tin nửa ngờ là có lý lắm.
Tạm biệt gia đình chú Oanh, tôi băng qua các cánh đồng xuống thấu Hòn Hèo - nơi đã từng là căn cứ kháng chiến nổi tiếng của tỉnh Khánh Hòa, noi đã gắn bó cuộc đời chiến đấu của tôi với bao kỷ niệm vui buồn trong suốt giai đoạn đánh Pháp. Lúc này đã là ba giờ sáng, tiếng gà gáy lần thứ nhất từ các thôn xom vọng về, nghe như có cái gì ấm cúng và thôi thúc. Tôi nằm luôn xuống nền đất rừng, chân tay duỗi thẳng, gấn cốt giãn kêu, người thấy thoải mái. Nhưng không sao ngủ được, bởi bao dự tính cứ bộn bề kéo đến. Hòn Hèo với địa thể hiểm trở đủ sức chở che cho tôi tồn tại; cây trái và củ rừng noi đây đủ dự trữ nuôi tôi không phải .một năm mà nhiều năm. Nhưng như vậy hỏi còn có ý nghĩa gì? Chỉ thị của Đảng, mệnh lệnh của quân đội và bản lĩnh người chiến sĩ đặc công đâu chỉ đòi hỏi tôi có thế. Nhiệm vụ trở lại của chúng tôi là phải xây dựng cơ sở, tổ chức lực lượng vũ trang - đặc công, để sau hai năm nếu Mỹ - Diệm chống lại hiệp thương tổng tuyển cử là ta đã có lực lượng ém sẵn làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Riêng tôi còn được giao thêm công việc làm “con thoi” mang báo cáo phong trào mọi mặt của tỉnh ủy Khánh Hòa ra để vào hòm thư “chết” của Trung ương đặt ở khu giới tuyến, tức ngoài Quảng Trị và nhận ở đó những chỉ thị của Trung ương mang về lại Khánh Hòa. Phải về làng, phải bám dân, phải xây dựng các căn cứ “lõm” trong các thôn ấp mới có điều kiện hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhưng về làng thì ở đâu, dựa vào gia đình nào là tin cậy nhất trong tình thế đang xáo trộn, ai tốt, ai xấu, ai đang dao động ngả nghiêng, ai đã mềm yếu quay ra cộng tác với địch. Sự việc tên Tư làm phản báo địch vây càn bắt chúng tôi khi vừa đặt chân tới căn cứ Đá Bàn khiến tôi thận trọng phân vân chưa thật tin một ai cả. Nhưng rồi cái suy diễn một chiều ấy qua đi, cảnh giác là đúng, nhưng thái quá, nghi ngờ tất cả cũng ỉà sai. Tôi suy nghĩ về hai người cô của tôi. Mỗi cô một hình hài, một tính nết, một số phận riêng. Cô Hường khỏe mạnh, tính xởi lởi, cô Lới nhỏ nhắn, trầm lắng. Cả hai cô thấy tôi xuất hiện đột ngột trong đêm khuya thì lúc đầu tỏ ra lo lắng, làm sao tôi đến được đây trong khi địch đã bố cáo trao thưởng cho ai bắt được tôi; lo sao bảo đảm an toàn cho tôi khi trở lại hoạt động. Lo chứ nhưng không nhụt chí. Trong lúc địch đã dăng lưới mật vụ theo dõi những người kháng chiến; trong lúc tin tức hàng ngày dội về - địch đang lùng bắt trả thù những người kháng chiến cũ, thì hai cô đã đón tôi với một tình cảm đùm bọc, đều không muốn để tôi ra đi trong đêm vắng. Điều đó là gì nhỉ? Không phải chỉ là việc làm biểu hiện tình cảm gia đình mà còn là tấm lòng trung thực của hai cô đối với những đứa con của kháng chiến. Đúng như vậy, suốt quá trình tôi hoạt động sau này, gia đình cô Hường và cô Lới đã thực sự trở thành “căn cứ” tin cậy của tôi, từ đây tôi có chỗ đứng để làm nhiệm vụ được giao. Trước hết từ hai cô và qua hai cô, tôi bắt tay vào việc chuẩn bị cho toàn đội trở lại hoạt động hợp pháp. Từ hình mẫu căn cước của hai cô và những người thân trong gia đình do địch cấp, tôi suy nghĩ công việc đầu tiên là phải lo đủ căn cước cho anh em theo ba cách: Một là, lo lót tiền cho những tên đại diện xã ấp của địch để họ đưa người của ta vào danh sách xin trên cấp; Hai là, vận động những đại diện xã ấp ít nhiều còn hướng về kháng chiến để họ xin trên cấp tiếp, cấp bổ sung; Ba là, nếu quá khó, sợ có trục trặc, thì tôi dùng kỹ thuật đã tự học để tự sản xuất lấy căn cước, trước hết cho tôi và anh Bảy Hữu. Chẳng bao lâu, mười hai người trong đội công tác của tôi đều có căn cước, đều có thế đứng “hợp pháp’ để hoạt động: N.T. Đỗ Đình Rùa, Nguyễn Hòa Hiệp vào thẳng thị xã Nha Trang; số còn lại về lại các thôn thuộc xã Hòa Nghĩa, Ninh Hòa. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:15:33 pm Thế hợp pháp đã cài xong, toàn đội công tác bắt tay vào việc mỗi người được giao chỉ tiêu cụ thể. Sau bốn tháng tổ chức được một tiểu đội đặc công thuộc địa bàn mình phụ trách. Trù liệu của tôi là phải làm sao có được một lực lượng đặc công cỡ lối trên dưới một đại đội, để khi thời cơ đến là hoạt động có hiệu quả.
Riêng tôi và anh Bảy Hữu, tuy đã có căn cước tự “sản xuất” giống y như thiệt, nhưng chúng tôi vẫn thực hiện hoạt động theo lối kết họp linh hoạt và uyển chuyển giữa bí mật (bất hợp pháp) với công khai (hợp pháp). Có lúc là cán bộ Việt Minh thực thụ với bộ quần áo bà ba, có lúc giả dạng là thương nhân, giáo chức hoặc một số tín đồ ngoan đạo đi đến từng thôn ấp gặp từng chiến sĩ trong đội công tác để kiểm tra nắm tình hình, bàn biện pháp gây cơ sở, tổ chức lực lượng; có lúc với bộ quần áo âu phục sang trọng, cưỡi xe đạp giữa ban ngày từ Ninh Hòa thong dong trên đường số 1 về thành phố Nha Trang để gặp tổ công tác của N.T. Đã có lúc cùng N.T ngồi trên bờ biển của thành phố này để bàn kế hoạch tổ chức cơ sở đặc công ở sát cạnh các đồn bót địch và những noi đã thấp thoáng có bóng những tên cố vấn Mỹ ra vào, để khi có lệnh là hoạt động được thuận lợi, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Nhưng không phải cái gì cũng thuận lợi suôn sẻ cả. Địch cũng đã đánh hơi thấy đội công tác của chúng tôi từ miền Bắc trở về đang phân tán nằm vùng ở các thôn ấp. Vì vậy mà một mạng lưới điệp ngầm được tung ra dò tìm, dăng bẫy ở khắp noi, có những điểm chúng bám suốt cả ngày đêm. Một lần địch vây nhà cô Hường đúng vào lúc tôi có mặt tại đây. Tình thế thật hiểm nghèo khiến tôi đã nghĩ kế liều: vọt ra khỏi nhà để trước hết cô Hường có cớ đấu lại địch, sau nữa sẵn sàng chấp nhận hy sinh chứ quyết không để địch bắt lúc này là không có lợi cho nhiệm vu chung. Đang lúc tôi nghĩ ngợi tính toán như thế thì cô Hường vẫn bình tĩnh, bà kéo tay tôi sang gian trái của ngôi nhà, nơi có vị tường hai ngăn, ấn tôi vào khoảng trống của hai ngăn đó, rồi thản nhiên bê thùng cám xuống bếp đặt ở nhà ngang để nấu cháo cho heo. Đúng lúc ấy thì địch ập vào, chúng chia nhau lục soát trong nhà. Đứng trong khoảng giữa của vỉ tường hai ngăn, tôi nghe rõ tiếng địch quát tháo, tiếng đẩy cửa, xô bàn, đạp ghế để lục soát. Không thấy gì, và cũng không có dấu hiệu khả nghi, một lát sau địch hò nhau rút, kèm thêm tiếng chửi đổng của bọn lính với tin mật báo cáo, chỉ làm mệt sức chúng. Thời gian ở nhà cô Lới còn gay go hơn nhiều. Tại đây địch ba lần quây bắt, lùng sục thì cả ba lần tôi đều đang ở trong nhà, chứng tỏ kẻ địch đã dăng bẫy rất cẩn mật, định bắt sống tôi. Nhưng địch đã thất bại. Sở dĩ tôi thoát được là do gia đình cô Lới (lúc ấy cô Lới còn mẹ già) đã có những ứng phó thông minh tức thời. Địch vây thứ nhất, tôi kịp thời bí mật thoát ra an toàn. Lần thứ hai, địch lại vây, ập đến thật nhanh, cô Lới cũng nhanh trí chỉ cho tôi lên ẩn nơi am thờ, một noi tôn nghiêm nhất, không một ai được lên đó. Nơi mà cô - nhất là mẹ của cô sớm tối thường đứng hàng giờ hướng về đó mà lần chuỗi tràng hạt với một lòng sùng kính đích thực, lại chỉ cho tôi lên đó. Và lần thứ ba cũng tương tự như lần thứ hai, không còn điều kiện thoát ra ngoài, cũng không thể ẩn nơi am được vì yếu tố bất ngờ noi đây đã hết. Tôi thực sự nên lúng túng thì ngay lúc đó, khi tôi chưa kịp hành động, bà cùa cô Lới với cử chỉ bình tĩnh, cầm tay tôi dẫn đến nơi để cỗ hậu sự đã mở nắp nói: con nằm vô đây. Bà lẹ làng đậy nắp phụ rồi đậy nắp chính xong, lại trở về với công việc bình thường một cách tự nhiên. Nằm ép mình vào một khoảng khoang phụ của cỗ hậu sự, tôi thấy mình tỉnh táo và biết ơn bà cô mưu trí. Tiếng giày đinh, tiếng địch quát tháo, hối thúc nhau lục tìm. Một giọng khàn khàn, có lễ phép, có lẽ là tiếng tên chỉ huy đánh đòn cân não: - Ê mụ già kia, muốn còn mạng thì nộp ngay tên cộng sản nằm vùng đang trú trong nhà này, - hắn giậm chân nhằm uy hiếp - nếu không sẽ bắn bỏ liền! Giọng cô Lới không to nhưng cũng kiên quyết, như một thách đố tự tin là phần thắng đã thuộc về mình: - Dạ thưa ông thiếu úy cứ cho lính khám xét. Tất nhiên là chúng phải khám, phải xét, phải lục soát và phá nữa, theo kiểu “giận cá chém thớt”. Lần này chúng ngó cả lên am thờ, quan sát khá kỹ, chỉ khác là chúng đứng nơi cửa am mà nhìn chứ không dám lên nơi tôn nghiêm ấy. Hai tên đến nơi để cỗ quan hậu sự ngó nghiêng qua loa rồi theo cửa ngách xuống nhà ngang. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:16:25 pm Lùng soát một hồi không thấy gì, tên chỉ huy tức tối lệnh cho binh lính dưới quyền rút. Chờ cho thật yên ắng tôi mới từ cỗ hậu sự bước ra, trong lòng tràn đầy xúc động. Đúng là chỉ qua thử thách, gian nan mới thấy hết được lòng người. Gia đình cô đã là mục tiêu theo dõi của địch từ lâu, vậy mà cô không hề dao động kiếm cớ chối từ, mà trái lại vẫn để tôi lui tới, lấy nơi đây làm bàn đạp để mở rộng hoạt động ra khắp nơi quanh vùng. Cô lo liệu ứng phó với địch một cách bình tĩnh, rất đơn giản mà thông minh, cụ thể. Nhưng kẻ địch không cam chịu. Đột nhập vây ráp thất bại chúng bày trò trắng trợn bắt bà bỏ tù, chúng tra tấn, đánh đập bà hòng lung lạc tinh thần bà. Nhưng cái hạ sách này cũng thất bại nốt. Tuy thân hình nhỏ bé, sức yếu, bà vẫn ráng chịu những trận đòn thù để giữ trọn lòng trung kiên, vì bà tin rằng kháng chiến sẽ thắng, cách mạng nhất định thắng. (Đầu năm 1986, nhân trên đường đi công tác, tôi tranh thủ ghé thâm gia đình hai cô mà từ lâu anh em đội công tác chúng tôi đã coi như hai chiến sĩ đặc công bám trụ - đây là lần về thăm thứ ba kể từ khi Tổ quốc thông nhất. Năm tháng qua đi để lại những nếp nhăn hằn sâu trên những khuôn mặt nhưng cô Hường tính tình vẫn vui xởi lởi như xưa; các con của cô hồi đó còn nhỏ làm nhiệm vụ canh gác mỗi khi tôi lui tới nay đều khôn lớn, có gia đình riêng. Còn cô Lới đã mất cách đây mấy tháng. Theo người nhà cho biết, trước phút lâm chung cô có nhắc tên tôi và mong được nhìn tôi lần cuối trước khi bà nhắm mắt. Bàn thờ bà đặt ở gian kế nơi am thờ, nơi năm xưa đặt cỗ hậu sự, đượm mùi nhang khói. Ảnh bà ngồi đó với đôi mắt trầm tư mà kiên nghị như những ngày nào quê hương còn chịu dưới sự kìm kẹp của giặc, bà vẫn giữ vững niềm tin hướng về kháng chiến, vẫn vượt qua bao nguy hiểm, giang rộng đôi tay ra che chở, đùm bọc chúng tôi sống và hoạt động. Tôi ngậm ngùi đến gần bàn thờ thắp năm nén nhang tỏ lòng thành kính của mình và cúi đầu mặc niệm ba với nỗi niềm thương xót, biết ơn).
Nhờ có được căn cứ trong lòng dân, các chiến sĩ đặc công tỉnh Khánh Hòa đã đạt được những thắng lợi bước đầu trong nhiệm vụ trở lại. Cho đến lúc này cơ sở nòng cốt của lực lượng đặc công đã phát triển với số lượng trên dưới một trung đội, nếu có lệnh là chúng tôi có thể làm nên chuyện ở bất cứ đâu thuộc thành phố Nha Trang, Ninh Hòa ra tới Vạn Ninh, Đèo Cả. Công việc xây dựng cơ sở, chuẩn bị lực lượng ém sẵn đã đi vào nề nếp thì tôi chuyển sang nhiệm vụ đặc biệt khác. Theo kế hoạch được giao từ Hà Nội trước lúc lên đường, thì từ thời điểm này, cứ hai tháng một lần ra hòm thư “chết” đặt ngoài giới tuyến quân sự để nhận chỉ thị của Trung ương chuyển vào cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa. Công việc thật âm thầm mà sôi động, không chút giản đơn, chỉ một sơ suất nhỏ cũng gây nên hậu quả lớn. Bao nhiêu điều học được ở lóp bồi dưỡng ngắn ngày do Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu hướng dẫn nay lại được nhớ lại, tìm cách vận dụng cho chuyến lên đường đầu tiên. Đầu tháng 11 năm 1955, với bộ quần áo Âu màu xám sang trọng đóng vai thương nhân, cưỡi chiếc xe đạp Stéc-linh màu đỏ mượn của cơ sở, tôi rong ruổi theo đường số 1 đi ra giới tuyến. Nhưng để tranh thủ thời gian và cũng để giữ sức, nên lúc đi xe đạp, lúc ngồi xe đò và có lúc vẫy nhờ cả xe nhà binh. Trưa ngay thứ bảy thì đến Đông Hà, từ đây đến Dốc Miếu còn khoảng hai mươi cây số nhưng tôi quyết định nghỉ lại thị trấn này qua đêm cho lại sức. Sáng hôm sau khoảng lối mười giờ, tôi tới Dốc Miếu với một tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn. Trước mặt tôi, Dốc Miều là một triền núi rộng có cây cối rậm rạp. Làm sao nhận ra đặc điểm nơi đặt hòm thư “chết” và khi nhận ra rồi làm sao để tiếp cận, lấy được thư nhanh gọn, mà không để bất cứ một hiện tượng sinh nghi nào, kể cả người dân bình thường cũng không để họ biết. Định thần một lúc để lấy lại thăng bằng trong tư tưởng, tôi lên xe đạp tiến với tốc độ vừa phải để vừa nhận biết cảnh vật hai bên. Xe lên đỉnh triền núi thì đường số 1 quẹo trái và xuống dốc. Khi xe quay đầu mới đạp được vài vòng, ngước mắt nhìn lên thành núi trước mặt, tôi đã nhận được điểm đặt hòm thư - tảng đá đôc lập, nằm kề ngay khúc đường quẹo. Bâng khuâng và xao xuyên biến mất, chỉ còn lại cái sung sướng hồi hộp qua con tim đâp liên hồi. Đúng rồi, đúng đây là điểm đặt hòm thư “chết” theo quy ước mà tôi được phổ biến. Xe vẫn lên dốc với tốc độ chậm chạp đầu tôi hơi cúi thấp về phía trước, như đang cố sức đạp, không để ý mọi vật xung quanh. Gần đến chỗ đặt hòm thứ tôi đưa mắt đảo nhanh, không có hiện tượng gì khả nghi, chỉ thấy người đi trên đường với dáng điệu hối hả, tất tưởi. Tôi dắt xe dựa vào tảng đá, rồi làm đủ động tác giả vờ đi cầu. Ngay trước mặt tôi là một hốc đá nhỏ, ngoài cửa có một hòn đá do một bàn tay vô hình nào đó đậy cẩn thận nhưng lại rất tự nhiên như nó đã được tạo hóa sắp đặt, an bài. Tim tôi đập càng mạnh, cái nhịp đập của vui sướng, của hết nỗi bâng khuâng, tuy không có đồng đội, đồng chí mà tôi thấy có hơi ấm. Tôi khẽ nậy hòn đá thì một ngách ở phía bên phải hiện ra, mắt tôi như lóa mờ rồi lại nhìn rõ, thấy ngay, thấy rõ một gói nhỏ xíu được bọc kín bằng ni lông. Tay tôi lẹ làng lách vào ngách đá đó nắm gọn gói bảo vật và bỏ vào túi áo trong, cài khuy cẩn thận rồi mà vẫn cứ run... Mọi việc xong xuôi đâu vào đấy, tôi dắt xe ra phía đường số 1 vô lại Đông Hà, tiện xe đò tôi đi luôn Huế, rồi Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định... không còn mấy thời gian nữa là về đến Khánh Hòa. Những chỉ thị của Trung ương, từ Hà Nội sắp chuyển được đến tận tay Ban tỉnh ủy bí mật đang có mặt tại căn cứ Đá Bàn. Qua hết các đoạn đường dốc thuộc địa phận Sông cầu, Tuy An đã nhìn thấy khoảng trời quen thuộc hiện ra trước mắt, không còn xa nữa, tôi tự nhủ ráng đạp xe đến thị xã Tuy Hòa nghỉ một thể. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:17:48 pm Nhưng mới đến đầu thị xã đã thấy có cái gì khang khác như là có vụ vây ráp đang diễn ra phía trước. Tôi xuống xe dắt bộ vừa đi vừa nghe ngóng tình hình. Thoạt đầu tôi không tin ở mắt mình nữa, nhưng đến gần thì từ nghi ngờ đến khẳng định. Đúng rồi đúng người đàn bà mặc quần áo kiểu Âu bó chẽn, mang kính mát, tay cầm túi xách kiểu nửa cầu kỳ kia đích thị là vợ cậu Doanh, nhân viên quân khí của tiểu đoàn tôi rồi. Thì ra thị đã làm phản, đang sóng đôi với một gã đàn ông béo mập, để ria mép cũng mang kính mát mắt trâu gọng to, theo sau là một con chó hành nghề màu xám tro, đến chỗ tập trung dân chúng để “nhận diện cộng sản”. Nếu ai là cán bộ, bộ đội thì thị không cần lên tiếng, chỉ trỏ lộ liễu, mà là đưa mắt như liếc tình, tức thì gã đàn ông có bộ mặt lạnh lùng dữ tợn nọ chỉ việc quay đầu hất hàm là cả bầy đàn em nhảy xổ vào lôi người đó ra khỏi dòng người... Cứ thế thị và gã đàn ông kia đi hết chỗ này sang chỗ khác. Sô người bị còng hai tay mỗi lúc một đông, có cả phụ nữ bồng con nhỏ, bị chúng đẩy lên xe ô tô hòm phủ bạt kín không biết đưa đi đâu!
Nếu cứ giả đò coi như không có gì liên quan đến mình, cứ bình thản đạp xe qua trước mặt thị, liệu có ổn không? Không được, hoàn toàn là phiêu lưu và như thế nhất định phải trả giá. Vì là vợ của Doanh đã qua lại đơn vị nhiều lần khi đến thăm chồng, thị đã biết rất rõ tôi là người chỉ huy. Mặc dầu lúc này đây, tôi vận com-lê, thắt ca-vát hẳn hoi, mang kính mát và đeo cây “thánh giá” ở nơi cổ, hệt như một thương gia thực thụ, thờ chung một chúa với Ngô Đình Diệm, thì ả vẫn nhận được tôi. Và như thế ả sẽ reo lên với đồng bọn là ả đã bắt được một cán bộ cộng sản nằm vùng để được hậu thưởng. Nếu để sự tình đến thế thì những chỉ thị quý báu của Đảng sẽ không đến được vói phong trào Khánh Hòa. Đó chính là điều tôi băn khoăn lo lắng, chứ việc thủ tiêu giấy tờ để phi tang thì có khó gì. Tôi buộc phải dắt xe vào nhà hàng cạnh đó. Lúc này bụng đói cổ khô đang khát nước, nhưng tôi không vội vàng uống hết ly nước dừa đá vừa gọi. Tôi ngồi với dáng vẻ bề ngoài bình thản, ung dung, không tỏ vẻ lo nghĩ vì biết đâu chả có điệp ngầm trà trộn trong khách hàng, nhưng bên trong thì bao ý nghĩ quay cuồng. Đi không được mà nằm lại qua đêm cũng không ổn. Làm gì có nhà trọ mà vô. Đang loay hoay như thế thì một chiếc xe giép Mỹ còn bóng màu nước sơn đỗ ngang trước mặt. Mấy khách hàng đang ăn nhậu trong tiệm nhìn ra bàn tán: xe ông tỉnh trưởng Khánh Hòa đi công vụ tụi bay biết không. Câu nói vô tình của đám người nhậu nhẹt đã gợi trong tôi một kế hoạch (cứ tạm gọi là thế) và cứ thế được hoàn chỉnh trong quá trình thực hiện. Trả tiền ly nước dừa đá xong, tôi ung dung đắt xe đạp đến bên cạnh chiếc xe giép đang đậu. Với tư thế đàng hoàng, lịch thiệp và chủ động, tôi lên tiếng. - Dạ thưa tỉnh trưởng, - gã như bị bất ngờ và có vẻ khó chịu nhìn tôi, tôi cũng rất bình tĩnh nhìn thẳng vào mặt gã, nhún mình nói tiếp - dạ thưa... tôi muốn được tỉnh trưởng ban cho một ân huệ... - Cái gì? - hắn hất hàm hỏi lại vẻ hách dịch. Qua kính mát, tôi ngờ ngợ như đã thấy hẳn một lần ở đâu đó. Để phá tan không khí im lặng căng thẳng này, tôi chủ động một cách cung kính, bật hộp quẹt đốt điều thuốc mà hắn đang cầm tay định hút. Hắn hài lòng về việc làm xác định địa vị bề dưới của tôi, và bớt nhin xoi mói. Tôi tỏ vẻ chân thành cầu khẩn: - Dạ thưa tỉnh trưởng, tôi không may bị lỡ ô tô, mà đi xe đạp thì e sợ tối, ngừng một lát, giọng thấp dần pha chút lo lắng - dọc đường vô Khánh Hòa lúc này mà đi một mình tôi sợ khó tránh khòi nguy hiểm! Tôi nhấn mạnh từ “một mình” và “nguy hiểm” ở cuối lời thỉnh cầu, là nhằm đánh đòn tâm lý gã tỉnh trường, muốn hiểu thế nào cũng được: nguy hiểm có thể là trộm cướp, có thể là “Việt cộng” (như chúng đang tuyên truyền xuyên tạc để hù dọa dân chúng) càng tốt. Làm như vậy là bắn mũi tên đạt hai đích: một là chứng minh tôi thuộc người của “quốc gia” cũng đang sợ “Việt cộng” như tỉnh trưởng sợ; hai là đi một mình thì càng nguy hiểm, không có ai hỗ trợ khi gặp sự cố. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:19:26 pm Quả là đòn tâm lý của tôi có hiệu quả trông thấy. Mặc dầu hắn mang kính mát loại đắt tiền để che giấu thái độ, nhưng lúc này đây tôi vẫn đọc trên nét mặt hắn nỗi lo thực sự.
Làm ra vẻ mình là người trung thành với “lý tưởng quốc gia” đang bị tỉnh trưởng hiểu lầm, nên phải thanh minh, phân bua: - Dạ thưa tỉnh trưởng, - vừa nói tôi vừa móc túi lấy các chứng cứ - trình tỉnh trưởng các chứng chỉ và căn cước của tôi. Hắn lướt nhìn tôi từ đầu đến chân, hình như có vẻ hài lòng thấy tôi dáng vẻ khỏe chắc như võ sĩ đầu đàn của các băng đàn em, rất cần cho hắn khi gặp điều không may trên đoạn đường sắp tới, nhưng hắn vẫn xem rất kỹ giấy tờ hộ thân của tôi. Hắn nhìn kỹ vào dấu nổi hằn trên tờ căn cước “tự sản xuất” không thấy có gì nghi ngờ, không một câu vặn hỏi. Tôi thở phào nhẹ nhõm (nhưng không được thể hiện đột ngột, lộ liễu, mà từ từ xả hơi căng thẳng một cách kìm chế). Đưa lại giấy tờ cho tôi, viên tỉnh trưởng tỏ thái độ thiện cảm: - Được, mời ông lên xe. - Dạ! Thưa, tôi còn vướng cái xe đạp, xin tỉnh trưởng cho cột phía sau. Tuy chưa được tỉnh trưởng chấp thuận, tôi cứ làm việc đã rồi, dắt xe đến chỗ tài xế. - Chú tài cột xe vào cho qua, tỉnh trưởng đã cho phép. Tài xế đang ngần ngừ, tôi móc túi ngực lấy ra 50 đồng giúi vào tay hắn và nói như khẳng định - được phép của tỉnh trưởng rồi mà. Mọi việc xong xuôi, xe nổ máy rú ga êm êm lăn bánh rời Tuy Hòa, thoát đoạn vây ráp của bọn giặc. Xe chạy qua cầu Đà Rằng dài ngót cây số lại nhớ về cách đây hai tháng, cũng con sông này ở đoạn thượng lưu cách đây mười cây số, đội công tác của chúng tôi thoát vây là nhờ chiếc ghe câu của một ông già đánh cá; còn hôm nay cũng con sông này, tôi thoát vây là nhờ viên tỉnh trưởng tình Khánh Hòa muốn có được một người đồng hành trên đoạn đường mà hắn phải thừa nhận lời hù dọa của tôi là đúng - nó rất nguy hiểm. Nhưng một căng thẳng khác lại đặt ra. Phải bắt đầu bằng những chuyện gì cho hợp gu tỉnh trưởng và phải trả lời ra sao những câu hỏi vô tình hoặc hữu ý (có tính chất nghề nghiệp) của tỉnh trưởng nhằm tiếp tục dò xét mình. Chỉ sơ suất nhỏ, chỉ một câu nói thiếu lô-gich làm thành tín hiệu sinh nghi trong hắn. Tôi và viên tỉnh trưởng cùng ngồi hàng ghế sau. Phút đầu tiên ỉà yên lặng, cả hai đều theo dõi nhau. Tôi vẫn làm như vô tư, mắt nhìn thẳng phía trước như người đi xa háo hức mong đoạn đường ngắn lại nhanh để được về nhà nhưng vẫn đưa mắt quan sát viên tình trưởng và thấy hắn cũng không rời tôi. Xe qua khỏi thị xã Tuy Hòa khoảng lối mười cây số, tôi chủ động phá tan bầu không khí yên lặng mà căng thẳng này bằng câu hỏi: - Phu nhân tỉnh trưởng quê ở Phú Yên? - Tôi ra Phú Yên có công vụ. - Dạ thưa tỉnh trưởng, chắc ngài vừa du học nước ngoài về? - Không, tôi chỉ thụ huấn các khóa ngắn hạn trong nước. Thế là rõ. Ta có thể bồi tiếp cú đòn tâm lý để đánh tan hẳn sự nghi ngờ và sự theo dõi của hắn. Bằng vốn tích lũy những ngày ở ngoài Bắc, qua đọc báo nghe đài và qua các buổi sinh hoạt thời sự của cán bộ, tôi lọc nhanh và hệ thống những vấn đề cần đem ra lòe y, qua các mẩu chuyện tình hình các nước Nhật Bản, Mỹ và Tây Âu. Tôi đặc biệt kể về các số liệu kinh tế và giá cả chuyển đổi những thứ hàng hóa đó khi vào Việt Nam. Thoạt đầu hắn lơ đãng, ừ hữ cho qua chuyện, sau hắn mê thực sự khi nói lời lãi thu về nếu ta biết tính toán kinh doanh, Hắn thực sự tin tôi là một thương gia thực thụ của Khánh Hòa và từ đấy hắn không theo dõi ngầm tôi qua cặp kính mát nghề nghiệp của hắn nữa. Xe bon bon chạy, cả chủ và khách đã thông cảm cho nhau. Câu chuyện mà hắn kể chỉ toàn là ngón ăn chơi, tôi cứ gật đầu tán thưởng hoài, hắn càng thả sức để chứng tỏ tỉnh trưởng như cỡ hắn là rất tân tiến, không giống như tổng đốc cũ, tuần vũ thời xưa, thời mà thực dân Pháp còn thống trị nước ta. Khi xe vượt đèo Cả, từ từ xuống dốc đến chân Đại Lãnh, một cảng cá của huyện Vạn Ninh, địa đầu của tỉnh Khánh Hòa, tôi lại phải một lần nữa đấu trí với tên tỉnh trưởng. Theo xe hắn vào tới Nha Trang lúc này quả không lợi. Tên tỉnh trưởng theo phép lịch sự kiểu thực dụng sẽ đưa tôi đến tận nhà, mà tôi làm gì có nhà nào ở trong đó, Như thế vở kịch thương gia của thành phố bắt đầu lộ tẩy. Phải bằng mọi cách để không xuống Nha Trang. Không khí trong xe bắt đầu yên lặng, gã tỉnh trưởng thấy đã hết chuyện nói và mong chóng về tới nhà để hú hí với vợ con, còn tôi cũng im lặng từ đây, không phải mệt, không phải hết chuyện nói mà là nghĩ cách thoát thân. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:21:32 pm Xe vẫn bon bon chạy và hình như lúc này máy càng bốc, nên hàng cột cây số cứ thoắt hiện, thoắt ẩn lùi nhanh về phía sau. Xe qua Vạn Ninh, Cầu Đúc tôi giả đò đau bụng, người cúi xuống, hai tay ôm phía rốn, mặt nhăn nhó, nói vẻ khó nhọc:
- Dạ thưa tỉnh trưởng, - vừa nói tôi vừa thở dốc, giọng hổn hển - Tôi cần có dầu xoa. - Sao? - Viên tỉnh trưởng hoảng hốt quay lại - ông làm sao, cảm hả? - Dạ...t...ôi bị đ...au... bụng! - Tôi không mang thuốc. - Tên tình trưởng thực sự lúng túng và có cái gì thương cảm về vở kịch giả đau của tôi. Xe vừa tới Lạc Ninh, tôi la càng to, át cả tiếng nổ đều đều của chiếc xe giép, nhưng mắt vẫn luôn quan sát địa hình phía trước mặt Đợi cho xe chỉ cách chân đèo Bánh ít khoảng lối ba cây số, tôi rướn người về phía trước, hai tay vẫn ôm bụng, rồi cúi gập người lại như con tôm, cốt gây cho gã tỉnh trưởng ngộ nhận, con bệnh bắt đầu ở giai đoạn nguy kịch. Đồng thời tôi đưa tay trái để lên miệng vết thương ở hốc cổ bên phải để sẵn sàng hành động (vết thương bị trong trận phục kích địch ở Hố Vông năm 1947 như đã kể cùng bạn đọc ở phần trên. Ngay hồi ấy sau khi được cứu chữa, vết thương đã kín miệng song viên đạn vẫn nằm ở trong phổi, bình thường không sao nhưng mỗi khi làm việc nặng đi hành quân chiến đấu là tức thở và nếu vô tình đụng vào miệng vết thương thì nôn mửa như người bị ngộ độc, đã khiến một thời tôi bi quan, giờ đây sắp sửa khai thác để nó giúp tôi vượt qua khó khăn cần xử trí lúc này). Đợi đúng đến thòi điểm cho phép, tôi ấn nhẹ tay vào miệng vết thương và ngay lập tức gây phản ứng, trước hết là ho sặc sụa chảy cả nước mắt, mặt đỏ gay và sau đó là nôn ọe ra mật xanh, mật vàng đầy ra sàn xe, bắn cả sang giầy da đen bóng lộn của viên tỉnh trưởng, khiến hắn vừa khó chịu, vừa hoảng hốt, có pha chút ái ngại thực sự đối với một thương gia đang gặp nạn không lường trước. Lúc này tôi không còn là đóng kịch nữa, mà là bị phản ứng thực sự của bệnh lý, chỉ khác là tinh thần vẫn minh mẫn, nó chỉ diễn ra khoảng dăm phút rồi lại bình thường liền. Nhìn thấy viên tỉnh trưởng tỏ ra bối rối, bằng một giọng sụt sịt của người bệnh, tôi tiến công liền: - Dạ thưa tỉnh trưởng, - tôi lại ho và nôn khan, rồi tiếp - xin tình trưởng cho phép tôi được xuống đây... - Sao? - Viên tỉnh trưởng hỏi và kèm theo cả ngạc nhiên - Sao lại xuống đây? - Dạ... nhà cô t...ôi ở g...ần đ...ây. Vừa nói tôi vừa giơ tay chỉ về ngôi nhà lầu nhô lên đột xuất chính giữa thôn Hà Thanh ở bên trái đường. Đây là ngôi nhà mà tôi chỉ biết bà tên là Oanh chứ không quen. Viên tỉnh trưởng hoàn toàn tín tôi là một thương gia đích thực của Khánh Hòa, không phải chỉ có thế lực ở Nha Trang mà còn lan tỏa ra các vùng nông thôn hẻo lánh. Không chút ngần ngừ, suy tính, hắn thỏa mãn tức thì lời cầu khẩn của tôi: - Tài! Cho xe dừng lại! Điểm dừng của xe rất trùng họp với tính toán của tôi. Từ đây tôi có thể đi nhanh về nhà cơ sở, tránh được sự theo dõi bởi mạng lưới điệp ngầm của địch. Xe vừa đỗ, viên tinh trưởng với vẻ ái ngại: - Mời ông xuống tạm đây và chúc ông mau lành bệnh. Nói xong, hắn chìa tay ra nắm tay tôi theo kiểu bề trên. Tôi lịch thiệp đáp lại, cũng bắt tay và không quên tâng bốc để lấy lòng hắn: Xin chân thành biết ơn tỉnh trưởng đã cho tôi một ân huệ không quên. Tài xế khi xe đỗ đã làm theo chức phận của mình, ra phía sau tháo dây cột xe đạp của tôi. Để việc này làm càng nhanh càng tốt, tôi giúi tiếp tiền vào tay tài và nói: - Chú vất vả quá! Có tiền lại được lời động viên thông cảm, tài xế với tay nghề sẵn có, anh ta thao tác rất nhanh. Nhận được xe, tôi vẫn vờ chuếnh choáng (sự thật thì đã trở lại bình thường) lễ độ vẫy tay chào tỉnh trưởng và tỏ lòng biết ơn sự tốt bụng của y. Tôi ngồi ở vệ đường vẫn vờ ôm bụng nhăn nhó, tiếp tục theo dõi theo chiếc xe giép của tỉnh trưởng, chờ cho xe lên tới đỉnh đèo và lao xuống dốc mất hút, tôi mới đứng dậy sửa soạn quần áo cho ngay ngắn, thẳng nếp, đàng hoàng đạp xe vào nhà cơ sở. Và ngay sau đó, trút bộ đồ Âu sang trọng thay bằng bộ bà ba với khẩu súng ngắn, chờ trời tối hẳn, mọi nhà lên đèn, tôi lại vượt đường số 1 đi về căn cứ Đá Bàn để ngay đêm nay mang đến tận tay các anh trong Ban tình ủy Khánh Hòa những ý kiến chỉ đạo của Trung ương. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:24:49 pm IV Đầu tháng 12 năm 1955, tôi lại mang báo cáo của Tĩnh ủy Khánh Hòa ra để vào hòm thư “chết” của Trung ương đặt ngoài Dốc Miếu, Gio Linh (Quảng Trị) và nhận chỉ thị của Trung ương đặt ở đó. Có được kinh nghiệm của hai lần trước, lần này nói chung là thuận lợi. Hòm thư không đặt ở tảng đá độc lập nữa mà chuyển sang một hốc cây to nằm ở phía nam của triền đồi này. Làm xong mọi công việc tôi ra nhanh khỏi nơi đây. Đến Gio Lễ tôi dừng xe bên gốc cây vờ tránh nắng như một người mới đạp xe từ bờ nam sông Bến Hải vào, rồi lấy thư của Trung ương ra đọc để nhập tâm về truyền đạt, sau đó thủ tiêu để phi tang đề phòng bất trắc dọc đường. Khác với hai lần trước, thư lần này chỉ một tờ giấy mỏng, nhỏ, gọn có mấy chữ: H - T ra gấp đã lộ. Chỉ mấy câu ngắn gọn khiến tôi xúc động đến bàng hoàng. Xúc động vì Trung ương Đảng, Bác Hồ ở ngoài đó, tận thủ đô Hà Nội xa xôi mà vẫn thấu hiểu công việc của anh em chúng tôi trong này âm thầm mà đầy sôi động và không ít khó khăn, đã có tù đầy và đổ máu. Trung ương báo cho chứng tôi phải thu xếp ra gấp ngoài đó vì lộ, một cái tin đến quá đột ngột trong lúc chúng tôi đã xác định chịu đựng bám trụ cùng với bà con cô bác đấu tranh và chiến thắng. Phải định thần hồi lâu, tôi mới tiếp tục đạp xe trở lại Đông Hà, rồi vô Huế, về Đà Nắng. Trên đường từ Bình Định về Phú Yên, vì trời tối, tôi đạp cố đến đồn Vân Canh để ngủ lại qua đêm. Đồn này hai lần trước tôi đã bắt quen với tên thiếu úy đồn trưởng và đã một lần ngủ tại nơi đây. Vừa đến noi viên đồn trưởng đã hớt hải: - Có tin một cán bộ cộng sản giả dạng dân từ Bắc lọt vô đây. - Thế à! - Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi tiếp? - Bắt được chưa? Viên đồn trưởng không trả lời. Hắn thực sự lo lắng với tin “Việt cộng” xâm nhập, tuy nhiên hắn không tỏ ý nghi ngờ gì tôi và vẫn cho tôi được ngủ lại đồn này. Lúc đầu tôi chỉ có ý định xin ngủ ngoài như hai lần trước, nhưng hôm nay địch đang dăng lưới vì một đồng chí ta hoạt động quá lộ liễu, nên tôi thấy phải tìm vị trí sao cho hợp pháp để tránh địch lùng soát. - Xin thiếu úy vui lòng cho tôi được vô nghỉ trong, vì thời buổi này bây giờ lắm nhiễu nhương, trộm cướp quá nhiều. Đồn trưởng ngần ngại nhưng không hẳn khước từ, dù sao cũng là chỗ quen biết, đôi lần tôi đã bỏ tiền để cùng hắn ăn nhậu xả láng ở nhà hàng gần đó. Trời tối dần, tôi cố ý năn nỉ: - Lúc này trở đi dễ không an toàn lắm đó, thưa thiếu úy! Đăm chiêu một lát rồi viên thiếu úy với giọng có phần hoi miễn cưỡng, cả nể: - Thôi được, thầy vô trong. Nói đoạn hắn chỉ noi góc nhà và cho mượn cả chiếu, rồi nói như để thanh minh với tôi được xem như là bạn nhậu, viên thiếu úy nói tiếp: - Đúng là không được, vì luật nhà binh không cho phép. Nhưng thầy là chỗ thân quen, ai có hỏi cứ nói là người nhà lên thăm. Thế là tôi lại thoát được kế hoạch dăng luới tìm bắt đối thủ mà địch đang xúc tiến trên đoạn đường số 1 từ Phú Yên đi Khánh Hòa. Đêm yên tĩnh và rất an toàn vậy mà tôi cứ trằn trọc không sao chợp mắt được. Bao câu hỏi cứ hiện về bắt tôi phải trả lời: Làm thê nào để thực hiện chỉ thị của Trung ương phải ra gấp miền Bắc được an toàn. Nếu chỉ mình tôi thì dễ ợt, vì đường đi lại ra thấu ngoài giới tuyến tôi có quen, lại có đủ giấy tờ hợp pháp... Đằng này có anh Bảy Hữu. Thật khó! Anh phải trở ra và ra trong an toàn... Hôm sau, tôi giã từ đồn Vân Canh, và tạm biệt viên đồn trưởng, cùng với chiếc xe đạp lại rong ruổi trên quãng đường còn lại, để ngay tối nay phải có mặt ở căn cứ Đá Bàn. Cũng như hai lần trước, kể từ giờ phút tôi tạm rời Phú Khánh là anh Bảy Hữu lại thấp thổm mong tin kèm theo cả sự lo lắng cho chuyến đi đường của tôi, liệu có trót lọt hay lại có sự bất trắc khôn lường không thể vượt qua! Và mỗi khi tôi từ ngoài đó trở về, mới thoáng thấy, anh đã reo mừng hết cỡ trước khi hỏi công việc. Lần này cũng thế, mới nhìn thấy tôi anh đã đi tới, chủ động đưa tay nắm chặt tay tôi lắc mạnh và chúc mừng thắng lợi. Phần tôi cũng ý thức được trách nhiệm trên giao. Chuyến ra đi nào cũng tự nhủ: Không để phụ lòng tin của tổ chức, của cấp trên. Mỗi lần trở về tôi đều báo cáo tỉ mỉ những nhiệm vụ khẩn trương và nghiêm túc của Trung ương giao cho với anh Hữu. Lần này cũng vậy, tuy vẫn đang còn mệt, tôi không nghỉ mà tranh thù báo cáo ngay: - Báo cáo anh Bảy, Trung ương chỉ thị vào, ghi rõ: Anh và tôi ra gấp- Tôi chưa kịp nói tiếp, anh Hữu sửng sốt hỏi lại: - Ra gấp à? Tại sao? Thật khó trả lời vì tôi có biết gì hơn ngoài những điều nhập tâm về truyền đạt lại. Biết như thế nhưng anh vẫn hỏi, đó là một phản ứng tự nhiên trước một sự việc đột ngột. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2016, 03:27:14 pm Lúc đầu tôi cũng hơi lúng túng, nhưng sực nhớ mình truyền đạt chưa hết, tôi nói tiếp:
- Trong chỉ thị có ghi rõ: Phải ra gấp, đã lộ. Lúc này đây, khi ngồi đối diện với anh tôi cảm nhận tâm trạng anh sao đồng điệu với tâm trạng tôi khi đọc xong chỉ thị của Trung ương: cúng xúc động và bàng hoàng. Lắng đi một lát, anh hỏi tôi: - Cậu đã có dự kiến kế hoạch đi trở ra chưa? - Dạ! Báo cáo anh, tôi đã... Anh kiên nghị hẳn lên và biểu dương liền: Như thế là tốt, nó biểu hiện tinh thần trách nhiệm nghiêm túc và tác phong năng động của một người chỉ huy. Bỗng anh cười vui và bằng một cử chỉ thân mật mà anh đã dành cho tôi trong lần gặp ở nhà khách Quân khu IV bàn chuyện trở ra. - Tao tin mày, mày chuẩn bị kỹ để trình bày trong cuộc họp tỉnh ủy vào sớm mai hoặc sáng ngày mốt. - Báo cáo anh, tôi hứa sẽ làm hết sức mình. Có lẽ vì thời gian đã trở nên khẩn trương, cũng có thể anh tin ở tôi như anh vừa nói, nên anh không thông qua kế hoạch trờ ra mà tôi đã dự kiến. Hai ngày sau đó một cuộc họp Tỉnh ủy được triệu tập do anh Bảy Hữu chủ trì. Tất cả có năm người trong Ban tỉnh ủy bí mật. Anh Bảy Hữu nói vắn tắt lý do buổi họp là để bàn kế hoạch thực hiện điện của Trung ương vừa đánh vào gọi gấp anh Bảy và tôi ra gấp ngoài đó có việc cần (Như thế là anh Hữu cũng rất cảnh giác. Anh nói điện của Trung ương từ Hà Nội đánh vào là để giữ bí mật việc để chỉ đạo phong trào đấu tranh của Khanh Hòa, và cũng là giữ kín nhiệm vụ liên lạc của tôi bấy lâu đã làm, vì trên thực tế công việc của tôi là do trực tiếp anh Bảy Hữu điều hành). Nói lý do xong, anh quay sang tôi và giới thiệu: đồng chí Tư Cụ là cán bộ quân sự, có kinh nghiệm về tổ chức hành quân sẽ trình bày kế hoạch đi trở ra, đề nghị chúng ta chú ý theo dõi, góp ý kiến, làm cho kế hoạch hoàn chỉnh, đạt kết quả tốt trong thực hiện. Không khí cuộc họp trầm lắng hẳn xuống sau khi nghe anh Bảy Hữu nói lý do. Tuy giờ phút chia tay chưa đến mà gương mặt những người họp đã hiện lên cái nét buồn lưu luyến của cả người ở lại và người trở ra. Tôi cũng đang trong tâm trạng như thế. Không dựa vào sổ sách giấy tờ ghi chép trước mà bằng nhập tâm, tôi bắt đầu trình bay ba phương án: - Một là, đi theo đường núi. - Hai là, đi theo đường số 1. - Ba là, đi theo đường biển. Đi theo đường núi Trường Sơn thì an toàn nhưng rất xa, ít nhất phải ba tháng mới tới miền Bắc. Cái khó chính là lương thực ăn dọc đường, có khi không đủ sức mà ra tới đó. Đi theo đường số 1, tuy gần nhưng quá nhiều khó khăn, nguy hiểm, trước hết là làm sao qua được các đồn bót địch và lưới mật vụ của địch nhan nhản trên đường. Đi theo đường biển, tuy có cái khó về sông nước không lường, nhưng dù sao vẫn thuận lợi hơn, nếu như ta có phương tiện vượt biển tốt thì già lắm cũng một tháng có thể cặp bến cảng Cửa Tùng thuộc bờ bắc sông Bến Hải. Đường nào cũng có cái khó, cái dễ. Nếu các anh hỏi tôi ưng cách nào thì tôi chọn phương án theo đường biển là tối ưu nhất. Riêng có ngày giờ xuất phát cụ thể thì như đã thống nhất với anh Bảy Hữu là không trình bày vì đây là vấn đề bí mật của bí mật. Cuộc họp diễn ra trong thuận chiều, ít có vấn đề phải thảo luận. Anh Bảy Hữu sau khi hỏi, không thấy có ý kiến gì thêm, đã kết luận và giao nhiệm vụ cho những người có liên quan xúc tiến chuẩn bị. Anh nói: Để thực hiện được phương án này, đề nghị anh Ch. (tỉnh ủy viên cài cắm ở lại, không đi tập kết) am hiểu tình hình trong này nhiều hơn, quen nhiều cơ sở, ngay sau cuộc họp này về ngay Hòn Hèo cùng bàn với cơ sở của ta ở đó lo việc chuẩn bị thuyền và lương thực, ba ngày sau kể từ cuộc họp này, anh trở lại báo cáo kết quả, để trên cơ sở đó ta quyết định ngày giờ xuất phát cụ thể. Ch. đón nhận nhiệm vụ với một vẻ tự giác và nghiêm túc. Ch. hứa quyết tâm làm bằng được. Chỉ cần hai ngày sau là sẽ có thuyền tốt, có lương thực thuốc men và cả nước ngọt dùng trên một tháng bảo đảm cho chuyến vượt biển của chúng tôi thắng lợi, Sau cuộc họp, tôi đến nơi ở của anh Bảy Hữu. Thấy tôi, anh hỏi có gì cẩn bổ sung thêm? Tôi nói không có vấn đề nào bổ sung mà là báo cáo một kế hoạch hành quân hoàn toàn khác với kế hoạch đã thống nhất trong cuộc họp vừa rồi. Được anh khích lệ tôi lại sôi nổi báo cáo với âm lượng vừa đủ hai người nghe. Tôi nói kế hoạch hành quân theo đường biển chỉ là nghi binh thôi, dù sao qua vụ T. làm phản báo địch lên càn vây khu Đá Bàn khi đoàn ta vừa mới đặt chân đến đây là một bài học cảnh giác vẫn còn mới nguyên. Ta nói đi theo đường số 1 là cực kỳ nguy hiểm để càng đẩy địch vào cái bẫy chủ quan, đinh ninh là ta đi theo đường biển thật. Đường số 1, theo tôi là đường đi ngắn nhất. Vả lại đường này tôi đã đi mấy lần, đã làm quen với một số binh lính và sĩ quan nằm trong hệ thống đồn bót địch bố trí dọc đường, biết được cách đối phó khi có trục trặc xảy ra. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:02:33 am Vì tôi và anh Bảy Hữu đã sống chết có nhau, cùng nhau qua bao thăng trầm trong những ngày đánh Pháp, nên sau khi nghe tôi trình bày, anh chỉ hỏi:
- Đi bằng cách nào, mày? - Dạ! Đi theo phương thức họp pháp. Tôi liền trình bày với anh nội dung của phương thức họp pháp ấy là: Anh đóng vai cha cố, tôi lấy thêm N.T và Nguyễn Sách đóng vai giáo dân để bảo vệ cha nếu có kẻ hành hung, nhưng về hình thức được xem như là các con chiên ngoan đạo đi rước “thầy” về làm lễ cho nhà thờ họ lẻ xa xôi. Vả lại N.T và Nguyễn Sách cũng có đủ căn cước họp pháp như căn cước của tôi và của anh. Sau khi được anh chấp thuận tôi còn nói vui sở dĩ ta chọn cái thế hợp pháp kiểu này là tôi đã ngắm nhìn hình hài anh nếu anh mặc đồ lễ thì giống cha cố một trăm phần trăm, rất hợp với cái gu trong này đang thịnh hành đạo thờ Chúa mà gia đình họ Ngô là những tín đồ ngoan đạo nhất, đang nắm quyền thế ở miền Nam. Về ngày giờ cụ thể, tôi đề nghị anh Hữu là sáng ngày kia lên đường, đi trước một ngày quy định Ch. lên Đá Bàn báo cáo kết quả công tác chuẩn bị. Như vậy ngày N chính thức sớm hơn một ngày so với ngày N nghi binh, để nếu đến ngày đó mà địch phát hiện thì ta đã đi xa, chúng có dăng lưới bủa vây thì đã muộn. Đêm cuối cùng nằm ở Đá Bàn, mặc dầu đã rất tin tưởng ở kế hoạch nghi binh của mình nhưng chúng tôi vẫn chập chờn ngủ thức lẫn lộn. Tôi và anh Hữu cứ nhỏ to tâm sự hết chuyện này đến chuyện khác. Có lúc im lặng hồi lâu và thấy tôi thở dài thì anh Hữu lại lựa lời: - Ta ra để ta lại vào và lần sau thì ở hẳn cho đến ngày thống nhất sẽ ra thăm miền Bắc một thể, - Anh trở mình quay sang phía tôi, ghé sát vào tai tâm sự tiếp - Súng đạn ta còn nguyên được cất giấu ở nhiều chỗ để lần trở lại thứ hai là ta có điều kiện dùng. Trước hết trang bị cho hơn một đại đội đặc công bí mật mà tụi bay đã tổ chức được để anh em có phương tiện trong hoạt động quân sự khi có chỉ thị của Đảng cho tiến hành đấu tranh vũ trang... Nghe anh nói, tôi thấy cái buồn vợi đi và sự phấn chấn lại đến, quên cả mệt. Mặc dầu cách đây năm ngày tôi đã có cuộc gặp họp pháp với tất cả các thành viên trong đội công tác để nắm tinh hình, trao đổi nhiệm vụ và bàn nhiều về phương thức hoạt động khôn khéo, tuyệt đối tránh bộc lộ lực lượng. Con số hơn một đại đội đặc công cơ sở mà đội công tác đã tổ chức được kể từ ngày vào đến nay như thế là đáng khích lệ, trọng tâm bây giờ là phải củng cố, trước hết là phải thường xuyên coi trọng giáo dục chính trị cho anh em. Việc số anh em này muốn thoát ly hoạt động như vậy là tốt, nhưng cũng nhắc nhở anh em kiên trì, không nên nóng vội, mà phải chờ thời cơ, tích lũy lực lượng. Nhưng tôi vẫn thấy thế nào ấy nếu mai đây phải xa anh em, biết bao giờ trở lại. Và nếu khi trở lại thi chắc gì được trở về với chiến trường quê hương đã gắn bó cuộc đời mình ngay từ tuổi ấu thơ. Ngày hôm sau, chờ mặt trời lặn, trời vừa tối là đoàn chúng tôi xuống núi, tập kết tại nhà cô Dã ở thôn Hà Thanh gần kề chân đèo Bánh ít (cô Dã là vợ của Ỷ - một đội viên tin cậy của đội công tác nhận nhiệm vụ trở lại). Theo kế hoạch, cô Dã đã chuẩn bị cho mỗi chúng tôi một cái bánh tễ (như bánh chè lam ngoài Bắc), mỗi cái nặng khoảng một cân làm lương khô ăn đi đường nếu không gặp và không tiện vào hàng quán. Đêm nay, cái đêm mới thật hồi hộp làm sao! Mọi phương tiện cho chuyến đi hợp pháp đã đầy đủ đến mức hoàn hảo mà ai nấy vẫn cứ bồn chồn, thao thức. Kim đồng hồ chỉ đúng bốn giờ sáng là chúng tôi đã sửa soạn tư trang hành lý xong xuôi. Anh Bảy Hữu vừa in trong bộ quần áo kiểu cha cố màu đen quen thuộc, với mũ rộng vành bọc ka ki màu ghi sáng. Bộ râu quai nón không cạo mà chỉ chuốt tỉa chút xíu cho oai, cho đẹp. Nhìn cái dáng vẻ đích thực cha cố trăm phần trăm của anh, chúng tôi càng tin vào cái màn kịch mà anh sắm vai chính sẽ thành đạt. Còn chúng tôi thì lúc này vừa cười vui đến chảy nước mắt, vừa tập thử các đoạn đối thoại sẽ phải dùng trong suốt dặm đường để cho quen: - Trình cha... Công việc chuẩn bị xong xuôi, chúng tôi tạm biệt gia đình cô Dã lên đường khi đằng đông ửng hồng báo hiệu một ngày nắng nóng sắp sửa bắt đầu. Cuộc tạm biệt diễn ra âm thầm mà đậm đà tình cảm. Cô Dã sụt sùi khóc, nhưng vẫn ở trong nhà, không được ra khỏi cổng vì yêu cầu bí mật, vì để bảo đảm an toàn cho chúng tôi - những người ra đi, và gia đình cô - những người ở lại. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:04:39 am Bốn anh em bốn xe đạp rong ruổi đi trên đường số 1 ra hướng Vạn Ninh.
Gió biển ban mai ừong lành thổi vào gây cho chúng tôi một cảm giác dễ chịu. Thanh thản mà vẫn gợi buồn gợi nhớ. Nhớ quê hương và nhớ người thân, nhớ cô Hường, cô Lới. Xin hai cô hiểu cho nỗi lòng con. Không bao giờ con được quên hai cô, con xem hai cô như những người đồng đội của chúng tôi - tạm biệt hai cô trước lúc trở ra là do tình thế không cho phép, yêu cầu giữ bí mật. Rồi đây một tuần, một tháng sau đó, đồng đội của con sẽ lại tin cho cô hay. Tôi lại nhớ, nhớ đến da diết Phạm Đức Ỷ, Phạm Đăng Rơi, Lê Sâm, Phạm Sở, Nguyễn Hòa Hiệp, Lê Sơn Hổ, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Đức Rùa và Nguyễn Ba (chú ruột tôi) là những đồng đội ở lại tiếp tục hoạt động sẽ phải đương đầu với bao khó khăn. Đành rằng bản lĩnh những chiến sĩ mà tôi tin cậy, yêu mến sẽ vượt qua tất cả nhưng sao tôi vẫn cứ muốn cùng ở lại cùng các anh ghé phần vào những thăng trầm mà chắc chắn nó phải đến, vì cuộc chiến đấu của chúng ta với quân xâm lược và bè lủ tay sai là cuộc chiến đấu một mất một còn, cuộc đấu tranh giai cấp mà. Tôi lại thương, thương xót và căm thù khi được tin anh Lê Thanh Liêm, bí thư tỉnh ủy bí mật đã bám trụ, len lỏi đi các nơi chỉ đạo phong trào với bao gian khổ, đói cơm, kiệt sức phát bệnh đã mất tại căn cứ Khánh Sơn; anh Đặng Vinh Hàm, tỉnh ủy viên, cuối năm 1955 về Đồng Bò; anh Nguyễn Lưu, anh trai của nhà thơ Giang Nam, cùng quê Ninh Hòa với tôi, nguyên trưởng ty thông tin tuyền truyền tỉnh Khánh Hòa được cử ở lại bàn giao vùng ta quản lý cho đối phương xong, rồi cùng vợ là chị Tư về quê sống họp pháp đã bị địch ám hại hồi tháng 5 năm 1955... thì tình cảm trách nhiệm trong tôi càng trỗi dậy, thôi thúc tôi phải vô lại cùng đồng đội tôi tiếp tục sự nghiệp mà các anh đang làm dở... Đắm mình trong nhưng suy tư miên man như thế, nên khi qua Đại Lãnh, cần phải chuẩn bị hơi sức để vượt đèo Cả mới hay là mình đã đi được một cung đường khá xa, không còn mấy chốc nữa là tạm biệt đất mẹ Khánh Hòa. Xuống đến chân đèo Cả phía kia là thuộc đất Phú Yên, chúng tôi nghỉ lại ở một quán ăn bên đường để “xốc lại đội hình”, rửa mặt mũi chân tay cho sạch sẽ, sáng sủa; sửa lại quần áo cho phẳng phiu, thẳng nếp để từ đây trở đi chứng tỏ cho khách qua lại trên đường - nhất là qua các đồn bót địch, thấy rằng đây đúng là những con chiên của Chúa đang đi hành hương một cách đàng hoàng về noi đất “thánh” chứ không phải đi từ xa đến. Tôi ăn mặc giống chánh trương giàu có đi sóng đôi với cha; còn N.T và Nguyễn Sách giống như như tín đồ sùng kính, lúc nào cũng có thể “tử vì đạo” đi kế sau phục vụ cha. Cánh đồng Tuy Hòa đang hiện ra trước mặt, người đi lại trên đường tấp nập nhìn chúng tôi vừa có phần lãnh đạm, thờ ơ, vừa nể trọng qua đoán nhận anh Bảy Hữu là cha chánh hiệu, có học, sống đất thị thành đang hạ cô đi về các xứ họ xa để truyền giáo những điều Chúa phán khuyên được ghi trong Thánh kinh. . Cái cảm thụ ngoại giới có chiều thuận lợi ấy khiến mọi người đều thanh thản trong đi tới. Khoảng xế chiều hôm ấy chúng tôi vừa tới đồn Vân Canh, thì bị lính gác ra ngăn không cho đi tiếp. Trong phương án hành quân có tính đến chuyện này nhưng không đặt thành vấn đề quan trọng, càng không nghĩ tới chuyện bị giữ lại vì tôi đã qua nơi đây nhiều lần, quen viên đồn trưởng và đã ba lần vô ngủ nhờ ở nơi đồn này. Tuy sự việc xảy ra hơi đột ngột nhưng tôi vẫn rất bình tĩnh, đến gần tên lính gác nói vẻ hách dịch: Cho gặp đồn trưởng ngay! Vừa lúc đó đồn trưởng Hựu từ trong đồn đi ra. Tôi cúi chào hắn và chủ động bắt tay, rồi rứt thuốc là mời hắn. Chờ cho viên đồn trưởng rít một hơi khoan khoái từ từ phả hết khói ra khỏi cái miệng hơi rộng, tôi mới nói như trách móc: - Sao lính gác lại giữ chúng tôi lại, thưa thiếu úy? - Không được đi vì... - Sao, thiếu úy nói sao? - Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi. Hựu rít tiếp hơi thuốc nữa, rồi băn khoăn thanh minh rằng không phải tại hắn, mà do noi cấp trên: - Đây nè - hắn móc túi lấy ra một tờ giấy nhỏ đọc tiếp - Tỉnh trưởng Phú Yên lệnh gấp cho các ông đồn trưởng đóng dọc lộ 1 không cho bất cứ ai qua lại cho đến khi nào hủy lệnh này vì có bốn tên cộng sản Khánh Hòa đi ra phía ngoài nhưng chưa biết chúng theo ngả nào. Tất cả chúng tôi đều giật mình, nhưng do được chuẩn bị trước nên ai cũng tỏ ra thản nhiên, bình tĩnh. Mọi việc đối phó, đoàn đã ủy nhiệm cho tôi lo liệu. Địch sao lại biết nhanh và thông báo chính xác đến như vậy? Bốn tên cộng sản trùng hợp với bốn “con chiên” của chúa. Viên đồn trưởng liệu có nghi ngờ cái con số bốn trùng hợp này, mặc dầu giữa tôi và hắn đã quen nhau, đã đôi lần nhậu nhẹt lai rai với nhau? Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:05:58 am Giờ đây chưa chắc phải lúc dò tìm nguyên nhân mà cái chính là cần thể hiện một thái độ, một cử chỉ, một sắc mặt ra sao để đẩy lùi được thái độ nghi ngờ của tên đồn trưởng. Anh Bảy Hữu vẫn rất đoàng hoàng từ tốn của một vị truyền giáo, anh hoàn toàn không nói, tỏ ra là người chỉ biết lo phần hồn, còn phần đời, phần xác đã có tôi. Anh đưa mắt nhìn tôi. Hiểu ý anh, tôi đưa mắt nhìn N.T, Nguyễn Sách, truyền tiếp cái chỉ thị của anh - phải thật tỏ ra bình thản - vai kịch đóng trong lúc này càng đạt bao nhiêu càng tạo điều kiện để tôi lo đối đáp vói tên thiếu úy, bề ngoài tỏ ra thơn thớt nói cười, phân bua, nhưng bên trong y có thể đang chăm chú theo dõi chúng tôi, không bỏ qua bất cứ chi tiết nào. Trước sự soi mói của địch, điều trước hết là anh em đừng để cho khuôn mặt mình mất sắc không được thua về tâm lý trước đòn cân não của chúng.
Tên Hựu ôn tồn mới chúng tôi lưu lại đồn để chờ lệnh trên và hắn không quên kiểm tra giấy tờ, hành lý. Không có gì khả nghi. Duy có điều mà hắn phân vân là trong mỗi gói bánh tễ của mỗi người có gì để ở trong ruột không? Đọc được ý nghĩ này của Hưu, tôi chủ động cầm chiếc bánh bẻ đôi, bẻ tư, bẻ sáu để chứng minh với đồn trưởng trong ruột bánh là không có gì, nó đích thực là tấm bánh thanh khiết của những tín đồ ngoan đạo dùng làm lương khô ăn khi nhỡ độ đường. Thực ra trong phần bánh tễ của tôi, trong ruột có đựng các huân chương được Nhà nước tặng thưởng. Đả lường trước sự thể nên khi nắm, tôi để các huân chương đó ở một góc sát cạnh ngoài có đánh dấu, khi phải xử trí như thế này thì cứ thực hiện như trên đã nói, có điều là phải giành ngay quyền chủ động thuộc về mình, nếu để cho địch trực tiếp làm, chắc chắn là chúng phát hiện được. Sau khi biểu diễn “xiếc” thành công, tôi lại gộp sáu miếng bánh ấy lại, nhào nắm như ta nắm cơm để sáu miếng kết dính liền thành một khối bánh vuông góc như cũ, gói lại để trong một cái túi trình trên đồn trưởng, được tên này hài lòng, tôi mang để nó vào noi tập trung hành lý của đoàn do đồn trưởng quy định. Làm như vậy cũng là để lường trước một sự biến khác, biết đâu rất có thể địch tò mò dở ra hoặc lấy cắp để ăn mà tình cờ phát hiện trong ruột bánh tễ của tôi có huân chương cộng sản thì tôi có cớ hợp pháp chối từ thẳng cánh, rằng trước đó tôi đã bẻ bánh thành sáu miếng riêng lẻ rồi cơ mà, đã được đồn trưởng chứng thực là trong bánh không có vật lạ, rằng có kẻ nào đó xấu bụng... Sở dĩ có cái tình tiết rối rắm này, vì do tôi cho rằng những tấm huân chương mà Nhà nước tặng là kỷ vật thiêng liêng, là vật bất ly thân, nên khi được lệnh lên đường tôi bỏ nhiều thứ ở lại, để cho hành lý của mỗi người thật gọn nhẹ, chỉ riêng có cái khoản huân chương thì vẫn mang theo, cùng tôi trở ra miền Bắc. Một ngày trôi qua! Hai ngày trôi qua! Ba ngày trôi qua, đến cái ngày mà tất cả chúng tôi phải sống trong một trạng thái cực kỳ căng thẳng, cái mệt mỏi về tâm trạng quả thực là đáng sợ, nhưng tuyệt đối không để cho địch tìm thấy tín hiệu là chúng tôi lo lắng, băn khoăn. Một cuộc hội ý chớp nhoáng kết thúc vào lúc mười lăm giờ. Tất cả đều nhất trí nếu ngày mai tức là bước sang ngày thứ tư vẫn bị giam lổng như thế này, thì tối đến đành bỏ lại tất cả xe đạp, hành lý, bí mật thoát khỏi nơi đây, thẳng lên phía tây rồi bám theo triền núi Trường Sơn mà đi tới. Thế nghĩa là chúng tôi buộc phải trở lại đi theo phương án một - cái phương án chỉ có nghĩa nghi binh, không được chuẩn bị điều kiện để thực hiện. Nhưng không còn con đường nào khác! Lẽ nào ta khoanh tay ngồi đây - nơi hang hùm miệng rắn để đón nhận tai họa đang đến gần. Trước mắt cứ thoát khỏi nơi đây, tới được bìa rừng. Vừa đi vừa tìm cây trái và củ rừng mà ăn để có sức đi. Nhưng trước khi thực hiện kế hoạch táo bạo này, tôi tự nhú: Thử thể nghiệm một thủ thuật khác may ra có hiệu lực thì ta vẫn đi theo kế hoạch đã vạch. Ngay từ giờ làm việc buổi chiều, tôi tìm cách xáp vô đồn trưởng, chuyện trò bình thường với một vẻ mặt thật thản nhiên, coi cái việc bắt giữ, săn tìm cộng sản ấy cứ như chuyện trên trời dưới biển, chuyện của mấy ông chức quyền, không có liên quan, ảnh hưởng gì đến chúng tôi những tín đồ chỉ biết có Chúa với viên dồn trưởng chỉ như cái máy thừa hành. Vốn đã đôi lần chạm ly trước, thấy tôi hào phòng, chịu choi, nên khi ngỏ lời mời y đi nhậu, thì hắn nhận lời liền. Bữa nhậu hôm ấy quả thật là lai rai hết cỡ so với các lần gặp hắn trước đây. Nhưng tôi đã có cách chuốc hắn một cách kiềm chế, không để cho hắn say, như thế sẽ lỡ việc, mà ở trạng thái có say có tỉnh. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:08:17 am Trên đường trở về đồn, tôi bắt đầu bằng chuyện tình cảm.
- Tôi quả thật có lỗi với thiếu úy! Đã qua lại đây nhiều lần, lại được thiếu úy ban cho ân huệ vô đồn ngủ qua đêm để tránh nguy hiểm. Vậy mà mãi hôm nay mới biết thiếu úy có ba bà với gần một tá sắp nhỏ (thực ra biết chuyện này từ lâu) - tôi thở dài và ân hận rồi lại tiếp tục với khẩu khí của người giàu sang - nếu bịết sớm gia cảnh khó khăn này tôi sẵn sàng kính biếu thiếu úy một ngân phiếu... nhưng hôm nay chỉ còn... - vừa nói tôi vừa móc túi lấy số tiền 2.000 đồng ấn vào tay hắn và nói - xin thiếu úy nhận đây là tấm lòng thành của tôi, một thương gia quê gốc Nha Trang. Hựu cầm luôn và không quên lịch thiệp: - Xin cám ơn sự đồng cảm của ông đối với gia cảnh của tôi! Thế là cá đã cắn câu nhưng mồi còn nhỏ. Biết có thể làm ăn được, tôi lựa lời: - Chu chà! Đã ba ngày sống ở đây rồi đó! - Tôi thở dài ngao ngán làm ra vẻ khách quan - Tôi tuy là rất khó chịu nhưng dù sao đã quen, duy chỉ có thầy cả (chỉ anh Bảy Hữu) thì đã sinh bệnh vì từ nhỏ đến giờ thầy đâu có thấy cảnh sống này bao giờ! - Cha mắc bệnh gì? - Viên đồn trưởng hỏi lại với vẻ ngạc nhiên và có phần lo lắng. - Vì ăn ở thế này, cha đâu có quen. Người đau bụng và bắt đầu đi kiết. Cứ như thế này tôi e bệnh tình của cha sẽ tăng lên và rất có thể lây lan ra cả khu đốn binh của thiếu úy, bệnh kiết ly mà! - Tôi cố tình nhấn thêm cái câu cuối này để tăng sự nghiêm trọng của vấn đề, đánh vào tâm lý sợ bệnh ly của y. Tên thiếu úy bỗng sững lại có phần hoi xiêu lòng hỏi tôi: có cách nào vượt qua được không ông? Tôi cũng đứng lại và tỏ vẻ đăm chiêu suy nghĩ kèm theo cả thở dài, lí nhí nói với mình: chà gay quá! (Tất nhiên là tôi có thể Bói ngay cái ý định tiếp theo đã được sắp xếp trong đầu, nhưng như thế không có lợi). Cái yên lặng này trôi nhanh, tôi vẫn tiếp tục làm ra vẻ bị động để trình bày một thiển nghĩ cúng rất khách quan: Tôi biết việc không cho bất cứ ai đi xa là thiếu úy thi hành lệnh của trên. Nhưng nếu đi gần, chẳng hạn như cho phép chúng tôi đưa cha đến các nhà thờ quanh đây để cha có nơi ăn ở hẳn hoi, bệnh tình cắt giảm thì thiếu úy có thừa quyền ký giấy. - Được! Cái đó thì tôi có quyền, - vừa nói viên thiếu úy vừa lấy giấy bút trong túi ra - để tôi viết liền cho ông ngay. - Dạ cám ơn! Hắn sắp sửa viết, tôi tiến công tiếp: - Xin thiếu úy cứ ghi ngắn thôi, không cần dài. Chỉ nói là cho phép đi các nhà tờ, thế là đủ. Đang say, say cái được tôi đối xử lịch thiệp, thả sức khi nhậu nhẹt; sau khi tôi đề cao quyền lực của một đồn trưởng, nên chẳng còn có thì giờ đâu mà nghĩ suy ỷ tứ lợi hại, hắn hoàn toàn ghi đúng như lời tôi đề nghị: Được phép đi các nhà thờ. Dưới ký tên thiếu úy đồn trưởng đồn Vân Canh: Nguyễn Đức Hựu. Cuộc sống bao giờ cũng ưa cụ thể. Nhưng không phải bất cứ cái chung nào cũng không có tác dụng. Được phép đi đến các nhà thờ. Cái từ chung chung không xác định cụ thể một không gian nào đó giờ đây lại là một thuận lợi rất cơ bản đối với chúng tôi. Đi đến các nhà thờ có thể hiểu là các nhà thờ quanh phạm vi đồn Vân Canh, cũng có thể xa hơn. Trước mắt, chúng tôi có giấy tờ ra khỏi Vân Canh - nơi địch đang giam giữ. Chỉ cần phút giây khi chúng tôi ra khỏi đây, lúc đó bọn mật vụ có cho tên phản bội nào đó đến nhận diện để bắt chúng tôi thì đã muộn, có trời mà tìm. Còn ra khỏi Vân Canh đến bất cứ nơi nào tiếp sau đó, địch hỏì thì chúng tôi cứ chìa cái “bùa hộ mệnh” này ra mà lòe mà đấu càng nâng cái tầm quan trọng bao la của một phái đoàn truyền giáo, có quyền đi khắp miền Nam. Cầm trong tay tờ lệnh, tôi cúi đầu lễ phép cám ơn đồn trưởng và binh thản cất nó tên túi áo sơ mi mặc trong, cài khuy cẩn thận mà tôi cứ sợ nó rơi, nó vô tình tuột khỏi nơi mình. Sờ lại lần nữa, thấy nó vẫn nằm kín trong túi ngực, tôi sung sướng muốn reo lên: Thằng ngốc ơi! Mày đã thả hổ về rừng. Nhưng tôi kiềm chế cái phấn khởi ấy lại, giữ nét mặt như chưa thỏa mãn để muốn xua tan cái gì khả nghi vẫn đang còn đọng lại trong đầu óc tên đồn trưởng, để cho công việc của chúng tôi được trót lọt. Tôi đi nhanh về báo cáo với anh Hữu: - Có giấy tờ rồi anh à! - Giấy tờ gì? - Anh đọc coi. Anh Hữu đọc nhanh, mắt anh sáng lên, nhưng sau đó lại giữ dáng vẻ một vị linh mục đang bất bình vì cái chính quyền này xúc phạm người thay mặt “Chúa” quá nhiều. Song bên trong lại bật dậy tất cả cái tinh hòa của một đồng chí bí thư tỉnh ủy đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động vùng địch hậu. Anh chỉ thị chuẩn bị sẵn sàng, sớm mai lên đường. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:09:58 am Làm ra vẻ bất cần, đêm hôm ấy chúng tôi đi ngủ sớm, riêng thầy cả thì tiếng rên rầu rĩ càng được gia tăng để đánh vào cái lý cầu an sợ lây bệnh của viên đồn trưởng. Nói là ngủ sớm, nhưng chúng tôi ghé vào tai nhau, thì thầm căn dặn những điều rán chú ý ngày mai khi cuộc hành quân lại tiếp tục. Đoàn đường nằm trên vùng tự do của Liên khu V cũ, nên ngoài những vọng gác công khai ra, địch còn bố trí nhiều vọng gác bí mật, lẩn cả vào hành khách đi trên đường để theo dõi từng cử chỉ, nội dung nói chuyện của người đi trên đường, qua đó chúng có thể phát hiện ra ai là người dân, ai là cộng sản giả dạng. Vì thế tôi lưu ý mọi người là chấp hành nghiêm các quy định về nội dung nói chuyện trên đường. Chỉ được nói chuyện làm ăn, chuyện thờ Chúa, thỉnh thoảng tung màn khói sợ cộng sản nữa.
Qua mỗi bót gác, địch đều chặn và đòi xét giấy. Nhưng khi xem giấy có họ tên, cấp bậc, chức vụ của đồn trưởng Vân Canh cấp cho đi hành nghề tôn giáo, thì chúng tôi lại được trả lại giấy và lính gác cho đi ngay. Cứ thế đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình theo đúng kế hoạch đã vạch. Có hai lần vẫy xe nhà binh (quân đội ngụy) đều được họ cho đi nhờ. Chúng tôi vượt sông Bến Hải vào lúc trời nhá nhem tối, ngủ lại ở một nhà cơ sở, sáng mai đi thật sớm, tránh lộ liễu không cho ai biết chúng tôi từ bờ nam con sông này để trở ra Bắc. Cuối tháng 2 năm 1956 chúng tôi ra tới Hà Nội. Anh Hữu trở về cơ quan Trung ương Đảng, tôi, N.T, Nguyễn Sách về lại tiểu đoàn 323 trước sự đón tiếp vồ vập của mọi người. Do chấp hành tốt nguyên tắc bí mật, anh em ở nhà đều coi chúng tôi là những người đi công tác xa trở về chứ không biết là chủng tôi vừa mới từ Khánh Hòa trở ra. Cuối năm 1957, Phạm Đức Ý đến Xuân Mai thăm tôi. Đây là cuộc gặp gỡ mà cả hai người đều bất ngờ đến sửng sốt. Vừa chợt thấy, Ý đâ chạy đến ôm chầm lấy tôi, cứ thế sụt sùi khóc hoài khóc mừng thấy tôi vẫn còn sông. Còn tôi cũng vậy, hai mắt cứ ứa lệ vì được gặp lại Ý, người đồng đội chí cốt của mình đã từ Khánh Hòa lặn lội suốt một năm trời ròng mới ra được tới miền Bắc thân yêu. Đêm hôm đó chúng tôi nằm chung một giường, chùm chung một chăn, thả sức hàn huyên. Qua Ý, được biết nguyên nhân chúng tôi bị địch giữ lại ba ngày ở đồn Vân Canh là do có sự phản bội của Ch., một tỉnh ủy viên được cử ở lại nằm vùng tiếp tục hoạt động sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Như trên đã kể cùng bạn đọc, trong cuộc họp tỉnh ủy ở căn cứ Đá Bàn để bàn kế hoạch tổ chức cho anh Bảy Hữu và tôi trở ra Bắc theo chỉ thị của Trung ương, Ch. được giao nhiệm vụ trở về Hòn Hèo lo phương tiện vượt biển cho chúng tôi. Ở cuộc họp, Ch. tỏ ra sốt sắng và hứa sẽ làm tốt nhiệm vụ được giao. Nhưng đây chỉ là một hành động giấu mặt, một cử chỉ lấy lòng, chứ thực tế thì y nhân cơ hội này đã thông đồng với địch một âm mưu “cất vó” chúng tôi. Song cái mưu đen đó đã thất bại (vì vượt biển chỉ là kế hoạch nghi binh), địch quay ra nghi ngờ những tin tức mà Ch. mật báo. Để chứng tỏ cái kiếp người làm chó săn, Ch. dẫn địch đến bắt Ý và chú Ba tôi mang về nhà lao giam giữ, đánh đập, tra tấn rất dã man, hòng tìm tung tích chúng tôi. Nghe đến đây, tôi vừa buồn căm vừa mừng vui. Buồn căm vì trong hoạt động cách mạng đã không sàng lọc kỹ để cả hạt lép, hạt thối. Nhưng cũng thật mừng vui là đã chiến thắng với một kẻ địch nham hiểm. Đúng là trong lúc họp bàn, chưa ai nghĩ Ch. đã phản bội. Nhưng do ý thức cảnh giác đã trở thành tiềm thức, thành bản lĩnh của người chiến sĩ hoạt động độc lập ở vùng hậu địch đã nhắc nhở chúng tôi như một thói quen, một phản ứng tự nhiên mỗi khi hành động đều phải cân nhắc, phải ngó trước nhìn sau; kế hoạch hoạt động phải kín kẽ, dự liệu tất cả các tinh huống, các chiều thuận lẫn chiều nghịch của nó. Dũng phải có mưu thận trọng phải có quyết đoán là mối quan hệ không thể tách rời làm thành tư chất của mỗi chiến sĩ đặc công. Chính Ch. con chó săn lợi hại trong vụ việc này cũng hoang mang hơn ai hết, y không sao xác định được chúng tôi ra Bắc thật hay đây chỉ là tung tin hỏa mù để chúng tôi vẫn cứ ở trong này. Nếu chúng khẳng định chúng tôi đi theo đường số 1 thì chắc chắn chúng tôi không thoát khỏi đồn Vân Canh. Nghe Ý kể, tôi càng mến thương và cảm phục tấm lòng son sắt, kiên trung của anh. Cái đêm trước khi lên đường, chúng tôi đã tập kết ở nhà Ý để chuẩn bị lần cuối. Ý biết rất rõ ngày giờ đường đi và cách thức đi của chúng tôi. Nhưng vì trách nhiệm rất cao với đồng đội, Ý ráng chịu đòn thù, giữ trọn lời thề danh dự của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, đã không để lộ một tí gì về kế hoạch chúng tôi đi. Không khuất phục kẻ thù, Ý đã vượt ngục một mình thẳng hướng ra Bắc. Cuộc hành trình thật gian lao vất vả... Đói cơm, thiếu nước, lúc đi hợp pháp thênh thang trên các trục đường, lúc đi bất họp pháp chui lủi, cắt rừng, len lỏi băng qua các đồi cây lúp xúp ở vùng giáp ranh... Ý đã vượt qua tất cả để tìm về với đồng đội, tiếp tục nhận nhiệm vụ. Nãm 1965, ý cùng với lớp chiến sĩ đặc công thuộc thế hệ trẻ năng động vượt Trường Sơn trở lại chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Tại đây, Ý đã tỏ ra một chiến sĩ đặc công già dặn, có bản lĩnh để cùng với đồng đội đối mặt với quân thù. Và Ỷ đã hy sinh khi anh đang độ chín của một người chỉ huy có nhiều triển vọng. Tôi thực sự xức động khi được tin anh hy sinh, bởi không ai muốn có sự mất mát này! Nhưng tôi lại có quyền mãi mãi tự hào đã có một người đồng đội như anh - Phạm Đức Ý, cho đến giờ phút cuối cùng của đời mình vẫn gắn bổ với binh chủng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Binh chủng sẽ ghi công anh, đồng đội sẽ mãi nhớ anh - một trong những người đóng góp xứng đáng của mình vào sổ vàng truyền thống của Binh chủng Đặc công. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:17:40 am Ở mặt trận tây nam Sài Gòn I Vào những năm đầu của thập kỷ sáu mưoi, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, cả miền Bắc nước ta hăm hở bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với một niềm tin thật mãnh liệt. Nhưng ở miền Nam đế quốc Mỹ lại nhảy vào thay chân Pháp, chủng dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. hò hét lấp sông Bến Hải, chuẩn bị “Bắc tiến”. Nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam đang đặt ra những vấn đề cấp bách. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo lực...”. Cũng bởi có tầm nhìn xa của Đảng mà ngay từ những ngày đầu ra Bắc tập kết, tất cả các cán bộ, chiến sĩ đặc công được lệnh thu gom, tổ chức thành hai tiểu đoàn hoàn chỉnh: - Tiểu đoàn đặc công thứ nhất mang phiên hiệu số 5 do anh Tạ Văn Tạo làm tiểu đoàn trưởng gồm các chiến sĩ quê Nam Bộ. - Tiểu đoàn đặc công thứ hai mang phiên hiệu số 323 do anh Châu Khải Địch làm tiểu đoàn trưởng gồm các chiến sĩ quê ở Khu V. Lúc đầu một số chiến sĩ đặc công của tiểu đoàn 5 chuyển ngành ra ngoài tham gia xây dựng kinh tế, nhưng sau đó được lệnh trở lại quân đội tham gia huấn luyện theo yêu cầu mới một cách có hệ thống để trở lại chiến trường quen thuộc - chiến trường B.21 Những hoạt động của các đơn vị đặc công tập kết ra Bắc hàng ngày cũng huấn luyện, diễn tập dã ngoại như các đơn vị khác trong toàn quân; cũng thi đua xây dựng quân đội theo phương hướng tiến lên chính quy, hiện đại với đối tượng tác chiến mới; nhưng mọi hoạt động trên đều bám sát theo yêu cầu của chiến trường. Năm 1960, sau khi tiểu đoàn đặc công 323 lên đường theo tiếng gọi sôi động của chiến trường Khu V và Tây Nguyên, Bộ liền chỉ thị thành lập gấp tiểu đoàn đặc công 30. Tôi được chỉ định giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này với nhiệm vụ: Sau khi huấn luyện xong sẽ cùng tiểu đoàn vào Nam chiến đấu. Ngoài nhiệm vụ chung, chúng tôi còn có nhiệm vụ phối hợp cùng các đơn vị bộ binh đánh bại cái gọi là chiến thuật “thiết xa vận” mà Mỹ đang thi thố ở chiến trường B.2 và vùng đồng bằng Khu V. Được định hướng rõ ràng, chúng tôi khẩn trương bắt tay vào việc. Tôi dẫn một bộ phận lên vùng gò đồi thuộc tỉnh Vĩnh Phú, học cách sử dụng xe tăng (chủ yếu là học lái). Bộ phận thứ hai theo đường sô 5 xuống Hải Phòng học cách nhảy tàu lửa và cắt toa. Phần vì trách nhiệm gương mẫu của người chỉ huy, phần vì tuổi trẻ hăng hái, ham hiểu biết, mong đạt điểm cao trong học tập để được đi chiến đấu, chứ không muốn ở lại làm nhiệm vụ huấn luyện, nên tôi rất chăm học, ham thực hành. Ngoài học lái tăng, tôi tranh thủ học cả lái ô tô. Khi đã bập bẹ biết điều khiển cho xe lăn bánh, thì hễ trông thấy xe nào đỗ là chỉ muốn trèo vào buồng lái, mở khóa, rú ga cho xe chạy. Do sự quá hăng hái đó mà một chuyện đã xảy ra. Tôi đã lái chiếc xe xi-tec ra sông lấy nước, do chưa có kinh nghiệm đã để xe lao đầu xuống bến. Đầu xe chúi xuống bắt đầu ngập nước nhưng tôi vẫn tỉnh táo nhanh chóng quay thật mạnh cho phần kính ở hai cửa buồng lái tụt xuống để nước ngoài tràn vào ca bin. Đợi cho mực nước trong buồng lái và ngoài sông bằng nhau, tôi nằm ngửa rồi từ từ lách đầu ra khỏi buồng lái. Anh em đứng trên bờ đang hồi hộp theo dõi tôi một cách lo lắng, nhưng vừa thấy tôi nhô lên khỏi mặt nước, cạnh thành phải của ô tô, thì tất cả hân hoan reo mừng. Anh em đã khen tôi lanh trí, nếu để chậm, áp suất nước bên ngoài tăng lên, lúc đó có muốn mở cửa kính cũng đành chịu. Và như thế chẳng khác nào tự mình ngồi trong cái máy lặn mà không có dưỡng khí, tránh sao khỏi chết ngạt trước khi no nước. Bài học này đúng là chẳng ai lên lóp giảng giải, mà chỉ là ngồi nghe lỏm kinh nghiệm của anh em lái xe truyền cho. Chỉ một thời gian ngắn, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 30 đã vượt qua bao khó khăn của thời tiết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện để sau đó - vào cuối năm 1961, tất cả đều thanh thản và tự tin nhận lệnh lên đường. Riêng tôi chưa được lệnh lên đường cùng anh em mà phải ở lại tiếp tục công tác huấn luyện đợt mới. Mỗi lần kết thúc huấn luyện, tiễn đưa đồng đội lên đường là trong tôi lại trỗi dậy cái tình cảm bồi hồi, xao xuyến! Mỗi lần cán bộ, chiến sĩ đặc công nhận lệnh bổ sung cho tiền tuyến lớn miền Nam, thì mối quan hệ giữa người ra đi và người ở lại càng khăng khít thêm lên, trách nhiệm thêm lên. Giữa nhiệm vụ chiến đấu ở trong đó với nhiệm vụ xây dựng - huấn luyện ở ngoài này cứ thế mà gắn bó thúc đẩy nhau tiến lên, như có một thỏa thuận giao ước thi đua ngầm. Mỗi bước đi, mỗi thắng lợi, mỗi thăng trầm nào trong đó, kể cả những biến thiên của cá nhân (ai vào đó phát triển thuận lợi, ai gặp khó khăn chung và cả chuyện riêng tư; ai còn, ai mất...) đều được đưa ra trao đổi với ngoài này bằng nhiều con đường thông tin liên lạc. Ngược lại, những nét phát triển mới về chiến thuật, kỹ thuật, về trang bị vũ khí dù nhỏ cũng được thông báo vào trong ấy. --------------- 1. Từ Bộ dùng trong tập sách này chỉ Bộ Tổng Tham mưu. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:20:08 am Ngày ấy, vào các năm 1960 - 1965, bạn đọc có lúc phấn khởi khi đọc báo, nghe đài được biết “Quân giải phóng miền Nam” đánh thắng giòn giã trận Tua Hai (Tây Ninh); phá nhà hàng Mỹ Cảnh (Sài Gòn) nơi nhân viên tình báo Mỹ (CIA) đang tới đó ăn nhậu. Còn với chiến sĩ đặc công chúng tôi lại phải có nhiệm vụ hiểu rõ các tình tiết của những trận đánh này. Chẳng hạn, ngoài bộ binh ra, còn có đại đội 60 đặc công của Đông Nam Bộ tham gia trận đánh Tua Hai, trong đó tổ ba người do Ngô Minh Trị1 - một chiến sĩ đặc công đã sử dụng thành thạo kỹ thuật tác chiến đặc công đánh trúng vào sở chỉ huy trung đoàn 5 thuộc sư đoàn 7 ngụy. Chúng tôi không dừng lại ở con số thắng lợi như 400 địch chết, bị thương, 1.000 địch phải ra hàng, ta thu được hơn 1.500 súng các loại, mà phải biết nó ở góc độ nghiên cứu. Chúng tôi đã chụm đầu vào nhau trên tấm bản đồ quân sự tỉnh Tây Ninh mà tìm hiểu, suy nghĩ thực chất của các diễn biến, nhờ đó đã có được những kết luận đầy hứng khởi, có ý nghĩa đối với sự phát triển trưởng thành của binh chủng; Đặc công kết hợp với bộ binh có thể tiêu diệt gọn căn cứ cỡ trung đoàn địch. Cũng vẫn lượng thông tin từ chiến trường gửi ra qua làn sóng điện, chúng tôi biết: Huỳnh Phi Long, một chiến sĩ biệt động Sài Gòn đã có công đầu trong nhiệm vụ đánh nhà hàng Mỹ Cảnh ngay trên sông Sài Gòn, nơi mà bốn bề được địch canh phòng cẩn mật. Cùng với các chiến sĩ đặc công, còn phải kể đến công sức âm thầm mà cụ thể của người thứ hai, đó là một bà má nghèo bán quà rong trên đoạn đường Bạch Đằng hôm ấy (30-3-1965). Bà má đó đã nhận chứa trái mìn hẹn giờ nhằm che mắt địch, tạo điều kiện cho Huỳnh Phi Long hoàn thành nhiệm vụ. Sự kiện được giấu kín, báo chí hồi đó không đưa tin, nhưng nhiệm vụ của chúng tôi lại phải hiểu nó một cách rạch ròi, tỉ mỉ, để từ đó mà xây dựng nghệ thuật tác chiến của đặc công - không thể tách rời nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nghệ thuật đó là phải có lòng dân, phải xây dựng thế trận ngay trong lòng dân. Không dựa vào dân, không có dân ủng hộ thì kỹ thuật chiến thuật đặc công dù có hoàn hảo đến đâu cũng khó mà phát huy hết tác dụng.
Trong những ngày tháng này, những suy nghĩ, những hành động hàng ngày của chúng tôi nhất nhất đều gắn bó với các hoạt động sôi động của chiến trường. Sau khi thành lập trung đoàn 426 đặc công chúng tôi đã nghĩ ngay đến việc huấn luyện như thế nào đây, để khi anh em vào trong đó là chiến đấu được ngay, hạn chế đến mức thấp nhất những xa lạ, ngỡ ngàng. Với cương vị trung đoàn trưởng, tôi trăn trở suy nghĩ và nêu ý kiến trao đổi trong các cuộc họp của Ban chỉ huy trung đoàn. Phải kiên quyết huấn luyện sát với thực tế sôi động của chiến trường, tạo điều kiện cho mọi người ngay từ giờ làm quen với đặc điểm địa hình trong đó, vì đây là trung đoàn đặc công đầu tiên mà hầu hết cán bộ, chiến sĩ quê ở miền Bắc. Được cấp trên chấp thuận, chúng tôi đưa tiểu đoàn 1 do đồng chí Hoàng Đắc Cót làm tiểu đoàn trưởng, Mai Văn Thoạn làm chính trị viên, về thôn Hoàng Gián thuộc huyện Đông Triều (Quảng Ninh), noi có địa hình na ná như Đông Nam Bộ; sông Đạm Thủy cũng quanh co uốn khúc giống như sông Bé, vùng đồi Đông Triều thấp thoáng cảnh sắc vùng núi Cậu (Dầu Tiếng); tiểu đoàn 5 do Nguyễn Văn Bào làm tiểu đoàn trưởng, đưa về chân đèo Mông (Kim Môn, Hải Hưng), vì ở đây cảnh vật mang dáng dấp vùng Thanh Quít, Cầu Đỏ, ngoại thành Đà Nẵng; tiểu đoàn 3 do Tạ Hiên làm tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Văn Minh làm chính trị viên được đưa về đứng chân ở vùng Gốt - Miến Môn, nơi có làng mạc, đồng ruộng, đồi núi đất đá xen kẽ hao hao giống một vùng nào đó của Trung - Hạ Lào... Biết rằng làm như thế là có nhiều đẻ số trong lãnh đạo, chỉ huy điều hành tiến độ huấn luyện, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm và chủ động triển khai thực hiện, vì thấy nó có lợi nhiều mặt, nhất là có điều kiện huấn luyện sát gần với không gian chiến trường mà sau này anh em sẽ đến. Trong quá trình huấn luyện, chúng tôi lại dựa vào các nhật ký chiến lệ từ chiến trường gửi ra mà cấu tạo đồn bót địch, xây dựng nội dung tưởng định có những nét rút ra từ các trận Núi Thành, Điện Ngọc (Khu V), Phước Long, Núi Cậu, Cần Đâm (Đông Nam Bộ) để anh em thực hành kỹ thuật tiềm nhập. Nhờ đó đã gây được tinh thần hào hứng, hăng say trong học tập, nâng cao lòng tin vào khả năng chiến đấu của mọi người. Mặc dù sống trong hoàn cảnh hòa bình trên miền Bắc, nhưng ngày ngày chúng tôi vẫn rèn luyện nếp sống chiến đấu, hòa nhập với chiến trường, tự giác chịu đựng những điều kiện khắc nghiệt trong huấn luyện, hành quân, sinh hoạt. Tất nhiên trong chúng tôi không phải không có người băn khoăn suy tính, nhưng số đông vẫn rất điềm tĩnh, thanh thản và tự tin. Từ buổi lên đường vào Nam làm nhiệm vụ tiền trạm của các chiến sĩ đặc công khởi hành vào một sáng tháng 7 năm 1955, hàng năm có những chuyến đi tiếp nối đông thêm2 với một trọng trách thật nặng nề mà cũng rất rõ ràng - đối mặt với một kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quốc phòng mạnh nhất trong phe đế quốc và có nhiệm vụ phải thắng chúng, và ai cũng biết trước là sẽ hy sinh, gian khổ, đói khát, bệnh tật, nhưng không một ai trù trừ. Từ miền Bắc vào, họ đã góp phần phát triển lực lượng đặc công theo cấp số nhân, có mặt ở hầu khắp các chiến trường. ------------------ 1. Năm 1965, Ngô Minh Trị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. 2. Một vài con số bộ đội đặc công đã chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam: 1961 và 1962: 1.122 người; 1965-1966: 3.200 người; 1967: 4.364 người; 1968: 4.224 người v.v... Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 02:24:10 am II Năm 1967 là một năm cự kỳ sôi động. Oét-mo-len, tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam đã gửi gắm tất cả niềm hy vọng của ông ta vào cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai. Mà hướng chính của cuộc phẩn công này là chiến trường Đông Nam Bộ. Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty - một cuộc hành quân lớn nhất từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1967 vào chiến khu Dương Minh Châu với bảy lữ đoàn Mỹ, hai chiến đoàn ngụy nhằm diệt cơ quan đầu não, diệt chủ lực của ta, triệt phá toàn bộ kho tàng căn cứ của ta và phong tỏa biên giới đã bị thất bại. Lực lượng đặc công bằng các hoạt động tác chiến độc lập, bằng phối họp với các đơn vị bộ đội bộ binh đã góp phần cùng quân dân Đông Nam Bộ đánh bại cuộc hành quân chiến lược của địch như đã đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất phá 260 máy bay; vào sân bay Biên Hòa phá 184 máy bay; và vào các sân bay trực tiếp phục vụ các cuộc hành quân, các căn cứ Dầu Tiếng, Lai Khê, tổng kho Long Bình v.v... Sau thắng lợi đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của địch, Trung ương họp, tiếp đến Bộ Chính trị họp quyết định chuyền cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới. Cả miền Bắc hướng ra chiến trường. Quyết định của Trung ương và Bộ Chính trị như một tiếng kèn xung trận thôi thúc. Binh chủng Đặc công được thành lập theo chỉ thị của Bộ đã tăng cường thêm lực lượng vào chiến trường- 2.563 cán bộ, chiến sĩ được tổ chức thành đội ngũ lên đường, chủ yếu là vào chiến trường B.2. Anh Cao Pha, phó tư lệnh binh chủng đi chiến trường Đường 9, anh Nguyễn Đức Trúng, tham mưu trưởng đi chiến trường B.3 (Tây Nguyên), anh Nguyễn Tư, phó tham mưu trưởng đi chiến trường Trị - Thiên - Huế... Những ngày này trong binh chủng Đặc công, không khí lên đường đi chiến trường đã thực sự trở thành những ngày hội. Mãi sau ngày 2 tháng 9 năm 1967, tôi mới được lệnh lên đường vào Nam chiến đấu. Thế là điều mơ ước đến cháy bỏng trong tôi đã được thực hiện - mong ước được trở lại chiến trường. Không một vấn vương, bịn rịn nào níu kéo đối với lần lên đường này, đã hơn mười năm tập kết ra Bắc tôi vẫn sống độc thân. Suốt khoảng thời gian dài ấy, tôi và những động đội của tôi đã thực sự sống một cuộc sống mong đợi, bởi ngày đêm tiếng gọi của chiến trường cứ hối thúc đối với những người con miền Nam (trong đó có tôi, đến lúc ấy vẫn còn ở lại miền Bắc). Đi theo đường nào, bằng phương tiện gì? Đó là công việc của trên, do trên quyết định, mà cá nhân chỉ có nhiệm vụ nghiêm chỉnh chấp hành. Nhưng về phần mình, tôi phải chuẩn bị phương án khó khăn nhất, phải' sẵn sàng mọi thứ cho hành quân bộ, theo con đường “xẻ dọc Trương Sơn”, kể cả việc chiến đấu với địch mở đường mà đi. Nhưng không hiểu vì sao lúc này tôi lại mơ về một cuộc hành quân bằng xe đạp như tiểu đoàn 1 đặc công đã thực hiện hồi đầu năm 1967 mà tôi được chứng kiến. Hôm ấy vào một buổi sáng tháng Giêng, tiết trời bỗng rét đậm vì có đợt gió mùa đông bắc bổ sung, từ thông Hoàng Gián (Đông Triều) toàn tiểu đoàn hành quân bằng xe đạp, ngược đường 18 lên Phả Lại, qua Bắc Ninh xuôi về hướng Nam. Lúc ấy không quân Mỹ đang đánh phá miền Bắc rất dữ, hầu hết các cầu phà đều bị bom đạn Mỹ phá hỏng. Trong tình hình ấy, hành quân bằng xe đạp có vẻ an toàn, vừa cơ động. Nhưng cũng có trục trặc xảy ra. Đó là một đại đội trưởng của tiểu đoàn này đi xe chưa thạo, nên ngày đầu va quệt, ngã bị thương phải vào nằm viện. Bài học rút ra là do giản đơn, chủ quan, cho xe đạp không có gì phức tạp, ai cũng đi được nên không chú ý kiểm tra nhắc nhở mọi người phải tập luyện thật tốt trước lúc lên đường. Tôi đang suy nghĩ chuẩn bị về chuyến đi sắp tới thì Bộ gọi lên phổ biến: Chuẩn bị sẵn sàng cùng đi với anh Phạm Hùng... Tôi chưa hiểu thế nào thi đồng chí đại diện của Bộ đã giải thích và nói rõ thêm: - Đồng chí Phạm Hùng, ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ. - Ngừng một lát, đồng chí đại diện Bộ hạ giọng vừa như tiết lộ bí mật riêng với tôi, vừa cố ý nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyến đi - Anh Phạm Hùng vào trong đó phụ trách Bí thư Trung ương cục thay anh Nguyễn Chí Thanh vừa mới mất... Tôi thật xúc động khi thấy được tính chất quan trọng của chuyến đi. Tuy các anh trên Bộ không giao nhiệm vụ nhưng tôi tự ý thức được rằng, mình phải có trách nhiệm bảo vệ anh Phạm Hùng suốt chặng đường, mặc dầu lúc ấy chưa được trên phổ biến ngày giờ và cách thức đi như thế nào. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:32:25 pm Hai hôm sau trên điện xuống Bộ tư lệnh binh chủng, nhắc tôi chuẩn bị gấp các thủ tục để đi làm hộ chiếu. Nhận điện xong, tôi thấy mình ngỡ ngàng, khó hiểu. Bởi nói đến hộ chiếu là nói đến việc đi nước ngoài, nói đến công tác ngoại giao, điều không bao giờ tôi nghĩ tới. Nhưng rồi mọi suy đoán không tìm ra đáp số đã được các anh ở trên giải đáp liền sau đó: xin cấp hộ chiếu là để tạo điều kiện cho tôi đi theo đường công khai, hợp pháp bằng phương tiện máy bay. Tất nhiên sẽ phải vòng vèo qua một số nước rồi mới đến B.2, dù sao cũng nhanh gấp nghìn lần nếu hành quân bộ theo đường Trường Sơn. Đại để là như vậy, còn cụ thể phải làm gì, đi đường nào, sẽ có hướng dẫn sau, anh khỏi lo.
Thế là tôi đã thực sự yên tâm, một thứ yên tâm xen lẫn bồn chồn, chờ đợi cùng với những lo lắng. Ba ngày sau khi làm xong hộ chiếu, chiếc xe com-măng-ca đưa tôi thẳng đến sân bay Gia Lâm vào một buổi sáng dịu mát, bầu trời trong xanh. Dấu vết bom đạn Mỹ vẫn hằn trên mặt sân bay, trên các tấm mái tôn của nhà chờ, lỗ chỗ nhiều vết đạn, tạo thành những hoa nắng hình tròn lung linh in xuống nền nhà. Thoáng có bóng người đi lại, ngồi đứng trong nhà đợi. Đến gần mới rõ, đó là phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do anh Trần Bửu Kiếm dẫn đầu cũng cùng đi chuyến máy bay này. Đồng chí cán bộ giao liên dẫn tôi vào gặp anh Phạm Hùng đang ở căn phòng nhỏ phía bên trái nhà đợi để nhận nhiệm vụ. Vừa đến cửa, tôi chưa kịp chào thì anh Phạm Hùng đã nắm chặt tay tôi, giọng xởi lời, thân mật: - Tư Cường phải không? - Dạ! Tôi đáp lại rồi cứ thế ngắm nhìn anh. Anh vận bộ đồ công tác bằng vải tít-xuy màu ghi, thắt ca vát màu nâu sẫm, dáng vẻ một người làm công tác ngoại giao có chú ý đến sự chải chuốt nhưng vẫn tỏ ra là một cán bộ có đức độ; cái giản dị, đôn hậu, chân thành vẫn hiện đậm trên khuôn mặt, tỏ rõ trong cử chỉ, lời nói. Bom Mỹ đã làm cho căn phòng biến dạng, cửa kính vỡ, tường có vết nứt và một mảng vữa đã rơi, trơ ra hàng gạch phía sau mốc xám. Nhưng những nhân viên hàng không có trách nhiệm tiếp khách vẫn tạo cho căn phòng sạch sẽ, ngăn nắp, với bộ bàn ghế được kê ngay ngắn, trên đặt bộ ấm chén của nhà máy sứ Hải Dương trắng muốt, có cả gói chè Hồng Đào và gói thuốc lá Điện Biên bao bạc. Anh Phạm Hùng kéo ghế bảo tôi ngồi. Trước hết anh biểu dương tôi: Khá lắm! Tư kiếm đâu ra được bộ đồ com lê vừa in, nom y hệt một nhân viên ngoại giao thực thụ, chứ không phải là “đặc công cộng sản”. Tôi chưa kịp thưa lại thì anh Phạm Hùng vào việc luôn. Bằng giọng nói sôi nổi, thân mật anh chỉ thị: - Tôi và Tư đi cùng với đoàn anh Trần Bửu Kiếm, đóng vai đoàn viên. Khi lên máy bay ta ngồi hàng ghế sau cùng để tránh con mắt tò mò của những người lạ mà mình không biết họ là ai, làm gì, quốc tịch nước nào. Mọi việc xử trí đã có anh Trần Bửu Kiếm lo, ta chỉ có nhiệm vụ duy nhất là không nói chuyện - rồi anh cười sảng khoái nói tiếp - ngậm miệng ăn tiền mà Tư! Ngoài kia máy bay đã nạp xăng, động cơ bắt đầu khởi động, bật thành một âm thành ầm ì gầm xé vang xa, làm náo động khoảng không gian hẹp, ập đến nhà chờ, gây khó chịu trong vỏ não mọi người. Anh Phạm Hùng nhìn đồng hồ, rồi kết luận như một mệnh lệnh lên đường: - Chặng đầu hãy cứ thế. Các chặng sau sẽ tùy thuộc vào diễn biến cụ thể mà có bổ sung. Đã gần đến giờ máy bay cất cánh. Tất cả chúng tôi đều tề tựu dưới chân máy bay, nơi hành khách lên xuống. Cuộc tiễn đưa không diễn ra, đáp từ mà chỉ có những cái bắt tay lắc mạnh kèm theo những lời chào thắng lợi và những cái nhìn vừa lưu luyến vừa kiên nghị của những người ở lại đối với người ra đi. Tất cả đều diễn ra nhanh gọn. Máy bay lăn bánh trên đường băng rồi tăng tốc rời khỏi mặt đất, nâng dần độ cao. Bầu trời trong suốt từ trên nhìn xuống không một gợn mây, cảnh vật hiện ra dưới nắng sớm đầu thu thật đẹp. Sông Hồng hết hung dữ, chảy hiền hòa quanh co uốn khúc như dải lụa đào bay theo gió, bên phía tả ngạn hiện rõ những chuôm nước hình tròn đều cách nhau, vạch thành một đường băng qua cánh đồng huyện Kim Anh, đến tận chân dãy núi Tam Đảo. Đó là dấu chân ngựa Gióng sau khi đánh tan giặc Ân, trở về dãy núi Sóc Sơn rồi biến mất... Chuyện đã đi vào ký ức nhận thức của mỗi con người, nhưng hôm nay bay qua nơi đây tự nhiên tôi thấy lòng mình rung động lạ thường... Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:34:17 pm Một trục trặc không nhỏ xảy ra ngay chặng đường khởi đầu này. Đó là hộ chiếu của anh Phạm Hùng vẫn còn nằm tại Hà Nội, mà nguyên nhân là do đồng chí bí thư của anh đã quên không bỏ nó vào cặp cho anh, mặc dầu trước khi đi anh đã nhắc đồng chí bí thư nhiều lần về việc này. Sau khi điện xin chỉ thị ở nhà, thì được trả lời: máy bay quay trở lại lấy hộ chiếu!
Trên đường bay về cũng thật hồi hộp. Sợ hệ thống phòng không của ta chưa nhận được điện báo hoặc chưa thông báo kịp thời xuống các trận địa lẻ là có máy bay ta bay qua, thi rất dễ bị thiêu cháy bởi lưới lửa phòng không dày đặc của ta từ mặt đất quạt lên! Mọi người nhẹ nhõm thở phào khi máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm, thì vừa lúc đó một máy bay lên thẳng từ Hà Nội bay sang cũng hạ cánh kề bên, làm nhiệm vụ chuyển hộ chiếu đến anh Phạm Hùng, vì lúc này cầu Long Biên vừa bị máy bay Mỹ đánh hỏng nhịp giữa cách đây hai giờ, ô tô không qua lại được. Thế là chỉ trong một ngày, chúng tôi đã hai lần tạm biệt sân bay Gia Lâm, bay bổng lên bầu trời phía bắc của Tổ quốc để chiều hôm ấy có mặt ở thủ đô nước láng giềng. Chặng đường thứ nhất của chuyến đi như vậy là an toàn. Chặng đường thứ hai, chúng tôi qua một số nước trung lập trên máy bay của Hãng hàng không Pháp với tiện nghi khá sang trọng. Cùng đi trên chuyến máy bay này có đoàn đại biểu chính phủ Thụy Điển và một số ký giả phương Tây. Vì thế anh Phạm Hùng đã lưu ý tôi: Ta càng phải giả đò là những đoàn viên thuộc cỡ rất bình thường, làm lạc hướng sự theo dõi của những người cùng đi, nhất là không để bọn CIA. giả danh đánh hoi thấy, theo dõi đường đi của ta, đặc biệt là chặng cuối cùng trước khi đến B.2. Anh vẫn không quên nhắc lại - ngậm miệng ăn tiền nghe Tư! Mỗi con đường đi tới chiến trường đều có thuận lợi và khó khăn riêng. Con đường nào cũng là kết quả của sự tổ chức tài tình và khoa học của Đảng quang vinh, của Bác Hồ vĩ đại. Đường mòn Hồ Chí Minh, đường mòn trên biển, và đường dây họp pháp mà tôi được Đảng tin cậy cho đi hôm nay đều có những nét độc đáo, trong đó có điểm cho phép được kể cùng bạn đọc, nhưng có những chi tiết hành quân vẫn còn phải giữ kín với thời gian. Chỉ khi đặt chân vào tới chiến trường B.2 chúng tôi mới không còn đóng vai nhân viên ngoại giao nữa, mà trở lại sắc áo thân quen của chiến sĩ Quân giải phóng thực thụ hoạt động trên đất miền Đông: Quần áo bà ba đen, tăng, võng, tất cả đều bằng sợi tổng hợp nhẹ, xốp, chịu ngấm nước và cũng mau khô, đầu đội mũ tai bèo với nắm com vắt đeo bên hông. Nhận xong các trang bị như thế, chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân bộ, vượt qua một đoạn đường mất khoảng hai tiếng đồng hồ thì tới binh trạm đầu tiên kề với mảnh đất Đông Nam Bộ, lúc ấy khoảng lối 18 giờ (ngày 10 tháng 9 năm 1967). Tại đầy đã có một tổ giao liên vũ trang chờ sẵn để đón chúng tôi. Sau khi trả lời đúng mật khẩu, các đồng chí giao liên mừng rỡ đến ôm chầm lấy anh Phạm Hùng và tôi: - Tụi cháu chờ các chú hoài à! - Các chú từ ngoài Bắc vô phải không? - Sao các cháu biết? - Tôi hỏi lại. - Dạ, thấy chú mập quá mà! Chúng tôi lên đường ngay, khi trời vừa chạng vạng tối thì cũng vừa tới Xóm Giữa, Lò Gò (Tây Ninh), nơi ở và làm việc của anh Nguyễn Hữu Thọ. Anh Thọ từ trong căn nhà nhỏ xinh lợp lá trung quân với dáng vẻ nhanh nhẹn bước vội ra sân, chìa tay nắm chặt tay anh Phạm Hùng, hai người cứ thế ôm nhau trong yên lăng hồi lâu. Một niềm vui gặp mặt tuy đã được báo trước mà vẫn cứ thấy ngỡ ngàng ở cả hai anh. Anh Thọ tổ chức “chiêu đãi” cơm tối và giữ chúng tôi ngủ lại qua đêm... Thế là sau khi bay qua một chặng đường hàng không vòng vèo, tôi đã đến với chiến trường Đông Nam Bộ. Giây phút đầu tiên thật bồi hồi, xúc động về cái mảnh đất xa mà gần, lạ mà thân quen gắn bó từ lâu, làm thức dậy trong tôi một ký ức khó quên, trở thành máu thịt. Ấy là khi lần đầu tiên được nghe các anh giáo viên đặc công quê ở Đông Nam Bộ kể về trận đánh theo kiểu “đặc công” đầu tiên ở quê anh, tại lóp học đặc công ở Liên khu V hồi tháng 10 năm 1952. Chuyện ngẫu nhiên đó mới xảy ra vào một đêm cuối năm 1947, một du kích sau khi bảo vệ đoàn cán bộ vượt qua đường Tân Ba - Tân Uyên trở về, thì trời đổ mưa to kèm theo là sấm chớp rất dữ; quần áo ướt sũng, toàn thân run lên vì thấm lạnh, anh liền đến một tháp canh của địch cạnh đó trú tạm vì quanh đấy đều tráng địa. Nhưng do cái việc “liều” không tính trước ấy đã giúp anh phát hiện địch có rất nhiều sơ hở, diệt chúng dễ ợt. Nhưng cái bí mật là lấy đâu ra vũ khí, chí ít cũng phải có dăm ba trái nổ (lựu đạn). Sáng hôm sau, anh dậy sớm tìm đến một đơn vị bộ đội địa phương đóng gần đó hỏi mượn trái nổ. Lúc này vũ khí thật hiếm, bộ đội tập trung huyện, tỉnh chỉ được trang bị loại trái nổ 0F do xưởng quân giới Miền tự sản xuất, nhưng cũng không được nhiều. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:40:51 pm Đồng chí chỉ huy đơn vị nửa đùa nửa thật nói:
- Mượn thì phải trả, có chịu không? - Chịu chứ! - Đồng chí du kích tự tin khẳng định - Đánh thắng về tôi trả lãi gấp đôi. Có được ba trái lựu đạn, đêm đó anh mang thêm một cái thang sau đó bí mật tiếp cận, anh bắc thang trèo lên cửa ra vào, cứ thế thả trái nổ xuống chổ địch nằm chẳng khác nào thả cái vào lỗ đáo. Chỉ có ba trái nổ, toàn bộ bọn địch bị diệt gọn, thu tám súng... Ba tháng sau (đêm 18 rạng 19 tháng 3 năm 1948) từ chuyện thắng lợi bất ngờ mà giòn giã kể trên, du kích Tân Uyên do đồng chí Trần Công An (tức Hai Cà) trợ lý tác chiến huyện đội, đã vận dụng vào trận tháp canh cầu Bà Kiên (ấp Mỹ Chánh, xã Phước Bình) diệt toàn bộ địch ở đây. Tiếp đó đêm 18 rạng 19 tháng 5, đồng chí Trần Công An lại chỉ huy du kích bí mật tiềm nhập, cắt rào, dùng bộc phá tự chế “FT” (phá tường) đánh sập tháp canh cầu Bà Kiên lần thứ hai. Các kiểu công đồn đặc biệt đó được anh em đặt cho cái tên là “đặc công”. Những chuyện trên tuy đơn sơ, mộc mạc nhưng đã gây cho tôi những cảm xúc không quên với những người đi trước. Tất cả những sự kiện và những con người đó, trên chính mảnh đất mà tôi đang đứng này, cứ nối tiếp hiện lên như cổ vũ khích lệ tôi về một quá khứ thật anh hùng. Sáng hôm sau, tôi lên chào anh Phạm Hùng và anh Nguyễn Hữu Thọ, theo đồng chí giao liên đưa đến nơi ở và làm việc của anh Sáu Nam (đồng chí Lê Đức Anh) nhận nhiệm vụ. Tuy mới gặp anh lần đầu nhưng tôi biết anh, cũng qua chuyện kể ở lớp học đặc công Liên khu V:... Ngày ấy (tháng 2-1952) với cương vị tham mưu trưởng Liên khu VII (Đông Nam Bộ), anh tổ chức một đoàn gồm mười cán bộ của các tiểu đoàn chủ lực đã từng tham gia nhiều trận “công đồn đặc biệt” và đã tham gia lớp huấn luyện kỹ thuật tác chiến đặc công ở Sình Bà Đá (chiến khu D) hồi năm 1949, đi cùng anh ra Bắc công tác. Trên đường đi, đoàn có nhiệm vụ phổ biến kinh nghiệm chiến đấu đặc công cho một số tỉnh mà đoàn sẽ đi qua trong đó có lớp huấn luyện ở Liên khu V. Như vậy là anh đã gắn bó với đặc công ngay từ buổi sơ khai, chứng kiến những bước phát triển của lối đánh giặc độc đáo này. Sự gắn bó vô hình giữa anh và tôi - những chiến sĩ đặc công của Nam Trung Bộ, cũng bắt đầu từ cái buổi ra đi xa xưa của anh. Hôm nay anh gọi đến giao nhiệm vụ, tôi thấy anh vẫn rất say sưa tâm đắc với binh chủng và cách đánh của đặc công. Mặc dầu lúc này công việc rất khẩn trương, anh vẫn lưu tôi lại đây một tuần để trao đổi công việc. Anh kêu cả anh Ba Trần (tức Trần Văn Danh) cục phó Quân báo. Hai Nghiêm1 cục phó Tác chiến Miền đến cùng nghe tôi báo cáo tình hình phát triển của lực lượng đặc công và những kinh nghiệm tổ chức xây dựng và chỉ huy chiến đấu của lực lượng đặc công ở chiến trường B.l, B.3, v.v... mà Bộ tư lệnh Đặc công đã giao cho tôi nhiệm vụ vào báo cáo với B.2, trước lúc lên đường. Thật cảm động được các anh dành cho sự ưu ái này, nhưng cũng vì thế mà tôi trở nên lúng túng, không biết báo cáo như thế nào, nên bắt đầu từ đâu? Phút im lặng đó trôi nhanh. Tôi lần lượt báo cáo cùng các anh những chỉ thị của Bác Hồ, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng sau những lần trực tiếp nghe đại diện đặc công và những kinh nghiệm tổ chức xây dựng và chỉ huy chiến đấu của lực lượng đặc công lên báo cáo về tình hình tổ chức lực lượng, huấn luyện chiến đấu chi viện cho tiền tuyến miền Nam; về các trận đánh vừa có hiệu suất chiến đấu cao vừa mang lại những bài học chỉ đạo nghệ thuật tác chiến đặc công như các trận Tua Hai (Tây Ninh), Núi Thành (Quảng Nam), Plây Me (Plây Cu) v.v... Quá trình nghe tôi trình bày, anh Ba Trần đã hỏi sâu hơn về đơn vị đặc công tham gia đánh vào trại lính Mỹ Hô-lô-uây ở thị xã Plây Cu hồi tháng 2 năm 1965, bởi trận đánh có sức thối động mạnh mẽ, buộc Nhà trắng Mỹ phải khẩn cấp họp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định di chuyển phụ nữ, trẻ con Mỹ ra khỏi Sài Gòn... Anh Hai Nghiêm khai thác các khía cạnh về nghệ thuật chỉ đạo tác chiến đặc công, về tổ chức hợp đồng chiến đấu giữa đặc công và bộ binh trong các chiến dịch tổng họp. -------------- 1. Tên thật là Trần Nghiêm, nguyên trung twowngs, tw lệnh quân khu 9, mất năm 1985 Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:42:37 pm Sự chú ý theo dõi và những câu hỏi xen kẽ của các anh càng khích lệ tình thần phấn hứng trong tôi, khiến tôi càng say sưa kể. Từ những đơn vị nhỏ lẻ lúc đầu đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Quân báo Bộ Tổng tham mưu đến giữa năm 1966, Quân ủy Trung ương đã quyết định hợp nhất ba đơn vị: Lữ đoàn 305 dù (trực thuộc Bộ), trung đoàn 426 đặc công (trực thuộc Cục Quân báo) và đoàn 126 đặc công nước (trực thuộc Bộ tư lệnh Hải quân) để thành lập binh chủng Đặc công.
Với tư cách là người được chứng kiến trực tiếp, tôi đã tường thuật tỉ mỉ cùng các anh về buổi Bác Hồ đến thăm trung đoàn 426 đặc công và xem trung đoàn này trình diễn kỹ thuật, chiên thuật đánh căn cứ Mỹ, tổ chức tại trường Dân tộc Trung ương(1) vào tối 19 tháng Ba năm 1967. Dưới ánh đèn pha cực sáng, mọi người nhìn rõ Bác ngồi trong sương đêm giá lạnh dáng vẻ ung dung, thư thái, thỉnh thoảng chòm râu bạc của Bác lại rung rung kèm theo là nụ cười đôn hậu, ân tình, tỏ ý bằng lòng các chiến sĩ đặc công thực hành kỹ thuật tiềm nhập giỏi như có “phép thuật” tàng hình, bò sát nơi Bác ngồi mà Bác không biết. Khoa mục huấn luyện kết thúc, tiết trời càng lạnh, Bác vẫn ở lại nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ có mặt trong buổi tập tối hôm đó. Một không khí trang nghiêm mà ấm tình cha con lan tỏa khắp hội trường lớn của trường Dân tộc. Bác nói ngắn gọn mà sâu sắc, chứa đựng những vấn đề rất cơ bản về phương hướng, nội dung, nguyên tắc cho bước đi lên mãi mãi của binh chủng; đặc biệt chúng tôi được Bác chỉ thị một cách đầy đủ, rõ ràng về nhiệm vụ, tính chất của binh chủng: "... Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt”. Ngay hôm đó và mãi mãi sau này, chúng tôi ghi lòng tạc dạ lời dạy bất hủ của Bác đối với binh chủng. Đó chính là một mệnh lệnh quân sự, một chỉ thị lãnh đạo của vị lãnh tụ, vị thống lĩnh tối cao của dân tộc, của Đảng quang vinh, mà mỗi cán bộ, chiến sĩ đặc công phải tâm niệm, nghiêm chỉnh chấp hành. Ngày 19 tháng Ba năm 1967 - ngày Bác đến thăm và chỉ thị những điều quý báu và công bố chính thức thành lập Binh chủng Đặc công... Đến ngày cuối cùng của một tuần lễ tôi lưu lại ở nơi làm việc của anh Lê Đức Anh, hom đó anh mới chính thức giao nhiệm vụ: - Đông Nam Bộ là đất dụng võ của đặc công đấy. Tình hình đang rất khẩn trương, hướng nào cũng cần có đặc công. Đồng chí vào thời điểm này là rất đúng lúc. Không gian yên ắng, một chút yên ắng thật hiếm ở nơi chiến trường đang còn đặc quánh cái mùi hăng hăng đến khó chịu của bom đạn Mỹ trút xuống sau hai cuộc phản công mùa khô vẫn còn lan tỏa quanh đây. Anh nghiêm nghị nhưng vẫn thấy cái xởi lởi, dễ gần. Giọng anh pha trộn nhiều miền của đất nước nhưng vẫn thoáng nghe được cái âm sắc của Thừa Thiên - Huế nơi quê anh - nhỏ nhẹ, chậm rãi, dễ nghe: - Là chiến sĩ đặc công lại về công tác ở phòng Đặc công, đồng chí về đó sẽ rõ công việc phải làm. Quyết tâm có rồi, lúc này là suy nghĩ tìm biện pháp thực hiện. Tôi vẫn chăm chú tiếp nhận nhiệm vụ anh giao. Nhưng đến đây, anh đứng dậy chủ động chìa tay nắm chặt tay tôi, nét mặt anh rạng rỡ: - Chúc đồng chí thu nhiều thắng lợi! Tôi rút chân đứng nghiêm, chào theo tư thế quân sự. Anh nắm tay tôi lần nữa, nói thêm, như có ý nhấn mạnh: - Tình hình khẩn trương lắm rồi. Vấn đề lúc này là phải hành động. Không khí chiến trường, phong cách năng động của người chỉ huy ở nơi anh đã truyền sang tôi một cách mạnh mẽ bằng chính những cử chỉ, lời nói của anh. Tôi hăm hở về nhanh với gia đình đặc công của mình. Đó là phòng Đặc công trực thuộc Bộ Tham mưu Miền có bí danh là 216. Gọi là gia đình vì ở đó tôi sẽ được gặp lại bạn bè, đồng chí đã từng san sẻ niềm vui, nỗi nhớ những ngày đầu tiên khi mới tâp kết ra Bắc, từng cùng nhau qua các lóp chuyển binh chủng, qua khổ luyện kỹ thuật ở Xuân Mai, Vĩnh Phú, ở biển Hải Phòng để rồi lần lượt bổ sung vào chiến trường trong đó có phòng Đặc công Miền. Gọi là phòng nhưng cơ cấu tổ chức cũng thật đặc biệt, có ban tham mưu, chính trị, hậu cần để làm chức năng vừa xây dựng, huấn luyện đặc công nói chung, vừa chỉ huy các đơn vị đặc công trực thuộc Miền trong các đợt hoạt động độc lập, trong các chiến dịch binh chủng hợp thành và các chiến dịch tổng họp do Bộ chỉ huy Miền và Trung ương cục chủ trương. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:46:16 pm Việc chuẩn bị thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 14 và Nghị quyết Bộ Chính trị “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới”, khi về phòng Đặc công Miền tôi mới dần dần biết ra nhưng công việc phải làm đã được trong này tiến hành rất sớm. Mọi công việc đã gần như đâu vào đó. Tập thể phòng Đặc công Miền đã quy tụ được những con người đảm đang, tháo vát, rất năng nổ với công việc cụ thể nhưng cũng có cái tầm nhìn xa. Có đến đây, có vào đây mới thấy hết mảnh đất miền Đông này hoàn toàn có quyền tự hào là cái “nôi” của phương thức tác chiến đặc công. Từ xây dựng thế trận, tổ chức lực lượng và những cung cách làm ăn mới của bộ đội đặc công trong thời kỳ chống Mỹ đã được Bộ tư lệnh Miền chỉ thị sát sao, được tập thể phòng Đặc công Miền thực hiện một cách suôn sẻ và sáng tạo. Cho đến lúc ấy, các sư đoàn bộ binh 5, 7 và 9 đều có tổ chức một đại đội đặc công - lấy phiên hiệu thống nhất là C.100, sau phát triển thành tiểu đoàn cũng lấy phiên hiệu thống nhất là D.28, để tiện quản lý và chỉ huy chiến đấu độc lập hoặc hợp đồng binh chủng. Ngoài ra phòng còn trực tiếp nắm hai tiểu đoàn đặc công cơ động trực thuộc Miền, đảm đương nhiệm vụ độc lập hoặc nằm trong đội hình chiến dịch trên các hướng chủ yếu, tham gia đánh các trận then chốt.
Từ tháng 5 năm 1967, Trung ương cục và Quân ủy Miền quyết định giải thể Quân khu VII và Quân khu Sài Gòn - Gia Định thành lập sáu Phần khu trực thuộc Bộ tư lệnh Miền để tiện việc tổ chức chỉ huy và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ. Mỗi Phân khu1(trừ Phân khu 6 nội đô) đều có từ 1-2 tiểu đoàn “mũi nhọn” được trang bị mạnh, được huấn luyện thêm về chiến thuật và kỹ thuật đặc công, làm nhiệm vụ tiếp ứng cho lực lượng nội đô đánh chiếm các mục tiêu đã định như sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu ngụy, dinh Độc Lập, đại sứ quán Mỹ, tổng nha cảnh sát, biệt khu thủ đô, đài phát thanh v.v... khi có lệnh. Để hỗ trợ cho hai lực lượng này làm nhiệm vụ, hai sư đoàn 9 (đứng chân ở Tây Ninh), sư đoàn 7 (đứng chân ở Lái Thiêu) sẽ bước vào chiến đấu phối hợp khi cần thiết. Việc phân chia như trên là để thực hiện năm phân khu theo năm hướng từ ngoài đánh vào, kết hợp cùng Phân khu 6 - với lực lượng trong tay có 11 đội biệt động làm nòng cốt, nổi dậy từ trong đánh ra, chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô. Tuy chưa được giải thích cụ thể nhưng bằng những việc chuẩn bị khẩn trương và hối hả, bằng việc tổ chức phân chia lại chiến trường chúng tôi tự phán đoán có lẽ Đông Nam Bộ được coi là hướng chính, trong đó Sài Gòn và vùng ven là nơi diễn ta các trận then chốt, quyết định. Nghĩ như thế tôi càng phấn hứng và tự hào được có mặt trên mảnh đất sắp sửa diễn ra trận bão lửa đầy ý nghĩa, góp phần làm chuyển biến thật rõ rệt về cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Tôi bắt tay vào việc được phân công, nhanh chóng thích nghi hòa nhập với cuộc sống nơi đây. Phòng Đặc công chúng tôi làm việc ăn ý, theo một định hướng thống nhất - tất cả vì phía trước, tất cả cho chiến thắng. ------------------ 1. Sáu phân khu: - Phân khu 1, bắc Sài Gòn gồm Tây Ninh và các huyện Hóc Môn, Củ Chi. - Phân khu 2, tây Sài Gòn gồm các huyện tây - bắc Long An (Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Thủ, các quận 5, 6, 10, 11 của Sài Gòn). - Phân khu 3, tây - nam Sài Gòn gồm các huyện cần Đước, cần Giuộc, Tân Trụ, Châu Thành, huyện Nhà Bè và các quận 2,4,7,8 của Sài Gòn. - Phân khu 4, đỏng Sài Gòn gồm Biên Hòa và huyện Thủ Đức. - Phân khu 5, bắc Sài Gòn gồm Thủ Dầu Một và các huyện Lái Thiêu, Dĩ An. - Phân khu 6, gồm các quận nội thành Sài Gòn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:53:09 pm III Đầu tháng chạp năm Đinh Mùi, anh Lê Đức Anh lại có điện xuống, lệnh cho tôi phải về gấp Bộ chỉ huy Miền có việc cần. Linh cảm như báo trước phải tạm xa nhau, các anh chỉ huy phòng Đặc công tổ chức một cuộc liên hoan gọn nhẹ, tinh thần là chủ yếu, gọi là để đánh dấu buổi hợp tan. Tuy mới sống bên nhau chưa được bao lâu, nhưng khi phải chia tay thi giữa người ở lại và tôi - người ra đi, đều tỏ ra quyến luyến pha chút bùi ngùi. Tôi đi trong không khí oi nồng của một cuộc hành quân mới được bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn cho bật đèn xanh thực hiện. Bầu trời, mặt đất Đông Nam Bộ đang rung lên bởi tiếng bom đạn và tiếng động cơ của máy bay các loại, tạo nên một âm thanh căng thẳng, nặng nề. Người phải trả giá cho thất bại sau hai cuộc phản công chiến lược mùa khô vừa qua là binh sĩ Mỹ và gia đình họ. Đối với tướng tá Mỹ ở cả Lầu năm góc chính quốc và Lầu năm góc phương Đông (chỉ Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn) thì đây là một canh bạc khát nước, cần phải gỡ. Thế là ngày đêm họ lao vào hoạch định một kế hoạch phản công mới một cách rất tự tin bởi số lính Mỹ từ chính quốc đưa sang chẳng những đủ bù số chết trận mà còn nâng tổng số lên đến nửa triệu (525.000 tên)1 Cuộc hành quân “Hòn đá vàng” nằm trong khuôn khổ giai đoạn đầu của cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ ba do sư đoàn 25 Mỹ đảm trách đánh vào vùng Cà Tum, chiến khu c đã bắt đầu ngày 18 tháng 12 năm 1967 là một ví dụ nữa về sự bị động trong chỉ đạo chiến lược của Nhà trắng và Lầu năm góc. Đế quốc Mỹ vẫn chưa phát hiện được ý đồ chiến lược của ta, chưa biết rằng bão lửa đang sắp dội xuống đầu chúng. Tôi đang vừa đi vừa suy nghĩ thì trước mặt đã hiện ra nơi ở và làm việc của Bộ tư lệnh Miền. Hình như có sự chờ sẵn, thoáng thấy tôi, anh Lê Đức Anh đã ra cửa: - Vào nhà! - Anh siết chặt tay tôi - Khỏe không, quen đất miền Đông chưa? - Dạ! Đã ạ. - Cảm tưởng thế nào? - Dạ!... Tôi muốn báo cáo với anh về những ấn tượng đẹp đối với bạn bè đồng chí mà tôi đã gặp lại, về công tác mà tôi đã cùng các anh chỉ huy phòng Đặc công bàn bạc nhất trí, đang triển khai thực hiện, nhưng lúc này đây tôi muốn chờ đón mệnh lệnh anh giao, vi anh điện phải lên gấp mà! Anh chưa đi vào việc, cũng không thấy ở anh có biểu hiện gì là vội vã, khẩn trương. - Tình hình rồi đây sẽ sáng sủa - Anh mở đầu - vì ta đang ở thời điểm có thể làm ăn lớn... Ta cố gắng thì địch cũng không ngồi yên, nhất là kẻ địch mà chúng ta phải đối đầu lại rất thực dụng, có tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Vấn đề là ai vững vàng, kiên định. Anh tin ở cấp dưới, tin ở tôi nhưng có lẽ anh vẫn cho rằng (điều này đúng) tôi mới vào chưa được thử thách thực tế, thì sự kiên định và vững vàng càng trở nên cần thiết. Không có ý chí mạnh, không có tư tưởng tiến công thì mọi tư duy quân sự khác sẽ vô nghĩa vì nó không có một nền tảng nào vững chắc để dựa cả. Anh nói ngắn mà chứa nhiều hàm ý. Tôi vẫn chăm chú đón nhận những điều anh căn dặn, thì bổng giọng anh trầm xuống đi thẳng vào vấn đề: - Bộ chỉ huy Miền đã thống nhất cử đồng chí xuống giữ chức tư lệnh phó Phân khu 3 - ngừng một lát, anh lệnh tiếp, ngắn gọn * Phải đi ngay bây giờ, không được chậm. Anh lấy trong cặp một phong bì nhỏ có đóng dấu đỏ tối mật ở chính giữa và ở các mép dán, đưa tôi. Thái độ vừa tin cậy nhưng nghiêm khắc, anh nói rành rọt từng tiếng: - Bộ chỉ huy Miền giao cho đồng chí cầm bản mệnh lệnh này - anh nhấn mạnh thêm - Phải giữ cẩn thận như vật bất ly thân xuống thẳng sở chỉ huy đưa tận tay cho anh Tư Thân (tức Huỳnh Công Thân) tư lệnh Phân khu và nhắc các anh dưới đó: đến giờ quy định mới được mở. Vừa phấn khởi tự hào, vừa xúc động , hai tay tôi run run đón nhận phong thư mật lệnh với một ý thức rất rõ về trọng trách trên giao. Lời căn dặn của đồng chí tham mưu trưởng Miền: đến giờ quy định mới được mở, đã nhắc nhở, thúc giục mạnh mẽ tôi hăm hở lên đường. -------------- 1. Số lính Mỹ ở miền Nam đến tháng 12-65 là 180.000; tháng 12-66 lẽn 389.000; đến tháng 12-67 là 480.000. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:56:00 pm Ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi, từ nơi làm việc của anh Lê Đức Anh, tôi theo các đồng chí giao liên hướng dẫn xuống Phân khu 3 - còn gọi là mặt trận tây - nam Sài Gòn, gồm phần lớn địa bàn thuộc tỉnh Long An. Là đường hành lang chiến lược nối thông từ Trung ương cục với đồng bằng sông Cửu Long đến tận miệt rừng U Minh thấu tới Cà Mau - Năm Căn, vì thế mà Bộ tư lệnh quân đội Mỹ ở Sài Gòn đã có cả âm mưu “bóp nghẹt” tối đa con đường này bằng tất cả phương tiện vũ khí hiện đại có trong tay. Và ta không có cách nào khác là phải chấp nhận mọi khó khăn gian khổ, kể cả sự hy sinh để đi tới. Đi bằng nhỏ lẻ, âm thầm, luồn lách tránh mọi sự dò tìm vây bắt của quân thù; đi bằng các đơn vị họp thành đối đầu với quân địch, đánh địch, nhố đồn bót, phá vòng vây địch mà hướng tới. Con đường hành lang ấy vẫn sống, vẫn nối thông, chuyển động như một mạch máu trong cơ thể hoàn chỉnh của chiến trường B.2 trong suốt thời gian đánh Mỹ.
Từ Bến Cầu (Tây Ninh) men theo hữu ngạn sông Vàm cỏ Đông xuôi hướng tây - nam, cứ xuyên màn đêm mà đi, mất đúng bốn đêm chúng tôi mới tới huyện Đức Huệ - địa bàn của tỉnh Long An. Từ đây quang cảnh mang dấu ấn đồng bằng Nam Bộ, với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, cắn tận chân mây, ngang dọc là những con kênh thẳng tắp, vạch thành các ô cờ đẹp mắt. Cũng từ đây, đoàn chúng tôi gồm bảy anh em đi trong không khí căng thẳng, ban ngày đề phòng “cán gáo”, đêm xuống là “pháo bầy tọa độ”, kèm theo muỗi, chét của vùng hoang cỏ lác. Càng xuôi về phía đông - nam, địa hình càng trống trải, phần lớn là đồng cỏ xen kẽ những vạt rừng tràm về mùa này vẫn còn xâm xấp nước, khó đi. Đêm thứ năm của cuộc hành trình, chúng tôi tới địa phận Đồng Tháp Mười. Một cảm xúc lâng lâng rộn lên trong tôi về cái địa danh thân quen mà hấp dẫn nay mới tận mắt nhìn thấy. Một luồng gió trong lành từ bốn hướng của cánh đồng vẫn dang còn ngập nước thổi nhẹ vào da thịt gây cảm giác dễ chịu xua vợi cái mệt nhọc sau nhiều đêm liên tục hành quân. Nói tới Đồng Tháp Mười là liên tưởng đến mùi thơm ngào ngạt quyến rũ của hoa sen, gợi cảnh trong trắng, thơ mộng nơi đây. Nhưng trước mắt tôi lại không hoàn toàn như thế, mà chỉ một màu nước bạc đơn điệu, một cánh đồng hoang vắng, vì Mỹ - ngụy đã coi nơi đây là một trong những vùng tự do bắn phá hủy diệt, khiến cảnh sắc càng thêm u tịch, tiêu điều. Thực tế cay nghiệt của Đồng Tháp Mười đã là mệnh lệnh nghiêm túc đối với chúng tôi. Tất cả hành lý đều được bọc gọn vào vải nhựa ni lông, vừa làm phao bơi khi nước ngập quá đầu; những giấy tờ, tài liệu được gói cẩn thận để sẵn sàng cho cuộc lặn lội đêm nay. Riêng tôi còn thêm việc kiểm tra và bọc thêm hai lần ni lông nữa ra ngoài cái phong thư mật lệnh của Bộ tư lệnh Miền để không bị ngấm nước, giữ sao cho còn khô nguyên, rõ chữ, đến tận tay đồng chí tư lệnh Phân khu 3. Mặt trời lặn, màn đêm buông nhanh, giờ phút của cuộc hành quân cắt qua cánh đồng đầy nước bắt đầu xuất phát từ vùng Ba Thu. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân xuống đồng nước chua phèn thấy thoải mái, nước ngập đến đâu gây mát dịu đến đấy. Nhưng đi khoảng năm trăm mét, cái mệt xuất hiện, hai đầu gối mỏi rời bước đi nặng nề, chậm chạp vì nước cản, vì nông sâu khác nhau có chỗ nước chùm đầu gối, có quãng nước tới thắt lưng, có đoạn tụt hẫng nước ngập tới cổ. Cứ thế mà đi, đi trong yên lặng và căng thẳng, phần vì phải nghe ngóng động tĩnh, đề phòng trực thăng địch đi tuần đêm xả súng liên thanh xuống; phần vì phải thắng những đàn muỗi vàng vo vo bám quanh, những bầy đỉa thật to thấy động nước kéo đến... Vào khoảng 20 giờ, bầu trời cuối năm đen kịt, chẳng thấy đâu là bờ nữa, bốn bề chỉ nước là nước, thì có tiếng động cơ trực thăng từ phía Sài Gòn vọng lại. Tất cả vẫn rẽ nước mà đi, coi như không có gì xảy ra cả, vì nghĩ rằng đêm tối như thế này, máy bay địch có trông thấy gì đâu mà đề phòng. Tôi vội nhắc nhở: - Chú ý! Máy bay địch bay đêm vẫn có mắt đấy. Mắt của nó là bộ phận hồng ngoại tuyến. - Nó nhìn rõ ta? Một đồng chí đi cạnh hỏi. - Không nhìn rõ hình thù người cụ thể, nhưng nếu ta đi động là chúng biết liền - tôi giải thích. Nghe tôi nói có lý, mọi người im lặng, tiếp tục vừa đi vừa nghe ngóng. Tiếng ầm ì tắt dần, không gian trở lại im ắng, chỉ còn cái bát ngát mênh mông của một vùng đồng nước rộng lớn, đơn điệu như mặt biển cả không thấy đâu là bờ, thỉnh thoảng bắt gặp một doi cỏ, lác đác một ít cây tràm hoang dại, gầy còm, cong queo chi cao độ quá đầu người. Bỗng tiếng động cơ trực thăng lại ẩm ì vẫn từ phía Sài Gòn dội lại mỗi lúc một gần, tôi liền nhắc nhở mọi người chú ý đề phòng rồi quay mặt về hướng phát ra tiếng động. Khi thấy anh đèn sáng đỏ lập lòe nơi đầu máy bay, tôi kịp hô: - Tất cả đứng im tại chỗ, hạ thấp mình xuống! Quan sát một lượt, tôi thấy mọi người nghiêm chỉnh làm theo. Lúc này không có một vật nào đi động, tất cả chỉ còn như những cái chấm đen, cố định trên mặt nước. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2016, 07:58:46 pm Máy bay địch rẹt qua, rất thấp, tiếng nổ như xé trời, cánh quạt quay mạnh, gây mặt nước xao động, tạo thành lóp sóng mạnh như muốn xô đẩy chúng tôi, phải gắng không di động. Tôi căng thẳng theo dõi tiếng động của máy bay, hồi hộp chờ đợi nó vòng lại. Bởi vòng lại, có nghĩa là ta để lộ, địch phát hiện được mục tiêu, chúng sẽ bắn như đổ đạn xuống với một xác suất rất nhỏ và chỉ một mục tiêu trúng đạn, thế là địch đã đạt yêu cầu của chuyến đi ăn sương. Nhưng hồi hộp tan nhanh, tiếng động cơ máy bay xa dần, vòng rộng, theo đường số 4 trở về Sài Gòn.
Tất cả đứng bật dậy, kèm theo là tiếng râm ran nói cười. Thắng lợi đã kích thích tinh thần, nâng bước chúng tôi quên cả mệt mỏi. Quầng sáng nơi cầu Bến Lức mỗi lúc một gần. Đêm nay là đêm thứ sáu của cuộc hành trình. Càng gần tới đích càng vất vả gian nan, phải bì bõm lội nước liền bốn tiếng đồng hồ, người thấm lạnh, da nhợt nhạt nhăn nheo. Khoảng 22 giờ chúng tôi mới tới điểm vượt đường số 4 chỉ cách Bến Lức hai cây số, nghe rõ tàu bo bo của địch đang tuần tiễu trên sông Vàm cỏ Đông. Dừng lại quan sát động tĩnh và kiểm tra lại hành lý, chúng tôi vượt nhanh qua lộ, đi về địa phận huyện Tân Trụ. Phải mất một tiếng đồng hồ nữa, tức là vừa đúng 23 giờ đêm 23 tháng Chạp năm Đinh Mùi tôi mới đến noi ở của anh Tư Chiến, tư lệnh phó Phân khu phụ trách hậu cần. Hôm sau 24 tháng Chạp, tôi đi thuyền gắn máy đuôi tôm xuống sở chỉ huy Phân khu 3, đặt ở nơi tiếp giáp giữa hai sông lớn Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Một người cao to, có nước da đen sạm với những nếp nhăn hằn trên hai má, đôi mắt thâm quầng (có lẽ vì ít ngủ), nhưng vẫn không làm mờ đi cái kiên nghị, lạc quan, người đó là anh Tư Thân1, là tư lệnh Phân khu. Phút đầu tiên gặp anh, đã xóa đi trong tôi cái trống trải, bâng khuâng khi đặt chân đến một chiến trường mới lạ. Tuy chưa gặp anh, nhưng được nghe nhiều đồng chí trên R (chỉ căn cứ, nơi đặt cơ quan Trung ương cục) nhắc đến anh với nhiều thiện cảm, khiến tôi thực sự mến anh, tin anh trước khi gặp anh hôm nay. Anh nằm vùng, bám trụ ở đất Long An suốt cuộc kháng chiến Chín năm, không đi tập kết, ở lại theo chỉ thị của Đảng, tổ chức lực lượng, cùng nhân dân tiếp tục tham gia chống Mỹ, cứu nước cho đến ngày nay. Những gian khổ, thăng trầm không làm anh già trước tuổi mà trái lại vẫn hoạt bát, tinh nhanh, sôi nổi và nhiệt tình đối với công việc. Anh nói ít nhưng rất năng nổ, tháo vát trong chỉ đạo thực tiễn, tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân để đối mặt với kẻ thù xâm lược. Anh thuộc người, nhớ việc, được cấp dưới và quần chúng mến phục, tin theo. Xem xong giấy giới thiệu của anh Lê Đức Anh, anh nhìn tôi một cách thiện cảm rồi quay ra nói với các anh em trong Bộ tư lệnh Phân khu với những lời tốt đẹp về tôi, về Binh chủng Đặc công và đặc biệt về miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Người thứ hai tôi gặp là anh Chín Cần2, bí thư tỉnh ủy Long An, kiêm chính trị viên tỉnh đội, nay là chính ủy Phân khu 3. Anh người tầm thước sống hòa mình và rất chân tình. Anh quê ở Chợ Lớn nhưng gắn bó với Long An ngay từ những ngày đầu đánh Pháp (vì Chợ Lớn xưa thuộc tỉnh Long An). Anh Chín cần với anh Tư Thân quan hệ mật thiết, gắn bó như hình với bóng, cũng nằm vùng, bám trụ, trong suốt hai cuộc kháng chiến. Sau khi biểu dương sự có mặt của tôi ở chiến trường Long An lúc này là rất quý, anh chỉ thị cho tôi: Long An đã có lực lượng đặc công nhưng chiến đấu chưa nhiều, kinh nghiệm còn ít. Bây giờ anh Tư vô đây, người đã từng làm tham mưu phó đặc công, sẽ bổ sung được nhiều kinh nghiệm quý cho đặc công Long An chắc chắn chúng ta sẽ hoạt động đạt hiệu quả chiến đấu cao. Một cuộc hội ý trong Bộ tư lệnh Phân khu được tiến hành nhanh gọn. Tôi được phân công phụ trách tiểu đoàn bộ binh và một đại đội đặc công nước ra bám đường số 4 đoạn từ Bến Lức đến thị xã Tân An, có nhiệm vụ vừa canh giữ đường, giữ cầu và đồng thời chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện kỹ thuật để cắt đường, phá cầu khi có lệnh... ----------------- 1. Tức Huỳnh Công Thân, nay là Thiếu tướng, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Long An. 2. Tức Nguyễn Văn Chính, nay là ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Lương thực. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 04:38:24 am IV Bốn ngày sau đó, tức là chiều 29 tháng Chạp năm Đinh Mùi tôi lại được triệu tập về sở chỉ huy Phân khu để chờ giờ bóc phong thư mật lệnh, đón nhận nhiệm vụ cụ thể phải làm. Còn một giờ nữa mới mở lệnh. Chính nhờ cái thời gian đi quá chậm này, tôi mới có điều kiện định vị được sở chỉ huy của mình, nằm lọt giữa một hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, nơi mà tàu thuyền của địch luôn luôn tuần tiễu, ruồng bắt. Vậy mà chẳng ai bận tâm đến cái thực tế gây cấn ấy, trái lại các anh vẫn lạc quan, bình thản trong cồng việc của mình. Khác chăng là ai nấy đều gọn nhẹ, có động là phân tán liền, không để lại một dấu vết khả nghi nào. Họp bàn thống nhất, phân công cụ thể rồi lại phân tán mỗi người một hướng, đến một vùng đã được phân công mà chỉ đạo phong trào, mà chỉ huy chiến đấu. Cái chu kỳ điều hành chỉ huy thích nghi với một chiến trường ở một vùng sông nước, sình lầy kế cận với Sài Gòn này cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, gây thành nếp quen, thành phong cách. Sở chỉ huy cũng được hiểu theo một khái niệm rất nhậy hoạt như giọt thủy ngân trong nhiệt kế. Không nhà cửa, không bàn ghế, không địa danh cụ thể mà là nhạy biến, thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc ở Đức Huệ, khi về Đức Hòa, lúc luồn sâu quanh Bến Lức, Tân An, có khi vượt đường số 4 xuống miệt Tân Trụ, Cần Đước chi chít sông ngòi, kênh rạch, phân tán từng người, khoét thân dừa nước mọc hai bên bờ sông nơi gặp của hai đầu sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây để ở theo kiểu luồn lạch chui lủi hết ngày này sang tháng khác. Có lúc tưởng chừng như không chịu nổi. Vậy mà các anh vẫn tồn tại, lạc quan, vẫn hoạt động theo các dự kiến đã vạch, bởi các anh có lòng dân ủng hộ - một thứ áo giáp, một loại trận địa vững chắc bảo vệ cho sự tồn tại của các anh. Không có dân thì chẳng có gì hết... Giờ mở lệnh đã đến! Lúc ấy khoảng 17 giờ ngày 30 Tết. Tim tôi đập nhanh và có lẽ các anh trong Bộ tư lệnh Phần khu cũng có chung tâm trạng như thế - đều hồi hộp dán mắt vào nơi tay anh Tư Thân đang run run bóc phong thư một cách lẹ làng, nâng niu. Phong thư mở! Một tờ pơ-luya màu trắng nhẹ mỏng hiện ra trước mắt mọi người. - Lệnh tiến công và nổi dậy bắt đầu vào ... giờ ngày 30 tháng 1 năm 1968 - Anh Tư Thân dõng dạc đọc rồi ngừng lại đưa mắt nhìn nhanh một lượt như muốn san sẻ niềm vui với cả Bộ tư lệnh; hai mắt anh nheo lại để khỏi phải dùng kính, giọng nhấn mạnh đọc tiếp - Trên toàn tuyến phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết tâm chiến đấu đã được R thông qua. Phải kịp thời báo cáo các diễn biến về R. Sự dồn nén của mong đợi có dịp bung ra. Mọi người nhẹ nhõm thở phào. Phấn khởi vì bao ngay chuẩn bị vất vả công phu nay được tiến hành. Nhưng cũng rất bất ngờ, không ai trong chúng tôi nghĩ rằng trên cho khởi sự đúng vào thời điểm Tết cổ truyền của dân tộc. Anh Tư Thân, anh Chín Cần cười vui sảng khoái. Như để động viên củng cố lòng tin cho mọi người trước lúc lên đường anh Tư Thân nhấn mạnh: Địch càng bị bất ngờ. Theo tin tức từ cơ sở của ta báo, những ngày gần đây địch phán đoán ta đang chuẩn bị tấn công, nhưng chúng không tin ta đánh vào dịp Tết. Mặc dầu địch đã ra lệnh báo động toàn miền, hủy bỏ lệnh ngừng bắn trong dịp Tết, song lại chưa có sự chuẩn bị đối phó cụ thể. Ta cần khai thác triệt để yếu tô bất ngờ này, nhất là những giờ phút đầu của ngày N1, không được chệch choạc trước sau mà phải đồng loạt; không để địch rảnh tay ở nơi này tập trung lực lượng đôi phó ở nơi khác... Cuộc họp nghe phổ biến mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền diễn ra chưa đầy một tiếng đồng hồ, nhưng ai nấy đều thông suốt tư tưởng, hiểu rõ nhiệm vụ vì mọi việc đã được chuẩn bị từ trước. Chúng tôi chia tay lên đường trở lại các hướng, các mũi mà mình được phân công ngay khi trời vẫn còn chạng vạng, xa xa về phía tây vẫn còn ửng hồng, báo hiệu mặt trời chưa lặn hẳn. Từ sở chỉ huy cơ bản, tôi trở lại vùng Bến Lức với nhiệm vụ được giao cụ thể hơn: Hỗ trợ nhân dân nổi dậy, đồng thời tổ chức lực lượng đánh địch ở quanh khu vực thị xã Tân An, cắt giao thông nhưng giữ cầu Bến Lức để chủ lực ta có thể tiến vào từ hướng nam hỗ trợ cho cuộc chiến đấu trong nội đô Sài Gòn khi có lệnh. Đêm 30 Tết ở đây không tối lắm. Trời đầy sao và quầng sáng từ các căn cứ của Mỹ ở Tân An, Bến Lức, Sài Gòn hắt lên một màu nhờ nhờ bàng bạc như ánh trăng. Càng về khuya cái yên tĩnh càng trùm lên khoảng không gian ít khi ngừng tiếng bom đạn này. Đã 12 giờ rồi! Năm Đinh Mão đang trôi qua, nhường lối cho năm Mậu Thân. Tiếng pháo cầm canh, tiếng động cơ của tàu bo bo của địch đi tuần tiễu trên sông Vàm cỏ Đông - đoạn Bến Lức đã tắt ngấm từ bao giờ. Tất cả đều im ắng. Còn vừa đúng sáu tiếng đồng hồ nữa là đến cái giờ G2; thiêng liêng, lịch sử. Chúng tôi liên tục so đồng hồ, ba cây kim vẫn đều đều quay vòng sao mà lúc này thấy lâu thế! Niềm vui của giây phút nghe anh Tư Thân đọc chiều qua lại được nhân lên trong buổi sáng nay - sáng ngày mồng Một Tết Mậu Thân (tức ngày 31 tháng 1 năm 1968). Trời chưa sáng rõ đã nghe tiếng súng nổ râm ran từ phía nội đô vọng lại và nghe tiếng hò reo dậy đất của quần chúng nổi dậy ở hướng nam, dọc hai bên đường số 4 từ Bến Lức xuôi về Tân An. Từ các xóm ấp, nhân dân kết thành đội ngũ, giương cờ, khẩu hiệu băng qua các canh đồng, các kênh rạch, sinh lầy lên các lộ lẻ, đổ vào lộ lớn mỗi lúc một đông thêm. Khí thế chẳng khác nào những ngày đầu Cách mạng tháng Tám 1945 ở Ninh Hòa quê tôi... ---------------- 1. Ngày N, là ngày thống nhất tiến công. 2. Giờ G, là giờ thống nhất nổ súng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 04:39:58 am Địch không kịp hiểu nổi về cái hiện tượng này. Mới hôm qua đây tất cả như chìm trong ách kìm kẹp của chúng, thì hôm nay tất cả đều bung ra, người mỗi lúc một đông, cờ, băng khẩu hiệu mỗi lúc một nhiều - kết vây thành biển người, phá bung bộ máy ngụy quyền ấp xã, vây các đồn bốt lẻ gọi loa kêu binh sĩ địch trở về với nhân dân, với cách mạng. Đoàn quân tay không đó bừng bừng khí thế tiến công tràn lên mặt đường số 4, vào sát thị xã Tân An, Bến Lức, khiến lính ngụy, lính Mỹ đóng ở dây trong tay có đủ súng đạn, có đủ hàng rào kẽm gai, bãi mìn vật cản dày đặc mà lại hoang mang, run sợ; cứ đứng trong đồn bót mà nhìn đội quân tay không đi qua trước mặt.
Tôi cải trang giả dạng nông dân hòa vào đội quân quần chúng cách mạng lên đường số 4 quan sát. Cuộc nổi dậy của nhân dân có sự hỗ trợ củ^ đại đội đặc công nước đứng chân ở Bến Lức và tiểu đoàn bộ binh Đồng Nai sau khi tập kích vào thị xã Tân An rút về đứng chân ở Hưng Long, vừa giữ thế phía sau cho Phân khu, làm nhiệm vụ phong tỏa đường số 4 không cho địch tiếp viện vào Sài Gòn, tạo điều kiện cho các đơn vị ở hướng bắc của Phân khu đánh vào các mục tiêu đã định trong nội đô như kế hoạch đã vạch. Nếu ở hướng nam - chúng tôi đánh địch chủ yếu bằng sức mạnh của mũi nổi dậy của quần chúng, đã làm tê liệt, vô hiệu hóa các đồn bót địch, thực hiện chia cắt chiến trường, thì ở hướng bắc, mũi tiến công quân sự đã bắt đầu cuộc chiến đấu rất ác liệt ở ven đô, trước khi phát triển vào nội đô. Ở hướng chủ yếu này, theo sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Phân khu, năm tiểu đoàn bộ binh1, một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn pháo binh và một đại đội trinh sát đã ém sẵn ở Long Cang, Long Định, Long Sơn, Phước Vân (thuộc địa bàn huyện cần Đước, Tân Trụ), Phước Lại (Cần Giuộc). Đây là một việc làm thật công phu với bao khó khăn phải khắc phục, vì là vùng sát nách Sài Gòn, với hệ thống đồn bốt địch dày đặc, cùng bao sông ngòi, kênh rạch chi chít, đưa một lực lượng lớn vào ém sẩn ở vùng sâu này quả thật không đơn giản. Việc tổ chức ăn, ở cho một lực lượng người như thế đâu phải dễ dàng, hơn nữa trong điều kiện phải giữ bí mật cao độ. Bởi nếu bộ thì địch ở đây có thừa điều kiện mở các cuộc hành quân để vây hãm, sát thương ta trước khi ta tiến công chúng. Tất cả các khó khăn và các tình huống gây cấn đó đã được anh Tư Thân, anh Chín Cần cùng các anh khác trong Bộ tư lệnh Phân khu 3 bàn bạc đến từng chi tiết của giả định và có kế hoạch khắc phục cụ thể đến từng khía cạnh nhỏ, nên đã bảo đảm đưa toàn bộ lực lượng vào ém sẵn trước 10 ngày khi có lệnh tiến công trên toàn tuyến một cách an toàn. Theo ý định của Bộ chỉ huy Miền: Các đơn vị chủ lực của Phân khu 3 sẽ tiến vào Sài Gòn từ hướng nam, vượt qua các tuyến phòng thủ ven đô, đánh vào các mục tiêu Tổng nha cảnh sát, dinh Độc lập, đài phát thanh, cùng các Phân khu 1, 2, 4 và 5 hình thành thế tiến công Sài Gòn từ năm cánh, với phương thức là dùng các tiểu đoàn “mũi nhọn” phối họp với các lực lượng biệt động nội đô đánh chiếm các mục tiêu cùng các cơ sở cách mạng trong nội đô phát động quần chúng nổi dậy. Ngay từ lúc giờ G của ngày N bắt đầu, các tin tức chiến thắng, các bài học kinh nghiệm đã được các anh ở sở chỉ huy cơ bản của Phân khu thông báo kịp thời. Trong khi chúng tôi hỗ trợ nhân dân nổi dậy làm chủ thôn ấp, làm chủ đường số 4, thực hành phong tỏa con lộ này, thì ở hướng bắc, các đơn vị của Phân khu đã chia thành ba cánh đánh địch đạt nhiều hiệu quả: - Cánh thứ nhất, tiểu đoàn 2 Long An thọc vào Phú Định, đánh bật tiểu đoàn 33 biệt động quân về Phú Lâm, rồi phát triển theo đường Hậu Giang đến đường Dương Công Trừng, đánh lên chợ Thiếc gặp các cánh quân của Phân khu 2. - Cánh thứ hai, tiểu đoàn 1 của Long An đánh thọc lên quận 8 đến bắc cầu Nhị Thiên Đường. Địch từ quận 5, quận 6 dồn xuống ngăn chặn, Bộ tư lệnh Phân khu 3 kịp thời đưa tiểu đoàn Phú Lợi đánh ra Đa Phước giữ phía sau, bảo đảm cho tiểu đoàn 1 Long An thực hành phản kích bên trong. - Cánh thứ ba, tiểu đoàn 5 Nhà Bè tiến công Tân Quy (nam Xóm Chiếu) nhưng không vượt được sông vì bị địch từ Tân Thuận ra ngăn chặn... Cuộc chiến đấu diễn ra cực kỳ gay go và ác liệt, liên tục trong năm ngày đầu của cuộc tiến công. Các đơn vị của ta đã bất chấp mọi gian nan, nguy hiểm, đẩy địch lùi dần, tạo ra thế trụ bám ngay trong nội đô, (như khu vực chợ Thiếc, khu vực cầu Nhị Thiên Đường), đối mặt với lữ đoàn 5 thủy quân lục chiến và liên đoàn 5 biệt động quân - những lực lượng tổng trù bị tin cậy của quân đội ngụy Sài Gòn. Theo kế hoạch từ trong đánh ra phối hợp với ngoài đánh vào, ngay từ giờ phút đầu của cuộc tiến công, lực lượng đặc công - biệt động ém sẵn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu quan trọng: 2 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968, mười bảy chiến sĩ thuộc đội biệt động số 11 do Ngô Thành Vân chỉ huy tiến công Tòa đại sứ Mỹ bằng ba mũi, chiếm tầng một, đánh lùi ba đợt phản kích của địch. Mãi 9 giờ sáng, địch dùng trực thăng đổ bộ bọn cảnh sát quân sự từ sân thượng đánh xuống, ta buộc phải rút lui sau khi đã chiếm ngôi nhà này liền trong sáu giờ. Đội biệt động số 3 do Ba Thanh chỉ huy đánh dinh Độc Lập- Đội có 15 chiến sĩ (có một nữ) chia thành ba tổ đánh vào. Địch chống trả quyết liệt, ta rút ra trụ lại ở đường Nguyễn Du gần đó chiến đấu suốt ngày 31 tháng 1. - Đội biệt động số 4 do Tư Tăng chỉ huy gồm 12 chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh chiếm (sau đó được lệnh phá) đài phát thanh Sài Gòn. - Đội biệt động số 67 có sự hỗ trợ của tiểu đoàn “mũi nhọn” số đánh vào khu vực Bộ tổng tham mưu ngụy; đánh địch phản kích quyết liệt suốt hai ngày đêm ở khu vực này. Sự dũng cảm và trí thông minh tuyệt với của các chiến sĩ đặc công - biệt động nội đô được thông báo kịp thời xuống Phân khu ngay lúc đó, đẫ khích lệ chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ tiếp sau trên hướng tiến công phía nam: đánh cầu Bến Lức và chốt giữ cầu chữ Y liên tục trong 15 ngày liền, góp phần vào chiến thắng mùa xuân 1968. ---------------- 1. Phiên hiệu năm tiểu đoàn bộ binh là: - Tiểu đoàn 1, 2 Long An. - Tiểu đoàn 5 Nhà Bè. - Tiểu đoàn Phú Lợi. - Tiểu đoàn Đồng Nai. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 04:47:36 am V Tháng 5 đã đến. Tháng mở đầu đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy. Cũng như các Phân khu 1, 2, 4, 5 là xốc lại đội hình, tiếp tục tổ chức tiến công về hướng nội đô Sài Gòn, Phân khu 3 còn có thêm nhiệm vụ: đánh sập cầu Bến Lức, Cầu Bến Lức dài 720 mét vắt qua sông Vàm cỏ Đông, cách Sài Gòn khoảng 32 cây số về phía tây - nam. Đây là một trong sô những cây cầu lớn nhất trên chiến trường miền Nam, đứng sau cầu xa lộ Biên Hòa, nhưng là cầu lớn nhất trên đường số 4 - một quốc lộ duy nhất nối thông Sài Gòn với vùng lúa gạo tây Nam Bộ xuống tận miệt Cà Mau - Năm Căn. Chính vì cây cầu có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng như thế nên địch rất chú ý đến việc phòng thủ bảo vệ nó như một cứ điểm chủ yếu trong chiến lược phòng thủ diện địa của quân ngụy Sài Gòn. Ở đây thường xuyên có một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 50, sư đoàn 25 ngụy làm nhiệm vụ canh gác suốt ngày đêm. Trên mặt cầu về ban đêm thường có một trung đội đi tuần tiễu, lùng sục, phát hiện và có xe bọc thép chạy qua lại yểm trợ, có pháo 37 ly bắn dọc hai bên bờ sông để tăng cường sự kiểm soát của chúng vào ban đêm; đồng thời Mỹ còn đặt trận địa pháo 175 ly để với tầm kiểm soát thật xa. Phía dưới mỗi chân cầu, đều có một tiểu đội thường trực canh gác, đặc biệt về đêm mỗi chân cầu địch còn neo từ 1 - 3 tàu, xuồng (không thành quy luật) chạy tuần tra xung quanh. Riêng chân cầu bê tông thứ hai từ phía nam cầu được chúng đặc biệt chú ý. Đây là chân cầu bằng sắt đã bị ta đánh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nằm ngay giữa dòng nước xoáy rất thuận tiện cho ta tiếp cận. Địch rào kẽm gai xung quanh, cách xa chân cầu khoảng từ 3-5 mét. Một hệ thống trên 500 ngọn đèn điện bóng tròn và ống kết dày đặc làm sáng rực một khúc sông mỗi khi đêm về, kết hợp với dùng người nhái để kiểm tra các chân cầu và đề phòng ta tiếp cận. Có khoảng 10-14 tàu thường trực cùng với hàng chục ghe, xuồng máy chạy qua chạy lại suốt ngày đêm làm nhiệm vụ lùng sục, bảo vệ cầu. Hai bên sông cách cầu từ 500-700 mét, địch bố trí một loạt tháp canh (lực lượng mỗi tháp canh cỡ khoảng một tiểu đội) làm nhiệm vụ canh gác, tuần phục. Ban đêm chúng bắn xôi xả (kể cả lựu đạn và súng phóng lựu M.79) dọc theo hai bờ sông và dưới chân cầu. Những đêm tối trời địch dùng máy bay trực thăng thả pháo soi hai bên cầu. Ngoài hệ thống phòng thủ cẩn mật tại chỗ, địch còn cài cắm bọn bình định ác ôn, mật vụ, thám báo nằm rải rác trong các ấp chiến lược hai bên bờ sông để dò la, phát hiện ta từ xa. Để bảo vệ chắc chắn, địch còn thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân càn quét với lực lượng từ một đại đội đến một tiểu đoàn bằng tàu xuồng, hoặc bằng trực thăng dọc theo ven sông thuộc các huyện Bến Thủ, Tân Trụ, Cần Đước; đặc biệt từ 26 tháng 6 (là thời điểm cuối cùng ta chuẩn bị đánh cầu Bến Lức) địch mở nhiều cuộc phản kích lớn vào hậu cứ ta ở ven đường số 4, ven sông Vàm cỏ Đông, tăng thêm cho Bến Lức một tiểu đoàn pháo cỡ lớn và nhiều xe tăng, xe bọc thép đề phòng ta tiến công, giữ cho được đầu cầu này để tiến hành đánh phá tây - nam Sài Gòn. Đánh sập cầu Bến Lức không chỉ là yêu cầu của bản thân Phân khu 3, mà còn góp phần hỗ trợ các phân khu bạn triển khai tiến hành đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy. Không thấy có gì phải hỏi thêm vì mục tiêu thật gọn - chỉ một cây cầu nằm độc lập; vì nhiệm vụ cũng thật rõ - đánh sập cầu. Điều khiến tôi phải suy nghĩ sau khi được anh Tư Thân giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy trận đánh, là làm thế nào hoàn thành được nhiệm vụ. Vì cây cầu này hồi tháng 3, ta đã tổ chức đánh nhưng không thành công chỉ hỏng nặng, một tuần lễ sau đó địch đã chữa ngay, việc lưu thông trở lại bình thường. Như vậy chắc chắn là sau trận này chúng sẽ tăng cường bố phòng, canh gác cẩn mật hơn. Một điều nữa không thể bỏ qua, sau đòn choáng váng của cuộc tiến công và nổi dậy của ta trong đợt một, địch rút kinh nghiệm, chấn chỉnh lại lực lượng để, một mặt tăng cường phòng thủ nội đô, mặt khác tổ chức các cuộc phản kích ở vùng ven đô với lực lượng hỗn hợp Mỹ - ngụy Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu đã tung bốn tiểu đoàn thuộc lực lượng dự bị chiến lược làm nhiệm vụ phòng thủ vòng trong ra cùng với lữ đoàn 199 độc lập và lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ tiến hành phản kích ác liệt ở phía nam Sài Gòn thuộc địa bàn Phân khu 3. Chúng còn sử dụng cả máy bay B.52 thả bom rải thảm xuống vùng hạ Cần Giuộc và các vùng cặp hai bên sông Vàm cỏ Đông (Đức Huệ, Bến Lức). Tình hình căng thẳng này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuẩn bị trận đánh. Nếu không suy tính cẩn thận, kế hoạch không tỉ mỉ sát sao thi chúng tôi rất có thể sẽ bị thương vong trước khi triển khai lực lượng chiến đấu. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 04:49:34 am Đêm đầu tiên sau khi nhận sự phân công của Bộ tư lệnh Phân khu 3, tôi cứ đắm mình trong những suy nghĩ miên man. Nghĩ về ý kiến của các anh trong Bộ tư lệnh Binh chủng trao cho trước lúc lên đường - vào trong đó cố tạo điều kiện được trực tiếp tham gia chiến đấu, nhất là được dự các trận đánh then chốt, qua đó mà tổng kết rút kinh nghiệm gửi ra Binh chủng; nghĩ về lòng tin của tổ chức, của các anh Tư Thân, Chín Cần và các anh trong Bộ tư lệnh Phân khu đã gửi gắm: Đánh lần này cần phải sập cầu, làm như thế nào thì do anh Tư quyết định - rồi các anh siết chặt tay tôi nhấn mạnh - phải chuẩn bị chắc ăn, nghe. Cả Phân khu dõi tin trận đánh đó!
Thái độ thân tình, tôn trọng trong khi các anh giao nhiệm vụ đã khích lệ tôi. Khí thế lạc quan của cán bộ chiến sĩ chấp nhận đi vào đợt hai của cuộc chiến đấu đã thực sự giục giã tôi. Và chính trong tôi lúc này cũng ý thức đầy đủ về nhiệm vụ được giao có quan hệ phối hợp với mặt trận hướng bắc của phân khu đang sắp bước vào thời kỳ sôi động. Chứng tôi nêu vần đề trao đổi trong cán bộ, tập trung vào ba việc chính: - Phải tổ chức điều nghiên như thế nào vừa bảo đảm bí mật, an toàn lại đạt hiệu quả cao. - Phải cần bao nhiêu lượng nổ, cách đóng gói như thế nào để bảo đảm kỹ thuật, đưa được trái vào mục tiêu. - Phương án thực hành đánh sập cầu theo kiểu nào là chắc ăn, không mắc phải khuyết điểm như lần đánh trước đó. Cả ba vấn đề thuộc nội dung quyết tâm của trận đánh có quan hệ mật thiết với nhau, không thể nặng nhẹ mặt nào, nhưng việc đầu tiên là phải tổ chức điều nghiên nắm địch thật vững đã. Huyện ủy Tân Trụ và chi ủy Bình Nhựt (xã có cầu Bến Lức) đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc tìm nơi ăn, ở và nắm hiểu tình hình địch. Đặc biệt là ban binh vận huyện thông qua cơ sở nội tuyến cài cắm trong quân đội ngụy đã cung cấp cho chúng tôi khá tỉ mỉ và chính xác về hệ thống phòng thủ vòng trong của địch, đặc biệt là quanh khu vực cầu Bến Lức. Đó là những căn cứ không thể thiếu để chúng tôi triển khai công việc chuẩn bị cho trận đánh. Nhưng nó vẫn không thể thay thế việc mình phải trực tiếp nhìn thấy, sờ thấy mục tiêu, nơi mình có nhiệm vụ đến. Một việc làm mà sau này các đồng chí ở bộ phận nghiên cứu tổng kết đã đặt cho nó một thuật ngữ - phương pháp điều nghiên trực quan. Không có điều nghiên trực quan thì không có chiến đấu. Quan hệ gắn bó này được rút ra từ thực tiễn để trở thành một trong những nguyên tắc Cơ bản của phương thức tác chiến đặc công. Ngày 15 tháng 5 năm 1968, giai đoạn điều nghiên bắt đầu được triển khai. Với đặc công, điều nghiên là chiến đấu, trực tiếp tiếp xúc với địch, vì vậy công tác chuẩn bị phải thật chu đáo cả về tư tưởng và tổ chức. Khoảng 20 giờ cùng ngày, từ một địa điểm cách cầu hơn một cây số về phía hạ lưu, tổ ba người đã sẵn sàng nhận lệnh. Họ ở trần mặc quần áo lót chẽn thân mang dáng dấp người nhái. Không có trang bị gì phức tạp ngoài dây bảo hiểm và vòng cổ mỗi người có đeo một “máy” thở thô sơ. Đêm hạ tuần, trăng và sao đều bị khuất bởi những đám mây dày đặc phủ kín một góc trời tự bao giờ. Nhưng ánh sáng các loại đèn phòng thủ từ cầu Bến Lức hắt đến vẫn nhìn rõ gương mặt từng người sắp sửa ra đi. Giờ xuất phát không yên tĩnh. Một quả đạn cối 82 ly từ đâu bay tới gần vị trí xuất quân và tiêng súng từ Bến Lức bỗng rộ lên. Rồi đạn pháo cực nhanh bay vèo vèo qua đầu, tiếp theo là những tiếng nổ dậy đất từ phía Đức Hòa, Ba Thu dội về. Không một ai tỏ vẻ hốt hoảng. Tôi rất yên tâm và rất tin về những người đồng đội của mình, mặc dù số anh em cùng tôi làm nhiệm vụ trong trận đánh chưa quen nhau. Các cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị phần lớn đều từ hải quân chuyển sang, được huấn luyện kỹ thuật đặc công nước và bổ sung vào chiến trường cuối năm 1966. Tất cả đều trẻ, hăng hái, nhiệt tình, đã qua các trận đánh cầu Dầu Tiếng, cầu Bình Điền, cầu Cần Giuộc, cầu ông Thìn, v.v... Đêm thứ nhất của đợt điều nghiên là nắm tình hình khu vực cầu. Tổ đã phát hiện địch có thay đổi một số về bố phòng dưới sông so với lần đánh cầu đợt trước. Chúng tăng thêm xuồng máy tuần tra, đặt thêm một bót gác cách cầu 800 mét; cỏ lác bên bờ sông phía nam (đường dự kiến tiếp cận) bị phá sạch, hàng rào kẽm gai được củng cố lại và làm rộng ra năm mét. Đèn đặt ở trụ cầu bê tông và mố cầu được tăng thêm, tàu chạy xa cầu hơn và không thành quy luật. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 04:51:10 am Nhiệm vụ điều nghiên của đêm thứ hai là tiếp tục nghiên cứu đường chuyển trái vào, quy luật tàu xuồng máy chạy, quy luật canh gác dưới chân cầu. Nhưng khi đến chân cầu bê tông thì gặp một xuồng máy địch chạy ngang qua, đuôi tàu vướng vào dây bảo hiểm, bọn địch trên xuồng liền phản ứng bắn súng báo động cho toàn căn cứ. Thấy tình hình không bảo đảm an toàn, tổ điều nghiên nhanh chóng rút khỏi vòng nguy hiểm, trở về căn cứ. Trong khi đó địch hết sức hoang mang, chúng bắn bừa bãi các loại đạn xuống nước, đèn pha chiếu khắp nơi, tàu và xuồng máy chạy tuần tiễu quanh các chân cầu suốt đêm. Hướng tiếp cận bị lộ, từ đó về sau địch rất chú ý phía nam cầu (thuộc huyện Tân Trụ), càng ra sức tuần phòng nghiêm ngặt hơn. Như vậy là công tác điều nghiên chưa hoàn thành. Hướng tiếp cận từ ngoài biển vào không sử dụng được. Tình hình trở nên khó khăn.
Tạm đình hoãn việc điều nghiên một vài ngày cho tình hình trở lại bình thường. Đêm 29 tháng 5, công việc nắm địch lại được tiếp tục. Lần này chúng tôi quyết định toàn đơn vị vượt lộ 4 rời Tân Trụ sang Bến Thủ để đổi hướng tiềm nhập. Đêm thứ ba, do kịp thời chuyển hướng nên việc điều nghiên đạt kết quả tốt. Nói chung hệ thống phòng thủ ở hướng Bến Thủ giống như Tân Trụ, chỉ khác là địch tại đây có phần chủ quan hơn. Cùng với việc điều nghiên, câu hỏi đặt ra từ đầu là lượng nổ cần cho việc hoàn thành nhiệm vụ. Đây là vấn đề phức tạp, có quan hệ đến thành bại của trận đánh mang ý nghĩa then chốt; không thể trả lời một cách giản đơn, võ đoán được, mà cần phải có sự tính toán khoa học phù hợp với thực tiễn. Một cuộc họp trao đổi để tìm “thông số” kỹ thuật đã được tổ chức gấp tại một địa điểm ngay bờ nam sông Vàm cỏ Đông (thuộc địa phận huyện Bến Thủ) cách Bến Lức chừng khoảng ba cây sô. Không khí cuộc “hội thảo” diễn ra rất sôi nổi và đầy hào hứng, bởi ai cũng ý thức được tính nghiêm túc của vấn đề. Thật xúc động biết bao khi có dịp ngắm nhìn gương mặt các chiến sĩ sắp đi vào trận đánh. Tuổi đời mới trên dưới hai mươi mà ai nấy đều già dặn với đường nét, dáng vẻ của những người đã có chiều dày từng trải, chín chắn trong suy nghĩ, thận trọng trong hành động. Nước da mỗi người vẫn còn đậm màu xanh sạm của nắng gió Trường Sơn, của những năm tháng sống cùng muỗi, vắt rừng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Nhưng trong .khóe mắt của hơn hai mươi người con quê ở miền Bắc hiện đang đứng trong thế trận tây - nam Sài Gòn vẫn ngời trong, luôn hướng về cái đích sáng lạn để đi tới. Tôi chăm chú lắng nghe và chắt chiu từng khía cạnh nhỏ những ý kiến của mỗi người vì đây là những kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu trong đó có mồ hôi và máu của đồng đội để lại, chứ hoàn toàn không chút cảm tính, sách vở nữa. Quyết tâm chiến đấu là cả một quá trình chuẩn bị, cân nhắc của người chỉ huy nhưng chỉ khi nào quyết tâm đó được mọi người đóng góp, trên dưới đồng lòng, mới trở thành yếu tố sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Sau khi biểu dương những ý kiến đóng góp của anh em, tôi nói tiếp: Bến Lức được xem như một kiểu loại căn cứ liên hợp quân sự thu nhỏ của Mỹ - ngụy ở miền Nam. Ở đây địch tập trung nhiều sắc lính, nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, được kết đan thành một hệ thống phòng thủ cẩn mật nhiều tầng nhiều lớp, để không những bảo vệ cây cầu mà còn làm nhiệm vụ một căn cứ khởi xuất các cuộc hành quân đánh phá cơ sở của ta, kìm kẹp nhân dân quanh vùng. Vì vậy theo tôi, công thức tính lượng nổ cho trận đánh này phải thỏa mãn cả hai yêu cầu: Đánh sập cầu Bến Lức, đồng thời diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh ở quanh khu vực cầu, góp phần phá bung một điểm tựa chủ yếu trong hệ thống phòng thủ vành ngoài của địch ở tây - nam Sài Gòn. Như thế là ta làm theo kiểu một công đôi ba việc... - Vậy lượng nổ bao nhiêu ký (ki-lô-gam) thì đủ, anh Tư? - Một đồng chí cán sự huyện Bến Thủ cùng dự họp, sốt ruột hỏi. - Một ngàn ký. - Tôi trả lời. Hầu hết những người dự họp đều tròn xoe mắt nhìn tôi. Thông cảm được sự ngạc nhiên của mọi người, tôi nói tiếp: Phải dùng một lượng nổ như vậy. Tiết kiệm để đánh lâu dài là đúng nhưng khi cần cũng phải dám đánh lớn. Ở chiên dịch Điện Biên Phủ ta đã dùng trái nổ ngàn ký để đánh cứ điểm đồi Al. Chỉ khác là hồi đó ta đào hầm để đưa trái nổ cỡ bự đó vô đánh sập căn cứ địch; còn bây giờ ta dùng trái nổ đi theo đường sông, đưa vô đúng cái trụ cầu mà ta định đánh trong điều kiện địch bố phòng cẩn mật... Khi chúng tôi đã tìm ra công thức về lượng nổ thì thuốc nổ TNT dự trữ của Phân khu 3 đã cạn vì đã huy động phục vụ cho đợt một và đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 04:53:18 am Vì ý nghĩa quan trọng của trận đánh nằm trong khuôn khổ của đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy trên toàn khu vực Sài Gòn, nên Bộ tư lệnh Phân khu 3 không thay đổi quyết tâm. Anh Tư Thân, anh Chín cần từ sở chỉ huy cơ bản gửi thư động viên tôi ráng chờ, sẽ có đủ lượng thuốc mà anh Tư cần. Hãy động viên anh em giữ vững quyết tâm.
Thế là một “chiến dịch” vận chuyển thuốc nổ được triển khai sau đó. Một đội quân gồm mấy chục con người nai nịt gọn gàng âm thầm luồn qua đồn bót địch, băng qua Đồng Tháp Mười lên tận vùng giáp biên Ba Thu (Đức Huệ) để vận chuyển thuốc nổ về. Ngày các anh trong đội quân vận chuyển nhận lệnh lên đường cũng là ngày chúng tôi thấp thỏm mong chờ, nôn nao tính đến từng giờ. Và khi được thông báo ngày các anh về thì ai nấy đều hồi hộp không sao ngủ được, cứ thức hoài mong ngóng. Phút đầu tiên gặp nhau thật xúc động không nói nên lời. Cả người tiếp nhận và người vận chuyển đều nhìn nhau trong im lặng - cái im lặng chất chứa những lo toan, những thương cảm về nhau. Trong ánh sáng đèn pha từ cầu Bển Lức hắt tới, tôi nhìn rõ đồng chí đội trưởng đội vận chuyển dáng người thấp đậm, hai má tóp gày. - Thuốc nhồi trái đủ rồi đó, anh Tư. - Vừa nói anh vừa nâng hai tay đưa tôi gói thuốc nổ nặng cỡ mười ký, được gói bằng ni lông rất cản thận đề phòng thấm nước. Đón nhận gói thuốc nổ vuông vắn từ tay anh, tôi không sao cầm được nước mắt! Bởi chuyển đưa được về đây chỉ một ký thôi đâu có đơn giản? Con đường mà các anh đi qua là con đường máu, đã có biết bao nhiều đồng đội của chúng ta ngã xuống trên đường tiến xuống chi viện cho chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Con đường ấy giờ đây, sau đợt một của cuộc tiến công và nổi dậy, Mỹ ngụy đã gia tăng đánh phá với mức ác liệt hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó. Dọc vùng giáp biên (Đức Huệ - Kiến Tường) nơi các anh đến nhận thuốc nhồi trái TNT đang bị máy bay Mỹ quần đảo, trút bừa bãi hàng tấn bom nổ chậm, bom từ trường; đêm đến pháo bầy thi nhau giội theo tọa độ trực thăng thay phiên nhau rõi đèn, đánh phá hành lang, nhằm chia cắt thế trận liên hoàn giữa các phân khu của ta bao quanh Sài Gòn, ngăn chặn lực lượng từ R xuống chi viện cho mặt trận tây - nam Sài Gòn. Không nâng niu, không trân trọng sao được khi được biết những ký thuốc nổ này đã nhuộm máu đồng đội mình, với ý thức thật đẹp - bảo đảm thuốc đến tận tay chúng tôi, góp phần vào thắng lợi trong trận đánh tới. - Xin thành thật cám ơn những anh em còn sống và kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn những người ngã xuống để cho chúng tôi có sức mạnh bước vào trận chiến đấu mới. Tôi đã nói tự đáy lòng những suy nghĩ cảm xúc của mình khi đón nhận gói thuốc nổ từ tay đồng chí đội trưởng vận chuyển. Đồng chí đội trưởng trở nên lúng túng, giọng run run cảm động: - Trách nhiệm chung mà, anh Tư! Cùng lúc mọi công tác chuẩn bị cho bao gói, kết trái đã được song song tiến hành như vải, nilông che mưa, dây thừng, dây gân, ruột xe hơi; quan hệ với địa phương để mượn ghe, xuồng, xin tre, búp dừa để chằng buộc, làm phao và ngụy trang... Khi nhận hết lượng nổ, chúng tôi có đủ điều kiện bước vào triển khai đóng gói. Mỗi công việc chuẩn bị cho trận đánh giữa vòng vây của quân thù đều có những nội dung phong phú với tất cả tính phức tạp của nó. Việc vận chuyển lượng nổ về tới đây được xem như một cuộc chiến đấu đòi hỏi phải trả giá bằng máu xương, thì việc biến khối thuốc nổ đó thành một trái nổ cũng không thể làm theo con số cộng đơn thuần, muốn đóng gói theo hình thù nào cũng được. Một trọng lượng lớn như thế, khi thả xuống, yêu cầu chỉ là là chìm cách mặt nước khoảng hai mươi phân. Nổi không được, như thế sẽ lộ. Nhưng nếu tính toán không kỹ, kết cấu không đúng kỹ thuật thì cả khối thuốc thả xuống Sẽ tức khắc chìm xuống đáy sông, dẫn đến một thất bại kép: không phá sập được cầu và mất toi cả ngàn ký thuốc! Do tính toán chuẩn bị trước, nên khi thuốc về là bộ phận đóng gói kết thành nhiều trái nhỏ, rồi kết lại với nhau thành một trái lớn, được bao bọc bởi ba lóp vải, một lớp nilông. Hai trăm kíp nổ thường, được gói xen vào các lớp thuốc TNT để làm kíp phụ. Riêng trái nổ mồi nặng 20 ký có gắn sáu kíp hóa học loại hẹn giờ. Trong khi tính toán thiết kế trái, chúng tôi có chú ý tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, vừa đỡ phức tạp vừa ngụy trang họp với địa hình. Chẳng hạn, dùng nẹp tre để kết trái lớn, buộc bằng dây gân; dùng vải nilông để kết trái nhỏ và buộc bằng dây thừng; dùng búp dừa nước kết thành hình chữ nhật buộc hai bên trái làm phao nâng, có tác dụng ngụy trang khi trái theo dòng chảy vào trụ cầu; hai đầu trái thì dùng phao nâng bằng hai ruột xe ô tô loại lớn; phía trên mặt cũng dùng một khối búp dừa nước kết thành hình mái nhà để thu nhỏ mục tiêu khi đưa trái xuống nước. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 04:54:59 am Tất cả số trái nhỏ được gói trong ba ngày; trái lớn được liên kết dưới một ghe to trọng tải hai tấn, trước ngày đi chiến đấu một buổi. Làm như vậy là đề phòng nếu gặp bất trắc, có điều kiện phân tán nhỏ lượng thuốc, không để lọt vào tay địch, bịt được các dấu hiệu địch nghi ngờ...
Cứ mỗi việc hoàn thành là chúng tôi lại thấy nhẹ nhõm, đầu óc bớt căng thẳng. Tình hình lúc này rất khẩn trương. Ta đã bước vào đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy. Hướng bắc của Phân khu chiến sự đang diễn ra rất ác liệt. Các đơn vị chủ lực của phân khu 3 phải đánh liên tục với lữ 3 sư đoàn 9 Mỹ ở vùng ven, nên không lách qua để vào nội đô được. Chỉ có hai tiểu đoàn 6 và tiểu đoàn 308 bộ binh sau khi chiến đấu ác liệt với tiểu đoàn 38 biệt động quân và tiểu đoàn 2 thủy quân lục chiến ngụy, đến ngày 2 tháng 6 vượt qua ngã tư Phú Định, bám đường Hậu Giang tiến vào nhưng bị tiểu đoàn 30 biệt động quân ngăn chặn, ta phải giành giật với địch từng căn nhà, tiến vào đến đường Khổng Tử, Đồng Khánh. Khi tiểu đoàn 6 vượt lên đường Nguyễn Trãi thì đội hình tiến công của ta bị chia cắt: tiểu đoàn 6 ở đường Nguyễn Trãi, tiểu đoàn 308 ở đường Khổng Tử - là những đường phố chính trong nội đô Sài Gòn... Anh Tư Thân chỉ thông báo như vậy, nhưng đó chính là một nhắc nhở, một mệnh lệnh đối với tôi, trong khi công việc chuẩn bị trận đánh cầu Bến Lức vẫn còn ngổn ngang, tôi chưa thể báo cáo với các anh về ngày N và giờ G của trận đánh được. Tôi đứng ngồi không yên! Yêu cầu chung của cài thế đòi hỏi phải khẩn trương trong chuẩn bị, nhưng tôi vẫn không quên lời anh Tư Thân giao nhiệm vụ lúc ban đầu - Phải chuẩn bị cho chắc ăn. Dù có khó khăn mấy, một cuộc trao đổi về kế hoạch trận đánh vẫn được tổ chức. Trước hết phải tìm cho được vị trí ém quân để làm tiếp các công việc còn lại của nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu. Cùng với cán bộ phụ trách và những đồng chí được giao nhiệm vụ trực tiếp đánh cầu, chúng tôi đi tới đi lui, cuối cùng lựa được một địa điểm cặp bờ nam sông Vàm cỏ Đông, phía thượng lưu cầu Bến Lức, cách ấp chiến lược chừng 300 mét, là nơi trú quân. Kể thì cực kỳ nguy hiểm vì ngay cạnh nách địch, nhưng ém quân nơi đó lại tạo bất ngờ đối với quân địch. Để bảo đảm giấu quân (9 đồng chí) và phương tiện khí tài cồng kềnh ở đây được an toàn, chúng tôi quy định mọi người phải chấp hành nghiêm ngặt việc đi lại, ăn ở. Hai mươi ngày chúng tôi sống và làm việc dưới tán và gốc cầy dừa nước đầy muỗi vàng quả thật gay go! Không ai được rời vị trí. Việc cung cấp lương thực do một đồng chí cán bộ địa phương lo liệu chuyển đến. Đến lúc này kế hoạch chiến đấu chỉ còn vấn đề là lo sao đưa trái đến đúng trụ cầu định đánh. Đầu việc tuy gọn nhưng nội dung lại rất phức tạp, nó là một cuộc đấu trí với địch, là then chốt của toàn bộ trận đánh, như giai đoạn về đích của cuộc thi. Vì thế một mặt xin ý kiến các anh trong Bộ tư lệnh Phân khu 3, tranh thủ các đồng chí cán bộ, cấp ủy có trách nhiệm của huyện Bến Thủ, xã Bình Nhựt; đồng thời trao đổi lần cuối với các đồng chí cán bộ phụ trách và số đồng chí được giao trực tiếp đưa trái vô cầu. Ngày hôm sau, tại một địa điểm cách vị trí dự định ém quân không xa, tôi đã trình bày quyết tâm một cách tự tin nhưng vẫn thấy hồi hộp! Bản thân trưởng thành từ các trận chiến đấu đặc công trên bộ thời kháng chiến Chín năm đánh Pháp, nay được giao chỉ huy đánh đặc công nước và là trận đầu trong đánh Mỹ. Tôi trình bày theo hệ thống mà mình đã sắp xếp: 1. Mục tiêu đánh là chân cầu bê tông thứ hai (bờ nam sông, phía thị xã Tân An lên). Sở dĩ ta chọn đánh chân cầu này vì có mấy cái lợi: - Dễ tiếp cận hơn so với các chân cầu khác. Nếu chân cầu này gãy, kéo hai nhịp thứ hai, thứ ba phía nam cầu rập theo, mặt cầu đứt khoảng trên 100 mét - Chân cầu này sập khó chữa hơn các chân cầu khác. 2. Đường đưa trái theo hướng nguồn nước xuống, nhưng phải chọn đêm tối trời và thời gian nước ròng (nước xuống) phải nhiều giờ mới bảo đảm đưa trái (thả trôi) vào trụ cầu được an toàn, thuận lợi. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:03:44 pm 3. Trái sẽ được vận chuyển bằng ghe to, đến cách cầu khoảng một cây số thì nhận chìm ghe, hai đồng chí đưa ghe vào vị trí đã định; còn tổ chiến đấu ba người lo điểu chỉnh phao, sau đó đưa trái vào mục tiêu theo các động tác sau: Phía bên trái trước khối nổ có một dây xanh dài 50 mét do đồng chí Trung cột vào người, bên phải phía trước có một dây nhánh do đồng chí Bảy cột vào người cả hai thả phía trước trái, hướng cho trái đi theo dòng nước, sau trái là đồng chí Dương cũng cột dây dài 50 mét vào người có nhiệm vụ vừa đi vừa điều chỉnh cho trái xuôi đúng hướng, đồng thời điều chỉnh cả phao, chú ý phát hiện trái chìm để kịp thời xử lý. Trong hai đồng chí đi trước có nhiệm vụ, khi một người nào đụng chân cầu trước thì nhanh chóng cột dây vào trụ và kéo trái về ngay chân cầu; làm xong nhiệm vụ, thả kỹ thuật theo dòng nước về phía Tân Trụ, còn đồng chí Dương đi sau trái có nhiệm vụ cột dây thứ ba liên kết giữa trái và chân cầu, sau đó cũng rút về điểm hẹn. Làm cách gì cũng phải gắng đưa bằng được lượng nổ vào chân cầu mới đủ sức đánh gãy chân cầu theo ý định.
4. Khi trái cách chân cầu khoảng 200 mét, đồng chí phía sau có nhiệm vụ bóp kíp hóa học; và khi cố định trái vào chân cầu, cần nhanh chóng theo dòng nước rời khỏi cầu về điểm hẹn ở bờ bắc sông Bắc Tân gặp hai đồng chí trước, đợi nghe tiếng nổ, rồi toàn tổ rút về căn cứ mới của đơn vị. 5. Xử lý bất trắc; Khi đưa trái gần tới chân cầu mà bị tàu hoặc xuồng máy địch phát hiện thì một trong ba người, người nào gần địch hơn sẽ dùng lựu đạn chiến đấu, còn lại hai người nhanh chóng đưa trái tới mục tiêu và làm đầy đủ các động tác chuẩn bị gây nổ xong mới rút. Trên đây là quy định chung, còn ngày giờ hành động dự định như sau: Đêm 19 tháng 6, khảo sát mục tiêu lại lần cuối để phát hiện những thay đổi lớn của địch. Trưa này 20 tháng 6 kết thành trái lớn lên ghe. 19 giờ ngày 20 tháng 6, tất cả những người tham gia chiến đấu tập trung để kiểm tra và nghe phổ biến mệnh lệnh chiến đấu. 20 giờ ngày 20 tháng 6 xuất phát. Buổi phổ biến quyết tâm chiến đấu diễn ra nhanh gọn. Chỉ có vài ý kiến hỏi về phương pháp điểu chỉnh phao (vì đây là việc khó) để giữ trái nổ ở trạng thái nổi chìm cho phép. Sự nhất trí ở đây coi như là mệnh lệnh chính thức; riêng vấn đề thời gian thì đang còn ở mức dự kiến. Nếu tình hình thời tiết, khí tượng thủy văn diễn ra đúng quy luật bình thường hàng năm thì dự kiến thời gian kể trên là chính thức. Thiên thời địa lợi đã ủng hộ chúng tôi. Thời gian đã không phụ đối với những vất vả gian truân của các chiến sĩ đặc công trong suốt quá trình chuẩn bị. Ngày giờ đi vào trận đánh đúng như dự kiến. 20 giờ ngày 20 tháng 6 năm 1968 đã đến! Những người “thiết kế” (đóng gói) trái nổ đã chuyển trái ra sông Vàm Cỏ Đông bằng ghe. Mang trên mình trái nổ bề thế, đảm được yếu cầu kỹ thuật. Trước hết bơm thêm hơi vào phao cao su, kết thêm búp dừa để giữ trái thăng bằng với mặt nước và độ cao đầu tiên khoảng 20 phân. Phải đợi một giờ sau đó cho phao ngấm nước mới bắt đầu đưa trái nổ vào mục tiêu. 11 giờ khuya, nước bắt đầu ròng mạnh, tôi lệnh cho bộ phận nghi binh tiếp tục thả bèo, rong trôi tự nhiên tạo thành một mật độ dày trên mặt nước, nhằm che mắt địch. 12 giờ đúng, địch vẫn tuần tiễu và bắn súng cầm canh, đạn vèo vèo bay qua đầu. Tiếng động cơ tàu xuồng vẫn ầm ì quanh cầu Bến Lức. Nửa giờ sau, không gian trở lại yên tĩnh. Giờ xuất phát tiến công đã đến! Tổ chiến đấu đã ở tư thế sẫn sàng. Trong quầng sáng từ cầu Bến Lức hắt dọc theo sông, tôi nhìn rõ gương mặt các đồng chí Dương, Trung và Bảy - những người trực tiếp đối đầu với địch đêm nay, đứng theo đội hình hai trên, một dưới cạnh trái nổ. Tất cả đã sẵn sàng. Ai nấy đều kiên quyết, tự tin. Tôi cũng bì bõm dưới nước, đến bắt tay và ôm hôn từng người. Nước ròng mạnh, làm chúng tôi chao đảo, càng xích gần nhau và thương nhau vô hạn, trước lúc chia tay. - Chúc thắng lợi! Tôi lên bờ, xuôi về Tân Trụ, tại một ấp cách Bến Lức một cây số - nơi đặt sở chỉ huy để theo dõi cuộc hành trình của trái nổ và chờ đội một tiếng nổ chiến thắng. Giờ G đã đến. Lúc ấy là 1 giờ 30 phút sáng. Chúng tôi nghếch tai về phía Bến Lức để đợi nghe, để mừng vui. Nhưng giờ G trôi qua, không gian vẫn yên tĩnh. Rồi tiếng gà gáy sáng dồn dập từ ấp chiến lược vọng ra. Cúng có thể sai số. 'Thời gian bị chậm lại, đó là điều dễ chấp nhận. Vì trên đường tiếp cận mục tiêu, tổ điều khiển trái còn phải qua hai bót gác địch và một ấp chiến lược kề bên bờ sông. Chậm nửa tiếng, một tiếng có nghĩa lý gì, miễn sao an toàn là được. Nhưng tôi nghi ngờ ngay cả cái lý lẽ biện bạch để an ủi mình. Vì kim đồng hồ đã chỉ con số 2. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:06:34 pm Sự cố! Đúng là sự cố rồi. Nhưng hiện tình ra sao? Tôi lo lắng và nín thở. Ngực tức vì tim đập liên hồi, cổ tắc nghẽn như có vật chẹn.
Đang lúc bối rối như thế thì Dương mò về. Lúc này đã là ba giờ sáng, tiếp đến là Trung và Bảy. Tất cả đều ỉu xìu, buồn chán. Vừa nhìn thấy các đồng chí tổ chiến đấu trở về, tôi hỏi liền: - Sao? - Tôi đến gần định hỏi dồn, trách móc là tại sao lại về không, nhưng đã kìm lại, vì nhìn nét mặt buồn rầu của các đồng chí. - Báo cáo anh Tư, trái nổ vẫn an toàn! - Dương mở đầu. Và sự việc được sáng tỏ sau ki nghe tổ chiến đấu thuật lại: Trái nổ đến cách mục tiêu 200 mét, đồng chí Dương mới bóp được ba kíp hóa học thì trái chìm sâu (sau này chúng tôi nghiên cứu tìm nguyên nhân là càng gần trụ, nước càng chảy xiết, chỉ cần một tác động nhẹ vào ừái cũng có thể làm chìm). Thấy thế, đồng chí Dương liền lặn xuống sâu để nâng trái lên, nhưng nước ròng đập quá mạnh, đẩy Dương càng xa trái thêm. Vì không đủ sức lội ngược dòng chảy, hơn nữa gần cầu nên Dương dùng kỹ thuật thả theo dòng về điểm hẹn ở Tân Trụ. Cùng lúc ấy Trung và Bảy lặn sâu xuống nước bốn mét nhổ sáu kíp hóa học để đảm bảo an toàn cho trái. Lúc này nước cũng đứng và bắt đầu lên. Trăng sáng và trời cũng sắp sáng, nếu loay hoay giữa sông địcb phát hiện sẽ lộ, hỏng việc lớn đang làm dở. Nghĩ như thế, cả hai làm dấu nơi để trái dưới đáy sông xong, liền trở về điểm hẹn báo cáo sự việc. Nhổ kíp nổ để đảm bao an toàn và giấu nó vào một nơi để tính chuyện làm ăn sau này là một việc làm vừa thể hiện tinh thần dũng cảm, vừa tỏ rõ ý thức trách nhiệm chính trị cao của hai đồng chí Trung và Bảy - những chiến sĩ đặc công không hề nản chí trước khó khăn, mà là với tinh thần thua keo này ta bày keo khác. Tôi thấy không có lý do gì để trách cứ mà chỉ thêm cảm phục mến yêu và tự hào về những người đồng đội của mình, càng gian nan nguy hiểm, càng âm thầm thể hiện cái tư chất đặc biệt của một binh chủng đặc biệt. Còn nguyên nhân gây chìm không phải lỗi ở đồng chí Dương, mà là một bài học chung cho tất cả chúng tôi. Sự đơn giản chưa suy tính đến hết các chi tiết mang tính khoa học bao giờ cũng phải trả giá. Quyết tâm chiến đấu của chúng tôi không thay đổi. Trận đánh lại được tiếp tục ngay đêm 21 tháng 6, chỉ điều chỉnh một số điểm cho phù họp. Đồng chí Trung thay đồng chí Dương làm tổ trưởng, đồng chí Thân dự bị, thay vị trí đồng chí Trung. Tổ chiến đấu sẽ dùng một ruột xe hơi to cột dây lại, một đầu dây lặn móc vào trái rồi từ từ nâng trái lên, chuyển lùi lại một ít; đồng thời điều chỉnh phao cho thích họp, sau đó tiếp tục đưa trái vào mục tiêu. Nhưng vì con nước ròng thời gian ngắn, câu trái lên được một đoạn thì trời sắp sáng, nước triều cũng đứng lại để bắt đầu lên. Điều kiện thực hiện nhiệm vụ không còn, đồng chí Trung quyết định rút kíp hóa học, cho trái chìm lần thứ hai và được giấu ở một địa điểm cách cầu 500 mét về địa điểm hẹn xin ý kiến. Xét thấy tổ chiến đấu sau nhiều đêm ngâm nước, nhất là hai đêm qua phải ngâm minh dưới sông để điều trái và giấu trái rất vất vả, căng thẳng, ăn uống lại thiếu thốn, sức khỏe giảm sút, chúng tôi quyết định tạm hoãn kế hoạch lại, chuẩn bị tốt hơn và chờ con nước ròng nhiều thời gian lại. Con nước ròng lớn đã có. Trận đánh được bắt đầu sau một tuần lễ đình hoãn. Lần này chúng tôi quyết định: Đêm 27 tháng 6 làm công tác chuẩn bị thuốc mồi, kíp hóa học, phao búp dừa và dây kéo trái thật đầy đủ và đồng bộ. Đêm 28 đưa trái vào mục tiêu. Lúc này đồng chí Dương trở lại làm tổ trưởng, chỉ huy điều khiển trái như kế hoạch cũ. Nhưng tình hình địch đã có thay đổi. Chúng tăng thêm lực lượng pháo và cơ giới để bảo vệ cầu. Các vọng gác cũng được bổ sung thêm lính tuần phòng cẩn mật hơn. Pháo sáng bắn liên tục trên sông. Tổ chiến đấu vẫn bình tĩnh tiến hành “cẩu” trái từ sâu lên, điều chỉnh phao và đưa trái tiếp cận mục tiêu. Nhưng trên đoạn sông gần cầu, đèn pha cùng pháo sáng của địch rọi sáng rõ như ban ngày, nên kế hoạch dự định đánh vào đêm 28 tháng 6 lại không thành. Một cuộc hội ý chóp nhoáng với các đồng chí cán bộ phụ trách được tiến hành ngay sáng ngày 29. Chúng tôi quyết định trận chiến đấu lại được tiếp tục trong đêm nay (29 tháng 6). Vì tin tức cơ sở của ta từ Bến Lức bao cho thấy địch vẫn không hề hay biết gì ta chuẩn bị tiến công. Địch tăng cường thêm lực lượng là theo yêu cầu chung của tình hình. Pháo sáng và đèn pha hoạt động đêm qua ở gần khu vực cầu cũng chỉ là ngẫu nhiên, chứ không có lý do gì đội xuất, về phía ta, tổ chiến đấu mệt, nhưng cũng có thêm kinh nghiệm, năm chắc hơn quy luật hoạt động của địch, hình dung nhiều chi tiết địa hình quanh khu vực cầu. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:08:02 pm Mặc dầu phải làm lại đến lần thứ ba, nhưng ai cũng đinh ninh lần này là chắc ăn.
Đêm xuống nhanh. Còn bốn tiếng nữa mới đến giờ G mà mọi người ở sở chỉ huy tiền phương đã im lặng dõi theo và hồi hộp đợi chờ. Hai kim chập một, chỉ đúng 12 giờ - cái giờ G quy định dã đến. Không gian bỗng trở nên yên ắng, có thể nghe rõ nhịp đập hồi hộp ở noi con tim mình. Sự háo hức mong đợi đến căng thẳng bỗng chốc biến thành sự nghi ngờ, kèm theo một loạt câu hỏi đặt ra: Lại sự cố nữa? Nhưng là sự cố gì, lành hay dữ? Trái nổ còn không, cất giấu ra sao, ở nơi nào, liệu ngày mai địch có phát hiện được không? Hay là, hay là mọi việc ngược lại, mất hết (!?) Đang hoang mang suy nghĩ mung lung như thế, thì một tiếng nổ dậy đất từ phía Bến Lức vọng về. Lúc này là 12 giờ 5 phút Như vậy giờ G thực tế chậm 5 phút so với giờ G kế hoạch. Tất cả chúng tôi ùa ra mép sông Vàm cỏ Đông để hướng về phía Bến Lức. Dấu hiệu dễ thấy là quầng sáng xanh của cây đèn cao áp thủy ngân biến mất, chỉ còn có quầng đỏ của lửa cháy mỗi lúc một bốc cao, lan xa, sáng cả một góc trời tây - bắc. Cả Bến Lức chìm trong biển lửa, im lìm, không một tiếng động của súng, của động cơ xe tăng, xe bọc thép, của tàu xuồng máy địch phản ứng. Mãi một giờ sau, mới nghe tiếng pháo từ Tân An, Bình Chánh dội về, một thứ thị uy vu vơ, bất lực. Vui! Thật vui! Cái vui không hò reo nhưng náo nức, rung động hòa nhập cùng nhịp đập nơi con tim của mỗi người. Chỉ nghe thấy tiếng nổ, chỉ nhìn rõ quầng lửa đã thấy sảng khoái trong tâm hồn; giữa lúc đó thì tổ chiến đấu của đồng chí Dương trở về an toàn, khiến cái vui càng đậm đà, quên cả mình đang nằm trong thế bốn bề đều có địch vây ép. Tôi ôm hôn từng người, lòng tràn đầy xúc động, muốn khóc. - Sao lại chậm năm phút hả Dương? - Vừa ôm Dương, tôi vừa hỏi như vậy. - Báo cáo anh Tư! - Dương rời tôi ra rồi nói tiếp - Trung thay tôi làm nhiệm vụ bóp kíp, tôi và Bảy đi trước trái. Đúng 23 giờ 30 phút, trái được đưa vào chân cầu, lợi dụng đoạn hàng rào yếu, Trung dùng sức nặng của trái đẩy sát chân cầu và 35 phút sau thì trái nổ... Thế là rõ. Giờ G đến sớm hoặc muộn cũng là nét đặc biệt của cách đánh đặc công, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình tiềm nhập mà ta không thể lường hết được. Bây giờ thì chúng tôi mong cho trời chóng sáng để nhận diện kẻ thù sau trận bão lửa của ta đêm qua. Vì, nổ chưa phải dấu hiệu báo rõ kết quả. Nổ nhưng không gây đổ cầu, không diệt được địch, không phá hủy được phương tiện chiến tranh, thì chỉ mới thắng lợi về tâm lý, không đạt được mục đích trận đánh đề ra. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:09:31 pm Khi mặt trời vừa ló rạng từ chân trời phía Cần Giuộc, chúng tôi dã phân công nhau cải trang sáp vô đường số 4, đoạn từ thị xã Tân An - Bến Lức, Bến Lức - Bình Chánh. Đến nơi đã thấy ngay cái cảnh nhốn nháo hoảng loạn. Xe từ Sài Gòn xuống, từ Long An, Mỹ Tho, Cần Thơ lên đều tắc nghẽn, chật cứng, không sao đi nổi. Nhịp cầu thứ sáu bị sập đúng như dự kiến. Các tháp canh, vọng gác ở hai đầu cầu cũng bị đổ tan, xác địch nằm còng queo. Dưới sông về phía hạ lưu, tàu xuồng địch vãn bớt, vì áp lực của trái nổ cái đắm, cái vỡ, cái bay xa; quang cảnh đổ nát như sau trận bom. Buổi chiều, chúng tôi nhận được tin tức do cơ sở của ta từ trong báo ra: Địch phải hủy bỏ cuộc càn quét vào Tân Trụ, Cần Giuộc buổi sáng nay (30 tháng 6).
Đánh sập cầu Bến Lức, cắt đứt hoàn toàn đường số 4, không chỉ gây cho địch nhiều thiệt hại mà còn tạo nên sự chấn động lớn với quân địch, góp phần vào thắng lợi trong cuộc tiến công và nổi dậy chung của toàn Miền trong đợt hai đang diễn ra sôi sục. Sau này được anh Tư Thân cho biết thêm về việc chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của Phân khu 3; Thực hiện chỉ thị của Trung ương cục và Bộ chỉ huy Miền, chỉ trong vòng hai tháng, Phân khu 3 đã hoàn thành một khối lượng có thể nói là kỷ lục: rút 500 đảng viên từ các lực lượng huyện, xã đưa vào các tiểu đoàn “mũi nhọn” nhằm nâng cao tăng cường sức mạnh cho các đơn vị chiến đấu; rút 300 đảng viên của các huyện bên ngoài vào tăng cường cho các huyện nội thành; tổ chức vận chuyển hai mươi tấn vũ khí đạn dược từ R đưa xuống các hướng, các mũi và chôn giấu ở các khu vực Bình Đức, Bình Chánh, An Nhựt Tân, Long Cang, Long Định; điều động các đơn vị vào vị trí tập kết, ém quân ở các vùng sâu, sát ven đô, ven lộ để thực hiện... Làm bằng ấy công việc thật không đơn giản, khi mà chiến trường Long An ở thời điểm này thật hiểm nghèo. Ngoài quân ngụy dàn ra đóng thành các đồn bót, có thêm bốn lữ đoàn Mỹ (hai lữ đoàn thuộc sư đoàn 25, lữ 199 và lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 9) với số pháo 105 và 155 ly cực nhanh tăng lên đến 196 khẩu, có thể bắn tập trung vào bất cứ điểm nào trong tỉnh, ấy là chưa kể 50 khẩu pháo 155 đến 203 ly đặt ở các hạm tàu có thể bắn bất cứ chỗ nào cáp hai bờ sông; lại có thêm 300 tàu chiến lớn nhỏ ầm ầm suốt ngày đêm trên các lạch sông. Cường độ chiến tranh ở Long An tăng lên rất cao, không một mảnh đất nào của Long An không bị bom đạn Mỹ tàn phá, nhà cửa tiêu điều, ruộng vườn xơ xác, cuộc sống của nhân dân bị đảo lộn. Long An chuẩn bị cho một cuộc tiến công trong tình hình như thế đấy. Nhưng mọi việc đâu vào đó, xong hết. Qua nghe anh Tư Thân kể về việc chuẩn bị lực lượng, về ém quân, cài thế, tôi càng hiểu thấu cái điều kiện cơ bản cho trận đánh sập cầu Bến Lức mà lực lượng đặc công đã hoàn thành không thể tách khỏi cái lực, cái thế mà Long An đã chuẩn bị. Anh Tư Thân còn cho biết thêm: Sau trận đặc công đánh sập cầu sắt, bọn chuyên viên của công binh Mỹ kéo đến nghiên cứu tính chuyện sửa, nhưng khi đưa vào máy tính điện tử để tìm đáp số thấy đắt dữ, làm như thế chỉ phức tạp, nên chúng quyết định xây cầu xi măng mới, muốn chứng tỏ rằng Mỹ lắm của. Trận cầu Bến Lúc là một kỷ niệm sâu sắc của tôi, nó không phải đơn thuần đây là trận đánh Mỹ đầu tiên mà tôi được tham dự, mà còn là qua trận then chốt này, tôi đã lớn lên rất nhiều trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy chiến sĩ; là những vấn đế chiến thuật và kỹ thuật của đánh trái nổ có trọng lượng lớn, trong điều kiện sông nước. Những kinh nghiệm của trận đánh này đã có ý nghĩa góp phần xây dựng các nguyên tắc về tổ chức tác chiến đặc công - hình thức đánh cầu, làm cho nghệ thuật tác chiến của binh chủng thêm phong phú. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:12:54 pm TRONG VÙNG TAM GIÁC SẮT Tạm biệt Long An vào một ngày cuối năm 1968, tôi về lại đất miền Đông theo lệnh của Bộ tư lệnh Quân giải phóng Miền. Thế là tôi đã sống trọn một mùa mưa của đất trời và một mùa ra trận với bao sôi động của cuộc tiến công và nổi dậy tại một chiến trường đầy sông ngòi, kênh lạch. Lúc mới đến thấy bâng khuâng xa lạ, khi ra đi lại bùi ngùi, lưu luyến. Có trải qua gian nan mới hiểu lòng nhau và thương nhau hết mức. Điều này thật đúng với cảnh và người của đất Long An - một cái túi đựng bom đạn Mỹ trút xuống theo công thức trải thảm hoặc tính theo tọa độ ô vuông; một vài nơi mà kẻ thù dùng làm thí nghiệm đủ kiểu loại hành quân, hết “tìm diệt”, “quét và giữ” lại đến bình định “đặc biệt”, bình định “cấp tốc” để gom dân lập ấp chiến lược, để thực hiện “tát nước bắt cá”, v.v... Nhưng từ trong cái tàn bạo và ác liệt ấy của quân thù, đã rèn đúc đồng bào, đồng chí Long An có ý chí rắn đanh, chắc khỏe, có tình cảm đùm bọc thương yêu, cho nhau và vì nhau. Sống nguyên tắc mà cũng rất vị tha hết mình. Phẩm giá con người ở đây vẫn son sắt, ngời sáng. Trở lại đất miền Đông cũng vẫn bằng con đường hành lang quen thuộc, khác chăng là giờ đây cảnh vật khắc thêm những nét tàn phá vì chiến tranh, thấm thêm nhiều nước mắt và máu. Nhưng con người ở đây vẫn hiện rõ nét lạc quan trên gương mặt và những thân cây vẫn còn sức đề kháng hóa chất độc, hiên ngang vươn lên nền trời như chấp nhận, như thách đố. Cũng phải mất đúng một tuần lễ hành quân căng thẳng và vất vả, tôi mới về đến nơi làm việc của Bộ tham mưu Quân giải phóng Miền. Tại đây tôi được biết rõ hơn toàn cảnh bức tranh giàu màu sắc anh hùng ca của cuộc tiến công nổi dậy của quân và dân Mặt trận Sài Gòn. Đợt ba của cuộc tổng công kích đã kết thúc lừ ngày 30 tháng 9, nhưng dư âm các trận đánh của đặc công ở bắc và đông - bắc Sài Gòn vẫn đang được các hãng thông tin phương Tây nhận xét là những trận đánh tài tình của “Việt cộng” (tức Quân giải phóng) như các trận tiến công táo bạo vào căn cứ lữ đoàn 3 sư đoàn 25 ngụy ở Trảng Lớn, Cà Tum; vào đài truyền tin của Mỹ trên đỉnh núi Bà Đen; vào căn cứ Mỹ ở Chà Là, Bến Củi; vào vị trí sư đoàn 1 bộ binh Mỹ ở Lộc Ninh, v.v... Cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam đã giành được một thắng lợi lớn, làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta tại hội nghị Pa-ri. Cũng những ngày này, chúng tôi còn nhận được tin tức về hoạt động của binh chủng qua thư từ trao đổi từ ngoài đó gửi vào, qua anh Mười Tịch (từ binh chủng cử vào được Bộ chỉ huy Miền bổ nhiệm lữ đoàn phó lữ đặc công 429 trực thuộc Miền) và qua cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 14 (vào đây đổi thành tiểu đoàn 9) từ ngoài đó bổ sung cho chiến trường B.2 vừa vào tới kể lại... Càng tự hào và cảm phục biết bao khi được tin các anh trong Bộ tư lệnh - một tập thể chỉ huy đầy tinh thần trách nhiệm và năng động đã tổ chức thành công Hội nghị tổng kết kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu của lực lượng đặc công trong cuộc tiến công và nổi dậy xuân - hè năm 1968, rút ra được các vấn đề có tính nguyên tắc về tổ chức cơ cấu lực lượng, về phương thức tác chiến và về nội dung xây dựng binh chủng theo phương hướng tinh nhuệ, v.v... Những kết quả này các anh đã kịp thời gửi trở lại chiến trường, vào thấu tới B.2, đưa đến cho chúng tôi một luồng gió mới, một sinh khí mới, yên tâm với việc đã làm của mình là đứng hướng, soi sáng những việc chúng tôi đang làm và dự định sẽ làm, khi mà năm Kỷ Dậu đã sắp đến với nhiệm vụ mới đang chờ, khi mà kẻ thù đã bắt đầu dùng các thủ đoạn đánh phá mới, hòng lập lại thế cờ đã không có lợi cho chúng. Sau ba ngày nghỉ xả hơi, tôi lại được đồng chí Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Miền gọi lên giao nhiệm vụ. Lúc này đã là giữa tháng 10 năm 1968. Một mùa khô mới lại đến, những dấu hiệu của tình hình khẩn trương thật dễ thấy. Tiếng động cơ của xe cơ giới hòa với tiếng động cơ của máy bay ầm ì liên tục trong không gian chứng tỏ Mỹ đang điều chỉnh lực lượng, đang chuyển quân; thoảng xen lẫn tiếng nổ rền kẻo dài của những phi vụ máy bay B.52 trải thảm từ Lộc Ninh, từ chiến khu Dương Minh Châu, xa nữa là vùng Long Nguyên (Thủ Dầu Một) vọng lại. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:16:36 pm Tuy không nói ra, nhưng anh Lê Đức Anh như muốn chia vui với cấp dưới sau thời gian đi làm nhiệm vụ trở về. Khác với giao nhiệm vụ lần trước, hôm nay trên bàn làm việc của anh có thuốc lá Điện Biên, chè Thanh Tâm và có cả kẹo cà phê Hải Châu - Hà Nội. Anh tự tay chế chè, bóc thuốc lá đưa phần cho tôi để cùng anh thưởng thức hương vị từ hậu phương miền Bắc gửi tới. Tôi vốn không quen dùng những thứ này nhưng hôm nay lại cảm nhận được nó rạch ròi mùi thơm của thuốc, vị chát sau để lại vị ngọt nhẹ thoảng nơi đầu lưỡi của chè, khi nó hòa tan vào cơ thể, gây một cảm giác hưng phấn dễ chịu.
Anh hỏi chuyện chiến đấu ở Long An, chuyện đánh cầu Bến Lức và tình hình trên đường hành lang. Anh hỏi thăm sức khỏe anh Chín cần, anh Tư Thân và các anh khác trong Bộ tư lệnh Phân khu 3. Chuyện chung mà sao ấm cúng, thân mật như anh em trong nhà. Đợi cho ấm trà cạn, điếu thuốc gần tàn, anh mới vào việc. Anh nói: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của ta đã đẩy Mỹ phải xuống thang, điều chỉnh lại chiến lược quân sự “tìm diệt” thay bằng “quét và giữ”, bình định “đặc biệt” thay bằng bình định “cấp tốc”. Nhưng trước mắt Mỹ vẫn ngoan cố, dùng sức mạnh quân sự tối đa1 để tiếp tục thực hiện chính sách xâm lược, mở các cuộc phản công, tiến hành “bình định cấp tốc” bằng mọi thủ đoạn dã man để phá bàn đạp tiến công ta, đẩy chủ lực ta ra xa các thành phố, thị xã... Theo chỉ thị của Bộ Chính trị vừa điện vào - anh nhấn mạnh - cần chuẩn bị gấp đợt cao điểm tiến công và nổi dậy vào mùa xuân, tiếp đó chuẩn bị đợt cao điểm mùa hè và những đợt sau nữa, thực hiện đánh cho “Mỹ cút” như Bác Hồ đã căn dặn. Trước mắt ta chưa có điều kiện tiến công vào Sài Gòn bằng binh chủng hợp thành vì sau thắng lợi của những đợt tiến công và nổi dậy của ta trong năm 1968, ta cũng gặp khó khăn nhất định về quân số, về bảo đảm vật chất; mặt khác địch chưa cam chịu, chúng đang gia tăng các cuộc hành quân “càn quét” xúc tiến các biện pháp phòng thủ tại chỗ kết hợp với lập tuyến “phòng thủ từ xa”, tạo thành nhiều tầng nhiều lớp hỗ trợ nhau nhằm giữ cho được các thành thị, các căn cứ quân sự, các đường giao thông quan trọng, các vùng đồng bằng đồng dân nhiều của. Vì vậy quyết tâm của Trung ương cục và Quân ủy Miền là: Phát huy thắng lợi đã giành được, khắc phục tư tưởng hữu khuynh tiếp tục tiến công, đặc biệt coi trọng việc tổ chức, chỉ huy các lực lượng đặc công tiến hành chiến đấu nhằm tiêu diệt những sinh lực quan trọng của địch. Ngừng một lát, ho nhẹ như để lấy giọng, anh nói tiếp với nhịp điệu sôi nổi: Mục tiêu chủ yếu hiện nay của lực lượng đặc công là hướng vào các căn cứ, các sở chỉ huy, các kho tàng bến cảng của Mỹ, thực hiện đánh bồi, đánh nhồi, đánh bỏ để tiêu diệt sinh lực địch, làm vô hiệu hóa các tuyến phòng thủ vòng ngoài của chúng, giữ vững thế cài răng lược giữa ta và địch trên chiến trường Đông Nam Bộ - Rồi như để củng cố lòng tin cho tôi, anh nhấn mạnh - tiến công bằng cách đánh đặc công là thích hợp nhất trong lúc này, vì với lực lượng nhỏ mà tinh, ta có điều kiện bí mật luồn sâu, ém sẵn, tạo thế bất ngờ đối với địch để tiến công tiêu diệt sinh lực địch - Đến đây anh nhìn thẳng vào tôi như để động viên khi giao nhiệm vụ - để đáp ứng được tình hình, nhiệm vụ thay đổi, Bộ tư lệnh Miền quyết định xây dựng đặc công Miền thành binh chủng độc lập và cử anh giữ chức phó tư lệnh. Thế là tôi lại trở về với gia đình đặc công của mình để cùng các anh Mười Thọ tư lệnh, anh Năm Phúc chính ủy và anh Tư Cang phó tư lệnh lo khẩn trương triển khai nhiệm vụ trên giao. Tuy mới xa nhau chưa đầy năm vậy mà khi gặp lại nhau, ai nấy đều gầy, gương mặt hốc hác vi vừa trải qua một cuộc chiến đấu hào hùng và cũng lắm vất vả gian nan. Mặc dù vậy, các anh vẫn rất nhiệt tình và đang say sưa với công việc chuẩn bị cho đợt hoạt động tới. Cái sôi nổi lạc quan của các anh đã tiếp sức nhanh sang tôi; niềm tin khi nghe anh Lê Đức Anh phân tích lúc giao nhiệm vụ, khi về đây niềm tin ấy được nhân lên mạnh mẽ, giúp tôi nhập cuộc nhanh chóng, không chút ngỡ ngàng. --------------- 1. Năm 1969, Mỹ vẫn dùng hơn 1,2 triệu tấn bom, trên triệu tấn đạn pháo, hàng tấn chất độc hóa học, đạn hơi độc vào các cuộc hành quân. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:18:31 pm Một tấm “bản đồ đặc biệt quân khu III” có in kèm chữ Anh (III Military Region Special Map) được trải sẵn trên nền căn nhà dã chiến ẩn mình dưới rừng le - nơi làm việc của Bộ tư lệnh Đặc công Miền. Bốn chúng tôi chụm đầu vào nhau trên tấm bản đồ thu được của địch này. Chỉ cần xem xét trên bản đồ đã thấy sự đầy ắp lính Mỹ trên đất miền Đông, vẫn từ trước, sư đoàn 1 bộ binh mang tên “Anh cả đỏ” đứng chân ở Thủ Dầu Một - Lai Khê, sư đoàn bộ binh 25 mang tên “Tia chớp nhiệt đới” - đứng chân ở Củ Chi - Đồng Dù, nay có thêm hai sư đoàn sừng sỏ nữa: sư đoàn ky binh bay số 1 được trang bị 450 máy bay lên thẳng các loại và đại bộ phận sư đoàn dù 101 điều từ An Khê, tây Thừa Thiên về đây làm nhiệm vụ cơ động “phòng thủ từ xa” đang dàn quân, diễu võ dương oai ở vùng giáp biên thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long (nay là tỉnh Sông Bé). Đây là chưa kể trung đoàn xe bọc thép số 11 của Mỹ, ba sư đoàn ngụy số 5, 25 và 18 và hàng trăm đại đội bảo an ngụy đang được dăng ra làm nhiệm vụ phòng ngự diện địa. Ấy là chưa kể địch đã tập trung nhiều tiểu đoàn chủ lực và lính bảo an để thực hành “bình định cấp tốc” ở vùng trọng điểm Sài Gòn - Gia Định.
Dưa vào tài liệu của Cục quân báo Miền và của các tổ trinh sát đặc công từ các hướng gửi về, kết hợp với nghiên cứu ngay trên tấm bản đồ có tỷ lệ 1/250.000 do cơ quan đồ bản quân đội Mỹ ấn hành, chúng tôi phân tích rõ về các loại căn cứ quân sự Mỹ, đâu là cụm tiểu đoàn hỗn hợp, đâu là khu kho hậu cần, khu sở chỉ huy hành quân của địch cùng với những đặc điểm địa hình xung quanh. Ngoài ra, để đề phòng ta tiến công, địch không đóng quân ngoài công sự như trước, mà đều có bố trí sẵn các căn cứ dã chiến có đủ công sự, vật cản, để phục vụ các cuộc hành quân và chốt giữ. Ở những nơi đoán biết có lực lượng ta, địch hạn chế đóng quân thành trung đoàn, lữ đoàn như trước, mà chia san thành các tiểu đoàn hỗn hợp, vừa có tác dụng tăng không gian kiểm soát vừa hỗ trợ cho nhau khi bị ta tiến công. Hình thức phòng thủ và các thủ đoạn để thực hiện chiến lược phòng thủ của địch đã có những thay đổi, đòi hỏi chúng tôi phải suy nghĩ kỹ, phải lật đi lật lại các giả thuyết trước khi ta hạ quyết tâm chọn lựa mục tiêu tiến công. Đặc biệt trận tiến công mở đầu cho đợt hoạt động chung chỉ được quyền thắng. Nếu chỉ là một trận chiến đấu riêng lẻ của đặc công thì có thể tìm ra đáp số tương đối nhanh, đằng này đánh trong đội hình lớn có nhiều lực lượng tham gia mà đặc công phải có nhiệm vụ ngòi nổ. Một vấn để nữa đặt ra là nên tổ chức lực lượng như thế nào, phải bố trí cài thế ra sao, để có thể đạt hai yêu cầu; Đưa toàn bộ lực lượng đặc công cơ động của Miền vào tham gia chiến đấu đánh các mục tiêu được phân công, thực hiện tiêu diệt thật nhiều sinh lực cấp cao của địch; đồng thời phối hợp, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các sư đoàn chủ lực đánh lớn theo phương thức binh chủng họp thành, gây thổi động mạnh mẽ vào vùng ven và nội độ, buộc địch phải nghiêm chỉnh đàm phán với ta tại Pa-ri. Lại có những đêm suy nghĩ trăn trở, lo sao hoàn thành nhiệm vụ trên giao đúng thời gian quy định để kịp ngày N nổ súng thống nhất trên toàn bộ chiến trường Đông Nam Bộ. Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh Miền, các sư đoàn chủ lực đã và đang triển khai đội hình chiến đấu trên toàn bộ mặt trận, ở hướng chủ yếu của đợt hoạt động cao điểm mùa xuân này là tây - bắc Sài Gòn cặp đường số 1 và đường số 13, sư đoàn 1 đã đến đứng chân ở khu Dương Minh Châu - Trảng Bàng - Gò Dầu để sẵn sàng phát triển về hướng Củ Chi khi tình hình cho phép. Sư đoàn 7 đã có mặt ở Dầu Tiếng - Bến Cát - Bến Tranh, đối diện với cụm các tiểu đoàn hỗn họp Mỹ. Sư đoàn 5 đang cấp tốc hành quân để kịp ém quân ở Long Giao (tỉnh Long Khánh) trên trục đường sô 15 Long Khánh - Vũng Tàu. Sư đoàn 9 làm lực lượng dự bị, đang nằm giấu mình ở khu vực Bổ Túc, Đồng Pan, sẵn sàng tung lực lượng vào các hướng khi nhiệm vụ yêu cầu và cấp trên ra lệnh. Sau những ngày làm việc căng thẳng, nghiên cứu, trao đổi cả lúc ăn và khi đi ngủ, chúng tôi ai nấy đều sôi nổi đóng góp ý kiến và những ý kiến tuy có nhấn mạnh mặt này mặt kia theo góc độ nhìn của mỗi người, nhưng lại gặp nhau ở ý lớn - cài thế dưới đây. - Đoàn 10 đặc công Rừng Sác bám đánh địch trên sông Lòng Tàu và sông Sài Gòn. - Tiểu đoàn đặc công thuộc các sư đoàn bộ binh 1, 5, 7 và 9, chủ yếu bám đánh các cụm tiểu đoàn hỗn họp Mỹ; đồng thời sẵn sàng nhận lệnh điều động của Miền tham gia đánh các căn cứ lớn của Mỹ, đánh trong đội hình chiến dịch. - Lực lượng đặc công cơ động trực thuộc Bộ tư lệnh đặc công Miền bám đánh các căn cứ lớn của Mỹ ở Đồng Dù, Lai Khê, Téc-ních v.v... Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2016, 09:20:44 pm Đến tháng 2 năm 1969, do yêu cầu của nhiệm vụ, Bộ tư lệnh Miền quyết định cho thành lập trung đoàn đặc công 429, đến tháng 11 năm 1969 chuyển thành lữ đoàn 429 gồm ba tiểu đoàn và một sô đại đội độc lập trực thuộc Bộ tư lệnh đặc công Miền chuyên làm nhiệm vụ đánh các căn cứ lớn của Mỹ,
Lúc này các đơn vị đặc công đã triển khai bám trụ tại các địa bàn được phân công, hình thành ý đồ cài thế của Bộ tư lệnh Miền cho đợt hoạt động sắp mở màn. Đây là sự chuẩn bị có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện dịch đánh phá quyết liệt để đẩy lực lượng chủ lực ta ra xa. Muốn bám đánh các căn cứ, hậu cứ, các kho tàng, sân bay, bến cảng, các sở chỉ huy sư đoàn, lữ đoàn địch, phải tìm cách bám trụ trước khi triển khai công việc chiến đấu cụ thể. Không có bám trụ không có chiến đấu. Bám trụ được xem như một “công đoạn” của giai đoạn chuẩn bị tổ chức chiến đấu, là một trong những nội dung của nghệ thuật tác chiến đặc công. Bởi trong điều kiện không gian, thời gian của Đông Nam Bộ ngày ấy, có tổ chức bám trụ tốt mới tiến hành điều nghiên, mới tổ chức ém quân lót ổ, sẵn sàng để khi các điều kiện chuẩn bị chiến đấu đã chín muồi là thực hành tiềm nhập tiên công tiêu diệt sinh lực địch. Nhưng việc bám trụ lại không đơn giản chút nào, vì địch luôn càn quét, đánh phá, đồng thời dùng hỏa lực xăm diệt suốt ngày đêm ở những nơi trọng điểm, nghi có lực lượng của ta. Đoàn 10 đặc công Rừng Sác bám trụ hoạt động ở vùng sông nước đầm lầy, phải chịu đựng trong điều kiện ăn ở, sinh hoạt vô cùng khó khăn, gian khổ. Từ sau Tết Mậu Thân, địch mở nhiều chiến dịch truy quét, dùng B.52 ném bom rải thảm, thả chất độc và bơm xăng vào khu Rừng Sác để khai quang địa hình nhằm diệt lực lượng biệt động - đặc công của ta, nhưng đoàn 10 đặc công vẫn tồn tại, vẫn bám trụ vững vàng được là nhờ tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh vô bờ bến của cán bộ chiến sĩ và do được đùm bọc che chở hết lòng của nhân dân. Chúng tôi rất bằng lòng với một thế trận đã sẵn sàng trên đây. Một thế trận luồn sâu vào các tuyến phòng thủ của địch, vẫn bám và đang từng bước triển khai chuẩn bị tiến công vào các căn cứ, kho tàng, sân bay, bến cảng, vào các sở chỉ huy, các cụm đóng quân của bốn sư đoàn Mỹ và ba sư đoàn ngụy đang đứng chân ở chiến trường Đông Nam Bộ. Ở đâu có địch là ở dấy có lực lượng đặc công cài ém. Không đâu là an toàn đối với địch cả, mặc dầu số lượng quân địch cơ động ở Đông Nam Bộ lúc này đã tới con số kỷ lục. Tất cả chúng tôi đều phấn khởi, tự tin vào công việc đã làm của mình nhưng lúc này đây ai nấy đều rất hồi hộp kèm theo cả lo lắng băn khoăn, là đến giờ khởi sự, có nhất loạt tiến công được không và hiệu quả của tiến công sẽ ra sao? Kẻ địch lúc này đây đang rất ngạo mạn chủ quan về sự điều chỉnh chiến lược cửa chúng. Bằng hành quân “quét giữ” và hành quân “bình định cấp tốc” chúng dương dương tự đắc là đã làm trong sạch địa bàn, đẩy được “Việt cộng” (tức là lực lượng vũ trang của ta) ra xa. Chúng tự tin là không thể tái diễn kiểu Mậu Thân 1968 nữa. Lúc này đây đã là những ngày đầu của năm 1969. Mâu Thân sắp qua, Kỷ Dậu đang đến - năm “con gà” - một loài vật cần mẫn và lạc quan. Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh Miền thì ngày giờ khởi sự kế hoạch bám trụ, tạo thuận lợi cho việc ém quân, lót ổ và điều nghiên, kỷ luật giữ bí mật được chấp hành nghiêm. Vất vả nhất lúc này là các tiểu đoàn 5, tiểu đoàn 3 trực thuộc Bộ tư lệnh đặc công Miền và tiểu đoàn 28 đặc công thuộc sư đoàn 7, vì phải từ xa vận động luồn sâu qua một hệ thông phòng ngự dày đặc của địch để đánh vào hai mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù và sở chỉ huy lữ đoàn 3 của sư đoàn này chốt giữ Dầu Tiếng. Chúng tôi trong Bộ tư lệnh đặc công đã phân công nhau đi xuống trực tiếp các hướng. Anh Mười Thọ lữ đoàn trưởng trực tiếp đánh Dầu Tiếng. Tôi được chỉ định phụ trách chỉ huy đánh Đồng Dù. Chúng tôi tạm chia tay nhau từ rất sớm để kịp chuẩn bị cho ngày N. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 2 năm 1969, đợt tiến công mùa xuân Kỷ Dậu của quân dân ta vào 36 thành phố, thị xã, vào 35 sở chỉ huy (từ trung đoàn trở lên) 38 sân bay... trên quy mô toàn chiến trường miền Nam bắt đầu. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 08:22:25 am Lực lượng đặc công Đông Nam Bộ đã hòa chung vào âm điệu của đợt hoạt động cao điểm này rất ăn khớp. Ngay từ phút đầu, ba lực lượng đặc công (tỉnh, sư đoàn và lực lượng đặc công cơ động trực thuộc Miền), đã đồng loạt nổ súng vào các mục tiêu được phân công.
Đêm nay thật vui! Súng nổ vang khắp nơi như pháo đón giao thừa vậy. Nhưng diễn biến và kết quả cụ thể đều chưa biết, nhưng cứ nghe cái âm thanh đầy sôi động hao hao giống Xuân 1968 từ bốn phương vọng về: từ vùng giáp biên xuống, từ khu trung tuyến Củ Chi - Thủ Dầu Một - Lai Khê - Biên Hòa (vỏ cứng bảo vệ Sài Gòn) thấu đến tận ven đô là đã hả lòng hả dạ. Cái vui đã đến! Sau đó những tin tức cụ thể từ các nơi gửi về Bộ tư lệnh đặc công Miền và qua đó, tôi được biết khá nhanh mặc dù đang phải trực tiếp chuẩn bị đánh Đồng Dù: Đặc công tỉnh Biên Hòa đã nổ súng tiến công khu kho 50 Long Bình, phá hủy một nửa khu kho, diệt 150 lính Mỹ; đặc công sư đoàn 1 đánh thiệt hại nặng căn cứ Võ Tùng (Lộc Ninh); đặc công sư đoàn 7 tập kích vào một trung đoàn Mỹ ở Núi Cậu... Nhưng không phải không có những giây phút hồi hộp căng thẳng. Ngay khi mặt trời lặn chúng tôi đã hướng tâm trí mình về nơi Dầu Tiếng. Vì đây là trận đánh mở đầu của đợt tiến công mùa xuân và cũng là một trong hai trận đánh then chốt của đặc công Miền - đánh vào sư đoàn 25 bộ binh Mỹ. Sư đoàn 25 Mỹ giữ vai trò quan trọng trong tuyến phòng ngự cứng bảo vệ Sài Gòn ở hướng tây - bắc, với ba căn cứ; Lữ đoàn 1 ở Trảng Lớn, lữ đoàn 3 ở Dầu Tiếng, lữ đoàn 2 và sư đoàn bộ ở căn cứ Đồng Dù. Trong đợt tiến công và nổi dậy năm 1968 ta đã tiến công Trảng Lớn và tháng 7 năm 1968 đánh Dầu Tiếng. Vì vậy yếu tố bất ngờ có giảm, địch tăng cường đề phòng. Nhất là sau khi căn cứ Đồng Dù bị đặc công ta đánh hồi đầu tháng 1, thì địch càng rút kinh nghiệm về canh phòng, tăng thêm các phương tiện phòng thủ hiện đại. Vì vậy, trận đánh này anh Mười Thọ, lữ đoàn trưởng được phân công trực tiếp chỉ huy. Tiểu đoàn 5 được giao nhiệm vụ đánh Dầu Tiếng là một tiểu đoàn có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Vào khoảng 12 giờ khuya, bỗng có tiếng súng lớn nổ từ phía Dầu Tiếng vọng lại. Tiếng nổ nghe rõ dần và liên tục. Tất cả chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm. Súng đã nổ! Thế nghĩa là ta đã tiến công. Mà tiến công có nghĩa là mọi việc chuẩn bị cho trận đánh như ém quân, tiềm nhập đã giải quyết tốt. Niềm vui chưa có hồi âm mà đã thấy có cơ sở để tin. Sau này khi về sơ kết quá trình diễn biến, càng cảm phục tinh thần dũng cảm, mưu trí khắc phục bao khó khăn để bám trụ, điều nghiên của cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 5 vì chỉ một sơ suất nhỏ về kỷ luật, về kỹ thuật ngụy trang là kẻ địch có thể phát hiện, dễ dàng gây cho ta những khó khăn những tổn thất khôn lường. Qua nghe anh Mười Thọ kể, chúng tôi đều xác định đây là một trận đánh hay của đặc công trong đợt mở màn tiến công mùa xuân 1969. Đặc biệt đã khéo tổ chức ém quân gần địch, điều nghiên xong là tổ chức chiến đấu được ngay, không phải có thời gian chờ đợi, nhanh chóng hình thành sáu mũi tiến công thực hiện bao vây chia cắt khi đột nhập vào căn cứ, diệt được nhiều sinh lực địch, phá được nhiều phương tiện chiến tranh (gần 800 lính Mỹ bị loại ra khỏi vòng chiến đấu, phá hủy nhiều xe quân sự, bảy khẩu pháo từ 105-155 ly). Trận chiến đấu diễn ra cực kỳ ác liệt, địch thua đau nhưng chúng vẫn gây cho ta thiệt hại đáng kể. Dầu Tiếng là trận đánh thắng lợi, thực hiện đúng yêu cầu của Bộ chỉ huy Miền, đặc công làm nhiệm vụ mở ngòi, phối họp tuyệt đẹp với các sư đoàn chủ lực diệt các tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ ở Trà Cao (Tây Ninh), ở Nước Trong (Biên Hòa). Chiến thắng mở màn Dầu Tiếng đã khích lệ chúng tôi bước vào trận Đồng Dù tiếp theo ngay sau đó. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 08:24:06 am II Ngay giữa lúc Bộ tư lệnh đặc công Miền bù đầu vào khối lượng công việc đang còn rất nhiều nhằm chuẩn bị cho đựt hoạt động cao điểm mùa xuân, thì đồng chí Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Miền gọi tôi lên giao nhiệm vụ đánh Đồng Dù. Không khí lúc này thật tất bật, khẩn trương, ai cũng hăm hở chạy đua nước rút vì ngày N đã đến gần. Cũng bởi thế nên khi tôi tới nơi, anh Lê Đức Anh đi vào việc ngay. Hình như anh muốn sau buổi giao nhiệm vụ này, tạo cho cấp dưới có nhiều thời gian triển khai thực hiện. Anh nói: Thực hiện nghị quyết Trung ương cục và Quân ủy Miền, Bộ tư lệnh Miền quyết định chọn căn cứ Đồng Dù làm một trong những mục tiêu mở đầu của cuộc tiến công trên chiến trường Đông Nam Bộ. Đồng Dù là sở chỉ huy sư đoàn 25 Mỹ nằm trong vùng “tam giác sắt” vì thê mà sẽ có nhiều khó khăn trong chuẩn bị chiến đấu và trong thực hành chiến đấu. Nhưng Bộ tư lệnh Miền đã cân nhắc, khó mấy cũng qua, tổ chức cho được trận tiến công có hiệu quả vào căn cứ này nhằm giáng đòn phủ đầu vào kế hoạch phòng thủ mới của Mỹ và cũng là để rút kinh nghiệm về cách đánh đặc công vào căn cứ lớn, hậu cứ lớn của Mỹ, thực hiện tiêu diệt thật nhiều sinh lực cao cấp của chúng. Vinh dự, tự hào, lo lắng, băn khoăn, tát cả đã đến hòa nhập trong tôi cùng một lúc. Đây là dịp tốt thể nghiệm kỹ thuật đặc công chọi với kỹ thuật quân sự Mỹ xem có gì khác với đánh Pháp không. Và nếu khác thì khác ở chỗ nào - như nhiều lần anh Nguyễn Chí Điềm, tư lệnh binh chủng đã nêu ra, đòi hỏi mỗi người chúng tôi từ cương vị tù nhiệm vụ cụ thể khác nhau đều phải có những trả lời, để từ đó rút ra những vấn đề chung, đúc kết thành lý luận nguyên tắc về chiến thuật và nghệ thuật tác chiến đặc công có gì “đặc biệt”. Sau khi trao đổi với các đồng chí ở nhà về công việc chuẩn bị tôi nhận trách nhiệm chỉ huy số cán bộ từ đại đội đến tiểu đoàn đi làm công tác chuẩn bị từ đầu tháng 1 năm 1969, Đoàn cán bộ điều nghiên chúng tôi. tất cả gần 30 anh em rời Lò Gò vượt đường 22 qua Dương Minh Châu, quẹo phải theo hữu ngạn sông Sài Gòn đến khu địa đạo của huyện Củ Chi, thuộc địa phận xã Phú Hòa Đông. Dựa vào nhân dân, vào cơ sở địa phương, và hầm địa đạo để bám trụ, ém quân thực hiện sáp vô căn cứ. Lần đầu tiếp cận tôi thấy hoi bị choáng ngợp vì so với các căn cứ của quân đội Pháp trước đây thì căn cứ Đồng Dù to, rộng gấp nhiều lần. Ban ngày từ xa nhìn vào như một phố thị, nhà cửa san sát, có đường ngang lối dọc, có ngã ba, ngã tư. Đêm đến căn cứ sáng rực dưới ánh điện các đèn cao áp. Rào kẽm gai được dăng thẳng như hàng rào của một vườn ươm, nuôi thú, kiểu cách, hàng lối thoáng, nhìn không rối mắt nhưng lại đầy hết lớp này đến lớp khác, vô thấu bên trong không phải chuyện dễ. Quanh căn cứ, được phát quang xa 10 cây số để ngăn chặn ta tiếp cận tiến công, pháo kích. Đồng Dù, như tên tư lệnh sư đoàn 25 đóng ở đây thường hãnh diện tự đắc - một trại lính thiết kế như biệt thự. Cái choáng ngợp ấy trong tôi cũng là tự nhiên buổi ban đầu. Nhưng qua ba ngày ra vào điều nghiên, chúng tôi phát hiện ra nhiều cái yếu. Cán cứ tuy to, nhưng nhiều sơ hở hơn cứ điểm. Rộng nhưng nhiều tử giác, vượt rào thì vào dễ, phát triển thuận lợi. Tối tiềm nhập vô căn cứ điều tra, ngày chúng tôi xuống địa đạo nằm suy nghĩ, quyết tâm từng bước đã được hình thành trong tôi: Do quy mô và tính chất căn cứ quá lớn, nhiều khu vực, phải sử dụng hết lực lượng vào chiến đấu, không có dự bị. Phía bắc căn cứ là hướng tiến công chủ yếu với lực lượng một tiểu đoàn tăng cường, chia thành bốn mũi; phía nam căn cứ là hướng thứ yếu với lực lượng tiểu đoàn thiếu chia thành ba mũi. Sau khi bàn bạc trao đổi kỹ với các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn, đại đội đi trong đoàn điều nghiên, chúng tôi nhất trí về phương án tác chiến. Trên cơ sở đó tôi hoàn chỉnh lần cuối bản quyết tâm đó kèm theo sơ đồ minh họa rồi giao cho Ngôn, chính trị viên phó đại đội, có một tiểu đội hộ tống mang về báo cáo Bộ tư lệnh Miền. Các đơn vị đã ém quân trót lọt. Chúng tôi nóng ruột chờ đợi lệnh chuẩn bị y cho tiến công của Bộ tư lệnh Miền, đã qua một ngày so với kế hoạch đề nghị mà vẫn chưa thấy gì. Tin đoàn đồng chí Ngôn mang báo cáo về R bị địch phục kích ở đoạn đường Dương Minh Chầu làm nỗi lo ập đến, khiến tôi đứng ngồi không yên. Trận đánh không thực hiện được đã là điều day dứt, phí bao công sức chuẩn bị, bao công phu đưa toàn bộ đội hình luồn sâu vào được đây để ém quân; nhưng nếu để địch đánh hơi thấy, nhất định chúng huy động tối đa lực lượng bủa vây, xăm lùng. Không đánh được địch đã là một thiếu sót, lại để đơn vị bị thương vong thì còn ảnh hưởng lâu dài đến nhiệm vụ. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 08:26:01 am Thần kinh tôi lại bị căng ra như sợi dây đàn, khi được tin một trung đội trưởng du kích - người đã dẫn đơn vị đến ém quân ở các hầm địa đạo đã bị địch bắt, chúng đánh đập rất dữ và đã moi được tin: Có đặc công từ R về. Tình thế thật trở nên nguy hiểm, có thể nói như ngàn cân treo sợi tóc. Xung quanh lực lượng địch dày đặc, từ đây về lại hậu cứ đâu phải dễ, đường đi đã xa lại phải qua bao hệ thống đồn bót địch, qua những khu tráng địa, nơi tự do bắn phá của phi pháo địch suốt ngày đêm. Chỉ một giờ sau khi moi được tin, địch huy động bộ binh, máy bay, pháo binh càn quét bao vây khu địa đạo chúng tôi ở. Địch đã phát hiện và phá sập một số hầm của ta.
Tránh voi chả xấu mặt nào. Tôi chủ trương né tránh, tìm cách giữ bí mật, bảo toàn lực lượng, không để bất cứ dấu vết gì địch khả nghi nơi đây có “Việt cộng” ém quân. Đang phải căng thẳng đối phó thì nhận được điện của Bộ tư lệnh Miền: Đã nhận được báo cáo quyết tâm. Chỉ một dòng ngắn gọn thôi mà như có phép màu làm tôi hết mệt, phấn chấn hẳn lên, sung sướng vô cùng. Như vậy là báo cáo của tôi không bị rơi vào tay địch, có nghĩa là ý định tiến công Đồng Dù không bị lộ, yếu tố bất ngờ vẫn còn. Lòi khai của anh du kích nọ về tin có đặc công về và cuộc vây xăm hai ngày hôm nay của chúng chỉ là việc tìm diệt lực lượng ta, nếu có đánh sập mấy cái hầm cũng là chuyện bình thường vì nơi đây là xứ sở, là quê hương của hầm địa đạo mà. Còn về ta thì vì kế lớn, anh em đã cắn răng chịu đựng, giấu mình thật tốt, nên địch không phát hiện dược gì hơn; và nếu có thì chỉ là những toán “Việt cộng” nhỏ lẻ. Tôi nghĩ đến Ngôn - người cán bộ chính trị dững cảm và có tinh thần trách nhiệm cao. Sau khi biết anh đã mưu trí thoát khỏi ổ phục kích của địch, băng qua bao nguy hiểm trên một đoạn đường dài, mang được báo cáo quyết tâm của trận đánh căn cứ Mỹ đầu tiên ở mặt trận Đông Nam Bộ về tới Bộ tư lệnh Miền, chỉ chậm có hai ngày so với kế hoạch. Nhưng một thắc mắc khác lại nảy sinh. Điện của Bộ tư lệnh Miền chỉ báo là đã nhận được báo cáo quyết tâm, chứ không nói gì đến việc phê chuẩn cho thực hiện quyết tâm. Có phải quyết tâm nêu trong báo cáo của chúng tôi là không sát, không bảo đảm chắc thắng! Không, quyết tâm của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở nắm khá chắc tình hình, lại đưa ra thảo luận dân chủ bàn bạc cân nhắc rất kỹ. Không thể có điều gì sai sót hoặc phiêu lưu... Thế thì là vì lẽ gì, tại sao? Cuối cùng mới vỡ lẽ là sở dĩ các anh trên đó chưa phê chuẩn cho thực hiện quyết tâm là vì đã thấu hiểu tình hình lúc này của chúng tôi đang gặp khó khăn, các địa đạo để ém quân đang bị địch bao vây đánh phá. Đúng là không có lý do gì phải đình hoãn nhiệm vụ. Địch vẫn chưa biết ý đồ của ta. Ta đã vào được đến đây, cách căn cứ địch có vài ba cây số, tạo được thời cơ về không gian - gọi là địa lợi như thế này thật là quý hiếm, là điều kiện thuận lợi cho thắng lợi của trận đánh - đặc biệt với cách đánh của đặc công. Trong khi chờ đợi Bộ tư lệnh Miền phê chuẩn quyết tâm chiến đấu, chúng tôi tiếp tục tổ chức điều nghiên, vừa để nắm thêm các chi tiết cấu trúc bên trong của căn cứ vừa thăm dò xem địch đã phát hiện ta đến đâu. Bộ phận đánh khu vực để máy bay và cơ giới sau khi tiềm nhập trở ra, nét mặt ai nấy đều vui vì không có biểu hiện gì là địch nghi ngờ ta tiến công, ta nắm chắc hon sự bố phòng của chúng. Anh em đã sờ tận tay từng chiếc máy bay, tìm ra được biện pháp diệt máy bay, sẽ liệng trái vô càng máy bay, toàn thân máy bay sập hỏng là cái chắc. Có đồng chí bò vào thấy phi công trực chiến ngồi trên buồng lái xem báo, trở ra bình luận vui: Ta đánh kiểu này thì thằng địch mất cả chì lẫn chài, vừa phá được máy bay lại diệt được cả bọn lái. Thấy tình hình diễn biến tốt, anh em vẫn giữ vững khí thế, tôi ngồi dậy viết điện báo cáo về Bộ tư lệnh Miền xin cho được thực hiện quyết tâm chiến đấu càng sớm càng tốt. Điện chưa kịp đánh đi thì tình hình bỗng trở nên căng thẳng. Những ngày sau đó địch đánh phá rất dữ. Máy bay lên thẳng rà sát mặt nước ở các đầm hồ quanh căn cứ nhằm phát hiện ta kết hợp với các bộ binh càn quét, lùng tìm dấu vết khả nghi. Hay là chúng tôi đã bị lộ? Một câu hỏi lóe lên không có lời giải và cũng không sao đối phó với chiến dịch vây quét của địch, tìm cách sao giấu mình tốt hơn nữa, tránh không để bất cứ một dấu vết gì làm cho địch khả nghi. Mà xóa dấu vết của mấy trăm con người ở không gian hẹp trong các hầm địa đạo không đơn giản tí nào. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 08:27:04 am Tôi, Minh (tiểu đoàn trưởng) và Lan đi trinh sát thực địa lần cuối trên đường trở về địa điểm ém quân bị địch săn lùng, phải nằm lại ở sinh lầy vì trời sắp sáng. Suốt một ngày vùi mình dưới bùn chỉ để hở hai mắt, mũi và mồm. Bộ binh Mỹ ập đến chỗ Minh, Lan đang nằm, nhưng may có một cái hố sâu ngăn cách, lính Mỹ bỏ cuộc, quay trở lại. Sau này khi trận đánh thắng lợi về hậu cứ nghỉ ngơi, có dịp hàn huyên chuyện cũ, ôn lại những bước gian truân ở Củ Chi - Đồng Dù, anh em đã tặng cho Minh một cái tên ngộ nghịnh: “Minh chuột cống”, vì nhiều lần đi điều nghiên sáp vô căn cứ, lúc trở ra đều phải nằm dưới hốc cỏ để giấu mình chẳng khác nào như chuột cống.
Vất vả gian nan nhưng chúng tôi vẫn có nguồn động viên, ấy là tin rằng mình chưa bị lộ. Gần đến ngày tiến công, địch càng vây càn dữ dội, dùng chó, dùng trực thăng xăm hầm. Anh em sống căng thẳng đủ thứ. Nằm ở dưới hầm địa đạo hẹp lại đông người, thiếu dưỡng khí, tức thở, rất khó chịu, cổ họng lúc nào cũng như có vật nằm cản, thở vào hít ra đều không hết, lồng ngực như có vật đè. Trong khi đó, tiếng bom đạn địch nổ trên đầu nghe càng inh tai nhức óc (vì nằm dưới hầm địa đạo nghe rất rõ tiếng động ở trên mặt đất, nhưng ở trên mặt đất không nghe được tiếng động ở dưới). Một ngày sống trong ngột ngạt và tức thở dưới hầm sâu địa đạo, mọi người chỉ mong sao trời chóng tối để mở nắp hầm ngoi lên hít thở khí trời, hơn là mong nước uống, mong cơm ăn, mặc dầu ai cũng đang sống trong cảnh cầm hơi, không dè sẻn thì không có gì ăn, đến ngày nổ súng không đủ sức mà vô căn cứ. Nhưng ngoi lên lại có cái khó chịu của ngoi lên, ít ra là lúc đầu. Ai cũng ngất xỉu, sau 30 phút mới tỉnh, mới minh mẫn tìm cách kéo, đỡ đồng đội lên tiếp. Người thứ hai cũng lại trải qua 30 phút hồi phục sau đó làm nhiệm vụ dìu đỡ đồng đội của mình lên theo. Lên rồi, tất cả đều mệt mỏi, không nói không rằng, sau tỉnh dần và bắt đầu thi nhau khoan khoái. Khỏe lại ăn uống bình thường (chủ yếu là nhai mì ăn liền rồi uống nước lã trừ, thế là xong bữa, chẳng bận bịu, chẳng bếp núc, khói lửa gì, vừa đỡ phức tạp cho công việc điều hành, chỉ huy, vừa đảm bảo an toàn cho đội hình sắp bước vào chiến đấu). Chúng tôi tiếp tục di chuyển nhích dần đội hình đến vị trí ém quân mới. Lại thu mình chui xuống địa đạo để sống cho đến khi mặt trời lặn, lặp lại công việc của ngày hôm trước. Nhưng rồi chúng tôi bắt đầu thích nghi, quen dần, tỉnh nhanh, thời gian ngây ngất rút ngắn. Nhai mì ăn liền nghe giòn giòn thấy có vị béo bùi nơi đầu lưỡi. Đã có thể ngắm cảnh trăng sao, thưởng thức ngọn gió lành mơn man từ bôn phương tới. Có phút thanh thản hàn huyên, tình đồng đội gắn quyện thêm, ám lòng nhau đi vào trận đánh. Những đêm đó, tôi có dịp trò chuyện với Đào (Lê Anh Đào) người đồng đội có nhiều gắn bó sau tám năm xa cách nay tình cờ gặp lại, cũng bởi cái tình yêu binh chủng của hai chúng tôi. Đào là một chiến sĩ đặc công “nòi” của tỉnh Bình Thuận, đã tham gia đánh đặc công hạ đồn Ngã Hai (nam thị xã Phan Thiết bốn cây sô) hồi mùa xuân năm 1952. Đào trở lại chiến trường miền Nam rất sớm, từ tháng 12 năm 1959 với nhiệm vụ rõ ràng - tham gia xây dựng và phát triển lực lượng đặc công ở các tỉnh thuộc khu VI - nơi mảnh đất kiên trung của Tổ quốc, và sau đó anh được điều về đất miền Đông. Đào có mặt trong trận đánh căn cứ Đồng Dù với cương vị phụ trách các lực lượng đặc công sư đoàn 7. Mỗi chúng tôi có những thăng trầm khác nhau, trong đời tư, trong thử thách, nhưng cái giống nhau ở lòng say mê, tình cảm yêu mến và tự hào về binh chủng mình. Giờ khởi sự đã đến, kết thúc bốn ngày sống ém quân giấu mình dưới các tầng địa đạo. Tầng địa đạo - một kỳ công của cuộc chiến tranh nhân dân đất Củ Chi - đã che chở cho chứng tôi tránh địch và đưa chúng tôi vào trận đánh thắng lợi (tôi sẽ kể với các bạn đọc tỉ mỉ hơn đoạn sau này). Giờ G kế hoạch là 12 giờ khuya. Nhưng giờ G thực tế có sự thay đổi. Các mũi đã vào tới hàng rào cuối cùng nhưng một sự cố làm lạnh gáy mọi người. Một mũi ở hướng bắc vướng mìn gây nổ, sau khi đã qua lớp rào thứ 14. Lại một thiếu sót trong khâu huấn luyện, đáng ra khi đạp phải mìn, ngươi tiếp sau lui xuống tiếp tục dò gỡ, nhưng các chiến sĩ ta lại giạt sang bên, nên đạp phải mìn, gây nổ tiếp. Nghe tiếng nổ khác thường, địch tập trung hỏa lực bắn rất dữ vào nơi vừa xảy ra tiếng nổ, vì thế mà mũi này (do đồng chí Ngôn, chính trị viên phó đại đội chỉ huy), đã phải rút ra. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 08:28:08 am Địch tập trung hỏa lực chủ yếu vào hướng mìn nổ, còn các hướng khác, do kỹ thuật tiềm nhập của ta tốt, địch vẫn chưa phát hiện. Sau khi cân nhắc tình hình, tôi ra lệnh các mũi trưởng cho anh em tiếp tục nhiệm vụ. Sáu mũi còn lại đều đưa được hết lực lượng vào lót sẵn các mục tiêu đã phân công.
Nhìn đồng hồ chỉ đúng 1 giờ sáng, lệnh nổ súng được phát ra theo quy ước, hiệu lệnh tiến công trong trận này là bắn hết một băng đạn AK. Loạt đạn nổ giòn và đanh! Các mũi theo tiếng nổ của hiệu lệnh, tiến công ào ạt nhanh chóng. Không một tiếng hô reo, chỉ nghe những tiếng nổ đanh liên tiếp, tôi biết anh em đã nghiêm chỉnh thực hiện quy định: khi được dùng bộc phá, thủ pháo đánh vào các mục tiêu được phân công. Do rút kinh nghiệm từ các trận đánh trước, trận này chúng tôi quy định không dùng vũ khí AK để tiêu diệt sinh lực địch vì lính Mỹ đều ở trong nhà, dùng AK bắn chẳng những ít tác dụng mà còn tự mình bộc lộ mục tiêu, địch có thể bắn vào những noi phát ra tiếng nổ, dễ bị thương vong, mặt khác dùng AK trong đêm tối dễ bắn nhầm vào nhau. Đứng ở một góc thuộc hướng đông - bắc của căn cứ này, lòng tràn đầy phấn khởi vì tôi thấy các mũi tiến công của ta phát triển thuận lợi. Quân địch ở đây hầu như bị tê liệt, ta hoàn toàn làm chủ. Sau này khi trận đánh kết thúc, tin tức từ cơ sở báo ra cho biết, lối đánh bằng bộc phá, thủ pháo của ta rất lợi hại, địch tưởng ta pháo kích thật, cứ thế mà ẩn trốn, không dám đối phó, chính vì lẽ đó nên quá trình chiến đấu trong căn cứ ta phát triển thuận lợi diệt được nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng ta mà ta thiệt hại không đáng kể so với trận đánh vào Dầu Tiếng cùng thời gian đó. Sau một giờ chiến đấu quyết liệt, các chiến sĩ đặc công đã đánh thiệt hại căn cứ bộ chỉ huy sư đoàn 25 Mỹ gồm cả khu thông tin, đài ra đa, hai trận địa pháo, sân bay, bãi xe cơ giới, khu hậu cần... Đã đến giờ chuyển giai đoạn, được lệnh các mũi, các hướng rút theo thứ tự: Xa ra trước, gần ra sau. Khi mũi cuối cùng ở hướng nam ra khỏi hàng rào ngoài cùng và báo hiệu bằng một băng đạn AK bắn chỉ thiên, các trận địa ĐKZ, dàn H.12 của ta được lệnh bắn theo thứ tự: Bắn vào sở chỉ huy trước, tiếp đến vào khu trung tâm thông tin, bãi để xe, pháo và các kho tàng. Bị đánh bồi bằng hỏa lực có sức mạnh, toàn căn cứ chìm trong biển lửa. Tiêng nổ càng dữ dội. Lần này mới là pháo kích thật, địch càng hoảng hốt, đâu nằm đấy, tạo thuận lợi cho ta rút nhanh, nhẹ và an toàn. Khi trời sáng dần, chúng tôi càng nhìn rõ đụn khói từ phía Đồng Dù đang bốc cao, lan rộng. Vành đai cứng phòng thủ Sài Gòn từ hướng bắc của địch đã bị chọc thủng và một căn cứ lớn mà Mỹ dày công xây dựng đang trở thành một đám lửa. Màn hai của trận đánh được diễn ra khi mặt trời ló rạng. Sự ồn ào bắt đầu về phía địch. Với ta, đó là tổ ba người thuộc mũi 1 ờ hướng chủ yếu phía bắc do lạc hướng không rút theo đơn vị được, trong khi trời đã sáng rõ. Toàn tổ tìm ẩn vào cái cống trên đường đi, lấy đá bịt hai đầu cống vừa để che mắt địch, vừa kiêm công sự - bệ tì bắn địch nếu chúng phát hiện ập đến. Mặt trời lên cao, số địch còn sống sót trong căn cứ cộng với viện binh từ Sài Gòn vừa tới, chúng tập trung càn quét quanh căn cứ, phát hiện các đường tiến và rút của ta, các vị trí đặt pháo, các mũi đột nhập, các dấu vết di chuyển, v.v... Chúng lần đến nơi ba chiến sĩ ta trụ lại trong cống. Thế là cả bầy quân được lệnh dồn lại, dàn đội hình, hướng hết các mũi súng vào nơi cống. Nhưng không một tên nào dám vào gần, mà chỉ bắn như vãi đạn, xa nghe tưởng như một trận đụng độ lớn. Thỉnh thoảng một tiếng nổ của đạn AK từ đó phát ra khi có tên nào đó bị chỉ huy thúc ép phải đến gần xem xét. Địch quyết bắt sống các chiến sĩ ta, chúng bắc loa gọi hàng với những hứa hẹn đường mật. Vẫn không thấy dấu hiệu mềm yếu nào của đối phương, tiếng loa lại vang lên nhưng không còn hứa hẹn nữa mà là đe dọa. Tức thì một tiếng nổ của đạn AK lại từ đó bay thẳng hướng vào cái loa vẫn đang lên giọng dọa dẫm, thay cho câu trả lời: Không hàng! Sẽ chiến đấu đến cùng! Bộ mặt thật của quân thù phơi ra. Chúng dùng pháo bắn, chất độc phun vào nơi cống nhỏ... Ba chiến sĩ ta hy sinh vẫn chặt tay súng hướng nơi kẻ thù, ở tư thế ngồi bắn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 08:39:34 am Các mũi hướng đông, có hai chiến sĩ ta cũng lạc hướng. Khi ra tới bưng - một cái bưng ăn thông ra sông Sài Gòn còn đầy nước, thì trời sáng, nhìn rõ mặt người. Hai chiến sĩ ta quyết định nằm lại, toàn thán dìm xuống nước, chỉ để hở mũi và mắt. Nhưng không may đứng ngày nước ròng, người trơ ra giữa lúc một toán lính địch có cả dân vệ và vợ con dân vệ cũng được huy động đi càn ập đến. Thật là một tình thế hiểm nghèo tưởng không thể vượt qua!
Theo sự chỉ đạo của huyện ủy Củ Chi với các cơ sở ở gần các căn cứ địch, nếu đêm ta tiến công căn cứ thì sáng ra, các dồng chí đảng viên, đoàn viên, quần chúng trung kiên ở gần đó phải tim mọi cách hợp pháp đi quanh căn cứ tìm kiếm những chiến sĩ ta bị lạc, bị thương, tử sĩ chưa kịp chuyển hết, đưa về nơi an toàn chăm sóc hoặc chôn cất Vì đã có kế hoạch họp đồng cùng địa phương như thế nên vừa sáng cơ sở ta cử cả một số trẻ em cũng giả dạng theo nhập vào toán lính địch và gia đình chúng, hùa nhau đi săn lùng “Việt cộng”. Đi trong đoàn săn lùng ra bưng có hai em nhỏ do cơ sở của ta bố trí cùng chạy với sắp con cái lính ngụy. Vừa chạy đến đầu bưng hai em này tinh ý thấy có dấu vết lạ, liền chạy lên trước và cứ thế lao xuống bưng giẫm lên dấu chân có trước để xóa dấu vết. Hai em cũng theo vết chân đó tìm đến cùng, xem có anh giải phóng nào bị thương hoặc lạc đường đang phải giấu mình không, để tìm cách cứu thoát như các bác, các cô đã dặn. Ra đến giữa bưng thì hai em bắt gặp hai chiến sĩ ta đang nằm đó. Hai chiến sĩ ta hoang mang, chưa biết nên xử trí ra sao, trước tình huống đến nhanh và đột ngột. Hai em nhỏ tỏ vẻ không để ý, vừa vờ xí phần khoanh vùng tát cá, vừa nói nhỏ với hai chiến sĩ ta: Hai chú cứ nằm yên đây, tụi cháu đắp đất phủ để địch khỏi nghi nghen. Nói rồi hai em vờ tát cá đắp đất phủ lên người hai chiến sĩ ta như một bờ ngăn nước. Vừa đắp, hai em vừa nói tiếp: Hai chú ráng nằm đây, chờ tối tụi cháu dẫn hai chú vô khu có nhiều địa đạo, vùng của ta mà chú! Cả ngày hôm đó sau chiến thắng trở về, niềm vui trong chúng tôi phải tạm xếp lại, lo đối phó với cuộc bổ vây xăm lùng của quân thù. Địch huy động xe tăng, lính bộ binh và cả chó nữa nhắm bắt bằng được chúng tôi - những người đêm qua đã gây cho chúng một đòn đau, làm thay đổi hẳn cả bộ mặt của cái căn cứ quân sự thuộc loại nhất của Mỹ ở tuyến phòng thủ thép tại bắc Sài Gòn. Chúng lùng sục tận các nơi khả nghi, các đường mòn, vào cả khu ém quân của chúng tôi dưới tầng địa đạo. Vẫn biết là “Việt cộng” đánh đêm hôm qua chưa thể ra khỏi khu này, nhưng càn lùng, dò xăm đủ ngón mà vẫn không thấy một dấu vết khả nghi nào, địch đành chịu cho thu quân. Không gian yên tĩnh trở lại. Mọi người khấp khởi mong cái giờ phút mở nắp hầm địa đạo để được thỏa thuê thở hít khí trời thì một sự việc không may lại ập đến. Ãy là ở nơi ém quân của tiểu đoàn đồng chí Lan, đã chủ quan, rỡ nắp hầm hơi sớm, vừa lúc ấy một máy bay lên thẳng từ hướng Dầu Tiếng bay qua, phát hiện thấy có dấu vết lạ khả nghi từ mặt đất. Chúng liền quay lại rà thấp khép vòng và gọi điện báo cho các đồn địch ở quanh vùng bổ vây, chờ trời sáng hãy hay. Thế là cái đêm dự định xả hơi ấy không còn nữa, Một cuộc chiến đấu đơn phương diễn ra rất căng thẳng và ác liệt: Pháo sáng địch thay nhau bay lên, tạo thành một quầng sáng lan rộng một góc trời; đạn pháo bắn ngăn chặn, lúc gần lúc xa, ùng oàng suốt đêm; tiếng động cơ của tàu xuồng phong tỏa mặt sông Sài Gòn đoạn từ Thủ Dầu Một tới Bến Dinh cứ ầm ầm ì ì nghe tức tối. Cho mâi khi trời mới rạng sáng, mặt đất ở nơi chúng tôi ém quân bị rung lên, bị nung nóng bởi các loại đạn địch đổ xuống Máy bay Mỹ thi nhau lượn vòng cắt bom. Xe cơ giới dàn thanh hàng hết cày ngang lại cày dọc. Chúng vây, chúng lùng, chúng xăm bằng thuôn, bằng chó, thấy đâu có hầm, bất kể đó thê nào có người hay không có người, mới đào hay đã cũ sập theo nắng mưa khắc nghiệt, chúng cũng cứ làm theo đúng bài bản là dùng bộc phá đánh sập nắp, dùng chất độc hóa học phun vô cửa. Hùng hổ như thế nhưng cũng có giới hạn. Không một tên lính nào dám xuống hầm cả, dù chỉ là một đoạn ngắn bởi đồng đội của chúng trước đây đã phải trả giá, hoặc bị đạn bắn tỉa, bị thủ pháo, bị chông mìn cụt giò... Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 08:41:19 am Cuộc chiến đấu đơn phương diễn ra suốt ngày và cũng có kết thúc bằng một thông báo “thắng lợi” nghe thật hài hước đăng trên tờ báo “Sao và Vạch” của quân đội Mỹ. Nó hài hước, nó chua chát bởi vì đối thủ của cuộc hành quân đơn phương “quét và giữ” ấy là chúng tôi, thì ngay trong đêm đó vượt khỏi vòng vây địch trở về hậu cứ an toàn.
Hai hôm sau chúng tôi tổ chức lễ mừng chiến thắng. Gọi là lễ cho đúng cái từ quy ước, chứ chiến trường đang nóng bỏng này làm gì cho chuyện đó. Chúng tôi tập họp từng tiểu đoàn riêng lẻ, ở địa điểm trú quân riêng lẻ để nghe thông báo số liệu tổng hợp về kết quả trận đánh, nghe phân tích ý nghĩa trận đánh nhưng cũng rất ngắn gọn, và cuối cùng là đọc lệnh khen thưởng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam: một Huân chương Quân công hạng nhất cho trận đánh; mỗi tiểu đoàn tham gia trận này là một Huân chương Quân công hạng ba, hơn 40 cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng Huân chương Chiến công, số còn lại - tất cả đều được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”. Riêng tôi cũng vinh dự được tặng Huân chương Chiến công hạng nhất. Lễ mừng chiến thắng đã để lại trong chúng tôi một niềm vui sâu lắng, giúp mình nhìn lại chính minh. Tình cảm vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, lòng yêu binh chủng, sự thành kính của mỗi người đối với Bác kính yêu - Người đã dành một tình cảm, một tấm lòng thật đặc biệt cho binh chủng, và sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân Củ Chi - nhân dân đất miền Đông thương yêu tất cả đã tạo thành sức mạnh, cho chúng tôi những trí tuệ cần có để đi vào trận đánh. Anh Lê Đức Anh trong lần giao nhiệm vụ tiếp theo, đã nói ý kiến đánh giá của Quân ủy Miền và Bộ tư lệnh Miền: Chiến thắng Mỹ ở chiến trường Đông Nam Bộ bằng lực lượng đặc công, mở ra khả năng mới - bằng lực lượng đặc công, ta có thể đánh lớn hơn với lực lượng lớn hơn trong chiến đấu độc lập hoặc trong chiến dịch tổng hợp, góp phần cùng các lực lượng vũ trang đánh cho địch nhưng đòn đau hơn, làm chuyển biên tương quan, chuyển biển cục diện có lợi cho ta... Tôi đón nhận lời biểu dương của Quân ủy Miền và Bộ tư lệnh Miền với một cảm xúc dặc biệt và tự thấy mình cần phải trau giồi, học hỏi, rút kinh nghiệm để xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, quân đội, nhân dân với binh chủng và coi đó là những yêu cầu, những nội dung chức trách của người chỉ huy cần phải có. Tự tôi suy nghĩ về bài học sâu sắc nhất sau trận đánh Đồng Dù là: Đặc công phải luồn sâu để có thể đánh thẳng vào những căn cứ lớn của địch. Nói cách khác, luồn sâu là một yêu cầu của cách đánh đặc công, từ đó có thể khoét sâu nhược điểm của địch, tạo yếu tố bất ngờ, chắc ăn. Muốn thực hành luồn sâu điều kiện tiên quyết là phải dựa được vào nhân dân, và cơ sở địa phương. Mỗi cán bộ, chiến sĩ đặc công phải là hạt nhân của chiến tranh nhân dân, phải dựa vào dân, tổ chức gây cơ sở trong nhân dân phải làm công tác cơ sở, qua đó xây dựng địa bàn ém quân, cung nhân dân chiến đấu. Hình ảnh sinh động đó được thể hiện trên mảnh đất Củ Chi địa bàn luồn sâu, ém quân của đơn vị đánh Đồng Dù vừa rồi Ngay giữa vùng đất mà địch không tiếc bom đạn biến thành một vành đai trắng hủy diệt, nhưng hơn 200 cây số địa đạo vẫn được đào sâu trong lòng đất, nối liền sáu xã phía bắc huyện. Nhờ đó mà đơn vị đã được bảo vệ an toàn, giữ được bí mật bước vào trận đánh thắng lợi. Võ Văn Minh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 28 đặc công của sư đoàn 7 tham gia trận Đồng Dù đã kể về một tổ đặc công sau khi trận đánh kết thúc. Một đồng chí bị thương nặng được dìu ra khỏi căn cứ thì trời sáng dần. Đang lúng túng không biết xử trí thế nào thì một ông già từ ấp chiến lược đi ra bắt gặp, nói: - Các anh khỏi lo, cứ để chú bị thương ở lại đây! Cả tổ đang phân vân thì ông già nói tiếp: - Trong này cũng có chi bộ mà! Hai từ “chi bộ” đã có sức thuyết phục, làm cho cả đồng chí thương binh cũng thấy yên tâm, do đó cả tổ đã rút kịp về nơi an toàn. Ngày hôm sau được tin cơ sở báo ra: Anh thương binh quê miền Bắc được chi bộ hết sức chăm sóc nhưng vì máu ra nhiều, đã hy sinh. Chi bộ đã họp truy điệu và tổ chức lễ mai táng trong đêm. Trên mảnh đất Củ Chi là như vậy, chi bộ Đảng vẫn bám trụ cùng nhân dân, luôn đi đầu trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù, trở thành linh hồn của cuộc chiến tranh nhân dân địa phương, tạo điều kiện cho lực lượng đặc công chúng tôi hoạt động, chiến thắng... Chúng tôi đời đời ghi nhớ ơn những người dân trên mảnh đất rực lửa này. Chúng tôi sẽ mãi mãi không bao giờ quên sức mạnh bắt nguồn từ lòng dân trên mảnh đất anh hùng đã giúp chúng tôi đi tới... Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 09:58:27 pm III Bị thua đau ngay những ngày đầu năm, tướng A-bram, tư lệnh quân đội Mỹ ở Sài Gòn hối thúc cho mở hai cuộc hành quân “Đại bàng” ra hướng Tây Ninh, “cái nêm Át-lát” đánh ra rừng cao su Mít-xơ-lanh của Pháp cai quản. Cuộc hành quân “cái nêm Ảt-lát” do hơn một vạn lính Mỹ và ngụy Sài Gòn tiến hành nhằm hai mục đích: diệt lực lượng ta trụ bám ở đó và phá trụi khu rừng còn lại, mở rộng khu trắng, không cho ta dùng nó làm bàn đạp, làm khu tập kết chuẩn bị tiến công chúng ở Tây Ninh, Trảng Lớn, Đồng Dù. Cũng bởi lẽ đó, ngoài quân đông, địch còn huy động tới 500 xe tăng, xe bọc thép cày ủi cây cối, dùng bom na-pan đốt lô, dùng biết kích và trực thăng vũ trang xăm bắn lực lượng ta trụ bám ở đây. Ở sở chỉ huy, chúng tôi thực sự lo lắng vì có một bộ phận của tiểu đoàn 5 sau khi đánh căn cứ địch ở Dầu Tiếng, được lệnh đi nghiên cứu tiếp địch ở Tua Hai, Núi Cậu, đang bị kẹt ở khu rừng này, tính mạng anh em sẽ ra sao, liệu có ra khỏi vòng vây của địch hay không? Nhất là sau khi địch kết thúc hành quân, đã rút về các hậu cứ mà vẫn không thấy anh em trở lại thì nỗi lo lắng trở thành thương xót, nhiều người đã khóc. Giữa lúc ấy tôi gặp Ninh1 ở quán Tám. Tôi sung sướng reo lên: - Còn sống hả? - Chết sao được, anh. Rồi Ninh kể: Tôi và một số chiến sĩ từ căn cứ Dầu Tiếng tới đây thì trời tối. Chúng tôi quyết định ngủ lại để lấy sức mai đi tiếp về hướng Tua Hai như kế hoạch đã định, thì sáng hôm sau địch đổ quân vào cánh rừng này, ập từ bốn phía. Thế là chúng tôi bị kẹt ở đây, chúng tôi liền tổ chức lực lượng, phân công trách nhiệm chỉ huy chiến đấu. Địch đánh phá thật dã man và ác liệt. Máy bay đầy trời, xe tăng gầm rú dưới mặt đất. Lòng chúng tôi quặn đau không sao cầm được nước mắt khi chứng kiến anh Hai Tiến, bí thư huyện ủy Dầu Tiếng bị xe tăng địch lăn đè trong lúc tay phải anh không rời trái nổ, không khuất phục trước sức mạnh của kẻ thù mà sẵn sàng chấp nhận sự đối đầu. Hình ảnh bất khuất ấy của anh cho chúng tôi thêm sức mạnh. Chúng tồi chiến đấu linh hoạt, lúc đánh lúc lui, lúc xuất hiện bất thần, lúc lại nằm im giấu mình, cứ thế mà quần đảo với địch. Ninh kết thúc: Hôm nay tôi trở về lữ đoàn báo cáo và đề nghị các anh vẫn cho chúng tôi được tiếp tục điều nghiên các mục tiêu phục vụ cho đợt hoạt động hè tiếp theo. Ninh đi trong đoàn 30 khung2 vào chi viện cho chiến trường B.2 từ tháng 7 năm 1967, phục vụ cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ninh lên đường trước tôi hai tháng nhưng lại đến sau, vì anh đi theo đường Trường Sơn. Ninh có dáng người xương xương chắc khỏe, tính tình sôi nổi, ưa hành động và thích làm thơ. Mỗi khi có cảm hứng, Ninh thường ứng khẩu làm thơ, cùng với anh em góp phần làm cho cuộc sống đơn vị thêm vui, bớt căng. Anh em đã yêu mến tặng anh tên gọi là ông “Đỗ Phủ - Ninh”. Anh đã chiến đấu hết mình trên đất miền Đông từ ngày vào đây (sau này anh trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang cũng từ mảnh đất gian lao và anh dũng này). Tháng 5 lại về, một mùa mưa chu kỳ của đất trời đã đến với đất miền Đông. Những trận mưa đến sớm mang lại bầu không khí trong lành, tươi mát, dễ chịu. Những cơn lo đầu mùa tràn về trên các triền sông Sài Gòn, sông Bé, nước đổi màu và dòng chảy trở nên hung dữ, một dấu hiệu trở ngại cho cuộc vận động tiến công. Đợt hoạt động hè bắt đầu. Các sư đoàn chủ lực của ta có sự điều chỉnh đội hình để phù họp với thực tiễn lúc đó. Sư đoàn 1 chỉ để một trung đoàn hoạt động trên đường số 13, sư đoàn 7 lùi về Chơn Thành (khu vực Thị Tính, Ninh Hòa), sư đoàn 5 lùi lên bắc Biên Hòa để lại một trung đoàn đứng chân ở Xuân Lộc; sư đoàn 9 di chuyển về Bên cầu, để sau đó tham gia đánh các trận Chà Là, Chà Phí, uy hiếp Trảng Lớn. Chiến tranh ở đây từ lâu không còn sôi động theo mùa nữa, và cũng đã mất đi câu hỏi quen thuộc trước đây thường đặt ra: Mùa mưa là gì? Công việc chuẩn bị chiến đấu của chung mặt trận Đông Nam Bộ, của riêng lực lượng đặc công lại rộ lên theo yêu cầu của đợt hoạt động cao điểm mùa hè. --------------- 1. Tức Đỗ Văn Ninh, nay là đại tá, Phó tư lệnh binh chủng 2. Khung chỉ huy cho một đại đội gồm 4 cán bộ chỉ huy đại đội (đại đội trưởng, đại đội phó, chính trị viên, chính trị viên phó đại đội), 3 cán bộ trung đội trưởng, Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 10:01:58 pm Một cuộc họp Bộ tư lệnh đặc công Miền (kiêm Bộ tư lệnh lữ đoàn đặc công 429) được tiến hành ngay khi mùa mưa mới bắt đầu, nhằm quán triệt ý định của Bộ tư ỉệnh Miền và bàn biện pháp thực hiện. Trong bão lửa tháng 5, đặc công được giao nhiệm vụ làm “mũi nhọn” thọc sâu của các sư đoàn chủ lực, đánh phá các căn cứ, kho tàng, hệ thống phòng thủ trong vòng ngoài, phá kế hoạch thay quân của địch; tiếp tục tổ chức tiến công tiêu diệt sinh lực của hai sư đoàn bộ binh số 1 - Anh cả đỏ và sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ vừa điều từ miền Trung Trung Bộ vào.
Như vậy là mặt trận chuyển từ tây sang đông, từ đường số 1, đường số 22 sang đường số 13 và đường liên tỉnh 1 (Thủ Dầu Một, Phước Long). Nhìn vào bản đồ chiến sự lúc đó, bạn đọc dễ thấy trên một diện rộng, theo hai trục đường số 13 và đường liên tỉnh 1 với các địa danh Lai Khê, Bến Cát, Chơn Thành, An Lộc, Lộc Ninh, Phước Vĩnh, Đồng Xoài đều là những căn cứ của Mỹ với quy mô và tính chất phòng thủ khác nhau. Đánh vào đâu trong số hàng chục căn cứ Mỹ đó? Vấn đề đặt ra quả thật không dễ, đòi hỏi chúng tôi phải làm việc thật nghiêm túc. Cuối cùng chúng tôi hoàn toàn nhất trí chọn hai mục tiêu dưới đây làm hai điểm thực hành tiêu diệt sinh lực địch: 1. Phước Vĩnh, nằm trên đường liên tỉnh 1, cách thị xã Thủ Dầu Một chừng 40 cây số về phía đông - bắc là căn cứ của sư đoàn bộ binh 1 - Anh cả đỏ. 2. Téc-ních nằm ở ngoại ô thị xã An Lộc trên trục đường số 13, là căn cứ của lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1. Hai căn cứ khống chế hai trục đường trên một không gian rộng gồm ba tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long. Đánh vào đây vừa nhằm tiêu diệt sinh lực cấp cao của Mỹ, vừa làm rung chuyển hệ thống phòng ngự từ xa, uy hiếp mạnh một mắt xích chủ yếu (Thủ Dầu Một - Bến Cát - Lai Khê) của trung tuyến phía bắc Sài Gòn, gây tác động mạnh về mặt tâm lý tới vùng ven đô và nội đô. Được Bộ tư lệnh Miền phê chuẩn về điểm tiến công, chúng tôi liền phân công nhau thực hiện. Anh Chín Tùng, phó tư lệnh lữ đoàn trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 5 đánh căn cứ Téc-ních; tôi chỉ huy tiểu đoàn 3 đánh Phước Vĩnh. Đây là hai trận đánh then chốt của đợt hoạt động cao điểm hè, đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo. Tạm biệt Tây Ninh, chúng tôi đi về hướng đông sang đất Bình Long, Phước Long với khí thế phơi phới của những người vừa chiến thắng ở Đồng Dù, ở Dầu Tiếng trong những đợt hoạt động xuân vừa qua. Không có phát động thi đua, nhưng giữa chúng tôi với tiểu đoàn 5 như có sự hứa hẹn ngầm - phải thắng và nhất định thắng. Đoàn quân đánh Phước Vĩnh gồm bốn tiểu đoàn, nhiều hơn trận Đồng Dù một tiểu đoàn. Đây là biểu hiện quyết tâm cao của Bộ chỉ huy lữ đoàn. Các anh có ý tạo điều kiện thuận lợi tối đa dể chúng tôi phải hoàn thành nhiệm vụ. Đêm 9 tháng 5, chúng tôi vượt qua đường số 13 ở vào quãng giữa Bầu Bàng và Bầu Lồng, lại nhớ về những trận đánh Mỹ đầu tiên xảy ra nơi đây hồi tháng 12 năm 1965 do đại tá Hoàng Cầm (nay là thượng tướng) chỉ huy đã giành thắng lợi giòn giã. Quy mô sự kiện tuy nhỏ nhưng giá trị tư tưởng của sự kiện lại lớn. Hồi ấy khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào xâm lược miền Nam nước ta, có ý kiến nêu ra: Bây giờ ta nên thế nào, tiến công hay phòng ngự? Anh Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung ương cục lúc đó có mặt trên đất miền Đông đã giải đáp chính xác. - Tiến công! Chỉ có tiến công. - Anh Thanh khẳng định như vậy. Tư tưởng đó của anh Thanh cũng là tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng ta. Nhờ đó ta có Bầu Bàng, Nhà Đỏ, Bông Trang, những địa danh đánh Mỹ và thắng Mỹ đầu tiên, nay đã được ghi vào sổ vàng lịch sử chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Tư tưởng cách mạng tiến công đó đang thực sư soi sáng nhận thức của chúng tôi, đang tiếp thêm nghị lực và quyết tâm của chúng tôi Vượt đường số 13 đi được khoảng 10 cây số đã thấy quầng sáng từ Phước Vĩnh hắt lên. Từ đây trở vào là những vạt đồi thoai thoải như cảnh sắc miền trung du ngoài Bắc. Vị trí ém quân là một khu rừng cao su đã cằn, cách Phước Vĩnh ba cây số theo đường chim bay. Đây là một sự lựa chọn táo bạo nhưng không có cách nào khác, chính vì thế mà chúng tôi đã quy định nghiêm ngặt về kỷ luật ém quân. Ngày 10, 11 sau khi điều nghiên xong, chúng tôi họp cán bộ chỉ huy các tiểu đoàn thảo luận quyết tâm. Khuynh hướng nói chung là nôn nóng muốn đánh ngay nhân đà thừa thắng, cán bộ, chiến sĩ đang có khí thế. Khác với tiến công Đồng Dù, kế hoạch tác chiến ở đây cần phải có tiến độ sít sao hơn. Lực lượng cắt rào vào trước, khi lực lượng nầy bắt đầu thực hiện cắt rào mở cửa thì lực lượng tiến công từ vị trí tập kết xuất quân, không chờ lực lượng cắt rào trở ra đón để hạn chê bớt sơ suất trong giai đoạn chuẩn bị. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 10:04:53 pm Ngày N dự định là ngày 12 tháng 5, cùng nổ súng phối hợp với trận tiểu đoàn 5 đánh Téc-nich, nhưng chứng tôi không chuẩn bị kịp vì có trục trặc.
Đêm 13 tháng 5, chúng tôi rời vị trí tập kết đi dưới cánh rừng cao su đã trụi lá vì chất độc hóa học của Mỹ, băng qua các vạt đồi lúp xúp. Đêm mờ đục nhưng vẫn hướng về phía quầng sáng Phước Vĩnh mà đi tới. Đội hình đi rất nhịp nhàng ăn khớp, im ắng không một tiếng động tính nhỏ nào gây cho địch khả nghi. Bỗng một tiếng nổ bất thần, không to lắm cúng đủ sức phá tan cái tĩnh mịch của đêm khuya. - Tiếng nổ ở đâu, ta hay địch? - Tôi hỏi. - Báo cáo, ta! Một lát sau mới rõ là thủ pháo mắc vào cây rừng gây nổ. Lại một bài học phải trả giá bằng máu, ba chiến sĩ chết. Nhưng đâu phải đã hết. Chỉ mấy phút sau đó địch phản ứng liền, giội đạn pháo vào nơi có tiếng nổ phát ra, kèm theo là tiếng máy bay trực thăng vè vè trên đầu, rất thấp, thả pháo sáng, bắn xăm ngăn chặn, bịt các ngả đi vào Phước Vĩnh. Một tình huống gây cấn ngoài dự kiến! Dừng lại ư? Biết bao giờ địch ngừng bắn để tiếp tục tiến. Như thế sẽ ảnh hưởng đến giờ G của trận đánh. Nguy hiểm hơn là ở đây nếu trời sáng, sẽ lộ, địch bổ vây cất vó. Phải tiếp tục hành quân, không dừng lại, càng không thể lùi lại được nữa. Chỉ có vượt nhanh qua vùng pháo địch bắn, đi về phía trước. Đoàn quân đã vượt qua vòng nguy hiểm, nhưng đến cách mép rào ngoài cùng của căn cứ khoảng 500 mét thì đúng lúc địch bắn chặn rất dữ dội như chúng biết chúng tôi đang có mặt nơi đây. Đã có thương vong. Tình hình càng trở nên phức tạp, xa xa về phía sau, nơi phát ra tiếng nổ vẫn có pháo địch bắn, máy bay trực thăng vũ trang vẫn bay lượn. Đầu óc tôi căng thẳng. Tiểu đoàn 5 nổ súng đánh Téc-ních từ hôm qua, chắc là thắng lợi, còn chúng tôi đã chậm mất một ngày, tác dụng hỗ trợ nhau như vậy là không hoàn thành, giờ này vẫn còn đang lúng túng ngay trước căn cứ của địch. Một quyết định được cân nhắc kỹ, tôi cho đội hình tiến lên, áp sát vào hàng rào căn cứ. Vừa lúc đó lực lượng cắt rào cử người ra báo: Đã cắt xong 11 cửa như kế hoạch đã định. Tin vui mừng đó đến thật đúng lúc. Đội hình tiến công lập tức triển khai có mặt đầy đủ ở 11 cửa mở chờ lệnh. Căn cứ Phước Vĩnh hiện rõ trước mặt mọi người. Không bằng Đồng Dù ở quy mô, ở nhà cửa xây cất, tất cả mang đậm nét dã chiến, nhưng hệ thống công sự, vật cản ở đây thì có phần cẩn mật hơn Đồng Dù. Chỉ còn 15 phút nữa ỉà đến giờ G thì một loạt pháo địch bất thần chụp lên đội hình tiến công. Tình huống buộc chúng tôi phải mở rộng đội hình sang hai bên để tránh pháo địch sát thương. Đêm khuya đã chuyển dần về sáng, Không còn cách nào khác buộc chúng tôi phải quyết đoán tức thì, rút ra thật êm và thật nhanh, bảo đảm an toàn cho đội quân để bày keo khác. Cả hôm sau chúng tôi giấu mình trên một vạt đồi với những cây lúp xúp lẫn lồ ô và cỏ lác, cách Phước Vĩnh hơn 10 cây số về phía bắc, xế hướng Đồng Xoài. Qua một đêm trắng với bao nỗi gay cấn ập đến khiến đầu óc căng thẳng, toàn thân mệt nhoài, vậy mà ngày hôm nay - một ngày vắng bóng mặt trời, mây vần vũ như cái màn gió khổng lồ tỏa xuống râm mát, nhưng tỏi vẫn không sao chợp mắt được. Đầu óc lởn vởn câu hỏi tại sao pháo địch bắn chặn đúng đội hình, vì ngẫu nhiên hay vì lý do gì? Giữa lúc câu hỏi tại sao đang đặt ra một cách gay gắt chưa có lời giải đáp thì cơ sở của ta cho biết: Đêm qua các anh bị pháo địch bắn chặn, phải rút ra vì căn cứ này mới có máy nghe tiếng động... Chúng tôi nhẹ nhõm thở phào, thần kinh chùng xuống, đầu óc thanh thản dần vì biết được nguyên nhân khách quan, giải đáp được một câu hỏi đang day dứt trong tâm trí. - Máy cấu trúc thế nào, có kiếm được không? - Tôi hỏi. - Dạ được, nhưng phải có tiền. - Mua à? - Tôi hỏi lại. - Dạ... Hôm sau cơ sở mang ra một cái máy nghe tiếng động có hình thù gọn, nhẹ. Thế lá chúng tôi tập trung những đồng chí am hiểu chút ít về kỹ thuật, làm nhiệm vụ nghiên cứu tìm hiểu nguyên lý cấu tạo và cách vận hành của máy để chống nó chứ không có tham vọng chế tạo nó. Trận đánh căn cứ Phước Vĩnh không thành đang là cái hận và sự căm tức lúc này được dồn vào nơi cái máy vô tri vô giác đang nằm tênh hênh trước mặt mọi người. Xoay tới xoay lui, cuối cùng chúng tôi đã khám phá ra bí mật của máy. Tất cả chỉ tại cái cần ăng tên bằng thép mỏng như lá lúa. Tiếng động phát ra được thu vào ăng ten rồi được các bộ phận trong máy khuếch đại ra truyền về trung tâm căn cứ. Tôi nhớ đến hình thù con gián có hai cái râu, đi đâu râu cũng vểnh lên, ruỗi về phía trước, đung đưa phát hiện vật cản. Ngắt râu là hoạt động của gián gặp khó khăn. Máy nghe tiếng động cũng vậy, chỉ cần phá ăng tên là máy trở thành vô dụng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 10:07:06 pm Mày mò ra vấn đề, bộ phận “chuyên viên” kiến nghị cách xử trí:
- Nếu bò vào được hàng rào mà phát hiện có máy nghe tiếng động thì chỉ việc lẹ làng bẻ ngay cái ăng ten là mọi việc êm. - Khi chưa phát hiện được nó, thì cách chống tốt nhất là im lặng, tuyệt đối im lặng. Kỹ thuật tiềm nhập lẹ làng, kế hoạch tiềm nhập ăn khớp đến mức không phát ra một âm thành đủ gây cảm ứng của ăng ten cũng là cách vô hiệu hóa máy nghe tiếng động. Đơn vị phấn khởi trở lại. Đã tìm thấy thắng lợi ngay trong thất bại. Từ nay máy nghe tiếng động không còn là điều lo ngại nữa. Nhưng riêng tôi, với trách nhiệm của người chỉ huy nỗi trăn trở vẫn chưa dứt. Địch ở Phước Vĩnh đã có sự đề phòng, chưa thể đánh ngay được! Hướng Téc-ních như vậy là ngon rồi, tiểu đoàn 5 do anh Chín Tùng chỉ huy giờ này chắc đang hân hoan về trận đấu đánh bại lữ đoàn 3 của sư ky binh bay số 1 - niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp quốc phòng Mỹ, một phát kiến có hạng của bộ trưởng quốc phòng Mắc Na-ma-ra - người được xem là có bộ óc điện tử sống của nước Mỹ thời đó. Tôi đánh điện chào mừng thắng lợi và hứa học tập đơn vị bạn. Anh Chín Tùng đã điện trả lòi - báo nhận đủ. Càng thành tâm chúc mừng bạn, tôi càng trăn trở day dứt. Như vậy là trên hướng tỉnh lộ 1 cả hai điểm đều không thành công. Phước Vĩnh nếu không ra nhanh thì bị thương vong, còn điểm Bù Na, căn cứ chiến đoàn biệt kích hỗn hợp Mỹ - ngụy do sư đoàn 5 phụ trách cũng không thành vì bị lộ. Tháng 5 đã trôi qua nhanh. Mưa ở Đông Nam Bộ thuộc nửa phần phía đông hình như xối xả hơn nửa phần phía tây. Sông Bé quanh co uốn khúc càng trở nên dữ dằn và khó vượt qua. Suy tư của tôi vẫn xoáy sâu vào hận Phước Vĩnh. Đợt hoạt động cao điểm mùa hè thời gian còn lại không nhiều, sự thôi thúc của nhiệm vụ chưa tròn càng bắt tôi phải suy nghĩ. Đi chiến đấu mà về không thì thật ngán! Biết nói thế nào với cấp trên, cho dù là có lý do đầy đủ cũng thấy nó thế nào ấy. Đội hình chiến sĩ của chúng tôi len qua các cánh rừng lồ ô, qua Đồng Xoài sang đứng chân ở Thuận Lợi, một cánh rừng cao su thuộc đồn điền cao su Phú Riềng - nơi nổ ra cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng ta khởi xuất từ năm 1930. Bất giác tôi lại nghĩ về Bù Na, ở đó địch đang rất chủ quan, ngạo mạn sau khi sư đoàn 5 của ta phải rút ra vì bị lộ. Ta có thể lợi dụng sự chủ quan của địch để tạo sự bất ngờ. Tôi họp các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn và đại đội trình bày những suy nghĩ trên. Nào ngờ các đồng chí này cũng có cùng suy nghĩ như tôi. Tất cả đều nhất trí nhanh, đề nghị tranh thủ thời gian cho đơn vị hành quân ngay đêm nay. Dựa vào đường mòn của các đơn vị đã đi, đồng thời băng rừng, vượt núi theo hướng bắc, chúng tôi phải đi mất hai ngày mới tới Bù Na, ém quân cách địch khoảng hai cây số để tổ chức chiến đấu. Các đồng chí tỉnh đội Phước Long đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc điều nghiên nắm địch. Phần còn lại của chúng tôi trong công việc này chỉ là nghiên cứu đường tiềm nhập, định số lượng cửa mở và cắt rào. Quy mô căn cứ Bù Na tất nhiên là nhỏ nhiều so với Phước Vĩnh, nhưng vì ở vùng giáp ranh sát biên nên công sự ở đây lại kiên cố. Sự hình thành hệ thống phòng thủ ở đây vừa, mang tính chất một căn cứ, vừa thể hiện tính chất cụm cứ điểm liên hoàn. Với lối đánh đặc công thì công sự kiên cố đã có biện pháp giải quyết, vấn đề là cần nắm chắc hệ thống cấu trúc chung và tính chất riêng lẻ của mỗi loại mới là điều đáng quan tâm. Một thuận lợi đáng kể là địa hình vùng Bù Na thuộc loại rừng cây mọc trên đồi núi nhấp nhô, nhiều khe suối, thuận tiện cho tiềm nhập, điều nghiên, cho ém quân vừa kín lại vừa gần với mục tiêu tiến công. Lực lượng trinh sát điều nghiên cũng phải qua hai đêm ra vào, đếm từng bờ tường lô cốt, đếm từng hàng rào và ước lượng diện tích các bãi vật cản; xác định xem có máy nghe tiếng động hay không. Bài học Phước Vĩnh đã nhắc chúng tôi phải thực sự quan tâm đến nó. Ngày hôm sau, trên sơ đồ thu gọn được thể hiện rất công phu của tổ trinh sát điều nghiên, chúng tôi tiến hành họp hội nghị cán bộ cấp tiểu đoàn, đại đội để thảo luận cách đánh cụ thể. Trên cơ sở kết quả điều nghiên, chúng tôi quyết định tổ chức thành năm mũi tiến theo năm cửa mở (do lực lượng cắt rào chịu trách nhiệm), trong đó hai cửa nam và đông - nam là hướng chủ yếu. Tuy phải qua một nhánh của sông Bé mùa này nước đầy, chảy xiết, khó đi, nhưng đã qua được hàng rào thì từ hướng này lại phát triển thuận lợi, đánh thẳng vào sở chỉ huy chiến đoàn và khu trung tâm Thông tin làm rung chuyển toàn bộ khu căn cứ ví như rắn mất đầu và cắt đứt được sự liên hệ ở đây với các căn cứ xung quanh, nhất là với chi khu Phước Long. Nửa phần lực lượng còn lại được chia thành hai bộ phận: Bộ phận chặn viện và bộ phận lo công tác hậu cần, tiếp tế. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 10:08:53 pm Công tác chuẩn bị cho giờ xuất phát tiếp cận cân cứ cũng được song song chuẩn bị. Phải thật chú ý tránh rơi vãi trong khi vận động. Bài học đã phải trả giá khác nhau về sự chuẩn bị chưa thật tỉ mỉ, chưa để ý đến các khâu, các việc tuy nhỏ rất nhỏ nhưng gây hậu quả lớn, như thắt bao lựu đạn chưa chắc chắn, dây gây nổ chưa gọn, còn lòng thòng để vướng gây thành tiếng nổ, vừa xảy thương vong không cần thiết, vừa như “lạy ông tôi ở bụi này”, dẫn tới bao diễn biến không lường kéo theo, dẫn tới trận tiến công Phước Vĩnh không thành. Vì vậy tất cả mọi khâu đều được các cấp quan tâm kiểm tra chu đáo.
Ngày 20 tháng 6 đã đến. Nằm ở địa điểm ém quân cách Bù Na chưa đầy hai cây số, chúng tôi cứ thấp thỏm, bồn chồn, chốc chốc lại so đọ đồng hồ, hết theo động tỉnh nơi căn cứ Bù Na, lại nhìn hướng thị xã Phước Long - một phố thị mang đậm cảnh sắc vùng biên với nhà cửa thấp bé lưa thưa trên các vạt đồi bốn bề đều là sông suối. Xa nữa về phía đông - nam là dãy núi Bà Rá hùng vĩ, cây cối rậm rạp, trên đỉnh dãy núi là nơi đặt trạm truyền tin ra đa của Mỹ với những dàn ăng ten to, cao vút. Bất giác tôi lại nghĩ về trận đánh đêm nay. Kế hoạch như vậy thật đã ổn chưa, còn cần gì phải bổ sung? Bởi Bù Na đâu phải là một căn cứ tiền đồn riêng lè, biệt lập mà nó nằm trong hệ thống phòng thủ từ xa theo thế liên hoàn, có tiểu khu Phước Long hỗ trợ, có trạm truyền tin ra đa Bà Rá báo về Sài Gòn những tin tức, những yêu cầu cần chi viện; và cũng rất nhanh, không quân Mỹ từ sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất ập tới cứu nguy. Để đến cơ sự như vậy thì trận đánh không còn nằm trong khái niệm tác chiến đặc công nữa. Tôi cho đơn vị kiểm tra các động tác đóng gói, buộc chằng, nhắc phải giữ nghiêm kỷ luật giấu mình - ém mình. Sự căng thẳng cũng tính từng phút từng giờ. Chúng tôi đã tính đến các tình huống: địch biết do ngẫu nhiên, tình cờ, cũng có thể do mạng lưới biệt kích, thám báo phát hiện ra nơi chúng tôi ém quân. Tất nhiên là chúng tôi tìm cách dập tắt như dập tắt đám cháy không cho lan rộng. Sẽ quây lại bắt gọn, làm êm chờ trời tối hãy hay. Mặt trời lặn, hoàng hôn lan nhanh ở nơi chiến trường rừng núi. Thế là an toàn rồi. Thắng lợi đang trong tầm tay rồi! Thành công của ém quân là thắng lợi đã giành được phân nửa. Tất cả thấy nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng vô hình. Khỏi lo sự cố bất trắc. Đèn trong căn cứ Bù Na bật sáng càng là một định hướng rất tốt, để một vài giờ nữa là chúng tôi sáp vô, không lạc đích. Theo kế hoạch, tôi dẫn hai đội đi vào hướng chủ yếu. Vượt qua con suối, chúng tôi đã đến một doi đất cao mà bằng. Qua hàng rào, chủng tôi nhìn rõ sở chỉ huy chiến đoàn, điện sáng hơn các nhà xung quanh. Từ đây vào đó rất gần, chỉ còn độ 500 mét. Căn cứ yên ắng không động tĩnh. Đúng như các đồng chí trinh sát báo cáo: địch ở đây ngủ nhiều và ngủ say. Có lẽ địch vẫn rất yên tâm về sự việc sư đoàn 5 của ta phải bỏ cuộc, gây ra ngộ nhận về sức mạnh bất khả xâm phạm của vũ khí - hỏa lực Mỹ. Kế hoạch ấn định đúng 12 giờ đêm nay sẽ nổ súng nhưng chỉ mới 11 giờ các mũi đã vô hết hàng rào cuối cùng. Nếu nằm chờ một tiếng nửa mới khởi sự thì rất không có lợi, tránh sao khỏi sơ suất nào đó có thể xảy ra. Và như vậy ta sẽ roi vào thế bất lợi. Cuối cùng, tính toán đi lại, cân nhắc đầy đủ, tôi quyết định cho nổ súng trước giờ G quy định là một giờ. Một phát đạn K.54 được bắn lên hạ lệnh tiến công. Sở chỉ huy và khu thông tin của căn cứ là mục tiêu đánh trước đã hoàn thành. Mối liên hệ với chi khu Phước Long, với trạm truyền tin Bà Rá đã bị cắt đứt, khiến chúng tôi bớt phân tán trong lo toan điều khiển trận đánh, chỉ tập trung vào các vấn đề tại chỗ. Không có lửa cháy và không có tiếng hô hối thúc xung phong, tất cả diễn ra êm ngọt, người nào việc ấy, mũi nào hướng ấy tự mình giải quyết. Khi quân địch tỉnh dậy thì đã thấy các chiến sĩ của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 7 thuộc lữ đoàn 429 đặc công Đông Nam Bộ đứng kề bên. Chúng chẳng còn làm gì được nữa ngoài sự chấp nhận thất bại và giơ tay xin hàng. Bù Na, căn cứ chiến đoàn hỗn họp Mỹ - ngụy đã bị đánh phá với một tương quan không cân xứng về số lượng. Chúng tôi chỉ có 95 cán bộ, chiến sĩ, chọi lại với hơn 1.300 quân địch có công sự hầm hào, có vật cản bảo vệ. Hận Phước Vĩnh đẫ được rửa. Chúng tôi điện báo cáo kết quả về Bộ tư lệnh Miền ngay trong đêm. Hai hôm sau, tại một cánh rừng trên trục đường số 13, chúng tôi nhận được điện khen của Bộ tư lệnh Miền, với tấm Huân chương Quân công hạng ba. Tất nhiên là không có kẹo, có trà để liên hoan đón nhận phần thưởng, vì chiến tranh ở vào thời điểm này cực kỳ ác liệt Nhưng chúng tôi vẫn vui, cái vui từ đáy lòng mình, nó còn được tiếp sức, bắt nguồn từ bài học mà chúng tôi rút ra - có tư tưởng tiến công thì sẽ tìm ra và lợi dụng được sơ hở của kẻ địch, sẽ có cách đánh hiệu qua. Từ Phước Vĩnh chuyển sang Bù Na, chúng tôi đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Miền đề ra trong đợt cao điểm hè 1969. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 10:13:06 pm VƯỢT KINH VĨNH TẾ I Vào giữa nãm 1969, khái niệm “Việt Nam hóa chiến tranh” được Ních-xơn nhắc đến trong lần gọi Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống của cái gọi là chính phủ “Việt Nam Cộng hòa” đến Mít-uây (một hòn đảo nằm giữa Thái Bình Dương) nhận lệnh tiếp tục chiến tranh theo cung cách mới; và chỉ năm tháng sau đó - tháng 11 năm 1969, “Việt Nam hóa chiến tranh: chính thức trở thành một đường lối, một chính sách gọi là “thức thời” nhằm cứu hơn nửa triệu quân Mỹ đang bị sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam. Như vậy là “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nich-xơn được thay thế cho “Phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giôn-xôn. Hai khái niệm khác nhau về hình thức diễn tả nhưng thống nhất với nhau về mục đích - Mỹ sẽ làm hết sức mình để đưa quân đội ngụy Sài Gòn từ 61 vạn năm 1969 lên gần một triệu vào năm 1970-1971, sao cho về lục quân phải đạt hàng thứ hai (về quân số) trong số các nước ở châu Á, có như vậy quân ngụy Sài Gòn mới đủ mạnh để thay quân Mỹ làm công cụ tiếp tục thực hiện chiến tranh xâm lược thực dân theo kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Bởi Mỹ đi mà vẫn ở lại. Khi mà biện pháp tiến hành chiến tranh thay đổi thì kéo theo hàng loạt vấn đề khác như tổ chức quân đội, tổ chức chiến trường phân vùng trách nhiệm hành quân cùng tính chất của cuộc hành quân đó, v.v... cũng thay đổi. Sự căng thẳng nóng bỏng ở mỗi chiến trường cũng có những nét khác nhau. Tùy theo địa lý, dân cư và điều kiện kinh tế của mỗi chiến trường cần thiết đến đâu cho chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” mà Mỹ sẽ có những nỗ lực khác nhau về số lần các cuộc hành quân và tính chất của chúng. Có thể ở nơi đây, chiến trường này, Mỹ vẫn coi trọng cả hai gọng kìm “quét giữ” và “bình định”, ở nơi khác, chiến trường khác, địch lại tập trung hướng sự nỗ lực vào cuộc hành quân “bình định”. Đồng bằng sông Cửu Long mà địch gọi là “Vùng 4 chiến thuật”1 từ đầu Xuân 1969 bỗng trở nên sôi động khác thường và mang những nét riêng. Ở đây địch cho là vùng trọng điểm của kế hoạch bình định, nên chúng dồn mọi nỗ lực tối đa để thực hiện âm mưu này. Đầu tháng 1 năm 1969, địch mở cuộc hành quân “Quyết thắng” vào vùng sâu trên một diện rộng từ Rạch Giá qua Vị Thanh đến Sóc Trăng để xiết chặt hơn nữa ách kìm kẹp của chúng ở vùng này. Sang tháng 2 và 3, nhịp độ các cuộc hành quân đầy tội ác đó lại tăng lên với những biện pháp tàn bạo hơn. Mỹ đã tập trung hầu hết các lữ đoàn thuộc sư đoàn 9 Mỹ, các sư đoàn 7, 9, 21 ngụy mở các cuộc hành quân với các thủ đoạn dã man chưa từng thấy. Riêng ở vùng Cô Tô thuộc huyện Tri Tôn (An Giang) địch huy động hơn mười ngàn quân lính do một trung tướng Mỹ chỉ huy đánh vào một khu vực có không gian hẹp. Tại đây địch cho phun chất độc hóa học, cho 50 lần chiếc máy bay B.52 thả 6.000 tấn bom nhằm tàn phá xóm làng, hủy diệt sự sống để thực hiện âm mưu bình định - gom dân. Nhưng tội ác điển hình mang tính răn đe ấy vẫn không khuất phục nổi tinh thần đấu tranh của nhân dân. Bình định và chống bình định là mặt trận đấu tranh cực kỳ quyết liệt đang diễn ra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Địch tiến hành bình định bằng tất cả các thủ đoạn dã man và tàn bạo, thì nhân dân ta cũng chống lại các âm mưu mang ý nghĩa chiến lược với đầy kỳ vọng này của 3 địch bằng tất cả sức mạnh, với ý chí, lòng tin và trí tuệ thông minh của mình. ---------------- 1. Toàn chiến trường miền Nam, Mỹ chia thành 4 vùng chiến thuật: - Vùng 1 chiến thuật: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi. - Vùng 2 chiến thuật: Toàn bộ các tỉnh vùng Tây Nguyên và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. - Vùng 3 chiến thuật: Toàn bộ các tỉnh Đông Nam Bộ và hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận. - Vùng 4 chiến thuật: Các tỉnh thuộc vùng châu thổ sông cửu Long Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Sáu, 2016, 10:19:21 pm Tuy nhiên nếu so sánh tương quan đơn thuần về quân sự, thì ta còn có hạn chế nhất định, nên về hình thái chung ở vùng đồng bằng Nam Bộ lúc này địch vẫn còn khống chế được nhân dân; bộ máy kìm kẹp của địch vẫn còn dùng các thủ đoạn phát xít để khai thác các thế mạnh về kho người, kho của ở đây để ném vào cuộc chiến tranh xâm lược của chúng...
Tôi được biết tình hình trên đây là do các đồng chí trong Cục tác chiến Miền trao đổi lại trước khi gặp Bộ tư lệnh Miền nhận nhiệm vụ mới. Cuối tháng 12 năm 1969, ỏ mặt trận đường số 13 trở về tôi thấy vui vì lực lượng đặc công Đông Nam Bộ đã kiên cường bám trụ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ tư lệnh Miền giao cho - đánh thẳng vào các căn cứ lớn của quân đội Mỹ. Riêng tôi vẫn còn vương vấn về cái hận Phước Vĩnh. Nhưng sau khi Bộ tư lệnh Miền gọi lên giao nhiệm vụ thì mọi ưu tư đã tan biến, tôi thực sự phấn khởi với nhiệm vụ mới được giao; tham gia vào mặt trận đấu tranh chống âm mưu bình định của địch đang diễn ra ác liệt ở đồng bằng sông Cửu Long. Bộ đội chủ lực Miền, kể cả đặc công, được tăng cường cho mặt trận này. Như vậy là lực lượng luồn sâu vào chiến trường Tây Nam Bộ1 lần này có sư đoàn 1 và bốn tiểu đoàn đặc công trực thuộc Miền. Anh Ba Trân, tư lệnh sư đoàn kiêm tư lệnh chung, chỉ huy cả hai lực lượng bộ binh và đặc công. Đây là lần đầu tiên ta tổ chức đơn vị hợp thanh bộ binh - đặc công cùng làm một nhiệm vụ chung là thông qua hoạt động quân sự cụ thể của mình mà hỗ trợ trực tiếp cho phong trào đấu tranh mở vùng mở mảng của nhân dân đang được bắt đầu theo chủ trương chung của Trung ương cục và Quân ủy Miền. Và đây cũng là lần đầu một lực lượng lớn bộ đội chủ lực Miền tiến sâu vào một chiến trường mà địa hình ở đây không thuận cho cơ động lực lượng, cho tác chiến tập trung, nên các anh trong Bộ tư lệnh Miền rất quan tâm chỉ đạo chúng tôi trong quá trình chuẩn bị. Trước khi đoàn quân lên đường, đồng chí Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Miền đến thăm hỏi, vừa để động viên tiễn đưa vừa căn dặn thêm trước khi chúng tôi về dưới đó. Anh nói: Chiến trường đồng bằng Nam Bộ giữ một vị trí quan trọng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, vì ta và địch đều dựa vào nơi kho người kho của này để xây dựng và phát triển lực lượng. Là vùng đồng bằng có nhiều sông rạch - những tuyến vật cản tự nhiên lợi hại, nên địch có ý kiến biến noi đây thành căn cứ chiến lược co cụm cuối cùng nếu tình thế bất lợi, để chờ thời cơ phản công lại ta. Từ cuối năm 1969 đầu năm 1970, địch xem đồng bằng Nam Bộ như chiến trường chính, tướng tá Mỹ ở Sài Gòn đều khẳng định kết quả thu được ở vùng đồng bằng châu thổ phì nhiêu này “sẽ là cái thước đo sát đứng” và “có ý nghĩa quyết định” chiều hướng phát triển toàn bộ công cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cũng chính vì lẽ đó mà những ngày gần đây, theo tin tức mới nhận được, tướng A-bram, tư lệnh quân Mỹ ở Sài Gòn đã ném thêm sư đoàn lính thủy đánh bộ (lực lượng dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn) vào vùng nầy để cùng ba sư đoàn chủ lực ngụy đã đứng chân sẵn ở đây2 làm nhiệm vụ xung kích yểm trợ bình định. Ngoài ra Mỹ đang xúc tiến thành lập sư đoàn không quân ngụy đứng chân tại sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) để tập dượt dần việc cơ động yểm trợ hành quân và tham gia các phi vụ đánh phá. Đồng thời Mỹ đã tăng cường thêm hơn 200 tàu xuồng chiến đấu cho hải quân ngụy để làm nhiệm vụ càn quét, tuần phòng trên các kênh rạch... --------------- 1. Tây Nam Bộ, Đồng bằng Nam Bộ, Đồng bằng Cửu Long là những cái tên khác nhau dùng để chỉ các tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long. 2. Đổng bằng Nam Bộ, địch bố trí 3 sư đoàn chủ lực mạnh: - Sư đoàn 7: Đảm trách các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công, Sa Đéc, Trà Vinh, Vĩnh Long. - Sư đoàn 9: Đảm trách khu vực tỉnh Rạch Giá. - Sư đoàn 21: Đảm trách khu vực Rạch Giá đến Cà Mau. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 01:53:06 pm Rõ ràng trên mặt trận bình định và chống bình định ở Tây Nam Bộ đang đòi hỏi chúng tôi khẩn trương lên đường, để có mặt ở noi đó càng sớm càng tốt. Nhưng lại không vì thế mà đại khái qua loa trong chuẩn bị. Bài học cụ thể, tỉ mỉ mà chúng tòi phải trả giá trong đợt hoạt động xuân hè năm 1969, trong các trận đánh căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, Phước Vĩnh vẫn đang còn rất nóng hổi. Hơn nữa, đây là chuyến đi xa, luồn sâu vào một chiến trường mới lạ, với hình dáng địa hình cực kỳ phức tạp càng khiến chúng tôi phải thận trọng và Bộ tư lệnh Miền cũng nhắc như thế. Bởi chúng tồi đến đấy không chỉ để giấu quân lót ổ, ém sẵn, chờ thời cơ, mà là phải chủ động tổ chức đánh địch theo mục tiêu chỉ định chứ không được tự do lựa chọn; đồng thời phải trụ bám đối mặt với các trận phản kích của địch, phân tán xé lẻ lực lượng địch, vô hiệu hóa lực lượng kìm kẹp của địch để hỗ trợ có hiệu quả cho nhân dân mở vùng mở mảng, phá thế kìm kẹp của địch, tạo ra nhiều căn cứ “lõm”, nhiều vùng làm chủ liên hoàn, góp phần làm phá sản chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” ở nơi mà địch đặt nhiều hy vọng nhất.
Đúng đây là dịp tốt để thực hiện phương thức thứ tư của tác chiến đặc công - Hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích trong các chiến dịch giải phóng nông thôn... mà các anh ở Bộ tư lệnh binh chủng đã kịp thời tổng kết sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Bây giờ chỉ còn lo sao tìm ra các biện pháp có hiệu quả trong thực hiện. Nơi mà đơn vị họp thành bộ binh - đặc công đến làm nhiệm vụ là một vùng thôn ấp thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (tây nam Châu Đốc - An Giang). Nhìn lên bản đồ quân sự và qua tình hình địch do Cục tác chiến Miền cung cấp, chúng tôi nhận ra ngay đây là một vùng sâu trong hệ thống phòng thủ hướng tây bắc của “vùng 4 chiến thuật”, có cấu trúc địa hình phức tạp với hệt thống kênh rạch chằng chịt, có sình lầy xen kẽ nên địch rất chủ quan, chưa bao giờ chúng nghĩ “Việt cộng” (chỉ các lực lượng vũ trang giải phóng) có khả năng tiến công nơi đây. Ngoài hai chi khu quân sự Tịnh Biên, Tri Tôn và hai căn cứ quân sự Vĩnh Trung, Ba Soài, đồn bót địch ở đây không nhiều, nhưng có giá trị khống chế và kìm kẹp một tứ giác rộng: Châu Đốc - Hà Tiên - Rạch Giá - Long Xuyên, nhất là vùng đông dân tây đường 10 - Châu Đốc - Long Xuyên. Nhưng ở đây cũng có khu Bảy Núi, với nhiều hang sâu hiểm trở, ta có thể dựa vào đó làm nơi bám đánh địch và tổ chức tiến công địch. Sự chọn điểm tiến công sáng suốt này của Bộ tư lệnh Miền đã tạo một thuận lợi rất cơ bản để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên làm sao tiếp cận được tới đó và khi đến nơi rồi, việc tổ chức ăn ở thế nào để tồn tại mà lo đánh giặc mới là điều mà giờ đây chúng tôi đang thực sự quan tâm. - Sau khi ở cơ quan Bộ tham mưu Miền về, tôi và anh Ba Trân tranh thủ trao đổi những việc chung phải làm, phân công nhau về quán triệt nhiệm vụ cụ thể cho mỗi đơn vị mà mình trực tiếp phụ trách. Bốn tiểu đoàn đặc công tham gia cuộc hành quân lật cánh sang mặt trận Tây Nam Bộ đã về đủ tại địa điểm tập trung: Đó là tiểu đoàn 3 do anh Lan làm tiểu đoàn trưởng, anh Kế chính trị viên; tiểu đoàn 4 do anh Tư Doanh làn tiểu đoàn trưởng, anh Ngân chính trị viên; tiểu đoàn 5 do anh Hoàn làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 7 do anh Mười Thọ làm tiểu đoàn trưởng. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ của bốn tiểu đoàn đã cùng tôi qua các mặt trận chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, qua đợt hoạt động xuân-hè năm 1969 và qua những giờ phút đối mặt đầy căng thẳng với lính Mỹ ở căn cứ Đồng Dù, Dầu Tiếng, Phước Vĩnh, Tếch-ních và Bù Na, v.v... vậy mà trên gương mặt của anh em lúc này đây vẫn phơi phới lạc quan và hăm hơ lên đường. Đã hiểu nhau, thương nhau và hết mình vì nhau qua những ngày chiến đấu gian khổ, giờ đây trước lức lên đường bước vào một thử thách mới lại thương nhau thật nhiều. Nói ít mà hiểu nhiều, động viên cũng rất cần nhưng ai nấy đều thấy được trách nhiệm tự thân, tự thấy nhiệm vụ, tự thấy việc cần làm mà chủ động làm, với ý thức chuẩn bị thật tốt cho một chuyến lên đường đi xa, vào vùng sâu phía sau trận tuyến phòng ngự của địch. Khi nghe tôi phổ biến địa danh phải đến, hướng tiến công phải thắng thì anh em càng mừng rỡ, càng phấn khởi, càng tin tưởng. Một nơi hiểm yếu nhưng địch lại có nhiều sơ hở, đó là thuận lợi và cùng là nguyên tắc chọn lựa của chúng ta trong khi tổ chức tiến công. Dẫu rằng biết sẽ có nhiều khó khăn trên con đường hoàn thành nhiệm vụ, nhưng chúng tôi đã tin phần thắng ngay trước khi lên đường. Có được ưu điểm này vì chúng tôi đã có thực tế qua hai mùa khô đánh giặc trên Đất Miền Đông. Giờ đây khi nhiệm vụ đã chuyển về Tây Nam Bộ, chúng tồi lại càng tin khi được Bộ tư lệnh Miền chọn hướng tiến công trước cho chúng tôi một hướng tiến công lý tưởng, nếu chúng tôi sáp vô được, tổ chức nổ súng và chỉ huy chiến đấu tốt thì tác dụng của trận đánh sẽ vượt ra ngoài không gian mà chuyển rung đến toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng, làm đảo lộn ý đồ thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 01:57:26 pm II Hướng điểm tiến công đã rõ. Nhung làm thế nào để hoàn thành được nhiệm vụ trong khi chúng tôi đang còn cách xa mục tiêu cỡ lối trên dưới 200 cây số, mà thời gian dành cho việc chuẩn bị không còn nhiều nữa. Lúc này đã là cuối tháng 1 năm 1970. Từ căn cứ của Bộ tư lệnh Miền ở Đông Nam Bộ nối với căn cứ Đồng Tháp Mười thấu tận miệt rừng u Minh, phải đi theo ba hướng: Hướng thứ nhất, men theo dọc biên qua Bảy Núi (An Giang) xuống Hà Tiên quẹo trái sang Rạch Giá rồi vào u Minh; hướng thứ hai từ Mỹ Tho qua Bến Tre, Trà Vinh rồi xuống Cà Mau; hướng thứ ba, theo đường thủy sông Tiền và sông Hậu. Với đội hình gần hai sư đoàn, không có hướng nào khác là phải đi theo hướng thứ nhất - dựa vào đường hành lang của Trung ương cục, tuy địch có theo dõi nhưng vẫn nhanh và an toàn. Một ngày sau khi họp bàn biện pháp tổ chức hành quân với anh Ba Trân, chỉ huy chung, chúng tôi cho đội hình men theo dọc biên chọc thẳng xuống khu vực Bay Xăm Ba trên đất bạn, nhưng yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật đích cuối cùng phải đến, một mặt tung tin nghi binh, đánh lạc hướng theo dõi của địch. Những ngày hành quân như thế này nói chung là thoải mái, có nhiều giờ chuyện trò, nói cười hết cỡ. Từ Bay Xăm Ba muốn tập kết vào khu vực Bảy Núi (An Giang) phải qua kênh Vĩnh Tế. Đây mới là giai đoạn gay cấn cho đoàn quân luồn sâu. Vĩnh Tế - như bạn đọc đã biết, đó là con kênh nhân tạo dài hơn 100 cây số, rộng 50 mét, sâu 9 mét, được xem như đường biên phân cách Việt Nam và Campuchia. Kênh Vĩnh Tế là một thắng cảnh nhân tạo, chảy hiền hòa mang lượng nước phù sa bồi tưới cho ruộng vườn và cây trái của nhân dân hai nước quanh năm tốt tươi, đâm chồi. Nó hiển hòa ngay từ lúc khởi nguyên đào nó. Nhưng Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai rồi tiếp Mỹ đã biến kênh Vĩnh Tế thành tuyến phòng thủ dữ dằn với hệ thống đồn bót tháp canh xen lẫn vật cản ngăn chặn sự xâm nhập từ phía bên kia. Hai bờ kênh, nhất là bờ thuộc địa phận Việt Nam, đoạn mà chúng tôi bắt buộc phải qua lại là sình lầy, cỏ lác, gây trở ngại cho vận động và chính thương vong khi vượt kênh cũng từ đặc điểm này. Vượt đã khó nhưng vượt sang trụ lại tại đó chờ đêm tối đi tiếp càng khó hơn. Phải chống chọi đủ mọi thứ. Muỗi, đỉa nhiều và to con hơn con muỗi và đỉa mà ta thường thấy. Cũng là đối tượng của mình nhưng không đáng gờm, chỉ bận tâm chút xíu lúc ban đầu mới tới, sau quen dần, mất ít máu là cùng. Trụ lại dưới bom đạn địch, trong sự rình ngó của kẻ thù mới là điều phải bận tâm. Cả khu sình lầy này được địch khảo sát tỉ mỉ, đâu là đường ta có thể qua, đâu là gờ đất, là lùm cỏ mà ta có thể trụ lại, trú ẩn khi trời sáng. Tất cả đều được đo tính cho pháo bầy, cho bom tọa độ, cho việc tuần tiễu thường xuyên từ sáng tinh mơ cho dến tối sẩm của máy bay lên thẳng vũ trang; chúng bay ngang, bay dọc, bay cao nhìn xuống, bay thấp rẽ cỏ theo kiểu ‘Vạch lá tìm sâu” để xăm lùng, phát hiện “Việt cộng” chuẩn bị vượt kênh, hay từ bờ bắc mới sang để chờ về khu Bảy Núi. Tiếng ầm ì nghe nhức óc ấy không bao giờ ngớt, có lúc cao điểm nó liên hồi 24/24. Đêm về cũng không an toàn, vì pháo bắn cầm canh, vì pháo sáng bắn rọi, nhìn thấy cả chuột chạy, đỉa lội trên đồng. Thật gần, thật ngon, chỉ đạn súng trường với trình độ xạ kích vừa phải cũng dễ dàng hạ tại chỗ một trực thăng bay thấp. Đúng là dễ ợt! Nhưng như thế là tự mình bộc lộ lực lượng, chỉ thấy trước mắt mà quên nhiệm vụ chính của chuyến luồn sâu. Khi đã lộ thì địch nhanh chóng khép chặt vòng vây, cất vó ta tức thì. Ở vùng tráng địa này để địch dồn vào tình thế ấy thì khó bề xoay xở, chỉ còn cách đối mặt với kẻ thù, kiên quyết đánh trả chúng mà thoát vây. Nhưng như vậy thì việc lớn lỡ dở! Nghĩ như thế nên chúng tôi cắn răng chịu đựng, giấu mình thật kín nơi sình lầy, cỏ lác, mặc cho muỗi, đỉa hút máu. Phải ráng chịu. Nếu chẳng may có ai hy sinh hay bị thương cũng âm thầm mà chôn cất, mà cứu chữa, nén đau thương lại, bảo đảm cho đội hình chiến đấu sáp vô tới đích an toàn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 01:59:27 pm Nhưng thật là khó! Đi lẻ dễ xóa dấu vết, đi đông như thế này thì giấu, xóa sao xuể? cỏ sẽ đổ gãy, sình lầy hằn rõ bởi nhiều bàn chân giẫm đạp, máy bay địch dễ dàng phát hiện ra, cứ thế lần theo vết cỏ hằn, cỏ đổ gãy ấy mà tìm đến tận cùng. Nếu chưa thấy thì máy bay hạ thấp độ cao, thẳng đứng như diều hâu rình mồi, cánh quạt quay nhanh, bụi cỏ lác nào cũng phải gãy, phải đổ, phải tẻ tách thân cây phoi trơ bụi gốc là thấy liền có ai ẩn trứ. Thế là lại có thương vong, mất mát và hy sinh.
Mặc dầu chúng tôi chọn điểm vượt cách xa khu trọng điểm phòng thủ tới 20 cây số về phía tây - nam nhưng khi thực hành vượt kênh vẫn không tránh khỏi vất vả gian nan, phải mất cả tháng trởi mới qua hết bờ nam kênh với một giá đắt phải trả. Tôi và bộ phận chỉ huy vượt kênh vào đêm thứ nhất của đợt đầu nhưng không thành. Vì quãng vượt có hai lô cốt đen ngòm cách nhau chừng 200 mét, các lỗ châu mai như hai mắt cú vọ tát cả đều hướng ra nơi kênh. Chốc chốc lại đại liên từ các hốc lỗ châu mai đó phụt lửa, nhả đạn đan chéo nhau lướt là là trên mặt kênh. Thỉnh thoảng ca nô địch đi tuần liên tục, rọi đèn vào bờ, buộc chúng tôi phải quay về vị trí tập kết. Chưa vượt được kênh thì lại nhận được tin khẩn, tôi đau nhói ở nơi con tim - hai phần ba quân số tiểu đoàn 3 bị thương vong trong đợt vượt kênh này; chính trị viên tiểu đoàn 5 bị trọng thương, lạc đường nên sa vào tay địch, bị chúng đánh đập dã man. Nỗi buồn thương dâng đầy trong tôi nhưng cứ phải nén chịu, kiềm chế, bởi mềm yếu lúc này là không có lợi. Tôi tự nhủ mình như vậy nhưng đầu óc không lúc nào rứt ra được những suy nghĩ mông lung. Nghĩ về những đồng đội mình đã nằm xuống nơi đây, nghĩ về ai đó đã đặt thêm lên cho con kênh này là “Kênh Vĩnh Biệt”. Lại càng nghĩ đến sự gắn quyện thần kỳ về sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Nhờ có dân, chúng tôi dưa được hàng trung đoàn luồn sâu xuống huyện Cần Giuộc để hình thành mũi tiến công lợi hại đánh vào Sài Gòn từ hướng tây-nam; không có dân sao chúng tôi đánh sập được cầu Bến Lức, trụ lại bên này cầu chữ Y cả tháng trời trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968; nhân dân cũng đã giúp chủng tôi đánh thắng Mỹ ở Trảng Lớn, Đồng Dù, ở Tểch-nich và trên sông Lòng Tàu v.v... Giờ đây địch có thêm viện binh đang điên cuồng phản kích, đánh phá các trận địa của chiến tranh nhân dân ở cơ sở hạ tầng, thì nhân dân lại rất cần có những cú “đấm” của bộ đội chủ lực để hỗ trợ mình đấu tranh hồi phục lại lực lượng, lập lại thế trận liên hoàn đánh địch ở các địa phương. Do ý thức được cái mối quan hệ gắn quyện sinh tử ấy mà trung đoàn 320 (hầu hết cán bộ, chiến sĩ quê ở ngoài Bắc) đã vui vẻ từ Tây Ninh lật cánh xuống Long An từ tháng 12 năm 1968 đế cùng bà con cô bác, cùng lực lượng vũ trang địa phương tổ chức lại lực lượng, sắp xếp lại thế trận chiến tranh nhân dân địa phương chống trả quyết liệt với bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai. Giờ đây đến lượt chúng tôi cũng có nghĩa vụ đáp lại yêu cầu của cuộc chiến đấu, dù phải hy sinh nữa cũng vui vẻ chấp nhận, bởi đây là lý trí, là tình cảm, là trách nhiệm và lương tâm. Điều tâm đắc đã trở thành một tiềm thức bền vững hôm nay bắt nguồn từ kỷ niệm sâu sắc về những ngày lượt kênh Vĩnh Tê năm xưa. Sau này khi được học tập đường lối quân sự của Đảng, tôi đã tiếp thu nhanh kiến thức về chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực đều giữ vị trí chiến lược quan trọng chiến tranh... Những ngày luồn sâu bám trụ ở khu vực Bảy Núi (An Giang) để hỗ trợ đồng bào mở vùng mở mảng đã là những sự kiện khó quên trong tôi mỗi khi tiếp nhận những vấn đề về khoa học và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam. Mặt trời lặn, những hàng cây thốt nốt mờ dần trong hoàng hôn đến nhanh, chúng tôi lại tiếp tục công việc vượt kênh. Phần lo cho đơn vị, phần chuẩn bị cho bản thân gắng làm sao không để cho cái mất mát đã qua tái diễn trong đêm nay. Đầu óc lại căng lên, tâm trạng lại xáo trộn, việc lại nhiều ra. Nhưng thật là một hạnh phúc lớn, một nguồn động viên không nhỏ đối với tôi trong những giờ phút căng thẳng này, ấy là có Dũng - Nguyễn Hữu Dũng ở bên. Dũng là liên lạc của bộ phận chỉ huy, nhưng cũng là một “chính trị viên” của tôi, ít ra là những ngày tháng vượt kênh. Mới 17 tuổi đời mà đã có cái già dặn trong suy nghĩ, năng nổ, tháo vát trong hành động của quê hương Đồng khởi. Thoát ly gia đình lên Miền, Dũng công tác ở một cơ quan dân sự, nhưng Dũng lại thích được trực tiếp chiến đấu, bằng một quyết định của tự mình: Bỏ cơ quan tìm đến đặc công xin được giao nhiệm vụ. Cơ quan Dũng báo sang là Dũng vô kỷ luật, tự ý bỏ việc. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 02:02:22 pm Về hiện tượng hàng ngày Dũng không chứng tỏ là mình xấu, trái lại công tác tích cực, sống có kỷ luật. Thấy có cái gì khó hiểu trong con người Dũng, tôi gọi lên thân mật trao đổi, tìm hiểu thực hư. Khi gợi ý về việc làm sai trái của Dũng thì Dũng lý sự một cách rất lễ độ:
- Dạ thưa chú, đào ngũ về phía sau mới là xấu chứ, còn cháu xin ra phía trước, mong được các chú cho đi chiến đấu thì có gì xấu. Cái lý của Dũng chẳng cùn chút nào. Ở chiến trường nóng bỏng như thế này mà có được lòng quả cảm và những suy nghĩ như Dũng là đáng khích lệ chứ. Nghĩ như thế, một mặt tôi quyết định nhận Dũng vào làm liên lạc, một mặt viết thư sang cơ quan nơi Dũng công tác, trình bày những điều chúng tôi hiểu biết về Dũng, mong cơ quan thông cảm cho thiếu sót của Dũng và vui vẻ để Dũng được gia nhập vào đội ngũ đặc công, đang chuẩn bị lên đường đi chiến đấu. Sau khi tìm hiểu được biết ba của Dũng là trung đoàn trưởng bị cầm tù ngoài Côn Đảo, má Dũng là quân y sĩ (chị tập kết ngoài Bắc học tiếp lên bác sĩ, đã trở lại chiến trường từ năm 1966). Biết thêm Dũng xuất thân từ một gia đình cách mạng, tôi càng muốn Dũng làm liên lạc cho bộ phận chỉ huy. Khi được ướm hỏi, Dũng không phải suy nghĩ gì lâu mà trả lời ngay: Bất cứ việc gì chú giao cháu cũng nhận liền - rồi đắn đo như ra điều kiện - nếu có chiến đấu chú cho cháu đi theo nghen. Dũng còn trẻ nhưng rất đảm đang, chiến đấu hăng mà nội trợ cũng giỏi. Trong ba lô của Dũng có đủ mọi gia vị. ít phút dừng nghỉ trong hành quân là Dũng thoắt cái đã vào rừng kiếm rau rất thạo và nhanh, chẳng khác nào người đã sinh sống ở rừng từ lâu. Trong cuộc hành quân vượt kênh Vĩnh Tế này, Dũng càng tỏ ra hăng hái và tháo vát vì nguyện vọng đi chiến đấu được thực hiện. Mỗi lần vượt kênh đều có tin thương vong báo về sở chỉ huy nhưng Dũng không hề nao núng mà trái lại, lúc nào cũng bồn chồn đợi mong chóng đến lượt mình. Đến khi được lệnh vượt kênh thì Dũng phấn khởi hẳn lên, như người chờ tàu đợi xe quá lâu, nay đến lượt thì mừng quýnh lên, tất bật chuẩn bị kẻo chậm là lỡ chuyến. Sáng nay Dũng dậy thật sớm hết nấu nước cho vào bi đông, lại lo sắp xếp thứ tự hành lý để đóng gói bọc nilông thành phao bơi; Dũng còn tranh thủ quét nhà quét sân, giúp chủ nhà nấu cả cơm sáng. Ngôn ngữ tuy bất đồng nhưng cử chỉ chan hòa nhã nhặn, việc làm chu đáo của Dũng đã là một thứ ngôn ngữ truyền cảm mạnh mẽ đến nhân dân nơi nước bạn Cam-pu- chia. Lúc chúng tôi tạm biệt phum sóc đi ra hướng bờ kênh để đợi giờ vượt sang đất Việt Nam, đồng bào kéo đến rất đông để tiễn đưa, vừa lưu luyến, kèm theo cả lo lắng. Phải trở lại, điều ấy với chúng tôi thật buồn, nhưng với đồng bào thì lại vui, lại được trông thấy mặt nhau, được sống đoàn tụ bên nhau. Dũng chuẩn bị chu đáo cho mình và càng chu đáo cho người chỉ huy mà Dũng có trách nhiệm phục vụ. Những giờ phút như thế này, có Dũng ở bên tôi thấy mình thanh thản thêm lên, chỉ còn lo một việc điều hành sao cho suôn sẻ, lo tính vượt kênh sao cho an toàn... Trăng non đã lặn, trời tối sẫm, bộ phận chỉ huy nhẹ chúng tôi xuất phát lẹ làng ra phía bờ kênh. Không gian yên ắng, bỗng Dũng như chậm lại, chờ tôi lên ngang, đột nhiên hỏi: - Chú Tư bơi ngon không? - Chú bơi rất ngon! - Tôi trả lời - Hồi nhỏ lúc học ở trường làng, chú đã tham gia thi bơi, về nhất được cấp bằng khen mà. - Thiệt hả chú? - Thiệt chứ, nói dóc làm gì. Dũng thở phào như đã giải đáp được nỗi băn khoăn của mình. Không nói ra nhưng qua thái độ, tôi đoán biết Dang đã rất có trách nhiệm đối với chỉ huy. Dũng đã chuẩn bị sẵn sàng nếu như quả thật tôi không biết bơi thì Dũng sẽ xuất ngay ra kế hoạch khắc phục. Thế là kế hoạch vượt sông đêm nay - đêm thứ hai cũng không thực hiện được, vì kẻ địch sau khi bắt được đồng chí chính trị viên tiểu đoàn 5, phát hiện có “Việt cộng” vượt kênh nên đã tích cực đề phòng. Chúng tôi ngồi chờ suốt từ 10 giờ đêm cho đến gần 2 giờ sáng mà mặt kênh không lúc nào ngói tiếng súng phong tỏa ở bờ kênh bên kia bắn sang. Ca nô tuần tiễu đêm nay cũng vậy. Cứ cái lên cái xuống, đèn sáng quét loang loáng trên mặt kênh, nước lúc nào cũng lao xao xô bờ nghe rất rõ. Đêm thứ ba, địch vẫn không tỏ ra giảm cường độ phong tỏa. Đã ba giờ sáng mà trên mặt kênh không có chỗ nào hở để vượt qua. Tôi quyết định - có phần hơi táo bạo - chờ đến bốn giờ sáng, đến giờ này địch chủ quan, hết đề phòng, đó là thời cơ vượt qua. Như vậy thời gian vận động qua nơi tráng địa khi sang tới bờ bên kia chỉ còn trên dưới một tiếng đồng hồ. Sẽ vất vả và nguy hiểm đấy, nhưng dù sao cùng còn hơn là quay trở lại, biết đêm thứ tư có qua nổi hay không, và như thế thì mọi kế hoạch tiếp sau phải đình hoãn, nhiệm vụ Bộ tư lệnh Miền giao không hoàn thành. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 02:03:45 pm Sự kiên nhẫn chờ đợi rõ ràng là không phí sức. Đúng như phán đoán của chúng tôi, vào lúc bốn giờ sáng, súng bắn phong tỏa của địch thưa dần và tắt hẳn. Thời cơ vượt đã đến! Chúng tôi lội xuống bờ kênh và bơi thật nhanh, càng nhanh càng tốt. Dù sao thì cũng không được chủ quan, chuyện sông nước ai mà lường định hết được. May, thật may, khi chúng tôi bơi sang tới bờ bên kia, chân vừa đạp tới đất thi hai chiếc ca nô từ thượng nguồn ào xuống, rất nhanh. Thật hú vía! Nếu lúc ấy chúng tôi còn loay hoay ở giữa kênh, chắc chắn sẽ roi vào một trong hai trường họp cực kỳ nguy hiểm: Hoặc bị địch phát hiện, chúng quây vòng bắt sống; hoặc bị chân vịt của ca nô cuốn vào và chém đứt thành từng mảnh. Tất cả đều xử trí đúng như kế hoạch đã lường định về tình huống này: Nằm ngửa, tiếp tục quan sát địch rồi tùy diễn biến cụ thể mà có những xử trí thích họp. Ca nô địch vẫn xuôi dòng nhưng tốc độ chậm lại, đèn pha bật sáng rà quét trên mặt kênh, một lúc sau không thấy gì chúng mới chịu cặp bờ, thả neo gần nơi có lô cốt. Mặt kênh yên tĩnh, nước chảy hiền hòa trở lại, chúng tôi đứng thẳng người quan sát và nghe ngóng động tĩnh, rồi vượt nhanh qua quãng giữa của hai lô cốt địch vào bờ, cách dăm bước tới sình lầy liền. Rất mệt nhưng vẫn phải đi tiếp vì trời sắp sáng. Vừa đi chúng tôi vừa xóa dấu vết, vuốt lại từng cây cỏ cho chúng đứng nguyên tự nhiên. Cách bờ khoảng 500 mét thì chúng tôi đành nằm lại, phần đồng cỏ lác cũng không còn nữa, chỉ có sình lầy rộng phẳng đến mút mắt, tận miệt Rạch Giá, Hà Tiên.
Cái vất vả, cái mệt nhọc của đêm vượt kênh chưa tan thì cái căng thẳng của một ngày nằm dưới các lùm cây, cỏ lác, dưới sinh lầy lại đến. Nằm lại khi trời chưa sáng phải lo chống đỡ với muỗi, đỉa cứ theo hơi người mà xông tới. Nằm lại khi trời sáng rõ lại phải lo đối phó với đủ thứ: Trước hết là nắng chói chang rọi xuống mặt sình lầy có màu đất đen càng hấp thụ nhiệt và tỏa nhiệt ra xung quanh, cái nóng hầm hập kéo đến, con người như đang bị đưa vào lò hấp thật. Muỗi tiến công cả ban ngày, muỗi Cà Mau quanh năm đói ăn, được dịp bâu vào hút máu. Một đồng chí tức cảnh đã làm thơ: Vượt kênh Vĩnh tế Muỗi, đỉa như rươi Ngửi thấy hơi người Bu vào hút máu Lúc đầu hơi cáu Nghĩ lại, thấynguôi: Giặc Mỹ tàn ác Gấp năm, gấpmười. Xá chỉ đỉa muỗi, Thắng giặc thì thôi! Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 02:06:35 pm III Thế là chúng tôi đã vượt qua được một “cửa ải” cực kỳ hiểm nghèo. Nhưng một thử thách mới lại đặt ra đối với mọi người là xốc lại đội hình, tiếp tục cuộc hành quân về nơi tập kết cuối cùng. Đúng là chặng đường còn lại không dài, chỉ trên dưới ba mươi cây số nhưng phải trải qua nhiều đồn bót và ấp chiến lược do địch khống chế, nếu tổ chức chỉ huy không tốt thì số thương vong sẽ tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ đến nhiệm vụ của chuyến đi. Xin chân thành biết ơn sự giúp đỡ chở che của nhân dân trên dọc đường mà chúng tôi phải đi qua; xin mãi mãi không quên hình ảnh các đồng chí giao liên của huyện Tịnh Biên đã dũng cảm và mưu trí trong nhiệm vụ dẫn đường, nhờ đó mà chúng tôi đã vượt qua “cửa ải” thứ hai đến được khu Bảy Núi một cách an toàn và đầy đủ. Bảy Núi - cái địa danh thân quen ấy gồm rất nhiều núi nhưng có những hòn núi được mang những cái tên thật dân dã: Núi Dài, núi Sam, núi Bà Đợi, núi Dài Nhỏ, núi Túc Xoài, núi Cô Tô, v.v... nằm rải rác trên địa bàn hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Mỗi quả núi ở đây được xem như một căn cứ “lõm” của ta, kiên cường chống địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Một quần thể không liên hoàn, có hình thù to nhỏ khác nhau, lọt vào giữa một khu vực bốn bề đều có địch thì biết tập kết vào đâu để có thể vừa tiếp tục bám đánh địch vây quét, vừa làm “hậu cứ” dã chiến để tổ chức chiến đấu, đánh vào các mục tiêu mà Bộ tư lệnh Miền đã giao? Đó là câu hỏi được đặt ra trước lúc đội quân lên đường, nó cứ lẩn vào trong nếp nghĩ của chúng tôi suốt chặng đường hành quân càng trở lên khẩn trương khi chúng tôi cập bên này bờ kênh Vĩnh Tế thuộc phần đất bạn; đến khi vượt kênh, nằm chờ ở khu sình lầy Mét Lung, Vĩnh Gia thì câu hỏi đó trở thành bức xúc, cần phải trả lời tức thì. Dựa vào hình dáng trên bản đồ quân sự, dựa vào tình hình cụ thể địch ta do các đồng chí huyện ủy Tịnh Biên và Tri Tôn cho biết, chúng tôi quyết định đưa toàn bộ đội hình vào tập két tại núi vỏ Bo Hong - một quả núi vừa hùng vĩ, hiểm trở vừa bề thế nhất vùng, có độ cao 700 mét, rộng ước khoảng ba mươi lăm cầy sô vuông. Ở một vùng đồng bằng tráng địa như thế này mọc lên một quả núi đồ sộ như thế quả là quý hiếm cả về danh thắng và thế đứng quân sự. Có thể xem nơi đây như một điểm tựa tự nhiên lý tưởng, nếu ta tổ chức lực lượng bám trụ tốt, sẽ tạo nên thế vu hồi thường trực uy hiếp mạnh mẽ tuyến phòng thủ chiến lược phía sau của địch, gây mất ổn định cho công cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh” của chúng. Hang hốc ở vỏ Bo Hong không rộng sâu, liền chắc như các hang động của núi đá vôi ngoài Bắc nhưng lại nhiều, do các gộp đá liên kết tạo thành, rất thuận tiện cho việc phân tán đội hình, tránh được sự sát thương lớn của địch bằng hỏa lực tập trung. Cũng phải mất gần mười ngày, chúng tôi mới thu quân xong. Vừa lúc đó cánh quân cuối cùng của sư đoàn 1 do anh Ba Trân chỉ huy vượt kênh Vĩnh Tế ở đoạn Tịnh Biên cũng tập kết về đầy đủ. Núi Vỏ Bo Hong bỗng trở nên “tấp nập”. Lòng núi mở rộng đón hơn hai ngàn người con thuộc đủ mọi miền của Tổ quốc. Và cũng từ đây - cái địa danh này trở thành “điểm nóng” của tình hình chiến sự ở hướng tây - bắc thuộc “vùng 4 chiến thuật” của địch. Núi Vỏ Bo Hong phải “gồng mình” lên để chịu dựng các trận mưa bom, bão đạn của địch nhằm hủy diệt mọi sự sống ở đây, cốt là để chúng tôi không còn tồn tại mà bám trụ được nữa. Thất bại trong âm mưu chặn ta vượt kênh, địch đổ dồn đòn thù vào việc diệt ta khi đặt chân đến vùng Bảy Núi. Chỉ sự hiện diện của một binh đoàn chủ lực “Việt cộng” ở đây đã là hiện tượng khiến địch không thể nào chấp nhận được, bởi như thế là chúng đã thua về mặt chiến tranh tâm lý. Hơn nữa địch đã biết nước cờ ta đi tiếp sau nên bằng mọi giá chúng phải nhổ, phải cản phá. Về ý nghĩa nào đó, địch đã và đang chủ động phá ý đồ hoạt động của ta trong cái thế chung bị động. Địch huy động sức mạnh, thực hiện mọi thủ đoạn để bao vây, tiêu diệt ta trước khi ta tiến công chúng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 02:08:50 pm Vì vậy đối với chúng tôi, một vấn đề đặt ra gay gắt trước mắt là lo sao bảo toàn được lực lượng, trước khi tính chuyện triển khai kế hoạch hoạt động tiếp sau. Vất vả gian nan, đói khát và cả hy sinh mất mát nữa đang là hiện thực đối với chúng tôi, tồn tại kề bên. Sau cuộc hành quân đường dài, sau những đêm căng thẳng vượt kênh và những ngày len lỏi qua các đồn bót địch được vế đây, đã để lại trên gương mặt mọi người những nét mệt mỏi, hốc hác, nhưng không mất đi cái kiên nghị vững vàng. Một cuộc hội ý chóp nhoáng với các cán bộ tiểu đoàn được triệu tập. Thành phần dự hội ý đã đến đủ, chưa bắt đầu thì tiếng bom nổ như sấm rền, nhưng không nghe thấy tiếng động cơ máy bay. Đích thị là B.52. Chúng tôi ngồi sâu vào ngách hang, tiếng bom vẫn nổ tiếp, nóc hang rung chuyển, đất đá nơi cửa hang bụi mù, tung tóe từng mảnh. Nhưng không còn ai nao núng bởi mỗi chúng tôi đã quen nếm chịu cái cảnh này quá nhiều, trong những ngày chiến đấu ở mặt trận Đông Nam Bộ. Tiếng nổ của bom vừa hết là chúng tôi vào việc ngay.
Tôi tuyên bố lý do hội ý và tranh thủ trình bày những suy nghĩ của mình để anh em tham gia, làm cho kế hoạch hành động trước mắt hoàn hảo hơn. Qua tin tức địa phương cung cấp, qua thực tế mà chúng ta chứng kiến, chứng tỏ địch đang tìm mọi cách tiêu diệt chúng ta ngay trên vỏ Bo Hong. Chúng muốn nhổ chúng ta như nhổ những cây khi mới nảy mầm bén rễ, để lâu Sẽ nguy hiểm. Vì vậy chúng ta cũng phải từ đây - từ noi bám trụ này mà tổ chức đánh thắng địch. Chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ mà Bộ tư lệnh Miền đã đặt niềm tin ở chúng ta - những chiến sĩ đặc công có đầy đủ dũng cảm và mưu trí trong nhiệm vụ hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống phá bình định, phá thế kìm kẹp để mở vùng, mở mảng, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta không đâu trên dải đất miền Nam này là yên ổn với chúng cả. Sự chăm chú lắng nghe với những cặp mắt đổ dồn về phía tôi như tán thưởng, càng khích lệ tôi, khiến tôi đã nói thêm những ý sau đây, ngoài sự chuẩn bị - tôi nói tiếp như nhấn mạnh - Chúng ta quyết bám trụ tại đây, nhưng không thể tồn tại trong thụ động, trong thu mình ẩn giấu nơi hang sâu. Kẻ địch không cho ta làm như thế, hơn nữa lương tâm và trách nhiệm càng không cho phép ta nghĩ như thế. Vì vậy theo tôi, muốn chiến đấu thắng địch, hoàn thành nhiệm vụ trên giao thì trước hết ta phải xốc lại đội hình, tổ chức chiến đấu để tồn tại... Không khí cuộc hội ý bàn kế hoạch thực hiện nhiệm vụ diễn ra nghiêm túc với đầy đủ tinh thần trách nhiệm của những người dự họp. Tất cả các cán bộ tiểu đoàn có mặt hôm ấy đều tỏ thái độ nhất trí với cách đặt vấn đề của tôi, mà biểu hiện cụ thể là khi chuyển sang bàn biện pháp thực hiện thì ai nấy đều tỏ thái độ đóng góp. Các ý kiến nêu ra mang màu sắc kinh nghiệm từng trải của mỗi người, nhưng đều gặp nhau ở bàn tới chứ không bàn lùi. Ngồi nghe anh em phát biểu trong một cái hang chật hẹp vừa trải qua bom của máy bay B.52 giội xuống mà thấy thanh thản, lâng lâng. Đành rằng trọng trách của người chỉ huy lúc này là rất nặng, đòi hỏi tư duy phải nhạy bén, năng động và quyết đoàn, nhưng có được một tập thể mà mỗi người tự ý thức về công việc của mình đảm nhiệm, có bề dày thử thách trong tình huống gay cấn, thì chính họ sẽ ghé vai san gánh cho bớt được bao công việc bộn bề; ngay cả khi phải quyết đoán vẫn thấy rất yêm tâm vẫn tự tin mọi người sẵn sàng ủng hộ và nghiêm chỉnh thực hiện. Tôi chú ý theo dõi ý kiến của từng người, bởi trách nhiệm của người lãnh đạo và chỉ huy phải gạn chắt những điều tinh túy, tạo thành cái chung chứa hết được những dũng cảm và thông minh của cái riêng do mọi người đóng góp. Đợi khi ý kiến đã cạn, tôi tranh thủ tóm tắt những biện pháp chiến đấu mà mọi người đều nhất trí; 1. Cần triệt để phân tán lực lượng nhưng không xé lẻ mà vẫn trên cơ sở các tổ chức chiến đấu sẵn có. Phân tán để tránh sát thương của hỏa lực địch chứ không để ẩn giấu. Phần tán vẫn hình thành đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch trên các hướng khi chúng dùng bộ binh tiến hành vây quét. 2. Tổ chức thông tin đến tận tổ ba người để nắm và phản ánh mọi diễn biến trong ngày, trên cơ sở đó kịp thời có kế hoạch xử trí thích hợp. 3. Mỗi tiểu đoàn và đại đội cần có một đến hai hang đá đầy đủ điều kiện an toàn làm trạm xá cứu chữa khi có thương binh. 4. Tổ chức thống nhất việc tiếp nhận lương thực, thực phẩm của nhân dân mang đến, có noi an toàn và phân phối ngay xuống các đơn vị. Từng tiểu đội, trung đội lo việc nấu ăn hàng ngày, nhưng cán bộ đại đội phải đi kiểm tra đôn đốc, cô gắng bảo đảm cho chiến sĩ ăn chín, uống chín, thực hiện nấu về đêm, tránh để lộ lửa khói từ các hang phát ra. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2016, 02:10:32 pm Cuộc hội ý kết thúc trong tình gắn bó, thương yêu nhau, thông cảm nhau hơn - một thứ tình cảm rất cần đối với tất cả mọi người khi mà cuộc chiến đấu đang vào thời điểm đầy thử thách cam go. Đúng là nỗi lo vợi đi khi có sức mạnh của tình đồng đội bù đắp. Cái thảnh thơi đến nhanh, lại có phút đứng ngoài cửa hang hít khí trời trong lành, tầm mắt được mở rộng, thấy rõ cảnh sắc núi Vỏ Bo Hong khiến tôi liên tưởng đến dãy núi đá hoa cương nhấp nhô, uốn lượn quanh khu danh thắng nơi đèo Cả quê mình. Phút nhớ quê hương vụt đến với bao xốn xang và lay động về nghĩa vụ và trách nhiệm với nơi mảnh đất mình đang đứng...
Theo kế hoạch đã định, hai hôm sau cuộc họp bàn kế hoạch chiến đấu họp đồng giữa bộ binh và đặc công được tiến hành. Đã gần một tháng tôi mới gặp anh Ba Trân, anh Lê Duy Mật trong Bộ tư lệnh sư đoàn. Qua các anh được biết cuộc vượt kênh của sư đoàn không thuận lợi chút nào. Tuy không gặp sình lầy như đoạn chúng tôi vượt, nhưng ở đoạn các anh vượt lại vấp phải chi khu quân sự Tịnh Biên - một chốt phòng ngự cứng của địch với hệ thống cứ điểm nhỏ bao quanh, dày đặc, nên số thương vong cũng không phải là ít. Nhìn các anh đủ biết nỗi lo trách nhiệm của người chỉ huy đối với sinh mạng toàn sư đoàn đã bám riết các anh suốt cả tháng trời nay vẫn còn đọng lại nơi khuôn mặt rám nắng, gầy xanh, hai mắt mệt mỏi, trũng sâu vì thiếu ngủ. Không ai bảo ai, tất cả chúng tôi đều im lặng với nỗi đau xót tưởng nhớ tới những đồng đội mình đã ngã xuống khi vượt kênh; với lòng mến phục và thương cảm gửi tới những người đồng chí bị thương trên dọc đường, cố lết về đến đây đang nằm điều trị ở các hang trạm xá với những mong vết thương chóng lành để trở lại đội hình chiến đấu. Tình hình đang đặt chúng tôi vào một thế bất lợi. Quân số chiến đấu bị tiêu hao không phải ít, yếu tố bất ngờ chung coi như đã hết. Địch chẳng những biết rõ chủ trương cụ thể của đợt hoạt động mà còn biết rõ cả số hiệu các đơn vị đang tập kết ở khu Bảy Núi. Vì trong hàng ngũ ta có kẻ làm phản. Địch chỉ không biết quân số cụ thể của chúng tôi, điểm tiến công và ngày giờ nổ sủng. Bởi điều ấy đến hôm nay, trong cuộc họp Bộ tư lệnh chung này chúng tôi mới bàn. Đây là điều bí mật cốt lõi trong quân sự thì chúng tôi vẫn giữ được. Cũng chính vì thế mà chúng tôi không thay đổi ý định, vẫn quyết tâm thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền đã giao. Mở đầu cuộc họp tôi báo cáo trước về kế hoạch tiến công của các đơn vị đặc công: Tiểu đoàn 7 đánh Vĩnh Trung; các tiểu đoàn 3,5,4 đánh Ba Xoài (Thực ra về quân số chỉ còn bằng một tiểu đoàn tăng cường vì tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 5 số thương vong khi vượt kênh chiếm tỷ lệ khá cao). Các tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đã tổ chức bộ phận đi điều nghiên. Anh Ba Trân cũng vừa họp Bộ tư lệnh sư đoàn để thống nhất kế hoạch hoạt động hiệp đồng trong thế chung của chiến dịch. Theo anh Ba Trân cho biết, toàn sư đoàn chia thành ba lực lượng: - Lực lượng thứ nhất, một trung đoàn tăng cường làm nhiệm vụ chặn viện, chủ yếu bố trí đón lõng ở hướng Tịnh Biên, tạo điều kiện cho lực lượng đặc công rảnh tay tiềm nhập tiến công tiêu diệt sinh lực địch. - Hai lực lượng còn lại, mỗi bộ phận gồm một trung đoàn thiếu làm nhiệm vụ chốt giữ căn cứ Vĩnh Trung và Ba Xoài, sau khi các tiểu đoàn đặc công hoàn thành việc đánh chiếm hai căn cứ này rút ra, để hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy. Các đơn vị được giao nhiệm vụ đang gấp rút chấn chỉnh tổ chức, điều chỉnh lực lượng xong là lên đường ngay. Tuy là một đơn vị hợp thành có tổ chức chỉ huy thống nhất nhưng trong tình hình khó khăn ở một chiến trường bị chia cắt, ta địch đứng trong thế cài răng lược, với những bom đạn địch giội xuống ác liệt như thế này, thì làm gì có điều kiện họp bàn nhiều và ngay cả khi nhiều việc mà là đi thẳng vào vấn đề; cần làm gì và làm ra sao. Thế là đủ. Kế hoạch hoạt động và quyết tâm chiến đấu dược mọi người nhất trí. Cuộc họp kết thúc nhanh gọn. Anh Ba Trân thay mặt Bộ chỉ huy chung trở lại Đông Nam Bộ để xin Bộ tư lệnh Miền phê chuẩn quyết tâm chiến đấu. Tôi trở lại với các tiểu đoàn đặc công của mình bàn kế hoạch triển khai điều nghiên. Chúng tôi xiết chặt tay nhau tạm biệt với một mong ước chung làm sao cho ngày N chóng đến; mong anh Ba Trân nhanh trở lại mảnh đất Bảy Núi này để cùng nhau có mặt trong cuộc thử thách mới, ở một chiến trường cũng hoàn toàn mới lạ. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 07:27:17 am Nhưng chỉ vài giờ sau đó chúng tôi nhận được một tin không vui, kèm theo cả nỗi lo lắng cho toàn bộ diễn biến của đợt hoạt động sắp sửa bắt đầu. Đó là việc anh Ba Trân đã lọt vào ổ phục kích của địch bị chúng bắt trước lúc vượt kênh. Cả đêm hôm đó tôi không sao ngủ được vì tiếc thương người đồng chí, vì lo địch thu được tài liệu mà anh mang theo thì rất nguy! Nếu sự tình đã đến lúc như thế thì kế hoạch hoạt động có gì phải điều chỉnh, có nên tiếp tục điều nghiên căn cứ Vĩnh Trung, Ba Xoài nữa không? Nếu phải thay đổi thì hướng tiến công nên nhằm vào đâu trong khi chưa có quyết định thay đổi của Bộ tư lệnh Miền? Nhưng lạ thay, cái động tĩnh đêm nay lại dịu đi. Tình hình địch ở căn cứ Vĩnh Trung, Ba Xoài vẫn như cũ, chưa thấy dấu hiệu gì chứng tỏ chúng đang triển khai kế hoạch đối phó mới. Như thê có nghĩa là địch chưa phát hiện được kế hoạch hoạt động của ta, mặc dầu chúng đã bắt được anh Ba Trân khi chiều. Hay là chúng nghi binh, làm như không biết gì để dăng bẫy đánh mẻ lưới to (!?)...
Chiều hôm sau, Bộ chỉ huy chung chúng tôi lại họp. Anh Lê Duy Mật (nay là thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân khu II), Phó tư lệnh Tham mưu trưởng chủ trì để bàn cách đối phó, sau khi anh Ba Trân bị bắt Cuộc họp chưa bắt đầu thì các đồng chí địa phương đến thông báo cho biết tương đối tỉ mỉ về việc địch đã bắt được ba chiến sĩ của ta, hai trẻ một già. Chúng khám rất kỹ đồng chí chiến sĩ già nhưng không thấy gì ngoài cái túi cứu thương đeo bên hông trong đó có một số bông băng và thuốc cấp cứu... Mới nghe đến đây, chúng tôi đã nhẹ nhõm thở phào, vẫn chưa hết lo cho tính mạng anh và các chiến sĩ bảo vệ anh sẽ ra sao trong những ngày tiếp nối, nhung một cảm phục cứ trào lên về sự lường định, sự thấy xa của anh Ba Trân. Anh đã giả dạng một y tá, một y sĩ để đề phòng sự cố - và xa hơn nữa, tất cả những nội dung mà chúng tôi họp bàn, những quyết tâm, không một ghi chép nào để trong người cả. Đây là một phong cách cần có, cần rèn luyện, để thích nghi với hoạt động ở nơi chiến trường ác liệt. Đành rằng nó bất lợi trong công tác điều nghiên, tổng kết, viết sử sau này, nhưng lại rất cần thiết như một tiêu chuẩn phải có của người chỉ huy trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó. Tại cuộc họp Bộ chỉ huy chung lần thứ hai này, chúng tôi nhận định tình hình một cách nghiêm tức hơn. Lật đi lật lại các hiện tượng về địch, về ta để tìm cho ra cốt lõi của vấn đề, không để cho hiện tượng che lấp bản chất. Yếu tố bất ngờ chung không còn nhưng yếu tố bất ngờ cụ thể (ngày giờ tiến công, mục tiêu tiến công và lực lượng tiến công) thì địch vẫn chưa biết, do ta giữ được bí mật. Mặt khác, tuy yếu tố bất ngờ chung không còn, lại có tác dụng gây cho địch càng chủ quan. Chúng đoán được lực lượng vượt kênh của ta đã bị tiêu hao nặng, tinh thần cán binh cộng sản đang chao đảo, lương thực cạn dần thì làm gì có khả năng đánh lớn. Từ nhận định trên, chúng tôi một lần nữa xác định quyết tâm nghiêm chỉnh thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền đã giao. Các kế hoạch hoạt động tiếp tục triển khai, nhưng cần khẩn trương hơn, kỷ luật giữ bí mật phải được nghiêm túc thực hiện. Trong cuộc họp, chúng tôi nhấn thêm biện pháp chỉ đạo hoạt động nghi binh lừa địch (có cả địa phương tham dự), chúng tôi tung thêm mục tiêu sẽ tiến công và cho tổ chức trinh sát thực địa hẳn hoi* làm như sắp đánh trận đến nơi. Chúng tôi còn đưa ra cả dự kiến cụ thể về ngày N, giờ G và mục tiêu tiến công, trong khi những ý định thật về những vấn đề này đều được xem như tuyệt mật, chỉ trong Bộ chỉ huy hẹp chúng tôi biết. Việc làm này quả thật có tác dụng, đã gây “nhiễu” trong sự phán đoán của kẻ địch về ta. Cuộc chiến đấu để tồn tại đã thực sự bắt đầu với những căng thẳng thật riêng, nếu không nói là độc đáo. Trước hết địch có nhiều lợi thế. Còn chúng tôi thì bị dồn vào cái thế khó cựa. vỏ Bo Hong, nơi chúng tôi chấm làm điểm tập kết, làm nơi bám trụ đã chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Cái vút cao, cái bề thế, cái hiểm trở của nó thực sự là chỗ dựa tin cậy của chúng tôi. Nhưng không phải tất cả nơi đây đều là lý tưởng. Kẻ địch đang vây quanh dưới chân núi với một hệ thông căn cứ quân sự và các ấp chiến lược có sẵn nay dăng dầy thêm, hết kẽ hở; chúng âm mưu cắt đứt mọi sự liên hệ của chúng tôi với nhân dân, với địa phương. Việc tiếp nhận lương thực, thực phẩm của nhân dân mang đến bắt đầu có khó khăn, máu đã đổ sau khi gùi được gạo lên các lèn đá để chuyển đi vào hang; đã bắt đầu phải tiết kiệm gạo và nhịn bữa. Vỏ Bo Hong không phải chỉ có chúng tôi mà có cả địch ở xen kẽ dưới dạng thám báo, biệt kích, gây cho chúng tôi không ít khó khăn. Nếu canh gác không tốt, nếu giữ bí mật không nghiêm thì những cái “tai, mắt” này của địch sẽ báo xuống núi, điện về các trận địa pháo, các sân bay là lập tức có địch lên vây, tức thì có pháo bầy bất thần ập đến xối xả hồi lâu. Sẽ có thương vong xảy ra sau đó; có lúc thương binh phải tự mình cấp cứu lấy mình vì không có trạm xá hoặc trạm xá bị đánh sập; có trường hợp tử sĩ phải bó chăn để tạm bên vách đá vì chưa tìm được nơi chôn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 07:35:36 am Âm thanh của chiến tranh thật là chua chát, nghe căng óc. Máy bay B.52 cứ đánh đều hai, ba lần trong một tuần, còn pháo tọa độ thì không thành quy luật. Khắp vỏ Bo Hong đều có bom bi, chúng tôi đặt tên là “bom bi râu” vì nó có cấu trúc khác với bom bi thường ở bốn cái râu bằng kim loại mảnh, nối từ thân bom, khi rơi xuống bốn cái râu này căng ra bốn hướng, lẩn vào cây cỏ rất khó thấy vì nó cực nhỏ. Ta đi từ hướng nào cũng gặp râu bom, chạm phải nó chẳng khác nào ta rút dây lựu đạn chày, tức thì gây nổ. Thế là lại có thương vong, phần lớn là vào chân. Những ngày đầu chưa có kinh nghiệm nên số thương vong do “bom bi râu” gây nên chiếm tỷ lệ khá cao. Sau chúng tôi phải hạn chế đi đêm. Thực ra đây cũng là điều bắt buộc, bởi mọi sự đi lại trong ban ngày địch dễ dàng phát hiện, dễ phán đoán sự hoạt động của chúng ta. Kẻ địch quả thật thâm độc, chúng dùng loại bom bi cải tiến này ngoài tác dụng sát thương sinh lực, còn buộc chúng ta phải chuyển hoạt động từ đêm sang ngày, để chúng dễ bề cản phá.
Địch còn đặt máy nghe trộm hoặc cho biệt kích, thám báo lẻn đến các hang, ém sẵn nghe lén các cuộc họp bàn của ta để phá trước khi ta tổ chức triển khai thực hiện. Lúc đầu, ta chưa chú ý đến hoạt động này của địch. Nhưng sau mấy lần xuất kích đều bị địch phát hiện, phá trước khi ta nổ súng, khi đó ta đặt vấn đề nghiên cứu tìm nguyên nhân, từ đấy các cuộc họp đều phải nói thầm, ghé sát vào tai nhau hoặc phải dùng “bút đàm”, có khi phải đi ra khỏi hang một đoạn xa mới trao đổi. Cuộc chiến đấu để tồn tại thật là ác liệt. Nhưng nào đã hết! Mỗi khi đêm về, máy bay địch lại vè vè trên đầu phát loa tâm lý chiến, ca những bài ca nhạc vàng, xen vào là giọng nữ vừa đe dọa vừa nỉ non: các anh cán binh cộng sản, chiến hữu của các anh đã bị quân lực Việt Nam cộng hòa bắt ngày càng nhiều. Khỏi chịu chung số phận tù binh đó, nếu các anh sớm quay về với chính nghĩa quốc gia, các anh sẽ được mọi sự hậu đãi... Chúng gọi tên tùng đơn vị, thậm chí cả tên cán bộ, chiến sĩ để ly gián, gieo rắc nghi ngờ trong nội bộ. Thời gian lúc này đã là đầu tháng 3. Đã ở vào cuối mùa khô mà nắng nóng vẫn chưa dịu. Đêm nay như thường lệ, tôi lại lần theo các gộp đá đến các tiểu đoàn để nắm tình hình, bàn công việc cần tiếp tục của công tác chuẩn bị chiến đấu. Bỗng chớp lóe phía trước mặt, liền sau đó là tiếng nổ đanh và kéo dài, đất chuyển rung. Lại một lần nữa gần hơn hất nhào tôi và ba chiến sĩ nữa từ trên cao xuống lòng một khe cạn. Toàn thân tôi đau điếng, tai giữa bị sưng tấy và ù ù. Tôi nằm bất tỉnh. Lúc sau cảnh vật yên tĩnh trở lại, tôi và ba chiến sĩ cũng tỉnh dần nhưng mình mầy như có ai dần, ê ầm. Bốn chúng tôi cô lết tự tìm về trạm xá, vi đêm tối thế này ai biết đâu mà tìm, trong lúc nhiều trận địa và cả trạm xá nữa đang phải tập trung khắc phục hậu quả trận bom B.52 vừa rồi. Gọi là trạm xá, cái tên ấy chỉ có nghĩa trong quy ước chứ nó vẫn chỉ là một cái hang như tất cả các hang khác trên quả núi vỏ Bo Hong này. Không giường chiếu, tất cả thương binh về đây đều tự tìm lấy chỗ đất phẳng mà ngả lưng. Ngoài những thuốc vô trùng và cấp cứu thông thường ra, không có gì hết. Dã chiến mà! Xa thế này làm sao mà đưa bệnh xá, trạm phẫu thuật xuống được. Những ca nặng đều sơ cứu, rồi tìm cách đưa xuống nhân dân chăm sóc. Lại nhân dân, đúng là hoạt động, mọi hiểm nghèo, chúng tôi đều phải dựa vào nhân dân. Gian khổ vẫn lạc quan. Điều này có ở trong tôi và có ở tất cả những người đang nằm tại đây, họ bị thương sau những đợt vây quét, sau những đợt đánh phá hủy diệt của địch. Có đồng chí còn làm thơ, có khi cả tập thể cùng sáng tác thơ. Góp mỗi người một câu, trong đó có cả tôi. Tôi còn nhớ một bài thơ lục bát không có tên: Pháp lấy mắt, Mỹ lấy tai Đánh cho đế quốc cả hai ngã nhào Tụi bay đừng có tự cao Thân tao nhỏ bé, chí cao hơn mày Bị thương chí chẳng lung lay Còn tim, còn óc, còn bay (ta) đánh hoài Đánh cho Mỹ phải té nhào Đừng mong ngó lại mà vào Việt Nam. Rõ ràng câu chữ thì mộc mạc, vần điệu thì gượng ép, nhưng ngâm lên trong hoàn cảnh ấy đã góp phần khuấy động cái không khí vui tươi, xua đi cái trầm lắng trong trạm xá. Những giờ phút làm thơ, ngâm thơ ấy quả có sức thôi thúc mọi người. Và riêng tôi thì mong sao chóng lành bệnh để trở về với anh em. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:18:05 am Đêm nằm trong một ngách hang ở trạm xá, tôi cứ trằn trọc hoài không ngủ được. Phần vì lo việc, phần vì vết thương tai giữa vẫn cứ sưng tấy, lúc nào cũng nghe rõ tiếng tim của mình đập. Càng về khuya, càng yên tĩnh thì tiếng ình ình trong tai càng rõ, rất khó chịu, óc như muốn vỡ ra.
Cái ước mong đã đến. Trời đã sáng thật, ánh sáng mờ nhạt lọt qua cửa hang. Tiếng chim kêu vang, thấy bớt lạnh lẽo. Tôi đang định ra cửa hang để hít thở khí tròi thì từ ngoài đó thấp thoáng có bóng người. - Anh Tư! - Một người đi đầu nói như reo mừng rồi cứ thế đi thẳng đến chỗ tôi. - Phải tiểu đoàn 7 không? - Tôi vui sướng hỏi. - Dạ phải! - Đồng chí đi đầu đến sát gần trước mặt tôi trả lời. Rồi cả tốp, năm người cùng vào theo, họ ngồi quây quần bên tôi, mừng mừng tủi tủi, tranh nhau hỏi, tranh nhau nói. Lúc này, tôi mới có dịp nhìn rõ những người đang ngồi trước mặt. Tất cả đều là cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn. Một tháng vượt kênh và những ngày chiến đấu đầy căng thẳng đế tổn tại đã hằn trên khuôn mặt của từng người, những thoáng nét của mệt mỏi. Tôi không thấy có điều gì trách cứ ở nơi họ mà chỉ trào lên một nỗi cảm thông, yêu mến. Họ cũng như tôi đã ý thức được sâu sắc về nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với nhân dân, rất nghiêm chỉnh theo tiếng gọi cứu nước của Đảng, của Bác Hồ kính yêu mà xốc tới nơi đây, không một mảy may suy tính. Họ băn khoăn lo lắng chứ không phải mềm yếu. Họ đến thăm tôi với tình đồng đội sống chết, sướng khổ, vui buồn có nhau; và cũng là để nói chuyện công việc. Họ buồn khi báo tin cho tôi hay là đêm qua bộ phận điều nghiên của tiểu đoàn đã lại không hoàn thành nhiệm vụ. Ba đêm liền mà vẫn không vào được nội đồn, trong khi đại đội trưởng Cư bị thương và đã hy sinh... Nghe anh em kể, tim tôi đập nhanh, mặt tôi nóng bừng. Tôi cố kìm xúc động của mình và kìm cả giọt lệ thương cảm đang muốn ứa ra! Tôi gượng cười và ôn tồn nói: - Được, ta sẽ bày keo khác. - Keo gì hả anh Tư? - Một đồng chí ngồi gần hỏi. - Tôi sẽ cùng các đồng chí đi điều nghiên. Tất cả vui sướng reo lên: Thế thì chắc ăn rồi. Ngay sau buổi gặp gỡ bất ngờ với các cán bộ tiểu đoàn 7 tôi thấy mình như hết mệt. Tôi không nằm nữa mà đi lại trong các ngách hang chật hẹp để rèn luyện, chuẩn bị bước vào chiến đấu. Lúc này là vào giữa tháng 3. Thời gian của chiến dịch mở vùng mở mảng đến gần. Tình hình trở nên khẩn trương, không thể chậm được nữa. Vì nhiệm vụ chiến đấu của chúng tôi nằm trong kế hoạch chung - đặc công đánh trước, làm nhiệm vụ ngòi nổ, để lực lượng vũ trang địa phương cùng phối họp tiến công, thực hiện bất thần áp đảo địch ngay từ đầu, khiến chúng không kịp trở tay đến khi chúng biết sự việc thì đã rồi, có phản ứng thì đã muộn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:19:27 am IV Ngày 15 tháng 3, tổ điều nghiên xuống núi. Ngoài tôi còn có một đồng chí đại đội trưởng, một đồng chí tiểu đoàn phó tiểu đoàn 7 và gần mười chiến sĩ. Từ Vỏ Bo Hong, nơi chúng tôi đang trụ bám ém quân đến Vĩnh Trung cỡ lối hơn mười cây sô. Mặt trời vừa lặn chúng tôi đã xuống đến chân núi. Vượt qua hai bót địch và một ấp chiến lược, đồng chí giao liên huyện Tịnh Biên đưa chúng tôi vào ém ở một gia đình cơ sở của ta, cách căn cứ Vĩnh Trung khoảng hai cây số để định hướng, chuẩn bị tiếp trước khi bước vào nhiệm vụ. Đêm hạ tuần vắng bóng trăng, bầu trời đen quánh, rất dễ lạc hướng và lạc đường, vì cách nhau chỉ dăm bước chân đã không nhìn thấy bóng. Tối trời là môi trường lý tưởng của tác chiến đặc công, nhưng tối trời cũng gây không ít khó khăn cho chúng tôi, thậm chí còn đổ máu nữa, nếu như công tác tổ chức chỉ huy, tổ chức chiến đấu không cụ thể, tỉ mỉ. Vĩnh Trung đã ở trước mặt chúng tôi, nhờ có ánh sáng điện từ trong đó hắt ra. Phút đầu tiên không gây cho tôi một choáng ngợp như tiếp cận điều nghiên căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, Phước Vĩnh. Ở đây - cái căn cứ Vĩnh Trung này, tất cả đều nhỏ bé trong diện tích, trong các khối hình nhà cửa, và cả sự ồn ào của động cơ trực thăng bay đêm, của xe tăng gầm rú trong tuần tiễu cũng không có. Vậy mà chính nơi đây, địch đã làm đảo lộn kế hoạch điều nghiên đợt đầu của chúng tôi; đại đội trưởng Cư không thiếu dũng cảm, không phải vào trận lần đầu, vậy mà Cư đã không hoàn thành nhiệm vụ, đã vĩnh viễn xa chúng tôi, hoàn toàn bỏ cuộc. Cái chết của Cư làm tim chúng tôi đau nhói, căm thù và quyết tâm lại tăng thêm, nhưng cũng chính cái chết của anh đã khiến chúng tôi phải thận trọng trong khi điều nghiên, không được mảy may chủ quan - dù là nhỏ nhất - vì sai một ly đi một dặm mà! Không tham, không đốt cháy giai đoạn mà phải từng bước, đến đâu chắc ăn đến đấy. Chậm mà chắc còn hơn là nhanh ẩu, hỏng việc. Nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra cho mình trong đêm nay là nắm cho được việc tổ chức canh gác tuần tra và quy luật đổi gác của địch. Bởi bất cứ tiềm nhập vào từ hướng nào, bằng phương pháp gì đều phải trên cơ sở nắm chắc tình tình canh gác, bố phòng vòng ngoài của địch, để hoặc tìm cách vô hiệu hóa nó, hoặc lợi dụng ngay những sơ hở của nó mà sáp vô. Khoảng 9 giờ tối, sự yên ắng tạm thời tan nhanh, mặt đất nơi chúng tôi đương nằm ém lại rung lên bởi súng các cỡ từ trong căn cứ bắn ra, từ trận địa pháo các nơi khác xối xả bắn tới, ánh hỏa châu làm giãn màn đêm. Căng thẳng mà thuận lợi, chúng tôi nhìn thấu vào tận căn cứ, dù có sơ suất va động lúc này địch cũng không nghe được. Không có động tĩnh gì chứng tỏ chúng tôi bị lộ, thế là càng vững tâm. Chỉ thấy hai tên lính gác tay lăm lăm khẩu AR.15 đầu nòng hoi chúc xuống đi đi, lại lại. Đêm yên tĩnh trở lại, chúng tôi nằm như dán mình xuống mặt đất, rất gần nhau mà chẳng ai nhìn thấy ai. Càng tự tin ở kỹ thuật ngụy trang của mình, càng phấn hứng với nhiệm vụ. Năm phút, rồi mười phút trôi qua, sao lúc này thời gian đi chậm thế! Hai tên lính gác vẫn đi lại, tức là chứng vẫn thức. Đầu óc tôi bắt đầu thấy căng, càng thông cảm với nỗi khó khăn của các đồng chí đi điều nghiên đợt trước không thành. Đúng là địch canh phòng rất cẩn mật, không dễ gì mà lọt vô căn cứ, mà thương vong thì lại có thể đễ dàng xảy ra. Hai mưoi phút nữa trồi qua, cho đến khi đồng hồ chỉ đúng 10 giờ khuya tôi mới thấy bóng đen của hai tên lính gác đến gần nhau rồi tản ra, cả thảy ba lần cách đều nhau 15 phút. Thần kinh tôi bỗng chùng xuống, như có cái gì lóe sáng trong đầu, như một câu hỏi đã tìm được lời giải. Tôi tiếp tục theo dõi, không có gì căng thẳng, nhưng thấy mình hồi hộp và tim đập nhanh! Khoảng 10 phút sau, tôi như muốn reo lên: Đúng rồi! Hai tên lính gác kia là người của hai khu vực cử ra. Noi chúng nhập vào nhau rồi lại tản ra đi về vị trí của mỗi tên là giao điểm của hai khu vực mà chúng tôi tự đặt cho nó cái tên - điểm giáp môi. Những điểm giáp môi ấy bao giờ cũng có những sơ hở. Để chắc ăn hơn, chúng tôi quyết định nán lại nửa tiếng, sáp vô gần hơn nữa chỉ cách vọng gác khoảng chưa đầy mười mét để theo dõi xem kết luận của mình đã chính xác chưa, hay đó chỉ là những yếu tố ngẫu nhiên. Nhưng mới mười phút chúng tôi đã thấy hai tên gác kia giáp lại với nhau, lần này chúng đứng lâu hơn, cả hai đều vạch quần đái, nghe rõ cả tiếng... và ngửi được cả mùi khai qua những làn gió nhẹ từ trong thổi ra. Thế là rõ, chỗ “giáp môi” ấy còn là điểm chúng nó “tè” nữa. Đôi với mỗi chiến sĩ đặc công, có sung sướng nào rung động mạnh mẽ nơi con tim mình bằng những đêm vất vả đi điều nghiên mà phát hiện ra được sơ hở của địch. Sự mệt nhọc và sự căng thẳng trong mỗi chúng tôi đã được cái điểm “giáp môi” kia đền bù. Rút ra được rồi nhưng chúng tôi vẫn nằm lại đấy mà thưởng thức cái niềm vui trực quan, ngay phía trước mặt với bao ý nghĩ công việc tiếp sau phải làm, sẽ khởi đầu từ đây... Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:20:39 am Đêm điều nghiên thứ hai lại bắt đầu. Thành phần những người đi làm nhiệm vụ dêm nay không có gì thay đổi. Chúng tôi thanh thản lên đường, vì trên cơ sở kết quả của đêm trước, một kế hoạch được vạch ra hoàn toàn chủ động, tính toán đến cả giờ giấc cho mỗi công việc.
9 giờ 30 phút đêm, tức là sau khi đợt bắn thị uy theo thường lệ kết thúc, chúng tôi bắt đầu khởi sự. Căn đúng điểm “giáp môi”, cắt rào thực hành nhiệm vụ. Hàng rào cuối cùng vừa cắt xong thì cũng là lúc hai tên lính từ hai vọng gác đi lại điểm “giáp môi”. Tôi ra lệnh nằm im theo dõi. Thật là hồi hộp! vẫn biết địch sáp lại với nhau là theo định kỳ thời gian nhưng vẫn thấy không an tâm. Biết đâu lúc nào xảy ra sự cố: hoặc một tiếng va đập do sơ suất từ noi chúng tôi, hoặc sự tinh mắt của lính địch mà chúng nhìn thấy chúng tôi, chỉ còn rất gần - khoảng năm mét. Nhưng điều lo xa của tôi là thừa, địch ra đó lại cùng nhau “tè”. Thật là một ngẫu nhiên thú vị. Tim tôi đập nhanh lúc này chỉ để tải cái nhịp vui sướng. Khi đã vượt qua vọng gác vòng ngoài thì dễ dàng vượt qua vọng gác vòng trong, vì thường thì thằng trong ỷ vào thằng ngoài. Phán đoán của chúng tôi quả là đúng. Các yếu tố để hành động đã chín muồi. Tôi hạ lệnh cho tổ căn đúng điểm hố đái mà bò vào, làm nhiệm vụ nắm địch ở trong căn cứ. Cũng từ đây cái giờ phút căng thẳng lại đến, với bao lo toan. Công việc trôi chảy, đó là điều mong ước. Nhưng nếu lại xảy ra sự cố thi sao? Vấn đề sẽ không đơn giản. Hoạt động của dặc công lần này đâu phải là chiến đấu độc lập, mà là đánh địch trong đơn vị hợp thành; chiến đấu trong đội hình chiến dịch tổng họp vừa tiến công quân sự vừa đấu tranh chính trị thực hiện mở mảng mở vùng. Cái không hoàn thành của chúng tôi đêm nay tức là mục tiêu tiến công căn cứ Vĩnh Trung không thực hiện được, nhất định sẽ có ảnh hưởng dây chuyền đến các yêu cầu của chiến dịch. Ngay trong những trận chiến đấu độc lập của đặc công cũng chỉ hiểu theo nghĩa tương đối, còn trong thực tế nó gắn rất chặt với bối cảnh nhiệm vụ chung. Điều này đã được Bộ tư lệnh Miền nhấn mạnh khi giao nhiệm vụ cho đặc công chúng tôi xuống hoạt động ở khu Bảy Núi. - Ngon rồi! - Tôi tự nhủ mình như thế, trong khi mắt vẫn không ngừng quan sát hai tên lính gác. Tình hình vẫn yên tĩnh. Tôi phấn khởi như muốn reo lên, khi gặp lại các đồng chí luồn sâu đã hoàn thành nhiệm vụ trở ra. Đồng chí giao liên của huyện Tịnh Biên đã chờ sẵn ở điểm hẹn, dẫn chúng tôi trở về “hậu cứ” bằng một con đường khác, đề phòng con đường cũ lộ, có thể địch phục kích. Đêm về khuya, gà gáy canh hai đã điểm, trăng cuối tuần mọc tỏa ánh sáng vàng vọt trên không gian rộng, khiến chúng tôi nhận ra ngay núi vỏ Bo Hong đang sừng sững trước mặt, như đang vẫy gọi, đón chào, mặc dầu đến được đấy, chúng tôi còn phải đi một đoạn đường dài khoảng' mười cây số, phải vượt qua một bót địch và một vùng sình lầy. Gió từ đồng nội thổi mơn man, phả vào mặt mang lại cho chúng tôi cái dễ chịu của đất trời nơi đồng bằng đã quen mến và thích nghi với nó. Như vậy là tình hình địch ở khu Bảy Núi nói chung, ở hai căn cứ Vĩnh Trung, Ba Xoài nói riêng đã rõ, là cơ sở để chúng tôi xây dựng quyết tâm chiến đấu cụ thể. Một vấn đề mới nảy sinh. Đó là mục tiêu chủ yếu của mũi tiến công quân sự nên nhằm vào đâu, có nhất thiết tập trung lực lượng đánh vào Ba Xoài, Vĩnh Trung hay không. Sao ta không nhằm vào chi khu quân sự Tịnh Biên hay lật cánh chuyển lực lượng xuống sâu hơn nữa, đánh vào chi khu quân sự Tri Tôn, rồi sau đó dựa vào núi Cô Tô mà bám trụ đánh địch phản kích, thực hiện làm chủ thị trấn Tri Tôn, dù chỉ một ngày, thậm chí trong vài giờ, thì sức thối động sê mạnh lan đến Châu Đốc, Long Xuyên, thấu tới Vị Thanh, Hòn Đất. Thời gian ngày N đã đến gần nhưng nhận thấy đây là vấn đề quan trọng không thể bỏ qua, nên chúng tôi đã quyết định dành hẳn một ngày thảo luận thông suốt nhiệm vụ, để đạt tới nhất trí cao trước khi bước vào chiến đấu. Tại một cái hang nằm ở phần bắc núi Vỏ Bo Hong đã diễn ra cuộc hội nghị quân sự dân chủ. Đứng ở đây chúng tôi có thể phóng tầm mắt nhìn ra bốn phía, cảnh xóm ấp, kênh lạch dưới chân núi cứ như một sa bàn khổng lồ hiện rõ trước mặt mọi người. Cuộc hội nghị gồm đủ mặt các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn và các đại đội trưởng thuộc bốn tiểu đoàn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:21:55 am Ngồi nghe anh em trao đổi thấy mình càng sáng ra nhiều lẽ, tự mình nâng cao hiểu biết cho mình, tự mình rèn luyện tác phong, rèn luyện tư duy quân sự, tư duy chỉ huy. Tôi đã suy nghĩ, sàng lọc, tiếp thu những ý kiến hay, ý kiến đúng của anh em, vừa vận dụng những điều đã học khi còn ở ngoài Bắc, trong suốt quá trình tham gia chiến đấu ở Long An, Bến Lức, ở Đồng Dù, Phước Vĩnh, Bù Na và cả những lĩnh hội khi nhận nhiệm vụ nơi Bộ tư lệnh Miền trước lúc cùng đơn vị hành quân xuống đây. Điều đáng quý là tất cả chúng tôi đều bàn đánh, bàn tiến chứ không bàn lùi. Khác nhau chỉ là đánh vào đâu và bằng cách nào để thắng địch trong điều kiện chiến trường rất đặc biệt này. Tôi nhất trí với số đông các đồng chí đã phát biểu là ta cần tập trung lực lượng trong đợt tiến công đầu này vào hai căn cứ Ba Xoài và Vĩnh Trung. Đánh Ba Xoài và Vĩnh Trung chỉ là gợi ý của Bộ tư lệnh Miền khi giao nhiệm vụ chứ chưa hẳn là mệnh lệnh. Khi xuống đến đây, qua quan sát thế đứng của hai căn cứ, qua làm việc với các đồng chí huyện ủy và huyện đội Tịnh Biên, được biết vai trò của nó trong hệ thống phòng thủ về quân sự, không chế về chính trị là rất đáng kể nếu không nói là chủ yếu. Cả hai đều vừa là căn cứ quân sự hỗn họp nằm trong hệ thống phòng thủ diện địa, vừa là trung tâm huấn luyện biệt kích của địch ở vùng An Giang. Đây là lực lượng xung kích tin cậy của Mỹ - ngụy trong nhiệm vụ do thám, đánh phá các kho tàng, hậu cứ, các đường hành lang của ta. Chính lực lượng này đã gây rất nhiều khó khăn khi chúng ta vượt kênh, trong những ngày chúng ta trụ bám - ém quân ở vỏ Bo Hong. Địch dùng lực lượng ác ôn này vào việc đánh phá các căn cứ “lõm” của ta trong vùng Bảy Núi, gây khó dễ cho cơ sở của ta đi lại hoạt động, giáo dục và tổ chức dân phá thế kìm kẹp của địch trong các ấp chiến lược.
Như vậy rõ ràng, tiến công Ba Xoài và Vĩnh Trung là chúng ta đánh vào lực lượng chủ bài đang chốt giữ các vị trí hiểm yếu của địch ở khu vực An Giang nói riêng, cũng là một trong những hướng phòng thủ chủ yếu thuộc “vùng 4 chiến thuật” của địch nói chung, chắc chắn sẽ gây nên chuyển rung mạnh mẽ, dẫn đến đảo lộn kế hoạch điều hành bình định mà địch đang tích cực thực hiện. Ngược lại, nếu chúng ta tập trung lực lượng tiến công mục tiêu Tịnh Biên thi trước hết chúng ta đánh vào điểm mạnh nhưng không trúng “huyệt” kẻ địch. Đấy là chưa kể khi chọi vào điểm mạnh này, rất có thể là ta không đạt được một dứt điểm nhất định, sẽ không tạo ra được một “cú đấm” quân sự có giá trị cả về thực tế (diệt sinh lực địch) và tâm lý, thì nhiệm vụ hỗ trợ nhân dân đấu tranh mở mảng mở vùng mà Bộ tư lệnh Miền giao cho, chúng ta sẽ không hoàn thành. Hoạt động chiến đấu mà không xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, từ yêu cầu chính trị nhất định thì hoạt động chiến đấu đó không có mục đích. Để các đồng chí cán bộ chỉ huy ra về vào thời điểm thích họp, an toàn, tôi tranh thủ trình bày tiếp cách thức tiến công đã được Bộ chỉ huy chung của lực lượng hợp thành thông qua. Ba Xoài, Vĩnh Trung ở cách xa nhau trên ba mươi cây số, nhưng chúng ta sẽ nổ súng cùng một thời gian. Khó khăn đã thấy, nhưng đánh theo kiểu đồng loạt tiến công như thế này có lợi nhiều. Trước hết về mặt tâm lý gây cho địch một ấn tượng là lực lượng “Việt cộng” đang đứng chân ở đây rất đông, đủ khả năng tiến công chúng trên toàn tuyến. Tâm lý này rất cần cho giai đoạn tiếp sau, như một hỗ trợ tinh thần cho mũi nổi dậy của quần chúng, có thêm thanh thế mà xốc tới. Lợi thế thứ hai là, đẩy dồn bọn chỉ huy quân sự đầu sỏ của địch ở thị trấn Tịnh Biên lúng túng trong việc điều động lực lượng đối phó; rất có thể gây nên tình trạng đâu đóng đấy, đâu đề phòng đấy, một thứ án binh bất động tự phát, có lợi cho ta rảnh tay diệt địch. Vẫn biết Ba Xoài và Vĩnh Trung là căn cứ hỗn hợp nhưng có nhiều sơ hở, nhất là lực lượng chiếm đóng ở đây là bọn biệt kích ác ôn rất chủ quan, ngạo mạn. Đó là thuận lợi để ta đánh thắng. Sau cuộc họp, tôi cùng Lan - tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 - xuống Ba Xoài kiểm tra lần cuối và kết quả điều nghiên. Tuy là mục tiêu do ba tiểu đoàn cùng đánh nhưng đã có kế hoạch điều nghiên thống nhất và phân công trách nhiệm rõ ràng, mỗi tiểu đoàn phụ trách đánh vào một hướng. Duy chỉ có hướng chủ yếu thì đang còn có ý kiến, chưa thật ngã ngũ. Ở đây có vấn đề về nhận thức thế nào là hướng chủ yếu và tiểu đoàn nào cũng muốn giành cho được cái hướng đó thuộc về mình. Đây là chiều hướng tốt, biểu hiện ý chí của các chiến sĩ đặc công, không sợ gian nguy, nhận khó khăn về mình. Nhưng đứng về lãnh đạo, chỉ huy cũng phải làm rõ, để tạo nên phấn khởi và nhất trí cao trước khi vào trận. Chỉ nghe trình bày, bên nào cũng có cái lý, rất khó phân giải. Tôi quyết định đêm nay cùng với các đồng chí tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 5 đi thực địa kiểm tra lần cuối, kết họp giải quyết ổn thỏa nên giao hướng chủ yếu cho tiểu đoàn nào đảm nhiệm. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:23:19 am Vừa đến nơi, mới chập tối khoảng bảy giờ mà từ hàng rào ngoài chúng tôi đã nghe rõ tiếng nói cười ồn ào, cả tiếng văng tục, thề độc từ trong căn cứ phát ra. Thì ra lính địch đang nhậu nhẹt và chơi cuộc đỏ đen. Được Mỹ - ngụy cưng chiều, được lính bảo an dân vệ sợ nể, bọn biệt kích ở đây sau mỗi lần đi gây tội ác, của cải do cướp bóc, trấn lột mang về cộng với cấp trên hậu thưởng, chúng nhậu nhẹt xả láng thâu đêm. Giờ này trong đó đang ồn ào, sát phạt nhau, chắc là chúng vừa đi gây tội ác về khi chiều. Không muốn nghe mà vẫn phải nghe, cái âm thanh bẩn thỉu, tục tĩu xa lạ ấy cứ ào đến bên tai. Nhưng nghe rồi lại căm thù và quyết tâm tăng lên. Đây chính là cái “đinh” theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen cần phải nhổ.
Sau khi đã xem lại hình dạng địa hình, hướng tiến công của từng tiểu đoàn, chúng tôi lặng lẽ rút ra. Ngay lúc đó tôi nghiêng ý kiến của mình về hướng tiểu đoàn 5, mặc dầu ở hướng này muốn đánh vào sở chỉ huy của địch phải qua một đoạn đường vòng, nhưng khi đã lọt vô trong thì cái đoạn vòng khoảng hai trăm mét này có nghĩa lý gì. Quan trọng là lúc mở đầu mà thuận lợi thì đuôi sẽ lọt. Khi bóc vỏ mới căng, làm không gọn để nham nhở thì rất gay go, đẻ số; lúc đó có chữa cháy cũng không kịp. Khó khăn này hướng tiểu đoàn 5 có thể khắc phục được, vì phía trước mép rào ngoài cùng là một bãi sình lầy, địch coi đây là vật cản lý tưởng, “Việt cộng” khó vô nổi, nên chúng bố phòng có sơ sài, phía trong chỉ có ụ súng, không có lô cốt kiên cô như hướng tiểu đoàn 3 phụ trách. Lại nữa, cũng phải tính đến số thương vong vượt kênh của tiểu đoàn 5 không phải ít nhưng so với tiểu đoàn 3 thấp hơn. Có nghĩa là quân số tiểu đoàn này tham gia trận đánh khá hơn tiểu đoàn 3. Thực lực cũng là điều không thể thiếu khi nghiên cứu, quyết định giao cho đơn vị nào là nhiệm vụ chủ yếu trong chiến đấu. Tôi đã trình bày chính kiến trên đây của mình sau khi đi kiểm tra công việc điều nghiên lần cuối trước cuộc hội ý với các tiểu đoàn trưởng tham gia trận tiến công Ba Xoài. Các đồng chí đều nhất trí với quyết định của tôi - giao cho tiểu đoàn 5 làm nhiệm vụ chủ yếu trong trận đánh này là hoàn toàn chính xác. Như thế là kế hoạch tiến công căn cứ Ba Xoài đã ổn thỏa. Là hai căn cứ hỗn hợp, hai trung tâm huấn luyện biệt kích, nhưng Ba Xoài và Vĩnh Trung cũng có những đặc điểm khác nhau. Ba Xoài chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ huấn luyện biệt kích và chỉ huy lực lượng biệt kích hoạt động quanh vùng. Vĩnh Trung còn thêm huấn luyện, cải huấn - “gia cố", "hấp” lại tinh thần những bọn biệt kích đã sa sút không còn khát máu hung hăng nữa. Bộ tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn đã đưa xuống đây gần mười tên sỉ quan “mũ nồi xanh” (biệt kích Mỹ) để trực tiếp làm công việc “hấp” lại tinh thần bọn biệt kích ngụy đã bị sa sút. Vì thế nhân dân ở đây đã đặt cho cái căn cứ Vĩnh Trung này một cái tên rất châm biếm mà nói rõ nhiệm vụ: ‘Trại hấp biệt kích”, mà Mỹ gọi là trại B.20. Từ Ba Xoài, tôi đã trở lại sở chỉ huy để hội ý quyết định ngày giờ N và giờ G cụ thể. Lúc này đã là 26 tháng 3. Đội hình lớn của chiến dịch vẫn nằm rải trên các hang núi vỏ Bo Hong coi như không có chuvện gì xảy ra. Địch ở đáy rất chủ quan. Hàng ngày máy bay tâm lý chiến vẫn vè vè trên đầu, phát loa kêu gọi “cán binh cộng sản quay về với chính nghĩa quốc gia”, với giọng điệu của kẻ có sức mạnh trong tay. Trước hết chúng tôi đề nghị các đồng chí tỉnh ủy An Giang, huyện ủy Tịnh Biên và Tri Tôn đưa các lực lượng vũ trang địa phương thuộc quyền mở một đợt tập kích đồng loạt vào các vị trí dịch ở núi Két, núi Dài Nhỏ, Thái Sơn, Túc Xoài quanh khu Bảy Núi, cả chi khu quân sự Tịnh Biên, Nhà Bàng. Thời gian có thể tiến hành ngay từ hôm nay, kéo dài trên dưới một tuần (hoạt động này nhằm nghi binh, làm phân tán sự phán đoán của địch, nhưng khi họp mở rộng, trao đổi chung, chúng tôi không nói ý này). Đến khi họp hẹp, chỉ còn tôi với các anh trong Bộ tư lệnh sư đoàn 1, chúng tôi mới bàn cụ thể. Sau khi kiểm điểm tình hình chuẩn bị mọi mặt xem như đã hoàn hảo, các đơn vị đã sẵn sàng khí thế thi đua lập công được củng cố, chúng tôi quyết định lấy đêm 28 tháng 3 là đêm mở đầu đợt hoạt động quân sự, và điểm tiến công đầu tiên là hai căn cứ Ba Xoài và Vĩnh Trung. Tức là ba ngày sau khi lực lượng vũ trang địa phương mở đợt tập kích quấy rối đẩy địch tới mức “nhiễu” về phán đoán, mất phương hướng về đối phó, chậm nữa là không có lợi. Nhưng phải giữ bí mật đến cùng, mãi trưa 28 chúng tôi mới mở lệnh đến chỉ huy trưởng các tiểu đoàn và quy định rõ: Chiến sĩ chỉ biết ngày N cụ thể trước khi rời địa điểm tập kết hành quân đến mục tiêu. Cùng lúc chúng tôi nhận được điện của trên thông báo, trung đoàn 10 đặc công trực thuộc Miền do anh Tư Thanh chỉ huy cùng lên đường với chúng tôi về chi viện cho mặt trận Tây Nam Bộ, vượt kênh Vĩnh Tế ở đoạn dưới để xuống miệt Rách Giá, U Minh hoạt động phối họp với chiến dịch mở vùng mở mảng ở khu Bảy Núi - An Giang, đã cùng với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động tốt, súng dưới đó đã nổ giòn giã vào các chi khu quân sự Gò Quao, An Biên... Sự phối hợp chiến trường đúng lúc của những đơn vị bạn đã động viên, nhắc nhở và như một thôi thúc khiến chúng tôi không thể chần chừ. Thời cơ là một yêu cầu, một thôi thúc của các điều kiện khách quan và chủ quan đã chín muồi, rất chính xác, chậm nhanh, sớm muộn đều không thể được. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:27:27 am Trận tiến công vào hai căn cứ Vĩnh Trung và Ba Xoài chỉ còn bốn tiếng nữa là nổ súng. Các đơn vị đang rời núi đi về phía các mục tiêu được phân công. Giản đơn và dễ hiểu thế thôi, nhưng có được cái đêm nay đâu phải dễ, mà đã phải trải qua thời gian chuẩn bị không ngắn. Tính từ buổi anh Lê Đức Anh đến tiễn đưa đơn vị rời Gò Dầu Hạ (Tây Ninh) xuống đây, đã ngót ba tháng lao vào chuẩn bị với bao vất vả, không phải chỉ bằng mồ hôi mà cả máu nữa, để có được trận đánh mà chúng tôi tính đã không thể kéo dài trước khi bình minh ửng hồng.
Theo sự phân công của Bộ chỉ huy chung, tôi đi với tiểu đoàn 7 hướng Vĩnh Trung. Đợt hoạt động phối họp của các lực lượng vũ trang địa phương quả là có hiệu nghiệm. Cho đến hôm nay, trước lúc đội hình chiến đấu đặc công xuất phát chia thành hai cánh quân đi theo hai ngả, hướng vào mục tiêu đã được phân công, thì chúng tôi lại được các đồng chí địa phương đến báo cáo cho biết địch vẫn cho rằng “Việt cộng” không còn hơi sức đánh lớn, chỉ quấy rối nhỏ lẻ. Đây là một sự “cài thế” về tinh thần, khiến địch không thoát ra khỏi cái tư duy chỉ biết mình - một tư duy rất có lợi cho ta. Ở Vĩnh Trung, chúng tỏi quyết định bỏ hướng đối diện với vỏ Bo Hong, vì địch cho rằng nếu ta từ núi xuống sẽ từ hướng này mà đánh vào căn cứ nên chúng càng tăng cường đề phòng, canh gác cẩn mật. Vì vậy chứng tôi phải cho đơn vị vòng lên hướng bắc và đông bắc đánh xuống. Rõ ràng đường tiềm nhập phải kéo dài, bộ đội thêm mệt mỏi. Nhưng không có cách nào khác. Hướng chủ yếu của trận đánh giao cho đại đội 1 được tăng cường, căn đúng điểm “giáp môi” nơi mà chúng tôi đã lấy đó đột nhập vào căn cứ địch trong thời kỳ điều nghiên. Kết quả của công tác chuẩn bị đã phát huy tác dụng rất rõ trong giờ phút này. Chúng tôi đến mép hàng rào ngoài cùng vào lúc mười giờ khuya để kịp khởi sự vào đúng giờ G quy định là 12 giờ. Nhưng công tác cắt rào, gỡ mìn, khá phức tạp, nhất là ở hướng bắc, nên giờ G thực tể chậm mất 30 phút. Bị bất ngờ cho đến phút chót, kẻ địch hoàn toàn không kịp trở tay khi biết ta vô trong. Ở hướng chủ yếu, ta đánh thẳng vào sở chỉ huy biệt kích và khu nhà bọn cố vấn Mỹ, các hướng thứ yếu đánh vào khu pháo binh, phá bốn khẩu pháo 105, đốt các nhà lính và khu kho xăng, ngọn lửa bốc cao sáng cả vòm trời. Đêm 28 rạng 29 tháng 3 năm 1970 là một đêm đầy hứng khởi đối với chúng tôi. Tất cả đều diễn ra theo đúng kế hoạch, Vĩnh Trung nổ súng trước làm nhiệm vụ pháo lệnh cho Ba Xoài và mười một hoạt động quân sự khác diễn ra trong đêm ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Một chiến thắng giòn giã mà ngọt êm. Cả Ba Xoài và Vĩnh Trung đều ngổn ngang xác giặc, sô sống sót bỏ chạy vào các đồn bót khác trong vùng hoặc lẩn trốn trong các ấp chiến lược. Cờ cách mạng tung bay trên căn cứ Ba Xoài trọn một ngày, trên căn cứ Vĩnh Trung vừa đúng nửa tháng. Mười lăm ngày tuy ngắn, nhưng với chúng tôi như một giấc mơ quá sức. Diệt địch đã khó, chốt giữ lại càng khó hơn. Vậy mà chúng tôi đã thực hiện được cả hai mục tiêu ấy ở một chiến trường sâu, bốn bề đều có địch, trong thế trận cài răng lược, xa căn cứ, xa sự chi viện của Miền. Hết rồi những vất vả gian nan, sống chui lủi giấu mình; hết rồi những ngày ăn đói nhịn khát, những giờ phút sống căng thẳng trên các gộp đá ở núi vỏ Bo Hong để chống địch vây quét, chịu đựng những trận đánh phá hủy diệt của bom đạn địch; hết rồi phải đối phó, phải đề phòng bọn biệt kích, thám báo lẻn lên nghe trộm, đánh lén ta ở các hang đá, dò la nơi ta đóng quân để chỉ điểm cho bom đạn địch giội xuống. Bây giờ đây chúng tôi sống công khai như một đơn vị chiến thắng, đàng hoàng vào tiếp quản vùng giải phóng, đang cùng các đồng chí địa phương làm nhiệm vụ “quân quản” một vùng sạch bóng quân thù, bộn bề những công việc xây dựng chính quyền, đoàn thể, lo tính công việc sản xuất và đời sống của nhân dân. Từ chiến sĩ đặc công, chúng tôi chuyển sang làm công tác dân vận, lo củng cố phong trào, xây dựng cơ sở... Mười lăm ngày chiếm giữ làm chủ căn cứ Vĩnh Trung là mười lăm ngày chúng tôi được sống công khai trong tình thương mến, đùm bọc của nhân dân, được chứng kiến tinh thần phấn khởi đến ngỡ ngàng của nhân dân sau khi đã đồng loạt nổi dậy phá banh các ấp chiến lược, diệt bọn tề điệp ác ôn, về lại thôn ấp, được sống tự do, đi lại tự do, tự mình định đoạt các công việc đồng áng. Chiến thắng Ba Xoài, Vĩnh Trung và sự hiện diện của chúng tôi ở đó đã có sức gây thối động mạnh mẽ cả miền Trung Nam Bộ, địch thì lúng túng hoang mang, nhân dân thì thừa thắng xốc tới, nổi dậy đấu tranh, làm chủ hai phần ba tổng số thôn ấp, tạo ra một vùng làm chủ rộng lớn, liên hoàn nối từ An Giang qua Vị Thanh xuống đến Rạch Giá, tạo thêm cái thế vững chắc cho cần cứ kháng chiến của ta đã được xây dựng ở U Minh, Rạch Giá và các huyện của vùng đất mũi Năm Căn (Cà Mau). Địch muốn phân tuyến, với bao thủ đoạn tinh vi nham hiểm, định hất lực lượng vũ trang ta sang bờ bắc kênh Vĩnh Tế. Chúng muốn biến con kênh này thành trận tuyến phòng ngự bất khả xâm phạm, thì ngược lại, những cuộc vượt kênh Vĩnh Tế của các lực lượng vũ trang ta vẫn tiếp tục. Vĩnh Tế vẫn là hướng của những cuộc hành quân vu hồi của lực lượng vũ trang ta đánh vào phía sau trận tuyến phòng thủ chiến lược của địch. Mỗi lần vượt kênh tuy có mất mát hy sinh, nhưng chúng ta lại diệt được nhiều sinh lực địch, lại cắm chốt, lại hỗ trợ thêm nhân dân đấu tranh, tạo ra một thế đứng vững chắc thêm lên, một hình thái cài răng lược cứ rộng ra, ngay giữa vùng chiến thuật mà địch đặt ra nhiều hy vọng cả về kinh tế và quân sự cho toàn bộ âm mưu xâm lược miền Nam Việt Nam của chúng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:30:48 am DÒNG KỂ SAU CÙNG Như thế là những gì được chứng kiến về quá trình xây dựng, chiến đấu của bộ đội Đặc công và cảm xúc của bản thân tôi đã kể cùng bạn đọc. Nhưng nếu kết thúc ở đây tôi vẫn phân vân, như có điều gi đó chưa kể hoặc kể chưa hết những suy nghĩ tâm đắc của mình. I Thời gian có thể làm mờ phai sự kiện, nhưng chính nhờ có độ lùi của thời gian mà sự kiện lịch sử được sống lại, giúp ta nhận thức về nó một cách đầy đủ, hoàn thiện và bản chất hơn. Cứ mỗi lần kỷ niệm ngày sinh của Đảng quang vinh, của Bác Hồ vĩ đại, ta lại có thêm hiểu biết mới về sự kiện này, tình yêu Đảng, lòng thành kính và sự ngưỡng mộ vị lãnh tụ anh minh của dân tộc, cả lòng tự hào nữa trong mỗi người lại được củng cố, vươn tới. Cứ mỗi lần kỷ niệm ngày truyền thống binh chủng là mỗi lần cán bộ, chiến sĩ chúng tôi hiểu thêm những nét hào hùng và cả những bước đi đầy chông gai trên con đường tới đích chiến thắng, khiến tình cảm gắn bó với binh chủng và tình đồng đội như có thêm chất keo mới khó rời, tạo nên một phấn khởi, tự hào mới, sâu hơn, thấm đậm hơn trong tâm khảm của mình. Thời điểm khởi nguyên của binh chủng được bắt đầu từ những trận chiến đấu của bộ binh, của dân quân du kích theo một cung cách ngổ ngộ, không có bài bản sẵn mà chỉ nảy sinh từ thực tiễn chiến đấu ngay từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, rồi phát triển mạnh mẽ, lan nhanh, từ Đông Nam Bộ nhân ra Cực Nam Trung Bộ, Khu V để hòa chung với các trận đánh cùng một cung cách như thê ở chiến trường Bắc Bộ, đã thực sự góp phần làm phát triển phong phú các hình thức tác chiến của chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vẫn biết lối đánh đặc công là kế thừa truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc. Lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, nhưng chỉ có đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và sáng tạo của Đảng, lối đánh đó mới có điều kiện phát triển rộng lớn, nâng lên thành một nghệ thuật trong nền khoa học nghệ thuật quân sự của dân tộc ta, do đó lực lượng đặc cổng mới có bước phát triển nhảy vọt về tổ chức, đạt tới sự chững chạc và bề thế hôm nay. Dũng sĩ Yết Kiêu (thời Trần) đã bí mật lọt vào căn cứ thủy quân địch, lặn xuống nước đục thuyền, làm đắm nhiều thuyền chiến, tiêu diệt nhiều sinh lực quân xâm lược Mông - Nguyên, có lần tự tay ông đã bắt sống tướng giặc. Tướng quân Trần Nguyên Hãn chỉ huy hai trăm binh sĩ dưới quyền, bí mật hành quân ban đêm, đến sát chân thành Tam Giang (Việt Trì ngày nay), chọn chỗ thành cao nhất, nơi địch không chú ý đề phòng, cởi trần bắc thang lọt vô nội thành, tỏa về lán trại nơi quân giặc đang ngủ say mà tiêu diệt chúng; bản thân Trần Nguyên Hãn đích thân dẫn một cánh quân đánh thẳng vào mục tiêu chủ yếu - nơi ở của tướng giặc, khiến quân địch không kịp trở tay... Thật là chói lọi một đỉnh cao của sự kết hợp hài hòa giữa cách đánh đầy sáng tạo với tinh thần dũng cảm tuyệt vời, vô song, tất cả vì sự tồn vong của đất nước, của dân tộc. Nhưng do hạn chế của lịch sử lúc đó, các chiến tích đặc biệt ấy không được phát triển, nhân rộng, mặc dầu thực tiễn lúc bấy giờ vẫn rất cần có những trận chiến đấu theo cách làm ăn đặc biệt này. Sự ra đời của binh chủng đặc công là do yêu cầu của thực tiễn chiến đấu đáp ứng sự phát triển của nhiệm vụ cách mạng nhưng cũng có nét riêng đặc biệt. Đêm 18 rạng 19 tháng 5 năm 1948, du kích Tân Uyên thực hiện trận đánh đặc công vào khu vực phòng thủ của địch ở cầu Bà Kiên, lấy thành tích mừng sinh nhật Bác. Và cũng chính cái ngày lịch sử ấy - 19 tháng 5 năm 1948, đơn vị đầu tiên được anh em gọi cái tên là Đặc công. Nếu sự manh nha trên đây được thôi thúc bởi lòng ngưỡng mộ một vị Cha già dân tộc, thì sự ra đời và trong bước đi tới của binh chủng là không thể tách rời sự chỉ đạo tiên đoán của Bác trong tác phẩm “Cách đánh du kích” viết năm 1941. Ngày ấy trong tác phẩm quân sự này, Người khái quát “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc” và khẳng định sự cần thiết phải có một đội quân đánh theo cung cách “thiên biến vạn hóa, xuất quỷ nhập thần”. Như vậy là từ sớm, Bác kính yêu của chúng ta đã rất quan tâm đến việc hình thành một phương thức tiến công “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quân ít mà tinh còn hơn là đông mà chất lượng không cao), xem đó như một trong những cách đánh đặc biệt không thể thiếu của một đất nước nhỏ, nghèo nhưng giàu lòng yêu nước và truyền thống bất khuất đối mặt với kẻ thù xâm lược có ưu thế về tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:33:52 am Tư tưởng quân sự của Bác Hồ đã soi đường vào tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng, của quân đội nhân dân Việt Nam trong đó có lực lượng đặc công chúng tôi.
Từ rất sớm, Bác đã nhìn rõ tiền đồ của quân đội ta rất rực rở, vẻ vang. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác nói: “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chúng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta”. Bác còn dành không ít trí tuệ và tình cảm của mình cho những trận chiến đấu tuy lực lượng ít nhưng biết kết hợp khéo léo giữa dũng và mưu mà đạt hiệu quả cao. Danh hiệu “đặc công” được Bác nói đến từ mùa thu năm 1953 tại căn cứ địa Việt Bắc. Người được vinh dự đón nhận danh hiệu này là đồng chí Nguyễn Văn Đôi và Trần Thắng Nê - hai chiến sĩ đặc công của Đông Nam Bộ Nê đã hy sinh tại mặt trận Mỏ Vẹt (Tây Ninh) hồi năm 1970 nhưng Nguyễn Văn Đôi còn. Nhờ đó mà tâm khảm chúng tôi có được một ký ức tuy gián tiếp nhưng khó quên tình cảm vị Cha già dân tộc đã vun đắp cho sự kết trái sau này của binh chủng ngay khi hạt giống mới nhú mầm. Năm tháng trôi qua, đă trên một phần tư thế kỷ, vậy mà khi kể về sự kiện này trong buổi hội thảo về lịch sử và truyền thống của binh chủng, trung tá Nguyễn Văn Đôi vẫn còn mới nguyên những xúc động về cái giây phút mà anh không nghĩ tới nhưng đã là sự thật, trở thành một kỷ niệm sâu sắc nhất của Đôi, làm thức tỉnh nhận thức, soi sáng hành động cho anh vượt qua bao trở ngại chông gai cùng đồng đội chiến đấu... Nguyễn Văn Đôi kể: "... Tháng 6 năm 1953, sau khi hoàn thành nhiệm vụ phổ biến kinh nghiệm chiến đấu đặc công ở chiến trường Đông Nam Bộ, tôi và Trần Thắng Nê được lệnh của đồng chí Tham mưu trưởng Liên khu V sẽ đi cùng đoàn chiến sĩ thi đua của Liên khu ra Việt Bắc họp liên hoan mừng công. Đầu tháng 8, chúng tôi đến Việt Bắc, nằm ở trạm tiếp đón của Bộ Tổng tư lệnh đặt ở Quán Vuông (Đại Từ). Mới có bốn ngày nằm chờ mà chúng tôi thấy bồn chồn, đứng ngồi không yên, mặc dầu sống ở đây rất thoải mái, khỏi lo địch càn, địch vây. Sang ngày thứ năm thì anh Toàn, tỉnh đội Khánh Hòa làm trưởng đoàn thông báo: Hôm nay có cấp trên ra thăm, tất cả chúng ta phải chuẩn bị, sắp xếp nơi ăn, ngủ gọn gàng, sạch sẽ, vệ sinh. Nói xong anh phân vị trí của từng người để đón cấp trên, để ai cũng được nhìn, được nghe cấp trên nói chuyện. Với tôi và Nê, anh bảo: - Hai anh giáo viên đặc công ngồi ở sát cửa mà cấp trên sẽ vào. Từ đấy chúng tôi càng hồi hộp chờ đợi. Bác đi ngựa đến. Nhưng vào đến nơi, chỉ khi Bác bỏ chiếc khăn trùm mặt ra, chúng tôi mới ngỡ ngàng sung sướng reo to: Bác Hồ! Tất cả chúng tôi đều đứng dậy kéo đến vây quanh Bác, hô vang: - Bác Hồ muôn năm! - Bác Hồ muôn năm! Bác tươi cười vẫy tay chào đón mọi người. Chúng tôi hướng về Bác vỗ tay hoan hô vang cả khu lán nhưng vẫn trong trật tự và nghiêm túc. Bác lần lượt đi đến từng người, vừa chúc sức khỏe, vừa có ý để tất cả chúng tôi ai cũng nhìn thấy Người. Tình đầm ấm cha con lan tỏa trong căn lán, hết những ngăn cách phút ban đầu. Chúng tôi xích gần bên Bác để được ngắm nhìn kỹ ánh mắt, chòm râu của Bác; từ đôi dép cao su Bác đi, đến bộ quần áo Bác mặc, cái khăn mặt Bác vắt vai, cái mũ cứng Bác đội, tất cả như rất lạ mà giản dị, quen thuộc. Câu đầu tiên Bác hỏi - Hai chú chiến sĩ đặc công ở Khu V đâu? Anh Toàn trưởng đoàn lễ phép báo cáo: - Dạ, thưa Bác! - Vừa nói anh vừa giơ tay chỉ ra phía cửa báo cáo tiếp - Hai chiến sĩ đặc công đang ngồi ở hàng đầu. Bác tươi cười vẫy tay: - Hai chú lại gần đây, đến gần chỗ Bác. Anh Toàn lại tiếp: - Dạ thưa Bác, hai đồng chí đều quê ở Nam Bộ. Tôi và Nê vừa cảm động vui sướng, vừa rụt rè bước đến gần bên Bác. Bắc bắt tay từng người rồi giang rộng hai tay ôm hai chứng tôi như người cha ôm hai con đi xa lâu ngày mới về. Bác âu yếm nhìn chúng tôi, lật mũ nồi đen chúng tôi đang đội, cười vui vẻ: - Tốt! Đầu để tóc ngắn thê này mới đúng là bộ đội. Khỏe mạnh, gọn gàng là những yêu cầu cần thiết của chiến đấu. Tôi vừa xúc động vừa phấn khởi thưa lại với Bác: - Dạ thưa Bác, các chiến sĩ đặc công đều phải cắt tóc ngắn ạ. - Vì sao? - Bác hỏi lại. - Dạ thưa Bác để ngụy trang tránh được sự phát hiện của địch trong lúc tiềm nhập luồn vào đồn giặc. - Tốt! - Bác nói tiếp - Các chú cần phổ biến kinh nghiệm này cho các chiến sĩ đặc công khác cùng làm. Tôi và Nê đứng bên Bác nhưng tim vẫn đập nhanh vì chưa hết xúc động. Cả căn lán cũng vậy, ai cũng có chung tâm trạng như tôi. Không khí đón Bác cứ râm ran, đầm ấm. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:35:29 am Bác nhìn kỹ hai chúng tôi rồi căn dặn tiếp: Các chú đã hoàn thành nhiệm vụ phổ biến kinh nghiệm ở Khu V, ra đây các chú cần tiếp tực làm tốt việc đó. Cụ thể thế nào sẽ do Bộ Tổng Tham mưu hướng dẫn. Làm xong nhiệm vụ lại phải tiếp tục học tập nâng cao trình độ.
Sau đó Bác nói chuyện với Đoàn chiến sĩ thi đua Liên khu V... Ba mươi phút trôi đi sao mà nhanh thế. Chúng tôi muốn thời gian chậm lại để được gần Bác lâu hơn nữa, được nghe Bác ân cần chỉ bảo, được nhìn kỹ Bác hơn. Bác nhìn chứng tôi lần cuối sao mà trìu mến và âu yếm thế, khiến chúng tôi càng xúc dộng không nói lên lời. Bác dặn trước khi tạm biệt: - Mỗi cháu phải viết thư cho Bác nhé! Thực hiện chỉ thị của Bác, ngày hôm sau các anh ở Cục tác chiến cho người ra đón chúng tôi vào cơ quan làm việc. Mọi vấn đề đã được ấn định, chúng tôi đến nơi là các anh trong Cục tác chiến giao nhiệm vụ ngay. Chiều hôm đó chúng tôi hành quân luôn, đi thẳng xuống Phòng tham mưu Quân khu Việt Bắc lúc đó đóng ở xã Dân Chủ, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Anh Thế Hùng, trưởng phòng tham mưu quân khu như đã được báo trước, khi chúng tôi đến, anh vào việc luôn. Tháng 12 năm 1953, tôi và Nê được giao nhiệm vụ về vùng Việt Yên (Bắc Giang) vừa phổ biến kinh nghiệm đánh đặc công của Đông Nam Bộ vừa cùng các lực lượng vũ trang ở đây tổ chức đánh thử nghiệm tháp canh Như Thiết và Mỹ Độ theo cách đánh đặc công. Sau khi đánh sập tháp canh Như Thiết, tôi và Nê được Quân khu gọi về để tập trung lên Bộ tham gia chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Cuối tháng 1 năm 1954, chúng tôi tới mặt trận Điện Biên Phủ, được phân về Hồng Cúm. Tại đây chúng tôi được anh Nam Long và anh Lê Chưởng chỉ huy sư đoàn 361 giao nhiệm vụ cụ thể là huấn luyện gấp cho một số anh em đã có thành tích chiến đấu thuộc các đơn vị của sư đoàn về kỹ thuật tiềm nhập - luồn sâu, phục vụ cho nhiệm vụ đánh các chốt phòng ngự của địch. Tôi và Nê chia nhau huấn luyện cho 16 anh em, cả thẩy là bảy ngày. Sau đó anh Nam Long giao nhiệm vụ cho tôi và Nê chỉ huy số anh em này đánh vào trận địa phòng ngự của địch đối diện với ta. Do áp dụng tốt kỹ thuật tiềm nhập kiểu đặc công, chúng tôi đã đột nhập vào được hai mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy và trận địa xe tăng của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, trận địa phòng ngự phía tây của tập đoàn cứ điểm của địch bị uy hiếp...” Chúng tôi đã làm theo lời Bác, thực hiện sự quan tâm của Bác với nhiệm vụ xây dựng, phát triển và chiến đấu của đặc công ngay từ những ngày còn kháng chiến gian khổ quyết liệt đó. Cảm động biết bao khi được biết Bác trăm công nghìn việc mà vẫn theo dõi bước đi ban đầu của binh chủng, giáo dục và động viên chúng tôi trong những công việc rất cụ thể. 14 năm sau đó Bác và Đảng đã chính thức quyết định xây dựng lực lượng đặc công thành một binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Độ lùi của thời gian càng xa, chúng tôi lại có thêm hiểu biết mới về tư tưởng chỉ đạo, về sự quan tâm của Bác - “Đặc công là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt” - mà Bác đã dành cho binh chủng; nghĩa vụ và trách nhiệm lại có thêm nội dung mới, nặng nề hơn, nhưng cũng tràn đầy phấn khởi và tự tin hơn. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:37:08 am II Những cảm xúc về lịch sử Binh chủng mà tôi có được để kể cùng bạn đọc trên kia là không tách khỏi cảm xúc của tôi đối với những con người - đồng đội đã từng sống chết có nhau, vui buồn có nhau những khi giáp trận. Bởi không có con người thì làm gì có sự kiện, có cảm xúc, có kỷ niệm tâm đắc? Và không có sự kiện nào vắng bóng con người. Ở đâu và bao giờ con người cũng vẫn là nguyên động lực thúc đẩy mọi biến thiên của lịch sử - xã hội. Binh chủng đặc công tuổi đời còn rất trẻ mà đã có một dung lượng sự kiện bộn bề với hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ, có chỗ đứng xứng đáng của mình trong “trận đánh ba mươi năm”. Điều này nói lên phẩm chất của người chiến sĩ đặc công là rất tốt đẹp: Chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội. Sẽ trở nên vô nghĩa và có tội với lịch sử khi kể về những chiến công đây đó của binh chủng trên các nẻo đường của Tổ quốc trong trận chiến trường kỳ mà không nhớ về, không biết ơn những dồng đội đã ngã xuống, có không ít người trở thành chiến sĩ vô danh, sẵn sàng quên mình khi đối mặt với quân thù. Cho đến bây giờ và chắc chắn còn một thời gian không ngắn, có những chiến công thật hiển hách của những chiến sĩ vô danh, vì một lý do nào đó mà chưa thể viết lên, chưa được ghi vào sử sách. Tôi tồn tại, lớn lên, đến hôm nay vẫn đứng trong đội ngũ của binh chủng là nhờ có sự hỗ trợ, sự nhắc nhở động viên của bao đồng chí, đồng đội năm xưa đã hợp lực cùng mình vượt qua những thử thách nghiệt ngã có lúc tưởng như không vượt nổi. Không có đóng góp nào, dù chỉ là nhỏ nhoi lại là của riêng mình, mà là kết quả của sự kết tinh, sự gắn bó công sức của đồng đội. Sức mạnh trí tuệ của binh chủng là sức mạnh của những con người ý thức được sự cộng đồng nghĩa vụ, cộng đồng trách nhiệm. Tách ra từng con người riêng lẻ, tuyệt đối hóa cái tôi trước hết là phi thực tế, dẫn tới những sai lầm khó tránh, khôn lường. Đã có lúc trong tôi, vì vết thương nhỏ nhưng hiểm nghèo khiển tôi tưởng phải giã từ đội ngũ. Nhưng nhờ có đồng đội cưu mang, chăm sóc, động viên, an ủi, tin tôi, dìu tôi cùng họ ra trận, tình đồng đội đã làm thành sức mạnh trong tôi để chiến thắng thương tật, vượt qua khó khăn về tư tưởng, cùng đồng đội tiến bước. Những thế hệ Bộ tư lệnh cũng là những con người - đồng đội có chỗ đứng xứng đáng trong đài hoa chiến thắng của binh chủng. Các anh đã góp phần đáng kể vào những chiến công, vào bề dày lịch sử của binh chủng. Sự trưởng thành của chúng tôi hôm nay, những bản lĩnh, phong cách vừa có cái chung vừa mang sắc thái riêng mà mỗi chiến sĩ đặc công thu được, không thể tách rời sự đóng góp của các anh. Các anh Nguyễn Chí Điềm, Nguyễn Anh Đệ, Nguyễn Văn Chi, Vũ Chí Đạo, Cao Pha, Nguyễn Đức Trúng, v.v... đã để lại trong tôi những kỷ niệm khó quên về ý chí vươn lên, về hoạt động tư duy quân sự, về tác phong làm việc. Từ những đơn vị khác nhau, môi trường thử thách khác nhau, tư chất và lịch lãm khác nhau, nhưng khi đă về đây, lại có chung một suy nghĩ, một trăn trở, một quyết tâm - làm việc hết mình cho binh chủng mau trưởng thành. Ai trong các anh cững bắt đầu bằng công việc nghiêm túc tìm hiểu chiều sâu tư tưởng, ý nghĩa thực tiễn của danh hiệu mà Bác Hồ đã tặng cho binh chủng: “Đặc công là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cô gắng đặc biệt”, để mà yêu mọi trọng trách được giao. Khi tư tưởng lớn của Bác Hồ thấm nhuần trong nhận thức thì mỗi anh lại tìm ra cho binh chủng mình một biện pháp vươn lên, một nỗ lực đi tới. Đại tá Nguyễn Văn Chi, nguyên phó tư lệnh Quân khu IV 1 người có uy tín ờ Mặt trận Tây Thừa Thiên những năm đánh Mỹ, đã hiểu đặc công qua chỉ đạo tiểu đoàn 3 đặc công do anh Trần Duy Thị làm tiểu đoàn trưởng (nay là đại tá, phó tư lệnh binh chủng) đánh trận Cô Ca Va tháng 2 năm 1969, khi được điều về giữ chức tư lệnh, đã làm việc hết mình cho sự lớn mạnh của binh chủng. Trung tướng Anh Đệ, nổi tiếng là một đồng chí chỉ huy có tài ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ hồi kháng chiến chống Pháp, một người có bản lĩnh vững vàng và giàu nghị lực, lại có cách vun trồng cho sự lớn mạnh mãi mãi xanh tươi của một binh chủng đầy sức sống bằng việc tập trung chỉ đạo tổng kết lịch sử chiến đấu của binh chủng, tạo ra một cơ sở khoa học để giáo dục truyền thống và chỉ đạo thực tiễn binh chủng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:38:18 am Và nổi lên tất cả là anh Nguyễn Chí Điềm, người tư lệnh đầu tiên của binh chủng.
Anh Nguyễn Chí Điềm - một đồng chí tư lệnh đã gây được tình cảm ưu ái của mọi người ở lòng nhân hậu, trung thực trong quan hệ đối xử; ở tinh thần say mê tận tụy trong công việc. Quê anh ở vùng Đức Thọ (Nghệ Tĩnh) nhưng anh lại gắn bó với mảnh đất cực Nam Trung Bộ - tỉnh Bình Thuận. Sự trưởng thành và những chiến công của anh gắn liền với sự ưu ái, đùm bọn của bà con cô bác tỉnh Bình Thuận. Nhưng cũng chính tại nơi đây đã để lại trong anh một vết thương lòng mãi mãi nhói đau! Ấy là vào giữa năm 1953, chị Nguyễn Thị Liên là vợ anh, một cán bộ của Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, đã vĩnh viễn xa anh vì trên đường đi công tác không may gặp phải cọp dữ ở một khu rừng Ô-rô nơi đặt căn cứ kháng chiến của tỉnh Bình Thuận. Anh Nguyễn Chí Điềm có “duyên nợ” với đặc công cũng rất sớm. Đầu năm 1952, ở cương vị tỉnh đội trưởng Bình Thuận, anh đã cho mở lớp huấn luyện kỹ thuật chiến đấu đặc công do ba cán bộ đặc công Đông Nam Bộ ra hướng dẫn. Sau một tháng học tập, anh cùng với các đồng chí cán bộ huấn luyện đặc công tổ chức cho một số học viên xuất sắc thực tập đánh đồn Ngã Hai, một cứ điểm có công sự kiên cố, do một tiểu đoàn Com-măng-đô đóng chốt, cách thị xã Phan Thiết bốn cây số về phía nam, kề ngay đường số 1. Trận thực tập thành công giòn giã, toàn bộ cứ điểm bị san bằng, gây không khí tin tưởng mạnh mẽ trong lực lượng vũ trang, tiếp cho phong trào kháng chiến của tỉnh có thêm khí thế. Sự khích lệ buổi ban đầu ấy như có lần hội thảo truyền thống của binh chủng, anh đã tâm sự trận thắng gây chuyển biến nhận thức mạnh mẽ trong tôi, tôi “say” với lối đánh này và cũng tự hào là Bình Thuận sớm biết phát triển mạnh mẽ hình thức tác chiếc đặc công trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 với các trận diệt gọn các cứ điểm quan trọng của địch ở Tánh Linh, Lương Sơn, Hương Sơn, góp phần làm phong phú lịch sử hình thành binh chủng đặc công trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp ở mảnh đất tận cùng của Cực Nam Trung Bộ...”. Lòng say mê ấy được dịp “bung ra” kể từ khi anh được giao trọng trách Tư lệnh Binh chủng (5-1967). Ngay từ buổi đầu nhận chức cho đến phút lâm chung, anh đã dồn hết tâm huyết của mình cho sự nghiệp xây dựng một binh chủng “đặc biệt” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bao quát mà cụ thể, thấy việc trước mắt nhưng không quên công việc cơ bản, lâu dài: Lo chỉ đạo sát sao phương hướng chiến đấu cho các chiến trường, nhưng anh vẫn tham gia đều đặn các cuộc thảo luận, tổng kết, các đợt diễn tập và thực tập thể nghiệm các vấn đề kỹ thuật, chiến thuật mới nảy sinh từ thực tiễn chiến đấu. Anh nhỏ con mà chắc khỏe, đi đứng khẩn trương dáng điệu nhanh nhẹn, hoạt bát, trong hoạt động tư duy của anh lúc nào cũng vừa say mê tâm đắc, vừa suy tư trăn trở - lo sao hiểu đầy đủ ý nghĩa danh hiệu “Đặc biệt” mà Bác Hồ tặng cho binh chủng và quán triệt nó vào trong hoạt động xây dựng và chiến đấu của binh chủng... Nghiêng mình trước hương hồn anh, chúng tôi hứa học tập và noi gương anh - một vị tư lệnh đã thực sự hết mình với binh chủng; đã góp phần xứng đáng vào thành tích chiến đấu của binh chủng, tạo thêm nền móng định hình của binh chủng trong cơ cấu chung của quân đội. Nếu con người tạo nên sự kiện, thì sự kiện đến lần nó lại là nguyên nhân tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa người với người, đan kết thành một chất mới, mang cái tên mộc mạc, dễ thương - tình đồng đội. Trong cái chung, tình đồng đội trong binh chủng đặc công có những nét riêng, được nảy sinh trong quá trình hoạt động chiến đấu thường là trong không gian hẹp, với số người không nhiều, ở trong điều kiện thật hiểm nghèo. Phải giấu mình, ém quân, lót ổ, phải tiềm nhập điều nghiên, phải luồn sâu hoàn thành nhiệm vụ với yêu cầu thật lớn: Phải đảm nhiệm công việc của cả lực lượng không quân nhưng không có máy bay, của hải quân nhưng không có hạm tàu... Trong những hoàn cảnh nghiệt ngã của cuộc chiến đấu vì mục tiêu chung - giải phóng đất nước, đã tạo nên tình đồng đội của các chiến sĩ đặc công có những gắn bó kỳ lạ, làm thành sức mạnh để chiến thắng kẻ thù, để giúp nhau giải quyết những vướng mắc, những xung đột từ cuộc sống hàng ngày, đưa lại cho nhau một nhận thức mới, một thanh thản và tự hào mới. Tình đồng đội sẽ tồn tại mãi mãi trong thời gian, cùng binh chủng, cho cả những người đã rời khỏi đội ngũ, sẽ mãi mãi là sức mạnh giúp ta đi tới. Xây dựng và chăm sóc tình đồng đội thiêng liêng đó đã trở thành một truyền thống của binh chủng, là một việc làm không thể thiếu của tất cả chúng ta và các thế hệ kế tiếp. Tiêu đề: Re: Nhiệm vụ đặc biệt Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2016, 10:40:09 am III Một vinh dự lớn là binh chủng sớm có mặt từ những ngày đầu đánh Pháp để rồi có mặt đông đảo hơn, rộng khắp hơn trong trận chiến cuối cùng chống quân Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai - cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc chiến đấu suốt 30 năm ròng. Cong đường đã đi với những thử thách đầy chông gai nhưng là con đường đầy vẻ vang. Một binh chủng trẻ về năm tháng, nhỏ bé về cơ cấu và quy mô tổ chức lực lượng mà có tới 67 đơn vị, 134 cá nhân được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân. Thật là một con số rất đỗi tự hào. Những gì mà binh chủng làm được hôm qua thì vẫn rất cần cho hôm nay. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cùng nghĩa vụ quốc tế đang đòi hỏi binh chủng nỗ lực vươn lên và đáp ứng. Tự hào về chặng đường đã đi, nhận thức về cội nguồn, quý trọng, nâng niu, tâm đắc với cái đẹp của quá khứ là biểu hiện của lòng yêu lịch sử, yêu đất nước, yêu dân tộc mình. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì trở thành hoài cổ, chẳng những không giúp ích gì cho hiện tại mà có khi còn cản trở cho ngày mai đi tới. Phải luôn luôn xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng của Đảng, nhiệm vụ của quân đội mà suy nghĩ về nhiệm vụ binh chủng. Rõ ràng chúng tôi đang cùng toàn quân toàn dân đứng trước những nhiệm vụ nặng nề vì ngày mai, cho ngày mai. Công tác đảng - công tác chính trị sẽ phải làm gì để toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong binh chủng ngày càng quán triệt sâu sắc danh hiệu “đặc biệt” mà Bác đã trao? Bởi đây là nhiệm vụ bao trùm, xuyên suốt, là tư tưởng soi sáng cho bước đi của binh chủng. Không ngừng làm rõ nội dung “đặc biệt” thể hiện cụ thể ở công tác đảng - công tác chính trị là gì, làm như thế nào, đã đang và mãi mãi là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, của các cán bộ chính trị của binh chủng đặc công, như Bác Hồ dạy “chữ đặc biệt quán xuyến tất cả, từ lúc tập luyện cho đến khi chiến đấu cũng như lúc về”. Việc tổng kết về xây dựng và chiến đấu của binh chủng, đặc biệt những trận chiến đấu thắng lợi trong đánh Mỹ, để phân tích bình giá xem cái gì còn thích họp, điều gì cần nâng lên để phù họp với yêu cầu mới. Bước đường phát huy sức mạnh của binh chủng không chỉ ở các công việc cải tiến xử lý về công tác kỹ thuật chiến thuật, về trang bị, vũ khí, còn đồng thời phải trên cơ sở đẩy mạnh các sinh hoạt hội thảo khoa học, các hội nghị tổng kết chuyên đề, tổ chức diễn tập thực nghiệm, mà tiến hành xây dựng thành một hệ thống nguyên tắc lý luận về nghệ thuật tác chiến đặc công cho tác chiến độc lập và cho tác chiến họp đồng binh chủng trên quy mô chiến đấu, chiến dịch, chiến cuộc với các loại hình chiến đấu tiến công, phản công và phòng ngự. Đây là những hoạt động cơ bản không thể thiếu vừa nhằm phát huy truyền thống, vừa tạo nhân tố không thể thiếu cho nhiệm vụ xây dựng binh chủng ngày càng lớn mạnh đủ sức hoàn thành và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngày mai. Với tinh thần đó, chúng tôi đang nghiêm túc chuẩn bị kỷ niệm 20 năm ngày thành lập binh chủng (19-3-1967 - 19-3-1987). Đây là một dịp để nhận biết về mình, để hướng về phía trước mà vươn tói. HẾT |