Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:27:36 pm



Tiêu đề: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Bảy, 2016, 10:27:36 pm
        
        - Tên sách: Đi xa ngoảnh lại
        - Tác giả: Nguyễn Công Huy
        - Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Văn học
        - Số hóa: Giangtvx

        - Thông tin thêm: Là  một phó trung đoàn trưởng quyền phụ trách một trung đoàn phi công tiêm kích, Nguyễn Công Huy kể lại những năm tháng gian khó xây dựng và trưởng thành của của trung đoàn tiêm kích 931 Yên Bái.

        Nguyễn Công Huy cũng là thành viên trong diễn đàn, có nickname là Phicôngtiêmkích. Các bạn có thể tìm hiểu thêm trong các topic mà ông thành lập và chủ trì. Có thể trao đổi trực tiếp với tác giả ở: http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=29092.0

        MỤC LỤC

        Lời nói đầu

        Chương một     “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
        Chương hai        Lạc quan vượt khó
        Chương ba        Trưởng thành
        Chương bốn       Ký ức về những người đã mất
        Thay cho lời kết

        Lời bạt

(https://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=31677.0;attach=23198;image)

Lời nói đầu

       Nói đến Không quân thì ai cũng nghĩ rằng đấy là một đội quân được ưu ái đặc biệt và “cơ ngơi” chắc sẽ vô cùng khang trang, được trang bị đầy đủ, chẳng thiếu thứ gì. Điều đó cũng không sai, nhưng ít người biết được rằng đã từng có một đơn vị Không quân - một Trung đoàn Không quân tiêm kích lại nhiều năm “đóng đô” ỏ khu vực Đồi Cọ với những dãy nhà tranh vách nứa. Và không phải chỉ có một Trung đoàn mà đến tận hai Trung đoàn kế tục nhau đóng quân ỏ khu Đồi Cọ ấy. Họ đã tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh chống bọn đế quốc Mỹ đánh phá bằng Không quân ra miền Bắc Vĩệt Nam, đã tham gia bảo vệ vùng tròi Tây Bắc của Tổ quốc, đã gắn bó với vùng đất Hoàng Liên Sơn ngày trước và Yên Bái ngày nay.

       Tác giả cũng là một trong những người đầu tiên có mặt từ ngày thành lập Trung đoàn Không quân tiêm kích MiG-21 ấy, nay như người đi xa ngoảnh lại nhìn nơi mình từng sống, từng gắn bó, từng có biết bao kỷ niệm một thời... muốn được bày tỏ, chia sẻ những khó khăn mà đơn vị gặp phải trong “cái thuở ban đầu” và với tinh thần lạc quan cách mạng, Trung đoàn đã vượt được mọi khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao... để độc giả hiểu thêm về Không quân - về lực lượng non trẻ trong Quân Binh chủng hợp thành này.

       Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các cấp lãnh đạo trong Quân chủng, các cơ quan đoàn thể và tới tất cả bà con các dân tộc vùng Tây Bắc, tỉnh Hoàng Liên Sơn ngày trước và Yên Bái ngày nay, đặc biệt là nhân dân các xã quanh sân bay, huyện Trấn Yên đã từng giúp đỡ cho Trung đoàn từ những ngày đầu thành lập tới tận bây giờ để Trung đoàn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

       Cám ơn các đồng đội đã động viên tôi hoàn thành cuốn sách này.

       Trong quá trình biên soạn, có thể còn có những thiếu sót, mong được các bạn đọc phê bình, góp ý!

TÁC GIẢ      


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2016, 08:34:34 am

CHƯƠNG MỘT

“CÁI THUỞ BAN ĐẦU LƯU LUYẾN ẤY"...

       Khu vực Đồi Cọ thuộc địa phận xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Gọi là Đồi Cọ vì khu đồi ấy có trồng nhiều cây cọ. Cọ mọc suốt hai bên đường, mọc quanh đồi và các ngôi nhà được xây dựng xen kẽ dưới gốc những cây cọ. Lá cọ có rất nhiều tác dụng: lợp nhà, làm liếp che, bện chổi, đan quạt..., quả cọ cũng có thể án được bằng cách ỏm cọ (tức là ngâm quả vào nước nóng khoảng 70-80 độ một lúc là có thể vớt ra ăn được.)

       Trước khi Trung đoàn Không quân tiêm kích 931 thành lập thì đã có một Trung đoàn Không quân tiêm kích - Trung đoàn Không quân 925 “định cư” ở khu vực Đồi Cọ rồi.

       Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 được trang bị loại máy bay tiêm kích MiG-19. Trung đoàn đã cùng với các Trung đoàn Không quân tiêm kích khác của Sư đoàn tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng Không quân của đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam.

       Bầu trời Hoàng Liên Sơn từng náo động bởi những tiếng động cơ của loại tiêm kích MiG-19 khi cất cánh, từng chứng kiến những trận không chiến nảy lửa, một mất một còn giữa những cánh “én bạc” và bầy “quạ Mỹ”, từng ghi dấu những khúc ca bi hùng trong suốt những tháng năm dài chống Mỹ...

       Trong các trận không chiến, các phi công của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 tuy còn non trẻ, giờ bay tích lũy chưa được nhiều, chưa hề xông pha trận mạc, nhưng đã thể hiện lòng quả cảm, trí thông minh, dám đương đầu với lũ giặc trời của Không quân Mỹ, ngông nghênh, dày dạn kinh nghiệm và tích lũy nhiều giờ bay.

       Tôi vẫn còn nhớ trận đánh ngày 8 tháng 5 năm 1972 của biên đội 4 chiếc, gồm Tiếp, Tiêm, Sơn A, Sơn B (Nguyễn Ngọc Tiếp, Nguyễn Đức Tiêm, Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Hùng Sơn) trực ở đầu Bắc sân bay. Biên đội 4 chiếc của các anh sau khi cất cánh, vòng trái để xuyên mây. Khi xuyên ra khỏi mây, biên đội bay về phía Thác Bà, khi vòng lại thì bị tốp F-4 đuổi bám. Các phi công của ta đã quần nhau vối 12 chiếc F-4 ngay trên vùng trời sân bay, ở trên mây. Địch dùng chiến thuật tách tốp. Các phi công ta cũng tách tốp, thành 2 biên đội 2 chiếc để không chiến với chúng. Biên đội của Tiếp, Tiêm đánh tốp trước, biên đội Sơn A, Sơn B đánh tốp sau. Khi bị biên đội của Sơn A và Sơn B bám đuổi, bọn F-4 tiếp tục tách tốp để thằng thì vòng lên cao, thằng thì vòng xuống thấp, lựa thế yểm hộ cho nhau. Nếu biên đội của ta bám theo thằng vòng lên thì lập tức thằng ở dưới sẽ quay ngoắt lại để bám đuôi biên đội của ta và ngược lại, nếu ta đuổi theo thằng lượn xuống thì thằng ở trên sẽ bổ xuống, tấn công biên đội của chúng ta ngay. Chiến thuật này bọn chúng sử dụng khá nhiều lần và cũng đã có lần thành công. Nhưng biên đội của Sơn A cũng đã tách đội. Sơn A bám đuổi thằng kéo lên, còn Sơn B theo thằng lượn xuống dưới. Những tiếng tăng lực của động cơ, tiếng đạn nổ, tiếng tên lửa rít... náo loạn bầu trời Yên Bái. Tất cả trận chiến sống mái ấy đều diễn ra ở trên mây càng làm tăng thêm sự căng thẳng và kích thích trí tò mò của những người ở dưới mặt đất. Sau 8 phút không chiến, trận chiến kết thúc khi các phi công ta về hạ cánh an toàn trên sân bay. Hai phi công Nguyễn Ngọc Tiếp và Nguyễn Hùng Sơn đã bắn cháy 2 chiếc máy bay địch. Trận này là trận khỏi đầu cho những chiến công tiếp theo của Trung đoàn Không quân 925.

       Hai ngày sau, ngày 10 tháng 5 năm 1972, biên đội 4 chiếc của Bổng, Hà, Cương, Tưởng (Hoàng Cao Bổng, Phạm Cao Hà, Nguyễn Văn Cương và Lê Văn Tưởng) trực chiến ở đầu Bắc, biên đội 4 chiếc của Tâm, Sơn c, Phúc, Oánh (Phạm Ngọc Tâm, Phạm Hùng Sơn, Nguyễn Văn Phúc và Lê Đức Oánh) trực chiến ỏ đầu Nam, nhận nhiệm vụ hiệp đồng tác chiến cùng với lực lượng MiG-21 bảo vệ nhà máy thủy điện Thác Bà và sân bay Yên Bái. Các biên đội đã xuất kích chiến đấu, không chiến với bọn địch ngay trên đỉnh sân bay ở độ cao thấp. Cho dù lực lượng của địch đông và chủ động khống chế hai đầu loa cất hạ cánh ỏ hai đầu đường băng, nhưng các phi công ta đã dũng mãnh lao vào trận không chiến với sự tấn công quyết liệt, táo bạo. Trong trận không chiến này, Nguyễn Văn Phúc và Lê Văn Tưởng đã lập công, mỗi người hạ gục một F- 4 của Không quân Mỹ.

       Tiếp đến ngày 12 tháng 5 năm 1972, bọn địch thay đổi cách đánh, sử dụng các máy bay tiêm kích khống chế trên sân bay và dùng lực lượng cường kích ném bom đánh phá sân bay nhằm không cho lực lượng trực ban chiến đấu tại sân bay cất cánh lên được. Ngày ấy trực chiến ỏ đầu Bắc là biên đội Tâm, Long (Phạm Ngọc Tâm và Nguyễn Thăng Long), biên đội trực ở đầu Nam là Sơn A, Tản (Nguyễn Hồng Sơn và Vũ Viết Tản). Biên đội của Tâm, Long lập tức lên quần nhau với địch bất phân thắng bại và sau trận không chiến thì biên đội Tâm, Long phải về sân bay Đa Phúc hạ cánh. Tiếp đến là biên đội Sơn A, Tản cất cánh lên gặp ngay một tốp F-4 bay từ phía Tây Bắc vào đầu Bắc sân bay, các anh đã vứt thùng dầu phụ và giao chiến. Tiếng gầm rú của các loại máy bay cùng tiếng nổ của các loại vũ khí trên máy bay bắn ra trong quá trình không chiến... khuấy động vùng tròi Tây Bắc...


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2016, 08:35:53 am

       Trên đây chỉ là sơ qua vài trận không chiến trong rất nhiều trận không chiến của Trung đoàn. Thời gian đó, tại sân bay Yên Bái không chỉ có lực lượng của Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 mà còn có cả lực lượng cơ động của Trung đoàn Không quân tiêm kích 921... Hai loại máy bay đã hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với nhau suốt giai đoạn dài của cuộc chiến tranh. Vậy là, tại khu vực Đồi Cọ, các phi công tiêm kích MiG-21 và MiG-19 đã cùng sát cánh trong chiến đấu và trong cuộc sống thường nhật. Tôi cũng đã từng được nhận nhiệm vụ cơ động lên sân bay Yên Bái trực chiến, từng chung sống với các phi công MiG-19, hòa nhập với nếp sinh hoạt chung của các anh, cùng hiệp đồng chiến đấu, cùng sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn với các anh suốt trong thời gian chiến tranh... Sân bay Yên Bái cũng đã để lại trong tôi những dấu ấn sâu đậm, những kỷ niêm thật khó quên trong những tháng năm chống Mỹ.

       Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 đã nhận và hoàn thành nhiều nhiệm vụ được giao, đã tham gia nhiều trận không chiến, đã trải qua chặng đường chiên đấu, có bề dày thành tích trong cuộc chiến tranh chống Không quân Mỹ đánh phá ra miền Bắc Việt Nam. Và rồi, sau chiến tranh, vào năm 1979, như người xưa nói: “Vật đổi, sao dời!”, Trung đoàn không còn nằm trong biên chế của Sư đoàn và không còn phiên hiệu nữa. Trung đoàn giải thể nhưng sân bay Yên Bái vẫn còn đó, vẫn cần sự hoạt động của những “cánh én bạc” và vùng tròi Tây Bắc của Tổ quốc vẫn cần những dũng sĩ canh trời.

       Vào một ngày cuối tháng 8 năm 1979, khi ấy tôi đang giữ cương vị Tham mưu phó tác chiến của Trung đoàn Không quân 927, tôi được Tư lệnh Sư đoàn (hồi ấy, Sư đoàn trưởng được gọi là Tư lệnh Sư đoàn) triệu tập về Sư đoàn nhận nhiệm vụ. Cùng về nhận nhiệm vụ với tôi có anh Trương Tôn - Tham mưu phó Trung đoàn Không quân 921 và anh Trần Xuân Tùng - phó chính ủy Trung đoàn không quân 927.

       Trong cuộc họp, Tư lệnh Phạm Thanh Ngân giao nhiệm vụ cho ba anh em chúng tôi với nội dung rất ngắn gọn:

       - Hiện nay do nhu cầu cần phải thành lập thêm một Trung đoàn Không quân tiêm kích nữa. Các cậu sẽ nhận nhiệm vụ với tư cách là các cán bộ Trung đoàn!

       Tôi được cử làm Trung đoàn phó phụ trách chung, tức là Quyền Trung đoàn trưởng (và cái “Q” ấy đến tận lúc tôi rời khỏi Trung đoàn vẫn giữ nguyên, không “cắt Q” - như các anh em vẫn thường nói đùa với nhau), anh Trương Tôn là Trung đoàn phó phụ trách công tác quân sự, anh Trần Xuân Tùng là Quyền Chính ủy Trung đoàn.

       Trung đoàn phó kỹ thuật do anh Nguyễn Quang Tấn đảm nhận, nhưng hôm giao nhiệm vụ, anh Tấn vắng mặt có lí do, không đến dự được. Anh Tấn sẽ về Trung đoàn gặp chúng tôi sau.

       Tư lệnh Sư đoàn giao cho chúng tôi chọn ngày ra mắt Trung đoàn (ngày thành lập Trung đoàn). Ba chúng tôi hội ý với nhau: bây giờ đã là cuối tháng 8, đầu tháng 9 này có ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc khánh, ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một ngày rất có ý nghĩa trong tâm thức của mọi con dân nước Việt, chi bằng ta cũng lấy ngày đó là ngày thành lập Trung đoàn là có ý nghĩa nhất.

       Sau khi thống nhất ý kiến, chúng tôi báo cáo và được chấp thuận.

       Vậy là ngày thành lập Trung đoàn đã được ấn định là ngày 2 tháng 9 năm 1979 với phiên hiệu Trung đoàn Không quân 931. Căn cứ đóng quân: Đồi Cọ.  Sân bay hoạt động: Yên Bái.

       Thực ra, từ ngày 13 tháng 7 năm 1979, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập Trung đoàn Không quân 931 rồi và cho đến tận ngày 10 tháng 11 năm 2004, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân mới ký quyết định lấy ngày truyền thống của Trung đoàn 931 thuộc Sư đoàn 371 là ngày mồng 2 tháng 9 năm 1979.

       Tối ngày mồng 7 tháng 9 năm 1979, quyết định thành lập Trung đoàn đã được công bố tại Hội nghị cán bộ của Trung đoàn: tôi với cương vị Trung đoàn phó - quyền Trung đoàn trưởng, anh Trương Tôn với cương vị Trung đoàn phó quân sự kiêm Tham mưu trưỏng, anh Nguyễn Quang Tấn với cương vị Trung đoàn phó kỹ thuật, anh Trần Xuân Tùng với cương vị quyền chính ủy Trung đoàn, anh Nguyễn Văn Mại với cương vị Tham mưu phó Trung đoàn... Sang ngày mồng 8 tháng 9 năm 1979 tôi nhận được quyết định Trung đoàn phó Trung đoàn 931.

       (Anh Trần Xuân Tùng ở với chúng tôi không được lâu, sau hơn một năm là đã rời khỏi Trung đoàn về Sư đoàn nhận nhiệm vụ mới. Anh Nguyễn Văn Mại đến năm 1981 chuyển về cơ quan Quân chủng. Anh Trương Tôn thì “bám trụ” cho đến năm 1988. Tôi và anh Nguyễn Quang Tấn cũng chỉ gắn bó trực tiếp với Trung đoàn cho đến năm 1982 rồi cũng chuyển về Sư đoàn).


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2016, 08:38:31 am

       Trung đoàn được biên chế 1 phi đội bay, gọi là Phi đội 1, giao cho anh Trần Tuấn Việt làm Phi đội trưởng, anh Nguyễn Ngọc Chân phụ trách công tác kỹ thuật của Phi đội sau khi anh Hải về nhận nhiệm vụ ỏ đơn vị mới và anh Phạm Văn Chấn phụ trách Chính trị của Phi đội.

       Chúng tôi nhận lệnh phải hành quân về ngay Trung đoàn mới. Tôi đề nghị cho tôi về Kép lấy tư trang rồi lên Yên Bái sau, nhưng không được chấp nhận. Tư lệnh nói:

       - Sẽ có người chuyển lên cho cậu!

       - Nghe tốt! - Tôi trả lời.

       Vậy là tôi theo xe của Sư đoàn ngược Yên Bái luôn.

       Con đường lên Yên Bái vào những năm 1979 khác xa so với con đường thời bây giờ. Nếu bây giờ xe chạy từ Hà Nội lên Yên Bái chỉ mất vài tiếng đồng hồ thì hồi đó, từ Sư đoàn lên cũng đã mất cả ngày giời. Thuở ấy, cây cối còn um tùm, những bụi tre, bụi nứa mọc sít nhau, xòa ra gần như che kín đường. Đường thì nhỏ, quanh co, đầy những “ổ gà, ổ trâu, ổ voi”... Lâu lắm mới gặp một nhà dân nép ỏ ven đường, khuất dưới những lùm cây, cảnh như trong những bức tranh cổ. Sau này, khi về Sư đoàn họp, có anh hỏi tôi:

       - Đưòng lên Yên Bái thế nào?

       - Anh hãy cứ tưởng tượng cái mồm con khủng long nó há ra với những hàm răng lỏm chỏm như thế nào thì con đường lên Trung đoàn của tôi đúng hệt như thế! - Tôi minh họa.

       - Thật khủng khiếp! - Anh nhún vai.

       Mà đúng là khủng khiếp thật. Từ hồi còn nhỏ, tôi đã được nghe:

“Lại nghe nói Lào Cai, Yên Bải
Mấy muôn người xẻ núi, khơi sông
Độc thay lam chướng ngàn trùng
Sông sâu bỏ xác, hang cùng chất xương...”

       Những câu thơ xưa làm ta cảm thấy rùng mình và nghĩ đâu hai địa danh đó ỏ rất gần nhau. Những địa danh ấy luôn gắn với rừng thiêng, nước độc, với những sự huyền bí của nơi thâm sơn cùng cốc, với những bệnh sốt rét, vàng da, ma xó, bùa ngải... và bao nhiêu thứ ghê gớm khác nữa.

       Chiếc xe cà tàng chở chúng tôi đi mãi, đi mãi... càng đi càng thấy heo hút. Đầu tiên mọi người còn hăng hái sôi nổi nói chuyện, cười đùa... nhưng càng về sau càng thấy im dần, im dần... Không ai nói vói ai câu nào, phần vì đưòng xa mệt mỏi, phần vì mỗi người đều theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Riêng tôi khi ngồi lắc ngang lắc dọc theo nhịp xe thì cứ mường tượng cảnh trong truyện “Thủy hử" với các hảo hán của Lương Sơn Bạc khi chưa đến với Lương Sơn đều bị thích chữ vào mặt giải đi xuyên rừng xuyên núi, có lẽ con đường chắc cũng cô quạnh như thế này... Rồi lại cảnh thày trò Đường Tăng đi lấy kinh trong "Tây du ký” nữa, cũng con đường dài heo hút thế mà thôi, yêu quái sẽ xuất hiện ở đoạn nào nhỉ... Kia có phải là động Bàn Tơ vói lũ yêu nhền nhện không?... Rồi nghĩa quân của “Việt Nam Quốc Dân Đảng” mà lãnh tụ là Nguyễn Thái Học đã chuẩn bị cho cuộc khỏi nghĩa Yên Bái sau bao ngày vất vả, gian nan... Như nghe được cả tiếng súng, tiếng bom khi nghĩa quân đánh đồn Yên Bái hôm mồng 10 tháng Hai năm 1930 với các lá cờ Đảng màu đỏ sao vàng bay phấp phới và đoàn nghĩa quân tay đeo băng “cách mạng quân” lao lên đánh đồn giặc... Rồi cảnh tượng 17 nghĩa quân trong số 44 nghĩa quân tham gia khỏi nghĩa Yên Bái bị hành hình trên máy chém, nối nhau ra pháp trường gồm:

       Nguyễn Thái Học
       Phó Đức Chính
       Bùi Chí Toàn
       Đào Văn Nhật
       Nguyễn Văn Tiềm
       Hà Văn Lao
       Bùi Văn Chuân
       Nguyễn Văn Thịnh
       Nguyễn An
       Nguyễn Văn cửu
       Nguyễn Như Liên
       Ngô Văn Dư
       Đỗ Văn Tư
       Đặng Văn Lương
       Đặng Văn Tiếp
       Nguyễn Văn Thuyết
       Ngô Hải Hoàng


       Tiếng họ hô vang: “Việt Nam vạn tuế!” như còn vang đâu đây. Rồi cả tiếng Nguyễn Thái Học sang sảng đọc mấy câu thơ của Pháp bằng tiếng Pháp khi ra pháp trường:

                                  “Mourir pour sa patrie
                                   ơest le sort lephis beau...”

                                   (Tạm dịch là:
                                   Chết vì Tổ Quốc
                                   Cái chết vinh quang
                                   Lòng ta sung sướng
                                   Trí ta nhẹ nhõm...)


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2016, 10:07:59 pm

       Và câu nói bất hủ của Nguyễn Thái Học từng được tồn tại qua bao thế hệ: “Không thành công cũng thành nhân!”. Rồi tôi lại nhớ đến mối tình tuyệt đẹp của Nguyễn Thái Học với người bạn gái, ngưòi đồng chí Nguyễn Thị Giang khi họ đi bên nhau giữa cảnh núi rừng trùng điệp của khu Đền Hùng, nhớ đến câu thơ Nguyễn Thị Giang đã đọc cho Nguyễn Thái Học nghe:

“Trời cao bể rộng đất dày
Sông Thao núi Tản chốn này làm ghi...”

       Rồi bỗng những câu thơ trong bài ‘Tây nến” lại vang bên tai tôi:

                                  “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
                                  Quân xanh màu lá dữ oai hùm
                                  Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
                                  Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm...”


       Thế hệ của nhà thơ Quang Dũng đã chinh chiến vượt “sông Mã gầm lên khúc độc hành”, để lại bao dấu ấn chói lọi cho bao thế hệ phải noi theo, còn mấy anh em chúng tôi thì bây giờ lại đang “Tây Bắc tiến”, theo đường số 2, chạy ngược ven sông Hồng.

       Tất cả cứ như những thước phim được tua nhanh, đi ngược thời gian vậy. Tôi lẩm nhẩm câu hát của nhạc sĩ Văn Cao: “Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gió...”. Càng về chiều trời càng âm u, cảnh vật cũng sẫm dần. Lâu lâu mới thấy mấy sợi nắng nhàn nhạt chiếu qua các kẽ lá. Đã thấy những vạt sương mỏng manh giăng ngang các rừng cây, bay bay nhẹ như tơ. Những làn gió bất chợt đến làm cho cây rừng nghiêng ngả, các khóm tre, khóm nứa, những bụi lau sậy xòa xuống che kín mặt đường. Thảng hoặc, một tiếng chim “bắt cô trói cột” hay “khó khăn khắc phục”... vang lên phía bìa rừng xóa tan không khí lặng lẽ của chốn sơn lâm. Mấy con khướu nô đùa quanh các lùm cây ồn ã một lúc rồi im bặt, kết thúc bản hòa tấu của miền sơn cước. Rừng lại lặng lẽ với chiều sâu bí hiểm của mình. Tôi ngồi không yên, ngọ nguậy nhìn ngó hết phía này đến phía khác. Sân bay Yên Bái thì tôi đã từng cơ động lên đó để trực ban chiến đấu rồi, đã từng ăn một cái Tết, từng đi bắn chim, bắn quạ về nướng. Nhắc đến quạ thì phải nói là những năm 69, 70 quạ đen, quạ khoang ỏ sân bay Yên Bái nhiều vô kể. Chúng đỗ hàng đàn đen ngòm cả một khu ở trên đường băng và tiếng kêu của chúng khi chúng cất cánh lên thì náo loạn cả một vùng. Tôi và anh Trần Ngọc Nhuận đã từng bắn quạ về nướng, lừa anh Nguyễn Cát A và Trần Thông Hào, nói đấy là thịt gà nước, mấy anh tưỏng thật, ăn và khen ngon đáo để, nhưng mà đến bây giờ thì chúng biến đi đâu hết cả, bói cũng chẳng ra được một con. Chúng đã bị tiêu diệt hết trong những tháng năm chiến tranh, bị bom đạn xóa sổ, hay đã được “điều động” lên bắc cầu qua dải sông Ngân Hà giúp cho vợ chồng Ngâu qua sông gặp nhau? Chẳng ai biết được sự thể thế nào! Mà rồi, vợ chồng tôi thì cũng có khác gì vợ chồng Ngâu đâu. Cưới xong được mấy ngày thì tôi lại đi biệt, hai năm sau mối quay về. Rồi tôi lại ở tận Kép, vợ thì “hạ sơn” xuống học ở Đa Phúc, rồi tôi tham gia chiến tranh ỏ biên giới phía Bắc, rồi lại ngược Yên Bái đây, có mấy khi được gặp nhau, ở với nhau liên tục với thời gian dài dài đâu...

       Thực ra, đi đường bộ từ Sư đoàn lên Yên Bái thì tôi mới đi đây là lần đầu. Không, là lần thứ hai thì đúng hơn. Lần đầu tiên là sau khi tôi nhảy dù xuống xã Liên Hoa, Phù Ninh vào ngày 12 tháng 8 năm 1972 trong một trận không chiến với bọn F-4, xe của Trung đoàn 925 đã về Phú Thọ đón tôi lên Yên Bái để từ đó ngày hôm sau trực thăng đưa tôi về Gia Lâm. Ngày đó tôi không quan sát gì được ở hai bên đường cả vì các anh ấy bắt tôi phải nằm bất động (sợ sau khi nhảy dù bị chấn thương cột sống) thì lần này cũng có thể coi là lần đầu cũng được. Xe cứ chạy, cứ nhảy chồm chồm qua các “ổ gà, ổ trâu”..., ý nghĩ của tôi cũng cứ nhảy nhót theo nhịp xóc của xe, cái nọ xọ ra cái kia, chẳng tập trung được, cứ nát vụn ra...

       “Rừng cọ, đồi chè đồng xanh ngào ngạt. Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát. Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca”... những câu thơ trong sách văn học của thòi học trò xưa lại văng vẳng đâu đây. Sao mà lãng mạn thế, sao mà đẹp đến thế, mà nên thơ đến thế!... Thực tại bây giờ sao khác xa đến thế! Hay là qua từng ấy năm tất cả đều đã cằn khô, thiên nhiên không còn tíu đãi như cái thuở nguyên sơ nữa. Hay là nhà thơ đã “chộp” được những khoảnh khắc tuyệt vời ấy ỏ đâu đó, đưa vào đây để khắc họa lại cảnh đẹp của núi rừng miền Tây Bắc này. Trong đầu tôi ngổn ngang bao ý nghĩ: Bao giờ mới đến được Trung đoàn nhỉ? Tôi được thừa hưởng mảnh đất với truyền thống chiến đấu của một Trung đoàn đàn anh đã từng tham gia cả trăm trận không chiến, từng bắn hạ cả chục máy bay của lực lượng Không quân Mỹ trong giai đoạn chiến tranh, cho dù Trung đoàn ấy đã giải thể, đã không còn nằm trong biên chế của Sư đoàn nữa và rồi Trung đoàn mới của tôi sẽ hoạt động thế nào đây, có lập được các thành tích như các bậc đàn anh hay không và rồi liệu sau mươi năm có lại giải thể theo các anh ấy không tựa như một cái “dớp” không? Các cán bộ, chiến sĩ của tôi sẽ thế nào? Những gì nên bắt đầu, những gì sẽ tiếp theo?...

       Tôi không thể mường tượng được khung cảnh khi tôi đến Trung đoàn và cũng không tưởng tượng được nổi những khó khăn mà Trung đoàn sẽ gặp phải nay mai.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tám, 2016, 10:09:55 pm

CHUƠNG HAI

LẠC QUAN VƯỢT KHÓ

       Sẩm tối thì chúng tôi đến Trung đoàn. Tôi đứng giữa sân Trung đoàn mà ngao ngán khi nhìn cảnh tượng trước mắt.

       Trước đấy hai ngày, có một cơn lốc đi qua đúng nơi Trung đoàn đóng quân. Mà sức mạnh của lốc tố thì thật khủng khiếp. Cái “vòi rồng” ấy xoáy đến đâu thì nơi ấy tơi bời, xơ xác đến đó. Sức mạnh của Mẹ Thiên Nhiên thực sự là ghê gớm và đáng sợ biết nhường nào. Nhà cửa của Trung đoàn đổ ngổn ngang, kèo cột, vách liếp văng tứ tung, những mái nhà bị tốc mái thì giơ những đòn tay khẳng khiu lên trời như ngưòi sắp chết đuối vẫy gọi kêu cứu. Cây cối gãy, ngả nghiêng, bật gốc, bật rễ... Cám cảnh vô cùng! Thật chẳng khác gì một trận càn của giặc Pháp ngày xưa ngang qua đây. Tôi cắn chặt hai hàm răng, đứng trầm ngâm suy tính. Anh em trong Trung đoàn toàn những người ỏ tứ xứ - ỏ các Trung đoàn khác, các đơn vị khác dồn chia cho.

       Mọi người đều lén nhìn tôi, dò xét phản ứng. Tôi không nói năng gì, ngay tối hôm đó triệu tập cán bộ họp, nói rõ yêu cầu, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành phần trong Trung đoàn, động viên mọi người bắt tay vào công việc ngay từ buổi sáng sớm hôm sau. Bản thân tôi cũng xoay trần, lao động cật lực cùng các cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn.

       Số thì thu dọn các đống đổ nát, số thì dựng lại các cột, kèo, số thì vào rừng chặt nứa, lấy lá cọ, cắt cỏ tranh về để lợp, để đan vách liếp... Không khí khá nhộn nhịp, náo động...

       Chừng một tuần lễ sau thì Trung đoàn đã ra dáng một doanh trại quân đội. Cũng sau đó một tuần kể từ khi thành lập Trung đoàn, chúng tôi đã tổ chức lực lượng trực ban chiến đấu và bay huấn luyện ban bay đầu tiên.

       Tuy số lần bay ở ban bay đầu tiên không nhiều, nhưng nó đã tạo ra khí thế cho Trung đoàn. Vùng trời Hoàng Liên Sơn lại náo nhiệt bởi những tiếng tăng lực khi cất cánh và những cánh én bạc lại xuất hiện lấp loáng trên bầu trời... Lâu lắm rồi khu vực rừng núi này mới lại sôi động như vậy. Những chuyến bay ấy đã tạo đà cho Trung đoàn tiến bước trên chặng đường lịch sử của mình và cũng tạo cho vùng trời Hoàng Liên Sơn có một khí thế mới, khung cảnh mới. Một Trung đoàn non trẻ mới thành lập và đây là những bước đi đầu tiên, từ cột mốc đầu tiên. Chặng đường trước mặt còn rất dài, có không ít thuận lợi nhưng cũng đầy cam go, thử thách... Đứng trước hàng quân, tôi ngắm nhìn từng khuôn mặt của từng cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn. Tôi đọc được và cảm nhận được niềm tin qua ánh mắt của họ. Tôi thấy rất vững tâm và tự nhủ: “Với những con người như thế này, mình có thể cùng họ vượt qua được lửa, nước và ống đồng!”

       Tuy vùng biên giới phía Lạng Sơn đã yên ổn, nhưng ở phía Tây Bắc này: vùng Thanh Thủy, Mường Khương, Xín Mần... vẫn còn rất căng thẳng. Súng vẫn nổ, chiến sự vẫn còn tiếp diễn với quy mô nhỏ lẻ. Người dân biên giới vẫn phải đi sơ tán.

       Chúng tôi phải tổ chức bay trực tuần tiễu trên không. Dưới đất thì tổ chức tuần tra canh gác nghiêm ngặt, ngay cả các cán bộ Trung đoàn cũng phải phân công nhau đi tuần tra cùng với một số tổ tuần tra hoặc bất ngờ đi kiểm tra riêng... nghĩa là không khí sẵn sàng chiến đấu vẫn phải ở mức độ cao nhất.

       Tôi nhớ, có một đêm, khi nhận được điện của Công an Yên Bái thông báo có khả năng trong đêm ấy địch sẽ đột nhập vào khu sân đỗ máy bay, khu trực chiến và khu kho bom để phá hoại. Chúng tôi lập tức hội ý, giao nhiệm vụ cho các đơn vị tăng cường lực lượng canh gác xong thì đích thân đi kiểm tra, tuần tra. Đi cùng với tôi có một trợ lí tác chiến, một cảnh vệ và cậu công vụ của Trung đoàn. Cậu công vụ của Trung đoàn bấy giờ còn quá trẻ, vừa mới chớm bước vào tuổi 18, lại chưa bao giờ tiếp xúc với rừng núi, hơn nữa lại đi vào ban đêm, nên cậu cứ “co rúm người lại”, về sau tôi lại biết thêm một chi tiết nữa là cậu ta rất sợ ma!

       Tôi thì đâu có để ý đến chuyện ấy vì còn phải lo cho tình hình chung lúc “nước sôi lửa bỏng'’ thế này. Vậy là cứ dẫn quân đi thôi! Hành trình đi tuần tra và kiểm tra hôm ấy do tôi định ra và dẫn đầu đoàn.

       Cậu ta vốn nhát, lại sợ ma nên len lén tụt xuống đi cuối tốp. Tôi thì vốn dĩ quen đi nhanh, bước nhanh nên cậu ta ỏ đằng sau chỉ còn có nước là... chạy gằn!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2016, 11:59:05 am

       Từ Đồi Cọ, tôi dẫn cả tốp đi theo con đường tắt ra đầu Bắc sân bay, ra khu sân đỗ máy bay. Con đường đi rất hẹp, quanh co, cây côi rủ um tùm, nhiều lúc phải cúi rạp người xuống để gạt các cành nứa ra thì mới đi nổi. Đêm tĩnh mịch, vắng lặng như tờ, lâu lâu lại nghe tiếng cú rúc vang vọng giữa khung cảnh hoang vắng, lạnh lẽo... Càng ngày mức độ sợ hãi của cậu ta càng tăng, cho tới lúc đi qua bãi tha ma (gọi là bãi tha ma thì có vẻ ghê chứ thực chất đấy chỉ là một vạt đất rộng, có dăm ngôi mộ chôn ỏ đấy thôi) thì nỗi sợ của cậu ta lên đến đỉnh điểm, cậu ta như bị cứng hàm, không thể nói không thể rên lên được lấy một tiếng. Và rồi, cái nỗi sợ hãi ấy cũng phải tự động chọn lấy phương pháp “hạ nhiệt” cho mình bằng cách... “ướt một tí”! Lúc về đến Trung đoàn, mặt cậu ta liên tục biến sắc, lúc thì đỏ tía, lúc thì tái nhợt khi lên phòng gặp tôi với giọng ấp úng:

        - Báo cáo đoàn trưỏng!

        - Có gì vậy? - Tôi ôn tồn hỏi.

        - Dạ... dạ...

       Thấy thái độ lúng túng của cậu ta, tôi đoán ngay là có chuyện gì đó bất bình thường xảy ra với cậu ta. Tôi nhẹ nhàng:

        - Nào, ngồi xuống đây. Có gì không, nói tớ nghe xem nào?

        - Dạ... dạ... ngày mai đoàn trưởng đừng cho con đi tuần vào ban đêm nữa ạ!

        - Sao thế?

        - Con nói ra mà đoàn trưởng đừng mắng thì con mới dám nói ạ! - Cậu ta chuyển sang xưng con với tôi theo thói quen như khi thường ngày vẫn xưng hô với tôi và với tất cả các cán bộ trung đoàn vì bố cậu ta còn trẻ.

        - Cậu nói ra thì làm sao tớ mắng cậu được? Giấu giếm khuyết điểm thì mới đáng mắng chứ, đúng không?

        - Dạ... thưa, lúc đi qua bãi tha ma... con đã... đái ra quần ạ!

       Tôi không kìm được, bật cười phá lên làm cậu ta ngượng đến chín người, rồi sau đó chính cậu ta cũng phì cười.

       Tôi đứng dậy, ôm lấy cậu ta, vỗ vỗ:

        - Thôi! Không sao đâu! Chuyện này chỉ tớ với cậu biết thôi nhé! Cậu sẽ không đi tuần tra nữa, chỉ ở nhà thôi, nhưng cũng có thể, có lúc tớ sẽ đưa cậu đi chơi đêm với tớ cho quen nhé!

        - Dạ, vâng ạ!

       Cậu ấy là một chiến sĩ tốt, tính tình chất phác, hiền lành, thật thà, ngoan ngoãn. Qua lần “xưng tội” của cậu ấy, tôi thấy quý và thương cậu ta quá, rồi tôi lại tự trách tôi lỡ đêm ấy có chuyện gì xảy ra, phải nổ súng thì cậu ấy biết xoay sở thế nào và rồi biết những gì sẽ đến với cậu ấy và nhỡ cậu ấy có làm sao thì tôi biết ăn nói thế nào với bố mẹ cậu ấy đây...

       Ban chỉ huy Trung đoàn chúng tôi đều quý mến cậu ấy, coi cậu ấy như con mình thật. Cái chuyện cậu ấy làm ướt đũng quần thì bây giờ tôi mới nói ra, mới kể ra. Cậu ấy bây giờ chắc đã làm bố, mà biết đâu đã lên chức ông rồi cũng nên. Ở nông thôn, thanh niên lấy vợ sớm lắm. Hết hạn nghĩa vụ về là có khi lấy vợ sinh con luôn chưa biết chừng!

       Tôi thật sự xin lỗi nếu cậu ấy phật ý khi đọc được những dòng này, nhưng cũng bởi “cái mạch hồi tưỏng” của tôi đang chảy như thác, tôi không thể dừng lại được.

       Vào cái đận ấy, về ở với khu vực Trung đoàn còn có cả lính đặc công của Trung đoàn anh Hoàng Mạnh Thời. Anh Hoàng Mạnh Thời vóc người to cao, chuyên mặc quần ống chẽn, đi ủng, đeo khẩu súng “côn” lặc lè bên hông. Tôi nói với anh ấy:

        - Nhìn kiểu án mặc của anh, tôi cứ thấy giông giống như kiểu của Phi-đen ấy!

        - Tôi có được sang bên Cu-ba tập huấn một thời gian đấy, ông ạ! Mà sao ông tinh thế?

        - Tôi có mù đâu anh!

        - Đúng là cái ‘lão” này! - Anh cười và chuyển ngay cách xưng hô.

       Đúng là anh có sang tập huấn bên nước bạn Cu-ba một thời gian thật. Anh là Anh hùng Đặc công. Trung đoàn của anh về sau đóng quân ở Đại Lải. Khi tôi về Sư đoàn, tôi có đến thăm anh và các chiến sĩ của anh mấy lần và anh cũng ghé qua Sư đoàn thăm tôi mấy lần, vẫn cứ quý nhau như xưa.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2016, 12:01:43 pm

       Vào cái giai đoạn cuối năm 1979 ấy, khi đơn vị anh nhận nhiệm vụ lên Yên Bái, anh đến Trung đoàn tôi và ngay từ lần đầu gặp nhau tôi đã thấy quý anh ấy rồi, một phần cùng là cấp Đại úy với nhau, một phần cùng là những người lính vùng giáp biên gắn với trận mạc, phần nữa như là linh cảm... Vậy thôi. Anh đặt thẳng vào vấn đề không cần rào đón:

        - Tối nay tôi đề nghị anh tạo điều kiện cho lính của tôi luyện tập đánh máy bay ở khu sân đỗ máy bay của anh nhé!

        - Anh có thể nói rõ hơn cho tôi các điều kiện về phía tôi là thế nào không?

        - Là thế này, anh ạ! Anh cứ cho tăng cường ánh sáng, tăng cường lực lượng tuần tra canh gác để tôi đánh giá khả năng thực sự của lính tôi!

        - Đồng ý! Thế thì đơn giản quá, nhưng mà như vậy thì bọn tôi phát hiện ra các anh ngay, các anh hành xử thế nào được?

        - Các anh không thể phát hiện được bọn tôi đâu!

        - Anh lấy gì để đảm bảo nhỉ?

       Tôi cược với anh là nếu lính của anh phát hiện được lính tôi thì tôi mất cho anh bữa rượu lạc, còn nếu lính anh không phát hiện được lính tôi, để lính tôi đánh dấu than lên máy bay của các anh thì anh phải mất rượu lạc cho tôi, đơn giản thế thôi! Được chưa?

        - Quá đơn giản! Nhất trí!

       Đêm ấy, tôi cho mắc thêm một số bóng đèn vào những chỗ xung yếu để tăng cường độ sáng cho sân đỗ máy bay rồi bổ sung thêm lực lượng canh gác và giao nhiệm vụ cụ thể cho lực lượng trực này, đồng thời cử các tốp ngoài kíp trực đi kiểm tra đàng hoàng. Không phải vì tôi sợ bị mất bữa rượu lạc mà là tôi nghe danh về đơn vị Anh hùng này từ lâu rồi. “Văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình!” - chỉ cần nghe là đã đủ rồi cần gì phải xem tận nơi - người xưa nói vậy nhưng nay tôi có dịp để được “mục sở thị” xem sao, chứ chỉ nghe thôi thì biết thế nào.

       Tôi gọi điện ra khu vực sân đỗ kiểm tra luôn và lần nào cũng nhận được báo cáo là tình hình vẫn bình thường. Tôi cũng tin là mọi chuyện sẽ yên ổn cả. Sáng hôm sau, tôi “phi” ra khu sân đỗ máy bay thì... ôi thôi! - Một loạt máy bay trên sân đỗ đã bị các “ông tướng” nhà Hoàng Thòi lấy than gạch chéo trên thân đen nhẻm cả! Thế này mà các "lão” ấy đánh thật thì đúng là mình đi tong chứ chẳng chơi! Tôi phải đích thân ra gặp Trung đoàn trưởng Hoàng Mạnh Thời:

        - Công nhận là quân ông giỏi!

        - Quân tôi không giỏi lắm đâu, chẳng qua tại quân ông hơi xoàng mà thôi!

        - Này, đừng có mà mới thế mà đã làm cay mũi nhau nhé! Tôi xách rượu về đây!

        - Thôi rồi! Nào, rượu lạc đâu?

       Anh em tôi bá vai nhau cười hả hê. Sau này, đơn vị anh ấy còn biểu diễn cho các chuyên gia về đặc công của Liên Xô xem nữa. Các chuyên gia đánh giá cao lắm. Mấy lần khi đã về đóng quân ở Đại Lải, anh đến Sư đoàn thăm tôi, thấy tôi đeo hàm Thiếu tá rồi Trung tá, mà anh mới được đề bạt Thiếu tá thì anh bảo tôi:

        - Bên Không quân phong hàm nhanh thật đấy!

        - Ừ, không phải bên Không quân phong hàm nhanh đâu mà là bên Đặc công phong chậm thôi!

        - Này, đừng có mà làm cay mũi nhau nhé! - Anh đay lại chắc nhớ cái lần tôi phải xách rượu ra gặp anh ấy ở Yên Bái.

       Anh Hoàng Thời thì cũng đã về nghỉ hưu rồi. Nghe đâu anh về quê ỏ khu vực Giỏ thuộc vùng đất Kép. Nhiều người nói rằng anh chẳng bao giờ nhớ lại cái chuyện này đâu, nhưng riêng tôi thì tôi dám chắc rằng anh chẳng bao giờ quên các chi tiết này. Anh là Anh hùng Đặc công cơ mà!

       Vừa rồi, tôi lại được biết một chi tiết về anh: anh bị tai biến đã ba bốn năm nay, bây giờ đi lại khó khăn lắm rồi. Tôi thầm nhủ, khi nào có dịp sẽ đến thăm xóm Cả, Mỹ Thái của huyện Lạng Giang - nơi anh đang sống. Chắc gặp được nhau thì vui lắm mà cũng sẽ có nhiều chuyện để kể!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2016, 12:03:43 pm

       Cũng phải nói về “cái án, cái ở” của Trung đoàn một chút. Thời đó, rừng còn nhiều, cây côi um tùm che kín khắp nơi, quả đúng với cái câu “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thật. Đêm đêm nằm nghe tiếng sương đọng trên các tàu lá cọ rơi xuống lộp độp không khác gì mưa rào. Mây mù và sương giăng hầu như suốt ngày đêm, thi thoảng mới hửng nắng. Quần áo giặt càng phơi càng ẩm, phải hong xung quanh các đống lửa nên ngấm toàn mùi khói, chẳng mấy bộ là không bị mốc hoa như nấm mộc nhĩ. Gần đây nhất, khi tôi có dịp “vô Nam”, gặp lại mấy người bạn cũ, các anh ấy lại nhắc lại cái kỷ niệm hồi gặp tôi ở Yên Bái với bộ quần áo luôn khét mùi khói và “lốm đốm trứng cóc”. Có lẽ đấy là nét đặc trưng của những người từng sống ỏ khu vực Đồi Cọ thời bấy giờ. Cái ở của Trung đoàn đã khổ sở: chỉ nhà tranh vách nứa, mà điện lại không có, sau này có thì lại rất chập chờn mà rồi cũng chỉ như “con đom đóm đực” thôi, lúc mò lúc tỏ, chẳng ra cái thể thống gì cả. Thế là phải thắp đèn dầu, tức là cho dầu thải của máy bay vào trong chai, tạo một cái bấc bằng giẻ nhét vào đấy, thắp lên, khói um nhà, sáng dậy rửa mặt, cho tay vào lỗ mũi ngoáy thì thấy muội than bám đen sì khắp lỗ mũi, trông như hề. Riêng khoản nước thì ngược lại - Trung đoàn được “sở hữu” mấy chiếc giếng nước trong leo lẻo và ngọt lắm, uống trực tiếp được. Mùa Hè thì nước mát lạnh, mùa Đông thì nước lại ấm. Tuy giếng chỉ sâu chừng mét rưỡi mét tám thôi nhưng chẳng bao giờ hết nước cả, cứ trong veo quanh năm thôi. Chiếc giếng gần suối lại có cây dâu da mọc ngay bên thành giếng, quả rất sai nhưng mà không khi nào “trụ” được. Cứ hơi mây mẩy một tí là những cặp “mắt cú mắt cáo” với những cái mũi nhòm mồm đã liếc qua liếc lại rồi đánh hơi khìn khịt quanh gốc cây khi xuống giếng tắm. Thoáng hôm trước vừa thấy còn mấy chùm thì hôm sau đã chẳng thấy gì, cây đã lại “trơ thổ địa” như chưa bao giờ biết đến chuyện “sinh nở”. Vậy, cái ăn còn khổ hơn: thuần một loại hạt bo bo, nuốt không nổi. Các bạn trẻ bây giờ chắc chẳng biết bo bo nó là cái thứ gì! Xin thưa: hạt bo bo là một thứ lương thực viện trợ, nó chính là hạt của loại cây dạng như lúa đại mạch, cao lương thì phải, chắc chỉ dùng trong chăn nuôi, hoặc giả phải có công nghệ chế biến mới trỏ thành thức ăn cho người được. Thứ này tôi cũng không rành lắm, có điều, khi bộ đội ta ăn vào thế nào thì “đầu ra” gần như nguyên xi như thế. Thật chẳng biết nói thế nào nữa!

       Hồi đó, chúng tôi có “sáng kiến tối tăm” là lấy hạt bo bo đem đi nấu rượu. Phải nói theo ngôn từ của những nhà cất rượu là rất “được nước”! Thay thế vào suất bo bo là lên đồi nhổ sắn về luộc hoặc làm các loại thức ăn chế biến từ sắn để thế vào chỗ rượu bo bo kia.

       Nói về khoản rượu thì ở Yên Bái vào thời ấy chỉ có mỗi loại rượu sắn mà thôi, uống thì đắng mà gây đau đầu lắm. Chẳng thế mà trong Trung đoàn không biết ai đã “chế tác” ra bài hát trong đó có câu “men rượu sắn khiến ta đau đầu, người ơi! uống nữa đi anh, cho hết trăm phần trăm! Trời đất ngả nghiêng ta càng uống!...”. Cũng vì cái trò “chuyển hóa” bo bo kia mà tôi suýt bị kỷ luật. Chẳng là, không rõ tin đồn thế nào về đến tận Sư đoàn là toàn bộ Trung đoàn tôi không thèm ăn bo bo mà đem bo bo chuyển đổi thành rượu hết. Đà này thì hỏng rồi, Trung đoàn suốt ngày say khướt, mất sức chiến đấu đến nơi chứ chẳng chơi. “Trời đất ngả nghiêng ta càng uống...” cơ mà! Một đoàn kiểm tra đột xuất được cử đi để xác minh, dẫn đầu là Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn Nguyễn Trọng Yêng. Khi đến Trung đoàn, tận mắt chứng kiến thấy các suất án của bộ đội vẫn đủ theo quy định thì Chủ nhiệm chính trị gặp riêng tôi:

        - Cậu cho tớ nếm thử cái loại “rượu bo bo” của các cậu!

       Tôi rót rượu ra chiếc ca sắt tráng men có dòng chữ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” đưa cho Chủ nhiệm và hồi hộp chờ đợi kết quả. Nhấp một ngụm khá to, thoáng sau, Chủ nhiệm nói:

        - Hay ra phết, mày ạ!

       Tôi thở phào nhẹ nhõm. Vậy là tôi đã đoán được diễn biến của câu chuyện. Tôi không biết khi về Sư đoàn, đoàn kiểm tra báo cáo những gì và như thế nào, nhưng tin “thất thiệt” về Trung đoàn thì không còn nữa.

       Sau này, khi giữ chức Chính ủy Sư đoàn, thi thoảng gặp tôi, Chủ nhiệm Yêng (mà chúng tôi thường gọi là bác Yêng) lại nhắc lại chuyện ấy, vừa cười vừa lắc lắc đầu.

       Thế mà bác đã thành “ngưòi thiên cổ” vì bạo bệnh đã cướp bác đi. Viết những dòng này, tôi xin kính cẩn nghiêng mình và nói lời cám ơn đến bác với niềm kính trọng và tiếc nuối trước linh hồn bác.

       Với tôi, bác là người chỉ huy cấp trên rất gần gũi, gắn bó với cấp dưới, là người phản ứng rất nhanh nhạy, sắc bén trước mọi tình huống, vô cùng hóm hỉnh và sống rất tình nghĩa.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2016, 10:52:29 pm

       Nói về chuyện hóm hỉnh trong ứng xử thì bác đã được mọi người phong cho danh hiệu là “Trạng” - “Trạng Yêng”! Có một chuyện rằng: có một lần, có một cú điện thoại gọi từ sân bay về để báo cáo Phòng Kỹ thuật, nhưng thế nào lại gọi nhầm vào máy của Phòng Chính trị, vào máy của bác. Khi bác nhấc máy, phía đầu dây bên kia chẳng cần xưng danh, cũng chẳng cần biết là ai đang nói chuyện với mình, “nố" luôn:

        - Hết A-zôt rồi thì làm thế nào?

       Lập tức, phía đầu dây bên kia nhận được câu trả lời:

        - Hết A-zốt thì lấy A-ngu mà tra chứ còn sao nữa!

       Lại nhớ, một hôm sau khi đi chuẩn bị và kiểm tra trường bắn để cho các phi công bắn và ném bom thật theo kế hoạch huấn luyện, trên đường về, chúng tôi có ghé vào nhà bác chơi. Thấy chúng tôi đến, bác chạy ra vồn vã:

        - Chào các chú! Các chú quá bộ đến thăm nhà cảm động quá! Tình hình thế nào?

       Vì biết tính bác nên tôi vừa trả lời vừa “cà khịa” luôn:

        - Báo cáo bác! Tình hình là rất tình hình! Kể từ sáng tới giờ là chưa cơm cháo, mít mủng, tiết canh tiết củng gì cả ạ!

        - Bố anh! Sẽ có tiết canh!

       Rồi bác gọi thằng con ra, dặn bắt hai con vịt về đánh tiết canh thật. Chúng tôi vào nhà, ngồi uống nước được một lúc thì bác gọi với xuống dưới bếp:

        - Tiết canh được chưa? Có đông không, mày ơi?

        - Dạ, được rồi, đông lắm thày ạ!

-          Mày thử ném vào tường xem nó có bị vỡ không? - Bác nói to cho dưới bếp nghe thấy rồi quay lại vừa cưòi vừa nói nhỏ với chúng tôi: Đến bố nó cũng chẳng dám ném!

       Tất cả cười ầm lên còn ở dưới bếp thì chẳng hiểu chuyện gì xảy ra ỏ trên nhà. Tới lúc ngồi uống rượu, bác chỉ có mỗi một chai nửa lít đặt cạnh mâm, mà chúng tôi thì thuộc dạng “ăn vung, uống thùng”, toàn loại mồm “vạc ông dầu” cả nên chẳng mấy chốc đã hết bay nửa lít “cay cay”. Bác cầm chai lên, lắc lắc rồi gọi thằng con:

        - Mày vào trong buồng lấy “nốt” chai rượu thuốc ra đây cho thày!

       Bác cố ý nhấn manh và kéo dài từ “nốt” với nhiều hàm ý cho chúng tôi nghe thấy. Mỗi ngưòi uống thêm một chén rượu thuốc nữa thì tôi giơ tay đề nghị:

        - Báo cáo, em có ý kiến! Xin được cất chai rượu này đi để thuốc nó đỡ bị khô ạ!

        - Chú thì chỉ được cái hiểu ý bác! - Bác liếc tôi, cười hóm hỉnh.

       Tất cả lại được phen cười hả hê. Tận mãi về sau này, hàng mấy chục năm sau, khi mấy anh em tôi gặp lại nhau, chúng tôi vẫn kể về những kỷ niệm thật trong sáng, thật tình nghĩa khi nhắc đến bác.

       Trở lại chuyện về “cái ăn” của Trung đoàn. Đúng là thời ấy có lắm chuyện để kể ra thật: trong cái khó ló ra... nhiều “trường phái” về lĩnh vực này lắm. Mọi thứ từ những con vật dù to hay nhỏ, dù biết bay hay không biết bay, dù ở trên mặt đất hay dưới mặt đất, trên cạn hay dưới nước... đều được liệt kê vào danh mục của các “trường phái”. Con nào chén được thì chén, con nào không chén được ngay thì ngâm rượu, không thể bỏ sót, không để lãng phí. Nhớn bùi, bé mềm! Tận dụng hết! Tận dụng triệt để! ‘Trường phái thứ nhất” trong Trung đoàn lúc đó là: tất cả mọi thứ, cứ lưng chổng lên giời là ăn được! Thì đương nhiên rồi: trâu, bò, gà, vịt, ngan, ngỗng... lưng chẳng chổng lên tròi thì sao! Có điều, đấy đều là thứ hàng xa xỉ, đâu phải ngày nào cũng được hưỏng. Vậy là “trường phái thứ hai” ra đời với quan điểm: bất luận thứ gì cứ gọi là “con” là có thể ăn được. Cũng đúng: con chó con má, con cầy con cáo... đều là loại thực phẩm có giá cả. Lập tức, xuất hiện các tay thợ săn của Trung đoàn đi lùng sục khắp nơi... để thực thi cái quan điểm của “trường phái” ấy. Hầu như không đêm nào là cánh này không hoạt động, không chốn nào là không có vết chân của cánh thợ săn ấy. Khốn nỗi, cầy cáo, chim chóc... cũng chỉ có hạn, săn lùng mãi thì cũng phải hết, đâu cứ có sẵn mãi được. Trong cái hoàn cảnh mọi thứ đã khan hiếm, “trường phái thứ ba” ra đòi luôn với cái quan niệm là: cứ vật gì ngọ nguậy được là chén được! Thôi thì, châu chấu, cào cào, Ốc lốn Ốc nhỏ, bọ mồi, kiến cánh... đều có thể chế biến thành thực phẩm.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tám, 2016, 10:54:24 pm

       Có lần, nửa đêm tôi được khua dậy sang phòng của Tiểu ban huấn luyện để hưởng lạc “thành quả” của đám thợ săn. Tôi hơi ngạc nhiên vì hôm ấy lại thấy có giấy báo che trên cái đám “chiến lợi phẩm”. Mọi hôm thì không thấy thế bao giờ. Nghi hoặc là mình bị chúng lừa, tôi nhanh chóng giật tờ báo lên thi hỡi ôi: trước mắt tôi là những miếng măng mai luộc, được chẻ nhỏ ra đặt ngay ngắn cạnh đám muối ớt. Đến nước này thì không còn gì để nói rồi, nó chẳng thuộc về “trường phái” nào cả. Thấy tôi nhăn mặt, một tay thợ săn nhanh nhảu:

        - Dạ, vì hôm nay xúi quẩy, ra ngõ gặp gái nên tụi em “đá” tạm chiếc măng về để còn có chuyện mà nói. Đêm mai sẽ bù ạ!

        - Này, ngày mai mà để nhà ai đó mất măng phải vào Trung đoàn kiện là tớ không tha cho các cậu đâu!

       -“Cụ” cứ yên trí đi!

       Hôm sau rồi hôm sau nữa không thấy ai kêu mất măng thì cũng thấy yên tâm, nhưng mà hình như sau tối hôm ấy là nhà nào có măng mai mới nhú có thể bị “đá” là phải bôi vôi vào thân cây măng. Cái giông măng đã bị bôi vôi thì đắng lắm, gấu cũng chẳng “xực” nổi nên mới “bảo toàn lực lượng” được.

       Mọi nguồn cung cấp cạn kiệt dần. Thiên nhiên đến lúc không hào phóng nữa. Tìm đâu ra thứ để “đánh chén” bây giò? Nửa thật nửa đùa, thấy manh nha một “trường phái thứ tư”: cứ gọi không thấy “ơi” là xực! Tôi phát hoảng, nếu ỏ đâu đó vang lên tiếng gọi: “Đoàn trưỏng ơi!” mà mình không “ơi” ngay thì có lẽ bị “xả” luôn chưa biết chừng. Cũng may, đấy mới chỉ là cái “cương lĩnh dự thảo” của cái “trường phái” tai quái này thôi!

       Trong cái chuyện “săn lùng thực phẩm” thòi bấy giờ, không chỉ có các chiến sĩ mà còn có cả các cán bộ tham gia. Tôi nhớ, có một lần, anh Nguyễn Quang Tấn không biết từ đâu về, xộc ngay vào phòng tôi, tôi ngửng lên nhìn anh thấy anh mặc bộ quần áo mưa lòe xòe. Tôi ngạc nhiên: trời có mưa đâu mà anh lại mặc áo mưa. Đang định hỏi anh duyên cớ ra làm sao thì anh lại hỏi tôi trước:

        - “Mũ bay cao không” và “găng tay cao không” của cậu đâu? Cậu cho tớ mượn ngay đôi “găng tay cao không” và “mũ bay cao không”!

        - Để làm gì mà gấp gáp thế? - Tôi ngạc nhiên hỏi.

        - Tớ mặc vào để đi “làm” ít ong đất!

        - Ái chà chà! Anh coi chừng kẻo mà bị nó đốt thì gay. Nó đốt chết cả trâu đấy, không đùa được đâu!

       Anh không nói gì, sửa lại bộ quần áo mưa, đội “mũ bay cao không" và đi đôi “găng tay cao không” của tôi xong liền hối hả đi luôn. Tôi sốt ruột không biết anh ấy sẽ xử lí thế nào với cái đám ong kia và cũng không biết vị trí ỏ đâu nữa, chỉ còn biết ngồi đợi. Chừng gần tiếng đồng hồ sau thì anh Tấn về với một bọc ong. Anh lấy bình rượu, cẩn thận “lùa” số ong ấy vào bình, quan sát kỹ lưỡng rồi nói:

        - Cậu thấy chưa? Nọc nó xịt ra ghê chưa? Cái thứ này chữa khớp tốt lắm. Mỗi bữa ta uống một ly là hay lắm đấy!

        - Một ly liệu có ít quá không? - Tôi hỏi.

        - Chỉ được một ly thôi. Nhiều thì có ngày phát đỉên đấy vì nó nóng lắm!

       Anh ngâm chừng một tháng là tôi đã gạ uống. Mấy anh em tôi lôi ra uống thật, có hôm uống không phải chỉ một ly nhưng cũng chưa thấy ai bị điên và tôi cũng chẳng biết có chữa được khớp hay không nữa. Có điều, món ấy không giữ bí mật được lâu, chỉ mấy ngày sau đã lộ ra nên nhiều người đến đòi uống lắm. Khi anh rời Trung đoàn thì không biết cái bình ong ấy đã ngâm đến nước thứ bao nhiêu và anh đưa cho ai cất giữ, tôi cũng chẳng rõ.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2016, 11:57:08 pm

       Tôi cũng không thể không kể đến cái giai thoại “phụp phù” của Trung đoàn được. Ây là, vào một ngày đẹp trời, mấy cậu chiến sĩ ra chợ Yên Bái, đến dãy hàng bán mít, làm quen với một cụ già đang ngồi cạnh đống mít:

        - Chứng con chào bủ ạ!

        - Không dám! Chào các chú! Các chú mua mít đi!

        - Bủ ơi! Có quả nào chín, ăn ngay được không ạ?

        - Có đấy! Đây, quả mít này chín cây đấy, ngon lắm!

        - Mít giai hay mít mật hả bủ?

        - Mít mật đấy! Các chú mua nhé?

        - Vâng! Nhờ bủ bổ ra cho chúng con. Chúng con ăn ngay tại trận ạ!

       Cụ bán mít bổ mít ra cho mấy cậu và các cậu bắt đầu “khỏi sự". Một cậu lấy cái mẹt để trước mặt, một cậu giơ tay xem đồng hồ, tay kia giơ lên chuẩn bị phát lệnh. Cụ già bán mít thấy lạ, chăm chú nhìn xem các chú bộ đội này biểu diễn thế nào. Khi kim giây của chiếc đồng hồ chạm vào con số 12 thì cậu đeo đồng hồ chém gió, phát lệnh: “Bắt đầu!” trước sự ngơ ngác của cụ già. Ngay tắp lự, một cậu cho múi mít vào mồm, chỉ nghe tiếng “phụp” rồi tức khắc lại nghe tiếng “phù” - ấy là lúc hạt mít được “phi” từ trong mồm ra. Và cái nhịp đỉệu “phụp”, “phù”™ “phụp”, “phù”... ấy cứ được kích hoạt liên tục. Một cậu khác thì chăm chú đếm lượng hạt mít trên mẹt, cậu có đồng hồ thì một tay vẫn giơ lên trong tư thế chuẩn bị chém gió, mắt thì chăm chú theo dõi kim giây của đồng hồ. Cụ già bán mít thoạt đầu còn ngạc nhiên, sau thì buồn cười quá, cười đến chảy nước mắt, cười ngặt cười nghẽo.

        - Các chú làm lão chết vì cười mất! Bao nhiêu năm trời đi bán mít mà lão chưa bao giờ thấy cảnh thế này!... Thôi, lão không tính tiền quả mít này đâu! Các chú làm ơn thôi đi cho! Lão buồn cười quá!...

       Nhưng làm sao mà thôi được khi cái kim giây của chiếc đồng hồ kia chưa chạm tới con số 12? Mặc cho cụ già bán mít vừa cười vừa van vỉ, cuộc chơi vẫn tiếp diễn. Tới khi kim giây của chiếc đồng hồ chạm con số 12 thì tay của cậu đeo đồng hồ đang giơ liền chém xuống dứt khoát cùng với câu:

        - Hết giờ!

       Mấy cậu cùng chụm đầu vào đếm hạt mít trên mẹt, không cần quan tâm đến cụ già bán mít đang ôm bụng lăn ra cười.

        - 23 thôi! Mày thua! Mày trả tiền đi!

       Thì ra, dọc đường ra chợ, một trong các “tướng nhà giời” cá cược là trong một phút, có thể “xực” được 25 múi mít mật. Nếu không đạt được số lượng như vậy thì cậu ta phải trả tiền, mà đúng hoặc hơn số lượng trên thì bọn bạn phải trả tiền. Thế thôi! Thế là mới có cái trò diễn kia ngoài chợ!

       Mấy hôm sau, khi một cậu trong nhóm lại ra chợ, cụ già bán mít thấy liền gọi lại và hỏi nhỏ:

        - Này, lão hỏi khí không phải, hôm nọ các chú thi nhau ấy, có lúc lão chỉ nghe thấy tiếng “phụp” mà không thấy tiếng “phù” thì các chú có tính không?

        - Không đâu bủ ơi! Chỉ tính số “phù” trực tiếp trên mẹt thôi!

       Không biết thế nào mà cái giai thoại này “bay” về được tận Sư đoàn và đến tai "Trạng Yêng'’. “Trạng” vừa cười vừa lắc đầu:
       
        - Ôi giời ơi! Cái thằng Huy!... Lắm chuyện quá!...

       Từ đó, hễ gọi nhau đi ăn mít thì đều nói: “Đi “phụp”, “phù” chứ? Đặc biệt là anh Đoàn Văn Sàn - Anh rất thích ăn mít và ăn cũng khỏe nữa thì khoái cái giai thoại này vô cùng. Thi thoảng anh lại đưa cho tôi một miếng mít, miệng cưòi cười:

        - Này, “phụp phù” đi!

        - Anh ăn thừa mứa rồi mới đem về bố thí cho tôi chứ gì? - Tôi trêu anh.

        - Biết thế đếch nào được! - Anh cười rồi bỏ về phòng.

       “Cái ăn, cái uống" ở Trung đoàn thì như vậy, lại còn cái khoản “trà lá” nữa chứ! “Gần mực thì... bia, gần đèn thì... thuốc!” mà! Hai cái khoản mực và bia thì đấy là hai khoản thuộc danh mục thượng hảo hạng thời bấy giờ rồi, hiếm hoi khác gì “nem công, chả phượng”, chẳng ai dám mơ mòng, nhưng đèn, thuốc... thì là những thứ có thể sờ thấy được trong tầm tay. Yên Bái thuở ấy chè bồm nhiều lắm. Chỉ cần vào thăm nhà dân, ngồi hỏi han chuyện trò một lúc thôi là khi về thế nào các bầm, các bủ cũng gói cho một bọc chè bồm. Chè được sao trực tiếp bằng củi nên ám khói, khi uống mới thấy đượm toàn mùi khói. Mà các “con nhà giời” này pha chè thì chẳng giống ai: cứ bốc một nắm cho vào ấm, tay thì to như tay hùm nên riêng chỉ chè thôi đã đầy ấm rồi, tói khi đổ nước sôi vào thì một lúc sau thấy nắp ấm cứ từ từ kênh lên. Nước chè rót ra đặc như nước sắc thuốc bắc, chát sít và đẫm mùi khói. Thật đúng là chè “cắm tăm” thật! Cái đống bã chè đổ đằng sau vách liếp to lù lù, khéo phải đến mấy chục cân. Những người chơi phong lan có thể lấy về bón cho cả vườn phong lan được.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2016, 11:59:07 pm

       Thuốc lá thì toàn loại thuốc cuộn, “oách” ra thì có Sa Pa, Tam Đảo... mà cũng chỉ là loại bao thường chứ không có được bao bạc. Người nào có một bao hoặc dăm điếu thì cùng chia nhau rít. Khi hết điêu nguyên thì lại lấy các “đầu tóp” bóc ra, “sàng sẩy” lại rồi quấn lại như sâu kèn là lại rít tiếp. Có khi trong bao còn đúng một “điếu lẻ”, đang định lấy ra hút thì gặp ngay mấy tay “mũi nhòm mồm” xộc đến, đành phải lôi cả bao thuốc ra, vờ vịt ngó vào đó rồi than vãn:

        - Cứ tưỏng là còn một điếu, ai ngờ lại chẳng có lấy một sợi! Thế mà vẫn cứ “ngự’ trong túi được. Vớ vẩn thật!

       Nói xong liền bóp dọc bao thuốc (cốt để cái “điếu lẻ” kia không bị gẫy) rồi ném bạch một phát vào xó nhà. Mấy tay “săn thuốc” thấy thế chán quá đành bỏ đi. Bấy giò mới lại len lén nhặt bao thuốc ỏ xó nhà lên, móc điếu thuốc tội nghiệp kia ra, lẳng lặng vừa châm lửa, vừa rít vừa tủm tỉm cười với cái trò “xấu tính” vừa rồi của mình...

       Lâu lâu tôi lại ra ngoài Yên Bái thăm anh Thành Đồng ỏ Công an Tỉnh một lần. Giai đoạn ấy là giai đoạn bọn buôn thuốc lá lậu từ bên Lào về ghê lắm. Thuốc bị bắt, bị tịch thu chất cả đống. Có lần tôi ra, anh cho tôi mấy bao “A Lào” hoặc có lần thì cả “Noi”... Mấy món ấy là mấy món “đặc sản” rồi, khi về chia mỗi anh vài điếu để hút cho “thơm mồm” mà mặt mũi anh nào anh ấy cứ phỏn phơ cả lên.

       Có lần, các anh ấy bắt cả đống thuốc lá sợi - loại nguyên liệu của thuốc “Con Gà” ấy, anh cho tôi hẳn một mũ cối thuốc sợi và mấy tệp giấy quấn thuốc nữa. Ôm cái mũ cối ấy về, đổ ra bàn là mỗi tay đến bốc một nắm, chẳng mấy chốc mà trên mặt bàn chỉ còn loáng thoáng vài sợi vụn...

       Cái trò hút thuốc lá thì có thể hút âm thầm được chứ hút thuốc lào thì không vì khi hút dù là rít hơi khẽ thôi, tiếng điếu vẫn vang lên cả làng đều nghe được. Mà khốn nỗi, trò đời khi “ăn” thuốc lào, điếu mà không kêu ròn tan là... vứt! Đất Yên Bái sẵn nứa. Điếu cày làm bằng nứa thì tiếng kêu của nó ròn rã, vang khác thường so với loại điếu làm bằng tre, Thế rồi sản sinh ra rất nhiều loại điếu, trong đó loại “khủng” nhất có lẽ là loại điếu “ục”! Điếu gì mà người hút không thể tự châm đóm được phải nhờ đến người khác châm cho, bằng không thì đóm phải thật dài thì mới châm với đến nõ điếu được vì nó được “chế tạo” từ nguyên một ống nứa vừa to vừa dài... Có “lão” để cháy đến hết mấy lần đóm mà chẳng rít được hơi nào vì tay thì cứ cầm đóm còn mồm thì cứ nói chuyện, đóm cháy đến sát ngón tay mới vứt vội, rụi rụi đi rồi châm đóm khác, rồi lại cầm đóm đấy tiếp tục chuyện, rồi... lại thế. Mà cái giống đóm được chẻ từ loại tre ngâm thì cháy nỏ lắm, biết bao nhiêu đóm cho lão ta mới xong một điếu thuốc. Chẳng rõ lão ta mải nói chuyện thật hay chỉ giả vờ kiếm chuyện để “khoe” rằng ta đây có kiểu rít lão luyện, khác đời... mà thôi. 

       Thuốc lào đã nặng, đã dễ say hơn thuốc lá, nhưng có “tay chơi” còn cho thêm chút rượu vào trong ống điếu nữa thì mới ghê. Hút là đứ đừ ngay. Mà thuốc không ngon cũng sẽ thành ngon. Đúng là:

“Thuốc lào chồng hút, vợ say
Thằng con châm đóm lăn quay ra nhà
Có ông hàng xóm đi qua
Ngửi phải hơi thuốc, say ba bốn ngày...”

       Có một lần, khi tôi đi chuyến tàu hỏa về xuôi để về Sư đoàn họp. Tàu không đèn đóm, chạy rù rì theo nhip bánh sắt nghiên trên đường ray. Tôi đang gà gật theo nhip lăn đều đều của tàu thì bỗng nghe thấy tiếng rao mà càng về sau này thì tôi lại càng thấy cái “bài rao” ấy quả là độc đáo. Nội dung nó ngắn gọn thôi mà xúc tích lắm:

                                           “Trong tất cả các bài nghiện ngập
                                           Suy cho cùng, hay nhất thuốc lào
                                           Chỉ một hơi là đã thấy lao đao
                                           Tiền đỡ tôh, mà không hao... sĩ diện!”

       Dứt lòi rao là tiếng rít kêu tanh tách, ròn tan của chiếc điếu cày. Kiểu tiếp thị này đúng là... nhất quả đất! Thế là lục tục... từ người ngồi ngay bên canh tôi cho đến các vị trí khác nữa trong toa tàu cứ lần lượt tìm đến nơi có tiếng rít kia. Và chiếc điếu cày cũng được phát huy hết tác dụng của nó. Những tiếng kêu ròn rã cứ vang lên hết đợt này đến đợt khác, mãi không dừng cùng những làn khói thuôc làm cho cả toa tàu như nóng bừng lên.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tám, 2016, 11:59:53 pm
       Người nào không đem theo thuốc thì giá khác, người nào có đem theo thuốc thì giá khác. Rất sòng phẳng, rất tự nguyện tự giác chấp hành. Thế mới hay! Ngay từ thời bấy giờ đã có người giỏi về khoản kinh tế thị trường thế chứ lị!

        Rượu sắn, thuốc lá, thuốc lào, chè bồm... là những thú vui giải trí cứ duy trì đều đều. Mà suy cho cùng, không có thú chơi nào là không có đẳng cấp cả. Trong cái giới vui này cũng vậy, cũng được phân chia, phân loại đàng hoàng. Đẳng cấp nhất thuộc về tay chơi nào mà: “mồm ngậm nước lã nhổ ra nước chè, hà hơi chuối chín trứng cuốc, ngáp ố đình màn!” Thế thì biết bao nhiêu là rượu sắn, là chè bồm, là thuốc lá, là thuốc lào các loại cho đủ!

        Những tay chơi ấy được mệnh danh là những “tay chơi búa sừng'’!

        Nghe cái đẳng cấp ấy mà khiếp!

        Để khắc phục việc thiếu thốn thức ăn cho bộ đội, chúng tôi đã bàn bạc một cách nghiêm túc và tổ chức đào ao thả cá, đào hẳn hai chiếc đàng hoàng, một chiếc ao to và một chiếc ao nhỏ. Liên hệ xin được mấy chục ca máy xúc, máy ủi... thế là sức máy cộng với sức người đua nhau lao động. Chẳng mấy chốc đã hoàn tất hai chiếc ao. Rồi liên hệ mua các giống cá về thả: như chép Hưng, rô phi đơn tính, chắm cỏ, mè hoa... Để “chắc ăn”, các loại chắm, chép... thì cứ chọn loại 3 con một cân để “nhỡ có làm sao” thì là có thể biến ngay thành thực phẩm, đánh chén ngay được. Kể từ ngày bắt đầu thả cá, ngày nào, sáng nào mọi người cũng đứng quanh ao xem cá lên ăn. Nghe tiếng cá đớp thức ăn rồi lượn lờ đùa rỡn nhau, ai nấy đều phấn khởi, cưòi nói vui vẻ lắm. Tiếp đến là tổ chức chăn nuôi: nuôi bò, nuôi lợn, gà. Trường Trung cấp Nông nghiệp hồi đó bác Hiền làm Hiệu trưởng “vừa bán vừa cho” chúng tôi một con bê cái đã đến tuổi trưởng thành. Tôi cũng chẳng biết nó được lai tạo thế nào và bố mẹ nó thuộc loại giống gì nhưng chỉ biết khi đem nó về đến Trung đoàn thì trông nó chẳng khác gì con ngựa vía! Với dáng vẻ to cao khác thường, tính tình nó lại còn kinh khủng hơn: nó lồng lộn, kêu la váng cả trời đất và chẳng ai tiếp cận được nó cả. Chúng tôi bàn nhau lùa nó ra thả ở khu vực Đại đội định kỳ vì nơi ấy ở xa Trung đoàn bộ, hơn nữa xung quanh được rào dây thép gai, diện tích lại rộng rãi nữa, phù hợp với những nét hoang dã, tha hồ cho cô ả chạy nhảy và ở đó cũng đã có một số bò được thả trước, có đồng bọn thì may ra tính tình của cô ả mới thuần được chút nào. Vậy mà một vài năm sau cô ả đã sinh con, ra dáng một bà mẹ lắm. Đến bấy giờ thì tính tình nó lại hiền hẳn đi. Thế mới lạ chứ!... Rồi chứng tôi liên hệ với Ty Thủy sản Thác Bà, một vài tháng lại ra đó xin mấy tạ cá về cho bộ đội cải thiện. Phải nói rằng, hồi đó anh Mai ở Ty thủy sản là người giúp đỡ chúng tôi rất nhiệt tình và hiệu quả. Cá của hồ Thác Bà toàn loại cá to. Loại cá mè hoa của hồ có con nặng đến 60kg, còn loại cá măng thì còn nặng hơn nữa: 70, 80kg cũng có. Nghe đến vài ba tạ cá thì nhiều, chứ thực ra chỉ có 2-3 con thôi. Háo hức đón xe chỏ cá về bao nhiêu thì lúc bỏ cá xuống, các bếp trưởng khó xử bấy nhiêu. Bao nhiêu bếp ăn mà thấy độc 2 hoặc 3 con cá to vật thì biết làm thế nào, tất cả cứ đứng gãi đầu gãi tai: phân xử ra làm sao đây, ai lấy khúc đầu, ai lấy khúc đuôi... khúc nào khúc ấy đều vĩ đại cả chứ có bé bỏng gì đâu. Rút kinh nghiệm, về sau chúng tôi ra xin cá chả dám xin “cá vụn” thôi. Loại cá vụn thường là cá trôi, cá chày... Tuy là “vụn” nhưng mỗi con cũng vài ba cân là chuyện thường. Dầu sao cũng còn dễ chia hơn là khuân mấy chú to vĩ đại kia về.

       Có được những nguồn thực phẩm bổ sung, các bếp ăn náo nhiệt hẳn lên. Đến lúc kẻng cơm là bộ đội ta gõ đũa gõ bát nói cười rôm rả lắm!

       Rồi chúng tôi tổ chức cho số phi công không trực chiến ra thăm Thác Bà vào ngày nghỉ, cho xuống tàu đi theo các thủy thủ khai thác cá. Hồ Thác Bà dài cả trăm cây số, rộng đến mấy chục cây số, có đến hàng trăm hòn đảo, có những hòn đảo không có tên, có những hòn đảo được đặt tên theo một trường hợp ngẫu nhiên nào đó ví như “Đảo Gấu” vì có lần có con gấu mò lên đó bị dân săn được... chẳng hạn. Muôn khai thác cá ở hồ, phải đánh bắt bằng tàu và đã có một đội tàu với các thủy thủ chuyên được giao thực hiện nhiệm vụ này. Hồi đó, ỏ Thác Bà còn có cả bọn “hải tặc”, chúng hoạt động cũng ghê gớm lắm.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2016, 12:19:01 pm

       Số phi công của Trung đoàn được xuống tàu xem cách đánh cá, chế biến cá và ăn các món ăn từ cá cùng với các thủy thủ trên tàu đánh cá thì phấn khởi lắm. Mà có lẽ, trên đất nước mình, cái món dồi cá thì chỉ ỏ Thác Bà mới có. Phương pháp làm thì giống như là làm dồi lợn, dồi chó thôi, nhưng mà nguyên liệu thì độc chỉ là của cá: gồm trứng cá, gan cá, lòng ruột cá... băm nhỏ cùng vói một sô" “chất phụ gia” như hành, dăm... rồi thuôn vào ruột cá. Anh em thủy thủ cho biết, lấy ruột con cá máng nặng chừng 40- 50kg là ngon hơn loại 60-70kg. Khi thuôn xong, nó chỉ to bằng loại dồi chó thôi, chứ to bằng loại dồi lợn thì ăn sẽ không thơm và ngon bằng loại nhỏ đâu. Sơ chế xong thì đem hấp chín rồi quấn vào ống bương, hoặc ông nứa, đem nướng vàng lên. Đấy là món đặc sản hiếm, không phải nơi nào cũng có được... Thực ra, giai đoạn ấy, nền kinh tế của cả nước đều trong cảnh khó khăn, ai cũng phái chật vật kiếm miếng cơm manh áo cho cuộc sông thường nhật, những nỗi vất vả ấy đâu chỉ có riêng Trung đoàn tôi.

       Đã nói về chuyện “cái ăn” thì không thể không nói đến chuyện “cái thổi”, ở vào thời điểm đó, tất cả các bếp ăn của Sư đoàn đều dùng bếp than, riêng khu vực Yên Bái thì không dùng bếp than vì nếu hạch toán ra thì với việc chuyên chở than từ dưới kia lên cho các bếp của trung đoàn - Tiền công chuyển lên đắt hơn tiền than quá nhiều, rồi chi phí ấy sẽ "lạm” vào tiêu chuẩn ăn của bộ đội. “Một tiền gà, ba tiền thóc”! Tính đi tính lại thế là quyết định khu vực của bọn tôi ở chỉ có đun bằng... củi!

       Đã có quyết định thì phải tổ chức thực hiện. Vậy là “định lượng” của mỗi người trong Trung đoàn (trừ cán bộ Trung đoàn và các phi công ra) cứ mỗi người là 40kg củi một ngày. Thế là, tất cả các loại cây đều được ngả xuống làm củi (tất nhiên là không phá như bọn lâm tặc rồi). Số anh em đã từng quen với rừng thì còn đỡ, riêng số anh em dưới đồng bằng lên, nhất lại là số ở thành phố nữa thì thôi rồi!...Chỉ cần làm sao cho đủ chỉ tiêu 40kg thôi, bất luận đấy là loại cây gì: cây sung cũng chặt, cây ngái cũng phang, cây sơn cũng đốn..., đến cây bứa của dân trồng lấy quả cũng chẳng thoát. Vào một ngày, có một cụ già vác dao quắm đến cổng Trung đoàn kiện việc bộ đội chặt mất cây bứa ỏ vườn nhà cụ. Cây bứa ấy ra quả mấy năm nay và mỗi năm cụ cũng nhờ vào đấy mà thu hoạch được tí tiền cho việc rau dưa hàng ngày. Vậy mà nguồn thu nhỏ nhoi ấy bị mấy chàng pheng mất. Phải dàn xếp mãi cụ mới nguôi giận, còn mấy cậu chiến sĩ trót chặt cây bứa ấy thì trốn biệt tăm, không dám ló mặt ra. Mấy chục năm sau, có một lần bỗng dưng nhắc lại chuyện này, tôi đã được gặp lại cậu chiến sĩ - Thủ phạm của việc “tiêu diệt” cây bứa ấy qua đỉện thoại. Khi tôi mới nhắc đến chuyện cây bứa, cậu ấy đã kêu váng lên:

        - Ối đoàn trưỏng ơi! Sao đoàn trưởng nhớ dai thế? Mà lần ấy, em cũng ân hận quá. Em có biết đấy là cây bứa đâu. Lại còn bàn: cây này mà cho đoàn phó Động làm xà gồ ỏ nhà thì tuyệt. Cứ nhớ lại chuyện cũ là em lại áy náy. Không biết bây giờ các cụ ấy còn sống ở đấy nữa không?

        - Tớ cũng chẳng biết nữa, khi bủ (ở Yên Bái gọi các cụ ông là bủ, các cụ bà là bầm) đến kêu Trung đoàn thì bủ đã già lắm rồi. Từng ấy năm trôi qua, chắc các bầm, các bủ đã thành “người thiên cổ” hết rồi cũng nên. Mà vùng Đồi Cọ bây giờ cũng khác lắm, còn ít cọ lắm, loáng thoáng còn vài cây thôi. Bị chặt vãn cả rồi!

        - Thế thì tiếc quá, mà sao đoàn trưởng biết rõ thế?

        - Thì tớ mới có chuyến “vi hành” lên đó mà!

        - Em cũng rất muốn về lại Trung đoàn, nhưng bận việc quá, chẳng thu xếp được, nhưng thế nào rồi em cũng phải trở lại thăm Trung đoàn. Bao nhiêu là kỷ niệm sâu nặng thế còn gì!

        - Này, cậu có nhớ cái bài hát: “ Hôm qua em đến trường. Mẹ dắt tay từng bước. Hôm nay mẹ lên nương. Một mình em tới lớp...”

        - Có chứ ạ!: “Hương rừng thơm đồi vắng. Nước suối khe thầm thì. Cọ xòe ô che nắng. Râm mát đường em đi!”.„ Cứ nghe thấy bài hát ấy là em lại nhớ đến Trung đoàn. Mà hồi ấy chúng em đúng như lũ trẻ ở lớp mẫu giáo thật, cái gì cũng thấy lạ lẫm, cứ ngơ ngơ ngác ngác lên!

        - Thế mới gọi là tân binh! Vậy mà chỉ sau có một thời gian ngắn các cậu đã thành ma tà hết cả!

        - Ôi, cứ càng nói thì em lại càng nhớ Trung đoàn, thủ trưởng ạ!

       Các cán bộ, chiến sĩ cũ của Trung đoàn vẫn luôn quan tâm đến Trung đoàn cũ của mình như vậy đấy. Có lẽ, càng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ thì con người ta càng gắn với nhau, càng nhớ về nhau sâu đậm hơn và thường xuyên hơn.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2016, 12:21:08 pm

       Vừa rồi, nhân cái dịp kỷ niệm chiến thắng B- 52, tôi tình cờ làm quen với mấy anh lính bộ binh ngày xưa ở Hà Giang. Khi nói đến chuyện chặt củi về đun thì các anh ấy bảo: Trung đoàn các ông có 40kg/ người là ít đấy, bọn tôi là phải 60kg cơ. Mà đơn vị thì đóng quân ngay ỏ bìa rừng, nghĩ chuyện 60kg thì quá đơn giản, dăm cây gỗ mỡ là thừa 60 cân, mà ông có biết không, chỉ sau một thòi gian ngắn thôi, thấy vãn cả rừng, có lúc bọn tôi cũng giương cả súng lên để ra oai với mấy ông bảo vệ khi đi chặt gỗ đấy, ông ạ!

       Tôi nghĩ, đúng như vậy. “Miệng án núi lở" kia mà! Ngày nào cũng vào rừng với điệp khúc “rừng ơi ta đã về đây” thì mấy chốc đâu mà hết rừng!

       Khó khăn cứ chồng chất lên nhau, cái nọ đè lên cái kia như thế, chúng tôi đành phải gỡ dần theo kiểu “cháo nóng húp quanh”. Ngoài sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các phía, các thành phần, cái chính là tự bản thân chúng tôi phải bươn trải để đi lên bằng sự lạc quan vượt khó, bằng nỗ lực của chính chúng tôi.

       Ngoài việc tổ chức chăn nuôi ra, chúng tôi phát động phong trào phát nương trồng sắn. Lợi thế của Trung đoàn là đất đồi sẵn, chất đất lại tốt nữa, sắn trồng xuống là sông ngay, mà chất lượng thì khỏi nói, khi luộc, củ nào củ ấy cứ bở tơi, thơm lựng... Đích thân tôi cũng vác dao quắm lên đồi, cũng phát nương, cũng bỏ hom sắn như mọi người... vui ra trò.

       Cứ bảo “cái khó bó cái khôn”, nhưng thực ra, trong cái khó lại “ló” ra nhiều cái lắm, nhiều “chiêu”, nhiều “trò” lắm. Anh chàng lái xe con của Trung đoàn là Trần Văn Hiến thành lập cả một “công binh xưỏng” ở ven bò suối, suốt ngày hậm hụi “sáng chể" các loại mặt hàng trong đó điển hình là việc nấu xà- phòng. Vào một buổi chiều muộn muộn, Hiến ta đến tìm tôi, cười tủm tỉm:

        - Mời thủ trưởng xuống chỗ em chơi một tí!

        - Chắc lại có cái trò gì, đúng không? - Tôi hỏi một cách cảnh giác.

        - Không ạ! Chỉ là mời thủ trưởng xuống chơi thôi!

        - Tớ không tin! Tớ vừa ở dưới đó về mà!

        - Đi! Thủ trưởng đi với em một tí!

       Đang lúc rảnh rỗi, hơn nữa cũng tò mò muốn biết cậu ta lại mới có “phát kiến” gì đây, cậu ta cũng là người được giao nhiệm vụ chuyên chở anh em chúng tôi đi họp hành, đi công tác bấy lâu nay nên cũng gắn bó, cậu ấy khẩn khoản mời thế này thì cũng cứ đi xem sao.

       Tôi theo gót cậu ta về nơi ỏ rồi được cậu ta dẫn ra cái gọi là “công binh xưởng” ỏ ven suối. Tại đấy đã có một vài cậu cảnh vệ đợi sẵn. Thấy tôi đến, các cậu trịnh trọng lấy ghế cho tôi ngồi. Nói là ghế cho oai chứ thực ra đấy chi là khúc gỗ có bề mặt khá nhẵn nhụi một chút. Tôi ngồi và chờ xem cái anh chàng Hiến này “khai mạc” thế nào. Anh chàng rón rén rót ra một chén rượu đưa cho tôi, ấp úng:

        - Mời thủ trưởng uống rượu!

        - Mời tớ đến đây chỉ để uống rượu suông thôi à? Nào, có gì thì nói mau đi!

        - Dạ, cũng không có gì đâu ạ! Chẳng là chỉ mời thủ trưỏng đến để em khoe em vừa nấu được mẻ xà phòng!

        - Cậu tự nấu được xà phòng cơ à? - Tôi ngạc nhiên.

        - Vâng ạ! Chúng em đọc báo rồi nghiên cứu và đã nấu thử ạ. Chắc là cũng dùng được! Thủ trưỏng cứ uống rượu đi rồi tí nữa dùng thử xem thế nào ạ!

       Trời đất quỷ thần ơi! Lính của tôi nấu được xà phòng! Tôi ngậm nguyên ngụm rượu trong mồm, không dám nuốt và cũng chẳng tin vào tai của mình nữa. ở vào cái thời đó, ai có được một bánh xà phòng “72 phần trăm” của Liên-xô thì đã là “bố tướng” rồi, còn loại xà phòng bột đựng ỏ túi ni-lông vẽ đôi chim thiên nga thì cũng thuộc vào loại thượng đỉnh.

       Không biết loại xà phòng của Trần Văn Hiến này thế nào đây nhỉ? À! Vậy là cậu ta mời mình xuống uống rượu để ăn mừng mẻ xà phòng đầu tiên được ra lò. Thế mà cứ ấp a ấp ứng, lúng ta lúng túng, thì thà thì thào như bọn đi buôn bạc giả ấy.

        - Thủ trưởng thấy rượu có ngon không ạ? - Anh chàng Hiến cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

        - Cũng được! Cho tớ chén nữa! Nào, chạm chén mừng xưởng sản xuất xà phòng bắt đầu hoạt động!

        - Thủ trưởng nói thế thì chúng em ngượng lắm!

        - Làm sao mà phải ngượng? Xà phòng của cậu mà dùng được thì tớ sẽ đề nghị khen thưởng ấy chứ, chuyện đùa đâu!

        - Tí nữa mời thủ trưởng dùng thử nhé?

        - Ừ, đương nhiên rồi!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2016, 12:23:22 pm

       Tôi “làm” thêm dăm chén nữa để lấy thêm can đảm trước khi dùng thử xà phòng của cái anh chàng này. Đúng là phải làm thế thật vì khi anh chàng bê lên cho tôi một cái chậu con trong đựng một thứ không ra chất rắn cũng chẳng phải chất lỏng lại có thứ mùi khó phân biệt được nó thuộc vào loại mùi gì thì tôi thoáng ghê ghê. Thôi, dầu sao thì cũng không nên phụ lòng tốt của người khác, hơn nữa cũng không nên bóp chết cái “mầm non văn nghệ” (như mấy anh em trong đoàn bay của chúng tôi vẫn nói). Tôi nhúp một nhúp cái thứ nhầy nhầy ấy, xoa đều trong hai tay, vặn đi vặn lại mãi mà chẳng thấy có tí bọt nào ra cả. Đã là xà phòng thì phải có bọt! Không có bọt thế này thì chắc mới chỉ là xa phong! - Tôi nghĩ bụng thế mà không muốn nói ra sợ anh chàng Hiến ngượng. Nét mặt anh chàng rất chăm chú nhìn từng động tác của tôi, xong rồi hỏi:

        - Thế nào thủ trưỏng?

        - Nó không ra bọt, nhưng có vẻ cũng sạch đấy! Cố làm sao cho nó có nhiều bọt và cho cái hỗn hợp này nó cứng như xà phòng thật đi thì cũng hay đấy!

        - Vâng, có thể bọn em sẽ thêm, bớt thành phần xút!

        - Các cậu lấy xút ỏ đâu?

        - Ở các ắc-quy hỏng ạ!

       Trời đất ơi! Thế này thì nó bào da tay ra chứ chang chơi! Thà cứ lấy vỏ quả găng hay vỏ quả bồ hòn như các cụ nhà ta vẫn dùng lại còn an toàn!

       Cái vụ sản xuất xà phòng sau rồi tôi không thấy tiến triển gì thêm nữa. Tôi cũng không hỏi. Có thể, sau lần tôi thử, nhìn thấy vẻ mặt của tôi, chưa chắc cậu ta đã có thêm chút nhiệt tình “cải tiến” cho cái công trình đun nấu kia mà lại hắt hết xuống suối rồi cũng nên.

       Trần Văn Hiến cũng chính là thày dạy lái xe ô- tô của tôi. Thích ô-tô thì là cái sở thích và ham mê từ hồi bé của tôi rồi, nhưng để thực sự được ngồi sau tay lái “vặn vẹo” thì không phải là lúc nào cũng có điều kiện. Chuyện tôi học lái ô-tô cũng là tình cờ, ngẫu nhiên mà thôi. Ấy là, sau khi thành lập Trung đoàn, chúng tôi không được trang bị chiếc xe con nào cả. Tất cả đều phải đi xe tải, về họp ở Sư đoàn thì phải đi nhờ xe hoặc “nhảy tàu” đến ga Đông Anh rồi tìm cách ngược Sư đoàn. Vài năm sau thì chúng tôi được trang bị một chiếc “Bắc Kinh đít tròn” cũ. Thế là tươm lắm rồi. Anh chàng Hiến được cử giữ chiếc xe ấy. Vào một buổi chuẩn bị xe, khi quay ma-ni-ven để sục dầu trước khi nổ máy, sơ ý thế nào mà anh chàng bị ma-ni-ven đánh vào cổ tay phải, bị rạn xương, phải bó bột, đeo băng treo trước ngực. Thôi, vậy là “xong” rồi. Còn lái liếc gì nữa! Tự nhiên, tôi “lóe” ra một ý nghĩ: mình sẽ nhờ anh chàng này dạy lái xe. Đây chính là cơ hội hiếm có đây!

       Nghĩ là làm. Tôi nói với Trần Văn Hiến:

        - Này, tớ bảo nhé! Tay như thế kia thì chịu rồi, đúng không? - Ý tớ là không thể lái xe được nữa trong lúc này.

        - Vâng, có lẽ phải mất một thời gian, thủ trưởng ạ. Em sẽ đề nghị người khác lái thay em để đưa các thủ trưởng đi họp!

        - Thôi, cái đó tính sau! Ngay bây giờ thì cậu hãy dạy tớ lái xe. Không dạy theo kiểu bài bản ở trường mà là dạy ngay chuyện thực hành lái ấy. Lá thuyết thì tớ sẽ học dần dần sau này.

        - Vâng, dưng mà, thủ trưởng không được cãi lại em đấy!

        - Nhất trí! Ai lại cãi thầy bao giờ! Nhưng có phải làm lễ nhập môn hay không?

        - Cái đó thì tính sau ạ!

       Thày dạy của tôi tủm tỉm cười và dẫn tôi ra nhà xe, bắt đầu hướng dẫn từng bước một, từ việc kiểm tra xe trước khi nổ máy theo đúng quy trình, rồi đến việc quay sục dầu... nghĩa là đầy đủ các thủ tục, không được thiếu một tí tì ti gì. Xong hết lượt ấy rồi thì thày bảo tôi lên ngồi sau tay lái, hướng dẫn cách mở máy, sang số bằng lí thuyết rồi bắt tôi thực hành. Ây là giả vò tra chìa khóa xe vào ổ khóa, tay vặn khóa để khỏi động cùng lúc mồm phải kêu “dìn... dìn...” như là tiếng động cơ của xe. Rồi nhấn một chút ga, lại nhả chân ga, ấn chân côn, tay sang số, mồm phải kêu “xoạch” như là vào số thật, rồi từ từ nhả chân côn, từ từ nhấn chân ga tăng ga, mồm vẫn phải “dìn...dìn” theo các động tác cho phù hợp. Từ số một, sang số hai và các số khác đều phải làm y hệt như nhau, mồm cũng cứ “dìn...dìn...” như nhau. Thú thực là chỉ sau mươi phút “dìn...dìn„.” thì mồm tôi khô khốc, không còn tí nước bọt nào. Tôi liền bảo:

        - Thày giáo ạ! Học trò này mỏi hết cả mồm vì cái trò “dìn... đìn...” này của thày rồi! Bây giò cho đi thực hành thôi, thày ạ!

        - Chưa được! Phải tập “khan” thêm một tí nữa đã!

       Tôi bấm bụng ngồi “dìn...dìn...” thêm mươi phút nữa thì thấy thầy bảo:

        - Thôi, nghỉ giải lao mấy phút rồi bước vào thực hành!

        - Nghe tốt!

       Tôi nói như reo lên. Quả thực, nếu cứ bắt tôi “dìn...dìn...” thêm mươi phút nữa chắc tôi bỏ cuộc mất. Có lẽ thầy linh cảm thấy như vậy nên cho tôi chuyển giai đoạn ngay.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2016, 10:18:14 pm

       Sau khi nghỉ để tôi rít điếu thuốc, thày lên ngồi bên ghế phụ và tôi chễm chệ ngồi sau tay lái, nổ máy và phi ra ngoài sân rồi chạy theo tuyến đường ra ngoài sân bay, vòng về sân bóng đá, ở đó tôi được huấn luyện cách đi vòng tròn hết bên trái đến bên phải rồi vòng số 8, cách thức lùi xe thế nào. Thày luôn mồm nói:

        - Tiến bám bụng, lùi bám lưng! Nào, nào... “côn ra, ga vào” nào!

        - Nhớ rồi! Nhớ rồi! - Tôi trả lời.

        - Lại sắp cãi rồi đấy!

        - Không dám! Không dám! Học trò này ngoan đấy ạ!

       Chạy tiến thì tôi không đến nỗi nào nhưng cái khoản lùi thì kém lắm, nhất là lại bắt lùi theo kiểu zích zắc nữa. Từ bé tới giờ chẳng có ai dạy tôi lùi cả, chỉ toàn dạy, toàn hô tiến thôi nên bây giờ tôi lúng túng trong chuyện “đi bằng lưng’’ này cũng đâu có gì lạ. Này nhé, tôi được học cơ bản nhất là học bay, nhưng máy bay đâu có số lùi, rồi đến khi “học mót” cách chạy xe máy thì xe máy cũng chẳng có số lùi nốt nên tôi lùi kém cũng là chuyện đương nhiên. Thực ra trong quá trình chạy xe thì cũng ít khi phải lùi. Vậy là sau khoảng hơn một tiếng đồng hồ “quần nhau” với chiếc vô lăng ngoài sân bóng đá, tôi đưa xe về nhà xe, dáng vẻ rất hả hê. Ngày trước đã chinh phục được cần lái, bây giờ thì thuần hóa được vô lăng, nghe chừng tôi hãnh diện hẳn, thấy mình “oách” hẳn lên. Chắc lúc bấy giờ có ai nhìn tôi thì thấy mũi tôi to hơn ngày thường nhiều lắm đấy!

       Kể từ lần ấy hễ đi đâu là tôi lại đàng hoàng ngồi sau tay lái và ngồi ở vị trí phụ, bổ trợ tay lái cho tôi là Trần Văn Hiến.

       Nói cho cùng, hồi ấy tôi cũng chỉ dám chạy loanh quanh khu vực sân bay thôi vì tôi chưa có bằng lái xe. Mà nói đến chuyện bằng lái thì ngay đến bằng lái xe mô tô tôi cũng còn chẳng có, nói gì đến bằng lái xe ô tô. Khi về Trung đoàn, tôi có đem theo chiếc mô tô Minsk của Liên Xô sản xuất (dung tích 123 phân khối), mà chưa hề có dịp nào thi lấy bằng lái cả. Để đối phó với các lực lượng kiểm tra, tôi đã soạn ra một tò “trát” chứng nhận tôi là chủ chiếc xe ấy, sử dụng đi công tác và chua thêm một câu rất quan trọng là “bằng lái xe đang đưa đi làm phiếu xăng”. Chẳng là thời gian ấy xăng dầu cực kỳ hiếm, quản lí rất chặt chẽ, xe cộ không có phiếu xăng thì khó lòng mà mua được xăng, mà muốn có phiếu xăng thì phải nộp bằng lái xe. Vậy là tôi cứ ung dung phi trên các ngả đường chẳng lo ngại điều gì vì “tò trát” đã có câu “bằng lái xe đang đưa đi làm phiếu xăng” rồi!

       Đói, rét... nhưng những tiếng hát yêu đời vẫn cất vang: “Hoàng Liên Sơn ơi, hôm nay ta lại về! Mang đôi cánh bạc gìn giữ đất quê. Nghe âm vang bao lời thôi thúc...” - ca khúc “Bài ca Hoàng Liên Sơn”, một sáng tác của nhạc sĩ không chuyên - Trợ lí Câu lạc bộ Nguyễn Xuân Thành (tục gọi Thành “mèo”) của Trung đoàn đã ngân vang rộn ràng và trong buổi Hội diễn liên hoan nghệ thuật quần chúng vào dịp cuối năm tổ chức ỏ Sư đoàn, tiết mục ấy đã đoạt được giải cao.

       Phong trào thơ ca hò vè cũng nở rộ, góp phần vào việc cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần trong Trung đoàn. Nói đến thơ, ở đất Đồi Cọ này không ai là không biết đến cụ Có - cụ Nguyễn Tất Có. Nhà cụ ở ngay sát Trung đoàn. Cụ thường sang Trung đoàn chơi, thăm hỏi anh em, rất quý mến anh em, nhất là đội ngũ phi công và đặc biệt là những người biết làm thơ, hay thơ. Cụ duy trì việc này từ thời Trung đoàn 925 ở đây cho đến tận bây giờ, khi Trung đoàn tôi đến đóng quân ở đây. Khi thăm Trung đoàn, bao giờ cụ cũng mang theo những bài thơ cụ vừa sáng tác rồi đọc cho mọi người nghe, chăm chú nghe những lời bình. Cụ lấy bút danh là “Hoa Sen”. Tất cả cán bộ chiến sĩ của cả hai Trung đoàn chắc chẳng ai quên những câu thơ của cụ như là:

                                   “Hoa Sen Tất Có mừng non nước
                                   Hiệu sách Nam Cường rực ánh sao!”

       Chẳng là cụ có một quán bán sách báo nho nhỏ mà. Rồi nữa:

                                   “Trông lên thấy ảnh thấy cờ
                                   Sít Ta, Mao Trạch, Bác Hồ già hơn!”


       Thời đó, có bức ảnh chụp chung ba vị lãnh tụ là Sit-ta-lin, Mao Trạch Đông và Hồ Chủ Tịch. Bởi Cụ Hồ để râu dài hơn hai vị lãnh tụ kia, vậy là câu thơ “Bút Tre, Bút Nứa” kia ra đời!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2016, 10:20:50 pm

       Giai thoại về cụ Có thì nhiều, nhiều lắm, ví như: có một Tết, cụ sang chúc Tết Trung đoàn, cụ đã nhận được lời chúc kèm theo một vế đôi: “Cụ Tất Có, cụ không Có Tất!”. Cụ giật mình, nhìn xuống thì thấy mình đi giầy mà không đỉ tất thật. “Xuất đôi dị, đôi đốĩ nan!” (ra vế đối thì dễ mà đối lại thi khó) - người xưa đã nói vậy. Cụ hơi lúng túng trong vài giây, sau trấn tĩnh lại rất nhanh và cười nói: “Ngày mai tôi sẽ đối lại!”, và hôm sau, cụ sang Trung đoàn, đưa ra vế đốỉ lại của mình như sau: “Đại úy Không quân, Không có Quân!”. Tuy không thật chuẩn từng chữ nhưng như thế cũng có thể chấp nhận được. Cái chuyện câu đối ấy còn lưu mãi tận sau này. Có một điều là không biết tâm hồn yêu thơ của cụ có tác động gì lớn đến Trung đoàn không, mà kể từ đó trong Trung đoàn cũng rộ lên phong trào của những cây “Bút Tre, Bút Nứa” để rồi khi đọc lên, mọi người đều cười khoái trí và lấy đó làm “điểm nhấn” trong việc trêu tròng nhau. Hơi có một tí “sự kiện” nào có vẻ bất thường một chút là ngay lập tức, trong thời gian rất ngắn có ngay những câu thơ, câu vè ra đời và được găm ngay vào liếp, nơi mọi người dễ thấy dễ đọc (vì nhà ở của Trung đoàn chủ yếu là mái lá, vách liếp nên việc trình bày những tác phẩm ấy lên để công bố trước bàn dân thiên hạ dễ lắm).

       Tôi xin lấy vài ví dụ để bạn đọc tham khảo:

       Khi hai anh trợ lí tác chiến là Tiến và Bình nghe theo lời hẹn, mua được mấy chú gà con, hì hục xách về, đóng chuồng để nuôi nhưng ngờ đâu, được mấy hôm sau thì gà cứ lăn ra, chân chổng thẳng lên trời, cứng đơ, lạnh toát. Thế là H5N1 rồi! Nhưng mà vào cái thời ấy chỉ gọi là “rù”, là “toi” thôi. Vậy là xuất hiện ngay “tờ treo”:

“Chín chục sáu chú gà con 1
Tiến, Bình ham rẻ nên còn dúm lông
Ấy là chưa kể đến công
Từ cây mười chín, qua sông qua đò
Chỉ vì một cuộc hẹn hò
Chín mươi đồng bạc, bằng cho nó tiền
Người ta hò hẹn nên duyên
Còn mình hò hẹn mất tiền, thêm lo!”

       Trung đoàn phát động phong trào tăng gia, trồng rau xanh để cải thiện bữa ăn cho bộ đội, đưa vào Nghị quyết đàng hoàng, được người người hưởng ứng, hăng hái lắm. Thế là mọi miếng đất đều được khai thác hết tiềm năng. Các mảnh vườn đua nhau mọc lên từ ven đồi, ven suối... Đâu đâu cũng thấy màu xanh của rau cải, rau muống, rau thơm, rồi cà, cà chua... Mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên... những giờ nghỉ là đều có mặt ngoài vườn rau để chăm bẵm, để nhận xét, hàn huyên... rôm rả lắm.

       Những thành phần trực ở sở chỉ huy cũng tranh thủ thời gian rỗi kiếm lấy mảnh đất làm vườn riêng cho mình. Đến như trợ lí Quân báo Nguyễn Đức Sắc -   người gần như suốt ngày ngồi lần mần vói những con số, những sổ với sách cũng phải “bung ra” khỏi Sở chỉ huy để đi trồng rau thì đủ biết phong trào rầm rộ đến mức nào. Mà cái dáng của “lão” Sắc khi đi tăng gia, khi trồng rau thì buồn cười lắm, cứ lom khom, oặn oẹo... trông chẳng giống ai. Thế là “lão ta” được vào thơ ngay:

Ngày có Nghị quyết tăng gia
“Lão” Đức Sắc phải bung ra ngoài đồng
Lưng “lão” cúi, đít “lão” cong
Trông xa cứ tưởng “Quận công ngồi bờ”!...

       Rồi chuyện anh An - Trợ lí dẫn đường đi kiểm tra, điều trị bệnh dãn tĩnh mạch bẹn. Vậy mà cũng có cả thơ. Tôi trích dẫn ra đây không phải là chuyện dung tục quá hay là bậy bạ quá, mà ý tôi chỉ đề cập đến là đòi lính nó rất vui:

“Nghe tin An bị mổ “cà”
Thúy Trinh nhận điện rồi la váng tròi:
“Ối thày ơi, ôi mẹ ơi!
Người mà mất nó thì “chơi” bằng gì?”.

       Trinh là tên vợ anh An. Vậy là anh An phi ngay về Trung đoàn, la hét, quát tháo ầm ầm. Mọi người thì cứ cười rũ ra, rồi đến lúc chính anh An cũng cười. Thế là “hòa cả làng”!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tám, 2016, 10:24:12 pm
       Chuyện chiến sĩ trốn đơn vị về thăm nhà không phải không xảy ra. Lâu lâu lại có một vụ. Mà đặc điểm địa hình ở sân bay Yên Bái thì rất phức tạp, đưòng đi trăm ngả, số trốn đơn vị thì không bao giờ đi đường chính ra ga Yên Bái mà toàn đi đường tắt, thậm chí cũng không vào ga vì sợ bị đơn vị đón lõng, tóm về, toàn đi khá xa rồi hoặc đón ô tô, hoặc ở cung đường mà tàu chạy chậm là “nhảy tàu” thôi. Thế là cũng có thơ:

“Nửa đêm, Thiêm gọi: “Thích ơi!”
Thằng Trung nó trốn mất rồi còn đâu
Nó đi về phía Ầu Lầu
Đường ngang ngõ tắt, biết đâu mà tìm?”

       Có một bài thơ dài, lột tả được cái vụ “lừa có hệ thống”, tôi thấy khá thú vị. Chuyện là, hễ cứ có đợt tân binh nào biên chế về Trung đoàn là y như rằng kiểu gì số tân binh ấy cũng bị đám “ma cũ” lừa để biến thành trò đùa. Mà cái trò “ma cũ bắt nạt ma mới” ấy thì có lẽ Trung đoàn nào cũng có, đơn vị bộ đội nào cũng có, nhưng ở Trung đoàn tôi thì trường hợp này nó xảy ra khá “ly kỳ” và có tổ chức chặt chẽ hẳn hoi.

       Một cậu tiêu đồ ỏ Sỏ Chỉ huy tên là Trần Văn Quất, quê ỏ Mỹ Văn được bổ sung về trung đoàn. Chân ướt chân ráo chưa kịp hiểu đâu vào với đâu thì đã bị các bậc đàn anh lùa vào “mê trận” với những lòi nỉ non rằng:

        - Tất cả những thành phần trực trong sở Chỉ huy đều phải biết bay, phải lên ngồi trong buồng lái ít nhất là dăm chuyến để có cơ sở thực tế, như vậy mới có thể trực sở Chỉ huy được!

        - Nhưng em mới về mà! - Tân binh Trần Quất nói.

        - Không loại trừ một ai! Mới về thì trước tiên phải học lí thuyết đã, rồi phải tập luyện, rèn luyện, sau khi khám sức khỏe thấy đủ điều kiện là được ăn bồi dưỡng và chuẩn bị bay!

        - Vậy khám sức khỏe ở đâu?

        -  Ở ngay Tiểu ban quân y của Trung đoàn thôi! Anh Thấu, chị Bắc, chị Nụ là những người được ủy quyền và có quyền khám và kết luận xem có đủ tiêu chuẩn bay hay không.

       Vậy là Trần Quất ra sức học lí thuyết bay, học xử lí bất trắc qua cuốn “Sổ tay ngưòi lái MiG- 21” rồi đêm đêm được các anh hướng dẫn cho tập xà, tập tạ, tập đu vòng, quay đầu, lắc cổ... Thôi thì đủ cả!

       Rồi Trần Quất được đưa đi khám sức khỏe thật, cũng đo huyết áp, nhịp tim, tai mũi họng, răng hàm mặt, khám bụng, chân tay, quay đầu lắc cổ xem tiền đình có ổn không, cũng được phân loại đàng hoàng, cũng viết đơn, duyệt đơn xét được ăn thêm, bồi dưỡng để chuẩn bị lập kế hoạch bay... nghĩa là cả một chu trình khép kín của sự lừa!

       Các “ma cũ” đã thành tinh, đã thành một lũ “yêu tinh” tiếp tục “chăn dắt”, lùa Trần Quất vào sâu trong “mê trận”: cũng lập kế hoạch bay đàng hoàng, cũng vẽ vẽ, tẩy tẩy, xóa xóa cho ra vẻ hợp lí với từng mục bay... Còn Trần Quất thì ngây thơ đến tội nghiệp, cứ hồn nhiên:

        - Dạ, báo cáo các anh! Các anh cố gắng thu xếp cho em bay cùng anh Đoán chứ đừng để cho em bay với đoàn trưởng hoặc với anh Mai Minh ạ!

        - Sao lại thế?

        - Em nghe thấy các anh phi công nói là đoàn trưởng với anh Mai Minh trong chuyến bay kéo ghê lắm, chắc em chẳng chịu nổi đâu. Xin các anh bố trí cho em bay với anh Đoán vì anh ấy gầy gò, kéo chắc cũng chỉ vừa phải, may ra thì em “trụ” được!

        - Thôi được rồi! Thể theo nguyện vọng cá nhân, chúng tớ sẽ xem xét, sắp xếp cho phù hợp với hoàn cảnh!

        - Em cám ơn các anh ạ!

        - Có gì đâu mà ơn với huệ!

       Vậy là Trần Quất cứ khấp khỏi nhẩm tính từng ngày một để đợi chờ cái giây phút linh thiêng của cuộc đời một tiêu đồ là được cất cánh lên trời!

       Trời thì ở tít trên cao chẳng biết đến khi nào mới với được, còn lũ “yêu tinh, ma quỷ” thì ở đầy mặt đất... và cái vòng lừa đảo kia vẫn cứ tiếp tục quay đến hoa mắt, đến tối tăm mặt mũi vẫn chưa thôi...

       Tới lúc Trần Quất ngớ người ra, biết mình bị lừa thì đã quá muộn, vừa ức, vừa ngượng... chỉ còn nước nằm khóc tu tu.

       Và thế là toàn bộ quá trình ấy là cái “cớ” để cho bài vè khá dài ra đời:

“Trần Quất quê ở Mỹ Văn
Tuổi vừa mười tám, nếp nhăn đã nhiều
Về đây chưa được bao nhiêu
Nghe tiêu đồ cũng ít nhiều phải bay
Quất liền về viết đơn ngay
Trực ban tính sổ đợi ngày ăn thêm
Rồi Quất luyện tập ngày đêm
Tập xà, tập tạ, tập thêm đu vòng
Khi kế hoạch sắp lập xong
Chị Bắc, chị Nụ khám trong, khám ngoài
Khám mắt, khám mũi, khám tai
Khám lưng, khám bụng, khám hai bên sườn
Trần Quất nhiều thịt, ít xương
Bắc rằng: “Bồi dưỡng cân đường mà thôi!”
Nghe xong, Trần Quất bĩu môi:
“Thêm hai hộp sữa là tôi bay liền!”...

       Bài thơ ấy rất dài, tôi đại loại chỉ nhớ được đến thế thôi!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2016, 08:21:10 am

       Rồi danh sách của từng người trong đơn vị cũng được lọc ra theo vần đề đưa vào thơ:

“Trung đoàn hai Nụ, ba Hoa
Một Khánh, một Khải, một Khoa, một Khìm
Một Sờn, một Sắc, một Sim
Một Kần, một Kiệm, một Kim, một Kiền...”

       Hồi đó, còn có cái nạn trộm trâu bò để đem lên đồi giết thịt ngày một gia tăng. Tất cả nhà ai có trâu bò đều sống trong cảnh nơm nớp lo sợ, không biết bọn trộm nó sẽ “lần” đến mình vào lúc nào. Chúng thường dắt trâu, bò ngược lên đồi, đến chỗ vắng vẻ để giết thịt. Toàn bộ số thịt thì chúng gói ghém mang đi, vứt lại tất cả “nội thất” cùng với đầu, da... của con vật đáng thương. Những thứ ấy chứng chẳng cần đến, mang theo chỉ tổ cồng kềnh mà có khi còn mang vạ vào thân nữa. Ngay Trung đoàn cũng từng bị chúng bắt trộm mà. Các cán bộ, chiến sĩ tỏa đi khắp các nơi để truy lùng. Các bạn bây giờ cứ tưởng tượng ra cảnh hai chiến sĩ của Trung đoàn trong đội quân đỉ tìm ấy, từ trên đồi xuống, khiêng chiếc đầu bò, vừa đi vừa nghêu ngao:

“Tìm trâu chẳng thấy trâu đâu
Chỉ thấy một chiếc đầu lâu con bò!”

       thì còn ai mà nhịn được cười nữa!

       Cái phong trào thơ ca hò vè phát triển tới mức là chính bản thân tôi cũng tham gia, đưa lịch công tác năm (lịch bay) của Trung đoàn vào thơ:

“Thảng Mười ngồi Tổng kết năm
Tháng Một, tháng Chạp chỉ nằm nhìn mưa
Tháng Giêng ngủ sớm, dậy trưa
Tháng Hai Tết nhất, say sưa suốt ngày
Tháng Ba di phép đó đây
Tháng Tư may lắm mới bay vài lần
Thảng Năm phát động ra quân
Tháng Sáu, tháng Bảy xoay trần ra bay
Thảng Tám diễn tập Đông Tây
Bước sang tháng Chín xuyên mây dần dần...”


       Ngay cả các cán bộ Trung đoàn khi bàn bạc hoặc tranh luận với nhau điều gì đó... cũng còn được đưa vào thơ. Ví như, nhân ngày thành lập Quân đội (22 tháng 12), anh Hậu - Tham mưu trưởng Trung đoàn lên báo cáo anh Trương Tôn - đoàn trưởng về chuyện tổ chức “ăn tươi” cho bộ đội thế nào và hai anh bàn bạc ra sao. Thế là có thơ luôn:

“Ông Hậu thì bảo: “Mổ bò!”
Ông Tôn thì bảo: ‘Xầm to làm gì
Nó ăn rồi nó lại đi
Nhà ghi thì chật, lấy gì mà giam?...”

       Đấy là anh Tôn lo lắng sau khi liên hoan xong, lính lại trốn đơn vị về nhà, cái “nhà ghi” ỏ đây được đề cập đến đấy chính là nơi tạm giam để xét những trường hợp vi phạm kỷ luật. Hồi ấy, Trung đoàn nào cũng có cái khoản ấy nên nói đến từ “nhà ghi” là ai ai cũng biết, cũng hiểu đấy là cái gì và “chức năng" của nó là gì...

       Rồi khi ao cá của Trung đoàn vào một đêm mưa to, bờ ao bị dò, đàn cá nhân đà ấy vượt đi mất khá nhiều. Sáng ra lúc đi kiểm tra ao thấy nước trong veo, các hôm thì cá lên ăn đây đặc mà hôm nay thì không mống nào thế là nhốn nháo lên, thế là có thơ ngay. Tôi không nhớ được hết bài thơ ấy, đại loại là cứ ai có mặt ỏ đó là vào thơ hết, ví như:

“Ông Sàn chạy khắp bờ ao
Chạy lên, chạy xuống, chạy vào, chạy ra
Thốt lên một tiếng: “Chết cha!
Lỗ dò có dễ bằng ba bắp đùi!”
Thấu dựa gốc chuối kêu trời:
“Bao nhiêu vốn liếng đi đời nhà ma!”...

       Những bài thơ, bài vè tếu táo đọc lên, cười vui vẻ mà thôi, không có ý gì khác. Người có tên trong thơ, vè, người dùng thơ để chọc ghẹo bạn đều cười, không ai giận ai. Tôi vẫn nhớ, khó khăn như vậy mà Trung đoàn không lúc nào ngót tiếng cười vui.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2016, 08:23:49 am

       Số lượng thơ, vè của Trung đoàn trong những năm tháng ấy có đến hàng trăm bài, đa dạng và phong phú. Vừa rồi, tôi có nghe phong thanh hình như có một nhóm đang sưu tầm lại những bài ấy để in thành tập cho ‘lưu hành nội bộ”. Có lẽ, đấy cũng là một nét đặc thù của cái Trung đoàn Không quân ở Đồi Cọ.

       Sự lạc quan đã giúp chúng tôi vượt được rất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng Trung đoàn.

       Tôi nhớ, giai đoạn ấy, văn hóa đọc của Trung đoàn cũng rất phát triển. Tủ sách của Trung đoàn thì sơ sài nhưng tủ sách của các cá nhân thì khá phong phú. Đặc biệt, riêng tủ sách cá nhân của anh Mạc Hòa thì khá “đồ sộ” nêu nói về góc độ thư viện cá nhân, về số lượng đầu sách... Số lượng đầu sách trong tủ sách của anh khá nhiều và chủng loại thì rất đa dạng, phong phú, toàn là sách quý và hiếm: Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang, Những tấm lòng cao cả, Ngôi sao thành E- ghe, Ông già và biển cả, Chuông nguyện hồn ai, Những người khốn khổ, Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà, Thần thoại Hy Lạp, Đa-ghes-tan của tôi, Ale-xis Zor-ba (hình như sau này tái bản thì lấy tên là Zor-ba con người hoan lạc), Chiến hữu (sau này đổi tên thành Ba người bạn)... Số lượng anh em đến mượn sách về đọc khá đông và bản thân tôi, khi rảnh rỗi, cũng đến “vùi đầu” vào cái tủ sách ấy...

       Tôi không hề nghĩ anh đã từng là lính bộ binh, từng tham gia chiến đấu trong chiến trường, bao lần cận kề với cái chết và cũng từng lập được chiến công. Sau này tìm hiểu tôi mới vỡ ra khi có lần anh kể với

       tôi là hồi hành quân đi chiến trường, ngoài súng ống, đạn dược, gạo nước và những trang bị cần thiết của người lính trận thì anh cõng một nửa ba lô là sách. Anh cũng đã từng len lén trút bớt một ít gạo trong “bao tượng” đi vì nặng quá, nhưng số sách thì vẫn “ngự" nguyên ở trên lưng để đến các trạm nghỉ chân còn có cái đọc cho nhau nghe. Anh cứ áy náy mãi về chuyện này không biết làm như vậy có sai phạm gì không và sai phạm đến mức nào. Lần nào ngồi với tôi, anh cũng ngâm nga câu:

                                 “Chuyện của lính nói hoài không hết
                                 Chuyện chiến trường nghe mãi vẫn hay!”...

       Có một năm, khi giao thừa đến, tôi trực ở Trung đoàn, anh ào vào phòng tôi, ôm lấy tôi vẻ đầy xúc động, chúng tôi lấy rượu ra uống, chúc nhau một năm mới sức khỏe và gặp nhiều may mắn. Tôi nhớ, anh đã xé tờ “lịch lốc” ở phòng tôi, viết vào đó mấy dòng:

                           “Khoảnh khắc thời gian tính bằng tích tắc
                           Giao nhau một khắc để Thừa cả năm”


       Rồi lại ôm lấy tôi, trong mắt như có nước... Những người lính chiến thường bao giờ cũng có

       những tình cảm sâu nặng thậm chí có khi còn mềm yếu mà người thường hiếm khi có được. Cũng hàng mấy chục năm sau, khi tôi về hưu rồi, tôi mới biết chính anh là “tác giả” của hai câu thơ cuối cùng trong cái bài thơ “Lịch công tác năm của Trung đoàn” rồi hai câu ấy cũng bị “biến tướng” đi một chút thành thử tôi suýt bị “hạn nặng” bởi cái bài thơ ấy.

       Cụ thể là sau câu: “Bước sang tháng Chín xuyên mây dần dần” ấy thì tôi có “rón rén” viết:

“Kính thưa anh Phạm Thanh Ngân
Giờ bay Yên Bái anh cần bao nhiêu?”

       Hồi đó anh Phạm Thanh Ngân là Sư đoàn trưởng, mà tiêu chuẩn đặt ra cho mỗi phi công của Sư đoàn là phải bay 50 giờ bay/năm. Với điều kiện khí tượng ở Yên Bái khi ấy thì việc phấn đấu cho được 30 giờ bay/năm đã là khó đến chảy máu mắt ra rồi, chính vì vậy tôi mới “tấu trình” xem có thể rút chỉ tiêu cho chúng tôi được tí nào không. Ai dè, Mạc Hòa chua thêm cho hai câu kết “chết người” vì anh ta bảo là tại bài thơ hay quá, hơn nữa lại đúng trong cái ngữ cảnh là hôm ấy anh ta đang ngồi nghe triển khai nghị quyết về công tác bay:

“Nếu anh đòi hỏi quá nhiều
Lại không đúng lịch là “tiêu” có ngày!”

       Ai dè, khi thông tin bay đến Sư đoàn thì hai câu cuối không biết ai đó đã “chỉnh sửa”, đã biến tấu đi và nó lại là:

“Nếu như anh bắt bay nhiều
Mà bay ngược lịch, là “teo” có thằng!”

       Thôi! Thế là chết tôi rồi! Phạm thượng quá! Dám thách đố với cấp trên! Ghê thật đấy! Chết là cái chắc! Rành rành ra đấy rồi, cãi thế nào được? Đành chỉ còn chờ nghe hai tiếng: “Khai đao!” mà thôi!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2016, 08:26:25 am

       Nhưng rồi cũng không thấy ai nhấc ‘lệnh bài” để quăng xuống, thực thi như trong phim “Bao Thanh Thiên” ấy, có lẽ các thủ trưởng đã biết đấy cũng chỉ là cái trò tếu táo của lính, chấp làm gì.

       Tới khi anh Mạc Hòa về hưu, thế nào mà anh lại “sướng” cái trò nuôi gà. Anh ta có biết tí gì về chuyện này đâu! Tôi thì tôi ớn lũ gà lắm rồi. Hồi bé tôi hay bị đánh oan vì chúng, mà nhất là khi chúng ấp, trứng nở phải hạ ổ xuống chăm gà con thì tôi bị lũ bọ mạt nó hành hạ đến khổ sở, bị nó đốt ngứa ran khắp người, đặc biệt là chúng hay bám vào những chỗ hiểm để cắn... Vậy mà làm sao cái “lão” này lại hứng thú thế không biết. Lão ta có một con gà rừng là gà trống, định cho lai giống vối mấy ả gà mái nhà để có được một lũ một lĩ gà rừng ngay giữa Thủ đô này cho oách. Tôi cười cười. Anh ta cảnh giác:

        - Anh cười cái kiểu gì lạ vậy?

        - Cậu không biết câu: “Chó giống cha, gà giống mẹ” à? Muốn có lũ con thuần chủng thì bô" mẹ phải thuần chủng chứ. Cậu cũng chưa bao giờ bị mạt gà đốt đúng không? Mà rồi H5N1, H7N9... tiếp đến là gì nữa không biết, nhà cậu mà là cái ổ dịch ở giữa thành phố này thì liệu thần hồn!

       Ít lâu sau anh khoe gà đã đẻ. Anh ta ngồi rình cả tiếng đồng hồ chỉ để chụp ảnh quả trứng khi nó chui ra thế nào. Rồi lại cho gà ấp... Rồi lại rình trứng nở... Rồi háo hức đi khoe ngậu lên. Tôi cũng chỉ cười cười:

        - Sẽ đến lúc cậu chán cho mà xem!

       Mấy ngày sau, khi gặp, tôi dúi vào tay anh bài “Chuyện gà!”:

                                     Bạn về hưu dở dói chuyện nuôi gà
                                     Thấy trứng nở, cười reo như con trẻ
                                     Tôi chán ghét lũ gà từ hồi tôi còn bé
                                     Bởi luôn bị bọ mạt đốt khắp người
                                     Lũ gà như một lũ trêu ngươi
                                     Tôi hay bị mắng oan, chỉ biết ngồi nức nở
                                     Bạn tôi thì cứ hớn ha hớn hở
                                     Chốc chốc lại ngó ngó, xem xem...
                                     Nực cười cái cõi nhá nhem
                                     Trong thì chán, ngoài lại thèm... mới hay!

       Anh ta đọc xong cười cười:

        - Đúng là cái ‘lão” Huy!

       Mà trong Trung đoàn cũng có những thành phần “lắm chiêu, nhiều trò” lắm ví như anh Lê Văn Hột của Tiểu ban huấn luyện chẳng hạn. Có một buổi trưa, tôi nghe thấy tiếng cãi nhau ầm ĩ bên bờ suối. Vì tôi thường không ngủ trưa nên chạy ra xem cơ sự thế nào. Ra đến nơi thì thấy chàng Hột đứng ở bên này suối, còn chàng Hạt (trợ lí thông tin của Tiểu đoàn thông tin) thì đứng bên kia suối đang gân cổ lên với nhau:

        - Ông là ông bé hơn tôi đấy nhá!

        - Này, nói cho mà biết, có mà cậu bé hơn tó thì có!

       Tôi không nhịn được liền hét lên:

        - Ối giời ơi, đất ạ! Đã đến cái mức là Hột và Hạt rồi mà vẫn còn cãi nhau xem đứa nào to hơn đứa nào thì còn ai chịu được nữa! Có vào nhà để cho mọi người nghỉ trưa hay không đây, hở hai ông tướng?

       Hai vị bấy giờ mới rút khỏi bãi “chiến trường” trả lại cho buổi trưa yên tĩnh. Mà nói đến Hột thì tôi lại nhớ, có một buổi tối mưa dầm, điện đóm không có, cả Trung đoàn tối như bưng, đang buồn như chấu cắn thì bất ngờ tôi nghe thấy một giọng không ra hát cũng chẳng ra than, cứ như tiếng nấc, cứ lặp đi lặp lại câu: “Nếu tôi chết!... Nếu tôi chết!...” hàng chục lần. Thấy lạ, tôi chống gậy lần xuống xem cơ sự thế nào. Đẩy mạnh cửa vào thì thấy chàng Hột đang nằm ở dưới đất, chiếc xe đạp thì dựng ở trên giường. Tôi chưa kịp định thần thì chàng Hột hát tiếp cái câu mà cậu ta nhai đi nhai lại như là điệp khúc kia: “Nếu tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn ghi-ta! Vích-to Ha-ra...!” Thật là hết cách! Tôi hỏi:

        - Làm sao mà xe đạp lại “ngự" ở trên giường, còn người thì nằm đất thế này?

        - Dạ! Báo cáo đoàn trưởng, em ốm thì đã có bệnh xá ạ, còn xe em mà ốm thì em phải bỏ tiền túi của em ra ạ! Vì thế em phải nâng niu xe của em ạ!

       Cậu ta kéo dài cái câu “ạ” ra nghe như hát tuồng làm tôi vừa bực vừa buồn cười. Thực ra, cậu ta làm thế để kiếm cớ để cười cho vui thôi.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2016, 10:39:13 pm

       Ở Tiểu ban Huấn luyện còn có một anh là Dương Công Khai cũng “lắm chuyện”. Ngày anh ấy về Trung đoàn, ngoài ba lô quần áo ra thì còn lếch thếch mang theo mấy bao tải nữa. Mọi người không hiểu đấy là những thứ gì trong cái gia tài của anh. Vài hôm sau thì anh đổ hết cái “gia tài” ấy ra đầy một góc sân. Thi ra đấy là khung xe máy, bánh xe cùng toàn bộ phụ tùng linh kiện kết cấu. Rồi anh đem toàn bộ các bánh răng của đám “số má”, “nội thất” của cỗ máy ấy cho vào rổ, đem xuông suối rửa, xóc như xóc ốc ấy, rồi lại đem lên, vớt hết ra, lau chùi, bôi dầu mỡ rồi hì hục lắp. Lắp xong thì đạp cho nổ nhưng mãi không nổ được, đành hô nhau đẩy. Tiếng nổ phành phạch ầm ĩ cả Trung đoàn. Nghe chừng anh ta hồ hởi lắm. Mấy ngày sau đó thì anh lấy sơn phun màu xe đỏ như màu cò và đem xe đến chỗ chiếc xe mô tô của tôi, dựng cạnh đấy, đầu ngoẹo về một bên, cười thích thú:

        - Báo cáo thủ trưởng! Xe của thủ trưởng là Minsk đực, còn của em là Mỉnsk cái!

        - Có mà cái...cái con khỉ! Trông thì thấp bé, xộc xà xộc xệch chẳng giống ai thế kia mà cũng đòi! - Tôi cười trả lời.

        - Thì thủ trưởng tính, nó đã phải trải qua bao nhiêu lần thai nghén, sinh nở rồi! Óng ả thế nào được nữa ạ?

        - Lão này lí sự ghê nhỉ?

        - Lính của Trung đoàn 931 mà, thủ trưỏng!

       Hồi ấy chẳng là tôi có chiếc xe Minsk đỏ, thi thoảng chạy về tận Đa Phúc rồi lại ngược lên, chiếc xe của anh Khai là chiếc Yamaha nữ nên anh “ghép đôi” thế cho vui. Anh ta thì cứ cách dăm bảy ngày lại hứng chí sơn lại xe của mình một lần. Thôi thì lúc màu xanh lá cây, lúc lại màu nước biển, lúc màu da cam, lúc thì rằn ri, vằn vện... đổi màu liên tục chẳng khác gì con kỳ nhông.

       Để sơn xe, anh ta chế tác ra cái gọi là “máy phun sơn”, cũng dựa trên nguyên tắc của Định luật Bec- nu-li, phải mỗi tội là khi nhấn bơm thì không thể đều đặn trăm phát như một được, vì thế mà chỗ thì đậm chỗ thì nhạt, chỗ thì mỏng sơn chỗ thì dày sơn, không ra làm sao cả. Thế là anh ta lại vò đầu bứt tai nghĩ cách khắc phục. Sau đó anh ta lấy chiếc véc-xi bóng chuyền, bơm đầy hơi vào đó, một đầu thì nối với “máy phun sơn” và xì hơi ra từ từ. Kể từ đó, các “mẻ sơn” nghe chừng đã có kết quả tốt hơn, sơn đã đều hơn. Anh ta phỏn chí lắm. Đúng là cái anh chàng người Mường này lắm chuyện thật đấy!

       Những ngày được nghỉ, anh ta phi về Phú Thọ, chuyên dùng chiếc Yamaha nữ ấy buộc mấy cây tre đằng sau, kéo tre về tập kết để chuẩn bị làm nhà.

       Lâu lâu anh lại bổ máy ra, đem hết các phụ tùng cho vào chậu thau để ngâm dầu, bảo quản rồi lại lắp lại. Có một lần, để trêu anh, khi thấy chậu phụ tùng xe của anh để ở góc hè, lúc đi qua, tôi ném một chiếc ốc vít vào đó rồi lẳng lặng bỏ về. Đầu giờ chiều, anh ta mang mọi thứ ra lắp. Máy lắp xong đâu vào đấy rồi, nhưng khi mò trong chậu thì vẫn thấy một con ốc còn sót lại. Anh ta ngồi thừ mặt ra, cầm con ốc xoay đi xoay lại ngắm nghía, suy nghĩ xem nó nằm ỏ vị trí nào trong máy. Kể thiếu một con ốc thì có khi lại không để ý, nhưng bỗng dưng thừa ra một con mới là vấn đề, bố ai dám đi nếu như không biết nó ỏ đâu và phải làm thế nào. Thế là chàng Khai hì hục tháo máy, bổ máy và dỡ tung ra để kiểm tra. Khi chàng ta bắt đầu dỡ các bộ phận trong máy thì tôi như giả vờ đi qua và nói:

        - Này, lúc nãy thấy có dầu luyn trong chậu, tôi có ngâm một con ốc vào đó. Đừng vứt đi của tôi nhé!

        - Ối bố ôi là bố ôi! Thế là bố giết con rồi! - Anh chàng Khai ngồi bệt ngay xuống đất, vò đầu kêu toáng lên.

        - Thế là thế nào đấy? - Tôi làm ra vẻ không hiểu.

        - Ối bố ôi! Con định lắp máy vào để phi về với bu cháu chiều nay mà như thế này thì làm sao kịp được?

        - Ai cho ông về chiều nay hả? - Tôi vờ nghiêm giọng.

        - Thì em đã có kế hoạch với Trưởng tiểu ban rồi mà!

        - Thôi, mai về! Ai bảo cứ để mọi thứ hớ hênh ra như thế!

        - Ối giời ôi! Lần sau thì con xin cụ đừng có đùa ác thế nhá!

        Rồi anh ta quay sang nói với cậu chiến sĩ trong Tiểu ban:

        - Lần sau mày phải cảnh giác với bố này. Phải canh, chừng hộ tao khi tao bổ máy xe đấy!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2016, 10:41:11 pm
       Trêu tí thế thôi vậy mà anh ta cảnh giác thực sự mới chết chứ. Mấy lần sau khi tôi đến chơi, trước lúc ra về, anh ta kiểu gì cũng cười cười, nửa thật nửa đùa:

        - Báo cáo thủ trưởng! Thủ trưởng cho em sờ túi thủ trưởng tí!

        - Nghi tôi là thằng ăn cắp hả?

        - Không ạ! Đâu dám ạ! Dưng mà thủ trưởng đùa, “nhóp” đi một con ốc xe nào của em là em ốm rồi ạ!

        - Đấy! Lần túi quần đi! Mà có một con ốc to bằng cổ tay ở trong ấy đấy! Nó chẳng thuộc về cái máy của nhà ông đâu! Báo trước cho mà biết nhé!

        - Ối giời ôi! Cụ lại trêu em rồi!

       Tất cả cười ồ! Về sau tôi còn được biết thêm một chi tiết là anh đã từng trở thành “bà đõ” bất đắc dĩ khi ngang đường gặp một phụ nữ trở dạ. Chẳng biết bây giò đứa bé ấy thế nào, đã thành ông bố, bà mẹ hay chưa và có còn nhớ đến ngưòi cha đỡ đầu Dương Công Khai hay không?

       Trung đoàn có rất nhiều anh có “tài vặt”, có “hoa tay” mà tôi hay dùng cái câu là “hoa tay dài đến nách”, ví như anh Lại Duy Bến ỏ Quân lực chẳng hạn. Chẳng thấy anh học ở trường mỹ thuật nào bao giờ mà anh vẽ, rồi nặn tượng cứ như nhà họa sĩ-điêu khắc chuyên nghiệp ấy. Khi về hưu lại còn học chữ Nho, viết thư pháp... rồi viết văn, làm thơ, từng xuất bản mấy tập thơ “Lửa chiều”, “Vỡ lẽ”... Đã có lần, anh đi dự Hội Lim, thấy có ông thày ngồi viết thư pháp, anh có vẻ “ngứa nghề” bền đề nghị ông cho viết thử mấy chữ, ai dè ông thày kia phục tài quá, nói:

        - Thôi, bác cứ để chữ đây em bán cho, tí nữa bác quay lại, nêu có người mua, em sẽ gửi lại bác tiền!

       Và rồi có người “mua chữ” của anh thật. Anh nhận tiền mà cứ tủm tỉm cười. Thế mà không lạ sao?

       Rồi như Nguyễn Đức sắc - Trợ lí Quân báo lại có tài về nghề mộc, sau này về lại tự thiết kế, xây nhà ở cho mình nữa. Tôi cũng từng là học trò của anh để anh dạy cho cách cưa, đục...

       Rồi như phi công Vũ Đức Hội với bài “Văn tế liệt sĩ Không quân nhân dân Việt Nam” không phải là tài hoa sao?

       Rồi như phi công Lương Quốc Cường sau này là Chính ủy Trung đoàn với những ca khúc viết về Trung đoàn, được đăng tải, được đưa đi biểu diễn không phải là tài giỏi sao?

       Rồi có những số phận thật lạ lùng, như trường hợp của chàng chiến sĩ Nguyễn Văn Yên chẳng hạn, anh chàng này trèo cọ để chặt lá, bị ngã từ cây cọ cao xuống đất tưởng “đi đứt” rồi, thế mà điều trị một thời gian ở trại thương binh trở về lại khỏe khoắn, đi lại bình thường, rồi còn sinh con đẻ cái nữa chứ.

       Đúng là ở đời này có nhiều chuyện bất ngờ thật!

       Như tôi đã nói ở phần đầu, khó khăn đến với Trung đoàn nhiều vô kể, nhưng nhờ có sự lạc quan mà chứng tôi đã vượt lên. Sau một tuần từ khi thành lập Trung đoàn, lực lượng Trực ban chiến đấu đã bước vào trực chiến, rồi một tuần sau là ban bay huấn luyện đầu tiên cũng đã tổ chức thắng lợi. Vùng trời Hoàng Liên Sơn đã rộn lên những tiếng động cơ máy bay. Những cánh én bạc đã lao vút vào trời xanh với các khoa mục bay khác nhau, cùng thi đua với các Trung đoàn khác và hứa hẹn sự phát triển toàn diện.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tám, 2016, 10:42:07 pm

       Các cán bộ, chiến sĩ vào tận Hang Dơi lấy tre, lấy nứa về dựng thêm nhà, mở rộng thêm “cơ ngơi” của Trung đoàn cho khang trang thêm. Các đoàn thể, các tổ chức quần chúng ở địa phương của mấy xã lân cận quanh sân bay thường xuyên đến thăm hỏi Trung đoàn, động viên Trung đoàn giúp cho tinh thần của chúng tôi ngày càng hăng hái, mối quan hệ quân dân ngày càng gắn bó mật thiết hơn. Không những chỉ giúp đỡ chúng tôi về mặt tinh thần, mà song song với đó là ủng hộ cả vật chất. Trường Trung cấp nông nghiệp cung cấp cho chúng tôi các giống cây trồng, giống vật nuôi để tăng gia, chăn nuôi. Ty Thủy sản thì cho nguồn cá bổ sung vào bữa ăn hàng ngày của bộ đội... Chúng tôi còn được nhân dân cho gỗ để đóng bàn ghế và các vật liệu thường dùng. Những cây gỗ to được trâu kéo về tận sân của Trung đoàn và một tổ thợ mộc đã được lập ra một cách nhanh chóng. Phải nói rằng, lính Trung đoàn nhiều anh rất khéo tay, rất lành nghề. Trong một thời gian ngắn, một góc sân của Trung đoàn đã biến thành một xưỏng mộc. Tiếng cưa xẻ, tiếng đục, tiếng bào... vang lên đều đều, không khí nhộn nhịp lắm. Tổ thợ làm việc cả ngày lẫn đêm. Chính trong khoảng thời gian đó, tôi cũng mày mò học nghề mộc, không phải là kiểu “sáng rửa cưa, trưa mài đục, chiều giục ăn” đâu, học hành đàng hoàng cả đấy. Khổ nhất là ngồi cưa lao, xẻ dọc miếng gỗ. Cổ chân thì phải ngoẹo quặt ra để giữ thanh gỗ, hai tay phải kéo, đẩy thật nhịp nhàng, không được nhanh quá mà cũng không chậm quá, phải theo đúng vệt chỉ, không được để “chó liếm mực”! - nói như ngôn từ của mấy ông thợ mộc - Tức là không được xẻ lẹm, lệch vạch chỉ đã đánh dấu. Ngồi xẻ vài phút thì không sao chứ ngồi chừng tiếng đồng hồ trở lên thì cổ chân mỏi nhừ rồi lưng thấy ê ẩm ngay. Rồi tiếp đến là học đục, học bào, học mài lưỡi đục, mài lưỡi bào. Khó nhất là cái khoản mài lưỡi bào, phải mài làm sao cho sắc lẹm, mà hai góc lưõi bào vẫn phải vuông, không được vát một li nào hết. Thòi bây giò thì tất cả đều đã có máy: máy cưa, máy xẻ, máy bào, máy khoan, máy đục, máy cắt mộng... nghĩa là con người nhàn hơn rất nhiều. Rồi cách chọn gỗ, sử dụng gỗ... Với các ông thợ mộc, khi họ đã thải gỗ ra rồi thì có lẽ chi có phoi bào và mùn cưa, chỉ còn nước là cho vào bếp mà đun thôi vì các bố ấy tận dụng triệt để lắm, tận dụng từng đầu mẩu gỗ một cơ. Tôi cứ ngẫm nghĩ câu: “Dụng nhân như dụng mộc!”. Các cụ thâm thúy thật, sâu sắc thật. Người nào bô" trí vào việc nào cho hợp lí, cho phát huy hết được sở trường của người ấy cũng giống hệt như gỗ nào sử dụng vào việc nào cho phù hợp, không lãng phí thì mới được. Ghê thật! Ghê thật đấy!

       Hoạt động thể thao của Trung đoàn cũng khá sôi nổi: chúng tôi san gạt khoảng rộng trước nhà Trung đoàn bộ rồi xin xe cẩu về để cẩu những tấm bê tông lát sân. Tôi cũng nhảy lên xe cẩu, được anh Ban dạy cho cách sử dụng rồi hướng dẫn tôi cẩu đặt được 9 miếng bê tông lát phẳng phiu đàng hoàng. Thế là có đủ cả: nào sân bóng chuyền, sân bóng rổ, sân bóng đá, nào bãi xà, tạ, đu quay... Rồi tổ chức đấu giao hữu với các đơn vị trong quân đội, với các đơn vị ngoài quân đội nữa... náo nhiệt lắm! Khi thì các đội của Trung đoàn ra các cơ quan, đơn vị bên ngoài thi đấu giao hữu, khi thì các đơn vị bên ngoài vào trong Trung đoàn giao hữu. Tình nghĩa quân dân càng gắn bó thì càng giúp cho Trung đoàn thấy trách nhiệm phải vượt khó để xứng đáng vói sự tin yêu, đùm bọc của nhân dân.

       Khó khăn thì nhiều lắm, nhiều vô kể..., nhưng chúng tôi đã gỡ dần từng bước, loại dần từng khó khăn một, từ nhỏ cho tới lớn. Nếu không có niềm lạc quan, nếu không có được tinh thần vượt khó, hướng về tương lai thì chắc chúng tôi không thể xây dựng Trung đoàn như thế được. Mọi người đều có ý thức cố gắng, có ý thức phấn đấu. Suốt những năm tháng gian truân ấy, Trung đoàn duy nhất chỉ có một trường hợp chiến sĩ bị loại ngũ, nhưng kể cả với ngay bản thân chiến sĩ ấy, cho tới bây giờ tôi vẫn quý mến cậu ta. Cũng vì những hoàn cảnh, những khung hình kỷ luật mà phải xét xử cậu ta. Bản thân cậu ta cũng nhận thấy những khuyết điểm của mình và sẵn sàng đón nhận hình thức kỷ luật xứng đáng mà không phá phách hoặc không có những hành vi tiêu cực nào. Trước ngày nhận quyết định bị loại ngũ, có người đến gặp tôi, lo lắng chuyện nhỡ ra cậu ta “không còn gì để mất” nữa, quăng cho Trung đoàn một mồi lửa lên mái nhà thì toàn Trung đoàn phút chốc sẽ làm mồi cho “bà Hỏa” ngay, chỉ còn lại tro tàn thôi. Có thể như thế lắm chứ, khi đã đến nước đường cùng rồi, khi đã phải ra khỏi quân đội không còn tí tư cách nào nữa thì con người cũng hay nghĩ quẩn và hay làm liều lắm, nhưng riêng tôi thì tôi tin cậu ta sẽ không bao giờ làm thế bởi bản chất cậu ta là một người tốt. Và đúng là cậu ta chấp nhận hình thức kỷ luật một cách rất nghiêm túc thật. Thế thì không đáng quý hay sao?

       Điều đáng nói là tất cả các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn đều tôn trọng nhau, đối xử với nhau rất thân thiết, gắn bó như trong một gia đình lớn. Riêng với cá nhân tôi, mọi người không chỉ coi tôi là một người lãnh đạo mà còn coi tôi như một người anh, một người bạn... Điều ấy làm tôi rất cảm động và càng quý trọng tất cả anh em trong Trung đoàn hơn.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2016, 08:36:29 am

CHƯƠNG BA

TRƯỞNG THÀNH

       Những ban bay huấn luyện đầu tiên của Trung đoàn, số lượng chuyến bay không nhiều chỉ với mục đích làm quen với các không vực bay, với địa hình vùng Hoàng Liên Sơn và chống giãn cách bay mà thôi.

       Các ban bay sau số lượng chuyến bay tăng dần lên và bắt đầu với các khoa mục bay theo đúng kế hoạch bay và tiến độ trong kế hoạch bay của Trung đoàn đã được Sư đoàn phê duyệt.

       Sự chuyển biến bộc lộ một cách rõ rệt không chỉ nhìn vào cái chung mà cụ thể ngay từ cá nhân từng cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn. Tôi còn nhớ, có một lần khi đi họp về, lúc qua cổng của Trung đoàn, anh Đoàn Văn Sàn hơi “giật mình” khi nhác thấy cậu cảnh vệ có bộ ria nghe chừng không bình thường, về đến phòng, anh nói nhỏ với tôi vẻ nghi ngờ:

        - Này, cậu này! Tớ cảm thấy hình như cái “thằng" cảnh vệ lúc nó kéo ba-ri-e lên cho xe mình vào, nó xăm ria thì phải?

        - Không phải là hình như mà là chắc chắn 100 phần trăm! - Tôi trả lời.

        - Chẳng nhẽ lại như thế nhỉ? - Anh lẩm bẩm rồi sau một chút suy nghĩ lại nói tiếp: “Biết thế đếch nào được!”.

       Anh bỏ đi đâu không biết. Phải mất gần nửa tiếng đồng hồ sau đó anh mới trở về, sang phòng tôi và nói:

        - Đúng thế, cậu ạ!

        - Cái gì đúng cơ? - Tôi hơi ngơ ngác hỏi lại anh.

        - Thì cái “thằng" xăm ria ấy. Đúng là xăm thật! Trần đời tớ chưa thấy thế bao giờ!

        - Thế thì anh chưa biết còn có “thằng” xăm cả hình cô con gái cởi truồng ở đùi rồi! Mà có khi anh biết thừa, anh chẳng thèm nói với tôi cũng nên!

        - Lại thế nữa! Đúng là tớ không biết thật! Mà sao cậu biết nhiều thế nhỉ?

        - Ơ, phải hiểu rõ lính của mình chứ! Mà công tác tư tưởng là của anh đấy nhé!

       Câu chuyện anh em chúng tôi trao đổi với nhau tưỏng chừng sơ sài thế thôi, nhưng sau đó là cả một kế hoạch tính toán nghiêm túc để làm sao có thể xoay chuyển được nhận thức của tất cả mọi người trong Trung đoàn. Các đợt sinh hoạt, những lần tiếp xúc, gặp gỡ riêng, nghe ngóng, giải quyết mọi khúc mắc... được tiến hành thường xuyên và sự chuyển biến ngày càng rõ rệt. Đặc biệt, cậu có hình xăm ỏ đùi đã làm một chuyện mà tôi nghe cũng thấy “choáng”: ấy là cậu đã lấy một miếng gang, cho vào bếp nung nóng lên rồi áp vào chỗ hình xám để tẩy sạch hình xăm đi, chấp nhận vết bỏng thay thế vào chỗ hình xăm. Đấy chính là một tấm gương sáng và kể từ đó, tình hình vi phạm kỷ luật trong Trung đoàn giảm đi đáng kể.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2016, 08:37:15 am

       Khi lòng người đã thuận thi mọi việc tiến triển rất “thuận buồm, xuôi gió”. Trung đoàn tôi đóng quân ở vùng rừng núi nên Sư đoàn không giao cho kế hoạch bay biển mà chủ yếu là nhiệm vụ bay đánh chặn các mục tiêu trên không, đánh các mục tiêu mặt đất và nhiệm vụ bay trinh sát. Tôi cùng một số người biên soạn và dịch những tài liệu mình từng học ở Học viện để lên lớp cho anh em. Những phần lí thuyết xen kẽ vói những khoa mục bay thực hành đã làm cho lực lượng phi công của Trung đoàn bay ngày càng vững tay hơn. Ngay từ năm 1974 tôi đã là giáo viên bay rồi và đặc biệt là vào năm 1970, trước khi sang bên sân bay Tường Vân bay thử các máy bay mình để ở bên đó để chuyển về nước thì tôi cũng đã được học bồi dưỡng qua một lớp ngắn ngày về bay thử. Qua đợt học về bay thử ấy, tôi được thày dạy cho những thuật bay nắm hết tính năng của máy bay MiG-21 và thấy mình bay vững tay hơn rất nhiều. Chính vì vậy khi về Trung đoàn, tôi đặc biệt quan tâm đến những bài bay động tác phức tạp độ cao trung và nhất là ở độ cao thấp. Tôi bay kèm với nhiều phi công của Trung đoàn, truyền đạt lại cho họ những kinh nghiệm bay của bản thân mình và có những tôi mất điện phải đốt đuốc lên để giảng bình bay cho kịp thời. Tất cả các phi công của Trung đoàn đều ý thức được rằng mục tiêu của họ là những trận không chiến trên không, và những trận công kích mặt đất. Mục tiêu tác chiến của họ là ở trên trời và trên cạn. Họ đã hiểu chỉ có nắm vững được thuật bay cùng các động tác nhào lộn thật nhuần nhuyễn thì mới có thể gọi là tạm yên tâm khi vào không chiến. Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh qua và những bài học đắt giá của những thế hệ phi công đi trước đã chỉ ra rằng: anh phải thực sự thuần phục được máy bay anh đang lái, anh phải thực sự gắn bó với nó, không phải là máy bay đang bay mà là chính bản thân anh đang bay, đang nhào lộn trong thinh không, anh làm bất kể những gì anh muốn và phải chuẩn mực đến tuyệt đối, phải “vẽ” được những vòng thật chính xác theo phương nằm ngang và theo các mặt phẳng đứng, mặt phẳng nghiêng. Càng nắm vững tính năng của máy bay chắc bao nhiêu, kỹ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Nó sẽ giúp anh hoàn thành được nhiệm vụ dù là đánh mục tiêu trên không hay là ở dưới mặt đất. Nó sẽ giúp anh thoát hiểm trong rất nhiều trường hợp ở trên trời. Viết đến đây tôi lại nhớ đến phi công Mai Văn Minh của Trung đoàn - người từng bị ba lần mất nắp buồng lái trong khi bay, nhưng vẫn đưa máy bay về hạ cánh được mà không phải nhảy dù. Chuyện mất nắp buồng lái thì không phải chuyến bay nào cũng xảy ra, nhưng trong thời gian các đơn vị bay của Quân chủng tổ chức bay cũng có đến dăm lần mất nắp buồng lái. Có lẽ do hoàn cảnh khí hậu nước mình độ ẩm quá lớn rồi nắng nóng bất thường, hầm để máy bay thường xuyên lại không đủ đáp ứng nên keo dán nắp buồng lái nhanh bị lão hóa. Khi cất cánh lên trời, áp suất thay đổi thế là nắp buồng lái tự bung ra và... “không cánh mà bay” thôi. Trong trường hợp ấy, phi công phải thực sự bình tĩnh, xử lí tỉnh táo, đúng bài bản thì có thể còn cứu được máy bay, đưa máy bay về hạ cánh và cứu được cả bản thân mình nữa. Bằng không thì chỉ có cách là nhảy dù, vứt máy bay mà rồi ngay bản thân mình cũng không biết có được an toàn hay không nữa kia. Trong cuốn “Sổ tay người lái”, tức là cuốn hướng dẫn các phi công sử dụng máy bay MiG-21 đã có đến mấy chục trường hợp bất trắc có thể xảy ra trong khi bay. Từ đầu đến đuôi máy bay đều có thể xảy ra vấn đề gì đó bất thường hết. Tổng Công Trình Sư thiết kế máy bay đã tính đến các trường hợp ấy rồi. Chính vì vậy mà trong “Sổ tay ngưòi lái” có đưa ra hàng chục trường hợp xử lí bất trắc mà bất kỳ phi công nào cũng phải thuộc lòng. Này nhé, đầu máy bay là cái “chóp nón” có thể không “thò ra thụt vào” phù hợp với tốc độ bay, rồi thân máy bay là các hệ thống điện, hệ thống dầu thủy lực, động cơ..., có thể hoạt động không bình thường, rồi hệ thống càng của máy bay có thể thả không ra, hệ thống cánh tà cũng vậy... Phần đuôi máy bay thì miệng phun của máy bay có thể cứ há ra mà không khép vào được, rồi kể cả dù giảm tốc khi hạ cánh cũng có thể không mở, rồi phanh có thể không ăn... Nghĩa là nhiều, nhiều thứ có thể xảy ra trong chuyến bay lắm. Chỉ cần sa sẩy một chút thôi là hỏng bét hết. Mọi xử lí đòi hỏi phải thật chuẩn, không được sai một li, đúng như người xưa nói: “Sai một li, đi một dặm!” thật. Ví như còn có độ cao thì còn “đi một dặm” được, nếu dưới thấp, ở cái nơi “gần đất, xa trời” ấy thì đi đâu? Chắc chắn là xuống đất luôn, và “thịt với xương tim óc dính liền” là cái chắc!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2016, 08:38:12 am
       Trở lại chuyện của anh Mai Văn Minh! Trong vòng có hơn một năm tròi mà anh ta bị đến tận 3 lần liên quan đến cái nắp buồng lái. Tôi kể chi tiết một chút để bạn đọc hiểu. Vào ngày 6 tháng 3 năm 1982, khi Mai Văn Minh trực ban chiến đấu cùng Nguyễn Đình Loan ở tuyến trực ngoài sân bay. Gần trưa thì có lệnh cho biên đội Minh, Loan vào cấp rồi mở máy, xuất kích chiến đấu. Sau khi cất cánh, đến độ cao thu càng, rồi thu cánh tà, lúc chuẩn bị tắt tăng lực, Minh ra khẩu lệnh: ‘Tắt tăng lực!” thì nghe thấy “roạt” một cái, rồi chiếc nắp buồng lái cứ rung lên bần bật, kêu phập phập y như chiếc vung xoong ‘lẩy bẩy” khi nồi nước đang sôi vậy. Minh giảm tốc độ, ép độ nghiêng sang phải thì cả máy bay giật bắn lên như bị động kinh, không thể ghìm được. Minh thử nghiêng sang trái thì không sao, máy bay có vẻ nghe theo sự đỉều khiển. Minh cố kéo kính mũ xuống, giữ chặt lấy để về hạ cánh. Vì máy bay trực chiến đeo cả thùng dầu phụ dưới bụng và cả 4 quả tên lửa, số lượng dần còn nhiều như thế, nặng như thế nên khi tiếp đất xong, Minh phải mắm môi mắm lợi vào phanh sau khi đã thả dù giảm tốc. Hai quả tên lửa đã phi vèo vèo ra khỏi bệ, lao vun vút trước mũi máy bay. Minh hoảng hồn, nhưng tên lửa không nổ. Máy bay của Minh phải đưa vào xưởng để kiểm tra. Keo dán nắp buồng lái đã bong, nhưng nắp buồng lái thì vẫn còn giữ được, chưa bị bay. Vì có kẽ hở nên khi vòng máy bay, áp suất thay đổi, nắp buồng lái bị giật lên giật xuống phập phập là vậy.

       Ngày ấy hình như là ngày “dự lệnh” cho chuyến sau của Mai Minh thì phải. Hơn 4 tháng sau, vào ngày 21 tháng 7, khi biên đội của Hoàng Văn Định và Mai Văn Minh cất cánh đi vào Đà Nẵng để trung tu máy bay, khi bay ngang qua Vinh, Mai Minh đã nghe thấy có tiếng “xì xì” và đúng đến ngang Phú Bài thì “vèo”! - nắp buồng lái đã vù theo mây trời. Tốc độ bay bấy giò đang là 900 km/h, độ cao hơn 7000 mét. Mai Minh hành động như một cái máy, nhanh chóng giảm tốc độ, hạ ghế ngồi, hạ kính mũ bay che mặt, thở bằng ô-xy trên máy bay...

       Mai Văn Minh đã đưa được chiếc máy bay “mui trần” ấy về hạ cánh an toàn trên sân bay Đà Nẵng.

       Trong năm ấy Mai Minh còn gặp một trường hợp hỏng hệ thống dầu đỏ - hệ thống trợ lực điều khiển nữa, nhưng vì tôi đang kể về chuyện liên quan đến nắp buồng lái nên không nêu ở đây.

       Sang năm 1983, vào ngày 17 tháng 11, khi bay huấn luyện với khoa mục đánh chặn mục tiêu trên không, Mai Văn Minh bị dẫn lạc hậu, phải tăng tốc độ để đuổi mục tiêu, ở tốc độ hơn 1000 km/h, vừa mới ép độ nghiêng vòng phải với độ nghiêng chừng 60 độ, thì nghe cái “xèo”! Thôi, cái nắp buồng lái thế là “không cánh mà bay”!

       Mai Văn Minh đã có kinh nghiệm xử lí ở chuyến đi Đà Nẵng rồi nên xử lí thành thạo hơn, chuẩn mực hơn. Vậy mà cũng phải mất đến 25 phút sau, Mai Minh mời lò dò về được đến sân bay, vào hạ cánh an toàn.

       Lần mất nắp buồng lái này, khi về hạ cánh, lăn vào sân đỗ, xuống máy bay rồi thì thấy mặt Mình như bị phù, hai mắt sưng húp lên, trông “không giống ai”. Minh phải đi viện điều trị vì bị “xuất tiết hoàng điểm”, tôi thì cứ gọi nôm na là bị chảy máu mắt!

       Mấy lần gặp sự cố như vậy nhưng vẫn cứu được máy bay, đưa về hạ cánh an toàn. Mai Văn Mình đã được Chủ tịch nước gửi thư khen. Đơn vị đã đề nghị khen thưởng cho anh với phần thưởng xứng đáng và anh Mai Văn Minh đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

       Về sau này, khi anh em tôi có dịp ngồi với nhau, tôi cứ ngắm nghía khuôn mặt của Minh làm Minh chột dạ:

        - Sao anh nhìn em ghê thế?

        - Cầu thủ bóng đá trong một trận thì lập được cái gọi là “hát-trích”, còn cậu mấy lần mất nắp buồng lái như vậy thì tớ đang nghĩ xem nên goi là gì “trích”?

        - Cứ gọi là “cá trích” cũng được!

        - Cái cậu này đến là háu ăn! “Cá trích” thì quý và hiếm đấy!

       Anh em tôi cười váng lên. Chừng như khi mình đã vượt qua được những điều cam go rồi thì mọi chuyện ấy lại trở thành bình thường và có thể đem ra làm trò đùa được thì phải.

       Liên quan đến chuyện nắp buồng lái trục trặc mà vẫn xử lí để về hạ cánh an toàn được có lẽ cũng cần phải nói đến trường hợp của phi công Vũ Đức Hội. Chuyện ấy xảy ra vào ban bay ngày 20 tháng 8 năm 1988 khi Trung đoàn tổ chức cho số phi công làm nhiệm vụ tiêm kích phòng không với đội hình 2 chiếc và 4 chiếc. Hôm ấy, biên đội của các anh Hoàng Văn Định, Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Đình Loan và Vũ Đức Hội bay tập với bài bay: “Biên đội 4 chiếc đánh chặn mục tiêu 2 chiếc trên độ cao 6000 mét”. Sau khi được sỏ chỉ huy dẫn dắt đến cự li thích hợp, số 3 và số 4 (các anh Nguyễn Đình Loan và Vũ Đức Hội) đã phát hiện được mục tiêu trước và được phép tiến hành công kích. Công kích xong, lúc thoát li khỏi mục tiêu, máy bay của Vũ Đức Hội bị vỡ nắp buồng lái, mảnh mi-ca của nắp buồng lái văng ra làm móp cả mũ bay của Hội. Vũ Đức Hội bị thương vào đầu, phía bên trái. Bằng kinh nghiệm bay và bản lĩnh bay của mình, Vũ Đức Hội đã bình tĩnh xử lí và đưa máy bay về sân bay hạ cánh. Khi lao xuống hạ cánh, đến độ cao 100 mét, Hội phát hiện thấy có 2 máy bay đang lăn ra đường băng liền bay lại vòng 2 rồi tiếp tục làm hàng tuyến về hạ cánh an toàn.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tám, 2016, 08:40:18 am

       Sau này, khi về Sư đoàn công tác với cương vị Phó Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn Không quân 371, Vũ Đức Hội cũng là người soạn thảo bài: Văn tế Liệt sĩ Không quân nhân dân Việt Nam!:

       Nhớ thuở nào!

       Bầy quạ sắt như đám mây đen ùn ùn kéo tới, tên lửa rạch trời như chớp giật, bom cày mặt đất tựa ngô rang.

       Từ mặt đất vút cao, lật xuống bổ nhào, đàn én nhỏ tung hoành chốn sa trường mây trắng, tả đột hữu xung nào ai biết trước sau.

       Bùng chớp lửa, cánh én lìa đàn, sống anh hùng, thác vẻ vang, thế gian khóc người chiến sĩ chứa chan hàng lệ nhỏ.

       Xao xác lá rơi, lá xanh về cội, sống thăng thiên, quy nhập địa, hậu thế viếng đấng anh hùng nghi ngút khói hương bay.

       Ản quả nhớ kẻ trồng cây, đạo lý ấy ngàn năm còn giữ.

       Ghi nhớ công ơn liệt sĩ, truyền thống này vạn đại khắc ghi.

       “Trung thành vô hạn, kiên quyết tiến công, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể” - lời Bác Hồ dạy, Không quân vẫn nhớ.

       Hào hoa dưới đất, trí dũng trên không, khí phách ấy chẳng thể nào quên được.

       Hỡi ôi!

       Hương hồn các chị, các anh.

       Những cán bộ chỉ huy, những phi công, tổ lái.

       Những thợ máy, dẫn đường, trắc thủ, công binh.

       Những lái xe, những chị em phục vụ tận tình.

       Vì Tổ quốc chẳng xá gì xương máu.

       Đất nước gọi các anh lên đường, mở mặt trận trên không thắng lợi, không hổ với Tổ Tiên.

       Tổ quốc cần hy sinh xương máu, với cái chết nhẹ tựa lông hồng, chẳng thẹn cùng sông núi.

       Không quên!

       Những cánh bay đầu tiên năm ấy

       Kẻ bộ đội chín năm, chiến trường đổ máu, chiến công đầy, ngực đỏ huân chương.

       Người hôm qua còn ngồi ghế nhà trường, tà áo trắng còn vương màu mực tím.

       Người hôm nào còn cày sâu cuốc bẫm, nơi xóm nghèo vợ bìu ríu con thơ.

       Chị hôm qua còn đứng bên thoi dệt, quân phục cứng hồ sao vẫn thấy ngẩn ngơ.

       Nào có ngờ lính Không quân gia nhập, vinh dự tràn đầy, làng xóm được thơm lây.

       Người lẳng lặng đi Tây học lái, vợ con ở nhà vẫn tưởng đâu đây.

       Người học kỹ thuật, học nhảy dù, người làm sân đường, người học hoa tiêu.

       Người ra-đa, máy nổ không nhiều, vẫn thiếu bao người cho ngày bay thuở ấy.

       Nhiệt huyết cao, văn hóa thấp học sao thấy khó.

       Trời quê nhà vẫn vẩn đục lũ quạ đen.

       Ham bay, say học, năng rèn, muốn một ngày chí kia được thỏa.

       Gió lạnh, tuyết dày, nẳng đổ, ngày lại ngày không mẻ sức trai.

       Cháy bỏng trong tim lòng yêu nước tràn đầy.

       Ngất núi hận thù lũ xâm lăng cướp nước.

       Nào ngờ!

       Phận mỏng cánh chuồn, những cánh én ra đi không ngày trỏ lại.

       Bầu bạn bốn phương đón anh nơi đất lạ trở về.

       Mông Tự, Tưòng Vân hay nước Nga bát ngát.

       Đất Ba Lan tuyết trắng hay Trung Á bụi mờ.

       Nơi ấy những con chim ra ràng vỗ cánh

       Ước mơ đại bàng mãi mãi chẳng đến cho

       Anh nằm nghe sóng Biển Đen, hồn bay theo điệu dân ca Di-Gan da diết.

       Ngôi sao hồng trên nấm cỏ xanh, hương Chiu- pan ôm ấp anh mấy chục năm xa đất Mẹ!

       Nay các anh về, lòng ấm lại biết bao nhiêu.

Thật anh hùng!

       Những phi công trẻ Việt Nam dũng cảm, lóp phi công nào cũng đánh thắng, phi đội nào cũng lập chiến công.

       Những trận không chiên đầu tiên MiG-17 ra quân thắng lợi, “Giặc nhà trời”, “Thần sấm” hóa ra ma.

       Mảnh đất Hàm Rồng thành mồ chôn giặc Mỹ, chiến công đầu thấm đỏ máu các anh.

       Giặc đầy trời, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, tâm phải quyết.

       Bí mật bất ngờ, chớp thời cơ, cả biên đội đều lập chiến công.

       Diệt địch từ xa, dùng An-2 đánh đồn Pa-Thí, dùng T-16 ném bom Bun-Lọng, bọn giặc Mỹ, ngụy Lào kinh hồn khiếp vía.

       Từ sân bay dã chiến, mai phục đánh tàu chiến địch, biển xanh kia lũ giặc kinh hoàng.

       Tự đi, tự đánh, tự về, Il-14 vừa chiến đấu, vừa vận tải hàng cho quân ta ỏ đồn Mang Cá.

       Thông minh, sáng tạo dùng Mi-6 cẩu tàu bay đi phục kích, lắp dù đuôi cho MiG-17 lập công.

       Hiệu suất chiến đấu cao, hơn tên lửa bắn rơi một máy bay giặc Mỹ.

       Phối hợp hiệp đồng chặt chẽ, loại máy bay nào cũng lập chiến công vang.

       Bay thấp kéo cao, MiG-21 hạ gục bao tàu bay Mỹ.

       “Điện Biên Phủ trên không'’ tan xác “Pháo đài bay” thần tượng huênh hoang của Không lực Hoa Kỳ.

       Bao phi công lừng danh của nước Mỹ phải vứt máy bay, vào Hin-tơn nghỉ mát.

       Dùng máy bay địch đánh địch, dũng cảm, táo bạo, Tân Sơn Nhất hôm nào ngút trời khói tỏa.

       Mặt đối mặt bổ nhào, phóng rôc-két, quân Pôn- Pốt bỏ chạy tháo thân.

       Hãnh diện biết bao!

       Rạng danh anh hùng những phi công trẻ Việt Nam.

       Thật tự hào những chú đại bàng non đánh tan tác lũ quạ già hung ác.

       Những “Bồ câu hòa bình” hạ gục uy danh “Thần sấm”, “Con ma” của Không lực Hoa Kỳ.

       Mừng các anh khi nghe tin chiến thắng, cả nước nức lòng, bè bạn sẻ chia.

       Đau thắt lòng khi các anh ngã xuống, giọt máu hồng thấm trang sử vinh quang.

       Tất cả vì những chuyến bay thắng lợi!

       Ơi các chị, các anh người chiến sĩ, ca nước uống cùng, điếu thuốc bẻ đôi.

       Thật tự hào sao xanh đầu mũ, oanh liệt hào hùng người chiến sĩ Không quân.

       Có thợ máy lấy thân mình che cho phi công tránh bom đạn Mỹ.

       Những chị nuôi quân băng qua lửa đạn quân thù đem cơm cho biên đội trực ban.

       Người chiến sĩ công binh phá bom nổ chậm, trên mình không áo giáp.

       Anh lái xe dũng cảm, rẽ bom bi địch mà đi, nguy hiểm chẳng sờn lòng.

       Chị trước em sau những cô dân quân du kích

       Gánh đất lấp hố bom thù để đường băng dài, đàn én vút lên cao

       Những chiến sĩ ra-đa, trắc thủ hôm nào

       Chẳng sợ Sơ-rai, chẳng quản điều chi

       Đang phát sóng vẫn lên đài sửa máy

       Chẳng tiếc thân mình cho cánh sóng vươn xa. Thật xót xa!

       Những cánh bay thời chiến hôm nào

       Hòn tên mũi đạn vô tình ra đi mãi mãi Chiến tranh là vậy, nào có ai muốn thế Nước mắt ngược vào lòng, xin chia sớt nỗi cảm thông

       Đau đớn thay!

       Huấn luyện bay mỗi ngày, những cánh én bay không biết mỏi

       Tai nạn mỗi lần, có đồng chí phải ra di

       Biển rộng, rừng xanh, cánh đồng lúa chín

       Ôm các anh vào lòng, những đứa con phận mỏng xót xa

       Vợ trẻ, con thơ, mẹ già tóc bạc, chồn chân mỏi gối mong ngóng các anh về

       Sinh nghề tử nghiệp, xưa nay nào có ai muốn thế

       Vững chí bền lòng, sau trước nhiệt huyết chẳng hề phai.

       Nghĩ rằng!

       Chiến thắng lẫy lừng

       Chiến công rực rỡ

       Truyền thống vẻ vang

       Đời đời ghi nhớ

       Đất nước thống nhất hòa bình có từ thuỏ ấy, biết mấy anh hùng ngã xuống

       Dân tộc độc lập tự do, ước vọng ngàn đời, biết bao thế hệ phải đứng lên

       Tổ quốc ghi công các anh vì nước hi sinh máu xương kia không uổng

       Tượng đài Không quân cao vút để đời đời mãi nhó công ơn

       Đá núi chơ vơ, dòng mộ chí bồi hồi tưởng vọng

       Trời cao lồng lộng, dáng tượng đài tưỏng nhớ anh linh

       Rừng xanh bát ngát như sử sách ngàn năm còn khắc mãi

       Cờ bay đỏ thắm như nghĩa tình vạn đại chẳng hề phai

       Hương hồn các chị các anh!

       Sông khôn, thác thiêng hãy phù hộ cho đất này

       Cho đàn én bay, cho tròi kia xanh mãi

       Hỡi các anh hùng liệt sĩ! Hỡi các chị các anh!

       Hồn thiêng vương vấn núi sông về chôn này hội tụ

       Rạng danh truyền thông dựng bia đá khắc ghi

       Hương khói tâm thành đời đời nghi ngút!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 08:39:45 am

       Với Trung đoàn cũng như với tất cả các đơn vị của các Sư đoàn bay, những kinh nghiệm về xử lí các tình huống bất trắc đối với nắp buông lái như của Mai Văn Minh, Vũ Đức Hội chính là những bài học quý giá của các phi công góp phần bảo đảm an toàn bay ngày càng vững chắc hơn.

       Sau này, tôi biết, còn có một phi công cũng đã từng cứu được máy bay trong ban bay huấn luyện kết hợp với bay nhiệm vụ (bay thử máy bay). Đấy là vào một ngày cuối tháng 9 năm 2004, phi công Bùi Thiên Thau bay thử máy bay sau định kỳ 12 tháng.

       Sau khi hoàn tất mọi nội dung của chuyên bay thử xong, Thau về lập hàng tuyến hạ cánh. Khi lao xuống hạ cánh, đến độ cao khoảng 150 mét cách đầu đường băng thì kíp chỉ huy bay phát hiện một chiếc càng bên phải ở trong trạng thái không bình thường liền ra khẩu lệnh cho Thau tăng cửa dầu, bay lại. Tôi đã gặp Bùi Thiên Thau và được nghe anh kể:

        - Ngày ấy là ngày 21 tháng 9 năm 2004, tôi nhận được lệnh chuẩn bị để bay thử máy bay 5266 sau khi định kỳ 12 tháng. Chuyến bay thử tiến hành suôn sẻ, tôi bay về hạ cánh. Gần tiếp cận đầu đường băng thì trong tai nghe của tôi vang lên: “ 29 tăng cửa dầu, bay lại!”... Khi tôi nhận được khẩu lệnh cho bay lại, không được hạ cánh vì càng có vấn đề, tôi tăng cửa dầu, tăng tốc độ rồi từ từ kéo máy bay lên, tiến hành mọi “thủ tục” để bay lại vòng 2. Ngay sau khi thả càng ỏ vị trí trước vòng 3, tôi đã kiểm tra thấy 3 đèn báo càng đều sáng màu xanh cả, có nghĩa là càng đã ra, đã vào chốt khóa rồi, nhưng Đài chỉ huy cho biết là vị trí bánh của chiếc càng phải không nằm vuông góc với mặt đất mà là nằm xoay ngang song song với mặt đất. Nếu cú ấy mà tiếp đất thì... coi như là “xong'’! Chắc chắn máy bay sẽ lật và tai nạn ngay trên đường băng là cái chắc. Tôi xin thu, thả lại càng lần nữa và trớ trêu thay, vị trí càng vẫn ở trạng thái như cũ. Vậy là tôi xin phép “hạ cánh bằng bụng” trên đưòng băng đất (đường băng phụ ỏ bên canh). Đài chỉ huy cho phép, tôi thả càng trước, thả cánh tà bình thường và tiến hành hạ cánh bằng kỹ thuật trượt “bụng” máy bay trên đường băng đất với một càng trước. Cú hạ cánh an toàn, máy bay chỉ bị hỏng hóc nhẹ, đưa vào xưởng sửa chữa sau đúng 1 tháng là lại kéo ra tham gia bay bình thường!

       Những trường hợp như của Mai Văn Minh, Vũ Đức Hội, Bùi Thiên Thau... thì đấy là những trường hợp lập được chiến công, cần có những phần thưởng xứng đáng để động viên, khích lệ không những chỉ cho những người trực tiếp lập được chiến công ấy mà là cho tất cả những thành phần khác của Trung đoàn và trong toàn Quân chủng. Nếu không có sự rèn luyện, không có sự học hành chăm chỉ, miệt mài để tu bổ kiến thức cho mình, nếu không có sự huấn luyện nghiêm túc để nâng cao trình độ kỹ thuật bay thì làm sao có thể xử lí thật chuẩn xác như trong những trường hợp mà các anh phi công Mai Văn Minh, Vũ Đức Hội, Bùi Thiên Thau... gặp phải!

       Đấy mới chỉ là chuyện trong thời bình, khi mọi thứ đều rất yên ổn, đều có thời gian để mọi xử lí còn đàng hoàng, còn bình tĩnh. Trong chiến đấu thì lại khác, tất cả đều phải gấp gáp, nhanh chóng nhưng lại phải thật chuẩn vì kẻ địch không cho ta “khề khà, rềnh ràng’’ bao giờ. Vì vậy, việc rèn luyện, nâng cao bản lĩnh ngay từ thời bình là vô cũng cần thiết. Đến đây tôi lại nhớ lại chuyến hạ cánh bắt buộc khi bay hết dầu của anh Đỗ Văn Lanh: trong một trận không chiến, máy bay của anh bị thương, dầu cứ tự chảy dần khỏi máy bay. Kết thúc cuộc không chiến, anh về đến Vĩnh Yên thì trên máy bay đã không còn giọt dầu nào. Động cơ chết lịm. Sở chỉ huy lệnh cho anh nhảy dù, nhưng anh thấy còn có độ cao, còn tốc độ, máy bay vẫn điều khiển được bình thường thì anh xin phép hạ cánh bắt buộc trên sân bay Đa Phúc. Anh đã tiến hành hạ cánh khi động cơ không làm việc (tắt máy) trên đường băng bê-tông của sân bay. Lúc gặp tôi, anh vẫn còn tiếc rẻ là không hạ được đúng vào vị trí: “u T” (tức là ngang chữ T được kẻ cạnh đường băng - vị trí tiếp đất chuẩn mực cho các phi công). Đến thế là cùng! Đưa được máy bay về an toàn đã là quý lắm rồi lại còn cứ xuýt xoa về cái vị trí tiếp đất chưa thật đẹp nữa thì đúng là chỉ Đỗ Văn Lanh! Anh đã lập được kỳ tích! Cũng chính vì vậy mà vào thòi điểm đó, tuy anh mới bắn rơi 4 máy bay Mỹ thôi, anh đã được nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

       Với các anh như Mai Văn Minh, Bùi Thiên Thau... thì tôi tin rằng trong chiến đấu, các anh ấy chắc cũng sẽ bình tĩnh và sẽ lập được công trạng như anh Đỗ Văn Lanh.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 08:41:24 am

       Theo dõi Trung đoàn, tôi thấy trình độ kỹ thuật của các phi công ngày càng được nâng cao. Tôi có thể tự hào về các phi công của Trung đoàn tôi qua từng khoa mục bay. Ví như bay công kích các mục tiêu mặt đất. Hồi đó, tâm của mục tiêu được khoanh tròn ngay ở đầu đường băng. Dù bay một chiếc hay biên đội đều thực hiện gần như hết tính năng của máy bay, không có “rón rén” trong lúc làm các động tác, tôi thường nói với các phi công là: “Đừng có sợ máy bay bị đau khi nhào lộn thì các động tác mới “ra hồn” được! Bổ nhào ném bom với góc 40 độ là đúng 40 độ. Khi nào cắt bom, khi nào thoát ly là phải dứt khoát, không được phép chần chừ.

       Tôi đã có lần phải thực hiện chuyến bay đuổi bò. Sự thể là thế này: vào thời gian đó, vẫn còn được phép bay trinh sát khí tượng trước ban bay bằng máy bay chiến đấu. Việc thực hiện bay trinh sát khí tượng bằng máy bay chiến đấu có lẽ chỉ bị cấm, chấm dứt hẳn sau chuyến bay của anh Trần Sang đi trinh sát khí tượng và bị tai nạn, hy sinh ỏ khu vực thuộc bán đảo Sơn Trà - Đà Nắng. Sau này thì tất cả các chuyến trinh sát khí tượng trưóc ban bay đều phải tiến hành trên máy bay UMiG-21 (loại 2 chỗ ngồi). Ban bay hôm đó, tôi bay trinh sát khí tượng, sau khi cất cánh bay về các không vực để xem tình hình khí tượng ở các không vực thế nào, thực tại ra làm sao và dự kiến tình hình trong suốt ban bay có đảm bảo hay không, sau đó tôi bay lướt qua khu vực Nà Sản - Sơn La xem tình hình khí tượng của sân cơ động của Trung đoàn rồi quay về thông trường để vào hạ cánh. Khi chuẩn bị thông trường thì tôi phát hiện có mấy đàn bò không biết từ đâu ùa ra gặm cỏ ngay sát đường băng. Thoáng nghĩ trong đầu: lực lượng cảnh vệ chắc chắn là sẽ không kịp ra đuổi khi mình vào hạ cánh rồi. Nếu lúc tiếp đất mà dăm chú bò nhởn nhơ ra dạo ngoài đường băng thì chắc máy bay mình sẽ xâu luôn mấy chú thành bò tái, mà rồi mình cũng đi tong luôn chưa biết chừng. Vậy là nhớ đến cái trò “bay báo cơm” hồi chiến tranh. Tôi thu cửa dầu, điều chỉnh tốc độ bay, cho máy bay giảm độ cao bay dọc đường băng ở độ cao chừng gần chục mét, rồi tăng tốc độ, khi gần đến đàn bò là bật tăng lực rồi kéo vọt lên. Đàn bò chạy tán loạn vào các đồi ở gần đấy, lực lượng thợ máy đảm bảo cho các chuyến bay cũng nhốn nháo không kém. Thoạt đầu, tất cả nghĩ máy bay chắc có vấn đề hỏng hóc gì vì bỗng dưng “chìm” hẳn xuống, sau rồi thấy bay dọc đường băng và bật tăng lực thì hiểu ngay ra là động tác đuổi bò. Tôi về hạ cánh, lúc lăn vào sân đỗ, tắt mấy để đẩy máy bay vào vị trí thì một số anh lè lưỡi, một số thì giơ ngón tay cái lên ra vẻ khâm phục. Anh Nguyễn Văn Động - Trung đoàn phó kỹ thuật gọi tôi ra gần bãi cỏ:

        - Anh làm cú mà tôi hết cả hồn, cứ tưởng máy bay ra làm sao, ai ngờ anh lại “biểu diễn” thế!

        - Tôi không biểu diễn và máy bay không làm sao cả, vì thấy bò nó sắp tràn vào đường băng, nếu đợi cảnh vệ đuổi được bò thì tôi không kịp xử lí rồi, đành tự đuổi vậy!

        - Nhỡ mà rồi sau này ai cũng bắt chước anh thì sao?

        - Không sao đâu! Tôi sẽ có cách nói với anh em!

       Cuộc trao đổi ngắn ngủi giữa tôi và anh Động thế thôi, nhưng tôi phải suy nghĩ nghiêm túc thật. Hồi làm cái trò “bay báo cơm” thì tôi không đạt “Đảng viên 4 tốt”, còn bây giờ mình giở cái trò này ra thì thế nào đây? Đúng như anh Động nghĩ thật, mình bay sát đường băng đuổi bò được thì người khác cũng sẽ làm theo. Lỡ sa sẩy một chút là toi đời!

       Tôi bước vào phòng giao nhiệm vụ trước khi bay với vẻ mặt bình thản, sau khi nghe trực ban khí tượng báo cáo về tình hình dự báo khí tượng trong ngày thì tôi thông báo tình hình khí tượng cụ thể ở các không vực bay và nhận xét ý kiến cá nhân về diễn biến khí tượng ở các không vực bay trong thời gian tới. Xong đâu đấy, tôi bắt đầu nói về chuyến bay “đuổi bò” vừa rồi. Tôi phê bình lực lượng cảnh vệ đã không chú ý làm tròn nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho bay, rồi tôi tự phê bình đã manh động bay thấp như vậy, vừa không đúng quy định độ cao thông trường, vừa gây nhiều yếu tố mất an toàn và cũng khuyên nhủ, đồng thời như ra lệnh không một ai được làm theo. Giao nhiệm vụ bay xong, tất cả về vị trí, ban bay thực hiện đứng theo kế hoạch, đảm bảo an toàn.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 08:43:34 am

       Khi về nhà, anh Đoàn Văn Sàn sang phòng tôi.

        - Cậu lại giở cái trò "lưu manh trên không" ra rồi! Nhỡ hôm nay mà xảy ra vấn đề gì thì làm thế nào?

        - Để xảy ra thì tôi còn làm làm gì!

        - Biết thế đếch nào được! Đời bay có thằng nào dám nói mạnh mồm đâu!

        - Tôi không dám mạnh mồm, nhưng mà thôi, tôi đã tự phê bình trước khi giao nhiệm vụ bay rồi còn gì!

        - Cũng được! Tớ chỉ mong sao đừng có thằng phi công nào học theo cái trò ấy thôi!

        - Chắc không đâu! Anh yên tâm đi!

        - Biết thế đếch nào được!

       Anh Sàn lo là phải, nhưng mà tôi thì tôi tin ỏ các phi công của tôi. Và đúng là không ai học đòi theo cái kiểu "lưu manh trên không" kia thật!

       Số lượng các chuyến bay tăng dần theo các ban bay huấn luyện. Các bài bay nhào lộn kỹ thuật phức tạp, các bài bay không chiến 1 chiếc rồi không chiến biên đội cũng lần lượt được thực hiện. Trình độ kỹ thuật bay cao lên bao nhiêu thì phi công tự tin bấy nhiêu. Qua các đợt diễn tập không thực binh và có thực binh, Trung đoàn đều hoàn thành vói chất lượng từ khá trở lên, đặc biệt sau những đợt di bắn đạn thật, ném bom thật về, các phi công hồ hởi lắm. Tất cả hân hoan ra mặt, phần vì thấy kết quả khả quan của mình, phần vì thấy trình độ của mình được nâng hẳn lên. Tôi vui theo anh em nhiều, nhưng không bộc lộ ra mặt, chỉ trao đổi với các anh chỉ huy trong Trung đoàn thôi.

       Sau hai năm kể từ ngày thành lập Trung đoàn, vào năm 1981, Chủ tịch nước - Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã tặng Trung đoàn lẵng hoa trong dịp lễ mừng công của Quân chủng. Thật khó mà tả nổi nỗi mừng vui của Trung đoàn khi nhận được quà tặng của Chủ tịch nước. Tôi cho rằng, đấy là sự đánh giá rất đúng mức của các cấp lãnh đạo với một Trung đoàn ở xa xôi nhất, chịu nhiều thiệt thòi nhất, khó khăn nhất... nhưng đã biết khắc phục vươn lên, không ỷ lại, kêu ca. Đấy cũng là sự phấn đấu hết mình của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn qua các thế hệ. Chúng tôi biết ơn các cấp lãnh đạo trong Quân chủng và các cấp chính quyền địa phương đã thường xuyên quan tâm động viên chúng tôi để chúng tôi vượt khó.

       Khi bước lên vị trí danh dự để nhận lẵng hoa, tôi xúc động vô cùng, tôi nghĩ rằng tôi phải chịu ơn sâu nặng đối với tất cả các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn. Nhờ có sự cố gắng của họ, thành tích của họ mà hôm nay tôi đã được thay mặt tất cả lên nhận lẵng hoa vinh dự này. Tất cả họ đều phải được vinh danh. Họ đã từng chung lưng đấu cật với tôi cùng gánh vác bao nhiệm vụ nặng nề trong những tháng ngày cực kỳ gian nan, éo le. Chính họ đã động viên tôi, giúp sức cho tôi đứng vững trong những ngày gian khổ ấy. Tất cả đã cùng nhau sống gắn bó như trong một gia đình dù ở cảnh ngộ nào cũng vậy... Kể ra, nếu cấp trên tổ chức về tận Trung đoàn để trao tặng lẵng hoa trước toàn thể các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn thì niềm vui của Trung đoàn còn tăng thêm gấp bội phần...

       Các phi công trẻ lần lượt được bổ sung về trung đoàn. Sức mạnh chiến đấu ngày càng được tăng cường, lực lượng ngày càng hùng mạnh. Từ một phi đội khi Trung đoàn mới thành lập, đến năm 1983, Trung đoàn đã có hai phi đội.

       Tuy Trung đoàn đã được bay chuyển loại sang loại máy bay MiG-21 bis nhưng rồi bay mãi nó cũng cũ đi, rồi các Trung đoàn khác bay chuyển loại sang các loại máy bay mới hơn thì lại dồn các máy bay đã sử dụng về cho Trung đoàn tôi. Số lượng đầu máy bay thì nhiều, nhưng số lượng máy bay hỏng hóc thì cũng kha khá, Vậy là đội ngũ thợ máy phải lao động cật lực để tăng số đầu máy bay tốt cho Trung đoàn. Các phi công phải thuần thục trong việc xử lí các hỏng hóc ở trên không trong khi bay, các thành phần khác khi điều hành bay không được phép lơ là, xao nhãng dù chỉ là trong giây lát.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 08:45:15 am

       Các đợt thi đua liên tục được phát động nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, quân nhân chuyên nghiệp phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nỗ lực khắc phục khó khăn bảo đảm duy trì nghiêm trạng thái sẵn sàng chiến đấu, phát huy bản chất tốt đẹp của bộ đội cụ Hồ, đẩy mạnh huấn luyện đảm bảo an toàn bay, huấn luyện cán bộ, huấn luyện mặt đất, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ các mặt kỹ thuật hàng không, kỹ thuật hậu cần cho mọi hoạt động của Trung đoàn. Rồi đẩy mạnh công tác rèn luyện Đảng viên, phát triển Đảng, tăng cường quản lí kỷ luật, chấp hành nghiêm mọi nền nếp, chế độ xây dựng chính quy, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sông bộ đội, đẩy mạnh vai trò xung kích của tuổi trẻ...

       Tất cả những đợt thi đua được phát động đều đạt kết quả tốt vì mọi người đều hăng hái tham gia, tham gia hết mình.

       Càng về sau này thì càng có nhiều cuộc diễn tập hơn, quy mô ngày càng lớn hơn và Trung đoàn tham gia cũng với nhiều thành phần hơn, lực lượng tham gia ngày càng hùng hậu hơn. Những cuộc diễn tập có thực binh đều là những cuộc căng thẳng. Dù Trung đoàn nhận nhiệm vụ làm “quân xanh” hay “quân đỏ” cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bao giờ tôi cũng tin vào khả năng của các phi công của Trung đoàn và các thành phần đảm bảo của Trung đoàn. Tôi không hề chủ quan vì lòng tin của tôi đều có cơ sở.

       Bốn tháng sau khi thành lập Trung đoàn (tức là 4 tháng cuối năm 1979) Trung đoàn đã tổ chức bay huấn luyện được 35 ban bay với 616 lần/chuyến, đạt gần 320 giờ bay. Đấy là cơ sở vững chắc cho những bước đi tiếp theo. Các năm sau đó, số lượng ban bay và chuyến bay tăng dần. Có lẽ năm 1986 là năm “(tình điểm” nhất vói 162 ban bay, tính ra là hơn 4000 lần/chuyến, đạt khoảng 2400 giò bay.

       Rồi Trung đoàn không chỉ nhận nhiệm vụ đánh các mục tiêu trên không, trên mặt đất mà sau này còn cả trên biển. Một bộ phận đã cơ động xuống sân bay Kiến An để huấn luyện bay biển.

       Tiếp đến là không chỉ có những ban bay ban ngày mà Trung đoàn đã có những ban bay ban đêm, huấn luyện cho lực lượng đánh đêm. Những bước tiến cứ vững chắc dần tạo đà tạo thế cho Trung đoàn bước tiếp trên chặng đường lịch sử của mình.

       Sau 30 năm kể từ ngày thành lập, Trung đoàn đã đào tạo được 104 biên đội trưởng, 98 giáo viên các khoa mục và 46 chỉ huy bay các cấp.

       Những con số nhỏ nhoi, khô khốc kia nghe chừng chẳng ấn tượng gì cả, nhưng nếu là người trong cuộc, nhất là lại ở Yên Bái nữa thì mới thấy hết cái sự “hoành tráng” của nó.

       Một ban bay, cho dù là chỉ có một chuyến bay thôi thì cũng vẫn phải triển khai đủ các thành phần như với ban bay có nhiều chuyến: từ chỉ huy bay đến các thành phần bảo đảm như kỹ thuật, hậu cần, thông tin... Chỉ huy bay vẫn phải chuẩn bị phương án chỉ huy, giao nhiệm vụ cho thành phần bay cùng các thành phần khác, phải tổ chức kiểm tra. Thành phần tham gia bay phải chuẩn bị mặt đất, nhất là các phi công phải qua tập luyện, hiệp đồng rồi tổ chức kiểm tra (từ việc kiểm tra cách thức thực hiện các bài bay đến kiểm tra sức khỏe trước khi bay...).

       Các thành phần: dẫn đường, tiêu đồ, thông tin, tác chiến, huấn luyện... từ vị trí trong sở chỉ huy đến các đài trạm đều phải triển khai. Thợ máy phải chuẩn bị máy bay, sửa chữa mọi hỏng hóc để không được đem hỏng hóc lên trời, kéo máy bay ra chuẩn bị trước khi bay rồi bay xong lại phải kéo máy bay về. Các thành phần kỹ thuật, bảo đảm cho bay là những người đầu tiên có mặt ngoài sân bay và cũng là những người sau cùng ròi khỏi sân bay. Rồi các thành phần bảo đảm hậu cần phải lo toan từ xe cộ đến việc ăn uống, canh gác ngoài sân bay... Rồi lực lượng thông tin. Với lực lượng này, tôi vẫn nói đấy là “cái tai, cái mồm của người chỉ huy”! khi không nghe được, không nói được thì còn chỉ huy cái nỗi gì, chỉ huy được ai nữa?

       Rồi các Sở chỉ huy từ sở chỉ huy các sân bay dự bị đến Sở chỉ huy Sư đoàn đều phải trực sẵn sàng, đều phải theo dõi chặt chẽ từng chuyến bay một, có vấn đề gì bất bình thường là phải can thiệp ngay.

       Tất cả các sân bay làm nhiệm vụ dự bị cũng đều phải mở các phương tiện, các đài trạm luôn sẵn sàng tiếp nhận, ứng cứu cho sân bay đang bay chính thức...

       Nhiều! Rất nhiều các thành phần phải tham gia để đảm bảo cho một ban bay hoặc chỉ một chuyến bay...


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 08:41:23 pm

       Rồi thì, đâu cứ triển khai ra là bay ngay được. Ví dụ như thời tiết không đảm bảo, tất cả phải ngồi chờ đợi, đợi chán đợi chê mà khí tượng vẫn không tốt lên được, không phù hợp cho các chuyến bay của ban bay thì phải thủ tiêu bay. Các thành phần lại lục tục kéo về, lại phải chuẩn bị lại để hôm sau lại tiếp tục triển khai. Mà cái trò khí tượng thì chẳng biết thế nào, nhất là ở khu vực Yên Bái nữa: nó đỏng đảnh, khó tính đến kỳ lạ chẳng khác gì cô gái nhõng nhẽo, động tí là khóc, khóc sướt khóc mướt, làm mình làm mẩy... Các thành phần dự báo khí tượng thì “ăn cơm dưới đất, nói chuyện trên giời” có phải lúc nào cũng dự báo đúng đâu! Là dự báo mà! Ngay cả khi bay trinh sát khí tượng trực tiếp trước khi bay đấy mà rồi có khi khí tượng nó thay đổi đột ngột đến mức không thể ngờ được nữa là. Cũng đã từng có trường hợp cất cánh đi trinh sát thời tiết trước khi bay, lúc cất cánh lên thì trời tốt, lúc ở không vực về thì sân bay đã bị mây kéo đến che kín mít và thấp tịt, không thể hạ cánh được đành phải đi sân bay dự bị hạ cánh rồi đợi cho thời tiết ở sân mình đảm bảo đủ tiêu chuẩn mới lại “lò dò” về hạ cánh đấy thôi...

       Kỹ sư khí tượng Trần Thông Thạo - người từng trải qua nhiều năm công tác trong ngành khí tượng, từng làm việc ở nhiều sân bay về lĩnh vực khí tượng đảm bảo bay, đã gắn bó với mảnh đất Yên Bái suốt từ năm 1976 khi ngồi với tôi nói đến chuyện khí tượng ở Yên Bái thì cứ chép miệng, lắc đầu:

        - Tôi đã ỏ khá nhiều sân bay, nhưng khi về đây, “vấp” ngay phải cái sự đỏng đảnh, uốn éo của cái hệ khí tượng này, chán lắm! Chẳng thấy đâu mưa nhiều, mù nhiều, mây phủ gần như quanh năm như ở đây. Tôi đã phải viết trong nhật ký của tôi như thế này này:

“Trời như khép cửa sân bay
Thả mưa rơi xuống suốt ngày suôi đêm
Mưa rồi, mưa lại mưa thêm
Lòng thòng suốt tháng, suốt đêm, suốt ngày
Giơ tay cũng túm được mây
Đi trên đường nhựa cũng đầy bùn nhơ
Núi gần chỉ thấy lờ mờ
Núi xa chẳng biết bây giờ trốn đâu!”

       Vậy nên, “kiếm” được 1 giờ bay đâu có phải là chuyện đơn giản. Đấy là chưa nói đến những chuyện bất trắc có thể xảy ra bất kể lúc nào trong khi bay. Chuyện bất trắc ấy không phải là không có nên việc phấn đấu đảm bảo an toàn cho một ban bay, suôn sẻ từ đầu đến cuối là việc phải làm của tất cả các thành phần, không trừ một ai.

       Bắt đầu một ban bay bao giờ cũng có một phát pháo hiệu đỏ được bắn lên và khi kết thúc ban bay thì sẽ bắn một phát pháo hiệu xanh.

       Màu sắc của pháo hiệu đỏ có lẽ cũng có ý báo hiệu ngầm rằng luôn phải cảnh giác, không được lơ là, sơ suất dù là việc nhỏ nhất trong khi bay, trong ban bay. Màu xanh là màu báo hiệu cho sự an toàn.

       Trong Không quân, hình như với Không quân của nhiều nước mà tôi từng biết đều kiêng kị cái từ “cuối cùng” ví dụ như “chuyến bay cuôi cùng”, “ban bay cuối cùng”... chẳng hạn. Người ta thường dùng cụm từ “chuyến bay chót” hoặc “ban bay chót”... Và luôn luôn chúc cho “số" lần cất cánh và hạ cánh bằng nhau!” chính là để nói lên cái quan trọng của việc đảm bảo an toàn bay.

       Tôi phân tích như thế cốt để bạn đọc hiểu thêm rằng những con số về chuyến bay, giờ bay... của một đơn vị nào đó nó không phải là những con số khô cứng, vô hồn... mà những con số ấy nói lên được rất nhiều điều và đằng sau những con số ấy là cả một cuộc sống đầy sôi động, náo nhiệt với đủ mọi loại cảm xúc “hỉ, nộ, ái, ố”... Những con số ấy ngồn ngộn những thăng trầm gắn với từng đơn vị và với số phận của từng con người trong những đơn vị ấy.

       Những con số ấy chất nặng những mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu và tính mệnh của những thành phần trong một đơn vị bay. Với người khác thì tôi không biết thế nào, nhưng với cá nhân tôi, khi được nghe hoặc khi được đọc những con số ấy là tôi lại mường tượng được tất cả các công đoạn của các thành phần trong đơn vị với sự cố gắng hết mình của họ để giành giật lấy 1 chữ số hoặc 2 chữ số đó. Tôi thấy cảm phục họ, yêu quý họ và tự hào về họ.

       Trực chiến, xuất kích, bay những khoa mục theo kế hoạch năm, tập mặt đất, học lí thuyết, học chính trị, sinh hoạt tư tưởng... Tất cả những việc đó cuốn theo vòng quay suốt tháng năm tưởng chừng như không còn thời gian rảnh rỗi, không còn thòi gian nghĩ đến chuyện riêng tư... Nhưng không, việc gì đến cứ đến, trong cái chung có cái riêng. Quy luật của cuộc sống là vậy, cứ sinh sôi, cứ phát triển... thậm chí đến hồn nhiên nữa là khác. Trong những ngày bận bay tíu tít ấy đã có mối tình rất đẹp nẩy nở giữa một chàng phi công và một nàng phóng viên, nhà báo ngay tại Trung đoàn tôi.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 08:43:35 pm
       Vào một ngày, khi kết thúc ban bay, tôi về đến Trung đoàn thì Trực ban Trung đoàn báo cáo là có một nhà báo nữ đến gặp tôi liên hệ công tác. Tôi mời đến gặp. Đấy là một cô gái nhỏ nhắn, xinh xắn, trẻ trung với tính tình vui vẻ, xởi lởi - phóng viên, nhà báo Ngô Thị Thu Dung muốn tìm hiểu về hoạt động của Trung đoàn, đặc biệt là hoạt động bay và muốn được gặp, trao đổi trực tiếp với các phi công. Tôi giới thiệu nữ nhà báo đến gặp phi công Bùi Minh Tiến - một phi công trẻ, bay giỏi, đầy hứa hẹn.

       Sau vài ngày ỏ Trung đoàn và sau một vài lần nữa đến Trung đoàn thì tôi không biết lửa đã bén rơm hay rơm đã bén lửa, nhưng đôi ấy “kết” nhau lắm. Đương nhiên là tất cả chúng tôi đều ủng hộ và “vun vào” vì thấy đấy là một đôi rất “đẹp đôi”. Một thời gian sau, họ đã quyết định đi đến hôn nhân và đã có một cuộc sống thật hạnh phúc.

       Sau này, những lần tôi gặp lại Ngô Thị Thu Dung, tôi lại trêu cô với những kỷ niệm cũ khi ồ Trung đoàn, cô cười tít:

        - Tại anh với các anh kể chuyện làm em cứ há hốc mồm ra mà nghe, chẳng biết đâu là thật, đâu là bịa nữa!

        - Thế cái cậu Tiến - phi công nhà tôi thì là thật hay là bịa?

        - Anh thì!...

       Thế là tất cả lại cùng cười. Những kỷ niệm với Trưng đoàn đều là những kỷ niệm vui và trong sáng, đáng nhớ lắm, quên làm sao được!

       Cũng như các đơn vị khác trong quân đội, Trung đoàn tôi cũng có “Chiêu đãi sở” để là nơi tiếp đón người nhà, người thân của quân nhân đến thăm. Tuy “Chiêu đãi sở” của Trung đoàn tôi chỉ nhà tranh vách nứa thôi nhưng cũng khá tấp nập, có thời gian còn không đủ phòng để tiếp đón nữa. Nơi ấy cũng là nơi có những chuyện tình viết thành “thiên tình sử” được và cũng đã có khá nhiều những “mầm sống" nhỏ nhoi ra đời - kết quả của những chuyện tình đằm thắm, ngọt ngào... đơm hoa kết trái! Những “mầm sống nhỏ nhoi” ấy bây giờ đã “sinh con đẻ cái”, đã trở thành những ông bố, bà mẹ cả rồi.

       Ai có người thân đến là chúng tôi tổ chức tiếp đón niềm nở, chu đáo và rồi tổ chức ra thăm hỏi, động viên vì vào cái thời ấy, lên được đến Trung đoàn là gian nan lắm, đâu có tiện lợi như hiện nay. Tôi nhớ có lần, vợ một anh cán bộ Trung đoàn lên thăm, anh chị có mời chúng tôi ra chơi. Chúng tôi nhận lời và chiều hôm sau khi công việc đã được thu xếp hoàn tất thì tôi và mấy anh khác cùng ra thăm anh chị ấy. Gần đến Chiêu đãi sở, tôi đề nghị dừng lại hội ý và thống nhất: khi gần đến phòng của anh chị ấy là phải đồng thanh gọi thật to và tất cả phải quay lưng đi giật lùi vào nhà. Bọn tôi hành động đúng như kế hoạch. Anh thì hơi ngạc nhiên, còn chị thì bất ngờ và ngạc nhiên lắm, cứ gặng hỏi:

        - Sao các anh lại đi giật lùi vào nhà thế?

        - Chắc là khi thấy mình không tiếp đón tử tế thì các ông ấy về luôn đỡ phải làm cái động tác quay người lại đấy mà! - Anh giải thích với chị.

        - Không phải thế đâu! - Tôi lên tiếng, - chẳng qua nhỡ anh chị đang... đang... mà không kịp thì còn có thời gian “chỉnh đốn trang phục”, để cho cả hai phía khách, lẫn chủ đều không bị ngượng thôi!

        - Ôi giời ôi! Chết với mấy cái ông ma quái này thôi! - Chị hét lên và rồi rũ ra cười trước cái trò trêu nghịch của chúng tôi.

       Anh chị cũng từng trải qua giai đoạn khó khán của sự hiếm muộn, thế nhưng sau này thì lại “sòn sòn” hai năm một. Phải nói, cái Trung đoàn ở Đồi Cọ này cũng “có duyên” lắm đấy chứ!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2016, 08:44:22 pm

       Vậy mà cũng đã ba mươi mấy năm trôi qua rồi, đã lên chức ông, chức bà cả rồi. Còn trẻ trung gì nữa đâu. Vậy nhưng tất cả những kỷ niệm ấy nghe chừng vẫn như vừa xảy ra hôm qua hôm kia mà thôi. Ký ức của con người cũng lạ!

       Có thể, những đứa trẻ ngày xưa được hình thành và phát triển hình hài có xuất xứ ở cái khu “Chiêu đãi sở” của Trung đoàn kia nhưng chúng cũng không hề biết đến nguồn gốc nơi hình thành mình đâu. Đến lượt chúng, chúng cũng lại lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái theo đúng quy luật của muôn đời, của sự phát triển chung của tạo hóa, của sự phát triển không dừng... rồi con cái chúng cũng có thể cũng chẳng biết đến cái nguồn gốc nơi hình thành mình nữa. Rồi lại đến lượt... cứ thế, cứ thế!

       Cũng mới đấy thôi mà lúc ngồi nhẩm tính lại thì cũng thấy giật mình: sau khi tôi rời khỏi Trung đoàn tới giờ đã có đến chục đời Trung đoàn trưởng nối tiếp sau tôi rồi. Này nhé, anh Trương Tôn, anh Trần Văn Thi, anh Tăng Nguyên Ân, anh Trần Văn Thanh, anh Phan Hồng Quân, anh Đỗ Đức Minh, anh Lê Đình Nhuệ, anh Nguyễn Ngọc Tú, anh Nguyễn Văn Vinh A, anh Tạ Quang Thảo rồi không biết còn những ai nối tiếp nữa... Sự trưởng thành cứ lặng lẽ diễn ra hàng ngày hầu như ít ai để ý, nó cũng tựa như cây lim, cây lát mọc ở sườn núi, khi còn nhỏ, nó chỉ như chiếc tăm rồi ngày qua ngày, nó cứ lớn dần lớn dần... rồi đến một ngày nào đó khi mọi người thấy nó sừng sững thì mới ngỡ ngàng. Đương nhiên Trưng đoàn ở Đồi Cọ thì không đến mức như thế, nó vẫn được chăm bẵm, được quan tâm về mọi mặt và vẫn được theo dõi hàng ngày, nhưng sự phương trưởng của nó thì cũng không phải là không ít người có những bất ngờ. Từ một phi đội, Trung đoàn đã phát triển có hai phi đội. Từ vài chục ban bay với vài trăm giờ bay đã tiến tới vài trăm ban bay với vài ngàn giờ bay trong năm. Từ việc chỉ hoàn thành được những nhiệm vụ trên đất liền tiến tới hoàn thành được cả nhiệm vụ trên biển, rồi từ việc chỉ bay ngày tiến tới bay được cả ban đêm... Ngoài phần thưởng cao quý là lẵng hoa của Chủ tịch nước trao tặng, trung đoàn còn đón nhận Huân chương chiến công hạng Nhì, được nhận danh hiệu “Đơn vị dẫn đầu cụm các Trung đoàn bay phản lực”...

       Đấy là sự chuyển biến lớn lao nếu so sánh từ ngày đầu tiên, bước đi đầu tiên của Trung đoàn với những tháng năm sau này. vẫn biết: “Mọi sự so sánh đều khập khiễng!”, nhưng không thể không so sánh. Có sự so sánh ấy mới thấy hết được công lao, sức lực của mọi thành phần, mọi thế hệ của Trung đoàn đã bỏ ra. Có so sánh như vậy mới thấy được niềm tự hào về Trung đoàn của mình và niềm vui mới ngày càng được nhân lên. Có so sánh như vậy mói tin chắc được rằng dù gian nan, vất vả, dù gian khó đến đâu chăng nữa, Trung đoàn cũng sẽ đứng vững, sẽ vượt qua được và ngày càng trưởng thành trên chặng đường lịch sử của mình để rồi cùng với các Trung đoàn khác viết tiếp những trang sử vẻ vang của Quân chủng Phòng không - Không quân.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2016, 09:14:59 am

CHƯƠNG BỐN

KÝ ỨC VỀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ MẤT

       Trong quá trình xây dựng, trưởng thành của trung đoàn, dù là ở thời bình, nhưng vẫn có sự mất mát, hy sinh. Những tổn thất dù ở hoàn cảnh nào, dù hy sinh khi làm nhiệm vụ hay mất mát vì bệnh tật, ốm đau... đều làm cho tôi đau buồn với tâm trạng trống vắng, xót xa đến nghẹn ngào.

       Tổn thất đầu tiên đến với Trung đoàn là sự hy sinh của phi công Thiếu úy Trịnh Văn Hòa - một phi công trẻ, sinh năm 1953, quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Hòa đã gặp tai nạn bay vào cuối tháng Chạp âm lịch. Ngày ấy là ngày 24, sau ngày ông Táo chầu trời một ngày (nếu tính ngày dương thì là 10 tháng 2 năm 1980).

       Thời tiết khu vực sân bay Yên Bái không giống thời tiết ở các sân bay khác của Sư đoàn như Đa Phúc hoặc Kép một tí nào. Nó gần như nằm trong một hệ khí tượng riêng. Khi thời tiết ỏ Yên Bái tốt, đảm bảo bay được thì Đa Phúc và Kép xấu, không làm dự bị cho Yên Bái được. Khi Yên Bái xấu thì Đa Phúc và Kép tốt. Yên Bái không làm dự bị cho hai sân bay kia được nhưng hai sân bay ấy vẫn làm dự bị được cho nhau và họ vẫn tổ chức bay bình thường, chỉ có Yên Bái là ngồi dưới đất, “nuốt nước bọt” mà nhìn thôi. Chính vì vậy mà việc tổ chức được một ban bay huấn luyện ở sân bay Yên Bái là rất khó khăn và vô cùng gian nan. Càng về sau này, khí hậu toàn cầu có nhiều biến đổi thì nó tạo cho cái khí hậu ở vùng trời Yên Bái càng “khó tính, đỏng đảnh” hơn những ngày xưa gấp nhiều lần. Khi chớp được thời cơ thời tiết đảm bảo có thể bay được là phải triển khai bay ngay, không thì sẽ lỡ cơ hội và như vậy sẽ dẫn đến chuyện phi công phải chịu giãn cách bay.

       Nói về chuyện giãn cách bay của phi công, tôi phải giải thích thêm một chút cho bạn đọc hiểu cặn kẽ. Nghề bay không giống các nghề khác ở nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề về giãn cách bay. Tùy theo cấp của phi công: cấp 1, cấp 2, cấp 3 hay không cấp; tùy thuộc vào giờ bay tích lũy của phi công ; tùy thuộc vào phi công đó có phải là giáo viên bay hay không... mà giãn cách bay có thể được tính từ 15 ngày đến 1 tháng rưỡi, nếu trong khoảng thời gian đó mà không bay một chuyến nào thì phải bay kèm (tức là phải ngồi vào buồng lái trước - buồng dành cho học viên, còn buồng lái sau là dành cho giáo viên bay) bất kể phi công ấy đang giữ cương vị gì, cấp bậc gì... Đấy là quy định ngặt nghèo, ai cũng phải chấp hành, không có ngoại lệ nào cả.

       Vậy là ngày 24 tháng Chạp năm 1979 (tức ngày 10 tháng 2 năm 1980) ban bay huấn luyện được tổ chức. Nếu không bay được ban bay huấn luyện này thì số phi công của Trung đoàn sẽ bị giãn cách hàng loạt bởi thòi tiết tại Yên Bái trong khoảng thòi gian từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 dương lịch năm sau hầu như lúc nào cũng u ám, mây mù giăng suốt ngày và mưa dầm triền miên. Nếu vậy thì gần như toàn Trung đoàn không ai còn đủ tiêu chuẩn bay nữa và sẽ trực ban chiến đấu thế nào được.

       Hôm ấy, Trung đoàn tổ chức ban bay huấn luyện với những khoa mục của thời tiết phức tạp: bay xuyên mây.

       Hòa nhận lệnh cất cánh, vòng một vòng ở dưới đáy mây để tiêu dầu trước khi xuyên lên trên mây. Làm xong vòng 1, qua vòng 2 của hàng tuyến là Hòa chui vào mây rồi mất liên lạc luôn. Đài chỉ huy gọi mãi vẫn bặt vô âm tín, nên đành phải cho tất cả các máy bay đang ở trên không về hạ cánh hết để giành sự ưu tiên cho máy bay của Hòa, nhưng rồi theo tính toán, dầu liệu trên máy bay của Hòa đã hết mà không thấy máy bay của Hòa quay về, cũng không thấy Hòa hạ cánh ở sân bay dự bị nào cả. Ban bay thủ tiêu. Các hy vọng về Hòa cứ tắt dần theo thòi gian trôi. Không khí trong toàn Trung đoàn căng thẳng và nặng như chì. Đang có dự định bay xong ban bay huấn luyện này thì Trung đoàn sẽ tổ chức cho anh em đón Tết và đi nghỉ Tết, nhưng thế này thì còn Tết nhất gì nữa!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2016, 09:16:06 am

       Trung đoàn tổ chức 3 đội đi tìm kiếm dưới mặt đất: 3 ô-tô tải chở các thành phần tác chiến, huấn luyện, chính sách, cảnh vệ, quân y... tỏa ra 3 hướng quây quanh khu vực núi Nả, Bằng La, Khe Tú... Quân chủng cho một chiếc trực thăng quần đảo ở trên không, tìm kiếm trên khu vực ấy suốt ngày. Tôi thì ngồi trong sở Chỉ huy, bụng như có lửa đốt. Các nhóm cứ đi rồi về, rồi lại đi theo các nguồn tin của dân báo. Anh Nguyễn Quang Tấn - Trung đoàn phó cũng đi theo một mũi để tìm rồi cũng về không, khi gặp tôi, kéo tôi ra một chỗ rồi nói: “Tớ đã lần tìm lên tận một đỉnh núi trong khu vực ấy, vào một nhà dân, gặp một ông già dáng vẻ quắc thước lắm đang ngồi bên bếp lửa, khi biết chuyện đoàn của tớ đi tìm cậu Hòa, ông ấy ngồi yên lặng một lúc rồi chỉ nói: “Kính nhi viễn chi!”. Sao lại là “Kính nhi viễn chi”?. Anh em tôi bàn luận mãi. Chẳng lẽ chỉ “đứng xa mà nhìn” thôi à? Mọi chuyện phải bó tay hay sao?. Các đội tìm kiếm dưới mặt đất vẫn thay nhau đi tìm. Tôi thấy quý, thấy thương và cảm phục anh em trong lực lượng tìm kiếm quá. Đường xá khó khăn, xuyên rừng xuyên núi... Biết bao nhiêu là cực nhọc, là khổ sở, là gian nan, là hiểm nguy rình rập trên đường đi tìm kiếm mà anh em đâu có quản ngại, có kêu ca gì!

       Tất cả anh em, từ anh Nguyễn Quang Tấn đến các chiến sĩ trong đội tìm kiếm chắc rất lo lắng cho phi công Hòa không biết sống chết thế nào, lo lắng cho Trung đoàn sau vụ tai nạn này sẽ thế nào khi mà mới thành lập, mói đang đà đi lên thì đã bị ngay cú vấp choáng váng, mà có lẽ một phần cũng là thương xót cho cả tôi nữa nên anh em rất cố gắng cứ hết đi rồi lại về rồi lại đi, mải miết trên đường tìm kiếm. Cứ nghĩ đến đó, tôi lại rưng rưng nước mắt. thật không biết phải lấy gì để đền đáp, để cám ơn công lao của anh em đã bỏ ra vì Trung đoàn và cả vì tôi nữa.

       Trong chiến tranh thì tôi đã để mất số 2 là anh Cao Sơn Khảo trong trận không chiến ngày 10 tháng 5 năm 1972. Thời bình thì để mất một phi công mới - phi công Trịnh Văn Hòa. Hai sự tổn thất trong hai hoàn cảnh khác nhau, nhưng tổn thất nào cũng đau đớn cả.

       Qua Tết Nguyên Đán, qua rằm tháng Giêng cũng đều không thấy tăm hơi gì về dấu vết của Hòa. Rừng núi vẫn âm u, mưa vẫn mù mịt suốt ngày... Trung đoàn đang trong không khí sôi nổi, hăng hái trong mọi hoạt động bây giờ vấp phải tai nạn thế này, không khí chùng hẳn xuống. Sự hi sinh trong thời chiến gây nỗi buồn đau, thương tiếc theo một kiểu khác. Dầu sao, trong khói lửa đạn bom, trong cảnh đổ nát tan hoang, trong cái chết chóc diễn ra hàng ngày quanh ta và chính bản thân ta cũng đang phải lăn lộn trong cuộc chiến cũng chẳng biết sống chết lúc nào thì sự thương đau ấy còn dễ kìm nén được, còn phần nào qua nhanh. Đằng này, sự hi sinh mất mát trong thời bình nó sâu nặng một kiểu khác, thời gian thương đau của nó kéo dài theo một kiểu khác. Nặng nề vô cùng! Tháng ấy lại là tháng mưa nhiều. “Mưa rừng cọ, gió rừng thông'’! Nghe mưa rơi trong rừng cọ quanh Trung đoàn giữa khung cảnh này thật nẫu lòng nẫu ruột... Trước mắt tôi luôn hiện lên hình ảnh một phi công trẻ, dáng dong dỏng cao, thi thoảng lại ngồi cùng với mấy anh em trong Trung đoàn “bắn” thuốc lào, tiếng điếu cày nghe ròn rã và khói thuốc nhẹ nhàng bay với mùi thơm đặc trưng của loại thuốc lào... Mới ngay đấy thôi mà giờ này cậu ta ỏ nơi đâu?...

       Rồi Trung đoàn cũng phải tổ chức lễ truy điệu cho Hòa. Tôi đọc điếu văn trong tiếng nấc. Nhiều người khóc lắm. Tôi cũng khóc. Sự mất mát đến thật phi lí, nặng nề và dư âm của nó kéo dài vô cùng!

       Mất một thời gian dài, dài ghê gớm rồi mới có nguồn tin về vị trí rơi của Hòa và rồi mới lần tìm được đến chỗ máy bay của Hòa bị nạn.

       Trịnh Văn Hòa được đưa về an táng tại nghĩa trang thành phố Yên Bái. Về sau này, có dịp tôi trở lại thăm Trung đoàn, tôi cùng các đồng đội của Hòa ra nghĩa trang viếng Hòa. Tôi khóc ròng. Thương Hòa quá, không thể thốt ra thành lời được!

       Người mất thứ hai là anh Nguyễn Quang Tấn. Anh là người duy nhất vào thời ấy từ một kỹ sư đặc thiết được bổ nhiệm giữ chức vụ Trung đoàn phó kỹ thuật (Trung đoàn phó phụ trách công tác kỹ thuật). Anh về Trung đoàn sau 3 anh em tôi (tôi, anh Tôn và anh Tùng) một thời gian ngắn. Anh là người rất thông minh, hiền hậu, tế nhị trong tất cả mọi chuyện, nghiêm túc và hết lòng vì công việc. Anh cư xử với tôi như một người anh lại như một người cấp phó giúp việc. Trong giờ hành chính thì anh tuân thủ mọi mệnh lệnh rất nghiêm nhưng ngoài giờ hành chính thì đôi lúc anh mắng tôi ra trò. Tôi vẫn nhớ những tối tôi và anh Tấn, anh Sàn (anh Đoàn Văn Sàn - Tôi sẽ kể về anh sau) ngồi uống rượu với nhau, đồ nhắm chỉ là mấy hạt đỗ tương rang, anh Tấn và anh Sàn “quạt” tôi ra phết. Anh Tấn thì không nói tục, tôi chưa thấy anh nói tục bao giờ nhưng anh Sàn thì cũng hay văng tục, khi vui càng văng vô tư.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2016, 09:17:58 am

       Nói đến “đồ nhắm” thì tôi không sao quên được chuyện “nhắm” với hạt đỗ mèo! Cũng chẳng biết anh Sàn xin được mấy hạt đỗ mèo ở đâu đem về gieo cho nó bò lên cây mỡ, cây phượng. Chỉ có 3 gốc thôi mà khi nó ra quả, đến lúc thu hoạch thì chúng tôi thu được vài chục cân hạt chứ chẳng phải chuyện đùa.

       Vào một tối mưa dầm, không biết làm gì, tôi gọi cậu công vụ của Trung đoàn lên bảo cậu ta xúc lấy một bát hạt, đem đi rang để làm “mồi nhắm”.

       Khi cậu ta rang xong, đem lên cho chúng tôi rồi quay về phòng. Vừa về đến phòng là cậu ta lăn đừng ra bất tỉnh, mấy anh em cùng phòng phải gọi quân y đến cấp cứu. Sau này tôi mới được biết chuyện ấy chứ lúc bấy giờ thì 3 anh em chúng tôi (tôi cùng anh Tấn và anh Sàn) đang ngồi nhâm nhi mấy chén rượu với đỗ mèo rang, nào hay chuyện gì đâu vì cậu ta ở xa chỗ chúng tôi mà. Ra cậu ta bị say đỗ mèo (bị ngộ độc) bởi trong quá trình rang cậu ta có nếm thử vài hạt xem nó đã chín hay chưa. Một lúc sau, cậu ta thấy tim minh đập rất chậm mà mạnh như búa gõ rồi lập tức, tim lại đập xinh xịch tựa như đoàn tàu hỏa đang vào ga (như lời cậu ta nói), sau đó là sốt cao, bọt mép sùi ra. Y sĩ Võ Ngọc Thấu chạy đến, nhìn thấy vậy, đánh giá tình hình được ngay, xử lí ngay bằng cách cho uống nước chanh pha đường và cậu ta cũng ổn luôn. Sau khi được chữa chạy, trở lại bình thường rồi, cậu ta trở lại chỗ chúng tôi, thấy chúng tôi vẫn đang ngồi ăn đỗ mèo thì hốt hoảng:

        - Ôi, các bố ơi! Các bố đừng ăn nữa, con mới nếm có mấy hạt thôi mà vừa rồi suýt bị chết đấy!

        - Thế cậu có nhắm nó với rượu không? - Tôi hỏi.

        - Không ạ!

        - Vậy thế cậu mới bị!

        - Thôi, các bố ơi, các bố nghe con đi, các bố đừng ăn nữa!

       Sau này, tôi tìm hiểu thì mới biết, hạt đỗ mèo có thể giã làm nhân bánh thay đỗ xanh được, nhưng quy trình thì phải luộc hai lần, lần đầu luộc với tro bếp để khử bớt độc tố đi, đãi cho sạch rồi luộc lại lần hai, sau đó mới ăn được. Vậy mà anh em bọn tôi thuộc dạng “điếc không sợ súng”, cứ thế là chén hồn nhiên thôi. May mà không ai việc gì!

       Anh Tấn có nuôi mấy con gà, thi thoảng lại thấy biến mất một con, không phải người bắt mà là do cầy cáo gì đó bắt. Anh hì hục làm một cái bẫy và rồi cuối cùng thì cũng tóm được thủ phạm: một con chiết với hàm răng sắc nhọn ghê gớm! Đúng là một sát thủ!. Với đôi hàm răng kia thì chỉ cần một cú ngoạm nhẹ thôi là chú gà dù to đến mấy cũng đầu lìa khỏi cổ, cưỡng sao được. Anh hỏi tôi:

        - Xử lí con này thế nào đây? Tớ muốn thịt nó quá, mà nó hôi thế này thì cậu bảo nên làm thế nào?

        - Đúng là nó hôi thật, nhưng không gì hơn giềng mẻ. Cái “anh” này cứ bóp giềng mẻ rồi cho nấu “giả cầy”, thêm chút cay cay nữa là có bữa thịnh soạn rồi!

   Tôi trả lời.

        - Cậu nói có vẻ có lí!

       Vậy là chúng tôi làm món “giả cầy” mà tôi vừa đề xuất. Vừa ăn, anh vừa gật gù:

        - Sáng kiến của cậu được đấy!

        - Anh cứ khen! Sáng kiến tối tăm ấy mà! - Tôi vừa nói vừa nâng chén lên.

       Thời gian anh ở với chúng tôi cùng Trung đoàn không lâu (vì anh phải đỉ nhận nhiệm vụ mới) nhưng đã để lại những ấn tượng sâu sắc. Trong thời gian ở với chúng tôi, anh đã tâm sự với tôi về hoàn cảnh gia đình anh, về bản thân anh, về rất nhiều, rất nhiều vấn đề khác nữa. Có lẽ, anh cũng coi tôi như đứa em trai của anh nên muốn chia sẻ tình cảm, chia sẻ những gì có thể chia sẻ được.

       Tất cả các anh em trong Trung đoàn và tôi cũng coi anh như người anh, rất quý mến và tôn trọng anh.

       Khi nhắc đến anh thì vợ tôi lại kể lại chuyện lần anh về thăm vợ con tôi. Lúc đó thằng con tôi đang sốt li bì ngoài bệnh viện Đa Phúc, khi nhìn thấy thằng con tôi oặt oẹo, anh thực sự thương cảm, mà quà cho cháu thì có gì to tát đâu: chỉ độc một quả dưa lê thôi, nhưng anh đã để lại cho gia đình tôi những tình cảm rất quý báu và đáng trân trọng.

       Trước ngày anh đi nhận nhiệm vụ sang Liên-xô giữ chức Phó tùy viên quân sự Đại sứ quán ta tại Liên-xô, anh điện gọi tôi về gặp anh tại nhà anh ỏ Đại học Bách khoa. Hai anh em nằm nói chuyện với nhau trắng đêm. Anh kể cho tôi nghe chuyện anh được đào tạo lái xe như thế nào, rồi rất nhiều chuyện khác nữa, chuyện lớn có chuyện nhỏ có... rồi dò hỏi xem tôi có ưng công việc của anh không, có muốn theo anh không. Tôi từ chối. Rồi anh em tôi chuyển sang nghe cuốn băng với nội dung cuộc nói chuyện của giáo sư tiến sĩ thần học người Ấn Độ nói về chuyện tâm linh. Cuốn băng dài lắm. Thòi gian đến mấy tiếng đồng hồ liền. Ông nói về “thế giới bên kia”, về ma quỷ, về hồn con người sau khi mất, về nhiều lĩnh vực khác nữa...


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2016, 09:26:19 pm

       Tôi không ngờ, đêm ấy lại là đêm cuối cùng anh em chứng tôi được nằm cùng nhau, nói chuyện cùng nhau!

       Sáng ra, tôi phi xe máy về Sư đoàn, anh cũng chuẩn bị bay sang Liên-xô nhận nhiệm vụ mới. Chúng tôi tạm chia tay nhau!.

       Mấy năm sau, tôi nghe tin anh bị bệnh. Bạo bệnh đã cướp anh đi!. Hôm tôi đón con trai anh là Nguyễn Quang Vinh cõng anh trên lưng, trong ba lô trở về thì không ngờ... ngày trước anh to cao như thế vậy mà bây giờ anh nằm gọn lỏn trong chiếc bình con con..., không ngờ anh đã thành tro bụi! Chú cháu tôi ôm nhau mà nước mắt tôi cứ trào ra, rơi lã chã. Thương anh quá!

       Ngày tổ chức tiễn biệt anh, các cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn về cũng nhiều, về để tiễn biệt người chỉ huy, người anh của mình! Với tôi, anh là người mẫu mực, tận tụy đối với công việc và với gia đình. Anh sống giản dị với tình cảm chân thành, độ lượng. Đến bây giờ, tôi vẫn có thể hình dung ra anh bất kể lúc nào với những nét rất đặc trưng: vầng trán cao rộng, dáng vẻ điềm tĩnh, với những câu nhận xét sâu sắc mà hóm hỉnh, với những lời mắng tôi nhẹ nhàng như những lời răn dạy. Tôi luôn kính cẩn nghiêng mình trước vong linh anh. Nhờ có những lòi răn, lời mắng của anh mà tôi đã đứng vững, đã trưởng thành.

       Anh đã đi sang “thế giới bên kia” - Thế giới mà anh và tôi từng nghe vào cái đêm trước khi anh đi nhận nhiệm vụ mới. Không biết anh có hòa nhập với cái thế giới đó nhanh hay không, thế giới đó có giống những gì tôi với anh đã từng được nghe hay không và nay mai đây, nếu đến lượt tôi sang “thế giới đó”, tôi có còn cơ hội gặp được anh hay không?

       Anh Nguyễn Ngọc Chân là người nhập ngũ cùng lứa với tôi từ năm 1965 mặc dù anh hơn tuổi tôi, rồi cùng sang Liên-xô học, cùng tốt nghiệp ở trường Không quân Crax-nô-đa. Có điều, bọn tôi học bay còn anh thì học kỹ thuật (thợ máy). Khi về nước, anh em tôi lại cùng ở Trung đoàn 921. Loanh quanh thế nào mà rồi đến khi thành lập Trung đoàn 931 thì chúng tôi lại về cùng nhau - Anh giữ cương vị Phi đội phó phụ trách công tác kỹ thuật (phi đội phó kỹ thuật) của phi đội thay vào vị trí của anh Hải khi anh Hải đi nhận nhiệm vụ khác. Tôi luôn coi anh như người bạn cùng trang lứa, luôn quý và tôn trọng anh. Anh có một đặc điểm đặc biệt là dù trời nắng hay trời mưa, đi đâu cũng chỉ để đầu trần mặc dù đầu anh hói nhẵn, chỉ còn lơ thơ vài sợi tóc. Ngắm đầu anh, tôi lại cứ liên tưởng đến đầu chú dế mèn trong truyện “Dế mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài.

       Anh thuộc loại khéo tay. Hồi ấy, trong Trung đoàn có phong trào làm giát giường bằng cây diễn rất sôi động. Cây diễn, cây mai cùng thuộc họ tre, có điều diễn và mai ít gai hơn tre, gióng dài và thẳng hơn tre, dễ pha hơn và khi trải ra thì phẳng hơn tre nhiều. Vậy là đua nhau đi mua diễn về để làm và người nào cũng phải có ít nhất là một bộ. Phải công nhận rằng, ở cái thời kỳ khó khăn ấy, có được một bộ giát giường như vậy đã là “hoành tráng “ lắm. Khi đi mua diễn, phải chọn những cây thẳng, gióng đều, không mọc ỏ gần suối, mà thời điểm mua cũng phải tính: “Tháng Chín chặt tre non làm nhà, tháng Ba chẻ tre già làm lạt!” - câu ngạn ngữ ấy có tự ngàn xưa. Về mùa Xuân - Tre hồi sức, trẻ lại, tưởng chừng già mà hóa ra non, nếu lấy loại tre đó làm giát giường thì không dùng được lâu, dễ bị mối mọt, nhanh hỏng lắm. Từ tháng Chín âm lịch về cuối năm, thòi tiết hanh hao, tre già đanh lại, bấy giờ ngả xuống dùng thì bền hơn nhiều. Cây mọc ở gần suối thì hút nhiều nước, óng ả đấy nhưng không tốt bằng cây mọc ở trên đồi. Khi mua về, pha ra, lấy đúng kích cỡ rồi tìm được cái hố nhà ai tôi vôi xong, đã dùng hết vôi rồi, lấy nước cho vào hố, ngâm diễn xuống đó một thời gian rồi mới đem lên làm giát giường thì các loại mối mọt chỉ có... khóc thét!

       Anh là người làm khá nhiều bộ giát giường, làm để dùng, làm để cho..., nghĩa là hễ cứ rỗi việc là anh lại kỳ cạch làm. ít lâu sau khi gặp anh, tôi thấy “quy trình” làm giát giường của anh khác hẳn mọi người: anh không bổ diễn tạo thành từng mảng một mà chẻ thành từng nan rồi vót, chuốt cho kỹ lưỡng rồi lấy dây dù đan níu từng nan một. Sau đó một thời gian anh lại bỏ cách ấy, chế ra máy dùi lỗ, xâu các nan lại với nhau để có độ khít hơn, khi đã trải ra là không cần đến chiếu nữa vì nó đã rất nhẵn và phẳng rồi. Anh làm cho tôi phải ngạc nhiên hết cái này đến cái khác. Cái “phát minh” cuối cùng của anh thì làm tôi phục quá: anh sắp xếp các mấu diễn của từng nan lại sao cho tạo thành những mảng sóng uốn lượn rồi tạo được cả chữ “Thọ” trên cái giát giường ấy thì thực sự phải ngưỡng mộ!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2016, 09:28:51 pm

       Tâm sự với tôi về chuyện gia đình, anh nói:

       - Sau này về, tôi chỉ có mỗi nhiệm vụ mài dao thái phở thôi! Mài mấy con dao thái phở xong là chỉ có ngồi chơi và uống rượu chứ không phải làm việc gì khác!

       - Thế thì anh sướng nhất rồi, nhưng mà ngồi không thì cũng buồn chết! - Tôi nói với anh.

       - Chẳng việc gì phải buồn hết! - Anh cười.

       Vậy mà con người tài hoa, đầy trách nhiệm trong công việc ấy đã “ra đi”. Hình ảnh của anh bất chấp mưa gió, nắng nôi... cứ để đầu trần, hì hục chuẩn bị máy bay cho ban bay huấn luyện, cho máy bay trực chiến, rồi thức thâu đêm suốt sáng bằng mọi cách khôi phục, sửa chữa những máy bay hóng hóc để nâng tỉ lệ máy bay tốt cho Trung đoàn lên cứ in đậm trong tâm trí tôi.

       Nhớ lần tôi cùng với các anh Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Văn Giá và Nguyễn Đức Duệ đến thăm nhà anh. Vượt chặng đường gồ ghề đầy những “ổ trâu, ổ voi” trên bờ đê của dòng Lô, đến tới nhà anh thì đã gần trưa. Ngắm di ảnh anh trên ban thờ mà thương tiếc anh vô hạn. Nỗi buồn cứ xâm chiếm cõi lòng tôi với câu hỏi: tại sao những người tốt lại phải “ra đi” sớm vậy? Do định mệnh hay do cái gì nhỉ? Rồi lại luẩn quẩn với bao câu hỏi khác nữa như anh Chân với anh Tấn liệu có gặp nhau không, hoặc rồi nay mai đến lượt tôi, tôi còn có được gặp các anh không hay các anh đã sang một thế giới khác rồi?

       Nhớ thương các anh quá!...

       Một người nữa chất thêm nỗi buồn thương trong tâm khảm tôi là cô "chị nuôi” Vũ Thị Lựa. Đấy là cô “chị nuôi” nhanh nhẹn, khỏe mạnh, xốc vác, hiền hậu với tính tình vui vẻ. Những lần tôi lên thăm Trung đoàn, tôi đều đến thăm các cô “chị nuôi” - những người nuôi quân của Trung đoàn. Lần nào cô cũng hỏi tôi:

       - Bây giờ chú còn làm thơ nữa không? Cô chú và gia đình vẫn mạnh khỏe chứ ạ?

       - Vẫn làm thơ! Thơ thẩn ấy mà, túc tắc thôi cô cháu ạ! Cám ơn cháu, gia đình chú ổn cả. về đây, thấy Trung đoàn phát triển, thấy bọn cháu mạnh khỏe, xinh xắn thế này là mừng lắm rồi! - Tôi nói.

       - Ôi, chú ơi! chúng cháu già mà xấu lắm rồi!

       - Phỉ thui cái mồm! Đứa nào nói thế đấy? - Tôi vừa cười vừa nói.

       Thế mà lần sau đến thăm Trung đoàn thì nghe tin Lựa đã mất rồi.

       Chúng tôi ra nhà Lựa ở khu gia đình, thắp cho Lựa nén nhang.

       Khi cắm nhang vào bát hương, nhìn khuôn mặt của Lựa trong khung ảnh trên ban thờ mà tôi không cầm được nước mắt. Lại cứ nhớ đến những câu đối thoại ở lần chú cháu gặp nhau: “Chứng cháu già mà xấu lắm rồi!”, “Phỉ thui cái mồm!”.- Vậy là cháu không bao giờ già đi nữa, mãi mãi chững lại ở cái tuổi này mặc cho thời gian trôi đi bao lâu thì trôi, chỉ có chính các chú là ngày càng già, càng xấu di mà thôi!

       Rồi tôi lại nghe tin anh Đoàn Văn Sàn mất. Anh Sàn vốn gốc gác từ Trung đoàn 919, anh không phải là người bay nhưng ở trong tổ bay cũng cùng hoạt động trên không như chúng tôi thôi, sau “chuyển ngạch” sang làm công tác chính trị. Khi anh Trần Xuân Tùng rời khỏi Trung đoàn vào năm 1981 thì anh Đoàn Ván Sàn về thay anh Tùng. Anh lớn tuổi hơn tôi nhiều nên tôi nể trọng anh lắm, coi anh như người anh. Anh thực sự là người chân chất, sống chan hòa, cỏi mở, nhân ái và vị tha. Anh hòa nhập với cuộc Sống của Trung đoàn khá nhanh, nắm bắt tình hình trong Trung đoàn rất nhạy bén. Anh đã giúp tôi rất nhiều trong lĩnh vực làm công tác tư tưởng, động viên, khích lệ anh em toàn Trung đoàn vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ bởi chính anh là tấm gương tiêu biểu nhất. Tôi còn nhớ như in cảnh tôi đi kiểm tra các bếp ăn trong Trung đoàn vào các bữa ăn. Lần ấy, khi đến bếp ăn của cơ quan, thấy anh ngồi cùng bộ đội, trệu trạo nhai chiếc bánh bao (thời ấy gọi thứ đó là bánh bao vì trông hình thù của nó giống bánh bao thôi, chứ thực ra nó là loại bột đen nhò nhờ, hôi hôi... lại lẫn cả những con mọt gạo trong đó nữa, được nặn thành bánh rồi cho hấp hoặc luộc lên). Nó cứng đến mức “Ném chó, chó chết! Ném mèo, mèo quay!”. Có những anh đến nhà bếp lấy suất của mình, đem về phòng lẳng vào một góc, chẳng thèm ngó ngàng đến, thà nhịn còn hơn là gặm cái thứ đó. Vậy nhưng, anh Sàn vẫn ngồi điềm tĩnh nhai từng miếng “bánh bao gỗ” ấy (xin lỗi, tôi không biết gọi như thế nào cho chính xác vì nó cứng lắm). Ngắm anh cố cắn từng miếng mà tôi thấy xót và áy náy vô cùng. Khi về phòng (phòng của anh, phòng của tôi, phòng của anh Tôn, phòng của anh Tấn ở cùng dãy, nằm sát nhau), tôi sang nói với anh:

       - Anh là cán bộ Trung đoàn, là Chính ủy Trung đoàn, anh không cần đến bếp ăn đâu. Tôi sẽ nói với cậu công vụ đem suất ăn của anh về, tôi cũng mang suất của tồi về cùng ăn cho vui, anh nhé?


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2016, 09:31:56 pm

       Ý định của tôi là cùng đem suất ăn về thì tôi có thể san sẻ bớt cho anh tiêu chuẩn của tôi, nhưng anh nhìn tôi một lúc rồi nói:

       - Tớ không ngồi ăn ỏ đó cùng anh - em thì chúng nó bỏ hết, còn ra cái đếch gì nữa!

       Tôi không nói được lời nào thêm. Bằng hành động của mình, anh đã là tấm gương vượt khó cho tất cả anh em noi theo, chỉ nhìn cách cư xử của anh thôi, mọi người đã nể phục và tin theo rồi, đâu cần phải nói nhiều lời.

       Trong cuộc họp của Trung đoàn, tôi đã đem chuyện ấy ra kể trước cuộc họp như là những lời tâm sự với những người anh em trong gia đình. Sau đấy thấy tình hình biến chuyển hẳn, các bếp thi đua vói nhau trong cách chế biến các món ăn, nấu nướng sao cho ngon hơn giúp cho bộ đội ăn hết khẩu phần của mình.

       Anh cũng là người hay lần mần tìm các loại cây trái lạ lạ, hiếm hiếm về để trồng, trong số đó có cả loại đỗ mèo mà tôi đã kể ở trang trước. Một điều lạ nhất là anh chẳng bao giờ bị dĩn (muỗi mắt) đốt cả. Đất Yên Bái thì nhiều dĩn vô kể. Cái loài “muỗi mắt” ấy đào ỏ đâu ra sao mà lắm! Cái lũ ấy hay “chơi” vào vành tai và các chỗ quần áo không che kín lắm. Mấy anh em có ngồi với nhau, anh thì chẳng sao chứ tôi thì chỗ hai ông chân nơi quần không che kín thì chúng bâu vào kín mít trông như là miếng bánh đa vừng. Lấy tay đập một cái thì thấy hàng mấy chục con đã hút căng máu tự bao giờ. Anh nhìn rồi cười:

       - Sao tớ chẳng bị gì cả?

       - Chắc kiếp trước tôi có nợ máu nên kiếp này bọn chúng đòi, anh ạ! - Tôi trả lời.

       - Biết thế đếch nào được! - Anh tủm tỉm.

       Anh rất hay nói: “Biết thế đếch nào được!” - “Biết thế đếch nào được” gần như là câu cửa miệng của anh - cái câu mang rất nhiều hàm ý ấy lắm lúc tôi cũng trêu lại anh và anh chỉ cười mà thôi.

       Tôi đã về quê anh, về nhà anh ngồi uống rượu với những người dân ở quê anh, ngắm hồ nước ở quê anh trông giống bàn tay xòe ra với năm ngón tay chỉ về năm hướng. Người dân ở các làng quê đâu cũng chân chất, mộc mạc như nhau. Tôi vốn xuất thân từ thằng bé chăn bò nên hợp với cảnh ngộ ấy lắm. Tối tối, ba anh em chúng tôi: tôi, anh Sàn và anh Tấn hay ngồi với nhau hàn huyên rồi bàn chuyện công việc sẽ triển khai vào hôm sau và ngày tới. Anh hay mang quà về cho tôi như người anh đi đâu cũng nhớ đến thằng em vậy: khi thì miếng mít, khi thì khúc mía... Mà ăn mít, nhất là mít mật thì đã có giai thoại “phụp phù” rồi. Khoản ăn mía thì tôi ăn nhanh hơn anh ấy nhiều: tôi dùng răng tước vỏ, nghe “đốp” một cái là tôi đã cắn được một khẩu, nghe “xịt” là tôi đã nhai hít hết nước, nhả bã luôn. Anh thấy vậy thì bảo tôi:

       - Cậu làm thế đếch nào mà ăn nhanh thế? Chỉ nghe thấy mấy tiếng “đốp”, “xịt”... quay lại là đã thấy hết cả cây mía rồi, ăn như voi ăn không bằng!

       - Thì răng tôi khỏe hơn răng anh, với lại không chén nhanh thì để anh chén hết à!

       - Biết thế đếch nào được! - Anh cười.

       Và cũng từ bấy giờ trở di, anh hay gọi tôi bằng cái biệt danh “đốp, xịt”. Ngày anh bị tai biến vì huyết áp cao, chứng tôi đến thăm anh. Anh nằm bất động trên giường với dáng rất mệt mỏi. Thấy có khách, anh gượng ngồi dậy nhưng trông “lơ mơ” lắm. Chị Tặng (chị Kiều Thị Tặng) - vợ anh vừa đỡ anh vừa hỏi:

       - Ông có còn nhận ra ai đây không?

       - Cái lão “đốp, xịt” này thì làm gì mà chẳng nhận ra - Anh vừa nói một cách khó nhọc, vừa cười với cái cười méo mó của người bị tai biến.

       Sau đấy, tôi còn ghé thăm anh được một lần nữa, thòi gian không lâu sau thì nghe tin anh mất. Chúng tôi đến viếng, thắp cho anh nén nhang vĩnh biệt anh. Tôi buồn bã vô cùng, nghĩ thương đến hoàn cảnh của anh. Nhà cửa thì vẫn còn chưa ra đâu vào đâu. Mới cào được mặt bằng ở miếng đất bên cạnh với dự định xây cán nhà cho ra hồn thì anh đã đổ bệnh, vào nằm viện và rồi “ra đi”. Tôi đứng nhìn miếng đất trống trải phía bên cạnh nơi anh định làm nhà mà thấy nghẹn ngào. “Chắc hẳn anh ra đi cũng chẳng được thanh thản!” - ý nghĩ ấy cứ day dứt mãi trong tôi và nó cũng như một câu hỏi đọng lại mãi mà không tìm được câu trả lời.

       Vậy là trong Ban chỉ huy Trung đoàn cũ của tôi đã có hai người rời bỏ đồng đội về nơi vĩnh hằng, để lại bao sự tiếc thương, buồn nhớ. Các anh đi như đã trả xong món nợ. Chẳng hề muốn quay lại cảnh đời thường.

       Thôi, cũng là cái lẽ xoay vần của tạo hóa, của cái vòng sinh tử! Khi tôi viết những dòng này, tôi lại nghĩ, có thể lúc này ở “thế giới bên kia”, anh với anh Nguyễn Quang Tấn lại đang ngồi với nhau, trước mặt hai anh là những miếng mít, miếng dứa, những khúc mía... và hai anh cũng đang “phụp, phù”, “đốp, xịt” cũng nên, mà rồi, anh Tấn lại trêu anh về vấn đề gì đó để rồi anh lại cười cười:

       - Biết thế đếch nào được!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:09:46 am

       Những năm về sau này, khi tôi đã rời khỏi Trung đoàn, Trung đoàn vẫn có những tổn thất, vẫn có những vấp váp trên bước đường mình đi. Với một đơn vị bay, luôn luôn phải phấn đấu để làm sao đảm bảo được an toàn tuyệt đối trong các hoạt động bay, nhưng đấy là chỉ tiêu để phấn đấu, chứ thực chất thì hầu như ở đâu đó vẫn có những sự việc xảy ra, lắm lúc thật bất ngờ, thật trớ trêu và Trung đoàn của tôi cũng không được tính trong diện ngoại lệ. Năm 1996 thi “mất” phi công Lê Văn Dũng, năm 2004 thì “mất” phi công Nguyễn Văn Thái hồi giữa năm và phi công Phạm Thanh Tùng hồi cuối năm, năm 2009 thì “mất” hai phi công Nguyễn Văn Vinh A và Đặng Hồng Vinh B. “Chẳng ai nắm tay được từ sáng đến tối” - người xưa đã tổng kết như thế. Có điều, với một Trung đoàn bay, càng hạn chế được tổn thất, mất mát bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, nhất là với đội ngũ phi công - những người trong những thành phần được đào tạo đặc biệt, tốn rất nhiều công sức, của cải mới có được. Có câu: “Phi công nặng bao nhiêu thì giá bằng đúng cân nặng của vàng bấy nhiêu!”. Mọi sự so sánh đều khập khiễng! Con người là vô giá, nhưng có lẽ, sự so sánh kia chỉ mang tính hình tượng, ước lệ mà thôi, có thể xét nó với một khía cạnh nào đó thì được. Để “tìm” cho ra một phi công đã thấy hiếm. Hồi tôi được khám tuyển, cả trường cấp Ba của tôi có khoảng 300 học trò, nhưng chỉ chọn ra được 19 người để đi khám. Qua các đợt “sàng lọc” thì chỉ còn có 2 người trúng tuyển, trong đó có tôi. Một anh vướng “vấn đề lí lịch” nên không được gọi nhập ngũ. Vậy là cả trường với khoảng 300 học sinh có mỗi mình tôi đi học bay để trở thành phi công. Đi cùng tôi sang bên liên Xô và gộp hai đoàn học bay vào làm một thì có hơn 100 học viên bay. Đến khi kết thúc khóa học bay lần một (trên loại máy bay phản lực “sơ cấp” L-29) thì chỉ “trụ” được có một nửa. Rồi trong số ấy lại chọn được có 24 anh em chúng tôi bay lên loại Mig-21 và rồi vẫn bị rớt mất 3 anh, còn 21 anh em. Sơ so về số lượng là như vậy, nhưng để đào tạo được một phi công, riêng tính số dầu bay cho những chuyến bay, giờ bay thôi đã là tốn kém lắm. Này nhé, nếu tính bình quân khi cất cánh với một chuyến bay thông thường trên MiG-21 không đeo thừng dầu phụ thì trên máy bay phải tra nạp 2700 lít dầu, phải tiêu thụ cho đến khi về hạ cánh dầu còn ít hơn 700 lít (vì nếu dầu liệu lớn hơn thì sẽ ảnh hưởng đến độ bền của hệ thống càng của máy bay). Mỗi chuyến bay bình quân 30 phút. Muốn có 1 giờ bay tích lũy là phải bay 2 chuyến bay. Một phi công có 1000 giờ bay tức là phải bay 2000 chuyến bay, mỗi chuyến bay bình quân mất 2000 lít dầu. Vậy là để có 1000 giờ bay thì ít nhất chàng phi công kia phải “xài” 4000000 lít dầu. Ta thử nhân sốlượng dầu ấy với cái giá dầu bây giờ thì đủ biết đã là bao nhiêu tiền rồi, không kể đến các khoản chi tiêu khác nữa như hao mòn máy móc, các khí tài các đài trạm, các thành phần bảo đảm cho từng chuyến bay, rồi nuôi ăn cho phi công, cho các thành phần ấy, rồi tiền lương, tiền phụ cấp, “trăm thứ bà rằn” khác nữa... Nếu để trở thành một phi công chiến đấu thì lại còn tốn kém hơn nhiều. Vì vậy, khi nghe tin mất một phi công, tôi lại đau xót không sao tả nổi.

       Năm gần đây thì lại có sự mất mát đến vô lí.

       Việc ấy xảy ra với anh Hoàng Văn Định. Anh là người đi học bay cùng đoàn học viên bay ở Ba-Lan, sau về nước bay chuyển loại sang MiG-21. Trước khi về nghỉ hưu, anh từng giữ chức vụ Trung đoàn phó.

       Anh là người ham thể thao, thích hoạt động... Khi chơi bóng rổ, anh có cổ tay khá dẻo, động tác ‘lên rổ” của anh khá đẹp mắt và khá chuẩn...

       Một chiều, anh ra sân chơi cầu lông như mọi chiều khác. Ai ngờ đấy lại là buổi chiều cuối cùng. Khi anh rời sân ra ngoài ngồi nghỉ thì anh từ từ gục xuống. Chở anh đi viện cấp cứu nhưng anh không hồi tỉnh mà ra đi vĩnh viễn. Sao cái chết lại nhẹ nhàng đến như vậy được nhi? Tôi nhận được tin mà cứ bàng hoàng, không thể tin vào tai mình, cứ phải hỏi đi hỏi lại mãi. Anh là Hội trưởng Hội “Cựu quân nhân” của Trung đoàn thuộc khu vực từ phía Phú Thọ trở lên, tôi thì chịu trách nhiệm tập họp các “Cựu quân nhân” của Trung đoàn ở khu vực Hà Nội. Hội của anh hoạt động sôi nổi và đều đặn hơn phía tôi phụ trách nhiều. Thế là tôi lại mất thêm một đồng đội, một cán bộ Trung đoàn, một phi công MiG- 21 nữa! Thật buồn làm sao! vẫn biết quy luật có sinh ắt có tử, nhưng mà những sự “ra đi” đột ngột thế này làm cho những người ở lại dễ bị đứng tim lắm!

       Nhóm “Cựu quân nhân” ở khu vực Hà Nội lên thắp nhang viếng anh mà thương tiếc anh vô hạn, buồn bã vô hạn...


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:12:09 am

       Rồi lại đến chuyện của anh Tăng Nguyên Ân. Anh từng giữ chức Trung đoàn trưởng của Trung đoàn. Anh “ra đi” cũng rất vô lí. Anh “bị” trong một vụ tai nạn giao thông khi đi xe máy từ quê anh lên Hà Nội. Chúng tôi tổ chức đến viếng anh Ân mà vẫn không tin là anh đã mất. cả hai anh: anh Định và anh Ân “đi” quá nhanh, các anh chẳng dặn dò gì cho người ỏ lại... Tuy các anh đã về hưu, nhưng còn lâu mới đến cái tuổi “Thất thập cổ lai hy”. Các anh vẫn còn trẻ, còn sung sức lắm!

       Anh Lôi Đình Tiến là người dân tộc Tày. Tôi biết anh từ hồi còn đi học ở Học viện Không quân Ga-ga- rin. Anh học ở hệ đảm bảo hậu cần còn tôi học ở hệ chỉ huy tham mưu. Khi về nhận công tác thì tôi với anh lại gặp nhau trên đất Kép. Tôi ở Trung đoàn còn anh ở Tiểu đoàn đảm bảo hậu cần (ta thường gọi là Tiểu đoàn căn cứ). Anh có “cái tật” là khi có tí rượu vào là rất hay bị ngã xe máy. Thoạt đầu thì tôi không để ý đến chuyện ấy đâu, có một lần, khi gặp nhau, giơ tay ra bắt thì anh ấy lại giơ tay trái ra, còn tay phải thì buông thõng. Tôi “cà khịa”:

        - Anh em với nhau mà sao lại bắt tay nhau bằng tay trái thế? Có gì “giữ miếng” à?

        - Không phải đâu, “miếng miếc” gì đâu mà giữ! Tớ vừa bị ngã xe đấy! - Câu sau thì anh ghé tai tôi nói nhỏ.

       Một thời gian ngắn sau, lúc gặp anh, khi bắt tay, lại thấy cánh tay trái của anh thõng xuống. Tôi chỉ vào tay trái của anh, hỏi nhỏ:

        - Sao thế?

        - Đổ xe!

        - Trời đất ơi! Lần thì ngã xe, lần thì đổ xe. Rồi sẽ còn trò gì nữa, hả ông Lôi?

       Đã có lần anh lai một anh bạn bằng xe máy đến một nhà quen uống rượu, tới khi về chẳng hiểu anh tránh xe ô-tô thế nào mà cả hai anh “phi” thẳng xuống ao. ‘Tiếp nước” xong là hai anh bơi lấy bơi để. Tìm cách thoát hiểm mà! Đám trẻ con chăn bò đứng trên bò thấy vậy thì hét to:

        - Các chú ơi! Không phải bơi đâu vì nước nông lắm!

       Hai chú nghe thấy vậy thì đứng lên. Bấy giờ nước chỉ ngập quả thắt lưng một tí. Lội lên bờ xong thì hai chú mới chợt nhớ đến chiếc xe. Nhìn xuống ao thì chiếc xe chỉ còn mỗi chiếc ghi-đông là hơi nhô lên mặt nước một tí, còn đâu là chìm nghỉm hết. Hai chú liền mượn thừng, buộc thành vòng rồi giống hệt như bọn cao-bồi miền Tây nước Mỹ, quăng dây thừng vào ghi-đông xe, hò hét nhau kéo xe lên. Lôi được chiểc xe lên bờ là thi nhau đạp cho nổ máy nhưng chiểc xe vẫn trơ ra, không nhúc nhích. Bấy giờ mới lại nhớ ra rằng nước đã vào chế hòa khí, vào cả bình xăng nữa cũng nên, đành dựa xe vào gốc tre, tìm cách xin cứu hộ, cứu viện. Thế là, một chiếc Minsk cùng một chiểc MZ lao đến nơi lâm nạn tìm mọi cách “tải” được người và xe về.

       Vài tuần sau khi cái “sự cố” ấy xảy ra, tôi gặp anh, trêu anh về chuyện ấy và hỏi xem tay chân anh bây giờ thế nào. Anh cười cười tìm cách lảng chuyện:

        - Này, trưa nay có rỗi không, ra nhà tớ uống rượu nhé! Tó có cái ao thả đến một nghìn con cá mè, khi kéo vó không cẩn thận, chúng nhảy là có khi bị đâm mù mắt đấy!

        - Nghe ấn tượng quá! Vậy trưa nay tôi đến!

       Nhà anh ở không xa khu vực doanh trại lắm nên buổi gần trưa tôi phóng xe máy đến. Anh đón tôi hào hứng lắm. Uống được vài tuần nước thì anh gọi thằng con anh:

        - Dương đâu?

        - Dạ!

        - Lên đây bố bảo!

        - Bố bảo gì ạ? - Thằng bé xuất hiện rất nhanh ngoài cửa.

        - Thực hiện “Nghị quyết sáu lăm!”

       Tôi còn đang ngơ ngác chưa biết cái “Nghị quyết sáu lăm” của bố con ông Lôi Đình Tiến này là thế nào thì đã thấy thằng bé cắp chiếc vỏ chai 65 vào nách và hỏi:

        - Vẫn chỗ cũ hả bố?

        - Vẫn chỗ cũ!

       Các câu hỏi và câu trả lời đúng là khẩu khí con nhà lính: ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu.


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:14:14 am
       Thằng bé chạy vù đi và tôi cũng hiểu được ngay cái gọi là “Nghị quyết sáu lăm” của bố con anh qua những câu thoại ngắn ngủi cùng hành động của thằng bé. Bây giờ là đến lượt anh em chúng tôi vác vó ra ao kéo cá. “Ao” nhà anh rộng hơn cái hố bom một tí, quả thực là có đến một nghìn con cá mè thật vì thấy chúng nhảy loạn xạ kín cả mặt nước. Khi kéo mẻ lưới lên, anh cười cười nói với tôi:

        - Ông thấy ghê chưa? Chỉ cần một mẻ thôi là anh em mình “chiến đấu” phải biết!

        - Với cái loại này khi chén thi phải cẩn thận không xương nó đâm tòe mồm mình ra mất vì có khác gì nhai đám xương rồng đâu!- Tôi vừa nói vừa liếc đám mè ranh, ái ngại.

        - Không sao, rán giòn lên là đâu vào đấy cả mà!

       Chẳng mấy chốc là bữa chén của chúng tôi đã được chuẩn bị xong. Những chú cá mè to cỡ hơn ngón tay được rán giòn, vàng ướm... chất đầy một đĩa tây to, cạnh đấy là bát nước mắm ớt chanh hấp dẫn. Anh đon đả:

        - Nào, ngồi đi! Ta “kin lẩu” thôi (uống rượu thôi). Hôm nay thực hiện “Nghị quyết sáu lăm” nhé!

        - Thực hiện thì thực hiện thôi! - Tôi trả lời.

       Cái bữa ấy để lại ấn tượng sâu đậm mãi đến tận sau này, mỗi khi anh em chúng tôi gặp nhau chúng tôi vẫn cứ nhắc đi nhắc lại.

       Rồi từ sân bay Kép, tôi được điều về Trung đoàn ở Đồi Cọ. Loanh quanh thế nào tôi và anh lại gặp nhau ở đất Yên Bái ấy. Anh cũng về Tiểu đoàn căn cứ (Tiểu đoàn bảo đảm hậu cần) ở phía ngoài khu vực Đồi Cọ một chút. Khi gặp nhau, tôi bắt tay anh và hỏi:

        - Còn ngã xe hay đổ xe nữa không?

        - Thôi rồi, thôi rồi!

        - Vậy còn “Nghị quyết sáu lăm”?

        - Thì vẫn! Trưa nay nhé! - Anh sởi lởi.

       Tiểu đoàn căn cứ lúc thì không trực thuộc Trung đoàn, một giai đoạn lại trực thuộc Trung đoàn, nhưng tôi và anh Tiến thì vốn đã biết nhau, hiểu nhau nên dù đơn vị anh có trực thuộc hay không trực thuộc, chúng tôi vẫn hiệp đồng với nhau trong công việc ăn ý lắm. Khi anh ở Tiểu đoàn, cũng có giai thoại là anh bắt cậu công vụ của Tiểu đoàn học thuộc hơn chục loại “mật lệnh”, ví dụ như nháy mắt trái thì nghĩa là gì, khi nháy mắt phải thì nghĩa là gì, rồi nhún vai trái, vai phải, nhếch mép trái, mép phải... mỗi thứ đều có một ý nghĩa nào đấy. Anh đem điều ấy “khoe” với tôi. Tôi cảnh giác:

        - Không cẩn thận có ngày cậu ấy quên một điều nào đó chẳng hạn, anh đang ngồi họp mà cậu ấy vào hỏi trước mặt mọi người thì buồn cười lắm!

        - Không sao đâu! Nó thuộc lòng mà!

       Cái điều tôi cảnh báo với anh đúng là đã xảy ra thật. Nhiều việc, nhiều thứ thế thì có lúc phải quên chứ. Mà quên thì phải hỏi chứ. Vậy là hỏi thôi. Đúng là có lần cậu công vụ vào hẳn trong cuộc họp hỏi anh thật. Anh vừa bực vừa buồn cười. Không thể đổ hết lỗi cho cậu ấy được. Dầu sao cũng là sản phẩm của anh mà. Hôm anh kể với tôi về cái “vụ việc” ấy xảy ra trong khi anh đang họp ở hội trường thế nào, cả hai chúng tôi cười đến chảy nước mắt nước mũi. Ôi ông Lôi ơi là ông Lôi!...

       Anh thuộc dạng uống rượu khỏe, từng được mang danh Can Bình Tiến (thay vào Lôi Đình là Can và Bình) cơ mà. Tôi nhớ, có lần giữa mùa hè nóng bức thế mà anh lôi tôi đi uống rượu với “mồi nhắm” là... mít giai! về nhà nóng tới mức như bị phát rồ, đêm không sao ngủ nổi. Cứ một lúc là tôi lại xách xô ra giếng múc nước lên dội vào người cho “nguội”. Anh thi thoảng lại quay điện thoại vào hỏi tôi:

        - Ông ngủ chưa?

        - Chưa!

        - Ông thế nào?

        - Cũng chưa!

        - Nóng quá!

        - Đúng, nóng quá không ngủ được!

        - Tôi vừa ra giếng dội nước xong!

        - Thì tôi cũng vậy!

       Đứng là chả cái dại nào bằng cái dại nào! Thế mà bẵng đi một giai đoạn, khi tôi gặp lại anh, mời anh đi uống rượu thì anh lắc đầu:

        - Bây giờ thì chịu rồi!

        Nhìn thần sắc của anh, tôi ái ngại quá. Mới từng ấy năm cách xa nhau đến giờ gặp lại mà sao anh rệu rã đến thế! Một thời gian sau thì nghe tin anh “ra đi”. Tôi cứ bần thần cả người. Nghĩ mà thương anh rồi lại nghĩ đến những người khác, nghĩ đến mình... Cuộc sống này nhiều điều bất ngờ quá. Lúc viết những dòng này, tôi lại như nghe được tiếng anh ngay bên tai tôi:

        - Nghĩ gì mà thần mặt ra thế? “Kin lẩu” thôi vớ! Thực hiện “Nghị quyết sáu lăm” nhé!...

       Tôi bỗng thấy nghèn nghẹn trong lòng và cay cay nơi khóe mắt.

       Rồi đến một ngày nào đó, anh em tôi cũng sẽ lần lượt “đi” theo các anh mà thôi. Không biết thế nào mà tôi vẫn cứ tin ở cái thuyết luân hồi! Rồi ở đâu đó, ngày nào đó chứng tôi sẽ lại gặp lại nhau, lại cùng nhau bay trong đội hình, lại cùng ngồi “kin lẩu”, lại cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xa xưa của một thời không dễ gì quên!...


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:20:32 am
        
Thay cho lời kết

       Thoắt cái thế mà tôi đã rời khỏi Trung đoàn đến mấy chục năm rồi. Mới biết, thời gian trôi đi ghê thật. Còn nhớ, một lần về thăm Trung đoàn, có mấy anh chị em đến gặp tôi, nói:

        - Các anh thì đi khỏi Trung đoàn hết cả, chỉ bọn chúng em là còn ở lại, gắn bó với Trung đoàn thôi, chúng em phải được phần thưởng gì chứ nhỉ?

        - Cứ yên tâm đi! Khi nào chuẩn bị về với “ông bà ông vải” thì tớ sẽ đề nghị với Trung đoàn cho mỗi đứa một cỗ áo quan bằng gỗ ràng ràng mít! - Tôi vừa cười vừa trả lòi.

       Thế là tất cả quây lấy tôi, đấm tôi thùm thụp!

       Cái cỗ ràng ràng mít tôi nói ở đây nó có tích gắn với một thời, ấy là ở cái thời khốn khó, nhà ai có “cha già mẹ héo” mà chuẩn bị trước cho các cụ được bộ hậu sự bằng gỗ ràng ràng mít là ghê lắm rồi, thường thì chỉ bằng gỗ trám mà thôi!

       Tình cảm của các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Trung đoàn là như vậy đấy, làm sao mà không quý, không thương Trung đoàn được kia chứ. Nghĩ lại thì cũng thấy đúng thật. Số những thành phần cũ của Trung đoàn còn lại “bám trụ” xây dựng cơ ngơi của mình còn không nhiều: quanh khu Đồi Cọ chỉ có gia đình anh Nguyễn Xuân Dương, gia đình anh Nguyễn Văn Ban... Ngoài khu đầu Bắc sân bay thì có gia đình các anh Lê Xuân Từ, Nguyễn Văn Dựng, Nguyễn Xuân Hạnh..., khu Đại đội định kỳ thì có gia đình anh Tô Văn Tụ, gia đình anh Nguyễn Huy Hàm, gia đình anh Tam..., khu vực “cây Ba” (khu cây số 3) thì có gia đình các anh Đoàn Văn Sàn, Nguyễn Đắc Khái, Nguyễn Danh Điểm và một số ít ỏ khu gia đình bây giờ như gia đình anh Nguyễn Văn Hạnh, gia đình cô “chị nuôi” Nguyễn Thị Chính, gia đình anh Lê Văn Thân... Những người gắn bó chí cốt với Trung đoàn từ những ngày đầu thành lập, chuyển rời muộn nhất là gia đình anh Võ Ngọc Thấu, rồi đến gia đình cô “chị nuôi” Ma Thị Dung đều đã về Phú Thọ cả... Tôi rất muốn mời mọi người về thăm Trung đoàn của tôi để cùng chia sẻ mọi nỗi vui buồn cùng Trung đoàn. Tôi đã viết bài “Về Trung đoàn với anh, em nhé!”. Xin được trích lại ỏ đây:

                              Trung đoàn anh đóng quân nơi ấy
                              Có sông Hồng như dải lụa chảy qua
                              Và đường băng như chiếc trâm ngà
                              Cài trên đầu rừng xanh bát ngát
                              Cọ xòe tay vẫy chào, múa hát
                              Hương quế nồng say, man mác,... bồi hồi...
                              Mùi táo Mèo quyến rũ, đọng mãi đầu môi...
                              Bưởi Cát Lem đậm đà vị ngọt

                              Về Trung đoàn
                              Em sẽ ngẩn ngơ giữa tiếng chim lảnh lót
                              Sẽ sững sờ trước màu sắc muôn hoa
                              Anh sẽ đưa em thăm thắng cảnh Thác Bà
                              Qua Yên Bình, về Nam Cường, lên Cổ Phúc
                              Thăm thành phố rộn ràng, đông đúc
                              Ngược phía Ầu Lâu
                              Vượt những nhịp cầu
                              Ngang sông Hồng, sang Nghĩa Lộ
                              Anh sẽ đưa em lên Bắc Hà
                              uống rượu ngô, ăn thắng cố
                              Nghe tiếng sáo, tiếng khèn gọi bạn... lả lơi

                              Về Trung đoàn
                              Ngắm những đôi cánh MiG tung hoành
                              ngang dọc giữa trời
                              Luôn sẵn sàng giữ yên vui Đất Mẹ
                              Các bạn anh - những chàng lính trẻ
                              Sôi nổi, hồn nhiên,... càng lắng đậm tình người

                              Dù anh bay khắp bốn phương trời
                              Anh vẫn mang theo dáng hình em nhỏ bé
                              Về Trung đoàn với anh, em nhé!
                              Anh ngóng trông, thao thiết đợi em về!


       Có lẽ lời mời đó và nỗi chờ đợi đó không phải chỉ có riêng tôi mà là của nhiều người trong Trung đoàn. Người miền ngược luôn quý khách và Trung đoàn Không quân 931 của tôi cũng không nằm ngoài cái lệ ấy. Mời các bạn khắc đến, khắc biết!


Tiêu đề: Re: Đi xa ngoảnh lại
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:24:51 am
       Thoắt đấy mà Trung đoàn cũng đã được 35 năm kể từ ngày thành lập. Với một đời người thì đây đang là cái tuổi sung mãn nhất, phát triển nhất về mọi mặt. Trung đoàn cũng vậy. Đồi Cọ bây giờ đã thưa thớt cọ, những ngôi nhà lợp mái lá cọ như xưa kia hầu như không còn nữa và Trung đoàn đã ra nơi ở mới từ lâu. Nhiều phi công của Trung đoàn đã được đi chuyển loại sang loại máy bay mới hiện đại hơn, tính năng ưu việt hơn. Nhiều lớp cán bộ của Trung đoàn đã được bổ nhiệm vào những cương vị mới, đảm nhận chức vụ mới, chức trách mới, cấp bậc mới... Nhiều người đã trở thành những tướng lĩnh trong quân đội như các anh Trần Văn Thi, Trần Văn Thanh, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Kim Sơn, Bùi Văn Tâm..., nhiều người từng giữ những chức vụ với những trọng trách lớn như Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Giám đốc, Phó Giám đốc Học viện Phòng không - Không quân và những chức vị quan trọng khác của Bộ Quốc phòng, của Quân chủng... Nhà nước cũng đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho các phi công Nguyễn Văn Vinh A, Đặng Hồng Vinh B. Nhiều gia đình cũng đã chuyển về xuôi hoặc đi các vùng miền khác nhau trong cả nước. Trung đoàn đã trưởng thành, đã phát triển nhưng không phải không có những cơn sóng gió, những bước thăng trầm trong chặng đường trưởng thành của mình. Tôi vẫn cứ nghe phong thanh về chuyện Trung đoàn có còn tồn tại nữa hay không, hay là phải giải thể. Xóa phiên hiệu một đơn vị thì không khó, nhưng để thành lập được một đơn vị, nhất là lại là một đơn vị bay và giữ cho được cái truyền thống của nó thì không dễ tí nào. Tôi cứ luyến tiếc cho Trung đoàn Không quân tiêm kích 925 - một Trung đoàn tuy mới hoạt động được hơn 10 năm tính từ ngày thành lập (1968 - 1979) nhưng đã có bề dày thành tích: đã từng có cả trăm trận không chiến, đã từng bắn hạ cả chục máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh chống Không quân Mỹ đánh phá miền Bắc Việt Nam, đã từng xây dựng “cơ ngơi” ở khu vực Đồi Cọ này cả chục năm trời bị giải thể quá sớm. Quy luật của cuộc sống không có gì là bất biến cả. Nay có thể sáp nhập đơn vị này, mai lại tách đơn vị kia ra cũng là chuyện bình thường. Tôi cứ nhớ đến câu của Gơt (Johann Wolfgang von Goethe (1749 - 1832) được coi là một trong những vĩ nhân trong nền văn chương thế giới. Ông là một nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia, nhà văn, nhà khoa học, họa sĩ của Đức. Do đó ông là một trong số ít những người được xem là nhà thông thái) đã nói: “Mọi lí thuyết đều màu xám. Chỉ có cây đời mãi mãi xanh!”. Trung đoàn 931 của tôi dù thế nào đi chăng nữa, còn tồn tại hay sẽ không còn nằm trong biên chế của Sư đoàn, phải giải thể... thì danh hiệu của nó vẫn luôn sáng chói trong lòng mọi người. Con người theo năm tháng khắc sẽ phải già đi, rồi sẽ có lúc cũng trong tình trạng nhớ nhớ, quên quên nhưng tình cảm của mọi người đối với Trung đoàn 931 thì vẫn nguyên vẹn như thuở ban đầu. Những cánh bay của Trung đoàn vẫn vẫy vùng, tung hoành giữa trời cao và bầu trời Hoàng Liên Sơn, bầu trời miền Tây Bắc của Tổ quốc này vẫn coi đó như một phần máu thịt của mình, không thể thiếu vắng được. Tôi luôn thấy vang vọng trong tôi khúc hát: “Hoàng Liên Sơn ơi, hôm nay ta lại về! Mang đôi cánh bạc gìn giữ đất quê. Nghe âm vang bao lời thôi thúc. Nghe âm vang muôn lời trống giục. Thề giữ quê hương và gìn giữ đất tròi!...”.

       Mảnh đất Hoàng liên Sơn và vùng trời Tây Bắc của Tổ quốc luôn luôn và mãi mãi vẫn cần đến những người lính canh trời - những dũng sĩ trên không với những đôi cánh bạc để bảo vệ và giữ gìn sự trong lành, sự yên bình của mình!

Lời bạt

       Cứ giả sử rằng, tôi là một người đọc không quen biết tác giả cuốn sách này và tác giả không dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít để kể chuyện thì tôi coi đây là một cán bộ cấp Trung đoàn mà chắc phải là cán bộ chính trị, một người có năng khiếu văn chương chẳng kém gì người viết văn chuyên nghiệp. Nhưng rất may, tôi đã là người bạn, đồng chí, đồng nghiệp của anh từ gần 50 năm nay.

       Tôi định nói dài dòng một chút về tác giả, nhưng có lẽ xin được nói ngắn gọn thế này: Nếu bạn muốn hiểu về tác giả, chỉ cần bạn đọc cuốn sách “Tôi từng là phi công tiêm kích” và cuốn sách nậy: “Đi xa ngoảnh lại” và bạn cũng đồng ý với tôi rằng: “Văn là người” thì bạn sẽ hiểu Nguyễn Công Huy là ai.
Riêng tôi, nếu nói về Huy thì chỉ xin được nói bằng lời ngắn gọn: Đó là một người “chăm học, chăm làm” và thấm đẫm tình người đến mức... khó tin!.

       Nhân đây xin tặng Huy và Trung đoàn Đồi Cọ mấy câu "văn vần - vui vui” sau:


“ĐI XA NGOẢNH LẠI’ “ngon” ghê!
Loay hoay tìm mãi chẳng chê chỗ nào
Bạn tôi tay viết đã cao
Người viết “Văn tế” khác nào... “Nguyễn Du”
Đồi Cọ rừng núi âm u
Smh ra lắm kẻ... “phụp, phù” quái chiêu
“Đốp, xịt”... ăn thế cũng nhiều
“Biết thế đếch nào được” những điều mai sau?
Chút tình chia sẻ cùng nhau!

HÀ QUANG HƯNG      
HẾT