Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 10:05:16 am



Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 10:05:16 am

        - Tên sách: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
        - Tác giả: Hà Văn Tấn-Phạm Thị Tâm
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2003
        - Số hóa: macbupda
        - Hiệu đính: Giangtvx

        (In theo bản in lần thứ ba của Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - 1972)

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

VỀ CÁC NGUỒN SỬ LIỆU

        
“Đến nay dân bốn biển        
        Nhớ mãi năm bắt thù”
1        
        Phạm Sư Mạnh        

        Trong những bản thảo bộ Jami al - Tawàrìkh (Tập sử biên niên) viết bằng chữ Ba Tư của nhà sử học nổi tiếng thế kỷ XIII Ra Sit Ut - Đin (Fazl Allah Radsidud - Dīn, 1247-1318), người ta đọc được những dòng sau đây về một nước Kiafca xa xôi:

        “Nước đó có những vùng khó đi lại và nhiều rừng cây, giáp với Karaĵan2, một phần giáp Hindostan và biển. Ở đó có hai thành thị là Luĵek(?) và ĵesam(?). Nước đó có quốc vương riêng, không thần phục hãn (vua Mông Cổ - T.G.) Tugan3, con trai của hãn, chỉ huy đội quân của Lukin Fu4 để bảo vệ miền Manzi5 cũng như để ngăn ngừa và chống lại những ai không khuất phục. Một lần, Tugan đem quân vào nước đó, chiếm lấy các thành thị ven biển và thống trị ở đấy trong một tuần lễ. Nhưng bỗng nhiên từ biển, từ rừng, từ núi, xuất hiện những đội quân nước đó đánh tan đạo quân của Tugan đang lo cướp bóc. Tugan trốn thoát và lại trở về đóng ở Lukin-fu”6.

        Kifaca, có bản chép là Kiefce - Kue, chính là phiên âm tên Giao Chỉ hay Giao Chỉ quốc. Mặc dầu quá đơn giản và có chỗ sai lầm, nhà sử học Ba Tư đã nói đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống quân Nguyên vào thế kỷ XIII. Cuộc chiến đấu anh dũng và thần kỳ diễn ra khắp đất nước, “từ biển, từ rừng, từ núi”, đã đánh tan bọn xâm lược Thoát Hoan (Tô-gan) hung hãn. Hẳn chiến thắng oanh liệt của Đại Việt (quốc hiệu Việt Nam bấy giờ) đã có tiếng vang lớn nên Ra Sít Ut - Đin, nhà sử học Thành Ha Ma Đan (Hamadhan) ở tận phía tây của châu Á mới chép vào bộ sử của mình những dòng trên.

        Điểu đáng tiếc là những dòng như vậy thật quá ít trong các sử liệu thế kỷ XIII của đế quốc Mông cổ. Muốn nghiên cứu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII, phải dựa vào hai nguồn sử liệu chủ yếu: sử liệu Việt Nam và sử liệu Trung Quốc. Nhưng cả hai nguồn sử liệu này đều kém phong phú.

        Bộ Trung hưng thực lục đời Trần chép các chiến công chống Nguyên nay không còn nữa7. Các sách binh pháp của nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn như Binh thư yếu lược8, Vạn Kiếp tông bí truyền thư đã mất. Quyển Binh thư yếu lược hiện có chỉ là một quyển sách giả do người đời sau soạn. Ngay bộ Đại Việt sử ký tục biên do nhà sử học Phan Phu Tiên soạn năm 1445 chép tiếp Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu giai đoạn đầu từ đầu Trần đến Lê Lợi khởi nghĩa cũng không tìm thấy. Hiện nay, chúng ta chỉ còn đọc được những sử liệu về cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ XIII trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư của nhà sử học Ngô Sĩ Liên soạn năm 1479. Chúng ta có thể tin chắc là khi chép về giai đoạn lịch sử này Ngô Sĩ Liên còn có trong tay những sử liệu đời Trần và bộ sử của Phan Phu Tiên. Vì thế, những điều ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư thật đáng quý. Tuy nhiên những tài liệu về cuộc kháng chiến chống Nguyên trong Toàn thư quá sơ sài ít ỏi, nếu chỉ dựa vào đấy thì thật là khó khăn trong việc khôi phục những trang sử vẻ vang của dân tộc thế kỷ XIII. Đấy là chưa kể ở nhiều chỗ Ngô Sĩ Liên đã lầm lẫn như chép rằng thuyền lương của Trương Văn Hổ bị đắm trong trận Bạch Đằng, Nguyễn Khoái bắt được Áo Lỗ Xích (Auruči) hay Thoát Hoan (Toan) cũng bị ta bắt…9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán đời Nguyễn (hoàn thành năm 1859, hiệu đính năm 1871 - 1878, in năm 1884) đã tham khảo các tài liệu Trung Quốc như Nguyên sử, Nguyên sử loại biên, Thông giám tập lãm để đính chính những sai lầm trên của Toàn thư. Nhưng do thiếu thận trọng trong khi tham khảo tài liệu Trung Quốc, Khâm định Việt sử thông giám cương mục lại mắc những sai lầm khác. Chẳng hạn Cương mục đã chép trận Vân Đồn xảy ra vào tháng giêng, năm Trùng Hưng 4 (3 tháng 2 - 3 tháng 3 năm 1288) lúc Ô Mã Nhi (‘Omar) đem thuyền đi đón Trương Văn Hổ, kỳ thực thì trận Vân Đồn xảy ra vào tháng 12 năm Trùng Hưng 3 (5 tháng 1 - 2 tháng 2 năm 1288), lúc thủy quân Nguyên tiến vào đất nước chúng ta10. Sai lầm đó của Cương mục dẫn tới sai lầm của nhiều tác phẩm hiện nay viết về vấn đề này. Những sử liệu mới rút ra từ sách Trung Quốc do Cương mục bổ sung cũng không được bao nhiêu. Nếu chúng ta có trong tay các thư tịch Trung Quốc và Đại Việt sử ký toàn thư thì có thể không cần dùng đến Cương mục, một bộ sử xuất hiện muộn, để nghiên cứu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ XIII. Trong khi viết quyển sách này, chúng tôi lấy tài liệu ở Toàn thư mà không dựa vào Cương mục, trừ những chỗ cần so sánh.

---------------
1. Trích dịch trong bài thơ ca tụng chiến thắng Bạch Đằng của nhà thơ Phạm Sư Mạnh đời Trần khắc ở hang Kính Chủ, nay vẫn còn.

2. Karajan (tiếng Mộng Cổ là Qara ĵ ang, Nguyên sử phiên âm là Cáp Lạt Chương hay Hợp Lạt Chương) là chỉ vùng người Thoán Ô Man ở Vân Nam (tiếng Mông Cổ qara là “đen”, jang là chỉ người Thoán, xem thêm chủ thích ở chương III).

3. Tugan là cách gọi Ba Tư tên Mông Cổ Toan (hay Toon). Tức Thoát Hoan trong Nugyên sử.

4. Lukin Eu, có bản chép là Lunkin Eu, d’osson đoán là Quế Lâm phủ là sai lầm. Lukin Eu là Long Hưng phủ ở Giang Tây.

5. Tên Mông Cổ chỉ vùng Nam Trung Quốc, đất Nam Tống trước đây.

6. Tập sử biên niên, bản dịch tiếng Nga, tập II, 1960, T.184; d’ohson có dịch đoạn này ra tiếng Pháp trong Histore dé Mongols depuis T Chinguiz - Khan Jusqu’à Timour bey ou Tamerlan. Tập II, 1834, t.640.

7. Theo Toàn thư, trong kháng chiến chống Nguyên, người nào có công lớn thì được chép vào Trung hưng thực lục và vẽ hình (1.5,t.57b).

8. Trong bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn thì sách này gọi là Binh thư yếu lực nhưng Toàn thư (q.6, t.11b) còn gọi là Binh gia diệu lý yếu lược.

9. Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, q.5, t.54.

10. Xem chương VII.

(Dấu  không thể hiện được ở đây giống chữ gamma trong tiếng Hy Lạp)


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 11:38:47 pm
        Hiện nay ở Thư viện Khoa học Trung ương còn có một số sách chép tay bằng chữ Hán có liên quan đến cuộc kháng chiến chống Nguyên như Trần Đại vương bình Nguyên thực lục, Vạn yên thực lục, Trần triều thế phả hành trạng, Trần gia điển tích thông biên… Những sách này đều là được biên soạn về sau, phần lớn là đời Nguyễn, không có giá trị gì mấy, thường là chép lại các tài liệu ở chính sử, hoặc thêm thắt bằng truyền thuyết. Do đó chúng tôi rất ít dùng loại tài liệu này.

        Hiện nay chúng tôi cố tìm các bi ký thời Trần để bổ sung cho nguồn sử liệu Việt Nam nghèo nàn về cuộc kháng chiến oanh liệt này. Nhưng việc tìm kiếm đó chưa có kết quả mấy. Bia công chúa Phụng Dương (vợ Trần Quang Khải do Lê Củng Viên soạn năm 1293 có những chi tiết liên quan đến việc rút lui của vương triều Trần khỏi Thăng Long năm 12851. Chúng tôi cũng đọc được ở bài minh khắc trên quả chuông Thông Thánh quán Bạch Hạc năm 1321 những sử liệu về cuộc chiến đấu của Trần Nhật Duật ở Tuyên Quang trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (quả chuông này do chính Trần Nhật Dưật coi việc đúc)2.

        Một tác phẩm quan trọng mà chúng tôi đã sử dụng là An Nam chí lược của Lê Trắc. Lê Trắc là môn khách của Chương Hiến hầu Trần Kiện, đã cùng chủ đầu hàng quân Nguyên năm 1285. Y soạn bộ sách này ở Trung Quốc vào những năm đầu thế kỷ XIV3. Với một lập trường rất phản động, Lê Trắc đã đề cao kẻ thù, bôi nhọ những trang sử vẻ vang của dân tộc. Về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Lê Trắc luôn luôn chép kẻ địch thắng, nhưng mặc dầu vậy, y vẫn không che giấu nổi những thất bại nhục nhã của bọn cướp nước và bán nước. Vì đây là tài liệu của một kẻ hàng giặc nên phải vô cùng thận trọng khi sử dụng. Tuy vậy, An Nam chí lược vẫn là một tài liệu rất cần thiết đối với việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Nguyên. Trong sách này, Lê Trắc đã chép được những thư từ qua lại giữa vua Trần và vua Nguyên cũng như thư của các sứ thần, quan lại (q.2 Đại Nguyên chiếu chế, q.5 Đại Nguyên chư thần vãng phục thư vấn, q.6 Biểu chương). Đấy là những tài liệu quan trọng để nghiên cứu quan hệ ngoại giao Việt - Nguyên trong giai đoạn đó. Những sứ bộ ngoại giao được chép trong quyển 3 Đại Nguyên phụng sứ và quyển 14 Trần Thị khiển sứ. Chúng ta còn có thể khai thác tài liệu về diễn biến các trận trong quyển 4 Chinh thảo vận hướng. Lê Trắc đã chép các sự kiện với ngày tháng rõ ràng, điều đó giúp chúng ta có thể đối chiếu với các tài liệu khác mà khôi phục được quá trình diễn biến các sự kiện theo trình tự thời gian. Những tiểu truyện, thơ văn của bọn hàng giặc và ngay cả bài Tự sự của Lê Trắc cũng cho chúng ta thấy được tinh thần khiếp nhược, tâm trạng hoang mang của những tên bán nước và sức chiến đấu mãnh liệt của quân dân ta. Chính vì thế, chúng tôi đã sử dụng An Nam chí lược coi nó là một tài liệu cần thiết trong việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Nguyên. Tất nhiên chúng tôi không tìm ở đây những trang tràn đầy tinh thần dân tộc như dưới ngòi bút của Ngô Sĩ Liên mà phải tìm lại hình ảnh cuộc chiến đấu của dân tộc qua bức màn đen của Lê Trắc. Những hình ảnh đó có chỗ vẫn hiện lên rõ nét và sinh động. Đó là điều Lê Trắc không muốn và không ngờ tới.

        Nếu việc sử dụng An Nam chí lược gặp khó khăn do sự xuyên tạc của Lê Trắc thì việc sử dụng các thư tịch cũ của Trung Quốc có liên quan đến vấn đề này cũng như vậy.

        Chính sử Trung Quốc xưa nhất có chép đến vấn đề này là Nguyên sử4. Nguyên sử được biên soạn đầu đời Minh, do Tống Liêm, Vương Vĩ và một số người khác (bài biểu dâng Nguyên sử của Lý Thiện Trường đề năm 1369). Các tác giả đã dựa vào các sử liệu thư tịch đời Nguyên còn lại ở Bắc Kinh để viết bộ sử này. Chúng ta có thể tìm thấy những sử liệu quan trọng liên quan đến cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông rải rác trong phần Bản kỷ Hiến Tông và Thế Tổ, trong một số truyện những viên tướng hay sứ giả ở phần Liệt truyện và tập trung ở An Nam truyện (q 209) và Chiêm Thành truyện (q.210)5. Điều đáng chú ý là các tác giả tuy là sử gia đời Minh nhưng khi viết Nguyên sử họ vẫn đứng trên lập trường bọn phong kiến nhà Nguyên. Đứng về mặt phương pháp biên soạn mà nói, Nguyên sử là bộ sử kém nhất, chứa đựng nhiều điều sai lầm và hỗn loạn nhất trong 24 bộ sử Trung Quốc. Một số người nghiên cứu lịch sử sử học Trung Quốc đã cho rằng sở dĩ như vậy là tuy các tác giả có sử dụng các tài liệu đời Nguyên nhưng họ đều không hiểu tiếng Mông Cổ và phải soạn gấp trong một thời gian quá ngắn chưa đầy một năm theo lệnh Minh Thái Tổ6.

        Chính vì thế mà nhiều sử gia về sau đã cố gắng bổ sung Nguyên sứ. Đời Minh đã xuất hiện Nguyên sử tục biên của Hồ Tuý Trung, Nguyên sử bị vong lục của Vương Quang Lỗ, Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm. Đến đời Thanh càng nhiều sử gia viết lại sử Nguyên như Thiệu Viễn Bình viết Nguyên sử loại biên (còn gọi là Tục Hoằng giản lục), Tiền Đại Hân viết Bổ Nguyên sử thị tộc biểu, Bổ Nguyên sử nghệ văn chí, Nguyên sử thập di… Uông Huy Tổ viết Nguyên sử bản chứng, Nguỵ Nguyên viết Nguyên sử tân biên, Hồng Quân viết Nguyên sử dịch văn chứng bổ, Đỗ Kỳ viết Mông Ngột Nhi sử, Kha Thiệu Mân viết Tân Nguyên sử… Các sử gia trên đã tìm tòi thêm nhiều tài liệu Trung Quốc và nước ngoài để bổ sung cho lịch sử triều Nguyên ở Trung Quốc hoặc lịch sử đế quốc Mông Cổ nói chung. Nhưng đối với phần có liên quan đến Việt Nam thế kỷ XIII thì họ tìm được rất ít tài liệu mới, phần lớn là chép lại Nguyên sử. Vì thế đối với loại tài liệu này chúng tôi ít dân dụng, trừ những điều không chép trong Nguyên sử. Ngay đối với những điều đó, chúng tôi cũng chỉ dùng sau khi đã phân tích hay đối chiếu với các tài liệu khác vì lý do là các quyển sử trên được biên soạn muộn về sau7.

----------------
1. Bản rập ở Thư viện Khoa học Trung ương số 7.804.

2. Bản rập ở Thư viện Khoa học Trung ương số 13.957

3. Một người Nhật Bản là Kishida Ginkò đã tìm được một bản An Nam chí lược ở Trung Quốc và cho in lại ở Thượng Hải năm 1884. Bản chúng tôi dùng làm bản này. Bản này có rất nhiều chỗ in lầm, phải hiệu đính cẩn thận mới sử dụng được.

        Hiện nay, nhiều người dựa vào năm Lê Trắc viết bài tựa mà cho rằng An Nam chí lược soạn năm 1333. Thực ra không phải vậy. Sách Kinh thế đại điển dời Nguyên viết năm 1330 đã tham khảo An Nam chí lược (xem Nguyên văn loại 1.40, Kinh thế đại điển tự lục). Trong các bài tựa An Nam chí lược (không phải do Lê Trắc viết), bài sớm nhất soạn vào năm 1307).

4. Bản chúng tôi dùng là bản in của Trung Hoa thư cục (Tụ Trân phỏng Tống bản).

5. Xuất phát từ quan diểm cho rằng lịch sử Việt Nam phải là lịch sử của tất cả các dântộc ở trên đất Việt Nam ngày nay, chúng tôi thấy phải trình bày cuộc chiến đấu của các dân tộc đó chống lại bọn xâm ưlược Nguyê. Vì thế trong quyển sách này chúng tôi cũng trình bày cuộc kháng chiến của nhân dân Chàm.

6. Lý Tư Thuần: Nguyên sử học, Trung Hoa thư cục 1940, t.51, 50. Kim Dục Phất: Trung Quốc sử học sử, Trung Hoa thư cục 1962, T.113.

7. Chúng tôi dùng các sách trên theo các bản in đã ghi rõ trong Tài liệu tham khảo


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2016, 11:46:51 pm

        Trong khi đó, chúng tôi chú trọng hơn đến các tài liệu khác tuy không phải là chính sử nhưng được biên soạn vào đời Nguyên. Một tác phẩm quan trọng là Hoàng triều kinh thế đại điển do Triệu Thế Diễn và Ngu Tập soạn năm 1330-1331 dưới sự giám sát của viên quan Mông Cổ, Đác Khan Khác Kha Xun (Darqan Qarqasun). Đáng tiếc là bộ sách đã mất, nay chỉ còn lại vài phần trong bộ Vĩnh Lạc đại điển. Những sử liệu liên quan đến Việt Nam ở đây chỉ còn có đôi điều. May mắn là bài tựa, hay nói đúng hơn là đề cương chi tiết của bộ sách đó, với cái tên Kinh thế đại điển tự lục đã được một tác gia đời Nguyên là Tô Thiên Tước (1294-1352) chép lại trong bộ văn tuyển Quốc triều văn loại (còn gọi là Nguyên văn loại) của ông. Trong mục Chinh phạt của Kinh thế đại điển tự lục có các đoạn An Nam và Chiêm Thành. Đoạn An Nam tuy sơ lược nhưng bổ sung thêm một số tài liệu về cuộc kháng chiến chống Nguyên của nhân dân Việt không có trong Nguyên sử. Đoạn Chiêm Thành có nhiều tài liệu tốt, đặc biệt là chép rõ ngày tháng quá trình diễn biến cuộc kháng chiến của nhân dân Chàm, bổ sung được nhiều điểm cho Nguyên sử Chiêm Thành truyện.

        Các sách do sứ Nguyên đã đến Việt Nam soạn là những tài liệu tốt để nghiên cứu tình hình Việt Nam và quan hệ ngoại giao lúc bấy giờ. Trong số các tác phẩm đó, chúng tà phải kể đến Thiên Nam hành ký (hay An Nam hành ký) của Từ Minh Thiện1. Từ Minh Thiện đến Thăng Long năm 1289. Trong Thiên Nam hành ký, Từ Minh Thiện đã chép được một số thư từ trao đổi giữa vua Việt và vua Nguyên mà An Nam chí lược chép không đầy đủ hay không chép. Một tài liệu quý nữa là Trần Cương - trung thi tập của Trần Phu. Trần Phu đi sứ năm 1291, đến Việt Nam năm 12922. Tất cả những bài thơ viết về Việt Nam đều được chép trong Giao châu cảo tức tập 2 của Trần Cương - Trung thi tập3. Trong tập thơ đó có những bài có chú thích cẩn thận (như bài An Nam tức sự) là những tài liệu hiếm dùng để nghiên cứu kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XIII, một số bài khác nói lên sự hoảng sợ lo lắng của bọn sứ Nguyên ở Việt Nam (như bài Giao châu sứ hoàn cảm sự), một số bài có thể dùng làm tài liệu để xét một số địa danh hay ngày tháng (như bài Tư Minh châu nguyên nhật, bài Ngày mồng 3 tháng 2 trú ở trạm Khâu Ôn thấy trăng mới giữa trời…). Cuối Trần Cương Trung thi tập còn có một phần phụ lục Nguyên phụng sứ dữ An Nam quốc vãng phục thư chép lại 8 bức thư trao đổi giữa Lương Tằng, Trần Phu và vua Trần Nhân Tông.

        Ngoài những thư tịch trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các bi ký soạn đời Nguyên có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu. Một số bi ký đã được các tác giả đưa vào trong các tập văn thơ của mình. Trước hết chúng tôi muốn nói đến Mục Am tập của Diêu Toại (1238-1314). Chúng ta có thể đọc trong đó những bi ký do ông soạn về những nhân vật có liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam như mộ chí Trương Đình Trân, tên sứ giả đến Việt Nam năm 1269, miếu bi Lý Hằng, tên tướng đánh Việt Nam năm 1285, bia A Lý Hải Nha (Ariq - Qaya), tên tướng chỉ huy đội quân xâm lược Việt Nam năm 1285… Một số bi ký khác như Dĩnh châu vạn hộ Để công thần đạo bi (Diêu Toại soạn năm 1304) cũng có những sử liệu về việc quân Nguyên chuẩn bi xâm lược Chiêm Thành và Việt Nam4.

        Tô Thiên Tước (1294 - 1352) khi soạn quyển Nguyên triều danh thần sự lược cũng đã dựa vào nhiều bi ký của các tác giả đương thời. Trong Nguyên triều danh thần sự lược ngoài những tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, chúng ta còn có thể đọc được một số bi ký khác như bài miếu bi A Truật (Aĵu), viên tướng đã đánh vào Việt Nam năm 1258, do Vương Vận (chết năm 1304) tác giả Thu giản văn tập soạn, và bài bia nói về viên quan Mông Cổ là Khác Kha Xun (Qarqasun) do Lưu Mẫn Trung (1242 - 1318) soạn. Trong bài bia Khác Kha Xun có những sử liệu liên quan đến âm mưu xâm lược Việt Nam của bọn phong kiến Nguyên sau năm 1288.

        Trong Từ Khê văn cảo của Tô Thiên Tước có bài bia Cố thừa sự lang Tượng Sơn huyện Đoàn Lý hầu mộ bi do chính Tô Thiên Tước soạn, chép về Lý Thiên Hựu, viên quan đi theo thuỷ quân Nguyên vào Việt Nam năm 1288, bị ta bắt ở trận Bạch Đằng nhưng sau đó trốn thoát được. Trong bài bia đó có những sử liệu liên quan đến các trận Tháp Sơn (Đồ Sơn), Bạch Đằng.

        Tài liệu tìm được trong các bi ký đời Nguyên tuy không phải là phong phú lắm nhưng chúng tôi cố gắng khai thác vì chúng được chép vào thời gian gần cuộc kháng chiến chống Nguyên hơn là Nguyên sử. Có những bi ký tuy không thêm được điều gì mới nhưng có thể dùng nó để xác minh những điều chép trong các sách khác. Ví dụ theo Nguyên sử Tín Thư Nhật truyện thì tên vua nước Đại Lý (Vân Nam) Đoàn Hưng Trí sau khi đầu hàng quân Mông Cổ đã đem hai vạn quân người Thoán Bặc Vân Nam đưa quân Mông Cổ tiến vào Việt Nam năm 1258. Điều này được chứng thực trong bài bia chùa Đại Sùng Thánh ở Vân Nam do Lý Nguyên Đạo soạn năm 1325, bia này do viên tổng quản Vân Nam là Đoàn Long (thay Tín Thư Long), cháu Đoàn Hưng Trí dựng5.

        Trên đây là những nguồn sử liệu chủ yếu mà chúng tôi dựa vào để nghiên cứu cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII. Việc sử dụng các tài liệu đó không phải là dễ dàng vì nhiều chỗ mâu thuẫn với nhau và có những sai lầm cần phân tích phê phán. Điều khó khăn lớn là nguồn tài liệu Việt Nam quá ít, vì thế chúng tôi khó mà trình bày các cuộc hành quân, các trận đánh… của quân dân ta một cách cụ thể. Dầu hết sức cố gắng, chúng tôi biết rằng tập sách này vẫn còn nhiều thiếu sót vì trình độ của các tác giả và vì tài liệu chưa thu thập được đầy đủ.

-------------
1. Bản chúng tôi dùng là bản trong Thuyết phu.

2. Về việc đi sứ của Đại Việt của Từ Minh Thiện và Trần Phu, có thể xem thêm một số chi tiết trong Xuyết canh lục của Đào Tông Nghi đời Nguyên.

3. Trần Cương Trung thi tập gồm 3 tập: tập I là Quan Quang cảo, tập II là Giao châu cảo, tập III là Ngọc Đường cảo.

4. Bản Mục Am tập mà chúng tôi dùng là bản Vũ anh đinệ tụ trân. Một số bi ký của Diêu Toại cũng đã được Tô Thiên Tước thu thập đưa vào Nguyên Văn Loại.

5. Bài bia này được E.Chavannes chép lại trong Inscriptions et piéces de chancelleriechinoises de l’époque mongole, T’oung pao sériè II. Vol VI, 1905 và Hạ Quang Nam chép lại trong Nguyên đại Vân Nam sử địa tùng khảo, Trung Hoa thư cục 1935.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 07:16:59 am
      
*

*        *

        Khi sử dụng các nguồn tài liệu Việt Nam và Trung Quốc nói trên, chúng tôi gặp rất nhiều tên nhân vật Mông Cổ và các dân tộc khác như người A-rập, người Ui-gua (Uigur), người Khíp Trắc (Qỹbčak), người Khang Lư (Qangli)… cũng như tên người Hồi giáo, Cơ Đốc giáo… Những người này có liên quan đến cuộc chiến tranh (hay ngoại giao) ở Việt Nam thế kỷ XIII. Các tác phẩm nghiên cứu về Cuộc kháng chiến này trước đây thường chép tên người theo cách phiên âm Trung Quốc (đọc bằng âm Hán Việt) như Ngột Lương Hợp Thai, A Lý Hải Nha, Bột La Hợp Đáp Nhi,… Chúng tôi cho rằng. cách phiên âm đó dễ gây lầm lẫn vì trong thư tịch cũ của Trung Quốc, một nhân vật Mông Cổ hay tộc khác được phiên âm bằng nhiều tên khác nhau. Chẳng hạn như Nguyên sử chép là Ngột Lương Hợp Thai, Ngột Lương Cáp Thai, Toàn thư chép là Ngột Lương Hợp Đải, An Nam chí lược chép là Ngột Lương Cáp Đải, Thông giám tập lãm chép là Ô Đặc Lý Cáp Đạt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn lại chép là Cốt Đãi Ngột Lang… Ngay trong Nguyên sử, A Lý Hải Nha còn được chép là A Lạt Hải Nha, A Lỗ Hải Nha, A Lễ Hải Nha…, còn bi ký của Diêu Toại chép là A Lực Hải Nha. Nguyên sử cũng chép Bột La Hợp Đáp Nhi là Bột Lỗ Hợp Đáp Nhi, trong khi An Nam chí lược lại chép nhầm thành Lý La Hợp Đáp Nhi, Sách La Cáp Đáp Nhi,… Cách phiên âm đời Nguyên, Minh đã hỗn loạn, đến đời Thanh lại càng hỗn loạn hơn. Theo lệnh của Càn Long, năm 1781, một ủy ban được thành lập để soạn quyển Liêu Kim Nguyên tam sử ngữ giải, đem đổi tất cả những tên phiên âm vốn có trong Liêu sử, Kim sử và Nguyên sử thành những tên phiên âm mới. Vì không hiểu quy luật phiên âm đời Nguyên Minh, các tác giả quyển sách đó đã thay đổi một cách tùy tiện và sai lầm. Ngột Lương Hợp Thai lại được đổi thành Ô Lan Cáp Đạt, A Lý Hải Nha đổi thành A Nhĩ Cáp Nhã,… Các bản in Nguyên sử hay các thư tịch khác nói trên vào sau đời Càn Long thường bị sửa lại theo cách phiên âm mới (bộ Nguyên sử mà Khâm định Việt sử thông giám cương mục tham khảo cũng là bộ sách đã bị chữa theo cách phiên âm đời Thanh). Một số bộ sử soạn đời Thanh như Tục tư trị thông giám của Tất Nguyên cũng theo cách phiên âm này. Do đó, việc phiên âm ngày càng gây ra nhiều lầm lẫn. Khi đọc những tài liệu trên, chúng ta có thể lầm một người thành hai hoặc nhiều người khác nhau. Chẳng hạn ông Hoàng Thúc Trâm trong Trần Hưng Đạo (Sài Gòn, 1950) ở trang 67, đã nói về A Truật, lại nói về một người khác là A Châu, kỳ thực A Châu chỉ là tên phiên âm đời Càn Long của A Truật (Aĵu).

        Chúng tôi thấy rằng nếu theo cách phiên âm Trung Quốc tất phải chọn lấy một tên trong nhiều tên khác nhau, nhưng như vậy sẽ gây khó khăn cho người muốn tìm hiểu các sử liệu khác nhau. Vì các lý do trên, trong quyển sách này, chúng tôi quyết định không theo bất kỳ cách phiên âm Trung Quốc nào mà phiên âm theo đúng tiếng Mông Cổ trung đại (hoặc tiếng các dân tộc khác) ví dụ A Lý Hải Nha sẽ phiên âm là A Ríc Kha Y A (Ariq - Qaya), Ngột Lương Hợp Thai là U Ri Ang Kha Đai (Uriyangqadai), Bột La Hợp Đáp Nhi và Bôn Kha Đa (Bol-qadar),… Việc khôi phục lại tên người Mông Cổ và các tộc khác còn giúp chúng ta tránh được các sai lầm tách tên một người thành hai người hoặc nhập hai tên lại làm một. Chẳng hạn như Trần Trọng Kim tách Tích Lệ Cơ Ngọc thành Tích Lệ và Cơ Ngọc1, nhà sử học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro coi Hòa Lễ Hoắc Tôn là Hoà Lễ và Hoặc Tôn2, các địch giả Việt sử thông giám cương mục đọc I Lặc Cát Đại thành I Lặc, Cát Đại3,… Thực ra Tích Lệ Cơ Ngọc trong Toàn thư là chép nhầm từ Tích Lệ Cơ Vương (theo Thiên Nam hành ký) và Tích Lệ Cơ là Sirägi (Si-rê-ghi), Hoà Lễ Hoắc Tôn chỉ là Qorqao-sun (Khoóc-khô-xun), còn I Lặc Cát Đại là Ikirädai (I-ki-rê-đai), v.v…

        Việc khôi phục lại các tên Mông Cổ và các tộc khác từ những tên phiên âm Trung Quốc không phải là dễ dàng, nhất là cho đến nay chưa ai chuyên nghiên cứu khôi phục toàn bộ những tên nhân vật có liên quan đến lịch sử Việt Nam. Tuy vậy, dựa vào tính chất trùng tên nhiều của người Mông Cổ trong các thư tịch cũ (xem Tam sử đồng danh lục của Uông Huy Tổ), dựa vào Hoa di dịch ngữ (1389), Nguyên sử ngữ giải (1781), cũng như dựa vào các công trình của các nhà Mông Cổ học thế giới như P.Pelliot (Pháp), P.Poucha (Tiệp), M.Lewicki (Ba Lan)4…, chúng tôi cố gắng khôi phục lại tên tất cả các nhân vật Mông Cổ và các tộc khác có liên quan đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII đã nhắc đến trong quyển sách này. Những tên đó được khôi phục lại bằng tiếng Mông Cổ trung đại theo cách ghi âm của các nhà Mông Cổ học thế giới5) và sau đó phiên âm ra chữ Việt. Đối với từng tên người, chúng tôi đều chú thích rõ các cách phiên âm Trung Quốc ở dưới trang. Tuy vậy, có một số tên như Hốt Tất Liệt (Qubilai), Toa Đô (Sögätü), Ô Mã Nhi (‘Omar), Thoát Hoan (Toan hay Toon), vì đã quen với chúng ta, trong sách này chúng tôi không phiên âm thành Xô-ghê-tu, Ô-ma hay Tô-gan nữa mà chỉ chú thích để người đọc nắm được tên Mông Cổ của các tên tướng đó.

----------------
1. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Tân Việt 1954, t.154, 155.

2. T. Yamamoto: Annamshi kenkỳu I, Tokyo 1950, t.92.

3. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch của tổ biên dịch Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà Nội 1958, t.534.

4. P. Pelliot: Histoire secrète des Mongols. Restitution du texte mongol et traduction fran çaise des chapitres I et VI. Paris 1940.

        Notes sur l’histoire de la horde d’or. Suivi de quelques noms turcs d’hommes et de peuples rnissant en “ar”. Paris, 1950.

        P.Pelliot et L.Hambis: Histoire des campagnes de Gengis Khan - Chen-wou Ts’in tcheng lon. T. I, Leiden 1951.

        Pavel Poucha: Die geheime Geschichte de Mongolen als Geschichtsquelte und Litteraturdenkmal, Prag, 1956.

        Marian Lewicki: La langue Mongole des transcriptions chinoises du XIVe siècle - Le Houa-yi-yu de 1389 trong Prace wroclawskiego towarzystwa naukowego. Seria A. Ni 29, Wroclaw 1949.

5. Trong hệ thống phiên âm này, có một số chữ cần chú ý: ä (như tiếng Đức) đọc như e, ö như trong tiếng Đức, ü (như tiếng Đức (đọc giống u Pháp, č (như tiếng Tiệp) đọc gần tr Trung Bộ ta, š (như Tiệp) đọc giống s Trung Bộ ta, j đọc như dj. Khi phiên âm ra chữ Việt, chúng tôi chỉ phiên âm đơn giản như ö ra o, ü ra u, ĵ ra j.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 07:21:29 am

*

*       *

        Một vấn đề khác được đặt ra khi nghiên cứu hai nguồn tài liệu Việt Nam và Trung Quốc là vấn đề lịch pháp. Có tìm hiểu và đối chiếu được lịch pháp của Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XIII mới xác định được thời gian xảy ra các sự kiện khi so sánh hai nguồn tài liệu.

        Trong Bàn châu văn tập (quyển 16) của Hồng Quát đời Tống có chép bài “Sắc thư ban lịch cho Nam Bình vương Lý Thiên Tộ (tức Lý Anh Tông 1138-1175)”. Nguyên sử Bản kỷ chép rằng ngày Giáp Tý tháng 7 năm Chí Nguyên 2 (9-9-1265) “chiếu ban cho Quang Bính (tức Trần Thái Tông) lịch năm Chí Nguyên thứ 3”. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm Khai Thái thứ 1 (1324.), “vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu (Mahmùd), Dương Tông Thụy sang báo việc lên ngôi và cho một quyển lịch Thụ Thì” (q.6, t.42b). Đến năm Khai Hựu thứ 11 (1339), Đặng Lộ mới xin đổi lịch Thụ Thì trước đó thành lịch Hiệp Kỷ (q.7, t.9b).

        Chúng tôi cho rằng như vậy ít ra từ cuối thế kỷ XII đến nửa đầu thế kỷ XIV, Việt Nam dùng lích Trung Quốc. Để kiểm tra điều này, chúng tôi ghi lại tất cả những ngày âm lịch có ghi can chi được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (thường là ngày có nhật thực, ngày xảy ra các sự kiện khác thì thường không được Toàn thư ghi rõ can chi) trong khoảng 50 năm cuối thế kỷ XIII (tức giai đoạn cần nghiên cứu)1 rồi đem so sánh với lịch Trung Quốc thì thấy hoàn toàn phù hợp2. Chỉ có một trường hợp duy nhất sai biệt với lịch Trung Quốc là chỗ Toàn thư (q.5, t.52b) chép tháng chạp năm Trùng Hưng 3 (Chí Nguyên 24) có ngày 30. Theo lịch Trung Quốc thì tháng này thiếu, chỉ có 29 ngày. Nhưng khi xét nội dung câu ở trong Toàn thư, chúng tôi thấy rằng ở đây đã chép nhầm sự kiện của tháng 11 ra tháng 123 chứ không phải là lịch Việt Nam khác lịch Trung Quốc. Do chỗ thống nhất lịch pháp giữa Việt Nam và Trung Quốc ở thế kỷ XIII như vậy, chúng tôi thấy có thể xác định các sử kiện rút ra ở hai nguồn tài liệu theo trình tự thời gian chung. Mặt khác, có thể đổi các ngày âm lịch chép trong hai nguồn sử liệu ra ngày dương lịch theo một phương pháp chung. Chúng tôi đã dựa vào các sách Lưỡng Thiên Niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu, Trung Tây Hồi sử nhật lịchi  để đổi các ngày âm lịch (hoặc ghi bằng can chi) ra dương lịch. Việc đổi ngày âm lịch ra dương lịch có thể đính chính lại một số điểm không chính xác trong các sách trước đây như cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất xảy ra vào năm 1258 chứ không phải năm 1257… Trong sách này, chúng tôi ghi cả ngày dương lịch và âm lịch để người đọc có thể kiểm tra lại sử liệu cũng như cách đổi ngày. Đối với những tháng âm lịch không ghi rõ ngày, chúng tôi ghi tháng đó bắt đầu từ ngày nào đến ngày nào của dương lịch.

*

*      *

        Trong sử liệu Việt Nam và Trung Quốc, các vua Trần được gọi bằng những tên khác nhau, dễ gây ra lầm lẫn. Nhà sử học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro đã khảo chứng khá công phu về vấn đề này trong chương Chinchò no omei ni kansuru kenkyũ (Nghiên cứu về tên vua triều Trần) ở đầu quyển An Nam Shikenkyũ (An Nam sử nghiên cứu) tập I của ông. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Yamamoto. Ở đây chúng tôi không lặp lại các chứng minh mà chỉ nêu ra những tên vua trong giai đoạn đang nghiên cứu:

        Trần Thái Tông tên là Cảnh, tức Nhật Cảnh và Quang Bính trong sử liệu Trung Quốc, Trần Thánh Tông tên là Hoảng, tức Nhật Huyên trong sử liệu Trung Quốc. Trần Nhân Tông tên là Khâm, tức Nhật Tôn trong sử liệu Trung Quốc.

*

*       *

        Trong khi sưu tầm sử liệu để soạn tập sách này, chúng tôi được đồng chí Sa Kính Phạm ở Trường đại học Bắc Kinh gửi cho những tài liệu Trung Quốc không có trong các thư viện trong nước. Ở đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn(*).

---------------       
1. Chúng tôi chép lại những ngày sau đây trong Toàn thư:

        Năm Thiên Ứng Chính Bình 11 (1242) tháng 9, ngày Canh Thìn, mồng 1, nhật thực.

        Năm Thiên Ứng Chính Bình 18 (1249) tháng 4, ngày Nhâm Dần, mồng 1, nhật thực.

        Năm Thiệu Long 3 (1260), tháng 3, ngày Mậu Thìn, mồng 1, nhật thực.

        Năm Bảo Phù 3 (1275) tháng 6, ngày Canh Tý, mồng 1, nhật thực.

        Năm Thiệu Bảo 7 (1285) tháng 2, ngày Giáp Thìn, mồng 1.

        Năm Thiệu Bảo 7 (1285) tháng 3, ngày Giáp Tuất, mồng 1.

        Năm Trùng Hưng 3 (1287) tháng 10, mồng 1, nhật thực.

        Năm Trùng Hưng 5 (1289) tháng 3, mồng 1, nhật thực.

        Năm Trùng Hưng 8 (1292), tháng 1, mồng 1, nhật thực.

2. Chúng tôi dùng Nhị thập sử sóc nhuận biểu (Cổ tịch xuất bản xã, 1956) và Trung Tây Hồi sử nhật lịch (Trung Hoa thư cục, 1962) của Trần Viên để đối chiếu.

3. Xem chương VII.

4. Trần Viên Trung Tây Hồi sử nhật lịch, Trung Hoa thư cục 1962; Tiết Trọng Tam và âu Dương Di: Lưỡng thiên niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu, Bắc Kinh 1956.

        (*) Vì lý do kỹ thuật, so với bản gốc, Nhà xuất bản đã bỏ chữ Hán ở các phần chú thích, mong tác giả và bạn đọc lượng thứ.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 07:26:01 am
         
CHƯƠNG I

ĐẠI VIỆT TRƯỚC CUỘC KHÁNG CHIẾN

"... Nới sức dân, làm kế rễ sâu gốc vững, ấy là thượng sách giữ nước... ".
Trần Quốc Tuấn       

        Trong phần tư đầu tiên của thế kỷ XIII, Đại Việt đang lâm vào tình trạng nội chiến giữa các thế lực phong kiến cát cứ. Vương triều Lý chỉ còn là một hơi thở thoi thóp. Chính quyền trung ương suy yếu, lúc thì dựa vào tập đoàn phong kiến địa phương này, lúc thì dựa vào tập đoàn phong kiến địa phương khác. Thăng Long mấy lần bị đốt phá, vua Lý phải trốn khỏi kinh thành.

        Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Người chết đói nhiều, người sống sót phá sản, lưu vong. Bọn phong kiến cát cứ lại bắt nhân dân làm phu dịch, đào hào, đắp luỹ và xua họ vào cuộc nội chiến đẫm máu. Thời kỳ đen tối đó kéo dài dằng dặc trong suốt mười mấy năm trời. Thế rồi, một thế lực phong kiến mạnh nhất, họ Trần, đã dần dần chiếm được ưu thế, khống chế được chính quyền trung ương đang tàn tạ, chiến thắng được các tập đoàn phong kiến cát cứ khác, thống nhất đất nước. Quyền lực họ Trần ngày càng lớn. Huệ Tông nhà Lý phát điên, trao ngai vàng cho Chiêu Hoàng, một cô gái lên bảy. Điều đó càng tạo điều kiện thuận lợi cho sự biến ngày 11 tháng chạp năm Ất Dậu (10-l-1226), ngôi vua về tay Trần Cảnh. Thế là vương triều Lý đổ, vương triều Trần thành lập.

        Hoà bình đã trở lại trên đất nước, nhân dân được yên ổn làm ăn. Họ Trần khôi phục được chính quyền thống nhất, chấm dứt cuộc nội chiến phong kiến, về khách quan đã đáp ứng được đòi hỏi của nhân dân. Nền kinh tế đầu đời Trần lại bắt đầu phát triển.

        Để khôi phục lại sức sản xuất bị đình đốn cuối thời Lý, nhà Trần đã chú trọng tổ chức khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp. Ở mỗi lộ, có hai viên đồn điền chánh sứ và phó sứ đôn đốc việc khai khẩn đồn điền của quân dân. Năm 1266, vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu mộ những người dân nghèo đói phiêu tán làm nô tỳ, khai khẩn ruộng hoang, lập thành các điền trang. Bọn quý tộc lại sai nô tỳ đến những vùng ven biển, đắp đê ngăn nước mặn, qua hai ba năm, đất khai phá trở thành đồng ruộng, đó là những tư trang của quý tộc. Nô tỳ được phép lấy vợ lấy chồng, cư trú và canh tác ở đấy.

        Thời Trần sơ, nhà nước rất chú ý việc đắp đê phòng lụt. Năm 1248, Thái Tông hạ lệnh cho các lộ đắp đê từ đầu nguồn đến bãi biển để đề phòng nước sông dâng to, gọi là đê “đỉnh nhĩ” (quai vạc), đặt chức hà đê chánh sứ và phó sứ để trông coi việc đắp đê. Năm 1255, vua Trần sai Lưu Miễn đắp các đê ở Thanh Hóa. Cũng năm này, nhiệm vụ của các hà đê sứ được quy định rõ ràng hơn: “Tuyển tản quan làm hà đê chánh phó sứ ở các lộ, khi việc cày cấy rỗi thì đốc quân lính đắp đê đập, đào khe ngòi để phòng lụt hạn”1. Sách An Nam chí cho chứng ta biết khá rõ về tình hình đê điều thời Trần: “Xứ Giao Chỉ, dân cư trù mật, đất không đủ cày, cho nên người trước đắp đê cao ở hai bên bờ sông ngòi đề phòng nước lụt; đất làm muối ở ven biển, bị nước mặn lấn vào, bọn quý tộc thế gian muốn chiếm riêng đất đó đều tự ý đắp đê ngăn nước mặn rồi gieo giống cày cấy ở bên trong, như thế là để yên dân và khai thác hết mối lợi của đất đai. Lại như sông Phú Lương (tức sông Hồng - T.G.), phát nguyên ở trong vùng núi Tây Bắc, chảy quanh co về phía Đông Nam, tràn trề mênh mông, khoảng mùa hạ, mùa thu, trời mưa dầm dề, thuỷ hoạn xảy ra, cho nên hai bên bờ sông đều đắp đê để phòng bị. Một con đê từ sông Đáy đến sông Hải Triều (tức sông Luộc - T.G.), sông Phù Vạn thì dứt. Một con đê từ bến sông Bạch Hạc đến các vùng sông Lỗ, sông Đại Lũng, cửa Mãnh, cửa Ninh thì đứt. Đê đều cao ba thước, rộng năm trượng, đặt hà đê [chánh] phó sứ để trông nom. Mỗi năm vào tháng giêng, quan coi đê đốc thúc nhân dân phụ cận, không phân sang hèn già trẻ đều đi đắp đê. Chỗ nào thấp trũng thì đắp cao thêm, chỗ nào lở thì bồi đắp vào. Đến đầu mùa hạ thì xong việc. Ấy là lệ thường hằng năm. Vào khoảng tháng sáu tháng bảy, nước sông dâng to, đê sứ phải tự mình ra sức tuần hành xem xét, gặp chỗ bị lở thì sửa chữa ngay, nếu lười biếng thì mất chức. Nếu để cư dân trôi đắm, lúa má chìm hại thì lượng theo nặng nhẹ mà trách phạt. Từ đó, thủy tai không còn nữa mà đời sống của dân được sung sướng, đất không bỏ sót nguồn lợi nào”2.

        Nhà Trần cũng đã đào thêm một số kênh và sông, có tác dụng về mặt giao thông cũng như về mặt thủy lợi. Năm 1231, vua Trần sai nội minh tự Nguyễn Bang Cốc đem phủ quân đào kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hóa (thuộc huyện Tĩnh Gia) đến địa giới phía nam Diễn Châu. Sông Tô Lịch được khơi sâu thêm nhiều lần, lần đầu tiên vào năm 1256.

        Do điều kiện thiên nhiên cũng như do sức lao động của nhân dân và chính sách bảo vệ sản xuất nông nghiệp, châu thổ các sông Hồng, sông Mã… đã trở thành vùng sản xuất nhiều lúa. Uông Đại Uyên, người Trung Quốc đời Nguyên, tác giả sách Đảo di chí lược, đã chép rằng: “Nước Đại Việt… đất rộng người đông, khí hậu thường nóng, ruộng đất phần lớn phì nhiêư”3. Trần Phu, sứ nhà Nguyên đến nước ta, đã ghi lại rằng: “Lúa mỗi năm chín bốn lần, tuy vào giữa mùa đông mà mạ vẫn mườn mượt”4. Đấy là tình hình sau chiến tranh nhưng ít nhiều cũng cho chúng ta hình dung được vẻ phong thịnh của nông nghiệp trong những ngày hòa bình trước cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ.

-------------
1. Toàn thư, Bảy kỷ q.5, t.20a. Tất cả những chỗ Toàn thư trong sách này đều thuộc Bản kỷ cho nên chúng tôi sẽ không ghi rõ Bản kỷ nữa.

2. Cao Hùng Trưng: An Nam chí, bản in của Trường Viễn Đông bác cổ (có tên là An Nam chí nguyên) năm 1931, tr.145.

3. Uông Đại Uyên: Đảo di chí chí lược, Tri phục trai tùng thư, tr.3.

4. Lời chú bài An Nam tức sự trong Cương Trung thi tập q.2.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 11:02:02 pm
      
        Từ buổi đầu đời Trần, bên cạnh ruộng đất làng xã và ruộng đất phong cấp của quý tộc thuộc sở hữu nhà nước, bộ phận ruộng đất tư hữu đã phát triển mạnh mẽ1. Năm 1237, Trần Thái Tông đã xuống chiếu định thể lệ làm chúc thư, văn khế ruộng đất và vay mượn tiền. Năm 1254, Thái Tông cho phép bán quan điền, tức ruộng công, cho dân mua làm ruộng tư, cứ mỗi “diện” (bấy giờ gọi mẫu là diện) giá 5 quan tiền.

        Chế độ thuế khóa được quy định trên cơ sở chế độ sở hữu ruộng đất. Thuế ruộng tư thời Trần mỗi mẫu 3 thăng thóc. Nông dân cày ruộng công mỗi mẫu phải nộp 100 thăng. Năm 1242, Trần Thái Tông quy định thuế nhân đinh nộp bằng tiền và đánh luỹ tiến theo ruộng đất. Người nào có ruộng từ một đến hai mẫu, phải nộp một quan tiền, có từ ba đến bơn mẫu nộp hai quan, và từ năm mẫu trở lên nộp ba quan. Ai không có ruộng đất thì được miễn. Thuế ruộng bãi dâu và ruộng muối đều nộp bằng tiền. Ngoài ra, nhà Trần còn đánh thuế nhiều loại thổ sản bằng tiền.

        Bên cạnh sự phát triển của nông nghiệp, công thương nghiệp cũng được phục hồi và phát triển sau một thời kỳ đình đốn vì nội chiến cuối Lý. Những công nghiệp phụ thuộc công trình kiến trúc như làm gạch ngói, làm đá, sơn then… tiếp tục phát triển. Việc khai thác các khoáng sản kim loại như vàng, bạc, sắt, đồng, chì thiếc đã có từ dưới thời Lý, có men rất đẹp. Nghề khắc bản in có từ thời Lý nay được tiến hành tiếp tục. Nghề đúc đồng phát triển nhanh chóng. Nghề dệt thời Trần đã đạt đến một trình độ kỹ thuật khá cao. Những người thợ thủ công bấy giờ đã dệt được the, đoạn, gấm màu, lụa năm màu, lĩnh năm màu… đồ gốm thời Trần cũng như thời Lý, có men rất đẹp. Nghề khắc bản in có từ thời Lý đến thời Trần vẫn tiếp tục phát triển. Nhà Trần đã cho in kinh Đại tạng và các sách Phật phổ biến trong toàn quốc. Đồ mỹ nghệ, nhất là các sản phẩm xa xỉ bằng vàng bạc ngọc ngà, đã được chế tạo rất tinh xảo.

        Thủ công nghiệp ở nông thôn tuy gắn liền với nông nghiệp nhưng bấy giờ cũng đã xuất hiện các làng chuyên môn sản xuất một thứ sản phẩm thủ công nghiệp nhất định. Giữa các vùng có sự trao đổi rộng rãi với nhau. Kinh tế hàng hoá đã phát triển từ thời Lý, nay vẫn tiếp tục phát triển. Sách Đảo di chí lược chép rằng: “Đất Giao Chỉ sản vàng, bạc, đồng, thiếc, chì, ngà voi, lông chim trả, nhục quế, cau. Hàng trao đổi thì dùng các thứ như the, lĩnh các màu, lụa, vải thanh bố, lược ngà, giấy đồng, thau, sắt… Lưu thông sử dụng tiền đồng”. Năm 1226, Trần Thái Tông đã định quy chế về tiền tệ. Tiền lưu hành trong nhân dân, tức là tiền Tỉnh mạch, thì mỗi tiền có 69 đồng, tiền nộp cho nhà nước, tức là tiền Thượng cung, thì mỗi tiền có 70 đồng. An Nam chí lược chép rằng thời Trần có tiêu dùng tiền Trung Quốc thời Đường và thời Tống.

        Giao thông phát triển thúc đẩy việc buôn bán trong nước phát đạt, thị trường trong nước mở rộng. Các đường giao thông bộ được sửa đắp, dọc các đường đều dựng trạm cho hành khách nghỉ ngơi. Nhà trạm quét vôi trắng. Suốt thời Trần, các sông ngòi được đào vét luôn luôn. Bấy giờ đã có những thuyền đi sông và đi biển lớn. Có những chiếc thuyền đến ba mươi người chèo hay hơn trăm người chèo.

        Do nhu cầu trao đổi buôn bán, các đơn vị đo lường dần dần được thống nhất. An Nam chí lược chép: “Đồ đo lường và cân giống như Trung Quốc, duy có các hàng vàng bạc, vải vóc tơ gai và thuốc là tự tính lấy mà thôi”2. Trước cuộc chiến tranh lần thứ hai, năm 1280, vua Trần đã ban hành thước mộc và thước đo vải cùng một kích thước thống nhất.

        Ngoài các chợ lớn ở kinh thành, nông thôn có nhiều chợ. Những dòng ghi chép sau đây của Trần Phu sau chiến tranh cũng cho ta biết được tình hình chợ búa nông thôn: “Chợ ở thôn xóm hai tháng họp một lần, trăm thứ hàng hóa tụ tập lại ở đấy, cứ năm dặm thì dựng một ngôi nhà, bốn mặt đều đặt chõng, để làm nơi họp chợ”3.

        Ngoại thương thời Trần cũng khá phát đạt. Thương nhân đến nước ta nhiều nhất là người Trung Quốc. Trong số lái buôn nước ngoài đến ta, còn có những lái buôn người Hồi Hột (Uigur)4. Có lẽ họ đã vượt qua vùng cao nguyên tây nam Trung Quốc, đến Vân Nam và vào nước ta theo sông Hồng.

        Vân Đồn vẫn là một địa điểm hải thương quan trọng, đón thương thuyền của các nước đến Đại Việt. Ở Vân Đồn, có một dòng nước chảy giữa hai dãy núi. Người ta đã dựng lên các rào chắn bằng gỗ, tạo thành một cảng biển để thuyền bè ra vào. Nhân dân ở dọc hai bên bờ5. Từ khi các cửa biển ở vùng Diễn Châu (Nghệ An) bị cạn, thuyền buôn nước ngoài đổ về Vân Đồn càng đông hơn. Trong số thuyền buôn cập bến Vân Đồn, có thuyền Trung Quốc, thuyền Java, thuyền Xiêm và thuyền một số nước khác vùng Nam Dương hay Ấn Độ Dương… Ngoài Vân Đồn ra, thuyền buôn nước ngoài còn cập bến ở nhiều cửa biển khác. An Nam tức sự chép: “Phủ Thanh Hóa… cách thành Giao Châu hơn hai trăm dặm. Các phiên thuyền ở hải ngoại tụ tập ở đây họp chợ ngay trên thuyền, rất đông… Thật là một trấn lớn”6.

        Như vậy, chúng ta đã thấy rằng sau khi họ Trần nắm chính quyền, kết thúc cuộc nội chiến cuối Lý, nền kinh tế của Đại Việt lại tiếp tục hưng vượng lên, cả nông nghiệp lẫn công thương nghiệp.

-------------
1. Xem Phạm Thị Tâm - Hà Văn Tấn:Vài nhận xét về ruộng đất tư hữu ở Việt Nam thời Lý - Trần, “Nghiên cứu lịch sử” số 52, tháng 7 năm 1963.

2. An Nam chí lược q.5.

3. Cương Trung thi tập q.2.

4. Nguyên sử q.209, An Nam truyện.

5. An Nam chí, bản in đã dẫn, tr.45.

6. Cương Trung thi tập q.2.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 11:09:03 pm
     
        Về mặt tổ chức chính trị, họ Trần ra sức củng cố và phát triển nhà nước phong kiến tập quyền. Tất cả những chức vị quan trọng trong bộ máy nhà nước đều do tôn thất họ Trần nắm giữ.

        Các vương hầu họ Trần, ngoài việc nắm giữ những chức vị trọng yếu ở triều đình, còn được phân phong đi trấn trị các nơi. Vương hầu có quyền lực lớn ở vùng mình trấn trị. Các vương hầu còn được phong thái ấp và có phủ đệ riêng. Ngô Sĩ Liên chép: “Chế độ nhà Trần, vương hầu đều ở phủ đệ riêng ở các hương, khi có triều yết thì về kinh, xong việc lại trở về phủ đệ như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Hải Dương), Thủ Độ ở Quắc Hương (Mỹ Lộc, Nam Định), Quốc Trấn ở Chí Linh (Hải Dương), đến lúc vào triều làm tể tướng, mới thống lĩnh tất cả việc thiên hạ…”1. Một đặc quyền khác của vương hầu quý tộc là được chiêu mộ quân đội riêng.

        Quý tộc được quyền trấn trị các nơi, có thái ấp và quân đội riêng, tất cả những điều đó biểu hiện rằng nhà nước phong kiến thời Trần vẫn còn mang những yếu tố phân tán. Tuy nhiên, những yếu tố này hoàn toàn bị hạn chế. Vương hầu có quyền thừa ấm - tức là kế tiếp được phong tước nhưng không phải là được tập chức. Vương hầu không phải bao giờ cũng có quyền thừa kế thái ấp. Vì ruộng đất là quốc hữu, nhà vua có thể lấy lại ruộng đất của người này ban cho người khác. Hơn nữa, bộ phận ruộng đất chủ yếu là ruộng đất công làng xã, quan hệ giữa nông dân cày cấy ruộng công làng xã nộp tô thuế với nhà nước là cơ sở chính của nhà nước tập quyền trong giai đoạn này. Kinh tế hàng hóa phát triển, góp phần đẩy lùi yếu tố kinh tế phân tán. Do những điều kiện đó, tuy còn mang trong mình những yếu tố phân tán, nhà nước phong kiến thời Trần vẫn là một nhà nước tập quyền mạnh mẽ. Giữa quý tộc và nhà vua không có mâu thuẫn sâu sắc, trái lại, thế lực của tập đoàn quý tộc Trần càng làm tăng cường thêm sức mạnh của vương triều Trần. Nhà nước có thể huy động quân đội vương hầu lúc cần thiết. Ngô Sĩ Liên đã từng nhận xét: “Năm Nguyên Phong (niên hiệu đời Trần Thái Tông - T.G.), giặc Nguyên sang cướp, vương hầu đều đem gia đồng và hương binh, thổ hào sung vào đội quân cần vương; việc biến năm Đạo Định2, vương hầu lại đem dân thôn trang sắm sửa nghi trượng để đón vua mới. Như thế thì chế độ nhà Trần cũng làm tăng thêm được sức mạnh của cái thế “duy thành”3. Đúng như lời Ngô Sĩ Liên, tập đoàn quý tộc tôn thất họ Trần quả là bức tường thành bảo vệ ngai vàng vua Trần.

        Tầng lớp nắm địa vị cao nhất trong bộ máy nhà nước là quý tộc Trần. Nhưng bên dưới là cả một bộ máy quan liêu phức tạp từ trung ương đến các địa phương. Nhà Trần đã chia lại các đơn vị hành chính. Năm 1242, đổi 24 lộ thời Lý làm 12 lộ. Ở trung ương, ngoài những chức vụ quan trọng trong cơ quan tối cao do tôn thất họ Trần nắm giữ, bên dưới còn có một tập đoàn quan liêu đông đảo chia làm hai ban văn - võ, làm việc trong các cơ quan có nhiệm vụ khác nhau. Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì các cơ quan trung ương thời Trần gồm có các quán, các sảnh, cục, đài, viện. Cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long là Bình bạc ty. Năm 1265, Bình bạc ty đổi thành Đại an phủ sứ, về sau lại đổi ra Kinh sư đại đoàn. Ở lộ thì có an phủ sứ, trấn thủ, thông phán… Ngoài ra còn có hà đê sứ coi về đê điều, đồn điền sứ coi về đồn điền. Phủ thì có tri phủ, châu thì có tri châu, tào vận sứ… Ở xã thì đặt chức đại tư xã và tiểu tư xã, còn gọi là đại toát và tiểu toát Các chức quan chỉ huy quân đội ở địa phương thì có kinh lược, phòng ngư, sát thủ ngự…

        Tổ chức bộ máy nhà nước đã được quy định ngay từ buổi đầu thời Trần. Năm 1230, đã biên soạn sách Thông chế, khảo xét các luật lệ thời trước, sửa đổi hình luật và lễ nghi, tất cả gồm 20 quyển. Cùng năm đó, biên soạn sách Quốc triều thường lễ, ghi chép các việc của triều đình. Quan lại thời Trần đều có lương bổng, đó là một điểm khác với thời Lý. Năm 1236, nhà Trần đã quy định lương bổng cho các quan văn võ trung ương và địa phương. Tiền lương đó lấy vào tiền thuế. Năm 1244, nhà nước lại quy định lương bổng một lần nữa.

        Thời Trần, việc tuyển dụng quan lại bằng khoa cử phát triển hơn thời Lý. Năm 1232, mở khoa thi thái học sinh đầu tiên. Từ đó về sau, trong vòng mười năm lại mở một khoa. Ngoài ra, để tuyển nhân viên tuỳ thuộc trong các cơ quan, nhà Trần còn mở các kỳ thi lại viên. Những người dự thi phải thảo các giấy tờ hành chính, gọi là bạ đầu. Cũng có khi thi bằng phép viết, phép tính.

        Nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét về bộ máy quan liêu thời Trần là “các chức quan trong (ở trung ương - T.G.), quan ngoài (ở địa phương - T.G.) lớn nhỏ đều có hệ thống”4. Việc tổ chức bộ máy chính quyền chặt chẽ từ trung ương đến tận đơn vị xã như vậy cho chúng ta thấy được nhà nước thời Trần tập trung hơn một bước so với thời Lý.

        Thời Lý đã có Hình thư, thời Trần san định lại các luật lệ thời trước. Từ năm 1226, ngay sau khi Trần Cảnh lên ngôi, đã định các điều luật lệnh. Bốn năm sau, định hình luật. Năm 1244, lại định hình luật một lần nữa.

        Hiện nay, chúng ta không có đầy đủ tài liệu về nội dung pháp luật thời Trần nhưng qua một vài điều luật ghi chép rải rác trong sử cũ và An Nam chí lược, chúng ta cũng thấy được rằng pháp luật thời Trần bảo vệ chính quyền chuyên chế phong kiến, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của quý tộc, bảo vệ trật tự đẳng cấp phong kiến, phân biệt rõ rệt quý tộc quan liên với nhân dân, phân biệt dân tự do với tầng lớp cuối cùng của xã hội là nô tỳ. Pháp luật thời Trần còn phản ánh sự phát triển của tư hữu ruộng đất và bảo vệ quyền lợi vay lãi5.

        Ngoài việc tổ chức bộ máy nhà nước chặt chẽ để củng cố chính quyền phong kiến tập trung, nhà Trần ngay từ buổi đầu, đã ra sức xây dựng một đội quân hùng mạnh. Năm 1239, Trần Thái Tông đã hạ chiếu tuyển trai tráng sung vào quân đội, chia làm ba bậc thượng trung và hạ. Năm 1241, lại tuyển những người có sức mạnh, am hiểu võ nghệ sung làm thượng đô túc vệ. Nhưng đến năm 1246 thì quân đội nhà Trần mới được tổ chức thật chu đáo. Mùa xuân năm đó tuyển những người khỏe mạnh sung vào quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Mỗi quân hiệu túc vệ được tuyển trong dân đinh một số lộ nhất định. Đinh tráng ở lộ Thiên Trường (Nam Định) và lộ Long Hưng (Thái Bình) sung vào các quân hiệu Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần, lộ Hồng (vùng tây Hải Dương) và lộ Khoái (vùng nam Hưng Yên) sung quân hiệu Tả Thánh Dực và Hữu Thánh Dực, lộ Trường Yên (Ninh Bình) và lộ Kiến Xương (nam Thái Bình) sung vào quân hiệu Thánh Dực và Thần Sách. Còn một số khác sung vào cấm quân trong cấm vệ. Hạng thứ ba gọi là đoàn đội trạo nhi; tức là đội chèo thuyền, thủy thủ của thuyền trận.

---------------
1. Toàn thư, q.5, t.27a.

2. Năm 1369, Dương Nhật Lễ cướp ngôi vua Trần, tôn thất nhà Trần đem quân đón Trần Phủ ở Đà Giang về, giết Nhật Lễ, lên ngôi vua tức Nghệ Tông.

3. Toàn thư, q.5, 6.27a. Kinh thi, Tiểu Nhã, có câu: “Tông tử duy thành”, thường được hiểu với ý nghĩa là người tôn thất như cái thành bảo vệ triều đình.

4. Phan Huy Chú:Lịch triều hiến chương loại chí - Quan chức chí.

5. Xem Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 1, in lần thứ hai, Hà Nội, 1963. tr.277-297.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 11:20:47 pm

        Chúng ta chưa có đầy đủ tài liệu để biết chắc chắn về quân số thường trực thời Trần. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì năm 1267, quy định quân ngũ, mỗi quân gồm có 30 đô, đô có 80 người1. Có lẽ do đó mà Phan Huy Chú đã chép: “Số quân triều nhà Trần lúc trước, mỗi đội quân hai ngàn bốn trăm người, quân ở trong cấm vệ và quân ở các lộ không đầy mười vạn người”2. Theo An Nam chí lược thì mỗi đô có 50 người. Chúng ta không biết được tất cả tên của các đô. An Nam chí lược chép rằng quân đội thời Trần gồm có thân quân và du quân. Thân quân (chắc là quân túc vệ) gồm có đô Thánh Dực, đô Thẩn Dực, đô Long Dực, đô Hổ Dực và Phụng nha quan chức lang. Du quân (có lẽ là quân điều động đi các nơi) gồm có đô Thiết Lâm, đô Thiết Hạm, đô Hùng Hổ, đô Vũ Ân. Ngoài quân túc vệ ở kinh đô và quân các lộ do nhà nước tổ chức, quý tộc tôn thất họ Trần còn được phép thành lập những đội quân riêng. Thành phần chủ yếu của lực lượng này là gia nô nô tỳ. Quân đội này thường được gọi là quân vương hầu gia đồng. Theo An Nam chí lược thì quân vương hầu gia đồng cũng đặt thành các đô như đô Toàn Hầu, đô Dược Đồng, đô Sơn Lão,… Lực lượng này cũng có một số quân đáng kể. Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản tuy còn bé mà đã có một đội quân gia nô và thân thuộc đông đến hơn nghìn người. Khi có chiến tranh, nhà nước có thể điều động được lực lượng quân đội này. Khi có chiến tranh, vương hầu cũng có quyền được mộ đinh tráng ở các lộ làm lính.

        Sở dĩ trong cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân xâm lược Mông Cổ, nhà Trần đã có một lực lượng quân đội đông đảo là vì “lúc có việc thì toàn dân là lính”3. Theo An Nam chí lược, “việc lấy quân không có số nhất định, chỉ chọn dân đinh nào khỏe mạnh thì lấy. Cứ năm người một ngũ, mười ngũ làm một đô, lại chọn hai người nhanh giỏi dạy tập vũ nghệ. Khi nào có việc điều động thì gọi ra, khi không có việc thì trở về nhà làm ruộng”. Như vậy, nhà Trần cũng áp dụng chính sách ngu binh ư nông như thời Lý. Quân túc vệ có tuế bổng, còn quân các lộ thì chia phiên nhau về làm ruộng tự cấp. Thanh niên đến tuổi đinh tráng, gọi là hoàng nam, hằng năm khai vào đơn số, tức là sổ hộ khẩu. Lúc chiến tranh, cứ theo sổ hộ khẩu, gọi tất cả ra lính. Phan Huy Chú viết: “Bách tính đều là lính nên mới phá được giặc to và làm mạnh được thế nước”4.

        Quân đội thời Trần được luyện tập thường xuyên. Trong những năm chuẩn bị kháng chiến, thường có những cuộc diễn tập lớn. Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn đã nói: “Quân lính cần tinh nhuệ, không cần nhiều”5. Các tướng lĩnh tôn thất đều được học tập quân sự ở Giảng Võ đường. Binh pháp rất được coi trọng. Vấn đề học tập binh pháp là nhiệm vụ bắt buộc của tướng sĩ. Ngoài Trần Quốc Tuấn, trong hàng tướng tá nhà Trần, có nhiều nhà chỉ huy quân sự ưu tú. Phạm Ngũ Lão đã đối xử với quân lính với mối tình cha con. Chính viên dũng tướng kiêm nhà thơ đó đã từng có những câu:

        “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu
        Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu…”.

        (Cầm ngang ngọn giáo vì sông núi đã mấy mùa thu
        Ba quân như hùm beo, khí thế dường như muốn nuốt cả trâu).

        Phải chăng Phạm Ngũ Lão muốn nói lên khí thế oai hùng của đội quân “phụ tử” đo ông chỉ huy và của toàn thể quân đội thời Trần. Một quân đội như thế, với lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần dũng cảm cao độ, nhất định sẽ chiến thắng bọn xâm lược.

        Như vậy là trong giai đoạn trước cuộc kháng chiến lần thứ nhất và cả trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh, nhà Trần đã ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố bộ máy nhà nước và xây dựng một quân đội hùng mạnh.

        Tất cả những việc đó đều xuất phát từ quyền lợi của giai cấp phong kiến nhằm bảo vệ quyền lực thống trị của mình. Nhưng trong hoàn cảnh bấy giờ, khi mà nhân dân vừa trải qua cuộc nội chiến cuối Lý, khi mà đế quốc Mông Cổ đang mở rộng cuộc chinh phục xuống phương Nam, yêu cầu của giai cấp phong kiến đứng đầu là quý tộc họ Trần, đã phù hợp với yêu cầu của nhân dân ở chỗ phải xây dựng một quốc gia giàu mạnh và kiên quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc. Chính sự phù hợp đó đã khiến cho vương triều Trần có thể đoàn kết được toàn dân thành một đội ngũ vững chắc, xông lên tiêu diệt “giặc Mông Cổ là kẻ thù không đội trời chung”6. Trong đội ngũ đó, có những người dân phiêu tán vừa trở về quê hương làm ăn sau những năm loạn lạc, có những bần dân và nô tỳ đang sống với gia đình của họ trong vùng khai hoang ở bờ biển, có những nông dân vừa được mua thêm mảnh ruộng nhỏ từ năm Nguyên Phong thứ tư. Tất cả những người đó đã tiến lên dưới ngọn cờ của giai cấp phong kiến. Giai cấp phong kiến đã dẫn họ ra chiến trường để bảo vệ điền trang thái ấp, những đất thang mộc của quý tộc, nhưng đồng thời cũng bảo vệ phần mộ, gia hương, xóm làng mình, bảo vệ Tổ quốc.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200036_zpsiutbt9dk.jpg)
Hình chiến sĩ trên đồ gốm thời Trần

--------------
1. Toàn thư, Bản kỷ, q.5, t.31a.

2. Lịch triều hiến chương - Binh chế chí.

3. Cương mục - Chính biên, q.6, t.27b.

4. Lịch triều hiến chương - Binh chế chí.

5. Toàn thư, q.5 t.52a.

6. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 11:34:57 pm

CHƯƠNG HAI

ĐẾ QUỐC MÔNG CỔ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

        “… Không còn một dòng suối một con sông không tràn đầy nước mắt chúng ta.
        Không còn một ngọn núi một cánh đồng nào không bị quân Tác-ta giày xéo…”1

V.Frik (1210-1290)       
(nhà thơ Ác-mê-ni)       

        Thế kỷ XIII bắt đầu vào lúc thảo nguyên Mông Cổ đang cuốn bụi và thấm máu vì những cuộc chiến tranh bộ lạc tàn khốc.

                                “Trời có sao
                                 Đang quay cuồng.
                                 Người người đã nổi dậy
                                 Không về chỗ ngủ của mình nữa
                                 Mà cướp đoạt của cải lẫn nhau.
                                 Đất có cỏ
                                 Đang lật nhào.
                                 Người người đã nổi dậy
                                 Không nằm trong chăn của mình nữa
                                 Mà đánh lẫn nhau” 2

        Khúc hát ngắn chép trong Lịch sử bí mật Mông Cổ đã phản ánh tình hình các bộ lạc Mông Cổ vào cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII.

        Trước thế kỷ XIII, người Mông Cổ sống thành các bộ lạc hay liên minh bộ lạc. Các bộ lạc Mông Cổ sống trên vùng thảo nguyên châu Á, phía bắc đến hồ Bai Can, thượng lưu sông I-ê-m-xê-i và sông Iếc-tư-sơ, phía nam qua sa mạc Gô Bi, đến gần Trường thành. Đại bộ phận là bộ lạc chăn nuôi du mục.

        Tài sản chủ yếu của các bộ tộc Mông Cổ là bò, cừu và ngựa. Ngựa đóng một vai trò rất lớn trong cuộc sống du mục của người Mông Cổ. Triệu Hồng đời Tống, tác giả Mông Thái bị lục đã viết: “Người Thát (tức người Mông Cổ - T.G.) lớn lên trên yên ngựa, tự luyện tập chiến đấu, từ mùa xuân đến mùa đông, ngày ngày săn bắn, đó là sinh kế của họ” 3

        Người Mông Cổ du mục theo hình thức Cu-ry-en (Kürïyän, tiếng Mông Cổ có nghĩa là lều trại). Theo Ra-sít út-Đin (Rašid ud-Dĩn)(4), mỗi cu-ry-en bao gồm chừng một nghìn lều. Khi bộ lạc đi đến đâu, cu-ry-en đóng lại đó, lều thủ lĩnh bộ lạc ở giữa. Cùng với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, các gia đình cá thể giàu có mở rộng uy lực, xuất hiện tôi tớ nô lệ. Phương thức cu-ry-en tức phương thức công xã dần dần được thay thế bằng phương thức a-in (ayïl) tức phương thức du mục của gia đình cá thể.

        Nô lệ gia đình có tác dụng không nhỏ trong quá trình hình thành xã hội có giai cấp của người Mông Cổ nhưng nó không trở thành hình thái kinh tế chiếm hữu nô lệ. Do ảnh hưởng của các cư dân định cư phong kiến, đặc biệt là Trung Quốc và do sự phát triển quan hệ tông pháp trong các bộ lạc du mục, người Mông Cổ đã tiến thẳng từ hình thái công xã nguyên thủy sang hình thái phong kiến, không trải qua hình thái chiếm hữu nô lệ.

        Dưới chế độ công xã nguyên thủy, bãi chăn nuôi và đàn súc đều là tài sản của thị tộc Mông Cổ. Khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, đàn gia súc biến thành tài sản của gia đình cá thể, còn bãi chăn nuôi thì vẫn là tài sản của thị tộc trong thời gian rất lâu. Nhưng dần dần, tầng lớp Nô-y-an (noyan, quý tộc Mông Cổ) chiếm đoạt đất đai, bãi chăn nuôi của công xã và biến những người tự do A-rat (arat) trực tiếp sản xuất thành tầng lớp lệ thuộc, bị nô dịch cố định trên đất đai. A-rat phải cung cấp củi đốt, vắt sữa, chế sữa và đi thăm các đàn súc cho Nô-y-an. Lao động cưỡng bức đã phát sinh và phát triển như vậy.
       
----------------
1. Sử liệu Ác-mê-ni về người Mông Cổ (trích trong các bản thảo thế kỷ XIII-XIV), bản dịch tiếng Nga từ tiếng Ác-mê-ni cổ. Moskva 1962, t.10-11. Ta-ta (Tatar) vốn là tên một bộ lạc Mông Cổ nhưng người ta thường dùng để chỉ chung người Mông Cổ (còn gọi là Tartar). Trung Quốc dịch âm là Thát Đát.

2. Lịch sử bí mật Mông Cổ (Mongol-un ni’uca tobci’an) là một tác phẩm sử học có giá trị thế kỷ XIII, không biết tên tác giả, ca tụng sự nghiệp Trin-ghit Khan (Cinggis-qan, Thành Cát Tư Hãn). Từ lâu, người ta đã biết bản dịch âm và dịch nghĩa bằng tiếng Trung Quốc, gọi là Nguyên triều bí sử. Đến thế kỷ XX, các nhà Mông Cổ học mới khôi phục được nguyên bản tiếng Mông Cổ. Theo sự nghiên cứu gần đây của nhà học giả Tiệp Khắc Pavel Poucha thì tác giả của Lịch sử bí mệt Mông Cổ có thể là Si Ghi Khu Tu Khu (Sigi-Qutuqu), thân binh của Trin-ghit Khan (xem Dr.Pavel Poucha: Die geheime Geschichte der Mongolen, Praha, 1954).

3. Mông Thát bị lục tiên chứng trong Mông Cổ sử liệu tứ chủng hiệu chú của Vương Quốc Duy, bản in Thanh Hoa học hiệu nghiên cứu viện, tr.8a.

4. Ra-sít út-Đin (Fazl Rašid ud-Dĩn Tabĩb 1247-1318) người ở Ham Ma đan (Hamadhan), là một sử gia Ba Tư uyên bác lỗi lạc, tác giả bộ sử nổi tiếng ǰami al - Tawarikh (Tập sử biên niên), viết về lịch sử người Mông Cổ.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 11:44:09 pm
        Giữa thế kỷ XII, thủ lĩnh các bộ lạc hay liên minh bộ lạc đã dựa vào tập đoàn quý tộc Nô-y-an và đội thân binh Nô-ke (nokar) tiến hành các cuộc chiến tranh cướp bãi chăn nuôi, đất săn bắn, tranh đoạt uy lực. Đó cũng là quá trình xây dựng quốc gia thống nhất Mông Cổ. Người chiến thắng cuối cùng là Tê-mu-jin (Támújin) 1.

        Tê-mu-jin sinh ra trên bờ sông Ô-nôn (Ôuon), trong bộ lạc Ta-y-tri-ut (Tayiči’ut), cha là Y-ê-xu-gây - ba-tua (Yasugai-ba’atur). Năm 1164, Y-ê-xu-gây chết. Sau một thời gian lưu lạc, Tê-mu-jin dần dần tập hợp được lực lượng, vào khoảng 1200, Tê-mu-jin bắt đầu cuộc chiến tranh chinh phục các bộ lạc khác. Từ năm 1204 đến 1205, tất cả các bộ lạc chủ yếu của Mông Cổ lần lượt hàng phục trước vó ngựa Tê-mu-jin.

        Năm 1206, một khu-rin-tai (quriltai, đại hội quý tộc) mở trên bờ sông Ô Môn, giai cấp Nô-y-a đã tôn Tê-mu-jin làm Trin-ghit Khan (Cinggis-qan, Thành Cát Tư Hãn) nghĩa là hãn (vua Mông Cổ) mạnh nhất. Cuộc chiến tranh liên miên giữa các bộ lạc kết thúc. Một nhà nước phong kiến quân sự độc tài tập quyền ra đời. Quan hệ phong kiến nảy sinh sớm trong xã hội Mông Cổ từ cuối thế kỷ XII, nay đã phát triển mạnh mẽ. Quá trình hình thành bộ tộc Mông Cổ được đẩy mạnh, khắc phục tính phân tán bộ lạc. Kinh tế và văn hóa có điều kiện phát triển. Chính vì thế, chúng ta thấy rằng việc thống nhất quốc gia Mông Cổ của Trin-ghit Khan có một ý nghĩa tiến bộ lớn.

        Nhưng ngay sau đó, Trin-ghit Khan và tập đoàn quý tộc phong kiến đã đem tất cả tinh lực của bộ tộc Mông Cổ vừa hình thành dốc vào chiến tranh xâm lược và nô dịch các dân tộc khác. Những đoàn kỵ binh Mông Cổ lại ồ ạt kéo sang phương Đông và phương Tây, gieo rắc kinh hoàng và chết chóc xuống những vùng xa hơn ở châu Âu và châu Á.

        Năm 1211, Trin-ghit Khan tiến quân vào miền Bắc Trung Quốc. Bấy giờ miền đất phía Bắc Trung Quốc bị tộc Nữ Chân chiếm cứ, lập nên nước Kim (từ năm 1115) 2. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc và sự khuynh loát lẫn nhau của bọn phong kiến Nữ Chân đã làm cho vương triều Kim suy yếu. Năm 1215, quân Mông Cổ chiếm được Trung Đô (Bắc Kinh), nhưng sau khi cướp được nhiều của cải và tù binh, Trin-ghit Khan rút quân khỏi Trung Quốc.

        Năm 1218, quân Mông Cổ chiếm vùng Đông Tuốc-ke-xtan (Turkestan). Trong đoàn kỵ binh và bộ binh Mông Cổ, người ta thấy có những vũ khí đánh thành học được của người Trung Quốc trong lần viễn chinh 1211-1215. Bấy giờ, quân Mông Cổ đã có những cỗ pháo bắn ra những bình đựng các chất cháy.

        Năm 1219, đội quân của Tnn-ghit Khan tiến về vương quốc Khô-re-xmơ (Khorezm). Tháng 2 năm 1220, thành Bu-kha-ra (Buqara) nổi tiếng bị chiếm. Bọn xâm lược đã đuổi hết cư dân ra khỏi thành, vơ vét của cải rồi phóng lửa đốt “Đó là một ngày vô cùng bất hạnh, chỉ nghe thấy tiếng khóc bi ai vĩnh biệt của già trẻ trai gái. Bọn dã man làm nhục phụ nữ trước mặt những người bất hạnh… Có những người thà chết không muốn trông thấy thảm cảnh ấy”.  Nhà sử học Ip-an A-xia (Ibn al-Athĩr, 1160-1233) đã viết như vậy về người Bu-kha-ra bị tàn phá3. Từ Bu-kha-ra bốc cháy, Trin-ghit Khan tiến thẳng đến Xa-mác-khan (Samarqand), một thành thị giàu có cổ xưa, có một nền văn hóa rực rỡ ở Trung Á. Xa-mác-khan cũng phải chịu một số phận như Bu-kha-ra. Tòa thánh lộng lẫy với những cung đền Hồi giáo từ nay trở thành hoang phế. Năm 1222, đạo sĩ Trung Quốc là Khâu Xứ Cơ (Trưởng Xuân chân nhân) đi qua đô thành này đã thấy cư dân ở đây không còn được một phần tư dân số trước kia4. Sau khi tàn phá Xa-mác-khan, quân Mông Cổ tấn công thủ đô của vương quốc Khô-re-xmơ là Uốc-ghen-trơ (Urgenc). Nhân dân thành Uốc-ghen-trơ đã chiến đấu rất kiên cường. Mấy nghìn quân Mông Cổ, dưới quyền chỉ huy của những viên mãnh tướng Jô-tri(Jöči), Tra-ga-tai (Čaatai), Ô-gô-đây (Ögödäi) ba con trai của Trin-ghit Khan đã vây đánh suốt trong vòng 5 tháng mới chiếm được. Tháng 4 năm 1221, Uốc-ghen-trơ thất thủ. Sau khi đã tàn sát cư dân và trưng tập thợ thủ công, bọn chiến thắng cuồng bạo đã phá đê sông A-mu Đa-ri-a cho nước tràn vào thành. Ip-an A-xia đã viết: “Những thành khác bị phá, cư dân còn lại hoặc ẩn náu hay bỏ chạy, hoặc trốn vào những đống thây người mà thoát được. Chỉ những người dân Khô-re-xmơ (chỉ Uốc-ghen-trơ-T.G.) thoát khỏi bị bắt đi thì đều chết đuối trong nước sông A-mu”. Ngày 25 tháng 2 năm 1221, Tô-lui (Tolui), con út của Trin-ghit Khan đã hạ thành Méc-vơ (Merv). Vì nhân dân Méc-vơ đã chiến đấu anh dũng nên toàn thành đã bị tàn sát trừ 400 người thợ thủ công. Theo Ip-an A-xia, người ta đã đếm được 70 vạn xác chết quanh thành Méc-vơ. Khô-re-xmơ, một quốc gia văn minh phồn vinh trước đây, nay đã trở thành một vùng hoang vắng. Vua Khô-re-xmơ là Mô-ham-mét (Mohammed) chạy trốn rồi chết trên một hòn đảo nhỏ ở Ca-xpiên (Lý Hải). Nhiều thành thị trở thành gò hoang. “Nghệ thuật những thư viện phong phú, nền nông nghiệp ưu việt, cung điện và giáo đường - tất cả sạch không “. K.Mác đã viết về hậu quả cuộc xâm lược Trung Á của người Mông Cổ như vậy.

----------------------
1   Nguyên triều bí sử, Thánh vũ thân chinh lục, phiên âm là Thiếp Mộc Chân, hắc đái sự lược phiên âm là Thắc Mộc Chân Nguyên sử phiên âm là Thiết Mộc Chân, đời Thanh Càn Long đổi phiên âm là Đặc Mục Tân.

2.   Người Nữ Chân gọi quốc gia họ là Aisin gurun, Aisin nghĩa là “vàng”, nên Trung Quốc gọi là nước Kim. Xem Histoire de l’empier de Kim ou empiere d’or (Aisin gurun-i suduri bithe). Bản dịch từ tiếng Mãn Châu của C.de Harlez, Louvain, 1887.

3.   Ip-an A-xia (Yzz ud-Din Ali Ibn al-Athìr) sinh năm 1160 chết năm 1233, ở Mossul, tác giả bộ sử Kamil ut-Tevarikh (Toàn sử) bằng tiếng A-rập, ghi chép về những trận đánh của Mông Cổ ở Hà Trung, Ba Tư và Lưỡng Hà.

4.   Khâu Xứ Cơ: Trường Xuân chân nhân tây du ký.

5.   K.Mác: Trích lục biên niên, Lưu trữ K.Mác và F.Ăngghen (bản tiếng Nga), T.V., t.221.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2016, 11:52:17 pm

        Năm 1221, hai viên tướng Mông Cổ là Xu-bu-tai (Subutai) và Jê-bê (ǰäbä) đem quân xâm nhập A-déc-bai-jan, tiến đến Gơ-ru-di-a. Sau khi chiếm Sê-ma-kha, đội quân viễn chinh vượt núi Cáp-ca-dơ tiến lên phía bắc, tràn đến Cơ-rưm và chiếm vùng Xu-đac. Năm 1223, Xu-bu~tai và Jê-bê đánh tan liên quân Nga 8 vạn người do các công tước Ki-ép, Ga-li-sơ, Trec-ni-gốp và Xmô-len chỉ huy trên bở sông Can-ca (Kalka). Thuyền bị đốt cháy trụi, số quân thoát được không quá một phần mười. Bọn tướng xâm lược bắt trói các vương công Nga, bắc ván lên đầu họ và ngồi lên đó, ăn mừng chiến thắng. Quân Nga sở dĩ thất bại là vì ngay trong lúc nguy cấp, các công tước vẫn bất hòa với nhau. Quân Mông Cổ không ngừng lại ở thảo nguyên Nam Nga mà tiếp tục tiến đến trung bộ sông Vôn-ga. Ở đây, họ đã gặp sức chiến đấu mãnh liệt của dân Bun-ga. Bị phục kích, quân Mông Cổ đã thất bại thảm hại, tìm đường chạy trốn.

        Mùa thu năm 1225, Trin-ghit Khan trở về Mông Cổ. Nửa năm sau, Trin-ghit Khan lại kéo quân về phía đông, đánh nước Tan-gut (Tangut, tức Tây Hạ), Tan-gut thất bại, thành thị bị cướp phá và thiêu huỷ. Nhưng đó cũng là chiến thắng cuối cùng trong đời Trin-ghit Khan. Tháng 8 năm 1227, Trin-ghit Khan chết trên đường viễn chinh ở huyện Thanh Thuỷ (Cam Túc), tây nam Lục Bàn Sơn.

        Khi Trin-ghit Khan còn sống, lãnh thổ rộng lớn của đế quốc Mông Cổ đã chia cho bốn con trai của y. Những đất phong đó gọi là ulus. Ulus của con trưởng Jô-tri ở phía tây sông Iếc-tư-sơ, suốt một dải thảo nguyên Tuốc-kê-xtan, từ hạ du sông A-mu Đa-ri-a đến sông Xưa Đa-ri-a. Con thứ hai là Tra-ga-tai, chiếm vùng thảo nguyên Ka-sơ-ga và lưu vực sông I-li. Vùng tây Mông Cổ giữa núi An-tai và hồ Ban-ca-sơ thuộc quyền Ô-gô-đây, người con thứ ba. Con út là Tô-lui thừa kế miền đất cũ của cha.

        Theo Lịch sử bí mật Mông Cổ và Tập sử biên niên của Ra-sit ut-đin thì trước đây, Trin-ghit Khan đã chỉ định Ô-gô-đây thừa kế ngôi hãn. Nhưng sau khi Trin-ghit Khan chết, quyền lực thực tế nằm trong tay Tô-lui.

        Năm 1228, khu-rin-tai mở trên bờ sông Kê-ru-len (Karulan). Đại biểu các ulus đều về họp. Bọn quý tộc hoàng thất đã cử Ô-gô-đây1 lên ngôi hãn. Yến tiệc mừng hãn mới tưng bừng bên sông Kê-ru-len. Bốn mươi mỹ nữ trang sức đầy vàng ngọc bị làm vật hiến tế cho linh hồn Trin-ghit Khan2.

        Ô-gô-đây lên ngôi khi bản đồ đế quốc Mông Cổ đã vô cùng rộng lớn. Trừ Mông Cổ ra, đế quốc Mông Cổ bao gồm cả vùng Bắc Trung Quốc, Tuốc-ke-xtan, Trung Á, vùng thảo nguyên từ sông Iếc-tư-sơ đến sông Vôn-ga, phần lớn đất I-răng và đất Cáp-ca-dơ. Giai cấp thống trị ở các quốc gia bị chinh phục, đại địa chủ, tăng lữ cao cấp và đại thương nhân phục vụ bọn xâm lược, mong duy trì đặc quyền và tài sản của mình. Ách áp bức đè nặng lên vai nhân dân lao động du mục và định cư. Thuế khóa nặng nề. Thợ thủ công bị trưng tập lao dịch cho người Mông Cổ. Năm 1235, thủ đô Kha-ra Khô-rum (Qara Qorum) được xây dựng trên bờ sông Oóc-khôn (Orkhon). Tham gia xây dựng đô thành và vương cung ấy là những thợ tù binh Trung Quốc, Tát-jich, Tuyếc, Ba Tư và các dân tộc khác.

        Do sự thống trị tàn bạo của bọn chúa dị tộc Mông Cổ, nhân dân nhiều nơi đã nổi dậy. Chẳng hạn năm 1238, Ma-hơ-mút Ta-ra-bi (Mahmùd Tarabi) đã vùng lên đuổi bọn xâm lược ra khỏi Bu-kha-ra và dựa vào nông dân, đánh tan quân đội Mông Cổ chiếm đóng và bọn chúa phong kiến địa phương. Nhưng cuộc khởi nghĩa bị trấn áp.

        Sau khi Trin-ghit Khan chết, các cuộc viễn chinh xâm lược vẫn tiếp tục. Kế hoạch đánh chiếm nước Kim ở Bắc Trung Quốc đã được Trin-ghit Khan vạch ra cho cận thần từ trên giường bệnh. Năm 1232, Ô-gô-đây và Tô-lui tấn công vào đất Hà Nam, liên minh với Nam Tống đánh Kim. Tháng 5 năm 1232, tướng Xu-bu-tai chiếm Biện Kinh (Khai Phong). Kim Ai Tông chạy về Quy Đức rồi chạy về Thái Châu (nay là Nhữ Nam, Hà Nam). Quân Mông Cổ liên minh với Nam Tống đánh Kim, giao ước là sau khi diệt Kim, Tống sẽ được thu phục ba kinh thành (Đông Kinh là Khai Phong, Tây Kinh là Hà Nam tức Lạc Dương, Nam Kinh là Ứng Thiên tức Thương Khâu). Tống Lý Tông đã sai Mạnh Hồng đem hai vạn quân và ba mươi vạn thạch lương giúp Mông Cổ vây Thái Châu. Năm 1234, thành Thái Châu vỡ, Kim Ai Tông tự sát ở U-lan-hiên. Nước Kim mất. Nam Tống theo điều ước, tiến quân lấy lại đất cũ, nhưng quân Mông Cổ đã tháo nước sông Hoàng Hà làm ngập quân Tống. Năm 1236, Ô-gô-đây sai quân đánh Tống. Đạo thứ nhất do Kha-đan (Qađan) con thứ hai của Ô-gô-đây chỉ huy, qua Tứ Xuyên, đánh vào Thành Đô, đạo thứ hai do Ku-tru (Kuču) con khác của Ô-gô-đây và tướng Tê-mu-tai (Tämmütai) chỉ huy đánh chiếm Tương Dương ở Hồ Bắc, một đạo do thân vương Kun Ba-kha (Kun-Buqa) và tướng Tra-gan (Čayan) tiến đến vùng Hán Khẩu ngày nay. Cuộc chiến tranh 40 năm xâm lược Nam Tống đã mở màn.

---------------
1.    Thư tịch Trung Quốc phiên âm là Oát-ca-đải (Nguyên triều bí sử), Oa-khoát-đài (Nguyên sử), đời Thanh đổi là Ngạc Cách Đức Y.

2.   Ra-sit Ut-Đin, Tập sử biên niên, bản dịch tiếng Nga, tập 2, 1960, t.19.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 12:10:15 am

        Vấn đề viễn chinh lưu vực sông Vôn-ga và vùng từ đó về phía Tây đã được bọn quý tộc Mông Cổ nêu ra từ Khu-rin-tai năm 1228 và trong Khu-rin-tai năm 1235 lại được nhắc đến. Mùa xuân năm 1236, một đạo quân mười lăm vạn ồ ạt kéo sang phía Tây. Cầm đầu đạo quân là thống soái Ba-tu (Batu)1, con trưởng của Jô-tri, cháu Trin-ghit Khan. Viên lão tướng Xu-bu-tai làm tiên phong. Ba-tu đã qua mùa đông 1236-1237 ở gần vùng Vôn-ga. Tháng 12 năm 1237, quân Mông Cổ tấn công công quốc Ri-a-dan. Đại công I-u-ri I-go-rê-vích bị chết. Đầu năm 1238, quân Mông Cổ chiếm Mát-xcơ-va. Tháng 2 năm 1238, công quốc Vơ-la-đi-mia bị chiếm. Đại công I-u-ri Vơ-xê-lô-đô-vích bỏ chạy rồi bị giết. Một loạt 14 thị trấn như Rô-xtốp, I-a-rô-xláp, I-u-ri-ép và Đơ-mi-tơ-rốp,… bị tàn phá. Tháng 3 năm 1238, Ba-tu định tiến về Nốp-gô-rốt nhưng gặp sức phản kháng mãnh liệt của nhân dân Nga nên phải rút lui về thảo nguyên. Năm 1239, Ba-tu bước vào giai đoạn thứ hai của cuộc chinh phục đất Nga. Các thành Pê-rê-i-a-xláp và Tréc-ni-gốp lần lượt bị tàn phá. Năm 1240, quân Mông Cổ tấn công Ki-ép. Thân vương Mi-khai-in trốn sang Hung-ga-ri, viên quý tộc Đi-mi-tơ-ri giữ thành. Ba-tu cho quân bao vây dày đặc quanh thành Ki-ép. Biên niên sử Nga chép: “Tiếng ầm ẩm của vô số chiếc xe Mông Cổ, tiếng bò rống, tiếng lạc đà kêu, tiếng ngựa hí và tiếng gào đánh của những người dã man làm thành một thứ huyên náo mà ngay trong thành cũng không thể nghe thấy được…”2. Nhân dân U-cơ-ren đã anh dũng chiến đấu nhưng cuối cùng, ngày 6 tháng 12 năm 12403, thành Ki-ép cổ kính đã bị chiếm và tàn phá. Quân đội và nhân dân bị giết vô số, hàng nghìn người bị bắt làm nô lệ.

        Từ U-cơ-ren, một cánh quân Mông Cổ do Bai-đa (Baidar) và Khai-đu (Qaidu) chỉ huy tiến vào Ba Lan. Mùa đông năm 1240-1241, quân Mông Cổ vượt qua sông Vi-xtun đóng băng, tấn công Xan-đô-mia (Sandomierz) và đốt cháy trụi Cơ-ra-cốp. Quân Mông Cổ không chiếm được Vơ-rô-xláp4 nhưng sau đó, tiến đến Xê-lê-di, đánh tan 3 vạn liên quân Ba Lan - Đức do công tước Xi-lê-di Hen-rích II chỉ huy ở Van-stát (Wahlstadt) gần Líc-nít (Liegnitz) ngày 9 tháng 4 năm 1241. Sau chiến thắng đó, cánh quân này tiến qua Mô-ra-vi để hợp với cánh quân của Ba-tu. Đại quân của Ba-tu đã từ ba đường tiến đánh Hung-ga-ri. Ngày 11 tháng 4 năm 1241, Xu-bu-tai đã thắng quân Hung và gần chỗ hợp lưu sông Xay-o (Sayo) và sông Tít-xa (Tisza). Thủ đô Pe-xtơ (Pest) bị hạ, vua Hung là Bê-la chạy trốn ra bờ biển A-đơ-ri-a-tic. Tháng 7 năm 1241, kỵ binh Mông Cổ đến Nôi-stát (Neu-stadt) gần Viên. Tháng 12 năm 1241, Ba-tu vượt qua sông Đa-nuýp đóng băng, chiếm thành Gran, đô cũ của Hung-ga-ri. Nhân dân ở đây đã đốt hết nhà cửa, giết ngựa, giấu vàng bạc, không để tài sản lọt vào tay giặc. Bọn xâm lược Mông Cổ phẫn nộ, đã đem nướng người trên lửa và chặt đầu phụ nữ trong thành. Đầu năm 1242, đội tiên phong của quân Mông Cổ truy kích vua Hung đã đến quần đảo vùng Đan-ma-xi (bờ biển Nam Tư) gần thành Vơ-ni-dơ nước ý. Cả châu Âu chấn động. Theo sử biên niên của Pháp thì mối lo sợ trước quân Mông Cổ đã làm đình trệ cả sự buôn bán. Các sử gia biên niên Anh cho chúng ta biết rằng bấy giờ việc thông thương giữa đất Anh với lục địa bị gián đoạn. Ở Đức, xuất hiện bài kinh cầu nguyện “Chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Ta-ta (tức Mông Cổ)”. Giáo hoàng La-mã Giơ-rê-goa (Grégoire) IX đã hiệu triệu tổ chức thập tự quân chống Mông Cổ. Trong thư gửi cho tín đồ Cơ đốc giáo, Giáo hoàng đã viết: “Nhiều việc khiến ta lo lắng như những việc đáng buồn ở đất Thánh, những mối lo âu của giáo hội, tình hình đáng thương của đế quốc La-mã. Nhưng ta nguyện quên hết những lo âu đó mà chú tâm đến cái tai họa Ta-ta, sợ rằng hiện nay uy danh của đạo Cơ đốc sẽ bị bọn Ta-ta tiêu diệt mất. Nghĩ đến đó là ta xương nát tủy khô, thân gầy sức kiệt, đau xót vô cùng, khiến ta không biết làm gì đây” 5.

        Nhưng sức chiến đấu của người Nga, người Ba Lan, người Tiệp và người Hung đã làm yếu lực lượng đội quân viễn chinh Mông Cổ. Quân Mông Cổ tiến lên trước, nhưng hậu phương phía sau không ổn định. Nông dân Hung-ga-ri đã nổi dậy dưới sự lãnh đạo của người nữ anh hùng Lan-ka xinh đẹp. Khi thất bại, Lan-ka đã tự sát, không để lọt vào tay giặc6. Pơ-lăng Các-panh (Plan Carpin) đã cho chúng ta biết nhiều người Mông Cổ chết ở Ba Lan và Hung7. Mùa xuân 1242, Ba-tu phải rút quân về phía Đông, qua Bun-ga-ri và Nga, đến vùng Vôn-ga. Do cuộc viễn chinh của Ba-tu, đất phong (ulus) của Jô-tri mở rộng, lập thành nước hãn Kim Trướng (Lều Vàng). Nước Nga chịu ách thống trị của nước hãn này hơn 200 năm.

        Năm 1241, Ô-gô-đây chết, Tra-ga-tai (Čaatai)(8) cũng chết năm đó. Tình hình đế quốc Mông Cổ trở nên phức tạp. Các gia tộc dòng Trin-ghit Khan mâu thuẫn với nhau. Do đó ngôi hãn bỏ trống trong 5 năm, vợ Ô-gô-đây là Tô-rê-ghê-nê (Törägänä) nhiếp chính. Mãi đến Khu-rin-tai năm 1246, con Ô-gô-đây là Gu-y-uc (Güyük) 9 mới được cử làm hãn. Nhưng Ba-tu, con Jô-tri, ra mặt chống lại Gu-y-uc, không thừa nhận y là đại hãn và không chịu tuyên thệ. Gu-y-uc đem quân đánh Ba-tu nhưng chưa ra khỏi biên giới thì chết giữa đường năm 1248.

        Gia tộc Jô-tri liên kết với gia tộc Tô-lui chống lại gia tộc Ô-gô đây và Tra-ga-tai. Trong Khu-rin-tai 1251, do áp lực của bọn con cháu Jô-tri và Tô-lui; con Tô-lui là Mông Ke (Möngkä) 10 được cử làm đại hãn.

        Sau khi lên ngôi hãn, Mông-ke tiến hành việc trấn áp những kẻ thù của y. Mông-ke đã cử những đạo quân đặc biệt đánh phá lãnh địa Ô-gô-đây và Tra-ga-tai, do đó, hai vương thất này mất hết ảnh hưởng cũ, ulus không còn rộng lớn như trước nữa. Trên thực tế, đế quốc Mông Cổ trong những năm đó chia làm hai: lãnh địa của Mông Ke và lãnh địa của Ba-tu (hãn Kim Trướng).

        Trong thời kỳ thống trị của hãn Mông-ke, nhân dân ở Bắc Trung Quốc, đông Tuốc-ke-xtan, Trung Á, I-răng, Nam Cáp-ca-dơ và châu Âu bị bóc lột nặng nề. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra. Mông-ke phải ra sức củng cố chính quyền trung ương và khống chế các vùng đã chinh phục. Chính quyền Mông Cổ đã dựa vào bọn đại địa chủ và tăng lữ cao cấp ở các nước bị chinh phục. Hãn Mông Cổ cũng rất chú ý đến bọn lái buôn giàu có. Bọn xâm lược chọn trong bọn chúa phong kiến và thương nhân Hồi giáo các quan lại cai trị các đất bị chinh phục.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200054_zps4sbq2yv6.jpg)
Quân Mông Cổ (Tranh trong bản thảo "Tập sử biên niên" của Ra-sit ut-Đin (1247 - 1318)

-----------------
1.    Tài liệu Nga gọi là Batyi hay Batu, thư tịch Trung Quốc phiên âm là Bạt Đô.

2.   Dẫn trong Bretschneider. Mediaeval researches I, t.318.

3.   Có tài liệu chép Ki-ép bị chiếm ngày 19 tháng 11 năm 1240.

4.   G.Labuda: Woja z Tatarami w roku 1241 “Przeglad Historyczny” t.50, 2, 1959, t.189-224.

5.   Dẫn theo D’Ohsson: Historie des Mongols depuis T chinguiz - khan jusqu’à Timour. La Haye et Amsterdam, 1834, t.2.

6.   Acta Historica, t.II, f.1-2, Buđapest, 1953, t.1-45.

7.   Plan Carpin là tu sĩ Pháp được Giáo Hoàng Innocent IV phái đến Mông Cổ năm 1246. Xem Jean de Plan Carpin: Lịch sử Mông Cổ 1911, t.12.

8.   Thư tịch Trung Quốc phiên âm là Sát-a-đải (Nguyên Triều bí sử), Sát Hợp Thai (Thân chinh lục, Nguyên sử), đời Thanh đổi là Sát-hãi-thai.

9.   Thư tịch Trung Quốc phiên âm là Cổ-dư-khắc (Nguyên Triều bí sử), Quý Do (Thân chinh lục, Nguyên sử), Thanh đổi là Khố-dụ-khắc.

10.    Thư tịch Trung Quốc phiên âm là Mông Cách (Nguyên Triều bí sử), Mông Kha (Nguyên sử), Thanh đổi là Mạnh-khắc.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 12:29:46 am

        Mông-ke vẫn tiếp tục các cuộc viễn chinh xâm lược. Năm 1253, Mông Ke đã cử em là Hu-lê-gu (Hülägü) 1 hoàn thành việc chinh Phục Ba Tư. Đất Ba Tư đã bị các tướng Mông Cổ là Troóc-ma-gan (Čormaan), Bai-ju (Baiǰu), En-ji-ghi-đai (Elĵigldai) xâm lược nhiều lần từ năm 1231. Bấy giờ, I-xma-in (Ismā’ìl) là đất độc lập cuối cùng của nước I-răng. Ngày 2 tháng 1 năm 1256, Hu-lê-gu vượt sông A-mu Đa-ri-a. Chúa I-xma-in là Rốc-nut-đin Cua-sa (Rokn ud-Dīn Kuršah) đầu hàng ngày 19 tháng 11 năm 1256. Sau khi tiêu diệt I-xma-in, Hu-lê-gu cho quân tấn công Ba-gơ-đát (Bagdad) và lãnh thổ của Kha-íp (Khalife, vua Hồi giáo) An Mu-xta-xim (alMusta’sim). Mu-xta-xim và cận thần đều hèn nhát, Hu-lê-gu đã dễ dàng chiếm được Ba-gơ-đát. Ngày 15 tháng 2 năm 1258, quân Mông Cổ tiến vào đô thành nổi tiếng đó, cướp phá của cải, thiêu huỷ cung điện và tàn sát cư dân. Hu-lê-gu đã bỏ Mu-xta-xim vào một cái túi rồi cho ngựa xéo chết.

        Sau khi chiếm Ba-gơ-đát, Hu-lê-gu tiến quân chiếm vùng Lưỡng Hà, xâm nhập Xi-ri. Nhưng đến năm 1259, thủ lĩnh quân Ma-mơ-luc (Mameluk) Ai Cập là Khu-tu-dơ (Qutuz) đánh bại quân Mông Cổ, bắt sống tướng Kít Bu-kha (Kit-Buqa) đuổi quân xắn lược khỏi đất Xi-ri, chặn được thế tiến công của Hu-lê-gu. Hu-lê-gu trở về Ba Tư, thiết lập một nước hãn mới và sáp nhập các vùng A-dec-bai-jan, Ác-mê-ni, Gơ-ru-di-a vào bản đồ của quốc gia mới. Vào những năm 60 của thế kỷ XIII, nước hãn Ba Tư cũng như nước hãn Kim Trướng thực tế đã thoát ly chính quyền trung ương của đại hãn Mông Cổ.

        Về phía Đông, Mông-ke cùng với em là Hốt Tất Liệt (Qubilai, Khu-bi-lai)(1) tiếp tục cuộc chiến tranh chinh phục miền Nam Trung Quốc. Đến năm 1279, Trung Quốc hoàn toàn bị Mông Cổ xâm chiếm. Trong và sau khi chinh phục miền Nam Trung Quốc, đế quốc Mông Cổ đã gây chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời âm mưu phát triển thế lực ra các nước khác ở Đông và Đông Nam Á.

        Như vậy là trong vòng nửa thế kỷ, bọn phong kiến Mông Cổ đã kéo thế giới vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Một đế quốc rộng mênh mông được thành lập từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương.

        Cuộc chiến tranh xâm lược nổ ra giữa lúc chế độ công xã nguyên thủy tan rã, chế độ phong kiến hình thành. Bọn thống trị phong kiến Mông Cổ lợi dụng thể chất cường tráng, tinh thần chiến đấu, tài năng cưỡi ngựa bắn cung của nhân dân Mông Cổ và tổ chức quân sự đặc biệt của xã hội du mục, đã tổ chức một quân đội hùng mạnh, tiến hành các cuộc viễn chinh xâm lược. Theo Ju-vây-ni (Jweyni) nhà sử học thế kỷ XIII3 thì tất cả dân du mục trong thời bình đều phải làm nghĩa vụ cho hãn và quý tộc Nô-y-an. Trong thời chiến, người đến tuổi chịu binh dịch đều phải vào quân đội. Ngoài ra các hãn đều có đội quân hộ vệ (kaisk) rất đông. Qua những cuộc chiến tranh xâm lược, bọn phong kiến Mông Cổ còn lợi dụng nhân lực và binh lính của nước bị chinh phục để mở rộng đội ngũ của mình.

        Lịch sử bí mật Mông Cổ và Ra-sit ut-đin cho biết rằng kỷ luật quân đội Mông Cổ rất chặt chẽ, ai vi phạm quân kỷ bị trừng phạt rất nặng.

        Quân đội Mông Cổ rất thiện chiến. Thêm vào đó, thiên tài quân sự của Trin-ghit Khan (Thành Cát Tư Hãn) đã sáng tạo những chiến lược, chiến thuật thích hợp với điều kiện bản thân và hoàn cảnh khách quan. Những người kế thừa cũng tiếp thu được những chiến lược, chiến thuật đó. Quân Mông Cổ đặc biệt biết lợi dụng điều kiện hành động nhanh chóng mẫn tiệp của kỵ đội. Bành Đại Nhã đời Tống, tác giả Hắc Thát sự lược, đã chép: “Về đánh trận, họ lợi ở dã chiến, không thấy lợi, không tiến quân… Trăm quân kỵ quay vòng, có thể bọc được vạn người, nghìn quân kỵ tản ra, có thể dài đến trăm dặm… địch phân tất phân, địch hợp tất hợp, cho nên kỵ đội là ưu thế của họ, hoặc xa hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tụ hoặc tán, hoặc hiện hoặc ẩn, đến như rơi trên trời xuống, đi như chớp giật…”4.

        Bành Đại Nhã còn chép rất rõ cách tấn công bằng kỵ đội của quân Mông Cổ: “Phép phá địch của họ, trước hết là lên chỗ cao nhìn ra xa, xem địa thế, xét địch tình. Vì chuyên thừa cơ địch rối loạn nên lúc bắt đầu giao phong, thường dùng kỵ đội xông thẳng vào trận địch, mới xông vào mà địch đã núng thì không kể đông hay ít, ồ ạt tiến lên, địch tuy chục vạn, cũng không thể đương được. Nếu địch không núng, thì đội phía trước tản ngang ra, đội tiếp theo xông lên, nếu không vào được thì đội sau nữa lại tiến lên như vậy. Nếu trận địch vững chắc, trăm kế không xông vào được, thì họ xua bò, quất ngựa cho súc vật đâm vào trận địch, ít khi mà địch không bại. Nếu địch chĩa giáo tủa ra chống, không để ngựa xông vào, thì họ cho quân kỵ bọc xung quanh, thỉnh thoảng bắn một mũi tên, khiến cho địch phải vất vả. Cầm cự ít lâu, địch tất không có ăn hay thiếu củi nước, không thể không nao núng, bấy giờ họ mới tiến quân uy hiếp, hoặc là trận địch đã núng nhưng họ không đánh ngay, đợi địch mệt mỏi rồi mới xông vào. Nếu quân của họ ít thì trước hết lấy đất rải ra, sau đó lấy cây kéo, khiến cho bụi bay mù trời, địch nghi là quân đông, thường tự tan vỡ, nếu không tan vỡ thì khi xông vào, tất thế nào cũng phá được. Có khi họ xua hàng binh lên trước, cố để cho thua, đợi lúc địch kiệt sức, mới đem quân tinh nhuệ ra đánh. Có khi vừa giao chiến, đã giả thua chạy, vờ bỏ xe cộ, vứt vàng bạc, địch cho là bại thật, đuổi mãi không thôi, gặp phải quân kỵ phục kích của họ, thường là bị tiêu diệt hết… Họ mà thắng thì đuổi theo địch chém giết, không để trốn thoát, họ mà thua thì chạy rất nhanh, đuổi theo không kịp” 5. Do điều kiện tiến nhanh của kỵ đội, quân Mông Cổ thường quen đánh những trận vu hồi lớn. Khi đánh vào một vùng nào hay một địa điểm nào, họ thường tấn công bằng nhiều gọng kìm từ các phía lại. Họ thường tránh thực đánh hư, dụ địch ra khỏi căn cứ mà tiêu diệt.

        Với đội quân thiện chiến đó, Trin-ghit Khan và những người thừa kế đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thế giới. Vể sau, khi học được cách chế tạo các vũ khí đánh thành của người Trung Quốc và người Tây Á, quân đội Mông Cổ lại càng hùng mạnh. Nhưng đội quân hùng mạnh đó, một lần tấn công vào Chiêm Thành, ba lần tấn công vào Đại Việt, đều bị thất bại nhục nhã. Nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII đã ghi vào lịch sử dân tộc những trang sáng chói.

-----------------
1.    Thư tịch Trung Quốc phiên âm là Húc-liệt-ngột (Nguyên sử), đời Thanh đổi là Tích-lý-khố.

2.   Thư tịch Trung Quốc phiên âm là Hốt Tất Liệt (Nguyên sử). Đời Thanh Càn Long đổi phiên âm là Hô-tất-lai. Trong sách này chúng tôi giữ theo tên đã quen thuộc là Hết Tất Liệt mà không phiên âm thành Khu-bi-lai (Qubilai).

3.   Ju-vây-ni chính tên là Ala ud-Din ‘Ata-Malik, sinh ở Juweyn (thuộc Khorassan) nên gọi là Juweyni, chết năm 1282. ông là tác giả bộ sử Truyện kẻ xâm lược thế giới (Tarikh-i-jahán Gusái), ghi chép sự kiện mười năm cuối của Trin-ghit Khan và những người thừa kế, đặc biệt là cuộc viễn chinh Ba Tư của Hu-lê-gu.

4.   Bành Đại Nhã - Tư Đỉnh: Hắc Thát sự lược. bản in của Giang Tô thông châu hàn mặc lâm biên dịch ấn thư cục năm Quang Tự Quý Mão (1225-1264) đã đi sứ Mông Cổ, lúc trở về cùng soạn sách Hắc thát sự lược, đó là một tài liệu quý để nghiên cứu về đời sống, phong tục, chế độ người Mông Cổ trước khi đánh chiếm Nam Tống.

5.   Bành Đại Nhã - Tư Đỉnh: Sách đã dẫn, t.9b-10a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 10:47:49 am
       
CHƯƠNG III

CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ NHẤT

“…Người lính già đầu bạc        
Kể mãi chuyện Nguyên Phong”.        
Trần Nhân Tông        
       Năm 1251, đại hội quý tộc (Quriltai) trên bờ sông Ô-nôn (Ônon) đã đưa Mông Ke (Mongka) lên ngôi hãn. Tên chúa Mông Cổ mới vẫn nuôi mộng chinh phục thế giới. Năm 1253, Mông Ke ra lệnh cho em y là Hu-lê-gu (Hulagu) tiến hành xâm lược Ba Tư và Tây Á. “Hãy thiết lập tập quán, phong tục và pháp luật của Trin-ghit Khan (Cinggis-qan) từ bờ sông A-mu Đa-ri-a đến cuối xứ Ai Cập… Kẻ nào không khuất phục thì hãy làm cho hắn nhục nhã”. Đó là lệnh của hãn Mông Cổ1.

        Về phía đông, Mông Ke chuẩn bị tấn công xâm lược quốc gia Nam Tống. Đồn điền và thành lũy của quân đội Mông Cổ mọc lên trên một tuyến dài từ sông Hán đến sông Hoài. Để uy hiếp mặt tây nam của Nam Tống, từ năm 1252, Hốt Tất Liệt (Qubilai, Khu-bi-lai), em của Mông-ke, được lệnh đánh chiếm vùng Vân Nam Trung Quốc. Năm 1253, Hất Tất Liệt và tướng U-ry-ang-kha-đai (Uriyangqadai) 2 vượt sông Kim Sa, đánh chiếm thủ đô nước Đại Lý. Vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí bỏ trốn. Năm 1254, Hốt-tất-liệt trở về Bắc, U-ry-ang-kha-đai ở lại tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược. Đoàn Hưng Trí bị bắt ở Thiện Xiển3 và đầu hàng quân Mông Cổ. Các dân tộc thiểu số ở Vân Nam lần lượt bị chinh phục4. Đến năm 1256, toàn bộ vùng Vân Nam bị chia thành phủ huyện, nằm dưới ách thống trị của Mông Cổ. Nước Đại Lý mất.

        Năm 1257, Chúa Mông Cổ là Mông Ke tế cờ trên bờ sông Kê-ru-len (Karulan) rồi xuất quân đánh Tống. Theo kế hoạch của Mông Ke, quân Mông Cổ sẽ tấn công vào đất Tống từ bốn mặt. Mông Ke thân dẫn đại quân tiến vào theo con đường Tứ Xuyên. Một cánh quân dưới quyền chỉ huy của Hốt Tất Liệt vượt Trường Giang đánh chiếm châu Ngạc (Vũ Xương, Hồ Bắc). Một cánh quân khác do Tô-ga-tra (Toačar) 5 chỉ huy, tấn công mạn hạ lưu Trường Giang, vào vùng Kinh Sơn. Cánh quân của U-ry-ang-kha-đai được lệnh từ Đại Lý đánh thẳng xuống Đại Việt, rồi từ đó, đánh vào châu Ung (Nam Ninh, Quảng Tây), châu Quế (Quế Lâm, Quảng Tây), tiến lên gặp các cánh quân kia ở châu Ngạc6. Cánh quân này sẽ trở thành mũi dao đâm vào sau lưng Trung Quốc.

        Như vậy, việc tiến quân xâm lược Đại Việt là nằm trong kế hoạch thâm độc trên của tên chúa Mông Cổ. Chúng ta không biết được chính xác số quân của U-ry-ang-kha-đai khi tiến vào Đại Việt. Nhà sử học Ba Tư Ra-sit ut-đin (Rašĩd ud-Dīn) cho biết rằng U-ry-ang-kha-đai đã đem ba vạn quân xuống Vân Nam nhưng trước khi tiến lên châu Ngạc gặp Hốt Tất Liệt thì quân số còn lại không quá năm nghìn tên7. Ngoài số quân Mông Cổ, tên vua Đại Lý đã đầu hàng là Đoàn Hưng Trí cùng với chú y là Tín Thư Phúc còn đem hai vạn quân người Thoán Bặc (người Di ở Vân Nam) làm tiên phong cho U-ry-ang-kha-đai, tiến vào Đại Việt8. Như vậy, đội quân của U-ry-ang-kha-đai, gồm cả quân Thoán và kỵ binh Mông Cổ, phải trên hai vạn rưởi người.

------------------
1.    Theo Ra-sít út-Đin (Rasìd ud-Dìn), Tập sử biên niên.

2.   Nguyên sử chép là Ngột Lương Hợp Đái (q.4); Ngột Lương Hợp Thai (q.121); Ngột Lương Cáp Thai (q.122). Kinh thế đại điển tự lục và An Nam chí lược chép là Ngột-lương-cáp-đải. Thông giám tập lãm chép là Ô-đặc-lý-cáp-đạt; Tục tư trị thông giám chép là Ô-lan-cáp-đạt, theo cách phiên âm lại thời Thanh Càn Long (xem Liêu Kim Nguyên sử ngữ giải). Đại Việt sử ký toàn thư chép là Ngột Lương Hợp Đải. Hịch tướng sĩ của Trấn Quốc Tuấn chép là Cốt Đãi Ngột Lang. Đấy là những tên phiên âm khác nhau của tên Mông Cổ Uriyangqadai (có nghĩa là “người của bộ lạc Uriyangqat”). U-ry-ang-kha-đai là con của viên tướng nổi tiếng Xu-bu-tai (Subutai, Tốc-bất-đài) (xem chương II).

3.   Nguyên sử q.121 chép Đoàn Hưng Trí bị bắt ở Côn Trạch Bình Vân Nam bi của Trình Cự Phu (1248-1318) và Vân Nam chí lược của Lý Kinh đời Nguyên đều chép là Hưng Trí bị bắt ở Thiện Xiển. Kinh thế đại điển tự lục chép rằng Hưng Trí chạy trốn về Côn Trạch và bị bắt ở Thiện Xiển. Thiện Xiển ở Côn Minh ngày nay.

4.   Dân tộc Di là thành phần chủ yếu của nước Đại Lý. Bộ phận quan trọng mà các thư tịch Trung Quốc cổ thường gọi chung là người Thoán, Bặc là gồm người Bạch Man (tức Tây Thoán) và người Ô Man (tức Đông Thoán). Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện gọi Bạch Man là Sát Hãn Chương và Ô Man là Hợp Lạt Chương. Nguyên sử q.123, Triệu A-kha-phan truyện, A-nhi-tư-lan truyện và Kinh thế đại điển tự lục, mục Vân an lại chép là Cáp Lạt Chương. Sát Hãn Chương là phiên âm tiếng Mông Cổ Caqanĵang, Hợp Lạt Chương hay Cáp Lạt Chương là Qaraĵang. Theo tiếng Mông Cổ, čaqan nghĩa là “trắng”, Qara nghĩa là “đen”. ĵăng chỉ người Thoán. Như vậy, đấy chỉ là dịch nghĩa tên Bạch Man và Ô Man. Về sau, tên Kha-ra-iang (Qaraĵang) trở thành tên chỉ vùng đất Vân Nam (Tập sử biên niên của Ra-sít ut-Đin chép là KaraJan. Mác-cô Pô-lô (Marco Polo) trong du ký của ông, chép là Carajan, Caragian, Caraian).

5.   Nguyên sử phiên âm là Tháp-sát-nhi. Tô-ga-tra là con của em Thành Cát Tư Hãn, Tê-mu-ghê Ốt-tri-ghin (Tämugä Otčigin).

6.   An Nam chí lược q.4 Chinh thảo vận hướng chép: “… Năm Quý Sửu (1253)… bàn việc dẹp Vân Nam, lưu thái sư Ngột Lương Hợp Đải kinh lược Năm Đinh Tỵ (1257), mùa đông, sai thái sư tiến quân từ Vân Nam, đi qua biên ấp An Nam, muốn ra Ung, Quế, hội với đại binh ở Ngạc để đánh Tống”. Trong bản in Nhật Bản chép là “mệnh thái sư thông súy tự Vân Nam…”. Chúng tôi cho rằng chữ “thông súy” là chép nhầm từ chữ “tiến sư” nghĩa là tiến quân, không phải có một thái sư khác hay một người khác tên là Thông Súy như một số sách gần đây đã lầm (Hoàng Thúc Trâm: Trần Hưng Đạo 1950, t.66-67; Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, 1958, tập I, t 235). Xét câu của An Nam chí lược thì thái sư ở đây là Ngột Lương Hợp Đải (U ry-ang-kha-đai) mà thôi. Chỉ có An Nam chí lược chép U-ry-ang-kha-đai là thái sư, nhưng chắc là đúng. Bấy giờ, Mông Cổ chưa chiếm được toàn bộ Trung Quốc cũng như chưa thiết lập vương triều Nguyên, nhưng danh hiệu thái sư thì Mông Cổ đã mượn của Trung Quốc từ trước, tiếng Mông Cổ là tai ši, dùng để chỉ một số quý tộc thủ lĩnh thị tộc - bộ lạc. Về sau, tai ši trở thành những chúa phong kiến nắm giữ các lãnh địa ulus hay otoq. Như vậy, danh hiệu tai ši Mông Cổ không còn có nghĩa như thái sư Trung Quốc hay Việt Nam.

7.   Ra-sit ut-Đĩn chép rằng: “Từ trước hãn Men-gu (tức Môn-ke - T.G.) đã phái một đội quân khoảng ba Tu-man (tức tu-men (tüman), tiếng Mông Cổ chỉ đơn vị một vạn người, tiếng Trung Quốc là vạn hộ - T.G.) tiến vào từ một phía khác của Nan-ghi-át (Nangyas, tức Nam Tống - T.G.). Người chỉ huy đội quân này là U-ry-ang-kha-đai, con của Xu-bê-đai - ba-ha-đua (tức Sübütai-bả tur - T.G.). Cùng với U-ry-ang-kha-đai, hãn còn phái năm mươi chư vương của cánh tả (quân đội Mông Cổ bấy giờ chia làm hai cánh tả và hữu, xem chương II - T.G.), trong số con cháu của Tra-ga-tai (Čaatai) có một người tên là An-bi-ska (Abiška). Vì đường đi vất vả mà các địa điểm và đồn lũy lại khó vượt qua, họ đã nhiều lần tham chiến, việc tiến lên phía trước thật khó khăn đối với họ. Do thời tiết ẩm và xấu, nhiều người trong đội quân đó đã ốm và chết, đến nỗi toàn bộ bọn họ còn lại không quá năm nghìn. Họ được tin Hốt Tất Liệt đến và quyết định đi về hướng ông ta. Sau hai mươi ngày, họ đã hội quân bất ngờ ở vùng lân cận thành trấn đó”. Đấy là thành trấn mà Ra-sít ut-Đin gọi là U-ju (Uĵu), tức Ngạc Châu (Tập sử biên niên, bản dịch tiếng Nga, tập II, 1960, tr.157-158).

        Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện (t.4b) và bài bia A-truật (A-ju) do Vương Vận (?-1304) soạn (dẫn trong Nguyên triều danh thần sự lược của Tô Thine Tước đời Nguyên, q.2, t.12a) lại ché rằng U-ry-ang-kha-đai đã đem ba nghìn kỵ binh Mông Cổ và một vạn quân người Thoán tiến vào đất Tổng.

8.   Nguyên sử q. 166 Tín thư Nhật truyện chép: “… Hiến Tông (tức Mông Ke - T.G.)… ban cho Hưng Trí tên Ma-ha-la-sa, sai làm chúa tất cả dân man, các bộ lạc Bạch (tức Bạc thoán, lấy Tín Thư Phúc thống lĩnh quân đội. Hưng Trí bèn ủy việc nước cho em là Tín Thư Nhật, tự mình. cùng với Tín Thư Phúc đem hai vạn quân Bạc Thoán làm tiên phong dẫn đường đại tướng Ngột Lương Hợp Thai (U-ry-ang-kha-đai) dẹp yên các quân chưa hàng phục, đánh hàng Giao Chỉ. Khi vào triều, Hưng Trí chết ở giữa đường (t.11a). Vỉệc Đoàn Hưng Trí đem quân vào Đại Việt còn được chứng thực trong bài bia chùa Đại sùng thánh ở Vân Nam. Bia do Tín Thư Long (tức Đoàn Long) đựng năm 1325, văn bia do Lý Nguyên Đạo đời Nguyên soạn. Bài bia có đoạn: “Sau năm Quý Sửu (1253), tổ là Ma-ha-la-sa, phụng mệnh đánh các xứ không thần phục ở chung quanh. Đến đất Tống, thâm nhập vùng Ung, Quảng, Nhật Nam, rồi chết vì việc”. Nhật Nam nói đến ở đây là chỉ nước ta. Ma-ha-la-sa, tức Mahàràja, tiếng Phạn nghĩa là Đại vương, Ở đây chỉ Đoàn Hưng Trí. Ra-sit ut-đin cũng chép: “Vua nước đó” (tức Đại Lý - T.G.) tên là Maharaz nghĩa là “vua lớn”, bị bắt (Tập sử biên niên. đã dẫn, t.157).


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 02:07:01 pm

        Trước khi tiến quân vào biên giới Đại Việt, U-ry-ang-kha-đai đã nhiều lần sai sứ dụ hàng Trần Thái Tông1. Nhưng biện pháp ngoại giao của y đã hoàn toàn thất bại. Triều đình Trần cũng như toàn dân Đại Việt không mảy may run sợ trước uy lực của Mông Cổ. Khi được tin Mông Cổ sắp tấn công xâm lược, triều đình lập tức chuẩn bị khẩn trương để chống giặc. Tháng 8 năm Đinh Tỵ (10/9 – 8/10/1257), trại chủ Quy Hóa2 là Hà Khuất báo tin sứ Mông Cổ đến. Tháng 9 (9/10 – 7/11/1257), Thái Tông đã xuống chiếu cho Trần Quốc Tuấn chỉ huy các tướng đem quân thủy bộ lên phòng ngự ở biên giới. Đến tháng 11 (8/12/1257 – 5/1/1258), triều đình lại xúc tiến việc chuẩn bị kháng chiến thêm một bước nữa. Cả nước được lệnh sắm sửa vũ khí3. Vua Trần và tôn thất, đại thần vẫn thường say mê luyện tập vũ nghệ, lúc này đã sẵn sàng chờ ngày xuất trận. Để tỏ rõ ý chí kiên quyết của mình, vua Trần không một chút kiêng sợ, đã ra lệnh tống giam tất cả những tên sứ Mông Cổ4.

        U-ry-ang-kha-đai tiến quân đóng ở A-mân5 phía bắc biên giới Đại Việt chờ mãi không thấy sứ trở về, liền quyết định xâm lược bằng quân sự. Y sai Trê-trếch-đu (Cäĉäkdu) 6 và một viên tướng khác mỗi tên đem một nghìn quân, chia làm hai đường dọc theo sông Thao tiến xuống7. Viên tướng trẻ A-iu (Aĵu) 8, con của U-ry-ang-kha-đai, được phái đi tiếp viện cho các đạo quân đi trước. Đồng thời, A-ju còn có nhiệm vụ dò xét tình hình phòng ngự của quân ta.

        Thấy quân ta rất đông, đã dàn ra sẵn sàng, A-ju vội sai người về báo. Được tin U-ry-ang-kha-đai liền tiến binh xuống gấp rút. Tháng chạp năm Đinh Tỵ, hai đạo quân Mông Cổ gặp nhau9. Ngày 12 tháng chạp (17/l/1258), U-ry-ang-kha-đai kéo quân đến Bình Lệ Nguyên10. Trần Thái Tông liền ra trận trực tiếp chỉ huy chiến đấu11. Vua cho bày trận ở bên này sông đợi giặc. Quân lính, voi ngựa dàn ra san sát. Bên kia sông, U-ry-ang-kha-đai cũng tìm cách cho quân vượt sông sang giao chiến. Y chia quân ra làm ba đội, cho Trê-trếch-đu làm tiên phong qua sông trước, y dẫn đại quân. đi tiếp theo, còn phò mã Khai-đu (Qaidu) 12 và A-ju thì chỉ huy hậu quân. U-ry-ang-kha-đai vạch kế hoạch tấn công cho Trê-trếch-đu như sau: “Quân ngươi khi đã qua sông, đừng đánh chúng vội chúng tất đến chống lại ta. Phò mã (chỉ Khai-đu - T.G.) theo sau cắt hậu quân của chúng, ngươi rình cướp lấy thuyền. Quân man nếu tan vỡ chạy ra sông không có thuyền tất bị ta bắt” 13.

----------------
1.    Toàn thư Bản kỷ q.5, t.22a chép: “Tháng 8, mùa thu, trại chủ Quy Hóa là Hà Khuất chạy trạm tâu rằng sứ Nguyên (vào lúc này, gọi là Mông Cổ thì đúng hơn - T.G.) đến”. Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện t.4a chép: “Tháng 9, mùa thu, sai sứ chiêu hàng Giao Chỉ, không thấy trả lời. Tháng 10, mùa đông, tiến binh đến sát biên giới”. Nguyên sử q 209 An Nam truyện t.1a: “Tháng 11, năm Đinh Tỵ [Hiến Tông] năm thứ 7, quân của Ngột Lương Hợp Thai đến phía bắc Giao Chỉ, trước hết sai hai sứ đến dụ, sứ không trở lại…” Kinh thế đại điển tự lục (trong Nguyên văn loại q 41, bản Thương vụ ấn thư quán 1958, t.563) chép: “Quân đến đất A-mân, cho sứ đến dụ, sứ không trở về…”.

        Tục Hoàng giản lục (q.42, 21b) và Cương mục tục biên đều chép là U.ry-ang-kha-đai ba lần sai sứ đến dụ hàng không thấy trở về. Đại Việt sử ký cũng nói rằng sứ Mông Cổ đến ba lần. Ba lần sai sứ đó có lẽ là:

             1 Lần tháng 8 năm Đinh Ty - chép trong Toàn thư.

             2. Lần tháng 9 - chép trong Nguyên sử q.121.

             3. Lần tháng 11 - chép trong Nguyên sử q.209.

2.   Quy Hóa đời Trần là vùng đất dọc hữu ngạn sông Hồng, gồm các huyện Trấn Yên, Văn Bàn tỉnh Yên Bái, huyện Văn Chấn tỉnh Nghĩa Lộ, huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ và đất tỉnh Lào Cai hiện nay.

3.   Toàn thư Bản kỷ q.5, t.22a.

4.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện.

5.   Kinh thế đại điển tự lục (trong Nguyên văn loại, bản đã dẫn, t.563), A-mân có lẽ là A-mê (Khai Viễn, Vân Nam). Minh sử q.46 Đại lý chí chép rằng châu A-mê là vạn hộ A-ninh thời Nguyên.

6.   Nguyên sử (q.209) phiên âm là Triệt-triệt-đô. Từ thời Càn Long phiên âm là Tề-tề-khắc-đô (xem Nguyên sử ngữ giải).

7.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện chép: “Quân Ngột Lương Hợp Thai đến phía bắc Giao Chỉ, trước tiên sai hai sứ đến dụ, sứ không trở về, bèn sai bọn Triệt-triệt-đô (Trê-trếch-đu), mỗi người chỉ huy một nghìn quân, chia đường tiến binh” (t.1a). Đọc câu này, chúng ta không biết quân Mông Cổ đã chia ra làm mấy cánh tiến xuống. Nhưng ở một đoạn sau, Nguyên sử q 209 An Nam truyện lại chép: “Tháng 12, hai cánh quân hợp với nhau”. Như vậy, quân Mông Cổ đã chia ra làm hai cánh. Trê-trếch-đu chỉ huy một cánh, còn cánh kia là do một viên tướng khác chỉ huy, cũng có một nghìn quân.

        Hiện nay chưa đủ tài liệu để xác định chắc chắn con đường tiến quân của Mông Cổ vào Việt Nam năm 1258. Có những ý kiến khác nhau. Nhiều người cho là đi dọc theo sông Hồng nhưng không định rõ là theo con đường nào. Hạ Quang Nam, trong Nguyên đại Vân Nam sử địa tùng khảo (Trung Hoa thư cục, Thượng Hải 1934), đã nghiên cứu con đường tiến quân của U-ry-ang-kha-đai ở vùng Vân Nam, trong bản đồ trang 10, đã vẽ quân U-ry-ang-kha-đai đi từ lộ Trùng Khánh (Côn Minh) đến Xa Lý (Tây Nam Vân Nam), vùng sông Lan Thương (tức Mê-kông) rồi từ đó tiến vào biên giới Việt Nam, qua Tây Bắc, vượt sông Đà rồi vào Thăng Long. Căn cứ của Hạ Quang Nam là câu trong Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư của Cố Viêm Vũ đời Minh: “Ngột Lương Hợp Thai (U-ry-ang-kha-đai) đánh Giao Chỉ qua Xa Lý, tất cả đều hàng”. Thật ra không phải như vậy Nguyên sử q 121 Ngột Lương Hợp Thai truyện cho biết rõ là sau khi trấn áp xong các vùng dân tộc thiểu số ở Vân Nam, chia Vân Nam thành phủ huyện Mông Cổ, U-ry-ang-kha-đai trở về Đại Lý rồi sau đó mới tiến xuống Đại Việt. Hơn nữa, Nguyên sử q.209 An Nam truyện cũng nói là quân Mông Cổ tiến đến sông Thao (khúc sông Hồng từ Bạch Hạc trở lên). Vì thế, chúng tôi cho rằng câu của Cố Viêm Vũ và con đường Hạ Quang Nam xác định là không đúng.

        Quân Mông Cổ đã chia quân làm hai cánh tiến dọc theo sông Thao. Chúng ta biết rằng quân Mông Cổ là quân bộ chứ không phải quân thủy. Theo Việt kiệu thư (q.1) của Lý Văn Phượng thì từ Vân Nam vào Giao Châu có hai con đường bộ. Một con đường theo hữu ngạn sông Thao, qua châu Thủy Vĩ (Lào Cai hiện nay), châu Văn Bàn, châu Trấn Yên (nay thuộc Yên Bái), huyện Hạ Hoa (nay là Hạ Hòa, Phú Thọ), huyện Thanh Ba (nay thuộc Phú Thọ), huyện Sơn Vi (nay là Lâm Thao, Phú Thọ), phủ Hưng Hóa (ở Tam Nông, Phú Thọ) đến huyện Bạch Hạc rồi qua đò sông Phú Lương (tức sông Hồng). Chúng ta có thể nhận thấy đấy là con đường dọc theo trại Quy Hóa thời Trần. Sứ Mông Cổ đã sang Việt Nam theo đường trại Quy Hóa cũng như quân Mông Cổ rút về qua trại Quy Hóa. Do đó, chúng tôi đoán định rằng một cánh quân Mông Cổ đã tiến xuống theo đường Quy Hỏa này.

        Một con đường khác ở tả ngạn sông Thao, theo Lý Văn Phượng, đi từ ải Hà Dương (tức Hà Giang) qua châu Bình Nguyên (nay là Vị Xuyên, Hà Giang) và huyện Phúc Yên (nay là Hàm Yên, Tuyên Quang), đến phủ Tuyên Quang (tỉnh lỵ Tuyên Quang hiện nay), qua phủ Đoan Hùng (Phú Thọ), rồi cũng đến ngã ba Bạch Hạc. Chúng ta dễ dàng nhận thấy đấy là con đường quốc lộ số 2 hiện nay. Nhưng trong cuộc chiến tranh sau, Trần Nhật Duật đã gặp giặc ở châu Thu Vật (xem chương VI) tức huyện Yên Bình (Yên Bái) ngày nay. Do đó, chúng tôi cho rằng quân Mông Cổ đã đi theo một con đường khác dọc theo sông Chảy đó là con đường tỉnh lộ số 11 ngày nay, qua Lục Yên, Yên Bình và gặp quốc lộ số 2 ở Đoan Hùng. Từ đó, quân Mông Cổ qua Phù Ninh (nơi Hà Đặc đã đánh nhau với quân Mông Cổ ở cuộc chiến tranh sau) và cũng tiến đến ngã ba sông Bạch Hạc ở Việt Trì.

8.   Nguyên sử chép là A-truật, từ thời Thanh Càn Long phiên âm là A-châu.

9.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.1a. Do chỗ xác định hai con đường tiến quân như trên (xem chú thích trước), chúng tôi đoán định rằng hai cánh quân Mông Cổ đã gặp nhau ở vùng Việt Trì ngày nay.

10.   Toàn thư Bản kỷ q. 5, t.22a. An Nam Chí lược chép: “Tháng 12 quân đến Nỗ Nguyên”. Chúng tôi đoán rằng Bình Lệ Nguyên chép ở Toàn thư và Nỗ Nguyên trong An Nam chí lược là một địa điểm vì theo hai tài liệu đó thì đều là địa điểm trận đánh đầu tiên do vua Trần trực tiếp chỉ huy.

        Tục tư trị thông giám của Tất Nguyên đời Thanh chép rằng Trần Nhật Cảnh dàn quân bộ và voi, ngựa rất đông bên sông Thao (bản Trung Hoa thư cục, t.4771).

        T.Yamamoto trong An Nam sử nghiên cứu q.1 (Tokyo, 1950, t.50-53) cũng cho những cuộc chiến đấu giữa quân Việt và quân Mông Cổ đều xảy ra trên sông Hồng, dựa vào chỗ vua Trần rút lui theo sông Lô (thời Trần, gọi sông Hồng từ Bạch Hạc trở xuống là sông Lô) như Toàn thư đã chép. Nhưng theo Nguyên sử và An Nam chí lược, thì trong hai ngày, quân Mông Cổ vượt sông hai lần, con sông đó lại có cầu và có chỗ nông, kỵ binh có thể vượt qua (xem sau). Do đó, chúng tôi cho rằng những trận chiến đấu này không xảy ra trên sông Hồng.

        Chúng tôi cho rằng sau khi hai cánh quân đã gặp nhau (ở vùng Việt Trì), quân U-ry-ang-kha-đai vẫn tiếp tục tiến về Thăng Long theo đường quốc lộ số 2 ngày nay chạy qua tỉnh Vĩnh Phú. Phải tìm Bình Lệ Nguyên trên con sông nào đó gặp đường quốc lộ số 2 trong vùng tỉnh Phú Thọ. Quốc lộ số 2 đã gặp một nhánh sông Cà Lồ ở vùng gần Hương Canh huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc. Chúng tôi cho rằng Bình Lệ Nguyên hay Nỗ Nguyên có thể là ở đây. Bình Xuyên vốn là huyện Bình Nguyên, đến đời Mạc Phúc Nguyên đổi ra Bình Tuyền và về sau mới đổi ra Bình Xuyên.

11.   Toàn thư Bản kỷ q.5, t.22a. Tất cả những tài liệu thư tịch cũ không cho biết tình hình cánh quân phòng ngự biên giới của ta dưới quyền chỉ huy của Trần Quốc Tuấn. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim và Chống quân Nguyên của Chu Thiên nói rằng khi quân Mông Cổ tiến vào biên giới, Quốc Tuấn quân ít chống không nổi, phải rút về Sơn Tây, sai người về triều báo, vua liền đem các tướng lên chống giặc. Không rõ các tác giả đã dựa vào tài liệu nào.

12.   Nguyên sử phiên âm là Hoài-đô, Tục tư trị thông giám phiên âm là Hoàỉ-đồ.

13.   Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện, t.4a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 02:15:03 pm

        Trê-trếch-đu theo hạ lưu sông sang trước. Vừa lên đến bờ, y liền cho quân xông ngay vào đánh1. Nhưng, quân Mông Cổ đã gặp sức chiến đấu mãnh liệt của quân ta. Vua Trần Thái Tông dấn thân vào giữa làn mưa đạn xông lên phía trước, tự mình đốc thúc tướng sĩ đánh giặc. Quân Mông Cổ tấn công ào ạt. Quân ta vẫn dũng cảm không chịu rời bỏ kẻ thù. Tướng Lê Tần gan dạ hiên ngang cưỡi ngựa ra vào trận giặc, sắc mặt bình tĩnh, không một nét bối rối lo sợ2. Nhưng rồi trận địa của ta bị lấn dần. A-ju đã dùng những tên lính thiện xạ Mông Cổ bắn vào voi của quân ta làm voi hoảng sợ, lồng trở lại3. Bấy giờ, có người khuyên vua Trần. đứng ở nhà trạm để chỉ huy và quan sát trận đánh. Nhưng trước mũi nhọn tấn công rất mạnh của giặc, Lê Tần - viên dũng tướng kiêm mưu sĩ tài ba, biết rằng quân ta chưa thể đương nổi ngay với chúng trong điều kiện này nên đã cố sức khuyên vua Trần hãy tạm rút lui3. Quân ta rút về đến sách Cụ Bản thì quân cứu viện của tướng Phạm Cụ Chích vừa đến. Sau một trận giáp chiến, Phạm Cụ Chích hy sinh, nhưng vua Trần đã rút lui an toàn. Quân Mông Cổ vẫn không cướp được thuyền của ta. Vua Trần đến bến Lãnh Mỹ thì xuống thuyền5. Quân Mông Cổ đuổi theo tới nơi, đứng trên bờ bắn loạn xạ. Lê Tần đã lấy ván thuyền che cho vua khỏi trúng tên của giặc6. Thuyền quân ta xuôi về Phù Lỗ. Như vậy là âm mưu cướp thuyền, bắt sống vua tôi nhà Trần của U-ry-ang-kha-đai đã hoàn toàn thất bại. Y nổi giận, đòi trừng trị tên tướng tiên phong. Trê-trếch-đu hoảng sợ, uống thuốc độc tự tử7.

        Hôm sau, ngày 13 tháng chạp (18-l-1258), vua Trần cho phá cầu Phù Lỗ, bày trận ở bên sông8. Quân U-ry-ang-kha-đai kéo đến bờ bên kia, muốn sang sông nhưng không có thuyền và không biết rõ nông sâu thế nào. Bọn lính Mông Cổ đi dọc theo bờ sông, bắn tên xuống nước, hễ thấy chỗ nào tên không nổi lên thì biết đấy là chỗ nông9. Kỵ binh của địch theo những chỗ đó lội qua sông. Khi đàn ngựa Mông Cổ đã nhảy lên bờ, kỵ binh địch chia thành các cánh tấn công vào trận địa ta. Tôn thất nhà Trần là Phú Lương hầu tử trận10. Sau trận đánh cản địch ở Phù Lỗ, quân ta tiếp tục rút lui về hướng Thăng Long. Quân Mông Cổ vẫn đuổi theo quân ta cho đến Đồng Bộ Đầu (tức bến Đông) trên sông Hồng, phía đông thành Thăng Long11.

        Trước thế giặc mạnh đang tấn công ồ ạt, để bảo toàn lực lượng, triều đình đã quyết định rút khỏi kinh đô Thăng Long. Quân ta theo sông Hồng về đóng giữ ở sông Thiên Mạc12. Linh từ Quốc mẫu - vợ Trần Thủ Độ, đứng ra quán xuyến việc lánh nạn cho các cung tần mỹ nữ cùng vợ con các tướng ở vùng sông Hoàng Giang13.

---------------
1.    Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện, t.4a.

2.   Toàn thư Bản kỷ q.5, t.22a. Lê Tần, còn có tên là Lê Phụ Trần, người Ái châu (Thanh Hóa), có lẽ vì có công lớn với nhà Trần nên được đổi tên là Phụ Trần (có nghĩa là giúp nhà Trần).

3.   An Nam chí lược q.4 Chinh thảo vận hướng.

4.   Toàn thư Bản kỷ q.5, t.22a.

5.   An Nam chí lược cho chúng ta biết vua Trần xuống thuyền ở bến Lãnh Mỹ (q.15), hôm sau thì phá cầu Phù Lỗ (q.4) như vậy là vua Trần đã từ bến Lãnh Mỹ xuôi về Phù Lỗ.

6.   Toàn thư Bản kỷ q.5, t.22a, An Nam chí lược q.15.

7.   Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện

8.   An Nam chí lược q.4 Chinh thảo vận hướng chỉ chép là hôm sau, vua Trần phá cầu Phù Lỗ, không chép rõ là ngày nào. Nhưng trận đánh ngày hôm trước do vua Trần chỉ huy, theo chúng tôi, đúng là trận đánh ở Bình Lệ Nguyên ngày 12 tháng chạp chép trong Toàn thư (q.5, t.22a). Vì thế, trận ở Phù Lỗ là vào ngày 13 tháng chạp. Cầu Phù Lỗ (Toàn thư có chép đến cầu Phù Lỗ năm 1449) là cầu qua sông Cà Lồ, nằm trên đường quốc lộ số 2 ngày nay. Chúng tôi cho rằng khi quân ta từ bến Lãnh Mỹ rút lui theo sông Cà Lồ thì quân Mông Cổ vẫn tiếp tục theo con đường bộ nay là quốc lộ số 2 tiến về Thăng Long. Vua Trần theo đường sông đến Phù Lỗ, cho phá cầu, dàn trận ở đấy là để ngăn quân Mông Cổ dang tiến theo đường quốc lộ số 2, con đường này nhất định phải qua cầu Phù Lỗ.

9.   An Nam chí lược q.4 chép rằng quân Mông Cổ “Theo dọc sông hướng lên trời mà bắn, xem chỗ nào tên rơi xuống nước mà không nổi thì biết là chỗ nông”. Chúng tôi cho rằng có lẽ phải bắn thẳng xuống nước, vì bắn lên không rồi cho tên rơi tự do thì ngay ở chỗ nông cũng khó cắm xuống đáy. Sông Cà Lồ từ thời Lý đến thời Lê được khai vét nhiều lần, điều đó chứng tỏ sông này thường bị cạn. Do đó chúng ta thấy rằng việc vượt sông theo chỗ nông của kỵ binh Mông Cổ là có khả năng.

10.   An Nam chí lược q.4 Chinh thảo vận hướng.

11.   Toàn thư q.5, t.23a. Việt sử thông giám cương mục - Chính biên q.5 chú thích rằng “Đông Bộ [đầu] là Đông Tân (bến đông) sông Nhị Hà ngày nay”. An Nam chí [nguyên](q.2) chép: “Bến Đông Tân (Đông Tân độ) ở huyện Đông Quan”. Đông Quan thời thuộc Minh là Hà Nội ngày nay. Đại Nam nhất thông chí cũng chép bến Đông Tân ở Hà Nội. Theo bi ký năm Chính Hòa 24 (1703) ở chùa Hồng Phúc (tức chùa Hòa Giai ở phố Hàng Than Hà Nội) thì Đông Bộ Đầu ở phường Hòe Nhai thời Lê. Vậy Đông Bộ Đầu là bến sông Hồng ở vào khoảng từ dốc Hàng Than đến dốc phố Hòe Nhai, Hà Nội hiện nay, phía trên đầu cấu Long Biên (xem Trần Quốc Vượng - Vũ Tuấn Sán, Xác định địa điểm Đông Bộ Đầu. “Nghiên cứu lịch sử” số 77).

12.   Toàn thư q.5, t.22b. Cương mục - Chính biên q.6 chú thích: “Sông Thiên Mạc, tức hạ lưu sông Phú Lương, ở Mạc Trù châu huyện Đông Yên tỉnh Hưng Yên”. Như vậy sông Thiên Mạc là khúc sông Hồng chảy qua vùng bãi xã Mạn Trù, huyện Khoái Châu (trước là Đông Yên) tỉnh Hưng Yên ngày nay.

        Chúng tôi cho rằng quân Trần từ Phù Lỗ rút về Đông Bộ Đầu rồi từ đó mới rút về sông Thiên Mạc theo sông Hồng. Toàn thư chép rằng sau trận Bình Lệ Nguyên, vua Trần đã rút về sông Lô (tức sông Hồng), không nói đến trận Phù Lỗ. Theo chúng tôi tài liệu An Nam chí lược chép đủ hơn về điểm này.

13.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.25b, An Nam chí (q.2) của Cao Hùng Trưng chép rằng: “Sông Đại Hoàng ở phủ Lý Nhân, trên tiếp sông Lô (tức sông Hồng - T.G.)”. Cương mục (q.6) chú: “Hoàng Giang Ở huyện giới huyện Nam Xang phủ Lý Nhân, tiếp trên sông Thiên Mạc, dưới tiếp sông Giao Thủy”. Như vậy, Hoàng Giang hay sông Đại Hoàng là khúc sông Hồng chảy qua vùng Lý Nhân (Nam Hà) phía dưới sông Thiên Mạc.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 03:07:26 pm

        Thăng Long bỏ trống. Trước bốn cửa thành, không còn bóng quân Tứ Sương1. Khi quân Mông Cổ kéo vào kinh thành, lực lượng của ta đã rút hết. Bọn giặc tìm thấy trong ngục những tên sứ mà U-ry-ang-kha-đai đã sai vào Đại Việt trước kia. Chúng đều bị trói chặt bằng thừng tre lằn sâu vào thịt. Khi cởi trói ra, một tên đã chết. Bọn xâm lược Mông Cổ điên cuồng, tàn phá Thăng Long để trả thù2.

        Giặc chiếm cứ kinh đô, đại quân phải rút lui, tình hình đó không khỏi làm cho một số ít người hoang mang dao động. Thái úy Trần Nhật Hiệu, khi vua đến hỏi kế đánh giặc, đã hoảng sợ đến nỗi chỉ ngồi trên thuyền lấy tay chấm nước viết hai chữ “nhập Tống” (chạy vào đất Tống) lên mạn thuyền. Y cũng không còn biết cánh quân Tinh Cương mà y chỉ huy ở đâu3. Nhưng trong toàn quân, toàn dân và trong triều đình, ý chí kiên quyết kháng chiến đến cùng vẫn chiếm ưu thế. Đại thần, tôn thất, tướng tá vẫn quây quần quanh vua, cùng vua mưu tính kế hoạch phản công địch. Lê Tần, tức Lê Phụ Trần, vẫn kín đáo ra vào dưới trướng bàn việc cơ mật4. Thái sư Trần Thủ Độ, người tướng già mưu lược, người đã xây dựng tổ chức vương triều Trần, lúc này càng tỏ rõ vai trò của mình. Khi Trần Thái Tông hỏi ý kiến, Thủ Độ đã trả lời: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” 5. Lời nói mà sử sách còn lưu truyền mãi mãi đó đã củng cố thêm tinh thần của vua Trần và quần thần. Lời nói kiên quyết đó, lòng tin tưởng sắt đá đó đồng thời cũng thể hiện ý chí của toàn dân.

        Triều đình lại tích cực củng cố lực lượng quân ngũ. Tướng tá, quân sĩ và cả hậu phương đều rộn rịp chuẩn bị phản công. Linh từ quốc mẫu đã đi thu thập tất cả những quân khí cất ở trong thuyền của các gia đình đi lánh nạn để gửi ra cho quân đội6. Sau một thời gian rất ngắn khẩn trương chuẩn bị, lực lượng đã hồi phục khí thế chiến đấu lại bừng lên. Trong khi đó quân Mông Cổ đã bắt đầu khổ sở và lúng túng vì thiếu lương thực trong một tòa thành trống7. Kẻ địch đã cố gắng tiến hành những cuộc cướp phá rộng ra vùng xung quanh Thăng Long nhưng ở đâu chúng cũng gặp sức chống trả mãnh liệt của nhân dân. Chẳng hạn như khi quân Mông Cổ tiến đến Cổ Sở (nay là xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây) nhân dân ở đây đã đoàn kết chiến đấu, bảo vệ xóm làng, đánh cho bọn chúng một trận tơi bời, đầu giặc rơi rụng, ngựa giặc ngã què, khiến lũ cướp nước phải tan tác bỏ chạy8.

        Điều kiện chủ quan và khách quan đó đã tạo nên một thời cơ rất tốt cho cuộc phản công. Ngày 24 tháng chạp năm Nguyên Phong thứ 7 (29/1/1258), Trần Thái Tông đã cùng thái tử Hoảng chỉ huy lâu thuyền ngược dòng Thiên Mạc, phá tan giặc ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại kinh thành9. Bị đánh bật khỏi Thăng Long, quân Mông Cổ quay đầu chạy dài về Vân Nam. Đang lúc chỉ mong thoát thân thì quân Mông Cổ lại bị dân tộc vùng núi ở trại Quy Hóa theo lời kêu gọi của trại chủ Hà Bổng đổ ra tập kích. Trận đánh bất ngờ này làm cho chúng thất bại rất nặng10. Bây giờ khác với thái độ nghênh ngang hung hãn khi tiến sang, bọn xâm lược Mông Cổ bị tan tác, len lén tìm đường trốn cho nhanh. Chúng không còn dám nghĩ đến chuyện cướp bóc đốt phá. Để chế giễu thái độ đó của chúng, người bấy giờ đã gọi chúng bằng cái tên khá mỉa mai là “giặc Phật” 11. U-ry-ang-kha-đai đem quân chạy ra khỏi biên giới, về Vân Nam, đóng ở thành Áp-xich12.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/CKC%20-%200066_zpszaarobll.jpg)

-----------------
1.    Theo Toàn thư, Bản kỷ q.5, t.6a thì từ năm 1230, hai bên tả hữu kinh thành Thăng Long đã chia làm 61 phường. Bốn cửa thành có quân Tứ Sương luân phiên canh gác. Trong thành dựng cung điện lầu gác và các lang vũ đông tây. Có cung Thánh từ ở bên trái và cung Quan Triều ở bên phải.

2.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.10.

3.   ,4 , 5  Toàn thư - Bản kỷ q.5, t22b.

6.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t22b.

7.   Kinh thế đị điển tự lục trong Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.563; Nguyên sử 1.209 An Nam truyện.

8.   Toàn thư q.2, t8b.

9.   Toàn thư q.5, t.22b. Tham gia trận này còn có thể có nhiều tướng khác nữa. Một số tài liệu như Trần đại vương bình Nguyên công thần thực lục Trần gia điển tích thông biên nói rằng trong lúc phản công này, Trần Quốc Tuấn “tiết chế mọi việc quân”. Toàn thư thì cho biết trong lần chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1258, Trần Khánh Dư đã thừa cơ tập kích giặc lập công lớn, được Thái Tông khen và nhận làm con nuôi. Có thể Khánh Dư đã tham gia trận này.

10.   Toàn thư q.5, t.22b chép: “Quân Nguyên về đến trại Quy Hóa, trại chủ là Hà Bổng chiêu tập người Man tập kích, giặc lại thua to”. Như vậy, có lẽ quân Mông Cổ đã rút lui theo đường hữu ngạn sông Hồng.

11.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.23a.

12.   Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện, t.4b. Theo Ngột Lương Hợp Thai truyện thì Áp-xích là đô của Ô-man (tức Qaraĵang), thành giáp Điền Trì, ba mặt đều là nước (t.3b). Cao Đại đời Minh, tác giả sách Hồng du lục, nói rằng: Áp-xích tức là Thiện Xiển… Thành Thiện Xiển giáp Điền Trì, ba mặt đều là nước, thời Nguyên là lộ Trùng Khánh”. Như vậy Áp-xích là ở Côn Minh. Theo Nguyên đại Vân Nam sử địa tùng khả của Hạ Quang Nam (t.151) thì Áp-xích là thành cổ ở sát Điền Trì, thuộc Côn Dương. Sách du ký của Marco Polo chép là Yachi, Jachi, Jachin. Ra-sit út-Đin chép là Yaji (Tập sử biên niên).


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 03:18:56 pm
        Viên tướng bách chiến bách thắng, con trai của Xu-bu-tai - Dũng sĩ (Sübütai - ba’atur) đã thất bại thảm hại như thế đấy. U-ry-ang-kha-đai đã từng theo Gu-y-uc (Güyük) đánh Nữ Chân miền Liêu Đông đã tấn công vào Ba Lan và Đức dưới cờ tây chinh của Ba-tu (Ba-tu) 1. Y cũng đã từng nhận lệnh cùng với Hu-lê-gu, tiến sang phía tây, đánh vào vương quốc Ba-gơ-đát (Bagdad) 2. Có lẽ trong đời chinh chiến của mình U-ry-ang-kha-đai chưa bao giờ bị thua nhục nhã như lần này. Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử đã cố gắng che đậy sự thất bại của quân Mông Cổ, đổ lỗi cho cái khỉ hậu uất nhiệt của phương Nam3. Nhưng vì sao một đội quân khoảng ba vạn tên, dưới quyền chỉ huy của những viên tướng lão luyện4 như vậy lại có thể rút khỏi kinh đô Đại Việt trong một thời gian rất ngắn? Phải chăng đúng như ý kiến của nhà sử học tác giả Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng “lúc đó, người Nguyên mới lấy Vân Nam, du binh xâm lược đến, không có ý đánh lấy” nước ta5? Hoàn toàn không phải như vậy! Nguyên sử đã cho chúng ta biết rõ âm mưu chiếm cứ nước ta của bọn xâm lược Mông Cổ: U-ry-ang-kha-đai vào Giao Chỉ “định kế ở lâu dài” 6. Nhưng mưu đồ đó đã không thực hiện được. Quân dân Đại Việt đã giáng cho bọn xâm lược một đòn chí mạng. Có thể nói chắc chắn rằng chiến công mùa đông năm Nguyên Phong thứ bảy (1258) này là do quân đội ta anh dũng, nhân dân ta miền xuôi miền ngược đồng lòng. Chiến công rực rỡ này cũng do ý chí kiên quyết của giai cấp phong kiến mà lúc này quyền lợi còn đang gắn liền với vận mệnh của nhân dân cả nước. Quân dân ta, dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, chẳng những đã phá tan mưu đồ chiếm đóng Đại Việt của Mông Cổ mà còn bẻ gãy gọng kìm của chúng tấn công vào mặt Nam của Nam Tống. U-ry-ang-kha-đai không còn mong từ Đại Việt tiến quân vào Ung, Quế nữa mà phải chạy trở về Vân Nam. Khi được lệnh của hãn Mông Ke sai tiến quân vào đất Tống để hội quân với Hốt Tất Liệt ở châu Ngạc, y đã phải dẫn quân từ Vân Nam vào châu Ung theo con đường trại Hoàng Sơn (phía đông huyện Ung Ninh, tỉnh Quảng Tây) 7. Con đường này hoàn toàn bất lợi đối với cuộc hành quân của U-ry-ang-kha-đa8. Nhưng y không thể nào làm khác được. Chiến thắng của nhân dân Đại Việt đã khiến cho âm mưu dùng Đại Việt làm căn cứ để tấn công Nam Tống của bọn xâm lược Mông Cổ hoàn toàn thất bại. Từ đấy cho đến khi đất nước Trung Quốc hoàn toàn rơi vào tay bọn ngoại tộc Mông Cổ, âm mưu đó không bao giờ được thực hiện9.

        Theo Ra-sit ut-đin, đạo quân ba vạn kỳ binh Mông Cổ của U-ry-ang-kha-đai kéo xuống Vân Nam, trước khi tiến lên châu Ngạc, còn lại không quá năm nghìn tên. Ở đây, chúng ta phải nói đến sự quật khởi của các dân tộc thiểu số vùng Vân Nam10 và sức chiến đấu ngoan cường của nhân dân Nam Tống11. Nhưng rõ ràng là cuộc chiến đấu và chiến thắng của nhân dân Đại Việt năm 1258 đã góp một phần vô cùng to lớn trong việc tiêu hao sinh lực cánh quân này.

        Sau khi đuổi kẻ thù ra khỏi kinh thành, quân Trần tiến vào Thăng Long. Ngày mồng một tháng giêng năm Mậu Ngọ (5/2/1258), trong buổi triều đầu tiên của một năm mới, Trần Thái Tông đã phong thưởng cho các tướng có công. Lê Tần tức Phụ Trần, viên dũng tướng ở trận Bình Lệ Nguyên được phong chức ngự sử đại phu12, tước Bảo Văn hầu13. Nhà vua đã nói với ông: “Trẫm không có khanh há lại có ngày nay!” 14. Người anh hùng dân tộc miền núi ở trại Quy Hoá là Hà Bổng cũng được phong tước hầu. Trần Khánh Dư được khen thưởng vì đã có công thừa cơ tập kích giặc15.

        Công lao của những người chiến thắng không phải chỉ được ghi một lần vào ngày đầu xuân năm đó. Trần Nhân Tông, ông vua anh hùng của cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ năm 1285 và năm 1288, trong một bài thơ của mình, đã có câu:

                                     “Bạch đầu quân sĩ tại,
                                      Vãng vãng thuyết Nguyên Phong” 16.

                                      (Còn có những người lính bạc đầu,
                                      Luôn luôn kể lại chuyện đời Nguyên Phong)


        Cuộc chiến đấu và chiến thắng năm Nguyên Phong thứ 7 không phải chỉ là một niềm tự hào của quân dân đời Trần mà mãi mãi được ghi trên những trang sử sáng chói của dân tộc Việt Nam anh hùng.

-----------------
1.    Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện, 3a.

2.   Nguyên sử q.3 Bản kỷ 3a. Nhưng về sau U-ry-ang-kha-đai không đi sang Bagdad.

3.   Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại, q.41, bản đã dẫn, t.563): “Ở lại chín ngày, vì nóng nực, rút quân về”. Nguyên sử q.209 An Nam truyện: “Quân ở lại chín ngày, vì khí hậu uất nhiệt bèn rút quân về”. Nguyên sử q. 121 Ngột Lương Hợp Thai truyện càng chép sai lầm hơn: “Quá bảy ngày, Nhật Cảnh (tức Trần Thái Công - T.G.) xin nội phụ, do đó đặt rượu đại khao quân sĩ, đem quân về thành Áp-xích”.

4.   Ngoài U-ry-ang-kha-đai, con trai y là A-ju cũng là một viên tướng giỏi của Mông Cổ. Về sau, A-ju là nguyên soái chỉ huy cuộc tấn công tiêu diệt Nam Tống.

5.   Toàn thư, Bản kỷ, q.r, 6.23a.

6.   Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện, t.4b.

7.   Nguyên sử q.121 Ngột Lương Hợp Thai truyện, t.4, Bình Vân Nam bi của Trình Cự Phu đời Nguyên (Nguyên văn loại q.23) chép U-ry-ang-kha-đai “đánh Giao Chỉ, phá kinh đô nước đó, thu 36 khe động ở Đặc Ma”. Đặc Ma nay là vùng Vân Sơn ở Vân Nam. Chúng tôi cho rằng U-ry-ang-kha-đai đã tiến quân từ Đặc Ma đến trại Hoành Sơn.

8.   Ra-sít ut-Đin, Tập sử biên niên II, bản đã dẫn, t.157.

9.   Nhà sử học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro đã dựa vào câu của Nguyên sử q.4 Thế tổ bản kỷ: “U-ry-ang-kha-đai (Ngột Lương Hợp Thai) chiếm đất các man, do Giao Chỉ đi qua Ung, Quế, đến Đàm Châu (tức Trường Sa, Hồ Nam - T.G.) nghe vua (chỉ Hốt Tất Liệt - T.G.) ở Ngạc (Vũ Xương, Hồ Bắc), sai sứ đến báo”, cũng như dựa vào Ngột Lương Hợp Thai truyện, Thiết-mại-xích (Tê-mê-tri, Tämäĉi)) truyện trong Nguyên sử mà nêu ý kiến rằng sau khi quân Mông Cổ đánh Việt Nam năm Hiến Tông thứ 7 đến năm thứ 8 (bắt đầu từ 5-2-1258) thì vua Trần sai sứ cống Mông Cổ và do đó, quân Mông Cổ lại tiến vào Việt Nam và tiến lên vùng Ung, Quế (Quảng Tây) để đánh Tống. Ông cho rằng quân Mông Cổ đã theo sông Hồng, đến đồng bằng Bắc Bộ, rồi lên vùng Lạng Sơn mà vào Quảng Tây (An Nam sử nghiên cứu, I, 1950, t.60-61). Chúng tôi cho rằng ý kiến của Yamamoto sai lầm. Câu của Thế tổ bản kỷ không có gì làm căn cứ vững chắc, Thiết Mại Xích truyện cũng chỉ chép là Mông Ke “đánh Tây Xuyên, sai U-ry-ang-kha-đai (Ngột Lương Cáp Thai) từ Giao Chỉ đánh vào Tống”. Như vậy chỉ là kế hoạch dự định. Trong khi đó thì Ngột Lương Hợp Thai truyện chép rõ rằng U-ry-ang-kha-đai sau khi về thành Áp Xích, năm Mậu Ngọ (1258), tiến công vào đất Tống rồi lại rút về Vân Nam, khi được lệnh Mông Ke mới đem quân đánh trại Hoành Sơn, cửa quan Lão Thương, tiến vào nội địa đất Tống (t.4b). Như vậy là khi tiến vào đất Tống, quân Mông Cổ không hề đi qua lãnh thổ Việt Nam. Chính sử Việt Nam không nói gì về điều này là chính vì thế chứ không phải Việt Nam đã quy phục nên đã để cho quân Mông Cổ đi qua lãnh thổ mà đến Quảng Tây một cách dễ dàng, không có sự xung đột như Yamamoto đã nói. Ý chí kiên quyết của vua Trần khi trở về Thăng Long, trói sứ Mông Cổ đuổi về, cũng như việc không cho Mông Cổ mượn đường đánh Chiêm Thành trong cuộc chiến tranh sau cũng cho phép chúng ta bác bỏ ý kiến của Yamamoto.

10.   Xem Nguyên sử q.121, Ngột Lương Hợp Thai truyện, 4b.

11.   Xem Hồ Nam an phủ sứ Lý công từ đường ký trong Nguyên văn loại q 31, bản đã dẫn, t.405.

12.   , 14 Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.23b, An Nam chí lược lại chép là Lê Tần được giữ chức nhập nội phán thủ.

13.   An Nam chí lược q.15.

14.   Toàn thư, q.5, t.23a.

15.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.42a.

16.   Trong bài “Xuân nhật yết Chiêu Lăng” (Ngày xuân bái yết Chiêu Lăng - lăng Trần Thái Tông). Xem Hoàng Việt thi tuyển.
 


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 03:33:46 pm

CHƯƠNG IV

THỜI KỲ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO
(1258-1284)

        “… Sứ giặc đi lại ngoài đường… thác mệnh Hốt Tất liệt mà đòi ngọc lụa…."  (Hịch tướng sĩ)
Trần Quốc Tuấn       

        Thăng Long giải phóng. Những ngày thanh bình trở lại trên đất nước. Dân nghèo và nô tỳ theo. vương hầu đi khai hoang. Những người thợ nề xây chùa Phổ Minh. Nhà sử học Lê Văn Hưu cặm cụi hoàn thành bộ sử của mình và Hàn Thuyên làm thơ nôm đuổi cá sấu ở sông Hồng.

        Nhưng không phải chỉ như vậy, từ 1258-1284 còn là thời kỳ những sứ bộ Mông Cổ phóng ngựa vào cửa kinh thành và những đoàn thuyền chiến tiến lên tập trận ở sông Bạch Hạc. Đó là thời kỳ của một cuộc đấu tranh ngoại giao quyết liệt giữa vương triều Trần và bọn phong kiến Mông Cổ thời kỳ của căm hờn, nhẫn nhục và kiên quyết.

        Nước Việt nhỏ bé ở phương Nam này dám đương đầu với đế quốc Mông Cổ hùng mạnh đang chiến thắng khắp nơi trên thế giới, không phải không gặp nhiều khó khăn. Vì thế, vương triều Trần phải áp dụng một chính sách ngoại giao hết sức khôn khéo trong những ngày hòa bình này. Đó là đường lối ngoại giao vừa mềm dẻo vừa cương quyết. Phải mềm dẻo, có thể có nhân nhượng với kẻ thù, để tránh được binh đao khi còn có thể tránh và có thì giờ chuẩn bị lực lượng, nhưng phải cương quyết, giữ vững nguyên tắc không để mất chủ quyền và tổn hại quốc thể. Dựa vào thực lực của quốc gia, của toàn dân, nhà Trần đã đối phó với bọn phong kiến Mông Cổ một cách linh hoạt. Cuộc bang giao Việt Mông trong hơn hai mươi lăm năm trời quả là một cuộc đấu tranh vô cùng gay go phức tạp.

        Năm 1258, ngay khi vừa bị đuổi chạy dài về đến Vân Nam, U-ry-ang-kha-đai đã sai ngay hai sứ sang dụ vua Thái Tông vào chầu. Căm phẫn vì thấy kinh đô Thăng Long bị tàn phá, Thái Tông với khí thế của người chiến thắng, đã sai trói hai sứ lại, đuổi về1. Đồng thời, vua Trần vẫn cho sứ sang Nam Tống cống voi và nói ý định truyền ngôi cho con2. Ngày 30 tháng 3 năm 1258 (24 tháng hai năm Mậu Ngọ), Thái tử Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông3. Lúc này, một phần vì sứ Mông Cổ nhiều lần sách nhiễu, một phần vì nhà Trần đã suy xét về thực lực của Mông Cổ và của Tống nên đã quyết định đặt quan hệ với Mông Cổ. Lê Phụ Trần - người tướng tài dũng cảm ở trận Bình Lệ Nguyên, lần này lại là một nhà ngoại giao. Ông cẩm đầu sứ bộ, Chu Bác Lãm làm phó, tiến vào đất địch. Từ Vân Nam, U-ry-ang-kha-đai đã dẫn họ đến gặp chúa Mông Cổ là Mông-ke bấy giờ ở vùng Thiểm Tây, đang tiến quân đánh Nam Tống. Sứ bộ này đã đi đến thoả thuận là định lệ ba năm cống một lần4.

        Toàn thư - Bản kỷ, q.5, t.24a, chép rằng tháng giêng năm Nguyên Phong 8 (5/2 – 6/3/1258) đời Trần Thái Tông, sứ Mông Cổ sang sách nhiễu tuế cống, vua còn phân vân chưa định nên sai Lê Phụ Trần đi sứ, Chu Bác Lãm làm phó. Nguyên sử - An Nam truyện và Hiên Tông bản kỷ lại chép rằng sau khi Quang Bính đổi niên hiệu là Thiệu Long thì mới sai con rể cùng người trong nước đem phương vật sang cống. Con rể chắc là chỉ Lê Phụ Trần vì trong lúc định công khen thưởng vào đầu năm này, nhà vua đã gả công chúa Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hoàng) cho Lê Phụ Trần. Có lẽ phái đoàn này đã đi vào niên hiệu Thiệu Long (Thánh Tông) như An Nam truyện đã chép.

        Chúa Mông Cổ liền sai Nu-rut-đin (Nur-ud-Dīn) 5, một tín đồ Hồi giáo, đưa thư sang Đại Việt. Nội dung bức thư như sau: “Trước ta sai sứ thông hiếu, các ngươi giữ lại không cho về, vì thế mới có việc xuất quân năm ngoái, làm cho chúa nước ngươi phải chạy ra nơi thảo dã. Ta lại sai hai sứ đến chiêu an, các ngươi lại trói đuổi sứ của ta. Nay đặc sai sứ sang dụ rõ ràng: nếu các ngươi thật lòng nội phụ thì quốc chủ phải thân đến, nhược bằng còn không sửa lỗi thì nói rõ cho ta biết” 6.

        Trước những lời đe dọa đó, Trần Thái Tông vẫn không sang chầu, chỉ trả lời một cách khôn khéo: “Nước nhỏ thành tâm thờ bề trên thì nước lớn đối đãi lại như thế nào?” 7. Nu-rút-đin trở về Vân Nam, U-ry-ang-kha-đai liền nói lại với tên thân vương Mông Cổ trấn giữ Vân Nam bấy giờ là Bu-kha (Buqa) 8. Thấy Thái Tông không chịu vào chầu, Bu-kha lại sai Nu-rut-đin sang Đại Việt lần nữa. Vua Trần đã lựa lời lảng tránh: “Đợi đức âm ban xuống sẽ lập tức sai con em sang làm con tin”. Bu-kha sai Nu-rut-đin trở về tâu với hãn Mông-ke9.

-----------------
1.    Nguyên sử, q.209, An Nam truyện. Kinh thế đại điển tự lục (trong Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.563) chép rằng U-ry-ang-kha-đai “về đến 37 bộ Quỷ Phương, lại sai hai sứ sang chiêu dụ Thắng (tức Thái Tông - T.G.). Thắng về nước, căm phẫn vì bị tàn phá, đuổi hai sứ về”, 37 bộ Quỷ Phương là 37 bộ mà Lý Kinh đời Nguyên đã nói đến trong Vân Nam chí lược (bản trong Thuyết phu, t.7b) hay 37 bộ lạc Ô-man trong Bình Vân nam bi của Trình Cự Phu đời Nguyên (trong Nguyên văn loại, q.23, bản đã dẫn, t 283). Kinh thế đại điển tự lục mục Chinh phạt Vân An lại chép là 37 bộ Ô-bạch-man (Nguyên văn loại, q.41, bản đã dẫn, t.565. Như vậy 37 bộ Quỷ Phương là chỉ 37 bộ [lạc] người Di ở Vân Nam.

2.   Toàn thư- Bản kỷ q.5, t.24a, An Nam chí lược q.6.

3.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.24a. Bấy giờ Thái Tông Cảnh đã làm Thượng hoàng, Thánh Tông Hoảng đã lên ngôi nhưng đối với Mông Cổ thì Thái Tông vẫn là vua An Nam với cái tên Quang Bính. Trong mọi việc ngoại giao như đón tiếp sứ Mông Cổ, nhận thư Mông Cổ và viết thư trả lời đều do Thái Tông. Mông Cổ đòi vua Việt vào chầu, nghĩa là đòi Thái Tông (Quang Bính) vào chầu chứ không phải đòi Thánh Tông. An Nam truyện chép rằng “Nhật Cảnh truyền ngôi cho con trưởng là “Quang Bính” là lầm. Xét An Nam chí lược ngay cả những chỗ khác của An Nam truyện thì Cảnh và Quang Bính là một. Còn Thánh Tông thì trong thư từ trao đổi giữa Đại Việt và Mông Cổ, có tên là Nhật Huyên.

4.   Toàn thư - Bản kỷ, q.5, t.24a, chép rằng tháng giêng năm Nguyên Phong 8 (5-2 - 6-3-1258) đời Trần Thái Tông, sứ Mông Cổ sang sách nhiễu tuế cống, vua còn phân vân chưa định nên sai Lê Phụ Trần đi sứ, Chu Bác Lãm làm phó. Nguyên sử - An Nam truyện và Hiên Tông bản kỷ lại chép rằng sau khi Quang Bính đổi niên hiệu là Thiệu Long thì mới sai con rể cùng người trong nước đem phương vật sang cống. Con rể chắc là chỉ Lê Phụ Trần vì trong lúc định công khen thưởng vào đầu năm này, nhà vua đã gả công chúa Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hoàng) cho Lê Phụ Trần. Có lẽ phái đoàn này đã đi vào niên hiệu Thiệu Long (Thánh Tông) như An Nam truyện đã chép.

5.   Nguyên sử, q.209 An Nam truyện chép là Nột Lạt Đinh, Toàn thư q 5 và An Nam chí lược q.3 chép là Nậu Lạt Đinh. Yamamoto Tatsuro cho rằng Nột Lạt Đinh cũng là Nạp Tốc Lạt Đinh đến Đại Việt năm 1261 mà Thế tổ bản kỷ đã chép (An Nam sử nghiên cứu I, t.66). Chúng tôi thấy chưa có lý do gì để đồng nhất hai người này. Nạp Tốc Lạt Đinh thì rõ ràng là Nãsir ud-Dīn (Nguyên sử, q.125), còn Nột Lạt Đinh hay Nậu Lạt Đinh, theo chúng tôi, chỉ có thể là phiên âm tên Nur ud-Dīn. Những tên có chữ Dīn này là tên của tín đồ Hồi giáo (Dīn, tiếng A Rập, có nghĩa là tín ngưỡng, tôn giáo. Xem J.H.Kramers: Les noms musulmans composés avec Dīn, “Acta orientalia”, 5).

6.   , 7 Nguyên sứ q.209, An Nam truyện t.1b.

8.   Nguyên sử. An Nam truyện chép là Bất Hoa.

9.   Nguyên sứ q.209, An Nam truyện t.1b.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 03:45:07 pm

        Bấy giờ Mông-ke đang tiến quân vào vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc. Năm 1259, Mông-ke đem quân vây Hợp Châu (tức Hợp Xuyên, Tứ Xuyên). Tướng Tống là Vương Kiên đã đoàn kết quân dân, giữ vững tòa thành nhỏ trên núi Điếu Ngư, anh dũng chống cự với giặc trong suốt năm tháng ròng. Ngày 11 tháng tám năm 1259, Mông-ke trúng đạn chết1. Hàng vạn quân Mông Cổ đã thất bại nặng nề phải rút đi trước thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu này2.

        Mông-ke chết, em Hốt Tất Liệt là A-ric Bu-ke (Arĩq-Bükä) 3 chiếm quốc đô Mông Cổ Kha Ra Khô Rum (Qa-raqorum) tranh ngôi hãn. Nghe tin đó, Hết Tất Liệt vội vàng ngừng cuộc tấn công Ngạc Châu, rút quân về Bắc. Năm 1260, Hốt Tất Liệt đã không triệu tập Khu Rin Tai (Quriltai, tức đại hội quý tộc), phá bỏ truyền thống cũ của chế độ tuyển cử Mông Cổ, tự xưng là đại hãn ở Khai Bình (sau đổi là Thượng Đô, ở phía đông nam Dolon-nor khu tự trị Nội Mông ngày nay) tiến hành cuộc chiến tranh chống A-ric Bu-ke.

        Cuộc nội chiến đó đã khiến Hốt Tất Liệt phải tạm ngừng việc tấn công xâm lược Nam Tống và đối xử nhân nhượng hơn với Đại Việt.

        Ngày mồng 5 tháng 1 năm 1261, Hốt Tất Liệt sai Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn mang chiếu thư sang Đại Việt4. Trong chiếu thư có đoạn: “… Mới rồi thú thần nước Đại Lý là an phủ Nê-ji-mut-Đin (Neĵm ud-Dìn) 5 chạy trạm dâng biểu nói cho ta biết nước ngươi thực lòng hướng phong mộ nghĩa. Lại nghĩ trước kia vào thời tiên triều, khanh đã từng thần phục, từ nơi xa cống dâng phương vật, cho nên nay ban chiếu chỉ, sai lễ bộ lang trung Mạnh Giáp sung chức An Nam tuyên dụ sứ và lễ bộ viên ngoại lang Lý Văn Tuấn sung chức phó sứ sang hiểu dụ cho quan liêu sĩ thứ nước ngươi biết rõ: phàm áo mũ, điển lễ phong tục, cứ theo chế độ cũ của nước mình, không phải thay đổi. Như nước Cao Ly mới rồi sai sứ sang xin, hiện đã xuống chiếu cho hết thảy y theo lệ ấy6. Ta đã cấm các biên tướng ở vùng tỉnh Vân Nam không được tự tiện đem quân xâm phạm bờ cõi nước ngươi, quấy rối nhân dân nước ngươi. Quan liêu sĩ thứ nước ngươi hãy cứ yên ổn làm ăn như cũ…”7.

        Đấy là những lời lừa phỉnh giảo quyệt của Hốt Tất Liệt, vì bấy giờ, y đang dốc tất cả quân lực vào cuộc chiến tranh chống A-ric Bu-ke ở Mông Cổ, U-ry-ang-kha-đai cũng trở về Bắc tham gia cuộc nội chiến đó8, làm sao còn có thể “tự tiện đem quân xâm lược bờ cõi” “quấy rối nhân dân” được. Tất nhiên nhà Trần không bao giờ tin vào những điều dối trá đó mà vẫn lo tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình. Từ tháng 3 năm 1261, đinh tráng ở khắp các lộ được tuyển lựa để bổ sung vào quân ngũ. Ở các phủ, lộ, huyện cũng thành lập các phong đội, tức các đội quân địa phương9.

------------------
1.    Trùng Khánh chí chép Mông-ke trúng đạn chết còn Ra-sít ut-đỉn lại chép Mông-ke chết vì bệnh lỵ (Tập sử biên niên, bản dịch tiếng Nga, II, t 146).

2.   8 Tinh thần chiến đấu dũng cảm của Vương Kiên và các tướng Tống đã được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ca tụng và nêu cao trong bài Hịch tướng sĩ: “Vương Công Kiên là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào? Mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khiến cho sinh linh Tống đến nay còn đội ơn sâu”.

3.   Nguyên sử chép là A Lý Bất Kha. Thời Thanh Càn Long, đổi là Ngạch Loát Bố Cách.

4.   Nguyên sử q.4 Thê Tổ bản kỷ t.6b chép: “Tháng 12, ngày Bính Thân, sai lễ bộ lang trung Mạnh Giáp, lễ bộ viên ngoại lang Lý Văn Tuấn sứ An Nam”. Ngày Bính Thân tháng 12 năm Trung Thống 1, tức ngày mồng 3 âm lịch. Tờ chiếu in trong An Nam chí lược (q.2) cũng đề ngày 3 tháng 12 năm Trung Thống 1 (5-1-1261). Toàn thư (q.5, t.26b) lại chép tháng 6 (29-6 - 28-7-1261), Mông Cổ sai Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn mang thư đến. Như vậy là Toàn thư chép ngày sứ đến.

5.   Nguyên sử, An Nam truyện (1b) phiên âm là Nhiếp Chỉ Mạch Đinh. An Nam chí lược q.2. Đại Nguyên chiếu chế chép là Nhiếp Mạch Đinh. Cũng như Nur ud-Dīn, Neĵm ud-Dìn là một người Hồi giáo. Bấy giờ, Vân Nam là nơi tập trung nhiều tín đồ Hồi giáo người Tây Á (xem Tập sử biên niên của Ra-sit ut-Đin và du ký của Mác Cô Pô Lô). Bọn chúa Mông Cổ thường dùng họ làm quan lại ở Vân Nam. Qua lời tâu của Neĵm ud-Dìn, chúng tôi cho rằng triều đình Trần đã cố sức lôi kéo, mua chuộc những tên quan Hồi giáo ở Vân Nam. Điều này được chứng thực rõ ràng hơn trong những phần sau.

6.   Triều Tiên (bấy giờ gọi là Cao Ly, Koryo) đặt quan hệ ngoại giao với Mông Cổ từ năm 1218. Năm 1224, sứ Mông Cổ bị giết, quan hệ ngoại giao bị cắt đứt. Năm 1231, Ô-gô-đây (Őgodai) sai tướng đánh Triều Tiên. Vua Triều Tiên là Cao Tông Triệt xin hàng. Mông Cổ đặt 72 viên Đa-ru-ga-tri ở Triều Tiên. Kỳ thực, Cao Tông chỉ hàng mặt ngoài, năm 1232 đã dời đô ra đảo Giang Hoa, gọi là Giang Đô, tiếp tục chông Mông Cổ. Quân Mông Cổ lại vượt sông Áp Lục, tấn công Triều Tiên, nhưng viên chỉ huy Sartaq (Tả Lễ Tháp) tử trận, phải rút. Từ năm 1246, năm nào Mông Cổ cũng đem quân xâm lược. Năm 1259, Cao Tông phải cho thái tử Điển làm con tin ở Mông Cổ. Năm đó Cao Tông chết, Điển về nước làm vua tức Nguyên Tông. Nguyên Tông lại dời đô từ Giang Đô về đô cũ Ở Khai Thành. Con trai y lại lấy công chúa Mông Cổ. Từ đó bọn vua chúa Triều Tiên hoàn toàn phản bội nhân dân, đầu hàng Mông Cổ. Ở đây, trong thư gửi vua Trần, Hất Tất Liệt nhắc đến chiếu thư gửi vua Cao Ly. Đó là thư gửi cho Nguyên Tông ngày 21 tháng 8 năm 1260. Có thể xem nguyên văn tờ chiếu này trong sử biên niên Triều Tiên như Cao Ly sử của Trịnh Lân Chỉ, q.25, Thế gia, bản in lại của Viện Khoa học Triều Tiên năm 1957, tập I, t.385.

7.   Nguyên văn tờ chiếu thư này chép ở trong An Nam chí lược (q.2 Đại Nguyên Chiếu chế), Nguyên sử, An Nam truyện và Toàn thư (q.5, t.26b) đều có chép tóm tắt.

8.   Ra-sit ut-Đin, Tập sử biên niên, bản đã dẫn, tập II.

9.   Toàn thư q.5, t.26a-26b chép vào tháng 2 năm Thiệu Long 4 (3/3 – 31/3/1261).


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 04:31:07 pm

        Nhưng mặt khác, triều đình Trần vẫn lợi dụng tờ chiếu của Hốt Tất Liệt để đấu tranh với Mông Cổ nhằm bảo vệ chủ quyền, quốc thể, vạch trần bộ mặt giả dối và âm mưu xâm lược của bọn chúng. Khi Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn trở về, Trần Thái Tông sai thông thị đại phu Trần Phụng Công, chư vệ ký ban Nguyễn Thám và viên ngoại lang Nguyễn Diễn sang thông hiếu xin ba năm cống một lần. Hốt Tất Liệt phong cho Trần Thái Tông là An Nam quốc vương1. Ngày 19 tháng 8 năm 1261, vua Mông Cổ sai Na-xi-rut-đin (Nāsir ud-Dĩn) và Mạnh Giáp đi sứ Đại Việt2. Như vậy là trên danh nghĩa từ đây Đại Việt đã thần phục Mông Cổ. Bọn phong kiến Mông Cổ càng muốn biến Đại Việt thành một thuộc quốc của chúng mà không cần dùng đến tên cứng và ngựa mạnh. Hốt Tất Liệt yêu sách vua Trần phải tăng cống phú và đặc biệt là đòi phải để cho Mông Cổ đặt chức đa-ru-ga-tri (daruači) 3 ở Đại Việt. Đa-ru-ga-tri là chức quan thống trị mà đế quốc Mông Cổ đặt ở các nước bị chiếm để kiểm soát mọi công việc của nước đó.

        Tháng 10 năm 1262, Hốt Tất Liệt gửi chiếu thư cho vua Trần: “Khanh đã gửi đồ lễ xin làm bề tôi, vậy bắt đầu từ năm Trung Thống thứ 4 (1263), cứ ba năm cống một lần, hãy chọn nho sĩ, thầy thuốc, người giỏi âm dương bói toán, các loại thợ, mỗi thứ ba người, cùng dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, châu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, vải trắng, chén sứ đem cả đến một lúc. Ta vẫn cử Nu-rut-đin (Nur ud-Din) làm Đa-ru-ga-tri, đeo hổ phù đi lại trong nước An Nam4.

        Tháng 12 năm 1262, một sứ bộ mười người do Ma-hơ-mut (Mahmũd) tín đồ Hồi giáo cầm đầu lại đến Thăng Long hạch sách về lễ khánh hạ5.

        Như vậy là bọn thống trị Mông Cổ càng ngày càng lấn tới. Chúng muốn vơ vét đồ cống phú nhiều hơn, đồng thời chúng tưởng rằng với một tên Đa-ru-ga-tri đeo hổ phù nghênh ngang hoành hành trên đất nước Đại Việt là có thể khuất phục được vương triều Trần, nô dịch được nhân dân ta.

        Không, những mưu toan đó của Hốt Tất Liệt không thể nào làm nhà Trần và nhân dân Đại Việt khuất phục. Từ tháng 3 năm Nhâm Tuất (22/3 – 19/4/1262), vua Trần đã ra lệnh cho các lộ chế tạo vũ khí và chiến thuyền. Các đội quân thủy lục được lệnh tập trận ở bãi phù sa sông Bạch Hạc6. Năm 1263, Trần Thủ Độ lại đi tuần ở vùng Lạng Sơn7. Tất cả những việc đó nói lên rằng nhà Trần không hề xao lãng việc chuẩn bị lực lượng phòng thủ và chiến đấu của mình. Nhưng bên ngoài, nhà Trần đã đối phó với bọn phong kiến Mông Cổ hết sức khéo léo. Đứng trước những việc o ép sách nhiễu ngày càng tăng của chúng, nhà Trần tuy có nhân nhượng hơn ở một số điểm nhưng đồng thời lại kiên quyết không chịu nhượng bộ ở một số điểm khác. Về mặt cống phú, vua Trần vẫn sai sứ mang lễ vật nộp đều đặn ba năm một lần, có khi chưa đến kỳ nhưng gặp dịp “tạ ơn” hãn Mông Cổ gì đó thì vua Trần cũng cho đưa cống phẩm sang8. Nhưng còn việc chúa Mông Cổ đòi các loại người thì nhà Trần nhất định không chịu nộp và năm 1267, vua Thái Tông đã sai Dương An Dưỡng đem biểu sang xin miễn9. Mặt khác, vương triều Trần tạm để cho Mông Cổ đặt chức Đa-ru-ga-tri ở Đại Việt nhưng đồng thời đã tìm mọi cách ngăn trở khiến cho viên quan này không làm được nhiệm vụ của y, không thực hiện được âm mưu của bọn thống trị Mông Cổ. Trên thực tế, Nu-rut-đin (Nur ud-Dīn) tên Đa-ru-ga-tri đầu tiên này chỉ như một sứ giả của Mông Cổ. Nu-rut-Đin sang Đại Việt năm 1262 nhưng đến tháng 12 năm 1263 y đã về nước10. Mãi đến tháng 3 năm 1266, Nu-rut-Đin mới trở lại Đại Việt11. Như vậy là trong một thời gian dài, tên Đa-ru-ga-tri này không có mặt ở nước ta. Hẳn nhà Trần đã khống chế Nu-rut-đin bằng nhiều biện pháp làm cho y không thể “đi lại trong nước An Nam” 12, dò xét tình hình. Để giữ bí mật, vua Trần đã ra lệnh cấm nhân dân không được nói chuyện với những người Hồi Hột (Uigur) 13 đang ở trên đất nước ta vì trong số họ có thể có những tên gián điệp Mông Cổ hoặc vì họ dễ tiết lộ tình hình nước ta với bọn sứ thần hay Đa-ru-ga-tri Mông Cổ. Như vậy là những nguồn tin tức đến với Nu-rut-Đin đã bị cắt. Chính vì thế mà Hốt Tất Liệt đã giận dữ và đe dọa:

        “… Lại ngay trong tờ tâu thường có câu “một nhà”. Ngay nghe Nu-rut-Đin (Nậu Lạt Đinh) nói ở đấy có lệnh cấm người Hồi Hột, không để cho giao đàm. Nếu quả như lời, thì cái nghĩa “một nhà” có lẽ nào như thế? Nghĩa vua tôi, thực như nghĩa cha con, có lẽ nào tôi, con mà lại trái vua, cha ư? Trẫm nếu không nói thì lại là đối đãi với ngươi không lấy thành thực. Ngươi nên nghĩ cho chín để toàn được thủy chung” 14.

        Mặc cho tên vua Mông Cổ muốn nói gì thì nói, vương triều Trần vẫn giữ vững đường lối của mình. Chẳng những tìm cách ngăn trở Nu-rut-Đin dò xét tình hình, nhà Trần còn dùng tiền bạc của cải mua chuộc tên Đa-ru-ga-tri người Hồi giáo này như đã mua chuộc những viên quan Hồi giáo khác ở Vân Nam15 khiến cho Nu-rut-đin không thể chi phối được triều đình Trần. Chính vì thế mà nhà Trần đã yêu cầu vua Mông Cổ cho y làm Đa-ru-ga-tri dài hạn16. Nhưng trước sự bất lực của Nu-rut-đin, năm 1268, Hốt Tất Liệt đã cử một tên Mông Cổ khác là Khu-rung Kha-y-a (Qurung - Qaya) 17 sang thay vì sợ Nu-rut-đin “thông tình” với Đại Việt18.

------------------
1.    Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.26b; Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.2a.

2.   Nguyên sử q.4 Thế- bản kỷ t.9a chép ngày Nhâm Ngọ tháng 7 năm Trung Thống 2 (19-8-1261) “Sai bọn Nạp Tốc Lạt Đinh và Mạnh Giáp đi sứ An Nam”. Có lẽ sứ bộ Mông Cổ này làm nhiệm vụ đưa sắc phong An Nam quốc vương của Hất Tất Liệt. Nạp Tốc Lạt Đinh (Nãsir ud-Dìn) này có lẽ là Nạp Tốc Lạt Đinh con của viên tỉnh thần Vân Nam Trại Điển Xích Thiêm Tư Đinh (Seïid Ajall Säms ud-Dìn) chép trong Nguyên sử q.125. Hai cha con đều là người Hồi giáo, vốn người ở Bu-kha-ra Trung Á (xem Ra-sit út-Đin Tập sử biên niên II). Về sau Nãsir ud-Dìn còn đem quân theo Thoát Hoan tiến vào Đai Việt.

3.   Nguyên sử và các thư tịch khác phiên âm là Đạt Lỗ Hoa Xích, từ đời Thanh Càn Long đổi ra là Đạt Lỗ Cáp Tề.

4.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.22a. Nguyên sử q.5 Thế Tổ - bản kỷ chép rằng tháng 9 năm Trung Thống thứ 3 “ngày Kỷ Vị (20-9-1262) Trần Quang Bính (tức Thái Tông - T.G.) nước An Nam sai sứ cống phương vật, ngày Nhâm Thân (3-10-1262) trao hổ phù cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính và Đạt Lỗ Hoa Xích (Đa-ru-ga-tri) Nột Lạt Đinh (Nu-rut-đin)”. An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên phụng sứ cũng chép: “Năm Trung Thống 3 (1262) sai Nậu Lạt Đinh (Nu-rut-Đin) làm Đa-ru-ga-tri ở An Nam”. Nu-rut-đin đã đi sứ Đại Việt năm 1258.

5.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.27b, Toàn thư chép sứ Mông cổ là Mã Hợp Bộ, Mã Hợp bộ là phiên âm của Mahmũd, tên Hồi giáo.

6.   7 Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.27b-28a.

8.   Tháng 2 năm 1263, vua Trần sai Điện tiền chỉ huy sứ Phạm Cự Địa và Trần Kiều sang cống voi (Toàn thư, q.5, t.28b; An Nam chí lược q.14). Tháng 12 năm 1263, viên ngoại lang Dương An Dưỡng, nội lệnh Võ Phúc Hoàn, thư xá Nguyễn Cầu và trung dực lang Phạm Cử lại được phái sang “tạ ơn” việc Hết Tất Liệt “ban” gấm cho Thánh Tông năm 1262, Nguyên sử An Nam truyện, (t.2a). “Tạ ơn” tất phải bằng lễ vật.

        Năm 1265, vua Trần lại sai sứ đi cống. Thế tổ bản kỷ chép: “Ngày Quý Hợi tháng 7 [Chí Nguyên 2] (8-9-1265) quốc vương An Nam Trần Quang Bính sai sứ dâng biểu đến cống, ngày Giáp Tý (9-9-1265) xuống chiếu ban cho Quang Bính lịch năm Chí Nguyên 3” An Nam chí lược q.3 đại Nguyên phụng sứ. “Chí Nguyên 2 (1265), sai thị lang Nịnh Đoan Phủ, lang trung Trương Lập Đạo sang sứ An Nam tuyên dụ chỉ”.

        Năm 1266, vua Trần lại sai sứ sang cống. An Nam chí lược chép: “Chí Nguyên 3, Bính Dần (1266), Trần Thái vương sai đại phu Dương An Dưỡng, Vũ Hoàn sang cống” Toàn thư chép: “Tháng 2 [Thiệu Long 9] (9-3 - 6-4-1266)… vua sai Dương An Dưỡng, Vũ Hoàn sang Nguyên báo sính (q 5, t.30a). Nhưng Nguyên sử - An Nam truyện lại chép tháng 12 [Chí Nguyên 3] (28-12-1266 - 26-l-1267) Dương An Dưỡng mới đến. Tờ chiếu của Hất Tất Liệt năm 1267 cũng có đoạn: “Khanh sai tiến cống không trái kỳ hạn ba năm” (An Nam chí lược q.23 Đại Nguyên chiếu chế). Tuy vậy, ta cũng cần thấy rằng không phải lúc nào nhà Trấn cũng cứ chịu răm rắp đúng hẹn là vào công. Năm 1268, là năm có hẹn cống, không thấy thư tịch chép đến việc sứ cống. Năm 1269, vì “An Nam vào cống không đúng hẹn” nên Mông Cổ đã cử Trương Đình Trân sang (Nguyên sử q.167 Trương Đình Trân truyện).

9.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện chép: “Tháng 12 năm [Chí Nguyên] thứ 3 (28-12-1266 - 26-1-1267). Quang Bính sai Dương An Dưỡng dâng ba đạo biểu. Đạo thứ nhất nói về tiến dâng phương vật. Đạo thứ hai xin miễn việc đòi tú tài và thợ. Đạo thứ ba xin cho Nu-rut-Đin (Nột Lạt Đinh) làm Đa-ru-ga-tri dài hạn” (t.2a).

10.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện: tháng 11 năm [Trung Thống] thứ 4 (2-12 - 31-12-1263), Nu-rut-Đin trở về...” (t.2a).

11.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.30a: “Tháng 2 [Thiệu Long 9] (9-3 - 6-4-1266), Nguyên sai Nu-rut-Đin (Nậu Lạt Đinh) đến…”.

12.   Lời chiếu của Hốt Tất Liệt năm 1262. Xem Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.2a.

13.   Hồi Hột hay Hồi Hoạt tức dân tộc Ui-gua (Uigur) ở Tân Cương. Các thư tịch đời Nguyên còn phiên âm là Úy Ngô hay Úy Ngô Nhi. Nay gọi là người Duy Ngô Nhĩ.

14.   Chiếu thứ năm Chí Nguyên 4 (1267). Xem An Nam chí lược q.2 đại Nguyên chiếu chế.

15.   Việc Mông Cổ sợ Nu-rut-Đin thông đồng với Đại Việt và việc triều Trần xin Nu-rut-đin làm Đa-ru-ga-tri dài hạn cũng cho chúng ta biết nhà Trần đã mua chuộc Nu-rut-Đin. Trong tờ biểu của Thánh Tông gửi vua Mông Cổ năm 1275, có đoạn: “Đến như các Đa-ru-ga-tri của thiên triều sai sang khi trở về họ lại về không” (An Nam truyện). Đoạn này phản ánh sự nhũng nhiễu của những tên Đa-ru-ga-tri nhưng mặt khác qua đó ta cũng có thể thấy rằng có khi nhà Trấn đã lợi dụng tính chất đó của bọn này để mua chuộc chúng (chẳng hạn sau này “đút lót” cho tên sứ Lương Tằng…).

        Ở trên, chúng tôi đã nói đến việc viên tỉnh thần Vân Nam người Hồi giáo Nê-ji-mut-Đin (Neĵm ud-Dìn) “nói tốt” cho Đại Việt. Về sau nhà Trần vẫn tiếp tục lôi kéo mua chuộc những viên tỉnh thần Hồi giáo Vân Nam khác, chẳng hạn như vua Trần đã kết làm anh em với viên binh chương trấn thủ Vân Nam là An-ian Sem-xut-đin (Seïid Aĵall Säms ud-Din ‘Omar, Nguyên sử phiên âm là Trại Điển Xích Thiêm Tư Đinh) người Hồi giáo quê ở thành Bu-kha-ra, bố của Na-xi-rut Đin (Nãsir ud-Din, Nạp Tốc Lạt Đinh) đã sang Đại Việt: Vua Trần đã đặt quan hệ thân thiện với Sem-xút-đin; khi y chết, vua Trần đã sai một sứ bộ 12 người đến tế khóc với bài văn tế rất bi thiết (Nguyên sử q.125. Trại Điển Xích Thiêm Tư Đinh truyện). Sở dĩ vương triều Trần phải làm như vậy là vì khi đế quốc Mông Cổ chưa chiếm được Nam Tống thì mọi quan hệ với Đại Việt đều thực hiện qua con đường Vân Nam.

16.   Dương An Dưỡng sang Mông Cổ xin việc này năm 1267. Xem Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.2a.

17.   An Nam chí lược chép là Hốt Long Hải Nha, Nguyền sử q.209 chép là Hết Lung Hải Nha. Từ thời Càn Long, đổi phiên âm là Hòa Lâm Cáp Nhã (xem Liêu Kim Nguyên sử ngữ giải q.23, t.12a. Cách phiên âm này sai vì các tác giả sách này đã cho rằng tên Mông Cổ là Qorin Qaya).

18.   Đại Việt sử ký q.5 chép: “Lúc vua mới lên ngôi, sai Dương An Dưỡng dâng ba đạo biểu, một là định cống vật, hai là xin miễn các loại người, ba là xin cho Nộp Lạt Đinh làm Đạt Lỗ Hoa Xích dài hạn. Vua Nguyên bằng lòng, sau lại sợ Nột Lạt Đinh thông tình với ta, không biết được động tĩnh nên sau lại ra lệnh đổi.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 04:38:00 pm

        Việc thay Nu-rut-Đin còn chứng tỏ rằng chính sách ngoại giao của Mông Cổ đối với Đại Việt đã thay đổi. Bấy giờ, tình hình nội bộ Mông Cổ đã tương đối ổn định. Năm 1264, A-ric Bu-ke (Aïq-bükä) đầu hàng Hốt Tất Liệt. Cùng năm đó, Hốt Tất Liệt dời đô về Yên Kinh, đô thành nổi tiếng mà người Mông Cổ gọi là Khan-ba-lic (Qanbalig, về sau đổi là Đại đô, tức Bắc Kinh ngày nay). Năm 1267, A-ju (Aĵu), con trai U-ry-ang-kha-đai (Uriyangqadai), viên bại tướng ở thành Thăng Long mười năm trước, nay lại chỉ huy bảy vạn quân, tấn công vào Tương Dương, mở đầu kế hoạch tiếp tục xâm lược Nam Tống của Hốt Tất Liệt. Đó cũng là lúc tên chúa Mông Cổ muốn tiến hơn một bước trong âm mưu nô dịch Đại Việt. Ngày 13 tháng 10 năm 1267 (ngày Mậu Thân (24), tháng 9, Chí Nguyên 4) Hốt Tất Liệt vừa mới chấp nhận ba đạo biểu của sứ thẩn Đại Việt Dương An Dưỡng thì hai ngày sau, ngày 15 tháng 10 (ngày Canh Tuất (26)), y đã ra một tờ chiếu khác, đòi Đại Việt phải thực hiện sáu việc:

        1 Quân trưởng phải vào chầu.

        2. Con em phải sang làm con tin.

        3. Kê biên dân số.

        4. Phải chịu quân dịch.

        5. Phải nộp phú thuế.

        6. Vẫn đặt chức Đa-ru-ga-tri để thống trị1.

        Đây là giọng xảo quyệt của Hốt Tất Liệt trong tờ chiếu:

        “Theo thánh chế của đức hoàng đế Thái Tổ (tức Čing-gis-qan, Thành Cát Tư Hãn - T.G.) thì phàm những nước quy phụ, quân trưởng phải thân vào chầu, con em phải làm con tin, lại phải kê dân số, chịu quân dịch, nộp thuế má, mà vẫn đặt quan Đa-ru-ga-tn (Đạt Lỗ Hoa Xích) để thống trị. Mấy việc ấy là để tỏ lòng thành thực thần phục. Khanh sai tiến cống không trái kỳ hạn ba năm, đủ tỏ lòng thành, cho nên ta lấy điển lệ của tổ tông ta đã định mà nhắc bảo, cũng là lấy lòng thành thực mà hiểu dụ. Vả lại quân trưởng sang chầu, con em làm con tin, lập sổ dân, định ngạch thuế, xuất quân giúp nhau, từ xưa cũng có, nào phải bây giờ mới đặt ra lệ ấy đâu?... Khanh làm được đủ các điều đó trẫm còn phải nói gì?” 2.

        Nhưng vua Trần làm sao có thể thừa nhận sáu điều đó được vì nếu như thế thì Đại Việt sẽ trở thành một thuộc quốc chịu sự thống trị trực tiếp của Mông Cổ, không còn một chút chủ quyền nào. Chính vì thế mà trong hơn mười lăm năm trời, vương triều Trần đã tìm mọi cách để không thực hiện những điều đó.

        Tháng 11 năm Chí Nguyên 4 (18/11 – 16/12/1267), Hốt Tất Liệt lại đòi nhà Trần phải đem nộp những thương nhân người Hồi Hột. Y mượn cớ là để biết tình hình Tây Vực3. Nhưng đấy chỉ là một sự dối trá, vì Tây Vực (vùng Trung và Tây Á) bấy giờ đã nằm trong bản đồ của đế quốc Mông Cổ và người Hồi Hột có phải chỉ có ở Đại Việt thôi đâu. Trong vùng kiểm soát của Mông Cổ, thương nhân Hồi Hột càng nhiều hơn. âm mưu của Hốt Tất Liệt chính là ở chỗ qua những lái buôn Hồi Hột này mà dò xét tình hình Đại Việt Chính vì thế mà y đã tức tối khi nghe tin vua Trần cấm nhân dân không được giao dịch với người Hồi Hột.

------------------
1.    Nguyên sử, An Nam truyện (2a) chép: “Tháng 9 năm [Chí Nguyên] thứ 4, sứ (chỉ Dương An Dưỡng - T.G.) về xuống chiếu trả lời bằng lòng (ba điều yêu cầu của vua Trần - T.G.)… chẳng bao lâu lại xuống chiếu dụ về sáu việc, Nguyên sử, Thế Tổ bản kỷ chép rõ về ngày tháng hơn: “Ngày Mậu Thân [tháng 9, Chí Nguyên 4] (13-lO-1267),… quốc vương An Nam Trần Quang Bính sai sứ đến cống, xuống chiếu trả lời. Ngày Canh Tuất (15-10-1267), lại xuống chiếu dụ nước An Nam, đòi quân trưởng đến chầu, con em vào làm con tin, biên dân số, xuất quân dịch, nạp phú thuế, đặt Đạt Lỗ Hoa Xích (Đa-ru-ga-tri) để thống trị”. An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên chiếu chế có chép hai bài chiếu của Hất Tất Liệt năm Chí Nguyên 4 (1267). Một bài có đề tháng 7 Chí Nguyên 4. Chúng tôi cho phải là tháng 9 mới đúng. Căn cứ vào nội dung thì đây là tờ chiếu ngày 15 tháng 10 năm 1267. Còn bài chép sau, thì lại là tờ chiếu ngày 13 tháng 10 năm 1267.

2.   An Nam chí lược q.2 Đại Nguyên chiếu chế. Tờ chiếu này đề tháng 7 Chí Nguyên 4. Nhưng căn cứ vào Nguyên sử bản kỷ, chúng tôi cho rằng đây là tờ chiếu ngày 15 tháng 10 năm 1267 (xem chú thích trên).

3.   Nguyên sử q.202 An Nam truyện.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 04:46:51 pm

        Năm 1267, Hốt Tất Liệt lại phong cho con là Hu-ghê-tri (Hügäĉi) 1 làm Vân Nam vương, đem quân xuống đóng ở Vân Nam. Đội quân của Hu-ghê-tri có nhiệm vụ khống chế các dân tộc thiểu số vùng Vân Nam đồng thời làm áp lực quân sự đối với Đại Việt2.

        Cảnh giác trước mọi âm mưu của kẻ thù, vương triều Trần đã ra sức tăng cường lực lượng vũ trang. Dọc biên giới, ven biển đều có lục quân thủy quân canh giữ. Luôn luôn báo về triều động tĩnh của quân Mông Cổ. Năm 1266, thủy quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới được tin quân Mông Cổ chuẩn bị xâm lược3. vì thế, năm 1267, nhà Trần đã định lại quân ngũ, mỗi quân 30 đô, mỗi đô 80 người, chọn những người tôn thất giỏi vũ nghệ và binh pháp làm tướng4. Lực lượng vũ trang này cũng là một trong những chỗ dựa cho chính sách ngoại giao kiên quyết của triều đình Trần.

        Năm 1268, Khu-rung Kha-y-a (Qurung - Qaya) được cử làm Đa-ru-ga-tri thay Nu-rut-Đin, Trương Đình Trân làm phó, sang Đại Việt, mang chiếu thư của Hốt Tất Liệt lần nữa đòi lái buôn Hồi Hột (Uigur) 5. Nhưng Trần Thái Tông đã không chịu. Trong thư gửi Hốt Tất Liệt tháng 12 năm 1269, Thái Tông nói: “Lái buôn Hồi Hột một người tên là I Ôn đã chết lâu ngày, một người tên Bà Bà vừa bị bệnh chết” 6. Không hẳn những người Hồi Hột đã chết ở Đại Việt, rõ ràng là vua Trần đã nhìn thấy âm mưu do thám của bọn thống trị Mông Cổ.

        Cho đến đó, chẳng những vua Trần không chịu nộp các loại người (thợ, thầy thuốc…) mà ngay việc nộp cống vật cho Mông Cổ cũng cố ý trì hoãn, thoái thác. Trong bức thư năm 1269, Thái Tông đã xin hoãn việc cống voi: “Theo lời Khu-rung Kha-y-a, bệ hạ muốn đòi mấy con voi lớn. Loài thú ấy thân thể to lắm, bước đi rất chậm chạp, không như ngựa của thượng quốc. Xin tuân sắc chờ đợi đến năm tiến cống sau sẽ đem dâng” 7. Năm 1271, Mông Cổ lại nhắc việc đòi voi và đồ cống thì năm 1272, vua Trần đã trả lời: “… Sứ đến nói việc đòi voi, trước vì sợ trái chỉ nên không dám nói thẳng là theo hay không theo chứ thật ra vì tượng nô không chịu rời nhà, khó sai họ đi, còn việc đòi nho sĩ thầy thuốc và thợ thì khi bồi thần nước tôi là bọn Lê Trọng Đà8 vào bệ kiến, gần uy quang trong gang tấc cũng không nghe chiếu dụ gì đến việc ấy. Huống chi từ năm Trung Thống thứ 4 (1263) 9 đã được đội ơn tha cho, nay lại nhắc đến, xiết nỗi kinh ngạc…”10.

        Về mặt nghi lễ ngoại giao đối với Mông Cổ, vua Trần đã hết sức khôn khéo đấu tranh để giữ được quốc thể. Không bao giờ Thái Tông chịu lạy chiếu thư của Hốt Tất Liệt. Khi Trương Đình Trân đến Thăng Long, Trần Thái Tông đã đứng nhận chiếu của vua Mông Cổ mà không lạy. Tên Hán gian đó còn căm tức vì vương triều Trần vẫn kết thân với nhà Tống nên hắn đã lên giọng dọa nạt: “… Nhà vua vẫn hòa mục với Tống, tưởng được cứu viện lúc gấp, nay trăm vạn quân đang vây kín ở Tương Dương, chim bay cũng không có lối, chỉ sớm tối là hạ thành, dồn quân qua sông, lật đổ kinh đô nước ấy dễ như bẻ cành khô, thế mà nhà vua còn dựa vào nơi bờ bể, cậy là môi với răng, tự tôn tự đại. Nếu tâu lên hoàng đế (vua Mông Cổ - T.G.), oai trời khẽ động, thì chẳng cần gọi đến quân Trung Quốc ở xa, mà mười vạn quân Vân Nam, hơn tháng là đến, sẽ biến vương miếu thành gò hoang, vương đình thành bãi cỏ, chẳng khó khăn gì…”11. Trương Đình Trân còn hống hách, đòi vua Trần phải tiếp đãi hắn theo lễ đối với tước vương. Thái Tông đã trả lời cứng cỏi: “Thánh Thiên tử thương tôi nhưng sứ giả đến nhiều người vô lễ. Ông là quan triều liệt12 còn tôi là vua, mà cũng ngang lễ với nhau, từ cổ có điều đó không?” 13. Thái Tông còn vặn Đình Trân: “Đã xưng là nước lớn sao lại còn đòi tê tượng” 14. Trước thái độ láo xược của Đình Trân, vua Trần đã sai vệ binh tuốt gươm trần đứng vây quanh để thị uy và sau đó, gần như là giam lỏng hắn15. Cái lễ vương nhân mà hắn muốn như thế đấy!

------------------
1.    Nguyên sử chép là Hốt Kha Xích.

2.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện chép: Tháng 11 Chí Nguyên 4 (18- 11 - 16-12-1267) “Chiếu phong hoàng tử làm Vân Nam vương, đi trấn các nước Đại Lý, Thiện Xiển (tức Côn Minh - T.G.), Giao Chỉ” (2b). Chiếu của vua Mông Cổ gửi vua Trần năm 1268 có đoạn: “Nay lại sai Vân Nam vương Hu-ghê-tri (Hốt Kha Xích) đem quân xuống phía Nam, khanh hãy tuân theo chiếu trước, nếu có bọn phản loạn không thần phục cướp bóc ở biên giới thì hay phát binh cùng đánh dẹp…”. (Nguyên sử, Thế Tổ bản kỷ).

3.   Toàn thư, q.5, t.80b: “Tháng 2 [Thiệu Long 9] (9-3 - 6-4-1266) thủy quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới đến Ô Lôi biết được kỳ hẹn sang xâm lược của Nguyên”.

4.   Toàn thư, q.5, t.31a-31b.

5.   Theo Nguyên sử,An Nam truyện (2b), tháng 9 Chí Nguyên 5 (8-10 - 5-11-1268) Khu-rung Kha-y-a (Hốt Long Hải Nha) và Trương Đình Trân sang Đại Việt. An Nam chí lược cũng chép “năm Chí Nguyên 5, sai Khu-rung Kha-y-a (Hất Long Hải Nha) đi sứ An Nam” (q.3). Nhưng Nguyên sử (q. 167) Trương Đình Trân truyện lại nói rằng Trương Đình Trân đến Đại Việt năm Chí Nguyên 6 (1269). Toàn thư chép: “Tháng 12 [Thiệu Long 12 (25-12-1269 - 22-1-1270), sứ nguyên là Lung Hải Nha (tức Hất Lung Hải Nha, Khu-rung Kha-y-a - T.G.) đến dụ các việc đã đòi, vua sai Lê Đà, Đinh Củng Viên sang Nguyên” (q.5, 32b). Có lẽ bọn Đa-ru-ga-tri Mông Cổ đi vào cuối 1268 và đến đầu 1269. Có thể Toàn thư đã chép nhầm tháng.

6.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Chúng tôi tìm được đúng tên của những người này. Chúng tôi ngờ rằng I-ôn là một tên Cảnh giáo (Nestorien, một ngành Cơ Đốc giáo). I-ôn có thể là Ion, tên thánh (Ion, Ioan, Jvan Jan, Jean, Johann…) Vào thế kỷ XIII, đã có nhiều người Uigur theo Cơ Đốc giáo.

7.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.2b.

8.   Toàn thư (q.5, t.32b) chép tháng 12, Thiệu Long 12 (25-12-1269 - 22-1-1270) Lê Đà, Đinh Củng Viên sang Mông Cổ. An Nam chí lược q.14 Trần Thị Khiển sứ chép: “Chí Nguyên Canh Ngọ (1270), sai đại phu Lê Đà, Đinh Củng Viên đi cống”.

9.   Có lẽ là năm Chí Nguyên thứ tư (1267) mới đúng vì đó là năm vua Mông Cổ chấp thuận ba đạo biểu của Dương An Dưỡng.

10.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.3a.

11.   Bài bia mộ Trương Đình Trân (Nam kinh lộ tổng quản Trương Công mộ chí minh) do Diêu Toại (1238 - 1314) soạn. Xem Diêu Toại Mục am tập, Vũ Anh điện tụ trân bản, q.28, t.2b. Đoạn này có chép sơ lược trong Nguyên sử q.167 Trương Đình Trân truyện t.3b.

12.   Trương Đình Trân làm triều liệt đại phu. Xem Nguyên sử q. 167, t.3b.

13.    14. Nguyên sử q.167 Trương Đình Trân truyện, t.3b-4a.

15.   Mộ chí Trương Đình Trân (Diêu Toại soạn năm 1287) có đoạn: “[Vua Trần] đem binh dọa ông, sao lực sĩ tuất gươm trần vây xung quanh. Ông tỏ vẻ uể oải nằm dài trong một căn phòng, vứt hết cung tên gươm giáo đeo bên người, nói với vệ sĩ là xem các người làm gì. Trời nắng, ông khát lắm. Mỗi lần lấy nước sông đưa đến đều nóng và tởm, không thể uống được. Ông đòi múc nước giếng, họ không chịu, nói rằng: “Tục nước chúng tôi, đã không ưa nhau thì thường bỏ thuốc độc vào trong giếng để giết người”. Ông nói: “Tự tôi yêu cầu, có chết không oán hận”. Cuối cùng, múc nước [giếng] cho uống”. (Xem Nam kinh lộ tổng quản Trương công mộ chí minh trong Mục am tập, bản đã dẫn, t.2b-3a). Mộ chí cũng như Nguyên sử đề cao Đình Trân, nhưng qua đoạn này, chúng ta có thể thấy vua Trần đã rất kiên quyết, và Đình Trân đã phải bỏ hết vũ khí, gần như là bị giam giữ.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 04:59:43 pm

        Kiên quyết giữ gìn quốc thể, vị Hoàng đế Đại Việt còn biết lợi dụng điển lễ Mông Cổ và chiếu thư của Hốt Tất Liệt để đấu tranh với bọn phong kiến Mông Cổ. Năm 1271, trung thư tỉnh Mông Cổ gửi điệp cho vua Trần, dẫn nghĩa sách Xuân thu để trách việc nhận chiếu không lạy và tiếp sứ không theo lễ vương nhân1. Năm 1272, trong thư trả lời, Thái Tông đã nói: “Nước tôi thờ phụng Thiên triều đã được phong tước vương, há không phải là vương nhân hay sao? Sứ Thiên triều đến lại xưng là vương nhân, nếu đãi ngang lễ thì sợ nhục triều đình. Huống chi nước tôi trước đã nhận được chiếu bảo cứ theo tục cũ (chiếu chỉ Hốt Tất Liệt năm 1261 - T.G.). Phàm nhận chiếu cứ để yên nơi chính điện còn mình thì lui tránh ở nhà riêng, đó là điển lễ cũ của nước tôi…”2.

        Từ năm 1271, Hốt Tất Liệt tiến thêm một bước trong việc củng cố địa vị thống trị của Mông Cổ ở Trung Quốc, đặt quốc hiệu là Nguyên. Nhân dịp đó, để thị uy, vua Nguyên đã cho sứ sang đòi vua Trần vào chầu. Thái Tông từ chối là có bệnh, không đi3.

        Năm 1272, vừa muốn điều tra địa thế, vừa muốn kiếm cớ hạch sách, Hốt Tất Liệt sai U-ry-ang (Uriyang) 4 sang hỏi cột đồng Mã Viện. Vua Trần cũng cho viên ngoại lang Lê Kính Phu cùng hắn di tìm. Nhưng chắc hẳn nhà Trần đã mua chuộc hắn, Lê Kính Phu chỉ đưa hắn đi hỏi han qua loa ở một vài nơi và không đến những địa điểm quan trọng bí mật về quân sự… Sau đó, nhà Trần đã trả lời rằng cột đồng Mã Viện dựng lâu ngày nay đã mai một không còn dấu vết5. Năm đó, Đồng Tử Dã và Đỗ Mộc được lệnh sang sứ Nguyên6. vua Mông Cổ đã sai Y-ê-si-nê (Yäšinä) làm Đa-ru-ga-tri thay Khu-rung Kha-y-a. Lý Nguyên làm phó. Năm sau, 1273, Y-ê-si-nê chết, Lý Nguyên thay làm Đa-ru-ga-tri và Kha-xa Kha-y-a (Qasar - Qaya) làm phó7.

        Năm 1273 là năm thành Tương Dương, sau sáu năm trời kiên trì chiến đấu, không được triều đình Nam Tống chi viện, đã thất thủ. Bọn xâm lược Mông Cổ dốc toàn binh lực, vượt sông Trường Giang, tiến sang một bước mới trong kế hoạch tiêu diệt Nam Tống. Năm 1274, Hốt Tất Liệt đã sai tướng đem binh thuyền đánh Nhật Bản. Trong tình hình đó, những tên Đa-ru-ga-tri Mông Cổ đến Đại Việt đã hoạt động ráo riết, hòng uy hiếp vương triều Trần, thực hiện âm mưu nô dịch của chúng.

        Trung thư tỉnh nhà Nguyên lại qua thư trách cứ, vặn lý về việc không lạy chiếu: “… Trong khoảng trời đất có hàng muôn nước mà mỗi nước có một phong tục riêng, nếu bắt thay đổi ngay có điều không tiện, nên cho phép được dùng phong tục bản quốc, nhưng có lễ tục nào lại nhận chiếu của Thiên tử mà không lạy?...” 8.

        Vương triều Trần đã đấu tranh để chống lại các yêu sách của vua Nguyên và đặc biệt là chống lại việc đặt Đa-ru-ga-tri một cách mạnh mẽ hơn trước.

        Trong thư gửi vua Nguyên tháng 2 năm 1275, Thái Tông đã viết: “… Hơn mười năm nay, tuy ba năm cống một lần, nhưng sai phái sứ thần đi lại mệt mỏi, chưa hề được nghỉ ngơi lấy một ngày. Còn như Đa-ru-ga-tri (Đạt Lỗ Hoa Xích) Thiên triều sai đến đất nước chúng tôi sao có thể về không, phương chi những kẻ sai đến, động tí gì là cậy thế chèn ép nước nhỏ… Vả lại Đa-ru-ga-tri chỉ nên đặt ở các vùng man di ngoài biên giới, còn tôi đã được phong vương, làm phên giậu một phương mà còn đặt Đa-ru-ga-tri để giám sát, há không bị các nước chư hầu cười cho hay sao. Sợ giám sát mà nộp cống sao bằng trong lòng vui phục mà nộp cống!... Tất cả quan lại thiên triều sai đến, xin đổi làm dẫn tiến sứ để tránh được cái tệ Đa-ru-ga-tri…”9. Chẳng những đòi bỏ Đa-ru-ga-tri mà vương triều Trần còn đòi cứ một lần nộp cống ở trung nguyên, một lần nộp cống ở Thiện Xiển (Côn Minh ngày nay) 10.

        Hốt Tất Liệt đã cự tuyệt những yêu cầu của vua Trần. Lúc này, bọn xâm lược Mông Cổ đang ồ ạt tấn công vào đất Tống. Năm 1275, mười ba vạn quân của tên thừa tướng hèn nhát nhà Tống là Giả Tự Dạo tan tác ở Vu Hồ chỉ trong một ngày. Ngạc Châu, Thường Châu, Kiến Khang (Nam Kinh) lần lượt bị tàn phá dưới vó ngựa Mông Cổ. Kinh đô Tống là Lâm An bị uy hiếp. Tống Thái hậu khóc mà xuống chiếu cần vương. Uy lực của Mông Cổ đã rất lớn trên đất Trung Quốc. Vì thế, tuy dốc tâm vào cuộc chiến tranh thôn tính Nam Tống, Hốt Tất Liệt vẫn không chịu nới lỏng miếng mồi Đại Việt. Vua Trần gửi thư vào tháng 2 năm 1275, thì tháng 3, Hốt Tất Liệt đã gửi chiếu thư yêu sách sáu việc cũ và cử Kha-xa Kha-y-a làm Đa-ru-ga-tri11. Y dùng những lời xảo trá hòng lừa bịp vua Trần.

        “Theo chế độ tổ tông ta đã định, phàm nước nội phụ thì quân trưởng phải thân vào chầu, con em phải làm con tin, lại phải kê sổ hộ khẩu, thu nộp thuế má, điều động dân giúp việc binh, lại đặt chức Đa-ru-ga-tri để thống trị. Sáu việc đó năm trước đã dụ cho khanh biết rồi. Thế mà quy phụ đã hơn mười lăm năm, quân trưởng chưa hề thân đến triều cận, mấy việc kia vẫn chưa thi hành, tuy ba năm có cống một lần, nhưng đồ cống cũng đều vô bổ. Nghĩ rằng khanh lâu ngày, khắc tự tính biết, nên bỏ qua mà không hỏi đến, sao mà đến nay vẫn chưa giác ngộ. Cho nên ta lại sai Kha-xa Kha-y-a (Qasar - Qaya, Hợp Tán Nhi Hải Nha) sang dụ ngươi vào chầu. Nếu vì cớ gì không vào chầu được, có thể sai con em vào thay. Ngoài ra số hộ khẩu bản quốc, nếu chưa có sổ sách nhất định thì tuyển binh thu thuế bằng vào đâu mà châm chước, như thế, nếu số dân quả là ít mà lại lấy nhiều thì sức không chịu nổi. Nay làm sổ hộ khẩu nước ngươi là muốn lượng xem nhiều ít mà định số binh số thuế. Còn gọi là điều binh cũng không phải là quân lính đi xa nơi khác, chỉ là theo thú binh tỉnh Vân Nam mà cùng hiệp lực với nhau…”12.

        Ngoài việc tăng cường sách nhiễu, bọn thống trị phong kiến triều Nguyên đã có những âm mưu mới về mặt quân sự. Tháng 11 năm Bảo Phù thứ 3 (19-11- 18-12-1275), tướng của nhà Trần ở biên giới phía Bắc báo về là Nguyên cho người đi tuần biên giới để dò xét địa thế13. Trước tình hình đó, Trần Thánh Tông đã cử Lê Khắc Phục và Lê Túy Kim sang cống và lại yêu cầu miễn sáu điều14. Mặt khác, đầu năm 1276, Thánh Tông cho Đào Thế Quang sang Long Châu vờ mua thuốc để điều tra tình hình Mông Cổ15.

---------------------
1.    Nguyên sử q.209 An Nam truyện, 2a. An Nam truyện chép Mông Cổ gửi điệp vào tháng 11, năm Chí Nguyên 7 (14-12-1270 - 12-1-1271). Thế tổ - bản kỷ chép: “Ngày Đinh Ty [tháng 11, Chí Nguyên 7] (4-l-1271) quốc vương A Nam Trần Quang Bính sai sứ đến cống, xuống chiếu trả lời”. Như vậy có lẽ Mông Cổ gửi điệp vào đầu năm 1271.

2.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.2a. An Nam truyện chép vua Trần trả lời vào tháng 12, năm Chí Nguyên 8 (3-l-1272 - 31-l-1272). Có một vài đoạn trong Nguyên sử như trong truyện Trương Đình Trân (1269), An Nam truyện (1278, Sài Thung đi sứ Đại Việt),… nói rằng vua Trần đã lạy chiếu Mông Cổ. Nhưng đó chỉ là sự bịa đặt nhằm đề cao vương quyền Mông Cổ và công lao, tài ba của những tên sứ đó thôi chứ trong thực tế, không bao giờ Trần Thái Tông chịu lạy chiếu. Truyện Trương Đình Trân chép việc vua Trần lạy chiếu trước những câu trả lời mạnh mẽ của Thái Tông và việc vua Trần sai vệ binh tuốt gươm thị uy, như vậy tỏ rằng điều đó không đúng vì đã có sự kiên quyết như thế thì trước đó, không thể có sự nhân nhượng. Hơn nữa, nếu vua Trần lạy chiếu năm 1269 thì sao năm 1271, Mông Cổ còn đưa thư trách về việc không lạy chiếu (An Nam truyện). Đến năm 1273, thư Mông Cổ còn có đoạn: “Mấy năm nay các sứ giả đi về đều nói những khi vương nhận chiếu của Thiên triều chỉ đứng chắp tay chứ không lạy, tiếp kiến sứ giả hoặc yến tiệc thì đều ngồi trên sứ giả…” (An Nam truyện. t.3a).

        Nguyên sử - Thế tổ bản kỷ cũng chép: “Ngày Mậu Ngọ [tháng 1, Chí Nguyên lo] (24-1-1273), sứ đi An Nam về, nói Trần Quang Bính nhận chiếu không lạy, trung thư đưa thư trách hỏi, Quang Bính nói rằng đó là theo bản tục”.

        Những tài liệu trên chứng tỏ rằng vua Trần đã không lạy chiếu Mông cổ không phải chỉ năm 1269.

3.   Toàn thư bản kỷ q.5, t.33a; An Nam chí lược q.13 Trần thị thế gia.

4.   Toàn thư chép là Ngột Lương.

5.   Toàn thư, q.5, t.33b.

6.   Toàn thư, q.5, t.33b, chép: “Sai Đồng Tử Đỗ, Dã Mộc đi Nguyên”. An Nam chí lược q.14 Trần Thị Khiển sứ chép: “Chí Nguyên Nhâm Thân (1272), sai đại phu Đồng Tử Dã Đỗ Mộc cống. Theo Nguyên sử, An Nam truyện (3b) thì năm 1274, vua Trần đã cho Đồng Tử Dã và Lê Văn Ẩn đến cống. Tuy chữ Dã ở An Nam truyện viết khác Toàn thư và An Nam chí lược nhưng rõ ràng là một người. Vì thế chúng tôi cho rằng An Nam chí lược chép đúng. Và Toàn thư đã chép ngược các tên, khác với ý kiến T.Yamamoto cho rằng An Nam chí lược chép ngược tên Đỗ Dã Mộc chép đúng trong Toàn thư (An Nam sử nghiên cứu I, t.82).

7.   Nguyên sử An Nam truyện t.3a chép: “Năm [Chí Nguyên] thứ 9 (1272), lấy Diệp Thức Niết làm Đạt Lỗ Hoa Xích (Đu-ru-ga-tri) An Nam, Lý Nguyên làm phó. Tháng 1 năm thứ 10 (21-l - l8-2-1273), Diệp Thức Niết chết, sai Lý Nguyên thay Thức Niết, lấy Hợp Tán Nhi Hải Nha làm phó”. Diệp Thức Niết là phiên âm tên Y-ê-si-nê (Yäšinä), Hợp Tán Nhi Hải Nha, là phiên âm tên Kha-xa Kha-y-a (Qasar - Qaya). An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên phụng sứ chép: “Năm Chí Nguyên thứ 7 (1270), sai Dã Thực Nạp làm Đạt Lỗ Hoa Xích (Đa-ru-ga-tri) An Nam, rồi chết ở nước đó”. Chúng tôi cho rằng An Nam chí lược đã chép lầm (hay in lầm) năm Chí Nguyên 9 ra Chí Nguyên 7 vì Dã Thực Nạp và Diệp Thức Niết chỉ là một người, cùng là viên Đa-ru-ga-tri chết ở Đại Việt. Chính âm của Dã Thực Nạp phải là* Yäšinä Y-a-si-na), rõ ràng là chuyển âm Yäšinä (Y-ê-si-nê), trong cổ âm Mông Cổ, dễ có sự biến âm giữa [a] và [ä].

8.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.3a.

9.   Nguyên sử q.209 An Nam chí lược t.3b. An Nam truyện chép rằng vua Trần gửi thư vào tháng 1 năm Chí Nguyên 12 (29-1-1275 - 26-2-1275).

10.   Như trên

11.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.3b. Thế Tổ bản kỷ chép: “Ngày Nhâm Thìn, tháng 1. [Chí Nguyên 12] (17-2-1275) sứ giả nước An Nam về, sắc lấy các việc cũ làm sổ hộ khẩu, đặt Đa-ru-ga-tri, kiểm quân lập trạm, nạp tô để dụ… Ngày Canh Ngọ, tháng 2 (27-3-1275) chiếu cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính, vẫn lấy sáu việc cũ để dụ, gọi vào chầu”. Toàn thư (q.5, t.34b) chép: “Mùa hạ, tháng 4 [Bảo Phù 4] (1276), Thế Tổ nhà Nguyên bình Giang Nam, sai Kha-xa Kha-y-a (Hợp Tán Nhi Hải Nha) đến dụ sáu việc điều dân, giúp quân. Vua đều không nghe”. Như vậy là Toàn thư đã chép lầm một năm.

12.   An Nam chí lược q.2 Đại Nguyên chiếu chế. Chiếu năm Chí Nguyên 12 (1275).

13.   Toàn thư q.5, t.34b.

14.   Toàn thư q.5, t.34b. An Nam cho lược q.14 Trần Thị Khiển sứ. “Chí Nguyên Ất Hợi (1275), sai đại phu Lê Khắc Phục, Lê Văn Tuý đi cống”. Nguyên sử - An Nam truyện: “Tháng 2 năm [Chí Nguyên] thứ 13 (17-2-1276 - 16-3-1276). Quang Bính sai Lê Khắc Phục, Văn Túy vào cống… và xin miễn sáu việc”. Lê Túy Kim chắc là Lê Văn Túy. Sứ bộ đi vào cuối 1275 và đầu 1276 mới đến

15.   Toàn thư q.5, t.34b.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 05:11:35 pm

        Năm 1277, Thượng hoàng Thái Tông mất, vua Trần sai trung thị đại phu Chu Trọng Ngạn, trung lượng đại phu Ngô Đức Thiệu sang báo với vua Nguyên1. Năm 1278, Thánh Tông nhường ngôi cho thái tử Khâm tức Nhân Tông2 nhưng đối với Mông Cổ, thì bấy giờ Thánh Tông mới lên ngôi. Hốt Tất Liệt lấy cớ vua mới không “xin mệnh” mà tự lập, ngày 20 tháng 8 năm 12783, sai lễ bộ thượng thư Sài Thung4 hội đồng quán sứ Kha-ra Tô-in (Qara-Toyin) 5, công bộ lang trung Lý Khắc Trung, công bộ viên ngoại lang Đổng Đoan sang trách hỏi. Lê Khắc Phục cùng đi về với sứ bộ này6.

        Trước đây, con đường qua lại của sứ thần Đại Việt và Mông Cổ là con đường qua Thiện Xiển (Côn Minh, Vân Nam), nhưng đến nay, theo lệnh của vua Nguyên, bọn Sài Thung đã đi thẳng từ Giang Lăng (Hồ Bắc) qua Ung Châu (Quảng Tây) để vào nước ta7.Vua Trần đã kiên quyết phản đối việc đó. Tháng 11 nhuận âm lịch (Chí Nguyên 15, 16-12-1278 - 13-l-1279), Sài Thung đến trại Vĩnh Bình ở Ung Châu, Thánh Tông đưa thư nói: “Nay nghe quốc công đến biên giới tôi, biên dân không ai là không lo sợ, không biết sứ nước nào mà đến lối đó, xin đem quân về đường cũ mà đi” 8 [/sup]. Sài Thung không chịu, lại còn hách dịch, đòi phải lên biên giới đón hắn. Triều đình Trần đành phải nhân nhượng chút ít, cho ngự sử trung tán coi thẩm hình viện Đỗ Quốc Kế lên đón Thung. Tháng 1 năm 1279, Thái úy Trần Quang Khải ra bờ sông Hồng đưa Thung vào sứ quán ở Thăng Long9. Ngày 17 tháng 1 (ngày 4 tháng chạp âm lịch), Sài Thung đọc chiếu thư của Hốt Tất Liệt.

        “… Trải bao nhiêu năm, lễ ý bạc dần, cho nên năm Chí Nguyên thứ 12 (1275) lại xuống chiếu đòi những việc thân vào chầu, giúp binh lính. Mới đây bọn Lê Khắc Phục đến, xem trong biểu chương, có điều không thực. Như nói nước ngươi quy phụ trước tiên, thì các nước bốn phương đến hàng phục trước nước ngươi có nhiều, sau ngươi thì có nhà Vong Tống… Thế thì điều ngươi nói không dối trá là gì? Lại nói Chiêm Thành [Chân Lạp], hai nước quấy rối, không thể giúp quân được thì những nước ấy ở gần nước ngươi không phải mới tự ngày nay. Đến như nói đường xa không vào chầu được thì sao bọn Lê Khắc Phục đến được? Hai điều ấy dối trá cũng đã rõ ràng!... Trước vì cha ngươi già yếu không thể đi xa, còn lượng tình được. Nay ngươi tuổi đang cường sĩ, vào chầu chịu mệnh, chính là phải thời. Huống hồ bờ cõi nước ngươi tiếp giáp với các châu Ung (Quảng Tây - T.G.), Khâm (Quảng Đông - T.G.) của ta thì sợ gì mà không sang được. Nếu ngươi không yên, cố ý kháng cự mệnh trẫm, thì ngươi cứ sửa đắp thành lũy, sắm sửa giáp binh, sẵn sàng mà đợi!...” 10.

        Qua những lời ngạo mạn láo xược của Hốt Tất Liệt, chúng ta cũng thấy được cuộc đấu tranh của vua Trần chống các yêu sách của Mông Cổ trong suốt hai mươi năm trời. Trong hai mươi năm đó, bọn phong kiến Mông Cổ càng ngày càng lấn lướt, nhưng cho đến nay, Hốt Tất Liệt mới thực sự đe dọa đem quân sang đánh Đại Việt. Tình hình đã căng thẳng hơn nhưng vua Trần vẫn không khuất phục. Dù chiến tranh có xảy ra, dù phải đổ máu, vương triều Trần cũng không chịu bỏ mất chủ quyền.

        Vua Trần đặt tiệc ở hành lang, Sài Thung không chịu đến, phải đặt tiệc ở điện Tập Hiền, hắn mới đến dự. Trong bữa tiệc, Thánh Tông11 đã nói với Thung: “Trước dụ sáu việc, đã được miễn xá. Còn việc thân hành vào chầu thì vì tôi sinh trưởng ở thâm cung, không biết cưỡi ngựa, không quen phong thổ, sợ chết dọc đường, con em thái úy trở xuống cũng đều như thế…”12. Như vậy là vua Trần vẫn từ chối việc sang chầu và không một ai đi làm con tin cả. Sài Thung bực tức bỏ về13. Vua Trần sai Trịnh Đình Toản14 và Đỗ Quốc Kế đem phương vật và hai con voi sang Nguyên, đưa biểu xin miễn việc vào chầu. Lời biểu cũng gần giống với lời vua Trần nói với Sài Thung trong bữa yến ở điện Tập Hiền:

        “… Cô thần đương lúc có tang cha, kỳ niên cống lại đến, thần không dám vì sự lo phiền về việc tang tóc, nhân sứ trước là Lê Khắc Phục trái thời chưa đến, mà để chậm niên cống, tiếp sai trung thị đại phu Chu Trọng Ngạn, trung lượng đại phu Ngô Đức Thiệu làm hành nhân để đem biểu văn cùng phương vật đến dâng ở cửa khuyết… Kíp đến năm Chí Nguyên thứ 15 (1278), bọn Chu Trọng Ngạn chưa về, duy đoàn thiên sứ Sài thượng thư đem chiếu thư đưa lũ Lê Khắc Phục cùng về tiểu quốc. Thấy chiếu thư dụ thần vào chầu, thần kinh sợ vô cùng, mà sinh linh cả nước nghe thấy tin ấy đều nhao nhao kêu phải bơ vơ như chim mất tổ. Vì thần sinh trưởng ở đất Việt Thường, sức người yếu đuối, không quen thủy thổ, không dạn nắng mưa, tuy được xem biết văn hóa của thượng quốc, được dự làm tân khách ở vương đình, nhưng e đi đường có sự không may xảy ra, chỉ dãi phơi xương trắng để đóng lòng nhân của bệ hạ thương xót mà thôi, không ích chút nào cho thiên triều vậy…”15.

        Năm 1279, Sài Thung về Đại Đô (Bắc Kinh) trước, bắt Trịnh Đình Toản đợi ở Ung Châu (Quảng Tây).

------------------
1.    Nguyên sử q.206 An Nam truyện t.3b-4a.

2.   Toàn thư q.5, t.37b.

3.   Nguyên sử - An Nam truyện chép tháng 8 năm Chí Nguyên thứ 15 (20-8 - 18-9-1278) sai bọn Sài Thung đi. Thế Tổ bản kỷ chép rõ: “Ngày Nhâm Tý mồng 1 tháng 8 (20-8-1278)… sai bọn lễ bộ thượng thư Sài Thung đi sứ nước An Nam”.

4.   Nguyên sử An Nam truyện chép là Sài Thung, Toàn thư chép là Sài Xuân. Hai chữ này dễ lẫn với nhau. Chúng tôi tạm theo An Nam truyện.

5.   Nguyên sử - An Nam truyện chép là Cáp Lạt Thoát Nhân, Cáp Lạt là Qara, nghĩa là đen, Thoát Nhân là Toyin, vốn là tiếng Mông Cổ, phiên âm lại từ tiếng đạo nhân của Trung Quốc, nhưng người Mông Cổ từ thời Ô-gô-đây dùng chữ thoát nhân (toyin) để chỉ nhà sư, còn dùng chữ tiên sinh (thường sinh) để chỉ đạo sĩ. Xem Thái Mỹ Bưu: Nguyên đại bạch thoại bi tập lục 1955, t.38.

6.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.4a.

7.   An Nam truyện, t.4a chép: “Trước sứ giả đi lại chỉ theo lối Thiện Xiển, Lê Hóa. Vua ra lệnh cho Sài Thung đi từ Giang Lăng thẳng đến Ung Châu tới Giao Chỉ”. Thiện Xiển tức Côn Minh ngày nay. Lê Hóa, hay Lê Hoa, ở Mông Tự.

8.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện.

9.   Nguyên sử 1.209, t.4a chép rằng Thái úy ra đón ở sống Phú Lương. Thái úy bấy giờ là Trần Quang Khải. Sông Phú Lương là sông Hồng.

10.   An Nam chí lược q.2. Chiếu tháng 8 Chí Nguyên 15 (1278).

11.   Bấy giờ Thánh Tông đã nhường ngôi cho Nhân Tông, tự mình làm thượng hoàng, nhưng mặt ngoài đối với nhà Nguyên, thì sau khi Thái Tông mất, Thánh Tông (mà thư tịch Nguyên gọi là Nhật Huyên) mới chính thức lên ngôi.

12.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, 4a-4b.

13.   Sài Thung nói: “Vua Tống chưa đến mười tuổi và cũng sinh trưởng ở thâm cung, thế sao cũng đến kinh sư được… Bốn người chúng tôi sang đây mời ngài vào chầu chứ không phải để lấy phương vật”. Thực ra, tháng 2 năm 1276, quân Nguyên đã chiếm Lâm An, bắt Tống Cung Đế Triệu Hiển về Đại Đô (Bắc Kinh) chứ không phải vua Tống tự đến.

14.   Toàn thư q.5, t.38a. Nguyên sử, An Nam truyện chép là Trịnh Quốc Toản.

15.   An Nam chí lược q.6. Biểu năm Chí Nguyên 15 (1278) Nguyên sử - An Nam truyện có chép tóm tắt.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 05:19:44 pm

        Bấy giờ, bọn xâm lược Mông Cổ đã hoàn thành việc thôn tính Nam Tống. Từ tháng 12 năm 1278, Văn Thiên Tường, người anh hùng của nhân dân Trung Quốc, đã bị bắt. Tháng 2 năm 1279, Nhai Sơn (trong biển phía nam Tân Hội, Quảng Đông), căn cứ cuối cùng của chính quyền Hán tộc bị tấn công. Lục Tú Phu ôm vua Tống Triệu Bính nhảy xuống biển tự tử. Trương Thế Kiệt đắm thuyền. Nhà Tống mất. Nhân dân Trung Quốc lâm vào cảnh “núi sông tan nát như tơ trước gió thổi” mà Văn Thiên Tường đã nói đến trong thơ của mình1. Đó cũng chính là lúc nhân dân Đại Việt đang đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mới.

        Tháng 4 năm 1279, xu mật viện Nguyên xin Hốt Tất Liệt cho đem quân đánh Đại Việt2. Nhưng tên vua Mông Cổ còn cân nhắc lợi hại, chưa đồng ý. Y cho gọi sứ bộ Việt đến Đại Đô. Tháng 8 năm đó, y ra lệnh đóng chiến thuyền để chuẩn bị đánh Đại Việt3. Nhưng Hốt Tất Liệt vẫn còn muốn dùng uy lực khuất phục vương triều Trần bằng biện pháp ngoại giao. Tháng 12, y ra lệnh giữ Trịnh Đình Toản lại ở Đại Đô, sai Sài Thung và binh bộ thượng thư Lương Tằng đi cùng Đỗ Quốc Kế sang Đại Việt4. Lần này Hốt Tất Liệt đòi “nếu quả thật không tự vào ra mắt được thì lấy vàng thay thân, hai hạt châu thay mắt, thêm vào đó, lấy hiền sĩ, phương kỷ, con trai, con gái, thợ thuyền, mỗi loại hai người để thay cho sĩ nhân. Nếu không thì hãy tu sửa thành trì mà đợi xét xử” 5.

        Trước yêu sách ngày càng ngang ngược của kẻ thù, quan hệ ngoại giao ngày càng căng thẳng, nguy cơ chiến tranh khó bề tránh khỏi, triều đình Trần đã chuẩn bị chiến đấu khẩn trương hơn. Nhưng để trì hoãn thời gian thêm ít nữa, năm 1281, Nhân Tông đã cho chú họ là Trần Di Ái thay mình cùng Lê Tuân, Lê Mục theo bọn Sài Thung sang Nguyên6.

        Thấy việc đòi vua Trần vào chầu thất bại, Hốt Tất Liệt nắm ngay lấy cơ hội này để thực hiện dã tâm xâm lược của mình. Hốt Tất Liệt phong Trần Di ái làm An Nam quốc vương, Lê Mục làm hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư7. Chiếu thư Của Hốt Tất Liệt gửi vua Trần có đoạn: “… Cho sứ sang vời thì người kiếm cớ không đi, nay lại kiếm lời cố ý trái mệnh, chỉ sai chú là Di Ái vào chầu. Ta cũng định cử ngay quân sang đánh. Vì ngươi nội phụ và cống hiến đã lâu năm rồi, có lẽ nào bắt chước kẻ vô tri, để hại uổng tính mệnh dân chúng. Ngươi đã cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ mà thuốc thang điều dưỡng, ta đã lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm vua nước An Nam, coi trị dân chúng của ngươi…”8.

        Bên cạnh cái triều đình bù nhìn đó, vua Nguyên đã lắp luôn một bộ máy thống trị thực dân kèm theo. Ngày 27 tháng 11 năm 1281, đặt An Nam tuyên uý ty. Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämur) 9 được cử làm An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái, Sài Thung và Khu-ghe (Qugär) 10 làm phó11. Tháng 1 năm 1282, Hốt Tất Liệt sai một nghìn quân đi hộ tống đưa bọn này sang Đại Việt12.

-----------------
1.    “Sơn hà phá toái phong phao nhứ”, trong bài Quá Linh - Đinh Dương. Đây là bài thơ Văn Thiên Tường đưa cho tên Hán gian Trương Hoằng Phạm, khi Hoàng Phạm muốn Thiên Tường dụ hàng Trương Thế Kiệt. Bài thơ có hai câu nổi tiếng. “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (Nhân sinh từ cổ ai không chết, lưu lại lòng son rọi sử xanh).

2.   Nguyên sử An Nam truyện chép: “Tháng 3 năm [Chí Nguyên 16] (13-4 - 11-5-1279)… Xu mật viện tâu rằng Nhật Huyên không chịu vào chầu, chỉ sai sứ thần báo mệnh, đặt lời kiếm cớ, kéo dài ngày tháng, xảo nịnh tuy nhiều nhưng đều trái chỉ, nên tiến quân đến biên giới sai quan hỏi tội (t.4b).

3.   Nguyên sử - Thế Tổ bản kỷ chép: “Ngày Nhâm Tuất tháng 7 [Chí Nguyên 16] (25-8-1279) tạo chiến thuyền đánh Nhật Bản và Giao Chiỉ”.

4.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Thế Tổ bản kỷ chép việc Nguyên sai sứ vào ngày Nhâm Tý tháng 11 năm Chí Nguyên 16 tức ngày 13 tháng 12 năm 1279. Nguyên sử q.178 Lương Tằng truyện chép năm Chí Nguyên 17 (1280) Tằng cùng với Sài Thung đến An Nam. Như vậy là bọn Sài Thung đã đi vào cuối năm 1279 và đến Đại Việt vào năm 1280. Trong năm Chí Nguyên 17, Thế Tổ bản kỷ còn chép mấy việc sau: “Ngày Bính Thân tháng 10 (21-11-1280)… sai sứ dụ Java và Giao Chỉ”, “Ngày Canh Tuất tháng 11 (5-12-1280) sai Kho-rơ-khô-xun (Qorqosun, Bản kỷ chép là Hòa Lễ Hoắc Tôn) chọn thải sứ nước Giao Chỉ, trừ những kẻ có thể lưu, còn lại thả cho về”, “Ngày Bính Thân tháng 12 (21-l-1281), nước An Nam sai cống voi”.

5.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện. 4b.

6.   Toàn thư q.5, t.40b. Nguyên sử q.178 Lương Tằng Truyện.

7.   Toàn thư q.5, t.40b, An Nam chí lược q.3; Nguyên sử - An Nam truyện và Thế Tổ bản kỷ.

8.   An Nam chí lược q.2 Đại Nguyên chiếu chế. Chiếu năm Chí Nguyên 18 (1281).

9.   Nguyên sử - An Nam truyện chép là Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi. Nguyên sử Thế Tổ bản kỷ chép là Bột Nhan Thiết Mộc Nhi. An Nam chí lược q 3 chép là Bất Nhãn Thiếp Mộc Nhi. Tất cả những tên đó đều là phiên âm tên Mông Cổ Buya Tämur.

10.   Nguyên sử - Thế tổ bản kỷ phiên âm là Hốt Kha Nhi.

11.   Nguyên sử - Thế Tổ bản kỷ chép rằng ngày đinh vị tháng 10, Chí Nguyên 18 (27-11-1281) đặt An Nam tuyên úy ty, Bu-y-an Tê-mua (Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi (Buyan Tämur) vốn là Đa-ru-ga-tri lộ Bắc Kinh làm tham tri chính sự An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái, đeo hổ phù, Sài Thung và Khu-ghe (Hốt Kha Nhi, Qugär) làm phó. An Nam truyện (4b) cũng chép là Bu-y-an Tê-mua (Bốc Nhan Thiếp Mộc Nhi) làm tham tri chính sự An Nam tuyên uý sứ đô nguyên soái. Nhưng An Nam chí lược (q.3) lại chép là Sài Thung làm An Nam tuyên úy ty đô nguyên soái, Lý Chấn làm phó còn Bu-y-an Tê-mua (An Nam chí lược chép là Bất Nhãn Thiết Mộc Nhi) lại làm Đa-ru-ga-tri (Đạt Lỗ Hoa Xích). Bài tự của Lý Khiêm tiễn Sài Thung trong An Nam chí lược q.17 chép là Lý Chấn Văn làm phó cho Sài Thung và Lý Phi Nhị giúp việc. An Nam truyện chép vua Nguyên còn đặt các quan liêu phụ tá giúp việc.

12.   Nguyên sử - Thế Tổ bản kỷ chép: “Ngày Canh Tuất tháng 10 [Chí Nguyên 18] (30-11-1281), vì An Nam quốc vương Trần Di Ái vào An Nam, phát một nghìn quân tân phụ (tức quân người Nam Trung Quốc - T.G.) đi hộ tống”. Có lẽ đó mới chỉ là ngày lấy quân, chưa phải là ngày xuất phát, vì Bản kỷ còn chép: “Ngày Ất Dậu (Bản kỷ chép là Kỷ Dậu nhưng tháng này không có ngày Kỷ Dậu, chúng tôi cho là chép nhầm từ ngày Ất Dậu tức là ngày 23 âm lịch) tháng 11 (4-l-1282), ban tiền giấy (sao) cho quân tân phụ đi đánh An Nam”. An Nam chí lược q.7 có chép bài tự của Lý Khiêm tiễn Sài Thung đề tháng 11 năm Chí Nguyên 18 (13-12-1281 - 10-1-1282). Như vậy bọn Sài Thung xuất phát sớm nhất cũng vào đầu tháng 1 năm 1282, không phải là tháng 11 năm 1281.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2016, 05:26:50 pm

        Khi những viên quan Mông Cổ và cái triều đình bù nhìn kia đến biên giới, Nhân Tông đã ngầm sai quân đón đánh khiến Trần Di Ái hoảng sợ phải trốn về nước. Mặt khác, Nhân Tông lại sai người lên đón bọn Sài Thung về Thăng Long1. Sài Thung đã cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân Thiên Trường ngăn hắn lại, hắn đã lấy roi ngựa đánh họ bị thương ở đầu rồi phóng ngựa đến tận điện Tập Hiền mới chịu xuống2. Trước thái độ hống hách của Sài Thung, triều đình Trần vẫn tỏ vẻ ân cần tiếp đãi hắn3. Sài Thung thất bại trở về. Cái âm mưu đặt An Nam tuyên uý ty và lập triều đình bù nhìn Trần Di Ái của Hốt Tất Liệt đã tan ra mây khói. Trong bài thơ tiễn Sài Thung, Thái úy Trần Quang Khải vẫn viết như sau:

                                                 “… Vi thẩm hà thời trùng đổ diện,
                                                 Ân cần ác thủ tự thê lương”.

                                                 (Không biết đến bao giờ lại được gặp mặt,
                                                 Ân cần nắm tay nhau kể chuyện hàn huyên
4.

        Vừa đánh tan một nghìn quân địch trên biên giới, lại vừa làm thơ xướng họa với sứ thần kẻ thù âu đó cũng là một nét đặc biệt trong cuộc đấu tranh ngoại giao của vương triều Trần. Nhưng sau vụ Trần Di Ái, quan hệ bang giao đến đây khó bề mà duy trì được nữa.

        Cuối năm 1283, Triệu Chư theo lệnh của vua Nguyên, sang đòi nhà Trần phải giúp binh lương cho việc đánh Chiêm Thành. Lại một âm mưu mới của Hốt Tất Liệt! Vua Trần đã sai Nguyễn Đạo Học sang triều Nguyên và Phạm Chí Thanh, Đỗ Bảo Trực sang hành tỉnh Kinh Hồ đưa thư từ chối.

        “… Về việc thêm quân thì Chiêm Thành thờ phụng nước tôi đã lâu, cha tôi chỉ lấy đức để che chở, đến tôi cũng nối chí cha tôi. Từ khi cha tôi quy thuộc Thiên triều đến nay đã ba mươi năm, gươm giáo không dùng đến nữa, quân lính cho về làm dân đinh, một lòng cống hiến Thiên triều, trong lòng không có mưu đồ gì khác, mong các hạ thương mà xét cho. Về việc giúp lương thì nước tôi ở ven biển, ngũ cốc trồng được không nhiều. Sau khi đại quân rút đi, trăm họ lưu vong, lại thêm lụt hạn, sớm no chiều đói, ăn không đủ. Tuy vậy lệnh của các hạ không dám trái, xin đợi mang nạp ở châu Vĩnh An trên địa giới châu Khâm…”5.

        Chẳng những vua Trần đã cự tuyệt việc giúp quân lính và lương thực cho bọn xâm lược nhà Nguyên đánh Chiêm Thành mà trước đó đã đem quân và chiến thuyền ứng viện Chiêm Thành chống lại kẻ thù chung. Sau khi thất bại ở Chiêm Thành, Hốt Tất Liệt đã quyết định tấn công xâm lược Đại Việt.

        Cuộc đấu tranh ngoại giao gay go và phức tạp của vương triều Trần trong hơn hai mươi lăm năm đến đây đã kết thúc. Hai mươi lăm năm, “sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn…”. Đã qua rồi thời kỳ phải nén mọi phẫn nộ, lấy nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ” 6, thời kỳ vừa phải rất kiên quyết đối phó với giặc lại vừa phải chọn lời mềm mỏng cho những bức thư ngoại giao hay những bài thơ thù tiếp. Không một ai, kể cả vị tướng kiêm nhà thơ Trần Quang Khải, muốn thấy lại bộ mặt đáng ghét của những tên sứ hống hách kiểu Sài Thung. Cả nước đã chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng đón tiếp kẻ thù bằng vũ khí.

-------------------
1.   Một số tài liệu như An Nam chí lược (q.2, Chiếu 1291), Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, Tục Hoằng giản lục của Thiệu Viễn Bình chép rằng vua Nguyên trách vua Trần đã “giết chú, đuổi sứ”. Cương mục đời Nguyễn lại nói Sài Thung bị giết ở biên giới. Nhưng Toàn thư q.5, t.40b chép rõ chuyện Sài Thung (Xuân) vào Thăng Long và đến năm Thiệu Bảo 4 (1282) bọn Di Ái về, Di Ái liền bị đày làm khao giáp binh Thiên Trường, Lê Tuân làm tống binh (t.41b). An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên phụng sứ chép: “Về đến địa giới Vĩnh Bình, người nước không nhận, Di Ái sợ đêm trốn về trước. Thế tử (chỉ vua Trần - T.G.) sai bồi thần đón Sài Công vào nước tuyên dụ chỉ”. Hơn nữa, trong các chiếu thư của vua Nguyên chép ở các tài liệu khác nhau cũng chỉ thấy trách là giết Di Ái, không nói giết Sài Thung. Trong thư gửi vua Nguyên trong Thiên Nam hành ký, vua Trần cũng nói: “Trước đây quốc thúc là Di Ái rõ ràng là trốn đi ở ngoài bờ cõi mà bị vu là đã giết càn”. Như vậy rõ ràng là Sài Thung có được đón vào Thăng Long, không phải bị giết. Còn Di Ái thì sợ hãi trốn về, nhưng lúc đó, thấy quân Trần đánh sau lại không thấy Di Ái thì nên nhà Nguyên tưởng là Di Ái bị giết và một số tài liệu đã căn cứ vào đó mà chép như vậy.

2.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.41a.

3.   Toàn thư (q.5, t.41a) chép rằng vua sai Quang Khải đến sứ quán tiếp Thung, Thung cứ nằm không ra, Quang Khải vào tận trong phòng hắn cũng không dậy, đến khi Quốc Tuấn phải ăn mặc giả làm nhà sư đến hắn mới tiếp. Nhưng khi cùng ngồi uống nước trà thì quân hầu của hắn lại cầm mũi tên đứng sau lưng châm vào đầu Quốc Tuấn làm chảy máu.

4.   An Nam chí lược q.16.

5.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện.

6.   Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2016, 04:40:14 pm
CHƯƠNG V

CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN CHÀM

        
“Vua Ciamba chống cự với Sugatu (Toa Đô]
        Trong các thị trấn và thành quách vững chắc.
        Ở đấy, ông không sợ gì cả…”
        Marco Polo
        (đến Chiêm Thành năm 1265)

        Năm 1278, khi bọn Sài Thung, Kha-ra Tô-in được lệnh của Hốt Tất Liệt đi thẳng từ Giang Lăng đến Ung Châu để tiến vào biên giới Đại Việt thì những tên sứ Mông Cổ khác cũng vượt biển đến Chiêm Thành.

        Cuộc sống hòa bình của nhân dân Chàm qua hơn năm mươi năm bắt đầu bị đe dọa. Từ năm 1220, sau khi thoát khỏi ách thống trị của Chân Lạp1, nhân dân Chàm đã cần cù lao động xây dựng đất nước. Người nông dân Chàm lại cày cấy trên những cánh đồng bỏ hoang trong suốt thời kỳ chiến tranh. Đê đập được khôi phục và người ta đào thêm những kênh ngòi mới2. Các thành trấn lại đông dân cư, các cung điện được xây dựng lại. Bàn tay và khối óc sáng tạo tuyệt vời của người Chàm được thể hiện trong việc dựng các đền tháp nổi tiếng như Yang Pu Nagara (Nha Trang), Crīcā-nabhadrecvara (Mỹ Sơn) 3. Nền văn hóa Chàm lại rực rỡ dưới triều đại Jaya Indravarman (VI) (khoảng 1252-1257), một ông vua “biết tất cả các khoa học và tinh thông triết học của nhiều trường phái khác nhau4.

        Khi Jaya Simhavarman (tức Indravarman VI) lên ngôi, Chiêm Thành vẫn giữ mối quan hệ hữu hảo với Đại Việt5. và đến nay, trước âm mưu xâm lược các miền đất phương Nam của đế quốc Mông Cổ, nhân dân Chàm và nhân dân Việt càng gần nhau hơn trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung.

        Vào những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống, Hốt Tất Liệt đã chú ý đến các nước phương Nam “ngoài biển”, trong số đó có Chiêm Thành. Bấy giờ, thuyền buôn của các nước đó thường đến buôn bán ở vùng bờ biển Đông Nam Trung Quốc. Để thu lấy mối lợi ngoại thương, năm 1277, Hốt Tất Liệt đã lập các thị bạc ty ở Tuyền Châu, Khánh Nguyên, Thượng Hải, Hãm Phố6. Tháng 3 năm 1278, Hốt Tất Liệt lại cử bọn quan lại Mông Cổ Mông-gu-đai (Monggu-dai), Toa Đô (Xô-ghê-tu, Sögätü) 7 và tên kiều thương người A Rập là Bồ Thọ Canh coi hành trung thư tỉnh Phúc Châu8. Ngoài việc trấn áp nhân dân Trung Quốc miền duyên hải, chúng còn có nhiệm vụ giao dịch với thương thuyền các nước ngoài.

        Trước đây, viên tuyên uý sứ Quảng Nam tây đạo là Mã Thành Vượng đã từng xin Hốt Tất Liệt 3 nghìn quân và 3 trăm ngựa để đánh Chiêm Thành9. Bấy giờ, vì đang phải dồn lực lượng vào cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống, Hốt Tất Liệt chưa thể đồng ý đề nghị đó. Đến nay, khi vương triều Nam Tống rút lui về những căn cứ cuối cùng ở ven biển Quảng Đông, Hốt Tất Liệt đã thực sự muốn với tay đến các nước hải ngoại phương Nam. Ngày Tân Tỵ tháng 8 năm Mậu Dần (18-9-1278), tên vua Mông Cổ ra lệnh cho bọn Toa Đô và Bồ Thọ Canh tuyên bố với thương nhân các nước này rằng nếu thành thực “vào chầu” thì được đối đãi tử tế và được tự do buôn bán10. Ngay năm đó, Toa Đô từ chức tham tri chính sự Phúc Châu được thăng làm tả thừa Tuyền Châu, nhận nhiệm vụ “chiêu dự” các nước phương Nam vì “miền Giang Nam đã bình định, sắp có việc ở hải ngoại” 11. Toa Đô đã sai sứ đến Chiêm Thành12 và các nước khác. Sau khi tiêu diệt nhà Nam Tống, Hốt Tất Liệt càng tích cực hơn trong việc thực hiện âm mưu xâm lược các nước phương Nam. Tháng 6 âm lịch năm Kỷ Mão (8-1279), các nước Chiêm Thành và Mã Bát Nhi (Mäbar) sai sứ đến triều đình Nguyên13.

        Đến tháng chạp năm đó (4/1 – 1/2/1280), Hốt Tất Liệt ra lệnh cho bọn quan khu mật hàn lâm viện bàn với Toa Đô về việc chiêu dụ các nước “ngoài biển” 14 và ngay sau đó, hắn lại cử Toa Đô cùng với binh bộ thị lang Giáo Hóa Đích15, tổng quản Mạnh Khánh Nguyên, vạn hộ Tôn Thắng Phu đến Chiêm Thành, dụ vua Chiêm vào chầu16. Bọn Toa Đô còn mang 10 bức thư của Hốt Tất Liệt đến các nước khác ở phương Nam. Cũng tháng chạp năm đó, Hốt Tất Liệt sai Dương Đình Bích đi chiêu dụ nước Câu Lam (Kūlam) 17. Bấy giờ, trực tiếp quyết định việc sai sứ đến các nước phương Nam, hắn đã cấm Toa Đô không được tự tiện sai sứ nếu không có lệnh của hắn18.

----------------
1.    Theo Chư Phiên chí của Triệu Như Quát đời Tống thì Chiêm Thành bị Chân Lạc chiếm vào năm 1199 (bản in Nhật Bản năm 1914, t.5a). Theo một bi ký Chàm thì người Chân Lạp rút khỏi Chiêm Thành năm 1220 (xem E. Aymonier: Première étude sút les ỉnscriptions tchames, J. A. Janv-fév, 1891, p.51).

2.   Bi ký Chàm ở Ninh thuận, xem e.Aymonier: đã dẫn, t52-53.

3.   Theo bi ký Chàm ở Mỹ Sơn. Xem L.Finot: Inscription de Mỹ Sơn, BEFEO IV, P.976.

4.   Như trên, P.954.

5.   G.Maspéro: Le Royaume de Champa, 1928, P.173; G. Coedès: Les états hindouisés d’ Indochine et d’ Indonésie, 1948, p.322. Harideva lên ngôi lấy tên là Jaya Simhavarman (khoảng 1257) nhưng đến năm 1266, lại đổi tên là Indravarman. (G. Maspéro trong Le Royaume de Champa bản in năm 1914, gọi là Indravarman VI (t.233), trong bản in năm 1928, chữa lại là Indravarman V (t.174). Những thế thứ này là do G.Maspéro định ra vì tên các vua Chàm thường trùng nhau chứ không có thực trong lịch sử Chàm).

6.   Nguyên sử q.9 4 Thực hóa chí.

7.   Nguyên sử q.10 Bản kỷ t.2a chép sự kiện này vào ngày Ất Dậu tháng 3 năm Chí Nguyên 15 (26-3-1278). Cơ quan hành chính trung ương đời Nguyên được gọi là Trung thư tỉnh. Cơ quan địa phương dưới quyền trung thư tỉnh được gọi là Hành trung thư tỉnh hay gọi tắt là hành tỉnh. Nhiều khi người ta gọi hành tỉnh với ý nghĩa đơn vị hành chính (về sau trở thành tỉnh).

        Mông-gu-đai, Nguyên sử - Bản ký phiên âm là Mông Cổ Đái.

        Xô-ghê-tu (Sögätü), Nguyên sử phiên âm là Toa Đô, bia Arïq q-Qaya do Diêu Toại soạn năm 1300 phiên âm là Toa Đột (xem Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng thần đạo bi trong Nguyên văn loại q.59, bản Thương vụ 1958 t 856). Thời Thanh, đổi phiên âm là Sách đa (xem Nguyên sử ngữ giải). Vì tên Toa Đô đã được dùng quen trong thư tịch Việt Nam, nên trong sách này chúng tôi không phiên âm thành Xô-ghê-tu nữa mà vẫn giữ là Toa Đô như đã nói ở phần mở đầu.

8.   Bồ Thọ Canh có tổ tiên là người A Rập ở Chiêm Thành, ông nội đến Quảng Đông và cha đến Tuyền Châu. Bồ Thọ Canh nắm mối lợi hải thương ở Tuyền Châu, đã thông mưu với quân Nguyên, tập kích Lục Tú Phu nhà Tống ở Tuyền Châu, sau đó giúp quân Nguyên, đuổi theo vua Tống.

9.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a.

10.   Nguyên sử qui Bản kỷ, t.5b.

11.   Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện t.7b.

12.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a.

13.   Nguyên sử q.10 Bản kỷ, t.11b. Bản kỷ, chép sự kiện này vào ngày Giáp Thìn tháng 6 năm Chí Nguyên 16 (7-8-1279). Nước Mäbar, nay là vùng Coromandel, ở bờ biển đông nam của bán đảo Ấn Độ.

14.   Nguyên sử q.10 Bản kỷ, t.13b. Bản kỷ chép vào ngày Bính Thân tháng 12 năm Chí Nguyên 16 (26-1-1280)

15.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện chép là Giáo Hóa Đích, Q.11 Bản kỷ, chép là Giáo Hóa, Kinh thế đại điển tự lục chép là Giáo Hóa Địch. Giáo Hóa hay Giáo Hóa Đích là một tên phổ biến đời Nguyên (theo Uông Huy Tổ trong Tam sử đồng danh lục q.24, 5-6 thì trong Nguyên sử có đến 14 tên Giáo Hóa và 12 tên Giáo Hóa Đích). Chúng tôi đồng ý với ý kiến Pelliot cho rằng đấy là tên của người Mông Cổ (hay Nữ Chân) đặt theo ý nghĩa của tiếng Trung Quốc (P.Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de T cheou Ta-kouan, Paris 1951).

16.   Kinh thế đại điển tự lục chinh phạt trong Nguyên văn loại q.41 (bản đã dẫn, t.570) Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a đều chép vào tháng 12 năm Chí Nguyên 16. Nguyên sử q.11 Bản kỷ, 5a lại chép sự kiện này vào ngày Đinh Mão tháng 11 năm Chí Nguyên 17 (22-12-1280).

17.   Nguyên sử q.210 Mã Bát Nhi đăng quốc truyện t.9a. Nước Kūlam nay là Quilon, ở bờ biển tây nam bán đảo Ấn Độ.

18.   Như trên.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2016, 03:15:31 pm
       
        Trong số các nước “ngoài biển”, Hốt Tất Liệt đặc biệt chú ý đến Chiêm Thành. Điều đó cũng dễ hiểu vì từ rất sớm, ngay khi còn là đất quận Nhật Nam đời Hán, nơi đây đã là một trạm quan trọng trên con đường thông thương giữa Trung Quốc và các nước Nam Dương, Ấn Độ Dương. Đấy là chưa kể xứ sở nhiều voi và trầm hương này đã có một sức hấp dẫn mãnh liệt đối với tên chúa Mông Cổ. Ngoài sứ bộ Toa Đô, Hốt Tất Liệt còn sai nhiều sứ bộ khác đến Chiêm Thành1. Cũng như Đại Việt, Chiêm Thành đã dùng một chính sách đối ngoại mềm dẻo. Vua Chiêm đã nhiều lần sai sứ mang phương vật cống cho Hốt Tất Liệt2. Hốt Tất Liệt phong vua Chiêm làm Chiêm Thành quận vương, hàm vinh lộc đại phu và cho hổ phù3.

        Nếu những chức tước đó không mua chuộc được vua Chiêm thì ngược lại việc triều cống của Chiêm Thành không làm thỏa mãn dã tâm của Hốt Tất Liệt. Vào cuối năm Tân Tỵ (1281), Hốt Tất Liệt không còn dừng lại ở hoạt động chiêu dụ nữa mà đẩy mạnh việc chuẩn bị xâm lược bằng quân sự.

        Ngày Kỷ Dậu tháng 10 năm Tân Tỵ (29/11/1281) Hốt Tất Liệt ra lệnh lập hành trung thư tỉnh (hay hành tỉnh) Chiêm Thành. Toa Đô được cử làm hữu thừa, Lưu Thâm làm tả thừa và viêm binh bộ thị lang người Ui-gua (Uigur) là Y-gơ-mi-sơ (Yïgmïš) 4 làm tham tri chính sự5. Như vậy là bộ máy trực tiếp chỉ huy việc xâm lược Chiêm Thành đã được thành lập. Ngay ngày hôm sau, ngày Canh Tuất (30/11/1281), Hốt Tất Liệt ra lệnh điều động một trăm thuyền biển, một vạn quân và thủy thủ, chuẩn bị “đánh các nước phiên ở hải ngoại” vào tháng giêng âm lịch năm sau (10/2 – 10/3/1283) 6. Tên vua Mông Cổ lại buộc vua Chiêm Thành phải cấp lương thực cho đoàn quân này7. Ngày Kỷ Tỵ tháng 11 (19/12/1281), Mạnh Khánh Nguyên, Tôn Thắng Phu, những tên sứ đến Chiêm Thành trước đây, đều được cử làm tuyên úy sứ Quảng Châu kiêm điều độ việc xuất chinh8. Rõ ràng là Hốt Tất Liệt chẳng những muốn chiếm đóng Chiêm Thành mà còn muốn xâm lược tất cả các nước xa hơn ở Đông Nam Á và bán đảo Ấn Độ.

        Nhưng kế hoạch đem quân đánh chiếm các nước phương Nam vào năm 1282 của Hốt Tất Liệt chưa thể thực hiện dược. Ngay một số quan lại Mông Cổ trong triều đình Nguyên cũng phản đối việc xuất binh này. Nguyên sử chép: “Triều đình bàn việc đem binh đánh các nước Xiêm (vùng trung lưu sông Mê Nam - T.G.), La Hộc (Lavo, Lopburi ở hạ lưu sông Mê Nam - T.G.), Mã Bát Nhi (Mäbar, ở bờ biển đông nam Ấn Độ - T.G.), Tô Mộc Đô Lạt (Sūmūtra, tức Sumatra). Ca-ru-na-đa-xi (Kārunūsī) tâu: “Các nước đó đều bé nhỏ, ví có chiếm được cũng chẳng ích gì, hưng binh tàn hại sinh mạng của dân, sao bằng sai sứ lấy điều họa phúc mà chiêu dụ, nếu các nước đó không phục tùng thì ta đánh cũng chưa muộn”. Vua nghe theo lời nói đó” 9.

        Ca-ru-na-đa-xi can việc đánh các nước phương Nam và Hốt Tất Liệt đồng ý ngừng việc xuất chinh hoàn toàn không phải vì chúng sợ “tàn hại sinh mạng của dân”. Chính lực lượng quân sự của Hốt Tất Liệt bấy giờ chưa cho phép hắn tiến hành một cuộc xâm lược ra những vùng biển xa xăm trong cùng một lúc. Tuy thèm muốn gộp các nước này vào bản đồ của đế quốc Mông Cổ, hắn cũng đành phải thực hiện kế hoạch xâm lược dần đần từng bước. Bước đầu tiên trong kế hoạch đó là phải chiếm cho được Chiêm Thành. Chiêm Thành dưới mắt Hốt Tất Liệt là một căn cứ tốt có thể làm bàn đạp để tấn công các nước Nam Á và Đông Nam Á. Không đem quân đánh các nước phương Nam khác, Hốt Tất Liệt đã chú tâm vào việc xâm lược Chiêm Thành.

        Thực ra, việc chuẩn bị xâm lược Chiêm Thành bằng quân sự không phải mới bắt đầu bằng việc lập hành tỉnh Chiêm Thành vào ngày Kỷ Dậu tháng 10 năm Tân Tỵ (29/11/1281). Từ ngày Tân Dậu tháng 7 năm đó (13/8/1281), Hốt Tất Liệt đã ban cho Toa Đô “đà bồng” một thứ thuốc ngăn chướng độc để dùng trong khi đi đánh Chiêm Thành10. Như vậy là việc chuẩn bị xâm lược Chiêm Thành được tiến hành từ sớm. Nhưng đến năm Nhâm Ngọ (Chí Nguyên 19, 1282), Hốt Tất Liệt ráo riết hơn trong việc thực hiện âm mưu của hắn. Ngày Mậu Tuất tháng 6 năm Nhâm Ngọ (16/7/1282), hắn ra lệnh điều 5 nghìn quân các tỉnh Hoài Triết, Phúc Kiến, Hồ Quảng, 100 hải thuyền và 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô chỉ huy chuẩn bị đánh Chiêm Thành11. Đến ngày Giáp Tuất tháng 11 (19/02/1282), Hốt Tất Liệt theo lời đề nghị của trung thư tỉnh, ra lệnh sung tất cả những người tử tù (trừ tội “mưu phản” và “đại nghịch”) làm lính đánh Chiêm, Nhật và Miến12. Để chuẩn bị chu đáo cho việc xuất chinh Chiêm Thành, Hốt Tất Liệt còn sai Lý Hằng đến đảo Hải Nam tích trữ lương thực, bắt nhân dân người Lê tạo khí giới, đóng thuyền biển13. Gánh nặng của chiến tranh đã đè lên vai nhân dân miền Nam Trung Quốc mà các đội quân xâm lược Chiêm Thành lại còn là tai họa đối với họ. Bọn tướng chỉ huy đã thả lỏng cho quân lính. tha hồ cướp phá nhân dân. Một bi ký chép: “ Quân đánh Chiêm Thành, chúng cho là đi sâu vào đất chết, oán giận không phát ra được, tất cả các thành thị đi qua, chúng đều hoành hành cướp bóc. Cư dân ở ven biển, mười nhà thì đến chín nhà sạch không, lúa giống mất hết” 14. Tên vua Mông Cổ lại nhiều lần sai sứ đến Đại Việt đòi vua Trần cho mượn đường và cấp lương thực cho đội quân đánh Chiêm Thành. Tất nhiên là vua Trần đã cự tuyệt những yêu sách đó15. Đánh Chiêm Thành trước khi chiếm được Đại Việt là một điều khó khăn đối với Hốt Tất Liệt nhưng hắn đã quyết định như vậy có lẽ vì hắn thấy được sức mạnh của Đại Việt - từ năm 1258 - và cho rằng quân Nguyên có thể chiến thắng Chiêm Thành dễ dàng hơn. Có điều chắc chắn là việc đánh chiếm Chiêm Thành của Hốt Tất Liệt ngoài mục đích tạo nên một cái cầu để xâm lược các nước phương Nam, còn là để tạo thành một gọng kìm tấn công vào mặt Nam Đại Việt sau này.

-----------------
1.    Nguyên sử q.210 Bản kỷ t.13a chép một lần “chiêu dụ” Chiêm Thành vào ngày Đinh Dậu tháng 12 năm Chí Nguyên 16 (27/1/1280) Nguyên sử q.11 Bản kỷ chép một lần “chiêu dự” vào ngày Nhâm Thân tháng 6 năm Chí Nguyên 17 (30/6/1280) (t.2b), một lần vào ngày Đinh Mão tháng 11 năm đó (22-12-1280) (t.5a).

2.    Nguyên sử chép Chiêm Thành sai sứ cống một lần vào ngày Giáp Thìn tháng 6 năm Chí Nguyên 16 (7/8/1279) (q.10 Bản kỷ, t.11b), một lần vào tháng 2 năm Chí Nguyên 17 (3/3 – 31/3/1280) (q.210 Chiêm Thành truyện, t.4a), một lẩn vào ngày Mậu Dần tháng 8 năm đó (4/9/1280) (q.11 Bản kỷ t.3b), một lần vào ngày Tân Dậu tháng 7 năm Chí Nguyên 18 (13/8/1281) (q.11 Bản kỷ t.8a), một lần vào ngày Nhâm Thìn tháng 9 năm đó (12/11/1281) (q.II Bản kỷ t.9a).

3.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a chép sự kiện này vào năm Chí Nguyên 15 (1278), sau khi Toa Đô sai sứ đến Chiêm Thành; còn Bản kỷ thì lại chép việc này vào ngày Kỷ Dậu tháng 10 năm Chí Nguyên 18 (29/11/1281) (Nguyên sử q.11, t.9a).

4.   Y-gơ-mi-sơ (Yïgmïš), Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.13a phiên âm là Diệc Hắc Mê Thất. Nguyên sử q.131 có chép Diệc Hắc Mê Thất truyện. Nhưng Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9a, khi chép những viên quan của hành tỉnh Chiêm Thành, thì lại chép là Dã Lý Mê Thất. Dã Lý Mê Thất cũng chỉ là Diệc Hắc Mê Thất mà thôi, do chỗ chép nhầm chữ hắc ra chữ lý. Tục tư trị thông giám đời Thanh đã sai lầm khi xem đấy là tên hai người khác nhau và đổi thành Ngạch Mật Thực và I Hách Mật Thực.

5.   Theo Nguyên sử q.11 Bản kỷ t.9a.

6.   Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9a-9b.

7.   Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9a-9b.

8.   Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9b.

9.   Nguyên sử q.134 Ca Lỗ Nạp Đáp Tư truyện, t.10b. Ca Lỗ Nạp Đáp Tư (có chỗ chép là Hợp Lỗ Nạp Đáp Tư) là phiên âm tên Kārunūsī, Ca-ru-na-đa-xi người Ui-gua (Uigur) tinh thông nhiều thứ tiếng ngoại quốc. Hốt Tất Liệt dùng y trong việc dịch kinh và giao dịch với sứ giả nước ngoài.

10.   Nguyên sử q.11 Bản kỷ, t.8a.

11.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.3b - 4a. Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện, t 7b chép là 1 nghìn thuyền. Nguyên sử kỷ sự bản mạt (bản của Thương vụ ấn thư quán), t.2 1 chép là 5 nghìn quân, 1 trăm hải thuyền và 2 nghìn 500 chiến thuyền.

12.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.6b.

13.   Xem bài miếu bi Lý Hằng do Diêu Toại soạn trong Mục am tập (bản Vũ Anh điện) q.12, t.8b. Cũng xem Nguyên sử q.129 Lý Hằng truyện t.11a.

14.   Dĩnh Châu vạn hộ để công thần đạo bi trong Mục am tập của Diêu Toại, bản Vũ Anh điện, t.3a.

15.   Ngày Kỷ Tỵ tháng 11 năm Chí Nguyên 18 (1912-1281), Hốt Tốt Liệt đã đòi Đại Việt cấp lương cho quân hành tỉnh Chiêm Thành (Nguyên sử q.11 Bản kỷ, t.9b). Về năm Chí Nguyên 19 (l282), An Nam chí lược q.4 chép: “Năm Chí Nguyên, Nhâm Ngọ (1282) hữu thừa Toa Đô, tả thừa Lưu Thâm, tham chính A Lý (‘Ali - có lẽ là Y-gơ-mi-sơ mà An Nam chí lược chép nhầm - T.G.), dùng binh ở Chiêm Thành, triều đình sai sứ dụ An Nam cho mượn đường, giúp quân, cấp lương, thế tử (chỉ vua Trần - T.G.), không nghe”.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2016, 03:30:08 pm

        Trước sự uy hiếp của đế quốc Nguyên Mông, Chiêm Thành không hề khuất phục. Cũng như Đại Việt, tuy nhiều lần sai sứ mang tê voi đến cống Hốt Tất Liệt, vua Chiêm Indravarman V1 nhất định không chịu vào chầu. Một trong những người kiên quyết chống lại âm mưu xâm lược của Hốt Tất Liệt là thái tử Harjit, con của Indravarman V mà thư tịch Trung Quốc gọi là Bổ đích2. Bấy giờ, vua Chiêm đã già, Harijit nắm tất cả trọng trách trong nước. Người thanh niên anh hùng đó đã không chịu lùi bước trước kẻ thù3. Sau khi đã chuẩn bị lực lượng, vương triều Chiêm Thành biểu lộ một thái độ cứng rắn hơn. Năm Nhâm Ngọ (1282). đoàn thuyền của sứ bộ Nguyên đi Xiêm gồm có vạn hộ Hà Tử Chí, thiên bộ Hoàng Phủ Kiệt và của sứ bộ Nguyên đi Mã Bát Nhi (Mābar) gồm có tuyên úy sứ Vưu Vĩnh Hiền và A Lan (Á Lan, Alan) khi đi qua Chiêm Thành, đều bị bắt giữ4.

        Nhân cơ hội đó, Hốt Tất Liệt ra lệnh xuất quân đánh Chiêm Thành. Việc các sứ Nguyên bị bắt giữ ở Chiêm chỉ là cái cớ để Hốt Tất Liệt gây chiến vì thực ra, hắn đã huy động quân đánh Chiêm Thành trước cả ngày cử sứ đi Xiêm5. Nhưng để che đậy dã tâm của mình, trước khi đoàn quân của Toa Đô lên đường Hốt Tất Liệt còn giả giọng nhân đức: “Lão vương không có tội gì, kẻ nghịch mệnh là con của y và một người man mà thôi, nếu bắt được hai người đó thì sẽ theo như việc cũ của Tào Bân6, trăm họ không giết một người7.

        Tháng 11 năm Nhâm Ngọ (2/12 – 31/12/1282), Toa Đô dẫn bính thuyền xuất phát từ Quảng Châu. Ngày 29 tháng 11 (30/12/1282) bọn chúng đến Chiêm Thành cảng8. Kinh thế đại điển tự lục chép: “Cửa cảng phía bắc liền với biển, bên cạnh có 5 cảng nhỏ, thông với Đại Châu của nước ấy, phía đông nam có núi ngăn, phía tây có thành gỗ” 9. Rõ ràng Chiêm Thành cảng là cửa Quy Nhơn ngày nay. Bấy giờ, kinh đô Chiêm là Vijaya (tức thành Chà Bàn, ở Bình Định) mà thư tịch Trung Quốc gọi là Đại Châu. Từ trong vịnh Quy Nhơn, có thể theo cửa nhánh sông, “5 cảng nhỏ”, để tiến về phía Vijaya. Phía tây của vịnh, tức là trong đất liền, quân Chàm đã xây dựng thành gỗ để ngăn chặn quân Nguyên tiến về phía kinh đô. Khi đặt chân lên đất Chiêm Thành, đoàn quân của Toa Đô đóng ở vùng bờ biển Quy Nhơn10. Từ ngày 30 tháng 11 (31/12/1282), quân Chàm tăng cường việc phòng thủ ở thành gỗ11. Bốn mặt thành gỗ dài khoảng hơn 20 dặm, trên dựng những giàn gác (lâu bằng), đặt hơn 100 cỗ pháo Hồi Hồi ba cần12. Ở phía tây cách thành gỗ 10 dặm là hành cung của vua Chiêm Indravarman tự đem đại quân đóng ở đây để ứng viện cho đội quân Chàm ở thành gỗ13. Tình hình bố phòng như vậy đã nói lên quyết tâm chiến đấu của người Chàm.

-------------
1.    Theo bi ký Chính thì vua Chiêm bấy giờ tên là Indravarman (V). Indravarman (V) tức là ông hoàng Harideva, khi lên ngôi năm 1257, lấy tên là Jaya Simhavarman, đến năm 1266 thì đổi tên là Indravarman (xem E.Aymonier: Première étude sur les inscriptions tchames. J.A. janv-fév, 1891, p.58, L. Finot BEFEO, IV. P.51). Nhưng theo thư tịch Trung Quốc thì vua Chiêm bấy giờ được chép bằng nhiều tên khác nhau. Nguyên sử q 210 Chiêm Thành truyện t.4a chép tên vua Chiêm được Hốt Tất Liệt phong làm Chiêm Thành quận vương là Thất Lý Cha Nha Tín Hợp Bát Lạt Cáp Điệt Ngõa. Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.570) lại chép là Thất Ly Cha Nha Tín Hợp Bát Lạt Ma Cáp Điệt Ngõa. Nguyên sử q.II Bản kỷ, t.9a cũng chép giống như Kinh thế đại điển tự lục chỉ khác ở chỗ chữ cáp chép thành chữ hợp. Như vậy là Nguyên sử - Chiêm Thành truyện chép sót chữ ma. Cái tên phiên âm đó có thể khôi phục thành tên tiếng Phạn (Sanskrit) là Cri Jaya Sinhavarman Mahadeva (theo Yamamoto Tatsuro: đã dẫn, t.106) hoặc Çrijaýaimhavarmaha [ri]deva (theo P. Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de Tcheou Ta - Kouan, Paris, 1951, pp. 107-108). Chúng ta thấy cái tên đó phù hợp với tên Jaya Simhavarman trong bi ký Chàm trước năm 1266. Như vậy là sau 1266 vua Chiêm còn dùng tên này.

        Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a còn chép tên vua Chiêm sai sứ cống, tháng 2 năm Chí Nguyên 17 (3-3 - 31-3-1280) là Bảo Bảo Đán Nã La Da Cùng Nam Bạt Chiêm Bả Địa La Da. Kinh thết đại điển tự lục (đã dẫn) cũng chép như vậy. Về cái tên này, E.M. Durand khôi phục là Pu Pa tanā rāya (K’iong-na-pa) Champa di raja (E.M. Durand: Notes sur les Chams IX.L’Abiseka cham. BEFEO VII, 1907, pp. 345-346) G. Maspéro khôi phục là Pu pon tama rāja… Campādhirāja (G. Maspéro: Le Royaume de Champa. Paris et Bruxelles, 1928, p.175, n.II, p.253, n.7). Hai cách khôi phục đó gần giống nhau. G.Maspéro chỉ đổi chữ rāya (tiếng Chàm, nghĩa là “lớn”) thành rāja (tiếng Phạn, nghĩa là “vua”). Theo Durand, tên đó có nghĩa là “vị chúa tể của đất đai rộng lởn là Kiong-nan-pa (…), vua của Chăm-pa (Chiêm Thành)”. Theo G.Maspéro, tên đó có nghĩa “vị chúa tể của vương địa… vua của Chăm-pa”, “Pu pon tana rāya” là đoạn tiếng Chàm thường gặp trong các bi ký Chàm (xem E.Aymonier: Première étude sur les inscriptions tchames, Paris, 1891, các trang 29, 42, 51), nhưng E.M. Durand và G.Maspéro đều không hiểu, và do đó không khôi phục được ba chữ Cùng Nam Bạt

        Năm 1890, học giả Nhật là Sugimoto Naojiro (Sâm Bản Trực, Trị Lang) cho rằng thư tịch Trung Quốc đã chép lầm lẫn, đúng ra chữ nam phải đứng trước, cùng chữ cùng là chép lầm từ chữ ấn. Như vậy, Sugimoto đã chữa tên phiên âm là Bảo Bảo Đán Nã La Da Nam Ấn Bạt Chiêm Bả Địa La Da. ông đã khôi phục 7 chữ đầu là “Pu pon tana rāya nan” có nghĩa là “vị chúa tể của đất đai rộng lớn này” (nan có nghĩa là này đoạn này cũng đã gặp trong bi ký Chàm. Xem Anmonier - đã dẫn). Còn An Bạt, theo ông, là phiên âm tắt của tên In[dra]var[man], hoặc In[dra]var[madeva]. Do đó, ông đã khôi phục toàn bộ tên vua Chiêm này là Pu bon tana rāya nan Indravarmadeva Campādhi-rāia, có nghĩa là “vị chúa tể đất đai rộng lớn này là Inclravarmadeva, vua của Chiêm Thành” (xem Sugimoto Naojiro: Shinam shiraretaru Ckyampa no kokugo (quốc hiệu Chăm Pa mà Trung Quốc biết) trong Toyoshi ronso, Kyoto 1950 t.556-559). Như vậy, đấy cũng chỉ là Indravarmadeva (V) mà thôi, không phải là người khác.

        Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện và Kinh thế đại điển tự lục (Đã dẫn) đều chép tên vua Chiêm vào các năm Chí Nguyên 19 (1282) và 20 (1283) là Bột Do Bổ Lạt Giả Ngô Pelliot đã khôi phục là “ Pu Yuvarāja (P. Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de T cheou Ta-kouan, Paris 1951, p.1`0). Như vậy, đúng là Pulyan Crī Yuvarāia Vlom, hiệu của Indravarmadeva (V) trước khi lên ngôi trong bi ký Chàm (Xem G.Maspéro: Le Royaume de Champa, 1928, p.174).

        Tóm lại, dẫu thư tịch Trung Quốc phiên âm bằng các tên khác nhau, chúng ta đều thấy đó là tên Indravarman(V) trong bi ký Chàm.

2.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn) và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện chép tên con trưởng vua Chiêm là Bổ Đích. Theo bi ký Chàm, con của Indravarman (V) là hoàng tử Harijit. Về sau làm vua tức Jaya Sinhavarman (III) (chính sử Việt Nam gọi là Chế Mân) Bổ Đích có lẽ không phải là tên mà chỉ là tiếng xưng hô. Nguyên sử q. 12 Bản kỷ t.10b chép tên vua Chiêm năm Chí Nguyên 20 (1283) là Bổ Để. Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép các tên vua Chiêm như Bố Trì (Thiên gia bảo hựu 2, 1203), Trà Hòa Bố Để (Thiệu Phong 2, 1342) (Trà Hòa Bố Để vốn làm chức Bổ Đề, Thiệu Phong 12, 1352 Bố Đề (Đại Hòa 4, 1446). Yamamoto Tatsuro cho rằng Bổ Đích, Bổ Để, Bố Trì, Bố Để, Bố Đề là phiên âm tiếng Chàm Bhopatih (Tiếng Phạ Bhūpati) có nghĩa là “vương”, “bệ hạ”. Nhưng Yamamoto cũng cho Bổ Đích có thể là do chữ pati tiếng Phạn nghĩa là “chủ”, “chúa” (Xem T.Yamamoto: On Tawālis ī described by Ibn Batūin the Memoirs of the Research Departement of the Toyo Bunko No 8, 1936, P.108; T.Yamamoto: Annam shi kenkyu I, 1950, t.112, 144). P.Pelliot lại đoán định là dịch âm từ tiếng Chăm putirai.

3.   Theo Marco Polo thì khi chống nhau với Toa Đô (mà Polo chép là Sugatu), vua Chiêm đã rất già (“que mout estoit de grant aajes”, theo bản Benedetp 1928, t.167). Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a chép: “Con [vua Chiêm] là Bổ Đích (xem chú thích trước - T.G.) chuyên giữ việc nước, cậy hiểm không phục”. Kinh thế đại điển tự lục cũng chép tương tự.

4.   Kinh thế đại điển tự tục (bản đã dẫn, t.570); Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a.

5.   Theo Nguyên sứ q.12 Bản kỷ t.3b-4a thì Hốt Tất Liệt điều quân Hoài Chiết, Phúc Kiến, Hồ Quảng giao cho Toa Đô đánh Chiêm ngày Mậu Tuất tháng 6 (16-7-1282), đến ngày hôm sau, ngày Kỷ Hợi (17-7-1282) mới sai Hà Tử Chí đi sứ Xiêm.

6.   Tào Bân (931-999) là tướng của Tống Thái Tổ, đánh Thục, hạ Nam Đường, không giết một người dân nào. Hốt Tất Liệt đã học được cái điển tích ấy ở tên Hán gian Diêu Xu khi hắn sắp đánh Vân Nam năm 1252. “Hoàng đệ Mông Cổ Hốt Tất Liệt sắp đánh Vân Nam, dạ yến trong quân. Diêu Xu kể việc Tống Thái Tổ sai Tào Bân hạ Giang Nam, không giết một người, vẫn để họp chợ. Hôm sau, Hoàng đệ lên yên, nói lớn: Hôm qua ngươi nói chuyện Tào Bân không giết người, ta có thể làm được như thể” (Tục tu trị thông giám, Tống kỷ q.173 (bản Trung Hoa thư cục, t.4730) - Cũng xem Nguyên sử q.158 Diêu Xu truyện, t.2a).

7.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t.570); Nguyên sử q210 Chiêm Thành truyện, t.4a.

8.   Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại, q.41, bản đã dẫn, t.570). Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện không chép ngày quân Nguyên đến Chiếm Thành cảng.

9.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t.570). Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a cũng chép tương tự.

10.   Kinh thế đại điển tự lục, như trên, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4b.

11.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t.570) chép: “Bắt đầu từ ngày 30 (31-12-1282), quân Chiêm Thành dựng thành gỗ” Nguyên sử Chiêm Thành truyện không chép ngày). Vì trước đó Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử đều đã nhắc đến thành gỗ và hẳn là quân Chàm đã chuẩn bị chiến đấu từ trước chứ không thể sau khi quân Nguyên đến mới dựng thành, nên chúng tôi cho rằng ngày 30, quân Chiêm chỉ tăng cường thêm việc phòng thủ ở đây, có thể là xây dựng thêm thành lũy cho kiên cố hơn, chứ thành đã có từ trước, không phải đến ngày 30 mới bắt đầu xây dựng.

12.   Nguyên văn trong Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.570) và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4b là “Hồi Hồi tam sảo pháo”. Có người dịch là “Súng Hồi Hồi ba ngòi”. Nói đến súng và ngòi là nói đến những vũ khí xạ kích có nòng kim loại và dùng thuốc nổ. P.Pelliot cũng cho rằng “Hồi Hồi pháo” (p’ao musulmans) là đại bác (canon) có dùng thuốc nổ (b) Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de Tcheou Ta Kawan, Paris, 1951, p.118). Thực ra không phải như vậy, chữ “pháo” thời Tống Nguyên là chỉ máy bắn đá, đến giữa đời Minh mới dùng chữ “pháo” với nghĩa là hỏa khí xạ kích hình ống. Như trong Vũ kinh tổng lục (Tăng Công Lượng và một số người khác soạn năm 1044). “Hỏa pháo” cũng chỉ là một thứ máy bắn đá bắn các chất cháy (xem L. Carrington Goodrich and Fêng Chia-shêng: The Early Development of Firearms in China trong Isis, vol. XXXVI, pt.2, No104, Jan.1946; Phùng Gia Thăng: Hỏa dược đích phát minh hỏa Tây truyền, Hoa Đông nhân dân xuất bản xã, 1954). “Hồi Hồi pháo” cũng là một loại máy bắn đá. “Hồi Hồi pháo” còn gọi là “Tây Vực pháo” hay “Tương Dương pháo” trong các thư tịch đời Nguyên vì loại “pháo” này do những người Hồi giáo ở Tây Á chế tạo và dùng trong khi quân Mông Cổ vây thành Tương Dương của Nam Tống. Theo Nguyên sử q.203 A Lão ngõa Đinh truyện và Diệc Tư Mã Nhân truyện t.5b-6a, thì vào năm 1271, Hốt Tất Liệt đã sai sứ đến Ba Tư, bấy giờ dưới quyền thống trị của hãn Mông Cổ A-ba-ga (Abaga), để mời một số thợ chế tạo “pháo”. A-ba-ga đã cử hai người Hồi giáo là A-la út Đin (‘Ala ud-Din, A Lão ngõa Đinh) và I-xma-in (Ismāmīl, Diệc Tư Mã Nhân) đến Đại Đô (Bắc Kinh) coi việc chế tạo pháo. Những cỗ “pháo Hồi Hồi" này được dùng trong các trận tấn công Tương Dương và Phàn Thành. Theo Nguyên sử q.7 Bản kỷ t.10b-11a thì tháng 12 năm 1272 “người Hồi Hồi là Diệc Tư Mã Nhân (Ismāmīl) sáng chế “cự thạch pháo”, đem dâng, dùng ít sức mà bắn rất xa, vua sai dùng ở mặt trận Tương Dương”. “Hồi Hồi pháo” là “cự thạch pháo” nghĩa là pháo bắn những viên đá lớn. Theo Diệc Tư Mã Nhân truyện thì những viên đá đó nặng 150 cân và chìm xuống đất 7 thước (Nguyên sử q.203, t.6a). Trịnh Tư Tiêu (1239-1316) trong Tâm sử (q.2, t.71a) có mô tả “Hồi Hồi pháo”. Ông nói rằng Hồi Hồi pháo “được chế tạo ở các nước Hồi Hồi “Hồi giáo” và có sức công phá hơn các “pháo” thường. Cái dàn làm bằng những khúc gỗ lớn đóng xuống đất. Những viên đá bắn đi lớn đến mấy thước và khi rơi xuống, chôn sâu đến ba bốn thước”. Như vậy, “Hồi Hồi pháo” rõ ràng là mây bắn đá, chưa phải là súng có nòng kim loại và thuốc nổ. “Sảo” tức là cần gỗ đặt trên giá, các viên đạn treo vào đấy. Vũ kinh tổng yếu tiên tập (của Tăng Công Lượng đời Tống, bản in niên hiệu Chính Đức (1506-1522) đời Minh có vẽ các “đơn sảo pháo”, “song sảo pháo”, “ngũ sảo pháo” (q.12. t.36a-42b). Kinh thế đại điển tự lục, mục Quân khí (bản đã dẫn, t.592) chép rằng quân Nguyên có pháo 15 “sảo”, 9 “sảo”, 7 “sảo”, 5 “sảo”, 3 “sảo”. Người Chàm bấy giờ có pháo Hồi Hồi có lẽ là do buôn bán với người A Rập.

13.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570; Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2016, 04:04:47 pm

        Trước khi tấn công và đồn lũy của Chiêm Thành, cũng như trọng tất cả mọi cuộc chiến tranh xâm lược khác, bọn tướng Nguyên đã sai sứ dụ hàng. Bọn chúng tưởng rằng binh lực mạnh mẽ của mình có thể làm cho đối phương khiếp sợ. Nhưng đô trấn phủ Lý Thiên Hựu và tổng bả Giả Phủ theo lệnh của Toa Đô bảy lần đến gặp vua Chiêm bảy lần thất bại trở về1. Quân dân Chiêm Thành không đời nào chịu hạ vũ khí trước kẻ thù. Sau khi bọn Lý Thiên Hựu và Giả Phủ đi sứ không có kết quả, tên sứ Nguyên đi chiêu dụ nước Chân Lạp và Xu-lay-man (Sulaymān) xin Toa Đô đi dụ hàng vua Chiêm lần nữa2. Ngày 18 tháng 12 (18/l/1283), Xu-lay-man cùng với Lý Thiên Hưu và Giả Phủ lại đến doanh trại vua Chiêm nhưng bọn này chỉ mang được về bức thư của Indravarman trả lời rằng đã xây dựng thành gỗ, chuẩn bị giáp binh, hẹn ngày quyết chiến3.

        Trước thái độ bất khuất của Chiêm Thành. Toa Đô chần chừ chưa dám tiến quân. Mãi đến ngày 15 tháng giêng năm Quý Vị (Chí Nguyên 20, 13/2-12/3), Toa Đô mới ra lệnh cho binh thuyền xuất phát. Vào nửa đêm, quân Nguyên chia ra làm ba mũi tiến về phía thành gỗ Chiêm Thành. Mũi thứ nhất do an phủ sứ Quỳnh Châu Trần Trọng Đạt, tổng quản Lưu Kim, tổng bả Lật Toàn chỉ huy, đem 1.600 quân đi đường thủy tiến vào phía bắc thành gỗ. Mũi thứ hai do tổng bả Trương Bân, bách hộ Triệu Phùng4 chỉ huy, đêm 300 quân đánh vào doi cát phía đông. Còn  mũi chủ yếu do Toa Đô tự chỉ huy, gồm 3.000 quân, chia làm ba đường5 tấn công vào mặt nam thành gỗ. Quân Nguyên phải vật lộn với sóng gió cho đến sáng mới vào được tới bờ. Số thuyền bị vỡ mất đến 7, 8 phần 106.

        Giặc vừa tới, quân Chàm liền mở cửa nam thành gỗ ra nghênh chiến. Cờ trương trống thúc, mấy chục voi và hơn vạn người hùng dũng xuất trận7. Quân Chàm cũng chia làm ba để đối phó với ba đội quân mặt nam này của Toa Đô. Tên qua đạn lại, trận đánh diễn ra mỗi lúc một ác liệt. Quân Chàm chiến đấu rất dũng cảm. Suốt buổi sáng thế giằng co vẫn duy trì, nhưng đến trưa, quân Chàm không giữ vững được trận địa. Cửa nam bị vỡ, cánh quân Toa Đô tràn vào. Từ bên trong cánh quân này đánh ra phối hợp với hai cánh phía bắc và phía đông. Chẳng mấy chốc quân Nguyên hoàn toàn thắng thế. Mấy nghìn người Chàm bị hy sinh. Quân giữ thành và tiếp lương đến mấy vạn người đều rút lui8. Thành gỗ lọt vào tay giặc.

        Thành gỗ này là cứ điểm đầu tiên của người Chàm đồng thời cũng là nơi tập trung khá nhiều quân sĩ tinh nhuệ và vũ khí. Thành gỗ thất thủ là một tổn thất lớn đối với Chiêm Thành. Do đó, sau lần đọ sức đầu tiên này, vua Chiêm thấy chưa thể ứng chiến ngay với quân Toa Đô. Vì thế, vừa được tin thành gỗ mất, Indravar-man bỏ hành cung, rút tất cả lực lượng vào núi. Trong khi rút lui, lương thực không chuyển vận kịp, vua Chiêm đã cho đốt tất cả các kho để khỏi lọt vào tay giặc. Cũng vào giờ phút đó, vua Chiêm ra lệnh xử tử Vưu Vĩnh Hiền và A Lan9. Hành động đó biểu thị lòng căm thù giặc và ý chí kiên quyết của Inđravarman và quân dân Chàm. Vua Chiêm và triều đình rút lui vào núi là để tiếp tục cuộc kháng chiến, nhưng bề ngoài, vua Chiêm tìm mọi cách làm cho Toa Đô tin rằng mình đã mất hết dũng khí không dám chống lại quân Nguyên nữa, có như thế mới đủ thời gian chuẩn bị lực lượng.

        Ngày 17 tháng giêng âm lịch (12/2/1283), Toa Đô chấn chỉnh đội ngũ tiến đánh Đại Châu tức kinh đô Vijaya (Chà Bàn) của Chiêm Thành. Ngày 19 tháng giêng (17/2/1283), Vua Chiêm sai sứ đến gặp Toa Đô “xin hàng”. Ngày 20 (18/2/1283), quân Nguyên tiến đến phía đông nam Vijaya, Toa Đô cho sứ Chiêm trở về. Tên tướng Mông Cổ nói rằng nếu vua Chiêm hàng thì sẽ “tha tội”(!). Ngày 21 (19/2/1283), quân Nguyên tiến vào kinh đô Chiêm Thành. Bấy giờ quân đội Chàm đã rút hết vào vùng rừng núi phía tây bắc. Vijaya bỏ trống, vì thế Toa Đô đã dễ dàng chiếm đóng đô thành này. Vua Chiêm lại sai Bác Tư Ngột Lỗ Ban Giả10 đến gặp Toa Đô, nói rằng ông ta phụng vương mệnh đến hàng, còn quốc chủ và thái tử sẽ đến sau11. Toa Đô sai người đem hịch đi “triệu” vua Chiêm đến. Trong khi đó, Toa Đô lại kéo quân ra đóng ở ngoài thành Vijaya12. Có lẽ hắn lo sợ khi đóng quân trong một tòa thành trống nên vừa kéo vào đã kéo ra đóng ở bên ngoài như thói quen của quân đội Mông Cổ13. Ngày 23 (21/2/1283), vua Chiêm sai cậu là Bảo Thoát Thốc Hoa14 đi với hơn 30 người, mang 100 tấm vải tạp bố(15), 3 đĩnh bạc lớn, 57 đĩnh bạc nhỏ, 1 vò bạc vụn và 1 ngọn dáo chín dóng làm bằng vàng lá, đến nói với Toa Đô rằng: “Chúa nước tôi muốn đến nhưng đang ốm chưa đi được nên trước hết sai đem ngọn dáo của mình lại để tỏ lòng thành, còn con trưởng là Bổ Đích (tức Hanjit - T.G). hẹn ba ngày nữa xin đến ra mắt16.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/CKC%20-%200134_zpsfwu2uo92.jpg)
Chiến sĩ Chiêm Thành thế kỷ XII - XIII

--------------
1.    Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570; Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b.

2.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b. Tên viên sứ đi Chân Lạp, Chiêm Thành truyện phiên âm là Tốc Lỗ Man, tức Sulaymān, đấy là một tên Hồi giáo.

3.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b. Chiêm Thành truyện không chép rõ ngày, đây là theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t 570.

4.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570 chép là Phùng; Nguyên sử q 210 Chiêm Thành truyện, t.4b chép là Đạt.

5.   Kinh thế đại điển tự lục, chép là hai đường, Chiêm Thành truyện chép là ba đường. Chúng tôi cho là Chiêm Thành truyện chép đúng vì sau này quân Chàm cũng chia làm ba đội ứng chiến.

6.   Theo Kinh thế đại điên tự lục, đã dẫn và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, đã dẫn. Quân Nguyên đã tiến quân đường thủy để tấn công thành gỗ, có lẽ quân Nguyên đóng ở vùng cửa Quy Nhơn và đã cho thuyền tiến ở trong vịnh Quy Nhơn, lên phía bắc để đánh vào các mặt thành gỗ.

7.   Đây là theo Kinh thế đại điên tự lục và Nguyên sử Chiêm Thành truyện. Nguyên sử q.29 Toa Đô truyện t.7b chép là 20 vạn, hẳn là phóng đại để đề cao công Toa Đô.

8.   Theo Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử Chiêm Thành truyện thì mấy vạn quân Chàm tan vỡ hết, nhưng căn cứ vào chỗ sau này lực lượng kháng chiến của Chiêm Thành phục hồi nhanh chóng, chúng ta có thể suy đoán rằng ở trận này, sau lúc đầu giao tranh quyết liệt, thấy đuối sức, quân Chiêm đã rút lui chứ không phải hoàn toàn tan vỡ hết.

9.   Đoạn này theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.570, Nguyên sử q 210 Chiêm Thành truyện, t.4b.

10.   Trong chương này, có một số tên Chàm, chúng tôi không thể khôi phục lại nguyên tiếng Chàm, đành để nguyên tên phiên âm của thư tịch Trung Quốc, đọc theo âm Hán Việt.

11.   Theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571.

12.   Kinh thế đại điển tự tục, bản đã dẫn, t.571 chép: “Quân ta lại đóng ở ngoại thành”, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.4b cũng chép: “Quan quân lại đóng ở ngoài thành”.

13.   Từ Đĩnh sứ Nam Tống đi Mông Cổ đã ghi lại trong Hắc Thát sự lược rằng: “Thấy người Thát (tức người Mông Cổ - T.G.) chưa hề đồn trú trọng binh ở trong thành. Đi qua các quận huyện phía nam và phía bắc sông Hoàng Hà, trong thành tuyệt không có một tên lính, chỉ ở thôn xóm ngoài thành là có người ngựa canh gác. Quân đóng rải rác, nếu thấy động gió bụi nổi lên, thì kỵ sĩ canh gác gọi nhau, sục sạo bơn phía, nếu biết được sự thực thì cấp báo cho đầu mục” (bản in Giang Tô 1903, t.9b).

14.   G.Maspérọ đoán là lên tiếng Phạn Bhadradeva (Le Royaume de Champa, 1928, t.179), nhưng chúng tôi thấy không chắc chắn lắm.

15.   Theo Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên sử - Chiêm Thành truyện, chép là 200 tấm.

16.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2016, 04:17:14 pm

        Bấy giờ Toa Đô muốn thấy ngay mặt kẻ đầu hàng, không bằng lòng những đều kiện trên. Hắn trả lại - hoặc vờ trả lại - các lễ vật của vua Chiêm. Bảo Thoát Thốc Hoa cố nài, nói rằng nếu không nhận là khinh rẻ nước Chiêm. Trước những lời lẽ đó của Bảo Thoát Thốc Hoa, Toa Đô bảo là hãy tạm nhận để rồi tâu về triều. Thế là bước đầu của kế hoạch trá hàng đã thực hiện được. Nhưng muốn để cho tên tướng Mông Cổ tin hơn, Bảo Thoát Thốc Hoa còn phải dùng nhiều mưu kế khác. Ngày 29 (27/2/1283) 1, Bảo Thoát Thốc Hoa lại đến chỗ Toa Đô. Lần này, ông dẫn theo người con thứ tư và người con thứ năm của vua Chiêm2. Ông nói: “Trước kia [vua Chiêm] có 10 vạn quân nên mới dám gây chiến, nay tất cả đều thua tan hết. Nghe những tên lính bại trận trở về nói rằng Bổ Đích (tức Hanjit - T.G.) bị thương đã chết. Quốc chủ bị tên bắn trúng vào má nay đã đỡ nhưng còn hổ thẹn và sợ hãi chưa dám đến yết kiến. Vì thế nên sai hai con đến trước để bàn việc vào cửa khuyết bệ kiến (chỉ việc về triều Nguyên - T.G.)” 3. Bảo Thoát Thốc Hoa tưởng rằng việc đưa hai người con vua Chiêm đến làm con tin sẽ làm cho Toa Đô tin hơn. Nhưng viên tướng Mông Cổ này chẳng phải tay vừa, hắn không tin hai người đó đúng là con vua Chiêm nên không nhận làm con tin. Hắn cho tất cả trở về và đòi vua Chiêm phải đến hàng sớm. Xảo quyệt hơn, Toa Đô lại mượn cớ thăm bệnh vua Chiêm, sai thiên hộ Lâm Tử Toàn, tổng bả Lật Toàn, Lý Đức Kiên cùng đi với Bảo Thoát Thốc Hoa và hai hoàng tử Chiêm (có thể là hai hoàng tử giả. Rõ ràng Toa Đô cho ba tên này đi là để do thám tình hình Chiêm Thành. Bị bắt buộc dẫn kẻ thù vào căn cứ của mình, Bảo Thoát Thốc Hoa ở vào một tình thế khó xử, một mặt phải tìm cách ngăn chúng lại, để chúng không biết đường đi lối lại và tình hình chuẩn bị trong căn cứ địa, một mặt phải làm thế nào kế hoạch trá hàng trước đây không bị lộ. Nhưng con người mưu trí Bảo Thoát Thốc Hoa đã thoát được tình thế đó. Một kế hoạch mới được vạch ra. Ngày 30 (28-2-1283), hai hoàng tử Chàm giữa đường bỏ về trước4. Hẳn là hai người đó theo kế hoạch của Bảo Thoát Thốc Hoa về trước để báo cho vua Chiêm tìm cách đối phó. Vì thế, khi bọn Lâm Tử Toàn theo Bảo Thoát Thốc Hoa đi vào núi chừng hai dặm đường thì vua Chiêm sai người ra ngăn lại. Như vậy là bọn sứ Nguyên không thể vào được căn cứ của người Chiêm. Nhưng trong tình hình đó, Toa Đô có thể phát hiện ra rằng những việc giao thiệp của Chiêm Thành với hắn chỉ là mưu kế trá hàng và hắn có thể đem quân tấn công ngay trong khi Chiêm Thành còn cần một thời gian nữa để chuẩn bị lực lượng chiến đấu. Bảo Thoát Thốc Hoa đã khôn khéo kịp thời thay đổi chiến thuật ngoại giao. ông đổ tội “lật lọng” cho vua Chiêm và vờ như mình muốn làm tay sai cho Toa Đô Sau khi bọn sứ Nguyên bị ngăn lại, giữa con đường núi đó, Bảo Thoát Thốc Hoa đã nói với viên thiên hộ Lâm Tử Toàn: “Quốc chủ dùng dằng không chịu ra hàng, nay lại phao lời là muốn giết tôi, ông hãy về thưa với tỉnh quan (chỉ Toa Đô - T.G.) rằng quốc chủ đến thì đến, không đến thì tôi sẽ bắt đem nộp” 5. Bọn Lâm Tử Toàn quay về doanh trại quân Nguyên, còn Bảo Thoát Thốc Hoa thì về căn cứ của mình, hẳn là để bàn định với vua Chiêm và thái tử Harijit những kế hoạch mới. Ngày hôm đó, vua Chiêm sai giết bọn Hà Tử Chí, Hoàng Phủ Kiệt hơn một trăm người, có lẽ là để đề phòng chúng trốn thoát làm lộ kế hoạch chống giặc của Chiêm Thành.

        Ngày 8 tháng 2 (8/3/1283), không quản gian nguy, Bảo Thoát Thốc Hoa lại lặn lội đến doanh trại của Toa Đô. Dám làm như vậy là vì ông tin tưởng vào kế hoạch mới, vào tài biện thuyết của mình và hơn hết cả là vì ông có một tấm lòng yêu nước nồng nàn. ông đã tìm cách làm cho Toa Đô tin rằng mình thật sự muốn trở thành tay chân của hắn. ông nói: “Cha ông chú bác tôi ngày trước đều làm quốc chủ, đến anh tôi thì bị Bột Do Bố Lạt Giả Ngô (Pu Yuvaraja, tức Indravarman V, xem chú thích trên - T.G.) hiện nay giết rồi cướp ngôi. Hắn lại chặt hai ngón cái ở tay trái và tay phải của tôi. Tôi thật rất oán hắn. Xin đi bắt cha con Bột Do Bố Lạt Giả Ngô, Bổ Đích (tức Harijit - T.G.) và Đại Bạt Tản Cơ Nhi đem dâng” 6. Ông còn xin được cấp quần áo “Đại Nguyên” để mặc lúc đi chiêu dụ người Chiêm. Câu chuyện về mối cừu thù giữa Bảo Thoát Thốc Hoa và vua Chiêm không rõ có thật hay chỉ là điều bịa đặt để đánh lừa Toa Đô, nhưng nếu có thì mối thù đó đã xóa bỏ và trước sự xâm lược của quân Nguyên, Bảo Thoát Thốc Hoa vẫn là người con trung thành của dân tộc Chàm và là người thân tín của Indravarman7.

        Toa Đô vẫn thành thạo trong mưu chước đem đanh lợi mua chuộc những tên phản quốc ở các nước bị chinh phục. Hắn đã tin Bảo Thoát Thốc Hoa đưa áo mũ Nguyên cho ông, “phủ dụ” rồi để ông trở về.

---------------
1.    Theo Kinh thế đại điển tự lục, còn Nguyên sử Chiêm Thành truyện, không chép rõ ngày.

2.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5a chép tên người con thứ tư của vua Chiêm là Lợi Thế Ma Bát Đô Bát Đức Thích, Kinh thế đại điển tự lục bản đã dẫn, t.571 chép chữ đức làm chữ đích. Tên người con thứ năm thì Chiêm Thành truyện chép là Thế Lợi Ấn Đức Thích. Kinh thế điển tự lục lại chép là Lợi Thế Ấn Đức Thích. Chúng tôi cho rằng tất cả các chữ thích đều là chép nhầm từ chữ lạt. Và như vậy, tên người con thứ năm theo Chiêm Thành truyện phải là Thế Lợi Ấn Đức Lạt. Chúng ta dễ dàng thấy đây là phiên âm tên tiếng Phạn Crī. Indra. Kinh thế đại điển tự lục chép Thế Lợi thành Lợi Thế là nhầm. Và như vậy, tên người con thứ tư bắt đầu cũng là Thế Lợi chứ không phải Lợi Thế. Ba chữ cuối, Bát Đức Lạt, có thể nhận được là phiên âm tiếng Phạn Bhadra. Ba chữ giữa, chưa rõ. Như vậy, tên người con thứ tư là Crī [Ma-ba-tu?] Bhadra.

3.   Kinh thế đại điển tự lục, t.571, Nguyên sử q.210 t.5a.

4.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử Chiêm Thành truyện, không chép ngày.

5.   Kinh thế đại điển tự lục, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.5a.

6.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.5a. Kinh thế dại điển tự luc, bản đã dẫn, t.571, chép là Thái Bạt Tản Cơ Nhi. Chưa rõ tên tiếng Chàm của người này, hẳn là một quan chức cao cấp trong triều đình Chiêm.

7.   Dựa vào câu nói trên của Bảo Thoát Thốc Hoa và vào chỗ Bảo Thoát Thốc Hoa là cậu của vua  chiêm hiện tại cũng như dựa vào một số bi ký Chà, G. Maspéro dựng phổ hệ của gia tộc đó như sau:

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/Linh%20tinh/CKC%20-%200152_zpszbcdvafx.jpg)

        (xem Le Royaume de Champa, 1928 t.173).

        Phổ hệ này chỉ đúng khi câu chuyện mà Bảo Thoát Thốc Hoa kể là có thật. Không có một tài liệu nào khác chứng minh điều đó.
[/color]


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2016, 04:24:41 pm

        Ngày 15 tháng 2 (15/3/1283), Bảo Thoát Thốc Hoa lại trở lại doanh trại Toa Đô với mục đích thực hiện nốt bước cuối cùng trong kế hoạch của mình. Lần này ông dẫn năm người gồm có tể tướng Báo Tôn Đạt Nhi, đại sư Toát Cập,… “ra hàng” 1. Ông tưởng rằng đưa một số đại thần đến như vậy thì có thể dễ đánh lừa Toa Đô. Nhưng ác thay, tình thế lại không diễn ra theo ý muốn của ông. Trong lúc ông trở về gặp Indravarman và Harijit để bàn định kế hoạch thì ngày 13 tháng 2 (13/3/1283) có một số người Trung Quốc trú ngụ ở Chiêm Thành đứng đầu là Tăng Diên đã đến được trại của Toa Đô. Tăng Diên nói rằng vua Chiêm hiện ở núi Nha Hầu phía tây bắc Đại Châu (kinh đô Víjaya), tập hợp quân đội hơn ba nghìn người và đang cho gọi quân ở các quận khác về để sắp sửa phản công, vì sợ kiều dân Trung Quốc tiết lộ bí mật nên đã đem giết hết, bọn Diên biết nên trốn thoát2. Toa Đô liền sinh ra nghi hoặc. Vì thế nên đến ngày 15 (15/3/1283) vừa thấy mặt Bảo Thoát Thốc Hoa là Toa Đô cho gọi ngay Tăng Diên ra đối chất. Trong giờ phút nguy hiểm bất ngờ đó, Bảo Thoát Thốc Hoa rất bình tĩnh. Người thuyết khách vô cùng mưu trí đó đã vặn lại Tăng Diên và bảo với Toa Đô rằng bọn Diên là kẻ gian, hãy trói ngay lại, chứ quân đội của vua Chiêm đã tan vỡ hết còn đâu mà dám đánh nữa. Trước thái độ và lý lẽ của Bảo Thoát Thốc Hoa, Toa Đô đã tin theo. Không bỏ lỡ cơ hội, Bảo Thoát Thốc Hoa tiếp tục hoàn thành kế hoạch của mình. ông nói với Toa Đô rằng nay còn 12 châu quận nữa chưa hàng phục, xin mỗi châu sai một người đến chiêu dụ. Ông đề nghị Toa Độ và an phủ sứ Trần Trọng Đạt cùng với ông, mỗi bên cử một người đi thuyền theo đường thủy đến Cựu Châu (Quảng Nam) 3 để chiêu dụ và đánh chiếm vùng đó. Còn về mặt bộ, ông đề nghị Toa Đô, Trần Trọng Đạt cùng với ông “đi bắt quốc chủ, Bổ Đích và đánh thành” 4 Đó là một kế hoạch rất khôn khéo của Bảo Thoát Thốc Hoa nhằm phân tán lực lượng của Toa Đô cũng như đưa hắn vào bẫy.

        Toa Đô vẫn không hay biết tý gì. Tin lời Bảo Thoát Thốc Hoa, ngay ngày hôm đó, hắn điều một nghìn quân ra đóng ở tháp Bán Sơn5. Đồng thời hắn sai Lâm Tử Toàn, Lý Đức Kiên đem một trăm quân theo Bảo Thoát Thốc Hoa tiến về hướng Đại Châu (Vijaya) để đánh vua Chiêm. Hắn còn dặn toán quân này nếu gặp nguy thì báo cho quân ở tháp Bán Sơn đến cứu.

        Bảo Thoát Thốc Hoa, dẫn bọn Lâm Tử Toàn đến phía tây thành Vijaya thì bỏ mặc bọn chúng ở đó, đi tắt ra cửa phía bắc, cưỡi voi vào núi. Đến đây giai đoạn trá hàng của Chiêm Thành đã chấm dứt. Trong một tháng trời hòa hoãn, Chiêm Thành đã có thì giờ để củng cố lại lực lượng. Indravarman và Harijit đã xây dựng căn cứ ở núi Nha Hầu phía bắc Vijaya. Đó là một thành gỗ nằm giữa khoảng rừng sâu núi hiểm. Số quân tập trung ở đây khá lớn. Theo lời một người Chàm mà bọn Lâm Tử Toàn đã bắt được thì số quân đó đã lên tới hơn hai vạn. Đó là chưa kể số quân ở Tân Đa Long (Panduranga) tức Phan Rang ngày nay) và Cựu Châu (Quảng Nam) mà vua Chiêm đã cho gọi nhưng chưa đến nơi. Indravar-man còn sai sứ đi xin viện binh của Đại Việt, Chân Lạp và Đồ Bà (Java). Có lẽ Đại Việt đã phái quân sang giúp Chiêm Thành. Sau này, năm 1284, nhà Nguyên có trách Đại Việt đã giúp Chiêm Thành 2 vạn quân và 500 chiến thuyền6.

-------------
1.    Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b chép là Báo Tôn Đạt Nhi và Toát Cập. Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571 chép là Bảo Tôn Đạt Nhi và Triệt Cập. (báo và bảo gần âm, toát và triệt gần tự dạng). Kinh thế đại điển tự lục không chép rõ Triệt (hay Toát) - cập là đại sư như Nguyên sử. Những đại thần Chiêm Thành này có lẽ cũng là giả.

2.   Kinh thế đại điển tự tục, bản đã dẫn, t.571. Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b. Người Trung Quốc ở đây, các sách trên chép là Đường nhân. Chư phiên chí chép rằng Đường nhân bị thổ nhân (chỉ người Chàm - T.G.) giết hại thì (nhà nước) truy tìm người giết, bắt đền mạng (bản Nhật Bản 1914, t.2a). Như vậy chúng ta biết rằng bấy giờ ở Chiêm Thành có nhiều người Trung Quốc ở và pháp luật Chàm thế kỷ XIII bảo vệ tính mạng họ. Đến khi Nam Tống bị Mông Cổ tiêu diệt, nhiều quan lại Tống cũng chạy sang Chiêm Thành. Sách Trạc anh đình bút ký chép: “Tống mạt, Thẩm Kính Chi sang Chiêm Thành xin quân để khôi phục, Chiêm Thành lấy cớ nước nhỏ từ chối… Chiêm Thành đãi là khách, nhưng không làm quan. Kính Chi cuối cùng buồn giận phát bệnh chết”. Theo Tống sử q.418 và Tống quý tam triều chính yêu thì tên thừa tướng hèn nhát của Nam Tống là Trần Nghi Trung cũng bỏ chạy sang Chiêm Thành và khi quân Nguyên tấn công Chiêm Thành thì y bỏ chạy sang Xiêm. Theo Phật tổ lịch đại thông tải (soạn 1333) thì y chạy sang Lạc Hạc (tức La Hộc, một quốc gia ở hạ lưu Mê Nam), có lẽ đúng hơn. Tất nhiên còn một số hoảng sợ đầu hàng Nguyên như trường hợp một số quan lại Tống ở Đại Việt (xem chương VI). Có lẽ vì thế mà vua Chiêm phải ra lệnh giết “Đường nhân” để khỏi tiết lộ bí mật, trong khi trước đó, pháp luật Chàm bảo vệ họ.

3.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b. Chư phiên chí của Triệu Như Quát đời Tống cũng chép đến Cựu Châu ở Chiêm Thành và ghi rõ rằng “Quốc đô gọi là Tân Châu” (Bản in Nhật Bản năm 1914, t.2a). Từ cuối thế kỷ X, Chiêm Thành đã dời đô từ Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) và Viíaya (Chà Bàn, Bình Định). Nếu gọi Tân Châu là vùng đô mới ở Bình Định thì rõ ràng Cựu Châu là chỉ vùng đô cũ ở Quảng Nam. Có lẽ Cựu Châu không phải chỉ là đô thành Indrapura, mà là cả đất Quảng Nam. Theo các bi ký Chàm, vùng Quảng Nam có tên là Amarāvatī.

4.   Kinh thế đại điển tự lục, t.571, Nguyên sử q.210, t.5b.

5.   Địa điểm này có quan hệ mật thiết với Đại Châu (Vijaya). Ngày nay vùng gần Chà Bàn còn có một số tháp Chàm cổ trên các đồi, có lẽ tháp Bán Sơn ở trong số đó.

6.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.5b: “Tháng 3 năm [Chí Nguyên] 21 (19-3 - 16-4-1284)… vì an phủ sứ Quỳnh Châu là Trần Trọng Đạt nghe Trịnh Thiên Hựu nói rằng Giao Chỉ thông mưu Chiêm Thành, sai 2 vạn quân và 500 thuyền ứng viện, [vua Trần] lại gửi thư đến hành tỉnh, đại lược nói: Chiêm Thành nội thuộc tiểu quốc, đại quân đến đánh, thật đáng xót thương, nhưng chưa từng dám nói một lời, đó là thời trời việc người, tiểu quốc cũng biết vậy. Nay Chiêm Thành phản nghịch, mê muội không tỉnh, đó là không biết trời biết người vậy. Kẻ biết trời biết người mà trái lại đồng mưu với kẻ không biết trời biết người, tuy trẻ con lên ba cũng biết là không nên huống hồ là tiểu quốc”. Đây có thể chỉ là một cách chối khôn khéo. Ngay lời thư cũng nhận là “xót thương” Chiêm Thành. Trần Trọng Đạt, Trịnh (Lý?) Thiên Hựu là những viên tướng đánh Chiêm Thành, có thể bọn chúng biết sự thực.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2016, 04:35:57 pm

        Với lực lượng khá hùng hậu như vậy, Chiêm Thành đã sẵn sàng ứng phó với bất cứ một cuộc tấn công mới nào của Toa Đô. Khi biết là bị mắc lừa, Toa Đô vô cùng tức tối. Hắn lập tức tổ chức một cuộc tấn công trả thù vào căn cứ địa của Chiêm Thành. Ngay ngày 16 tháng 2 (16/3/1283) hắn sai bọn vạn hộ Trương Ngung dẫn quân tiến vào chỗ vua Chiêm ở. Nhưng vì đường sá gập ghềnh hiểm trở nên mãi ba ngày sau, ngày 19 (19/3/1283), cánh quân Trương Ngung mới tiến đến cách thành gỗ 20 dặm1. Đến đây quân Nguyên đã vấp phải một sức kháng cự rất mạnh. Ngoài những hào sâu, quân Chiêm còn dùng nhiều gỗ lớn để ngăn giặc. Hơn hai nghìn binh sĩ đã cầm cự rất anh dũng. Cuối cùng quân Nguyên cũng vượt qua được những chướng ngại vật, tiến sát dưới thành gỗ. Nhưng càng vào sâu, bọn chúng càng đến gần chỗ chết. Núi rừng hiểm trở đã chặn chúng lại, trong khi đó quân Chiêm từ hai bên đổ ra, đánh vào phía sau lưng giặc, không cho chúng rút lui. Bị hãm vào tình thế tiến không được, thoái cũng không được, lại trở tay không kịp vì tài chiến đấu của những người lính Chàm gan dạ, cánh quân của Trương Ngung vô cùng hoảng  hốt. Bọn chúng phải “liều chết cố đánh” mới sống sót “thoát được về doanh trại” 2.

        Sau lần thất bại nặng nề này, Toa Đô đã thấy rõ được sức chiến đấu của người Chiêm. Hắn không còn dám nghĩ đến một cuộc tấn công mới vào căn cứ của Indravarman trong vùng núi hiểm trở kia. Nhưng không phải vì thế mà Toa Đô đã chịu bỏ dã tâm chiếm đóng Chiêm Thành. Hắn bắt đầu mưu toan một kế hoạch mới lâu dài và thâm độc hơn.

        Toa Đô rút quân từ doanh trại ở phía ngoài thành Vijaya ra vùng bờ biển Quy Nhơn ngày nay. Hắn chấn chỉnh tàn quân, dựng thành gỗ, tích trữ lương thực, giao cho tổng quản Lưu Kim, thiên hộ Lưu Quyên, Nhạc Vinh trông coi việc phòng thủ3.

        Toa Đô cho đóng quân ở đây là có ý chờ đợi viện binh để tổ chức những cuộc tấn công mới vào lực lượng Chiêm Thành. Bấy giờ Hốt Tất Liệt cũng đang chú ý đến việc tăng viện cho đạo quân Toa Đô. Ngày Ất Tỵ, 20 tháng 2 (20/3/1283), Hốt Tất Liệt đã sai hành tỉnh Long Hưng (Nam Xương, Giang Tây) cho quân đi hộ tống thuyền lương đến Chiêm Thành4. Ngày Bính Dần, 13 tháng 5 (9/6/1283), Hốt Tất Liệt lại ra lệnh cho viên bình chương hành tỉnh Kinh Hồ là A-ric Kha-y-a (Arïq- Qaya) 5 điều động 7 nghìn quân Hán (người bắc Trung Quốc) và 8 nghìn quân tân phụ (người nam Trung Quốc) chuẩn bị tăng viện cho Toa Đô6. Hốt Tất Liệt còn cho những tù phạm tội nặng định đi đánh Nhật Bản bổ sung vào đạo quân đi Chiêm Thành7. Đến ngày Kỷ Mão, 26 tháng 5 (22/6/1283), khi viên tuyên úy sứ bốn châu Hải Nam là Chu Quốc Bảo tâu xin thêm quân đánh Chiêm Thành thi Hốt Tất Liệt cho lấy một vạn rưởi quân mà A-ric Kha-y-a đã điều động8. Hai ngày sau, Hốt Tất Liệt lại ra lệnh cấp cung tên, giáp trượng cho Toa Đô9.

        Để tăng cường việc xâm lược Chiêm Thành và các nước phương Nam khác, ngày Bính Dần, 16 tháng 9 (7/10/1283), Hốt Tất Liệt đã sáp nhập hành tỉnh Kinh Hồ với hành tỉnh Chiêm Thành là một10. Điều đó có nghĩa là làm cho hành tỉnh Chiêm Thành, cơ quan xâm lược các nước phương Nam, có một cơ sở ở trong nước. Hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành được thiết lập sẽ tiến hành dễ dàng hơn việc huy động và tổ chức lực lượng ở các tỉnh phía nam sông Dương Tử dốc cho cuộc chiến tranh xâm lược các nước phương Nam11. A-ric Kha-y-a được cử làm bình chương chính sự của hành tỉnh này. Theo lệnh của Hốt Tất Liệt, A-nc Kha-y-a đòi Đại Việt phải giúp quân lương và cho mượn đường đánh Chiêm Thành nhưng Đại Việt đã cự tuyệt12. Thái độ kiên quyết đó của vua Trần đã gây khó khăn lớn cho bọn xâm lược Nguyên Mông trong việc tiếp viện cho Toa Đô ở Chiêm Thành. Chúng đành phải dùng đường thủy là con đường đầy nguy hiểm đối với chúng. Ngày Đinh Dậu, 17 tháng 10 (7-11-1283), Hốt Tất Liệt sai Khu-tu-khu (Qutuqu) 13 thống lĩnh số quân của hành tỉnh Dương Châu mới tăng thêm cho Toa Đô14. Nhưng việc chuẩn bị tiếp viện cho Toa Đô tuy kéo dài gần suốt năm Quý Vị (Chí Nguyên 20, 1283) vẫn chưa có một đội binh thuyền nào đến được Chiêm Thành. Các cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dân Trung Quốc ở Quảng Đông đã chặn mất con đường tiếp viện. Nguyên sử chép: “Năm [Chí Nguyên] 20 (1283), ở Quảng Đông, trộm cướp nổi lên, cắt đứt đường vận chuyển lương thực đi Chiêm Thành” 15

---------------
1.    Ở chỗ này, Nguyên sử Chiêm Thành truyện chép là “thủy thành”, nhưng Kinh theé đại điển tự lục chép là “mộc thành” (thành gỗ). Như vậy rõ ràng là Chiêm Thành truyện đã chép nhầm chữ mộc ra chữ thủy. Ngay sau đó Chiêm Thành truyện cũng chép là quân Nguyên tiến đến dưới “mộc thành” (thành gỗ). Kinh thế đại điển tự lục đã chép đúng.

2.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.571, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.5b.

3.   Sau khi Trương Ngung thất bại trở về, Kinh thế đại điển tự lục, t 571, và Nguyên sử Chiêm thành truyện, t.5b chép rằng: “Hành tỉnh liền chỉnh đốn quân, tích trữ lương thực, dựng thành gỗ, sai tổng quản Lưu Kim, thiên hộ Lưu Quyên, Nhạc Vinh phòng thủ”. Chúng không rõ là thành gỗ được xây dựng ở đâu. Từ khi tiến quân vào Vijaya ngày 19 tháng 2 năm 1283 cho đến khi Trương Ngung đi đánh vua Chiêm ngày 16 tháng 3 năm 1283, doanh trại Toa Đô không chuyển đi nơi nào khác, như vậy là vẫn ở ngoài thành Vijaya. Nhưng khi đoàn quân tiếp viện cho Toa Đô ngày 2 tháng 4 năm 1284 đến cảng Thư Mi Liên (cửa Quy Nhơn) “là nơi Toa Đô đóng hành tỉnh cũ, thấy doanh trại nhà cửa đã bị đốt hết, mới biết quan quân đã về” (Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên sử - Chiêm Thành truyện). Như vậy là Toa Đô đã từ Quy Nhơn đi chứ không phải từ ngoài thành Vijaya ra vùng cửa biển Quy Nhơn. Cõ lẽ Toa Đô thấy đóng ở vùng Vijaya (Chà Bàn, Bình Định) đi. Do đó, tuy tài liệu không chép rõ, chúng ta thấy là sau khi tấn công vào quân Chiêm thất bại, Toa Đô đã dời từ doanh trại ngoại thành Vijaya ra vùng cửa biển Quy Nhơn. Có lẽ Toa Đô thấy đóng ở vùng Vijaya gần rừng núi và căn cứ vua Chiêm dễ bị nguy hiểm, mặt khác, đóng ở Quy Nhơn có thể dễ dàng đón quân tiếp viện.

4.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.8b.

5.   Nguyên sử phiên âm là A Lý Hải Nha. Tên tướng người Uigur này đóng một vai trò quan trọng trong việc xâm lược Đại Việt năm 1285, xem chú thích ở chương VI.

6.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.10a-b.

7.   Nguyên sử, Bản kỷ chép việc này vào ngày Giáp Tuất tháng 5 (17-6-1283) (q.12, t.10b).

8.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.10b. Một vạn rưởi quân đó là gồm 7 nghìn quân Hán và 8 nghìn quân tân phụ đã nói ở trên.

9.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.10b.

10.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.12a.

11.   Theo Nguyên sử q.63 Đại lý chí t.la, lộ Vũ Xương (Thượng) thời Đường sơ là Ngạc Châu, rồi đổi làm quận Giang Hạ, rồi lại đổi làm quận Vũ Xương, đến đời Tống đổi làm Kinh Hồ bắc lộ. Năm 1274, nhà Nguyên lập Kinh Hồ đẳng xứ hành trung thư tỉnh. Năm 1277 gộp Ngạc Châu hành tỉnh (Hồ Bắc) vào Đàm Châu hành tỉnh (Hồ Nam). Như vậy Kinh Hộ là gồm Ngạc Châu và Đàm Châu. Hành tinh Kinh Hồ được thiết lập trong quá trình tấn công Nam Tống và phụ trách việc xâm lược Nam Tống. Sau khi tiêu diệt Nam Tống, nhà Nguyên lại sáp nhập cả Lưỡng Quảng vào hành tỉnh này và gọi là hành tỉnh Hồ Quang (Từ Nguyên cũng chú rõ là hành trung thư tỉnh Hồ Quảng thống lĩnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây). Tuy thế, các tên Kinh Hồ, Hồ Quảng, Kinh Hồ - Chiêm Thành vẫn thường được gọi lẫn lộn với ý nghĩa như nhau. Nguyên sử q.122 HổĐò Thiết Mộc Lộc (Qutuq Tämtür) truyện (Thiết Mại Xích (Tämäči) truyện phụ) chép: “Bây giờ (1285 - T.G.) tên hành tỉnh gọi là Kinh Hồ - Chiêm Thành, là Kinh Hồ, là Hồ Quảng”.

12.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.5a chép năm Chí Nguyên 20 (1283) “bấy giờ A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) làm bình chương chính sự hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành, Hoàng đế (chỉ Hốt Tất Liệt - T.G.) muốn Giao Chỉ giúp binh lương để đánh Chiêm Thành, sai dụ theo ý mình. Hành tỉnh sai Đạt Lỗ Hoa Xích Ngạc Châu là Triệu Chư mang thư dụ Nhật Huyên”. An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên Phụng sứ cũng chép: “Năm Chí Nguyên 20 (1283)… sai hành trung thư tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành, dụ An Nam cho mượn đường, giúp hữu thừa Toa Đô đánh Chiêm Thành, lại sai Đạt Lỗ Hoa Xích Ngạc Châu Triệu Chư đi dụ, thế tử (chỉ vua Trần - T.G.) không nghe”. Xem chương IV.

13.   Khu-tu-khu (Qutuqu), Nguyên sử q.12 Bản kỷ phiên âm là Hốt Đố Hốt, Nguyên sử q.123 Bản kỷ q.210 Chiêm Thành truyện và Kinh thế đại điển tự lục phiên âm là Hốt Đô Hổ.

14.   Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.12b.

15.   Nguyên sử q.166 Trương Ngọc truyện (Trương Vĩnh Thực truyện phụ). Theo Nguyên sử q.12 Bản kỷ thì tháng 3 năm Chí Nguyên 20 (4-1283) Lâm Quế Phương, Triệu Lượng Kiềm nổi dậy ở Quảng Châu, lập nước La Bình, niên hiệu Diên Khang (t.9b). Theo Nguyên sử kỷ sự bản mạt q.1 (bản Thương vụ, t. 1) thì cuộc khởi nghĩa này tập hợp hơn 1 vạn người. Nguyên sử q 12 Bản kỷ cũng cho biết là tháng 9 năm đó (10-1283) “Quảng Đông trộm cướp nối lên, sai một vạn quân đi đánh” (t.12a). Như vậy cuộc khởi nghĩa tháng 9 ở Quảng Đông rất lởn. Kinh thế đại điển tự lục mục chiêu bô (Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.587) cho biết là tháng 9 năm Chí Nguyên 20 (10-1283), ở Quảng Đông Khu tướng quân tập hợp hơn 10 vạn người xưng làm vua, đặt niên hiệu, đánh chiếm các thành ấp, Thái đại lão, Chung đại lão, Đường đại lão ở huyện Tăng Thành đều hưởng ứng, chiếm các vùng Bình Khang, Hạ Lý, Đông Đoàn Thôn, quân Nguyên phải kéo đi đàn áp.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2016, 10:36:19 pm

        Trong khi đó, ở Chiêm Thành, Toa Đô lâm vào một tình trạng khá bi đát. Hắn đóng quân ở bờ biển Quy Nhơn đợi tăng viện nhưng mỏi mắt trông chờ suốt một năm trời vẫn không thấy tăm hơi. Quân lính của hắn lại bỏ trốn về nước khá nhiều, có lẽ vì thiếu lương, đói khát và vì hoảng sợ trước những cuộc tập kích của quân kháng chiến Chiêm Thành1. Toa Đô không còn hy vọng gì vào việc chiếm đóng vùng quốc đô Chiêm Thành, vì ở đây, lực lượng chiến đấu của người Chiêm càng ngày càng phát triển. Nếu kéo dài việc đóng quân chờ thời ở đây, cánh quân của Toa Đô có thể gặp nguy cơ bị tiêu diệt. Đã đến lúc tên tướng Mông Cổ thấy cần phải rút khỏi vùng Quy Nhơn, nơi hắn đã tốn công chinh phục xây dựng trong hơn một năm trời. Tuy vậy, hắn vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm chiếm Chiêm Thành. Không phải chỉ có ngà voi và trầm hương ở xứ sở này quyến rũ bọn kẻ cướp Nguyên Mông. Chúng cố sống cố chết bám lấy đất Chiêm là vì từ đây chúng có thể đánh toả xuống phương Nam và nhất là có thể đánh thọc vào lưng Đại Việt, kẹp Đại Việt vào hai mũi kìm phía nam và phía bắc. Toa Đô là một trong những tên xâm lược nhận thức được rõ ràng điều đó2. Vì thế, sau khi rời khỏi vùng Quy Nhơn, cửa Crī Vinaya3 của người Chiêm, ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thân (Chí Nguyên 21, 24/3/1284) Toa Đô tiến quân ra phía bắc Chiêm Thành, vùng gần biên giới phía nam của Đại Việt4.

        Mãi đến đầu năm Giáp Thân (Chí Nguyên 21, 1284) Hốt Tất Liệt mới thực hiện được việc tăng viện cho Toa Đô. Ngày 10 tháng 2 (27/2/1284) viên tham nghị ở trung thư tỉnh là Mang Lai Bu-kha (Manglai Buqa) tâu với Hốt Tất Liệt về việc hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành đóng thuyền để chở lương tiếp viện cho quân ở Chiêm Thành5. Ngày định vị, 28 tháng 2 (16/3/1284), Hốt Tất Liệt ra lệnh cho A-ta-khai (Ataqai) 6 phát 1 vạn 5 nghìn quân và 200 thuyền đi giúp việc đánh Chiêm Thành. Thuyền không đủ, hắn lại ra lệnh cho tỉnh Giang Tây phải cấp thêm7. Tướng được cử đi tăng viện cho bọn vạn hộ Khu-tu-khu (Qutuqu), Ô Mã Nhi (Ô-ma, ‘Omar) 8, Lưu Quân Khánh9.

        Không biết Toa Đô đã dẫn quân ra phía bắc, bọn Khu-tu-khu cứ nhắm phía nam Chiêm Thành, vùng quốc đô mà tiến. Ngày 15 tháng 3 (2/4/1284) chúng đến cảng Thư Mi Liên (tức cửa Quy Nhơn) thì thấy doanh trại nhà cửa của Toa Đô đã cháy hết10. Vạn hộ Lưu Quân Khánh tiến quân vào Tân Châu (Bình Định) 11, gặp được người Chiêm Thành mới biết Toa Đô đã rút. Lưu Quân Khánh bắt người này dẫn đường đến gần chỗ vua Chiêm đóng12. Ngày 20 tháng 3 (7/4/1284), Khu-tu-khu sai bách hộ Trần Khuê đi dụ vua Chiêm hàng. Ngày 27 tháng 3 (14/4/1284), Indravarman sai người đến gặp Khu-tu-khu, nói rằng sang năm sẽ cho con đem cống vật sang Nguyên, còn hiện nay thì đất nước đã bị quân Toa Đô cướp phá, không còn gì để cống nạp13. Trước sự từ chối của vua Chiêm, bọn Khu-tu-khu thấy không thể đóng lại được ở đây Hơn nữa, nhiệm vụ của chúng là tăng viện cho cánh quân đánh Chiêm Thành, vì thế chúng cần tìm gặp Toa Đô ngay. Nhưng cánh quân này chưa gặp được Toa Đô thì binh thuyền của chúng đã gặp bão bị tan nát hết14.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200126_zpspuvntj2n.jpg)
-------------------
1.    Nguyên sử q.12 Bản kỷ t.12b chép: “Ngày Đinh Dậu [tháng 10 Chí Nguyên 20] (7/11/1283), giết quân ở Chiêm Thành bỏ trốn về. Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b chép: “Ngày Quý Sửu [tháng 5 Chí Nguyên 21] (21/5/1284), quan ở Khu mật viện nói rằng quân tan vỡ của Toa Đô đã sai Lý Hằng thu thập”. Ban đầu Hốt Tất Liệt đã ra lệnh xử tử những người lính trốn ở Chiêm Thành về nhưng về sau thì lại cho thu thập số quân đó để sử dụng vào việc đánh Đại Việt (xem chương VI). Như vậy số bỏ trốn hẳn là ngày càng đông. Không có một tài liệu trực tiếp nào nói đến hoạt động chiến đấu của người Chiêm khi quân Toa Đô đã rút ra Quy Nhơn. Nhưng do chỗ quân Toa Đô “tan vỡ”, “bỏ trốn” nhiều nên chúng ta có thể nghĩ được như vậy

2.   Toa Đô đã đề nghị đánh chiếm Đại Việt và đóng quân ở Việt Lý, bắc Chiêm Thành (xem chương VI).

3.   Cửa Quy Nhơn, tức cửa Thị Nại, Việt sử lược q.2, t.13 chép tên phiên âm đầy đủ là Thị Lị Bì Nại, có thể khôi phục thành tiếng Phạn Crī Vinaya.

4.   Về ngày rút quân của Toa Đô, xem Kinh thế đại điển tự lục, đã dẫn, t.571 và Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.6a.

5.   Kinh thế đại điển, mục Trạm xích trong Văn Lạc đại điển q.19, 418. Manglai Buqa, sách này phiên âm là Minh Lý Bất Hoa.

6.   A-ta-khai (Ataqai), Nguyên sử Bản kỷ phiên âm là A Tháp Hải, nhưng không nói rõ A-ta-khai này là người nào. Nguyên sử q.129 có A Tháp Hải truyện, chép về A-ta-khai tên thừa tướng đã đem quân đánh Nhật Bản (cũng xem Nguyên sử q.208 Nhật Bản truyện). Tân Nguyên sử q 182 Trương Huyên truyện t.2b chép rằng Trương Huyên (cha Trương Văn Hổ, tướng vận lương vào Đại Việt năm 1287) đã làm chức chiêu thảo trong quân A-ta-khai đánh Nhật Bản năm Chí Nguyên 20 (1283) và “năm 21 (1284). vẫn theo A-ta-khai đem chu sư 1 vạn 5 nghìn người đánh Chiêm Thành. Như vậy, A-ta-khai phát quân đánh Chiêm Thành đúng là A-ta-khai đã đi đánh Nhật Bản. Nhưng chúng tôi cho rằng Tân Nguyên sử chép nhầm chứ A-ta-khai chỉ “phát quân” chứ không đến Chiêm Thành vì Nguyên sử A Tháp Hải truyện không nhắc đến việc đánh Chiêm Thành và trong danh sách những tướng tăng viện không có A-ta-khaì (A-ta-khai giữ chức cao hơn Khu-tu-khu, nếu đi, y phải là chỉ huy và tên y phải được chép).

7.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2a. Số quân 1 vạn 5 nghìn là của Dương Châu và đã chuẩn bị từ trước.

8.   Ô-ma (‘Omar), Nguyên sử q.103 Bản kỷ t.2b phiên âm là Hốt Mã Nhi nhưng ngay trang sau, t.3a, lại phiên âm là Ô Mã Nhi. Đây là tên Ô Mã Nhi, hay Ô Mã Nhi Bạt Đô (‘Omar-ba’atur) vào Đại Việt năm 1285 và 1287 chép trong Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Vì tên Ô Mã Nhi đã được gọi quen nên trong sách này chúng tôi vẫn giữ là Ô Mã Nhi mà không phiên âm là Ô-ma nữa. Ở đây, chúng tôi chỉ lưu ý người đọc rằng ‘Omar là một tên người Hồi giáo. Có khi được gọi là Ô Mã Nhi Bạt Đô. Bạt Đô (Ba’atur) là một danh hiệu Mông Cổ có nghĩa là Dũng sĩ.

9.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b.

10.   Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.6a. Theo Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b thì sau khi đến cảng Thư Mi Liên, quân Nguyên tiến vào Tân Châu. Sách Doanh nhai thắng lãm đời Minh chép rằng Chiêm Thành “có cửa biển gọi là cảng Tân Châu, bờ cũng có tháp đá làm mốc, thuyền đến đấy thì buộc vào, có trại gọi là Thiết Tỉ Nại”. Cảng Thư Mi Liên đúng là cảng Tân Châu. Thiết Tỉ Nại (âm Trung Quốc đọc tỉ là p’i) tức Thi Lị Bì Nại trong Việt sử lược và là Thi Nại. Như vậy cảng Thư Mi Liên là cửa Çrī Vinaya của Chiêm Thành, tức cửa Quy Nhơn.

11.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b-3a.

12.   Theo Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t.572, Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện, t.6a và Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.3a. Kinh thế đại điển tự lục và Chiêm Thành truyện chép tên người sứ Chiêm là Văn Lao Cùng Đại Ba Nam, còn Bản kỷ thì chép là A Bất Lan, tuy điều sứ giả trình bày thì các tài liệu trên chép tương tự nhau.

13.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.3a chép: “Ngày Đinh Sửu [tháng 5, Chí Nguyên 21] (14-6-1284) bọn Khu-tu-khu (Hốt Đô Hố), Ô Mã Nhi, Lưu vạn hộ (tức Lưu Quân Khánh - T.G.) đem 2 vạn quân tỉnh Dương Châu đến chỗ quân Toa Đô, gặp gió thuyền tan. Sắc đòi lại cáo mệnh hổ phù của bọn Ô Mã Nhi...”. Ngày 14 tháng 6 năm 1284 là ngày tước hổ phù bọn tướng tăng viện chứ không phải là ngày quân tăng viện gặp bão. Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.2b cho biết rằng ngày Canh Tý tháng 4 (8-5-1284), A-ric Kha-y-a xin đến bờ biển thu nhặt quân tan vỡ ở Chiêm Thành và ngày Quý Sửu tháng 5 (21/5/1284) thì Khu mật viện nói rằng đã sai sứ chiêu dụ quân tan vỡ của Giang Hoài, Giang Tây tức quân tiếp viện đi Chiêm Thành. Như vậy, tuy không biết rõ ngày quân Nguyên gặp bão, chúng ta cũng biết là ngày đó ở vào sau ngày 14 tháng 4 năm 1284 (ngày sứ Chiêm gặp Khu-tu-khu ở Bình Định) và trước ngày 8 tháng 5 năm 1284 (ngày A-ric Kha-y-a đi thu nhặt tàn quân).


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2016, 10:50:36 pm

        Bấy giờ, Toa Đô đã đem quân ra phía bắc, đánh vào vùng hồ Đại Lãng1. Ở đây Toa Đô lại sai đẵn gỗ làm thành, vỡ ruộng cày cấy để tự cấp. Từ đó, Toa Đô đem quân đánh tỏa ra vùng đất Ô Lý và Việt Lý (tức vùng Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay) 2. Toa Đô tăng cường cướp bóc, tích trữ lương thực3. Hắn muốn áp dụng trên đất Chiêm chính sách đồn điền của bọn thống trị Mông Cổ ở Trung Quốc. Điều đó biểu lộ âm mưu đóng chốt lâu dài ở vùng này của Toa Đô. Nhưng quân số của hắn đã hao hụt khá nhiều, việc chiếm đóng vùng này cũng không phải là dễ dàng. Vì thế, ngày Canh Ngọ, 22 tháng 5 (7/6/1284), Toa Đô phải xin Hốt Tất Liệt cho thêm quân4. Nhưng viện binh còn đâu nữa, bao nhiêu binh thuyền chuẩn bị trong hơn một năm trời đã tan tác hết. Toa Đô phải đóng quân trong tình trạng khốn quẫn thiếu lương.

        Như vậy là âm mưu xâm lược Chiêm Thành của Hốt Tất Liệt đã thất bại. Cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Chàm đã làm cho hắn không thực hiện được việc chiếm đóng Chiêm Thành và biến đất này thành một căn cứ để tấn công các nước khác ở Đông Nam Á. Máu của nhân dân Chàm đã đổ là để bảo vệ những cánh đồng phì nhiêu cày bằng hai trâu, bảo vệ trầm hương và rượu dừa, bảo vệ những ngày hội bơi thuyền xem cá trong tháng tư hay lễ cưỡi voi vào ngày nguyên đán, có nghĩa là bảo vệ cuộc sống lao động thanh bình của họ5. Nhưng chính cuộc chiến đấu rất anh dũng và mưu trí của nhân dân Chàm đã làm cho Hốt Tất Liệt không bắc được chiếc cầu xuống phương Nam và cũng do cuộc chiến đấu đó, tên vua Mông Cổ không có một căn cứ mạnh mẽ và vững chắc ở phía nam để tấn công vào Đại Việt. Nhờ đó, nhân dân Việt ít đổ máu hơn trong cuộc chiến tranh mới.

        Nhưng Hốt Tất Liệt vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược Chiêm Thành. Hắn lại bắt đầu chuẩn bị một kế hoạch mới. Tháng 5 năm 1284, Khu mật viện đã sai Lý Hằng đi thu thập những quân đào ngũ của Toa Đô và cho người chiêu dụ đám tàn quân Giang Hoài, Giang Tây đi tiếp viện tan tác trở về. Những tên lính tìm đến đều được cấp lương thực. Thuyền chèo hư hỏng được sửa chữa lại. Số quân mới chiêu tập được đó giao cho A-ric Kha-ya điều động, dùng cho cuộc “Nam chinh” mới6. Nhưng cũng có nhiều tên trong đám tàn quân không chịu trở lại con đường chết ấy nữa, cái đói khát khổ sở trên đất Chiêm đã biến chúng thành những đám thổ phỉ, cướp bóc quấy nhiễu nhân dân miền Nam Trung Quốc7.

        Ngày Đinh Sửu 29 tháng 5 (14/6/1284), Hốt Tất Liệt đã ra lệnh tước hổ phù8 của bọn Ô Mã Nhi (‘Omar), những bộ tướng đã đi tăng viện cho Toa Đô, lấy bọn Bôn-kha-đa (Bolqadar) 9 ở Hà Tây thay thế bọn Ô Mã Nhi, đặt dưới quyền chỉ huy của A-ric Kha-y-a10. Đến ngày Mậu Tý 12 tháng 7 (24/8/1284), Hốt Tất Liệt hạ chiếu cho con trai hắn là Thoát Hoan (Toan) đánh Chiêm Thành11. Nhưng tiến đến Chiêm Thành bằng con đường nào? Hốt Tất Liệt đã hoảng sợ trước sóng gió của biển cả phương Nam. Hắn quyết định đánh chiếm Đại Việt, rồi sau đó sẽ đánh chiếm Chiêm Thành.

        Trong khi đó, vương triều Chiêm Thành vẫn tiếp tục đấu tranh ngoại giao để đòi quân Toa Đô phải rút khỏi đất nước12. Đến đầu năm 1285, Toa Đô tiến từ Ô Lý, Việt Lý ra phía bắc, tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, nhưng viên tham chính là Y-gơ-mi-sơ (Yïgmïš) vẫn đóng quân lại ở vùng hồ Đại Lãng. Cho đến khì cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt hoàn toàn thất bại thì tên tướng đó mới rút hết quân khỏi đất nước Chiêm Thành13. Như vậy là đến lượt cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Việt lại chặn đứng được cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mông Cổ xuống Chiêm Thành và góp phần vào việc giải phóng hoàn toàn đất nước này.

-----------------
1.    Có lẽ là vùng phá Cầu Hai ở Thừa Thiên hiện nay. Không có tài liệu để biết Toa Đô tiến quân ra phía bắc bằng đường gì. Nhưng chắc là Toa Đô đã tiến quân bằng đường thủy. Đi bằng đường thủy, y có thể sử dụng đoàn thuyền đã đem theo, tránh được những sự xung đột với quân dân Chàm trên đường bộ, bảo toàn quân số vốn đã hao hụt để tiến đến nơi quy định. Không có tài liệu nào chép về những trận đánh trước khi Toa Đô đến hồ Đại Lãng. Sau này, đoàn quân tiếp viện đến Quy Nhơn không gặp Toa Đô cũng đi theo đường thủy để tìm Toa Đô. Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện t.7b nói rằng ở hồ Đại Lãng, Toa Đô giết được 6 vạn người. Hẳn đấy chỉ là một sự bịa đặt.

2.   Theo Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện. Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát khi chép các vùng đất Chiêm Thành có chép đến các tên đất Ô Lệ và Việt Lý. Ô Lệ tức Ô Lý trong Nguyên sử. Văn hiên thông khảo của Mã Đoan Lâm và Tống sử q.489 Chiêm Thành truyện đều chép rằng châu Ô Lý ở bắc Chiêm Thành. Chúng tôi đoán Ô Lý tức đất Ulik trong một bi ký Chàm thế kỷ XII ở Mỹ Sơn (Mỹ Sơn 92B, xem G.Maspéro, sách đã dẫn, t.165). Tuy bi ký đó không nói rõ, nhưng theo tinh thần của bi ký, chúng tôi biết được Ulik ở phía bắc Amarāvati (Quảng Nam). Theo Toàn thư thì vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) đã đem châu Ô và châu Lý làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1307 vua Trần Anh Tông đã đổi hai châu Ô và Lý thành châu Thuận và châu Hóa (Toàn thư q.6, t 22a) tức là đất Quảng Trị, Thừa Thiên hiện nay. Có lẽ châu Ô tức Ô Lý trong Nguyên sử còn châu Lý là Việt Lý (phải chăng Việt Lý tức đất Vuyar trong bi ký Chàm nói trên?).

3.   Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện t.7b chép rằng sau khi đánh Ô Lý, Việt Lý, Toa Đô “tích thóc được 15 vạn để cấp cho quân”. Có lẽ là 15 vạn thạch.

4.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.3a chép “Ngày Canh Ngọ [tháng 5] (7-6-1284) hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành (chỉ Toa Đô) đem quân tiến chiếm đất Ô Mã gần An Nam, xin thêm quân”. Ô Mã là chép nhầm từ Ô Lý.

5.   Về phong tục và thổ sản Chiêm Thành thế kỷ XIII, có thể xem Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát.

6.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ, t.2b.

7.   Nguyên sử q.98 Binh chí t.8a chép: “Tháng 11 [Chí Nguyên 22] (28-11-26-12-1285), quan ngự sử đài nói: “… Trước có 5.000 quân đánh Chiêm Thành, trừ số vận lương tử vong, còn 1.122 người. Bọn đó đều quen tính hung bạo, dân lấy làm khổ, nên cấp áo quần, lương thực, cho làm đồn điền để tự cấp, tuyệt được sự quấy nhiễu của chúng.

8.   Theo quân chế đời Nguyên, “vạn hộ đeo kim hổ phù, chân phù làm hình con hổ nằm, đầu là minh châu, phân biệt các hạng ba hạt châu, hai hạt châu, một hạt châu, thiên hộ đeo kim phù, bách hộ đeo ngân phù” (Kinh thế đại điển tự lục - Quân chế, trong Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn t.591).

9.   Ở đây, Nguyên sử q.1 3 Bản kỷ t.3a phiên âm là Bột Lỗ Hợp Đáp Nhi. Bột Lõ Hợp Đáp Nhi cũng là Bột La Hợp Đáp Nhĩ trong bia A-ric Kha-y-a (Diêu Toại soạn, trong Nguyên văn loại q.59, bản đã dẫn, t.856) và Bột La Cáp Đáp Nhi trong Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Đó là Bolqadar, tên tướng Mông Cổ đã hai lần tiến vào Đại Việt năm 1285 và 1288. Xem thêm chú thích ở chương VI.

10.   Nguyên sử q.3 Bản kỷ t.3a.

11.   Nguyên sử q.13 Ban kỷ t.4a.

12.   Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.4b chép rằng ngày Tân Hợi tháng 8 (16-9-1284), vua Chiêm cho một sứ bộ gồm 11 người đến cống 3 con voi và đòi rút quân Toa Đô về.

13.   Theo Nguyên sử q.131 Diệc Hắc Mê thất (Yïgmïš) truyện t.11a và Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.13a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2016, 10:57:47 pm

CHƯƠNG VI

CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ HAI

       “Bến Chương Dương cướp giáo,          
        Cửa Hàm Tử bắt thù…”.                      
        Trần Quang Khái                              

        Vào một ngày tháng 11 năm Giáp Thân (8/12/1284 – 6/1/1285) từ vùng đất phía bắc Chiêm Thành giáp Đại Việt, viên bại tướng Mông Cổ là Toa Đô đã tâu về với Hốt Tất Liệt:

        “Giao Chỉ liền đất với Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, nên lập tỉnh ngay trên đất ấy và đóng quân trấn giữ ở ba đạo Việt Lý (vùng Quảng Trị ngày nay - T.G.), Triều Châu (miền bắc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc - T.G.), Tỳ Lan (tây bắc đảo Hải Nam - T.G.), lấy lương ở đó cấp cho quân sĩ, tránh được việc vận tải đường biển mệt nhọc” 1.

        Đề nghị của Toa Đô phù hợp với âm mưu của tên vua Mông Cổ - Hốt Tất Liệt. Ngay khi đặt được nền thống trị của mình lên toàn bộ đất Trung Quốc, Hốt Tất Liệt đã muốn mau chóng mở rộng bản đồ đế quốc Mông Cổ đến các nước Đông Nam Á và đặc biệt xúc tiến mạnh mẽ kế hoạch xâm lược Đại Việt. Năm 1279, Nam Tống mất, cũng là năm Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng chiến thuyền đánh Đại Việt. Sau việc lập An Nam tuyên úy ty và sai một nghìn quân đưa Trần Di Ái về nước năm 1282 bị thất bại, Hốt Tất Liệt đã luôn luôn sách nhiễu vương triều Trần, mượn đường, đòi lương, kiếm cớ gây sự để tấn công xâm lược.

        Cho đến nay, khi Toa Đô đã thất bại thảm hại trên đất Chiêm Thành và hai vạn quân tiếp viện của Ô Mã Nhi cũng tan tác vì bão biển, Hốt Tất Liệt càng muốn mau chóng chiếm lấy Đại việt. Những đội quân viễn chinh đường biển của Mông Cổ bị thất bại liên tiếp làm cho vua Nguyên thấy không thể trì hoãn việc lập một căn cứ cho quân bộ kỵ trên đất liền. Không có một nơi nào có vị trí thuận lợi để chọn làm căn cứ tốt như Đại Việt, Toa Đô đã nghĩ như thế. Nhưng khi lời tâu của y chưa về đến Đại Đô thì đội quân xâm lược Đại Việt đã lên đường theo lệnh Hốt Tất Liệt. Tên chúa tể Mông Cổ đã làm trước cái việc mà Toa Đô mong muốn.

        Do thất bại nặng nề ở Đại Việt năm 1258 và ở Chiêm Thành năm 1283, nên lần này đi đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng rất lớn. Trong số đó có cả số quân tan vỡ ở Chiêm Thành trở vế2. Để chỉ huy đội quân khổng lồ đó, vua Nguyên đã chọn những tên tướng giỏi, từng lập nhiều chiến công. Thoát Hoan (Toan) và A-ric Kha-y-a (Aïq-qaya) được cử cầm đầu đạo quân viễn chinh này3.

---------------
1.    Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.5b.

2.   Nguyên sử Bản kỷ q.13, 2b chép rằng tháng 5 năm 1284, A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) xin đến bờ biển thu nhặt quân tan vỡ ở Chiêm Thành để lại sai đi đánh phương Nam, khu mật viện nói đã sai Lý Hằng đi thu tập quân tan vỡ của Toa Đô và sai sứ đi chiêu dụ quân tan vỡ của hai tỉnh Giang Hoài, Giang Tây (quân đi tiếp viện cho Toa Đô). Số quân đó đều được “cấp lương, thuyền chèo hỏng đều được sửa chữa, đợi A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) điều động. Tân Nguyên sử q.160 A Lý hải Nha truyện chép: :Năm [Chí Nguyên 21] (1284) sắc cho A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha) điều 7 nghìn quân Hán, 8 nghìn quân Tân Phụ (tức quân Nam Trung Quốc - T.G). theo Trấn Nam vương đi đánh An Nam. A-ric Kha-y-a tự xin đến bờ biển thu tập quân tan vỡ ở Chiêm Thành để lại sai đi đánh phương Nam và những quân chưa đến”.

3.   Toan hay Toon, Nguyên sử phiên âm là Thoát Hoan, thời Thanh Càn Long đổi làm Thác Hoan (xem Nguyên sử ngữ giải). Các sách sau đó như Tục tự trị thông giám cũng chép như vậy. Vì tên Thoát Hoan đã được gọi quen nên trong sách này, chúng tôi không phiên âm theo tiếng Mông Cổ là Tô Gan hay Tô Gôn nữa.

        A-ric Kha-y-a (Arīq-Qaya), Nguyên sử phiên âm là A Lý Hải Nha, A Lạt Hải Nha, A Lỗ Hải Nha. Bài bia do Diêu Toại soạn năm 1300 (Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa thần đạo bi trong Nguyên văn loại q.59, bản đã dẫn, t.851) phiên âm là A Lực Hải Nha. Thời Thanh Càn Long đã đổi phiên âm một cách sai lầm là A Nhĩ Cáp Nhã (xem Nguyên sử ngư giải). Về tên các tướng chỉ huy Mông Cổ, Toàn thư chép hơi khác: "[Năm Thiện Bảo 5], mùa thu tháng 7 (26-7 - 23-8-1283), sai trung phẩm Hoàng Ư Lệnh, nội thư gia Nguyễn Chương đi Nguyên, gặp thái tử A Thai, bình chương A Lạt hội 50 vạn quân các xứ Hồ Quảng, định kỳ sang năm vào cướp (Bản kỷ, q.5, t.43b).

        Về tên A Thai, Cương mục (q.7) cho là do sử của ta nhầm vì sau này trong chiến tranh, tướng chỉ huy là Thoát Hoan. Trong suốt cuộc chiến tranh này, các thư tịch Trung Quốc đều không thấy nói đến tên tướng nào là A Thai. Toàn thư, sau đoạn trên cho đến hết chiến tranh lần thứ hai cũng không thấy nhắc đến tên A Thai nữa mà chỉ nhắc đến tên Thoát Hoan. Ngay trang sau trang trên (q.5, t.44a), Toàn thư đã chép: [Năm Thiệu Bảo 6] tháng 12 (7/1 – 5/2/1285), Trần Phủ từ Nguyên về nói: vua Nguyên sai thái tử Trấn Nam vương Thoát Hoan, bình chương A Lạt và A Lý Hải Nha đem quân giả cớ mượn đường đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp”. Mãi đến trong chiến tranh lần thứ ba, Toàn thư mới lại chép đến Thoát Hoan và A Thai (q.5, t.54b). Vậy A Thai là ai? Trước hết chúng ta thấy rằng A Thai đúng là một cái tên Mông Cổ, phiên âm tên Atai (gốc từ tiếng Tuyếc, Ataï có nghĩa là “ông nội”). Trong Nguyên sử có hai người cùng có tên A Thai (xem Uông Huy Tổ: Tam sử đồng danh lục q 17, 5b). Nguyên sử q.131 Mang Cổ đái truyện chép rằng năm 1287, Mang Cổ đái (Mangqudai) “theo chư vương A Thai sang đánh Giao Chỉ”. Vậy thư tịch Trung Quốc cũng thừa nhận một viên tướng Mông Cổ đến Đại Việt vào cuộc chiến tranh lần thứ ba tên là A Thai. Nhưng đấy cũng là chỗ chép duy nhất. Toàn thư cho biết A Thai là thái tử cũng như Thoát Hoan, nhưng trong số các con của Hốt Tất Liệt, theo danh sách của Nguyên sử và của Ra-si-ut-Đin trong Tập sử biên niên, không có ai tên là A Thai. Do đó chúng tôi cho rằng A Thai (Tức Atai) là một viên tướng, dầu là chư vương (tức thân vương), cũng không đóng vai trò quan trọng trong cuộc xâm lược Đại Việt như Toàn thư đã chép, y không phải là thái tử cũng không phải là tổng chỉ huy. Có chỗ Toàn thư đã chép riêng hai tên nhưng có chỗ đã lẫn lộn người này thành người kia.

        Toàn thư đã chép thái tử A Thai cùng bình chương A Lạt đem 50 vạn quân vào Đại Việt (q.5, 43b), hoặc chép khi thất bại, “thái tử Thoát Hoan, bình chương A Lạt chạy qua Lô Giang (q.5, t.49a) nhưng có chỗ lại chép đến “Trấn Nam vương Thoát Hoan, bình chương A Lạt và A Lý Hải Nha” (q.5, t.44a). Tuy vậy, chúng tôi cho rằng A Lạt và A Lý Hải Nha (A-ric Kha-y-a) chỉ là một người. Theo các thư tịch như An Nam chí lược, Nguyên sử q 209 An Nam truyện, q.128 A Lý Hải Nha truyện), bia A Lý Hải Nha của Diêu Toại (1238 - 1314) và Nguyên triều danh thần sự lược cửa Tô Thiên Tước (1293 -1352) thì trong cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ hai, không có viên quan bình chương nào khác ngoài A-ric Kha-y-a (A Lý Hải Nha, A Lực Hải Nha…), tức là viên bình chương chính sự của hành tỉnh Kinh Hồ (hoặc gọi là Kinh Hồ - Chiêm Thành hay Hồ Quảng) được Hốt Tất Liệt cử phụ trách việc các nước hải ngoại. Trong suốt cuộc chiến tranh, Nguyên sử Bản kỷ và An Nam truyện thường nhắc đến “quan hành tỉnh” hoặc “bình chương” là chỉ viên tướng này. A Lạt ( Toàn thư bản khắc gỗ, có người đọc là A Thích, đó là do lầm lẫn chữ lạt với chữ thích), theo chúng tôi, chỉ là một cách phiên âm tên A-ric Kha-y-a (Arïq-Qaya). Trong Nguyên sử, có nhiều chỗ không phiên âm Arïq-Qaya là A Lý Hải Nha mà phiên âm là A Lạt Hải Nha (q.7 Bản kỷ Chí Nguyên 9; q.8 Bản kỷ Chí Nguyên 12; q.173 Thôi Úc truyện, t.4b). Như vậy A Lạt hay A Lý Hải Nha cũng chỉ là A-ric Kha-y-a mà Toàn thư đã lầm thành hai người.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2016, 11:07:20 pm

        Thoát Hoan là con của Hốt Tất Liệt, được phong làm Trấn Nam vương ngày 21 tháng 7 năm 12841. A-rich Kha-y-a là viên tướng người Ui-gua (Uigur) được Hốt Tất Liệt trọng dụng từ khi mới lên ngôi. Y là một viên tướng giỏi, rất gian hùng và tàn bạo, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chinh phục Nam Tống, được xếp vào loại công thần của Vương triều Nguyên2. Hốt Tất Liệt đã cử y làm binh chương chính sự ở hành tỉnh Kinh Hồ, chuyên trách việc xâm lược các nước ở phương Nam. Giờ đây, tên tướng nhiều uy quyền đó được giao nhiệm vụ phụ tá tên hoàng tử Mông Cổ đem quân tiến vào Đại Việt.

        Bên cạnh A-ric Kha-y-a còn có Lý Hằng, viên tướng đã đánh bại Văn Thiên Tường, cùng với Trương Hoàng Phạm tiêu diệt vương triều Nam Tống trong chiến dịch Nhai Sơn3. Ngoài ra, trong đạo quân xâm lược Đại Việt lần này có nhiều tên tướng khác đã quen chiến trận ở miền Nam Trung Quốc.

        Để tạo thành hai gọng kìm tấn công vào hai mặt của Đại Việt Thoát Hoan đã sai viên tả thừa Tang-gu-tai (Tang’utai) 4 đến chiêm Thành, ra lệnh cho Toa Đô đem quân từ Ô Lý, Việt Lý đánh vào mặt nam của Đại Việt5.

        Để cung cấp cho đạo quân xâm lược, nhà Nguyên đã chuẩn bị một số lương thực rất lớn. Theo lời của viên quan ở hành tỉnh Hồ Quảng thì “A-ric Kha-y-a xuất chinh thì, thu 3 vạn thạch lương dân đã khốn đốn” 6. Nhân dân Trung Quốc ở các tỉnh miền Nam không những phải nộp thóc gạo mà còn phải chịu phu dịch chuyển vận lương thực. Trên con đường của đạo quân xâm lược, các địa phương phía Bắc phải trưng lương và vận chuyển xuống phương Nam. Chẳng hạn, theo một bi ký thì bấy giờ Sâm Châu (nay là huyện Sâm tỉnh Hồ Nam) phải nộp một nghìn thạch gạo và phải chở đến Quế Châu (nay là huyện Quế Lâm tỉnh Quảng Tây). Viên vạn hộ coi Sâm Châu là Để Trạch đã nói: “Từ đây vào đất Quế, đi bộ nghìn dặm, dân phải gồng gánh, mỗi người được năm đấu mà thôi, thế là phải hai nghìn người làm phu gánh, lại mang theo quần áo lương thực đến một nửa, đi chưa đến nửa đường, ắt vứt tất cả mà bỏ trốn, có thể biết trước được như vậy”. Lấy cớ để tránh được tình trạng đó, y đã bỏ tiền cho các huyện vay đến Quế Châu mua gạo, rồi trả lãi cho y7.

        Ngoài việc chuẩn bị lương thảo, Hốt Tất Liệt đã chuẩn bị thuốc men và thầy thuốc cho đội quân viễn chinh: Kinh nghiệm lịch sử dạy cho y biết rằng những đoàn quân xâm lược phương Bắc xuống Đại Việt không chỉ khốn đơn vì sức chống trả ngoan cường của quân dân Đại Việt mà còn vì sự “phản ứng” của khí hậu phương Nam. Trong số những thầy thuốc đi theo đội quân Thoát Hoan có Trâu Tôn. Về sau tên thầy thuốc này bị bắt, khi được tha, y đã ở lại Đại Việt8.

-----------------
1.    Nguyên sử q.13 Thế Tổ bản kỷ, t.3b chép việc phong Trấn nam vương vào ngày giáp dần tháng 6 năm Chí Nguyên 21 (21/7/1284). Theo danh sách các hoàng tử con Hốt Tất Liệt trong Nguyên sử (q.107 Tông thất thế hệ) thì Thoát Hoan là con hàng thứ chín (danh sách này có 10 người), còn theo danh sách trong Tập sử biên niên của Ra-sit ut-Đin (bản đã dẫn, II) thì Thoát Hoan đứng hàng thứ mười một (Ra-sit ut-Đin chép là Tu-gan, danh sách này có 12 người).

2.   Nguyên sử loại biên (q.19, t.13a) xếp A-ric Kha-y-a vào loại công thần thử ba của triều Nguyên, ngang hàng với Bayan (Bá Nhan), Uriyangqadai (Ngột Lương Hợp Thai), Lý Hằng… Nguyên sử tân biên xếp y vào loại công thần bình Tống, ngang với Bay-an, Aĵu (A Truật),… A-ríc Kha-y-a đã cùng với Bayan và Aĵu chỉ huy việc chinh phục Nam Tống. Chính y đã hạ được Phàn Thành, Tương Dương, Ngạc Châu, Giang Lăng và chiếm 20 châu miền Nam như Tân, Dung, Khâm, Hoành, Ung… và cả Hải Nam. Y là một viên tướng có nhiều kinh nghiệm chỉ huy chiến trận, đã chiếm các thành Tống bằng nhiều mưu mẹo khác nhau (dụ hàng, dùng pháo, lấp sông, tháo nước, phá cầu,…). Y là một tên tàn ác, đã tàn sát nhân dân Đàm Châu, chôn sống tất cả nhân dân ở Tĩnh Giang, uống rượu óc hai tướng Tống ở Tân Sinh… Bài bia Diêu Toại soạn và Nguyên sử A Lý Hải Nha truyện đề cao những hành động mị dân xảo trá của y. Nguy Nguyên, tác giả Nguyên sử tân biên đã phê phán: “A-ric Kha-y-a làm cỏ Đàm Châu, Tĩnh Giang, thậm chí tuyên phủ Chu Dị Tôn, chế trí Cao Đạt ở Giang Lăng đã hàng, y còn giết cả vợ họ… Thế mà những người bình luận ngược lại đã khen A-ric bảo toàn được dân Đàm Châu, không hề chuyên việc tàn sát. Bi chí chỉ dựa theo lời gia đình y nên có thể sai lầm, đến như sử cũ (chỉ Nguyên sử - T.G.) soạn vào đời khác (đời Minh - T.G.) nào phải kiêng kỵ gì mà vẫn rập khuôn như vậy thế thì búa rìu dùng để làm gì” (q.29, 23b).

        A-ric Kha-y-a là một viên tướng có thế lực của triều Nguyên. Rất nhiều viên tướng hay quan chức sang Đại Việt (hoặc chuẩn bị sang Đại Viện trong và sau mấy lần chiến tranh đều vốn ở dưới trướng y, do y bồi dưỡng, cất nhắc như A-gu-ruc-tri (Áo-lỗ-xích), Lưu Quốc Kiệt, Trình Bằng Phi, Toa Đô, Tang-gu-tai, Triệu Tu Kỷ, Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi, Bôn-kha-đa, Vân Tòng Long, Trương Vinh Thực… Cính viên hình bộ thượng thư Thôi Úc đã tâu với Hốt Tất Liệt: “A-ric Kha-y-a nắm quyền binh dân, con cháu phe đảng chia giữ các chức trọng yếu, quan lại ra vào cửa y đến bảy tám phần mười, uy quyền y không kém Ahma, nên bãi chức và thanh toán phe đảng y, tuy có người không dơ bẩn cũng nên đổi đi chỗ khác, chớ để giữ lâu ở Hồ Quảng” (Nguyên sử q 173 Thôi Úc truyện, 4a). Nói nhiều về A-ric Kha-y-a, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng vương triều Trần đã phải đối phó với một tên chỉ huy giỏi, xảo quyệt và tàn bạo. Trong khi đánh Đại Việt, y lúc nào cũng ở bên cạnh Thoát Hoan, nhiều mưu kế là do y bày ra, nếu chỉ nói đến Thoát Hoan mà không nhắc đến vai trò A-ric Kha-y-a là một thiếu sót.

3.   Xem Nguyên sử q.120 Lý Hằng truyện.

4.   Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử q.209 phiên âm là Đường Ngột Đải. Nguyên sử q.13 phiên âm là Đường Cổ Đái. Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng thần đạo bi của Diêu Toại phiên âm là Đường Ngột Đái, An Nam chí lược phiên âm là Đường Cổ Đái. Tang’utai ~ Tanggudai có nghĩa là “người của xứ Tang’ut”, tức Tây Hạ.

5.   Nguyên sử q.209, 5b chép: “Tháng 2 (năm Chí Nguyên 22) 8/3 – 5/4/1285), hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành nói rằng Trấn Nam vương năm trước phụng chỉ thống lĩnh quân đội đánh Chiêm Thành (thực là đánh Đại Việt T.G.), sai tả thừa Tang’gu-tai đi ngựa trạm đến Chiêm Thành, hẹn hữu thừa Toa Đô đem quân hội hợp”.

        Toàn thư chép: “Nguyên soái Toa Đô dẫn 50 vạn quân từ Vân Nam qua Lão Qua (tức Lào - T.G.) thẳng đến Chiêm Thành, cùng người Nguyên hội ở Châu Ô, Lý” (q.5, t.48a). Điều này sai lầm vì Toa Đô bấy giờ vẫn ở Chiêm Thành. Việc Tang-gu-tai chạy ngựa trạm khiến chúng ta nghĩ rằng y đã đi đường bộ, phải chăng là qua đường Lào nhưng có khả năng là Nguyên sử chép nhầm.

6.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.8b.

7.   Dĩnh Xuyên vạn hộ để công thần đạo bi (Diêu Toại soạn năm 1304). Xem Mục am tập, bản Vũ Anh điện tụ trân, q.17, t.3b.

8.   Toàn thư (q.7, t.15b) khi nói về thầy thuốc Trâu Canh đời Trần Dụ Tông, có chép: “Canh là con Trâu Tôn, người Bắc (chỉ Trung Quốc - T.G.), khoảng năm Thiệu Phong, quân Nguyên vào cướp, Tôn là thầy thuốc đi theo quân. Đến khi thua, bị bắt, ở nước ta chữa thuốc cho các vương hầu lúc đó, kiến hiệu nhiều. Người trong nước nhiều lần đem ruộng, nô cho y, trở nên giàu. Canh thừa nghiệp cha bèn nổi tiếng”. Niên hiệu Thiệu Phong (1341-1358) không có quân Nguyên xâm lược. Cương mục chữa lại là năm Nguyên Phong (1251-1258), như vậy là muốn chỉ cuộc xâm lược năm 1258. Toán quân lần ấy không chắc có thầy thuốc Trung Quốc đi theo. Chúng tôi cho rằng phải chữa niên hiệu Thiệu Phong ra Thiệu Bảo (1279-1285) thì đúng hơn. Đó là niên hiệu có cuộc xâm lược lần thứ hai (1284-1285), lần này ta đã bắt được rất nhiều tù binh.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 06:31:12 am

        Đưa quân nhiều tướng giỏi, chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện, Hốt Tất Liệt tưởng có thể dễ dàng biến nước ta thành một tỉnh của đế quốc Nguyên Mông1. Nhưng đó chỉ là mộng tưởng của tên vua Mông Cổ. Quân dân Đại Việt, đứng đầu là vương triều Trần, tất nhiên không chịu khoanh tay ngồi đợi quân giặc đến cướp nước. Trong hơn hai mươi năm đấu tranh ngoại giao, nhà Trần đã thấy rõ dã tâm của bọn phong kiến Nguyên Mông. Những năm về sau, triều đình Trần càng dự đoán được cuộc chiến tranh xâm lược to lớn này. Vì vậy, bề ngoài nhà Trần cố giữ quan hệ hòa hảo với Hốt Tất Liệt, nhưng bên trong vẫn ra sức chuẩn bị lực lượng để đối phó. Ngoài việc lo xây dựng, củng cố quốc gia về mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự… nói chung, những năm gần chiến tranh triều đình Trần đã xúc tiến một loạt những biện pháp nhằm đưa toàn quốc vào cái thế sẵn sàng chiến đấu. Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (2/11 – 1/12/1282), hai tháng sau khi được tin viên trấn thủ Lạng Châu là Lương Uất báo về: quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành nhưng thực ra định xâm lược2, vua Trần đã ra Bình Than, đóng lại ở Trần Xá Loan3 mở hội nghị vương hầu bách quan. Cuộc họp này có mục đích “bàn kế đánh phòng” và “chia quân giữ nơi hiểm yếu” 4. Không họp ở Thăng Long có lẽ một phần vì triều đình Trần muốn tránh con mắt dò xét của bọn sứ Nguyên. Trong lúc ở kinh thành, “sứ giặc đi lại ngoài đường” 5 thì một cuộc họp lớn như thế nhất định không thoát khỏi sự chú ý của chúng. Nếu không dò biết được nội dung hội nghị và kế hoạch phòng thủ của ta thì chúng cũng có thể phỏng đoán được mục đích của hội nghị do việc tụ hội đông đảo quý tộc quan liêu một cách bất thường. Vào những năm 1281, 1282, quan hệ ngoại giao Việt - Nguyên đã rất căng thẳng, nhưng vương triều Trần vẫn còn cố gắng trì hoãn thời gian để chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Vì thế, để tránh được kẻ thù kiếm cớ gây chuyện lôi thôi, việc giữ bí mật cuộc hội nghị lớn này là cần thiết.

        Nhưng có lẽ cuộc họp trên sông nước Bình Than còn vì một lý do khác quan trọng hơn. Sông Bình Than - sông Lục Đầu ngày nay - là một địa điểm xung yếu. Từ Bình Than có thể theo đường sông tỏa ra các lộ phía bắc và phía đông kinh đô Thăng Long. Bình Than nằm trên con đường từ phía bắc xuống theo thung lũng sông Thương và từ biển vào theo sông Bạch Đằng. Ngay từ thời Lý, danh tướng Lý Thường Kiệt đã chọn nơi đây làm địa điểm tập trung một phần lực lượng quan trọng để bảo vệ kinh đô. Các cứ điểm quân sự thời Trần cũng ở dọc theo sông Bình Than. Chính vì thế, cuộc hội nghị mở ở Bình Than còn có ý nghĩa là để cho vương hầu tướng lĩnh có thể quan sát thực địa mà bàn cách phòng thủ và chiến đấu. Sau hội nghị, các tướng có thể kéo quân về các vị trí đã định ở các lộ, “chia quân đóng giữ nơi hiểm yếu”.

        Với mục đích bàn kế đánh giặc giữ nước, hội nghị quân sự Bình Than có một ý nghĩa chính trị to lớn là làm cho chủ trương kháng chiến của triều đình thấm xuống khắp vương hầu bách quan, huy động được lực lượng của tất cả các tầng lớp quý tộc quan liêu tham gia kháng chiến tích cực.

        Đây là lần đầu tiên, sử giả biên niên phong kiến ghi chép đến một cuộc hội nghị quý tộc quan liêu rộng rãi. Phiêu kỵ đại tướng quân Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, một viên tướng dũng lược, vì phạm tội bị cách chức, ra bán than ở Chí Linh. Đến nay vua Trần tha tội cho ông, gọi về hội nghị. Khánh Dư đến Bình Than, còn mặc áo ngắn, đội nón lá. Trong cuộc họp, Khánh Dư đã có nhiều ý kiến phù hợp với ý vua6.

        Chúng ta không có tài liệu về những ý kiến được thảo luận trong hội nghị Bình Than. Toàn thư chỉ cho biết hội nghị “bàn kế đánh, phòng”. Nhưng rõ ràng chủ trương kháng chiến đã chiếm ưu thế tuyệt đối. Giai cấp phong kiến lúc này còn mang một tinh thần quốc gia dân tộc mạnh mẽ, họ có quyết tâm kháng chiến để bảo vệ đất nước. Sau hai mươi lăm năm nén hờn nhịn nhục trong cuộc đấu tranh ngoại giao, họ thấy đã đến lúc phải cầm lấy vũ khí chống giặc giữ nước. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của họ trong quá trình chiến tranh đã chứng minh ý chí đó của họ. Hội nghị Bình Than đã góp phần khích động tinh thần kháng chiến của quý tộc quan liêu và củng cố mối đoàn kết của giai cấp phong kiến trước cuộc xâm lược của kẻ thù dân tộc.

        Tất cả các vương hầu quý tộc đều có mặt ở Bình Than; nhưng những thiếu niên như Hoài Nhân Vương Kiện, Hoài Văn Hầu Quốc Toản không được tham dự hội nghị vì còn ít tuổi. Uất ức vì không được dự bàn việc nước, Trần Quốc Toản đã bóp nát quả cam cầm trong tay mà không biết. Lúc trở về, Quốc Toản lập một đội quân hơn một nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, chờ ngày giết giặc cứu nước. Trên lá cờ của đội quân do người thiếu niên đó chỉ huy, người ta thấy đề sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua) 7.

        Việc mộ quân lính, sắm khí giới của cậu bé Hoài Văn Hầu cũng cho ta hình dung được không khí rộn ràng chuẩn bị kháng chiến trong toàn quân, toàn dân ở kinh đô cũng như ở phủ đệ các vương hầu sau cuộc hội nghị trên sông Bình Than.

---------------
1.   Theo Tân Nguyên sử q.160 A Lý Hải Nha truyện thì năm 1284, sắp đánh Đại Việt, đồng thời với việc phong Thoát Hoan làm Trấn Nam vương, Hốt Tất Liệt đã trao chức An Nam hành trung thư tỉnh tả thừa tướng cho A-ric Kha-y-a.

2.   Toàn thư q.5, 41b chép: “Tháng 8 [năm Nhâm Ngọ, Thiệu Bảo 4] (3/9 – 2/10/1282) quan trấn thủ Lạng Châu (tức Lạng Sơn - T.G.) Lương Uất tâu hữu thừa [tướng] Toa Đô đem 50 vạn tinh binh giả tiếng mượn đường đánh Chiêm Thành, thực ra là đến xâm lược”. Chúng ta đã biết rằng Toa Đô đi đường thủy từ Quảng Châu đến Chiêm Thành. Từ giữa năm 1282, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh chuẩn bị binh thuyền để đi đường biển sau nhiều lần đòi mượn đường không được. Đây có lẽ là chỉ việc nhà Nguyên lại đòi mượn đường để gây sự một lần nữa chứ không phải Toa Đô đã đem quân đến biên giới Lạng Sơn rồi mới quay về đi đường Quảng Châu. Toa Đô chỉ mang đi 5 nghìn quân, còn đạo quân xâm lược nước ta thì đến 1283 mới điều động. Cũng có thể Lương Uất nghe được tin Nguyên sẽ điều động 50 vạn quân, nhưng đấy là số quân sẽ do Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a chỉ huy.

3.   Cương mục, Chính biên (q.7, 28a) chú thích: “Bình Than, tên bến, ở xã Trần Xá huyện Chí Linh”. Đại Nam nhất thông chí, Hải Dương, Giang Đạo lại chua: “Xã Bình Than, thuộc đất huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, đối ngạn với xã Dược Sơn huyện Chí Linh”. Có lẽ Cương mục đã dựa vào địa điểm Trần Xá Loan (Vụng Trần Xá?) Toàn thư đã chép mà chú thích Bình Than là xã Trần Xá (nay thuộc huyện Nam Sách, Hải Dương). Kỳ thực, Toàn thư không nói rõ Bình Than là Trần Xá Loan, mà chỉ nói vua ra Bình Than, ở lại Trần Xá Loan (Bản kỷ q.5, 41b). Theo An Nam [Chí Nguyên], Bình Than là tên sông. “Sông Bình Than, có tên là Bàn Than, lại có tên là Bài Than (bản Viễn Đông bác cổ in là Suy Than chúng tôi cho là nhầm từ chữ Bài Than), ở huyện Chí Linh, phát nguyên từ Xương Giang (sông Thương - T.G.) đến sông Thị Cầu (sông Cầu - T.G.) hai nhánh hợp lưu, chảy qua hai núi Chí Linh, Phả Lại, quanh co mênh mông, không biết bến bờ...” (bản Viễn Đông bác cổ, t.46). An Nam [Chí Nguyênl lại cho biết: “Núi Phả Lại… mặt kề Bình Than” (t.42), “Sông Như Nguyệt (sông Cầu - T.G.)… dưới thông với sông Bình Than” (t.43), “sông Đức (sông Đuống - T.G.)… dưới thông với sông Bình Than”. Theo những đoạn trên đây của An Nam chí [nguyện], chúng ta có thể xác định một cách chắc chắn rằng sông Bình Than là sông Lục Đầu ngày nay, trên tiếp nước sông Thương và sông Cầu, dưới tiếp nước sông Đuống. An Nam chí [nguyên] chép sông Bình Than “đến cửa sông Đồ Mô, chia làm hai nhánh chảy vào biển” (t.46). Rõ ràng đấy là chỗ hợp lưu hai con sông Thái Bình và Kinh Thầy. Ngày nay, xã Trần Xá ở gần chỗ hợp lưu này, cách chừng 1km. Vua Trần ra Bình Than, chắc là đi thuyền theo sông Đuống đến sông Lục Đầu, tiến đến chỗ hợp lưu sông Lục Đầu và sông Kinh Thầy, Trần Xá Loan hẳn ở chỗ này.

4.   Toàn thư q.5, t.41b.

5.   Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.

6.   Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.42b chép: “Bấy giờ thuyền vua đóng ở bến Bình Than, nước triều xuống gấp, có thuyền lớn chở than củi, chủ thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua chỉ và bảo với thị thần rằng: “Người kia chẳng phải là Nhân Huệ vương sao”. Lập tức sai thuyền nhỏ đuổi đến cửa cảng Đại Than (cửa sông Đuống - T.G.) thì kịp. Quân hiệu nói với chủ thuyền: “Vua có lệnh triệu ngài”. Khánh Dư nói: “Lão già là kẻ buôn bán có việc gì mà triệu”. Quân hiệu trở về tâu hết với vua. Vua nói: “đúng là Nhân Huệ đấy, người thường tất không dám nói thế”. Lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá. Vua nói: “Nam nhi mà đến thế thực là quá lắm vậy”, rồi xuống chiếu miễn tội. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự ngồi hàng dưới các vương, trên công hầu, cùng bàn việc công, nhiều điều thích hợp.

7.   Toàn thư q.5, t.43a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 06:47:59 am

        Trong thời kỳ chuẩn bị đó, bài hịch tì tướng của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã có tác dụng cổ vũ tinh thần tướng sĩ rất mạnh mẽ. Như ngọn gió mạnh, bài hịch đã làm bốc cháy trong lòng tướng sĩ ngọn lửa căm thù giặc và như tiếng trống trận, bài hịch đã giục giã họ xông lên đem thân đền nợ nước. Lịch sử và văn học dân tộc đời đời ghi lại kiệt tác đó. Cho đến nay, chúng ta vẫn còn như nghe rõ những lời kêu gọi tha thiết, sôi nổi, tràn đầy hùng khí của gần bảy trăm năm về trước:

        “Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế1. Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu vương2; Dự Nhượng nuốt than báo thù cho chủ3; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước4; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung5; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc6. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được?.

        Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước, hẵng tạm không bàn, nay ta lấy chuyện Tống Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào? Mà lấy thành Điếu Ngư7 nhỏ như cái đấu, chông quân Mông-kha đông hàng trăm vạn, khiến cho sinh linh bên Tống, đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Đãi Ngột Lang8 là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Cân Tu Tư9 lại là người thế nào? Mà xông vào lam chướng trên đường muôn dặm, đánh quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

        Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời rối ren, lớn gặp buổi khó nhọc, ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem tấm thân dê chó mà bắt nạt tể phụ. Thác mệnh Hốt Tất Liệt10 mà đòi ngọc lụa, đế thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam vương11 mà thu bạc vàng, đế vét của kho có hạn. Thật khác nào ném thịt cho hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau!

        Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gốí, nước mắt đầm đìa, ruột đau như cắt, chỉ giận không được ăn thịt nằm da nuốt gan uống máu quân thù, tuy trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm.

        Các ngươi ở lâu môn hạ, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổn; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười, so với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

        Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến ngụy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh, vườn ruộng giàu không chuộc được tấm thân ngàn vàng, vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc; tiền của dẫu nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khỏe khôn đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, chủ tôi nhà ta cùng bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng về tay kẻ khác, chẳng những gia quyến ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng bị bắt đi; chẳng nhũng thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muôn vui chơi phỏng có được không?

        Nay ta bảo thật các ngươi: nên nhớ câu “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” 12 làm nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” 13 làm răn sợ, huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ14, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam vương ở Cảo Nhai15. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến ta được yên ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng bách niên gia lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thở cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những thụy hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi phỏng có được không?

        Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là “Binh thư yếu lược”. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là tôi chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo, thì trọn đời là nghịch thù.

        Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc16, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa? Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi biết rõ lòng ta17
".

        Bài hịch đã xoáy vào những nỗi uất ức căm thù của tướng sĩ trong bao nhiêu năm và phấn khích tinh thần chiến đấu của họ. Họ hoàn toàn không phải là những người “tướng triều đình hầu quân giặc mà không biết tức”, “điềm nhiên không muốn rửa nhục”. Đã đến lúc họ trả lời cho chủ tướng rằng họ quyết không “quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc”. Tinh thần quyết chiến được bài hịch khích lệ đã từ các tướng sĩ truyền đến toàn quân18. Quân sĩ bừng bừng dũng khí, không một người lính nào không thấy vinh dự được hy sinh cứu nước. “Vì lòng trung, vì căm giận” 19, các chiến sĩ đã tự động thích vào cánh tay hai chữ “Sát Thát” (giết giặc Mông Cổ!) để nói lên quyết tâm của mình.

-------------
1.    Hán Cao Tổ bị Hạng Vũ vây, Kỷ Tín giả làm Cao Tổ ra hàng. Cao Tổ trốn thoát, còn Kỷ Tín bị thiêu chết.

2.   Theo Tả truyện, Sở Chiêu vương đời Xuân Thu lúc lánh nạn bị kẻ cướp đâm, Do Vu đã chìa lưng ra che cho Chiêu vương.

3.   Trí Bá (đời Chiến Quốc) bị Triệu Tương Tử giết, gia thần Trí Bá là Dự Nhượng đã nuốt than cho khác giọng, giả làm hành khất mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.

4.   Thân Khoái là viên quan giữ ao cá của Tề Trang công, khi Trang công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái đã chết theo.

5.   Kính Đức tức Uất Trì Cung đời Đường, đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Đường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần vương) thoát khỏi vòng vây của Vương Thế Sung.

6.   Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Đường Huyền Tông, Nhan Cảo Khanh đã chửi mắng Lộc Sơn, bị Lộc Sơn cắt lưỡi.

7.   Vương Công Kiên, tức Vương Kiên, tướng Tống giữ Hợp Châu (Tứ Xuyên), đã huy động quân dân anh dũng chiến đấu ở núi Điếu Ngư, cầm cự với đạo quân Mông Cổ trong 4 tháng trời, cho đến khi Mông-ke chết, quân Mông Cổ phải rút lui (xem chương IV).

8.   Tức U-ry-ang-kha-đai (Uriyangqadai) (xem chương III).

9.   Bản Toàn thư (q.6, 12a) chép là Cân Tu Tư, bản Hoàng Việt văn tuyển chép là Xích Tu Tư (chữ cân và chữ xích gần giống nhau). Chúng tôi không có tài liệu nào về tên tướng Mông Cổ này và cũng không thể khôi phục lại tên Mông Cổ.

10.   Tức Khu-bi-lai (Qubilai).

11.   Tức Hu-ghê-tri (Hügäči), Hốt Kha Xích), con Hất Tất Liệt đóng ở Vân Nam (xem chương IV).

12.   Lấy ở câu trong Hán thư, “ôm mồi lửa đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên”.

13.   Câu ở Sở từ, “kẻ sợ canh nóng thường thổi cả rau nguội”.

14.   Bàng Mông và Hậu Nghệ là hai nhân vật bắn cung giỏi trong thần thoại Trung Quốc.

15.   Nơi trú ngu của các vua “man di” khi vào chầu vua Hán ở Trường An.

16.   Nguyên văn là “Bình lỗ chi hậu”, nhiều bản dịch là “sau trận Bình Lỗ”. Trần Quốc Tuấn có nói rằng đời Đinh - Lê đắp thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống (Toàn thư, q.6, 5a). Ngô Tất Tố dịch là “sau khi dẹp yên quân giặc”. Chúng tôi không rõ là Quốc Tuấn nói theo ý nào và nếu là trận Bình Lỗ, thì là chỉ trận nào…

17.   Dựa vào bản dịch của Bùi Văn Nguyên trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII, Nhà xuất bản Văn hóa, 1962, t.91 - t.93 và bản dịch của Chu Thiên trong Chống quân Nguyên, Xây dựng, 1957, t112-116.

18.   Chúng ta không biết được bài hịch của Trần Quốc Tuấn được soạn vào lúc nào. Các thư tịch cũ không ghi rõ ngày tháng soạn hịch. Nhưng dựa vào những căn cứ sau đây chúng tôi cho rằng Trần Quốc Tuấn đã soạn bài hịch vào thời kỳ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lần thứ hai. Bài hịch đã khêu gợi lòng căm thù giặc bằng cách nhắc đến cảnh sứ giặc nghênh ngang, uốn lưỡi, đòi ngọc lụa, vét bạc vàng, đến việc “tướng triều đình phải hầu quân giặc”, “nhạc thái thường đãi yến ngụy sứ”, mà tuyệt nhiên không nói gì đến những cảnh đau thương tang tóc do tội ác của kẻ thù gây ra trong chiến tranh lần thứ hai. Trong bài hịch lại nói đến các sứ giặc “giả hiệu Vân Nam vương”. Chúng ta biết rằng Vân Nam vương Hu-ghê-tri (Hügäči) được Hốt Tất Liệt giao cho phụ trách việc xâm lược các nước phương Nam từ năm 1267. Từ năm 1283, người phụ trách việc này là A-ric Kha-y-a. Sau chiến tranh lần thứ hai. Đại Việt không phải cống nạp qua con đường Vân Nam nữa. Do những lý do trên, bài hịch chỉ có thể được viết vào trước chiến tranh lẩn thứ hai.

19.   Toàn thư q.5, t.46a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 06:57:59 am

        Nhưng tinh thần quyết tâm chống giặc nếu chỉ hạn chế trọng những người lãnh đạo, trong vương hầu bách quan, trong tướng lĩnh và chiến sĩ thì hoàn toàn chưa đủ. Muốn chiến thắng được đội quân khổng lồ và thiện chiến của Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a, cần có sự tham gia chống giặc của toàn thể nhân dân. Vương triều Trần đã nhận thức được vai trò của nhân dân qua cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258. Cho đến nay, trước một cuộc chiến tranh mới, vương triều Trần đã tìm đến sự ủng hộ của nhân dân.

        Vào tháng chạp năm Giáp Thân niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 (7/1 – 5/2/1285), Thượng hoàng Thánh Tông đã triệu tập phụ lão trong nước về kinh đô Thăng Long, đặt tiệc ở thềm điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Trả lời cho câu hỏi của vua Trần là nên đánh hay không, các phụ lão đã đồng thanh hô “Đánh!”, “vạn người cùng nói như từ một miệng” 1.

        Tiếng hô “Đánh” của các phụ lão ở điện Diên Hồng biểu lộ tinh thần quyết chiến của toàn dân. Những bậc phụ lão, những người đại biểu có uy tín của nhân dân đã nói lên được tiếng nói của cả dân tộc. Hội nghị Diên Hồng là một cuộc họp mặt đại biểu rộng rãi của toàn dân tộc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Các bô lão đã mang tới vua Trần câu trả lời quyết chiến của nhân dân ở các lộ trong cả nước, và cũng mang từ Thăng Long về khắp nơi cái không khí quyết tâm chống giặc giữ nước của hội nghị Diên Hồng, của kinh thành, của triều đình, truyền cho con cháu, cho nhân dân địa phương mình, cổ vũ mọi người tham gia kháng chiến. Sau khi chép bằng những câu ngắn nhưng mạnh về cuộc hội nghị lịch sử ở điện Diên Hồng, nhà sử học Ngô Sĩ Liên cũng đã nói: “Đó là Thánh Tông muốn xem sự ái hộ thành thật của hạ dân và muốn cho họ nghe dụ hỏi mà cảm kích phấn phát lên” 2”. Đúng là qua hội nghị Diên Hồng, triều đình Trần đã thấy rằng chủ trương kháng chiến được nhân dân ủng hộ và cũng qua hội nghị đó, lòng yêu nước của nhân dân được khích lệ.

        Chính với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân cả nước đã thực hiện những mệnh lệnh chuẩn bị kháng chiến của triều đình. Ở khắp các lộ, người ta thấy những bảng treo với dòng chữ: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng3.

        Trong khi nhân dân các lộ quyết tâm chiến đấu đến cùng và chuẩn bị kế hoạch vườn không nhà trống như vậy, thì triều đình cũng gấp rút thực hiện kế hoạch phòng thủ chu đáo. Ngay sau hội nghị quân sự Bình Than, quân đội của triều đình đã tiến đến trấn giữ các nơi hiểm yếu. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, viên dũng tướng đã có những ý kiến về kế hoạch đánh phòng hợp ý vua trong hội nghị vương hầu, được cử làm Phó đô tướng quân4. Sau đó, vua Trần lại trao chức Thượng tướng thái sư cho Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, một vị tướng tài, con của Thái Tông5. Từ tháng 10 năm Thiệu Bảo 5 (20/10 – 20/11/1283), vua Trần đích thân chỉ huy các vương hầu điều quân thủy bộ ra tập trận6. Đây là một dịp biểu dương lực lượng, rèn luyện quân tướng và lựa chọn nhân tài. Trước khi tham gia cuộc đại tập này, hẳn vương hầu tướng lĩnh đã ngày đêm đốc thúc binh sĩ trau dồi kỹ thuật chiến đấu. Vào dịp này, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công tiết chế thống lĩnh tất cả các lực lượng quân sự trong nước7. Đồng thời nhà vua cũng sai chọn những người có tài năng quân sự trong các quân hiệu để chỉ huy các đội ngũ8. Đến tháng 8 năm Thiệu Bảo 6 (11/9 – 9/10/1284), Quốc công Hưng Đạo vương lại điều động tất cả các vương hầu đem quân đến Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng, mé trên cầu Long Biên, gần dốc Hàng Than ngày nay), tổ chức một cuộc tổng duyệt binh rất lớn ở ngay Thăng Long. Sau đó, chia quân đóng giữ Bình Than (Lục Đầu ngày nay) và tất cả các nơi xung yếu9. Hưng Đạo vương đã đem đại bộ phận quân thủy bộ chủ lực lên trấn giữ vùng Lạng Sơn. Quân của điện tiền Phạm Ngũ Lão10 và các tướng khác đóng ở các cửa ải quan trọng suốt từ biên giới cho đến Chi Lăng. Quản quân Nguyễn Lộc đóng quân ở châu Thất Nguyên (nay là huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn) 11. Bản doanh của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng ở ải Nội Bàng12. Để ngăn giặc theo con đường tây bắc từ Vân Nam xuống. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được lệnh trấn giữ Tuyên Quang13 và Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng giữ vùng Tam Đái14.

        Xem cách phòng thủ, chúng ta thấy rằng lúc đầu, nhà Trần cũng như Trần Quốc Tuấn vẫn muốn dồn lực lượng ra ngăn chặn quân giặc, bảo vệ kinh đô.

---------------
1.    Toàn thư q.5, t.44a.

2.   Toàn thư q.5, t.44b.

3.   Nguyên sử q.209, t.7b.

4.   Toàn thư q.5, t.42a.

5.   Toàn thư q.5, t.43a.

6.   Toàn thư q.5, t.43b.

7.   Toàn thư q.5, t.43b. Theo Toàn thư, thời Trần, thân vương tướng quốc thì gọi là quốc công (q.6, t.17a).

8.   Toàn thư q.5, t.43b.

9.   Toàn thư q.5, t.44a.

10.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.6a chép: “Điện tiền An Nam là Phạm Hải Nhai đem quân đóng ở các xứ Khả Lan Vi, Đại Trợ (?)”. Chức Điện tiền bấy giờ là Phạm Ngũ Lão, chúng tôi cho rằng An Nam truyện đã chép nhầm tên của ông.

11.   Xem Nguyên sử - An Nam truyện và An Nam chí lược. ải Chi Lăng ở gần ga Chi Lăng, huyện Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn ngày nay.

12.   Vào khoảng Chũ (Bắc Giang), vùng xã Bình Nội. Theo Đào Duy Anh: Tìm các đèo Khâu Cấp và Nội Bàng trên đường dụng binh của Trần Hưng Đạo, Nghiên cứu lịch sử số 66, tháng 9 năm 1964, t.38.

13.   Xem Toàn thư q.7, t.3b.

14.   An Nam chí lược q.13. Lộ Tam Đái thời Trần gồm miền đất các huyện Phù Ninh, huyện Lập Thạch, huyện Vĩnh Tường, huyện Yên Lạc, huyện Yên Lãng (tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay). Toàn thư q.5, t.47b chép tước của Trần Lộng là Văn Chiêu hầu.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 07:04:54 am

        Như vậy là về mọi mặt tinh thần và vật chất, vương triều Trần cũng như toàn quân, toàn dân đã chuẩn bị sẵn sàng để đón đợi cuộc tấn công xâm lược của đế quốc Nguyên Mông. Chiến tranh đã sắp nổ ra, nhưng trong những ngày hòa bình cuối cùng, vương triều Trần vẫn tiếp tục thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo. Cần phải trì hoãn và tranh thủ thời gian, dầu là hàng ngày hàng giờ, để chuẩn bị và củng cố thêm lực lượng.

        Tháng 7 năm 1284, vua Trần đã sai trung đại phu Trần Khiêm Phủ sang hành tỉnh Kinh Hồ xin hoãn binh1. Tháng 8 năm 1284, sứ bộ Đoàn Án, Lê Quý (hay Lê Anh?) lại sang Nguyên. Bấy giờ đội quân viễn chinh của Thoát Hoan đã lên đường. Cũng trong tháng 8, vua Trần lại sai trung đại phu Nguyễn Đạo Học đi sứ Nguyên2. Thoát Hoan sai lý vấn quan Quy Lê (Külä) 3 và tuyên sứ Ta-khai Xa-ric (Taqai- Sarïq) 4 đi với Nguyễn Đạo Học sang Đại Việt, đưa thư của A-ric Kha-y-a trách hỏi vua Trần, buộc phải chở lương thực đến Chiêm Thành cho quân Nguyên và phải lên đón Trấn Nam vương Thoát Hoan5.

        Đạo quân của Thoát Hoan tiến đến huyện Hành Sơn (huyện Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam) thì được tin Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã đem quân án ngự ở biên giới. Quy Lê và Ta-khai Xa-ric trở về cùng với các sứ Đại Việt là trung lượng đại phu Trần Đức Quân và triều tán lang Trần Tự Tông, mang theo bức thư của vua Trần Thánh Tông từ chối việc mượn đường: “Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường thủy đường bộ đều không tiện” 6.

        Tháng 11 năm 1284, quân Thoát Hoan tiến đến Vĩnh Châu (huyện Linh Lăng, tỉnh Hồ Nam) 7. Trần Thánh Tông đưa thư nói “đồ cống định thu vào tháng 10 (9/11 – 7/12/1284), xin sửa soạn đinh lực trước”. A-ric Kha-y-a sai vạn hộ Triệu Tu Kỷ viết thư cho vua Trần, đòi phải “mở đường, sửa soạn lương, thân đến đón Trấn Nam vương” 8. Thoát Hoan đến Ung Châu (Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây) thì được tin tướng Trần là Phạm Ngũ Lão đóng giữ ở các địa điểm Khả Lan Vi, Đại Trợ chưa rõ ở đâu) 9. Đến châu Tư Mình (huyện Ninh Minh, Quảng Tây), Thoát Hoan lại gửi thư cho vua Trần10. Cho đến lúc đạo quân của Thoát Hoan đã tiến đến Lộc Châu (nay là huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn), trên các ải biên giới, quân Trần đã cầm vũ khí hướng về phía kẻ thù, Trần Thánh Tông vẫn sai thiện trung đại phu Nguyễn Đức Dư và triều thỉnh lang Nguyễn Văn Hàn đem thư đến Thoát Hoan, yêu cầu lui quân. Trong thư nhắc đến tờ chiếu của Hốt Tất Liệt năm 1261: “Trước đây, được vâng thánh chiếu nói rằng: “Sắc riêng cho quân ta không vào bờ cõi nhà ngươi”, thế mà nay thấy ở Ung Châu doanh trại cầu đường nối nhau san sát…”. Đồng thời vua Trần cũng đưa thư cho A-ric Kha-y-a11. Bọn kẻ cướp đã giữ Nguyễn Văn Hàn lại, sai viên tổng bả A Ly (‘Ali) 12 đi cùng Nguyễn Đức Dư, mang thư đến vua Trần với những lời lừa bịp xảo trá: “Sở dĩ dấy quân là vì Chiêm Thành, không phải vì An Nam” 13.

        Kẻ thù đã tiến vào bờ cõi, chiến tranh không trì hoãn được nữa.

----------------
1.    Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.3a chép: “Ngày Giáp Thìn tháng 5 nhuận [Chí Nguyên 21] (11-7-1284), quốc vương An Nam là thế tử Trần Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G.) sai trung đại phu Trần Khiêm Phủ cống các vật như chén ngọc, bình vàng, chuỗi châu, lĩnh vàng và vượn trắng, chim cưu xanh, vải vóc”. An Nam chí lược q.14 chép: “Thế tử sợ, sai đại phu Trần Khiêm Phủ, Trần Quân đến hành tỉnh Kinh Hồ - Chiêm Thành xin hoãn binh, không cho”. Toàn thư q.5, 44a lại chép: “Tháng 11 [Thiệu Bảo 6] (8-12-1284 - 6-l-1285) sai Trần Phủ sang hành tỉnh Kinh Hô nhà Nguyên, xin hoãn binh”. Có lẽ Toàn thư đã chép nhầm ngày đi sứ của Trần Phủ (tức Trần Khiêm Phủ).

2.   An Nam chí lược, q.14, sau đoạn trên, đã chép: “[Vua Trần] lại sai Đoàn Án, Lê Quý vào cống, đại quân (của Thoát Hoan - T.G.) đã xuất phát, giữ bọn án ở lại kinh sư. Nguyên sử q.13 Bản kỷ (t.4a) chép: “Ngày Mậu Tý [tháng 7, Chí Nguyên 21], (24/8/1284) chiếu Trấn Nam vương Thoát Hoan đánh Chiêm Thành, sai cho sứ An Nam bị giữ là bọn Lê Anh trở về nước, Nhật Huyên sai trung đại phu Nguyễn Đạo Học đem phương vật đến cống. Có lẽ Lê Anh trong Nguyên sử Bản kỷ và Lê Quý trong An Nam chí lược là một.

3.   Nguyên sử phiên âm là Khúc Liệt.

4.   Nguyên sử phiên âm là Tháp Hải Tản Lý.

5.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.5b-6a.

6.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.5b-6a.

7.   Kinh thế đại điển tự lục (trong Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t 53b) chép: “Tháng 10 năm [Chí Nguyên 211 (9-11 - 7-12-1284), quân đến Vĩnh Châu, An Nam sai Hưng Đạo vương đem hai vạn quân đóng các nơi xung yếu, chặn vương sư”.

8.   Nguyên sử q.209, t.6a.

9.   Nguyên sử q.209, t.6a: “Đến Ung Châu, điện tiền An Nam Phạm Hải Nhai đem quân đóng ở các xứ Khả Lan Vi, Đại Trợ”. Chúng tôi cho rằng Phạm Hải Nhai là chép nhầm từ tên Phạm Ngũ Lão.

10.   Nguyên sử q.209, t.6a.

11.   Nguyên sử q.209, t.6a.

12.   Nguyên sử phiên âm là A Lý. Tổng bả là chức võ quan đời Nguyên dưới chức thiên hộ (xem Kinh thế đại điển tự lục, mục Quân chế trong Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t.591), đừng lầm với bình chương A Lý tức A-ric Kha-y-a.

13.   Nguyên sử q.209, t.6a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 07:15:58 am

        Khi tiến đến Lộc Châu, được tin ở các cửa ải Khâu Ôn và Khâu Cấp đều có quân Trần trấn giữ, A-ric Kha-y-a liền chia quân ra làm hai cánh để tiến1. Ngày Giáp Tý 21 tháng chạp năm Giáp Thân (27/1/1285), hai cánh quân cùng tiến. Cánh phía tây do vạn hộ Bôn-kha-đa (Bolqadar) 2, chiêu thảo A Thâm3 chỉ huy tiến theo con đường huyện Khâu Ôn (nay là huyện Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn), tức tiến theo đường quốc lộ số 1 ngày nay4. Cánh phía đông do viên Kê-sic (Khiếp Tiết) Xa-tác-tai (*Satartai) 5 và vạn hộ Lý Bang Hiến chỉ huy, tiến theo đường núi Cấp Lĩnh (hay Khâu Cấp), tức là theo con đường từ Lộc Bình (Lạng Sơn) đi Sơn Động (Hà Bắc) ngày nay6. Đại quân của Thoát Hoan cũng tiến theo cánh quân phía đông7. A-ric Kha-y-a cùng đi với Thoát Hoan8.

        Cánh quân phía đông của địch đã tiến rất vất vả. Vì bị quân ta ngăn chặn, viên tổng bả A Ly đi đưa thư cho vua Trần không thể tiến được. A-ric Kha-y-a phải sai viên vạn hộ Nghê Nhuận đi thăm dò tình hình để định kế hoạch tiến quân9. Sau đó, các viên tướng Xa Tác Tai, Lý Bang Hiến, Tôn Hựu phải đem quân đánh để mở đường. Sau khi vượt qua ải Khâu Cấp, quân Nguyên đã giao chiến với quân ta ở ải Khả Ly10. Tôn Hựu đã bắt được hai viên tướng Trần là quản quân phụng ngự Đỗ Vĩ và Đỗ Hựu11. Họ đều bị giết12. Sau đó, cánh quân Nguyên phía đông lại tiến đánh ải Động Bản13. Ở đây, tướng Trần là Tần Sầm bị hy sinh. Quân Nguyên dò biết Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đang đóng ở ải Nội Bàng liền tiến quân đến thôn Biến Trú14. Sắp đến bản doanh của Trần Quốc Tuấn, bọn giặc phải thận trọng. Dừng lại ở thôn Biến Trú, chúng cho người đưa thư dụ dỗ Quốc Tuấn mở đường và đón Trấn Nam vương Thoát Hoan. Tất nhiên việc đó không thành. Quân Nguyên lại tiến đến Nội Bàng. Ở đây chúng lại được lệnh của Thoát Hoan phải cho người đi “chiêu dụ Hưng Đạo vương. Mưu kế của Thoát Hoan vô hiệu, bọn tướng giặc phải bố trí một kế hoạch tấn công lớn vào Nội Bàng. Ngày Canh Ngọ, 27 tháng chạp (2/2/1285) 15, chúng đã chia quân làm sau mũi tấn công vào cửa ải này16.

        Ở đây Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã đưa quân ra định quyết ngăn cản đường tiến của giặc. Nhưng trước thế giặc ờ ạt, tấn công từ nhiều mặt, quân Trần bị tổn thất17. Đại liêu ban là Đoàn Thai bị bắt18.

        Đồng thời, cánh quân Nguyên phía tây do Bôn-kha-đa chỉ huy cũng đã vượt qua ải Khâu Ôn (có lẽ là đèo Dang ở phía bắc ôn Châu) đánh chiếm được ải Chi Lăng, tức cửa quan Lão Thử (gần ga Chi Lăng ngày nay) 19. Trong tình hình đó, Trần Quốc Tuấn đã quyết định rút lui về Vạn Kiếp20.

        Bấy giờ, gia nô của Trần Quốc Tuấn là Yết Kiêu giữ thuyền ở bến Bãi21, Quốc Tuấn thấy chu sư đã tan vỡ, muốn theo đường núi rút lui. Dã Tượng, một gia nô khác, đã nói với Quốc Tuấn: “Yết Kiêu chưa thấy Đại vương, tất không chịu dời thuyền”. Quốc Tuấn đến bến Bãi, quả nhiên một mình thuyền Yết Kiêu còn đỗ ở đó. Thuyền vừa xuôi thì kỵ binh của giặc đuổi tới nhưng không kịp22. Trần Quốc Tuấn đã thoát được nhờ lòng quả cảm và tinh thần kỷ luật không rời bỏ vị trí chiến đấu khi chưa có lệnh của Yết Kiêu. Cảm kích trước lòng trung nghĩa của người gia nô, Quốc Tuấn đã nói: “Ôi chim hồng hộc có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh, nếu không có thì cũng như chim thường thôi!” 23.

----------------
1.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.6a.

2.   Tài liệu về các cánh quân Nguyên, theo An Nam chí lược q.4, Chinh thảo vận hướng. An Nam chí lược chép tên viên tướng này là Lý La Hợp Đáp Nhi. Nguyên sử An Nam truyện chép là Bột La Cáp Đáp Nhĩ. Bột La Cáp Đáp Nhĩ là phiên âm tên Mông Cổ Bolqađar (hoặc Bulqadar). An Nam chí lược đã chép nhầm chữ Bột ra chữ Lý còn chữ cáp hay chữ hợp đểu dùng để phiên âm âm qa Mông Cổ cổ. Bia A-ric Kha-y-a do Diêu Toại soạn phiên âm là Bột La Hợp Đáp Nhĩ.

3.   Chúng tôi chưa xác định được tên Mông Cổ, có thể là tên Tuyếc Atsim.

4.   Có thể xác định được như vậy vì con đường này còn đi qua ải Chi Lăng (nay ở gần ga Chi Lăng, thuộc Ôn Châu).

5.   An Nam chí lược chép là Khiếp Tiết Tản Lược Nhi. Khiếp Tiết là phiên âm tiếng Mông Cổ Käšig, có nghĩa là túc vệ. Nguyên sử q 99, lo Binh chí 2: “Khiếp Tiết tức là túc vệ thay phiên trực”. Tản Lược Nhi đúng là tên tướng Tản Đáp Nhi Đải trong Nguyên sử An Nam truyện. An Nam chí lược chép nhầm chữ đáp ra chữ lược và chép sót chữ đải. Có thể khôi phục tên phiên âm Tản Đáp Nhi Đối thành *Satartai ~ *Satardai. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn ngờ An Nam truyện chép nhầm hoặc phiên âm không đúng. Có thể Tản Đáp Nhi Đải chỉ là một cách phiên âm sai của tên Tháp Tháp Nhi Đải (Xuyết canh lục q.l, t.15b) hay Tháp Tháp Nhi Thai (Nguyên sử q.119. Những tên này phiên âm tên Mông Cổ Tatardai ~ Tatartai (có nghĩa là “Người của bộ lạc Tatar”).

6.   An Nam chí lược q.4 chép là Cấp lĩnh. Nguyên sử q.209, 6a chép là vua Trần điều quân giữ ở Khâu Cấp lĩnh. Vậy Cấp lĩnh từ Khâu Cấp lĩnh. Theo ông Đào Duy Anh, tức là núi Khao Khúc ở tây nam huyện ly Lộc Bình ngày nay (xem Đào Duy Anh, bài đã dẫn, t.37). Từ Lộc Bình tiến đến Khả Ly (Xa Lý), Động Bản (Biên động) tất phải đi theo con đường Lộc Bình đi Sơn Động.

7.   An Nam chí lược q.4.

8.   Theo Nguyên sử q.209, Thoát Hoan đã sai A-ric Kha-y-a cho người đi sứ nên ta có thể biết A-ric Kha-y-a ở cạnh Thoát Hoan.

9.   Nguyên sử q.209, t.6b chép: “Hành tỉnh sai Nghê Nhuận đi đến xem hư thực để châm chước mà điều quân”. Theo Bản kỷ, Nghê Nhuận là vạn hộ.

10.   Kinh thế đại điển tự lục và Nguyên sử q.209, An Nam truyện chép là Khả Ly An Nam chí lược q. 14 chép là Khả Lợi. Theo ông Đào Duy Anh, ải Khả Ly tức Xa Lý, trên sông Xa Lý ở huyện Sơn Động (Bắc Giang) ngày nay (Đào Duy Anh, bài đã dẫn, t.37).

11.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.6b.

12.   An Nam chí lược q.4 chép: “Quân phía đông phá ải Khả Lợi, cửa Anh Nhi, bắt được bọn gián điệp Đỗ Vĩ đem chém”. Chúng tôi cho rằng Đỗ Vĩ chép ở An Nam chí lược và Đỗ Vĩ ở An Nam truyện là một người.

13.   Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t.563) và Nguyên sử q.209, t 6b. Nhà sử học Nhật Bản Yamamoto Tatsuro đã xác định ải Động Bản tức là Biên Động (huyện lỵ huyện Sơn Động, Bắc Giang) mà tên chữ Hán chép là Bản Động (xem An Nam sử nghiên cứu I, t.161).

14.   Ông Đào Duy Anh xác định Nội Bàng vào khoảng Chũ. Phía bắc Chũ còn có xã Bình Nội (Đào Duy Anh, Bài đã dẫn, t.38). Thôn Biến Trú, chưa rõ ở đâu, chắc là ở gần đấy.

15.   Theo An Nam chí lược q.4, Toàn thư q.5, t.44b chép: “Ngày 26 [tháng 12] (1-2-1285), giặc phạm các cửa ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược, Chi Lăng Như vậy, theo Toàn thư, sớm hơn một ngày.

16.   Nguyên sử q.20 9, An Nam truyện, t.6b. Nguyên sử q.13 Thế tổ bản kỷ t.6a cũng chép: “Tháng đó (tức tháng 12 Chí Nguyên 21), quân Trấn Nam vương đến An Nam, giết quân phòng thủ, chia làm sáu đường để tiến”.

17.   Toàn thư q.5, t.44b; An Nam chí lược q.4.

18.   Nguyên sử q.209, t.6b; Kinh thế đại điển tự tục (Nguyên văn loại q 41, bản đã dẫn, t.564).

19.   An Nam chí lược q.4, Chinh thảo vận hướng.

20.   Nay là vùng Vạn Yên, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Theo An Nam chí lược, sau trận Nội Bàng, Hưng Đạo vương “rút lui giữ chân Lạng Giang, lại thua chạy, [Nguyên] bắt được thuyền mấy chục chiếc”. Theo Toàn thư thì trận Nội Bàng, “quan quân đánh không lợi, rút lui đóng ở bến Vạn Kiếp” (q.5, 44b). Nguyên sử An Nam truyện (q.209, t.6b) cũng chép rằng Hưng Đạo vương, sau trận Nội Bàng, lui về Vạn Kiếp.

21.   Toàn thư q.5, 45a chép là Bãi Tân, chưa rõ ở đâu. T.Yamamoto cho là ở trên sông Lục Nam (T.Yamamoto: sách đã dẫn, t.163). Như vậy cũng phù hợp với cách xác định vị trí Nội Bàng của ông Đào Duy Anh. Có lẽ Trần Quốc Tuấn đã đi thuyền từ sông Lục Nam xuống sông Thương, về Vạn Kiếp.

22.   23. Toàn thư q.5, t.45a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:57:19 am

        Nghe tin quân ta không ngăn được giặc, phải rút lui, vua Trần không kịp ăn cơm, vội vã đi thuyền nhẹ ra Hải Đông gặp Trần Quốc Tuấn1. Có lẽ chính lúc này, trước thế mạnh của giặc, vua Trần đã phải hỏi thử Quốc Tuấn xem có nên hàng giặc hay không. Người anh hùng của dân tộc đã đáp một câu đầy khí phách mà lịch sử mãi mãi còn ghi nhớ: “Trước hết chém đầu thần rồi sau hãy hàng” 2.

        Giặc đang mạnh, quân ta có tổn thất, nhưng lực lượng vẫn còn và nhất là sĩ khí không giảm sút. Vì thế, Trần Quốc Tuấn đã bình tĩnh, cùng vua Trần bàn bạc kế hoạch đối phó với kẻ thù. Quốc Tuấn đã huy động thêm quân dân các lộ và quân các vương hầu đến để bổ sung lực lượng. “Hưng Đạo vương vâng mệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Bá Điểm, chọn những người dũng cảm làm tiên phong”. “Thế quân phấn chấn lên. Chư quân nghe thấy thế, không ai là không đến tập hợp3.

        Bấy giờ, trông thấy lực lượng còn hùng hậu, Nhân Tông đã cảm xúc, viết vào đuôi thuyền hai câu thơ:

                                             “Cối Kê cựu sự quân tu ký
                                             Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”.

                                            (Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ
                                            Hoan Diễn còn kia chục vạn quân
4.

        Đúng như lời thơ tin tưởng của vua Trần, các đạo quân về tập hợp ở Vạn Kiếp mới chỉ là quân các lộ miền đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng số quân đó đã rất lớn. Riêng số quân của các vương con Trần Quốc Tuấn cũng đã lên tới hai mươi vạn: “Hưng Vũ vương Hiến, Minh Hiến vương Uất, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Nghiễn đem hai mươi vạn quân các xứ Bàng Hà (nay là đất huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương và đất huyện Tiên Lãng - Hải Phòng - T.G.), Na Sầm (tức Na Ngạn, thuộc đất huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang ngày nay - T.G.), Trà Hương nay là đất huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương - T.G.), An Sinh (nay thuộc đất huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - T.G.), Long Nhãn (nay thuộc đất huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, vùng xung quanh chỗ hợp lưu sông Thương và sông Lục Nam - T.G.) đến hội ở Vạn Kiếp, chịu sự điều khiển của Hưng Đạo vương để chống quân Nguyên” 5.

        Sau khi đã tập hợp được binh lực, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn định dùng tất cả lực lượng đó, dựa vào địa thế của vùng Vạn Kiếp và sông Bình Than, bố trí một phòng tuyến để ngăn chặn bước tiến của quân thù. Quốc Tuấn đã chia quân đóng giữ Vạn Kiếp, núi Phả Lại6 và Bắc Giang (tức vùng tỉnh Bắc Ninh). Trần Quốc Tuấn còn đem hơn nghìn chiếc thuyền đóng cách Vạn Kiếp mười dặm7.

        Quân Thoát Hoan đuổi theo Trần Quốc Tuấn không kịp. Nhưng vì đại quân của Quốc Tuấn đã rút nên quân ta ở các ải khác cũng rút lui hoặc chỉ chiến đấu cầm chừng nên các cánh quân Nguyên đã tiến một cách dễ dàng. Sau khi cánh quân phía tây của Bôn-kha-đa chiếm được ải Chi Lăng, các tài liệu không cho chúng ta biết gì về cánh quân này. Có lẽ Bôn-kha-đa đã đem quân theo thung lũng sông Thương hợp với cánh quân của Thoát Hoan trước khi tấn công vào Vạn Kiếp8. Ở Vạn Kiếp, ta tập trung một lực lượng rất lớn, nhất định quân Nguyên cũng phải hội quân để nhằm tiêu diệt ta. Thoát Hoan đã chuẩn bị rất cẩn thận trước khi đánh Vạn Kiếp. Bọn xâm lược đã tiến vào ải Nội Bàng ngày 2 tháng 2 năm 1285 mà mãi mười ngày sau, chúng mới đánh Vạn Kiếp. Không thể nói quân Thoát Hoan tiến từ Nội Bàng đến Vạn Kiếp mất mười ngày trong khi sự kháng cự của ta ở mạn trên không đáng kể.

        Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a tiến quân đến gần Vạn Kiếp, thấy Trần Quốc Tuấn tập trung nhiều binh lực, đã dừng lại, chuẩn bị kỹ càng kế hoạch tấn công. Khi dò biết Trần Quốc Tuấn còn hơn một nghìn binh thuyền đóng cách Van Kiếp mười dặm, Thoát Hoan liền sai quân sĩ của hắn đi tìm thuyền ở ven sông, tìm cướp ván gỗ đinh vôi, lập công trường đóng chiến thuyền. Thoát Hoan tuyển các cánh thủy quân, ra lệnh cho Ô Mã Nhi Bạt Đô (‘Omar - ba’atur) 9 thống lĩnh10.

        Bọn Ô Mã Nhi nhặt được ở bờ sông hai tờ giấy, đó là thư vua Trần gửi cho Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a. Trong thư có những câu: “Chiếu trước” (1261-T.G.) nói là “lệnh riêng cho quân ta không vào nước ngươi”, thế mà nay lấy cớ nước Chiêm Thành đã thần phục lại phản, đem đại quân qua nước tôi, tàn hại trăm họ, đó là việc làm của thái tử sai lầm chứ không phải nước tôi sai lầm, xin đừng làm khác với chiếu trước, rút lui đại quân…11. phải chăng đấy là bản thảo những bức thư cũ, hoặc là, đã đến lúc quyết chiến, những bức thư ngoại giao đã trở thành vô ích, vua Trần vứt nó đi và nói chuyện với kẻ thù bằng vũ khí? A-ric Kha-y-a đưa thư cho Nguyễn Văn Hàn, sứ ta đã bị quân Nguyên bắt giữ trước đây, đem về cho vua Trần, đe dọa, dụ dỗ, đòi lui quân mở đường cho quân Nguyên “đi đánh Chiêm Thành”(?) 12.

----------------
1.    Toàn thư q.5, t.44b chép: “Lúc đó vua đi thuyền nhẹ ra Hải Đông (chỉ chung miền Hải Dương, Kiến An), chiều rồi mà chưa ăn cơm sáng, có người lính là Trần Lai đem cơm gạo xấu dâng vua”.

2.   Toàn thư chép việc năm 1300 (Trần Quốc Tuấn chết), khi nhắc lại các việc Quốc Tuấn đã làm, có chép: “… Thánh Tông thử hỏi Quốc Tuấn: “Thế giặc như thế, ta có nên hàng chúng?” Quốc Tuấn nói: “Trước chém đầu thần rồi sau hãy hàng” (q.6, t.11a). Nhưng Toàn thư không nói rõ việc này xảy vào lúc nào. Trần đại vương bình Nguyên thực lục chép rõ rằng vua Trần ra Hải Đông, triệu Hưng Đạo đến hỏi: “Giặc truyền lời nói đánh để cướp đất, chúng giết người đầy đồng nội. Nay thế giặc như thế, có nên hàng chúng để cứu mệnh cho muôn dân?”. Đáp rằng: “Lời bệ hạ nói ra thật là lời nói của bậc nhân giả. Nhưng còn tông miếu xã tắc thì sao? Thần xin trước hãy chém đầu thần rồi sau hãy hàng giặc. Đầu thần nếu còn, xã tắc cũng còn. Xin bệ hạ đừng lo, thần đã có kế đánh bại giặc”. Chúng tôi cho rằng vua Trần đã hỏi Trần Quốc Tuấn vào lúc rút lui về Vạn Kiếp trong cuộc chiến tranh này. Sau trận Vạn Kiếp, ta cũng rút lui nhưng chủ động hơn và càng chủ động hơn trong chiến tranh lần thứ ba.

3.   Toàn thư q.5, t.44b.

4.   Toàn thư q.5, t.44b - 45a. “Việc cũ Cối Kê” là chỉ chuyện Câu Tiễn nước Việt (đời Chiến Quốc) chỉ còn một nghìn quân ở Cối Kê mà sau đánh được Ngô Phù Sai, Hoan Diễn, chỉ vùng Diễn Châu và Nghệ An, Hà Tĩnh.

5.   Toàn thư q.5, t.45a, Hưng Vũ vương, Hưng Nhượng vương, Hưng Trí vương là con Hưng Đạo vương. Minh Hiến vương là em út Thái Tông.

6.   An Nam chí [nguyên] q.1, Sơn xuyên: “Núi Phả Lại ở phủ Từ Sơn, mặt kề Bình Than, sông Như Nguyệt (sông Cầu - T.G.) quanh bên trái, sông Ô Cách (sông Đuống - T.G.) bọc bên phải” (Bản đã dẫn, t.42). Cương mục (q.8, t.3b) chú: “Núi Phả Lại nay ở xã Phả Lại, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh”. Núi Phả Lại tức là núi ở xã Phả Lại, cạnh sông Lục Đầu, đối diện với thị trấn Phả Lại (Chí Linh, Hải Dương).

7.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện t.6b. Cương mục q.7, t.33a) và Trần đại vương bình Nguyên thực lục chép là Hưng Đạo vương đem hơn nghìn chiến thuyền bày trận “dực thủy” ở cách sông Vạn Kiếp 10 dặm. Chúng tôi cho rằng Cương mục đã dựa vào Nguyên sử mà chép về số thuyền và vị trí đóng quân, nhưng không rõ dựa vào đâu mà chép đến trận “dực thủy”. Cách đoạn trên một dòng, Nguyên sử có chép đến việc Nguyên chọn “các dực thủy quân” (tức các cánh thủy quân) giao cho Ô Mã Nhi thống lĩnh. Có lẽ Cương mục đã nhầm chữ “dực thủy quân” thành “dực thủy trận và cho là trận của Hưng Đạo vương. Hoàng Thúc Trâm, trong Trần Hưng Đạo (Vĩnh Bảo 1950, t.78) nói rằng Toàn thư có chép đến trận “dục thủy” (tắm nước). Chúng tôi đã tra lại Toàn thư thì hoàn toàn không có điều này, còn ở Cương mục thì chép với chữ dực là cánh chứ không phải chữ dục là tắm.

8.   Khi đã vào Thăng Long rồi, mới thấy Nguyên sử nói đến Bôn-kha-đa.

9.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện thường chép tên Ô Mã Nhi (‘Omar) là Ô Mã Nhi Bạt Đô. Không nên lầm là tên hai người: Ô Mã Nhi và Bạt Đô. Theo thể lệ Mông Cổ, những viên tướng giỏi, can đảm, thường được ban hiệu là “Bạt Đô”, tức ba’atur, nghĩa là dũng sĩ. Nguyên sử q.99, Binh chí t.2a có chép: “Người dũng cảm vô địch thì gọi là Bạt Đột”. Bạt Đột hay Bạt Đô đều là phiên âm tiếng Mông Cổ ba’atur (có khi phiên âm là Bạt Đô Nhi, Bạt Đô Lỗ, Bát Đô Nhi, Bá Đô Lỗ,…) Ô Mã Nhi Bạt Đô chỉ là tên một người, đó là ‘Omar - ba’atur, tức ‘Omar - Dũng sĩ. ‘Omar là một cái tên Hồi giáo, mang thêm một danh hiệu Mông Cổ là ba’atur.

10.   11. Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.6b.

12.   Nguyên sử q.209, t.6b - 7a có chép lời thư A-ric Kha-y-a: “Triều đình đem quân đánh Chiêm Thành, nhiều lần đưa thư cho thế tử (chỉ vua Trần - T.G.), bảo mở đường, chuẩn bị lương, không ngờ trái mệnh triều đình, để bọn Hưng Đạo vương đem quân chống lại, bắn quân ta bị thương. Để cho sinh linh An Nam chịu tai họa, chính là do nước ngươi làm ra vậy. Nay đại quân qua nước ngươi, đức vua truyền lệnh cho thế tử hãy nghĩ kỹ đi. Nước ngươi quy phụ đã lậu nên nghĩ đến cái đức thương yêu to lớn của hoàng đế mà lập tức ra lệnh rút quân mở đường, khuyên bảo trăm họ ai nấy cứ làm ăn sinh sống, quân ta đi qua không mảy may xâm phạm. Thế tử hãy ra đón Trấn Nam vương cùng bàn việc quân, nếu không, đại quân sẽ đóng lại ở An Nam, mở phủ”.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 10:10:49 am

        Ngày 6 tháng giêng năm Ất Dậu (11/2/1285), Ô Mã Nhi bắt đầu chia quân tấn công vào các căn cứ của quân ta ở Vạn Kiếp và núi Phả Lại1. Một cuộc chiến đấu ác liệt đã xảy ra trên phòng tuyến sông Bình Than (tức sông Lục Đầu ngày nay). Thế quân giặc rất mạnh. Vua Trần đã đem các quân Thánh Dực và hơn một nghìn chiến thuyền đến tăng viện cho Trần Quốc Tuấn2. Trong khi tấn công Vạn Kiếp, viên tướng Nguyên là vạn hộ Nghê Nhuận đã tử trận ở Lưu Thôn3. Ngày Nhâm Ngọ - 9 tháng giêng (14/2/1285), bọn tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, chiêu thảo Na Khai (Naqai) 4, trấn phủ Tôn Lâm Đức đã đem chiến thuyền giao chiến với quân vua Trần ở Bài Than (tức Bình Than) 5.

        Mặc dầu có quân tiếp viện và đã chiến đấu tiêu hao sinh lực địch, Trần Quốc Tuấn cũng nhận thấy rằng chưa thể chặn đứng được bước tiến của giặc và dễ dàng chiến thắng chúng cho nên sau trận đánh ngày 14 tháng 2 năm 1285, quân ta đã rút khỏi các địa điểm Vạn Kiếp, Phả Lại, Bài Than6.

        Nhiều tài liệu chép rằng quân Trần đã tan vỡ, nhưng đó là do đã đứng trên lập trường của kẻ thù, huênh hoang khoác lác (An Nam chí lược, Nguyên sử) hoặc chỉ nhìn một cách hời hợt mặt ngoài (Toàn thư). Quân Nguyên chiếm được Vạn Kiếp và các địa điểm trên sông Bình Than không phải do chúng đã “đánh tan” được quân ta mà là do quân ta đã chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng. Chính nhờ đó mà chỉ sau vài ngày quân ta đã có thể bố trí một trận lớn trên bờ sông Hồng.

        Có lẽ vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã đem quân rút lui theo đường thủy, từ sông Lục Đầu vào sông Đuống mà về Thăng Long.

        Sau khi chiếm được Vạn Kiếp và núi Phả Lại, Thoát Hoan, A-ric Kha-y-a cùng với Ô Mã Nhi tiến quân đánh chiếm vùng Vũ Ninh (nay là huyện Quế Võ, Hà Bắc). Từ Phả Lại đến Vũ Ninh, hẳn quân Nguyên đã tiến theo đường tỉnh lộ số 18 ngày nay. Sau đó, chúng lại tiến xuống Đông Ngạn (nay là đất huyện Tiên Sơn thuộc Bắc Ninh và huyện Đông Anh thuộc Hà Nội), chắc là theo con đường quốc lộ số 1 từ Bắc Ninh về Hà Nội ngày nay. Đến sông Đuống, quân Nguyên đã đánh nhau với một bộ phận binh thuyền của ta ở đây và Thoát Hoan đã sai quân buộc bè làm cầu phao, vượt sông Đuống, tiến đến Gia Lâm7. Trên con đường tiến quân, giặc bắt được một số quân ta. Thấy chữ “Sát Thát” trên cánh tay những binh sĩ này, chúng bèn đem giết hết8.

        Ngày 12 tháng giêng âm lịch (17/2/1285) quân Nguyên tiến về phía Đông Bộ Đầu, đóng lại bên sông Hồng, dựng một lá cờ lớn9. Quân ta sau khi rút từ các nơi về, đã tổ chức một tuyến phòng ngự ở bờ phía bắc sông Hồng. Chính vua Trần đã trực tiếp chỉ huy việc chống giặc ở đây10. Binh thuyền của ta bố trí dọc theo sông, rào gỗ được dựng lên làm chiến luỹ. Những cỗ pháo đã chuẩn bị sẵn sàng bắn vào quân giặc. Khi. quân Nguyên đến bờ sông, quân ta đã khai pháo, hò reo thách đánh11.

        Đến chiều hôm đó (17/2/1285) vua Trần muốn sai người đến trại viên tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, vờ cầu hòa để điều tra tình hình của giặc. Đỗ Khắc Chung đã tình nguyện xin đi. Trước sự uy hiếp của Ô Mã Nhi, Khắc Chung đã bình tĩnh ứng đối linh hoạt, khiến tướng giặc phải khâm phục. Đêm đó, Khắc Chung ở lại trong trại giặc. Giờ Mão (từ 5 giờ đến 7 giờ sáng) hôm sau, tức ngày 13 tháng giêng (18/2/1285), Khắc Chung đã an toàn trở về với những điều đã dò xét được bên phía kẻ thù. Ô Mã Nhi hối hận vì đã thả Khắc Chung, cho quân đuổi theo nhưng không kịp. Hôm đó quân ta đã giao chiến với quân Ngyên trên bờ sông Hồng12.

----------------
1.    Toàn thư q.5, t.45b.

2.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.7a chép: “Quan quân bắt được tù binh, xưng là Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G.) điều các quân Thánh Dực, hơn một nghìn thuyền giúp Hưng Đạo vương cự chiến”.

3.   Nguyên sử q.13 Thế tổ bản kỷ, t.6a.

4.   An Nam chí lược q.4 phiên âm là Nạp Hải (Naqai ~ Noqai).

5.   An Nam chí lược q.4 Chinh thảo vận hướng: “Năm Ất Dậu niên hiệu Chí Nguyên, ngày Nhâm Ngọ, 9 tháng Giêng, thế tử (chỉ vua Trần - T.G.) đem mười vạn quân, đại chiến ở Bài Than. Nguyên súy Ô Mã Nhi (‘Omar), chiêu thảo Nạp Hải (Naqai), trấn phủ Tôn Lâm Đức đem những thuyền bắt được từ trước đánh tan được”.

6.   Toàn thư q.5, 45b chép: “Ngày 6 tháng Giêng [Thiệu Bảo 7] (11/2/ 1285), tướng Nguyên Ô Mã Nhi (‘Omar) phạm vào các xứ Vạn Kiếp, núi Phả Lại, quan quân tan chạy. Nhưng theo Nguyên sử - An Nam truyện, vua Trần đã đem quân tiếp viện và An Nam chí lược đã chép trận giao chiến giữa quân vua Trần với quân Ô Mã Nhi ở Bài Than ngày 14 tháng 2 năm 1285. Nguyên sử q.13 Thế tổ bản kỷ, t.7 cũng chép: “Ngày Nhâm Ngọ [tháng giêng] (14/2/1285), Ô Mã Nhi đem quân gặp Hưng Đạo vương An Nam, đánh bại”. Như vậy, không  phải “quan quân đã tan chạy” ngày 11 tháng 2 năm 1285 như Toàn thư đã chép. Ngày 11 tháng 2 năm 1285 mới chỉ là ngày Ô Mã Nhi tấn công các địa điểm của ta trên phòng tuyến sông Bình Than. Mãi đến ngày 14 tháng 2 năm 1285, sau trận thủy chiến lớn, quân ta mới rút lui.

7.   Toàn thư q.5, t.45b: “Ngày 12 [tháng giêng, năm Ất Dậu, Thiệu Bảo 7] (17/2/1285), giặc phạm Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngạn”. Toàn thư đã đảo lộn vị trí các vùng. Từ Phả Lại, Vạn Kiếp, quân Nguyên phải đánh đến Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh) trước, rồi đến Đông Ngạn (Từ Sơn cũ, nay thuộc Tiên Sơn), sau đó mới đến Gia Lâm. Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.7a chép: “Trấn Nam vương liền cùng quan hành tỉnh (chỉ A-ric Kha-y-a - T.G.) thân đến Đông Ngạn, sai quân đánh, giết được rất nhiều, bắt được 20 thuyền, Hưng Đạo vương thua chạy, quan quân buộc bè làm cầu sang bờ bắc sông Phú Lương (tức sông Hồng - T.G.)”. Nguyên sử q.13 Bản kỷ 7a cũng chép “quân đến bờ bắc sông Phú Lương”, Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm (q.5, bản của Thương vụ ấn thư quán, t.21) cũng chép: “Thoát Hoan thừa cơ buộc bè làm cầu sang bờ bắc sông Phú Lương”. Bờ bắc sông Phú Lương, tức sông Hồng, đúng là miền Gia Lâm mà Toàn thư đã chép. Con sông mà quân Nguyên ở Đông Ngạn (tức Từ Sơn) phải vượt qua để đến Gia Lâm, đúng là sông Đuống (An Nam chí nguyên chép rằng sông Thiên Đức (sông Đuống) còn có tên là sông Đông Ngạn). An Nam truyện nói rằng quân Nguyên đã đánh nhau với Trần Quốc Tuấn ở đây, nghĩa là trên sông Đuống, nhưng có lẽ chỉ là một bộ phận quân ta thôi. Theo Toàn thư, chúng ta có thể biết rằng các trận này do Ô Mã Nhi trực tiếp chỉ huy vì sau đó Trần Khắc Chung đã đến trại của Ô Mã Nhi.

8.   Toàn thư q.5, t.45b.

9.   Toàn thư q.5, t.45b chép: “Ngày 12 [tháng giêng năm Ất Dậu] (17/2/ 1285) giặc phạm Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngạn… bèn đến Đông Bộ Đầu dựng lá cờ lớn”. Chúng tôi cho rằng ngày 17 tháng 2 năm 1285 quân Nguyên đến Gia Lâm và bờ sông Hồng. Điều này phù hợp với Nguyên sử Thế Tổ bản kỷ và An Nam chí lược chép rằng trận đánh ở sông Hồng xảy ra trong hai ngày 17 và 18 tháng 2 năm 1285. Còn có thể quân Nguyên đã đánh vào Vũ Ninh trước ngày đó một hoặc hai ngày, tức là sau trận Bài Than. Trong ngày 17 tháng 2 năm 1285; theo Nguyên sử và An Nam chí lược quân Nguyên chưa vượt qua sông Hồng, vì thế chúng tôi cho rằng quân Nguyên chưa phải đóng ở Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng mé trên cầu Long Biên, gần dốc Hàng Than) bên này sông mà là đóng ở bên kia sông, đối diện với Đông Bộ Đầu (hoặc là bến đối diện đó cũng được gọi là Đông Bộ Đầu).

10.   Toàn thư có chép về trận đánh trên sông Hồng nhưng không nói rõ là ở bờ nào của sông Hồng và ai chỉ huy (q.5, t.46a). Cương mục chép: “Thoát Hoan đã lấy được Bắc Giang, quân ta lập đồn trại theo bờ sông phía nam để phòng ngự”. Cương mục thấy quân Nguyên tiến đến bờ phía bắc nên suy ra rằng quân Trần phòng ngư ở bờ nam, kỳ thực không phải như vậy. Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q.41, bản đã dẫn, t 564) chép: “Quan quân đến sông Phú Lương, Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G.) thân chống đánh, bị thua, bỏ thành chạy về phủ Thiên Trường. Nguyên sử q.13 Bản kỷ, 7a chép: “Ngày Ất Dậu [tháng giêng, Chí Nguyên 22] (17/2/1285), thế tử An Nam Trần Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G.) đem hơn một nghìn chiến thuyền chống cự. Ngày Bính Tuất (18/2/1285), đánh nhau, đại phá. Nhật Huyên trốn đi”. An Nam chí lược q 4 chép: “Ngày 13 là ngày Bính Tuất, thế tử giữ ở Lô Giang (tức sông Hồng - T.G.), lại bị tan vỡ, bỏ chạy. Trấn Nam vương sang sông, vào thiết yến ở cung đình”. Nguyên sử q.209, An Nam truyện chép rõ: “Quan quân buộc bè làm cầu [qua sông Đuống] sang bờ bắc sông Phú Lương (sông Hồng - T.G.). Nhật Huyên bố trí binh thuyền, dựng rào gỗ dọc theo sông. Thấy quan quân đến lập tức khai pháo hô lớn thách đánh. Đến chiều lại sai phụng ngư họ Nguyễn mang thư đến Trấn Nam vương và quan hành tỉnh (A-ric Kha-y-a - T.G.) xin rút đại quân. Hành tỉnh lại đưa thư trách, rồi lại tiến quân. Nhật Huyên liền bỏ thành chạy đi… Hành tỉnh lại dưa thư chiêu dụ, rồi điều quân sang sông đóng ở dưới thành An Nam” (t.7a). Như vậy là theo các tài liệu trên thì vua Trần đã chỉ huy trận đánh này và trận đánh đã diễn ra trên bờ phía bắc sông Hồng, sau đó, quân Nguyên mới vượt sông Hồng để vào Thăng Long.

11.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.7a. Đây là tài liệu duy nhất nói về “pháo” của quân Trần trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông. Nguyên văn trong An Nam truyện là “phát pháo đại hô cầu chiến” (bắn pháo hô lớn thách đánh). Chúng tôi vẫn giữ nguyên chữ “pháo” như trong An Nam truyện mà không dịch là súng vì chưa rõ vũ khí đó có hình dạng và được chế tạo như thế nào. “Pháo” thời Tống Nguyên là chỉ những máy bắn đá (xem chú thích về “pháo Hồi Hồi” ở chương V), nếu với những máy này đem bắn các đạn cháy hay nổ thì gọi là “hỏa pháo” (quân Nguyên đánh Nhật Bản năm 1274 và 1281 đều dùng “thiết hỏa pháo”, tức là dùng máy bắn đá bắn đi những hòn đạn sắt có đựng chất nổ). Còn những vũ khí hình ống thì được gọi là “hỏa đồng”, “hỏa thương” (ban đầu làm bằng ống tre, về sau làm đồng hay sắt, tức là “hỏa súng”. Súng thần cơ đời Hồ thuộc loại này”. “Súng” là vũ khí hình ống kim loại. Mãi đến khoảng giữa đời Minh, người ta mới dùng chữ “pháo” để chỉ cả các vũ khí xạ kích hình ống (xem Phùng Gia Thăng: Hỏa dược đích phát minh hòa Tây truyền, Hoa Đông nhân dân xuất bản xã, 1954, t.56).

12.   Toàn thư q.5 chép: “Vua muốn sai người đi xem hư thực mà chưa tìm được người. Chỉ hậu cục thư là Đỗ Khắc Chung tiến lên nói: “Thần tuy hèn mọn bất tài nhưng xin được đi”. Vua mừng lắm nói: “Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ ngựa ký”, rồi sai mang thư nói xin hòa. Ô Mã Nhi hỏi: “Chúa ngươi vô lễ, sai người thích chữ “Sát Thát”, khinh nhờn thiên binh, lỗi thật là lớn”. Khắc Chung đáp: “Chó nhà cắn người không phải tại chủ nó (45b), vì lòng trung phẫn mà họ tự thích vào, Quốc vương không biết việc, đó tôi là cận thần tại sao lại không có”. Nói rồi đưa cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi nói: “Đại quân từ xa đến, nước ngươi tại sao không quay giáo đến tương kiến, lại còn chống mệnh. Bọ ngựa dám chống xe, liệu sẽ ra thế nào?” Khắc Chung nói: “Hiền tướng không thi hành cái chính sách của Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, trước hết đưa thư, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi. Nay lại bức bách nước tôi, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người”. Ô Mã Nhi nói: “Đại quân mượn đường để đánh Chiêm Thành, Quốc vương nếu đến hội kiến thì trong nước vẫn được yên ổn, một chút gì cũng không phạm đến. Nếu cứ mê muội thì chỉ trong chốc lát, núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát”. Khắc Chung về rồi, Ô Mã Nhi bảo chư tướng rằng: “Người này ở vào lúc bị uy hiếp (46a) mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ là Chích, không nịnh ta là Nghiêu, chỉ nói “chó nhà cắn người”, giỏi ứng đối; có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước này có những người như thế, chưa dễ đã chiếm được”. Sai người đuổi theo, không kịp. Giờ Mão ngày 13 (18/2/1285) Khắc Chung từ chỗ quân Nguyên về. Giặc đuổi đến, cùng quan quân đánh nhau (46b)”. Nguyên sử q.209, An Nam truyện, 7a chép: “Đến chiều, sai phụng ngư họ Nguyễn mang thư cho Trấn Nam vương và quan hành tỉnh xin rút đại quân”. Đỗ Khắc Chung đi từ ngày 12 (17-2-1285), hẳn vào buổi chiều, và khoảng 5-7 giờ sáng hôm sau, ngày 13 (18-2-1285) mới về, như vậy đêm đó Khắc Chung đã ở lại trong trại Ô Mã Nhỉ.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 01:32:13 pm
        Trận cản giặc trên sông Hồng có mục đích là bảo vệ cho cuộc rút lui chiến lược của triều đình, hoàng gia và quân dân ra khỏi Thăng Long được an toàn. Tất nhiên nhiều tên xâm lược đã bỏ mạng trước chiến lũy của quân Trần. Nhưng khi những lực lượng cuối cùng đã ra khỏi kinh đô, đoàn binh thuyền của ta dọc sông Hồng cũng rút về xuôi. Bấy giờ, Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a mới có thể cho quân vượt qua sông. Chúng đem quân đóng lại dưới chân thành Thăng Long. Có lẽ tòa thành im lìm đó đã làm những tên tướng Mông Cổ khiếp sợ. Mãi đến hôm sau, khi dò biết được trong thành chẳng còn ai, Trấn Nam vương Thoát Hoan mới dám vào thành. Hôm đó là ngày 14 tháng giêng năm Ất Dậu (19/2/1285) 1. Thăng Long chỉ còn là một tòa thành trống, cửa Đại Hưng, điện Thiên An, gác Triều Thiên không còn một bóng người. Bọn giặc vào thành chỉ thấy “cung thất nhẵn không, duy còn mấy tờ chiếu sắc của Hốt Tất Liệt - T.G.) và điệp văn của trung thư (cơ quan trung ương của triều Nguyên - T.G.) đều đã bị xé bỏ đi, ngoài ra còn một số giấy tờ, đều là của các biên tướng nam bắc báo cáo tin tức và tình hình chống địch” 2.

        Thoát Hoan chè chén với bọn tướng tá trong cung đình vua Trần3, nhưng có lẽ hắn hoảng sợ vì phải đóng quân trong tòa thành trống này, khi khắp nơi đều thấy những bảng kêu gọi nhân dân liều chết đánh giặc không được hàng4. Vì thế, hắn đã rút quân ra khỏi kinh thành, trở lại đóng quân ở bờ phía bắc sông Hồng5.

        Trong khi đại quân theo vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn rút khỏi kinh đô Thăng Long thì Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đã chiến đấu với cánh quân Nguyên từ Vân Nam xuống. Trước đây, Nhật Dưật được lệnh trấn thủ lộ Tuyên Quang6. Năm 1285, viên bình chương chính sự hành tỉnh Vân Nam là Na-xir út-Đin (Nā sir ud- Dīn) đã đem một nghìn quân Mông Cổ và Kha-ra-jang (Qaraĵang, tức quân người Ô Man ở Vân Nam) tiến vào biên giới Đại Việt phía Tuyên Quang để phối hợp với cánh quân của Thoát Hoan ở phía đông7. Bấy giờ, Chiêu Văn vương Nhật Duật đóng ở trại Thu Vật (tức huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ngày này). Sau khi giao chiến với giặc, cũng như các cánh quân phía đông, Nhật Duật đã rút lui để bảo toàn lực lượng. Quân của Nhật Duật đi thuyền xuôi theo dòng sông về phía dưới (có lẽ là theo sông Chảy vào sông Lô). Quân giặc đuổi theo dọc hai bờ sông. Nhật Duật ngoảnh lại, thấy quân giặc tiến từ từ, liền bảo với quân sĩ của ông: “Phàm đuổi thì cần nhanh, nay giặc tiến từ từ, sợ có tiền quân chắn ngang phía trước”. Những người được sai đi trinh sát đều trở về báo quả là giặc đã cắt ngang phía hạ lưu đúng như lời tiên đoán của Nhật Duật. Ông liền cho quân bỏ thuyền, lên bộ, do đó thoát khỏi quỷ kế của địch và toàn quân đã rút lui an toàn8. Ngày rằm tháng giêng năm Ất Dậu (20-2- 1285) một ngày sau khi Thoát Hoan tiến vào Thăng Long, cánh quân của Trần Nhật Duật về đến Bạch Hạc. Bấy giờ trong quân của Nhật Duật có nhiều người Tống, trong số đó có đạo sĩ Hứa Tông Đạo, người ở Phúc Châu thuộc lộ Phúc Kiến, sang Đại Việt từ năm 1276. Đoàn quân của Nhật Duật đã dừng lại trên bờ sông Bạch Hạc (chỗ gần cầu Việt Trì ngày nay), cắt tóc làm lễ tuyên thệ, nguyện lấy lòng trung để báo ơn vua. Sau đó, cánh quân của Nhật Duật đã vượt qua vùng các dân tộc thiểu số rút về chỗ vua Trần đóng quân9.

---------------
1.    Nguyên sử q.209, An Nam truyện t.7a chép: “… Bèn điều quân qua sông đón ở dưới thành An Nam. Hôm sau Trấn Nam vương vào quốc đô nước đó”. Như vậy, theo An Nam truyện, sau trận sông Hồng ngày 13 tháng giêng (18/2/1285), Thoát Hoan sang sông nhưng chưa vào thành mà đến ngày 14 tháng giêng (19/2/1285) mới vào. Nguyên sử q.13 Bản kỷ và An Nam chí lược thì chỉ chép sau trận sông Hồng, ngày 13 tháng giêng (18/2/1285), Thoát Hoan vào thành, không nói là hôm sau.

2.   Nguyên sử q.209,. t.7a, An Nam truyện đã chép về thành Thăng Long khi quân Nguyên tiến vào như sau: “Cung thất có năm cửa, trên đề “Đại Hưng môn”, có cửa nách ở bên phải và bên trái Chính điện có chín gian, đề “Thiên An ngư điện”, cửa chính nam đề “Triều Thiên các”.

3.   An Nam chí lược q.4: “Trấn Nam vương sang sông vào thiết yến ở cung đình”.

4.   Nguyên sử q.209, An Nam truyện, t.7b.

5.   Nguyên sử q.13 Thế tổ bản kỷ 7a: “Nhật Huyên trốn đi, vào thành, lại trở lại đóng ở phía bắc sông Phú Lương (tức sông Hồng - T.G.).

6.   Các tài liệu nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Nguyên đời Trần từ trước đến nay không chú ý đến cánh quân Nguyên từ Vân Nam xuống trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và thường cho việc Trần Nhật Dưật gặp quân Nguyên ở Tuyên Quang là vào cuộc kháng chiến lần thứ ba (1287). Có lẽ là một phần vì Toàn thư không chép việc này vào năm 1285 mà chép vào lúc Nhật Duật chết (1330) và Nguyên sử An Nam truyện không nói đến cánh quân Vân Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai. Nhưng, nếu chỉ dựa vào Toàn thư, chúng ta cũng biết được Nhật Duật đã chống với quân Nguyên ở Tuyên Quang trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Toàn thư (q.7, t3a) chép. “Cuối niên hiệu Thiệu. Bảo, [Nhật Duật] giữ trại Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái) ở Tuyên Quang. Giặc mới đến biên giới, Chiêu Quốc (tức Chiêu Quốc vương Trần ích Tắc - T.G.) tâu rằng Chiêu Văn ở Tuyên Quang làm nội ứng ở trên gọi giặc vào (Nhật Duật thích chơi với người Tống nên Chiêu Quốc nói thế)”. Cuối niên hiệu Thiệu Bảo là năm 1285 (cuộc kháng chiến lần thứ ba thì vào niên hiệu Trùng Hưng) và bấy giờ Trần ích Tắc chưa đầu hàng giặc, như vậy rõ ràng là việc Nhật Duật chống giặc ở Tuyên Quang là vào cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285).

        Hiện nay, chúng tôi đã tìm được một tài liệu chắc chắn chứng minh cho sự kiện này, đó là bài minh khắc trên chuông Thông Thánh Quán ở Bạch Hạc năm Đại Khánh 8 (1321) (bản rập của Thư viện khoa học trung ương số 13955-13958, ghi là chuông ở cửa đình xã Bạch Hạc, tổng Nghĩa An, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, tức xã Ở đầu cầu Việt Trì, thuộc Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc hiện nay). Theo bài minh này thì Trần Nhật Duật đã đứng ra trông coi việc đúc chuông, vì vậy, những tài liệu trong bài minh có giá trị. Bài minh có đoạn chép: “Cuối mùa đông năm Giáp Thân, giặc Bắc đến xâm lược, bấy giờ Khai Quốc vương trấn thủ các lộ Tuyên Quang…”. Theo bài minh, “Chiêu Văn vương con thứ 6 hoàng đế Thái Tông nay là nhập nội kiểm hiệu thái úy bình Thái đo nguyên soái… thượng trụ quốc Khai Quốc vương”, vậy Khai Quốc vương là tước của Nhật Duật đời Trần Minh Tông. Cuối mùa đông năm Giáp Thân, tức đầu năm 1285.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200222_zps1zvsvjkp.jpg)
Một đoạn bài Minh chuông Thông Thánh Quán (Bạch Hạc) của Hứa Tông Đạo, người Trung Quốc ở trong quân Trần Nhật Duật nói về cuộc chiuến đấu ở Tuyên Quang (1285)

7.   Nguyên sử An Nam truyện và Bản kỷ không chép đến cánh quân Nguyên từ Vân Nam xuống nhưng bọn giặc mà Trần Nhật Dưật gặp ở trại Thu Vật thì chỉ có thể là cánh quân Vân Nam, không thể là cánh quân tiến vào Lạng Sơn. Nguyên sử q. 125 Trại Điển Xích Thiêm Tư Đinh (Se ïid äĵäll Sāms ud-Dīn truyện, Nạp Tốc Lạt Đinh (Nā sirt ud-Dīn truyện phụ, t.3b chép: “Năm [Chí Nguyên 22] (1285), [Na-xi-rut Đin Nạp Tốc Lạt Đinh)] đem một nghìn quân Hợp Lạt Chương (Qaraĵang, tức tộc Ô Man ở Vân Nam) Mông Cổ theo hoàng thái tử Thoát Hoan đánh Giao Chỉ, luận công, thưởng hai nghìn lạng bạc”. Nguyên sử chép năm 22 thành năm 32, nhưng đó là nhầm vì năm 32 Na-xi-rut Đin đã chết (từ năm 29) và không có chiến tranh với Đại Việt. Quân Mông Cổ và quân thiểu số ở Vân Nam hẳn đã tiến theo lưu vực sông Chảy (theo tỉnh lộ số 13) nên mới gặp Nhật Duật ở vùng huyện Yên Bình, Yên Bái ngày nay.

8.   Theo Toàn thư q.7, t.3a.

9.   Bài minh chuông thông Thánh Quán có đoạn: “Vào ngày thượng nguyên (tức rằm tháng giêng - T.G.) năm Ất Dậu (20-2-1285), ở sông Bạch Hạc, cắt tóc tuyên thệ, thề với thần là dốc hết lòng trung để báo quân thượng. Rồi suất lĩnh tả hữu quân kỵ, tiến lên phía trước, mới vượt qua vùng Man Lão (chỉ các dân tộc thiểu số - T.G.)… thẳng đến ngự tiền… ”. Bài minh không cho chúng ta biết là Nhật Duật đã rút về gặp vua Trần theo đường nào mà đã qua vùng các dân tộc thiểu số. Theo bài minh này thì đạo sĩ Hứa Tông Đạo là người hương Thái Bình, huyện Phúc Thanh, Phúc Châu, lộ Phúc Kiến, theo thuyền đến Đại Việt năm Bính Tý (1276). Toàn thư (q.6, t.17) chép Hứa Tông Đạo đến vào năm Hưng Long 10 (1302) là nhầm vì chính Tông Đạo viết bài minh này.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 01:41:56 pm

        Bấy giờ, thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông, cùng triều đình, tông thất và đại quân đã theo sông Hồng rút về hướng phủ Thiên Trường (Nam Định) . Sau khi chiếm được Thăng Long, Thoát Hoan một mặt đợi cánh quân của Toa Đô từ Chiêm Thành tiến ra, một mặt sai các tướng tá truy kích quân Trần. Hữu thừa Kôn Trếch (Könčäk) 2 được lệnh dẫn vạn hộ Mang Khu Đai (Mangqudai) 3 và vạn hộ Bon Kha Đa (Bolqadar) đuổi theo bằng đường bộ. Còn tả thừa Lý Hằng thì dẫn Ô Mã Nhi Bạt Đô (O’mar-ba’atur) đuổi theo bằng đường thủy4.

        Trên con đường rút lui, quân ta vẫn bố trí các trận đánh ngăn cản đường tiến của giặc. Trận đầu tiên sau khi quân ta rút khỏi kinh thành xảy ra ở bãi Đà Mạc (hay Thiên Mạc, tức bãi Mạn Trù bên sông Hồng ở Khoái Châu, Hải Hưng), Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng án ngữ ở đây đã chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ đường rút quân của nhà vua. Nhưng vì địch mạnh, quân ít, Trần Bình Trọng đã sa vào tay giặc. Kẻ thù tìm hết cách dò hỏi tình hình quân ta, nhưng mặc cho chúng dọa nạt, dụ dỗ, ông vẫn không hề khuất phục. ông đã tuyệt thực, nêu cao khí tiết trung dũng của người tướng anh hùng. Giặc toan mua chuộc ông, hỏi ông có muốn làm vương phương Bắc hay không. ông lớn tiếng trả lời giặc: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc"5. Không ham giàu sang, coi thường tính mạng, chỉ biết hy sinh vì Tổ quốc, Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đã tiêu biểu cho tinh thần của cả dân tộc ta lúc đó. Ngày 21 tháng giêng năm ất Dậu (26/2/ 1285), giặc đã giết ông6. Cảm động vì cái chết dũng cảm của Bảo Nghĩa vương, vua Trần đã vật vã thương khóc7, nhưng vẫn bình tĩnh định kế hoạch chặn đánh quân Nguyên. Quân Trần rút về cửa ải Hải Thị (có lẽ là cửa sông Luộc gặp sông Hồng), đóng cọc đắp bờ chắn sông để đánh địch8. Quân Nguyên đuổi đến Hải Thị. Giặc phối hợp thủy bộ trên dưới bắn vào quân ta rất dữ dội9. Quân ta lui hẳn về đóng ở vùng Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình).

        Lúc đó, Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a đang tăng cường khống chế vùng sau lưng mà chúng đã đi qua. Trên dọc đường chính từ biên giới Lạng Sơn về đến Thăng Long, quân Nguyên đóng trại san sát. “Vạn hộ Lý Bang Hiến, Lưu Thế Anh dẫn quân mở đường từ Vĩnh Bình vào An Nam, cứ 30 dặm thì lập một trại, 60 dặm đặt một trạm ngựa. Mỗi trại, mỗi trạm đóng 300 quân trấn giữ; tuần tra” 10. Ngoài việc đóng giữ các trại trạm đó, quân Nguyên còn xây dựng thêm đồn lũy để mong củng cố và phát triển phạm vi kiểm soát của chúng: “Lại sai Lưu Thế Anh dựng đồn, chuyên đôn đốc công việc của trại, trạm” 11. Nhưng trên một miền đất rộng lớn đó, địch không thể có quân rải cho đủ và ngay ở vùng chiếm đóng được, chúng cũng không thể kiểm soát nổi. Có một số cánh quân của ta không rút đi đã ở lại tiếp tục hoạt động sau lưng địch cùng với nhân dân, tìm cách chống giặc. Chẳng hạn như cánh quân của quản quân Nguyễn Lộc đã đóng ở châu Thất Nguyên (huyện Tràng Định, Lạng Sơn ngày nay) trước khi quân giặc tiến vào biên giới Lạng Sơn, cho đến nay cánh quân đó vẫn hoạt động ở vùng trại Vĩnh Bình (vùng biên giới các huyện Văn Uyên, Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay) 12. Chính hoạt động của những cánh quân đó cùng với việc tự động “liều chết chống giặc” của nhân dân đã làm cho Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a phải tăng cường việc phòng thủ ở hậu phương của chúng.

----------------
1.    Theo một bi ký, Phụng Dương công chúa thần đạo bi do Lê Củng Viên soạn năm Hưng Long 1 (1293) (bia ở đền Cao Đài, huyện Mỹ Lộc, Nam Định) thì “mùa đông năm Giáp Thân (chỉ tháng 1/1285), giặc Bắc cướp phương Nam, Thái sư (Trần Quang Khải) lên thuyền đánh giặc”. Nửa đêm thuyền bị hỏa hoạn, Quang Khải đang ngủ, vợ là công chúa Phụng Dương tưởng là giặc đến, lấy thân mình che cho ông. Có lẽ một số quý tộc và gia đình họ đã được bố trí rút khỏi Thăng Long từ sớm.

2.   Nguyên sử phiên âm là Khoan Triệt.

3.   Nguyên sử phiên âm là Mang Cổ Đải, Tục tu trị thông giám đổi theo cách đời Thanh, chép là Mông Cổ Đại. Mang Khu Đai (Mangqudai ~ Mangqutai) có nghĩa là “người của bộ lạc Mang Qut”. Bây giờ vẫn còn tộc Mang Quït ở người U Dơ Bếch.

4.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t.7b.

5.   Toàn thư q.5, t. 47a.

6.   Toàn thư (q.5 t.47a) chép việc này vào tháng 2 năm Thiệu Bảo 7 (8/3 – 5/4/1285), điều đó không đúng vì bấy giờ quân ta không ở đây nữa và cũng chưa từ Thiên Trường tiến lên đây. An Nam chí lược (q. 4) chép rõ: Ngày 21 là ngày Nhâm Thìn (tháng giêng), đánh vỡ ải Thiên Hán chém được tướng địch là Bảo Nghĩa hầu. Thiên Hán đúng là Thiên Mạc. Chúng tôi cho rằng Lê Trắc đã viết với chữ Mạc là bãi (Toàn thư đùng chữ Mạc là màn) nên các bản chép và in về sau đã dễ dàng nhầm Thiên Mạc thành Thiên Hán. Ngày 21 tháng giêng năm đó không phải là ngày Nhâm Thìn như Lê Trắc đã nhầm mà là ngày Giáp Ngọ (26/2/1285), nếu đúng là ngày Nhâm Thìn thì lại là ngày 19 âm lịch (24/2/1285). Chú ý rằng An Nam chí lược chép là Bảo Nghĩa hầu chứ không phải là Bảo Nghĩa vương. Nguyên sử An Nam truyện và Kinh thế đại điển tự lục thì chép là quân Nguyên bắt được Kiến Đức hầu Trần Trọng. Có lẽ Lê Trắc đã chép đúng tước hiệu vì y là người đồng thời. Có thể Trần Bình Trọng được truy phong tước vương sau khi tuẫn tiết.

7.   Cương mục q.7, t.36b.

8.   An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng. Chúng tôi đoán cửa ải Hải Thị là cửa sông Hải Triều thời Trần ở chỗ thông với sông Hồng. Theo Cương mục thì sông Hải Triều thời Trần là khúc sông giáp giới hai huyện Tiên Lữ (Hưng Yên) và Hưng Nhân (Thái Bình), như vậy là sông Luộc ngày nay. Theo An Nam chí nguyên (bản đã dẫn, t. 47) “sông Hải Triều… phân lưu từ sông A Lỗ”. Vậy sông A Lỗ là đoạn sông Hồng gần sông Luộc. Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564) chép rằng: “đại quân đuổi Nhật Huyên ở sông A Lỗ và sông Đức Cương”. Sông Đức Cương theo chúng tôi là sông chảy qua Đa Cương tức Long Hưng thời Trần (nay là đất Thái Bình). Cõ lẽ trận ở sông A Lỗ cũng là trận ở cửa Hải Thị.

9.   An Nam chí lược q. 4 chép: “Quan quân trên dưới hai phía bắn chéo”. Điều này phù hợp với việc hai cánh quân bộ của Kôn Trếch và thủy của Lý Hằng truy kích quân Trần chép trong Nguyên sử - An Nam truyện.

10.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b.

11.   Như trên.

12.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện chép khi Thoát Hoan vào biên giới, “An Nam quản quân phú (?) Nguyễn Lộc đóng quân ở châu Thất Nguyên” (t. 6a), khi vua Trần đã về Thiên Trường, Trường Yên, “Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình đường phía tây” (t. 7b). Vĩnh Bình tức trại Vĩnh Bình. T. Yamamoto căn cứ vào Đồng Khánh địa dư chí, Lạng Sơn, ở tổng Trử Trĩ châu Thoát Lãng có xã Vĩnh Trại, mà cho Vĩnh Bình trại là ở vùng này (T. Yamamoto: Sách đã dẫn, t. 169). Hiện nay xã này thuộc đất huyện Cao Lộc gần Kỳ Lừa. Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt (I, t. 105) cũng cho trạm Giao Chỉ thuộc trại Vĩnh Bình đời Tống là ở chợ Kỳ Lừa.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 02:07:06 pm

        Từ khi Thoát Hoan xuất quân, Toa Đô đã được lệnh từ Chiêm Thành tiến ra để phối hợp. Triều đình Trần cũng đã nghĩ đến điều đó. Chính vì thế mà vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã để một số quân lớn trấn giữ ở miền Diễn Châu và Nghệ An (Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay). Trong khi hầu hết quân lực vùng đồng bằng Bắc Bộ được huy động về cứ điểm Vạn Kiếp thì - như lời thơ của Nhân Tông - “Hoan Diễn còn kia chục vạn quân” (Hoan Diễn do tồn thập vạn binh). Miền đất phía nam này từ trước vua Trần đã giao cho những vương hầu thân tín trấn trị. Năm 1269, Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang (anh Thánh Tông) được phong làm Vọng Giang phiêu kỵ đô thượng tướng quân vào giữ đất Diễn Châu1. Đến nay, để ngăn cánh quân Toa Đô từ Chiêm Thành đánh ra, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, người chiến tướng vừa vượt qua vòng vây của giặc ở mặt trận Tuyên Quang đã được lệnh vội vã lên đường vào trấn giữ Nghệ An2. Trong lúc cả nước đang chống giặc thì Chương Hiến hầu Trần Kiện, con Tĩnh Quốc vương Quốc Khang, vì hiềm khích với hoàng tử Tá Thiên vương Đức Việp, đã nằm dài ở hương Tức Mặc, lấy cớ học đạo Lão Trang. Để tăng cường bảo vệ phía nam, vua Trần đã gọi y ra, sai đem quân vào Thanh Hóa3. Ngày 28 tháng giêng năm Ất Dậu (5/3/1285), vua Trần lại theo lời đề nghị của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, cử thêm thượng tướng thái sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải vào tăng viện cho Nghệ An4.

        Hai vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn quyết tâm giữ vững mặt nam, còn mặt bắc thì lấy Thiên Trường, Trường Yên làm căn cứ, củng cố lực lượng, để tiến lên đánh bật quân Thoát Hoan, giải phóng Thăng Long. Vào lúc này, vua Trần và Quốc Tuấn đã bắt đầu có ý định phản công. Thăng Long tuy lọt vào tay giặc nhưng lực lượng của ta vẫn bảo toàn được5, các lộ phía đông và phía nam của đồng bằng Bắc Bộ vẫn còn là nguồn tài lực và nhân lực phong phú. Sau khi rút khỏi Thăng Long, sau mấy trận cản giặc ở vùng Khoái Lộ (Khoái Châu, Hưng Yên), hai vua Trần đem quân về. Thiên Trường (Nam Định), Trường Yên (Ninh Bình) 6. Về đến đây, triều đình Trần bắt tay ngay vào việc củng cố lực lượng. Ngay A-ric Kha-y-a cũng phải thừa nhận là bấy giờ ở Thiên Trường và Trường Yên, vua Trần đã tập hợp được binh lực7.

        Xây dựng lực lượng ở Thiên Trường và Trường Yên, vua Trần đã chuẩn bị cho việc theo sông Hồng tiến lên phản công kẻ thù. Trong lúc đó, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đem hơn một nghìn chiến thuyền tiến lên đóng ở Vạn Kiếp8. Việc Trần Quốc Tuấn đem quân trở lại Vạn Kiếp chứng tỏ rằng Thoát Hoan không kiểm soát được các phủ lộ phía đông như Long Hưng (Thái Bình), Hồng (Nam Hải Dương), Nam Sách (Bắc Hải Dương),… và cũng nói lên rằng quân địch đã không kiểm soát được những vùng mà chúng đã đi qua. Có lẽ Trần Quốc Tuấn đã từ Long Hưng (Thái Bình) tiến về Vạn Kiếp theo đường sông Thái Bình. Đóng quân ở Vạn Kiếp lần này, Quốc Tuấn muốn tạo một gọng kìm tấn công vào phía bắc của quân Thoát Hoan, phối hợp với cánh quân tiến từ Thiên Trường lên theo đường sông Hồng, đồng thời chặn đường rút lui của dịch. Hơn một nghìn chiến thuyền rút khỏi Vạn Kiếp sau trận ngày 14 tháng 2 năm 1285, bây giờ Quốc Tuấn lại trở về Vạn Kiếp với hơn một nghìn chiến thuyền. Như vậy là lực lượng quân tá đã bảo toàn và khôi phục.

        Trong lúc đó, ở vùng sau lưng địch, những hoạt động chiến đấu chống giặc của các cánh quân địa phương và nhân dân cũng phát triển mạnh mẽ. Nguyễn Lộc trước đây hoạt động ở vùng Thất Nguyên (Tràng Định), Vĩnh Bình (Cao Lộc), thì nay đã mở rộng phạm vi khắp vùng Lạng Sơn9.

        Tình hình đó đã làm cho Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a vô cùng lo lắng. Bọn chúng vội vàng xin Hốt Tất Liệt cho quân tiếp viện. Đây là tình hình bi đát mà A-ric Kha-y-a đã báo về với Hốt Tất Liệt: “ở hai xứ Thiên - Trường và Trường Yên mà Trần Nhật Huyên trơn đến, binh lực lại tập hợp, Hưng Đạo vương tụ tập hơn một nghìn chiếc thuyền ở Vạn Kiếp, Nguyễn Lộc ở Vĩnh Bình, cỏn quan quân thì đi xa, đánh lâu ở lơ lửng quãng giữa, Toa Đô và Tang-gu-tai10 thì đến không đúng kỳ hạn” 11. “Ở lơ lửng quãng giữa” có nghĩa là ở phía bắc (Lạng Sơn), phía đông (Vạn Kiếp, Hải Dương) và phía nam (Thái Bình, Nam Định), quân thù đều gặp sức chiến đấu của quân dân ta.

        Một mặt xin tăng viện12, một mặt Thoát Hoan cố gắng tập trung binh lực tấn công xuống Thiên Trường, hòng bắt được triều đình Trần, phá vỡ căn cứ của quân ta, thông con đường liên lạc với Toa Đô, thoát ra khỏi cái thế bị “lơ lửng ở quãng giữa” hiện tại.

--------------------
1.   Toàn thư q. 5, t. 32b.

2.   An Nam chí lược q. 4 chép rằng vua Trần sai em là Chiêu Văn vương Trần Duật và hầu Trịnh Đình Toản chống giữ ở Nghệ An vào tháng giêng âm lịch. Chúng ta nhớ rằng ngày rằm tháng giêng âm lịch (20/2/1285) Trần Nhật Duật còn ở Bạch Hạc (Việt Trì). Trong số các sứ Trần sang Nguyên năm 1278, có một người tên là Trịnh Đình Toản (Toàn thư, An Nam chí lược, xem chương IV). Trịnh Đình Toản bị giữ lại ở Trung Quốc (Nguyên sử, An Nam truyện chép là Trịnh Quốc Toản). Năm 1283, vua Trần đưa thư cho A-ric Kha-y-a đòi tha các sứ bị giữ, A-ric Kha-y-a đã thả các sứ ta. Không rõ trong số đó có Trịnh Đình Toản không và Trịnh Đình Toản đó có phải là người cùng Nhật Dượt vào Nghệ An không. Nhưng Trịnh Đình Toản đi sứ không phải là tước hầu. Có lẽ hầu Trịnh Đình Toản là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản chép nhầm ra.

3.   An Nam chí lược q. 4 và q. 13.

4.   Toàn thư q. 5, t. 46b.

5.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b chép rằng khi vua Trần rút khỏi Thăng Long thì số quân còn rất đông.

6.   Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564) chép: “Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G.) chống đánh bị thua, bỏ thành về phủ Thiên Trường”. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 7b chép: “Nhật Huyên đem tông tộc, quan lại về đồn trú ở Thiên Trường, Trường Yên”.

7.   Nguyên sử q. 13 Thế Tố bản kỷ t. 8b: “Bấy giờ ở hai xứ Thiên Trường, Trường Yên mà Trần Nhật Huyên trốn đến, binh lực lại tập hợp được”.

8.   Nguyên sử q. 13 Thế tổ bản kỷ t. 8b chép: “Hưng Đạo vương tụ tập hơn một nghìn thuyền ở Vạn Kiếp”. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện cũng chép: “Hưng Đạo vương, Phạm điện tiền (chỉ Phạm Ngữ Lão - T.G.) đem binh thuyền lại tụ tập ở cửa sông Vạn Kiếp” (t.7b).

9.   Nguyên sử An Nam truyện chép là quản quân Nguyễn Lộc đóng ở Thất Nguyên (q. 209, t. 6a) và ở Vĩnh Bình (t. 7b) (xem phần trên). Bản kỷ cũng.chép là Nguyễn Lộc ở Vĩnh Bình (q. 13, t. 8b). Sau này Toàn thư có nói đến thổ hòa Lạng Giang là Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh tập kích bọn Việt gian hàng giặc ở trại Ma Lục (q. 5, t. 46b). Lạng Giang đời Trần là vùng Bắc Giang ngày nay. Theo Tự sự của Lê Trắc trong An Nam chí lược (q. 16) thì bọn Việt gian bị tập kích ở Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn). Như vậy là Nguyễn Thế Lộc đã tập kích bọn này trên đất Lạng Sơn chứ không phải trên đất Lạng Giang. Chúng tôi cho rằng Nguyễn Lộc trong Nguyên sử và Nguyễn Thế Lộc trong Toàn thư là một người, vốn là một thổ hòa dân tộc Tày, được vua Trần phong chức quản quân, coi một cánh quân (có lẽ là người miền núi). Chú ý là khi tập kích bọn Việt gian, cùng với Nguyễn Thế Lộc có gia nô Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô, như vậy trong cánh quân của Nguyễn Thế Lộc có cả quân Hưng Đạo vương.

10.   Tang’u tai, ở đây phiên âm là Đường Cổ Đại, tức Đường Ngột Đải trong An Nam truyện, đã được Thoát Hoan sai đến Chiêm Thành gọi Toa Đô từ trước (xem trước).

11.   Nguyên sử q. 3 Bản kỷ t. 8b.

12.   Theo Nguyên sử Bản kỷ, đến ngày Quý Vị, 10 tháng 3 năm Chí Nguyên 22 (16-4-1285), Hết Tất Liệt mới ra lệnh cho quân tiếp viện, có lẽ là do tin tức của A-ric Kha-y-a báo về chậm. Hết Tất Liệt “thấy đi đường thủy nguy hiểm, ra lệnh theo đường bộ mà đi” (Bản kỷ q. 13, t. 8). Đạo quân tiếp viện có lẽ do A-ba-tri (Abači, A Bát Xích) dẫn đi. Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích (A-ba-tri) truyện chép: “Năm (Chí Nguyên 22) (1285), trao chức Chính đông tuyên úy sứ đô nguyên soái. Hoàng tử Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, trao chức hữu thừa hành trung thư tỉnh ở các xứ Hồ Quảng, triệu vào bệ kiến, Thế Tổ (Hất Tất Liệt - T.G.) thân cởi áo mặc cho…”. Nhưng có lẽ vì Thoát Hoan trong tháng 3 đã gỡ được thế bí, và sau đó lại thua rất nhanh, nên toán quân này không vào nước ta.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 02:16:48 pm

        Vào lúc đó, vua Trần cũng đã chuẩn bị lực lượng ngược sông Hồng, tiến đánh Thoát Hoan. Ngày mồng 3 tháng 2 âm lịch (10/3/1285), quân ta gặp địch do Thoát Hoan chỉ huy ở sông Đại Hoàng (khúc sông Hồng chảy qua huyện Lý Nhân, Hà Nam). Trong lần giao chiến này quân ta lại rút lui1. Quân Nguyên đang lúng túng mà quân ta chưa thể chiến thắng được là vì thực lực của chúng vẫn còn mạnh. Từ sau khi chiếm Thăng Long, chủ lực địch chưa bị hao tổn nhiều. Về phía ta, lực lượng đã bắt đầu khôi phục nhưng phải dồn một phần lớn cho việc chống giữ miền Thanh - Nghệ. Ở mặt trận phía nam này, quân ta chưa thể chặn đứng được giặc. Cánh quân của Toa Đô đang ồ ạt tấn công ra. Chính do tình hình đó mà quân Trần phải rút lui sau trận trên sông Đại Hoàng.

        Từ cuối tháng giêng âm lịch, bọn đại vương Giảo Kỳ2, hữu thừa Toa Đô, tả thừa Tang-gu-tai, tham chính Khê-đê3 từ Chiêm Thành đánh vào Bố Chính (vùng các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch tỉnh Quảng Bình ngày nay) rồi tiến ra Nghệ An. Trần Nhật Duật và Trịnh Đình Toản (Trần Quốc Toản?) chống cự ở Nghệ An không cản được địch, phải rút lui4. Lúc đó quân của Trần Quang Khải chưa vào đến Nghệ An (ngày 28 tháng giêng âm lịch (5/3/1285) Quang Khải mới đi). Một bộ phận quân Nguyên tiến thẳng ra Thanh Hóa. Ở đây, chúng đã gặp Chương Hiến hầu Trần Kiện. Tên quý tộc hèn nhát này, trước lúc cầm quân đi, còn “ở ẩn”, học đạo Lão Trang vì bất mãn. Khi kẻ thù chưa đến, hắn đã run sợ và âm mưu phản bội5. Ngày Giáp Thìn, mồng 1 tháng 2 âm lịch (8/3/1285), Trần Kiện đã cùng với bọn Lê Trắc và gia thuộc hàng giặc6. Việc Trần Kiện phản bội, nắm trong tay một vạn quân mà hàng giặc, sau đó lại dẫn đường cho kẻ thù tấn công quân ta, làm cho việc phòng thủ mặt nam của quân ta gặp thêm nhiều khó khăn. Ngày Ất Tỵ, mồng 2 tháng 2 (9/3/1285), Giảo Kỳ đem quân lội qua cửa nam cửa kênh Vệ Bố7. Ở đây, tướng Trần là Đinh Xa và Nguyễn Tất Thống bị hy sinh8. Ngày Kỷ Dậu, mồng 6 tháng 2 (13/3/1285), Trần Kiện lại dẫn đường cho bọn Giảo Kỳ đánh Chiêu Minh vương Quang Khải ở bến Phú Tân9. Tham gia chiến đấu ở Thanh Hóa bấy giờ còn có Văn Túc vương Đạo Tái, Tá Thiên vương Đức Việp và Chiêu Hiếu vương (chưa rõ tên). Chiêu Hiếu vương và đại liêu Hộ đã bị hy sinh10. Quang Khải liền lui quân. Như vậy là địch đã chiếm được Thanh - Nghệ. Quân ta, trừ bọn Trần Kiện hàng giặc, còn thì đã rút lui.

        Ở phía bắc, quân ta cũng đã rút lui sau trận Đại Hoàng. Tình hình đó làm cho Thoát Hoan gỡ được thế bị động. Rút được kinh nghiệm lần trước, hắn đã dồn binh lực gấp rút đuổi theo vua Trần.

        Vua Trần phải tìm kế hoãn binh, sai Trung Hiếu hầu Trần Dương gặp Thoát Hoan xin cầu hòa và sai cận thị Đào Kiên đem công chúa An Tư, em út của Thánh Tông, cho Thoát Hoan11. Đấy chỉ là mưu sách cốt để làm trì hoãn việc truy kích của Thoát Hoan để quân ta rút lui được dễ dàng thôi. Thoát Hoan đã giam giữ Trần Dương12 và sai thiên hộ họ Ngải đòi vua Trần phải thân đến gặp hắn. Vua Trần tất nhiên không chịu13.

------------------
1.    An Nam chí lược q. 4 chép trận Đại Hoàng vào ngày 3, Đinh Tị, tháng 2. Ngày mồng 3 tháng 2 năm đó không phải là ngày Đinh Tị mà là ngày Bính Ngọ (10/3/1285). Ngay ở dòng trên, Lê Trắc còn chép đúng ngày 2 là Ất Tị. Toàn thư không chép gì đến trận này.
2.   An Nam chí lược q. 4 chép là đại vương Giáo Kỳ, Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t. 564) chép là tông vương Giáo Kha. Chữ kỳ và chữ kha dễ chép lẫn với nhau, nhưng âm đọc lại khác xa nhau. Chúng tôi chưa thể khôi phục lại tên Mông Cổ (tuy đoán rằng chữ kha có lẽ đúng hơn).

3.   An Nam chí lược q. 4 chép là Chính Hắc Đích rõ ràng đã sót chữ “tham”, vì phải là tham chính Hắc Đích mới hợp lý. Hắc Đích là một cái tên có trong Nguyên sử (theo Tam sử đồng danh lục thì Nguyên sử có đến ba người có tên là Hắc Đích). Có lẽ là một cái tên Nữ Chân chứ không phải là tên Mông Cổ. Nguyên sử ngữ giải (q. 1 1, t. 12a) đổi phiên âm là Hách Đức cho là do tiếng Mãn Châu (Qädä) nghĩa là “di sản”. Chúng tôi tạm theo Nguyên sử ngữ giải.

4.   An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng. Nguyên sử q. 129 Toa Đô truyện chép Toa Đô “đánh bại quân Giao Chỉ ở phủ Thanh Hóa, đoạt được cửa quan Nghĩa An”. Phải chép đảo ngược lại mới đúng với địa lý. Cửa quan Nghĩa An tức cửa quan Nghệ An, có lẽ chỉ đèo Ngang. Toa Đô từ Bố Chính (Quảng Bình) qua cửa Nghệ An tức đèo Ngang, tiến đến Nghệ An (Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay).

5.   An Nam chí lược q. 13.

6.   Toàn thư q. 5, t. 46b. An Nam chí lược q. 13 tại chép: “Tháng giêng, Kiện đem bọn Trắc cùng vạn quân dâng vũ khí và hàng Trấn Nam vương”.

7.   An Nam chí lược q. 4 chép là Vệ Bố kính khẩu. Chúng tôi cho là Vệ Bố kinh khẩu (do chữ kinh in nhầm thành chữ kính), có nghĩa là cửa kênh Vệ Bố. Theo chúng tôi Vệ Bố tức là Bố Vệ (Cầu Bô) ở huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Sách Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư (An Nam cương vực bị lục) của Cố Viêm Vũ đời Minh còn chép đến cửa ra biển Bố Vệ ở huyện Duyên Giác (tức phần phía bắc huyện Quảng Xương ngày nay). Như vậy là bấy giờ, ở khoảng Bố Vệ (Cầu Bô) ngày nay còn một cửa ra biển (cửa sông Chu), tức là cửa kênh Vệ Bố mà An Nam chí lược chép đến.

8.   An Nam chí lược q. 4. Có người đọc là Nguyễn Tất Dũng.

9.   An Nam chí lược q. 4.

10.   Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 654) chép: “Tả thừa Tang-gu-tai (Đường Ngột Đải đánh bại quân của thái sư Chiêu Minh vương, Vân Túc vương, Tả Thiên vương. Tông vương Giáo Kha (tức Giáo Kỳ ở An Nam chí lược - T. G), đánh bại Chiêu Hiếu vương ở phủ Thanh Hóa, chém được”. Vân Túc vương thì đúng là Văn Túc vương Đạo Tái, con thứ hai của Quang Khai, Tả Thiên vương là Tá Thiên vương Đức Việp con Thánh Tông. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b chép: “Tang-gu tai và Toa Đô… đánh bại quân Chiêu Minh vương, đánh Chiêu Hiếu vương, đại liêu Hộ, đều chết”.

11.   An Nam chí lược q. 4 chép: vua Trần “sai tông nhân là Trung Hiến hầu Trần Dương xin hòa, lại sai luôn cận thị Đào Kiên đem quốc muội dâng Trấn Nam vương xin hưu chiến”. Toàn thư q. 5, t. 47a: “Sai người đưa công chúa An Tư (em út Thánh Tông) cho Thoát Hoan, mong thư quốc nạn”.

12.   An Nam chí lược q. 13. “Thế tử sai tông nhân là Trung Hiến hầu Trần Thang, đại phu Nguyễn Nhuệ đến xin hòa, nhưng bọn Trần Thang, nhưng bọn Trần Thang bị giữ lại ở trong quân”. Trần Thang tức Trấn Dương, lầm lẫn vì chữ gần giống nhau. Khi Thoát Hoan thua chạy “đem cả Nhuệ theo về Bắc, Nhuệ trốn, ẩn náu ở dưới chằm cỏ, quân lính (Nguyên) bắt được liền chém Nhuệ”. An Nam chí lược q. 13. “Thế tử sai tông nhân là Trung Hiến hầu Trần Thang, đại phu Nguyễn Nhuệ đến xin hòa, nhưng bọn Trần Thang, nhưng bọn Trần Thang bị giữ lại ở trong quân”. Trần Thang tức Trấn Dương, lầm lẫn vì chữ gần giống nhau. Khi Thoát Hoan thua chạy “đem cả Nhuệ theo về Bắc, Nhuệ trốn, ẩn náu ở dưới chằm cỏ, quân lính (Nguyên) bắt được liền chém Nhuệ”.

13.   An Nam chí lược q. 4 chép: “Ngải thiên hộ sang dụ thế tử nói đã xin hòa sao không thân đến bàn định. Thế tử không nghe”.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 02:27:41 pm

        Thoát Hoan lại đuổi theo quân Trần ráo riết hơn nữa. Lúc này, Chiêu Minh vương Quang Khải đã ra bắc gặp vua Trần. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn thì từ sau khi thấy cánh quân ngược sông Hồng chưa thể tiến được, cũng đã rút quân từ vạn Kiếp về chỗ vua Trần1. Bấy giờ, Toa Đô đã chiếm được Nghệ An, Thanh Hóa, đang đem hết lực lượng tiến ra bắc, phối hợp với cánh quân Thoát Hoan, định ép triều đình Trần vào giữa để bắt gọn. Trong tình thế vô cùng nguy hiểm đó vua Trần và Trần Quốc Tuấn quyết định rút về các lộ phía đông giáp bờ biển (vùng Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay), là vùng mà sức kiểm soát của kẻ thù chưa vươn tới được chờ cho cánh quân của Toa Đô ra hết phía bắc, sẽ quay vòng vào Thanh Hóa là vùng địch đã đi qua. Và như vậy lúc đó quân ta sẽ thoát khỏi cái thế bị kẹp giữa hai gọng kìm, chỉ còn phải chống cự ở một phía. Đó là một kế hoạch rút lui thần kỳ, vô cùng sáng suốt.

        Vua Trần từ Thiên Trường, ra cửa Giao Hải (cửa sông Hồng ở huyện Xuân Thủy, Nam Định) đi theo biển, ngược lên phía bắc rồi quay vào Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh2. Quân giặc đuổi đến cửa Giao Hải thì bị mất hút không biết vua Trần đi đâu3. Sở dĩ bọn chúng đuổi không kịp vì vua Trần và triều đình đã rút lui bằng thuyền nhỏ4. Đến Tam Trĩ, vua Trần sai đem thuyền ngự đi không ra cửa Ngọc Sơn (Vạn Ninh, Móng Cái) để đánh lừa giặc5. Nhưng rồi bọn tướng lĩnh Nguyên cũng phát hiện được và lại đem quân đuổi theo.

        Lúc đó, Toa Đô cũng đã dẫn quân từ Thanh Hóa ra đến Trường Yên (Ninh Bình). Cánh quân này đóng lâu ở Chiêm Thành, khổ sở đói khát vì ít lương thực, nay càng thiếu thốn. Tang-gu-tai và Lưu Khuê báo cáo tình hình đó với Thoát Hoan(6). Bấy giờ Thoát Hoan đang đóng quân ở Thiên Trường. Hắn biết rằng vua Trần đã ra phía Hải Đông (nay là Quảng Ninh), không cần đánh ép hai mặt nữa, mặt khác hắn cũng chưa muốn tập trung quân vì vấn đề cung cấp lương thực rất khó khăn. Chính vì thế, Thoát Hoan đã ra lệnh cho Toa Đô đóng quân lại ở Trường Yên để kiếm lương ăn7. Từ Nghệ An, Thanh Hóa ra đến Trường Yên, Toa Đô đã bắt được một số quan lại của ta và một số người Tống lánh nạn8. Một bộ phận cánh quân Toa Đô do Giảo Kỳ và Tang-gu-tai chỉ huy tiến ra phối hợp với quân Thoát Hoan, còn Toa Đô vẫn ở lại Trường Yên9. Thoát Hoan sai Lý Hằng, Ô Mã Nhi cùng Giảo Kỳ và Tang-gu-tai đuổi theo vua Trần ở ngoài biển. Ngày Giáp Tuất, 2 tháng 3 âm lịch (7/4/1285), hai vua Trần liền bỏ thuyền, đi bộ, về Thủy Chú, lấy thuyền ra sông Nam Triệu (tức sông Bạch Đằng), rồi lại ra cửa Đại Bàng (cửa Văn Úc), theo đường biển đi thẳng vào Thanh Hóa10. Mãi đến ngày Nhâm Ngọ, 10 tháng 3 (15/4/1285), thủy quân của Giảo Kỳ, Tang-gu-tai mới đến “vây” ở Tam Trĩ11. Quân của Lý Hằng cũng đuổi theo vua Trần ở biển nhưng không gặp12. sau đó quân Nguyên bắt được một số thuyền bỏ lại, biết là vua Trần đã lên bộ. Chúng liền đuổi ba ngày ba đêm trên đường bộ13, nhưng lúc đó quân ta đã xuống thuyền rút lui vào Thanh Hoá14.

        Đại quân rút khỏi miền Bắc. Đó là cơ hội cho một số tông thất quan lại hèn nhát đầu hàng giặc. Khi quân Nguyên đuổi theo vua Trần đến cửa Giao Hải thì Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn cùng với bố hắn là Vũ Đạo hầu, em hắn là Minh Thành hầu, con trai hắn là Minh Trí hầu và con rể là Trương Hoài hầu hàng Nguyên15. Một số quan nhà Tống lưu vong ở Đại Việt bây giờ cũng hàng Nguyên như tham chính họ Tăng, Tô Bảo Chương (con thiếu bảo họ Tô), Trần Đinh Tôn (con Trần Trọng Huy) 16. Văn chiêu hầu Trần Văn Lộng, viên tướng giữ sông Tam Đái trước kia, cũng đã hàng giặc. Đến ngày 15 tháng 3 âm lịch (21/4/1285), Chiêu Quốc vương Trần ích Tắc cùng con là Nghĩa Quốc hầu và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đem gia đình ra hàng17.

-----------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 47a chép lúc vua Trần từ Thiên Trường ra Tam Trĩ có Quốc Tuấn đi hộ tống.

2.   Toàn thư q. 5, t. 47a. An Nam chí lược đã in nhầm chữ Tam Trĩ ra Tam Thì. Bài bia Lý Hằng do Diêu Toại soạn (Trug thư tả thừa Lý công gia miếu bi trong Mục am tập q. 12, bản Vũ Anh điện tụ trân, t. 8b) chép rằng : “Vua nước đó bèn đem cả nước đi ra biển” (cử quốc hàng hải). Điều đó chứng tỏ rằng vua. Trần đã rút đi với một lực lượng rất lớn, nghĩa là cùng triều đình.và đại quân.

3.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b; Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564.

4.   Toàn thư q. 5, t. 47a.

5.   Như trên.

6.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 7b.

7.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 7b. Nguyên sử q. 129 Toa Đô truyện lại chép: “Thoát Hoan sai Toa Đô đóng đồn ở Thiên Trường để kiếm ăn, cách đại doanh hơn 200 dặm”. Có lẽ Toa Đô đóng quân giữa Trường Yên (Ninh Bình) và Thiên Trường (Nam Định).

8.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b: “lại bắt được ở Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, Trường Yên rể cửa Trần thượng thư nhà vong Tống, phụng ngự họ Lương, Triệu Mạnh Tín, lang tướng họ Diệp của Giao Chỉ”.

9.   Con trai Toa Đô là đô nguyên soái Bách Gia Nô đã theo cha đánh Đại Việt nhưng sau đó lại rút về nước cùng Thoát Hoan (xem Nguyên sử q. 129, Bách Gia Nô truyện t. 9a). Như vậy có lẽ Bách Gia Nô đã ra phối hợp với Thoát Hoan cùng lúc với cánh quân Ô Mã Nhi, Giảo Kỳ.

10.   Toàn thư q. 5, t. 47b. Toàn thư chép rằng ngày Giáp Tuất là ngày 1 tháng 3, như vậy là nhầm. Ngày mồng 1 tháng 3 âm lịch năm Ất Dậu là ngày Quý Dậu (6/4/1285), còn ngày giáp tuất là ngày 2 tháng 3 (7/4/1285). Cương mục q. 7 có chú thích: “Cửa biển Đại Bàng nay ở xã Đại Bàng huyện Nghi Dương tỉnh Hải Dương”. Huyện Nghi Dương là huyện Kiến Thụy, Hải Phòng ngày nay. Gần cửa Văn Úc, trước đây còn có các tên Tiểu Bàng, Bàng Động. Vậy cửa Đại Bàng là cửa Văn Úc.

11.   An Nam chí lược q. 4. An Nam chí lược chép rằng ngày 9 tháng 3 (âm lịch) là ngày Nhâm Ngọ, thực ra, ngày 10 tháng 3 mới là ngày Nhâm Ngọ (15/4/l285), còn ngày 9 tháng 3 là ngày Tân Ty (14/4/1285).

12.   Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 9b: “Trần Nhật Huyên chạy ra cửa biển, Trấn Nam vương sai Lý Hằng đuổi theo”, Nguyên sử q. 129 Lý Hằng truyện chép: “Hằng đuổi ở biển, đánh bại, bắt được 200 thuyền, suýt bắt được thế tử “ (t. 11a). Việc suýt bắt được thế tử ở đây cũng là do Nguyên sử bịa đặt, giống như An Nam chí lược nói Giảo Kỳ và Tang-gu-tai suýt bắt được thế tử ở Tam Trĩ, tuy vua Trần đã đi khỏi Tam Trĩ từ 8 ngày trước. Bia Lý Hằng do Diêu Toại soạn (Mục am tập, q. 12, 8b) chép là Hằng bắt được 300 thuyền. Số thuyền mà Hằng bắt được là thuyền vua Trần bỏ lại.

13.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện chép: “Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G) đến cửa biển An Bang, bỏ thuyền chèo, giáp trượng, chạy trốn vào rừng núi. Quan quân (chỉ quân Nguyên - T. G) chọn cái tốt để đi, còn thừa đều đốt hết. Rồi lại đuổi ba ngày ba đêm trên bộ” (t. 8a).

14.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a “Bắt được tù binh, nói rằng thượng hoàng thế tử chỉ còn bốn chiếc thuyền, Hưng Đạo vương và con ông ba chiếc, thái sư (chỉ Quang Khải - T.G) 80 chiếc chạy vào phủ Thanh Hóa. Toa Đô cũng báo Nhật Huyên, thái sư chạy vào Thanh Hóa”.

15.   Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t. 7b. Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t. 564) chép Trương Hoài hầu là Chương Hoài hầu. An Nam chí lược q. 4 chép là Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn hàng Nguyên sau trận ở sông Đại Hoàng 10-3-1285. Trần Tú Hoãn, có người đọc là Trần Tú Viên.

16.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b An Nam chí lược q. 10 chép là Trần Văn Tôn. Tham chính họ Tăng có lẽ là Tăng Uyên Tử, thiếu bảo họ Tô có lẽ là Tô Lưu Nghĩa trong An Nam chí lược (q. 10 An Nam chí lược chép rằng con Tô Lưu Nghĩa là Tô Cảnh Do đầu hàng quân Nguyên.

17.   Theo Toàn thư q. 5, t. 47b và An Nam chí lược q. 4, q. 13. An Nam chí lược q. 4 chép ích Tắc hàng vào ngày 15 tức ngày mậu tý. Chỗ này nhầm, ngày 15 là ngày đinh hợi. Ngày mậu tý là ngày 16. Toàn thư q. 5 cho biết Ích Tắc “có lòng ngầm muốn tranh vị đích, đã từng viết thư riêng nhờ khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống Nam. Đến nay, quân Nguyên vào cướp liền theo chúng, mong được Nguyên phong cho làm An Nam quốc vương… (t. 47b-48a).


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 02:36:07 pm
       
        Khi bọn tướng Nguyên đuổi theo vua Trần không kịp, Thoát Hoan cho rút quân về đóng ở Thăng Long và các địa điểm dọc sông Hồng. Lý Hằng đề nghị đóng thành ở Thiên Trường, tích trữ lương thực, chờ giao chiến với quân Trần, nhưng các tướng khác bàn là không nên, cuối cùng, chúng rút khỏi Thiên Trường1. Có lẽ Hằng đã thấy rõ vị trí xung yếu của Thiên Trường - nơi mà trước kia vua Trần đã lấy làm căn cứ, có thể đóng quân ở đấy để ngăn chặn cuộc phản công của quân Trần từ Thanh Hóa ra, nhưng bọn tướng tá khác lại sợ đóng quân phân tán nhiều nơi, dễ bị tập kích.

        Trong cánh quân kéo từ Chiêm Thành ra, có một bộ phận do Giảo Kỳ và Tang-gu-tai chỉ huy đi theo Thoát Hoan. Một số Việt gian hàng giặc ở mặt trận Thanh - Nghệ cũng đã ra Bắc. Còn Toa Đô bấy giờ đang đóng ở Trường Yên (Ninh Bình). Khi nghe báo là vua Trần và các tướng đã vào Thanh Hóa, Thoát Hoan liền ra lệnh cho Toa Đô từ Trường Yên lại quay lại tấn công vào Thanh Hóa. Để giúp Toa Đô tập kích quân Trần ở Thanh Hóa, Ô Mã Nhi được lệnh đem một nghìn ba trăm quân và sáu mươi chiến thuyền vào phối hợp với Toa Đô2. Như vậy là trong khoảng nửa cuối tháng 3 âm lịch, Toa Đô lại một lần nữa đánh Thanh Hóa, nơi mà cánh quân của y đã vượt qua, có điều lần này thì tấn công từ phía bắc vào. Nhưng cánh quân mệt mỏi của Toa Đô, chưa kịp nghỉ ở Trường Yên, đã không thể nào tiến mạnh và tất nhiên không thể tìm ra chỗ ở của vua Trần. Quân ta rút vào Thanh Hóa là để củng cố lực lượng, đợi thời cơ phản công địch.

        Quân giặc đang gặp khó khăn về lương thực vì đường tiếp tế từ Trung Quốc đến thì xa còn nhân dân thì phản kháng khắp nơi, làm vườn không nhà trống hoặc chiến đấu quyết liệt không để chúng tự do cướp bóc. Trong lúc đó, mùa hè đến, giáng lên đầu chúng những tai họa mới. Quân giặc ốm đau rất nhiều vì “gặp lúc nắng mưa, bệnh dịch hoành hành” 3. Nhưng không phải chỉ có thế, mùa mưa nhiệt đới còn làm cho giặc khốn khổ vì nước lụt dâng to, ngập ướt doanh trại4.

        Chính vào lúc đó, phong trào đánh giặc của nhân dân đang nổi lên mạnh mẽ. Nhân tình thế khó khăn của kẻ thù, nhân dân khắp nơi tăng cường hoạt động chống giặc. Tiêu biểu nhất là việc nhân dân miền núi Lạng Sơn phối hợp với cánh quân địa phương của triều đình đánh tan đoàn hộ tống bọn Việt gian sang kinh đô Nguyên.

        Tháng 4 âm lịch (tháng 5-1285), Thoát Hoan sai Mang-lai Xi-ban (Manglai Siban) 5 đưa bọn Việt gian Chương Hiến hầu Trần Kiện, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn và em hắn là Minh Thành hầu, con của Chiêu Quốc vương Trần ích Tắc là Nghĩa Quốc hầu cùng với gia thuộc chúng về Trung Quốc6. Khi bọn chúng đi qua Lạng Sơn, đội dân binh người Tày do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy, phối hợp với cánh quân Trần ở địa phương đã tập kích bọn chúng ở trại Ma Lục vùng Chi Lăng7. Bọn Việt gian và đoàn quân hộ tống của Mang-lai Xi-ban bị vây đánh cả ngày lẫn đêm, chúng thoát khỏi chỗ phục kích này lại gặp chỗ phục kích khác8. Nguyễn Địa Lô là gia nô của Trần Quốc Tuấn đã bắn chết Trần Kiện ngay trên mình ngựa. Thuộc hạ của Kiện là Lê Trắc vác xác hắn trên ngựa chạy đến Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn) mới chôn9. Trần Tú Hoãn thoát được sang biên giới, Nghĩa Quốc hầu chạy trốn trở lại vào doanh trại quân Nguyên10. Các Xe lương thực, hành lý của chúng đều lọt vào tay quân dân ta11. Bọn tùy tùng cũng bị giết chết gần một nửa12.

        Cuộc chiến đấu mãnh liệt của quân dân khắp các địa phương, đặc biệt là chiến thắng ở trại Ma Lục đã tạo điều kiện để mở đầu một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến: giai đoạn phản công thắng lợi.

------------------
1.    Xem bài bia Lý Hằng do Diêu Toại (1238-1314) soạn (“Trung thư tả thừa Lý công gia miếu bi” trong Mục am tập q. 12, bản Vũ Anh điện tụ trân, t. 8b) và Nguyên sử tân biên của Ngày Nguyên q. 29, t. 37a.

2.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện chép: “Toa Đô cũng báo Nhật Huyên, thải sư (chỉ Quang Khải - T.G) chạy vào Thanh Hóa.ô Mã Nhi Bạt ĐÔ đem 1.300 quân và 60 chiến thuyền giúp Toa Đô tập kích quân của thái sư, (8a). An Nam chí lược q. 4 cũng chép vào tháng 3 “Toa Đô lại vào Thanh Hóa để chiếu dụ những người lai phụ. Như vậy là trong tháng 3 âm lịch, Toa Đô lại vào Thanh Hóa lần nữa. Những người nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Nguyên trước đây đã không chú ý đến sự kiện này. Nguyên sử q. 13 Thế tổ bản kỷ chép rằng Thoát Hoan đã “sai bọn Toa Đô trở lại Ô Lý, An Nam đem quân đuổi theo. Toa Đô tử chiến” (t.9b). Tuy Bản kỷ chép việc này vào tháng 5 âm lịch vì Toa Đô chết vào tháng 5, nhưng việc sai vào Ô Lý chắc hẳn là chỉ việc Toa Đô đem quân trở lại vào Thanh Hóa từ tháng 3 âm lịch. Ở đây Bản kỷ cũng đã chép những việc từ tháng 2, tháng 3 âm lịch vào tháng 5 âm lịch như việc Lý Hằng đuổi theo vua Trần ở biển… do đó chúng. ta không thể coi những việc Bản kỷ chép vào tháng 5 hoàn toàn là thuộc tháng 5.

3.   Nguyên sử q. 13 Thế tổ bản kỷ, t. 9b.

4.   Nguyên sử q. 129 Lý Hằng truyện; “Trung thư tả thừa Lý công gia miếu bi” trong Mục am tập q. 12, bản đã dẫn, t. 8b.

5.   Nguyên sử An Nam truyện và An Nam chí lược phiên âm là Minh Lý Tích Ban.

6.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện và An Nam chí lược q. 13, q. 19 Tự sự.

7.   Chúng tôi cho rằng Nguyễn Thế Lộc tức quản quân Nguyễn Lộc, người đã chỉ huy cánh quân hoạt động ở vùng Thất Nguyên (Tràng Định), Vĩnh Bình (Cao Lộc, Lạng Sơn) trước đây (xem phần trên). Dựa vào chỗ Toàn thư (q. 5, t. 46b) nói rằng Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh là thố hào Lạng Giang, chúng tôi đoán định họ là người dân tộc Tày, cũng như đội quân của họ. Nhưng phối hợp với cánh quân đó có thể có một bộ phận quân triều đình đã ở lại vùng này. Toàn thư đã chép trong trận phục kích ở đây có gia nô của Hưng Đạo vương là Nguyễn Địa Lô. An Nam chí lược q. 19 Tự sự nói là bọn Trần Kiện bị quân Trần đánh. Nguyên sử q. 209, 8a cũng nói là bọn nay bị Hưng Đạo vương đánh giết.

        Toàn thư chép trận tập kích này vào tháng hai âm lịch (8/3 – 5/4/ 1285) sau khi chép việc Trần Kiện hàng giặc. Nhưng An Nam chí lược trong nhiều chỗ (q. 13, q. 19) đều chép là tháng tư (6/5 – 4/6/1285). Lê Trắc đã chép đúng vì chính y là người qua trận tập kích này. Điều này cũng phù hợp với Nguyên sử. Toàn thư chép là trận tập kích xảy ra ở trại Ma Lục. An Nam chí lược chép là bọn Trần Kiện bị đánh ở Chỉ Lăng (q. 13), có chỗ lại chép rõ là ở trại Chi Lăng (Tự sự). Do đó chúng tôi cho rằng trại Ma Lục là ở Chi Lăng.

8.   An Nam chí lược q. 13.

9.   Toàn thư q. 5, t. 46b; An Nam chí lược q. 19 Tự sự.

10.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a.   

11.   An Nam chí lược q. 13.

12.   An Nam chí lược q. 19 Tự sự.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 02:45:58 pm

        Vào lúc quân thù đang gặp nhiều khó khăn vì lương thực, khí hậu và vô cùng hoang mang hoảng sợ trước sự tập kích mãnh liệt của quân dân các địa phương thì từ căn cứ Thanh Hóa, vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thấy rằng thời cơ phản công đã đến. Bấy giờ Toa Đô cũng đang đóng ở Thanh Hóa. Tháng 4 năm Ất Dậu (6/5 – 4/6/1285), Hưng Đạo vương cùng với Chiêu Minh vương Quang Khải, Chiêu Văn vương Nhật Duật và các tướng lĩnh khác đem binh thuyền vượt qua vùng chiếm đóng của Toa Đô, tiến ra Bắc1. Trước đây, khi lực lượng chưa đủ mạnh, quân ta đã rút về Thanh Hóa để tránh sự tấn công từ hai mặt của kẻ thù, thì đến nay, Trần Quốc Tuấn lại chủ trương đánh ra Bắc cắt đôi lực lượng kẻ thù, không để cho Toa Đô và Thoát Hoan phối hợp với nhau. Mục tiêu tấn công trước tiên của Trần Quốc Tuấn là các cứ điểm của giặc đóng dọc khúc sông Hồng chảy qua vùng Hưng Yên ngày nay. Chiếm được phòng tuyến này, quân Trần có thể thực hiện được việc cắt đứt con đường nối Toa Đô và Thoát Hoan, đồng thời có thể tiến lên đánh chiếm Thăng Long.

        Một bộ phận quân Nguyên đóng ở các đồn dọc sông Hồng này là cánh quân từ Chiêm Thành kéo ra do Giảo Kỳ và Tang-gu-tai chỉ huy trước đây đã tiến ra phối hợp với Thoát Hoan2. Cánh quân từ Chiêm Thành kéo ra này, sau khi vượt qua vùng Thanh - Nghệ, lại tiếp tục tham gia cuộc truy kích vua Trần vào giữa tháng 3 âm lịch, bây giờ đã vô cùng mệt mỏi. Đối với cánh quân từ Chiêm Thành kéo ra, vua Trần đã có nhận xét: “Quân giặc nhiều năm đi xa, quân nhu chở đi vạn dặm tất rất mệt nhọc. Lấy nhàn đối mệt, trước hết làm mất khí thế của chúng thì nhất định phá được” 3.

        Trong tháng 4 năm Ất Dậu (6/5 – 4/6/1285), Hưng Đạo vương đã đem quân tấn công vào đồn A Lỗ. Đồn này nằm gần chỗ sông Hồng nối với sông Luộc ngày nay, có lẽ đây là cứ điểm đầu tiên trên phòng tuyến của quân Nguyên trên sông Hồng. Viên tướng Nguyên giữ đồn này là vạn hộ Lưu Thế Anh đã phải rút chạy4.

        Cũng trong tháng 4 âm lịch, một loạt các đồn trại khác của giặc trên sông Hồng bị quân ta tấn công. Chiêu Thành vương (không rõ tên), Hoài Văn hầu Quốc Toản và tướng quân Nguyễn Khoái được lệnh đem quân đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết5. Chiêu văn vương Trần Nhật Duật và các tướng khác đã đánh tan giặc ở cửa Hàm Tử6. Cũng như những ngày chiến đấu ở mặt trận Tuyên Quang, trong quân Nhật Duật giờ đây vẫn có nhiều binh sĩ Tống. Họ là những người Trung Quốc không chịu sống dưới ách áp bức của bọn thống trị ngoại tộc, đã sang Đại Việt, cùng với quân dân Việt kề vai chiến đấu chung kẻ thù chung. Trong số đó có Triệu Trung đã trở thành gia tướng của Nhật Duật. Trong trận Hàm Tử, Triệu Trung và những người cùng tổ quốc với ông đã mặc áo Tống, cầm cung tên, chiến đấu dưới quân kỳ của Nhật Duật, đóng góp một phần không nhỏ vào chiến thắng này[b7[/b][/sup].

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200179_zpswdr4maet.jpg)

-----------------
1.    Quân Trần rút vào Thanh Hóa vào đầu tháng 3 âm lịch, sau đó Toa Đô được lệnh của Thoát Hoan đem quân từ Trường Yên (Ninh Bình) vào Thanh Hóa cũng trong tháng 3 âm lịch (xem trước). Vào tháng 4 âm lịch thì quân ta đã đánh vào nhiều nơi ở miền Bắc (A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử…). Mãi đến ngày 7 tháng 5 âm lịch (17/6/1285) mới nghe tin Toa Đô từ Thanh Hóa ra (xem sau). Như vậy rõ ràng là quân ta đã vượt qua vùng Toa Đô đóng để ra Bắc từ tháng 4 âm lịch, hẳn là đi đường biển.

2.   Chúng tôi đoán định như vậy là vì sau này khi Thoát Hoan rút khỏi Thăng Long, Giảo Kỳ (theo An Nam chí lược) và Tang-gu-tai (theo Nguyên sử An Nam truyện) đều rút sau.

3.   Toàn thư q. 5, t. 48a chép: “Nguyên soái Toa Đô đem 50 vạn quân từ Vân Nam qua Lão Qua đến thẳng Chiêm Thành cùng người Nguyên hội ở châu Ô, Lý rồi cướp Hoan ái, tiến đóng ở Tây Kết, hẹn 3 năm san bằng nước ta. Vua bàn với quần thần rằng: “Quân giặc nhiều năm đi xa… nhất định phá được”. Tiếp đó Toàn thư chép đến việc tháng 4 âm lịch, vua Trần sai các tướng đánh Tây Kết và Hàm Tử. Ngoài điểm sai lầm là Toàn thư đã chép Toa Đô đem quân từ Vân Nam đến Chiêm Thành theo đường Lào (xem.chương VI), ở đây Toàn thư đã có những lầm lẫn khác. Trong tháng 3 âm lịch, Toa Đô còn đóng ở Thanh Hóa, mãi đến đầu tháng 5 âm lịch mới tiến ra Bắc Bộ, không phải là trước tháng 4 đã “tiến đóng ở Tây Kết” như Toàn thư chép. Do chỗ lầm lẫn này của Toàn thư mà nhiều người đã nghĩ rằng các trận Tây Kết (lần thứ nhất) và Hàm Tử vào tháng 4 âm lịch là đánh vào cánh quân Toa Đô, hoặc hơn nữa, cho là đánh vào cánh quân Toa Đô, đang tiến. Thực ra, bấy giờ quân Toa Đô chưa tiến ra, còn các trận trong tháng 4 âm lịch là đánh vào các đồn trại mà Thoát Hoan đã bố trí dọc sông Hồng, trong đó có một bộ phận quân Nguyên từ Chiêm Thành kéo ra từ trước do Tang-gu-tai và Giảo Kỳ chỉ huy.

4.   Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn t. 564). An Nam chí (nguyên) chép rằng sông Hải Triều phân lưu từ sông A Lỗ (bản đã dẫn, t. 47). Sông Hải Triều là sông Luộc (xem chú thích ở phần trước). Vậy sông A Lỗ là đoạn sông Hồng chảy qua chỗ nối với sông Luộc. Do đó, chúng tôi xác định đồn A Lỗ mà Kinh thế đại điển tự lục chép là ở gần chỗ này.

5.   Toàn thư q. 5, t. 48a - b. Toàn thư chép là “Tây Kết bộ đầu”. Bộ đầu có nghĩa là bến (như Đông Bộ Đầu là bến Đông). Gần đây, ở huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên còn có tên xã cũ là Đông Kết. Có lẽ Tây Kết là ở phía tây ở Đông Kết và nằm giáp sông Hồng. Và như vậy, Tây Kết là ở gần bãi Thiên Mạc (Mạn Trù châu).

6.   Toàn thư q. 5, t. 48b. Cửa Hàm Tử (Hàm Tử quan) ở xã Hàm Tử bên sông Hồng, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

7.   Toàn thư q. 5, t. 48b: “Quan quân cùng quân Nguyên giao chiến ở cửa Hàm Tử. Chư quân đều ở đó. Chỉ có quân của Chiêu Văn vương Nhật Duật có quân Tống, mặc áo Tống, cầm cung tên để đánh… Ngày trước, lúc Tống mất nước, người Tống theo về ta, Nhật Duật thu nạp họ, có Triệu Trung làm gia tướng.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 02:57:54 pm

        Sau chiến thắng Hàm Tử, Chiêu Minh vương Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản cùng các tướng khác đem quân vào đánh Chương Dương1 và Thăng Long. Phối hợp với quân chủ lực của triều đình còn có các đạo dân binh ở các lộ do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và em là Nguyễn Truyền chỉ huy2. Quân ta đã tiến đánh Thăng Long từ các mặt bộ và thủy. Trong khi tấn công vào thành, tướng Trần là Trung Thành vương đã đánh tan quân giặc do thiên hộ Mã Vinh chỉ huy ở Giang Khẩu (vùng phố Hàng Buồm, Hà Nội hiện nay3). Sau đó quân ta vây chật lấy thành Thăng Long và tấn công rất dữ dội. Tài liệu thời Nguyên chép rằng: “… Thủy lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông, quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G) sớm tối đánh rất khốn đơn, thiếu thốn, khí giới đều hết…”4. Trong tình hình đó, Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a đã họp bọn tướng lĩnh để bàn bạc. Bọn chúng cũng phải nhận rằng: “Người Giao (chỉ quân ta - T.G) chống đánh quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G), tuy mấy lần thua tan (!), nhưng quân tăng càng đông; quan quân mỏi mệt, tử thương cũng nhiều, quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố được tài năng…”5. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta, Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a đã phải tháo chạy khỏi Thăng Long, vượt qua sông Hồng, đóng quân lại ở phía bắc sông6. Như vậy là vào khoảng cuối tháng tư âm lịch, sau một thời gian ngắn phản công mạnh mẽ - nói như tài liệu kẻ thù, “tháng tư, quân Giao nổi lên rất lớn” 7, quân ta đã khôi phục được kinh đô Thăng Long8.

        Vào đầu tháng 5 âm lịch, hai vua Trần cũng kéo quân từ Thanh Hóa ra. Ngày 3 tháng 5 (7/6/1285), vua Trần đánh tan quân Nguyên ở Trường Yên (Ninh Bình), chém được đầu giặc vô số9. Có lẽ đấy là một bộ phận cánh quân của Toa Đô đã đóng lại ở đây khi y tiến quân từ Trường Yên vào Thanh Hóa.

        Hai ngày sau, ngày Đinh Sửu, 5 tháng 5 (9/6/1285), cánh quân của Giảo Kỳ xâm nhập vào Thăng Long. Có lẽ y vừa bị đánh bại ở phòng tuyến sông Hồng, và bây giờ đang cố tìm đường chạy về Thăng Long, mong gặp hoàng tử Trấn Nam vương của y ở đây. Nhưng Giảo Kỳ không ngờ là Thoát Hoan đã rút chạy khỏi kinh thành. Gặp sức chiến đấu của quân dân bảo vệ Thăng Long, Giảo Kỳ vội vã rút quân qua sông Hồng. Ở đây, quân Giảo Kỳ đã gặp quân Thoát Hoan10.

        Bấy giờ, đồn trại của Thoát Hoan ở phía bắc sông Hồng, chắc là ở vùng Gia Lâm, đang bị quân Trần tấn công liên tiếp Khi cánh quân của Giảo Kỳ đã đến, Thoát Hoan liền cho rút quân. Đó là ngày 6 tháng 5 năm Ất Dậu (10/6/1285) 11. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Hưng Ninh vương Trần Tung đã đem hơn hai vạn quân đón đánh, kịch chiến với tướng giặc là Lưu Thế Anh12. Quân Thoát Hoan thua chạy đến sông Như Nguyệt (tức sông Cầu), lại gặp phải đội quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đổ ra đánh. Đội quân của viên dũng tướng trẻ tuổi dưới lá cờ sáu chữ đã tiến vào khôi phục kinh đô Thăng Long nay lại xuất hiện ở đây, đánh cho quân thù tan tác. Nhưng trong chiến thắng vẻ vang đó, bên dòng sông Như Nguyệt, người thiếu niên anh dũng Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đã hy sinh13.

        Bị thua ở sông Như Nguyệt, bọn Thoát Hoan hốt hoảng tháo chạy nhưng đến sông Sách (tức sông Thương chảy qua vùng Vạn Kiếp), chúng lại lọt vào trận địa phục kích của Trần Quốc Tuấn. Quân giặc bắc cầu phao sang sông. Cánh quân của viên tả thừa Tang-gu-tai chưa sang kịp thì quân mai phục của ta từ trong rừng đã đổ ra, đánh vào sườn quân giặc. Bọn chúng xô nhau giẫm đứt cả cầu phao, ngã xuống sông chết đuối rất nhiều14.

        Sau khi bị phục kích ở sông Sách. Thoát Hoan phải cho Lý Hằng đi bảo vệ phía sau. Cả đoàn bại quân chạy thục mạng về phía châu Tư Minh. Quân ta đã sẵn sàng đón chúng ở các cửa ải biên giới. Đến Vĩnh Bình, quân Thoát Hoan đã gặp quân phục kích của Hưng Vũ vương Hiến, con trai Trần Quốc Tuấn. Bọn tướng giặc phải giấu Thoát Hoan vào trong ống đồng để chạy trốn. Lý Hằng bị trúng tên độc ở đầu gối bên trái. Một tên lính liều mạng cõng Hằng chạy về đến Tư Minh thì thuốc độc ngấm ra, Hằng chết.

----------------
1.    Chương Dương, theo Cương mục (q. 7, t. 41b) là tên bến, nay ở huyện Thường Tín, Hà Tây, còn tên xã Chương Dương, cạnh sông Hồng.

2.   Về trận Chương Dương và Thăng Long, Toàn thư q. 5, t. 49a chỉ chép vẻn vẹn có một câu, mà lại không phải là nói trực tiếp: “Ngày 10 (tháng 5 năm Ất Dậu) (14/6/1285) có người từ chỗ giặc trơn về đến trại vua tâu rằng thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp với em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại giặc ở các nơi như Kinh thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn”. Cương mục q. 7, t. 40a cũng chỉ chép lại Toàn thư và ở lời cẩn án, có ghi: “Trận đánh thắng được giặc ở Chương Dương, thu phục được kinh thành, là chiến công to nhất lúc bấy giờ. Sử cũ chép việc này không được rõ ràng” (q 7, t. 41a). Không có một tài liệu chắc chắn nào để xác minh cho việc mô tả các trận đánh này trong một số tác phẩm nghiên cứu gần đây như nói rằng chiến thuyền giặc là do A Thích chỉ huy, Quang Khải chia 3 nghìn quân cho Quốc Toản đi mai phục rồi cùng Phạm Ngũ Lão đánh úp Chương Dương, chờ quân Thoát Hoan cứu viện thì Ngũ Lão vào chiếm Thăng Long… (Chu Thiên: Chống quân Nguyên 1957, tr. 31), hoặc “Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão đã đột kích bất ngờ vào trại giặc”, “Thoát Hoan cho đội dự bị từ Thăng Long ra phản xung phong vào quân của Trần Quốc Toản - Phạm Ngủ Lão, nhưng chủ lực của Trần Quang Khải đã phục kích sẵn ở gần Thăng Long”… (Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu chiến lược chiến thuật thời Trần- Lê, 1963, tr. 33). Các sử liệu cũng không cho chúng ta biết sự có mặt của Phạm Ngũ Lão trong các trận đánh này.

3.   Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564) chép: “Hưng Đạo vương đánh vạn hộ Lưu Thế Anh ở đồn A Lỗ. Trung Thành vương đánh thiên hộ Mã Vinh ở Giang Khẩu”. Yamamoto cho rằng đồn A Lỗ ở sông A Lỗ (tuy ông không xác định được sông A Lỗ ở đâu) và cho rằng Giang Khẩu có lẽ là cửa sông A Lỗ (Sách đã dẫn. t. 187). Chúng tôi cho rằng các sự kiện mà Kinh thế đại điển tự lục chép không phải là xảy ra ở các địa điểm gần nhau vì sau đó đã chép đến việc bao vây thành Thăng Long. Chúng tôi cho rằng ở đây Tự lục chỉ chép một trận ở đầu phòng tuyến sông Hồng (sông A Lỗ là sông Hồng chỗ nối với sông Luộc) và một trận cuối, bỏ qua các trận Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương… Giang Khẩu là tên một phường ở Thăng Long, về sau đổi ra Hà Khẩu, tức vùng phố Hàng Buồm, phố Chợ Gạo Hà Nội hiện nay.

4.   Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t. 564.

5.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. a. Nguyên sử kỷ sự bản mạt (bản Thương vụ ấn thư quán, t. 21) chép khác chút ít: “Thoát Hoan họp các tướng bàn: “Người Giao cự địch quan quân, tuy mấy lần thua tan, nhưng quân tăng càng thịnh, quan quân bị bệnh dịch, tử thương cũng đông, rốt cuộc không thể đến được Chiêm Thành”. Bèn mưu dẫn quân về”.

6.   Theo Toàn thư q. 5, t. 49a, Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t. 564, Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8a. Theo Toàn thư q. 5, t. 49a, Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t. 564, Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8a.

7.   Kinh thế đại điển tự tục, bản đã dẫn, t. 564.

8.   Toàn thư không chép rõ thời gian quân ta chiếm lại Thăng Long, chỉ chép ngày 10 tháng 5 (14/6/1285), vua Trần (bấy giờ đang ở Trường Yên) được tin báo là quân ta thắng ở kinh thành (q. 5, t. 49a). An Nam chí lược q 4 Chinh thảo vận hướng chép: “Mùa hè, tháng 4, An Nam thừa cơ đánh lấy lại La Thành (chỉ thành Thăng Long - T.G)”. Khi Giảo Kỳ vào Thăng Long ngày 5 tháng 5 (9-6-1285) thì Thoát Hoan đã rút rồi.

9.   Toàn thư q. 5, t. 48b.

10.   Về sự kiện này, An Nam chí lược q. 4 chép không rõ lắm, có thể dịch là: “Tháng 5, ngày 5 là ngày Đinh Sửu, Giảo Kỳ và vạn hộ (?) phục quân bắn nỏ trong cung, đánh tan (nguyên văn: phục nỗ binh kỳ cung kích tán), đến sông Lô (tức sông Hồng - Tại hội với Trấn Nam vương”. Có lẽ trong cánh quân của Giảo Kỳ có tướng Tang-gu-tai vì Tang-gu-tai luôn luôn đi với Giảo Kỳ từ sau khi tách khỏi quân Toa Đô từ Chiêm Thành ra.

11.   An Nam chí lược q. 4 sau khi chép việc Giảo Kỳ gặp Thoát Hoan ngày 5 tháng 5 (9-6-1285) đã chép: “Ngày hôm sau rút quân về”. Như vậy là Thoát Hoan rút quân ngày 6-5 (10-6-1285). Toàn thư q. 5, t. 49 chép quân Hưng Đạo vương đánh Thoát Hoan, giết Lý Hằng vào cùng ngày với trận Tây Kết giết Toa Đô tức ngày 20-5 âm lịch (24-6-1285). Theo nhiều tài liệu thì khi Thoát Hoan đã rút về, Toa Đô mới tiến ra. Dựa vào An Nam chí lược, chúng tôi cho rằng trận đánh đuổi Thoát Hoan giết Lý Hằng phải trước trận Tây Kết giết Toa Đô.

12.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a. An Nam truyện chỉ chép là Hưng Ninh vương, không chép rõ tên. An Nam chí lược q. 4, ở một chỗ khác, cho biết Hưng Ninh vương là Trần Tung.

13.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8a chép: “Quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G) lại đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên (Thánh Tông - T. G) sai Hoài Văn hầu đến đánh. Kinh thế đại điển tự lục chép rõ hơn: “Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đuổi. Giết chết được (Hoài Văn hầu)” (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564). Về cái chết của Trần Quốc Toản, sử ta không chép rõ. Toàn thư khi chép truyện Quốc Toản ở hội nghị Bình Than (1282) có nói: “Đến lúc (Quốc Toản) chết, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương (q. 5, t. 43a). Toàn thư không chép rõ Quốc Toản chết bao giờ nhưng từ sau năm 1285, không thấy chỗ nào nhắc đến viên tướng thiếu niên ấy nữa. Như vậy đúng là Quốc Toản đã hy sinh trong cuộc kháng chiến lần thứ hai và theo Kinh thế đại điển tự lục là trong trận sông Như Nguyệt (sông Cầu).

14.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a. “Đi đến sông Sách, buộc cầu phao sang sông, quân tả thừa Tang-gu-tai chưa kịp sang mà trong rừng phục quân đổ ra, quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G) chết đuối nhiều”. Kinh thế đại điển tự lục cũng chép: “Đến sông Sách, phục quân đổ ra, quan quân giẫm đứt cầu phao, nhiều người chết đuối (bản đã dẫn, t. 564). An Nam chí lược q. 4 tại chép: “Quân An Nam kéo đến sông Nam Sách, hữu thừa Lý Hằng đi sau đánh lui, chém được nghĩa dũng của Hưng Đạo vương là Trần Thiệu”. Như vậy, sông Sách trong Nguyên sử Kinh thế đại điển tự lục là sông Nam Sách trong An Nam chí lược. Cương mục Tiền biên q. 5 có chú thích: “Sông Nam Sách ở phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương ngày nay”. Tất nhiên sông Nam Sách không phải là sông Kinh Thầy hay sông Thái Bình chảy qua huyện Nam Sách (Hải Hưng) ngày nay vì quân Nguyên đã qua sông Cầu để chạy về phía bắc, thì không thể qua các con sông này ở phía nam được. Phủ Nam Sách thời Lê Nguyễn cũng như phủ lộ Nam Sách thời Trần, châu Nam Sách thời Minh là gồm cả đất huyện Chí Linh ngày nay. Sau khi qua sông Cầu, quân Nguyên đến sông Nam Sách, như vậy là quân Nguyên đã đến sông Thương vùng Vạn Kiếp (Vạn Yên, Chí Linh). Toàn thư chép: “Hưng Đạo vương lại cùng Thoát Hoan,  Lý Hằng đánh nhau Ở Vạn Kiếp, đánh bại chúng. Chúng chết đuối nhiều (q 5, t. 49b). Chúng tôi căn cứ vào vị trí của sông Sách, cũng như so sánh với các tài liệu dẫn trên mà cho rằng trận sông Sách cũng là trận Vạn Kiếp.

15.   Về trận này Toàn thư chép như sau: “Lý Hằng dẫn quân hộ vệ Thoát Hoan về Tư Minh. Quân ta dùng tên độc bắn trúng đầu gối bên tả của Lý Hằng. Y chết. Tỳ tướng Lý Quán thu tàn quân 5 vạn, lấy đồ đồng giấu Thoát Hoan vào trong chạy trốn về Tư Minh. Hưng Vũ vương đuổi theo dùng tên độc bắn trúng, Lý Quán chết. Quân Nguyên tan vỡ lớ” (q. 5, t. 49b). Nguyên sử q. 13 Thế tổ bản kỷ, t. 9b chép: “Hằng đi sau chống cự để bảo vệ Trấn Nam vương. Bị tên thuốc trúng đầu gối bên tả. Đến Tư Minh thuốc độc ngấm ra mà chết”.

        Nguyên sử q. 129 Lý Hằng truyện cũng chép: “Quân man đuổi đánh bại hậu quân. (Trấn Nam) vương liền đổi lệnh sai Hằng đi sau, vừa đánh vừa đi. Tên độc xuyên vào đầu gối Hằng. Một tên quân cõng Hằng chạy đến Tư Châu. Thuốc độc ngấm ra rồi chết. Lúc đó 50 tuổi”.

        Bài bia Lý Hằng do Diêu Toại soạn (xem Mục am tập q. 12, bản đã dẫn t 8b) chép: "Giặc đóng cửa Vĩnh Bình, dùng tên có thuốc độc bắn ông bị thương xuyên qua đầu gối. Cướp được cửa quan, ra khỏi cõi. Vì thuốc độc ngấm ra, chết ở châu Tư Minh”. Nguyên sử và các tài liệu không nói đến Lý Quán. Các tướng Nguyên sang xâm lược không có tên nào là Lý Quán. Các tài liệu trên đều nói Lý Hằng bị trúng tên độc về đến Tư Minh thì mới bị chết. Toàn thư thì nói Lý Hằng trúng tên độc chết. Lý Quán đưa Thoá Hoan về Tư Minh, lại trúng tên độc chết. Toàn thư q. 5, t. 51b có chép lại lời Trần Quốc Tuấn nói đến “cái thất bại của Hằng, Quán” (xem chương VII). Như vậy có thể có nhân vật Lý Quán, Yamamoto (trong An Nam sử nghiên cứu) lại cho rằng câu của Trần Quốc Tuấn nói đến Hằng, Hoan (tức Thoát Hoan) chứ không phải Hằng, Quán. Đó là vì chữ Hoan gần giống chữ Quán.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 03:15:58 pm

        Trong khi cánh quân của Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a liều chết mở một con đường máu để trốn chạy về phía biên giới đông bắc thì một cánh quân Nguyên khác cũng tìm đường tẩu thoát về Vân Nam. Hẳn đây là cánh quân của Na-xi-rut Đin (Nasir ud-Dìn) đã từng giáp chiến với quân Chiêu Văn vương Nhật Duật ở trại Thu Vật (huyện Yên Bình, Yên Bái) bên sông Chảy lúc tấn công vào Đại Việt. Giờ đây, cùng chịu một số phận thất bại như các cánh quân khác, cánh quân này lại bỏ chạy theo con đường mà chúng đã tiến vào. Có lẽ chúng sẽ chạy thoát vì bấy giờ, toàn bộ quân chủ lực của triều đình Trần đang được tung vào việc truy kích, tập kích cánh quân lớn của Thoát Hoan và chuẩn bị đón đánh cánh quân của Toa Đô. Nhưng điều may mắn đó không đến với chúng. Khi bọn giặc đi qua huyện Phù Ninh (nay là huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ), chúng đã vấp phải sức chiến đấu ngoan cường và mưu trí của nhân dân dân tộc thiểu số1. Phụ đạo tử huyện Phù Ninh là Hà Đặc cùng với nhân dân đóng ở trên núi chuẩn bị tập kích giặc. Quân Nguyên tiến đến đóng ở động Cự Đà2. Hà Đặc đã lấy tre đan thành những hình người to lớn cho mặc áo, đợi chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Trên các cây lớn, Hà Đặc đã dùi lỗ rồi cắm vào đấy những mũi tên lớn. Bọn giặc vô cùng khiếp sợ trước đội quân người khổng lồ có sức khỏe như thần, bắn được những mũi tên lớn xuyên cây đó. Chúng không dám tiến đánh Hà Đặc. Trong tình hình đó, Hà Đặc cùng với nhân dân đã xuất kích, đánh tan quân giặc. Bọn giặc tìm đường chạy trốn. Hà Đặc đuổi đến A Lạp, bắc cầu phao qua sông3. Say sưa trong cuộc truy kích kẻ thù, người anh hùng miền núi đó đã tử trận. Em Hà Đặc là Hà Chương bị giặc bắt, nhân lúc giặc sơ hở, đã tìm cách trốn thoát. Cũng trí dũng như người anh của mình, lúc trốn khỏi trại giặc, Hà Chương đã tìm cách lấy trộm được y phục và cờ xí của kẻ thù. Hà Chương lại cùng với những dân quân của mình cải trang thành quân Nguyên bằng những y phục và cờ xí đã lấy được tiến vào doanh trại của giặc. Bọn giặc tưởng là quân của chúng nên đã bị quân Hà Chương tập kích bất ngờ. Trở tay không kịp, giặc thua chạy tan tác4.

        Trong khi ở phía bắc, quân chủ lực của Trần Quốc Tuấn cùng với dân binh các lộ miền xuôi và miền núi đang liên tiếp chiến thắng, đuổi bọn xâm lược ra khỏi biên giới thì ở phía nam, sau chiến thắng ở Trường Yên, hai vua Trần cũng đang tiến quân ra. Bấy giờ Toa Đô đóng quân ở Thanh Hóa, không biết Thoát Hoan đã đại bại, nên muốn tiến ra Thăng Long, phối hợp với Thoát Hoan5. Ngày 7 tháng 5 âm lịch (11/6/1285), vua Trần được tin Toa Đô kéo quân từ Thanh Hóa ra6. Ngày 15 tháng 5 (19/6/1285), hai vua về đến Long Hưng (Thái Bình), bái yết các lăng mộ tổ tiên nhà Trần. Ngày 17 tháng 5 (21/6/1285), Toa Đô và Ô Mã Nhi đã theo đường biển vào sông Hồng, tiến lên sông Thiên Mạc (khúc sông Hồng ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên) 7. Ba ngày sau, ngày 20 tháng 5 (24/6/1285) vua Trần tiến quân đánh Toa Đô. Đến Đại Mang Bộ, tướng Nguyên là tổng quản Trương Hiển ra hàng8. Hôm đó, quân ta tiếp tục tiến đến Tây Kết, đánh tan quân giặc, giết và làm bị thương được rất nhiều, Toa Đô bị chém đầu9, Ô Mã Nhi và vạn hộ Lưu Khuê đi thuyền nhẹ trốn ra biển10. Tiểu Lý đi thuyền phía sau thấy cơ không thoát được, tự đâm cổ, vua Trần cho người cứu sống11.

        Như vậy là qua hai tháng phản công, sau những chiến thắng liên tiếp: Tây Kết lần - thứ nhất, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp, Tây Kết lần thứ hai… quân dân Đại Việt đã quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi. Cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 7 (9/7/1285), hai vua Trần cùng triều đình, tướng tá và quân dân đã trở về Thăng Long. Cảnh hoang tàn đổ nát của kinh thành không làm mờ được khí thế của dân tộc vừa chiến thắng. Niềm tự hào với những chiến công oanh liệt dạt dào trong bài thơ khải hoàn của thượng tướng Trần Quang Khải:

                                              “Đoạt sáo Chương Dương độ,
                                              Cầm hồ Hàm Tử quan.
                                              Thái bình tu trí lực
                                              Vạn cổ cự giang san”
12.

                                              (Bến Chương Dương cướp giáo,
                                              Cửa Hàm Tử bắt thù.
                                              Thái bình nên gắng sức,
                                              Non nước cũ muôn thu).


---------------
1.    Toàn thư chép: “Ngày 17 (tháng 5) (21/6/1285), Toa Đô và Ô Mã Nhi từ biển trở lại phạm vào sông Thiên Mạc, muốn hội quân ở kinh sư để chi viện lẫn nhau. Du binh đến huyện Phù Ninh” (q. 5, t. 49a). Như vậy, theo Toàn thư, thì quân Nguyên đến huyện Phù Ninh chỉ là du binh (quân tuần tiễu) của cánh quân Toa Đô. Cương mục (q. 7, t. 41b) đã nghi ngờ điều này: “Toa Đô từ đường biển tiến quân ra đánh vào sông Thiên Mạc, thế mà quân tuần tiễu lại đến huyện Phù Ninh, xa cách nhau hàng ba bốn ngày đường, tất nhiên không có lẽ như thế. Việc này ngờ là Sử cũ chép lầm, sẽ nghiên cứu sau”. Chúng tôi cho rằng lời nhận xét của Cương mục là đúng. Theo chúng tôi, cánh quân đến Phù Ninh chắc chắn là cánh quân tìm đường về Vân Nam. Phù Ninh nằm trên con đường tiến quân từ Vân Nam đến Thăng Long của quân Nguyên trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất và lần thứ hai mà chúng tôi đã xác định ở trên kia. Trần Nhật Duật, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, từ Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái) rút về Bạch Hạc (Việt Trì) tất phải đi qua Phù Ninh. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quân Nguyên cũng tiến theo đường này (xem chương VII).

2.   Có lẽ thuộc xã Tử Đà huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ hiện nay. Theo thần tích thì Hà Đặc là người ở xã Tử Đà.

3.   Chưa xác định được A Lạp Ở đâu, con sông ở Phù Ninh nói ở đây chắc là sông Lô ngày nay.

4.   Xem Toàn thư q. 5, t. 49a- b.

5.   An Nam chí lược q. 4 chép: “Khi ấy Toa Đô nghe biết đại quân đã về, mới từ Thanh Hóa đem quân về, ở dọc đường ngày đêm đánh nhau với quân An Nam”. Như vậy là An Nam chí lược cho rằng Toa Đô biết tin Thoát Hoan về nhưng Nguyên sử q. 129 Toa Đô truyện lại chép: “Thoát Hoan dẫn quân về, Toa Đô không biết”. Nguyên sử kỷ sự bản mạt (q. 5, bản đã dẫn, t. 22) cũng chép như thế. Chúng tôi cho rằng Nguyên sử đã chép đúng vì nếu Toa Đô biết tin Thoát Hoan đã rút về thì nhất định sẽ kéo về theo đường biển hoặc trở lại Chiêm Thành chứ không dám mạo hiểm tiến ra Thăng Long.

6.   Toàn thư q. 5, t. 48b.

7.   Toàn thư q. 5, t. 49a.

8.   Toàn thư q. 5 t. 49b. Cương mục q. 7, t. 41b chú rằng Đại Mang là tên bến. Hiện nay chưa xác định được ở đâu. An Nam chí lược q. 4 chép “Đến Bái Khanh, tướng Toa Đô là Lễ Cước Trương làm phản, đem quân kia (chỉ quân Trần - T.G) đánh nhau với ta (chỉ quân Nguyên - T.G)”. Lễ Cước Trương chắc là chỉ Trương Hiển chép Ở Toàn thư. Có lẽ Lễ Cước là in nhầm từ những chữ nào đó nhưng chúng tôi chưa đoán ra. Chữ Bái Khanh có lẽ là Bái Hướng. Bái Hương có thể là Đại Mang.

9.   Toàn thư q. 5, t. 49, An Nam chí lược chép: “Toa Đô phóng ngựa rơi xuống nước chết”. Nguyên sử q. 129 Toa Đô truyện và Nguyên sử kỷ sự bản mạt (q. 5, bản đã dẫn, t. 22) chép rằng Toa Đô chết ở sông Càn Mãn. Đại Nam nhất thông chí (Bắc Ninh, Sơn Xuyên) chép rằng sông Càn Mãn tức sông Thị Cầu (sông Cầu). Như vậy là trái với Toàn thư. Nguyên sử - Toa Đô truyện chép rằng: “Thoát Hoan dẫn quân về, Toa Đô không biết, Giao Chỉ sai người nói cho biết. (Toa Đô) không tin, đến đại doanh thì không còn ai. Giao Chỉ ngăn ở sông Càn Mãn, Toa Đô tử chiến”. Phải chăng Toa Đô đã đến được đại doanh Thoát Hoan (Thăng Long hoặc Gia Lâm) khi Thoát Hoan đã rút sau đó, về đến sông Cầu, Toa Đô mới bị giết chết?

        Đinh Khiêm không rõ dựa vào tài liệu nào, đã chép trong Nguyên sử ngoại di truyện địa lý khảo chứng (Triết Giang đồ thư quán tùng thư I, t. 7a như sau: “(Toa Đô, Ô Mã Nhỉ) tiến đến Hảo Mễ, huyện Dạ Nô (?), bị người An Nam phục binh đánh lui. Lại đánh, người An Nam lại thắng. Toa Đô, Ô Mã Nhi còn đánh không ngừng, cuối cùng thất bại ở đất Khố Tú, Tha Dạ, Khai Dạ. Toa Đô bị thương không chạy được, bèn bị giết… Hảo Mễ, Dạ Nô, Khổ Tú, Khai Dạ… đều là thổ âm An Nam, nay không biết ở đâu”.

10.   An Nam chí lược q. 4, Toàn thư q. 5, t. 49 chép: “Nửa đêm, Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa (?), hai vua đuổi theo không kịp, bắt được dư đảng hơn 5 vạn người rồi về, Ô Mã Nhi đi một chiếc thuyền nhỏ vượt biển thoát được”.

11.   An Nam chí lược q. 4.

12.   Toàn thư q. 5, t. 50 a-b. Có bản Hoàng Việt thi tuyển chép là “Thái bình đương trí lực" hoặc “Thái bình tu nỗ lực” và "Vạn cổ thử giang san” (Non nước ấy muôn thu).


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 03:30:41 pm
       
CHƯƠNG VII

CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA

        “… Bỗng nhiên xuất hiện những đội quân (Giao Chỉ) từ biển, từ rừng, từ núi,  đánh tan quân Tu Gan (Thoát Hoan) đang cướp bóc…”.
Fazl Allah Rašid ud-Dīn       
 (1247-1318)               
 (Nhà sử học Ba Tư)           

        Trong khi quân dân Đại Việt hân hoan mừng chiến 1 thắng thì tên chúa Nguyên nổi giận. Thoát Hoan, con trai hắn thoát chết trở về với đám tàn quân, nhưng những viên đại tướng như Lý Hằng, Toa Đô đã bỏ mạng… Thế là công phu bao nhiêu năm chuẩn bị cho hàng chục vạn quân xuất chinh tan ra mây khói. Căm tức vì thất bại nặng nề, nóng lòng vì cần một căn cứ cho cuộc xâm lược phương Nam, Hốt Tất Liệt gấp rút mở một cuộc chiến tranh mới đánh vào Đại Việt để báo thù.

        Ngày 9 tháng 7 năm 1285, vua Trần trở về Thăng Long thì ngày 21 tháng 8 năm 1285 (20 -7 âm lịch), khu mật viện nhà Nguyên đã đề nghị cử Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a làm tiết chế đi đánh Đại Việt1. Vì đạo quân Thoát Hoan đã “đánh lâu sức mệt”, Hốt Tất Liệt chuẩn y lời tâu của khu mật viện xin bổ sung quân cho Thoát Hoan. Số quân bổ sung gồm một nghìn quân Mông Cổ lấy của bọn A-gu-ruc-tn (Auruči) 2, bốn nghìn quân Hán (chỉ quân bắc Trung Quốc) và quân tân phụ (chỉ quân nam Trung Quốc) lấy ở ba hành viện Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ, “chọn các tướng giỏi chỉ huy” 3. Khu mật viện cũng xin tập trung quân ở Đàm Châu (huyện Trường Sa, Hồ Nam) vào tháng 10 âm lịch (29/10 - 27/11/1285), đặt dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a4.

        Bấy giờ, Tang-gu-tai5, viên tướng đi đón Toa Đô ở Chiêm Thành trong cuộc chiến tranh vừa qua, lại được Hốt Tất Liệt cử làm tả thừa hành tỉnh Kinh Hồ. Tang-gu-tai đề nghị cho bọn lính đánh Đại Việt trở về được nghỉ ngơi6. Ngày Canh Dần, 21 tháng 9 âm lịch (20-10-1285) Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho tất cả quân đánh Đại Việt về nhà nghỉ chỉ trừ 100 quân Mông Cổ và 400 quân Hán ở lại làm túc vệ cho Thoát Hoan7. Tên vua Nguyên muốn cho bọn lính này phục hồi được tinh thần và sức lực sau cuộc thất trận lớn vừa qua, để có thể “phấn khởi” hơn trong lần xuất chinh tới. Việc cho quân lính nghỉ cũng chứng tỏ rằng Hất Tất Liệt tuy nôn nóng báo thù nhưng không thể không chuẩn bị chu đáo cho cuộc chiến tranh mới.

        Hốt Tất Liệt một mặt chuẩn bị chiến tranh, một mặt vẫn sai sứ sang Đại Việt, hòng dò xét tình hình và mưu toan làm triều đình Trần mất cảnh giác, không chú ý đến âm mưu xâm lược của Nguyên. Ngày Kỷ Hợi, mồng 1 tháng 10 âm lịch (29/10/1285), Kha-xa Kha-y-a (Qasar-Qaya), viên đa-ru-ga-tn ở Đại Việt trước đây lại được cử đi sứ8.

        Đến năm sau, 1286, mọi việc chuẩn bị xâm lược Đại Việt được xúc tiến mạnh mẽ hơn. Tuy bị thua đau trên các hòn đảo Nhật Bản, Hốt Tất Liệt vẫn ra lệnh đình chỉ cuộc tấn công báo thù vào đất Nhật để dồn lực lượng cho cuộc chiến tranh ở Đại Việt. Hốt Tất Liệt nói: “Nhật Bản chưa từng xâm lấn ta, nay Giao Chỉ (chỉ Đại Việt-TG) xâm phạm biên giới nên gác việc Nhật Bản, chuyên việc Giao Chỉ” 9. Đây chỉ là cái lý do giả tạo của tên Hốt Tất Liệt xảo quyệt. Hắn đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược Nhật Bản - cuộc chiến tranh phục thù mà hắn đã chuẩn bị bao nhiêu năm nay - đâu có phải chỉ vì Nhật Bản chưa từng xâm lấn. Hai lần thất bại đau đớn ở Nhật Bản không cho phép hắn suy nghĩ đơn giản như vậy10. Mặt khác, hắn xúc tiến cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt cũng không phải vì: “Giao Chỉ xâm phạm biên giới”. Đó chỉ là một điều vu khống mà thôi. Phải nói cái đã khiến cho Hốt Tất Liệt đành gác việc trả thù những thất bại nhục nhã ở biển Ghenkai, ở đảo Taka, chính là Chương Dương, Hàm Tử, Thăng Long, Tây Kết…, là những chiến thắng oanh liệt của quân dân ta năm 1285.

-----------
1.    Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 10a-10b.

2.   Nguyên sử phiên âm là Áo Lỗ Xích, đời Thanh đổi phiên âm là Ngạc La Tề (xem Tục tư trị thông giám).

3.   Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 10b.

4.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a.

5.   Tức Đường Ngột Đải, Đường Ngột Đái, Đường Cổ Đái trong Nguyên sử - An Nam chí lược. Xem chú thích ở chương VI.

6.   Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 10b.

7.   Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 11b.

8.   Nguyên sử - An Nam truyện và Thế ltổ bản kỷ phiên âm là Hợp Tản Nhi Hải Nha. Kha-xa Kha-y-a được Hốt Tất Liệt cử làm phó Đa-ru-ga-tri (daruači, Đạt Lỗ Hoa Xích) ử Đại Việt năm 1273 và đến 1275 thì làm Đa-ru-ga-tri. Xem chương IV.

9.   Nguyên sử q. 208 Nhật Bản truyện t. 13b.

10.   Từ năm 1268, Hốt Tất Liệt đã nhiều lần sai sứ sang Nhật Bản cưỡng bức đặt quan hệ ngoại giao nhưng Shikken là Hōjō Tokimune đã cự tuyệt. Năm 1274, Hết Tất Liệt phái một hạm đội 900 chiến thuyền và 3 vạn 3 nghìn quân, đánh chiếm các đảo Tsushima, Iki, rồi vào vịnh Hakozaki, tiến đến đảo Kyushu, tỉnh Chikuzen, gần eo Shimonoseki. Nhưng sức chiến đấu của người Nhật và gió bão ở đây đã buộc quân Nguyên phải rút. Năm 1281, Hất Tất Liệt lại sai hơn 15 vạn quân đánh Nhật Bản. Khi quân Nguyên đã tiến đến Kyushu trong vịnh Hakozaki và các đảo Taka Hirato, tỉnh Hizen thì bị trận bão lớn ngày 16 tháng 8 năm 1281 làm đắm hết các chiến thuyền. Sau đó, quân Nguyên lại bị người Nhật đánh tan tác, quân Nguyên bị bắt và bị giết gần hết. Theo Nguyên sử Nhật Bản truyện thì mười vạn quân còn lại sau trận bão đã bị người Nhật bắt và giết chỉ có 3 người sống sót. Năm 1283, Hết Tất Liệt sai A-ta-khai (Ataqai, A Tháp Hải) và một số tướng khác chuẩn bị đánh Nhật Bản, nhưng đến năm 1286 thì bãi bỏ lệnh ấy.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 03:41:39 pm

        Ngày Tân Mão, 24 tháng giêng năm Bính Tuất (18/2/1286) Hốt Tất Liệt ra lệnh cho bọn A-ric Kha-y-a bàn kế hoạch đánh Đại Việt1. Ngày Giáp Thìn, 7 tháng 2 âm lịch (3/3/1286), Hốt Tất Liệt duyệt danh sách các tướng tá đánh Đại Việt mà điều động thêm quân. A-ric Kha-y-a vẫn được cử làm An Nam hành trung thư tỉnh tả thừa tướng. A-gu-ruc-tri (Auruči, Áo Lỗ Xích) làm bình chương chính sự, Ô Mã Nhi (‘Omar), Y-gơ-mi-sơ (Yimïš), A-ric Khu-xun (Arixq-Qusun), Phàn Tiếp làm tham tri chính sự2. Hốt Tất Liệt còn sai sứ đến Vân Nam, ra lệnh cho Vân Nam vương E-xen Tê-mua (Äsän TämÜr) 3 điều một hoặc hai, ba nghìn quân Kha-ra-iang (Qarǰang, tức quân người dân tộc Ô Man) cho A-ric Kha-y-a đem đi đánh Đại Việt4. Ngày Mậu Ngọ, 21 tháng 2 (17/3/1286), Hốt Tất Liệt lại ra lệnh điều động 6 vạn quân của ba hành tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng, Giang Tây5. Trong 6 vạn quân đó, quân của hành tỉnh Hồ Quảng là 28.700 người. Tất cả số quân chuẩn bị đánh Đại Việt này được lệnh tập trung ở Tĩnh Giang (Quế Lâm, Quảng Tây) vào tháng 7 âm lịch (23/7 – 20/8/1286) 6.

        Rút kinh nghiệm cuộc chiến tranh năm 1285, lần này Hốt Tất Liệt chú ý nhiều hơn đến thủy quân. Từ ngày Đinh Ty, 20 tháng 2 (16/3/1286), hắn đã ra lệnh cho hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền biển để dùng trong việc đánh Đại Việt hẹn đến tháng 8 âm lịch (21/8 – 19/9/1286) tập trung ở châu Khâm (Khâm Huyện, Quảng Đông) và châu Liêm (Hợp Phố, Quảng Đông) 7.

        Hốt Tất Liệt vẫn chú trọng cánh quân Vân Nam. Ngày Canh Tý, 4 tháng 4 âm lịch (28-4-1286), hắn hạ lệnh cho quân Mông Cổ ở Vân Nam đi đánh Đại Việt được miễn nộp tô đồn điền8 và đến ngày Nhâm Tý, 16 tháng 4 (10/5/1286), viên bình chương tỉnh Vân Nam là Na-xi-rut Đin (Nasir ud-Dīn, Nạp Thốc Lạt Đinh, tên tướng đã đem quân vào Đại Việt trong cuộc chiến tranh năm 1285, lại được lệnh chia 1 nghìn quân Kha-ra-jang và Mông Cổ, chọn tướng giỏi chỉ huy, chuẩn bị tiến vào Đại Việt phối hợp với Thoát Hoan9.

        Bấy giờ, tên tướng A-ric Kha-y-a ốm nặng và đến ngày 25 tháng 5 âm lịch (18/6/1286) thì chết10. Viên bình chương chính sự A-gu-ruc-tri đã làm nhiệm vụ chỉ huy đạo quân đánh Đại Việt thay A-ric Kha-y-a. Từ ngày 17/3/1286, A-gu-ruc-tri đã xin vào gặp Hốt Tất Liệt để bàn việc đánh Đại Việt11. Đến tháng 4 âm lịch (25/4 – 24/5/1286, Hốt Tất Liệt lại gọi A-gu-ruc-tri từ Hồ Quảng về Đại Đô để giao nhiệm vụ phụ tá Thoát Hoan trong cuộc xâm lược Đại Việt sắp tới. Hốt Tất Liệt đã khuyến khích A-gu-ruc-li: “Ngày trước bọn Mu-kha-li (Muqali) 12 tận lực với vương thất, tiếng thơm đến nay vẫn bất hủ. Khanh cố gắng lên, há lại không vẻ vang như người xưa hay sao!”. Để khích lệ A-gu-ruc-tri, Hết Tất Liệt còn cho con trai hắn là Tô Gan Bu Kha (Tơan Buqa) được tập chức vạn hộ13. Với những biện pháp đó tên vua Mông Cổ muốn cho A-gu-ruc-tri có thể thực hiện được một cách tích cực cái nhiệm vụ của A-ric Kha-y-a trước đây, về danh nghĩa là phụ tá hoàng tử Trấn Nam vương Thoát Hoan nhưng thực tế là nắm mọi kế hoạch xâm lược cụ thể.

        Song song với việc chuẩn bị ráo riết về quân sự, Hốt Tất Liệt còn sắp đặt một loạt những mưu mô xảo trá. Hắn đã xúc tiến việc thành lập một triều đình bù nhìn gồm những tên Việt gian đầu hàng trong cuộc chiến tranh năm 1285 để đưa vào Đại Việt Từ tháng 2 âm lịch (15/2 – 25/3/1286), Trần Ích Tắc đã được phong làm An Nam quốc vương, nhận phù ấn, Trần Tú Hoãn được phong làm Phụ nghĩa công14. Tất cả bọn Việt gian đã hàng Nguyên đều được phong những chức tước khác nhau15, chẳng hạn con trưởng ích Tắc và Bá Ý được làm an phủ sứ lộ Đà Giang, em họ Tú Hoãn là Lại Ích Khuy được làm an phủ sứ lộ Nam Sách giang, Trần Văn Lộng được làm tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa giang…16. Như vậy là tuy chưa tiến vào Đại Việt bọn thống trị Nguyên Mông đã sắp đặt quan chức cho cả các phủ lộ! Để chuẩn bị cho việc tiến quân xâm lược và đưa cái triều đình bù nhìn ấy về nước, Hốt Tất Liệt đã gửi một tờ “chiều” cho nhân dân Đại Việt “kể tội” Trần Thánh Tông đã giết Trần Di Ái, không nhận Đa-ru-ga-tri Buy-y-an Tê-mua (Buyan Tämür), vin vào đó đòi lấy Ích Tắc thay thế17.

---------------
1.    Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 1b.

2.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 1b. Y-gơ-mi-sơ (Yimïš), Nguyên sử phiên âm là Diệc Hắc Mê Thất (ở đây, Bản kỷ chép nhầm thành Diệc Lý Mê Thất, do lầm chữ hắc ra chữ lý), là viên tướng người Ui-gua (Uigur), chỉ huy đạo quân đóng lại ở Chiêm Thành khi Toa Đô tiến ra Đại Việt. Sau khi Toa Đô chết, y được lệnh rút quân từ Chiêm Thành về Trung Quốc. A-ríc Khu-xun (Ariq-Qusun) là A Lý Quỹ Thuận trong Nguyên sử.

3.   E-xen Tê-mua (Äsän TämÜr), Nguyên sử phiên âm là Dã Tiên Thiết Mộc Nhi, tức là con của Vân Nam vương Hu-ghe-tri (Hügäĉi, Hốt Kha Xích).

4.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ. t. 1b. Ở đây, Bản kỷ phiên âm Qarajang là Hợp Lạt Chương. Xem chú thích về Qaraǰang ở chương I.

5.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 2a.

6.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 4a.

7.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 2a.

8.   Triều Nguyên lập rất nhiều đồn điền cho quân đội sản xuất. Lính đồn điền phải đóng tô cho nhà nước. Vân Nam là tỉnh có nhiều đồn điền quân đội thời Nguyên.

9.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 2a. Ở đây Bản kỷ tại phiên âm Qaraǰang là A Lạt Chương.

10.   Xem Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng thần đạo bi của Diêu Toại trong Nguyên văn loại, bản đã dẫn, t. 855.

11.   Nguyên sử Bản kỷ t. 2a.

12.   Mu-kha-li (Muqali), Nguyên sử phiên âm là Mộc Hoa Lê, là viên tướng thân tín của Trin-ghít Khan (Thành Cát Tư Hãn) đã đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc.

13.   Nguyên sử q. 131 Áo Lỗ Xích truyện t. 7a. Toan Buqa Nguyên sử phiên âm là Thoát Hoan Bất Hoa.

14.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8b. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 2a chép việc này vào ngày Mậu Ngọ, tháng 2 (17/3/1286). An Nam chí lược q 13 Nội phụ hầu vương cũng chép ích Tắc được phong An Nam quốc vương vào tháng 2 năm Bính Tuất (1286) nhưng lại chép Trần Tú Hoãn được phong Phụ nghĩa công vào tháng 9 năm Chí Nguyên 22 (30/9 – 29/10/ 1285) khác với Nguyên sử. An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng lại chép cả hai tên này được phong vào tháng 3 năm Bính Tuất (1286), có lẽ là đã chép lầm tháng 2 ra tháng 3 âm lịch.

15.   An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng.

16.   An Nam chí lược q. 13 Nội phụ hầu vương.

17.   Nguyên sử - An Nam truyện và Thế Tổ bản kỷ đều chép là Hốt Tất Liệt “xuống chiếu” vào tháng 2 âm lịch, nhưng xét đoạn tóm tắt tờ chiếu trong An Nam truyện (t. 8b) thì đúng là tờ chiếu tháng 4 năm Chí Nguyên 23) 25/4 – 24/5/1286) của vua Nguyên chép trong An Nam chí lược q. 2 Đại Nguyên chiếu chế. Tờ chiếu đó như sau: “Trước vì (vua) nước các ngươi đã xưng thần theo phục, hằng năm dâng đồ cống mà không thân hành vào chầu, nhân chú y là Trần Di Ái sang chầu, ta ủy cho trông coi công việc nước An Nam. Di Ái thì lại bị giết hại. Đa-ru-ga-tri là Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämür, Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi) vâng mệnh sang thì lại không nhận. Còn quân ta đi đánh Chiêm Thành, phải giúp đỡ lương thực thì lại không cung cấp gì. Vì thế mà Trấn Nam vương Thoát Hoan, hành tỉnh bình chương sự là A-ric Kha-y-a phải đem quân sang đánh. Trong lúc giao binh, hai bên đều giết hại lẫn nhau. Nay cận thần của nước các ngươi là bọn Trần ích Tắc, Trần Tú Hoãn lo nước nhà bị sụp đổ tiêu diệt, tai họa đến kẻ vô tội, thường khuyên bảo y vào chầu, rốt cục vẫn không thấy nghe theo. Bọn ấy bèn tự lại quy phục. Ta thương bọn ấy có lòng trung hiếu, đặc cách phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ nghĩa công để phụng tự họ Trần. Lại sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, bình chương sự A-gu-ruc-tri (Áo Lỗ Xích) đem quân sang bình định nước các ngươi. Những tội lỗi trước đây chỉ ở mình y (chỉ vua Trần - T.G), quan dân không dính dáng gì. Khi chiếu thư tới nơi, các ngươi nên lại trở về đồng ruộng yên ổn làm ăn. Vậy xuống chiếu hiểu bảo. Lời trên đây là để hiểu dụ quan lại bách tính nước An Nam”.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 03:51:29 pm

        Trong lúc đẩy mạnh việc tập trung quân và lập bộ máy nguy quyền bù nhìn, Hốt Tất Liệt vẫn giữ mối quan hệ ngoại giao với Đại Việt. Những tên sứ Nguyên đến Đại Việt có nhiệm vụ đe dọa uy hiếp vương triều Trần, đồng thời do thám tình hình Đại Việt sau cuộc chiến tranh năm 1285. Tháng 2 năm Bính Tuất (25/2 – 25/3/1286), Kha-xa Kha-y-a đến Đại Việt1. Ngày Tân Hợi, 16 tháng 6 âm lịch (8/7/1286), Hốt Tất Liệt lại sai Ra-ma-đan (Ramadān) đi sứ Đại Việt2. Trong khi đó hắn ra lệnh bắt giữ các sứ thần của ta đến triều đình Nguyên như Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh…3.

        Tất cả những hành động trên đây của bọn gây chiến Nguyên Mông làm cho người ta tưởng rằng cuộc chiến tranh sắp bùng nổ. Nhưng tình hình Trung Quốc bấy giờ đã khiến Hất Tất Liệt không thực hiện ngay được tham vọng cửa hắn. Dưới ách áp bức bóc lột của bọn thống trị Mông Cổ, nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là ở miền Nam, đã hoàn toàn kiệt quệ vì phải cung ứng cho những cuộc chiến tranh xâm lược liên miên do bọn thống trị ngoại tộc gây ra. Cảnh nghèo đói xác xơ diễn ra khắp vùng nông thôn phía nam Trường Giang. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở đồng bằng cũng như miền núi. Tình hình đó trước hết làm cho bọn quan lại Giang Nam lo lắng. Tháng 6 âm lịch (23/6 – 22/7/1286), tuyên úy ty Hồ Nam đã đề nghị hoãn binh:

        “Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ mệt vì vận chuyển, phú dịch nặng nề. Quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng. Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người, tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương quân dân. Vả lại trong lúc cử động, lợi hại không phải chỉ là một. Lại thêm nữa Giao Chỉ vẫn thường sai sứ dâng biểu xưng phiên thần, nếu theo lời xin để phục hồi sức dân thì là kế hay nhất. Nếu không được thì nên nới phú thuế cho trăm họ, chứa lương thực, sắm giáp binh, đợi đến năm sau thiên thời lợi hơn một chút rồi hãy cất quân cũng chưa muộn” 14.

        Viên quan ở hành tỉnh Hồ Quảng là Xen-ghê (Tuyến Kha, Sänäg) đồng ý với lời đề nghị đó, đã sai người về kinh đô tâu với Hốt Tất Liệt. Y còn nói thêm: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn 70 sở, luôn năm chinh đến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài, kẻ còn lại đều già yếu, mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân, trộm nghĩ rằng sợ kẻ gian dò xét được tình hình đó. Năm ngoái bình chương A-ric Kha-y-a xuất chinh, thu 3 vạn thạch lương, dân còn kêu khổ, nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết. Nên theo lời của tuyên úy ty xin hoãn quân đánh phương Nam” 5. Điều lo lắng của Xen-ghê là ở chỗ nếu đem quân xuống Đại Việt thì sự phòng thủ địa phương sẽ rất yếu ớt, không chống cự được sức tấn công của nhân dân Trung Quốc khởi nghĩa mà y gọi là “kẻ gian”.

        Ngay ở triều đình Nguyên cũng có những ý kiến phản đối việc xuất chinh Đại Việt. Viên Lễ bộ thượng thư Lưu Tuyên cũng lo ngại về điều mà Xen-ghê đã nói và tỏ ra không tin tưởng ở kết quả của cuộc chiến tranh đó. Lưu Tuyên đã tâu với Hốt Tất Liệt:

        “Luôn năm đánh Nhật Bản, trăm họ sầu oán, quan phủ nhiễu nhương. Mùa xuân năm nay bãi binh, quân dân Giang Chiết reo mừng như sấm. An Nam là nước nhỏ, thần phục đã bao năm, tuế cống chưa từng sai hạn. Vì tướng ở biên sinh sự hưng binh, nên kẻ kia trốn tránh ra hải đảo, khiến cất đại quân đi mà không được công trạng gì, tướng sĩ lại bị thương tổn. Nay lại hạ lệnh đi đánh nữa, ai nghe thấy cũng lo sợ. Từ xưa dấy quân, tất phải theo thiên thời. Ở vùng trung nguyên đất bằng còn phải tránh giữa mùa hạ. Giao Quảng là đất viêm chướng, khí độc hại người còn hơn là binh đao. Nay định tháng 7 họp các đạo quân ở Tĩnh Giang đến An Nam tất nhiều người mắc bệnh chết, lúc cần cấp gặp giặc biết lấy gì ứng phó. Ở Giao Chỉ lại không có lương, đường thủy khó đi, không có xe ngựa, trâu bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa, còn quan quân được một nửa. Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 40 vạn người cũng chỉ có thể có lương cho quân 1, 2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 5, 60 vạn người. Quảng Tây, Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được. Huống chi Hồ Quảng rất gần khe động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến. Tuy có quân mã lưu lại nhưng là người già yếu mệt nhọc, khó bề ứng biến. Sao không cùng người hiểu biết sự thể trong quan quân bên kia (chỉ Đại Việt - T.G) mà bàn bạc phương lược vạn toàn. Nếu không thì sẽ giẫm vào vết xe cũ” 6.

        Những “trộm cướp” mà Lưu Tuyên nhắc tới chính là những cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam Trung Quốc. Trong tình trạng nhân dân Trung Quốc nghèo đói và nổi dậy như vậy, những lời can ngăn của bọn quan lại cấp dưới đã làm tên vua Mông Cổ Hốt Tất Liệt phải bất đắc dĩ hoãn cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Khi nghe khu mật viện đem những lời của hành tỉnh Hồ Quảng tâu lên, hắn ra lệnh ngừng việc tập trung quân và cho quân sĩ trở về các doanh. Bọn Việt gian Trần Ích Tắc lại lủi thủi trở về châu Ngạc (Hồ Bắc7).

----------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 52b.

2.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 4a. Ở đây Bản kỷ chép tên sứ Nguyên là Diệc Mã Lạt Đan. Phải chép là Diệc Lạt Mã Đan mới đúng ( trong Nguyên sử có đến ba người tên là Diệc Lạt Mã Đan. Xem Tam sử đồng danh lục của Uông Huy Tô). Diệc Lạt Mã Đan là phiên âm tên Iramadan. Iramadan là cách gọi Mông Cổ tên Ramadān của người Hồi giáo. Người Mông Cổ thường thêm âm i vào trước một số tên nước ngoài. Như vậy, viên sứ này cũng là một người Hồi giáo.

3.   Trong bức thư của Trần Thánh Tông gửi Hốt Tất Liệt, 1288, có đoạn: “Sau lúc đại quân rút về (chỉ 1285-T.G)… vi thần đã đọc sai bọn thông thị đại phu Nguyễn Nghĩa Toàn, hiệp trung đại phu Nguyễn Đức Vinh, hữu vũ đại phu Đoàn Hải Khung, trung đại phu Nguyễn Văn Ngạn kính dâng các đồ phương vật… Ngờ đâu đều không được về (chép trong Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, bản Thuyết phu t. 10). An Nam chí lược q. 14 Trần Thị Khiển sứ chép là năm Bính Tuất 1286), Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh vào cống và Nguyễn Nghĩa Toàn bị giữ lại. Còn Nguyễn Văn Ngạn thì đến năm Đinh Hợi (1287) mới vào cống và cũng bị giữ lại (xem An Nam chí lược q. 14, Nguyên sử q. 14 bản kỷ, t. 10b.

4.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8b.

5.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8b. Nguyên sử q. 14 Bại kỷ t. 4a chép: “Ngày Quý Sửu (tháng 6 Chí Nguyên 243) (10-7-1286) Xen-ghê (Tuyến Kha) ở hành tỉnh Hồ Quảng nói : “Nay dùng binh ở Giao Chỉ, chia quân của bản tỉnh 28.700 người, hẹn tháng 7 đều hội ở Tình Giang, nay đã phát quân tinh nhuệ ra đi, còn lại hơn 17.800 người đều là quân ốm yếu đồn điền, không thể dùng được”.

6.   Nguyên sử q. 168 Lưu Tuyên truyện, t. 8a.

7.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8b. An Nam truyện chép rằng tháng 5 năm Chí Nguyên 23 (25/5 – 23/6/1286), quân Nguyên có tiến vào Đại Việt và vua Trần phải rút khỏi kinh thành.

        Nguyên sử q. 151 Cao Náo Nhi (Naur) truyện cũng chép: “Năm đó (Chí Nguyên 23, 1286-T.G) mùa hạ, lại đem quân đuổi đánh thế tử Giao Chỉ ở chỗ ba cửa biển giao nhau, đánh nhau với quân địch (quân Trần-T.G), trúng tên độc chết” (t. 2b).Chúng tôi cho rằng những tài liệu trên đây của Nguyên sử là nhầm. Đọc những lời khuyên can ở trên, chúng ta cũng thấy nhà Nguyên chỉ mới tập trung quân chứ chưa tiến vào. Tháng 6 năm Chí Nguyên 23, tuyên úy ty Hồ Nam còn nói là đợi năm sau hãy cất quân. Xen-ghê và Lưu Tuyên đều nói là tháng 7 năm Chí Nguyên 23 mới hội quân ở Tĩnh Giang. Do đó, chúng tôi cho rằng không có cuộc tiến quân vào Đại Việt vào tháng 5 năm Chí Nguyên 23. An Nam chí lược và Toàn thư cũng không nói gì đến việc đó.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 04:01:43 pm

        Cuộc viễn chinh xâm lược ngừng lại nhưng Hốt Tất Liệt vẫn không từ bỏ âm mưu của mình. Tháng 7-1286, hắn ra lệnh hoãn binh nhưng đến cuối năm thì mưu đồ gây chiến lại sôi sục trong đầu óc hắn. Việc cấp bơn nghìn ngựa cho Thoát Hoan vào tháng 11 năm 1286 có thể coi là sự kiện đánh dấu cho mưu đồ đó1. Ngày Kỷ Ty tháng 11 âm lịch (23/11/1286), Hốt Tất Liệt lại cử A-ba-tri; Abači) làm hữu thừa của “Chinh Giao Chỉ hành tỉnh”, tức là cái cơ quan được lập nên để chuẩn bị đánh Đại Việt2.

        Đến năm sau, năm Đinh Hợi, 1287, Hốt Tất Liệt lại đẩy mạnh hơn nữa hoạt động chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Hắn đã quên hẳn những lời can ngăn của Xen-ghê và Lưu Tuyên, và chừng như tự cho rằng hắn đã thực hiện cái kế của tuyên úy ty Hồ Nam, cố gắng “đợi đến năm sau thiên thời lợi hơn một chút rồi hãy cất quân”.

        Tháng giêng năm đó (15/1 – 13/2/1287), Hốt Tất Liệt đã gấp rút điều động quân và tổ chức việc xâm lược. Cơ quan phụ trách việc xâm lược Đại Việt được gọi là “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh”. A-gu-ruc-tri vẫn được cử làm bình chương chính sự3. Ngoài viên hữu thừa A-ba-tri đã cử từ năm trước, Hốt Tất Liệt còn lấy Trình Bằng Phi làm hữu thừa và A-li (‘Ai, A Lý) làm tả thừa4, Ô Mã Nhi (‘Omar) và Phàn Tiếp làm tham tri chính sự5… phần lớn các tướng là những tên đã đi xâm lược Đại Việt năm 1284-1285. Tất cả các tướng tá đều đặt dưới quyền tổng chỉ huy của Thoát Hoan.

        Trong số quân Hốt Tất Liệt điều động lần này6 có 1.000 quân tân phụ (quân miền Nam của Nam Tống cũ) do A-ba-tri chỉ huy, 70.000 quân Mông Cổ và quân Hán (người Trung Quốc miền Bắc) của ba tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng7, 6.000 quân Vân Nam (có lẽ quân Kha-ra-jang, người Ô Man tức người Di) do viên tướng người Tang-gut (Tây Hạ) là A-ruc (Aruq, Ái Lỗ) chỉ huy8. Ngoài ra, còn có 15.000 quân người Lê ở đảo Hải Nam9. Đấy là chưa kể số động binh (quân miền núi, chỉ người Choang) ở Quảng Tây do viên tướng người Kíp Trắc (Kipčak, Trung Á) là Sic-tua (Šiktur, Tích Đô Nhi) chỉ huy10. Càng mang nhiều quân thì việc tiếp tế lương thực lại càng nặng nề. Không thể huy động mấy chục vạn phu gánh gạo theo quân nên nhà Nguyên lần này phải tải lương bằng đường biển. Trương Văn Hổ, con một tên cướp biển đã đầu hàng Hốt Tất Liệt, được giữ chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ11 cùng với Phí Củng Thìn, Đào Đại Minh phụ trách 70 thuyền vận tải chở 17 vạn thạch lương12. Để hộ tống thuyền lương đồng thời cũng là để mở một mũi tấn công bằng đường thủy vào một phía của quân Việt, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Trương Ngọc, Lưu Khuê… được lệnh đem 500 chiến thuyền từ Khâm Châu tiến vào Đại Việt13. Huy động 500 thuyền đánh Đại Việt là một cố gắng mới đáng chú ý trong kế hoạch xâm lược của Hốt Tất Liệt. Rút kinh nghiệm hai lần chiến tranh trước, hắn thấy được rằng tiến quân vào một xứ sông ngòi chằng chịt mà không có thuyền thì kỵ binh thật khó xoay xở và không thể nào chống nổi đội thủy quân thiện chiến Đại Việt Năm ngoái, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho Hồ Quảng đóng 300 thuyền, nhưng đến nay hắn đã cho tăng thêm 200 thuyền nữa. Nhưng có lẽ Hốt Tất Liệt vẫn chưa bằng lòng với số quân thuyền đã chuẩn bị. Đến tháng 9 âm lịch (9/10/ - 6/11/1287), an phủ sứ Quỳnh Châu (Hải Nam) Trần Trọng Đạt tổng quản Nam Ninh Tạ Hữu Khuê, tổng quản Diên Lan Bồ Tý Thành đem số thuyền riêng là 120 chiếc và hơn 1.700 quân người Lê giúp đạo quân đánh Đại Việt thì Hốt Tất Liệt liền ban hổ phù cho Trọng Đạt, kim phù cho Hữu Khuê và Tý Thành14.

        Tên vua Nguyên đã chuẩn bị khá chu đáo cho cuộc chiến tranh xâm lược nhưng hắn vẫn e ngại trước sức mạnh của Đại Việt. Hắn đã biết Đại Việt là “nước bé nhỏ thế mà sai thân vương đem quân tiến sâu vào, chưa từng thấy báo công. Toa Đô bại bị địch giết, tự lưu lại điều xấu hổ nhục nhã” như lời Lưu Tuyên nói15. Chính vì thế mà trước khi đạo quân xâm lược xuất phát, ngày Kỷ Tỵ tháng 8 âm lịch (19/9/1287), Hốt Tất Liệt đã chỉ thị cho Thoát Hoan và bọn A-gu-ruc-tri “không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường” 16.

----------------
1.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 5b chép việc này vào ngày Ất Mão tháng 10 (9-11-1286).

2.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 6a Abatri (Abači), Nguyên sử phiên âm là A. Bát Xích; Abači, tiếng Mông Cổ có nghĩa là “người đi săn”.

3.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. ga; q. 14 Bản kỷ t. 7a. “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” năm 1287 tức là “Chinh Giao Chỉ hành tỉnh” năm 1286 (xem trước). Thực ra, việc xâm lược các nước Đại Việt, Chiêm Thành là nhiệm vụ trực tiếp của hành tỉnh Hồ Quảng. “Hồ Quảng hành trung thư tỉnh” (gọi tắt là Hồ Quảng hành tỉnh) cũng có tên là “Kinh Hồ hành tỉnh" hay “Kinh Hồ - Chiêm Thành hành tỉnh” (phụ trách đánh Chiêm Thành) (xem Nguyên sử q. 122 Hổ Đô Thiết Mộc Lộc truyện) hoặc “An Nam hành trung thư tỉnh” (phụ trách đánh Đại Việt). “Chinh Giao Chỉ hành tỉnh” hay “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” thực chất cũng là Hồ Quảng hành tỉnh mà thôi. Bấy giờ, 1287, “Hồ Quảng hành trung thư tỉnh” cũng đổi ra “Hồ Quảng hành thượng thư tỉnh” (xem Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện).

4.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 7a chép việc này vào ngày Bính Tuất, tháng giêng (8-2-1287). Trình Bằng Phi là viên tướng Tống đã đầu hàng quân Mông Cổ năm 1274.

5.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9a; q. 14 Bản kỷ t. 7a. Phàn Tiếp là viên tướng đã theo A-ric Kha-y-a đánh Đại Việt năm 1284-1285, nhưng bấy giờ y chưa giữ chức tham tri chính sự (gọi tắt là tham chính) mà chỉ là thiêm tỉnh (xem Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện, t. 10a). Trong lần chiến tranh này, còn có viên tướng đã tham gia cuộc xâm lược Chiêm Thành trước đây là Khu-tu-khu (Quttuqu, Hốt Đô Hổ). Xem Nguyên sử q. 123 Thiệu Cổ Nhi truyện t. 3b.

6.   An Nam chí lược q. 4 chép là 10 vạn quân. Toàn thư chép là năm Bính Tuất (1286), vua Nguyên điều 50 vạn quân để đánh ta (q. 5, t. 52a). Năm 1287 khi quân Nguyên tiến vào, thì lại chép riêng khi chúng hội quân ở Vạn Kiếp số quân là 30 vạn (q. 5, t. 52b). Tổng số các loại quân chép ở Nguyên sử An Nam truyện là 92.000 chưa kể động binh.

7.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9a. Bản kỷ chép số quân tân phụ điều động vào ngày Đinh Hợi tháng giêng (9-2-1287) còn các số quân khác điều động ngày Tân Mão (13/2/1287) (q. 14, t. 7a).

8.   Nguyên sử, q. 209 An Nam truyện t. 9a; q. 122 Ái Lỗ truyện t. 8b.

9.   Nguyên sử, q. 209 An Nam truyện t. 9a.

10.   Nguyên sử An Nam truyện và Bản kỷ không nói đến động binh nhưng An Nam chí lược lại chép rõ 10 vạn quân là gồm “quân Mông Cổ và quân Hán của bốn tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, Vân Nam, Động binh Quảng Tây, Lê Binh Hải Nam” (q. 4 Chinh thảo vận hướng). Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi truyện chép rằng tháng 7 năm Chí Nguyên 24 (1287), Sic-tua (Šiktur, Nguyên sử phiên âm là Tích Đô Nhi) đã suất lĩnh động quân theo Thoát Hoan đánh Giao Chỉ. Bấy giờ y đang giữ chức Đa-ru-ga-tri phủ vạn hộ Hữu Giang (Quảng Tây) (t.9b).

11.   An Nam chí lược q. 4 chép nhầm là Lý Văn Hổ. Tân Nguyên sử q. 182 Trương Huyên truyện, t. 3a chép: “Năm 24 (1287), sai con (Chu) Thanh là Tế, con (Trương) Huyên là Văn Hổ, đều làm thiên hộ, chở 17 vạn thạch lương đánh Giao Chỉ”. Văn Hổ truyện (Thương Huyên truyện phụ) t. 5a chép: “Năm 24 (1287) (Văn Hổ) theo Trấn Nam vương đánh An Nam, trao chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ”. Chu Thanh và Trương Huyên đều là cướp biển đầu hàng Hốt Tất Liệt.

12.   An Nam chí lược q. 4 chép là 70 thuyền vận tải. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t.9a và q. 14 Bản kỷ, t. 7a chép là 17 vạn thạch lương. Toàn thư chép là 70 vạn thạch lương (q. 5, t. 51b).

13.   Theo Nguyên sử An Nam truyện và An Nam chí lược q. 4.

14.   Theo Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 10a chép việc này vào ngày kỷ hợi, tháng 9 (19-10-1287).

15.   Nguyên sử. q. 168 Lưu Tuyên truyện t.8a-8b.

16.   Nguyên sử, q. 14 Bản kỷ t. 10a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 05:04:59 pm

        Trong lúc Hốt Tất Liệt và bọn phong kiến Nguyên Mông ráo riết chuẩn bị gây chiến tranh ăn cướp như vậy, thì nước Việt bé nhỏ mà kẻ thù khiếp sợ cũng đang từng giờ từng phút chuẩn bị chiến đấu. Sau chiến thắng oanh liệt năm 1285 quét sạch bóng thù trên đất nước, nhà Trần vẫn giữ đường lối ngoại giao mềm dẻo như trước. Vua Trần lại cử các sứ bộ mang cống vật sang triều đình Nguyên. Tháng giêng năm Bính Tuất, niên hiệu Trùng Hưng thứ 2 (26/1 – 24/2/1286), vua Trần tha bọn tù binh Nguyên vừa bị bắt về nước1. Vương triều Trần hết sức nhân nhượng, muốn cho nhà Nguyên đỡ mất thể diện, mong tránh được cuộc chiến tranh báo thù. Nhưng dã tâm của kẻ địch càng ngày càng lộ rõ. Các sứ thần của ta đều bị Hốt Tất Liệt bắt giữ2. Trước thái độ khiêu khích của thẻ thù, toàn quân toàn dân Đại Việt đã hết sức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Khi được tin vua Nguyên lại chuẩn bị xâm lược thì việc tập dượt của quân đội ngày càng được đẩy mạnh. Tháng 6 năm Trùng Hưng thứ 2 (13/6 – 22/7/1286), Trần Nhân Tông ra lệnh cho tất cả vương hầu tông thất mộ thêm binh lính, chấn chỉnh lực lượng. Chiến thuyền, khí giới được gấp rút chế tạo, tu sửa; Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại được cử làm tướng chỉ huy chung, đôn đốc việc chuẩn bị của triều đình là vương hầu. Đến tháng 10 âm lịch năm đó (19/10 – 16/11/1286), một cuộc diễn tập lớn được tổ chức3. Tất cả các nơi hiểm yếu đều đã có quân đóng giữ. Biết tin kẻ thù chuẩn bị binh thuyền, nhà Trần đã tăng cường việc phòng thủ đường biển. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được phong làm phó tướng, đóng quân ở Vân Đồn (Hải Vân, cù lao Lợn lòi), phụ trách việc quân sự miền ven biển. Năm 1286 khi nghe tin vua Nguyên điều động quân sang xâm lược, Trần Nhân Tông đã hỏi Hưng Đạo vương: “Năm nay thế giặc ra sao?”. Hưng Đạo đã trả lời: “… Quân kia nếu lại đến thì quân sĩ của ta đã quen đánh trận, quân của chúng thì sợ đi xa, lại còn bị cái thất bại của Hằng, Quán đe dọa, không có chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là tất nhiên” 4. Câu nói đầy tin tưởng đó của vị tướng tổng chỉ huy cũng phản ánh được tình hình chuẩn bị kháng chiến. Với tinh thần “Sát Thát”, quyết tâm tiêu diệt địch, quân sĩ ta đã ra sức rèn luyện để có một kỹ thuật chiến đấu cao. Đầu năm 1287, khi quan chấp chính xin tuyển thêm quân, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã nói: “Quân quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở chỗ nhiều, như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng chẳng làm được gì5. Chính dựa vào tinh thần chiến đấu, sự rèn luyện của quân dân và kế hoạch chống giặc của mình mà khi kẻ thù xâm phạm Tổ quốc, Trần Quốc Tuấn đã quả quyết nói với nhà vua rằng: “Năm nay đánh giặc dễ” 6.

        Tin chắc ở thắng lợi cuối cùng, nhân dân Đại Việt sẵn sàng chiến đấu trong cuộc chiến tranh mới. Đã đến lúc Hốt Tất Liệt liều lĩnh thực hiện kế hoạch xâm lược của hắn. Lần tấn công này cũng như lần chiến tranh trước, Hốt Tất Liệt đã cho một mũi quân tiến từ Vân Nam xuống và một mũi quân tiến vào biên giới Lạng Sơn, nhưng khác với lần trước, hắn còn cho một mũi thủy quân vượt biển, tiến vào theo đường sông Bạch Đằng.

        Ngày 3 tháng 9 năm Đinh Hợi (11/10/1287), quân Nguyên dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan là A-gu-ruc-tri xuất phát từ Ngạc Châu (Hồ Bắc) 7. Ngày Ất Dậu 28 tháng 10 (4/12/1287) đến huyện Lai Tân (Quảng Tây), Thoát Hoan cho tách quân thủy bộ8. Thoát Hoan đi với đoàn bộ binh. Trần Ích Tắc cũng được Thoát Hoan đem về theo9. A-ba-tri với một nghìn quân tiếp tục dẫn đường đưa Thoát Hoan đến châu Tư Minh10. Ngày Kỷ Hợi 13 tháng 11 (18/12/1287) đến Tư Minh, Thoát Hoan dừng lại chấn chỉnh đội ngũ. Hắn sai viên vạn hộ Hạ Chỉ cùng với 2.500 quân ở lại giữ xe cộ quân nhu11. Một số tướng tá và bọn Việt gian Lê Trắc cũng ở lại để vào sau12. Ngày Bính Ngọ 20 tháng 11 (25/12/1287), Thoát Hoan tiến quân đến con sông ở biên giới. Quân ta tiến lên đánh rồi rút ngay13. Ngày Canh Tuất 24 tháng 11 (29/12/1287), Thoát Hoan đến Lộc Châu (Lộc Bình, Lạng Sơn), chia quân làm hai cánh14 tiến xuống theo hai con đường phía tây và phía đông như trong cuộc chiến tranh vừa qua. Trình Bằng Phi và Bôn-kha-đa (Bolqadar) đem một vạn quân Hán tiến theo con đường phía tây từ Vĩnh Bình đến Chi Lăng, tức theo con đường quốc lộ số 1 ngày nay. Trong cuộc chiến tranh trước, năm 1285, Bôn-kha-đa cũng đã tiến quân theo con đường này15. Thoát Hoan chỉ huy số quân còn lại đi theo con đường phía đông tức con đường từ Lộc Bình (Lạng Sơn) đi Sơn Động (Hà Bắc) ngày nay16. Năm 1285, chính Thoát Hoan đã tiến theo con đường này cùng với A-ric Kha-y-a. Bây giờ, viên bình chương A-gu-ruc-tri dẫn một vạn quân đi cùng Thoát Hoan. A-ba-tri đem một vạn quân đi tiên phong17.

        Cánh quân phía tây của Trình Bằng Phi và Bôn-kha-đa tiến qua các cửa quan Chi Lăng, Hãm Sa, Từ Trúc, đánh nhau với quân ta tất cả 17 trận18. Ngày 24 tháng 11 (29/12/1287), quân Nguyên tiến đánh cửa Lãnh Kinh. Hưng Đức hầu Quán chỉ huy cấm quân dùng tên độc bắn. Quân giặc chết rất nhiều, phải lui về đóng ở cửa Vũ Cao19. Cánh quân của Thoát Hoan và A-gu-ruc-tri sau khi tiến qua các cửa quan trên con đường phía đông như Nữ Nhi, Khả Lỵ…, ngày Giáp Dần 28 tháng 11 (2/l/1288) đã đến Vạn Kiếp20. Đi 4 ngày từ Lộc Châu đến Vạn Kiếp, rõ ràng cánh quân này đã tiến khá nhanh. Có lẽ đã nắm chắc được đây là con đường tiến quân của cánh quân mạnh nhất do Thoát Hoan và A-gu-ruc-tri trực tiếp chỉ huy nên Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chỉ cho tướng sĩ đánh kìm chân giặc ở một số cửa ải rồi rút lui nhanh để bảo toàn lực lượng tránh va chạm lớn với địch21.

        Cánh quân Vân Nam do viên hữu thừa A-ruc (Aruq) chỉ huy đã ra đi trước ngày đạo quân Thoát Hoan đến Tư Minh, từ Trung Khánh (Côn Minh, Vân Nam) qua vùng các dân tộc Lô Lô (tức người Di), Bạch Y (tức người Thái) để vào biên giới Đại Việt22. Ngày Nhâm Thìn, 6 tháng 11 (11/12/1287) A-ruc cùng với chư vương A-tai (Atai) và Mang-khu-đai (Mangqudai) đã tiến đến Bạch Hạc, đánh nhau với 4 vạn quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở cửa quan Mộc Ngột (Việt Trì). Trong trận này, quân ta bị mất một số thuyền, tướng Trần là Lê Thạch và Hà Anh bị giặc bắt23. Quân A-ruc tiếp tục tiến. Ngày 14 tháng 11 (19-12-1287) chúng đánh vào cửa quan Phú Lương24.

---------------
1.   Toàn thư q. 5, t. 50b. Trần đại vương bình Nguyên thực lực chép rằng nhà Trần đã khắc chữ lên mặt 5 vạn hàng binh rồi cho về, răn rằng kẻ nào lại sang, nếu bắt được thì chém (Toàn thư q. 5, t. 49b chép là sau khi chém Toa Đô, ta bắt được hơn 5 vạn tù binh).

2.   Xem thư vua Trần trong Thiên Nam hành ký đã dẫn ở trên. Sau khi sứ bộ Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh bị giữ năm 1286, 27/10/1287 sứ ta là trung đại phu Nguyễn Văn Ngạn, thông thị đại phu Lê Trọng Khiêm sang cống phương vật (Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 10b) An Nam truyện chép là trung đại phu Nguyễn Văn Thông, chắc là chép nhầm hai người làm một. An Nam chí lược q. 14 chép là Nguyễn Văn Ngạn, Bạch Xá đi cống và Văn Ngạn bị giữ lại vài năm mới được thả về.

3.   Toàn thư q. 5, t. 51a-51b.

4.   Toàn thư q. 5, t. 51a-51b.Xem chú thích về Lý Quán ở chương VI.

5.   Toàn thư q. 5, t. 52a. Ở đây, Trần Quốc Tuấn muốn nhắc đến trận sông Phì trong lịch sử Trung Quốc. Năm 383, Bồ Kiên, vua Tiền Tần (một nước do tộc Đê lập nên ở Bắc Trung Quốc) đã kéo gần một trăm vạn quân đánh Đông Tấn (Hán tộc). Tướng Tấn là Tạ Thạch, Tạ Huyền đã đánh tan tác quân Tiền Tần ở sông Phì. Bồ Kiên phải bỏ trốn về Lạc Dương, thu thập tàn quân, chỉ còn mười mấy vạn.

6.   Toàn thư q. 5, t. 52a.

7.   An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng và q. 19 Tự sự.

8.   An Nam chí lược q. 4.

9.   An Nam chí lược q. 13.

10.   Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện, t. 2a chép: “Tháng 9 (Chí Nguyên 24), đem một nghìn trung vệ thân quân dẫn đường cho hoàng tử Thoát Hoan đến châu Tư Minh”.

11.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 11b; Nguyên sử q. 166 Hạ Chỉ truyện t. 7a; Nguyên sử q. 209 An Nam chí lược t. 9a.

12.   An Nam chí lược q. 19 Tự sự.

13.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 11b chép: ngày Bính Ngọ Trấn Nam vương đến Giới hà. Giao Chỉ phát quân chống giữ. Quân tiền phong đánh phá được”. Sau đó Thoát Hoan tiến đến Mộc Cháu. Giới hà có thể hiểu là sông biên giới, có lẽ là chỉ sông Kỳ Cùng.

14.   An Nam chí lược q. 4 An Nam chí lược chép ngày Canh Tuất là ngày 23 tháng 11. Ngày Canh Tuất là ngày 24 mới đúng. Ngày 23 là ngày Kỷ Dậu.

15.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9a chép là Trình Bằng Phi và Bôn Kha Đa (Bolqadar, Bột La Hợp Đáp Nhi) “theo Vĩnh Bình đường phía tây”. An Nam chí lược q. 4 chép: “Hữu thừa Trình Bằng Phi (bản in sót chữ Phi - T. G), tham chính Bột (bản đã in lầm chữ Bột thành chữ Sách- T.G) -la - (hợp) - đáp - nhi theo ải Chi Lăng. Như vậy là cánh quân này tiến theo đường Vĩnh Bình đến Chi Lăng, tức theo quốc lộ số 1 hiện nay. Xem chương VI.

16.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. ga chép A-gu-ruc-tri và Thoát Hoan “tiến theo ải Nữ Nhi đường phía đông”. An Nam chí lược q. 4 chép: “Đại quân của vương (chỉ Thoát Hoan - T.G) theo ải Khả Lỵ” Ái Khả Ly và ải Nữ Nhi đều nằm trên con đường vòng từ Lộc Bình đi Sơn Động ngày nay. Xem chương VI.

17.   An Nam chí lược q. 4; Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t.9a.

18.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện chép: “Trình Bằng Phi và Bôn-kha-đa qua ba cửa quan Lão Thử, Hãm Sa, Từ Trúc”. Cửa Lão Thử tức cửa Chi Lăng (An Nam chí lược q. 4). Cửa quan Từ Trúc có lẽ là cửa quan Thích Trúc mà Trần Phu, sứ Nguyên năm 1292, đã chép đến. Trong Cương Trung thi tập q. 2 Giao Châu ccảo, Trần Phu chép rằng: “Từ cửa quan Lão Thử đi về phía tây có các ngọn núi nhô lên đẹp đẽ… gồm 30 dặm đến Thích Trúc quan (cửa tre gai), dưới có quân đóng giữ, trên cửa quan hai núi giao nhau, chỉ thông được đường ngựa đi, tre lớn chu vi hai thước, trên có gai nhọn. Đó là nơi trấn hiểm của nước ấy”. Như vậy cửa quan này ở tây nam Chi Lăng, có lẽ ở trong đất huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) ngày nay. Cửa Hãm Sa hẳn là ở giữa Chi Lăng và Từ Trúc.

19.   Toàn thư q. 5, t. 52a.

20.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 11b.

21.   Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện, t. 2a chép A-ba-tri “tuyển quân tinh nhuệ, đánh nhau với giặc (chỉ quân Đại Việt - T.G) ở cửa Nữ Nhi, chém đầu kể hàng vạn, quân còn lại bỏ cửa quan chạy”. Đấy chỉ là sự khoa trương của Nguyên sử vì lần này Quốc Tuấn đã rút được kinh nghiệm trong kế hoạch phòng thủ tác chiến.

22.   Nguyên sử q. 122 Ái Lỗ truyện (Tích Lý Kiềm Bộ truyện phụ) t. 8b chép: “Năm (Chí Nguyên 24) (1287)… Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, chiếu cho A-ruc (Á Lỗ, Aruq) đem 6 nghìn quân đi theo, từ La La đến Giao Chỉ. Nguyên sử q. 15 Bản kỷ chép: “Hữu thừa tỉnh Vân Nam là A-ruc (Ái Lỗ) tâu rằng từ lúc xuất phát ở Trung Khánh qua La La, Bạch Y vào Giao Chỉ, đi về đánh 38 trận. La La là phiên âm tên tộc Lô Lô. Bạch Y tức người Thái.

23.   An Nam chí lược q. 4 chép: “Hữu thừa Ái Lỗ (Arup) cũng từ Vân Nam tiến quân đến Tam Đại Giang, đánh nhau với em (vua) là Trần Duật, bắt được tướng Hà Anh, Lê Thạch”. Nguyên sử q. 149 Mang Cổ Đái truyện (Da Luật Thốc Hoa truyện phụ) chép rằng Mang-khu-đai (Mang Cổ Đái, Mangqudai) “theo chư vương A-tai (A Thai, Atai) đánh Giao Chỉ, đến sông Bạch Hạc, đánh nhau với Chiêu Văn vương của Giao Chỉ, cướp được 87 chiến hạm”. Nguyên sử q 14 Bản kỷ t. 11a chép: “Ngày Nhâm Thìn (tháng 11, Chí Nguyên 24) (11-12-1287), quân của hữu thừa tỉnh Vân Nam là A-ruc (Ái Lỗ) đến cửa Mộc Ngột đất Giao Chỉ. Tướng Giao Chỉ là Chiêu Văn vương đem 4 vạn người ra giữ. A-rúc phá được, bắt được tướng Lê Thạch, Hà Anh. Nguyên sử q. 122 Ái lỗ truyện t 8b cũng chép là A-ruc đánh nhau với Chiêu Văn vương ở cửa Mộc Ngột, bắt được Lê Thạch và Hà Anh. Như vậy, cánh quân của A Tai, Mang-khu-đai cũng là cánh quân của a-ruc, và tất cả các tài liệu trên cho ta biết cuộc chiến đấu của Trần Nhật Duật xảy ra ở Bạch Hạc. Tam Đại Giang trong An Nam chí lược là chỉ chỗ hợp lưu sông Thao, sông Lô và sông Đà, tức cũng là Bạch Hạc. Vậy cửa Mộc Ngột cũng ở vùng này. Toàn thư có chép rằng trước khi đánh thành Đa Bang của nhà Hồ, “quân Minh cướp bờ sông Mộc Hoàn ở Việt Trì”, “tập kích quân Hồ ở châu Mộc Hoàn rồi sau đó mới sang sông. Đồng Khánh địa dư chí (tỉnh Sơn Tây) có ghi tổng Mộc Hoàn xã Mộc Hoàn hay (Mộc Phàm) ở chỗ hợp lưu sông Hồng và sông Lô. Có lẽ Mộc Ngột là chép lầm từ Mộc Hoàn hay Mộc Phàm. Dựa vào Toàn thư, chúng tôi cho là ở Việt Trì.

24.   Toàn thư q. 5, t. 52a. Toàn thư lầm chư vương A Thai (A Tai) ra là thái tử.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 05:14:04 pm

        Trong khi các cánh quân bộ kỵ của Thoát Hoan và A-ruc ào ạt tiến vào Đại Việt thì thủy quân của giặc cũng đã lên đường. Sau khi tách khỏi đoàn quân Thoát Hoan ở Lai Tân ngày 28 tháng 10 âm lịch (4/12/1287), Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đi Khâm Châu. Từ đây, đoàn thuyền của chúng xuất phát. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem 1 vạn 8 nghìn quân; bọn Ô Vy, Trương Ngọc, Lưu Khuê đem vài vạn quân. Trương Văn Hổ đi với thuyền lương. Ngày Mậu Tuất, 12 tháng 12 (17/12/1287), chiến thuyền của bọn Ô Mã Nhi tiến trước1. Mấy ngày sau, thuyền giặc qua cửa biển Vạn Ninh Móng Cái) 2. Đến Ngọc Sơn, chúng gặp tướng Nhân Đức hầu Trần Da phục binh ở trên núi chặn đánh. Chiến thuyền giặc vây núi đánh lại và qua được cửa Ngọc Sơn3. Sau đó, thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp tiến vào cửa An Bang (Quảng Yên). Ở đây, thủy quân Đại Việt có giao chiến với binh thuyền của giặc nhưng bị tổn thất, phải rút lui, không ngăn chặn được bước tiến của chúng4. Ô Mã Nhi sau khi qua được cửa An Bang, đã theo sông Bạch Đằng tiến về phía Vạn Kiếp. Hắn tưởng rằng quân ta không thể ngăn trở đoàn thuyền lương đi sau được nữa nên cứ tiến thẳng, không chú ý đến Trương Văn Hổ5.

        Nghe tin quân ta thất lợi, thượng hoàng Thánh Tông cho người đến đòi Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, tướng phụ trách vùng bờ biển, về triều hỏi tội. Khánh Dư đã xin khất ít lâu để lập công vì ông nghĩ rằng đoàn chiến thuyền của giặc đã đi qua, có thể đánh đoàn thuyền lương một cách dễ dàng, Khánh Dư đã củng cố lực lượng đón địch6. Quả nhiên mọi việc đã xảy ra đúng như dự đoán của người tướng mưu trí đó. Tháng 12 âm lịch (5/1 – 2/2/1288), đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ không có lực lượng chiến đấu mạnh mẽ yểm hộ, đã chậm chạp tiến vào Hạ Long, lọt vào trận địa của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Thủy quân ta đã tập kích giặc ở Vân Đồn (Vân Hải). Trương Văn Hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến biển Lục Thủy (Cửa Lục, Hòn Gai) thì thuyền quân ta đổ ra đánh càng đông, Trương Văn Hổ đại bại, đổ cả thóc xuống biển, trốn chạy về Quỳnh Châu (Hải Nam). Thuyền lương của Phí Củng Thìn thì tháng 11 âm lịch (6/12/1287 – 4/l/1288) mới đến Huệ Châu (huyện Huệ Dương, Quảng Đông), gặp gió bão, trôi giạt đến Quỳnh Châu. Thuyền lương của Từ Khánh thì trôi giạt đến tận Chiêm Thành rồi cũng về Quỳnh Châu7. Quân ta chiến thắng, “bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất đông” 8. Theo Nguyên sử, địch chết 220 tên, thuyền mất 11 chiếc, lương mất hơn 14.300 thạch9. Con số đó chắc chắn còn xa với thực tế vì Trương Văn Hổ chỉ chạy thoát trên một chiếc thuyền10. Chiến thắng Vân Đồn có một ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ cuộc kháng chiến lần thứ ba của quân dân ta. Từ đó, vấn đề lương thực trở lên vô cùng khó khăn đối với kẻ thù.

-----------------
1.    Đoạn này theo An Nam chí lược q. 4 An Nam chí lược chép ngày 11 là ngày Mậu Tuất là lầm. Ngày 12 mới là ngày Mậu Tuất.

2.   An Nam chí lược q. 4 chép “Ngày 11 (chữa là 12) tháng 11 là ngày Mậu Tuất, chu sư tiến trước, qua của Vạn Ninh…”. Chúng tôi cho rằng đó là ngày xuất phát ở Khâm Châu. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 11b chép rằng ngày Tân Sửu, 15 tháng 11 (20/12/1287), Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp mới vào Giao Chỉ.

3.   An Nam chí lược q. 4 chép: “Ngày 14 (chữa là 12) tháng 11 là ngày Mậu Tuất (17/12/1287), chu sư tiến trước, qua cửa Vạn Ninh, tướng quân kia (chỉ Đại Việt -T.G) là Nhân Đức hầu Trần Da phục binh ở Lãng Sơn định cắt hậu quân ta. Ta biết được, lập tức đang đêm vây núi, mờ sáng đánh cho thua chạy, chết đuối vài trăm người, thuyền bị bắt vài chục. Ô Mã Nhi thẳng tiến đi trước, không nghĩ đến thuyền lương ở sau. Mất viện, lương hãm”. Toàn thư q. 5 t. 52b chép: “Ngày 28 (tháng 11) (2/1/1288) phán thủ Nhân Đức hầu Toàn đem chu sư đánh ở vụng Đa Mô (Đa Mô loan), giặc chết đuối rất nhiều, bắt được 40 tên, thuyền ngựa và khí giới đem dâng”. Chúng tôi cho rằng Nhân Đức hầu Trần Da và Nhân Đức hầu Toàn là một người (vì cùng chiến đấu trong vùng biển Quảng Ninh, và nhất là không thể có hai người khác nhau lại cùng một tước hiệu trong cùng một thời). Lãng Sơn trong An Nam chí lược chắc là Ngọc Sơn. Nguyên sử q 209 An Nam truyện chép là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp qua cửa Ngọc Sơn (Mũi Ngọc, Móng Cái). Có lẽ trận Lãng Sơn chép trong An Nam chí lược và trận Đa Mô chép trong Toàn thư là một trận, tuy tài liệu của Lê Trác thì nói địch thắng, còn Toàn thư thì nói quân ta thắng. Trận Lãng Sơn xảy ra vào khoảng từ 15, 16 đến 20 tháng 11. Toàn thư chép trận Đa Mô vào ngày 28 tháng 11, có thể đấy là ngày Nhân Đức hầu đem dâng tù binh và chiến lợi phẩm, cũng là ngày triều đình được tin chiến thắng, nghĩa là sau trận đánh ít lâu. Cũng có thể là Trần Da (hay Trần Toàn) ban đầu không thắng Ô Mã Nhi mà sau mới đánh thắng đoàn thuyền lương một trận nhỏ. An Nam chí lược q. 4 có câu: “Tướng liệu thủy đạo nói thuyền lương hai lần vào đều bị hãm” như vậy có thể một lần bị Trần Da đánh, một lần bị Khánh Dư đánh.

4.   Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện t. 10a chép: “Tiếp cùng tham chính Ô Mã Nhi đem chu sư vào biển, gặp thuyền giặc ở cửa An Bang. Tiếp đánh chém hơn 4.000 thủ cấp và bắt sống hơn trăm người bắt được hơn trăm chiếc thuyền, binh trượng vô sổ”.

        Nguyên sử q. 209 An Nam truyện cũng chép tương tự. Bia Lý Thiên Hựu, viên quan giữ văn thư di theo đoàn thuyền của Ô Mã Nhi, do Tô Thiên Tước (1293-1352) soạn, lại chép “Năm đó (Chí Nguyên 24, 1287) quân hội ở Liêm Châu, đi thuyền ra biển, đến An Bang, gặp người Giao, chém đầu hơn hai nghìn, bắt được hơn 60 chiếc thuyền” (xem Tô Thiên Tước: Từ Khê văn cảo q. 18 Cố thừa sụ lang Tượng sơn huyện đoàn Lý hầu mộ bi). Những tài liệu phía địch trên đây chép số thiệt hại của ta khác nhau, điều đó càng chứng tỏ các tài liệu ấy đã khoa đại con số thực tế. Tuy nhiên, việc “Khánh Dư đánh thất lợi”, Thánh Tông cho gọi về chép trong Toàn thư cũng chứng tỏ quân ta có tổn thất.

5.   An Nam chí lược q. 4.

6.   Toàn thư q. 5, t. 52b-53a chép: “Tháng 12 (năm Trùng Hưng 3)… lúcc chu sư của Nguyên phạm vào Vân Đồn, Hưng Đạo vương giao việc biên giới cho phó tướng Nhân Huệ vương Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi. Thượng Hoàng nghe thấy sai trung sứ đến bắt Khánh Dư đánh về cửa khuyết. Khánh Dư nói với trung sứ rằng: “Lấy quân pháp mà xét thì cam chịu tội nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công sau rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn”. Trung sứ theo lời xin đó. Khánh Dư liệu biết quân địch đã qua, thuyền vận tải tất ở sau nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, (Khánh Dư) đánh bại, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều. Lập tức chạy ngựa mang thư về báo. Thượng hoàng tha tội trước không hỏi đến”.

7.   Theo Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b-10a An Nam truyện chép rõ là trận Vân Đồn - Cửa Lục xảy ra vào tháng 12 âm lịch: “Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm ngoái (chỉ năm Chí Nguyên 24, vì chỗ này chép vào tháng 3 năm Chí Nguyên 25) đến Đồn Sơn (tức Vân Đồn-T.G) gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ đánh, số giết được tương đương nhau. Đến biển Lục Thủy (Nguyên sử chép là Lục Thủy dương), thuyền giặc thêm nhiều, liệu không thể địch nổi mà thuyền lại nặng không thể đi được nên đổ thóc xuống biển rồi đi Quỳnh Châu…”. Toàn thư q. 5, t. 52b cũng chép trận Vân Đồn vào tháng 12 tuy không rõ ngày nhưng lại chép sau một sự kiện khác vào ngày 30 tháng 12 âm lịch (chú ý là năm đó tháng 12 âm lịch không có ngày 30). Theo Nguyên sử (An Nam truyện và Phàn Tiếp truyện) thì Ô Mã Nhi đánh nhau với thủy quân ta vào tháng 11 âm lịch. Trận thắng Trương Văn Hổ xảy ra vào tháng 12.

        Tin thất trận về đến triều có lẽ vào khoảng cuối tháng 11 và khi sứ giả của Thánh Tông đến chỗ Khánh Dư thì vào đầu tháng 12. Chiến thắng Vân Đồn hẳn là vào đầu tháng 12 chứ không phải là cuối tháng 12. Cần chú ý là trận Vân Đồn xảy ra vào lúc quân Nguyên từ Trung Quốc tiến sang chứ không phải vào lúc Ô Mã Nhi đem thuyền đi đón Trương Văn Hổ như trong một số tài liệu hiện nay. Tân Nguyên sử q. 182 Trương Văn Hổ truyện t. 5a chép: “Năm (Chí Nguyên) 24 (1287) theo Trấn Nam vương đánh An Nam, trao chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ, đeo hổ phù, chở lương đến Tùng Bách Loan, đón đánh, giặc thua chạy. Vương bàn bãi binh, lấy Văn Hổ đi đoạn hậu, toàn quân mà về. Tùng Bách Loan chắc cũng chỉ vùng Cửa Lục nhưng ở đây có điều sai lầm là nói Văn Hổ gặp được Thoát Hoan và sau đó cũng cùng rút về.

8.   Toàn thư q. 5, t. 53a.

9.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10a.

10.   An Nam chí lược q. 4 chép rằng: “Trương Văn Hổ trước khi gặp địch ở cửa An Bang, lương hãm, đi thuyền đơn chạy về Khâm Châu”. Phải là Quỳnh Châu mới đúng.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 05:21:29 pm

        Vào cuối tháng 11 âm lịch (đầu tháng 1-1288), khi Thoát Hoan tiến quân đến Vạn Kiếp thì cánh quân phía tây của Trình Bằng Phi và cánh thủy quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp cũng đến hội ở đây1.

        Nếu trong cuộc kháng chiến trước, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã tập trung một binh lực rất lớn để giữ Vạn Kiếp thì lần này, lực lượng phòng thủ ở đây rất ít và đã rút lui an toàn trước sức tấn công của giặc. Trái lại, tên tướng Mông Cổ Thoát Hoan lại muốn biến vùng Vạn Kiếp thành một căn cứ vững chắc rồi mới tiến quân. Có lẽ đó là vì hắn rút kinh nghiệm lần chiến tranh trước, khi hắn đã tiến vào Thăng Long thì Trần Quốc Tuấn lại đem binh thuyền trở về đóng ở Vạn Kiếp. Lần ấy, bị uy hiếp, hắn đã hoảng sợ, phải xin Hốt Tất Liệt tăng viện. Giờ đây, khi tiến đến Vạn Kiếp, hắn đã sai Lưu Uyên đem hai vạn quân thủy bộ đánh chiếm sông Vạn Kiếp (sông Lục Đầu) và thành Linh Sơn ở núi Chí Linh2. Sic-tua được lệnh của A-ba-tri, đem quân chiếm thành chữ nhất3. Ngày Kỷ Vị, 3 tháng chạp (7/1/1288) Thoát Hoan tiến đến Tứ Thập Nguyên4. Vì chưa thấy thuyền lương của Trương Văn Hổ, Thoát Hoan phải sai Ô Mã Nhi đem quân cướp lương thực của nhân dân. Thoát Hoan lại sai Trình Bằng Phi, A-li (‘ALī), Lưu Giang chỉ huy hai vạn quân giữ Vạn Kiếp và làm thành trại bằng gỗ ở núi Phả Lại, núi Chí Linh để chứa lương5.

        Như vậy là Thoát Hoan dựa vào vị trí thuận lợi của sông Lục Đầu, đã xây dựng các cứ điểm trên các ngọn núi dọc hai bên sông, biến vùng này thành một khu căn cứ cho cả quân bộ lẫn quân thủy. Trong khi đó thì quân ta đã rút khỏi hệ thống phòng thủ này, tránh được thế bị kẹp giữa ba gọng kìm xảo quyệt của kẻ thù. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn cho lui quân về giữ vùng sông Đuống để ngăn giặc tiến về Thăng Long. Ngày 16 tháng 12 âm lịch (10/1/1288), vua Trần sai minh tự Nguyễn Thức đem quân dũng nghĩa Thánh dực đến giữ cửa Đại Than (cửa sông Đuống thông với sông Lục Đầu) giúp thêm cho Hưng Đạo vương6. Ngày 18 tháng 12 (21/1/1288) Thoát Hoan đến cảng Mao La, đánh nhau với Hưng Đạo vương. Sau đó Thoát Hoan lại đánh trại Phù Sơn7. Đấy là những trận để mở rộng và củng cố khu căn cứ Vạn Kiếp của Thoát Hoan.

        Đến ngày 23 tháng 12 (27/1/1288), Thoát Hoan mới bắt đầu chia quân tiến về phía Thăng Long8. Ô Mã Nhi chỉ huy thủy quân, A-ba-tri chỉ huy lục quân tiến lên trước9. Phàn Tiếp đem chiến thuyền hộ vệ Thoát Hoan tiến theo dọc sông Đuống. Ngày 26 tháng 12 (30/1/1288) minh tự Nguyễn Thức lấp cửa sông Đuống, đánh nhau với giặc. Quân giặc bị thua nhưng sau đó chúng lại tiến được về phía Gia Lâm. Ở đây, chúng lại gặp phục binh của ta nhưng rồi quân ta lại rút lui và thuyền giặc tiến ra sông Hồng10.

        Khi thấy các cánh quân của Thoát Hoan đã tiến về phía Thăng Long, bọn quân Nguyên còn lại ở Tư Minh cùng với bọn Lê Trác cũng tiến vào Lạng Sơn. Đó là 5 nghìn dư binh của các cánh do bọn tỉnh đô sự hầu Sư (hay Đô), vạn hộ Đạt (không rõ tên), thiên hộ Tiêu chỉ huy. Bọn Việt gian thì gồm có Lê Trắc, thiêm sự Nguyễn Lĩnh, phủ phán Lê Án và con trai của Trần Ích Tắc là Dục, mới lên 9 tuổi11. Chúng tiến theo con đường mà Thoát Hoan và A-gu-ruc-tri đã đi qua. Có lẽ bọn xâm lược và bán nước này tưởng rằng những đội quân kỵ và chiến thuyền của Thoát Hoan tiến xa về phía Thăng Long kia đã mở đường cho chúng xâm nhập vào biên giới Đại Việt một cách dễ dàng. Nhưng bọn chúng không hiểu được rằng quân Trần tránh những mũi nhọn của địch không có nghĩa là rút lui toàn bộ, để tất cả đất đai lọt vào tay giặc. Dưới sự chỉ huy tài tình của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, một bộ phận quân ta rút lui để bảo toàn lực lượng chờ cơ hội phản công, trong khi đó, một bộ phận khác chỉ là tạm lánh, để cho đại quân của giặc đi qua rồi trở lại hoạt động ở vùng sau lưng địch. Hoạt động chiến đấu của những cánh quân này phối hợp với nhân dân địa phương đã làm cho kẻ thù hoảng sợ ngay từ cuộc chiến tranh trước. Hẳn một phần vì lý do đó mà lần này bọn Thoát Hoan, A-gu-ruc-tri đã cho xây dựng căn cứ Vạn Kiếp - Phả Lại - Chí Linh, hòng khống chế ở các vùng chúng đã vượt qua. Nhưng kẻ thù đã thất bại trong việc thực hiện âm mưu đó. Khắp mọi nơi, ở những vùng sau lưng địch, quân ta vẫn hoạt động được Ngay ở phía trên vùng Vạn kiếp, trong lưu vực sông Lục Nam ngày nay, một cánh quân ta vẫn tiếp tục hoạt động. Chính cánh quân này đã chặn đánh 5 nghìn quân Nguyên cùng bọn Lê Trắc tiến vào sau.

---------------
1.    Nguyên sử, q. 14 Bản kỷ t. 11b: “Ngày Giáp Dần (tháng 11) (2/1/1288) Trấn Nam vương đến Vạn Kiếp, tất cả các quân đều hội”. Các quân nói ở đây là cánh quân Trình Bằng Phi và cánh quân thủy Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, vì sau đó Thoát Hoan có sai phái các tướng này. Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện cũng chép là Phàn Tiếp lên hội với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp. Còn cánh quân Vân Nam của A-ruc thì không về Vạn Kiếp.

2.   Nguyên sử q. 152 Lưu Uyên truyện (Lưu Thông truyện phụ) t. 4b: “Năm (Chí Nguyên) 24, theo đi đánh Giao Chỉ, Trấn Nam vương Thoát Hoan sai đem hai vạn quân thủy bộ đánh sông Vạn Kiếp, bắt được 16 người, tiếp đó đánh thành Linh Sơn”. Sông Vạn Kiếp nói ở đây là chỉ sông Lục Đầu. Linh Sơn tức là Chí Linh Sơn mà An Nam truyện và An Nam chí lược nói đến. Núi Chí Linh là dãy núi ở tả ngạn sông Lục Đầu, thuộc đất huyện Chí Linh, Hải Hưng ngày nay. Nguyên sử thường chép là quân Nguyên thắng trong các trận đánh và thường khoa đại con số tổn thất của ta. Nhưng ở đây, việc đem 2 vạn quân mà bắt được 16 người, dầu đã khoa đại cũng cho ta biết là quân Trần đã rút lui bảo toàn lực lượng.

3.   Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi truyện t. 9b. Thành chữ nhất (nhất tự thành) có lẽ là thành dọc theo bờ sông Lục Đầu vì Nguyên sử chép Sic-tua (Siktur, Tích Đô Nhi) có bắt được 7 chiến thuyền của ta trong trận này.

4.   An Nam chí lược q. 4: Chưa rõ Tứ Thập Nguyên ở đâu, chắc là ở gần Vạn Kiếp.

5.   Theo An Nam chí lược q. 4 và Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b.

6.   Toàn thư q. 5, t. 52b. Đại Than là tên xã ở huyện Gia Bình (Bắc Ninh), gần chỗ sông Đuống chảy ra sông Lục Đầu. Vậy cửa Đại Than là cửa sông Đuống.

7.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 12a; q. 209 An Nam truyện t. 9a. Không thể xác định được cảng Mao La và trại Phù Sơn là ở đâu, nhưng bấy giờ Hưng Đạo vương hoạt động ở vùng sông Đuống và hữu ngạn sông Lục Đầu. Cảng Mao La có lẽ là một ngách sông nào đó vùng gần Lục Đầu, còn Phù Sơn có lẽ là tên một núi ở hữu ngạn sông này.

8.   An Nam chí lược q. 4.

9.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b.

10.   An Nam chí lược q. 4 chép “(Tháng 12) ngày Kỷ Mão, 23 (27/1/1288), Trấn Nam vương lại chia quân tiến đánh. Thủy quân của Phàn tham chính theo vương đến Bắc Giang. Địch chắn cửa sông, phục quân ở Diệp Lâm, đánh thua chạy, chu sư ra Lô Giang. Theo Toàn thư, q. 5, t. 52b thì ngày 26 tháng 12, Nguyễn Thức gặp giặc ở cửa Đại Than, đánh bại chúng. Bắc Giang thời Trần là đất Bắc Ninh, Bắc Giang còn là tên cửa sông Đuống (xem Toàn thư, Thuận Thiên 1, 1010). Từ Vạn Kiếp, thuyền giặc tiến ra sông Lô (tức sông Hồng), tất nhiên đi theo sông Đuống. Trận chặn cửa sông Bắc Giang chép ở An Nam chí lược đúng là trận cửa Đại Than ở Toàn thư, tức là trận cửa sông Đuống. Theo An Nam chí lược, quân ta lại phục binh ở Diệp Lâm. Diệp Lâm rõ ràng là chép lầm từ chữ Gia Lâm. Qua Gia Lâm (bấy giờ rộng tới bờ nam sông Đuống), giặc mới ra được sông Hồng.

11.   An Nam chí lược q. 4. Chinh thảo vận hướng và q.19 Tự sự.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 05:33:50 pm

        Ngày Giáp Thân 28 tháng 12 (1/2/1288), quân Nguyên và bọn Lê Trắc tiến vào cửa quan Nội Bàng1. Bị quân ta chặn đánh, bọn giặc đã đốt phá nhà cửa của nhân dân, bày trận quay lưng ra sông Bình Giang2 để chống lại. Quân ta đã anh dũng chiến đấu suốt một ngày một đêm. Đến canh năm, quân ta phá tan trận địch. Bọn tỉnh đô sự hầu Sư (hay Đô) cùng vài nghìn tên quân còn lại không biết đường chạy, bị ta tiêu diệt nốt. Lê Trắc thuộc đường dẫn bọn vạn hộ Đạt, thiên hộ Tiêu cùng với mấy tên Việt gian Nguyễn Lĩnh, Lê Án chạy trốn. Năm nghìn quân này đã bị tiêu diệt hết chỉ còn 60 kỵ binh. Quân ta tiếp tục truy kích. Lê Án ôm đứa bé con Ích Tắc trên lưng một con ngựa yếu, tụt lại sau, suýt bị quân ta bắt. Trắc phải đổi ngựa cho án rồi ra roi thúc ngựa chạy bán sống bán chết. Giữa đường, bọn chúng lại bị quân ta tập kích. Lần này, có lẽ Lê Trắc còn hoảng sợ hơn lần đi với Mang-lai Xi-ban, bị phục kích trên con đường Chi Lăng trong cuộc chiến tranh trước. Nỗi hoảng sợ đó sau này còn toát ra trong những dòng hồi ký của hắn: “Chật vật hiểm nghèo, muôn phần chắc chết, ngày chạy mấy trăm dặm, từ nửa đêm đến tảng sáng đến châu, vọng bái cửa khuyết, mừng tết năm Mậu Tý (!)”: Mồng một tết (3/2/1288), những tên sống sót ra khỏi biên giới đặt tiệc rượu mừng thoát chết rồi lủi thủi về Tư Minh3.

        Cùng những ngày cuối năm này, cánh quân Vân Nam của A-ruc cũng tiến về phía Thăng Long để phối hợp với Thoát Hoan đánh kinh đô4. Bấy giờ Thoát Hoan đang ở bên bờ sông Hồng. Vua Trần sai người chú chỗ Thoát Hoan đóng quân giả cầu hòa để dò xét tình hình địch. Thoát Hoan sai viên lý vấn quan Tra-gan (Čaan) “kể tội” vua Trần5. Sau đó, ngày Ất Dậu 29 tháng 12 (2/2/1288), Thoát Hoan cho quân vượt sông Hồng đánh vào Thăng Long6.

        Cũng như trong hai cuộc chiến tranh trước, quân dân Trần đã rút khỏi kinh thành, chỉ để lại một số ít binh sĩ chiến đấu cầm cự rồi cũng rút lui.

        Sau khi ra khỏi Thăng Long, vua Trần đem quân về đóng ở đồn Cảm Nam7 và các căn cứ dọc sông Hồng. Tháng giêng năm Mậu Tý (3/2 – 3/3/1288) Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem thủy quân dọc theo sông Hồng đuổi theo. Thoát Hoan tiến theo bờ phía tây, A-ba-tri không qua sông vào Thăng Long mà tiến theo bờ phía đông8. Trong khi đuổi theo, Ô Mã Nhi đã bắn tin đe dọa vua Trần: “Ngươi chạy lên trời ta theo lên trời, ngươi chạy xuống đất ta theo xuống đất, ngươi trốn lên núi ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước ta theo xuống nước” 9. Quân Thoát Hoan đánh vào đồn Cảm Nam10. A-ba-tri đánh vào ải Hàm Tử11. Vua Trần lại lui xuống cửa Hải Thị12. Khi quân Nguyên tiến đến thì vua Trần lại xuống miền hạ lưu sông Hồng.

        Trong khi tìm kiếm vua tôi nhà Trần, Ô Mã Nhi đã cho quân mặc sức tàn sát nhân dán, đốt phá nhà cửa, cướp bóc của cải. Hắn còn sục vào phủ Long Hưng (Tiên Hưng, Thái Bình), nơi có lăng mộ của họ Trần, cho khai quật lăng Trần Thái Tông để thỏa dã tâm báo thù lần thất bại trước của hắn13. Nhưng tìm khắp miền Thiên Trường (Nam Định), bọn giặc Vẫn không thấy vua Trần. Bấy giờ chúng mới được tin là vua Trần đã theo cửa Thiên Trường (cửa Giao Thủy) ra biển. Đến đây thì bọn chúng bị mất hút hẳn14.

        Không đuổi kịp vua Trần, ngày 4 tháng giêng âm lịch (6/2/1288), Thoát Hoan đem quân trở về Thăng Long15. Việc thiếu lương thực đã trở thành một nguy cơ nghiêm trọng đối với địch. Chưa biết thuyền lương đã bị đánh tan, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem thủy quân ra biển đón Trương Văn Hổ. Đồng thời Thoát Hoan sai bọn A-gu-ruc-tri và A-ba-tri chia đường đi cướp bóc để kiếm lương thực16. Bấy giờ, quân ta đã hoạt động ở nhiều nơi. Bọn giặc tiến đánh các trại Cá Trầm, Cá Lê, Ma Sơn, Nguy Trại của ta17. Síc-tua, viên tùy tướng của A-ba-ri trong tháng giêng âm lịch đã đến sát chỗ đóng quân của Hưng Đạo vương Quốc Tuấn và giao chiến với quân ta ở Tháp Nhi Sơn (Đồ Sơn) 18. Sau khi cướp bóc được một số thuyền bè và thóc gạo, A-ba-tri trở về Thăng Long19.

-----------------
1.  An Nam chí lược q. 4 An Nam chí lược q. 19 Tự sự chép là Nội Nha, rõ ràng là lầm từ chữ Nội Bàng. Của quan Nội Bàng ở vào khoảng Chũ (xem chương VI).

2.   Sông Bình Giang gần Nội Bàng, chúng tôi đoán định là sông Lục Nam.

3.   An Nam chí lược q. 4 và q. 19 Tư sư.

4.   Nguyên sử q. 122 Ái Lỗ truyện t. 8b chép: “Liền trong 3 tháng, đánh 18 trận lớn nhỏ thì đến vương thành, cùng chư quân hội chiến”. Thực ra chỉ là trong 2 tháng vì A-ruc (Ái Lỗ) đi từ đầu tháng 11 âm lịch đến cuối tháng 12 âm lịch thì đã gặp Thoát Hoan.

5.   Nguyên sử q. 137 Sát - hãn truyện t. 1a chép: “Năm (Chí Nguyên) 24, theo Trấn Nam vương đi đánh An Nam. Quân đến Lô Giang, thế tử An Nam sai thúc phụ đến quân môn tự trình bày là không có tội. Vương sai Sát - hãn kể tội để trách”. Sát Hãn là tên phiên âm của Tra-gan (Čaan). Chúng tôi cho rằng lần này cũng như lần cho Trần Khắc Chung đến trại giặc gần Thăng Long trong cuộc chiến tranh trước chỉ là giả vờ cầu hòa để dò xét tình hình địch. Tra-gan là người đã dịch bộ sử Mông Cổ (Tobči’an) ra tiếng Trung Quốc.

6.   An Nam chí lược q. 4 Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 12a.

7.   Nguyên sử q. 14 Bản kỷ 12a; q. 166 Phàn Tiếp truyện; q. 209 An Nam truyện. t. 9b; Nguyên sử tân biên và Tân Nguyên sử chép là Hám Nam. Ở dọc sông Hồng, nhưng chưa xác định được rõ vị trí hiện nay.

8.   An Nam chí lược q. 4.

9.   Từ Minh Thiện: Thiện Nam hành ký, bản Thuyết phu, t. 1b.

10.   Nguyên sử q. 209 t. 9b.

11.   An Nam chí lược q. 4.

12.   An Nam chí lược q. 4. Cửa Hải Thị, theo chúng tôi, là cửa sông Hải Triều (tức sông Luộc) chỗ giáp với sông Hồng. Xem chương VI.

13.   Toàn thư q. 5, t. 54a. Trong tờ biểu gửi Hốt Tất Liệt năm 1288, vua Trần có nói là trong lần xâm lược này, quân Nguyên đã “đốt phá hết chùa chiền trong nước, đào bới mồ mả tổ tiên, cướp giết người già trẻ con, tàn phá sản nghiệp của trăm họ, không sót điều tàn ác gì không làm” (Thiên Nam hành ký t. 1o). Trong bài Hành lục của Trương Lập Đạo làm trong dịp đi sứ sang ta năm 1291, có đoạn “Thế tử (chỉ vua Trần - T.G) nói: năm trước đại quân đến dây, đất phá nhà cửa, đào bới phần mộ đấng tiên nhân để xương cốt rơi rụng… Nói chưa hết lời, những người đi theo thế tử đều khóc…” (An Nam chí lược q. 3).

14.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b, Nguyên sử q. 15, Bản kỷ t. 1a.

15.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b và q. 15, Bản kỷ t. ra chép là Trấn Nam vương đuổi vua Trần không lúp, “đem quân trở về thành Giao Chỉ”. An Nam chí lược q. 4 chép: “Tháng giêng, ngày 4, Kỷ Sửu, vương trở về đồn cũ”.

16.   Nguyên sử q. 209 t. 9b chép: “Bọn A-gu-ruc-tri, A-ba-tri chia đường vào núi tìm lương thực”. Núi ở đây có lẽ không phải ở vùng trung thượng du Bắc Bộ mà chắc là chỉ một số nơi ở tỉnh Hải Dương, Hải Phòng ngày nay, vì bấy giờ A-ba-tri đang dẫn quân đến vùng này. Sic-tua, tướng dưới quyền A-ba-tri cũng tiến đến vùng gần cửa sông Thái Bình.

17.   Nguyên sử q. 209, t. 9b. Hiện nay chúng tôi chưa xác định được các địa điểm này. Nhưng bấy giờ, quân Trần quay về hoạt động trong miền Hải Dương, Hải Phòng, (Kiến An cũ). Chúng tôi cho rằng các địa điểm này cũng ở trong vùng đó. Cá Lê, Cá Trầm theo chúng tôi, là những tên phiên âm tiếng Việt, có thể là: Kẻ Lê (Lê Xá?), Kẻ Trầm (Kẻ Trần? Trần Xá?) (Thời Hồ, theo Việt kiệu thư, có tên Cá Chiêu thị).

18.   Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi (Šiktur) truyện t. 9a. Tháp Nhi Sơn ở đây tức là Tháp Sơn trong Nguyên sử An Nam truyện. Theo Nguyên sử Tháp Sơn ở quãng giữa cửa Đại Bàng (cửa Văn Úc) và cửa An Bang (Nam Triệu). Do đó chúng tôi cho rằng Tháp Sơn là Đồ Sơn ngày nay. Tên Đồ Sơn đã có từ thời Lý - Trần, nhưng có lẽ vì ở đây bấy giờ có chùa tháp, rừng núi (xem bài minh trên chuông chùa Vân Bản thời Trần ở Đồ Sơn) nên còn gọi là núi Tháp mà Nguyên sử chép là Tháp Sơn hay Tháp Nhi Sơn.

19.   Theo Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi truyện t. 9b thì sau trận Tháp Sơn (Đồ Sơn), Sic-tua (Tích Đô Nhi) mới “vào đô thành”. Sic-tua là tướng dưới quyền A-ba-tri. Như vậy, điều chép ở Nguyên sử q. 133 cũng phù hợp với việc A-ba-tri không vào Thăng Long mà đi thẳng xuống hạ lưu sông Hồng theo bờ phía đông. Sau khi cướp bóc lương thực, bọn chúng mới trở về Thăng Long. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b chép việc A-ba-tri cướp được thuyền bè thóc gạo vào tháng 2 âm lịch (4-3 - 1-4-1288), sau khi Thoát Hoan đã về Vạn Kiếp, nhưng chắc An Nam truyện đã chép gộp tất cả “công lao” của A-ba-tri. Có lẽ số lương thực đó là cướp được trong những chuyến cướp bóc trong tháng giêng.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 05:43:23 pm

        Ngày 8 tháng giêng (10/2/1288), binh thuyền Ô Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ đến cửa Đại Bàng (cửa Văn Úc). Ở đây, thủy quân của ta đã chặn đánh khiến Ô Mã Nhi bị thiệt hại nặng1. Sau khi vượt qua được chỗ hiểm nghèo đó, Ô Mã Nhi phải cố gắng tiến lên nữa vì yêu cầu lương thực của quân Nguyên rất cấp bách. Qua cửa Đại Bàng, binh thuyền Ô Mã Nhi tiến đến vùng biển Tháp Sơn (Đồ Sơn). Bấy giờ Tháp Sơn là căn cứ quân thủy lục của vua Trần và Hưng Đạo vương. Chính ở đây, trên bộ, quân Trần đã đánh nhau với Sic-tua. Trên mặt biển, thủy quân Trần cũng chặn đánh Ô Mã Nhi2. Cuối cùng Ô Mã Nhi cũng qua được vùng biển này nhưng khi tiến được đến cửa An Bang thì mọi hy vọng của hắn tiêu tan vì không gặp thuyền lương của Trương Văn Hổ. Hắn làm sao có thể gặp Trương Văn Hổ khi tên này đã bỏ chạy về Hải Nam từ tháng chạp âm lịch năm ngoái và một vạn thạch lương đã nằm trong các đồn trại quân Đại Việt hoặc chìm sâu dưới đáy biển. Ô Mã Nhi đành quay thuyền theo sông Bạch Đằng về Vạn Kiếp3. Bấy giờ, ở Thăng Long, Thoát Hoan đang lâm vào tình trạng lúng túng. A-ba-tri bàn: “Giặc bỏ sào huyệt trốn vào núi biển là có ý đợi chúng ta mệt mỏi rồi thừa cơ đánh lại. Tướng sĩ phần nhiều là người phương Bắc, lúc xuân hạ giao nhau, khi chướng lệ hoành hành, chưa bắt dược giặc, ta không thể giữ lâu được Nay chia quân bình định các nơi, chiêu hàng những người quy phụ, ngăn cấm quân lính không được cướp bóc, kíp bắt ngay Nhật Huyên (chỉ Trần Thánh Tông-T.G) đó là kế hay4. Thực ra, Thoát Hoan không thể nào thực hiện được mưu kế của A-ba-tri. Chúng đã hoàn toàn thất bại trong việc đuổi bắt vua Trần và đến nay, khi quân ta đã bắt đầu hoạt động mạnh mẽ ở các nơi, chúng làm sao còn có thể “bình định” được. Càng không thể ngăn cấm quân lính cướp bóc khi đói khát đang uy hiếp chúng và chính bản thân bọn tướng lĩnh như A-ba-tri cũng vừa tiến hành một cuộc cướp bóc trước khi về Thăng Long. Nhưng việc cướp bóc lương thực trong nhân dân cũng không phải là dễ dàng. Nhân dân Đại Việt đã có kinh nghiệm chống giặc, trước khi lánh đi đã cất giấu hết thóc gạo lương thực5. Trong khi đó, quân dân ta đang chiến đấu mạnh mẽ khắp nơi. Ngay ở đồng bằng, quân ta đã làm chủ nhiều vùng rộng lớn (trong phạm vi các tỉnh Hải Dương và Hải Phòng hiện nay). Địch đã mất thế chủ động và lâm vào thế bị động. Thăng Long trở thành một hòn đảo cô lập, có nguy cơ bị tuyệt lương. Trước tình hình đó, Thoát Hoan quyết định rút khỏi Thăng Long. Ngày Đinh Tỵ, 2 tháng 2 âm lịch (5/3/1288), Thoát Hoan đem quân về Vạn Kiếp, khu căn cứ mà hắn đã xây dựng lúc tiến vào Đại Việt6 Nhưng con đường từ Thăng Long đến Vạn Kiếp bấy giờ đã nằm trong vùng kiểm soát của quân Trần. Thoát Hoan phải sai A-ba-tri đi tiên phong, đem quân đánh mở đường và bắc cầu để tiến về Vạn Kiếp7.

        Trong khi đó, đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi không gặp thuyền lương Trương Vãn Hổ cũng quay về Vạn Kiếp. Trên đường về Ô Mã Nhi dã ra sức cướp bóc lương thực để mang về nuôi quân. Ngày 19 tháng 2 (22/3/1288), hắn đã cho quân sục sạo trại Yên Hưng (huyện Yên Hưng, Quảng Ninh) 8. Khi về đến Vạn Kiếp, hắn đã cướp được bốn vạn thạch gạo9. Thoát Hoan ra lệnh cho quân lính vào ở trong các trại gỗ vừa làm xong ở núi Phả Lại và núi Chí Linh10.

        Sau khi đã về đóng ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan lại sai A-ba-tri đem quân đánh vào căn cứ của vua Trần ở Trúc Động (nay là xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) và cửa biển An Bang (Quảng Yên) 11. Nhưng những cố gắng để giành lại thế chủ động của Thoát Hoan hoàn toàn không có kết quả. Nguyên sử thường che giấu sự thực cũng phải viết những dòng bi đát: “Tướng sĩ phần nhiều bị bệnh dịch không thể tiến được mà chư man lại phản, những nơi xung yếu đã chiếm được nay đều thất thủ” 12. Như vậy là quân ta đã khôi phục được các địa điểm quan trọng, bọn giặc phải rút về đóng ở Vạn Kiếp và một số đồn lũy.

----------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 54a chép: “Ngày 8 (tháng giêng) (19/2/1288), quan quân hội chiến ở ngoài cửa Đại Bàng. Bắt được 300 thuyền và 10 thủ cấp. Quân Nguyên chết đuối rất nhiều”. Cương mục q. 7 có chú: “Cửa biển Đại Bàng ở xã Đại Bàng huyện Nghi Dương tỉnh Hải Dương ngày nay”. Nghi Dương nay là huyện Kiến Thụy tỉnh Hải Phòng. Như vậy cửa Đại Bàng là cửa Văn Úc. Ở gần cửa Văn Úc còn có các tên xã cũ Tiểu Bàng, Bàng Động. An Nam chí lược q. 4 chép rằng Ô Mã Nhi ngày 11 tháng 1 (13/2/1288) cùng địch đánh nhau ở cửa Đa Ngư, nước triều (bản đã in chép chữ triều thành chữ hồ) xuống thì tan”. Cửa Đa Ngư cũng là cửa Văn Úc.

2.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b chép: “Ô Mã Nhi từ cửa Đại Bàng đi Tháp Sơn, gặp hơn một nghìn thuyền giặc, đánh bại được”. Bài bia Lý Thiên Hựu trong Từ Khê văn cảo của Tô Thiên Tước cũng chép: “Mùa xuân năm sau (Chí Nguyên 25, 1288), quân đến biển Tháp Sơn (Tháp Sơn dương), đánh bại thế tử (chỉ vua Trần- T.G)”

3.   Tất cả các tài liệu đều nói Ô Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ nhưng không gặp. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b chép: “Ô Mã Nhi đến cửa biển An Bang, không thấy thuyền lương của Trương Văn Hổ, lại trở về Vạn Kiếp”. Nguyên sử q. 16 Bản kỷ t. 2a chép: “Ô Mã Nhi đón thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ, không thấy (Văn Hổ) đến”. An Nam chí lược q. 4 sau khi chép truyện Ô Mã Nhi đánh nhau với quân ta ở Đa Ngư (cửa Văn Úc), cũng nói “Trương Văn Hổ trước (chúng tôi nhấn mạnh - T.G) gặp địch ở cửa An Bang, lương bị hãm, đi một cái thuyền to chạy về Khâm Châu”.

        Chỉ riêng sách Việt sử thông giám cương mục q. 8, t. 4a) lại chép Trần Khánh Dư đánh thuyền lương Trương Văn Hổ ở Vân Đồn vào lúc Ô Mã Nhi đem thủy quân đón Trương Văn Hổ, tức là vào tháng giêng năm Mậu Tí (3/2 – 3/3/1288). Hầu hết các tài liệu nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Nguyên hiện nay đều mắc phải điều sai lầm này của Cương mục, nghĩa là cho trận Vân Đồn xảy ra vào tháng giêng, lúc Ô Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ. Cương mục tuy chép lại đoạn nói về trận Vân Đồn ở Toàn thư và có tham khảo Nguyên sử (hay Nguyên sử loại niên) về việc Trương Văn Hổ thua ở Vân Đồn, Lục Thủy, nhưng lại không chú ý rằng Toàn thư cũng như Nguyên sử đều chép rõ trận này xảy ra vào tháng chạp năm Đinh Hợi tức là lúc quân Nguyên tiến sang Đại Việt, còn lúc Ô Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ là vào thảng giêng năm Mậu Tí. Bấy giờ, Trương Văn Hổ đã bỏ chạy từ một tháng trước nên Ô Mã Nhi không thể nào gặp được Văn Hổ.

4.   Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện, t. 2a.

5.   Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện t. 10b chép: “Người Giao đều giấu thóc gạo rồi trốn đi”.

6.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 2a, Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b.

7.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b chép: “Tháng 2, Trấn Nam vương trở về Vạn Kiếp, A-ba-tri (A Bát Xích) đem quân tiên phong, cướp cửa ải, bắc cầu nổi, phá Tam Giang khẩu (cửa ba sông), hạ được 32 đồn, chém hơn mấy vạn thủ cấp, thu được hai trăm thuyền, hơn 113.000 thạch gạo”. Con số này rõ ràng là khoác lác. Có lẽ một phần lương thực A-ba-tri cướp được trong chuyến càn quét trước. Tân Nguyên sử q. 180 Đường Tông truyện (Phàn Tiếp truyện phụ) t. 14b có chép rằng, trong cuộc chiến tranh này, viên vạn hộ Nguyên là Đường Tông bại trận, bị chết ở Tam Giang khẩu.

8.   Toàn thu q. 5, t. 54a.

9.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 9b. Có lẽ Ô Mã Nhi sau khi vào sông Bạch Đằng, đã theo sông Giá mà về Vạn Kiếp vì theo bài bia Lý Thiên Hựu (Thiên Hựu đi theo Ô Mã Nhi) thì quân giặc có giao chiến với quân ta ở Trúc Động (Từ Khê văn cảo, đã dẫn).

10.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 9b.

11.   Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện t. 2a.

12.   Nguyên sử q. 129 như trên.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 05:49:53 pm

        Trong tình hình đó, Hưng Ninh vương Trần Tung theo lệnh của vua Trần mấy lần đến thành giặc giả vờ hẹn ngày ra hàng để làm cho địch mất cảnh giác không đề phòng và tiêu tan hết tinh thần chiến đấu. Nhưng mặt khác, ta lại đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu hao lực lượng địch, khiến chúng càng hoang mang. Đêm đêm, những đội quân cảm tử lại được lệnh xuất kích, đánh vào trại giặc1. Bị tấn công ban đêm, bọn giặc vô cùng hoảng sợ, chỉ biết cố thủ, đợi trời sáng mới dám đánh trong, kéo quân ra khỏi trại. Chúng phải dựng rào gỗ, tăng thêm quân tuần tra ở các đồn trại để đề phòng quân ta tiến đánh2.

        Bị quân ta tấn công mãnh liệt, lại thiếu lương và đau ốm, quân Nguyên càng ngày càng tiến gần đến nguy cơ bị tiêu diệt. Tinh thần của giặc tan rã hoàn toàn. Căm tức quân Trần mà không làm gì được, Thoát Hoan gần như phát điên, hắn sai tên vạn hộ Giải Chấn đốt thành Vạn Kiếp, bọn tướng tá phải khuyên can mãi mới thôi3. Không riêng gì Thoát Hoan hết hy vọng đánh thắng Đại Việt mà tất cả bọn tướng tá đều đã thấy chán nản rã rời, muốn rút quân về. Bọn chúng bàn với Thoát Hoan: “Ở Giao Chỉ không có thành trì để giữ, không có lương thực để ăn mà thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại, khí trời đã nóng nực, sợ lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống giữ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên toàn quân mà về thì hơn4. Viên thần nỗ tổng quản là Giả Nhược Ngu cũng nói: “Quân nên về, không nên giữ” 5. Thoát Hoan buồn rầu thừa nhận: “Ở đây nóng nực ẩm thấp, lương hết, quân mệt” và đồng ý rút quân về” 6.

        Thống nhất với nhau là về thì dễ nhưng muốn về cho được an toàn; Thoát Hoan và bọn tướng tá của hắn còn phải bàn đi tính lại, lo lắng muôn phần. Những trận phục kích trong lần chiến tranh trước, những trận đánh ác liệt vừa xảy ra ở biên giới, ở các đồn chúng đã chiếm đóng làm cho chúng vô cùng hoảng sợ. Sau mấy lần thất bại trên mặt biển, bọn tướng tá chỉ huy thủy quân của giặc - hẳn là có Ô Mã Nhi Dũng sĩ! - đã xin với Thoát Hoan: “Thuyền lương hai lần vào đều bị hãm cả, chi bằng hủy thuyền đi đường bộ là thượng sách” 7. Thoát Hoan lúc này đầu óc rối bời, thấy lời nói đó có vẻ hợp lý, định nghe theo. Nhưng sau khi bọn tướng tá khác can ngăn thì hắn vẫn chia ra quân thủy và quân bộ để rút về8. Có lẽ bọn tướng Nguyên một phần thấy rằng việc phá hủy hàng trăm chiếc thuyền một lúc là một tổn thất quá nặng nề và nhục nhã nhưng có lẽ chủ yếu là chúng lo sợ toàn bộ sẽ không trốn thoát nếu chỉ rút về theo một đường. Việc rút về theo nhiều đường sẽ chia sẻ được lực lượng của quân ta và nếu đoàn này không về được thì còn đoàn kia thoát. Tuy vậy, chúng cũng chỉ phân ra được hai đạo thủy và bộ chứ không còn đủ lực lượng để chia ra làm ba cánh như khi tiến vào nữa.

        Nhưng bọn cướp nước đang giãy chết dù có chọn mưu sách gì thì cũng không thể ra ngoài những dự tính của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Triệt lương thực, không cho giặc tự do cướp bóc, đánh phá và quấy rối liên tiếp, quân dân Đại Việt đã hãm kẻ thù vào cảnh đói khát, bệnh tật lo sợ hoang mang đến cùng cực. Triều đình Trần và Quốc Tuấn biết chắc chắn rằng Thoát Hoan không còn cách gì hơn là tháo chạy. Vì thế trên khắp các ngả đường mà quân Nguyên có thể chạy qua, quân đội Đại Việt đã được lệnh bố trí để chờ chặn đánh địch. Một cái bẫy lớn đã giương lên. Quân Nguyên đang sắp bước vào những con đường chết.

        Ngày Nhâm Ngọ, 27 tháng 2 (30/3/1288), Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem thủy quân về trước9. Sợ đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi bị phục kích, Thoát Hoan sai Trình Bằng Phi và Ta-tru (Taču) đem kỵ binh đi hộ tống10. Nhưng cầu đường đã bị quân ta phá hủy nên đội kỵ binh của Trình Bằng Phi tiến rất khó khăn. Khi đến chợ Đông Triều, không sang sông được, bọn chúng đành quay trở lại. Vì cầu đường đã bị phá và biết tin quân ta đang chờ chặn đánh bọn chúng nên Trình Bằng Phi không dám trở về theo con đường cũ, đang đêm cưỡng bức các hương lão đã bị chúng bắt, đưa đường khác trở về Vạn Kiếp ngày Đinh Hợi mùng 3 tháng 3 (4/4/1288) 11 để còn kịp rút lui cùng với Thoát Hoan.

-------------
1.    Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện t. 2a chép: “Bấy giờ, Nhật Huyên (tức Trần Thánh Tông - T.G) nhiều lần sai sứ hẹn hàng, ý muốn hoãn quân ta. Các tướng đều tưởng là thực sửa sang thành trì để đợi (Nhật Huyên) đến, nhưng lâu ngày, quân thiếu ăn mà Nhật Huyên vẫn không hàn”.. An Nam chí lược q. 4 chép “Tháng 2 (bản in lầm tháng 2 thành ngày 2, thế tử sai anh con nhà bác là Hưng Ninh vương Trần Tung nhiều lần đến hẹn hàng để làm quân ta mất nhuệ khí, ban đêm lại sai những người cảm tử đến cướp doanh trại”.

2.   Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi truyện t. 9b.

3.   An Nam chí lược q. 4 An Nam chí lược chỉ nói là “đốt thành” không nói rõ là Vạn Kiếp nhưng căn cứ vào Nguyên sử, chúng ta biết Thoát Hoan bấy giờ ở Vạn Kiếp.

4.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t 9b, Nguyên sử q. 15 Bản 2a chép: “Các tướng cho rằng lương hết, quân mệt nên toàn quân mà về. Trấn Nam vương nghe theo”.

5.   An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng.

6.   An Nam chí lược q. 4.

7.   An Nam chí lược q. 4.

8.   An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng.

9.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 2a; q. 209 An Nam truyện t. 9b; q. 166 Phàn Tiếp truyện t. 10b.

10.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9b, q.15 Bản kỷ t. 2a. Ta-tru (Taču), Nguyên sử phiên âm là Tháp Xuất. An Nam chí lược q. 4 chép: “Hữu thừa Trình Bằng (Phi), thiêm tỉnh Đạt Mộc đem kỵ binh đưa (bản in lầm chữ tông là đưa thành chữ nghịch) chu sư”. Viên tướng Đạt Mộc trong An Nam chí lược có lẽ là Tháp Xuất trong Nguyên sử. Theo chúng tôi Đạt Mộc, chắc là in lầm từ Đại Truật. Theo cách phiên âm bấy giờ, Đại Truật có thể khôi phục thành Taju hay Taču.

11.   An Nam chí lược q. 4 chép: “Ngày 3 tháng 3, Đinh Hợi, hữu thừa Trình Bằng (Phi), thiêm tỉnh Đạt Mộc (truật?), đem kỵ binh đưa chu sư, qua chợ Đông Hồ, vướng sông bèn trở về. Vì cầu cống đều bị quân kia (chỉ quân Trần - T.G) cắt đứt, đợi ta (chỉ quân Nguyên - T.G) mà đánh. Trình hữu thừa liền hỏi những hương lão đã bắt được, đang đêm dẫn chạy theo đường khác”. Đông Hồ chúng tôi cho là lầm từ Đông Triều (chú ý là trong sách này có những chỗ khác lầm chữ triều thành chữ hồ như triều lạc là nước triều rút thì in thành hồ lạc (q. 4). Con đường mà kỵ binh của Trình Bằng Phi đi hộ tống hẳn là đường số 18 hiện nay. Con sông chúng ta gặp ở chợ Đông Triều chắc là sông Kỳ ở gần huyện lỵ Đông Triều ngày nay. Đường số 18 chạy qua sông này.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 06:00:25 pm

        Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi đánh nhau liên tục mấy tháng vừa về Vạn Kiếp nay lại phải ra đi, quả gặp rất nhiều khó khăn. Quân sĩ đã mỏi mệt, còn bọn tướng chỉ huy thì run sợ lo lắng. Chúng miễn cưỡng tiến hành cuộc rút quân đường thủy là việc mà chúng hoàn toàn không muốn. Trong khi đó, quân ta đã đón đợi chúng trên đường đi. Nhiều trận tập kích đã xảy ra. “Giao chiến ngày này sang ngày khác” 1. Vì không có quân hộ tống, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vô cùng chậm chạp. Ngày mồng 7 tháng 3 (8/4/1288) thuyền quân Nguyên mới tiến đến Trúc Động2 trên sông Giá. Trúc Động đã từng chiến đấu với kỵ binh của A-ba-tri và thủy quân của Ô Mã Nhi trong tháng hai âm lịch3. Bây giờ, các chiến sĩ Đại Việt ở Trúc Động lại một lần nữa chặn đánh địch. Theo Lê Trắc thì trong trận Trúc Động này, viên tướng giặc Lưu Khuê đã đánh lui quân ta và cướp được 20 chiếc thuyền4. Điều đó không đúng vì Lưu Khuê, có lẽ là viên tướng chỉ huy bộ phận đi trước dò đường, sau khi bị quân ta chặn đánh ở Trúc Động thì không thể tiến vào sông Giá để ra sông Bạch Đằng được. Toàn bộ binh thuyền của Ô Mã Nhi phải theo sông Đá Bạch để tiến xuống sông Bạch Đằng. Như vậy là Trúc Động đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chặn giặc, không cho chúng tiến vào sông Giá, vì sông Giá là nơi thủy quân ta mai phục, chờ tiến đánh vào sườn bên phải của binh thuyền địch trên trận địa Bạch Đằng. Nếu thuyền giặc tiến xuống được đoạn cuối sông Giá thì chẳng những chỗ ẩn của thủy quân ta bị lộ mà những đội quân bộ của ta mai phục trong vùng núi đá Tràng Kênh phải phân tán chiến đấu cả hai mặt. Chiến thắng ở Trúc Động đã bảo vệ cho trận địa phục kích của quân ta ở Bạch Đằng5.

        Bấy giờ, sông Bạch Đằng, Hưng Đạo vương Trấn Quốc Tuấn đã bố trí một trận địa phục kích lớn. Hưng Đạo vương đã cho đóng những cọc gỗ xuống lòng sông. Bên trên bãi cọc phủ cỏ để ngụy trang6. Việc đẵn gỗ làm cọc và đóng cọc trên sông đã được chuẩn bị từ trước, có lẽ vào lúc quân Trần quay về hoạt động ở vùng Trúc Động, An Bang trong tháng 2 âm lịch (4/3 – 1/4/1288) và sau ngày Ô Mã Nhi cướp phá trại Yên Hưng (19 tháng 2 âm lịch, 22/3/1288). Nhân dân hai bên sông đã góp sức với quân sĩ trong việc chuẩn bị bãi cọc ở Bạch Đằng7.

        Khi được tin binh thuyền của quân Nguyên rút lui, Hưng Đạo vương đã cho quân phục kích ở hai bên bờ sông Bạch Đằng chờ giặc đến. Hẳn Hưng Đạo vương đã cho bộ binh mai phục trong vùng núi đá vôi Tràng Kênh (Thủy Nguyên) và vùng rừng rậm rạp ở tả ngạn sông Bạch Đằng (Yên Hưng), còn thủy quân thì ẩn trong các con sông hai bên dòng Bạch Đằng như sông Giá, sông Thải, sông Điền Công…8.

---------------
1.    Nguyên sử q. 166 Trương Ngọc truyện (Trương Vinh Thực truyện phụ) t. 9a.

2.   An Nam chí lược q. 4.

3.   Việc A-ba-tri đánh Trúc Động, xem Nguyên sử q. 129, Lai-a Bát-xích truyện t. 2a; việc Ô Mã Nhi đánh Trúc Động, xem “Cố thừa sự lang Tượng sơn huyện doãn Lý hầu mộ bi” trong Từ Khê văn cáo q. 18 của Tô Thiên Tước.

4.   An Nam chí lược q. 4.

5.   Hiện nay chúng ta chưa có tài liệu thật xác thực để nghiên cứu trận Trúc Động. Theo những truyền thuyết mà đoàn nghiên cửu phối hợp giữa Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Ty Văn hóa Hải Phòng và Ty Văn hóa Quảng Ninh thu thập được vào tháng 7-1965 thì trận Trúc Động là một trận nghi binh lớn. Truyền thuyết ở Trúc Động (xã Lưu Kiếm, Thủy Nguyên, Hải Phòng) nói rằng quân Trần đã thay đổi nhiều thứ áo, lấy mo giả gói cơm rồi thả đầy sông hoặc làm nhiều bè. Giặc hoảng sợ vì tưởng quân ta rất đông. Chính Hưng Đạo vương chỉ huy trận đánh ở đây. Truyền thuyết vùng này cũng nói rằng quân Nguyên không tiến theo sông Giá mà sông Giá là chỗ thuyền quân ta phục kích để đánh ra sông Bạch Đằng.

        Mặc dầu phải thận trọng trong việc xử lý truyền thuyết, chúng ta có thể thấy ở đó một số điều hợp lý. Trước hết, khi bố trí trận địa Bạch Đằng, nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn không thể không nhận thấy rằng sông Giá là nơi bố trí thủy quân rất tốt để đánh tạt sườn địch khi chúng tiến xuống Bạch Đằng, nhất là vào lúc nước triều rút. Như thế tất nhiên không thể để cho địch tiến vào sông Giá được. Thứ hai, hẳn là Quốc Tuấn không để cho địch tiến được vào sông Bạch Đằng bằng nhiều đường vì như thế sẽ phân tán lực lượng của quân ta. Những cánh quân phục kích ở vùng Tràng Kênh sẽ phải chống đỡ cả hai mặt phía sông Đá Bạch và sông Giá. Do đó, chúng tôi cho rằng trong trận Trúc Động, quân ta đã thắng và sau trận này, binh thuyền của giặc đã phải quay lại để theo sông Đá Bạch xuống sông Bạch Đằng.

6.   Toàn thư q. 5 t. 54a. Không có một thư tịch cũ nào nói các cọc gỗ ấy có bịt sắt. Hiện nay, chúng ta chưa xác định được bãi cọc chắn sông Bạch Đằng mà Toàn thư chép nằm ở chỗ nào trên sông. Khoảng năm 1953-1954, nhân dân đã phát hiện được các cọc gỗ trên cánh đồng nước xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Bãi cọc này cách ngã ba sông Chanh và sông Bạch Đằng 414m, cách Nhà máy kẽm 120 và thị trấn Quảng Yên 2km. Bãi cọc này đã được Vụ Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa nghiên cứu vào tháng 11-1958. Tháng 7-1965, đoàn nghiên cứu của Khoa sử trường đại học Tổng hợp Hà Nội, Sở Văn hóa Hải Phòng và Ty Văn hóa Quảng Ninh đã khảo sát lại bãi cọc này.

        Cho đến nay, số cọc mà các nhà bảo tàng và nhân dân lấy đi lên đến khoảng 500 chiếc. Đa số cọc bằng gỗ lim, một ít là gỗ táu. Chiều dài còn lại của cọc từ l,5m đến hơn 2,5m, đường kính khoảng 18cm đến 28cm. Hiện nay ở bãi cọc này còn có 14 cọc lộ thiên, gồm 12 cọc thẳng đứng và 2 cọc chếch về phía tây bắc. Tháng 5-1969, Khoa sử trường đại học Tổng hợp phối hợp với Ty Văn hóa Quảng Ninh đã tiến hành khai quật ở bãi cọc này. Đoàn đã đào 7 hố khai quật, diện tích 520m2. Trong các hố khai quật, đoàn đã quan sát được 32 cọc gỗ cắm đứng và 62 đoạn gỗ nằm ngang. Theo báo cáo của đoàn, trong 32 cọc đó, có 17 cọc đứng thẳng, 11 cọc chếch về phía tây bắc và 4 cọc chếch về phía đông bắc.

        Đoàn nghiên cứu Khoa sử trường đại học Tổng hợp, Sở Văn hóa Hải Phòng và Ty Văn hóa Quảng Ninh tháng 7-1965 còn khảo sát những cọc gỗ ở đồng Vạn muối (còn gọi là Đồng Quai) ở xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh. Địa điểm này cách trị trấn Quảng Yên 3km và cách đèn hiệu số 2 trên sông Bạch Đằng 400m. Theo nhận định của đoàn nghiên cứu 1965 thì ở đây có vết tích một con sông cũ chi lưu của sông Bạch Đằng nay đã bị lấp cửa sông. Đoàn nghiên cứu trường đại học Tổng hợp và Ty Văn hóa Quảng Ninh năm 1969 cho biết thêm là hiện nay ở đây chỉ còn có 3 cọc gỗ cách nhau chừng 10 đến 12m, có đường kính 18-21cm và những cọc này rất giống các cọc gỗ ở bãi cọc trong đồng xã Yên Giang. Hiện nay chưa có phương pháp nào thật khoa học để đoán định chắc chắn rằng những bãi cọc đó là của Trần Quốc Tuấn. Nhưng theo các đoàn nghiên cứu của Vụ Bảo tồn bảo tàng năm 1958 và của trường dại học Tổng hợp, Sở Văn hóa Hải Phòng, Ty Văn hóa Quảng Ninh năm 1965, năm 1969, thì các cọc đó không phải là cọc cừ sông, cũng không phải là cọc móng hay cọc đáy đánh cá, mà là những cọc đặc biệt có thể có mục đích quân sự. Có thể những bãi cọc này là những bãi cọc mà Trần Quốc Tuấn đã chắn ở các con sông chi lưu của Bạch Đằng chảy ra biển, để bịt hết đường chạy của binh thuyền Ô Mã Nhi.

        Đoàn nghiên cứu năm 1965 và năm 1969 còn khảo sát một bãi cọc ở ngoài đê tả ngạn sông Chanh, cách ngã ba sông Chanh gặp sông Bạch Đằng 337m, cách bãi cọc trong đồng xã Yên Giang nói trên 195m và cách thị trấn Quảng Yên 2.200m. Bãi cọc này gồm ba hàng cọc chạy song song ra tới gần giữa sông. Khoảng cách giữa các cọc từ 1,50m đến 1,80m. Những cọc này nhỏ, đường kính trên dưới 10cm, phần lớn là gỗ dẻ, một ít là táu, còn lại là gỗ tạp ít lõi, như vậy là khác với các cọc ở đồng Yên Giang và đồng Vạn Muối, nên không rõ là có cùng thời và cùng công dụng với các bãi cọc nói trên không. Nhân dân còn cho biết về một bãi cọc ở xã Điền Công, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh, nhưng bãi cọc này không còn nữa.

        Ở hữu ngạn sông Bạch Đằng, cho đến nay chưa tìm được bãi cọc nào có tính chất giống như các bãi cọc ở tả ngạn. Đoàn nghiên cứu năm 1965 và 1969 đã khảo sát và tìm hiểu về các bãi cọc ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, như bãi cọc tả ngạn cửa sông Giá, bãi cọc đường Áng Khinh (xã Minh Đức) và bãi cọc ở Gia Đức), nhưng theo các đoàn nghiên cứu cọc ở các bãi cọc đó đều nhỏ, gỗ tạp, xấu, có nơi có cả tre, thường đóng sít nhau, có khả năng là cọc cừ hay cọc kè đê và thuộc thời kỳ gần đây.

        Cần lưu ý là theo truyền thuyết ở vùng Phả Lễ (Thủy Nguyên, Hải Phòng) thì Hưng Đạo vương không đóng cọc ngang qua sông Bạch Đằng (chú ý là đến nay khi thủy triều xuống thấp nhất, độ sâu của sông là 16m) mà chỉ đóng cọc ở các sông phía Yên Hưng, còn ở hạ lưu Bạch Đằng thì dùng thủy quân án ngữ. Điều này cũng phù hợp với bài bia Lý Thiên Hựu trong Từ khê văn cảo của Tô Thiên Tước: “Người Giao chắn chiến hạm ở trong sông để chống cự”. Tuy nhiên, vấn đề bãi cọc sông Bạch Đằng cẩn được nghiên cứu sâu hơn nữa.

7.   Theo truyền thuyết thì đền Vua Bà ở Yên Giang (Yên Hưng) thờ một người phụ nữ đã mách cho Hưng Đạo vương biết về nước triều sông Bạch Đằng và đã đem lương giúp quân Trần (tài liệu của đoàn nghiên cứu trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Sở Văn hóa Hải Phòng, Ty Văn hóa Quảng Ninh tháng 7-1965).

8.   Việc phục kích để cản kỵ binh hộ tống đã được An Nam chí lược ghi chép. Việc phục binh ở hai bên bờ Bạch Đằng được chép trong Toàn thư q. 5, t 54a. Theo thần tích xã Minh Đức (Thủy Nguyên) thì ở đây thờ Trần Quốc Bảo, cháu vua Trần, đã chiến đấu chống giặc ở vùng Gia Đước, Tràng Kênh. Ngày xưa, vùng tả ngạn Bạch Đằng (thuộc Yên Hưng) có nhiều rừng, mà di tích là các tên sông Rừng, bến Rừng, làng Rừng…


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 06:10:20 pm

        Sáng sớm ngày 8 tháng 3 (9/4/1288) đoàn thuyền của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp tiến đến sông Bạch Đằng1. Bấy giờ nước triều còn cao, che lấp những dãy cọc đóng trong sông2. Quân Trần đem thuyền ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy3. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp dẫn binh thuyền đuổi theo. Nước triều xuống thấp, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi xô phải cọc, dồn cả lại. Nhiều chiếc bị vỡ và bị đắm. Trong khi đó, phục binh của ta ở hai bên bờ đổ ra, đánh vào sườn và phía sau đoàn thuyền địch. Nguyễn Khoái cũng đem quân dũng nghĩa Thánh dực giao chiến với giặc. Tiếp đó, hai vua Trần và Hưng Đạo vương cũng dẫn đại quân đến4. Một trận kịch chiến ác liệt xảy ra trên sông Bạch Đằng.

        “… Bấy giờ

                                        Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới
                                        Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói
                                        Sông mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối
                                        Trời đất rung rinh chừ sắp tan
                                        Nhật nguyệt u ám chừ mờ tối…”


        Trương Hán Siêu, người môn khách của Hưng Đạo vương, đã viết như vậy trong bài Phú sông Bạch Đằng của mình. Dầu là sáng tác văn học, qua những dòng trên, chúng ta ít nhiều thấy lại cái không khí chiến trận và cái dũng tráng của quân ta trước đây bảy thế kỷ.

        Ô Mã Nhi Bạt Đô, tên tướng Mông Cổ mang danh hiệu “Dũng sĩ” ấy, không thể nào chống cự nổi trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta. Tuy Phàn Tiếp đã cố gắng “chiếm lấy núi cao làm ứng5, tình thế vẫn không thể xoay chuyển khác được. Dưới trận mưa tên của quân ta6, thủy binh giặc chết rất nhiều. Máu giặc đỏ ngầu cả khúc sông7. Nước triều rút gấp, thuyền giặc vướng cọc bị phá hủy càng nhiều. Đến chiều8, toàn bộ chu sư của Ô Mã Nhi bị tiêu diệt. Viên vạn hộ thủy quân Trương Ngọc tử trận9. Phàn Tiếp bị thương, nhảy xuống sông, quân ta lấy câu liêm móc lên bắt sống10. Tên tướng chỉ huy thủy quân giặc là Ô Mã Nhi cũng bị bắt. Ngoài ra, rất nhiều tướng lĩnh khác bị bắt, trong số đó có viên đại quý tộc Mông Cổ Si-rê-ghi (Širägi, Tích Lệ Cơ) 11 và viên quan giữ văn thư đi theo Ô Mã Nhi là Lý Thiên Hựu12. Thủy quân giặc bị giết, chết đuối và bị bắt vô số. Hơn bốn trăm thuyền giặc lọt vào tay quân ta13.

----------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 54a chép là ngày 8 tháng 8 năm Mậu Tý (9/4/1288). Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện t. 10b chép rằng “lực chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu”. Như vậy là đánh nhau từ 5 giờ sáng đến 5 giờ tối.

2.   Theo ông Nguyễn Ngọc Thụy, một người làm công tác khí tượng, thì ngày 8 tháng 3 âm lịch năm đó ứng với kỳ nước cường, nước triều lên cao nhất vào khoảng nửa đêm mồng 7 rạng mồng 8, nước triều xuống thấp nhất vào khoảng trưa mồng 8. Xem Nguyễn Ngọc Thụy: Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288. Nghiên cứu lịch sử số 63 (6-1964).

3.   Theo Toàn thư q. 5, t. 54a. Một số người đã cho rằng Nguyễn Khoái đem thuyền khiêu chiến. Nhưng các thư tịch cũ, như Toàn thư, không hề chép như vậy.

4.   Theo Toàn thư q. 5, t. 54a.

5.   An Nam chí lược q. 4.

6.   Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện t. 10b chép: “Thuyền giặc (chỉ quân ta-T.G) tập trung đông, tên bắn như mưa”.

7.   Toàn thư q. 5, t. 54a.

8.   Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện t. 10b chép: là đánh nhau đến giờ Dậu tức khoảng từ 5 giờ đến 7 giờ tối.

9.   Nguyên sử q. 166 Trương Ngọc truyện (Trương Vĩnh Thục truyện phụ) t. ga chép: “Năm (Chí Nguyên) 24 (1287) theo tham tri chính sự Ô Mã Nhi đánh Giao Chỉ… Năm 25 (1288), quân về, An Nam đem quân đón đánh, giao chiến ngày này sang ngày khác. Nước cạn, thuyền không đi được Ngọc chết”.

10.   Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện t. 10b chép: “Tiếp bị thương, nhảy xuống sông nước, giặc lấy câu liêm móc lên, bắt được đem giết”. Theo Toàn thư q. 5, t. 54b thì quân ta đã bắt được Phàn Tiếp. Trong tờ biểu của vua Trần năm 1289 được chép lại trong Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, cũng nói rằng Phàn Tiếp bị ốm chết (bản Thuyết phu t. 6b). Như vậy là Tiếp chết sau khi bị bắt chứ không phải bị giết ngay ở sông Bạch Đằng.

11.   Toàn thư q. 5, t. 45b chép là Tích Lệ Cơ Ngọc. Theo Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, trong các bài biểu của vua Trần năm 1288 và 1289 đều chép là Tích Lệ Cơ đại vương, trong tờ chiếu của Hất Tất Liệt năm 1288 cũng chép là Tích Lệ Cơ (Toàn thư chép với chữ cơ, Thiên Nam hành ký chép với chữ cơ). Như vậy, viên tướng Mông Cổ này đúng tên là Tích Lệ Cơ chứ không phải là Tích Lệ Cơ Ngọc. Chúng tôi cho rằng chữ Ngọc chỉ là chép lầm từ chữ Vương mà thôi (Tích Lệ Cơ (đại) vương). Tích Lệ Cơ, theo chúng tôi, chắc chắn là phiên âm tiếng Mông Cổ Širägi (tên này thường gặp trong Nguyên sử với các cách phiên âm khác như Thất Liệt Cát, Tích Lý Cát… Xem Tam sử đồng danh lục). Tích Lệ Cơ (Si-rê-ghi) hẳn là một chư vương (hoàng thân) của Hất Tất Liệt. Biểu của vua Trần năm 1288 (trong Thiên Nam hành ký, bản đã dẫn. t 2a) nói rằng: “Tích Lệ Cơ đại vương xưng là quý thích của đại quốc”. Trong tờ chiếu của Hất Tất Liệt năm 1289 (sách trên, t. 4a) cũng nói: “Tích Lệ Cơ là người tộc thuộc của ta… y là người có tội phải đi trích thú". Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 10a chép rằng: ngày Kỷ Tỵ tháng 8 năm Chí Nguyên 24 (19/9/1287) Hết Tất Liệt đã “đày (trích) các chư vương theo bọn phản đến các tỉnh Giang Nam tòng quân tự chuộc tội”. “Bọn phản” nói ở đây là chỉ tập đoàn tông vương do chư vương Nayan cầm đầu chống lại Hốt Tất Liệt năm 1287 (xem Nguyên sử q. 14 Thế Tổ bản kỷ và Nguyên sử kỷ sự bản mạt q. 2 Bắc biên chư vương chi loạn). Tích Lệ Cơ hẳn là đã theo tập đoàn Nayan nên cũng bị Hất Tất Liệt đày “tòng quân chuộc tội”.

12.   Bài bia Lý Thiên Hựu chép: “Tháng 3, đến cảng Bạch Dằng, người Giao chắn ngang chiến hạm ở trong sông để chống cự quân ta (chỉ quân Nguyên-T.G), đến lúc nước triều rút, thuyền không tiến được, quân tan vỡ, bọn hầu (chỉ Thiên Hưu - T.G) bị bắt” (Tô Thiên Tước: Từ khê văn cáo q 18).

13.   Toàn thư q. 5, t. 54b.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 06:22:21 pm

        Trong khi toàn bộ đội binh thuyền của giặc tan tác trên sông Bạch Đằng1 thì cánh quân bộ của Thoát Hoan cũng đang khốn đốn trên đường chạy trốn khỏi biên giới Đại Việt.

        Ngày Tân Mão 7 tháng 3 (8/4/1288), từ Vạn Kiếp, Thoát Hoan nhằm hướng Lạng Sơn rút lui2. A-ba-tri dẫn quân kỵ bộ đã được lựa chọn đi trước mở đường3. Sic-tua được lệnh của Thoát Hoan dẫn một cánh quân rút theo con đường phía tây, còn Thoát Hoan rút theo con đường phía đông. Nhưng trên tất cả các con đường đó quân ta đã phục kích chờ đánh địch. Cánh quân của Sic-tua tiến đến cửa quan Hãm Nê (hay Hãm Sa) thì bị quân ta chặn đánh mãnh liệt. Sic-ta không vượt qua nổi phải quay trở lại con đường phía đông để cùng rút với Thoát Hoan4. Ngày Giáp Ngọ, 10 tháng 3 (11/4/1288), Thoát Hoan dẫn quân chạy đến cửa quan Nội Bàng. Ở đây, bọn giặc lại lọt vào trận địa phục kích của quân ta5. Quân Nguyên phải “hết sức đánh” 6. Về sau vạn hộ Đa-ra-tri (Darači, Đáp Lạt Xích) và Lưu Thế Anh phải liều chết mở một đường máu mới thoát ra được7. Nhưng quân ta vẫn tiếp tục truy kích, Thoát Hoan phải cho vạn hộ Trương Quân chỉ huy ba nghìn quân tinh nhuệ đi sau hộ vệ8. Quân Nguyên vừa ra khỏi cửa Nội Bàng, chưa kịp hoàn hồn thì được tin quân ta đã đóng ở cửa quan Nữ Nhi và núi Khâu Cấp. Ba mươi vạn quân rải ra suốt hơn một trăm dặm để chặn đường về của chúng9. Trên đường đi, quân ta đã đào hố để bẫy ngựa của giặc10. Thoát Hoan hoảng sợ, vội quay theo đường huyện Đơn Kỷ về Lộc Châu để đi đường tắt ra khỏi biên giới11. Nhưng chúng tránh đâu cũng không thoát được vì các con đường quan trọng đều bị quân ta chặn cắt12. Quân ta từ trên núi cao bắn tên độc xuống13. Tình cảnh quân Nguyên lúc đó thật khốn khổ. Nguyên sử chép: “Lúc đó quân ta (quân Nguyên - T.G) đã thiếu ăn lại mệt vì chiến đấu tướng tá nhìn nhau thất sắc” 14. Nhưng khi cái chết đã kề bên cạnh, dù mệt nhọc, hoảng sợ, chúng cũng phải “cố xông vào mà đánh15, “buộc vết thương lại mà tránh” 16. Bọn giặc bị thương vong rất nhiều, A-ba-tri trúng ba mũi tên độc; đầu cổ đùi đều sưng lên rồi chết17. Cuối cùng, quân Nguyên về được đến Tư Minh ngày Nhâm Dần 18 tháng 3 (19/4/1288). Thoát Hoan cho giải tán đám tàn quân. A-ruc đem quân trở về Vân Nam, A-gu-ruc-tri dẫn quân về Bắc18. Bọn Việt gian Trần Ích Tắc lại lẽo đẽo theo bọn bại tướng Nguyên trở về Ngạc Châu19.

        Ngày 17 tháng 3 (18/4/1288), Thượng hoàng và Nhân Tông về phủ Long Hưng, đem bọn tù binh Ô Mã Nhi, Si-rê-ghi, Sầm Đoạn, nguyên soái Điền(?) cùng nhiều tên vạn hộ, thiên hộ khác, làm lễ hiến tiệp ở lăng Thái Tông - ông vua anh hùng trong cuộc kháng chiến 1258.

        Trước lăng mộ của tiền nhân, Trần Nhân Tông cảm xúc:

                                                “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
                                                Sơn hà thiên cổ điện kim âu”(20).

                                                (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
                                                Non sông nghìn thuở vững âu vàng).


        Mười ngày sau, ngày 27 tháng 3 (28/4/1288) vua Trần và triều đình trở về kinh đô. Giữa những cung điện bị thiêu hủy của Thăng Long, vua Trần ban lệnh đại xá thiên hạ, miễn tô dịch toàn phần cho những nơi bị giặc cướp phá21.

--------------
1.    Trận Bạch Đằng là một trận rất lớn nhưng các sử liệu cũ cho ta biết rất ít về chiến thắng oanh liệt này. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện bỏ qua không chép thất bại nhục nhã này của quân Nguyên. Trận Bạch Đằng chỉ được ghi vài dòng trong Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện hay trong bia Lý Thiên Hựu của Tô Thiên Tước (Từ Khê văn cảo q. 18). An Nam chí lược q. 4 chỉ chép: “Ô Mã Nhi không theo đường biển mà về, mà theo sông Bạch Đằng. Gặp địch, Ô Mã Nhi tự đem quân tải lương nghênh chiến. Phàm tham chính chiếm núi cao làm ứng. Nước triều rút, quân bị hãm. Toàn thư chép nhiều hơn, nhưng cũng rất sơ lược: “Ngày 8 tháng 3, quân Nguyên hội ở sông Bạch Đằng, đón thuyền lương của Trương Văn Hổ, không gặp. Hưng Đạo vương đánh bại chúng. Trước vương đã trồng cọc ở Bạch Đằng, phủ cỏ lên trên. Hôm đó, thừa lúc nước triều lên, khiêu chiến giả thua chạy. Quân giặc đuổi theo. Quân ta hết sức đánh. Nước xuống, thuyền giặc mắc cạn hết. Nguyễn Khoái dẫn quân dũng nghĩa Thánh dực đánh nhau với giặc, bắt được bình chương Áo Lỗ Xích (A-gu-ruc-tri). Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đại chiến. Quân Nguyên chết đuối nhiều không kể xiết. Nước sông vì thế đỏ cả. Kịp Văn Hổ đến, phục binh hai bên bờ hăng hái đánh, lại bại được chúng. Nước triều rút rất nhanh, thuyền lương Văn Hổ gác lên cọc nghiêng đổ gần hết. Quân Nguyên chết đuối rất nhiều, bắt được hơn bốn trăm thuyền, Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi (Ô-ma), Tích Lệ Cơ Ngọc (Si-rê-ghi) dâng lên Thượng hoàng…” (q.5, t. 54a, 54b). Đoạn trên đây của Toàn thư có nhiều sai lầm. Trương Văn Hổ đã bị đánh thua ở trận Vân Đồn từ tháng 12 âm lịch năm trước, bỏ chạy về Hải Nam (xem phần trước), không thể có ở trận Bạch Đằng, còn Áo Lỗ Xích (A-gu-ruc-tri) theo Thoát Hoan trốn thoát nước khỏi biên giới (xem Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. loa; q. 15 Bản kỷ t. 3a; q 131 Áo Lỗ Xích truyện t. 7a) chứ không phải bị bắt. Cương mục q. 8, t 8 cũng đã vạch những sai lầm này.

2.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ. t. 2b.

3.   Nguyên sử q. 129 Lai-a Bát-xích truyện t. 2a.

4.   Con đường phía tây tức con đường Chi Lăng - Vĩnh Bình (đường số 4), con đường phía đông là con đường Nội Bàng - Nữ Nhi - Khâu Cấp (đường qua Sơn Động, Bắc Giang quanh về Lộc Bình - Lạng Sơn) (xem các đường tiến quân của Nguyên ở chương VI và đầu chương này). Nguyên sử q 133 Tích Đô Nhi truyện t. 9b chép: “(Sic-tua (Tích Đô Nhi) đi đến cửa quan Hãm Nê đánh vài chục hợp, người Giao rút lui, liền trở về đón Trấn Nam vương ở cửa Nữ Nhỉ”. Cửa Hãm Nê chắc chắn là cửa Hãm Sa (do hai chữ Nê và chữ Sa lẫn với nhau). Cửa Hãm Sa ở trên con đường Chi Lăng, tức con đường phía tây (xem trước). Thoát Hoan đi theo con đường Nội Bàng - Nữ Nhi tức con đường phía đông. Tích Đô Nhi truyện chép “Người Giao rút lui” là không đúng, vì như vậy Sic-tua không cần quay sang con đường phía đông. Có thể nghĩ là Sic-tua đón Thoát Hoan quay sang con đường phía tây đã được mở nhưng sau đó chúng ta vẫn thấy Thoát Hoan vẫn tiếp tục tiến theo con đường phía đông nên không thể giả thiết như vậy được. Nói là “đón” Thoát Hoan Ở cửa Nữ Nhi cũng không đúng vì Thoát Hoan không dám đến Nữ Nhi, có lẽ là Sic-tua đuổi kịp lúc Thoát Hoan thoát khỏi Nội Bàng.

5.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 3a, Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10a, An Nam chí lược q. 4.

6.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10a.

7.   An Nam chí lược q. 4.

8.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10a.

9.   Nguyên sử q. 209 An nam truyện t. 10a. Số quân ta ba mươi vạn chưa chắc đúng như thế, đây chỉ là Thoát Hoan nghe theo bọn gián điệp. Tích Đô Nhi truyện lại chép là bốn vạn.

10.   An Nam chí lược q. 4.

11.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 3a Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t 10a. An Nam chí lược q. 4 chép “(Thoát Hoan) sai châu mục Tư Minh là Hoàng Kiện, dẫn theo đường khác đến Lộc Xuyên”. Lộc Xuyên rõ ràng là Lộc Châu, An Nam chí lược (bản in) đã nhầm chữ châu ra chữ xuyên. Huyện Đơn Kỷ là huyện Đan Ba (đơn và đan đồng âm, kỷ chép nhầm từ ba vì tự dạng gần giống nhau), Đa Ba là một huyện thời Lý Trần giáp biên giới (Tông sử q. 488 Giao Chỉ truyện đã nói đến huyện Đa Ba thuộc Giao Chỉ giáp đất Tống. Đan Ba ở vào đất huyện Đình Lập (Lạng Sơn) ngày nay. Như vậy, là Thoát Hoan đã bỏ con đường thẳng từ Sơn Động về Lộc Bình mà đi vòng ra phía Đình Lập.

12.   Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi truyện, t. 9b.

13.   Nguyên sử q. 129 Lai-a Bát-xích truyện t. 2a.

14.   15. Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi truyện t. 9b.

16.   Nguyên sử q. 129 Lai-a Bát-xích truyện t. 2a.

17.   Nguyên sử q. 129 Lai-a Bát-xích truyện t. 2a. Cương mục q. 8a còn chép cả Trương Ngọc cũng bị chết trên đường rút lui này. Nhưng Nguyên sử q 166 Trương Ngọc truyện (Trương Vinh Thực truyện phụ), chép rõ là Trương Ngọc chết trong trận Bạch Đằng. Ngọc là thủy quân vạn hộ (xem trước). Toàn thư q. 5, t. 54b chép: “Thoát Hoan và A-thai (A-tai) đem bộ chúng trốn về Tư Minh, thổ quan Hoàng Nghệ bắt được đem dâng”. Điều này cũng không đúng vì Thoát Hoan đã về được Trung Quốc, sau đó ra đóng ở Dương Châu (xem Nguyên sử q. 117 Thiếp Mộc Nhi Bất Hoa (Tämür Buqa) truyện).

18.   Nguyên sử q.15 Bản kỷ t. 3a.

19.   An Nam chí lược q. 13 Nội phụ hầu vương.

20.   Toàn thư q. 5, t. 54b.

21.   Toàn thư q. 5, t. 55a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 06:28:49 pm
(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200315_zpsftezfl6o.jpg)
Bài thơ ca tụng chiến thắng Bạch Đằng của Phạm Sư Mạnh, nhà thơ đời Trần, Khắc ở động Kinh Chủ, Hải Dương.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200317_zpslahhktcn.jpg)
  


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 08:13:00 pm
       
CHƯƠNG VIII

NHỮNG ÂM MƯU CUỐI CÙNG CỦA HỐT TẤT LIỆT THẤT BẠI

        “Bụi hồ không dám động chừ ngàn năm thăng bình”.
(Phú sông Bạch Đằng)       
Trương Hán Siêu           

        Một lần nữa Thoát Hoan thất bại trở về. Một lần nữa cơn giận của tên chúa Mông Cổ, Hốt Tất Liệt lại bùng lên. Hắn đuổi đứa con trai của hắn ra Dương Châu và hạ lệnh suốt đời không cho gặp mặt1. Tên tướng phụ tá Thoát Hoan là A-gu-ruc-tri bị đổi đi Giang Tây2.

        Hốt Tất Liệt muốn cho quân tấn công xâm lược Đại Việt ngay nhưng việc chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh mới không phải là dễ dàng. Hắn lại dùng cái phương pháp cũ là cử những sứ đoàn sang Đại Việt, hòng dùng lời lẽ đe dọa vua Trần, bắt vương triều Trần phải khuất phục. Nhưng làm sao tên chúa Nguyên có thể thực hiện được ảo vọng của hắn? Cả một dân tộc đã đứng dậy chiến đấu và chiến thắng tất cả kỵ binh, bộ binh và thủy binh của kẻ thù thì đời nào lại cúi đầu trước những “chiến thư” vừa hống hách vừa ngu xuẩn ấy được.

        Tuy nhiên, sau khi chiến thắng, để cho con ác thú khỏi phát điên lên và để tránh cho đất nước những tổn thất do chiến tranh, đứng trước một kẻ thù lớn như đế quốc Nguyên Mông, vương triều Trần vẫn phải dùng một biện pháp ngoại giao hết sức khéo léo và mềm dẻo.

        Sau khi Thoát Hoan chạy ra khỏi biên giới, vua Trần đã sai trung đại phu Trần Khắc Dụng và tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông đi sứ Nguyên3. Trong bài “biểu” gửi Hốt Tất Liệt viết vào tháng 4 năm Mậu Tý (2/5 – 31/5/1288), vua Trần đã hết sức mềm mỏng nhưng đồng thời cũng vạch rõ tội ác của giặc: “Năm Chí Nguyên thứ 23 (1285), bình chương A Lý Hải Nha (A-ric Kha-y-a) tham công ngoài biên giới, làm trái thánh chiếu4. vì thế mà sinh linh một phương nước nhỏ chúng tôi phải chịu lầm than… Mùa đông năm Chí Ngyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ tiến đánh, cướp giết dân chúng già trẻ, phá phách sản nghiệp trăm họ, không sót điều tàn ác gì không làm… Đến khi nhờ được thái (…) thương xót(?) nghe theo lời kêu xin của nước chúng tôi, rút đại quân về, tham chính Ô Mã Nhi lại đem quân thuyền của riêng ra ngoài biển, bắt hết nhân dân ven biển, lớn thì giết, bé thì cướp đi, cho đến cả treo trói mổ cắt, vứt mình nơi, đầu một ngả. Trăm họ bị bức đến chỗ chết, mới nổi lên cái họa chim cùng thú quẫn.

        Cũng trong tờ “biểu” đó, để làm dịu lòng căm tức của kẻ thù, vua Trần đã nhắc đến việc trả lại các tù binh. “Thấy bách tính đưa đến một người là đại vương Tích Lệ Cơ (Si-rê-ri) nói là bậc quý thích của đại quốc. Thần từ hôm đó đã lấy lễ đối đãi rất mực tôn trọng, kính hay không kính thì hỏi vương tất rõ, còn những hành vi tàn bạo của Ô Mã Nhi, vương trông thấy tận mắt, vi thần không dám nói dối. tiểu quốc thủy thổ độc, viêm chướng nhiều, thần lo ở lại lâu ngày sinh ra bệnh tật, tuy vi thần có hết sức phụng dưỡng song không khỏi bị những bọn tham công ngoài biên cương sàm tấu đặt điều cho nên tội. Vi thần kính xin sắm đủ lễ vật lên dường sai người đến biên giới đưa đại vương về nước… ngoài ra đại quân rơi rớt lại còn hơn nghìn người, thần đã ra lệnh cho trở về hết, sau này nếu còn tìm được người nào, quân cũng sẽ cho về. Tiểu quốc gần đây gặp cơn binh lửa, vả lại hiện nay khí trời còn nóng nực nên cống vật và sứ thần thực khó có ngay lập tức, đợi đến mùa đông mới sai người đi được…”6. Đến tháng 10 (27/10 – 24/11/1288), Đỗ Thiên Thừ, em Đỗ Khắc Chung lại được lệnh vua Trần lên đường đi sứ Nguyên7.

        Vua Trần đã cho Si-rê-ghi và một số tù binh được trở về nước trước. Si-rê-ghi tuy là đại quý tộc nhưng chỉ là một tên tù bị đi đày vì đã tham gia vào nhóm tông vương chống lại Hốt Tất Liệt8. còn những tên tướng lợi hại khác đã gây ra nhiều tội ác đẫm máu trong cuộc chiến tranh vừa qua như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đều còn bị bắt giữ9.

        Sau khi các sứ giả của vua Trần đến Trung Quốc, ngày Kỷ Hợi, 18 tháng 11 năm Mậu Tý (12/12/1288), Hốt Tất Liệt cử một sứ bộ sang Đại Việt10. Sứ bộ này gồm có viên đề hình án sát sứ đạo Sơn Bắc Liêu Đông là Lưu Đình Trực, viên Lễ bộ thị lang Lý Tư Diễn, viên Binh bộ lang trung Vạn Nô11. Ngoài ra còn có một số tên Mông Cổ khác như Tang-gu-tai (Tang’utai), Kha-xa (Qasar), Ông-ghi-ra-đai (Onggiradai) 12. Viên tham nghị trung thư Từ Minh Thiện cũng tham dự sứ bộ này13. Bọn chúng đưa đoàn sứ của vua Trần do Nguyễn Nghĩa Toàn cầm đầu đã bị bắt giữ trước đây tất cả là 24 người về nước. Ngày 26 tháng 11 năm Mậu Tý (20/12/1288), sứ bộ Nguyên xuất phát và đến Thăng Long ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Sửu (21/3/1289) 14.

        Bọn Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn đến Đại Việt lần này mang theo hai yêu sách của Hốt Tất Liệt. Thứ nhất là đòi vua Trần vào chầu. Trong tờ “chiếu” của Hốt Tất Liệt đề ngày tháng 12 năm Chí Nguyên 25 (25/12/1288 – 22/1/1289) mà bọn sứ Nguyên mang đến có đoạn “Nếu quả do lòng thành thì sao không tự mình đến mà bày tỏ, sao lại hễ nghe sai tướng sang đánh thì lo trốn tránh, hễ thấy quân rút về thì lại đánh tiếng vào cống… Ngươi thử nghĩ nếu cứ sống lẻn lút trên non dưới biển, ngày nào cũng lo quan quân kéo đến thì sao bằng vào khuyết đình chịu mệnh để hưởng sung sướng. Trong hai chước đó, chước nào hay chước nào dở?... Nếu ngươi sửa soạn đồ đạc sang ngay, đủ rõ nghĩa bề tôi, thì trẫm sẽ tha hết tất cả các tội lỗi trước kia, phục hồi các tước phong cũ. Nếu còn chần chừ không quyết thì hãy nên sửa sang thành quách, rèn luyện giáp binh, tùy ý ngươi muốn làm gì thì làm để chờ trẫm cất quân đi…”.

----------------
1.    Nguyên sử q. 117 Thiếp Mộc Nhi Bất Hoa truyện. Thiếp Mộc Nhi Bất Hoa tức Tê Mua Bu Kha (Tämür Buqa), con thứ tư của Thoát Hoan.

2.   Nguyên sử q. 131 Áo Lỗ Xích truyện.

3.   Theo Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, bản trong Thuyết phu t 6a, Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 14b-15a chép: “Ngày Canh Thìn (tháng 4, Chí Nguyên 25) (27/5/1288), quốc vương An Nam là Trần Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G) sai trung đại phu Trần Khắc Dụng đến cống phương vật An Nam chí lược q. 14 Trần thi khiển sứ có chép: “Năm Chí Nguyên Mậu Tý (1288), mùa xuân, Trấn Nam vương rút quân về, thế tử sai quan cận thị là Lý Tu, Đoàn Khả Dung cống phương vật tạ tội”. Không rõ sứ bộ này đi vào tháng nào, có cùng một lúc với Trần Khắc Dụng hay không?

4.   Vua Trần cố ý nhắc đến tờ chiếu của Hất Tất Liệt năm 1261 nói rằng đã cấm biên tướng tự tiện xâm lược Đại Việt. Ở đây, vua Trần quy tội cho A-ric Kha-y-a nhưng thực ra là muốn chỉ sự bội ước của Hất Tất Liệt.

5.   Thiên Nam hành ký, bản Thuyết phu, t. 1a - t. 2a.

6.   Thiên Nam hành ký, bản đã dẫn, t. 2a-t. 2b.

7.   Toàn thư q. 5, t. 56a.

8.   Về Si-rê-ghi (Širägi), xem chú thích ở Chương VII.

9.   Trong số những viên tướng Nguyên bị ta bắt giữ, có tên quan giữ văn thư dưới quyền Ô Mã Nhi là Lý Thiên Hựu trốn thoát. Theo bài bia Lý Thiên Hựu do Tô Thiên Tước soạn thì sau trận Bạch Đằng, “bọn hầu (chỉ Lý Thiên Hựu - T.G) bị bắt, liền cắt ngắn tóc hoặc không cho ăn, lăng nhục khốn khổ muôn phương… Lâu rồi việc canh phòng hơi nới lỏng, hầu thoát được trốn về, ngày ẩn đêm đi, nhặt hạt cây cỏ để ăn, mấy ngày mới đến được đất ta (chỉ Trung Quốc - T.G)”. (Xem Cố thừa sự lang Tượng sơn huyện doãn Lý hầu mộ bi trong Từ khê văn cảo q. 18).

10.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 7a.

11.   Theo Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 7a. An Nam chí lược q. 2, Thiên Nam hành ký. t. 3b-4a. Vạn Nô là một cái tên Mông Cổ hay Nữ Chân. Nguyên sử ngữ giải ghi âm là (Vannu) nhưng sách đó cũng không hiểu nghĩa là gì. Chúng tôi cho rằng cái tên này có gốc Trung Quốc. Trong Liêu sử Kim sử, Nguyên sử có nhiều tên có chữ nô ở sau như Vạn Nô, Vạn Gia Nô, Thiên Gia Nô. Bách Gia Nô, Thiên Hạ Nô, Lý Gia Nô, Vương Gia Nô, Phật Gia Nô, Quan âm Nô, La Hán Nô… (xem Tam sử đồng danh lục của Uông Huy Tô). Vạn Nô có lẽ cũng như Vạn Gia Nô “kẻ nô tì của muôn nhà” (Lý Gia Nô là “nô tì nhà họ Lý”, Thiên Hạ Nô là “nô tỳ của thiên hạ), Phật Gia Nô “nô tỳ của nhà Phật”, Quan âm Nô là “nô tỳ của đức Phật Quan Âm”…). Vì thế chúng tôi không khôi phục lại cách đọc Mông Cổ.

12.   Theo tờ chiếu của Hốt Tất Liệt tháng 12 năm Chí Nguyên 25 (15/12 – 22/1/1288) chép trong An Nam chí lược q. 2 và Thiên Nam hành ký t. 3a. Tang’utai tài liệu trên phiên âm là Đường Ngột Đải. Qasar là Cáp Tán Lạt và Onggiradai là ứng Cát Lạt Đải.

13.   Xem Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện và Xuyết canh tục của Đào Tông Nghi đời Nguyên, q. 4, t. 11b.

14.   Thiên Nam hành ký, bản đã dẫn, t. 4b.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 08:22:40 pm

        Thứ hai là Hốt Tất Liệt đòi vua Trần thả hết tù binh, đặc biệt là phải trao trả Ô Mã Nhi : “Si-rê-ghi là người tộc thuộc của ta, ngươi đã lấy lễ cho về, y là người có tội phải trích thú. Nếu ngươi lấy chuyện đó tô vẽ thêm thì hãy đem bọn quân quan Ô Mã Nhi Bạt Đô (‘Omarba’atur) trả về, như thế mới tỏ được lòng trung thuận. Ngày tiếp được chiếu thư này, bọn quân quản Ô Mã Nhi Bạt Đô phải cùng đến triều kiến. Bọn ấy nếu phải xử lý thế nào, trẫm sẽ phải khu xử hoàn bị. Ngươi phải cho đưa họ về tất cả” 1.

        Bọn sứ Nguyên được vua Trần tiếp đãi tử tế2. Nhà vua còn dùng vàng để mua chuộc chúng3. Nhưng cuối cùng, tất cả những yêu sách của Hốt Tất Liệt đều bị cự tuyệt. Vua Trần nhất định không sang chầu và Ô Mã Nhi thì không bao giờ trở về nữa. Tên tướng tàn ác ấy đã bị giết chết trước khi bọn sứ Nguyên đến Đại Việt.

        “Năm Kỷ Sửu (niên hiệu Trùng Hưng) thứ 5, mùa xuân, tháng hai (22/2 – 23/3/1289), nhà vua sai nội thư gia Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước. Dùng kế của Hưng Đạo vương, lấy người giỏi ở nước chở thuyền, đang đêm đục thuyền cho ngập nước, bọn Ô Mã Nhi chết đuối” 4.

        Phàn Tiếp cũng đã chết, vua Trần cho đốt xác rồi sai gia nhân hắn mang về nước.

        Bọn Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn thất bại trở về. Vua Trần sai các đại phu Đàm Minh, Chu Anh Chủng đi cùng với bọn sứ Nguyên sang Đại Đô (Bắc Kinh) 5. Trong thư gửi Hốt Tất Liệt, Trần Thánh Tông đã biện bạch về việc không sang chầu và về cái chết của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp:

        “… Vi thần ở nơi góc biển hẻo lánh, ốm đau lâu ngày, đường sá xa xôi, thủy thổ gian nan, tuy số mệnh do trời định nhưng cái chết vẫn là điều sợ nhất đối với con người… Năm ngoái nhân dân tiểu quốc đưa đến những quan quân còn sót lại vi thần tự xét hỏi, chỉ được ba người là đại vương Si-rê-ghi (Tích Lệ Cơ), tham chính Ô Mã Nhi và Phàn tham chính (chỉ Phàn Tiếp - T. G). Trăm họ đều căm giận vì vợ con bị giết chóc, nhà cửa bị đốt phá, nhiều người muốn làm điều trái nghĩa, nhưng vi thần hết lòng che chở, cấp dưỡng rất hậu, thê thiếp họ đều được ăn mặc đầy đủ. Trước khi về đã sắm đủ hành lý, đặc sai sứ thần là tông nghĩa lang Nguyễn Thịnh đi theo đại vương Si-rê-ghi cùng Tang-gu-tai (Đường Ngột Đải) 6 vào cửa khuyết. Trong khi đó, hai quan tham chính còn chậm lại sau vì đại quân vừa lui, ý sợ tham chính chưa nguôi lòng giận ắt sinh ra tai vạ nên đế chậm lại rồi mới sai đưa ra bên thuyền để lên đường. Ngờ đâu kẻ vi thần vô phúc, việc xảy ra trái với ý muốn, Phàn tham chính bỗng phát cơn sốt, vi thần đã dốc hết thuốc thang, thuê bộ hạ tìm thầy chạy chữa, nhưng cũng không khỏi, đến phải bỏ mạng. Vi thần đã hỏa táng, làm ma chay, rồi cấp ngựa cho thê thiếp ông ta để chở xương cốt, các thiên hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính7 đi hộ tống, cùng trở về nhà. Ngày Lưu thiên sứ (chỉ Lưu Đình Trực - T. G)  đế nói họ đã qua Ung Châu rồi. Hàng ngày đối đãi kính trọng hay không, hỏi thê thiếp ông ta cũng có thể biết được. Tham chính Ô Mã Nhi định ngày sẽ tiếp tục về sau. Vì đường ngang qua Vạn Kiếp8 nên ông ta xin tới gặp Hưng Đạo đế sắm sửa hành lý. Dọc đường đang đêm thuyền bị vấp để nước dột vào, tham chính mình to vóc lớn khó bề cứu vớt thành ra bị chết đuối. Những người phu của tiểu quốc cũng đều chết hết. Thê thiếp tiểu đồng của ông ta cũng suýt nữa chết, nhờ người nhỏ nhẹ mà cứu thoát được. Vi thần đã chôn cất ma chay ở bờ biển, thiên sử lang trung đã thấy tận mắt. Nếu có sự gì bất kính thì thê thiếp (tham chính) ở đó khó mà che giấu được. Vi thần đã sắm đủ lễ vật để đưa thê thiếp cùng với xá nhân, lang trung tiếp tục về nước. Số quân nhân ở chỗ vi thần cộng lại hơn tám nghìn người, trong đó hoặc cỏ kẻ là đầu mục cũng không được biết. Nay nhờ chiêu dụ, vi thần lại tìm kiếm, nếu thêm được bao nhiêu đầu mục, bao nhiêu quân nhân, đều cho theo thiên sứ về nước. Sau đây nên còn sót lại chưa về được hết thì vi thần sẽ cho về không dám lưu lại một người nào” 9.

        Tiếp sau Đàm Minh và Chu Anh Chủng, trong năm Kỷ Sửu (1289), vua Trần còn cử mấy sứ bộ nữa sang Nguyên10.

        Tất nhiên những lời biện bạch khôn khéo của vua Trần không thể nào làm tên chúa Nguyên thỏa mãn. Hốt Tất Liệt vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược Đại Việt. Tuy hắn đã ra lệnh cho quân lính đã đi đánh Đại Việt về nhà nghỉ một tháng11 và tháng 2 năm Kỷ Sửu (22/1 – 22/3/1289), bọn quan ở trung thư tỉnh đã đề nghị thu hồi phù ấn của Chinh Giao Chỉ hành tỉnh12 nhưng tất cả những sự việc đó tuyệt nhiên không nói lên rằng ý đồ xâm lược của Hốt Tất Liệt đã bị dập tắt. Từ ngày Ất Sửu 12 tháng 6 năm Mậu Tý (11/7/1288), Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho người Mông Cổ chỉ huy quân Hán tập duyệt thủy chiến13. Điều đó chứng tỏ tên vua Nguyên vẫn dòm ngó các nước phương Nam. Ngày Đinh Mão, 17 tháng 2 năm Kỷ Sửu (10/3/1289), viên quản quân vạn hộ Thành Đô là Lưu Đức Lộc xin đem 5 nghìn quân chiêu hàng các bộ lạc ở Tây Nam Trung Quốc rồi từ đó tiến quân đánh chiếm Đại Việt. Khu mật viện đề nghị lập nguyên soái phủ, lấy Lưu Đức Lộc làm đô nguyên soái và chia cho một vạn quân Tứ Xuyên. Hốt Tất Liệt đã nghe theo ý kiến đó14. Như vậy là hắn muốn chuẩn bị mở một con đường tấn công vào phía Tây Bắc của Đại Việt.

--------------
1.    Tờ chiếu của Hất Tất Liệt được chép lại trong An Nam chí lược q. 2, Đại Nguyên chiếu chế và trong Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện. Bản chép trong Thiên Nam hành ký đầy đủ hơn nhưng có vài chỗ sót chữ.

2.   Thiên Nam hành ký, bản đã dẫn, t. 4b-5a, chép: “Ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Sửu (Chí Nguyên) 26 (21/3/1289) đến cửa thành nước ấy. Em thế tử là thái sư ra đón… rồi đều lên ngựa về quán dịch. Ngày 29 (22/3/1289), thế tử và sứ giả gặp nhau. Sau quán dịch có nhà lầu, thế tử đi cửa sau vào trong nhà trước, mở cửa giữa mời sứ giả vào, chào hỏi chúc mừng nhà vua muôn phúc, sứ giả đi đường bình yên. Ngày mồng 1 tháng 3 (23/3/1289) đem đủ cờ xí, tán vàng, kèn trống đón chiếu thư vào vương thành. Đến cửa điện thì xuống ngựa rồi vào, đó là điện Tập Hiền… Làm lễ xong, đãi yến sứ giả hai ngày”.

3.   Xem Xuyết canh lục của Đào Tông Nghi, q. 4, mục Sứ Giao Chỉ.

4.   Toàn thư q. 5, t. 56a.

5.   Theo thư của vua Trần trong Thiên Nam hành ký, bản đã dẫn, t. 8a. An Nam chí lược q. 14 Trần thị khiển sứ lại chép: “Năm Chí Nguyên Kỷ Sửu (1289), thế tử (vua Trần-T.G) sai đại phu Đàm Chúng sang cống”. Có lẽ Đàm Chúng tức Đàm Minh trong Thiên Nam hành ký, hoặc An Nam chí lược đã chép lầm Đàm Minh và Chu Anh Chủng làm một.

6.   Căn cứ vào tài liệu này thì Tang-gu-tai có lẽ cũng là tù binh.

7.   Các thiên hộ này cũng là tù binh.

8.   Bản trong Thuyết phu và Cổ kim đồ thư tập thành in nhầm Vạn Kiếp thành Vạn Điền.

9.   Trong Thiên Nam hành ký, bản Thuyết phu, t. 5b-t.7b.

10.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ chép ngày mậu thìn tháng 4 năm Chí Nguyên 26 (10/5/1289), vua Trần sai Trần Khắc Dụng đến cống phương vật (t.10a) và đến ngày Đinh Hợi tháng 10 nhuận (25/11/1289), vua Trần lại sai sứ cống (t. 13a) nhưng lần này không chép rõ tên sứ.

11.   Hốt Tất Liệt đã ra lệnh này đến hai lần, một lần vào ngày Giáp Tuất tháng 4 năm Chí Nguyên 25 (21/5/1288), một lần vào ngày Bính Tuất tháng 7 cùng năm (1/8/1288). Xem Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 3b-5a.

12.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10a

13.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 4b.

14.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 9a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 08:32:40 pm

        Nhưng những cố gắng của Hốt Tất Liệt không có kết quả. Trong suốt hai năm Mậu Tý (Chí Nguyên 25, 1288) và Kỷ Sửu (Chí Nguyên 26, 1289), Hốt Tất Liệt vẫn không tổ chức được đạo quân xâm lược Đại Việt.

        Đó là vì tập đoàn các tông vương thuộc dòng họ Ô-gô-đây (Ögödäi) và dòng họ Tra-ga-tai (Čaatai) do Khai-đu (Qaidu) và Đu-oa (Duwa) cầm đầu chống lại Hốt Tất Liệt vẫn tiếp tục đánh phá ở phía bắc. Sau khi liên kết với tập đoàn tông vương Na-y-an (Nayan), thế lực của Khai-đu càng mạnh1. Năm Đinh Hợi (Chí Nguyên 24, 1287), Hốt Tất Liệt tự cầm quân đánh Na-y-an. Na-y-an bị bắt, Hốt Tất Liệt hạ lệnh cuốn Na-y-an vào trong hai tấm thảm lông rồi sai đánh chết2. Nhưng những chư vương thuộc nhóm Na-y-an như Kha-đan (Qadan) vẫn tiếp tục cùng với Khai-đu, Đu-oa tấn công trên tiếp vào vùng đất Hốt Tất Liệt kiểm soát trong suốt hai năm Mậu Tý (1288) và Kỷ Sửu (1289) 3. Đến ngày 1 tháng 7 năm Kỷ Sửu (19/7/1289), trước tình hình khẩn cấp của biên giới phía bắc, Hốt Tất Liệt lại phải tự đem quân chống cự với Khai-du4.

        Trong khi Hốt Tất Liệt phải dồn binh lực vào việc đối phó với tập đoàn các chư vương ở phía bắc, tất nhiên hắn không thể nào mở ngay được cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Hắn đành trả lại sứ bộ Nguyễn Nghĩa Toàn, sai bọn Lưu Đình Trực đi sứ nhưng cuối cùng vẫn không thu được kết quả gì.

        Năm Canh Dần, ngày 25 (3/7/1290), Thượng hoàng Thánh Tông chết. Tháng 8 năm đó (5/9 – 4/10/1290), Nhân Tông cử Ngô Đình Giới sang Nguyên báo tang5. Đến tháng 9 năm sau, năm Tân Mão (24 tháng 9 - 23 tháng 10-1291), vua Trần lại sai các đại phu Nghiêm Trọng Duy, Trần Tử Trường đi cống6. Hốt Tất Liệt muốn nhân cơ hội Thánh Tông chết đem quân đánh Đại Việt, nhưng viên thừa tướng Ôn-jây (Olǰäi) và viên bình chương Bi-gơ-mi-sơ (Bigmïš) đã can ngăn7. Bi-gơ-mi-sơ khuyên trước hết hãy sai sứ đến Đại Việt8. Hẳn Hốt Tất Liệt cũng không tin gì lắm vào lời bàn của Bi-gơ-mi-sơ vì bao nhiêu sứ giả sai đi đều không khuất phục được vua Trần. Nhưng do tình hình Trung Quốc vẫn không sáng sủa hơn đối với Hốt Tất Liệt, các cuộc khởi nghĩa vẫn kéo dài ở phương Nam và tập đoàn Khai-đu vẫn đánh phá ở phía Bắc nên tên vua Nguyên đành lại cử một sứ giả khác sang Đại Việt. Trương Lập Đạo - người đã đến Đại Việt năm 1267 và năm 1271, nay được cử làm lễ bộ thượng thư, đi sứ Đại Việt một lần nữa9. Đi cùng với Trương Lập Đạo là bộ binh lang trung Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämür), viên sứ Mông Cổ này cũng đã đến Đại Việt năm 128210. Hốt Tất Liệt chọn những tên sứ đã đến Đại Việt nhiều lần là mong chúng có kinh nghiệm trong việc giao thiệp với vương triều Trần.

(http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/CKC%20-%200332_zpszm0yrlyr.jpg)
Hốt Tất Liệt

-----------------
1.    Khai-đu (Qaidu, thư tịch Trung Quốc phiên âm là Hải Đô) chống nhau với Hốt Tất Liệt từ năm 1266. Khai-đu chiếm cứ vùng sông Emil và mở rộng phạm vi thế lực ra tận Đông Tua-ke-xtan và Nam Xi-bê-n. Na-y-an (Nayan, Nãi Nhan) chiếm cứ vùng Liêu Đông, trên đất Nữ Chân.

2.   Marco Polo sau khi chép về cái chết của Na-y-an, đã viết: “Người ta đã giết ông ta như vậy vì không muốn để dòng máu của hoàng tộc chảy trên mặt đất, phơi ra dưới vừng nhật và bầu trời” (!) Sách Marco Polo, chương LXXX).

3.   Xem Nguyên sử q. 15 Bản kỷ, Chí Nguyên 25 và 26; Nguyên sử kỷ sự bản mạt q. 2 Bắc biền chư vương chi loạn.

4.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ. t. 11b. Cho đến khi Hốt Tất Liệt chết, vẫn không tiêu diệt được thế lực Khai-đu. Mãi đến năm 1301, Khai-đu chết vì ốm.

5.   Toàn thư, q. 5, t. 59a.

6.   Nguyên sử q. 16 Bản kỷ t. 11b chép: “Ngày Tân Hợi (tháng 9 năm Chí Nguyên 28) (10-10-1291) vua An Nam Trần Nhật Huyên (phải chữa là Nhật Tôn- T.G) sai sứ dâng biểu cống phương vật và tạ tội không vào chầu”, An Nam chí lược q. 14, Trần thị khiển sứ chép: “Năm Chí Nguyên Tân Mão (1291), thế tử (chỉ vua Trần - T.G) sai đại phu Nghiêm Trọng Duy, Trần Tử Trường sang cống”. Bài biểu của vua Trần năm Chí Nguyên 29 (1292) chép trong An Nam chí lược q. 6 nói Nghiêm Trọng Duy và Trần Tử Trường đi sứ vào tháng 9 năm Chí Nguyên 27 (1290), phải chữa là Chí Nguyên 28 (1291) mới phù hợp với An Nam chí lược q. 14 và Bản kỷ. Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 2a chép là Nghiêm Trọng La và Trần Tử Lương do chữ Duy và chữ La chữ Trường và chữ Lương gần giống nhau.

7.   Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 2b. Theo Nguyên sử q. 16 Bản kỷ t. 11a thì ngày Kỷ Dậu tháng 7 Chí Nguyên 28 (9-8-1291), Hốt Tất Liệt gọi Trần ích Tắc về kinh đô. Có lẽ sự kiện này có dính dáng với âm mưu đem quân đánh Đại Việt năm 1291. Olǰäi, Nguyên sử phiên âm là Hoàn Trạch. Bigmïš Nguyên sử phiên âm là Bất Hất Mộc đời Càn Long đổi là Bác Quả Mật. Cương mục đời Nguyễn (q. 18, t. 16a) chép là Bác Quả Mật là dựa vào một bản Nguyên sử đã đổi theo cách phiên âm đời Thanh. Ở đây chúng tôi dựa vào Rasid ud Dīn để khôi phục tên người này (Tập sử biên niên, tập 2, bản dịch tiếng Nga, t. 179).

8.   Nguyên sử q. 130 Bất Hốt Mộc truyện. t. 5b.

9.   Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện, q. 16, Bản kỷ t. 12b.

10.   An Nam chí lược q. 3 Đại Nguyên Phụng sứ chép: “Năm Chí Nguyên 28 (1291), sai lễ bộ thượng thư Trương Lập Đạo, binh bộ lang trung Bất Nhãn Thiếp Mộc Nhi đưa Nghiêm Trọng Duy về nước”. Bất Nhãn Thiếp Mộc Nhi tức Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämür). Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 5b chép tháng 6 năm Chí Nguyên 29 (16/6 – 15/7/1292), Trương Lập Đạo và lang trung Oai Đầu đi sứ về. Chúng tôi cho rằng là chép nhầm từ chữ Bất Nhan (do chữ Hán viết đọc từ trên xuống) tức Buyan (Tämür)


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 08:39:12 pm

        Bọn Trương Lập Đạo lên đường vào tháng 12 năm Tân mão (22/12/1291 – 20/1/1292) và đến Đại Việt vào tháng 3 năm Nhâm Thìn (20/3 – 18/4/1292) 1 Sứ bộ Nghiêm Trọng Duy cũng trở về nước với Lập Đạo2. Cũng như Lưu Đình Trực và Lý Tư Diễn, Trương Lập Đạo lần này đến Đại Việt là với mục đích dụ vua Trần sang chầu, nhưng lần này, Hốt Tất Liệt không còn đòi vua Trần phải trả lại các tù binh như lần trước. Tên vua Mông Cổ đành bỏ qua việc đó vì hắn biết không thể yêu sách gì hơn khi Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đã chết. Ngay trong tờ chiếu gửi vua Trần lần này, Hốt Tất Liệt cũng phải thừa nhận sự thất bại của hắn: “… Cha ngươi giết chú, đuổi sứ của ta, để ta phải đem quân hỏi tội, sinh linh của ngươi chết chóc thực nhiều, mà quân lính của ta cũng tổn hại. Vì Trấn Nam vương Thoát Hoan ít tuổi, nghe nhầm tiến quân đường thủy, nên Toa Đô, Ô Mã Nhi rơi vào tay ngươi. Nhân thế ngươi được tạm yên đến nay…”. Hắn đe dọa “nước nào chống cự không phục thì nước ấy không khỏi bị diệt vong”, và hắn dụ dỗ, “nếu ngươi thân đến khuyết đình thì phù ấn tước vương ta cũng không tiếc”… 3. Khi đến Đại Việt, Trương Lập Đạo cũng phải bào chữa cho những thất bại của quân Nguyên, tuy bằng một cách khác: “Trước kia Trấn Nam vương phụng mệnh đi đánh, không phải là ngài có thể thắng được. Đó là do (Trấn Nam vương) không dùng người hướng đạo, đem quân vào sâu, không thấy một người nào, sinh nghi rồi trở về, nhưng chưa ra khỏi nơi hiểm trở thì bị mưa to gió lớn, cung tên đều hủy hoại, binh sĩ không đánh mà tự tan” 4. Sau khi giải thích sự thất bại của Thoát Hoan một cách buồn cười như vậy, Lập Đạo lại dọa dẫm vua Trần: “Ngài chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi. Nhưng người Vân Nam và người Lĩnh Nam thì tập tục giống nhau và tài nghệ sức lực ngang nhau. Nay đem quân ở đấy ra dùng, lại lấy thêm quân tinh nhuệ ở miền Bắc, thì ngài chống được chăng? Ngài đánh thua chẳng qua lại trốn ra biển. Dân ma di ở hải đảo tất thừa cơ đến cướp bóc. Ngài thiếu ăn, chống không nổi tất phải khuất phục chúng. Làm bề tôi của chúng sao bằng làm bề tôi của thiên tử” 5. Quân dân Đại Việt đã từng đọ sức với tất cả các loại quân đội nhà Nguyên. Quân Hồ Quảng cũng như quân Vân Nam, quân Giang Tây cũng như quân Hải Nam, trước sau đều thất bại trước sức chiến đấu của Đại Việt. Chính vì thế, những lời đe dọa của Trương Lập Đạo không làm vương triều Trần mảy may khiếp sợ.

        Trong thư Trương Lập Đạo gửi vua Trần, để phô trương thanh thế của đế quốc Nguyên Mông, y đã viết: “Phía Bắc đến khỏi âm Sơn, vốn là nơi thánh triều dựng nghiệp, phía Nam ra quá Viêm Hải, hết thảy vua các nước xưng thần. Tù trưởng các vùng Hồi Hột, Tây Vực qua bãi Lưu Sa mà đến cống, quốc chúa các nước Cao Ly, Đông Di vượt biển Doanh Hải để vào chầu. Vua các rợ Khiết Đan, Tây Hạ, Nữ Chân, vì trái trời mà bị diệt nước, chúa các nước Côn Ngô, Thổ Phồn, Bạch Thất, bởi theo mệnh nên được kết hôn. Các vua Vân Nam, Kim Xỉ, Bồ Chân, gửi con trai làm con tin, các miền Đại Hạ, Trung Nguyên, Vong Tống, hết toàn bộ làm tôi mọi. Duy nước An Nam là nước bé nhỏ, ngoài mặt thì phục tùng, trong lòng chưa thay đổi…”6. Điều Trương Lập Đạo nói đã phản ánh một sự thật khác, đó là sự quật cường của Đại Việt, một nước bé nhỏ ngang nhiên đương đầu với một đế quốc rộng lớn đã nô dịch nhiều dân tộc. Mặc cho Hốt Tất Liệt và Trương Lập Đạo tìm hết cách dọa nạt và lừa bịp, vua Trần vẫn cự tuyệt việc sang chầu7. Tháng 6 nhuận năm Nhâm Thìn (16/7 – 13/8/1292), Trương Lập Đạo, Bu-y-an Tê-mua trở về. Vua Trần sai Nguyễn Đại Phạp và Hà Duy Nham sang sứ8.

        Khi đi qua Ngạc Châu, Nguyễn Đại Phạp gặp Trần Ích Tắc ở tỉnh đường hành tỉnh Hồ Quảng. Đại Phạp không thèm chào tên Việt gian ấy. Ích Tắc hỏi: “Ngươi có phải là thư nhi ở nhà Chiêu Đạo vương9 không?”. Nguyễn Đại Phạp trả lời: “Việc đời biến đổi, Đại Phạp vốn là thư nhi nhà Chiêu Đạo vương, nhưng nay là sứ giả cũng như Bình chương10, xưa là con vua, nay lại là kẻ hàng giặc” 11. Bị cái tát vào mặt, Ích Tắc xấu hổ, từ đấy không dám gặp mặt các sứ Đại Việt đến nữa.

---------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 60a chép Trương Lập Đạo đến vào năm Tân mão (1291) nhưng theo Bài hành lục của Trướng thượng thư chép trong An Nam chí lược q. 3 thì ngày 18 tháng 3 năm Nhâm Thìn (6-4-1292) Trương Lập Đạo mới đến huyện Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn).

2.   An Nam chí lược q. 3.

3.   An Nam chí lược q. 2 Đại Nguyên chiếu chế.

4.   Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 2b.

5.   Như trên.

6.   Thư Trương Lập Đạo gửi vua Trần, xem An Nam chí lược q. 5.

7.   Trong thư gửi Hốt Tất Liệt năm 1292, Nhân Tông lại lấy cái cớ mà trước đây Thánh Tông đã dùng để từ chối việc sang chầu: “Thần sinh trưởng ở miền xa, không quen thủy thổ, không dạn nóng rét. Các sứ thần của tiểu quốc đi lại thường chết đến 6, 7 phần. Nếu không tự liệu thì chỉ chết ớ đường, vô ích cho việc… Thần há lại không muốn mắt xem thấy văn hóa thượng quốc, thân thấm nhuần ân huệ thánh triều, mà vội trái mệnh để chịu vạ ư? Trên có trời và mặt trời làm chứng, thực là do thường tình tham sống sợ chết…”. An Nam chí lược q. 6 Biểu chương, biểu năm Chí Nguyên 29 (1292).

8.   Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 5b. An Nam chí lược q. 3 Đại Nguyên phụng sứ q. 14 Trần thị khiển sứ. Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 3a và An Nam chí lược q. 14 chép nhầm chữ Phạp ra chữ Chi

9.   Tức Trần Quang Xưởng, con thứ Thái Tông, anh cùng mẹ với Ích Tắc.

10.   Bấy giờ Ích Tắc được giữ chức Bình chương chính sự hờ ở hành tỉnh Hồ Quảng. Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 4a chép: ngày Kỷ Dậu tháng 3 Chí Nguyên 29 (5-4-1292) “lấy An Nam quốc vương Trần Ích Tắc “dao thụ” Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh các xứ Hồ Quảng, mang hổ phù, ở Ngạc Châu. “Dao thụ” là trao cho chức nhưng không thực sự cai trị vùng đó.

11.   Toàn thư q. 5, t. 61b.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 08:45:13 pm

        Trương Lập Đạo đi sứ không có kết quả trở về thì ba tháng sau, tháng 9 năm Nhâm Thìn (12/10 – 12/11/1292) Hốt Tất Liệt lại sai viên lại bộ thượng thư Lương Tằng (Lương Tằng đã đến Đại Việt năm 1280) và lễ bộ lang trung Trần Phu đi sứ Đại Việt1. Tháng giêng năm Quý Ty (8/2 – 9/3/1293), bọn Lương Tằng và Trần Phu đến Thăng Long2. Trong chiếu thư, Hốt Tất Liệt trách Nhân Tông về việc không sang chầu: “Nếu bảo là mồ côi đang cư tang và sợ chết dọc đường mà không dám đến chầu thì trong loài hữu sinh, có loài nào an toàn trường cửu được chăng? Và trong thiên hạ lại có nơi nào bất tử chăng” 3.

        Trần Nhân Tông lấy cớ đang có tang, không chịu ra ngoài thành đón chiếu thư của Hốt Tất Liệt, chỉ sai Lê Khắc Phục ra dẫn bọn sứ Nguyên đi vào cửa bên của thành Thăng Long4. Bọn chúng không chịu, nằm ở nhà trạm, ba lần viết thư cho Nhân Tông. Tuy cuối cùng bọn Lương Tằng, Trần Phu được đi vào cửa Dương Minh, cửa giữa thành Thăng Long, nhưng Trần Nhân Tông vẫn cự tuyệt việc sang chầu5.

        Bọn Lương Tằng, Trần Phu tuy mặt ngoài tỏ vẻ hống hách nhưng kỳ thực rất run sợ trước uy lực của Đại Việt. Những câu thơ của Trần Phu sau khi đi sứ về đã toát lên nỗi sợ hãi đó:

                                            “… Kim qua ảnh lý đan tâm khổ
                                            Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh
                                            Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại
                                            Mộng hồi do giác chướng hồn kinh”(6)

                                            (Trong bóng giáo mác, tấm lòng đau khổ,
                                            Nghe tiếng trống đồng mà bạc cả tóc.
                                            May được trở về thân mạnh khỏe
                                            Mỗi khi mộng đến chuyện cũ còn thấy hồn kinh sợ).


        Tháng 3 năm Quý Ty (8/4 – 7/5/1293), Lương Tằng và Trần Phu về nước, Trần Nhân Tông sai Đào Tử Kỳ và Lương Văn Tảo sang Nguyên.

-----------------
1.    Nguyên sử q. 209 An Nam truyện.t. 10a. Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 6b chép việc này vào ngày Tân Dậu tháng 9 năm Chí Nguyên 29 (14/10/1292).

2.   Nguyên sử q. 178 Lương Tằng truyện t. 1b. 190 Trần Phu truyện t. 5a.

3.   Chiếu thư của Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 29 (1292), chép trong An Nam chí lược q. 2 Đại Nguyên chiếu chế và chép tóm tắt trong Nguyên sử q 209 An Nam truyện t. 10a-b.

4.   Theo Nguyên sử q. 178 Lương Tằng truyện t. 1b thì thành Thăng Long bấy giờ có ba cửa, cửa giữa là Dương Minh, cửa bên trái là Nhật Tân, cửa bên phải là Vân Hội. Ban đầu, vua Trần cho bọn sứ vào cửa Nhật Tân, chúng không chịu, sau lại định cho chúng vào cửa Vân Hội, chúng cũng không chịu, cuối cùng phải cho chúng vào cửa Dương Minh. Về các cửa và các kiến trúc ở Thăng Long, Trương Lập Đạo đến Đại Việt năm 1292 có ghi: “… Đi qua cầu Ngoạn Nguyệt, lầu Trường Minh, đến cửa Chính Dương, Lập Đạo xuống ngựa, bưng chiếu đi vào cửa Minh Dương (chắc là Dương Minh- T.G). Các người tùy tùng thì do cửa Vân Hội đi vào, còn các liêu thuộc nước An Nam thì do cửa Nhật Tân đi vào. Đến dưới gác Minh Hà, ở đấy có trải thảm đốt hương. Thế tử cùng với bọn tiếm thái sư là quốc thúc Chiêu Minh vương, thái úy là quốc đệ Tá Thiên vương, thiếu bảo, ngự sử đại phu, hàn lâm, cả thảy 8 người lên điện Thọ Quang… Xong rồi ra gác Triều Thiên, xuống điện Tập Hiền, đặt yến…” (Bài hành lực của Trương thượng thư chép lại trong An Nam chí lược q. 3).

5.   Nguyên sử q. 178 Lương Tằng truyện t. 1b chép: “Thư đi lại 3 lần”. Nguyên sử q. 190 Trần Phu truyện t. 5a chép: “Thư đi lại 3 lần… đều là do Phu soạn”. Trần Phu, trong Trần Cương Trung thi tập có chép lại 4 bức thư của Lương Tằng, Trần Phu và 4 bức thư của vua Trần (Nguyên phụng sứ dữ An Nam quốc vãng phúc thư) gồm có: 1) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 1 tháng giêng năm Chí Nguyên 30 (8/2/1293) đòi vua Trần ra đón tiếp. 2) Thư của Nhân Tông ngày 13 tháng 1 (20/2/1293) biện bạch về việc sai Lê Khắc Phục đón. 3) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 20 tháng 2 (29/3/1293) đòi Nhân Tông sang chầu. 4) Thư của vua Trần ngày 21 tháng 2 (30/3/1293) từ chối yêu sách đó. 5) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 21 tháng 2 (30/3/1293) đòi con trưởng của Nhân Tông sang chầu. 6) Thư của vua Trần ngày 25 tháng 2 (3/4/1293) từ chối việc để thái tử sang chầu. 7) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 1 tháng 3 (8/4/1293) về việc không nhận lễ vật của vua Trần. 8) Thư của vua Trần ngày 2 tháng 3 (9/4/1293) yêu cầu chúng nhận lễ vật.

6.   Trích trong bài “Giao châu sứ hoàn cảm sụ” ở Trần Cương Trung thi tập q 2 Sứ Giao chỉ. Lê Quý Đôn có chép lại bài thơ này trong Kiến văn tiểu lục.

7.   An Nam chí lược q. 9.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 08:53:46 pm

        Năm đó, Hốt Tất Liệt đã thất bại trong việc xâm lược Ja-va. Tháng 7 âm lịch (4/8 – 1/9/1293) đoàn binh thuyền của bọn bại tướng Y-gơ-mi-sơ (YïƔmïš), Cao Hưng, Sử Bật thất bại trở về1. Tên vua Nguyên càng muốn cấp tốc đánh chiếm Đại Việt. Tân Nguyên sử chép: “Năm Chí Nguyên 30 (1293)… Thế Tổ (Hốt Tất Liệt - T.G) triệu Lưu Quốc Kiệt2 vào bệ kiến và nói rằng: “Ja-va (Qua-oa) đã được lại mất, khanh hãy vì trẫm mà đi một chuyến”. Quốc Kiệt trả lời: “Ja-va là vật ở đầu ngón tay, An Nam là vật nằm trong bàn tay, thần xin vì bệ hạ mà chiếm lấy”. Vua nói: “Việc đó như ngứa trong tim, không phải gãi mà đến được. Lời Khanh nói thật hợp ý ta”. Vua bàn cất quân 10 vạn, Quốc Kiệt tâu rằng một vạn người cũng đủ dùng. Vua nói rằng một vạn người thì ít quá, lấy 5 vạn phiên binh giao cho. Quốc Kiệt xin một người cận thần làm giám. Vua hạ lệnh cho tự chọn. Bấy giờ thân vương I-ki-rê-đai (Ikirä-dai) 3 ở bên cạnh, Quốc Kiệt xin cho đi, vua bằng lòng” 4. Hồ Quảng An Nam hành tỉnh được thiết lập lại để phụ trách việc xâm lược5. Lưu Quốc Kiệt được giữ chức binh chương chính sự ở hành tỉnh này để chỉ huy đạo quân xâm lược. Chư vương I-ki-rê-đai được cử làm giám quân6. Bọn tướng tá dưới trướng Lưu Quốc Kiệt còn có Giang Tây hành khu mật viện phó sứ Trê-ri-man (Čäriman Triệt Lý Man) làm hữu thừa và Trần Nham, Triệu Tu Kỷ Vân Tòng Long, Trương Văn Hổ, Sầm Hùng. Con bài Trần Ích Tắc lại được dùng đến. Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho Quốc Kiệt đến Ngạc Châu bàn với Ích Tắc và đến tháng 8, Ích Tắc cùng đi theo đoàn quân xâm lược. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược, Hốt Tất Liệt đã cho tập trung đến 1.000 chiếc thuyền, mỗi chiếc chứa được 100 hộc. 56.570 quân, 35 vạn thạch lương thực, 2 vạn thạch thức ăn cho ngựa, 21 vạn cân muối, 70 vạn khí giới. Ngoài ra còn dự cấp bổng phụ cho quan quân và cấp cho quân lính, thủy thủ mỗi người 2 đĩnh tiền7. Hốt Tất Liệt còn sai Khu-tuc Tê-mua (Qutuq Tämür) đến Quảng Đông đôn đốc việc đóng 500 chiến thuyền để dùng vào việc đánh Đại Việt8. Để chuẩn bị chu đáo cho việc xâm lược, Hốt Tất Liệt còn ra lệnh cho dân ở vùng Hồ Tương đến lập đồn điền ở Quảng Tây nhưng Khác Kha Xun (Qarqasun) đã can việc ấy và đề nghị dùng người Nam Đan (Quảng Tây) đi khai đồn điền vì “đó là dân thổ trước, tiện lợi hơn, bên trong đủ để làm giàu đất bỏ không, bên ngoài đủ để chế ngự Giao Chỉ9.

        Bấy giờ, Hoàng Thánh Hứa10 là tri châu Thượng Tư (Thượng Lang, Cao Bằng ngày nay) đã tập hợp hàng vạn người tấn công vào Ung Châu. Hoàng Thánh Hứa liên kết với nhân dân miền núi Đại Việt, mỗi lần Hoàng Thánh Hứa thất bại lại lánh sang biên giới Đại Việt11. Vì thế Hốt Tất Liệt đã lấy cớ đánh Hoàng Thánh Hứa, sai Lưu Quốc Kiệt tiến quân đến Tĩnh Giang (Quế Lâm, Quảng Tây), đem thư gây sự với Đại Việt12. Sứ Đại Việt là Đào Tử Kỳ bị giữ lại ở Giang Lăng13. Quân Nguyên đóng ở Tĩnh Giang đợi đến mùa thu năm sau thì xuất phát. Đến mãi tháng 12 năm Quý Tỵ (29/12/1293 – 27/1/1294), bọn Quốc Kiệt vẫn còn tập trung quân: “Ngày Ất Vị (tháng 12) (11/1/1294), sai sứ đốc xuất hai châu Tư, Bá và Trấn Viễn, Hoàng Bình phát 8.000 quân Tống cũ theo đi đánh An Nam” 14.

        Nhưng đến ngày Quý Dậu tháng giêng năm Giáp Ngọ (18/2/1294) thì Hốt Tất Liệt chết. Tê-mua (Tämür) lên ngôi, tức Nguyên Thành Tông hạ lệnh bãi binh đánh Đại Việt. Đến đây, ý chí xâm lược của đế quốc Nguyên Mông đã hoàn toàn tan rã.

------------------
1.    Xem Nguyên sử q. 201 Qua Oa truyện, q. 162 Cao Hưng truyện q. 162 Sử Bật truyện q. 131 Diệc Hắc Mê Thất (Yïgmïš) truyện.

2.   Lưu Quốc Kiệt, An Nam chí lược chép là Lưu Nhị Bạt Đô. Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép: “Quốc Kiệt” được ban hiệu Bá Đô. Quốc Kiệt đứng hàng thứ hai nên gọi là Lưu Nhị Bá Đô mà không gọi tên. Bá Đô, tiếng Trung Quốc là người dũng cảm “ (t. 10a). Bá Đô hay Bạt Đô là phiên âm tiếng Mông Cổ ba’atur (xem chú thích về Ô Mã Nhi Bạt Đô ở chương trước).

3.   An Nam chí lược phiên âm là Ích Cát Lý Đãi, Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 11a phiên âm là Diệc Cát Lý (sót một chữ). Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10b phiên âm là Diệc Lý Cát Đãi, (ở đây chép nhầm là chữ cát ra sau. Đời Thanh cũng theo chỗ nhầm đó mà đổi thành I Lặc Cát Đại. Việt sử thông giám cương mục cũng chép theo như vậy Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép là Diệc Cát Liệt Thai. Tân nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép là Diệc Khất Lạt Thai. Tất cả những tên đó là phiên âm tên Mông Cổ I-ki-rê-đai (Ikirädai) có nghĩa là “người của bộ lạc Ikiras”.

4.   5. Tân Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện, t. 9a.

6.   Theo Nguyên sử q. 17 Bản kỷ, t. 11a thì Hất Tất Liệt sai Lưu Quốc Kiệt và I-ki-rê-đai đánh Đại Việt ngày Kỷ Tỵ tháng 7 năm Chí Nguyên 30 (19/8/1293).

7.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t.10b.

8.   Nguyên sử q. 122 Hổ Đô Thiết Mộc Lộc truyện. Hổ Đô Thiết Mộc Lộc là phiên âm tên Qutuq Tämür.

9.   Nguyên sử q. 136 Cáp Lạt Cáp Tôn truyện, t. 1b và bài bia Cáp Lạt Cáp Tôn (Thừa tướng Thuận đức Trung hiến vương bi) của Lưu Mẫn Trung, Nguyên văn loại, bản đã dẫn, t. 313. Cáp Lạt Cáp Tôn là phiên âm tên Qarqasun.

10.   Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép là Hoàng Thắng Hứa.

11.   Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Thánh Hứa kéo dài đến 1323. Xem mục Chiêu bổ trong Kinh thế đại điển tự lục Nguyên văn loại, bản đã dẫn, t. 585-t. 586).

12.   Bức thư của Lưu Quốc Kiệt gửi vua Trần được chép trong An Nam chí lược.

13.   Theo Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10b, An Nam chí lược q. 14. Theo Nguyên sử q. 17 Bản kỷ thì đến ngày 1 tháng 10 (31-10-l293) Hốt Tất Liệt cấp áo rét cho Đào Tử Kỳ và đem an trí ở Kinh Nam.

14.   Nguyên sử q. 17, Bản kỷ t. 12a.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:01:55 pm
       
CHƯƠNG IX

NGUYÊN NHÂN THĂNG LỢI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

“… Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận,           
cả nước ra sức, nên bọn giặc phải chịu bị bắt…”
       
Trần Quốc Tuấn                             

        Bọ ngựa dám chống xe, liệu sẽ ra thế nào?”. Ô Mã Nhi Bạt Đô (‘Omar-ba’atur) đã hỏi Đỗ Khắc Chung như vậy ở bên bờ sông Hồng, trước Thăng Long năm 12851. Nhưng viên tướng Mông Cổ đó cũng như toàn bộ đoàn thuyền chiến của y không bao giờ trở về nữa sau trận Bạch Đằng. Đạo quân xâm lược Nguyên Mông đã thất bại thảm hại trong ba lần tấn công vào Đại Việt và một lần tấn công vào Chiêm Thành. Nhân dân Việt Nam đã cầm vũ khí đứng lên trả lời cho kẻ thù như thế đó.

        Vì sao “sức bọ ngựa Việt Nam lại có thể làm đổ được cỗ xe của đế quốc Mông Cổ đã từng hằn bánh chiến thắng lên khắp các miền Âu-Á? Sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng sức mạnh của đội quân Mông Cổ, tính chất thiện chiến và kỹ năng bắn cung phi ngựa tuyệt vời của họ là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nhiều quốc gia và dân tộc phải chịu ách thống trị của kẻ thù hung hãn hoặc không còn tên trên bản đồ thế giới. Tài năng quân sự của Trin-ghít Khan (Thành Cát Tư Hãn) và những người thừa kế y có góp phần vào các chiến thắng của người Mông Cổ, nhưng điều đó cũng không phải là quyết định. Phải tìm nguyên nhân chủ yếu sự bại vong của các quốc gia đó ở bên trong. Chính sự chia rẽ, phân tán suy nhược của giai cấp phong kiến thống trị ở các nước đó đã làm mất sức chiến đấu trước sự xâm lược của quân Mông Cổ. Lịch sử tất cả các nước bị đế quốc Mông Cổ chinh phục nói lên rất rõ điều đó.

        Vương quốc Khô-re-xmơ (Khorezm) ở Trung Á bị Trinn-ghít Khan tấn công năm 1219. Vua Khô-re-xmơ là Mu-ham-mét (‘Alā-al- Dīn Muhammed) đã bóc lột nhân dân rất tàn tệ và đã mở rộng đất đai của mình bằng cách luôn luôn gây các cuộc chiến tranh ăn cướp đẫm máu. Khi nghe tin Mông Cổ tấn công, Mu-ham-mét vô cùng khiếp sợ, theo y, “quân Mông Cổ đông đến nỗi chỉ ném roi ngựa cũng đủ để lấp hào thành”. Vì thế, quân Mông Cổ chưa đến, y đã bỏ thành chạy. Trước khi rời bỏ Khô-re-xmơ, y còn đem tất cả vương hầu các nước đã bị y chinh phục còn bị giam dìm chết ở sông A-mu Đa-ry-a. Nhân dân nguyền rủa y. Bọn thống trị các tiểu quốc cũng căm giận y, chúng đầu hàng Mông Cổ và đem quân đánh đuổi y. Cuối cùng Mu-ham-mét chết trên một hòn đảo nhỏ trong biển Lý Hải. Các thành thị văn minh ở Trung Á như Bu-kha-ra, Xa-mác-khan, lần lượt bị hủy diệt, tuy nhân dân ở đây đã chiến đấu rất anh dũng.

        Khi quân Mông Cổ từ Trung Á tiến đánh châu Âu, liên quân các công quốc Nga Xu-dơ-đan, Xmô-len, Ki-ép, Tréc-ni-gốp đã chặn giặc ở sông Kan-ka. Nhưng ngay trong giờ phút nguy cấp, các công vương đã bất hòa với nhau và chiến đấu đơn độc, cuối cùng đã thất bại bi thảm. Nước Nga cũng như các nước Đông Âu đã bị vó ngựa Mông Cổ giày xéo vì chế độ phong kiến phân tán bấy giờ đã làm cho giai cấp thống trị không thể nào đoàn kết được với nhau và huy động được nhân dân kháng chiến.

        Ở phương Đông, nước Kim cũng chịu chung một số phận. Bọn thống trị phong kiến khuynh loát lẫn nhau và nhân dân Trung Quốc liên tiếp nổi dậy chống ách thống trị ngoại tộc đã làm cho vương quốc Kim hoàn toàn suy yếu. Khi Mông Cổ tấn công, vua Kim đã phải bỏ Biện Kinh, chạy về Quy Đức. Khi Xu-bê-tai vây Biện Kinh, bọn tướng Kim giữ thành chém giết lẫn nhau rồi dâng thành cho địch. Ở Quy Đức, bọn tướng Kim cũng giết lẫn nhau, còn quân lính thì vô cùng căm giận bọn thống trị. Cuối cùng vua Kim phải chạy về Thái Châu rồi tự sát khi thành sắp vỡ.

        Nước Kim mất, quân Mông Cổ vượt Trường Giang đánh Tống. “Hốt Tất Liệt ở Trung Quốc không thu được kết quả (như Hu-lê-gu ở Ba-gơ-đát), y đã gặp sức chống cự mãnh liệt của người Tống ở Nam Trung Quốc” 2. Nhưng mặc dầu nhân dân Nam Tống đã anh dũng chống giặc, nhất là dưới sự chỉ huy của người anh hùng Văn Thiên Tường, tình thế vẫn không thể cứu vãn được. Triều đình Nam Tống đã hoàn toàn suy yếu. “Cái nạn cường hào kiêm tinh ruộng đất, đến nay là tột độ” 3. “Dân đều tan nhà phá sản, oán hận vào sâu xương tủy” 4. Quyền binh triều đình nằm trong tay bọn gian thần Giả Tự Đạo, Trần Nghi Trung, khiếp nhược trước kẻ thù, chỉ mong cầu hòa, không dám tổ chức nghĩa quân để giữ nước, vì sợ sức mạnh nông dân, hãm hại những người yêu nước, tước bỏ mọi khả năng vũ trang phòng ngự. Kết quả là nhà Tống mất.

        Sau khi lấy được Nam Tống, bọn xâm lược Mông Cổ ra sức xâm lược các nước xung quanh. Vua Triều Tiên là Cao Tông Triệt buổi đầu đã rời đô ra đảo Giang Hoa, chống lại kẻ thù. Nhưng khi con trai ông là Điển làm con tin ở triều đình Mông Cổ về nước thì tình hình đổi khác. Điển biến thành tay sai đắc lực cho kẻ thù. Y lại dời đô về Khai Thành và Triều Tiên thực sự trở thành một thuộc quốc của đế quốc Mông Cổ.

        Trên bán đảo Đông Dương, số phận của nước Miến cũng không khá hơn. Năm 1284, khi bị Mông Cổ tấn công, vua Miến là Narasīhapati đã bỏ thành chạy. Sau khi Narasīhapati chết, con trai là Sihasūra đã giết anh là Urzanū để đoạt ngôi. Tình trạng hỗn chiến, chém giết và khuynh loát lẫn nhau đó đã làm cho vương triều Pagan suy nhược. Năm 1287, quân Mông Cổ đánh chiếm được kinh đô Pagan, vương triều Pagan đổ.

        Như vậy là từ những miền xa xôi cho đến những nước gần Việt Nam, cái nguyên nhân quyết định sự thất bại trước quân xâm lược Mông Cổ quyết không phải là nguyên nhân bên ngoài, ở sức mạnh của người Mông Cổ, mà là nguyên nhân bên trong. Đó là sự chia rẽ trong hàng ngũ giai cấp thống trị phong kiến, không đoàn kết được nhân dân đứng lên bảo vệ đất nước.

------------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 46a.

2.   Lưu trữ Mác và Ăngghen, t.V, bản tiếng Nga, t.229.

3.   Tống sử q.173 Thực hóa chí.

4.   Chu Mật (132-1208): Tề đông dã ngữ, bản Tảo diệp sơn phòng q. 17, t. 5b.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:06:23 pm

        Tình hình Việt Nam thế kỷ XIII khác hẳn các nước trên. Chính quyền phong kiến Việt Nam bấy giờ là một chính quyền tập trung chứ không phải là phân tán như nhiều quốc gia châu Âu. Nó cũng không giống với chính quyền tập trung đang ngắc ngoải của Nam Tống. Sau khi chấm dứt được tình trạng hỗn chiến cát cứ cuối thời kỳ Lý, vương triều Trần đã xây dựng đươc một chính quyền tập trung mạnh mẽ. Đời sống của nhân dân được ổn định, mức sản xuất phát triển1. Vào lúc đó đế quốc Mông Cổ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến Đại Việt và nông dân còn được hòa hoãn, chưa phải đã phát triển đến mức độ gay gắt. Đứng trước cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù, giai cấp phong kiến Đại Việt đã đoàn kết được toàn dân đứng dậy kháng chiến cứu nước. Bấy giờ, giai cấp phong kiến còn đóng vai trò lịch sử của nó. Từ khi xây dựng được nhà nước phong kiến tự chủ vào thế kỷ X, giai cấp phong kiến còn mang trong bản thân nó tinh thần dân tộc. Đó là ý thức xây dựng một nhà nước tự chủ độc lập. Tinh thần đó được đánh dấu trong chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, trong chiến thắng của Lê Hoàn năm 981 và của Lý Thường Kiệt năm 1075. Đó là những trang sử sáng chói trong lịch sử dân tộc. Giai cấp phong kiến thế kỷ thứ XIII còn giữ được tinh thần đó qua những thế kỷ hùng tráng buổi đầu thời kỳ tự chủ. Trước nguy cơ đất nước rơi vào tay giặc ngoài, quý tộc phong kiến Trần đã quyết tâm kháng chiến đến cùng. Quyết tâm đó không thể chỉ giải thích một cách đơn giản bằng yêu cầu bảo vệ thái ấp điền trang và các quyền lợi vật chất khác. Quyết tâm đó còn nói lên tinh thần yêu nước nồng nàn của họ. Câu của Trần Thủ Độ nói với Thái Tông: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”, và câu của Trần Quốc Tuấn nói với Nhân Tông: “Trước chém đầu thần rồi sau hãy hàng”, biểu hiện khí phách anh hùng của quý tộc họ Trần. Chú bé Trần Quốc Toản phẫn nộ không được tham dự hội nghị quân sự Bình Than, đã tự mình lập đội quân cảm tử với lá cờ thêu sáu chữ vàng, luôn luôn xông lên phía trước làm quân thù khiếp sợ. Trần Bình Trọng bị giặc bắt, không chịu hàng, khảng khái thét vào mặt kẻ thù: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, câu nói ấy còn ghi mãi trong những trang sử vẻ vang của dân tộc. Tinh thần yêu nước bất khuất của quý tộc Trần cũng phản ánh tinh thần của cả một dân tộc quyết đứng dậy bảo vệ đất nước, không chịu cúi đầu làm nô lệ cho bọn cướp nước. Có bộ phận quan liêu quý tộc đầu hàng giặc nhưng đó chỉ là một phân số nhỏ. Những tên hèn nhát đó đã bị lịch sử lên án, nhưng không phải vì thế mà chúng ta quên rằng đại bộ phận quý tộc Trần đã xứng đáng với Tổ quốc.

        Lúc Tổ quốc lâm nguy, tầng lớp quý tộc Trần đã đoàn kết thành một khối. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn không vì mối thù gia đình mà bỏ nghĩa cả. ông không theo di mệnh của cha2, cùng triều đình Trần và toàn thể quân dân một lòng một dạ chiến đấu vì đất nước. Hai người tướng tài Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải vốn bất hòa với nhau nhưng trước sự tấn công xâm lược của giặc Mông Cổ, đã đoàn kết với nhau chung lo việc nước3.

        Nhưng không phải chỉ có thế. Tầng lớp quý tộc còn tập hợp được nhân dân quanh mình để đánh giặc, giữ nước. Đó là vì “người nông dân xưa coi việc bảo vệ nền độc lập của nước nhà là công việc của chính mình chứ không phải là công việc của giai cấp phong kiến” 4. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại này, chính sức mạnh đoàn kết và tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn dân là yếu tố quyết định chiến thắng. Mặc dầu còn những mặt hạn chế do thời đại và giai cấp, không nghi ngờ gì nữa, cuộc chiến tranh vệ quốc thế kỷ XIII là một cuộc kháng chiến của toàn dân, một cuộc chiến tranh nhân dân, theo cách nói của Ăngghen, “một cuộc chiến tranh nhân dân để bảo tồn dân tộc”. “một cuộc chiến tranh pro aris et focis (bảo vệ quê cha đất tổ)” 5. Đó là một cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ quyền lợi thiêng liêng của dân tộc chống lại cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của một kẻ thù tàn bạo hung hãn nhất trên thế giới đương thời. Sức mạnh chính nghĩa đó đã huy động được toàn dân tham gia kháng chiến, đã khơi được tinh thần anh dũng chống giặc của nhân dân. Những tiếng hô “quyết đánh” của các bô lão vang lên ở điện Diên Hồng vào mùa đông năm Giáp Thân (1285) là tiếng nói của cả dân tộc. Hội nghỉ lịch sử đó đã thể hiện quyết tâm sắt đá kháng chiến của toàn dân trước kẻ thù xâm lược. Đã gần bảy trăm năm trôi qua, nhưng mỗi khi giở lại những trang sử oanh liệt chồng ngoại xâm thế kỷ XIII, chúng ta còn nghe như âm vang tiếng hô quyết đánh ở điện Diên Hồng. Quyết chiến và quyết thắng, dầu kẻ thù có mạnh mẽ hung bạo đến dâu! Cuối cùng tên kẻ cướp khổng lồ đó đã ngã gục, chính là vì nó đã gặp một dân tộc đứng lên với tinh thần Diên Hồng, tinh thần quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước. Hội nghị Diên Hồng còn biểu hiện sự gắn liền yêu cầu độc lập dân tộc của nhân dân với yêu cầu tự đo dân chủ. “Lực lượng quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc bao giờ cũng là khối đoàn kết chặt chẽ của cả dân tộc mà nông dân là lực lượng lớn nhất, mạnh nhất. Trong khi đấu tranh cho độc lập dân tộc, nhân dân ta cũng biểu thị nguyện vọng dân chủ, ý thức làm chủ đất nước. Câu hỏi “hòa hay chiến” cùng tiếng trả lời “quyết chiến?” Ở hội nghị Diên Hồng ngày xưa chính là một trong những biểu hiện sơ khai của sự kết hợp giữa tinh thần cứu nước và ý thức dân chủ của nhân dân ta” 6.

---------------
1.    Xem chương I.

2.   Trần Thủ Độ buộc Thái Tông Trần Cảnh phải lấy vợ của Trần Liễu (Trần Liễu là cha Trần Quốc Tuấn). Trần Liễu trước lúc chết dặn Quốc Tuấn phải trả mối thù đó. Xem Toàn thư q. 6, t. 9b.

3.   Xem Toàn thư q. 6, t. 2a.

4.   Lê Duẩn: Thanh niên trong các lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Nxb Sự Thật, Hà Nội 1966, tr. 20.

5.   Chữ La Tinh trong nguyên văn câu của Ăngghen, nghĩa đen là “vì bàn thờ và bếp”. Xem Ăngnghen: Chiến tranh thực dân của nước Anh trong Tuyển tập luận văn quân sự của Ăngghen, I, in lần 2, Nxb Quân đội nhân dân, tr. 99.

6.   Lê Duẩn: Thanh niên… Sách đã dẫn tr.26.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:10:14 pm

        Toàn dân đã tích cực tham gia kháng chiến. Ở đây, quân Mông Cổ không phải chỉ đọ sức với quân đội Trần mà là đương đầu với cả toàn thể nhân dân Đại Việt. Khi tiến vào đất chúng ta, quân địch đã thấy treo ở khắp nơi những tấm biển với dòng chữ: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nêu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”. Với một lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân cả nước đã thực hiện mệnh lệnh kháng chiến của triều đình. Toàn dân đã tham gia vào việc cất giấu lương thực, làm vườn không nhà trống. Việc đó đã gây cho địch những khó khăn lớn. Trong mấy lần chiến tranh, quân giặc đều khốn đốn vì thiếu lương thực, không những thuyền lương bị quân đội Trần đánh tan mà còn là vì chúng không tài nào cướp được lương thực trong nhân dân. Trong khi đó, nhân dân lại tích cực giúp đỡ quân đội Trần mọi mặt. Chính sử không chép rõ, nhưng điều này được phản ánh qua truyền thuyết ở nhiều nơi. Chẳng hạn đền Vua Bà ở gần sông Bạch Đằng là đền thờ một người phụ nữ đã mang lương thực ủng hộ quân Trần và mách cho Hưng Đạo vương Quốc Tuấn ngày con nước của sông này. Có những truyền thuyết khác nói về sự tham gia của nhân dân trong việc đóng cọc ở sông Bạch Đằng. Thần tích làng Do Lễ (xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) trân trọng ghi lại chiến công của người anh hùng Vũ Nguyên mà dân làng tôn thờ. Đó là một cố nông phải cày thuê cuốc mướn để nuôi mẹ già: Thế rồi một hôm, quân Trần lớp lớp kéo qua làng, Vũ Nguyên gặp Hưng Đạo vương bên bờ ruộng, giữa buổi cày và chàng rời bỏ ruộng đồng, từ tạ mẹ già, theo vương đi giết giặc, lập công lớn trong trận Bạch Đằng. Tất cả những truyền thuyết đã nói lên một điều có thật, đó là mối tình đoàn kết quân dân đời Trần và vai trò lớn lao của nhân dân trong cuộc kháng chiến. Chính toàn dân đã cầm vũ khí đánh giặc giữ làng giữ nước. Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi lại chiến công oanh liệt của một làng chiến đấu bên bờ sông Đáy, làng Cổ Sở. Năm 1258, người dân Cổ Sở đã đánh tan bọn giặc Mông Cổ khi chúng toan tiến vào cướp phá thôn xóm. Năm 1288, Cổ Sở lại anh dũng chống giặc và quân thù không thể nào xâm phạm được cái hương ấp bé nhỏ mà quật cường này1.

        Hoạt động chiến đấu của nhân dân khắp nơi đã làm địch khiếp sợ. Nhân dân đã tổ chức lại thành các đội dân binh - như sử cũ đã chép - chiến đấu ở các địa phương, phối hợp với các đơn vị triều đình. Những đội dân binh đó chẳng những đã chiến đấu ở các địa phương mà lúc thời cơ đến, đã phối hợp với quân chủ lực của triều đình trong cuộc phản công lớn như các đội dân binh do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền chỉ huy kéo về giải phóng Thăng Long năm 1285.

        Một biểu hiện tính nhân dân của cuộc đấu tranh chống xâm lược thế kỷ XIII là sự tham gia của tất cả các tầng lớp nhân dân vào cuộc chiến đấu một mất một còn này. Lực lượng chủ yếu tất nhiên là những người nông dân tự do của các làng xã hay là những người nông dân lệ thuộc trong các thái ấp. Đẳng cấp có địa vị thấp kém nhất trong xã hội bấy giờ là nô tì đã có những cống hiến lớn vào cuộc kháng chiến. Bên cạnh những đội quân dược tổ chức từ những người nông dân tự do, những đội quân của vương hầu mà lực lượng chủ yếu là nô tì cũng có một tác dụng quan trọng trong chiến tranh. Yết Kiêu, Dã Tượng2, Nguyễn Địa Lô là những gia nô của Trần Quốc Tuấn đã lập được nhiều chiến công. Nguyễn Địa Lô đã bắn chết tên Việt gian Trần Kiện ở Lạng Sơn. Yết Kiêu đã biểu hiện lòng can đảm và tính kỷ luật trong việc cắm thuyền đợi Quốc Tuấn ở Bãi Tân. Đánh giá công lao của nô tì, Quốc Tuấn đã nói: “Ôi, chim hồng hộc có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh, nếu không có thì cũng như chim thường thôi!”. Trần Nhân Tông cũng đã nói về các nô tì: “Ngày thường thì bao nhiêu người hầu hạ xung quanh, đến khi nước nhà gặp hoạn nạn thì chỉ thấy có bọn ấy thôi”.

        Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ, nhân dân các dân tộc thiểu số miền núi đã kề vai sát cánh với nhân dân dân tộc Việt, đánh cho quân thù thất điên bát đảo Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, quân Mông Cổ đã tan tác sau trận tập kích của người anh hùng vùng núi Hà Bổng ở trại Quy Hóa. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, hai anh em Hà Đặc và Hà Chương đã lập được những chiến công rực rỡ. Sau cuộc kháng chiến lần thứ ba, Hà Tất Năng được phong tước hầu vì đã có công lớn. Ở mặt Lạng Sơn, các tù trưởng vùng núi như Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh đã cùng đội dân quân của mình, chiến đấu bên cạnh quân triều đình, làm quân thù nhiều phen hoảng sợ Nổi tiếng là trận đánh bọn Trần Kiện và tên tướng Mông Cổ Mang-lai Xi-ban vào năm 1285. Cuộc chiến tranh yêu nước thế kỷ XIII quả đã cho chúng ta một hình ảnh đẹp đẽ về khối đại đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

        Sức mạnh đoàn kết toàn dân, nguồn gốc của thắng lợi còn được phản ánh qua tinh thần đoàn kết chiến đấu của quân đội. Trần Quốc Tuấn đã từng nói với các tướng sĩ: “Lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười” 3. Nhà quân sự thiên tài đó đã nhận thấy khối đoàn kết quân sĩ là một yếu tố để chiến thắng. ông đã nói với Trần Nhân Tông: “Làm thế nào thu hút được binh lính như cha con một nhà mới có thể dùng được”. Điều đó đã trở thành nguyên tắc xây dựng quân đội thời Trần. Những tướng tài dưới quyền chỉ huy của Trần Quốc Tuấn đã tuân theo nguyên tắc đó. Phạm Ngũ Lão từng đồng cam cộng khổ với quân sĩ và đội quân của ông được gọi là “phu tử chi binh”. Chính quân đội thời Trần, với tình gắn bó bền chặt giữa tướng lĩnh và quân sĩ như cha với con, với tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc biểu lộ ở hai chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay, đã trực tiếp góp phần vào chiến thắng của dân tộc.

---------------
1.    Toàn thư q. 2, t. 8b, Cổ Sở nay là xã Yên Sở huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Các cuộc chiến đấu của nhân dân Cổ Sở cũng được chép lại trong một bài bia do Nguyễn Tuấn Ngạn soạn năm 1671 ở xã Yên Sở.

2.    “Dã Tượng” nghĩa là “voi rừng”, “Yếu Kiêu” theo Nhĩ nhã (Thích súc) và Kinh Thi (Tần Phong) là chỉ một loài chó săn ngắn mõm. Những tên đó đặt cho người cũng cho ta biết địa vị thấp kém của tầng lớp nô tì.

3.   Hịch tướng sĩ.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:14:37 pm

        Con đường dẫn tới thắng lợi của cuộc kháng chiến đã được Trần Quốc Tuấn chỉ ra rất rõ ràng trong lời nói với vua Trần Nhân Tông ngày 24 tháng 6 năm Canh Tý (11/7/1300), lúc ông bệnh nặng sắp mất:

        “Ngày trước Triệu Vũ dựng nước, vua Hán đem quân sang đánh, bấy giờ tiểu dân làm chước thanh dã (phá hết hoa màu ở đồng nội) còn đại quân ra châu Liêm, châu Khâm, đánh Trường Sa, dùng đoản binh đánh tập hậu, đấy là một thời. Đời Đinh - Lê, dùng được người hiền tài, phương Nam đương mạnh, phương Bắc đương suy, trên dưới đồng tâm, lòng dân không ly tán, đắp thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống, đấy là một thời. Vua Lý dụng nghiệp, quân Tống xâm lấn địa giới, lúc ấy dùng Lý Thường Kiệt, đánh Khâm - Liêm, đến tận Mai Lĩnh, đấy là có thêm lực mạnh. Mới rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, nhưng vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước ra sức, nên bọn giặc phải chịu bị bắt, đó là do trời xui khiến.

        Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, ta cậy vào đoản binh, lấy đoản mà chống trường là sự thường trong binh pháp. Nếu thấy quân giặc lướt trên như lửa như gió thì dễ chống lại thế giặc. Nếu chúng dùng cách chiếm cứ dần như tằm ăn dâu, không lấy của dân, không cầu chóng được thì mình phải dùng tướng giỏi, xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến, thu hút được binh sĩ như cha con một nhà, mới có thể dùng được. Vả lai, phải nới sức dân, làm kế rễ sân gốc vững, ấy là thượng sách giữ nước”
1.

        Lời nói đó đã tổng kết kinh nghiệm các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trước thế kỷ XIII và cả cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ. Chẳng những Trần Quốc Tuấn đã nêu lên những nguyên nhân thắng lợi mà còn vạch ra những đường lối chiến lược, chiến thuật đúng đắn. Đường lối đó biểu hiện thiên tài quân sự của ông.

        Đồng chí Trường Chinh đã viết: “Ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến đời nhà Trần là mưu cao mẹo giỏi” 2.  Ngay một số sử gia phong kiến Trung Quốc cũng phải khâm phục phép dùng binh của những người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mông Cổ của quân dân ta thời Trần. Trương Phổ - một học giả đời Minh, khi bình luận sách Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm đã viết:

        “Trấn Nam vương Thoát Hoan tiến binh, vua An Nam Trần Nhật Huyên (chỉ Thượng hoàng Thánh Tông - T.G) đem quân chống lại, quân Thoát Hoan tuy có ngựa mạnh, rong ruổi nhanh như chớp, đánh thành phá ấp, nhưng giữa đường quay giáo lui, quân lính tan nát trong chốn của quân kia, Toa Đô, Lý Hằng đồng thời tử chiến… Thoát Hoan xuất quân lần nữa, Nhật Huyên chạy đi để rồi đón lúc về, đánh lúc mệt, quân Nguyên lại thất bại. Đó là vì quân kia tránh cái thế hăng hái lúc ban mai, đánh cái khí tàn lụn lúc buổi chiều, giấu mình nơi biển khơi, phục quân chốn ải hiểm, quân Nguyên tuy hùng hổ kéo đến, chưa từng thắng được một trận. Có thể nói là Nhật Huyên có tài dùng binh vậy” 3.

        Tài dùng binh, theo cách nói của chúng ta ngày nay là nghệ thuật quân sự. Không nghi ngờ gì nữa, Trần Quốc Tuấn là những người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược thế kỷ thứ XIII đã có những đóng góp quý báu vào kho tàng nghệ. thuật quân sự phong phú và có truyền thống lâu đời của dân tộc ta.

        Cuộc chiến tranh chống xâm lược Nguyên Mông là một cuộc chiến tranh chính nghĩa và đồng thời là một cuộc chiến tranh tự vệ. Vì vậy, nó có những nét khác biệt với những cuộc chiến tranh giải phóng4. Bấy giờ, chúng ta có một chính quyền dân tộc độc lập: vương triều Trần. Chúng ta có một lực lượng vũ trang được tổ chức và huấn luyện khá chu đáo đó là “đội quân cha con”, “ba quân như hùm beo, khí thế muốn nuốt trâu”. Cả đất nước đã được chuẩn bị trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Nhưng kẻ thù của chúng ta, phải nói là rất mạnh, đó là một kẻ thù “hung bạo đã xâm lược phần lớn châu Á, châu Âu và đánh đâu thắng đó” 5. Không thể nào ngăn chặn, đánh tiêu diệt một kẻ thù như thế khi nó đang tiến vào biên giới. Một vùng đất đai sẽ tạm thời bị chiếm, hình thái chiến tranh cài răng lược, theo cách nói ngày nay, sẽ hình thành. Làm thế nào để cho tên cướp hung bạo đang “lướt đến như lửa như gió” kia cuối cùng hoàn toàn thất bại? Đó là tài dùng binh của Trần Hưng Đạo, đó là nghệ thuật chỉ đạo một cuộc chiến tranh tự vệ của một nước nhỏ yếu đánh thắng đội quân xâm lược của một nước lớn mạnh. Đó cũng là nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang trong một cuộc chiến tranh tự vệ đánh lâu dài và dựa vào sức mình.

--------------
1.    Toàn thư q. 6, t. 8b-9b.

2.   Trường Chinh: Kháng chiến nhất định thắng lợi, in lần thứ 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1964, tr. 8.

3.   Nguyên sử kỷ sự bản mạt, bản Thương vụ ấn thư quán q. 5, t. 24.

4.   Khác với chiến tranh tự vệ, chiến tranh giải phóng tiến hành trong điều kiện đất nước đã bị chiếm đóng, quân xâm lược đã đặt được bộ máy thống trị từ trên xuống dưới, lực lượng vũ trang của địch đã đóng giữ hầu hết các vị trí chiến lược, chiến thuật trên đất nước ta. Chiến tranh giải phóng phải thực hiện bằng khởi nghĩa vũ trang. “Đương nhiên, sự phân biệt giữa chiến tranh tự vệ và chiến tranh giải phóng trong lịch sử dân tộc ta chỉ có ý nghĩa rất tương dối”. Về sự phân biệt này, xem Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968, tr. 48-53.

5.   Lê Duẩn: Thanh niên… sách đã dẫn, tr. 19.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:18:50 pm

        Chúng ta có thể thấy rằng phương châm chiến lược được vận dụng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông là đánh lâu dài. Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong 1.000 năm lịch sử của nước ta gần đây có ba cuộc trường kỳ kháng chiến:

        - Đời Trần chống quân Nguyên,

        - Đời Lê chống quân Minh,

        - Và cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và bẹn can thiệp Mỹ ngày nay1. Đồng chí Trường Chinh cũng đã viết: “Đời nhà Trần, dân tộc ta kháng chiến trước sau ba lần trong ba mươi mốt năm mới thắng được quân Nguyên hung hãn” 2. Đánh lâu dài là chiến lược duy nhất chính xác trong một cuộc chiến tranh mà ban đầu lực lượng ta yếu, lực lượng địch mạnh. Chỉ với phương châm chiến lược đánh lâu dài mới dần dần tiêu hao được sinh lực của địch, bồi dưỡng được lực lượng của ta, tương quan lực lượng dần dần chuyển hóa theo phương hướng có lợi cho ta, và cuối cùng đánh bại được quân thù. Có thể có người thấy rằng ba lần kháng chiến của nhân dân Đại Việt chống xâm lược Nguyên Mông đều xảy ra trong một thời gian ngắn (cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258 chỉ kéo dài 12 ngày, lần thứ hai năm 1285 trong 5 tháng, lần thứ ba năm 1287-1288 trong ba tháng rưỡi) mà không nhìn nhận phương châm chiến lược đánh lâu dài của cuộc kháng chiến thế kỷ XIII. Điều đó không đúng, ba lần chiến tranh xảy ra trong thời gian ngắn là vì quân dân Đại Việt đã có thời cơ thuận lợi để phản công thắng lợi nhanh chóng, nhưng như vậy không có nghĩa phương châm chiến lược không phải đánh lâu dài. Nhìn vào các giai đoạn chiến lược của các cuộc chiến tranh, chúng ta có thể thấy rõ ràng những người lãnh đạo kháng chiến bấy giờ đã vận dụng đường lối chiến lược đánh lâu dài.

        “Quá trình đánh lâu dài của bất kỳ cuộc chiến tranh tự vệ nào của ta trước đây đều là một quá trình liên tục chiến đấu tiến công tiêu diệt địch. Do sự so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng cuộc chiến tranh có khác nhau, nên quá trình đánh lâu dài của từng cuộc chiến tranh tự vệ của ta đã hình thành các giai đoạn chiến lược khác nhau. Các cuộc kháng chiến đời nhà Trần chống quân Nguyên thường có giai đoạn rút lui chiến lược và giai đoạn phản công chiến lược” 3.

        Tiến hành những cuộc rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng, chờ địch dàn mỏng, phân tán lực lượng rồi đánh tỉa, khi sức địch tiêu hao, suy yếu thì chọn đúng thời cơ để phản công chiến lược, đấy là những đặc điểm chung trong ba lần kháng chiến của quân dân Đại Việt và cũng là những bước chỉ đạo chiến lược cụ thể của Trần Quốc Tuấn và những người lãnh đạo kháng chiến.

        Biết rút lui và rút lui chính xác là một nét nổi bật trong tài năng quân sự của Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh thời Trần. Trong ba lần kháng chiến, vào thời kỳ đầu của chiến tranh, bao giờ quân Trần cũng tiến hành những cuộc rút lui lớn, bỏ lại sau lưng nhiều làng mạc, đất đai, và thậm chí cả thủ đô Thăng Long yêu quý. Sử cũ, nhất là sử của kẻ thù, thường mô tả những cuộc rút lui này như những cuộc thất trận. Nhưng kỳ thực, “điều đó thường xảy ra trong chiến tranh, khi mà một trong những bên tham chiến, muốn cứu nguy cho quân đội của mình và tránh cho quân khỏi bị một kẻ thù lực lượng mạnh hơn tấn công, nên đã rút lui một cách có kế hoạch, không giao chiến mà bỏ những thành phố và những vùng toàn vẹn, để có thì giờ tập hợp lại lực lượng của mình, nhằm chuẩn bị cho những trận đánh địch sắp tới” 4. Chính Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh đã tiến hành cuộc rút lui như vậy. Cuộc rút lui chính là nằm trong toàn bộ kế hoạch của cách dùng binh thần diệu mà như Trương Phổ đã nói là “tránh cái thế hăng hái lúc ban mai, đánh cái khí tàn lụn lúc buổi chiều” của kẻ thù. Trong cuộc kháng chiến năm 1258, lúc đầu vua Trần đã đem lực lượng ra ngăn giặc nhưng sau đó đã rút lui khỏi Thăng Long. Ý định đem toàn bộ quân lực để chặn giặc thể hiện rõ trong việc tập trung quân ở Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến năm 1285. Nhưng khi bị kẻ thù bao vây và tấn công, thì Trần Quốc Tuấn đã kịp thời tiến hành một cuộc rút quân chiến lược. Việc lui quân để bảo tồn lực lượng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai thật là tài tình. Trong cuộc chiến tranh này, kẻ thù tấn công vào Tổ quốc ta từ ba mặt - không phải là hai theo như một số tài liệu trước đây: Lạng Sơn, Tuyên Quang, Nghệ An(5). Từ Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã rút lui về Thăng Long rồi cùng triều đình rút khỏi kinh đô. Ở mặt Tuyên Quang, Trần Nhật Duật cũng đã mưu trí tránh khỏi vòng vây của giặc, vượt qua vùng giặc đóng (bấy giờ kẻ thù đã chiếm Thăng Long) về hội với đại quân. Về phía Nghệ An, ban đầu Trần Quốc Tuấn muốn chặn đứng cánh quân Toa Đô. Trong khi đó ở ngoài Bắc, Quốc Tuấn cũng đã củng cố lực lượng, kéo quân trở về Vạn Kiếp ở phía sau lưng địch, chuẩn bị phản công. Nhưng tình hình Nghệ An, Thanh Hóa xấu, Trần Quang Khải chưa vào kịp thì Trần Kiện đã đem một vạn quân hàng giặc, dẫn đường cho giặc tấn công quân ta. Chính vì thế, Trần Quang Khải đã phải rút lui và cánh quân Toa Đô tiến được ra Bắc(6). Do tình hình phía Nam, Trần Quốc Tuấn phải bỏ kế hoạch phản công của mình, rời khỏi Vạn Kiếp lần thứ hai trở về hội với đại quân của vua Trần ở Thiên Trường (Nam Định). Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tránh được thế bị kẹp giữa hai gọng kìm phía Nam và phía Bắc. Một kế hoạch tài tình đã được kịp thời thực hiện. Trần Quốc Tuấn và vua Trần đã cho rút quân theo ven biển các lộ phía đông đồng bằng Bắc Bộ là nơi thế lực của quân Nguyên chưa tràn đến rồi sau đó vượt biển vào Thanh Hóa. Lúc bấy giờ quân của Toa Đô đã tiến đến Trường Yên (Ninh Bình) tức là ở phía bắc đại quân ta. Như vậy là qua cuộc rút lui thần kỳ đó, chẳng những lực lượng ta được bảo toàn mà còn thoát khỏi thế bị kẹp giữa hai đạo quân giặc. Về sau,Toa Đô được lệnh của Thoát Hoan quay trở lại Thanh Hóa, nhưng đạo quân đó đã không còn sức mạnh để tiêu diệt quân ta. Và khi lực lượng ta đã mạnh, địch đã lâm vào thế lúng túng bị động thì Trần Quốc Tuấn lại cho quân vượt qua vùng đóng quân của Toa Đô, đánh ra Bắc, cắt đôi đường liên lạc hai đạo quân giặc và bắt đầu cuộc phản công thắng lợi.

        Trong cuộc chiến tranh lần thứ ba thì ngay từ đầu, phương châm lui quân để bảo toàn lực lượng đã được Trần Quốc Tuấn áp dụng vừng chắc. Đấy là do đã rút được kinh nghiệm ở các lần kháng chiến trước: Vì thế mà Trần Quốc Tuấn đã nói rất tin tưởng rằng: “Năm nay đánh giặc dễ”.

-----------------
1.    Hồ Chí Minh Tuyển tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr.346.

2.   Trường Chinh: Kháng chiến… Sách đã dẫn, tr.29.

3.   Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968, tr. 69.

4.   Xtalin: Chiến lược và sách lược chính tri của những người cộng sản Nga trong tập Trích luận văn quân sự. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr. 145-146.

5.   Xem chương VI.

6.   Các tài liệu nghiên cửu trước đây đều cho rằng quân của Toa Đô bị chặn lại ở Thanh Hóa, nên phải đi đường thủy ra Bắc. Như vậy không đúng, chính chúng đã tiến được đến Trường Yên (Ninh Bình) và khi quân Trần từ Bắc rút về Thanh Hóa, Toa Đô mới lại từ Trường Yên quay vào Thanh Hóa (xem chương VI).


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:23:07 pm

        Trong kế hoạch rút lui của Trần Quốc Tuấn và những người lãnh đạo kháng chiến, chúng ta còn phải chú ý đến vấn đề điểm rút lui cuối cùng. Vì rút lui chiến lược chỉ là để bảo toàn lực lượng chuẩn bị phản công nên rút lui về địa điểm nào là có liên quan đến giai đoạn phản công. Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, quân Trần rút lui về sông Thiên Mạc (khúc sông Hồng qua Khoái Châu, Hưng Yên). Đóng ở đây, quân Trần có thể dễ dàng tiến hành cuộc phản công khi thời cơ đến. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, ban đầu quân đội Trần rút lui về Thiên Trường (Nam Định). Sở dĩ lần này quân Trần rút lui xa hơn lần thứ nhất là vì lực lượng của kẻ thù lần này mạnh hơn; có thể tiến hành những cuộc tấn công xa hơn. Khi lui về đến đây, vua Trần và Quốc Tuấn đã củng cố lực lượng và tổ chức phản công. Nhưng khi quân Toa Đô tiến ra được Trường Yên (Ninh Bình) thì Thiên Trường (Nam Định) không còn là chỗ đóng quân thích hợp nữa mà địa điểm rút lui cuối cùng phải là Thanh Hóa, vì ở đây tránh được sức tiến công của địch từ hai phía. Trong lần thứ ba, vua Trần không rút lui vào Thanh Hóa (như một số tài liệu nghiên cứu trước đây đã nhầm) vì không ở vào tình huống phải tránh thế kìm kẹp từ hai mặt như lần kháng chiến trước nữa mà chỉ rút lui về các lộ phía đông (vùng Hải Dương, Hải Phòng ngày nay). Ở đây có thể tiến về phía tây theo sông Hồng, phản công chiếm lại Thăng Long và tiến lên phía bắc, bao vây và chẹn đường về của địch, chuẩn bị cho trận Bạch Đằng sau này.

        Như vậy, trong việc thực hiện cuộc rút lui cũng như trong việc quyết định địa điểm rút lui cuối cùng một cách cơ động, Trần Quốc Tuấn và những người lãnh đạo kháng chiến đã tỏ ra vô cùng sáng suốt, linh hoạt, luôn luôn dựa vào thực tiễn diễn biến chiến tranh mà đề ra những đường lối kế hoạch quân sự thích hợp. Đó chính là đặc điểm mà như Trần Quốc Tuấn đã nói, làm tướng phải “xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến”.

        Nếu Trần Quốc Tuấn và những người lãnh đạo kháng chiến thời Trần đã thành công trong việc thực hiện rút lui chiến lược thì cũng đã thành công trong việc phản công chiến lược. Nếu cuộc rút lui chiến lược của quân Trần có ý nghĩa là “tránh cái thế hăng hái lúc ban mai” thì phản công chiến lược chính là “đánh cái khí tàn lụn lúc buổi chiều” của địch như Trương Phổ nói.

        Một điểm cần chú ý là tuy các nhà chỉ huy quân sự đời Trần đã thực hiện các cuộc rút lui chiến lược, “nhưng trong tất cả các cuộc rút lui chiến lược ấy, tổ tiên ta đều tích cực chủ động tiến công địch về mặt chiến đấu và chiến dịch, nhất là chiến đấu để từng bước ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch. Lực lượng vũ trang chủ lực chiến lược không bao giờ dàn ra để phòng ngư, mà lúc nào cũng tập trung thành những quả đấm với những quy mô cần thiết để tiến công tiêu diệt quân địch” 1. Quân Trần đã chủ động tấn công địch ngay khi chúng còn ở trong thế mạnh, “lướt đến như lửa như gió”. Trên con đường rút lui, quân ta đã liên tục mở các trận đánh chặn giặc. Đó là trận Phù Lỗ trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất; trận sông Đuống, trận sông Hồng trước Thăng Long…. trong cuộc kháng chiến lần thứ hai; trận Lãnh Kinh, trận Đại Than… trong cuộc kháng chiến lần thứ ba. Trận Vân Đồn nổi tiếng cũng đã xảy ra trong giai đoạn chiến lược này. Tài năng quân sự của Trần Quốc Tuấn còn biểu hiện ở chỗ biết kết hợp khéo léo một cuộc rút lui vận động của quân chủ lực với cuộc tấn công của quân du kích mà cuộc tấn công này thì thật là muôn hình muôn vẻ, ở khắp nơi và bằng mọi cách đánh.

        Trong khi rút lui, quân ta đã nhử địch vào sâu. Kẻ thù muốn buộc quân ta phải giao chiến với chúng, nhưng không được, chúng muốn đánh mà không được đánh, quân chủ lực của ta vẫn còn nguyên vẹn, có thời giờ để củng cố xây dựng lực lượng. Địch càng ngày càng mắc sai lầm về chiến lược, chiến thuật. Chúng phân tán lực lượng trên một tuyến rất dài. Chẳng hạn trong lần chiến tranh thứ hai, từ Lạng Sơn đến Thăng Long, quân Mông Cổ “cứ 30 dặm thì lập một trại, 60 dặm thì đặt một trạm; mỗi trại, mỗi trạm đóng 300 quân” 2 và có cả một tuyến dài trên sông Hồng từ Thăng Long về xuôi. Trong lần chiến tranh thứ ba, giặc cũng phân tán đóng ở nhiều nơi như Thăng Long, Vạn Kiếp… Việc dàn mỏng lực lượng như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta đánh tiêu hao và tiêu diệt. Quân địch dần dần mệt mỏi, mất tinh thần vì luôn luôn bị quân dân ta bao vây tập kích, chúng tác chiến cô lập “lơ lửng ở quãng giữa” và khốn đốn vì thiếu lương thực. Bao giờ cũng đúng lúc đó thì vua Trần và Quốc Tuấn tổ chức cuộc phản công. Chính nhờ tích cực, chủ động, kiên quyết và liên tục tấn công mà quân ta có thể rút ngắn thời gian rút lui chiến lược để chuyển sang phản công chiến lược. Chẳng những Trần Quốc Tuấn đã nắm đúng thời cơ phản công mà còn chọn đúng hướng, đúng mục tiêu phản công, biết tập trung binh lực đánh vào các cứ điểm quan trọng nhưng yếu hoặc sơ hở của địch. Phát huy thắng lợi của “trận mở màn”, các tướng lĩnh nhà Trần đã biết liên tiếp nhanh chóng tấn công vào các vị trí khác của địch, dồn dập nện cho địch những đòn đích đáng làm chúng không kịp trở tay, tạo thêm những điều kiện thuận lợi mới để thu thắng lợi cuối cùng. Các trận A Lỗ, Tây Kết lần thứ nhất3; Hàm Tử, Chương Dương trong cuộc kháng chiến năm 1285 là những ví dụ rõ rệt. Chính nhờ quy định chính xác được hướng tấn công chủ yếu mà Trần Quốc Tuấn và các người lãnh đạo kháng chiến đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến lược trong tất cả các lần chiến tranh.

        Thượng tướng Văn Tiến Dũng viết: “Các cuộc kháng chiến đời nhà Trần chống quân Nguyên do đã phát động được toàn dân đánh giặc, do đã kết hợp được các hành động chiến đấu của các lực lượng vũ trang chủ lực, địa phương và dân binh, kết hợp đánh du kích với đánh tập trung, nên cả ba lần đều thắng lợi”4. Đó cũng là một biểu hiện của nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh chống xâm lược thế kỷ thứ XIII.

----------------
1.    Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề... sách đã dẫn, tr.83.

2.   Nguyên sử q. 209, t. 7b.

3.   Cần phân biệt trận Tây Kết lần thứ nhất và trận Tây Kết lần thứ hai năm 1285. Trận Tây Kết lần thứ nhất cũng như các trận Hàm Tử, Chương Dương đều là xảy vào tháng tư âm lịch (6-5 đến 4/6/1285), đó là các trận đánh vào các cứ điểm của quân Mông Cổ đóng dọc sông Hồng. Trận giải phóng Thăng Long cũng vào cuối tháng tư âm lịch. Trận Tây Kết lần thứ hai xảy ra vào ngày 20 tháng 5 âm lịch (24/6/1285) tức là trận đánh giết Toa Đô. Trong các tài liệu nghiên cứu trước đây, người ta thường cho rằng trận Tây Kết lần thứ nhất cũng là đánh Toa Đô, vì thế mới mô tả là Toa Đô bị đánh thua, rút lui theo sông Hồng rồi lại tiến lên và bị giết trong trận Tây Kết lần thứ hai. Dựa vào đó, có người cho trận phản công đầu tiên của quân Trần là đánh vào một tập đoàn đang vận động. Sự thực không phải thế, vì đến đầu tháng 5 âm lịch thì Toa Đô mới ở Thanh Hóa ra, còn trận Tây Kết lần thứ nhất đã xảy ra vào tháng 4 âm lịch. Cần chú ý thêm là trong chiến tranh lần thứ hai năm 1285 quân ta giải phóng Thăng Long và đuổi Thoát Hoan ra khỏi biên giới trước khi đánh giết Toa Đô (xem chương VI).

4.   Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề... Sách đã dẫn, tr. 57.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:28:02 pm

        Để đáp ứng yêu cầu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến lược Trần Quốc Tuấn đã biết xác định các phương pháp và hình thức chiến đấu thích hợp, đúng đắn. Trong tất cả ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ, các nhà lãnh đạo kháng chiến đã biết nâng cao tác dụng của du kích chiến. Chính trên cơ sở tính nhân dân của cuộc kháng chiến mà những người lãnh đạo đã phát động được cuộc chiến tranh du kích. Nhân dân miền xuôi, miền núi đều tham gia đánh du kích. Khi đại quân rút đi để chờ cơ hội phản công, Trần Quốc Tuấn vẫn để lại những cánh quân nhỏ hoạt động trong vùng sau lưng địch. Những cánh quân đó phối hợp với những đội dân binh địa phương, luôn luôn quấy rối, phục kích, tập kích vào quân địch. Cánh quân của quản quân Nguyễn Lộc hoạt động ở vùng Lạng Sơn nhiều phen đã làm cho quân thù khiếp vía trong cuộc chiến tranh lần thứ hai. Trong cuộc chiến tranh lần thứ ba cũng có những cánh quân nhỏ hoạt động như vậy, chẳng hạn như các cánh quân vùng Nội Bàng đã đánh tan 5.000 quân Mông Cổ và bọn Việt gian Lê Trắc. Quân địch ngày càng bị cô lập giữa vòng vây trùng điệp của các lực lượng kháng chiến nhân dân. Chúng lo lắng mất ăn mất ngủ vì đêm đêm có những đội quân cảm tử tấn công vào doanh trại chúng. Chúng hoảng sợ vì khắp nơi “từ rừng, từ núi, từ biển bỗng nhiên xuất hiện những đội quân đánh tan cánh quân Thoát Hoan đang lo cướp bóc” như lời chép của sử gia Ra-sít-ut Đin.

        Trong toàn bộ cuộc chiến tranh, quân dân Trần đã sử dụng tài tình các hình thức tập kích, phục kích, trong đó phải kể đến trận đánh thuyền lương giặc ở Vân Đồn không những có ý nghĩa về chiến thuật mà còn có ý nghĩa về cả mặt chiến lược1. Có thể nói nhờ có Vân Đồn mà nhanh chóng có Bạch Đằng. Đánh vào thuyền lương tức là đánh vào cơ sở hậu. cần tại chỗ của giặc và đó là một phương hướng tác chiến chiến lược chính xác.

        Để tiêu hao lực lượng địch về mặt chiến lược, Trần Quốc Tuấn đã biết phát triển tư tưởng đánh tiêu diệt trong chiến thuật chiến đấu. Trong giai đoạn rút lui cũng như phản công, quân đội Trần đều thực hiện được những trận đánh tiêu diệt. Trận tiêu diệt lớn và gọn nổi tiếng nhất là trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng.

        Trận Bạch Đằng là một kiểu mẫu về sự chuẩn bị cẩn thận cho trận đánh của các nhà chỉ huy quân sự đời Trần. Đối với Trần Quốc Tuấn, chưa chuẩn bị đầy đủ, chưa chắc thắng thì chưa đánh. Có thể dẫn chứng cho điều đó bằng cuộc kéo quân trở lại Vạn Kiếp trong kháng chiến lần thứ hai năm 1285. Bấy giờ, Trần Quốc Tuấn định tiến hành một trận vu hồi lớn đánh về Thăng Long, nhưng tình hình biến chuyển bất lợi, quân ta ở phía nam Thăng Long đã phải rút sau trận sông Đại Hoàng và quân Toa Đô đã tiến ra được Trường Yên (Ninh Bình) cho nên Quốc Tuấn đã không đánh trận đó nữa, kiên nhẫn tiếp tục cuộc rút lui2.

        Qua trận Bạch Đằng và nhiều trận khác cũng như qua các cuộc rút lui hay phản công, chúng ta còn thấy tài năng chỉ huy của Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh đời Trần trong việc kết hợp khéo léo các binh chủng bộ binh và thủy quân. Như chúng ta đã biết, quân ta thạo thủy chiến; thủy quân Đại Việt đã có một kỹ thuật chiến đấu cao, có truyền thống từ những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trước thế kỷ XIII. Về mặt thủy quân thì địch lại yếu, các nhà chỉ huy quân sự đời Trần đã biết dựa vào sở trường của quân ta, đánh vào chỗ sở đoản của quân địch.

        Đánh địch bằng cách đánh mà ta đã lựa chọn và không cho địch đánh theo cách đánh sở trường của chúng cũng là một đặc điểm của nghệ thuật quân sự đời Trần. Cách đánh địch của quân dân Trần thật là phong phú và rất sáng tạo, không gò bó vào các binh thư nước ngoài. Chẳng hạn, binh pháp Tôn Tử nói rằng: “giặc cùng chớ đuổi”, thì những trận quyết chiến chiến lược của quân ta để thu thắng lợi cuối cùng đều được thực hiện vào lúc quân thù tháo chạy. Trần Quốc Tuấn có học tập kinh nghiệm của Ngô Quyền, nhưng trận Bạch Đằng chống Nguyên vẫn rất khác trận Bạch Đằng chống Nam Hán. Ở đây có sự phát huy truyền thống cũ một cách sáng tạo. Sáng tạo trong cách đánh là một yêu cầu cấp thiết. “Ông cha ta ngày trước đã có nhiều sáng tạo về cách đánh giặc. Không có sáng tạo đó, không thể giữ được nước, không thể giành được độc lập tự do. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải luôn luôn chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do, sự sống còn của mình cho nên có tinh thần tự vệ rất mạnh. Chính trên cơ sở của tinh thần tự vệ mạnh mẽ đó đã nảy sinh ra cách đánh giặc của người Việt Nam” 3.

        Một trong những “cách đánh giặc của người Việt Nam” là lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều. Tư tưởng quân sự này được hoàn thiện với nhà chiến lược Nguyễn Trãi nhưng rõ ràng đã được đặt cơ sở từ nhà chiến lược Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn là người đã nhấn mạnh nguyên tắc “quân cần tinh, không cần nhiềư” và “lấy đoản binh chống trường trận”. Nguyên tắc trên nói về chất lượng và nguyên tắc dưới nói về số lượng. Sự kết hợp hai nguyên tắc này nói lên rằng có thể lấy số lượng ít nhưng chất lượng cao của quân ta để chiến thắng quân địch có số lượng đông nhưng chất lượng kém. Kết luận này không chỉ đúng về mặt chiến lược mà ở từng trận đánh, trong trường hợp cụ thể cũng có thể lấy ít thắng nhiều, và theo Trần Quốc Tuấn, “đó là sự thường trong binh pháp”.

        Đáng tiếc là những sách binh pháp của Trần Quốc Tuấn như Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư nay không còn nữa nên chúng ta không thể nghiên cứu một cách đầy đủ tư tưởng chiến lược chiến thuật của nhà quân sự thiên tài đó. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì nữa, Trần Quốc Tuấn đã có một tri thức quân sự uyên bác. ông đã nghiên cứu binh pháp trận đồ Trung Quốc, đã biết rất rõ những trận mà một cánh quân ít đánh tan một cánh quân rất lớn xa như trận Phì Thủy (năm 383) nổi tiếng, Ở đây tướng Tấn đã đánh tan một trăm vạn quân của Bồ Kiên4, gần như trận ở thành Điếu Ngư “nhỏ như cái đầu” (năm 1259), Vương Kiên đã đánh lui hàng vạn quân Mông Cổ5. Trần Quốc Tuấn cũng đã nghiên cứu cuộc tiến công của Mông Cổ trên đất Trung Quốc6. Mặt khác, ông đã tổng kết kinh nghiệm của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc trước thế kỷ XIII. Nhưng cần phải nói là tài năng quân sự của Trần Quốc Tuấn đã được tôi luyện trong thực tiễn của cuộc chiến tranh yêu nước chống xâm lược Mông Cổ. Chính nhờ có tính nhân dân, tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh đó mà những người lãnh đạo kháng chiến mới có thể sáng tạo, vận dụng và phát triển được một đường lối chiến lược chiến thuật đúng đắn. Đường lối đó góp phần vô cùng quan trọng trong việc dẫn cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

---------------------
1.    Như chúng tôi trình bày ở Chương VII, trận Vân Đồn xảy ra vào lúc thủy quân Mông Cổ tiến vào vùng biển Đại Việt trong tháng 12 năm Đinh Hợi (5/l đến 2/2/1288) lúc không phải xảy ra vào tháng 1 năm Mậu Tý (3/2 đến 8/3/1288) lúc Ô Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ. Thực ra Ô Mã Nhi đi đón Trương Văn Hổ nhưng không gặp. Vì thế, trận Vân Đồn không phải là mở đầu thời kỳ phản công như chủ trương của một số người nghiên cứu hiện nay.

2.   Xem chương VI.

3.   Lê Duẩn: Thanh niên… Sách đã dẫn, tr. 54-55.

4.   Toàn thư q. 5, t. 52a chép câu nói của Trần Quốc Tuấn: “Quân quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở chỗ nhiều, như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng chẳng làm được gì”. Trương Hán Siêu, gia thần của Trần Quốc Tuấn, trong bài Phú sông Bạch Đằng cũng đã so quân Mông Cổ tan tác ở trận Bạch Đằng với quân của Bồ Kiên ở trận Phì Thủy.

5.   6. Xem Hịch tướng sĩ.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:29:33 pm

        Quân Mông Cổ còn nhanh chóng thất bại do một số khó khăn khác mà chúng gặp phải. Khí hậu nóng nực ở phương Nam cũng là một trở lực lớn đối với bọn xâm lược. Mưa dầm lụt lội làm ướt hết doanh trại cũng như các bệnh dịch thường xảy ra trong quân đội địch làm bọn chúng thêm lúng túng. Nhưng nhiều tài liệu thường đề cao quá tác dụng của khí hậu đối với sự thất bại của quân Mông Cổ. Thư tịch cũ thường chép rằng các cuộc rút lui của quân Mông Cổ là do không chịu được cái khí hậu uất nhiệt ở Đại Việt. Điều đó không hoàn toàn đúng vì trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, quân Mông Cổ chiếm Thăng Long vào tháng chạp âm lịch (tháng 1 dương lịch). Hoàn toàn không thể nói rằng khí hậu Đại Việt lúc đó đã nóng nực kinh khủng đối với đạo quân xâm lược Mông Cổ. Vả lại, bấy giờ, chiếm đa số trong đội quân xâm lược là người Thoán ở Vân Nam. Chỉ có lần kháng chiến thứ hai, quân Nguyên rút lui vào tháng năm âm lịch (tháng 6 dương lịch). Bấy giờ có thể nói là Đại Việt đã vào mùa nóng. Trong lần kháng chiến thứ ba, quân Mông Cổ rút lui vào cuối tháng hai đầu tháng ba âm lịch (đầu tháng 4 dương lịch), lúc đó chưa phải là lúc đã rất nóng. Trong hai lần này, trong đạo quân xâm lược cũng có rất nhiều quân ở miền Nam Trung Quốc, không phải không thể chịu được cái nóng ở Việt Nam. Vì thế, chúng ta thừa nhận có sự ảnh hưởng ít nhiều của khí hậu đối với bọn xâm lược nhưng điều đó hoàn toàn không quá lớn như trong một số tài liệu. Sử liệu Nguyên đề cao vai trò của khí hậu chỉ là muốn bào chữa cho sự thất bại nhục nhã của bọn xâm lược trước sức chiến đấu mãnh liệt của quân dân ta.

        Một khó khăn khác có tác động đến cuộc hành binh của quân Mông Cổ là địa hình Việt Nam không thuận tiện cho hoạt động của kỵ binh. Quân Mông Cổ dựa vào sức ngựa có thể tiến ào ạt nhanh chóng. Sự vận động thần tốc đó thường uy hiếp được tinh thần của đối phương và chiếm được thế chủ động trong chiến tranh. Nhưng chiến trường Đại Việt không phải như những thảo nguyên miền Bắc. Đất nước Việt Nam với những sông ngòi chia cắt làm cho kỵ binh giặc khó phát huy được sở trường của mình. Quân Trần thường chặn đánh bọn chúng trên các khúc sông - đấy là những chiến lũy tự nhiên - để tiêu diệt chúng. Để tiến quân thuận lợi hơn, vua Nguyên đã chú ý đến thủy binh. Ngay trong cuộc xâm lược Nam Tống, bọn tướng lĩnh Mông Cổ đã nhận thấy cái sở đoản của mình. Tên Hán gian Lưu Chỉnh đã nói với viên tướng Mông CỔ là A-ju trước thành Tương Dương: “Quân kỵ binh tinh nhuệ của ta, đánh đâu thắng đó, duy thủy chiến không bằng Tống, đoạt được cái sở trường của họ, tạo chiến hạm, tập thủy quân thì việc sẽ xong ngay”. Nhưng cho đến sau khi diệt xong Tống, Mông Cổ vẫn không tổ chức được một đội thủy quân mạnh. Vua Nguyên đã buộc phải dùng thủy quân trong cuộc xâm lược Nhật Bản và Chiêm Thành nhưng cuối cùng đều thất bại. Thủy quân của giặc cũng đã bị thủy quân nhà Trần đánh tan trong nhiều trận. Tuy nhiên, ở đây chúng ta cũng phải thấy rằng khó khăn của người Mông Cổ về quân kỵ và quân thủy không phải là điều chủ yếu làm cho bọn xâm lược thất bại vì như mọi người đều biết, quân Mông Cổ đã chiến thắng Nam Tống trong điều kiện tương tự.

        Cuối cùng, cần nói đến một yếu tố khác góp phần vào sự thất bại của đế quốc Mông Cổ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đó là sự lủng củng trong nội bộ bọn quý tộc thống trị Mông Cổ. Chẳng hạn sau khi Hốt Tất Liệt xưng đế, y đã phải tiến hành cuộc nội chiến chống lại em là A-ric Bu-ke và phải đình chỉ cuộc xâm lược Nam Tống. Mãi đến khi A-ric Bu-ke đầu hàng, y mới có thể thôn tính Nam Tống và uy hiếp Đại Việt1. Nhưng từ đó cho đến khi chết, các tập đoàn thân vương đứng đầu là Khai-đu, Đu-oa vẫn tiếp tục chống lại, luôn luôn đem quân tấn công vào vùng phía bắc của đế quốc Nguyên, làm Hết Tất Liệt không lúc nào yên, y phải tự cầm quân đánh lại bọn Khai-đu. Biên giới phía bắc là một mối lo thường xuyên của Hốt Tất Liệt. Chính vì thế, có lúc muốn nuốt tươi Đại Việt và Chiêm Thành, y vẫn không thể dồn hết lực lượng vào cuộc chiến tranh xâm lược được. Những điều kiện trên đây có góp phần làm cho bọn xâm lược chóng thất bại và đẩy nhanh cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thế kỷ XIII đến thắng lợi nhưng đều không phải là nguyên nhân chủ yếu. Điều chủ yếu quyết định thắng lợi chính là lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của toàn dân trong cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước. Chính trên cơ sở tính nhân dân của cuộc kháng chiến mà những người lãnh đạo kháng chiến đã áp dụng và phát triển được một đường lối chiến lược chiến thuật đúng đắn, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều, làm cho quân thù cuối cùng thất bại thảm hại.

-----------
1.        Xem chương IV.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:31:44 pm

        Ở đây, chúng ta không thể không đánh giá cao vai trò của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Nhà chỉ huy tài kiêm văn vũ1 đó quả là đã có công lớn trong cuộc kháng chiến. Vào giờ phút lâm nguy của Tổ quốc, ông đã vì nước quên thù riêng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết trong hàng ngũ quý tộc, tướng lĩnh. Chúng ta thấy lòng yêu nước nồng nàn sâu sắc của ông thấm qua từng dòng của Hịch tướng sĩ: “… Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đìa, ruột đau như cắt, chỉ giận không được ăn thịt, nằm da, nuốt gan, uống máu quân thù, tuy trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm”. Những lời kêu gọi tha thiết của ông trong bài hịch đã khích động ý chí chiến đấu và lòng căm thù giặc trong toàn quân. Chính nhà quân sự thiên tài ấy là người đã xây dựng rèn luyện một đội quân có tinh thần cao, kỹ thuật giỏi trong chiến đấu và đào tạo được nhiều tướng lĩnh xuất sắc. Các tướng tá đó đã biết vận dụng tài tình các chiến lược chiến thuật như người chủ tướng của mình. Điều đó biểu hiện tính thống nhất trong quân đội Trần, và hẳn là phải kể đến tác dụng giáo dục của các sách binh pháp của Trần Quốc Tuấn.

        Trần Quốc Tuấn cũng là người đã đánh giá đúng đắn vai trò của nhân dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Chính ông đã nói rằng thời Đinh - Lê, chúng ta chiến thắng được ngoại xâm là vì “lòng dân không ly tán”, và chúng ta chiến thắng được giặc Mông Cổ là vì “cả nước ra sức”, chính ông là người đã có cái tư tưởng tuyệt vời: “Phải nới sức dân, làm kế. rễ sâu gốc vững, ấy là thượng sách giữ nước”. Trong những trang sử ngời sáng quang vinh chiến thắng của dân tộc Việt Nam thế kỷ XIII, mãi mãi chói lọi tên tuổi của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

        Chiến thắng của quân dân Việt Nam thế kỷ thứ XIII chẳng những bảo vệ được đất nước mà còn phá tan được âm mưu lập căn cứ để xâm lược các nước phương Nam của đế quốc Mông Cổ. Tuy về sau Hốt Tất Liệt có đem binh thuyền tấn công In-đô-nê-xi-a nhưng cuối cùng đã thất bại vì phải kéo quân từ xa đến, không có tiếp viện ở một căn cứ gần, thủy quân lại yếu. Nếu chiếm được Việt Nam - Đại Việt và Chiêm Thành, Hốt Tất Liệt sẽ có nhiều thuận lợi trong việc xâm chiếm In-đô-nê-xi-a và các nước khác. Vì thế, chiến thắng của nhân dân ta thế kỷ XIII còn có một ý nghĩa quốc tế lớn. Máu người Chiêm và người Việt đã đổ xuống vì quê hương của mình, nhưng khách quan đã góp phần vào việc ngăn chặn sự bành trướng của đế quốc Nguyên Mông xuống Đông Nam Á.

        Chiến thắng ngoại xâm thế kỷ XIII để lại cho chúng ta một bài học lớn. Đó là một khi nhân dân đã đoàn kết thành một khối quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước thân yêu của mình thì có thể chiến thắng bất kỳ kẻ thù nào, dù kẻ thù đó lớn mạnh gấp mấy lần.

        “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do dân chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước” 2. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy trong những ngày kháng chiến chống Pháp trước đây. Cuộc kháng chiến thần thánh lần thứ nhất đã thắng lợi Nhưng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước hiện nay, câu nói đó vẫn hoàn toàn đúng. Bảy trăm năm trước, dân tộc Việt Nam đã quật ngã bọn xâm lược Mông Cổ, một kẻ thù mạnh và tàn bạo nhất trên thế giới bấy giờ. Giờ đây nhân dân Việt Nam lại đang chiến đấu và chiến thắng một tên cướp thế giới hung hãn khác là đế quốc Mỹ. Chúng ta tin tưởng rằng cuộc đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:

        “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” 3.

-----------------
1.    Theo các thư tịch Việt Nam, chúng ta biết Trần Quốc Tuấn là tác giả Hịch tướng sĩ, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, Binh thư yếu lược (hay Binh gia diệu ký yếu lược). Hai quyển sau nay đã mất. Trong Văn uyên các thư mục (Dương Sĩ Kỳ cho người soạn năm Chính Thống 6 (1441)), còn chép tên một quyển sách của Trần Hưng Đạo là Kinh sử hỗ ký, như vậy là Văn uyên các đời Minh còn giữ được quyển sách đó, nhưng đến nay quyển đó cũng đã không tìm thấy ở Trung Quốc.

2.   Hồ Chí Minh - Tuyển tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr.382.

3.   Hồ Chí Minh - Tuyển tập, Sách đã dẫn, tr. 366.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:32:59 pm

        TÀI LIỆU THAM KHẢO

        K. Mác: Trích lục sử biên niên Ấn Độ, bản tiếng Nga, Mat-xcơ-va 1947.

        K. Mác: Trích lục biên niên, Lưu trữ K. Mác và F. Ăng ghen. T.V, t. 219-232 (tiếng Nga).

        K. Mác: Người Mông Cổ cuối thế kỷ XIV, Lưu trữ K. Mác và F. Ăngghen, T. VI, t. 169-171 (tiếng Nga).

        TÀI LIỆU VIỆT NAM

        1. Chữ Hán

        Đại Nam nhất thống chí, bản Tự Đức, chép tay.

        Đại Việt sử ký toàn thư, bản in năm 1697.

        Đại Việt sử ký (đời Tây Sơn).

        Nam sử tập biên của Vũ Văn Lập, sách chép tay, thư viện Khoa học xã hội, số A. 12.

        Trần đại vương bình Nguyên thực lục, sách chép tay, thư viện Khoa học xã hội.

        Trần gia điển tích thông biên, sách thư viện Khoa học xã hội, số A. 324.

        Trần gia ngọc phả, sách chép tay, thư viện Khoa học xã hội, số A. 2046.

        Trần Hưng Đạo vương cựu tích, sách chép tay, thư viện Khoa học xã hội, số A. 2568.

        Trần triều thế phả hành trạng, sách chép tay, thư viện Khoa học xã hội, số A. 663.

        Trần vương truyện khảo của Trần Duy Vôn, 1931, sách chép tay, thư viện Khoa học xã hội, số A. 3095.

        Vạn Yên thực lục (Trần Kiên - trung thực lục), sách chép tay, thư viện Khoa học xã hội, số A. 2919.

        Việt sử thông giám cương mục, quốc sử quán. đời Nguyễn, bản in năm 1884.

        Việt sử tổng vịnh, bản in đời Tự Đức (1874)

        2. Chữ Việt

        Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, Hà Nội, 1958.

        Đào Duy Anh: Tài liệu về cuộc kháng chiến của nhà Trần đã ngăn chặn sự bành trướng của Mông Cổ xuống Đông Nam Á, Nghiên cứu lịch sử số 42 (9-1962).

        Đào Duy Anh: Tìm các đèo Khâu Cấp và Nội Bàng trên đường đụng binh của Trần Hưng Đạo, Nghiên cứu lịch sử số 66 (9-1964).

        Nguyễn Văn Dị - Văn Lang: Nghiên cứu về trận Bạch Đằng năm 1288, Nghiên cứu lịch sử số 43 (10-l962).

        Nguyễn Văn Dị - Văn Lang: Bàn thêm về trận Bạch Đằng năm 1288, Nghiên cứu lịch sử số 49 (4-1963).

        Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1968.

        Nguyễn Khắc Đạm: Góp ý kiến cùng hai bạn Nguyễn Văn Dị và Văn Lang về bài “Nghiên cứu về trận Bạch Đằng năm 1288”, Nghiên cứu lịch sử số 47 (2-1963).

        Trần Hà: Xung quanh trận Bạch Đằng năm 1288, Nghiên cứu lịch sử số 46 (1-1963).

        Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Sài Gòn, 1951.

        Trần Huy Liệu: Kỷ niệm 675 năm trận chiến thắng Bạch Đằng, Nghiên cứu lịch sử số 50 (5-1963).

        Phạm Ngọc Phụng: Tìm hiểu chiến lược chiến thuật thời Trần - Lê, Hà Nội, 1963.

        Nguyễn Tường Phượng: Lược khảo binh chế Việt Nam qua các thời đại, Hà Nội, 1950.

        Phạm Thị Tâm 0 Hà Văn Tấn: Vài nhận xét về ruộng đất tư hữu ở Việt Nam thời Lý - Trần, Nghiên cứu lịch sử số 52 (7-1963).

        Văn Tân: Bàn thêm về nguyên nhân khiến cho cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ hồi thế kỷ XIII đi đến thắng lợi,

        Nghiên cứu lịch sử số 66 (9-1964) và số 67 (10-1964).

        Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Bài minh trên chuông Thông Thánh Quán và một số vấn đề lịch sử đời Trần. Nghiên cứu lịch sử số 88 (7-1966).

        Chu Thiên: Chống quân Nguyên, Hà Nội, 1957.

        Hoàng Đạo Thúy: Sát Thát, Hà Nội, 1957.

        Nguyễn Ngọc Thụy: Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288. Nghiên cứu lịch sử số 63 (6-1964).

        Hoàng Thúc Trâm: Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, 1950.

        Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, I, in lần thứ 2, Hà Nội, 1963.


Tiêu đề: Re: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2016, 09:34:41 pm

        TÀI LIỆU TRUNG QUỐC

        An Nam chí lược của Lê Trắc, bản in của Kishida Ginko, năm 1884.

        An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng, bản trường Viễn Đông bác cổ, 1931.

        Bình Tông lục của Lưu Mẫn Trung (Nguyên).

        Chân Lạp phong thổ ký của Chu Đạt Quan (Nguyên), bản trong Cổ kim đồ thư tập thành.

        Chí Nguyên chinh Miến lục, bản Thủ sơn các tùng thư.

        Chiêu bổ tổng lục, bản Thủ sơn các tùng thư.

        Chư phiên chế của Triệu Nhữ Quát (Tống), bản in Nhật Bản, 1914.

        Đại Lý hành ký của Quách Tùng Niên (Nguyên), bản Kỳ tấn trai tùng thư.

        Đạo viên học cổ lục của Ngu Tập (Nguyên), bản Tứ bộ tùng san.

        Đảo di chí lược của Uông Đại Uyên (Nguyên), bản Cổ học vựng san, 1911.

        Hắc Thái sự lược của Bành Đại Nhã và Từ Đỉnh (Tống), bản in của Giang Tô Thông Châu hàn mặc lâm biên dịch ấn thư cục, 1903.

        Hoa di dịch ngữ, bản trong Hàm phân lâu bí níp.

        Kinh thế đại điển, bản trong Vĩnh lạc đại điển, q. 19.418.

        Kinh thế đại điển tự lục, bản trong Nguyên văn loại.

        Liêu Kim Nguyên sử ngữ giải soạn năm 1781, bản Giang Tô thư cực.

        Mông Ngột Nhi sử của Đồ Kỳ (Thanh), bản năm 1934.

        Mông Thát bị lục của Triệu Hồng (Tống), bản trong Mông Cổ sử liệu tứ chủng hiệu chú của Vương Quốc Duy, Thanh Hoa học hiệu nghiên cứu viện.

        Mục Am tập của Diêu Toại (Nguyên), bản Vũ Anh điện tụ trân.

        Nguyên đại bạch thoại bi tập lục, Khoa học xuất bản xã, 1955.

        Nguyên đại Vân Nam sử địa tùng khảo của Hạ Quang Nam, Trung Hoa thư cục, 1934.

        Nguyên điển chương, bản Quang tự Mậu Thân (1908).

        Nguyên hành tỉnh thừa tướng bình chương chính sự niên biểu của Ngô Đình Nhiếp (Thanh) trong Nhị thập ngũ sử bổ biên.

        Nguyên sử của Tống Liêm (Minh) và nhiều tác giả, Trung Hoa thư cục, Tụ trân phỏng Tống bản.

        Nguyên sử bản chứng của Uông Huy Tổ (Thanh), bản Thiệu hưng tiên chính di thư.

        Nguyên sử bị vong lục của Vương Quang Lỗ (Minh), trong Học hải loại biên.

        Nguyên sử dịch văn chứng bổ của Hồng Quân (Thanh), Quảng Nhã thư cục 1900.

        Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trấn Bang Chiêm (Minh), bản Thương vụ ấn thư quán.

        Nguyên sử loại biên (Tục Hoằng - giản lục) của Thiệu Viễn Bình (Thanh), bản Tảo Diệp sơn phòng, 1795.

        Nguyên sử nghệ văn chí của Tiền Đại Hân (Thanh), bản Tiềm Nghiên đường toàn thư.

        Nguyên sử ngoại di truyện địa lý khảo chứng của Đinh Khiêm (Thanh), Triết Giang đồ thư quán tùng thư.

        Nguyên sử tân biên Ngụy Nguyên (Thanh), bản Thiều Dương. Nguy thị Thận vi đường, 1905.

        Nguyên Thánh vũ thân chinh lục, bản in Nhật Bản, Đông Kinh, văn cầu đường.

        Nguyên thị tộc biểu của Tiền Đại Hân (Thanh), bản Tiềm Nghiên đường toàn thư.

        Nguyên triều bí sử, bản Diệp Thị quan cổ đường 1908.

        Nguyên triều danh thần sụ lược của Tô Thiên Tước (Nguyên) bản Vũ Anh điện tụ trân.

        Nguyên văn loại, Tô Thiên Tước (Nguyên) biên tập, Quốc học cơ bản tùng thư, Thương vụ ấn thư quán, 1958.

        Tam sử đồng danh lục của Uông Huy Tổ (Thanh), Quảng Nhã thư cục.

        Tân Nguyên sử của Kha Thiệu Mân, bản của Thiên Tân Từ thị thoái canh đường.

        Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện (Nguyên), bản trong Thuyết phu.

        Thu Giản văn tập của Vương Vận (Nguyên), bản trong Tứ bộ tùng san.

        Tục tư trị thông giám của Tất Nguyên (Thanh), Trung Hoa thư cục.

        Từ khê văn cảo của Tô Thiên Tước (Nguyên), trong Trích viên tùng thư.

        Vân Nam chí lược của Lý Kinh (Nguyên), bản trong Thuyết phu.

        Việt kiệu thư của Lý Văn Phượng (Minh).

        Xuyết canh lục của Đào Tông Nghi (Nguyên), Phúc Doanh thư cục 1885.

        TÀI LIỆU NHẬT BẢN

        Ōhasi (Đại Kiều Thuận) Genkō Kiryaku (Nguyên khấu kỷ lược).

        Yamamoto Tatsuro (Sơn bản Đạt Lang) Annamshi kenkyu (An Nam sử nghiên cứu), I, Tokyo, 1950.

        TÀI LIỆU CHỮ NGA VÀ PHƯƠNG TÂY

        Армянские источники о Монголах (Извлечения из рукописей XIII- XIV ВВ). Перевод с древнеармянского предисловие и примечание А. Г. Галстяна, М, 1962.

        БИЧУРИН Н. Я – Собрание сведений о народах, обигавших а Средней Азии в древние времена, I – II, Л – Мб 1950, III, 953. ВЛАДИМИРЦОВ Б. Я – Общественный строй Монголов Мон – гольский кочевой фодализм. Л, 1934.

        ГРЕБКОВ Б.Д, ЯКУБОВСКИЙ А.Ю – Золотая Орда и её падение. М – Л, 1950.

        История Монгольской народной Республики иэд 2 М, 1967.

        Книга Марко Поло перевод старофранцуэского текста И. П, Минаева, 1956.

        МАЙСКИЙ И.М – Чингис – хан, Вопросы истории 5-1962.

        МЕРПЕРТ Н.Я. Пашуто В. Т. Черепнии ЛВ, - Чингисхан и его население История СССР 5- 1962.

        МУНКУЕВ Н.Ц – Китайский источник о первых монгольских ханан М, 1965.

        ПУЧОВСКИЙ Л. С – Монгольская феодальная историография XIII – XVIII ВВ, Уч записки Ии – та востокопед, Т. III, 1964.

        ЮАЫЬ – ЧАО БИ – ШИ (Секретная история Монголов) М., 1962.

*

*        *

        Abū-‘I Ghāzī.: Histoire des Mongols et des Tartares, publiée, traduite et annotée par le Baron Desmaisons, St. Petersbourg, 1874.

        Blake R. - Frye R.: History of the Nation of the Archers (the Mongols) by Grigor of Akanc, Harvard ỉournal of Asiatic Studies vol 12 Dec. 1949, No 3-4.

        Bretschneider E.: Mediaeval Researches from Eastern Asiatic Sources, London 1888.

        Chavannes E.: Inscriptions et pièces de chancelleries chinoises dei’époque mongole. T'oung Pao 1904, 1905, 1908.

        Cleaves E.W.: The sino - Mongolian Inscription of 1362 in Memory of prince Hindu, Harvard jonrnal of Asiatic Studies vol 12, june 1949, pp. 2-93.

        Cleaves F.W.: The Sino - Mongolian Inscription-of 1338 in Memory of Jinguntei HJAS vol 14, June 1951, pp. 1-104.

        Ceodès G: Les états hindouisés d Indochine et d’inđonésie, Paris, 1948.

        Pinot L.: Les Inscriptions du Cirque de Mĩ Sơn, BEFEO IV 1904.

        Gaubil P.A.: Histoire de Gentchiscan et de toute la dynastie des Mongus, ses successeurs, conquérants de la Chine, Paris, 1739.

        Grousset R.: L’ Empire des steppes, Paris, 1939.

        Grousset R.: L’ Empire Mongol (1rc phase), Paris, 1941.

        Haenisch E: Mangol-un niuca tobca’au (Yuan-ch’ao pi-shi). Die geheime Geschichte des Mongolen, Leipzig, 1937.

        Haenisch E.: Worterbuch zy Manghol-un niuca tobca’an, Leipzíg, 1937.

        Hambis L.: Le chapitre CVII du Yuan-che. Les généalogies im-périales Mogoles dans l’histoire chinoise ancienne de la dynastie Mongole, Leyden, 1945.

        Harlez C. de: Histoire de l’Empire de Kin ou Empire d’Or (Aisin gurun-i suduri bithe), trad, du mandchou, Louvain, 1887.

        Huber E.: La fin de la dynastie de Pagan BEFEO IX, 1909.

        Lewicki M: La langue Monguole des transcriptions chinoises du XIVe Siècle- Le Houa-yi-yi-yu de 1389 (Prace wroclaws-kiego towarzystwa naukowego Seria A, Nr 29), Wroclaw, 1949.

        Maspésro G.: Le Royaume de Champa, Pasis-Bruxelles, 1928.

        d’ Ohsson C.: Histoire de Mongols depuis Tchinguiz-khan jusqu’à Timour-bey ou Tamerlan, La Haye-Amsterdam, 1834-1835.

        Pauthier G.: Le livre de Marco Polo, Paris, 1865.

        Pelliot P.: Les Mongols et la papauté. Revue de I’orient-chrétien, XXIII, 1-2 et XXIV, 3-4, Paris, 1922-1924.

        Pelliot P.: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de Tcheou Ta-kouan. Oeuvres posthumes de Paul Pelliot III, Paris, 1951.

        Pilliot P.: Notes sur l'histore de la Horde d’or. Oeuvre8 posthumes de Paul Pelliot II, Paris, 1950.

        Polliot P. - Hambis L.: Histoire des campngnes de Gengis-Khan; Cheng-won ts’in-tchieng lou, traduit et annoté, T.I, Leiden, 1951.

        Poucha P.: Die geheime Geschichte der Mongolen als Gesch;cht-squelle und Litteraturdenkmat Praha, 1956.

        Prawdin M.: L’empire mongol et Tamerlan, Paris, 1937.

        Rashid-ed-Din: Djami el Tévarikh, ed. par. E. Blochet t. II., Contenant I’histoire des empereurs mongoles successeurs de Tchinkkiz Khogan. Gibb Memor. Ser. XVIII.

        Sainson C.: Nan-tchao ye-che - Histoire particulière du Nan-tchao, Paris, 1904.

        Schmidt S.J.: Geschichte der Ost-Mongolen und ihres Fursten-hauses ver fasst von Ssanang Ssetsen Chungtaidschi der Ordus, St Petersbourg, 1829.

        Vladimirtsov B.: Le régime social des Mongols. Le Féodalisme nomade, trad. par Michel Carsow, Paris, 1948.

        Vadimirtsov B.: Gengis-khan, trad. par M. Carsow, Paris, 1948.

        Yamada N. : Ghenkō - The Mongol Invasion of Japan, London, 1916.

        Yule. H.: The book of Marco Polo, edited by H. Cordier London, 1921.

HẾT