Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:46:48 pm



Tiêu đề: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 10:46:48 pm
Tên sách: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2009
Số hoá: ptlinh, chuongxedap

(https://scontent-sin6-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/92502929_626127098117174_2652524316851175424_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=Zi3JObmgoIYAX_oRL72&_nc_ht=scontent-sin6-2.xx&oh=c2e4b60ecb81a02e56b41c5234c9e5d9&oe=5EAE786F)


Chỉ đạo nội dung:
BAN LIÊN LẠC TRUYỀN THỐNG
CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN PHỦ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

Ban Biên soạn.
- Đại tá MINH CAO (Trưởng ban)
- Đại tá HOÀNG MINH PHƯƠNG
- Nghệ sĩ điện ảnh LÊ NGUYÊN
- Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
- Thượng tá ĐOÀN HOÀI TRUNG


Kính dâng hương hồn các Anh hùng Liệt sĩ
Đã ngã xuống cho Tổ quốc Hòa bình, Độc lập, Thống nhất, Tự do.
Kính tặng Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp
Chiến sĩ Điện Biên Phủ số 1
và các đồng chí, đồng đội thân yêu!




LỜI NÓI ĐẦU

Bạn đọc và các Chiến sĩ Điện Biên Phủ thân mến!

Hưởng ứng đề nghị của Ban Liên lạc, thời gian qua, nhiều Chiến sĩ Điện Biên Phủ nghỉ hưu tại Thành phố mang tên Bác đã viết hồi ký kể lại những mẩu chuyện xúc động về trận quyết chiến chiến lược hào hùng, gian khổ và ác liệt “lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu” diễn ra vào mùa xuân năm Giáp Ngọ, cách đây vừa đúng 55 năm. Ban Liên lạc đã chọn lọc, biên tập những bài mới viết và một số bài đã in trong tập “Đồng đội Điện Biên Phủ, ngày ấy - bây giờ” do Nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2004 để xuất bản nhân dịp kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7.5.1954-7.5.2009). Chúng tôi mạn phép sửa lại đầu đề của một số bài để tránh trùng lặp và phù hợp với nội dung hồi ký.

Do một số tác giả không ghi rõ cấp bậc, chức vụ của mình trước khi nghỉ hưu hoặc chức vụ, đơn vị mình khi tham gia chiến dịch, Ban Biên tập lại không biết được hết địa chỉ của tác giả để đề nghị bổ sung, nên không giới thiệu được đầy đủ trong tập sách này. Một số bài do sự hạn chế về nội dung và cách hành văn nên không sử dụng được. Mong các đồng chí thông cảm.

Những cựu chiến binh có hạnh phúc tham gia trận đánh năm xưa và vinh dự được Hồ Chủ tịch tặng huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”, ngày nay tuổi đã già, tóc đã bạc. Mọi người đều thấy trách nhiệm phải ghi lại những gì mình đã trải qua hoặc mắt thấy tai nghe để lớp trẻ và các thế hệ mai sau được biết. Do vậy mà tập hồi ký lần này mang tên “Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện”; cũng như ở thế kỷ 13 - thiên niên kỷ trước, sau ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông, “những lính già đầu bạc” cũng đã “kể mãi chuyện Nguyên Phong” (Bạch đầu quân sĩ tại, vãn vãn thuyết Nguyên Phong) để mãi mãi nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc.

Rất mong các đồng chí chưa có bài trong tập sách này sẽ viết tiếp, để chúng tôi bổ sung trong các lần tái bản sau này.

Chúc các đồng chí mạnh khỏe, sống lâu, gia đình hạnh phúc!

   
   
Xuân Kỷ Sửu 2009
   Ban Liên lạc Truyền thống
   Chiến sĩ Điện Biên Phủ tại TP. Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 11:00:38 pm

NẮM NGẢI CỨU TRÊN ĐẦU TỔNG TƯ LỆNH

Đại tá HOÀNG MINH PHƯƠNG
Nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4,
Trung đoàn phó - Trợ lý Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ

Có những sự kiện lịch sử mà bụi thời gian không thể phủ mờ... Có những chiến công hiển hách tồn tại mãi với dân tộc, với loài người tiến bộ. Chiến thắng Điện Biên Phủ mùa xuân năm Giáp Ngọ (1954) là một chiến công như thế!

Là một cựu chiến binh từng công tác ở Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Chỉ huy chiến dịch, tôi xin góp một số tư liệu, nhằm làm sáng tỏ thêm quá trình hình thành chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh” và chủ trương “đánh chắc tiến chắc”, những chủ trương liên quan trực tiếp đến thất bại hay thành công của trận quyết chiến chiến lược này. Trong quá trình đó, ấn tượng sâu sắc nhất còn lưu mãi trong tôi là những nắm ngải cứu trên đầu vị Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch, sau 11 ngày đêm trăn trở và một đêm thức trắng, trước khi hạ được một quyết tâm sáng suốt và táo bạo ở thời điểm cuối cùng!

Hồi đó tôi là cán bộ cấp trung đoàn, làm Trưởng đoàn cán bộ phiên dịch Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, trực tiếp làm phiên dịch và sĩ quan liên lạc giữa Tổng Tư lệnh và Thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu với Trưởng và Phó đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc. Tôi được giao nhiệm vụ này vì biết tiếng Trung Quốc và có trình độ nhất định về chính trị - quân sự, nhất là sau khi được Đảng cử sang học tập ở Học viện Mác-Lênin Bắc Kinh năm 1949-1950.

Cũng cần nói rõ: Theo đề nghị của Trung ương Đảng ta, Đoàn cố vấn quân sự được Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cử sang Việt Nam từ tháng 8 năm 1950 để giúp quân đội ta kinh nghiệm tiến hành tác chiến tập trung, đưa cuộc kháng chiến chuyển mạnh sang giai đoạn mới. Trưởng đoàn là đồng chí Vi Quốc Thanh, một cán bộ cách mạng lâu năm, lịch lãm và chín chắn, từng lãnh đạo, chỉ huy binh đoàn (cấp trên quân đoàn) của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Phó đoàn kiêm Tham mưu trưởng là đồng chí Mai Gia Sinh, từng là Quân đoàn trưởng, một cán bộ quân sự nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm. Theo cách xưng hô của bạn, cán bộ ta thường gọi là Vi đoàn trưởng, Mai phó đoàn trưởng hoặc đồng chí Vi, đồng chí Mai...

Cơ quan Tổng hành dinh đặt giữa rừng đại ngàn Việt Bắc. Nơi đây, mùa thu 1953, bộ óc cuộc kháng chiến đang phân tích kế hoạch quân sự mang tên viên Tổng chỉ huy thứ 7 của đội quân viễn chinh xâm lược Pháp ở Đông Dương. Với sự phối hợp và giúp đỡ của tình báo Trung Quốc, ta đã có trong tay bản kế hoạch vào hạ tuần tháng 10: Na-va (Navarre) đề ra mục tiêu trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn chủ lực của quân đội ta, giành một thắng lợi chiến lược quyết định, buộc Chính phủ ta phải đàm phán theo những điều kiện do Pháp đề ra, nhằm kết thúc chiến tranh mà vẫn duy trì được quyền lợi thực dân của chúng.

Kế hoạch Na-va chia làm hai bước:

Bước 1: Trong Đông Xuân 1953-1954, trên chiến trường Bắc Đông Dương, tránh giao chiến lớn với chủ lực Việt Minh, thực hành phòng ngự chiến lược, giữ vững đồng bằng Bắc Bộ, bảo vệ Thượng Lào (trước hết là Luang Prabang và Cánh Đồng Chum). Trên chiến trường Nam Đông Dương, thực hành tiến công chiến lược, đánh chiếm các căn cứ kháng chiến của đối phương, trước hết là vùng tự do Liên khu 5 và Khu 9. Đi đôi với hoạt động tác chiến, ra sức bình định các vùng chiếm đóng, đẩy mạnh bắt lính, đôn quân, đồng thời tăng quân từ Pháp sang để khẩn trương xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh, đủ sức đè bẹp đối phương vào năm tới.

Bước 2: Từ mùa thu năm 1954, sau khi đã giành được ưu thế về lực lượng cơ động chiến lược, thực hành tổng giao chiến trên chiến trường miền Bắc (từ vĩ tuyến 18 trở ra), giáng cho chủ lực Việt Minh những đòn nặng nề, tạo thế mạnh đi vào đàm phán, tìm “lối thoát danh dự” cho cuộc chiến tranh xâm lược.

Để thực hiện kế hoạch chiến lược nói trên, mùa thu năm 1953, Na-va tập trung một lực lượng cơ động gồm 44 tiểu đoàn ở đồng bằng Bắc Bộ. Với lực lượng đó, y vừa sẵn sàng đối phó được với cuộc tiến công Thu Đông của chủ lực ta mà y phán đoán là có nhiều khả năng xảy ra ở đồng bằng; vừa đối phó được với chiến tranh du kích trong vùng chúng chiếm đóng ở Bắc Bộ, lại vừa tạo được thế uy hiếp các vùng tự do rộng lớn của ta ở Thanh - Nghệ - Tĩnh, Trung du và Việt Bắc. Dưới khẩu hiệu “luôn luôn chủ động, luôn luôn tiến công”, Na-va cho quân tập kích sâu vào hậu phương ta ở Lạng Sơn, thả hàng ngàn biệt kích xuống Tây Bắc, mở các cuộc càn quét dữ dội ở các vùng tạm chiếm.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 11:01:14 pm

Lúc bấy giờ, đồng chí Vi Quốc Thanh về nước mới sang, đã cùng Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp - mà chúng tôi quen dùng tên gọi thân mật là anh Văn - lên gặp Bác Hồ ở Khuổi Tát. Đây là một bản nhỏ của người Dao trên đỉnh núi, ở vùng giáp ranh hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang. Bác ở và làm việc trong một nhà sàn nhỏ trên sườn núi, có rừng tre che khuất.

Sau khi nghe báo cáo kế hoạch của địch, Bác nói: “Na-va có rất nhiều tham vọng, muốn giành thắng lợi lớn về quân sự. Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán ra mà đánh”.

Theo sự chỉ đạo của Bác, anh Văn và đồng chí Vi Quốc Thanh bàn bạc và nhất trí đề nghị với Tổng Quân ủy và Bộ Chính trị: dùng một bộ phận quân chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương chủ động mở các cuộc tiến công trên những hướng chiến lược hiểm yếu mà địch tương đối yếu và sơ hở, nhằm tiêu diệt sinh lực địch giải phóng đất đai, buộc địch phải phân tán quân cơ động để đối phó. Tiếp tục khoét sâu mâu thuẫn cơ bản giữa tập trung và phân tán binh lực của địch, tạo nên thế trận mới, thời cơ mới. Theo dõi sát tình hình để khi thời cơ xuất hiện thì nhanh chóng tập trung chủ lực, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, làm chuyển biến cục diện chiến tranh.

Sau khi chủ trương tác chiến Đông Xuân được Tổng Quân ủy và Bộ Chính trị thông qua, Bộ Tổng tham mưu đã khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến:

Trong Đông Xuân 1953-1954, lấy Tây Bắc làm hướng chính. Bước 1: dùng Đại đoàn 316 tiến công tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khu Tây Bắc. Bước 2: Đại đoàn 316 phối hợp với Trung đoàn 148 của khu Tây Bắc, cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Pathét Lào giải phóng tỉnh Phong Xa Lỳ của bạn. Hướng này do các đồng chí Lê Quảng Ba, Chu Huy Mân, Tư lệnh và Chính ủy Đại đoàn 316 phụ trách.

Hướng Trung và Hạ Lào, sử dụng Trung đoàn 66 của Đại đoàn 304, Trung đoàn 101 của Đại đoàn 325 do đồng chí Hoàng Sâm, Tư lệnh Đại đoàn 304 và đồng chí Trần Quý Hai, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 325 phụ trách, phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam và lực lượng của bạn, tiến công vào các vị trí xung yếu, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, khai thông hành lang Nam Bắc Đông Dương.

Hướng Tây Nguyên, sử dụng 2 Trung đoàn 108 và 803, chủ lực của Liên khu 5, do đồng chí Nguyễn Chánh, Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 trực tiếp chỉ huy, đánh chiếm khu vực Bắc Tây Nguyên, phá âm mưu bình định miền Nam Việt Nam của địch.

Hướng đồng bằng Bắc Bộ: Đại đoàn 320 và các trung đoàn chủ lực của Liên khu 3 có nhiệm vụ chiến đấu thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, đánh phá giao thông, phá hỏng các phương tiện vận chuyển đường bộ, đường thủy và đường không của địch.

Ở các vùng địch tạm chiếm từ Trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ đến Nam Bộ, Lào và Campuchia, sẽ đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu hao rộng rãi sinh lực địch, giành đất, giành dân, buộc địch phải căng mỏng lực lượng ra đối phó.

Khối chủ lực còn lại (gồm các Đại đoàn bộ binh 308, 312, 304 (thiếu Trung đoàn 66), Đại đoàn công binh - pháo binh 351 và Trung đoàn bộ binh 246) giấu quân bí mật tại vùng trung du, sẵn sàng cơ động lên Tây Bắc và đánh địch tiến công ra vùng tự do của ta.

Đối với Đại đoàn bộ binh 325 (thiếu Trung đoàn 101) thì để lại Trung đoàn 18 hoạt động ở Bình Trị Thiên, Trung đoàn 95 ra Nghệ An chỉnh huấn, sẵn sàng làm lực lượng dự bị của Bộ Tổng tư lệnh.

Kế hoạch tác chiến Đông Xuân của ta chưa triển khai thì ngày 15 và 16 tháng 10 năm 1953, Na-va đã ra tay trước bằng cuộc hành binh Hải Âu (Mouette) đánh ra tây nam Ninh Bình và cuộc hành binh Con bồ nông (Pélican) đánh vào vùng ven biển Thanh Hóa. Nhưng sau hơn 20 ngày chiến đấu, đòn tiến công thăm dò của địch hòng phá kế hoạch chuẩn bị của ta đã hoàn toàn thất bại.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười, 2016, 11:01:56 pm

Ngày 19 tháng 11 năm 1953, trong một khu rừng thuộc huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Bộ Tổng tư lệnh triệu tập hội nghị quân chính từ cấp trung đoàn trở lên để phổ biến kế hoạch tác chiến Đông Xuân. Hội nghị đang họp thì được tin ngày 20 tháng 11 địch nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ. Sau mấy phút hội ý với Thiếu tướng Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tạm dừng cuộc họp một lúc để kịp thời xử trí tình hình:

- Chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu đôn đốc Đại đoàn 316 hành quân gấp lên Lai Châu. Chậm nhất ngày 6 tháng 12 năm 1953, đại bộ phận lực lượng của đại đoàn phải có mặt ở Tuần Giáo.

- Lệnh cho Đại đoàn 304 hành quân nghi binh lên Tây Bắc rồi bí mật luồn rừng về Phú Thọ, giấu quân kín đáo, sẵn sàng đánh địch tiến công ra vùng tự do hoặc cơ động đi hướng khác khi tình hình đòi hỏi.

- Các Đại đoàn 308, 312, 351 sẵn sàng chuẩn bị để khi có lệnh là lên đường.

- Bộ Tổng tham mưu cử ngay bộ phận đi trước lên Tây Bắc bằng ô tô để bố trí Sở chỉ huy tiền phương.

Ngày 23 tháng 11 năm 1953, để chuẩn bị tư tưởng cho cán bộ trước tình hình mới, khi kết luận hội nghị, anh Văn nói đại ý:

“Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, mặc dù ta không phán đoán được cụ thể địa điểm và thời gian, nhưng cũng nằm trong dự kiến trước của ta là: Nếu Tây Bắc và Thượng Lào bị uy hiếp thì địch sẽ tăng viện lên hướng đó. Như vậy là Na-va đã bắt đầu bị động. Ta cần tìm hiểu thêm ý đồ của địch. Rồi đây, chúng có thể tăng cường lực lượng, xây dựng tập đoàn cứ điểm và cũng không loại trừ khả năng địch rút. Nhưng vô luận tình hình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản có lợi cho ta”.

Hội nghị sắp kết thúc thì Bác Hồ đến thăm. Không khí cuộc họp sôi nổi và càng thêm ấm cúng. Từ lâu, đã thành thói quen là mỗi lần có hội nghị để chuẩn bị cho một chiến dịch lớn, Bác Hồ thường đến thăm và dặn dò cán bộ trước khi lên đường ra trận. Bác khen ngợi các đại biểu đã thảo luận sôi nổi và nhất trí với phương án tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh. Bác nhấn mạnh: “Vì tình hình địch có thể còn thay đổi, nên các chú phải luôn luôn nắm vững phương châm chỉ đạo tác chiến mà Bộ Chính trị đã đề ra là: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”.

Lời động viên và dặn dò của Bác đã tăng thêm niềm tin và quyết tâm của cán bộ trước khi bước vào một cuộc chiến đấu mà mọi người thấy trước là sẽ ác liệt hơn trước rất nhiều. Đó là vì, sau khi đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã tăng cường can thiệp vào Đông Dương, viện trợ ồ ạt cả về tài chính và vũ khí cho quân đội Pháp. Kế hoạch Na-va chính là sản phẩm của sự cấu kết giữa 2 tên đế quốc.

Sau khi làm việc cụ thể với cán bộ các chiến trường xa, anh Văn, anh Thái cùng mấy cán bộ tham mưu tập trung nghiên cứu tình hình Tây Bắc. Tiếp đó anh Văn hội ý với đồng chí Vi. Vấn đề đặt ra là: Địch sẽ giữ cả Lai Châu và Điện Biên Phủ, hoặc rút quân từ Lai Châu về, tăng cường xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm để duy trì sự có mặt của quân đội Pháp ở Tây Bắc và che chở cho Thượng Lào? Hoặc sau khi đón được địch ở Lai Châu, địch ở Điện Biên Phủ cũng có khả năng rút chạy? Khi đại bộ phận chủ lực ta đã tiến sâu vào Tây Bắc, liệu địch có khả năng đánh ra vùng tự do ở Trung du và Việt Bắc hay không?

Hai người nhận định: Na-va là một viên tướng có tầm nhìn chiến lược và những chủ trương rất táo bạo, ta phải tỉnh táo đề phòng. Việc điều động các đơn vị chủ lực phải được tiến hành từng bước. Trước mắt, cần cho ngay Đại đoàn 308 tiến lên Tây Bắc, nhanh chóng bao vây Điện Biên Phủ, đề phòng địch rút chạy, đồng thời chuẩn bị tiến công tập đoàn cứ điểm nếu chúng chấp nhận giao chiến với ta. Các Đại đoàn khác như 304, 312, 351 vẫn giấu quân ở Tuyên Quang, Phú Thọ rồi tùy tình hình mà xử trí.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 03:58:27 pm

Ngày 26 tháng 11 năm 1953, bộ phận nhẹ đi trước của tiền phương Bộ Tổng tư lệnh lên đường đi Tây Bắc. Cơ quan tham mưu do anh Hoàng Văn Thái - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách, lấy bí danh là anh Thành. Cùng đi có anh Cao Pha - Cục phó Cục Quân báo và các bộ phận Tác chiến, thông tin, cơ yếu, bảo đảm sinh hoạt. (Anh Đỗ Đức Kiến - Cục phó Cục Tác chiến đã được cử đi trước mấy hôm để chuẩn bị Sở chỉ huy tiền phương). Cơ quan chính trị do anh Lê Liêm - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phụ trách, lấy bí danh là anh Lê. Cơ quan cung cấp do anh Đặng Kim Giang, Phó chỉ nhiệm Tổng cục Cung cấp1 phụ trách, lấy bí danh là anh Đặng. Về phía bạn có đồng chí Mai Gia Sinh và một số cố vấn tham mưu. Tôi cũng được phân công đi trước để giúp hai đồng chí Thái và Mai làm việc.

Bộ phận đi trước của tiền phương Bộ Tổng tư lệnh đi bằng ô tô ra trận. Trừ mấy chiếc xe Jeep của các đồng chí lãnh đạo, còn lại là xe vận tải Mô-lô-tô-va do Liên Xô viện trợ. Chỉ riêng điều đó cũng nói lên một bước trưởng thành đáng phấn khởi của quân đội ta. Nhớ lại thời chiến dịch Biên Giới mùa thu năm 1950, khi Bác Hồ ra trận, Bác ngồi xe vận tải và cũng chỉ đi được từng đoạn, vì đường chưa thông suốt, lại rất nhiều ổ gà, Bác bảo đi bộ còn sướng hơn!

Để tránh máy bay và giữ bí mật, chúng tôi ngày nghỉ, đêm đi, từ căn cứ núi Hồng qua Đèo Khế, vượt sông Lô ở bến Bình Ca quen thuộc. Qua cây số 5 và Đoan Hùng, chúng tôi quặt lên Yên Bái rồi vượt sông Thao ở bến Âu Lâu. Tại đây anh Thái và đồng chí Mai gặp anh Vương Thừa Vũ đang chuẩn bị cho Đại đoàn 308 tiến vào Tây Bắc. Sau khi nghe tình hình chuẩn bị chiến đấu của đại đoàn, anh Thái dặn anh Vũ khi qua Nà Sản, nhớ cho cán bộ nghiên cứu kỹ cách tổ chức phòng ngự của tập đoàn cứ điểm. Nếu đánh Điện Biên Phủ, 308 chắc chắn sẽ là đơn vị chủ công...

Vượt sông Thao, chúng tôi bắt đầu đi sâu vào Tây Bắc bao la, qua những vùng vừa được giải phóng cuối năm 1952. Lúc này đường từ Âu Lâu qua Ba Khe, qua đèo Lũng Lô mới mở để đến Vạn Yên đã được sửa xong. Đường từ Vạn Yên đến Tạ Khoa đã được mở rộng. Bến Tạ Khoa đã có phà cho ô tô vượt sông Đà. Nhìn những đoạn đường ngoằn ngoèo mới sửa, những thành cao vách đứng bên bờ vực thẳm trên đèo Lũng Lô, chúng tôi nghĩ đến bao mồ hôi và cả máu của bộ đội công binh, dân công và các cán bộ giao thông công chính đã đổ xuống trên tuyến đường hiểm trở này. Đây là đường 13 nối liền Yên Bái với Cò Nòi trên đường 41. Trung ương Đảng và Chính phủ đã chỉ thị phải bảo đảm thông suốt cho cả xe vận tải và xe kéo pháo trước khi bước vào chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.

Vượt qua ngã ba Cò Nòi, ngày 30 tháng 11, đoàn chúng tôi đến Nà Sản. Anh Thái và đồng chí Mai dừng lại đây một ngày để nghiên cứu tập đoàn cứ điểm mà địch mới rút bỏ chưa đầy 4 tháng.

Thu Đông 1952, quân ta mở chiến dịch Tây Bắc, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng gần hết vùng Tây Bắc, gồm các tỉnh Yên Bái, Sơn La và Lai Châu (trừ thị xã và khu vực xung quanh). Địch phải thu thập tàn quân và các lực lượng ở Tà Khoa, Cò Nòi, Sơn La về Nà Sản, lập thành tập đoàn cứ điểm. Sang đợt 3 chiến dịch, ta chủ trương tiến công Nà Sản.

Đêm 30 tháng 11 năm 1952, ta tiêu diệt Pú Hồng và Bản Hồi, nhưng sau đó địch phản kích chiếm lại Pú Hồng. Đêm 1 tháng 12 năm 1952, ta đánh Nà Xi và Bản Vầy đều không thành công. Nguyên nhân là bộ đội đã đuối sức sau gần 2 tháng chiến đấu liên tục, địch lại có ưu thế về pháo binh và không quân, ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm.

Nghiên cứu xong Nà Sản, đồng chí Mai bàn với anh Thái: “Một nguyên nhân quan trọng khiến năm ngoái ta chưa thành công là do chưa có khả năng kiềm chế pháo binh và hạn chế hoạt động của không quân địch. Năm nay, bộ đội Việt Nam đã có lựu pháo 105 ly và pháo cao xạ 37 ly, lại đã qua nghiên cứu cách đánh tập đoàn cứ điểm, nên nhất định là chúng ta đánh được. Tập đoàn cứ điểm cũng có nhiều sơ hở. Ta cần khẩn trương lên mặt trận nắm tình hình và chuẩn bị sẵn phương án tác chiến”.
______________________________________
1. Nay là Tổng cục Hậu cần.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 03:59:21 pm

Lúc bấy giờ, ta chỉ mới có bản đồ Tây Bắc tỷ lệ 1/100.000, khu vực Điện Biên Phủ vẫn còn để trắng. Sau khi địch nhảy dù, theo yêu cầu của ta, tên sĩ quan bị bắt hồi tháng 11 năm 1952 khi ta giải phóng Điện Biên Phủ lần đầu, đang ở trại tù binh Chiêm Hóa, đã vẽ tay một sơ đồ Điện Biên Phủ. Ngoài dòng sông Nậm Rốm và các ngọn đồi phía Đông, các chi tiết khác còn sơ sài.

Đêm 4 tháng 12 năm 1953, đoàn xe vượt đèo Pha Đin dài hơn 30km, qua những dãy núi cao sừng sững che kín cả một vùng trời. Máy bay địch tăng cường đánh phá. Sáng 5 tháng 12, anh Thái được Bộ Tổng tham mưu điện cho biết: địch đang rút các đơn vị Âu Phi ở Lai Châu về Điện Biên Phủ bằng đường không. Anh lệnh ngay cho Đại đoàn 316 đang trên đường tiến lên Tuần Giáo đẩy nhanh tốc độ hành quân, không để cho bọn địch còn lại ở Lai Châu rút chạy.

Sáng 6 tháng 12, đoàn đến Sở chỉ huy tiền phương đầu tiên của Bộ Tổng tư lệnh ở hang Thẩm Púa, ngang cây số 15 trên đường Tuần Giáo đi Mường Thanh. Bộ Tổng tham mưu điện cho biết thêm: địch đã lệnh cho các đơn vị lính ngụy ở Lai Châu rút về Điện Biên Phủ theo đường bộ qua Mường Pồn. Ngày 7 tháng 12, anh Thái trực tiếp giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 316 tiêu diệt quân địch rút chạy, giải phóng Lai Châu. Lệnh cho Đại đoàn 308 gấp rút tiến về Điện Biên Phủ, cho đơn vị đi đầu nhanh chóng vòng theo đường tắt xuống chốt chặn ở phía nam Hồng Cúm, đề phòng địch rút chạy về hướng Thượng Lào.

Ngày hôm sau, anh Thái triệu tập cán bộ công binh, giao nhiệm vụ cùng với thanh niên xung phong và dân công gấp rút mở rộng đường Tuần Giáo đi Mường Thanh, bảo đảm cho xe kéo pháo và xe vận tải có thể vào sát chiến trường. Cục Quân báo được giao nhiệm vụ khẩn trương tổng hợp các nguồn tin để báo cáo cụ thể tình hình địch.

Lúc này, căn cứ vào báo cáo và bản vẽ của các mũi trinh sát tiền phương và các đơn vị thuộc Trung đoàn 148 đã bám sát và đánh địch từ đầu, kết hợp với tin trinh sát kỹ thuật, ta đã nắm được tương đối cụ thể địa hình và các vị trí đóng quân của địch. Binh lực địch đã lên đến 9 tiểu đoàn. Chúng đã san bằng thị trấn Mường Thanh để xây dựng Sở chỉ huy và trận địa pháo. Sân bay Mường Thanh đã được sửa chữa và sử dụng. Hằng ngày, máy bay vận tải liên tục chở các loại trang bị kỹ thuật thả dù hoặc hạ cánh. Địch đang tập trung xây dựng các cụm cứ điểm Him Lam, đồi A1 và các ngọn đồi khác ở phía đông, ở nam bắc sân bay. Ở phía tây đã có cứ điểm Cang Na và một vài nơi đang đào công sự. Sau đó, địch đóng thêm Bản Kéo và một vị trí tiền tiêu ở đồi Độc Lập.

Trinh sát phát hiện ở Hồng Cúm cũng đã có địch và máy bay trực thăng lên xuống. Tuy nhiên, phần lớn công sự còn làm theo kiểu dã chiến, phòng ngự địch ở phía tây còn nhiều sơ hở. Anh em báo cáo: Một chiến sĩ trinh sát có lần vào gần sân bay lấy dù tiếp tế và phục bắt tù binh, đến sáng không ra được, đã giấu mình trong đống dù nằm ăn đồ hộp và ngủ cả ngày mà địch không hề hay biết!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 03:59:48 pm

Ngày 9 tháng 12 năm 1953, căn cứ vào tình hình địch và địa hình, hai đồng chí Thái, Mai cùng một số cán bộ và Cố vấn tham mưu bàn cách đánh. Có hai phương án được đề ra:

- Một là: Dùng toàn bộ lực lượng chia làm nhiều hướng đánh cùng một lúc, có sự chi viện và hiệp đồng chặt chẽ của pháo binh và cao xạ. Một mũi đột kích mạnh của bộ binh sẽ từ phía tây và tây nam thọc sâu vào Sở chỉ huy, giống như một lưỡi gươm đâm thẳng vào tim, tạo nên sự rối loạn ở trung tâm phòng ngự địch ngay từ đầu, rồi từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, tiêu diệt địch trong thời gian tương đối ngắn.

- Hai là: Bao vây địch dài ngày rồi đánh dần từng bước một, lần lượt tiến công từng trung tâm đề kháng bằng nhiều trận công kiên kế tiếp, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn quân địch.

Đồng chí Mai gọi cách đánh thứ nhất là “chiến thuật moi tim” (Oa tâm tạng chiến thuật), cách đánh thứ hai là “chiến thuật bóc vỏ” (bóc bì chiến thuật). Đồng chí phân tích: Năm ngoái đánh Nà Sản, ta dùng chiến thuật bóc vỏ, lần lượt đánh từng vị trí, lại không có trọng pháo tầm xa để chế áp pháo binh và Sở chỉ huy địch, nên chúng tập trung được toàn bộ hỏa lực của tập đoàn cứ điểm chi viện cho từng vị trí bị tiến công. Ta thương vong nhiều mà không dứt điểm được. Mà có dứt điểm thì cũng không giữ được, như vị trí Pú Hồng. Ở Điện Biên Phủ hiện nay, địch còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, công sự chưa vững chắc, lại có nhiều sơ hở ở phía tây. Ta nên tranh thủ đánh sớm, đánh nhanh bằng sức mạnh mới của bộ pháo hiệp đồng (hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh), dùng chiến thuật moi tim để tiêu diệt địch. Nếu không đánh sớm, địch tăng thêm binh lực, hỏa lực, củng cố công sự và hoàn chỉnh thế bố phòng thì e sẽ gặp khó khăn.

Anh Thái đặt vấn đề: làm thế nào để đưa pháo vào trận địa khi ta chủ trương đánh sớm, đánh nhanh mà chưa kịp làm đường cho xe kéo pháo? Làm thế nào để hạn chế tác dụng của máy bay, pháo binh, giảm bớt thương vong khi ta đánh liên tục cả ban ngày?

Đồng chí Mai giải đáp: “Sau khi hoàn thành việc mở rộng đường Tuần Giáo - Mường Thanh, ta chỉ cần đốn cây, phạt cỏ rồi dùng sức người kéo pháo vào trận địa. Việc này chúng tôi đã từng làm, tuy có khó khăn vất vả, nhưng sẽ tạo được bất ngờ lớn. Về việc đối phó với máy bay và pháo địch, ta có khả năng làm được: trận đánh sẽ bắt đầu bằng một trận pháo cấp tập dữ dội, làm cho pháo địch và máy bay thường trực ở sân bay bị tổn thất nặng ngay từ đầu. Tiếp đó là các mũi đột kích của bộ binh thọc sâu vào chia cắt đội hình, mũi chủ yếu đánh thẳng vào Sở chỉ huy và trung tâm thông tin theo kiểu “nở hoa trong lòng địch” (tâm trung khai hoa). Ta làm được như vậy thì các trận đánh ban ngày sẽ diễn ra trong thế địch ta xen kẽ. Máy bay và pháo địch không dễ dàng bắn trúng đội hình chiến đấu của ta mà không gây thương vong cho quân của chúng. Tôi được thông báo là các tiểu đoàn pháo cao xạ của Liên Xô viện trợ và đưa qua Trung Quốc huấn luyện đã tiến bộ khá nhanh. Trước khi về nước, cán bộ và chiến sĩ đã nắm vững chiến thuật và kỹ thuật. Đây là một lực lượng đáng tin cậy để hạn chế hoạt động của không quân địch”.

Sau khi cân nhắc thuận lợi và khó khăn về cách đánh cũng như về khả năng đảm bảo hậu cần, hai đồng chí nhất trí chọn phương án đánh nhanh thắng nhanh để chuẩn bị báo cáo với anh Văn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 04:02:07 pm

Trong khi đó thì ở hậu phương, ngày 6 tháng 12 năm 1953, tờ trình của Tổng Quân ủy gửi lên Bộ Chính trị đã dự kiến: “Thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày, không kể thời gian tập trung bộ đội và làm công tác chuẩn bị. Trận đánh có thể bắt đầu vào trung tuần tháng 2 năm 1954. Dự kiến này đã được tính toán theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.1

Hạ tuần tháng 12, anh Văn báo cáo tiếp tình hình mới, Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Như vậy là, sau khi buộc địch phải bị động phân tán khối chủ lực của chúng, phải vội vã ném những đơn vị lính dù và bộ binh tinh nhuệ nhất xuống một vị trí cô lập ở vùng rừng núi, cách xa các căn cứ lớn của chúng ở đồng bằng, ta đã chủ động tạo ra thời cơ và tích cực nắm lấy thời cơ, buộc địch phải “tổng giao chiến” sớm hơn một năm so với ý định ban đầu của chúng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1954, Bộ Chính trị chỉ định cơ quan lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch. Anh Văn được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy chiến dịch kiêm Bí thư Đảng ủy, anh Thái làm Tham mưu trưởng, anh Liêm làm Chủ nhiệm Chính trị, anh Giang làm Chủ nhiệm Cung cấp. Cả ba anh đều được chỉ định là ủy viên Đảng ủy mặt trận Điện Biên Phủ.

Anh Văn lên Khuổi Tát chào Bác Hồ trước khi lên đường. Bác hỏi:

- Chú đi xa như vậy, chỉ đạo các chiến trường có gì trở ngại không?

- Các đồng chí Tổng Tham mưu phó, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp đều đã có mặt ở trên đó. Sẽ tổ chức cơ quan tiền phương Bộ Tổng tư lệnh. Việc ở nhà có anh Nguyễn Chí Thanh và anh Văn Tiến Dũng. Chỉ trở ngại là ở xa, không thường xuyên xin được ý kiến Bác và Bộ Chính trị.

Bác nói:

- Tổng Tư lệnh ra mặt trận. “Tướng quân tại ngoại”. Trao cho chú toàn quyền quyết định... Và Bác không quên dặn kỹ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh”.

Ngày 5 tháng 1, anh Văn cùng Sở Chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh lên đường đi Tây Bắc. Cùng đi có các anh Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Tác chiến, Lê Trọng Nghĩa - Cục trưởng Cục Quân báo, Hoàng Đạo Thúy - Cục trưởng Cục Thông tin. Về phía bạn có đồng chí Vi Quốc Thanh và một số cố vấn.
___________________________________
1. Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nxb QĐND, H. 1991, tr. 730.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 04:03:13 pm

Qua Tuyên Quang, anh Văn ghé thăm vị trí trú quân của đơn vị pháo đã lên đường cách đó mấy hôm. Qua địa phận Phú Thọ giáp với Yên Bái, anh ghé thăm Đại đoàn 304, lệnh cho Trung đoàn 57 gấp rút hành quân lên Điện Biên Phủ, chỉ để Trung đoàn 9 ở lại bảo vệ hậu phương1. Như vậy, tiếp theo 3 Đại đoàn 316, 308, 312 đã lần lượt tiến lên Tây Bắc, Đại đoàn công pháo 351 và Trung đoàn 57 cũng đã lên đường.

Sau khi vượt đèo Pha Đin để lên Tuần Giáo, anh Văn ghé thăm cán bộ chỉ huy các tuyến vận tải tiếp tế cho Điện Biên Phủ.

Sáng 12 tháng 1 năm 1954, anh Văn đến Tuần Giáo. Chợp mắt được một lúc thì anh Thái đã từ Sở chỉ huy ra đón. Anh Thái tranh thủ báo cáo tình hình địch, ta, địa hình Điện Biên Phủ và phương án đánh nhanh thắng nhanh đã bàn với đồng chí Mai và anh Liêm, anh Giang. Anh Văn cảm thấy phương án này không ổn, trái hẳn với dự kiến của Tổng Quân ủy trình lên Bộ Chính trị ngày 6 tháng 12 năm 1953. Anh muốn vào sớm để gặp cán bộ và nghe thêm tình hình cụ thể. Chiều 12 tháng 1, anh Văn đi tiếp vào Sở chỉ huy ở hang Thẩm Púa, tranh thủ triệu tập hội nghị Đảng ủy. Trong cuộc họp, tất cả các đảng ủy viên đều nhất trí chọn phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh”. Mọi người cho rằng, quân ta đang sung sức, quyết tâm chiến đấu rất cao, lại có trọng pháo và cao xạ lần đầu xuất trận, ta có thể tạo bất ngờ và đánh thắng. Nếu không đánh sớm, để tập đoàn cứ điểm được tăng cường quá mạnh, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh tiêu diệt lớn trong Đông Xuân này. Đánh dài ngày sẽ rất khó giải quyết vấn đề tiếp tế: Tại khu vực Điện Biên Phủ, mỗi ngày tiêu thụ gần 50 tấn gạo. Nếu tính từ Sơn La trở lên, bình quân phải có 90 tấn gạo ngày cho cả bộ đội và dân công. Địch sẽ tăng cường đánh phá đường tiếp tế vận chuyển độc đạo của ta. Nếu chiến dịch kéo dài thì làm sao có đủ gạo ăn mà đánh được? Đó là chưa tính đến đạn dược, thuốc men. Về tư tưởng, bộ đội vốn thích về đánh ở đồng bằng, nay thì đã bước đầu thông suốt, hăng hái, quyết tâm; nhưng nếu ở chiến trường rừng núi quá lâu, ăn uống kham khổ, bệnh tật phát sinh thì cả thể lực cũng như ý chí đều có thể dần dần giảm sút...

Anh Văn không nhất trí với những ý kiến đó. Dĩ nhiên đánh nhanh, thắng nhanh có nhiều điều lợi, nhưng vấn đề mấu chốt là có bảo đảm chắc thắng hay không? Bộ đội ta, tuy đã được chuẩn bị về tư tưởng và chiến thuật để đánh tập đoàn cứ điểm, nhưng chưa có kinh nghiệm thực tế. Ta còn phải mất thêm một thời gian nữa để làm đường và kéo pháo. Địch còn có thể tăng quân, xây dựng công sự và bố phòng ngày càng chắc. Ngay bây giờ đánh nhanh đã khó. Rồi đây, chắc chắn lại càng khó hơn. Anh Văn sang bàn với đồng chí Vi Quốc Thanh, hy vọng sẽ có sự đồng tình của Trưởng đoàn cố vấn. Anh Văn đặt vấn đề: “Đồng chí nghĩ gì về chủ trương đánh sớm, đánh nhanh?”. Đồng chí Vi nói: “Tôi đã gặp đồng chí Mai Gia Sinh và các cố vấn cùng đi chuẩn bị chiến trường với cán bộ Việt Nam, trong đó có một ngày dừng lại ở Nà Sản đề nghiên cứu kỹ tập đoàn cứ điểm mà quân Pháp vừa rút bỏ. Qua bài học Nà Sản, tất cả đều nhất trí là ở Điện Biên Phủ lần này ta nên tranh thủ đánh sớm đánh nhanh và có nhiều khả năng đánh thắng”. Anh Văn trình bày những suy nghĩ của mình về trình độ tác chiến của bộ đội ta và so sánh binh hỏa lực của hai bên trên chiến trường, cho rằng khó có khả năng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trong thời gian ngắn. Suy nghĩ một lúc, đồng chí Vi nói: “Nếu không tranh thủ đánh sớm khi địch còn đứng chân chưa vững, để nay mai chúng tăng quân và củng cố công sự thì không đánh được, ta sẽ bỏ mất thời cơ”.
_________________________________
1. Trung đoàn 9 cuối tháng 4-1954 lên Điện Biên Phủ, Trung đoàn 66 hoạt động ở Trung Lào.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 04:04:22 pm

Tuy vẫn không tin vào phương án đánh nhanh thắng nhanh, nhưng anh Văn tự thấy mình vừa mới đến chiến trường, chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án đã được các đồng chí đi trước lựa chọn, lại là đã số trong Đảng ủy và được tất cả các đồng chí bạn đồng tình. Cũng không còn thời gian xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị, vì không thể trao đổi vấn đề tuyệt mật này qua điện đài; viết thư cho cán bộ cầm về thì không thể kịp. Anh đồng ý triệu tập hội nghị cán bộ vào ngày 14 tháng 1. Anh dặn anh Cao Pha cho điều tra thật kỹ những vị trí địch ở cánh đồng phía tây, trên hướng đột kích chủ yếu vào Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Anh yêu cầu báo cáo tình hình địch mỗi ngày 2 lần, đặc biệt là hiện tượng đột xuất thì phải báo cáo ngay, bất kể ngày hay đêm. Anh trao đổi riêng những suy nghĩ của mình với đồng chí Hiếu, chánh văn phòng; dặn là biết vậy để giúp anh theo dõi, không được nói với bất cứ ai.

Anh Nguyễn Văn Hiếu nguyên là chính ủy trung đoàn được điều về Văn phòng Tổng chính ủy - đồng thời là Văn phòng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh khoảng giữa năm 1949. Từ chiến dịch Biên giới đến chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn theo anh Văn ra mặt trận. Có lần, anh Hiếu1 tâm sự với tôi: “Đi giúp việc anh Văn trong thời gian khá dài, tôi học được rất nhiều điều: anh luôn luôn bình tĩnh, lạc quan, tin tưởng, kể cả trong những trường hợp rất khó khăn. Tôn trọng tổ chức, nhẫn nại chờ đợi để tạo sự nhất trí trong cơ quan lãnh đạo, phát huy sức mạnh của tập thể. Tác phong gần gũi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Nghị lực và cường độ làm việc rất cao, năng lực tư duy sáng tạo. Xử lý công việc lúc thì kiên quyết, táo bạo, khẩn trương; lúc thì cân nhắc hết sức thận trọng. Anh có cách nhìn toàn diện của một nhà lãnh đạo chính trị đồng thời là nhà chỉ huy quân sự. Trong chỉ huy tác chiến, tôi thấy anh luôn luôn kiên định, có lúc lại thấy anh rất nhạy bén và linh hoạt. Khi suy nghĩ phương án tác chiến, anh nghiên cứu kỹ tình hình hiện tại và dự kiến những khả năng biến động trong các bước tiếp theo, cả về phía ta và phía địch, cả trường hợp thuận lợi và trường hợp khó khăn, không dừng lại ở những điều đã định. Tối 12 tháng 1 năm 1954, sau cuộc họp của Đảng ủy mặt trận, anh cho triển khai quyết định của tập thể, nhưng nói riêng với tôi rằng: đánh như vậy là mạo hiểm. Vì vậy cần theo dõi sát tình hình để khi có đủ căn cứ thì kịp thời đặt lại vấn đề...

Ngày 14 tháng 1 năm 1954, phương án đánh nhanh thắng nhanh và nhiệm vụ của các đơn vị, các binh chủng đã được phổ biến trên một sa bàn lớn ở hang Thẩm Púa. Thời gian tác chiến dự kiến là 3 đêm 2 ngày. Trước mắt, cần tập trung lực lượng làm gấp đường kéo pháo, rồi dùng sức người kéo pháo vào trận địa dã chiến, bí mật, an toàn.

Không khí hội nghị phấn khởi và tin tưởng, chỉ huy các đại đoàn đều biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Không một ai có ý kiến khác.

Khi kết thúc hội nghị, để chuẩn bị tư tưởng phần nào cho cán bộ, anh Văn nói: “Hiện nay tình hình địch chưa có triệu chứng thay đổi lớn. Chúng ta hết sức chú ý theo dõi ý đồ và hành động của chúng để một khi tình hình thay đổi thì kịp thời xử trí”.
______________________________________
1. Anh Hiếu năm 1967 về làm Phó Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao rồi Phó Viện trưởng Học viện Lục quân Đà Lạt, nay đã nghỉ hưu.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 04:04:47 pm

Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, một khó khăn lớn của công tác tham mưu là chỉ có bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và sơ đồ vẽ tay của trinh sát, không có bản đồ tỷ lệ lớn hơn để chỉ huy tác chiến. Anh Thái lệnh cho các đơn vị tìm mọi cách lấy bản đồ của địch. Khó khăn đó đã được kịp thời giải quyết. Một tổ trinh sát của Bộ khi ra đoạt dù tiếp tế ở tây Mường Thanh, đã lấy được một thùng hàng vừa đựng “xúc xích”, (phiên âm tiếng Pháp của từ “Saucisse”), vừa có một tập bản đồ khu vực Điện Biên Phủ, tỉ lệ 1/25.000. Bản đồ được sử dụng ngay trong cuộc họp ngày 14 tháng 1 để xác định tọa độ và tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị, giữa bộ binh và pháo binh; đồng thời được chuyển về hậu phương, gấp rút in thành nhiều bản. Tổ trinh sát được tặng thưởng ngay Huân chương Chiến công.

Theo báo cáo của Cục Quân báo, lúc này binh lực địch ở Điện Biên Phủ đã từ 6 tiểu đoàn lúc đầu, tăng lên 11 tiểu đoàn bộ binh và dù. Hàng ngày máy bay địch, kể cả máy bay C119 do phi công Mỹ lái, tiếp tục vận chuyển và thả dù hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, đạn dược, dây kẽm gai và cọc sắt xuống sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm. Đồi Độc Lập lúc đầu chỉ là một cứ điểm tiền tiêu, nay đã trở thành một trung tâm đề kháng vững chắc. Cụm cứ điểm Him Lam đã được tăng cường.

Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 1 năm 1954, Sở chỉ huy chiến dịch từ cây số 15 chuyển vào ngang cây số 62, trong một khu rừng có suối thuộc địa phận bản Nà Tấu. Các đồng chí trong Bộ chỉ huy chiến dịch chia nhau đi kiểm tra đôn đốc các đơn vị. Việc làm đường kéo pháo từ cửa rừng Nà Nham (cây số 67 cũ, cách Mường Thanh 17km) qua núi Pha Song cao 1.150 mét, xuống Bản Tố tới Bản Nghịu (Tây Bắc, Điện Biên Phủ) dài 15km, rộng 3 mét, đã được hoàn thành sớm hơn dự kiến. Nhưng việc kéo pháo phải kéo dài. Phải hàng trăm người kết hợp với tời kéo dần từng khẩu nặng hàng tấn, qua những đoạn có dốc cao vực thẳm, trung bình mỗi giờ chỉ nhích được từ 150 đến 200 mét. Đến ngày 19 tháng 1, pháo vẫn chưa vào tới vị trí.

Ngày nổ súng trước định là 20 tháng 1, nay được quy định lại là 25 tháng 1 năm 1954, giờ G là 17 giờ.

Tại Sở Chỉ huy chiến dịch, ngoài việc thường xuyên theo dõi tình hình địch qua báo cáo của các đơn vị, của trinh sát mặt đất và trinh sát kỹ thuật, anh Văn chỉ thị cho anh Hoàng Xuân Tùy - Trưởng ban Tuyên huấn mặt trận tổ chức nghe các đài phương Tây, đặc biệt là đài con Nhạn, đài Pháp Á, để có thêm cơ sở phán đoán ý đồ của địch. Ta được biết: trong thông điệp đầu năm, Na-va tuyên bố: “Điều kiện chiến thắng đã đầy đủ, chỉ còn tùy thuộc vào ý chí của tất cả chiến binh hải lục không quân, để làm cho năm 1954 là năm thắng lợi rõ rệt của quân đội Pháp!”.

Ngày 20 tháng 1, Cục Quân báo báo cáo tiếp: Sau khi củng cố hệ thống phòng ngự trên các ngọn đồi phía Đông, địch đóng thêm một số vị trí ở phía Tây Bắc Mường Thanh. Có khả năng hình thành một trung tâm đề kháng mạnh ở đây. Địch ráo riết củng cố công sự và hệ thống vật cản. Xung quanh các cứ điểm đều có bãi mìn dày đặc, kết hợp với nhiều hàng rào kẽm gai rộng từ 50 đến 70 mét, có nơi rộng đến gần 200 mét. Đặc biệt, trinh sát phát hiện có một loại súng 4 nòng đặt gần Sở chỉ huy của Đờcátxtơri (De Castries), có thể quay bắn về nhiều hướng.

Như vậy, qua lời nói cũng như việc làm, Na-va đã quyết tâm giữ vững Điện Biên Phủ bằng mọi giá.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười, 2016, 04:06:41 pm

Sáng 23 tháng 1, sau khi kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến đấu của Đại đoàn 312 qua điện thoại, nghe Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn báo cáo là đơn vị phải đột phá liên tục 3 phòng tuyến của địch mới vào được trung tâm, anh Văn gọi anh Cao Pha sang giao nhiệm vụ. Anh nói: “Địch đã tăng cường lực lượng, công sự và vật cản, mà ta thì chưa hiểu rõ cách bố trí phòng ngự bên trong của chúng ở phía nam sân bay và Mường Thanh. Sắp tới, Đại đoàn 312 từ phía bắc sẽ phải đánh một mạch từ đồi Độc Lập, Bản Kéo, Căng Na, qua sân bay vào tới trung tâm, mình lo là anh em sẽ thương vong nhiều và khó hoàn thành nhiệm vụ. Cậu phải cùng đi theo mũi của 312, mang điện đài theo hay dựa vào mạng điện thoại của của anh Tấn là tùy. Đi đến đâu, đánh đến chỗ nào, cậu nắm ngay tình hình địch, chú ý khai thác tù binh và báo cáo về ngay”.

Cũng trong ngày 23 tháng 1, hai ngày trước khi nổ súng, anh Phạm Kiệt - Cục phó Cục Bảo vệ được cử làm phái viên Bộ Tổng tư lệnh theo dõi việc kéo pháo vào trận địa phía Tây Bắc sân bay, đề nghị gặp anh Văn qua điện thoại. Anh Kiệt nói: “Pháo của ta đều bố trí trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo hoặc bị không quân đánh phá sẽ khó tránh khỏi tổn thất. Một số pháo vẫn chưa kéo được vào vị trí. Đề nghị anh cân nhắc”. Sau này, anh Văn cho biết: Lời của anh Lê Trọng Tấn mặc dù không nhấn mạnh khó khăn mà vẫn biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, nhưng anh đã làm cho anh suy nghĩ rất nhiều... Đặc biệt lời của anh Phạm Kiệt, người duy nhất phát hiện khó khăn, đã củng cố thêm quyết tâm của anh là không thể mạo hiểm đánh theo kế hoạch đã đề ra.

Ngày 24 tháng 1, một chiến sĩ của Đại đoàn 312 không may bị địch bắt. Qua tin trinh sát kỹ thuật, ta lại biết địch đã nắm được thời gian ta nổ súng là 17 giờ ngày 25 tháng 1 và thông báo cho nhau1. Anh Văn quyết định hoãn giờ nổ súng lại 24 tiếng.

Tảng sáng ngày 26 tháng 1, trời rét đậm, sương mù dày đặc trong khu rừng Nà Tấu. Tôi đang ra suối rửa mặt thì liên lạc xuống gọi lên gặp anh Văn gấp. Anh đang ngồi nghiên cứu tình hình qua tấm bản đồ trải trên bàn nứa, đầu quấn đầy lá ngải cứu. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Anh nhức đầu hay sao mà đắp ngải cứu nhiều như thế?”. Anh thân mật đáp: “11 ngày qua mình suy nghĩ rất nhiều và suốt đêm qua không ngủ được. Chiều nay trận đánh sẽ bắt đầu, nhưng những yếu tố thắng lợi thì ta chưa hoàn toàn nắm chắc. Cậu sang báo đồng chí Vi là tôi có việc cần bàn gấp sáng nay”.
_________________________________
1. Theo tư liệu của phương Tây, sở dĩ địch biết được thời gian ta nổ súng là do giải mã được một bức điện của Tổng cục Cung cấp tiền phương.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:21:05 pm

Tôi dịch cho anh Văn trong cuộc trao đổi ý kiến với đồng chí Vi Quốc Thanh. Gặp anh Văn, đồng chí Vi ngạc nhiên nhìn nắm ngải cứu trên đầu, ân cần hỏi thăm tình hình sức khỏe rồi nói:

- Trận đánh sắp bắt đầu, đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình mới nhất ra sao?

- Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí. Qua theo dõi tình hình, tôi cho rằng địch không còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố. Vì vậy không thể đánh theo kế hoạch đã định. Có ba khó khăn lớn mà bộ đội Việt Nam chưa thể vượt qua:

Một là: Các đơn vị chủ lực của chúng tôi cho đến nay chỉ mới có khả năng cao nhất là tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch tăng cường trong công sự vững chắc. Chưa có khả năng, trong một thời gian ngắn, tiêu diệt cả chục tiểu đoàn địch phòng ngự trong tập đoàn cứ điểm. Ở Nà Sản cuối năm 1952, một trung đoàn đánh một tiểu đoàn địch trong công sự dã chiến mà chưa thành công. Nay địch có 49 cứ điểm, binh lực hỏa lực mạnh hơn, có công sự vững chắc và hệ thống vật cản dày đặc, lại càng khó thắng, mặc dù một năm qua bộ đội có nhiều tiến bộ.

Hai là: Trong trận này ta có thêm lựu pháo và cao xạ, đã được các đồng chí giúp đỡ huấn luyện, có kết quả tốt, nhưng bộ pháo hiệp đồng quy mô lớn mới là lần đầu, lại chưa qua diễn tập. Cán bộ còn lúng túng trong việc chỉ huy. Có trung đoàn trưởng đã đề nghị trả bớt hỏa lực trợ chiến về cho Bộ!

Ba là: Như đồng chí đã biết, không quân Pháp mạnh hơn không quân Tưởng Giới Thạch khi các đồng chí tiến hành chiến tranh giải phóng. Nay lại có thêm không quân Mỹ tăng cường. Bộ đội chúng tôi lâu nay mới quen tác chiến ban đêm ở những địa hình dễ ẩn náu để hạn chế chỗ mạnh của địch về không quân và pháo binh. Nay phải chiến đấu liên tục trong 3 đêm 2 ngày với kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo và xe tăng trên địa hình trống trải, nhất là trên cánh đồng Mường Thanh khá rộng, thì rất khó tránh thương vong, khó hoàn thành nhiệm vụ.

Anh Văn chậm rãi:

- Tất cả những khó khăn này ta đều chưa bàn kỹ cách giải quyết, chỉ mới dựa vào khả năng tiêu diệt pháo và máy bay địch trong đêm đánh đầu tiên bằng đòn cấp tập hỏa lực của ta. Ngày 12 tháng 1, khi thấy đa số tán thành phương châm đánh nhanh, thắng nhanh, tôi không nhất trí và đã nói với đồng chí. Nhưng có lẽ đồng chí cũng như tôi, chúng ta là những người vừa mới đến chiến trường, tình hình nắm chưa thật chắc, nên chưa tiện bác bỏ ý kiến của các đồng chí đã lên trước hơn một tháng. Đến nay, tình hình đã khác. Tôi đã cử cán bộ trực tiếp đi kiểm tra các trận địa pháo, phần lớn đều nằm ở nơi trống trải. Nếu trong đêm đầu ta không diệt được pháo địch, ban ngày địch dùng không quân oanh tạc, dùng pháo binh bắn phá, dùng bộ binh và xe tăng phản kích thì không có đường và xe kéo, pháo ta sẽ rút đi đâu?

Nói tóm lại: theo tôi, nếu đánh theo kế hoạch cũ là thất bại. Trung ương Đảng chúng tôi từng nhắc nhở: “Chiến trường ta hẹp, người của ta không nhiều, cho nên chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn”. Qua 8 năm kháng chiến, chúng tôi mới xây dựng được 6 đại đoàn bộ binh chủ lực, mà phần lớn đều có mặt trong chiến dịch này...

Đồng chí Vi suy nghĩ một lúc rồi hỏi:

- Vậy theo ý Võ Tổng thì nên xử trí như thế nào?

- Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công chiều hôm nay; kéo pháo ra, thu quân về vị trí tập kết.

Chuẩn bị lại theo phương châm đánh chắc tiến chắc. Thời gian chiến dịch kéo dài, khó khăn sẽ không ít, nhất là về mặt tiếp tế. Nhưng tôi tin tưởng vững chắc rằng, với sự cố gắng của cán bộ và chiến sĩ, sự chi viện của toàn Đảng, toàn dân ở hậu phương, với sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí, chiến dịch này nhất định thắng!

Sau lát giây suy nghĩ, đồng chí Vi nói:

- Tôi đồng ý với Võ Tổng. Tôi sẽ làm việc với các đồng chí trong Đoàn Cố vấn.

- Thời gian gấp. Tôi sẽ họp ngay Đảng ủy để quyết định. Tôi đã có dự kiến cho Đại đoàn 308 tiến về hướng Luang Prabang, cố ý bộc lộ lực lượng chừng nào để kéo không quân địch về hướng đó, không để chúng gây khó khăn khi ta lui quân và kéo pháo ra.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:22:26 pm

Hơn nửa giờ sau, các đồng chí trong Đảng ủy mặt trận đã có mặt đủ ở Sở chỉ huy, anh Hiếu ghi biên bản. Anh Văn trình bày những suy nghĩ từ lâu về cách đánh tập đoàn cứ điểm, về ba khó khăn chưa thể vượt qua như đã nói với đồng chí Vi, rồi tóm lại: Ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đổi cách đánh.

Mọi người im lặng một lúc.

Lát sau, đồng chí Chủ nhiệm Chính trị phát biểu:

- Ta đã động viên sâu rộng bộ đội về nhiệm vụ rồi, cán bộ chiến sĩ đều rất tin tưởng, quyết tâm chiến đấu rất cao. Các đơn vị, các binh chủng đều trong tư thế sẵn sàng nổ súng. Nay phải lui quân và kéo pháo ra, khác nào như dội nước lạnh vào đầu, thì giải thích làm sao? Sau này động viên lại để có quyết tâm và tin tưởng như bây giờ, không phải dễ.

Đồng chí Chủ nhiệm Cung cấp nói: Tôi thấy cứ nên giữ vững quyết tâm, tới bây giờ, gạo đạn chuẩn bị đã khó khăn. Nếu không đánh ngay, sau này lại càng không đánh được. Gạo không đưa lên được, bộ đội đói thì sức đâu mà đánh? Bài học Khâu Vác trong chiến dịch Tây Bắc1 nhắc chúng ta: Đánh cách nào cùng phải tính đến khả năng bảo đảm tiếp tế. Nhiều khi gạo là Tư lệnh, là yếu tố quyết định!

Anh Văn nói:

- Tinh thần bộ đội là rất quan trọng, nhưng quyết tâm phải có cơ sở. Hậu cần là điều kiện tiên quyết, nhưng để giành thắng lợi, quyết định cuối cùng phải là có cách đánh đúng.

Đồng chí Tham mưu trưởng nói:

- Anh Văn cân nhắc cũng phải... Nhưng lần này, ta có ưu thế binh lực, hỏa lực, có lựu pháo, cao xạ kiềm chế pháo binh và không quân địch, có kinh nghiệm của bạn, bộ đội đã qua huấn luyện, tôi thấy nếu đánh vẫn có thế thắng.

Cuộc họp chưa kết luận được, phải tạm dừng một lát.

Khi cuộc họp tiếp tục, anh Văn nói:

- Tình hình khẩn trương, cần sớm có quyết định. Vô luận tình hình thế nào, chúng ta cũng phải nắm vững nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”. Trước khi tôi lên đường, Bác giao nhiệm vụ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Với tinh thần trách nhiệm trước Bác và Bộ Chính trị, trước sinh mệnh của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, tôi đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi:

- Nếu đánh có chắc thắng trăm phần trăm không?

Đồng chí Chủ nhiệm Chính trị nói:

- Anh Văn nêu câu hỏi thật khó trả lời. Ai dám bảo đảm là sẽ chắc thắng trăm phần trăm!

Đồng chí Chủ nhiệm Hậu cần tiếp:

- Làm sao dám bảo đảm như vậy!

- Tôi nghĩ, với trận này ta phải bảo đảm chắc thắng trăm phần trăm.

Bấy giờ, đồng chí Tham mưu trưởng mới nói:

- Nếu yêu cầu phải chắc thắng trăm phần trăm thì khó...

Cuối cùng Đảng ủy đi đến nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục.

Anh Văn kết luận:

- Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là: “Đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn mặt trận lui về vị trí tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm chấp hành triệt để mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.

Lúc đó là 11 giờ trưa ngày 26 tháng 1 năm 1954.
____________________________________
. Trước đợt 2 chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, tuyến tiếp tế từ Mậu A vào Nghĩa Lộ không hoàn thành nhiệm vụ. Quãng đường này phải qua đèo Khâu Vác cao 1.500m, nhiều suối quanh co, bị mưa bất ngờ, đường trơn như mỡ, dân công đau ốm, một số bỏ về. Chỉ tiêu là 15 tấn/ngày mà chỉ chuyển được một nửa, có ngày chưa được một tấn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:22:43 pm

Sau đó anh Văn nói với anh Thái: “Tôi sẽ ra lệnh cho pháo binh và giao nhiệm vụ mới cho 308. Anh ra lệnh cho các đơn vị còn lại. Anh chỉ thị cơ quan tham mưu cho một bộ phận nhỏ, mang theo một đài vô tuyến điện đi về phía Mộc Châu, mỗi ngày lên máy mấy lần, giống cung cách làm việc của điện đài 308, điện mật xen kẽ một vài tiếng lóng, đại ý nói: “Sáng... đơn vị đã về tới... bộ đội an toàn...”.

Do những bức điện này mà mấy ngày đầu, địch đã tưởng 308 bỏ cuộc, đang quay về đồng bằng. Địch đặc biệt chú ý theo dõi động tĩnh của Đại đoàn 308, vì 308 đi đâu thì nơi đó có nhiều khả năng là hướng tiến công chính của chủ lực ta.

Không khí ở Sở Chỉ huy chiến dịch lúc này đặc biệt sôi động, vừa phải gấp rút truyền lệnh cho các đơn vị, triển khai mọi mặt công tác chuẩn bị như làm lại từ đầu; vừa phải giải quyết những vẫn đề tư tưởng nổi cộm lên do kế hoạch thay đổi quá đột ngột. Và cũng chính lúc này, trong ánh mắt của vị chỉ huy chiến dịch sáng lên vẻ quyết đoán và bình tĩnh lạ thường. Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam và Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận Điện Biên Phủ, nét mặt đầy tự tin, anh Văn đã có một quyết định sáng suốt và quả đoán ở giờ phút cuối cùng.

Trên toàn mặt trận, mặc dù còn có những băn khoăn, suy nghĩ khác nhau, nhưng cán bộ và chiến sĩ các đơn vị đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của anh với một niềm tin, một tinh thần kỷ luật tuyệt vời...

Giao nhiệm vụ xong cho các cơ quan và đơn vị, anh Văn viết ngay một bức thư hỏa tốc, cho một cán bộ đi xe Jeep mang về hậu phương báo cáo với Bác và Bộ Chính trị về việc thay đổi phương châm chiến dịch. Ít ngày sau đã có thư trả lời của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, báo tin Bộ Chính trị nhất trí cho rằng quyết định thay đổi phương châm là hoàn toàn đúng đắn. Trung ương Đảng và Chính phủ sẽ động viên toàn dân, dốc toàn lực chi viện mặt trận Điện Biên Phủ cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:23:14 pm

*
*   *

Sau quyết định ngày 26 tháng 1, vào những ngày giáp Tết (31-1-1954), Sở Chỉ huy chiến dịch chuyển vào khu Mường Phăng, cách trung tâm Mường Thanh theo đường chim bay gần 15 km. Đây là Sở chỉ huy thứ 3 và cũng là Sở chỉ huy chính thức của chiến dịch Điện Biên Phủ. Cũng như hai sở chỉ huy trước, đây cũng đồng thời là sở chỉ huy tiền phương của Tổng Tư lệnh. Vì tại đây, anh Văn còn chỉ đạo hoạt động tác chiến của các chiến trường Bình Trị Thiên, Liên khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ và của quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường hai nước bạn. Đồng bằng Bắc Bộ và các nhiệm vụ khác ở hậu phương, do các đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng; Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo.

Ở khu vực Mường Phăng, đứng trên đỉnh núi gần Sở chỉ huy, qua ống nhòm có thể nhìn rõ cánh đồng Mường Thanh và toàn cảnh tập đoàn cứ điểm. Một đài quan sát đã được đặt ở đây để các đồng chí chỉ huy có thể trực tiếp xem xét tình hình mặt trận.

Phong cảnh thiên nhiên ở Mường Phăng thật đẹp. Hoa ban trắng bắt đầu nở rộ trên các sườn đồi. Mùa xuân đã đến! Nhưng tại mặt trận, mọi người hầu hết quên Tết vì bị cuốn hút vào bao công việc khẩn trương. Nói vậy, chứ không ít người cũng có những giây phút chạnh lòng nghĩ tới gia đình, vì Tết cổ truyền là những ngày đoàn tụ... Nhiều đồng chí đã 7, 8 năm không có điều kiện về quê ăn Tết với vợ con. Cả dân tộc đang trong vòng lửa đạn...

Suốt đêm giao thừa 29 Tết (năm Quý Tỵ, tháng Chạp thiếu), anh Văn thao thức theo dõi việc kéo pháo ra. Đến gần sáng, anh Phạm Ngọc Mậu gọi điện báo cáo là đã hoàn thành nhiệm vụ, toàn bộ pháo đã an toàn về vị trí. Anh Mậu không quên báo cáo với Tổng Tư lệnh là đêm hôm qua, do anh Tấn nhắc, do sáng kiến của anh Phạm Kiệt, các đồng chí chỉ huy kéo pháo đã mừng thắng lợi và đón giao thừa bằng một “bữa tất niên”, mỗi người được lưng bát chè và nửa điếu thuốc lá! Anh Văn xúc động gửi lời mừng Xuân và mừng bộ đội đã lập được một kỳ tích đáng khen.

Sáng mồng 1 Tết (3-2-1954), sương lạnh còn trùm khắp núi rừng. Trời chưa sáng hẳn, nhưng tiếng pháo địch đã từ Mường Thanh vọng tới.

Sau khi sang lán tác chiến chúc Tết cơ quan tham mưu chiến dịch, anh Văn sang lán đồng chí Vi Quốc Thanh chúc Tết đoàn cố vấn Trung Quốc. Đây là lần thứ tư, các đồng chí phải tiếp tục ăn một cái Tết xa Tổ quốc, xa gia đình, và lần này, ở ngay mặt trận tại miền Tây Bắc Việt Nam xa xôi... Đồng chí Vi vui vẻ chúc mừng năm mới và những thắng lợi của quân và dân ta. Đồng chí cho biết: sau khi được phân tích đầy đủ về chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và ta, các cố vấn ở cơ quan và đơn vị đều nhất trí với chủ trương thay đổi phương châm chiến dịch. Mọi người bày tỏ quyết tâm đồng cam cộng khổ, đem hết trí tuệ và năng lực giúp bộ đội Việt Nam giành toàn thắng. Đồng chí đề nghị Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc gửi gấp những tài liệu tổng kết kinh nghiệm chiến đấu mới nhất của Quân chí nguyện Trung Quốc ở Triều Tiên, nhất là kinh nghiệm xây dựng trận địa và chiến đấu đường hầm, kể cả cuốn truyện “Thượng Cam Lĩnh” để bộ đội Việt Nam tham khảo.

Những ngày đầu xuân Giáp Ngọ cũng là những ngày các cơ quan, đơn vị khẩn trương triển khai mọi mặt công tác chuẩn bị chiến dịch theo phương châm mới. Xung quanh Điện Biên Phủ là cả một công trường lao động khổng lồ, tấp nập ngày đêm. Các trận chiến đấu nhỏ vẫn diễn ra trên tất cả các hướng: địch nống ra, ta phản kích đẩy lùi chúng để giữ vững các điểm khống chế.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 19 Tháng Mười, 2016, 02:23:43 pm

Từ khi bước vào chiến cuộc Đông Xuân, trên các chiến trường phối hợp, các đòn tiến công chiến lược đã thực hiện đúng kế hoạch, đạt kết quả tốt. Ở Trung Lào, Hạ Lào và Bắc Tây Nguyên, ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, buộc địch phải tiếp tục phân tán lực lượng, lập thêm tập đoàn cứ điểm, hòng chặn đà tiến công chủ lực của ta. Ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, chiến tranh du kích phát triển mạnh chưa từng thấy, tiêu hao, tiêu diệt và kiềm chế lực lượng địch, làm rối loạn hậu phương của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực ta vây hãm và tiến công địch ở Điện Biên Phủ. Trong các hoạt động phối hợp đó, riêng Đại đoàn 308 đã thực hiện một nhiệm vụ ngoài dự kiến ban đầu, bất ngờ mở cuộc tiến công chiến lược sang Thượng Lào, sau khi rút khỏi trận địa phía tây Điện Biên Phủ ngay chiều 26 tháng 1, chỉ mấy giờ sau khi Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ nhận lệnh qua điện thoại của anh Văn. Mặc dù khi xuất quân, tình hình địch và địa hình đều chưa nắm chắc, trên lưng mỗi chiến sĩ chỉ còn hai ngày gạo, nhưng đại đoàn đã chấp hành mệnh lệnh vô điều kiện, vượt suối băng rừng và những dãy núi tai mèo sắc nhọn, liên tục tiến công, truy kích và tiêu diệt địch, giải phóng một vùng rộng lớn dọc sông Nậm Hu, uy hiếp thủ đô Luang Prabang. “Đòn tiến công chiến lược thứ 5” theo sáng kiến của anh Văn và do đại đoàn thực hiện thành công đã có nhiều tác dụng: đánh lạc hướng phán đoán của Bộ chỉ huy quân đội Pháp, buộc địch phải tiếp tục phân tán binh lực lên thủ đô nước Lào và Mường Sài; phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu, làm cho quân địch ở Điện Biên Phủ càng thêm cô lập. Đại đoàn còn thu hút không quân địch về hướng Thượng Lào, buộc chúng phải lập thêm cầu hàng không Hà Nội - Luang Prabang, giảm bớt khó khăn cho bộ đội ta ở Điện Biên Phủ khi lui quân và kéo pháo ra, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xúc tiến công tác chuẩn bị chiến dịch theo phương châm mới.

Tính đến ngày 18 tháng 2 năm 1954, khi Đại đoàn 308 được lệnh trở lại Điện Biên Phủ thì trên chiến trường toàn Đông Dương, ta đã điều động phần lớn lực lượng cơ động chiến lược của địch theo ý định của ta, gồm 48 tiểu đoàn dù và bộ binh tinh nhuệ, buộc Na-va phải lần lượt tổ chức thành 7 “con nhím” ở các chiến trường Tây Bắc, Trung Hạ Lào, bắc Tây Nguyên rồi Thượng Lào. (Điện Biên Phủ: 12 tiểu đoàn, Xê Nô: 10, Pắcxế: 4, Pleiku: 11, An Khê: 3, Luang Prabang: 5, Mường Xại: 3). Trong các “con nhím” đó, Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm mạnh nhất mà cả Pháp lẫn Mỹ coi là “bất khả xâm phạm”.

Các cuộc tiến công thắng lợi của ta đã làm cho kế hoạch Na-va bị đảo lộn và bắt đầu phá sản. Nhưng đến tháng 3 năm 1954, thấy quân ta chưa tiến công Điện Biên Phủ, Na-va cho rằng: “Ngọn trào tiến công của Việt Minh đã đến đỉnh cao và bắt đầu tàn lụi. Quân đội Pháp, mặc dù có những tốn thất nhất định, nhưng bằng hình thái phòng ngự tập đoàn cứ điểm, đã kịp thời chặn đứng được các mũi tiến công lớn của chủ lực Việt Minh. Đối phương không đánh được, tất phải sớm quay về, quân đội Pháp sẽ chiếm lại các vùng bị mất”. Với nhận định chủ quan đó, y chủ trương giành lại quyền chủ động, tiếp tục cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam. Ngày 12 tháng 3 năm 1954, với một binh lực tập trung tương đối lớn, Na-va cho quân đổ bộ lên Quy Nhơn, tiếp tục chiến dịch đánh chiếm Liên khu 5 mang tên Át Lăng (Atlante).

Y không ngờ rằng, chỉ một ngày sau, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã bị dìm trong bão lửa.

Về phía ta, với hơn một tháng rưỡi chuẩn bị thêm theo phương châm đánh chắc, tiến chắc, ta đã làm được nhiều công việc: làm hơn 60km đường cho xe cơ giới kéo pháo vào trận địa; xây dựng trận địa kiên cố cho các loại pháo, đặc biệt là lựu pháo 105 ly (có bệ bắn, có hầm ẩn nấp đủ sức chịu được đạn pháo 105, 155 ly, kể cả đạn xuyên); xây dựng trận địa bao vây và xuất phát tiến công, xuất phát xung phong cho bộ binh; chuẩn bị hậu cần cho một chiến dịch dài ngày...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:30:01 pm

Chiều và đêm 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu bằng một chiến thắng giòn giã: sau hơn 5 giờ chiến đấu quyết liệt, ta tiêu diệt hoàn toàn trung tâm đề kháng Him Lam ở phía đông bắc Mường Thanh. Cụm cứ điểm này do một tiểu đoàn Lê dương phòng thủ trên 3 điểm cao kiên cố, được bao quanh bằng hệ thống mìn và dây thép gai dày đặc.

Đại đoàn 312 có vinh dự lớn lập công đầu. Anh Văn cử anh Cao Pha xuống đơn vị để khai thác tù binh, nắm thêm tình hình địch. Đến Sở chỉ huy Đại đoàn, anh Tấn mang đồ hộp và rượu chiến lợi phẩm ra “chiêu đãi” và vui vẻ nói: “Ăn uống thoải mái đi, cậu ạ! Để mừng thắng lợi trận đầu chiến dịch, mừng cả đại đoàn và mừng riêng cho “tớ”! Nhớ lại hôm cậu được cử đi theo mũi đột kích 312 theo phương án đánh nhanh, nếu không có quyết định ngày 26 tháng giêng thì đơn vị mình đã “phơi áo”. Và mình cũng “về theo các cụ” ở Bản Kéo hay sân bay rồi! Còn đâu để gặp cậu hôm nay!”.

Tiếp theo chiến thắng Him Lam, ta tiêu diệt đồi Độc Lập và bức hàng Bản Kéo. Chỉ sau 5 ngày chiến đấu, cánh cửa phía bắc tập đoàn cứ điểm đã được mở toang. Lần đầu xuất trận, lựu pháo 105 của ta bắn rất chính xác, phối hợp chặt chẽ với bộ binh tiêu diệt địch. Đạn pháo đã rót trúng sở chỉ huy Him Lam, làm chết thiếu tá tiểu đoàn trưởng Pê-gô (Pegaux) cùng ba sĩ quan và phá hỏng điện đài, khiến Him Lam mất liên lạc với Mường Thanh ngay từ đầu trận đánh. Lựu pháo cũng đã bắn trúng sở chỉ huy phân khu trung tâm, làm chết trung tá Gô-sê (Gaucher), chỉ huy trưởng phân khu và một số sĩ quan. Ở sân bay Mường Thanh, pháo ta đã làm cháy một kho xăng, phá hỏng 6 máy bay chiến đấu và nhiều đoạn đường băng. Bắn vào trận địa pháo binh địch, ta phá hỏng 12 khẩu trọng pháo và súng cối lớn. Trong đêm 13 tháng 3, sau khi hoàn hồn, pháo địch đã bắn 6 ngàn viên đạn xuống Him Lam và những nơi nghi là trận địa pháo binh ta, nhưng Him Lam vẫn thất thủ và pháo của ta vẫn an toàn, địch không sao phát hiện được. Không làm “câm họng được pháo binh Việt Minh” như đã tuyên bố trước khi vào trận đánh, để tập đoàn cứ điểm bị tổn thất quá nặng, đại tá Pirôt (Piroth), Tư lệnh phó tập đoàn cứ điểm kiêm chỉ huy trưởng pháo binh đã tự sát bằng một quả lựu đạn vào sáng 15 tháng 3 năm 1954, sau khi không ngăn cản được quân ta tiêu diệt đồi Độc Lập.

Thắng lợi của đợt 1 chiến dịch và cái chết của Pirốt chứng tỏ ta đã tìm ra cánh đánh đúng. Dù kẻ địch đã hết sức đề phòng, chúng vẫn không tránh khỏi bị tiêu diệt. Pháo binh địch tỏ ra bất lực trước pháo binh ta!

Tiếp tục quán triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc, để chuẩn bị cho đợt 2, anh Văn cùng Đảng ủy Mặt trận đề ra ba nhiệm vụ cho các đơn vị:

- Nhanh chóng tiếp cận, bao vây địch bằng một hệ thống trận địa tiến công và bao vây vững chắc, trong tầm bắn có hiệu quả của tất cả các loại pháo, súng, lớn, nhỏ của ta; chia cắt phân khu Hồng Cúm với phân khu trung tâm của địch.

- Theo nguyên tắc bảo đảm chắc thắng, tiếp tục diệt thêm một số cứ điểm ở ngoại vi tập đoàn cứ điểm.

- Khống chế có hiệu quả cả hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm; chuẩn bị đánh địch phản kích; tăng cường các hoạt động tiêu hao quấy rối.

Trong ba nhiệm vụ trên, xây dựng trận địa tiến công và bao vây là quan trọng nhất. Đồng chí Vi Quốc Thanh và đoàn cố vấn đã nhiệt tình giới thiệu kinh nghiệm của bạn và hướng dẫn cụ thể cho cán bộ ta.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:30:29 pm

Chúng ta đã xây dựng hai loại đường hào: Một là đường hào trục dùng cho việc cơ động bộ đội, cơ động pháo, vận chuyển thương binh, hình thành một đường vòng rộng bao quanh trận địa địch ở phân khu trung tâm. Hai là đường hào tiếp cận của bộ binh, xuất phát từ vị trí trú quân của các đơn vị trong rừng rồi đổ ra cánh đồng, cắt ngang đường hào trục, tiến vào những vị trí dịch mà ta định tiến công tiêu diệt. Dọc đường hào bộ binh, có hố phòng pháo, hầm trú ẩn, chiến hào và ụ súng để đối phó với những cuộc tiến công của đối phương.

Các loại hào phải có độ sâu 1,7 mét, đáy trục rộng 1,2 mét, đáy hào bộ binh rộng 0,5 mét. Về chiều dài, lúc đầu ước tính trên bản đồ khoảng 100km, nhưng trong quá trình chiến dịch, bộ đội ta đã đào hào đến hơn 200km đường hào. Phải lao động cật lực, khoảng 14 đến 18 tiếng mỗi ngày, khắc phục vô vàn trở ngại!

Việc xây dựng trận địa phải tiến hành chủ yếu vào ban đêm, đào đến đâu ngụy trang đến đấy và phải triển khai cùng một lúc trên toàn mặt trận để phân tán sự chống phá của địch. Nhưng khi các đường hào đã vươn dài hàng chục km trên cánh đồng thì không còn cách nào che mắt được kẻ thù! Chúng dùng pháo binh và không quân bắn phá ngày đêm, đưa quân ra ở những trận địa gần để san lấp và gài mìn, ngăn quân ta đào tiếp. Từ đây mỗi mét đường hào không chỉ đổi bằng mồ hôi mà cả xương máu.

Sau khi nghe báo cáo về tình hình xây dựng trận địa, ngày 20 tháng 3 năm 1954, anh Văn viết một thư thân mật gửi cán bộ chiến sĩ. Anh so sánh những khó khăn vất vả của bộ đội ta với sự khốn quẫn và khó khăn gấp 10 lần của địch bị vây hãm trong tập đoàn cứ điểm. Anh động viên cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, chiến đấu anh dũng của quân đội ta để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc trận địa tiến công và bao vây, bảo đảm thắng lợi cho đợt tiến công sắp tới. (Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, anh Văn đã 4 lần viết thư cho bộ đội trước khi bắt tay vào nhiệm vụ mới, không kể thư mừng thắng lợi và thăm hỏi thương binh, khiến quan hệ giữa người chỉ huy và chiến sĩ vô cùng gắn bó. Nhà văn Nguyễn Đình Thi từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị chính trị viên phó tiểu đoàn để tiện thâm nhập thực tế, sau này đã nói với tôi: “Một vị Tổng Tư lệnh viết thư tâm tình với cán bộ và chiến sĩ như vậy là một nét đẹp nói lên bản chất cách mạng của bộ đội Cụ Hồ và cũng là điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước”.

Hạ tuần tháng 3, để bảo đảm an toàn cho Sở chỉ huy Mường Phăng trong một chiến dịch dài ngày, ác liệt, đại đội vệ binh đã đào một đường hầm dài hơn 50 mét xuyên một ngọn đồi. Sau đó mở rộng ở đoạn giữa, làm thành mấy phòng đủ bố trí nơi hội họp, phòng tác chiến, nơi tạm nghỉ của cán bộ Sở chỉ huy. Trên trần hầm, ken sát từng cây gỗ tròn chắc nịch để đủ sức chống bom chống pháo. Do các đơn vị công binh phải ưu tiên đi bảo đảm đường cho xe kéo pháo, xe vận tải... nên đại đội vệ binh vừa gác vừa đào hầm, thế mà hầm Sở chỉ huy vẫn khang trang, vững chắc. Gần cửa hầm phía đông là lán ở và làm việc của anh Văn, gần cửa hầm phía tây là lán ở và làm việc của anh Thái. Anh Liêm và các đồng chí bạn cũng có lán ở và làm việc như vậy, bên cạnh có hầm tránh bom và pháo, có hào giao thông nối liền với đường hầm lớn của Sở chỉ huy.

Một sáng cuối tháng 3 năm 1954, anh Văn gọi tôi lên làm việc rồi mời cùng ăn bưởi Đoan Hùng của đồng bào Tuyên Quang gửi tặng. Ăn xong, anh khen bưởi ngọt và bảo đào giúp anh mấy lỗ trên mảnh đất rừng cạnh lán, để anh thử gieo hạt bưởi xem sao... Bốn mươi năm sau, tôi cùng nhóm làm phim “Ký ức Điện Biên” trở lại Mường Phăng thì cạnh lán người chỉ huy chiến dịch năm xưa đã mọc lên 3 cây bưởi. Một cây đã bị chặt nhưng còn gốc và đã lên chồi mới; còn 2 cây cao hơn 10 mét, cành lá xum xuê, quả khá ngọt nhưng không to lắm vì bị tán cây rừng che mất một phần ánh nắng.

Như vậy là, qua thử thách của thời gian, của gió núi mưa rừng và sự chen lấn của các loại cỏ dại, mấy cây bưởi Đoan Hùng hiếm có ở Mường Phăng vẫn vươn cao và cho đời vị ngọt! Thiết nghĩ, đây cũng có thể coi là một dấu tích của Sở chỉ huy chiến dịch, nếu không bảo tồn và chăm sóc thì thật vô cùng đáng tiếc!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:31:34 pm

18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, quân ta bắt đầu mở đợt tiến công thứ hai. Nhiệm vụ của đợt này là đánh chiếm các ngọn đồi phía đông, chiếm sân bay, triệt đường tiếp tế, tiếp viện, thắt chặt vòng vây, từng bước thu hẹp phạm vi chiếm đóng và vùng trời của địch.

Đây là đợt đánh dài ngày và ác liệt nhất của chiến dịch. Qua nhiều ngày đêm giành đi giật lại quyết liệt, ta đã chiếm giữ được phần lớn các ngọn đồi phía đông, nhưng chỉ chiếm được một nửa đồi A1. Đồi C1 được đánh chiếm hoàn toàn đêm 30 tháng 3, đến sáng ngày 9 tháng 4, địch tổ chức phản kích chiếm lại. Cuộc chiến đấu ở đây lại tiếp diễn trong 4 ngày đêm; cuối cùng mỗi bên chiếm giữ một nửa. Ở mặt trận phía tây, đêm 1 tháng 4 quân ta dựa vào trận địa tiến công và bao vây đã đào sát vị trí địch, dùng chiến thuật đánh lấn, chiếm cứ điểm 106 ở phía tây sân bay, tiêu diệt một đại đội lê dương. Đêm 2 tháng 4, dũng sĩ ta đột nhập sân bay Mường Thanh, tiêu diệt và bắt một số lính Âu Phi. Vị trí 311 bị uy hiếp, một bộ phận địch ra hàng, một bộ phận rút chạy. Đêm 4 tháng 4, ta tiến công cứ điểm 105 trực tiếp bảo vệ sân bay từ phía bắc, nhưng không thành công. Vận dụng và phát triển kinh nghiệm đánh lấn, đêm 18 tháng 4 ta tiêu diệt được cứ điểm này và đêm 22 tháng 4, ta đánh chiếm cứ điểm 206 bảo vệ phía tây sân bay1. Sau những thắng lợi đó, trận địa của ta từ phía đông, phía tây và phía bắc tiến vào, như con bạch tuộc vươn vòi xiết chặt dạ dày của địch. Các đơn vị từ 3 hướng liên lạc được với nhau, cắt ngang và đánh chiếm sân bay trung tâm. Quân địch liên tiếp tổ chức phản kích dữ dội, có xe tăng và pháo binh, không quân yểm trợ, nhưng tất cả đều thất bại.

Đến hạ tuần tháng 4, phạm vi đóng quân của địch ở khu trung tâm ngày càng bị thu hẹp, mỗi chiều chỉ còn 2km. Bộ phận chủ yếu của tập đoàn cứ điểm đã nằm trong tầm bắn của các cỡ hỏa lực ta. Các trận địa cao xạ ta được chuyển xuống cánh đồng, thu hẹp và khống chế vùng trời của địch. Kết hợp với các trận đánh cứ điểm, đánh phản kích, là phong trào thi đua bắn tỉa của các chiến sĩ súng trường, súng máy, súng cối, pháo binh... làm cho địch càng tiêu hao, tinh thần càng căng thẳng.

Sau khi sân bay bị chiếm, địch chỉ còn cách tiếp tế, tiếp viện duy nhất là thả dù. Nhưng vì vùng đất và vùng trời quá hẹp, máy bay địch lại không dám bay thấp vì sợ cao xạ ta bắn trúng, nên một bộ phận ngày càng lớn dù tiếp tế đã rơi vào trận địa ta. Ta đã tranh đoạt tiếp tế với địch, lấy lương thực đạn dược của chúng để bổ sung tại chỗ. Một số lính nhảy dù đã bị bắt sống ngay từ khi chạm đất. Địch đã huy động 2/3 máy bay chiến đấu và 100% máy bay vận tải quân sự ở Đông Dương để cứu nguy cho Điện Biên Phủ, không kể những phi đội máy bay C119 của Mỹ. Có ngày chúng đã xuất kích 250 lần chiếc máy bay oanh tạc và chiến đấu, trút hàng trăm tấn bom nặng, bom bi, bom bươm bướm, bom nổ chậm, bom na-pan... xuống trận địa ta. Nhưng những cố gắng của không quân địch đều vô hiệu.
_____________________________________
1. Đánh lấn là sáng tạo đầu tiên của Trung đoàn 36 Đại đoàn 308. Bộ đội ta dùng những “con cúi” bện bằng rơm, dài 2 m, đường kính 1,5 m để che chắn đạn bắn thẳng, bảo đảm an toàn cho những người ở phía sau đào chiến hào lấn dần về phía địch. Đến cự ly thích hợp, ta dùng ĐKZ bắn sập dần những ụ súng ở tiền duyên, dùng bộc phá phá dần từng mảng vật cản, thậm chí đào hầm xuyên qua hàng rào kẽm gai và bãi mìn cùa địch, rồi bất ngờ nổ súng tiến công, không qua giai đoạn pháo bắn chuẩn bị, khiến kẻ địch trở tay không kịp.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:33:15 pm

Ở mặt trận phía nam, phân khu Hồng Cúm (Isabelle) của địch có một lực lượng khá mạnh với 2.000 quân, có đủ bộ binh, pháo binh, xe tăng và sân bay; ta chỉ có một trung đoàn làm nhiệm vụ kiềm chế, nhưng trận địa tiến công và bao vây vẫn ngày càng xiết chặt. Từ đầu tháng 4 năm 1954, trận địa của Trung đoàn 57 đã lấn vào hàng rào của địch, vươn tới các lô cốt tiền duyên. Địch đã nhiều lần phản kích giải tỏa nhưng đều thất bại, với hơn 200 tên bị diệt. Tranh đoạt dù tiếp tế, chỉ tính từ 30 tháng 3 trở đi, trung đoàn đã thu được khoảng 60 tấn hàng gồm đạn pháo, cối, đồ hộp, thuốc men..., trong đó có 600 viên đạn pháo 105 ly.

Đợt tiến công thứ hai đã thu nhiều thắng lợi nhưng ta chưa hoàn toàn đánh chiếm được A1 và C1 là hai điểm cao mà cả địch và ta đều cho là quan trọng nhất. Chiến dịch phải kéo dài. Máy bay Pháp và Mỹ tăng cường đánh phá các tuyến đường tiếp tế vận chuyển của ta. Rồi những trận mưa đầu mùa ập đến. Việc bảo đảm gạo, đạn cho mặt trận gặp khó khăn nghiêm trọng. Trên vách liếp lán làm việc của anh Văn, ngoài bản đồ Điện Biên Phủ, bản đồ chiến sự toàn Đông Dương, còn có một bản biểu đồ theo dõi tình hình tiếp tế gạo, đạn hàng ngày cho mặt trận. Một buổi sáng trung tuần tháng 4, đường chỉ đỏ trên biểu đồ tụt xuống gần số không. Do trời mưa to, đêm hôm trước gạo nhập kho chiến dịch chưa đầy 1 tấn! về đạn pháo 105 ly, tuy đã có thêm nguồn bổ sung tại chỗ do địch thả dù, nhưng có ngày có khẩu chỉ còn dăm ba viên đạn. Bộ binh rất tin tưởng pháo nên hay yêu cầu bắn chi viện. Bộ chỉ huy chiến dịch phải giáo dục ý thức tiết kiệm, chống tư tưởng ỷ lại vào hỏa lực và quản lý nghiêm ngặt việc dùng đạn pháo: xin bắn trên 3 viên phải có ý kiến của Tham mưu trưởng, trên 10 viên phải có sự phê chuẩn của Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy chiến dịch.

Anh Văn phải tạm giao việc chỉ huy tác chiến cho anh Thái, dành liền mấy ngày để chỉ đạo công tác hậu cần, cùng các đồng chí chỉ huy cung cấp bàn biện pháp đưa nhanh gạo, đạn ra chiến trường. Anh viết gấp một điện khẩn báo cáo Bác Hồ và Trung ương. Đồng chí Trường Chinh điện trả lời: Bộ Chính trị đã chỉ thị tăng cường động viên sức người, sức của cho tiền tuyến. Đã tạm thời đình chỉ các lớp huấn luyện, cho cán bộ về các địa phương vận động nhân dân và lãnh đạo công tác chi viện cho mặt trận.

Mùa mưa năm 1954 hình như đến sớm. Ngoài việc gây trở ngại lớn cho công tác tiếp vận, mưa xuống cũng làm cho cuộc sống và chiến đấu của hàng vạn bộ đội ta vất vả vô cùng. Theo báo cáo của các đơn vị, của anh Lê Quảng Ba - Đại đoàn trưởng 316 và nhất là của anh Vương Thừa Vũ - Chỉ huy Đại đoàn 308 ở cánh đồng phía tây, các giao thông hào và chiến hào đã ngập nước. Nhiều chỗ bùn nhão, ngập tới ngang ống chân. Những hôm mưa to, nước ngập lên ngang bụng. Hai bên vách hào ẩm ướt. Mùi bùn tanh tưởi, mùi rễ cây rỉ nhựa hăng nồng, quyện lẫn mùi mồ hôi và thuốc súng, tạo nên một mùi “tổng hợp” đặc biệt khó chịu. Sau trận mưa rào, nắng lại dữ dội hơn, không khí chiến trường oi ả, ngột ngạt. Bộ đội dễ sinh bệnh tật, nhất là sau hơn 4 tháng lao động và chiến đấu vất vả, khẩn trương.

Tại Sở chỉ huy, đêm đêm mỗi khi nghe tiếng sấm, anh Văn ra khỏi lán, thấy những đám mây đen ùn lên đầu núi và những ánh chớp lóe trên bầu trời, anh lại thao thức bồn chồn, không sao ngủ được. Anh lo gạo đạn lại không lên kịp, anh thương cán bộ, chiến sĩ đang bì bõm trong các chiến hào lầy lội, anh nghĩ đến thương binh đang nằm trong những căn hầm ẩm thấp... Rồi những biểu hiện tư tưởng hữu khuynh tiêu cực xuất hiện, như ngại gian khổ, ngại thương vong, kém sâu sát đơn vị, hoặc chủ quan khinh địch.

Tuy không một ai trong lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ bị Mỹ đe dọa ném bom nguyên tử làm cho “khiếp sợ” (!?), có chủ trương hoặc đề nghị: “Trước khi nước lũ dâng cao, rút thật nhanh bộ đội ra khỏi Điện Biên Phủ” như mấy cuốn sách nước ngoài đã viết, nhưng cuộc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực nói trên cũng cực kỳ quyết liệt.

Như vậy là quyết định ngày 26 tháng 1 năm 1954, tuy đã được thực tiễn chứng minh là đúng qua những trận thắng trong đợt 1 và đợt 2, nhưng vẫn còn đứng trước những thử thách cực kỳ to lớn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 20 Tháng Mười, 2016, 01:37:22 pm

Sau khi đi sâu chỉ đạo giải quyết cụ thể các vấn đề tồn tại về chiến thuật kỹ thuật, về bảo đảm tiếp tế, đặc biệt là tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng chống hữu khuynh tiêu cực, anh Văn cùng Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định mở đợt tiến công thứ 3, bắt đầu từ đêm 1 tháng 5. Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, đợt tiến công phát triển thuận lợi. Đồi A1 trước cũng định đánh vào đêm đầu. Nhưng do phải chờ công binh đào xong con đường hầm dài hơn 40 mét từ chân đồi phía đông vào dưới hầm ngầm của địch để đặt gần 1.000 cân thuốc nổ, nên đến đêm 6 tháng 5 mới đánh.

8 giờ tôi ngày 6 tháng 5 năm 1954, tôi đang lấy tin trong hầm tác chiến thì anh Văn đến. Sau khi nghe báo cáo tình hình chuẩn bị chiến đấu của các đơn vị, anh bảo tôi đưa sổ để ra mệnh lệnh tiến công. Anh cầm bút viết:

Mệnh lệnh:

    1. Thời gian quy định đúng 8 giờ 30 phút, không được chậm.

    2. Đến 8 giờ 30 phút thì:

        a. Đồi A1 bộc phá.

        b. Pháo và H6 bắn tập kích lần thứ nhất.1

        c. Bộ binh các hướng đều xung phong.

        d. Hang Cang lập tức chế áp pháo địch.2

    3. Các nơi phải lấy giờ cho đúng.

    8 giờ 15

    Ngọc.3

Anh chú thích thêm vào bên cạnh: Thời gian trên nhất định phải giữ cho đúng để thực hiện bộ pháo hiệp đồng chặt chẽ4.

Tôi đưa sổ cho trực ban tác chiến truyền đạt mệnh lệnh cho các đơn vị.

Ta dự định dùng tiếng nổ của bộc phá đồi A1 làm hiệu lệnh nổ súng chung cho toàn mặt trận. Nhưng đã quá 10 phút mà vẫn chưa nghe tiếng nổ. Anh Văn gọi điện thoại hỏi đơn vị thì hóa ra bộc phá đã nổ, nhưng vì ở sâu trong lòng đất nên tiếng vang không lớn. Lợi dụng lúc quân địch đang bàng hoàng vì sức chấn động của ngót 1.000 cân thuốc nổ, bộ binh ta từ nhiều hướng đánh lên đồi A1, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Lê dương, bắt sống chỉ huy và 200 binh lính. Các đơn vị khác cũng nổ súng đúng giờ, đánh chiếm các vị trí còn lại trên dãy đồi phía đông, ở phía bắc cầu Mường Thanh. Đại đoàn 308 đã đánh chiếm vị trí Nà Noọng ở phía tây nam sở chỉ huy Đờcátxtơri 300 mét.
______________________________________
1. H6 là mật danh củaa hỏa tiễn 6 nòng do Trung Quốc   vừa viện trợ.
2. Hang Cang là tên Hồng Cúm.
3. Ngọc là bí danh anh Văn trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
4. 20 năm sau, tôi đã đưa anh Văn xem lại bản mệnh lệnh này. Anh chỉ thị cho sao chụp để đưa Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) và đăng báo Nhân Dân ngay 7.5.1974.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:45:31 am

Cùng với các đồng chí khác theo dõi cuộc chiến đấu suốt đêm 6 tháng 5 trong hầm tác chiến, anh Văn thở phào nhẹ nhõm. Như vậy là từ đêm 30 tháng 3 đến đêm 6 tháng 5, trải qua 38 ngày đêm chiến đấu, qua 4 lần tiến công đồi A1, quân ta đã giành toàn thắng trên cao điểm cuối cùng. Vị trí Nà Noọng được coi là “con mắt” của phân khu trung tâm đã bị tiêu diệt. Thắng lợi cuối cùng đã ở trong tầm tay.

Sáng ngày 7 tháng 5, mặc dầu thấm mệt, anh Văn, anh Thái vẫn nán lại ở hầm tác chiến, chỉ thị cho quân báo và các tổ trinh sát theo dõi sát từng động tĩnh của địch. Trước đó ta được tin: sau khi kế hoạch mang tên “Cuộc hành binh chim kền kền” (Opération Vautour: chủ trương dùng không quân Mỹ ném bom nguyên tử xuống Điện Biên Phủ để cứu nguy cho quân đội Pháp) không thực hiện được, Na-va đề ra kế hoạch “Chim hải âu” (Opération Albatros), cho một lực lượng từ Thượng Lào tiến lên phối hợp với tàn quân Đờcátxtơri phá vây, mở một đường máu rút chạy.

Anh Văn trực tiếp gọi điện thoại, lệnh cho chỉ huy các đại đoàn phải bao vây thật chặt, không để một tên nào chạy thoát. Đồng ý cho các đơn vị chưa hoàn thành nhiệm vụ trong đêm được tiếp tục đánh ban ngày.

14 giờ 30 phút, anh Văn hội ý với đồng chí Vi: Tranh thủ lúc địch đang rối loạn, ra lệnh ngay cho các đơn vị đồng loạt mở cuộc tổng công kích vào Mường Thanh.

17 giờ 30 phút, Đại đoàn 312 báo cáo về, toàn bộ địch trong phân khu trung tâm đã đầu hàng. Đã bắt sống được tướng Đờcátxtơri. Cả khu vực Sở chỉ huy Mường Phăng vốn rất nghiêm mật, bỗng sôi động hẳn lên, tiếng reo hò vang dội. Nhưng gương mặt anh Văn vẫn chưa lộ vẻ vui mừng. Anh gọi điện hỏi anh Lê Trọng Tấn:

- Có đúng là đã bắt được Đờcátxtơri hay không?

- Báo cáo anh, anh em báo cáo lên là đã bắt được.

- Căn cứ vào đâu mà biết nó đúng là Đờcátxtơri?

Cả anh Tấn và anh Độ đều chưa trả lời được. Anh Văn chỉ thị:

- Phải bắt cho được Đờcátxtơri. Không để địch đánh tráo chỉ huy. Đề phòng nó đưa tên khác ra thay, còn nó tháo lon trốn chạy! Phải đối chiếu nhân dạng của nó với ảnh trên căn cước. Phải kiểm tra cấp hiệu, phù hiệu. Tấn, Độ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc này đấy nhé! Các đồng chí có ảnh của Đờcátxtơri không?

Đơn vị trả lời không có. Anh Văn nói với anh Thái cho một cán bộ đi xe Jeep xuống ngay Đại đoàn 312, mang theo một tấm ảnh của Đờcátxtơri.

Theo dõi mặt trận phía nam, sau khi nghe anh Lê Chưởng và anh Nam Long báo cáo, anh Văn lệnh cho Đại đoàn 308 phái một đơn vị xuống ngay Hồng Cúm, phối hợp với Trung đoàn 57 Đại đoàn 304 tiêu diệt, bắt sống toàn bộ quân địch, không cho chúng chạy thoát về Thượng Lào.

Suốt chiều hôm đó, tôi luôn ở cạnh anh Văn. Anh bảo tôi điện giục Đại đoàn 312 báo cáo nhanh về việc bắt Đờcátxtơri.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:51:36 am

Lát sau, anh Tấn gọi dây nói báo cáo đúng là đã bắt được Đờcátxtơri cùng toàn bộ Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm. Đờcátxtơri vẫn mang theo cấp hiệu. Ta đã đối chiếu người với ảnh, kiểm tra kỹ giấy tờ và chữ ký của y.

Anh Văn cẩn thận hỏi lại:

- Đồng chí đã tận mắt nhìn thấy Đờcátxtơri chưa?

- Báo cáo anh, Đờcátxtơri đã được dẫn về Sở chỉ huy Đại đoàn, hiện đang đứng trước mặt tôi cùng các sĩ quan tham mưu của tập đoàn cứ điểm. Hắn vẫn còn cầm can và đội mũ đỏ.

Đến lúc này, anh Văn mới thực sự yên tâm. Anh phấn khởi nói:

- Chúc mừng các đồng chí! Tôi sẽ điện ngay về báo cáo với Bác, với Trung ương và Chính phủ!

Anh chỉ thị cho Ban Tuyên huấn mặt trận thảo gấp một bản thông cáo đặc biệt của Bộ Tổng tư lệnh đưa anh sửa chữa bổ sung để Đài Tiếng nói Việt Nam kịp truyền đi trong đêm nay. Đồng thời báo ngay tin địch ở Mường Thanh đầu hàng cho các đơn vị bộ đội và dân công ở phía sau qua đường dây điện thoại.

Cuộc chiến đấu ở Mường Thanh đã kết thúc, nhưng anh còn phải cùng anh Thái chỉ huy bộ đội tiêu diệt gọn quân địch ở phân khu nam. Qua máy điện đàm và hệ thống loa địch vận, ta kêu gọi chúng đầu hàng và sẽ được đối xử tử tế. Nhưng địch vẫn ngoan cố tìm cách tháo chạy.

8 giờ đêm ngày 7 tháng 5, bộ phận truy kích thuộc Trung đoàn 57 báo cáo đã bắt gặp địch. 12 giờ đêm, anh Lê Chưởng báo cáo về Bộ chỉ huy chiến dịch: đã bắt toàn bộ 2.000 địch ở Hồng Cúm, kể cả tên chỉ huy là đại tá La-lăng (Lalande).

Thế là sau 56 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng: Sự phản kích và giãy giụa điên cuồng của địch đã chứng minh quyết định thay đổi phương châm và cách đánh chiến dịch ngày 26 tháng 1 của anh Văn là hoàn toàn đúng đắn. Kế hoạch Na-va đã hoàn toàn phá sản.

Đã quá khuya và quá mệt sau một ngày và hai đêm căng thẳng, anh nở nụ cười rạng rỡ rồi ngả mình thiếp đi trên chiếc giường tre...

Tôi tiếc rằng mình không phải là nhà văn để miêu tả lại thật hay những phút giây hân hoan và xúc động đó. Giờ phút ấy, tôi bỗng nhớ lại hình ảnh Anh Văn sáng ngày 26 tháng 1, tuy mệt mỏi nhưng gương mặt vẫn cương nghị trước khi hạ một quyết tâm táo bạo, kịp thời. Tôi nhớ lại những ngày tháng tư đầy trắc trở khó khăn, anh phải tập trung suy nghĩ; nhớ những đêm anh thao thức vì trời đổ mưa to, sấm chớp đầy trời...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 07:52:41 am

Tiếng chuông điện thoại cắt đứt dòng cảm xúc của tôi. Đồng chí Vi gọi điện: “Chúc mừng Võ Tổng và các đồng chí Việt Nam!”. Anh Văn trả lời: “Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của đồng chí Vi, các đồng chí Cố vấn và nhân dân Trung Quốc!”.

Lời cảm ơn của anh Văn rất chân thực: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ở cơ quan chỉ huy cũng như ở các đại đoàn, trước cũng như sau khi thay đổi phương châm chiến dịch, các bạn Trung Quốc đã giúp đỡ ta một cách tích cực, nhiệt tình. Bạn coi cuộc chiến đấu của ta cũng như của bạn, không nề gian khổ. Bạn đã giới thiệu cho ta kinh nghiệm chiến đấu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong chiến dịch vây hãm quân Tưởng ở Hoài Hải, của Quân chí nguyện Trung Quốc ở Triều Tiên, đặc biệt là kinh nghiệm xây dựng công sự trận địa.. Bộ đội ta đã vận dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo. Trong toàn chiến dich, cùng 20 khẩu pháo, Trung Quốc đã viện trợ cho ta 3.600 viên đạn pháo 105 ly, chiếm 18% tổng số đạn tiêu thụ trên mặt trận1. Bạn đã giúp ta 1.700 tấn lương thực, chiếm 6,8% tổng số gạo dùng trong chiến dịch. Tỷ lệ không cao, nhưng nghĩa tình rất sâu nặng. Chiến tranh Triều Tiên vừa kết thúc, bạn còn nhiều khó khăn. Đây là số gạo từ Vân Nam chuyển đến Nậm Cúm ở sát biên giới với Lai Châu. Ta đã kết hợp đường bộ với đường sông, dùng gồng gánh, dùng thuyền, dùng mảng vượt qua 102 ghềnh thác chở về Điện Biên Phủ trong tháng 4 năm 1954. Trong những ngày cuối chiến dịch, cùng với 1 tiểu đoàn pháo ĐKZ 75 ly, 1 tiểu đoàn gồm 12 giàn hỏa tiễn sáu nòng do các bạn Trung Quốc trang bị và huấn luyện cũng đã kịp đưa lên mặt trận, tham gia vào trận cấp tập hỏa lực đêm 6 tháng 5. Mặc dù độ tản mát còn cao, nhưng đuôi lửa, tiếng rít và tiếng nổ dữ dội của loại vũ khí mới này đã làm tăng thêm nỗi kinh hoàng của quân địch vốn đã kiệt sức và tuyệt vọng sau 54 ngày đêm chiến đấu.

Hôm sau, mồng 8 tháng 5, tại Mường Phăng, cơ quan Hậu cần tổ chức một bữa “tiệc” bánh cuốn với rượu vang chiến lợi phẩm để ăn mừng chiến thắng. Hai đồng chí Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh và một số Cố vấn cùng liên hoan với Bộ chỉ huy chiến dịch. Anh Văn đã cùng đồng chí Vi hân hoan nâng cốc chúc mừng thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, chúc mừng tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân và quân đội hai nước anh em...

Dĩ nhiên chiến thắng Điện Biên Phủ trước hết là chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam, của những người trực tiếp chiến đấu và đổ máu trên chiến trường, của toàn dân ta ở hậu phương đã dốc sức chi viện cho tiền tuyến. Sự viện trợ quý báu về vật chất và kinh nghiệm của Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em, sự đồng tình ủng hộ của Đảng Cộng sản và nhân dân lao động Pháp, của nhân dân tiến bộ toàn thế giới tuy không phải là quyết định nhưng là yếu tố vô cùng quan trọng. Phát huy sức mạnh của toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn luôn là bài học thắng lợi của cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam.
___________________________________
1. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ta dùng khoảng 20.000 viên đạn pháo 105 ly, gồm 11.000 viên chiến lợi phẩm của chiến dịch Biên Giới, 3.600 viên do Trung Quốc viện trợ kèm theo pháo, 440 viên chiến lợi phẩm thu tháng 12.1953 ở mặt trận Trung Lào và khoảng 5.000 viên thu tại trận do địch thả. Sau chiến tranh Triều Tiên, đạn pháo 105 ly Trung Quốc rất khan hiếm. Trước yêu cầu cấp thiết của chiến dịch, bạn đã vét từ các kho được 7.400 viên để chuyển cho ta, nhưng đến giữa tháng 5.1954 mới tới, sau khi trận đánh đã kết thúc.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:38:34 pm

*
*   *


35 năm sau, trong hồi ký về Điện Biên Phủ, Anh Văn coi quyết định ngày 26 tháng 1 năm 1954 thay đổi phương châm và cách đánh chiến dịch là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình. Tôi nghĩ: Đây còn là một quyết định lịch sử trong một chiến dịch lịch sử.

Bằng quyết định đó, Anh đã đưa mọi người trở về với chủ trương đúng đắn ban đầu của tập thể Tổng quân ủy trong tờ trình gửi lên Bộ Chính trị ngày 6 tháng 12 năm 1953. Anh đã trải qua một quá trình cân nhắc thận trọng, xử lý khôn khéo và kiên trì thuyết phục để vừa giữ vững nguyên tắc, vừa bảo đảm đoàn kết nhất trí cao trong lãnh đạo trước khi bước vào một trận đánh một mất một còn với địch.

Bằng quyết định đó, ta đã không chấp nhận một trận quyết chiến để phân thắng bại trong 3 đêm 2 ngày với một đội quân tinh nhuệ và thiện chiến của địch, khi chúng còn sung sức, lại có ưu thế về trang bị kỹ thuật, đặc biệt là không quân và pháo binh, điều mà cả Đờcátxtơri, Cô-nhi và Na-va đều mong đợi để chúng có cơ hội “nghiền nát chủ lực Việt Minh”! Thử nghĩ: một khi các đại đoàn thiện chiến hàng đầu của quân đội ta thất trận và bị tốn thất nặng nề ở Điện Biên Phủ thì cục diện cuộc kháng chiến sẽ ra sao? Chắc chắn là sẽ khó khăn phức tạp khôn lường. Còn lâu ta mới giải phóng được miền Bắc để tiến lên giải phóng hoàn toàn đất nước! Làm sao có thể tiêu diệt nhanh gọn cả một tập đoàn 49 cứ điểm với trên 16 ngàn quân, khi mà diễn biến thực tế của chiến dịch đã chứng minh: chỉ riêng một ngọn đồi A1, ta phải trải qua 38 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, với không ít thương vong!

Bằng quyết định thay đổi phương châm và cách đánh, ta đã chủ động chuyển sang vây hãm dài ngày, nhằm từng bước triệt đường tiếp viện, tiếp tế của địch cả trên bộ và trên không, rồi tập trung binh lực, hỏa lực, lần lượt tiến công tiêu diệt từng trung tâm đề kháng, để bảo đảm chắc thắng trong từng trận. Ta đã làm cho lực lượng của tập đoàn cứ điểm ngày càng tổn thất tiêu hao, khó khăn ngày càng chồng chất, ý chí chiến đấu của địch ngày càng sa sút để cuối cùng hoàn toàn đánh gục chúng khi quân số chúng vẫn còn đông, lập nên một chiến công lịch sử!

Chiến công lịch sử đó đánh dấu bước tiến nhảy vọt về khả năng chiến đấu của quân đội ta: Từ chỗ tiêu diệt được từng tiểu đoàn hoặc tiểu đoàn tăng cường của địch, phòng ngự trong từng cụm cứ điểm riêng lẻ, tiến lên tiêu diệt hàng vạn quân tinh nhuệ của chúng trong một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Ký giả Robert Guillain đã viết: “Ngay cả trong đại chiến thứ hai vừa qua, trên chiến trường châu Âu, quân đội Pháp cũng chưa bao giờ dựng lên một hệ thống phòng ngự dã chiến lớn mạnh như ở Điện Biên Phủ1. Ta đã đánh bại hình thức phòng ngự cao nhất của quân viễn chinh xâm lược Pháp, đè bẹp ý chí xâm lược của bọn thực dân, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, thủ đô Hà Nội và miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng.

Với 16.200 quân tinh nhuệ của địch bị tiêu diệt và bắt sống cùng tất cả tướng tá chỉ huy và Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm, Điện Biên Phủ là trận đánh tiêu diệt lớn nhất, gọn nhất, điển hình nhất trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta và lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới cận đại và hiện đại, quân đội một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, vũ khí kém cỏi, đã đánh bại quân đội xâm lược của một cường quốc công nghiệp phương Tây.

Trong tác phẩm “Trận Điện Biên Phủ” xuất bản năm 1963, tác giả người Pháp Jules Roy từng nhận xét: “Trên toàn thế giới, nơi trận Oa-téc-lô trước đây từng gây chấn động kém hơn, sự thất thủ Điện Biên Phủ đã gây nên nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đây là một trong những thất bại lớn nhất của phương Tây, báo hiệu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hòa - Tiếng sấm của sự kiện còn tiếp tục rền vang...”.

Kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng 5 năm 1964, Bác Hồ viết trên báo Nhân Dân: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn2”.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của dân tộc Việt Nam và của cả loài người tiến bộ! Trước hết đó là thắng lợi của Tư tưởng Hồ Chí Minh: Với lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh quật khởi của dân tộc, từ năm 1925, Người đã sớm công bố “Bản án chế độ thực dân Pháp” để 29 năm sau, theo lệnh Người, quân và dân Việt Nam đã thi hành bản án ấy trên pháp trường Điện Biên Phủ! Bản án tử hình đó đã chấm dứt vĩnh viễn nền thống trị thực dân của Pháp trên toàn cõi Đông Dương, đồng thời gióng lên hồi chuông báo ngày tận số của chủ nghĩa thực dân trên thế giới.

Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ!

Ba tiếng đó đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị nô dịch đứng lên giành quyền sống. Ba tiếng đó còn vang vọng mãi đến mai sau...

Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, dân tộc ta đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại. Tổ quốc Việt Nam mãi mãi ghi công các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống ở Điện Biên Phủ và trên chiến trường ba nước Đông Dương, ghi công các vị chỉ huy, cố vấn Trung Quốc, các cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công và toàn dân toàn quân ta đã góp phần làm nên một Đông Xuân thắng lớn trên cả nước và một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
________________________________
1. Robert Guillain: “La fin des illusions” (Hết ảo tưởng).
2. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H.2002, tr. 261.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:41:09 pm

CUỘC CHẠY “VIỆT DÃ QUÁI ĐẢN”
TRẦN MINH HỒNG
Nguyên Trung đội trưởng, cán sự chính trị Đại đội 399,
Tiểu đoàn 89, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308

Trong tập “Kết thúc những ảo tưởng” khi nói về cuộc truy kích của lực lượng Việt Minh phối hợp với quân Pathét Lào dọc phòng tuyến sông Nậm Hu trước khi quân ta nổ súng tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhà báo Pháp Robert Guillain đã có một nhận xét thú vị: “Đây là một cuộc chạy việt dã quái đản xuyên qua rừng rậm, vượt lên trên sức của bất kỳ đội quân nào!”. Tôi có may mắn tham gia sự kiện đó - một cuộc hành quân dài 200km nhằm cắt đứt hành lang Điện Biên Phủ và Luang Prabang mà địch mới thiết lập, hoàn thành thế bao vây cô lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày ấy, ngày cuối tháng 1 năm 1954, đơn vị chúng tôi đang giấu mình trong những cánh rừng phía tây Mường Thanh, chuẩn bị cho trận tiến công “tốc chiến tốc thắng” tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Mọi việc sắp hoàn tất cho giờ G nổ súng thì bỗng nhiên, ngày 26 tháng 1, chúng tôi linh cảm có điều gì khác lạ. Buổi chiều, có lệnh thay đổi, bỏ lại tất cả những thứ không cần thiết, trang bị thật gọn nhẹ, khẩn trương chuẩn bị hành quân. Anh em băn khoăn không hiểu vì sao?

Chúng tôi mỗi người một khẩu súng và một cơ số đạn trên vai, thắt cái “ruột tượng” dựng hai ngày gạo rang vào lưng rồi gấp rút lên đường. Xuyên rừng chiều, cả Đại đoàn 308 chia thành hai cánh quân, vượt biên giới sang đất bạn Lào. Tiểu đoàn 89 chúng tôi được “lãnh ấn” tiên phong đi đầu đội hình Trung đoàn 36 tiến về hướng Nậm Bạc - Luang Prabang.

Nửa đêm hôm đó, trong lúc chúng tôi đang bì bõm lội suối gần biên giới thì được tin địch ở đồn tiền tiêu Nga Na Soong trên đất bạn vừa rút chạy. Thế là bắt đầu cuộc truy đuổi, lúc đi, lúc chạy, đơn vị nào khỏe được phép vượt lên trước, đơn vị đi đầu gặp địch là đánh, đơn vị sau nếu không cần yểm trợ chiến đấu thì cứ vượt qua tiến lên phía trước, tiếp tục bám đuổi địch.

Quân địch ở Nga Na Soong rút chạy trước chúng tôi gần 10 tiếng đồng hồ nhưng đến trưa hôm sau - ngày 27 tháng 1 đã bị chúng tôi truy kích suốt đêm đuổi kịp. Chúng không ngờ “quân ta” thần tốc đến thế nên gặp là hoảng loạn, chống cự yếu ớt. Đại đội đi trước nổ súng, địch bỏ chạy tản mác. Đại đội 399 chúng tôi vượt lên dẫn đầu đội hình tiểu đoàn, băng qua hiện trường ngổn ngang chiến lợi phẩm. Đây là một nguồn cung cấp bánh quy, đồ hộp bổ sung vào cái túi lương thực đường trường.

Dù đi thêm hàng trăm cây số đường rừng hoang vắng, chúng tôi không lo lắm vì khẩu phần hai ngày gạo rang vẫn còn bên lưng.

Rừng Lào về mùa khô xơ xác cây lá. Những rừng săng lẻ, rừng khộp, nứa, vầu đại ngàn tiếp nối, nhiều đoạn đường vắt nhiều vô kể, chúng vươn đầu ngọ nguậy dưới chân bước, tua tủa như những bàn chông. Lại có ngày hành quân toàn đồi trọc, hết triền núi này đến triền núi khác, thỉnh thoảng mới gặp con suối với những bản Mèo và những nương lúa, nương thuốc phiện. Nhiều anh em chúng tôi mới lần đầu nhìn thấy loại cây thuôc phiện chết người này với những bông hoa trắng, tím hồng trông thật quyến rũ.

Trải qua tám ngày đêm xuyên rừng vượt núi truy kích địch, các đại đội trong Tiểu đoàn 89 luân phiên nhau dẫn đầu đội hình Trung đoàn, trên đường truy kích đã đụng độ với địch gần mười trận, tiêu diệt, bắt gọn và làm tan rã hàng trăm tên địch.

Đến chiều ngày 2 tháng 2, chúng tôi tới Nậm Bạc. Thật mát mắt khi nhìn thấy màu xanh của lúa trải ra giữa thung lũng phì nhiêu. Có một khu đồn lớn và sân bay địch, xung quanh là những bản làng trù phú san sát những ngôi nhà sàn bên hàng dừa xanh. Một con sông nhỏ uốn lượn bên những thửa ruộng bậc thang. Anh em chúng tôi băng rừng vượt núi, vừa hành quân, vừa tác chiến, đến đây chưa kịp thở thì tiểu đoàn trưởng Nguyễn Liệu chớp thời cơ ra lệnh nổ súng tấn công, địch hốt hoảng rút chạy, bỏ lại nguyên vẹn kho tàng.

Giải phóng xong Nậm Bạc, đại đội 399 nhận ngay lệnh lên đường. Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Thành phổ biến nhiệm vụ mới, đốc thúc anh em ăn vội bữa cơm chiều, bổ sung món chiến lợi phẩm lương khô “hảo hạng” rồi lại tiếp tục hành quân.

Rời thung lũng Nậm Bạc, chúng tôi hướng tới Nậm Ngà. Đang đà chiến thắng, cán bộ chiến sĩ háo hức, quên cả mệt nhọc, hăng hái lên đường. Trừ trung đội 1 ở lại Nậm Bạc tham gia thu dọn chiến trường, đại đội chúng tôi còn bảy mươi tay súng. Đi cùng còn có hai cán bộ cấp phó tiểu đoàn 89 và trung đoàn phó Ngô Ngọc Dương, Phó chính ủy trung đoàn Phạm Hồng Cư trực tiếp xuống đốc chiến, luôn có mặt trong đơn vị dẫn đầu.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:42:56 pm

Trận “tao ngộ chiến” ngã ba Nậm Ngà

Rời khỏi thung lũng Nậm Bạc, trời đã tối mịt. Đường càng đi càng khó, chúng tôi mò mẫm bám theo nhau. Đom đóm lập lòe bay trên đội hình hành quân như trêu đùa, anh em quờ tay bắt, xiết lên ba lô, hoặc cài sẵn miếng gỗ mục phát sáng để nhận ra nhau. Càng về khuya, đôi mắt đã díp lại mà đôi chân cứ bước như một cái máy; ngại nhất là lúc đội hình dồn lại, người đi trước mỗi khi di chuyển chủ động lay gọi người đi sau. Cái tuổi 18 của chúng tôi được thử sức.

Nửa đêm có lệnh dừng lại. Hai trung đội của Hoàng Như Phan và Phạm Thế Trung đi trước và sau đội hình cắt cử người canh gác, còn chúng tôi đặt ba lô xuống, lựa thế là nằm ngủ thiếp đi ngay; đâu ngờ rằng có một cánh quân địch đông tới sáu bảy trăm tên trên đường tháo chạy từ Mường Sài về Nậm Ngà, đang trú quân gần đây, hướng hành quân của chúng đâm thẳng vào đội hình chúng tôi đang nằm. Mãi đến sáng ra nhìn lại, tôi mới biết đây là một ngã ba, nơi con đường chúng tôi đi men theo một con suối khá rộng gặp nhánh đường rừng từ Mường Sài tới, hợp lại đi thẳng về hướng Nậm Ngà. Mặt đường lồi lõm vết chân trâu, vậy mà đêm qua đặt lưng xuống chúng tôi đã đánh một giấc ngon lành.

Khi chúng tôi được báo thức thì mặt trời đã ló dạng trên cao nhưng sương mù vẫn còn phủ trắng, cách mười thước không nhìn rõ mặt người. Tôi vươn vai đứng lên mà chân như khuỵu xuống, gắng gượng lò dò từng bước, một lát sau mới quen dần. Xuống suối tôi vục mặt trong lòng nước mát, rửa các kẽ chân suốt ngày ngâm trong đôi giày Ba-ta sũng nước đã lở loét trắng bệch.

Ít phút sau, có lệnh chuẩn bị hành quân. Tôi vừa choàng khẩu tiểu liên K50 lên người đã giật nảy mình khi nghe tiếng đạn K50 nổ vang từ phía trung đội 2 và tiếng hét “có địch”. Bất giác chúng tôi như một phản ứng dây chuyền, tất cả đều kêu to “có địch” và cắt rừng ào ạt lao về phía có súng. Đang mong gặp địch nên anh em rất phấn khích, các loại súng thi nhau nhả đạn. Địch bắn trả, đạn đan chéo trên đầu, cành lá gãy đổ, những thân cây bị xé toạc, vung vãi. Một trận “tao ngộ” diễn ra ác liệt. Thì ra tiểu đoàn ngụy Thái số 1 (1er BAT) từ phía Mường Sài rút về Nậm Ngà, tối qua chúng dừng lại trú quân cách đây chừng một cây số. Sáng ra địch hành quân sớm, tổ “xích hầu” đi đầu sục sạo với trung, đại liên yểm trợ vừa qua khỏi khúc quanh bìa rừng thì vấp phải trạm cảnh giới của ta. Tiểu đội phó Thúy, người đứng gác cuối cùng vừa được lệnh rút về hành quân thì trông thấy địch. Giây phút bàng hoàng ngơ ngác nhìn nhau, Thúy định thần trước, anh kêu lên “có địch” rồi quét luôn một loạt K50 quật ngã chúng, giành thế chủ động cho ta. Địch bị tấn công phủ đầu quyết liệt, hốt hoảng tưởng sa vào trận địa phục kích, lúng túng bắn trả, yểm trợ nhau tháo chạy, tan vỡ từng mảng, chỉ còn không đầy hai trăm tên lui về chỗ trú quân đêm qua, lợi dụng ít công sự sẵn có, chúng dừng lại để thu thập tàn quân. Lực lượng của ta vốn mỏng, chỉ bằng một phần mười lực lượng địch, lại rải rác tác chiến đuổi địch suốt trên một cây số, đến nay chỉ còn khoảng 40 tay súng, cũng không thể tiến thêm được nữa. Hai bên chiếm hai ngọn đồi cách nhau chừng hơn trăm mét, ở giữa là một cái lõm hình yên ngựa.

Tôi đôn đốc anh em đào công sự thì phó chính ủy trung đoàn Hồng Cư đến hạ lệnh tôi quay về phía sau thay chính trị viên đại đội Tấn để giải quyết “hậu chiến”. Quãng đường dài hơn một cây số ngổn ngang súng đạn của địch tháo chạy vứt bỏ và hàng trăm tên địch tan tác còn luẩn quẩn đâu đây. Khẩu K50 của tôi đã bắn nhiều nên tôi nhặt thêm một khẩu tiểu liên Thompson còn đầy đạn choàng lên người. Càng gần tới ngã ba nơi chạm trán giữa ta và địch, quang cảnh chiến trường còn bề bộn ngổn ngang, càng thấy nhiều xác địch rải rác đó đây. Một tên da trắng bị trúng đạn vào đầu, nằm sấp ven đường, đã bị thương gần một tiếng đồng hồ mà vẫn còn sống, rên rỉ. Tại khúc quanh đường rừng nơi bắt đầu trận đánh, một tên da trắng khác bị thương trúng chân, chắc là sĩ quan chỉ huy đơn vị đi đầu đã lột lon, bỏ áo cởi trần ngồi ngav giữa đường đi. Nhìn cái thế ngồi của nó khi trúng đạn, mặt quay về phía quân ta, cái bộ ngực lông lá và nhất là cặp mắt xanh lè cứ giương lên nhìn, tôi đột ngột giận sôi lên nhìn vào mắt nó, bắt dẹp vào bên đường, quên bẵng đi nó đang bị thương. Đáng ra nói “Va-tăng” thì tôi buột miệng nói “A-lê” rồi chỉ tay vào đường nói tiếp “ici”, vẻ mặt tôi có vẻ “dữ” nên tôi thấy nó tái mặt đi và lê lết vào ngay chỗ tay tôi chỉ.

Gặp anh Tấn đang tất bật chỉ huy thu dọn chiến trường, tôi nhận bàn giao và tiếp tục công việc của anh, với một tiểu đội trong tay, phải thu gom chăm sóc hơn chục thương binh, tử sĩ của ta, tiếp tục truy bắt, cai quản đám đông tù binh địch đã hơn sáu mươi tên. Ngoài ra, còn hơn 40 người dân tỉnh Phú Thọ bị địch càn quét bắt làm tù binh người Bắc Kỳ (chúng gọi họ là PMT - (Prisonniers Militaires Tonkinois), đưa sang Lào, buộc đi theo tiểu đoàn 1er BAT làm phu khuân vác. Tôi động viên và sử dụng ngay họ vào việc tỏa đi khắp rừng tìm kiếm cho bằng hết thương binh, tử sĩ của ta có thể còn sót lại.

Lúc này, xảy ra một chuyện: khi đồng chí Dược, y tá đại đội, bảo hai bác PMT đã đứng tuổi, trông hiền lành đứng đắn, khiêng chuyển một cáng thương binh của ta, tôi thấy hai bác này lại tỏ ra trù trừ ngần ngại. Bực mình, tôi trách mắng thì hai bác òa lên khóc. Họ trật áo cho tôi xem, hai vai của họ xưng tấy lên đỏ hỏn như hai khối u nhọt đọng máu sắp vỡ. Hai bác kể: bọn địch coi PMT như những con lừa, con ngựa, trút mọi thứ bắt mang vác. Hôm qua có mấy PMT kiệt sức quỵ xuống bị chúng bắn bỏ xác bên đường. Hai bác nghẹn ngào nói trong nước mắt: “Đêm qua chúng em trằn trọc không ngủ được, đoán chắc rằng hôm nay sẽ là ngày cuối của cuộc đời vì không thể cố gắng kéo lê được thân xác “ngựa thồ” thêm nữa. Đến giờ giao thừa, mọi người ngồi dậy ôm nhau khóc, trăn trối những lời sau cùng để ai còn sống sót về kể lại cho gia đình vợ con quê nhà. May nhờ ơn cứu tử của bộ đội...”

“Giao thừa” - “Giờ giao thừa”... nghe hai bác PMT nói, chúng tôi mới biết đêm qua là đêm cuối cùng của năm Quý Tỵ, trận đánh sáng nay đúng vào sáng mùng một Tết Giáp Ngọ, một trận đánh thắng to, đón mùa xuân mới. Trận đánh đầu xuân này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét trong cuốn “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” là “trận đánh lớn nhất trên đường truy kích” trên đất bạn Lào mùa xuân năm 1954.

HẢI TÂN ghi


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:44:36 pm

KÉO PHÁO Ở ĐIỆN BIÊN
NGUYỄN VĂN TẠI
Cựu chiến binh Trung đoàn 141, Đại đoàn 312

Tôi có vinh dự là chiến sĩ Đại đoàn 312 tham gia kéo pháo vào trận địa trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, lúc đó tôi 28 tuổi, nay đã tuổi 83.

Khoảng trung tuần tháng 1 năm 1954, ta đưa pháo vào trận địa. Này “hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua đèo”… Các bạn có biết không? Mỗi khẩu pháo nặng hàng mấy tấn thép được kéo lên dốc, phải dùng tới 150 đến 160 chiến sĩ trẻ, khỏe để kéo, phải đi quanh co những ngọn núi có độ dốc cao tới 60 đến 70 độ. Lại có lúc phải đưa pháo qua những vực sâu thẳm mà không có đường, phải lấy đá kè đắp thành đường cho pháo đi qua... Khi lên dốc phải vừa kéo vừa có người liên tục dùng khúc gỗ nhỏ có hình cạnh tam giác chèn vào phía sau bánh xe của pháo, để pháo khỏi tuột xuống dốc. Sau mỗi nhịp kéo, khẩu pháo chỉ nhích lên chừng 30 đến 40 cm. Mỗi đêm, nếu đường ít dốc và khô ráo thì pháo nhích được vài ba cây số, nếu gặp trời mưa, đường trơn thì chỉ kéo được 500 đến 600 mét.

Kéo pháo lên dốc đã vất vả, nhưng đưa pháo xuống dốc còn cực nhọc gấp nhiều lần. Vì phải xuống theo sườn núi quanh co, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm. Phải có hàng trăm người ghìm dây thả pháo từ từ, số người đứng trước thì thay nhau chèn pháo, giữ cho khẩu pháo đi đúng hướng, đúng đường xuống dốc. Qua thực tế kéo pháo, anh em có sáng kiến làm “tời”, buộc dây kéo pháo vào trục tời, đầu bên kia buộc vào hai càng của pháo, dùng tời thả pháo xuống dần, vừa thả vừa chèn để pháo khỏi lao nhanh, nhằm đảm bảo an toàn cho cả người và pháo.

Việc kéo pháo vào trận địa thường bố trí vào ban đêm, để tránh phi pháo của địch. Khi qua rừng rậm, đường kéo pháo kín đáo thì được tranh thủ kéo pháo ban ngày. Sau hơn một tuần khẩn trương kéo pháo cả ngày lẫn đêm, các chiến sĩ của sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo vào trận địa quy định, bảo đảm bí mật, an toàn.

Bỗng nhiên ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đảng ủy mặt trận họp nhất trí với đề xuất của đồng chí Chỉ huy trưởng chiến dịch quyết định đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đại đoàn 312 lại được lệnh kéo pháo ra.

Để hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra, Chỉ huy trưởng quyết định thành lập Ban chỉ đạo, chỉ huy kéo pháo ra, có đồng chí Chính ủy pháo binh và đồng chí Lê Trọng Tấn - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 tham gia. Phiên họp đầu tiên bàn nhiều biện pháp lãnh đạo tư tưởng bộ đội, quyết tâm vượt khó, giữ vững lòng tin, nhấn mạnh việc kéo pháo ra phải an toàn tuyệt đối cả về người và pháo. Việc kéo pháo vào đã khó, lãnh đạo kéo pháo ra còn khó gấp nhiều lần.

Để cô lập triệt để tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tạo mọi thuận lợi cho các đơn vị kéo pháo ra và cho công tác chuẩn bị của toàn chiến dịch, Đại đoàn 308 được lệnh mở cuộc tiến công mới vào phòng tuyến của địch ở lưu vực sông Nậm Hu (Thượng Lào) vào chiều ngày 26 tháng 1 năm 1954.

Đại đoàn 312 chúng tôi bắt đầu kéo pháo ra từ ngày 27 tháng 1 năm 1954. Trở lại những dốc đèo hiểm trở, đường kéo pháo ngày càng lầy lội, vì có hàng vạn người qua lại. Địch bắn đại bác trúng Đại đội 21 đang kéo pháo ra, một số chiến sĩ hy sinh và một số bị thương. Nhưng mọi người không hề nao núng.

Nhiệm vụ gian nan và nguy hiểm, đã có nhiều chiến sĩ ốm, sốt liên miên, không ăn uống được, cán bộ cho nghỉ vẫn xung phong kéo pháo. Nhiều cán bộ, chiến sĩ thức trắng đêm, ăn uống thiếu thốn, thiếu rau xanh nên phải đào củ mài, lấy bắp chuối, rau chuối, rau rừng để ăn thêm... Những đêm cuối tháng trời tối, đường dốc cheo leo, việc kéo pháo càng nặng nhọc, đổ cả mồ hôi và máu. Ở đơn vị bạn có đồng chí Tô Vĩnh Diện đã hy sinh thân mình cứu pháo, không để pháo lao xuống vực sâu... Tấm gương anh dũng hy sinh của anh Diện đã cổ vũ tinh thần các chiến sĩ kéo pháo toàn đơn vị.

Trong những ngày kéo pháo gian khổ, nhân dân hậu phương đã gửi hàng ngàn lá thư, tặng phẩm, bánh chưng ra tiền tuyến cho bộ đội ăn tết, cổ vũ phong trào thi đua lập công mừng xuân mới. Đúng Tết âm lịch, ngày 5 tháng 2 năm 1954, các đơn vị toàn Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra đúng điểm quy định tại cây số 70 đường Tuần Giáo.

Trong thời gian kéo pháo, chỉ tính riêng Trung đoàn 141 đã có 29 đồng chí hy sinh, 106 đồng chí bị thương. Đại đội 243 của Trung đoàn 141 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Đồng chí Hoàng Vân - Đội trưởng Đội văn công Đại đoàn đã sáng tác bài “Hò kéo pháo” ngay tại trận địa “Dốc núi cao cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi. Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù”. Bài hát sẽ còn vang vọng mãi đến mai sau...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:47:14 pm

HANG ĐÁ BẢN TÀ KHEO
KIM CÂN
Nữ chiến sĩ quân y Điện Biên Phủ

Tại bản Tà Kheo thuộc tỉnh Sơn La có một hang đá trong rừng sâu thật vững chắc và rộng rãi có thể cho hàng trăm người trú chân ăn ngủ tránh mưa tránh nắng. Nơi đây, ta đã đặt phòng mổ cho thương binh. Có bốn chục thương binh nặng nằm điều trị trong hang đá này.

Hôm ấy, ngày 10 tháng 3, một máy bay “bà già” bị bộ đội ta bắn cháy, rơi cách bản Tà Kheo 1km. Ngồi trong hang đá mà nghe tiếng động xé trời, máy bay bốc cháy ngùn ngụt hàng tiếng đồng hồ, thế mà hang đá vẫn sừng sững giữa trời che chở bao thương binh nặng và chiến sĩ quân y.

Vào lúc 14 giờ, Tỉnh đội báo qua có 8 tên biệt kích ở trên núi Sam, ta đã bắt được 4 tên, còn 4 tên chạy thoát. Tỉnh đội lưu ý các đơn vị cảnh giác đề phòng chúng trà trộn vào đơn vị.

Đến 21 giờ, đồng chi Cao Đình Tự đi khám bệnh giúp dân về đến bờ suối thì thấy con ngựa bạch bị hổ cắn chết nằm bên bờ suối máu vần còn chảy liền báo cho anh chị em biết, có ai đi trông coi tử sĩ phải cảnh giác, hết sức chú ý kẻo hổ lôi mất tử sĩ. Mọi người trong đơn vị ai cũng lạnh gáy, thế mà tôi cùng anh Nguyễn Văn Hiểu cùng tuổi phải canh gác doanh trại và 4 tử sĩ từ 11 giờ khuya đến 1 giờ sáng hôm sau trong khi tiết trời không thuận, mưa phùn gió bấc rét thấu xương, toàn thân ướt sũng.

Đang rét run cầm cập, khoảng 12 giờ đêm có tiếng động, không biết hổ hay là trăn rừng hoặc hươu nai gì đó mà nghe rõ cây rừng gãy răng rắc dồn dập; vừa sợ 4 thằng biệt kích trên núi Sam, vừa sợ hổ vồ, toàn thân tôi run lẩy bẩy, hai hàm răng cứ đánh cầm cập, tôi sợ quá bàn với anh Hiểu:

- Anh Hiểu ơi! Hay là tôi và anh đứng dựa lưng vào nhau cho đỡ rét và đỡ sợ...

Rồi từ hôm ấy chúng tôi không bao giờ dám nhìn mặt nhau và không dám ngồi ăn cơm cùng bàn. Tất nhiên chuyện này chỉ có hai chúng tôi biết... Sau đó, anh Hiểu trên đường di chuyển thương binh đã hy sinh ở đèo Pha Đin, tôi rất thương anh Hiểu, nên viết vào sổ nhật ký mấy câu thơ tôi nhớ mãi đến bây giờ.

Mấy câu thơ như sau:

      Hai người dựa lưng nhau

      Vào một đèm đông lạnh
      Giữa núi rừng thẳm sâu
      Áo che thân mỏng mảnh
      Hai người dựa lưng nhau
      Anh người trai khỏe khoắn
      Tôi cô gái măng tơ
      Dựa lưng vì nhiệm vụ
      Lòng trong trắng như tờ
      Chắc tay cầm báng súng
      Canh tử sĩ... hùm beo
      Nổi da gà vì sợ
      Tiếng hú khua lưng đèo
      Vẫn chưa phai kỷ niệm
      Chiến tích bi hài xưa
      Lòng bồi hồi nhớ lại
      Những ngày đẹp như mơ.



Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:50:29 pm

GÓC KHUẤT ĐIỆN BIÊN
Đại tá PHẠM ĐÌNH PHONG
Nguyên Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn 596 Bộ Tư lệnh Thông tin
Tiểu đội phó công binh phối thuộc Trung đoàn 45 (Lựu pháo 105)

Khẩu pháo của chúng tôi vừa kéo vào tới Bản Tấu - trận địa pháo đầu tiên được chuẩn bị để đánh vào Điện Biên Phủ thì được lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch: “Tất cả các đơn vị kéo pháo ra vị trí ban đầu chờ lệnh”.

Anh em chúng tôi ai nấy đều rã rời cả chân tay! Ai cũng thắc mắc: Sau bao ngày đêm gian khổ mới đưa được pháo vào trận địa mà nay lại phải kéo pháo ra? Ngay đêm đó, tôi thấy chi bộ Đảng họp, tổ Đảng họp, anh em thì thầm với nhau chắc là có chuyện gì đặc biệt lắm đây!

Sáng hôm sau, từng khẩu đội pháo một họp để nghe anh Nghĩa- Trung đội trưởng phổ biến tình hình. Bị quân ta tấn công mạnh, quân địch đã phải rút quân ở thị xã Lai Châu về tăng cường cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tình hình địch đã có những thay đổi... Về phía quân ta: Trận địa đã bị lộ, pháo của ta lại kéo bằng tay, tiếp đạn cho pháo lại bằng đôi vai của dân công vác từng quả một, không bảo đảm được tính cơ động cho pháo khi tham gia chiến đấu! Vì những lý do đó nên Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định kéo pháo ra, thiết lập trận địa mới. Lúc này anh em chúng tôi mới hiểu rõ quyết tâm của trên, động viên nhau làm tiếp nhiệm vụ.

Trời Điện Biên đã vào mùa đông, cái lạnh của núi rừng Tây Bắc khiến anh em chúng tôi không khỏi chạnh lòng nhớ tới quê hương những ngày giáp Tết. Ngay đêm 26 tháng 1 năm 1954, tiểu đội công binh chúng tôi gồm 12 người, anh Nguyễn Tự là Tiểu đội trưởng, tôi là Tiểu đội phó, được anh Nghĩa - Trung đội trưởng thông báo lên tiểu đoàn nhận nhiệm vụ mới. Như vậy, tiểu đội tôi không còn được ở trong đội hình kéo pháo ra, mà phải đi làm nhiệm vụ khác! Sau một đêm hành quân cật lực, tiểu đội tôi mới tới được tiểu đoàn. Sau vài giờ nghỉ ngơi cho lại sức, anh Nguyễn Đình Năm - Tiểu đoàn trưởng trực tiếp gặp chúng tôi giao nhiệm vụ. Anh nói: “Lý do phải kéo pháo ra chắc các cậu đã rõ cả rồi, chính vì lý do đó mà mặt trận cần phải có một trận địa pháo mới! Trận địa này phải đạt được những yêu cầu sau:

- Bí mật nằm ở những góc khuất bất ngờ.

- Đường kéo pháo bằng ô tô phải tới tận các hầm pháo, để bảo đảm tính cơ động khi chiến đấu.

- Phải có một trận địa nghi binh ở phía trước để thu hút phi pháo địch, bảo vệ an toàn cho trận địa pháo của ta.

Nhiệm vụ mở đường mới đã có các đơn vị tham gia chiến dịch lo. Riêng tiểu đội các cậu được giao nhiệm vụ biệt phái, đi phối thuộc với Trung đoàn pháo 45 lập trận địa nghi binh, nhiệm vụ như thế nào khi tới Trung đoàn pháo 45 sẽ được giao cụ thể. Trước khi lên đường, tiểu đoàn sẽ trang bị mới cho các cậu: một bộ đồ mộc công (gồm đục, chàng, cưa, búa...) và những cuốc xẻng mới để sang đó các cậu tác nghiệp cho nhanh”.

Nhìn quanh chúng tôi một lượt, Tiểu đoàn trưởng hỏi: “Nhiệm vụ đại thể như vậy, có cậu nào còn hỏi gì không?”.

Anh em chúng tôi nhìn nhau và đồng thanh đáp: Rõ! (Vì mọi việc cụ thể phải đến Trung đoàn pháo 45 mới biết).

Tiếp đó, anh Vương Thiều - Tiểu đoàn phó, tham mưu trưởng giao cho chúng tôi địa chỉ cần đến của Trung đoàn pháo 45 và căn dặn: Thời gian rất gấp, tới đó nhận nhiệm vụ các cậu phải bắt tay vào công việc ngay. Tất cả chúng tôi đều tỏ quyết tâm qua lời đáp... Rõ! Anh Năm - Tiểu đoàn trưởng đứng dậy vỗ vai, bắt tay từng người và dặn thêm: Các cậu nhớ phát huy truyền thống mở đường của tiểu đoàn ta trong chiến dịch Hòa Bình nhé!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:50:57 pm

Đêm ấy, trận gió đông bắc đầu mùa đã dẫn chúng tôi len lỏi đi xuyên rừng, vượt suối, qua các khúc đường kéo pháo bằng ô tô do bộ đội ta vừa mới mở. Địa điểm chúng tôi đến là dãy núi phía đông Mường Thanh, ở đó các anh trong Ban Chỉ huy Trung đoàn pháo 45 đang ngóng đợi. Tiểu đội chúng tôi được đón tiếp như một đoàn khách quý. Cuộc liên hoan nhỏ được bày ra bằng những chiến lợi phẩm vừa mới thu được từ Lai Châu về. Anh Thắng - Chính ủy Trung đoàn pháo 45 nói: “Tiểu đội công binh được Bộ Chỉ huy mặt trận cử về phối thuộc với Trung đoàn pháo chúng ta đã tới, tôi xin mời các anh cùng chúng tôi ăn Tết trước để bắt tay vào nhiệm vụ mới! Chúng ta vừa liên hoan vừa nghe nhiệm vụ nhé! Anh nói: Trận địa mới của chúng ta phải bảo đảm tuyệt đối bí mật cho tới ngày giờ nổ súng; từ việc chuyển quân, mở đường đào hầm pháo, lập trận địa nghi binh, đều phải tuyệt đối tuân theo các quy định bảo mật của mặt trận đề ra. Do vậy, trên trận địa mới này, Bộ Chỉ huy mặt trận không sử dụng lực lượng dân công, mọi công việc đều do bộ đội đảm nhiệm hết. Tiểu đội công binh được trên cử xuống phối thuộc với trung đoàn sẽ đảm nhận nhiệm vụ xây dựng trận địa nghi binh (trận địa giả). Sau cuộc liên hoan này, cán bộ tham mưu tác chiến của Trung đoàn sẽ giao nhiệm vụ và dẫn tới trận địa nghi binh làm nhiệm vụ ngay. Vì thời gian gấp nên Trung đoàn yêu cầu sau 3 ngày, trận địa nghi binh phải thiết lập xong!

... Trận địa nghi binh của chúng tôi là một quả đồi sống trâu, cao hơn trận địa pháo phía sau một chút. Từ trận địa này chúng tôi nhìn thấy cứ điểm Mường Thanh rõ mồn một! Cầu Mường Thanh, trận địa pháo của địch, ô tô chúng chạy qua lại nhìn rất rõ! Có cảm giác như ở đây mình ho to chúng có thể nghe được! Sau hai ngày đêm đào liên tục, trận địa chúng tôi cơ bản đã hoàn thành: một đường hào dài 30 mét, sâu 1,5 mét có nắp và hàm ếch ở ba đoạn (đoạn giữa và ở hai đầu). Đây sẽ là nơi xử lý tình huống khi chiến đấu.

Sau khi làm xong việc xây dựng trận địa nghi binh, chúng tôi được triệu tập về lại sở chỉ huy trung đoàn pháo 45 để nhận nhiệm vụ chiến đấu và hướng dẫn những điều cần thiết. Anh Hữu - Tham mưu tác chiến của Trung đoàn nói: “Trận địa nghi binh ở phía trước làm sao phải kết hợp thật chặt chẽ với trận địa thật phía sau ngay từ khi quả pháo đầu tiên ra khỏi nòng! Nghĩa là tiếng nổ đầu nòng phải thật khớp với tiếng nổ bộc phá ở trận địa nghi binh (phải là một), nếu không khớp, địch dễ phát hiện đâv là trận địa giả lừa chúng - Tiếp đó, nhịp nhàng cứ 6 giây một quả nổ dồn bằng thủ pháo ném tay cho tới khi có lệnh ngừng!”.

Để thực hiện yêu cầu trên, anh em chúng tôi được hướng dẫn cách điểm hỏa bằng điện và điểm hỏa bằng tay. Chỉ sau một giờ được hướng dẫn, chúng tôi đã nắm được cách mắc dây, lắp kíp, điểm hỏa bằng điện và cách gói bộc phá, gắn kíp, điểm hỏa bằng tay! Sau đó mỗi chúng tôi được thực tập một lần qua kíp nổ mà không có thuốc. Đồng chí tham mưu tác chiến trung đoàn đánh giá chúng tôi làm tốt. Màn đêm dần buông xuống, tiếng côn trùng rả rích khắp nơi, gió bấc thổi vào cửa hầm như hối hả, giục giã chúng tôi tiếp tục công tác chuẩn bị cho giờ nổ súng: 4 cây số dây điện thoại được chúng tôi gỡ ra kiểm tra và nối lại chắc chắn từng mối một và được thử qua máy điện thoại, chuông kêu giòn giã! Lúc ấy đêm đã về khuya, vợ chồng chú chim “thủ thỉ thù thì” vẫn còn chuyện trò, to nhỏ đâu đây, như ru chúng tôi vào giấc ngủ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:51:19 pm

Sáng hôm sau chưa rõ mặt người, các chú gà rừng trên nương đã đánh thức chúng tôi dậy... Sau khi được ăn nắm xôi nóng với thịt hộp chiến lợi phẩm do anh nuôi thổi nấu qua bếp Hoàng Cầm, ai nấy đều như được tiếp thêm sức mạnh. Ngay sau đó, chúng tôi được giao nhiệm vụ mắc đường dây điện thoại từ sở chỉ huy trung đoàn tới trận địa nghi binh, theo sự hướng dẫn của trợ lý thông tin trung đoàn. Hai ngày sau thì chúng tôi triển khai xong hai đường dây (trong đó có đường dây vu hồi), cả hai đường đều được đào sâu và ghim chặt xuống đất để bảo đảm an toàn khi chiến đấu. Tiếp sau đó là dựng 3 khẩu pháo giả làm bằng thân cây chuối trước 3 căn hầm hàm ếch rồi ngụy trang kín đáo chờ lệnh! Mọi việc xong xuôi, chúng tôi lại trở về Sở chỉ huy Trung đoàn đợi lệnh. Ngay đêm đó, anh Lưu - Trợ lý quân lực của trung đoàn mang chỉ thị tổ chức chiến đấu ở trận địa nghi binh xuống phổ biến cho chúng tôi. Anh nói: Tham gia chiến đấu ở trận địa nghi binh không cần phải nhiều người, ngược lại càng ít càng tốt. Bây giờ tôi xin hỏi: trong anh em chúng ta, ai là người đã có gia đình (vợ và con)... Ai thuộc nhà con một?... Ai thuộc nhà con đông?... Họ và tên từng người... ngày sinh... quê quán... khi cần báo tin cho ai... Ở làng quê nào... Sau đó, anh Lưu nói: tiểu đội công binh chia thành 2 tổ, tổ 1 có anh Phong, ạnh Bách, anh Cơ, do anh Phong làm tổ trưởng. Tổ 2 có anh Tự, anh Giáp, anh Nhị, do anh Tự làm tổ trưởng (hai cán bộ tiểu đội trực tiếp làm tổ trưởng).

Khi nhìn lại anh em trong hai tổ chiến đấu, chúng tôi đều nhận thấy tất cả đều là nhà con đông và chưa anh nào có gia đình. Chúng tôi nhìn nhau cùng thấm thía cái nghĩa, cái tình của Đảng đối với nhân dân (trước cái riêng của tình gia đình và cái chung của toàn dân tộc!).

Tổ tôi được vinh dự tham gia chiến đấu trước và được dẫn qua hầm của cơ quan tham mưu tác chiến, số còn lại được dẫn qua hầm cơ quan tham mưu hậu cần. Tôi thấy bản đồ các trận địa pháo treo la liệt, chuông điện thoại các máy đổ liên hồi! Các trận địa tới tấp báo cáo về sở chỉ huy: họ đã sẵn sàng đợi lệnh, chúng tôi tới trước một bản đồ trận địa mà tổ tôi đảm nhận nhiệm vụ nghi binh! Anh Trưởng ban tác chiến của trung đoàn nói rõ yêu cầu với tổ chúng tôi:

... Khi lên tới trận địa là lúc máy điện thoại của các anh phải áp liền tai để nghe khẩu lệnh của sở chỉ huy (không một phút giây lơi lỏng) và khi nghe thấy khẩu lệnh “bắn” thì lập tức phải điểm hỏa bộc phá bằng điện ngay! Để tiếng nố đầu nòng của pháo ở trận địa thật khớp với tiếng nổ thủ pháo ở trận địa nghi binh! Làm được như vậy là chúng ta đã giành được thắng lợi ngay từ phút đầu! Ở quả pháo đầu và trong trận đánh đầu, các anh hãy bình tĩnh, dũng cảm, chiến đấu thật tốt! Cả tổ đồng thanh: “Xin hứa”.

Sáng hôm sau, ngày 13 tháng 3 năm 1954, khi trời vừa tan hết lớp sương mù, những bầy chim ngói đã bay đi tìm thóc ở các nương thì tổ chúng tôi chính thức lên đường vào trận địa. Hành trang chúng tôi mang theo: bộc phá, dây dẫn, máy điểm hỏa, bật lửa, hương (nhang) dùng để điểm hỏa bằng tay, nước uống, bánh chưng và không quên một máy điện thoại của Trung Quốc! Sau bốn giờ hành quân không nghỉ, chúng tôi đã tới trận địa; vội lắp máy điện thoại vào báo cáo về Sở Chỉ huy trung đoàn. Sở Chỉ huy biểu dương chúng tôi và yêu cầu triển khai nhiệm vụ chiến đấu ngay. Việc đầu tiên là kiểm tra lại toàn bộ công sự, hầm, hào, tiếp là 3 khẩu pháo giả 105 ly rồi ngụy trang lại chu đáo, sau đó lắp đặt bộc phá điểm hỏa bằng điện cho ba khẩu pháo rồi đến các quả bộc phá điểm hỏa bằng tay (đốt bằng hương) được xếp đặt thứ tự ngay ngắn trong các công sự hàm ếch.

Khi trời đã xế chiều, những chiếc máy bay Đacôta vận tải của địch thả những dù hàng cuối cùng trong ngày xuống Mường Thanh, thì chúng tôi nhận được lệnh của Sở Chỉ huy Trung đoàn: “...Tất cả vào vị trí chiến đấu, máy điện thoại áp liền tai đợi lệnh...”. Thật không còn gì thiêng liêng và hồi hộp hơn khi chờ lệnh nổ phát súng đầu tiên. Tôi nhắc anh em trong tổ tranh thủ ăn bữa chiều kẻo tối đói...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười, 2016, 08:51:39 pm

Màn đêm trên Điện Biên đã dần buông xuống, những chiếc xe cam-nhông của địch chở hàng tiếp tế do máy bay chúng thả xuống đã bật đèn pha loang loáng, dọc ngang trên khu vực Mường Thanh. Lúc này là 17 giờ 5 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954, bỗng tiếng u...u trong tổ hợp điện thoại ngưng lại! Thay vào đó là mệnh lệnh chiến đấu từ Sở Chỉ huy Mường Phăng vang lên, hạ lệnh cho quyền tư lệnh pháo binh Đào Văn Trường “cho nổ súng!”. Ngay sau đó, khẩu lệnh từ Sở Chỉ huy pháo binh hô vang (tôi cũng theo đó hô vang): ... Mục tiêu... cự ly... tầm... hướng... đạn.

Đạn xuyên loạt đầu “bắn!” Khẩu lệnh bắn vừa dứt thì trận địa chúng tôi rung lên ánh chớp sáng lòa do ba quả bộc phá vừa điểm hỏa bằng điện! Ngay sau đó là những thủ pháo điểm hỏa bằng tay tung ra phía trước rất ăn khớp nhịp nhàng đúng như kế hoạch đã định. Tôi tranh thủ nhoài người lên miệng công sự quan sát về phía cứ điểm Mường Thanh đang ngập chìm trong khói lửa. Từ ống nghe của điện thoại, chúng tôi được Sở Chỉ huy Trung đoàn biểu dương: đã phối hợp tuyệt vời ngay từ quả pháo đầu trong loạt đạn đầu, đã góp phần làm cho các trận địa pháo của địch thiệt hại nặng, không kịp phản ứng (tôi đọc lời biểu dương đó cho cả tổ nghe).

Sau những phút hoảng loạn, định thần lại, pháo binh của địch bắt đầu phản pháo lên trận địa chúng tôi một cách yếu ớt! Vì lợi thế nằm trên “lưng trâu” nên trận địa của chúng tôi khi bị pháo địch phản lại, đạn chúng đều rơi xuống bụng và chân trâu hết! Cũng có đôi quả rơi vào chỗ chúng tôi, gây những tiếng nổ chát chúa ù tai và làm sạt lở ít hầm hào nhưng không ai làm sao cả!

Sáng hôm sau, sương mù còn bao phủ khắp núi rừng Điện Biên. Sở Chỉ huy trung đoàn gọi tới, động viên và giao nhiệm vụ: “Giở hết ngụy trang trên trận địa, sẵn sàng thu hút máy bay địch”. Chỉ sau 20 phút, trận địa chúng tôi đã phơi ra (nửa kín nửa hở) đúng như ý đồ chỉ đạo. Lúc này sương mù còn dày, các chú gà rừng vỗ cánh bay qua trận địa đi kiếm ăn! Tôi tranh thủ đi kiểm tra hầm hào của anh em và động viên nhau “quyết chí giữ vững trận địa”, đồng thời nhắc nhau tranh thủ ăn để lấy sức. Lúc này ai cũng thấy đói muốn ăn, song không ai ăn được vì miệng đắng quá do sặc khói bộc phá và khói đạn pháo đêm qua.

Mặt trời phía đông đã có những tia nắng xuyên qua lớp sương mù chiếu xuống những cánh rừng lúp xúp phía xa. Trên bầu trời xuất hiện những chấm đen đang lao về phía trận địa của chúng tôi! Ngay lúc đó lệnh của Sở Chỉ huy vang lên: “Tất cả xuống công sự, bám sát hoạt động của địch”.

Khi 3 chiếc khu trục trong tốp đầu tiên bổ nhào cắt bom cũng là lúc các trận địa phòng không được lệnh nổ súng! Súng máy 12,7 ly, 14,5 ly và pháo cao xạ 37 ly nhả đạn bao vây tốp máy bay địch, một chiếc bốc cháy lao về hướng tây bắc cánh đồng Mường Thanh. Tốp thứ hai, 3 chiếc Bêvanhxít (B26) bổ nhào cắt bom, chúng tôi chưa kịp nhận ra việc gì thì trận địa rung lên hất mỗi chúng tôi về mỗi phía nằm yên bất động! Trận địa bị trúng bom hoàn toàn, đường dây thông tin bị đứt! Khi tỉnh lại, cả 3 chúng tôi đều nằm ở quân y viện Cửu Long, bệnh viện tiền phương của chiến dịch. Được các cô y tá kể lại (giọng nói qua nước mắt) các anh vào đây được hai ngày rồi! Bọn em cứ tưởng các anh không qua được! Mắt anh nào cũng lồi ra! Mồm, mũi anh nào cũng đầy máu! Thoi thóp thở! Một chị đứng tuổi vừa cười vừa nói: “Thật là phúc cho các em được tổ tiên phù hộ! Không thì...!”. Cả tổ chúng tôi chỉ biết tươi cười cảm ơn sự chăm nom, săn sóc của các anh, các chị hộ lý, y tá, bác sĩ cùng “tổ tiên” đã cứu chúng tôi! Cả nhóm phá lên cười vui vẻ. Sau đó, anh Lưu - Trợ lý quân lực của Trung đoàn tới đón và dẫn chúng tôi về Sở Chỉ huy Trung đoàn. Người đầu tiên ra đón là anh Thắng - Chính ủy Trung đoàn. Mắt đỏ hoe, anh dang rộng hai tay ôm lấy từng người chúng tôi, rồi nói: “Hoan hô các thiên thần của chúng ta đã từ cõi chết trở về!”. Anh em chúng tôi xúc động thật sự, nước mắt cứ trào ra trước thái độ, cử chỉ của người chính ủy thay mặt Đảng nói lên những lời như vậy! Tưởng như không có phần thưởng nào cao quý hơn! Khi chúng tôi vào bệnh viện thì tổ anh Tự đã vào thay tổ chúng tôi làm tiếp nhiệm vụ nghi binh cho trận địa pháo binh chiến dịch.

Hôm nay ngồi viết những dòng này, không biết các bạn chiến đấu của tôi (tuổi đã ngoài 70) ai còn ai mất? Nếu đọc chuyện này, xin các anh hãy biên thư cho tôi, rất mong được hàn huyên cùng các anh.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 09:04:38 am

TIỂU ĐOÀN PHỦ THÔNG TRONG TRẬN ĐÁNH MỞ MÀN CHIẾN DỊCH
Đại tá MINH CAO
Nguvên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 11
Trung đoàn 141, Đại đoàn 312

Là một đơn vị có truyền thống từng được tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Phủ Thông”, Tiểu đoàn đã tham gia các chiến dịch lớn trên chiến trường Bắc Bộ: Biên Giới, Trung Du, Đông Bắc, Nghĩa Lộ, Tây Bắc, Hòa Bình... Đông Xuân 1953-1954, cùng với cuộc phát động quần chúng thực hiện chính sách '‘cải cách ruộng đất”, toàn bộ cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn đều được chỉnh quân, chỉnh huấn.

Qua chỉnh quân, chỉnh huấn, toàn đơn vị đã tiến một bước mới về chính trị, tư tưởng và cả về chiến thuật, kỹ thuật, có một diện mạo tích cực, một luồng sinh khí mới, quyết tâm lập công trong Thu Đông này.

Ngày 15 tháng 12 năm 1953, cùng với bài hát phổ cập lúc đó “chúng ta bước lên đường khi thời cơ đã đến”, toàn tiểu đoàn nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc, qua Yên Bái, Nghĩa Lộ, Thượng Bằng La, vượt đèo Lũng Lô, đèo Phiêng Ban, qua sông Đà, đường số 41 với chặng đường trên 500km, thực hiện được yêu cầu, không bỏ sót người nào ở dọc đường, không để lộ dấu vết của đơn vị trên đường tiến quân. Thời kỳ này, bài hát “Đâu có giặc là ta cứ đi” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, với tiết tấu “Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ...” rất hợp với ý chí quyết tâm của đội quân cách mạng, trợ giúp tinh thần, cổ vũ khí thế, làm nhanh bước chân, làm nhẹ đôi vai của lớp lớp chiến sĩ hành quân ra trận.

Sau một tháng hành quân vất vả, với địa hình hiểm trở và địch đánh phá chặn đường, cán bộ, chiến sĩ toàn tiểu đoàn đã đến nơi tập kết ở cây số 15 đường Tuần Giáo - Điện Biên. Lúc này ai cũng biết là được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, mang mật danh là “Chiến dịch Trần Đình”.

Ngày 17 tháng 1 năm 1954, Tiểu đoàn cùng các đơn vị của Trung đoàn 141 được giao nhiệm vụ mở đường, kéo pháo vào trận địa. Đoạn đường dài hơn chục km, phải băng qua rừng rậm, suối sâu, đèo cao. Mỗi khẩu pháo phải dùng tới 150 người kéo, vừa kéo vừa chèn pháo khỏi tuột. Trong đêm đông giá lạnh và có khi tranh thủ cả ban ngày để nhanh chóng kéo pháo vào trận địa dưới sự đánh phá quyết liệt của máy bay địch. Sau 9 ngày đêm vất vả, căng thẳng và ác liệt, tiểu đoàn đã cùng các đơn vị bạn kéo được pháo vào trận địa bí mật, an toàn.

Tuy nhiên, do tình hình địch thay đổi, ta chuyển từ phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, tiểu đoàn lại được lệnh kéo pháo ra để chuẩn bị tốt hơn, đảm bảo chắc thắng cho chiến dịch. Ngày 27 tháng 1 năm 1954, tiểu đoàn bắt đầu kéo pháo ra. Kéo pháo vào đã khó, nhiều chiến sĩ bị thương vong, kéo pháo ra còn khó gấp nhiều lần do địch tăng cường ném bom, bắn phá. Hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương, nhưng vẫn không làm giảm “quyết tâm cao hơn núi” và lòng căm thù “sâu hơn vực thẳm” của toàn đơn vị. Ngày 5 tháng 2 năm 1954, tiểu đoàn đã cùng các đơn vị bạn hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra tập kết ở cây số 70 đường Tuần Giáo. Đại đội 243 của tiểu đoàn được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Như thế, ròng rã trên hai tháng trời, bỏ qua cái tết cổ truyền, tiểu đoàn đã hành quân trên 500 km, tiến hành làm đường, kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra an toàn. Tiếp sau là xây dựng trận địa, một hệ thống trận địa bao vây và tấn công quy mô với hàng trăm km giao thông hào để cơ động, tiếp cận địch với công sự chiến đấu, công sự ẩn nấp cho người và vũ khí, có hầm nghỉ ngơi, sinh hoạt, có hầm cấp cứu thương binh, hầm cấp dưỡng trong lòng đất, đảm bảo cho bộ đội chiến đấu liên tục ngày đêm và dài ngày. Tiểu đoàn cũng đã cùng các đơn vị bạn cơ bản hoàn thành, vượt qua thử thách quyết liệt đầu tiên để bước vào trận chiến đấu lớn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 09:05:33 am

Vào chiến dịch, Tiểu đoàn được vinh dự cùng các đơn vị bạn đánh trận mở màn, tiêu diệt cứ điểm Him Lam, góp phần mở toang cánh cửa thép phía bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Cụm cứ điểm Him Lam, địch gọi là “Trung tâm đề kháng Beatrice” nằm ở phía đông bắc đường số 41, cách trung tâm Mường Thanh khoảng 2,5 km, gồm 5 điểm cao ở bình độ 500 mét, có độ dốc từ 30° đến 60°, địa hình trống trải, có thể quan sát từ xa. Phía bắc có sông Nậm Rốm ngăn cách, rất thuận lợi cho việc tổ chức phòng ngự.

Tiểu đoàn Lê dương số 3 thuộc bán lữ đoàn Lê dương 13 (DBLE) gồm 4 đại đội chiếm giữ, mục đích để phòng ngự từ xa, ngăn chặn các cuộc tấn công của ta từ phía bắc, đông bắc Mường Thanh. Chúng tổ chức thành 3 cứ điểm (1, 2, 3); mỗi cứ điểm cách nhau khoảng 250 - 300 mét, có thể chi viện cho nhau bằng hỏa lực.

Cứ điểm 1 gồm ba điểm cao do hai đại đội (số 10 và 12) chiếm giữ, có hầm chỉ huy của thiếu tá tiểu đoàn trưởng Pê-gô, đài quan sát pháo binh và một số lính ngụy người Thái làm nhiệm vụ biệt kích, thám báo. Cứ điểm 2 do đại đội 9 chiếm giữ, cứ điểm 3 do đại đội 11 chiếm giữ.

Trang bị vũ khí của tiểu đoàn Lê dương số 3 rất mạnh. Các đại đội đều có các loại súng như: đại liên, trung liên, ĐKZ 57, Bazôka, súng phun lửa, súng bắn ban đêm (hồng ngoại tuyến). Cấp tiểu đoàn có trọng liên 12,7 ly, cối 81 ly. Ngoài ra, còn được 2, 3 tiểu đoàn pháo binh, súng cối từ 105 - 155 ly; 5 đến 10 lượt máy bay chiến đấu trực tiếp chi viện; có 1 - 2 tiểu đoàn bộ binh (dù) có xe tăng ra ứng cứu (phản kích). Khi bị nguy kịch sẽ có 40 khẩu pháo, cối 105 ly, 120 ly từ Mường Thanh, Hồng Cúm sẵn sàng chi viện. Các mục tiêu quan trọng, địch đều đã cho bắn thử, nên trong mọi thời tiết, ngày hay đêm đều rất chính xác.

Địch bố trí hệ thống công sự, vật cản rất hoàn chỉnh. Mỗi cứ điểm có từ 2 - 3 chiến hào khép kín, liên thông, cơ động dễ dàng. Ngoài ra, còn có đường giao thông hào vươn ra phía ngoài để khi cần thiết có thể rút chạy. Hệ thống vật cản có 8 - 9 hàng rào kẽm gai các loại, dày khoảng 80 - 100 mét bao quanh từng cứ điểm mang tính độc lập cố thủ là chính. Hệ thống hỏa lực được bố trí thành nhiều tầng, có thế bắn gần, bắn xa, bắn chéo sườn... khống chế cả 4 mặt, trong đó có một số ụ súng bố trí rất bí mật (hỏa điểm ngầm) để khi ta vào gần, chúng mới nổ súng bất ngờ.

Cụm cứ điểm Him Lam là một trung tâm đề kháng mạnh trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, được các tướng tá Pháp - Mỹ đến thị sát đánh giá rất cao, và không phải ngẫu nhiên khi một số tù binh ta bắt được đều khuyên ta không nên đánh vào Him Lam.

Quyết tâm của Bộ Chỉ huy chiến dịch là đánh trận mở màn vào nơi địch bị bất ngờ nhất và là nơi ta có điều kiện tập trung binh hỏa lực vào thời điểm quyết định.

Nhiệm vụ này được giao cho Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) đảm nhiệm với nguyên tắc “phải đánh thắng trận đầu”, kết thúc trước 24 giờ để loại trừ phản kích lớn của địch.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 09:06:01 am

Trung đoàn 141 được giao nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 1 và 2. Trung đoàn 209 (thiếu tiểu đoàn 166) đảm nhiệm hướng thứ yếu, có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 3, chặn đánh viện binh và địch rút chạy. Nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 2 do Tiểu đoàn 428 (Trung đoàn 141) phụ trách; tiêu diệt cứ điểm 3 do Tiểu đoàn 130 (Trung đoàn 209) đảm nhiệm.

Tiểu đoàn 11 với danh hiệu Tiểu đoàn Phủ Thông, đơn vị có truyền thống đánh công sự vững chắc được giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 1 mạnh nhất trên hướng chủ yếu và là vị trí chỉ huy của cụm cứ điểm Him Lam để mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm nặng nề. Toàn tiểu đoàn đã nâng cao khí thế và quyết tâm khi đón nhận nhiệm vụ lịch sử này.

Thử thách ác liệt đầu tiên là toàn tiểu đoàn phải tự đảm nhiệm lấy việc xây dựng chiến hào, làm đường tiến công của đơn vị song song với việc cấu trúc trận địa xuất phát xung phong. Đêm 11 tháng 3 năm 1954, tận dụng tối trời, trăng non đã lặn, cả tiểu đoàn triển khai từ cửa rừng, vượt qua sông Nậm Rốm, lách cỏ lau, hướng tới cứ điểm 1, cải tạo mặt đất thành đường giao thông hào uốn lượn theo hình chữ chi... Ngay ngày hôm sau, địch đã phát hiện cho xe tăng, xe ủi đất và trên một đại đội lính san lấp lại. Đêm 12 tháng 3 năm 1954, mặc dầu địch dùng hỏa lực bắn cầm canh, cản trở, nhiều đồng chí hy sinh, bị thương, sức lực bị tiêu hao nhưng toàn tiểu đoàn vẫn tiếp tục khơi đào lại suốt đêm, làm kỳ được chiến hào để chuẩn bị tiến công.

Ban ngày, toàn đơn vị lại tiếp tục nghiên cứu sa bàn để nhận rõ địa hình và quán triệt cách đánh. Do tích cực điều tra địa hình, đại đội trưởng Hà Văn Nọa đã phát hiện ra những bất hợp lý trong các mũi tấn công, báo cáo trên điều chỉnh lại, nên đã tránh được sự trùng hướng giữa các mũi của Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 428, nếu không sẽ xảy ra đánh nhầm nhau.

Nhiệm vụ của từng đại đội đã được Tiểu đoàn trưởng Hoàng Khắc Ân hạ mệnh lệnh rõ ràng. Đại đội 243 làm nhiệm vụ thê đội 1; đại đội 241, đại đội 245 làm nhiệm vụ thê đội 2. Đại đội trợ chiến bố trí sát vị trí chỉ huy của tiểu đoàn. Công tác chính trị đã quán triệt mục đích, ý nghĩa, khó khăn, thuận lợi của trận đánh mở màn chiến dịch lịch sử. Những khó khăn vướng mắc về kỹ thuật, chiến thuật được các hội nghị quân sự dân chủ, các tổ ba người bàn bạc giải quyết... nên đã xây dựng được quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ, khơi dậy lòng tự hào và tin tưởng hoàn thành nhiệm vụ. Sự cổ vũ của hậu phương với những lá thư nhà báo tin thắng lợi của cải cách ruộng đất, nông dân đã có ruộng cấy, trâu cày, càng làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ. Những sách báo do Mặt trận và Đại đoàn gửi xuống từng đại đội; những bản tin chiến thắng trên các mặt trận toàn quốc; những cuốn sách “Thượng Cam Lĩnh”, “Ngày và đêm ở Stalingrát” được đọc cho nhau nghe. Việc trang trí hầm, hào với những chùm hoa rừng càng làm tăng thêm niềm lạc quan, tin tưởng của cán bộ, chiến sĩ trước giờ chiến đấu.

Ngày 11 tháng 3 năm 1954, Bác Hồ gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ toàn Mặt trận; đồng thời lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mở cuộc tấn công vào tập đoàn cứ điểm cũng được gửi tới. Cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận càng thêm nức lòng, quyết tâm, quyết chí lập công.

15 giờ, ngày 13 tháng 3 năm 1954, các mũi được lệnh ra chiếm lĩnh giao thông hào, chờ lệnh tấn công. Văn công của đại đoàn, văn công xung kích của Tổng cục Chính trị ra tận chiến hào ca hát, động viên chiến sĩ xuất kích.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 09:06:47 am

17 giờ 5 phút, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hạ lệnh mở màn chiến dịch lịch sử.

Đòn hỏa lực phủ đầu mang tên “Sấm Rền” của trên 40 khẩu pháo từ 75 - 105 - 120 ly bất ngờ giáng xuống đầu địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại: tại Him Lam, nhiều ụ súng, chiến hào, giao thông hào bị phá hủy. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Pêgô cùng 3 sĩ quan tác chiến chết ngay trong hầm chỉ huy; điện đài bị phá hủy, liên lạc giữa Him Lam và Mường Thanh bị cắt đứt.

Tại trung tâm Mường Thanh , khói lửa mù mịt, các trận địa pháo tê liệt, không kịp phản ứng đối phó, 12 khẩu trọng pháo và súng cối bị đánh hỏng, một kho xăng bốc cháy, nhiều công sự sụp đổ. Viên đại tá Gô-sê chỉ huy phân khu trung tâm cùng ban tham mưu chết ngay trong hầm, điện thoại nhiều nơi bị phá hủy, không liên lạc được với các cứ điểm.

Được sự yểm hộ của pháo binh, các đại đội của Tiểu đoàn, sau khi vượt qua rừng cây, vượt qua cầu ngầm công binh bắc qua sông Nậm Rốm và một quãng trống trải gần 1,2 km mới tiếp cận được giao thông hào để tới chân cao điểm thứ nhất Him Lam, hướng đột phá vào cứ điểm.

Ở bến vượt, pháo binh địch bắn hỏng cầu ngầm, một số thương vong, nhiều chỗ phải dừng lại băng bó cho nhau, nhưng đại bộ phận vẫn dũng mãnh, nhanh chóng xông lên hướng cửa mở.

Trong khi pháo bắn cấp tập, quân địch chưa kịp phản ứng, tiểu đoàn trưởng Ân phát lệnh cho hỏa lực của trợ chiến và đại đội 243 đồng loạt chĩa vào các ụ súng trên tuyến cứ điểm, hỗ trợ cho bộc phá lên mở hàng rào. Lớp hàng rào thứ nhất, thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư đã bung lên, mở đường cho các tổ bộc phá tiếp theo và xung kích ở phía sau xông lên vượt qua đồi Yên Ngựa, thì một tình huống bất ngờ xảy ra: quân địch đã hồi phục lại sau đợt cấp tập. Các cỡ súng bắn thẳng, bắn cầu vồng trên cứ điểm, tập trung ngăn chặn đường tiến quân trên hướng cửa mở của tiểu đoàn. Hỏa lực pháo binh của địch ở trung tâm Mường Thanh lúc đầu bị tê liệt vì pháo ta uy hiếp cũng dần dần hoạt động trở lại, bắn phá từ chân đồn kéo dài tới bờ sông Nậm Rốm. Chớp lửa không ngớt bùng lên dữ dội kéo theo những cột khói mù mịt. Thương vong tăng rất nhanh, Tiểu đoàn phải điều bộc phá của các đại đội 241, 245 lên bổ sung cho đại đội 243. Cầu tre hoàn toàn bị phá hủy, mọi thông tin liên lạc chạy bộ với Trung đoàn bị cắt đứt. Các hỏa điểm trên cứ điểm 1 không ngừng trút đạn xuống khu vực cửa mở, trong đó có hỏa điểm bí mật (ngầm) cạnh cửa mở bắn rất dữ dội, và hỏa điểm nhô ra ở cứ điểm 2 bắn chéo sườn. Ngoài ra còn xuất hiện trận địa pháo ở cao điểm 210 bắn chặn trước hàng rào kẽm gai làm cho các chiến sĩ bộc phá thương vong nặng.

Nhiều chiến sĩ trúng đạn phải nằm lại băng bó tại chỗ vì chuyển xuống phía sau không kịp. Y tá Lương Văn Vọng bị thương hai lần, một lần ở chân và một lần ở bụng, vẫn lấy thân mình che chở để băng bó cho các thương binh nặng, rồi lại cố gắng chuyển thương binh về phía chân đồi, nêu gương xuất sắc của một chiến sĩ quân y.

Trong các chiến dịch trước đây, chưa có trận chiến đấu nào của Trung đoàn, Tiểu đoàn mà việc mở cửa đột phá tiền duyên lại ác liệt và kéo dài tới 5 giờ liền, hứng chịu hàng ngàn quả đạn pháo như trận đánh vào cứ điểm 1 Him Lam này. Ở đây địch đã bắn tới gần 6.000 quả đạn pháo 105 và 155 ly, nhằm hy vọng cầm cự kéo dài, chờ lực lượng phản kích từ Mường Thanh ra cứu nguy.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 09:07:13 am

Trong khi đó, tin chiến thắng ở cứ điểm 2 và 3 được thông báo, làm cho cán bộ, chiến sĩ toàn Tiểu đoàn ở hướng chính càng bức xúc. Lúc này địch lại dồn hỏa lực ở Mường Thanh và cả Hồng Cúm vào cứ điểm 1. Cuộc chiến đấu mở đột phá khẩu càng gay go quyết liệt.

Thê đội 2 được điều lên. Đồng chí Huống - Tiểu đoàn phó cũng lên tận cửa mở, cùng Đại đội trưởng Nọa và Đại đội phó Hiệu trong Ban chỉ huy Đại đội 243 quan sát, nghiên cứu phát hiện những ụ súng ngầm bố trí rải rác ở các chướng ngại vật dày đặc từ hai bên cửa mở bắn lướt sườn sang đội hình tiến quân của Tiểu đoàn. Đại đội phó Hiệu cũng đồng thời phát hiện những hỏa điểm mai phục di động sau các hàng rào bên trong cứ điểm, xuất hiện bất ngờ, nhằm vào quân ta lên mở đột phá khẩu. Sau khi phát hiện, Tiểu đoàn trưởng Ân quyết định sử dụng trung đội bộc phá dự bị và một khẩu ĐKZ cùng 4 trung liên hướng vào diệt các mục tiêu đã phát hiện, yểm hộ đắc lực cho các chiến sĩ bộc phá mở nốt 3 hàng rào cuối cùng. Lô cốt tiền duyên phút chốc bị tiêu diệt. Chiến sĩ Phạm Văn Nhâm - Tiểu đội phó thuộc Đại đội 245 đã dũng cảm mang bộc phá áp sát hàng rào cuối cùng, giật nụ xòe, đợi cho lửa lem lém cháy mới chạy xuống.

Đường vào cứ điểm đã mở rộng, xung kích nhảy khỏi chiến hào, vượt qua cửa mở, xông thẳng vào tung thâm. Lúc này pháo của địch ở Mường Thanh và Hồng Cúm không dám nã vào đồn, sợ bắn vào quân còn lại của chúng.

Chính trong thời điểm này, khi nhận được báo cáo, Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho các đơn vị đã chiếm được cứ điểm 2 và 3 phối hợp đánh sang cứ điểm 1, yểm hộ, tiêu diệt các hỏa điểm mai phục và di động của địch, nhưng anh em không tìm ra đường giữa bãi mìn và dây thép gai dày đặc của địch.

Riêng pháo binh, được sự chỉ điểm của tác chiến Tiểu đoàn đã bắn chế áp, phối hợp cùng đơn vị, tạo điều kiện mở đột phá khẩu.

Sau 2 phát pháo trắng vọt lên trời báo hiệu lệnh xung phong, các đơn vị thuộc thê đội 1, 2 dưới sự chỉ huy thống nhất đã phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, đánh địch trong tung thâm. Lúc này địch càng mất tinh thần. Ta áp dụng chiến thuật thọc sâu, chia cắt không cho quân địch co cụm để tiêu diệt từng lô cốt còn lại, vừa tác chiến, vừa địch vận gọi hàng. Ban chỉ huy Đại đội 243 do các đồng chí Nọa, Chắt, Hiệu, Nghịch thống nhất chỉ huy, chỉ cho các trung đội, tiểu đội hướng thọc sâu, vượt nhanh trên khoảng trống, tiếp cận nhanh, chia cắt địch.

Tiểu đội trưởng Nguyễn Hữu Oanh - chiến sĩ thi đua của đơn vị, dẫn đầu mũi nhọn lao lên như cơn lốc. Bị chặn lại trước 3 lô cốt, Oanh không hề lưỡng lự, với tiểu đội chỉ còn 7 người, phân công 6 chiến sĩ đánh vào các lô cốt nhỏ, còn riêng Oanh phụ trách một lô cốt còn lại. Với một động tác rất thuần thục, Oanh bí mật trườn tới, ném thủ pháo vào lỗ châu mai, lô cốt bị tiêu diệt. Trung đội phó Hội bị thương, súng hỏng vẫn dựa vào góc hào, sửa súng tiếp tục đánh địch theo cách đánh sở trường, lia tiểu liên chặn địch và dùng thủ pháo tiêu diệt gọn. Trung đội trưởng Tuệ vừa đánh vừa chú ý gom súng đạn của anh em bị thương vong, một mình ném 14 quả lựu đạn và thủ pháo, dùng tiểu liên sát thương nhiều địch và cùng đồng đội bắt hơn 20 tên Lê dương sau khi tự mình xách quả bộc phá 10 kg đánh vào hầm cố thủ của địch, mặc cho khắp mình bị sây sát hàng chục vết thương. Thê đội 2 do Đại đội trưởng Mễ và Chính trị viên Đại, vốn là những chiến sĩ Phủ Thông kỳ cựu dẫn đầu, vẫn không ngại giáp lá cà trong công sự địch. Địch chết ngổn ngang trong công sự, ụ súng; những tên sống sót rống lên khiếp sợ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 09:07:44 am

Ở mũi khác, Đại đội trưởng Thiêm và Chính trị viên Trí Việt chỉ huy, chia nhau mỗi người nắm một cánh, linh hoạt vận dụng cách đánh, lúc ở giao thông hào dượt địch, chia cắt đội hình của chúng, vừa sử dụng tiểu liên, thủ pháo áp đảo địch. Đại đội trưởng bị thương, chính trị viên lập tức thay thế chỉ huy, không quên nhắc nhở anh em kêu gọi địch vận.

Trước hàng dãy chiến hào sạt lở, lô cốt cũng không còn nguyên vẹn, bọn địch xô nhau “tiến thoái lưỡng nan”, dồn đi dồn lại trong những đoạn chiến hào chặt hẹp không dám thò đầu lên khỏi chiến hào, giơ tay lên hàng. Nhiều tên trong hầm khiếp sợ, không dám liều lĩnh chống cự, ngoan ngoãn chui ra khỏi hầm, chắp tay lạy như tế sao. Một số sống sót ở các ngách cũng lách ra, lẩy bẩy giơ tay xin hàng.

Lúc này là 23 giờ 30 phút, cứ điểm số 1 của trung tâm đề kháng Him Lam chỉ còn là một đống đổ nát, lô cốt, ụ súng, đường hào đều bị phá vỡ. Quân ta hoàn toàn làm chủ, hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian quy định 30 phút. Toàn bộ quân địch ở cụm cứ điểm Him Lam có trên 750 tên. Riêng cứ điểm 1 do Tiểu đoàn 11 tấn công, có khoảng 350 tên nay chỉ còn là những xác chết nằm la liệt khắp nơi và gần 50 tên bị bắt.

Từ trung tâm Mường Thanh, một cột ánh sáng chiếu thẳng lên trời tới 5 phút. Phải chăng đó là dấu hiệu cáo chung của trung tâm đề kháng mạnh đầu tiên của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Các con số 3 và 13 của ngày 13 tháng 3 năm 1954 và của 3/13 DBLE (tiểu đoàn 3 của bán lữ đoàn Lê dương “số 13” sao mà lại có sự trùng hợp lạ kỳ!).

Ngày hôm sau, ta thực hiện một cử chỉ nhân đạo, cho phép địch đến lấy xác chết và thu gom số bị thương.

Him Lam, trận đánh mở màn chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã diễn ra vô cùng ác liệt, mở đường cho các lực lượng của ta áp sát vào trung tâm Mường Thanh và như nhận xét của tướng Đờcátxtơri: “Mất Him Lam, Bộ chỉ huy quân Pháp như bị một gáo nước lạnh dội lên đầu. Thất bại nặng nề và bất ngờ đã gây nên sự sụp đổ về tinh thần cho quân đội chiếm đóng, từ chỗ tin tưởng tuyệt đối đến chỗ quá bi quan”.

Với chiến thắng Phủ Thông (25-7-1948), Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nhận xét “Tiểu đoàn Phủ Thông đã mở đầu cho truyền thống đánh cứ điểm của quân đội ta”. Ngày nay, chiến thắng Him Lam, tiểu đoàn đã tô đậm thêm truyền thống vẻ vang đó.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:46:01 pm

ĐẠI ĐỘI TÔI TRONG TRẬN ĐÁNH HIM LAM
NGUYỄN TRÍ VIỆT1
Nghệ sĩ Điện ảnh
Nguyên Chính trị viên Đại đội 245
Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 241

Chúng tôi làm công việc ngụy trang con đường kéo pháo bằng ô tô, “cái niềng kim cô”, đối với số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - khoảng chừng một tuần lại chuyển quân.

Trước mặt là kẻ thù mà chúng tôi có nhiệm vụ tiêu diệt: cụm cứ điểm Him Lam, cánh cửa sắt phía đông bắc Điện Biên Phủ, do một tiểu đoàn Lê dương chiếm giữ. Đây là lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến số một của quân viễn chinh Pháp. Bọn Lê dương đầy kiêu ngạo về những chiến thắng đối với phát xít Đức ở miệt sông Rhin trong chiến tranh thế giới thứ II.

Đơn vị tôi đóng quân trong một cánh rừng cách Him Lam vài cây số. Vẫn bối cảnh: “Rừng bao nhiêu lá, bấy nhiêu anh bộ đội Cụ Hồ”. Ngay cánh rừng phía trước Him Lam là Trung đoàn 141 - Trung đoàn Ba Vì - của Đại đoàn 312.

Bộ đội hoàn toàn giữ được bí mật. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, nên bọn Pháp không hay biết gì cả. Đờcátxtơri cho máy bav Đa-cô-ta rải truyền đơn rơi khắp các cánh rừng với lời lẽ ngạo mạn, thách thức Đại tướng Võ Nguyên Giáp tấn công Điện Biên Phủ... Sau này, Đờcátxtơri bị bắt làm tù binh, anh Hoàng Cầm lúc đó là Trung đoàn trưởng có hỏi y tại sao dám thách thức như vậy? Đờcátxtơri nói là không dám thách thức Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Anh Hoàng Cầm nói tiếp: có chữ ký của ông trên truyền đơn. Đờcátxtơri nói: “Bộ chỉ huy Pháp ở Hà Nội làm ra tất cả”.

Tôi coi qua nội dung truyền đơn và nghĩ: “Chiến dịch này cũng ngộ. Trước lúc súng nổ, địch lại có truyền đơn thách thức quân ta, giống như tuồng hát bội, hai bên thách thức rồi mới xáp trận...”. Tôi nghĩ tiếp: “Khỏi thách thức, bộ đội Việt Nam sẽ tấn công và đập tan cứ điểm Điện Biên Phủ”. Máu anh hùng, lòng tự hào dân tộc càng tăng trong lòng người chiến sĩ Việt Nam.

Suốt ngày, bộ đội đào công sự, cưa cây rừng để chống và lót nắp hầm. Theo yêu cầu của trên, chúng tôi phải làm hầm trú ẩn cho từng tổ chiến sĩ, nó phải chịu nổi một quả pháo 105 ly hoặc một trái súng cối 120 ly. Nếu bị trúng bom thì chỉ hy sinh một tổ “ba - ba” (ba chiến sĩ) mà thôi.

Trong ban chỉ huy đại đội chúng tôi có anh Muộn, xuất thân là thợ mỏ Hòn Gai, nên có kinh nghiệm chống hầm lò than. Anh chỉ dẫn cho anh em cách bố trí các cây chống nắp hầm sao cho có sức chịu lực cao để chống chọi với sức công phá của đạn đại bác. Riêng tôi cũng như anh Thiêm, đội trưởng, đi đánh giặc từ năm 15 tuổi, đến lúc đó chưa bao giờ có một căn hầm tránh bom pháo, nên cũng còn hiểu theo kiểu áng chừng vậy!

Trong chiến sĩ có vài anh em là du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, có kinh nghiệm đào hầm bí mật. Mấy anh em ấy chỉ dẫn kinh nghiệm làm sao đào có năng suất mà khỏi bị phồng da tay để còn cầm súng tác chiến.
______________________________________
1. Một trong 3 chiến sĩ quê Nam Bộ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:46:34 pm

Khi các hầm tránh bom pháo đã được xây dựng xong, mỗi tổ “ba-ba” có một hầm tương đối vững chắc, đơn vị bắt đầu đào giao thông hào nối liền các hầm ấy thành một hệ thống, nối cả với hầm trú ẩn và hầm bếp của anh em cấp dưỡng trong đại đội.

Bếp của “anh nuôi” dĩ nhiên là bếp không khói - bếp Hoàng Cầm”. Bếp lấy tên của người chiến sĩ anh nuôi có sáng kiến làm bếp không bốc khói là Hoàng Cầm. Không phải nhà thơ quân đội Hoàng Cầm. “Có lửa phải có khói”, đó là lẽ tự nhiên, nhưng được xử lý qua màng lọc bằng lớp lá cây xanh, lớp đất ướt, nên chỉ còn lại ít hơi nước tỏa rộng là đà trên mặt đất. Ta vẫn nấu cơm, có lửa, có khói mà lại được che khuất, máy bay trinh sát của địch không tài nào phát hiện được.

Khi hầm trú ẩn, giao thông hào được nối liền thông suốt, chúng tôi lại đào giao thông hào từ địa điểm trú quân của đại đội nối liền với giao thông hào trục của tiểu đoàn và trung đoàn.

Từ đó, mọi việc ăn ở, đi lại, nghỉ ngơi đều ở dưới mặt đất, nghĩa là “hạ thổ” và “độn thổ”. Quy mô giao thông hào, hầm tránh phi pháo của bộ đội ở mặt trận này tựa như một trận địa chính quy dưới lòng đất.

Chúng tôi được trên giải thích: “Nếu chúng ta có chừng 100 khẩu đại bác cỡ 105 ly và có máy bay thì ta sẽ đánh Điện Biên kiểu khác”. Trong vòng 3 đêm 2 ngày nổ súng liên tục là dứt điểm chiến địch, quét sạch quân thù.

Chúng tôi đoán chừng, chúng ta chỉ có một trung đoàn đại bác 105 ly với khoảng vài chục khẩu pháo 105 ly và vài chục cao xạ loại 57 ly, cho nên phải làm trận địa để “đánh chắc, tiến chắc”. Đó là tư duy quân sự khoa học, khách quan. Nhờ đó mới có chiến thắng lẫy lừng.

40 năm sau, khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Điện Biên, tôi được biết rõ việc chuyển phương châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh" qua “đánh chắc, tiến chắc” là một quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân của Đại tướng. Đại tướng phải nhờ quân y sĩ, lấy lá ngải rừng đắp hai bên màng tang cho đỡ nhức đầu... Nhân dân, Quân đội, các vị cách mạng lão thành luôn quý mến, kính phục những cống hiến xuất sắc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Công việc xây dựng trận địa không phải chỉ trong một vài tuần và an toàn như lúc mới ban đầu. Mà làm trận địa, như cách nói lúc đó là đào trận địa rất gay go, nguy hiểm, mệt mỏi, anh em còn ngán ngại hơn là nổ súng chiến đấu.

Chiến đấu, dù có thương vong, nhưng được khen thưởng. Đào trận địa cũng nguy hiểm, đào hoài rất mệt mà gần như không ai được khen thưởng. Tôi làm chính trị viên đại đội, động viên anh em đi chiến đấu thì dễ, mà động viên anh em đào trận địa cho đông đủ rất là khó khăn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:47:17 pm

Tối 11 tháng 3 năm 1954, cho đến khuya, đại đội chúng tôi đào chiến hào vào sát rào kẽm gai Him Lam.

Tối ấy, tôi và anh Thiêm đại đội trưởng “ở nhà” (nơi trú quân) nghỉ ngơi lấy sức để tối hôm sau chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Anh Muộn, đại đội phó và anh Huân, chính trị viên phó, chỉ huy thay chúng tôi.

Anh Thiêm vốn là cán bộ trung đội ở tiểu đoàn Phủ Thông, qua mấy chiến dịch được lên đại đội trưởng. Anh Muộn cũng ở tiểu đoàn này nhiều năm, là đại đội phó lâu chưa được đề bạt, nên cũng có tâm trạng riêng, dè dặt, thận trọng trong mọi việc. Cả hai đều là cán bộ dũng cảm, có kinh nghiệm đánh giặc giỏi.

Anh Huân vốn là cán bộ quân pháp, cấp tiểu đoàn, đã từng tham gia giành chính quyền ở “Bắc Bộ phủ” hồi cách mạng tháng Tám năm 1945, nhưng do tính nóng nảy chủ quan, anh chỉ giữ chức chính trị viên phó. Anh Huân là người trung thực, khẳng khái, nhưng chưa có kinh nghiệm chiến đấu bao giờ.

Về tuổi đời, các anh ấy đều lớn hơn tôi nhiều. Nhưng tôi lại là chính trị viên đại đội lâu năm, trực tiếp chiến đấu nhiều, bí thư chi bộ và Đảng ủy viên tiểu đoàn; nên tuy nhỏ tuổi hơn các anh ấy, các anh ấy vẫn tín nhiệm và nể nang.

Chúng tôi thông cảm, yêu thương nhau trong tình đồng chí, đoàn kết và hết lòng lo cho đơn vị lập công.

Tôi và đại đội trưởng nghỉ “ở nhà”, nhưng vẫn tin nơi tinh thần và khả năng chỉ huy của hai anh Muộn và Huân, tin đơn vị sẽ hoàn thành việc đào công sự.

Có một sáng kiến do tiểu đoàn phổ biến cho chúng tôi thực hiện: “con lăn đỡ đạn”. Con lăn là thân cây chuối rừng. Dùng sọt tre, sọt nứa đan sẵn, đem theo ra chỗ đào chiến hào. Khi chiến sĩ đào công sự nằm lấy đất cho vô sọt tre. Khi sọt tre đầy đất, có thể đỡ đạn bắn thẳng của địch, đến khi chiến hào đã đào được sâu, đất mới đào lên phủ luôn lên thân chuối rừng và sọt tre thành bờ chiến hào.

Thời gian đào trận địa hơi ngắn và chưa ai quen đào chiến hào ngay trước mũi súng của giặc, nên công sự còn cạn, chưa đủ tiêu chuẩn tránh được đạn pháo địch sát thương.

Trang nhật ký cuối cùng của tên quan ba (đại úy) Pháp ở Him Lam ghi vắn tắt: “Nghe có nhiều tiếng động... Sáng ra thấy nhiều vị trí súng tự động...”.

Sáng 12 tháng 3 năm 1954.

Xe tăng và lính Pháp tràn ra, đánh bật mấy tổ phòng ngự của ta. Xe tăng quần nát chiến hào của đại đội đào đêm qua. Chúng ủi lấp cành cây xuống chiến hào, cho cành cây, rễ cây lẫn lộn với đất cát, gây cho ta rất khó khăn khi đào lại.

Do Đờcátxtơri cấp báo về Hà Nội, trưa 12 tháng 3 năm 1954, tướng Cô-nhi bay “chớp nhoáng” lên Điện Biên, trực tiếp kiểm tra tình hình, rồi bay ngay về Hà Nội. Chiều hôm đó, Cô-nhi điện mật cho Đờ-cát: “Ngày mai, 17 giờ ngày 13 tháng 3 quân địch sẽ tấn công Him Lam”. Nhưng tình báo của Đờ-cát, lại cho rằng: “Ngày 13 tháng 3 là ngày xấu! Việt Minh sẽ tấn công vào tối 15 tháng 3 năm 1954”.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:47:43 pm

Tối 12 tháng 3 năm 1954, sương mù làm cho ánh trăng trở nên mờ ảo. Theo lệnh của Cô-nhi, Đờ-cát cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chuyển sang trạng thái báo động.

Sáng trăng, dù chỉ là sáng mờ mờ, cũng đủ để kẻ địch quan sát, phát hiện chúng tôi đang đào trận địa.

Ngày hôm ấy, hai tên lính Lê dương vác súng ra hàng. Họ nhìn thấy đơn vị chúng tôi đào trận địa trong đêm trước, qua kính hồng ngoại tuyến. Nhưng họ không dám báo cáo cho chỉ huy biết. Lý do? Theo lời khai của hai hàng binh, nếu họ báo cáo có Việt Minh, họ sợ chỉ huy bắt họ phải sục sạo bên ngoài rào kẽm gai. Họ sợ bị bên ta phục kích bắn chết. Nghe cũng có lý, họ là lính đánh thuê, đâu có lý tưởng gì mà phải chết cho uổng mạng.

Trăng sáng, “thiên thời” bất lợi cho chúng tôi. Bởi lẽ đây không phải lúc chúng tôi ngắm đồn thù qua ánh trăng mờ ảo và cũng chưa đến lúc ngắm “ánh trăng xanh tuôn dòng suối mát, cho hồn ta ngụp lặn những đêm hè” (Nam Cao). Càng không phải “ánh trăng mờ tan thành suối trần gian” (Văn Cao). Mà chúng tôi cần bóng tối đêm đen để giữ bí mật, khi chưa đến giờ nổ súng.

Đêm qua, đơn vị đào trận địa ở chỗ nào, địch đã phát hiện quá rõ ràng và tất nhiên nó đã ghi vào tọa độ trên bản đồ xạ kích. Pháo binh của địch sẵn sàng nã đạn, nếu đêm nay chúng lại phát hiện chúng tôi. Mà chúng tôi nhất thiết phải khôi phục lại chiến hào, đào cho đủ tiêu chuẩn bề sâu.

Đầu óc của chúng tôi suy nghĩ căng thẳng, tìm cách khắc phục cho bằng được. Anh Thiêm và tôi dẫn đại đội tiến về Him Lam, đem theo mấy khẩu súng phòng hờ. Ban đêm, kẻ địch cố thủ trong lô cốt, không dám mò ra.

Ra đến suối Nậm Rốm, anh Thiêm cho đơn vị im lặng qua suối. Công binh đã làm sẵn cầu tre ngầm dưới mặt nước, để giữ bí mật đường xuất kích của quân ta. Anh em cứ lặng lẽ đi trên cầu, qua con suối lớn, cũng có thể gọi là sông Nậm Rốm.

Tôi nhìn lên quả đồi bên trái, thấy gốc cây khô bị cháy, gió thổi làm cho ngọn lửa thỉnh thoảng lại sáng hồng lên. Đó là chỉ huy sở của tiểu đoàn. Tôi dừng lại, gặp và hội ý đôi điều với Ban chỉ huy tiểu đoàn, rồi từ từ qua suối, lên phía trước.

Cả đại đội chúng tôi như một con rắn khổng lồ màu xanh đậm, từ từ lặng lẽ bò sát mặt đất, tiến gần, tiến gần đến sát chân đồi. Giờ phút căng thẳng nhất đã trôi qua.

Giặc ở trong đồn không hay biết gì cả.

Anh em lấy xẻng (cái vá, theo tiếng Nam Bộ) đào công sự theo tư thế nằm, rồi đào theo tư thế ngồi, quỳ và đứng bắn. Nghĩa là cứ đào lần lần, nhưng hết sức tích cực, từ hố cạn đến vừa đến sâu khoảng gần một mét. Việc đào lại chiến hào khó hơn lúc mới đào. Đất cát tuy có tơi xốp hơn nhưng cành cây, rễ cây lẫn lộn trong đó, anh em phải vừa đào vừa moi cành cây, rễ cây, tốn thời giờ nhiều. Tuy nhiên, anh em ráng hết sức, đào hố sâu thêm, nếu bị địch phát hiện nã pháo ra, ta đã có công sự tránh đạn.

Sau khi hố từng người sâu khoảng bảy tấc, anh em lại đào nối hố cá nhân này với hố cá nhân khác và đào tiếp thành chiến hào.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:48:10 pm

Đêm đã khuya, trăng lặn sau dãy núi xa xa. Cảnh vật yên tĩnh. Đơn vị vẫn ráo riết đào. Có chiến sĩ gặp rễ cây chắn ngang chiến hào, tôi lấy con dao chiến lợi phẩm, nhiều lưỡi, cán của nó làm bằng hai miếng sừng hươu ép hai bên, có cả hai lưỡi cưa. Tôi đưa anh em cưa rễ cây thử xem sao, các rễ cây nhỏ đều đứt tuốt.

Nhận thấy tình hình đào chiến hào khả quan mà địch không hay biết gì, tôi đến tiểu đội mũi nhọn ở phía trước, động viên anh em bò lên đào hào càng gần hàng rào càng lợi cho ta. Anh Dực, tiểu đội phó, sẵn sàng dẫn một tổ bò lên đào tiếp. Anh Dực, quê khu Bốn, chiến đấu gan dạ, tính tình vui vẻ, thật thà. Anh Dực và mấy anh em đào tiếp được hơn một tiếng đồng hồ. Địch nghe có tiếng động, bắn một phát súng báo động.

Tín hiệu màu đỏ của địch được bắn lên giữa đêm thanh vắng, nó từ từ rớt xuống. Bầu trời lại tối đen như lúc nãy.

Chúng tôi chờ đợi địch phản ứng ra sao?

Loạt đạn đại bác và súng cối từ bên trong cứ điểm dội xuống gần suối Nậm Rốm.

Trời gần sáng, anh Thiêm cho đơn vị rút về chỗ ở để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu tối hôm sau:

Trưa 13 tháng 3 năm 1954, chúng tôi chuẩn bị xuất kích. Mấy nhà báo đến thăm chúng tôi. Anh Thép Mới lúc ấy còn quá trẻ, dong dỏng cao, trắng trẻo, giống chàng thư sinh Hà Nội.

Tôi nói chuyện vui vẻ với mấy anh phóng viên về quyết tâm chiến đấu, góp sức tiêu diệt cứ điểm Him Lam, như chúng tôi đã từng tham gia chiến đấu tiêu diệt bao nhiêu cứ điểm kiên cố khác ở Ba Huyên, Vĩnh Yên; Ba Lay (Tây Bắc); Ba Vì (Sơn Tây); Sốp Hào (Sầm Nưa)... Đó là Tiểu đoàn Phủ Thông đầy tự hào của chúng tôi với lời hát “...Phủ Thông khói lửa ngập trời. Chiến binh xông vào”. Trong chiến dịch lớn này, chúng tôi được vinh dự nổ súng mở màn!

Đơn vị xuất kích bí mật, khẩn trương, khoảng 2 giờ chiều, trời nắng đẹp. Tuy nhiên, cũng chưa biết trận đánh sẽ diễn biến như thế nào? Bởi vì đây là lần đầu tiên chúng tôi đánh một cụm cứ điểm do một tiểu đoàn thiện chiến phòng ngự trong công sự kiên cố của tập đoàn cứ điểm.

Đồi Him Lam có ba đỉnh. Mỗi đỉnh là một cứ điểm. Mỗi đại đội chiếm giữ một cứ điểm. Chỉ huy sở và súng cối đặt ở cứ điểm trung tâm.

Nhiệm vụ của Tiểu đoàn Phủ Thông là phải tiêu diệt Chỉ huy sở tiểu đoàn Lê dương thiện chiến ở Him Lam; Đại đội chúng tôi là đại đội xung kích thứ 3 của tiểu đoàn.

Chúng tôi được trên cho biết: có 8 khẩu pháo 105 ly bắn vào Him Lam để yểm trợ cho bộ binh. Tuy nhiên, theo chúng tôi được biết sau trận đánh, đạn đại bác 105 ly (do Mỹ sản xuất) để đã lâu năm, nên 120 phát bắn vô Him Lam có nhiều quả không nổ. Bù lại, có nhiều súng cối 120 ly, sơn pháo và ĐKZ 75 ly yểm trợ mạnh mẽ. Súng cối 82 ly sẽ bắn yểm trợ cho xung kích. Hỏa lực của ta mạnh hơn nhiều so với địch. Ấy là chưa tính đến các trận địa cao xạ pháo cũng sẽ bắt đầu ra oai với không quân Pháp. Nhưng, Him Lam được nhiều đơn vị pháo binh 105 ly, 155 ly, súng cối 120 ly của tập đoàn sẽ yểm trợ. Vả lại đạn đại bác và súng cối hạng nặng của Pháp vừa dư thừa lại vừa mới tinh, bắn đâu nổ đó.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:48:40 pm

Khi chúng tôi tiến đến giao thông hào trục của Trung đoàn đã thấy các đơn vị thông tin, các bộ phận tham mưu, chính trị của cấp trên đã triển khai, các cơ quan nhường cho chúng tôi tiến ra phía trước.

Đại đội 245 ra gần suối Mường Thanh thì dừng lại. Trời còn nắng sáng.

Máy bay trinh sát của địch bay vòng vòng bên trên chúng tôi để quan sát.

Đúng 17 giờ, toàn mặt trận vẫn yên tĩnh (theo tài liệu sau này của Pháp, lúc này trung tá Lăng-gle bỏ vị trí đi tắm mát). Đờcátxtơri cũng đặt máy xuống, nhấm nháp ngụm cà phê.

Trong bầu trời của Điện Biên, lần đầu tiên tôi thấy hàng loạt đạn cao xạ của ta nổ bùng, bung thành những cụm khói bám theo sát máy bay địch. Chúng vội vã bay vọt lên cao.

17 giờ 15 phút, các đơn vị pháo binh, súng cối hạng nặng của ta dồn dập dội lửa xuống Him Lam. Cụm cứ điểm chìm ngập trong lửa khói mịt mù. Các quả đồi bị đạn pháo ta bắn phá dữ dội lửa khói liên tiếp trùm lên. Nó giống như một cái chảo khổng lồ, đen thui lật úp xuống.

Trong khoảng 45 phút, bọn giặc trong cứ điểm bị đánh bất ngờ dồn dập, nên im re chưa bắn trả lại được.

Bỗng một loạt đạn pháo 105 ly của địch từ các trận địa pháo binh ở Mường Thanh ầm ầm trút xuống trung đội phía sau chúng tôi. Từ đó, pháo binh địch cứ bắn cấp tập như mưa, nổ rền như sấm sét.

Lính Lê dương được pháo binh yểm trợ đắc lực đã trấn tĩnh lại và bắt đầu bắn xối xả xuống chiến hào của chúng tôi.

Trời bắt đầu tối.

Chúng tôi nối nhau chạy nhanh trên cầu ngầm vượt qua suối Nậm Rốm. Cũng may, gần như không có quả đại bác nào bắn trúng cầu, chúng tôi vượt qua suối an toàn và nhanh chóng.

Theo chiến hào đào đêm qua, chúng tôi vừa tránh đạn pháo của địch, vừa tiến lên. Khi đến bãi đất trống, cả đơn vị phải dừng lại, chịu đựng cơ man đạn pháo địch suốt 5 tiếng đồng hồ liền.

Chúng tôi phải chờ các chiến sĩ bộc phá anh dũng vọt lên mặt đất, đánh phá hàng rào kẽm gai dày đặc, có đủ thứ mìn sát thương, mìn pháo sáng trong lúc đạn đại liên, đạn pháo, đạn súng cối của địch nã dữ dội.

Chiến hào chúng tôi đào đêm qua còn cạn, nên việc tránh đạn pháo của địch chưa bảo đảm. Đạn pháo địch dội liên tiếp như vãi cát xuống chiến hào. Trong 5 tiếng đồng hồ, quân Pháp đã bắn 6.000 quả đạn pháo chung quanh đồi Him Lam. Đạn liên thanh trên đồi cũng vãi xuống như mưa.

Tôi phải liên tiếp quan sát hỏa điểm ở phía trước để kịp thời cho đơn vị tiến lên. Dĩ nhiên, đó là nhiệm vụ chính của anh Thiêm, đại đội trưởng. Nhưng tôi là chính trị viên cũng phải cùng chung trách nhiệm.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:49:16 pm

Pháo binh địch vẫn liên hồi dội lửa xuống chiến hào. Nếu so với mấy lần bị bom B52 của Mỹ rải thảm mà tôi đã ở giữa cái biển lửa rùng rợn ấy trong thời chống Mỹ sau này, thì mức độ đạn pháo trong đêm đánh Him Lam ác liệt hơn nhiều. Vì bom rải thảm tuy khốc liệt thiệt, nhưng mình có hầm vững chắc và nhất là thời gian bom nổ liên hồi chỉ trong vòng mấy chục phút của ba đợt, 9 chiếc B-52 là xong. Còn chịu đựng pháo địch bắn suốt mấy tiếng đồng hồ liền không ngớt thì thật là căng thẳng thần kinh cực độ.

Lúc đó, chủ yếu chúng tôi phải quan sát hỏa điểm địch để sẵn sàng xung phong. Việc bị thương hay hy sinh là điều dĩ nhiên, không tránh khỏi.

Trong giờ phút ác liệt nhứt này, tôi đã vĩnh biệt đồng chí liên lạc thân yêu, hiền lành, nhân ái, đã cùng tôi trải qua bao chiến dịch, bao trận công đồn, cho đến giờ phút mở màn chiến dịch Điện Biên. Đồng chí ấy tên là Chân.

Đồng chí Chân vẫn ngồi ngay sát bên tôi, dưới chiến hào. Thỉnh thoảng, tôi lại nhắc :

- Quan sát hỏa điểm trước mắt, nhé!

- Vâng ạ!

Nhưng lần này, tôi nhắc đi nhắc lại mấy tiếng: "Quan sát hỏa điểm trước mặt!"

- …

Anh Chân lặng yên, da thịt anh còn nóng hổi. Anh đã hy sinh mà không một lời vĩnh biệt. Tôi hiểu ngay, anh đã bị đạn súng liên thanh ở cái hỏa điểm trước mặt, nó bắn chúc xuống chiến hào, chẳng may trúng anh trong gang tấc. Tôi buồn muốn bật khóc, vì anh Chân là người sống gần gũi, ăn, ở, ngủ luôn bên tôi. Gói ớt khô của đồng bào Mậu A cho anh, anh đã tặng lại cho tôi và có một gói thuốc sợi vàng anh cũng dành cho tôi.

Đạn đại bác vẫn nổ ầm ầm chung quanh đơn vị; đạn pháo nổ chớp chớp sáng rực, như sấm sét xé trời, liên tiếp quanh chúng tôi.

Trong giờ phút ác liệt, Tiểu đoàn 428 mở cửa đột phá, đã xuất hiện Phan Đình Giót anh dũng diệt lô cốt đầu tiên, mở đường tấn công cho đơn vị. Đồng chí Phan Đình Giót đã nêu cao một tấm gương anh hùng.

Mấy cứ điểm bên cạnh đã bị tiểu đoàn 428 và tiểu đoàn 130 đánh chiếm, địch đã bị diệt sạch; các hỏa điểm của chúng câm bặt.

Pháo binh địch càng tập trung dội bão lửa xuống tiểu đoàn chúng tôi. Chúng bắn rất chính xác. Trong bản đồ xạ kích của pháo binh địch mà sau này ta lấy được, mũi chủ công của ta rơi đúng vào dự đoán của địch. Chúng ta cũng chỉ có thể mở mũi chủ công ở hướng này để phù hợp với địa hình và đánh thẳng vào Chỉ huy sở Him Lam.

Các trung đội bộc phá của hai đại đội 241 và 243 đã bị hỏa lực, mìn và pháo địch bắn thương vong gần hết, các lớp rào kẽm gai vẫn chưa phá xong.

Đến lượt trung đội bộc phá của chúng tôi phải làm tiếp nhiệm vụ “đột phá khẩu” - mở đường máu để đánh vào bên trong. Trung đội bộc phá cũng lần lượt thương vong đến chiến sĩ cuối cùng.

Sau trận đánh, tôi có hỏi anh em để rút kinh nghiệm: “tại sao bị thương vong lúc phá hàng rào nhiều đến vậy?”.

Anh em cho biết: do trời tối quá, khói mù mịt, đạn pháo địch tập trung bắn liên tiếp, có nhiều anh em ôm bộc phá tiến lên, chưa kịp cho bộc phá nổ đã thương vong; có anh em tưởng hàng rào chưa bị phá, chệch hướng, nên cho bộc phá nổ tiếp, phá tiếp lớp rào kẽm gai đã bị phá rồi, v.v...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười, 2016, 11:49:38 pm

Hỏa điểm bảo vệ các lớp rào kẽm gai do địch bố trí rất nguy hiểm cho ta. Một lô cốt chính luôn kèm thêm nhiều ụ súng vệ tinh, tạo ra nhiều hỏa điểm lướt sườn. Các chiến sĩ bộc phá bị thương vong nhiều là do các hỏa điểm bắn lướt sườn. Một chiến sĩ Bazôka bắn 4 phát đạn 90 ly áp đảo hỏa điểm địch, nhưng anh cũng hy sinh.

Trong tình thế cực kỳ gay go ấy, anh Ty - Trung đội phó bộc phá hô to:

- Trả thù cho anh em hy sinh. Hãy tiến lên!

Trong đơn vị bỗng vang lên tiếng gọi:

- Đảng viên Cộng sản, tiến lên!

- Ai là người trung thành với Đảng, tiến lên!

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, Tiểu đội phó Phạm Văn Nhâm tuy chưa là đảng viên, nhưng đã dũng cảm xông lên đánh liền 2 ống bộc phá dài 2 mét bằng sắt, hoàn thành nhiệm vụ; lại tiếp tục đánh ống bộc phá thứ 3. Cũng may, người chiến sĩ bộc phá cuối cùng đã đánh phá dứt điểm lớp hàng rào kẽm gai cuối cùng, sát hỏa điểm địch.

Đại đội 243, Đại đội chủ công của Tiểu đoàn, như lưỡi gươm sắc nhọn xông lên đánh chiếm “cửa mở” và thọc sâu vào hướng chỉ huy sở tiểu đoàn địch.

Đại đội 241 đánh mạnh bên sườn trái đỉnh đồi chính của cụm cứ điểm, lọt được vào chiều sâu phòng ngự địch.

Đội đội 245 chúng tôi lập tức đánh mạnh vào sườn bên phải của địch.

Cả 3 đại đội cùng tấn công dũng mãnh theo ba hướng một cách nhanh chóng, đồng bộ, làm cho địch choáng váng tinh thần, đội hình liên tiếp bị phá vỡ và rối loạn.

Lê dương ư? Phen này chúng mày sẽ biết tay bộ đội Việt Nam.

Trong lúc tiến lên theo chiến hào, tôi phải chống hai tay trên hai bờ hào, đu người về phía trước để tránh thi thể của những đồng chí vừa hy sinh. Khi tiến qua các lớp rào kẽm gai vừa bị đánh bứt, tôi thấy nhiều anh em vừa mới hy sinh, tay vẫn ôm những ống bộc phá như lúc diễn tập ở thao trường. Hình ảnh đó càng giục giã chúng tôi xông lên trả thù cho đồng đội.

Nhảy vào lô cốt đầu tiên, tôi rút súng ngắn - khẩu súng K.54 vừa được trang bị trước khi đi chiến dịch, sẵn sàng nhả đạn. Tiếng pháo địch vẫn gầm vang ngoài cứ điểm để yểm trợ cho bọn địch đang sắp bị tiêu diệt.

Gặp một ổ đề kháng, chiến sĩ ta cho nó một chùm “thủ pháo” (lựu đạn có bọc thêm thuốc nổ làm tăng sức công phá lên rất dữ) và tiếp đến hàng loạt đạn K.50 – tiểu liên cũng vừa được trang bị trước khi đi chiến dịch.

Đánh tung thâm - đánh địch bên trong cứ điểm là bản lĩnh sở trường của Tiểu đoàn Phủ Thông. Yếu tố quyết định là tấn công dũng mãnh, chia cắt, thọc sâu, chia làm nhiều mũi, nhanh chóng đập tan đội hình địch, làm cho chúng trở tay không kịp, rối loạn, hoang mang.

Tiếng thủ pháo, tiếng tiểu liên dồn dập nổ, ba đại đội, ba mũi hiệp đồng chặt chẽ.

Khoảng 11 giờ 30 phút đêm 13 tháng 3 năm 1954, đồng chí Oanh đã phất cao cờ Quyết chiến Quyết thắng trên Sở chỉ huy Him Lam. Hai bên sườn, hai đại đội của ta tiếp tục tiêu diệt những ổ đề kháng cuối cùng của quân Pháp.

Cánh cửa sắt phòng thủ hướng đông bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biện Phủ đã bị đập tan.

Trận đánh mở màn chiến dịch đã toàn thắng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:24:56 pm

PHÁO ĐKZ GÓP CÔNG ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU
Đại tá PHAN VĂN NGHI
Nguyên Viện trưởng Viện thiết kế Hàng không
Pháo thủ ĐKZ, Đại đoàn 312

Sáng hôm ấy chúng tôi đi đào hầm trục về. Dọc đường gặp một con nai bị sa xuống giao thông hào què chân. Thế là đang lúc kham khổ, bỗng dưng có thịt tươi chén. Anh em cười nói, vui như hôm nào làm thịt bò ở Phú Thọ... Đang mổ thịt, chúng tôi nhận được lệnh:

- Tiểu đội đồng chí Dũng chuẩn bị đi công tác.

Trước hầm, tiểu đội quanh quần quanh anh Dũng. Tôi mân mê tí thịt nai dính trên tay, đứng chăm chú lắng nghe.

Tiếng tiểu đội trưởng bé và thấp:

- Tiểu đội ta ghép vào “bê” một, sang phối hợp chiến đấu cùng đơn vị bạn. Các đồng chí chuẩn bị, mười phút nữa lên đường.

Tôi đang ngây ngất vì nhiệm vụ mới, bỗng anh Dũng gọi tôi nói:

- Đồng chí làm tổ trưởng tổ đạn. Đồng chí Cảnh không đi được. Bổ sung thêm đồng chí Lan tân binh...

Nhiệm vụ nặng nề đến với tôi thật bất ngờ. Đây là lần đầu tiên tôi được chiến đấu, chính bản thân còn lo ngay ngáy, làm thế nào dìu dắt được anh em khác nữa?

- Tôi không làm được đâu anh ạ!

- Đồng chí đừng ngại, tôi sẽ giúp đỡ đồng chí. Đồng chí là tân binh nhưng đã được qua thử thách trong thời gian chuẩn bị. Trên rất tin đồng chí. Giao nhiệm vụ là trung đội, chi ủy đã thảo luận kỹ. Đồng chí cố gắng lên.

Sáng sớm chúng tôi được dẫn về chỗ đóng quân của đơn vị bạn. Chúng tôi rất ngạc nhiên thấy đường hào ở đây sâu, chạy quanh núi như mạng nhện. Những hầm ngủ không lát nắp mà đào hàm ếch vào vách núi, vừa chắc vừa đẹp. Hào giao thông có nhiều ngõ ngách như một thành phố ngầm. Không hiểu họ chuẩn bị từ bao giờ mà nơi ăn chốn ở đầy đủ, chu đáo như thế.

Đây thuộc Trung đoàn 141 đã nổi tiếng đánh công kiên với những trận Phủ Thông, Ba Huyên... lừng lẫy. Trận này họ là chủ công. Được chiến đấu cùng họ, chúng tôi rất mừng.

Chúng tôi được phổ biến qua nhiệm vụ. Quân ta sẽ nổ súng tiêu diệt đồn Him Lam, một trong hai cái nanh nhọn của thằng địch ở Điện Biên.

Đơn vị bạn nhường cho chúng tôi mấy khu hầm rất tốt, có giát giường kê cao ráo, ngủ sướng như ở hậu phương.

Chúng tôi yên tâm chờ nổ súng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:25:43 pm

Suốt ngày máy bay giặc Pháp cứ như chuồn chuồn báo bão. Phía tiền tiêu súng nổ luôn luôn. Thưa thớt có những cánh thương binh về, kèm theo những mẩu chuyện lý thú: ta đuổi cho địch chạy tơi bời mỗi khi chúng mò ra lấp hào giao thông của ta mới đào. Nhưng cũng có người thấy thương binh, máu me... thì thoáng vẻ lo sợ.

Trong hầm, tôi, Ngoạn, Lan ngồi đan cáng tre. Thấy mặt Ngoạn nằng nặng, tôi gợi chuyện: Đêm mai là choảng đấy. Ta được ở phía điểm, bố trí trên đồi, giọt thẳng vào giặc, tha hồ thú nhé.

Tôi vẽ cả bản đồ cho cậu ta xem. Nhưng tôi vui vẻ bao nhiêu thì cậu ta lo lắng bấy nhiêu. Cuồi cùng, cậu ta buông thõng một câu làm tôi cụt hứng:

- Ừ, chơi thì chơi, cần cóc gì! Tiên sư nó, chết thôi! Anh chàng dao động.

Tôi muốn tìm lời động viên, giải thích cho Ngoạn. Thường ngày, Ngoạn vẫn khoe cái “sẹo dân tộc”, cho mình là cựu binh đối với tôi. Tôi lại mới thay Ngoạn làm tổ trưởng nên ngại không muốn nói.

Chiều hôm đó, Ngoạn phải ở nhà giúp anh nuôi không được đi đào hào trận địa. Còn chúng tôi luồn theo đường hào độ hơn ba cây số đến gần đồn Him Lam đào hầm pháo.

13 tháng 3 năm 1954.

Buổi sáng nghe phổ biến kế hoạch trận đánh: 4 giờ chiều nổ súng. Trọng pháo ta sẽ bắn mãnh liệt. Trong khi đó bộ đội nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa bắn vào đồn giặc...

Một giờ chiều, tôi thay quần áo. Hôm đó tôi tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo vải ngoại màu xanh nhạt, từ khi phát tới nay tôi mới mặc lần thứ hai, nếp gấp phẳng như là. Ống tay áo xắn quá khuỷu, thắt lưng chặt, ống quần cài khuy như đi ghệt. Đôi dép cao su “vạn dặm” đen bóng. Chiếc mũ nan bọc vải, mắc thêm lưới buộc những mảnh dù loang như lá cây. Tôi rất vừa ý về lối mặc khỏe, gọn của mình... Tôi thích thú lấy gương ra soi. Chao ôi, tóc tôi dài quá, tóc mai dài ngang vành tai. Giá ở nhà thì Thịnh đã cắt cho tôi rồi đây; đi thế này cậu ấy không mang kéo. Mặt tôi có gầy đi và đen sạm nhưng vẫn tươi vui. Nhìn cặp mắt mình, tôi nhớ Linh hay bảo tôi: “Mắt nhìn thẳng không nhấp nháy”. Bây giờ mắt tôi thâm quầng và to ra, trông có vẻ dữ. Anh Dũng thấy tôi soi gương, đến sau lưng nói:

- Trông cậu hôm nay diện quá! Cậu mà ra đường thì các cô dân công đi vấp núi ngã chết thôi!

Tôi cười:

- Anh xem tôi mặc đã đúng kiểu chưa?

Anh Dũng vui vẻ sửa cho tôi.

Tôi đi xem lại vác đạn của anh em trong tổ. Tất cả đã cẩn thận gọn gàng. Tôi động viên Lan, cố ý để cả Ngoạn nghe nữa:

- Cứ mặc xác nó bắn. Đừng nghĩ đến sợ thì chả việc gì đâu. Có hào giao thông sâu không chết đâu mà lo. Được đánh trận đầu, lại là trận mở màn chiến dịch lịch sử, đời lính thật không có gì sướng bằng!

Lan bắt chước tôi, vui vẻ lấy bộ quần áo màu xanh lá cây còn thẫm ra mặc. Tôi giúp Lan thắt lưng và kéo áo cho bùng ra như anh Dũng đã sửa cho tôi.

Một lúc sau, già nửa đơn vị đã mặc quần áo mới, nét mặt tươi vui. Không khí đơn vị nhộn hẳn lên. Anh em quấn lấy nhau như ruột thịt. Anh Lâm cảm động:

- Các cậu ra trận mà làm như duyệt binh mừng thắng lợi không bằng!

Thật thế, chúng tôi vui mừng vì bao lâu phải cắn răng chịu đựng, bây giờ ngày mong đợi đã đến. Được đánh thẳng vào mặt quân thù thế này, có chết cũng thơm xương!

Tất nhiên, cũng có người trong bụng lo lắng sợ hãi nhưng không khí sôi nổi chung làm họ cũng ít nhiều phấn chấn.

14 giờ 30 phút. Trung đội ĐKZ xuất kích.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:26:26 pm

Ra đến đường trục chính, gặp các đơn vị bộ binh. Mặt người nào cũng có một vẻ trang trọng khác thường.

Một tiểu đội xung kích đi thẳng lên. Đồng chí đi đầu cầm lá cờ đỏ cuộn gọn, ngực đeo tiểu liên và thủ pháo. Họ là tiểu đội đầu cầu. Họ bước đều chân lặng lẽ nhưng nét mặt vẫn toát ra vẻ bừng bừng rạo rực. Một đồng chí trẻ măng, má hồng mủm mỉm, luôn liếc chung quanh và nheo mắt tinh nghịch cười với tôi.

Lệnh truyền: “Dẹp cho xung kích đi”.

Những người lính nai nịt gọn gàng lẳng lặng tiến lên. Ban đầu tôi còn chăm chú theo dõi từng nét mặt, từng khẩu tiểu liên mang chéo trên ngực, lựu đạn, thủ pháo dắt quanh thắt lưng. Sau, tôi không nhìn kịp nữa, chỉ thấy những khuôn người tầm thước nối bước nhau đều đặn. Tôi ngây ngất, những bóng người trước mặt chập chờn, mắt tôi như ngấn lệ...

Xung kích đi hết, chúng tôi tiến lên. Chân pháo, nòng, đạn...toàn tiểu đội bước gấp...

Trong chiến hào, từ phía sau chuyển lên thư của Đại tướng Tổng Tư lệnh kêu gọi kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ...Vui mừng khôn kể xiết. Càng nghe càng thấm thía. Từng lời từng chữ kết vào máu, chui vào thớ thịt, kích thích lòng hăng hái. Dũng khí bốc lên những cặp mắt sáng ngời. Cảm động căng quả tim. Hai mắt rưng rưng, tôi chớp chớp liền mấy cái... Một cái gì như luồng điện, gai gai từ mũi rồi chạy khắp thân thể... Chúng tôi muốn lao lên ngay, thấy mình khỏe mạnh, to lớn lên nhiều trước quân thù!

Trên đầu chúng tôi, hai máy bay địch nhào tới. Quen thói hung hăng, chúng lồng lộn, quay cuồng tuôn bom đạn xuống. Bộ đội phòng không của ta tiếp nó ngay. Tiếng trọng liên của ta nghe khô gọn.

Đúng 16 giờ. Đại bác ta gầm vang.

Thật sung sướng thỏa lòng, bỏ những ngày vắt mồ hôi chờ đợi. Tiếng đạn đại bác ta vèo vèo vượt qua đầu bộ binh nổ rầm rầm trong đồn giặc.

Chúng tôi chạy lên. Tuy giao thông hào hẹp, vác đạn cồng kềnh, chân tôi vẫn thoăn thoắt, luôn giữ vững khoảng cách.

Máy bay địch càng điên cuồng bắn phá. Trọng liên 12,7 ly của ta đối lại. Bỗng có tiếng nổ lạ tai. Đùng! Đùng! Đùng! Đùng! Đùng!... Cứ năm tiếng một, đều và gọn. Sau đó nghe nổ lốp bốp trên cao... Khắp chiến hào dậy lên tiếng reo:

- Cao xạ ta lên tiếng rồi, anh em ơi!

Những tiếng reo hò bật lên như lò xo. Tôi chưa hiểu gì cũng kêu váng lên như thế. Trái tim tôi muốn phá lồng ngực. Bấy lâu bị lép một bề, mặc chúng nó làm mưa làm gió, bây giờ thì biết tay nhau nhé!

Tôi vươn hẳn lên thành hào ngó xem: lần đầu tiên được thấy pháo cao xạ của ta đang “quát tháo”. Những cụm khói trắng như hoa nở vây lấy máy bay trên trời. Bọn máy bay Pháp ươn hèn cụp đuôi chuồn lên cao.

Sung sướng lắm! Chúng tôi vươn người chạy vút trong hào, không thèm tránh máy bay như mọi khi. Bỗng có tiếng rống bất thần từ trên cao dội xuống như tiếng kêu thê thảm của con bò già khuỵu gối. Khắp mặt đất dậy lên tiếng reo:

- Máy bay trúng đạn rồi!

- Tiên sư mày, đã chết chưa!

Tôi nghển cổ nhìn bầu trời nhưng không thấy gì, cây rừng và đồi cây che mắt. Vẫn tiếp tục lao lên phía trước. Qua đồi cháy. Chỉ còn cách trận địa pháo của mình chừng một cây số. Nghe tiếng đạn ta rít trên đầu gần quá.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:26:58 pm

Tôi nhìn phía chân đồi, chỗ trận địa súng cối. Các pháo thủ đang bỏ đạn vào nòng pháo, những tia khói trắng phụt lên.

- ĐKZ chiếm lĩnh trận địa!

Được lệnh, chúng tôi ba chân bốn cẳng lao lên vùn vụt. Cách trận địa 500 mét lại có tin nhanh:

- Toàn thế giới đã biết chúng ta nổ súng vào Điện Biên Phủ!

Lòng càng nao nức. Người lính tưởng mình lớn lên bên rừng núi. Lệnh trung đội:

- Lên miệng hào chạy cho nhanh.

Anh Dũng đứng như trụ đồng trên miệng hào, cầm tay từng người trong tiểu đội kéo lên. cầm tay tôi, anh động viên:

- Không sợ gì cả. Có pháo của ta yểm trợ!

Trong nháy mắt, hai luồng mắt dọi thẳng vào nhau. Tôi thấy mình đã hứa danh dự với anh và được tiếp thêm sức mạnh.

Từng người một kế tiếp nhau phốc lên miệng hào, rồi băng xuống ruộng. Bỗng có lệnh: “Các khẩu đội để tổ đạn ở lại”. Tôi hoảng hốt kêu lên:

- Anh Dũng cho tôi lên... Tôi chưa được đánh bao giờ!

Lưỡi tôi líu lại, kêu không thành tiếng.

- Cho Tùng lên - Tiếng anh Kiên, trung đội trưởng.

Anh Dũng đang ngần ngừ, liền ra lệnh:

- Tổ đạn, đồng chí Nghi, đồng chí Ngoạn theo pháo.

Tôi lập tức vượt hào, bám sát tổ pháo chạy miết. Đôi dép cao su của tôi xéo lên cỏ cháy, nghe rào rào...

ĐKZ và đại liên dàn thành hai hàng vượt đồi chiếm lĩnh trận địa.

Những quả đạn súng cối địch nổ tung khói trắng và đất đá quanh người nhưng không ai thèm để ý. Chỉ biết lao lên thật nhanh và theo dõi pháo ta rền vang át giọng chúng nó. Lên đỉnh đồi, đạn địch rơi dày hơn, nghe rõ cả tiếng rít viu víu ghê người của đại liên.

Ngoạn đã lên đến tột cùng của sự sợ hãi, mặt cắt không còn một hột máu. Hắn ta nằm ỳ ngay giữa cái rãnh nông choèn cản đường tiến. Tôi bối rối hét to:

- Tiến lên chứ!

- Tôi lạy.. Tôi nghĩ tí đã!

Trông mặt hắn thiểu não quá, nhưng tôi vẫn hét:

- Nghĩ à! Bám sát tổ pháo đi!

- Nó bắn rát quá...

Tôi tức nghẹn cổ. Tổ pháo đã tới công sự rồi mà người vác đạn còn nằm đây! Tôi trợn mắt thét:

- Tiên sư mày! Không chịu tiến phải không ?

(Tôi không hiểu tại sao mình lại mở mồm chửi như vậy. Có lẽ bao nhiêu lo lắng, căm tức và khinh bỉ tự đáy lòng bùng ra đột ngột. Sau này tôi ân hận mãi).

Sau câu chửi khắc nghiệt đó, Ngoạn cúi mặt, đứng dậy chạy lên...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:27:53 pm

Tôi nhảy vào công sự thì khẩu ĐKZ đã lắp xong, đang lấy đường ngắm. Tôi mở đạn nhanh, lau sạch và chuyển lên. Khẩu đội tôi nổ phát đầu tiên.

Tôi nhổm người, nhìn sang đồn giặc kêu lên:

- Trúng rồi! Nổ tung lỗ châu mai, các đồng chí ơi!

Đồi Him Lam chìm trong biển lửa mù mịt... Phía đột phá khẩu, bộc phá liên tiếp nổ, tung lên từng đụn khói đen sì.

Tiếng anh Kiên truyền đi:

- Khẩu đội 1 bắn gãy cột cờ rồi.

Bọn pháo trong đồn bắn ra thưa dần. Nhưng có lệnh của đại đội:

- Đào công sự sâu thêm để đề phòng địch bắn trả.

Một lúc sau, quả nhiên tiếng đạn đại bác từ Mường Thanh xé gió rít lên ghê rợn. Chúng bắn chặn xung quanh Him Lam thành một hàng rào lửa khói.

Chúng tôi tiếp tục bắn một lúc thì hai quả pháo hiệu xanh đỏ bay vọt lên trời, tiếng thét xung phong của xung kích nghe rất rõ.

Ngừng bắn, chúng tôi trở nên rỗi rãi. Hoàng hôn xuống. Trời xanh đã pha màu tím nhạt. Gió mát mang đầy mùi thuốc đạn khét lẹt. Vầng trăng thập thò sau đồi phía đông...

Trong giây lát, tôi ngây ngất nghĩ tới hậu phương. Mẹ và các em tôi có biết tôi đang làm gì không? Linh có tưởng tượng được không? Hay họ đang lo tắm giặt, vui đùa với hoàng hôn êm đềm bên sông La? Tôi muốn sao truyền được tin chiến thắng thật nhanh về nhà.

Pháo địch tới tấp bắn tới.

Tôi nuốt nước bọt và nhận thấy mồm mình đắng ngoét. Nhưng chúng tôi phớt hết, nhô lên bờ hào nhìn về phía đồn giặc. Thịnh bỗng reo lên:

- Cờ đỏ kia rồi!

- Điểm và diện gặp nhau rồi!

Tiếng reo hò vang dậy, ngập trong tiếng cười sung sướng:

- Ô hô! Tù binh ra hàng rồi.

Chúng tôi háo hức chồm lên bờ hào nhìn. Dưới ánh trăng và pháo sáng, trông rõ đoàn tù binh lũ lượt giơ tay quá đầu đi ra. Đạn đại bác địch vẫn nổ trên trận địa ta không ngớt.

Anh Dũng bảo tôi:

- Nghi chạy xuống chuyển đạn và báo tin chiến thắng.

Tôi “vâng”, nhảy lên miệng hào chạy về phía sau. Đạn địch nổ rầm rập nhưng tôi không còn để ý đến gì hết. Còn gì sung sướng bằng được truyền tin chiến thắng cho những người phía sau? Tôi chạy thoăn thoắt... Tiếng anh Dũng đuổi theo:

- Cẩn thận, Nghi!... Nó bắn nhiều... nằm xuống!

Tôi cứ lao thẳng. Đạn nổ trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái... Tới đường hào, tôi kêu to:

- Các đồng chí ơi! Chiến thắng rồi! Ta bắn trúng lắm... Tù binh ra hàng từng đoàn.

Không nghe hết những tiếng hỏi tíu tít, tôi nói không kịp thở:

- Nhanh lên, đạn đâu đưa đây? Mình còn phải lên ngay chứ!

Tôi vác đạn chạy lên. Đạn địch vẫn viu víu và nổ liên tiếp. Nhảy tọt vào hầm pháo, tôi báo cáo:

- Báo cáo, có đạn!

Anh Dũng cười âu yếm:

- Cừ lắm! Mở đạn sẵn đi.

Càng hăng, tôi mở đạn càng gọn.

Tiếng anh Lâm nói to: “Tham mưu trưởng lên thăm, tuyên dương toàn trung đội ta tiêu diệt được nhiều hỏa lực địch, bảo vệ bộ binh. Đồng chí bắt tay khen khẩu đội 1”.

Chúng tôi sướng rơn. Vinh dự biết mấy khi được tuyên dương ngay tại trận.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:28:26 pm

Miệng đắng và khát xé họng. Tôi sờ bi đông. Nước hết nhẵn. Tôi đặt phịch bi đông xuống đất. Anh Dũng trông thấy liền đưa cho tôi ngụm nước cuối cùng của anh. Tôi cảm động đến không nuốt trôi ngụm nước.

Ánh trăng vằng vặc. Khói xám vẫn phủ kín Him Lam. ĐKZ rút ra.

Chúng tôi vui mừng vì toàn trung đội không ai việc gì. Đường ra, gặp bộ binh dự bị. Họ nhìn chúng tôi thèm thuồng ra mặt. Bọn tôi càng khoái. Nhìn những chiếc cáng không lẽo đẽo theo sau, họ nói: “Cáng thất nghiệp thì tốt quá nhỉ”.

Chúng tôi đi được gần một cây số thì có lệnh:

- ĐKZ quay lại trận địa, bố trí như cũ.

Chúng tôi quay lại ngay, hồi hộp.

Lần này không “bở ăn” như lần trước. Pháo địch bắn chặn quanh Him Lam rất dữ dội. Trận địa của chúng tôi nhiều chỗ bị đạn địch không cho ngóc đầu lên.

Anh Lâm bình tĩnh chỉ mục tiêu cho từng khẩu đội. Té ra ta mới tiêu diệt được hai mỏm đồi tây nam và đông bắc, còn mỏm đồi thứ ba phía tây bắc thì địch vẫn cố thủ.

Liên lạc chạy đâu mất. Anh Lâm giao tôi mang mệnh lệnh tới các khẩu đội. Đường hào nhiều chỗ sụt, tôi chạy nhô lên mặt đất. Anh Lâm luôn gào tôi:

- Cẩn thận khéo bị thương... cẩn thận kìa! Chú ý mà tránh...

Tôi chạy đi chạy lại, pháo bắn tới thì nằm bẹp xuống hào. Có lúc hàng loạt đạn nổ liên tiếp, tôi phải bò từng thước như thằn lằn, đất sỏi phủ đầy người.

Trao mệnh lệnh xong, tôi về cạnh anh Lâm. Trong đồn Him Lam, các cỡ súng lớn bé lại nổ ran. Pháo sáng và ánh trăng thi nhau rọi sáng trận địa nhưng không lọt được khói đen. Đại bác hai bên vẫn ương ngạnh đối đáp nhau...

Anh Lâm đứng nói chuyện với tôi và Tụy:

- Hôm nay quân ta chiến đấu dũng cảm lắm. Nhiều cậu là tân binh nhưng chiến đấu rất cừ.

- Phấn khởi quá, tôi thấy mình cứng cáp nhiều.

Anh Lâm bảo:

- Cứ dũng cảm lên. Có dễ chết đâu. Mình đánh nhau từ năm 1946 đến nay, qua trăm trận mà chưa hề bị thương. Khó “ăn” đạn lắm chứ.

Đứng nói chuyện với đại đội phó, tôi thấy mình dày dạn như đã chiến đấu nhiều, không còn lo lắng. Tôi rất phục và yêu mến người cán bộ dũng cảm này. Anh là nông dân cùng huyện với tôi. Cái xã quê anh trước kia nổi tiếng là quê mùa cục mịch...

Say sưa với chiến thắng, tôi hỏi anh:

- Cứ đà này độ hai tuần có xong toàn bộ Điện Biên Phủ không?

Anh Lâm cười, đáp:

- Còn tùy chứ.

Anh lơ đãng nói tiếp:

- Tùy tình hình diễn biến và thương vong của mình nhiều hay ít. Có thể tháng rưỡi, hai tháng.

Tôi nhíu mày. Một tháng, hai tháng? Lâu quá! Tôi chỉ mong lúc đó thư tôi đến quê hương nhanh hơn tin chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:29:19 pm

Anh Lâm chạy lên khẩu đội trên. Một loạt đạn đại bác nổ tới tấp, cạnh đường hào. Đất, khói mù trời trùm lên đầu chúng tôi. Tôi hỏi to:

- Có ai làm sao không?

- Không hề gì.

Chúng tôi yên tâm... Bỗng có tiếng kêu khác thường:

- Nghi đâu? Gọi cáng nhanh lên.

Tôi giật nảy người. Ai bị thương? Tôi không dám hình dung những khuôn mặt đồng đội...

Đạn địch nổ ở sườn đồi, hất tôi ngã xuống. Tôi vùng dậy. Hố đạn lại làm tôi hụt chân ngã dúi dụi nhưng tôi vẫn chạy nhanh. Tôi nóng lòng muốn biết người bị thương là ai...

Trời ơi! Anh Lâm bị thương!

Một mảnh đạn lớn cắm vào đầu, anh không nói được nữa! Chỉ còn tiếng khịt khịt ở cái mũi khó thở...

Không ngờ trước đây mấy phút, anh đã nói với tôi những lời cuối cùng của đời anh!

Anh vui vẻ hồn nhiên là thế... Anh nói chuyện thản nhiên như ở hậu phương bình yên. Cái cười còn tươi trước mặt tôi... Bảy năm chiến đấu, hơn trăm trận chưa hề bị thương... Bây giờ thế là hết!

Toàn đơn vị chỉ một người bị thương, lại là thủ trưởng. Đường về vui vẻ trong không khí thắng lợi chung. Nhưng nghĩ tới anh Lâm, người đại đội phó dũng cảm, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi. Thương tiếc anh, trong lòng tôi muốn bật ra tiếng khóc.

Sáng hôm sau trở về, chúng tôi đi giữa ban ngày, trên đường cái. Chim rừng ríu rít. Nước suối rì rào. Hoa lá đọng sương tươi thắm. Trong ký ức nóng hổi, hình ảnh cuộc chiến đấu đêm qua sôi lên rõ nét. Đi bên cạnh tôi, Ngoạn mấy lần tránh cặp mắt tôi. Tôi muốn làm lành với Ngoạn bằng cặp mắt, nụ cười thân ái. Nhưng Ngoạn cúi gầm mặt. Không hiểu anh giận tôi, anh buồn vì tối qua chưa sống xứng đáng, hay lo lắng vì trận đánh đêm nay?

Trên vai tôi còn bốn quả đạn nữa, gạo không còn nên rất nhẹ. Càng đi, nói chuyện càng vui, chân bước càng dẻo.

Bên cạnh tôi có hai người lạ cùng đi. Người đi trước đã đứng tuổi, tóc lốm đốm hoa râm, quân phục bạc màu, mũ không quân hiệu. Người đi sau là bộ đội mang ba lô và đeo tiểu liên. Gần mặt trận thế này, ông kia không phải là bộ đội, dân công, vậy là loại người nào? Tôi thắc mắc vì ý thức cảnh giác. Liếc nhìn cán bộ của mình, thấy họ thản nhiên, tôi đoán ông ấy là cán bộ địa phương nên lại nói chuyện tràn cung mây. Chuyện chiến thắng, có gì mà phải giữ? Đức và Thịnh cũng sính chuyện lắm. Chúng tôi nói cười thỏa thích. Đêm qua ai ở quanh đây mà chả nghe tiếng súng. Nhìn chúng tôi, tất hiểu ngay là những người nổ súng đêm qua.

“Ông cán bộ” kia thỉnh thoảng liếc nhìn tôi, môi thoáng nụ cười ý nhị. Có lẽ cái trẻ măng tân binh hay cái vui của tôi thu hút ông. Ông đi sát tôi, thân mật hỏi:

- Các đồng chí đánh nhau đêm qua phải không?

- Vâng! - Tôi đắc chí đáp gọn.

- Các đồng chí ở pháo bắn thẳng chắc thích lắm nhỉ? Quân ta chiến đấu có dũng cảm không?

- Ồ! Còn phải nói! Bộc phá mở đường chưa tan khói đã thấy xung kích trong đồn rồi...

Ông ấy cười, nhìn tôi từ đầu đến chân, lại nói:

- Đồng chí vác đạn có lẽ nặng nhỉ?

Tôi mỉm cười. Ông ta tiếp:

- Mỗi quả mấy cân?

- Hơn bốn cân. Ra trận vác sáu quả.

- Đồng chí cho tôi vác thử một tí?

Tôi không ngần ngại, đưa ngay. Ông ta vác gọn lên vai. Cả hai cùng cười, ông nói:

- Cho tôi vác giúp một đoạn được chứ?

Tôi càng vui vẻ và gần gũi ông ta. Cất được mười sáu cân trên vai, hai tay thảnh thơi vung vẩy thoải mái, tôi như được chắp thêm cánh.

“Ông cán bộ” nói chuyện rất cởi mở. Té ra ông là người Nghệ An, ở cách nhà tôi chưa đầy hai mươi cây số, bên kia sông Lam.

Đi được sáu, bảy cây số, đến đường rẽ, ông ta trả đạn. Chúng tôi chia tay.

Trung đội trưởng nói với tôi đó là đồng chí Chính ủy một đơn vị bạn. Tôi sửng sốt nhìn lại, nhưng “ông ta” đã đi khuất...

Về đến đơn vị đã năm giờ chiều. Mới đi xa mấy ngày mà chỗ ở cũ đã thay đổi hẳn, chẳng kém gì đơn vị bạn. Những đường hào trục chạy từ ngoài xa vào vừa sâu vừa rộng. Hào giao thông chằng chịt khắp nơi... Thế mới biết những bộ phận ở nhà đã có một kỳ công lao động.

Trận địa pháo 105 ly đang dồn từng đống vỏ đạn, cái xám xịt, cái vàng ánh long lanh. Đêm qua ở đây bắn nhiều vào Him Lam và Mường Thanh. Chúng tôi kể chuyện chiến đấu cho các đồng chí ở nhà nghe, lòng vui như nắng chiều rực rỡ rọi ngang rừng cây.

Chúng tôi không về nhà nữa mà đi thẳng ra chiến hào xuất phát đánh đồi Độc Lập...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:30:55 pm


NHỚ ANH PHAN ĐÌNH GIÓT
BÙI KHẮC VIỆN
Nguyên Chiến sĩ Đại đội 360
Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312

Gia đình tôi quê ở tỉnh Nghệ An. Từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cha tôi là đảng viên Đảng Cộng sản, bởi vậy theo tiêu chuẩn, tôi đủ điều kiện để tỉnh chọn cho đi đào tạo cán bộ, phục vụ cách mạng lâu dài.

Thế rồi, điều đó đã đến. Tôi và một số anh em cùng trang lứa, tuổi từ mười sáu đến mười tám được tỉnh tập trung lên đường đi học. Chúng tôi còn quá trẻ, “ăn chưa no, lo chưa tới”, chưa đi xa bao giờ và cũng không biết sẽ đi đâu. Anh cán bộ phụ trách nói rằng: các em sẽ được lên chiến khu Việt Bắc để vào trường học tập, rồi nhận nhiệm vụ của Tổ quốc.

Từ Nghệ An, chúng tôi hành quân. Ngoài “ruột tượng” gạo vắt trên vai, “gia tài” của chúng tôi hầu như không có gì, kể cả mũ, nón, giầy, dép. Suốt 4, 5 tháng trời đi bộ, chúng tôi đã vượt qua nhiều làng, bản, sông, suối, đồi núi. Thời gian hành quân kéo dài, trang bị thiếu thốn nên sức khỏe chúng tôi bắt đầu suy giảm, đau ốm xảy ra. Ai cũng mong sớm đến vị trí tập kết để sinh hoạt cho đỡ vất vả. Cuối cùng, chúng tôi đã tới địa điểm học tập, nằm sâu trong một khu rừng bạt ngàn cây lá ở chiến khu Việt Bắc. Sau mấy ngày xả hơi, chúng tôi được lệnh đi chặt gỗ, tre, nứa về làm lán trại để bước vào sinh hoạt, học tập. Ai cũng có tâm trạng bâng khuâng, nhớ quê hương, cha mẹ, người thân.

Bất ngờ chúng tôi nhận được lệnh ngừng xây dựng lán trại, chờ lệnh mới. Người nào cũng đoán già, đoán non, chuyện gì sẽ xảy ra? Một vài ngày sau, chúng tôi thấy có khoảng 40 - 50 anh bộ đội, súng ống chỉnh tề đến. Cả khu rừng xôn xao hẳn lên. Chúng tôi được lệnh tập hợp nghe phổ biến, quán triệt mệnh lệnh mới của cấp trên: Tất cả chúng tôi được biên chế thành các tiểu đội, trung đội, đại đội. Chúng tôi được biết, các anh bộ đội vừa đến là khung huấn luyện Đoàn 77 của Bộ. Các anh sẽ trực tiếp huấn luyện chúng tôi để sẵn sàng bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Các anh động viên chúng tôi cố gắng rèn luyện, học tập, góp phần giải phóng nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ của bọn đế quốc, phong kiến.

Sau đó, chúng tôi được lệnh khẩn trương hành quân đến nơi tập kết mới. Cuộc hành quân bộ tiếp tục diễn ra, kéo dài gần một tháng trời. Chúng tôi vừa đi vừa huấn luyện. Không có thao trường, bãi tập, nên cán bộ khung gặp chỗ nào rộng rãi một chút là tổ chức huấn luyện ngay, với những bài quân sự cơ bản như đâm lê, bắn súng, động tác đánh giáp lá cà với quân địch...

Riêng tôi, sức khỏe giảm sút, bị sốt rét liên miên, gót chân nẻ toác, đau nhức, nhiều lúc tưởng chừng như không thể chịu nổi với gió rét mùa đông trên vùng núi rừng Tây Bắc này.

Cuộc hành quân vẫn tiếp tục, chúng tôi hết đêm đi, ngày nghỉ lại chuyển đổi thành ngày nghỉ, đêm đi, dù mưa hay nắng. Một hôm, tôi đuối sức quá, tụt khỏi đội hình khoảng 50 mét. Tôi dựa lưng lên vách đồi bên đường, gục đầu định nghỉ chốc lát cho có sức rồi bám theo đơn vị. Khi ngước đầu lên để đứng dậy, tôi bỗng thấy một anh bộ đội dáng người hơi thấp, da ngăm đen, đầu đội mũ nan bọc vải thưa, có nhiều mảnh dù nhỏ ngụy trang. Với dáng vẻ hiền lành, anh hỏi tôi:

- Có mệt không em? Em đang sốt phải không?

Tôi rụt rè thưa:

- Báo cáo anh, em bị sốt, không theo kịp đơn vị.

Anh liền nói:

- Hãy đưa súng đạn, cả bao gạo quàng vai để anh mang cho!

Vừa nói, anh vừa lấy trang bị của tôi khoác đầy một vòng quanh người anh. Tôi cảm động và bỗng thấy thương anh quá. Tôi xin anh để tôi tự mang đồ của tôi, nhưng anh dứt khoát không nghe. Nhìn thấy hai bàn chân tôi không có giày, hai gót chân đầy vết nứt nẻ, máu hòa lẫn vào đất rừng, anh nói như ra lệnh: “Phải lấy giày của anh để đi, theo kịp đơn vị”!

Nhìn anh khom lưng rút chiếc giày thứ nhất, tôi rùng mình thấy gót chân anh như quả cam bóc vỏ, máu dính loang lổ; nếu chân anh không có giày, lại phải mang vác nặng, chân sẽ bị nặng thêm. Tôi cảm thấy không đành lòng nên xin anh: “Em đi dần dần được anh ạ”! Anh dứt khoát: “Em phải đi giày của anh. Anh là Tiểu đội trưởng của em, là Phan Đình Giót đây”!

Trên đường hành quân, qua câu chuyện anh kể, tôi được biết quê anh ở huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh. Cha mẹ anh nghèo khổ, chết đói hết rồi. Anh có một em trai là Phan Đình Giát. Gia đình nghèo, cả đời phải đi làm thuê cho nhà giàu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Giọng Hà Tĩnh của anh chậm, chắc: “Bọn đế quốc, phong kiến cấu kết đàn áp, bóc lột nhân dân ta. Gần 100 năm qua, đồng bào ta vẫn phải chịu cảnh cơ hàn, khổ cực em ạ!”

Anh thân mật hỏi: “Em tên là gì? Quê ở đâu? Cha mẹ còn không? Anh chị em có đông không? Đời sống gia đình ra sao?...”

Tôi kể với anh: Em quê Nghệ An. Cha mẹ đều già yếu, có 5 anh chị em. Em gần áp út. Các anh chị đã có gia đình, đều nghèo khổ, phải đi làm thuê kiếm sống. Tôi “khoe”: Em có người anh cũng là bộ đội, đang tham gia chiến dịch này, nhưng không rõ ở đơn vị nào...

Anh nói “Giót đã đánh nhiều trận với giặc Pháp ở các chiến trường”.

Vừa hành quân, câu chuyện đã giúp chúng tôi quên bớt nỗi nhọc mệt.

Đường vào Điện Biên cheo leo, ngoằn nghèo, uốn lượn qua nhiều khu rừng, vực thẳm, suối sâu. Máy bay trinh sát của địch vè vè trên đầu, thám thính đường hành quân của bộ đội ta. Thỉnh thoảng, được chúng chỉ điểm, đồng bọn của chúng ào tới ném bom, bắn phá. Vào gần mặt trận, trên các hướng, ngoài bộ đội có rất nhiều dân công tải lương thực, đạn dược ra chiến trường. Những câu hò, điệu hát của các anh chị vang dậy núi rừng, thắm tình quân dân cá nước. Đến vị trí tập kết, anh em cán bộ khung của Đoàn 77 rút về tuyến sau. Khi chia tay, các anh chúc chúng tôi lập công, hẹn ngày thắng lợi gặp nhau.

Tiểu đội trưởng của tôi, anh Phan Đình Giót nhận được lệnh đi nhận nhiệm vụ mới. Tôi được về Tiểu đội 2 Trung đội 1 (Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312), do anh Hoàng Đăng Vinh làm Tiểu đội trưởng, anh Minh làm Tiểu đội phó.

Trận đánh Him Lam, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Tin chiến thắng làm nức lòng chúng tôi. Nhưng anh em cũng đau đớn nhận tin: Tiểu đội trưởng bộc phá Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai và hy sinh anh dũng, trong lúc cả Tiểu đội của anh đã thương vong gần hết khi vượt qua cửa mở để đánh vào tung thâm, tạo điều kiện cho bộ đội ta đánh chiếm toàn bộ cứ điểm Him Lam.

Gương hy sinh của Phan Đình Giót đã được phổ biến xuống từng đơn vị để mọi người học tập, noi theo.

Trải qua 56 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non...” (Thơ Tố Hữu), ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta đã toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Tôi tự hào đã cùng đơn vị làm nên chiến thắng, bắt sống tướng Đờcátxtơri và toàn bộ Ban tham mưu của tập đoàn cứ điểm.

Ngày ấy và cho đến tận bây giờ, trong niềm vui chiến thắng, đã 55 năm trôi qua, tôi vẫn xúc động, nhớ về đồng chí, đồng đội, trong đó có người Anh, người Tiểu đội trưởng của tôi - Liệt sĩ Phan Đình Giót.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:33:32 pm

DÙNG MƯU BẮT GIẶC
Trung tá NHƯ KỲ

Ở một góc rừng Điện Biên, bên cạnh một con suối, có hai chiến sĩ quân báo trẻ tuổi của Đại đoàn 308 đang ở trong tình trạng bồn chồn.

- Này, Châu ơi! Trời đã xế chiều sao vẫn chưa thấy anh em ta đi công tác trở về?

- Thì mình cũng đang sốt ruột đây, Nguyên ạ! À, kia rồi! Anh em về kia rồi!... Ô! Mà không phải! Địch đấy! Toàn lính ngụy! Chúng nó đang chuẩn bị lội suối sang bên này đấy!

- Làm thế nào bây giờ hả Châu? - Nguyên lo lắng hỏi.

Một thoáng băn khoăn hiện lên trên gương mặt trẻ của Dương Quảng Châu. Bỗng một ý nghĩ chợt loé lên. Châu nói dứt khoát:

- Nếu lia một băng tiểu liên rồi chạy biến vào rừng, thì dễ thôi! Nhưng còn bao nhiêu ba lô, quần áo, bao gạo và cả túi tài liệu, không thể để lọt vào tay địch được. Chúng nó đông, còn ta chỉ có hai người. Thôi! Bây giờ thế này... thế này... Nguyên nhé!

Hiểu ý bạn, Nguyên vội vàng chuyển toàn bộ ba lô, bao gạo và túi tài liệu giấu vào bụi rậm, rồi cầm ngang súng, đứng nấp sau một lùm cây.

Còn Dương Quảng Châu xốc tiểu liên, băng mình ra bờ suối, đúng lúc hơn hai chục tên địch đang bì bõm giữa làn nước.

“Tất cả giơ tay lên!” - Nòng súng tiểu liên “Tuyn” của Dương Quảng Châu hướng thẳng vào toán địch. Đôi mắt anh quắc lên, rực lửa:

- Toàn đại đội vây chặt, không được để tên nào chạy thoát. Tên nào nhúc nhích, bắn chết ngay!

Bị hoàn toàn bất ngờ, bọn lính địch hốt hoảng giơ tay. Theo lệnh anh, tất cả chúng lên bờ, tập họp thành hai hàng ngang, rồi bỏ súng xuống.

Anh bỗng thét lớn:

- Toàn đại đội ở nguyên vị trí! Trung đội 1! Cử một đồng chí ra tước vũ khí địch.

- Rõ!

Từ lùm cây, Nguyên đáp lại thật to rồi chạy ra, mang tất cả súng địch vào bên trong. Xong đâu đấy, anh tiếp tục cầm tiểu liên hướng nòng súng về phía đám tù binh không rời một giây.

Đến lúc này, Dương Quảng Châu bắt đầu lo. Phải làm gì nữa đây? Đội quân báo vẫn chưa về. Anh ra hiệu cho Nguyên, rồi bình tĩnh tiến ra trước hàng lính địch, dõng dạc giải thích chính sách tù, hàng binh. Bình thường Châu ít nói, sao hôm nay anh nói trơn tru thế! Bọn địch yên lặng lắng nghe, thỉnh thoảng liếc mắt nhìn Nguyên đang lăm lăm khẩu súng tiểu liên.

Châu nói một lúc, hết, không còn gì để nói nữa. Sương Điện Biên xuống nhiều, trời chuyển lạnh. Châu lệnh cho đám tù binh ngồi xuống, rồi anh trèo lên một cây cao. Châu vừa đưa khăn tay vẫy vẫy bốn phía, làm như đang ra tín hiệu gì đó cho các trung đội xung quanh, vừa hướng mắt quan sát bóng dáng của đồng đội. Vẫn chẳng thấy gì.

Càng về đêm trời càng lạnh buốt. Bọn tù binh co ro, thu mình lại. Châu và Nguyên cũng đang rét run, mặc dù có áo trấn thủ.

Châu bỗng nảy ra một sáng kiến và ra lệnh:

- Đồng chí Nguyên, vào trung đội 1, mượn 10 cái chăn cho mấy người này đắp tạm.

- Rõ!   

Nguyên chạy vào mở ba lô lấy 10 cái chăn mang ra, 10 cái chăn: có nghĩa là ở trong kia ít nhất có 10 ông Việt Minh. Mối ngờ vực bị xua tan, lại có chăn đắp ấm, 21 tên lính dựa vào nhau ngồi yên lặng. Còn Châu và Nguyên thì vẫn ôm hai khẩu súng đứng ở hai phía.

Mãi đến quá nửa đêm, đội quân báo mới trở về. Nghe tiếng lao xao, Châu chạy ra báo cáo toàn bộ sự việc với đội trưởng. Mừng quá, đội trưởng khen:

- Các cậu giỏi thật!

Sau đó, đội trưởng đội quân báo đến gọi tên chỉ huy ra tranh thủ khai thác tin tức. Gần sáng, anh phân công Châu1, cùng hai chiến sĩ Thảo và Côn áp giải 21 tên tù binh, 21 “cây tài liệu sống” về Sở Chỉ huy Đại đoàn 308.
______________________________________
1. Sau chiến dịch, đồng chí Dương Quảng Châu được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:35:17 pm

NHỚ MÃI TRẬN CHIẾN ĐẤU OAI HÙNG TRÊN ĐỒI ĐỘC LẬP
Trung tướng LÊ NAM PHONG
Nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1
Đại đội trưởng xung kích - bộc phú 255
Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 88

Tôi có may mắn được tham dự trực tiếp nhiều trận đánh suốt chiều dài chiến dịch Điện Biên Phủ, kể từ khi mở đầu đến ngày kết thúc thắng lợi.

Ngày nay, tuy tuổi đã cao, thời gian đã xa, nhưng ký ức vẫn còn giữ lại được nguyên vẹn những sự kiện, hình ảnh, các kỷ niệm sâu đậm trên chiến trường, những tình cảm xúc động đối với các đồng đội đã anh dũng hy sinh trên chiến trường ngày ấy.

Tôi nhớ mãi trận chiến đấu anh hùng và ác liệt của đơn vị chúng tôi trên cứ điểm đồi Độc Lập ngày 15 tháng 3 năm 1954.

Ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ bắt đầu. Trước giờ ra trận, bộ đội được nghe đọc “thư của Hồ Chủ tịch gửi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Điện Biên Phủ”. Tiếp đó nghe lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Điện Biên Phủ!”.

Toàn thể chiến sĩ đại đội tôi vô cùng xúc động, người người bừng bừng khí thế tiến công, tình cảm phấn khích xen lẫn vinh dự và trách nhiệm nặng nề... Bộ đội đã được tiếp thêm nguồn sinh lực mới! Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh.

Sau chiến thắng Him Lam, đêm 14 rạng sáng ngày 15 tháng 3 năm 1954, Trung đoàn 88 vinh dự nhận nhiệm vụ đánh trận đầu tiên của Đại đoàn 308 nhằm tiêu diệt cụm cứ điểm Độc Lập với sự phối hợp của Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) dưới sự chi viện hỏa lực của hai đại đội lựu pháo 105 ly thuộc Đại đoàn 351.

Đồi Độc Lập dài 700 mét, rộng 150 mét ở phía bắc trung tâm Mường Thanh 4km, có hệ thống lô cốt và chiến hào vững chắc, hàng rào dây thép gai bao bọc dày trên 100 mét, do tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 bộ binh thuộc địa An-giê-ri, một đại đội người Pháp cùng một đại đội lính Thái chiếm giữ, được tăng cường 4 súng cối 120 ly và được pháo binh ở Mường Thanh - Hồng Cúm chi viện mạnh. Có thể xem đây là: “Cánh cửa thép phía bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”.

15 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1954, ta đã hoàn tất việc đào giao thông hào để tiến quân, điểm gần nhất đã tới cách địch 150 mét.

- Tiểu đoàn 29 được giao nhiệm vụ làm mũi đột kích chủ yếu của Trung đoàn 88, có Tiểu đoàn 322 làm đội dự bị.

- Đại đội Tô Văn là mũi nhọn của Tiểu đoàn 29.

- Đại đội 225 (do tôi chỉ huy) là đội xung kích - bộc phá của Tiểu đoàn 322.

17 giờ, lựu pháo 105 của ta bắn vào khu đồi Độc Lập, lập tức địch ở Mường Thanh bắn trả lại. Sự việc này tiếp diễn đến nửa đêm và lựu pháo của ta phải bắn kéo dài để chờ sơn pháo 75 ly và cối 120 đến. Do vậy, bộ đội ta phải chịu đựng nhiều đợt pháo 105 ly và 155 ly của địch dội xuống trận địa trong nhiều giờ liền. Trời mưa như trút nước, hào giao thông ngập nước, bùn quánh lại, di chuyển rất khó khăn... Sau khi sơn pháo 75 ly và cối 120 ly chiếm lĩnh xong trận địa, 3 giờ 15 phút sáng ngày 15 tháng 3, lệnh của Chỉ huy trưởng truyền xuống:

- Chuẩn bị! Lựu pháo sẽ bắn dồn dập thêm một loạt nữa. Hỏa lực các đơn vị phải phối hợp. Sau 15 phút, xung kích tranh thủ “mở cửa”. Đúng 3 giờ 30 phút, nổ súng!

Và đúng 3 giờ 30 phút, từ phía đông pháo 105 ly đã gầm lên, trút bão lửa xuống đồi Độc Lập. Ở tuyến hỏa lực bắn trực tiếp, cách đồn địch dưới 100 mét, mười khẩu đội Bazôka đồng loạt phóng đạn lõm vào các hỏa điểm địch; 9 khẩu ĐKZ cùng 6 khẩu đại liên Mắcxim cùng bắn thẳng vào cứ điểm.

Các ổ súng địch đã câm họng. Tuyến đề kháng vòng ngoài của địch bị tê liệt. Thời điểm đột phá thật thuận lợi. Mệnh lệnh xung phong phát ra!

Ngay lập tức mũi nhọn xung kích của Đại đội Tô Văn đã xông lên, đặt quả bộc phá hàng rào thứ nhất. Lần lượt các chiến sĩ Nguyễn Bá Tuệ, Nguyễn Đàm cùng Nhị, Viên ôm bộc phá xông lên trận địa.

Sau khi tiểu đội trưởng Cấp hy sinh, Nguyễn Văn Ty đã nhanh chóng dẫn tiểu đội vượt lên. Chính Nguyễn Văn Ty là người đã chỉnh lại hướng mở của trận đánh, lần lượt đưa các chiến sĩ bộc phá của mình lao lên. Cả 11 chiến sĩ bộc phá đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Lô cốt địch đã hiện ra khá gần! Nhưng cũng là lúc quân ta hết bộc phá. Cả trận địa chìm lặng xuống.

Pháo binh địch tiếp tục dội bão lửa vào trận địa. Các cỡ súng còn lại trong đồn có dịp phục hồi, bắn mãnh liệt vào quân ta. Lúc này trung đội đột kích đã bị thương vong gần hết, cửa mở chưa thông mà bộc phá đã hết.

Bấy giờ theo lệnh của Trung đoàn, tôi dẫn đơn vị bộc phá của mình xông lên tiếp ứng, sáu chiến sĩ bộc phá liên tục lao lên đánh 6 quả nổ giòn, đã vào gần lô cốt 6 mét. Trong lô cốt một khẩu đại liên còn sống sót điên cuồng bắn loạn xạ. Chiến sĩ bộc phá chúng tôi đánh tiếp quả thứ 7 rồi thứ 8, hàng rào dây thép gai trước lô cốt chỉ còn 2 mét.

Tôi hô to: “Đường đã mở xong! Các đồng chí tiến lên!”.

Nhưng pháo địch bắn chặn ác liệt, chưa một ai có thể vượt lên. Chính ủy Trung đoàn gọi điện về Bộ Chỉ huy mặt trận yêu cầu lựu pháo chế áp pháo địch ở Mường Thanh; sau đó là một trận đấu pháo dữ dội diễn ra làm rung chuyển cả thung lũng Mường Thanh.

10 phút sau, mệnh lệnh được phát ra, các chiến sĩ xung kích lại nhất tề vùng dậy xông thẳng vào đồn giặc, phối hợp cùng Trung đoàn 165 tiêu diệt sở chỉ huy địch. Bấy giờ, quân địch cho một tiểu đoàn lính dù tinh nhuệ cùng 5 xe tăng từ Mường Thanh ra ứng cứu. Chúng tổ chức một đợt phản xung phong quyết liệt hòng đẩy quân ta ra để chiếm lại đồn. Nhưng với quyết tâm cao và khí thế quyết chiến quyết thắng, các mũi xung kích đã vào được trung tâm. Đại đội Tô Văn xông vào bắt sống tên quan tư Méc-cơn-nem.

Đúng 6 giờ 30 phút ngày 15 tháng 3 năm 1954, quân của Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm đồi Độc Lập. Hơn 600 quân địch bị tiêu diệt và bị bắt.

Đại đội 225 của chúng tôi đã sát cánh cùng Đại đội Tô Văn trong những giờ phút cam go hiểm nghèo, cuối cùng đã giành được chiến thắng vẻ vang.

Ngay sau đó, Đại đội 225 tiếp tục tham gia những trận đánh chống phản kích suốt trong 3 ngày 16, 17, 18 tháng 3 năm 1954 của quân Âu Phi ra phản kích với lực lượng chi viện của hỏa pháo và xe tăng. Nhưng bộ đội chúng ta đã anh dũng đập tan ý đồ ứng cứu của địch.

Sau những ngày đó là việc thu dọn chiến trường, giải quyết thương binh, tử sĩ. Công việc này vô cùng vất vả, nếu không có dũng khí can trường, tình cảm đồng chí, đồng đội, thì khó mà hoàn thành chu đáo nhiệm vụ.

Đến nay đã 55 năm trôi qua, Đại đội 225 Tiểu đoàn 322 của Trung đoàn 88 Anh hùng chỉ còn lại 4 người.

1. Tôi, Lê Nam Phong (Đại đội trưởng).
2. Phạm Đức (liên lạc).
3. Trần Nam (chiến sĩ).
4. Trần Tường (chiến sĩ).

Gần đây mới có dịp gặp lại nhau, ôn lại kỷ niệm cũ, lòng chúng tôi vô cùng bùi ngùi, xúc động, nhớ về những kỷ niệm chiến đấu gian khổ, hy sinh trên chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:36:14 pm

ĐÊM ĐẦU TIÊN ĐÀO TRẬN ĐỊA
MINH ĐƯỜNG
Tiểu đội 1, Trung đội 1,
Đại đội 241 Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 141

Mới bổ sung về đơn vị một ngày. Đêm ấy tôi đi đào trận địa. Luồn qua những giao thông hào, vướng rễ cây, bùn lội quá gối dẫn ra mặt trận. Gần suối Cạn, giao thông hào qua giữa cánh đồng, tôi trông rõ hướng địch phía trước. Những chiếc đèn dù lơ lửng trên trời. Trận địa sáng như đêm trăng rằm, bóng đoàn quân lùi lũi chạy giữa giao thông hào. Tiếng đại bác ình oành nổ còn hơi xa chúng tôi. Đêm nay lần đầu tiên ra mặt trận, càng đi sâu về phía địch, tôi càng hồi hộp, vừa lo vừa phấn khởi.

Oàng, xịt - xịt - xịt... oàng. Cả đơn vị dừng ngay lại, nằm rạp xuống. Đại bác cứ xịt xịt rồi nổ vang tai, hơi đạn dập người xuống, vừa sợ, vừa tức như địch tát vào mặt mình. Tay nắm chặt vào cán xẻng, đêm nay sẽ quyết để trả thù... Địch bắn chỉ 5 phút rồi thôi, không ai bị sây sát. Tôi càng vững tâm tin lời anh tổ trưởng nói hồi chiều: “Địch bắn 1.000 quả may ra mới có một quả trúng giao thông hào”.

Sau khi nhẹ nhàng bò lên bãi phẳng, dàn đúng cự ly, mọi người bắt đầu nằm đào. Ai cũng ráng hết sức, hai cánh tay đẩy xẻng xúc đất lên đổ về phía trước. Động tác chẳng khác gì con dế dũi đất. Trước tôi là đồng chí tổ trưởng, sau Lương và Hải cùng là tân binh. Chúng tôi nhìn nhau như nhắc lại quyết tâm đã hứa trong buổi sinh hoạt tổ: “Đêm nay ra trận lần đầu, dù có phi pháo địch, vẫn bình tĩnh quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”.

Tiếng “xăng-vanh” vẫn nổ đằng sau, một băng đại liên tặc - tặc - tặc, những mũi đạn đỏ vút qua đầu rồi liên tiếp nhiều loạt súng liên thanh trong đồn bắn ra, đạn veo veo đan sát mặt đất. Tôi nằm bẹp xuống rãnh đất đã đào được, cằm cứng lại, tay chân run run. Đằng trước, anh tổ trưởng vẫn bình tĩnh nằm xúc đất. Mặc cho đạn bắn, tôi lại tiếp tục đào, đã nằm lấp được người thì duỗi thẳng không còn sợ nữa. Đào liên tục, mồ hôi chảy ướt cả quần áo vẫn không có lệnh nghỉ. Tuy mệt nhưng hầm càng sâu nên tôi càng cố gắng. Có thể bắt liên lạc từ người nọ đến người kia. Chúng tôi được nghỉ uống nước. Anh tiểu đội trưởng quay xuống động viên từng người. Đại đội lại phổ biến tin đêm nay đơn vị bạn đánh 4 đồn nên càng thêm phấn khởi.

Một số anh em đi lên cắt hàng rào, còn chúng tôi lại tiếp tục, mỗi người đào 3 thước hào cho đủ mức yêu cầu, vẫn còn lâu. Người mệt lắm, nhưng vẫn xắn từng miếng đất tơi đổ lên, rồi xắn miếng khác thật nhanh. Tôi nghĩ dù khó nhọc, nhưng đào lên được một thước đất là thắt chặt thêm một thắt vào cổ quân thù. Phấn khởi vì nhiệm vụ, như quên có địch chỉ cách mình 100 thước, tôi muốn hò lên câu hò đúng ý nghĩ của mình thì lệnh trên lại truyền xuống “im lặng... đào khẽ... kẻo lộ”, dứt lệnh truyền xăng-vanh nổ dồn dập trên đầu. Đất tung tóe hất vào tôi tối tăm cả mặt mũi, người bị tung lên dập xuống. Có tiếng kêu ai đã bị thương đằng trước. Anh y tá lom khom chạy vụt lên, lại có người bị thương ở đằng sau, lệnh gọi cáng thương chuyển xuống... Đại bác cứ bắn nổ gần mình rồi lại ra xa, rồi lại vào gần. Hơn nửa tiếng đồng hồ dữ dội, tôi đâm ra hoang mang. Lúc ấy tôi nghĩ đến gia đình nghèo đói, mẹ già đã khổ suốt một đời người, nghĩ đến đàn em thơ dại, đến tương lai và hạnh phúc của mình... càng thấy thằng giặc không bao giờ để cho mình sống, hưởng tự do hạnh phúc... Tôi thấy nó thật dã man hung ác, không giết nó đi thì không sống được. Ý nghĩ ấy kích thích tôi giữ vững quyết tâm. Thấy đồng đội bị thương, lòng căm thù tôi càng sôi sục.

Nó ngừng bắn tôi lại đào. Bấy giờ, nghe đạn địch bắn tôi chỉ nghĩ: “Giai cấp mình muốn sống cần phải tiêu diệt nó. Để chiến thắng mình phải dũng cảm chiến đấu không tiếc hy sinh cho quyền lợi chung của giai cấp. Phần xương máu ấy là phần vinh dự, ta phải dũng cảm, phải diệt nó đi...”.

Cả đơn vị càng đào gấp trong tiếng đạn địch bắn dồn dập... Tiếng cuốc xẻng xoèn xoẹt nghe như tiếng tay đang xiết chặt cổ quân thù.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:37:29 pm

MỘT ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC CHẤP NHẬN
Đại tá NGUYỄN ĐỨC DỤC
Nguyên Trung đội trưởng Đại đội 755
Tiểu đoàn 275, Trung đoàn Sơn pháo 675

Trước chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi là Trung đội trưởng thuộc Đại đội 755 Tiểu đoàn 275 Trung đoàn Sơn pháo 675. Đại đội 755 chúng tôi phối thuộc với một đơn vị bộ binh làm nhiệm vụ “mãnh hổ rình mồi” đề phòng địch chọc ra hậu phương của ta ở Phú Thọ. Tuy làm nhiệm vụ ở Phú Thọ, nhưng mọi cán bộ, chiến sĩ đều mong muốn được lên chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

Thế rồi, nguyện vọng ấy đã đến. Tôi được triệu tập lên họp chi ủy, họp xong tôi được chính trị viên đại đội cho biết, theo lệnh của tiểu đoàn: “Đồng chí Dục sẽ ở lại phụ trách hậu phương của đơn vị vì sức yếu”. Nghe quyết định này tôi thấy bàng hoàng và không thể giữ được bình tĩnh. Tôi liền xin lên gặp tiểu đoàn.

Rất may cho tôi là được gặp cả hai đồng chí Đinh Thành và Lương Tý là hai thủ trưởng Tiểu đoàn. Trình bày nguyện vọng với cấp trên, tôi nghẹn ngào như muốn khóc. Cả hai đồng chí đều nói: Đồng chí hãy bình tĩnh mà trình bày. “Kính thưa thủ trưởng tiểu đoàn, tình hình sức khỏe của tôi như sau: Tôi chỉ bị sốt rét kinh niên, còn ngoài ra tôi không bị đau yếu gì hết. Hơn nữa cả mùa huấn luyện vừa qua tôi luôn có mặt ở thao trường. Rất mong thủ trưởng chấp thuận cho tôi được đi chiến dấu và tôi xin hứa sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ”.

Sau khoảng mười phút hội ý, tiểu đoàn tuyên bố: “Chấp thuận ý kiến xin đi chiến đấu của đồng chí Dục”.

Vui như mở cờ trong bụng, tôi vừa đi, vừa chạy về báo tin cho đơn vị biết.

Vây quanh lấy tôi, anh em vui như Tết, chúc mừng tôi được đi chiến đấu cùng đơn vị pháo. Sau 7, 8 năm hành quân bằng khiêng vác, nay được hành quân bằng cơ giới thật là tuyệt vời, sung sướng biết mấy! Tuy nhiên ngày đầu ngồi xe chưa quen, nên đã có một vài đồng chí bị say xe, ói mửa rất khó chịu, nhưng rồi cũng quen dần.

Hành quân trong đêm tối, vì giữ bí mật, ô tô không được dùng đèn lớn, mỗi xe chỉ được sử dụng một đèn gầm ánh sáng rất hạn chế.

Đêm hành quân đến đỉnh đèo Pha Đin, chiếc xe tôi ngồi bị chết máy, mà trời lại gần sáng. Trong tình huống nguy hiểm đó, cấp trên ra lệnh: “Sau 20 phút nếu không sửa được thì đành phải hy sinh, hất xe xuống vực để tránh mọi nguy hiểm cho cả đoàn xe pháo”. Từ lái xe đến cán bộ, chiến sĩ như ngồi trên đống lửa. Rất may chỉ khoảng 10 phút sau, lái xe đã sửa được. Gần sáng tới vị trí tập kết. Buổi chiều cùng ngày, tôi được lệnh đi với tiểu đoàn trưởng để xác định vị trí đặt pháo. Buổi tối đào hầm pháo, tôi luôn có mặt để động viên đơn vị và kiểm tra kỹ thuật.

Đêm 30 tháng 3 năm 1954, đơn vị lần đầu tiên ra quân trong đợt 2 chiến dịch, phối hợp với bộ binh. Pháo bắn nhiều đợt trúng đích, luôn nhận được lệnh động viên của cấp trên.

Sau khi bộ binh chiếm đồi E1, chúng tôi được lệnh chiếm lĩnh và phòng ngự tại đồi E1. Đêm hôm đó trời mưa đường trơn, giao thông hào bị bùn lầy, pháo khiêng vác thì cồng kềnh rất khó đi, kẻ thù thì liên tục pháo kích và bắn pháo sáng lên đồi. Nhưng với tinh thần “quyết chiến quyết thắng”, anh em đã nhanh chóng vượt lên. Lợi dụng hầm hào của địch, quân ta nhanh chóng hoàn thiện dần công sự cho pháo và hầm hố cho người.

Từ đồi E1 bằng mắt thường nhìn xuống trung tâm Mường Thanh, ta và địch đều nhìn rõ sự di chuyển của nhau. Phòng ngự trên một quả đồi trơ trọi, thật là quyết liệt và gian khổ vô cùng.

Có ngày sơn pháo ta trên đồi E1 đã phá hủy được 4 khẩu pháo 105 ly, một máy bay và một ô tô của địch. Để trả thù, có ngày địch liên tục dội bom, pháo kích lên đồi hết đợt này đến đợt khác, từ mờ sáng cho đến chiều tối.

Trong chiến tranh, sự thử thách về thể lực con người cũng rất lớn. Hàng ngày, trừ một số trực chiến, số còn lại cuốc xẻng trong tay để củng cố hầm hào. Ăn uống thiếu thốn, quần áo không đủ ấm. Có những đêm mưa to gió lớn, lạnh buốt thấu xương, anh em chỉ biết ngồi sát bên nhau mong trời chóng sáng để ánh mặt trời xua tan cái giá buốt miền Tây Bắc.

Gian khổ ác liệt như vậy nhưng lính ta cũng có những giây phút thư giãn bên nhau, nhâm nhi một ít chiến lợi phẩm mà lính bộ binh, trinh sát đi ngang qua tặng cho lính pháo. Vừa ăn, vừa kể chuyện cười... khiến nhiều anh em cười chảy nước mắt và phải bịt miệng để không lộ bí mật.

Trong thời gian chiến đấu phòng ngự trên đồi E1, tôi được đề bạt lên Chính trị viên phó đại đội và điều sang Đại đội 201, Tiểu đoàn H6 do đồng chí Hoàng Khoát làm Chính trị viên tiểu đoàn.

Kết thúc toàn thắng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, một trong những khẩu đội trưởng sơn pháo phòng ngự trên đồi E1 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đó là đồng chí Phùng Văn Khầu.

Khi viết những dòng này, tôi vẫn ngỡ như mới ngày nào trên đồi E1. Vậy mà đã 55 năm!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:39:25 pm

HAI LẦN ĐÁNH CỨ ĐlỂM ĐỒI A1
Đại tá TRẦN THẾ ĐỀ
Nguyên Chính trị viên Đại đội 16,
Tiểu đoàn 249, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316

Đầu tháng giêng năm 1954, đại đội tôi (C16) và các đơn vị bạn cùng trong đội hình của Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, chờ lệnh tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Mỗi chúng tôi từ cán bộ đến chiến sĩ ai cũng mang trên mình một cái bánh chưng và ít cục lương khô đủ ăn trong một ngày rưỡi. Chiến sĩ Lê Văn Tỏ, dáng nhỏ bé, nặng độ 37 kg, có nước da ngăm đen, người Hải Dương chính cống, luôn có nụ cười tươi, nhanh nhảu thay mặt số anh em chạy đến hỏi tôi: “Thủ trưởng ơi! Đánh nhanh thắng nhanh liên tuc trong 3 ngày, vậy còn ngày rưỡi nữa lấy đâu để ăn?”. Nhìn chú lính nhỏ mến yêu, tôi đáp: “Thế cậu không nhớ trước giờ xuất phát, đại đội đã phổ biến chủ trương của trên là khi đánh vào trung tâm Mường Thanh sẽ lấy lương thực của địch để cung cấp cho ta, cậu quên rồi hả?”. Tôi vừa dứt lời thì có lệnh của trên: “Bí mật rút quân về vị trí tập kết, hoãn cuộc tiến công”. Toàn đại đội đang trong không khí hào hứng phấn khởi bỗng dưng lặng xuống ỉu xìu.

Trở về vị trí tập kết, tiểu đoàn trưởng 249 Vũ Hòe quán triệt chủ trương mới của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Trước đây ta chủ trương “đánh nhanh, thắng nhanh”, nay do tình hình địch có nhiều thay đổi, chúng đã được củng cố và tăng cường về nhiều mặt, nên ta phải chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc” để bảo đảm tính chủ động và chắc thắng.

Đón chờ lệnh mới, trong những ngày giáp Tết, Điện Biên giá lạnh, lại đóng quân trên quả đồi rậm rạp, tôi bỗng nhớ gia đình, nhớ hậu phương da diết, đêm đó thao thức không sao ngủ được. Tôi sang hầm chiến sĩ, y tá cũng cùng tâm trạng. Hai anh em chúng tôi cùng cậu văn thư và liên lạc của đại đội bảo nhau làm thơ cho khuây khỏa. Trời rét căm căm, chúng tôi thèm thuốc không sao viết được, cả 4 người tìm khắp mọi nơi mới kiếm được một điếu thuốc lào, anh em chia nhau không đủ cho mỗi người một hơi. Đồng chí Hoan y tá, có biệt danh là Hoan lác (anh bị hiếng) giỏi viết báo làm thơ, thèm thuốc đến nỗi phải lấy lá rừng khô quấn lại châm lửa phì phèo mới ra được mấy câu thơ:

      “Ôm ấp trong tay chiếc điếu cày
      Thuốc lào cạn kiệt thế lá cây
      Khói là trước mặt ấm lòng lính
      Khoan khoái đợi chờ lệnh đánh Tây”.


Trong khó khăn thiếu thốn, chia sẻ nhau từng hơi thuốc mới thấy thấm thía câu nói: hạt muối cắn đôi, bát cơm xẻ nửa.

Bước vào nhiệm vụ làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa tiến công, cả Trung đoàn 174 chúng tôi ai nấy đều hăng say lao vào trận đánh mới - đào hào xây dựng trận địa. Trên 60 ngày đêm liên tục, chiếc xẻng, chiếc cuốc trong tay chúng tôi cùng các chiến sĩ trung đoàn đã hoàn thành trên 15 km đường giao thông hào, gần 6.000 hầm hố và trận địa hỏa lực dưới bom đạn địch thường xuyên bắn phá, mưa dầm gió rét, ruồi vàng, muỗi, vắt tấn công, bệnh tật ốm đau. Một số đồng đội chúng tôi đã phải ra đi vì bom đạn, vì sốt rét. Để thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, Trung đoàn 174 được đại đoàn phân công đánh A1 (trước đây chủ trương đánh nhanh thắng nhanh do trung đoàn 98 đảm nhận). Đại đoàn cân nhắc thấy Trung đoàn 174 có nhiều thành tích và kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc, là đơn vị đã từng chiến thắng với trận Đông Khê nổi tiếng ở chiến dịch Biên Giới năm 1950, tiêu diệt địch ở cứ điểm boong ke La-ri-ê thuộc tiểu khu Phù Lỗ huyện Kim Anh vào đầu tháng 12 năm 1951 với 6 lô cốt nhỏ bao bọc lô cốt mẹ do đại đội Âu Phi tăng cường chiếm đóng. A1 là cứ điểm mạnh nhất trong các cứ điểm trên các ngọn đồi phía đông của tập đoàn Điện Biên Phủ. A1 có công sự vững chắc được Pháp xây dựng từ trước năm 1940, năm 1945 Nhật xây sửa thêm, nay chúng cải tạo thành cao điểm phòng ngự kiên cố, có tiểu đoàn lính Marốc và Lê dương chốt giữ, xây dựng thành 3 tuyến có hỏa lực mạnh. Ngoài đồn có 3 lớp dây thép gai dày 100 mét xen giữa những bãi mìn để ngăn chặn quân ta đột phá. Chiếm được A1, ta có thể uy hiếp mạnh mẽ khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, khống chế vùng trời, thu hẹp phạm vi tiếp tế của địch bằng máy bay thả dù. A1 còn là lợi thế để quân ta làm bàn đạp vượt qua cầu Mường Thanh, nhanh chóng tiến tới khu chỉ huy sở của tướng Đờcátxtơri.

Từ vị trí tập kết đến sát chân đồi A1 cách nhau vài cây số, đơn vị chúng tôi đã có con đường hào hoàn chỉnh, sâu lút đầu người, được ngụy trang kín đáo. Anh em trong đơn vị sẵn sàng chờ lệnh xông lên. Đây là thời gian chờ đợi náo nức hồi hộp. Niềm tin và hy vọng về chiến thắng Điện Biên bao phủ lên đơn vị chúng tôi. Trước giờ nổ súng, tôi gặp Chính trị viên đại đội Trần Đạm thuộc Tiểu đoàn 251 (cùng trung đoàn) là bạn thân, sinh ra và lớn lên ở Thành Nam, rất mê văn nghệ và bóng đá, đã cùng nhau vài giờ liền phơi nắng, đá bóng bên bờ sông Chu thuộc Thọ Xuân, Thanh Hóa (nơi đóng quân trước lúc lên Điện Biên). Anh có tài vẽ, mỗi tờ báo tường của đơn vị bao giờ cũng có một, hai bức tranh vui của anh. Chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng, thăm hỏi sức khỏe và trao đổi với nhau về tình hình đơn vị, công tác chuẩn bị chiến đấu của đơn vị mình. Trước lúc chia tay, hai anh em chúng tôi còn nói vui với nhau: Chiến thắng kỳ này sẽ trở lại Thọ Xuân, Thanh Hóa, nơi nhân dân đã từng nuôi dưỡng mình trước ngày ra trận để lấy vợ nhé! Chuyện đó không ngờ sau hơn 3 năm lại là sự thật. Đám cưới rất đơn giản: vài buồng cau, một cân thuốc lá sợi, ít bánh chè lam, vài cân kẹo lạc cùng nước chè xanh. Tốn kém cả thảy 6, 7 chục đồng lúc đó. Vậy mà vẫn đông như hội, vui như tết. Hiện nay hai anh em chúng tôi đang sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Anh là một họa sĩ. Đầu năm 2002, anh đã tham gia triển lãm ở Hà Nội với những bức tranh khá nổi tiếng. Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen và lấy làm tự hào về một chiến sĩ Điện Biên như anh.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:40:48 pm

Ngày tiến công đã đến, giờ nổ súng đã cận kề. Đại đội tôi (C16) và đại đội 17 do đồng chí Hải Bằng là đại đội trưởng (nay là trung tướng) thuộc Tiểu đoàn 249, đơn vị chủ công của Trung đoàn 174 do đồng chí Lê Sơn tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy đã sẵn sàng. Lê Sơn, người dân tộc Tày, quê ở tỉnh Lạng Sơn, nhanh nhảu, tháo vát, rất vui tính nói chuyện với anh em hay có điệu bộ lắc lắc cái đầu. Đồng chí có đặc điểm nổi bật là nhận bất cứ nhiệm vụ gì cấp trên giao cũng vui vẻ biểu lộ quyết tâm cao. Chả thế mà trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An (sau là Thượng tướng Tư lệnh Quân đoàn 2) thường nói: mỗi lần giao nhiệm vụ cho Lê Sơn là thấy thoải mái yên tâm tin tưởng.

18 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3, lệnh tiến công bắt đầu. Ít phút sau, các chiến sĩ bộc phá của ta đã mở xong cửa. Trong đội hình đầu nhọn đuôi dài, đại đội chúng tôi nhanh chóng tiến lên. Do nổ súng sau các hướng khác nửa tiếng đồng hồ, yếu tố bí mật bất ngờ đã không còn nữa nên bị pháo địch bắn ngăn chặn. Đại đội 17 đi đầu đã nhanh chóng vượt qua lửa đạn đánh chiếm lô cốt đầu cầu chiếm các đoạn hào, quần nhau với địch trên đồi A1. Pháo địch tại Mường Thanh, Hồng Cúm chi viện cho A1 rất dữ dội, kéo dài liên tục, đại đội chúng tôi không tiến lên được, phơi mình trên mặt đất. Một trung đội trưởng và một số chiến sĩ của đơn vị tôi bị thương phải ở lại phía sau. Hơn 1 tiếng đồng hồ, lợi dụng lúc pháo địch vừa dứt tiếng, đại đội tôi nhanh chóng băng qua hàng rào dây kẽm gai tiến vào A1. Từ các ngách giao thông hào trong đồn địch, chúng tôi đánh thốc lên đỉnh đồi, mở hai đợt xung phong nhưng không thể tiến lên được. Địch ở trên cao bắn xả xuống quyết liệt, chiến sĩ này ngã xuống, chiến sĩ kia tiếp tục xông lên bám lấy từng đoạn hào để tiến lên.

Mờ sáng ngày 31 tháng 3, từ hướng Mường Thanh, địch dùng xe tăng cùng bộ binh phản kích. Các chiến sĩ đại đội 16, 17 anh dũng bám chắc trận địa, dùng tiểu liên, lựu đạn đánh trả. Ta và địch quần nhau hơn hai giờ quyết liệt, xác địch chồng chất lên nhau; phía ta lúc này sức tấn công đã giảm, số thương vong cũng nhiều. Đại đội 16 xốc lại còn hơn 1 trung đội, chúng tôi phải lùi về một đoạn hào chiếm được của địch để cố thủ. Đạn và lựu đạn của nhiều chiến sĩ đã hết, chưa tiếp ứng kịp. Đồng chí Hải Bằng, đại đội trưởng đại đội 17 lấy khẩu AK của chiến sĩ hy sinh trực tiếp đấu súng với địch như một chiến sĩ thực thụ. Tôi động viên số anh em y tá liên lạc văn thư đại đội đi kiếm súng đạn, lựu đạn của số chiến sĩ bị thương vong để tiếp tế cho lực lượng chiến đấu ở phía trước. Khoảng 16 giờ, chúng tôi nhận lệnh tổ chức phòng ngự tại chỗ. Đại đội 316 (có lúc gọi là 16) lui về vị trí tập kết để chấn chỉnh củng cố, bổ sung lực lượng. Bộ phận nhỏ của trung đoàn đảm nhiệm nhiệm vụ chốt chặt phần đồi A1 đã chiếm được.

Đêm 31 tháng 3, theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Trung đoàn 102 thuộc Đại đoàn 308 thay thế Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ chủ yếu tiếp tục tiến công đồi A1. Cả đêm 31 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4, Trung đoàn 102 vẫn không tiêu diệt được A1. Sáng ngày 1 tháng 4, địch chia làm hai hướng phản kích, ở cánh phải chúng bị Trung đoàn 102 chặn lại. Bên cánh trái, địch cho xe tăng mở đường đánh xuống trận địa của Trung đoàn 174. Các chiến sĩ của Trung đoàn 174 dùng tiểu liên, lựu đạn chia cắt bộ binh địch, yểm trợ cho hai chiến sĩ mang Bazôca ra bắn cháy xe tăng địch. Bị mất chỗ dựa, chúng hoảng hốt tháo chạy. Hơn 8 giờ, đại đội 16 do đồng chí Nhượng làm đại đội trưởng, tôi làm chính trị viên được lệnh tiến lên A1 lần thứ hai, tăng cường lực lượng chiến đấu cho trung đoàn. Chúng tôi tiến theo giao thông hào, một mạch vượt qua lửa đạn, nhanh chóng có mặt ở A1, chiếm lĩnh trận địa, chia làm 3 mũi cùng các đơn vị trong Trung đoàn 174 ngăn chặn địch từ trên đỉnh đồi đánh xuống. Địch đông, hỏa lực mạnh, lại có máy bay, pháo binh nhiều đợt bắn phá dữ dội và điên cuồng nhưng đều bị quân ta ngăn chặn. Cánh của đại đội 16 dạt sang phải, tôi gặp đồng chí chỉ huy của đơn vị bạn chưa từng quen biết, có nước da ngăm đen, người tầm thước, có vẻ từng trải. Tôi đoán ở nơi đầu sóng ngọn gió, quyết liệt thế này, cao lắm tiểu đoàn trưởng là cùng. Vừa thấy tôi, đồng chí ấy chỉ sang phải hô lớn: Đồng chí cho anh em giữ vững đoạn hào có ụ súng kia!

Cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch cho đến chiều, cả hai bên đều không tiến thêm được chút nào.

Từ đêm 1 tháng 4 đến sáng 3 tháng 4, trên đồi A1 diễn ra nhiều đợt phản kích quyết liệt. Pháo binh, máy bay địch bắn phá dữ dội. Cán bộ, chiến sĩ hai Trung đoàn 102 và 174 sát cánh bên nhau chiến đấu vô cùng dũng cảm, tiêu diệt được nhiều địch. Từ ngày 4 tháng 4 mỗi bên giữ nửa đồi A1. Kết thúc đợt tiến công thứ 2, toàn mặt trận khẩn trương chuẩn bị đợt tiến công thứ 3 để kết liễu số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau ngày giải phóng Điện Biên, tôi cứ băn khoăn về người chỉ huy gan dạ sâu sát cùng vào sinh ra tử với chiến sĩ ở thời điểm gay go quyết liệt ấy là ai, cấp bậc, chức vụ là gì? Với tôi, anh là một hình ảnh đẹp của người chỉ huy chiến đấu gan dạ mà tôi mong gặp lại để bày tỏ lòng khâm phục. Bốn năm sau, năm 1958, tình cờ chúng tôi gặp nhau ở Trường Sĩ quan Lục quân do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Hiệu trưởng, đồng chí Lê Quang Hòa làm Chính ủy. Lúc đó tôi mới biết người chỉ huy ra lệnh cho tôi trên đồi A1 là Trung đoàn trưởng Hùng Sinh, ngoài dự đoán của tôi lúc gặp anh trên đồi A1. Anh làm trưởng phòng huấn luyện, tôi là cán bộ tuyên huấn nhà trường, chúng tôi bỗng chốc trở nên thân thiết. Sau mỗi lần nói thời sự cho học viên xong, lúc ra về, tôi thường ghé thăm anh. Lần nào chúng tôi cũng nhắc đến kỷ niệm đồi A1 - Điện Biên. Nhiều lần anh vỗ vai tôi và nói: Cậu nên nhớ, không có phương châm “đánh chắc, tiến chắc” thì chúng mình làm gì còn sống đến ngày hôm nay! Lời nói của anh như khẳng định với tôi một vấn đề vô cùng quan trọng không bao giờ quên được.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:42:35 pm

ĐẠI ĐỘI TÔI TRONG 31 NGÀY ĐÊM GIỮ ĐỒI C1
Thiếu tướng ĐỖ VĂN PHÚC
Nguyên Tùy viên quân sự ĐSQ Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Nga
Đại đội trưởng Đại đội 56, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, với trận đánh mở màn tiêu diệt cứ điểm Him Lam, sau 4 ngày chiến đấu, quân ta đã kết thúc thắng lợi đợt 1.

Đợt tiến công thứ hai mới là đợt dài ngày, gay go, ác liệt nhất. Trong đợt tiến công này, Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 trong đó có đại đội “bộ binh pháo” của chúng tôi, được giao nhiệm vụ đánh cứ điểm C1. Đồi C1 là cứ điểm trọng yếu cùng với A1 và C2 nằm gần nhau, địch tổ chức thành khu phòng ngự then chốt ở cửa ngõ phía đông khu trung tâm Mường Thanh.

Tham gia đánh cứ điểm này, đại đội “bộ binh pháo” tức là pháo nhỏ đi cùng bộ binh của chúng tôi có 1 trung đội với 3 khẩu pháo không giật ĐKZ 57 ly và 3 trung đội với 9 khẩu cối 81 ly. Với hỏa lực đó, 3 khẩu pháo không giật đã được điều đến phối thuộc với tiểu đoàn bộ binh chủ công. Còn 9 khẩu cối 81 ly được tổ chức thành trận địa hỏa lực bố trí trên hướng tiến công chủ yếu của trung đoàn, cách cứ điểm C1 khoảng 350 mét. Trận địa bố trí gần, phạm vi quan sát rộng, nên từ đây với thế mạnh của loại cối 81 ly đi sát bộ binh, chúng tôi có thể trực tiếp chi viện hỏa lực cho trung đoàn đánh C1, đánh C2 và khi cần, có thể hiệp đồng chi viện hỏa lực cho đơn vị bạn chiến đấu ở A1 và làm các nhiệm vụ chiến đấu khác.

17 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ hai của chiến dịch bắt đầu. Pháo binh ta bất thần bắn mạnh vào sở chỉ huy Đờcátxtơri, các cứ điểm A1, C1, D1 và đồi E, các trận địa pháo binh và quân cơ động của địch. Trên đồi C1, 30 trái đạn lựu pháo 105 ly của Mặt trận và hàng trăm quả đạn cối 81 ly của đại dội tôi cùng với cối 60 ly của tiểu đoàn bộ binh đã giáng đòn sấm sét đánh dập đầu quân địch, tạo điều kiện cho bộ binh của Trung đoàn 98 nhanh chóng mở cửa đột phá, xung phong tràn vào đánh địch, tiêu diệt và bắt sống 140 tên thuộc tiểu đoàn 1 lính Marốc, chiếm được cứ điểm này sớm hơn 45 phút so với thời gian mà trung đoàn trưởng Vũ Lăng đã hứa với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi hoàn toàn làm chủ C1, trung đoàn lệnh cho các đơn vị nhanh chóng củng cố lại lực lượng, cải tạo và đào mới công sự, chuẩn bị mọi mặt để phòng địch phản kích từ C2 vượt qua “yên ngựa” đánh chiếm lại C1.

Trong khi đó ở A1, cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn đang diễn ra rất gay go ác liệt. Ngày 9 tháng 4 năm 1954, được lực lượng nhảy dù tăng cường, có pháo binh, xe tăng và máy bay yểm hộ, địch tiến hành phản kích lớn, từ C2 ngược qua “yên ngựa” đánh sang nhằm chiếm lại C1 để bảo vệ sườn bên trái của A1, khôi phục lại khu phòng ngự then chốt của chúng ở cửa ngõ phía đông khu trung tâm Mường Thanh. Do dự kiến trước được tình huống đó nên trung đoàn đã có phương án chủ động đánh trả địch ngay từ đầu rất quyết liệt. Riêng hỏa lực súng cối 81 ly của đại đội chúng tôi phải hoàn thành 2 nhiệm vụ: Một mặt phải bắn tập trung mãnh liệt vào khu “yên ngựa” phá vỡ đội hình phản kích của địch, cùng với hỏa lực các loại của pháo binh, bộ binh tạo thành một lá chắn lửa trước tiền duyên phòng ngự của ta, kết quả là đã diệt được nhiều sinh lực địch, bẻ gãy các đợt xung phong của chúng. Mặt khác phải sẵn sàng khi có lệnh hoặc yêu cầu của bộ binh, kịp thời di chuyển hỏa lực bắn vào cột cờ trên đỉnh đồi C1, chế áp tiêu diệt địch khi chúng đột nhập vào tung thâm phòng ngự của ta.

Nhiệm vụ thứ hai này là nan giải nhất đối với chúng tôi. Nan giải bởi phải làm sao cản diệt được địch mà không sát thương quân ta khi cả ta và địch đều rất gần nhau, khi ở đây ta đông người, địa hình hẹp, giao thông hào chật và nông, không cho phép chúng tôi đặt cả chân và bàn cối bắn theo bài bản.

Khó khăn thế, nhưng lại không thể thiếu hỏa lực pháo cối theo lệnh của trung đoàn, trong lúc tại trận địa cơ bản chưa khắc phục được trở ngại trên.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:43:49 pm

Chính trong lúc đó, cách “bắn ôm nòng” của chúng tôi đã phát huy được tối đa tính ưu việt của hỏa lực cầu vồng diệt địch ở địa hình có nhiều “góc chết”. Bằng cách này, tôi đã cho 2 khẩu 81 ly lên C1 bỏ hết bàn và chân lại, để một pháo thủ vai đỡ và tay ôm lấy nòng và một pháo thủ khác bắn với góc gần 90 độ phóng đạn vào đội hình địch. Kết quả là đạn nổ đều ở cự ly rất gần, cách bộ binh ta chỉ khoảng trên dưới 100 mét. Ngay trong ngày đầu đánh địch phản kích và một vài ngày sau đó, cách bắn “ôm nòng” đánh địch trên đồi C1 rất có hiệu quả.

Bằng cách “ôm nòng” trên, sau hai ngày, khi trận địa cơ bản đã phát huy được hết thế mạnh, đại đội “bộ binh pháo” chúng tôi cùng với lựu pháo đã kịp thời chi viện rất có hiệu quả cho bộ binh tiêu diệt nhiều sinh lực địch và đánh bại nhiều cuộc phản kích của chúng vào cứ điểm C1 mà ta đã làm chủ.

Trong những ngày đầu đánh địch phản kích, cũng đã có lần địch vào được tung thâm phòng ngự của ta và chiếm lại được Cột cờ trên đỉnh đồi C1. Trong những trường hợp như vậy, nhiều trận đánh giáp lá cà xảy ra rất ác liệt. Ta và địch quần nhau, giành giật từng tấc đất, từng ụ súng, từng mét chiến hào. Có lúc bộ binh yêu cầu súng cối của chúng tôi bắn ngay vào Cột cờ, nơi đó địch bố trí một khẩu đại liên rất lợi hại, và Cột cờ cũng là cái mốc phân chia giới hạn: Địch chiếm một nửa đồi phía cao, ta chiếm một nửa đồi phía thấp, và cũng là vật chuẩn để chỉ thị mục tiêu cho hỏa lực pháo binh, súng cối. Đây là một yêu cầu cấp bách và rất khắt khe. Theo lệnh của trung đoàn, đại đội chúng tôi vừa phải bảo đảm chế áp tiêu diệt địch ở khu vực cột cờ, vừa phải bảo đảm an toàn tối đa cho bộ binh. Đại đội dùng 3 khẩu bắn tiếp tục vào “yên ngựa”, còn 6 khẩu 81 ly bắn tập trung đồng loạt, sau đó bắn từng khẩu một từ Cột cờ lên phía cao điểm để duy trì lúc nào cũng có tiếng nổ cối 81 chế áp và tiêu diệt địch. Sau loạt đạn đầu và những đợt bắn tiếp theo, nhờ có quan sát mắt hiệu chỉnh nên đại bộ phận đạn rơi trúng mục tiêu và bảo đảm an toàn cho bộ binh ta. Sở dĩ chúng tôi làm được như vậy là do ở cự ly gần 350 mét, sai số tản mát của súng cối nhỏ hơn so với lựu pháo. Vả lại, cột cờ là vật chuẩn đã qua nhiều lần bắn thử và bắn thật nên chúng tôi có phần tử rất chính xác và rất “tinh mắt” cả về cự ly và về hướng.

Trong thời gian chiến đấu, có lần trung đoàn trưởng Vũ Lăng xuống trận địa đại đội để động viên bộ đội và kiểm tra tình hình chiến đấu của đơn vị. Ngay sau khi đi kiểm tra từng khẩu đội, khi về đài quan sát, trung đoàn trưởng lệnh cho đại đội bắn thử một phát vào “yên ngựa”. Sau khẩu lệnh xạ kích của tôi chưa đầy một phút, từ trên C1 báo về đạn rơi đúng mục tiêu Y1 (yên ngựa 1) nhưng trên mặt “yên ngựa” chỉ thấy một ít khói mỏng bay là là mặt đất. Lúc này, trung đoàn trưởng có vẻ hơi khó chịu, không vui, nhưng đồng chí vẫn cố ghìm được cái tính “nóng như lửa” của mình. Đồng chí hỏi tôi: Sao? Đạn rơi chính xác không? Tôi đáp: Dạ, báo cáo anh, đạn đã rơi đúng mục tiêu, nhưng đây là mục tiêu “yên ngựa 1” nằm thấp ở sườn trái phía bắc “yên ngựa” mà địch thường lợi dụng để phản kích ta. Còn trên mặt “yên ngựa”, chúng tôi đánh số là Y2. Căn cứ vào đó, đại đội tính toán phần tử chính xác căn cứ vào kết quả nhiều lần bắn thật để khi địch phản kích hoặc bộ binh yêu cầu là bắn được ngay. Để kiểm tra báo cáo của tôi, trung đoàn trưởng lệnh cho bắn tiếp 2 quả vào Y2. Và cũng chỉ sau khoảng 40 giây, lần lượt 2 quả đạn cối đã nổ trên bề mặt “yên ngựa”. Một đám khói đen to cuốn theo bụi đất đã che lấp một phần nhỏ “yên ngựa”. Trung đoàn trưởng cười và rất vui, còn tôi thở phào nhẹ nhõm. Một cán bộ trung đội đứng gần đó đã xin phép trung đoàn trưởng đọc câu thơ do anh em đơn vị tự sáng tác:

“Súng cối cấu tạo nhẹ nhàng
Bắn nhanh, chính xác ngang hàng pháo binh”.

Trung đoàn trưởng lại cười, biểu dương khen ngợi và dặn dò động viên chúng tôi chuẩn bị mọi mặt để có thể phải đánh địch phản kích lâu dài giữ đồi C1. Trước khi về Sở chỉ huy trung đoàn, Trung đoàn trưởng nói: Từ nay trở đi, khi đánh địch phản kích, đại đội trưởng được quyền quyết định số lượng đạn cối vào “yên ngựa” và Cột cờ mà không phải chờ lệnh của Trung đoàn, dễ mất thời cơ hỏa lực. Nhưng phải hết sức tiết kiệm đạn và không được đụng đến cơ số đạn dự bị nếu không có lệnh của trung đoàn.

Việc tiết kiệm đạn pháo là rất nghiêm ngặt. Bộ chỉ huy Mặt trận quy định rất cụ thể. Đạn cối 81 ly của đại đội tôi đều do cấp trên cấp. Nhưng trong đợt tiến công này, có đến gần 30% số đạn là do chúng tôi hoặc đơn vị bạn đoạt được từ những chiếc dù của địch thả lạc vào trận địa ta. Có lẽ nắm chắc được vấn đề này nên trung đoàn trưởng mới “nới” tay như vậy.

Trong 31 ngày đêm, cuộc chiến đấu trên đồi C1 diễn ra rất gay go, ác liệt, liên tục không kể ngày đêm. Cho đến trước ngày 1 tháng 5 năm 1954, ta và địch vẫn chỉ dừng lại ở vị trí lấy cột cờ làm mốc: Địch chiếm một nửa đồi phía cao, ta chiếm một nửa đồi phía thấp. Số phận của C1, A1, C2 và toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chỉ được định đoạt trong đợt tiến công thứ ba từ ngày 1 tháng 5 năm 1954 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của Bác Hồ muôn vàn kính yêu trao cho Quân đội ta tung bay trên nóc hầm Đờcátxtơri, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:47:38 pm

TRẬN THỌC SÂU “GIÁP LÁ CÀ” Ở PHÍA ĐÔNG SÔNG NẬM RỐM
Đại tá MINH CAO

Trong trận Him Lam, Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 141 đã anh dũng chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm cứ điểm 1, nhưng cũng để lại trên mình những vết thương rất nặng: hai phần ba lực lượng xung kích bị thương vong, nên trên chưa khen thưởng. Một tâm trạng nặng nề, ân hận với những thiếu sót, tiếc thương đồng chí, đồng đội, băn khoăn về sức chiến đấu của tiểu đoàn ám ảnh toàn đơn vị.

Chính ủy Trần Độ và Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đều cho rằng: “Khi con hổ bị thương nặng, thường nó rất hung nếu bị đạn tiếp. Thời gian còn dài, còn phải liên tiếp chiến đấu đến thắng lợi, Tiểu đoàn 11 hãy sẵn sàng”.

Sau khi tổng kết trận đánh, cán bộ và chiến sĩ trong tiểu đoàn đã nhận thức sâu sắc ý nghĩa thắng lợi, thấy rõ nguyên nhân thương vong nhiều là do chủ quan, ngại gian khổ, thiếu tích cực đào hào chiến đấu, đồng thời cũng nhận rõ nhiệm vụ tiếp theo của đơn vị trong đợt 2 càng quyết liệt nặng nề. Từ đó mọi người vượt qua được mặc cảm, nâng cao tin tưởng và quyết tâm, xác định trách nhiệm sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong đợt 2 chiến dịch. Đi đôi với công tác tư tưởng, về tổ chức tiểu đoàn cũng được củng cố, bổ sung thêm và sắp xếp tổ chức lại. Đại đội 241 và 243 sáp nhập làm một do đồng chí Hà Văn Nọa làm Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Hiệu làm Đại đội phó và đồng chí Bùi Thế Đại làm Chính trị viên... Toàn tiểu đoàn dấy lên một không khí lập công sôi nổi, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Sau chiến thắng Him Lam, Độc Lập, ta đã tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, nhưng ta mới hoàn thành một phần nhiệm vụ đánh chiếm ngoại vi. Trong hệ thống phòng ngự còn lại của địch ở khu trung tâm, các vị trí quan trọng nhất là các điểm cao phía đông.

Vẫn với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, trong đợt 2 chiến dịch, Đại đoàn 312 có nhiệm vụ đánh chiếm đồi E, D1, D2, điểm cao 210 (có trận địa pháo) ở phía đông, không chế sân bay, triệt đường tiếp tế, tiếp viện, thắt chặt và thu hẹp khu vực chiếm đóng và vùng trời của địch.

Để chuẩn bị cho đợt 2, Tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đào hào khép chặt vòng vây. Đây cũng là một cuộc chiến đấu không kém phần quyết liệt. Địch bố trí các hỏa điểm súng máy dọc sân bay, bắn sát mặt đất kết hợp với pháo cối tập trung vào những nơi nghi có ta đột nhập. Với quyết tâm phát huy thành tích và sửa chữa sai lầm (chủ quan ngại đào hào trước đây), toàn đơn vị đều hăng hái, phát huy sáng kiến, đào dũi từ bờ sông Nậm Rốm đến sát sân bay. Sau khi gặp mũi đào của đơn vị bạn, Tiểu đoàn được bàn giao lại, chuyển sang đào chiến hào tiến công đồi E.

Bước vào đợt 2 chiến dịch, Tiểu đoàn 11 được giao nhiệm vụ thọc sâu, làm rối loạn các vị trí bên trong khu Đông, đánh quân địch ra ứng cứu, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn đánh chiếm các cao điểm E, D1, D2 và cao điểm 210.

Để thực hiện nhiệm vụ, Tiểu đoàn tổ chức trinh sát đường vào, phát hiện hệ thống hàng rào, vật cản dài tới 50 mét vắt ngang qua đường giữa đồi E và D1. Lực lượng trực tiếp chiến đấu luồn sâu chỉ có Đại đội 243, tổ chức thành 2 bộ phận. Bộ phận mở cửa được trang bị bộc phá ông, bộ phận thọc sâu được trang bị gọn nhẹ gồm tiểu liên, thủ pháo và 1 trung liên. Đại đội 245 làm lực lượng dự bị.

18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ 2 vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu. Lợi dụng thời cơ các đồi E, D bị tấn công đang còn chìm trong khói lửa, địch lúng túng đối phó, cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn cùng với lực lượng nhỏ bé của mình, vượt khỏi giao thông hào đầy bùn nước, dưới tầm hỏa lực của địch, xốc thẳng vào khu Đông theo đường 41 giữa đồi E và D. Tiểu đoàn phó Lê Đình Huống trực tiếp chỉ huy đội bộc phá tận dụng thời cơ mở hàng rào dày đặc. Ban Chỉ huy tiểu đoàn cùng bộ phận xung kích băng qua cửa mở, xốc thẳng vào trong. Bấy giờ, địch mới phát hiện ra mũi tấn công nguy hiểm này, chúng lập tức tập trung pháo, cối, liên thanh 4 nòng bắn cấp tập vào khu cửa mở. Các chiến sĩ ta lúc đó đang trên mặt đất, thu dọn chướng ngại vật, bị pháo cấp tập bất ngờ nên phần lớn bị thương vong. Đồng chí Tiểu đoàn phó Lê Đình Huống hy sinh.

Lực lượng thọc sâu vào tới bên trong gặp tiểu đoàn dù 5 đang tiến ra, lập tức xông vào đội hình địch, dùng tiểu liên, lựu đạn đánh giáp lá cà. Địch bị bất ngờ, hốt hoảng bỏ chạy.

Mũi phản kích bị bẻ gãy. Thừa thắng, đoàn dũng sĩ của ta chia làm hai mũi. Một mũi do đại đội phó Nguyễn Văn Hiệu và chính trị viên Bùi Thế Đại tiến theo chân đồi D, gặp tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 cơ động đến đó. Không quản ngại địa hình bằng phẳng, các chiến sĩ ta dàn thành thế trận chặn địch, dựa vào vật cản sẵn có, tiếp tục đào thêm công sự, bố trí thành từng tổ chiến đấu. Trong khi đó, ba mũi của đại đội trưởng Nọa, các chiến sĩ vẫn tin ở hành động táo bạo và không kém phần mạo hiểm của mình. Tiểu đội đồng chí Tú liên tục bộc phá mở được một lối vào cứ điểm 210, người này ngã người khác lao lên. Tiểu đội đồng chí Ngọc cũng thừa cơ xốc tới lia tiểu liên vào một toán nấp sau ụ pháo, tạo điều kiện cho Tiểu đội phó Cư vòng lên bắt 8 tên, diệt 5 tên. Cùng lúc, trung đội 5 nhào lên đánh thẳng vào đại đội 2 của địch. Cả toán này tháo chạy, 7 tên nữa bị bắt. Nhiều tên mất cả phương hướng chạy quàng cả vào hàng ngũ của ta. Sau nhiều giờ chiến đấu, trận địa pháo địch ở căn cứ 210 bị ta chiếm đoạt, những ổ đề kháng cài lại, chặn bước tiến của ta cũng bị tiêu diệt hoàn toàn. Lúc này, mưa như trút nước, pháo sáng nhập nhòe, không đủ nhận rõ ta hay địch. Đại đội trưởng Nọa quyết định lấy tiếng súng bắn trả của địch làm mục tiêu tiếp tục công kích. Các chiến sĩ đồng loạt dùng lựu đạn, thủ pháo xông vào chiếm trận địa của tiểu đoàn dù Âu thứ nhất. Nhiều chiến sĩ ta da thịt bị cào rách, cứ thế giật ra mà tiến lên. Trên quãng đường dài hàng trăm mét, mặc dầu địch đông, hỏa lực nhiều nhưng chúng cũng không tiến ra được và chiếm được trận địa của 2 mũi của Đại đội 243 khi đó đã nhập làm một để sát cánh chiến đấu. Do một số bị thương đã thoát ra ngoài trong đêm, lực lượng còn lại quá mỏng. Chính trị viên Đại và Đại đội phó Hiệu hy sinh. Trong khi tiến đánh các lực lượng địch ngăn chặn trên đường, vừa truy đuổi toán quân dù ngụy số 6 rút chạy, đến khi thấy ánh nước bạc trước mặt mới hay đã tới bờ sông Nậm Rốm, vượt quá nhiệm vụ được trao cho đơn vị. Lập tức anh em rút ra, lúc đó đã gần sáng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:47:59 pm

Mờ sáng, địch dùng bộ binh có xe tăng yểm hộ ra phản kích. Mũi thọc sâu bây giờ trở thành lực lượng và bàn đạp trực tiếp uy hiếp vào trung tâm, khi đồi E và D của địch đã tan hoang. Chúng rất biết lực lượng thọc sâu của ta đã bị tiêu hao đáng kể. Có nhổ được cái gai trước mắt mới có thể nghĩ tới chuyện tiếp theo, giành lại các cao điểm đã mất.

Đại đội 243 lúc này còn gần 20 đồng chí, trong đó có một số thương binh chưa được đưa ra, vũ khí hỏng hóc, đạn dược gần hết, trung liên còn khoảng 10 băng, súng trường trung bình mỗi khẩu 20 viên, thủ pháo hết, lựu đạn còn mỗi người một quả... Toàn đại đội dựa vào chân đồi, vào công sự, tận dụng các vật cản sẵn có, chia thành từng tổ chiến đấu, lập thành một trận địa phòng ngự chặn địch. Các cuộc liên lạc với trên bằng chạy bộ và điện đàm cầm tay đều không thực hiện được. Lui quân vào thời điểm này rất không thuận. Lần nữa, một cuộc hội ý chớp nhoáng giữa 4 đảng viên còn lại lúc này hạ quyết tâm: chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Từng người buộc lại vết thương của mình thật chặt. Tổ trưởng Tú bị mất một cánh tay, được một chiến sĩ khác nhường cho một lưỡi lê. Liên lạc Dân không còn dùng máy vô tuyến điện được nữa đã dùng đôi bàn tay moi từng nắm đất gan gà pha cát sỏi để giúp đồng đội làm công sự. Chiến sĩ Hoàng lần đầu xuất trận, qua thử thách, giờ chững chạc và gan lì lên rất nhiều. Dưới làn mưa đạn trọng liên 4 nòng quét sát mặt đất, lại có sự yểm trợ của đại bác và máy bay oanh tạc xuất hiện khi bầu trời đã tan mây, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, các tổ 3 người xoay lưng vào nhau, phối hợp chặt chẽ, yểm hộ nhau, hết đạn thì dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà, quyết chiến ngay trong vòng vây khép kín của những toán địch ào ào xông tới. Đại đội trưởng Nọa bị một thằng Tây đen dí xuống bùn, tuy chỉ có một cánh tay không trồi lên được, nhưng anh vít đầu nó xuống, dùng miệng cắn vào yết hầu, máu nó phun đầy ra miệng anh. Anh chồm dậy lao vào vật nhau với tên khác. Báng súng của tân binh Hoàng liên tục bổ xuống hết đống thịt này đến đống thịt khác. Bỗng lưỡi lê của một tên giặc cao gấp đôi Hoàng đâm xuyên từ lưng sang ngực anh, Hoàng nảy người lên, vừa lúc nó rút lưỡi lê ra, anh vung báng súng lên quật ngay tên địch, rồi ngã xuống.

Địch bị thất bại nặng nề. Nhưng chúng cậy thế đông người tổ chức xung phong liền 3, 4 đợt. Mỗi đợt cách nhau chừng 30 phút, có đợt lính Âu và ngụy lẫn lộn, nhưng đều không hiệu quả. Trước các tổ 3 người xoay lưng vào nhau, lưỡi lê trên đầu súng chìa ra trước mặt, sẵn sàng dồn vào cùng một hướng khi địch xông tới, dùng sức 3 chọi 1 rất có hiệu quả.

Sự chờ mong sẽ có lực lượng tiếp viện hoặc có sự hoạt động nào đó của đơn vị bạn “đỡ đòn” cho bộ phận thọc sâu lúc này đã trở nên không tưởng. Tình hình thực tế ra sao, cấp chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên vẫn không nắm được. Mãi sau này mới biết, trong đêm, Bộ chỉ huy Đại đoàn có trao nhiệm vụ cho 2 tiểu đoàn 115 và 54 nhanh chóng luồn qua khe hở tiến vào bên trong khu Đông. Nhưng hai tiểu đoàn trên gặp khó khăn, không mở được cửa qua các bãi rào dây thép gai dày đặc. Vì vậy không thực hiện được kế hoạch phối hợp với cánh quân Tiểu đoàn 11 Phủ Thông.

Dùng hỏa lực kết hợp xung lực không xong, địch chuyển sang dùng xe tăng để tiến công, từ xa bắn vào trận địa, rồi tiến lên dùng xích sắt xông vào đè bẹp các công sự với các chiến sĩ dũng cảm của chúng ta. Lúc này không còn gì để đánh lại xe tăng địch.

Ròng rã suốt một đêm và gần trọn nửa ngày sau, luôn luôn tái diễn một tấn bi kịch chỉ có 2 vai đóng: “Người và Thần chết”. Lời hứa với tiểu đoàn khi còn liên lạc được với nhau của đại đội trưởng Nọa: “Xin được ở lại chiến đấu”, nay chỉ còn lưu trong chốn hư không với một ấn tượng rất sâu sắc về một con người cương trực, dũng cảm ngay từ khi phát hiện ra những sai sót trong quá trình trinh sát, giúp trên kịp điều chỉnh lại, tránh được tổn thất và giành thắng lợi trong trận Him Lam mở màn chiến dịch.

Giây phút cuối cùng của trận đánh không sao ngờ được một “cụm cứ điểm” nhỏ hình thành ngay ven đường 41, với những trận giáp lá cà hết sức quyết liệt làm cho quân địch không tạo nổi thế bủa vây. Chúng phải dùng hình thức đê hèn nhất là cho xe tăng nghiền nát thương binh của ta.

Trận quyết chiến và huyết chiến chấm dứt. Lực lượng còn lại của đơn vị thọc sâu đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng.

Đại đội 245 dự bị của Tiểu đoàn được tăng cường tới thì trận đánh đã kết thúc. Xe tăng địch dàn ra đường 41 đề phòng ta tấn công vào. Tiểu đoàn và Đại đội 245 dựa vào chân đồi D, chuẩn bị sẵn sàng quyết chiến với quân địch nhưng chúng không dám tiến ra.

Tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Đơn vị thọc sâu của Tiểu đoàn đã nêu tấm gương vô cùng dũng cảm, kiên cường, đánh với trên 2 tiểu đoàn địch, truy kích địch sâu vào tung thâm, chiến đấu giáp lá cà và chống chọi với xe tăng địch đến người cuối cùng, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn tiêu diệt địch ở đồi E và D1, D2.

Với chiến công oanh liệt trong trận thọc sâu, cùng chiến công đánh cứ điểm 1 cụm cứ điểm Him Lam, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tặng thưởng cho Tiểu đoàn 11 Phủ Thông Huân chương Quân công hạng Nhì.

Anh dũng kiên cường thay, vinh quang thay những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống để làm nên chiến thắng này, tô đậm thêm truyền thống Tiểu đoàn Phủ Thông anh hùng!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:49:13 pm
 
ĐÊM TRƯỚC CUỘC TỔNG CÔNG KÍCH VÀO MƯỜNG THANH
TRẦN MINH HỒNG

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 308. Sau khi tham gia cuộc tiến công thần tốc, bất ngờ sang Thượng Lào, cuối tháng 2 năm 1954, đơn vị tôi trở lại Điện Biên Phủ, ém quân ở cánh rừng phía tây cách Mường Thanh khoảng 5 km.

Trong đợt đầu chiến dịch, sau chiến thắng Him Lam và đồi Độc Lập, đại đội tôi tham gia bức hàng đồn Bản Kéo. Sang đợt 2, chúng tôi tham gia xây dựng trận địa tiến công và bao vây địch, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm 106, 206; khống chế sân bay Mường Thanh, chi viện cho Tiểu đoàn Nguyễn Quốc Trị đánh địch phản kích. Từ trung tuần tháng 4, tham gia phong trào bắn tỉa, tranh đoạt dù tiếp tế với địch, xiết chặt vòng vây, dồn quân địch vào cảnh khốn cùng.

Trong những ngày đầu chiến dịch, đại đội tôi tham gia vây lấn, bức hàng đồn Bản Kéo. Sang đợt 2, cho đến đêm trước cuộc tổng công kích, đêm 30 tháng 4 năm 1954, Đại đội 399 đã được bổ sung đầy đủ quân số và vũ khí nhưng chỉ còn một phần ba là những gương mặt cũ có mặt từ đầu chiến dịch, còn lại là những người mới được bổ sung về đại đội qua nhiều đợt. Đợt gần nhất có 5 người vừa về đại đội ngày 26 tháng 4, số về trước đều trở thành lính cũ. Chiến trường này, anh em mới về đại đội chỉ qua năm bảy ngày đêm ra trận cùng đơn vị là trưởng thành.

Hôm ấy, như thường lệ, đại đội xuất quân lúc 5 giờ chiều. Nhiệm vụ vẫn như đêm hôm trước là đột nhập vào sâu các vị trí địch ở phân khu trung tâm Mường Thanh, cụ thể là giữa hai đồn 311A (Huyghette 5) và 311B (Huyghette 4), ngăn chặn mọi hành động di chuyển, ứng cứu, tiếp tế của địch cho các đồn ngoại vi và đoạt dù tiếp tế thu chiến lợi phẩm.

Từ chỗ trú quân ra đến bìa rừng dài hơn một cây số, trời vẫn còn sáng, chúng tôi tranh thủ đi nhanh theo đường hào trục, rẽ sang đường nhánh hào bộ binh tiến về phía trung tâm tập đoàn cứ điểm. Nhánh hào bộ binh hẹp hơn đường hào trục, có đoạn vượt qua địa hình trũng thấp, bùn đất còn nhão nhoét sau mưa. Trời tối dần, tốc độ tiến quân chậm lại, mất cả tiếng đồng hồ chúng tôi mới đi được hơn nửa đoạn đường. Đêm cuối tháng, những vệt đạn lửa nối đuôi nhau lao vun vút trong bầu trời tối đen. Chiến trường không lúc nào ngơi tiếng súng, hết vang lên tiếng tiểu liên lại một tràng đại liên, khẩu bốn nòng 12 ly 7 của địch chốc chốc bắn như vãi đạn, xen kẽ là những phát súng cối 60 ly, 82 ly...

Nghe tiếng rít của viên đạn cầu vồng đang lao tới, tôi chỉ kịp cúi thấp người thì nó đã nổ tung, lọt vào đường hào khúc cuối đội hình đại đội làm ba chiến sĩ ta thương vong. Đã có kinh nghiệm xử lý, chúng tôi chỉ mất mươi phút sơ cứu thương binh rồi đơn vị tiếp tục hành quân. Tôi phụ trách việc cáng đưa ba chiến sĩ thương vong đó về hậu cứ, bàn giao xong lại dẫn anh em tải thương đuổi theo đại đội.

Quá nửa đêm, chúng tôi tới khe suối cạn nơi tối qua đại đội tập kết chỉ cách hầm Đờcátxtơri hơn ba trăm thước. Đến đây, chúng tôi phải vượt lên cánh đồng, theo một đường dây dù trắng do anh em trinh sát rải ra để dẫn đường, đi tiếp mấy chục thước nữa tới chỗ đại đội đang hoạt động. Tại đường hào, tôi đã thấy 5 tên tù binh vừa bị ta bắt đang ngồi co ro. Trận đánh diễn ra trước đấy hơn một giờ đồng hồ, khi đại đội vừa chiếm lĩnh trận địa thì một trung đội địch lò dò đến. Bọn địch chuyển đồ tiếp tế từ đồn 311B theo đường hào dẫn sang đồn 311A, đến đây chúng bị đại đội tôi chặn đánh, thương vong gần một nửa, phải rút lui.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:49:42 pm

4 giờ sáng. Đại đội bắt đầu rút quân. Một tổ ba người do tiểu đội trưởng Đăng phụ trách được cử dẫn tù binh ra trước. Đến 4 giờ 30 phút, toàn đại đội ra đến nơi tập kết, số đồ tiếp tế của trung đội địch tháo chạy bỏ lại với một dù hàng toàn đạn đại bác 105 ly đủ làm cho mọi người oằn vai mà vẫn hào hứng. Nhưng không thấy tổ Đăng và 5 tên tù binh đâu cả. Đường về xa lại qua đồn địch nên đại đội phải rút quân. Tôi cùng một tổ ba người ở lại chờ đón tổ Đăng. Thời gian không còn nhiều, chúng tôi chia nhau ra tìm quanh vẫn không thấy. Tôi đang phân vân tìm cách xử trí thì thoang thoảng nghe trong gió như có tiếng người. Tiếng gọi nhỏ và yếu ớt nhưng khiến tôi vui mừng khôn xiết chạy vội đến. Và một hình ảnh bất ngờ hiện ra trước mắt tôi: một tù binh ngụy cõng chiến sĩ Bút trên lưng đang lò dò bước. Hỏi ra mới biết họ bị lạc vào bãi mìn. Chúng tôi tìm đến thì thấy một cảnh thương tâm: toàn bộ 4 người của ta và 5 tù binh đều bị thương vong nằm la liệt. Hóa ra đêm qua, khi rút về ta sơ suất quên không thu sợi dây dù dẫn đường, ban ngày địch phát hiện được, chúng chuyển đầu dây phía suối cạn sang bãi mìn làm cho tổ của Đăng bị lạc. Đã thế khi mìn nổ, bọn tù binh lại chạy tán loạn nên dẫn đến hậu quả bi thảm này.

Vất vả lắm chúng tôi mới chuyển được hết 4 đồng chí thương vong về tới chỗ tập kết rồi nhìn nhau không biết làm gì hơn. Không có cáng, cũng không thể tiếp tục cõng thương binh về đơn vị được. Trời mỗi lúc mồi sáng. Phương tiện thông tin liên lạc với đơn vị không có. Đến nước này tôi đành đi thám sát địa hình rồi dẫn từng chiến sĩ tới từng vị trí để chuẩn bị cho một ngày chiến đấu bảo vệ thương binh trong lòng địch. Vừa xong thì từ trong sương mù, chỗ đầu đường hào bộ binh nối ra suối cạn xuất hiện bộ phận cáng thương của đại đội trở lại đón, chúng tôi mừng quá sức tưởng tượng, như gặp được thiên thần hộ mệnh.

Trở về, chúng tôi đi theo đường hào bộ binh, được một đoạn, thấy chậm quá, tôi cho anh em leo lên trên cánh đồng cứ ven đường hào mà chạy. Chiến trường lúc này im tiếng súng. Sương mù đã lên cao. Chúng tôi phải khiêng cáng nên dù chạy cũng không thể nhanh được như ý muốn. Và một điều lạ nữa trong đêm nay lại xảy ra: bọn địch trong đồn 311A phía bên phải gần đó, sau một đêm chui dưới hầm hào căng thẳng đang leo lên mặt đất để tận hưởng không khí trong lành và không có tiếng súng của buổi sớm mai. Tôi thấy rõ chúng đứng lổn nhổn trên một nắp hầm ụ súng giơ tay chỉ trỏ chúng tôi, nhưng không có một tiếng súng nào vang lên cả.

Hơn 50 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nay nghĩ lại, tôi thấy mình nhớ một quên mười. Trong “một nhớ” đó, có đêm 30 tháng 4 năm 1954, một đêm hoạt động bình thường thậm chí có nhiều xúi quẩy của đại đội 399 song vẫn để lại những hình ảnh không thể phai mờ trong tâm trí tôi.

Đó là hình tượng chiến sĩ Bút (bị thương ở chân) cưỡi trên lưng một tên tù binh (bị đất cát văng vào mắt), chỉ đường cho nó đi tìm về đơn vị (anh em đùa gọi là “thằng mù cõng anh què”). Năm đó Bút mười bảy tuổi, quá trẻ để nghĩ ra cách thoát hiểm thông minh tuyệt vời đến thế!

Đó là kỷ niệm với tiểu đội trưởng Trần Đăng (em đồng chí Trần Trác, một chính ủy trung đoàn). Đầu chiến dịch, Đăng còn là một nhân viên văn phòng phụ trách quân lực của đại đội, năm lần bảy lượt anh xin được làm lính xung kích và đã tỏ rõ khả năng đầy triển vọng.

Trái lại, Hòa (một trong ba chiến sĩ thương vong hồi đầu đêm) đã ba mươi tuổi, thuộc lớp “già” (cả đại đội lúc đó chỉ có ba người đến tuổi này). Anh vốn nhát gan, ra trận lần đầu, Hòa sợ đến phát ốm, nằm lì trong hầm hậu cứ mấy ngày liền. Chiều 30 tháng 4, anh trang bị chỉnh tề đến gặp đại đội xin ra trận. Và quả đạn súng cối của địch lọt hào đã sát hại anh. Trong di vật của Hòa có lá thư viết sẵn gửi vợ ở huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) kèm theo mảnh giấy với dòng chữ: “Nếu tôi có hy sinh vì Tổ quốc, hãy gửi thư này cho vợ tôi”.

Với việc quân địch ở đồn 311A đứng nhìn chúng tôi cáng thương chạy ngay trước mặt mà không bắn, theo tôi hoàn toàn không phải vì địch sợ ta bắn trả mà là do tâm trạng mong được sống yên bình đang nung nấu trong lòng họ. Họ đâu biết rằng ngay đêm ấy (1-5-1954), Trung đoàn 88 tấn công tiêu diệt đồn 311A và ba hôm sau, Trung đoàn 36 tiêu diệt đồn 311B. Ba ngày sau nữa, 17 giờ 30 phút ngày mùng 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ những người còn sống sót trong bọn họ đều gặp nhau ở trại tù binh. Lá cờ đỏ sao vàng thêu hàng chữ “Quyết chiến Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm Đờcátxtơri, đánh dấu sự đổi đời và mong muốn trở về với vợ con của những người lính Pháp đã đến lúc trở thành hiện thực.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:51:41 pm

DI VẬT THIÊNG LIÊNG CỦA LIỆT SĨ
LÊ DUY LƯU
Cựu chiến binh Đại đoàn 304

Tôi còn nhớ như in, trong một buổi chiều tà, bầu trời Điện Biên không một gợn mây, đơn vị tôi đang tập trung nhả đạn vào quân thù thì bỗng bị một quả đạn pháo của địch rơi trúng vào trận địa, một số anh em bị thương vong, trong đó có Đại đội trưởng Bùi Công Phùng, anh bị thương khá nặng. Phùng là một cán bộ chỉ huy rất dũng cảm, ngoan cường. Anh em trong đơn vị thường gọi anh là “Con chim đầu đàn”. Ba năm liền anh là chiến sĩ thi đua liên tục của đơn vị.

Anh và tôi cùng nhập ngũ tháng 4 năm 1947, cùng ở đơn vị bộ đội địa phương huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, do ông Lê Thúc Cương làm chính trị viên huyện đội. Tôi và Phùng được đề bạt là Tiểu đội trưởng cùng thời gian đó. Đầu năm 1950, hai chúng tôi được điều động sang bộ đội chủ lực Vệ Quốc đoàn (thuộc Đại đoàn 304).

Đầu năm 1953, sau khi cưới vợ được vài ngày, anh được lệnh ra mặt trận tham gia chiến dịch Thượng Lào. Mặc dù chưa được hưởng tuần trăng mật trọn vẹn, nhưng anh vẫn vui vẻ lên đường.

Chiến dịch kết thúc, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì về thành tích chiến đấu. Đại đoàn 304 đã cùng các đơn vị bạn tiêu diệt một phần tư quân Pháp, ngụy trên toàn chiến trường Lào.

Thế mà đến giữa chiến dịch Điện Biên Phủ, khi đợt 2 đang diễn ra ác liệt thì anh ngã xuống! Anh đã hy sinh anh dũng, để lại niềm tiếc thương cho đơn vị và người vợ trẻ ở hậu phương đang mang trong người giọt máu của anh.

Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh chỉ nói với tôi bằng ánh mắt nhiều hơn bằng lời và vẫn còn kịp lấy trong người ra một cái túi vải nhỏ xíu khâu bằng tay, trao cho tôi xong thì anh vĩnh viễn ra đi... Tôi hiểu đây là “Di nguyện”, anh muốn tôi đưa kỷ vật này về cho người vợ của anh đang sống cô đơn nơi miền quê đồng chua nước mặn.

Sau khi đơn vị tổ chức chôn cất anh xong, một buổi chiều, khi ngồi một mình, tôi liền mở cái túi của anh ra xem, thấy bên trong có một chiếc nhẫn màu vàng khoảng 2 chỉ và 2 lọn tóc quấn vào nhau. Lúc bấy giờ tuy không có thời gian suy nghĩ nhiều, nhưng tôi hiểu đó là chuyện vàng đá, chuyện duyên tình, chuyện đời của anh chị mà tôi đã chứng kiến trong buổi lễ thành hôn.

Trời Điện Biên mây trắng vẫn bay, núi rừng Tây Bắc hoa ban vẫn nở, nhưng biết bao đồng chí, đồng đội của tôi và Đại đội trưởng Bùi Công Phùng đã vĩnh viễn yên nghỉ trên cánh đồng lòng chảo này!

Tôi đang mơ màng nhận ra mình còn nợ những người đã khuất quá nhiều, bỗng có một tia nắng xuyên qua kẽ lá chiếu vào mắt tôi chói lóa, rồi một bàn tav ai đó sờ nhẹ vào vai tôi, tôi ngoái cổ lại chỉ thấy một ánh mắt và một nụ cười. Tôi gọi lớn: Phùng! Thì ra đó chỉ là ảo ảnh. Tôi cố lắc mạnh, cái đầu đúng là đang nửa tỉnh, nửa mơ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, hòa bình được lập lại, tôi được phép về thăm mẹ, nhân chuyến đi này tôi sẽ cố tìm bằng được người phụ nữ có tên là Hoa, mà ở quê thường gọi là Lượm. Không hiểu cái tên Lượm do đâu mà có, hay do mẹ chị nhặt được rồi đem về nuôi? Hoa có nét người mặn mà nhan sắc, tính tình hiền dịu dễ thương.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:52:03 pm

Từ làng tôi đến nhà Hoa cách chừng 5 cây số. Với chiếc xe đạp cọc cạch, tôi đi men theo con đường làng chẳng mấy chốc đến được nơi tôi định đến.

Lúc tôi dắt xe qua cổng làng. Thấy tôi mặc bộ quân phục đi qua, đám trẻ vui đùa liền dừng lại và chào tôi một cách rất lễ độ và dễ thương. Tôi đáp: Chào các cháu. Rồi tôi hỏi chúng, ở đây có cháu nào biết nhà cô Lượm ở đâu không? Một cháu nhanh nhẹn trả lời: ‘Thưa chú cháu biết ở làng này có một cô tên là Lượm ạ”.

- Vậy cháu có thể dẫn chú tới nhà cô Lượm không?

- Thưa chú được ạ. May cho chú quá!

- Vậy cháu ngồi lên xe chú cháu mình cùng đi.

Đi được một quãng thằng bé nói: “Nhà cô Lượm ở trước mặt chú nè”.

Tôi cám ơn cháu, thằng bé lại ù té chạy về phía bọn trẻ.

Nhìn căn nhà đơn sơ lạnh lẽo, cửa đóng then cài, tôi bâng khuâng thất vọng, có lẽ mẹ con Hoa đã chuyển đi nơi khác rồi chăng? Tôi liền ghé vào nhà một người hàng xóm bên cạnh để hỏi thăm.

Được biết mẹ con Hoa đang về thăm ngoại chập tối mới về. Tôi yên tâm chờ đợi.

Kìa mẹ con Hoa đã về đây rồi!

Chợt thấy tôi, Hoa òa lên khóc nức nở như một đứa trẻ, rồi dẫn tôi vào nhà. Tôi động viên an ủi Hoa, rồi trao kỷ vật của anh cho chị, cùng với tấm huân chương và số tiền do đơn vị phúng viếng.

Qua câu chuyện riêng tư, Hoa bộc lộ với tôi là chị sẽ không đi “bước nữa” mà quyết ở lại thờ chồng, nuôi con.

Nhìn lên di ảnh của Phùng tôi khấn bái:

Phùng ơi! Tôi đã làm tròn “di nguyện” của anh rồi, giọt máu của anh nay đã tròn một tuổi, thằng bé trông rất kháu khỉnh và dễ thương, nó giống hệt anh. Dưới suối vàng anh nhớ phù hộ cho mẹ con Hoa chân cứng đá mềm.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi lại có dịp về thăm mẹ con Hoa. Nhưng đau xót thay, lần này không phải là dòng nước mắt của chị, mà là nước mắt của mẹ chị, bởi mẹ con Hoa đã bị máy bay Mỹ sát hại. Tôi ngậm ngùi thắp một nén hương và mặc niệm người quá cố.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:54:50 pm

TRONG HẦM PHÁO ĐIỆN BIÊN
Đại tá PHẠM THANH TÂM
Nguyên Giám đốc Xưởng Mỹ thuật Quân đội
Phóng viên Đại đoàn 351 tại Mặt trận Điện Biên Phủ

Sau trận đầu thắng lớn: diệt hai đồn Him Lam, Độc Lập, bức hàng đồn Bản Kéo... chiến dịch đã bước sang đợt 2. Quân ta tiếp tục xốc tới, giành giật với địch quyền làm chủ các ngọn đồi A, C, D, E... gần sông Nậm Rốm mà bên kia là khu trung tâm Mường Thanh.

Đúng là giành giật - bởi bộ binh của ta chiếm giữ một số mỏm đồi, địch lồng lộn cho phi, pháo với xe tăng cùng bộ binh... lao ra phản kích. Nhưng tình thế đã khác rồi. Bộ binh ta không còn phải điêu đứng trước sức mạnh áp đảo của hỏa lực địch như 7, 8 năm về trước.

Ngày 17 tháng 3 năm 1954, tôi đang ngồi trong một hầm pháo 105 ly. Tính theo đường chim bay, chúng tôi chỉ cách Mường Thanh 4 km. Đây là đại đội 804 của tiểu đoàn 2. Đại đội 806 cũng gần bên. Hầm công sự pháo của chúng tôi dàn ngang lưng chừng mấy quả đồi, có chỗ được mái lá rừng che phủ; cũng có hầm đặt ngay vách núi gần đường 41, nơi trống trải xơ xác, bất ngờ nhất, “ăn nhau” ở cái tài ngụy trang!

Đồng chí Rụ - chính trị viên đại đội phổ biến lệnh trên: liên tục chiến đấu, sẵn sàng cơ động vào trung tâm, nhưng chúng ta phải tạo nếp sinh hoạt bình thường từ cái ăn, ngủ cho tới chuyện tắm rửa cho mình và pháo...

Lần này chúng tôi biết địch ở ngay bờ sông Nậm Rốm mà lại rất thiếu nước. Chúng thiếu cả củi phải gỡ giao thông hào và hầm sụp để đun, phải thả cả dù và nước.

Ngay từ trận đầu Him Lam, địch đã thấy pháo ta bủa vây chúng từ những cao điểm xung quanh, hoàn toàn có khả năng chế áp mọi hoạt động của chúng. Điều bất ngờ lớn nhất không chỉ từ hậu phương xa xôi lên tới đây được bằng xe kéo những khẩu trọng pháo lặc lè... mà “Việt Minh” còn dùng sức người kéo pháo bí mật đi tắt được qua các dãy núi đồi trùng điệp với dốc ngược tới 65 độ cao!

Bảy giờ thì chúng tôi với mỗi khẩu pháo đã ở trong công sự kiên cố với nóc hầm dày trên 1 mét, như trong một ngôi nhà khang trang... chỉ có cái đầu nòng pháo ngó ra ngoài cửa sổ - lỗ châu mai - quay ngang, quay dọc... Trong lúc êm ả có thể đánh tú lơ khơ... Anh Tuyên kính (chính trị viên tiểu đoàn) vừa xuống đây, đang ngồi đánh cờ xúy với lính của mình. Lúc nào cũng thấy ở anh sự điềm tĩnh, giản dị, vì anh vốn là một nhà giáo.

Bỗng vang lên từ góc hầm bên phải, Khẩu đội trưởng tay cầm ống nghe điện thoại, miệng hô:

Chuẩn bị bắn bộ binh địch!

Ngòi nổ tức thì, liều 6!

Góc tà 269, hướng về nguyên điểm!

Biểu xích 303, một phát nạp đạn!

Tất cả lập tức về vị trí chiến đấu. Và tôi nhìn trên lá chắn: “Đã chiến thắng ở Hòa Bình ngày 22 tháng 3 năm 1952 thì nhất định phải thắng trận Trần Đình!” (Bí danh của Điện Biên Phủ).


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:56:27 pm

Điện từ Trung đoàn báo xuống: 804 có khách... một lát sau, vị khách từ cơ quan Bộ Tổng chỉ huy giới thiệu xuống là Thép Mới - nhà báo nổi tiếng - chúng tôi mới đọc bài của anh trên báo Quân đội nhân dân mặt trận. Mấy cán bộ pháo binh rất khoái cái từ anh dùng: “Pháo ta bắn từng phát đĩnh đạc”. Mặc dù có vẻ từng trải đi đây đi đó, trông anh còn rất trẻ so với tuổi 30 của anh. Cuộc gặp gỡ này đã cho tôi học được đôi điều: về tính năng động hoạt bát, về cung cách tìm hiểu thực tế, moi tìm tài liệu của một phóng viên...

Vị khách này vừa đi xong, lại có mấy vị khách nữa ùa vào căn hầm pháo chật chội. Nhưng lần này có vẻ như một làn gió mát thoáng qua.. Tiếng nói cười rộn rã, khiến các chàng pháo thủ trẻ tuổi vừa rụt rè vừa cởi mở, cách tiếp đãi có đặc biệt hơn... Vì đây là một nhóm 5 cô gái trẻ cùng với các anh Minh Tiến, Trọng Lanh, Vinh, Viện... có mang theo nhị, sáo và cây đàn Banjo Alto của Văn công Đại đoàn 351. Còn mấy người nữa, phải chia nhau ra mấy hầm pháo để ở chung với pháo thủ một vài ngày và cũng có thể ở lâu hơn, tùy theo tình hình chiến đấu.

Thế là cái tuy-nen (hầm khoét ngầm kéo dài thêm vào lòng đất) chính giữa sau đuôi càng pháo phải dọn dẹp để có chỗ nằm cho 3 cô văn công. Còn nam giới thì phân tán tùy nghi trong ngách đường hầm hai bên cánh gà thông sang hầm pháo khác. Đêm ngày, các pháo thủ vẫn ngồi (kể cả ăn ngủ) bên càng pháo, bên máy ngắm và nòng máng. Góc chỉ huy khẩu đội thì bất khả xâm phạm với một máy điện thoại và cuốn sổ ghi lệnh, ghi phần tử xạ kích.

Như đôi trai gái hò hẹn đã lâu, đầy háo hức, văn công tới là phải biểu diễn ngay. Bấy giờ chưa có quân phục cho nữ, các cô văn công hành quân vẫn chỉ có quần thâm với áo trấn thủ dài tay. Chốc lát, từ trong tuy-nen bước ra một vài bước là sàn biểu diễn giữa hai càng pháo mở rộng... Ba cô Tý, Lương, Ngọc đã mang trên mình bộ quần áo tứ thân với bồ tượng xanh hoa lý, yếm đỏ, với dải lụa hoa hồng.

Theo tiếng hát điệu “Sắp qua cầu”

      “Ai xui là xui cây lúa chín a lúa nặng trĩu bông í, ì, i ...
      em mong anh về gặt hái lúa giúp em í, ì, i ...”


Các cô đang múa lượn, điệu múa dân gian, lượn tròn giữa hai càng pháo, ấn tượng màu hồng - bấy giờ vẫn còn tiết xuân Giáp Ngọ - như những cánh hoa đào - đôi tay cánh mềm với giải lụa hồng lướt qua, vuốt trên mái tóc các pháo thủ đang ngồi xem... Anh Viện - một nghệ nhân quê Thái Bình ở đơn vị mới tuyển về Văn công với tiếng nhị điêu luyện thật rộn ràng tôn thêm nét múa...!

Rồi tiếng sáo “Nhị lang sơn”, rồi hợp ca “Xẩm xoan” theo nhịp phách của cô Thúy; rồi Minh Tiến; Trọng Lanh, Phạm Vinh, Hữu Quỳnh cùng hát “Tổ quốc Mỹ Lệ...” Rồi ngâm thơ Tố Hữu “Sáng tháng 5”...

Không nhất thiết là một buổi biểu diễn liên tục. Cứ lúc rảnh, pháo thủ yêu cầu cá nhân ai là người đó hát ngay. Đang ca hát, có lệnh bắn là dân công dẹp vào trong, giúp bê đạn, cho pháo thủ lao vào giật nòng, giật cò. Mỗi phát, khói lại mù mịt hầm không ai nhìn rõ mặt ai. Chúng tôi cầm quạt hoặc mảnh vải vung lên quạt khắp cho khói tan nhanh.

Tiếng chuông điện thoại reo từ đài quan sát truyền tin qua khẩu đội trưởng: “1 xe Jeep nổ tung. Bọn địch phản kích phía sân bay bị pháo ta bắn lăn cù chiêng cả lũ, chạy tóe... Một ô tô Hồng thập tự không kịp khiêng xác lên đã bỏ chạy, vứt lại gói xác có lẽ là quan to ... Vì nó gói bằng cờ Pháp...”. Những cảnh tượng ấy thường cho lính ta những phút giây thư giãn thoải mái.

Kể ra thì cũng chẳng phải múa hát - cứ có mặt các cô văn công mang bóng dáng những người con gái quê hương ở chốn này là chiến sĩ ta đã thấy ấm lòng, thấy vui lắm rồi, “vui như Tết” ấy!

Chính trị viên Rụ như áy náy cầm điện thoại nói với đại đội trưởng đang quan sát trên đài cách hơn 2 km trên dốc cao: “Cậu có muốn về xem không?”. Cô Tý nhanh nhẩu: “Anh giới thiệu em hát...” và nói với Đại đội trưởng Kính: “Anh bận khỏi về, cứ nghe thôi anh ạ... em tên là Tý”., và cô hát liền. Nghe kể khi nghe hát qua điện thoại, anh Kính cứ “ờ ... ờ” như nghe báo cáo vậy. Ai mà trách anh đang mải theo dõi địch, tìm thời cơ bắn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 23 Tháng Mười, 2016, 09:56:52 pm

Ấy thế mà trong hầm pháo nơi đèo heo hút gió này ngoài đường dây chỉ huy cũng còn lắm thông tin. Nào là Văn công Đại đoàn 312 đứng hát ở ngã ba chiến hào động viên bộ đội xuất kích đi qua. Trong đoàn có Phan Đình Giót, anh rất vui, cảm động và hứa sẽ có “quà” tặng văn công. Nhưng rồi anh không về nữa!... Nào là cây đàn Accordéon mà Thanh Phúc kéo là do chiến sĩ ta thu được ở đồn Him Lam mang về tặng văn công. Nào là chuyện Hoàng Văn Nô dũng sĩ đâm lê và tổ dao nhọn của Nguyễn Hữu Oanh, v.v...

Cán bộ, chiến sĩ các binh chủng ai đi công tác qua cũng đều ghé vào thăm hầm pháo, để xin điếu thuốc; để tò mò sờ mó khẩu pháo xem nó thế nào, mà sao uy lực của nó khiến quân thù khiếp sợ đến thế! Quân ta thì quen chịu đựng né tránh trước sự uy hiếp của pháo địch rồi! Chúng còn pháo 155 ly nổ to và mạnh hơn... Vậy mà chúng sợ pháo 105 ly, pháo 75 ly của ta...!

Đặc biệt lính bộ binh ghé qua đây rất khoái - vì giữa chiến trường ác liệt này lại có một nơi - hầm pháo, như mái ấm gia đình.

Khẩu đội 2 vừa ăn cơm xong thì nghe tiếng ríu rít của văn công lên đài quan sát trở về.

“Gớm, hôm nay chính mắt chúng em trông thấy đạn các anh bắn chúng nó đẹp quá!”

“Thế à ... trông thấy đạn cơ à?”. Cô Minh, cô Tý đáp lời giọng như tiếng chim: “Có chứ anh, thấy cả máy bay, cả bộ binh nó chạy cơ...!”. Mấy anh pháo thủ đùa trêu, vẻ tự nhiên trìu mến như đối với em gái ở nhà.

“Thế cơ à, thích quá nhỉ!... Từ thuở bé đến giờ đấy nhé!..” và họ cười vang, rộn rã. Đồng chí Độ (cán bộ trung đội) vốn ít nói cũng phải nhếch mép cười theo.

Rồi văn công phải đi biểu diễn ở đơn vị khác. Tôi cũng phải rời “mái nhà ấm cúng” này, ra với bộ binh.

Dăm hôm sau, tôi quay lại Đại đội 804. Ở chiến trường, dăm hôm cũng khá là lâu. Vì chiến đấu luôn luôn có biến cố, tình hình địch ta luôn chuyển biến.

Thật không thể ngờ: Cái “mái nhà ấm cúng” - hầm của khẩu đội đã bị một viên đạn pháo địch lọt vào nổ tung. Bị cả khẩu đội trong đó Tý, Lộc, Giao hy sinh. Càng pháo bị gẫy, Ngọ bị thương nặng ... Đại đội lập tức củng cố lại công sự từ nóc tới cột và lỗ châu mai miệng hầm. Các đồng chí cơ công Đại đoàn phái xuống đang sửa, thay càng pháo, bánh xe, máy ngắm. Một biên chế các pháo thủ mới đã được bổ sung đủ giữ nguyên phiên hiệu khẩu đội 2, có Hùng, khẩu đội trưởng mới và một trung đội phó ở Trung đoàn 675 sang duy trì sinh hoạt, mạn đàm tâm tư ... Tiểu đoàn phát động phong trào trả thù cho các đồng chí đã hy sinh. Tôi qua mấy trận địa, nơi nào cũng có các đồng chí hy sinh... nhưng ở đây tôi có điều kiện để khóc, khóc các đồng chí ở khẩu đội 2 đã cùng tôi có 3 ngày đêm chung sống dưới “mái nhà ấm cúng” này. Tôi đã khóc như từ thuở nhỏ chưa từng khóc!

Đêm đó, tôi lại ngủ trong hầm pháo, ngôi nhà cũ thân thương, với giấc ngủ nặng nề trằn trọc ...

Một giờ sáng: Lệnh chuẩn bị đi tức khắc! Vùng dậy trong mờ tối, tiếng khẩu đội trưởng: Phá cửa hầm cho pháo ra! Pháo thủ vác đạn ra trước, rồi tới cọc, vồ, bó trúc, chèn, hòm phụ tùng và các thứ lỉnh kỉnh khác cùng với ba lô. Khi pháo vừa ra, đã có tới hai chục chiến sĩ bộ binh, cao xạ tới giúp.

Mây, sương mù trắng xóa từ lưng chừng núi xuống cánh đồng. Pháo sáng vẫn lập lòe từng lúc rồi tắt ngấm. Bóng dáng người lính in lên nền trời Điện Biên...

... Hai, ba này. Hai, ba ... Tời kêu kìn kịt.

Pháo tiến sâu vào sát địch hơn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:15:41 am

KỶ NIỆM VỀ NỬA ĐIẾU THUỐC LÁ
VŨ NGỌC LÂM
Nguyên Tiểu đội trưởng tiếp lương,
Tiểu đoàn 394, Trung đoàn pháo cao xạ 367

Hồi chiến dịch Điện Biên Phủ tôi đảm nhiệm chức vụ Tiểu đội trưởng tiểu đội tiếp lương của Tiểu đoàn 394, thuộc Trung đoàn pháo cao xạ 367.

Trong hoàn cảnh bom đạn địch ác liệt, lại thêm thời gian chiến dịch kéo dài, việc tiếp tế lương thực, thực phẩm từ hậu phương lên mặt trận gặp rất nhiều khó khăn. Thực phẩm rất khan hiếm.

Là bộ phận chuyên lo khâu ăn uống cho bộ đội, chúng tôi ngày đêm lo lắng làm sao hoàn thành được nhiệm vụ. Nghĩ đến anh em ngoài trận địa sống kham khổ, trong mưa bom bão đạn vẫn ngẩng cao đầu chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay địch, chúng tôi như được cổ vũ thêm quyết tâm làm tròn trách nhiệm nuôi quân của mình.

Cùng với bộ phận hậu cần của tiểu đoàn bộ và của các đại đội, anh em chúng tôi đã không quản gian lao vất vả, mặc cho nắng mưa, gió rét, chia nhau lên tận các bản làng xa để mua, đổi thực phẩm, hoặc len lỏi vào những cánh rừng sâu, tìm hái từng búp măng, từng bắp chuối, từng ngọn lá rau rừng. Bữa ăn của cán bộ, chiến sĩ ngoài Sở chỉ huy tiểu đoàn, cũng như của pháo thủ trên các trận địa, nhờ đó được cải thiện một đôi phần.

Nhiều lần, chính trị viên tiểu đoàn gọi điện xuống biểu dương, làm anh em chúng tôi rất phấn khởi.

Một hôm, tôi còn nhớ rõ, đó là ngày 17 tháng 4 năm 1954, vào khoảng 8 giờ tối, tiểu đội chúng tôi nhận được một gói kẹo và một bao thuốc lá, quà của hậu phương gửi tặng các chiến sĩ Điện Biên. Đang vui vẻ chia nhau từng chiếc kẹo, từng điếu thuốc, thì chúng tôi nhận được lệnh của tiểu đoàn: đồng chí Lâm (tức là tôi) và đồng chí Tiệp, tiểu đội phó, mang theo một tiểu liên, lên ngay Sở chỉ huy tiểu đoàn. Cuộc “liên hoan” do đó tạm dừng lại.

Tiểu đoàn trưởng Trịnh Duy Hậu thường ngày rất nghiêm, nhưng tối nay vừa nhìn thấy chúng tôi, anh đã tươi cười:

- Giao cho cánh tiếp lương các cậu một nhiệm vụ đặc biệt, xuống Đại đội 828 nhận một tù binh Pháp, đưa về chỗ trú quân canh giữ cẩn thận. Chờ khi nào có người của trạm tiếp nhận tù hàng binh đến thì bàn giao cho họ.

Hai chúng tôi liền lao nhanh xuống trận địa, áp giải người tù binh Pháp về chỗ trú quân của chúng tôi ở một góc rừng.

Lúc này, máy bay địch đến ném bom và thả dù. Bom với đạn pháo nổ ầm ầm, rung chuyển mặt đất. Trên trời từng loạt đạn pháo cao xạ của tiểu đoàn chúng tôi vút lên như pháo hoa. Người tù binh có vẻ sợ hãi, đôi vai rung lên. Chúng tôi nhường cho anh ta một căn hầm. Một chiến sĩ mang cơm và thịt trâu kho đến cho tù binh. Anh ta nói lời cám ơn rồi xúc ăn ngấu nghiến.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:17:12 am

Đợt ném bom qua đi, không gian trở lại yên tĩnh. Cả tiểu đội chúng tôi lên miệng hầm, bắt đầu cuộc “liên hoan”, vui vẻ nhai kẹo và hút thuốc. Đêm nay lại đúng là đêm rằm tháng hai âm lịch, tuy không đèn nhưng nhờ trăng sáng nên chúng tôi vẫn nhìn rõ mặt nhau. Niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người.

Bất giác tôi nhìn sang người tù binh, bắt gặp ánh mắt của anh ta đang nhìn chằm chằm vào điếu thuốc trên miệng tôi. Anh ta nuốt nước bọt có vẻ thèm thuồng lắm. Đôi môi anh ta chúm lại một cách khổ sở. Tôi vội bẻ đôi điếu thuốc đang hút, đến đưa cho anh ta một nửa. Anh ta liền ngồi thẳng lên, đưa cả hai tay ra đón, ấp úng nói hai tiếng “méc-xi” (cảm ơn) rồi đưa lên miệng hút ngon lành. Nhìn anh ta rít thuốc và nhả khói, tôi có cảm giác như lâu lắm anh ta không được hút thuốc lá.

Anh Tiệp đùa vui, giới thiệu:

- C’est monsieur capitaine! (Đây là ngài quan ba!)1

Người tù binh liền khom người đứng lên:

- Merci capitaine! (Cảm ơn ngài quan ba!), rồi ngồi xuống, mắc liếc nhìn sang anh chiến sĩ đang cầm súng đứng gác.

Thấy thái đội của chúng tôi vui vẻ, cởi mở, anh ta có vẻ yên tâm, nét mặt không lo âu, tư lự như trước. Lát sau anh ta cởi chiếc đồng hồ đeo tay, chìa ra phía tôi. Tôi lắc đầu, xua tay:

- Non (Không!)

Tôi bảo một chiến sĩ lấy chăn cho anh ta đắp, ngủ. Còn anh em chúng tôi suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau luân phiên nhau canh gác, không rời người tù binh một phút.

Thỉnh thoảng đi qua, tôi dừng lại, trò chuyện với anh ta đôi ba câu bằng tiếng Pháp, vốn liếng ngoại ngữ ít ỏi của tôi. Đến xế chiều, một cán bộ và một chiến sĩ của trạm tiếp nhận tù hàng binh do Mặt trận phái xuống, đến nhận anh ta, đưa về phía sau. Khi chia tay chúng tôi, anh ta nắm tay tôi thật chặt, đôi mắt anh nhìn thẳng vào mắt tôi, rưng rưng...

*
*   *

50 năm trôi qua, tưởng rằng nhiều chuyện đã đi vào quên lãng. Tình cờ mới đây, đến nhà một người bạn chiến đấu cũ, tôi đã đọc một tờ báo đã nhàu nát, tờ “Cựu Chiến Binh Việt Nam”, số tháng 5 năm 1992, có bài viết về một người lính Pháp, tên là Rôn-phơ Đô-len, gốc Đức, từng là tù binh ở Điện Biên Phủ, vừa qua trong chuyến du lịch Việt Nam, trở lại chiến trường xưa.

Rôn-phơ Đô-len kể cho phóng viên báo Cựu Chiến Binh nội dung vắn tắt:

“Giữa tháng 4 năm 1954 trong lúc những trận đánh giằng co đang diễn ra ác liệt trên những ngọn đồi phía đông: Eliane 2, Eliane 1 (tức đồi A1, C1), Rôn-phơ Đô-len, chỉ huy đội biệt kích Com-măng-đô (Commando), thuộc tiểu đoàn 3, trung đội 3 bộ binh Lê dương (3/3 REI), đóng tại Isabelle (Hồng Cúm), được lệnh “sục sạo ra phía tây để thăm dò lực lượng Việt Minh”.

Vừa ra khỏi căn cứ chưa đầy 1 km, toàn đội biệt kích chúng tôi rơi vào ổ phục kích của đối phương. Toàn đội Com-măng-đô bị tiêu diệt, riêng tôi may mắn thoát chết, chỉ bị thương nhẹ và bị bắt làm tù binh.

Trở lại Điện Biên Phủ lần này, tôi thăm lại Hồng Cúm, đã khác xưa quá nhiều, lên thăm đồi Eliane 2, qua cầu Mường Thanh, xem hầm tướng Đờcátxtơri được phục chế gần như nguyên vẹn. Tại Hồng Cúm, tôi đứng lặng hồi lâu, dành nhiều phút trầm tư về những kỷ niệm đã qua cách đây mấy chục năm...”.

Rôn-phơ Đô-len tâm sự:

“Bản thân tôi có rất nhiều thiện cảm với người dân Việt Nam và bộ đội Việt Minh. Họ có lòng yêu nước chân chính. Họ đi theo Cụ Hồ và kiên cường chiến đấu cho nền độc lập của Việt Nam. Họ đối xử nhân đạo với tù binh. Ngay lần đầu bị bắt, tôi gặp một sĩ quan trẻ Việt Minh, nói khá thạo tiếng Pháp, đã chia cho tôi nửa điếu thuốc lá ông đang hút. Đó là mẩu thuốc lá ngon nhất đời mà tôi nhớ mãi. Cho tới nay, tôi vẫn mong gặp lại vị sĩ quan trẻ Việt Minh đã chia cho tôi nửa điếu thuốc trong một buổi tối giữa tháng tư năm ấy”.

Đọc xong bài báo nói trên, lòng tôi bỗng xốn xang khó tả. Kỷ niệm xưa lại hiện về. Phải chăng, Rôn-phơ Đô-len chính là người tù binh mà chúng tôi đã canh giữ tại góc rừng năm xưa ở Điện Biên Phủ?
___________________________________
1. Capitaine: quan ba, tức đại úy.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:21:18 am

ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ TÌNH ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT VIỆT - LÀO
Trung tướng Phó GS HOÀNG NGHĨA KHÁNH
Nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến,
Phái viên tác chiến Bộ chỉ huy chiến dịch

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 400, Trung đoàn 9, Đại đoàn 304 nên được cử làm phái viên tác chiến của Bộ, xuống theo dõi tác chiến của Đại đoàn 304 chiến đấu ở khu vực Hồng Cúm, phía nam Mường Thanh.

Tôi còn được giao trực tiếp chỉ huy một đại đội trinh sát đặc biệt của Bộ với trang bị tiểu liên đầy đủ, có thêm 1 khẩu cối 60 ly, 3 khẩu trung liên và một đài thông tin liên lạc trực tiếp với Bộ.

Sau chiến dịch giải phóng Tây Bắc cuối năm 1952, tôi cũng đã trực tiếp chỉ huy đại đội trinh sát này sang chuẩn bị chiến trường Sầm Nưa (Thượng Lào). Đại đội bố trí bám sát địch ở khu vực sân bay Noọng Khang và thị xã Sầm Nưa, để tiến hành chiến dịch giải phóng Sầm Nưa, Thượng Lào năm 1953.

Lần này, chúng tôi cũng bố trí trinh sát bám sát địch xung quanh sân bay Hồng Cúm và cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Khi phương châm chiến dịch thay đổi, từ “đánh nhanh, thắng nhanh”, sang “đánh chắc, tiến chắc”, Đại đoàn 308 được lệnh cơ động sang Thượng Lào; đại đội trinh sát chúng tôi cũng được lệnh đi cùng đại đoàn sang nắm tình hình địch và nghiên cứu bố trí lực lượng ngụy quân Lào dọc sông Nậm U, Mường Ngòi, Nậm Bạc (đông bắc Luang Prabang).

Khi Đại đoàn 308 bí mật rút về chuẩn bị xây dựng trận địa ở phía tây Mường Thanh, đội trinh sát cùng rút về vị trí cũ bố trí bám địch xung quanh cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Là phái viên tác chiến của Bộ, tôi theo dõi tác chiến của Đại đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 66 tác chiến ở Trung Lào), do đồng chí Chính ủy Lê Chưởng và đồng chí Tham mưu trưởng Đại đoàn Nam Long chỉ huy. Cứ mỗi buổi tối, tôi cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 57 (do đồng chí Nguyễn Cận - Trung đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Đan - Trung đoàn phó), đi đôn đốc kiểm tra việc xây dựng trận địa tấn công ở phía đông; và sang Trung đoàn 9 (đồng chí Trần Thanh Từ làm Trung đoàn trưởng) xây dựng trận địa tấn công bao vây phía tây cụm cứ điểm Hồng Cúm.1

Đặc biệt, có những ngày đêm, chúng tôi đi theo giao thông hào lớn chia cắt khu vực Hồng Cúm và nam Mường Thanh để kiểm tra việc đào giao thông hào có đúng với kích thước bề cao và rộng theo quy định không, cách 5-6 mét phải đào một hầm ếch ở chân giao thông hào để tránh bom và đạn pháo cối của địch. Còn đại đội trinh sát của Bộ thì bố trí bám địch cả đêm lẫn ngày ở xung quanh cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Ban đêm, đại đội trinh sát thỉnh thoảng bắn một vài quả cối, một vài loạt trung liên để thu hút sự chú ý và hỏa lực của địch về phía mình, nghi binh cho bộ đội đào giao thông hào và xây dựng trận địa bao vây tiếp cận địch.
____________________________________
1. Sư đoàn 304 ký sự, tập 1. Nxb QĐND, H. 1980.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:22:57 am

Đồng chí Chính ủy Lê Chưởng còn giao cho tôi lựa chọn các chiến sĩ của đại đội trinh sát Đại đoàn 304 và của Bộ, tổ chức các tổ “dũng sĩ” ban ngày bám sát hàng rào cứ điểm, bắn tỉa quân địch, thu dù máy bay địch thả rơi ra ngoài hàng rào, gồm các thùng đồ hộp, đủ các loại thực phẩm, về “tiếp tế” một phần cho quân ta.

Khi cụm quân địch ở Mường Thanh sắp thất thủ và chuẩn bị rút chạy, quân Pháp tổ chức và điều động một binh đoàn cơ động quân ngụy Lào gọi là GML (Groupement Mobile Laos), có những tên chỉ huy người Pháp vượt sông Mường Khoa sang đèo Tây Trang để tiếp ứng và đón quân địch ở Điện Biên Phủ rút về Thượng Lào. Được lệnh Bộ, đại đội trinh sát chúng tôi đưa bộ phận lớn lên chốt ở đèo Tây Trang. Đến khi quân địch ở Hồng Cúm rút chạy, hai Trung đoàn 57 và 9 của Đại đoàn 304 truy kích tiêu diệt quân địch ở Hồng Cúm, binh đoàn cơ động ngụy Lào (GML) bị chặn ở đèo Tây Trang cũng rút chạy về Lào. Đại đội trinh sát được lệnh Bộ truy kích quân GML vượt sông ở Mường Khoa, qua một dãy núi đến một con suối, gặp một bộ phận của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 148 do đồng chí Hoàng Lê chỉ huy.1

Truy kích địch qua đèo Calăngtap thì chúng tôi được lệnh quay trở lại Điện Biên Phủ gặp đồng chí Trần Lương - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Cao Văn Khánh - Phó Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, được Tổng Quân ủy giao ở lại giải quyết chiến trường và trao trả thương binh để Pháp chở trực thăng về Viêng Chăn. Vào hầm chỉ huy cũ của tướng Đờcátxtơri, tôi nhận lệnh cùng đại đội trinh sát, được tăng cường thêm đồng chí Thận (Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn trinh sát của Bộ) làm phó, chúng tôi sang lại Thượng Lào chuẩn bị chiến trường để giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào. Để phát huy thắng lợi Điện Biên Phủ, ta và bạn dự định sẽ mở chiến dịch giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào để nối liền hai vùng giải phóng Bắc Lào của bạn với vùng Điện Biên Phủ, Lai Châu của ta. Đồng thời, để phát huy thắng lợi sau chiến dịch giải phóng Tây Bắc năm 1953, ta và bạn đã thống nhất mở chiến dịch Sầm Nưa để nối liền hai vùng giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào của bạn với vùng Mộc Châu, Sơn La, Tây Bắc của ta.

*
*   *

Đại đội trinh sát nhận nhiệm vụ mới!

Sau khi được trang bị đầy đủ lương thực (chủ yếu là muối), mỗi chiến sĩ mang nặng “bao tượng gạo”, và nhiều đồ hộp chiến lợi phẩm, trở lại vượt đèo Tây Trang, Mường May, Mường Khoa tiến về hướng Luang Prabang. Khi hành quân đường bộ vượt qua nhiều đèo, nhiều suối; khi hành quân đường sông Nậm U theo các thuyền do dân Lào chở, chúng tôi tiến về Mường Ngòi, Nậm Bạc, vừa hành quân vừa tác chiến với những tốp tàn quân hoặc toán biệt kích lẻ tẻ dọc đường. Nhân dân Lào ở các bản dọc sông Nậm U rất tốt, có truyền thống cách mạng (là quê hương của Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, một lãnh tụ Pathét Lào), cho nên khi bộ đội hành quân qua các bản thì được dân đón tiếp vui vẻ, có nơi cho thêm gạo nếp, rau và chuối, nhiệt tình cho bộ đội mượn thuyền và lái thuyền chở bộ đội qua sông. Cũng nhờ nhân dân vùng này rất tốt với bộ đội Việt Nam, nên trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi Đại đoàn 308 được lệnh cơ động gấp sang Thượng Lào không có chuẩn bị trước về hậu cần đã được nhân dân Lào tiếp tế một phần, nên Đại đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ.
___________________________________
1. Đồng chí Hoàng Lê - sau là Thiếu tướng Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:23:21 am

Đến Mường Ngòi, Nậm Bạc, đại đội trinh sát không cơ động tiếp theo dọc sông Nậm U nữa, để giữ bí mật. Được sự giúp đỡ của cán bộ tình nguyện Việt Nam sang xây dựng cơ sở ở Lào, chúng tôi quay sang hướng đông, hành quân dọc sông Nậm Xeng, Nậm Suông, qua các bản Xốp Vi, Xốp Chiệc, Phon Xay. Trên đường hành quân, qua các bản có nhiều địch thì vòng tránh; gặp những toán nhỏ thì đánh để mở đường.

Đại đội trinh sát vượt qua các bản người Lào Lum (sống hai bên bờ sông) có nhiều ruộng bậc thang trồng lúa, có thuyền về các thị trấn, thị xã buôn bán, nên đời sống sung túc hơn, văn minh hơn. Các cô gái Lào trắng trẻo với các váy lụa đen, áo màu may kiểu “vai bồng”, với giải cúc bằng bạc trắng, hiểu biết nhiều về bộ đội Việt Nam nên niềm nở và ủng hộ gạo, nếp, gà, rau. Dân bản cho bộ đội ngủ trong các nhà sàn bằng gỗ. Hành quân tiếp leo lên vùng lưng chừng núi, là các bản người Lào Thênh, ít suối, đất khô cằn, nhà sàn nhỏ bằng tre nứa, ban đêm bộ đội phải căng nilông trải lá ngủ trên các đồi con, ngoài rừng. Dân hiểu biết ít về bộ đội Việt Nam, đời sống nhân dân khó khăn hơn, nên bộ đội phải san sẻ một vài lon muối cho dân nghèo.

Hành quân tiếp lên đỉnh các dãy núi đá, là các bản Mèo. Người Mèo (Lào Sủng) ở đây “tự hào là đàn anh” vì ở cao trên “đầu mọi người”.

Họ sống trong các nhà “trệt” (không có sàn) thưa thớt xa nhau, xen kẽ nhiều nương trồng cây thuốc phiện, đời sống khá hơn người Lào Thênh. Trong nhà có nhiều lợn, gà, ít cây cối. Đại đội leo lên một bản người Mèo trên đỉnh Luang Prabang. Bản này tương đối lớn, nhưng không có một ai tại nhà. Hình như nghe bóng dáng bộ đội Việt Nam tới, họ trốn vào các hang đá xa nhà.

Ở đỉnh núi này rất tốt cho việc tiếp cận thị xã Luang Prabang, lại có nhiều hang, hốc đá và các lùm cây, tiện cho việc quan sát và che giấu. Bộ đội phải “hạ ba lô dừng lại ngoài bản, chúng tôi liền cho mở đài thông tin, bắt sóng phát thanh có nhạc Lào (tuy không biết là nhạc gì, bài hát gì...). Tiếng nhạc vọng vào núi đá vang lên trong không khí vắng vẻ. Nghe cũng vui tai, nên sau một lát thấy lẻ tẻ một vài em bé người Mèo, đeo vòng bạc to ở cổ, lò mò tới xem. Lúc đầu còn đứng xa, thấy bộ đội Việt Nam vui vẻ vẫy tay, các cháu dần dần lại gần nghe đài và nhạc. Được anh em chiến sĩ cho mỗi em một ít kẹo chiến lợi phẩm và một mảnh vải dù lụa đỏ đeo vào cổ (trẻ con người Mèo rất thích khăn quàng đỏ) nên các em mạnh dạn hơn, vui hơn và dần dần về đông hơn.

Tiếp sau các em nhỏ là các cô gái Mèo quần áo cũng tươm tất hơn các cô “Lào Thênh”, ở trên núi cao khí hậu lạnh nên hai má đỏ hồng, cổ đeo vòng bạc lớn, cả cổ tay, chân đều đeo vòng bạc nhỏ. Lúc đầu còn bẽn lèn nấp sau các tảng đá lớn hoặc góc nhà. Nhưng sau thấy bộ đội Việt Nam hiền từ vui vẻ bế các em nhỏ vào lòng vừa vỗ tay vừa hát theo tiếng nhạc, các cô gái Mèo cũng từ từ tiến lại gần. Các chiến sĩ cũng tặng mỗi cô một mảnh vải dù lụa đỏ. Thấy cô này được tặng cô khác cũng mạnh dạn tiến lên tủm tỉm cười để nhận quà! Thế là bộ đội đã gây cảm tình được với hai “thành phần đại diện” đầu tiên của bản Mèo. Tiếp đến các “bà mế” cũng về bản, trên lưng vai gùi bẹ ngô hoặc bó củi khô, thấy bộ đội vui vẻ với các em nhỏ và cô gái người Mèo, lúc đầu còn bỡ ngỡ, nhưng rồi cũng lại ghé ngồi xem, móm mém ăn bánh lương khô của bộ đội tặng.

“Thành phần thứ tư” trở về, tay cầm dao rựa là các chàng thanh niên Mèo, hơi khó tính, nghe tiếng nhạc và thấy dân Mèo ngồi gần bộ đội Việt Nam, cũng ghé vào xem. Mặt lạnh như tiền, không biết có phải vì “ghen” với cô gái Mèo ngồi gần bộ đội Việt Nam không, lúc đầu còn đứng xa nhưng sau họ cũng tiến vào dần, xen lẫn với những người tới trước để nghe nhạc và các bài hát.

Các già làng, trưởng bản, những người đàn ông, chiều đến cũng về bản, nhưng không ra nghe nhạc. Chúng tôi phái cán bộ trung, tiểu đội vào trong bản tiếp xúc đưa thuốc lá, bánh lương khô, bánh quy chiến lợi phẩm mời các cụ và trò chuyện. Lúc đầu, thái độ họ dửng dưng, nhưng nét mặt dần dần dịu lại và cuối cùng cũng nhã nhặn đồng ý cho bộ đội vào nhà nghỉ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:24:58 am

Thế là đại đội trinh sát đã gây được cảm tình bước đầu của đủ “các thành phần”. Tình quân dân giữa bộ đội Việt Nam và nhân dân Lào nói chung và người Mèo ở đây nói riêng trở nên đầm ấm! Ôm các em nhỏ vào lòng, tôi cảm hứng chợt nghĩ ra mấy dòng thơ của người chưa hề biết làm thơ bao giờ:

      “Chú từ Việt Nam vượt suối, băng đèo
      Đến đây gặp cháu dân Mèo Mường Luông.
      Chú với cháu không cùng dòng máu
      Chưa hề gặp nhau, không cùng thứ tiếng
      Gặp nhau sao quyến luyến lạ thường!
      Phải chăng có một tình thương
      Thương cùng cảnh ngộ chống phường thực dân,
      Chú Pa thét, chú Việt Nam
      Diệt thù giải phóng bản làng yên vui
      Cho các cháu tung tăng múa nhảy
      Cho lúa xanh phủ đầy nương rẫy
      Việt - Lào sát cánh, nắm tay đời đời!”


Lúc đầu chúng tôi vào bản Mèo, không gặp dân nên nghĩ cách làm như thế để kéo dân về, vì nếu không có dân thì không thể đứng chân ở vùng này, một địa điểm rất thuận lợi để điều tra nắm địch, chuẩn bị chiến trường.

“Tiến hành chiến dịch phải có dân mới giành thắng lợi. Đi trinh sát chuẩn bị chiến trường ở đâu cũng phải dựa vào dân mới thành công!”.

Lúc đó, chúng tôi làm như vậy, không nghĩ là mình làm “công tác dân vận”. Sau này, khi đọc và tham gia ý kiến vào bản thảo “Đường lên cơ quan Tổng hành dinh” của tôi, đồng chí Thiếu tướng Đoàn Huyên, nguyên Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự, nhận xét: “Tôi đọc quyển hồi ký của anh, ở đoạn này rất cảm động! Vì tôi cũng đã có thời gian hoạt động ở Hạ Lào, hiểu một phần về phong tục tập quán và tình cảm của các bộ tộc Lào đối với quân tình nguyện Việt Nam. Mình thấy việc làm của các ông lúc đó rất hay! Làm công tác dân vận phải rất linh hoạt, phù hợp tâm tình, hoàn cảnh, bằng hành động thiết thực không phải bằng lời nói suông!”.

Anh em được vác ba lô vào nghỉ trong các nhà dân, nơi 4-5 người, nhà đông nhất được 10-15 người.

Đêm đến, tuy là mùa hạ nhưng ở trên đỉnh núi cao, ban ngày nóng bức, ban đêm sương tỏa xuống giá lạnh, nếu không được vào nghỉ trong nhà, mà phải nằm ngoài các tảng núi đá, thì chắc không thể ngủ được, mà lại có người phát ốm.

Tối đó, chúng tôi đốt lửa trại, mở đài phát thanh nhạc Lào, các cháu bé, các cô gái và các chàng trai người Mèo thổi khèn, chiến sĩ Việt Nam và thanh niên nam nữ Mèo tay cầm tay nhảy “lăm vông”, đi vòng quanh đống lửa trại, các bà mế thì ngồi ngoài xem.

Lửa trại tàn dần, sương mù xuống càng dày đặc. Gió lạnh thổi về, mọi người vui vẻ trở vào bản. Các cháu tuy lạnh nhưng vẫn còn luyến tiếc, chần chừ chưa muốn về nhà.

Đêm đó, Ban chỉ huy đại đội chúng tôi ở trong nhà một “già làng”. Ông già nằm trên một tấm phản gỗ đặt sát đất, hút thuốc phiện bằng một tẩu dài, hơ thuốc trên ngọn đèn dầu lạc.

Ở góc nhà, một anh thanh niên da ngăm đen trần truồng (có thể người Lào Thênh) đạp một chày giã ngô, một người đàn bà chỉ mặc chiếc váy, ngực và lưng trần (cũng có thể là người Lào Thênh) bàn tay đảo ngô trong cối. Thấy cảnh chướng mắt, đồng chí Nam - Chính trị viên đại đội cứ băn khoăn lưỡng lự mãi. Anh lấy ra một chiếc quần đùi và một áo sơ mi cộc tay vải kaki của lính Pháp ở Điện Biên Phủ (anh em trinh sát vẫn mang theo lót vai vác đạn) mang lại mặc cho chàng “nô bộc” trần truồng đó, anh ta giọng ngọng trầm trồ cười. Ông “già làng” ngoảnh cổ lại, thản nhiên nhìn cảnh đó, rồi lại tiếp tục hút thuốc phiện, không có phản ứng gì, không tỏ ra bất bình, tự ái.

Ngày hôm sau, chủ nhà quẳng cho “nô bộc” đó mấy cái áo quần rách của người Mèo, nhưng anh ta không chịu thay quần áo mà cứ mặc bộ quần áo đồng chí Nam cho tối hôm trước.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười, 2016, 08:26:03 am

Những ngày sau, Đại đội trinh sát ở trong các nhà bản Mèo được dân Mèo cho thịt lợn, rau cải Mèo và các bông bắp vàng, quả su su (trồng trên đỉnh núi cao giá lạnh nên quả rất to) anh em bộ đội cho dân muối. Tin đồn lan truyền, dân Mèo các bản khác và các dân “Lào Thênh” ở dưới cũng lũ lượt mang ngô, rau, thịt lợn lên đổi lấy muối (là món hàng chiến lược của bộ đội mang theo).

Có địa bàn đứng chân, trên dãy núi bản Mèo, nhìn xuống thị xã Luang Prabang rất rõ. Chúng tôi đặt “cứ trinh sát” ở đó, xuống lưng chừng núi đặt “đài quan sát”, tìm được một vị trí có hang, đã dự định đặt “chỉ huy quan sát” của chiến dịch ở đó rất tốt, quan sát rất rõ các ngôi nhà và từng người đi lại trong thị xã. Ban đêm các toán trinh sát đột nhập thị xã, vẽ sơ đồ bố trí của địch. Chúng tôi báo cáo qua điện đài về Bộ Tổng tham mưu là công tác nắm tình hình địch đã cơ bản xong và gặp nhiều thuận lợi, đề nghị Bộ cử đoàn cán bộ các đơn vị sẽ tham gia chiến dịch, sang nghiên cứu chiến trường.

Bất ngờ một buổi sáng, tôi nhận được điện của đồng chí Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Tác chiến: “Ta không mở chiến dịch giải phóng Luang Prabang Thượng Lào nữa, vì hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ đã được ký kết, lệnh cho đại đội trinh sát trở về Bộ và Khánh cũng về Cục để tham gia vào đoàn “tiền trạm” cán bộ Bộ Tổng tham mưu đi trước về chuẩn bị tiếp quản Thủ đô Hà Nội...”1.

Tôi họp Ban chỉ huy đại đội trinh sát phổ biến quyết định này. Mọi người sững sờ vừa mừng vừa tiếc! Mừng vì hòa bình sắp lập lại ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng rất tiếc là công tác chuẩn bị chiến trường đã được hoàn thành tốt đẹp. Nếu ta và bạn Lào tiếp tục mở chiến dịch này, thì nhất định sẽ giành thắng lợi. Một vùng giải phóng rất rộng lớn của đất nước Lào, từ đường số 7, bản Ban, Cánh Đồng Chum ra Xalaphukhum, đường 13, trở lên Sầm Nưa, Luang Prabang và cả Bắc Lào sẽ được giải phóng, liên hoàn với đất của ta, từ vùng tự do Thanh Hóa, Hòa Bình, Liên khu 3, nối liền với vùng giải phóng Tây Bắc và căn cứ địa Việt Bắc của Việt Nam.

Ban chỉ huy đại đội rút các tổ trinh sát hành quân trở về Việt Nam. Chia tay rời bản Mèo với sự lưu luyến của dân Mường Luông, nhất là các cháu bé. Các cô gái Mèo cứ đứng vẫy tay nhìn mãi, đại đội trinh sát đi xa dần theo đường hành quân cũ, xuống các bản người “Lào Lum” ở bờ sông Nậm Suông. Qua các bản làng người Lào, chúng tôi phổ biến Hiệp định ngừng bắn đã được ký kết, hòa bình được trở lại trên đất Lào và hình như cán bộ Pathét Lào cùng các cán bộ tình nguyện Việt Nam xây dựng cơ sở cũng đã phổ biến tin này, nên đến đâu cũng được dân Lào đón tiếp nồng hậu, ủng hộ nhiều gạo nếp, gà lợn, mà không yêu cầu bộ đội Việt Nam cho “muối” như khi hành quân lên đỉnh núi Luang Prabang. Tuy nhiên, anh em vẫn phát hết số muối còn lại cho dân nghèo ở các bản đi qua.

Trên đường về Việt Nam dừng chân nghỉ tại một bản người Lào trên sông Nậm Suông, thì một việc đau buồn xảy ra với đại đội! Đồng chí Thận - Tiểu đoàn phó tiểu đoàn trinh sát của Bộ, được tăng cường đi theo đại đội trinh sát, lúc lau súng tiểu liên của mình, vô ý bị “cướp cò” đạn xuyên qua cổ lên đầu chết tại chỗ. Cả đại đội và chúng tôi vô cùng thương tiếc một cán bộ dũng cảm, một đảng viên trung kiên, một người bạn chân tình, một đồng đội được tất cả anh em trong đại đội mến phục, đã đột ngột ra đi!

Thật đau đớn và tiếc thay! Đồng chí đã ngã xuống sau 9 năm chiến đấu gian khổ, trước ngày ngừng tiếng súng trên Tổ quốc Việt Nam thân yêu!

Đại đội trinh sát của chúng tôi và toàn thể dân Lào trong bản đã tổ chức truy điệu đồng chí trong niềm thương tiếc vô hạn! Sau lễ truy điệu, đồng chí Nam - Chính trị viên, đồng chí Lộc - Đại đội trưởng, 4 chiến sĩ và tôi cùng trưởng bản người Lào xuống một con thuyền độc mộc, bơi ngược dòng sông Nậm Suông. Trên bờ sông, anh em đại đội trinh sát và nhân dân Lào của bản rưng rưng nước mắt nhìn theo con thuyền độc mộc chở thi hài đồng chí Thận lên mai táng trên bờ tả ngạn sông Nậm Suông, gần chỗ mấy cán bộ Pathét Lào đã hy sinh trước đây.

Đến nay, hơn 50 năm đã trôi qua! Chúng tôi không ai có điều kiện trở lại vùng đất xa xôi hẻo lánh này của nước bạn để viếng mộ người đồng chí thân yêu. Nhưng chắc chắn “người xưa cảnh cũ” nay đã thay đổi nhiều, mà nếu được trở lại nơi đây thì thời gian, bão táp, mưa lũ đã xóa mất dấu vết nấm mồ trước đây đắp bằng đất, một cán bộ quân tình nguyện Việt Nam dũng cảm, một đảng viên trung thành của Đảng, một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả của mình trên đất bạn.

Đồng chí Thận cũng như nhiều cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện khác của Việt Nam đã gửi thân mình mãi mãi trên đất bạn Lào, vun đắp thêm tình hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào mãi mãi thắm tươi, đời đời bền vững.
_________________________________
1. Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Nxb QĐND, H.1992, tr. 752-759.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2016, 10:21:38 pm

TRUY DIỆT ĐỊCH CHẠY SANG LÀO
Đại tá TRẦN NGỌC KHUÊ
Nguyên Đại đội trưởng Đại đội 19,
Tiểu đoàn 265, Trung đoàn 57, Đại đoàn 304

Lần họp kỷ niệm 54 năm Điện Biên Phủ vừa rồi, điểm lại anh em đồng đội cũ đã thấy vắng đi nhiều. Nửa thế kỷ đã qua. Những kỷ niệm một thời máu lửa, những tình cảm sâu đậm, tình đồng chí, đồng đội còn đọng lại khá nhiều trên các trang sách, báo, phim, ảnh, nhưng một số lớn sẽ mai một cùng với sự ra đi của thế hệ chúng tôi. Cuộc sống không dừng mà tiếp tục phát triển. Ôn lại những kỷ niệm chiến đấu cũ để sống tốt hơn nhưng không ngồi đó mà gặm nhấm. Lẽ đời vốn vậy là phải vậy. Nhưng nếu còn có chút băn khoăn, dù nhỏ, về một sự kiện nào đó chưa được ghi chép đầy đủ thì chúng tôi phải có trách nhiệm kể lại. Đó là trận truy kích cuối cùng đêm mùng 7 tháng 5 năm 1954 kéo dài đến trưa ngày mùng 8 tháng 5 năm ấy. Một cuộc đuổi bắt kẻ địch đang hốt hoảng trốn chạy, chẳng có gì ác liệt, nhưng có thể là một cứ liệu cần thiết bổ sung cho cuốn lịch sử quân đội ta nói chung, của Trung đoàn 57 chúng tôi nói riêng, khép lại thật đẹp 196 ngày đêm mưa rừng cơm vắt... (nếu tính từ ngày xuất phát ở Thanh Hóa).

Sau này về hưu, rảnh rồi, có dịp đọc lại Hồi ức “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi thấy nổi lên một vấn đề: Đó là nỗi lo của Bộ chỉ huy chiến dịch khi ra lệnh cho các đơn vị: “...Bao vây thật chặt, không để cho Đờ-cát hoặc bất cứ một tên địch nào chạy thoát”1. Nỗi lo này có từ khi tình báo của ta phát hiện chủ trương của Na-va muốn rút chạy về Thượng Lào với các cuộc hành quân Condor và Albatros. Rồi cả sau khi Mường Thanh đã đầu hàng, ta bắt sống tướng Đờ-cát cùng toàn thể Bộ chỉ huy Pháp ở Điện Biên Phủ, nỗi lo đó của đồng chí Tư lệnh Chiến dịch vẫn còn! “Với tôi trận đánh chưa kết thúc. Quân địch ở Hồng Cúm lúc này do Hà Nội trực tiếp chỉ huy. Nếu chúng chạy thoát một số sang Thượng Lào thì chiến thắng của ta sẽ không trọn vẹn.. ”.2

Từ nhận định trên đã có “Lệnh cho đơn vị phụ trách Hồng Cúm áp sát gọi hàng, tiêu diệt nếu ngoan cố, đồng thời chuẩn bị các đơn vị truy kích”. Đó là chuyện của cấp trên, còn các đơn vị chiến đấu chúng tôi, thì đã sẵn sàng chờ tín hiệu lên đường...

18 giờ, lệnh truy kích của Bộ Chỉ huy chiến dịch ban ra, ngoài Trung đoàn 57 hình như còn có Trung đoàn một bộ phận của Đại đoàn bạn. Riêng Tiểu đoàn 265 do vị trí chiến đấu còn nằm trên hướng địch rút chạy nên được giao nhiệm vụ đầu tiên: “Nhanh chóng vượt lên trước địch, chặn chúng lại, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ”.

Toàn đơn vị xuất phát, để lại đằng sau tiếng rít ‘Vui tươi” của lựu pháo ta từ Pu Hồng Mèo cấp tập mãnh liệt vào trung tâm Hồng Cúm cùng với tiếng gọi nhau tìm giặc của các đơn vị bạn trên cánh đồng rộng lớn với hàng trăm ánh đuốc rực cả một góc trời.

Đại đội 19 chạy đầu tiên. Đến một ngã ba con đường chia thành hai hướng trung đoàn trưởng Nguyễn Cận đã chờ sẵn ở đó. Trong tranh tối tranh sáng anh đã nhìn thấy tôi:

“C19 hả? Chạy theo đường này. Thời gian rất gấp. Trang bị thêm cho các cậu một bộ đàm để liên lạc thẳng với Trung đoàn. Ban chỉ huy tiểu đoàn có anh Cầm và anh Lâm Phúc đi với đại đội. Lên đường luôn chúc thắng lợi”.
________________________________________
1, 2. Đại tướng Võ Nguxên Giáp – Tổng tập Hồi ký. Nxb QĐND, H.2006, tr. 1092-1094.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2016, 10:22:39 pm

Cuộc hành quân truy kích với hai ngày lương khô, chân đất, vũ khí đạn dược đầy đủ và trên thắt lưng có cuộn băng cá nhân và một cuộn dây trói tù binh (Vật bất ly thân, nhiều bận dở khóc dở cười vì thiếu nó)...

... 5 tiếng đồng hồ sau, trinh sát phát hiện dấu vết của địch, những ba lô đầy ắp đồ hộp, bánh mì bỏ vương vãi... rồi những người phu khuân vác lợi dụng đêm tối trốn ở lại với ta. Họ cho biết địch đang chạy phía trước, uể oải vì đuối sức ... “Đúng đường rồi, bám được địch rồi” tin loan rất nhanh, mọi người mừng đến quên cả mình cũng đang mệt và đói. Lại tiếp tục chạy.

Con đường dần dần đi vào khu rừng rậm lá. Đến bên bờ một con suối rộng thì không còn nhận ra đường nữa! Trời tối đến mức không nhìn ra bạn chiến đấu đang đi ở phía trước nữa. Đang phân vân thì thêm hai người phu khuân vác nữa từ dưới suối chui lên: Bọn Tây đang nằm cả ra đất, ngay bên kia suối, không chịu đi nữa, chúng em lẻn ra và quay về với các anh... Lúc bấy giờ là 2 giờ sáng.

Sau khi xin ý kiến tiểu đoàn, chúng tôi cho bộ đội tạm nghỉ, ăn qua loa để lấy lại sức sau 7 tiếng đồng hồ vừa đi vừa chạy, đồng thời chờ trời hửng sáng.

Tờ mờ đất, toàn đơn vị đã sẵn sàng chờ lệnh, ai cũng có một nỗi lo chung “Không chặn bắt được giặc”. (Chỉ huy một đơn vị mà ý chí quyết thắng trăm người như một, quả thật là hạnh phúc).

5 giờ sáng trinh sát đã nhận ra con đường! Nó không mất hút mà đi ngầm qua suối. Toàn đại đội triển khai chiến đấu, dàn đội hình hàng ngang vượt suối. Tiếng kêu gọi đầu hàng vang sau khi mười quả đạn cối bắn thị uy vừa chấm dứt.

Bước lên bờ, một tên địch cao lớn chạy tới, hai tay vẫy lia lịa một mảnh vải trắng: “Ông đại úy chết, sợ súng cối lắm; không có chỉ huy, xin hàng”...

Ồ! Đông quá! Chúng ngồi túm tụm lại một chỗ, dễ có đến cả trăm tên! Mặt mũi bơ phờ, mắt nhìn dáo dác, súng đạn, khí tài, lương thực chất đầy ở một góc xa. Trên trời chiếc C47 vẫn lượn vòng khá rộng. Qua bộ đàm của ta, nghe thấy chúng đang gọi nhau: “Tănggô, Tănggô, có nghe tôi không? Có nghe tôi không?”. Tiếng gọi đều đều tuyệt vọng...

Thẩm vấn nhanh bọn tù binh: Đơn vị trốn chạy này là tiểu đoàn Lê dương số 3 (3/3REI), đếm được 71 tên, hầu hết thuộc Đại đội 10 và Đại đội 11. Riêng đại đội 12 đang chạy ở phía trước.

Tổ chức xong bộ phận ở lại canh giữ tù binh, thu dọn chiến lợi phẩm, chúng tôi chạy tiếp. Thành quả bước đầu động viên những đôi chân tay chạy hút theo mục tiêu phía trước. Được một đoạn đường lại chia hai ngả, phải chia lực lượng tỏa ra hai hướng. Khoảng 10 giờ sáng phát hiện địch đang ngồi nghỉ trên mỏm đồi cạnh đường, tiếng gọi hàng của ta lại vang lên. Chúng hốt hoảng nổ súng. Bắn nhau khoảng 5 phút, một mũi vu hồi của ta đã áp sát, bắt chúng hạ vũ khí. Tên ngoan cố bị tước khẩu súng ngắn sau cùng là một tên Trung úy. Theo lời hắn khai “Chúng thuộc đại đội 12 của tiểu đoàn 13 Lê dương, vì quá mệt mỏi nên đội hình rất lộn xộn. Chỉ dồn lại được 36 tên, một số nữa không rõ đi theo hướng nào.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2016, 10:23:22 pm

Lúc này đã gần trưa, chúng tôi dừng lại, phái tổ trinh sát đi tiếp một đoạn nữa, cố tìm dấu vết của địch. 12 giờ, trinh sát quay về báo cáo: đường còn xa nhưng đã lâu lắm không có vết chân người. Cảm thấy yên tâm hơn, chúng tôi tổng hợp tình hình báo cáo về Trung đoàn xin chỉ thị mới.

“Tổng số tù binh bắt được, đợt 6 giờ sáng là 71 tên, đợt 10 giờ sáng là 31 tên; tổng cộng 107 tên, 5 máy bộ đàm và toàn bộ vũ khí cá nhân. Phiên hiệu bọn này đều thuộc D3/3REI. Địch chết một đại úy, hai lính bị thương. Bên ta có đồng chí Cầm - Chính trị viên tiểu đoàn bị thương nhẹ.

Đầu dây đằng kia, Chính ủy Quách Sỹ Kha cười thỏa mái: Tốt lắm! Các cậu đã gặp đúng Tiểu đoàn Lê dương số 3. Theo tên đại úy La Lăng - Chỉ huy trưởng Phân khu Hồng Cúm ra hàng đêm qua, Tiểu đoàn Lê dương này quân số khoảng 150 tên ra đi hồi 17 giờ 30 phút. Số còn lại các tiểu đoàn 2BTA + 3BTA cùng lực lượng pháo binh, xe tăng. Sau trận pháo kích dữ dội của ta, chúng chui sâu vào các công sự và đã ra hàng hồi 23 giờ đêm. Số lạc sang phía Tây Trang đã bị đại đội 18 bắt và báo về hồi 10 giờ sáng nay. Đại đội 19 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bình bầu khen thưởng sau. Dự kiến sẽ cử đại đội C19 đi hội quân toàn Mặt trận tổ chức nay mai mừng đại thắng. Bây giờ phải đảm bảo tốt việc áp giải tù binh và đưa đại đội trở về. Sẽ có bộ phận tiếp nhận tù binh ngay tại vị trí chiến đấu của đại đội.

Tôi thở phào một cái, lòng lâng lâng nhẹ nhõm. Đang giữa trưa mà rừng Lào vẫn mát lạnh! Sau bữa cơm chiều thịnh soạn với cá tươi đánh được ở suối và đồ hộp chiến lợi phẩm, quân ta hân hoan vì hoàn thành tốt nhiệm vụ, tù binh thì yên tâm với số phận của mình. Một bữa cơm thật ngon lành và thoải mái.

16 giờ ngày mùng 8 tháng 5 năm 1954, chúng tôi lên đường về Điện Biên Phủ. 18 giờ, thêm một tên địch trong rừng chui ra! Chính trị viên phó Tiểu đoàn Lâm Phúc quay sang tôi “Cậu có nhớ chuyện Lương Sơn Bạc không? Thủy Hử có 108 vị anh hùng còn giờ đây cũng lại “108 vị” tù binh! Một sự trùng hợp oái ăm.”

1 giờ sáng ngày mùng 9 tháng 5 năm 1954, sau khi bàn giao xong tù binh, đại đội trở về hầm chiến đấu cũ của mình. Một giấc ngủ say sau gần 25 tiếng đồng hồ vừa truy, vừa nghỉ, vừa ăn, vừa kích. Chỉ có ý chí chiến đấu được tôi luyện, nỗi mừng vui của chiến thắng quá vĩ đại đã thổi sức mạnh và sự dẻo dai vào đôi chân những người lính.

Có một chuyện lý thú xin kể thêm:

Trên đường đuổi giặc tôi vấp vào đuôi quả đạn cối 120 ly làm bật ngón móng chân cái. Trên bãi đất rộng cạnh suối, nơi tập kết của ta và tù binh, trong khi ngồi chờ cơm chiều, đề phòng nhiễm trùng, tôi mở ra băng lại. Một y tá tù binh nhanh nhẹn chạy tới, túi cứu thương đầy thuốc men. Anh ta là người Ý quê ở Milano, buồn vợ ngoại tình, lang thang sang Pháp chơi, thấy chiêu mộ lính Lê dương là xung phong luôn. Băng xong, anh ta đứng dậy chép miệng: “Nếu được trở về nước tôi sẽ quay về huấn luyện thể dục của mình...”. Nghe tâm tư của họ, tôi bàn với anh Lâm Phúc: Có lẽ cần giải thích thêm về chính sách tù binh để họ yên tâm.

Được lời, với các khẩu lệnh đội ngũ của Pháp đã nghe quen quen trong giờ tập thể dục hồi còn là học sinh thời nô lệ, tôi tập hợp tất cả tù binh lại. Lần đầu, (chắc cũng chẳng có lần thứ 2) tôi đã nói trước hàng quân mũi lõ, mắt xanh, tóc râu rậm rạp đứng im phăng phắc chỉnh tề, nghe giải thích về chính sách khoan hồng của quân đội ta. Mặt họ giãn ra, niềm u uất cũng tan biến và sau đó trong 8 tiếng đồng hồ hành quân ban đêm trở về Điện Biên, không một ai bỏ trốn.

Giờ đây, mỗi lần đến ngày 7 tháng 5, nhớ về những khẩu lệnh dõng dạc để chấn chỉnh đội ngũ cho lũ tù binh được tập hợp lại trong buổi chiều vàng trên biên giới Lào - Việt hôm ấy, tôi lại thấy vui vui, lẫn đôi chút tự hào về tư thế của một chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, đứng trước kẻ thù đã cởi giáp quy hàng để nói lên truyền thống nhân đạo của ta đối với tù, hàng binh đã có từ hàng ngàn năm trước rồi đến lần này, và chắc chắn chưa phải là lần cuối.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười, 2016, 10:23:57 pm

Ngày địch ném bom bản Long Nhai

Năm 2004, với sự ưu ái của Công ty Mai Linh và Việt Nam Airline đối với cựu chiến binh Điện Biên Phủ, chúng tôi được trở về thăm lại chiến trường xưa. Trên bia căm thù đặt ở vị trí bản Long Nhai cũ thấy có ghi ngày ném bom là ngày 25 tháng 4 năm 1954.

Thực ra chúng tôi không còn nhớ chính xác vì còn bộn bề biết bao công việc trong những ngày cuối cùng ở Điện Biên, về sau đọc “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” của Võ Đại tướng (Hữu Mai thể hiện) có một chi tiết về Đại đội 19 bắt gọn một tiểu đội lính Lê dương nhảy dù đêm 19 tháng 4 để bổ sung quân cho Hồng Cúm. Chi tiết này liên quan đến trận ném bom vào bản Long Nhai buổi chiều hôm đó. Cụ thể thế này:

Khoảng 14 giờ ngày 19 tháng 4, một máy bay ném bom 4 động cơ (từ công sự chúng tôi nhìn lên thấy rất rõ, về sau đọc các tài liệu địch mới biết đó là Privateer). Tiếng máy bay nghe rất nặng và bay chậm theo chiều Nam - Bắc hướng đường 41. Thông báo cho toàn đại đội đề phòng, chúng tôi tiếp tục quan sát. Quá Mường Thanh một đoạn, máy bay bay vòng lại, hạ độ cao trên không phận Hồng Cúm và bắt đầu thả bom. Những chùm bom đen trũi, rít như xé vải, rơi ngay sau lưng chúng tôi, trúng cả vào bản Long Nhai cách công sự chúng tôi không đầy 50 mét. Khói bụi dầy đặc trùm cả một góc trời. Kiểm tra đơn vị không ai việc gì. Sau khi để người ở lại trực chiến, toàn đơn vị đem bông băng cá nhân lao vào bản.

Một cảnh tượng thê lương chưa từng có! Hàng trăm xác chết không toàn thây, những người bị thương rên la thảm thiết, súc vật chăn nuôi cùng chịu số phận.

Hậu quả giải quyết rất vất vả kéo dài từ chiều đến sáng hôm sau với sự tham gia của nhiều đơn vị và cán bộ địa phương, dưới pháo sáng và đại bác cầm canh của địch!

Khoảng 24 giờ đêm, giữa những đống lửa chưa tàn hết từ các nhà sàn bị cháy lúc chiều, một máy bay địch sà xuống thả một tiểu đội ĐKZ 10 tên. Chúng nhầm tưởng lửa tín hiệu từ căn cứ của chúng ở mặt đất; toàn tiểu đội lọt cả vào chiến hào trung đội đồng chí Học, bị tóm gọn, trói kỹ và dẫn đi. Chúng tôi đã đến bản Long Nhai này để trinh sát tình hình chuẩn bị cho việc chọn địa điểm triển khai đào công sự bao vây Hồng Cúm từ ngày 15 tháng 3 (hồi ấy bản vẫn nằm trong sự kìm kẹp của địch. Dân số không chỉ của bản Long Nhai mà của 9 bản ven rừng được dồn về khống chế và làm phu phen tạp dịch cho chúng). Số thương vong vì thế rất cao lại vào buổi chiều khi dân đi sơ tán vào rừng trở về hơi sớm. Không đủ bông băng, phải xé những chiếc dù trắng ra băng tạm. Hai ngày sau vào bản vẫn thấy những cẳng chân, cẳng tay người bị lũ lợn đói gặm nham nhở! Từ đó đến 27 tháng 4, khi chúng tôi chuyển đi thay phiên cho đơn vị bạn chuẩn bị vào đợt 3, không còn đợt bom nào nữa. Dân bản chuyển đi vì các trận đã đến quá gần.

Ngày 19 tháng 4 hoặc ngày 25 tháng 4, không cách nhau là mấy nhưng về mặt sử liệu thì cần sự chính xác.

Chúng tôi xin phát hiện một cứ liệu nhỏ này với các nhà viết sử quân đội ta và cơ quan bảo tàng Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:52:31 pm

CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN VỚI DUYÊN HOA SƠN CƯỚC
Đại tá MINH CAO

Ngày mới giải phóng Thủ đô, không ngờ bọn tôi lại có dịp gặp lại nhau ngay giữa Hà Thành hoa lệ. Chàng Trần Dần, Nguyễn Đình Thi không quên chọc tôi: “Thế nào, xừ cán bộ ga lăng đã có hoa tặng ai và được ai tặng chưa đấy”. Biết bạn đùa một chút cho vui, tôi đành cười xòa và cảm thấy các chàng râu rậm này lại sớm bắt chước giọng điệu các nàng văn công khi cùng mấy chàng nhà văn cử xuống thâm nhập Tiểu đoàn chủ công chúng tôi, mỗi lúc bắt gặp anh chỉ huy trẻ tuổi dáng thư sinh là tỏ lời hóm hỉnh “chào cán bộ ạ” (cốt để né tránh gọi tên chỉ huy).

Nghiễm nhiên câu hỏi bâng quơ của các bạn cũng gợi lên ký ức đáng nhớ quãng thời gian cùng nhau quên mọi chuyện đời, dồn tâm lực góp phần tiêu diệt quân thù trên nẻo núi rừng Tây Bắc xa xôi.

Thực tình, bọn tôi may mắn được tham gia hầu hết các chiến dịch trên chiến trường chính Bắc Bộ nhưng kỳ này bỗng nhiên lại bị hút hồn bởi cảnh sắc ở vùng lòng chảo Điện Biên này.

Thật kỳ lạ, trên suốt những nẻo đường chúng tôi cất bước, trèo đèo, lội suối, vượt qua những hố bom, những vạt đồi bị cháy xém bởi bom na-pan, cho đến những chân lán chúng tôi ở, những hầm hào đã và đang tiếp tục xây dựng..., đây đó nảy sinh tự bao giờ, một giống cây hoa chen lẫn cỏ cây, như muốn bám lấy hơi người, bung ra những chùm hoa tuyệt đẹp. Màu sắc tím đỏ như biểu tượng của niềm tin, của chiến thắng, hình thù lại na ná giống như một thứ “hoa nghệ” dưới xuôi ta. Ấn tượng đến với chúng tôi thật gần gũi, đồng cảm với tên gọi mà anh em chiến sĩ đặt cho những đóa hoa vùng sơn cước này là “hoa nghệ” (Sau này, qua tiếp xúc với nhân dân địa phương mới biết tên chính thức, của thứ hoa này là Hoa Pàng)

Từng đồng cảm giá trị của sự lắng đọng thiên phú ấy, đến nỗi thời gian cũng được tính bằng sự nảy nở sớm muộn của hoa từ khi sương phủ đến lúc sương tan, từ ngày này qua ngày khác. Một thực thể rất đáng chú ý: chỉ vài ngày sau, trên địa hình đổi dạng do bị cày xới bởi bom đạn, tưởng chừng những vạt cây hoa bị vùi lấp, ngủ yên, nào ngờ hoa đã trỗi dậy với một sức mạnh khác thường, ngạo nghễ bên bờ hố bom, đến nỗi những trận mưa gió chuyển mùa cũng không làm chúng ngả nghiêng.

Niềm tin và hy vọng như chứa chất trong thân hoa, lan tỏa trên những cánh hoa. Thật ấn tượng.

Không hiểu do chất men còn rơi rớt lại hồi đi học hay vì các cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân đã nhen lên trong chúng tôi một niềm lạc quan cách mạng làm cho bạn tôi khó quên và dễ nhớ nét sống một thuở trên Điện Biên hồi ấy.

Có lẽ không riêng chúng tôi - với phong cách sống tự nhiên nhen nhóm giữa con người cầm bút và cầm súng - thường thả hồn chiêm ngưỡng cảnh rừng, cảnh hoa, mà hầu như cả đội ngũ đang trong cảnh: “Đầu nung lửa sắt, máu trộn bùn non...” (thơ Tố Hữu) vẫn không thoát khỏi cách nhìn hoa đầy cảm xúc. Thiên nhiên đã phú cho Tây Bắc một rừng hoa này!

Với những điều ước lệ chợt nảy nở và nghiễm nhiên như được trao tặng món quà đúng sở thích, lúc tạm chia tay nhau trên chiến hào, Nguyễn Đình Thi không chút e dè trao đổi nguyện sẽ ấp ủ hoa trong thơ, còn Trần Dần tỏ ước ao sẽ mang hoa theo “Người người lớp lớp” trong thiên tiểu thuyết sắp đóng góp với đời.

Tình cảm “Bút súng” thân tình như thế đó. Một dấu ấn cũng khá lãng mạn, không “tạch - tạch - sè”1 chút nào.

Riêng tôi, chưa hề có cảm giác là người từng được tặng hoa bao giờ, nhưng vốn vẫn thích hoa, không muốn hoa bị vùi dập. Tuy không có biệt tài bay bổng sáng tác để tự tình với hoa như các chàng Văn nhưng vẫn muốn tạo nên nguồn vui có thể, từ hoa đem lại niềm lạc quan yêu đời trong hoạt động giao lưu văn hóa. Hồi ấy, tôi từng được các chàng Văn phán xét là một chính trị viên khá lạc quan trong cuộc sống, lại mang một chút tính cách lãng mạn - tôi không ngần ngại phác thảo một ý tưởng có thể gởi gắm một chút tình với hoa, có thể nhờ hoa nhập cuộc, bổ sung cho công tác chính trị mà mình đang đảm trách.
_____________________________________
1. Cách nói thay cho cụm từ “Tiểu tư sản” ngày ấy.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:53:27 pm

Thường khi xuống thăm đơn vị, tôi cùng anh em chiến sĩ, trên đường đi thường hay thích ngắt những bông Hoa Pàng để cài lên miệng giao thông hào, trao tận tay cho những cán bộ chiến sĩ được khen là gan dạ, nhất là qua những đợt suốt ngày đêm phải dốc sức thay đổi địa hình, chuyển sinh hoạt xuống lòng đất hoặc tạo thành những trận địa xuất phát xung phong, chia cắt bao vây quân địch. Ý nguyện của tôi những mong hoa thay lời động viên, tạo nên nguồn vui mới, lấn át nhọc nhằn. Cách thư giãn đầy chủ định của tôi đã lây lan tới đồng đội.

Mới đầu, cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị thấy là lạ, nhưng dần già cũng thấy quen quen. Nhiều cán bộ làm theo. Bản thân tôi từ trước đến nay, chưa từng được tặng hoa bao giờ, nhưng trong cuộc chiến sinh tử này Hoa Pàng đã đôi lúc trở thành biểu tượng sáng giá làm phần thưởng cho các cá nhân và tổ ba ba.

Niềm lạc quan mới nhen nhóm trong đơn vị.

Lác đác, bên trong hầm hào nhiều lúc cũng có hoa tạo cảnh. Anh em chiến sĩ khi đi làm trận địa, gặp thấy hoa không nỡ lấp vùi mà nhiều khi còn bứng cả cụm đắp lên miệng chiến hào, những mong cho hoa tiếp tục được tắm sương. Nhiều lần bắt gặp thấy anh em tụm lại, tỏ ra thích thú khi có những bông hoa đọng đầy giọt sương trên cánh, óng ánh bảy màu.

Thật thú vị Hoa Pàng đã chứng kiến cảnh sống và chiến đấu của các chiến sĩ Điện Biên chúng tôi. Bóng dáng của Hoa Pàng xuất hiện, nhiều lúc làm dịu đi nỗi nhớ bâng quơ, và trở thành nguồn cảm hứng tạo khoảnh khắc lãng mạn tới bất ngờ, luôn đem niềm vui đến cho nhau, và ngẫu nhiên tạo nên một nếp sống mới, luôn bồi dưỡng niềm tự hào để an tâm “vào trận”.

Mỗi lần ký ức Điện Biên Phủ hiện về, tôi vẫn luôn cảm thấy như Hoa Pàng giờ đây cũng biết nói, biết hành động.

Hóa ra hoa đã theo mình vào cuộc và mình đã gửi gấm chút tình với hoa...

*
*   *

Bẵng đi bốn chục năm sau, không gian và thời gian không gần nhưng vẫn không xa tầm với tình cảm trong cuộc đời của người “chiến sĩ Điện Biên” chúng tôi.

Tại buổi chiêu đãi hoành tráng trên con tàu lênh đênh lướt đi lướt lại trên bến Nhà Rồng, đội ngũ chiến sĩ Điện Biên quần tụ tại Thành phố Hồ Chí Minh có dịp gặp lại nhau, cùng nhau thắp sáng niềm tin, tận hưởng giây phút từng tôn tạo giá trị nhân văn trong khói lửa Điện Biên Phủ oai hùng. Đương nhiên chúng tôi không bỏ lỡ dịp cùng ca vang bài: “Giải phóng Điện Biên... bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa hoa nở…”.

Để buổi giao lưu càng vui vẻ và cởi mở hơn, hầu hết những con người đã đi vào ngưỡng cửa thất thập cổ lai hy vẫn cứ muốn xung phong ngâm thơ, ca hát.

Bỗng dưng, một chân dung dễ mến, với cái chất phóng khoáng Nam Bộ, Nguyễn Trí Việt đã tiến lên sân khấu, hai tay bưng cao một chậu cây “Hoa Nghệ” và cứ xoay đi xoay lại như có ý thách đố anh em, coi đó là “Hoa gì? là ở đâu tới”.

“Chà! Đúng là Hoa Pàng”, “chỉ thấy có nhiều ở Điện Biên!”.

Như một phần tất yếu của cuộc sống tưởng chừng được bén rễ rất sâu trong đời sống tinh thần của người chiến sĩ Điện Biên, mỗi người trong chúng tôi đều nhớ lại và vô cùng thích thú, vì có lúc đã bị “mê hoặc” bởi loại hoa rừng này. Hoa không hương nhưng lại có một dáng vẻ rất kiêu hùng, luôn phô diễn sự cứng rắn hiên ngang, không hề khuất phục trước đạn bom. Tất cả chúng tôi, mỗi người mỗi vẻ đều rất hoan nghênh sự có mặt của “Hoa”. Không đợi tiếng dứt “hoan hô”, Trí Việt cởi mở giải bày: “Nhân một chuyến trở về chiến trường xưa cùng đoàn quay phim của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi vô cùng sung sướng thấy Điện Biên Phủ đã thay đổi rất nhiều nhưng ven suối, ven rừng, ven đồi vẫn hiện diện rất nhiều Hoa Pàng, loại hoa đã cùng chúng tôi đi vào chiến trận, nên tôi không quên đào bứng một cây hoa mang vào Nam với ý tưởng vừa bổ sung cho vườn cảnh thành phố để bà con chiêm ngưỡng, vừa qua sự có mặt của hoa để minh chứng rằng trong chiến dịch lịch sử vĩ đại Điện Biên Phủ cũng có mặt của con em Nam Bộ mà tôi và hai anh em nữa hiện còn sống và đã về đây bên loài hoa biểu trưng của chiến thắng, trong gian khổ vẫn vui với niềm vui không kém phần lãng mạn”.

Đang sôi nổi phát âm một mạch, giọng Trí Việt tự nhiên trầm xuống với một ước vọng đặc biệt: “Khi trở lại Bến Tre quê tôi, tôi sẽ trồng lên mộ mẹ tôi loại hoa đã cùng tôi vượt qua chặng đường trên 2.000km và khấn thưa với vong linh mẹ tôi là “Con đã về đây... Mẹ ơi!... Hoa Pàng này sẽ luôn bên mẹ...”.

Chúng tôi hết sức xúc động và cảm thấy như được nạp thêm năng lượng, thích ứng với dáng vẻ của hoa.

Riêng tôi không thể không ôm chầm lấy Trí Việt - nguyên là Chính trị viên đại đội của Tiểu đoàn Phủ Thông để phơi bày chút thế giới nội tâm và cũng hơi chút lãng mạn nơi mình, từng cùng nhau trải qua những tháng ngày ác liệt và gian khổ, khó khăn trong chiến đấu, nhưng vẫn chưa bao giờ hổ thẹn trước Hoa Pàng cứng cỏi.

Hoa trong mình và có mình trong hoa như thế đó!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:55:46 pm

BẢO VỆ SỞ CHỈ HUY CHIẾN DỊCH
Đại tá ĐỖ HẢl
Nguyên Phó Lữ đoàn trưởng CT Lữ đoàn 144
Đại đội trưởng Đại đội 245 bảo vệ Bộ Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

Thấm thoát đã hơn 50 năm trôi qua, “Tổng hành dinh” trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã được xếp vào di tích lịch sử quốc gia, con đường hầm vào phòng họp đã được tái tạo lại cho du khách tham quan. Trong lòng tôi 50 năm qua vẫn nhớ mãi những bàn tay chai sần, bỏng rộp của đồng đội và những chiếc xẻng hình trăng khuyết...

Năm 1973, Chủ tịch CuBa Phiđen Cátxtơrô (Fidel Castro) sang thăm Việt Nam, giữa lúc đất nước còn chiến tranh. Chủ tịch đã đến thăm Bảo tàng Quân đội. Tại đây, ông chăm chú xem sa bàn chiến dịch Điện Biên Phủ cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông bỗng hỏi:

- Thưa Đại tướng, lúc đó Đại tướng ở chỗ nào?

Đại tướng Võ Nguyên Giáp lấy chiếc gậy dài chỉ vào một vị trí cách cánh đồng Mường Thanh chừng 15km và nói:

- Lúc đó Sở chỉ huy chiến dịch ở đây.

Chủ tịch Phiđen nói vui:

- Chiến thắng là công chung của mọi người, nhưng vai trò cá nhân cũng hết sức quan trọng, nhất là vai trò Sở chỉ huy chiến dịch. Thế mà ở đây thiếu Sở chỉ huy trên sa bàn.

Ý kiến của Chủ tịch Phiđen đã được Tổng cục Chính trị tiếp thu. Trung tướng Phạm Ngọc Mậu chỉ thị cho bảo tàng và tôi lên ngay Điện Biên Phủ tìm lại vị trí Sở Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, để bổ sung vào sa bàn.

Chúng tôi đi theo con đường Tuần Giáo lên Điện Biên Phủ, qua các chỉ huy sở trước đó, đến cây số 62 rẽ vào Mường Phăng, cây cối um tùm khiến tôi không nhận ra được Sở chỉ huy năm xưa.

Khi hỏi dân bản thì đồng bào cười và nói:

- Ở đây ai cũng biết hầm Đại tướng, dân bản còn truyền câu ca rằng: “Ai muốn lấy vợ Mường Phăng thì phải biết hầm Đại tướng...”.

Chúng tôi mừng quá, quên cả đường xa mệt nhọc, vội phăm phăm theo dân bản vượt đèo lội suối đi chừng 2 km để tìm hầm. Đến chân một dãy núi cao, lau sậy um tùm, dân bản vạch ra một miệng hầm và nói: “Đây là hầm Đại tướng, hàng năm thường có một toán bộ đội đến đây vào ngày 7 tháng 5 để thăm viếng”. Đứng trước cảnh rừng núi ngút ngàn, trong lòng tôi trào dâng bao kỷ niệm của gần 20 năm trước ở nơi này. Tôi kêu lên:

- Bà con nhầm rồi, đây là hầm tướng Trung Quốc Vi Quốc Thanh, cố vấn cho ta hồi đó, còn hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp phía bên quả núi nhỏ kia. Cho tôi một số anh em để cùng tôi bới cửa hầm.

Chỉ một loáng, anh em công binh đã tìm được miệng hầm theo hướng tay tôi chỉ. Tôi bảo các chiến sĩ:

- Các đồng chí chịu khó chui vào trong, cách 20 mét sẽ có phòng họp và một chiếc đèn bão năm xưa ở đó.

Các chiến sĩ bò vào trong. Thời gian đã làm đất đá lấp đi phần nào đường hầm. Khi các chiẽn sĩ chui ra cầm chiếc đèn bão đã rỉ vì năm tháng, tôi không cầm được nước mắt nhớ tới đồng đội tôi ngày ấy...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:56:14 pm

... Tôi sinh năm 1926, quê ở Thanh Trì, Hà Nội. Tôi tham gia chiến khu Đông Triều đánh Nhật, đánh phỉ, đánh Pháp từ tháng 4 năm 1945. Năm 1947, giặc Pháp nhảy dù đánh lên Việt Bắc. Để bảo vệ ATK (An toàn khu), từ năm đó tôi trở thành người lính cảnh vệ của Bộ Tổng tham mưu, trải qua từ binh nhất, tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng và cuối cùng là phó lữ đoàn trưởng về chính trị.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi chỉ huy 120 chiến sĩ Đại đội 245, Tiểu đoàn 144 (sau này là Lữ đoàn), Trung đoàn 246 có nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy chiến dịch. Chúng tôi hành quân bộ từ Thái Nguyên lên Tuần Giáo vào Điện Biên. Trên người chúng tôi lỉnh kỉnh trăm thứ: gạo cuốn ruột tượng quanh người, sau lưng ba lô quần áo, trên cổ cuốn chiếu, chăn và mỗi người kèm theo cuốc hoặc xẻng, trên đầu đội mũ nan tự đan. Càng đến gần mặt trận, đường càng khó đi, nhiều đoạn đường hẹp, dốc cao, uốn khúc theo sườn núi, đặc biệt là qua các đèo cao, với hàng chục kilômét đường nằm chênh vênh bên vực thẳm: đèo Lũng Lô dài 9km, đèo Cò Nòi dài 17km và dài nhất là đèo Pha Đin 32km. Máy bay Pháp hàng ngày lùng sục và ném bom chặn những con đường khả nghi. Có những lúc công binh không cho chúng tôi đi qua những quả bom nổ chậm nằm chình ình trên đường, họ bảo:

- Bom nổ, các anh chết ai chịu trách nhiệm?

Chúng tôi trả lời:

- Thế chúng tôi không hoàn thành nhiệm vụ thì ai chịu trách nhiệm đây?

Có những lúc vượt qua bom được vài chục mét thì bom phát nổ, chỉ một vài người bị thương nhẹ, thật hú hồn. Cái chết rình rập quanh chúng tôi bằng nhiều cách. Địch quần đảo trên đầu, chúng còn thả biệt kích, chúng tôi đã bắt được 2 tên ở Mộc Châu. Qua rừng sâu, hổ rình mồi, trong đêm tối, chúng tôi phải thu gọn đội hình hành quân để đề phòng. Sốt rét ác tính đe dọa tính mạng hàng ngày, thuốc ký ninh thiếu, nhiều khi phải hòa một viên thuốc cho ba bốn người uống, đã có đồng chí vì sốt rét ác tính mà ra đi mãi mãi... Nhưng tất cả không ngăn được bàn chân người chiến sĩ cảnh vệ, lực lượng trung thành của Đảng. Đại đội chúng tôi đa phần là chiến sĩ bần cố nông, người dân tộc, trình độ học vấn có hạn, nhưng họ một lòng theo cách mạng.

Ròng rã nhiều tháng trời, qua nhiều chặng, chúng tôi đã đến cây số 62, lối vào bản Mường Phăng, nơi đặt Sở chỉ huy chiến dịch. Địa điểm này chỉ cách cánh đồng Mường Thanh, cứ điểm trung tâm của địch khoảng 15km đường chim bay, do đó công tác bảo vệ phải hết sức nghiêm ngặt. Vừa hành quân đến nơi, chúng tôi đã xắn tay áo đào hơn 1 km đường giao thông hào để sẵn sàng đánh biệt kích nhảy dù. Lúc này phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” của chiến dịch đã được chuyển thành “đánh chắc, thắng chắc”. Tư tưởng bộ đội có phần chưa thông, nhưng Bộ Chỉ huy đã kịp thời tổ chức chỉnh huấn. Do thay đổi cách đánh, pháo ta kéo vào rồi lại kéo ra. Các chiến sĩ công binh dồn đi mở đường cho pháo ta vào trận địa, vì vậy việc đào hầm cho Bộ Chỉ huy chiến dịch do đại đội cảnh vệ chúng tôi đảm nhiệm. Lúc đó tôi có được học hành hơn anh em một chút nên cũng có một số kiến thức áp dụng trong việc đào hầm vào núi.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 06:56:49 pm

Thêm nữa tôi phát huy dân chủ, bàn bạc cùng anh em. Thật may trong đại đội có đồng chí Định Văn Điền, trước đây là thợ mỏ, nên đã đóng góp nhiều kinh nghiệm đào hầm than. Không có ni-vô (để xác định mặt phẳng nằm ngang), chúng tôi phải lấy ông nước cất cho giọt dầu vào, để trong ống nứa để lấy thăng bằng. Không có thước, chúng tôi phải lấy dây rừng nối nhau lại để khoanh tròn đo núi tìm đường kính. Chúng tôi chia làm hai bên đào để làm hầm thông qua núi. Cứ 5 mét một, chúng tôi lại chống cây rừng và kê đòn tay đỡ trần hầm. Bằng cuốc xẻng, trí thông minh và lòng quyết tâm, chúng tôi đào thủng quả núi, chỉ có điều khi gặp nhau người trên, kẻ dưới. Thế là chúng tôi khoét ra thành một hầm rộng làm nơi hội họp của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Chúng tôi chia nhau làm liên tục ba ca một ngày. Lúc đó chúng tôi mới càng thấm thía câu “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Bàn tay chúng tôi phồng rộp, rồi đóng thành chai sần, chiếc xẻng ngày đầu sáng loáng to như chiếc quạt nan mà đến ngày xong công trình thì mòn vẹt đi như mảnh trăng khuyết. Tôi, chính trị viên Nguyễn Bảo, Đại đội phó Tường thay nhau động viên anh em hăng hái làm việc. Sau 28 ngày đêm vất vả, chiếc hầm cho Sở Chỉ huy hoàn tất. Một đường hầm dùng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi vào phòng họp tương đối bằng phẳng, còn một đường khác dành cho Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái vào phòng họp phải có bậc thang đi xuống. Đường đi rộng chừng 0,9 mét, cao 1,7 mét. Phòng họp rộng chừng hơn chục mét vuông, được kê hai hàng ghế với một chiếc bàn để trải bản đồ và rất mát vì nhờ hai đường hầm thông gió. Trong hầm để sẵn chiếc đèn bão để Bộ Chỉ huy dùng khi hội họp. Đồng chí Hoàng Văn Thái đến xem hầm, rất hài lòng:

- Hầm đào khéo quá, thế này thì bom đạn chẳng làm gì được. Có bị sập một cửa hầm vẫn có thể thoát ra cửa hậu. Có cậu nào là kỹ sư không?

Tôi báo cáo:

- Báo cáo thủ trưởng, chỉ có em mới học hết certifica (tiểu học) thôi ạ! Còn anh em đa phần bắt đầu học chữ.

Tổng tham mưu trưởng khen ngợi và giao nhiệm vụ cho chúng tôi đào tiếp hầm cho tướng Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc sang giúp ta đánh giặc. Chúng tôi lại hăm hở vào công việc. Vì hầm tướng Vi Quốc Thanh trong dãy núi lớn hơn, cho nên chúng tôi chỉ đào vào sâu 20 mét, sau đó khoét một lỗ hổng lên sườn núi vừa để thông hơi, vừa để sẵn một chiếc thang để phòng khi sập hầm thì có thể trèo thoát qua đường đó. Sau đó chúng tôi còn đào thêm hầm cho đồng chí Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị mặt trận ở ven suối. Càng về sau kinh nghiệm càng nhiều nên việc đào không còn vất vả như ban đầu.

Hàng ngày, chúng tôi chia nhau ra canh gác xung quanh Sở Chỉ huy, lùng sục biệt kích, thám báo, ngụy trang đường và phối hợp giúp đỡ Ban 4, cơ quan hậu cần Sở Chỉ huy để vận chuyển lương thực, thực phẩm vào. Mỗi vọng gác có một chiếc mõ, khi có máy bay địch ở xa, thì gõ 3 tiếng để ai có đun nấu gì thì khẩn trương dập lửa. Nếu máy bay vào gần thì mõ gõ liên hồi, lúc đó tất cả Bộ Chỉ huy phải xuống hầm làm việc. Thật kỳ lạ, mặt trận cách chúng tôi hơn 15km, nhưng suốt chiến dịch ở đây hoàn toàn yên ắng. Kẻ thù không phát hiện được Sở Chỉ huy chiến dịch, vì hàng ngày chúng tôi đi ngụy trang Sở Chỉ huy, trồng các cây vào khu trống, trồng cỏ trên các lối mòn, cây nào bị héo thì phải thay ngay. Chúng tôi ra suối bắt cá cải thiện, hoặc cử anh em vào bản Mường Phăng làm dân vận, có khi chỉ một bánh thuốc lào đổi được cả con lợn. Anh em còn vét vũng ở suối để tích nước ăn. Buổi tối thỉnh thoảng được xem phim. Chỉ có một lần, một chiếc máy bay Pháp bay ngang qua, thả một “quả bom to” xuống. Cả Sở Chỉ huy báo động, mọi người xuống hầm hết. Chờ mãi không thấy tiếng nổ, tôi bò ra gần xem là loại bom gì thì đọc được hàng chữ tiếng Pháp trên thân “quả bom”: thùng dầu phụ. Lúc đó tôi mới thở phào, rồi gọi anh em ra khênh thùng dầu phụ về cưa ra làm máng đựng nước. Nhiều anh còn dùng mảnh thùng làm lược kỷ niệm...

Sau đợt đi công tác năm 1973, Bảo tàng Quân đội đã đắp thêm Sở Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ trên sa bàn.

ĐOÀN HOÀI TRUNG ghi


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 07:04:22 pm

CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
HOÀNG XUÂN TÙY
Nguyên Thứ trưởng Bộ Đại học và THCN
Nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Mặt trận Điện Biên Phủ

Có thể chia hoạt động công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ ra ba thời kỳ rõ rệt:

1. Từ tháng 11-1953 (các đơn vị chủ lực lần lượt nhận mệnh lệnh hành quân đi chiến đấu) đến ngày 13-3-1954 (bắt đầu trận đánh mở màn chiến dịch).

Thời kỳ này, công tác chính trị có mấy nét nổi bật sau đây:

1. Đông Xuân 1953-1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân xâm lược Pháp bước sang năm thứ tám. Dù đã suy yếu nhưng được đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ, thực dân Pháp vẫn tìm mọi cách phản công quyết liệt, hòng giành lại quyền chủ động, thể hiện rõ trong kế hoạch Na-va. Trước tình hình đó, quân dân ta không hề nao núng, hoàn toàn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Chuẩn bị cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, quân đội ta đã qua một mùa rèn cán chỉnh quân, nâng cao giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp, sẵn sàng lên đường ra trận, với quyết tâm cao để giành thắng lợi. Hậu phương lại đang đẩy mạnh cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất, đem lại luồng sinh khí mới cho cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận mà số đông là nông dân. Đó là thuận lợi cơ bản làm tiền đề cho thành công của công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bên cạnh đó, cán bộ và chiến sĩ cũng có những tư tưởng lệch lạc cần phải uốn nắn ngay từ đầu. Khuynh hướng đầu tiên cần khắc phục là tư tưởng ngại chiến đấu ở rừng núi, thích về đồng bằng đông dân trù phú, cuộc sống đỡ gian khổ lại gần quê hương, gia đình. Nhiệm vụ của công tác chính trị lúc này là giáo dục sâu rộng làm cho cán bộ và chiến sĩ thấu suốt phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, xác định cho mọi người tinh thần “đâu có giặc là ta cứ đi”.

2. Trước khi trận đánh dự kiến bắt đầu, đã xảy ra một sự kiện vô cùng quan trọng. Đó là việc thay đổi đột ngột phương châm và cách đánh của chiến dịch chỉ khoảng 6 tiếng đồng hồ trước giờ nổ súng. Ngày 26 tháng 1 năm 1954, khi các đơn vị bộ binh, công binh, pháo binh, cao xạ đã vào vị trí chiến đấu, thì nhận được lệnh hoãn cuộc tiến công, kéo pháo ra, lui quân về vị trí tập kết. Riêng Đại đoàn 308 phải hành quân cấp tốc sang Thượng Lào để phối hợp với bộ đội bạn đánh địch dọc tuyến sông Nậm Hu (có khi viết là Nậm U (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Ou)), uy hiếp thủ đô Luang Prabang.

Mặc dù không ít cán bộ, chiến sĩ còn băn khoăn, thắc mắc, cho là ta đã mất thế bất ngờ và trở thành bị động... Nhưng mệnh lệnh đó đã được chấp hành một cách triệt để, với một tinh thần kỷ luật tuyệt vời! Trên cơ sở tư tưởng đã được chuẩn bị tốt khi bước vào chiến dịch, công tác chính trị đã được triển khai sâu rộng đến từng cán bộ, chiến sĩ để mọi người hiểu rõ vì sao ta hoãn cuộc tiến công. Ta vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải chuyển qua phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Phải có thêm thời gian để chuẩn bị đầy đủ hơn nhằm quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Chiến dịch có thể kéo dài suốt mùa mưa, gian khổ ác liệt còn nhiều, nhưng chúng ta quyết tâm đánh thắng.

3. Một vấn đề mới đặt ra trong công tác chính trị lúc bấy giờ là phải giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng, vì đây là lần đầu các đơn vị bộ binh được sự yểm trợ của lựu pháo 105 ly và pháo cao xạ; phải đoàn kết với các đơn vị công binh đang đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chuẩn bị chiến dịch. Không chỉ đoàn kết giữa các đơn vị bộ đội mà còn đoàn kết bộ đội với thanh niên xung phong và dân công, đặc biệt với thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến.

Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch theo phương châm mới, nhiều khẩu hiệu động viên chính trị đã được nêu ra, gắn liền với nhiệm vụ của từng đơn vị:

- Chuẩn bị tốt là đã giành thắng lợi được một nửa!

- Đem sức lao động ra để làm đường kéo pháo, xây dựng các trận địa tấn công, đổ mồ hôi hôm nay để ngày mai tiết kiệm xương máu cho đồng đội!

- Bảo đảm đường sá thông suốt là đảm bảo thắng lợi!

- Xây dựng công sự dày thêm một tấc là tạo thêm điều kiện để chiến thắng quân địch!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 07:05:41 pm

2. Từ trận đánh Him Lam (13-3-1954) đến ngày kết thúc chiến dịch (7-5-1954)

Đây là thời kỳ diễn ra những cuộc chiến đấu gay go, ác liệt nhất, một cuộc đọ sức rất lớn về ý chí chiến đấu giữa ta và địch. Công tác chính trị trong thời kỳ này có đặc điểm sau đây:

Cuộc tiến công vào phân khu Bắc thu được thắng lợi giòn giã, cánh cửa phía Bắc tập đoàn cứ điểm đã được mở toang. Sau thắng lợi vang dội đó, bộ đội vô cùng phấn chấn, đã tranh thủ nghỉ ngơi, chỉnh đốn lại đội ngũ, bổ sung quân số, vũ khí, đạn dược và khẩn trương chuẩn bị cho cuộc tiến công đợt hai chiến dịch.

Một việc có tầm quan trọng rất lớn lúc đó là xây dựng hệ thống trận địa tiến công và bao vây chiến dịch với hàng trăm kilômét giao thông hào, chiến hào và công sự các kiểu, nhằm tạo điều kiện cho bộ đội ta phòng tránh phi pháo địch, đồng thời cô lập phân khu Mường Thanh với phân khu Hồng Cúm, xiết chặt vòng vây lại. Công việc đào đắp này được thực hiện hoàn toàn bằng sức người với cuốc xẻng thô sơ. Đây không chỉ là một công trình lao động lớn mà thực sự là một cuộc chiến đấu một mất một còn với địch. Chúng đã sử dụng mọi cỡ hỏa lực để ngăn chặn và phản kích quân ta một cách quyết liệt. Bất chấp sự lồng lộn, điên cuồng của địch, các giao thông hào ngày càng tiến sát vị trí đóng quân của địch ở phân khu Trung tâm, như một dây thòng lọng xiết dần cổ họng của chúng. Công tác chính trị lúc này đã tiếp tục làm cho mọi người thấy rõ ý nghĩa quan trọng của việc đào trận địa tiến công và bao vây đối với thắng lợi của chiến dịch, phải kiên quyết thực hiện cho kỳ được, không sợ gian khổ, hy sinh.

Ngày 20 tháng 3 năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch đã viết thư động viên cán bộ và chiến sĩ. Đại tướng so sánh những khó khăn vất vả của bộ đội ta với sự khốn quẫn và khó khăn gấp mười lần của địch bị vây hãm trong tập đoàn cứ điểm, kêu gọi cán bộ, chiến sĩ ta nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, chiến đấu anh dũng để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc trận địa tiến công và bao vây, bảo đảm thắng lợi cho đợt tiến công sắp tới.

Địch tuy bị vây hãm nhưng vẫn cố gắng tăng viện và tăng cường ném bom, bắn pháo và phản kích ở những nơi chúng còn có khả năng.

Bộ đội ta ngày càng có nhiều chiến sĩ bị bệnh và bị thương. Đặc biệt các đơn vị chủ công chiến đấu ở đồi A1, C1 bị tổn thất nặng, phải bổ sung nhiều cán bộ mới, đề bạt nhiều tân binh chưa được huấn luyện kỹ và chưa có kinh nghiệm chiến đấu.

Từ khi bộ đội hành quân ra trận đến tháng 4 năm 1954, thời gian đã hơn 5 tháng. Hiện tượng mỏi mệt, tư tưởng ngại chiến dịch kéo dài, ngại gian khổ bắt đầu xuất hiện.

Điện Biên Phủ cách xa hậu phương từ 500 - 700km, đường vận chuyển tiếp tế thường xuyên bị bắn phá, có lúc gạo chỉ còn ăn được vài ngày, dự trữ đạn pháo còn rất mỏng. Bộ đội lao động và chiến đấu mệt nhọc cần được bồi dưỡng nhưng lại phải giảm bớt khẩu phần ăn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 07:07:15 pm

Những trận mưa đầu mùa ập đến, các giao thông hào lầy lội, cuộc sống của các chiến sĩ trong các trận địa chiến hào ngày càng gian khổ. Sau các trận mưa rào, nắng lại dữ dội hơn, không khí chiến trường oi ả, ngột ngạt. Số bệnh binh, thương binh phải điều trị ở mặt trận ngày càng nhiều.

Trước tình hình đó, công tác chính trị đã đi sâu phân tích ý nghĩa quan trọng của chiến dịch, làm cho mọi người nhận rõ tiêu diệt được toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ sẽ tạo ra một cục diện mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương. Nêu cao thắng lợi của ta ở mặt trận Điện Biên Phủ và các chiến trường phối hợp để cổ vũ khí thế chiến đấu của bộ đội, lấy gương hy sinh dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ được tuyên dương tại mặt trận để đề cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Mặt khác, công tác chính trị tăng cường giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, vệ sinh phòng bệnh, tổ chức tốt đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội tại trận địa.

Trung tuần tháng 4 năm 1954, một vấn đề lớn đặt ra cho công tác chính trị là tư tưởng hữu khuynh tiêu cực xuất hiện trong một bộ phận cán bộ và chiến sĩ. Đó là tư tưởng ngại kéo dài cuộc chiến đấu, ngại hy sinh gian khổ; hoặc chủ quan khinh địch, muốn kết thúc sớm chiến dịch bằng cách quay trở lại phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh. Do những tư tưởng ấy mà ở một số đơn vị, việc đào trận địa tiến triển ì ạch, cá biệt có cán bộ thoái thác nhiệm vụ chiến đấu. Trước tình hình đó, căn cứ vào báo cáo và đề nghị của Đảng ủy chiến dịch, Bộ Chính trị ra nghị quyết yêu cầu các cấp ủy, các đảng viên và toàn thể cán bộ phải “ra sức khắc phục tư tưởng hữu khuynh, củng cố và đề cao quyết tâm, đề cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, quân đội và Đảng, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm vừa qua, tiếp tục thấu triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc, đồng thời tích cực tranh thủ thời gian, triệt để chấp hành mệnh lệnh, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ, giành toàn thắng cho chiến dịch này”1.

Chấp hành nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng ủy chiến dịch đã triệu tập hội nghị đại biểu Đảng ủy các đại đoàn, các đơn vị và cơ quan trực thuộc. Hội nghị diễn ra trong hai ngày, tập trung đánh giá tình hình địch, ta chỉ rõ chỗ mạnh cơ bản và thắng lợi của ta, chỗ yếu cơ bản và thất bại của địch, phân tích những điều kiện đang chín muồi để quân ta tiến lên tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm. Đồng chí Bí thư Đảng ủy phê phán nghiêm khắc tư tưởng hữu khuynh tiêu cực xuất hiện trong cán bộ, đảng viên các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ chỉ huy, nhất là cán bộ cấp đại đoàn, trung đoàn.

Sau hội nghị, các đại biểu đã về triển khai hội nghị các cấp ủy, từ đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn đến các chi bộ ngay tại chiến hào, dưới tầm hỏa lực của địch. Kết quả to lớn của cuộc đấu tranh là đã khắc phục được những biểu hiện hữu khuynh tiêu cực, nhất là trong đội ngũ cán bộ cốt cán, chuẩn bị cho cán bộ và chiến sĩ một quyết tâm mới, một khí thế mới để chuyển sang đợt tiến công thứ ba.

Cuộc đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực này là một thành công rất lớn của công tác chính trị tư tưởng tại mặt trận Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: đó là một trong những thành công lớn nhất của công tác chính trị trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta.
________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.89.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 07:07:40 pm

Hạ tuần tháng 4 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vào tình thế ngày càng tuyệt vọng. Để cứu nguy cho quân đội Pháp, Lầu Năm Góc đã đề nghị mở cuộc hành binh “Chim kền kền” (Opération Vautour), dùng máy bay B29 ồ ạt dội hàng ngàn tấn bom xuống Điện Biên Phủ. Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ còn gợi ý dùng bom nguyên tử chiến thuật nhưng bị Chính phủ Anh phản đối nên ý đồ đó không thực hiện được.

Cuộc hành binh mang tên “Chim kền kền” và gợi ý của Rátpho về việc ném bom nguyên tử là những điều chúng tôi biết được sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, qua các tài liệu của phương Tây. Còn tại mặt trận Điện Biên Phủ lúc bấy giờ, cán bộ, chiến sĩ ta, kể cả cấp trung đoàn như chúng tôi, đều đang mải mê chiến đấu, không ai biết đến toan tính của đế quốc Pháp - Mỹ.

Qua tin của địch, lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch thừa biết hành động phiêu lưu này của Mỹ không thể dễ dàng thực hiện trong bối cảnh quốc tế ở thời điểm ấy. Và đến hạ tuần tháng 4 tháng 1954, trận địa tiến công và bao vây của ta đã áp sát địch chỉ còn lại mỗi bề không quá 2 km. Trong tình hình đó, làm sao bom nguyên tử Mỹ ném xuống Điện Biên Phủ chỉ tiêu diệt được quân ta mà không diệt luôn cả quân của Pháp?

Luận điểm của một số ít sách nước ngoài, nói “Nhiều cán bộ chỉ huy cao cấp quân đội Việt Nam sợ bom nguyên tử Mỹ, chủ trương rút thật nhanh bộ đội ra khỏi Điện Biên Phủ trước khi nước lũ dâng cao” là hoàn toàn sai sự thật!

Đợt tiến công thứ ba bắt đầu chiều ngày 1 tháng 5 năm 1954 với nhiệm vụ đánh chiếm các điểm còn lại ở phía đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía tây, tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

Với khí thế ra quân mãnh liệt, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) nhanh chóng tiêu diệt quân địch còn kiểm soát một nửa đồi C1. Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) tiêu diệt hai vị trí 505 và 505A dưới chân các ngọn đồi phía đông ở tả ngạn sông Nậm Rốm. Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311A ở phía tây; Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) đánh lấn vào khu C phía đông bắc Phân khu Nam. Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tiêu diệt vị trí 311B chỉ cách sở chỉ huy địch 300 mét. Riêng đồi A1 chưa đánh vào đêm 1 tháng 5 vì phải chờ công binh đào xong con đường hầm để đặt khối bộc phá 1.000 kg.

8 giờ tối ngày 6-5, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh mở cuộc tiến công mới. Lợi dụng lúc quân địch đang bàng hoàng vì sức chấn động của gần 1.000 kg thuốc nổ, Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đã từ nhiều hướng đánh lên đồi A1, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Lê dương phòng thủ vào sáng ngày 7 tháng 5. Trung đoàn 9 (Đại đoàn 304) mới từ Trung du lên tiêu diệt đồi C2. Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) đánh chiếm vị trí 506. Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) đánh chiếm vị trí 310 ở phía tây nam Sở chỉ huy Đờ-cát 300 mét.

Riêng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) thì gặp khó khăn khi đánh vị trí 507. Suốt đêm, không mở được đột phá khẩu, vì vấp phải những hàng rào thép gai bùng nhùng dày đặc và hỏa lực bắn thẳng của 23 ụ súng.

Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, Đảng ủy Trung đoàn họp, kiểm tra lại tình hình, chấn chỉnh lực lượng, tìm cách khắc phục hàng rào bùng nhùng, quyết tâm đánh ban ngày để có điều kiện quan sát địch. Quyết tâm đó đã được chỉ huy trưởng chiến dịch phê chuẩn và chi viện cho một loạt đạn pháo 105 ly.

14 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Tiểu đoàn 130 (Trung đoàn 209) tiến công tiêu diệt vị trí 507, cờ trắng xuất hiện ở dọc sông Nậm Rốm. Trung đoàn 209 tiếp tục đánh chiếm 508, 509 sát cầu Mường Thanh.

15 giờ, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận, Đại đội Tạ Quốc Luật (C360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209) đã nhanh chóng vượt cầu Mường Thanh, dùng tù binh dẫn đường tiến thẳng đến hầm Đờ-cát, bắt sống tướng Đờ-cát và toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười, 2016, 07:08:04 pm

3. Công tác chính trị sau chiến dịch

Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, rất nhiều công việc phải xúc tiến gấp rút: lãnh đạo bộ đội hành quân trở về hậu phương an toàn để tổng kết, bình công khen thưởng, nghỉ ngơi, bổ sung quân số, huấn luyện, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Chăm sóc thương binh địch ngay tại mặt trận và tuyên truyền chính sách nhân đạo của Chính phủ ta, tổng kết kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội, kinh nghiệm công tác tham mưu, chính trị, hậu cần trong chiến dịch lớn dài ngày....

Công tác chính trị sau chiến dịch còn phải quán triệt đầy đủ chỉ thị của Hồ Chủ tịch trong thư ngày 8 tháng 5 năm 1954 gửi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong ở mặt trận Điện Biên Phủ và đồng bào địa phương. Bác nói thắng lợi tuy lớn, nhưng mới là bắt dầu, không nên vì thắng lợi mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch, bất kỳ đấu tranh quân sự hay ngoại giao đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đúng như lời Bác Hồ dặn, quân và dân ta phải tiếp tục chiến đấu 21 năm nữa mới giành thắng lợi trọn vẹn, giải phóng hoàn toàn đất nước.

Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt nguồn từ những nhân tố sau đây:

- Đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn của Đảng và Hồ Chủ tịch.

- Sự chỉ đạo chiến lược, chiến dịch sáng suốt, nhạy bén của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, của Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch.

- Tinh thần chiến đấu dũng cảm, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn của cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến.

- Sự phối hợp nhịp nhàng của các chiến trường cả nước.

- Sự chi viện to lớn của toàn Đảng, toàn dân ở hậu phương.

- Sự phối hợp có hiệu quả của quân dân Lào và Campuchia anh em.

- Sự giúp đỡ tận tình của Trung Quốc, Liên Xô cả về vật chất và kinh nghiệm chiến đấu.

- Sự đồng tình ủng hộ của Đảng Cộng sản, nhân dân lao động và các chính khách thức thời của Pháp, của các dân tộc bị áp bức và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới.

Trong những nhân tố đó, sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ chiến dịch, thông qua công tác Đảng và công tác chính trị tại Mặt trận đã góp phần cực kỳ quan trọng. Công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã phát huy đến mức cao nhất sức mạnh tinh thần của bộ đội, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến. Thiếu hoạt động công tác chính trị sâu sát và linh hoạt thì không thể đánh thức tiềm năng của con người trong chiến đấu.

Bài học lớn nhất về công tác chính trị rút ra từ chiến dịch Điện Biên Phủ là phát huy cao độ nhân tố con người trong chiến tranh. Ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ không phải vì có nhiều vũ khí đạn dược hơn địch mà trái lại. Bước vào Đông Xuân 1953-1954, chúng ta đứng trước nhiều nhiệm vụ vô cùng to lớn, gặp nhiều khó khăn gay gắt. Nhưng quân và dân ta, với truyền thống cách mạng kiên cường, được sự lãnh đạo đúng đắn, đã hiểu rõ phải làm thế nào để giành thắng lợi và đã chấp nhận gian khổ, hy sinh, quyết tâm chiến đấu với một tinh thần tự giác rất cao. Nhờ vậy quân và dân ta đã khắc phục được những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua, làm được những việc tưởng chừng không làm nổi. Những hành động phi thường không chỉ cá biệt mà đã trở thành phổ biến. Chưa có một chiến dịch nào xuất hiện nhiều tấm gương xả thân vì nước, anh hùng dũng cảm, xúc động lòng người như chiến dịch Điện Biên Phủ. Đó là biểu hiện sinh động của quyết tâm “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” thể hiện trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Để hoàn thành nhiệm vụ, công tác chính trị đã huy động nhiều lực lượng, nòng cốt là các chính ủy đại đoàn, trung đoàn, các chính trị viên tiểu đoàn, đại đội, các bí thư chi bộ, các phái viên chính trị của mặt trận. Chính lực lượng này đã thường xuyên truyền đạt chủ trương của cấp trên, thông báo tình hình ta và địch đến từng cán bộ chiến sĩ, nâng cao tính năng động tự giác của con người. Bên cạnh đó, phải kể đến lực lượng cán bộ thông tin, tuyên truyền, phóng viên Việt Nam thông tấn xã, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, phóng viên nhiều tờ báo như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Cứu quốc, nhiều nhạc sĩ, nhà văn, nhà điện ảnh, họa sĩ, chiến sĩ văn công phục vụ tại hỏa tuyến đã góp phần không nhỏ vào việc động viên bộ đội, thanh niên xung phong và dân công lập nên chiến công lịch sử.

Phát huy kinh nghiệm của chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta cần luôn luôn coi trọng vai trò của công tác chính trị tư tưởng trong việc thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong xây dựng và sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:07:59 pm

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG HỮU KHUYNH, TIÊU CỰC TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đại tá HOÀNG MINH PHƯƠNG
Nguyên Thư ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Sau thắng lợi giòn dã của đợt 1 (liên tiếp tiêu diệt các trung tâm đề kháng Him Lam, Độc Lập, bức hàng tiểu đoàn lính ngụy Thái ở Bản Kéo, mở đường cho quân ta áp sát Phân khu trung tâm từ 3 hướng, đông bắc, bắc và tây bắc), các đơn vị được lệnh xây dựng trận địa bao vây và tiến công để chuẩn bị bước sang đợt 2. Từ chiều 30 tháng 4 năm 1954, đợt tiến công thứ hai bắt đầu. Cuộc chiến đấu diễn ra gay go quyết liệt trên toàn mặt trận, nhất là trên các ngọn đồi phía đông. Ta đánh chiếm được đồi C1, các đồi D và đồi E, nhưng hai trung đoàn có kinh nghiệm và truyền thống đánh công kiên nhất của Đại đoàn 316 và Đại đoàn 308 lần lượt tiến công đồi A1 đều không thành công, địch vẫn chiếm giữ phần lớn ngọn đồi.

Từ ngày 9 đến 12 tháng 4, địch phản kích chiếm lại một nửa đồi C1. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đều mệt mỏi sau mấy tháng trời lao động và chiến đấu ác liệt, khẩn trương. Cuộc sống ở chiến trường gian khổ, có đơn vị bị nhiều tổn thất. Bên cạnh nhiều biểu hiện tích cực, nhiều tấm gương anh hùng dũng cảm, những hiện tượng hữu khuynh tiêu cực cũng ngày càng xuất hiện như: ngại gian khổ, ngại thương vong, hoặc từ chủ quan khinh địch chuyển sang bi quan sợ địch, không sâu sát đơn vị, v.v... Nhận thấy chiến dịch sẽ không thể nào giành được thắng lợi hoàn toàn nếu không kịp thời khắc phục các biểu hiện hữu khuynh tiêu cực, Đảng ủy chiến dịch đã báo cáo lên Ban Thường vụ Trung ương (nay là Bộ Chính trị) và đề nghị cho mở ngay tại mặt trận một đợt đấu tranh tự phê bình và phê bình. Chấp hành nghị quyết ngày 19 tháng 4 của Ban Thường vụ Trung ương về chông hữu khuynh tiêu cực, trong những ngày đầu hạ tuần tháng 4 năm 1954, Đảng ủy chiến dịch triệu tập cán bộ chủ chốt ở các đơn vị và cơ quan từ cấp trung đoàn trở lên về Sở Chỉ huy Mường Phăng họp hội nghị. Tôi được dự hội nghị đó.

Sau khi lãnh đạo các đơn vị và cơ quan tự kiểm điểm ưu khuyết điểm của mình, sang ngày thứ ba, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Tổng Quân ủy kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch, kết luận hội nghị. Căn cứ vào nghị quyết của Đảng ủy, Đại tướng chỉ rõ thắng lợi của đợt tiến công thứ nhất và thứ hai là rất lớn. Bộ đội ta có nhiều ưu điểm và tiến bộ. Đó là tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ bộ binh, pháo binh, cao xạ, công binh, thông tin, trinh sát, v.v... của các đơn vị và cơ quan ở phía trước cũng như phía sau; là sự vận dụng kỹ thuật, chiến thuật, mưu trí sáng tạo; là ý thức trách nhiệm cao và tác phong sâu sát của cán bộ cơ quan cũng như đơn vị, nhất là trong những giờ phút chiến đấu gay go, quyết liệt.

Chuyển sang phần nói về khuyết điểm, giọng Đại tướng vẫn ôn tồn nhưng dần dần trở nên nghiêm khắc. Đại tướng nói: “Trong khi tự phê bình, một số đồng chí đã nhận khuyết điểm là không làm đúng yêu cầu của Đảng ủy mặt trận. Nhưng nếu chỉ nói chung chung là thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu quyết tâm, tư tưởng lập trường không vững, v.v... thì chưa sâu, chưa đủ! Đảng tin cậy các đồng chí! Đảng giao cho các đồng chí những đảng viên trung thành của Đảng, những cán bộ, chiến sĩ anh dũng của quân đội mà Đảng đã tốn bao công sức giáo dục, rèn luyện mới trưởng thành được như ngày nay! Mỗi một cán bộ Tiểu đoàn lãnh đạo và chỉ huy hàng trăm người, nghĩa là chịu trách nhiệm trước sự sống chết và tương lai của bốn năm trăm cán bộ chiến sĩ; cán bộ Trung đoàn chịu trách nhiệm trước sinh mệnh của hàng ngàn chiến sĩ; cán bộ Đại đoàn chịu trách nhiệm trước hàng vạn thanh niên ưu tú của dân tộc, của Quân đội... Thế nhưng không ít đồng chí chưa hiểu thật đầy đủ trách nhiệm nặng nề đó, đã để xẩy ra những thương vong lẽ ra có thể tránh được!

Không khí cuộc họp trầm xuống, sắc mặt Đại tướng nghiêm lại. Đại tướng hỏi: “Trung đoàn trưởng Trung đoàn X. đâu? Chính ủy đâu? Đứng dậy”!

Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn X. liền đứng nghiêm, chịu sự phê bình của Bí thư Đảng ủy. Đại tướng xúc động nói:

“Các đồng chí có đau đớn, xót xa không, khi bao nhiêu đồng chí, đồng đội của mình ngã xuống mà trận đánh không thành công do thiếu sót của lãnh đạo và chỉ huy?”.

Đại tướng lấy khăn lau nước mắt... Cả hội trường im phăng phắc! Trải qua bao chiến dịch, chưa bao giờ các cán bộ nghe Đại tướng nói những lời nghiêm khắc như vậy, nhưng cũng là những lời thật chân thành, chí nghĩa chí tình, như người Anh Cả bảo ban dạy dỗ đàn em. Mọi người càng thấm thía, thấy rõ hơn trách nhiệm nặng nề, to lớn của mình, ân hận với những khuyết điểm mà mình phạm phải. Mọi người thấy rõ: Đảng ủy Mặt trận đang tiếp thêm sức cho mình để chiến thắng những gì còn yếu hèn đang ẩn náu trong người; Đảng ủy đang nâng đỡ, dìu dắt mình vượt qua những thử thách hiểm nghèo để giành toàn thắng cho trận quyết chiến chiến lược một mất một còn, quan hệ đến vận mệnh của toàn dân tộc!

Hội nghị kết thúc sau khi Đại tướng phổ biến các chủ trương mới của Đảng ủy để hoàn thành nhiệm vụ của đợt tiến công thứ 2, chuẩn bị cho đợt 3 chiến dịch. Chính ủy và Chủ nhiệm Chính trị các đơn vị được triệu tập về Ban Chính trị Mặt trận. Chủ nhiệm Chính trị Lê Liêm, thái độ niềm nở ân cần như thường lệ, giải thích thêm về công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trong cuộc chiến đấu sắp tới để tiến lên giành toàn thắng.

Đồng chí nói: “Quy luật phát triển của Đảng ta, Quân đội ta là tự phê bình và phê bình. Chúng ta phải biểu dương đầy đủ mặt tốt của bộ đội, nhưng phải nghiêm khắc phê phán những khuyết điểm còn tồn tại. Bộ đội ta mặt tốt là chính nên phải nhấn mạnh mặt ấy, phải nêu cao những gương chiến đấu dũng cảm, khắc phục khó khăn, để mọi người học tập. Phải thưởng phạt nghiêm minh, mà ngay việc xử phạt cũng chỉ nhằm mục đích giáo dục... Về đơn vị, các đồng chí phải căn cứ vào tình hình cụ thể mà tổ chức tự phê bình và phê bình cho tốt. Trước hết là tự phê bình mình và cấp mình cho sâu sắc và thành khẩn, rồi mạnh dạn thẳng thắn phê bình đồng chí khác và cấp dưới, trên tinh thần thương yêu giúp đỡ lẫn nhau... Chúng ta phải thắng trong cuộc đấu tranh chống hữu khuynh tiêu cực! Chúng ta nhất định thắng trong chiến dịch này!”.

Sau hội nghị, các cơ quan, đơn vị đã triển khai sâu rộng cuộc đấu tranh chống hữu khuynh tiêu cực trên toàn mặt trận, từ trong Đảng ra ngoài Đảng, từ cấp trên xuống cấp dưới với tinh thần nghiêm túc, khẩn trương. Chỉ sau hơn một tuần lễ, toàn mặt trận như có một luồng sinh khí mới, một sức bật phi thường để vượt qua gian khổ hiểm nguy, tiến lên giành toàn thắng! Những tấm gương chiến đấu dũng cảm phi thường đã trở thành những hiện tượng bình thường và ngày càng phổ biến. Không chỉ trong trận Him Lam mà trong nhiều trận đánh tiếp theo, ở những giây phút hiểm nghèo, thường vang lên tiếng thét:

“Ai là đảng viên Cộng sản! Hãy dũng cảm tiến lên!”.

“Ai là những người theo Đảng! Hãy dũng cảm tiến lên!”.

Nhiều cán bộ chiến sĩ đã được kết nạp vào Đảng ngay tại mặt trận. Và như mọi người đều biết: Chưa có chiến dịch nào lại xuất hiện nhiều Anh hùng Dũng sĩ, nhiều gương hy sinh cao cả như chiến dịch Điện Biên Phủ!

Có thể nói: Cuộc đấu tranh chống hữu khuynh tiêu cực trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một cuộc tự phê bình và phê bình mẫu mực, một trong những cuộc đấu tranh tư tưởng nội bộ nghiêm túc nhất, có hiệu quả nhất trong lịch sử xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta. Kinh nghiệm quý báu của cuộc tự phê bình và phê bình đó, nếu được vận dụng tốt vào cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, chắc chắn sẽ sớm khắc phục được những biểu hiện tiêu cực như đặc quyền, đặc lợi, quan liêu, tham nhũng, v.v... làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, xứng đáng với sự hy sinh của bao anh hùng liệt sĩ, với sự tin cậy của nhân dân!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:09:38 pm

BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Thiếu tướng NGUYỄN MINH LONG
Nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến
Trợ lý tham mưu trong BCH chiến dịch Điện Biên Phủ

Bác Hồ dạy: “Việc liên lạc là việc quan trong bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi”.

Thông tin là mạch máu, là thần kinh của quân đội. Đảng phản công, cấp trên giao nhiệm vụ, nhưng người chỉ huy có hoàn thành được hay không là phải nhờ vào thông tin. Không có thông tin, mọi mệnh lệnh chỉ thị đều không được thực hiện, hành động hiệp đồng không thống nhất, không phát huy được sức mạnh tổng hợp.

Để chuẩn bị cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, từ năm 1952, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trường đã tiệu tập Cục trưởng Thông tin Hoàng Đạo Thúy và Cục trưởng Cơ yếu giao nhiệm vụ chuẩn bị từ khâu đào tạo cán bộ, dịch in tài liệu cho cán bộ nhân viên kỹ thuật thông tin vô tuyến, hữu tuyến, điện thoại dã chiến, điện thoại đường dài và chuyển đạt. Tổ biên dịch tài liệu nước ngoài làm việc suốt ngày đêm, có lúc Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy cũng tham gia dịch. Trong phòng tham mưu, từ trưởng phòng Hoàng Mười, Hoàng Xuân Vượng đến các trợ lý Lưu Phúc Thảo, Đào Ngạn, Cục phó Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Trọng Tỉnh, cán bộ tiểu đoàn thông tin đều tham gia. Tài liệu khi đó in bằng li tô, bản vẽ đều do đồng chí Vượng, một thanh niên Việt kiều từ Nhật về trực tiếp vừa vẽ vừa in, có bản vẽ do đồng chí Hoàng Đạo Thúy trực tiếp hoặc một số đồng chí tham mưu các ngành tham gia không kể ngày đêm. Một khối lượng lớn tài liệu được hoàn thành trong một thời gian ngắn.

Sau đợt chỉnh huấn chính trị, toàn bộ cán bộ nhân viên kỹ thuật thông tin được tập huấn về kỹ thuật, chiến thuật thông tin và lề lối tác phong làm việc. Song song với việc thành lập đơn vị mới thông tin đường dài bằng dây trần, bộ đội vừa học vừa làm dây trần bằng đồng 3.2 mm nối liền với thông tin quốc tế. Đường dây dã chiến cũng được tập huấn kỹ cho chiến sĩ từ cách nối dây, bắc dây qua sông, chôn giấu dây, ra dây dưới hỏa lực địch. Chiến sĩ thông tin vô tuyến học cách liên lạc mới, cách viết, nhận đánh chữ số. Cơ yếu chuyển từ chữ cái sang chữ số, làm luật cơ yếu mới. Đầu tiên thí điểm ở Đại đoàn Quân Tiên phong. Bước vào Đông Xuân 1953-1954 thì đổi toàn mạng trong toàn quân. Quân địch phải sau mấy tháng mới tìm được mạng liên lạc của bộ đội ta nhưng mật mã cơ yếu thì vẫn chưa dò ra. Đó là cuộc đổi mới để đảm bảo bí mật quân sự khi bước vào Đông Xuân 1953-1954 mà Binh chủng Thông tin và cơ yếu tích cực chuẩn bị suốt một năm trời. Đây là cuộc đấu trí, đấu lực của Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam với Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp.

Sau trận đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản, Bộ tổng tham mưu triệu tập cán bộ có kinh nghiệm đánh công kiên về nghiên cứu biên soạn tài liệu đánh tập đoàn cứ điểm. Đặc biệt là việc sử dụng thủ tục liên lạc mới, chuyển nhận diện chữ số, sử dụng máy mới trang bị và máy chiến lợi phẩm. Các đại đoàn tổ chức các trung đội vô tuyên điện thoại 702, 71, BC1000... tăng cường liên lạc giữa các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trong tấn công cụm cứ điểm dùng chữ đúc, tiếng mật...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:10:18 pm

Trước khi bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tư lệnh chỉ huy chỉ đạo chiến dịch giải phóng Lai Châu, chiến dịch Trung Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên... chủ yếu bằng thông tin vô tuyến điện. Trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch Điện Biên Phủ, việc liên lạc với các chiến trường phối hợp phải bảo đảm để Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nắm được tình hình chung trên chiến trường toàn Đông Dương. Phải bảo đảm mạng thông tin vô tuyến điện liên lạc với Trung ương Đảng và Sở chỉ huy cơ bản của Bộ, liên lạc với Liên khu 3, Bộ chỉ huy Trung Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên, mặt trận Tây Bắc, Trung đoàn 148, tiểu đoàn 910, Đại đoàn 308 và 3 trung đoàn 36, 88, 102, đài quân báo và sở chỉ huy nhẹ của 308 khi truy kích địch ở Thượng Lào, Đại đoàn 312, 316, 351, Trung đoàn cao xạ 367, hai trung đoàn 9 và 57 thuộc Đại đoàn 304, các đơn vị hậu cần bảo đảm lương thực đạn dược và công binh bảo đảm giao thông. Phải bố trí máy trực thu canh liên tục và máy dự bị. Ngoài mạng thông tin vô tuyến điện trực tiếp với các đơn vị bao vây và tấn công địch ở Điện Biên Phủ như: Đại đoàn 304, 308, 312, 316, 351, ta còn tổ chức một mạng vô tuyến điện bằng máy SCR694 đàm thoại bằng chữ mật đề phòng khi bị đứt dây điện thoại. Khi các đại đoàn nổ súng đánh địch thì máy SCR694 của Bộ tại sở chỉ huy chiến dịch mở máy liên tục. Chỉ huy pháo binh và hiệp đồng giữa bộ binh thì sử dụng hữu tuyến điện là chủ yếu nhưng vẫn trang bị thêm cho Đại đoàn 351 một số máy VTĐ 915W và máy SCR694 cho trung đoàn cao xạ 367 để dùng khi hữu tuyến điện bị đứt. Trung đoàn lựu pháo 45 được trang bị máy BC1000 để liên lạc trong nội bộ và giữa đài quan sát với trận địa pháo. Trung đoàn bộ binh tiến công cứ điểm hoặc đánh phản kích thì pháo binh tổ chức đài quan sát tiền tiến, bảo đảm thông tin liên hệ trực tiếp với bộ binh và chỉ thị mục tiêu cho pháo binh. Trung đoàn cao xạ 367 dùng máy 2W71B để liên lạc nội bộ. Tiểu đoàn hỏa tiễn 6 nòng được tăng cường VTĐ liên lạc với Bộ chỉ huy chiến dịch. Trung đoàn 675 sơn pháo đi cùng bộ binh nên không trang bị VTĐ. Việc bảo đảm chỉ huy, chỉ đạo hậu cần, tiền phương Tổng cục Cung cấp được tăng cường thông tin để liên lạc với Liên khu 3, Liên khu 4, thường xuyên nắm vững kho tàng, bến bãi, trọng điểm địch đánh phá, liên lạc với các phái viên chỉ huy dân công, hệ thống quân y chăm sóc thương binh, tổ chức các đài VTĐ biệt phái xuống cụm kho hậu cần suốt chiến dịch, đảm bảo cho Tổng Tư lệnh nắm vững tình hình hậu cần kỹ thuật và tiếp tế của hậu phương. Sơ đồ công tác bảo đảm thông tin cho chiến dịch được cập nhật từng giờ tại các cơ quan tham mưu chiến dịch. Hệ thống thông tin thường xuyên bảo đảm thông suốt giữa Tổng Tư lệnh và các chiến trường, các đại đoàn và vượt cấp xuống các đơn vị bằng VTĐ (sơ đồ 1, mạng thông tin trong chiến dịch Điện Biên Phủ). Công tác bảo đảm bí mật chủ yếu là dùng tiếng mật trong liên lạc hữu tuyến điện hoặc vô tuyến điện thoại.

Đồng chí Nguyễn Huy Văn cán bộ thông tin trực ở Sở chỉ huy Đại đoàn pháo binh 351 kể: mở đầu chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi đồng chí Đào Văn Trường - Đại đoàn trưởng 351: bên anh Tấn yêu cầu nổ súng sớm hơn giờ quy định, pháo đã sẵn sàng chưa? Anh Trường đáp: đã chuẩn bị xong các phần tử bắn, sẵn sàng nổ súng, Đại tướng nói: “Tôi hạ lệnh nổ súng. Nghe rõ chưa”? Anh Trường đáp: “Nghe rõ lệnh nổ súng”. Đường dây từ Sở chỉ huy chiến dịch, qua trung đoàn, tiểu đoàn, đến đại đội lựu pháo 806 đều nhận được lệnh của Đại tướng và Tổng Tư lệnh cũng nghe rõ tiếng nổ đầu nòng và tiếng nổ của lựu pháo ta ầm ầm trút xuống đồi Him Lam của địch. Lúc đó là 17 giờ 10 phút. Thông tin liên lạc đã góp phần bảo đảm trận đầu ra quân là chiến thắng cũng như hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ suốt cả chiến dịch.

Xây dựng được mạng hữu tuyến điện trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một kì công: Từ Sở chỉ huy chiến dịch xuống các đại đoàn và các đơn vị đều có đường dây liên lạc trực tiếp qua 2 tổng đài Hồng Lĩnh ở Sở chỉ huy và tổng đài 20 Chiến Thắng (tổng đài trung tâm). Bảo đảm trước tiên đến quân báo chiến dịch, các đài quan sát của Bộ, đường dây liên lạc với tiền phương Tổng cục Cung cấp, đơn vị công binh làm đường kéo pháo, đường dây chỉ huy hiệp đồng, vu hồi khép kín tới trận địa pháo và đơn vị chủ công. Trước ngày nổ súng, đồng chí Tổng Tư lệnh và Tham mưu trưởng chiến dịch đã trực tiếp gọi điện thoại đến từng đại đoàn, trung đoàn và tiểu đoàn chủ công để kiểm tra và động viên dặn dò. Những trường hợp xa có lúc phải tiếp chuyển, các tổng đài có cán bộ thông tin thường trực để truyền lệnh đúng và rõ cho các đơn vị chấp hành, Tổng đài Chiến Thắng do đồng chí Hoàng Xuân Vượng - Phó ban Thông tin mặt trận trực tiếp truyền lệnh. Các trung đoàn vây lấn đến đâu, đường dây điện thoại kéo đến đó. Khi chia cắt địch thì tạo thêm đường dây vu hồi để tăng cường sự vững chắc của thông tin. Để chống pháo địch bắn đứt dây, bộ đội đã đào rãnh rải dây hoặc ghim đường dây theo vách giao thông hào. Phát động bộ đội toàn mặt trận cùng bảo vệ chăm sóc đường dây như một mạch máu của mình. Để khỏi nhầm lẫn khi nối dây, chiến sĩ thông tin có sáng kiến dùng mảnh sắt cắt theo các hình làm kí hiệu để phân biệt từng loại dây. Tuy cách làm còn thủ công nhưng có hiệu quả. Ác liệt nhất là bảo đảm thông tin qua cửa mở trong đánh công kiên, ngoài việc kết hợp hữu tuyến, vô tuyến, phải sử dụng đội ngũ chuyển đạt. Nhiều chiến sĩ chuyển đạt đã anh dũng hi sinh cùng với xung kích.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:10:47 pm

Dây điện thoại thiếu rất nghiêm trọng. Điều này ta đã dự kiến trước và có cách khắc phục bằng cách tháo toàn bộ mạng dây thông tin của Bộ với các cơ quan và với Trung ương Đảng, với hậu phương để thay bằng đường dây trần, vay dây của bưu điện Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. Đồng thời phát động du kích địch hậu tháo gỡ dây của địch, thưởng đạn cho du kích khi lấy được dây. Ban 3 chiến dịch có sáng kiến cử đồng chí Lưu Phúc Thảo dẫn một trung đội về cứ điểm Nà Sản đào toàn bộ dây bọc địch bỏ lại. Đồng chí Đào Ngoạn có sáng kiến gỡ dây thép gai làm dây trần để mắc cho các đơn vị phía sau đổi dây bọc cho đơn vị phía trước. Chính ủy Cục Thông tin liên lạc Hoàng Bửu Đôn cũng vay dây của Tổng Liên đoàn Lao động... tất cả cùng lo dây điện thoại phục vụ mạng thông tin chiến dịch.

Cuộc chiến đấu giữ vững mạch máu thông tin suốt chiến dịch hết sức gay go quyết liệt. Ngoài việc bảo đảm đường dây cho chiến dịch, tiểu đoàn 303 dây bọc dã chiến còn làm đường dây trần nối với hậu phương từ Sơn La về Yên Bái. Tiểu đoàn 132 làm đường dây từ Sở chỉ huy cơ bản của Bộ về Yên Bái, nối liền Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ với Sở chỉ huy cơ bản của Bộ ở Việt Bắc, từ Thái Nguyên lên Lạng Sơn qua La Hiên, Vũ Nhai, Bắc Sơn, Bình Gia lên Đồng Đăng để nối thẳng với Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa chi viện cho Điện Biên Phủ. Đó là những đơn vị tiền thân của các trung đoàn thông tin sau này làm đường dây Bắc Nam trong chống Mỹ.

Quá trình chuẩn bị chiến đấu khi cần chuyển công văn hỏa tốc giữa Sở chỉ huy chiến dịch và hậu phương vẫn phải dùng thông tin quân bưu và chuyển đạt chuyển công văn, sách báo, báo Quân đội nhân dân tại mặt trận cho các đơn vị, thư từ động viên của Bộ chỉ huy chiến dịch. Lá cờ Quyết chiến Quyết thắng - phần thưởng cao quý - cũng được chuyển theo đường dây này cho các đại đoàn, trung đoàn, do các chiến sĩ quân bưu đội mưa bom bão đạn vượt suối băng rừng chuyển đi. Ngoài các chuyến xe ô tô từ hậu phương ra mặt trận chuyển đạt đi nhờ, người ta còn thấy những mô tô 3 bánh, các chiến sĩ ngồi ở thùng xe mặc áo mưa ngược, quay mặt về phía sau, ôm các bao tải công văn thư báo, từng tổ chuyển đạt đi xe đạp từ trạm này qua trạm khác. Khi cần như chuyển thư báo cáo lên Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Đảng về chủ trương thay đổi phương châm chiến dịch thì đồng chí Nguyễn Công Dinh sĩ quan tác chiến được đi xe jeep về thẳng hậu phương đưa báo cáo.

Các chiến sĩ chuyển đạt ở mặt trận rất dũng cảm, mưu trí khắc phục biết bao khó khăn, gian khổ, ác liệt không sao kể xiết được. Đức hy sinh, gương anh dũng, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của anh em thì không sách báo nào tả hết. Các chiến sĩ điện thoại, vô tuyến 2W, BC1000, 702 đi cùng bộ binh liên lạc giữa trung đoàn, tiểu đoàn, giữa tiểu đoàn với đại đội có nhiều gương vô cùng dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Những gương anh hùng như Chu Văn Mùi dũng cảm đảm bảo thông tin liên lạc chiến đấu ở đồi A1 cũng rất nhiều.

Để làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chiến sĩ thông tin liên lạc đã khắc phục muôn vàn khó khăn, chịu đựng biết bao gian khổ vì họ có ý thức rõ nếu những người lính thông tin không làm tròn nhiệm vụ thì ảnh hưởng rất lớn, có thể gây thiệt hại cho cả một đơn vị. Thực tế trong chống Pháp đã có bài học xương máu, do một báo vụ viên bỏ một phiên trực khiến mệnh lệnh cấp trên không đến được chỉ huy cấp dưới, gây tổn thất rất lớn cho cả một đơn vị. Thông tin trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 còn đảm nhiệm cả một phần nhiệm vụ nghi binh theo dõi địch. Giữ bí mật vô tuyến điện là công tác được đặt lên hàng đầu, nhất là những đơn vị thọc sâu đánh xuống Trung Hạ Lào và đông bắc Campuchia. Địch không nắm được lực lượng ta, nhưng chỉ một sơ suất của phái viên mà địch biết được là có Trung đoàn 66. Rút kinh nghiệm, khi Đại đoàn 308 sang Thượng Lào ta đã im lặng vô tuyến điện nên giữ được bí mật tuyệt đối. Điện đài đi cùng tiểu đoàn 436 thọc sâu ở Hạ Lào bị hỏng nhưng đài trưởng Nguyễn Quang Cường đã mày mò tự sửa được và liên lạc lại sau một ngày, khiến cả cấp trên cấp dưới mừng vui khôn xiết. Rút kinh nghiệm, sau đó các báo vụ viên đều phải biết sửa chữa hỏng hóc khi đi độc lập. Các điện đài đều có liên lạc về Tiền phương của Bộ ở Điện Biên Phủ và Sở chỉ huy cơ bản ở Việt Bắc, khi cần có thể liên lạc vu hồi nên thường xuyên bảo đảm thông suốt. Đêm 14 tháng 3 năm 1954, Trung đoàn 165, đại đoàn 312 và Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 do Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ và Đại đoàn phó 312 Đàm Quang Trung chỉ huy. Do mưa lớn, sơn pháo đến chậm nên tới 3 giờ 30 phút sáng 15 tháng 3 năm 1954, pháo mới cấp tập ngắn rồi bộ binh xung phong ngay, địch bị bất ngờ. 6 giờ 30 phút, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Độc Lập. Ta tiêu diệt tiểu đoàn 5, trung đoàn Angiêri số 7, diệt 483 tên, bắt 200 tên, có 2 tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng Kac và Méc-cơ-nen đang nhận bàn giao. Địch cho tiểu đoàn dù và xe tăng phản kích quyết liệt.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 30 Tháng Mười, 2016, 10:11:07 pm

Đúng lúc Tổng Tư lệnh hạ lệnh cho Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ kiên quyết diệt địch phản kích, giữ vững trận địa đã chiếm thì điện thoại mất liên lạc. Lúc đó hầm chỉ huy hết sức căng thẳng, không rõ kết quả địch phản kích ra sao. Bình thường rất đôn hậu hiền lành nhưng lúc đó Đại tướng sốt ruột nên xẵng giọng: “Anh Thúy, anh có tạo điều kiện cho tôi làm việc không?”. Anh Thúy đang ngồi ngậm píp thuốc, vội đứng nghiêm, dạ một tiếng rồi chạy về phía trung tâm thông tin. Đúng ra, thông tin Đại đoàn 308 phải mang theo máy SCR694 để dùng khi điện thoại bị đứt. Nhưng Trưởng ban Thông tin đại đoàn cho rằng chỉ chiến đấu một đêm nên xin ý kiến tham mưu đại đoàn để máy lại khu tập kết. Là người nhanh trí, anh Thúy dùng máy SCR694 của Bộ gọi máy SCR694 của Đại đoàn 312 để hỏi Đại đoàn 308 thì được biết sơn pháo bắn cháy một xe tăng địch, Trung đoàn 88 đã đánh tan quân địch phản kích. Anh Thúy phải báo cáo lại với Đại tướng, Tổng tư lệnh cười, anh em trong Sở chỉ huy thở phào nhẹ nhõm. Sau trận đánh, đồng chí Trần Sơn, tiểu đoàn trưởng 303 đưa về 1.500 mét dây bọc bị sét đánh cháy đen ở đỉnh Pha Song thì mới rõ nguyên nhân mất liên lạc. Có lần Đại tướng nói chuyện bằng điện thoại thì nghe trong đường dây gọi nhau í ới. Đại tướng đưa tổ hợp cho anh Thúy, anh Thúy lệnh cho đồng chí Vượng ra tín hiệu dẹp yên “Z10”.

Đại tướng nói chuyện xong hỏi anh Thúy lý do ồn ào trên máy. Anh Thúy nói, các đơn vị chia thịt trâu gọi nhau đi lấy. Đại tướng cười thông cảm, mấy tháng bộ đội mới có được một bữa thịt ăn.

Công tác tổ chức điều hành thông tin trong chiến dịch, tổ chức mạng lưới thông tin (Ban 3 chiến dịch) vô cùng quan trọng. Đồng chí Hoàng Đạo Thúy - Cục trưởng thông tin liên lạc được Đại tướng chỉ định làm Trưởng ban 3 ngày 5 tháng 1 năm 1954 cùng các Trưởng ban Tác chiến Trần Văn Quang, Trưởng ban Quân báo Lê Trọng Nghĩa… cùng Đại tướng đi chiến dịch. Đồng chí Hoàng Xuân Vượng - Phó phòng Tham mưu là Phó ban, trực tiếp tổng đài 20 - Chiến Thắng làm nhiệm vụ dẹp loạn thông tin, truyền đạt mệnh lệnh, báo cáo. Hai đồng chí tham mưu hữu tuyến là Đào Ngoạn, Lưu Phúc Thảo. Đồng chí Dương Quốc Hưng - chính trị viên. Lực lượng thông tin có tiểu đoàn 303 hữu tuyến, đội 101 vô tuyến, đặc biệt có hai báo vụ viên là nữ đồng chí Mai Lộc và Phương Lan. Ban liên lạc rất gọn nhẹ, hiệu suất công tác cao, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan đơn vị bạn.

Tôi được làm việc trực tiếp với bác Hoàng Đạo Thúy và thường gọi bác Thúy. Xuất thân là giáo viên, huynh trưởng của Hướng đạo, bác là người thông hiểu đông tây kim cổ, từng trải và nhân hậu, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm. Bác có tinh thần cách mạng rất cao, yêu nước nồng nàn, bác là đại biểu trong hội nghị Tân Trào năm 1945. Bác rất chăm học, khiêm tốn giản dị, thông minh, nhạy bén. Chúng tôi học được ở bác rất nhiều trong thời gian cùng công tác ở mặt trận Điện Biên Phủ. Làm việc với chúng tôi, bác Thúy rất dân chủ, thường gọi chúng tôi bằng “ông” rất thân mật. Trao đổi với chúng tôi về công việc hoặc nói chuyện về tiểu thuyết Liên Xô, về những nhân vật, sự kiện mà bác cháu đã đọc được. Có chén trà ngon, chút mứt gừng bác cũng chia sẻ với anh em. Chúng tôi ai cũng quý trọng bác. Đôi lúc có anh đùa dai, bác cũng chỉ lắc đầu cười xòa rồi bập bập vào píp thuốc nhả khói lên trời. Khi về hưu, bác sống rất giản dị ở làng Đại Yên, Hà Nội, vẫn ngồi trên chiếc ghế sắt cũ kỹ lót chiếc chăn chiên Nam Định, đọc, nghiên cứu và viết sách. Tôi ở chiến trường ra thăm bác, bác vẫn nhắc: chăm lo cho cấp dưới phải chống các hiện tượng tiêu cực trong quân đội, nhắc nhở anh em phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ.

Kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhớ tới các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh, các bậc tiền bối và đồng chí, đồng đội, tôi xin ghi lại một số hiểu biết và kỷ niệm về bộ đội thông tin liên lạc trong chiến dịch Điện Biên Phủ qua quá trình trực tiếp theo dõi tại mặt trận. Tôi đã tiếp thu được nhiều bài học quý giá để sau này làm công tác tham mưu, chỉ huy chiến thuật, chiến dịch và chiến lược, giúp tôi trưởng thành trong sự nghiệp chiến đấu chống Mỹ cứu nước và bảo vệ Tổ quốc sau này.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:36:34 pm

TRẬN TUYẾN TIẾP VIỆN LÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Thiếu tướng NGUYỄN AN
Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
Nguyên Phó Tư lệnh Đoàn 559
Chỉ huy trung tuyến Tổng cục Cung cấp tiền phương

Theo kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, ngày 10 tháng 12 năm 1953 ta tấn công Lai Châu, chỉ sau 10 ngày chiến đấu, quân ta đã giải phóng toàn bộ khu vực địch còn chiếm đóng ở Lai Châu. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, địch phải gấp rút nhảy dù tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành nơi tập trung binh lực lớn “tiếp nhận chiến đấu với chủ lực ta tại Điện Biên Phủ”. Tình huống đúng như dự đoán, thời cơ tiêu diệt sinh lực địch đã đến, quân ta gấp rút tiến hành bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Những ngày cuối tháng 12 năm 1954 các đại đoàn chủ lực thiện chiến được gấp rút điều động về đây, đưa quân số trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu lên hàng chục vạn người. Mặc dầu đã có sự chuẩn bị trước cho chiến dịch Lai Châu nhưng diễn biến chiến trường quá nhanh nên công tác tiếp vận bảo đảm hậu cần cho bộ đội trên một chiến trường xa hậu phương, trong một thời gian ngắn, quả là một vấn đề nóng bỏng. Thật vậy, đây là một vấn đề nhạy cảm, một cuộc chiến đấu giằng co, quyết liệt giữa đôi bên đối địch kéo dài suốt cả thời gian từ khi bao vây Điện Biên Phủ cho đến khi kết thúc chiến dịch, ở hậu phương mỗi bên và cả trên các ngả đường vận tải về Điện Biên Phủ. Nó quyết liệt ở chỗ cả hai bên đều biết khá rõ điểm yếu chí mạng của nhau và phải tiếp vận một khối lượng vật chất khá lớn đến một chiến trường xa hậu phương, mà đường tiếp vận thì độc đạo. Ta chỉ có một trục đường bộ chủ yếu từ Sơn La vào Điện Biên, còn Pháp cũng chỉ có một phương thức tiếp vận duy nhất là hàng không thả dù và hạ cánh, nên cả hai bên đã tập trung sức mạnh có thể, ngày đêm rình rập, đánh vào các điểm yếu của nhau những đòn mãnh liệt nhất.

Trong cuộc đấu trí và đấu lực gay go trên tuyến tiếp vận của cả hai bên, nổi bật lên vai trò của hậu phương quốc gia, ai xây dựng được hậu phương thường xuyên vững chắc có khả năng huy động cao nhất, bền bỉ nhất cho tiền tuyến, thì người đó nắm chắc phần thắng lợi.

Ngày 12 tháng 1 năm 1954 sau khi vượt qua đèo Pha Đin, trên đường vào chỉ huy sở, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gặp thân mật các đồng chí chỉ huy các tuyến hậu cần, vận tải quân đội, những người đã lặn lội cùng với anh đi phục vụ qua nhiều chiến dịch. Trong buổi gặp, Đại tướng đã căn dặn, tâm tình nhiều hơn là chỉ thị: “Mình đi chiếc xe Zeep cọc cạch trên những con đường mới mở, từ Lũng Lô cho đến đèo Pha Đin, càng đi xa càng thấy đường sá hiểm trở. Ngã ba Cò Nòi là đầu mối giữa hai con đường, thế nào địch cũng biến nơi này này thành một túi bom. Nghĩ tới việc tiếp tế cho mặt trận, đường sá dài, người ở tiền tuyến cần gạo mà người vận chuyển cũng cần gạo; việc tiếp vận sẽ trở nên gay gắt, nhất là chiến dịch kéo dài, các cậu phải cố gắng lắm đấy”. Tầm nhìn của vị Tổng Tư lệnh kính yêu đã nhắc nhở cho các cán bộ hậu cần và vận tải thấy rõ vị trí trọng yếu và tình hình sẽ cực kỳ khó khăn của công tác tiếp vận trong chiến dịch này. Thời gian sau đó, khi công tác tiếp vận gặp trở ngại, lại chính vị Tổng chỉ huy của chúng ta đã bỏ hẳn một số ngày không theo dõi chỉ huy tác chiến mà chuyên tâm ân cần cùng với các cán bộ hậu cần, vận tải bàn các giải pháp để đẩy nhanh gạo lên tiền tuyến.

Trong khi đó, ở trận tuyến đối phương, tại sở chỉ huy của Đờcátxtơri trong đêm giáng sinh vui vẻ (24.12.1953) bên ánh lửa trại bập bùng ven sông Nậm Rốm, viên Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp Na-va huênh hoang tuyên bố với ba quân: “Việt Minh đưa quân lên đây, nhưng họ phải lo việc cung cấp quá lớn, trên một chặng đường khá dài, qua những vùng hiểm trở, nghèo xác xơ và đường giao thông hầu như không có. Vận tải của Việt Minh chỉ toàn bằng “cu ly” gánh bộ, nếu có bằng đường ô tô chăng nữa thì phải đi trên những chặng đường rất xấu, luôn luôn bị không quân Pháp cắt đứt”. Các sĩ quan Pháp dự đêm vui, đều hể hả với nhận định “cầm chắc phần thắng” của cấp trên, duy chỉ có một nỗi lo canh cánh bên lòng mà Đờcátxtơri đã thay mặt họ phát biểu: “Chúng tôi chỉ còn sợ Việt Minh thấy miếng mồi Điện Biên Phủ quá to, nếu vì họ quá sợ mà không dám tấn công nữa, thì thật là tai họa đối với tinh thần binh sĩ!”.

Phải chăng, sự đánh giá ban đầu chủ quan, mù quáng này của những người cầm đầu quân đội Pháp ở Đông Dương tại Điện Biên Phủ, sẽ là điểm khởi đầu cho những thất bại của họ sau này?


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:37:13 pm

Thực hiện kế hoạch “băm nát mạch máu” của ta, trên đường từ hậu phương ra mặt trận, địch đã tập trung đánh phá từng đoạn ở những nơi hiểm trở; có nơi còn kết hợp cả máy bay rải bom với đại bác bắn cầm canh từ những đồn địch gần đường vận chuyển, vào những giờ chúng biết có nhiều xe đi qua, như đồn Mỏ Thổ (Bắc Giang), đã bắn vào khu vực đèo Cả, Bến Sỏi liên tục 1 tháng 10 ngày, nhằm chốt chặn xe ta trên đường số 1 từ Lạng Sơn về, nhưng ta đã mở đường vòng tránh, bảo đảm vận chuyển thông suốt. Nhiều nơi, chúng vừa phá đường vừa cho máy bay săn đuổi xe ta, đánh thẳng vào sinh lực của vận tải.

Tại ngã ba Cò Nòi, mỗi ngày máy bay địch trút xuống trên 60 tấn bom mìn các loại: nổ ngay, nổ chậm vùi lẫn với bom bươm bướm, mìn đè nổ, mìn phá xe, chông ba cạnh. Mỗi khi máy bay đi bắn phá ở đâu về qua, chúng cũng “tọa độ” xuống ngay ngã ba này một “bãi”, làm cho địa hình vùng này biến dạng hàng ngày, đến nỗi tổ quan sát công binh ở đây, chỉ trong vòng hai tháng 1 và 2 năm 1954 đã phải vẽ lại sơ đồ qua vùng này tới 19 lần. Anh em công binh và thanh niên xung phong gọi Cò Nòi là “ngã ba sống chết” vì đi qua đây, cái sống liền kề ngay cái chết, do bom mìn địch giương bẫy thường trực ngày đêm.

Để xiết chặt cái thòng lọng khổng lồ quanh cái lòng chảo rộng lớn này, ta phải bố trí một lực lượng đủ mạnh, lúc cao điểm lên tới 86.800 người, gồm 53.800 quân và 33.000 dân công thanh niên xung phong; yêu cầu lương thực bình quân 90 tấn/ngày, tính từ Sơn La trở vào. Ngay tại Điện Biên Phủ, phải có gần 50 tấn/ngày, tức là mỗi ngày phải có gần 3.000 “dân công hỏa tuyến”, luồn rừng leo núi đưa vật phẩm đến từng trận địa. Theo số liệu ta dự tính thì lượng gạo cần cho chiến dịch này là 16.000 tấn, từ đó phải huy động các nguồn từ hậu phương lên là trên 25.000 tấn. Với kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc, việc vận chuyển hoàn toàn bằng sức người gánh bộ; muốn có gạo ở Nghĩa Lộ (Yên Bái) mà nguồn tiếp tế từ phía nam là Thanh Hóa lên, đường dài hơn 900 km, thì cứ 1 kg gạo đến đích, phải có 24 kg gạo ăn dọc đường. Vậy ở chiến dịch này, nếu phải vận chuyển toàn bằng dân công gánh bộ thì muốn có 16.000 tấn gạo đến đích, cũng phải nhân lên gấp 24 lần, tức là phải huy động trong dân 384.000 tấn gạo, chứ không phải là 25.000 tấn, mà muốn có 384.000 tấn gạo, phải thu cho được và tổ chức xay giã 640.000 tấn thóc; giả định nếu có thu được cũng không vận chuyển kịp vì đường quá xa, khối lượng quá lớn.

Để giải quyết gạo cho chiến dịch này, Bộ Chính trị và Chính phủ ta đã có những giải pháp rất khoa học và cách mạng; động viên nhân dân hai tỉnh Sơn La, Lai Châu ra sức tiết kiệm để đóng góp một lượng gạo lớn nhất tại chỗ, làm giảm thiểu đến mức thấp nhất khối lượng phải đưa từ xa đến, rồi nếu cần phải xin viện trợ gạo của Trung Quốc thì cũng chọn lấy ở nguồn gần nhất, còn thiếu đâu mới lấy từ các tỉnh hậu phương xa hơn.

Kết quả thật là ngoạn mục: nhờ vai trò hậu phương tại chỗ, đáp ứng kịp thời trước hết phải kể đến nhân dân Sơn La, Lai Châu vừa được giải phóng năm trước đã góp được 7.360 tấn gạo, bằng 27% tổng số huy động; gạo viện trợ của Trung Quốc từ Vân Nam xuống 1.700 tấn bằng 6,8% tổng số huy động; mua được 300 tấn gạo ở vùng Nậm Hu (Thượng Lào) sau giải phóng; còn lại 15.640 tấn đã chuyển từ các tỉnh hậu phương lên. Trong số 15.640 tấn này, đã đưa kịp tới mặt trận 6.640 tấn là đủ yêu cầu = 16.000 tấn; còn lại phải ăn dọc đường vận chuyển hết 9.000 tấn.

Riêng số 1.700 tấn gạo đưa từ biên giới Vân Nam Trung Quốc xuống, việc vận chuyển vô cùng gian nan: Trên dòng sông Nậm Na, phải vượt 102 thác ghềnh hung dữ, mới tới Lai Châu, dùng xe tiếp chuyển về Điện Biên Phủ. Dòng sông dài gần 95km, có đoạn Ba Nậm Cúm đi Pa Tần dài 35km phải chở gạo trên mảng ghép bằng nứa, đoạn Pa Tần về Lai Châu dùng thuyền ván và độc mộc. Công việc vận tải cực kỳ khó nhọc trên sông nước đó đã giao cho đại đội nữ dân công huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đảm nhận phần lớn. Các chị đã đóng 11.600 chiếc mảng ở thượng nguồn, chở gạo vượt thác về Pa Tần, lúc đầu chưa quen phải 4 người mới chở được một mảng có 100kg mà gạo vẫn bị ướt; sau phấn đấu 2 người, rồi mỗi người lái một mảng chở được 300kg xuống thác an toàn, hàng không bị ướt. Nhiều chị em khi giao xong, quần áo trên người vẫn còn ướt sũng, đã chạy bộ ven sông, ngược lên đầu nguồn để nhận mảng mới; vừa chạy cho nóng người, vừa dùng sức nóng của người mà hong khô quần áo.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:37:49 pm

Số gạo huy động ở các địa phương cho chiến dịch này thể hiện sự hy sinh lớn lao cho tiền tuyến, không gia đình nào nộp dưới mức yêu cầu, có nhiều hộ còn giao trước thời gian quy định, kể cả trong vùng tạm chiếm. Chỉ riêng tỉnh Thanh Hóa đã đóng góp hơn 9.000 tấn gạo. Đặc biệt, huyện Tuần Giáo chỉ có 11.000 dân đã góp được 1.270 tấn gạo, tức là gần 116kg/đầu người, so với năng suất canh tác lúa nương, chọc lỗ bỏ thóc giống, thì số gạo “vét tận đáy bồ” này biểu hiện lòng tin tưởng và sự hy sinh cực kỳ to lớn đối với cách mạng.

Đánh giá những sự kiện trên, một ký giả nhà binh Pháp, tướng Y.Gras trong cuốn “Lịch sử chiến tranh Đông Dương”, 25 năm sau Điện Biên thắng lợi đã viết: “Ông Giáp quan niệm rằng cả một dân tộc sẽ tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính và dự kiến của Bộ tham mưu Pháp…”.

Sau gạo là đạn, mà quan trọng nhất là đạn pháo 105 ly. Số đạn này đã tiêu thụ trong chiến dịch là trên 2 vạn viên, tuy chỉ có trọng lượng là 500 tấn trong tổng số 1.200 tấn vũ khí đạn dược toàn chiến dịch, nhưng lại là loại vũ khí mới sử dụng đầu tiên trong chiến dịch này, không những có uy lực lớn với địch mà còn uy tín mạnh mẽ với cán bộ và chiến sĩ ta.

Việc vận chuyển được số đạn này tới các trận địa pháo cũng là cả một kỳ công:

- Khối lượng lớn nhất: 11.715 viên lấy từ các kho quân khí ở hậu phương, cách xa mặt trận từ 500 đến 700km, là số lượng đạn dành dụm qua 4 năm tích lũy, suốt từ chiến dịch Biên Giới, gìn giữ cho trận đánh này.

- Đặc biệt có 400 viên đạn chiến lợi phẩm mới tinh của chiến thắng Bô Na Phào (1-1954) đã được vận chuyển cấp tốc trên đường dài 1.105km qua đường 12, 15, 41 bằng mọi phương tiện để có mặt kịp thời ở Điện Biên Phủ.

- Các chiến sĩ ở ngay mặt trận bao vây cũng đã giành giật với địch, cướp các dù đạn 105 ly do máy bay địch vội vàng thả xuống, lấy được hơn 5.000 viên, tặng lại pháo binh ta.

- Các bạn Trung Quốc cũng đóng góp cho chiến dịch này 3.600 viên, chiếm tỷ lệ 18% so với lượng đạn tiêu thụ, tuy ít nhưng cũng rất quý, đó là số đạn đi theo 24 khẩu pháo (mỗi cơ số 150 viên/khẩu) và cũng chỉ có một lần đó trong suốt chiến dịch, không đúng như lời than của Na-va: “… Sự tăng viện bất ngờ và to lớn của Trung Quốc là một nguyên nhân thất bại của Điện Biên Phủ”. Na-va thanh minh và than thở như thế, nhưng chính ông ta cũng đã có đủ tài liệu tình báo để biết rằng: gạo do Trung Quốc viện trở chỉ bằng 6,8% và đạn pháo 105 ly chỉ bằng 18% so với tổng nhu cầu của chiến dịch thì không là to lớn được; còn 24 khẩu pháo 105 ly, khi đưa từ Vân Nam sang theo đường Lào Cai, quân ta đã đóng mảng xuôi sông Hồng từ năm 1953, đài địch nói sa sả, thì đâu có gì là bất ngờ đối với Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương nữa.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:38:17 pm

Trong cuộc kháng chiến này, mặc dù sự nỗ lực chủ quan của nhân dân ta là chính, chúng ta cũng không quên ơn bạn bè, đồng chí giúp đỡ ta, chỉ có điều là đánh giá thì nói cho chính xác và đúng mức. Một điều nữa cũng cần nói thêm là mặc dù chúng ta có trong tay một số lượng đạn pháo 105 ly bằng 134 cơ số nhưng không bao giờ có việc sử dụng pháo theo cách mà tác giả Mân Lực (2-1992) đã viết trong cuốn “Chín lần xuất quân lớn của Trung Quốc”, đã trích dẫn bức điện nói là của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi đoàn cố vấn quân sự bên cạnh đồng chí Tổng Tư lệnh của ta có đoạn viết: “… Không được bắn tiếc đạn, chúng ta (Trung Quốc) sẽ cung cấp đủ đạn”. Chúng ta rất trân trọng những lời khuyên bạn bè tình nghĩa, nhưng các bạn không thể hiểu ta bằng chính chúng ta, do đó việc sử dụng đạn pháo lớn trong chiến dịch này rất tiết kiệm và nghiêm túc. Các trận đánh lớn có hiệp đồng binh chủng thì lượng đạn pháo đã được duyệt; ngoài ra nếu đơn vị bộ binh nào muốn xin pháo 105 ly bắn chi viện quá 3 viên phải xin phép Tham mưu trưởng mặt trận, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, nếu quá 10 viên thì phải được Đại tướng Tổng Tư lệnh chuẩn y. Nếu thực sự ta bắn “không tiếc đạn”, thì các khẩu pháo phải im tiếng từ lâu, trước khi tổng công kích.

Công tác tiếp vận ở chiến dịch, ngoài nhiệm vụ chuyển vật chất ra tiền tuyến, còn có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng khác là kết hợp với ngành quân y và quân nhu, chuyển thương binh về phía sau. Yêu cầu chuyển thương từ hỏa tuyến về đội điều trị đại đoàn, sau khi sơ cứu, là phải chuyển thật nhanh để cứu lấy mạng sống của thương binh; còn từ đội điều trị về bệnh viện hậu phương là phải chuyển liên tục, vừa chuyển thương vừa điều trị hộ tống, thương binh nhanh chóng được đưa về nơi điều trị toàn diện hơn, đồng thời dành đội điều trị nhận thương binh mới, vì chiến dịch kéo dài, rất khác các chiến dịch cũ, đánh xong hết đợt mới chuyển một lần. Chiến dịch Điện Biên Phủ có tổng số gần 15.000 thương binh, đã chuyển về hậu phương 9.560 người, còn lại là thương binh nhẹ trả về chiến đấu. Đưa thương binh về hậu phương được tổ chức hết sức chu đáo kết hợp cả điều trị, nuôi quân và vận tải, với khẩu hiệu: “Mỗi ô tô là một bệnh xá lưu động” và “mỗi tổ cáng thương là một gia đình thân yêu”. Mỗi chuyến chuyển thương về bệnh viện, có khi phải cả tháng, có thương binh khi nhập viện thì sức khỏe đã gần được hồi phục.

Trên tuyến đường tiếp vận thì dân công là lực lượng đông nhất tổng số 261.135 lượt người, làm nên gần 11 triệu ngày công, chỉ tính riêng từ Sơn La trở vào đã có 33.000 người, bằng 4,72 triệu ngày công. Lượng xe đạp thồ cũng rất đồ sộ: gần 21.000 chiếc, có 2.500 xe trên tuyến quân đội, mỗi xe trung bình thồ được 180 kg, cá biệt có xe của anh Cao Văn Ty ở Thanh Hóa thồ dược 320kg, anh Ma Văn Thắng ở Phú Thọ thồ được 352kg. Về đường thủy có hai tuyến phục vụ chiến dịch: Sông Hồng từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc sang và sông Mã từ Thanh Hóa lên Vạn Mai, cả hai tuyến đã huy động tới 11.800 thuyền gỗ, thuyền nan đủ loại.

Dân công không những chỉ huy động ở vùng tự do, mà có người ở vùng tạm chiếm ra. Mỗi người dân, tuy ở vùng bị địch kiềm kẹp gắt gao, nhưng mỗi khi được thôn, xã bình tuyển đi dân công, nhất là đi bộ đội, thì coi đó là một vinh dự cho mỗi người công dân, là sự tín nhiệm của cách mạng đối với mỗi gia đình, nên không ai chối từ việc được đi phục vụ tiền tuyến.

Chính Na-va cũng đã phải công nhận: “Trong vùng quân ta kiểm soát thì Việt Minh vẫn có một uy quyền bí mật, họ thu thuế, tuyển mộ người, ở đây họ chở ra rất nhiều gạo, muối, vải, thuốc và cả những chiếc xe đạp có tác dụng rất lớn trong việc tiếp tế...”


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:38:42 pm

Ngoài các lực lượng và phương tiện vận tải thô sơ, Điện Biên Phủ được trang bị một số lớn xe vận tải Liên Xô, lúc cao nhất lên tới 628 chiếc. Riêng tuyến hậu cần quân đội là 352 xe, còn lại sử dụng ở tuyến hậu phương Tổng cục Cung cấp và Hội đồng chi viện tiền tuyến, kết hợp với các phương tiện huy động trong dân.

Việc phân chia ranh giới giữa hậu phương và tiền phương trong công tác tiếp vận, được chính phủ quy định tới trước giờ nổ súng, như sau: từ các tỉnh hậu phương vận chuyển lên Sơn La, do Hội đồng chi viện tiền tuyến phụ trách; từ Sơn La lên Điện Biên Phủ giao cho quân đội phụ trách.

Hội đồng chi viện tiền tuyến còn gọi là Hội đồng cung cấp mặt trận do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, ở các liên khu, một số nơi cùng có tổ chức Hội đồng ở địa phương.

Tổ chức tiếp vận ở tuyến hội đồng thường dùng dân công và xe thồ rút gạo ở các xã, huyện tập trung lên tỉnh, rồi dùng nhiều phương tiện lớn chuyển tiếp đến các kho của Hội đồng, từ đó dùng xe ô tô chuyển lên Sơn La.

Tuyến hậu cần quân đội dài 222km từ Sơn La vào Điện Biên, tổ chức thành 3 tuyến, lượng đầu xe ở mỗi tuyến tùy theo nhiệm vụ được giao, nhưng lúc nào cũng thấy thiếu hụt, nên các đại đội xe đều phải luôn luôn động viên nhau vượt vùng, tăng chuyến. Đội ngũ kỹ thuật xe phải vất vả chống lại hai bệnh hiểm nghèo của xe khi đó là: gãy nhíp xe, vì phải chở nặng trên đường quá xấu và nạn lốp xe bị vỡ quá nhiều vì chông, mìn của địch, anh em đã phát huy sáng kiến dùng thanh tre cật còn tươi, đem uốn nóng để thay cho nhíp xe và dùng bù loong sắt để ép lốp lại thay cho nhựa vá. Những sáng kiến này được anh em lái xe khen là: “Đôi khi đã cứu được bàn thua trông thấy!”.

Thời gian xe chỉ chạy trong đêm không đủ, các lái xe phải tranh thủ: “chiều đi sớm, sáng về trưa, khi mưa lâm thâm đi cả ban ngày”. Đó là khẩu hiệu hành động đã thành “thơ” của các lái xe. Họ lợi dụng lúc ban chiều, buổi sáng mai, ở vùng núi Tây Bắc có sương mù kéo dài để cho xe chạy lấn thêm một đoạn đường có ích. Nhưng thời tiết cũng có hôm dở chứng, có khi xe chạy giữa đường thì sương tan mạnh. Việc này đã xảy ra với đại đội xe 209 ngày 17 tháng 4 năm 1954, có 12 xe chở đầy đạn pháo 105 ly đang cấp tốc ra mặt trận, xe vượt đèo Pha Đin lúc 8 giờ sáng thì sương tan, máy bay địch lao xuống dội bom, quét đại liên vào đoàn xe, nhưng các chiến sĩ lái xe dũng cảm đã bình tĩnh cho xe chạy phân tán, giấu xe sau những khúc đường quanh co. Đại đội súng máy cao xạ đã tập trung bắn quyết liệt vào những máy bay đang bổ nhào. Một xe được lệnh tiếp tục chạy nhanh để hút mục tiêu của máy bay. Hai xe khác lao xuống suối cạn để giảm bớt mật độ. Chỉ một thời gian ngắn hoạt động không có hiệu quả, máy bay chuyển sang hướng khác. Lực lượng cứu thương, cứu xe đến kịp thời, người bị thương được săn sóc, đạn lại lên xe, tiếp tục vào trận địa.

Mùa mưa đã bắt đầu, nước tuôn xối xả nát nhão mặt đường. Thời gian nổ súng lui lại 46 ngày làm cho khối lượng vận tải tăng thêm. Cán bộ, chiến sĩ hậu cần, vận tải, dân công, thanh niên xung phong đã dầu dãi trên mặt đường trải qua ba mùa mưa nắng: đông 1953, xuân 1954 và hè năm 1954, sức khỏe suy giảm rõ rệt, nhưng lượng gạo vào mặt trận vẫn chưa đạt mức có dự trữ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:39:14 pm

Vào một ngày đầu tháng 4 năm 1954, trên một tấm biểu đồ treo ở Sở chỉ huy của Tổng Tư lệnh ở Mường Phăng, theo dõi tiến độ gạo nhập kho của mặt trận, mũi tên chỉ con số gạo nhập hàng ngày cứ nhích dần xuống, có ngày là số 0. Chủ nhiệm cung cấp mặt trận và các cán bộ chỉ huy tuyến được triệu tập cấp tốc về để bàn các phương án khắc phục. Xe của tuyến quân đội phải lùi về tuyến hậu phương vớt gạo lên. Cần phải huy động thêm gạo và tăng lượng dân công mới lên tuyến Hội đồng vì các kho phía sau cũng hết gạo và kiến nghị nhiều biện pháp khác nữa lên Đảng ủy Mặt trận.

Đảng ủy mặt trận báo cáo cấp tốc về Bộ Chính trị. Ngày 19 tháng 4 năm 1954, nghị quyết của Bộ Chính trị kèm theo thư của Tổng Bí thư Trường Chinh gửi ra mặt trận có đoạn viết: “Toàn Đảng, toàn dân và Chính phủ quyết đem toàn lực chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”.

Các đồng chí ủy viên Trung ương Đảng được cử về các địa phương đôn đốc việc tiếp vận. Bộ Chính trị và Chính phủ quyết định huy động thêm 10 vạn dân công mới, 1 vạn tấn gạo, 500 tấn thịt đưa gấp ra tiền tuyến.

Ngày 25 tháng 4 năm 1954, báo Nhân Dân ra lời kêu gọi đối với hậu phương mà làm nức lòng cả những người đang ở tiền tuyến: “Mỗi khi tiền tuyến cần gì, chúng ta trả lời: Có. Mỗi khi tiền tuyến đề ra việc gì, chúng ta trả lời: Làm được! Không thể trả lời: Không có, Không được! Đó là cụ thể hóa: tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Những nghị quyết đúng đắn và lời kêu gọi thiết tha của Đảng động viên cả nước nô nức lên đường. Hậu phương quốc gia lại một phen chuyển động, một lần nữa tỏ rõ sức mạnh vững chắc của mình. Những khó khăn về tiếp vận nhanh chóng được khắc phục. Không ai nghĩ rằng chỉ chưa đầy 20 ngày sau đó, trận đánh “chấn động địa cầu” đã kết thúc, nhưng nếu trên trận tuyến tiếp vận khi ấy, dù chỉ một ngày bị vỡ, thì hậu quả sẽ không ai lường trước được.

Trong khi tập trung tiếp vận lên mặt trận, quân và dân ta không ngừng triệt phá đường tiếp vận của đối phương bằng những đòn tấn công dồn dập ở cả hậu phương địch và trên chiến trường, đánh vào những nơi yếu và hiểm yếu của chúng.

Chúng ta được biết: lượng máy bay của địch tiếp tế cho Điện Biên Phủ chiếm gần 75% số máy bay vận tải toàn Đông Dương khi đó, có lúc lại đậu chủ yếu ở hai sân bay: Gia Lâm và Cát Bi, trong đó có một số máy bay của Mỹ giúp Pháp việc tiếp vận. Bộ Tổng Tư lệnh ta đã chỉ thị cho điều tra chính xác thời cơ tập trung máy bay đông nhất, để tập kích mãnh liệt vào hai sân bay, phá hủy nhiều máy bay địch, trong đó có những máy bay vận tải lớn, đúng vào lúc ở Điện Biên Phủ, địch đang cực khổ vì thiếu phương tiện tiếp vận.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười, 2016, 10:39:32 pm

Mặt khác, tại ngay chiến trường, với chiến thuật vây lấn, đào hào, từng bước thắt chặt vòng vây, thu hẹp cả vùng đất và vùng trời của địch, tiến tới cắt đứt sân bay Mường Thanh, cái dạ dày của “con nhím” khổng lồ này. Khi các cỡ pháo lớn, nhỏ của ta đã áp sát sân bay, trận địa cao xạ 37 ly đã tiến ra cánh đồng Mường Thanh, những đồn bót cuối cùng bảo vệ sân bay lần lượt bị tiêu diệt, thì cái dạ dày phục vụ tiếp vận của tập đoàn cứ điểm hoàn toàn bị tê liệt, kể cả việc lấy thương binh, nếu Bộ chỉ huy Pháp không xin phép ta, thì cũng không tài nào thực hiện được. Nếu chúng liều lĩnh cho quân nhảy dù “nhảy đại” xuống thì đại đã số lại được trở về trại tù binh của ta; nếu chúng cố tình thả dù lương thực, đạn dược thì đại bộ phận lại rơi xuống chiến hào của ta; có cái dù nào rơi gần địch, chúng cũng không dám lấy ngay, vì bị lực lượng ta bắn tỉa và giành giật. Đến cả lon cấp tướng của Đờcátxtơri và rượu sâm banh ăn mừng thăng cấp của hắn cũng bị rơi vào tay các chiến sĩ ta.

Cuối cùng là sự thất bại tiếp vận của địch là không sao tránh khỏi trước cách đánh toàn diện và triệt để của nhân dân và quân đội ta cả ở hậu phương địch và trên chiến trường. Sự thất bại trong hoạt động tiếp vận của địch đã góp phần to lớn vào sự sụp đổ của toàn bộ tập đoàn cứ điểm mà chúng khoe là “không thể công phá nổi” của cái gọi là “Véc-đoong ở châu Á” này.

Khi trận đánh vĩ đại đã lùi vào quá khứ, đủ thời gian cho những ký giả, các nhà chính khách phương Tây suy ngẫm tương đối khách quan, thì có người nhận xét rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên hết và trước hết là những chiến thắng về tổ chức tiếp vận của Việt Minh”. Đó là ký giả Béc-na Phôn, viết trong cuốn “Việt Minh 1945-1960”. Chúng ta nên nhớ rằng ông ta là một nhà báo Mỹ, kẻ từng hù dọa ta ở hội nghị Pa-ri rằng: Tiềm lực quân sự Mỹ như một xe hủ lô cán đường, khi nó lăn qua, trên mặt đất không còn dấu hiệu của sự sống nữa!

Lại còn một chính khách quen thuộc khác, Na-va, đã công nhận: “Bộ chỉ huy Việt Minh đã phác họa thật hay về công việc tiếp vận của họ. Chúng ta phải thừa nhận sự cố gắng lớn lao của nhân dân họ chi viện cho quân đội họ và khâm phục khả năng của Bộ chỉ huy và Chính phủ đối phương đã biết cách đạt hiệu quả đó”.

Tất nhiên, các chính khách và tướng lĩnh phương Tây, nhiều người chưa thể thấy được đầy đủ những nguyên nhân thắng lợi của công tác tiếp vận của chúng ta là bắt nguồn từ chiến tranh nhân dân và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài giỏi của Đảng ta, đã xây dựng hậu phương thường xuyên vững chắc mà chính từ hậu phương vững chắc này đã huy động được sức mạnh của toàn dân chi viện cho tiền tuyến, trong đó có đông đảo lực lượng nông dân, sau thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất, đã hồ hởi xung phong trên các nẻo đường tiếp vận, cùng với những người nông dân mặc áo lính ở các chiến hào, đã góp sức làm nên chiến thắng này.

Chính những kinh nghiệm quý báu về xây dựng hậu phương và tổ chức tiếp vận ở chiến dịch Điện Biên Phủ đã giúp chúng ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tiếp vận cho chiến trường miền Nam trên con đường mang tên Bác kính yêu, suốt 16 năm chống đế quốc Mỹ, từ năm 1959, bắt đầu mở đường mòn Hồ Chí Minh cho đến ngày thắng lợi cuối cùng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:27:07 pm

TÌNH NGHĨA SÂU ĐẬM TRÊN TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN DỊCH
Thiếu tướng ĐẶNG HUYỀN PHƯƠNG
Nguyên Phó Chủ nhiệm, TMT Tổng cục Hậu cần
Nguyên Đại đội trưởng xe ô tô vận tải, Cục Vận tải tiền phương

Những ai đã từng tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ - kể cả chiến đấu ở tuyến trước và phục vụ ở tuyến sau - ắt sẽ không bao giờ quên những kỷ niệm sâu sắc, những hình ảnh đẹp đẽ về tình nghĩa quân dân, tình nghĩa đồng đội đã cùng nhau dồn sức, quyết chí, quyết tâm, quyết chiến, quyết thắng, vượt mọi khó khăn gian khổ ác liệt trong bom đạn để góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Là người được trên giao nhiệm vụ phụ trách một đơn vị vận tải cơ giới phục vụ chiến dịch nên trong tôi đã lưu lại nhiều kỷ niệm sâu sắc, tình nghĩa trên trận tuyến này. Vận tải là một trong những mặt công tác khó khăn, vất vả, gian khổ, nguy hiỂm nhất của hậu cần lúc đó. Suốt đêm ròng rã căng thẳng, vừa phải đối phó với mọi thủ đoạn đánh phá ác liệt của địch, vừa phải khắc phục mọi sự cố trên đường. Máy bay địch thường xuyên lùng sục bắn phá, ném bom, xả đạn mà đường thì nhỏ hẹp, đèo cao, suối sâu, cua gấp, tầm nhìn của lái xe thì rất hạn chế, do ánh sáng bằng đèn gầm (chỉ có một đèn lắp dưới gầm xe phía trước, ánh sáng không hắt lên trên để máy bay địch không phát hiện được). Vì vậy độ chiếu sáng ra phía trước trên mặt đường chỉ được vài ba chục mét, nên lái và phụ xe phải tập trung mọi nỗ lực (cả tinh thần, tư tưởng và kỹ thuật) để bảo đảm an toàn cho xe, vừa tránh được bom đạn, vừa vượt qua được những đoạn đường chật hẹp, bị sụt lở, lầy lội... Khi trời vừa hửng sáng chúng tôi liền phải tìm chỗ giấu xe, giấu hàng và ngụy trang kín đáo rồi mới yên tâm ngả lưng chợp mắt giây lát, lại vội vàng phải dậy chuẩn bị xe để tối còn đi tiếp lên tuyến trước.

Có biết bao kỷ niệm sâu sắc về Điện Biên Phủ, tuy đã hơn 50 năm rồi nhưng vẫn lưu lại trong ký ức tôi. Trong một bài viết không thể kể hết được nên tôi chỉ xin được hồi tưởng lại hai câu chuyện tình nghĩa rất sâu đậm về quan hệ quân dân, quan hệ cấp trên cấp dưới mà tôi được trực tiếp tiếp xúc và xử lý.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:28:34 pm

Cuộc liên hoan bất ngờ chiều hôm ấy

Suốt cả đêm căng thẳng, mệt mỏi, chúng tôi phải tranh chấp từng đoạn đường với con “đầm già” (loại máy bay trinh sát cánh quạt của Pháp hồi đó mà cánh lính ta hay gọi thế). Hễ nó lượn khuất sang bên kia đèo, thì chúng tôi lại tranh thủ vù ga chạy được một đoạn, nếu nó lượn vòng lại thì xe phải tắt máy, tắt đèn, đứng chờ nó lượn sang vòng khác mới đi tiếp. Khi gặp đoạn đường bị bom đạn làm sụp lở hoặc đường đèo quá hẹp, chúng tôi phải chờ cho xe bên kia đèo sang hết, xe mình mới đi tiếp được. Suốt đêm căng thẳng, vất vả mà cũng chỉ đi được khoảng năm chục km trên tuvến đường trọng điểm này.

Chuyến xe ấy, đơn vị chúng tôi vận chuyển xăng, vì vậy khi trời hửng sáng, xe đến chỗ giấu, lại phải hạ 12-13 phuy xăng trên xe xuống phân tán cất giấu ở các hốc đá, ngách đất, bên bìa rừng và ngụy trang chu đáo cho xe và hàng, mới yên tâm nghỉ ngơi, chợp mắt, thư giãn được. Trong lúc mơ màng, tôi bỗng nghe có tiếng quát tháo ầm ĩ từ mấy chiếc xe giấu ngoài bìa rừng:

- Đoàn xe nào đây? Ai lái xe này? Ai chỉ huy?

Chỉ nghe tiếng quát tháo, không nghe tiếng trả lời đáp lại. Chắc anh em mình sợ nên không dám lên tiếng chăng? Tôi nghĩ vậy và nhỏm dậy nhìn về phía có tiếng quát. Đúng là ông Đinh Đức Thiện1 - Cục trưởng Cục Vận tải rồi. Ông đang đi về phía tôi, vừa đi vừa quát:

- Chúng nó đâu cả rồi, dậy ngụy trang lại mau hay để máy bay đến ném bom đốt trụi cả khu rừng này?

Chuyến này đến lượt đơn vị mình “ăn kỷ luật” đây. Tôi thầm nghĩ và tìm cách chống đỡ. Ông đi thẳng đến trước mặt tôi hỏi:

- Ai lái xe này?

Với cặp mắt ngờ ngợ nhìn tôi (chắc ông nhớ lại đã gặp tôi khi tôi về nhận công tác ở Cục Vận tải, hồi tháng 5-1950 chăng?).

Tôi trả lời ông:

- Báo cáo, tôi lái xe này ạ!

Ông có vẻ giận dữ, cau có nhìn tôi:

- Tinh thần yêu xe như con, quý xăng như máu để đâu mà ngụy trang xe thế này à? Đi từ xa đã nhìn rõ cả mấy bánh xe.

Tôi bình tĩnh chống chế:

- Máy bay trên trời nhìn xuống thì thấy thế nào được cả bánh xe như đồng chí đi bộ từ ngoài nhìn thẳng vào ạ.

Tôi tưởng lý lẽ của mình được ông chấp nhận, nhưng không ngờ lại làm ông giận dữ thêm, bực tức thêm. Ông quát tiếp:

- Lại còn cãi à! Có đi ngụy trang lại ngay không hay muốn ăn kỷ luật? Ai chỉ huy đơn vị này thì bảo nó đúng 13 giờ 30 phút chiều nay vào binh trạm, kiểm điểm và nhận kỷ luật.

Ông nói xong rồi bực bội bỏ đi ngay, khiến tôi không kịp báo cáo giải trình gì thêm nữa. Tôi biết ông từ hôm đầu tiên về Cục nhận công tác! Tính tình ông nóng nảy thế thôi nhưng ông là một cán bộ chỉ huy có trách nhiệm. Ông nhắc nhở như vậy là đúng, không thể ngụy trang sơ sài coi thường máy bay địch được.

Tiếng quát tháo ầm ĩ đã khiến anh em lái phụ xe của đơn vị cũng đã tỉnh dậy và chứng kiến cuộc đối thoại ngắn ngủi căng thẳng giữa tôi với ông - người vốn nổi tiếng nóng như lửa mà hầu hết lái xe đều biết đến...
_______________________________________
1. Sau này đồng chí là Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách hậu cần, kỹ thuật và công nghiệp quốc phòng. Mất 1987.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:29:34 pm

Mọi người tự động đi ngụy trang lại xe, hàng. Cả đơn vị ái ngại cho tôi về việc chiều nay phải vào binh trạm, kiểm điểm và nhận kỷ luật.

Anh em đều đồng thanh:

- Nếu có kỷ luật thì chúng tôi cùng chịu.

Tôi vô cùng cảm động. Tình nghĩa đồng chí, đồng đội ngọt bùi, đắng cay cùng chia sẻ, thật ấm cúng và thiêng liêng! Tôi là chỉ huy đơn vị, nếu có khuyết điểm đến mức phải kỷ luật thì tôi sẵn sàng gánh chịu... Nghĩ vậy, tôi gật đầu thầm cảm ơn anh em rồi nhắc nhở mọi người lần sau phải cất giấu, ngụy trang xe và xăng chu đáo hơn.

Buổi chiều, cả đơn vị vừa tranh thủ kiểm tra sửa chữa xe chuẩn bị để tối đi tiếp, vừa bồn chồn chờ đợi tôi vào binh trạm để kiểm điểm, nhận kỷ luật.

Đúng 13 giờ 30 phút, tôi vào đến binh trạm bộ. Lúc này, tôi được biết thêm, đồng chí Cục trưởng và một số cán bộ của Cục đi kiểm tra công tác trên toàn tuyến, hôm nay đến tuyến binh trạm này. Cán bộ hậu cần, cán bộ vận tải các đơn vị đều về dự họp đông đủ. Chiều nay, đơn vị mình sẽ được “bêu danh” giữa chốn “ba quân” này đây! Tôi nghĩ vậy và lặng lẽ đi vào phòng họp. Không ngờ, vừa nhìn thấy tôi, ông lại quát tiếp:

- Cán bộ chỉ huy đâu mà lái xe phải đi họp thay?

- Báo cáo: Tôi là chỉ huy đơn vị vận tải mà sáng nay đồng chí đến kiểm tra đấy ạ!

Ông bị bất ngờ về câu trả lời trên, hỏi lại:

- Đồng chí là lái xe cơ mà?

- Vâng, vì chiều qua khi đoàn xe chuẩn bị lên đường thì nhận được thông báo đồng chí nào là chiến sĩ thi đua năm 1953 thì quay về Cục dự họp tổng kết. Vì đơn vị không có lái xe dự bị, nên tôi phải trực tiếp lái thay xe cho đồng chí chiến sĩ thi đua được về Cục họp ạ!

Ông nhìn kỹ tôi một lần nữa và hỏi:

- Ai để các đồng chí đói mà gầy gò, hốc hác, xanh xao thế này?

Nghe giọng nói và cử chỉ lúc này của ông, tôi biết ông đang xúc động. Thái độ ân cần của ông lúc này khác hẳn với sáng nay, khi ông đến kiểm tra đơn vị. Tôi trình bày:

- Báo cáo! Chúng tôi đã thức suốt đêm trên đường hàng tháng nay rồi. Ban đêm thì căng thẳng vì đường đèo dốc chật hẹp khó đi, trên trời thì máy bay địch thường xuyên gầm rú, lùng sục, mà đáng lo nhất là đơn vị chúng tôi chở xăng, nếu một xe nào trúng đạn thì có thể cháy cả đoàn xe. Ban ngày thì chỉ chợp mắt được một lúc lại dậy chuẩn bị tối đi tiếp, vả lại máy bay cứ vè vè trên đầu, nằm không yên, nên cả đơn vị vừa căng thẳng mệt mỏi, vừa thiếu ngủ hàng tháng nay ạ!

Ý kiến trình bày của tôi đã làm cho ông trầm hẳn đi, khuôn mặt lúc giãn ra lúc nhíu lại. Vốn tính tình nóng nảy mà lúc này ông chỉ ngồi yên nghe tôi báo cáo. Nghe xong, ông không còn nóng giận như hồi sáng mà chỉ ân cần dặn dò tôi phải chăm sóc sức khỏe anh em, chiến dịch còn dài ngày, nên nhắc nhở anh em phải ngụy trang xe và hàng chu đáo. Nói rồi ông lệnh cho chỉ huy binh trạm bắt con lợn to nhất trong chuồng, cho người khiêng ra đơn vị để bồi dưỡng cho anh em lái phụ xe.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:29:58 pm

Tôi thật sự ngạc nhiên và bất ngờ trước cử chỉ tình nghĩa đó của ông. Sáng nay, ông còn giận dữ quát tháo ầm ĩ mà bây giờ lại nhẹ nhàng bảo ban tôi và còn ra lệnh cho binh trạm bồi dưỡng cho đơn vị chúng tôi cả con lợn to nhất trong chuồng.

Một chỉ huy cấp trên thật đáng trân trọng, đối với công việc thì dứt khoát, nghiêm túc nhưng đối với quan hệ cấp trên - cấp dưới thì nhân ái, nghĩa tình.

Tôi vừa đi vừa miên man suy nghĩ cho đến khi về tới đơn vị. Lúc này, anh em đang chuẩn bị xe mà lòng thì sốt ruột đợi tôi đi họp về. Từ xa, đã nhìn thấy hai người khiêng một con lợn khá nặng đang vất vả đi sau tôi.

Chuyện gì lạ thế này? Cả đơn vị xì xào bàn tán về việc tôi vào binh trạm nhận kỷ luật mà sao bây giờ lại thấy tôi đi họp về có cả người khiêng lợn đi theo tôi? Anh em chạy lại vây quanh tôi và hồi hộp chờ đợi. Tôi thông báo:

- Chúng ta nhận “kỷ luật” con lợn.

Mọi người chưa hết ngạc nhiên, tôi nói tiếp:

- Giao cho các đồng chí quản lý, anh nuôi “kỷ luật” con lợn ngay chiều nay. Ai chuẩn bị xong xe rồi thì đến giúp anh nuôi một tay. Bây giờ đã 15 giờ 30 phút rồi, cần khẩn trương xử lý con lợn xong trước 17 giờ để còn kịp lên đường đi tiếp vào tuyến trước.

Ôi! Thật bất ngờ, cả đơn vị reo lên sung sướng. Tôi nhắc nhở và uốn nắn đôi lời:

- Này! Đừng có tưởng là cứ ngụy trang sơ sài để được nhận kỷ luật con lợn nữa đâu, đến lúc đó là kỷ luật con người đấy!

Có tiếng nói to đáp lại:

- Vâng! Lần sau chúng tôi ngụy trang tốt hơn để được nhận kỷ luật con lợn to hơn ạ!

Cả đơn vị cười xòa vui vẻ, mỗi người một việc khẩn trương chuẩn bị để tối lên đường vào tuyến trước.

Thế rồi, cuộc liên hoan chiều hôm ấy của đơn vị, với gần hai chục người - vừa chớp nhoáng, vừa bất ngờ. Tuy không có chuyện cụng ly cụng cốc và lẩu lung như ngày nay, chỉ có cá khô kho mặn, rau rừng như thường lệ và có thêm món thịt luộc với lòng lợn chấm nước muối, nhưng thật vô cùng xúc động, đầy ắp tình nghĩa đồng chí, đồng đội trên tuyến đường vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm ấy. Mãi mãi vẫn sâu lắng trong tôi!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Mười Một, 2016, 10:30:35 pm

Tiếng hò đẩy xe trên đèo Pha Đin

Vào một đêm giữa tháng 3 năm 1954, khi trung đội xe vận tải chúng tôi qua khỏi đỉnh đèo Pha Đin thì gặp ngay biển báo: “Ở phía trước còn có bom nổ chậm” và một cái ba-ri-e chắn ngang đường. Tình hình thật căng thẳng, bức xúc. Nếu chờ đợi thì biết bao giờ bom mới nổ và khi bom nổ rồi thì đường bị hỏng, cả đoàn xe ùn lại sẽ là mục tiêu đánh phá của không quân địch, hàng trên xe sẽ không chuyển kịp lên phía trước.

Lời dạy của Bác Hồ: “Yêu xe như con, quý xăng như máu” đã thành tình cảm rất thiêng liêng trong mỗi người chúng tôi. Không thể để “con mình” tổn thương, “máu mình bị chảy”. Thoáng nghĩ vậy, nên với trách nhiệm là trung đội trưởng, từ trên xe đi đầu, tôi liền nhảy xuống và chạy đến gặp đồng chí gác ba-ri-e để tìm cách thuyết phục. Ba-ri-e được mở ra, tôi liền ra hiệu cho các xe khẩn trương vượt qua. Đến xe cuối cùng thì đồng chí lái xe lúng túng đi trật vệt đường nên xe bị sa lầy. Tình huống thật nguy hiểm, thời gian đang nhích dần đến giờ nổ bom. Phải có cách gì giải quyết thật khẩn trương mới thoát nạn, mới bảo đảm an toàn cho xe và hàng chở trên xe.

Không thể chậm trễ được nữa, tôi liền chạy ngược lại chỗ chị em dân công đang bị chặn lại bên kia ba-ri-e để yêu cầu ứng cứu. Lập tức, hơn chục cô dân công lao thẳng ra, xúm vào đẩy xe. Thật hồn nhiên và vô tư, một câu hò được cất lên:

“Chúng em là gái gùi thồ (hò lơ)
Gặp anh (là anh) bộ đội (bộ đội Cụ Hồ) lái xe (hò dô ta này)”


Câu hò như tiếp thêm sức mạnh đẩy xe vượt lên được một vòng bánh xe. Lại một câu hò tiếp:

“Thương anh nguy hiểm chẳng nề (hò lơ)
Đánh xong (là xong) giặc Pháp, nhớ về (là về) thăm em (hò dô ta này)”.


Lập tức chiếc xe chồm lên vượt qua khỏi bãi lầy. Ôi! Sức mạnh ý chí, quyết tâm của tinh thần đoàn kết quân dân thật tuyệt vời làm sao! Tôi chỉ kịp nghĩ vậy, vội nói lời cám ơn và lời chào tạm biệt để cho xe tiếp tục lên đường. Đoàn xe rồ ga vượt ra khỏi khu vực nguy hiểm, các cô cũng nhanh chóng chạy ngược về chỗ cũ.

Đoàn xe vừa chạy được một đoạn thì bỗng nghe “ầm” một tiếng vang động cả núi rừng. May quá, hơn chục cô dân công cùng cả đoàn xe chúng tôi đều an toàn, thoát khỏi khu vực bom nổ để tiếp tục lên đường phục vụ chiến dịch.

*
*   *

Đến nay đã hơn 50 năm rồi mà lời hẹn ước “đánh xong giặc Pháp nhớ về thăm em” vẫn chưa thực hiện được, vì lúc đó quá vội, các anh không kịp hỏi họ tên, quê quán các em nên không biết để tìm về thăm các em năm ấy được. Còn bây giờ, chúng tôi đã qua độ tuổi “thất thập cổ lai hy” cả rồi, chỉ xin được cùng “các cụ” gợi nhớ lại tiếng hò đẩy xe trên đỉnh đèo Pha Đin năm ấy.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:53:55 pm

QUÂN LƯƠNG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
THANH ĐỒNG
CCB Tổng cục Cung cấp tiền phương

Năm 1953, chúng tôi là những cán bộ thuộc nhiều đơn vị như quân giới Liên khu Việt Bắc, quân giới Liên khu 4 và Trường Kỹ nghệ Liên khu 4 được tập trung về chỉnh quân tại Việt Bắc bên dòng sông Lô. Học xong, chúng tôi được tăng cường cho Tổng cục Cung cấp tiền phương phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Đoàn chúng tôi do đồng chí Hoàng Minh Các là Chỉ huy trưởng, đặt sở chỉ huy tại hang Bản Pán thuộc Châu Tuần Giáo (Mường Quai).

Đơn vị chúng tôi hành quân lên Điện Biên Phủ khá sớm, mục đích là làm công tác vận động nhân dân vùng mới giải phóng Tây Bắc đóng góp sức người, sức của tại chỗ để kịp thời có lương thực nuôi quân, chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Đồng bào Tây Bắc vừa được giải phóng cuối năm 1952, biệt kích và thổ phỉ vẫn còn lén lút hoạt động phá hoại, vì vậy chúng tôi phải chia từng phân đội, vũ trang tuyên truyền, cùng ăn ở với dân để vừa bảo đảm an toàn cho dân vừa làm tốt công tác huy động lương thực. Điều mà anh chị em chúng tôi không ngờ là chỉ trong một thời gian ngắn đã huy động được hàng nghìn tấn lương thực, hàng trăm tấn rau thịt, một khối lượng vật chất hậu cần tại chỗ thật đáng quý và trân trọng. Tinh thần ủng hộ lương thực cho bộ đội đánh giặc của đồng bào Tây Bắc đã động viên chúng tôi cố gắng nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, tập quán của bà con các dân tộc Tây Bắc là ăn gạo nếp, ăn đến đâu, giã tay đến đó, thậm chí dùng cối giã suối mỗi ngày vài cân nên bà con chỉ có thể đóng góp bằng thóc, vấn đề đặt ra là làm sao chuyển số thóc đó thành gạo trong thời gian ngắn nhất. Nhiều biện pháp đã được anh em đề ra. Một là, huy động cối và dân công giã tay ngày đêm. Hai là, phát hiện và huy động kịp thời anh em dân công Thanh Hóa, Vĩnh Yên có nghề đóng cối xay, tổ chức thành nhiều đoàn xay giã.

Ngoài ra, anh em chúng tôi còn nghĩ ra cối xay trâu vì là dân quân giới, nhân viên Trường Kỹ nghệ chẳng lẽ bó tay. Vậy là cối xay bằng sức trâu nhanh chóng được hình thành, nhờ đó mà năng suất tăng lên. Những hạt gạo nếp trắng ngần thơm phức đã được chuyển lên hỏa tuyến kịp thời cung cấp cho bộ đội. Không những thế, chúng tôi còn để lại cho đồng bào những chiếc cối xay lúa kiểu đồng bằng Bắc Bộ, cối xay trâu, v.v... những biện pháp kỹ thuật để tạo ra chúng.

Nhiều địa phương Tây Bắc đã cử người đến tiếp thu kỹ thuật. Gần một vạn tấn lúa huy động tại chỗ đã được chuyển thành gạo bằng nhiều biện pháp, nói lên sự cố gắng rất lớn của các đơn vị cung cấp tiền phương và anh chị em dân công, là những chiến công thầm lặng góp sức làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:56:33 pm

ĐỘI QUÂN PHÓ CỐI
Đại tá TRẦN THỊNH TẦN
Nguyên Cục trưởng Cục Chính trị Tổng cục Hậu cần
Trung đội trưởng Tổng cục Cung cấp tiền phương

Việc cung cấp kịp thời lương thực cho mặt trận Điện Biên Phủ giai đoạn đầu, Tiền phương Tổng cục Cung cấp chủ trương khai thác triệt để nguồn hậu cần tại chỗ của Tây Bắc gồm Sơn La, Lai Châu, Yên Bái. Tuy nhiên cũng có không ít băn khoăn trăn trở của lãnh đạo vì một lẽ: Tây Bắc là một vùng núi non hiểm trở, đất rộng người thưa kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp - mang tiếng có bốn vựa lúa lớn Thanh, Lộ, Than, Huy1, nhưng đồng bào vẫn đói nghèo. Một vùng đất vừa được giải phóng trong chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, chưa ổn định về nhiều mặt, bọn phỉ còn gây rối, liệu có đáp ứng được nguồn lương thực tại chỗ không?

Tuy vậy, Hội đồng cung cấp Sơn La, Lai Châu, Yên Bái vẫn mạnh dạn vận động đồng bào các dân tộc ủng hộ đóng góp công sức cùng bộ đội đánh Tây giải phóng Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc. Theo con số thống kê được, đồng bào Tây Bắc đã đóng góp trên 10.000 tấn thóc nếp (tương đương trên 7.000 tấn gạo) và hàng trăm tấn thực phẩm, một con số đầy ý nghĩa ngoài dư liệu, đáng quý hơn nữa là số lương thực này được huy động tại chỗ, giảm đáng kể công vận chuyển từ xa tới. Một vấn đề khó khăn khác là: có lúa rồi làm sao có gạo để bảo đảm cho bộ đội sử dụng. Tập quán của đồng bào Tây Bắc, giã gạo tay ngày nào ăn ngày đó, năng suất lại rất thấp, mỗi lần giã chỉ một đến hai ký thóc, quả là nan giải. Vì vậy, Tiền phương Tổng cục Cung cấp quyết định thành lập “đội quân phó Cối” ngay tại chiến trường Điện Biên, giải quyết hàng nghìn tấn thóc nếp, thóc hương thành gạo.

“Đội quân phó Cối” được nhanh chóng tuyển mộ từ các tay phó cối trong các đơn vị bộ đội, đơn vị dân công, thậm chí điều từ hậu phương lên. Họ nhanh chóng vào rừng chặt tre bện dây làm áo cối, chẻ nan tre đóng nêm, dùng tre làm cần, tất cả nguyên liệu đóng chiếc cối xay toàn bằng tre. Thật tuyệt vời, cây tre Việt Nam không những chỉ làm vũ khí tầm vông, chông, nỏ, đánh giặc mà cả những chiếc cối xay lúa có năng suất cao.

Chẳng bao lâu hàng mấy trăm chiếc cối xay lúa đã được cung cấp cho các kho, các công trường xay giã, lúc đầu tỷ lệ gạo còn thấp nhưng rồi rút kinh nghiệm dần dần tỷ lệ thành gạo cao hơn. Tại các cơ sở vùng kho chứa thóc nơi có hàng chục chiếc cối xay âm thầm chuyển động, những hạt gạo nương chảy ào ào xuống nia, tiếng giã thập thình, tiếng dần, sàng sảy, hòa lẫn cùng lời hòa ca râm ran cả núi rừng, không khí thi đua sản xuất sôi động ngày cũng như đêm, động viên nhau bằng những câu hò: “Nhanh tay lên chị em ơi! Thêm một cân gạo diệt đời một Tây”, hay “Ra đi chỉ một lời thề, Điện Biên còn giặc chưa về quê hương” - tại các kho và điểm xay xát gạo không biết ai đó đã đặt tên cho nó là công trường diệt giặc ở Điện Biên Phủ. Lại tiếng gọi í ới, tiếng còi xe inh ỏi của mấy anh lái xe Mô-lô-tô-va hỏi đường để vào công trường nhận gạo, mỗi xe nhận được khoảng 1,5 tấn. Hàng ngàn tấn gạo nương Tây Bắc huy động tại chỗ đã được sản xuất ra trong bối cảnh như vậy.

Bà con các dân tộc ở quanh vùng đã kéo đến xem bộ đội sản xuất gạo, nhìn những chiếc “máy” bằng tre quay tít nhả ra những hạt gạo đã không tránh những hiếu kỳ và niềm vui xiết kể.

“Đội quân phó Cối” còn tranh thủ đóng thêm nhiều chiếc nữa, để tặng cho đồng bào, mà còn hướng dẫn cách đóng cối, cách sử dụng. Tiếng lành đồn xa nhiều bản làng kể cả bà con dân tộc Bắc Lào gần Điện Biên Phủ cũng đã tìm đến, được các anh “bộ đội phó Cối” tận tình chỉ vẽ làm cối xay bằng tre như mong muốn.

Đồng bào Tây Bắc cảm ơn anh bộ đội Cụ Hồ không chỉ giỏi đánh Tây, mà còn đưa kỹ thuật tiên tiến tốt hơn, giúp đồng bào biết cách cải thiện cuộc sống, khắc phục những tập quán lạc hậu.

Trong cuốn “Điện Biên Phủ” do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 1969, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Nhân dân ta lập được một kỳ công hoàn toàn ngoài sự ước lượng của địch; chúng ta đã bảo đảm việc cung cấp tiếp tế cho một lượng bộ đội lớn chiến đấu trên một mặt trận rất xa hậu phương, trong một thời gian dài, một việc mà quân địch cho là chúng ta không thể nào làm được trong chiến dịch Điện Biên Phủ”. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã đóng góp một lượng lương thực bằng khoảng 27% tổng nhu cầu lương thực toàn chiến dịch. “Đội quân phó Cối” đã cùng đồng bào Tây Bắc góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng lịch sử chấn động địa cầu của dân tộc ta.
___________________________________
1. Mường Thanh, Nghĩa Lộ, Than Uyên, Quang Huy.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 09:58:09 pm

KỂ CHUYỆN NUÔI QUÂN Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đại tá TRẦN THỊNH TẦN

Trong chiến dịch bao vây tiêu diệt địch ở mặt trận Điện Biên Phủ, con số trên 7.500 tấn gạo nếp nương của đồng bào các dân tộc Tây Bắc đóng góp nuôi quân được khai thác tại chỗ chiếm gần một phần ba nhu cầu lương thực của toàn chiến dịch. Thật đáng quý một con số đáng kể. Gạo nếp nương trắng ngần thơm phức chưa ăn đã thấy thèm - những hạt gạo được bảo đảm cho các đơn vị rất kịp thời ngay từ lúc đến Tây Bắc tham gia chiến dịch.

Nhìn thấy những hạt nếp nương trắng tròn và hương thơm quyến rũ, buổi ban đầu ai cũng háo hức, có cảm xúc như sắp có một lễ tết, vì chỉ có dịp ấy bộ đội mới được hưởng hương vị đặc trưng này.

Tuy nhiên, khi nồi cơm nếp Anh nuôi nấu lên, trong các bữa ăn tiếp theo thì không còn hấp dẫn với bộ đội kể cả các chàng trai háu đói nhất, vì ngán và nóng cổ. Bộ đội ăn không hết tiêu chuẩn, làm sao đảm bảo sức khỏe chiến đấu?

Nhân dân Tây Bắc có tập quán bao đời nay là trồng lúa nếp và ăn theo cách đồ xôi, phương tiện trang bị nồi nấu xôi khác hoàn toàn với trang bị cấp dưỡng của bộ đội, quả là một tình huống ngoài dự kiến. Để khắc phục những khó khăn về mặt này, nhằm bảo đảm sức khỏe cho bộ đội, Anh nuôi đã có một sáng kiến rất thông minh là cải tiến nồi nấu cơm thường sang nồi hông xôi. Việc cải tiến rất đơn giản, nồi có 3 bộ phận:

1. Nồi nấu cơm thường dùng.
2. Một cái rá bằng tre hơi thưa.
3. Lá chuối hoặc lá môn thục.

Cách sử dụng: nồi nấu cơm được bắc lên bếp, nước chế vừa đủ, cho vào nồi vào một cái đĩa để hạn chế độ sủi bọt khi nước sôi, đặt một cái rá đan hơi thưa để gạo không lọt, mà hơi thoát lên nhanh vành miệng rá sát miệng nồi mà không bị tụt xuống.

Gạo nếp vò sạch hoặc ngâm kỹ đổ vào rá, cắm vào vài chiếc đũa để tạo độ thoáng hơi khi gạo đổ cao lên khỏi mặt rá bắt đầu dùng lá chuối quây lại, gạo cao đến đâu quây lá chuối đến đó, càng dày càng tốt nhằm không để hơi thoát và giữ gạo thành khuôn. Lượng gạo vượt lên khỏi thành rá có thể cao từ 30 - 40 phân. Đổ gạo xong dùng lá chuối bịt kín lại và dùng một cái rá khác úp lên, làm sao cho đủ chặt để lá chuối khỏi bung ra, gạo nếp khi đã được nấu chín thường kết dính với nhau thành khuôn và không còn bung ra nữa. Sau khi xôi chín có thể tỡ ra, dùng quạt quạt cho bay hết hơi, hạt xôi se lại, tạo cảm giác ngon miệng, nhất là chấm với mắm kem hoặc muối mỡ thì không gì bằng. Với cách cải tiến này, đơn vị không còn lo lắng việc bộ đội ăn không hết tiêu chuẩn mà có khi còn thiếu.

Nhân dân Tây Bắc khi nhìn thấy nồi xôi to, một lúc chia cho hàng trăm người ăn, không khỏi ngạc nhiên, khen: Bộ đội Cụ Hồ giỏi thật, giỏi thật!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:01:28 pm

GHI CHÉP CỦA MỘT CHIẾN SĨ QUÂN Y
Đại tá GS TS Y khoa NGUYỄN ĐỊCH
Nguyên Đội trưởng Đội phẫu thuật lưu động Đại đoàn 316

Thế mà đã hơn 50 năm. Thật không ngờ!

Rừng núi Tây Bắc không lạ gì với đơn vị chúng tôi. Năm nào lại không đi về phía Tây Bắc hoặc Thượng Lào. (Vì Đông Bắc đã được giải phóng từ trước mà hướng đồng bằng thì chưa phải là quyết chiến điểm và cũng không dễ dàng giành thắng lợi trọn vẹn).

Lại lên đường đi chiến dịch, tất nhiên là bí mật. Không một lời kêu ca, phàn nàn. Thời đó, thời chiến sĩ thú vị thật, được hành quân là vui rồi. Một đêm đi lặng lẽ, lội trong bùn, mùi lá rụng bám chặt vào quần áo lẫn mồ hôi, rồi cũng đến điểm dừng chân khi trời sáng. Chà mấy ông tham mưu hay thật, đi cả đêm, khi nhìn lại chỉ loanh quanh ở một góc rừng; chỉ cách nhau độ vài nghìn mét; rồi cũng đến được địa điểm tập kết. Từ đường số 6, từ Thuận Châu đến đỉnh núi Long Hẹ, E Tòng, Tây Bắc, phải vượt qua một đèo cao, thời gian là từ sáng đến xế chiều, địa điểm mây mù và sương tỏa, dưới chân đèo núi là phỉ, chẳng biết ở đâu là chính xác. Việc đầu tiên là “nước” để đơn vị sinh hoạt và để sử dụng cho công tác chuyên môn; chỉ có thể căng tấm vải nhựa ni lông để hứng sương, hy vọng từ sương đêm đọng lại. Như thường lệ, mặt trời chưa xóa tan sương mù, tác phong của người phụ trách đơn vị là phải kiểm tra, dự kiến trong ngày phải làm gì để đảm bảo an toàn cho đơn vị sẵn sàng đối phó với phỉ.

Sáng hôm đó, nghe tiếng máy bay nặng nề từ phía đông đến, cứ 3 chiếc một nối nhau bay qua đỉnh núi Long Hẹ, E Tòng; cũng nhờ có kinh nghiệm đã từng thấy quân Pháp nhảy dù, cho nên đã kịp báo động với toàn đơn vị máy bay hướng về phía tây tây bắc. Và đã có lệnh gấp rút hành quân lên Lai Châu, ý định của cấp trên là phải đánh tan quân phỉ ở đó, để phỉ không liên lạc với lính nhảy dù của Pháp đã xuống vùng Tây Bắc. Được lệnh hành quân là chạy, chạy để kịp theo đơn vị đã đi trước, vừa chấn chỉnh đội hình, vừa chạy, vừa tổ chức huấn luyện cho 2 tiểu đội dân công được bổ sung; bất kể văn hóa, chỉ cần nghe được và nhắc lại cho người chạy tiếp theo đúng là đạt yêu cầu, cho nên trên đường hành quân có đôi khi phải nghĩ để kiểm tra các điều đã học theo cách truyền miệng. Thật lạ lùng, gần như tất cả đã đạt yêu cầu.

Bộ đội của ta đã gặp địch: tiểu đoàn thổ phỉ người Thái địa phương; trận đánh không khó khăn, ta không có thương vong mà còn bắt được chúng, trong số đó có một trung úy người Pháp chính cống. Cả đơn vị không ai muốn tiếp xúc với tù binh. Bất đắc dĩ, tôi phải hỏi cung. Tỏ vẻ sợ sệt thật sự, hắn ta trả lời rành mạch và luôn nhắc nhở lại là mới đến Việt Nam được 6 tháng, và mới nhận chức tiểu đoàn phó tiểu đoàn phỉ được 1 tháng, chưa chĩa súng vào một ai, xin ông lưu ý cho. Hắn chỉ có một thắc mắc “cán bộ là gì?”. Sau khi giải thích cho hắn hiểu mọi vấn đề về chính sách hàng tù binh. Hắn hỏi: “Tôi có được coi là hàng binh không?”. Tôi đã cười và nói với hắn ta: “Anh là người đã có chứng chỉ hai năm Đại học Luật mà không biết được tù và hàng binh khác nhau ư?”. Hắn òa khóc, và tự thú nhận không hề biết gì về quân đội Pháp đến Việt Nam.

Tôi kể lại cho anh em chiến sĩ trong đơn vị, cũng để động viên; tinh thần phỉ bạc nhược đến thế, thì phỉ chỉ là một ô hợp. Chắc chắn chỉ nghe tiếng ho của chúng ta thì nó đã tan rã. Và nghe tiếng AK là đầu hàng. Đêm đến, trên đỉnh đèo Claveau nhìn xuống Lai Châu mờ mịt, trời lại quá rét, bộ đội tản ra và điều bất ngờ là cứ mỗi tiểu đội lại nổi lửa để sưởi ấm. “Dấu hiệu khinh địch”, ngay lập tức một vài quả cối 60 ly, từ dưới chân đèo đã thức tỉnh các đơn vị chỉ huy. Mờ sáng đã có tin, khi truy kích phỉ vượt sông có tổ ba người đã bị nước cuốn trôi mất tích; ngay sau đó một tổ du kích địa phương đã cho biết chỉ cách phía trên một ghềnh đá, nước chỉ sâu đến thắt lưng có thể lội qua được; cả đơn vị sững sờ, các chỉ huy đơn vị lặng lẽ, không khí đơn vị như chùng xuống. Ngay sau đó một bộ phận tiền tiêu đã bắt dược toán phỉ chủ lực, nhưng không có vua phỉ. Chưa kịp nghỉ, nắm cơm vắt đã có mùi thiu, nhưng lại chạy theo đường tắt về Điện Biên Phủ. Từ đó không còn tên chiến dịch Trần Đình như trước khi hành quân, và cũng chẳng biết là chiến dịch gì? Vì đơn vị tôi phụ trách là một đơn vị quá bé nhỏ, chỉ là một đội phẫu thuật lưu động, cho nên theo lệnh trên là cứ chạy về hướng đã được chỉ dẫn.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:02:00 pm

Một cách thực hiện nhiệm vụ, suy nghĩ của người lính trẻ thời đó như chúng tôi chỉ đơn giản là chấp hành mệnh lệnh, và vui vẻ khi thực hiện mệnh lệnh. Trên đường hành quân về phía Điện Biên Phủ thì được tin: Ở một trận tao ngộ chiến với Lê dương tiền tiêu của Pháp nống ra để dò tin bộ đội ta; ta lại là một toán trinh sát thiện chiến, cho nên chỉ trong vòng mười lăm, hai mươi phút lính Lê dương đã rút, sau khi được không quân Pháp thả một vài trái bom chặn đường truy kích. Ta cũng bị thương vong do bom na-pan.

Và trong trận đó xuất hiện anh hùng Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng... Giữa đồi núi tan hoang, xơ xác, chúng tôi lặng lẽ đi không hề suy nghĩ, chỉ tâm niệm: “Chiến dịch sắp đến là ác liệt và quan trọng (thời gian do chưa được phổ biến là chiến dịch Điện Biên Phủ). Chỉ một thời gian sau, được tin có nhiều đại đoàn cùng tiến lên hướng Tây Bắc, anh em trong đơn vị vui mừng vì không còn cô đơn như những năm trước. Dân công, xe thồ, lại có xe ô tô tải lớn; vui mừng nhất là đơn vị đi lấy gạo về gặp được cả súng đại bác, súng bắn tàu bay; có đồng chí đã ngây ngất kể lại là: được sờ, vuốt ve cả cái nòng súng to và dài, láng bóng... Chỉ một tin đơn giản vậy mà cả đơn vị cứ bàn tán mãi.

Nghĩ lại cuộc đời chiến sĩ lúc đó, hạnh phúc chỉ là chuyện ta đã có vũ khí mới, súng to và màu sắc láng bóng đã được anh em đem theo vào giấc ngủ, quên cả mệt nhọc và gian khổ trong những ngày qua. Sự lạc quan của đồng chí chỉ huy lại còn ấn tượng, khi phổ biến nhiệm vụ chiến đấu, mục đích của trận đánh chỉ nghe toàn chuyện so sánh ta có bao nhiêu súng lớn, địch có bao nhiêu súng, cứ kể miên man và cười rất to. Trận đánh này chắc thắng mà còn lại thắng rất nhanh, toàn đơn vị cũng cười theo số liệu so sánh về số súng giữa ta và địch.

Bây giờ nhớ lại, anh em ai cũng cười và tự hỏi tại sao ta lại giản đơn đến mức ấu trĩ! Sự tin tưởng tuyệt đối vào cấp trên đã tạo nên sức mạnh cho đơn vị nhỏ bé chúng ta và có lẽ của toàn quân đang trên đường tìm địch mà đánh, tất nhiên là sẽ thắng lợi. Đang nằm thao thức chờ tiếng súng mở màn chiến dịch, thì từ phía đông bắc, thấy các tia lửa, xen lẫn tiếng đại bác của ta, đơn vị không còn bàn tán mà tất cả đã tự động vào vị trí công tác đã được phân công từ trước. Cứ như thế suốt thời gian chiến dịch cho đến lúc nhìn thấy lá cờ trắng quân đội Pháp đầu hàng.

Cho đến bây giờ mấy chục năm sau, tôi vẫn nhớ như in khuôn mặt của các thương binh nặng, mà khả năng sống rất mỏng manh, cứ chiều đến là chuyển về tuyến sau. Lại một nỗi buồn thoáng qua, vì biết rằng trong số đó sẽ có người không còn gặp lại gia đình, quê hương. Một buổi chiều sau nhiều ca mổ khó vất vả, có người ngồi trên bờ giao thông hào, nhìn thấy một tiểu đội quân ta, đi giữa đội hình là một giặc lái, còn mang nguyên trang bị của một phi công. Tôi bất ngờ xổ một tràng tiếng Pháp, đại ý là “đồ quân cướp nước, loại giặc lái này sang đây làm gì?” Anh em chiến sĩ ta cũng bất ngờ, là có chiến sĩ lại nói được tiếng Pháp.

Tên giặc lái càng ngạc nhiên, hắn chỉ xin được uống nước; các chiến sĩ dẫn tên tù binh cũng nhân dịp ngồi nghỉ và cho biết tên giặc lái khá kiêu ngạo. Tôi đã quay lại nói cho hắn ta là tù binh lại là phi công chiến đấu, là từ trên trời cao, cứ bom mà thả, cứ đại liên mà bắn, không phân biệt đâu là thường dân; anh nên nhớ ném bom bắn phá vào thường dân là một việc vô nhân đạo, anh không biết hay sao? Tên giặc lái chỉ cúi đầu, từ đó trở đi không dám nhìn vào các chiến sĩ của ta. Bắt được tên giặc lái là một chuyện và do vòng vây của quân ta khá chặt nên bọn chúng không dám bay thấp để thả dù, sân bay lại bị đại bác ta cày xới, nên dù tiếp tế cho bọn Pháp cứ bay theo hướng gió, do đó, chúng tôi lại được bổ sung cả thuốc điều trị cho anh em bị thương, đặc biệt là các loại máu khô (plasma sec), có cả áo khoác trong phẫu thuật của quân đội Mỹ viện trợ. Thật thú vị, vì biết được quân Pháp phải nhờ đến viện trợ từ cái áo blouse, thế có nghĩa là hậu cần của chúng cũng đã gần hết hơi. Đặc biệt đêm đến, một bộ phận lính ta đi kiếm dù lạc của Pháp, có cả bánh kẹo nhưng vui nhất là vớ được đạn đại bác 105 ly. Nếu ngày hôm sau nghe nhiều tiếng đại bác của ta, chắc hẳn là đại bác Mỹ viện trợ, ta lại trả cho Pháp. Tuy vậy, chiến dịch vẫn còn kéo dài, và mùa mưa đã đến, ta gặp khó khăn về thực phẩm, đặc biệt anh em bị thương nặng mà chưa được chuyển về phía sau. Có đồng chí y tá được phân công lên đồng bào Mèo trên rẻo cao để mua rau, có đồng chí được phân công bí mật đi về phía biên giới gần đất nước bạn để mua thực phẩm, loại thực phẩm bí mật là thịt “mộc tồn” với yêu cầu bí mật với dân nước bạn, bí mật với địch. Việc đi tìm “mộc tồn”, cũng có nhiều điều thú vị: có người phải nói là đơn vị đóng trong rừng quá nhiều chuột nên phải loại này mới giữ được cả kho thực phẩm “gạo, cá, thịt”.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:02:37 pm

Thời gian chiến dịch chẳng có ai đếm ngày đếm tháng. Đơn vị chúng tôi, một đơn vị phẫu thuật lưu động đã chuyển quân ba lần vòng quanh lòng chảo Điện Biên. Từ khi bắt đầu truy kích phỉ đến giải phóng Lai Châu và quay lại cùng đại quân bao vây Mường Thanh, hỗ trợ cho Quân y Đại đoàn 316; khi trận đánh tạm lắng lại được điều về Hồng Cúm để tăng cường cho Quân y Đại đoàn 304. Sau đó lại được ở với Quân y Đại đoàn 308 ở phía bên kia Bản Kéo. Khi chuẩn bị đánh quân Pháp có khả năng chạy về phía Thượng Lào thì lại được bố trí chuẩn bị cho truy kích. Cũng cần nói thêm, trong suốt thời gian đó chúng tôi được băng qua cánh đồng ba lần: đến bản Cò Mỵ để cấp cứu đồng bào bị bom, lần thứ hai lại quay về Cò Mỵ sát cứ điểm Hồng Cúm để cấp cứu cho thương binh vì khi đi trinh sát bị thương thì trời đã gần sáng không về kịp đơn vị. Khi vòng vây chúng ta thắt chặt thì lại điều về mũi chính diện phía sau của hai Đại đoàn 312 và 316 ở phía đông. Có lẽ cũng vì luôn thay đổi địa điểm trú quân và mỗi lần đến địa điểm mới dù đêm hay ngày đều phải làm đầy đủ các nhiệm vụ, trước tiên là đào hầm cho thương binh, đào hầm đạt yêu cầu cho phòng mổ chịu đựng được đại bác 105 ly. Do di chuyển nên cơ số thuốc không bao giờ đạt yêu cầu; sau khi phẫu thuật xong cho một số thương binh thì phải suy nghĩ, cân nhắc, số thuốc quá khiêm tốn đó nên ưu tiên cho thương binh nào. Cũng xin được nói, có thương binh sau khi phẫu thuật phải ở tư thế nửa nằm nửa ngồi theo quy định của chuyên môn thì tinh thần là chỗ dựa chính; tất cả các nhân viên đều phải thay nhau ngồi quay lưng lại cho thương binh dựa. Mặc dù trong tư thế nhân viên và thương binh nhìn về hai hướng khác nhau nhưng câu chuyện lại là một, hầu như nói đến chuyện quê hương, xóm làng, hậu phương; cho đến khi thương binh chuyển về tuyến sau, là một cuộc chia tay bịn rịn; có nhân viên còn đi theo thương binh mình đã phụ trách tiếp tục động viên an ủi, đến đêm mới trở về đơn vị.

Sau khi thắng lợi hoàn toàn, trên đường hành quân về đơn vị qua đồi A1, tôi thấy một khối bộc phá còn nguyên đặt bên trái chiếc xe tăng nòng pháo gục xuống; bất giác toàn thân tôi run lên, có thể cảm thấy từng thớ thịt và nghĩ đến đồng chí nào đã mang gói bộc phá đặt ở góc độ cần thiết để phá xe tăng, hiện đang ở đâu, hay đã lặng lẽ hy sinh vì khối bộc phá vẫn còn nguyên. Hình ảnh đó theo tôi mãi mãi cho đến bây giờ và khi thăm lại chiến trường xưa, đứng dưới phù điêu tạc tượng hình ảnh của chiến sĩ Điện Biên mà cứ nghĩ miên man. Thắng lợi chấn động địa cầu này thể hiện trí tuệ, truyền thống của cả dân tộc mấy nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, tôi được đi tham quan học tập ở một số nước. Khi sang Pháp, một bất ngờ đến với tôi là đã gặp và nói chuyện với một đại tá, nguyên là thiếu tá ở đơn vị Lê dương từng bị bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ. Ông ta đã nói: “Việt Nam thắng trận Điện Biên Phủ vì có sức mạnh của cả một dân tộc, lại có những đảng viên chân chính của Đảng Cộng sản Việt Nam, có cụ Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng thời, có cả một số lớn cán bộ chủ chốt đã làm tốt công tác hậu phương và công tác hậu cần”. Ông ta lại nói: “Thắng lợi của Việt Nam đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của các nước thuộc địa trên thế giới, góp phần làm thay đổi lịch sử thế giới”.

Ông ta hỏi tôi: “Là người Việt Nam, anh có vinh dự được làm người lính của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và có tham gia chiến dịch này không? Anh được tham gia vào Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không? Anh ta quay lại nói với người con trai là một thạc sĩ y khoa: “Muốn trưởng thành, có lẽ phải phấn đấu như những người cộng sản Việt Nam, có lòng yêu nhân dân như những người Việt Nam đã từng đấu tranh hàng trăm năm cho độc lập, tự do của đất nước”.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:06:14 pm

CẢ NHÀ ĐI CHIẾN DỊCH
Bác sĩ LÊ THÂN
Nguyên Quân y sĩ trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Sau chiến dịch Hoàng Hoa Thám, hai bệnh viện dã chiến: Phân viện 1 và Phân viện 2 sáp nhập thành Phân viện 12, đóng tại một khu rừng thuộc Bắc Giang, cạnh Cầu Gồ, Yên Thế. Tháng 1 năm 1954, có lệnh đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Không ai biết Điện Biên Phủ ở đâu, chỉ áng chừng là một nơi heo hút trên chiến trường Tây Bắc, tận Lai Châu sát biên giới Việt - Lào, nhưng quan trọng lắm. Nghe nói cả nước nô nức góp sức người sức của để đánh trận này. Đơn vị chúng tôi được lệnh tách đôi, những ai yếu sức hoặc vướng mắc gì thì ở lại bộ phận “tuyến sau” mang tên Quân y xá Trung Du, còn bộ phận “tuyến trước” chuẩn bị lên đường đi chiến dịch. Do phải chấn chỉnh tổ chức nên mọi người được “xả hơi” một thời gian. Ai cũng náo nức muốn đi phục vụ tiền tuyến, không ai muốn ở lại, trừ những trường hợp bất đắc dĩ.

Hai chúng tôi thuộc diện đặc biệt: khả năng chuyên môn đáng tin cậy, tinh thần đảng viên luôn xung phong đi đầu, nhưng ngặt nỗi vướng cháu bé gái chưa đầy hai năm tuổi... Số là vợ tôi Đỗ Hoàng Dung và tôi vốn cùng công tác trong một khu thương bệnh binh phục vụ chiến dịch Hoàng Hoa Thám. Vợ tôi làm Trưởng khu điều trị thương binh nặng bao gồm cả phòng mổ, còn tôi vừa làm chuyên môn vừa đảm trách Chính trị viên, thế là “phải lòng” nhau. Mọi người trong đơn vị cũng vun vào, cuối cùng là với một cặp nữa tương tự, đơn vị tổ chức một đám cưới tập thể, rồi sau đó một bé gái đầu tiên của hai chúng tôi ra đời. Các cô chú gọi cháu là Ti Ti, đó là tên mẹ cháu thêu trên yếm áo, cũng vì lẽ cháu bé “ti ti” duy nhất của toàn đơn vị.

Bây giờ đi chiến dịch Điện Biên Phủ! Hay là vợ tôi cùng con nhỏ ở lại tuyến sau? Nhưng chúng tôi đủ dũng khí, đủ quyết tâm đi tuyến trước cả bộ ba và được anh em rất ủng hộ. Mới đầu nghe như chuyện hài hước, nhưng sau một buổi bàn bạc, lãnh đạo và chỉ huy Phân viện chấp nhận cho bộ ba chúng tôi đi, nhưng phải viết “Quyết tâm thư”, cam đoan không để ảnh hưởng đến công tác. Thực ra điều này chỉ là hình thức để có thêm lý do ủng hộ, vì chúng tôi là những cán bộ quân y đầu tiên đã có kinh nghiệm phục vụ một số chiến dịch trước, lúc này quả là hiếm hoi và rất cần thiết.

Được chấp thuận, chúng tôi bán tất cả nhẫn cưới, đồng hồ đeo tay, vét hết tiền dành dụm mới mua được một chiếc xe đạp cà tàng ở Nhã Nam, không đèn, không “gác-đơ-bu”, nhưng có phanh và xăm lốp (vỏ, ruột) tốt, cột ghế mây cho bé Ti Ti ngồi và “thồ” tài sản lỉnh kỉnh của gia đình.

Sắp lên đường thì tôi lên cơn sốt rét liên tục hàng ngày, lo nhất là bị buộc ở lại, tôi tự điều trị bằng những liều ký ninh vàng (quinacrine) gấp rưỡi, gấp đôi liều quy định vì vậy mà da vàng khè. Ấy thế mà hết sốt hàng ngày lại sốt cách nhật, khi lên đường vẫn chưa cắt cơn... May sao ai cũng bận công việc chẳng có thì giờ để ý nên chúng tôi tránh được con mắt quan sát của mọi người, vì một khi đã ở trong đội ngũ của đơn vị hành quân thì khó có quyết định ở lại.

Lộ trình hành quân bí mật từng ngày, chỉ có lãnh đạo chỉ huy Phân viện mới được biết nơi sẽ đến mà cũng chỉ được biết từng chặng một. Chúng tôi lúc đầu cũng theo kịp đoàn nhưng sau đó phải tụt lại sau với bộ phận hậu cần, cốt là bám theo được đơn vị cho kịp đến nơi tập kết đã quy định.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:06:37 pm

Tuổi trẻ chúng tôi được đi phục vụ tuyến trước là vui mừng quá rồi, rất tin tưởng, lạc quan, chẳng lo nghĩ gì, “đời lính ta, đâu có giặc là ta cứ đi”, đi rồi sẽ biết, rồi sẽ đến! Các chặng đầu còn đi đường cái, đường tỉnh lộ rộng bằng phẳng nhưng phải đi đêm tránh máy bay, còn những chặng đường về sau toàn đi ven rừng, luồn rừng thì lại đi ban ngày, suốt đêm hoặc cả ngày hôm sau được nghỉ. Dù đi đêm hay đi ngày cũng chẳng sao, đáng quan tâm là lo cho cháu bé. Lúc đầu phân công, tôi là Chỉ huy trưởng, phụ trách lái xe thồ 2 ba lô, 2 bao gạo, một số đồ ăn thức uống, soong nồi lỉnh kỉnh và bé Ti Ti, vợ tôi là Chỉ huy phó hậu cần kiêm cấp dưỡng, y tá và chính trị viên. Bắt đầu hành quân, cháu được che kín tránh gió bụi, ấm áp, được cố định vào ghế ngồi cẩn thận vì đường xóc và lắc lư dễ buồn ngủ. Nhưng nào có được lâu, chưa quen nên chỉ một lúc chơi nghịch là ngủ, khi thức giấc là cháu đòi mẹ, đòi uống, đòi ăn, đòi đi vệ sinh... Cho nên bao giờ cũng phải chuẩn bị đầy đủ nước uống, thức ăn có sẵn là quả trứng luộc, củ khoai, nắm xôi, kẹo thì chỉ có kẹo bột, kẹo vừng hoặc miếng đường phèn (đường mía làm thủ công đổ thành bánh dầy 1 phân hoặc cắt thành từng miếng vuông, còn gọi là đường đen vì mang màu nâu sẫm). Rồi cho cháu đi vệ sinh, lau rửa. Xong nhiệm vụ, chỉ huy phó lại địu con trước ngực để đảm bảo an toàn rồi bước thấp bước cao, chống gậy dò dẫm từng bước mà đi. Cứ thế cháu hết ngồi xe với bố lại theo mẹ, thay phiên nhau suốt lộ trình. Đến chỗ nghỉ ngắn thì dùng khăn quàng đỡ lấy đầu cháu, treo lên một cành cây để cháu ngủ ngồi dễ dàng, còn đến nơi được nghỉ lâu thì mắc võng cho cháu ngủ, lúc đó hai bố mẹ cùng mệt, lăn ra ngủ theo trên nệm cỏ, thanh thản và ngon lành.

Từ Bắc Giang qua Phú Thọ rồi Yên Bái, chừng 2 tuần lễ, tôi lên sốt rét mỗi ngày một cơn, lại nuốt ký ninh vàng, khi lên cơn thì run bần bật, hết cơn lại đi, có khi đêm ngủ nhờ nhà dân. Vợ thấy tôi run quá, lo tôi bị sốt ác tính, cứ luôn phải gần bên, che cho tôi đỡ rét vì trời quá lạnh mà chăn thì mỏng, quần áo đâu ủ ấm! Nhiều lần, những người dân tốt bụng cứ kéo vợ tôi ra giường ngoài, sau vài lần như vậy mới nghe có người nói thẳng cho biết là: thấy tôi da vàng như nghệ chắc là bị “phạm phòng” nên khuyên hai vợ chồng không nên “nằm chung” mà phải kiêng... Hiểu ra, chúng tôi vừa xấu hổ vừa cảm động trước tấm lòng thiệt thà của bà con lo cho mình. Có biết đâu rằng tôi chỉ bị “phạm ký ninh vàng quá liều” chứ đâu dám “phạm phòng” khi đi hành quân, lòng nặng trĩu lo lắng đi tới đích vẹn toàn. Điện Biên là đâu? Còn xa không, 1 tháng hay 2 tháng nữa?...

Không như các đơn vị chiến đấu, Phân viện chúng tôi hành quân thật là lỉnh kỉnh, nào là phương tiện chuyên môn kỹ thuật, nào là hậu cần, cấp dưỡng,... tất cả đều phải ngụy trang để không ai nhận ra là đơn vị Quân y, do đó có người đoán là Đoàn Văn công vì thấy thấp thoáng có nữ, có người đoán là công binh vì loảng xoảng có cuốc, xẻng, hoặc xì xào “các anh chị nuôi” vì thấy nhiều nồi soong và chảo... không ai biết là một bệnh viện dã chiến vì từ trước tới nay có nghe nói đến bao giờ.

Cuối cùng cũng đến được nơi quy định hạ trại. Tình hình khẩn trương quá, chưa kịp nghỉ đã phải cấp tốc làm lán bằng tre nứa lợp lá để đón nhận thương binh từ hỏa tuyến về. Ai cũng có nhiệm vụ, khỏe thì vào rừng đốn gỗ, lấy tre, lấy nứa, còn thì chẻ nứa, đan phên, chẻ lạt, lợp mái... suốt ngày không nghỉ, thay nhau bữa ăn qua loa rồi lại ai vào việc nấy, quên mệt nhọc qua câu hò, tiếng hát, tiếng cười. Cháu bé lại thành “chính trị viên” qua lại động viên các cô chú từ tốp này sang tốp khác. Vừa tạm xong đã có lệnh chuyển địa điểm vì “bị lộ”. Hết rừng cọ, rồi rừng gì không biết, lệnh trên bảo chuyển là chuyển, có khi là lo bị lộ, có khi chỉ là kế nghi binh, để rèn luyện. Có lần đi suốt đêm, đến sáng lại quay về nơi xuất phát... Nhưng rồi cũng đến lúc phải ổn định vì thương binh về. Mặc dù công việc rối rít tít mù như thế, các đồng chí vẫn không quên dựng tạm một chiếc lán nhỏ bằng lá gồi cho ba người chúng tôi trú mưa tránh nắng. Thật là trên mức tưởng tượng, có ai ngờ trong hoàn cảnh như thế, chúng tôi cũng có được căn lều “hạnh phúc”! Không rõ có sự kỳ diệu nào mà từ đó cho đến hết chiến dịch (khoảng 2 tháng) tôi không lên cơn sốt nào nữa.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:07:02 pm

Mới đầu thương binh về còn lẻ tẻ, một số là bệnh binh sốt rét nặng, có đồng chí mê man đe dọa bị sốt rét ác tính. Vợ tôi phụ trách khu Khinh thương (thương binh nhẹ) và bệnh binh, còn tôi phụ trách khu trung và trọng thương gồm cả cấp cứu và phòng mổ. Sau này trong chiến tranh chống Mỹ, trình độ cán bộ chuyên môn cùng với trang thiết bị kỹ thuật khá hơn nhiều, chứ ở chiến dịch Điện Biên chúng tôi còn non yếu lắm. Phân viện chúng tôi có 3 người là Viện trưởng, Viện phó gọi là có tay nghề cao nhất thì bị hút chặt vào công việc mổ xẻ là chính. Hai chúng tôi thì đảm trách tất cả, một số sinh viên y và y sĩ, y tá khác, hoàn toàn còn bỡ ngỡ với những chiến thương, hầu như việc gì cũng “báo cáo” đến chúng tôi phải giải quyết. “Cờ đến tay phải phất” chứ thực ra hai chúng tôi đâu giỏi giang gì, đã tới nước này thì hoại thư, uốn ván, bó bột chi, rồi các trung, tiểu phẫu thuật, thắt mạch máu, cắt lọc phần mềm đều phải làm tuốt luột. Có mấy cuốn cẩm nang ngoại khoa mang theo vừa mở sách ra vừa làm. Khổ nỗi là trong mọi thủ thuật ngành y lớn, nhỏ đều phải có người phụ mổ. Phụ giỏi thì chính khỏe, phụ mà yếu thì chính càng khổ, mà lúc ấy lấy đâu ra phụ giỏi. Trong chiến dịch Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, thầy Tùng mổ, tôi được phụ hoặc gây mê, bây giờ tôi phải mổ chính và những sinh viên, y tá phải phụ. Đơn vị chúng tôi chỉ được phép giữ thương bệnh binh từ 10 đến 15 ngày, chủ yếu phải nhanh chóng trả về đơn vị chiến đấu, những trường hợp cần cấp cứu tại chỗ và có khả năng khỏi nhanh thì giữ lại, còn phải tổ chức đưa nhanh thương bệnh binh nặng, tàn phế về tuyến sau. Thu dung của toàn khu chuyên môn chỉ được 200 trường hợp. Không thể kể hết bao nỗi khó khăn thời đó, vì từ trang thiết bị đến trình độ nghề nghiệp và kinh nghiệm phục vụ chiến thương đều hạn chế mà một bệnh viện dã chiến như bệnh viện của chúng tôi, với những chiến sĩ quân y non trẻ, đã hoàn thành được nhiệm vụ. Đây cũng là một điều kỳ diệu mà đối phương không nào thể ngờ được.

Hai chúng tôi không kịp suy nghĩ và tính toán gì hết, chỉ biết lao vào việc, lúc chiến dịch sắp đến hồi kết thúc lại chính là lúc chúng tôi căng thẳng nhất, khoảng 1 tháng trời gần như ăn vội vàng, ngủ vội vàng, mặt mũi hốc hác, da vàng khè, vì uống “phòng” ký ninh vàng cố giữ không được lên cơn sốt lúc này, trên mặt chúng tôi chỉ thấy hai con mắt là điểm sáng. Mới đầu có lúc còn rảnh tay mươi phút thì cuống cuồng đi tìm con, hết lán này sang lán khác, có khi tìm hoài không thấy, đành phó mặc quay trở lại với đợt thương bệnh binh mới. Cả ngày không thấy mặt con, khi mệt quá cũng ngủ thiếp đi mươi lăm phút, ngủ rồi lại dậy làm việc, mệt quá lại ngủ, rồi cùng bị đánh thức vì lại có đợt thương bệnh binh mới về. Nhiều lần hai vợ chồng từ khu nọ qua khu kia tìm nhau, hỏi con đâu, thì cả hai đều cùng ngơ ngác không ai biết...

Một lần vợ tôi kể: sau hơn một ngày không gặp con, cũng không kịp lo nữa vì công việc với thương bệnh binh chiếm hết cả sức lực và tâm trí. Bất ngờ một tiếng gọi “mẹ”, vợ tôi quay lại thấy một chú thương binh đầu quấn băng, đang bế cháu. Mẹ con choàng lấy nhau, con bé vẫn hồng hào mạnh khỏe, miệng líu lo, còn chú thương binh thì hốc hác nhưng mắt sáng lên vì thấy hai mẹ con mừng gặp nhau. Chú ngượng nghịu xin lỗi vì một quyết định của các chú là đã chuyền tay chăm lo cháu từ lán này qua lán khác, giấu cháu đi không cho chúng tôi thấy; cốt sao cho bố mẹ cháu rảnh tay hơn. Các chú nghĩ đơn giản quá, không biết tâm lý bố mẹ cháu lo lắng thế nào, sau nghĩ lại mới bế cháu đi tìm bố mẹ. Vợ tôi mừng quá chẳng dám trách giận gì, còn cảm động vì tấm lòng của các chú và vẫn phải tươi cười trao lại cháu nhờ các chú, vì chẳng có cách nào khác. Con bé vẫn khỏe mạnh hồng hào vì phần ăn của mỗi thương bệnh binh là khẩu phần ưu tiên số 1, mỗi chú dành cho cháu một miếng, cháu đâu có thiếu. Thời kỳ ấy, lương thực chủ yếu chỉ là cơm nếp hoặc tẻ, súp, cháo thịt nạc đỗ xanh..., thức ăn có đủ thịt lợn, gà, bò hoặc trứng... cháu được nuôi dưỡng như đứa con chung của các chú thương bệnh binh.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:07:26 pm

Có một lần khiến mọi người lo lắng. Số là có một chú bệnh binh bị rối loạn thần kinh ôm cháu leo tít lên cây cả khu bổ đi tìm. Nghe tiếng khóc mới thấy hai chú cháu đang vắt vẻo trên một cành cây cao, vừa ru dỗ cháu nín. Mọi người xôn xao, có chú định leo lên dùng sức mạnh gỡ lấy cháu, nhưng xem ra cách ấy không ổn, sau cùng dùng phương pháp động viên dụ chú bệnh binh tự bế cháu cùng xuống. Cách này mất gần 2 tiếng đồng hồ chờ đợi nhưng đạt hiệu quả an toàn.

Vào thời kỳ cuối, chiến dịch đã toàn thắng, thương bệnh binh đã dần về hết tuyến sau, Ti Ti trở nên rất quen thuộc với các chú, lúc đó đã thu gọn lại chỉ còn mươi lán khoảng vài chục người cuối cùng. Vợ chồng chúng tôi đã có thời gian nghỉ ngơi và chăm nom cháu, nhưng vì đã quá quen nếp sống tập thể, các chú ngày nào cũng xin đón cháu vào sáng sớm trước giờ làm việc. Vợ tôi đành nghe theo, nhưng có sáng kiến làm một bảng nhỏ cắt bằng bìa cứng đeo vào cổ, đề rằng: “Xin các bác, các chú không cho bé ăn nhiều quá để giữ vệ sinh cho cháu”. Lúc đầu cháu thấy hay hay, đến đâu cũng khoe, nhưng tiếc thay chẳng mấy chốc mà tấm bảng đó bị rơi rụng nhanh chóng, cháu bé lại bị các chú nhồi căng bụng. Một lần chúng tôi dự liên hoan quanh đống lửa hồng cùng thương bệnh binh, thấy con mình đứng giữa, nó đứng lên ngồi xuống, bắt các chú thương binh làm theo, không làm theo không được, có chú còn mang nạng sao làm theo, đành phải co duỗi cái chân lành, cháu mới chịu. Vợ tôi mắng nó, các chú còn bênh. Chúng tôi xin lỗi các chú, nói lời chân thành biết ơn. Một chú thương binh đầu còn quấn băng, là một cán bộ đại đội, tuổi trạc chúng tôi (25 - 26), đứng lên nói:

“Anh chị đừng lo, không phải cám ơn gì cả vì chính chúng tôi phải cám ơn anh chị nhiều mới đúng. Không ai ngờ anh chị mang cả cháu bé mới 2 tuổi ra sát hỏa tuyến chăm lo cho thương bệnh binh, mà chính cháu lại làm công tác tư tưởng rất diệu kỳ động viên chúng tôi. Không ai ngờ rằng trong đạn bom ác liệt, mang vết thương phải lui về bệnh viện chữa trị lại được nghe tiếng con trẻ, lại được bồng cháu bé Ti Ti, con của đồng chí quân y đang chữa trị cho mình. Cháu đã được chuyền tay hết lán này qua lán khác, chúng tôi đã cảm động vô cùng khi biết rằng cháu bé cũng đi chiến dịch cùng cha mẹ, một trường hợp thật quá hy hữu. Có lẽ trên thế giới này, cuộc đánh trận của chúng ta có một không hai. Cháu Ti Ti có mặt ở đây cũng là một trường hợp có một không hai. Cháu ngoan lắm, rất ít khóc mà lại thường khiến chúng tôi cười, quên đau đớn, quên mọi thiếu thốn gian khổ, lại còn buộc chúng tôi phải luyện tập nữa chứ! Tôi không biết làm thơ nhưng cũng xin võ vẽ mấy câu:

Đôi mắt đen lay láy
Cái miệng cười tươi tươi
Các chú yêu cháu lắm
Cháu bé Ti Ti ơi…”


Hai chúng tôi rơi nước mắt trước chân tình ấy, không rõ giờ này chú thương binh ấy ở đâu, làm gì, có tình cờ đọc những dòng này không? Hay là đã hy sinh ở một chiến trường nào đó trong một cuộc chiến tranh dài dằng dặc mà cả dân tộc, cả đất nước ta phải gánh chịu trong 30 năm trời? Chú có biết cháu Ti Ti ngày ấy nay đã là một bác sĩ tuổi ngoại ngũ tuần, Trưởng một “la bô” trong một Viện Y học tầm cỡ lớn của đất nước:

"... Kháng chiến trường kỳ hai lần bão táp
Ba mươi năm chưa bạc mái đầu xanh
Lẽo đẽo cùng tôi lên thác xuống ghềnh
Sâu đăm đắm những bóng hình không phai lạt...”


Chưa xả hơi được bao lâu, Phân viện chúng tôi lại gấp gáp thu dọn, chuyển về nhận nhiệm vụ mới, lúc đó vào đầu tháng 8 năm 1954, hành quân ra Sơn Tây, xuôi về Thái Bình, đến đầu bờ nam cầu Hàm Rồng dựng trại, đón nhận thương bệnh binh miền Nam tập kết ra, từ Sầm Sơn ngược dòng sông Mã lên. Lần này hòa bình rồi, hai mẹ con ở lại làm tiếp nhiệm vụ một thời gian rồi được ưu tiên bám xe bộ đội, tiện ghé qua Hà Nội thăm nhà vài ngày sau khi Hà Nội vừa được tiếp quản. Mình tôi hành quân bộ theo đơn vị...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:09:41 pm

ĐỘI ĐIỀU TRỊ 6 Ở MẶT TRẬN ĐIỆN BIÊN
Trung tá BS NGÔ THỊ THÁI NGHIÊM
Thầy thuốc Ưu tú
Nguyên y tá Đội điều trị 6
Quân y tiền phương Điện Biên Phủ

Năm 1953, toàn quân “chỉnh quân chính trị” cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển mạnh sang giai đoạn phản công trên toàn quốc để giành thắng lợi quyết định.

Lúc này tôi đang công tác ở xưởng quân dược XF21 đóng tại Núi Rùm - Tuyên Quang, được Cục Quân y điều về Quân y viện 108 đóng tại Yên Trạch - Phú Ngữ - Thái Nguyên để tham gia “chỉnh quân chính trị” và học lớp y tá, chuẩn bị lực lượng phục vụ chiến dịch.

Tháng 10 năm 1953, học xong lớp y tá, tôi được bổ sung vào Đội điều trị 6 thuộc Quân y tiền phương, do bác sĩ Phan Thanh Trà làm đội trưởng phục vụ cho một chiến dịch lớn. Với tuổi 21 háo hức được lên đường ra tiền tuyến, tôi rất phấn khởi hăng say về đơn vị mới cùng với 5 đồng chí y tá cùng lớp mới ra trường là: Thái Hằng, Mai Tâm, Dịp, Oanh, Sửu.

Hành quân bộ từ Phú Ngữ - Thái Nguyên sang Chí Chủ, Phú Thọ đến Đội điều trị 6, đơn vị cũng mới có quyết định thành lập ngày 12 tháng 11 năm 1953.

Tập kết ở đây chuẩn bị gấp rút, chúng tôi học tập chính trị, nội quy các chính sách đối với Thương bệnh binh - Dân công - Dân vận - Địch vận - Tù hàng binh - Kỷ luật chiến trường và hạ quyết tâm lúc xuất quân.

Rèn luyện hành quân mang vác 30 kg trở lên cho mỗi người đi đường dài, thao diễn kỹ thuật chuyên môn, triển khai một bệnh viện dã chiến trong điều kiện vật chất hết sức thiếu thốn khó khăn, phải khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng cho như cầu của tiền tuyến để giành thắng lợi.

Cá nhân chuẩn bị quân tư trang được   5kg, còn dụng cụ chuyên môn tùy theo từng nhiệm vụ và lương thực thực phẩm cho đủ 30 kg mang vác hành quân đường dài 500 cây số. Đi kéo dài hàng tháng, vì mỗi đêm đi chỉ được 25 - 30km, ngày phải nghỉ để tránh máy bay địch oanh tạc.

Thời gian chuẩn bị hơn một tháng thì đơn vị tôi được lệnh hành quân lên Tây Bắc phục vụ chiến dịch Đông Xuân lấy tên là “chiến dịch Trần Đình”.

Đội điều trị 6 có 105 cán bộ, chiến sĩ, được lên đường sớm nhất, hành quân bộ, đêm đi ngày nghỉ.

Cuộc hành quân rất đông vui, nhất là các đêm trăng sáng, trùng trùng lớp lớp, người nối tiếp nhau ra tiền tuyến. Các đơn vị dân công hỏa tuyến, bộ đội các binh chủng gặp nhau hò hát ví von, chào hỏi hết sức thân thương, quên hết nhọc nhằn vất vả, hăng hái vượt lên tới đích.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:10:09 pm

Đến Sơn La, đơn vị phải tách làm hai bộ phận. Một bộ phận ở lại Sơn La triển khai công tác thu dung thương bệnh binh. Còn một bộ phận tiếp tục vượt đèo Pha Đin lên Tuần Giáo vào cây số 31 triển khai đón thương bệnh binh ở hỏa tuyến về. Tôi rất may được chọn tiếp tục đi ra phía trước.

Vượt qua đèo Pha Đin, không khí chiến dịch rất khẩn trương nhộn nhịp, bom đạn rền vang suốt ngày đêm, máy bay địch bay rợp trời tìm mục tiêu oanh tạc, và bay nhiều lần để tiếp tế cho quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.

Đến địa điểm mới chúng tôi khẩn trương xây dựng lán trại, chỉ sau 6 đến 10 tiếng đồng hồ là có thể thu dung được thương bệnh binh.

Tôi được phân công làm y tá điều trị, còn các đồng chí y tá khác cùng dân công tập trung lực lượng làm hộ lý chăm sóc thương bệnh binh, công tác này rất vất vả khó khăn. Một mình tôi phụ trách điều trị cho khu trọng thương khoảng 200 - 300 thương bệnh binh. Các lán trại nằm rải rác hai quả đồi dưới lùm cây ngõa.

Nhiệm vụ của đơn vị là: Đối với khinh thương thì điều trị tích cực để bổ sung quân số chiến đấu về các đơn vị tuyến trước. Đối với trung, trọng thương thì xử trí bước đầu, điều trị tạm ổn rồi đưa về tuyến sau.

Thường thương bệnh binh chuyển từ hỏa tuyến về có đêm hàng trăm đồng chí về ồ ạt sau các trận tiến công đợt 1, đợt 2. Chúng tôi phục vụ vô điều kiện không quản ngày đêm với tinh thần thương yêu đồng đội, thể hiện y đức của người lính quân y cách mạng.

Thương binh đủ các binh chủng, chủ yếu là ở các Đại đoàn chủ lực: 312, 308, 316 và một phần các binh chủng khác.

Chúng tôi phải chọn lọc, đăng ký, lấy quân số; nhiều lần phát hiện có 5 - 6 tên lính bảo hoàng do hai bên đánh giáp lá cà và do địch ném bom na-pan chúng bị bỏng, dân công chuyển thương về không biết ta hay địch.

Khi phát hiện là thương binh địch, chúng tôi xác định được ngay nhiệm vụ thực hiện chính sách tù hàng binh thể hiện lòng nhân đạo của nhân dân ta và y đức của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi giáo dục phổ biến nội quy chăm sóc thuốc men hộ lý như đối với các thương binh của ta. Một điều quan trọng là chúng tôi phải cách ly để bảo vệ bí mật. Nếu không làm tốt, để thương binh ta phát hiện, sẵn lòng căm thù giặc, anh em có thể có những hành động vi phạm chính sách tù hàng binh. Mọi kỷ luật của mặt trận phải chấp hành thật nghiêm. Hai tên tù binh Pháp bị thương chuyển đến trạm của chúng tôi với vết thương ngực thấu phổi đã được xử lý, thân hình gầy gò, vẻ mặt buồn bã và sợ sệt. Qua việc làm và thái độ của chúng tôi, họ cũng đỡ lo lắng, luôn miệng nở nụ cười “merci beaucoup” - cám ơn nhiều.

Những người bị thương của địch chỉ qua trạm của chúng tôi nằm điều trị 5 - 7 ngày rồi chuyển tiếp về phía sau.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:10:30 pm

Những ngày tháng phục vụ ở ngoài mặt trận thuốc men rất thiếu thốn. Đơn vị tôi phải khắc phục khó khăn trong điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, phải tự chế nước cất pha dung dịch truyền đẳng trương, chỉ dám truyền dưới da, thiếu ête để rửa vết thương có dòi bọ. Chúng tôi đã lấy nước cất pha Quinacrin vào để pha thành dung dịch rửa vết thương rất tốt.

Đội điều trị 6 được đồng chí Cục trưởng Vũ Văn Cẩn phân công phụ trách tuyến 3 của Quân y chiến dịch. Đơn vị được chia làm 3 cơ sở điều trị tại cây số 31 Tuần Giáo, Nà Cạn và Cò Nòi.

Trong chiến dịch, Đội thu dung và điều trị khoảng hơn 10.000 thương bệnh binh. Có lần trong vài ngày, đơn vị tôi tràn ngập thương bệnh binh, cả 3 cơ sở thu dung khoảng 23.000 thương bệnh binh, từ những đơn vị đánh đồi A1, C1 gửi về, không còn lán trại cho thương bệnh binh nằm. Toàn đơn vị phải nhường lán trại cho thương bệnh binh, tích cực giải quyết chỗ ăn nghỉ cho họ, không để anh em bị đói, bị rét.

Nhờ có tinh thần phục vụ tốt, Đội điều trị 6 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba ngay tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Sau ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta giành thắng lợi hoàn toàn. Đơn vị chúng tôi tiếp tục đón thương bệnh binh điều trị và chuyển về hậu phương. Tôi là y tá điều trị thương binh vừa và nặng về tuyến sau với 100 thương binh kéo theo 1.000 dân công phục vụ. Một tổ 10 người thay nhau cáng bộ 1 thương binh về tới Yên Bái để gửi về các bệnh viện Quân y 4, Viện 6, Viện 9.

Hai tháng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đơn vị tôi mới chính thức hoàn thành nhiệm vụ. Đơn vị rút về hậu phương nhận nhiệm vụ mới, phục vụ trao trả tù hàng binh ta và địch tại Hải Thôn - Sầm Sơn - Thanh Hóa. Chúng tôi được Bác Hồ khen, tặng quà mừng chiến thắng, được nhận kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ, tổ chức liên hoan thịt hộp do Trung Quốc viện trợ.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ để lại dấu ấn sâu sắc cùng những kỷ niệm đẹp thời tuổi trẻ, trong cuộc đời binh nghiệp của tôi rất nhiều kỷ niệm. Tôi đã phục vụ quân đội liên tục 41 năm. Đến năm 1990, tôi được nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, bác sĩ, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú.

Chồng tôi là bác sĩ quân y Nguyễn Văn Nghiễn cùng đơn vị, cũng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Anh đã hy sinh ngày 13 tháng 2 năm 1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi rất tự hào vì gia đình mình đã đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Hơn 50 năm về trước, trong những ngày đêm gian khổ “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt” ở miền Tây Bắc xa xôi, tôi không dám nghĩ rằng mình còn sống đến hôm nay. Từ chiến thắng Điện Biên “chấn động địa cầu”, đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển mạnh mẽ, phồn vinh như ngày hôm nay, đó là điều hạnh phúc vô cùng lớn lao.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:12:12 pm

ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ KHÓA SINH VIÊN Y50
GS TSKH NGUYỄN MẠNH LIÊN
Nguyên Chủ nhiệm Quân y tiền phương Trung đoàn 77

Từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Giáo sư Hồ Đắc Di và Giáo sư Tôn Thất Tùng đã di chuyển trường Đại học Y Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, nhiều khóa sinh viên đã tiếp tục học tập. Nhưng tới ngày 1 tháng 5 năm 1950, khóa Y15 hay còn gọi là khóa Y50, mới được tập trung, 40 sinh viên đã tốt ngiệp trung học chuyên khoa, về học năm thứ nhất để đào tạo cán bộ cho tương lai kết hợp với phục vụ kháng chiến. Cả lớp được học một chương trình đặc biệt về xử lý các vết thương chiến tranh, dự phòng điều trị sốt rét và các bệnh nội khoa thông thường.

Ngày 1 tháng 1 năm 1951, tất cả nhập ngũ thành sinh viên y, 10 người theo đội điều trị, 5 người “ra mặt trận” Hồng Quảng, đường số 18, số còn lại được phân công vào các bệnh viện và đội điều trị quân đội.

Với phương châm học kết hợp với hành, nhà trường gắn với chiến trường, đến tháng 10 năm 1952, cả lớp lên đường phục vụ chiến dịch Tây Bắc.

Khi chiến dịch Trần Đình (bí danh Điện Biên Phủ trong chiến dịch) bắt đầu mở, trung đoàn chúng tôi được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ. Trung đoàn trưởng Văn Giáo chỉ thị cho tôi làm nhiệm vụ Ban Quân y tiền phương của trung đcàn.

Chúng tôi vượt sông, tiến lên Sơn La, đi Lai Châu, trên những con đường rộng còn tươi màu đất mới. Trên đường rầm rập bộ đội, dân quân và xe ô tô kéo pháo. Một cảm xúc mãnh liệt đến với chúng tôi, vì từ nhiều năm nay ở Việt Bắc chỉ nhìn thấy những con đường cái lớn được cắt ngang bằng những con hào, để ngăn xe cơ giới của địch, mà nay chúng ta lại được làm chủ những con đường cái lớn thế này.

Nhưng khi tới ngã ba Cò Nòi, nơi gặp nhau của những trục đường từ hậu phương tới, và từ đó một con đường độc đạo dẫn đến Điện Biên Phủ, phải qua đèo Pha Đin cao hơn 1.000 mét và dài trên 30km thì đã thấy chiến tranh thật sự. Hàng ngày các loại máy bay của địch quần thảo tại đây: máy bay B-26, máy bay khu trục hải quân và cả những chiếc C.119 to đùng. Chúng thả xuống đoạn đường này hàng trăm quả bom các cỡ, bao gồm bom phá, bom nổ chậm và cả bom bươm bướm - một loại bom mẹ khi nổ sẽ tung ra nhiều quả bom con mắc vào cành cây và rải rác khắp nơi. Nhiều đoạn đường mới mở đã biến đi dưới hố bom, các đồi xung quanh chỉ còn màu đất đỏ. Công binh và dân quân phải sửa đường cho xe pháo. Nguy cơ rình rập khi đào bới bom nổ chậm và khi lấy sào gậy khua và cả ném đá để kích thích bom bươm bướm.

Trung đoàn 77 được lệnh tạm dừng tại đây, để cùng với công binh sửa đường. Tôi hướng dẫn lại cho quân y các tiểu đoàn về các bài huấn luyện cho bộ đội tự cứu và tập cứu trong các tình huống bị đá đè gãy chi, và nhất là bị sức ép khi bom nổ. Chiều đến, bộ đội ra mặt đường, tổ quân y trung đoàn với túi thuốc cấp cứu và bó nẹp trên vai, vừa đi vừa chạy dọc theo tuyến đường để cứu chữa cho thương binh tới sáng ngày sau. Cuối tháng 3, sau chiến thắng Him Lam, đồi Độc Lập và Bản Kéo, Trung đoàn được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:12:40 pm

Trong những ngày chiến dịch, khoảng 20 sinh viên khóa 50 đã có mặt ở Điện Biên Phủ: sinh viên Nguyễn Quang Long ở đội điều trị 10 ở Đại đoàn công pháo 351, Phan Chúc Lâm và Tạ Long ở Đại đoàn 308, Đoàn Bá Thả ở Đại đoàn 312, Nguyễn Cảnh Cầu ở Đại đoàn 316, Phạm Từ Dương và Phạm Ngọc Phú ở đội điều trị 2, Phan Ngọc Ngoạn ở Trung đoàn 66 - Đại đoàn 304 (đồng chí Ngoạn được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba vì tổ chức nhân viên quân y và thương bệnh binh chiến đấu thắng lợi ngăn chặn một mũi thăm dò của địch).

Cùng lúc này nhiều bạn sinh viên Y50 ở các chiến trường phối hợp như Lê Minh và Phi Văn Ngạc ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, Hà Văn Ngạc ở đội điều trị 7 Thượng Lào. Một tin vui với chúng tôi là ngày 3 tháng 4 năm 1954, Giáo sư Tôn Thất Tùng, bác sĩ Vũ Đình Tụng và bác sĩ Nguyễn Dương Quang đã có mặt ở Điện Biên Phủ. Thầy Tùng với tài phẫu thuật của mình đã giúp điều trị nhiều trường hợp khó khăn, nhất là các vết thương sọ não. Tại các đội điều trị, nơi thầy trò chúng tôi làm việc có các hầm mổ, tường rất phẳng, sàn lát bằng gỗ, được căng vải dù, mùi ête thơm dịu, phẫu thuật viên và y tá mặc áo blu trắng mổ xẻ dưới ánh sáng của các đèn mổ chạy bằng đynamô xe đạp. Thương bệnh binh được nằm trên các giường đất phẳng phiu trải vải dù, tại các ngách hầm sạch sẽ. Cảnh tượng đó rất tương phản với khu vực quân y của địch: Thương bệnh binh chật cứng như lèn, trong những căn hầm hôi thối đầy bùn nhão và ruồi bọ.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là trường học lớn, đã rèn luyện chúng tôi tinh thần sáng tạo, ý chí quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn học tập để phục vụ nhân dân, phục vụ quân đội, giải phóng Tổ quốc, giải phóng đồng bào.

Cho tới ngày nay, lớp tôi đã có 2 tiến sĩ khoa học, trên 10 phó tiến sĩ, 10 giáo sư, 5 phó giáo sư, 5 viện trưởng các chuyên ngành, chủ tịch Hội tim mạch, chủ tịch Hội thần kinh toàn quốc, nhiều chuyên viên đầu ngành y tế và quân y chủ nhiệm nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ, tác giả nhiều công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí y học trong nước và Liên Xô (cũ), Đức, Ba Lan, Nhật Bản... Và cả tổ chức năng lượng nguyên tử thế giới.

Chúng tôi cùng trở thành những người thầy hướng dẫn tham gia vào nhiều hội đồng chấm luận án tiến sĩ và thạc sĩ cho nhiều lớp nghiên cứu sinh trong cả nước.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tôi được lệnh hộ tống một số thương bệnh binh bằng ô tô về Yên Bái. Con đường trở về yên tĩnh, ngày đi đêm nghỉ, khắp nơi vang tiếng hát ca và dạt dào niềm vui chiến thắng của nhân dân và quân đội.

Trong cuộc đời phục vụ quân đội, giảng dạy đại học nghiên cứu khoa học, tôi đã được thưởng nhiều huân chương, huy chương. Nhưng tôi vẫn thích nhất là chiếc Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” xuân 1954, có quân kỳ “Quyết chiến Quyết thắng”. Hòa bình lập lại, tôi đã đeo chiếc Huy hiệu này trên áo quân phục trong lễ cưới của mình. Tôi cũng đã đeo chiếc Huy hiệu này trên áo quân phục trong suốt thời gian học tập ở Học viện Quân y Lêningrat, Liên Xô (cũ). Năm 1986, được sự đồng ý của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô - tôi đã tặng một Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” (do sứ quán cấp thêm) cho Viện Bảo tàng lịch sử Học viện Quân y Kirov Lêningrat (nay là St.Pétersbourg). Bạn tổ chức tiếp nhận rất long trọng và trưng bày Huy hiệu chiến thắng Điện Biên Phủ của chúng ta bên cạnh các Kỷ niệm chương chiến thắng của các học viên Liên Xô từng tham gia chiến tranh vệ quốc vĩ đại, giải phóng loài người khỏi thảm họa phát xít.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:14:58 pm

NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN
Đại tá BS ĐỖ KIM DOANH
Nguyên Y tá trưởng Tiểu đoàn pháo cao xạ

Mình thể là thằng hèn

Đại đội phía trước báo về xin chi viện vì y tá cứu thương thương vong hết cả. Chính trị viên tiểu đoàn gặp mình nói “thôi cậu đành đi thế, còn ở tiểu đoàn sẽ tính”.

Thế là đến mình rồi, lần này đi chắc không có về. Suốt đêm trằn trọc không ngủ được, suy nghĩ mông lung, nào gia đình, người yêu, mình mới 21 tuổi chết uổng quá, nhưng đây là lệnh rồi, quyết không đi không được, lại là đảng viên, đã viết quyết tâm thư còn chưa ráo mực. Nhưng không, anh em khác cũng vậy thôi, mình không thể là thằng hèn. Chợp mắt lúc nào không biết, có tiếng gọi cửa hầm: anh Doanh ơi đi thôi. A, thằng Tư liên lạc gọi dẫn đường đi cho mình.

Trên đường ra trận

Đi theo men dãy đồi phía đông, cùng đi gặp đoàn quân ra trận. Hai bên đường họ đào đều tăm tắp những hố sẵn chôn tử sĩ. Tụi nó đào rất vui, tao sẽ nằm hố này gần đường, tao hố này đẹp sâu hơn. Chúng nó còn trẻ hơn mình, coi cái chết là tất nhiên, nhẹ như lông hồng làm mình cũng thấy tăng khí thế.

Đã tới đại đội

Gặp Đại đội trưởng, anh mừng ra mặt nói “May quá y tá trưởng ra giúp chúng tôi", rồi anh dẫn và hầm nói: Anh ngủ cùng tôi, anh có sao thì tiểu đoàn trị tôi đấy! Đây là đại đội, khi mới bước vào chiến dịch họ phối hợp cùng cao xạ 37 ly, còn họ ở trên đồi bắn máy bay khi bổ nhào tầm thấp, súng của họ là 12,7 ly nhiệm vụ án ngữ xe tăng địch qua cầu Mường Thanh ra phản kích ta. Trận địa của đại đội ở bên này sông Nậm Rốm, bên kia là chỉ huy sở Mường Thanh hàng ngày vẫn bắn nhau bằng đạn thẳng, súng cối, thương vong thường xảy ra. Mình đã đi thăm các “Bê” xem chỗ ăn ở,vệ sinh.

Nước ơi là nước

Tháng 5, trời lúc nắng lúc mưa lầy lội, nóng bức, trong hầm ngột ngạt, toàn phải ngủ hầm, đi lại theo giao thông hào.

Hàng đêm các B cử người ra sông lấy nước bằng xô xách nước. Còn tụi địch bên kia, chúng dùng xe bọc thép thả vòi xuống sông hút nước bằng máy.

Đêm nay hơn 10 anh em đi lấy nước, bị chúng phục kích bắn xối xả. Đại đội trưởng hốt hoảng nói: Mọi khi tầm này chúng có bắn sang đâu, thôi chết rồi, nó phục kích bắn anh em ra sông múc nước. Súng đã im hẳn chờ 3 - 5 phút không thấy ai về.

Đại đội trưởng nói: anh Doanh ra xem đứa nào bị thương thì băng bó, còn tôi sẽ cho người đưa anh em về. Như vậy bị chết và bị thương hết cả. Trời tối đen như mực, mình đi dò từng cậu. Cậu nào rên, cọ quậy thì bị thương còn sống, nghe tim không thấy đập là chết rồi. Cứ dò từ đầu đến chân tìm vết thương, lần mò mãi thì ra viên đạn bắn vào mạng mỡ, chỉ có cái lỗ bằng đầu ngón tay không chảy máu, đạn lọt vào bụng phá bên trong.

Khổ nhưng có lúc sướng

Đang nằm có tiếng bịch trên nắp hầm, ra xem thì ra máy bay thả dù rơi sang trận địa ta. Kéo xuống cậy nắp ra, toàn đồ hộp, lính ta được bữa no nê ngon quá, thuốc lá phì phèo thơm khói tỏa khắp hầm. Có lần thấy bịch trên nắp hầm, ra xem thì ra lính dù mặc quần áo rằn ri, hô giơ tay lên, tước vũ khí rồi báo đại đội. Đại đội trưởng lệnh trói lại, chỉ đường cho nó đi ngược giao thông hào về tuyến sau sẽ có người đón. Mình có người đâu mà áp giải.

Rợn tóc gáy

Mọi khi pháo của mình bắn vào Mường Thanh sẹt sẹt vài ba quả đầu rồi nổ bên kia sông. Chiều hôm nay ta bắn súng gì mà véo véo hàng loạt, hàng tràng, nghe rợn tóc gáy. Ngồi trao đổi với nhau, súng này mới có, nghĩ có lẽ là Kachiusa của Liên Xô mà ta vẫn xem phim. Sau này hỏi tụi ngụy nó nói, các ông bắn đạn nổ rất nóng, thằng dưới hầm cũng bị bỏng, vàng như nghệ chết ngay trong hầm.

Sướng quá cũng khóc

Suốt chiến dịch trên chiến trường không khi nào im tiếng súng, tiếng bom, tiếng gào thét của máy bay. Thế mà chiều nay 7 tháng 5 im ắng. Rồi lại có tiếng reo địch ra hàng rồi. Không ai bảo ai nhảy cả lên mặt đất, lên nóc hầm ôm nhau chẳng nói điều gì mà nước mắt cứ trào ra. Rồi lại gọi nhau chạy qua cầu Mường Thanh, qua cầu thấy khẩu đại liên 4 nòng của chúng đặt ngay đầu cầu. Đại đội trưởng cuống lên gào thét, quay lại hết, quay lại ngay, séo phải mìn thì chết cả lũ, lúc này lính có biết sợ là cái gì nữa đâu!

Chiến thắng trở về

Lệnh của trên rút nhanh ra khỏi chiến trường trở về. Còn mọi việc ở đây sẽ có người lo. Vẫn là đi chiều và đêm hành quân về, quân đi như hội. Bên này đường là ta, bên kia đường là tù binh. Quân ta ca hát cười nói phấn khởi thì tù binh lủi thủi, bị tụt giầy đi chân đất chúng nhăn nhó, quần áo rách tả tơi, thằng băng đầu, thằng băng chân. Thấy quân ta hút thuốc lá (thuốc lá chiến lợi phẩm) chúng chạy sang xin: "Donnez moi cigarette". Đang hút dở cho nó, nó truyền nhau rít lấy rít để. Đúng là quân bại trận.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:16:10 pm

TÔI LÀM CÔNG TÁC QUÂN Y Ở ĐIỆN BIÊN
Bác sĩ PHẠM QUANG TUNG
Nguyên Đội phó Đội phẫu thuật tiền phương
Ban Quân y Đại đoàn 316

Năm 1953, tôi công tác tại Đội điều trị 7 do bác sĩ Hoàng Đình Cầu làm đội trưởng. Tháng 2 năm 1953 được đơn vị cử đi học lớp trung cấp quân y tại tỉnh Thái Nguyên. Lúc này đơn vị đang đóng quân tại Thanh Hóa. Đi bộ từ Thanh Hóa lên Thái Nguyên. Đến lớp, học viên vào rừng chặt cây, cắt cỏ tranh về làm lán ở.

Học đến tháng 12 năm 1953, trên lệnh cho cả lớp đi phục vụ chiến dịch. Đi bộ từ Thái Nguyên lên Điện Biên Phủ mất 25 ngày. Đêm đi ngày nghỉ, qua đèo Pha Đin dài 32 km mất một đêm. Đến Điện Biên Phủ, tôi được phân công về trạm phẫu thuật tiền phương trực thuộc Ban Quân y Đại đoàn 316. Trạm có nhiệm vụ cấp cứu phẫu thuật các thương binh của Đại đoàn 316 do bác sĩ Doãn làm đội trưởng, tôi làm đội phó. Ngoài ra, còn có 6 y tá, 3 nam 3 nữ và 8 hộ lý dân công. Toàn bộ trạm đều làm việc ở dưới hầm, mổ xẻ, ăn ngủ đều ở dưới hầm.

Mấy ngày đầu thương binh còn lẻ tẻ, càng về sau số lượng càng đông, có ngày trạm tiếp nhận tới 30 - 40 thương binh ở mặt trận cáng về trạm. Bước đầu là phân loại, thương binh có vết thương cần mổ cấp cứu thì vào phòng mổ ngay. Những thương binh khác cho nằm tại phòng đợi, mổ sau. Bác sĩ Doãn là mổ chính, tôi mổ phụ. Những vết thương nhẹ, chỉ cần cắt, lọc, khâu đơn giản thì tôi mổ chính, y tá phụ mổ.

Khi mổ dùng đèn măng-sông hoặc dùng đi-na-mô xe đạp, một người ngồi quay phát ra ánh sáng. Tôi với bác sĩ Doãn mổ suốt ngày đêm, có hôm tới 9 - 10 giờ tối mới được đi ăn cơm. Ở trạm 1, 2 ngày, những thương binh ổn định cho chuyển về tuyến sau để lấy chỗ tiếp nhận thương binh mới. Tất cả thương binh, nhân viên quân y đều ngủ dưới hầm. Phân công hai người một hầm, tôi và một nữ y tá tên Điền nằm cùng một hầm. Năm ấy tôi 26 tuổi, chị Điền 21 tuổi. Trong suốt chiến dịch đều ở như thế, không ai tỏ tình với ai. Có lẽ lúc bấy giờ tập trung hết vào nhiệm vụ, không ai nghĩ đến chuyện riêng tư.

Rất buồn và thương xót những thương binh vì vết thương quá nặng đã vĩnh viễn ra đi, phần lớn rất trẻ chỉ mới 20-21 tuổi. Tôi có trách nhiệm thu dọn quân tư trang và giấy tờ tùy thân của tử sĩ và gói ghém kỹ lưỡng để gửi về cho gia đình.

Khoảng 5 giờ 30 phút chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin báo cho trạm chúng tôi biết địch đã đầu hàng, Điện Biên đã chiến thắng. Mọi người nhảy lên reo hò, kể cả những thương binh chân đi khập khiễng cũng leo lên mặt hầm reo hò.

Ngay trong đêm, chúng tôi kiểm tra toàn bộ thương binh, ai cần mổ xẻ thì làm ngay trong đêm và ngày hôm sau được lệnh chuyển toàn bộ thương binh về tuyến sau. Trạm phẫu chúng tôi được lệnh vào Mường Thanh nhận nhiệm vụ mới.

Vào Mường Thanh, sau khi ổn định chỗ và nơi làm việc, đầu tiên tôi đến hầm Đờcátxtơri. Tôi đi khắp các phòng lúc này mà không thấy ai quản lý hầm. Trong hầm còn nhiều thức ăn, đồ uống như phô-mai, bơ, cam tươi, cà phê nét, kẹo bánh. Tôi lấy một ít cam tươi và bánh kẹo về cho anh em ăn. Trong Mường Thanh đi chỗ nào cũng thấy quần áo, giầy, mũ sắt của bọn Pháp vứt dọc đường.

Tôi được giao nhiệm vụ đi các hầm đưa thương binh địch lên mặt đất. Tôi đi cùng một số dân công đem theo cáng thương xuống từng hầm thương binh địch nằm rải rác ở Mường Thanh. Sau khi đưa hết lên mặt đất, chúng tôi khám cho thương binh địch, hướng dẫn cho y tá băng bó vết thương, kê đơn thuốc.

Mỗi lần đến khám bệnh, kê đơn thuốc cho thương binh địch, tôi đều được họ cảm ơn (Merci). Tôi có gặp nữ y tá Pháp Đờ-ga-la, trao đổi tình hình thương binh Pháp với cô ta. Người nào vết thương ổn định, sức khỏe tốt khi trao trả họ đưa ra sân bay chuyển về Hà Nội.

Tôi làm nhiệm vụ ở trung tâm Mường Thanh đúng một tháng hai ngày, khi hoàn thành nhiệm vụ được lệnh trên đơn vị nào trả về đơn vị ấy. Tổng chỉ huy việc thu dọn chiến trường, đồng chí Cao Văn Khánh cho mỗi cán bộ được lấy một vật phẩm quân trang quân dụng của địch làm kỷ niệm. Kỷ niệm Điện Biên Phủ còn lại của tôi là tấm vải dù khoảng 3 mét vuông.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:17:14 pm

CỨU CHỮA THƯƠNG BINH ĐỊCH MƯỜNG THANH
Đại tá ĐÀO NGỌC TÍN
Nguyên Y sĩ Đại đoàn 308

Ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi vào Trung tâm Mường Thanh để xem hầm chỉ huy của tướng Đờcátxtơri, và sau đó xem những tên sĩ quan và binh lính lũ lượt ra hàng, dưới sự áp giải của các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hết sức nghiêm trang và hãnh diện.

Tôi đang đi quan sát, thì gặp đồng chí Trưởng phòng Quân y Đại đoàn 308 - Trần Lưu Khôi. Tôi chào đồng chí một cách rất vui vẻ như niềm vui chiến thắng đang đến, đồng chí Khôi giao ngay cho tôi nhiệm vụ ra sân bay Điện Biên lập trạm quân y để chăm sóc thương, tù, hàng binh địch (lúc đó tôi là y sĩ). Trước đó phải vào Trung tâm Mường Thanh để lấy thương binh địch từ các giao thông hào và hầm để đưa ra sân bay, có nhiều đơn vị cùng làm.

Khi đưa các thương binh địch ra sân bay, tôi thấy công binh của ta đã căng khoảng hơn 20 cái dù thả hàng rất to, mỗi cái có thể che được 30 đến 40 thương binh địch. Ngay sau đó trên có tăng cường cho tôi 2 đồng chí y tá nữ từ Đội điều trị 3 đến (Lý và Thu), chúng tôi bắt tay vào chăm sóc và thay băng cho thương binh địch. Thương binh địch sống trong các căn hầm lâu ngày, tăm tối nên các vết thương đều nhiễm trùng, hôi thối, nhất là dòi bọ nhiều nên rất đau đớn, nhiều vết thương mấy tháng không được thay băng. Chúng nằm trên cáng bằng bạt 2 tầng, có đứa vết thương gẫy xương chân, nước vàng chảy ra lưng từ bao lâu rồi. Do tình trạng vết thương nhiễm trùng, dòi bọ chui rúc đau đớn, không khí ô nhiễm nồng nặc, nên khi chúng tôi vào đưa chúng ra sân bay, tuy rất sợ song chúng lại rất vui mừng vì đã được sống, lúc đưa lên mặt đất. Rồi ra sân bay, chúng được hít thở không khí trong lành mát mẻ, được nhìn bầu trời bao la với những vì sao lấp lánh ban đêm hoặc những đám mây đen rình rập cơn mưa. Ban ngày với những ánh nắng mặt trời tỏa sáng, những cơn gió nhẹ nhàng làm quên đi tất cả những hãi hùng sau những ngày bị ta tiến công khủng khiếp.

Khi đưa chúng lên mặt đất, chúng còn được nhìn cánh đồng lúa mênh mông của Điện Biên, các bản làng ém mình vào các dãy núi xung quanh Điện Biên Phủ, với những rừng cây xanh biếc như ôm ấp lấy bản làng và đồng lúa mênh mông mà bao đời nay người dân vẫn sống thanh bình ở nơi đây, rồi quân viễn chinh Pháp nhảy dù xuống chiếm đóng và tàn phá, giết chóc.

Chúng tôi lần lượt thay băng, cắt lọc vết thương, lấy dòi bọ bớt ra rồi băng lại, sau mỗi lần thay băng xong cho một thương binh địch, tôi nhìn thấy trong họ ánh mắt vẻ cảm động và cảm ơn vì vết thương làm sạch hơn, bớt đau vì lấy bớt dòi bọ ra (mỗi vết thương nặng dòi bọ phải tính bằng kg). Bên cạnh việc chăm sóc vết thương, hậu cần của ta cho chúng những bữa ăn tươi, mỗi bữa ăn là một đĩa cháo to, trong đó có một miếng thịt trâu to bằng bàn tay, chúng ăn rất ngon lành và vui vẻ, vì những bữa ăn như thế chúng tôi gọi là ăn tươi, đem lại nguồn cảm hứng sâu sắc cho chúng mà trước đó chúng chỉ được ăn đồ hộp với sự căng thẳng của bom đạn và vết thương đau đớn.

Chúng tôi suy nghĩ mới một vài ngày trước, chúng còn là những tên giết người rất hung hãn, có nhiều nợ máu với nhân dân và quân đội ta - thế mà hôm nay chúng lại được ta chăm sóc vết thương, lo ăn uống rất chu đáo. Việc làm đó chỉ có thể xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, từ chính sách đối với thương binh địch của Đảng và Quân đội ta. Chúng tôi nghĩ rằng mỗi tên thương binh đó khi trở về nước Pháp và các nước thuộc địa khác là những nhân chứng sống chứng tỏ: “Nhân dân Việt Nam rất dũng cảm kiên cường, nhưng lại có tấm lòng bao dung và nhân ái tuvệt vời, Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu rất dũng cảm và anh hùng, song lòng nhân đạo đã để lại dấu ấn cho họ, gia đình và đất nước họ không bao giờ phai nhạt”.

Hơn 1 tháng làm nhiệm vụ chăm sóc, cứu chữa cho thương binh địch, khi trao trả những người thương binh cuối cùng trong tổng số 886 người, chúng tôi hết sức vui mừng vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong thời gian trao trả, địch không dám oanh kích Điện Biên Phủ. Ta có điều kiện thu chiến lợi phẩm an toàn, đại binh ta tiến về trung du và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục chiến đấu và uy hiếp lực lượng địch còn lại ở Hà Nội, Hải Phòng, v.v...


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:19:25 pm

XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG SAU CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đại tá Bác sĩ NGUYỄN GÁC
Nguyên phụ trách kho thuốc trung tuyến Cục Quân y tiền phương

Hôm nay, tôi xin kể một câu chuyện xảy ra cách đây gần 55 năm trong chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch lẫy lừng với vô vàn khó khăn nhưng cũng biết bao nhiêu niềm vui sáng tạo của những người lính chiến mà lịch sử không bao giờ quên. Câu chuyện tôi kể là một trong biết bao kỳ tích mà hiện nay chưa ai nói hoặc chưa được phép nói tới. Vì không có gì là bí mật ảnh hưởng đến quốc gia nên tôi xin phép được mô tả tỉ mỉ.

Khi chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn, Ban Quân y tiền phương được thành lập để trực tiếp giải quyết nhanh chóng, kịp thời mọi nhu cầu phục vụ cho chiến dịch. Ban Quân y lúc đó thực chất là Cục Quân y thu nhỏ, bởi lẽ nó bao gồm hầu hết các cán bộ chủ chốt của Cục Quân y: Đại tá Cục trưởng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Cục phó Dược sĩ Vũ Công Thuyết và các vị trưởng phòng chính như đồng chí Bác sĩ Từ Giấy (Phòng Vệ sinh phòng bệnh), Dược sĩ Đặng Hanh Khôi (Phòng Dược chính), Bác sĩ Tôn Thất Tùng (Chủ nhiệm Khối phẫu thuật), v.v... Cứu chữa thương bệnh là nhiệm vụ hàng đầu của Ban Quân y tiền phương.

Vào tháng thứ hai của chiến dịch, cuộc chiến rất ác liệt, quân ta đang chiến đấu với phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Các đơn vị của quân đội ta đã bám sát vào tận đồn địch bằng các đường hầm. Quân địch và cả quân ta thương vong ngày càng nhiều. Trời mưa liên miên, toàn bộ quân địch phải chui vào đồn hoặc trú xuống hầm để tránh đạn pháo của ta. Nhưng tránh sao được khi các mũi tiến công của ta thay nhau tác chiến 24/24 làm cho quân địch gặp muôn vàn khó khăn. Việc giải quyết các thương bệnh binh không dễ dàng chút nào, cho cả ta và địch, nhất là ở khu Mường Thanh, Hồng Cúm. Địch đã xây những hầm ngầm kiên cố cho Bộ chỉ huy ở thung lũng Mường Thanh, nơi bằng phẳng, xung quanh là đồi núi. Chính vì vậy, khi quân đội ta, bằng cách đào hầm từ trên núi kéo xuống cắt đôi sân bay và khống chế khu vực giữa Mường Thanh và Hồng Cúm, coi như ta đã chiếm được sân bay Mường Thanh bởi máy bay địch không còn khả năng sử dụng sân bay nữa. Chúng chỉ còn cách thả đồ ăn thức uống, quân trang quân dụng trực tiếp xuống nơi đóng quân. Thực tế thì ta cũng được hưởng lợi từ kiểu tiếp tế của địch này. Việc giải quyết thương binh của địch ngày càng trở nên rất nặng nề, đến mức hỗn loạn. Các sĩ quan và lính quân y của địch làm việc trong hoàn cảnh vô cùng tồi tệ, thương bệnh binh nằm dưới hầm, chồng chất lên nhau (hầm 2-3 tầng), dưới nền hầm thì lầy lội, bùn nhão vì nước mưa không có lối thoát. Thương binh bị nhiễm trùng làm cho không khí bị xú uế đến cùng cực. Điều này Bộ chỉ huy của ta biết rất rõ, bởi ta cũng rất khó khăn. Nhưng ta khó khăn một thì địch còn có khó khăn gấp nhiều lần, nhất là thời gian này địch đang ở thế bị bao vây bốn phía, đồng thời các đợt tác chiến của quân ta tiếp tục, liên tục dội vào chúng. Chính vì vậy, Bộ chỉ huy của ta đã có những bước chuẩn bị cho chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:19:53 pm

Ngày 15 tháng 4 năm 1954, tôi được lệnh bàn giao công việc chính của tôi (phụ trách kho trung tuyến về Dược) cho người khác để lên Ban Quân y tiền phương nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Cục trưởng và Cục phó cùng các đồng chí Từ Giấy, Đặng Hanh Khôi giao cho tôi hai nhiệm vụ phải làm như sau:

Một là, đại diện cho ngành y tham gia vào Ban tiếp quản của Tổng cục Cung cấp (sau này là Tổng cục Hậu cần). Dưới sự chỉ huy của đồng chí Tham mưu trưởng Hoàng Điền, Ban tiếp quản này có đủ cán bộ của các Cục Quân y, Quân nhu, Quân khí, Vận tải (Nhu, Y, Khí, Vận), có nhiệm vụ tiếp quản toàn bộ tài sản của quân địch để lại trên khắp chiến trường.

Hai là, trong vòng hai tuần lễ phải tổ chức và sản xuất ra từ 3 đến 4 tấn thuốc tẩy trùng. (Bác sĩ Từ Giấy còn nhấn mạnh sản xuất càng nhiều càng tốt). Công thức cần phải có là vôi bột với 3% DDT. Thuốc DDT có sẵn 200kg trong kho thuốc tiền phương, như vậy công việc chính là sản xuất ra đủ lượng vôi bột để tạo thành thuốc tẩy trùng. Thuốc tẩy này cần có gấp để giải quyết vấn đề ô uế môi trường do sự phân hủy tử thi của địch trên khắp chiến trường (Tử thi phía ta, ta tự giải quyết kịp thời, không bỏ bất cứ tử thi nào, kể cả những tử thi không còn nguyên vẹn). Đặc biệt là phải giải quyết gấp ở những khu vực xung quanh dòng sông Nậm Rốm, để giữ cho nước sạch khi bộ đội và dân công vào tiếp quản khu này.

Nhận hai nhiệm vụ trên tôi vô cùng sung sướng, dù trước mắt còn nhiều khó khăn cần khắc phục mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Cục trưởng không hé ra một lời nào về cuộc chiến giữa ta và địch, nhưng tôi cảm thấy ngày chiến thắng đã gần kề, niềm vui và tin tưởng trong tôi rất cao.

Bây giờ có 3 việc phải suy nghĩ để hoàn thành nhiệm vụ thứ 2 là:

- Tìm người biết xây lò và nung vôi.

- Thực hiện lò nung không khói để tránh máy bay địch oanh tạc.

- Sản xuất và đóng gói kín, chống mưa ướt, bảo quản thuốc được tốt nhất trong điều kiện chiến trường.

Vấn đề tìm người biết nghề vôi, trong hàng vạn dân công và chiến sĩ, nhất định thế nào cũng có người biết. Tôi cùng 3 chiến sĩ của kho thuốc dã chiến đi khắp các đơn vị dân công của hai tỉnh Vĩnh Phúc và Thanh Hóa, vì chúng tôi cho rằng hai tỉnh đó có nơi đã sản xuất ra vôi. Chỉ sau 3 ngày, ngày 19 tháng 4, hai dân công người Thanh Hóa là anh Nguyễn Cối và anh Lê Nguyên Mộc đã là các nhân vật chính chúng tôi cần đến, vì cả hai tự nhận đã làm nghề nung vôi ở quê nhà từ nhỏ. Thế là khó khăn cơ bản chúng tôi đã vượt qua.

Vấn đề xây lò nung vôi chống khói, lúc đầu tôi cho là khó nhất, nhưng khi phát động lấy ý kiến quần chúng, thì mọi chuyện đều trở nên dễ dàng. Lúc này đơn vị tôi được bổ sung thêm 25 dân công, 3 chiến sĩ của kho trung tuyến và tôi là 29 người. Chúng tôi đã họp nhiều giờ, mỗi người góp một ý kiến và đi đến quyết định xây lò đúng như bếp Hoàng Cầm, bếp mà quân đội ta đang sử dụng. Chỉ cần xây lò cao to theo ý định, đủ để ra khoảng 2-3 tấn vôi là được.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:20:17 pm

Lò được xây nhanh với nguồn đá tại chỗ. Địa điểm có núi đá vôi, có rừng già hiểm trở, rất kín đáo và thuận tiện. Lò xây bằng đá kết mối bằng bùn dẻo. Bùn dẻo có từ loại đất sét trắng được lấy ở khu ruộng lúa nước của dân quanh khu công trường. Vất vả nhất là việc đào hầm thoát khói để đề phòng địch phát hiện. Chúng tôi phải đào một đường hào dài gần 360 mét, rộng và sâu 1 mét. Trên mặt hào xếp các loại cây lá xanh tươi để khói thoát ra từ từ thành cụm. Cuối đường hào là hầm chứa khói để khói chưa tan hết có thể thoát dần. Hầm chứa khói này cao 2 mét, rộng 5 mét. Trong quá trình theo dõi, chúng tôi cho rằng đây là một công trình rất sáng tạo của quần chúng để có được một lò nung vôi chống khói hoàn hảo.

29 người ngày đêm thay nhau đào đắp, ngày 22 tháng 4, lò được đốt bằng củi gỗ dưới sự chứng kiến của toàn đoàn. Sau 3 ngày đêm, với sức nóng liên tục và kiên trì của những người dân công chăm chỉ, 6 giờ sáng ngày 26 tháng 4, mẻ vôi đầu tiên đã ra lò với chất lượng kỹ thuật đạt yêu cầu. Toàn đoàn đã chuẩn bị để có ngay mẻ vôi thứ hai và nó cũng được ra lò theo đúng tiến độ 3 ngày sau đó, ngày 29 tháng 4.

Có vôi cục rồi vấn đề đặt ra là nhanh chóng biến nó thành vôi bột. Ngay tức khắc chính những người dân công trong đoàn đã tạo ra những cối giã theo kiểu giã gạo ở miền xuôi. Không quản bụi vôi và mồ hôi nhễ nhại. Chúng tôi đã thay phiên nhau vào cối giã. Trộn 3% DDT vào vôi bột, chúng tôi đã có thuốc khử trùng rất tốt.

Một khó khăn rất lớn mà đoàn chúng tôi phải mất công đi nhiều nơi nhiều chỗ để tìm cách giải quyết, đó là vấn đề đóng gói. Thuốc khử trùng phải được bảo quản tránh không khí, mưa gió và mang vác gọn nhẹ khi sử dụng. Việc này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các đơn vị pháo binh - Cục Quân khí. Các anh đã cung cấp cho chúng tôi hàng trăm hộp cạc-tông, loại đựng pháo 105 ly đã được thải ra. Với 15kg thuốc khử trùng đựng trong một ống cạc-tông có đầy đủ nắp đậy, không sợ mưa ướt, không làm thuốc vón cục lại vừa cho người sử dụng. Một sự tận dụng rất sáng tạo mà các đồng chí pháo binh đã góp phần vào việc khắc phục khó khăn của chúng tôi.

Tối ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngày đại thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ, 300 ống thuốc khử trùng đã được vận chuyển vào Mường Thanh và ngay ngày 8 tháng 5 năm 1954, với sự tận tâm tận lực và dũng cảm của ĐỘI VỆ SINH PHÒNG DỊCH - Ban Quân y tiền phương (Cục Quân y) do đồng chí Nguyễn Ngọc Thảo làm đội trưởng (sau này đồng chí Thảo làm Cục trưởng Cục Quân y) cùng hàng trăm chiến sĩ được huy động để mang chất khử trùng này đi phủ lấp và tẩy uế tất cả các chất thải từ sinh hoạt, từ y khoa và đặc biệt là hàng ngàn xác chết của địch. Công việc khử trùng được làm suốt một khu vực rộng lớn Mường Thanh, Hồng Cúm và các nơi địch đóng quân rải rác khắp chiến trường Điện Biên Phủ. Sau 2 ngày (8 và 9-5) toàn thể khu vực chính ở chiến trường đã được tẩy sạch, quân dân ta đã được sống và hít thở không khí trong lành, tươi mát trong niềm vui đại thắng. Hầu hết mọi người đều không biết rằng chỉ cách đây vài ngày, chiến trường đã bị xú uế do địch gây ra như thế nào.

Câu chuyện tôi kể chỉ có vậy, nhưng tôi cho rằng đó là một minh chứng cho sự chỉ đạo rất cụ thể, rất sáng suốt của Bộ Chỉ huy chiến dịch, của Ban Quân y tiền phương, Tổng cục Cung cấp. Khi có sự chỉ đạo sát sao của cấp trên, bất cứ nhiệm vụ nào dù khó khăn phức tạp đến đâu, nếu ta biết dựa vào dân, dựa vào chiến sĩ thì mọi việc sẽ thành công mà nhiều khi ta không ngờ tới. Ở một chiến trường đầy bom đạn, máy bay giặc bay lượn suốt ngày đêm, vậy mà chúng ta có một công trình sản xuất rất hiệu quả, lại che mắt được quần địch, không một làn khói, không một tia lửa, không một tổn thất. Đây là một thành công của đoàn làm thuốc khử trùng, tuy nhỏ nhưng góp phần vào sự thành công rất to lớn của chiến thắng Điện Biên Phủ.

Nhiệm vụ thứ nhất ở trong Ban tiếp quản thì tôi không kể các đồng chí và các bạn cũng biết. Toàn bộ súng ống, thuốc men, quân trang quân dụng đều được thu hồi để bổ sung cho các đơn vị quân đội và dân quân địa phương tiếp tục chiến đấu, và chỉ một thời gian ngắn sau chiến thắng Điện Biên Phủ, toàn bộ miền Bắc đã được giải phóng.

Qua câu chuyện nhỏ này tôi muốn thế hệ sau của chúng ta hiểu rõ hơn về chiến công của cha ông, về sự sáng tạo của quần chúng nhân dân, về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:00:05 am

NGÀY VỀ - TRỞ LẠI THỦ ĐÔ
Thiếu tướng BÙI NAM HÀ
Nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Đại đoàn 308

Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ có hiệu lực, Trung đoàn 88 được lệnh ngừng chuẩn bị tiến công vào cụm cứ điểm thị xã Phủ Lạng Thương (tỉnh lỵ Bắc Giang) thu quân di chuyển về tập kết ở Phú Thọ đợi lệnh mới! Lệnh đình chiến! Một tâm trạng thật đặc biệt, khó tả.

Ngày 15 tháng 8 năm 1954, Chính ủy Song Hào được phong hàm Đại tá là Phó đoàn quân sự cùng Thiếu tướng, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đi Hội nghị Trung Giã bàn việc thực hiện đình chiến trên toàn quốc. Nhưng Bắc - Nam đã có thể thật sự thống nhất chưa? Ai cũng mong và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ! Hãy đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Người.

Cuối tháng 8 năm 1954. Mới hòa bình mà cũng bận chẳng khác gì lúc “đánh nhau”. Mà bận rộn cũng phải thôi vì cả Đại đoàn Quân Tiên phong được vinh dự thay mặt cho đại quân về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Hình như Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ được phong tướng và sẽ là Chủ tịch Ủy ban quân chính nhận bàn giao Hà Nội với Pháp thì phải? Tình cảm thật sôi nổi vui sướng. Trung đoàn Thủ đô (E102), Đoàn Bắc Bắc (E36), Đoàn Tu Vũ (E88), gồm những lính chiến nội ngoại thành, mùa xuân 1947 phải rút khỏi Hà Nội nhưng thề sẽ trở lại, hôm nay đã là một Đại đoàn kéo về tiếp quản Thủ đô. Tôi nghĩ khi vào Thành sẽ chạy xuống bãi Nghĩa Dũng xem nhà cửa ra sao, nghe nói quân Pháp đánh nhau với tự vệ “ác chiến” lắm, tan nát cả rồi.

Những ngày đầu tháng 9 năm 1954, chúng tôi hành quân 5 ngày đêm từ Việt Bắc về tập kết quanh Hà Nội: Trung đoàn 88 đóng quân tại Thanh Trì - sao lại ngẫu nhiên và trùng hợp thế, mới ngày nào (thế mà ngót 9 năm rồi). Đoàn Thanh niên Tuyên truyền vũ trang xung phong Thành Hoàng Diệu cũng “tập trung” ở Giáp Bát tối ngày 18 tháng 8 năm 1945 để trưa ngày 19 tháng 8 năm 1945, tổng khởi nghĩa chiếm trại Bảo an binh và trở thành đại đội du kích Hà Nội, Đại đội giải phóng quân số 1 của Thủ đô, tôi là tiểu đội trưởng được bầu là Trung đội trưởng Trung đội 3. Thế mà hôm nay mình lại cùng Trung đoàn mang quân về tiếp quản Hà Nội cũng từ hướng nam Hà Nội này, mấy hôm nữa sẽ vào làng “Giáp Bát” xem sao?.

Hôm nay được lệnh từ cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, mỗi đơn vị cử một đồng chí về huyện Lâm Thao dự cuộc họp đặc biệt. Cả trung đoàn cử 20 đại biểu, ủy ban quân chính Thanh Trì trưng dụng cho một xe khách RENAULT ngược lên Sơn Tây qua bến Trung Hà và đổ quân ở cửa Đền Hùng, trong lòng mỗi người đều xốn xang sâu lắng, tự hào về giống nòi con Lạc cháu Hồng của non sông đất nước Việt Nam. Vừa xuống xe đồng chí Thanh Quảng - Văn phòng Tổng Quân ủy đứng đón và nhanh nhẹn đưa anh em lên núi ngồi chờ họp ở các bậc thang đúng cửa chính diện Đền Hùng - cuộc hội tụ đủ mặt “chư vị anh tài” đủ 4 trung đoàn của Đại đoàn 308, tiếng cười nói râm ran, có cả những chuyện ba hoa têu tếu.

Bỗng có tiếng “kẹt”, khi cửa đền mở rộng hai cánh, một cụ già quắc thước bước ra, có anh Song Hào đi bên cạnh. Trời, đó là Bác Hồ, Bác giơ tay trìu mến: “Các chú đã đến đầy đủ à!”. Không khí im lặng chỉ không đầy 1 giây rồi bật lên tiếng tung hô vang động núi đồi:

Bác, Bác Hồ muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!

Bác! Bác ơi!

Là Chủ tịch nước, là lãnh tụ của Đảng sắp cùng Trung ương và Chính phủ về Thủ đô, nhưng giờ phút này, tại đền Vua Hùng, Bác vẫn giản dị trong bộ quần áo nâu, chiếc khăn quàng cổ và đôi dép cao su đen. Vẫn dáng bộ đĩnh đạc thân thương, Bác giơ hai tay lên cao và hạ xuống dứt khoát: “Các chú có mệt không?”. Theo lệnh Bác, mọi người ngồi im lặng và lắng nghe.

Chỉ tay lên đền thờ Vua Hùng, Bác căn dặn: “Đây chính là đền thờ Vua Hùng tổ tiên chúng ta, Bác cháu ta gặp nhau ở đây tuy tình cờ nhưng lại rất có ý nghĩa. Ngày xưa các Vua Hùng dựng nước, nay Bác cháu ta là những người giành lại đất nước. Trải qua bao nhiêu thời đại đấu tranh, ông cha ta mới giữ được. Thủ đô, tám, chín năm nay do quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới thắng lợi trở về Hà Nội vì thế các chú được Trung ương và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản là được nhận một vinh dự lớn.

Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Sau đó Bác dặn tiếp: “Quân đội ta đừng vì hòa bình mà lơi lỏng tay súng, còn đế quốc ở miền Nam, còn đế quốc trên thế giới thì còn phải xây dựng quân đội mạnh mẽ!”. Kết thúc câu chuyện, Bác nói: “Đồng bào Hà Nội mong chờ các chú từ ngày các chú ra đi, nay đang may cờ đỏ sao vàng chờ đợi hoan hô các chú, hãy xứng đáng với vinh dự đó, trách nhiệm đó!”.

Từ biệt Bác, chúng tôi nhìn theo dáng đi nhanh nhẹn, thoăn thoắt của Bác khuất vào núi rừng bạt ngàn, mênh mông của khu đền Vua Hùng bát ngát.

Lời Bác dặn cũng là lời non nước. Thấm nhuần lời dạy của Người, chúng tôi trở về ven đô Hà Nội với hào khí Thăng Long và tâm niệm rằng: rõ ràng thắng lợi to lớn về chính trị, quân sự, ngoại giao của ta vừa qua chưa phải là thắng lợi cuối cùng, con thuyền cách mạng còn phải vượt muôn ngàn gian khổ để giành lại đất nước không phải là đã biển yên sóng lặng mà còn gặp nhiều bão táp phong ba.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:01:27 am

Theo kế hoạch tiếp quản, lực lượng gồm có Đại đoàn Quân Tiên phong 308 được tăng cường Trung đoàn 57 Đại đoàn 304 (Đại đoàn 308 tiếp quản nội thành còn Trung đoàn 57 tiếp quản thị xã Hà Đông và một phần Thủ đô Hà Nội).

Lãnh đạo, chỉ huy tiếp quản gồm có hai tổ chức do Quân ủy và Trung ương quyết định:

Ủy ban tiếp quản nhận bàn giao các cơ sở quân sự - kinh tế - hành chính hoạt động từ 1 đến 9 tháng 10 năm 1954 do đồng chí Trần Danh Tuyên và đồng chí Trần Vỹ lãnh đạo.

Ủy ban Quân chính hoạt động từ ngày 10 tháng 10 năm 1954 quản lý toàn diện toàn thành và ngoại vi Thủ đô do Thiếu tướng Vương Thừa Vũ làm Chủ tịch và bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố làm Phó Chủ tịch.

Những ngày đầu tháng 10 năm 1954, theo kế hoạch bàn giao của Pháp và tiếp quản của ta, Ủy ban Liên hợp Pháp - Việt đình chiến bắt đầu hoạt động, ta đưa một bộ máy sĩ quan quân đội, một phân đội bộ đội và cảnh sát vào tổ chức gác chung trụ sở của Ủy ban Liên hợp ở cấp thành phố, quận và một số phường quan trọng. Trong những ngày đó, phía Pháp thiết quân luật toàn thành phố, bọn phản động đội lốt tôn giáo, ngụy quyền lập các trạm di cư, ủy ban bảo vệ Bắc Việt và có cả cái gọi là “trung đoàn thủ đô” để quyết giữ Hà Nội bằng bất cứ giá nào, không giao Hà Nội cho Việt Minh. Nhưng khi xuất hiện các xe của Ủy ban Liên hợp có cờ đỏ sao vàng chạy khắp các phố phường, các trạm gác liên hợp có bộ đội ta và lính Pháp gác chung thì mọi cái gọi là “ủy ban này, ủy ban nọ” và cả cái “trung đoàn thủ đô” cũng mất hút, giải tán không kèn, không trống. Thay vào đó là tình hình chuẩn bị đón quân ta trở về, trước còn hoạt động ban đêm, sau chuyển sang hoạt động cả ban ngày”.

Các ủy ban, đoàn thể đã hình thành trên từng khu phố, đặc biệt là phong trào nhuộm vải đỏ may cờ thật là sôi nổi. Các đội tự vệ được tổ chức để chống cướp, chống tháo máy, đấu tranh bảo vệ điện nước. Bọn ngụy quân, ngụy quyền rã ngũ hàng loạt.

Ngày 8 tháng 10 năm 1954, Trung đoàn 57 tiến vào tiếp quản thị xã Hà Đông, chuẩn bị cho các đơn vị của Đại đoàn Quân Tiên phong vào tiếp quản Hà Nội.

Ngày 9 tháng 10 năm 1954, ngày mà tất cả mọi người quân cũng như dân mong đợi đã đến. Từ sáng sớm tinh mơ, trên tất cả 4 cửa ô Hà Nội: Ô Đống Mác - Ô Bạch Mai -Ô Cầu Giấy - Ô Yên Phụ, từng đoàn xe phù hiệu quân đội sao vàng trên nền đỏ nối đuôi nhau chở đầy các chiến sĩ và cán bộ ngực lấp lánh huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” súng ống, lưỡi lê tuốt trần uy nghiêm, hùng dũng. Đồng bào ngoại thành hai bên đường ùa ra cổ vũ hoan nghênh đón chào đoàn quân tiếp quản. Trong khi đó, nơi phía quân Pháp còn quản lý thì phố xá im lìm, lạnh tanh, nhiều chiếc xe bọc thép chạy qua chạy lại ngó nghiêng.

Theo một hiệu lệnh thống nhất, tất cả các cánh quân đều cho nổ máy lăn bánh. Tiến vào thành phố nhận bàn giao của quân Pháp, các đồn bót, công sở, dinh thự trực tiếp quản lý từ phía Pháp - quân ngụy không được tham gia.

Ở phía bắc thành phố, Trung đoàn Thủ đô tiếp quản ô Cầu Giấy, Bưởi, Thụy Khê, Kim Mã, nội thành Hoàng Diệu, Phủ toàn quyền, nhà máy đèn, nhà máy nước được trao lại cho quân ta.

Từ phía tây nam thành phố, Trung đoàn Bắc Bắc vào chiếm lĩnh sân bay Bạch Mai, bệnh viện Cống Vọng, Khâm Thiên, ga Hàng Cỏ.

Phía đông nam thành phố, Trung đoàn Tu Vũ tiến vào đồn Ngọc Hồi, tiếp đến là khu Việt Nam học xá, nhà máy Rượu - Đồn Thủy, Viện Quân y Võ Tánh (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) và các công sở quanh khu hồ Hoàn Kiếm. Thật xúc động, một tổ chiến sĩ Đoàn Tu Vũ mang cờ ra cắm trên đỉnh Tháp Rùa. Lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay trước gió.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:02:24 am

Một khung cảnh tương phản đã diễn ra, bên phía quân Pháp thì vắng tanh, vắng ngắt. Còn phía bên ta tiếp quản thì tưng bừng nhộn nhịp, sức sống lại được bừng lên mãnh liệt. Quân ta tiếp quân đến đâu thì cờ đỏ sao vàng mọc đến đó, thoắt đã biến thành rừng cờ khắp trên nóc nhà, cửa sổ, đầu xe, thậm chí cả xe đạp, xích lô. Người lớn, trẻ em đi bộ ai cũng có lá cờ phất phất trên tay. Quanh các trạm gác, bộ đội và quân dân quây quần thân thiết như những người thân xa nhau nay được gặp lại. Ở các nhà máy, các công sở, công nhân, nhân viên đều xếp hàng ra cổng đón tiếp niềm nở và hướng dẫn cán bộ ta đến nhận bàn giao cụ thể.

Đúng 16 giờ 30 phút, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên. Viên đại tá D’ Argence ôm “lá cờ tam tài” cùng Sainteny, tổng đại diện Pháp quay lại nhìn vào thủ đô Hà Nội rồi lặng lẽ lên xe và “cút thẳng” về phía Hải Dương.

Đêm hôm đó, Hà Nội bên ngoài yên tĩnh vì Ủy ban tiếp quản đã vào Thành và thiết quân luật, nhưng các phố đều bừng sáng các chụp đèn phòng thủ đã được tháo gỡ. Các chiến sĩ tuần tra trên hè phố cần mẫn, trang nghiêm, nhưng bên trong từng gia đình, từng cửa hiệu, từng công sở thì náo nhiệt, sôi động vì toàn thành  chuẩn bị cho ngày mai đón Đại quân và Bộ Tư lệnh Quân chính về Hà Nội.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954, mới chỉ 5 tháng trước đây, Đại đoàn Quân Tiên phong thay mặt các binh đoàn chiến thắng làm nhiệm vụ quân quản chiến trường Điện Biên Phủ, nơi có sở chỉ huy của tướng Đờcátxtơri - thì hôm nay 10 tháng 10 năm 1954, Đại đoàn lại vinh dự thay mặt toàn quân tiến vào quân quản thành phố Hà Nội, nơi đặt Sở chỉ huy của tướng Cô-nhi, tư lệnh các lực lượng viễn chinh Pháp quốc Hải ngoại Bắc Đông Dương.

Trên 2 hướng đông nam và tây bắc, đại quân ta tiến vào bằng hai cánh: Liên quân Đoàn Tu Vũ và Đoàn Bắc Bắc pháo binh cao xạ xuất phát từ Việt Nam học xá tiến vào nội thành qua đường Bạch Mai - Phố Huế - Hàng Bài - Hồ Gươm. Trung đoàn Thủ đô tiến quân từ Quần Ngựa qua Cửa Bắc, chợ Đồng Xuân - Hàng Đường - Hàng Ngang - Hàng Đào - Hàng Bông - nội thành.

Đoàn bộ của Ủy ban Quân chính đi theo hướng đông nam - mở đầu là xe dẫn đường của cảnh binh, tiếp sau là xe chỉ huy của Thiếu tướng Vương Thừa Vũ - Chủ tịch ủy ban Quân chính, người mà cách đây 9 năm là chỉ huy các lực lượng vũ trang Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội trong Cách mạng tháng Tám 1945, nay lại trở về Thủ đô giải phóng. Theo sau là xe của bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch ủy ban Hành chính Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội. Đội hình sau đó là xe của cơ quan Quân quản các đoàn pháo binh - súng cối - cao xạ rầm rập tiến qua các đường phố lớn của Thủ đô. Hai bên đường hàng chục vạn đồng bào nội thành Hà Nội, cờ, hoa, hương án lư trầm nghi ngút hương thơm ngào ngạt - quần áo muôn màu rực rỡ có pháo nổ liên hồi, nghênh đón Đoàn quân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:04:51 am

Hôm qua (9-10-1954), Hà Nội rợp bóng cờ hoa, hôm nay không khí thêm xúc động. Những đôi chân hôm qua còn là “Vạn lý trường chinh”, hôm nay rầm rập tiến trên đường phố Thủ đô giữa rừng cờ, biển người với muôn ngàn bó hoa tung lên trong tình thương yêu trìu mến của đồng bào. Không gian Hà Nội như xao xuyến hẳn lên trong nhịp bước quân hành.

Lễ trường được tổ chức tại chân cột cờ cổ kính của thành Hoàng Diệu. Đúng 15 giờ, còi nhà hát thành phố nổi lên vang vang trầm bổng - đoàn quân nhạc cử bài Tiến quân ca dưới sự điều khiển của đồng chí Đinh Ngọc Liên nhạc trưởng (người từng chỉ huy dàn nhạc Bảo an binh mừng thành công của Cách mạng tháng Tám). Cả lễ trường im lặng, kính cẩn nhìn lên lá Quốc kỳ phấp phới bay trên đỉnh cột cờ cao ngất.

Thiếu tướng Vương Thừa Vũ đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô yêu quý, trân trọng rõ từng lời:

“Tám năm qua, Chính phủ phải xa Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhau, nhưng lòng Chính phủ luôn luôn cạnh đồng bào.

Ngày nay do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hòa bình đã thắng lợi, Chính phủ lại trở về Thủ đô, với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng không xiết kể!

... Chính phủ và nhân dân ta phải cùng nhau cố gắng nhiều để khôi phục, củng cố và phát triển đời sống tinh thần và vật chất của Thủ đô ta”1
. 

Những lời tâm huyết của Bác Hồ sao mà thiết tha, thấm thía, mọi người rưng rưng xúc động, tự hào về Đảng và lãnh tụ kính yêu; tự hào vì nhân dân và quân đội anh hùng.

Những ngày cuối tháng 10 năm 1945, trong thời gian làm công tác quân quản, Đại đoàn Quân Tiên phong được phân khu vực làm công tác dân vận, xây dựng chính quyền đoàn thể, xây dựng mối quan hệ đoàn kết keo sơn cá nước giữa quân và dân. Cán bộ, chiến sĩ đã tích cực góp phần giáo dục truyền thống cho học sinh và thanh thiếu niên. Nhiều đồng chí từng chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, nay dẫn mọi người đi thăm lại “chiến trường xưa” trong lòng Hà Nội, kể những mẩu chuyện chiến đấu mà mình tham gia.

Đây là Liên khu 1 anh hùng với những Hàng Thiếc - Hàng Đào - Hàng Ngang - chợ Đồng Xuân - Bắc Bộ Phủ - Trường Ke - nhà Xô Va, nơi Trung đoàn Thủ đô từng kiên cường chiến đấu, giam chân quân địch ròng rã 2 tháng, với ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đây là trụ sở của Bộ Tổng tham mưu ở phố Nguyễn Du, nơi sinh ra Đại đội Tô Văn của tiểu đoàn 29. Kia là trường Bưởi, nhà Thủy phi cơ, Việt Nam học xá, nhà thương Cống Vọng, nơi tiểu đoàn 23 - tiểu đoàn 626 (sau này thuộc Trung đoàn Tu Vũ) đã chiến đấu quyết liệt để giành giật với địch từng căn nhà, từng đoạn phố, từng ngã ba đường.

Đây là Gia Lâm, cầu Đuống, Yên Viên, nơi mà nhiều đơn vị (sau được biên chế vào Trung đoàn Bắc Bắc và Trung đoàn Tu Vũ, thuộc Đại đoàn Quân Tiên phong) từng có những trận đánh giáp lá cà, quần thảo quyết liệt với địch. Còn đây là trận địa pháo binh Láng – Xuân Tảo - Xuân Canh mà các pháo thủ Đoàn pháo binh đã từng giáng cho địch những đòn pháo kích mãnh liệt.

Tám năm đã trôi qua. Các chiến sĩ bảo vệ Thủ đô năm xưa đã ra đi và hẹn sẽ có ngày trở lại. Họ đã không lỗi hẹn khi trở về trong chiến thắng.
____________________________________
1. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.2002, tr. 360.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:25:50 am

VÀI MẨU CHUYỆN VỀ ĐỜCÁTXTƠRI
ĐỖ NGUYÊN QUÂN
Chiến sĩ Điện Biên

Đại tá Đờcátxtơri là dòng dõi nhà võ, quý tộc của nước Pháp, được chỉ định làm tư lệnh quân khu Tây Bắc kiêm tư lệnh Điện Biên Phủ, được các tướng lĩnh Mỹ và Pháp tâng bốc, khen ngợi hết lời. Đờ-cát kiêu căng rải truyền đơn thách ta đánh Điện Biên Phủ.

Đợt 1 mở đầu trận Him Lam và tiếp đến Độc Lập - Bản Kéo (13.3 - 17.3.1954) Phân khu Bắc bị tiêu diệt, tư lệnh pháo binh không khóa được miệng pháo binh Việt Minh nên đã tự tử, hai thiếu tá Kak và Mecquenem đang bàn giao ở đồi Độc Lập thì bị bắt, mất 3 đồn quan trọng ở cả phía bắc, đông, tây.

Để hà hơi tiếp sức cho tập đoàn cứ điểm, Bộ chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp phong hàm thiếu tướng cho Đờcátxtơri, họ chu đáo gửi cả hàm (lon) sao vạch, kèm theo mấy két rượu sâm banh, bánh kẹo quý để chỉ huy Điện Biên Phủ ăn mừng phong cấp...

Vợ Đờcátxtơri thì gửi dao cạo râu, xà phòng, nước hoa… để chuẩn bị cho lễ gắn hàm cấp tướng. Nhưng ác thay, quân của Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đã cắt đứt sân bay. Pháo cao xạ của 367 đã áp sát, phong tỏa đường tiếp tế hàng không. Quà mừng tướng Đờ-cát bay đâu mất, không đến được tay tân thiếu tướng. Đờ-cát đành sai tùy tùng làm lon tướng 2 sao bằng vật liệu tại chỗ, ăn bánh mỳ khô, uống nước suông và nghe pháo Việt Minh bắn vào trung tâm chỉ huy trong lễ nhận cấp. Được phong cấp tướng trong lúc Điện Biên Phủ bị vây hãm, binh lính chui rúc trong chiến hào ngập bùn nước, thương bệnh binh kêu la trong hầm, bị dồn ép về trung tâm. Máy bay tiếp tế thả dù lương thực, vũ khí đạn dược, bị cao xạ ta bắn phải vọt lên cao, nên số nhận được lúc có lúc không.

Đợt 2: Từ 16 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 1954, ta mở đợt tấn công vào hệ thống cứ điểm phía đông, tiêu diệt 3 cứ điểm, bức rút 1 cứ điểm, địch cố giữ điểm số 5. Phía tây bắc ta diệt 1 cứ điểm, bức hàng 1 cứ điểm. Tiếp đến đợt 3, bắt đầu đêm 30 tháng 4 năm 1954, vòng vây ngày càng thắt chặt. Ta tấn công ào ạt. 17 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Đờ-cát và Cô-nhi gọi điện cho nhau.

Đờ-cát: Thưa tướng quân của tôi, tình hình thật trầm trọng. Tôi nghĩ cuộc chiến đã gần đến hồi kết thúc. Chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng.

Cô-nhi: Vâng, tôi hiểu rõ. Ngài sẽ chiến đấu đến cùng. Không có việc kéo cờ hàng phải không?

Đờ-cát: Không. Chúng tôi sẽ phá hủy các đại bác đồ quân dụng và máy vô tuyến điện vào lúc 17 giờ 30 phút.

Cô-nhi: Xin cảm ơn.

Đờ-cát: Chúng tôi sẽ chiến đấu đến phút cuối cùng. Tạm biệt tướng quân. Nước Pháp muôn năm!

Ít ai, kể cả tướng Cô-nhi và Na-va, biết được rằng lúc 16 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, ở Hà Nội phu nhân Đờcátxtơri đã nhận được điện của chồng. Trong tiếng vọng của đạn pháo Việt Minh, Đờ-cát nói với vợ: “Em yên tâm, đừng lo ngại gì. Anh bị bắt làm tù binh. Anh sẽ trở về gặp em”.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:26:21 am

17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng 4 chiến sĩ xung kích của Đại đoàn 312 đã thọc vào hầm chỉ huy của Đờ-cát, trong khi các mũi khác tỏa ra tiêu diệt các ổ đề kháng và bao vây chặt khu vực sở chỉ huy. Đội trưởng Tạ Quốc Luật lệnh cho đồng chí Nhỏ ném thủ pháo vào cửa hầm, tiểu đội trưởng Hoàng Đăng Vinh, đội trưởng Luật và đồng chí Nhỏ cùng xông vào cửa hầm hô to: Hô lê manh (giơ tay lên). Một tên sĩ quan Pháp run run nói: “Toàn thể bộ tư lệnh Điện Biên Phủ xin đầu hàng”.

Hai chiến sĩ khác xuống cửa hầm thứ 2. Trong hầm có Đờ-cát và hơn 20 sĩ quan bộ tham mưu, máy phát điện vẫn chạy, đèn sáng, trên bàn vẫn còn một đống giấy đang cháy âm ỉ.

Tiểu đội trưởng Hoàng Đăng Vinh kể lại: Khi đồng chí Luật hạ lệnh đầu hàng. Tất cả đều giơ tay hàng, trừ Đờ-cát. Đồng chí Luật bảo đồng chí Vinh bắt Đờ-cát phải giơ tay hàng. Hoàng Đăng Vinh tiến lên trước, mắt mở to, môi mím chặt để gây ấn tượng, khẩu Tôm-xơn chĩa về phía Đờ-cát. Ông ta vội đứng lên, chìa bàn tay phải ra. Nghĩ rằng Đờ Cát muốn bắt tay, Vinh hơi lúng túng nhưng lại tự nhủ không thể chấp nhận được, liền hô to: “Hô lê manh” rồi dí nòng súng vào bụng Đờ-cát. Hắn lùi lại 2 bước, giơ tay lên và nói một câu được đồng chí Luật dịch là: “Đừng bắn! Tôi xin hàng”.

Ngày 20 tháng 5 năm 1954, Hoàng Đăng Vinh gặp lại Đờ-cát trong cảnh quay phim của nhà điện ảnh Rôman Cácmen, Khi đối mặt, một cán bộ ta chỉ đồng chí Vinh và hỏi Đờ-cát: “Ông biết anh này là ai không? Ông ta nghĩ một lúc rồi trả lời: Nếu không nhầm tôi gặp anh ấy rồi.

Anh cán bộ khen Đờ-cát có trí nhớ tốt, Đờ-cát nói với Hoàng Đàng Vinh: “Tôi sẽ rất vinh dự nếu được chỉ huy những người lính dũng cảm như anh”. Đồng chí Vinh trả lời: “Ông chỉ láo toét. Ông làm sao chỉ huy được tôi. Chính tôi là người đã bắt ông”.

Khi tất cả bộ chỉ huy của Pháp ở Điện Biên Phủ được giải về Sở chỉ huy Đại đoàn 312. Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn báo cáo lên Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng thận trọng hỏi lại: “Có chắc chắn là tướng Đờ-cát không? Phải thận trọng đối chiếu với ảnh và chữ ký, kiểm tra nhân dạng của Đờ-cát”. Đồng chí Hồ Quang Hóa lúc đó là Trưởng ban Tác chiến Đại đoàn 312 đã kiểm tra kỹ lưỡng. Tuy vậy, Đại tướng vẫn cử đồng chí Cao Pha - Phó ban 2 mặt trận trực tiếp xuống xác minh, đề phòng địch đánh tráo chỉ huy. Đứng ở hàng trên, Đờ-cát đội mũ đỏ, cầm gậy chỉ huy, mặt cúi xuống đất.

Đại đoàn 304 tiếp tục tiêu diệt nốt bọn địch ở Hồng Cúm. Đến 2 giờ 30 phút ngày 8 tháng 5 năm 1954, toàn bộ quân địch còn lại ở Điện Biên Phủ bị bắt. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký, ta chủ trương nghiêm chỉnh chấp hành việc trao trả tù binh. 9 giờ sáng thứ 7 ngày 3 tháng 9 năm 1954, tại Việt Trì. Hôm ấy vào ngày nghỉ lễ của người Pháp, nên các sĩ quan Pháp về Hà Nội từ sớm để chuẩn bị tiệc rượu và vui chơi. Ở lại chỉ có hạ sĩ quan, binh lính, thì xe của ta chở tướng Đờ-cát tới. Ta trao trả theo đúng thủ tục nhưng phía Pháp lính tráng đang cởi trần, mặc đồ lót, râu rậm rì. Vì vậy cuộc đón tiếp của phía Pháp dành cho Đờ-cát không được trang trọng lắm. Không rõ khi về Hà Nội, tướng Đờ-cát có được đón tiếp long trọng không? Nhưng dù sao cuộc nói chuyện với vợ hồi 16 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954 cũng đã được thực hiện.

Năm 1968, đoàn đại biểu của ta đàm phán với Mỹ ở Pa-ri, trong một bữa tiệc, ta có mời Đờ-cát dự. Tướng Hồ Quang Hóa, thành viên của Đoàn, nguyên Trưởng ban Tác chiến Đại đoàn 312, người ta đã thẩm tra nhân thân Đờcátxtơri ở Điện Biên Phủ kể lại: “Trong bữa tiệc, nhiều phóng viên nước ngoài đã xúm lại hỏi ông ta về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Đờ-cát trả lời: Mỹ hãy cút khỏi Việt Nam”.

Khi trở về với vợ con và gia đình, Đờcátxtơri cũng muốn trở lại thăm Điện Biên Phủ nhưng ông ta đã không may mắn như nhiều cựu chiến binh Pháp năm xưa. Nhiều người trong số họ đã quay lại thăm Điện Biên Phủ ngày nay. Riêng Đờ-cát đã không thực hiện được điều đó. Thật đáng tiếc!


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:28:29 am

NHỚ CUỘC ĐUA XE ĐẠP NĂM 1994 VỀ CỘI NGUỒN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đại tá NGUYỄN HÙNG THẮNG
Nguyên Phó CHT Bộ CHQS TP. Hồ Chí Minh
Nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 59 Trung đoàn 88, Đại đoàn 308

Anh chị em vận động viên đua xe đạp người miền Nam và một số anh em người miền Bắc từ lâu rất khát khao được tận mắt tham quan di tích Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử “Lững lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Ý nguyện của anh em đã trở thành hiện thực khi được Tổng cục Thể dục Thể thao và bộ môn đua xe đạp tổ chức cuộc đua xe đap về nguồn - về Điện Biên Phủ.

Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thăm Thành phố Hồ Chí Minh, anh em trong Ban tổ chức đã xin gặp Đại tướng và trình bày lộ trình cuộc đua. Đại tướng rất hoan nghênh ý tưởng đó. Sau khi nghe Ban tổ chức báo cáo dự kiến lộ trình, Đại tướng quan tâm, căn dặn cần chú ý những đoạn đường nguy hiểm như dốc Cun (Hòa Bình), đèo Mộc Châu, đèo Pha Đin, v.v... Ngoài ra, do thời tiết luôn thay đổi trong ngày và ở độ cao so với mặt nước biển gần 1.000 mét, có rất nhiều ta-luy dễ sập, nên cần bố trí cho anh em đi khảo sát trước nhằm bảo đảm sức khỏe, an toàn cho đoàn đua. Đại tướng động viên, chúc Ban tổ chức và đoàn đua hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đoàn đua có 22 đơn vị trong nước và 3 vận động viên nước ngoài tham gia. Ngoài đoàn đua nam, còn có một đoàn đua nữ.

Cuộc đua xuất phát từ Hà Nội, điểm xuất phát là tiền sảnh nhà Quốc hội, đối diện với quảng trường Ba Đình. Một điều vinh dự, trước giờ xuất phát, đoàn đua đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến động viên. Trong đoàn đua, có tay đua Vũ Văn Bảy vốn là cua-rơ xuyên Đông Dương thời Pháp thuộc. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, anh là chiến sĩ xe thồ cung cấp gạo cho chiến trường, được Đại tướng bắt tay thăm hỏi ân cần.

Trong cuộc đua lịch sử này, lần đầu tiên Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có bộ phận truyền hình đi theo đoàn để đưa tin về lễ kỷ niệm và truyền hình trực tiếp các chặng đường đua để nhân dân cả nước theo dõi.

Dọc đường, đoàn đua đã nhận được sự giúp đỡ, cổ vũ nhiệt tình của chính quyền và nhân dân các địa phương, rất đông đồng bào các dân tộc tập trung hai bên đường xem, vẫy cờ, hoa, cổ vũ. Đặc biệt, ở các thị trấn, thị xã như Hòa Bình, Mộc Châu, Sơn La, Tuần Giáo, nhân dân ra đón, tiễn rất đông, nên cuộc đua càng thêm phần hào hứng, sôi nổi.

Đoàn đến Điện Biên Phủ trước lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ được tổ chức 2 ngày. Ban tổ chức đã tổ chức cuộc đua xung quanh thị xã Điện Biên với cự ly 36 km cho nhân dân xem. Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh là người đã phất cờ cho đoàn đua xuất phát trước đồi A1. Đoàn đua nữ chỉ đua cự ly 18 km. Cả hai đoàn đua nam nữ đều xuất phát một lần và về đích trước đồi A1, một trong những điểm quan trọng trong tổng thể di tích Điện Biên Phủ.

Ngoài dự lễ kỷ niệm, đoàn đua còn được đi viếng nghĩa trang đồi A1, thăm Him Lam, Độc Lập, Sở chỉ huy Mường Phăng, v.v... Trên đường đua về Hà Nội, đích đến cuối cùng cũng là điểm xuất phát trước tiền sảnh nhà Quốc hội, đúng lúc Quốc hội đang họp tạm nghỉ ra đón đoàn đua về đích.

Sau cuộc đua, Ban tổ chức đã cùng một số vận động viên nước ngoài đến nhà Đại tướng để báo cáo toàn bộ diễn tiến và kết quả cuộc đua. Đại tướng khen ngợi và tặng mỗi người một cuốn sách “Chiến thắng Điện Biên Phủ” có chữ ký của Đại tướng.

Khi ra về, tất cả mọi người ai cũng vui mừng phấn khởi, tăng thêm niềm tự hào về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, về thế hệ cha anh, những người đã làm nên chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:33:03 am

THƠ


Tiếng chim đêm quân hành

“Bắt cô trói cột” rừng xanh1
Chập chùng nhớ khúc quân hành Điện Biên.
Qua rồi đã mấy mươi niên
Tuổi cao đọng lại chút duyên xuân thì
Hành quân chiến dịch còn ghi
“Quyết tâm khắc phục”2 chim gì hở anh?
“Bắt cô trói cột” rừng xanh
Tiếng chim gợi nhớ quân hành bên nhau
Thời gian trôi bạc mái đầu
Năm mươi năm lại thăm cầu Mường Thanh...
Nao nao Nậm Rốm uốn quanh,
Nhớ thương chiến sĩ tóc xanh thuở nào!

                                            HOÀNG VĂN HIỂN


Tiến vào trận địa

Đến gần trận địa hôm nay.
Mọi người tấp nập như mây gặp rồng.
Kể sao cho hết anh hùng.
Xông lên giết giặc vô cùng vẻ vang.
Đường đi nước ngập mênh mang.
Dưới chân lội nước trên ngàn trời mưa.
Dù là cơm sáng cơm trưa.
Miếng cơm trộn lẫn nước mưa của trời.
Anh em ta vẫn vui tươi.
Tiến lên trận địa người người hô vang.
Súng to súng nhỏ sẵn sàng.
Hô lên một tiếng nổ vang khắp trời.
Đánh cho giặc chết tơi bời.
Đánh cho giặc chết bỏ đời tại đây.
Đánh cho lừng lẫy chiến trường.
Đánh cho giặc Pháp đau thương suốt đời.
Bảo cho giặc Pháp biết rằng.
Việt Nam đất nước anh hùng muôn năm.

                                              VĂN THỊ PHƯƠNG HOA

______________________________________
1. Rừng Điện Biên Phủ đêm hành quân nghe tiếng chim “bắt cô trói cột”.
2. Bộ đội hành quân đổi “bắt cô trói cột” thành “quyết tâm khắc phục”


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:34:48 am

Chiến hào

Chiến hào nước ngập bàn chân
Ầm ầm pháo rót như gần đâu đây
Khói bom mờ mịt chân mây,
Cố tranh thủ chén mặc thây quân thù
Hơi cơm ấm quyện bụi mù
Một hàng pháo sáng vi vu đỉnh đầu
Tối mò chờ đợi từ lâu
Thằng Tây phục vụ đèn xâu đầy trời
Lính ta khoái chí bật cười
Ngày mai xáp trận cho xơi kẹo đồng.

                                             HÀ HẠNH


Khải hoàn

Tin vui ngày bảy tháng năm
Na-va thua trận, lính hàng khắp nơi
Hò reo chiến thắng vang trời
Mừng sinh nhật Bác còn lời nào hơn
Xin dâng một bó hoa thơm
Tri ân liệt sĩ, cảm ơn bạn bè
Năm châu bốn biển hướng về
Việt Nam dân tộc, xin thề noi theo
Châu Phi phải quyết một keo
Vùng lên giải phóng, hò reo phá xiềng
Xứng danh Dân tộc Anh hùng.

                                             HÀ HẠNH



Sáng ngời Điện Biên

Đỉnh cao thế kỷ hai mươi
Điện Biên chấn động đất trời đảo điên
Nét son mãi mãi thiêng liêng
Tạc vào hồng sử đẹp tên Bác Hồ
Chặng đường giữ vững cơ đồ
Điện Biên Phủ ấy... giấc mơ ngàn đời
Thực dân, đế quốc rã rời
Tháng năm ngày bảy... sáng ngời Điện Biên

                                               TRẦN THẾ ĐỀ


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:36:34 am

Anh lính pháo

Tuyệt đối tình yêu anh lính pháo
Tâm hồn khao khát mãi xôn xao
Vì dân chiến đấu tình sâu nặng
Vì nước hy sinh nghĩa dạt dào.

Đạn nổ ngăn đường lòng chẳng nản
Bom rơi chắn lối chí không nao
Sơn pháo bảy lăm vào chiến dịch
Đường trường bôn tập vượt đồi cao

Nặng trĩu đôi vai lòng pháo níu
Chắc tay vững bước dưới rừng cây
Chân đồng vai sắt bao năm ấy
Đi khắp chiến trường đánh giặc Tây.

Giải phóng Điện Biên đất nước vui
Quân dân nô nức đón mừng công
Pháo binh đã góp vào công lớn
Truyền thống anh hùng 675

                                    HOÀNG KHOÁT






Suối đầu nguồn
                                        Thiếu tướng TRẦN VĂN GIANG
                                        Nguyên Chuẩn Đô đốc Hải quân
                                        Chính ủy Sư đoàn PK 361 Anh hùng


367 của tôi! Ôi dòng suối nhỏ
Núi biếc rừng xanh mãi tận đầu nguồn
Nước chứa chan ngọt thơm dòng sữa mẹ
Nuôi quân con Phù Đổng vượt lớn khôn

Điện Biên bẻ cánh diều hâu Pháp
Dìm ngập bùn đen “không lực Hoa Kỳ”
Giữ xanh mãi bầu trời xanh đất Việt
Sao Bác Hồ chỉ dẫn lối ta đi

Hôm nay lại về thăm 367
Gặp đồng đội cũ, nhớ chiến trường xưa
Rực rỡ huân chương, điệp trùng đội ngũ
Bao thế hệ con em nhịp bước dưới cờ

Thế mà đã hơn 50 năm rồi đấy nhỉ
Mái tóc bạc phơ vẫn xanh tình đồng chí
Gặp lại nhau xúc động trào tuôn
Ngàn năm ta nhớ mãi suối đầu nguồn!



Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:39:52 am

Chiến sĩ Điện Biên

Tiếng súng đã ngưng
Bốn mươi năm chẵn.
Gió vẫn nóng, nắng chan
Lửa không tắt, mưa thời gian.

Trên đồi A1, Him Lam...
Màu lửa đỏ - hoa Co-ban
Hoa - Lời chào của đất,
Hoa sinh ra đẹp tự bao giờ
Hoa vẫn nở, những tâm hồn bất tử;
Hoa man mác bên ngàn ngôi mộ
Những anh hùng chiến sĩ vô danh...
Hạt cát vàng trên đôi bờ lịch sử,
Sông Nậm Rốm chảy vào lòng nhân loại.

Rừng Tây Bắc mây mờ trắng xóa
Thác sông Đà ca hát suốt đêm đông.
Nơi đêm dài ta vẫn hành quân
Những đại đoàn chân không và xe pháo.
Cánh chim trời trước cơn giông bão
Người gặp người, hỏi bạn dân công:
- Đã bao chiến dịch in hình với bóng.
Cùng nằm đất, chia bom, muỗi, vắt;
Chỉ gặp nhau khi hoàng hôn sắp tắt
Nghe tiếng cười quên cả chiến tranh.

Đường kéo pháo, rừng chen đàn voi sắt
Đá chênh vênh, tựa mây ta chợp mắt
Uống nước Mường Phăng, tắm lửa Pú Hồng.
Con sóc bay trong vết máu chập chờn
Ngọn rau suối mang hình hài tro bụi
Voi sẽ gầm lên bão thép xé trời
Điện Biên.Phủ, chiến trường lên tiếng gọi.

Diệt Him Lam, mở đầu trang sử mới
Những thiên thần cuốc xẻng thô sơ
Xẻ núi, xuyên rừng, băng sông Nậm Rốm.
Máu nhuộm chiến hào, gan phơi đồi dốc.
Đêm ba mươi, các đại đoàn đồng loạt
Những mũi tấn công phía Đông tràn ngập
Chặt đứt sân bay, xe tăng bốc cháy...
Có cuộc chia tay, tuổi xuân phơi phới.
Dứt A1, cho kẻ thù khiếp sợ.

Quân viễn chinh, trăm năm quen ngạo nghễ
“Lê dương”1 thiết giáp, lính dù tinh nhuệ.
Cờ trắng xạc xào, mưa rào nấm mọc.
Thế giới phương Tây bàng hoàng sửng sốt.

Trên cánh máy bay, ai đang chải tóc
Giữa Mường Thanh chiến địa hoang tàn.
Ta bước đi tự hào bao thế hệ.
Hoa thời gian thắm đượm ân tình
“Chiến sĩ Điện Biên” bình dị lung linh!

                                                    1994
                                            NGUYỄN TRÍ VIỆT
_________________________________
1. Légionaire - Lính đánh thuê người Âu.


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:41:07 am

Như người lính tuổi đôi mươi vào trận
                                  Thân quý tặng các bạn đồng đội Cựu chiến binh Điện Biên Phủ

Ta gặp lại nhau
Hơn nửa thế kỷ rồi
Trong vòng tay ôm chặt
Và nụ cười rạng rỡ trên môi
Như người lính tuổi đôi mươi vào trận
Mang trong tim lời ân cần Bác dặn
Đánh trận này phải chắc thắng to!
Từ những hậu phương sông Hồng, sông Mã, sông Lô…
Cả nước hành quân người người lớp lớp
Cả những em gái dân công những bánh xe thồ cũng muốn băng mình lên phía trước
Sục sôi dòng máu anh hùng
Các chiến sĩ pháo binh ta da sắt mình đồng
Cùng lính bộ binh kéo pháo vào ra một lòng quyết chiến
Những Hoàng Văn Nô, Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Trần Can
Đã trở thành những anh hùng không hẹn
Những Hải, Quý, Nhỏ, Vinh nhỏ con mà lẫm liệt hiên ngang.
Trận công kích sau cùng bắt cả bầy tướng giặc quy hàng
Kết thúc 55 ngày đêm địa cầu chấn động
Thỏa lòng bao ước mơ cháy bỏng
Trên chặng đường dài giành trọn vẹn non sông
Lên thăm chiến trường xưa, chúng tôi đã thắp nén hương lòng
Trước anh linh biết bao đồng đội
Khi ngã xuống các anh đâu nghĩ mình cần ca ngợi
Chỉ biết tiến công anh dũng xả thân
Các bạn, các anh ơi! dẫu vắng mặt nơi cõi trần
Nhưng ngọn lửa thiêng tinh thần các anh còn sáng mãi.
Cho Điện Biên hôm nay, cho Việt Nam hôm nay giữa năm châu tứ hải
Đổi mới đẹp giàu trong Độc lập Tự do!
Họp mặt giờ đây đông đủ bất ngờ
Tưởng nhà các anh lại trở về trong nghĩa tình đồng đội
Như vị tướng quân Võ Văn song toàn
Người Anh Cả hôm nào đã nói
“Thôi được gặp nhau là đã quý lắm rồi”

                                                                LÊ NGUYÊN
                                                    Cựu chiến binh Đại đoàn 312


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:43:44 am

Thăm lại Điện Biên

Về thăm chiến trường cũ
Dấu vết xưa đâu còn?
Cả rừng cây gai góc
Nay đồng ruộng xanh rờn...
      Đường lên đồi A1
      Như thoáng bóng đoàn quân
      Tựa thiên thần xuất hiện
      Khiến địch mất tinh thần
Đâu nơi “Hò kéo pháo”
Qua đèo núi vào, ra
Như bất ngờ ẩn hiện
Vẳng tiếng “hò dô ta”?
      Đêm chiến hào dài rộng
      Nơi ẩn nấp ngầm sâu
      Nơi tung đoàn quyết thắng
      Chấn động khắp địa cầu
Và đây hầm cố thủ
U uất mộng xâm lăng
Bia ghi hình tướng giặc
Như thẹn với non sông.
      Cuộc chiến không cân sức
      Nhưng trên dưới một lòng ,
      Muôn đời trong lịch sử
      Rạng rỡ những chiến công
Trời Điện Biên vừa hửng ánh hồng
Núi rừng Tây Bắc tưng bừng sắc hoa...

                                             ĐỖ HOÀNG DUNG




Về Điện Biên thăm lại chiến trường xưa
                                       Kính tặng đồng đội Cựu chiến binh Điện Biên Phủ

Về Điện Biên thăm lại chiến trường xưa
Trận địa đổi thay nhìn không thấy lối
50 năm rồi biết hỏi ai đây
Đoạn hào nào đồng đội đã hy sinh
Những nếp nhà mới mọc thật là xinh
Lấp kín chiến hào xưa tràn chiến tích
Ký ức trào dâng bâng khuâng da diết
Thắp nén hương lòng tưởng nhớ anh linh
Lời thề quyết tử, Tổ quốc quyết sinh
Chiến tích Điện Biên nức lòng nhân loại
Vang lừng thế giới, chấn động địa cầu
Hương linh liệt sĩ ngay hàng thẳng lối
Sống oai hùng, thác rạng vẻ ung dung
Ngàn thu gió ngân khúc nhạc hào hùng
Chung thủy bên nhau lời thề quyết thắng
Thời gian trôi qua lẳng lặng âm thầm
Quên sao được những đêm ngàn gió rít
Hồi ức đêm trường hối hả hành quân
Vang tiếng từ quy “bắt cô trói cột”
“Quyết tâm khắc phục’’ thúc giục các anh
Mang ngái ngủ giật mình sao thảng thốt
Toác oang oang rộn rã bước quân hành
Trở lại Điện Biên ban rừng rực rỡ

                                               HOÀNG VĂN HIỀN


Tiêu đề: Re: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 05 Tháng Mười Một, 2016, 08:45:08 am

Người anh cả
                Kính tặng anh Văn - Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Anh đứng đó giữa mênh mông trời biển
Vị tướng quân lừng lẫy của nhân gian
Anh đã thắng hai đế quốc hung tàn
Bằng sức mạnh nhân VĂN
bằng VÕ công quyết chiến

Chín mươi ba mùa thu vàng vừa đến
Với một trái tim nguyên vẹn thanh cao
Và vầng trán anh minh chí thiện
Anh mãi là ANH - người ANH CẢ ngày nào!

                                          LÊ NGUYÊN



Ngôi sao thế kỷ

Trong hàng Đại tướng ông là Tướng
Ở giữa lòng dân ông - Đại nhân
Họ của ông lung linh “núi Võ”
Bí danh Người lấp lánh “rừng Văn”
Quảng Bình quê lửa nung tâm thép
Hà Nội đất thiêng luyện chí hùng
Sao thế kỷ từ trong tháng Tám
Ngàn năm sau vẫn tỏa huy hoàng.

                                          TRẦN THANH CẢNG

Hết