Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:18:18 pm



Tiêu đề: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:18:18 pm

        - Tên sách: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 2006
        - Số hóa: ptlinh, meofmaths, luc_thao.

        CHỈ ĐẠO CÔNG TRÌNH:

                                     THỦ TRƯỞNG VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

        TỔ CHỨC BẢN THẢO:

                                   - TRẦN NGỌC LONG

                                   - PHAN SỸ PHÚC

                                   - ĐỖ MẠNH CƯƠNG

                                   - NGUYỄN HỒNG DUNG

                                   - NGUYỄN HÀ HẢI

                                   - NGUYỄN ĐĂNG TIẾN


CÙNG BẠN ĐỌC

        Năm 1989, trước yêu cầu đổi mới trong nghiên cứu lịch sử và ý kiến đóng góp của đông đảo bạn đọc, bắt đầu từ số 37(3-1989), Tạp chí Lịch sử quân sự (LSQS) mở chuyên mục “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ”. Từ đó đến nay, cứ đều đặn trên các số, với chuyên mục này, Tạp chí đã đăng tải hơn 200 bài viết liên quan đến các vấn đề lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, lịch sử quân sự thế giới, lịch sử tổ chức quân sự qua các thời kỳ từ cổ đại đến hiện đại; về Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh…”

        Đúng như tên gọi của nó, chuyên mục này đã góp phần trả lại sự thật hoặc làm sáng tỏ thêm một số sự kiện và nhân vật liên quan đến LSQS nói riêng, lịch sử nói chung. Ngay từ khi ra đời, chuyên mục “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” đã thu hút được sự chú ý của đông đảo độc giả. Từ gợi ý của nhiều nhà khoa học và đáp ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc, Ban biên tập Tạp chí LSQS đã tổ chức tuyển chọn trong số các bài viết đã đăng trên Tạp chí thành cuốn sách “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” (Tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự).

        Cuốn sách giúp người đọc tiếp cận sự thật của một số sự kiện, nhân vật mà lâu nay, vì nhiều lý do, được phản ánh không đúng hoặc thiếu chính xác trên sách, báo và diễn đàn khoa học. Do số lượng bài viết của chuyên mục này rất lớn, đề cập tới nhiều vấn đề của LSQS và lịch sử nói chung, trong khi dung lượng cuốn sách lại có hạn, nên trên từng lĩnh vực chúng tôi chỉ tuyển chọn một số bài. Những bài có nội dung trùng lặp, những vấn đề sau khi được nêu trên Tạp chí đã được các cơ quan hữu quan, các tác giả tiếp thu, “sửa lại cho đúng” hay những vấn đề mà tính khoa học và tính thực tiễn còn hạn chế, đều không tuyển chọn đưa vào cuốn sách này.

        Để tiện cho việc theo dõi của độc giả, cuốn sách được sắp xếp nội dung theo trình tự thời gian: Một số vấn đề  “sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” trước Cách mạng Tháng Tám 1945; trong kháng chiến chống thực dân Pháp; trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và một số vấn đề khác.

        Một số bài được viết cách đây gần 20 năm, văn phong sử học và phương pháp nghiên cứu, tiếp cận đến nay có thể có nội dung đã trở nên bất cập, song với tinh thần tôn trọng các tác giả; đồng thời để bảo đảm tính lịch sử nên nội dung các bài viết được tuyển chọn về cơ bản đều được giữ nguyên.

        Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng có điều kiện để nhìn nhận lại và tiếp cận tới sự thật lịch sử một cách khách quan, thấu đáo hơn; và “Lịch sử chỉ diễn ra một lần-viết sử phải viết nhiều lần”. Mục đích của những người tham gia biên soạn cuốn sách này cũng là nhằm góp phần trả lại và làm sáng tỏ hơn sự chân thực cho lịch sử.

        Việc tuyển chọn và biên soạn 88 trong tổng số gần 200 bài viết liên quan chuyên mục "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ" đăng trên Tạp chí LSQS là một công việc khó khăn; đòi hỏi phải có sự cân nhắc thận trọng và kỹ lưỡng. Mặc dù những người thực hiện đã có nhiều cố gắng song chắc chắn cuốn “Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ” (Tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự) sẽ không tránh khỏi những hạn chế, sai sót. Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiên của bạn đọc để có thể sửa chữa, bổ sung cho lần tái bản sau.


VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM       


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:51:17 pm
        
PHẦN I



VỀ VỊ TRÍ CỬA SÔNG HÁT NƠI HAI BÀ TRƯNG PHẤT CỜ KHỞI NGHĨA1

NGUYỄN QUANG NGỌC        

        Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa toàn dân vừa mang tính chất quy tụ, vừa mang tính chất toả rộng. Tại cửa sông Hát, Hai Bà Trưng bí mật tập hợp nghĩa quân nòng cốt mở hội thề rồi tiến đánh Đô úy trị (Hạ Lôi, Mê Linh, Hà Nội), tiến xuống Tây Vu, đánh chiếm thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và mở cuộc tiến công quyết định giải phóng Luy Lâu (Lũng Khê, Thuận Thành, Hà Bắc) đánh đổ chính quyền đô hộ nhà Hán ở Giao Chỉ. Mặt khác, do có sự chuẩn bị từ trước, nhân dân các địa phương đều đồng loạt nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hát Môn, giải phóng quê hương, làm cho cuộc khởi nghĩa thành công rất nhanh gọn. Do đó, nhắc đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, điều quan trọng trước tiên phải nói đến là cửa sông Hát. Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng quả thực cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào xác định và mô tả tương đối cụ thể về một vùng cửa sông Hát, nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Bài viết này được hình thành trên cơ sở tư liệu khảo sát thực địa cách đây vừa đúng 10 năm, hẳn là không khỏi lạc hậu so với những thành tựu nghiên cứu mới, song chúng tôi vẫn xin mạnh dạn được trình bày.

        Sông Hát thực ra chỉ là một tên gọi khác của sông Đáy. Sách Đại Nam nhất thống chí chép “Sông Bạch Hạc: ở cách huyện Bạch Hạc 22 dặm về phía Tây, hoặc gọi là ngã ba do các sông Thao, Đà, Lô hợp dòng mà thành…lại chảy về phía Đông qua địa giới hai huyện Tiên Phong và Phúc Thọ gồm 28 dặm, đến bến Phù Nhi, lại chảy 24 dặm đến phía Nam xã Hát Môn, thì chia ra một chi làm sông Hát”2... “Sông Hát ở cách huyện Phúc Thọ 17 dặm về phía Đông, do hạ lưu sông Bạch Hạc chảy vào, cửa sông nông, về mùa đông và mùa xuân có thể lội qua được, về mùa hạ và mùa thu, nước lũ đổ đến, nước từ sông này chảy về phía Nam qua các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng và Yên Sơn, chảy quanh co 54 dặm đến địa phận huyện Chương Đức tỉnh Hà Nội thì hợp với sông Tích”3.

        Như thế, sông Hát (hay sông Đáy) nhận nước từ sông Hồng chảy qua địa bàn ba tỉnh Hà Tây, Nam Hà và Ninh Bình rồi đổ ra cửa biển Thần Phù.

        Sách Thủy kinh chú-cuốn sách ra đời cách đây khoảng 1.500 năm, khi mô tả đất Giao Chỉ cũng chỉ bám vào hệ thống sông Diệp Du (tức sông Hồng) và cho biết các nhánh sông khác tương đương với các sông Cà Lồ, sông Đuống, sông Hát, khi ấy là những dòng sông lớn và là mạch máu giao thông quan trọng ở Giao Chỉ. Theo dòng sông Hát, người ta có thể đi từ Mê Linh qua Chu Diên và vào tận Cửu Chân (Thanh Hoá). Sông Hát trong thực tế là đường giao thông chính, cổ nhất và quan trọng nhất nối liền Giao Chỉ với Cửu Chân.

        Sông Hát, nơi kết tinh của nhiều huyền thoại mà bộ địa lý học lịch sử đầu tiên của nước ta đã không thể không nhắc đến “Hát Giang ở huyện Phúc Lộc. Tương truyền sông Hát phát nguyên từ Giang Hán, trong sông có cây chiên đàn cao hơn 10 trượng; lâu năm cây già, rễ cây xuyên thông với sông Giang Hán, cá anh vũ đi theo đấy về phía Nam. Các triều bắt cống cá ấy để cúng tế”4.

        Sông Hát cũng đã nhiều lần được tô đẹp bằng những áng thơ văn khiến cho người đọc khó lẫn, khó quên. Phạm Đình Hổ, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã từng đứng trên đỉnh núi Viễn Sơn (Sơn Tây) mà nhìn "sông Hát Giang vòng quanh phía Đông như một dải lụa trắng, lại vòng từ phía Bắc ra phía Đông, nước chảy uốn éo quanh co. Lác đác như lá tre điểm xuyết trên tấm lụa, ấy là những chiếc thuyền đi trên mặt sông"5. Và sông Hát sống mãi với lịch sử đất nước bởi vì nơi đây là nơi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, nơi chứng kiến những kỳ tích anh hùng của dân tộc cách ngày nay gần 2.000 năm.

        Cửa sông Hát bây giờ là nơi giáp giới giữa Trung Châu và Vân Nam cách Hát Môn 3 km về phía Đông Bắc. Đây là cửa sông mới đào vào cuối thế kỷ XIX. Theo trí nhớ của nhân dân địa phương và theo tài liệu khảo sát thực địa của một số nhà nghiên cứu đã công bố thì cửa sông Hát là cống Ba Xuân thuộc thôn Vĩnh Thọ xã Vân Phúc, cách đền Hát Môn 5 km về phía Tây Bắc. Dòng nước từ cống Ba Xuân chảy qua vùng bãi đất mới hình thành của Vân Nam qua Hát Môn. Chắc chắn cửa sông này cũng được hình thành muộn và không có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Vậy cửa sông Hát thời kỳ Hai Bà Trưng (hay có liên quan đến khởi nghĩa Hai Bà Trưng) ở đâu?

        Sông Hồng vốn là một dòng sông có lưu lượng nước rất lớn và có độ dốc cao, nước chảy xiết. Mỗi mùa mưa lũ, dòng nước lại làm thay đổi địa hình hai bên bờ sông, thậm chí có làng trước mùa mưa lũ đang đông vui mà qua mùa mưa lũ đã thành lòng sông. Trái lại có chỗ vốn là lòng sông mà chỉ sau một vài năm đổi dời lại nổi lên thành bãi. Nhiều năm trước đây chúng tôi có dịp đi dọc theo bờ sông Hồng từ huyện lỵ Phúc Thọ xuôi xuống đến xã Liên Hà huyện Đan Phượng để tìm hiểu về tình hình tự nhiên, xã hội, các di tích lịch sử, địa danh, tình hình di dịch dân cư và vấn đề hình thành làng xã trên một đoạn dọc theo bờ sông Hồng dài 15 km và chúng tôi nhận thấy:

        1. Về địa danh các làng xã kéo thẳng từ Cẩm Đình (Phúc Thọ) xuống đến Liên Hà (Đan Phượng) hầu hết đều có các từ châu; hà, hồng, sa: thí dụ Trung Châu, Phú Châu, Nam Châu, Hồng Hà, Liên Hồng, Liên Hà, Nại Sa, Sa Khúc…Sở dĩ người ta đặt tên như vậy vì trước đó khu vực này là lòng sông hoặc bãi bồi. Nếu khảo sát lui vào phía trong đê thì hầu như không có các địa danh được gọi theo kiểu này. Nhân dân trong vùng phân biệt rất rõ ràng địa vực “trong đồng", "ngoài bãi"; xóm “trong đồng", xóm "trại"...

        2. Về chất đất ở phía bên trong đường ranh giới chúng tôi vừa nêu ở trên là đất thịt hay đất cát pha, còn phía ngoài thì hoàn toàn là đất phù sa, cát bồi.

        3. Các truyền thuyết về quá trình khai hoang lập làng cũng như các giấy tờ còn lại của các làng, các họ ở vùng phía ngoài đường ranh giới trên đều xác nhận: hầu hết họ có gốc ở bên kia sông, một số ít thì ở phía trong đường ranh giới chuyển ra.

        4. Hầu hết các đền miếu ở phía ngoài đường ranh giới đều mới lập và sao thần tích từ quê cũ ở bên kia sông hay ở phía trong đường ranh giới ra thờ vọng.

        Kết hợp tất cả các nguồn tư liệu có được, chúng tôi có thể xác định được ranh giới giữa vùng đất đã ổn định với vùng bãi bồi và qua đó có thể xác định được đã có một thời từ cách đây rất xa bờ sông Hồng chính là đường ranh giới này và đường ranh giới đó vẫn ổn định cho đến ngày nay.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1993. Tên các đơn vị hành chính trong bài viết vẫn được giữ theo thời điểm năm 1993 (Ban Biên soạn).

        2, 3. Đại Nam nhất thống chí, tập 4. NXB KHXH, Hà Nội. 1969, tr. 208, 209.

        4. Nguyễn Trãi toàn tập, NXB KHXH, Hà Nội, 1976, tr. 223.

        5. Phạm Đình Hổ. Vũ trung tùy bút. NXB Trẻ, Tp. HCM, 1989, tr. 17.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:54:56 pm

        Điều này hoàn toàn trùng hợp với những di tích và truyền thuyết ở khu vực Hát Môn hiện nay.

        Đền Hát Môn như các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thống chí cũng như tất cả các thần tích, ngọc phả viết về Hai Bà Trưng và tướng lĩnh của Hai Bà đều xác nhận là di tích chính và lâu đời nhất, được lập ra ở cửa sông Hát để thờ Hai Bà ngay từ khi Hai Bà mới mất6. Mặc dù từ khi xây dựng cho đến nay, đền đã trải qua rất nhiều lần trùng tu, sửa chữa, nhưng qua ký ức dân gian và các di tích, di vật còn lại thì có thể tin được rằng vị trí của đền chưa từng bị thay đổi, di chuyển. Nói một cách khác đền vẫn ở trên vị trí cũ từ khi mới khởi dựng cho đến nay.

        Về kiến trúc, đền Hát Môn không có gì đặc biệt. Phía trong tam quan có nhà tả mạc, hữu mạc, đại bái, nhà thiêu hương, hậu cung. Trong đền có bệ thờ hai cây quéo vì theo truyền thuyết thì Hai Bà khi bị bại trận đã chạy về Hát Môn gặp bà hàng nước và ăn quả quéo quê hương. Miếu thờ bà hàng nước đến nay cũng vẫn còn ở trước cửa đền ngay trên đê Cựu. Nét đặc biệt nhất là ở đền Hát Môn, bài vị Hai Bà Trưng và các đồ thờ đều sơn đen (cũng phải nói thêm là trong đền có một số đồ thờ màu đỏ là do người đời sau mới cung tiến, đấy không phải là đồ thờ gốc). Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Trong đền thờ Bà Trưng, phàm kỳ án và các đồ tự khí hết thảy đều sơn then, tuyệt nhiên không dùng màu đỏ… tương truyền thần mất vì binh khí, nên kiêng màu  đỏ giống máu”7. Như thế ở đền Hát Môn đến nay vẫn còn giữ được phong tục này, kết hợp với các di tích ở địa phương và các sách Hậu Hán thư, Thủy kinh chú, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh… chúng ta có thể tin được rằng Hai Bà Trưng đã hy sinh trong chiến đấu chứ không phải là hai bà "thất thế đành liều với sông" như quan niệm dân gian sau này.

        Ở Hát Môn hiện nay vẫn còn dấu tích con đê cổ và ranh giới trong đồng, ngoài bãi, khu tân dân cư và khu cựu dân cư được phân định rất rõ ràng. Khu cựu dân cư nay là nghĩa trang liệt sĩ, xưa có những chiếc cầu bằng đá, tục truyền đó là bến sông. Xóm phường nằm sát khu cựu dân cư vốn là xóm chài thờ đức thánh Thủy-tương truyền là ông thánh được Hùng Vương phái về trị thủy vùng cửa sông Hát. Dân Hát Môn xưa ở chỗ cựu dân cư (phía trong đê cổ) nhưng sau vì vỡ đê dân làng phải đắp con đê mới lui vào phía trong nên họ mới chuyển vào lập làng ở trong đồng (khu vực gần đền Hát Môn). Tình hình ổn định dần, dân làng kéo nhau ra ở Hát Môn trại và Hát Môn trại trở thành khu vực cư trú chính của dân Hát Môn bây giờ.

        Ở gần đền Hát Môn xưa có ghềnh Triệu là nơi nước chảy dữ dội, rất nguy hiểm với thuyền bè qua lại. Ký ức dân gian về một vùng cửa sông đầy nguy hiểm đó đã khiến người dân Hát Môn liên tưởng đến cái tên làng quê mình: một cửa sông gầm thét? Dấu tích dòng sông cổ chưa bị lấp hết nay vẫn còn ở Hát Môn các đoạn sông cụt và vũng Mắt Rồng rộng hơn chục héc ta, sâu có chỗ đến 3m và chỉ cách cửa đền Hát Môn khoảng 800m.

        Trong khi khảo sát tại địa phương, chúng tôi được ông Hoà (xóm Hát Môn) cho nghiên cứu và sao lại bản đồ của làng vẽ năm 1912 tỉ lệ 1/4.000. Tấm bản đồ này tuy mới vẽ cách đây hơn 80 năm nhưng cũng cung cấp được nhiều thông tin hữu ích về tình hình đất đai và cư dân của Hát Môn xưa.

        Từ những nguồn tư liệu ấy, chúng tôi cho rằng sông Hồng trước đây chảy đến sát cửa đền Hát Môn và chính khu vực cửa đền Hát Môn hiện nay mới là cửa sông Hát có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và chắc chắn cái tên Hát Môn là cái tên cổ được dịch nguyên nghĩa từ cửa sông Hát mà ra. Cũng tại cửa đền Hát Môn nay vẫn còn dấu tích Bãi Cát dài và cồn đất cao hình con rùa cổ vươn dài vào gần cửa đền gọi là đồng Mu Rùa, xưa cây cối mọc um tùm-tương truyền là nơi Hai Bà Trưng tổ chức hội thề và xuất trận.

        Thiên Nam ngữ lục, thiên sử ca dân gian thế kỷ XVII, không chỉ cho biết rõ những lý do mục tiêu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà còn mô tả cảnh quan vị trí của Hát Môn lúc đó:

        “Hát Môn có thế dụng binh

        Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà".

        Hai Bà Trưng đã chọn sông nước Hát Môn làm căn cứ, chọn rừng xanh Hát Môn làm nhà, chọn Bãi Cát dài trên đồng đất Hát Môn làm quảng trường lập đài thề đại hội non sông rồi toả ra giải phóng đất nước...

        Sông sâu Hát Môn từ lâu đã thành đồng bãi xóm làng, rừng xanh Hát Môn thậm chí không còn trong ký ức. Thế nhưng đền Hát Môn-đài kỷ niệm chính của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã gần 2.000 năm vẫn còn đây và mãi mãi còn đây trường tồn cùng đất nước, núi sông này.

------------------
        6. Đại Nam nhất thống chí, Sđd , tr. 222.

            Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB KHXH, Hà Nội, 1983, tr. 147.

            Việt điện u linh. NXB Cửu Long, 1992, tr. 70.

        7. Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 222.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:58:18 pm
     
QUÊ HƯƠNG VÀ NGÀY GIỖ CỦA LÝ NAM ĐẾ8

LÊ THÀNH LÂN        

        Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân ta liên tiếp nổi lên khởi nghĩa chống lại ách thống trị của bọn phong kiến phương Bắc. Đất nước ta như một lò lửa đang nhen nhóm, lúc cháy âm ỉ, lúc bùng lên rực sáng. Cuộc khởi nghĩa trước chuẩn bị tiền đề, khơi nguồn cho cuộc khởi nghĩa sau nổ ra mạnh mẽ hơn, rộng khắp hơn. Lòng yêu nước căm thù giặc của thế hệ này hun đúc truyền lại cho thế hệ sau. Nhiều lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa này là con em của các tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa trước.

        Trong hàng ngàn cuộc nổi dậy có hai cuộc khởi nghĩa đã thành công và giành được độc lập dân tộc trong một thời gian ngắn, nhưng ý nghĩa rất to lớn, dư âm rất vang dội. Đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thế kỷ thứ I và cuộc khởi nghĩa của Lý Bí thế kỷ thứ VI.

        Sau 4 năm độc lập dưới thời Hai Bà Trưng (40-43) là 5 thế kỷ bị Bắc thuộc, rồi mới đến thời Tiền Lý do Lý Nam Đế khai sáng, tồn tại được 59 năm, từ năm 544 đến 602. Tiếp theo đó lại là hơn 300 năm Bắc thuộc nữa mới tới thời tự chủ, bắt đầu từ họ Khúc (905-938). Cũng có thể tính rằng, phải mất gần 340 năm mới tới kỷ nguyên độc lập, mở đầu bằng việc Ngô Quyền xưng Vương vào năm 939.

        Sau 3 năm vừa khởi nghĩa giành chính quyền, vừa tiến hành hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương (541-543), Lý Bí xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên làm vua được 5 năm (544-548). Thực ra ông chỉ có một năm để xây dựng chính quyền, còn 4 năm sau là kháng chiến chống xâm lược.

        Ba nhà vua tiếp theo của triều Tiền Lý là Triệu Quang Phục-Triệu Việt Vương (Dạ Trạch Vương, 548-571), Lý Thiên Bảo-Đào Lang Vương (548-555) và Lý Phật Tử-Hậu Lý Nam Đế 555-602). Thời gian làm vua của các vị vua này có dài hơn, nhưng không quản lý được cả nước, chỉ cát cứ trên những vùng đất không rộng và luôn luôn phải kháng chiến, có lúc lại lục đục đánh nhau.

        Việc nghiên cứu về thời Tiền Lý cho đến nay còn chưa được nhiều. Lúc đó ta chưa thể có sử sách, ký ức dân gian bị hạn chế bởi hoàn cảnh trên, khiến cho việc nghiên cứu của chúng ta ngày nay gặp nhiều khó khăn. Trung Quốc lúc đó vào thời Nam-Bắc Triều, rất rối ren; các cuốn sử của Trung Quốc như Lương thư, Trần thư có ghi chép được đôi điều về tình hình nước ta, nhưng cũng rất sơ lược.

        Đầu kỷ nguyên độc lập, chắc sử sách của các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa chép được bao nhiêu; đến triều Lý, Trần thì đã chép được nhiều bản. Đáng tiếc là phần lớn các bộ cổ sử đó đã bị thất truyền, chủ yếu do sự hủy hoại và vơ vét của giặc Minh trong 20 năm thống trị, từ 1407 đến 1427, chúng thực hiện chính sách “dù một mảnh giấy, một nét chữ, cũng phải hủy diệt hết”. Chỉ còn cuốn Việt sử lược được viết vào đời Trần, mãi đến triều Thanh mới được in ra ở Trung Quốc. Sang triều Lê, khi viết sử, Ngô Sĩ Liên phải than rằng: "Sách vở cả nước thành đống tro tàn". Tình trạng thiếu tư liệu đó khiến cho khi viết về quá khứ xa xôi của dân tộc, nhiều chỗ không được rõ, có đôi chỗ thiếu nhất quán và không phải không có chỗ sai. Để bổ sung cho chính sử nhiều khi phải tham khảo thêm dã sử như truyền thuyết dân gian, ngọc phả, thần phả. Trong một chừng mực nào đấy, có nhẽ bây giờ chúng ta vẫn phải làm như vậy. Nhiều thế hệ các nhà sử học đã phát hiện và giải quyết được nhiều vấn đề nhưng vẫn còn những vấn đề đã được đặt ra nhưng chưa được lý giải một cách trọn vẹn và triệt để. Ở đây, chúng tôi muốn bàn về ngày giỗ và quê hương của Lý Nam Đế.

        Ngày nay, chúng ta chỉ còn biết tên Lý Nam Đế qua thư tịch cổ bằng chữ Hán. Chữ này có hai âm là Bôn và Bí. Lúc đầu khi phiên ra quốc ngữ, các nhà sử học dùng âm Bôn, sau này, do thấy các địa phương thờ ông đều gọi quả bí là quả bầu, có ý kiêng tên huý của ông, nên các nhà sử học đi đến khẳng định tên ông là Lý Bí 9. Trong bài viết, chúng tôi dùng chữ Bí, chỉ những chỗ trích dẫn, chúng tôi để nguyên chữ Bôn, nếu nguyên tác viết như vậy.

------------------
        8. Tạp chí LSQS số 11-1988. Tên các đơn vị hành chính trong bài giữ theo thời điểm năm 1988.

        9. Nguyễn Lương Bích. Những người trẻ làm nên lịch sử, NXB Thanh niên, 1974. tr. 149 và Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 113.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 08:59:52 pm

        Ngày giỗ của Lý Bí.

        Theo Đại Việt sử ký toàn thư10, ông mất ngày Tân Hợi tháng Ba năm Mậu Thìn. Dùng cuốn Lịch và niên biểu 2000 năm11 do chúng tôi soạn mà đổi thì là ngày 20 tháng Ba năm Mậu Thìn, theo dương lịch là ngày 13 tháng 4 năm 548. Như vậy cũng khớp với Trần thư mà Lịch sử Việt Nam12 đã dẫn là ông mất vào tháng 3 năm Thái Thanh thứ 2 đời Lương Vũ Đế.

        Trước đây, khi soạn Lịch Văn hoá tổng hợp 1987-1990, chúng tôi đã dựa vào bài Di tích Lý Nam Đế của Minh Tú công bố sai rằng ông mất ngày mùng 2 tháng Năm Mậu Thìn, tức là ngày 24 tháng 5 năm 548. Bài đó dựa vào ngọc phả ở đình Giang Xá xã Đức Giang huyện Hoài Đức-tức là dựa vào dã sử, không thể xem là chính xác bằng chính sử. Vậy, nay chúng tôi xin đính chính lại.

        Vấn đề quê hương của Lý Bí.

        Việc xác định quê hương của ông có nhiều khó khăn, đã từng có thảo luận, đến nay chưa dứt điểm.

        Lúc đầu, phần lớn các nhà sử học đều coi quê ông là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay. Về sau, bắt đầu từ năm 1958, Đào Duy Anh viết trong cuốn Lịch sử Việt Nam rằng quê Lý Bí ở Sơn Tây. Năm 1964, phát triển ý này, ông đã bàn sâu hơn trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời. Tiếp theo là Đỗ Đức Hùng, năm 1980, trong bài Về tên đất Thái Bình-quê hương Lý Bôn13; năm 1983, Nguyễn Vinh Phúc trong bài Quê hương Lý Bí14 đã bàn một cách chi tiết theo hướng quê Lý Bí ở Sơn Tây. Gần đây, năm 1986, lại có bài của Phạm Thị Nết trong cuốn Danh nhân Thái Bình15 quay trở về với ý kiến coi quê ông ở tỉnh Thái Bình.

        Vậy là hình thành hai khuynh hướng cơ bản khác nhau: khuynh hướng 1 (KH1) coi quê Lý Bí ở tỉnh Thái Bình hiện nay; khuynh hướng 2 (KH2) coi quê ông ở tỉnh Sơn Tây cũ, nay là các huyện ngoại thành ở phía tây Hà Nội. Chúng tôi ủng hộ KH2.

        Quê hương Lý Bí không thể là tỉnh Thái Bình.

        Chúng tôi thấy lập luận của Phạm Thị Nết-đại diện cho KH1 có 4 nhược điểm sau đây:

        Một là, có thể Phạm Thị Nết chưa tham khảo hết các tài liệu có bàn đến vấn đề này. Chúng tôi không thấy chị dẫn ra cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, cũng như bài Quê hương Lý Bí của Nguyễn Vinh Phúc. Có thể vì thế mà chị chưa nắm hết các lập luận chủ yếu của KH2.

        Hai là, khi Phạm Thị Nết viết rằng đa số các nhà nghiên cứu theo KH1, chị đã không chú ý đến một thực tế là một số lớn trong số đó đã thay đổi ý kiến, chẳng hạn như Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn (cùng với Phan Huy Lê và Lương Ninh) khi viết Lịch sử Việt Nam vào năm 1983 đã không còn theo KH1 như khi viết Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, năm 196316; cũng như Trương Hữu Quýnh (cùng với Phan Đại Doãn) khi viết Danh nhân lịch sử Việt Nam năm 198717, không còn theo KH1 như khi viết Lịch sử Việt Nam, năm 197018. Rất có thể các nhà nghiên cứu khác cũng đã bị thuyết phục mà thay đổi ý kiến, nhưng chưa có dịp biểu lộ ý kiến mới của mình.

        Ba là, Phạm Thị Nết có phê phán một chỗ trích dẫn Việt sử thông giám cương mục19 chưa thật chính xác của Đỗ Đức Hùng, nhưng theo chúng tôi, lỗi đó không quan trọng; điều quan trọng là chị đã không bàn thẳng vào các luận cứ cơ bản của KH2 mà chúng tôi nêu lại dưới đây.

------------------
        8. Tạp chí LSQS số 11-1988. Tên các đơn vị hành chính trong bài giữ theo thời điểm năm 1988.

        9. Nguyễn Lương Bích. Những người trẻ làm nên lịch sử, NXB Thanh niên, 1974. tr. 149 và Lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 113.

        10. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB KHXH, Hà Nội, 1972, tr. 161.

        11. Lê Thành Lân. Lịch và niên biểu Việt Nam.

        12. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh. Lịch sử Việt Nam, tập 1. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985, tr. 291.

        13. Đỗ Đức Hùng. Về tên đất Thái Bình, quê hương Lý Bôn, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 191, 1989, tr. 63-65.

        14. Nguyễn Vinh Phúc. Quê hương Lý Bí, báo Hànội mới, số 4797, ngày 17-7-1983.

        15. Phạm Thị Nết. Vấn đề quê hương Lý Bí và sự nghiệp dựng nước của ông, trong sách Danh nhân Thái Bình, tập 1, Sở VHTT Thái Bình. 1986, tr. 17-41.

        16. Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam,tập 1, Hà Nội, 1963, tr. 1 42.

        17. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn. Danh nhân lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1987, tr. 23.

        18. Trương Hữu Quýnh. Lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, 1970.

        19. Việt sử thông giám cương mục. Tiền biên, tập 2, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:02:06 pm

        Để bác lại KH1, những người theo KH2 có hai lập luận cơ bản rất thuyết phục là:

        1. Nguyễn Vinh Phúc viết: "Nếu bảo huyện Thái Bình ở tỉnh Thái Bình ngày nay là quê hương Lý Bí thì e không hợp lý, vì huyện đó sau đổi là huyện Thái Ninh và gần đây là huyện Thái Thụy. Vậy mà đến thế kỷ X, biển vẫn còn vào tận thị xã Thái Bình, nơi có làng Kỳ Bá tức Kỳ Bố hải khẩu (cửa biển Kỳ Bô), chỗ đóng quân của sứ quân Trần Lãm. Ngược lên 4 thế kỷ, vùng Thái Thụy, hằn vẫn còn là biển hoặc bãi lầy, không thể là căn cứ của họ Lý là một họ đã từng 7 đời làm hào trưởng"20.

        2. Đỗ Đức Hùng viết: "Ngọc phả của đình (ở Thái Thụy, Thái Bình) không chép đây là quê Lý Bí mà chỉ kể rằng Lý Bí đi đánh giặc ở Hợp Phố có đi qua đây, cắm sinh từ để đóng quân, nên dân làng thờ"21.

        Khi ngả về KH2 này, Trần Quốc Vượng trong Lịch sử Việt Nam viết: "Hai làng Tử Các và Các Đông ở Thái Thụy, Thái Bình có hai đình thờ Lý Bí, nhưng vùng này chỉ cách biển 2 km, dân mới khai thác chừng vài năm nay, có lẽ thế kỷ VI còn là vùng biển hay vùng lầy. Dân gian cũng không cho đấy là vùng quê Lý Bí"22.

        Với hai luận cứ trên, ta có thể loại trừ khả năng coi quê Lý Bí ở tỉnh Thái Bình hiện nay. Còn để khẳng định quê ông ở các huyện ngoại thành phía tây Hà Nội thì khó hơn một chút, chúng tôi sẽ trình bày khi phân tích các thư tịch cổ.

        Bốn là, khi Phạm Thị Nết viết: "Về đại thể, nguồn thư tịch cổ chỉ cho biết: Lý Bí người Thái Bình thuộc Long Hưng"23, chị đã không phân tích chi tiết để thấy có sự khác nhau trong các thư tịch cổ và cả những mâu thuẫn và sai sót trong đó.

        a. Theo chúng tôi, tài liệu cổ nhất mà nay chúng ta còn có trong tay là Việt điện u linh, ta tạm coi tài liệu này có từ năm 1329, chỉ viết rằng: "Về đời Vũ Đế nhà Lương (nước ta thuộc Lương 502-540) ở huyện Thái Bình thuộc Giao Châu có ông Lý Bôn...”24. Huyện thời đó là một đơn vị hành chính quá lớn mà ta thì muốn biết cụ thể làng xã nào. Ngặt nỗi, xưa từng có hai huyện Thái Bình khiến người đời sau, chẳng hạn bắt đầu từ triều Lê, không rõ huyện Thái Bình nào, vì thế mà nhầm lẫn.

        b. Cuốn sử viết vào năm 1377 là Việt sử lược chỉ viết: "xưa người trong châu là Lý Bí…"25, thực ra không cho ta biết thêm điều gì.

        c. Trải qua bao biến cố, 300 năm sau, vào triều Lê Trung Hưng, mới xuất bản Đại Việt sử ký toàn thư (in năm 1697). Sách đó viết: "Vua họ Lý, huý Bôn, người Thái Bình, phủ Long Hưng"26. Theo đấy thì huyện Thái Bình, quê Lý Bí, thuộc phủ Long Hưng, tức là thuộc đất Thái Bình hiện nay. Có nhẽ bắt đầu từ đấy có sai sót. Dưới đây, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ điều này.

        d. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: "Tiền Lý Nam Đế họ Lý, tên Bôn, là người làng Thái Bình (quận) Long Hưng"27 là theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng lại cho Thái Bình là làng, có nhẽ như vậy là thêm sai.

        e. Việt sử thông giám cương mục bắt đầu chú ý đến huyện Thái Bình, nhưng vì dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư nên lúng túng và thiếu nhất quán, Việt sử thông giám cương mục chua: "Sử cũ chép Lý Bôn là người Thái Bình, thuộc Long Hưng. Nay xét tên Thái Bình đặt từ năm Vũ Đức thứ 4 (621) triều Đường, tên Long Hưng đặt từ đời Trần (1225-1400). Đời Lương không có tên đất này. Sử cũ chỉ theo đó mà truy gọi thôi. Bây giờ ở xã Tư Đường, huyện Thụy Anh, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Thái Bình), còn thờ Lý Bí"28.

-------------------
        20. Nguyễn Vinh Phúc. Quê hương Lý Bí, báo Hànộimới, số 4797, ngày 17-7-1983.

        21. Vấn đề quê hương Lý Bí và sự nghiệp dựng nước của ông, Sđd , tr. 17-41.

        22. Lịch sử Việt Nam, Sđd, tr. 285.

        23. Vấn đề quê hương Ly Bí và sự nghiệp dựng nước của ông, Sđd , tr.17-41.

        24. Lý Tế Xuyên. Việt điện u linh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1960, tr.17.

        25. Việt sử lược, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960. tr.29.

        26. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 , NXB KHXH, Hà Nội, 1972, tr. 117.

        27. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1. NXB Sử học, Hà Nội. 1960, tr.155.

        28. Việt sử thông giám cương mục. Tiền biên, tập 2, NXB Văn Sử Địa. Hà Nội, 1957, tr.1.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:04:41 pm
           
        Đoạn này có mấy ý cần nhấn mạnh:

        1. Sử cũ ở đây là Đại Việt sử ký toàn thư.

        2. Thời Lý Bí (503-548) chưa có Thái Bình, mà cũng chưa có Long Hưng.

        3. Tên huyện Thái Bình được đặt vào năm 621, ngay ở thế kỷ sau. Lê Quý Đôn viết trong Vân đài loại ngữ: nhà Đường lên làm vua năm Vũ Đức thứ 5 (622) (vua Cao Tổ), đặt ra An Nam đô hộ phủ, tên An Nam bắt đầu từ đây, gồm có 17 châu, phủ: 1-Giao Châu, thống trị 8 huyện: Tống Bình, Thái Bình, Giao Chỉ... 2-Phong Châu (xưa là Văn Lang)...29. Chú ý là huyện Thái Bình nay thuộc đất tỉnh Sơn Tây, như chúng tôi sẽ phân tích ở dưới.

        4- Đến đời Trần mới đặt quận Long Hưng. Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời viết: "Sử chép rằng nhà Trần (Thái Tông) đổi 24 lộ đời Lý làm 10 lộ, nhưng không chép rõ danh sách các lộ. Trong sử lại thấy chép tên 15 lộ là: Thiên Trường, Long Hưng... Phủ Long Hưng: huyện Ngự Thiên, huyện Duyên Hà, huyện Cổ Lan, huyện Thần Khê"(30). Đại Nam nhất thống chí có nói đến phủ Thái Bình và phân phủ Thái Bình rồi ghi rõ: "Đời Hán là đất Giao Chỉ, đời Lý là hương Thái Bình; đời Trần là lộ An Tiêm, đều là đất phủ Thái Bình cả; thời Minh là huyện Thái Bình lệ vào phủ Trấn Nam"31. Người dịch còn ghi chú phủ Thái Bình đó và phủ Kiến Xương sau thuộc tỉnh Thái Bình.

        Tỉnh Thái Bình được thành lập ở giữa thời Nguyễn: “năm Thành Thái thứ 6 (l894), lấy huyện Đông Quan, Thụy Anh, Quỳnh Côi, Phụ Dực của phủ Thái Bình; ba huyện Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải của phủ Kiến Xương; hai huyện Duyên Hà, Hưng Nhân của phủ Tiên Hưng tỉnh Hưng Yên, đặt làm tỉnh Thái Bình, đổi phủ Thái Bình làm phủ Thái Ninh"32.

        5. Điểm mấu chốt là huyện Thái Bình năm 621 nêu ở điểm 3 khác với phủ Long Hưng hay huyện Thái Bình thuộc tỉnh Thái Bình nêu ở điểm 4.

        Chính Đại Việt sử ký toàn thư sai khi ghép huyện Thái Bình ở điểm 3 với phủ Long Hưng nêu ở điểm 4. Việt sử thông giám cương mục theo đó nên tiếp tục sai và có mâu thuẫn. Bây giờ chúng tôi lập luận để thấy rõ huyện Thái Bình nêu ở điểm 3 lập năm 621 là thuộc tỉnh Sơn Tây xưa hay thuộc các huyện ngoại thành phía tây Hà Nội nay. Có ba ý quan trọng sau đây:

        Ý thứ nhất: Đào Duy Anh đã lập luận rất rõ rằng huyện Thái Bình lập năm 621 này thuộc miền đất tỉnh Sơn Tây. Theo "Dã đàm ký" chép trong Tân Đường thư (nước ta thuộc Đường từ 621) nói rằng An Nam đô hộ phủ (Tống Bình) qua các huyện Giao Chỉ và Thái Bình hơn 200 dặm thì đến Phong Châu33. Ta lần lượt xác định 4 địa danh được nêu ở câu trên:

         - An Nam đô hộ phủ lúc đó là thành Tống Bình, mà Tống Bình ở đời Tuỳ là ở phía nam sông Hồng và sông Đuống (gồm cả Gia Lâm và nội thành Hà Nội nay), về sau nó chỉ nằm ở phía nam sông Hồng (Hà Nội nay), còn nam sông Đuống là huyện Long Biên34.

         - Phong Châu "là tên châu ở đời Tuỳ, Đường, đất huyện Mê Linh đời Hán"35. Nguyên đất Phong Châu, vua Hùng xưa đóng đô ở đấy, đời Lê Quang Thuận đặt tên là Bạch Hạc, lời chua trong Dư địa chí36 của Nguyễn Trài nói rằng: “có cây chiên đàn, chim hạc trắng đậu trên cây, nên đặt tên thế"37. Vậy Phong Châu là đất ngã ba Bạch Hạc (Vĩnh Phú), chỗ sông Lô đổ vào sông Hồng.

         - Huyện Giao Chỉ (thuộc quận Giao Chỉ đời Tuỳ, Đường) ở vào khoảng phía nam sông Hồng, quanh vùng Hoài Đức... Như thế thì quận Giao Chỉ đúng là ở phía tây Hà Nội, trên đường Sơn Tây38. Vậy tạm coi huyện Giao Chỉ là vùng xung quanh huyện Hoài Đức ngoại thành Hà Nội nay.

         - Giờ ta thay An Nam đô hộ phủ, Phong Châu, Giao Chỉ bằng Hà Nội; Bạch Hạc, Hoài Đức thì ta thấy vị trí của huyện Thái Bình lập năm 621 phải ở vào khoảng tỉnh Sơn Tây.

----------------------
        29. Lê Quý Đôn. Vân đài loại ngữ, tập 1, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1962, tr.173.

        30, 32. Đào Duy Anh. Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB KHXH, Hà Nội, 1964, tr. 94, 96, 105, 167.

        31. Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 313.

        33 ,34, 35, 38. Đào Duy Anh. Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr. 68, 67, 72, 15.

        36. Nguyễn Trãi Toàn tập, NXB KHXH, Hà Nội, 1976, tr. 220.

        37. Đại Nam nhất thống chí, tập 4, NXB KHXH. Hà NỘI, 1971, tr. 183.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:12:05 pm
       
        Ý thứ hai: Đoạn trích sau đây cũng từ Việt sử thông giám cương mục nói về cuộc đụng độ của hai vị vua triều Tiền Lý vào năm 557 khẳng định huyện Thái Bình này thuộc đất tỉnh Sơn Tây. "Phật Tử kéo quân xuống phía Đông, đánh nhau với Triệu Việt Vương ở Thái Bình, 5 lần giáp chiến chưa phân được thua. Quân Phật Tử phải lùi một ít rồi xin hoà. Việt Vương nghĩ Phật Tử là người họ với Lý Bôn trước, không nỡ tuyệt tình, mới lấy châu Quần Thần làm địa giới chia cho Lý Phật Tử ở về phía Tây nước mình. Lý Phật Tử mới đổi sang ở thành Ô Diên”.

        Lời chua: - Thái Bình: Tên đất. Thời bấy giờ Lý Phật Tử từ trong vùng Di Lạo kéo quân xuống phía Đông, đánh nhau với Triệu Việt Vương ở đấy, sau cắt chia địa giới ở châu Quần Thần thuộc huyện Từ Liêm, thì Thái Bình phải thuộc Phong Châu xưa, tức là Sơn Tây bây giờ. Có thể khảo thêm Địa lý chí trong tân Đường thư mà lấy làm bằng chứng: "Huyện Thái Bình bị cắt đất ra làm Phong Khê". Lại nói: "Phong Khê thuộc Phong Châu”. Nhưng các sách chép không rõ, nên chưa biết đích xác ở đâu. Hai thôn Đường, Nguyễn thuộc Thái Bình sẽ thấy sau này có lẽ cũng là ở đấy. Còn nếu bảo đây là Thái Bình thuộc Sơn Nam thì không phải39. Vậy Việt sử thông giám cương mục khẳng định Phật Tử và Việt Vương đánh nhau năm 557 tại Thái Bình thuộc tỉnh Sơn Tây. Không lý gì mà huyện Thái Bình quê Lý Bí (503-548) lại thuộc tỉnh Thái Bình. Việt sử thông giám cương mục còn chú thêm rằng hai thôn Đường, Nguyễn thuộc Thái Bình, được nhắc đến ở thế kỷ thứ X, là Thái Bình thuộc Sơn Tây.

        Ý thứ ba: Về hai thôn Đường, Nguyễn đó, Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến:

        "Canh Tuất (950)... Tam Kha sai Xương Văn và hai sứ là họ Dương và họ Đỗ đem quân đi đánh hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình"40. Chúng tôi đồng ý với Đỗ Đức Hùng rằng: "Hai thôn Đường Lâm (nay ở thị xã Sơn Tây) và Nam Nguyễn (nay ở Ba Vì) ở sát nhau cách thị xã Sơn Tây ngày nay 5 km dọc theo đường 11A"41. Theo chúng tôi, có thể sau Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha thoán đoạt đã gây bất bình trong họ hàng và nhân dân quê Ngô Quyền là người Đường Lâm và Nam Nguyễn. Nhân dân ở đấy đã nổi lên chống lại Dương Tam Kha, vì thế Tam Kha phải cử quân đi đánh hai thôn đó. Vậy hai thôn Đường, Nguyễn mà sử chép chính là hai thôn Đường Lâm và Nam Nguyễn gọi tắt thuộc huyện Thái Bình tồn tại từ thế kỷ thứ VII thời đường. Thôn Nam Nguyễn nay được gọi là Nam An thuộc xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội42.

        “Ất sửu năm thứ 15 (965)... Vua (Ngô Xương Văn) đem quân đi đánh hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, vào đến cõi, đổ thuyền lên bờ đánh, bị nỏ của quân phục bắn trúng, chết”43. Vậy là Ngô Xương Văn đi thuyền theo sông Hồng lên mạn Sơn Tây, cập bến Hà Tân, đổ bộ lên Đường Lâm, Nam Nguyễn.

        Tóm lại, ta chỉ có thể hiểu được quê hương Lý Bí (503-548), trận địa giao tranh giữa Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục (557) và hai thôn Đường, Nguyễn mà hai lần Ngô Xương Văn đến đánh dẹp (950-965), phải cùng một huyện Thái Bình, được lập năm 621-622 đời Đường thuộc ngoại thành phía tây Hà Nội hiện nay (tỉnh Sơn Tây trước đây). Vậy Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng huyện Thái Bình, quê hương Lý Bí là thuộc phủ Long Hưng được lập đời Trần, nay là tỉnh Thái Bình là không hợp với lý lẽ trên.

        Quê Lý Bí là huyện ngoại thành nào của Hà Nội?

        Nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ KH2, nhưng đi vào chi tiết vẫn có khác nhau, chúng tôi xin bình luận tiếp mấy ý sau:

        Một là, vấn đề "hai thôn Đường, Nguyễn" còn có những ý kiến khác nhau. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí thôn Đường là Đường Lâm, nay thuộc thị xã Sơn Tây. Trần Quốc Vượng cho rằng "Nguyễn là Nguyễn Gia Loan, nơi cát cứ của Nguyễn Khoán, cũng tự xưng là Thái Bình (Nguyễn Gia Loan là tên núi Độc Nhũ hay Biện Sơn ở Vểnh Mô trước thuộc An Lạc, Vĩnh Yên, nay thuộc huyện Mê Linh, ngoại thành Hà Nội44). Theo chúng tôi, có nhẽ Trần Quốc Vượng muốn nói đến Vĩnh Lạc thuộc tỉnh Vĩnh Phú hiện nay.  

        Chúng tôi ủng hộ ý kiến của Đỗ Đức Hùng đã nêu ở phần trên rằng Nguyễn là Nam Nguyễn (nay là Nam An thuộc Ba Vì) ngay cạnh Đường Lâm, vì nghĩ rằng cuộc nổi dậy thường nổ ra trên những địa điểm gần nhau và cùng một phía bên sông, ít khi ở hai thôn cách xa nhau và bị ngăn cách bằng một con sông lớn như sông Hồng. Việc Nguyễn Khoán lấy tên là Thái Bình chắc không phải theo địa danh vì sử đã ghi địa danh ông cát cứ là Tam Đái45, vả lại 11 sứ quân kia không ai đặt tên theo địa danh.

---------------------
        39. Việt sử thông giám cương mục. Tiền biên, tập 2, tr. 9.

        40. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Sđd, tr. 149, 151.

        41. Về tên đất Thái Bình, quê hương Lý Bôn, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 191, 1980, tr. 63-65.

        42. Bùi Thiết. Làng xã ngoại thành Hà Nội, NXB Hà Nội, Hà Nội, 1985, tr. 30.

        43. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 , Sđd , tr.149, 151.

        44. Lịch sử Việt Nam, tập 1 , Sđd, tr. 285.

        45. Những người trẻ làm nên lịch sử, Sđd, tr. 151.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:14:40 pm

        Hai là, ở huyện Ba Vì còn có làng Thái Bình thuộc xã Đông Thái, xưa thuộc xã Vật Lại46. Bùi Thiết có nhận xét: "Làng Thái Bình là một làng cổ, tên gọi này gợi cho các nhà nghiên cứu tìm kiếm có phải đây là đất Thái Bình, quê hương của Lý Bôn thế kỷ thứ VI"47.

        Chúng tôi không tin vào điều này lắm, vì đây chỉ là một làng, chưa phải là một huyện như Việt điện u linh đã viết mà năm 621 nhà Đường đặt ra, thuộc Giao Châu là một trong 17 châu phủ48, huyện này lại phải chứa Đường Lâm, Nam Nguyễn.

        Chúng tôi còn tìm thấy trong Từ điển thôn xã Việt Nam do Ngô Vi Liễn soạn năm 1924 có huyện Thái Bình thuộc phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông49, nhưng vì Ứng Hoà ở phía nam của Hà Nội, không khớp với những lập luận trên, nên chúng tôi loại trừ ngay, không khảo cứu kỹ về lai lịch của huyện này.

        Ba là, cần bàn kỹ xem huyện Thái Bình đó là vùng nào ở ngoại thành phía tây Hà Nội.

        1. Kết luận của Đỗ Đức Hùng là: ”Giới hạn huyện Thái Bình thuộc vùng đất Giao Châu xưa (thế kỷ VI) nay (1980) là đất các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất và Ba Vì (tỉnh Hà Sơn Bình). Đây là miền đất được các nhà nghiên cứu coi là miền đất cổ, dân cư đã sinh tụ đông đúc từ lâu đời, là miền đất trung tâm của đất nước ta xưa”50. Theo những quy định gần đây nhất về đơn vị hành chính, thì miền đất Đỗ Đức Hùng xác định có lẽ thuộc huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây, huyện Phúc Thọ, Thạch Thất, huyện Đan Phượng và huyện Hoài Đức của Hà Nội cùng huyện Quốc Oai của Hà Sơn Bình nay.

        Liệu có thể thu hẹp phạm vi này lại được không?

        2. Nguyễn Vinh Phúc muốn giải quyết vấn đề đó ông cho rằng: Huyện Hoài Đức có tới năm làng thờ vị anh hùng này: Đại Tự (làng Thía), Lưu Xá (Chồi Lựu), Giang Xá (Chồi Giang), Di Trạch (làng ải), Miêu Nha (làng Ngà, nay thuộc Từ Liêm). Ở huyện Đan Phượng có hai nơi thờ Lý Bí: Phương Lang nội và Phương Lang ngoại. Vậy muốn tìm quê hương vị anh hùng này phải hướng về khu vực Đan Phượng, Hoài Đức. Đó là điều hợp lý hơn cả51.

        Chúng tôi đã đi tìm kiếm theo hướng đó, nhưng thật bất ngờ, kết quả là ngược lại.

        3. Khi về Miêu Nha (làng Ngà) xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, ở đấy có đình thờ Lý Nam Đế, chúng tôi được nhân dân địa phương cho biết: đây không phải là quê hương ông mà chỉ là nơi ông đóng quân và đánh giặc.

        Thần phả thôn Di Trạch (xưa là Di Ải, tên nôm là làng Ải), xã Di Trạch, huyện Hoài Đức52, thôn này cũng có đình thờ Lý Nam Đế, cũng ghi rằng quê ông ở Thái Bình, Long Hưng, tức là không phải ở Di Trạch.

        Thần phả làng Giang Xá chồi Giang), xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, nơi thờ Lý Nam Đế mà Minh Tú đã giới thiệu53 cũng không là quê ông.

        Vậy theo cách lập luận ngoại trừ, ta dễ nhận thấy Từ Liêm, Hoài Đức không phải là Thái Bình xưa và cũng không phải là quê hương Lý Bí.

        Chúng tôi còn được biết có năm địa điểm nữa ở Hà Nội có thờ Lý Nam Đế là:

        - Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Đại Tự, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Yên Bệ, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Phương Lang nội, xã Trung Châu, huyện Đan Phượng.

        - Thôn Phương Lang ngoại xã Trung Châu, huyện Đan Phượng.

        Ở Hà Sơn Bình có xã Ngọc Than thuộc huyện Quốc Oai cũng thờ Lý Nam Đế.

        Trong danh sách này có thêm huyện Đan Phượng và huyện Quốc Oai. Tuy chưa có điều kiện đến tất cả các nơi trên, chưa được đọc các thần phả của các làng đó, nhưng bằng trực giác, chúng tôi có phỏng đoán rằng nhân dân các địa phương trên, cũng như thần phả ở đó sẽ không nhận nơi ấy là quê ông mà chỉ biết và nói quê ông ở Thái Bình. Điều này cũng dễ hiểu, bởi nếu có một nơi nào nhận là quê ông thì đã có người phát hiện và chắc chắn giờ đây chúng ta không còn phải bàn đến. Còn một lý do nữa là phần lớn các thần phả được Nguyễn Bính soạn vào thế kỷ XVI, khi mà tác giả bộ Đại Việt sử ký toàn thư đã nhầm rằng quê Lý Bí ở Thái Bình, Long Hưng, nên chắc rằng ông cũng chỉ có thể ghi như vậy.

--------------------
        46, 47. Ngô Vi Liễn. Từ điển thôn xã Việt Nam, 1924, tr. 60-94.

        48. Vân đài loại ngữ, tập 1, Sđd. tr.173.

        49. Ngô Vi Liễn. Từ điển thôn xã Việt Nam, 1924, tr. 15, 60-94.

        50. Về tên đất Thái Bình, quê hương Lý Bôn, Tlđd, tr. 63-65.

        51. Quê hương Lý Bí, Tlđd.

        52. Thần phả thôn Di Trạch, xã Di Trạch, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Lưu giữ tại Ban bảo vệ di tích lịch sử thôn.

        53. Minh Tú. Di tích Lý Nam Đế, Báo Nhân Dân số 1 1659, ngày 8-6-1986.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 09:15:40 pm

        4. Chúng tôi còn được đọc cuốn Lý triều Trung thần Thẩm Động Quý vương Đại vương ngọc phả của trang Nguyên Xá, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây54 do Hàn Lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Đức nguyên niên. Thần phả nói về Trương Chủng (út Quý) quê ở địa phương được Lý Nam Đế phong làm Tiền tướng quân. Thần phả này cũng viết rằng quê Lý Bí ở Thái Bình, Long Hưng như Đại Việt sử ký toàn thư, nghĩa là cũng công nhận quê Lý Bí ở đó. Ở đây lại thêm huyện Thạch Thất không phải quê Lý Bí.

        Cũng có nhiều triển vọng rằng thần phả các làng có thờ các vị vua khác của triều Tiền Lý cũng như các vị tướng của triều đại này khi nhắc tới Lý Bí hoặc là như một người đồng hương, hoặc là không đồng hương của các vị thần làng cũng sê không nhận Lý Bí quê ở đó, mà chỉ ghi Lý Bí quê ở Thái Bình. Để tiên khảo cứu tiếp, chúng tôi xin liệt kê các địa danh này.

        Có năm nơi thờ Lý Phục Man:

        - Thôn Giá Lụa, xã Yên Sở (Cổ Sở), huyện Hoài Đức. Đây là quê của Lý Phục Man.

        - Thôn Mộc Hoàn, xã Vân Côn, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Phương Bằng, xã Song Phương, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Tiên Lệ sặt), xã Tiên Yên, huyện Hoài Đức.

        - Thôn Canh Nậu, xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất.

        Có một nơi thờ Triệu Túc:

        - Thôn Dịch Vọng Trung, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm.

        Có một nơi thờ các ông Trịnh, Đô, Hộ, Quốc là các tướng của Lý Nam Đế: thôn Đức Thượng, xã Đức Hoà, huyện Hoài Đức.

        Có một nơi thờ Lý Thiên Bảo: thôn Phù Long, xã Long Xuyên, huyện Phúc Thọ.

        Có một nơi thờ Đô Bảo, tướng của Triệu Quang Phục: thôn Dịch Vọng Tiền, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm.

        Có ba nơi thờ Lý Phật Tử:

        - Thôn Dịch Vọng Hậu, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm.

        - Thôn Dịch Vọng Sở, xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm.

        - Thôn Mai Dịch, xã Mai Dịch, huyện Từ Liêm.

        Tóm lại, ngoài Trương Chủng được thờ ở Thạch Thất, còn có năm nơi ở Hoài Đức, năm nơi ở Từ Liêm, một nơi ở Thạch Thất, một nơi ở Phúc Thọ có thờ các vị vua hoặc tướng thời Tiền Lý. Chỉ còn huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây là chưa được nhắc tới.

        5. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu mở rộng hơn một chút nữa, khảo cứu đến những nơi thờ Nhã Lang, con của Lý Phật Tử, rất có thể ta cũng thu được thêm những thông tin về triều đại này có liên quan đến quê hương Lý Bí. Chúng tôi thấy có năm nơi thờ Nhã Lang:

        - Xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng.

        - Thôn Chu Chàng, xã Minh Châu, huyện Ba Vì.

        - Thôn Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì.

        - Thôn Phú Cường, xã Phú Cường, huyện Ba Vì.

        - Thôn Bằng Lũng, xã Tiên Phong, huyện Ba Vì.

        6. Thần phả làng Giang Xá55 cho ta biết rằng Lý Bí mồ côi cha lúc 5 tuổi, mồ côi mẹ lúc 7 tuổi, sau làm con nuôi một vị sư khi Lý Bí 13 tuổi, vị sư này về đây tu hành, mang theo cả Lý Bí. Thế là Giang Xá, Hoài Đức trở thành quê hương thứ hai và là đất dấy nghiệp của ông.

        Nếu chi tiết có tính dã sử này đúng, thì có thể góp phần lý giải vì sao tại quê hương ông không có đền thờ ông. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sớm rời quê hương, ông lại chỉ làm vua 5 năm mà chỉ có 1 năm yên hàn, chưa đủ để củng cố chính quyền, triều Tiền Lý không dài, không ổn định, tiếp theo là 300 năm Bắc thuộc. Đó là lý do khiến cho ký ức dân gian về ông không còn gì ở quê hương.

        Nhân đây chúng ta có thể liên hệ đến trường hợp 12 vị tướng của Hai Bà Trưng có quê ở Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi khác, tại đó có đền thờ các vị, nhưng tại quê hương Đường Lâm không còn di tích gì.

        7. Bây giờ chúng ta quay trở lại biện luận một cách chặt chẽ hơn. Trong Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh viết: "Huyện Giao Chỉ-đầu đời Đường, năm 622, tách đất Tống Châu đặt hai huyện Giao Chỉ và Hoài Đức. Năm 627, lấy ba huyện Hoàng Giao, Hoài Đức và Giao Chỉ cho nhập vào huyện Tống Bình và đổi tên huyện Giao Chỉ sang cho châu Nam Từ. Chúng ta có thể đặt huyện Giao Chỉ mới ở đời Đường (huyện Nam Từ cũ) ở phía tây bắc Hà Nội, vào khoảng giữa Hoài Đức và thị xã Sơn Tây"56.

        Huyện Thái Bình đời Tuỳ, Đường so với huyện Giao Chỉ phải xa hơn nữa về phía Tây, tức là phải ở vào khoảng thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì hiện nay.

        Tất cả những phân tích trên đây cho phép chúng tôi tạm rút ra kết luận sau đây:

        Huyện Thái Bình được lập từ thời Tùy, Đường  là quê hương Lý Nam Đế, huyện Thái Bình này nhất thiết phải chứa Đường Lâm, nay thuộc thị xã Sơn Tây và huyện Nam Nguyễn (nay là Nam An) thuộc Ba Vì.

        Phạm vi của huyện Thái Bình có nhiều triển vọng là vùng đất của thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì hiện nay, trong một chừng mực nào đó, có thể bao gồm một phần đất huyện Phúc Thọ và huyện Thạch Thất của Hà Nội và một phần đất huyện Quốc Oai của Hà Sơn Bình, nhưng không thể là vùng đất thuộc các huyện Đan Phượng, Hoài Đức và Từ Liêm.
---------------------
        54. Lý triều Trung thần Thẩm Động Quý vương Đại vương ngọc phả lục, Chi đệ thất bộ (Quốc triều chính bản). Lưu giữ tại Ban bảo vệ di tích lịch sử thôn Nguyên Xá huyện Thạch Thất, Hà Nội.

        55. Di tích Lý Nam Đế, Tlđd.

        56. Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr. 75.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:35:51 pm
        
CÓ MỘT TRẬN QUYẾT CHIẾN TRÊN SÔNG BẠCH ĐẰNG MÙA XUÂN TÂN TỴ (981)57

LÊ ĐÌNH SỸ        

        Cho đến nay, trong giới sử học, còn tồn tại khá nhiều ý kiến khác nhau về cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất và về chiến sự trên sông Bạch Đằng mùa Xuân năm Tân Tỵ (981). Chỉ riêng về trận Bạch Đằng, hiện đang là một vấn đề tranh cãi, ý kiến rất khác biệt. Không ít nhà nghiên cứu đã nghi ngờ hoặc phủ nhận chiến công này, dẫn đến tình trạng một số sách hoặc từ điển khi viết về truyền thống Bạch Đằng đã không đề cập đến. Vì vậy, câu hỏi: "Có hay không một trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng?" thời đó, rất cần được giải đáp thoả đáng.

        Một số nhà sử học đã dựa vào một vài sử liệu trong đó có sách Đại Việt sử ký toàn thư, chứng minh rằng, đầu năm 981, quân Tống chia làm ba đạo tiến vào Đại Cồ Việt. Đạo chủ lực là bộ binh, do Hầu Nhân Bảo chỉ huy, vượt Nam Quan vào Lạng Sơn. Đạo thứ hai là thủy binh, do Lưu Trừng cầm đầu, từ biển tiến vào sông Bạch Đằng rồi vào sông Lục Đầu, liên lạc với bộ binh của Hầu Nhân Bảo, đánh chiếm vùng tả ngạn sông Hồng. Đạo thứ ba cũng là thủy binh, do Trần Khâm Tộ điều khiển, tiến vào sông Hồng vừa tiến công các cánh quân của Lê Hoàn xuất phát từ Hoa Lư, vừa chiếm một số vùng châu thổ sông Hồng, trong đó có cả thành Đại La, làm bàn đạp đánh chiếm kinh đô Hoa Lư và cả nước Đại Cồ Việt. Theo cách hiểu này thì Hầu Nhân Bảo đã bị quân ta chặn đánh và giết chết ở ải Chi Lăng(?). Cũng có ý kiến căn cứ vào bản dịch sách Việt sử lược và một số tư liệu khác, chứng minh rằng Hầu Nhân Bảo vượt biên giới tiến qua Ngân Sơn (Cao Bằng), qua Thái Nguyên, rồi bị quân ta đánh tiêu diệt ở Bình Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội). Theo hai cách lý giải trên, cánh chính binh Hầu Nhân Bảo không đi theo đường thủy qua Bạch Đằng. Như vậy, đối tượng tác chiến của Lê Hoàn trên hướng Bạch Đằng không phải là đoàn quân Hầu Nhân Bảo và trận Bạch Đằng nếu có chỉ là trận ngăn chặn đạo quân của Lưu Trừng mà thôi.

        Gần đây, một số nhà sử học đã chứng minh và hiểu theo cách mới, cho rằng Hầu Nhân Bảo không tiến hướng bộ Lạng Sơn hoặc Ngân Sơn, mà theo hướng Lãng Sơn (Quảng Ninh), qua sông Bạch Đằng và liên lạc với đạo quân bộ ở Lãng Sơn và Hoa Bộ rồi bị đánh và bị tiêu diệt trên sông Bạch Đằng (981). Quan điểm này cho rằng thủy binh Hầu Nhân Bảo đến trước và thủy binh Lưu Trừng đến sau đều tập kết ở sông Bạch Đằng; còn cánh quân bộ từ Ung Châu qua Qủy Môn quan, qua Tô Mậu tiến vào, gồm các tướng Tôn Toàn Hưng, Hắc Thủ Tuấn, Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng...

        Sự phản ánh của sử liệu quá ít ỏi, tản mạn, không rõ ràng và còn trái ngược nhau dẫn đến nhận thức lịch sử rất khác nhau và kết quả là chúng ta chưa xây dựng được một bức tranh khả dĩ đầy đủ và chân xác về diễn biến chiến sự trên sông Bạch Đằng (981) và thậm chí cũng chưa trình bày được những nội dung cơ bản, những nét khái quát nhất về diễn biến chiến trận ấy một cách hợp lý, lôgic làm cơ sở cho những thể hiện tiếp theo về bức tranh đó.

        Chúng tôi thấy rằng, cách chứng minh Ngân Sơn chính là Lãng Sơn và Hầu Nhân Bảo chủ tướng giặc chỉ huy đạo quân tiến theo đường thủy qua sông Bạch Đằng là tương đối hợp lý hơn, phù hợp với nhiều sử liệu của nước ta và sử liệu của Trung Quốc đương đại. Đây là mũi, hướng tiến công chính cửa quân Tống, do đó đã thu hút sự quan tâm của Lê Hoàn và được Lê Hoàn tập trung lực lượng chủ yếu của mình để ngăn chặn và tiêu diệt.

        Việc Lê Hoàn cho đóng cọc trên sông Bạch Đằng chống binh thuyền Hầu Nhân Bảo là có thật, là sự kế thừa kinh nghiệm của Ngô Quyền; nhưng Lê Hoàn đã không thực hiện được trận mai phục bằng sự kết hợp giữa phục binh và trận địa cọc ngầm. Chiến sự lần này diễn ra không được mau lẹ, thuận lợi như trận Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh giặc Nam Hán (938). Thực tế, chiến sự trên sông Bạch Đằng trong kháng chiến chống Tống lần thứ nhất diễn ra nhiều lần, nhiều đợt với những trận đánh khác nhau kể từ tháng Chạp năm Canh Thìn (980) đến tháng Ba năm Tân Tỵ (4-981).

        Sử liệu Trung Quốc, sách Tống sử liệt truyện, Tống sử bản kỷ, Tục tự trị thông giám trường biên, Đông đô sử lược v.v… đều chép rằng: "Năm Thái Bình hưng quốc thứ năm, mùa Đông… quan quân tiến đánh, phá được giặc" (Tống sử liệt truyện) và "Năm Thái Bình hưng quốc thứ năm (980), tháng Chạp ất Dậu (981) (?) Giao Châu hành doanh đánh nhau với giặc, phá được quân giặc" (Tống sử bản kỷ). Sách An Nam chí lược của Lê Trắc chép: "Mùa Thu năm ấy (980) tiến quân đánh. Mùa Đông tháng Chạp đánh nhiều trận phá được hàng vạn quân Giao Chỉ. Sang mùa Xuân năm sau lại phá được giặc ở sông Bạch Đằng".

-----------------------
        57. Tạp chí LSQS số 2-2001.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:32 pm

        Sử của ta, Việt sử thông giám cương mục cho biết, sau khi Lê Hoàn cử sứ giả sang Tống làm kế hoãn binh, bị vua Tống cự tuyệt thì "Nhà vua tự làm tướng, ra kháng chiến; sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn địch. Quan quân Tống đông lắm. Quan quân ta đánh bất lợi: Hai trăm thuyền đều bị địch lấy mất cả. Hầu Nhân Bảo đem tiền quân tiến lên trước". Ngoài Tống sử và chính sử nước ta, nhiều thần tích ở Hải Phòng, Quảng Ninh và Hải Dương còn phản ánh chiến sự xảy ra trên đường tiến của Hầu Nhân Bảo; nhưng các trận đánh buổi đầu đó, quân ta gặp khó khăn, không chặn nổi giặc, thủy binh Hầu Nhân Bảo đã chiếm được sông Bạch Đằng và các làng mạc xung quanh, chúng đã đặt "Giao Châu hành doanh" tại đó.

        Như vậy, việc đóng cọc ở sông Bạch Đằng chỉ có tác dụng ngăn cản phần nào bước tiến của thủy binh Tống, chứ không đủ khả năng chặn đối phương tạo nên một thắng lợi quyết định ngay từ đầu như thời Ngô Quyền chống Nam Hán (938) hoặc không giống như thời Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên (1288). Điều này giúp ta lý giải, vì sao sử sách của ta xưa khi bàn về bí quyết thành công của Lê Hoàn không đề cập đến tác dụng của trận địa bãi cọc. Lê Văn Hưu đánh giá cao tài năng quân sự của Lê Hoàn, nhưng không nói gì đến trận địa cọc Bạch Đằng. Trần Hưng Đạo trong Di chúc năm 1300 chỉ ca ngợi việc Đắp thành Bình Lỗ để phá giặc, không nói gì đến tác dụng của trận địa cọc ngầm chống Tống của Lê Hoàn. Do đó, không nên mô tả trận đánh trên của Lê Hoàn giống như các trận Bạch Đằng khác của Ngô Quyền và Trần Quốc Tuấn; và cũng không nên vì thế mà cho rằng trên hướng sông Bạch Đằng không diễn ra trận quyết chiến nào khác của Lê Hoàn sau đó.

        Mục tiêu của nhà Tống tiến quân xâm lược Đại Cồ Việt, trước hết nhằm chiếm kinh đô Hoa Lư để thủ tiêu nhà nước do Lê Hoàn xưng Hoàng đế, biến nước ta thành một lộ của nước Tống do quan lại Tống trực tiếp cai trị. Việc vua Tống phong Hầu Nhân Bảo chức "Giao Châu Lộ kế độ chuyển vận sứ" có lẽ là dự kiến nhân sự cho bộ máy cai trị về sau, một khi đã bình định được Giao Châu của người Việt.

        Muốn chiếm được Hoa Lư thì các đạo quân thủy, bộ nhà Tống phải phối hợp được với nhau ở khu vực lưu vực sông Nhị Hà (sông Hồng). Nhưng lúc đó, do sự đánh trả quyết liệt của quân và dân ta, các đạo quân Tống không thể liên lạc với nhau, không hội quân được. Tôn Toàn Hưng buộc phải đóng lỳ ở Hoa Bộ. Hầu Nhân Bảo không thể chờ được viện quân của Lưu Trừng và Trần Khâm Tộ, đã quyết định cùng Quách Tiến kéo toàn bộ quân thủy bộ dưới quyền tiến từ sông Bạch Đằng đến sông Luộc để vượt thành Bình Lỗ đánh Hoa Lư. Kết quả là tại đây Hầu Nhân Bảo đã bị quân ta giáng một đòn mạnh, bị tổn thất nặng nề, phải quay binh thuyền rút về sông Bạch Đằng. Trần Hưng Đạo đã đánh giá cao trận đánh này rằng: "Thời Đinh-Lê dùng được người tài giỏi… xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống...".

        Sau thất bại Lỗi Giang, trở lại sông Bạch Đằng, đạo thủy binh Hầu Nhân Bảo đã gặp quân của Lê Hoàn và trận quyết chiến, trận đánh quyết định số mệnh Hầu Nhân Bảo và đoàn quân xâm lược, đã diễn ra giữa quân dân ta với quân Tống ngay trên sông Bạch Đằng vào tháng Ba năm Tân Tỵ (tức tháng 4-981).

        Tống sử chép: "Thái Bình Hưng quốc năm thứ sáu (981), mùa Xuân, tháng ba ngày Nhâm Tuất (1-5-981), Giao Châu hành doanh lại phá được giặc Giao Chỉ ở sông Bạch Đằng, cướp được 200 chiến hạm... Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo bị giết ở trận này" (Tống sử bản kỷ). Giả Thực truyện trong Tống sử ghi: "Lê Hoàn giả vờ xin hàng, Tôn Toàn Hưng cứ tưởng là thật, chẳng lo phòng bị, nên thua to...".

        Sách Tục tự trị thông giám trường biên của Lý Đào chép: “Thái Bình hưng quốc năm thứ sáu, tháng Ba ngày Kỷ Mùi (28-4-981), Giao Châu hành doanh phá được 15.000 quân của Lê Hoàn ở sông Bạch Đằng, chém hơn 1.000 thủ cấp, lấy được 200 chiến hạm, thu nhặt được hàng vạn mũi tên, áo giáp. Cũng trận này, giặc giả hàng để dụ Nhân Bảo. Nhân Bảo cả tin, liền bị giặc giết hại".

        Tống sử liệt truyện ghi: "Lê Hoàn giả vờ xin hàng để đánh Hầu Nhân Bảo. Nhân Bảo bị giết chết" và "Nhân Bảo bị giặc vây bị giết ở giữa sông".

        Sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng, phần chép về Hầu Nhân Bảo ở trận Bạch Đằng tháng Ba năm Tân Tỵ cho biết thêm: "...Nhân Bảo đem vạn quân xông lên trước, thế giặc rất mạnh, viện quân phía sau đến không kịp, trận thế bị vây hãm nên Nhân Bảo bị loạn quân giết chết, quẳng xác xuống sông. Vua Tống nghe chuyện lấy làm thương tiếc, truy tặng rất ưu hậu”.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:40:17 pm

        Sách Việt sử lược (nguyên bản Tứ khố toàn thư) chép: Năm Tân Tỵ, năm đầu niên hiệu Thiên Phúc, mùa Xuân, tháng Ba (4-981), quân Hầu Nhân Bảo đến (theo đường) Lãng Sơn, quân Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, quân của Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua tự làm tướng, sai quân đóng cọc chặn sông… Quân Tống lui giữ Ninh Giang, vua sai trá hàng dụ Nhân Bảo. Quân Tống thua, ta bắt chém Hầu Nhân Bảo; bọn Khâm Tộ nghe tin quân Bảo thua, liền tháo chạy". Sách Đại Nam nhất thống chí và rất nhiều thần tích ở vùng Thủy Nguyên (Hải Phòng), ở Kim Môn, Chí Linh (Hải Dương) đều phản ánh trận Bạch Đằng năm 981 là một chiến công vang dội, lẫy lừng của quân dân ta trong kháng chiến chống Tống.

        Diễn biến chiến sự trên sông Bạch Đằng mùa Xuân Tân Tỵ cho thấy, việc đánh tan quân Tống, giết chết Hầu Nhân Bảo là việc không mấy dễ dàng. Bởi vậy, Lê Hoàn mưu tính dùng kế trá hàng để làm kiêu lòng địch, hy vọng giết được chủ tướng giặc. Cách xử sự khôn khéo của Lê Hoàn đã được Tống sử chép: "Lê Hoàn giả vờ xin hàng mà Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng cứ tưởng là thật...". Vì thế, ngày 28-4-981, tướng Hầu Nhân Bảo bị giết tại sông Bạch Đằng và toàn bộ đạo quân Tống ở đây bị đánh bại. Cho dù chính sử nhà Tống có khuếch trương là giết được nhiều quân Lê Hoàn, thu được nhiều binh thuyền, giáp trụ của ta, nhưng cũng không che giấu được cái thực tế cay đắng là Hầu Nhân Bảo bị mắc mưu và bị giết, quan quân Tống đại bại.

        Trên thực tế, trận Bạch Đằng ngày 28-4-981 được Lê Hoàn tính toán kỹ. Với mưu lược tài giỏi, ông đã chỉ huy các tướng lĩnh, binh sĩ và dân binh thực hiện một trận quyết chiến, đánh trận phản công quyết định vào quân viễn chinh Tống. Có thể hình dung trận này như sau: Lê Hoàn đã chọn một khúc sông hiểm yếu bố trí sẵn phục binh, sau đó cho một cánh quân khiêu chiến với quân Hầu Nhân Bảo. Chiến sự đang diễn ra quyết liệt thì quân ta giả thua chạy, quân Tống "thừa thắng" đuổi theo. Khi binh thuyền địch lọt vào trận địa mai phục, Lê Hoàn tung quân đánh và đã giành được thắng lợi lớn. Hầu Nhân Bảo bị giết trong loạn quân. Tuy chưa có đủ tư liệu để dựng lại trận thủy chiến này một cách hoàn hảo như trận Bạch Đằng thời Trần Hưng Đạo tiêu diệt Ô Mã Nhi (1288), nhưng có thể coi đây là một trận quyết định diễn ra rất ác liệt và thắng lợi rất vẻ vang. Với vũ công này, quân và dân ta đã giết được tên chủ tướng nguy hiểm, hiếu chiến nhất của giặc và đánh bại hoàn toàn đạo thủy quân Tống. Thắng lợi to lớn của Lê Hoàn và các tướng sĩ thời Tiền Lê trong trận Bạch Đằng Xuân Tân Tỵ được nhân dân trăm họ ngợi ca và tiếng vang lưu truyền hậu thế. Đôi câu đối ở đền thờ Lê Đại Hành (Phủ Diễn, Thanh Trì) có viết:

                                         “Đế đô tích tại Hoa Lư động,
                                         Thánh vũ kim tồn Bạch Đằng giang”

                                         (Động Hoa Lư tráng lệ Đế đô,
                                         Sông Bạch Đằng lưu truyền chiến tích).


        Được tin Hầu Nhân Bảo bị giết trên sông Bạch Đằng, Tôn Toàn Hưng cho quân tháo chạy, đạo quân Trần Khâm Tộ ở Tây Kết lo sợ rút lui, bị quân ta truy kích, tiêu diệt đến quá nửa. Các tướng giặc Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân bị bắt giải về Hoa Lư. Cuộc chiến tranh giữ nước dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn đã giành thắng lợi.

        Chiến thắng của quân dân ta mùa Xuân năm Tân Tỵ (981), trong đó có trận quyết chiến Bạch Đằng tháng Ba năm Tân Tỵ (28-4-981), là bất ngờ lớn nhất đối với nhà Tống. Đây là đòn cảnh cáo quyết liệt có ý nghĩa lâu dài, làm sụp đổ hoàn toàn tinh thần và ý chí của đối phương, buộc nhà Tống phải ra lệnh rút quân, từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Cồ Việt. Chúng ta không nên phủ nhận hoặc hạ thấp chiến công này. Và cũng chính vì thế, nhân dịp kỷ niệm 1.020 năm kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng mùa Xuân Tân Tỵ (981).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:01 pm

VÌ SAO TÊN LÊ ĐẠI HÀNH ĐƯỢC ĐẶT CHO MỘT ĐƯỜNG PHỐ HÀ Nội?58

LÊ VĂN LAN       

        Hà Nội hiện có một đường phố (và một ngõ phố) mang tên Lê Đại Hành.

        Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, phố Lê Đại Hành dài 450m, chạy trên phần đất của hai thôn Hậu Phong Vân và Long Hồ, thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương ngày xưa. Tới giữa thế kỷ XIX, hai thôn này hợp lại thành thôn Vân Hồ, thuộc tổng Kim Liên (là tên mới đổi, cũng vào lúc này, của tổng Tả Nghiêm). Còn ngõ Lê Đại Hành thì nối đường phố này với phố Thái Phiên, xưa thuộc khu vực đàn Nam Giao đời Lê. Chứng cứ ngôi nhà bia, có tấm bia "Nam Giao điện bi ký" (khắc năm 1679), trước năm 1926 năm người Pháp mở đường qua khu vực này, phá nhà bia, đem bia về đặt ở khu Bảo tàng Lịch sử bây giờ) thì bia và nhà bia vẫn ở chỗ đó.

        Chúng tôi muốn trình bày đôi điều về tên gọi Lê Đại Hành, được đặt cho con đường và ngõ phố vừa giới thiệu qua trên đây.

        Vẫn theo cụ Nguyễn Vinh Phúc thì, thời Pháp thuộc, chỗ này là "phố Hoàng Cao Khải". Tên Lê Đại Hành được thay cho tên Hoàng Cao Khải, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Và, nguyên thủy của tên Lê Đại Hành, là (nguyên văn sách "Phố và đường Hà Nội", Nxb Giao thông vận tải, H, 2004, tr.336) như sau: "Đại Hành được coi là miếu hiệu (chúng tôi gạch chân) của Lê Hoàn".

        Vì sao, trước hai chữ "miếu hiệu', mà chúng tôi gạch chân, lại có ba chữ "được coi là"?

        Mọi người đều biết: miếu hiệu, tên để thờ ở Thái miếu, hoặc thụy hiệu, tên đẹp, của các bậc vua chúa ngày xưa, thường chỉ có (tức: ra đời, được đặt định) vào lúc kết thúc thời gian "quàn" (có thể nhanh chóng hoặc lâu dài, thậm chí dài đến cả năm trường) cái thân xác đã băng hà của các vị ấy ở toà điện thiêng nơi Cấm thành. Chẳng hạn như vua Lê Thánh Tông, băng hà ngày 30 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1497) nhưng đến ngày 24 tháng Chạp năm ấy, mới có việc, như trong Đại Việt sử ký toàn thư chép, "dâng tôn hiệu cho Đại Hành Hoàng đế là: Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu, Thuần Hoàng Đế, miếu hiệu là: Thánh Tông", để rồi đến cuối Xuân năm sau (Mậu Ngọ 1498) tháng Ba ngày 8, đưa quan tài về Lam Kinh, an táng vào ngày 28 tháng ấy!”

        Trong đoạn sử bút vừa được dẫn nguyên văn, có mấy chữ đáng chú ý, là: "dâng tôn hiệu cho Đại Hành Hoàng đế”, “tức thị”; lúc được "dâng tôn hiệu” (vào ngày 24 tháng Chạp, cuối năm Đinh Tỵ) thì lúc ấy (tức thị: từ ngày 30 tháng Giêng đầu năm, chính thức băng hà, cho đến khi ấy) trong thời gian được quàn ở cung Bảo Quang, tên để gọi Lê Thánh Tông không phải là Thánh Tông) mà là Đại Hành!

        Sử thần nổi tiếng ở thế kỷ XIII là Lê Văn Hưu đã có lời giải thích rõ ràng về cái tên "Đại Hành" này: "Thiên tử và Hoàng hậu, khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng, thì gọi là Đại Hành Hoàng đế, Đại Hành Hoàng hậu. Đến khi lăng tẩm đã yên, thì họp bầy tôi, bàn xem đức hạnh hay hay dở, để đặt thụy hiệu, không gọi là Đại Hành nữa". Như vậy, rõ ra một quy luật nhân xưng, của và cho các đấng bậc trưởng thượng ngày xưa, rằng: Đại Hành chỉ là một cái tên dùng tạm, trong lúc các vị đã băng hà mà chưa được an táng, thế thôi.

        Vậy thì, Lê Hoàn, mất năm 1005, đến nay đã là đúng được 1.000 năm, cớ sao lại vẫn cứ phải mang mãi cái tên tạm thời là Lê Đại Hành thế?

        Lại vẫn chính Lê Văn Hưu ở thế kỷ XIII đã có lời giải thích như sau: "Lê Đại Hành thì (lại khác người mà) lấy Đại Hành làm thụy hiệu để truyền mãi đến nay là cớ làm sao? Vì: Ngọa Triều là con bất tiếu, lại không có bề tôi Nho học, để giúp đỡ mà bàn về phép đặt thụy hiệu, cho nên thành ra là thế!".

----------------------------
        58. Tạp chí LSQS số 10-2005.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:26 pm

        Như vậy, theo Lê Văn Hưu, có hai nguyên nhân khiến Lê Hoàn vẫn cứ mãi phải mang cái tên đặt tạm lúc mới mất.

        Về nguyên nhân “không có bề tôi Nho học giúp đỡ mà bàn về phép đặt thụy hiệu”, khi nhấn mạnh điều này, vị Bảng nhãn khoa thi Nho học năm 1247 Lê Văn Hưu, hẳn là muốn thiên về việc quảng bá cho đạo Nho, ở giữa một triều đại đương thời sùng Phật là nhà Trần, hơn là muốn chê trách sự thể không đủ trình độ tri thức ở thời Tiền Lê. Bởi vì thực tế, chắc chắn sử quan họ Lê biết, điều mà Đại Việt sử ký toàn thư đã chép rõ, là Lê Hoàn từng có dưới bệ rồng những bậc đại sư, như Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, đặc biệt là Thái sư Hồng Hiến-"người phương Bắc, thông hiểu kinh sử, thường theo các cuộc chinh phạt, làm quân sư, cùng là khuyên vua lên ngôi, mưu bàn việc nước, có công lớn, vua tin dùng như tâm phúc".

        Thế thì, cái nguyên nhân “Ngọa Triều là con bất tiếu” có phần chính xác hơn. Vì đúng là kẻ kế vị chiếc ngai vàng hoàng đế nước Đại Cồ Việt của Lê Hoàn này, không xứng đáng, “không giống ông cha" (tức: "bất tiếu")!

        Tuy nhiên, nói cho đầy đủ, thì Ngọa Triều dù sao cũng chỉ là một đầu mối-chắc chắn là đầu mối chính-của tình thế cực kỳ rối ren, sau khi Lê Hoàn mất. Và chính cái đại cuộc rối ren nghiêm trọng ấy, mới đích thực là nguyên nhân và hoàn cảnh khiến cho cả triều đình Hoa Lư và các tôn vương kế vị-đầu là Trung Tông (Long Việt) sau là Ngọa Triều (Long Đĩnh)-không còn lòng dạ nào mà nghĩ đến việc đặt cho Lê Hoàn một miếu hiệu (thụy hiệu) để dùng lâu dài nữa!

        Xem xét cho sâu kỹ hơn chút nữa, có thể thấy thêm rằng: nếu cái đại cuộc rối ren sau khi Lê Hoàn mất mà có đầu mối chính, quy về cho kẻ “bất tiếu” Long Đĩnh (Ngọa Triều), thì chỗ và lúc sinh ra cái đầu mối ấy, có thể và dường như, lại chính là... Lê Hoàn! Bởi vì, hệ thống lại tất cả công việc và công tích mà Lê Hoàn đã để tâm và tiến hành trong 24 năm “ở ngôi” ta thấy: ông đã tính và làm rất tốt, thậm chí cực hay, việc quân sự, ngoại giao, nội chính (tức dẹp loạn), kinh tế đặc biệt là nông nghiệp: cày tịch điền, giao thông-thủy lợi (kênh nhà Lê), cả văn hoá nữa (khôi phục tục bơi chải)... Nhưng về phương diện chăm lo cho thế hệ thứ hai trong gia đình (hoàng tộc, quý tộc) của mình nói chung, và nói riêng là việc giáo dục dạy dỗ chúng, thì ông hầu như không có động thái gì ngoài việc ban phát quyền lợi cho chúng hưởng thụ (tức: cho đứa này được hưởng "đóng ở" miền đất này, đứa kia được hưởng "đóng ở" miền đất kia). Sử thần Lê Văn Hưu, hơn 200 năm sau Lê Hoàn, có nói đến-nguyên văn-một "lỗi ở Đại Hành là không sớm đặt thái tử”, thật ra, chỉ là nói theo công thức, một điều cụ thể trong tổng thể phương thức ứng xử với con cái của Lê Hoàn mà thôi.

        Bởi thế, chính ở chỗ yếu này của Lê Hoàn, ta thấy sử thần tài danh họ Lê ở thế kỷ XIII đã tìm được một cách so sánh rất hay, giữa Lê Hoàn (Lê Đại Hành) và Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) để rút ra và nêu lên kinh nghiệm và bài học lịch sử rất có giá trị, về việc cần rèn tạo sắp đặt chặt chẽ, chỉn chu lực lượng và đội ngũ kế vị để chuyển giao việc triều chính, quốc gia đại sự, từ đời trước cho đời sau. Xin đọc kỹ lại đoạn sử bút sau đây của Lê Văn Hưu ở thế kỷ XIII, được Ngô Sĩ Liên dẫn lại vào thế kỷ XV: "Có người hỏi: Lê Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành (là người) có công lao gian khổ hơn. Nhưng về tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ (là người) biết lo tính lâu dài hơn".

        Như vậy, Lý Công Uẩn "biết lo tính lâu dài hơn" trong việc “để phúc cho con cháu”, vì là người đã được học hành, rèn tạo tri thức và trí tuệ rất kỹ (cho nên cũng dạy dỗ con cháu rất kỹ). Còn Lê Hoàn, cực kỳ vĩ đại, với căn cốt là một võ tướng bẩm sinh, một người bình dân trở thành Thiên tử, mê mải thực hành và thực hiện vô cùng nhiều việc thực tế lớn lao, nhưng lại để nhãng mất việc gia đình và con cái. Do đó mà có đứa con "không giống ông cha" (bất tiếu), cũng do đó mà sự nghiệp cái thế thì xuất chúng, nhưng không khỏi bị thiệt thòi, ở chỗ, dù chỉ là một cái tên gọi Đại Hành thôi, mà cũng phải mang tạm, "được coi là miếu hiệu” mãi đến cả nghìn năm sau. Và ở ngay trên đất kinh kỳ-Thủ đô ta. Khổ thế!


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:50:30 pm
         
CÙNG TÌM HIỂU BÀI “NAM QUỐC SƠN HÀ” VÀ “PHẠT TỐNG LỘ BỐ VĂN”DƯỚI THỜI NHÀ LÝ59

BÙI PHAN KỲ        
       Trong các bài thơ văn viết bằng chữ Hán từ thế kỷ thứ X, bài Quốc tộ (Vận nước) của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận viết vào khoảng năm 981, in trong Thiền uyển tập anh, bài Phạt Tống lộ bố văn của Lý Thường Kiệt, viết năm 1075, in trong Việt điện u linh, bài Nam quốc sơn hà, cùng tác giả, viết năm 1077, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, là những áng văn thơ in đậm tinh thần tự tôn dân tộc, có vị trí mở đầu nền văn học chữ viết của Việt Nam. Qua bài Vị trí danh dự của Nam quốc sơn hà, tác giả Văn Hiến viết trong tạp chí Giáo dục và thời đại số42 (461), ngày 19-10-2003, xin mạn phép tham gia cùng tìm hiểu:

        Tác giả Văn Hiến đã phát hiện những mâu thuẫn về bài Nam quốc sơn hà trong phần đọc thêm của sách Văn học 9: “Nam quốc sơn hà là bài thơ của Thần, do Thần đọc giúp Lý Thường Kiệt cổ vũ tướng sĩ khi chống Tống ở sông Cầu năm 1076 (tr.28)... Bài thơ đã được Thần đọc nhiều lần, lần thì giúp Lê Hoàn chống Tống (981), lần thì giúp Lý Thường Kiệt chống Tống... ở đây tạm để tên Lý Thường Kiệt là theo tương truyền... nên coi đây là bài thơ Thần-khuyết danh hoặc vô danh-thì mới phù hợp với tư liệu hiện còn (những chữ in nghiêng là do người viết bài này nhấn mạnh).

        Xin nhiệt liệt hoan nghênh ý kiến của tác giả và xin cung cấp thêm tư liệu trước khi nêu chính kiến: Bài Nam quốc sơn hà được in nguyên văn chữ Hán trong bản gốc Đại Việt sử ký toàn thư, truyền qua các đời, đều khẳng định là của Lý Thường Kiệt, hiện được đặt trang trọng trong Bảo tàng lịch sử, được nhiều tác giả tra cứu thận trọng trước khi sử dụng. Đoạn trích dưới đây của học giả Dương Quảng Hàm, vị giáo sư, hiệu trưởng đầu tiên của trường trung học Chu Văn An của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã biên soạn bộ Việt Nam văn học sử yếu từ năm 1941, được coi là cuốn văn học sử phổ thông đầu tiên bằng quốc ngữ, cũng là bộ sách giáo khoa văn học bậc trung học đầu tiên của Việt Nam, đã nói rõ về phương pháp biên soạn trong bài Biên tập đại ý mở đầu bộ sách: "Nay chúng tôi lấy tài sơ học thiển soạn ra quyển Việt Nam văn học sử yếunày, cũng tự biết là làm một việc quá bạo và chắc rằng tác phẩm của chúng tôi còn nhiều điều thiếu thốn, phải đợi công cuộc khảo cứu tra tầm của các học giả sau này mà bổ khuyết dần. Dù sao chăng nữa, trong việc biên tập, chúng tôi đã hết sức cẩn thận. Khi xét về một vấn đề nào, trước hết sưu tập các tài liệu tản mạn ở các sách, các báo rồi khảo sát suy nghĩ: điều gì xác thực chắc chắn mới chép, điều gì còn hồ nghi thì để huyền, điều gì có nhiều thuyết tương đương thì giãi bầy rõ ràng để sau này có thể nghiên cứu thêm mà quyết định. Tóm lại, chúng tôi lấy sự thực làm trọng, không khi nào dám lấy ý riêng mà giải quyết một nghi vấn theo cách võ đoán, cũng không hấp tấp theo liều những ý kiến thông thường, nhiều khi sai lầm hoặc thiên lệch…" (Dương Quảng Hàm, tháng 6 Tây năm 1941, Sđd, Quốc gia Giáo dục xuất bản, H, 1950, tr. 3-4).

        Với quan điểm thận trọng như vậy, Nam quốc sơn hà được in dưới đầu đề: "Bài thơ của Lý Thường Kiệt làm khi chống nhau với quân nhà Tống" ở thiên thứ hai, chương thứ tư (tr. 232). Trước bài thơ, Lý Thường Kiệt được xếp vào mục Thi gia đời Lý, được giới thiệu... "là một bậc danh tướng triều Lý đã có công đánh quân nhà Tống (1075-1078), khi chống nhau với quân địch, có làm một bài thơ để khuyến khích tướng sĩ, lời lẽ thật là khảng khái" (Sđd, tr. 225).

        Tổng tập văn học Việt Nam do Bùi Văn Nguyên chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, H, 1957, tập 1, in bài Nam quốc sơn hà trước bài Quốc tộ, viết trong tiểu dẫn: "Bài Nam quốc sơn hà do Lý Thường Kiệt làm năm 1077 trong khói lửa của cuộc chiến đấu quyết liệt chống giặc Tống xâm lược trên bờ sông Như Nguyệt...". Đoạn sau, giới thiệu Lý Thường Kiệt, tác giả Phạt Tống lộ bố văn, lại khẳng định rất dài về bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt “có một sức mạnh kỳ lạ cổ vũ quân sĩ nức lòng xông lên với tất cả khí thế quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ xâm lược" (Sđd, tr.270).

        Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam xuất bản năm 1996, Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản gần đây, khi biên soạn, về danh tướng Lý Thường Kiệt đều khẳng định ông là tác giả bài Nam quốc sơn hà(60).

------------------------
        59.Tạp chí LSQS số 1-2004.

        60. Từ đến Bách khoa quân sự Việt Nam xuất bản năm 2005, mục từ "Lý Thường Kiệt” và "Nam quốc sơn hà" vẫn ghi Lý Thường Kiệt "tương truyền là tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà và Phạt Tống lộ bố văn" (chú thích của Ban biên soạn).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:51:22 pm

        “Sổ tay ngữ văn THCS 7” của các tác giả Tạ Đức Hiền, PGS. Nguyễn Kim Hoa, TS. Lê Thuận An, Nxb Hà Nội, 2003, tự giới thiệu là "cuốn sách đã hội tụ, kết tinh và hệ thống những kiến thức cơ bản nhất, tinh chắc nhất về Ngữ văn 7 theo chương trình cải cách của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành từ năm học 2003-2004”, in bài Nam quốc sơn hà trong phần 1, Văn học, tên tác giả Lý Thường Kiệt và cũng giới thiệu hoàn cảnh ra đời trong cuộc chiến đấu dữ dội và ác liệt chống quân Tống xâm lược (tr. 59, 60).

        Như vậy, luồng chính thống công nhận Lý Thường Kiệt là tác giả bài Nam quốc sơn hà đã trải qua từ Lê Văn Hưu soạn Đại Việt sử ký (1272), Phan Phù Tiên soạn Đại Việt sử ký tục biên (1455) làm nền cho Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký toàn thư (1479), rồi thông qua Lê Quý Đôn soạn Đại Việt thông sử, Ngô Thì Sĩ (1726-1770) viết Anh ngôn thi tập, Phan Kế Bính soạn Đại Nam nhất thống chí (1916,1917), Trần Trọng Kim viết Việt Nam sử lược (1926), Nguyễn Văn Ngọc soạn Nam thi hợp tuyển (1927)... cung cấp tư liệu cho Dương Quảng Hàm biên soạn Việt Nam văn học sử yếu (l941), Bùi Văn Nguyên soạn Tổng tập văn học Việt Nam (1997)… đến nay, Lý Thường Kiệt vẫn được công nhận là tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà. Sự truyền lại qua chính sử và văn học sử đó, gọi là tương truyền cũng chưa thoả đáng.

        Luồng nghi vấn được tìm thấy rõ trong Văn học 10 của các tác giả Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đồng Minh, Lê Thị Diễn, tái bản năm 2000, trong phần Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX (tr. 80), khi kể đến Nam quốc sơn hà đã đặt dấu hỏi sau câu "thường được coi là của Lý Thường Kiệt(?)”. Văn học 9 của các tác giả Đỗ Quang Lưu, Nguyễn Lộc, Nguyễn Sĩ Cẩn, Nxb Giáo dục, in Nam quốc sơn hà ở phần đọc thêm, cũng in tên Lý Thường Kiệt trước dấu hỏi(?), dùng tiểu dẫn giới thiệu ông là "tướng lĩnh nhà Lý cầm quân đánh Chiêm Thành và giặc Tống xâm lược". Với đoạn này, tác giả Văn Hiến yêu cầu "phải ghi rõ Thái úy Lý Thường Kiệt Tổng lĩnh chư quân trong sự nghiệp đánh Tống, bình Chiêm".

        Chúng tôi đồng ý không nên dùng thuật ngữ tướng lĩnh để chỉ vị Phụ quốc Thái úy thời nhà Lý vì tướng lĩnh chỉ có nghĩa là tướng chỉ huy quân đội như bất kỳ vị tướng chỉ huy nào, nhưng chúng tôi chưa hiểu rõ thuật ngữ Tổng lĩnh chư quân của tác giả Văn Hiến. Nếu dùng để chỉ công việc thống lĩnh binh quyền nhà Lý thì thuật ngữ đó vừa mang ý nghĩa Hán, vừa không chuẩn xác. Nếu dùng để chỉ một chức phẩm của Lý Thường Kiệt thì ông chỉ được phong các chức phẩm: Phụ quốc Thái phó, Phụ quốc Thái úy, Thượng trụ quốc, Phụ quốc Thượng tướng quân, (tuớc) Khai quốc công, Tể tướng...chứ không có chức phẩm Tổng lĩnh chư quân.

        Văn học 9 cho rằng đó là bài thơ của Thần, khi nước ta đã có sử và văn học bằng chữ viết là đẩy chính sử về với dã sử, cổ vũ chủ nghĩa thần bí, trái định hướng của nền giáo dục Việt Nam. Cho rằng bài thơ đó đã có từ thời Lê Hoàn, chúng tôi sợ không phù hợp với tư liệu lịch sử: nước ta sau thời Bắc thuộc, kể từ đầu thời tự chủ, Ngô Quyền và các người kế tiếp vẫn xưng vương. Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành khi lên ngôi dù xưng Hoàng đế nhưng vẫn nhận tấn phong của nhà Tống làm Giao Chỉ quận vương. Riêng Lê Hoàn đã ba lần nhận sắc phong của Tống Thái Tông: "Năm Canh Dần (990) nhận phong tước Đặc tiên, năm Quý Ty (993) nhận phong tước Giao Chỉ quận vương, năm Đinh Dậu (997) lại nhận tước Nam bình vương. Điều đó chứng minh dưới thời Lê Hoàn, tư tưởng đối ngoại không nhấn mạnh yêu cầu xưng đê. Chỉ đến đời nhà Lý, vua Nhân Tông là vị vua có đầu óc tự cường tự lập, năm Giáp Ngọ (1054) đặt tên nước là Đại Việt, không được nhà Tống chấp nhận vẫn không chịu thần phục, quyết thực hiện hoài bão xây dựng một quốc gia hùng mạnh, sánh với thiên tử nhà Tống. Năm 1068, Tống Thần Tông giúp vua Chiêm Chế Củ (Rudravarman III) thuyền, ngựa, binh khí đem quân đánh Đại Việt ở phía Nam, đồng thời chuẩn bị cuộc tiến công sang Đại Việt từ phía Bắc. Cuộc chiến đấu “phạt Tống, bình Chiêm" của nhà Lý với vai trò lịch sử của Lý Thường Kiệt xuất hiện vào thời kỳ đó. Tư tưởng Nam quốc sơn hà nam đê cư tất cũng xuất hiện trong giai đoạn đó (nhà Lý, cho tới đời vua thứ 7 là Lý Cao Tông mới chịu nhận sắc phong là An Nam quốc vương vào khoảng năm 1174).

        Vả lại dưới thời Lê Hoàn, người giỏi chữ Nho tập trung vào mấy vị thiền sư: Đỗ Pháp Thuận, Khuông Việt, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, có tác phẩm nào đều được lịch sử Phật học ghi rõ. Còn thơ về Nam quốc sơn hà tất phải do người Đại việt sáng tác, vào thời kỳ không khó tìm tác giả, bởi vậy không nên coi là vô danh hoặc khuyết danh. Đương nhiên, trong lịch sử có thể xuất hiện sự ngộ nhận kéo dài như trường hợp coi Triệu Đà là một triều vua Việt, có đủ bằng chứng xác thực thì cải chính, nhưng phải được Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xác nhận, không nên kéo dài tình trạng mỗi giới một phách.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:52:26 pm

        Với đoạn viết về Văn lộ bố khi đánh Tống của Văn học 9, tác giả Văn Hiến giải thích: "Trong dịp này, ông viết một số bài lộ bố gửi đến nhân dân các châu Ung, Khiêm, Liêm… thực ra lộ bố văn chỉ bao gồm lời tuyên bố rõ ràng". Châu Khiêm cần sửa là Châu Khâm, và Phạt Tống lộ bố văn chỉ là một bài duy nhất còn in trong Việt điện u linh mà Tổng tập văn học Việt Nam đã sao lại cả nguyên bản, phiên âm và bài dịch của Trần Văn Giáp: bản chữ Hán chia thành 4 đoạn, 13 câu, 145 chữ, không có “một số bài” như tác giả Văn Hiến khẳng định.

        Đi sâu vào nội dung, tính chất của bài văn, có thể hiểu hình thức công bố trước nhân dân Trung Quốc các tỉnh vùng biên thời đó, không phải là "gửi tới nhân dân các châu”... Câu cuối cùng (chữ Hán) bài viết tự xác định: Hịch văn đáo nhật, dụng quảng văn tri. Thiết tự tư lường, mạc hoài chấn bố (Lời hịch truyền đến, mọi người nghe biết. Hãy tự đắn đo, chớ mang lòng sợ hãi). Vậy Phạt Tống lộ bố văn là một bài hịch, Hán Việt tự điển (Thiều Chửu, Nxb Tp. HỒ Chí Minh, 1933, tr. 314) định nghĩa Hịch: lời hịch, lời văn của các quan đòi hỏi, hiểu dụ hay trách cứ dân gọi là hịch, có việc cần kíp thì viết vào mảnh ván cắm lông cánh gà vào gọi là vũ hịch để tỏ cho biết là sự cần kíp. Trong cuộc hành quân này, hịch văn là bài hịch viết ra để kể tội vua Tống và tể tướng Vương An Thạch, trực tiếp trấn an nhân dân Trung Quốc vùng biên, nơi có quân ta đánh tới, chứ không phải "một số bài lộ bố gửi đến nhân dân Trung Quốc các châu Ung, Khâm, Liêm".

        Xét các câu khác trong lộ bố văn, thấy rõ những nội dung này phải công bố lúc nào, dưới hình thức nào để phục vụ đắc lực cho mục tiêu tiến công phá hủy các căn cử hành quân của giặc Tống, ở đó riêng trong thành Ung Châu đã tập trung 6 vạn quân Tống, dưới quyền chỉ huy của tướng Tô Giám. Đoạn trước đó của Hịch văn viết rõ "Bản chức phụng quốc vương mệnh, chỉ đạo Bắc hành; dục thanh yêu nghiệt chi ba đào, hữu phân thổ, vô phân dân chi ý; yếu tảo tình uế chi ô trọc, ca Nghiêu thiên, hưởng Thuấn nhật chi giai kỳ" (Bản chức phụng mệnh quốc vương, chỉ đường Bắc tiến; muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ phân biệt đất (nước), không phân biệt (chúng) dân; phải quét sạch bẩn thỉu hôi tanh cho dân hưởng những ngày tháng yên vui dưới thời Nghiêu Thuần). Đoạn này viết sau hai đoạn mở đầu và tiếp nối kể tội vua Tống và tể tướng Vương An Thạch tham tàn, vơ vét của dân, khiến trăm họ lầm than, suy kiệt.

        Những nội dung trên đây cho phép ta hiểu rõ, bằng lộ bố văn, Lý Thường Kiệt báo cho nhân dân những nơi có quân ta đánh tới ý định trừng phạt quan quân nhà Tống chứ không phân biệt nhân dân Trung Hoa với nhân dân Đại Việt. Ông đứng trên cương vị mệnh quan của triều đình Đại Việt, vâng lệnh quốc vương, viết hịch hiểu dụ nhân dân các tỉnh vùng biên chứ không ra tuyên bố đối ngoại với vua quan nhà Tống. Nội dung đó chỉ có thể công bố ngay trên đường hành quân, không thể gửi đến trước sẽ mất yếu tố bất ngờ, gửi đến sau sẽ mất tác dụng trấn an. Vả lại, cụm từ gửi đến nhân dân các châu… là rất mơ hồ, gửi tới địa chỉ nào, bằng con đường nào để tới nhân dân các châu là một đối tượng vừa rộng lớn vừa không xác định?

        Hịch văn thời cổ thường viết trên mảnh ván. Nay làm thế sẽ rất cồng kềnh, bất tiện. Chính vì vậy nó mới được viết rõ trên vải để tiện cuốn vào, trương ra trên các chặng đường tạm dừng. Tất nhiên người này đọc được sẽ truyền đạt cho người khác, trong khi quân ta giữ rất nghiêm kỷ luật hành quân, kỷ luật chiến trường, khi đánh phá thành Ung còn chia thóc cho dân.

        Trong văn bản chữ Hán dùng chữ lộ nghĩa là phơi ra, trương ra chứ không dùng chữ lộ là nhằm chỉ đường (như quốc lộ tỉnh lộ), chữ bố nghĩa là vải, dệt bằng sợi gai, sợi bông (như bao bố). Lộ bố văn là bài (hịch) viết trên vải, trương ra cho mọi người đều đọc.

        Xếp trong toàn bộ bài hịch, thì từ văn ở đầu bài đã thay cho thuật ngữ Hịch văn trong câu cuối Hịch văn đáo nhật… Đã là hịch văn thì chẳng cần từ bố đặt trước cũng đủ hiểu đó là lời hiểu dụ, khuyên bảo của quan trên với dân chúng. Nếu dịch bố văn là lời tuyên bố thì không hợp với bất cứ một thể văn nào đã được xác định trong nền học vấn bằng chữ Hán dưới thời phong kiến, bao gồm các thể: thơ, phú, kinh nghĩa, văn sách, chiếu, chế, biểu, hịch, cáo... Kêu gọi, răn bảo thì dùng hịch; tuyên bố, thông báo thì dùng cáo, không có dạng nào gọi là bố văn cả. Trong cách hành văn bằng chữ Hán, không dùng tính từ lộ để diễn đạt sự rõ ràng, mà phải dùng từ minh (như minh bạch, phân minh). Ai cũng biết tất cả các thể văn bằng chữ Hán kể trên, tự nó đã phải rõ ràng, nhất là các thể văn chính luận như hịch, cáo, chiếu, chế, biểu. Thông báo việc trọng đại thì gọi là đại cáo, thông báo rộng rãi thì gọi là bá (không phải báo) cáo, bố cáo, công bố, không ai dùng cụm từ lộ bố, lộ cáo, lộ hịch để diễn đạt lời tuyên bố rõ ràng. Nếu buộc phải dịch đúng cụm từ đó sang chữ Hán thì người ta sẽ dịch là minh ngôn công bố, minh ngôn thông báo, minh ngôn tuyên cáo... chứ không dùng cụm từ lộ bố văn . Trong ngữ cảnh này của đầu đề bài hịch (hịch văn) chỉ có thể dịch là: bài văn (bài hịch) đánh Tống viết trên vải, trương ra (cho mọi người cùng đọc). Tổng tập văn học Việt Nam, do Bùi Văn Nguyên chủ biên, cũng chú thích dưới bài Phạt Tông lộ bố văn: “lộ bố: Một bài văn viết trên vải trương ra truớc công chúng, trên đó nêu rõ tội ác của địch hoặc chính nghĩa của ta”. Phải chăng đó là lời chú thích chuẩn xác?

        Mấy ý lạm bàn, mong được các bậc túc nho chỉ giáo.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:54:44 pm

VỀ NĂM SINH CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRÂN QUÔC TUẤN61

LÊ ĐÌNH SỸ       

        Sách Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) đã cho chúng ta biết rõ thời gian qua đời của Trần Quốc Tuấn. Đó là ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300). Năm nay (2000), cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 700 năm ngày mất của vị anh hùng dân tộc. Thế nhưng, Trần Quốc Tuấn sinh năm nào, cho đến nay vẫn chưa rõ. Vấn đề năm sinh của Hưng Đạo Đại Vương hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau. Xin nêu lên một số sách tiêu biểu:

        - Trần gia ngọc phả (Thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 2046) chép ông sinh năm Quý Dậu (1213);

        - Trần triều thế phả hành trạng (Thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 663) và sách Dược sơn kỷ tích (thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 709) đều chép năm Nhâm Tý Nguyên Phong thứ 2 (1252);

        - Trần Đại vương bình Nguyên toàn biên và Trần vương truyện khảo (thư viện Hán Nôm, ký hiệu A 3095) cùng ghi, ông sinh ngày 10 tháng Chạp năm Bính Tuất, niên hiệu Kiến Trung thứ 2 đời Trần Thái Tông (1226).

        Các sách sử thời hiện đại cũng phán đoán và ghi chép năm sinh của Trần Quốc Tuấn rất khác biệt, ví dụ:

        - Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đưa ra niên đại giới hạn từ năm 1228 đến năm 1231;

        - Lịch sử Việt Nam, tập 1 , của ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, dè dặt đặt dấu hỏi khi nêu năm sinh 1213(?);

        - Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1 , của Trần Văn Giáp, ghi năm sinh 1226;

        - Binh thư yếu lược, phụ Hổ trướng khu cơ, bản dịch của Viện Sử học, phần Tiểu sử ghi Trần Quốc Tuấn sinh khoảng từ năm 1226 đến năm 1229;

        - Kế sách giữ nước thời Lý-Trần của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chép Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228;

        - Trần Hưng Đạo, Tiểu sử, Sự nghiệp, Tác phẩm, Nguyễn Khắc Thuần chủ biên, đã ước đoán Trần Quốc Tuấn sinh vào khoảng dăm năm sau khi triều Trần dựng nghiệp, tức khoảng 1231;

        - Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam cho là năm 1229;

        - Từ điển nhân vật lịch sử của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, ghi năm 1226...

        Và rất nhiều các bài nghiên cứu trên các tạp chí, kỷ yếu khoa học ghi chép một cách không thống nhất về năm sinh của Trần Quốc Tuấn.

        Một số tài liệu nêu trên chứng tỏ tính phức tạp của vấn đề tuy nhiên nó cũng chứng tỏ vấn đề đó đã được rất nhiều người quan tâm đến. Vậy, Trần Quốc Tuấn sinh năm nào? Giả thiết nào đáng tin cậy hơn cả?

        Trước hết, trong số các niên đại nêu trên, chúng ta có thể dễ dàng loại trừ hai niên đại 1213 và 1252. Sách ĐVSKTT cho biết, Trần Liễu (bố Trần Quốc Tuấn) sinh năm 1211 và thọ 41 tuổi; gia phả họ Trần ở làng Nhị Khê cho rằng, Trần Liễu sinh năm 1213. Như vậy, chúng ta không thể lấy năm 1213 là năm sinh của Trần Quốc Tuấn được. Sử cũ phản ánh rõ năm 1257, trước cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông đã ra lệnh cho Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế chỉ huy các tướng đem quân thủy bộ ngăn giặc ở biên giới phía Bắc, như vậy năm sinh của ông là 1252 cũng hoàn toàn không chính xác. Còn lại trong các niên đại từ 1226 đến 1231 thì năm nào là hợp lý nhất?

----------------------------
        61. Tạp chí LSQS số 5-2000.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:55:10 pm

        Nếu nói rằng, Trần Quốc Tuấn sinh năm 1226, lúc cha ông-Trần Liễu 16 tuổi (theo ĐVSKTT); Trần Quốc Tuấn lấy vợ năm 1251, lúc 26 tuổi và ông thọ 75 tuổi thì năm sinh đó không hợp lý. Bởi vì việc lập gia đình so với vương vị của ông và nhất là với phong tục tập quán đương thời rõ ràng là quá muộn (Trần Liễu lúc 14 tuổi đã lấy Thuận Thiên công chúa), trừ phi chúng ta cho rằng do cuộc tư ước thầm lén của Trần Quốc Tuấn với Thiên Thành công chúa nên ông phải chờ đợi lâu, thậm chí như trong sử chép là phải vượt qua lễ giáo? Mặt khác, theo Trần gia ngọc phả căn cứ vào năm sinh, tuổi của Trần Liễu và bà Nguyệt (vợ kế của Trần Liễu) thì Trần Quốc Tuấn phải sinh muộn hơn. Cái mốc 1226 có thể là do các tác giả nói trên đã căn cứ vào năm sinh của Trần Liễu (1211) làm cơ sở để ước tính khả năng sinh con sớm nhất lúc 16 tuổi âm của nam giới: 1211+15 (tức 16 tuổi âm lịch) = 1226 và coi đó là năm sinh của Trần Quốc Tuấn. Như vậy là không hợp lý và chúng ta có thể loại trừ năm sinh 1226 và một vài năm sau đó.

        Sử Chép Về Thiên Thành công chúa là em gái vua Trần Thái Tông, con Thượng hoàng Trần Thừa (1184-1234). Như vậy bà Thiên Thành chỉ có thể sinh muộn nhất vào năm 1234. Bà lấy Trần Quốc Tuấn năm Tân Hợi (1251), khi đó ít nhất phải là 18 tuổi. Nếu cho rằng, lúc này bà dưới tuổi 20, thì bà sinh vào khoảng trong các năm từ 1231-1233. Giả định Trần Quốc Tuấn bằng tuổi vợ thì ta có mốc giới hạn muộn nhất về năm sinh của ông là 1233.

        Hiện nay, về năm sinh và năm mất của bà Nguyệt (mẹ Trần Quốc Tuấn) cũng không chính xác, nhiều tài liệu phản ánh rất khác nhau, do đó cũng ảnh hưởng đến việc đoán định năm sinh của Trần Quốc Tuấn. Nếu giả thiết cho rằng, Trần Quốc Tuấn lấy vợ lúc 19 - 20 tuổi thì năm sinh của ông có thể là 1231 hoặc 1232.

        Sách Tuệ trung thượng sĩ hành trạng cho biết, người anh trai của Trần Quốc Tuấn là Hưng Ninh Vương Trần Tung mất năm Trùng Hưng thứ 7, tức năm 1291, thọ 62 tuổi (tuổi âm lịch). Vậy Trần Tung phải sinh vào năm 1230. Nếu đúng như vậy, thì sớm nhất Trần Quốc Tuấn chỉ có thể sinh vào các năm 1231 hoặc 1232. Ngọc phả Trần Quốc đại vương nói rằng, Trần Quốc Trấn em cùng cha khác mẹ của Trần Quốc Tuấn sinh ngày 3 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1232). Chính vì thế, chúng ta có thể coi những thông tin về năm sinh 1231 là hợp lý hơn cả. Cả ba cuốn Trần triều thế phả hành trạng (ký hiệu A 663), Dược sơn kỷ tích (A 709) và Trần vương truyện khảo (A 3095) đều thống nhất ghi ngày sinh của ông là mồng 10 tháng Chạp, tuy khác nhau về năm. Nếu ngày tháng ấy chính xác thì đó là ngày 10 tháng Chạp năm Canh Dần, tính ra dương lịch là ngày 14-1-1231.

        Trong điều kiện tư liệu hết sức hiếm hoi, lại trong tình trạng "tam sao thất bản", chúng ta rất khó đoán định một cách chính xác năm sinh của vị anh hùng dân tộc. Theo cách lý giải trên, chúng tôi cho rằng, có thể lấy các năm 1231 hoặc 1232 làm năm sinh của Trần Quốc Tuấn là tương đối hợp lý. Trong hai năm đó, chúng tôi đề nghị lấy năm 1231 là năm sinh của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Nếu quả đúng như vậy thì ông lấy vợ năm 20 tuổi (1251), làm Tiết chế chỉ huy các tướng năm 26 tuổi (1257), được phong Quốc công tiết chế (Tổng chỉ huy quân đội) lúc 52 tuổi (1283) và hưởng thọ 69 tuổi, tức 70 tuổi âm lịch )1231-1300). Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi tư liệu chính xác thì việc đoán định năm sinh nói trên vẫn chỉ là một giả thiết để tham khảo mà thôi.

        Nếu Trần Quốc Tuấn ra đời năm 1231 hoặc 1232 thì cũng có nghĩa là ông sinh ra trong bối cảnh quyền lực của dòng họ tông thất Trần đã ổn định. Là con một quý tộc tông thất (An Sinh Vương), Trần Quốc Tuấn hẳn được thừa hưởng nhiều ưu đãi cũng như sự tôn vinh mà vương triều Trần và xã hội đã dành cho dòng dõi hoàng tộc. Tuy nhiên, tuổi thơ của vị anh hùng đâu được hoàn toàn viên mãn, bởi Trần Quốc Tuấn đã sớm mồ côi mẹ. Ông được cô ruột là Thụy Bà công chúa-chị ruột Thiên Thành công chúa, nhận làm con nuôi và sau này việc hôn nhân giữa Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành cũng do Thụy Bà xếp đặt, lo liệu. Cuộc đời ông qua một lần gia biến, ba lần quốc nạn, nhưng ông đều đã vượt qua và lập công xuất sắc, nổi tiếng là bậc hiền lương anh hùng.

        Tuy công lao và sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn rất vẻ vang, nhưng cuộc đời ông đã phải trải qua rất nhiều gian nan mà sử sách ngày nay chưa thể phản ánh hết. Cũng như vậy, năm sinh của vị anh hùng vẫn đang là một bài toán khó giải, chưa thể tìm ra một đáp số chuẩn xác. Chúng tôi rất mong đợi những phát hiện mới và hợp lý hơn của các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:49 pm

NHỮNG TÊN NGƯỜI CHÉP SAI TRONG “HỊCH TƯỚNG SĨ” VÀ “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO”62

NGUYỄN LƯƠNG BÍCH       

        Những văn thơ của ta thời xưa, truyền lại đến ngày nay, phần lớn là do truyền miệng và sao chép tay, nên những sai sót câu chữ và tình trạng "tam sao thất bản" là không thể tránh được. Những bản "thiên cổ hùng văn" như Hịch tướng sĩ và Bình Ngô đại cáo, sử sách ghi chép luôn, nên ít sai sót, nhầm lẫn, nhưng cũng có một số tên người nước ngoài, những bản văn hiện lưu hành, ghi chép chưa chính xác, nên xem lại và có thể nên sửa lại.

        Trong Hịch tướng sĩ có một đoạn nói về mấy viên tướng nước ngoài đương thời, chủ yếu để nhấn mạnh về những người tỳ tướng đã hết lòng chiến đấu theo gương chủ tướng. Đoạn văn như sau: "Việc cũ đời xưa, hãy tạm không bàn. Nay ta lấy việc thời Tống, Thát mà nói. Vuông Công Kiên là người thế nào, tỳ tướng Nguyễn Văn Lập của ông lại là người thế nào, mà lấy thành Điếu Ngư chỉ bằng cái đấu đương đầu với trăm vạn quân Mông Kha, khiến sinh linh nước Tông đến nay vẫn còn nhớ ơn. Cốt Đãi Ngột Lương là người thế nào và người tỳ tướng Cân Tu Tu, lại là người thế nào, dám xông pha lam chướng hàng vạn dặm đường để đánh bại Nam Chiếu trong khoảng vài tuần khiên vua Thát còn lưu danh đến nay"(63).

        Đoạn văn này có tên bốn tướng: hai tướng là người Tống và hai tướng là người Mông Thát:

        Tướng Tống thứ nhất ở đây chép tên là Vương Công Kiên. Chính là Vương Kiên, thừa chữ Công đệm ở giữa. Tướng Tống thứ hai là tỳ tướng của Vương Kiên, bài Hịch chép tên là Nguyễn Văn Lập. Theo Tống sử, Vương Kiên không có người tỳ tướng nào tên là Nguyễn Văn Lập. Người tỳ tướng của Vương Kiên mà bài Hịch nói đây chính là viên phó tướng của Vương Kiên tên là Trương Ban. Vương Kiên làm trấn thủ Hợp Châu, đóng quân doanh tại thành Điếu Ngư. Năm 1259, đại quân Mông Thát tới vây đánh thành Điếu Ngư. Vương Kiên cùng phó tướng Trương Ban anh dũng chiến đấu trong năm, sáu tháng liền, giữ vững thành Điếu Ngư và đánh chết Đại hãn Mông Thát là Mông Kha, tức vua Nguyên Hiến Tông ngay tại trận, buộc quân Mông Thát phải rút chạy. Sau chiến thắng này, Vương Kiên bị tên tể tướng hèn nhát của triều đình Tống là Giả Tự Đạo điều đi nơi khác và tìm cách giết chết, Trương Ban thay Vương Kiên làm trấn thủ Hợp Châu, đóng quân ở Điếu Ngư. Năm 1267, mấy vạn quân Nguyên (tức quân Mông Thát) tiến đánh Hợp Châu và Trùng Khánh, nhưng phải rút chạy trước sức kháng cự kiên cường của Trương Ban. Năm 1275, quân Nguyên lại tới vây đánh Trùng Khánh, Trương Ban đem quân từ Hợp Châu tới giải vây cho Trùng Khánh, đầu năm 1277 đánh lui được giặc. Năm 1278, Trương Ban chết trong chiến đấu. Vương Lập-không phải Nguyễn Văn Lập-lên thay làm trấn thủ Hợp Châu. Nhưng Vương Lập hèn nhát, đầu năm 1279 ra hàng quân Nguyên, dâng thành Điếu Ngư và cả vùng Hợp Châu cho giặc. Như vậy, không nên làm lẫn lộn tên người anh hùng chống giặc là Trương Ban với tên kẻ đầu hàng giặc là tên tướng hèn nhát Vương Lập. Chép là Nguyễn Văn Lập thì không có nghĩa.

        Cặp tên thứ hai là tên hai tướng Mông Thát đã đánh chiếm nước Đại Lý ở Vân Nam. Tên tướng thứ nhất, bài Hịch chép là Cốt Đãi Ngột Lương, chính là Ngột Lương Hợp Thai, phiên âm la-tinh là U-riang-kha-đai. Phần đầu "U-riang" của tên này phiên âm Hán-việt là Ngột Lương. Vậy Ngột Lương phải đặt lên trước. Tên này, các sách thường phiên âm khác nhau ở phần cuối tên: như Ngột Lương Cáp Thai, Ngột Lương Cáp Đãi, Ngột Lương Hợp Đái, Ngột Lương Hợp Đãi..., tôi nghĩ rằng tên này các sách đã chép quen là Ngột Lương Hợp Thai thì bài Hịch cũng nên chép như thế.

        Còn tên tướng Thát thứ hai, bài Hịch chép là Cân Tu Tư hoặc Xích Tu Tư. Trong chữ Hán, chữ Cân và chữ Xích chỉ khác nhau một cái chấm. Không chấm là Cân, có chấm là Xích. Tên Cân Tu Tư hay Xích Tu Tư viết như thế là đúng hay sai, tôi chưa tra vấn được. Chỉ biết rằng theo Nguyên sử, khi đánh chiếm Đại Lý, Ngột Lương Hợp Thai có một tỳ tướng là Triệt Triệt Đô, khi sang đánh Việt Nam phải tự tử vì thua trận. Nhưng hai tên phiên âm Cân Tu Tư và Triệt Triệt ĐÔ khác nhau nhiều quá, không lẽ lại là một người.

        Vậy ở bài Hịch tướng sĩ có ba tên, biết chắc là chép sai:

        - Vương Công Kiên, chính là Vương Kiên

        - Nguyễn Văn Lập, nên sửa là Trương Ban

        - Cốt Đãi Ngột Lương, nên sửa là Ngột Lương Cột Đãi hay Ngột Lương Hợp Thai.

        Về bài Bình Ngô đại cáo, chỉ có một tên người chép sai là tên Triệu Tiết trong đoạn văn:

                                       Cố Lưu Cung tham công nhi thủ bại
                                       Triệu Tiết hiếu đại nhi xúc vong

                                       (Cho nên Lưu Cung tham công mà thất bại
                                       Triệu Tiết hám lớn phải tiêu vong).


        Ý ở đây Nguyễn Trãi muốn nói đến hai tên vua hiếu chiến. Câu trên nói về vua Nam Hán cho quân xâm lược Việt Nam bị Ngô Quyền đánh bại. Tên vua Nam Hán là Lưu Cung.

        Câu dưới nói đến vua Tống cho quân xâm lược Việt Nam bị Lý Thường Kiệt đánh bại. Tên vua Tống là gì, nhầm lẫn là ở đây Bài Đại cáo viết theo thể văn biền ngẫu. Mà trong văn biền ngẫu, ở câu trên là tên vua thì ở câu dưới phải là tên một vua khác. Vua Tống trong lúc này là Tống Thần Tôn cũng họ Triệu, nhưng không phải là Triệu Tiết. Triệu Tiết chỉ là một tên phó tướng trong đoàn quân xâm lược Việt Nam. Vậy không thể đặt một viên phó tướng đối xứng với tên một ông vua. Cũng có người thấy chép Triệu Tiết là sai, nên chép thành Triệu Oa, Triệu Quá. Như thế vẫn là sai. Vua Tống Thần Tôn, chính tên là Triệu Húc. Tên Triệu Tiết trong Bình Ngô đại cáo phải sửa lại là Triệu Húc mới đúng:

                                      Cô Lưu Cung tham công nhi thủ bại
                                       Triệu Húc hiếu đại nhi xúc vong

                                       (Cho nên Lưu Cung tham công mà thất bại
                                       Triệu Húc hám lớn phải tiêu vong).


        Trên đây là mấy tên người chép sai trong hai bài văn cổ Hịch tướng sĩ và Bình Ngô đại cáo, nếu sửa được thì chữ dùng chính xác và ý nghĩa sáng rõ hơn.

-------------------------------
        62. Tạp chí LSQS số 1-1988.

        63. Theo bản dịch của Nguyễn Lương Bích trong Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng, NXB QĐND, Hà Nội, 1981.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 10:44:42 pm
         
VỀ BẾN CỔ CHƯƠNG DƯƠNG VÀ TRẬN CHƯƠNG DƯƠNG THÁNG TƯ NĂM ẤT DẬU (1285)64

LÊ ĐÌNH SỸ        

        Hiện nay, ở Hà Nội có cầu Chương Dương (ở ngay bến phà Chương Dương trước đây) và cạnh đó là phường Chương Dương có phố Chương Dương độ (thuộc quận Hoàn Kiếm). Chính vì thế, không ít người, kể cả người ở Thủ đô, đã nhầm tưởng đó chính là bến Chương Dương nơi đã diễn ra trận Chương Dương vào tháng Tư năm Ất Dậu (1285) trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên (thế kỷ XIII). Mặt khác, người ta cũng đã ngợi ca nhiều về trận then chốt quyết định Thăng Long, khiến tướng giặc Thoát Hoan bạt vía kinh hồn, mà quên đi ý nghĩa lớn lao của chiến trận Chương Dương trước đó. Vậy, trên thực tế, bến cổ Chương Dương ở đâu và trận Chương Dương đã diễn ra như thế nào? Vị trí, ý nghĩa của trận thắng đó ra sao?

        Lật lại những trang sử cổ, chúng tôi thấy cuốn sử sớm nhất của nước ta chép về địa danh Chương Dương là Việt sử lược tác giả khuyết danh đời Trần (thế kỷ XIV): Năm 950, Ngô Xương Văn giáng truất Dương Tam Kha xuống làm Chương Dương sứ, cho hưởng lộc ở thực ấp đó65. Sang thế kỷ XV, Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, trong sách Đại Việt sử ký toàn thư và Ngô Thì Sỹ (thế kỷ XVIII), trong sách Đại Việt sử ký tiền biên, cũng đều chép tương tự sự kiện nói trên và có chú thêm: "Nay là Chương Dương độ"66. Các sử gia triều Nguyễn (thế kỷ XIX), trong sách Việt sử thông giám cương mục cũng theo lời chua của Đại Việt sử ký toàn thư nói rằng: "Chương Dương, nay thuộc xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây"67.

        Thực ấp của Dương Tam Kha đã được xác định thuộc địa bàn xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Nơi đây hiện còn có đền thờ Dương Tam Kha. ông có công khai khẩn ruộng hoang lập ấp, được tôn vinh làm Thành hoàng của làng Chương Dương. Đền thờ còn lưu giữ nhiều tài liệu quý như: Bản thần tích, 28 đạo sắc phong cho Bột Hải Đại Vương (tước hiệu của Dương Tam Kha) và một số tài liệu văn tự Hán Nôm khác.

        Gần đây, ông Chu Huy công bố bài viết về địa danh lịch sử và di sản Hán Nôm có liên quan đến làng Chương Dương, coi đây là một vùng đất cổ trong lịch sử dựng nước.

        Vào thế kỷ X, vùng đất Chương Dương vẫn còn hoang vắng, thưa thớt cư dân, với những bờ lau trắng, rừng sậy khô, đầm nước vắng. Vùng đất ấy còn mang tên Chân Giang, nghĩa là vùng đất nằm kề bên sông, khi nước lên thì ngập lụt và khi mùa khô nước rút, lộ ra vùng đất ven sông để cày cấy và trồng trọt.

        Thời ấy, đê sông Hồng chưa có, nên việc ra vào mỗi mùa sông nước là thực tế. Chữ "Chân Giang" ở đây có thể là một cách diễn đạt như "chân mạ", "chân màu” theo như cách nói của nông dân đồng bằng Bắc Bộ, nên "Chân Giang" cũng có nghĩa là "chân sông", bên sông, gần sông. Có người cho rằng "Chân Giang" có thể đọc láy thành "Chương Dương", điều này còn khó chấp nhận.

        Tuy còn hoang vu thưa thớt nhưng ngay từ buổi đầu giành được độc lập, ở đây đã có "ấp", tức là đã có cư dân sinh sống và ấp đó đã có tên gọi là Chương Dương. Vì thế mới có sự tích Ngô Xương Văn tha tội chết cho kẻ "thoán nghịch" Dương Tam Kha và phong là Chương Dương Công (ông già đất Chương Dương) rồi bắt phải về hưu trí, một hình thức cải tạo lao động ở một vùng đất mới được khai phá, còn hoang vu, cách khá xa kinh đô CỔ Loa thuở ấy. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng viết: "Bến cổ Chương Dương ở địa phận huyện Thượng Phúc. Sử chép, Ngô Xương Văn đem đất này phong cho Dương Tam Kha làm đất ăn lộc"68.

        Như vậy, cho đến nay, đất Chương Dương đã được khai phá trên 10 thế kỷ. Đó là một vùng đất cổ của nước ta. Tuy lúc đầu là một ấp nhỏ, nhưng đến thời Lý-Trần, cùng với việc đắp đê nơi đây trở thành một vùng trù phú cạnh kề kinh thành Thăng Long của nước Đại Việt. Đến thế kỷ XIX, Chương Dương đã là một tổng gồm 7 làng: Chương Dương, Chương Lộc, Bộ Đầu, Cát Bi, Yên Cảnh, Kỳ Dương và Thư Dương. Tổng Chương Dương chạy theo đê sông Hồng hơn chục cây số và trong suốt 10 thế kỷ, dưới nhiều triều đại, làng Chương Dương đã phát triển và là vùng đất ghi nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, nơi sinh ra nhiều danh nhân của đất nước.
--------------------------------
        64. Tạp chí LSQS số 4-2003.

        65. Việt sử lược, bản dịch của Trần Quốc Vượng, NXB Sử học, H, 1960, tr. 42.

        66. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1. NXB KHXH, H, 1983, tr. 200; và Đại Việt sử kýliền biên, NXB KHXH. H.1997, tr. 144.

        67. Việt sử thông giám cương mục, tập 1, NXB Giáo dục, H, 1998, tr. 226.

        68. Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB KHXH. H, 1971, tr. 185.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:52 pm

        Địa danh Chương Dương còn được nhắc đến nhiều trong các bộ sách lịch sử địa lý, trong các bộ địa chí và cả trong các thi phẩm của nhiều thi nhân đời sau. Tên Chương Dương, theo ghi chép về thần tích đền xã Chương Dương, tổng Chương Dương, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín (thời Nguyễn) có câu: "Kính xét, Thường Tín xưa gọi là lộ Quốc Oai. Chương Dương nguyên là Trương Dương sau đổi tên như ngày nay". Sách Việt sử thông giám cương mục chép: "Trương Dương, tức bến đò Chương Dương, nay thuộc huyện Thượng phúc"69. Thượng Phúc là tên châu đời Trần thuộc Đông Đô. Thời Minh đổi thành Bảo Phúc. Năm 1831 là huyện Thượng phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng, tỉnh Hà Nội. Sách Các tổng trấn xã danh bị lãm chép thời Gia Long: "Xã Chương Dương, tổng Chương Dương, huyện Thượng phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng". Thượng Phúc sau được đổi thành huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Như vậy, theo các sử liệu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, bến cổ Chương Dương thuộc vùng đất ăn lộc của Dương Tam Kha, tức địa bà n xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây ngày nay.

        Bến Chương Dương (Chương Dương độ) gắn liền với một sự kiện lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai (1285). Lúc đó, tại bến Chương Dương, quân dân nhà Trần đã lập nên một chiến công vang dội, sử gọi đó là trận Chương Dương (4-1285).

        Vào tháng Tư năm ất Dậu (tức khoảng tháng 5-1285), cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai chuyển sang giai đoạn phản công chiến lược. Lúc đó, Hưng Đạo Vương đã tấn công A LỖ (ở sông Luộc), tiêu diệt cụm quân của Vạn hộ Lưu Thế Anh, rồi lập tức dẫn một đạo quân tiến thẳng ra Vạn Kiếp, bố trí thế trận mai phục chuẩn bị đón đánh quân Nguyên tháo chạy theo hướng này. Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản và tướng Nguyễn Khoái đánh giặc ở Tây Kết. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chỉ huy đánh giặc ở Hàm Tử.

        Sau chiến thắng Tây Kết và Hàm Tử, các tướng của nhà Trần, như: Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Trung Thành vương (không rõ tên) và Nguyễn Khoái tiến lên áp sát Chương Dương, chuẩn bị đánh giặc ở Chương Dương-Thăng Long. Chính lúc đó, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cũng đã được lệnh từ Thanh Hoá ra, để kịp chỉ huy đánh trận Chương Dương-Thăng Long.

        Chương Dương nằm cách Thăng Long khoảng 20 km về phía nam, ở sát sông Hồng, phía đối ngạn sông là Hàm Tử (Hưng Yên). Chương Dương cùng với Hàm Tử là nơi quân Nguyên xây dựng hai trại quân lớn, tạo thành hai lá chắn bảo vệ mặt nam Thăng Long.

        Bị mất Hàm Tử, giặc Nguyên vội tăng quân ở Chương Dương, mục đích là bảo vệ bằng được đồn trại này: nếu để mất Chương Dương thì Thăng Long sẽ nguy khốn, quân Nguyên ở đây sẽ bị cô lập, tiến thoái lưỡng nan. Quân nhà Trần cũng quyết tâm hạ đồn Chương Dương để mở đường tiến lên bao vây, giải phóng Thăng Long.

        Về chiến trận ở Chương Dương, chính sử của ta chép như sau: ngày 10 tháng Tư năm ất Dậu "có người từ chỗ giặc trốn về đến ngự doanh báo: Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ kinh thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn. Bọn Thát tử Thoát Hoan, Bình chương A Lạt rút chạy qua sông Lô"70. Sách Đại Việt sử ký tiền biên chép: "Vua rước Thượng hoàng và tiến quân đến Đại Mang đánh cho Toa Đô nhà Nguyên bị đại bại ở Tây Kết, chém được nó. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn đuổi theo đánh úp Thoát Hoan ở Vạn Kiếp. Quân Nguyên tan vỡ, chạy về phía Bắc. Trước đấy, Thượng tướng là Quang Khải, Hoài Văn hầu là Quốc Toản, cùng với Trần Thông và em Nguyễn Khả Lạp là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại giặc ở các xứ kinh thành; Chương Dương"71. Sách Việt sử thông giám cương mục chép: "Trước đây, Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản đem quân dân các lộ đánh bại được quân Nguyên ở Chương Dương, thu phục kinh thành"72.

        Rất tiếc là sử sách cũ lại ghi chép quá ít về trận đánh này. Nhưng điều chắc chắn, đây là một trận kịch chiến. Cả ta và địch đều quyết tâm. Tuy nhiên, lúc đó, thế của quân ta rất mạnh, quân nhà Trần vào trận với khí thế rất hăng. Trong trận này, quân ta chiến đấu anh dũng, tiêu diệt, bắt sống nhiều giặc và thu nhiều vũ khí của chúng. Bởi vì, sau đó ít ngày, khi chiến tranh kết thúc, Thượng tướng Trần Quang Khải theo hai vua Trần trở lại Thăng Long, đã cảm khái làm bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư, trong đó có câu: “Đoạt sáo Chương Dương độ”, tức là: Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương. Nếu không tiêu diệt được nhiều giặc và không thu được nhiều vũ khí của quân Nguyên thì Trần Quang Khải không viết như vậy.

--------------------------------
        69. Việt sử thông giám cương mục, Sđd , tr. 226.

        70. Đại Việt sử ký toàn thư, lập 1 , Sđd, tr. 54.

        71. Ngô Thì Sỹ. Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr. 368.

        72. Việt sử thông giám cương mục, tập 1, Sđd. tr. 524.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 10:47:28 pm

        Đối với Trần Quang Khải, lúc đó, sự kiện Chương Dương hãy còn tươi rói, chỉ mới trước khi ông làm bài thơ không lâu. Trận thắng Chương Dương và Hàm Tử diễn ra làm cho quân Nguyên kinh hoàng và đó là hai chiến công oanh liệt dẫn đến trận Thăng Long lịch sử. Bài thơ xuất hiện trong không khí khải hoàn của cả dân tộc.

        Ta hạ đồn Chương Dương là đã tiêu diệt một bộ phận rất quan trọng của giặc Nguyên, phá tan lá chắn của chúng ở phía nam Thăng Long, mở toang cửa ngõ tiến về giải phóng kinh thành. Từ Chương Dương, đại quân do Trần Quang Khải chỉ huy, nhanh chóng vây hãm và tiêu diệt địch ở Thăng Long.

        Cuộc chiến ở Thăng Long cũng hết sức quyết liệt, vì đây là trận then chốt, quyết định sự thất bại của quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy. Sử nhà Nguyên viết rằng: "Quân thủy bộ (Đại Việt) đến đánh đại doanh; vây hãm nhiều vòng. Quan quân tức (quân Nguyên) cố đánh từ sáng đến tối, mệt mỏi, thiếu thốn, khí giới đều hết" và "người Giao Chỉ chống đánh quan quân. Tuy mấy lần bị thua, nhưng quân tăng viện ngày càng đông. Quan quân mệt mỏi, chết và bị thương nhiều. Quân mã không thể nào thi thố được tài năng".

        Như vậy, trận thắng ở Chương Dương có quan hệ trực tiếp đến thắng lợi giải phóng kinh đô Thăng Long. Nhiều nhà sử học còn gắn Chương Dương với Thăng Long và coi trận Chương Dương-Thăng Long là trận quyết chiến chiến lược trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285).

        Vì ý nghĩa của trận Chương Dương rất lớn nên dư âm của nó còn lưu lại mãi về sau. bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải sống mãi trong ký ức mọi người, đem lại niềm bồi hồi, xúc cảm cho nhiều thế hệ, trong đó có các địa danh Chương Dương, Hàm Tử rất đỗi tự hào. Sau này, trong thơ của các nhà thơ Ninh Tốn và Đoàn Nguyên Tuấn cũng đều nhắc đến chiến thắng Chương Dương. Ninh Tốn đỗ Tiến sĩ năm 1778, trong lời tiêu dẫn bài thơ Chương Dương dạ bạc (Chiều đậu thuyền ở bến Chương Dương), đã viết: "Thuyền Long bút đậu ở bến Chương Dương, nhân đọc câu thơ Đoạt sáo bỗng nghĩ: Khoảng niên hiệu Trùng Hưng nhà Trần, quân Nguyên sang xâm lược, may được một Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn vì nước hết sức, vì nghĩa khởi xướng, nên đã quét sạch bụi Hồ, khôi phục lại giang sơn". Trong bài thơ của ông có bốn câu như sau:

                                               “Chương Dương thủy thanh liên,
                                               Thảo, thụ, yên hà cổ.
                                               Nhân tụng "đoạt sáo" thi,
                                               Hốt tưởng Đông A tộ…"

                                               (Nước Chương Dương gợn sóng xanh,
                                               Cỏ, cây khói, ráng như xưa
                                               Nhân đọc câu thơ "đoạt sáo"
                                               Bỗng nghĩ tới cơ nghiệp nhà Trần…).


        Nhà thơ Đoàn Nguyên Tuấn trong bài thơ Quá Nhĩ Hà quan Bắc binh cố Luỹ (Qua Nhĩ Hà xem lại luỹ xưa của quân phương Bắc) có câu:

                                               “Hồn giặc bay về Ngũ Lĩnh hàng muôn dặm,
                                               Nghìn năm chuyện cũ nhớ Chừng Dương”.

     
        Nhân dân địa phương còn truyền tụng thơ về Chương Dương:
   
                                               "Gốc đa hoa gạo nơi này
                                               Chương Dương chợ họp ở ngay bên đường
                                               Cả thủy lục thông thương đều tiện
                                               Bến Chương Dương kỷ niệm còn ghi...".


        Nhiều sử sách xa xưa của ta đã nhắc đến địa danh Chương Dương và ca ngợi chiến công lớn ở Chương Dương độ. Sách Việt sử thông giám cương mục của nhà Nguyễn có chép lời cẩn án rằng: "Trận đánh ấy, thắng được ở Chương Dương, thu phục được kinh thành là chiến công to nhất thời bấy giờ".

        Như vậy, Chương Dương hay Chương Dương độ ở huyện Thường Tín, Hà Tây là một địa danh lịch sử lẫy lừng và mãi mãi chói sáng, nơi ghi tạc chiến công oanh liệt của quân dân nhà Trần, đó là chiến thắng Chương Dương trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước vĩ đại hồi thế kỷ XIII.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:55 pm
         
BÀN THÊM VÊ SỰ KIỆN LÊN NGÔI HOÀNG ĐẾ CỦA NGUYỄN HUỆ TẠI PHÚ XUÂN (22-12-1788)73

HUỲNH CÔNG BÁ        

        Về ngày lên ngôi của vua Quang Trung, tất cả các sử sách cũ của ta đều ghi là ngày 25 tháng Một74 năm Mậu Thân (tức là ngày 22-12-1788).

        Sách Hoàng Lê nhất thống chí viết: “Ngày 20 tháng ấy (tức là tháng Một năm Mậu Thân). Sở (Ngô Văn Sở) lui về Tam Điệp, thì ngày 24 Tuyết (Nguyễn Văn Tuyết) đã vào đến thành Phú Xuân. Bắc Bình Vương tiếp được tin báo, giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay. Nhưng các người đến họp đều nói: "Chúa công với vua Tây Sơn tức Nguyễn Nhạc) có sự hiềm khích, đối với ngôi chí tôn, lòng tôn phò của mọi người chưa thật vững bền, nay nghe quân Thanh sang đánh, càng dễ sinh ra ngờ vực hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu, ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau sẽ cất quân ra đánh dẹp cõi Bắc cũng chưa là muộn”.

        Bắc Bình Vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân, tế cáo trời đất cùng các thần Sông, thần Núi: chế ra áo cổn mũ miện, lên ngôi Hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung. Lễ xong, hạ lệnh xuất quân, hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788)75. Ở đây có lẽ chép nhầm tháng Một ra tháng Chạp.

        Sử của triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện cũng viết “Nguyễn Huệ được cáo cấp, mắng to: "Chó Ngô là quân gì mà dám tung hoành". Nguyễn Huệ liền hạ lệnh cất quân. Các tướng đều khuyên : "Trước tiên nên chính ngôi vị để kết chặt lòng người”. Nguyễn Huệ bèn cho đắp đàn ở phía nam núi Ngự Bình, lấy ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (1788) tự lập làm Hoàng đế, đổi niên hiệu là Quang Trung. Liền ngày ấy, vua Quang Trung đem các tướng sĩ thủy bộ cùng tiến ra Bắc"76.

        Trên cơ sở các nguồn tư liệu ấy, trong cuốn Quang Trung-Anh hùng dân tộc (1788-1792), tác giả Hoa Bằng đã viết: “Oai hùng giữa cảnh sông Hương, núi Ngự, Bắc Bình Vương đương chú mắt vào thời cục Bắc Hà, thì Nguyễn Văn Tuyết từ núi Tam Điệp, vâng lệnh Ngô Văn Sở, phi ngựa trạm, đưa tin khẩn cấp vào thành Phú Xuân (ngày 24 tháng Một năm Mậu Thân-1788): Tôn Sĩ Nghị lót miệng bằng tiếng "cứu Lê" đã kéo binh sang chiếm Thăng Long, giày đạp dân chúng! Khí diệm quân Thanh đang mạnh! Thú binh ở Bắc của ta không sao địch nổi, đã phải rút lui, đóng giữ từ Thanh Hoá trở vào.

        … Bấy giờ các tướng tá ai cũng khuyên Vương: nên hãy trước chính vị hiệu để ràng buộc lấy lòng người Nam, Bắc, rồi sau sẽ ra bắt sống quân hùm beo ấy.

        Chiều ý chư tướng, Bắc Bình Vương sai chọn ngày lập đàn Giao ở Bân Sơn, phía nam núi Ngự Bình, làm lễ tế trời, đất và các thần Sông, Núi, rồi với bàn tay đanh thép như Nã Phá Luân thứ nhất, Vương tự làm lễ "gia miện" lấy. Thế là từ ngày 25 tháng 11 năm ấy, được mang cái hiệu Quang Trung nguyên niên (1788) thay vào hai niên hiệu: Chiêu Thống thứ 2 và Thái Đức thứ 11.

        Ngày hôm đăng quang, vua Quang Trung tự làm tướng, cầm đầu đại binh, đốc thúc các tướng sĩ ở tế đàn, kéo cả quân bộ, quân thủy rầm rộ ra Bắc Hà với cái tiêu khí đang tưng bừng, bồng bột"77.

        Gần đây, trong tác phẩm Tìm hiểu thiên tài quân sụ của Nguyễn Huệ…, các tác giả Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng cũng viết: "Ngày 20 tháng Một năm Mậu Thân, Ngô Văn Sở đưa quân về tới Tam Điệp thì cũng ngay ngày hôm ấy Ngô Văn Sở cử đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa vào Phú Xuân cấp báo Nguyễn Huệ. Chỉ bốn ngày sau, tức 24 tháng Một năm Mậu Thân (21 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Văn Tuyết tới Phú Xuân. Nghe báo cáo đầy đủ tình hình, Nguyễn Huệ quyết định ngay ngày hôm sau 25 tháng Một năm Mậu Thân (tức ngày 22 tháng 12 năm 1788) xuất quân tiến ra Bắc"78.

        Như vậy là tất cả sử cũ và mới đều nói ngày lên ngôi Hoàng đế của Nguyễn Huệ tại Phú Xuân là ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (tức 22-12-1788). Song có một điều gây ra thắc mắc: tại sao trong Chiếu lên ngôi của Nguyễn Huệ lại ghi là ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân (tức là ngày 19- 12- l788), trước ngày ghi trong các tài liệu sử sách 3 ngày. Bản chữ Hán của Chiếu lên ngôi (in trong Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 11) viết như sau:

        “Trẫm ứng thiên thuận nhân, bất khả lao chấp tôn nhượng, di kim niên thập nhất nguyệt, nhị thập nhị nhật, tức thiên tử vị , kỷ nguyên vi Quang Trung nguyên niên”79.

--------------------------
        73. Tạp chí LSQS số 3-1989.

        74. Tức tháng Mười Một âm lịch, theo cách truyền thống.

        75. Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí (bản dịch), NXB Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 359-360.

        76. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam chính biên liệt truyện (bản dịch), trích từ tập san Sử Địa, Sài Gòn, số 9-10 (1968), tr. 94.

        77. Hoa Bằng. Quang Trung-Anh hùng dân tộc (1788-1792), NXB Hoa Tiên, Sài Gòn, 1974, tr. 157-158.

        78. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng. Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ-con người và sự nghiệp, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1986, tr. 32.

        79, 80. Tuyển tập thơ văn Ngô thì Nhậm, Q. 11, NXB Hà Nội, Hà Nội, 1978, tr. 105, 108.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:22 pm

        Mai Quốc Liên dịch như sau.

        "Trẫm ứng mệnh trời thuận lòng người, không thể cố chấp nhún nhường mãi, lấy ngày 22 tháng Một năm nay (tức năm Mậu Thân) lên ngôi thiên tử, đặt niên hiệu là Quang Trung nguyên niên80.

        Giáo sư Phan Huy Lê, trong tác phẩm Quang Trung-con người và sự nghiệp cũng đã xác nhận sự chênh lệch về ngày tháng đó. Tác giả viết:

        "Tại Phú Xuân, 24 tháng Một năm Mậu Thân (21-12-1788), Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo. Ngày hôm sau, ngày 25 tháng Một, Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung (theo Chiếu lên ngôi thì Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ngày 22 tháng Một) rồi lập tức ra lệnh xuất quân"81.

        Tại sao có sự chênh lệch đó?

        Chúng tôi nghĩ rằng việc ghi chiếu ngày 22 tháng Một là một việc làm rất có tính toán, cân nhắc của Nguyễn Huệ. Phải chăng lễ lên ngôi đã được tổ chức vào ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (22-12-1788), nhưng khi viết chiếu, Quang Trung vẫn phải để niên hiệu của mình chính thức bắt đầu từ ngày 22 tháng Một năm ấy (19-12-1788) đã khẳng đinh hơn nữa tính chất chính thống của triều đại mình (mà vốn từ lâu nó đã có đủ tư cách đó), hoàn toàn đập lại tính chất ngụy trá của chức "An Nam quốc vương" do nhà Thanh phong cho Lê Chiêu Thống cũng vào ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân.

        Hoàng Lê nhất thống chí cho biết nhà Thanh đã thụ phong cho vua Lê vào ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân82.

        Tại sao Nguyễn Huệ đã không đề chiếu trước ngày 22 tháng Một hoặc sau ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân? Nếu đề chiếu trước ngày 22 tháng Một thì tức là trái với chủ trương "phù Lê" mà Nguyễn Huệ đã ban bố trước đây, mặc dù ông rất biết cái bất tài vô lực của vua Lê lúc bấy giờ. Song yêu cầu lúc đó cần thiết phải sử dụng chủ trương "Phù Lê" để đoàn kết lực lượng giải quyết những vấn đề cấp thiết nhất, tức là vấn đề Nguyễn Ánh ở Gia Định và vấn đề đời sống của nhân dân trong cả nước. Đó cũng là mục tiêu ngay từ đầu của phong trào nông dân Tây Sơn. Còn nếu đề chiếu sau ngày 22 tháng Một năm Mậu Thân thì tức là thừa nhận cái việc làm sai trái của nhà Mãn Thanh và hành động bán nước của Lê Chiêu Thống và khi bộ máy ngụy chức đã được củng cố ổn định thì tình hình sẽ càng trở nên phức tạp.

        Còn ngày thực tế làm lễ lên ngôi thì đúng là ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (22-12-1788). Bởi vì điều kiện thông tin liên lạc lúc bấy giờ không cho phép Nguyễn Huệ có thể biết được kịp thời trong ngày, để làm lễ lên ngôi cùng một ngày với việc nhà Thanh phong vương cho Lê Chiêu Thống. Cũng có thể có trường hợp trùng hợp một cách ngẫu nhiên, song khả năng đó không thể xảy ra vì trái với chủ trương "Phù Lê" đã nói ở trên. Mặc dù ngay từ tháng Bảy năm ấy, tức là 4 tháng trước đó, Lê Chiêu Thống đã cử Lê Duy Đán và Trần Danh Án sang Trung Quốc. Tuy nhiên, tính chất bán nước của Lê Chiêu Thống lúc bấy giờ chưa lộ rõ và đối với dư luận phức tạp của quần chúng khiến cho Nguyễn Huệ chưa thể nghĩ đến điều đó. Và như sau này trong nội dung của Chiếu lên ngôi cho thấy Nguyễn Huệ đã hết sức trung thực và thận trọng trong vấn đề này.

        Một điều thắc mắc thứ hai là như các tài liệu đã dẫn ở trên cho thấy, sau khi nhận được tin cấp báo của Nguyễn Văn Tuyết vào ngày 24, lập tức ngày hôm sau, 25 tháng Một năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ cho làm lễ lên ngôi và sau khi lễ xong, cùng trong ngày hôm đó, ông đã lập tức chỉ huy đại quân hàng vạn người lên đường Bắc tiến, tiêu diệt quân xâm lược Thanh. Như vậy là chỉ sau có 12 tiếng đồng hồ, với phương tiện thông tin, liên lạc và vận chuyển hồi đó làm sao có thể tập hợp được 6 vạn binh sĩ có mặt tại lễ đàn với đầy đủ trang bị, tinh thần chiến đấu để kịp thời lên đường? Đây có phải là một điều bí ẩn không thể hiểu nổi hay không?
---------------------
        81. Phan Huy Lê. Quang Trung-Nguyễn Huệ-con người và sự nghiệp. Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Bình, xuất bản 1986, tr. 32.

        82. Hoàng Lê nhất thống chí, Sđd, tr. 359.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:24 pm

        Sách Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ… viết: "Mới nghe thì tưởng như lệnh xuất quân có vẻ nóng vội. Nhưng thật ra, lệnh xuất quân ấy đã dựa trên những cơ sở thực tế của nó. Từ nhiều tháng trước, những đạo quân ở Phú Xuân của Nguyễn Huệ đã được huấn luyện và chuẩn bị đầy đủ chu đáo, lúc nào cũng ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đợi lệnh lên đường xuất trận để đối phó với mọi tình hình bất trắc xảy ra, dù là ở phía nam hay ở phía bắc. Nếu không có một sự chuẩn bị chu đáo, một tư thế sẵn sàng chiến đấu như thế, thì không có một đội quân nào gồm trên dưới chục vạn người có thể ngày hôm trước được tin giặc đến mà lập tức ngày hôm sau đã xuất phát lên đường đi hàng ngàn dặm để đánh giặc"83.

        Ghi chép của các giáo sĩ phương Tây đang giảng đạo ở Việt Nam lúc bấy giờ cũng đã cho biết: “Từ khi Tân Vương (tức Nguyễn Huệ) trở về lại Phú Xuân (tức từ tháng 4 năm 1788) ông ấy rất bận việc phòng ngự, ông đã xây một bức tường cao 20 piê84 xung quanh dinh của ông, hình như ông gấp lắm. Ông bắt mọi người làm việc suốt đêm không nghỉ"85.

        Đoạn trích vừa rồi là từ một bức thư của linh mục La Bartette viết tại Dinh Cát (Quảng Trì) vào ngày 23-7-1788.

        Trong một bức thư gửi cho Bá Đa Lộc, giáo sĩ Doussain cũng đã viết: Tại Phú Xuân, toàn dân đều học tập quân sự86.

        Theo linh mục Sérard, lúc bấy giờ ở Thuận Hoá "đàn ông thì đi lính, đàn bà và trẻ con thì làm tạp dịch, kẻ thì cày cấy, người thì xây thành đắp luỹ"87. “Tất cả đàn ông từ 15 đến 60 tuổi đều tham gia việc quân” 88. “Tất cả (quân đội của Nguyễn Huệ) đều quyết tử”89. "Tất cả đều thực hiện khẩu hiệu "Tận xuất vi binh"90 của Nguyễn Huệ". "Cả dân tộc này đều làm lính cho họ chẳng sót một người nào"91.

        Rõ ràng qua thư từ của các giáo sĩ, cho thấy lúc bấy giờ binh sĩ của Nguyễn Huệ đã được động viên, huấn luyện và chuẩn bị đầy đủ và đang sẵn sàng ở tư thế đợi lệnh xuất quân chiến đấu. Theo Doussain, số quân đó đã lên tới trên 6 vạn người92.

        Đi đôi với quá trình chuẩn bị về lực lượng quân đội, Nguyễn Huệ còn có những sự chuẩn bị khác, nhất là về mặt chính trị để kịp thời ứng phó với sự thay đổi của tình hình. Theo tài liệu nhật ký của các giáo sĩ phương Tây đang giảng đạo ở địa phận Đàng Ngoài lúc bấy giờ (từ tháng 10-1788) cho biết Nguyễn Huệ đã dự định lên ngôi Hoàng đế vào ngày 11 tháng Mười năm Mậu Thân (tức là ngày 8-11-1788), trước ngày các sử sách của ta ghi chép gần một tháng rưỡi. Và trong một bản sắc lệnh gửi cho các tướng sĩ ở Bắc Hà của Nguyễn Huệ ban bố vào ngày 6 tháng Mười năm Mậu Thân (tức ngày 3-11-1788), cũng do các giáo sĩ phương Tây cung cấp cho biết lúc bấy giờ Nguyễn Huệ có giao cho các quan tư pháp và tham chính viện nhiệm vụ soạn thảo một bộ luật trong vòng một đến hai tháng để kịp thời ban bố trong ngày khởi đầu triều đại của ông.

--------------------------------------
        83. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài..., Sđd, tr. 215.

        84. Pied: 0,324 mét.

        85. Tài liệu của Archives Missions Étrangèrcs Cochinchine (viết tắt A.M.E.C). Voi 801. tr. 177

        86. Thư của Doussain viết ngày 6-6-1787, dẫn theo Cadière trong Documents relatifs à l’époque de Gia Long. B.E.F.E.O, N07, 1912, p. 212.

        87. Thư của La Bartette gửi Letondal ngày 11-6-1788, tài liệu A.M.E.C. Vol. 801, tr. 177.

        88. Trong bức thư đề ngày 16-5-1788, Doussain đã tự viết hai chữ "tận xuất" bằng tiếng Việt.

        89. Thư của Doussain viết ngày 16-6-1788, tài liệu A.M.E.C. Vol. 746, tr. 22.

        90. Thư của Doussain viết ngày 6-6-1 787, dẫn theo Cadière, tài liệu đã dẫn.

        91. Trích trong Alexis Faure, Les Francais en Cochinchine au XVIIIe siècle... challamel, Paris, 1891.

        92. Thư của Sérard viết ngày 12-7-1789, tài liệu A.M.E.C đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:16:35 pm

        Đoạn mở đầu của bản Sắc chỉ đó viết như sau:

        “Bởi sắc chỉ này ta cho các tướng Đại tư mã, Đại đô đốc và các sĩ quan khác biết rằng từ trước tới nay các vua chúa đều lấy luật pháp để cai trị thần dân và duy trì hoà bình, nên ta cũng noi gương các vị tiền bối mà đánh dấu ngày khởi đầu triều đại ta bằng cách soạn ra một bộ luật để dân chung sống trên đất đai ta nghiêm ngặt tuân theo. Vì thế ta đã giao cho các quan tư pháp và tham chính viện nhiệm vụ hoàn tất tác phẩm đó trong 1, 2 tháng”93.

        Theo chúng tôi, có thể chưa phải Nguyễn Huệ dự định lên ngôi vào ngày 11 tháng Mười năm Mậu Thân như tài liệu của giáo sĩ trên cung cấp, do chủ trương "Phù Lê" mà chúng tôi đã nêu ra ở trên, song có thể trong khoảng trước sau của thời gian này, Nguyễn Huệ đã có sự chuẩn bị về mặt luật pháp như trong bản Sắc chỉ nói trên đã cho biết. Sự phân tích tình hình chính trị-quân sự lúc bấy giờ cho thấy có thể có khả năng đó.

        Một là, ngay từ tháng Bảy năm Mậu Thân (tức tháng 8- 1788), Lê Chiêu Thống ngầm sai bọn Lê Duy Đán và Trần Danh Án sang Trung Quốc cầu cứu triều đình nhà Mãn Thanh, rước quân nước ngoài về giày xéo đất nước.

        Hai là, sau khi làm chủ được một vùng đất đai rộng lớn ở Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tự lấy làm thoả mãn, ung dung hưởng lạc, từ bỏ ngọn cờ cứu nước, cứu dân, phó mặc Gia Định cho sự bất tài của Nguyễn Lữ. Điều đó đã tạo ra một sự sơ hở lớn để Nguyễn Ánh tấn công đánh chiếm lại Gia Định. Nguyễn Lữ mắc mưu bỏ chạy về Quy Nhơn. Ngày 8 tháng Tám năm Mậu Thân (tức ngày 7-9-1788) Nguyễn Ánh chiếm được Sài Gòn, thủ phủ của Gia Định. Tướng của Nguyễn Lữ là Phạm Văn Tham buộc phải rút lui về Hàm Luông dựa vào sự giúp đỡ của người Chân Lạp. Nguyễn Ánh một mặt cho quân bao vây quân của Phạm Văn Tham, mặt khác lo tổ chức việc cai trị ở Gia Định. Và cũng có thể nói từ đây trở đi quân Tây Sơn đã mất hẳn Gla Định.

        Ba là, từ ngày 1 tháng Một năm Mậu Thân (tức ngày 28-11-1788), 29 vạn quân Thanh do Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sỹ Nghị chỉ huy, đã chia làm ba đạo, ồ ạt kéo vào dết nước ta với mưu đồ xâm lược. Trước kẻ địch đông gấp bội, Ngô Văn Sở theo lời đề nghị của Ngô Thì Nhậm tạm thời rút quân về giữ Tam Điệp. Ngày 20 tháng Một năm đó (ngày 16-12-1788) quân Thanh vào đến Thăng Long. Tôn Sỹ Nghị buông lỏng cho quân lính mặc sức hoành hành, cướp bóc, hãm hiếp nhân dân. Bọn Lê Chiêu Thống bám gót quân Thanh, được vua Thanh phong làm "An Nam quốc vương". Y đã tỏ ra là một tên bù nhìn ươn hèn, đốn mạt. Đối với quân thù thì bọn chúng qụy lụy đến khốn nạn. Đối với nhân dân trong nước thì bọn chúng tàn nhẫn đến dã man. Dựa vào thế quân Thanh, chúng trả thù báo oán rất ti tiện và ra sức vơ vét thóc gạo, cướp bóc của cải để cung đốn cho quân xâm lược.

        Nhiệm vụ lịch sử lúc bấy giờ đặt ra cho phong trào Tây Sơn là không được dừng lại ở việc giải quyết những nhiệm vụ giai cấp mà còn phải vươn lên để giải quyết nhiệm vụ của dân tộc.

        Đứng trước tình hình đó, những người lãnh đạo chân chính của phong trào Tây Sơn không có cách nào khác là phải phá bỏ cái quan điểm "phù Lê", "diệt Trịnh", lập ra một triều đại mới để tập hợp quần chúng chống ngoại xâm. Với một khả năng mẫn cảm sâu sắc về chính trị, Nguyễn Huệ không thể không nhận thức ra được sự tất yếu này và chuẩn bị cho nó. Sự chuẩn bị về luật pháp nói trên là một ví dụ. Các quan lại, tướng sĩ của ông cũng đã nhiều lần dâng biểu khuyên mời ông sớm lên ngôi định vị hiệu.

        Song, sự phức tạp của tình hình lúc bấy giờ đòi hỏi Nguyễn Huệ phải xử sự một cách hết sức khéo léo và tế nhị. Bởi vì, mặc dù với một tấm lòng trung thực và xuất phát từ lợi ích của cả dân tộc nhưng việc Nguyễn Huệ lên ngôi xoá bỏ nhà Lê cũng có thể sẽ là một cơ hội để cho những phần tử phản động nhân đó dựng cờ phù Lê chống Tây Sơn, thậm chí những người tốt cũng có thể nghi ngờ về tính chất chính nghĩa của phong trào Tây Sơn. Đấy là nói chung. Riêng trong nội bộ của phong trào Tây Sơn cũng có những cái phức tạp của nó. Mặc dù Nguyễn Huệ là người lỗi lạc, có nhiều cống hiến xuất sắc, nhưng về danh nghĩa lâu nay, người cầm đầu phong trào vẫn là Nguyễn Nhạc. Bây giờ tự nhiên Nguyễn Huệ tuyên bố lên ngôi sẽ không tránh khỏi dị nghị trong dư luận. Cuộc đấu tranh tư tưởng này đòi hỏi Nguyễn Huệ phải hết sức thận trọng. Ở đây không chỉ có sự trung thực mà cần phải có sự khéo léo nữa94. Chính vì thế, Nguyễn Huệ đã cân nhắc hết sức thận trọng.

-----------------------
        93. Nhật ký về những sự kiện đáng ghi nhớ trong địa phận giáo hội Bắc Kỳ về chính trị, dân sự, tôn giáo từ tháng 10-1788 cho tới cuối tháng 7-1789, tài liệu lưu trữ tại Hội truyền giáo hải ngoại Ba-lê (Đặng Phương Nghi sưu tầm và dịch, tập san Sử Địa, Sài Gòn, số 9-10 (1968), tr. 214).

        94. Nguyễn Lộc. Văn học Tây Sơn, Sở Văn hoá-Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1986, tr. 62.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:17:10 pm

        Sự thận trọng đó của ông thể hiện rất rõ trong nội dung của Chiếu lên ngôi. Mở đầu bài chiếu, vua Quang Trung nhấn mạnh, việc thay đổi triều đại trong lịch sử không có gì trái với đạo trời, mà chính là để làm tốt đạo trời. Qua thực tiễn lịch sử nước ta, việc thay đổi các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần chứng tỏ "Thánh nhân dấy lên không phải một họ".

        Sau đó, vua Quang Trung nói rõ lý do ông tham gia phong trào nông dân khởi nghĩa là vì sự phẫn nộ trước những thối nát của triều đại phong kiến lúc bấy giờ, là mong muốn có một trật tự xã hội tốt đẹp để cho dân chúng yên ổn, “rồi sau đó trả nước cho họ Lê, trả đất về Đại huynh (tức Nguyễn Nhạc), Trẫm sẽ dùng hia thêu đỏ ngao du hai miền để làm vui mà thôi”.

        Nhưng lịch sử không dừng lại ở đó: Vua Lê thì bất lực, Hoàng Đại huynh thì mệt mỏi, chỉ muốn giữ một phủ Quy Nhơn; nguyện vọng của nhân dân là mong mỏi Nguyễn Huệ đứng ra gánh vác công việc, nhà vua dù muốn từ chối cũng không thể từ chối được.

        "Trẫm nghĩ: nghiệp lớn rất trọng, ngôi trời khó khăn. Trẫm thật lòng lo không đương nổi. Nhưng ức triệu người trong bốn bể trông cậy vào một mình trẫm. Đó là ý trời, há phải việc người? Trẫm ứng mệnh trời, thuận lòng người, không thể cố chấp nhún nhường mãi được...". Và vì thế nhà vua buộc phải lên ngôi. Với tư cách một vị hoàng đế, nhà vua tuyên dương "Nhân, Nghĩa, Trung, Chính", quyết tâm "lấy giáo hoá trị thiên hạ". Nhà vua tin tưởng con đường mình đi là con đường chí thuận, sẽ vãn hồi được thánh trị, kéo dài được phúc lành cho tông miếu xã tắc, "cùng dắt dìu dân lên con đường lớn, đặt vào đài xuân".

        Bài chiếu với lời lẽ hùng hồn, lập luận chặt chẽ thể hiện một tấm lòng trung thực của ông vua áo vải cùng với quyết tâm xây dựng lại giang sơn đất nước95.

        Sự thận trọng của Nguyễn Huệ còn biểu hiện ở việc lựa chọn ngày lên ngôi như đã chứng minh ở trên. Đoạn trích sau đây từ Khâm định Việt sử thông giám cương mục có khác đôi chút với đoạn trích từ Hoàng Lê nhất thống chí ở trên cho thấy một sự quyết định sáng suốt, có dự đoán và chuẩn bị của Nguyễn Huệ:

        “…Ngày 24 tháng Một năm Mậu Thân, khi tin cấp báo về đến Phú Xuân, trước vẻ hớt hải lo lắng của Nguyễn Văn Tuyết và nỗi hoang mang của các tướng sĩ, Nguyễn Huệ bình tĩnh và tươi cười nói: “Việc gì mà cuống quít lên vậy, chúng nó tự đi đến chỗ chết mà thôi, ta hãy lên ngôi làm cho danh nghĩa quang minh chính đại, để ràng buộc lấy lòng người trong Nam ngoài Bắc trước đã, rồi sẽ ra bắt sống chúng nó cũng chưa muộn nào...”96. Thế rồi lập tức ngày hôm sau, 25 tháng Một năm Mậu Thân (22-12-1788), Nguyễn Huệ cho tập trung các quan cùng với 6 vạn binh sĩ lên đỉnh núi Bân, làm lễ tế cáo trời đất, tuyên chiếu lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung và sau đó tuyên bố luôn lệnh xuất quân”.

        Với một nhãn quan chính trị nhạy bén, tinh tế, ông đã kết hợp một cách tài tình tuyệt đẹp giữa một sự kiện chính trị trọng đại với một sự kiện quân sự trọng yếu, giữa việc lên ngôi Hoàng đế với việc xuất quân đại phá quân Thanh. Sự tác động tương hỗ giữa hai sự kiện chính trị và quân sự nói trên đã nâng cao rất lớn uy tín của Nguyễn Huệ, giải quyết một cách gọn ghẽ cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ nhân dân lúc bấy giờ, tập hợp và phát huy được sức mạnh của cả dân tộc, làm tiền đề cho một chiến công hiển hách đang chờ đợi.

        Sách Lê quý kỷ sự viết: "Làm lễ đăng quang xong, Huệ đưa hết các tướng sĩ ở lễ đàn, vượt qua sông Hương, không ngoái lại nữa, lên đường nhằm Bắc Hà thẳng tiến"97.

        Họ ra đi từ Phú Xuân vào ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân để có mặt ở Thăng Long vào sáng ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu, đón năm mới bằng chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa oanh liệt, quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược.

--------------------
        95. Nguyễn Lộc. Văn học Tây Sơn, Sđd, tr. 61.

        96. Khâm Định Việt sử thông giám cương mục. Chính biên, quyển 47, tr. 40. Dẫn theo Đỗ Bang, Đàn Nam giao Tây Sơn tại Huế, Kỷ yếu Tây Sơn-Nguyễn Huệ, Ty Văn hoá-Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1978, tr. 303.

        97. Nguyễn Thu. Lê quý kỷ sự (bản dịch), NXB KHXH , Hà Nội, 1975, tr. 120.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:02 pm

VỀ “HƯỚNG TIẾN QUÂN CỦA NGUYỄN HUỆ…” TRONG “ĐỐI THOẠI SỬ HỌC”98

LÊ ĐÌNH SỸ       

        Cuốn sách "Đối thoại sử học"99 (ĐTSH) ra đời gây ra không ít dư luận. Nhiều người "bán tín bán nghi" đâu là chân lý, đâu là sự thật? Là một người đã nhiều năm nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam cổ trung đại, tôi luôn quan tâm tới những phát hiện mới trong lĩnh vực chuyên sâu của mình, thường tìm hiểu thông tin hai chiều về lịch sử dân tộc và hoan nghênh một không khí học thuật mới, tiến bộ. Tuy nhiên, sau khi đọc ĐTSH, tôi thấy ở đó chứa đựng nhiều kết luận vội vàng, thiếu khoa học. Riêng trong lĩnh vực lịch sử quân sự, thấy còn nhiều vấn đề sai lệch, cần phải trao đổi với nhóm tác giả. Ở đây, xin nêu mấy ý kiến về hướng tiến quân của Nguyễn Huệ trong chiến dịch Thăng Long (1789) mà ĐTSH đã đề cập tới.

        1. Đạo quân chủ lực của Nguyễn Huệ có tập kết ở Tam Điệp không?

        Trong ĐTSH, cả hai tác giả Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh từ chỗ hiểu sai "khái niệm về một phòng tuyến quân sự" đã đi đến phủ nhận vai trò của phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn, đánh giá thấp tài năng quân sự của Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Huệ.

        Từ chỗ phủ nhận vị trí chiến lược của Tam Điệp-Biện Sơn, Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh cũng phủ nhận luôn cuộc hội quân của Quang Trung tại Tam Điệp. Bùi Thiết viết: "Chúng tôi đã chứng minh rằng đại quân của Quang Trung không tập kết ở Tam Điệp như sự trình bày trong các sách vở lịch sử và việc ở Tam Điệp có 5 mũi tiến quân ra Bắc như giả định hiện nay không có tư liệu chứng minh..."(trang 443). Lê Trọng Khánh dựa vào tài liệu của một giáo sĩ Pháp khẳng định: "Quang Trung đã tiến đến Kẻ Vôi (Hoà Bình)" và "đã chọn Kẻ Vôi làm địa bàn tập kết đại quân" (trang 447)(?)

        Chúng ta đã biết, là người chỉ huy tối cao, Nguyễn Huệ và Bộ chỉ huy Tây Sơn luôn theo dõi sát tình hình Bắc Hà, đã lường trước mọi mưu đồ của kẻ thù, vì vậy, mọi việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến được tiến hành chu đáo và gấp rút từ mấy tháng trước. ông đã khai thác triệt để tiềm năng trong nước để chuẩn bị lực lượng chống quân Thanh xâm lược ở phía Bắc và đối phó với quân Nguyễn Ánh ở phía nam. Ông cho triệu tập binh lính về Phú Xuân, thường xuyên luyện tập xây dựng nhiều đồn luỹ ở các cửa khẩu và dọc theo bờ biển, mộ thêm binh sĩ, chuẩn bị lương thảo, luyện tập quân sự sẵn sàng đánh giặc. Sau khi nghe cấp báo tình hình quân Thanh và ý đồ của chúng, Nguyễn Huệ đã dự liệu một kế hoạch hành binh chớp nhoáng để đánh tan 29 vạn quân Thanh trong dịp Tết Kỷ Dậu 1789.

        Do đã có kinh nghiệm của các lần hành quân vào Nam diệt quân Xiêm (1785), ra Phú Xuân, sông Gianh và Thăng Long diệt tập đoàn phản động nhà Trịnh (1786) bằng cả đường thủy và đường bộ, nên chỉ một ngày sau khi được cấp báo, Nguyễn Huệ đã quyết định xuất quân ngay.

        Tất cả các quan điểm về đường hành quân của quân Tây Sơn, đến nay vẫn còn là giả thiết. Quan điểm của Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh là Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn chỉ hành quân theo một trục đường, đó là đường thượng đạo, tức là đường trên miền Tây Quảng Bình-Nghệ An-Thanh Hoá-Hoà Bình, không theo đường thiên lý qua Tam Điệp; điểm tập kết đại quân là Kẻ Vôi và Nguyễn Huệ nghỉ lại ở đó để chuẩn bị lương thực, thực phẩm cho đại quân và thức ăn cho voi, ngựa, trước khi tiến ra Thăng Long.

        Bấy giờ quân xâm lược đã chiếm đóng Thăng Long, quân Tây Sơn còn ở xa, thời gian chuẩn bị gấp. Nếu Quang Trung hành quân theo đường thượng đạo thì hẳn khó mà bảo đảm kịp thời gian. Đường rừng xưa khác nay, vừa xa lại rất khó đi, thời gian lúc này là vốn quý, là lực lượng, không thể chậm trễ được. Lúc ấy, đường Thiên lý (gần như quốc lộ A1 ngày nay) đã hình thành, Tây Sơn đã lật đổ tập đoàn phản động họ Trịnh, đất nước đã được thống nhất; đó là điều kiện để Quang Trung cơ động lực lượng nhanh chóng bằng con đường ngắn nhất, tiện nhất, với tốc độ thần tốc. Đó là đường biển cho thủy binh và đường bộ-đường Thiên lý cho bộ binh, đồng thời quân Tây Sơn cũng có đủ khả năng để khắc phục những hạn chế do địa hình, thời tiết gây nên và được nhân dân ủng hộ, bảo vệ.

        Nguyễn Huệ đã tuỳ theo số lượng quân sĩ, trang bị và theo khả năng phương tiện để tổ chức đội hình hành quân, bảo đảm thông suốt, thuận lợi và bí mật. Có thể từ Phú Xuân ra Nghệ An, rồi từ Nghệ An ra Thanh Hoá và Tam Điệp, quân Tây Sơn chia thành hai đạo. Đạo chủ yếu đi theo đường bộ-đường Thiên lý, gồm bộ binh, kỵ binh và một bộ phận tượng binh. Đạo đường thủy dành cho thủy binh, tượng binh, pháo binh là những lực lượng và phương tiện nặng nề, cồng kềnh. Qua nghiên cứu các tài liệu, việc phân chia các chặng đường hành quân với các mốc thời gian ghi trong sử sách, chúng ta thấy các cung trạm và bảo đảm hành quân có thể thực hiện được theo hai trục đường đó. Chính vì vậy, đại quân Nguyễn Huệ có điều kiện thuận lợi để mau chóng vượt qua một chặng đường dài, trong một thời gian không lâu, để qua Nghệ An, qua Thọ Hạc (Thanh Hoá) và tới địa điểm tập kết đại quân ở Tam Điệp và Biện Sơn.

----------------------------------
        98. Tạp chí LSQS số 3-2000.

        99. Bùi Thiết-Đỗ Văn Ninh-Lê Trọng Khánh... Đối thoại sử học, NXB Thanh niên, H, 2000.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:26:13 pm

        Kết luận này cũng phù hợp với những phản ánh trong sử sách xưa nay. Các sử gia Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Ngay ngày hôm ấy (22- 12-1788), Văn Huệ lùa hết tướng sĩ ở tế đàn vượt sông ra Bắc. Khi qua Nghệ An và Thanh Hoá lấy thêm quân lính đến 8 vạn người, bèn tạm đóng quân ở Thọ Hạc, trước hãy sai người ruổi ngựa đưa thư đến Sĩ Nghị để xin đầu hàng. Lời lẽ trong thư rất là nhũn nhặn, khiêm tốn”100; và “đến đây, quân Văn Huệ kéo đến đèo Ba Dội (Tam Điệp sơn), nhà vua (tức Lê Chiêu Thống) được tin, lấy làm lo sợ, hỏi Sĩ Nghị về mưu kế”101. Tác giả Nguyễn Thu, trong sách Lê quý kỷ sự có chép: "Huệ xuất phát từ Phú Xuân, qua Nghệ An đến Thanh Hoá, vừa đi vừa thu nhặt thêm binh lính: Quân dưới cờ được đến 8 vạn người. Làm lễ thệ sư ở Thọ Hạc, Huệ cưỡi đầu voi, ra lệnh (...) Huệ nói dứt lời, các quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, làm cho trời đất biến đổi cả cảnh sắc. Rồi chiêng trống vang rền... Quân lính gấp đường kéo ra. Khi đến Sơn Nam (Tam Điệp), Huệ viết thư mắng Tôn Tổng đốc là thằng điên"102. Trong hồi ký của một giáo sĩ người Pháp có mặt ở nước ta thời đó là Đờ la Bít-xa-se (De la Bissachère) có viết: Khi được tin quân Thanh sang xâm lược, Nguyễn Huệ lập tức đưa quân ra Bắc Hà, "ông ấy đi suốt ngày đêm, dọc đường dùng quyền lực thu nạp tất cả những người có thể cầm được vũ khí, ông không có lương thực nào khác ngoài lương thực tìm thấy trong các làng mà ông đi qua"103.

        Mấy tài liệu trên chứng tỏ, Nguyễn Huệ hành quân qua những vùng đông dân, qua Nghệ An, Thanh Hoá và đã tập kết tại Tam Điệp-nơi mà đạo quân của Ngô Văn Sở đã lui về trấn giữ từ trước.

        Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15-1-1789), đại quân của Nguyễn Huệ đã tới Tam Điệp-Biện Sơn. Kể từ khi được tin cấp báo của Ngô Văn Sở, do Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa mang vào (21-12-1788) đến ngày tập kết ở Tam Điệp, quân Tây Sơn đã hành quân mất 25 ngày. Trong điều kiện thời bấy giờ, trên một quãng đường dài, vừa đi vừa tổ chức lực lượng, đó quả là một cuộc hành quân táo bạo, thần kỳ, chứng tỏ nghệ thuật dụng binh thiên tài của Nguyễn Huệ.

        Vậy là, việc Nguyễn Huệ tập kết đại quân ở Tam Điệp vừa được phản ánh trong sử sách, vừa phù hợp với khả năng hành quân của quân đội Tây Sơn. Ý kiến cho rằng đại quân của Nguyễn Huệ tập kết ở Hòa Bình, không qua Tam Điệp, của Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh cũng chỉ là một giả thiết không có cứ liệu chính xác. Theo tôi, đã không dựa trên một cơ sở tư liệu tin cậy thì các tác giả ĐTSH không nên vội vã đưa ra kết luận của mình để phủ định toàn bộ những thành quả nghiên cứu trước đây.

        Từ chỗ cho rằng, đạo chủ lực của Quang Trung không hội quân ở Tam Điệp, Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh đi đến phủ nhận hai vấn dề: một là, không có việc từ Tam Điệp, quân Tây Sơn chia thành 5 mũi tiến quân ra Bắc như sử sách đã nói; hai là, Nguyễn Huệ không tiến quân theo hướng nam Thăng Long, không tham gia đánh Hà Hồi và Ngọc Hồi, mà ông chỉ huy quân chủ lực tiến theo hướng tây nam, đánh vào Khương Thượng-Đống Đa. Trong bài "Góp phần nhận thức lại nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ trong chiến thắng Đống Đa", Lê Trọng Khánh viết rằng: "Nguyễn Huệ chủ trương đột phá vào thành Thăng Long từ hướng Đống Đa bằng cánh quân chủ lực tinh nhuệ nhất của Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, trong đó có khoảng 1 vạn quân do Đô đốc Đặng Văn Long, tức Đô đốc Long, chỉ huy làm quân tiên phong, có nhiệm vụ chủ yếu là nhanh chóng làm tê liệt 3 vạn quân của Sầm Nghi Đống ở Đống Đa, mở đường cho Nguyễn Huệ thọc sâu vào tiêu diệt lực lượng chủ lực do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy" (trang 450). Theo Lê Trọng Khánh, cánh quân tiến công theo hướng phía nam Thăng Long, do Ngô Văn Sở chỉ huy, là cánh thứ yếu, chỉ nhằm nghi binh, lôi kéo sự chú ý của quân Thanh mà thôi.

        Ý kiến này hoàn toàn ngược lại với những kết luận trước đây của nhiều nhà sử học. Nếu lý giải theo Lê Trọng Khánh, tức là từ Kẻ Vôi (Hoà Bình), Quang Trung chia quân thành 5 đạo tiến theo 5 mũi vào Thăng Long thì quả là không có sức thuyết phục. Nếu đại bản doanh của Nguyễn Huệ đóng ở Hoà Bình thì rất khó liên lạc với các đạo quân khác của Tây Sơn ở cả Biện Sơn và Tam Điệp. Do vậy, vị trí tập kết của đại quân Nguyễn Huệ, như nói ở trên, là hợp lý và từ Tam Điệp, Nguyễn Huệ mới có điều kiện thuận lợi họp chư tướng dưới quyền để chỉ đạo thực hiện kế hoạch tác chiến của mình. Theo chúng tôi, cách lý giải trước đây là phù hợp lô-gic. Chỉ có từ Tam Điệp, Quang Trung mới có thể hội họp các tướng và phân chia quân thành 5 đạo, với những lực lượng và nhiệm vụ khác nhau, đồng loạt tiến ra Bắc để thực hiện một nhiệm vụ chiến dịch-chiến lược quan trọng nhất của cuộc chiến tranh như ông đã nói "việc được thua đều quyết định ở trận này".

-------------------
        100, 101. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, NXB Giáo dục, H, 1998, tr. 845, 846.

        102. Nguyễn Thu. Lê quý kỷ sự, NXB Khoa học xã hội, H, 1974, tr. 122.

        103. Ch. May bon. La relation sur le Tonkin ét la Cochinchine de M. De la Bissachère, Paris, 1920. p. 132.

        2. Nguyễn Huệ chỉ huy cánh quân nào trong chiến dịch Ngọc Hồi-Đống Đa xuân Kỷ Dậu (1789)?


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:20 pm

        Điều đó cũng phù hợp với những ghi chép của Ngô gia văn phái trong Hoàng Lê nhất thống chí rằng: "Tại Tam Điệp, vua Quang Trung mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm 5 đạo hôm đó là ngày 30 tháng Chạp. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng; Ta với các ngươi làm lễ cúng Tết trước đã. Đến 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các người nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác. Sau đó nhà vua truyền lệnh: các viên tướng ở trung quân thuộc về doanh vua sai phái là Đại tư mã Sở; nội hầu Lân đốc suất tiền quân làm tiên phong; Hám hổ hầu đốc suất hậu quân làm đốc chiến; Đại đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết đốc suất tả quân, trong đó gồm cả thủy quân vượt biển vào sông Lục Đầu; rồi Tuyết vẫn kinh lý vùng Hải Dương để tiếp ứng mặt Đông; còn Lộc thì đi gấp lên các hạt Lạng Sơn, Phượng Nhãn, Yên Thế để chặn đường về của quân Thanh; Đại đô đốc Bảo, Đô đốc Long đốc suất hữu quân, trong đó gồm quân voi và quân kỵ mã: Long xuyên qua huyện Chương Đức, theo đường tiến thẳng đến Nhân Mục, huyện Thanh Trì để đánh ngang vào đồn quân Điền Châu; Bảo thì thống đốc quân voi do đường Sơn Minh ra làng Đại áng, huyện Thanh Trì để tiếp ứng cánh hữu. Cả 5 đạo quân đều lạy vâng mệnh, đúng ngày, gióng trống lên đường ra Bắc"104.

        Dẫu rằng Hoàng Lê nhất thống chí là một bộ tiểu thuyết lịch sử, nhưng nó được viết ra gần với thời gian xảy ra sự kiện, các tác giả lại thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai. Trong điều kiện sử liệu rất hiếm hoi thì những điều mô tả trên của Ngô gia văn phái rất đáng để chúng ta tham khảo. Các sách khác như Lê quý kỷ sự, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, v v. đều phản ánh tương tự. Không hiểu tại sao Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh không tham khảo mà lại phán đoán và trình bày ý kiến của mình một cách khiên cưỡng, có tính áp đặt, thiếu sức thuyết phục, thiếu chứng cứ khoa học... để bác lại những điều mà sử sách trước đây đã viết?

        Phủ nhận hướng tiến công phía nam do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy, Bùi Thiết còn cho rằng, sử sách trước đến nay đã cường điệu những trận đánh từ Thanh Quyết đến Ngọc Hồi, vì đó đâu phải là "cú đánh chiến lược"; những người viết sử trước đây đã chưa hiểu trọn cách dùng binh của Nguyễn Huệ; công nhận các trận từ Thanh Quyết đến Ngọc Hồi do Quang Trung tự thân đốc chiến là vô hình chung hạ thấp tài ba của Hoàng đế Quang Trung(?).

        Thực tế không như Bùi Thiết suy đoán. Việc Nguyễn Huệ đích thân chỉ huy cánh quân chủ lực đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu đánh thẳng vào hệ thống phòng thủ mạnh nhất của quân Thanh ở phía nam Thăng Long là điều quá rõ, vừa được phản ánh trong sử cũ, vừa phù hợp với cách hành binh của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ. Tài dụng binh của Nguyễn Huệ đã nổi tiếng mà chính kẻ thù cũng phải thừa nhận ông "là tay anh hùng lão luyện có tài cầm quân". Trong cuộc đời chinh chiến của mình, bao giờ Nguyễn Huệ cũng rất táo bạo, trực tiếp chỉ huy những đạo quân chủ lực đánh hướng chính diện, vào những vị trí quan trọng nhất của địch, tập trung binh lực tốc chiến tốc thắng, khiến quân thù không kịp trở tay và nhanh chóng thất bại. Cả hai chủ tướng Nguyễn Huệ và Tôn Sĩ Nghị đều coi mặt trận nam Thăng Long là quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định. Ở đây, khi được tin Nguyễn Huệ chuẩn bị tiến công, Tôn Sĩ Nghị đã lo tăng cường lực lượng phòng thủ. Trong số năm tướng nanh vuốt nhất thuộc đạo quân chủ lực của mình, Tôn Sĩ Nghị đã điều ba người về Ngọc Hồi và mặt trận phía nam là: Đề đốc phó tướng Hứa Thế Hanh, chỉ huy quân tiên phong, Tổng binh Trương Triều Long và Tổng quản Tả dực quân Thượng Duy Thăng. Chỉ huy tiến quân trên hướng chính diện, đánh vào cụm quân quan trọng nhất của địch, không ai khác đó là Nguyễn Huệ. Khẳng định sự thật lịch sử này quyết không phải "hạ thấp tài ba của hoàng đế" như Bùi Thiết nói, mà ngược lại càng nâng cao uy tín của Quang Trung-Nguyễn Huệ.

        Việc Nguyễn Huệ tự mình chỉ huy chiến đấu ở Hà Hồi và Ngọc Hồi là hoàn toàn đúng sự thật. Sách Việt sử thông giám cương mục đã mô tả diễn biến trận Ngọc Hồi như sau: "Hồi trống canh năm hôm sau tức mồng 5 Tết Kỷ Dậu), Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khoẻ đi trước. Tờ mờ sáng, quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc (Nguyễn Huệ) lại lùa voi xông đến. Quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút vào trong luỹ để cố thủ. Bốn mặt đồn luỹ quân Thanh đã cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc (Nguyễn Huệ) dùng những bó rơm ướt to lớn để che đỡ mà lăn xả vào, rồi quân tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các luỹ quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy… Quân Thanh bị chết và bị thương quá nửa. Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long và Tả dực Thượng Duy Thăng đều chết trận"105.

---------------------
        104. Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, tập 2, NXB Văn học, H, 1984, tr. 1 82.

        105. Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tập 2, tr. 847.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:57 pm

        Sách Lê quý kỷ sự cũng chép: "Ngày mồng 5, trời còn chưa sáng. Nguyễn Huệ thân chinh đốc chiến, cho hơn trăm voi đực tiến lên trước, quân cứng mạnh tiến theo sau, đánh kịch liệt hồi lâu. Quân kỵ bên Thanh đều cưỡi ngựa. Ngựa trông thấy voi đều hí lên, quay đầu chạy. Bộ binh nhà Thanh bị voi chà đạp bèn rút vào đồn trại, giữ rào luỹ, bắn súng ra để tự thủ. Giặc (Nguyễn Huệ) lùa voi, xông pha tên đạn, nhổ rào luỹ tiến lên. Hứa Đề đốc, Trương tiên phong và Thượng Tả dực đều chiến đấu mà chết. Các quân nhà Thanh đổ vỡ tan tành"106. Sách Hoàng Lê nhất thống chí viết: "Vua Quang Trung truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm ướt dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khiêng một bức, lưng giắt dao ngắn; hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất"; vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến đến sát đồn Ngọc Hồi..."107. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập của triều Nguyễn, các sách An Nam quân doanh kỷ yếu, Minh đô sử, Thánh vũ ký, Thanh sử lược... của Trung Quốc cũng đều ghi chép khá chi tiết về trận Ngọc Hồi của quân Tây Sơn, do Nguyễn Huệ trực tiếp đốc chiến. Thế xung trận của đội quân Nguyễn Huệ như triều dâng bão cuốn mà chính quân địch cũng phải thừa nhận: "Quân giặc (quân Nguyễn Huệ) họp lại đông như kiến cỏ, thế lên ào ạt giống như nước thủy triều dâng lên"108.

        Nguyễn Huệ không những đã đích thân chỉ huy đạo quân chủ lực tiến công hướng chính diện vào mặt trận phía nam Thăng Long mà chính ông còn là người trực tiếp đốc chiến trong trận then chốt quyết định ở Ngọc Hồi-Đầm Mực, đánh tan quân Thanh, mở thông cửa ngõ phía nam vào giải phóng Thăng Long. Trận tiêu diệt chiến lược này có ý nghĩa rất lớn đối với thắng lợi của toàn chiến dịch Thăng Long (1789), càng thể hiện tài năng quân sự kiệt xuất của Nguyễn Huệ, chứ không phải như tác giả của ĐTSH nói là hạ thấp tài ba của Nguyễn Huệ.

        Thực tế lịch sử trên đây đã được các nhà sử học xưa nay đều công nhận, vậy tại sao Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh cố tình làm lơ để đi tìm một cách chứng minh khác và phủ nhận những thành quả đạt được của sử học nước ta? Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh coi "Ngọc Hồi chỉ là một trận đánh mang tính sách lược", cho rằng trận Đống Đa chính là "quả đấm thép" do Nguyễn Huệ đích thân thực hiện trên hướng chủ yếu từ phía tây nam Thăng Long. Những phán đoán này không những không có cơ sở sử liệu mà còn không phù hợp với cách đánh của Nguyễn Huệ.

        Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trong bài "Đánh bằng chính binh, thắng bằng kỳ binh-Nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Quang Trung" và Giáo sư, Trung tướng Hoàng Phương trong bài "Cách đánh của Nguyễn Huệ trong chiến dịch Ngọc Hồi-Đống Đa" đều đã phân tích một cách có lý về nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ109. Thắng lợi to lớn trên hướng tiến công chủ yếu của quân đội Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, đưa đến việc uy hiếp lớn mặt nam Thăng Long-hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Điều này rất quan trọng, vì nó là tiền đề không thể thiếu được trong mưu lược sâu xa của Quang Trung, là tạo điều kiện cho cánh quân của Đô đốc Long (Đặng Tiến Đông) đánh vào đồn Khương Thượng-Đống Đa. Trong hoàn cảnh phải lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít dịch nhiều, Quang Trung đã có được nghệ thuật tìm, chọn, xác định hướng, mục tiêu tiến công và phương pháp, thủ đoạn tác chiến đánh nhanh, tiêu diệt gọn, làm tan rã lớn, nhanh chóng phá vỡ đội hình và ý định tác chiến của địch. Cách đánh của Quang Trung là cùng một lúc, bằng nhiều mũi, trên nhiều hướng, bất ngờ tiến công vào toàn thế trận của quân Thanh, đánh thẳng vào Thăng Long, nơi đầu não của địch, khiến chúng không kịp trở tay và thất bại. Hướng tiến công của Nguyễn Huệ vào Ngọc Hồi là hướng chính binh, hướng tiến công của Đô đốc Long đong Tiến Đông) là hướng kỳ binh. Hướng phía nam đánh chính diện; hướng phía tây nam đánh vu hồi, thọc sâu và đã tiêu diệt nhanh chóng cụm quân Sầm Nghi Đống, cô lập cụm quân Hứa Thế Hanh, đặt Tôn Sĩ Nghị vào tình thế hoàn toàn bị động, không thể chống đỡ nổi.

        Đó là cách giải thích hợp lý. Thiết nghĩ rằng, Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh không nên sáng tạo ra một cách lý giải khác khi chưa có một cơ sở khoa học, chưa có tư liệu để chứng minh.

-----------------
        106. Lê quý kỷ sự, Sđd, tr. 123.

        107. Hoàng Lê nhất thống chí, Sđd, tr. 183.

        108. Trần Nguyên Nhiếp. An Nam quân doanh kỷ yếu, bản chép tay do Trần Văn Giáp sưu tầm.

        109. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Quang Trung-Nguyễn Huệ với chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa, NXB QĐND, H, 1992, tr. 17, 20.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:45:57 pm
           
BÀN VỀ NGÀY MẤT CỦA VUA TÔI QUANG TRUNG110

LÊ THÀNH LÂN        

        Một số ngày tháng, nhất là khi chúng được đổi sang dương lịch còn chưa ổn. Dường như các tư liệu mà nay ta có cũng đủ để xác định một cách chính xác hơn, chẳng hạn năm sinh, ngày mất của Quang Trung, ngày mất của Ngô Thì Nhậm và ngày mất của Phan Huy Ích.

        Về ngày mất của vua Quang Trung.

        Năm 1946, ngày giỗ của vua Quang Trung được tổ chức trọng thể vào ngày 29 tháng Chín âm lịch. Ngày tháng đó được ghi trong Đại Thanh thực lục và Đại Nam chính biên liệt truyện111 là các bộ sử lớn của Trung Quốc và Việt Nam. Cadie (L.Cadière) là một người Pháp sớm nghiên cứu kỹ niên biểu Việt Nam112 cũng xác định như vậy.

        Liến sau đó, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết trên báo Dư luận (số 28 năm 1946) nêu các cứ liệu xác đáng để bác ý kiến trên và đưa ra kết luận là: "Vua Quang Trung mất ngày 29 tháng Bảy năm Nhâm Tý vào giờ Dạ Tý, tức là ngày 16 tháng 9 dương ích năm 1792, vào khoảng 11 giờ đến 12 giờ khuya". Bài báo đó sau được trích in vào cuốn La Sơn phu tử113. Từ đó hầu hết mọi người thừa nhận như vậy.

        Về âm lịch thì đúng như vậy, nhưng còn có thể nói một cách khác, ta sẽ bàn thêm cho hết mọi nhẽ, còn về dương lịch dường như có chệch một chút. Có điều là toàn bộ cứ liệu và biện dẫn lại để đưa đến một kết luận chính xác.

        Theo chúng tôi, tài liệu đáng tin cậy nhất là của Phan Huy Ích. Ông là một trong những bầy tôi gần gũi của Quang Trung. Khi ấy, ông đang ở kinh đô Phú Xuân và sau cái tang này, ông làm bài thơ Thu phụng quốc tang cảm thuật. Sau này, ông đưa bài thơ đó vào tập Dụ am ngâm tập114. Bên dưới bài thơ ông chú "Thất nguyệt hối, long ngự thượng tân" nghĩa là "ngày cuối tháng Bảy, nhà vua cưỡi rồng về chầu trời". Chữ "hối" chỉ ngày cuối tháng, có thể là ngày 29 hay ngày 30 tuỳ theo tháng Bảy này thiếu hay đủ. Hoàng Xuân Hãn dựa vào một bản Bách trúng kinh mà ông được đọc, đã cho biết lịch Tây Sơn tháng Bảy đó thiếu115. Sau khi hiệu đính lại cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh116, chúng tôi117 cũng nhận thấy như vậy. Thế là theo Phan Huy Ích, Quang Trung mất vào ngày 29 tháng Bảy năm Nhâm Tý. Cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam118 đã dịch đúng như vậy. Nhưng cũng cần nhắc đến là trong cuốn Thơ văn Phan Huy Ích119 ngày “hối” đó lại dịch thành ngày 30 và người dịch còn ghi chú rằng có nhiều tài liệu cho biết Quang Trung mất ngày 29, khiến cho người đọc hiểu lầm.

        Các tài liệu khác như Quốc triều toát yếu, Đại Nam thực lục120, Lữ Trung Ngâm121, Lê Triều dã sử122 đều thống nhất với Phan Huy Ích, khi viết rằng Quang Trung mất vào tháng Bảy âm lịch, tuy không ghi cụ thể ngày nào.

-------------------------------------
        110. Tạp chí LSQS số 4-1998.

        111. Đại Nam chính biên liệt truyện. Sơ tập, quyển 30. Tạ Quang Phát dịch in trên Tập san Sử Địa, số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        112. Cadière, L.Tableau Chronologique des dynasties Annamites. B.E.F.E.O, tập 5, 1905, tr. 77-145.

        113, 115. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Minh Tân xuất bản, 1952, tr. 159.

        114. Phan Huy Ích. Dụ am ngâm tập. Ký hiệu A. 603 ở kho sách Hán-Nôm, thuộc Viện Hán-Nôm UBKHXH.

        116. Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Ký hiệu A.1237 Kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH.

        117. Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Tạp chí Hán-Nôm, số 2 (3) 1987, tr. 40-48.

        118. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 3, NXB Văn học, H, 1978, tr. 277.

        119. Thơ văn Phan Huy Ích, tập 2. NXB KHXH, H, 1978, tr. 73.

        120. Đại Nam thực lục, tập 21 NXB Sử học, H, 1962. tr. 159.

        121. Hoàng Xuân Hãn. Phe chống đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm. Tập san Sử Địa số 21, 1971.

        122. Lê Triều dã sử, ký hiệu A.17 và A.2703, khảo sách Hán-Nôm, UBKHXH.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:09 pm

        Lê quý dật sử cũng ghi là Quang Trung mất vào tháng Bảy, nhưng lại cho là vào ngày 30123. Như đã dẫn giải ở trên, tháng Bảy này không có ngày 30. Chắc là có một sự nhầm lẫn về lịch nào đó. Đáng tiếc, cuốn sử chép tay này chỉ có một bản chữ Hán ở thư viện Viện Sử học124 nên không thể khảo dị thêm. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng Bùi Dương Lịch là tác giả cuốn sử này. Ông đỗ Hoàng Giáp và làm Huấn đạo thời Lê Chiếu Thống và có làm việc cho Tây Sơn ở Sùng Chính viện.

        Hai người Pháp là ông Ghêra (Guérard) lúc đó đang ở miền Bắc và ông Labútxơ (Labousse) lúc đó đang ở miền Nam nước ta, một năm sau đó đều viết thư về Pháp, nói rằng Quang Trung mất vào tháng 9 dương lịch125. Ta biết rằng tháng 9 này sánh với âm lịch, rơi vào khoảng từ 15 tháng Bảy đến 15 tháng Tám. Vậy cũng phù hợp với Phan Huy Ích.

        Các sách Dã sử nhật ký và Hoàng Lê nhất thống chí126 lại ghi rằng Quang Trung mất vào tháng Tám âm lịch. Liệu hai sách này có viết sai không? Rất có thể là không sai. Nếu ta khéo luận lý thì, từ đó, ta còn có thể xác đinh được giờ mất của Quang Trung.

        Ta biết rằng có hai cách quan niệm khác nhau về giờ bắt đầu của một ngày âm lịch; các nhà tính lịch thì coi ngày âm lịch và ngày dương lịch đều bắt đầu từ 12 giờ khuya (cách tính bác học) 127, còn người dân thì thường coi ngày âm lịch bắt đầu từ 11 giờ khuya của ngày dương lịch trước (cách tính dân gian128). Thế là hai quan niệm đó chênh lệch nhau 1 giờ, từ 11 giờ đến 12 giờ khuya. Nếu ta coi rằng Quang Trung mất vào khoảng thời gian chênh lệch đó thì theo cách tính bác học là vào giờ cuối cùng của ngày 29 tháng Bảy, còn theo cách tính dân gian thì cũng lúc ấy nhưng vào giờ đầu tiên của ngày mồng 1 tháng Tám năm Nhâm Tý. Vậy là Dã sử nhật ký và Hoàng Lê nhất thống chí đã ghi theo cách tính lịch dân gian, mà điều đó có nhẽ lại hợp với dã sử và tiểu thuyết lịch sử. Lúc đó, theo dương lịch vào khoảng từ 11 giờ đến 12 giờ khuya ngày 15 tháng 9 năm 1792. Ông Hoàng Xuân Hãn, trong khi viết ở trang trước rằng "ngày 29 tháng Bảy ăn vào ngày 15 tháng 9 năm 1792"129 thì ở trang sau ông lại kết luận là "ngày 16 tháng 9 dương lịch năm 1792 vào khoảng 11 đến 12 giờ khuya"130. Kết luận này không thoả đáng vì lúc đó đang chuyển từ ngày mồng 1 sang ngày mồng 2 tháng Tám âm lịch.

        Nếu từng ấy chứng cứ đủ để độc giả tin vào điều chúng tôi đã khẳng định thì cũng đủ để phủ định tính đúng đắn của các tư liệu cho rằng Quang Trung mất vào ngày 29 tháng Chín âm lịch. Tuy vậy, ta cũng cần lý giải thêm một chút. Quang Trung là linh hồn của phong trào Tây Sơn, là vua, đồng thời cũng là một vị tướng tài ba, bị mất đột ngột giữa tuổi 39, để lại cơ nghiệp cho Quang Toản, lúc đó mới 9 tuổi, là một tổn thất không gì bù đắp được. Để dàn xếp nội bộ, để đối phó với thù trong (Nguyễn Ánh) và giặc ngoài (nhà Thanh), chắc là triều đình Phú Xuân đã phát tang và báo tang chậm lại 2 tháng. Bởi vậy mới có chuyện Đại Thanh thực lục và Đại Nam chính biên liệt truyện căn cứ vào đó mà ghi nhầm thành 29 tháng Chín âm lịch. Đó chính là lập luận của ông Hoàng Xuân Hãn. Mãi về sau, ông viện dẫn thêm lời thư của Lông-giê (Longer) viết năm 1793: "Cái chết của tiếm vương Quang Trung được giữ bí mật gần 2 tháng trời"...

---------------------
        123. Lê quý dật sử, NXB KHXH, H, 1987, tr. 108.

        124. Lê quý dật sử, Bản chữ Hán chép tay, ký hiệu Hv 195 thư viện Viện Sử học.

        125. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 157.

        126. Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, NXB Văn học, H. 1982, tr. 208.

        127. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982.

        128. Nguyễn Xiển, Nguyễn Mậu Tùng, Lê Minh Triết và Lê Thành Lân. Tìm hiểu âm lịch nước ta, NXB Khoa học và Kỹ thuật, H, 1985, tr. 39.

        129, 130. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 158, 160.



Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:42 pm

        Hai nhà sử học nhà Thanh là Ngụy Nguyên và Từ Diên Húc viết rằng Quang Trung mất vào tháng Ba âm lịch131. Hoàng Xuân Hãn cho rằng hai nhà sử học này, người nọ viết theo người kia và không chú tâm viết về việc này, chỉ nhắc qua nhân một việc khác nên có sai sót. Ngụy Nguyên còn có một chỗ nhầm lẫn nữa mà chúng tôi sẽ nói ở dưới. Chúng ta còn có các cứ liệu để khẳng định rằng Quang Trung còn sống ít nhất cũng đến trung tuần tháng Bảy. Đó là 3 văn bản còn lại có đóng ấn của Quang Trung. Một là đạo sắc phong cho Phan Huy Ích làm Thụy Nham Hầu đề ngày 18 tháng Tư nhuận năm Nhâm Tý132. Hai là tờ chiếu gửi cho Nguyễn Thiếp đề ngày 1 tháng Sáu âm lịch năm đó nhắc nhở về việc dịch sách133. Ba là tờ Hịch truyền quan lại, quân dân các phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn đề ngày 10 tháng Bảy âm lịch được dẫn theo tư liệu của Đờ la Bítxase (de La Bissachère) 134.

        Một tài liệu xuất bản gần đây ghi rằng Quang Trung mất vào tháng Bảy nhuận năm Nhâm Tý135. Sau những thảo luận trên, ta thấy ngay điều này không đúng. Cặn kẽ hơn, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng năm Nhâm Tý đó không có tháng Bảy nhuận. Lịch Trung Quốc nhuận tháng Tư136. Lịch Nguyễn nhuận tháng Hai. Điều này có thể thấy ở Đại Nam thực lục137 hoặc theo Hoàng Xuân Hãn138. Lịch Tây Sơn nhuận vào tháng Tư. Tháng nhuận này có ghi trong hai văn bản. Một là đạo sắc của Quang Trung phong cho Phan Huy Ích đã nêu trên. Hai là tờ truyền của triều đình Tây Sơn gửi cho Nguyễn Thiếp, ghi ngày 14 tháng Tư nhuận năm Quang Trung thứ 5 (tức là năm Nhâm Tý)139. Qua khảo cứu sơ bộ140, chúng tôi cũng nhận thấy lịch Tây Sơn có tháng Tư nhuận vào năm đó.

        Vậy là Quang Trung mất vào khoảng từ 11 đến 12 giờ khuya ngày 15 tháng 6 năm 1792, theo âm lịch, có thể coi là giờ cuối cùng của ngày 29 tháng Bảy năm Nhâm Tý, theo các nhà làm lịch; và cũng có thể coi là giờ đầu tiên của ngày 1 tháng 8 theo cách tính dân gian.

--------------------
        131. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 17.

        132,133. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 141, 151. 253, 265, 289, 344; Quốc văn đời Tây Sơn, Nhà sách Vĩnh Bảo. 1950, tr. 96.

        134. Nguyễn Lương Bích… Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, NXB QĐND, H, 1971, tr. 424: UBKHXH-Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, H, 1971. tr. 367.

        135. Văn Tân,... Ngô Thì Nhậm, con người và sự nghiệp. Ty Văn hoá Thông tin Hà Tây xuất bản, 1974, tr. 91, 99; Cao Xuân Huy,... Tuyển tập thơ vãn Ngô Thì Nhậm. Quyển 1, NXB KHXH, H, 1978, tr. 53; Mai Quốc Liên, Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn, Ty Văn hoá-Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1985, tr. 57.

        136. Tiết Trọng Tam, Âu Dương Di. Lưỡng thiên niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu, Bắc Kinh, 1959.

        137. Đại Nam thực lục, NXB Sử học, H, 1962, tr. 154.

        138. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982, tr. 87.

        139. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 151, 253, 289.

        140. Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh.Tạp chí Hán-Nôm, số 2(3) 1987, tr. 40-48.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:50:31 pm

        Về năm sinh của Quang Trung.

        Hoa Bằng viết Quang Trung sinh năm Quý Dậu, tức năm 1752141. Năm Quý Dậu ăn vào khoảng từ ngày 3 tháng 2 năm 1753 đến 22 tháng 1 năm 1754, không có ngày nào ăn vào năm 1752. Rõ ràng ở đây có nhầm lẫn.

        Đại Nam chính biên liệt truyện142 cho biết Quang Trung mất ở tuổi 40. Đó là "tuổi ta" có tính cả "tuổi mụ'. Vậy là lúc đó quang Trung 39 tuổi, đúng như cuốn Lịch sử Việt Nam của Ủy ban Khoa học xã hội đã ghi143. Ta tính ra Quang Trung sinh năm Quý Dậu, tức là năm 1753.

        Trên Tạp chí Bách khoa số 229, Ngô Bá Lý viết theo lời kể của nhân dân địa phương rằng Quang Trung sinh vào giờ Thìn ngày 5 tháng Năm năm Quý Dậu (1753); còn Thiên Lương cũng viết theo dân gian nhưng lại cho rằng Quang Trung sinh vào giờ Tuất ngày 5 tháng Năm năm Nhâm Thân (l752). Trong bài Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ, Tạ Chí Đại Trường đã nêu các lý lẽ xác đáng để bác lại việc coi ngày 5 tháng Năm là ngày sinh của Quang Trung144.

        Tóm lại, chúng ta vẫn chưa biết được ngày sinh mà chỉ mới biết được năm sinh của Quang Trung.

        Về năm sinh của Quang Toản.

        Theo Mai Quốc Liên145 thì Quang Toản lên ngôi lúc 15 tuổi, nên theo cách tính tuổi hiện nay thì Quang Toản sinh năm 1777. Chúng tôi không biết chắc, nhưng đoán rằng Mai Quốc Liên theo tài liệu của Ngụy Nguyên. Trong Càn Long chinh vũ An Nam ký146, Ngụy Nguyên viết rằng: Quang Toản lên ngôi lúc 15 tuổi, tất nhiên tính theo "tuổi ta", tức là sinh năm 1778. Nhưng, như ở trên chúng tôi đã nhắc đến, sử gia này nắm không chắc và đã từng viết sai ngày mất của Quang Trung. Một phần vì Ngụy Nguyên không để tâm chuyên khảo về chuyện này, ông lại là người Trung Quốc, sinh sau những sự kiện lịch sử này vài năm. Chúng tôi ngờ rằng có thể Ngụy Nguyên đã nhầm Quang Toàn với Quang Thùy, một người con khác của Quang Trung, từng sang sứ Trung Quốc cùng Quang Trung "giả", nửa đường bị ốm phải quay về. Lúc đầu vua Càn Long cũng từng nhầm Quang Thùy là Thái tử (Quang Toàn). Tạ Chí Đại Trường147 cho rằng Quang Thùy nhiều tuổi hơn Quang Toản. Một điều nữa cũng đáng băn khoăn: giả như lúc Quang Toàn có tuổi đó, thì khá "cứng cáp" chẳng đến nỗi để Bùi Đắc Tuyên phụ chính và chuyên quyền. Vào thời đó, ở tuổi này, Nguyễn Ánh đã tự mình gánh vác sự nghiệp.

        Theo chúng tôi thì lúc Quang Trung mất, Quang Toản 9 tuổi nghĩa là sinh vào năm 1783. Bằng chứng là có 4 tài liệu cùng chung ý ấy:

        Tạ Chí Đại Trường148 viết theo Lông-giê, Quang Toàn sinh năm 1783.

        Lê quý dật sử149 và Hoa Bằng150 viết rằng Quang Toản lên ngôi lúc 10 tuổi, chắc là theo "tuổi ta". Hoàng Xuân Hãn151 lại viết rằng vào năm Cảnh Thịnh thứ 3 (1795) Quang Toản 12 tuổi tức là sinh năm 1783.

-------------------
        141. Hoa Bằng. Quang Trung-Anh hùng dân tộc, Bốn phương xuất bản, 1951, tr.27.

        142. Đại Nam chính biên liệt truyện. Sơ tập, quyển 30. Tạ Quang Phát dịch, in trên Tập san Sử Địa, số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        143. UBKHXH. Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, H. 1971, tr. 367.

        144. Tạ Chí Đại Trường. Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ, Tập san Sử Địa, số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        145. Mai Quốc Liên. Ngô Thì Nhậm trong văn học Tây Sơn, Sđd, tr. 57.

        146. Ngụy Nguyên. Càn Long chinh vũ An Nam ký, do Hoàng Xuân Hãn dịch, in trên Tập san Sử Địa. số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

        147, 148. Tạ Chí Đại Trường. Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn vả chân dung anh em họ, Tlđd.

        149. Lê quý dật sử, NXB KHXH. H, 1987, tr. 108.

        150. Hoa Bằng. Quang Trung-Anh hùng dân tộc, Sđd, tr. 333.

        151. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử, Sđd, tr. 163.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:18 pm

        Về ngày mất của Ngô Thì Nhậm.

        Trong câu chuyện riêng, Giáo sư Phan Huy Lê có gợi cho chúng tôi việc đính chính lại ngày mất của Ngô Thì Nhậm. Chúng tôi đọc thấy:

        Đầu tiên, Lê Thước152 căn cứ vào gia phả cho biết Ngô Thì Nhậm mất ngày 16 tháng Hai năm Quý Hợi và đổi sang dương lịch thành ngày 7 tháng 3 năm 1803.

        Sau đó, Tảo Trang153 dùng cuốn lịch Trung Quốc của P.Hoàng đổi sang dương lịch ngày 9 tháng 3 năm 1803.

        Gần đây hơn, Mai Quốc Liên cho rằng "Ngô Thì Nhậm bị đánh bằng trượng đến chết (có thuyết nói, về nhà được ít lâu thì chết). Hôm đó là ngày 16 tháng Hai năm Quý Hợi, tức là ngày 9 tháng 3 năm 1803"154.

        Chúng tôi thấy nhận định ấy chưa ổn. Để lý giải đúng, ta cần xem lại lịch. Năm Quý Hợi này, lịch Trung Quốc có nhuận tháng Hai155, còn lịch nhà Nguyễn có nhuận tháng Giêng156. Khảo cứu sơ bộ về lịch nhà Nguyễn qua cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh157, chúng tôi158 cũng nhận thấy như vậy. Tháng nhuận này còn thấy ghi ở Đại Nam thực lục159. Như vậy, hai lịch khác nhau kéo dài trong 2 tháng Ngô Thì Nhậm mất đúng vào khoảng thời gian đó.

        Bây giờ ta xem lại tài liệu cũ:

        Đại Nam thực lục160 ghi “ngày Canh Thìn, đóng gông giải bọn thượng thư Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan đến Bắc Thành... Kể tội ở học đường phủ Phụng Thiên (tức là Quốc Tử Giám nhà Lê cũ) mà đánh đau. Nhậm bị đánh chết".

        Đổi ngày Canh Thìn ra dương lịch thì không phải ngày 9 tháng 3 năm 1803 mà có thể hoặc là 6 tháng Hai hoặc 6 tháng 4 năm 1803. Theo âm lịch Trung Quốc thì tháng Hai không có ngày Canh Thìn. Dùng lịch Việt Nam161 để đổi thì đó ngày 1 tháng Hai năm Quý Hợi). Sử biên niên, tuy theo trật tự thời gian nhưng khi đề cập đến một việc nào đó thì lùi về trước nói cả xuất xứ, nguyên nhân và tiến về sau để nói hậu quả. Bởi vậy chữ "Nhậm bị đánh chết" chưa hẳn là bị đánh chết ngay tại trận đòn.

        Ngô gia thế phả162 cho biết Ngô Thì Nhậm mất vào giờ Hợi (từ 21 đến 23 giờ ngày 1 tháng Hai năm Quý Hợi). Rõ ràng ông mất tại nhà vào ngày hôm sau. Dùng lịch Việt Nam ở các tài liệu163 đổi sang dương lịch thành ngày 7 tháng 4 năm 1803.

        Khớp hai tài liệu trên lại, ta thấy rằng: ngày 15 tháng Hai năm Quý Hợi là ngày Canh Thìn, Ngô Thì Nhậm bị vua quan nhà Nguyễn đành đòn tại Văn Miếu. Sau đó, gia đình đón ông về nhà. Vì tuổi cao, không chịu nổi trận đòn thù dã man, hôm sau là ngày 16 tháng Hai năm Quý Hợi, tức là ngày 7 tháng 4 năm 1803 vào khoảng từ 9 giờ đến 11 giờ khuya, ông đã mất tại nhà.

       Về ngày mất của Phan Huy Ích

        Các sách đều viết rằng ông mất vào ngày 20 tháng Hai năm Nhâm Ngọ164, rồi đổi sang dương lịch thành ngày 12 tháng 3 năm 1822165. Có tài liệu chỉ ghi ngày âm lịch.

        Chúng tôi nhận thấy ngày âm lịch và dương lịch trên không khớp với nhau. Có thể ngày âm lịch là đúng.

        Đổi một cách chính xác, ngày 20 tháng Hai năm Nhâm Ngọ là ngày 13 tháng 3 năm 1822.

        Chúng tôi hy vọng rằng việc xác định lại những ngày kỷ niệm về các danh nhân thuộc triều đại Tây Sơn này đáp ứng kịp thời lễ kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa (1789-1989) vào đầu năm tới và lễ kỷ niệm 185 năm ngày mất của Ngô Thì Nhậm (1803-1988) vào đầu năm nay.

-----------------------
        152 . Lê Thước. Ngô Thì Nhậm, Tạp chí Tổ quốc, số 304.

        153. Tảo Trang. Bước đầu tìm hiểu về một nhà văn trong Ngô gia văn phái, Tạp chí Văn học, số 5- 1 973 .

        154. Cao Xuân Huy,... Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm. quyển 1, NXB KHXH, H, 1978, tr. 53.

        155. Tiết Trọng Tam, Âu Dương Di. Lưỡng thiên niên Trung Tây lịch đối chiếu biểu. Bắc Kinh, 1959.

        156. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982.

        157. Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Ký hiệu A.1237. Kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH.

        158. Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Tạp chí Hán-Nôm, số 2(3) 1987, tr. 40-48.

        159. Đại Nam thực lục, tập 3, NXB Sử học, H, 1962, tr. 104.

        160. Đại Nam thực lục,tập 3, NXB Sử học, H, 1962, tr. 108.

        161, 163. Hoàng Xuân Hãn. Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học Xã hội, Paris, 1982.

        Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Ký hiệu A.1 237. Kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH.

        Lê Thành Lân. Đọc và hiệu đính cuốn Lich đại niên kỷ bách trúng kinh, Tạp chí Hán-Nôm, số 2(3) 1987, tr. 40-48.

        162. Ngô gia thế phả. Ký hiệu VBV 1345, kho sách Hán-Nôm, Viện Hán-Nôm, UBKHXH, tờ 35a.

        164,165. Thơ văn Phan Huy Ích, NXB KHXH, H, 1978, tập 1 , tr. 9; Trần Văn Giáp. Tìm hiểu kho sách Hán-Nôm, tập 1, NXB Văn hoá, H, 1984, tr. 203; Phan Huy Chú và dòng văn Phan Huy, Ty Văn hoá thông tin Hà Sơn Bình xuất bản, 1983, tr. 320.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:02:29 am

GÓP THÊM TƯ LIỆU LÀM SÁNG TỎ DANH TƯỚNG ĐẠI TƯ MÃ NGÔ VĂN SỞ THỜI TÂY SƠN166

ĐỖ BANG       

        Triều đại Tây Sơn kết thúc nhưng không để lại bộ chính sử của mình là một thiệt thòi lớn, là một khó khăn, phức tạp khó khắc phục cho công tác sử học của chúng ta. Diện mạo lịch sử đất nước thời Tây Sơn khó khôi phục đúng đắn và đầy đủ, các sự kiện và nhân vật lịch sử thời Tây Sơn bị xuyên tạc, bóp méo, ngộ nhận hoặc không rõ ràng đã gây ngờ vực, tranh cãi trong nhiều năm qua như trường hợp Đô đốc Long: Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu trong chiến thắng Đống Đa mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789); tướng Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Dũng hay VÕ Văn Dũng đi sứ nhà Thanh năm 1792. Phức tạp hơn là việc tranh cãi về Đại tư mã Ngô Văn Sở và một viên tướng Ngô Văn Sở khác của Tây Sơn đầu hàng Nguyễn Ánh, sau nhận chức Khâm sai Chưởng cơ dưới triều Gia Long.

        Năm 1976, Tạ Ngọc Liễn với bài Đại tư mã Ngô Văn Sở, một danh tướng của Tây Sơn xác định quê quán ông ở làng Trảo Nha, Thạch Hà, Nghệ An, là cựu thần của Lê-Trịnh167. Năm 1987, trên Tạp chí Sông Hương, số 25, bằng tư liệu điền dã có tính phát hiện công phu, tác giả Phan Thuận An đã có một nhận định lý thú: Đã có hai nhân vật lịch sử cùng họ, cùng tên, cùng chữ lót và cùng làm tướng trong một thời kỳ lịch sử (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) nhưng hai người phục vụ cho hai thế lực chính trị khác nhau: tướng Ngô Văn Sở nhà Nguyễn, người gốc Gia Định và danh tướng Ngô Văn Sở của nhà Tây Sơn, người gốc Nghệ An. Đây là một trường hợp hy hữu trong lịch sử Việt Nam và thế giới168.

        Năm 1988, sau khi tiếp xúc với trang tư liệu về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở trong Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25, tác giả Phan Thuận An lại có bài Tư liệu mới về Ngô Văn Sở trên báo Văn hoá và Đời sống (số 15-10-1988, Sở Văn hoá Thông tin Bình Trị Thiên) và bài Thử đưa ra một kiến giải mới về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở thời Tây Sơn trong Hội thảo khoa học Phú Xuân-Thuận Hoá trong phong trào nông dân Tây Sơn vào tháng 12 năm 1988. Sau đó lại được giới thiệu trên Tạp chí Sông Hương (số 41, năm 1990), với tiêu đề Thử đưa ra một kiến giải mới về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở. Nhân vật Ngô Văn Sở được chép trong Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25, được dịch như sau:

        Ngô Văn Sở, trước người huyện Đăng Xương, phủ Thừa Thiên, sau vào ngụ ở Gia Định. Lúc đầu theo ngụy triều giũ chức Đô úy, sau đầu hàng theo quân đi đánh giặc. Do lập được nhiều chiến công nên thăng chức làm Vệ úy vệ Hùng nhuệ. Năm Kỷ Mùi (1799), theo Võ Tánh giữ thành Bình Định. Khi tướng giặc là Trần Quang Diệu vây thành, các hàng tướng là Võ Văn Sự, Nguyễn Bá Phong mở cửa Bắc ra hàng giặc. Tánh sai Sở chặn cửa thành lại. Từ đó những kẻ phản bội không dám ra nữa. Khi thành bị chiếm, Sở trốn về  triều. Vào thời Gia Long thăng Khâm sai Chưởng cơ, lãnh quản đạo Thanh Hoa ngoại, có tội bị cách chức rồi chết. Năm Minh Mạng thứ 3(1822) truy phục chức Chưởng cơ, lại hậu ban cho con cháu. Con trai là Thắng làm quan chức Cai đội169.

        Sau khi khảo sát và đối chiếu nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tác giả Phan Thuận An đã dè dặt kết luận: Có lẽ chỉ có một tướng Ngô Văn Sở chứ không có hai như trước đây chúng tôi đã lầm tưởng. Ông gốc người Thừa Thiên, vào ngụ tại Gia Định, theo quân Tây Sơn đi đánh Nguyễn Ánh, nhưng sau vì ở trong thế bức bách đe doạ đến tính mạng, cho nên ông bỏ trốn chạy vào Nam gia nhập lục lượng Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn. Nhờ chiến công, ông được thăng chúc Vệ úy, rồi khi Gia Long xưng đế, ông thăng Chưởng cơ và được trọng dụng giữ chức Trấn thủ Thanh Hoa ngoại. Nhưng sau đó, trong thời Gia Long (1802-1819) hay đầu thời Minh Mạng (1820-1840), hoặc bị một lỗi lầm gì đó, hoặc bị truy tội là đã man khai tông tích, nên ông bị cách chức. Tuy nhiên, sau khi chết có thể vì già hoặc bệnh, ông vẫn được truy phục nguyên hàm nhờ có con gái đầu là Ngô Thị Chánh được vua Minh Mạng thương yêu170.

---------------------------------------
        166. Tạp chí LSQS số I-2002.

        167. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4(169), 1976, tr. 56.

        168. Tướng Ngô Văn Sở ấy không phải là danh tướng, Tạp chí Sông Hương, số 25, 1987, tr. 91.

        169. Tham khảo bản dịch của Phan Thuận An trong bài Thử đưa ra một kiến giải mới về nhân vật lịch sử Ngô Văn Sở, Hội thảo khoa học Phú Xuân-Thuận Hoá trong phong trào nông dân Tây Sơn tháng 12-1988. tr. 86; Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25, Thuận Hoá, 1993, tập 2. tr. 436.

        170. Phan Thuận An, Tlđd, tr. 91-92.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:17 am

        Cũng trong hội thảo khoa học Phú Xuân-Thuận Hoá trong phong trào nông dân Tây Sơn vào tháng 12 năm 1988, tác giả Trần Viết Điền có bài Về tướng Ngô Văn Sở ấy khá sắc sảo và công phu. Sau khi khảo sát điền dã các nơi có liên quan đến nhân vật Ngô Văn Sở ở Thuận Nhơn, Hà Lỗ, Châu Chữ để đọc các bản gia phả, tiếp xúc với hậu duệ, khảo sát các khu mộ táng, nhà thờ tộc Ngô… rồi đối chiếu lại sử sách, tác giả Trần Viết Điền đi đến kết luận:

        1. Không thể nhập hai tướng Ngô Văn Sở làm một được, vì lẽ:

        - Nếu "Tướng Ngô Văn Sở ấy" là "danh tướng Ngô Văn Sở" thì hoá ra Quốc sử quán triều Nguyễn đã thiếu nhất quán khi soạn bộ Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25 chép Ngô Văn Sở còn sống sau năm 1802, còn quyển 30 lại chép sự kiện Ngô Văn Sở bị dìm chết ở sông trong cuộc đảo chánh ở Phú Xuân năm 1795.

        - Nếu "Tướng Ngô Văn Sở ấy" là "danh tướng Ngô Văn Sở' thì tại sao sử triều Nguyễn không chép chức vụ cao nhất của Ngô Văn Sở là Đại tư mã, Đại tổng lý khi ra hàng, lại viết ông giữ chức Đô úy của ngụy triều?

        2. Khả năng hợp với lôgic cũng như khớp với tư liệu hiện có là tồn tại hai tướng Ngô Văn Sở cùng phục vụ triều Tây Sơn. Một tướng nổi tiếng với chức vụ cao sau đó bị dìm chết ở sông, tướng còn lại chỉ giữ chức Đô úy khi phục vụ Tây Sơn và sau đó ra hàng Nguyễn vương…171.

        Cuối năm 1992, trên Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ của Ban Khoa học và Kỹ thuật Thừa Thiên-Huế, tác giả Trần Đại Vinh có bài Thương xác về Đại tư mã Ngô Văn Sở. Sau khi phân tích tư liệu về nhân vật Ngô Văn Sở trong Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 25 và kiến giải về những điều chưa hợp lý của tác giả Phan Thuận An cho rằng chỉ có một Ngô Văn Sở, tác giả Trần Đại Vinh cho rằng hoàn toàn không có chuyện Đại tư mã Ngô Văn Sở về hàng lại khai là Đô úy172.

        Công việc sưu tầm tư liệu để xác minh về Đại tư mã Ngô Văn Sở đã được Các nhà nghiên cứu ở Huế tìm tòi với một khả năng cao nhất nhưng vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn độc giả và những người quan tâm. Đó cũng là điều mà chúng tôi bận tâm để tìm hiểu trong nhiều năm qua.

        Trong các năm 1996, 1997 và gần đây, nhờ có nhiều dịp đi khảo sát thực địa để biên soạn Lịch sử thành phố Quy Nhơn và Địa chí tỉnh Bình Định nên tôi đã tìm được quê quán của Đại tư mã Ngô Văn Sở nay là thôn Bình Thạnh, phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn. Tại đây có hơn 30 gia đình tộc Ngô, từ đường, lăng mộ, phổ đồ, tộc phổ và bản tiểu sử nhà họ Ngô…

        Bản tiểu sử cho biết:

        - Đại tư mã Ngô Văn Sở thuộc chánh phái-Ngô Văn Ngữ, Ngữ Luận hầu thuộc thứ phái. Chánh quán làng Bình Thạnh, tổng Dương An, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Chánh phái theo vua Quang Trung-Nguyễn Huệ. Thứ phái theo Nguyễn Phúc Ánh-Gia Long. Bản tiểu sử cho biết: Ngô Văn Sở là con của ông Ngô Văn Diễn, giữ chức Khinh xa Vệ úy và bà Nguyễn Thị Mỹ. Ngô Văn Sở có các bà vợ là: Nguyễn Thị Quý, Đặng Thị Vây, Trương Thị Trà, Trần Thị Ngoạn, Trần Thị Yên, Huỳnh Thị Lan.

        Có các em: Ngô Thị Nghé, Ngô Văn Tri, Ngô Thị Điệt, Ngô Văn Ngữ, Ngô Văn Dần.

        Ngô Văn Sở có các con trai: Ngô Văn Đắc, Ngô Văn Nhật. Có các cháu trai: Ngô Văn Trương, Ngô Văn Kỳ.

        Bản tiểu sử còn cho biết Đại tư mã Ngô Văn Sở phò vua Quang Trung. Hưởng ứng hiệu triệu của ba anh em Tây Sơn lên tòng quân ở núi Tây Sơn, rồi theo đoàn quân Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra trú ở Thuận Hoá. Sau khi Ngô Văn Sở bị giết thảm hại, rồi gia đình, vợ con ở lại tỉnh Bắc Ninh. Từ đó không còn liên lạc được với bà con ở Bình Định nữa173.

        Tác giả Quách Tấn cũng xác nhận Ngô Văn Sở người làng Bình Thành (Tuy Phước). Ông là người khoẻ mạnh, giỏi võ nghệ, thông binh pháp, đã cùng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng kết bạn thân174.

        Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Huân, Ngô Văn Sở kết nghĩa với Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu trước khi tham gia khởi nghĩa Tây Sơn. Thân phụ Bùi Thị Xuân hứa gả cháu của mình là Băng Tâm cho Ngô Văn Sở175. sau đó cả ba người đều theo Tây Sơn và thành danh tướng của cuộc khởi nghĩa. Tư liệu này cho phép chúng ta xác nhận quê quán của Ngô Văn Sở là ở phủ Quy Nhơn và Ngô Văn Sở tham gia cuộc khởi nghĩa ngay từ đầu, năm ông khoảng 20 tuổi.

------------------
        171. Trần Viết Điền, Tlđd, tr. 77-78.

        172. Trần Đại Vinh. Thương xác về Đại tư mã Ngô Ván Sở đăng trên Thông tin Khoa học và Công nghệ của Ban Khoa học và kỹ thuật Thừa Thiên-Huế, số 2, 1992, tr. 52.

        173. Các tài liệu được các ông Ngô Đình Cường (sinh năm 1928) và Ngô Văn Cự (sinh năm 1925) cung cấp. Bản tiểu sừ còn cho biết: Hậu quân Ngô Văn Ngữ có một em gái tiến cung làm thứ phi cho vua Gia Long, không con. Sau bị bệnh chết, quan tài được đưa về chôn ở quê là thôn Bình Thạnh, xứ Gò Lăng, tục gọi là mả Bà Vua, được cấp tự điền. Hậu quân Ngô Văn Ngữ mất năm Nhâm Thìn (1832). Bia mộ bà Ngô Thị... ở xứ Gò Lăng cho biết bà mất vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822), bia mộ do Ngô Văn Ngữ phụng lập năm Minh Mạng thứ 6 (1825). Như vậy, Đại tư mã Ngô Văn Sở cũng có một người em làm phi dưới triều vua Gia Long. Tương truyền chợ Dinh ở đây là do bà lập nên.

        174. Quách Tấn. Nước non Bình Định, Nam Cường xuất bản, 1967, tr. 69.

        175. Nguyễn Bá Huân, Tây Sơn danh tướng anh hùng truyện, Sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1978, tr. 63-65-66.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:50 am

        Tham gia phong trào Tây Sơn, Ngô Văn Sở thành vị thủ lĩnh tài ba đánh quân Nguyễn ở phía Nam trong các trận ở Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận năm 1773. Ngô Văn Sở theo Nguyễn Huệ đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định năm 1783, đánh quân Trịnh ở phía Bắc năm 1786. Là một thuộc tướng của Võ Văn Nhậm, sau Nhậm làm phản bị Nguyễn Huệ giết (5-1788), Ngô Văn Sở được Nguyễn Huệ giao trọng trách trông coi 11 trấn Bắc Hà. Trong dịp này, các quan chức và tướng lĩnh được giao cai quản Bắc Hà như: Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Hộ bộ Trần Thuận Ngôn, Học sĩ Ngô Thời Nhậm đều theo Ngô Văn Sở giữ Thăng Long. Nguyễn Huệ nói rằng: "Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngô là lòng dạ của ta. Nhậm là bề tôi mới của ta. Nay ta lấy cái việc quân vụ và Quốc chính của 11 trấn Bắc Hà ủy thác cho. Ta thuận cho theo tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa cách nhau. ĐÓ là điều mong mỏi của ta vậy"176.

        Cuối năm 1788, vua Càn Long nhà Thanh cử 29 vạn  quân, do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy, kéo sang xâm lược nước ta. Trước binh lực hùng hậu của giặc Thanh, Ngô Văn Sở cho đánh cầm chân địch rồi rút quân về giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ninh Bình), cử Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết vào Phú Xuân cấp báo cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đánh giá rất cao "nước cờ Tam Điệp" của Ngô Văn Sở. Trong cuộc kháng chiến chống Thanh, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung cử làm tướng tiên phong, đã góp phần vào thắng lợi huy hoàng chống quân Thanh xâm lược vào năm 1789.

        Năm 1790, Ngô Văn Sở được vua Quang Trung giao cầm đầu đoàn sứ gồm có Đặng Văn Chân, Phan Huy ích, Võ Huy Tấn, Võ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công đưa Phạm Công Trị (người giả làm vua Quang Trung) sang Yên Kinh mừng thọ vua Càn Long nhân dịp 80 tuổi. Vua Thanh đón tiếp hết sức nồng hậu, cũng là một thành công về hoạt động ngoại giao của Ngô Văn Sở. Về nước, Ngô Văn Sở tiếp tục được giao nhiệm vụ phụ trách 11 trấn Bắc Hà cho đến thời Cảnh Thịnh.

        Năm 1795, vụ biến ở kinh đô Phú Xuân do phe phái Võ Văn Dũng buộc vua Cảnh Thịnh bắt nộp Bùi Đắc Tuyên. Sau khi nhấn chìm Bùi Đắc Tuyên chết, Võ Văn Dũng làm giả chiếu lệnh của Tiết chế Nguyễn Quang Thùy, cho người bắt Ngô Văn Sở, vu là phe phái của Bùi Đắc Tuyên, đóng cùm đưa về Kinh, lại sai Nguyễn Văn Huấn đem binh vào Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ, con của Bùi Đắc Tuyên giải về, khép vào tội phản nghịch, đều cho dìm xuống nước mà chết177.

        Đó là cái chết oan nghiệt, thê thảm của Đại tư mã Ngô Văn Sở do phe cánh thanh trừng lẫn nhau dưới thời Cảnh Thịnh. Còn Ngô Văn Sở trước sau vẫn là một tướng lĩnh tài ba, phục vụ hết mình vì sự nghiệp Tây Sơn.

----------------
        176. Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30, Sđd, tr. 119.

        177. Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30. Sđd, tr. 187.

        - Đại Nam thực lục, tập 2, NXB Sử học, Hà Nội, 1963, tr 214-215.

        - Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí, tập 2, Hà Nội, 1984, tr. 221.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:13:52 am
               
PHẦN HAI


VỀ VAI TRÒ CỦA HOÀNG ĐÌNH KINH (CAI KINH) VỚI BUỔI ĐẦU KHỞI NGHĨA YÊN THẾ (1887-1913)1

HOÀNG MINH THẢO        

        Kể từ ngày bắt đầu, khởi nghĩa Yên Thế diễn ra cách đây đã hơn 100 năm. Trong thời gian đó, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu lịch sử nào đề cập đến vai trò của Hoàng Đình Kinh-một trong những thủ lĩnh quân sự lúc ban đầu của phong trào nông dân Yên Thế. Đó là một khó khăn lớn khi chúng tôi nghiên cứu vấn đề này. Song cũng chính vì thế mà việc nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò của thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Đình Kinh càng thôi thúc chúng ta tích cực nghiên cứu hơn lúc nào hết.

        Có ý kiến cho rằng phong trào nông dân Yên Thế chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: từ 1887 đến 1891 do ông Đề Nắm, Bá Phức, Hoàng Đình Kinh, Đề Công, Đề Dương, Đề Thảo lãnh đạo. Giai đoạn thứ hai: tử 1892 đến 1913 do Đề Thám - người có tên tuổi nổi nhất trong số những lãnh tụ của khởi nghĩa Yên Thế, lãnh đạo. Tên tuổi của Hoàng Hoa Thám được ghi đậm nét, chân dung của ông được đặt ngang hàng với các thủ lĩnh đương thời như Phan Đình Phùng… Việc phân định và nội dung như vậy là hợp lý.

        Nhưng tên tuổi và sự nghiệp của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh thì thế nào?

        Từ khi Pháp đánh chiếm miền Bắc, một số lớn quan lại cũ đã không chịu thi hành lệnh giải giới của triều đình Huế, kẻ thì về ở ẩn, người thì cầm súng kháng chiến… Trong số những người quyết tâm kháng chiến chống Pháp có ông Hoàng Đình Kinh. Ông đã rút vào một dãy núi hiểm trở để  kháng chiến. Vì thế dãy núi đó được gọi là dãy Cai Kinh. Khu vực Yên Thế nằm trọn vẹn giữa dãy núi đá Cai Kinh (Bắc Giang và Lạng Sơn) cùng với dãy núi trùng trùng điệp điệp ở miền thượng lưu sông Thương và sông Cầu. Tại đây, ông cùng với Đốc Ngữ đã tập hợp được một số nghĩa quân đông đảo để tung ra hoạt động trong và ngoài khu vực thung lũng vùng Phố Bình Gia (Thái Nguyên); phong trào do ông dấy binh khởi xướng còn ảnh hưởng trong một vùng rộng lớn lân cận. Sau đó, phong trào đã phát triển rầm rộ hơn khi hoà vào phong trào chung, với căn cứ được đặt ở Yên Thế, dưới sự chỉ đạo của Hoàng Hoa Thám.

        Việc chọn căn cứ có đủ điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài thường là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu của mọi cuộc chiến tranh, nhất là khi giữa ta và địch, tương quan lực lượng chênh lệch nhau. Thực dân Pháp, cậy có quân đội nhà nghề và vũ khí tinh xảo, muốn nhanh chóng bình định và nắm quyền cai trị trên toàn bộ đất nước ta trong một thời gian ngắn. Vì vậy, để đương đầu với chúng, nghĩa quân phải kháng chiến từng vùng, từng giai đoạn với nhiều hình thức tác chiến thích hợp: đánh nhỏ, lẻ, phục kích, tập kích... nhờ hình thế hiểm yếu, Yên Thế trở thành một căn cứ kháng chiến vững chắc, là nơi không những nghĩa quân có nguồn nhân tài vật lực dồi dào mà còn tiếp giáp với Trung Quốc, do đó, có thể phối hợp với một bộ phận nghĩa quân của Trung Quốc lúc ấy cũng đang chống Pháp. Mặt khác, từ Yên Thế nghĩa quân có thể rút lui khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng một cách thuận lợi cũng như tung các đội quân sang hoạt động ở các vùng Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên… để mở rộng địa bàn và thanh thế của căn cứ kháng chiến. Căn cứ Yên Thế đã thỏa mãn những yêu cầu: Căn cứ khó bị bao vây, tinh thần kháng chiến nhân dân trong vùng rất cao, địch chưa kiểm soát được dân, dễ giao lưu các nhân tài, tóm lại là vừa hiểm trở vừa thông suốt, rất thích hợp với lối đánh du kích sở trường của nghĩa quân.

        Để có thêm cơ sở khách quan cho việc đánh giá căn cứ Yên Thế, xin dẫn ra đây một nhận xét của quân Pháp:

        “Căn cứ Yên Thế là một tập đoàn cứ điểm vừng chắc, với các công sự dày đặc và hào giao thông hình răng sấu, phía Đông có nhiều tiền đồn được thiết lập trên con đường Đình Thép-Yên Thế và sau hết một trung tâm kháng chiến hết sức vững chắc ở phía Bắc phòng tuyến, nơi ông Phức (Bá Phức) đặt tổng hành dinh".

---------------------------------------
        1.Tạp chí LSQS số 4-1993.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:58 am

        Trong giai đoạn 1 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, có hàng chục trận đánh lớn nhỏ của nghĩa quân tiến công quân Pháp và đã 4 lần thực dân Pháp mở những cuộc hành quân tiến công căn cứ Yên Thế. Lần thứ nhất vào ngày 18 tháng 9 nam 1889 với lực lượng khoảng 750 quân. Lần thứ hai vào tháng 11 năm 1890 với 800 quân tiến công liên tục trong vòng 15 ngày có pháo binh yểm hộ (50 khẩu sơn pháo 80 ly, 2 khẩu pháo hạm). Lần thứ ba vào ngày 4 tháng 12 năm 1890 với 900 quân. Lần thứ tư vào tháng 3 năm 1892 với trên 1.000 quân có hàng chục khẩu sơn pháo, súng cối và công binh đi cùng. Sau 4 lần tiến công, thực dân Pháp tỏ ra lúng túng và bị bất ngờ trước sức mạnh của nghĩa quân không những không tiêu diệt được căn cứ mà còn liên tiếp nếm đòn thất bại. Với hàng trăm lính Pháp, lính khố đỏ bị chết, bị thương và bị bắt, trong đó có hàng chục sĩ quan cấp úy, thực dân Pháp phải tạm ngừng ý đồ đập tan căn cứ kháng chiến này.

        Những con số và dẫn chứng qua các tài liệu của Pháp trên đây đủ để nói lên một điều: Căn cứ kháng chiến Yên Thế là một căn cứ hiểm trở, lợi hại, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Nghĩa quân Yên Thế không chỉ bó hẹp hoạt động ở núi rừng vì thế căn cứ Yên Thế không phải là căn cứ chỉ để cố thủ. Trên thực tế, có lúc căn cứ gần như vãn quân vì nghĩa quân hoặc cơ động để tiến công nơi khác, hoặc để ngay sau đó lại tụ họp lực lượng tại đây kháng chiến đến cùng. Thủ đoạn chiến thuật của nghĩa quân rất linh hoạt, đó là phục kích, tập kích, đánh đồn, chặn đường giao thông, đánh tiếp viện… với tính cơ động cao, lúc tập trung, lúc phân tán linh hoạt, lại có tinh thần chiến đấu rất dũng cảm và được nhân dân hết lòng đùm bọc, chở che, nghĩa quân chẳng những đã gây cho địch nhiều tổn thất mà còn đánh lui được nhiều cuộc tiến công càn quét lớn nhỏ của địch, giữ được căn cứ, bảo toàn được lực lượng.

        Thủ lĩnh quân sự Cai Kinh chỉ tham gia trực tiếp với phong trào nông dân Yên Thế trong một thời gian rất ngắn. Ông hy sinh trên đường rút sang Trung Quốc sau trận Phố Bình Gia ngày 6 tháng 7 năm 1888, nhưng những thủ lĩnh như Đề Phức, Đề Thám vẫn tiếp tục một cách xứng đáng sự nghiệp kháng chiến, duy trì được cuộc chiến đấu lâu dài tới 20 năm sau.

        Mặc dù vậy, với công lao gây dựng, đặt nền móng cho phong trào ở buổi ban đầu, phải chăng Cai Kinh cũng cần được coi là một trong những linh hồn chủ chốt của cuộc kháng chiến. Ngoài vai trò nói trên, Cai Kinh còn là người trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo nên những thủ lĩnh kế cận, hun đúc trong lòng họ ngọn lửa yêu nước và niềm tin vào sự tất thắng của cuộc kháng chiến. Tiêu biểu cho những thủ lĩnh quân sự được Cai Kinh "dìu dắt" là Hoàng Hoa Thám. Từ một người dân bình thường, nghèo khó phải đi làm mướn để sinh nhai ở làng Bằng huyện yên Thế, Đề Thám đã tham gia đội quân khởi nghĩa của Trần Quang Loan ở vùng Bắc Ninh. Khởi nghĩa thất bại, ông nhập cuộc với Đề Phức-một lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp ở vùng Yên Thế. Cuối cùng vì thất bại liên tiếp, cả hai ông đều tìm đến hợp tác với Cai Kinh đang hoạt động ở vùng thượng lưu sông Thương (Bắc Giang). Trong thời gian này, họ của Đề Thám được đổi từ Trương Văn sang Hoàng Hoa và ông được phong chức "Đề" với ý nghĩa là những người cùng chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào nông dân Yên Thế.

        Có lớp người kế cận như Đề Thám và một số thủ lĩnh tài ba khác, phong trào Yên Thế, sau cái chết đột ngột, sự ra đi quá sớm của Hoàng Đình Kinh cũng như sự thoái trào của Đề Phức, vẫn không hề bị mai một mà trái lại vẫn tiếp tục được duy trì-"Ngọn tọa đăng Đề Thám" vẫn rực sáng hơn bao giờ hết.

        Xét về mặt ý thức, cái chết của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh trước lưỡi gươm của kẻ thù càng hun đúc thêm chí căm thù và củng cố thêm quyết tâm chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế, càng làm tăng uy tín của một căn cứ kháng chiến chống Pháp mạnh nhất thời bấy giờ.

        Xét về mặt thực tiễn, những hoạt động quân sự cụ thể của thủ lĩnh Hoàng Đình Kinh chính là đặt tiền đề vật chất quan trọng cho sự tồn tại và lớn mạnh của phong trào Yên Thế. Điều đó gợi cho chúng ta những suy nghĩ, nhận xét đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về vai trò và ý nghĩa tác động của thủ lĩnh quân sự Hoàng Đình Kinh.

        Trong thời kỳ cận đại, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm. Đó là cuộc khởi nghĩa độc đáo, mạnh mẽ và lâu dài nhất của nhân dân ta. Trước sức mạnh của đế quốc xâm lược Pháp, cuộc khởi nghĩa không những đứng vững ở một địa bàn chiến lược hiểm mà còn lan ra trên một phạm vi rất rộng lớn ở rừng núi và trung du Bắc Việt. Giá trị lớn lao của nó là chống lại kẻ địch có vũ khí hiện đại. Với vũ khí thô sơ và trong tương quan lực lượng khá chênh lệch mà duy trì được kháng chiến lâu dài như thế là do đâu? Trước hết là do được sự ủng hộ của nhân dân, là tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của nghĩa quân và cuối cùng là có nghệ thuật chỉ huy và tác chiến tài giỏi. Song lời giải đáp trên chắc chắn còn chưa đủ; hy vọng rồi đây các công trình nghiên cứu khác sẽ giải quyết thấu đáo hơn sự kiện lịch sử độc đáo này. Khởi nghĩa Yên Thế, bằng sức mạnh vật chất và tinh thần hàm chứa trong lòng một dân tộc, đã cản trở và làm phá sản kế hoạch “bình định” của thực dân Pháp đối với nước ta trong một thời gian ngắn.

        Khi đánh giá ý nghĩa của khởi nghĩa Yên Thế, chúng ta không thể tách rời với việc đánh giá vai trò của các thủ lĩnh quân sự mà tên tuổi của họ gắn liền với những chiến công mà nghĩa quân đã đạt được. Cũng như xem xét vai trò của Hoàng Hoà Thám không thể bỏ qua việc đánh giá những thủ lĩnh đầu tiên của phong trào, trong đó có Hoàng Đình Kinh. Chúng ta hy vọng và chờ đón những công trình lịch sử tới đây trên ý nghĩa đó.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:19:23 am

VỀ SỰ HY SINH CỦA LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI1

NGUYỄN PHƯƠNG NAM       

        Năm 1916, Hồ Tùng Mậu, tên thật là Hồ Bá Cự (biệt hiệu là Hồ Quốc Anh, Mộc Công, Lương Tử Anh, Phan Tài), người làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, cùng với một số thanh niên yêu nước sang Thái Lan, rồi Trung Quốc hoạt động cách mạng. Trong số này nổi bật có Lê Hồng Phong, Lê Văn Phan tức Lê Hồng Sơn, Lê Quang Đạt và Trương Văn Lệnh... Họ đã đến Quảng Châu, nơi có rất đông Việt kiều sinh sống. Theo báo chí Trung Quốc thì có đến 7-8 ngàn người đi vào võ nghiệp ở đây.

        Đầu những năm 1920, Phan Bội Châu đã quay sang quan điểm chống Pháp sau một thời gian ở tù và thử nghiệm tư tưởng thoả hiệp với Pháp. Tên tuổi của ông vẫn có sức lôi cuốn quần chúng mạnh mẽ, nhưng hoạt động không có hiệu quả.

        Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn và những thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết đã thành lập một tổ chức mới gọi là "Tâm tâm xã" (Hiệp hội của những người cùng chí hướng-dịch sát nghĩa là Hội những trái tim cùng nhịp đập). Do chưa có kinh nghiệm về đấu tranh cách mạng và có lẽ chịu ảnh hưởng của những triết lý khuyến khích nổi dậy ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha2 thế kỷ XIX và với tính cách sôi nổi, họ đã áp dụng phương pháp tuyên truyền và hành động ám sát để gây chấn động, thức tỉnh nhân dân đứng lên đấu tranh chống Pháp.

        Tháng 6 năm 1924, nhân Toàn quyền Đông Dương Mac-xi-an Méc-lanh sang thăm Quảng Đông, nhưng người lãnh đạo Tâm tâm xã đã quyết định ám sát viên Toàn quyền này bằng cách cho nổ bom trong buổi lễ được tổ chức ở đảo Sa Điện - tô giới Châu Âu.

        Lúc đầu, Lê Hồng Sơn, người đã từng ám sát một tên gián điệp hai mang trong nội bộ Đảng, được giao nhiệm vụ này. Nhưng sau khi cân nhắc, do Lê Hồng Sơn bị các nhà chức trách biết rõ tung tích, nên Phạm Hồng Thái đã đảm nhiệm thay.

        Phạm Hồng Thái là con trai một công chức tỉnh Nghệ An tham gia phong trào Cần Vương. Thời thanh niên, Phạm Hồng Thái đã học trường Pháp-Việt ở Hà Nội và sớm say mê lý tưởng cách mạng. Sau khi học xong, Phạm Hồng Thái vào làm thợ cơ khí ở một ga-ra Ô tô và sau đó làm việc ở mỏ than. Tuy mới từ trong nước sang và mới trở thành thành viên Tâm tâm xã, nhưng khát khao được cống hiến cho sự nghiệp cứu nước, Phạm Hồng Thái đã xung phong nhận nhiệm vụ đầy nguy hiểm; mang bom đến mục tiêu định trước.

        Tối 19 tháng 6 năm 1924, các quan chức Pháp tổ chức một đại tiệc ở khách sạn Vích-to-ri-a để chào mừng Méc-lanh. Khi bữa tiệc vừa bắt đầu, món súp vừa được bưng ra, Phạm Hồng Thái đã ném quả bom tự tạo qua cửa sổ phòng tiệc. Tiếng nổ kinh hoàng vang khắp Sa Điện. Năm thực khách chết tại chỗ, hàng chục người bị thương. Toàn quyền Méc-lanh thoát chết với một tâm trạng hoảng hốt.

        Sau những phút giây hoảng loạn, bọn cảnh sát, mật vụ hò nhau đuổi bắt. "Trong khi tìm cách chạy vào đất liền, Phạm Hồng Thái đã nhảy từ trên cầu xuống Châu Giang và chết đuối"3.

        Méc-lanh vội vã trở về Hà Nội trên một chiếc tàu chở khách vì lo sợ bị tấn công lần nữa. Vụ nổ bom ở Sa Điện đã khiến thực dân Pháp ở Đông Dương lo ngại và gây chấn động dư luận thế giới, góp phần thúc đẩy phong trào chống Pháp của nhân dân Đông Dương lên cao.

        Mặc dù việc ám sát cá nhân không phải là phương pháp cách mạng đúng đắn nhưng "tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến đấu. Nó bắt đầu một thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân"4.

        Chính phủ của Tôn Dật Tiên đã dựng một ngôi mộ cho người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương, trên ngọn đồi ở Quảng Châu, nơi yên nghỉ của 72 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc tấn công vào Dinh Tổng đốc Quảng Đông (tháng 3-1911).

        Sự thật về cái chất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái là như vậy. Đáng tiếc là lâu nay, nhiều tài liệu lưu hành trong nước đã gọi sự hy sinh cao cả của liệt sĩ Phạm Hồng Thái là "tự tử".

        Trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, xuất bản năm 1981, Ban Biên tập Nhà xuất bản Sự thật đã chú thích ở trang 318: "Bị đuổi bắt, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông tự tử".

        Trong Tổng tập văn học, tập 36, in xong ngày 30 tháng 4 năm 1980, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, Hội đồng biên tập, khi chú thích bài "Những vấn đề châu Á" cũng viết: "Bị đuổi bắt, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông tự tử".

        Chưa hết, Nhà xuất bản Văn hoá, khi chú thích cuốn "Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê", ở tập 3, trang 12, cũng viết: "Liệt sĩ Phạm Hồng Thái sau khi ám sát hụt toàn quyền Méc-lanh, nhảy xuống sông tự tử...".

        Mới đây, Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình Hà Nội phố, khi giới thiệu về phố Phạm Hồng Thái, cũng vẫn cho rằng ông Phạm Hồng Thái tự vẫn.

        Khi đọc và nghe những từ "Phạm Hồng Thái tự tử", chúng tôi cho rằng nó không phản ánh đúng hành động tích cực của một Anh hùng liệt sĩ, một sự thật lịch sử.

        Chưa bao giờ người ta coi sự quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh là tự tử. Tổng đốc Hoàng Diệu không giữ được thành Hà Nội, đã quyên sinh để giữ tròn khí tiết, quyết không chịu sa vào tay giặc; người ta đã tôn vinh ông bằng tử "tuẫn tiết”. Bị giặc đuổi bắt, Phạm Hồng Thái nhảy xuống sông với hy vọng trốn thoát nhưng không may bị nước cuốn trôi, sao gọi là "tự tử" được?

        Theo chúng tôi nên dùng từ "hy sinh”, "tuẫn nạn", "tuẫn tiết" để chỉ trường hợp tử nạn của Phạm Hồng Thái là phù hợp với sự thật lịch sử hơn cả. Trong bài viết về cái chết của đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Trường Chinh dùng từ "tựu nghĩa". Đó cũng là một từ rất hay. Điều mong mỏi của chúng tôi là loại bỏ hẳn từ "tự tử", "tự vẫn" khi nhắc đến cái chết của liệt sĩ Phạm Hồng Thái.

----------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-2004.

        2. Theo triết lý của Auguste Blanqui.

        3. William J. Duiker. Ho Chi Minh, Hyperion, New York, 2000.

        4. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Sự thật. Hà Nội, 1975. tr. 64.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:21:57 am

TRƯỜNG QUÂN SỰ HOÀNG PHỐ VÀ VIỆC ĐÀO TẠO NHỮNG CÁN BỘ QUÂN SỰ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM1

PHẠM XANH       

        Sau đại hội V của Quốc tế Cộng sản, trong một buổi tiếp thân mật Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Manuinski, ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đã thông báo quyết định của Quốc tế Cộng sản cử Người tới Quảng Châu công tác với nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị về mặt chính trị-tư tưởng và tổ chức để tiến tới xây dựng một đảng cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng của các nước khác ở Đông Nam Á. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị cho chuyến công tác xa-xích gần lại quê hương mình. Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu ngày 11 tháng 11 năm 1924. Hồi đó, Quảng Châu là trung tâm cách mạng của Trung Quốc. Người dân ở đây đang sống trong bầu không khí của ngày hội cách mạng. "Thật khó mà miêu tả Quảng Châu trong những ngày đó. Ở đây có cái gì đó tựa như năm 1917 không bao giờ quên ở nước Nga vậy. Tôi luôn luôn có cảm giác rằng ngôn ngữ loài người còn quá nghèo nàn để có thể diễn đạt hết sức mạnh của tình cảm: phẫn nộ và sung sướng, yêu thương và căm giận của quần chúng nhân dân tràn ra trên các đường phố và quảng trường… "2.

        Quảng Châu còn là nơi hội tụ của nhiều thế hệ những người yêu nước Việt Nam từ lớp cách mạng đàn anh như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu với các đồng chí của ông và lớp thanh niên trí thức yêu nước mới xuất dương sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tập hợp lại trong một tổ chức yêu nước-Tâm tâm xã. Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu trong một bầu không khí chính trị thuận lợi và thực sự tồn tại một tổ chức cách mạng của những thanh niên yêu nước Việt Nam đang sẵn sàng tiếp nhận những gì mới mẻ cho chương trình hành động của mình. Thế là diễn ra cuộc hội nghị lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc, người đang đi tìm lực lượng và những người đang khao khát cái mới. Cuộc gặp gỡ lịch sử đó đã sản sinh ra Cộng sản Đoàn (tháng 2-1925), làm hạt nhân cho một tổ chức cách mạng rộng lớn hơn là Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, được thành lập sau đó ít lâu (tháng 6-1925). Tiếp đó, với tư cách là người sáng lập, lãnh tụ của tổ chức cách mạng ấy, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra một kế hoạch cụ thể. Sau này, L.Marty gọi đó là "kế hoạch Nguyễn Ái Quốc". L.Marty cho biết, kế hoạch đó đòi hỏi:

        "Ở ngoài nước:

        a- Đào tạo những người xuất dương trẻ tuổi (chúng tôi nhấn mạnh-PX).

        b- Chuẩn bị tài liệu tuyên truyền và bảo đảm một cách đáng kể việc xuất bản đều đặn tờ báo của Hội..."3.

        Theo đó, chúng ta biết việc đào tạo những thanh niên yêu nước từ trong nước xuất dương sang là nhiệm vụ hàng đầu và bức thiết nhất của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Thực chất của việc đào tạo đó là tạo ra một đội ngũ cán bộ cách mạng cho một đảng mác-xít tương lai ở Việt Nam. Xét về phương thức đào tạo, đội ngũ đó được đào tạo theo hai cách: tự đào tạo và gửi thanh niên theo học ở các trường khác. Xét về nội dung đào tạo, đội ngũ ấy được đào tạo tại hai loại trường: trường chính trị và trường quân sự. Trong bài viết nhỏ này chúng tôi xin dừng lại và làm sáng tỏ việc đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự cách mạng Việt Nam tại Trường Quân sự Hoàng Phố của Chính phủ Tôn Dật Tiên, dưới sự huấn luyện của các cố vấn quân sự Xô-viêt trong những năm 1924-1927.

---------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 11-1986.

        2. X.A.Đa-lin. Hồi ức Trung Quốc 1921-1927 (bản tiếng Nga), NXB Khoa học , in lần thứ 2, M, 1982, tr. 217. Đa-lin là đại diện của Quốc tế Cộng sản đã 3 lần tới Trung Quốc công tác: 1922, 1924 và 1926-1927. Sau khi về Liên Xô, X.A. Đa-lin đã viết nhiều cuốn sách về Trung Quốc thời kỳ này, trong đó có cuốn "Trong đội ngũ cách mạng Trung Quốc", M, 1926.

        3. Góp phần vào lịch sử các phong trào chính trị ở Đông Pháp, tập IV, tr. 18, bản tiếng Pháp.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:24:38 am

        I. Vài nét về sự ra dời và hoạt động của Trường Quân sự Hoàng Phố những năm 1924-1927.

        Tháng 2 năm 1923, Tôn Dật Tiên gửi thư yêu cầu Chính phủ Xô-viết cử cố vấn chính trị và quân sự sang Quảng Châu giúp Chính phủ ông. Tháng 3 năm 1923, Chính phủ Xô-viết đã thông qua quyết định viện trợ tài chính cho Chính phủ cách mạng Tôn Dật Tiên (2 triệu đô-la Mêhicô) và cử M.M.Bô-rô-đin sang Quảng Châu làm cố vấn chính trị cho Tôn Dật Tiên. Ngày 2 tháng 9 năm 1923, một đoàn đại biểu Quốc dân Đảng Trung Quốc viếng thăm Liên Xô. Trong 3 tháng lưu lại Liên Xô, đoàn đã tiếp xúc và làm việc với nhiều cơ quan lãnh đạo cao cấp của Liên Xô và của Quốc tế Cộng sản. Trong một cuộc tiếp xúc với Hội đồng quân sự cách mạng Liên Xô ngày 9 tháng 9 năm 1923, Đoàn thay mặt Tôn Dật Tiên đã trình bày những yêu cầu sau đây:

        1- Đoàn mong muốn Hội đồng quân sự cách mạng cử tới liền Nam Trung Quốc nhiều cố vấn quân sự để huấn luyện quân đội Trung Quốc theo mẫu hình Hồng quân.

        2- Đoàn mong muốn Hội đồng quân sự cách mạng tạo mọi khả năng để các đại diện của Tôn Dật Tiên tìm hiểu Hồng quân;

        3- Đoàn mong muốn hai bên cùng nhau thảo luận kế hoạch hoạt động quân sự ở Trung Quốc.

        Tháng 1 năm 1924, Đại hội I của Quốc dân Đảng Trung Quốc đã thông qua nghị quyết mời cố vấn quân sự Liên Xô và xây dựng lực lượng vũ trang theo mẫu hình Hồng quân.

        Tất cả những sự thực dẫn ra ở trên minh chứng về sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ cách mạng Quảng Châu tới việc xây dựng quân đội cách mạng dân tộc theo kiểu Hồng quân, mà điểm xuất phát là xây dựng một trường quân sự để đào tạo bộ khung cho quân đội cách mạng đó. Và sự lưu tâm đặc biệt đó cũng được thể hiện rõ nét qua những lời nói của chính Tôn Dật Tiên trong một cuộc tiếp thân mật đồng chí M.M. Bô-rô-đin và các cố vấn quân sự Xô-viết đầu tiên tới Quảng Châu như V.Pô-li-ác, J.Giéc-man, A.Trê-rê-pa-nốp... Hôm đó, Tôn Dật Tiên đã nhấn mạnh nhiệm vụ cấp thiết của Chính phủ cách mạng của ông là tổ chức quân đội cách mạng dân tộc theo mẫu hình Hồng quân để chuẩn bị lực lượng cho cuộc Bắc phạt thống nhất đất nước Trung Hoa và đặt nhiều hy vọng vào các cố vấn quân sự Xô-viết, những người đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong cuộc chiến đấu chống bọn can thiệp quốc tế, sẽ truyền lại những kinh nghiệm quý báu đó cho các học viên-những sĩ quan tương lai của quân đội cách mạng.

        Từ sau buổi tiếp đó mới bắt tay xúc tiến xây dựng trường quân sự Hoàng Phố. Việc đầu tiên cần phải giải quyết là vấn đề tài chính. Lúc đó, Chính phủ Tôn Dật Tiên còn nghèo, đã buộc phải đi vay tiền ở giới thương nhân. Cuối tháng 2 năm 1924, đã vay được 60.000 đô-la Quảng Đông, nhưng số tiền đó vẫn chưa đủ4. Ngày 1 tháng 5 năm 1924, chính thức bắt tay xây dựng trường. Trường được xây dựng trên đảo Hoàng Phố nằm trên sông Tây Giang, cách Quảng Châu 25 km. Từ xưa nơi đây đã có một đồn binh án ngữ con đường từ biển vào thành phố thương mại Quảng Châu. Pháo đài đó được xây dựng từ năm 1870, sau khi kết thúc cuộc chiến tranh "Nha phiến". Theo con mắt của các chuyên gia quân sự Xô-viết, vị trí của trường nằm trên một hòn đảo giữa sông, làm cho nó tránh được những điều bất ngờ không cần thiết và che mắt những kẻ tò mò. Sau một tháng rưỡi lao động khẩn trương của đội ngũ cán bộ, cố vấn quân sự Xô-viết và học viên khoá đầu, ngày 15 tháng 6 năm 1924, chính thức cắt băng khánh thành Trường Hoàng Phố. Hôm đó, Tôn Dật Tiên, M.M. Bô-rô-đin từ Quảng Châu tới dự. Tại buổi lễ khánh thành Trường, Tôn Dật Tiên đã đọc một bài diễn văn khá dài, trong đó có đoạn:

        “Hôm nay, chúng ta khánh thành Trường nhằm mục đích gì? Từ giờ phút này chúng ta muốn làm sống lại sự nghiệp cách mạng và xây dựng quân đội cách mạng mà học viên của trường này sẽ là nòng cốt.

        … Quân đội cách mạng là gì? Khi theo học trường này, các bạn đã tự đặt cho mình mục đích gì để trở thành người chiến sĩ của quân đội cách mạng ấy? Cần phải trau dồi phẩm chất gì để có quyền gọi là chiến sĩ cách mạng? Để hiểu thế nào là quân đội cách mạng phải lấy những anh hùng đã ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng chúng ta ra làm gương và để làm được như vậy phải học tập ở quân đội cách mạng kỹ năng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng. Chỉ có quân đội sẽ chiến đấu như một đảng cách mạng chiến đấu thì mới có thể gọi là quân đội cách mạng.”

        “… Dựa vào đâu mới có thể thực hiện được quyết tâm trở thành chiến sĩ của quân đội cách mạng? Kiến thức sâu rộng là cơ sở đó. Bằng cách nào mà có được kiến thức sâu rộng? Con đường thu nhận kiến thức sâu rộng đó không chỉ ở chỗ miệt mài nghiên cứu khoa học mà các thầy giáo truyền thụ tại giảng đường, mà còn ở chỗ thông qua cái bộ phận mà vươn tới cái toàn bộ. Bằng cách đó mà mở rộng kiến thức của mình. Ngoài giờ lên lớp phải gắng sức mà tự đào tạo, nghiền sách vở, đọc báo chí soi sáng khoa học quân sự và lý luận cách mạng. Chỉ sau khi các bạn đã nắm được kiến thức thì mới có thể đi sâu vào bản chất sự vật và dĩ nhiên khi các bạn được nghị lực cách mạng thôi thúc thì mới nảy ra mong muốn được kế tục sự nghiệp của các bậc anh hùng đã ngã xuống”.

        ".. Quân đội cách mạng gồm những chiến sĩ đang chiến đấu cứu nước, cứu dân mà các bạn là nòng cốt của đội quân cách mạng tương lai ấy… “5.


---------------------------------
        4. V.Vit-ni-a-cô-va A-ki-mô-va, Hai mươi năm ở nước Trung Hoa khởi nghĩa, 1925-1927, bản tiếng Nga, NXB Khoa học, M, 1980, tr. 132.

        5. Tôn Dật Tiên, Tác phẩm chọn lọc, bản tiếng Nga, NXB Sách chính trị, M, 1964, tr. 475-480.



Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:25:49 am

        Theo quyết định của Chính phủ Quảng Châu, trường Hoàng Phố là một trường bộ binh, thời gian học là 6 tháng. Ngoài ra, có những lớp chuyên ngành, thời gian học tập dài hơn, chẳng hạn như: lớp pháo binh (có 60 học viên, thời gian học 9-12 tháng), công binh (130 học viên, thời gian học 9 tháng), thông tin liên lạc (30 học viên, thời gian học 9 tháng). Về sau, trường được giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị học, lý luận về chủ nghĩa đế quốc, "ba nguyên tắc" và phương châm chính trị của Tôn Dật Tiên, lịch sử Trung Quốc và lịch sử phong trào cách mạng ở phương Tây. Vì thế mà trường được chính thức mang tên Trường Quân chính Hoàng Phố.

        Ngoài những môn học quân sự và chính trị, trường còn tổ chức một lớp tiếng Nga, học kiếm và thể dục. Trường có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan nòng cốt cho quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ Quảng Châu. Chính trên ý nghĩa đó mà trong các sách vở phương Tây còn xuất hiện một tên gọi nữa là Học viện Quân sự Hoàng Phố.

        Đội ngũ giáo viên huấn luyện, ngoài 58 cố vấn quân sự và chính trị Liên Xô6 gồm những sĩ quan được đào tạo quân sự ở nước ngoài. Phần lớn là ở Nhật, hoặc các sĩ quan đã tốt nghiệp tại các trường võ bị trong nước như trường Bảo Định. Như vậy đội ngũ giáo viên của trường không thuần, có thể nói là phức tạp. Trong khi đó, các cố vấn quân sự-chính trị Xô viết không thông thạo tiếng Trung Quốc hoặc tiếng Anh là hai thứ tiếng thông dụng ở đây. Vì không thể sử dụng ngôn ngữ để lên lớp trực tiếp, hoặc giám sát các bài giảng lý thuyết của đội ngũ giáo viên nên đoàn cố vấn quân sự Xô-viết-đứng đầu là P.A.Páp-lốp7, đã tìm ra một giải pháp đúng đắn và thích hợp; thời gian học tập, huấn luyện chủ yếu là trên thao trường, trong thực tế8. Đến ngày 1 tháng 11 năm 1924, trường Hoàng Phố đã có 62 giáo viên và sĩ quan huấn luyện.

        Đội ngũ học viên được lựa chọn chủ yếu từ học sinh các trường đại học và trung học Quảng Châu, Thượng Hải và một vài thành phố khác, là những người bước đầu đã trải qua trường học cách mạng trong phong trào học sinh-sinh viên. Khoá đầu có 950 học viên, trong đó có 39 đảng viên cộng sản, hầu như không có học viên công nhân. Về sau, trường có tổ chức một khoá đặc biệt cho những người tình nguyện trong số người ít được học hành, chủ yếu là nông dân và dân nghèo thành thị. Chính phủ Quảng Châu đã trao cho trường nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân sự cách mạng cho tất cả các tỉnh của đất nước. Nhiệm vụ ấy đã được nhà trường thực hiện vào năm 1925. Trong số 2.500 học viên tốt nghiệp khoá III năm 1925 có hầu hết đại biểu của các tỉnh trên toàn đất nước. Đến khoá tiếp theo, về thành phần xã hội, học viên của trường gồm: 1.640 người là nông dân, 400 người là học sinh, 400 người là thương nhân, 100 người là công nhân, 10 người là binh lính, 15 người là quan lại, 12 người là đại biểu trí thức. Tháng 3 năm 1926, trường Hoàng Phố có tất cả hơn 5.000 học viên, gồm các ban bộ binh, chính trị, pháo binh, công binh, hậu cần. Như vậy, trường Hoàng Phố là một trường quân sự lớn hồi đó. Mặc dù thành phần xã hội trong giáo viên và học viên khá phức tạp nhưng nhà trường vẫn giữ được tính chất cách mạng của nó, bởi vì những người cộng sản và những người cánh tả trong Quốc dân Đảng chiếm tuyệt đại bộ phận (65-70%), số còn lại là cánh hữu (15-20%).

        Trong hơn 3 năm tồn tại của mình, trường Hoàng Phố, dưới sự huấn luyện trực tiếp của các cố vấn quân sự và chính trị Liên Xô, đã đào tạo được 5 khoá. Học viên tốt nghiệp các khoá đầu được giữ lại, tổ chức thành hai trung đoàn của trường, còn học viên các khoá sau trở thành cán bộ khung cho quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Trường Hoàng Phố không những chỉ là lò đào luyện đội ngũ cán bộ quân sự mới, mà còn là chỗ dựa đáng tin cậy của cách mạng. Vì thế, không lấy làm lạ là: mỗi lần bọn phản động ở Quảng Châu ngóc đầu dậy thì đòn đánh đầu tiên của chúng đều trước riết nhằm vào Trường. Trong những năm bão táp cách mạng 1924-1925, học viên của trường đã có lúc phải gác "bút nghiên" để lao vào chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng. Như vậy, họ đã tôi luyện kỹ năng chiến đấu của mình không chỉ trên thao trường mà cả trên chiến trường. Vào những năm đó, trường Hoàng Phố đã trở thành chỗ dựa quân sự chủ yếu của chính quyền cách mạng. Chẳng hạn, tháng 10 năm 1924 khi gặp nội loạn, Chính phủ Quảng Châu đã rút ra đảo Hoàng Phố và từ trong những bức tường pháo dài, tiến hành động viên các lực lượng trung thành với cách mạng đánh trả. Chính học viên khóa đầu của trường đã góp phần quyết định đánh tan cuộc phiến loạn đó. Tiếp đó, năm 1925, hai trung đoàn trường Hoàng Phố và một vài đại đội học viên của trường đã góp phần to lớn trong việc đánh bại quân đội của tướng Trần Quýnh Minh, tay sai của đế quốc Anh và cuộc nổi loạn phản cách mạng của bọn quân phiệt Lưỡng Quảng ở vùng Quảng Châu. Rõ ràng, với những học viên được huấn luyện theo kiểu mới, có chất lượng làm nòng cốt. Chính phủ cách mạng Quảng Châu đã tiến hành thắng lợi các chiến dịch quân sự như Đông phạt I, Đông phạt II mở rộng và làm chủ địa bàn hoạt động. Và trên cơ sở những kinh nghiệm quý báu thu được trong hai cuộc chinh phạt đó, Chính phủ Quảng Châu đã tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ nhất nhằm thực hiện mong ước của Tôn Dật Tiên: thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn.

        Trường Hoàng Phố ngừng hoạt động vào đầu tháng 8 năm 19279.

-------------------
        6. J.N.Du-kin. V.I.Lênin và các dân tộc phương Đông, Tạp chí Viễn Đông, bản tiếng Nga, 4-1980, tr. 140.

        7. Sau khi P.A.Páp-lốp hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ, tướng V.K.Bliu-ke sang thay vào tháng 11-1924.

        8. Xem Trê-rê-pa-nốp. A.J-Ghi chép của một cố vấn quân sự Trung Quốc, bản tiếng Nga, M, 1976, tr. 125.

        9. Sau cuộc đảo chính tháng 4-1927, Tưởng Giới Thạch rời trường Quân chính lên Nam Kinh đào tạo sĩ quan theo đường lối, quan điểm của Tưởng.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:26:55 am

        II. Mấy nét về việc đào tạo cán bộ quân sự Việt Nam tại Trường quân sự Hoàng Phố.

        Bên cạnh việc đào tạo sĩ quan cho toàn đất nước Trung Hoa, Tôn Dật Tiên và Chính phủ cách mạng Quảng Châu còn trao cho trường Hoàng Phố một nhiệm vụ quốc tế: giúp đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự cho các nước láng giềng.

        Nhà trường đã thực hiện được nhiệm vụ nặng nề đó từ khoá III (năm l925). Có lẽ người nước ngoài đầu tiên theo học quân sự tại trường này là người Việt Nam và người Triều Tiên.

        Nhà yêu nước Việt Nam có ý định đầu tiên gửi học sinh Việt Nam theo học trường Hoàng Phố là Phan Bội Châu. Nhân việc về Quảng Châu "dựng bia đá ở trước mồ liệt sĩ (Phạm Hồng Thái) để làm kỷ niệm", được biết trường Hoàng Phố có các cố vấn quân sự Liên Xô huấn luyện vừa mới khánh thành, Phan Bội Châu liền đến tham quan trường, với ý định gửi thanh niên Việt Nam theo học tại đó. Sau này, Phan Bội Châu nhớ lại: "Gặp lúc Tưởng Trung Chính giữ chức hiệu trưởng trường quân quan Hoàng Phố, Lý Tế Thâm làm giám đốc nhà trường, tôi đến yết kiến hai người này để xem nhà trường và có ý định đưa học sinh vào học. Họ Tưởng và họ Lý đều tán thành, ba vị giáo viên trong trường là người Nga, cùng tôi nói chuyện và cùng chụp một tấm ảnh"10.

        Khôn khéo sử dụng ảnh hưởng của Phan Bội Châu, những thanh niên trí thức yêu nước trong Tâm tâm xã đã đăng ký xin thi vào trường Hoàng Phố. Hôm trường tổ chức thi tuyển, không may Hồ Tùng Mậu bị ốm phải ở lại Quảng Châu, số đông dự thi đã trúng tuyển, trong số đó có Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh… Đó là kỳ thi tuyển học viên khoá III của trường. Trong số 2.500 học sinh tốt nghiệp khoá III “có 25 người Triều Tiên và 10-15 người Việt Nam. Điều đó chứng tỏ sự mong muốn của Tôn Dật Tiên, phe cách mạng của Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp đỡ đào tạo cán bộ cho các nước láng giềng”11. Có lẽ, đó là những học viên Việt Nam dầu tiên theo học Trường Quân sự Hoàng Phố.

        Sau này, khi tới Quảng Châu với trọng trách của mình trước Quốc tế Cộng sản, với vị trí công việc của mình trong phái bộ Bô-rô-đin, Nguyễn Ái Quốc không những tiếp tục giữ mối quan hệ đã có với nhà trường, mà còn nâng nó lên ngang tầm với ý nghĩa của nó trong toàn bộ công việc mà Người đang tiến hành ở đây. Vì thế mà mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với trường Quân sự Hoàng Phố không những chặt chẽ, mà còn có nội dung hơn. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một trong những cố vấn quân sự Liên Xô của trường đã xác nhận: "Đồng chí Hồ Chí Minh đã ở Quảng Châu vào những năm 1924-1925, đã thường xuyên liên hệ với các học viên Việt Nam ở trường Hoàng Phố và chỉ đạo việc giáo dục họ (chúng tôi nhấn mạnh-P.X)"12. Việc Nguyễn Ái Quốc và Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội gửi thanh niên-những hội viên của mình vào học trường Hoàng Phố có nghĩa là vấn đề bạo lực vũ trang trong một cuộc cách mạng ở một nước thuộc địa đã được đặt ra và được chuẩn bị ngay từ đầu. Hơn thế nữa, qua đoạn trích dẫn trên của A.I. Trê-rê-pa-nốp, chúng ta biết được rằng Nguyễn Ái Quốc không chỉ dừng lại ở việc gửi học sinh theo học quân sự, mà còn chỉ đạo việc giáo dục họ. Từ khoá III năm 1925, cho đến khi trường bị đóng cửa sau cuộc đảo chính phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch, khoá nào cũng có học viên Việt Nam theo học võ bị. Trong một bài nhan đề Học viện Quân sự Hoàng Phố và cách mạng Việt Nam đăng trên tờ Tuần báo của Học viện Hoàng Phố, tác giả Wou Hai Tsieo đã xác nhận: "Trường Hoàng Phố đã tồn tại 3 năm và đã đào tạo được 5 khoá. Trong suốt thời gian đó đã có những đồng chí Việt Nam vượt qua muôn trùng nguy hiểm tới trường tham gia vào sinh hoạt của trường, làm tăng lực lượng quân sự của trường và làm tăng uy tín của trường. Số đồng chí này tốt nghiệp rời trường thì số đồng chí khác vào học... Hết khoá này đến khoá khác, số lượng các đồng chí Việt Nam càng đông hơn"13. Có khoảng 30 học viên Việt Nam đã tốt nghiệp tại trường này14. Được sự quan tâm rất mực của Nguyễn  Ái Quốc, được sự giúp đỡ tận tâm của đội ngũ giáo viên-cố vấn quân sự Liên Xô, các học viên Việt Nam theo học ở đây đã học tập đạt được kết quả tốt đẹp. A.I. Trê-rê-pa-nốp, một giáo viên Liên Xô đã nhận xét: "Trong số các học viên của chúng tôi có khoảng 30 người Việt Nam. Họ rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập bởi vì họ biết rằng, để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong giặc ngoài”15. Không ai khác, chính Nguyễn Ái Quốc đã giáo dục cho học viên của mình tinh thần đó.

------------------------------
        10. Phan Bội Châu niên biểu, in lần thứ 2, NXB Văn Sử Địa , Hà Nội, 1 957, tr. 201.

        11. A.I. Trê-rê-pa-nốp, Sđd, tr. 123.

        12. A.I. Trê-rê-pa-nốp. Sđd, tr. 123.

        13. Phụ lục 2 cho lá thư số 1680/Sài Gòn, ngày 15-3-1928 SLOTFOM, vd, 3, carton 49.

        14. Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành thu thập để lập một danh sách đầy đủ những học viên Việt Nam đã tốt nghiệp tại Trường Quân sự Hoàng Phố những năm 1925-1927. Cho tới nay, bản danh sách đó vẫn chưa đầy đủ. Đồng chí nào có biết rõ, xin chỉ giúp cho chúng tôi. Sau đây là một số người trong khoảng 30 học viên đó: Lê Hồng Sơn, Lê Quảng Đạt, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Võ Tòng, Lê Khắc Trung, Đô Huy Liêm và nhiều người khác.

        15. I. Trê-rê-pa-nốp, Hồi ký, Phụ nữ Liên Xô, bản tiếng Nga, số 2-1980, tr. 7.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:27:35 am

        Trong thời gian công tác tại Quảng Châu, cùng với việc gửi người theo học quân sự, Nguyễn Ái Quốc còn mở lớp huấn luyện chính trị tại ngôi nhà 13-15 đường Văn Minh. Trường huấn luyện chính trị đặc biệt được Chính phủ Tôn Dật Tiên coi như là một phân hiệu của Trường Quân sự Hoàng Phố và đã hoạt động dưới sự giúp đỡ của Chính phủ Quảng Châu16.

        Được như thế là nhờ uy tín và sự vận động khôn khéo của Nguyễn Ái Quốc. Việc trường huấn luyện chính trị đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc trực thuộc Trường Quân chính Hoàng Phố dẫn đến hai điều lợi: (1) Tránh được những cặp mắt soi mói, rình mò của bọn mật vụ quốc tế (hồi đó bọn này nhan nhản ở Quảng Châu, Hồng Công) và bọn phái hữu trong Quốc dân Đảng là bọn chống cộng điên cuồng trong Chính phủ Quảng Châu hồi đó; (2) Tranh thủ được đội ngũ giáo viên-các cố vấn quân sự-chính trị Xô-viết ở trường Hoàng Phố. Vậy là Trường Quân chính Hoàng Phố và Trường Huấn luyện chính trị của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội có mối quan hệ rất khăng khít. Có thể nói, hai trường đó đã thâm nhập vào nhau, cùng nhau tồn tại. Và điều đó có nghĩa là một số giáo viên của trường này đồng thời cũng là giáo viên của trường kia. Chính vì thế mà trong lá thư đề ngày 28 tháng 12 năm 1927 (số 5077/Sài Gòn) của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ Thuộc địa Pháp đã cho biết là không chỉ nhiều người Việt Nam được huấn luyện tại Hoàng Phố mà còn những nhà cách mạng Việt Nam được sử dụng như những người giáo viên huấn luyện ở đây17.

        Các học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố đã gia nhập quân đội cách mạng dân tộc của Chính phủ Quảng Châu và cùng với đội quân đó tham gia các cuộc Đông phạt I, Đông phạt II, Bắc phạt. Một số đã ngã xuống trên chiến trường đó, trên chiến luỹ Quảng Châu bên cạnh những người con Xô-viết và những người cộng sản Trung Quốc chân chính như Trương Thái Lôi… Số còn lại về sau trở về nước trở thành những cán bộ quân sự của Đảng ta như các đồng chí Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn… Đó là vốn cán bộ quý báu mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị cho đất nước ngay từ ngày đầu cách mạng. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ quân sự đầu tiên, chúng tôi xin dẫn ra một học viên đã tốt nghiệp tại Trường Quân chính Hoàng Phố trong những năm 1925-1927.

        Đồng chí Phùng Chí Kiên (1901-1941) quê Nghệ An vào học khoá V với tên là Mạnh Văn Liễu. Tốt nghiệp, đồng chí gia nhập quân cách mạng và tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu ngày 12 tháng 12 năm 1927. Sau thất bại của công xã Quảng Châu, đồng chí cùng với quân cách mạng rút về Khai phong và Lục Phong xây dựng khu Xô-viết: "Với cương vi đại đội trưởng quân cách mạng, đồng chí đã cùng cán bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ cách mạng"18. Tháng 2 năm 1941, đồng chí trở về nước. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ở Pắc Bó, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn-Vũ Nhai và trung đội Cứu quốc quân I. Tháng 7 năm 1941, trên đường đưa trung đội du kích rút về biên giới để bảo vệ lực lượng, đồng chí đã bị giặc phục kích và hy sinh ngày 21 tháng 8 năm 1941.

        Với sự giúp đỡ tận tâm của những cố vấn quân sự, chính trị Liên Xô, Trường Quân chính Hoàng Phố đã thực hiện được mong muốn của Tôn Dật Tiên, đã đào tạo được những cán bộ quân sự vào lớp đầu tiên của cách mạng Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên. Đó chính là những cán bộ quân sự đầu tiên trong sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng theo mô hình Hồng quân Liên Xô. Và đội quân đó đã sát cánh cùng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đưa cách mạng mỗi nước tới những thắng lợi to lớn ngày nay.

----------------
        16. Xem: K.Kô-bê-lép, Hồ Chí Minh, NXB Đội cận vệ Thanh niên, bản tiếng Nga, M, 1979, tr. 118.

        17. Xem: Huỳnh Kim Khánh, Vietnamese Communium 1925-1927, lthaca and Lon don, p. 77.

        18. Những người cộng sản trên quê hương Nghệ Tĩnh, tập 1 , BNCLS Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tỉnh xuất bản 1978. tr. 148, 189.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:05 am

VỀ BẢN CHỈ THỊ “NHẬT-PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA”1

LÊ KIM       

        Cách đây đúng 60 năm, tối ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đã tiến hành đảo chính quân sự, lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương. Liền sau đó, bản chỉ thị ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo, nhan đề "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã kịp thời đề ra những chủ trương nhạy bén, sáng suốt, làm dấy lên một cao trào cách mạng chưa từng thấy, cùng với các quyết định khác nhanh chóng dẫn đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám hoàn toàn thắng lợi.

        Có thể nói, bản chỉ thị này là một nét vàng trong pho sử đấu tranh cách mạng, một trong những mốc son rực rỡ trên chặng đường dài giải phóng dân tộc của toàn dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản quang vinh, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

        Tuy nhiên, những năm gần đây có một số bài báo, thậm chí cả một số cuốn sách chọn lọc, đã ghi lại khá nhiều sự kiện chưa thật chính xác xung quanh quá trình soạn thảo và ban hành bản chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, gây nên những hiểu biết sai lệch của người đọc, nhất là những người thuộc thế hệ trẻ. Xin phép được nêu lên một vài dẫn chứng:

        Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn "Trường Chinh-Một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng", dày hơn 900 trang, khổ 16,5 x 24,5cm, gồm các bài hồi ký của những tác giả đã một thời gần gũi và hiểu biết nhiều về đồng chí Trường Chinh. Mặc dù vậy, trong các sự kiện có liên quan đến sự ra đời của bản chỉ thị lịch sử Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta vẫn có những đoạn nhầm lẫn quan trọng, cần phải "bàn thêm cho rõ". Ví dụ: Bài Trường Chinh-Một nhà lãnh đạo tài năng của cách mạng Việt Nam kể lại: … Ngay sau đêm Nhật đảo chính hất cẳng Pháp (9-3-1945) đồng chí đã chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng, ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (sách đã dẫn, tr. 24).

        Một bài khác, đăng ở trang 595 cũng nhớ lại: "... Ngay sau khi cuộc đảo chính Nhật, Pháp ngày 9-3-1945 xảy ra, đồng chí (Trường Chinh) đã triệu tập cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, từ đó đề ra chỉ thị nổi tiếng "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”...".

        Một bài nữa đăng trên trang 104, có đoạn viết: "Ngày 9-3-1945, đồng chí Trường Chinh đã triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng ở Đình Bảng (Bắc Ninh) ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", v.v...".

        Cuốn Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945, cũng do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995, kể lại một cách chi tiết cụ thể hơn: "Ngày 8-3-1945, tin từ cơ sở cách mạng trong một nhà in, một số nhân mối trong binh lính và từ một số cá nhân, nhân sĩ yêu nước ở Hà Nội báo cho ban Thường vụ Trung ương và đồng chí Trường Chinh đang hoạt động ở ATK Trung ương, Toàn quyền Decoux bị nhà cầm quyền Nhật gọi vào Sài Gòn, quân Nhật ở Hà Nội có lệnh cấm trại, chuẩn bị vũ khí, lương thực; quân Pháp cũng đã được báo động. Nhận được tin ấy, với tinh thần nhạy bén, Tổng Bí thư Trường Chinh nhận định: "Nhật lật Pháp đến nơi và lập tức quyết định họp Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng... " (tr. 111, 112), v.v…

        Sự thật không hoàn toàn diễn ra đúng như trên. Như nhiều người đã rõ, trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta không tập trung mà phân tán ở nhiều nơi, tại nhiều địa điểm bi mật và luôn luôn thay đổi chỗ trú đóng. Việc thông tin liên lạc trong suốt thời kỳ này không thể và cũng không có các phương tiện điện thoại hữu tuyến hoặc vô tuyến mà hoàn toàn do liên lạc viên đảm nhiệm. Vì thế, không thể "ngày 8 tháng 3 được tin Nhật Bản chuẩn bị tiến hành đảo chính, tối ngày 8 triệu tập họp, sáng ngày 9 đã có thể khai mạc Hội nghị", như đã viết. Hơn nữa, những tin tức tình báo quân sự do phía Pháp thu lượm được và do chính những nhân chứng lịch sử quan trọng như Toàn quyền Decoux, Tổng tư lệnh Aymé, Tư lệnh các lực lượng kháng chiến bí mật Mordant, Tư lệnh sư đoàn Bắc Kỳ Sabattier... tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc, đều thống nhất thừa nhận, từ đầu tháng 3 năm 1945, Pháp đã "nhiều lần nhận được tin Nhật Bản sẽ tiến hành "đảo chính trong 24 giờ tới" nhưng sau đó lại "không thấy có gì xảy ra" nên càng thêm chủ quan, rơi vào cái "bẫy nghi binh" của Nhật Bản. Tin cuối cùng về cuộc đảo chính do Pháp nhận được là cuộc đảo chính sẽ "bùng nổ vào tối ngày 8-3", do đó chỉ có một sư đoàn Bắc Kỳ nhận được lệnh báo động và rời khỏi doanh trại (để rút sang Trung Quốc). Tối ngày 8 tháng 3, Thống sứ Bắc Kỳ đã phát lệnh báo động bí mật cho tất cả các công sứ đứng đầu các tỉnh, nhưng suốt đêm 8 và cả ngày 9 tháng 3 vẫn không thấy Nhật Bản hành động, vì vậy "đã phát lệnh báo yên thì cuộc đảo chính lại bùng nổ vào lúc 20 giờ 45 phút tối ngày 9 tháng 3".

------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số tháng 3-2005.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:30 am

        Về phía Đảng ta và cụ thể Tổng Bí thư Trường Chinh hồi đó, đã nhận định về việc "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" như thế nào?

        Nếu đọc lại một loạt bài viết của đồng chí Trường Chinh đăng trên tờ Cờ giải phóng, lưu hành bí mật trong những năm 1943, 1944 và những ngày đầu năm 1945 trước khi bùng nổ cuộc đảo chính Nhật-Pháp, chúng ta thấy:

        Trên báo Cờ giải phóng số ra ngày 28 tháng 7 năm 1944, có đăng bài xã luận nhan đề Phải tiến gấp (sau này được biết rõ là do đồng chí Trường Chinh viết), trong đó nhấn mạnh: "Cả Đông Dương như một cánh đồng cỏ khô, tàn lửa cách mạng động rơi vào đâu cũng có thể bốc cháy. Hai quân thù Nhật, Pháp cầm cự, giữ miếng nhau… (nhưng) Nhật, Pháp sẽ bắn nhau...". Nhận định này xuất phát từ tình hình lực lượng Đồng minh đang phản công thắng lợi ở Philippin, đối diện ngay bán đảo Đông Dương, lúc đó là chiếc cầu nối tiền tuyến với hậu phương Nhật Bản. Nếu lực lượng Đồng minh đổ bộ lên chiếc cầu này thì nhất định quân đội Pháp ở Đông Dương sẽ đánh vào phía sau lưng quân đội Nhật Bản đang chiếm đóng xứ này. Mặt khác, đứng trước tình hình đó, quân đội Nhật Bản cũng nhất định không chịu rơi vào thế bị động và rất có thể sẽ ra tay trước, thanh toán lực lượng Pháp trước khi quân Đồng minh đổ bộ để trừ hậu hoạ. Đó là những phân tích rất khoa học mà Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và giữ trọng trách Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh, đã thể hiện trên một loạt bài báo tiếp theo. Vấn đề là phải hành dộng như thế nào để kịp đón bắt thời cơ.

        Trong bài viết nhan đề Cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ, số ra ngày 28 tháng 9 năm 1944, đồng chí Trường Chinh đã đi từ nhận định "Nhật-Pháp sẽ bắn nhau” đến khẳng định "Nhật-Pháp nhất định sẽ bắn nhau”, để đưa ra lời kêu gọi: "Hỡi quốc dân đồng bào… Hỡi các chiến sĩ cứu quốc!... Phải kíp mài gươm, lắp súng để mai đây Nhật-Pháp bắn nhau kịp nổi dậy tiêu diệt chúng, giành lại giang sơn Tổ quốc...".

        Trên cơ sở một loạt bài đăng trên Cờ giải phóng trong nửa cuối năm 1944 (mà hai bài trên chỉ là tiêu biểu), có thể nói Tổng Bí thư Trường Chinh hồi đó đã rất trăn trở xoay quanh sự kiện "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Với sự trăn trở này, dứt khoát không thể chờ đến khi Nhật, Pháp bắt đầu bắn nhau mới tính đến chuyện hành động, mà phải tính toán từ trước. Thêm một dẫn chứng nữa để xác minh rõ:

        Từ năm 1991, Nhà xuất bản Sự thật đã xuất bản một cuốn sách chứa đựng nhiều tư liệu rất quý chung quanh sự ra đời của bản chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Đây là một cuốn sách nhỏ, khổ 13x19cm, gồm hai tập, dày tổng cộng 358 trang, nhan đề "Đồng chí Trưởng Chinh", do đồng chí Đức Vượng biên soạn, đồng chí Hoàng Tùng hiệu đính. Đây là một cuốn tư liệu đáng tin cậy vì không chỉ dựa vào các văn bản gốc mà còn dựa vào "những lời kể của chính đồng chí Trường Chinh” hiện còn lưu trữ (sách đã dẫn, tập 2, trang 136). Những tư liệu kể trên cho biết: đồng chí Trường Chinh "quyết định triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương (mở rộng) vào một ngày đầu tháng 3 năm 1945” chứ không phải đến tối ngày mùng 8 hoặc sáng ngày 9 (thậm chí có bài báo còn viết là ngày 10 tháng 3 năm 1945) mới triệu tập. Thời điểm họp "được ấn định vào ngày 7 tháng 3 năm 1945", tức là trước khi Nhật Bản tiến hành đảo chính.

        Cuốn sách cho biết thêm: "trong lúc chờ đợi các đồng chí về dự họp, đồng chí Trường Chinh tranh thủ viết báo cáo để trình bày tại hội nghị" và "cắm cúi khởi thảo chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” tại một cơ sở bí mật ở xã Vân Nội, huyện Đông Anh, sau đó mới rời Vân Nội sang chùa Đồng Kỵ để họp" và đồng chí "đã đến chùa Đồng Kỵ thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh vào lúc hoàng hôn ngày 7 tháng 3 năm 1945. Căn cứ vào giấy triệu tập thì ngày 7 tháng 3 anh em sẽ có mặt tại chùa Đồng Kỵ. Song, do khó khăn về việc đi lại, nhiều đồng chí ở xa, mãi tới lúc xâm xẩm tối ngày 9 tháng 3 những người được triệu tập mới có mặt đầy đủ (tr. 43).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:51 am

        Cuốn sách kể lại rất tỉ mỉ: “Đồng chí Trường Chinh là người đến sớm hơn cả. Đồng chí rất nóng ruột, ra ngóng vào trông, chờ mãi anh em mới tới. Thời kỳ bí mật, các đồng chí không thể họp đông, nhưng được gặp nhau lúc ấy mà đủ mặt là điều đáng mừng" (tr. 44). Sách còn chú thích rõ "Bác Hồ và đồng chí Hoàng Quốc Việt-ủy viên Thường vụ Trung ương, lúc này đang công tác tại Trung Quốc. Các ủy viên Trung ương khác do Hội nghị Trung ương tháng 5 năm 1941 bầu ra, có người bị địch bắt, có đồng chí bị hy sinh, có đồng chí ở xa nên vắng mặt. Dự Hội nghị Thường vụ Trung ương lần này chỉ có: đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Trung ương Đảng, chủ trì hội nghị; Nguyên Lương Bằng-ủy viên Trung ương bổ sung cuối năm 1943; Lê Đức Thọ-ủy viên Trung ương bổ sung cuối năm 1944; Nguyễn Văn Trân, Lê Thanh Nghị-đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ".

        Vẫn theo tường thuật trong sách, "đồng chí Trường Chinh vừa mới nói được mấy câu khai mào hội nghị thì có động. Từng người một phải lần lượt lủi ra vườn sau, lách qua khóm tre thoát ra cánh đồng. Một lát sau chợt thấy từ phía Hà Nội loé lên những ánh chớp. Rồi, tiếng súng lớn, súng nhỏ thi nhau nổ. Một vài đám cháy bốc lên. Rõ ràng, Hà Nội lúc này đang có biến… ".

        Với những tư liệu trên (ghi theo lời kể của đồng chí Trường Chinh ngày 15-7-1987 và biên bản cuộc toạ đàm ngày 10-8-1988, hiện còn lưu trữ), có thể khẳng định, Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng) đã được triệu tập từ sớm, ít nhất giấy triệu tập cũng đã được gửi đi trước một tuần và ngày họp cũng đã được ấn định.

        Với tiến trình này, có thể khẳng định thêm, mục đích ban đầu của Hội nghị là thảo luận nhận định do đồng chí Trường Chinh khởi thảo, với nội dung chủ yếu là "Nhất định Nhật, Pháp sẽ bắn nhau. Chúng ta phải làm gì để đón bắt thời cơ này?" . Tiếng súng đảo chính bùng nổ một cách trùng hợp hồi 20 giờ 45 phút tối ngày 9 tháng 3 giữa lúc hội nghị vừa khai mạc (muộn hơn dự định hai ngày) đã như một cái "đanh đóng cột" chứng minh hùng hồn nhận định vô cùng sáng suốt nhạy bén, kịp thời của Đảng ta. Trong cuộc họp tiếp theo (phải di chuyển địa điểm thêm hai lần nữa), dĩ nhiên hội nghị không bàn đến chuyện Nhật, Pháp sẽ bắn nhau nữa, mà chuyển sang chủ đề "Nhật, Pháp đã bắn nhau rồi đấy" và từ đó thảo luận quyết nghị về những hành động của chúng ta.

        Do nhiều lần chuyển địa điểm, cho nên mãi "đến khoảng 11 giờ trưa ngày 12 tháng 3 năm 1945 hội nghị mới kết thúc trong niềm phấn chấn lạ thường" (tr. 53). Đồng chí Trường Chinh từ Đình Bảng trở về cơ sở cũ ở Vân Nội, bắt tay vào việc hoàn chỉnh bản chỉ thị lịch sử của Thường vụ Trung ương gồm gần 4.000 từ, chứa đựng trong 6 mục: Nhận xét tình hình; Điều kiện mới do tình thế mới nảy sinh; Chiến thuật của Đảng thay đổi; Thái độ của ta đối với việc kháng chiến của Pháp và việc lập Mặt trận Dân chủ chống Nhật ở Đông Dương; Những công việc cần kíp; Sẵn sàng hưởng ứng quân Đồng minh" (tr. 55). Bản chỉ thị này đề ngày 12 tháng 3 năm 1945 là thời điểm kết thúc Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, nhưng thực tế đến ngày 14 tháng 3 mới in xong để phát hành.

        Toàn bộ diễn biến và sự ra đời của bản chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta là như vậy. Rất đáng tiếc là, nếu như cuốn sách xuất bản năm 1991 chứa đựng nhiều tư liệu gốc rất đáng tin cậy thì những cuốn xuất bản năm 1995, 2002... lại có khá nhiều sự nhầm lẫn. Đó cũng là điều khó tránh vì thời gian càng lùi xa, các nhân chứng lịch sử càng tuổi cao, sức yếu, dễ quên, dễ nhầm là chuyện rất bình thường. Có điều, sách không viết chính xác thì sẽ kéo theo một loạt bài báo (chủ yếu của thế hệ trẻ) cũng lại viết nhầm lẫn, thậm chí còn kèm theo những bình luận, suy luận không xác đáng. Vì vậy, rất cần phải dày công nghiên cứu để sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ, nhất là đối với những sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:35:48 am

TRAO ĐỔI THÊM VỀ NGÀY THÀNH LẬP CHIẾN KHU TRẦN HƯNG ĐẠO VÀ GIẢI PHÓNG TỈNH LỴ QUẢNG YÊN1

VŨ TRỌNG HOAN       

        Trong cuốn "Chiến khu Trần Hưng Đạo" do Bộ tư lệnh Quân khu 3 chỉ đạo biên soạn và NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 1993, ở phần Lời nói đầu có ghi: "... ngày 8 tháng Sáu năm Ất Dậu (1945) trên đất Đông Triều, Chí Linh đã nổ ra cuộc khởi nghĩa vũ trang và thành lập Đệ Tứ chiến khu Trần Hưng Đạo" và sau đó chú thích như sau: "Chiến khu Trần Hưng Đạo thành lập ngày 8 tháng Sáu năm Ất Dậu (tức ngày 16 tháng 7 năm 1945 dương lịch)". Chúng tôi (tức các tác giả sách) đã thẩm định và được các nhân chứng lịch sử của Chiến khu Trần Hưng Đạo thừa nhận. Những ngày đánh chiếm Uông Bí, Bí Chợ, tỉnh lỵ Quảng Yên đều lấy theo ngày âm lịch… "2.

        Qua nghiên cứu một số ấn phẩm lịch sử do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và các địa phương trên địa bàn Quân khu 3 xuất bản, bài viết này xin được trao đổi một số ý kiến như sau:

        Như chúng ta đã biết, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ họp từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 4 năm 1945 tại Hiệp Hoà (Bắc Giang), do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì, đã quyết định xây dựng 7 chiến khu trong cả nước, trong đó có Chiến khu Trần Hưng Đạo. Sau đó, đồng chí Lê Thanh Nghị-Xứ ủy viên, ủy viên Thường vụ ủy ban quân sự Bắc Kỳ, được phân công chỉ đạo việc thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo.

        Thực hiện chủ trương của Trung ương, Hội nghị Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hải Dương họp tại Đông Thôn (Thanh Miện) cuối tháng 4 năm 1945 đã quyết định xây dựng căn cứ chống Nhật tại vùng rừng núi Chí Linh-Đông Triều và giao cho hai tỉnh ủy viên là Trần Cung và Hải Thanh đang phụ trách phong trào hai huyện này trực tiếp xúc tiến công tác xây dựng căn cứ, sau đó tăng cường thêm đồng chí Nguyễn Bình và một số đồng chí khác.

        Ngày thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo được xác định là ngày đánh thắng bốn đồn địch (Đông Triều, Chí Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê), diễn biến tóm tắt của sự kiện này như sau:

        Sau thời gian củng cố tổ chức Đảng, phát động phong trào quần chúng, chuẩn bị lực lượng vũ trang, tối ngày 7 tháng 6 năm 1945, tại nhà hội viên cứu quốc Nguyễn Kim Ngọc (làng Đạm Thủy, trong khu căn cứ Đông Triều-Chí Linh), ban lãnh đạo khu căn cứ họp bàn bổ sung lần cuối nhiệm vụ đánh chiếm các vị trí của địch cho từng bộ phận:

        - Đồng chí Nguyễn Bình phụ trách lực lượng du kích đánh đồn Đông Triều, phối hợp có lực lượng làm nội ứng của Nguyễn Hiền.

        - Đồng chí Hải Thanh chỉ huy lực lượng du kích phối hợp với quân phỉ của Lương Đại Bân đánh đồn Chí Linh.

        - Đồng chí Trần Cung, có lực lượng của Nguyễn Văn Đài phối hợp, đánh đồn Tràng Bạch và tước vũ khí của bọn chủ mỏ Mạo Khê.

        - Sư Tuệ sử dụng lực lượng Việt Minh tại chỗ tước vũ khí của quân địch ở phủ lỵ Kinh Môn.

        Đêm 7 rạng ngày 8 tháng 6 năm 1945 đã diễn ra 4 trận đánh vào các vị trí Đông Triều, Chi Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê. Do làm tốt công tác địch vận, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng du kích, lực lượng làm nội ứng và quần chúng nhân dân, nên ở cả bốn vị trí, quân địch đều nhanh chóng đầu hàng và giao nộp toàn bộ vũ khí cho quân cách mạng. Chỉ có nhiệm vụ tước vũ khí ở phủ Kinh Môn là chưa thực hiện được (ngày 10 tháng 6 năm 1945 ta mới hoàn thành được nhiệm vụ này).

        Ngày 9 tháng 6 năm 1945 trong cuộc mít tinh được tổ chức tại sân đình Hổ Lao, đồng chí Trần Cung, thay mặt ban lãnh đạo khởi nghĩa, tuyên bố thành lập chiến khu kháng chiến. Đồng chí Nguyễn Bình, đại tiện ủy ban quân sự cách mạng, long trọng đọc 7 điều kỷ luật của du kích cách mạng quân. Với thành tích đánh thắng bốn đồn địch, ngày 8 tháng 6 năm 1945 được lấy làm ngày chính thức ra đời Chiến khu Trần Hưng Đạo.

        Về mốc thời gian trên, sách "Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam", tập 1 (NXB QĐND, H, 1994) và lịch sử các địa phương đều xác định là ngày 8 tháng 6 nhưng không chú thích như cuốn "Chiến khu Trần Hưng Đạo" của Quân khu 3, nên độc giả vẫn hiểu đó là ngày dương lịch.

----------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-2002.

        2. Bộ Tư lệnh Quân khu 3. Chiến khu Trần Hưng Đạo, NXB QĐND, Hà Nội, 1993, tr. 5.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:36:29 am

        Do âm lịch và dương lịch chênh nhau 38 ngày (theo cuốn “Lịch thế kỷ XX” do Bộ Văn hóa Thông tin xuất bản năm 1992) nên khi đổi từ ngày âm lịch sang ngày dương lịch, đã nảy sinh một số ý kiến khác nhau:

        - Có ý kiến cho rằng: Nếu coi việc chính thức ra đời Chiến khu Trần Hưng Đạo có tác động mạnh mẽ nhiều mặt đến việc xây dựng phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng trên địa bàn Chiến khu giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng Tháng Tám như các cuốn sử đã nêu, thì có lẽ ngày 8 tháng Sáu âm lịch (16-7 dương lịch) là hơi muộn vì một khoảng thời gian ngắn như vậy khó có thể tiến hành được hàng loạt công việc, đặc biệt là xây dựng, phát triển các lực lượng vũ trang đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, dù rằng ở Chiến khu và một vài địa phương ta đã có một số đội du kích. Về vấn đề này, theo chúng tôi có thể cắt nghĩa được, bởi trên thực tế, việc xúc tiến thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo đã được thực hiện ngay sau Hội nghị Tỉnh ủy lâm thời Hải Dương. Quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng, ta đã phát triển được nhiều tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng cách mạng và nhiều đội du kích làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh ở các địa phương, nên khi tuyên bố chính thức thành lập Chiến khu, ta đã có sẵn lực lượng trong tay để hành động. Như vậy, về mặt thời gian, ta vẫn hoàn toàn có thể bảo đảm việc tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng, đáp ứng yêu cầu của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

        - Về việc đánh chiếm bốn đồn đích trong đêm 7 rạng ngày 8 mà quân Nhật không có phản ứng gì đáng kể… Theo chúng tôi, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, khi mà phát xít Đức đã đầu hàng Hồng quân Liên Xô, quân Nhật bị thua đau ở mặt trận Thái Bình Dương, nên ở Đông Dương, binh lính Nhật bị tác động tinh thần rất mạnh. Trên chiến trường Việt Nam, do thiếu quân, nhiều nơi chúng đã phải co về cố thủ trong các thành phố, thị xã. Nhiều đồn bốt trước đây do quân Nhật chiếm đóng, nay hoàn toàn do binh lính người Việt canh giữ. Số binh lính này rất hoang mang dao động, nên khi được ta tuyên truyền vận động, đã sẵn sàng ngả theo cách mạng. Hơn nữa từ sau ngày 15 tháng 5 năm 1945, Việt Nam Giải phóng quân được thành lập, đã mở rộng hoạt động ra các khu vực xung quanh Bắc Ninh, Bắc Giang-một địa bàn gần sát với Chiến khu Trần Hưng Đạo và tiến xuống các tỉnh phía Nam. Ở Chiến khu Quang Trung, nhiều đội du kích ra đời đang tích cực hoạt động đánh địch ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá. Do thế và lực của ta đã mạnh, nên ở nhiều nơi, trước các hoạt động ráo riết của Việt Minh, quân Nhật chỉ án binh bất động hoặc phản ứng nhỏ giọt, khả năng ứng cứu giải toả các đồn binh khi bị ta tấn công rất hạn chế. Việc ta đánh bốn đồn binh ngày 8 tháng Sáu (trước khi nổ ra Tổng khởi nghĩa khoảng 1 tháng) hoàn toàn có thể thực hiện được bởi các đồn này đều do binh lính người Việt canh giữ, số binh lính này tinh thần đã rất hoang mang rêu rã, lại được ta vận động giác ngộ từ trước (đồn Đông Triều lớn nhất thì đồn trưởng Nguyễn Hiền là nội ứng của ta), nên chẳng những lính địch không chống cự mà còn phối hợp, giúp đỡ quân du kích chiếm đồn và thu vũ khí. Sở dĩ nêu vấn đề này vì có ý kiến cho rằng lúc đó quân địch còn đang mạnh, chúng sẽ phản ứng quyết liệt và việc đánh bốn đồn của ta không diễn ra dễ dàng như vậy.

        Gần đây, theo tài liệu của thân nhân đồng chí Đại tá Nguyễn Huy (nguyên là Chánh Văn phòng của Đệ tứ chiến khu trước đây) thì ngày 8 tháng Sáu năm 1945 là ngày âm lịch vì lúc đó mọi công văn của Chiến khu do đồng chí phụ trách đều ghi và sử dụng theo ngày âm lịch. Cũng theo đồng chí Huy thì hôm thành lập Đệ tứ chiến khu là ngày phiên chợ Bác Mã, mà ngày 8 tháng Sáu (âm lịch) mới là ngày phiên chợ.

        Trong hội thảo ở Chí Linh, đồng chí Trần Cung cũng cho biết sau khi đánh đồn Thiên (đồn Chí Linh) ít lâu, đồng chí đã xử một số tên phản động ở chợ Ngát. Các đồng chí ở Ban chỉ huy quân sự huyện Chí Linh cho biết thân nhân của những người bị xử hiện vẫn làm giỗ vào ngày 15 tháng Sáu (ârn lịch).

        Như vậy, ngày thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo là ngày 8 tháng Sáu âm lịch (tức 16-7-1945 dương lịch) là hoàn toàn có cơ sở khoa học.

        - Về ngày giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên, sự kiện này có thể được tóm tắt như sau: Chiều ngày 20 tháng 7 năm 1945, sau khi các thuyền của ta đã tập kết lực lượng chiến đấu ở bãi sú (bên Phụng Cốc-Hà Nam) sẵn sàng đợi lệnh thì được tin có 4 thanh niên Đại Việt từ Hải Phòng sang, bọn này vào dinh Tỉnh trưởng dùng súng uy hiếp định ép Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thanh bàn giao chính quyền cho chúng. Trước tình hình đó, Nguyễn Bình cùng một số đồng chí vào dinh Tỉnh trưởng thuyết phục đám thanh niên Đại Việt, buộc chúng phải rút ra ngoài, đồng thời quyết định đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên ngay trong đêm 20 tháng 7.

        19 giờ ngày 20 tháng 7, các đơn vị ta đổ bộ lên phố Chợ rồi chia làm hai hướng nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu được giao. Tiểu đội Ký Con tiến về phía phà Rừng, các đơn vị khác tiến vào đồn Bảo an binh. Trong thị xã, tổ trinh sát do các đồng chí Quách Lĩnh, Hùng Phong chỉ huy, cắt đứt dây điện thoại của địch liên lạc với Hải Phòng, Hòn Gai, rồi tiếp cận kho bạc. Nguyễn Bình cùng Sơn Vi vào đồn gặp viên quan một tên là Tiếp, yêu cầu hắn ra lệnh cho binh lính hạ vũ khí đầu hàng quân cách mạng. Cùng thời gian này, Tiểu đội Ký Con tiến vào huyện Yên Hưng tước khí giới của bọn lính cơ. Như vậy, trận đánh tỉnh lỵ Quảng Yên và huyện Yên Hưng diễn ra nhanh gọn ngay trong đêm ngày 20 tháng 7 năm 1945. Trận này ta thu được 500 khẩu súng các loại và nhiều đạn dược, quân trang, quân dụng.

        Nếu mốc thời gian (20-7) là ngày âm lịch thì khi đổi ra dương lịch đã là ngày 27 tháng 8 năm 1945, khi đó hầu hết các tỉnh thuộc Chiến khu Trần Hưng Đạo và trong cả nước đã giành được chính quyền, như vậy sẽ không phù hợp với nhận đinh tỉnh lỵ Quảng Yên "là tỉnh lỵ đầu tiên mà quân cách mạng đã chiếm được trong thời kỳ tiền khởi nghĩa": đã “tạo điều kiện thuận lợi phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang và đẩy mạnh phong trào cách mạng tiến lên giành thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở vùng duyên hải Đông Bắc" mà lịch sử các địa phương và chính các tác giả cuốn “Chiến khu Trần Hưng Đạo" đã đưa ra.

        Do vậy theo chúng tôi, chỉ có ngày 8 tháng Sáu đánh chiếm bốn đồn (Đông Triều, Chí Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê) là ngày âm lịch, còn ngày giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên (20-7) lại là ngày dương lịch.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:41:09 am

MẤY Ý KIẾN NHỎ GÓP VÀO BÀI TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA BÁC HỒ TRONG TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP1

TRỊNH VƯƠNG HỒNG       

        Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945 là một văn kiện lịch sử vô giá, một áng vặn chương bất hủ. Đã từ lâu, bản Tuyên ngôn nổi tiếng đó đã được giới chuyên môn trong và ngoài nước, ở các góc độ khác nhau, nghiên cứu toàn diện và sâu sắc. Riêng lời mở đầu bản Tuyên ngôn-câu trích trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, theo chúng tôi biết, cũng đã có nhiều công trình đề cập tới2.

        Gần đây, tác giả Trần Cư trong bài Tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ trong Tuyên ngôn độc lập, đăng trên Nghiên cứu Lịch sử quân sự, số 18, tháng 9 năm 1985, đã đề cập trở lại vấn đề trên. Mặc dầu tiêu đề bài như trên, song tác giả chỉ khoanh vào phạm vi "một đối tượng đặc biệt” Bác Hồ đã nhằm khi viết Tuyên ngôn độc lập3.

        Nghiên cứu, cho dù chỉ ở vài khía cạnh nào đó, về bản Tuyên ngôn do vị lãnh tụ thiên tài và kính yêu của nhân dân ta thảo ra là rất đáng hoan nghênh và trân trọng. Song, ở một số khía cạnh, nhất là trong cách lập luận và lý giải việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ, của bài nói trên, chúng tôi thấy có điểm cần phải bàn thêm.

        Với động cơ tha thiết cùng tác giả trao đổi về một số khía cạnh mà bài viết đã nêu lên để đi đến một cách hiểu đúng, thống nhất, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ, mong được sự đồng cảm của tác giả.

        Như đã biết, vấn đề mà tác giả chú tâm tìm hiểu, cũng được một số nhà nghiên cứu nước ngoài đề cập với những cách giải khác nhau.

        Phi-líp Đơ-vi-le, trong Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, viết:

        “Bản Tuyên ngôn kỳ lạ mở đầu bằng một câu trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và trích dẫn Tuyên ngôn nhân quyền Pháp năm 1791. Song tiếp theo lời dạo đầu đầy hứa hẹn như vậy là bản cáo trạng mạnh mẽ bất công đối với chế độ thuộc địa của Pháp và tuyên bố sự tan vỡ của nó...

        Bản Tuyên ngôn không hề nhắc gì về Liên Xô.

        Việt Minh đã giành được chính quyền nhưng họ còn phải đưa cách mạng đến thắng lợi… Đối với họ lúc bấy giờ là bảo toàn những thắng lợi đó khi quân Đồng minh đến đấy; hơn nữa những thắng lợi này có lẽ cũng còn mong manh khi những lãnh tụ của nó trên thực tế cũng còn xa lạ đối với dân chúng Việt Nam"4.

        Thật ra, ngay từ giữa tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng ta họp ở Tân Trào đã chỉ ra "mâu thuẫn giữa hai phe đồng minh Anh-Pháp và Mỹ-Trung Quốc về vấn đề Đông Dương”5 và đề ra chủ trương đối phó với quân Đồng minh khi chúng kéo vào nước ta6. Vậy nên, việc trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp không phải là một thủ thuật, càng không phải là để lấy lòng quân Đồng minh sẽ kéo đến khi chính quyền của ta còn non trẻ. Đặt vấn đề như Đơ-vi-le là không đúng sự thật.

        Ý kiến của giáo sư Nhật Bản Sin-gô Si-ba-ta cũng khiến chúng ta suy nghĩ. Trong bài Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng, cũng viết: "… Cụ Hồ Chí Minh còn có một đóng góp quan trọng về mặt lý luận và tư tưởng. Người đã đặc biệt làm sâu thêm lý luận về vấn đề dân chủ, quyền dân tộc tự quyết và những quyền dân tộc cơ bản. Trong lĩnh vực này, chúng ta không được xem nhẹ bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Cụ Hồ Chí Minh thảo ra và đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945.

---------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số4-1986.

        2. Xem: Phi-líp Đơ-vi-le: "Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952", Pa-ri, 1952, tr. 143.

        3. Do Trần Cư nhấn mạnh. Kể từ đây, những đoạn trích không có chú thích đều ở bài Tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ trong Tuyên ngôn độc lập, Nghiên cứu lịch sử quân sự, số 18, tháng 9 năm 1985.

        4. Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, Sđd, tr. 143.

        5, 6. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng (1930-1945), H, 1977, tập 3, tr. 413.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:42:06 am

        Những lời trích dẫn trên cho thấy rằng những tư tưởng thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng là tư tưởng của Cụ Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam là sự kế thừa tư tưởng của cuộc cách mạng độc lập ở Mỹ và cuộc cách mạng Pháp (chữ nghiêng trong bản in-TVH) . Tính chất độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã kế thừa những tư tưởng này và mở rộng quyền của con người thành quyền của dân tộc trong nền dân chủ tư sản, quyền lợi của con người, quyền lợi của cá nhân được coi như là cơ sở cho quyền lợi của cách mạng. Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc”7.

        Như chúng tôi đã có dịp trao đổi với ý kiến trên8, Chủ tịch Hồ chí Minh sử dụng Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ cũng như Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp không phải là việc phát huy tư tưởng cách mạng tư sản về quyền con người và mở rộng thành quyền lợi dân tộc. Ở đây chỉ là việc sử dụng một cách tài tình, nhuần nhuyễn các nguyên tắc của cách mạng tư sản để phục vụ cho sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó là một sách lược cách mạng. Tư tưởng về dân tộc và thuộc địa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng của Lê-nin về quyền dân tộc tự quyết mà Người đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn cách mạng và làm cho phong phú thêm.

        Trong bối cảnh nêu trên, việc đặt vấn đề theo hướng của tác giả Trần Cư là rất cần thiết và đáng hoan nghênh. Theo tác giả, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ chính là do nhằm vào "một đối tượng đặc biệt" là đế quốc Mỹ.

        Chúng tôi hoàn toàn nhất trí rằng, khi đưa câu trích Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ vào bản khai sinh của nước Việt Nam mới tuyên bố trước thế giới và đồng bào về nền độc lập của ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhằm nói với nước Mỹ và nhân dân Mỹ. Song quá nhấn mạnh như cách đặt vấn đề của Trần Cư, e có phần khiên cưỡng.

        Hãy đọc những dòng tác giả Trần Cư đặt vấn đề: “Xin lưu ý câu này của Trần Dân Tiên: Cụ Hồ nói "Trong đời Cụ viết đã nhiều nhưng đền bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như thế”9.

        Tôi hiểu là, vẫn lời tác giả, "suốt 30 năm, đối tượng duy nhất Bác nhằm viết là thực dân Pháp. Nhưng đến bây giờ, do tình hình phát triển, đã xuất hiện một đối tượng mới là đế quốc Mỹ.

        … Vậy thì phải tiến công nó, ngay khi viết bản Tuyên ngôn này".

        Và đây là những dòng cuối bài, dường như là cảm hứng của tác giả: "Như vậy là: Rõ ràng trong bản Tuyên ngôn độc lập, ngoài đối tượng khác, Bác Hồ có dụng ý nhằm một đối tượng đặc biệt cần nêu lên lúc bấy giờ: Đế quốc Mỹ.

        Vì nhằm đối tượng như thế, nên Bác đã viết nó như thế. Do đó mà có câu vui sướng: "Cụ Hồ viết đã nhiều nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như thế”.

        Luận điểm của tác giả về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh "tiến công" vào một đối tượng đặc biệt "là đế quốc Mỹ", qua lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập, có nhiều chỗ cần phải bàn cả về nội dung và phương pháp đưa tác giả tới luận điểm. Song, do phạm vi bài viết, chúng tôi xin chỉ trao đổi trên một số khía cạnh.

        Thứ nhất, nếu cho rằng đối tượng duy nhất (chắc tác giả muốn nói là kẻ thù?) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm viết suốt 30 năm trước khi viết Tuyên ngôn độc lập chỉ là thực dân Pháp, thì quả không ổn. Điều này có lẽ miễn phải chứng minh nhiều.

-----------------------
        7. Trích trong Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Sđd , tr. 225-226.

        8. Xem Nghiên cứu Lịch sử, số 144 tháng 5 và 6 năm 1972.

        9. Trần Cư nhấn mạnh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:43:43 am

        Mọi người đều biết rằng, là một nhà hoạt động xuất sắc trong phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản quốc tế từ những thập kỷ đầu của thế kỷ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc, trong đó có đế quốc Mỹ. Qua hoạt động lý luận, đương nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc những dòng mà Các Mác, F.Ăng-ghen và nhất là V.I Lê-nin viết về Mỹ; đặc biệt, qua hoạt động thực tiễn, lại từng ở nước Mỹ, nhận thức của Người về đế quốc Mỹ càng sinh động, cụ thể. Những ngày sống và tận mắt chứng kiến chủ nghĩa đế quốc Bắc Mỹ đã để lại ở Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều ấn tượng đặc biệt sâu sắc như hành hình kiểu Lyn-sơ và hoạt động đầy tội ác của đảng 3K, những cuộc bãi công chống chiến tranh, đòi tăng lương của công nhân Mỹ. Gần chục năm sau, vào năm 1924, các ấn tượng sâu sắc ấy sống lại trong những bài báo có giá trị đặc biệt của Người về các chủ đề trên. Và, năm 1918, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, đã gửi đến Hội nghị Véc-xay bản yêu sách gồm 8 điểm đòi độc lập cho Việt Nam, những yêu cầu khá gần với 14 điểm của Uyn-xơn10 và trong một mức độ nhất định dường như là sự vận dụng cụ thể vào Việt Nam11. Yêu cầu 8 điểm của Nguyễn Ái Quốc không được bọn đế quốc chú ý. Từ những tri thức thực tiễn đến việc nhận thức tính chất giả dối trong 14 điểm của Uyn-xơn đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh dần dần hiểu một cách sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng, như Người đã viết: "...Nhưng sau một thời gian theo dõi nghiên cứu chúng (tức 14 điểm tuyên bố của Uyn-xơn, TVH) tôi nhận thấy rằng "chủ nghĩa Uyn-xơn chỉ là trò bịp lớn", vì vậy "đối với chủ nghĩa đế quốc, ngoài con đường cách mạng đấu tranh đến cùng, không thể có con đường nào khác"12.

        - Bài “Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng" của giáo sư Nhật Bản Sin-gô Si-ba-ta, đăng trong: Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, NXB ST, H, 1971, tập III, tr. 225-226.

        - Phan Ngọc Liên và Trịnh Vương Hồng. Lịch sử nước Mỹ trong tác phẩm của Hồ Chủ tịch, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 144 tháng 5 và 6 năm 1972.

        Tiếp đó, còn có một loạt bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến đế quốc Mỹ. Ví như Người phân tích thái độ phản động của Mỹ đối với nước Nga Xô-viết trẻ tuổi khi cùng với Nhật "đã cho quân đổ bộ lên Vơ-la-đi-vô-xtốc"13, để giúp bọn bạch vệ; về việc Mỹ cùng các nước thắng trận chia chiến lợi phẩm của cuộc chiến tranh thế giới mới do chủ nghĩa đế quốc gây ra mà Mỹ là một phần tử tích cực nhằm tiêu diệt nước Nga Xô-viết và dập tắt phong trào cách mạng thế giới14…

        Xem thế đủ biết không phải suốt 30 năm trước 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ "nhằm một đối tượng" là Pháp.

        Thứ hai, rất thú vị với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ, Trần Cư cho đây là "một đòn" gậy ông đập lưng ông "tuyệt diệu” tuy còn đôi chút băn khoăn bởi suy luận chủ quan của mình. Bỗng "may thay" khi xem Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình, tác giả nghe được lời của chính Pát-ti thú nhận. Chưa tin, Trần Cư cẩn thận xem đi xem lại đến “ba lần". Và, câu của Pát-ti được Trần Cư coi là “một bằng chứng chính xác và hùng hồn cho lập luận" của mình. Nhưng tiếc thay, theo chúng tôi, câu nói của Pát-ti, không hề củng cố, chứ chưa nói là có thể làm cơ sở cho lập luận của tác giả.

        Câu nói của Pát-ti (trong phím đã dẫn) như sau: "Khi nghe thấy dịch câu mở đầu bản Tuyên ngôn là trích trong bản Tuyên ngôn của nước Mỹ thì tôi không còn tin ở tai tôi nửa".

        Pát-ti ngạc nhiên khi nghe lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam lại là một câu trích từ Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Nhưng đó chỉ là về cảm xúc-tức là hiện tượng. Còn nguyên nhân-bản chất của cảm xúc đó, tức là ông ta ngạc nhiên vì lẽ gì thì bản thân câu trên không nói lên điều gì cả. Chúng tôi nghĩ rằng Trần Cư đã cố tình giải thích cảm xúc của Pát-ti theo ý mình, cho rằng với việc trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đích danh, hơn nữa đã "tiến công" một kẻ thù, tiến công một "đối tượng mới" là đế quốc Mỹ.

--------------------
        10. Tổng thống Mỹ.

        11. Theo bài của Sác-lơ Phuốc-ni-ô trong Hồ Chí Minh, Notre Camarade, Éditions Sociales, 1970, tr. 23.

        12. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng biên soạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, H, 1960, tr. 8-9.

        13. Xem bài "Đông Dương và Thái Bình Dương" trong Hồ Chí Minh tuyển tập, Sđd, tr. 37.

        14. Xem Nguyễn Ái Quốc, Lên án chủ nghĩa thực dân, NXB ST, H, 1959, tr. 142.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:45:30 am

        Thật ra, điều này khá phức tạp và tế nhị. Giải thích cho rõ ràng tư tưởng cũng cần tới bao công phu và giấy mực. Nhưng dầu sao, cũng không thể hiểu giản đơn, "thẳng đuột" một chiều như Trần Cư trình bày.

        Như đã biết, dẫu rằng ở phe Đồng minh chống phát-xít, đế quốc Mỹ vẫn là kẻ thù của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp của phong trào giải phóng dân tộc, trong đó có Việt Nam. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ giàu lên và vươn tới địa vị sen đầm quốc tế. Do phải tập trung lực lượng đối phó ở Châu Âu, nên với Việt Nam, chúng đã thông qua Tưởng Giới Thạch để thực hiện chính sách bành trướng. Ngoài đế quốc Pháp, cả Mỹ, Tưởng và Anh đều có những âm mưu riêng đối với Việt Nam. Ngay hồi đó, điều này đã được Đảng ta chỉ rõ qua nhiều nghị quyết của mình. Để tập trung lực lượng đối phó với kẻ thù chính là thực dân Pháp, với quân Đồng minh, Đảng chỉ rõ "tránh xung đột, giao thiệp thân thiện”15, tạo điều kiện cho họ giải giáp phát-xít Nhật và sớm rút ra khỏi nước ta.

        Riêng với Mỹ, ta đã có giao thiệp từ sớm-ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai đang tiếp diễn. Việc ta giúp đỡ Trung úy Sao (Shaw)-phi công Mỹ bị nạn ở Việt Nam16, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thương lượng với phái bộ Đồng minh (tức Mỹ) ở Trung Quốc17… tất cả là sự thực hiện một sách lược có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, chứ hoàn toàn không làm sai lạc việc nhận thức về bản chất chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng và âm mưu xâm lược của chúng ở Đông Dương. Vậy là, trong điều kiện phức tạp trong năm đầu của chính quyền cách mạng non trẻ, chúng ta ra sức trung lập Đồng minh và tìm cách để họ sớm rút khỏi nước ta, tránh bị rơi vào thế "một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh"18.

        Mặt khác, nếu chúng ta lưu ý cuốn sách của Pát-ti "Tại sao Việt Nam?” đặc biệt những dòng trích dịch đăng ngay trong Nghiên cứu Lịch sử quân sự, số 18, chúng ta sẽ càng băn khoăn về lập luận của Trần Cư. Đương nhiên không phải mọi điều Pát-ti viết đều dáng tin cậy, song trong đoạn trích dịch đó, ông ta đã miêu tả tỉ mỉ cuộc tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay buổi chiều "trước ngày độc lập" và những lời của Người, thông qua Pát-ti để chuyển tới Chính phủ Mỹ. Sự miêu tả trên đây của Pát-ti về vấn đề này phù hợp với những tư liệu mà chúng ta đã có.

        Khi chúng tôi đang viết bài này thì có sự kiện Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng tiếp đoàn các nhà kinh doanh Mỹ thăm Việt Nam (tháng 10-1985). Tại cuộc tiếp đó, xuất phát từ bản chất yêu hoà bình và quý trọng tình hữu nghị giữa các dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng cho biết nhân dân ta sẵn sàng đặt quan hệ với các nước khác, kể cả những nước khác ta về chế độ chính trị, miễn là họ thực sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Đó là lập trường nhất quán của ta. Ở thời điểm 1945 cũng vậy. Chính vì thế, khi trả lời đoàn Mỹ về việc lập quan hệ với Việt Nam, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: "Tôi cần nói rõ rằng nhân dân Việt Nam muốn có mối quan hệ nhiều mặt đối với nhân dân Mỹ. Đáng lẽ việc này phải làm từ lâu rồi. Các ông hãy nhớ lại rằng chúng ta có cơ hội để thực hiện điều này từ năm 1945 (chúng tôi nhấn mạnh-TVH). Đó là cơ hội mà các ông đã bỏ lỡ"19. Vấn đề thế là rõ.

        Vậy phải chăng phản ứng của Pát-ti khi nghe lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 là phản ứng mừng vui hoà trộn với những tâm trạng phức tạp khác? Và nếu giả thiết này đúng thì lập luận của Trần Cư quả thực cần được xem lại.

        Thứ ba, ngoài câu nói của Pát-ti được tác giả xem là cơ sở tư liệu quan trọng, quyết định lập luận của mình, thì chúng ta thấy Trần Cư đã khi ông trích cả câu, lúc dẫn từng ý lời của Trần Dân Tiên xem là cứ liệu quan trọng. Trần Cư viết: "Vì nhằm đối tượng là như thế (tức Mỹ-TVH), nên Bác đã viết nó như thế. Do đó mà có câu vui sướng…" (tiếp đó là câu của Trần Dân Tiên như đã biết). Nhưng, không rõ vô tình hay hữu ý, Trần Cư đã bỏ qua những dòng tiếp đó của Trần Dân Tiên-những dòng giải thích hoàn toàn rõ ràng là tại sao "Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng. Cụ Hồ nói trong đời Cụ, Cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy"20. Trần Dân Tiên viết: "Thật vậy, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản yêu cầu gửi cho Hội nghị Véc-xay mà Cụ Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Cụ Hồ đã viết năm 1941. Hơn nữa bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản Tuyên ngôn khác của tiền bối… của bao nhiêu sách báo, truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn tám mươi năm nay… Là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh...

        Là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam…

        Là một trang vẻ vang trong lịch sử Việt Nam. Nó chấm dứt chính thể quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức. Nó mở một kỷ nguyên mới dân chủ cộng hoà"21.

        “Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng"… và "cho đến bây giờ mới viết được bản Tuyên ngôn như vậy" là vì những lẽ đó.

----------------------------------
        15. Văn kiện Đảng, Sđd, tr. 416.

        16. Theo Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Văn học, H , 1970, tr. 100.

        17. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd. tr. 90.

        18. Văn kiện đảng, Sđd, tr. 413.

        19. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nói chuyện với đoàn các nhà kinh doanh Mỹ thăm Việt Nam, xem báo Nhân dân, số 11475, ngày 3 tháng 12 năm 1985.

        20. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Sđd, tr. 109.

        21. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd. tr. 110.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:46:22 am

        Vậy, nên hiểu vấn đề tác giả đặt ra như thế nào?

        Chúng tôi rất nhất trí tiêu chuẩn mà Trần Cư nhắc lại từ sách "Cách viết" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đầu bài báo, lấy đó làm căn cứ suy nghĩ, nghiên cứu. Trần Cư viết: Vấn đề viết cho ai, vào lúc nào là một vấn đề quan trọng, cần phải nắm rõ thì mới hiểu được tại sao Bác đã "viết như thê".

        Ta hãy cùng theo ánh sáng của những lời dạy của Bác Hồ để thử tìm chân lý.

        Theo chỗ chúng tôi hiểu, có thể chưa đầy đủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng "Tuyên ngôn độc lập" Mỹ không dưới ba lần và mỗi lần đều trong những hoàn cảnh và mục đích cụ thể.

        Đoạn trích trong Tuyên ngôn độc lập 1945 là lần thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng Tuyên ngôn độc lập Mỹ-lần thứ nhất khi giới thiệu "Lịch sử kách mệnh Mỹ" trong tài liệu Đường kách mệnh và lần thứ ba vào năm 1964 khi Người trả lời tạp chí Mai-rô-ni-ti Ôp-oăn.

        So sánh đoạn trích của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phần “Lịch sử kách mệnh Mỹ" và trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, chúng ta thấy có sự khác nhau. Cái khác ở đây không phải là lời văn dịch-đoạn trích dịch ở Đường kách mệnh chưa được gọt giũa bằng đoạn trích ở Tuyên ngôn độc lập 1945, nhưng cả hai đều đảm bảo đúng tinh thần của bản Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ. Có chăng, cái khác ở đây chủ yếu là ở liều lượng trích dẫn. Trong Đường kách mệnh, câu trích như sau. "Trời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn sung sướng… Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng phải phá đổ chính phủ ấy đi và gây nên chính phủ khác"22. Sau khi trích dẫn như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích rằng: "Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến kách mệnh, ai đụng đến chính phủ”, nên nhân dân Mỹ bây giờ "vẫn cứ lo tính lách mệnh lần thứ hai"23. Việc trích dẫn và giải thích như vậy về cách mạng Mỹ rất có ý nghĩa với cách mạng Việt Nam lúc đó. Từ việc trích và giải thích như trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định với nhân dân ta rằng chúng ta có quyền sống độc lập tự do, nhưng lại bị thực dân Pháp thống trị, cho nên chúng ta phải đứng lên đánh đuổi chúng. Lời trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ ở đây có hiệu lực một lời kêu gọi, cổ vũ nhân dân ta có ý thức về quyền lợi của mình mà đứng lên đấu tranh cứu nước, cứu nhà.

        Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ trích dẫn câu: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh  phúc"24. Ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại giải thích: "suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do"25. Câu trích đó và tiếp theo là câu trích trong Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp được sử dụng khi nhân dân Việt Nam đã giành được chính quyền, Chúng ta khẳng định với thế giới rằng chúng ta có quyền hưởng và bảo vệ nền độc lập tự do mà nhân dân ta "đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay"26. Hiệu lực của câu trích dẫn và lời giải thích này khẳng đinh về mặt pháp lý là "những lẽ phải không ai chối cãi được"27 đã ghi trong Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp.

------------------------------
        22, 23. Đường kách mệnh, Bị áp bức dân tộc liên hiệp với hội Tuyên truyền bộ ấn hành 1927, phần II, tr. 8.

        24,25,26,27. Hồ Chí Minh tuyển tập, Sđd, tr. 205 và 207.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:47:04 am

        Trong bài trả lời Tạp chí Mai-rô-ri-ti Ôp-oăn do một nhóm nhân sĩ trí thức Mỹ xuất bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam không bao giờ lầm lẫn nhân dân Mỹ yêu chuộng công lý với những chính phủ đã phạm nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam chúng tôi từ mười năm nay. Chính những kẻ đang phá hoại nền độc lập, tự do của dân tộc chúng tôi, cũng là những kẻ đã phản bội bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, trong đó đã nêu cao chân lý "tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng", và nêu cao quyền bất khả xâm phạm của con người: "quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"28. Lời trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ lần này để nói với nhân dân Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khơi dậy trong lòng họ "những truyền thống tốt đẹp", nguyện vọng "muốn sống hoà bình và hữu nghị với các dân tộc khác" để họ đứng lên chống lại bọn cầm quyền Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược gọi là "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam-cuộc chiến tranh bẩn thỉu của Chính phủ Mỹ không những gây tang tóc, đau thương cho nhân dân Việt Nam mà còn làm hao người tốn của của nhân dân Mỹ, bôi nhọ thanh danh nước Mỹ. Cũng qua đó, Người tố cáo giới cầm quyền Mỹ đã phản bội lại lời tuyên bố trịnh trọng của tổ tiên họ trước kia.

        Ba lần nhắc đến Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 trong ba hoàn cảnh lịch sử khác nhau với những đối tượng và mục đích khác nhau, chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm rất vững tinh thần của bản Tuyên ngôn độc lập này, Người đã khéo vận dụng nó trong những điều kiện khác nhau để phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng của dân tộc ta một cách có hiệu quả.

        Từ việc thấm nhuần phương pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sử liệu như vậy, chúng tôi nghĩ rằng cách hiểu của Trần Cư còn có phần khiên cưỡng.

        Còn nhiều khía cạnh khác trong bài của Trần Cư cần được trao đổi. Song, do khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ xin nêu vắn tắt mấy điểm.

        Ví như Trần Cư dẫn đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích (mà tác giả gọi là lời bình) sau khi trích Tuyên ngôn độc lập Mỹ: "Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống sung sướng và quyền tự do" và Trần Cư cho rằng ở tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh "đã vượt xa Giép-phéc-xơn".

        Chúng tôi không nghĩ rằng tất cả những người ở thế hệ sau, thời đại sau đều nhất nhất vượt những người ở thời đại trước. Song nhìn chung, thế hệ sau bao giờ cũng tiên tiến hơn người sống ở thời đại trước. Nếu sự so sánh thường khập khiễng, thì ở đây, sự so sánh của tác giả lại càng khập khiễng hơn. Bởi lẽ, nếu so điều gì đó ở Nguyễn Ái Quốc với Giép-phéc-xơn khi Nguyễn ái Quốc chưa đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, thì còn tạm chấp nhận được. Đằng này, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một người cộng sản nổi tiếng, một đại biểu lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế mà đem so với một Giép-phéc-xơn, dầu tiến bộ đến mấy, cũng là đại biểu của ý thức hệ tư sản, thì thật là... kỳ cục. So với thời đại ông, tư tưởng Giép-phéc-xơn không thể thoát khỏi chính hoàn cảnh lịch sử mà ông sống và quan điểm giai cấp của mình. Mặt khác, chúng ta không nên quên lời dạy của Lênin về tính hạn chế của các giáo lý tư sản: "Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác, qua những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào đó có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng… bị người khác lừa dối và tự lừa dối mình về chính trị”29.

        Xin nêu một ví dụ khác. Sau khi phân tích nhiều khía cạnh cho là lý thú của những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích các câu trích, Trần Cư cho đây là "một thứ" "uy-mua" rất phớt ăng-lê, cộng với cái vẻ "i-rô-ni" rất Pháp, cả hai trộn lại thành ra cái trào lộng rất Hồ Chí Minh, mà cũng rất Việt Nam" (chúng tôi nhấn mạnh-TVH).

        Điều này thuộc một lĩnh vực khác, tôi ít am hiểu, không dám bàn ở đây, chỉ xin nêu để tác giả xem lại.

        Tất nhiên, trong quế trình bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tiếp thu những tinh hoa của nền văn hoá thế giới. Song từ đó mà đưa ra hằng đẳng thức: Uy-mua Anh + (cộng, trộn) I-rô-ni Pháp = ( thành ra) cái trào lộng rất Hồ Chí Minh, thì thiển nghĩ không còn gì liều hơn. Chẳng lẽ yếu tố văn hoá dân tộc không là một thành phần cơ bản trong việc hình thành phẩm chất văn hoá ở một lãnh tụ thiên tài như Chủ tịch Hồ Chí Minh...

        Nếu ví Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngôi sao sáng thì cũng có thể nói ở thời điểm 1945-1946, khi đất nước đầy những hiểm nghèo với những mâu thuẫn đan chéo, phức tạp, những kẻ thù bên trong và kẻ thù từ ngoài đến, ngôi sao ấy đã bừng lên sáng ngời. Người đã cùng Đảng ta dắt dẫn nhân dân vượt mọi thác ghềnh giành thắng lợi; đặc biệt đối sách với các đế quốc, trong đó có Mỹ và tay sai của Mỹ là Tưởng Giới Thạch, được xem "như một mẫu mực tuyệt vời về sách lược Lê-nin-nit"(30).

        Và như thế, đề tài mà Trần Cư nêu ra, mới chỉ được trình bày và trao đổi chưa phải là rộng rãi trên một vài khía cạnh. Rồi đây, cũng có thể sẽ có những ý kiến chuẩn xác và sâu sắc hơn. Tôi không dám chắc những điều trao đổi với tác giả, tất thảy đều là đúng, chỉ xin nêu một số cứ liệu và đôi ba ý kiến để chúng ta cùng suy nghĩ về "Tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ trong Tuyên ngôn độc lập", sao cho thấu hiểu được chân xác một trong những tác phẩm vĩ đại của Người. Bởi chính sinh thời Người đã dạy, đại ý: khen mà không đúng chưa hẳn đã có ích.

-----------------
        28. Hồ Chí Minh. Về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, NXB ST, H, 1967, tr. 41.

        29. V.I. Lê-nin: Mác-Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, NXB Tiến bộ. Mát-xcơ-va, 1976 (bản tiếng Việt), tr. 60

        30. Lê Duẩn. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vi độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, NXB ST, H, 1979, tr. 31.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 12:52:36 am

HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐÃ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?
TA CÓ THỔI PHỒNG HAY BÓP MÉO SỰ THẬT KHÔNG?
1

VĂN TẠO       

        Tôi được Viện Lịch sử quân sự Việt Nam mời viết tập IX bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, về thời kỳ "Vận động Cách mạng Tháng Tám". Mừng vì trong lòng đã ấp ủ từ lâu một mong muốn làm rõ vấn đề là: Vai trò của lực lượng quân sự trong Cách mạng Tháng Tám. Cũng bởi có người coi Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra một cách "hoà bình", "ít đổ máu' nên vai trò của hoạt động vũ trang là không đáng kể.

        Nhưng lúc đầu cũng e rằng "lực bất tòng tâm" vì tuổi đã già, lại không đi sưu tầm được thêm tài liệu. Chỉ nói tài liệu ở trong nước chứ chưa nói tới khối lượng tài liệu đồ sộ ở nước ngoài như ở Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc... mà tôi không có điều kiện tiếp cận được. Nhưng cũng phần nào bớt được ngại ngần khi thấy các nhà sử học nước ngoài đã có nhiều công trình viết về thời kỳ này. Sâu sắc nhất là hai công trình xuất bản gần đây: một của Đavít Ma (David Marr), Vietnam 1945-The Quest for Power, NXB Đại học California, Berkeley, 1995 (Việt Nam 1945-Sự tìm kiếm quyền lực); và hai là của Stein Tonnesson, The Vietnamese Revolution of 1945-Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, NXB Sage-London-New Delhi, 1991 (Cách mạng Việt Nam năm 1945-Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh).

        Các công trình lớn này đã phần nào giúp tôi có thêm tư liệu và có được những quan điểm mới trong việc nhìn nhận một số sự kiện lịch sử, nhất là nhìn từ góc độ quốc tế của các sự kiện đó.

        Nhưng riêng về quân sự thì quan điểm giữa tôi và Xten Tôn-nét-xơn (S. Tonnesson) lại có chỗ khác nhau.

        Trong Lời giới thiệu của công trình kể trên, mục Giải thích Cách mạng Tháng Tám, Xten Tôn-nét-xơn viết: "Giống như nhiều truyền thuyết, câu chuyện về cuộc Cách mạng Tháng Tám chứa đựng khá nhiều sự thật và do đó có thể chấp nhận như một lý thuyết, nhưng nhiều sự việc đã bị bóp méo, cường điệu hoặc bỏ qua. Vai trò của Chính phủ toàn quốc tiền cách mạng (VT gạch dưới) do học giả được kính trọng Trần Trọng Kim đứng đầu, đã bị xuyên tạc… Khối lượng đấu tranh chống người Nhật đều đã được thổi phồng"2…

        Về vấn đề Chính phủ Trần Trọng Kim có thể được coi là chính phủ "tiền cách mạng" hay không sẽ xin bàn ở chuyên đề khác. Ở đây chỉ xin tập trung vào vấn đề: Hoạt động của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Công trình của Xten Tôn-nét-xơn, ngoài nhận xét kể trên còn có chỗ tác giả trích dẫn và phê bình một vài cuốn sử Việt Nam viết về thời kỳ Cách mạng Tháng Tám là đã miêu tả quá chủ quan và sơ sài các trận đánh Nhật, không nói rõ "quân số vũ khí của hai bên, địa danh, địa hình chiến trường, cuộc chiến đấu diễn ra cụ thể như thế nào… mà chỉ thấy nói một cách chung chung: tấn công… đánh đuổi… rồi chiến thắng… ?".

        Điều đó tôi thừa nhận là có thực. Ngay cả tháng 8 năm 1997 vừa qua, một bài tường thuật ngắn của một tác giả, in trên báo Hà Nội mới , vẫn còn viết là ở Hà Đông có một trận đánh Nhật thời kỳ đó, ta đã tiêu diệt "một trung đội Nhật"? Số lượng quân Nhật bị tiêu diệt này là không có thực trong lịch sử.

        Chính vì vậy mà khoa học lịch sử yêu cầu chúng ta phải xác minh tư liệu và không được chọn dùng một cách tuỳ tiện, thậm chỉ dẫn sai tài liệu theo ý muốn chủ quan của mình. Nhưng chính Xten Tôn-nét-xơn trong khi góp ý kiến với chúng ta như trên, tác giả cũng lại thiếu thận trọng và thiếu chính xác khi nói về một số sự kiện lịch sử quân sự của ta. Không những tác giả không coi trọng những cuộc chiến đấu chống Nhật-Pháp và chống quân đội của chính quyền bù nhìn tay sai của chúng ở các địa phương, mà còn vô tình hay cố ý dẫn ra và nhận định sai lầm về một số cuộc chiến đấu mà diễn biến đã được tường thuật khá rõ ràng và chính xác. Cụ thể như hai chiến thắng đầu tiên của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là hạ hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.

------------------------
        1. Tạp chí LSQS số4-1998.

        2. Xten Tôn-nét-xơn. The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, (Cách mạng Việt Nam năm 1945, Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh), NXB Sage-London-New Delhi, 1991, tr. 2.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:37 pm

        Hai cuộc hạ đồn này đã đạt được thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị, đã được người chỉ huy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết lại một cách cẩn trọng và đầy đủ trong công trình Từ nhân dân mà ra như chúng ta đã biết. Nay lại được tác giả tường thuật hoàn toàn sai sự thực như sau:

        “Ngày 22 tháng 12 năm 1944 được coi là ngày khai sinh chính thức của quân đội, sau này được gọi là Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Một vài cuộc tiến công táo bạo tiếp theo: Trong đêm giữa 25 và 26-12 (tức đêm tiến công đồn Phai Khắt-VT), một viên cai người Pháp bị dùng mưu bắt và 15 binh sĩ của anh ta bị cắt cổ. Ngày 4 tháng 1, một cuộc tấn công của 200 "phiến loạn" vào một đồn binh khác thất bại3...

        Loại trừ cách dùng khái niệm mà chúng ta không thể chấp nhận được khi gọi các đội quân cách mạng của chúng ta là "quân phiến loạn" vì theo quan niệm của tác giả, cứ ai chống lại chính quyền chính thống đương thời đều bị coi là "phiến loạn"-chỉ bàn về sự kiện lịch sử đã được tường thuật kể trên thì sai lầm ở chỗ nào:

        Hai cuộc chiến đấu ở Phai Khắt, Nà Ngần sau khi thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đối với lực lượng vũ trang ta lúc đó là rất có ý nghĩa, vì là nó mở đầu cho hoạt động của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vừa mới ra đời. Cuộc chiến đấu diễn ra trong tình hình quân số mới được tập hợp lại từ nhiều nguồn, vũ khí thì ít ỏi, thô sơ lại cần phải thực hiện quyết định của lãnh tụ Hồ Chí Minh khi khai sinh ra đoàn quân này là: "Trận đầu ra quân nhất định phải thắng".

        Về vũ khí, như đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thuật lại: "Lực lượng của ta trong thời kỳ trứng nước này còn rất mỏng manh. Vũ khí đã thiếu, đạn dược còn thiếu hơn. Mỗi khẩu súng trường trung bình chỉ có 20 viên đạn. Đánh một hai trận là sẽ bắn đến viên đạn cuối cùng"4...

        Do đó, phương thức tác chiến phải là du kích chiến: phục kích, tập kích…

        Địa bàn hoạt động thì luận chứng khả thi phải là:

        - Nơi đồn giặc đóng có cơ sở quần chúng cách mạng hỗ trợ. Điều cần thiết là phải chuẩn bị kế hoạch cho nhân dân đối phó với sự khủng bố trả thù của địch.

        - Phải trinh sát kỹ lưỡng, nắm chắc được địch tình, nếu có nội ứng càng tốt.

        - Mục tiêu là diệt đồn, thu vũ khí, binh vận (chỉ tiêu diệt kẻ ngoan cố chống đối).

        Một đội quân cách mạng, trước khi ra quân đã có chủ trương cẩn trọng và nhân đạo như vậy, sao lại có thể "cắt cổ 15 binh sĩ người Việt" được?

        Còn diễn biến của trận tập kích thì:

        Phía địch có 17 lính và 1 cai. Đồn trưởng là một tên Pháp đã đi ngựa lên châu, có khả năng quay trở lại lúc ta công đồn. Phía ta có khoảng 50 người chia làm 3 toán nhập đồn với giấy tờ giả trót lọt và cuộc chiến diễn ra nhanh chóng.

        Các chiến sĩ ta đột nhập đồn nhanh với mưu lược như vậy khiến 17 lính và 1 cai bị bất ngờ không kịp kháng cự. Tất cả đã đầu hàng. Giữa lúc tổ canh gác trên đường Nguyên Bình-Phai Khắt, cách đồn khoảng 3 cây số, chạy về báo tin là tên đồn trưởng đang trên đường về. Du kích quân khống chế bọn đã bị bắt ở sau đồn, bố trí phục kích chờ địch. Lệnh là không được nổ súng khi thấy chưa cần thiết, nhưng khi tên đồn trưởng đủng đỉnh cưỡi con ngựa hồng tiến vào thì do lòng căm thù giặc, một chiến sĩ ta đã nổ súng kết liễu đời y. Sự việc đáng tiếc này diễn ra ngoài ý muốn của chỉ huy vì nếu bắt sống được dể làm công tác địch vận thì tốt hơn.

        Với số gần hai chục tù binh đó, một số ít được chọn để bổ sung vào đội quân giải phóng. Số còn lại bị giữ lại vài ngày để phong toả tin tức rồi phóng thích5.

        Với sự tường thuật như trên của người trực tiếp chỉ huy trận đánh thì "sai số" có thể coi là tối thiểu. Sao lại có thể như tường thuật kể trên của Xten Tôn-nét-xơn được?

        Đây là một sự kiện đã quá rõ ràng và có tư liệu trực tiếp là cuốn Từ nhân dân mà ra của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được tác giả dẫn nhiều lần, là một trong những nguồn xuất xứ tư liệu quan trọng. Phải chăng do tác giả vốn coi nhẹ đấu tranh vũ trang của cuộc cách mạng này nên đã bị sai sót như vậy?

----------------------------
        3. Xten Tôn-nét-xơn: Sđd..., Chương IV: "Các kế hoạch xung đột", mục "Kế hoạch khởi nghĩa", tr. 179.

        4. Võ Nguyên Giáp. Từ nhân dân mà ra, NXB QĐND, Hà Nội, 1964, tr. 146.

        5. Võ Nguyên Giáp. Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 153.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:57 pm

        Dẫn ra một vài tư liệu, sự kiện kể trên để tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau về những thuận lợi và khó khăn của chúng ta, chứ không phải từ đó mà chúng tôi đánh giá thấp sự cống hiến của tác giả đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ này.

        Điều cần thiết dưới đây là tôi muốn trình bày vắn tắt nhận thức của tôi về hoạt động quân sự của chúng ta trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Theo tài liệu tôi vừa nhận được do Giáo sư Phu-tu-ra Mô-tô (Phutura Moto) cung cấp thì trong cả cuộc chiến ở Đông Dương phía Nhật Bản chỉ bị chết có khoảng 1.500 người. Lịch sử còn ghi lại những trận chiến đấu chống Nhật của ta, đáng kể như trận hạ đồn Tam Đảo mà dư luận phương Tây đánh giá khá cao, ta cũng chỉ diệt được có 7 quân nhân Nhật Bản và bắt 2. Các cuộc đánh Nhật ở các địa phương nhiều lắm cũng chỉ diệt 3-5 tên. Có địa phương lại quan tâm bắt sống Nhật, nếu có điều kiện, hơn là tiêu diệt họ, như trận du kích Lai Khê, Kim Thành, Hải Dương dùng mưu bắt được 4 lính Nhật trông coi cầu Lai Vu rồi giam giữ ở Hải Dương cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công đã trao lại cho phía Nhật.

        Do chủ trương nhân đạo như vậy nên thời kỳ này đã có khoảng 450 quân Nhật chạy sang hàng ngũ Việt Minh. Một số đã có đóng góp nhất định vào cuộc chiến đấu chống Pháp sau này ở Việt Nam.

        Nhưng, không thể chỉ căn cứ vào con số quân nhân Nhật Bản bị tiêu diệt trong hơn 5 năm (1940-1945) ít hay nhiều mà đánh giá thấp hoặc bỏ qua đi không kể đến những hoạt động quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.

        Bởi vì trong quá trình vận động Cách mạng Tháng Tám (1930-1945), đối tượng đấu tranh quân sự của cách mạng Việt Nam không chỉ là Nhật mà là luôn thay đổi theo tình thế. Từ chỗ đối tượng đấu tranh là Pháp-Nhật (6-1940 đến 2-1943), đến Nhật-Pháp (2-1943dế  9-3-1945), rồi từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 mới chỉ còn phát xít Nhật và tay sai.

        Khẩu hiệu đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng từ “đánh Pháp đuổi Nhật” đến "đánh đổ phát xít Nhật-Pháp" đến "đánh đổ phát xít Nhật và tay sai". Như vậy, hoạt động quân sự của quân và dân Việt Nam không thể chỉ bằng vào các cuộc chiến đấu chống Nhật mà phải là bằng vào cả quá trình đấu tranh chống lại ba kẻ thù Nhật, Pháp và tay sai của chúng để đánh giá. Hơn nữa, chủ trương chung của cách mạng là "hy sinh xương máu, chiến đấu để giành cho kỳ được độc lập, tự do" nhưng lại "tiết kiệm xương máu” trong những điều kiện có thể… Cho nên phải nhìn hoạt động quân sự đó một cách khách quan và toàn diện.

        Hoạt động quân sự đó nhằm:

        1. Tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, khống chế, uy hiếp, lôi kéo, cải hoá địch ở địa phương (từ những lực lượng thấp nhất là tuần đinh, lính dõng, xã đoàn, tổng đoàn phản động) đi đến chiến đấu (như đột kích diệt đồn, phục kích địch đi tuần tiễu khủng bố, truy kích địch chạy trốn, đến tao ngộ chiến, trận địa chiến) đến khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa.

        2. Xây dựng lực lượng quân đội từ nhỏ đến lớn, từ tự vệ địa phương, tự vệ thoát ly đến quân du kích, đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân… Xây dựng và phát triển qua luyện tập và chiến đấu, chiến đấu từ nhỏ đến lớn để xây dựng các đơn vị từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao.

        3. Xây dựng địa bàn hoạt động quân sự từ thôn làng đến lập các căn cứ địa, khu du kích đến các chiến khu, khu giải phóng. Tác chiến với mọi hình thức có thể để thu chiến lợi phẩm trang bị cho quân đội, tăng thêm quân số và củng cố, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng khu căn cứ, khu giải phóng...

        4. Hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo nên chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang và tạo nên nguồn bổ sung dồi dào cho các lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương. Ngay hoạt động của lực lượng vũ trang cũng còn có lúc phải "chính trị trọng hơn quân sự" rồi mới tiến lên "chính trị và quân sự đi đôi"…

        5. Vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng nhằm xây dựng nênQuân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh cho cả hiện tại và tương lai, như trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mà Hồ Chí Minh đã đề ra.

        Đó là các nội dung cơ bản của hoạt động quân sự thời kỳ này, trong đó đấu tranh quân sự, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch kể cả Nhật-Pháp và tay sai của chúng) là quan trọng. Nhưng đó cũng chỉ là một trong nhiều hoạt động quân sự khác của cách mạng.

        Từ xây dựng lực lượng và xây dựng địa bàn hoạt động đến khởi nghĩa địa phương, khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa; từ làng xã đến tổng, huyện, tỉnh và Trung ương… không đâu không có hoạt động của lực lượng quân sự bao gồm tự vệ địa phương, du kích bán thoát ly, du kích thoát ly đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân)... mà lại có thể giành được thắng lợi, xây dựng được chính quyền.

        Có nơi dù không phải nổ súng tiêu diệt một tên địch nào thì vai trò của lực lượng vũ trang cũng vẫn rất quan trọng. Không có nó không thể khống chế lực lượng phản động của địch ở địa phương, kiềm chế lực lượng vũ trang của chúng, để phong trào quần chúng tiến lên giành và giữ được chính quyền.

        Với nội dung ý nghĩa đó, Cách mạng Tháng Tám vẫn là cuộn khởi nghĩa vũ trang nhưng do điều kiện chủ quan và khách quan đặc biệt mà ít phải đổ máu.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:55 pm

BÀN VỀ "KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC" TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM1

NGUYỄN MẠNH HÀ       

        Trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do, thống nhất đất nước, là một trong những sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại nhất. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám đều tìm hiểu một cách khách quan, khoa học quá trình dẫn tới thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa. Tuy nhiên, do đây là một cuộc cách mạng diễn ra trên một không gian rộng, có quá trình chuẩn bị trong thời gian dài, diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động lớn, thành quả của cuộc Cách mạng có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam tại thời điểm xảy ra cuộc cách mạng và sau đó… nên việc có những quan điểm xem xét, nhìn nhận khác nhau, chưa chính xác về cuộc Cách mạng vĩ đại này, là điều dễ hiểu. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn bàn thêm về một số kết quả nghiên cứu, đánh giá của học giả nước ngoài xung quanh nội dung: Có phải Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi nhanh chóng là do tại thời điểm đó ở Việt Nam tồn tại một "khoảng trống quyền lực"?

        Nhà nghiên cứu lịch sử, nhà Việt Nam học có tiếng người Na-uy Xten Tôn-nét-xơn (Stein Tonnesson), đã có một số công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, trong đó có cuốn "Cách mạng Việt Nam năm 1945-Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong một thế giới chiến tranh"2. Đây là một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu về cuộc Cách mạng Tháng Tám, một sự kiện mà ông đánh giá cao: "Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, những thời điểm 1945 và 1975 nổi lên như là những bước ngoặt lớn, đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của một quá trình dài chiến tranh và biến đổi xã hội. Cách mạng Việt Nam quan trọng không phải chỉ thuần tuý trong bối cảnh của Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu của một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh: đó là quá trình phi thực dân hoá. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cách mạng của những người Việt Nam nổi lên như là một trong những cuộc cách mạng có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất"3.

        Tuy nhiên, trong cuốn sách của mình, ngoài những quan điểm của cá nhân như coi số lượng các cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân ta là "được thổi phồng", hay vai trò của chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim phải được coi là một chính phủ "tiền cách mạng", hay vai trò của Tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của tình hình ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám… Xten Tôn-nét-xơn nhấn mạnh tình trạng "chân không quyền lực", coi đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Xten Tôn-nét-xơn viết trong Lời giới thiệu: "Mục đích của công trình nghiên cứu này là… một cuộc thăm dò có hệ thống các nguyên nhân của cách mạng, cuộc thăm dò sẽ đi theo hai hướng chính, mỗi hưởng sẽ đi theo một trong hai đường dây chủ yếu: một dẫn tới tình trạng chân không quyền lực; một dẫn tới việc giành quyền lực". Xten Tôn-nét-xơn nói rõ: "tình trạng chân không quyền lực có thể được mô tả chính xác như là một sự vắng mặt của các lực lượng Pháp và Đồng minh, sự thiếu quyết tâm của người Nhật trong việc nắm giữ quyền kiểm soát cho tới khi Đồng minh tới và sự bất lực của các quan lại và chính quyền của họ để có thể tự tồn tại được". Sau khi dẫn ra những luận cứ, ở cuối cuốn sách, Xten Tôn-nét-xơn nhấn mạnh: "Khoảng trống quyền lực sau sự đầu hàng của Nhật ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn... là chủ yếu trong bất cứ sự giải thích nào về Cách mạng Việt Nam"4.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2000.

        2. Stein Tonnesson. The Vietnamese Revolution of 1945-Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war. Sage Publication, London-New Delhi, 1991.

        3. Stein Tonnesson, Sđd, p. 426.

        4. Stein Tonnesson, Sđd, p. 412.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:59 pm

        Từ nhận định của XXten Tôn-nét-xơn, chúng tôi xin trao đổi một số điểm sau:

        1. Nếu bạn đọc, nhất là người nước ngoài, chưa nghiên cứu hoặc chưa có một sự hiểu biết thấu đáo về sự kiện Cách mạng Tháng Tám, hẳn có lẽ đồng ý với Xten Tôn-nét-xơn khi ông tìm cách chứng minh cho nhận định của mình. Như vậy, sẽ dẫn tới việc nhiều người sẽ ngộ nhận về sự "ăn may", về thắng lợi dễ dàng của Tổng khởi nghĩa. Đi xa hơn, sẽ cho rằng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh, vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng này là không đáng kể, mờ nhạt... Đây là điều nhận định không đúng với thực tế diễn biến cuộc cách mạng.

        Thứ nhất, có thể khẳng định ràng: không tồn tại một khoảng trống quyền lực nào ở Việt Nam, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945, đặc biệt là từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 19 tháng 8 năm 1945 (kể từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội). Thực tế là sau khi làm đảo chính lật đổ Pháp (đêm 9-3-1945), phát xít Nhật đã nhanh chóng thiết lập quyền thống trị, kiểm soát về mọi mặt trên toàn lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương. Vai trò Toàn quyền Đông Dương, vốn của Đô đốc Đờ-cu (Decoux), đã bị Nhật bắt giữ, nay được giao cho tướng Yuichi Tsuchihashi, Tư lệnh Quân đoàn 38 của Nhật-Còn các nhà ngoại giao Nhật ở Đông Dương đóng vai trò tương đương như của các viên Công sứ Pháp trước đó. Tất cả các thành phố lớn ở Việt Nam như Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng... đều được đặt dưới sự kiểm soát của quân dội Nhật.

        Chính phủ Trần Trọng Kim, do Nhật dựng lên ngày 7 tháng 4 năm 1945, gồm 10 bộ, thực chất không nắm quyền hành gì đáng kể. Nhưng dù sao đây cũng là một chính phủ và chính phủ này, đến tận ngày 17 tháng 8, vẫn còn nắm quyền và cử người "mặc cả" với Việt Minh về việc chia sẻ quyền lực trong tương lai. Trước đó, ngày 14 tháng 8 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim còn ra tuyên bố: "Nhất quyết không chịu lùi một bước trước một khó khăn nào để làm tròn sứ mệnh... và vẫn hợp tác chặt chẽ với các nhà đương cục Nhật"5.

        Thứ hai, như trên đã nói, từ sau 9-3-1945, trên thực tế phát xít Nhật đã thiết lập mọi quyền kiểm soát ở Việt Nam. Cho tới khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh (15-8) thì ở Việt Nam, các lực lượng quân đội Nhật vẫn chưa nhận được lệnh đầu hàng. Quân Nhật vẫn duy trì kiểm soát trật tự, an ninh. Ông Lê Trọng Nghĩa, nguyên ủy viên ủy ban nhân dân cách mạng Bắc Bộ, người trực tiếp đi gặp Đại sứ Nhật Tsukamoto tối ngày 19 tháng 8 năm 1945, cho biết: "phải đến ngày 21, tập đoàn quân 38 của Nhật với hơn 1 vạn quân đóng giữ vùng quanh Hà Nội, mới nhận được lệnh ngừng bắn. Vì vậy, trước đó, trong những ngày 17, 18, 19 quân đội Nhật vẫn có đủ lý do để nổ súng can thiệp, hoặc để tự vệ hoặc để giữ an ninh... mà họ chịu trách nhiệm cho đến khi quân đội Đồng minh đến tiếp quản"6. Ông Nghĩa cũng dẫn ra tài liệu của Nhật về bức điện từ Hà Nội gửi về Tô-ki-ô ngày 19, rằng phía Nhật đã thực hiện một "cuộc dàn xếp thoả hiệp" với Chính phủ (Trần Trọng Kim) nhưng không thành7. Điều này có thể hiểu là Nhật đứng đằng sau hỗ trợ cuộc "mặc cả" của chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh nhằm chia sẻ quyền lực, nhưng thất bại.

        Thực tế trong các ngày 17, 18 tháng 8 năm 1945 ở Hà Nội cho thấy, xe tăng và các đơn vị quân Nhật bố trí ở nhiều vị trí trung tâm thành phố, sẵn sàng nổ súng, khiến tình hình rất căng thẳng. Mặt khác, tại nhiều địa phương như Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang, Hà Giang... đã nổ ra các cuộc chiến đấu của quân dân ta với binh lính Nhật, để giành chính quyền. Như vậy, không thể nhận định là từ sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng, thì quân Nhật ở Việt Nam "bỏ mặc tình hình", để cho Việt Minh dễ dàng lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

-------------------
        5. Trần Quang Huy, "19-8, Cách mạng Tháng Tám là sáng tạo", Hội Khoa học Lịch sử việt Nam, H, 1995, tr. 26-27.

        6, 7. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Đoàn thanh niên Cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động, H, 1999, tr. 338, 344.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:32 pm

        Thứ ba, theo Xten Tôn-nét-xơn, nguyên nhân của sự trống vắng quyền lực là do: "... chính sách của Đồng minh đối với Đông Dương từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945 là ngu dốt và quên lãng, còn chính sách của Pháp đối với Đông Dương là bối rối và bất lực". Thực tế có phải như vậy không? Theo chúng tôi không hoàn toàn như vậy. Mỹ, Anh và cả Pháp đều thừa hiểu sớm muộn tình thế cũng dẫn đến việc phát xít Nhật lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương, trong đó có Việt Nam, nhằm trừ hậu hoạ. Nguyên nhân của sự lật đổ này xin không nêu ra đây. Điều cần nhấn mạnh là tuy đã dự kiến trước sau Nhật sẽ hành động nhưng cả Mỹ, Anh và trực tiếp là Pháp đều không thể làm gì được để ngăn chặn bởi bất lực, bởi (với Anh, Mỹ) còn có những mục tiêu, nhiệm vụ khác quan trọng hơn, cần kíp hơn. Ở đây, đối với Đồng minh không thể giải thích là do ngu dốt và quên lãng, bởi vào thời gian từ tháng 3 đến tháng 8, Đồng minh chưa đủ sức để can thiệp, chứ chưa nói là đánh bại được quân Nhật ở khu vực này. Còn đối với lực lượng Pháp, sau cuộc đảo chính của Nhật, hầu hết bị bắt giam, chỉ còn một số ít chạy thoát sang Lào, Trung Quốc và một số ít khác bí mật tổ chức "kháng chiến" chống lại quân Nhật. Sự tác động của Pháp đến Việt Nam, sau ngày 9-3-1945, có chăng chỉ là bản tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của Đờ Gôn (De Gaulle) và sự tập hợp một cách chắp vá, manh mún một vài đơn vị Pháp ở Xri-lan-ca, ấn Độ, Trung Quốc... chuẩn bị đưa tới Đông Dương. Và đến tận ngày 17 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Pháp mới có quyết định bổ nhiệm tướng Lơ-cléc (Leclerc) làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh và Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (D’Argenlieu) làm Cao ủy, để chuẩn bị tới Việt Nam. Thêm nữa, mãi tới ngày 12 tháng 9 năm 1945, đại đội lính Pháp đầu tiên mới theo chân quân Anh tới Sài Gòn, nghĩa là sau hơn nửa tháng khi cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã thắng lợi trên phạm vi cả nước. Chúng tôi muốn dẫn ra những sự kiện trên để chứng tỏ vào thời điểm cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra, Pháp không có một vai trò nào đáng kể ở Việt Nam. Đối tượng của cuộc Cách mạng Tháng Tám mà nhân dân ta tiến hành lúc đó chính là phát xít Nhật và hệ thống chính quyền phản động tay sai Nhật. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: thực tế ta giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Cuộc cách mạng nổ ra và giành thắng lợi nhanh chóng cho thấy điều kiện khách quan thuận lợi đã đóng vai trò rất quan trọng nhưng không phải là cơ bản, quyết định thắng lợi mà chính là do nhân tố chủ quan, do sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Đông Dương, của lãnh tụ Hồ Chí Minh và quyết tâm của toàn dân.

        2. Qua nghiên cứu tìm hiểu, chúng tôi khẳng định rằng dù cho điều kiện khách quan thuận lợi đến mấy, nhưng nếu không có sự chuẩn bị xây dựng lực lượng cách mạng quần chúng cần và đủ thì khởi nghĩa không thể giành được thắng lợi. Sự chuẩn bị lực lượng để đón thời cơ đã được Đảng thực hiện một cách tỉ mỉ, cụ thể trong suốt một quá trình lâu dài, trực tiếp bắt đầu từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939) và được đẩy nhanh từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941). Tuy nhiên, do khuôn khổ bài viết, chỉ xin tóm tắt quá trình chuẩn bị này từ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, cũng là ngày mà Xten Tôn-nét-xơn cho là bắt đầu xuất hiện "khoảng trống quyền lực", cho đến ngày 19 tháng 8 năm 1945. Như đã biết, sau sự kiện Nhật hất cẳng Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị nhận định: "Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể, trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương". Vì thế, khẩu hiệu "Đánh đuổi Nhật, Pháp" được thay bằng "Đánh đuổi phát xít Nhật". Tuy nhiên, về thời cơ, Chỉ thị cho rằng "mặc dầu tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương chưa thực sự chín muồi...". Trên cơ sở nhận định đó, Chỉ thị nhấn mạnh phải: "phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Cao trào ấy có thêm bao gồm từ hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị đến phá phách, cho đến những hình thức cao như biểu tình, thị uy võ trang, du kích. Sẵn sàng chuyển qua hình thức Tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện (ví dụ khi quân Đồng minh bám chắc và tiến mạnh trên đất ta). Dự kiến tình hình sẽ phát triển mau lẹ, Chỉ thị yêu cầu: "Ngay bây giờ phát động du kích, chiếm căn cứ địa, duy trì và mở rộng chiến tranh du kích phải là phương pháp duy nhất của dân tộc ta để đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật Bản ra khỏi nước, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực". Đồng thời, Chỉ thị cũng khẳng định: "Song dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương là điều kiện tất yếu cho tổng khởi nghĩa của ta. Vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện… Nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:19 pm

        Có thể nói Chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" là một văn kiện lịch sử, có ý nghĩa chỉ đạo hành động chuẩn bị mọi mặt lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa một cách tích cực, chủ động, đã được Đảng ta sớm đề ra và phù hợp với tình hình lúc dó. Chính vì thế, trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945, cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã được Đảng chỉ đạo rất sát sao, cụ thể và đầy sáng tạo. Đó là những cuộc khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương, đưa tới sự mở rộng các căn cứ địa, chiến khu cách mạng. Đó là sự thành lập của hàng loạt các đơn vị, tổ chức vũ trang Cứu quốc quân, Việt Nam giải phóng quân, tự vệ, du kích, hỗ trợ và làm nòng cốt cho đấu tranh chính trị của quần chúng; là sự phát triển của chiến tranh du kích, là các tổ chức, đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh lan rộng chưa từng thấy. Khu giải phóng Việt Bắc ra đời đầu tháng 6 năm 1945, gồm 6 tỉnh và một số vùng phụ cận, chính là hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam mới... Chính những kết quả đạt được trong quá trình vận động, chuẩn bị lực lượng đã chủ động góp phần tạo ra thời cơ cách mạng, tình thế cách mạng trực tiếp, tuyệt nhiên không phải chỉ do điều kiện khách quan mang lại.. Điều này càng thể hiện rõ kể từ sau khì phát xít Nhật bị đánh bại, phải tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Một chi tiết cần nêu ra là tuy Nhật đầu hàng Đồng minh nhưng Nhật vẫn chưa nhận được lệnh chinh thức trao quyền quản lý Đông Dương, trong đó có Việt Nam, cho Đồng minh, vì thế vẫn có trách nhiệm quản lý tình hình ở đây cho đến khi Đồng minh đến. Sự tài tình của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh là ở chỗ đã tận dụng triệt để thuận lợi có một không hai: phát xít Nhật hoang mang, bối rối, chính phủ Trần Trọng Kim yếu thế, bất lực quân Đồng minh chưa vào, quân Pháp tuy lăm le quay trở lại nhưng chưa có thực lực… để lãnh đạo toàn dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền. Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị toàn quốc ở Tân Trào. Tuy trong điều kiện chưa có thông tin chính xác về việc Nhật đầu hàng, nhưng nhận thấy thời cơ khởi nghĩa đã tới, Hội nghị vẫn quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành lấy chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Ủy ban khởi nghĩa, ngay trong đêm 13 tháng 8, đã ra quân lệnh số 1: "Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta". Hội nghị cho rằng: "Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi việc phải nhằm vào 3 nguyên tắc: Tập trung: tập trung lực lượng vào những việc chính; Thống nhất: thống nhất mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động, chỉ huy; Kịp thời: kịp thời hành động không bỏ lỡ cơ hội". Cũng trong dịp này, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập". Tiếp đó, ngày 16 và 17 tháng 8, Quốc dân Đại hội, cũng họp tại Tân Trào, tán thành và thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa. Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: "Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go, trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải luôn khôn khéo và kiên quyết. "Khôn khéo" để tránh những sự không lợi cho ta. "Kiên quyết" để giành được nền hoàn toàn độc lập Một dân tộc quyết tâm và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được độc lập".

        Đại hội Quốc dân đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định thành lập ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong Thư kêu gọi đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "... Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ".

        Chính vì đã có sự chuẩn bị chu đáo, nắm bắt đúng lúc thời cơ tình thế cách mạng trực tiếp xuất hiện, với quyết tâm và sự khôn khéo, mau lẹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi trên phạm vi cả nước chỉ trong vòng 14 ngày (từ 14 đến 28-8-1945), trước khi quân Đồng minh kéo vào. Đây là một sự kiện vĩ đại, được chuẩn bị trong vòng 15 năm, trải qua 3 cuộc vận động cách mạng lớn, đã đi tới kết quả: đất nước được độc lập, nhân dân làm chủ cuộc sống mới của mình, chế độ phong kiến hàng nghìn năm, ách áp bức thực dân hơn 80 năm, bị lật nhào, một Nhà nước mới ra đời: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

-----------------
        8. Ban NCLS Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng 1930-1945, H, 1977, tập 3,

        tr. 385.

        9, 10, 11, 12. Văn kiện Đảng 1930-1945, Sđd, tập 3, tr. 384, 386, 389, 392.

        13. Văn kiện Đảng 1930-1945, Sđd , tr. 410, 411.

        14. Chặt xiềng, NXB Sự thật, H, 1955, tr. 65 (dẫn theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, NXB CTQG. H, 1994, tr. 22).

        15. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, H, 2000, tr. 554.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:07 pm
         
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 BÙNG NỔ TRONG BỐI CẢNH NHẬT BẢN CHƯA ĐẦU HÀNG1

LÊ KIM        

        Cho tới nay, vẫn còn một số bài báo, thậm chí có một vài cuốn sách vẫn viết rằng Cách mạng Tháng Tám 1945 đã bùng nổ “sau khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng không điều kiện các lực lượng Đồng minh chống phát xít".

        Sự thật diễn ra không hoàn toàn như vậy.

        Một thời gian dài sau khi chiến tranh kết thúc, nhiều tài liệu mật tuần tự được tiết lộ, cũng như một số hồi ký của các nhân chứng lịch sử lần lượt xuất bản2 cho biết:

        Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945), Mỹ thiết lập một đài phát thanh đặt tại Xan Phran-xi-xcô, trên bờ biển Thái Bình Dương, hướng về phía châu Á. Hồi đó, nhân dân ta thường gọi là Đài Cựu Kim Sơn. Từ 20 giờ đến 24 giờ đêm 12 tháng 8 năm 1945, đài này liên tiếp phát đi bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc... bản tin đặc biệt loan báo Nhật Bản đã gửi công hàm tới Mỹ, Anh, Trung Quốc, Liên Xô "xin hàng". Nhưng trên thực tế, những công hàm bắt đầu được gửi đi từ ngày 10 tháng 8 tới "Tứ cường" nói trên chỉ là những công hàm "mặc cả về những điều kiện ngừng bắn". Đài Cựu Kim Sơn đã không ngần ngại, phát luôn là Nhật Bản "xin hàng" để gây tác động về "chiến tranh tâm lý".

        - Hồi 23 giờ đêm 13 tháng 8 năm 1945, khi Tổng bộ Việt Minh phát lệnh Tổng khởi nghĩa vũ trang trên phạm vi toàn quốc thì trước đó 9 giờ, tức 14 giờ cùng ngày, Tư lệnh Đạo quân phương Nam của Nhật Bản, đặt Tổng hành dinh tại Đà Lạt, Việt Nam, đã gửi thư về Tô-ki-ô, kiến nghị với Nhật hoàng "tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến, chớ vội ngã lòng nản chí".

        - Đúng 12 giờ trưa ngày 15 tháng 8 năm 1945, vua Nhật Bản Hi-rô-hi-tô (Hirohito) đọc chiếu chỉ trên đài Tô-ki-ô. Toàn bộ bản Tuyên bố này, từ đầu chí cuối, không có chữ nào là "đầu hàng", mà chỉ ngỏ ý quyết định "đình chỉ chiến tranh" (sẽ viết kỹ hơn ở phần dưới). Thậm chí, tới ngày 22 tháng 8 năm 1945, lệnh "đình chỉ chiến tranh" vẫn chưa được truyền đạt tới các đơn vị quân Nhật ở các chiến trường.

        - Ngày 22 tháng 8 năm 1945, khi chiếc máy bay đầu tiên chở phái đoàn "tiền trạm" đầu tiên của Đồng minh (Mỹ) hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm, toàn bộ quân đội Nhật Bản ở Đông Dương vẫn "chưa biết gì về việc vua Nhật Bản tuyên bố đình chỉ chiến tranh" vì Đài Tô-ki-ô hồi đó "phát sóng rất yếu', ngay tại Triều Tiên cũng không nghe rõ. Tuy nhiên, ngay trong ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền tại thủ đô Hà Nội và đã đàng hoàng đón tiếp phái bộ Đồng minh trên cương vị "chủ nhân ông" của nước Việt Nam. Ghi lại đầy đủ và chính xác những chi tiết nổi bật trong giai đoạn lịch sử quan trọng này, chính là để khẳng định một lần nữa sự lãnh đạo sáng suốt, nhạy bén, kịp thời và tài giỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiến hành Tổng khởi nghĩa vũ trang và nhanh chóng hoàn thành cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 trong bối cảnh còn rất nhiều khó khăn, phức tạp: Nhật Bản chưa thật sự đầu hàng, Quốc dân đảng Trung Hoa đang chờ thời cơ thực hiện mưu đồ "Hoa quân nhập Việt", thực dân Pháp cũng đang lăm le quay trở lại Đông Dương...

        Dưới đây là một số diễn biến quan trọng mà trong phạm  vi một bài báo, người viết chỉ có thể dẫn chứng vắn tắt. Bạn đọc có thể dễ dàng tìm thấy toàn văn những tư liệu này, được ghi và dịch bằng các thứ tiếng Anh, Nga, Pháp… hiện lưu trữ tại Thư viện Trung ương Quân đội ở Hà Nội và một số thư viện khác trong nước:

        Ngày 9 tháng 5 năm 1945, phát xít Đức (và trước đó là phát xít Ý) hoàn toàn bị tiêu diệt. Hoà bình được lập lại trên toàn châu Âu và châu Phi. Từ ngày 7 đến ngày 27 tháng 7 năm 1945, tại Pốt-xđam (Nam nước Đức), có một cuộc họp quan trọng giữa ba nhân vật đứng đầu chính phủ ba nước Mỹ, Anh, Liên Xô là: Tơ-ru-man (Truman), Sớc-sin (Churchill), Xta-lin (Xtalin). Phần lớn thời gian Hội nghị bàn về vấn đề Đức. Đến giai đoạn cuối của Hội nghị mới bàn đến việc đay mạnh nỗ lực chiến tranh nhằm thanh toán nốt quân phiệt Nhật Bản, tên phát xít cuối cùng trong phe "Trục".

        Ngày 26 tháng 7 năm 1945, Tuyên bố Pốt-xđam được công bố. Vì lúc này bản Hiệp định "không xâm lược lẫn nhau' được ký kết giữa Liên Xô và Nhật Bản từ năm 1941 vẫn đang còn có hiệu lực, đồng thời cũng để giữ bí mật cho việc tiến công Nhật Bản sau này, nên Xta-lin chưa ký vào bản Tuyên bố Pốt-xđam. Mặt khác, khi bước vào giai đoạn 2 của Hội nghị Pốt-xđam, để bàn về việc lập lại hoà bình ở châu Á, lại có thêm đại diện của Tưởng Giới Thạch cùng tham gia, vì vậy, bản Tuyên bố Pốt-xđam chỉ được mở đầu "nhân danh Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Chủ tịch chính phủ Dân quốc Trung Hoa và Thủ tưởng Đại Anh quốc, đại diện cho hàng trăm triệu nhân dân" các nước đó.

        Sau khi cho biết Hoa Kỳ, Đại Anh quốc và Trung Quốc "đã quyết định mở cuộc tiến công cuối cùng vào Nhật Bản cho tới khi Nhật Bản chấm dứt mọi sự kháng cự", bản Tuyên bố kêu gọi: "Thời điểm đã tới để Nhật Bản quyết định, hoặc là tiếp tục cuộc chiến dưới sự kiểm soát của các thế lực quân phiệt mà những tính toán ngu dốt đã dẫn đế quốc Nhật Bản tới bờ vực của sự hủy diệt, hoặc là đi theo con đường của lẽ phải".

-------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2000.

        2. Đặc biệt, cuốn “Nhật Bản trong những ngày chiến tranh" của I-va-nốp (lvanov), Tham tán Đại sứ quán Liên Xô tại Tô-ki-ô trong thời kỳ này, lần đầu tiên xuất bản năm 1978 rồi tái bản nhiều lần, đã cung cấp nhiều tư liệu rất đáng tin cậy


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:57 pm

        Toàn bộ bản Tuyên bố Pốt-xđam gồm tất cả 13 điều, kể cả lời kêu gọi. Dưới đây chỉ lược dịch nội dung chủ yếu của một số điều khoản.
        …
        - Điều 6: Phải vĩnh viễn loại trừ mọi quyền lực và ảnh hưởng của những kẻ đã lừa gạt, lôi cuốn nhân dân Nhật Bản lao vào việc chinh phục thế giới (…)

        - Điều 7: Các lực lượng Đồng minh cần phải được đóng quân tại các địa điểm sẽ được ấn định tại Nhật Bản cho tới khi thiết lập xong trật tự mới và sau khi đã thật sự có chứng cớ là bộ máy chiến tranh của Nhật Bản đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
        …
        -Điều 9: Các lực lượng vũ trang Nhật Bản phải hoàn toàn giải tán, tước bỏ toàn bộ vũ khí, binh lính trở về nhà làm ăn sinh sống hoà bình.

        - Điều 10: Các tội phạm chiến tranh, kể cả những kẻ phạm tội ác đối với các tù binh chiến tranh là người của chúng tôi, phải bị trừng trị theo công lý (...)

        - Điều 11: Nhật Bản được phép giữ lại các ngành công nghiệp phục vụ kinh tế dân sinh nhưng không được sử dụng để tái vũ trang phục vụ cho chiến tranh.

        - Điều 12: Các lực lượng vũ trang Đồng minh sẽ sớm rút khỏi Nhật Bản sau khi Nhật Bản thực hiện đầy đủ các điều khoản trên đây (…)

        - Điều 13: Chúng tôi đòi Chính phủ Nhật Bản phát ngay lệnh đầu hàng không điều kiện tới tất cả các lực lượng vũ trang...

        Sau khi đã nhờ Thụy Sĩ, là một nước trung lập, chuyển bản Tuyên bố Pốt-xđam tới Chính phủ Nhật Bản, Mỹ còn cho máy bay rải hàng triệu tờ in nội dung bản Tuyên bố nói trên đã dịch sang tiếng Nhật xuống Tô-ki-ô và một số thành phố khác. Đáp lại là "một sự im lặng hoàn toàn".

        Ngày 6 tháng 8, Mỹ ném quả bom nguyên tử đầu tiên, hủy diệt thành phố Hi-rô-si-ma của Nhật Bản, song vẫn không nhận được tín hiệu trả lời. 20 giờ tối ngày 8 tháng 8 theo giờ Mát-xcơ-va, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô triệu tập đại sứ Nhật Bản tại Mát-xcơ-va tới văn phòng Bộ, thông báo Liên Xô hủy bỏ Hiệp định trung lập ký năm 1941 và tuyên chiến với Nhật Bản từ 0 giờ ngày 9 tháng 8 năm 1945. Liền sau đó, Đài Cựu Kim Sơn vào hồi 6 giờ ngày 9 tháng 8 cũng thông báo: "Liên Xô chính thức tham gia Tuyên bố Pốt-xđam và đang mở cuộc tiến công Nhật Bản". Trong khoảng thời gian này, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Tô-gô (Togo) cũng nhận được bức điện cuối cùng của sứ quán Nhật Bản tại Mát-xcơ-va gửi về. Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô, được Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng cấp báo tin "Quốc gia đại sự", vội ra lệnh cho Thủ tướng triệu tập Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh vào lúc 10 giờ. Đối với toà Đại sứ Liên Xô nằm ngay giữa thủ đô, Nhật Bản hối hả cử hiến binh tới canh giữ, cắt hết mọi đường dây điện thoại, niêm phong tất cả các phương tiện thu phát tin tức và ra lệnh "quản thúc đại sứ Liên Xô Ma-lich (Malik) và toàn bộ nhân viên sứ quán ngay trong khuôn viên toà đại sứ". Tuy nhiên, do chuẩn bị trước, sứ quán Liên Xô tại Nhật Bản vẫn giấu được một đài phát vô tuyến điện.

        Đúng 10 giờ, các ủy viên Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh của Nhật Bản (thành lập từ 12-1941) có mặt đông đủ trong phòng họp. Hội đồng này do vua Hi-rô-hi-tô làm Chủ tịch, gồm 6 ủy viên là Thủ tướng, Bộ trưởng Chiến tranh, Bộ trưởng Hải quân, Tổng tham mưu trưởng Liên quân, Tham mưu trưởng Hải quân, Bộ trưởng Ngoại giao.

        Hội nghị vừa khai mạc thì nhận được điện báo: quân đội Liên Xô đang mở cuộc đại tiến công trên trận tuyến dài 4.800km, đã vượt biên giới Mãn Châu, tiến công cả bán đảo Cao Ly (Triều Tiên). Máy bay Liên Xô ném bom Trường Xuân,là nơi đặt Tổng hành dinh đạo quân Quan Đông. Hạm đội Liên Xô bắn phá dữ dội bán đảo Xa-kha-lin và quần đảo Cu rin, chuẩn bị đổ bộ... Lúc 11 giờ 30 phút, lại được tin Mỹ ném quả bom cực mạnh thứ hai xuống Na-ga-sa-ki. Đài Cựu Kim Sơn loan báo đây là bom nguyên tử, có sức hủy diệt lớn…

        Trước tình hình Nhật Bản đang ở vào thế "lưỡng đầu thụ địch", cả hai mặt đều bị tiến công mạnh, Ngoại trưởng Tô-gô dè dặt đưa ra ý kiến "có lẽ nên chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam...". Thì lập tức, Đại tướng, Bộ trưởng Chiến tranh A-na-mi (Anami) và Đô đốc Tô-ê-đa (Toeda) đã gạt phắt. Họ viện cớ, nào "đầu hàng là hèn nhát, là phản bội", nào "Nhật còn hơn 5 triệu quân thường trực chính quy và 20 triệu thanh niên sẵn sàng xả thân bảo vệ ngôi vua", "còn hơn 8.000 láy bay, 600 tàu chiến", lại "đang nghiên cứu loại vũ khí bí thật sức mạnh không thua gì bom nguyên tử", v.v...

        Biên bản cuộc họp được trình lên Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô. Vin vào lý do đây là chuyện "đối ngoại", Nhật hoàng gặp riêng Ngoại trưởng Tô-gô một lần nữa, rồi truyền lệnh cho. Ông ta nhờ Thụy Sĩ "nhắn tin" cho Tứ cường biết thái độ của Nhật Bản đối với Tuyên bố Pốt-xđam.

        Như vậy là không có "công hàm của Nhật Bản gửi bốn nước Mỹ, Anh, Trung Quốc, Liên Xô để ngỏ ý xin hàng" như Đài Cựu Kim Sơn đã loan báo trong buổi phát tin tối 12 tháng 8 năm 1945, mà chỉ có "văn thư của Thụy Sĩ ký ngày 10 tháng 8, gửi bốn ngoại trưởng Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc với nội dung đại ý là Nhật Bản sẵn sàng chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam ngày 26 tháng 7 năm 1945 của Mỹ, Anh, Trung Quốc và sau đó có thêm Liên Xô tham gia, sau khi được giải thích và cam kết rõ là bản Tuyên bố trên không bao hàm một đòi hỏi nào có liên quan tới những đặc quyền của Thiên hoàng là vị cầm quyền tối cao của Vương quốc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:22 pm

        Sau mấy ngày trao đi đổi lại giữa Nhật Bản và Tứ cường, thông qua hai nước trung lập là Thụy Sĩ và Thụy Điển, Nhật Bản ngỏ ý sẽ chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam nếu được đáp ứng bốn điều kiện:

        1. Giữ nguyên vẹn ngôi vua và thể chế quân chủ.

        2. Nước Nhật Bản không bị chiếm đóng.

        3. Quân đội Nhật Bản tự tước vũ khí và tự giải tán sau khi kết thúc chiến tranh.

        4. Toà án Nhật Bản sẽ tự xét xử những người bị coi là "tội phạm chiến tranh", không cần tổ chức tòa án quốc tế.

        Tứ cường kiên quyết bác bỏ, đòi Nhật Bản phải lập tức tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Mỹ gợi ý: cứ tuyên bố đầu hàng rồi muốn kêu nài điều gì, Tư lệnh tối cao các nước Đồng minh là Đại tướng Mỹ Mắc Ác-tơ sẽ xét sau. Đài Cựu Kim Sơn công bố danh sách 141 tội phạm chiến tranh của Nhật Bản. Các phương tiện tuyên truyền chiến tranh tâm lý của Mỹ đe dọa, "có thể" Mỹ sẽ ném quả bom nguyên tử thứ ba xuống ngay giữa Tô-ki-ô (thực ra lúc ấy, Mỹ đã hết bom nguyên tử dự trữ). Dù sao, lời đe doạ "úp mở" này cũng làm cho Nhật Bản hoảng sợ. Hội đồng tối cao chỉ đạo chiến tranh lại họp để quyết định trả lời Tứ cường. Khi biểu quyết, ba trên tổng số sáu đồng ý chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam nhưng để "cầu hoà" chứ không phải để "xin hàng", ba ủy viên còn lại thì tán thành "quyết chiến". Do số phiếu ngang nhau 3/3, Nhật hoàng quyết định đưa ra trưng cầu ý kiến toàn thể nội các gồm 14 thành viên. Kết quả là 9 người tán thành "cầu hoà", còn 5 người khăng khăng "quyết chiến". Nhật hoàng ôm mặt khóc và… "đành khuất phục" đa số. Thủ tướng quỳ lạy, xin từ chức. Cựu Thủ tướng Tô-giô (Tojo), người phát động chiến tranh năm 1941, đã tự sát…

        2 giờ sáng ngày 14 tháng 8, Đô đốc Ô-nhi-si (Ônishi), Tư lệnh lực lượng không quân thuộc hải quân, đệ trình Nhật hoàng một "diệu kế chuyển thắng thành bại". Theo Ô-nhi-si, hiện nay đã có 2.000 phi công lái máy bay quyết tử; cứ tính thật rộng rãi, dùng 3 máy bay chứa đầy thuốc nổ lao xuống phá một tàu chiến Mỹ là đủ sức tiêu diệt toàn bộ hạm đội Mỹ đang tập trung tại vùng biển Nhật Bản. Nhật hoàng không chấp nhận.

        Sau đó Nhật hoàng chỉ thị cho nhà báo Ki-ha-ra (Kihara) nổi tiếng là người văn hay chữ tốt, viết giúp Vua bản Chiếu chỉ đặc biệt, trong đó tuyệt đối không được ghi chữ "đầu hàng" mà chỉ viết là "xin chấp nhận bản Tuyên bố Pốt-xđam ngày 26-7".

        Chiều 14 tháng 8, Bản chiếu chỉ viết xong, được nhà Vua duyệt y và đọc trước vào "đĩa nhựa" để phát đi cho toàn dân nghe vào 12 giờ trưa ngày 15 tháng 8. Đêm 14 rạng 15 tháng 8, một nhóm sĩ quan xông thẳng vào Hoàng cung gây bạo loạn, định ép Vua phải kêu gọi toàn thể quân và dân quyết chiến. Cuộc bạo loạn đã bị dập tắt. Đúng 12 giờ ngày 15 tháng 8, Đài Tô-ki-ô phát đi lời tuyên bố của nhà vua đã ghi trên đĩa  nhựa. Nhưng, do kỹ thuật ghi không chuẩn, Nhật hoàng lại phát biểu rất nghẹn ngào, xúc động, nhỏ nhẹ, nên phe "quyết chiến" tung tin, đây là âm mưu của bọn "hèn nhát cầu hoà", không phải ý kiến của vua. Tư lệnh Ô-nhi-si đã dùng máy bay, rải truyền đơn xuống Tô-ki-ô trong đó ghi: "Bản Tuyên bố trên Đài phát thanh trưa 15 tháng 8 là giả mạo. Hãy giữ vững ý chí, tiếp tục chiến đấu đến cùng?".

        Tình hình rất khẩn trương vì trên các chiến trường quân đội Nhật Bản vẫn tiếp tục chiến đấu. Suốt ngày 16 tháng 8, Đài Cựu Kim Sơn liên tục phát đi “lời mời" của Đại tướng Mỹ Mắc Ác-tơ, nhân danh Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh, hối thúc Nhật Bản cử ngay một phái đoàn quân sự tới Sở chỉ huy tiền phương của Đồng minh đặt tại Ma-ni-la (Phi-líp-pin) để "thảo luận về các biện pháp ngừng bắn, tạo điều kiện an toàn cho Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh tới Tô-ki-ô tổ chức lễ tiếp nhận đầu hàng của Nhật Bản".

        Tối 17 tháng 8, Đài Tô-ki-ô trả lời: "Trong ngày mai, 18 tháng 8, một phái đoàn quân sự do tướng Ca-oa-bê (Kawabe), Phó Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu, sẽ tới Ma-ni-la để "hội đàm”. Mắc Ác-tơ cử tướng Xao-thơ-len (Southerlen) là Tổng tham mưu trưởng đứng đầu phái đoàn Đồng minh gặp đoàn Nhật Bản.

        Buổi họp đầu tiên chỉ tranh cãi quanh vấn đề thủ tục. Buổi hôm sau (sáng 19-8), Mỹ yêu cầu Nhật Bản hạ lệnh ngừng bắn ngay lập tức cho các đơn vị trên tất cả các chiến trường. Nhật Bản vin vào lý do khó khăn về thông tin liên lạc nên sớm nhất phải 48 giờ mới truyền đạt được lệnh ngừng bắn tới các đơn vị đóng trên các đảo ở chính quốc, 4 ngày sau mới tới được Trung Quốc, 6 ngày sau mới tới được Đông Dương, còn các khu vực khác phải vào khoảng 2 tuần.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:40 pm

        Xao-thơ-len hỏi vặn:

        - Sao lúc tiến công chúng tôi, các ông truyền lệnh nhanh thế?

        Ca-oa-bê bình thản trả lời:

        - Lúc đó chỉ làm theo phương án đã chuẩn bị sẵn. Còn đây là chuyện đột ngột, trái ý muốn, bắt buộc phải làm. Không thể hạ lệnh vắn tắt qua điện đài, mà phải cử đặc phái viên mang theo mệnh lệnh viết trên giấy, trao tận tay các tư lệnh chiến trường, kèm theo lời giải thích.

        Xao-thơ-len nói to:

        - Ngày 23 tháng 8 chúng tôi sẽ đổ bộ. Ngày 25 tháng 8 ký các văn kiện đầu hàng. Được không?

        Ca-oa-bê lắc đầu:

        - Không được! Không đảm bảo an toàn cho các ông. Các ông đã ném hai quả bom nguyên tử, giết hại nhiều người, dân chúng tôi rất căm uất. Trên đất Nhật Bản hiện còn hai triệu quân chính quy thường trực chiến đấu, chưa kể hàng chục triệu người mang vũ khí.

        Xao-thơ-len chưng hửng, không biết nói gì thêm. Ca-oa-bê nói tiếp:

        - Tốt nhất, các ông cứ để cho chúng tôi tự tước vũ khí, tự giải tán các lực lượng vũ trang. Khi nào xong chúng tôi sẽ báo qua Đài Tô-ki-ô.

        Sau suốt ngày bàn cãi, chiều 19 tháng 8, cuộc họp kết thúc với thoả thuận: Phái đoàn quân sự Nhật Bản quay về Tô-ki-ô phổ biến lệnh ngừng bắn "ngay lập tức" tới các đơn vị trong nước và báo ngay cho Đồng minh biết khi có thể đảm bảo an toàn cho việc đổ bộ lên Tô-ki-ô.

        Mãi tới ngày 27 tháng 8, Nhật Bản mới nhắn tin: "Đồng minh có thể đổ bộ lên quân cảng Y-ô-cô-xư-ca". 10 giờ sáng ngày 28 tháng 8, Liên Xô là nước đầu tiên có mặt tại điểm hẹn. Đại diện cho Liên Xô là Tuỳ viên quân sự Đại sứ quán Liên Xô ở Tô-ki-ô. Khoảng 14 giờ, đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ mới đổ bộ lên quân cảng Y-ô-cô-xư-ca.. Phó đô đốc Tư lệnh quân cảng Nhật Bản, sau khi làm lễ "nghênh tiếp" lực lượng Đồng minh, đã rút kiếm ngắn đeo bên người mổ bụng tự sát. Sứ quán Liên Xô tại Nhật Bản ghi nhận, tới ngày 28 tháng 8, hàng trăm sĩ quan Nhật Bản tự sát.

        Đêm 31 tháng 8, tiếng súng cuối cùng mới ngừng nổ, sau khi quân đội Xô-viết hoàn toàn kiểm soát toàn bộ bán đảo Xa-kha-lin. Phía Nhật Bản lại đề nghị, tình hình chưa thật sự an toàn, lễ ký Hiệp định đầu hàng ấn định vào ngày 31 tháng 8 cần lùi lại đến 2 tháng 9.

        Các văn kiện được công bố trong ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Nhật Bản gồm có:

        - Bản "Chiếu chỉ ngày 2 tháng 9 năm 1945 của Thiên hoàng”, có chữ ký và dấu ấn của Vua Hi-rô-hi-tô và chữ ký của Thủ tướng Na-ru-hi-tô (Naruhito) và toàn bộ 14 Bộ trưởng Chính phủ.

        - Bản "Văn kiện đầu hàng", cùng ký có Bộ trưởng Ngoại giao Si-ghê-mít-xư (Shigemitsu) thừa lệnh Thiên hoàng, đại diện Chính phủ Nhật Bản và Tổng tham mưu trưởng U-mê-du (Umezu) thừa lệnh Tổng hành dinh Thiên hoàng. Phía dưới văn kiện đầu hàng, nổi bật dòng chữ "chấp nhận", có chữ ký của Đại tướng Mắc Ác-tơ với tư cách là Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh. Tiếp đó là Đô đốc Ni-mít (Nimitz) đại diện cho Mỹ và các đại diện của Trung Quốc, Anh, Liên Xô, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Pháp, Hà Lan, Niu Di-lân…

        Trở lại tình hình Việt Nam, ngay sau khi được tin Nhật Hoàng tuyên bố trên Đài phát thanh trưa 15 tháng 8, ngay hôm sau, 16 tháng 8, đội quân Việt-Mỹ lập tức làm lễ xuất phát từ Tân Trào, tiến về Thái Nguyên đánh quân Nhật. Sở chỉ huy của Mỹ đặt tại Côn Minh chăm chú theo dõi tình hình và ngày 19 tháng 8 được tin Việt Minh đã giành được chính quyền tại Hà Nội. Thiếu tá Mỹ Pát-ti (Patti) chỉ huy đội tiền trạm của Mỹ quyết định đi ngay Hà Nội để chuẩn bị lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản ở khu vực Đông Dương. Nhưng ngày 21 tháng 8, máy bay Mỹ vừa tới vùng trời Hà Nội đã bị súng phòng không của Nhật Bản bắn lên. Ngày 22 tháng 8, Pát-ti và toàn bộ phái đoàn quân sự mới hạ cánh được xuống sân bay Gia Lâm và cho tới lúc này, viên Trung tướng Nhật Bản Chư-si-ha-si (Tsuchihashi) tới gặp Pát-ti "vẫn ngơ ngác không biết tin gì về việc đầu hàng" và cũng "chẳng có đặc phái viên nào từ Tô-ki-ô tới truyền đạt lệnh đầu hàng" mà chỉ có lệnh "tạm ngừng bắn trong vòng 5 ngày, từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 8 năm 1945".

        Phái đoàn Mỹ, đồng thời cũng là phái đoàn đầu tiên của Đồng minh vừa đặt chân tới thủ đô Hà Nội ngày 22 tháng 8 thì ngày 23 tháng 8 nhân dân ta giành được chính quyền cách mạng tại Huế, ngày 25 tháng 8 tại Sài Gòn. Pát-ti thừa nhận "chỉ trong vòng 6 ngày (từ 19 đến 25 tháng 8), Việt Minh đã giành được chính quyền trong cả nước".

        Ngày 2 tháng 9, trong lúc tại Vịnh Tô-ki-ô, Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng các lực lượng Đồng minh, thì tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và toàn thế giới "Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập".

        Đúng một tuần sau, bộ phận tiền trạm của Quốc dân đảng Trung Hoa do tướng Tiêu Văn dẫn đầu, mới tới Hà Nội vào ngày 9 tháng 9. Ngày 14 tháng 9, Lư Hán mới tới để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản ở Bắc Đông Dương theo sự phân công của các lực lượng Đồng minh chống phát xít. Cũng mãi tới ngày 28 tháng 9 năm 1945, lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản bại trận mới được tổ chức tại Hà Nội. Ngày 26 tháng 3 năm 1946, những tên lính cuối cùng của Nhật Bản tại Đông Dương mới được đưa hết về nước.

        Những sự kiện lịch sử trên đây khẳng định, cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang 1945 của nhân dân Việt Nam đã diễn ra trong bối cảnh quân đội Nhật Bản chưa đầu hàng các lực lượng Đồng minh chống phát xít và Đạo quân phương Nam của Nhật Bản tại Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn vũ khí. Làm rõ hơn sự kiện lịch sử này, càng thấy rõ được sự lãnh  đạo kịp thời, nhạy bén, sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách mạng Tháng Tám 1945 đã diễn ra rất nhanh chóng, các tổ chức cơ sở của Mặt trận Việt Minh tại các địa phương đã khéo léo tiến công kết hợp với tuyên truyền vận động, lật đổ chính quyền bù nhìn các cấp và "trung lập hoá" quân đội Nhật Bản đang chiếm đóng tại nhiều thành phố, thị xã. Không phải ai khác mà chính các chiến sĩ Việt Minh trong các đội xung phong tuyên truyền đã báo tin cho quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương biết họ "đã thua trận" và khuyên họ “không can thiệp vào tình hình nội bộ của Việt Nam". Nhiều binh sĩ Nhật Bản, kể cả một số võ quan cấp cao đã chạy sang hàng ngũ cách mạng của Việt Minh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:16 pm

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ CHUẨN BỊ LÂU DÀI CỦA TOÀN ĐẢNG VÀ TOÀN DÂN1

NGÔ VĂN MINH       

        Trong bài viết này, tôi muốn trao đổi với tác giả Xten Tôn-nét-xơn về vai trò của Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

        Ở chương 12, tức chương kết luận của tác phẩm, Xten Tôn-nét-xơn cho rằng: "Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh chưa bao giờ thực sự hoạch định cho Cách mạng Tháng Tám, họ vạch kế hoạch cho một cuộc rút lui nhờ sự trợ giúp của quân Đồng minh. Như vậy, cuộc cách mạng này là tự phát, ứng biến tại trận"2. Quan điểm này của Xten Tôn-nét-xơn giống với quan điểm của Đa-vít Ma (D.G. Marr) trong tác phẩm "Việt Nam 1945-Sự tìm kiếm quyền lực" khi tác giả này cho rằng: "Sau ngày 9-3-1945, các sự kiện diễn ra theo một cái đà tự phát, không có bàn tay điều khiển nào. Những đảng viên Cộng sản và những người tham gia Việt Minh ở địa phương đã giành nhiều thắng lợi do sự ứng phó nhanh chóng của họ trước những thay đổi đột ngột hơn là theo một kế hoạch điều khiển nào"3. Điều này cho thấy, cả hai tác giả đều chưa nghiên cứu một cách thấu đáo đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Cách mạng Tháng Tám mà trong đó quan trọng nhất là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược qua các nghị quyết Trung ương 6, 7, 8. Với các nghị quyết này, Trung ương Đảng đã tập trung vào những nội dung chủ yếu nhất sau đây:

        Một là, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chủ trương giải quyết nó trong khuôn khổ từng nước Việt Nam, Lào, Campuchia; coi nhiệm vụ giải phóng dân tộc là quan trọng, cấp bách nhất, việc giải quyết mọi vấn đề khác của cách mạng đều xoay quanh vấn đề cốt lõi này.

        Hai là, lập mặt trận thống nhất dân tộc rộng rãi để phát huy toàn lực cho công cuộc giải phóng dân tộc.

        Ba là, đặt mạnh vấn đề vũ trang cho nhân dân, thành lập quân đội cách mạng, chủ trương từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, coi việc xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời nêu lên những điều kiện thuận lợi để khi thời cơ đến, chủ động lãnh đạo nhân dân giành chính quyền.

        Nội dung sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược này còn được tiếp tục cụ thể hoá, bổ sung thêm trong hàng loạt văn kiện tiếp theo như Chỉ thị về công tác tổ chức (1-12-1941), Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng (21-2-1941), Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (25, 28-2-1943), đặc biệt Chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra ngày 12 tháng 3 năm 1945, cùng các văn kiện khác của Tổng bộ Việt Minh.

        Tất cả những văn kiện trên không những nêu lên nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cả giai đoạn mà còn gắn với từng diễn biến chính tn trong nước để chỉ ra kẻ thù chính trước mắt một cách kịp thời, từ thực dân Pháp đến thực dân Pháp-phát xít Nhật, rồi phát xít Nhật-thực dân Pháp và cuối cùng là phát xít Nhật. Cũng qua từng giai đoạn, Trung ương Đảng đã có những dự đoán chính xác về tình hình chính trị trong nước. Trong đó có những dự báo xa từ 5 đến 10 năm để có thời gian chuẩn bị như dự báo chiến tranh Thái Bình Dương sẽ bùng nổ. Liên Xô và các nước dân chủ sẽ chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Lại có những dự báo gần như Nhật sẽ nhảy vào Đông Dương và Nhật sẽ lật Pháp để độc chiếm Đông Dương... Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh còn dự báo chính xác về thời cơ cách mạng: Năm 1941, trong tác phẩm Lịch sử nước ta, lãnh tụ Hồ Chí Minh dự báo năm 1945 Việt Nam sẽ độc lập, và đến tháng 10-1944, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người lại khẳng định: "Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh?"4.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2001. Bài viết trao đổi về một luận điểm của Xten Tôn-nét-xơn trong cuốn Cách mạng Việt Nam năm 1945-Rudơven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong một thế giới chiến tranh (The Vietnamese Revolution of 1945, Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war), International Peace Research Institute, Oslo. SAGE. Lon don. Newbury-New Delhi, 1991.

        2. S. Tomnesson. The Vietnamese Revolution of 1945, Roosevelt,De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, Sđd, p. 109.

        3. D.G. Marr. Vietnam 1945-The quest for power. University of California Press. Berkeley-Los Angeles-London, 1995, p.6.

        4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7: 1940-1945, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 353.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:50 pm

        Không những chỉ ra những công việc phải làm, những dự báo chính xác, Trung ương Đảng còn nêu lên những điều kiện nổ ra khởi nghĩa và đảm bảo khởi nghĩa thắng lợi. Chính dựa vào những chủ trương khởi nghĩa từng phần của Nghị quyết Trung ương 8, mà tại Quảng Ngãi, mặc dù đứt liên lạc với Trung ương, Đảng bộ ở đây đã lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa Ba Tơ vào ngày 11 tháng 3 năm 1945. Trong Tổng khởi nghĩa, chính dựa vào hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Đảng trong chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta là: "Nếu cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940, và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi"5, nên ngay khi nghe tin Nhật đầu hàng Đồng mình, mặc dù chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương, nhưng Đảng bộ nhiều tỉnh vẫn lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền (trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, chỉ có 13 tỉnh nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương trước khi khởi nghĩa giành chính quyền).

        Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) và Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12-3- 1945) thực sự trở thành một kế hoạch bao trùm, định hướng cho Tổng khởi nghĩa. Trong Tổng khởi nghĩa, các Đảng bộ địa phương đã thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương. Đây là sự chủ động vận dụng chủ trương chung, vì thế không thể gán cho nó tính "tự phát, ứng biến tại trận", "không theo một kế hoạch cụ thể nào" như ông Xten Tôn-nét-xơn nhận xét.

        Tất cả mọi sự chủ động, sáng tạo của Đảng bộ các tỉnh đều bắt nguồn từ đường lối chung của Trung ương về giải phóng dân tộc, đã được nêu lên trong các nghị quyết trên. Chính đặc điểm này đã nói lên sự chỉ đạo tài tình trong việc đề ra đường lối chung, thể hiện được những vấn đề lý luận cơ bản để các Đảng bộ địa phương linh hoạt, chủ động trong việc vận dụng. Nếu hiểu đường lối của Trung ương phải vạch ra những vấn đề cụ thể cho từng ngày, từng tháng, thì ở Việt Nam, trong Cách mạng Tháng Tám, không thể tiến hành khởi nghĩa thắng lợi vì điều kiện thông tin bấy giờ không đảm bảo nhanh chóng. Hơn nữa, nếu điều kiện thông tin cho phép thì cũng không nhất thiết phải có một kế hoạch cập nhật như thế.

        Thêm một vấn đề cần làm sáng tỏ nữa là Đảng Cộng sản Đông Dương không hề có ý ỷ lại Đồng minh như Xten Tôn-nét-xơn nhận định. Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố đứng về phía Đồng minh để đánh Nhật. Điều này nói lên chính sách chính nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, nhưng Đảng cũng luôn lưu ý các cấp Đảng bộ và toàn dân một tư tưởng chủ đạo là phải dựa vào sức mình để tạo và chớp thời cơ khởi nghĩa. Ngăn ngừa tư tưởng dựa vào kế hoạch "Hoa quân nhập Việt", lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ đối sách của cách mạng Việt Nam là: "Trong việc giao dịch với Quốc dân đảng Trung Quốc không mong chi nhiều…, chúng nó không vào Việt Nam càng tốt cho ta hơn"6. Trung ương Đảng có chủ trương liên hiệp có điều kiện với những người Pháp kháng chiến đang đánh Nhật, xem đấy là "Đồng minh khách quan" của nhân dân Đông Dương, nhưng cũng lưu ý "phải đề phòng cuộc vận động của bọn Đờ Gôn định khôi phục quyền thống trị của Pháp ở Đông Dương"7 và nhấn mạnh: "Rốt cuộc khẩu hiệu "Dân tộc độc lập" do sức mạnh của quần chúng võ trang mà quyết định, chứ không phải do lời hứa hẹn của bọn Pháp mà quyết định"8. Nghị quyết của Quốc dân đại hội ngày 16, 17 tháng 8 năm 1945 lại chỉ rõ: "Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết"9.

        Trên đây mới chỉ là quan điểm của tôi về một số luận điểm thiếu khách quan khoa học trong việc nghiên cứu của Xten Tôn-nét-xơn. Song dù sao cũng phải công nhận rằng Xten Tôn-nét-xơn đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu Cách mạng Tháng Tám 1945 của Việt Nam. Do lập trường, quan điểm, phương pháp phân tích vấn đề và một lý do không kém phần quan trọng là Xten Tôn-nét-xơn không khai thác được bao nhiêu nguồn tài liệu ngay tại Việt Nam, đặc biệt là không tiếp cận nguồn văn kiện của Đảng Cộng sản Đông Dương về quá trình cách mạng dẫn đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám nên tác giả đã có những nhận định không phản ánh đúng bản chất của vấn đề.

-------------------
        5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 392-393.

        6. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 103.

        7, 8. Văn kiện Đảng, tập 7, Sđd, tr. 366, 368-369.

        9. Văn kiện Đảng, tập 7, Sđd, tr 561.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:33:16 pm

1VỀ LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ NHẬT BẢN TẠI ĐÔNG DƯƠNG KHI BÙNG NỔ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 19451

LÊ KIM       

        Cuốn Lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945 do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995, trong chương Tổng khởi nghĩa, có đoạn viết: "Số lượng quân Nhật ở Đông Dương trong những ngày nhân dân ta tổng khởi nghĩa được phản ánh trong các tài liệu còn chưa được thống nhất. Có tài liệu viết là khoảng 10 vạn. Theo Trần Quang Huy: Bắc Bộ có 4 vạn, Trung và Nam Bộ 3 vạn. Theo Trần Văn Giàu: ở Sài Gòn quân Nhật đông hơn gấp mấy lần các nơi khác. Theo tập san về Cách mạng Tháng Tám: ở Nam Bộ là 6 vạn (sách đã dẫn, trang 198).

        Vậy thì, phải căn cứ vào tài liệu văn bản nào, từ nguồn gốc nào để biết được chính xác số lượng quân đội Nhật Bản trên toàn cõi Đông Dương, cũng như tại Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ khi nhân dân ta đồng loạt vùng lên tiên hành cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang dẫn đến thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám 1945?

        Theo nhiều nhà sử học phương Tây, có một văn bản được đánh giá là chính xác nhất về số lượng và thành phần các đơn vị quân đội Nhật Bản đóng trên từng khu vực Đông Dương. Đó là bản báo cáo quân số mà Bộ Tư lệnh quân đội Nhật Bản tại Đông Dương đệ trình Bộ Tư lệnh các lực lượng Đồng minh khu vực châu Á - Thái Bình Dương sau khi vua Nhật Bản xin hàng. Bản báo cáo này chia làm hai phần. Phần thứ nhất là số quân Nhật Bản tại Đông Dương tính đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, tức là ngày vua Nhật Bản Hi-rô-hi-tô (Hirohito) chính thức tuyên bố xin chấm dứt chiến tranh. Phần thứ hai là những bản báo cáo quân số tiếp theo tính từ ngày 16 tháng 8 năm 1945. So với bản báo cáo thứ nhất (ghi nhận trong ngày 15 tháng 8 năm 1945), những bản báo cáo quân số tiếp theo ghi nhận quân số quân Nhật "tiếp tục bị giảm dần do đào ngũ và tử vong vì những cuộc đụng độ (với Việt Minh) mà Bộ Tư lệnh quân đội Nhật Bản gọi là "những thương vong sau khi chiến tranh (Thái Bình Dương) đã chấm dứt". Điều đáng lưu ý là, những bản báo cáo trong phần hai này đã được ghi cụ thể, tỉ mỉ đến từng cá nhân, từng số lẻ, là cốt để "Bộ Tư lệnh quân đội Đồng minh (chủ yếu là Mỹ) thu xếp phương tiện tàu bè đưa số quân Nhật Bản này từ Đông Dương, cụ thể là từ các bến cảng Sài Gòn và Hải Phòng, về nước. Vì vậy, có thể kết luận, đây là những bản báo cáo quân số chính xác nhất.

        Từ năm 1992, Nhà xuất bản Albin Michel của Pháp đã sưu tầm được những bản báo cáo quân số của Cục Tác chiến - Quân lực thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Nhật Bản đóng tại Đông Dương từ ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi bắt đầu kết thúc chiến tranh Thái Bình Dương đến ngày 4 tháng 12 năm 1945 khi đã hoàn thành việc đầu hàng và giải giáp, tập trung tại các địa điểm chờ ngày xuống tàu về nước. Những tài liệu này đã được dịch sang tiếng Pháp, in trong cuốn Lơ-cléc và Đông Dương từ trang 47 đến trang 50. Những bản báo cáo quân số này cho biết:

        Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi vua Nhật Bản Hi-rô-hi-tô tuyên bố chấm dứt chiến tranh, số quân Nhật Bản đóng tại Đông Dương (trên địa bàn ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia) là 82.260 tên, gồm toàn bộ lính chiến đấu thuộc Quân đoàn 38 bộ binh và các đơn vị phụ thuộc; các lực lượng không quân, hải quân; cơ quan Tổng hành dinh của Bộ tư lệnh đạo quân Phương Nam, tương đương với một Phương diện quân. Đạo quân này có tới hơn 4 triệu binh lính, trải dài từ miền Nam Trung Quốc qua Mi-an-ma, Thái Lan, Đông Dương và các nước khu vực Đông Nam Á đến tận miền Trung và Nam Thái Bình Dương, nhưng riêng tại Đông Dương chỉ có cơ quan Tổng hành dinh đặt tại Đà Lạt.

        Hà Nội là nơi có tới ba cơ quan chỉ huy, tức Bộ Tư lệnh Quân đoàn 38, sở chỉ huy Sư đoàn 21, sở chỉ huy Sư đoàn 82, có các đơn vị trực thuộc đóng tại Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Móng Cái, Hòn Gai, Hải Phòng… Sở chỉ huy Sư đoàn 83 đặt tại Thanh Hoá, có các đơn vị đóng tại Phủ Lý, Luông Pha Băng, Viếng Chăn… Sở chỉ huy Trung đoàn 62 đặt tại Vĩnh Yên, có các đơn vị đóng tại Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang.

        Đà Nẵng là nơi đặt sở chỉ huy Sư đoàn 2, có các đơn vị đóng tại Biên Hoà, Lộc Ninh, Long Thành, Thủ Dầu Một, Phnôm Pênh…

------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2001.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:33:42 pm

        Phnôm Pênh cũng được Nhật Bản chọn làm địa điểm đặt sở chỉ huy Sư đoàn 55 nhưng cho tới ngày 15 tháng 8 năm 1945 mới chỉ có 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn này tại Thái Lan điều động tới.

        Như vậy, có thể khẳng định, trên tất cả các thành phố, tỉnh lỵ và một số thị trấn ở Việt Nam, Lào, Campuchia đều có quân đội Nhật Bản chiếm đóng. Một điều cần nhấn mạnh là trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương do Nhật Bản phát động ngày 7 tháng 12 năm 1941 và chấm dứt ngày 15 tháng 8 năm 1945, quân đội Nhật Bản ở hầu hết các chiến trường đều bị tổn thất nặng, nhất là trong giai đoạn cuối. Chỉ riêng trên bán đảo Đông Dương (gồm Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia) là hầu như còn nguyên vẹn. Những cuộc ném bom bắn phá của máy bay Mỹ tại Thái Lan và Đông Dương chỉ gây cho quân đội Nhật Bản những thiệt hại nhỏ. Tư lệnh tối cao đạo quân Phương Nam của Nhật Bản, đặt tổng hành dinh tại Đà Lạt, là Thống chế Bá tước Tê-ra-u-chi (Terauchi), ngày 16 tháng 8 năm 1945 đã biết chính xác vua Hi-rô-hi-tô tuyên bố xin hàng từ trưa 15 tháng 8 năm 1945 nhưng vẫn bưng bít che giấu, chỉ phổ biến xuống cấp dưới là “ngừng bắn trong 5 ngày, từ 17 đến 22 tháng 8 năm 1945". Trưa 22 tháng 8 năm 1945, chiếc máy bay "tiền trạm" chở Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ là thiếu tá A. Pát-ti (Archimedes Patti) bay từ Côn Minh (Trung Quốc) đi Hà Nội còn bị súng cao xạ phòng không của Nhật Bản bắn, không hạ cánh được xuống sân bay Bạch Mai, phải tiếp đất ở Gia Lâm và cho tới lúc này, quân đội Nhật Bản đóng tại đây "vẫn không được biết gì về việc đầu hàng cả!".

        Như vậy là, khi phát động cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang từ bản Quân lệnh số 1, ban hành lúc 11 giờ đêm 13 tháng 8 năm 1945, các lực lượng vũ trang cách mạng cùng với nhân dân ta đã phải đối phó với một kẻ thù rất mạnh và hiếu chiến. Mặc dù vậy, nhân dân ta vẫn giành được thắng lợi trọn vẹn. Đó là do đã khéo léo kết hợp tiến công quân sự với binh vận và thuyết phục.

        Ngay từ khi Nhật Bản kéo quân vào Đông Dương, Đảng ta một mặt vạch trần dã tâm xâm lược của bọn quân phiệt trong quần chúng nhân dân, mặt khác cũng rất chú trọng vận động binh lính Nhật Bản cũng như đã từng vận động binh lính Pháp và ngụy2. Sau khi Nhật Bản tiến hành đảo chính quân sự tối 9 tháng 3 năm 1945, Đảng ta kịp thời chuyển khẩu hiệu "Đánh Pháp, đuổi Nhật" thành khẩu hiệu "Đánh đuổi phát xít Nhật", tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, dấy lên một cao trào "Kháng Nhật, cứu nước", tiến hành một loạt cuộc tiến công quân sự, chủ yếu là chống lại những cuộc hành quân càn quét, đồng thời vẫn không ngừng tiến hành công tác địch vận.

        Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, tại một số nơi, chính Mặt trận Việt Minh, bằng các truyền đơn địch vận, đã thông báo cho binh lính Nhật Bản biết tin vua Nhật Bản đã tuyên bố đầu hàng, trước khi những đơn vị này được cấp trên thông báo chính thức. Ở một số nơi như Bắc Kạn, lực lượng cách mạng đã bao vây quân đội Nhật Bản đóng trong doanh trại, buộc chúng phải nộp vũ khí rồi mới cho chúng rút khỏi thị xã, kéo về Thái Nguyên. Tại Thái Nguyên, lực lượng bộ đội Việt - Mỹ vừa tiến công bao vây, vừa kêu gọi quân đội Nhật Bản đầu hàng và khi tình hình còn đang giằng co, đã linh hoạt chuyển sang giành chính quyền ở thị xã. Tại Hà Nội, trong lúc lực lượng cách mạng đang bao vây trại bảo an binh thì quân đội Nhật Bản huy động cả xe tăng tới ứng cứu, nhưng nhân dân ta lại lập tức bao vây và thuyết phục lính Nhật, buộc chúng phải rút lui. Tại nhiều nơi khác, mặc dù lực lượng cách mạng còn nhỏ yếu nhưng đã dựa được vào sức mạnh của quần chúng nhân dân, giành được chính quyền cách mạng ngay trước mũi súng của quân đội Nhật Bản.

        Tại Sài Gòn, quân đội Anh kéo vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản, đã thâm độc sử dụng ngay binh linh Nhật Bản đàn áp lực lượng cách mạng, nhưng đã bị nhân dân ta chống trả quyết liệt. Các bản báo cáo quân số của Nhật Bản sau ngày 15 tháng 8 năm 1945 tiếp tục ghi nhận, từ ngày 16 tháng 8 đến ngày 4 tháng 12 năm 1945, quân đội Nhật Bản đóng tại Đông Dương tiếp tục bị suy giảm: 109 binh sĩ bị chết, 132 bị thương, 72 mất tích, 478 đào ngũ. Trong số này, chủ yếu là những thương vong tại Nam Bộ; chỉ tính đến ngày 30 tháng 10 năm 1945 đã có 119 binh sĩ bị chết và bị thương, từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 30 tháng 10 năm 1945 có tới 439 đào ngũ, rất nhiều người đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh.

--------------------
        2. Trong Văn kiện Đảng toàn tập do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000, tập 7, tr. 479, có in lại một tờ truyền đơn kêu gọi binh sĩ Nhật do Mặt trận Việt Minh tán phát từ tháng 1-1942.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:36:17 pm

VỀ THỜI GIAN GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 19451

PHAN TRỌNG BÁU       

        Thời gian giành chính quyền toàn quốc nói chung trong Cách mạng Tháng Tám tưởng như không có vấn đề gì phải bàn cãi. Trong bài "Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của Cách mạng Tháng Tám”2, tác giả đã viết "Chỉ trên 10 ngày nhân dân cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nắm được chính quyền trong toàn quốc". Trong tác phẩm "Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám"3, tác giả Nguyễn Anh Dũng lại nhích lên "chỉ trong vòng hai tuần lễ đã lật đổ được toàn bộ chính quyền thực dân phong kiến, thiết lập được chính quyền cách mạng trên khắp đất nước". Mười ngày hay 15 ngày là một con số có thể xê dịch chút ít nhưng không quá 20 ngày.

        Vậy phạm vi thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám nên hiểu thế nào? Muốn xác định được vấn đề này cần giải quyết hai điểm:

        1. Thế nào là giành được chính quyền trong một địa phương? (chủ yếu là một tỉnh).

        2. Trong số 59 tỉnh, thành giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám thì nên lấy địa phương nào làm mốc mở đầu và địa phương nào làm mốc kết thúc, qua đó mà xác định thời gian, tức là số ngày giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám là 15, 20 ngày, một tháng hay lâu hơn nữa?

        Trong Cách mạng Tháng Tám, việc giành chính quyền trong một địa phương đã diễn ra không đồng đều và dưới nhiều hình thái khác nhau: Hoặc bắt đầu từ nông thôn rồi kết thúc ở thành thị, tỉnh lỵ (gồm 29 tỉnh thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ), hoặc bắt đầu từ tỉnh lỵ rồi kết thúc ở huyện và xã (gồm 15 tỉnh Nam Bộ và 7 tỉnh Nam Trung Bộ), cũng có tỉnh thì cuộc khởi nghĩa nổ ra cùng một ngày ở thị xã và ở huyện (gồm 4 tỉnh Trung Bộ và 4 tỉnh Nam Bộ). Nhưng vô luận diễn ra dưới hình thái nào thì việc giành chính quyền cũng phải được hoàn thành bằng việc đánh đổ toàn bộ chính quyền thực dân, phong kiến và bọn tay sai phát xít Nhật và Tàu Tưởng, phải chiếm được trung tâm hành chính và xác lập bằng cuộc ra mắt của chính quyền cách mạng. Do đó, có tỉnh như Quảng Ngãi thì ngay từ ngày 11 tháng 3 năm 1945 chi bộ Đảng ở Ba Tơ đã khởi nghĩa, lập chính quyền cách mạng, mở đầu giai đoạn khởi nghĩa từng phần, chuẩn bị khẩn trương cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Sau khi nghe tin Nhật hoàng chấp nhận đầu hàng Đồng minh, trưa ngày 14 tháng 8 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi quyết định tiến hành khởi nghĩa. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, lực lượng khởi nghĩa đã chiếm dinh tỉnh trưởng và các công sở quan trọng như kho bạc, nhà bưu điện, sở mật thám… bắt tỉnh trưởng làm con tin và đóng vai trung gian điều đình giữa Nhật và ta. Như vậy, ngày khởi nghĩa thành công và giành được chính quyền ở tỉnh Quảng Ngãi là ngày 16 tháng 8 năm 1945. Nhưng vì bọn Nhật và một số phản cách mạng còn định cướp lại chính quyền nên ta đã phải dùng lực lượng vũ trang, vừa đánh vừa đàm phán, cuối cùng ngày 21 tháng 8 năm 1945, bọn Nhật mới chịu chấp nhận ngửng bắn, những mưu toan của bọn phản động mới bị đập tan và thị xã Quảng Ngãi hoàn toàn giải phóng. Ngày 30 tháng 8 năm 1945, chính quyền ta mới ra mắt nhân dân.

        Tuy vậy, không phải hễ đã chiếm được tỉnh lỵ là coi như việc giành chính quyền ở địa phương kết thúc. Thái Bình là một ví dụ.

        Sau khi nhận được tin Hà Nội biểu tình tuần hành thị uy ngày 17 tháng 8 năm 1945, mặc dù chưa nhận được lệnh của Trung ương, nhưng thấm nhuần chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", Tỉnh ủy Thái Bình đã họp khẩn cấp và vạch kế hoạch giành chính quyền ở các phủ huyện rồi tập trung lực lượng đánh chiếm thị xã, giành chính quyền toàn tỉnh. Nhưng tình hình đã diễn ra ngược lại. Nhờ tinh thần năng động sáng tạo của Đoàn Thanh niên Cứu quốc thị xã, tuy chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng chiều ngày 18 tháng 8 năm 1945, các đồng chí đã quyết định huy động lực lượng quần chúng tham gia khởi nghĩa. Sáng 19 tháng 8 năm 1945, một cuộc mít tinh lớn diễn ra ở thị xã rồi sau đó biểu tình tuần hành chiếm các công sở, bọn lính Nhật và chính quyền bù nhìn không dám phản ứng. Ta nhanh chóng làm chủ tình hình và chính quyền cách mạng đã điều hành mọi việc trong thị xã. Đồng thời với khởi nghĩa thắng lợi ở thị xã, các huyện Quỳnh Côi, Đông Quan, Phụ Dực, Tiên Hưng cũng giành được chính quyền. Từ ngày 20 đến 22 tháng 8, các huyện Duyên Hà, Thụy Anh, Hưng Nhân, Kiến Xương, Vũ Thư, Tiền Hải cũng tiếp tục thành lập chính quyền cách mạng ở địa phương. Riêng huyện Thư Trì thì ngày 25 tháng 8 mới giành được chính quyền vì còn phải huy động quần chúng đắp đê Mỹ Lộc bị vỡ do lụt gây ra.

------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2002.

        2. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng. Tìm hiểu tính chất và đặc điểm của Cách mạng Tháng Tám, Hà Nội, 1963, tr. 24.

        3. Nguyễn Anh Dũng. Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám, NXB Sự thật, Hà Nội, 1989, tr. 166.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:36:47 pm

        Như vậy, hình thái giành chính quyền ở Thái Bình lại ngược với Quảng Ngãi, là từ tỉnh lỵ về các huyện. Mặc dầu vậy, ngày khởi nghĩa thắng lợi ở Thái Bình không thể là ngày 19 tháng 8 năm 1945 mà phải là ngày mà toàn tỉnh đã được giải phóng, ngày 25 tháng 8 năm 1945, cũng đồng thời là ngày ra mắt của chính quyền cách mạng tỉnh.

        Ở trên chúng tôi đã trình bày hai trường hợp để xác định quan niệm thế nào là giành được chính quyền ở một tỉnh, nghĩa là trong mọi trường hợp, dù ở huyện về hay ở tỉnh phát triển xuống, cũng phải giải phóng được lãnh thổ, chiếm được thủ phủ, chính quyền cách mạng được ra mắt nhân dân, thì nhiệm vụ giành chính quyền mới coi như hoàn thành.

        Nếu chúng ta có thể nhất trí với một chuẩn mực như đã trình bày thì vẫn còn những ngoại lệ, mà tỉnh Vĩnh Yên là một dẫn chứng.

        Vĩnh Yên là một tỉnh có phong trào phát triển mạnh, từ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến đầu tháng 8 năm 1945, tỉnh đã có vùng giải phóng và huyện Lập Thạch đã có ủy ban Dân tộc giải phóng. Từ ngày 18 đến 24 tháng 8, ta đã giành được chính quyền ở nhiều huyện như Bình Xuyên (18-8), Vĩnh Tường (21-8), Yên Lạc (22-8), Tam Dương (24-8)… Trong khi đó tình hình ở thị xã Vĩnh Yên lại diễn ra phức tạp vì bọn Đại Việt và Quốc dân đảng đã giành được chính quyền trước ta và gây ra cuộc xô xát làm đổ máu hàng trăm người khi ta tổ chức biểu tình tiến vào thị xã. Cuộc biểu tình giành chính quyền về tay cách mạng bị thất bại. Tuy vậy, cuối tháng 9 năm 1945, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Vĩnh Yên vẫn được thành lập và đóng trụ sở tại huyện Yên Lạc. Sau đó, ta tiến hành những cuộc tiến công vào bọn phản cách mạng nhưng nhờ sự chi viện của quân đội Tưởng nên chúng vẫn tồn tại. Cho mãi đến giữa tháng 6 năm 1946, khi quân Tưởng rút đi, ta mới tiêu diệt được bọn phản động và thị xã Vĩnh Yên mới được hoàn toàn giải phóng. Nếu theo quy chuẩn như đã nêu thì Vĩnh Yên chưa giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám mà phải gần một năm sau chính quyền ở tỉnh này mới hoàn toàn thuộc về ta.

        Cũng trong tình hình tương tự (Quốc dân đảng và lực lượng phản động đã cướp chính quyền từ trước), mà tỉnh Hà Giang, mặc dầu có 2/3 diện tích tỉnh nằm trong Khu Giải phóng, nhưng mãi đến 25 tháng 12 năm 1945, ta mới giành được chính quyền. Hay như Hải Ninh phải sang tháng 2 năm 1946, Móng Cái tháng 7 năm 1946, Lào Cai tháng 11 năm 1946. Đặc biệt, ở Lai Châu, do thế lực của tầng lớp thổ ty còn mạnh, ta chỉ tổ chức giành được chính quyền ở châu Quỳnh Nhai, còn toàn tỉnh phải đến mấy năm sau, khi bộ đội ta tiến vào Tây Bắc, giải phóng một vùng rộng lớn của đất nước, thì Lai Châu mới trở về với chính quyền cách mạng vào cuối 1952.

        Tóm lại, thời gian giành chính quyền ở các địa phương trong Cách mạng Tháng Tám không phải chỉ nói một cách đơn giản là trong hơn 10 ngày hay hơn 15 ngày mà có thể phải quan niệm một cách rõ ràng như sau:

        - Nếu lấy Quảng Ngãi là tỉnh đầu tiên trong toàn quốc giành được chính quyền (16-8-1945) và tỉnh cuối cùng là Lào Cai, mãi tới ngày 8 tháng 11 năm 1946 mới hoàn thành nhiệm vụ, thì thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám sẽ kéo dài đến thời điểm nào?

        - Hiện đã có một số cách tính thời gian, chúng tôi xin nêu ra 2 cách suy nghĩ về vấn đề này, xin được cùng trao đổi:

        + Nếu tính thời gian giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thì có thể lấy mốc đầu tiên là Quảng Ngãi (16-8-1945) và mốc kết thúc là Vĩnh Yên (cuối tháng 9-1945), như vậy cũng phải trên 1 tháng.

        + Còn nếu tính thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì phải kéo dài đến ngày 8 tháng 11 năm 1946, là ngày chính quyền cách mạng tỉnh Lào Cai được thành lập, tức là 1 năm 2 tháng 8 ngày. Vì đó mới là ngày toàn bộ chính quyền về tay nhân dân ta.

        Đương nhiên, đây là cái nhìn chung mà không tính đến những ngoại lệ như Hà Cối, Ba Chẽ, các đảo Cô Tô, Vạn Hoa của tỉnh Móng Cái, ta chưa kịp giải phóng thì Pháp đã chiếm và phải tới cuối năm 1954, sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, những địa phương này mới trở về với đất nước thân yêu.

        Tóm lại, sở dĩ cần phân biệt thời gian giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa với thời gian giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám vì có như thế chúng ta mới thấy được cái phong phú, đa dạng của Cách mạng Tháng Tám và đó cũng chính là thực tế diễn biến của cuộc cách mạng to lớn này của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:39:36 pm

BÀN THÊM VÊ TÍNH CHẤT CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM1

VŨ QUANG HIỂN       

        Khi viết về tính chất của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, đồng chí Trường Chinh khẳng định đó là “một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mang tính chất dân chủ mới”2. Song gần đây có ý kiến cho rằng Cách mạng Tháng Tám là “một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình”3. Sự thống nhất trong những nhận định ấy là tính chất giải phóng dân tộc, còn tính chất dân chủ thì cách hiểu có khác nhau. Vậy xin bàn thêm cho rõ về vấn đề này.

        Tính chất của một cuộc cách mạng được quy định bởi nhiệm vụ mà nó giải quyết, ở lực lượng tham gia và kết quả mà nó mang lại. Đây là những vấn đề có liên quan chặt chẽ đến đường lối cách mạng của Đảng, vì Cách mạng Tháng Tám là thành quả của 15 năm đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để có đường lối đúng đắn, Đảng phải trải qua một quá trình đấu tranh về tư tưởng, nhất là trong nhận thức, về nhiệm vụ chủ yếu và lực lượng cách mạng.

        Xã hội Việt Nam, khi bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu. Những mâu thuẫn ấy quy định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là chống đế quốc và chống phong kiến, mà chống đế quốc là nhiệm vụ hàng đầu.

        Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau, với địa vị kinh tế, thái độ chính trị và khả năng cách mạng khác nhau. Công nhân và nông dân có số lượng đông nhất,bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần đấu tranh hăng hái nhất, giữ vai trò động lực cách mạng, trong đó công nhân là giai cấp lãnh đạo. Các tầng lớp khác như học sinh, nhà buôn nhỏ, địa chủ vừa và nhỏ, trong quan hệ với công nhân và nông dân, có mặt hạn chế, nhưng trong quan hệ với đế quốc thì họ cũng phải chịu nỗi nhục mất nước. Vì thế, trong một mức độ nhất định, họ có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc, nên họ có khả năng tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Họ không phải là đối tượng của cách mạng giải phóng dân tộc, mà là "bầu bạn cách mệnh của công nông"4. Bản thân giai cấp nông dân Việt Nam cũng có đặc điểm: vừa mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc, vừa mâu thuẫn với địa chủ phong kiến về quyền lợi ruộng đất. Họ có cả hai yêu cầu độc lập dân tộc và ruộng đất, nhưng họ luôn đặt lợi ích dân tộc cao hơn. Vấn đề ruộng đất không phải là duy nhất, cũng không phải là vấn đề số một của giai cấp nông dân ở thuộc địa. Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng thuộc địa là giải phóng dân tộc, mà chủ yếu là giải phóng nông dân, vì chủ nghĩa đế quốc xâm lược và thống trị nước ta chủ yếu là thống trị và bóc lột nông dân. Vấn đề dân tộc là yếu tố quyết định tính chất độc đáo của cách mạng thuộc địa. Vì thế, trong cách mạng ở thuộc địa, trong khi đồng thời phải giải quyết cả hai vấn đề dân tộc và vấn đề ruộng đất, thì vấn đề dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu.

        Trong thời kỳ vận động cứu nước 1939-1945, Đảng có sự chuyển hướng chiến lược cách mạng. Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, do Nguyễn Ái Quốc chủ trì (5-1941), nhấn mạnh mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với bọn đế quốc-phát xít xâm lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Hội nghị phân tích:

        “…Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng.

        Pháp-Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương"5.

        “…Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tủ, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, nếu không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc"6. "Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương, hợp với nguyện vọng chung của tất cả nhân dân Đông Dương… cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng" (tác giả nhấn mạnh), vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng". "Trong giai đoạn hiện tại ai cũng biết rằng nếu không đánh đuổi được Pháp-Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp trâu ngựa muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được. Vậy thì trong lúc này muốn giải quyết nhiệm vụ giải phóng không thể đưa thêm một nhiệm vụ thứ hai chưa cần thiết với toàn thể nhân dân, giải quyết mà có hại cho nhiệm vụ thứ nhất".

------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-2002.

        2. Trường Chinh. Tuyển tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 1 72.

        3. Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị. Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học, NXB CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 65.

        4. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 226.

        5. Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương. Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, NXB Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 151.

        6. Văn kiện Đảng, tập 3. Sđd, tr. 196.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:40:12 pm

        Việc tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất "không phải đi lùi lại một bước, mà chỉ bước một bước ngắn hơn để có sức mà bước một bước dài hơn"7. Trên cơ sở đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Đảng chủ trương tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc. Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định "Đảng ta phải thống nhất lực lượng cách mạng của nhân dân Đông Dương dưới một hiệu cờ thống nhất, tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo có tinh thần chống Pháp, chống Nhật muốn độc lập cho đất nước, thành một mặt trận cho cách mạng chung"(8 ). Nghị quyết của Hội nghị giải thích cụ thể việc tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất:

        "Ngay bây giờ nếu ta nêu khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, như thế chẳng những ta bỏ mất một lực lượng đồng minh, một lực lượng hậu thuẫn trong cuộc cách mạng đánh đuổi Pháp-Nhật mà còn đẩy lực lượng ấy về phe địch làm thành hậu bị quân cho phe địch nữa. Nhưng chúng ta cũng đừng tưởng rằng chưa giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân sẽ làm giảm bớt sức chiến đấu đâu. Không, nông dân cũng không giảm bớt sự hăng hái tranh đấu mà vẫn nỗ lực tranh đấu mạnh hơn vì trong cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc họ cũng được hưởng nhiều quyền lợi to tát". Đó là "lật một cái ách bóc lột nặng nề nhất của họ". "Như vậy không giảm bớt lực lượng cách mạng của nông dân trong cuộc tranh đấu chống Pháp, chống Nhật, mà lại còn tăng thêm những lực lượng đồng minh. Như vậy là giai cấp vô sản đi đúng con đường chính trị hoàn toàn có lợi mới mau hoàn thành cách mạng"9.

        Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Mặt trận Việt Minh được thành lập, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp mọi người Việt Nam có lòng yêu nước thương nòi, đưa cả dân tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở cả nông thôn và thành thị, làm cho Cách mạng Tháng Tám mang tính chất dân tộc sâu sắc. Theo cách dùng từ của Lê-nin trong tác phẩm Tổng kết một cuộc tranh luận về quyền tự quyết, thì đó chính là một "lò lửa khởi nghĩa dân tộc"10. Hình thức chính quyền là sự phản ánh tính chất của cách mạng, phản ánh lực lượng tham gia cách mạng. Trước năm 1939, Đảng chủ trương thành lập chính quyền công nông. Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11-1939) chủ trương thành lập chính quyền với hình thức cộng hoà dân chủ, song phạm vi là trên toàn Đông Dương. Hội nghị lần thứ 8 (5-1941) đã giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận, riêng ở Việt Nam Hội nghị chủ trương "sau lúc đánh đuổi được Pháp-Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ, chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cửa toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp-Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều thảy được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy"11.

        Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc gần một thế kỷ trên đất nước Việt Nam, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Đó là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng Cộng sản và tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh.

        Đồng chí Trường Chinh khẳng định rằng "Cách mạng Tháng Tám Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Mục đích của nó là làm cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đế quốc, làm cho nước Việt Nam thành một nước độc lập tự do"12.

        Vậy cuộc cách mạng này có tính chất dân chủ không? Có, nhưng chưa thật sự là điển hình.

        Tính chất dân chủ của Cách mạng Tháng Tám thể hiện ở chỗ "nó chống lại phát xít Nhật và bọn tay sai phản động, và nó là một bộ phận của cuộc chiến đấu vĩ đại của lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới chống phát xít xâm lược". "Do Cách mạng Tháng Tám, một phần ruộng đất của đế quốc và Việt gian đã bị tịch thu, địa tô được tuyên bố giảm 25%, một số nợ lưu cũ được xoá bỏ"13.

        Cách mạng Tháng Tám "chưa làm cách mạng ruộng đất, chưa thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng", "chưa xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, chưa xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến để cho công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh... quan hệ giữa địa chủ và nông dân nói chung vẫn như cũ. Chính vì thế Cách mạng Tháng Tám có tính chất dân chủ, nhưng tính chất đó chưa được đầy đủ và sâu sắc (tác giả -VQH-nhấn mạnh)"14. Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình. Nhưng tính chất dân chủ của nó chưa điển hình. Phân tích tính chất của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Trường Chinh kết luận: "Cách mạng Tháng Tám Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mang tính chất dân chủ mới. Nó là một bộ phận khăng khít của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam"15.

------------------
        7,8. Văn kiện Đảng, tập 3, Sđd, tr. 202, 203.

        9. Văn kiện Đảng, tập 3, Sđd. tr. 202, 203

        10. Lênin Toàn tập, tập 30, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981 , tr. 67.

        11. Trường Chinh. Tuyển tập, Sđd. tr. 169-172.

        12. Văn kiện Đảng, Sđd, tr. 197-205.

        13, 14, 15. Trường Chinh. Tuyển tập, Sđd, tr. 169-172.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:43:44 pm
           
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - TRAO ĐỔI THÊM VỀ KHÁI NIỆM KHỞI NGHĨA VÀ CÁCH MẠNG1
   
NGUYỄN MẠNH HÀ        

        Chỉ còn một năm nữa là tròn 60 năm diễn ra cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 long trời lở đất, lật nhào chế độ phong kiến hơn một nghìn năm và ách thống trị thực dân hơn 80 năm, đưa đến sự thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là một sự kiện lịch sử đã được sách báo đề cập đến nhiều trong mấy chục năm qua, trên nhiều khía cạnh. Đặc biệt, đã có khá nhiều nhà Việt Nam học nước ngoài như Ken-pốt (Hà Lan), Đa-vít Ma (Mỹ), Sten Tôn-nét-xơn (Na Uy)... đã xuất bản những cuốn chuyên khảo về sự kiện lịch sử này với nhiều tư liệu mới, những cách tiếp cận và đánh giá vấn đề đáng chú ý.

        Trong bài viết này, chúng tôi muốn nêu lên một số vấn đề để cùng nghiên cứu, trao đổi qua cuốn sách của Đa-vít Ma: "Việt Nam 1945 - Sự tìm kiếm quyền lực"2.

        Đa-vít Ma lần đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1965, là lính quân dịch thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ. Trong thời gian ở miền Nam Việt Nam, ông đã tìm hiểu và cưới vợ là một người phụ nữ ở Đà Nẵng, gốc Huế. Do tham gia phong trào sinh viên Sài Gòn phản đối chiến tranh, ông bị chính quyền Mỹ trục xuất, phải sang Ốt-xtrây-li-a cư trú 10 năm mới được nhập lại quốc tịch Mỹ. Đa-vít Ma quan tâm nghiên cứu về lịch sử chính trị, xã hội của Việt Nam khá sớm (1967), và thực sự bắt đầu từ năm 1983 khi ông tiếp xúc với Trung tâm tư liệu của Pháp ở Aix-en Prô-văng-xơ. Ông đã công bố nhiều công trình như: Các phong trào văn thân yêu nước cuối thế kỷ XIX; Việt Nam trước sự phán xét (1920-1945), viết về các phong trào cách mạng ở Việt Nam. Ông đang thu thập tư liệu để viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và thời kỳ đổi mới của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế.

        Cuốn sách "Việt Nam 1945 - Sự tìm kiếm quyền lực" là một công trình đồ sộ, được nghiên cứu khá công phu. Giáo sư Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trong buổi họp giới thiệu cuốn sách của Đa-vít Ma, ngày 2 tháng 12 năm 1995 tại Hà Nội, đã cho rằng cuốn sách có một "nền tảng tư liệu cực kỳ phong phú - phong phú nhất từ trước đến nay, kết hợp cả tư liệu bên trong (Việt Nam) và bên ngoài". Cuốn sách đã đặt ra nhiều vấn đề mới, lôi cuốn được sự quan tâm, tranh luận vì đã đặt thẳng các vấn đề một cách mạnh mẽ, có căn cứ.

        Qua cuốn sách và qua trao đổi trực tiếp với Đa-vít Ma, chúng tôi thấy ông đã nêu ra một loạt vấn đề còn cần phải tiếp tục nghiên cứu, trao đổi. Ví dụ như ông đặt vấn đề: Sự kiện Tháng Tám năm 1945 có phải là một cuộc cách mạng hay không? Ông cho rằng: sự kiện Tháng Tám 1945 ở Việt Nam chỉ là cuộc Tổng khởi nghĩa chứ không phải là một cuộc cách mạng. Theo Đa-vít Ma, cách mạng phải là một quá trình lâu dài. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 mới chỉ là bước khởi điểm của cuộc cách mạng, sau đó Việt Nam còn phải trải qua 2 cuộc kháng chiến nữa mới hoàn thành cuộc cách mạng. Một lý lẽ nữa mà Đa-vít Ma đưa ra là vì cuộc Tổng khởi nghĩa này không phản ánh được sự thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội lúc đó. Thậm chí ông còn cho rằng "nó giống như một cuộc đảo chính hơn" vì chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn. Còn mục tiêu của Cách mạng là độc lập, hoà bình, thống nhất, dân giàu nước mạnh thì mãi đến năm 1975, 1976 mới đạt được.

        Đây là ý kiến nhìn nhận của một nhà nghiên cứu lâu năm về các vấn đề lịch sử Việt Nam cận hiện đại, đáng được quan tâm xem xét. Dưới góc độ nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám, chúng tôi xin cùng trao đổi về vấn đề này với Đa-vít Ma theo từng điểm mà ông nêu ra.

        1. Về mục tiêu của cuộc cách mạng.

        Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã xác định những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Những nhiệm vụ này thể hiện trong việc đề ra và giải quyết hai vấn đề cơ bản là dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến. Sau đó, theo yêu cầu và diễn biến tình hình, Đảng dần dần xác định nhiệm vụ trọng tâm là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Điều này phù hợp với đòi hỏi và tình hình thực tiễn là nhằm giải quyết mâu thuẫn chủ yếu giữa dân tộc bị áp bức với đế quốc, thực dân xâm lược, giải quyết nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở một nước thuộc địa là giải phóng dân tộc. Các hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939); lần thứ 7 (11-1940) và đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) đã dần dần hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Tháng 8 năm 1945, trước những điều kiện chủ quan, khách quan chín muồi, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân từ Bắc chí Nam đứng dậy thực hành cuộc Tổng khởi nghĩa, lật đổ sự thống trị phong kiến, thực dân, giành độc lập cho dân tộc. Như vậy, mục tiêu đề ra ban đầu của cuộc cách mạng là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, cơ bản đã được thực hiện. Lần đầu tiên, nhân dân Việt Nam có được chính quyền đại diện cho quyền lợi chính đáng của mình. Lần đầu tiên, toàn dân được tự do cầm lá phiếu đi bầu những đại diện cho mình trong Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

------------------------------
        1. Tạp chí LSQS số tháng 8-2004.

        2. David Marr, Vietnam 1945 - The Quest for Power, NXB Đại học California, Ber Keley, 1995.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:45:01 pm

        Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đến thời điểm Tháng Tám năm 1945, đã đem lại độc lập cho dân tộc, quyền làm chủ vận mệnh của mình cho mỗi người dân. Đấy là điều cơ bản không thể phủ nhận. Tuy rằng, ngay sau khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trên phạm vi cả nước chưa đầy một tháng, nhân dân Việt Nam lại phải cầm súng tiến hành kháng chiến chống lại cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp, tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Trong Tuyên ngôn độc lập đọc trước hàng chục vạn người tại Quảng trường Ba Đình chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà"3.

        2. Về tính chất của cuộc cách mạng

        Trước hết, chúng tôi muốn trình bày sơ lược khái niệm Khởi nghĩa. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin thì khởi nghĩa là một hình thức đặc biệt của đấu tranh chính trị, là một trong những phương thức đấu tranh cao nhất của dân tộc hoặc giai cấp bị áp bức nhằm lật đổ bộ máy thống trị cũ giành chính quyền. Lực lượng tiến hành khởi nghĩa gồm đông đảo quần chúng nhân dân có trang bị vũ khí, có thể có lực lượng vũ trang được xây dựng từ trước làm nòng cốt hoặc hỗ trợ. Ngoài ra, còn có thể có một bộ phận binh lính được giác ngộ tham gia.

        Khởi nghĩa là một nghệ thuật và chỉ nổ ra, giành thắng lợi khi hội đủ một số điều kiện và khi tình thế cách mạng xuất hiện như: khi tình hình chính trị - xã hội khủng hoảng sâu sắc; tầng lớp thống trị không thể thống trị như cũ được nữa; quần chúng đã được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng hành động; đội tiên phong lãnh đạo khởi nghĩa đã quyết tâm đưa quần chúng xuống đường. Khởi nghĩa phải dựa vào một cao trào cách mạng của nhân dân chứ không thể dựa vào một âm mưu, khởi nghĩa chỉ có thể diễn ra ở từng phần lãnh thổ hoặc địa phương, gọi là khởi nghĩa từng phần nhằm chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa hay tạo điều kiện để phát triển thành đấu tranh cách mạng, v.v...

        Đối chiếu với thực tế diễn ra vào tháng 8 năm 1945, ta thấy khái niệm cũng như các yếu tố, điều kiện của cuộc khởi nghĩa đều có. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ biểu hiện như nêu ở trên, chúng ta sẽ không thấy hết được tính rộng lớn về phạm vi và chiều sâu của cuộc cách mạng này.

        Bây giờ xin trình bày về khái niệm Cách mạng. Theo quan niệm chung, cách mạng được hiểu là một sự thay đổi căn bản, sự nhảy vọt về chất trong quá trình phát triển tự nhiên, xã hội hoặc nhận thức. Trong lĩnh vực xã hội, khái niệm về cách mạng cũng để chỉ sự biến đổi sâu sắc, triệt để không cải lương nửa vời, làm thay đổi tận gốc rễ chế độ xã hội, đưa giai cấp tiên tiến lên nắm chính quyền. Còn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (mà Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành, đạt kết quả vĩ đại vào Tháng Tám năm 1945) là một loại hình đấu tranh dân tộc và giai cấp ở các nước phụ thuộc, thuộc địa và nửa thuộc địa. Nhiệm vụ của cuộc cách mạng là đánh đổ sự thống trị của thực dân, giành lại quyền độc lập cho dân tộc, xoá bỏ mọi tàn tích của chế độ phong kiến (và tiền phong kiến), đem lại ruộng đất cho nhân dân, xây dựng chế độ cộng hòa dân chủ, mở đường cho xã hội phát triển. Lực lượng chủ yếu của cuộc cách mạng đó là nhân dân, được tập hợp trong một mặt trận dân tộc thống nhất.

        Như thế, nếu cũng đem đối chiếu với thực tế diễn biến của sự kiện Tháng Tám năm 1945, chúng ta thấy những tiêu chí để định tính một cuộc cách mạng rất rõ. Đây thực sự là một cuộc cách mạng mang tính chất dân tộc dân chủ nhân dân sâu sắc. Bởi vào thời điểm đó, các mâu thuẫn của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến đã trở nên rất gay gắt, trong đó mâu thuẫn chủ yếu nhất là giữa đế quốc và nhân dân Việt Nam, đòi hỏi phải được giải quyết bằng một cuộc cách mạng. Vì thế, các hội nghị của Trung ương Đảng trước đó xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương, trong đó có Việt Nam, là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Cuộc cách mạng này vẫn bao gồm hai nội dung chống đế quốc và chống phong kiến, là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo.

---------------
        3. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 3.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:46:23 pm

        3. Trở lại với những nội dung mà Đa-vít Ma nêu lên, chúng tôi xin trình bày như sau.

        Thứ nhất, theo quan điểm của Đa-vít Ma: Cách mạng phải là một quá trình lâu dài, Cách mạng Tháng Tám mới chỉ là khởi điểm mà phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; vì nó không phản ánh được sự thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội. Như trên đã trình bày, Luận cương chính trị của Đảng ta, được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương thông qua tháng 10 năm 1930, đã nhấn mạnh: cách mạng dân tộc dân chủ (lúc đó gọi là cách mạng tư sản dân quyền) mới chỉ là giai đoạn thứ nhất của cách mạng Đông Dương. Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi, hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến được hoàn thành, cách mạng Đông Dương sẽ chuyển sang giai đoạn thứ hai - giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám là thành quả của quá trình đấu tranh lâu dài, đặc biệt là 15 năm chuẩn bị lực lượng đấu tranh của toàn dân. Thực tế này khác với nhận định của Đa-vít Ma khi ông cho rằng: nó giống một cuộc khởi nghĩa, đảo chính hơn vì chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Ở đây, Đa-vít Ma chỉ tính khoảng thời gian 2 tuần lễ kể từ khi địa phương đầu tiên là Quảng Ngãi khởi nghĩa ngày 14 tháng 8 năm 1945) cho đến các địa phương sau cùng giành thắng lợi là Hà Tiên, Đồng Nai Thượng ngày 28 tháng 8 năm 1945. Đây chỉ là khoảng thời gian Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh, chớp thời cơ khách quan thuận lợi, điều kiện chủ quan đã chín muồi, để phát động toàn dân đứng lên giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Còn quá trình chuẩn bị để đạt được kết quả nhanh chóng đó đã được thực hiện trong nhiều năm. Nếu chỉ là khởi nghĩa thì sẽ khó lý giải tại sao Đảng Cộng sản Đông Dương lại tổ chức liên tiếp 3 hội nghị: Trung ương lần thứ 6 (11-1939); lần thứ 7 (11-1940); lần thứ 8 (5-1941) để chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, đưa vấn đề đánh đổ thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc lên thành nhiệm vụ trọng tâm cần giải quyết trước? Nếu chỉ là khởi nghĩa thì cũng sẽ khó giải thích quá trình Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ đạo xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lập các chiến khu cách mạng. Và sau ngày Nhật tiến hành đảo chính Pháp (9-3-1945), quá trình chuẩn bị khởi nghĩa được đẩy nhanh lên rất nhiều. Ngày 16 tháng 4 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức Ủy ban dân tộc giải phóng các cấp, chuẩn bị cho việc thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Khởi nghĩa từng phần đã nổ ra ở nhiều dịa phương. Trước ngày khởi nghĩa ở Hà Nội, Quốc dân đại hội đã được triệu tập, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức Chính phủ lâm thời.

        Như thế, không có việc Cách mạng Tháng Tám giống như một cuộc đảo chính, chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn.

        Cách mạng Tháng Tám không phải là khởi điểm của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mà kết quả của nó đánh dấu sự kết thúc thắng lợi giai đoạn một của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân vì đã lật nhào cả sự thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, thành lập một Nhà nước mới có Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận... theo chính thể dân chủ nhân dân. Mặc dù ngay sau khi cách mạng thành công, thực dân Pháp đưa quân trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa, toàn dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại phải cầm súng kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp, sau đó đánh đuổi đế quốc Mỹ, bảo vệ nền độc lập, đưa lại hoà bình, thống nhất đất nước vào năm 1975. Như vậy, việc tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm (1945- 1975) được coi là giai đoạn tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong hoàn cảnh, điều kiện mới, khi mà chúng ta đã có Nhà nước, có Chính phủ, quân đội, được quốc tế công nhận, thực hiện cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc trước các thế lực ngoại xâm, chứ không còn là đấu tranh cách mạng giành chính quyền.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:46:37 pm

        Cách mạng Tháng Tám đã làm thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ ách đô hộ, thống trị của thực dân, phong kiến. Nhân dân trở thành người làm chủ đất nước, có quyền đi bầu cử người đại diện cho quyền lợi của mình trong cơ quan quyền lực tối cao. Thắng lợi của cách mạng là thắng lợi của giai cấp công nhân và nông dân - thành phần chiếm số đông nhất của dân tộc, lực lượng hăng hái, triệt để nhất của cách mạng. Chính quyền dân chủ nhân dân từ Trung ương tới tận từng thôn xã đã nhanh chóng đảm đương chức trách, bước đầu làm tốt nhiệm vụ phục vụ mọi mặt đời sống của nhân dân. Không chỉ có công nhân, nông dân, Cách mạng Tháng Tám còn huy động và tập hợp được hết thảy các lực lượng, các giai tầng xã hội, tổ chức đoàn thể yêu nước có thể tập hợp được, tham gia xoá bỏ chế độ xã hội thuộc địa nửa phong kiến, xây dựng nên chế độ xã hội mới dân chủ nhân dân. Sự thay đổi cơ cấu xã hội được thể hiện rất rõ.

        Thứ hai, nhà sử học Đa-vít Ma cho rằng: Mục tiêu của Cách mạng Tháng Tám là độc lập, hoà bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh đã không thực hiện được, vì thế theo ông: sự kiện Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam chỉ là khởi nghĩa, còn tầm vóc cách mạng thì chưa có.

        Theo chúng tôi, vấn đề ở đây là quan niệm về mức độ như thế nào là khởi nghĩa, như thế nào là cách mạng. Như trên chúng tôi đã nêu khái niệm về khởi nghĩa và cách mạng. Rõ ràng là Đảng Cộng sản Đông Dương, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân chuẩn bị một cuộc tổng khởi nghĩa và đã thực hiện thành công khi thời cơ đến, điều kiện đã hội đủ. Cuộc Tổng khởi nghĩa này mang tầm vóc của một cuộc cách mạng bởi nó đã lật đổ được chế độ thực dân, phong kiến tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm, giành chính quyền (mục đích), xây dựng một nhà nước dân chủ nhân dân, trong đó người dân, từ thân phận nô lệ, bị áp bức, trở thành người làm chủ. Đất nước được độc lập, nhân dân được hưởng không khí tự do, hoà bình chưa được bao lâu, đã lại phải đương đầu với sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Tuy nhiên, lần trở lại này của quân Pháp khác với lần trước. Lần này, tình hình quốc tế trong nước và ngay cả vị thế của Pháp cũng đã khác trước. Thực dân Pháp đã phải núp bóng quân Anh (mang cờ Anh, mặc quân phục Anh) để trở lại Sài Gòn. Còn quân Anh, quân Trung Hoa dân quốc vào nước ta là theo quy định của Hiệp định Pốt-xđam, để giải giáp phát xít Nhật đầu hàng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là điều chúng ta phải chấp nhận. Khi muốn đưa quân ra miền Bắc, thực dân Pháp đã phải tính đến cơ sở pháp lý, ký Hiệp định Trùng Khánh (28-2-1946) với Trung Hoa dân quốc để thay thế đội quân của Tưởng Giới Thạch làm nhiệm vụ giải giáp phát xít Nhật và Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) với Chính phủ Hồ Chí Minh. Chính Đa-vít Ma cũng cho rằng: sự sụp đổ của Bảo Đại và việc thành lập chính quyền cách mạng làm cho cách mạng có chiều sâu. Điều này có được là do vai trò của nhân dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng.

        Tầm vóc của Cách mạng Tháng Tám, được đồng chí Trường Chinh, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương thời kỳ này, nhấn mạnh: “cuộc khởi nghĩa Tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo"4.

        Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, dân tộc Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Tổng khởi nghĩa đã hoàn thành mục tiêu của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ là giải phóng dân tộc, làm thay đổi tính chất chế độ xã hội, đưa nhân dân trở thành người làm chủ đất nước và vận mệnh của mình... Đây là những điều, theo chúng tôi, Đa-vít Ma, một nhà sử học nước ngoài, có thể chưa cảm nhận được hết và chưa đánh giá đúng mức tầm vóc, ảnh hưởng của sự kiện đã "mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người Việt Nam"5.

-------------------------
        4. Trường Chinh. Cách mạng Tháng Tám, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội, 1975, tập 1, tr. 374.

        5. Lê Duẩn. Tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, NXB Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 13.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:49:17 pm

VỀ CÁC ĐƠN VỊ VÀ SỐ LƯỢNG QUÂN TRUNG HOA DÂN QUỐC VÀO MIỀN BẮC CUỐI NĂM 19451

TRỊNH VƯƠNG HỒNG       

        Cuối năm 1945, quân Trung Hoa dân quốc, theo quyết định của Hội nghị Pốt-xđam, kẻo vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Nhưng sự thật của cuộc giải giáp ấy như thế nào, cho đến nay vẫn còn nhiều tài liệu viết khác nhau. Chúng tôi xin trích giới thiệu cùng bạn đọc một số những tài liệu đó.

        1 . Võ Nguyên Giáp - Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 148-149: "Phía Vân Nam, Quân đoàn 93 thuộc Đệ Nhất phương diện quân của Lư Hán, theo kế hoạch sẽ đi dọc sông Hồng đến Hà Nội.... Phía Quảng Tây, Quân đoàn 62, lực lượng của Quốc dân đảng Trung ương, có tướng Tiêu Văn đi cùng, sẽ đi đường Lạng Sơn, Cao Bằng xuống Hà Nội... Hai quân đoàn khác (Quân đoàn 52 của Trung ương và Quân đoàn 60 của Vân Nam) đi tiếp theo sẽ chia nhau xuống Hải Phòng, vào Vinh và Đà Nẵng. Tổng số quân của chúng vào miền Bắc là mười tám vạn người".

        2. Bộ Tổng tham mưu - Ban Tổng kết chiến lược - Lịch sử cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp . . . Lưu tại Viện

        Lịch sử quân sự Việt Nam, ký hiệu TL 1299/35(2) 72, bản đánh máy, tr. 26-27: "Lợi dụng việc thi hành Hiệp nghị Pốt-xđam được phép đưa quân vào Đông Dương giải giáp quân Nhật từ Bắc Vĩ tuyến 16 trở ra, 4 quân đoàn Tưởng gồm từ 180.000 đến 200.000 quân . . . ào ạt tiến vào Việt Nam .

        Quân đoàn 93 Vân Nam và Quân đoàn 62 Trung ương. . . đến ngày 9 tháng 9 năm 1945  .

        Quân đoàn 52 Trung ương chiếm vùng Hải Phòng, duyên hải, Quân đoàn 60 Vân Nam rải ra chiếm các thị trấn lớn ở Trung Bộ" .

        3. Cục Nghiên cứu khoa học quân sự - Trường kỳ kháng chiến, tập 1, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ký hiệu TL 3689, tr.9 nêu giống như tài liệu của Ban Tổng kết chiến lược đã dẫn trên. Chỉ khác ở chỗ nêu số lượng quân Tưởng là 180.000 người.

        4. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Lịch sử cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp 1945-1954, Nxb QĐND, Hà Nội, 1985, tập 1, tr. 26: "Cuối tháng 8, gần 20 vạn quân Trung Quốc gồm 4 quân đoàn địa phương và Trung ương vượt biên giới vào nước ta. Quân đoàn 93 từ Lào Cai theo sông Hồng xuống, Quân đoàn 62 theo đường Lạng Sơn sang và chia nhau đóng dọc các trục đường giao thông tại Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Tiếp đó Quân đoàn 50 theo đường biển vào vùng Đông Bắc và Hải Phòng, Quân đoàn 60 đóng từ Hội An (Quảng Nam) trở ra. . . Sau này Tưởng còn đưa thêm Quân đoàn 53. . . sang để kiềm chế Lư Hán".

        5. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương - Những sự kiện lịch sử Đảng (1945-1954), Nxb ST, Hà Nội, 1979, tập II, tr. 11: "ở  miền Bắc, gần 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch... ùn ùn kẻo vào" . Phần chú thích ghi: "Quân đoàn 93 (Vân Nam) vào Lào

        Cai, Quân đoàn 60 vào Hải Phòng; Quân đoàn 62 Quảng Đông, Quảng Tây) vào Cao - Lạng; Quân đoàn 50 (Quảng

        Tây) vào duyên hải Bắc Bộ".

        6. Trần Trọng Trung trong Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu (Nxb QĐND, Hà Nội, 1979, tập 1, tr. 79) viết: "Theo

        số liệu tình báo Pháp ở Hà Nội nắm được, quân Tưởng ở miền Bắc Đông Dương có tới 220.000 tên, bao gồm 80. 000 lính

        chính quy ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, cộng với 130.000 lính tạp dịch và Sư đoàn 93 (15.000 tên) ở Thượng Lào".

        7. Y vơ Gia - Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb Phút, Plon 1979, bản dịch, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, phần 2, tr. 53: "Từ những ngày cuối tháng 8, quân Quốc dân đảng Trung Hoa ồ ạt kẻo vào Bắc Kỳ... Chúng chậm chạp toả ra khắp nơi bằng những đoàn người đi bộ kéo dài vô tận trên các con đường và những lối mòn từ Vân Nam và Quảng Tây đổ xuống. Chúng đưa lại quang cảnh của những toán người ô hợp hơn là đội quân chính quy.

        .... Hai trong số đó từ Vân Nam đến - Quân đoàn 93 và Quân đoàn 60. . . Hai quân đoàn từ Quảng Tây đến - Quân đoàn 62 . . . , Quân đoàn 52 . . . Tất cả có khoảng 150.000 người" .

        8. Giôn Pichni Herixơn - Cuộc chiến tranh triền miên, Niu Yoóc, 1982, xem Tạp chí Lịch sử quân sự số 10, tháng 10-1986, tr. 63: "Trên 150.000 quân Trung Quốc đã đến Việt Nam trong tháng 9- 1945 để nhận sự đầu hàng của Nhật ở Bắc Vĩ tuyến 16 như đã thỏa thuận tại Hội nghị Pốt-xđam".

        9. Keng C . Chen - Việt Nam và Trung Quốc (1938-1954), Cơ sở xuất bản Sử Địa, Sài Gòn, 1973, tài liệu dịch, bản đánh máy, tr. 138: "Tại miền Bắc, quân Trung Hoa tổng cộng chừng 152.500 người dưới sự điều động của tướng Lư Hán, bắt đầu tiến vào Việt Nam".

        Về các đơn vị, tác giả viết ở chú thích như sau: "Chu Hsieh Nhật ký PP.1, 41, 42, 103. Các đạo quân là Lộ quân 53, 60, 62 và 93, Trung đoàn 23, 39, 93 " .

        Tại sao lấy Vĩ tuyến 16 làm ranh giới giải giáp quân Nhật?

        J.R.Xanhtơni - Câu chuyện một nền hoà bình bị bỏ lỡ, Pari, 1967, bản dịch Thư viện Trung ương Quân đội, Ký hiệu 355 V (09) 21/3934, tr. 16: "(Khu vực) Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện do thủy sư đô đốc Loạt Louis Mountbatten chỉ huy;

        (Khu vực 2) dưới quyền của Thống chế Tưởng có tướng Weydemeyer phụ tá gồm có Trung Hoa và Đông Dương. Tướng Weydemeyer sau cũng phải nhường địa bàn hoạt động hàng không cho đô đốc Mountbatten vì các căn cứ của ông ta đều xa quá so với những cứ điểm phía Nam của bán đảo Đông Dương. Và chắc  cũng vì thế, vài tháng sau đã khai sinh ra cái quan điểm tai hại là đem chia đôi Đông Dương từ Vĩ tuyến 16" .

        Ý kiến ngắn của người sưu tầm

        - Chỉ có 3 quân đoàn Tưởng cùng được nêu trong các tài liệu trên là 93, 62 và 60.

        - Số lượng (tuyệt đối) quân Tưởng được nêu đều không khớp, hoặc chỉ khớp ở từng cặp tài liệu. Tuy vậy, các tài liệu đưa số lượng quân Tưởng vào miền Bắc là 18 vạn hay theo lối phiếm chỉ gần 20 vạn cũng là thoả đáng. Bởi lẽ, nếu lấy quân số lý thuyết một quân đoàn Tưởng Giới Thạch nhân với 4, cộng thêm số dân binh, dân phu hoặc dân chúng kéo theo, thì số liệu trên đã gợi cho người đọc hình dung đại thể về đoàn quân ấy.

        Trong khi chưa có điều kiện tiếp cận tài liệu gốc, các tài liệu trên, dẫu quý cũng chỉ có ý nghĩa tham khảo. Chúng tôi thiên về số liệu của Keng C.Chen, bởi ông có điều kiện khai thác tài liệu của Trung Hoa dân quốc, tuy nhiên Chen cũng mới chỉ tính quân chính quy mà chưa tính các lực lượng khác.

        Việc phân chia ranh giới giải giáp phát-xít Nhật, với giả thiết của Xanhtơni, nếu đúng cũng mới là bề ngoài. Về bản chất, đây là vấn đề phức tạp quan hệ đến thế lực các nước trong khối chống phát-xít, đến mâu thuẫn trong phe tư bản, điều mà người sưu tầm không bàn ở đây.

---------------------
        1. Tạp chí LSQS số 45 (9-1989)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:01:11 am

VỀ HAI SỰ KIỆN DIẾN RA Ở HẢI PHÒNG NGÀY 6 THÁNG 3 NĂM 1946

NGUYỄN HÙNG PHONG       

        Theo tài liệu Pháp

        Trong cuốn Bảy năm với tướng Lơ-cléc (Sept ans avec Leclerc) trang 207-297, Đại tá Giác Mát-xuy (Jacque Massu) viết về miền Bắc năm 1946, có những ý chính như sau:

        Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Chính phủ Pháp và Tưởng Giới Thạch ký Hiệp định thân thiện Pháp - Hoa (Traité d'amitié Franco-Chinois) tại Trùng Khánh thoả thuận cho quân Pháp thế chân quân Tàu Tưởng ở miền Bắc Việt Nam từ Vĩ tuyến 16 trở ra để giải giáp và quản lý quân Nhật. Lịch thủy triều chỉ các ngày 4, 5 và 6 tháng 3, mực nước 20 mét mới đủ cho tàu chiến xâm nhập Hải Phòng. Nếu không, lại phải chờ ngày 16, 17 hoặc 18 tháng 3. Cho nên Pháp phải chọn ngày 6 tháng 3 năm 1946 để tiến vào Hải Phòng.

        - Đơn vị Giác Mát-xuy (hồi ấy ông ta là đại úy) xuống hai tàu há mồm LST 347 và LST 382 tại Sài Gòn ngày 25 tháng 2 năm 1946. Tàu há mồm không có vỏ thép. Còn bao nhiêu thì xuống năm tàu vận tải (cargo): Poóc-sê, Ba-phlơ, Sê-phi, Bê-rê-giơ, Êx-pê-ran (porché, Barfleur, Céphie, Bérelgeuse, Espérance). Đoàn này dừng lại ở Cam Ranh, ngày 1 tháng 3 đi tiếp và ngày 5 tháng 3 đến Vịnh Bắc Bộ.

        Tại đây, nhập với năm chiến hạm: Ê-min Béc-tanh (émile Bertin) của đô đốc Ô-boi-nê-ô (Auboyneau), có cả tướng Lơ-cléc, Tri-om-phan (Triomphant), Đuy-quet (Duquesne), Bê-an (Béarn), Tuốc-vin (Tourville) thành một hạm đội mạnh.

        22 giờ ngày 5 tháng 3, Lơ-cléc lệnh gọi Giác Mát-xuy đến tàu mình phổ biến những thoả ước và kế hoạch đổ bộ. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, đoàn tàu dọc hàng một tiến vào sông Cấm. Đi đầu là Tri-om-phan, có tướng Va-luy (Valluy) và ban tham mưu. Rồi tuần dương hạm của Giuy-bơ-lanh (Jubelin), có hoa tiêu dày dạn kinh nghiệm, rồi hai tàu há mồm. Các chiến hạm khác nối đuôi theo sau. Mọi người đều tin tưởng vào những mệnh lệnh do sĩ quan liên lạc của Lơ-cléc thông tin. Và mọi người đều ngắm nhìn trời đất.

        Bỗng nhiên một tiếng nổ, rồi lại một tiếng nổ thứ hai. Và súng nổ liên tục, dồn dập, có cả đại liên và đại bác 37 ly.

        Hai tàu há mồm chở đạn và ét xăng. Đại úy Ki-li-an (Killian) và Mát-xuy lên boong, vô tư như khách du lịch. Được lệnh không bắn trả, thiết giáp hạm Tri-om-phan vẫn ngênh ngang lừng lững tiến. Tra-xông (Tra son) nhìn xa thấy quân Tàu mặc quân phục xanh, ngắm bắn thẳng như bắn bia.

        Nửa giờ hãi hùng. Nhiều người bị thương la hét. Bắt đầu có những đám cháy.

        Cuối cùng, Đại úy Giuy-bơ-lanh được phép bắn trả. Bắn vào cầu cảng thấy có lửa cháy, cho là đã bắn trúng. Chắc quân Tàu bực bội vì tài sản cướp được đang bị cháy. Quân Tàu nhơn nháo, vẫy cờ trắng loạn xạ. Mát-xuy còn thấy Đại tá Gìn (Gilles), Sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa, phất cờ trắng lớn, tỏ ý muốn điều đình!

        Một số hải quân trên tàu há mồm hốt hoảng nhảy xuống nước. Tàu LST 347 có 4 người chết, 7 trọng thương, 12 bị thương nhẹ. Tàu Tri-om-phan có 8 người chết, 30 trọng thương, có chỗ bị cháy, 439 vết đạn vào vỏ tàu. Bê-an chuyển xác chết về chôn ở nghĩa trang Vịnh Hạ Long.

        Ngày 7 tháng 3, báo Anh đưa tin, đăng cả Hiệp định Sơ bộ. Ngày 8 tháng 3, quân Tàu Tưởng ở Hải Phòng cho phép 5.000 quân Pháp được đổ bộ.

        Ngày 18 tháng 3, tướng Lơ-cléc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội.

        Ngày 30 tháng 5 năm 1946, tướng Lư Hán rời Việt Nam trở lại Trung Quốc.

        Về phía ta

        Tháng 11  năm 1945, chính trị phái viên Lê Quang Hoà phân công Trần Ngọc Tràng - Trưởng phòng thuyền vụ Bắc Bộ kiêm Trưởng ban kiểm mã của thuế quan hải quan) Hải Phòng và Hùng Phong, hai nghĩa quân chiến khu Đông Triều phụ trách công tác đặc biệt, vận động quan tư Nhật Nitta đóng ở Uống Bí cho hoặc bán vũ khí cho ta. Chỉ một nhiệm vụ này thôi. Lại cử thêm Nguyễn Kế Phụng là Trưởng ban trinh sát. Thời gian sau khi Nguyễn Bình vào Nam chiến đấu Lê Quang Hoà cử Trưởng ban trinh sát khác thay. Ba chúng tôi đi ô tô con ra Uống Bí đến nhà ông Đỗ Thậm, là trung gian giao dịch. ông mời quan tư Nitta đến nhà gặp chúng tôi, có đội Hosino và Sấm phiên dịch đi cùng.

        Sau vài lần làm thân, Tràng nêu rõ mục đích. Nhưng ông Nitta rất tiếc và bảo: các ông đến muộn, chúng tôi đã thống kê vũ khí nộp cho Đồng minh rồi, không thể tặng một vũ khí nào. Một thời gian sau, ông Nitta chuyển bản doanh về Hải Phòng, tại dãy nhà hai tầng phố Bến Bính nay là trụ sở Công an quận Hồng Bàng).

        Ba chúng tôi thỉnh thoảng đến giao dịch giữ tình thân. Lệ là mỗi bên bỏ ra cái gì mình có cầm tay, cùng nhấm nháp. Chúng tôi không được cấp kinh phí giao dịch, như các đồng chí cũng làm nhiệm vụ đặc biệt khác. Tất nhiên chúng tôi không dám mang theo giấy tờ chứng minh nào, đề phòng đặc vụ Tưởng bắt thì không được lộ là cán bộ quân đội hay Việt Minh.

        Rồi một việc rắc rối xảy ra với tôi trong thời gian khá dài. Từ ấy tôi đơn thương độc mã giao thiệp với ông Nitta, có Sâm làm phiên dịch. Đọc báo, tôi được biết Vôn Ri-ben-trốp (Von Ribbentrop) nguyên Bộ trưởng Ngoại giao của Hitler chờ ra toà án Muy-nich. Hắn đã giấu thuốc độc trong rốn. Khi sắp phải ra hầu toà, hắn đã nuốt để tự sát. Liên hệ việc này, tôi hỏi một dược tá làm thế nào để tự vẫn. Anh bảo nuốt bột Xi a-nua đờ méc-quya (cyanure de mercure) sẽ thủng dạ dày, khoảnh khắc là chết.

        Tôi nghe theo anh. Mỗi khi đến với Nitta, tôi giấu thuốc độc trong người. Nếu chẳng may bị đặc vụ Tưởng bắt mà không vượt ngục thoát được thì tự vẫn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:01:34 am

        Sáng 6 tháng 3 năm 1946, ngẫu nhiên tôi đến với Nitta. Một lát sau, có tiếng súng nổ rung cả sàn gác. Rồi Nitta bảo: tàu chiến Pháp kẻo vào Hải Phòng, quân Tàu nổ súng, nhưng họ không biết bắn cầu vồng nên không trúng, quân Pháp đã bắn lại, quân Tàu loạn ngũ. Quân Nhật đang lau súng lớn cho Tàu, tôi có thể lệnh cho anh em tôi cướp lại súng lớn bắn tàu Pháp được không? Tôi không nắm được tình hình, cũng không được chỉ thị của trên, song thấy đề xuất ấy có lợi cho ta nên tôi đồng ý liền. Thế là Nitta nhấc điện thoại lệnh cho quan quân ngoài cảng.

        Về sau, theo Nitta nói lại thì hải tàu chiến Pháp trúng đạn bị thương, rồi cả đoàn kẻo cờ trắng rút ra khơi.

        Sau đó, tôi chạy về huyện Hải An báo cáo Lê Quang Hoà. Và tôi cũng không dám bén mảng doanh trại Nhật, vì ngại có đặc vụ Tưởng cảnh giới.

        Hai ngày sau, phiên dịch Sâm mời tôi vào gặp Nitta. Trà nước một lúc, ông Nitta nói: "Tôi tưởng các ông đánh Pháp đến cùng, nên mới đám hành động thế. Nay các ông ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp cho chúng đóng quân năm điểm trên miền Bắc, tù binh Nhật do quân Pháp - Việt quản lý. Chúng được lên Hải Phòng, đương nhiên biết ai đã ra lệnh bắn tàu của chúng. Trước sau tôi phải ra Toà án Đồng minh. Tôi thua ai chứ không chịu thua quân Pháp. Tôi không chịu được hai cái nhục ấy. Hôm nay tôi gặp ông lần cuối, rồi tôi hara kiri (mổ bụng tự sát)".

        Tôi bàng hoàng, không ngờ sự việc lại diễn biến bi đát đến thế! Đột nhiên tôi trả lời: "ông Nitta, ông đã có nhiều thiện chí với tôi, với dân tộc tôi, chúng tôi ký Hiệp định Sơ bộ là để hoà hoãn, có thời cơ sẽ tiếp tục đấu tranh giành độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc. Tôi cũng không chịu được cái cảnh thấy ông chết trước mặt tôi, vì chúng tôi, ông cho phép tôi được tự sát trước".

        Rồi lại uống nước để ông Nitta ngấm đòn tâm lý, tôi lại tiếp: "Nhật Bản bị Mỹ chiếm đóng, Việt Nam còn phải tiếp tục đấu tranh vì độc lập, thống nhất, chúng ta cần phải sống cho Nhật Bản và Việt Nam. Tại sao chúng ta lại chết sớm?".

        Nhoáng một lát, tôi nói tiếp: "Tôi thấy có một con đường, tại sao ông không sang hàng ngũ chúng tôi". Nitta suy nghĩ một lúc rồi nói: "ông về báo cáo Bộ chỉ huy cần bao nhiêu sĩ quan Nhật, những binh chủng gì, tôi sẽ khuyên anh em ở lại, chỉ xin một điều kiện: cho tôi nhập quốc tịch Việt Nam".

        Tôi về báo cáo Lê Quang Hoà, anh không chịu, bảo: "Cấp giấy cho Nitta, ông ấy bán giấy cho Đồng minh lấy tiền thì rất nguy cho chúng ta".

        Tôi phân tích: "Anh giao nhiệm vụ mua hoặc xin vũ khí, Nitta không thể đáp ứng được. Nhưng ông ấy đã giúp ta nhiều việc, mà do ông ta tự đề xuất và tự nguyện: Một là, cho ta sơ đồ Nhật thả mìn ở Vịnh Bắc Bộ để ta vớt mìn đảm bảo an toàn giao thông, lấy thuốc làm vũ khí. Hai là, công thức làm bom chống tăng thủ công, đơn giản cho mùn cưa vào chai rồi đổ ét xăng vào. Xe tăng vận hành, vỏ nóng, ném bom vào là bị bốc cháy. Thứ ba và cao nhất là cho quân bắn vào đoàn tàu chiến Pháp xông vào Hải Phòng, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc ký Hiệp định Sơ bộ (16 giờ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hồ Chủ tịch mới ký Hiệp định).

        Trong khi chờ đợi, tôi đã tự xuất tiền riêng 200 đồng lấy của bố mẹ, may cho Nitta hai bộ âu phục mùa hè. Lần cuối, Nitta bảo tôi: "Các ông không cho tôi nhập quốc tịch, tôi phải về nước, nhưng chỉ sáu tháng hay một năm thăm quê ở Nagasaki, rồi tôi sẽ tìm đường trở lại với các ông, tôi gửi Sato lại làm mối dây liên lạc, ông trông nom nó cho".

        Không dám để ở Hải Phòng vì có quân Pháp, tôi phải gửi ở cơ sở huyện An Dương nuôi Sato giúp. Một hôm, Sato về Hải Phòng tìm tôi, hỏi có được tin ông Nitta không? Tôi nào biết gì? Sato bảo khi tàu ông Nitta ra khơi, Pháp cho máy bay rượt theo thả bom, tàu chìm, cả binh đoàn đều chết hết! Năm đó, ông 35 tuổi, vóc người cao đẹp, chững chạc, phúc hậu.  Ông kể ông đã tham gia đổ bộ vào Xin-ga-po. Còn tôi lúc đó mới tuổi 23.

        Tôi vẫn nghĩ: quan tư Nitta đã dũng cảm, dám hạ lệnh cho quân bắn đoàn tàu chiến Pháp xâm nhập Hải Phòng sáng ngày 6 tháng 3 năm 1946, do đó tạo thêm thuận lợi để ta ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp. Ba việc ông ta giúp đều do ông đề xuất. Chứ chúng tôi làm sao nghĩ tới. Thế mà đời ông và binh đoàn ông phải kết thúc thảm thương. Tôi thật ân hận!

        Việc thứ hai: Cũng sáng 6 tháng 3 năm 1946, tiểu đội "Bấu xấu cứu quốc" đã hạ thổ từ bãi cỏ Nhà máy chai, chui theo cống ngầm, tiếp cận kho súng đạn ở Sáu Kho (súng đạn của Pháp rơi vào tay Nhật đêm ngày 9 tháng 3, nay thuộc về quân Tàu Tưởng) rồi đội nắp cống chui lên đặt mìn. Đạn nổ tung hơn một ngày. Hầu hết tiểu đội hy sinh vì bị sức ép.

        Trong khi đó, Giác Mát-xuy viết là  quân Pháp bắn vào cầu cảng và bắn trúng kho súng đạn gây cháy. Có đúng không? Kho cháy do đạn của Pháp hay do anh em "Bấu xấu cứu quốc" nổ mìn, điều này mới là chắc chắn 100%.

        Anh em có lần đánh hàng bằng cách này thành công, mới báo cáo Trần Doãn Tòng, nghĩa quân chiến khu tổ chức, xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang Lạc Viên trong thành phố. Lực lượng này đã bao vây trại khố đỏ (Casere Bouet - nay là bản doanh Bộ Tư lệnh Hải quân), thu phục được trại toàn vẹn cả vũ khí và chiếm vài công sở, trong đó có Nhà băng Năm sao, sau là hành dinh Bộ chỉ huy chiến khu, rồi ủy ban quân sự liên tỉnh miền Duyên Hải. Sáng 23 tháng 8 năm 1945, quân chiến khu và nhân dân về giành chính quyền thành phố Hải Phòng, cụ Trần Doãn Tắc - thân sinh đồng chí Tòng, trước nấu bếp trên tàu buôn Pháp đường Hải Phòng - Mác xây (Marseille), là liên lạc viên của Đảng, có thời Nguyễn Bình cũng làm thợ giặt trên tàu, là chiến hữu của nhau. Cụ Tắc liên lạc với Công an và Công an đã đào tạo, huấn luyện thêm cho tiểu đội "Bấu xấu cứu quốc".

        Hai sự việc xảy ra ở Hải Phòng sáng 6 tháng 3 năm 1946 thật tuyệt diệu, đã tạo thêm thuận lợi cho việc ký Hiệp định Sơ bộ vào chiều hôm ấy.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:08:21 am

VỀ TRƯỜNG LỤC QUÂN TRUNG HỌC QUẢNG NGÃI VÀ NHỮNG CÁN BỘ CỦA TRƯỜNG1

PHAN SỸ PHÚC       
        Trong quá trình tìm hiểu về một số tướng lĩnh của Quân đội ta, tôi có dịp được tiếp xúc với nhiều tài liệu viết về Trường Lục quân trung học Quảng Ngài. Tuy nhiên, khi đề cập đến Trường này và nhất là về những người lãnh đạo Trường như các đồng chí Nguyễn Sơn, Đoàn Khuê, các tư liệu, sách, kể cả Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, ghi chép không thống nhất. Bài viết này dựa vào một số tư liệu trong các cuốn sách như: Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), tập 1 (Bộ tư lệnh Quân khu 5 xuất bản năm 1988); Tướng Nguyễn Sơn (Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1994); Đại tướng Đoàn Khuê (Nxb QĐND, Hà Nội, 2002), hồi ức của cựu học viên Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi - Ung Răng và một số đồng chí khác . . . xin làm rõ thêm về một trong những trường quân sự đầu tiên ở Khu 5 và nhất là về những người lãnh đạo trường lúc đó cũng như về sau này.

        Sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đất nước ta vừa giành được độc lập, phải đối phó với nhiều khó khăn, thách thức... Thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, âm mưu mở rộng chiến tranh ra cả nước. Đối phó với cuộc xâm lược của thực dân Pháp, ở các mặt trận, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch.

        Nhu cầu cán bộ quân sự chi viện cho các mặt trận là rất lớn. Với tầm nhìn xa trông rộng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trước đó cũng đã gấp rút thành lập nhiều trường huấn luyện cán bộ quân sự cho quân đội. Ở miền Bắc, ngày 17 tháng 3 năm 1946, Trung ương Đảng quyết định mở Trường Quân chính Bắc Sơn, đặt ở xóm Cầu Tre (Đồng Quang, Đồng Hỷ, Thái Nguyên), có nhiệm vụ đào tạo cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang của Đảng (cả chính trị và quân sự) cơ sở. Ngày 17 tháng 4 cùng năm, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn được thành lập trên cơ sở Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam... Ở miền Nam, tích cực xây dựng lực lượng và chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến, tháng 12 năm 1945, ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam được thành lập. Đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch; đồng chí Hoàng Quốc Việt - ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, làm ủy viên Chính trị. Tuy vậy, trên thực tế, lúc này ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam mới chỉ đạo các tỉnh Nam Trung Bộ, còn Nam Bộ vẫn do Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo. Ở Nam Trung Bộ, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến ở địa bàn, cùng với việc cải tổ các chi đội Vệ quốc đoàn, biên chế lại các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đoàn, ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam đã thành lập các trường huấn luyện cán bộ quân sự. Tháng 3 năm 1946, Trường Quân chính Bắc Sơn (Phú Yên) được thành lập, đào tạo cán bộ trung đội, đại đội cho các đơn vị ở phía Nam. Tháng 4 năm 1946, ủy ban mở lớp bổ túc cán bộ trung đoàn. Tới tháng 6 năm 1946, ủy ban thành lập Trường Lục quân trung học Quảng Ngài để đào tạo cán bộ trung đội. Thành phần ban giám hiệu của Trường có đồng chí Nguyễn Sơn - Chủ tịch ủy ban kháng chiến miền Nam, kiêm chức Hiệu trưởng. Tổng đội trưởng có đồng chí  Phạm Kiệt, rồi sau đó là Lê Thuỳ. Còn đồng chí Đoàn Khuê là Chính tả viên Tổng đội, Bí thư Đảng ủy của Trường.

        Trường đóng ngay ở thị xã Quảng Ngãi.

        Trường có hơn 400 học viên, một nửa trong số đó là các chiến sĩ đã chiến đấu ở các mặt trận phía Nam, số còn lại là học sinh, viên chức mới tòng quân. Học viên của Trường được gọi là sinh viên, mỗi người có một số hiệu và một huy hiệu tròn đính trước ngực, ghi rõ chữ: "Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi". Số học viên này được chia làm 4 đại đội, gồm: Đại đội 1, do Đông Hưng phụ trách; Đại đội 2, do Minh Ngọc phụ trách; Đại đội 3, do Phan Lai phụ trách và Đại đội 4, do Minh Tâm phụ trách. Các đại đội trưởng phụ trách các đại đội trên đều là những hàng binh người Nhật đi theo cách mạng. Họ cũng chính là những giáo viên giảng dạy về quân sự kỹ thuật cho các học viên. Chính Hiệu trưởng Nguyễn Sơn là người đã thuyết phục được các sĩ quan này về với cách mạng. Ngoài ra, Trường còn có một số giáo viên người nước ngoài khác. Có lần, Nhà trường bố trí cho học viên nghe giảng về phép duy vật biện chứng do một giáo viên người Pháp và một người Việt từ Hà Nội vào giảng. Học viên nghe giảng bằng tiếng Pháp, nếu không hiểu thì được nghe dịch sang tiếng Việt.

        Chương trình học tập quân sự do Hiệu trưởng lập ra, bao gồm các nội dung cá nhân chiến đấu: làn lê, bò toài, bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn theo kiểu Nhật, kiểu Pháp. Về chiến thuật, học viên được giảng dạy và huấn luyện về chiến thuật tiểu đội tiến công, còn chiến thuật cấp trung đội chỉ được giới thiệu đại cương.

        Khi học xong chương trình tiểu đội chiến đấu, học viên được cử đi thực tập ở các đơn vị thuộc các mặt trận trong ba tỉnh: Phú Yên, Bình Định và Quảng Ngài, cũng có một số người được cử lên mặt trận Củng Sơn, An Khê... Thời gian thực tập là 30 ngày, sau đó học viên trở về tiếp tục học tập.

        Khoá học dự kiến một năm nhưng do tình hình quân Pháp mở rộng chiến tranh, nên phải bế mạc sớm vào ngày 22 tháng 11 năm 1946. Nhà trường phân công học viên về các mặt trận, các tỉnh và gửi 100 người ra miền Bắc. Số anh em ra Bắc, đi bằng tàu hoả, cuối tháng 11  ra đến Hà Nội. Ngày 3 tháng 12 năm 1946, số anh em này lên Sơn Tây, đi cùng có đồng chí Nguyễn Sơn. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19 tháng 12 năm 1946), đoàn học viên Lục quân Quảng Ngãi chuyển về Đền Và, rồi Thạch Thất. Từ đây, các học viên này được lệnh toả đi các mặt trận, bổ sung vào đội ngũ những cán bộ quân sự của quân đội ta lúc bấy giờ.

--------------------
        1. Tạp chí LSQS số 2-2004.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:09:08 am

        Chủ trương thành lập Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi với quy mô tương đối lớn (trên 400 học viên), là một chủ trương đúng đắn và táo bạo. Dù đào tạo được một khoá nhưng Trường kịp thời cung cấp một số lượng đáng kể cán bộ quân sự, đáp ứng nhu cầu rất lớn về cán bộ quân sự lúc bấy giờ ở các mặt trận, địa phương.

        Khi chiến tranh lan rộng, chiến trường bị chia cắt, việc liên hệ giữa Trung ương và địa phương gặp nhiều khó khăn. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên một hướng chiến lược quan trọng, tháng 11  năm 1946, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định cử đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ. Tiếp đó, về mặt quân sự, để thuận tiện cho việc chỉ đạo chỉ huy và phát huy khả năng độc lập tác chiến của từng chiến trường, đầu tháng 12  năm 1946 , Trung ương quyết định giải thể ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và các đại đoàn, tổ chức lại Chiến khu 5 và Chiến khu 6. Các đồng chí Cao Văn Khánh và Nguyễn Chánh được cử làm Khu trưởng và Chính ủy Chiến khu 5. Sau khi ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam giải thể, đồng chí Nguyễn Sơn được cử làm Hiệu trưởng Trường Lục quân (hợp nhất).

        Khái quát sơ lược về sự ra đời và hoạt động của Trường Lục quân trung học Quảng Ngài, chúng ta cùng xem xét đến những ghi chép chưa chính xác trong một số cuốn sách lịch sử Sách 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1999, trang 35-36 có ghi: "l tháng 6, ủy ban kháng chiến miền Nam mở Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi, tại thị xã Quảng Ngài, có 500 học viên, đào tạo và bổ túc cán bộ tiểu đội, trung đội. Hiệu trưởng: Trần Nguyên Bát (tức Nguyễn Sơn), nguyên Chủ tịch ủy ban kháng chiến miền Nam. Chính trị viên: Nguyễn Chính Giao. Tháng 11, khoá học bế giảng". Như vậy, ngoài việc ghi chưa chính xác về số lượng học viên của Trường, các tác giả sách, không hiểu dựa theo nguồn tư liệu nào, lại ghi sai tên người Chính trị viên của Trường là Nguyễn Chính Giao, chứ không phải là Đoàn Khuê1. về chức vụ này của đồng chí Đoàn Khuê hầu hết các tài liệu đều ghi chép đồng chí là Chính trị viên của Trường Lục quân trung học Quảng Ngài, trong đó có điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọc tại buổi lễ truy điệu đồng chí Đoàn Khuê.

        Ngoài ra, sách 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam còn ghi sai tên thật của Nguyễn Sơn là Vũ Nguyên Bác thành Trần Nguyên Bát. Nguyễn Sơn là tên gọi khi ông trở về nước sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Nguyễn Sơn có nhiều bí danh khác nhau như Hồng Thủy, Lý Anh Tự, Hồng Tú, Phổ... nhưng tên mà ông cụ thân sinh ra ông đặt cho là Vũ

        Cuốn 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam (là bản tái bản có sửa chữa bổ sung của cuốn 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam), Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, trang 37 vẫn ghi sai: "Hiệu trưởng: Vũ Nguyên Bát (tức Nguyễn Sơn), nguyên Chủ tịch ủy ban Kháng chiến miền Nam. Chính trị viên: Nguyễn Chính Giao" (Chú thích của Ban biên soạn).

        Nguyên Bác. Chữ "Bác" này trong tiếng Hán có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là rộng. Còn chữ "Nguyên" có nghĩa là đầu nguồn, là chữ "Nguyên" trong câu "ẩm thủy tư nguyên" có nghĩa là "Uống nước nhớ nguồn". Nguyễn Sơn là con thứ tư trong một gia đình có năm người con trai là Tôi, Tớ, Tao, Bác, Sư và một cô em gái út tên là To. Các tên con cái trong gia đình được ông cụ thân sinh Nguyễn Sơn đặt rất ngộ nghĩnh, điều này thể hiện tính cương trực, ngang tàng, chống đối lại cường quyền. Bởi bản tính ấy nên gia đình ông đã nhiều lần bị chính quyền thực dân sở tại sách nhiễu. Gia đình ông bỏ quê (lúc đó Gia Lâm vẫn thuộc tỉnh Bắc Ninh) ra Hà Nội nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh bị ức hiếp. Trên Tạp chí Giáo dục và thời đại, số tháng 12 năm 1994, trong bài viết về Nguyễn Sơn, nhà báo An Thái có nhận xét rằng: Sở dĩ cụ thân sinh ra Nguyễn Sơn đặt tên như vậy là để không ai chửi được mình.

        Cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996, ở mục từ Nguyễn Sơn trang 566 lại ghi chức danh của Nguyễn Sơn, là "Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ". Thực ra tên gọi của ủy ban là "ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam". Cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, tái bản năm 2005, Nxb QĐND, ở mục từ Nguyễn Sơn trang 723 vẫn ghi Nguyễn Sơn "năm 1945, về nước, Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ"2.

        Ngoài ra, trong cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam cũng không thấy ghi chức vụ của đồng chí Đoàn Khuê ở một số đơn vị như: Chính ủy Trung đoàn 108 chủ lực Khu 5 và Chính ủy Trung đoàn 84.

        Sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của các tác giả Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Nxb Văn hoá (in lần thứ năm), 1999, mục từ Võ Nguyên Thủy (Võ Nguyên Bác) tức Nguyễn Sơn trang 961 viết: "... Sau ngày Toàn quốc kháng chiến ông về nước đứng trong hàng ngũ QĐNDVN với quân hàm Thiếu tướng, từng giữ các chức vụ Tư lệnh Liên khu V và Tư lệnh kiêm Khu trưởng Liên khu IV. Khoảng năm 1951 ông sang phục vụ lại trong hàng ngũ quân giải phóng Trung Quốc...". Những ghi chép trên đây có một số điểm không chính xác sau. Một là, Nguyễn Sơn chưa bao giờ giữ chức Tư lệnh Liên khu 5. Hai là, "Tư lệnh" hay "Khu trưởng" đều là từ chỉ chức vụ người đứng đầu của liên khu hay quân khu, nên không có việc cùng lúc giữ hai chức vụ "Tư lệnh" kiêm "Khu trưởng" như các tác giả từ điển trên đã viết. Ba là, Nguyễn Sơn về nước sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, rồi được cử giữ chức Chủ tịch ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Sau khi ủy ban này giải thể, ông được cử làm Hiệu trưởng Trường Lục quân (hợp nhất). Tới tháng 1 năm 1947, ông được cử giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Từng tham mưu, tháng 7 năm 1947 là Khu trưởng Khu 4. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên, ông được phong hàm Thiếu tướng. Những năm 1948-1949, ông được cử giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4. Bốn là, năm 1950 (chứ không phải năm 1951 như sách đã dẫn), Trung ương Đảng cử ông sang giúp đỡ cách mạng Trung Quốc2.

--------------------------
        2 . Phần này có sự bổ sung của tác giả.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:02 am

AI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN1

TƯ ĐƯƠNG       

        Đó là một câu hỏi bấy lâu nay không phải chỉ của riêng tôi, mà hầu như của tất cả những người đi lấy tư liệu lịch sử về "con đường mòn ấy". Giống như người đi đãi cát tìm vàng, tôi là người may mắn tìm ra cục "vàng mười", giải đáp được điều mình mong mỏi.

        Trong một lần đi sưu tầm tư liệu lịch sử về chiến trường Tây Nam Bộ thời kỳ chống Mỹ, tôi đã làm việc với Trung tướng Nguyễn Đệ, tức Ba Trung. Anh đã kể cho tôi nghe hàng trăm trận chiến đấu của mình và đồng đội trong thời đánh Pháp và đánh Mỹ. Và thật không ngờ, trong câu chuyện của anh, tôi đã được biết về việc mở đường Trường Sơn và những con người đầu tiên khai phá "con đường mòn ấy" .

        "Cuối tháng 4 năm 1946, lúc đó tôi (Nguyễn Đệ - Ba Trung) đang là Đội trưởng Cảm tử quân tỉnh Bà Ria, nhận được lệnh bàn giao công việc cho người khác để đi học ở Trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Số người đi học của hai tỉnh Bà Ria và Biên Hoà tất thảy có 5 người áo tôi phụ trách. Tiếp sau đó ít ngày, một đoàn chừng hơn 10 người của quân khu 9 do đồng chí Vũ Đức (Hoàng Đình Giong) - Khu bộ trưởng Khu 9 dẫn đầu, sáp nhập cùng với đoàn chúng tôi.

        Khoảng tháng 10 năm 1946, đoàn xuất phát. Thời kỳ này, giặc pháp đã đánh chiếm hầu khắp các tỉnh Nam Bộ và một số tỉnh cực Nam Trung Bộ. Chúng tôi len lỏi qua vùng giặc chiếm đóng đi tới căn cứ của Tỉnh ủy và ủy ban kháng chiến tỉnh Ninh Thuận. Đến đây, các đồng chí Tỉnh ủy Ninh Thuận cho biết là các đồng chí ấy cũng muốn liên lạc với Trung ương và các tỉnh phía Bắc, nhưng địch phong toả rất chặt, không có đường nào ra được. Các đồng chí khuyên chúng tôi ở lại chiến đấu, không đi học nữa. Tôi nói: "Ngoài nhiệm vụ đi học, tôi còn mang thư của Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình ra báo cáo với Trung ương, dù khó khăn thế nào tôi cũng phải đi".

        Lúc này, đoàn Khu 9 ở lại, đồng chí Vũ Đức làm Liên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 81 và Trung đoàn 82 của 3 tỉnh cực Nam Trung Bộ.

        Thấy quyết tâm mở đường ra Bắc của chúng tôi không thay đổi, các đồng chí Tỉnh ủy Ninh Thuận đưa ra một phương án: nhờ ghe của ngư dân đi đường ven biển. Tỉnh cử một tổ liên lạc dẫn đường. Trên đường đi, bị địch phục kích, tổ liên lạc bị thương vong. Không còn người dẫn đường, chúng tôi phải quay lại căn cứ.

        Tôi hỏi các đồng chí Ninh Thuận xem còn cách nào nữa không. Lúc này, Tỉnh ủy có tổ quân báo hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Các đồng chí đó tổ chức cho riêng tôi đi bằng con đường hợp pháp, vì đi bằng cách đó không thể đi đông người được

        Tôi được đưa vào một cơ sở của quân báo ở thị xã Phan Rang, đóng vai thợ may mướn. Khoảng một tháng thì xin được giấy tờ hợp pháp. Khi có đủ giấy tờ, tôi chuyển chỗ đến ở nhà một cơ sở khác ở ga Tháp Chăm để chuẩn bị đi, nhưng do thiếu kinh nghiệm hoạt động trong vùng địch nên đã bị lộ. Địch bao vây truy lùng nhóm quân báo trong thị xã Phan Rang. Anh em trong cơ sở phải đưa tôi trở lại chiến khu Huế nên đặt cho căn cứ tỉnh Ninh Thuận thời đó).

        Đang ở tuổi 18, sức lực và lòng hăng hái có dư, lại được không khí sôi sục của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ, tôi không chịu bó tay dừng lại khi nhiệm vụ chưa hoàn thành. Các đồng chí Ninh Thuận cũng đang cần mở đường liên lạc với tỉnh bạn và Trung ương, thấy tôi nhiệt tình nên việc tìm kiếm cách mở đường lại được đặt ra bàn bạc nghiêm túc hơn.

        Con đường đi theo triền núi Trường Sơn, qua các buôn, sóc của các dân tộc Ê Đê, Mơ Nông...trước đó đã bị gạt ra khỏi các dự tính, bây giờ lại được nêu ra. Đó là con đường rất hiểm trở, có những buôn làng, bọn Pháp và Nhật cũng chưa bình định được bàn đi tính lại, dù thấy có nhiều khó khăn, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm mở con đường này. Cùng đi với tôi có ba người của tỉnh Ninh Thuận là ông Long, anh Hoa và anh N. Ông Long lúc đó khoảng 40 tuổi, biết tiếng dân tộc, người đen đúa và cũng "cà răng căng tai" giống như những người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, được giao nhiệm vụ giao dịch và dẫn đường.

---------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4(40)-1989


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:30 am

        Trời đã vào tiết đông, gió se lạnh (12-1946). Chúng tôi,mỗi người phong phanh một bộ quần áo mỏng, lưng đeo gùi gạo và muối lên đường. Hơn ba ngày đường rừng rậm rạp không thấy một bóng người, đến gần trưa ngày thứ ba, ông Long và anh Hoa đi dò tình hình trước. Tôi và N ở lại nấu cơm. Xế chiều, ông Long trở về nói lại ông đã gặp một ông già ở buôn cách đây vài cây số, cho biết dân ở vùng này từ xưa không ai theo Pháp, theo Nhật Bản. Dân hiện nay không còn hạt gạo, hạt muối, phải sống bằng lá rừng.

        Nếu vào được buôn này (tôi quên tên) thì việc mở đường sẽ có nhiều hy vọng. Hầu như đêm hôm ấy, chúng tôi thao thức không ngủ để bàn bạc kế hoạch tiếp xúc với nhân dân địa phương, vận động quần chúng như thế nào, xây dựng chính quyền địa phương ra sao... Ai có chút kinh nghiệm đều được đưa ra để xem có thể vận dụng vào công việc trước mắt không?

        Sáng hôm sau, tất cả chúng tôi vận khố và chà tro than đầy người cho giống như người địa phương.

        Chúng tôi đến buôn, vừa đặt gùi xuống, bà con đã kẻo đến, xúm quanh, nhòm ngó thì thầm bán tán như xem một bầy thú lạ Tôi cũng ngơ ngác lạ lùng không kém gì họ. Dân ở đây còn sống theo chế độ mẫu hệ, cả một bộ tộc sống chung trong một mái nhà dài. Trẻ già, trai gái đều đóng khố và con gái thì được che kín bộ ngực bằng một thứ vỏ cây gì đó khá mềm mại.

        Không phải chờ đợi lâu, chỉ trong ngày hôm đó, chúng tôi đã biết cuộc sống của họ như thế nào. Họ sang dựa vào sự hái lượm, chủ yếu bằng lá rừng, những búp lá hái được cho vào ống tre non rồi bỏ vào bếp lửa đốt lên tới khi chín mang ra ăn. Cả bộ tộc không có, dù chỉ là một cái nồi nhỏ.

        Không có muối, họ lấy tro cỏ tranh thay thế. Khi đi ngủ, tất cả mọi người không phân biệt nam nữ, nằm quây quần xung quanh bếp lửa. Số gạo, muối ít ỏi của chúng tôi đổ ra cùng đồng bào ăn chung, dè xẻn cũng chỉ kéo dài được bốn ngày. Sang ngày thứ năm, chúng tôi bắt đầu nếm thử "cơm" của họ: lá cây và tro tranh. Bốc nhúm lá bỏ vào miệng là thấy đủ thứ mùi vị: chua, cay , đắng, chát, nồng nồng. Dù chỉ nhìn đã không muốn ăn, nhưng tôi cũng cố nhai và cố nuốt. Từ hôm ăn lá cây, sức khoẻ của chúng tôi giảm sút trông thấy, nhưng hằng ngày vẫn cùng bà con đi hái lá và tìm củ rừng. ông Long tuyên truyền giáo dục và hành động của chúng tôi đã cảm hoá họ nên chỉ sau một tuần lễ, chúng tôi đã thành lập được chính quyền cách mạng ở buôn này. Cứ như thế, di chuyển dần về phía Khánh Hoà. Trong vòng hai tháng, chúng tôi đã tập chính quyền và đoàn thể ở bảy buôn. Sắp tới buôn A Thố, chúng tôi đã được nhân dân báo cho biết buôn này còn tục "tế người". Hai ngày đến ở buôn A Thố, chúng tôi vẫn làm mọi việc như đã làm đối với các buôn đã qua. Sau khi xây dựng chính quyền cách mạng xong, chúng tôi lại lên đường. Không ngờ buôn A Thố đã cho người phục kích đón nơi chúng tôi đi qua. Lúc đó mặt trời đã cao, tôi  đang đi bỗng thấy tên trên sườn núi bắn xuống như mưa. Hai người đi trước ngã gục, ông Long bị một mũi tên cắm phập vào giữa ngực. Tôi bị một mũi tên bắn xuyên qua phần mềm cánh tay trên, nhưng vẫn ráng hết sức tới xốc ông Long lên vai chạy được một đoạn khoảng 100 mét. Ngấm thuốc độc, ông Long tắt thở. Người tôi choáng váng, chao đảo muốn ngã, bèn đặt ông Long xuống. Tôi ráng hết sức chạy tiếp thêm một đoạn rồi nghiến răng giật mạnh mũi tên ra khỏi cánh tay mình. Chợt nhớ đến gói thuốc chống tên thuốc độc của dân cho từ mấy hôm trước khi đến buôn A Thố, tôi vội mở lấy ra bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến một phần, còn một phần đắp vào vết thương. Vị thuốc thật thần diệu. Vết thương oang ngậm miệng bỗng vọt ra một dòng máu bầm tím. Tôi thấy trong mình bớt choáng váng.

        Chiếu theo hướng đã định, tôi mải miết chạy rời xa khu vực nguy hiểm, tới chiều mới gặp một con suối, lúc đó, tôi mới thấy mình đang khát cháy cổ. Mừng quá, tôi tưởng sức mình có thể uống cạn dòng nước trong vắt này. Cơ thể mất máu, nước vào không làm cho khoẻ thêm, trái lại nó đã làm cho tôi suy sụp không gượng được nữa. Tôi đã bắt đầu bò lồm cồm như những động vật bốn chân. Đêm đó, tôi trú ở một hang đá. Nghe tiếng hổ gầm và mùi hôi thối xộc vào mũi mới biết là mình đang nằm cách hang hổ không bao xa. Trong hoàn cảnh đêm tối rừng rậm, sức kiệt, biết làm sao bây giờ, tôi đành thi thố với số phận.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2016, 12:15:55 am

        Đêm đó, phần vì vết thương tấy nhức, phần vì lo sợ, tôi không sao chợp mắt được. Khi mặt trời lên, tôi nhìn sang cái hang cách đó vài bước đã thấy hai con hổ con xinh xắn bò ra trước cửa phơi nắng. Mẹ chúng đã đi kiếm ăn xa. Một ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt đến, tôi định bắt một con mang theo, nhưng lại nghĩ đến cái chết đang đe dọa mình, nên vội vã tiếp tục cuộc hành trình.

        Từ hôm ấy, tôi không đủ sức đi bình thường, có lúc đi, có lúc bò, lúc nào cảm thấy đói thì dứt vài đọt lá rừng bỏ vào miệng.

        Ngày này sang ngày khác, quanh mình chỉ có rừng rậm hoang vắng và tiếng kêu của muông thú. Nhiều lúc, trước mắt tôi chỉ thấy màu đen tối tuyệt vọng. Mấy người bạn của tôi chắc đã bị dân A Thố "tế' rồi, còn mình thì cũng khó thoát khỏi làm mồi cho lũ thú rừng. Làm gì? Không lẽ nằm yên để chờ chết, khi mình còn cử động được. Mỗi khi tư tưởng tuyệt vọng xâm chiếm, tôi lại lấy gương Lục Vân Tiên ra để cổ vũ mình. Trong cơn hoạn nạn tưởng như không còn đường thoát nhưng anh ta vẫn tin ở ngày mai và trời đất quy thần đã không phụ lòng. Và tôi lại tiếp tục trườn, bò... Đến chiều ngày thứ bảy, tôi nhìn thấy một đám nương, kề bên là một nếp nhà sàn. Một cô gái trẻ từ trên nhà đang đi xuống. Hy vọng sống trong tôi trỗi dậy mãnh liệt. Tôi gọi, nói đúng hơn là tôi đã gào thét. Nhưng hơi sức của tôi lúc đó chẳng còn bao nhiêu, có lẽ tiếng kêu quá nhỏ nên cô gái chưa nghe rõ. Cô ta ngơ ngác vài giây, khi chợt nhìn thấy tôi đang bò, cô ù té chạy mất. 

        Tôi leo lên nhà, ngồi chờ đợi. Lúc này, tôi mới ngửi thấy mùi hôi thối từ vết thương của mình  xông ra rất khó chịu.

        Một ông già vóc người cao lớn, tóc dài xoã xuống vai đã tới đứng núp bên cánh cửa lúc nào, ông giương nỏ về phía tôi quát to bằng tiếng Ê Đê. Tôi không biết ông ta nói gì. Có lẽ ông hỏi tôi là ai, đến đây làm gì? Tôi thoáng nghĩ, đây là bước cùng rồi, một may một rủi, mình cứ nói thẳng ra mình là ai, nếu ông già này là người tốt thì mình thoát nạn, vạn bất đắc dĩ thì đành chịu chết. Tôi cầm tờ giấy công vụ có dấu son giơ lên và nói: "Tôi là người của Mặt trận Việt Minh được phái đi công tác". Thấy nói tới "Mặt trận Việt Minh" đôi mắt nảy lửa của ông già dịu xuống, nhưng vẫn chưa hết cảnh giác đề phòng. Một phút sau ông mới chậm rãi bước lại gần tôi. ông xem giấy và nghe tôi nói việc đi qua A Thố bị họ phục kích như thế nào. Để kết thúc điều tôi vừa nói, tôi nhắc ông: nếu ông là kẻ thù của Việt Minh thì ông cứ giết tôi đi". Khi hiểu ra cảnh ngộ của tôi, ông vừa khóc vừa nói: "A Thố nó ác lắm, đã có đoàn cán bộ Việt Minh 16 người của Đà Lạt qua đó bị chúng giết ". . .

        Qua ông già kể, tôi được biết buôn Ru-oai này đã thành lập chính quyền và có các đoàn thể cách mạng.

        Ở đây, tôi được gia đình ông già chăm sóc rất chu đáo, ít ngày sau sức khoẻ bình phục, ông đã dẫn tôi tới ủy ban kháng chiến Phú Yên (ở gần núi Vọng Phu). Người đầu tiên tiếp tôi là anh Thanh Sơn (sau này là Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp) và anh Phạm Văn Bạch - Chủ tịch ủy ban kháng chiến Nam Bộ. Các anh khuyên tôi: "Nghỉ ngơi bồi dưỡng tại đây cho khoẻ. Đi ra ngoài Bắc bây giờ địch cắt đường rồi. ủy ban kháng chiến Nam Bộ được lệnh chuyển vô Nam Bộ đang tính việc mở đường về, rất may có đồng chí...".

        Sau khi chữa lành vết thương và được học tập lớp chính trị ngắn ngày, tôi được biên chế vào đơn vị "tiên phong" mở đường do anh Thọ phụ trách. Khỉ giao nhiệm vụ mở đường, anh Phạm Văn Bạch nói: chúng ta mở con đường này với tinh thần vâng theo lời dạy của Cụ Hồ, quyết tâm đánh thắng quân xâm lược  Pháp, vì vậy con đường chúng ta mở sẽ mang tên Người - đường Hồ Chí Minh". Tôi dẫn anh em mở theo con đường tôi đã đi qua, đi đến A Thố, chúng tôi lại bị phục kích, anh Thọ bị trúng một mũi tên vào giữa trán, anh em trong đơn vị nổi giận, đòi tàn sát cả buôn này. Tôi phải khuyên can anh em nhiều lần, họ mới nguôi giận. Đi qua các buôn mà trước đây vài tháng, chúng tôi đã xây dựng chính quyền, đoàn được nhân dân đón tiếp nồng nhiệt.

        Đến căn cứ Huế của Ninh Thuận, tôi được anh em cho hay tin dữ: đồng chí Vũ Đức, Liên Trung đoàn trưởng vừa mới hy sinh. Khi địch tiến công vào trung đoàn bộ, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy một bộ phận ở lại chặn địch để cho anh em thương binh và cơ quan rút lui an toàn. Tinh thần gan góc dũng cảm và thương yêu binh sĩ của Liên Trung đoàn trưởng Vũ Đức đã để lại trong tôi ấn tượng tốt đẹp, sâu sắc không bao giờ phai mờ.

        Đến cuối tháng 7 năm 1947, đội mở đường của chúng tôi đã về đến tỉnh Bà Ria. Tiếp sau đó ít lâu, ủy ban kháng chiến Nam Bộ cũng từ Phú Yên về Bà Rịa. Và từ đó, con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành đường giao thông huyết mạch giữa Trung Bộ và Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 09:31:41 pm
           
MỘT VÀI CHI TIẾT VỀ PHÁO ĐÀI LÁNG1

TRẦN QUANG VỸ        

        Pháo Đài Láng, nơi vinh dự được giao nhiệm vụ khai hoả loạt đạn đầu tiên bắn vào thành Hà Nội, mở màn cho Toàn quốc kháng chiến, đã được viết nhiều trên sách, báo cũng như phát trên đài phát thanh, truyền hình từ mấy chục năm nay. Vì vậy, trong bài này chúng tôi chỉ đề cập những chi tiết còn ít người nói tới và những chi tiết đưa chưa thật chính xác.

        1. Địa điểm của Pháo đài Láng và sự ra đời của nó Pháo đài Láng nằm ở địa bàn phường Láng Thượng (quận Đống Đa) hiện nay, xưa thuộc xã Yên Lãng (tên nôm là Kẻ Láng) một làng cổ ven đô, bên bờ sông Tô Lịch, phía tây thành Thăng Long.

        Cụm dân cư Yên Lãng ra đời cách đây khoảng 2.000 năm, gồm ba thôn: Láng Thượng, Trung và Hạ. Đến năm 1981 chia thành phường Láng Thượng có thôn Thượng và hai xóm thôn Trung; phường Láng Hạ có hai xóm thôn Trung và một xóm thôn Hạ; còn một xóm thôn Hạ nay thuộc về phường Thịnh Quang.

        Người Hà Nội đều biết đến Láng, vì nhân dân ở đây có nghề trồng rau gia vị nổi tiếng. Theo sử sách, nghề này có từ  đời vua Trần Dụ Tông (giữa thế kỷ XIV) mà đặc sản là húng Láng, hành hoa, cà pháo; còn có chùa Láng tên chữ là Chiêu Thiên Tự, xây dựng từ đời vua Lý Anh Tông (giữa thế kỷ XII) là một di tích lịch sử, một thắng cảnh có tiếng của Thăng Long xưa.

        Sau khi chiến tranh Thế giới lần thứ 2 bùng nổ (9- 1939), thực dân Pháp ở Đông Dương cắm 5 mẫu ruộng ở cánh đồng Dập và khu vực gò ma thuộc thôn Trung để lập pháo đài với mục đích bảo vệ  phía tây Hà Nội, chống phong trào cách mạng và bắn máy bay Nhật (vì Nhật ở phe trục với Đức - Ý).

        Ngày 17 tháng 6 năm 1940, quân Đức kẻo vào Pa-ri, thủ đô của pháp; Pê-tanh (Pétain) phải ký hiệp ước đình chiến với Đức, thực dân Pháp ở Đông Dương xây bệ đặt 4 khẩu cao xạ 75 ly mua của Đức, là loại súng tối tân nhất lúc bấy giờ, cố định súng vào bệ bê tông. Đến cuối tháng 9 năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương sau đó buộc Pháp phải ký Hiệp ước phòng thủ chung (ngày 29-7-1941) và bắt thực dân Pháp phải dùng Pháo đài Láng để bắn máy bay Mỹ khi đến ném bom quân Nhật đóng ở Hà Nội (ngày 7- 12- 1941, Mỹ tham chiến đánh Đức - Ý - Nhật) . Lời ghi ở bảng giới thiệu trong Phòng trưng bày bổ sung di tích Pháo đài Láng -TBBSDTPĐL) viết: "Pháo đài Láng là một trong ba pháo đài do quân Pháp xây dựng trong thời kỳ Đại chiến Thế giới lần thứ 2 nhằm mục đích phòng thủ khu vực Hà Nội với nhiệm vụ chủ yếu đánh trả máy bay quân đội Nhật" là chưa đầy đủ, rõ ràng. Về sự kiện có khác nhau: Trong Pháo đài có xây đài chỉ huy, hầm trú ẩn, hầm để đạn. Ngoài pháo cao xạ có hai khẩu đại liên kiếu Hốt-kít, một khẩu trung liên Biển và một số súng trường để trợ thủ và bảo vệ cho pháo. Quân số ở đây có 1 đại đội lính Pháp và lính khố đỏ, có viên quan hai Pháp tên là Đét-xru-mô (Desrumeau), quan một Pơ-ti (Petit), viên quản Bông-pông (Bonpont). Phía lính khố đỏ có viên đội Nguyễn Ưng Gia cai quản (cấp bậc Maréchal des logis ngang với trung sĩ bây giờ). Năm 1943, máy bay Mỹ tới ném bom vào thành Hà Nội, nhưng bom rơi vào khu chợ Hàng Da, làm nhiều người dân bị chết. Quân Pháp cho pháo cao xạ bắn ở tầm 4.000 mét nhưng khi Nguyễn Ưng Gia tính thì máy bay Mỹ ở tầm 6.000 mét nên bắn không trúng (có thể là do Pháp cố tình) .

        Đầu năm 1945, Nhật nhiều lần cho lính đến cắm trại ở chùa Láng để trinh sát và diễn tập tiến công Pháo đài Láng và trại Nhãn (Cầu Giấy), là những căn cứ quân sự của Pháp ở cửa ngõ phía tây Hà Nội.

        Đêm 9 tháng 3 năm 1945, Nhật làm đảo chính hất cẳng Pháp. Họ tập kích vào Pháo đài, bắn chết Đét-xru-mô, Bông-pông, một số lính Pháp và khố đỏ. Riêng Pơ-ti thoát chết vì hôm đó không có mặt. Một người dân là bà Riềng bị bắn chết. Một số lính khố đỏ, trong đó có Nguyễn Ưng Gia, vượt hàng rào chạy vào xóm, xin quần áo dân thường mặc để trốn đi nơi khác.

        Pháo đài Láng bị quân Nhật chiếm đóng cho đến khi quân của Trung Hoa dân quốc kéo vào nước ta giải giáp quân Nhật.

        Bảng giới thiệu của Phòng trưng bày có viết: "Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Cách mạng Tháng Tám thành công, Pháo đài Láng đã trở về tay Quân giải phóng" còn thiếu một quãng thời gian tuy ngắn từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 4 năm 1946 (lúc quân của Tưởng Giới Thạch rút về nước) nhưng là giai đoạn mà Nhật và quân Tưởng đã tháo dỡ nhiều bộ phận của bốn khẩu cao xạ, một số đạn bị lấy đi đêm vỏ đồng bán cho đồng nát.

        Khi bộ đội ta vào tiếp quản Pháo đài Láng thì ta chưa có pháo binh. Mãi tháng 5 năm 1946, Bộ Tổng tham mưu mới tập trung anh em pháo thủ trong Hội cựu chiến binh yêu nước thuộc Mặt trận Việt Minh và tuyển chọn một số người cao to, biết chữ, về tập trung ở trại Vệ quốc đoàn Trung ương (số 40 Hàng Bài). Đến ngày 29 tháng 6 năm 1946, ra quyết định thành lập ba trung đội Pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh (đến tháng 9 năm 1946, có thêm Trung đội pháo đài Thủ Khối), thành Đại đội Pháo binh Thủ Đô do đồng chí Phạm Văn Đôn làm Đại đội trưởng, đồng chí Tô Na làm Chính trị viên, chỉ huy cả bốn trung đội.

-----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-2001


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 09:34:40 pm
         
        2. Thành phần của Trung đội Pháo đài Láng Chúng tôi muốn nói rõ thêm, vì các tư liệu về vấn đề này còn rất ít. Hơn 50 năm đã đi qua, nên đáng tiếc là tên tuổi các chiến sĩ của Pháo đài không còn ai nhở được hết, vì thời kỳ này, thanh niên yêu nước nhập ngũ rất đơn giản, lý lịch và tên thật không chính xác. Do vậy, rất dễ hiểu là số tên họ ở bảng danh sách trong Phòng TBBSDTPĐL và trong cuốn "Lịch sử pháo binh QĐNDVN ' xuất bản năm 1991 chưa thật đầy đủ và cũng có họ tên khác với những điều mà chúng tôi được biết qua một số nhân chứng ở Trung đội này những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến. Theo ông Nguyễn Ưng Gia thì Pháo đài Láng có 44 người, chia làm 3 khẩu đội. Nguyễn Ưng Gia làm Trung đội trưởng1, Nguyễn Văn Khoát làm Chính trị viên.

        Bốn khẩu cao xạ thời kỳ Pháp thuộc đã bị mất nhiều bộ phận, nhưng được xưởng sửa chữa pháo đạn2 tu sửa lắp thành hai khẩu nên Pháo đài chỉ có hai khẩu đội súng. Khẩu đội pháo phía ngoài gần đường do đồng chí Bình chỉ huy, Nguyễn Phi Hùng làm phó phụ trách việc ngắm bắn, đồng chí Nghệ (pháo thủ cũ của Pháp) có thao tác thuần thục giữ việc giật cò; các đồng chí Tần, Uyên, Bùi Văn Ẩm3, Trần Đình Xuyên (đều là pháo thủ cũ của Pháp) thực hiện việc quay tầm, hướng, cắt ngòi nổ, nạp đạn. Còn ba thanh niên của làng Láng mới nhập ngũ là Đỗ Văn Đa (thường gọi là Đỏ) Đoàn Bản, Nguyễn Văn Sinh làm nhiệm vụ tiếp đạn.

        Khẩu đội pháo nằm ở phía trong do Đoàn Hùng4 (tên thật là Ấu Sĩ Hùng) chỉ huy, đồng chí Bạn làm khẩu đội phó, Nguyễn Văn Đề (pháo thủ cũ). Thanh niên làng nhập ngũ có Ngô Quang Chiêu, Nghiêm Trần Duyên, Ngô Văn Tranh, Ngô Quang Trường.

        Khẩu đội dự bị do Lê Văn Oanh5 phụ trách có Nguyễn Đình Chiến (là pháo thủ cũ, đã hy sinh khi Pháp ném bom xuống khu trận địa giả), Nguyễn Huy Giao, Nguyễn Đình Ngọc không phải là Vũ Đình Ngọc như ở bản danh sách tại Phòng TBBSDTPĐL), Nguyễn Đình Ất, Đàm Duy Nho, hai thanh niên làng nhập ngũ là Nguyễn Văn Dương, Lâm Văn Toàn.

        Quản lý Trung đội là đồng chí Hưng.

        Y tá Trung đội là đồng chí Khả.

        Ông Nguyễn Ưng Gia nguyên Trung đội trưởng Pháo đài, năm nay đã 90 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn (hiện ở Khu tập thể Nông nghiệp - phường Phương Mai). Không nhớ được hết tên mọi người, ông có bổ sung thêm: Đồng chí Uyên (là pháo thủ cũ của Pháp, quê ở Thái Bình), làm phó cho ông. Về chính trị cũng có một đồng chí phó cho đồng chí Nguyễn Văn Khoát, một đồng chí liên lạc chuyển các thông tin bằng đi bộ, một vài đồng chí làm nhiệm vụ tiếp phẩm, cấp dưỡng nhưng không nhớ tên.

-----------------------
        1. Ông Gia sinh năm 1912 ở Huế, vào lính pháo thủ của Pháp năm 1940, vì Pháp thua Đức nên không phải sang Pháp mà được về làm chức đội ở Pháo đài Láng, chỉ huy lính khố đỏ dưới quyền của quan hai Pháp Đét-xru-mô, rồi trở thành con rể của làng (vợ là bà Nghiêm Thị Năm vừa mất năm nay). Ngày Nhật đánh vào pháo đài, ông xé hàng rào chạy về nhà vợ, sau đó Nhật mộ lính lái xe. Ông vào làm lái xe đại đội vận tải pháo. Đến Cách mạng Tháng Tám thì bỏ vào Sài Gòn, được đông chí Phạm Ngọc Thạch giới thiệu về Hà Nội đến đồng chí Phạm Văn Đồng làm bảo vệ và lái xe (Bộ Tài chính). Bộ Quốc phòng biết, điều ông về làm trung đội trưởng Pháo đài Láng.
        2. Xưởng sửa chữa pháo có một kíp thợ trên 10 người (trang 13 cuốn Lịch sử pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam 1945-1975, Nxb QĐND, 1991) có hai người là Nguyễn Văn Trúc và Nguyễn Văn Đó được ghi vào bảng danh sách 31 chiến sĩ của Đại đội pháo binh tại Phòng TBBSDTPĐL.

        3. Phòng TBBSDTPĐL ghi là Bùi Văn Ân.

        4. Phòng TBBSDTPĐL ghi là Đoàn Hưng.

        5. ông Lê Văn Oanh là một pháo thủ cũ của Pháp, quê ở xã Chương Dương, huyện Thường Tín, Hà Tây, mất năm 1999, nhưng người con là Lê Văn Khánh có bổ sung cho chúng tôi các tư liệu trong quyển sổ tay còn lưu lại về tên các chiến sĩ của khẩu đội này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 09:41:27 pm

        Về đồng chí Trần Thái Quang trong bảng danh sách ở Phòng TBBSDTPĐL có ghi là xạ thủ 12,7 ly, nhưng theo chúng tôi tìm hiểu thì Pháo đài Láng không có súng 12,7 ly mà chỉ có một khẩu trung liên Bren và hai khẩu Hốt-kít loại bắn đạn 8 ly) mà thôi. Vậy có thể Trần Thái Quang ở Pháo đài Xuân Canh chăng1? hay là theo như trong sổ tay của ông Lê Văn Oanh lưu lại thì Trần Thái Quang là một pháo thủ của khẩu đội sơn pháo 75 ly được Đại đội pháo binh điều về tăng cường đầu tháng 1 năm 1947 cho Pháo đài Láng. Như vậy tổng cộng danh sách thu thập được là 30 người.

        3. Một vài chi tiết trong quá trình chiến đấu của Pháo đài Láng.

        Ngoài những việc đã được nói trên sách báo đề cập, chúng tôi xin nói thêm vài chi tiết:

        Trong Pháo đài, lúc quân Tưởng trao trả ta, chỉ còn lại 400-500 viên đạn. Nhân dân thôn Láng Trung phát hiện một hầm có 200 viên do địch chôn giấu ở gò ma, đã chuyển cho Trung đội. Anh em pháo thủ đa số là bộ binh và thanh niên mới nhập ngũ, chưa biết đến pháo, được đồng chí Nguyễn Ưng Gia tổ chức huấn luyện. Với tinh thần yêu nước, quyết tâm giết giặc, anh em đã nhanh chóng học tập và thực hiện được các thao tác chính xác theo lệnh của chỉ huy, điều khiển 2 khẩu cao xạ chuyên dùng để bắn máy bay, nay làm pháo bắn mục tiêu mặt đất, khuất xa, theo đường cầu vồng, rất khó khăn.

        Năm 1996, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Toàn quốc kháng chiến, báo Nhân dân, số 15155, ra ngày 19 tháng 12 năm 1996, ở trang 4, mục "Hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày Toàn quốc kháng chiến", của M.T, có viết "Phạm Văn Đôn, Đại đội trưởng pháo binh chỉ huy Pháo đài Láng giới những loạt đại bác đầu tiên xuống dinh luỹ của thực dân Pháp trong đêm 19 tháng 12 năm 1946 lịch sử". Đồng thời trên Đài Truyền hình Việt Nam (chương trình VTVI) phát câu chuyện đồng chí Phạm Văn Đôn trực tiếp chỉ huy Pháo đài Láng.

        Việc này là không chính xác nên một số anh em pháo thủ cũ của Pháo đài Láng đã viết thư lên Bộ Tư lệnh Pháo binh, Quân khu Thủ Đô, Thành ủy Hà Nội nêu thắc mắc băn khoăn về việc báo chí công bố không đúng sự thực vì lúc đó đồng chí Phạm Văn Đôn không có mặt trên đài chỉ huy của Pháo đài để chỉ huy 2 khẩu đội bắn loạt đạn đầu tiên, hiệu lệnh cho Toàn quốc kháng chiến.

        - Chúng tôi cũng muốn nhắc đến sự đóng góp to lớn của nhân dân và chính quyền địa phương trong những ngày nóng bỏng của cuộc chiến đấu để Trung đội hoàn thành nhiệm vụ.

        Ngay từ tháng 10 năm 1946, xã Yên Lãng đã thành lập ủy ban bảo vệ bên cạnh ủy ban hành chính do ông Vũ Quýnh làm Chủ tịch, có một đại đội tự vệ bảo vệ làng và giúp bộ đội.

        Đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, một bộ phận tự vệ thay nhau chuyển đạn từ nơi cất giấu ở Trung Kính Thượng về để Trung đội chiến đấu; còn một bộ phận phối hợp với khẩu đội dự bị của Lê Văn Oanh, ngày đêm bảo vệ vòng ngoài, ngăn chặn bọn Việt gian tay sai của Pháp lẻn vào gần Pháo đài do thám. Một số các bà, các chị tham gia đội tiếp tế nấu cơm hằng ngày cho bộ đội và tự vệ (gạo do nhân dân ủng hộ).

        Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Pháo đài Láng hạ được một máy bay trinh sát của địch nên sau đó Pháp cho pháo binh bắn bừa bãi vào Láng và máy bay ném bom nhiều lần; có một lần đã trúng khẩu đội đồng chí Bình. Hai đồng chí Bùi Văn Ẩm và Trần Đình Xuyên hy sinh. Hai đồng chí này là pháo thủ cũ của Pháp, vì không rõ nguyên quán nên nhân dân Yên Lãng chôn cất ở đó và ghi tên hai đồng chí vào danh sách liệt sĩ của phường Láng Thượng bây giờ. Nhân dân Yên Lãng còn huy động người đắp lại ụ pháo bị đánh phá và đắp một pháo đài giả rất công phu ở cánh đồng thôn Hạ, có ụ súng, chòi chỉ huy, hôm để đạn, người rơm để lừa địch. Trong những ngày chiến đấu khó khăn, việc ăn uống hoàn toàn do dân Yên Lãng đảm nhiệm, đội tiếp tế phụ nữ nhiều khi phải gánh cơm mang tới cho bộ đội dưới làn đạn pháo của địch. Đó là các bà, các chị Bé Hoạch, Hai ý, Phương, Văn, Tuyết, Ty, Nhàn...

        Ngoài việc phục vụ chiến đấu, xã còn lập các đội phá hoại: chặt cây, đào trường để cản xe địch. ông Vũ Quýnh thường xuyên dẫn đầu các đoàn đại biểu các ngành, các đoàn thể trong xã, ban đêm đến úy lạo, tặng quà, động viên bộ đội và tự vệ chiến đấu.

        Ngày 10 tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội lệnh cho Trung đội phá pháo, rút về Hà Đông. Nhân dân Láng biết tin đến tiễn đưa và gói cơm nắm cho các chiến sĩ lên đường.

        Ngày 11 tháng 1 năm 1947 (tức 20 tháng Chạp) bộ đội Pháo đài Láng rút qua sông Tô Lịch về Mễ Trì, Hữu Từ mang theo khẩu sơn pháo 75 ly có bánh xe được tăng cường về sau này) và tháo khóa nòng hai khẩu cao xạ mà Pháp đổ bê tông chôn tại chỗ không mang đi được, để làm nhiệm vụ mới.

        Sau khi bộ đội rút khỏi Pháo đài, địch bắn phá ác liệt dọn đường để tiến ra ngoại thành. Chiều 29 Tết (tức 20-1- 1947), địch đưa quân ra Yên Lãng bắn chết một số cụ già vì yếu không đi tản cư được và đốt phá nhà dân. Trung đội Pháo đài Láng từ lúc thành lập (ngày 29-6- 1946) cho đến khi rút khỏi thành phố đã hoàn thành nhiệm vụ vinh quang của mình, bắn phát pháo lệnh mở màn cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp; cùng Đại đội pháo binh non trẻ của ta ở Hà Nội, chỉ có bảy khẩu thu được của địch, phối hợp với các trận chiến đấu của bộ đội, nhân dân Thủ đô kìm chân địch, tạo thời gian cho cả nước củng cố và xây dựng lực lượng để kháng chiến. Cán bộ chiến sĩ Đại đội pháo binh Hà Nội, sau khi rút khỏi Thành, cũng là nòng cốt xây dựng nên các phân đội rồi đại đoàn pháo binh hiệp đồng chiến đấu với bộ binh trong các chiến dịch để năm 1954 trở về giải phóng Thủ đô.

        Di tích Pháo đài Láng vẫn còn, đó là một bằng chứng về truyền thống chiến đấu anh dũng bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Để xứng đáng với ý nghĩa và tầm vóc của nó, chúng tôi nghĩ ngoài sự quan tâm bảo tồn di tích cần thiết phải có những nội dung cần bổ sung và chỉnh lý để các thế hệ mai sau luôn luôn ghi nhớ đến chiến công của những người đi trước.

----------------------
        1 . Trong bài “Từ Xuân Canh đến Đoan Hùng" của Nguyễn Đỗ Minh Quân, Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, số 36, tháng 12-1996, ti. 15 viết "Pháo đài Xuân Canh có một tiểu đội trọng liên 12 ly 7".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:08:37 pm


MỘT SÔ Ý KIẾN VÊ TRẬN TẬP KÍCH SÂN BAY GIA BÍ THỜI KỲ ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN1

TRẦN QUANG VỸ       

        1. Trận tập kích vào sân bay Gia Lâm tháng 1-1947 có hay không?

        Cuốn Quân khu Thủ đô Hà Nội - Lịch sử tháng chiến chống thực dân Pháp 1945-/1954" (Nxb Hà Nội, 1986, tr. 168) viết về một trung đội pháo binh của Chiến khu 10 tăng cường cho Mặt trận Hà Nội, đến cách sân bay Gia Lâm 400 mét, lúc 16 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1947 đã bắn 15 phát vào sân bay làm 2 chiếc khu trục của địch bốc cháy.

        Cuốn "Lịch sử Pháo binh QĐND Việt Nam 1945-1975" (Nxb QĐND, 1991, ti. 23) nói cụ thể hơn: "Đêm 24-1-1947, trung đội sơn pháo 75 ly của Bộ chỉ huy Khu 10 do anh Vũ Quang Điện vừa tốt nghiệp Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khoá 1 phụ trách, đã bí mật vào chiếm lĩnh cạnh đê làng Vo Vàng, cách đường băng sân bay Gia Lâm khoảng 400 mét. Lúc 16 giờ ngày 25-1-1947, khi 3 máy bay khu trục Xpít-phai (Spitfire) vừa hạ cánh, khẩu đội nhằm bắn thẳng 14 phát, 1 chiếc bốc cháy, 1 chiếc bị thương".

        Như vậy, trận pháo kích ngày 25 tháng 1 năm 1947 vào sân bay Gia Lâm không phải là trận tập kích mà Nguyễn Quốc Dũng2; Đặng Việt Châu3; Nguyễn Hưng 4; Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu5 đã viết.

        Chúng tôi gặp đồng chí Nguyễn Văn Trân - nguyên Bí thư Thành ủy, kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến Hà Nội thời kỳ này, nhưng đồng chí chỉ nhớ là có một trận tập kích vào sân bay Gia Lâm đầu năm 1947, nhưng không nhớ cụ thể.

        Nhân chứng của sự kiện này vẫn còn, một số người đã cung cấp cho chúng tôi những chi tiết đáng lưu ý để chúng tôi nêu lên những vấn đề sau:

        2. Chủ trương đánh sân bay Gia Lâm có từ lúc nào?

        Đảng ta đã nhận định việc thực dân Pháp mưu toan xâm chiếm đất nước ta một lần nữa, chiến tranh khó có thể tránh được nên việc đánh vào sân bay Gia Lâm để làm "mù cánh" địch (theo như cách nói của anh em Đội phá hoại thành phố lúc bấy giờ) đã được đặt ra trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

        Đồng chí Lê Minh Nghĩa6 kể lại: sau khi ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Đảng ta đã có chủ trương rất nhạy bén. Vào khoảng tháng 4 năm 1946, đồng chí Vân (tức Phan Lang), Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã báo cho đồng chí Nghĩa, lúc đó là Chủ nhiệm Việt Minh thị xã Bắc Ninh, ý kiến của Xứ ủy Bắc Bộ là phải lập một khu đặc biệt xung quanh sân bay Gia Lâm để củng cố cơ sở chính trị và tổ chức binh vận gồm: phố Gia Lâm (Ngọc Thụy) và các thôn quanh sân bay là Thượng Cát, Gia Thượng, Gia Quất, Gia Thụy, Bắc Cầu (phía bắc đường xe lửa), Ngọc Lâm, ái Mộ (sân bay), Sài Đồng, Mai Phúc (dọc đường số 5), Lâm Du, Tư Đình (phía đê sông Hồng) và giao cho một Ban cán sự do đồng chí Nguyễn Việt Dũng - Bí thư Phủ ủy7.Từ Sớm phụ trách, đồng chí Thế - đại đội trưởng, cán bộ quân sự Thị ủy Bắc Ninh và đồng chí Nghĩa. Khu đặc biệt này trực thuộc tỉnh Bắc Ninh, không qua Huyện ủy Gia Lâm (thời kỳ này Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh) .
       
        Đến tháng 7, đồng chí Dũng chuyển lên công tác ở Tỉnh ủy Bắc Ninh thì đồng chí Nghĩa được cử thay làm Bí thư Ngọc Thụy. Đồng chí Nghĩa đã nắm tình hình sân bay qua những người vào làm phu và một số người hay đột nhập vào đó để lấy trộm quân trang, quân dụng của Pháp (đại ca của họ là Quý Thông) .

        Tháng 11  năm 1946, đồng chí Vân gọi Lê Minh Nghĩa lên thông báo việc Xứ ủy quyết định kế hoạch tập kích sân bay nếu chiến tranh xảy ra và sau đó báo đồng chí lên gặp Xứ ủy (có đồng chí Lê Thanh Nghị và Trần Quốc Hoàn dự) để báo cáo tình hình. Đồng chí Nghĩa không thạo về quân sự, nhưng trước khi gặp Xứ ủy, nhờ sự góp ý của đồng chí Vương Văn Trà (Bí thư Phủ ủy Thuận Thành, lúc này đã tham gia quân đội) nên đã xin cung cấp chai xăng và bom ba càng. Xứ ủy chỉ thị ngay cho đồng chí Vũ Anh và đồng chí Nguyễn Duy Thái (phụ trách quân giới) để đồng chí Nghĩa lấy vũ khí ở Bình Đà đem về Gia Quất.

        Cuối tháng 11, đồng chí Lê Hồng, được Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ tổ chức cuộc tập kích sân bay Gia Lâm khi xảy ra chiến tranh, đến liên lạc với Lê Minh Nghĩa để thành lập một đội cảm tử thực hiện công việc này.

------------------
        1. Tạp chí LSQS số 2-1999
       
        2 . Nguyễn Quốc Dũng - Thêm những tư liệu về trận tập kích sân bay Gia Lâm đầu năm 1947, Tạp chí LSQS, số 6-1993, tr.70-72.

        3. Đặng Việt Châu - Nhớ lại trận đột kích sân bay Gia Lâm đầu năm 1947, báo QĐND, số 8445. ngày 4-12-1984.

        4. Nguyễn Hưng - Trận đánh máy bay lịch đầu tiên ở sân bay Gia Lâm, Tạp chí LSQS, Số 4-1993.

        5. Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu - Thêm vài chi tiết về trận đánh, Tạp chí LSQS, tháng 6-1993, tr. 73.

        6. Còn có tên là Vũ Nhân, tên thật là Đô Nguyên Thanh, sau này là Chánh văn phòng Bộ Tổng tham mưu, rồi Trưởng ban Biên giới của Chính phủ, nay là chuyên viên cao cấp của Chính phủ.

        7 . Sau làm Chánh văn phòng Chủ tịch Nước.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:10:07 pm

        Những chi tiết trên có khác với tư liệu số KC26, lưu trữ ở Tổng cục II8 về Ban tình báo Bắc Ninh - Gia Lâm năm 1946-1947. Ngày 18 tháng 7 năm 1946, tại số nhà 17 phố Nguyễn Thị Kim (nay là 16 Nguyễn Huy Tự, Hà Nội) việc chuẩn bị trận đánh sân bay đã được đồng chí Hoàng Minh Đạo Trưởng phòng 5 Bộ Tổng tham mưu, trực tiếp giao cho đồng chí Nguyễn Hồng điều tra, nắm tình hình trường bay Gia Lâm, chuẩn bị hướng dẫn Quyết tử quân đánh phá máy bay theo phương hướng một trận tập kích bí mật.

        Cũng theo bài báo9 thì Nguyễn Hồng là một công nhân kỹ thuật tại nhà máy xe lửa Gia Lâm - Đông Anh, thông thạo vùng này. Nguyễn Hồng đã đóng vai làm phu ở sân bay nên nắm được quy luật hoạt động, quan sát được địa hình và cách bố trí của địch. Anh đã tổ chức một số người trở thành nhân mối giao thông viên của lực lượng tình báo quân sự. Việc chọn người tổ chức Quyết tử quân do Thị ủy Ngọc Thụy, ủy ban huyện Gia Lâm và Đặc phái viên của Bộ Tổng tham mưu lo liệu.

        Nhưng đồng chí Lê Hồng nói với chúng tôi là không biết về các sự việc này và đồng chí cũng không phải là Nguyễn Hồng. Đồng chí Lê Minh Nghĩa cũng không rõ câu chuyện này và nếu có một bộ phận tình báo khác hoạt động tại sân bay thì bộ phận này thực hiện nhiệm vụ trực tiếp với cấp trên, không liên lạc với cấp ủy địa phương theo nguyên tắc bí mật.

        3. Tổ chức lực tượng của Đội Quyết tử (Lúc đầu, đồng chí Nghĩa đặt tên và may cờ là Đội Cảm tử)

        Đội Quyết tử để đánh sân bay Gia Lâm được thành lập vào cuối tháng 11  năm 1946 không có một văn bản chính thức nào) do đồng chí Lê Hồng làm đội trưởng, đồng chí Lê Minh Nghĩa làm đội phó, đồng chí Võ Cường - một cán bộ quân sự của Thị ủy Ngọc Thụy - làm đại đội trưởng, phụ trách việc huấn luyện. Quân số gồm 4 trung đội (khoảng hơn 100 người) .

        Lúc đầu, việc tuyển mộ người ở nội thành vào đội, việc chuẩn bị vũ khí (chủ yếu do Bộ Tổng tham mưu cung cấp), việc tổ chức địa điểm trú quân ở nhà máy xe lửa Gia Lâm do đồng chí Trần Cư - ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Tổng Công đoàn, Trưởng ban phá hoại của Hà Nội, lo liệu. Làm xong các nhiệm vụ trên, đồng chí Trần Cư lại đi nhận công tác khác.

        Việc tuyển mộ các thanh niên ngoại thành vào đội, việc tổ chức biên chế thành các tổ ba người, tiểu đội, trung đội, việc huấn luyện về chính trị do Lê Minh Nghĩa phụ trách.  Đồng chí Trần Duy10 được giao việc quyên lương thực, quần áo, giày, dép cho anh em.

        Về y tế có anh Ngô Văn Quỹ, là sinh viên năm thứ 5 Trường Y khoa, anh Lâm - một y tá của Nhà thương Đồn Thủy (địa điểm Viện quân y 108 hiện nay) và hai chị Đào Thị Ngọc Dung, Đặng Thị Hoàn Hảo.

        Thành phần của Đội Quyết tử có cả nông dân, công nhân, học sinh, sinh viên, tiểu thương, tiểu chủ, dân nghèo ở Gia Lâm. Đặc biệt trong đội có 7 tay "anh chị" khét tiếng phố chợ (như anh Tư cụt), được đồng chí Nghĩa bố trí mỗi tiểu đội một người, làm nhiệm vụ dẫn đường, và chừng 7 - 8 người Việt Nam mới (binh lính Nhật theo ta) như các anh Nguyễn Văn Phi, Ái Việt và một bác sĩ là Trần Việt Minh.

        Đầu tháng 12 năm 1946, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Lê Quang Đạo và Trần Quang Huy, là các Xứ ủy viên, đã triệu tập ban chỉ huy Đội Quyết tử đến trụ sở ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm để báo cáo. Đồng chí Thái nhận xét: cán bộ chỉ huy thiếu thành phần quân sự, nên đã chỉ thị phải bổ sung cán bộ trung đội, tiểu đội lấy từ đại đội 8 của đồng chí Võ Kích, đóng ở Gia Lâm, và trung đội tiếp phòng gác cầu Long Biên của đồng chí Sủng.

--------------------
        8 , 9. Nguyễn Quốc Dũng - Thêm những tư liệu về trận tập kích sân bay Gia Lâm..., Tài liệu đã dẫn.

        10. Tên thật là Trần Quang Tăng, hoạ sĩ, lúc đó là sinh viên Trường Mỹ thuật Hà Nội


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:11:18 pm

        4. Trận tập kích được thực hiện vào thời điểm nào.

        Theo kế hoạch, việc đánh sân bay Gia Lâm do Lê Hồng chỉ huy được chọn ngay vào đêm 19 tháng 12 năm 1946 - thời điểm nổ súng Toàn quốc kháng chiến. Cuốn "Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chông Pháp 1945-1954" (Bộ Tổng tham mưu xuất bản năm 1991, tr. 119) viết về việc đồng chí Bùi Huy Bé, Phó phòng Tình báo đã báo cáo với Tổng tham mưu trưởng về trận tập kích sân bay Gia Lâm, do Ban tình báo Gia Lâm chuẩn bị, không thực hiện được.

        Cuốn "Chiến đấu trong vòng vây" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trang 49, có nói không đánh được vào sân bay Gia Lâm vì địch canh phòng cẩn mật.

        Hồi ký của đồng chí Lê Minh Nghĩa viết cho Ban Tổng kết - Bộ Tổng tham mưu và bài của Đặng Việt Châu cho biết thêm, đêm 19 tháng 12 năm 1946, trận đánh sân bay Gia Lâm không thành công vì công tác chuẩn bị chưa tốt.

        Đồng chí Nghĩa và đồng chí Trần Duy kể lại rằng: lúc 5 giờ 30 chiều 19 tháng 12 năm 1946, Lê Hồng tới nơi trú quân ở nhà máy xe lửa, vứt cặp xuống bàn và nói: "Giờ khởi nghĩa đã đến, chúng ta phải xuất quân". Chỉ huy sở đặt trên nóc nhà máy, có đồng chí Lê Minh Nghĩa, Lê Hồng và Trần Duy. Các chiến sĩ đã áp sát sân bay, hiệu lệnh là khi có pháo hiệu đỏ thì các đơn vị sẽ xông lên tập kích. Nhưng đến giờ hành động thì chỉ nhìn thấy các pháo hiệu xanh, loay hoay đến gần sáng, Ban chỉ huy phải ra lệnh rút quân.

        Cách chừng hơn 10 hôm sau (không rõ ngày, nhưng đồng chí Nghĩa nói là ngay đêm 20 và 21 tháng 12) đơn vị Quyết tử định đột nhập vào sân bay nhưng lại phải rút lui vì địch canh phòng cẩn mật.

        Sau hai lần không thực hiện được việc đột kích, đồng chí Nguyễn Văn Trân, có đồng chí Vương Thừa Vũ - Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội, cùng dự, đã mời đồng chí Lê Hồng và đồng chí Đặng Việt Châu đến, giao nhiệm vụ cho đồng chí Châu giúp đồng chí Hồng trong trận đánh tới cũng như quyết định thay đổi cách đánh và hướng đánh (không từ Ngọc Thụy nữa mà từ phía Nam sân bay vào), bổ sung vũ khí, tăng cường một trung đội Vệ quốc đoàn, một Đội phá hoại của Hà Nội và một vài người Nhật. Chỉ huy trận đánh là đồng chí Lê Hồng và Đặng Việt Châu.

        Lê Hồng về truyền đạt mệnh lệnh (cũng không có văn bản) cho đồng chí Nghĩa nhận nhiệm vụ mới, với cương vị Bí thư Huyện ủy Ngọc Thụy, để thành lập đại đội Ngọc Thụy tập trung, do đồng chí Vương Văn Trà làm đại đội trưởng, đồng chí Nghĩa làm chính trị viên, đồng chí Võ Cường chuyển sang làm đại đội trưởng du kích Ngọc Thụy.

        Các bài viết và các nhân chứng nói rất khác nhau về thời điểm của trận tập kích này. Đồng chí Lê Hồng nhớ là ngày 9 tháng 1 năm 1947. Đặng Việt Châu chỉ viết là vào đầu năm 1947. Tài liệu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cho là ngày 18 tháng 1 năm 1947. Đỗ Sâm, Hoàng Tiêu căn cứ vào tài liệu nói là ngày 16 tháng 1 năm 1947. Nguyễn Hưng viết là trận đánh vào cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1947.

        Có mấy chi tiết sau mà chúng tôi lưu ý:

        a. Tất cả các bài viết và lời kể của nhân chứng đều thống nhất thời điểm là trận đánh diễn ra vào trước Tết Nguyên Đán một vài hôm. Tháng Chạp Bính Tuất năm đó thiếu nên mồng Một Tết Đinh Hợi - đối chiếu với dương lịch là ngày 21 tháng 1 năm 1947. Như vậy, trận tập kích vào sân bay xảy ra trong khoảng từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 19 tháng 1 năm 1947 là cùng.

        b- Đồng chí Nguyễn Thụ11, một nhân chứng còn nhớ một sự việc là ngày 15 tháng 1 năm 1947, đồng chí được tin bố là Nguyễn Văn Thìn đã hy sinh khi đánh vào nhà của tướng Moóc-li-e (Morlière), nên vẫn lấy ngày 15 tháng 1 làm ngày giỗ bố. Cũng ngày hôm đó, đồng chí nhận lệnh; đơn vị phá hoại của đồng chí sẽ tham gia trận đánh vào sân bay Gia Lâm, nên ngay buổi chiều, toàn đội đã qua sông Hồng để đến tập kết ở thôn Vàng, làng Hội Xá. Bài của Đặng Việt Châu ghi rõ: chiều hôm vượt sông, đồng chí tập hợp cả đơn vị cảm tử và trung đội mới, điều chỉnh lại biên chế và cán bộ phụ trách, kiểm tra lại vũ khí, trinh sát lại tình hình địch ở sân bay. Đến hôm sau, Ban chỉ huy đội bàn kế hoạch đánh vào tối ngày hôm đó. Như vậy, ngày đó là ngày 16 tháng 1 năm 1947.

        Đồng chí Nguyễn Giang12 chỉ huy một mũi và là một trong hai người rút ra sau cùng, còn nhớ là chiều 27 tháng Chạp (tức ngày 18 tháng 1 năm 1947) đồng chí mới về tới làng Phù Đồng, nơi đơn vị đóng quân sau trận đánh. Trước khi tới đó, đồng chí đã ở lại làng Thổ Khối một ngày, một đêm, sau khi ra khỏi sân bay lúc khoảng 3 giờ sáng đêm tập kích, tức là đêm 25 tháng Chạp (hay đêm ngày 16 tháng 1 năm 1947).

        Như vậy thời điểm diễn ra trận đánh, theo Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu là phù hợp hơn cả.

---------------------------
        11 . Tên thật là Nguyễn Ngọc - nguyên thư ký kiêm nhân viên mật mã Văn phòng Xứ ủy Bắc Bộ, sau làm cán bộ Liên hiệp Công đoàn Hà Nội, lúc đó được cử vào Ban công tác phá hoại của thành phố do đồng chí Trần Cư phụ trách.

        12. Tên thật là Nguyễn Văn Quý - người đã phá máy phát của nhà máy điện Yên Phụ đêm 19-12-1946, báo hiệu mở màn Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, lúc đó là cán bộ của Ban công tác phá hoại của Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:12:10 pm

        5. So sánh lực tượng của ta và địch, diễn biến trận tập kích.

        Theo Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, lực lượng tiếp phòng của Pháp đóng ở sân bay Gia Lâm khoảng 1.000 lính Âu-Phi, gồm 1 tiểu đoàn Lê dương, các đơn vị thiết giáp và pháo, các đội thám báo, khoảng 100 phi công và nhân viên kỹ thuật với 9 phi cơ khu trục Xpít-phai, 12 máy bay vận tải Đa-cô-ta (Dakota).

        Các tài liệu nói về lực lượng của ta cũng rất khác nhau. Theo Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu thì có 2 đại đội (đại đội 1 và đại đội 4). Đặng Việt Châu viết là 6 tiểu đội (3 tiểu đội làm nhiệm vụ đột kích và 3 tiểu đội yểm trợ). Nguyễn Giang nói lực lượng khoảng 100 người (4 tiểu đội quyết tử, 1 trung đội Vệ quốc đoàn và 1 Đội phá hoại 16 người của Ban công tác phá hoại Hà Nội tăng cường) .

        Đồng chí Lê Hồng cho biết toàn bộ lực lượng trước trận đánh chừng 200 người, nhưng tham gia trực tiếp chiến đấu khoảng 150 (chừng 100 đội viên Đội Quyết tử, 1 trung đội Vệ quốc đoàn và 1 Đội phá hoại của Hà Nội). Số quân còn lại độ gần chục người làm nhiệm vụ cáng thương, cứu thương túc trực bên kia đường xe lửa và ở hậu tuyến gần ở làng Vàng) để đón nhận, chăm sóc thương binh và nấu ăn.

        Vũ khí của ta không kể lực lượng Vệ quốc đoàn) chỉ có dao găm, chai xăng, 6 bom ba càng, 1 khẩu phóng lựu đạn Trôm-blông (Tromblon V.B) và mỗi người 2 quả lựu đạn. Riêng đồng chí Hồng có 1 khẩu súng ngắn Côn (Con) 8 và 4 quả lựu đạn.

        Diễn biến của trận đánh có những điều khác nhau, không như các bài viết đã đăng báo. Theo lời kể của các đồng chí Lê Hồng, Nguyễn Giang, Trần Duy, Nguyễn Quý (tuy không giống nhau) có thể khái quát như sau: 

        - Một cánh xuất phát lúc 11 giờ đêm từ thôn Sài Đồng, có khoảng 30 người được huấn luyện kỹ do đồng chí Quyến làm trung đội trưởng, đồng chí Bình làm trung đội phó. Đồng chí Đặng Việt Châu và đồng chí Lê Hồng đi cùng cánh này, có nhiệm vụ quan trọng nhất là phá các máy bay khu trục Xpít-phai trên đường băng. Đến sát sân bay, bên trái một cái đầm thì Lê Hồng dẫn 2 tiểu đội, trong đó có đồng chí Quyến, Bình và Nguyễn Văn Phi (người Nhật) tiến vào trong, đồng chí Châu và 1 tiểu đội bố trí sau đầm làm nhiệm vụ yểm trợ.

        - Một cánh do Nguyễn Giang chỉ huy, khoảng 70 người, hầu hết là các chiến sĩ mới, xuất phát từ thôn Vo Vàng bên bờ sông Đuống, có nhiệm vụ phá các hăng-ga (nhà để máy bay) và máy bay vận tải Đa-cô-ta ở bãi đỗ phía cuối đường băng.

        - Một cánh của trung đội Vệ quốc đoàn, độ 40 người, do trung đội trưởng Đỗ Bằng, vừa tốt nghiệp Trường võ bị Trần Quốc Tuấn chỉ huy, bố trí ở gần đường nhựa, phía Bắc sông Hồng, lối dẫn vào sân bay, phía đầu sân băng nơi đỗ máy bay Xpít-phai, có nhiệm vụ đánh chặn quân tiếp viện địch từ Hà Nội sang ứng cứu.

        Theo lời kể của đồng chí Lê Hồng, sau khi dàn trung đội theo hình cánh cung, đúng 12 giờ đêm, đồng chí Hồng ra hiệu cho đồng chí Quyến và Bình truyền đạt lệnh cho bộ đội bò vào khu để Xpít-phai, nhưng bò chừng 10 phút, gần tới máy bay thì quân Pháp thấy tiếng động hô lên "Halte là? Qui vive" (đứng lại! ai đó), rồi từ bên trái, lính Pháp lại hô tiếp "Halte là? Qui vi ve". Biết bị lộ, đồng chí Hồng liền chồm dậy ném liền 2 quả lựu đạn về phía có tiếng địch và hô xung phong". Cả trung đội đồng loạt ào lên hét to "xung phong" và ném tới tấp lựu đạn, chai cháy vào khu sân băng để máy bay.

        Nguyễn Văn Phi vác khẩu Trôm-blông - không phải tiểu liên Tôm-xơn (Thompson), khi xông lên, phóng được 2 quả lựu đạn, thì bị bắn gãy bàn chân và đã bò lết ra được bên ngoài.

        Lê Hồng bị đạn quật ngã xỉu, cách phi cơ địch chừng dăm bảy thước (một viên đạn xuyên từ nách lên cổ, một phát vào đùi trái và một số mảnh đạn cối vào lưng), lúc tỉnh lại, thấy lửa cháy rực phía trước. Đồng chí Quyến và Bình thay nhau vừa bò, vừa kẻo đồng chí Hồng ra khỏi đường băng và đặt nằm ở bãi cỏ um tùm cạnh đó. Súng liên thanh của địch bắn rát, mà cả hai người cũng đều bị thương, không thể cõng nên đồng chí Hồng phải ra lệnh hai người rút ra ngay kẻo bị bắt tất cả.

        Cánh của Nguyễn Giang (theo đồng chí kể lại): lúc 12 giờ đêm vượt qua hàng rào dây thép gai thứ 4 (hàng rào cuối cùng) còn chừng mươi người (số còn lại hoặc bị thương vong hoặc không lọt vào được), ném lựu đạn vào nhà hăng-ga, phá máy móc thiết bị của khu sửa chữa. Nguyễn Giang và hai đội viên (sau một người hy sinh) vào tới bãi để máy bay Đa-cô-ta, ném chai cháy và lựu đạn vào. Sau đó, đồng chí bị thương ở cánh tay phải và chạy lạc sang khu vực của Lê Hồng phụ trách, thấy đồng chí Hồng nằm trong bãi cỏ, đồng chí đã tìm cách dìu ra ngoài.

        Cánh của Đỗ Bằng (theo anh em kể lại) giáp chiến với xe thiết giáp của địch từ Hà Nội sang tiếp viện. Anh ôm bom ba càng lao vào xe địch thì bị đại liên trên xe bắn ra, hy sinh tại trận.

        Vào lúc 2 giờ sáng, đơn vị đã được đồng chí Đặng Việt Châu cho lệnh thu quân.

        Về Nguyễn Giang và Lê Hồng (theo lời kể của hai đồng chí này), khi đồng chí Giang tìm thấy đồng chí Hồng, lúc này đã gần 3 giờ sáng, lực lượng của ta đã rút về đến Hội Xá. Đồng chí Hồng tay trái bị trúng đạn, phải tháo dây lưng vòng qua cổ đeo lên, tay phải quàng qua vai Nguyễn Giang, chân trái bị thương phải lết, cứ thế hai người ôm nhau đi từng bước trên cánh đồng mấp mô, trời tối đen lúc đó đám cháy đã tắt), nên dựa theo hướng gà gáy sớm, đi xuôi về thôn Thổ Khối, bên đê sông Hồng. Đến 7 giờ, sương mù còn dày đặc, hai đồng chí thoát khỏi nơi nguy hiểm, sức đã kiệt. Đồng chí Giang đặt đồng chí Hồng nằm ở bờ ruộng và vào một xóm gần đấy tìm được một sư ông. Hai người khiêng đồng chí Hồng về nơi an toàn hơn. Du kích Thổ Khối đã đưa đồng chí Hồng đi bệnh viện. Đồng chí Giang được băng bó nghỉ ngơi một ngày, một đêm. Sáng hôm sau, đồng bào đưa anh về Hội Xá, nhưng đơn vị đã qua Phù Đồng. Đến 5 giờ 30 chiều, du kích Hội Xá mới đưa được anh sang bên kia sông Đuống, nơi Đội Quyết tử tập kết.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:13:34 pm

        6. Kết quả của trận đánh.

        Các bài viết cũng như các câu chuyện kể của nhân chứng có khác nhau.

        Đặng Việt Châu viết: "Tin ta diệt 16 máy bay địch cứ truyền miệng nhau, gây ra một luồng phấn khởi cho bộ đội và nhân dân". Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu ghi lại là ta phá hủy 3 máy bay, làm hỏng 2 - 3 chiếc khác. Nguyễn Giang kể là ta đã phá được ở sân bay 3 khu trục và ở khu hăng-ga 3 chiếc vận tải. Nguyễn Thụ nói: "Ba ngày sau đơn vị nhận được bức điện mừng của đích thân đồng chí Võ Nguyên Giáp, nhiệt liệt khen ngợi chiến công xuất sắc tiêu diệt 6 máy bay địch, làm vẻ vang cho bộ đội, phong chức đại đội trưởng và thưởng Huân chương Chiến công hạng ba cho đồng chí Giang13.

        Đồng chí Lê Hồng thuật chuyện đồng chí Đặng Việt Châu, sáng hôm sau trận đánh, trèo lên cây đa trên đê sông Đuống, cạnh làng Vàng, nhìn qua ống nhòm thấy 2 máy bay bị cháy đen từng mảng và 3 chiếc khác bị thủng lỗ chỗ nhiều nơi.

        Chúng tôi thấy cũng cần lưu ý, trong bài của Đặng Việt Châu có đoạn viết như sau: "12 giờ 30, tôi nghe tiếng nổ ùng ục như tiếng lựu đạn rồi bỗng một ngọn lửa bùng lên, tiếng xe tăng gầm và tiếng súng máy nổ giòn... Nhưng sao ánh lửa chỉ bùng lên chừng 1 phút rồi lại tắt ngay, tôi đoán không phải là máy bay bốc cháy mà có lẽ là các chai xăng của ta ném vào".

        Tin của đài địch ngày hôm sau mà ta thu được, nói một trận tập kích của Việt Minh vào sân bay Gia Lâm nhưng phía Pháp chỉ bị thiệt hại nhẹ. Số thương vong của địch, theo Đỗ Sâm - Hoàng Tiêu, chừng 20 tên và của ta cũng khoảng 20 đồng chí. Theo Trần Duy và chị Ngọc Dung thì số thương vong của ta nhiều hơn. Nguyễn Giang ước tính có khoảng 50 đồng chí đã hy sinh, mất tích, bị thương.

        Đặng Việt Châu chỉ viết lực lượng của ta rút về đến Hội Xá thiếu 3 người là Lê Hồng, Nguyễn Giang, Đỗ Bằng, còn Nguyễn Văn Phi vì mất máu nhiều nên đã hy sinh ở đó. Thật ra Nguyễn Văn Phi bị thương ở bàn chân nên được đưa về trạm xá ở Bách Môn (Tiên Du) và chị Ngọc Dung được đơn vị phân công coi sóc anh, nhưng anh bị uốn ván, mất sau đó 15 hôm. Khi toàn đội rút sang Phù Đồng mới được tin Đỗ Bằng hy sinh mà không đưa được thi hài ra. Ngày hôm sau, đồng chí Châu về Ban Bảo vệ thành phố báo cáo, gặp đồng chí Trần Quốc Hoàn mới hay là Lê Hồng và Nguyễn Giang chỉ bị thương và còn sống.

        7. Kết luận.

        Trận tập kích vào sân bay Gia Lâm chưa có tài liệu nào nghiên cứu được kỹ, có thể vì không có văn bản quyết định việc thành lập và việc giải thể của đơn vị Quyết tử14, mà cũng không có sự tổng kết của đơn vị trong tình hình chiến sự của Mặt trận Hà Nội lúc đó.

        Một số người chủ chốt của đội cũng không ở lâu ở đây, cán bộ của trận đánh lại phân tán (như Lê Hồng thì bị thương nặng phải đưa đi bệnh viện hậu phương, Đặng Việt Châu nhận nhiệm vụ làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Giang nhận nhiệm vụ công vận ở lại nội thành . . .) .

        Suy nghĩ của chúng tôi về trận tập kích vào sân bay Gia Lâm những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp có mấy điểm sau đây:

        a- Tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, như "trứng chọi với đá". Nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, vì độc lập của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, mọi tầng lớp từ những người được xếp vào hạng thấp hèn của xã hội cho đến những trí thức, những người có tiền của, với trình độ học vấn, hiểu biết khác nhau, nếp sống và cách suy nghĩ khác nhau, đã đoàn kết thành một khối, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, không ngại hiểm nguy trước một trận đánh không cân sức.

        b- Đây là một trận đột kích cảm tử đầu tiên của ta vào một sân bay địch. Nó thể hiện cách đánh: lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Nó mở màn cho truyền thống quân đội ta dùng lực lượng đặc biệt tinh nhuệ tập kích vào các căn cứ mạnh, nằm sâu trong lòng địch, trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ.

        c- Trong thời gian này, quân Pháp được tăng viện từ Hải Phòng lên hòng đánh rộng ra vùng ngoại ô thủ đô. Tại Mặt trận Hà Nội, không quân địch hằng ngày vẫn bắn phá các làng mạc quanh thành phố mà chúng nghi có bộ đội ta. Ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch chọc thủng phòng tuyến ven sông Hồng và cũng ngày hôm đó, một số lớn đồng bào ta ở Liên khu 1 tản cư ra khỏi Thủ đô nên địch bắt đầu tấn công dữ dội vào khu vực này. Do vậy, trận tập kích vào sân bay Gia Lâm có hiệu quả ít hay nhiều cũng góp phần giữ thế trận kìm chân giặc của Mặt trận Hà Nội.

----------------------
        13 . Nguyễn Giang kể: đơn vị chỉ nhận được điện của đồng chí Tổng chỉ huy mà không có quyết định. Sau này đồng chí công tác trong nội thành nên cũng không có Bằng và Huân chương gửi đến.
        14. Theo giấy chứng nhận của đồng chí Lê Minh Nghĩa về quá trình tham giạ Đội Quyết tử của đồng chí Trần Duy. thì đội được thành lập tháng 11 năm 1946  và giải thể tháng 2 năm 1947.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:23:38 pm

SỰ KIỆN NGÀY 7-10-1947 Ở BẮC KẠN1

TRẦN LONG       

        Cách đây 50 năm, thực dân Pháp mở cuộc hành quân đại quy mô lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta và khoá chặt cửa ngõ biên giới Việt - Trung. Sự kiện quân Pháp bất ngờ nhảy dù xuống Bắc Kạn sáng ngày 7 tháng 10 năm 1947 mở đầu cho cuộc hành binh đầy tham vọng trên đã và đang có nhiều ý kiến khác nhau.

        Để làm rõ hơn sự kiện này, chúng tôi đã tìm gặp trao đổi với nhiều nhân chứng lịch sử, trong đó có những người đã từng là cán bộ lãnh đạo của Bắc Kạn lúc bấy giờ, như Doanh Hằng - nguyên Chính trị viên Tỉnh đội bộ dân quân Bắc Kạn; Triệu Văn Tịnh - nguyên Tỉnh đội phó; Nông Văn Lạc - nguyên Chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh. Theo các nhân chứng thì việc quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn vào sáng 7 tháng 10 năm 1947 là điều bất ngờ đối với ta. Nhìn chung thế trận ở đây chưa sẵn sàng, mặc dù công tác chuẩn bị kháng chiến đã được triển khai nhiều tháng trước đó. Tại thị xã Bắc Kạn và các vùng lân cận, mật độ dân cư tăng vọt do các cơ quan Trung ương và nhân dân các tỉnh miền xuôi tản cư đến, trong khi đó, do chủ quan, phán đoán không chính xác, đầy đủ khả năng và hành động của địch nên công tác tiêu thổ kháng chiến, tản cư triển khai chậm chạp, thiếu kiên quyết.

        Cho đến ngày 7 tháng 10, đoạn đường huyết mạch Thái Nguyên - Bắc Kạn vẫn chưa được phá; việc đắp ụ, đào hố để cản bước tiến của địch chỉ mới làm được một phần ở phía Nam; nhà cửa trong thị xã gần như còn nguyên vẹn; việc di chuyển sơ tán các cơ quan, công binh xưởng còn dở dang. . . Các bãi chông, hệ thống kè trên sông làm theo kiểu đại trà, thiếu trọng điểm; chông cắm cao và dàn trải khắp nơi, do đó hiệu quả mang lại rất thấp trong khi công sức đổ ra lại quá lớn.

        Do nhận định Bắc Kạn không phải là hướng chính của địch cho nên lực lượng của ta ở đây cũng rất mỏng. Sau khi rút khỏi Hà Nội, Trung đoàn Thủ đô có cử cán bộ lên giúp địa phương huấn luyện cho du kích, song đến thời điểm đó, tỉnh cũng mới chỉ có một tiểu đoàn tân binh trong khi một số cơ quan như Ty Ngân khố, cơ sở in giấy bạc, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, bộ phận dự bị Đài Tiếng nói Việt Nam, một số nhà máy, kho tàng dồn về đóng rải rác trong và quanh thị xã đều là những mục tiêu ưu tiên cần được bảo vệ.

        Tám giờ 15 phút ngày 7 tháng 10 năm 1947, hàng trăm lính dù Pháp bất ngờ nhảy dù xuống Bắc Kạn trong khi các đồng chí Dương Thiết Sơn - Bí thư Tỉnh ủy và Dương Mạc Thạch - Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh đang họp ở Khu chưa về. Tuy lúc đầu có lúng túng bị động, song việc tổ chức chiến đấu đánh trả địch vẫn được các đồng chí ở Tỉnh bộ Việt Minh và Tỉnh đội bộ dân quân triển khai tích cực. Quân Pháp nhảy dù đúng vào sân vận động thị xã, trong lúc tại đây đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái vẫn đang nói chuyện với Tiểu đoàn tân binh và một số học viên Trường. võ bị Trần Quốc Tuấn. Lực lượng của ta tuy lần đầu bất ngờ gặp quân nhảy dù, có phần hoang mang song đã cố gắng chiến đấu bảo vệ cán bộ, các cơ quan và đồng chí Hoàng Văn Thái rút ra khỏi thị xã an toàn.

        Cùng thời điểm trên, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh cũng đang bị kẹt ở thị xã Bắc Kạn. Khi máy bay địch ném bom bắn phá, dọn bãi chuẩn bị nhảy dù thì đồng chí Tổng Bí thư đang làm việc ở đây phải lánh xuống hầm. Căn hầm này có ba ngách, ở ngay trụ sở của Liên tỉnh bộ Việt Minh (toà nhà này nguyên là nhà của Đinh Ngọc Phụng). Căn hầm do một nhóm thợ đào vàng có kinh nghiệm ở Ngân Sơn xây dựng, nó có thể chứa được vài trăm người, rất bí mật và an toàn. Một sự trùng hợp trớ trêu. một nhóm lính dù Pháp lại nhảy xuống đúng vào nóc hầm khi mà dưới hầm đã chật ních người, trong đó có Tổng Bí thư Trường Chinh. Rất may, suốt cả một ngày đi lại trên hầm mà quân địch vẫn không phát hiện được gì. Phải chờ đến tối những người ở hầm mới được thoát hiểm. Việc họ thoát ra bằng cách nào, lâu nay có nhiều nguồn tư liệu đề cập khác nhau. Theo các nhân chứng thì buổi tối hôm đó, đồng chí Tổng Bí thư và những người trong hầm thoát ra nhờ sự dẫn đường của du kích và một số phụ nữ địa phương, dưới sự tổ chức của chị Xin ở Đội Kỳ - Bắc Kạn. Trong đêm tối mịt mùng, các chị căng một sợi dây dài để cho mọi người nắm lấy và lần theo sợi dây đó đi vào rừng.

        Thực ra trong lúc lộn xộn như vậy cũng không ai biết rằng trong đoàn vượt vòng vây thoát hiểm còn có đồng chí Tổng Bí thư của Đảng. Mãi đến nửa đêm mồng 9 tháng 10, đồng chí Trường Chinh mới về đến hậu cứ.

        Còn một trường hợp đáng tiếc nữa xảy ra trong cái ngày đáng nhớ ấy. Đó là cái chết của cụ Nguyễn Văn Tố - Trưởng ban Thường trực Quốc hội, một nhân sĩ yêu nước và có uy tín.

        Khi quân Pháp nhảy dù xuống trụ sở Liên tỉnh bộ Việt Minh, cụ Nguyễn Văn Tố đang có mặt tại đây. Phần do tập trung thu gom tài liệu, phần do chậm chạp, lại không được hướng dẫn trước, cho nên cụ Tố đã không chạy kịp và bị địch bắt sau đó bị bắn chết. Xung quanh cái chết của cụ Tố cũng có nhiều giả thiết khác nhau. Có người cho rằng khi bị bắt và hỏi tên, cụ trả lời là "Tố", quân Pháp nhầm tưởng là "Hồ" (vì hai âm tiết gần giống nhau); có ý kiến lại cho rằng cụ Tố nói tiếng pháp rất lưu loát, hơn nữa trông bề ngoài có nét hao hao giống Cụ Hồ nên có chuyện Xa-lăng hấp tấp điền vào Sài Gòn báo cáo cho Cao ủy Bô-la-e và Tổng chỉ huy Bát-te rằng "đã bắt được Hồ Chí Minh". Theo các nhân chứng kể lại thì cụ Nguyễn Văn Tố vốn là một con người tầm thước; đôi mắt sắc sảo; đối đáp thông minh bằng tiếng Pháp do đó địch mới lầm tưởng là "Chủ tịch Hồ Chí Minh". Tuy nhiên, tất cả các giả thiết trên đều chỉ là những phỏng đoán mà thôi. Người duy nhất có mặt bên cạnh cụ Nguyễn Văn Tố lúc địch nhảy dù là vợ của đồng chí Dương Mạc Thạch, nhưng bà cũng đã nhanh chân chạy thoát được trước khi địch bắt được cụ Tố.

        Mặc dù bị tấn công bất ngờ và gặp một số khó khăn lúng túng trong mấy ngày đầu, song quân và dân ta đã lật ngược được thế cờ, sớm giành lại quyền chủ động trong quá trình đối phó với địch. Chỉ sau một tuần đã tìm ra những cách đánh thích hợp nhằm vào những điểm yếu mà tiến công địch để rồi không những phá được ý đồ chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của chúng mà còn từng bước tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực của địch.

        Sự kiện quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kim vào sáng 7 tháng 10 năm 1947 là một bất ngờ đối với ta. Tuy nhiên, "sự bất ngờ đó" không làm giảm giá trị thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, mà ngược lại nó càng tôn thêm tầm vóc của chiến thắng. Việc nhắc lại "sự kiện 7-10" một lần nữa càng khẳng định ý nghĩa lịch sử lớn lao và những bài học kinh nghiệm của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947.

---------------------
        1. Tạp chí LSQS số 5-1997.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:30:06 pm

ĐÔI ĐIỀU TRAO ĐỔI VỀ CHI ĐỘI GIẢI PHÓNG QUÂN QUẢNG TRỊ (CHI ĐỘI THIỆN THUẬT, TRUNG ĐOÀN 95)1

TRẦN SÂM       

        Trong cuốn Lịch sử Trung đoàn 95, do Sư đoàn 325, Binh đoàn Hương Giang biên soạn và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành, có ghi: Chi đội Thiện Thuật thành lập ngày 19-9-1945 (tr.11. Cuốn Lịch sử Sư đoàn 325 (tr. 17 từ dòng thứ 5 trên xuống) cũng ghi: Chi đội Thiện Thuật thành lập ngày 19-9-1945 tại thị xã Quảng Trị. Ngoài ra, trong Lịch sử Trung đoàn 95 còn ghi: Buôn thành lập Chi đội tại thị xã Quảng Tri do đồng chí Trần Hữu Dực đại diện Khu ủy chủ trì . . .

        Chúng tôi thấy như vậy là không chính xác nên đã tổ chức một cuộc họp bao gồm một số đồng chí trong ủy ban khởi nghĩa của tỉnh, là những người tham dự cuộc họp trưa 23 tháng 8 năm 1945, công bố Quân lệnh thành lập Chi đội Giải phóng quân, để xác định lại. Trong cuộc họp này, có mặt đồng chí Trần Hữu Dực - Chủ tịch ủy ban; Đặng Thí - Ủy viên; Nguyễn Hữu Khiếu - Ủy viên.

        Dự họp, ngoài các đồng chí trong ủy ban khởi nghĩa còn có các đồng chí: Trương Linh - người được chỉ định chỉ huy các đơn vị tự vệ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh và chỉ huy Chi đội những ngày đầu; Trần Sâm - nguyên Chính ủy đầu tiên của Trung đoàn từ đầu đến năm 1948 và từ đầu năm 1947 kiêm luôn Trung đoàn trưởng); Lê Nam Thắng - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn (từ đầu 1948 đến 1950)2. Chúng tôi cũng đã mời Trung tướng Hoàng phương, lúc đó là Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cùng dự.

        Trong cuộc họp này, đồng chí Trần Hữu Dực và các đồng chí trong ủy ban khởi nghĩa xác định lại rằng: trong ngày giành chính quyền (23-8-1945), ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời từ ủy ban khởi nghĩa chuyển thành) đã ra 3 quân lệnh:

        - Khoảng 10 giờ ngày 23 tháng 8 năm 1945 ra Quân lệnh số 1 : "Lệnh cho lực lượng vũ trang chiếm đóng giữ nguyên tại chỗ...".

        - Khoảng trưa ngày 23 tháng 8 năm 1945 ra Quân lệnh số 2: "Lệnh thành lập Chi đội Giải phóng quân. . . " .

        - Chiều ngày 23 tháng 8 năm 1945 ra Quân lệnh số 3: 'Lệnh cho các lực lượng vũ trang chiếm đóng bàn giao ngay nhiệm vụ, người và vũ khí, kho tàng, doanh trại. . . cho Chi đội Giải phóng quân . . . " .

        Như vậy, ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Trị đã quyết định thành lập Chi đội Giải phóng quân ngay trong ngày giành được chính quyền tại tỉnh nhà, đó là ngày 23 tháng 8 năm 1945 chứ không phải ngày 19 tháng 9 năm 1945 như hai cuốn sách trên đã ghi.

        Trong cuốn Lịch sử Trung đoàn 95 ghi: "Lễ thành lập rung đoàn do đồng chí Trần Hữu Dực, đại diện Khu ủy chủ trì". Điều này cũng không chính xác vì lúc đó chưa thành lập Khu ủy và đồng chí Trần Hữu Dực không còn ở Quảng Trị nữa mà đang giữ chức Chủ tịch ủy ban hành chính Trung Bộ.

        Hiện nay, có ba đơn vị mang phiên hiệu Trung đoàn 95 và việc xác định ngày thành lập, tổ chức kỷ niệm hằng năm mỗi nơi một khác: Trung đoàn 95, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 lấy ngày 19 tháng 9 năm 1945. Trung đoàn 95 thuộc Sư đoàn 2, Quân khu 5 lấy ngày 5 tháng 9 năm 1946 và Trung đoàn 95 thành lập tại thị xã Quảng Trị năm 1946. Theo chúng tôi, trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến năm 1964, trong toàn quân chỉ có một đơn vị mang phiên hiệu Trung đoàn 95, không có Trung đoàn 95 nào thành lập tại Quảng Tri vào năm 1946 cả.

        Vừa rồi, trong cuộc họp mặt các Trung đoàn 95 (A, B, C, D) tại Quảng Trị, anh em đều thống nhất ý kiến lấy ngày 23 tháng 8 năm 1945 làm ngày truyền thống của Trung đoàn là hợp lý.

        Vì vậy chúng tôi đề nghị Tổng cục Chính trị và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cho phép sửa lại ngày thành lập Trung đoàn 95 cho đúng với thực tế lịch sử.

        Về tên các Trung đoàn 95:

        Hiện nay vẫn còn cả bốn đơn vị mang phiên hiệu Trung đoàn 95:

        - Trung đoàn 95A, đơn vị vào Nam tiến đầu tiên, hiện làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế ở Quân khu 9.

        - Trung đoàn 95B gọi là 95A cũng được vì từ Trung đoàn 95 tách làm hai, một Trung đoàn vào Nam trước - gọi là 95A, một Trung đoàn vào sau vài tháng gọi là 95B thực tế là Trung đoàn 95 còn lại), hiện trong đội hình Sư đoàn 2 Quân khu 5.

        - Trung đoàn 95C làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế ở miền Đông Nam Bộ.

        - Trung đoàn 95D trong đội hình Sư đoàn 325, Quân đoàn 2.

        Theo chúng tôi, để giữ vững và tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng của Trung đoàn 95, các đơn vị trên vẫn mang phiên hiệu Trung đoàn 95 (A, B, C, D) và lấy ngày truyền thống như đúng với thực tế lịch sử.

        Với tinh thần trách nhiệm trước lịch sử của những cán bộ cũ của Trung đoàn, chúng tôi xin trao đổi và đề đạt những kiến nghị trên.

--------------------
        1. Tạp chí LSQS số 5-2001.

        2. Trần Sâm Lê Nam Thắng - nguyên Trung đoàn trưởng (1948-1950) và Đặng Thí - nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:31 pm

VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠI ĐOÀN CHỦ LỰC ĐẦU TIÊN1

ĐỖ CHÍ       

        Việc thành lập đơn vị chủ lực có quy mô lớn để đảm đương những nhiệm vụ tác chiến tập trung được đặt ra từ rất sớm. Ngay năm đầu kháng chiến chống Pháp, khi ta đang còn gặp nhiều khó khăn lớn, thiếu thơn trăm bề, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL (26-8- 1947) thành lập đại đoàn độc lập2. Lực lượng của đại đoàn này gồm các đơn vị trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy. Đó là Trung đoàn 147, Trung đoàn 165 (Trung đoàn Thủ đô), Tiểu đoàn 160. Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái kiêm nhiệm chức Đại đoàn trưởng, đồng chí Lâm Kính - Đại đoàn phó3.

        Nhưng việc triển khai thành lập đại đoàn độc lập bị gián đoạn do quân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc tháng 10 năm 1947.

        Sang năm 1948, trong hoàn cảnh căn cứ địa kháng chiến bị bao vây uy hiếp các mặt, việc triển khai tổ chức đại đoàn độc lập lại tiếp tục. Nhưng theo một tiến trình khác, thích hợp với tình hình mới, vừa chiến đấu vừa xây dựng, trước hết là xây dựng nền móng vững chắc, củng cố các đơn vị nòng cốt của đại đoàn: Tiểu đoàn 160 được bổ sung cán bộ, chiến sĩ cho đủ số quân, mang phiên hiệu mới: Tiểu đoàn 11 . Trung đoàn 165 có 2 tiểu đoàn, dồn lại thành Tiểu đoàn 54 làm nòng cốt để sau này xây dựng lại Trung đoàn Thủ đô. Trung đoàn 147, mang phiên hiệu mới: Trung đoàn 17, được bổ sung quân số, có đủ 3 tiểu đoàn bộ binh (Tiểu đoàn 18, Tiểu đoàn 23, Tiểu đoàn 29). Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Trung đoàn được tăng cường nhiều cán bộ đã kinh qua chỉ huy tác chiến, đã qua học các trường võ bị, quân chính để có thể nhanh chóng đảm đương nhiệm vụ của cơ quan chỉ huy cấp đại đoàn.

        Năm 1948, các đơn vị trên đây đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào luyện quân lập công, đặc biệt đảm nhiệm được vai trò đầu đàn, đi đầu trong công kiên chiến. Ngày 25 tháng 7 năm 1948, Tiểu đoàn 11 đánh đồn Phủ Thông, trên đường số 3. Lần đầu tiên bộ đội chủ lực của ta công phá một cứ điểm mạnh của địch do một đại đội Lê dương chiếm giữ. Tiểu đoàn 1 đã đột phá rất nhanh, tiêu diệt gọn sở chỉ huy địch, nhưng rồi phải dừng lại trước lô cốt cuối cùng của đồn Phủ Thông. Tuy nhiên, trận đánh đã gây được tiếng vang lớn, khiến cho kẻ địch phải lo ngại; "những điểm mạnh đến như ở Phủ Thông không còn là bất khả xâm phạm nữa".

        Ba tháng sau, lại một trận công đồn rất quyết liệt nổ ra ở cửa ngõ vùng Đông Bắc Bắc bộ. Tiểu đoàn 29 đánh đồn An Châu, đột phá nhanh, mạnh song vẫn phải chững lại khi phát triển sâu vào trong trận địa phòng ngư của địch.

        Năm 1948, các tiểu đoàn chủ lực của ta mới diệt được các đồn cỡ một, hai trung đội địch (Tiểu đoàn 18 diệt đồn Đồng Dương, Tiểu đoàn 29 diệt đồn Đồng Khuy). Nhưng những bài học rút ra từ những ưu điểm, khuyết điểm của hai trận Phủ Thông - An Châu là cái vốn vô cùng quý giá. Cho nên, nếu tháng 10 năm 1948, Tiểu đoàn 29 chưa đè bẹp được quân địch trong đồn An Châu thì 5 tháng sau đó (3-1949), tiểu đoàn này đã giành thắng lợi vang dội ở Bản Trại trên đường số 4. Trong vòng 1 giờ, Tiểu đoàn 29 đã diệt gọn đồn Bản Trại do một đại đội Lê dương trấn giữ, mà ở đây địch phòng thủ còn hiểm hơn nhiều so với Phủ Thông và An Châu.

        Việc triển khai tổ chức đại đoàn được đẩy nhanh nhịp độ từ đầu năm 1949.

        Trước hết, Bộ Tổng chỉ huy quyết định sáp nhập hai Tiểu đoàn 11 và 54 vào Trung đoàn 17, và trung đoàn này có những 5 tiểu đoàn bộ binh được gọi là Trung đoàn 308.

        Nhưng danh hiệu Trung đoàn 308 cũng chỉ tồn tại được ít ngày. Từ tháng 4 năm 1949, trong các thông tri, chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ xuất hiện danh từ "đại đoàn chủ lực".

        Đồng chí Vương Thừa Vũ từng là Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội hồi đầu kháng chiến, đang là Chỉ huy phó Liên khu 4, đặc trách mặt trận Bình - Trị - Thiên được điều lên Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới: Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy đại đoàn. Đồng chí Cao Văn Khánh, từ Khu 5 nhận chức Đại đoàn phó.

        Tiểu đoàn pháo binh 410 được điều về đại đoàn. Các Liên khu 1, Liên khu 3 đóng góp cho các đại đoàn chủ lực các tiểu đoàn 79, 322, 626(.. là những đơn vị có nhiều thành tích chiến đấu và được trang bị vũ khí đầy đủ nhất.

        Hạ tuần tháng 4 năm 1949, Bộ chỉ huy đại đoàn lên bóp ở Bộ Tổng chỉ huy, nhận chỉ thị. Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ nói về những nét chính của cuộc họp này như sau:

        Về tổ chức biên chế của đại đoàn, chúng tôi làm việc với đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Đồng chí chỉ thị: Lấy Trung đoàn 308 làm nòng cốt để xây dựng đại đoàn. Ta chủ trương xây dựng từng bước vững chắc. Lúc đầu, hãy tổ chức một trung đoàn và những tiểu đoàn bộ binh, pháo binh trực thuộc, sau nâng dần lên hai trung đoàn rồi cuối cùng có đủ ba trung đoàn. Xây dựng đi đôi với tác chiến, điều chủ yếu là phải nhanh chóng nâng trình độ chiến đấu của bộ đội từ đánh từng tiểu đoàn lên trung đoàn tập trung "Đại đoàn mang số hiệu 308, tiếp tục phát huy truyền thống Quân Tiên Phong của Trung đoàn 308...".

----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 9 (45)-/989.

        2 , 3. Xem hồ sơ số 34 Bộ Quốc phòng, tập "Sắc lệnh của Chính phủ, nghị định, quyết định của Bộ Tổng chỉ huy về tổ chức trong quân đội một đại đoàn độc lập"


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:40:06 pm

        Đồng chí Võ Nguyên Giáp dành một buổi trao đổi với chúng tôi về trách nhiệm của đại đoàn chủ lực đầu tiên, đồng chí Tổng chỉ huy đặt vấn đề: "Nó là con chim đầu đàn, vậy phải thế nào cho xứng đáng với vai trò này?". Chúng tôi cùng bàn luận: 308 phải rất nghiêm về kỷ luật. Cán bộ, chiến sĩ thương yêu nhau, tin nhau. Mạnh về chính trị, giỏi về quân sự, có nếp sống văn hoá tươi vui. 308 phải giành được niềm tin yêu của nhân dân, của đơn vị bạn. 308 phải là mối đe dọa ghê gớm đối với địch. Đồng chí Võ Nguyên Giáp quyết định: 308 phải gương mẫu về các mặt, đi tiên phong trên con đường tiêu diệt sinh lực địch, hễ đánh là thắng, hễ đánh là tiêu diệt sinh lực địch, ngày càng lớn mạnh, quyết định chiến trường. Cuối cùng, đồng chí giao nhiệm vụ cụ thể, trước mắt:

        "Vừa qua, Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định mùa Thu này phải giải phóng Bắc Kạn, nhổ cái mũi nhọn của địch cắm sâu vào căn cứ địa kháng chiến của ta. Nay Bộ giao các anh Vũ làm chỉ huy trưởng mặt trận Bắc Kạn. Trận Bắc Kạn sẽ là trận đánh ra mắt của Đại đoàn 308. Bây giờ đã cuối Xuân, từ nay đến đầu mùa Thu chỉ còn 3 tháng, anh Vũ lo việc giải phóng Bắc Kạn. Đồng chí Trường Chinh cũng vừa mới chỉ thị cho Liên khu 10 tiếp tục mở chiến dịch ở Tây Bắc cho đến hết tháng 6 này. Cụ thể là sẽ mở chiến dịch Sông Thao. Ta đưa chủ lực sang đánh vào chỗ yếu nhất của địch ở phòng tuyến này, tạo điều kiện cho bộ đội ở Liên khu luồn sâu khuếch trương chiến quả. Việc này giao cho anh Khánh đưa Tiểu đoàn 11 và Tiểu đoàn 54 đi chiến đấu. Đây cũng là một dịp luyện quân thiết thực nhất chuẩn bị cho trận ra mắt của 308 ở Bắc Kạn mùa Thu này"...

        Bộ Tổng chỉ huy ra quyết định thành lập mặt trận Bắc Kạn, bí danh là "Mặt trận 1 bis" từ cuối tháng 4 năm 1949 song phải đến đầu tháng 6 Bộ chỉ huy mặt trận này mới hình thành. Bởi lẽ trong tháng 5, đồng chí Vương Thừa Vũ chỉ huy trưởng mặt trận còn phải đem quân sang sông Lô phá cuộc hành quân Pômôn của địch đánh lên Phú Thọ, Tuyên Quang.

        Tháng 7, khi các đơn vị của Đại đoàn 308 còn đang luyện quân ở Thái Nguyên, đang tiếp tục. mở chiến dịch Sông Thao ở Yên Bái thì mặt trận Bắc Kạn bắt đầu khởi động. Các lực lượng vũ trang đìa phương tiến hành tiễu phỉ ở Chợ Rã, phá hoại đường sá từ Nà Phặc đến thị xã Bắc Kạn; phát triển chiến tranh du kích ở Nguyên Bình; đặt súng máy cao xạ uy hiếp đường bay của máy bay địch tiếp tế cho Bắc Kạn. Bộ chỉ huy mặt trận nhận được chỉ thị: Chiến dịch Bắc Kèm phải mở màn "sớm chừng nào hay chừng ấy, chậm nhất là từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 8 năm 1949. Trong trường hợp chiến thắng Bắc Kạn thì tiếp tục khuếch trương chiến quả ngay để giải phóng đường số 3 bist"...

        Sang đầu tháng 8, ta uy hiếp địch mạnh hơn bằng các trận tập kích sân bay, pháo kích kho tàng địch trong thị xã Bắc Kạn. Trong khi đó, trên đất Thái Nguyên, tập trung đầy đủ các đơn vị của Đại đoàn 308, từng gây bão lửa trên các phòng tuyến địch ở đường số 3, đường số 4, sông Lô, sông Thao. Thái Nguyên - Bắc Kạn chỉ cách nhau vài ngày đường hành quân bộ. Tai hoạ lớn sắp đè xuống đậu lũ quân Pháp đóng trong thị xã Bắc Kạn. Trước tình hình đó không còn cách nào khác, địch phải tháo chạy.

        Sáng ngày 9 tháng 8 năm 1949, địch rút chạy khỏi thị xã Bắc Kạn. Hôm sau, 10 tháng 8, địch rút Phủ Thông. Tiếp đó, ngày 13, địch rút khỏi Nà Phặc, Ngân Sơn. Ngày 15, địch rút khỏi Bằng Khẩu . . .

        Lần đầu tiên trong kháng chiến chống Pháp, một thị xã một tỉnh được giải phóng. Bộ Tổng tư lệnh lúc này đã có sắc lệnh gọi Bộ Tổng chỉ huy thành Bộ Tổng tư lệnh) quyết định tổ chức lễ thành lập Đại đoàn 308. Buổi lễ mừng đại đoàn chủ lực đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời được tổ chức ngày 28 tháng 8 năm 1949 tại thị trấn Đu, huyện phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

        Trong ngày lễ thành lập Đại đoàn 308, mới có một trung đoàn (Trung đoàn 88 thành lập 1-7-1949) và những tiểu đoàn trực thuộc. Một tháng rưỡi sau có thêm trung đoàn thứ hai Trung đoàn 102 tức Trung đoàn Thủ đô, thành lập 10-10-1949).

        Đến giữa năm 1950, có thêm trung đoàn thứ ba: Trung đoàn 36, còn gọi là Trung đoàn Bắc-Bắc,sinh ra và trưởng thành trên chiến trường Bắc Ninh - Bắc Giang. Như vậy, trước chiến dịch Biên giới (1950) Đại đoàn 308 mới có đủ 3 trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn binh chủng trực thuộc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:04 pm

TẠI SAO a, b, c, d, e, f là CHỮ VIẾT TẮT CHỈ CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TA1

NGUYỄN THẾ NGUYÊN       

        Quân đội nào cũng cần có ký hiệu quân sự và chữ tắt quân sự chỉ các đơn vị để làm các văn kiện quân sự và thể hiện tình hình quân sự trên bản đồ một cách đơn giản, gọn gàng, rõ ràng, dễ hiểu, khoa học.

        Người đầu tiên đề nghị quân đội ta cần có ký hiệu quân sự và chữ tắt quân sự là đồng chí Nguyễn Khắc Huỳnh, cán bộ Ban nghiên cứu Phòng Tác chiến Bộ Tổng tham mưu (BTTM). Đó là vào mùa hè năm 1948, lúc cơ quan Bộ trú ở xã Điềm Mạc, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Ý kiến này được cấp trên chấp nhận. Tổng Tham mưu trưởng chỉ thị cho lập một tổ nghiên cứu việc này. Tổ gồm Nguyễn Khắc

        Huỳnh, Nghiêm Xuân Hiếu đều là cán bộ Ban Nghiên cứu và tôi - Nguyễn Thế Nguyên, Trưởng ban chiến sự của Phòng Tác chiến (lúc này chưa gọi là Cục Tác chiến).

        Việc xác định các ký hiệu quân sự được làm nhanh. Chúng tôi thống nhất cứ tham khảo ký hiệu các nước mà đặt ký hiệu của ta, vì ký hiệu quân sự các nước nói chung giống nhau. Ta chỉ có quy định khác là ký hiệu ta màu đỏ, ký hiệu địch màu xanh; còn các nước đế quốc thì ký hiệu họ màu xanh, ký hiệu đối phương của họ màu đỏ. Việc đặt chữ tắt quân sự phải bàn đi bàn lại nhiều buổi hơn.

        Thoạt đầu, đồng chí Huỳnh nêu: "Nên bắt chước chữ tắt quân sự các nước: "Gr" là tiểu đội, "Sec" là trung đội, "Cie" là đại đội, "Bon" là tiểu đoàn, "R" là trung đoàn, "D" là đại đoàn.

        Thực ra đó là viết tắt các chữ Group, Section, Compagnie, Régiment, Division của Pháp. Đồng chí nói: "Không riêng Pháp, Anh, Mỹ, Đức viết tắt như vậy mà Nhật, Tàu cũng viết tắt như vậy".

        Tôi nói: "Ký hiệu quân sự đặt giống các nước thì được. Còn chữ tắt quân sự đặt như các nước không tiện, không phù hợp với ta. Người biết tiếng Pháp còn hiểu được. Rất nhiều người không biết tiếng Pháp sẽ rất khó nhớ".

        Đồng chí Huỳnh bác lại: "Tàu và Nhật cũng có nhiều người không biết tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng họ dùng chữ tắt như vậy lâu cũng thành quen".

        Đồng chí Hiếu bàn: "Ta thử đặt theo tiếng của Việt Nam xem sao!".

        Cả ba cùng soát lại thì thấy quá khó: Tiểu đội viết tắt là "tđ" tiểu đoàn cũng viết tắt là "tđ". Trung đội thì viết tắt là "trđ", trung đoàn cũng viết tắt là "trđ". Đại đội viết tắt là "đđ" đại đoàn cũng viết tắt là "đđ". Viết tắt như vậy lẫn lộn.

        Nếu thêm chữ cho rõ hơn ví dụ đại đội viết tắt là "đđô", đại đoàn là "đđoa" thì dài quá còn gì là viết tắt nữa. Tôi bỗng nảy ra một ý nghĩ: "Có thể thay chữ cái a, b, c để chỉ các đơn vị được không?".

        Thấy đó là một ý kiến hay, chúng tôi bàn tiếp. Cứ theo thứ tự chữ cái của ta: "a" là tiểu đội, "b" là trung đội, "c" là đại đội  d là tiểu đoàn. Đến cấp "ô" là được. Nhưng không thể dùng "đ" để chỉ trung đoàn vì nói điện thoại, đánh điện, đánh máy dễ nhầm chữ "d" với chữ "đ". Vì thế chúng tôi quyết định bỏ chữ "đ" mà lấy chữ "e" để chỉ trung đoàn.

        Chỉ còn một cấp nữa là đại đoàn. Không thể dùng chữ "g" để chỉ đại đoàn vì nói điện thoại dễ nhầm "d" trên với "g" dưới. Còn dùng chữ cái tiếp theo sau là "h" thì buồn cười vì cấp đại đoàn mà lại "ca hát"!

        Đồng chí Hiếu đề nghị lấy chữ "f' để chỉ đại đoàn.

        Đồng chí Huỳnh nói: "Nếu dùng chữ "f' thì vô hình chung ta đã dùng "a, b, c, d, e, f" theo hệ chữ cái an-pha-bê của Pháp".

        Sau một hồi suy nghĩ,tôi nói: "Ta có đọc là: a, b, c, "đê" (d), 'ơ" (e), f như an-pha-bê Pháp đâu. Ta vẫn đọc theo chủ cái của ta là a, b, c, d dê), e, f cho nên ta cứ dùng "f' để chỉ đại đoàn cũng được. Tuy chữ cái của ta không có chủ f, nhưng máy chữ, máy in của ta đều có chữ f. Đó là cơ sở để lấy chữ f chỉ đại đoàn của chúng tôi. Cả ba chúng tôi đều nhất trí.

        Tiếp đó, chúng tôi đặt chữ tắt chỉ các cấp cán bộ: cấp trưởng thêm chữ "t", cấp phó thêm chữ "f', chính trị viên hoặc chính ủy thêm chữ "v" vào sau chữ tắt chỉ đơn vị. Ví dụ: đại đoàn trưởng là "ft"; đại đoàn phó là "ff', chính ủy đại đoàn là "fv".

        Việc đặt chữ tắt binh chủng, quân chủng dễ hơn: Bộ binh là "BB", Công binh là "CB", Pháo binh là "PB", Trinh sát là "TS", Thông tin là "TT", Không quân là "KQ", Hải quân là "HQ"

        Để phân biệt chữ tắt chỉ đơn vị với chữ tắt chỉ binh chủng, quân chủng, chúng tôi quy định: chữ tắt chỉ đơn vị thì dùng chữ viết thường hoặc chữ in thường, không dùng chữ hoa.

        Còn chữ tắt chỉ binh chủng, quân chủng thì dùng chữ in hoa, cao hơn chữ tắt chỉ đơn vị một phần ba (tức đúng tỷ lệ cao thấp của chữ thường và chữ hoa của máy chủ và máy in). Ví dụ: tiểu đội trinh sát 3 viết là "aTS3", trung đoàn công binh 5 viết là "eCB5"; đại đoàn bộ binh 8 viết là "fBB8".

        Làm xong bản thảo ký hiệu chữ tắt, chúng tôi trình lên Tổng Tham mưu trưởng. Đồng chí chỉ thị tranh thủ thêm ý kiến các phòng trong BTTM. Các phòng xem và đồng ý.

        Mùa Thu 1948, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái ký quyết định ban hành cuốn ký hiệu quân sự và chữ tắt quân sự đầu tiên dùng trong các lực lượng vũ trang Việt Nam.

        Năm 1961, với cương vị là Phó phòng Giáo luyện chiến dịch Cục Tác chiến, tôi đã chỉ đạo 2 đồng chí Trần Đức Khôi và Nguyễn Kim làm lại bản ký hiệu và chữ tắt quân sự.

        Về chữ tắt, chúng tôi vẫn giữ cách đặt như cũ, chỉ thêm một chữ như "q" (có dấu mũ) để chỉ quân đoàn, chữ "tđq" (q có mũ) để chỉ tập đoàn quân. "q" có mũ là để khỏi nhầm với số 9.

        Về ký hiệu, chúng tôi lấy ký hiệu của quân đội Xô-viết, chỉ thêm một ít ký hiệu như tỉnh đội và ký hiệu bộ chỉ huy chiến dịch.

        Lần này bản ký hiệu và chữ tắt quân sự mới cũng được đồng chí Hoàng Văn Thái phê duyệt và ký quyết định ban hành.

-------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1997


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 10:55:09 pm

TRỞ LẠI VẤN ĐỀ TẠI SAO a, b, c, d, e, f là CHỮ VIẾT TẮT CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN  ĐỘI TA1

NGUYỄN KHẮC HUỲNH       

        L.T.S: Tạp chí LSQS số 4-1997 có đăng (và sau đó Tạp chí Người làm báo của Hội Nhà báo Việt Nam, số 12-1997, có trích đăng lại) bài viết của tác giả Nguyễn Thế Nguyên "Tại sao a, b, c d, e, f là chữ viết tắt chỉ các đơn vị quân đội ta". Hơn 8 năm sau, người được tác giả Nguyễn Thế Nguyên nhắc đến ở phần đầu bài viết trên - đồng chí Nguyễn Khắc Huỳnh - nguyên cán bộ Ban Nghiên cứu Phòng Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, đã có bài viết để sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ" một số vấn đề trong bài viết của tác giả Nguyễn Thế Nguyên.

        Chúng ta vừa kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Bộ Tổng tham mưu (BTTM) cũng sắp kỷ niệm 61 năm ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-2005), tôi xin ghi ít dòng kể lại sự ra đời của bản ký hiệu thống nhất đầu tiên của quân đội với những chữ cái a, b, c, d, e, f là chữ viết tắt chỉ các đơn vị quân đội từ phân đội đến binh đoàn?

        Hồi đó, cuối năm 1947 - đầu năm 1948, cơ quan BTTM đóng ở Điềm Mạc, Định Hoá, Thái Nguyên. Phòng Tác chiến BTTM lúc đó do đồng chí Đào Văn Trường phụ trách. Phòng có hai ban: Ban chiến sự và Ban nghiên cứu. Ban nghiên cứu do đồng chí Nguyễn Bình Chuẩn phụ trách. Khi đề ra chương trình công tác năm 1948 của Ban nghiên cứu, Nguyễn Khắc Huỳnh đề nghị đưa vào đó công tác nghiên cứu bản ký hiệu quân đội Việt Nam.

        Hồi đó, quân đội ta chưa có bản ký hiệu thống nhất. Trước đó Văn phòng BTTM đã có một quy định tạm thời dùng cách viết tắt như: Tiđo, Trđo, Tiđoa. . . để chỉ tiểu đội, trung đội, tiểu đoàn. . . Cách viết tắt này chủ yếu dùng trong điện và báo cáo nhưng cũng ít được dùng và không thuận tiện lắm.

        Quá trình chuẩn bị, soạn thảo, xây dựng ký hiệu, việc xác định ký hiệu trận địa, chiến sự, binh khí, màu sắc đôi bên ta địch... tương đối dễ đàng. Chỉ đến lúc phải nghiên cứu xác định dùng chữ tắt thế nào để chỉ các đơn vị quân đội cho thuận tiện... mới đòi hỏi nhiều công sức. Chúng tôi tham khảo ký hiệu quân đội các nước Pháp, Nhật, Trung Quốc... Qua phân tích ký hiệu mà quân đội Pháp sử dụng, chúng tôi nhận thấy, họ có cách dùng một chữ cái để chỉ một cấp đơn vị như: C chỉ đại đội (Compagnie), B chỉ tiểu đoàn (Bataillon), R chỉ trung đoàn (Régiment), D chỉ sư đoàn (Division). Tiếng Pháp là đa âm nên việc sử đụng các chữ viết tắt như vậy là rất thuận tiện. Với tiếng Việt, người đi trước đã thử dùng Tiđoa, Trđoa. . . rồi mà không được. Cuối cùng, Nguyễn Khắc Huỳnh đưa ra phương án dùng các con chữ đầu của vần chữ cái a, b, c, d... để chỉ các đơn vị quân đội. Phương án chung là như vậy, sau khi đi vào cụ thể, một số vấn đề phải bàn bạc và thống nhất. Ba đơn vị nhỏ tiểu, trung, đại đội dùng a, b, c thì dễ nhất trí. Nhưng tiểu đoàn thì dùng d (dê) hay đ (đê)? Qua thảo luận chúng tôi nhanh chóng thông nhất dùng d. Còn trung đoàn dùng e chứ không dùng đ. Còn sư đoàn dùng f hay h? Có ý kiến cho rằng chữ cái tiếng Việt không có chữ f Nhưng nhiều ý kiến lại cho rằng vần ta có f, máy chữ có chữ f cho nên dùng f để chỉ sư đoàn.

        Chúng tôi cũng đã thống nhất rằng các ký hiệu a, b, c, d, e, f đều viết chữ thường, không viết hoa.

        Còn ký hiệu các quân, binh chủng thì dùng chữ tắt tên của binh chủng và viết hoa cả như bộ binh là BB, công binh là CB, pháo binh là PB, không quân là KQ...

        Khi đã có chữ tắt chỉ đơn vị rồi thì việc xác định ký hiệu chỉ các chức vụ cũng không khó khăn lắm: dùng t chỉ cấp trưởng, f chỉ cấp phó, v chỉ chính trị viên, như: đại đội trưởng là ct, trung đoàn phó là ef, chính ủy sư đoàn là fv .

        Toàn Ban nghiên cứu chung sức bàn bạc, góp ý, khoảng giữa năm 1948, Nguyễn Khắc Huỳnh hoàn thành bản ký hiệu. Tổ Đồ bản góp sức vẽ lại cho thật chuẩn để trình lên Bộ. Mùa Thu năm 1948, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái ký quyết định ban hành bản ký hiệu quân đội Việt Nam2. Chính đồng chí Nguyễn Khắc Huỳnh được phân công đến nhà in báo Tập san quân sự - hồi đó ở Quán Chu, Đại Từ, hướng dẫn khắc bản và in bản ký hiệu. Bản ký hiệu được các đơn vỉ đồng tình và hoan nghênh. Chẳng bao lâu, cách gọi a, b, c... thay cho tiểu, trung, đại đội... trở thành quen thuộc trong quân đội và cả trong nhân dân, cả trong công tác quân sự và cả trong sinh hoạt đời thường.

        Thời kỳ này, quân đội ta đang trong quá trình xây dựng.

        Đơn vị lớn nhất là trung đoàn, chưa có binh chủng hợp thành. Bởi vậy bản ký hiệu không đồ sộ như ngày nay, nhưng nó cũng đáp ứng được yêu cầu của công tác tham mưu tác chiến lúc bấy giờ và cả trong một thời gian dài. Mãi đến sau 1960, Bản ký hiệu mới có sự điều chỉnh, bổ sung đầu tiên, tuy nhiên các ký hiệu a, b, c, d, e, f thì vẫn thông dụng mãi. Đồng chí Hoàng Văn Thái đã có lần khen: "Bản ký hiệu quân đội được đấy. Bây giờ ai cũng dùng cách gọi a, b, c...".

        Cuốn Lịch sử Cục Tác chiến BTTM có ghi việc này3. Tôi chỉ viết bổ sung cho rõ. Chuyện sẽ không có gì để nói thêm nếu không có việc "nhà báo" Nguyễn Thế Nguyên (NTN) viết bài đăng trên Tạp chí LSQS số 4- 1997 nói rằng chính ông đề xướng, sáng tạo các ký hiệu a, b, c . . . ông Nguyên viết: "Tôi (tức NTN) bỗng nảy ra một ý nghĩ: "Có thể thay chữ cái a, b, c để chỉ các đơn vị được không?". Với lời kể trong bài báo này, ông NTN nhận mình là tác giả chính của bản ký hiệu và các chữ tắt a, b, c, d, e, f...

        Xin mạnh mẽ khẳng định rằng ông Nguyễn Thế Nguyên không dính líu gì tới việc nghiên cứu xây dựng bản ký hiệu quân đội năm 1948. Hồi đó ông Nguyễn Thế Nguyên (tên thật là Nguyễn Trù) cũng ở Phòng Tác chiến nhưng thuộc Ban chiến sự. Là người của Ban chiến sự, sao ông Trù lại dính vào công việc của Ban nghiên cứu.

        Như phần đầu bài báo này tôi đã nói, công việc nghiên cứu bản ký hiệu quân đội được đưa vào chương trình công tác của Ban nghiên cứu Phòng Tác chiến BTTM và được các thành viên trong Ban nghiên cứu chung sức bàn bạc thảo luận, thống nhất. Do đó, không có chuyện lập một tổ nghiên cứu việc này gồm ba đồng chí như tác giả Nguyễn Thế Nguyên viết. Vì vậy, những lời nói hay ý kiến của ông Nguyên trong bài báo trên để khẳng định sự tham gia của ông vào việc này đều không có thật.

        Đầu năm 1998, sau khi đọc bài của Nguyễn Thế Nguyên trên Tạp chí Người làm báo, người viết những dòng này (Nguyễn Khắc Huỳnh) có trao đổi với ông Nguyễn Bình Chuẩn, lúc ấy còn rất minh mẫn. ông Chuẩn khẳng định: 'Hồi đó ở BTTM, anh Trù (Nguyễn Thế Nguyên)  hoàn toàn không liên quan gì tới bản ký hiệu quân đội".

        Là một người thuộc cơ quan Tác chiến BTTM năm xưa, nay đang chuyên nghiên cứu lịch sử, tôi viết bài báo nhỏ này không có tham vọng gì, mà chỉ có một mong muốn giản đơn góp phần làm rõ sự thật, nói lại cho đúng sự thật lịch sử, dù việc lớn hay không lớn lắm.

--------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1997

        2. Không biết ngày nay, trong một bảo tàng nào hay một hồ sơ nào còn giữ được nguyên bản ký hiệu Quân đội do Nhà xuất bản Tập san quân sự in, BTTM ban hành năm 1948 không?

        3. Lịch sử Cục Tác chiến BTTM, Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, tr.103.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:51 pm

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN BÀN THÊM VỀ CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 19501

LÊ KIM       

        Cách đây 55 năm, ta giành được chiến thắng to lớn trong chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950. Từ đó đến nay, đã có nhiều sách, báo trong và ngoài nước viết về sự kiện này. Tuy nhiên, ngay cả những bản tổng kết, cũng như những tham luận trong hội thảo và hồi ức của nhiều nhân chứng ở cả hai phía vẫn có khá nhiều nhận định cần luận bàn thêm.

        Người viết bài này có may mắn được trực tiếp tham gia chiến đấu từ Khâu Luông đến Cốc Xá, tiếp đó lại được tham gia dẫn giải tù binh từ sở chỉ huy Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, lên Bộ chỉ huy Mặt trận; được trực tiếp hỏi chuyện Le Page, Charton... rồi trong những năm gần đây lại được đọc mã số văn bản, mệnh lệnh của quân đội Pháp có liên quan đến chiến dịch Biên Giới (được tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc 20 năm); xin được trình bày một số điểm cần "bàn thêm cho rõ" như sau:

        1. Như nhiều người tham dự chiến dịch còn nhớ và trong các bản tổng kết cũng ghi rõ: "Đợt 1 từ 16 đến 20 tháng 9 ta tập trung lực lượng tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê, đồng thời bố trí đánh quân ứng cứu. Nhưng chờ mãi đến 29 vẫn chưa thấy địch, lúc đó Đại đoàn 308 có nhiệm vụ chặn viện) mới được lệnh cử cán bộ đi chuẩn bị chiến trường ở Thất Khê và các đơn vị dành một phần ba quân số đi lấy gạo. Đêm 30-9, địch bí mật tiến từ Thất Khê về phía Đông Khê. Do thiếu cảnh giới chu đáo, ta đã không phát hiện được kịp thời". Một câu hỏi được đặt ra: Vì sao, trái với thông lệ, vị trí Đông Khê bị tiêu diệt từ 10 giờ ngày 18 tháng 9 nhưng mãi tới ngày 30 tháng 9 địch mới đưa quân lên chiếm lại? Sự kiện này đã (và đang còn) nảy sinh nhiều phán đoán. Có ý kiến cho rằng "trận địa phục kích của ta bị lộ, địch "không dại gì thò đầu vào cái bẫy gánh điểm diệt viện" ta giăng sẵn. Có ý kiến cho rằng, đường đi "bị phá hoại nhiều, làm chậm bước tiến" của địch . Lại có ý kiến suy luận "Le Page trù trừ, do dự" ...

        Sự thật không hoàn toàn như vậy. Trong cuốn Hồi ký xuất bản năm 1971, tướng Raoul Sa lan, nguyên Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương cho biết, ngày 13 tháng 5 năm 1949, tướng Revers, Tổng tham mưu trưởng "là một đại tướng có uy tín, được nể trọng", "được lệnh đi Đông Dương nghiên cứu tình hình, chủ yếu là chiến trường Bắc Bộ". Mãi tới ngày 21 tháng 6, Revers mới trở về Pháp. Trong bản tường trình tuyệt mật trình lên chính phủ, Revers đề xuất ý kiến: "Trước tình hình hiện nay2 cần rút ngắn tuyến phòng ngự biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, chỉ nên giữ lại các vị trí từ Móng Cái đến Thất Khê, cần rút bỏ ngay Bắc Kạn, Nguyên Bình; giảm bớt số quân đóng ở Cao Bằng và khi nào Cao Bằng bị uy hiếp mạnh cũng rút bỏ nốt...". Phương án này đã được Hội đồng các bộ trưởng tán thành. Đầu tháng 9 năm 1949, tướng Blaizot, là Tổng tư lệnh Đông Dương, đã phê chuẩn kế hoạch củng cố tuyến phòng ngư từ Móng Cái đến Thất Khê; chuẩn bị rút bỏ Cao Bằng, Đông Khê ngay từ bây giờ". Nhưng đến ngày 10 tháng 9, Carpentier thay Blaizot lại chủ trương "cần giữ cả Cao Bằng". Chỉ 6 hôm sau, tức 16 tháng 9, Đông Khê bị tiêu diệt. Đại tá Constans, Tư lệnh Quân khu Biên giới, đề nghị "rút ngay Cao Bằng". Tổng tư lệnh Carpentier lập tức từ Sài Gòn đáp máy bay ra Hà Nội, đi thị sát Cao Bằng, Lạng Sơn trong các ngày 18, 19 và 20-9. Ngày 22, Carpentier gửi huấn thị cho Alessandri - Tư lệnh chiến trường Bắc Bộ, ghi rõ: "Cao Bằng sẽ rút vào ngày 2-10. Tuyệt đối giữ bí mật. Chỉ được mật báo cho Charton vào ngày 1-10 để rút vào ngày 2. Cuộc lui quân phải thật gọn nhẹ, không được mang xe, pháo".

        Rất rõ ràng, qua những văn bản chính thức và tuyệt mật được công bố sau khi chiến tranh kết thúc mà Sa lan tiết lộ trên đây, bạn đọc có thể dễ dàng nhận thấy:

        - Cả Charton lẫn Le Page đều phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên là Constans và cao hơn nữa là Carpentier. Trong suốt thời gian dài từ 16 đến 30 tháng 9 ta "đánh điểm mà không thấy viện" chính là lúc các tướng, tá Carpentier, Alessandri, Constans... đang họp bàn xem "lúc nào thì Cao bằng rút và rút như thế nào?". Không phải Charton thấy Binh đoàn Le Page bị đánh nên đã tự ý "bỏ đường cái, rút theo đường mòn, vứt lại toàn bộ xe, pháo" mà chính là phải làm đúng theo huấn thị của Tổng tư lệnh Carpentier đo Tư lệnh Quân khu Constans truyền đạt. Chỉ có một điểm Charton thực hiện không khớp với lệnh cấp trên, đó là do lúng túng, mãi tới "6 giờ sáng ngày 3 tháng 10 đơn vị đầu tiên mới bắt đầu rút" (chứ không phải rút từ 24 giờ ngày 2 tháng 10 như Carpentier chỉ thị3). Đến "gần trưa hôm đó, khi đơn vị cuối cùng đã rút khỏi Cao Bằng thì một loạt mìn phát nổ, tiêu hủy 150 tấn đạn dược bỏ lại trong thành không mang theo được", (theo tiết lộ của trung tá Faretz, hồi đó là phó tham mưu trưởng của Charton). Vì vậy, nhiều sách báo của ta viết "cánh quân Charton rút khỏi Cao Bằng lúc nửa đêm ngày 2 rạng 3 - 10" là không chính xác.

--------------------
        1 Tạp chí LSQS số 10-2005

        2. Trong phạm vi giới hạn của bài viết này, không thể nêu hết các lý do Revers nêu ra, mong bạn đọc thông cảm.

        3. Trong hồi ký của Le Page, do Nxb Latines xuất bản năm 1981, có in lại toàn văn hai bản mệnh lệnh này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:10:13 pm

        2. Cũng không phải Le Page "trù trừ do dự" hoặc "do đường sá bị phá hoại nhiều nên "chậm tiến quân và tiến quân chậm", mà chủ yếu là vì bản thân Le Page cũng như Charton đều tuyệt đối phải hành động đúng theo lệnh cấp trên.

        Theo chính Le Page tiết lộ trong hồi ký xuất bản năm 1981, "mãi đến ngày 30 tháng 9, Le Page mới nhận được điện mật số ZF 879-35 của Constans chỉ thị phải "tiến đến Đông Khê vào buổi sáng ngày 2 tháng 10 để chờ đến chiều hôm đó sẽ có lệnh mới.

        Đến 14 giờ 30 chiều, Le Page lại nhận được lệnh (do máy bay thả xuống, chứ không gửi bằng điện để đảm bảo giữ được hoàn toàn bí mật) chỉ thị ngày 3 tháng 10 phải tiến từ Đông Khê lên Nậm Nàng, ở cây số 114, đón Binh đoàn Charton. Le Page bộc lộ trong hồi ký: "tôi rất sửng sốt vì lệnh này cùng ký trong ngày 29 tháng 9 như lệnh trước, nhưng đến chiều ngày 2 tháng 10 mới thả từ máy bay xuống cho chúng tôi và mãi đến lúc đó tôi mới được biết Charton đang rút khỏi Cao Bằng" và dù biết đây là một nhiệm vụ phải hy sinh, tôi vẫn cứ phải thực hiện mệnh lệnh".

        3. Trong cuốn Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) do Nxb QĐND xuất bản năm 2000, trang 283, có đoạn viết: "Đúng 17 giờ ngày 5 tháng 10, ta bắt đầu nổ súng tiến công Cốc Xá là khu vực có địa hình hiểm trở, thung lũng lòng chảo, núi đá vôi dốc đứng bao quanh. Dựa vào các mỏm cao, hẻm núi, hang sâu, bốn tiểu đoàn địch bố trí binh hoả lực nhiều tầng ngoan cố chống cự...". Ở đây, có hai điểm quan trọng, không chính xác. Một là về tới Cốc Xá thì địch không còn bốn tiểu đoàn nữa mà đã bị đánh tả tơi, rơi rụng suốt từ Khâu Luồng, Nà Pa, Quang Liệt rồi. Hai là, địch không kịp co cụm, bố trí binh hoả lực nhiều tầng và cũng không có tên nào chui vào hang sâu cố thủ. Chính Faretz tiết lộ trong hồi ký: "Mãi tới 16 giờ ngày 6 tháng 10, lần đầu tiên Charton mới bắt liên lạc được với Le Page bằng điện đài. Le Page cho biết, đơn vị ông đang trong tình thế nguy kịch, đang bị bao vây, có ít nhất 150 lính bị thương", chưa kể số chết và bị thương bỏ lại dọc đường. Le Page cũng tiết lộ trong hồi ký: "Tôi báo cho Charton biết là chúng tôi hoàn toàn bị bao vây, chỗ nào cũng có địch. Tôi định chờ đến đêm sẽ dựa vào bóng tối thoát ra ngoài. Tôi lệnh cho Tiểu đoàn dù lê dương số 1 lĩnh nhiệm vụ mở vòng vây, nhưng đơn vị này đã bị thương vong tới ba phần tư quân số và số đông các sĩ quan không còn sức tiến lên nữa" .

        4. Một điểm vô cùng sai lầm nữa là, trong khi cuốn Người lính già Đường số 4 anh hùng, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Mình, 2004, tr. 325 nhận định: "Hai binh đoàn Le Page Charton đã chiến đấu đến người cuối cùng", thì cả Le Page và  Charton đều thừa nhận trên giấy trắng mực đen là cả hai binh đoàn này đều "không chiến đấu đến người cuối cùng" và khi bị chia cắt, bao vây, tiến công thì "toàn thể hai ban chỉ huy cùng với các binh sĩ còn lại đều giơ tay hàng, nộp vũ khí"!

        Trên đây chỉ là 4 điểm lớn trong nhiều điểm mà người viết không thể nêu hết trong một bài báo. Cũng từ 4 điểm trên đây, xin được trình bày một số suy nghĩ: Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 là một chiến thắng rất to lớn mà chính Đại tướng Pháp Guillaume, trong lời giới thiệu cuốn hồi ký của Trung tá Le Page đã phải thừa nhận là "một giai đoạn đau đớn cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương"; còn Le Page thì viết: "thảm hoạ này đánh dấu bước ngoặt đi xuống của cuộc chiến tranh Đông Dương và báo hiệu sự sụp đổ của đế quốc thuộc địa Pháp" .

        Tuy nhiên, cho tới nay, sách báo và cả những bản tham luận, bản tổng kết chiến dịch của ta vẫn chưa nêu hết tầm vóc to lớn và ý nghĩa đích thực của chiến thắng, bên cạnh đó còn có nhiều sự kiện, nhiều nhận định chưa thật chính xác.

        Vì vậy chân thành đề nghị:

        - Các nhà viết sử cần cố gắng sưu tầm, nghiên cứu thêm những văn bản từ phía bên kia, nhất là những hồi ức của các nhân chứng. Dĩ nhiên, những nhân vật này đều viết theo quan điểm, tâm trạng riêng cùng với nhiều lý lẽ có tính chất thanh minh, bào chữa. Nhưng bên cạnh đó, họ cũng bộc lộ những ý đồ, chủ trương rất đáng để ta nghiên cứu. Đặc biệt, những chỉ thị, huấn thị, mệnh lệnh mật được tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc, dù trích đoạn hay đăng toàn văn đều rất bổ ích, ta cần căn cứ vào những văn bản này để nhận định, chứ không nên suy diễn chủ quan.

        - Hơn nửa thế kỷ qua, đã có rất nhiều cuốn sách viết về chiến dịch Biên Giới 1950 được xuất bản ở Pháp. Một số đã được dịch sang tiếng Việt. Nhưng rất tiếc, cho tới nay, cả hai cuốn hồi ức của Charton và Le Page, là hai nhân vật có thể gọi là nhân chứng chủ chốt, lại chưa được dịch sang tiếng Việt.

        - Trong tình hình hiện nay, khi Việt Nam đã tham gia Công ước Bernes, tuy việc dịch thuật có nhiều phiền phức, các viện nghiên cứu vẫn nên sưu tầm các hồi ký của nhân chứng và những huấn lệnh quân sự của phía bên kia, tìm người có khả năng dịch đúng, dịch tốt để làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu trước mắt cũng như lâu dài..

        Không riêng gì chiến địch Biên Giới 1950, mà cả những chiến dịch lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng vậy. Những tài liệu này chỉ dùng để nghiên cứu, cho nên không cần phát hành rộng rãi. Vì vậy, cần dịch toàn văn, không nên trích dịch, lược dịch hoặc biên dịch.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:18:49 pm
         
VỀ CHIẾN CÔNG DIỆT XE TĂNG ĐỊCH CỦA CÙ CHÍNH LAN TRÊN QUỐC LỘ 6 CUỐI NĂM 19511

THẾ TRƯỜNG        

        Cách đây 47 năm, trong Đại hội liên hoan Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất ngày 19 tháng 5 năm 1952, Cù Chính Lan là một trong năm người đầu tiên được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà phong tặng đanh hiệu cao quý "Anh hùng Quân đội". Chiến công của anh đã đi vào lịch sử vào phim ảnh, vào sách giáo khoa như những bản anh hùng ca bất tử.

        Cù Chính Lan sinh năm Canh Ngọ (1930) tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nông dân nghèo. Với lòng yêu nước thiết tha, vào bộ đội, được sự chăm sóc giáo đục của Đảng, anh giác ngộ sâu sắc về mục tiêu lý tưởng chiến đấu và trở thành một chiến sĩ ưu tú của quân đội, một đảng viên Cộng sản gương mẫu. Trong chiến đấu, Cù Chính Lan luôn lập chiến công, nhưng tiêu biểu nhất vẫn là trận đánh địch ở cánh đồng Giang Nại trên đường 59 và trận phục kích xe địch trên Quốc lộ số 6.

        Sáng ngày 29 tháng 5 năm 1951, Tiểu đoàn 353, Trung đoàn 9 bố trí đánh đích trên đường 59 Ninh Bình. Mờ sáng hôm đó một đại đội lính nguy từ Phát Diệm đi về hướng Phương Nại. Đến ngang cánh đồng xã Giang Nại, chúng lọt vào ổ Phục kích của ta. Chỉ sau 5 phút, khoảng 2 phần 3 lực lượng địch đã bị diệt tại chỗ. Lúc đó, Cù Chính Lan vừa học xong lớp đào tạo tiểu đội trưởng Trường quân chính Đại đoàn 304. Anh được điều về Đại đội 12, Tiểu đoàn 353. Đến nơi, đơn vị đi chiến đấu cả, chưa được tiếp nhận. Anh ở lại nhà đại đội bộ. Nghe tiếng súng nổ ran ngoài cánh đồng, biết đơn vị đang đánh địch, Cù Chính Lan mượn luôn con dao phát bờ ruộng của chủ nhà nơi đóng quân và lao ngay ra cánh đồng Giang Nại. Lúc này, bọn địch bị đòn bất ngờ đã hoảng loạn tháo chạy tứ tung. Một tên địch bất ngờ xuất hiện ngay trước mặt, anh vung dao xông tới. Thấy đối phương đã lao đến quá gần, tên nguy không dám bắn trả và hạ súng xuống, giơ cả hai tay xin hàng. Cù Chính Lan tước luôn khẩu tiểu liên Xten và tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu cho tới lúc toàn thắng. Từ đó, Cù Chính Lan được anh em Đại đội 12 gọi bằng cái tên trìu mến: "Chiến sĩ tay dao bắt sống giặc". Với chiến công này, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng ba (tương đương như Huân chương Chiến công hạng ba bây giờ).

        Đến trận Giang Mỗ trong Chiến dịch Hoà Bình ngày 13 tháng 12 năm 1951, trên quốc lộ 6, Tiểu đoàn 353 tổ chức trận địa phục kích chặn đánh quân Pháp từ thị xã Hoà Bình nống ra càn quét ở hướng Chợ Bờ. Lúc này, Cù Chính Lan làm Tiểu đội trưởng bộ binh của Đại đội 12. Sau 5 ngày kiên trì phục kích, sáng ngày 13 tháng 12 năm 1951, một đoàn xe quân sự của địch hành quân trên đường số 6, tiến về phía Phương Lâm - Chợ Bờ. Do đã bị đánh nhiều lần nên lần này chúng tiến quân rất thận trọng. Một xe tải chở lính đi đầu cứ 500 mét lại dừng lại đổ lính xuống sục sạo hai bên đường, thấy an toàn chúng mới phát tín hiệu cho cả đoàn xe tiếp tục tiến. Đi sau chiếc xe đi dẹp đường là mấy xe bí (Auto Miltrailleur - xe gắn súng máy), loại này có vỏ thép nhưng bánh lốp. Sau cùng là một chiến xa bánh xích có tháp pháo trên nóc xe, làm nhiệm vụ hộ tống.

        Do bên ta giấu quân giỏi, nguy trang khéo nên địch tuy có sục sạo vào gần tới nơi, nhưng vẫn không phát hiện được. Đến 9 giờ, toàn bộ đội hình hành quân của địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Tiểu đoàn trưởng Đỗ Đức hạ lệnh nổ súng. Phát đạn SKZ đầu tiên đã bắn trúng chiếc xe AM đi thứ ba. Bốn khẩu đại liên cùng lúc bắn mãnh hệt, chia cắt đội hình hành quân của địch. Lựu đạn của các chiến sĩ ta từ hai bên sườn đồi cao tới tấp ném xuống lòng đường, tiêu diệt bộ binh địch vừa từ trên các xe nhảy xuống. Xung kích bật dậy xung phong đánh giáp lá cà, tiêu diệt từng tốp địch. Bọn lính Pháp đạt sang hai bên đường chống cự lại rất quyết liệt.

        Khoảng hơn 1 giờ, ta đã diệt gần hết quân địch ở quãng giữa đội hình, dồn bắt làm tù binh, thu vũ khí. Lúc này chiếc chiến xa đi cuối đội hình chừng như biết có dấn lên cũng sẽ bị tiêu diệt nên đã lùi ra xa rồi nã pháo 40 ly vào trận địa của ta hòng cứu đồng bọn. Số địch còn lại ở cuối đội hình nhân cơ hội đó tổ chức phản kích.

        Ngay lúc đó, Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan dẫn một tổ mau chóng đuổi theo chiếc chiến xa nọ. Anh vừa chạy vừa hô lớn: "Lực lượng địch đó, ta phải mần bằng được chiếc xe tăng này anh em ơi!". Cả tiểu đội chạy theo Cù Chính Lan, chỉ có 5 chiến sĩ bám sát được Tiểu đội trưởng. Ngô Lai ném 1 quả lựu đạn vào chiếc chiến xa đang chạy, chiếc xe hất văng quả lựu đạn ra, nổ ở ven đường. Cù Chính Lan hét to: "Không ổn rồi, các đồng chí chuyển nhiều lựu đạn cho tôi, nhanh lên!"'

----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-1999



Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:06 pm

        Lập tức anh chạy men sườn đồi, lựa thế bám sau xe rồi tìm cách nhảy lên. Chiếc chiến xa gầm rú đưa Lan đi cách xa đồng đội. Anh rút chốt lựu đạn ném vào thùng xe khi nắp xe đang mở. Quân địch nhặt lựu đạn ném ra, lựu đạn nổ tung dưới lòng đường. Một mảnh lựu đạn xé toạc áo trấn thủ đang mặc của anh phía sau lưng, rất may không bị thương, chiếc xe quay mạnh tháp pháo hất Lan xuống đất. Không còn lựu đạn, anh chạy về nơi Ngô Lai vừa bị thương đang được đồng đội băng bó. Anh lấy khẩu tiểu liên "Tuyn", nhặt vội 2 quả lựu đạn chày nhét vào túi quần rồi quay lại đuổi theo chiếc chiến xa. Nó đã ở khá xa, Cù Chính Lan hậm hực nhìn theo.

        Nhìn quãng đường vòng mà chiếc xe đang lao tới, anh quyết định chạy tắt rừng để đón đầu với ý nghĩ sôi sục: "Phải đánh, chết cũng đánh!". Cù Chính Lan phóng nhanh theo lối mòn giữa đồi cây rậm rạp. Chiếc chiến xa đến chỗ ngoặt bỗng lùi lại vì 2 chiếc máy bay Hen-cát F6F cũng vừa bay tới, ầm ầm lao xuống cắt bom vào trận địa quân ta ở ven rừng. Chắc mẩm quân ta không đuổi theo nữa, một tên lính Pháp mở nắp xe ló đầu ra quan sát rồi lại thụt vào. Chiếc chiến xa rì rì quay về hướng thị xã Hoà Bình. Từ bìa rừng, Cù Chính Lan xốc tới, nhẹ nhàng nhảy lên chiếc chiến xa. Vì xe đang chạy, động cơ nổ ầm ầm nên bọn giặc trong xe không phát hiện được sự có mặt của anh. Anh rút quả lựu đạn chày Trung Quốc, dùng răng giật dây nụ xoè cho xì khói, đếm 1, 2, 3, 4 rồi mới thả vào thùng xe. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, cửa khói trong xe bùng lên. Cả kíp lính trong chiến xa bị tiêu diệt. Chiếc chiến xa không có người lái, đã húc vào mô đất rìa đường, khựng lại. Nó chỉ còn là một khối sắt nặng nề dưới chân Cù Chính Lan. Sau giây phút sững sờ, anh vui sướng gọi đồng đội vang cả núi rừng: "Nó chết rồi, xe tăng địch chết rồi, các đồng chí ơi".

        Trận đánh ở Giang Mỗ giành thắng lợi lớn, quân ta đã tiêu diệt 153 tên dịch, bắt 71 tù binh, phá hủy toàn bộ đoàn xe quân sự của địch gồm 10 chiếc, trong đó có 6 xe GMC chở đầy lính. Sau trận này, trong các đơn vị của Đại đoàn 304 chiến đấu trên quốc lộ 6) đã dấy lên một phong trào "Noi gương Cù Chính Lan, học tập Cù Chính Lan" rất sôi nổi.

        Gần một tháng sau, ngày 11 tháng 1 năm 1952, trong một trận đánh địch từ Ao Trạch càn quét vào ven đường số 6, từ một địa điểm phía bắc đường, Đại đội 59, Tiểu đoàn 418 của Trung đoàn 57 đã nhanh chóng xuất kích, hình thành thế bao vây địch. Một chiếc xe AM không đường thoát, buộc phải dừng lại nhưng văn ngoan cố bắn trả quân ta. Noi gương Cù Chính Lan, một chiến sĩ Đại đội 59 cũng nhảy lên xe. Tên lái hoảng sợ, cơ cao tay xin hàng. Ở hướng Đại đội 54, Tiểu đội trưởng Nguyễn Viếng dẫn đầu tiểu đội lao đến một xe AM khác. Anh hô to: "Cù Chính Lan đánh được xe tăng, chúng ta cũng đánh được như anh". Nói xong, Viếng lao ngay lên, dùng lựu đạn diệt được xe địch. Hai chiếc AM còn lại tháo chạy về Gò Bùi cũng bị quân ta dùng lựu đạn, súng trường tiêu diệt.

        Đã có nhiều tài liệu, nhiều bài báo viết về những chiến công của Cù Chính Lan. Tất cả đều đúng. Nhưng người viết bài này chỉ muốn cung cấp thêm tư liệu nhằm làm rõ hơn, đúng hơn với thực tế lịch sử về chiếc chiến xa bị Cù Chính Lan dùng lựu đạn tiêu diệt ở quốc lộ 6 cuối năm 1951. Đó không phải là xe tăng mà là xe Háp-tờ-rắc, một loại xe chiến đấu có hoả lực mạnh của quân đội viễn chinh Pháp dùng ở chiến trường Việt Nam đầu những năm 50 thế kỷ XX. Loại xe này nhìn bề ngoài rất giống xe tăng, cũng chạy bằng bánh xích nhưng vỏ thép mỏng hơn, nhỏ hơn, trọng lượng nhẹ hơn (chỉ nặng khoảng 6 tấn), trên tháp pháo cũng gắn ca-nông Bô-pho loại đại bác 40 ly bắn liên thanh). Còn xe tăng hồi đó loại nhỏ nhất cũng nặng 12 tấn, trang bị đại bác cỡ từ 75 ly trở lên và chỉ bắn phát một.

        Có ít nhất 3 người khẳng định chiếc chiến xa bị Cù Chính Lan tiêu diệt bằng lựu đạn là xe Háp-tờ-rắc chứ không phải xe tăng. Người thứ nhất là Trung tướng Đỗ Đức - nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, trước đây là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 353, Trung đoàn 9, người chỉ huy trận đánh Giang Mà ngày 13 tháng 12 năm 1951.

        Người thứ hai là Đại tá, nhà văn quân đội Hải Hồ hồi ấy là cán bộ tuyên huấn của Trung đoàn 9 và năm 1965 là người viết kịch bản phim " Người chiến sĩ trẻ" - bộ phim truyện nói về chiến công của Cù Chính Lan. Người thứ ba là Đại tá Lê Đăng Dần, sau này là Phó Chính ủy Đại đoàn 304. Đặc biệt, Đại tá Hải Hồ và Đại tá Lê Đăng Dần đã trực tiếp xem xét, nghiên cứu kỹ chiếc xe bị Cù Chính Lan đánh gục năm xưa trên đường số 6.

        Dù là xe tăng hay Háp-tờ-rắc, song việc một mình với đôi chân trần chạy tắt đồi, đuổi theo xe địch, tìm cách nhảy được lên xe rồi dùng lựu đạn ném vào thùng xe đang chạy, tiêu diệt cả xe và kíp lính trong xe mãi mãi vẫn là một hành động đặc biệt dũng cảm, gan dạ, mưu trí của Anh hùng Cù Chính Lan cách đây gần nửa thế kỷ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:55 pm

CHUYẾN ĐI VÀ CÁI CHẾT CỦA TRUNG TƯỚNG NGUYỄN BÌNH1

NGUYỄN VĂN SỸ       

        L.T.S: Trong chuyến đi ra Bắc năm 1951, Trung tướng Nguyễn Bình - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ. đã bị địch tập kích tại một trạm dừng chân trên đường hành quân. Sau đây là tình tiết sự việc qua lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Sĩ - Trưởng đoàn chuyến đi ấy, nay là Thiếu tướng đã nghỉ hưu.

        Lúc bấy giờ, ta giải tán Chiến khu 8, giải tán Trung đoàn chủ lực Đồng Tháp. Là Tham mưu trưởng của Trung đoàn Đồng Tháp, tôi được Bộ Tư lệnh Chiến khu 8 cử ra miền Bắc học quân sự. Về đến Bộ Tư lệnh Nam Bộ, tôi được chỉ định làm Trưởng đoàn của đoàn cán bộ phụ trách đưa đồng chí Nguyễn Bình ra Trung ương.

        Bộ Tư lệnh Nam Bộ đóng ở chiến khu Đ, tôi nhớ đồng chí Lê Bình Đẳng, huyện đội Hóc Môn nhận nhiệm vụ đi nghiên cứu đường hành quân. Khi đồng chí Đẳng trở về báo cáo với Bộ Tư lệnh Nam Bộ, tôi được biết đồng chí đã liên lạc với một bộ phận bộ đội đang hoạt động ở Hạ Lào, giáp ranh với Campuchia. Đoàn ra Bắc gồm có:

        - Đồng chí Nguyễn Bình.

        - Tôi là Trưởng đoàn, kiêm Phó Bí thư chi bộ.

        - Đồng chí Châu, người Quảng Bình, trong Ban bí thư Bộ Tư lệnh Nam Bộ, làm Chính trị viên của đoàn kiêm Bí thư chi bộ (nay không biết chết hay sống).

        - Đồng chí Võ Bá Nhạc, Trưởng phòng quân nhu Nam Bộ (bị bắt tại Tà Ni, đã chết).

        - Đồng chí Thanh.

        - Đồng chí Chung, Tiểu đoàn trưởng thuộc từng đoàn 301 (không biết chết hay sống).

        - Đồng chí Hưng, Tiểu đoàn bậc trưởng thuộc Trung đoàn 306 (đã chết).

        - Đồng chí Tùng, cán bộ biệt động công tác ở nội thành (hy sinh tại Tà Ni) .

        - Đồng chí Khiêm, phụ trách hậu cần, hiện còn sống ở thành phố Hồ Chí Minh.

        - Số người phục vụ ở chung với đồng chí Nguyễn Bình.

        - Đồng chí Liên, y sĩ hy sinh tại Tà Ni).

        - Đồng chí Bốn, bảo vệ (không biết chết hay sống).

        - ông Mười, thợ săn (đã chết).

        - Một tiểu đội cảnh vệ (không biết ai còn, ai mất) . Lúc bấy giờ sức khoẻ của đồng chí Nguyễn Bình không tốt, không thể hành quân bộ mà phải đi ngựa.

        Tôi không nhớ địa danh các trạm đã đi qua. Đoàn rời chiến khu Đ khoảng cuối tháng 8 năm 1951. Đi qua chiến khu Dương Minh Châu, sang căn cứ miền Đông Campuchia (ở bên kia đường 22), khu vực chùa Tà Ni. Qua các căn cứ Ban cán sự tỉnh Kinpong Chăm, ở Đum Be. Từ Chlong đi lên phía Bắc là vùng người dân tộc thiểu số đi trong vùng giải phóng, nên hành quân ngày. Như tôi đã nói, có 2 người đi ngựa, đồng chí Nguyễn Bình và đồng chí Võ Bá Nhạc.

        Vì vậy, Việc bảo đảm bí mật rất khó thực hiện. Người dân tộc thiểu số rất chân thật, với ta cũng như với địch. Sau này, khi trở về, nói chuyện với đồng bào, đồng bào cho biết có một đoàn cán bộ đã đi qua trong đó có một ông Sáu Việt Minh (muốn nói có một người cấp tướng). Trong đoàn đã có những diễn biến tư tưởng không thuận. Nên nếu bị địch tập kích, cán bộ phải hành động ra sao? Chi bộ phải họp, xác định trách nhiệm của chi bộ được Xứ ủy giao cho là đưa đồng chí Nguyễn Bình ra Trung ương thì người đảng viên phải chết cùng chết, sống cùng sống với đồng chí Nguyễn Bình.

        Khoảng cuối tháng 10, đoàn đã đến một phạm người dân tộc ở bên này sông Sê-rê-pốc. Đêm đó, đoàn đã liên hoan với đồng bào, có tổ chức vũ. Sáng hôm sau, vượt sông Sê-rê-pốc ban ngày, đến bóng ở một phẩm cùng người dân tộc để sáng lại hành quân vượt lộ 19, gặp bộ phận của bộ đội Hạ Lào.

        Hôm ấy, đoàn căng ni lông nghỉ ở trong rừng. Khoảng 14 giờ đến 15 giờ, chúng tôi nghe tiếng súng nổ ở ngoài phẩm. Đến lán của đồng chí Nguyễn Bình, các đồng chí cho biết đồng chí đã cùng đồng chí Bốn ra phẩm chơi. Chúng tôi vội cho tất cả súng ống cầm tay tiến ra phẩm và khi tới nơi thấy địch, chúng tôi đồng loạt nổ súng. Địch bỏ chạy, chúng tôi chạy ngay đến chỗ đồng chí Nguyễn Bình thì đã thấy đồng chí bị trúng 3 viên đạn ở đầu gối và 2 viên đạn súng nhỏ ở đầu.

        Chúng tôi phán đoán đồng chí Nguyễn Bình bị thương và còn sống, địch lấy cây súng của đồng chí và bắn hai viên đạn vào đầu. Sau này, qua đồng chí Bốn, chúng tôi biết hôm ấy, đồng chí Nguyễn Bình mặc quần quân sự, áo lót ba lỗ. Phát hiện đồng chí Nguyễn Bình, địch biết là có cán bộ Việt Minh, chúng tiếp cận và nổ súng. Đồng chí Nguyễn Bình bị thương ngay trong loạt đạn đầu. Chúng tôi phán đoán lực lượng địch không đông, khoảng một trung đội, đóng trên lộ 19, hành quân kiểu an dân.

        Sau khi lấy được thi hài của đồng chí Nhuyễn Bình, đoàn hành quân vượt sông Sê-rê-pốc trở lại phẩm đóng quân ở địa điểm cũ. Chúng tôi khẩn trương thương lượng mua ván, đóng hòm và tổ chức mai táng đồng chí Nguyễn Bình trong đêm ở cạnh bìa rừng. Trong khi chúng tôi tổ chức mai táng đồng chí Nguyễn Bình, đồng bào nổi lửa và bắt đầu rời bỏ phum. Chúng tôi phán đoán, hoặc đồng bào sợ địch càn quét, hoặc theo phong tục khi có người chết đồng bào bỏ phum đi tìm một nơi ở mới. Ngay trong đêm, đoàn hành quân trở về Nam Bộ và đã đến căn cứ miền Đông Campuchia ở khu vực chùa Tà Ni. Xế chiều, Bộ Tư lệnh miền Đông Campuchia cho liên lạc đề nghị đoàn vào trong căn cứ, không nên ở tại chùa Tà Ni, vùng này bây giờ không yên. Đã ăn cơm chiều, đang nghỉ trên võng, anh em đề nghị nghỉ đêm tại đây và sáng sớm liên lạc của Bộ Tư lệnh miền Đông Campuchia ra đón đoàn.

        Nhưng hửng sáng, một đại đội kỳ binh Com-măng-đô hành quân đánh căn cứ và khi phát hiện có khói ở khu vực chùa, chúng tiếp cận bắn xối xả vào điểm trú quân. Chúng tôi tổ chức bắn trả và rút lui vào bìa rừng (cách chừng khoảng 400-500 thước) là có thể an toàn. Trong trận này, có 2 người hy sinh, đồng chí Tùng và đồng chí Liên. Đồng chí Võ Bá Nhạc bị bắt. Sau này, chúng tôi đoán có thể khi đoàn hành quân ban ngày theo quốc lộ 22, đồng chí Võ Bá Nhạc vẫn đi ngựa, tình báo địch phát hiện có một đoàn cán bộ đi về hướng chùa Tà Ni nên chúng tổ chức một cuộc hành quân tập kích.

        Khoảng cuối tháng 11, đoàn về đến căn cứ Dương Minh Châu; lúc bấy giờ Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã dời về đây. Chúng tôi họp kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã giao cho, nhưng đã không hoàn thành, phân tích trách nhiệm ưu khuyết điểm của cấp ủy và người chỉ huy, làm tờ trình gửi lên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

        Đầu tháng 12, số cán bộ được phân công trở về cơ quan và đơn vị. Tôi được điều động về chiến trường, một thời gian ngắn ở mặt trận Đồng Tháp, sau về tỉnh đội Mỹ Tho với chức vụ Tỉnh đội phó Tham mưu trưởng.

        Một lần, đồng chí Khiêm, mà tôi đã nêu trên, có đến gặp tôi ở Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh, bày tỏ nguyện vọng có thể tham gia việc đi tìm hài cốt của đồng chí Nguyễn Bình.

-----------------------
        1. Tạp chí LSQS số 4-1996.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 11:34:25 pm


"CHUYẾN ĐI VÀ CÁI CHẾT CỦA TRUNG TƯƠNG NGUYỄN BÌNH" ĐÔI ĐIỀU CẦN NÓI RÕ1

PHÙNG ĐÌNH ẤM       

        Tạp chí Lịch sử quân sự số ra tháng 4-1996 có đăng bài "Chuyến đi và cái chết của Trung tướng Nguyễn Bình". Nội dung bài viết nói về việc tổ chức đoàn bảo vệ Trung tướng Nguyễn Bình, năm 1951, xuất phát từ Chiến khu Đ, theo đường Đông Bắc Campuchia và Hạ Lào để đi về Trung ương, có đoạn kể về trường hợp hy sinh của đồng chí Nguyễn Bình khi đã vượt sông Sê-rê-pốc để qua bên kia đường 19 gặp một bộ phận của bộ đội Hạ Lào đón đưa đi tiếp.

        Theo tác giả Nguyễn Văn Sĩ - nguyên Đoàn trưởng và là Phó Bí thư chi bộ đơn vị bảo vệ Trung tướng thì hôm ấy, đoàn bảo vệ căng ni lông nghỉ trong rừng. Khoảng 14 đến 15 giờ, nghe tiếng súng nổ ở ngoài phẩm, anh em phán đoán đồng chí Nguyễn Bình đi cùng đồng chí Bốn ra phẩm, nên tất cả súng cầm tay chạy đi tiếp ứng. Khi ra đến nơi, thấy địch, đơn vị đồng loạt nổ súng. Địch bỏ chạy. Anh em bổ đến thì thấy Trung tướng Nguyễn Bình đã hy sinh vì bị trúng 3 viên đạn ở đầu gối và 2 viên đạn súng ngắn ở đầu, phán đoán là địch bắn đồng chí Nguyễn Bình bị thương, nhưng chưa chết, chúng lấy súng ngắn của đồng chí bắn 2 phát vào đầu ... Khi lấy được thi hài của đồng chí Nguyễn Bình, đoàn hành quân vượt sông Sê-rê-pốc. Trở lại đóng quân ở địa điểm cũ... thương lượng mua ván, đóng hòm tổ chức mai táng đồng chí trong bìa rừng. Trong khì đoàn tổ chức mai táng đồng chí Nguyễn Bình thì đồng bào nổi lửa và bắt đầu rời bỏ phum ... đi tìm nơi ở mới. Ngay trong đêm đoàn hành quân trở về Nam Bộ...

        Đồng chí Nguyễn Bình hy sinh cách đây đã 50 năm, Quân khu 5 và Tổng cục Chính trị đã hai lần tổ chức tìm mộ nhưng không thành công. Gần đây, theo quyết định của Bộ Quốc phòng ta và được sự chấp thuận của Nhà nước Campuchia, một đoàn công tác đặc biệt lần thứ ba đi tìm hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình. Được sự giúp đỡ của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 và lực lượng vũ trang quân đội Hoàng gia Vương quốc Campuchia, đoàn đã đến nơi Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh tại phum Kpal Rômía (làng đầu con tê giác), gặp  được cụ Nhoi Sâm, 73 tuổi, là người đã trực tiếp cùng đoàn bảo vệ khiêng thi hài đồng chí Nguyễn Bình vượt sang bờ Nam sông  Sê-rê-pốc và cùng tham gia mai táng đồng chí. Qua sự gợi ý của Đoàn, cụ lần lượt kể câu chuyện dài của 49 năm về trước. Cụ nói rằng, cái năm Trung tướng Nguyễn Bình đến làng, cụ vừa 24 tuổi và là đội trưởng dân quân2, bộ đội Việt Nam đến ở trong làng hai đêm, không biết người chỉ huy tên gì, cấp gì, theo thói quen đồng bào gọi người chỉ huy cao nhất đó là "Lục Thum" (tức là ông Lớn - cũng có người gọi là ông Sáu, tức quan Sáu - cấp tướng). Ông cụ cho Lục Thum biết ở đây bọn lính Com-măng-đô gác cầu thỉnh thoảng vào làng "ba trui" bắt heo, bắt gà, bộ đội Việt Nam ở phải đề phòng. Không ngờ, bất thình lình bọn chúng đến làng, phát hiện Lục Thum đang ở ngoài chòi ruộng hóng mát và xem phong cảnh, chúng đã nổ súng và Lục Thum đã bị đạn hy sinh. Hôm đó ông cụ đưa đường cho tiền trạm của đoàn bảo vệ đi liên lạc với anh em hương Hạ Lào xuống ở làng Sray-kô, khi trở về thì sự việc đã xảy ra. ông cụ bảo: "Tôi vô cùng đau đớn thương tiếc Lục". Lập tức tôi và Rom Chum cùng một dân quân nhà cùng với bộ đội Việt Nam khiêng xác Lục Thum đi vòng làng khoảng 6 cây số, dùng thuyền độc mộc vượt sang bờ Nam Sê-rê-pốc. Tội nghiệp Lục Thum, người cao to như Tây, hỏng con mắt trái, miệng có răng vàng, chết lúc còn trẻ quá3. Để chôn cất, tôi phải đốt đuốc bằng tre nứa để soi sáng cho bộ đội Việt Nam đào hố thật rộng, sâu đến ngực, khi chôn xong thì đã một giờ sáng.

----------------------
        1 Tạp chí LSQS số 2-2001.

        2. Dân quân của Ít-xa-rắc, lực lượng kháng chiến của Campuchia

        3. Đồng chí Nguyễn Bình hy sinh năm 43 tuổi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 01:54:48 am

        Lúc đó còn mùa mưa, nước sông dâng cao, nghe bộ đội Việt Nam nói là tháng 9 của năm 1951. Sau đó, bộ đội Việt Nam rút về phía Nam, chừng ba ngày sau ông Vàng cùng anh em trở lại đắp nấm mộ thật cao, không biết có lấy xác đi chưa?

        Nếu chưa thì xác còn đấy. Ngôi mộ nằm gần con đường lên xuống bến nên hằng ngày bà con trong làng đi qua, đi lại thấy mộ vẫn còn nguyên, năm nào đồng bào cũng phát dọn cây cối xung quanh không cho chúng mọc lấp thành rừng!".

        Ông cụ Nhoi Sâm là người dân tộc Muông, bản chất thật thà, chúng tôi tin lời ông kể, nhưng để bảo đảm chính xác chúng tôi đưa hình Trung tướng Nguyễn Bình được phóng lớn ra. Vừa thấy, ông cụ chắp tay xá tấm hình và reo lên: "Đây rồi, hình Lục Thum đã chết đây rồi?". Chúng tôi hỏi: Khi chôn Trung tưởng Nguyễn Bình có hòm ván gì không? ông cụ vẻ ngậm ngùi và bảo: Đồng bào thương Lục Thum nên đã cho chiếc chiếu đan bằng mây để bó khiêng đi, đến lúc chôn, cũng chôn luôn với chiếc chiếu mây đó chứ không có hòm ván gì cả ông cụ còn cho biết,từ đó đến nay, kể cả thời Pôn Pốt, dân làng vẫn ở nguyên chỗ cũ, mộ của Lục Thum gần đường lên xuống bến và cách làng chừng dìm ngược dòng sông Sê-rê-pốc. Những người già trong làng trông chừng mãi không thấy bộ đội Việt Nam đến tìm, nay đã 49 năm... Có điều rất may là thổ nhưỡng ở đây rất tốt, đã 49 năm qua nhưng hình dáng ngôi mộ vẫn còn lùm lùm hiện rõ trên mặt đất và nhờ sự chăm sóc của đồng bào nên không bị cây rừng bao phủ. Khi mộ được bốc lên, hài cốt của Trung tướng Nguyễn Bình về cơ bản vẫn còn nguyên vẹn. Có đủ xương sọ, xương hàm, xương quai xanh, xương sống, xương chậu và xương tứ chi. Đặc biệt là đầu của Trung tướng không suy chuyển, có đủ con mắt giả bằng thủy tinh và hàm răng có mấy chiếc răng vàng. Nhìn cái xương đầu lâu còn nguyên vẹn, không có tỳ vết gì, cả Đoàn đều khẳng định Trung tướng Nguyễn Bình không bí phát đạn nào bắn vào đầu cả. Căn cứ vào nhân chứng sống và những điều tai nghe, mắt thấy trong chuyến đi tìm hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình, người viết bài này cũng mong nói lại vài điểm chưa thật chính xác trong bài "Chuyên đi và cái chết của Trung tướng Nguyễn Bình" và cũng để góp phần hoá giải những tin đồn đại thất thiệt về cái chết của đồng chí, đến gần đây nó vẫn còn âm ỉ trong một số người. Tháng 9 năm 1996, nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày giỗ của Liệt sĩ Trung tướng Nguyễn Bình, tác giả Phùng Đình Cung có viết bài đăng trên báo Sài Gòn giải phóng, nêu lên công lao đóng góp của đồng chí Nguyễn Bình đối với nền độc lập tự do của dân tộc nói chung và Nam Bộ nói riêng, đặc biệt đối với Quân khu 7 và Sài Gòn - Gia Định. Trong bài báo, tác giả có hai đề nghị: một là đề nghị đặt tên Nguyễn Bình cho một con đường của thành phố Hồ Chí Minh, hai là, đề nghị Bộ Quốc phòng tổ chức đi tìm hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình. Bài báo vừa được đăng trên trang 4 của báo Sài Gòn giải phóng ngày 28 tháng 9 năm 1996 thì ngày 5 tháng 10 năm 1996, Mai Ngọc Khuê, một cán bộ hưu trí ở tỉnh Sông Bé, tự xưng là người có những "chức danh đặc biệt": nguyên Trinh sát chính trị miền Đông Nam Bộ, thành viên Ban Giám đốc Quốc gia tự vệ thuộc tỉnh Gia Định... đã viết thư (bức thư đánh máy số l099) gởi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Quân khu 7, Viện Lịch sử Đảng, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương Đảng, Thành ủy và Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh, báo Sài Gòn giải phóng. Trong thư ông Khuê nêu lên một số điểm bất bình với đồng chí Nguyễn Bình và một số điểm hoài nghi xung quanh cái chết của đồng chí.

        Kể từ sau cuộc đi tìm mộ và khai quật hài cốt của Trung tướng Nguyễn Bình thì chuyến đi và cái chết của đồng chí đã sáng tỏ như ban ngày, với đầy đủ nhân chứng, vật chứng không còn nghi ngờ gì nữa.

        Chiều ngày 29 tháng 2 năm 2000, hài cốt của Trung tướng Nguyễn Bình đã được đưa về đến Quân khu 7, nơi hơn nửa thế kỷ trước, đồng chí làm vị Tư lệnh đầu tiên (lúc đó gọi là Chiến khu 7). Lễ cải táng đồng chí được tiến hành theo nghi thức trọng thể do Thượng tướng Phạm Văn Trà - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng làm chủ tang. Hàng ngàn đồng chí, đồng đội từng công tác và chiến đấu bên cạnh đồng chí, những nhân sĩ, trí thức cùng thời, những người mến mộ, tưởng nhớ công lao của đồng chí và những người thân, đồng hương... đến viếng và tiễn đưa đồng chí đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Để tưởng nhớ công lao đóng góp vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của vị tướng tài ba được Bác Hồ tin tưởng, Nhà nước ta đã truy tặng đồng chí Nguyễn Bình, vị Trung tướng đầu tiên của quân đội ta, phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:02:19 am

TRẬN LẠC SONG "ĐÔI ĐIỀU CẦN NÓI LẠI1

THẾ TRƯỜNG       

        Chiến thắng Lạc Song ngày 22 tháng 12 năm 1951 (trong chiến dịch Hoà Bình) đã đi vào lịch sử quân đội ta như một dấu son chói lọi. Đây là trận phục kích thắng lợi giòn giã của Đại đội sơn pháo 756 thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn pháo binh 675 Đại đoàn 351, chỉ trong vòng 20 phút đã diệt gọn một đoàn tàu địch gồm 1 tàu chiến và 4 ca nô trên đường từ thị xã Hoà Bình đang xuôi sông Đà về Hà Nội. Ngay chiều hôm trận đánh kết thúc (22-12-1951),Hồ Chủ tịch đã gửi điện cho Đại đội 756: "Bác rất hân hoan vui mừng khi được báo cáo về chiến thắng Lạc Song của các chú. Bác và Chính phủ quyết định tặng cho đơn vị các chú một lá cờ, tùy các chú chọn tên cho lá cờ ấy". Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng gửi thư khen. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba cho Đại đội. Ngày nay, ai đã đến thăm Bảo tàng Quân đội hoặc Bảo tàng Binh chủng Pháo binh đều thấy một kỷ vật vô cùng quý giá đối với các chiến sĩ “chân đồng vai sắt, đánh giỏi bắn trúng": Đó là lá cờ nhỏ nổi bật trên nền đỏ phía góc phải có thêu dòng chữ "Hồ Chủ tịch khen thưởng Đại đội 756 Trung đoàn 675". Giữa lá cờ, dưới ngôi sao vàng nổi bật bốn chữ to đậm: Chiến thắng Lạc Song.

        Là người trực tiếp chiến đấu ở Lạc Song từ đầu đến cuối trận đánh, gần đây có dịp đọc cuốn ký sự Đại đoàn Quân Tiên phong (Nxb QĐND, Hà Nội, 1978) ở những chương mục viết về chiến dịch Hoà Bình trong đó có chiến thắng Lạc Song thì tôi không khỏi băn khoăn khi không thấy được một chữ nào, dòng nào nói đến phiên hiệu của Đại đội 756, đơn vị duy nhất đã lập nên chiến công xuất sắc này. Đọc hai trang 402 và 403 của cuốn ký sự, nếu không phải là người trong cuộc đã chiến đấu ở Lạc Song thì ai cũng dễ coi đây là chiến công của đơn vị ĐKZ nào đó chứ không phải của các chiến sĩ sơn pháo 75 ly của Đại đội 756. Một điều cần nói cho rõ thêm là tiểu đoàn súng ĐKZ (đại bác không giật) đầu tiên của quân đội ta mãi đến giữa chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 mới được thành lập,chứ cuối năm 1951 chúng ta đâu có súng ĐKZ.

        Đi vào tường thuật trận đánh, cuốn ký sự viết có những đoạn theo tôi cần nói lại cho rõ. Ví dụ như trang 402 đã mô tả: Chiếc ca nô thứ ba cố dạt sang bờ bên kia để tránh đạn nhưng cũng không thoát. Nó bị thương tụt lại phía sau chuệnh choạng như thằng say rượu... Nhưng thực tế ra sao, ta hãy đọc trang 198 cuốn sách Pháo binh nhân dân Việt Nam - Những chặng đường chiến đâu (Nxb QĐND, Hà Nội, 1982) khi giới thiệu về trận Lạc Song đã viết rất chính xác đúng như diễn biến mà những người đánh trận này đã được tận mắt chứng kiến là: Chiếc ca nô thứ ba phóng vượt lên với tốc độ rất lớn, khẩu đội 1 sơn pháo 75 chờ nó vào đường tim kính ngắm 15 ly giác rồi chỉ cần một phát đạn đã làm cho buồng lái vỡ toác. Khẩu đội 3 lại bồi thêm cho nó một phát nữa giữa bụng. Máy chết, tàu cháy trôi vật vờ thêm một đoạn ngắn rồi chìm mất hút giữa lòng sông sâu. Như vậy, chiếc ca nô thứ ba không chỉ bị thương mà đã bị bắn đắm bởi hai phát đạn đại bác 75 ly. Và trước đó khi đoàn tàu đã vào đến trận địa phục kích thì ba chiếc ca nô chạy đầu đã bị pháo binh ta bắn chìm trong vòng 5 phút, số đạn pháo tiêu thụ chưa đến 10 viên. Khẩu đội 2 đã bắn tiêu diệt chiếc thứ 4 và nhấn chìm nó tại chỗ. Như vậy, 4 ca nô của địch xuôi sông Đà hôm đó, tất cả đều bị sơn pháo bắn chìm chứ không hề có đơn vị ĐKZ nào nổ súng như trong cuốn ký sự Đại đoàn Quân Tiên phong đã viết. Chi tiết viết chưa đúng nữa ở trang 402 cuốn ký sự là chỉ còn lại chiếc tàu Mônito điên cuồng dùng tiểu pháo 20 ly bắn mở đường và cố lê cái thân nặng nề đầy thương tích lượn sát vào bờ sông tả ngạn mong qua thoát được cửa ải thử hai... nhưng ba khẩu súng 75 ly ở trận địa cuối cùng đã chờ sẵn. Chiếc tàu chiến vừa lù lù hiện ra ở đầu khuỷu sông thi liên tiếp 8 phát đạn đã nổ quyêt định sô phận nó.... Đến đây tuy đã công nhận pháo 75 đã tiêu diệt chiếc tàu chiến nhưng theo cách diễn đạt này thì hình như chiếc tàu LCM đã bị một đơn vị nào đó bắn bị thương nặng trước khi bị 3 khẩu pháo 75 ly bắn tiêu diệt. Là người trực tiếp tận mắt quan sát trên mặt sông Đà hôm đó thì diễn biến trận đánh không phải như vậy. Được biết cách trận địa của Đại đội 756 khoảng 2km về phía thượng nguồn cũng có một đơn vị pháo 70 ly làm nhiệm vụ đón đánh địch trên sông nhưng khi đoàn tàu từ thị xã Hoà Bình xuôi về ngang qua trận địa, đơn vị pháo 70 ly này đã nổ súng nhưng vì pháo đặt ở đồi cao, lại lui về phía sau, cự ly xa quá nên bắn không trúng. Đoàn tàu địch vượt qua được trận địa đó xuôi nhanh về phía Trung Hà khi đì vào trận địa Lạc Song - Đồng Việt do Đại đội 756 bố trí phục kích thì bị đánh. Bốn ca nô đi đầu lần lượt bị pháo ta bắn chìm tại chỗ. Chiếc tàu chiến đi sau cũng bị 3 khẩu đội 75 ly tập trung hoả lực bắn trúng nhiều phát đạn vào sườn trái làm thân tàu vỡ toác. Nó phải cố lết vào bãi cát bồi ở gần bờ hữu ngạn (chứ không phải bên tả ngạn vì tả ngạn là trận địa của quân ta) để cho bọn quân lính còn sống sót nhảy ào xuống bãi cát, chạy thục mạng lên bờ hòng tẩu thoát. Nhưng, không kể những tên địch bị chết trong tàu, bị đạn bắn thẳng của quân ta tiêu diệt khi chúng chạy lên bãi cát bồi hoặc bơi giữa sông, hơn ba chục tên khác đã bị lực lượng dân quân địa phương làm nhiệm vụ bủa lưới và bắn tỉa bên hữu ngạn sông Đà bắt tại trận. Chi tiết này quan trọng, cuốn ký sự Đại đoàn Quân Tiên phong chưa đề cập đến, cũng cần nói thêm cho rõ, cho đủ.

        Và sau trận đánh, địch phản ứng không phải bằng 200 phát đạn pháo 150 ly từ vị trí Pheo bắn tới như trong cuốn ký sự đã viết. Thực tế không có phát đạn nào của địch bắn tới mà chúng đã dùng hàng chục máy bay chiến đấu từ Hà Nội bay lên quần đảo bắn phá trong 3 giờ, ném 38 quả bom na-pan gây nên nhiều đám cháy dữ dội bên bờ trái sông Đà khi Đại đội 756 đã kịp rút về hậu cứ an toàn. Đại đội phó 756 Lê Đức Tùng chỉ huy trận Lạc Song, hiện nay là Đại tá ở đường Trường Chinh (Hà Nội); Chính trị viên Đại đội là anh Cao Văn Chấn hiện là Thiếu tướng, ở khu tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô; Chính trị viên phó Đại đội là anh Trần Hữu Khiêm hiện là Đại tá, ở tổ 17 phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội. Các anh đều đã nghỉ hưu và là những nhân chứng quan trọng của chiến thắng Lạc Song.

        Tường thuật một trận đánh, nếu có viết thiếu, viết chưa rõ chưa đúng về quá trình diễn biến chiến đấu cũng là điều bình thường. Vì vậy, việc nói lại cho rõ, bổ sung thêm cho đủ làm sao để sự việc được mô tả đúng như khi nó có, bảo đảm tính chân thật, chính xác của lịch sử cũng là điều bình thường và cần thiết trong công việc nghiên cứu khoa học.

        Việc nói lại đôi điều trong trận đánh Lạc Song 46 năm về trước cũng nằm trong trường hợp đó.

------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 6-1997


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:08:59 am

BÀN THÊM VỀ KẾ HOẠCH NAVA1

VŨ LÂM       

        Nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên (7/5/1954  - 7/5/1999) từ Thông tin Cựu chiến binh số 69, xuất bản tháng 4 có biên soạn "Đề cương tuyên truyền" về ngày kỷ niệm lịch sử này, được đăng suốt 13 trang báo (từ trang 20 đến trang 32). Trong phần viết về bản Kế hoạch Na-va, Đề cương cho biết:

        ..."Mục tiêu của kế hoạch Na-va là. trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn chủ lực của ta, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, biến Việt Nam vĩnh viễn thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Pháp và Mỹ."

        Thực ra, mục tiêu của bản kế hoạch do Hăng-ri Na-va (Henri  Navarre), nguyên Tổng chỉ huy các lực lượng Pháp ở Đông Dương thời kỳ đó vạch ra, không hoàn toàn đúng như vậy Chính Na-va, trong hai cuốn sách có tính chất hồi ký nhan đề Đông Dương hấp hối (xuất bản năm 1960) và Thời điểm của những sự thật (xuất bản năm 1979) đều thừa nhận, vào thời điểm mà Na-va được phái sang Đông Dương (tháng 5- 1953) thì cả thế và lực của Pháp ở Việt Nam đều đã rất yếu, Pháp không thể nào thắng được cuộc "chiến tranh toàn dân" do Việt Minh chỉ đạo. Vậy thì không thể nào mơ tưởng đến chuyện "kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam" được cũng như việc không thể nghĩ đến chuyện "biến Việt Nam vĩnh viễn thành thuộc địa".

        Toàn văn bản Kê/hoạch Na-va, lần đầu tiên được công bố trong cuốn Chúng tôi đã chiến đấu ở Điện Biên Phủ, xuất bản năm 1984, do thiếu tá Giăng Pu-giê là thư ký riêng của Na-va những năm 1953-1954, không có câu chữ nào như bản "Đề cương tuyên truyền" nói trên đã viết. Những tài liệu mật của Pháp được công bố 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc, cho biết cụ thể thêm: cuối tháng 10 năm 1953, những kiến nghị trong bản kế hoạch chiến lược do tướng Na-va soạn thảo đã được Quốc hội Pháp thông qua với 315 phiếu thuận, 251 phiếu chống, kèm theo quyết nghị 3 điểm:

        1- Phát triển quân đội người bản xứ nhằm tuần tự thay dần quân Pháp ở Đông Dương.

        2- Chuẩn bị sẵn sàng bước vào thương lượng để tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Đông Dương.

        3- Hoàn tất việc trao trả độc lập cho các thuộc địa cũ ở Đông Dương dưới hình thức "các nước liên kết trong khối Liên hiệp Pháp" .

        Phần nói về Việt Nam trong Kế hoạch Na-va không phải là "bình định và kiểm soát toàn bộ lãnh thổ!' mà chỉ là cố giành lại chủ động, tạo thế cân bằng tiến tới thế mạnh để Pháp có thể "rút lui trong danh dự'!. Na-va dự định, trong giai đoạn 1953-1954 củng cố thế phòng ngự, giữ vừng các vùng đang kiểm soát để chờ viện binh từ Pháp sang đi đôi với việc phát triển nguy quân; năm 1955 mới tiến công quân chủ lực Việt Minh, làm suy yếu lực lượng kháng chiến để tạo thế thạnh cho thương lượng; đến cuối năm 1956 mới tuần tự rút quân Pháp về nước. Pháp đặt hy vọng, nếu phải thương lượng với Việt Minh thì sẽ thương lượng trên thế mạnh; trong cái chính phủ được Pháp trao trả độc lập, Bảo Đại vẫn là Quốc trưởng, Việt Minh chỉ được vài ghế bộ trưởng là cùng.

        Thế nhưng, khi phát hiện thấy Đại đoàn 316 của ta tiến quân lên Tây Bắc, Na-va vội vã cho quân nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ trong cuộc hành quân Ôổ bộ đường không từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 11  năm 1953, tiếp đó tăng thêm binh lực, biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm. Na-va bộc lộ trong Hồi ký: căn cứ lớn nhất Đông Dương này sẽ là một tấm lá chắn bảo vệ cho các vị trí của Pháp ở Thượng Lào, một bàn đạp vững chắc ở khu vực Tây Bắc uy hiếp Việt Minh, đồng thời cũng nhằm "thu hút lực lượng Việt Minh, nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm bớt sức tiến công của quân chủ lực Việt Minh đánh vào phòng tuyến của Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ".

        Hành động này nằm ngoài Kế hoạch Na-va, là một phản ứng đối phó bị động của thực dân Pháp, mở đường cho thảm bại to lớn sau đó của Pháp ngay tại Điện Biên. Như nhiều người đã rõ, sau khi được tin Pháp nhảy dù chiếm đóng Điện Biên, ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở khu vực này. Tiếp theo Đại đoàn 316, nhiều đại đoàn khác cũng được lệnh cấp tốc hành quân lên Tây Bắc. Mới đầu, trận tiến công mở màn vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ấn định vào ngày 25 tháng 1 năm 1954, sau đó lui lại 24 giờ (tức ngày 26-1)  nhưng liền sau đó lại tạm hoãn để chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc".

        Bản Đề cương tuyên truyền của tờ Thông tin Cựu chiến binh viết: "Sau một thời gian chuẩn bị lại, 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954 quân ta nổ súng tiến công giữa lúc địch chủ quan cho rằng ta đã từ bỏ ý đỉnh đánh Điện Biên phủ": Viết như vậy, hoặc nói như vậy, dễ làm người đọc, người nghe, nhất là thế hệ trẻ ít biết về trận Điện Biên lịch sử, hiểu không đầy đủ có thể nghĩ rằng trận tiến công mở màn đã được tiến hành một cách bí mật, hoàn toàn bất ngờ đối với địch.

        Nhìn lại cả hai thời điểm (ngày 25-1-1954 và ngày 13-3-1954) địch đều biết trước có đợt tiến công. Trận dự định tiến công chiều ngày 25 tháng 1, do có một chiến sĩ bị địch bắt nên đã lui sang ngày 26 tháng 1 và sau đó, do chuyển phương châm tác chiến, mãi đến 13 tháng 3 mới lại tiến hành. Những tư liệu của phía Pháp được tiết lộ sau khi chiến tranh kết thúc, cả những lời khai của tù binh bị bắt tại trận đều cho biết:

        Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1954, đích thân tướng Na-va cùng với nhiều quan chức cấp cao của Mỹ, Pháp đã liên tục đáp máy bay lên tận Điện Biên trực tiếp quan sát, chỉ thị tăng cường phòng ngự. Trước khi ta nổ súng tiến công, tướng Mỹ Ô Đa-ni-en đã tới Điện Biên (ngày 2-2); Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Plê-ven và một loạt các tướng Tổng tham mưu trưởng, Tổng thanh tra quân đội Pháp... ngày 19-2); riêng Na-va liên tiếp tới Điện Biên 4 lần, kiểm tra từng công sự. Nếu trong số tướng Pháp có kẻ chủ quan thì đó là chủ quan sẽ đánh thắng, chứ không phải chủ quan nghĩ rằng đối phương "đã từ bỏ ý định đánh Điện Biên Phủ". Riêng Na-va, có nhiều băn khoăn, lo lắng, không tin chắc có thể chiến thắng (theo tiết lộ của Giăng Pu-giê, thư ký riêng của Na-va).

        Do thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc", ta phải cấu trúc trận địa bao vây và tiến công. Ngày 10 tháng 3, địch đã phát hiện thấy nhiều đoạn chiến hào ta gần sát các vị trí của chúng, nhất là phía cao điểm Him Lam. Từ ngày 12 tháng 3, các vị trí địch ở Điện Biên đều được lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu. Sáng 13 tháng 3, chỉ huy trưởng Đờ Cát còn nhắc các đơn vị dưới quyền là cuộc tiến công của Việt Minh "sẽ bắt đầu vào 17 giờ hôm nay" (tức 13-3-1954) và tăng cường báo động...

        Thấm thoắt gần nửa thế kỷ đã trôi nhanh kể từ ngày chiến thắng Điện Biên, rất nhiều tài liệu mật của phía Pháp đã được công bố. Một số sách như Trận Điện Biên Phủ của Giuyn Roa (Jules Ruy), cựu đại tá không quân Pháp; Thời điểm của những sự thật của tướng Hăng-ri Na-va... đều đã được dịch sang tiếng Việt, có thể dùng để tham khảo. Toàn văn bản Kế hoạch Na-va cũng đã được dịch sang tiếng Việt.

        Đặc biệt, cuốn Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên ra mắt bạn đọc vào năm 1958 tới nay đã được tái bản tới 7 lần, có bổ sung thêm nhiều tư liệu phong phú và bổ ích. Những cuốn sách này đều có lưu trữ ở Thư viện Trung ương Quân đội và nhiều thư viện khác, có thể tìm đọc dễ dàng để hiểu biết sâu sắc hơn về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

----------------
        1. Tạp chí LSQS số 3-1999


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:14:31 am

TRAO ĐỔI VỀ BỨC ẢNH "BỘ CHÍNH TRỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG BÀN CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢCTRONG ĐÔNG - XUÂN 1953-1954"1

TRẦN QUANG VỸ       

        Tháng 5 năm 1984, kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Ngành Bưu điện phát hành một bộ tem trong đó có mẫu với nội dung "họp Bộ Chính trị", các mẫu tem do hoạ sĩ Huy Toàn thiết kế dựa trên các tư liệu chính thức nên đã được in ấn và phát hành. Mẫu tem này có hình ảnh 5 người.

        Xem lại một số sách báo, chúng tôi thấy có 4 bức ảnh khác nhau đều được chú thích ở dưới: "Buổi họp của Bộ Chính trị bàn về kế hoạch Đông Xuân 1953-1954" hoặc "Buổi họp của Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ".

        Các bức ảnh này có thể đã chụp cùng một buổi, ở cùng một địa điểm vì trang phục và vị trí đứng hoặc ngồi của các nhà lãnh đạo quanh bàn họp đều như nhau, có khác chỉ là người nhiếp ảnh chụp từ những góc độ khác nhau và trong những thời khắc khác nhau.

        Ba bức ảnh có hình 4 người mà ai cũng có thể nhận ra, từ trái sang phải là đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Đảng; Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Những bức ảnh này được in trong nhiều sách báo như ở Tạp chí "Hình ảnh Việt Nam" (tr. 2, số 2, tháng 12-1954), cuốn quân đội nhân dân Việt Nam anh dũng", Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh xuất bản 1954 (Phụ bản sau tr. 4), cuốn "Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000 (Phụ bản sau tr. 16).

        Bức ảnh với hình 5 người mà Ngành Bưu điện chọn đưa vào tem, có trong cuốn "Sức mạnh Việt Nam", Nxb QĐND, 1976 phụ bản sau tr. 296). Bức ảnh này còn thấy ở Bảo tàng Thái Nguyên và trong phim "chiến thắng Điện Biên Phủ". Ngoài bốn vị lãnh đạo như ở trong các bức ảnh 4 người, còn một người thứ 5 đứng bên tay phải đồng chí Phạm Văn Đồng.

        Một số độc giả và người nghiên cứu lịch sử muốn biết đồng chí này là ai? Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội cũng không có bức ảnh đó. Để giải đáp thắc mắc của độc giả, tháng 1 năm 1996, Ban Biên tập Tạp chí Tem tìm hiểu một số cơ quan hữu trách, có công văn hỏi Bảo tàng Bắc Thái (khi đó còn là tỉnh Bắc Thái) và được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Thái và Bảo tàng Bắc Thái trả lời, nội dung như sau:

        "Bức ảnh lịch sử "Bác Hồ cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị họp bàn quyết định mở chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954" được chụp tại An toàn khu ở bản Tin Keo, xã phú Đình, huyện Định Hoá, tỉnh Bắc Thái, tháng 12 năm 1953.

        Những người trong ảnh từ trái sang phải là đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị2; đồng chí Phạm Văn Đồng - Phó Thủ tướng; Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng chí Trường Chinh; Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tr. 18 Tạp chí Tem, số 17 , tháng 3- 1996) .

        Đồng thời, một nguồn tư liệu từ các cơ quan có liên quan cũng xác định: "Tấm ảnh được chú thích là Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết đinh chủ trương tác chiến Đông - Xuân 1953-1954 đã được sử dụng trên nhiều sách báo; trong ảnh cả 5 người đều đứng (khác với ảnh 4 người ngồi), người đúng thử nhất từ trái sang là đồng chí Đặng Tính - Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu".

        Một lần, tình cờ chúng tôi giở cuốn "Quân đội nhân dân Việt Nam anh dũng", trong các phụ bản có một bức ảnh chân dung đồng chí Hoàng Anh - Phó Tổng Tham mưu trưởng (1954) có những nét giống trong bức ảnh 5 người nên chúng tôi tìm gặp đồng chí Hoàng Anh và được biết thời gian đó đồng chí là Bí thư Liên khu ủy 4, đang lên Việt Bắc công tác và được Bộ Chính trị mời đến để báo cáo về tình hình bảo đảm hậu cần của Liên khu 4 cho Mặt trận, nên mới có bức ảnh này.

        Ngoài tình tiết về bức ảnh, còn một chi tiết khác cần nói rõ thêm:

        Có một đoạn phát trên chương trình VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam năm 2001, nhân kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ như sau: "Ngày 6-12-1953, Hồ Chủ tịch chủ trì hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh và nghị quyết mở chiến dịch Điện Biên Phủ tại ngôi nhà ở lưng chừng đèo De, nơi Người ở và làm việc. Đèo De cao 700 mét, thuộc xã Thanh Định, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên".

        Để nói một cách chính xác hơn, thì từ Đại hội Đảng II (1951), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã được thay bằng Bộ Chính trị và đèo De ở bản Tin Keo, thuộc xã Phú Đình, huyện Định Hoá.

        Về mở chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi đọc ở cuốn "Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thấy như sau: Ngày 20 đến ngày 22 tháng 11 năm 1953, địch đã ném xuống cánh đồng Mường Thanh sáu tiểu đoàn dù (tr. 45)... Ngày 6 tháng 12 năm 1953, tờ trình của Tổng Quân ủy được gửi lên Bộ Chính trị nêu thời gian tác chiến ỏ Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày (tr. 50)... Hạ tuần tháng 12-1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông - Xuân 1953-1954 (tr. 59).

        Như vậy, các bức ảnh có hình 4 người là ảnh Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn chủ trương chiến lược trong Đông - Xuân 1953-1954, in ở cuốn "Điện Biên Phủ  Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp phụ bản sau tr. 16). Còn bức ảnh có hình 5 người cũng chụp tại cuộc họp trên, khi đồng chí Hoàng Anh - Bí thư Liên khu ủy 4, báo cáo về kế hoạch Liên khu 4 đảm bảo công tác hậu cần cho Mặt trận Điện Biên.

-------------------------
        1. Tạp chí LSQS số 2-2002

        2. Tổng cục Chính trị được thành lập theo Sắc lệnh số 121/SL, ngày 11-7-1950. Cùng ngày, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị theo Sắc lệnh số 122/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:21:02 am

LIỆU CÓ THỂ THAY ĐỔI PHƯƠNG CHÂM TÁC CHIẾN TRƯỚC NGÀY 26-1-1954?1

TRẦN TRỌNG TRUNG         
        Như chúng ta đã biết, ngày 14 tháng 1 năm 1954, tại hang Thẩm Púa, hội nghị cán bộ chiến dịch Điện Biên Phủ đã nhất trí phương châm tác chiến là "đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Hói nghị nhận định rằng, quân ta đang sung sức, còn địch thì mới chiếm đóng, lực lượng của chúng chưa được tăng cường, bố trí còn tương đối sơ hở, trận địa phòng ngự chưa được củng cố.

        Với phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", ta dự kiến ngày 20 tháng 1 nổ súng và trận đánh sẽ kéo dài 3 đêm 2 ngày. Do công tác chuẩn bị chậm, bộ đội không kịp nổ súng vào ngày quy định. Đến ngày 26, phân tích tình hình mọi mặt, chỉ huy trưởng chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã cùng Đảng ủy Mặt trận quyết định thay đổi phương châm tác chiến thành "đánh chắc, tiến chắc".

        Thực tế lịch sử đã khẳng định: thay đổi phương châm tác chiến là một quyết định quả đoán và chính xác, thể hiện bản lĩnh và trách nhiệm của người cầm quân. Nhưng vấn đề đặt ra để tìm hiểu và trao đổi thêm là liệu có thể quyết định sớm hơn, hay nhất thiết phải vào thời điểm mà bộ đội đã sẵn sàng nhận lệnh nổ súng? Hai vấn đề cần nghiên cứu phân tích thêm là tình hình địch trên cánh đồng Mường Thanh và công tác chuẩn bị chiến đấu của bộ đội tháng 1 năm 1954.

        Tình hình địch tháng 1 năm 1954 như thế nào, có phải chúng bộc lộ những "sơ hở của một kẻ địch mới lâm thời chiếm lĩnh trận địa" không? Phải chăng công tác nắm địch thiếu chính xác và toàn cục đã dẫn đến đánh giá không đúng tình hình địch lúc đó?

        Từ khi Na-va hạ quyết tâm “chấp nhận giao chiến" (3-12- 1953) đến ngày ta họp hội nghị Thẩm Púa (14-1-1954), địch đã trải qua hơn 40 ngày xây dựng tập đoàn cứ điểm. Nhịp độ vận chuyển phương tiện chiến tranh từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ lúc đó là 50-60 chuyến đa-cô-ta với chừng 150 tấn mỗi ngày. Mức cao nhất là gần 200 tấn/ngày. Đầu tháng 12, khi chúng bắt đầu xây dựng Béatrice (Him Lam) thì lực lượng địch ở Mường Thanh đã lên tới 11 tiểu đoàn. Qua cuốn Trận Điện Biên Phủ của Giuyn Roa và hồi ký của J.Pu-giê - thư ký riêng của Na-va, thì nhịp độ xây dựng các trung tâm đề kháng được triển khai khá nhanh: Béatrice 4-12-1953; Isabelle: 6-12-1953; Claudine Eliane: 7-12-1953; Gabrielle: 1-1-1954; Huguette: 24-1-1954. Như vậy là trừ cứ điểm Huguette (tây sân bay) được xây dựng sau ngày 14-1, còn 7 trung tâm đề kháng khác đều được xây dựng trước hội nghị Thẩm Púa của ta ít nhất là nửa tháng, kể cả cụm cứ điểm đồi Độc Lập (Gabrielle, 1-1-1954).

        Đến ngày 22 tháng 12 năm 1953, khi Na-va ra chỉ lệnh thứ 3 (quyết giữ vững tập đoàn cứ điểm), lực lượng địch ở Điện Biên Phủ đã bao gồm 12 tiểu đoàn bộ binh và dù. Mệnh lệnh tác chiến ngày 16 tháng 1 năm 1954 của Bộ chỉ huy chiến dịch cũng nói "địch có khoảng 13 tiểu đoàn". Trong cuốn Điện Biên Phủ (tái bản năm 1979), đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng viết rằng trước ngày ta tiến công (13-3-1954), lực lượng địch gồm 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo cối... Cụ thể hơn về trang bị kỹ thuật, theo Pu-giê, xe tăng M-24, cối 120 và pháo 105, 155 bắt đầu được đưa lên Điện Biên từ ngày 18 tháng 12 năm 1953 và chừng nửa tháng sau, đại bộ phận đã triển khai xong trên cánh đồng Mường Thanh. Từ tháng 1 năm 1954, quân Pháp chờ đợi cuộc tiến công của đối phương vì tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ "đã chật cứng những tiểu đoàn, mọi việc chuẩn bị đã kết thúc". Trong hồi ký của mình, Pu-giê nhắc lại nội dung bản báo cáo tình hình tháng 1 năm 1954, nói rằng: "ở miền thượng du, các công trình phòng ngự ở Điện Biên Phủ đã hoàn tất và chỉ còn sửa sang những chi tiết vụn vặt mà thôi". Những nhận xét trên đây phù hợp với cách đánh giá của Giuyn Roa (sách Trận Điện Biên Phủ) và Pi-e Rô-côn (sách Tại sao Điện Biên Phủ). Tập ký sự Chiến thắng Điện Biên Phủ (Nxb QĐND, 1970) cũng nhắc lại ý của Na-va đánh giá tình hình cuối tháng 12 năm 1953, nói rằng: "Mọi việc cần thiết phải làm để tổ chức phòng ngự Điện Biên Phủ đều đã xong xuôi một cách hoàn hảo...".

        Tóm lại, toàn bộ tình hình địch từ khi Na-va hạ quyết tâm chấp nhận giao chiến đến giữa tháng 1 năm 1954, cả về xây dựng và củng cố các trung tâm đề kháng (trừ Huguette) và về tăng cường binh lực (quân số và trang bị kỹ thuật), cho phép rút ra kết luận:

        1- Vào ngày ta họp hội nghị Thẩm Púa (14-1), địch không còn ở trạng thái lâm thời chiếm lĩnh trận địa, không phải binh lực của chúng chưa được tăng cường, thế phòng ngự chưa được củng cố. Việc nắm địch thiếu chính xác đã dẫn đến việc chọn phương châm tác chiến có thể dược quyết định sớm hơn chứ không phải đợi đến ngày 26 tháng 1 năm 1954.

        2- Trong khoảng thời gian 12 ngày (từ 14 đến 26-1), binh lực địch và thế bố trí của chúng không có sự thay đổi to lớn đột ngột (trừ việc hình thành cụm Huguette). Nói cách khác tình hình địch mà ta phát hiện ngày 26 tháng 1 (địch tăng cường lực lượng, trận địa phòng ngự, tổ chức trận địa phòng ngự khá vừng chắc...) thực chất và căn bản vẫn là tình hình trước đó 12 ngày mà ta chưa nắm được đầy đủ và chính xác.

-----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1 - 1994)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:21:40 am

        Về phía ta, ngay từ ngày kéo pháo đầu tiên (ngày 16-1, kéo thử một khẩu lựu pháo và một khẩu cao pháo để rút kinh nghiệm), thực tế đã cho thấy cần cân nhắc: Liệu có thể chuẩn bị mở màn chiến dịch đúng thời gian kế hoạch? Liệu có thể thực hành chiến đấu theo phương châm đánh nhanh giải quyết nhanh? Hai ngày tiếp theo, với tốc độ kéo pháo trên nhiều đoạn đường dốc có lúc chỉ đạt 150-200mét/giờ, ta đã có thể kết luận là việc kéo pháo không thể hoàn tất sau ba ngày đêm (16 đến 18-1-1954) như kế hoạch ban đầu. Do không thể nổ súng đúng ngày quy định (20-1), Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lui lại 5 ngày. Vậy mà ngày 24 pháo vẫn chưa vào hết trận địa. Trên hướng Bắc dự kiến đưa vào 12 khẩu nhưng vẫn còn một nửa đang trên đường vào. Dân công chuyển đạn cũng chưa được bao nhiêu. Sau khi một chiến sĩ của Đại đoàn 312 bị địch bắt, thời gian nổ súng được lui lại thêm 24 giờ, tức là vào 17 giờ ngày 26 tháng 1.

        Việc kéo pháo vào trận địa gặp khó khăn đã làm nảy sinh những băn khoăn đối với cán bộ, cả bộ binh và pháo binh. Pháo chiếm lĩnh trận địa chậm, chuẩn bị phần tử bắn vội vã liệu có ảnh hưởng đến mức chính xác? Công sự pháo chưa được củng cố, chưa đủ mức chịu đựng phi pháo địch oanh kích. Trong chuẩn bị chiến đấu (chưa có phản ứng đáng kể của địch), pháo cơ động chiếm lĩnh trận địa đã khó khăn như vậy thì khi thực hành chiến đấu, nếu cần di chuyển trận dịa, pháo sẽ cơ động như thế nào...

        Ngoài những băn khoăn về hợp đồng bộ pháo quy mô lớn (chưa trải qua diễn tập), nhất là chi viện bộ binh chiến đấu tung thâm, còn có không ít vướng mắc xung quanh cách đánh. Bộ đội chưa quen đánh ban ngày, nhất là trên cánh đồng bằng phẳng trong điều kiện địch phát huy uy lực của xe tăng, máy bay và pháo binh. Đại đoàn hướng Tây phải đột phá liên tiếp 3 - 4km để tiếp cận sở chỉ huy địch và khi đã vào tung thâm thì hàng loạt vấn đề phải giải quyết: nắm quản, nắm tình huống, giải quyết thương binh tử sĩ, tiếp tế đạn dược...

        Ngay từ hội nghị Thẩm Púa, những thắc mắc về cách đánh đã xuất hiện ở một số ít cán bộ, những người chưa tin là có thể đánh nhanh giải quyết nhanh. Nhưng trong không khí sôi nổi của hội nghị và tiếp đến là những ngày ráo riết chuẩn bị bước vào chiến dịch, những băn khoăn không có điều kiện bộc lộ công khai. Ngày 23 tháng 1, khi xuống kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu của đơn vị, đồng chí Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái mới được nghe một số cán bộ nói đến những lo lắng về chiến thuật. 30 năm sau, trong hồi ký Điện Biên Phủ - Chiến dịch lịch sử, đồng chí Thái kết luận: "những băn khoăn trong hội nghị Thẩm Púa đã được thực tế chứng minh là có cơ sở”.

        Thế nhưng hồi đó, do không nhạy bén, không sớm phát hiện những thực tế trên đây, cho nên qua ngày 18 rồi ngày 22 (tức là đã trải qua 3 ngày rồi một tuần không đưa được pháo vào trận địa), cơ quan tham mưu chiến dịch đã không tính toán lại để có phương án giải quyết thoả đáng hơn là đề đạt thay đổi vị trí trận địa để rút ngắn chặng đường kéo pháo  (Một nửa số pháo còn lại không vượt đèo vào Bản Nghịu nữa mà tập trung ở cả khu vực Nà Hi, Nà Ten. Và một băn khoăn mới của cán bộ pháo binh lại xuất hiện: Trận địa pháo tập trung cả ở phía Bắc đồi Độc Lập 4km có lợi không?). Thực tế cho thấy, dù đường kéo pháo đã rút ngắn được vài ba ngày nhưng đến ngày 25 tháng 1 pháo vẫn chưa vào hết trận địa.

        Chính vì không nắm chính xác tình hình địch và công tác chuẩn bị chiến đấu của ta để kịp thời đặt vấn đề thay đổi phương châm tác chiến vào khoảng thời gian thích hợp nhất, tức là từ ngày 18 đến 20 tháng 1, cho nên ngày 26 mới quyết định tạm ngừng tiến công vào lúc bộ đội đã sẵn sàng nhận lệnh nổ súng, một việc mà 35 năm sau, đồng chí chỉ huy trưởng chiến dịch gọi là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của mình.

        Với quyết định khó khăn nhưng chính xác và táo bạo đó, cấp chiến dịch sẵn sàng đương đầu với những thử thách mới do việc thay đổi phương châm tác chiến đặt ra: từ việc lui quân và kéo pháo về vị trí tập kết an toàn đến việc làm lại hầu như toàn bộ công tác chuẩn bị chiến đấu (cả về lãnh đạo tư tưởng, động viên quyết tâm và giải quyết những tồn tại về kỹ thuật, chiến thuật), từ việc chuẩn bị kế hoạch tiến công theo phương châm tác chiến mới đến việc lo hậu cần tiếp tế cho mấy vạn quân chiến đấu dài ngày khi những cơn mưa đầu mùa sắp kéo đến.

        Dù thấy trước những khó khăn thử thách mới, nhưng quán triệt lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi lên đường ra mặt trận, đồng chí Chỉ huy trưởng cùng Đảng ủy chiến dịch tạo yếu tố quyết định đầu tiên cho chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:26:20 am

CÓ HAY KHÔNG HẦM NGẦM CỐ THỦ VÀ KHỐI BỘC PHÁ 960kg TRÊN ĐỒI A11

NGUYỄN ĐÔN TỰ         

        Đồi A1 giữ vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ phía đông Mường Thanh và Chỉ huy sở của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Về phía ta, quyết tâm tiêu diệt Cứ điểm A1 của Bộ chỉ huy chiến dịch cũng rất cao: sử dụng Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) và Trung đoàn 102 (đại đoàn 308) là hai trung đoàn thuộc loại mạnh nhất của các đại đoàn chủ lực. Nhưng rồi cả hai trung đoàn trong trận đầu đều không hoàn thành nhiệm vụ mà còn bị thiệt hại nặng. Vì sao? Đó là câu hỏi day dứt. Nào là do hào tiến công của Trung đoàn 174 đào không tới hàng rào dây thép gai nên khi vượt qua bãi trống, bộ đội bị thương vong nhiều; nào là do trục trặc về thông tin nên tấn công chậm 30 phút so với giờ tổng công kích, để cho địch kịp tập trung pháo binh đối phó. Cuối cùng, một lý do nữa được chấp nhận là do địch có một hầm ngầm kiên cố, nếu không phá được thì không thể giành thắng lợi. Bởi vậy mà cấp đại đoàn và tham mưu chiến dịch phải nghiên cứu cách đánh hầm ngầm trong đợt tấn công tới.

        Khi Trung đoàn 102 rút khỏi A1 ngày 2 tháng 4 năm 1954 thì Tiểu đoàn 255 có nhiệm vụ thay thế và có trách nhiệm tổ chức phòng ngự trên 1/3 quả đồi mà quân ta đã chiếm được. Trên một bãi chiến trường tan hoang, pháo hai bên đã san bằng các giao thông hào, bộ đội phải đào một hệ thống trận địa mới. Địch ở địa thế cao hơn, giữa ta và địch chỉ cách nhau có 20-30 mét, không có dây thép gai ngăn cách. Đến giữa tháng 4, có lệnh của trên là sẽ đào một đường hầm để tiếp cận và đặt một khối bộc phá 1.000kg bên dưới hầm ngầm của địch để phá tung căn hầm này. Tiểu đoàn 255 có nhiệm vụ bảo vệ không cho địch tấn công sang phá cửa hầm, cho đến khi quả bộc phá nổ. Một đại đội công binh được giao nhiệm vụ đào đường hầm này.

        Vấn đề quan trọng bậc nhất là xác định vị trí hầm ngầm, từ đó xác định cửa đường hầm, hướng và cự ly đào. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An, Tham mưu trưởng Đức Y và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 255 Nguyễn Đôn Tự đã trực tiếp quan sát, bàn bạc rất cụ thể các phương án trước khi đi đến quyết định. Đề phòng hoả lực bắn thẳng của địch, chiều dài đường hầm được xác định tối thiểu là 50 mét. Còn hướng bắn thì cứ nhằm vào phía đỉnh đồi vì quan sát không thấy rõ đâu là hầm ngầm.

        Từ ngày 20 tháng 4 năm 1954, công binh bắt đầu đào. Để che mắt địch, phải làm sao giữ được bí mật cửa hầm, gây tiếng động tối thiểu khi đào; đất phải cho vào bao tải đưa ra phía sau đồi để đổ. Phải có hoạt động nghi binh ở phía Bắc (cửa hầm ở Đông Nam) để địch khó phán đoán. Cán bộ công binh, phái viên của cấp trên và Trung đoàn trưởng trực tiếp thường xuyên kiểm tra hướng đào.

        Đến ngày 5 tháng 5 năm 1954, công binh đào xong 50 mét đường hầm và hoàn tất buồng trong cùng để chứa được 1.000kg thuốc nổ (50 gói x 20kg). Phải dùng cả hai cách gây nổ: bằng điện và bằng giây cháy chậm. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lấy tiếng nổ của quả bộc phá làm hiệu lệnh tấn công toàn mặt trận (21 giờ ngày 6-5-1954). Từ trên xuống dưới ai cũng nghĩ sẽ có một tiếng nổ long trời, nhưng thực tế chỉ có một tiếng "ục" to như quả bom thường, rồi đất đá tung lên trời và rơi xuống lả tả (lúc đó tôi ở ngay chân đồi).

        Sau tiếng nổ, quân báo của ta nghe và ghi lại mạng thông tin thoại của địch như sau:

        21 giờ 00: A1 báo cáo bị một tiếng nổ gầm mạnh, không rõ là gì, mọi người đều bị uể oải, rã rời (s'énervent). Phát hiện Việt Minh từ chân đồi lên nhiều. Chiến hào đông A1 bị pháo kích mạnh.

        21 giờ 07: A1 báo cáo tất cả đều như quay cuồng. Xin pháo sáng. Xin bắn vào Pomloi. Phát hiện Việt Minh có súng phun lửa.

        21 giờ 17: A1 báo cáo một trung đội phía Đông bị tiếng nổ mạnh thương vong nhiều.

        21 giờ 25: Việt Minh đang xung phong mạnh. Chiến hào Đông bị đảo lộn. 2e BPC báo cáo tình hình nguy ngập. Xin pháo bắn lập tức.

        21 giờ 40: Lệnh một đại đội lê dương lên phản kích ngay. Sẽ đánh lên đỉnh đồi...

        Trong hồi ký của Trung tá Pu-giê, người chỉ huy cứ điểm A1, viết về quả bộc phá như sau: "Lúc 21 giờ đêm mìn nổ. Trước tiên một sự rung rinh chạy suốt mỏm đồi, đất đá rung chuyển và một tiếng nổ át cả các tiếng động khác. Tiếng gầm kéo dài vài giây trong lòng đất với âm lượng trầm. Đỉnh đồi bị vẹt, vị trí của Đại đội 2 mất tăm. Quân Việt Nam lọt vào cửa mở, chúng chiếm miệng phễu trên đỉnh bên trên chúng tôi. Một lúc sau tôi mới hiểu rõ tình thế”.

        Tên sĩ quan Pháp bị bắt làm tù binh trên đồi A1 đã khai với Tham mưu trưởng Trung đoàn Đức Y: "Dãy cao điểm phía Đông bị mất thì sở chỉ huy không giữ được. Ở sở chỉ huy đang có cuộc họp bàn việc rút chạy hoặc đầu hàng".

        Như vậy, có thể thấy:

        1. Quả bộc phá 1.000KG (thực ra chỉ có 960 kg) đã tiêu diệt được đại đội 2 bố trí ở hệ thống công sự giáp ta, trong đó có một hầm dã chiến kiên cố có sức chứa cỡ trung đội - hiện vẫn còn dấu vết: rộng 4 mét, dài 6 mét, liền mép nổ của quả bộc phá về phía quân ta, nắp đã bị bay - và một số ụ súng hai bên hầm này. Chính tuyến này đã ngăn chặn có hiệu quả cuộc tấn công của Trung đoàn 174 và Trung đoàn 102, bằng súng bắn thẳng sát mặt đất và bằng hoả lực mạnh phản kích có xe tăng yểm trợ. Quả bộc phá đã giải quyết được của mở để hai tiểu đoàn của Trung đoàn 174 tấn công vào trung tâm, chiến đấu khá ác liệt, đến 4 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954 thì hoàn toàn làm chủ đồi A1.

        2. Không có hầm ngầm cố thủ trên đồi A1. Trên đỉnh đồi A1 hiện nay có một hầm nổi có nắp, chỉ có một lối vào, không có lỗ châu mai, không có chiến hào để xuất kích, thực chất đó là hầm để rượu của toà nhà Châu Ún trước đấy, nhà đã bị phá từ lâu, còn lại cái hầm được sửa lại để làm kho, để quân nghỉ ngơi... không phải là hầm chiến đấu, tất nhiên không phải hầm để cố thủ. Đồng chí Thiếu tướng Cao Pha, lúc đó là Trưởng phòng Quân báo của chiến dịch, sau khi toàn thắng, có đến ngay Đồi A1 để kiểm tra hầm ngầm, đã kết luận ngay là không có hầm ngầm mà chỉ là hầm rượu của nền nhà cũ.

        Theo tôi, có thể đánh giá hiệu quả của quả bộc phá như sau (dựa vào sự đánh giá của địch và thực tế chiến đấu của ta): "Quả bộc phá 960 kg đã làm nổ tung tuyến phòng thủ phía trước của địch, một đại đội địch tan xác, nhiều tên khác bị choáng váng, sau nhiều phút mới có thể chiến đấu lại được".

        Đồng thời xác định là không có hầm ngầm, do đó đề nghị bỏ tấm biển "Hầm ngầm cố thủ” trước cửa hầm trên đỉnh Đồi A1 và sửa lại tấm biển sơ đồ Đồi A1 đặt ở chân đồi theo tinh thần trên. Nếu cần có thể triệu tập và tham khảo ý kiến của các đơn vị và cá nhân liên quan đến sự kiện trên để có kết luận thống nhất.

--------------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 3-2000)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:36:46 am

XUNG QUANH TRẬN CHIẾN ĐẤU 38 NGÀY ĐÊM TRÊN ĐỒI A1 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ1

NGUYỄN VĂN KHIẾU         

        Năm 1992, trong quá trình đi sưu tầm tư liệu để biên soạn cuốn lịch sử của Trung đoàn 174 trong kháng chiến chống Pháp, tôi được anh Nguyễn Hữu An, lúc đó là Giám đốc Học viện quân sự cấp cao - nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, sau đó là Trung đoàn trưởng 174 (từ giữa chiến dịch Tây Bắc đến Điện Biên Phủ) cung cấp nhiều tư liệu, trao đổi về nguyên nhân thành công, thất bại của Trung đoàn 174 trong một số trận đánh quan trọng, trong số đó có trận chiến đấu trên đồi A1.

        Vào trận đánh mà Trung đoàn trưởng vẫn chưa nắm được đồi A1 có hầm cố thủ hay không và cũng chưa đánh giá hết tầm quan trọng của A1 trên dãy cao điểm phía Đông Điện Biên.

        + Đồi A1 là một cứ điểm của địch nằm trên dãy cao điểm phía Đông lòng chảo Điện Biên. Khác với vị trí C1, C2, D, E nằm cùng trên dãy cao điểm phía Đông và các vị trí Hin Lam, Độc Lập, công sự A1 dựa vào đồn cũ của Pháp xây dựng từ trước 1940. Năm 1945, Nhật chiếm Điện Biên, đã tu sửa thêm. Ngày 20 tháng 11 năm 1953, Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, cải tạo củng cố tiếp, xây dựng A1 thành một cứ điểm vững chắc.

        Khác với các vị trí ở khu Đông, từ đồi D trở lên phía Bắc (E, Him Lam, Độc Lập) chỉ được sự yểm hộ của trận địa pháo, cối Mường Thanh, cứ điểm A1 (cả C1, C2) đều được sự chi viện hoả lực của hai trận địa pháo Mường Thanh và Hồng Cúm, và của các trận địa cối ở khu Trung tâm, các hoả khí bắn thẳng của vị trí A3, C2, đại liên, xe tăng bên bờ tây sông Nậm Rộm. Điều quan trọng là khi bị tấn công, A1 sẽ được các lực lượng cơ động của khu Trung tâm đến ứng cứu nhanh chóng.

        + Ta chỉ phát hiện chính xác địch có hầm cố thủ là sau trận đánh lần thứ nhất của Trung đoàn 174 (đêm 30-3) và được kiểm nghiệm lại sau trận đánh lần thứ 2 (đêm 1-4) của Trung đoàn 102. Qua khai thác tù binh, ta biết rõ: địch đã sửa tầng chìm của căn nhà ăn cũ (nơi chứa rượu vang và đồ đạc), đào sâu xuống và xây lại, củng cố cải tạo lỗ châu mai, đắp thêm ụ súng, đào thêm chiến hào và giao thông hào xung quanh. Bên trong xây thành các khu ngăn cách, có hầm chỉ huy thông tin, nơi cố thủ chứa được khoảng một trung đội.

        + Đối với địch, A1 có tầm quan trọng bậc nhất trong các vị trí ở dãy cao điểm phía Đông, nó chỉ cách trung tâm chỉ huy của Đờ Cát khoảng 500 mét theo đường chim bay. Nếu ta chiếm được A1, rồi đến C2, C1, đặt trận địa sơn pháo 75, đại liên, ĐKZ, có thể uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy của Đờ Cát, diệt xe tăng và trận địa đại liên, bảo vệ cho quân ta vượt cầu Mường Thanh, đánh chiếm hầm chỉ huy của Đờ Cát một cách dễ dàng.

        Địch lấy dãy cao điểm phía Đông làm tấm lá chắn bảo vệ lòng chảo Điện Biên, lấy cứ điểm A3, A1, C2, C1 làm bức tường chắn cho chỉ huy sở của tướng Đờ Cát. Để mất A1 và C1 thì coi như số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được định đoạt.

        Chính vì thế hai lần ta đánh A1, địch đều phản kích quyết liệt. Từ đêm 1 tháng 4 đến ngày 4 tháng 4, ta và địch mỗi bên giữ được nửa đồi A1. Ngày 9 tháng 4, Đờ Cát mở cuộc phản kích quyết liệt để chiếm lại đồi C1 (đã bị Trung đoàn 98 chiếm sáng 2-4), đánh bật quân ta, nhằm cải thiện thế đứng cho điểm cao A1, C1.

        Hai lần tiến công A1 không dứt điểm (lần thứ nhất đêm 30-3 của Trung đoàn 174, Đại đoàn 316, lần thứ hai đêm 1 tháng 4 của Trung đoàn 102, Đại đoàn 308) đều có khuyết điểm cơ bản giống nhau:

        + Cách đánh tuy có điểm mũi (phía Đông) và diện (mũi phía Đông Nam) nhưng khi tác chiến, hai mũi lại xích lại gần nhau, hình thành cách đánh vỗ mặt. Trong khi đó lại thiếu một mũi vu hồi ở phía Tây Nam (phía sau lưng). Chính vì vậy mà không chặn được quân viện của địch từ A3, Mường Thanh lên tiếp viện.

        Trong thực hành chiến đấu của Trung đoàn 174: tại hướng chủ yếu, việc tập trung pháo bắn thẳng diệt các hoả điểm của địch chưa phục vụ đắc lực cho bộ binh ta xung phong, việc mất liên lạc với Đại đoàn đã làm chậm giờ nổ súng của đơn vị.

        + Quá trình điều tra nắm địch, ta không phát hiện được địch có hầm cố thủ nên không có kế hoạch đánh chiếm. Địch dựa vào đây ngăn chặn, kết hợp với quân tăng viện và pháo binh ở Hồng Cúm sát thương quân ta ngay trên tuyến xuất phát xung phong và khu vực triển khai tiến công.

        + Về đánh giá vị trí A1, ngay ở cấp chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch cũng chưa thấy hết tầm quan trọng, vị trí then chốt của nó đối với toàn cục. Sau này, khi tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng chiến dịch, có viết: "Về mặt chỉ huy chiến dịch có thiếu sót là chậm xác định những trận then chốt và trận then chốt quyết định".

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng chiến dịch, trong một lần nói chuyện về chiến dịch Điện Biên, có nói: Trận A1 là chìa khoá vàng trong chiên dịch Điện Biên Phủ.

        Sau hai lần đánh không thành công, Bộ chỉ huy Đại đoàn 316 mới nhận thức được A1 là vị trí có tầm quan trọng bậc nhất ở dãy cao điểm phía Đông. Nếu phân tích một cách cặn kẽ, tỷ mỹ thì việc đánh giá không đúng tầm quan trọng của vị trí A1, trách nhiệm phần lớn thuộc về Đại đoàn 316, bằng chứng là:

        - Trong lúc chuẩn bị tiến công theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", Đại đoàn đã giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 98 đánh A1, Trung đoàn 174 đánh C1, C2. Sau khi rút ra thực hiện phương châm: "đánh chắc, tiến chắc", Đại đoàn mới đổi lại: giao nhiệm vụ đánh A1 cho Trung đoàn 174, sau khi có đề nghị của đồng chí Vũ Lăng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98. Có lẽ lúc đầu do đánh giá cứ điểm C1 quan trọng hơn cứ điểm A1 nên Đại đoàn mới giao cho Trung đoàn 174, một đơn vị có truyền thống đánh công kiên, đảm nhiệm mục tiêu này, mà để Trung đoàn 98, chưa kịp củng cố sau khi bị thương vong ở Nam phần Bắc Ninh, đánh A1.

        - Sau khi đã phân công lại nhiệm vụ (giao cho Trung đoàn 174 đánh A1) việc chỉ đạo giữa đánh A1 và C1 vẫn dàn đều thiếu tập trung (tăng cường đại đội sơn pháo và hoả lực trợ chiến như nhau, hoả lực pháo binh 105 ly chi viện mỗi nơi 1 đại đội).

---------------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 3-2002)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 02:37:07 am

        Trong trận tiến công A1 lần thứ nhất của Trung đoàn 174, khi phê duyệt kế hoạch tác chiến, Đại đoàn đã không phát hiện thấy thiếu mũi vu hồi, đã không đề nghị với trên tăng cường cho Trung đoàn hoả lực bắn thẳng (sơn pháo 75 ly, ĐKZ), đã không tập trung hoả lực pháo binh ở Pú Hồng Mèo kiềm chế pháo binh địch ở Hồng Cúm, tổ chức thông tin liên lạc trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng chưa phù hợp với trận đánh lớn thiếu dây, không mắc được xuống chỉ huy sở của Trung đoàn, lại không cho dùng Moóc làm tín hiệu nhận lệnh nên làm chậm giờ nổ súng của Trung đoàn).

        Để chuẩn bị cho trận đánh dứt điểm, tiêu diệt A1 (đêm 6-5), Đại đoàn đã khắc phục được khuyết điểm cũ và đã chỉ đạo Trung đoàn 174:

        - Đào một đường hầm hình chữ T chứa 986 kg thuốc nổ (Trong số 8238 báo Quân đội nhân dân ra ngày 10-5-1984, đồng chí Đại tá Nguyên Phú Xuyên Khung - nguyên là cán bộ chỉ huy tổ công binh thân gia đào hầm đánh bộc phá hầm cố thủ ở đồi A1 cho biết số thuốc nổ có 986 kg, chia thành 56 gói, với hơn 400 kíp nổ các loại. Trong khi đó, Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 255, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 viết bài đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3 năm 2000 ghi khối bộc phá nặng 960 kg) để đánh hầm.

        - Đào một con hào ở phía tây nam A1 lượn theo đồi Cháy và đồi E, thọc ra đường 41, quặt về phía A1, hình thành một mũi vu hồi phía Tây Nam, thực hiện cắt đường tiếp viện từ Mường Thanh qua A3 lên cứu A1, bịt hẳn đường rút của A1. Nhờ vậy, đợt tấn công lần 3 của Trung đoàn 174 vào A1 tuy vẫn ác liệt nhưng đã thuận lợi hơn nhiều (chiến đấu từ 20 giờ 30 ngày 6 tháng 5 đến 4 giờ 30 ngày 7 tháng 5, Trung đoàn 174 đã làm chủ vị trí A1).

        + Cuộc chiến đấu trên đồi A1 (bao gồm 3 đợt tấn công và 1 đợt 31 ngày phòng ngự), là trận đánh dài ngày nhất trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Tổng cộng trận chiến đấu trên đồi A1 kéo dài 38 ngày đêm (Cuộc chiến đấu trên Đồi C1 , C2 cũng có tiến công và phòng ngự, kéo dài 31 ngày đêm).

        Để thực hành trận đánh đồi A1, quân ta đã phải đào 27km chiến hào và giao thông hào, phải đào sâu vào lòng đồi A1 suốt 16 ngày đêm khoét được một giao thông hào hình chữ T đặt 56 gói bộc phá và hơn 400 kíp nổ (cứ hơn 2kg thuốc nổ có 1 kíp), phải đào 200 mét giao thông hào cách địch 200 mét, nằm dưới làn hoả lực của địch. Đường hào này lượn dưới chân đồi Cháy, lợi dụng khe suối cạn ra Đường 41, quặt về phía Tây Nam Ai để thực hiện mũi vu hồi.

        - 38 ngày đêm chiến đấu, ta đã phải đánh 12 trận phản kích quyết liệt. Đây cũng là trận đánh mà tỷ lệ thương vong giữa ta và địch xấp xỉ 1/1 (chỉ có khác ta bị thương nhiều, còn địch chết nhiều). Số cán bộ chỉ huy trận đánh bị phê bình và kỷ luật nhiều (Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn 174 bị phê bình, Trung đoàn phó 174 bị cách chức xuống làm Trợ lý tác chiến Đại đoàn, một tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 102 bị truy tố ra toà án binh).

        Nói thêm về chiếc xe tăng trên đồi A1

        Trung đoàn 102 tấn công A1 lần 2 đêm 1 tháng 4 năm 1954 (lúc 22 giờ 30). Trung đoàn 102 có 4 đại đội đánh theo cửa mở hướng Đông (mũi của Tiểu đoàn 249 Trung đoàn 174 đánh lần 1). 2 đại đội của Tiểu đoàn 251 Trung đoàn 174 đánh theo cửa mở hưởng Đông Nam.

        5 giờ ngày 2 tháng 4, địch chia làm 2 cánh phản kích. Ở cánh phải, chúng bị các đơn vị của Trung đoàn 102 chặn đứng lại. Ở cánh trái (Đông Nam), địch cho xe tăng mở đường đánh xuống trận địa Đại đội 674, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174. Bộ đội ta anh dũng bám chắc trận địa, dùng tiểu liên chia cắt bộ binh địch, yểm trợ cho hai đồng chí dùng Bazôca bắn cháy tại chỗ chiếc xe tăng đi đầu. Mất chỗ dựa, bộ binh địch hoảng hốt tháo chạy.

        Chính xác là, trong trận đánh của Trung đoàn 102, Đại đội 674, Tiểu đoàn 251 của Trung đoàn 174 đến phối thuộc, đã diệt tại chỗ chiếc xe tăng trên đồi A1 hiện nay.

        Sau 41 năm, Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn đã được minh oan.

        Thực ra, nếu lúc đó chỉ huy Trung đoàn 174 không chủ động, cứ máy móc ngồi chờ Đại đoàn ra lệnh, ngồi lại ở chỉ huy sở cơ bản mà không lên chỉ huy sở tiền phương ra lệnh tấn công A1 thì trận đánh chưa biết sẽ ra sao?

        Một sự thật khách quan là khi địch bắn đứt dây thông tin liên lạc nên Trung đoàn 174 không nhận được lệnh của Đại đoàn. Có ý kiến của Ban tác chiến đề nghị đồng chí Vũ Lập - Tham mưu trưởng, cho phép Trung đoàn sử dụng điện thanh nhận lệnh bằng tín hiệu "Moóc" nhưng không được, vì sợ vi phạm quy định của Mặt trận: "Không được sử dụng điện đài trước giờ nổ súng".

        Tóm lại, trận đánh đồi A1 kéo dài, bị thương vong nhiều có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân nổ súng chậm là do đường dây thông tin liên lạc từ Đại đoàn xuống bị đứt, không nối lại kịp, khuyết điểm đó thuộc về Đại đoàn.

        Về nguyên nhân đánh đồi A1 không thành công cũng như đánh giá khuyết điểm của cán bộ chỉ huy Trung đoàn 174, sau này, ngày 12 tháng 6 năm 1995, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác nhận: "Trận tiến công cứ điểm A1, mở đầu đợt 2 chiến dịch Điện Biên, đã không thành công vì nhiều nguyên nhân. Trong các nguyên nhân đó, việc Trung đoàn 174 nổ súng chậm, do không nhận được lệnh của Đại đoàn 316, dẫn đến hậu quả không hoàn thành nhiệm vụ. Việc không chuyển đạt lệnh kịp thời thuộc về trách nhiệm của Đại đoàn, không phải là khuyết điểm của Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An và Chính ủy Trần Huy" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét sau khi trao đổi ý kiến với đồng chí Trần Huy và đồng chí Nguyễn Đôn Tự, có đồng chí Chu Huy Mân tham dự tại cuộc họp ngày 12-6-1995).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:05:44 am
       
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TRUNG ĐOÀN 209 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 19541

TRẦN VĂN THỨC - NGUYỄN MẠNH HÀ        

        L.T. S: Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã diễn ra cách đây 50 năm. Từ đó đến nay, đã có hàng trăm, hàng nghìn công trình, bài viết, hồi ức của các nhà khoa học, các chính khách, tướng lĩnh, các cựu chiến binh trong và ngoài nước viết về các nội dung trực tiếp và gián tiếp liên quan đến sự kiện vĩ đại này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề về chiến dịch, người và đơn vị tham gia... còn có những ý kiến trái ngược nhau, thậm chí gay gắt, cần được làm rõ. Một trong số đó là các sự kiện liên quan đến hoạt động tác chiến và vai trò của một số cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 trong những ngày cuối của chiến dịch. Để góp phần làm rõ những vấn đề nêu trên, Tạp chí LSQS công bố một số kết quả nghiên cứu của nhóm cán bộ Viện LSQS Việt Nam được cử, tìm hiểu về vấn đề này để bạn đọc tham khảo với mong muốn "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ”.

        Về sự tham gia của các đơn vị thuộc Trung đoàn 209 trong các trận cuối chiến dịch Điện Biên Phủ

        Về sự tham gia của các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 trong các trận đánh chiếm cứ điểm 507 (Élian 10), 508 (Élian 11), 509 (Élian 12) và một số chi tiết của các trận đánh đó hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau.

        Về vấn đề này, cuốn sách "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997)", Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, do tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy Chỉ huy Trung đoàn 209, viết: "14 giờ ngày 7-5-1954, sau khi tổ chức lại lực lượng, tiểu đoàn 130 tiếp tục tiến công điểm cao 507. Trong 30 phút đầu ta tập trung hoả lực bắn phá mãnh liệt các công sự, lô cốt địch, tạo điều kiện cho bộ binh áp sát mục tiêu. Pháo hoả vừa dứt, Tiểu đoàn 130 liên tục tổ chức hai đợt xung phong vào nam cao điểm, địch bị rối loạn hoàn toàn, bị chia cắt từng mảng, nhiều tên bị tiêu diệt, một số sống sót xin hàng. Phát hiện thấy cờ trắng xuất hiện ở cao điểm 508, 509, Ban chỉ huy Trung đoàn hội ý, thống nhất đề nghị Đại đoàn cho toàn Trung đoàn xuất kích. Thừa thắng, hai Tiểu đoàn 130 và 154 đánh tràn sang chiếm luôn cao điểm 508 và 509" (các chữ trích, in nghiêng là do chúng tôi muốn nhấn mạnh) (tr. 136).

        Cuốn "Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312”, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, do tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Đảng ủy, Chỉ huy Sư đoàn 312, viết: “Đến 12 giờ ngày 7-5-1954, sau khi tổ chức lại lực lượng, Đại đoàn trưởng ra lệnh cho trung đoàn (Trung đoàn 209) tiếp tục tấn công cứ điểm 507. Sau hai lần đột phá, Tiểu đoàn 130 chiếm được cử điểm 507. Thừa thắng, các đơn vị của Trung đoàn 209 đánh tràn sang chiếm luôn điểm cao 508 và 509" (tr. 172).

        Cuốn “Lịch sử QĐND VN", tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, tái bản 1994, của Ban nghiên cứu

        Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trì và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, do tập thể tác giả biên soạn viết: "14 giờ ngày 7-5-1954, Tiểu đoàn 130 (Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) tấn công vị trí 507 ở gần cầu Mường Thanh" (tr. 582).

        Như vậy, theo các cuốn lịch sử nói trên thì Tiểu đoàn 130 là đơn vị đánh chiếm cứ điểm 507, sau đó cùng Tiểu đoàn 154 đánh chiếm 508, 509. Tuy nhiên, một số đồng chí nguyên là cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 lại cho rằng, viết như vậy là chưa hoàn toàn đúng sự thật lịch sử. Xung quanh vấn đề này, từ trước tới nay, đã có nhiều bài của các cựu chiến binh công bố trên báo, tạp chí.

---------------
        1.  (Tạp chí LSQS các số 9, 10, 11-2004 và số 1-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:06:29 am

        Trung tá Ngô Trọng Bảo - nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154, trong đơn thư gửi các cơ quan và cá nhân có liên quan cũng như trong các buổi trao đổi với chúng tôi, luôn khẳng định việc đánh chiếm cứ điểm 507, 508, 509 là do Tiểu đoàn 154, gồm một đại đội tăng cường, có sự tham gia của Đại đội 360, Tiểu đoàn 130. Đồng chí cho rằng các sách lịch sử nói trên viết Tiểu đoàn 130 đánh chiếm cứ điểm 507 và là lực lượng chủ công trong các trận đánh chiều hôm đó của Trung đoàn 209 là sai. Năm 1997, đồng chí Ngô Trọng Bảo viết bài "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”, đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, có những nội dung liên quan đến các đơn vị thuộc Trung đoàn 209. Dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm chiến thắng hếch sử Điện Biên Phủ, đồng chí Ngô Trọng Bảo đã cung cấp tư liệu cho Dương Thục Anh viết bài "ông già sửa xe đạp cô đơn và những bí mật của trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ”, đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 31, tháng 2 năm 2004 và kể cho Thao Lan viết bài "Ai là người ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh bắt tướng Đờ Cát”, đăng trên báo Tin tức, số 1549, 1550, 1551, tháng 4 năm 2004. Các bài nêu trên đều viết việc đánh chiếm 507, 508, 509 theo nhận thức của đồng chí Bảo.

        Đồng tình với ý kiến của nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 còn có một số cựu chiến binh khác. Trung tá Sơn Hà - nguyên Chủ nhiệm trinh sát Đại đoàn 312, trong đơn kiến nghị gửi Viện LSQS Việt Nam, ngày 31 tháng 3 năm 2004, viết: "Tới nay đã có đầy đủ căn cứ, chứng lý để khẳng định trận đánh cuối cùng của Đại đoàn 312 lập công chói lọi, kết thúc vẻ vang chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn do một đơn vị nhỏ của Tiểu đoàn 154 thực hiện, chỉ trong buổi chiều ngày 7 tháng 5 đã đập tan phòng tuyến án ngữ của địch còn lại phía Đông sông Nậm Rốm, sau đó nhờ được Trung đoàn kịp thời tăng viện 40 chiến binh (Đại đội của Tạ Quốc Luật) đã linh hoạt nắm thời cơ quân địch bắt đầu tan rã, lệnh cho Đại đội 360 vượt cầu Mường Thanh lập được thành tích vang dội bắt sống tướng giặc".

        Trung tá Đỗ Xuân Trường (từ trần 1-1999), nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 130, cũng viết: "Thành tích chớp thời cơ đột phá từ 507 đến 509 để tạo điều kiện cho Đại đội 360, Tiểu đoàn 130 lập công lớn là xương máu của bao anh em đồng đội thuộc Tiểu đoàn 154, cộng với công lao, trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn này...".

        Đại tá Lê Chí Duyên (từ trần 1-2000), nguyên Trung đội phó Trung đội 1, Đại đội 520, Tiểu đoàn 154, cũng cho biết Đại đội 520 tham gia đánh 507 và 508 trong buổi chiều ngày 7 tháng 5...

        Sau khi có các bài viết theo lời kể của đồng chí Ngô Trọng Bảo đăng trên một số báo trước đây và thời gian vừa qua, liên quan đến các sự kiện nêu trên, các cán bộ của Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 209 đã có phản ứng, đến Toà soạn báo An ninh thế giới cuối tháng và tác giả bài viết, sau đó có đơn thư kiến nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng liên quan, trong đó có Viện LSQS Việt Nam, đề nghị nghiên cứu, xem xét làm rõ sự thật lịch sử.

        Ngày 30 tháng 5 năm 2004, 15 đồng chí, trong đó đa phần nguyên là cán bộ chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn của Trung đoàn 209 tổ chức cuộc họp, do đồng chí Trần Quân Lập - nguyên Chính ủy Trung đoàn, chủ trì, nhằm xác định những đơn vị tham gia các trận đánh chiếm cứ điểm 507, 508, 509 và một số vấn đề khác. Hầu hết các đồng chí có mặt trong buổi họp hôm đó đều cho rằng khi viết về các trận đánh cuối cùng của Trung đoàn 209 trong chiến dịch Điện Biên Phủ không nên và không thể chia cắt từng đoạn, đơn vị này đánh, đơn vị kia đánh, cũng như tách bạch sự chỉ huy của từng đồng chí cán bộ vì như thế sẽ làm mất hết ý nghĩa của trận đánh và khó có thể đánh giá đúng công tích của từng người. Sự thực là trận đánh diễn ra nhiều đợt, có nhiều đơn vị của Trung đoàn 209 tham gia, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn. Về sự tham gia của các tiểu đoàn, bản kết luận cuộc họp nêu rõ: Tiểu đoàn 130 lập được thành tích lớn. Đêm 6 tháng 5, đánh cứ điểm 507 không dứt điểm, đã nghiêm khắc kiểm điểm, chấn chỉnh lại lực lượng, là mũi chủ yếu tiếp tục tiến công ban ngày, cùng các đơn vị khác giải quyết 507. Sau đó, cùng đội hình Trung đoàn đánh chiếm 508, 509. Đại đội 360 lập thành tích xuất sắc, tiến vào trung tâm Mường Thanh, bắt tướng Đờ Cát và toàn bộ Ban Tham mưu của chúng. Tiểu đoàn 154, qua 37 ngày đêm phòng ngự đồi D, anh dũng giữ vững trận địa, làm bàn đạp cho cuộc tiến công vào khu trung tâm, đánh chiếm cứ điểm 505A và Đại đội 520, Tiểu đoàn 154 phối hợp đánh 507, 508, 509, tạo thuận lợi cho Đại đội 360 vượt sông Nậm Rốm đánh vào khu trung tâm. Đại đội hoả lực 290 của Tiểu đoàn 166 chỉ viện đắc lực đánh chiếm 507.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:06:49 am

        Căn cứ theo các cuốn "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209", 'Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312", "Lịch sử QĐNDVN”, tập 1 và qua nghiên cứu, kiểm chứng ý kiến của các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, chúng tôi thấy:

        1- Việc đánh chiếm các cứ điểm 507, 508, 509 trong chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954 có sự tham gia của Tiểu đoàn 130, Tiểu đoàn 154, cùng sự chi viện của Đại đội hoả lực 290, Tiểu đoàn 166 (đánh chiếm 507).

        2- Những trận đánh này do Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn 209 trực tiếp chỉ huy. Tại Sở chỉ huy cơ bản của Trung đoàn đóng tại khu vực đồi E, Ban chỉ huy Trung đoàn gồm các đồng chí Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm, Chính ủy Trần Quân Lập. Trung đoàn phó Thăng Bình và Phó Chính ủy Kim Mỹ trực tiếp chỉ huy đơn vị tại mặt trận tiền duyên. Cán bộ cấp tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy đơn vị mình ở mặt trận tiền duyên có Chính trị viên Tiểu đoàn 130 Trần Quải, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 Ngô Trọng Bảo và một số đồng chí cán bộ cấp đại đội, trung đội, tiểu đội. Nhiều nội dung sự kiện, chi tiết trong các bài viết của Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154, cũng như khi đồng chí cung cấp cho người khác, làm cho người đọc hiểu không đúng về vai trò chỉ đạo, chỉ huy của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn, của các đồng chí cán bộ cấp tiểu đoàn, cán bộ chỉ huy các đại đội, tiểu đội. Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 có vai trò, đóng góp nhất định trong việc chỉ huy đơn vị thuộc quyền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Việc đồng chí không đề cập trực tiếp, cụ thể đến sự lãnh đạo, chỉ huy của Trung đoàn trong thời điểm quyết định đó, đã làm cho người đọc hiểu rằng dường như chỉ có một mình đồng chí xử lý các tình huống, gây nên sự hiểu lầm, hiểu sai thực chất vấn đề.

        3- Ý kiến của các đồng chí Ngô Trọng Bảo, Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường, Lê Chí Duyên đã góp thêm căn cứ để xác định Tiểu đoàn 154 có tham gia đánh chiếm 507. Nhưng nhiều chi tiết khác về trận đánh đó mà các đồng chí này viết chưa được kiểm định, thiếu những căn cứ khoa học, không đúng với thực tế lịch sử.

        Cụ thể:

        - Về thời gian mở đầu các trận đánh chiều 7 tháng 5 của Tiểu đoàn 154, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 đưa ra chính xác là sớm 22 phút trước giờ G (14 giờ). Sự thực có đúng như thế không? Nhiều người biết rằng thời gian mở đầu các trận đánh chiều 7 tháng 5 diễn ra sớm hơn dự kiến do quân Pháp có dấu hiệu tan rã, hạ vũ khí đầu hàng. Theo nhiều tài liệu và qua ý kiến của nhiều đồng chí từng tham gia chiến đấu trong buổi chiều hôm đó thì thời gian bắt đầu Tổng công kích trong khoảng 14 đến 15 giờ. Điều này cho thấy việc xác định giờ Tổng công kích chỉ là tương đối. Trận đánh của Trung đoàn 209 vào vị trí 507 diễn ra trong bối cảnh đó nên cũng chỉ có thể nói khoảng chừng, khó có thể nói chính xác tới tận từng phút.

        - Về lực lượng của Đại đội 360, trong bài "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cử điểm Điện Biên Phủ”, đồng chí Ngô Trọng Bảo viết có khoảng "hai trung đội đủ”, nhưng năm 2001, khì cung cấp tư liệu cho cán bộ Phòng Thông tin Tư liệu Viện LSQS Việt Nam, cũng như những lần tiếp xúc với chúng tôi gần đây, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 lại nói chỉ có 40 người. Hỏi tại sao lại có sự không thống nhất như vậy, đồng chí Bảo nói rằng không thể biết chính xác được, 80 hay 40 là do anh em cung cấp và theo suy đoán của cá nhân. Xác định lực lượng của Đại đội 360 như vậy là thiếu nhất quán và khó tin. Theo bản tường trình viết tay của đồng chí Tạ Quốc Luật (viết năm 1984) thì lực lượng của Đại đội 360 có lúc đó khoảng trên 80 người.

        Về vị trí các cứ điểm, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 đã viết và cung cấp tư liệu, vẽ bản đồ minh hoạ các trận đánh chiều 7 tháng 5 của Tiểu đoàn 154. Theo đó, Tiểu đoàn 154 đánh từ cứ điểm 507 sang 508, 509 theo một chiều dọc. Có nghĩa là 3 cứ điểm này nằm theo thứ tự chiều dọc trên thực địa. Nhưng đối chiếu với bản đồ quân sự của Pháp và qua tìm hiểu chúng tôi thấy không như vậy. Như nhiều người biết, trong quá trình thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, phía pháp thường đặt tên các cứ điểm và cụm cứ điểm theo vần chữ cái A, B, C... tương ứng với thời gian xây dựng các vị trí đó và đánh số thứ tự các cứ điểm theo số 1, 2, 3... theo chiều quay của kim đồng hồ. Thực tế, các cứ điểm 507, 508, 509 không xếp thẳng hàng, ba cứ điểm này tựa như các đỉnh của một tam giác. Cứ điểm 508 nằm ở phía Nam cầu Mường Thanh. Gần với 507, không phải là 508, mà là 509, án ngữ cầu sắt và cầu phao bắc qua sông Nậm Rốm sang trung tâm Mường Thanh. Do vậy, để tiến sang Mường Thanh (bằng cầu, lúc đó chưa có các phương tiện vượt sông khác), không cần phải qua 508. Tài liệu cá nhân của đồng chí Tạ Quốc Luật, hiện lưu tại nhà riêng của con trai ông, viết rằng sau khi Đại đội 360 cùng các đơn vị đánh chiếm xong 507, liền đánh sang 509, không phải vượt qua 508.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:07:09 am

        Đọc bài báo "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ” nhiều người sẽ tưởng rằng chiều 7 tháng 5 ở Điện Biên Phủ còn diễn ra những trận đánh quyết liệt. Nhưng theo một số sách lịch sử có độ tin cậy cao cũng như ý kiến nhân chứng thì từ trưa hôm đó địch đã có dấu hiệu tan rã. Chớp thời cơ, chiều 7 tháng 5, ta tiến hành tổng công kích, nhiều trận đánh diễn ra nhưng không ác liệt như bài báo mà Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 viết. Về vấn đề này, từ năm 2000, nguyên Chính ủy Đại đoàn 312 đã viết cho đồng chí Sơn Hà, nêu rõ: đêm 6 tháng 5 và sáng 7 tháng 5, ở Điện Biên Phủ diễn ra những trận chiến đấu rất khẩn trương, quyết liệt nhất là ở đồi A1, các đồi và cứ điểm ở phía bờ Đông sông Nậm Rốm. Đến trưa 7 tháng 5, chiến sự tàn dần, cho đến khoảng 16-17 giờ thì hầu như tàn hẳn, nhiều nơi xuất hiện cờ trắng và mỗi lúc một nhiều. Không có cuộc chiến đấu gay gắt, dữ dội nào diễn ra. Đó là kết quả của sau gần hai tháng chiến đấu, trực tiếp là các cuộc chiến đấu dữ dội đêm 6 tháng 5 và sáng 7 tháng 5 ở khắp mặt trận. Trung tướng phạm Hồng Sơn, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, cũng nói với chúng tôi giống như nguyên Chính ủy Đại đoàn 312 viết. Đại tá Cao Sơn - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn pháo hoả tiễn H.6, cho biết loạt H.6 bắn cuối cùng diễn ra vào sáng 7 tháng 5. Cuốn sách Lịch sử pháo binh QĐNDVN (1945-1975) cũng không viết có pháo lớn bắn trong chiều hôm đó.

        4. Ý kiến các đồng chí Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường cho rằng việc đánh chiếm 507 đến 509 hoàn toàn do một đơn vị của Tiểu đoàn 154 thực hiện, có sự tăng viện của 40 chiến binh của Đại đội 360, theo chúng tôi là không hoàn toàn đúng. Gặp gỡ, trao đổi với đồng chí Sơn Hà, chúng tôi nêu vấn đề căn cứ vào đâu để đồng chí phủ nhận những điều mà các sách Lịch sử Trung đoàn 209, Lịch sử Sư đoàn 312, Lịch sử QĐNDVN đã viết. Đồng chí Hà cho biết do kết quả của một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân. Được biết, đồng chí không phải là người trực tiếp tham gia chiến đấu với các đơn vị Trung đoàn 209 nhưng rất quan tâm đến vấn đề này. Mấy năm nay, đồng chí Hà đã bỏ nhiều công sức thu thập tư liệu, nhưng phải nói rằng chưa có đủ tư liệu xác thực có sức thuyết phục, mà chủ yếu chỉ là tư liệu nhân chứng. Đó là qua tiếp xúc trao đổi với Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154. Đồng chí Đỗ Xuân Trường, là Tiểu đoàn phó 130 nhưng lại không tham gia các trận đánh của đơn vị vào chiều 7 tháng 5 vì đang phải điều trị do bị thương trước đó. Rất tiếc là đồng chí Trường đã mất nên không thể đối chứng được. Những ý kiến của các đồng chí Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường chưa có đủ cơ sở, không đủ sức thuyết phục để phủ nhận những điều mà các cuốn sách nói trên đã viết cũng như của các nhân chứng, là các cán bộ, chỉ huy Trung đoàn 209, chỉ huy các tiểu đoàn thời kỳ đó.

        Qua đây, chúng tôi kiến nghị với Sư đoàn 312, Trung đoàn 209, khi có điều kiện tái bản các cuốn Lịch sử của Sư đoàn 312, Lịch sử Trung đoàn 209, nên:

        - Bổ sung lực lượng đánh chiếm cứ điểm 507 có Tiểu đoàn 154, còn lực lượng đánh 508 và 509 thì vẫn giữ như cũ vì hai cuốn sách trên đã viết.

        - Viết chi tiết hơn về những trận đánh cuối cùng của đơn vị trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        - Cần sử dụng tư liệu nhân chứng, nhưng phải kiểm định độ xác thực. Không viết các cứ điểm là cao điểm vì cứ điểm không phải cái nào cũng là điểm cao.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:07:52 am

        Về vấn đề bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri

        Việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri, Chỉ huy trưởng cùng Bộ tham mưu Binh đoàn tác chiến Tây Bắc (Groupement Operationnel du Nord Ouest, viết tắt là GONO) bị bắt vào chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954 là mốc quan trọng đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của quân Pháp ở Điện Biên Phủ, có thể xem là “dấu chấm hết" của Kế hoạch Na-va.

        Đơn vị lập được chiến công xuất sắc- vào hầm Sở chỉ huy GONO, bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Ban Tham mưu địch, là Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Điều này đã được các sách lịch sử viết rõ. Sách "Lịch sử cuộc kháng chiên chống thực dân Pháp, 1945-1954", tập 2, của tập thể tác giả thuộc Viện LSQS Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1994, tr. 441 viết: "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật lập tức cùng hai chiến sĩ Vinh và Nhỏ, tiến vào Sở Chỉ huy đích". Sách "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997)", của nhiều tác giả, Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, tr. 137 viết: "Sau một loạt thủ pháo, tiểu liên uy hiếp, tổ chiến sĩ Vinh, Nhỏ dẫn đầu trung đội cùng đại đội trưởng xông vào hầm Bộ chỉ huy tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”. Sách "Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312", của nhiều tác giả, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, cũng viết giống như cuốn "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209" kể trên, và ghi rõ "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dùng tiếng Pháp bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri phải ra lệnh cho toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm đầu hàng" (tr. 173). Sách “Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)", của Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN, xuất bản 1991, viết: "Việc bắt Đờ Cát-xtơ ri sau này có báo cáo cụ thể: Sau khi Trung đoàn 209 tiêu diệt các cứ điểm ở tả ngạn sông Nậm Rốm, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng hai chiến sĩ thọc sâu vào hầm Đờ Cát-xtơ-ri bắt sống toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào hồi 16 giờ 20 phút". Cùng với các sách báo lịch sử, các nhân chứng trực tiếp bắt Đờ Cát-xtơ-ri cũng xác định vấn đề rất rõ ràng.

        - Thư của đồng chí Tạ Quốc Luật báo cáo thành tích lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc số 2309, thứ 6, ngày 28 tháng 5 năm 1954, viết: "Trong trận tổng công kích cuối cùng vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cháu vinh dự được Ban Chỉ huy giao nhiệm vụ dẫn đầu một tổ xung kích 5 người chọc một mũi nhọn vào phía Chỉ huy sở của tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Năm người đó là: Tạ Quốc Luật, Vinh, Hiếu, Lam, Nhỏ". Theo đồng chí Tạ Quốc Luật, sau lễ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, tổ chức tại Mường Phăng, ngày 13 tháng 5 năm 1954, năm đồng chí nói trên được vào Tổng cục Chính trị, và được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo chiến công.

        Đồng chí Hoàng Đăng Vinh (hiện là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thị xã Bắc Ninh) khẳng định tên 5 người trong tổ xung kích giống như đồng chí Tạ Quốc Luật viết. Đồng chí Vinh bổ sung họ và tên đệm của đồng đội là Nguyễn Văn Lam, Bùi Văn Nhỏ và Đào Văn Hiếu.

        - Trong bài "Gặp người tham gia bắt Đờ Cát-xtơ-ri" của Minh Châu, viết theo lời kể của đồng chí Đào Văn Hiếu (xóm 8 xã Nga Hưng, Nga Sơn, Thanh Hoá), đăng trên báo Sức khoẻ và Đời sống, số 279, tháng 5 năm 2004, thì: "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật phân công: "đồng chí Hiếu và đồng chí Lam bịt cửa hầm phía Bắc, còn tôi (Luật) cùng đồng chí Vinh và đồng chí Nhỏ đánh bịt cửa hầm phía Nam". Như vậy, căn cứ theo các sách lịch sử và tư liệu nhân chứng (Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Đào Văn Hiếu), chúng tôi xác định:

        - Tổ xung kích trực tiếp vào Sở Chỉ huy GONO bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu địch gồm 5 đồng chí: Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Nguyễn Văn Lam, Bùi Văn Nhỏ và Đào Văn Hiếu.

        - Việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu GONO bị bắt diễn ra tại hầm Sở Chỉ huy GONO.

        Xung quanh vấn đề bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu GONO, những năm gần đây, trên một số tờ báo có nhiều bài viết dựa theo nhân chứng kể lại, có sự sai lệch với những điều đã được lịch sử ghi nhận.

        Báo Thanh niên, số 74 (2004), ngày 14 tháng 3 năm 2004, có bài "Người bắt tù binh đầu tiên ở Điện Biên Phủ” của Kiều Hương, viết theo lời kể của ông Trần Cối tức Trần Quân, quê ở làng Tiên Lữ, Lập Thạch, Vĩnh Phúc, nguyên Đại đội trưởng quân báo Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) viết: “Chuyện bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri từng được viết là tại hầm chỉ huy của nó. Sự thực không phải". Trước khi bị bắt, “tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu đã chạy ra sông Nậm Rốm". Đây rõ ràng là sự phủ nhận chiến công của Đại đội 360, ngược hẳn với những điều mà sử sách và các phương tiện thông tin đại chúng đã thông tin. Đọc kỹ bài này, chúng tôi thấy tác giả Kiều Hương hoàn toàn phụ thuộc vào lời kể của ông Trần Cối, thiếu chứng cứ khoa học, không phù hợp với thực tế sự thật. Bài báo này, sau khi công bố, đã gây nhiều phản ứng trong bạn đọc. Mặc dù, trong bài "Những chi tiết xung quanh việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri bị bắt sống", đăng trên báo Thanh niên, ngày 18 tháng 4 năm 2004, tác giả Kiều Hương đã đưa ý kiến của 2 nhân chứng là ông Hoàng Thế Chinh và ông Trần Đức Hoà, nhằm chứng minh cho điều mà ông Tràn Cối kể trên là đúng. Nhưng, những điều ông Hoà, ông Chinh đưa ra cũng thiếu cơ sở và không có tính thuyết phục.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:08:11 am

        Ông Hoà nói: "Qua cầu Mường Thanh, tôi thấy trong đám hàng binh có khoảng 5 thằng mũ đỏ, có thể là ca-lô đỏ, hay mũ nồi đỏ, trong đó có đôi thằng chống can, có khả năng là cùng trong bộ chỉ huy của Đờ Cát-xtơ-ri vì không lếch thếch như bọn lính". Nếu chỉ căn cứ vào mũ đỏ (ca-lô hay mũ nồi không xác định rõ) cùng với can và quần áo rồi xác định đó là bộ chỉ huy Pháp thì khó có thể thuyết phục được người đọc. Ông Chinh thì xác nhận: "địch đã ra cách cầu 30-40 mét rồi. Cả bộ tham mưu của nó đã kéo ra, trong đó có Đờ Cát-xtơ-ri nhưng lúc đó mình không biết mặt cụ thể. Không ai bắt Đờ Cát-xtơ-ri và bộ chỉ huy. Lúc đó hàng binh ra khỏi cầu Mường Thanh là khoảng 5 giờ. Bộ binh chỉ dẫn giải tù binh về phía sau chứ không phải bắt gì cả". Ông Chinh không biết mặt tướng Đờ Cát-xtơ-ri, lại xác định là có Đờ Cát-xtơ-ri trong đám tù binh, điều đó quả thật vô lý.

        Trong khi đó, cũng trong bài viết này, tác giả Kiều Hương lại dẫn lời kể của ông Mai Đức Toại, nguyên là Trợ lý chính trị Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Ông Toại khẳng định: Địch không thể ra bờ sông hàng... Ông Quân (tức Trần Cối - TG) không thể vào đây được vì nếu pháo ta không bắn, cũng không chui vào được vì không có bộc phá để đánh dây thép gai. Đi đường khác thì sẽ gặp khẩu đại liên 4 nòng bên kia cầu Mường Thanh". Ông Toại cho biết: "Nhìn từ cửa hầm sau, tôi thấy Tạ Quốc Luật đang cầm trong tay khẩu súng ngắn, giám sát bọn sĩ quan từ dưới hầm lóc ngóc đi lên. Ngày sau trận đánh ngày 7 tháng 5, khoảng chiều 8 tháng 5, tôi đã làm thành tích cho cả tổ Tạ Quốc Luật. Theo đề nghị của đơn vị thì Tạ Quốc Luật được đề nghị tặng Huân chương Quân công hạng Ba và tổ còn lại là Huân chương Chiến công hạng Nhất. Sau cấp trên tặng Tạ Quốc Luật Huân chương Chiến công hạng Nhất, tổ còn lại đều là Huân chương Chiến công hạng Hai. Thật ra, Tạ Quốc Luật chỉ riêng chuyện chỉ huy đánh thắng địch và chiếm được 507, 508, 509 đã xứng đáng được phong anh hùng".

        Một số nhân chứng viết bài hoặc cung cấp tư liệu cho người khác viết về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri tuy thừa nhận vai trò chỉ huy tổ xung kích của đồng chí Tạ Quốc Luật, nhưng có nhiều chi tiết viết thêm vào, không đúng với sự thật lịch sử.

        Tiểu đoàn phó 154 - Ngô Trọng Bảo, trong bài viết "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cứ điểm Điện biên Phủ”, đăng trên Tạp chí Xưa ít Nay, năm 1997, viết "Tôi trao đổi nhanh với anh Quải tình hình đã thuận lợi nhiều rồi, địch đang tan rã, nhiều cứ điểm đã kéo cờ trắng, tôi cho đơn vị Tạ Quốc Luật sang bắt Đờ Cát-xtơ-ri đây "Tôi trao nhiệm vụ mới cho đồng chí Tạ Quốc Luật trong tiếng đạn nổ xé tai của trận địa trọng liên 12,7 ly".

        Theo đồng chí Bảo viết, thì chính đồng chí Bảo là người ra lệnh cho đồng chí Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh vào bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Sự thực có phải như vậy không? Theo chúng tôi, có nhiều chứng cứ chứng tỏ đồng chí Bảo không phải là người ra lệnh cho Tạ Quốc Luật. Thứ nhất, đồng chí Bảo không phải là cấp trên trực tiếp của đồng chí Tạ Quốc Luật (đồng chí Bảo là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154. Đồng chí Tạ Quốc Luật là Đại đội trưởng Đại đội 360, Tiểu đoàn 130. Cấp trên trực tiếp của đồng chí Tạ Quốc Luật ở mặt trận tiền duyên lúc đó là Chính trị viên Tiểu đoàn 130 Trần Quải). Thứ hai, trong những lần gặp gỡ với chúng tôi cũng như trong các buổi họp mặt cựu chiến binh Trung đoàn 209, đồng chí Quải phủ nhận điều đồng chí Bảo viết trong bài báo kể trên. Thứ ba, tài liệu của đồng chí Tạ Quốc Luật viết từ năm 1984, nêu rõ: "12 giờ trưa ngày 7 tháng 5, đồng chí Kim Mỹ - Phó Chính ủy Trung đoàn, thay mặt Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 209 cùng đồng chí Trần Quải, Bí thư Tiểu đoàn ủy 130, xuống giao nhiệm vụ cho Đại đội 360: nhiệm vụ của Đại đội 360 thọc sâu vào Mường Thanh bắt sống toàn bộ Bộ Tham mưu của địch và tướng Đờ Cát-xtơ-ri". Không những thế, tập tài liệu dài 12 trang đánh máy, khổ giấy A4 này của đồng chí Tạ Quốc Luật, không có một dòng chừ nào nhắc tới đồng chí Ngô Trọng Bảo. Một điều cần lưu ý là đồng chí Luật viết tài liệu này từ năm 1984, lúc đó chưa xảy ra chuyện nhận công lao, thành tích, đơn thư khiếu nại như bây giờ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:08:41 am

        Trong bài “Ai là người ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh bắt tướng Đờ Cát?", đăng trên báo Tin tức, các số 1549-1550-1551, tháng 4 năm 2004, tác giả Thao Lan viết: "Ngô Trọng Bảo trao đổi nhanh với Chính trị viên Trần Quải rồi lệnh cho Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh". Chúng tôi đã tới Toà soạn báo Tin tức, gặp và trao đổi với nhà báo Thao Lan, tìm hiểu bài báo được viết dựa theo nguồn tư liệu nào. Tác giả Thao Lan cho biết là dựa vào lời kể của đồng chí Ngô Trọng Bảo. Như thế, việc tác giả Thao Lan viết giống như quan điểm của đồng chí Bảo là điều không có gì lạ.

        - Báo Tin tức, số 38 (299), ngày 22 tháng 9 năm 2004 có bài "Thêm một sự thật về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri không ghi tên tác giả) . Sau mấy lời "phi lộ" của báo là ý kiên của ông Nguyễn Văn Thái, quê ở Trình Xá, Ngô Quyền, Tiên Lữ, Hưng Yên (về ý kiến này của ông Thái, từ tháng 6 năm 2004, Viện LSQS Việt Nam cũng đã nhận được một bản). Bài này có nhiều chỗ cần phải bàn. Thứ nhất, căn cứ vào đâu để tác giả bài báo khẳng định "Thêm một sự thật về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri?". Vậy đâu là "không sự thật?". Thứ hai, điều ông Thái viết chưa được kiểm chứng và nhiều chỗ mâu thuẫn, không lôgíc. Cụ thể, theo ông Thái thì có "một tiểu đội tiến vào hầm Đờ Cát-xtơ-ri cùng Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật, chiến sĩ Nhỏ người Nghệ An mà tôi cho là có công nhất". Sự thực không phải là một tiểu đội mà là 5 người. Điều thiếu sức thuyết phục là ông Thái không nói rõ việc mình có mặt trong lúc bắt Đờ Cát-xtơ-ri hay không, nhưng lại biết được "chiến sĩ Nhỏ là người có công nhất", rồi “Đồng chí Nhỏ quay ra báo cáo và đưa đồng chí Tạ Quốc Luật đến nói tiếng Pháp và tướng Đờ Cát-xtơ-ri được giải ngay về Sở Chỉ huy tiểu đoàn gần nhất". Thứ ba, ngay bản thân lời "phi lộ" của bản báo cũng chưa chính xác vì lúc đó không phải chỉ có đồng chí Ngô Trọng Bảo là cán bộ tiểu đoàn duy nhất ở tiền duyên mà còn nhiều người khác nữa. Hơn nữa, tại mặt trận Điện Biên Phủ, vào thời điểm chiều 7 tháng 5, quan niệm thế nào là tiền duyên cũng còn phải bàn vì khu vực địch kiểm soát còn rất hẹp...

        Tờ Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng của báo Quân đội nhân dân, số 4-1999, có bài “Bắt sông tướng Đờ Cát-xtơ-ri ở Điện Biên Phủ” của Nguyễn Văn Trường, ghi theo lời kể của đồng chí Nguyễn Nghĩa Khoa (huyện Diễn Châu, Nghệ An) lại nói rằng: Đồng chí Khoa là một trong những người bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Theo đồng chí Khoa thì đồng chí Nguyễn Văn Lam, quê ở Hưng Nguyên - Nghệ An, (người được xác định là thành viên tổ 5 người bắt Đờ Cát-xtơ-ri) là Tiểu đội trưởng, đã hy sinh khi vượt sông Nậm Rộm. Đồng chí Khoa và Tiểu đội phó, thay thế vị trí chỉ huy của đồng chí Lam. Những điều đồng chí Khoa nói, chúng tôi chưa có cơ sở kiến chứng, nên vẫn căn cứ vào Thư của đồng chí Luật báo cáo với Bác Hồ là trong tổ 5 người đó có đồng chí Lam.

        Tóm lại, có thể thấy, xung quanh việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ ri và Bộ Tham mưu GONO, hiện có nhiều nhân chứng cung cấp các nguồn thông tin khác nhau, khác với các sách lịch sử đã viết.

        Theo chúng tôi, căn cứ vào các tài liệu, dựa theo các nhân chứng và căn cứ vào thực tế diễn biến lúc đó thì:

        - Trực tiếp tham gia bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Chỉ huy GONO gồm 5 đồng chí Tạ Quốc Luật, Nguyễn Văn Lam, Hoàng Đăng Vinh, Bùi Văn Nhỏ, Đào Văn Hiếu, do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật chỉ huy.

        - Đờ Cát-xtơ ri cùng toàn bộ Ban Tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt tại hầm chỉ huy chứ không phải ở bờ sông Nậm Rốm.

        - Trường hợp đồng chí Khoa, sẽ xác minh đối chiếu sau...

        - Báo cáo của Đại tướng Tổng Tư lệnh tại Hội đồng Chính phủ trong tập Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tr. 808 ghi: "5 giờ lệnh giới nghiêm được ban hành, các đơn vị bộ đội ta chiếm lĩnh Mường Thanh theo từng khu vực đã định từ trước". Theo đó khu vực hầm chỉ huy GONO thuộc quyền kiểm soát của Đại đoàn 308, các đơn vị của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 không có nhiệm vụ và không được vào hầm chỉ huy GONO. Đó là kỷ luật chiến trường. Việc một số đồng chí ở Trung đoàn 209 nói rằng đêm 7 tháng 5 họ còn vào hầm Chỉ huy GONO có thể là không chính xác.

        Tháng 9 năm 2004 vừa qua, Viện LSQS Việt Nam nhận được công văn số 933 của Bộ CHQS tỉnh Hà Tĩnh, về việc xác định đơn thư của ông Nguyễn Thừa Hà (thôn 12, xã Cẩm Thăng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), nói ông Hà là người tham gia bắt Đờ Cát-xtơ-ri. Ngày 6 tháng 10 năm 2004, chúng tôi đã về xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, gặp và trao đôi với ông Nguyễn Thừa Hà. Cùng dự có các đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Cẩm Thăng; Thượng tá Nguyễn Trọng Thắng - Trưởng ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Bộ CHQS Hà Tĩnh và một đồng chí cán bộ Ban CHQS huyện Cẩm Xuyên. Qua trao đổi, chúng tôi nêu lên những điều không hợp lý trong đơn thư của ông Hà, khẳng định ông Hà không tham gia bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri cùng Ban tham mưu GONO. Kết thúc cuộc gặp, ông Hà thừa nhận: “Các chú khẳng định như vậy thì tôi không có thắc mắc gì nữa".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:09:22 am

        Về vấn đề cứu pháo

        Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 là một trong những đơn vị tham gia kéo pháo vào, kéo pháo ra (do ta thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc") và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Nhiều cuốn lịch sử đã ghi lại khá chi tiết các chiến công đó. Cuốn Lịch sử Đại đoàn bộ binh 312, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, ghi: "Tiểu đoàn 130 đưa được 5 khẩu pháo vượt dốc an toàn" (tr. 144); "ngày 5-2-1954, Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra ki-lô-mét 70 đường Tuần Giáo. Trong thời gian kéo pháo, riêng Trung đoàn 141 có 29 đồng chí hy sinh, 106 đồng chí bị thương. Đại đội 366, Trung đoàn 209; Đại đội 143, Trung đoàn 141 được Bộ Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba" (tr. 145). Cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997), Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, viết: "Chiều ngày 5 tháng 2, khẩu pháo cuối cùng trong số 15 khẩu pháo được Trung đoàn kéo ra vị trí tập kết an toàn ở cây số 70 đường Tuần Giáo. Trong đợt kéo pháo ra, Trung đoàn có 25 đồng chí hy sinh, 96 đồng chí bị thương" (tr. 199).

        47 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, ông Ngô Trọng Bảo viết bài Cứu pháo, kể về chiến công của mình, đăng trên Nguyệt san Sự kiện & Nhân chứng, số 89, tháng 5 năm 2001. Bài báo có đoạn: "Nguy hiểm, mệt nhọc, nhưng anh em trong đơn vị vẫn phấn khởi với nhiệm vụ được trao thêm khi thấy Chính ủy Trung đoàn Trần Quân Lập cũng đã ròng rã mấy đêm liền có mặt ở các điểm nút quan trọng. Cả đơn vị đang xúm vào 4 đoạn dây thả pháo từ từ xuống dốc, vừa thả vừa chèn thì bất chợt có một loạt đạn pháo xoèn xoẹt bay tới, tiếng nổ chát chúa, mảnh đạn văng tứ tung, có một số anh em bị đất cát vùi nhưng không ai việc gì. Giữa lúc đạn nổ, cảm nhận sự nguy hiểm đã đến, tôi (Ngô Trọng Bảo) hô lớn: Chèn pháo! Loạt đạn thứ 2 lại nổ gần hơn trước và chỉ có 4 tiếng nổ (của 1 C pháo địch). Lần này khẩu pháo bị chồm lên rồi đè bên hòn chèn và lao xuống dốc vòng vèo. Anh em vội căng dây giữ lại, nhưng trước sức mạnh đang có đà của khối thép 2 tấn ấy làm sao có sức kìm lại được? Bỗng dây tời đứt khẩu pháo lao vun vút, nhiều chiến sĩ ngã vắt ngang sợi dây căng thẳng. Tôi thấy nguy cơ pháo lăn xuống vực mất, mà mất một khẩu pháo lúc này là thiệt hại lớn lắm nên đã vội lao ra nắm lấy một đầu dây bên càng trái và chạy theo pháo một đoạn ngắn rồi nhanh chóng chạy vòng lại quanh một gốc cây nhỏ bên lề đường sát bờ vực, quấn thêm 2 vòng nữa rồi ngồi thụp xuống, chân đạp mạnh vào gốc cây, 2 tay vẫn giữ đầu dây. Một tiếng "rầm" thật mạnh, gốc cây uốn cong rồi bật cả rễ. Khẩu pháo đang lao bị mất đà đột ngột quay ngang, nòng pháo húc vào vách đồi tạo một hố sâu hoắm rồi dừng hẳn".

        Trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trong bài "Ông già sửa xe đạp cô đơn và những trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ", đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 31, tháng 2 năm 2004, thì vấn đề cứu pháo của đồng chí Ngô Trọng Bảo, dưới ngòi bút của Dương Thục Anh, viết theo lời kể của đồng chí Bảo, đã được "nâng cấp" thêm. Bài báo viết "Ngô Trọng Bảo chính là nhân vật thứ 2 sau anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình cứu khẩu trọng pháo bị đứt dây kéo đang trên đà lăn xuống vực. Để cứu pháo, anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chèn pháo, cản sức lăn của pháo làm cho pháo chững lại. Còn trường hợp của Ngô Trọng Bảo, thì khẩu pháo bị đứt một bên dây và từ đỉnh đồi lao xuống vực. Mất thăng bằng, một số anh em bị ngã bổ chửng phía sau. Bằng sức trẻ của một thanh niên 25 tuổi, nhanh như cắt lao chạy theo khẩu pháo và túm được một đoạn dây còn lại, và Ngô Trọng Bảo đã quàng dây 2-3 vòng vào thân cây ngang bên vệ đường và ghì chặt 2 chân vào thân cây. Pháo đang trên đà lao xuống dốc bị chững lại lôi bật cả gốc cây, pháo quay ngang húc nòng vào sườn đồi dừng hẳn. Hơn 100 người lính kéo pháo đã bình tĩnh gỡ được khẩu trọng pháo và kéo ra trận địa an toàn".

        Vấn đề cứu pháo của đồng chí Ngô Trọng Bảo, như hai bài báo trên miêu tả, là một chi tiết mới, chưa có trong các sách lịch sử. Đọc hai bài báo trên, độc giả hẳn cho rằng, đồng chí Ngô Trọng Bảo không những có tinh thần dũng cảm như anh hùng Tô Vĩnh Diện mà còn tài trí hơn cả Tô Vĩnh Diện. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, chúng tôi thấy không có cơ sở khoa học và thực tế. Đó cũng là cảm nhận của nhiều người, nhất là các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209, và là một trong những lý do để các đồng chí Đại tá Trần Quân Lập, Đại tá Nguyễn Hữu Tài, Đại tá Nguyễn Duy Hàn đến toà soạn báo An binh thế giới cuối tháng, gặp tác giả yêu cầu cải chính, nhưng tác giả không chấp nhận.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:09:41 am

        Có thể nêu ra những dẫn dụ về sự bất hợp lý của các chi tiết cứu pháo như sau: "Khẩu pháo bị chồm lên rồi đè lên hòn chèn và lao xuống dốc vòng vèo", hơn 100 người kéo pháo đã bất lực, "dây tời đứt, khẩu pháo lao vun vút”, thế mà đồng chí Bảo lại có thể "lao ra nắm lấy một đầu dây bên càng trái và chạy theo pháo một đoạn và nhanh chóng vòng lại quanh gốc cây nhỏ bên lề đường, sát bờ vực...", và do vậy, đã cứu được pháo.

        Chúng tôi đã trực tiếp gặp và trao đổi với đồng chí Bảo để tìm hiểu thêm, nhưng những câu trả lời của đồng chí Bảo đều chung chung, không cụ thể. Khi chúng tôi hỏi trong số những người chứng kiến việc cứu pháo của đồng chí Bảo, hiện có ai còn sống để làm chứng không, đồng chí Bảo trả lời là không còn nhớ ai nữa. Thế nhưng, trong bài Cứu pháo, đồng chí Bảo cho biết có mặt Chính ủy Trung đoàn Trần Quân Lập. Chúng tôi hiểu lý do tại sao đồng chí Bảo không đưa đồng chí Trần Quân Lập làm ra chứng, bởi vì hiện đồng chí Lập là một trong những cựu chiến binh của Trung đoàn 209 cực lực phản đối việc nói đồng chí Bảo là người cứu pháo.

        Cứu được một khẩu pháo ở Điện Biên Phủ trong thời điểm năm 1954 là một chiến công lớn, cho dù là của một cá nhân, nhưng cá nhân đó ở trong một tập thể, bởi vậy, (nếu có) được coi là chiến công chung của đơn vị. Ấy thế mà Ban chỉ huy Tiểu đoàn 130 và Trung đoàn 209 đều không biết, cả 100 người khéo pháo hôm đó lại im lặng trước chiến công cứu pháo. Quả là điều khó giải thích. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209, thời Điện Biên Phủ, hiện ở Hà Nội và các tỉnh lân cận còn khá nhiều. Cấp trung đoàn có Chính ủy Trần Quân Lập, Chủ nhiệm chính trị Nguyễn Hữu Tài, Tham mưu phó Nguyễn Duy Hàn, Trưởng Tiểu ban tác chiến Bùi Đắc. Tiểu đoàn 154 có Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Năng, Chính trị viên Phan Xuân Phồn, Chính trị viên phó Phạm Dũng. Tiểu đoàn 130 có Chính trị viên Trần Quải, Cán sự chính trị Mai Đức Toại, Chính trị viên Đại đội 363 Trần Thẩm và đồng chí Hoàng Đăng Vinh. Tiểu đoàn 166 có Đại đội trưởng đại đội trợ chiến Lê Phương, cán bộ tác chiến Nguyễn Hồng quân v.v.. Những đồng chí này đều không làm chứng cho hành động cứu pháo của đồng chí Bảo.

        Về thời gian cứu pháo, cũng có nhiều điều mâu thuẫn. Đồng chí Bảo viết: "Ngày hôm sau tôi (Ngô Trọng Bảo) được tuyên dương và được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba". Theo đồng chí Bảo cung cấp, chúng tôi thấy đồng chí Bảo có Giấy chứng nhận đeo 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, số 714, ngày 10 tháng 2 năm 1954 và 948, ngày 20 tháng 3 năm 1954. Giấy chứng nhận đeo Huân chương, không viết rõ do thành tích cụ thể nào, nên việc xác định đó có phải do thành tích cứu pháo hay trong đợt kéo pháo hoặc thành tích khác là điều rất khó xác định. Đối chiếu giữa bài Cứu pháo với Giấy chứng nhận đeo Huân chương, có thể xác định được việc cứu pháo diễn ra vào ngày 9 tháng 2 năm 1954. Nhưng theo sách Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312 và Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997), thì việc kéo pháo của đơn vị đã hoàn tất vào ngày 5 tháng 2 năm 1954. Và như vậy, thời gian cứu pháo (nếu có) phải trước ngày 5 tháng 2 năm 1954. Vậy nên, việc đồng chí Bảo viết một ngày sau chiến công cứu pháo, đồng chí được tuyên dương và thưởng Huân chương, liệu có đúng hay không? Về vấn đề này, chúng tôi xin không bàn về chi tiết hành động cứu pháo của đồng chí Bảo, vì lời kể của đồng chí Bảo về việc cứu pháo qua 2 bài báo là không thống nhất có nhiều mâu thuẫn thiếu sức thuyết phục đến độ vô lý.

        Tóm lại, qua các sách lịch sử, bài viết của đồng chí Bảo, của Dương Thục Anh, và tiếp xúc trao đổi với đồng chí Bảo, chúng tôi thấy:

        - Trung đoàn 209, trong đó có đại đội của đồng chí Bảo và bản thân đồng chí Bảo có tham gia vào việc kéo pháo vào và kéo pháo ra trong chiến dịch Điện Biên Phủ và đã lập được chiến công xuất sắc. Các chiến công đó, các sách Lịch sử Đại đoàn bộ binh 312, Lịch sử Trung đoàn 209 đã viết rõ.

        - Việc đồng chí Bảo viết và cung cấp tư liệu cho Dương Thục Anh viết, về vấn đề đồng chí Bảo cứu được một khẩu pháo trong đợt kéo pháo ra do việc ta thay đổi phương châm tác chiến, là một chi tiết mới. Tuy nhiên, chi tiết này lại không đáng tin cậy. Hơn thế, nếu các cựu chiến binh ở Điện Biên Phủ và các nhà nghiên cứu không có ý kiến phản bác thì vô hình chung, chúng ta đã công nhận một sự kiện rất thú vị và sáng tạo của một nhân vật chỉ huy tài trí, có sức mạnh vô song. Vì thế, những người viết bài này rất mong nhận được ý kiến của bạn đọc về "vấn đề cứu pháo" của đồng chí Bảo, ngõ hầu soi rọi sự thực lịch sử đã diễn ra cách đây nửa thế kỷ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:10:10 am

        Về trận Him Lam

        Trận tiến công Him Lam (13-3-1954) là một trận đánh lớn của Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165), do Bộ tư lệnh Đại đoàn 312 chỉ huy, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam - một trong những trung tâm đề kháng ngoại vi kiên cố nhất trên hướng Đông Bắc của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Him Lam gồm 3 cứ điểm do một tiểu đoàn Lê dương và một đại đội lính ngụy người Thái chiếm giữ. Trận đánh diễn ra ác liệt từ 17 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954 với sự phối hợp chặt chẽ của pháo binh và bộ binh. Quân ta lần lượt đánh chiếm 3 cứ điểm, diệt và bắt hơn 400 tên địch, góp phần phá vỡ tuyên phòng thủ ngoại vi của địch, tạo thế bước đầu cho chiến dịch phát triển.

        Vào thời điểm diễn ra trận đánh này, đồng chí Bảo mới là Đại đội trưởng đại đội trợ chiến, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Nhưng, theo lời kể của dông chí Bảo và dưới ngòi bút của Dương Thục Anh trong bài “Ông già sửa xe đạp cô đơn và những bí mật của trận đánh cuối cùng trong chiến dịch điện Biên Phủ, báo An ninh thế giới cuối tháng", số 31, tháng 2 năm 2004, đồng chỉ Bảo trở thành người chỉ huy trận đánh Him Lam. Bài báo có đoạn viết: "ông (tức Ngô Trọng Bảo) chính là người chỉ huy trận đánh Him Lam mở màn chiến dịch với thắng lợi giòn giã". Dương Thục Anh viết như vậy theo chúng tôi, là do tin vào lời kể của đồng chí Bảo, không có tư liệu lịch sử chính xác để kiểm chứng, không biết rõ về trận Him Lam. Thực ra, về trận Him Lam, các sách lịch sử dã viết rất nhiều và khá đầy đủ. Riêng chi tiết Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng Lê Trọng Tấn) là người chỉ huy trực tiếp trận đánh đó, thì đã có quá nhiều người biết.

        Việc Dương Thục Anh viết đồng chí Bảo là người chỉ huy trận Him Lam đã gây phản ứng gay gắt đối với người đọc, nhất là cựu chiến binh Trung đoàn 209. Vì thế, trong bài “Đi tìm sự thật lịch sử" đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 32, tháng 3 năm 2004, tác giả bài báo trên đã "xin đính chính lại chi tiết ông Ngô Trọng Bảo là người tham gia trận đánh Him Lam với tư cách là đại đội trợ chiến chứ không phải chỉ huy như bài báo đã nêu. Chúng tôi (tức Dương Thục Anh) thành thật xin lỗi quý độc giả và các cựu chiến binh Điện Biên Phủ về sai sót đáng tiếc này".

        Về vấn đề đồng chí Bảo là người tham gia trận Him Lam, với vị trí như thế nào, thiết nghĩ đã rõ. Điều chúng tôi muốn nói là, nếu như không có ý kiến phản ứng của các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209 một cách kịp thời thì tác giả bài báo chắc gì đã đính chính chi tiết trên. Nếu để lâu ngày, không có ý kiến phản bác sẽ làm cho người đọc hoài nghi, người viết khác lại dựa vào cái sai đó (do không biết là sai) viết tiếp tạo sự sai lệch kiểu dây chuyền. Chúng tôi đã trực tiếp hỏi đồng chí Bảo về vấn đề này, đồng chí Bảo cho biết, do tác giả bài báo đưa bản thảo đến gần sát với thời gian đưa đi in nên đồng chí không thể đọc kỹ hết các chi tiết, kể cả một số chi tiết của bài "Ông già cô đơn...".

        Thiết nghĩ, khi viết về các vấn đề lịch sử, những người viết nên thật cẩn trọng, có kiến thức lịch sử, tôn trọng tư liệu nhân chứng, song cần kiểm chứng, đối chiếu. Người viết cần có chính kiến, bởi tư liệu nhân chứng cung cấp do thời gian, sự kiện diễn ra đã lâu, nên độ chính xác nhiều khi không cao. Có như vậy, mới có thể tránh được những sai sót không đáng có gây bất bình cho người đọc...


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:10:40 am

        Lời kết

        50 năm qua, kể từ khi trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, đến nay đã có hàng nghìn công trình, sách, bài viết của các nhà chính trị, quân sự, các vị tướng lĩnh, học giả, nhà nghiên cứu v.v.. trong và ngoài nước viết về sự kiện "chấn động địa cầu” này, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở trong nước, bên cạnh các công trình, bộ sách lịch sử mang tính chính thống, còn có các tập ký sự lịch sử, hồi ký, các bài viết của nhân chứng đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các báo...

        Lịch sử Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại. Đó là niềm tự hào không chỉ của riêng cựu chiến binh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn này mà còn của quân đội, của toàn Đảng, toàn dân ta. Việc các cựu chiến binh Trung đoàn 209 viết hồi ký, cung cấp tư liệu, tái tạo góp Phần làm đầy đủ hơn trang sử hào hùng của đơn vị là điều rất cần thiết, nhiều bổ ích. Đó là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá. Xử lý các nguồn tư liệu nhân chứng, tìm giá trị đích thực của nó là trách nhiệm thuộc về các cơ quan chuyên môn, những người làm công tác nghiên cứu lịch sử. Ý thức đầy đủ điều đó nên sau khi có đơn thư của các cựu chiến binh Trung đoàn 209 (đáng chú ý là của các đồng chí Ngô Trọng Bảo, Sơn Hà, Trần Quân Lập, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Duy Hàn) gửi tới nhiều cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, trong đó có Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, chúng tôi đã tập trung nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, đối chiếu, thẩm định tư liệu, sự kiện và gặp gỡ nhân chứng v.v.. Trên từng vấn đề, chúng tôi đã có cố gắng, thận trọng phân tích, đánh giá. Có thể thấy các bài báo của đồng chí Bảo và các bài viết liên quan tới đồng chí Bảo có phần đúng, nhưng cũng còn có nhiều sai lệch. Nếu căn cứ vào các bài viết mà chúng tôi đã dẫn trên, xâu chuỗi lại, thấy nổi lên các "chiến công" của đồng chí Bảo như sau:

        - Chỉ huy trận Him Lam, mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ huy trận đánh cuối cùng (cứ điểm 507, 508, 509) trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        - Người thứ hai, sau Anh hùng Tô Vĩnh Diện, cứu được một thẩu pháo ở mặt trận Điện Biên Phủ.

        - Ra lệnh cho đồng chí Tạ Quốc Luật chỉ huy đơn vi vượt cầu Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ Ban tham mưu GONO.

        Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy không có đủ căn cứ khoa học và thực tiễn để xác định những "chiến công" trên là có thật 100%, có chăng chỉ là một phần nhỏ.

        Trên tinh thần tôn trọng đối với nhân chứng lịch sử, Viện LSQSVN, sau khi tổ chức nghiên cứu thẩm định, ngày 8 tháng 7 năm 2004, đã tổ chức một buổi toạ đàm, mời các đồng chí có đơn thư và liên quan, đại diện các cơ quan hữu quan đến dự. Nhưng đáng tiếc, cả phía các đồng chí Bảo, Sơn Hà và phía các đồng chí Lập, Tài, Hàn không hoàn toàn thống nhất với những ý kiến của Viện LSQSVN đưa ra. Hai đồng chí Bảo và Sơn Hà vẫn giữ ý kiến như đã nêu trong đơn thư. Theo đồng chí Bảo: "Lịch sử về giờ chót của chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn có chỗ nhầm lẫn lớn về trận đánh cuối cùng trong đợt tổng công kích bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ tham mưu địch", "nguyên nhân sâu xa của sự nhầm lẫn lịch sử này phải chăng là do 3 nỗi "hận" của Trung đoàn 209 từ Bản Vậy (Nà Sản, 1952) rồi cao điểm D2 đêm 30 tháng 4 năm 1954 đến cứ điểm 507 đêm 6 tháng 5 năm 1954, đã làm cho người chỉ huy Trung đoàn bị ám ảnh vì "cay cú” mà phủ nhận công tích của Tiểu đoàn 154 để bù đắp cho Tiểu đoàn 130", "sau khi chiến dịch kết thúc, Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 209 đã phạm sai lầm là tính toán, sắp đặt một kế hoạch báo cáo quân sự bằng những tình huống giả tạo trong đợt Tổng công kích tập trung trong cuốn hồi ức Chặng đường mười ngàn ngày của nguyên Trung đoàn trưởng 209, Thượng tướng Hoàng Cầm - TG) biến sự kiện lịch sử và chiến công này thành một thứ hàng hoá bao cấp nằm trong tay một vài người có chức có quyền để tùy tiện ban phát thiếu công bằng, phục vụ yêu cầu chính trị cục bộ của Trung đoàn là "rửa hận", gây sự dối trá, kéo theo một số người thiếu cảnh giác cùng đứng ra bảo vệ sự dối trá ấy, tiến hành bịt đầu mối và vô hiệu hoá "người trong cuộc", tạo ra một không khí lộn xộn mất đoàn kết trong nội bộ cựu chiến binh, đồng thời lừa dối cấp trên, lừa dối công luận suốt 50 năm qua" (trích đơn thư của đồng chí Ngô Trọng Bảo gửi Viện LSQSVN, gửi đông chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy quân sự Trung ương, Uỷ ban kiểm tra Đảng ủy quân sự Trung ương, ngày 27 tháng 3 năm 2004).

        Treo chúng tôi, những điều đồng chí Bảo viết như trên là không đúng, bởi lẽ cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997) Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, do một tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn 209 (thời điểm 1997), Ban chỉ huy Trung đoàn thời kỳ điện Biến Phủ chắc chắn có vai trò nhất định trong việc cung cấp tư liệu sự kiện cho việc biên soạn. Những báo cáo tổng kết của Ban chỉ huy Trung đoàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ và những điều cựu chiến binh kể lại được Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 209 (năm 1997), tập thể viết cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997) tôn trọng, nghiên cứu cân nhắc thận trọng, đưa vào lịch sử những nội dung, sự kiện có cơ sở khoa học. Nếu cuốn sử trên còn có chỗ nào hạn chế, thiếu sót, thì đó thuộc về trình độ nghiên cứu, hoàn toàn không do mục tiêu "lừa dối công luận" như đồng chí Bảo phản ánh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:34:53 am
           
MỘT SỐ Ý KIẾN LIÊN QUAN ĐẾN TRUNG ĐOÀN 209 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 19541

TRẦN QUÂN LẬP - NGUYỄN HỮU TÀI       

        Nhân đọc loạt bài về "Một số vấn đề liên quan đến Trung đoàn 209 trong chiến dịch Điện Biên Phủ” của các tác giả Trần Văn Thức và Nguyễn Mạnh Hà đăng trong chuyên mục Sửa lại cho đúng - Bàn thêm cho rõ của Tạp chí Lịch sử quân sự (từ số 153, tháng 9-2004 đến số 157, tháng 1-2005), chúng tôi rất hoan nghênh tinh thần trách nhiệm cao trước lịch sử của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Để làm rõ thêm bối cảnh trận đánh cuối cùng ở Mường Thanh, chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu và có một số ý kiến sau:

        1. Về sử dụng lực lượng của Trung đoàn 209.

        Bướt vào đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 209 có nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm 505, 505A (Dominique 3), cửa ngõ vào tung thâm Mường Thanh. Trung đoàn đã sử dụng Tiểu đoàn 166 đánh Cứ điểm 505, tiểu đoàn 154 đánh Cứ điểm 505A. Cả hai vị trí này đều bị tiêu diệt đêm 1 tháng 5 năm 1954.

        Tiếp đó, Trung đoàn nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 507 cùng một lúc với các Trung đoàn 174 đánh A1 (Eliane 2), Trung đoàn 98 đánh C2 (Eliane 4), Trung đoàn 165 đánh Cứ điểm 506, Trung đoàn 102 đánh 311 (Huguette F). Thời gian nổ súng, thống nhất lấy hiệu lệnh là tiếng nổ của khối bộc phá gần 1.000 kg trên đồi A1 (20 giờ 30 đêm 6-5-1954).

        Trung đoàn đã sử dụng Tiểu đoàn 130 đánh Cứ điểm 507 (Eliane 10) nằm ngang giữa đường 41 đến bờ sông Nậm Rốm, ngăn chặn đường tiến công qua cầu sang Mường Thanh. Tiểu đoàn đã sử dụng Đại đội 363 đột phá, song vấp phải hàng rào bùng nhùng địch mới trải đêm 6 tháng 5 mà ta không phát hiện được. Bộc phá không cắt đứt được hàng rào bùng nhùng nên đội hình tiến công của ta bị ùn tắc. Trước hoả lực trung, đại liên dày đặc của địch (23 khẩu), Đại đội 363 bị thương vong, mất sức chiến đấu; Tiểu đoàn điều thê đội 2 (Đại đội 366) lên thay, đánh chiếm được một số đoạn giao thông hào, song Đại đội trưởng và Đại đội phó 366 đều bị thương. Trung đội trưởng Trần Can lên thay cũng bị hy sinh, buộc phải ngừng tiến công. Trước tình hình không có lợi, Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn củng cố trận địa dã chiến đề phòng địch phản kích khi trời sáng, bám sát trận địa, chấn chỉnh bộ đội chờ lệnh tiếp tục tiến công.

        Ngay sau đó, Đảng ủy Trung đoàn họp và nhất trí kết luận: Nguyên nhân của việc không tiêu diệt được Cứ điểm 507 là do ta không bám sát địch, tổ chức hoả lực tấn công rời rạc, không kiềm chế được hoả lực địch. Mặt khác, trong khi địch liên tục tăng cường chi viện phòng ngự thì quyết tâm của Trung đoàn là điều động lực lượng dự bị, tiếp tục tiến công đánh ban ngày. Điều này không phải do "cay cú” mà xuất phát từ tương quan lực lượng địch - ta lúc đó. Ta đã lần lượt chiếm được các cứ điểm A1, C2, 506, địch phản kích nhiều đợt, máy bay trút bom ồ ạt cũng không cứu vãn nổi. Nếu đánh ban ngày, có điều kiện quan sát tốt, ta sẽ không vướng phải những tình huống "bất ngờ" như đã xảy ra đêm 6 tháng 5.

        Quyết tâm này lúc đầu chưa được thông qua. Ý định của trên là chờ lệnh tổng công kích, cũng ở hướng ấy, tiến công một thể.

        Chúng tôi tiếp tục trao đổi, nhất trí đề nghị cho đánh ban ngày vì lực lượng của Trung đoàn vẫn còn đủ sức. Tình hình địch đã thay đổi. Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, sau khi xin ý kiến của Tư lệnh chiến dịch, đã chuẩn y quyết tâm của Trung đoàn, ấn định giờ nổ súng là 14 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1954, chi viện hoả lực - 5 khẩu pháo.

        Trung đoàn đã điều động Đại đội 360 (đêm 6 tháng 5 là đơn vị dự bị cho Trung đoàn 165 đánh Cứ điểm 506) trở lại đội hình Tiểu đoàn 130 làm chủ công đánh Cứ điểm 507. Đồng chi Kim Mỹ - Phó Chính ủy trực tiếp xuống động viên, giao nhiệm vụ. Tiểu đoàn 154 sử dụng Đại đội 520, bố trí phòng ngự ở 505A, mở một mũi tấn công hỗ trợ (nơi tiếp giáp giữa 506-507).

        Kết quả như ta đã rõ, Cứ điểm 507 đã bị tiêu diệt nhanh gọn; sĩ quan, binh linh địch lũ lượt ra hàng. Cùng lúc đó, dọc sông Nậm Rốm xuất hiện nhiều cờ trắng, thời cơ lớn đã đến.

        Một mặt, Trung đoàn báo cáo lên Đại đoàn, mặt khác lệnh cho các tiểu đoàn 130, 154 đánh thốc lên các cứ điểm 508, 509, có điều kiện vượt sông Nậm Rốm đánh thẳng vào Chỉ huy sở Tập đoàn cứ điểm.

        Do vậy nên khi có lệnh tổng công kích vào trung tâng Mường Thanh (15 giờ ngày 7-5) thì các đơn vị của Trung đoàn 209 đang ở tư thế tiến công, có nhiều thuận lợi hơn các đơn vị khác, đã tiến vào trước hầm Đờ Cát-xtơ-ri).

------------------
        1. (Tạp Chí LSQS số 5-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:36:36 am

        2. Nói thêm về sự kiện bắt sông tướng Đờ Cát-xtơ-ri

        Đại đội 360 - đơn vị đã đánh chiếm 507-509 vượt qua cầu Mường Thanh bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ Bộ Tham mưu Tập đoàn cứ điểm, là một đại đội có truyền thống bẻ gãy gọng kìm sông Lô năm 1947, lập nhiều chiến công trong nhiều chiến dịch lớn, song tâm tư vẫn không thoải mái vì sắp xếp thứ hạng trong đội hình của Tiểu đoàn, Đại đội 360 vẫn đứng sau các đại đội 366 và 363, chưa lần nào được giữ vai trò chủ công trong các trận đánh lớn. Lần này được Trung đoàn trao nhiệm vụ chính nên cán bộ, chiến sĩ rất phấn khởi, quyết tâm cao, mặc dầu một bộ phận bị bom vùi đất sáng 6 tháng 5. Đại dội trưởng Tạ Quốc Luật hứa: "Không thắng trận, không về gặp Trung đoàn", ý chí kiên cường cộng với tài chỉ huy linh hoạt của Tạ Quốc Luật đã được thể hiện trong việc ra lệnh cho Trung đội Chu Bá Thệ vượt cầu phao tại Cứ điểm 509 (Eliane 12) sang phía hữu ngạn sông Nậm Rốm để chia cắt các lực lượng địch với chỉ huy trung tâm. Việc tổ chức chỉ huy đánh chiếm cầu sắt Mường Thanh trong điều kiện khẩu pháo trọng liên 4 nòng vẫn liên tục nhả đạn, việc bắt tù binh dẫn đường đến hầm Đờ Cát-xtơ-ri và đặc biệt việc xử trí tình huống trong hầm Đờ Cát-xtơ-ri, vừa có tính chất quân sự, đúng luật, vừa có tính chất chính trị, chấp hành tốt chính sách tù - hàng binh của ta. Việc Đảng và Chính phủ ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 15 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân cho Tạ Quốc Luật đã danh giá đúng công lao, thành tích của cá nhân đồng chí đó nhưng đồng thời cũng khẳng định một sự thật lịch sử cách đây 50 năm của Trung đoàn 209.

        3. Về nguyên nhân của cái gọi là "nhầm lẫn lịch sử"

        Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, có một loạt bài báo nêu những sự kiện trái ngược với các văn kiện, tài liệu đã công bố trước đó liên quan đến Trung đoàn 209 trong trận đánh cuối cùng vào trung tâm Mường Thanh. Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 Ngô Trọng Bảo cho rằng nguyên nhân sâu xa của sự nhầm lẫn lịch sử phải chăng là do ba nỗi "hận" của Trung đoàn 209 từ Bản Vậy (Nà Sản, 1952), rồi Cao điểm D2 đêm 30 tháng 3 năm 1954 đến Cứ điểm 507 đêm 6 tháng 5 năm 1954, đã làm cho người chỉ huy Trung đoàn bị ám ảnh vì cay cú mà phủ nhận công tích của Tiểu đoàn 154 để bù đắp cho Tiểu đoàn 130?

        Vậy chúng tôi xin phân tích về ba nỗi “hận”.

        - Trận Bản Vậy là trận đánh của toàn Trung đoàn ngày 1 tháng 12 năm 1952. Đây là một cao điểm nằm trong tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Mai Sơn - Sơn La) mà quân Pháp vội vã thiết lập, tập trung các đội quân bị đánh đuổi trên mặt trận Tây Bắc co cụm lại. Quân ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm, trình độ trang bị, nhất là về hoả lực tầm xa còn rất thấp. Các đơn vị bạn đánh Nà Xi, Pú Hồng cũng không thành công. Trận đánh này đã cho ta kinh nghiệm xương máu để đi tới thành công trong trận đánh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là nỗi "hận” của toàn quân đã được trả, chứ không riêng gì Trung đoàn 209.

        - Trận đánh Cao điểm D2 của Tiểu đoàn 130 (đêm 30-3-1954) không dứt điểm, sáng 31 tháng 3, địch ở D2 rút chạy về Mường Thanh. Đó là khuyết điểm của Tiểu đoàn 130, cần phải phê phán. Song trước đó, ngày 13 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 130 là mũi chủ công tiến công mỏm 3 trong cụm Him Lam, đã đánh nhanh chóng, diệt gọn trong vòng 1 giờ. Duyên cớ gì mà chỉ huy Trung đoàn phải “hận”, lấy “tiếng" của 154 bù đắp cho 130?

        - Còn về trận đánh Cứ điểm 501 thì như trên chúng tôi đã trình bày, có một sơ suất là trong cuốn Lịch sử của Trung đoàn 209 không ghi mũi tiến công phối hợp của Trung đội Lê Chí Duyên (Đại đội 520 - Tiểu đoàn 154) đánh Cứ điểm 507. Sự việc đó cần được bổ sung khi tái bản.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:37:36 am
       
MẤY Ý KIẾN VỀ CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH QUÂN SỰ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP1

TRẦN VĂN THỨC         

        1. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), cả nước ta được chia thành nhiều đơn vị hành chính - quân sự (HC-QS). Theo thời gian, cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, các đơn vị HC-QS được thay đổi tên gọi và địa giới (Trong bài này, chúng tôi chỉ đề cập tới những sự điều chỉnh tương đối lớn về địa giới của các đơn vị HC-QS. Trong thực tế, chiến khu hàm chứa hai nội dung sau: a. Căn cứ địa cách mạng hoặc kháng chiến được vũ trang để tự bảo vệ và làm bàn đạp liến công của lực lượng vũ trang, làm chỗ dựa để tích luỹ và phát triển lực lượng về mọi mặt, nhất là quân sự, phục vụ cho khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Ở nước ta, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có Chiến khu Việt Bắc (của trung ương), Chiến khu Trần Hưng Đạo, Chiến khu Đ... (của vùng, miền)..., Chiến khu Ngọc Trạo (của địa phương)... b. Tên gọi của đơn vì HC-QS thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp: Chiến khu 1, Chiến khu 2...) cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

        Tháng 10 năm 1945, Chính phủ quyết định thành lập các Chiến khu trên khắp cả nước. Theo đó, các Chiến khu lần lượt được hình thành.

        Chiến khu 1 gồm các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, uyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên.

        Chiến khu 2 gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

        Chiến khu 3 gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh và thành phố Hải Phòng.

        Chiến khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên.

        Chiến khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai.

        Chiến khu 6 gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

        Từ tháng 11 năm 1945, Chính phủ quyết định thành lập Khu 71 (Về tên gọi của các đơn vị HC-QS ở Nam Bộ trong giai đoạn 1945-1946, phần lớn các văn bản đều viết là Khu 7, Khu 8, Khu 9, rất ít khi viết là Chiến khu), Khu miền Đông Nam Bộ, gồm các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Chợ Lớn, Tây Ninh, Gia Định và thành phố Sài Gòn.

        Khu 8, Khu miền Trung Nam Bộ, gồm các tỉnh Bến Tre, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho và Sa Đéc.

        Khu 9, Khu miền Tây Nam Bộ, gồm các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Bạc Liễu, Rạch Giá, Vĩnh Long và Trà Vinh.

        Tháng 10 năm 1946, trước Toàn quốc kháng chiến 2 tháng, Hội nghị quân sự do Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập tại Hà Nội đã quyết định phân chia lại các chiến khu. Một số chiến khu mới được thành lập và do đó, địa giới của một số chiến khu có sự thay đổi lớn. Chiến khu 1 tách thành 3 chiến khu 1, 10, 12. Bởi vậy địa bàn của Chiến khu 1 giờ đây chỉ còn các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên. Chiến khu 10 gồm các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái. phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên.

        Chiến khu 12 gồm các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Yên, Hải Ninh (Quảng Yên và Hải Ninh trước đó thuộc Chiến khu 3).

        Chiến khu 2 gồm Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hoà Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Lai Châu, Sơn La. Gần đến ngày Toàn quốc kháng chiến, Hà Nội tách thành Khu đặc biệt (Khu 11).

        Chiến khu 3 gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Kiến An và Thái Bình.

        Chiến khu 4, 5, 6 và Khu 7, 8, 9 - địa giới vẫn giữ nguyên như trước.

        Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) ít hôm1 (Có tài liệu viết là ngày 23-12, cũng có tài liệu viết ngày 24-12) Khu 11 (Hà Nội) được sáp nhập vào Khu 2, trở thành tiền phương của Khu này.

        Khoảng tháng 11 năm 1946, các đơn vị HC-QS trong cả nước được đổi tên thành Khu. Trong năm 1947, thành lập thêm 2 khu (14 và 15). Khu 14 được thành lập tháng 7 năm 1947 gồm tỉnh Lai Châu, Sơn La và châu Mai Đà của tỉnh Hoà Bình. Khu 15, được thành lập tháng 9-1947, gồm các tỉnh vùng Tây Nguyên. Đến tháng 9 năm 1947, cả nước có 13 khu. Bắc Bộ có 6 khu (1, 2, 3, 10, 12, 14). Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15). Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9).

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:38:27 am

        Theo Sắc lệnh 120/SL ngày 25 tháng 1 năm 1948 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH), một số Khu có liên quan về vị trí địa lý, quân sự... được hợp nhất lại thành Liên khu2 (Trong những ngày đầu kháng chiến, Hà Nội được chia thành 3 Liên khu. Thực ra, Liên khu này chỉ là sự hợp nhất của các khu phố mà thôi). Theo đó, các Liên khu lần lượt được thành lập.

        Liên khu 1 ra đời trên cơ sở hợp nhất Khu 1, Khu 12 và điều chỉnh địa giới, gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Quảng Yên, Hòn Gai và Hải Ninh.

        Liên khu 2 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Khu 2 và Khu 3, gồm các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hoà Bình.

        Tháng 10 năm 1948, Liên khu 5 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Khu 5, Khu 6 và Khu 15, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng.

        Theo Sắc lệnh 127/SL ngày 4 tháng 11 năm 1949 của Chủ tịch Chính phủ VNDCCH, Liên khu Việt Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất Liên khu 1 và Liên khu 10.

        Tháng 5 năm 1952, Trung ương quyết định thành lập Khu Tả Ngạn sông Hồng gồm Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Năm tỉnh này trước đó thuộc Liên khu 3.

        Tháng 7 năm 1952, các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La được tách khỏi Liên khu Việt Bắc, hình thành Khu Tây Bắc.

        Từ sau khi thành lập Khu Tả Ngạn và Khu Tây Bắc (1952) cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, các đơn vị HC-QS không có sự thay đổi về tên gọi và địa giới.

        2. Việc thay đổi địa giới (tách, nhập) và tên gọi của các đơn vị HC-QS trong thời kỳ 1945-1954 diễn ra nhiều lân. Đây chính là nguyên nhân quan trọng khiến cho không ít tác giả trong quá trình nghiên cứu, biên soạn đã có những nhầm lẫn đáng tiếc về sử dụng thuật ngữ các đơn vị HC-QS, cũng như phạm vi, địa giới của các đơn vị này.

        Ví như cuốn sách Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống Pháp (QK 3-LSKCCP), Nxb QĐND, Hà Nội, 1990 viết: "Địa bàn Khu 3 tiếp giáp biển Đông với bờ biển dài gần 200 km. Trên đất liền, Khu 3 tiếp giáp các tỉnh Quảng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang ở phía Bắc; Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ ở phía Bắc - Tây Bắc; Sơn La ở phía Tây và Thanh Hoá ở phía Tây Nam" (tr. 9, 10); "Về địa lý quân sự, địa bàn Khu 3 chia làm 4 vùng rõ rệt: vùng rừng núi, trung du; vùng nông thôn đồng bằng; vùng ven biển, hải đảo và vùng thành phố, thị xã, thị trấn” (tr. 12).

        Viết như trên thì hoá ra, Khu 3 thời chống Pháp, về mặt địa lý và địa giới hành chính, tương đương với Quân khu 3 hiện nay. Thực ra không phải như vậy, Khu 3 ngày ấy chỉ bao gồm các tỉnh vùng Tả Ngạn sông Hồng là Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình mà thôi.

        Cũng trong cuốn sách nói trên, việc "xưng danh" các đơn vị HC-QS có nhiều chỗ mâu thuẫn khiến cho người đọc rất khó hiểu. Chẳng hạn, ở trang 347 viết: "Trong những ngày hè nóng bỏng năm 1952 này, quân và dân Liên khu 3 còn nhận được một quyết định quan trọng của Trung ương Đảng, Chính phủ. Đó là... thành lập một Khu riêng - Khu Tả Ngạn... phạm vi của Liên khu 3 do vậy đã thu hẹp lại trong miền Hữu Ngạn sông Hồng"... Nhưng các trang 7 và 529 lại viết: “Hai năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (từ tháng 7-1952 đến 7-1954), Liên khu 3 lại được tách thành Khu 3 và Khu Tả Ngạn trực thuộc Trung ương"; "Đến tháng 5-1952, tách Liên khu 3 thành hai khu: Khu Tả Ngạn và Khu 3".

        Như vậy, cùng một sự kiện, với cách diễn giải, đề cập trên đây của cuốn sách, người đọc có hai cách hiểu khác nhau. Thứ nhất, sau khi thành lập Khu Tả Ngạn, Liên khu 3 chỉ bị thu hẹp địa giới mà thôi, còn tên gọi vẫn không có gì thay đổi. Thứ hai, Liên khu 3 tách thành Khu Tả Ngạn và Khu 3. Và bởi vậy, tên gọi Liên khu 3 không còn nữa!

        Trên cơ sở những trình bày ở trên, chúng tôi thấy rằng, viết như ở trang 347 (QK 3-LSKCCP-SĐD) mới chính xác. Do có sự lẫn lộn như đã nêu trên, nên rất nhiều chỗ trong các trang 9, 13, 40, 41, 45... của cuốn QK 3-LSKCCP đều viết là Khu 3 trong khi đúng ra phải viết là Liên khu 3.

        Thường thì một số đơn vị HC-QS được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đơn vị HC-QS hoặc tách ra từ một đơn vị HC-QS. Do đó, xảy ra trường hợp có đơn vị HC-QS được "sinh ra" và có đơn vị HC-QS bị "mất đi". Thế nhưng về vấn đề này, đã không ít tác giả do nắm không chắc nên viết không chính xác. Ví như: "Liên khu 3 - trên cơ sở hợp nhất các Chiến khu 2, 3, và 11" (QK 3-LSKCCP-SĐD, tr. 9) và: "Liên khu 3, Liên khu đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp, thành lập theo Sắc lệnh 120/SL, ngày 25 tháng 1 năm 1948 của Chủ tịch Chính phủ VNDCCH trên cơ sở hợp nhất Khu 2, Khu 3 và Khu 11". (Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam của Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng, Nxb QĐND, H, 1996, tr. 447, mục từ Liên khu).

        Viết như trên hoá ra Khu 11 vẫn tồn tại cho đến trước khi Liên khu 3 ra đời. Đó quả là một sự nhầm lẫn đáng tiếc. Sự thực là, sau ngày Toàn quốc kháng chiến mấy hôm, Khu 11 đã được sáp nhập vào Khu 2, Mặt trận Hà Nội trở thành tiền phương của Khu 2.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:39:08 am

        Nhầm lẫn trên, không chỉ có ở 2 cuốn sách như đã dẫn, mà còn thấy trong một số sách khác. Cụ thể, cuốn Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) do Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử Bộ Tổng tham mưu, xuất bản năm 1991, cũng viết. "Các khu 2, 3 và 11 khu Hà Nội) bợp nhất làm một Liên khu lấy tên là Liên khu 3" (tr. 246); "ngày 4-10-1947, Bộ Tổng chỉ huy đã gửi cho các khu ở Bắc Bộ nêu lên phương hướng nhiệm vụ tác chiến trong Thu Đông.

        - Khu 2 và Khu 11 đánh thọc sâu vào Hà Đông hay Hà Nội" (tr. 188, 189).

        Thực tế, cuối năm 1949, Liên khu Việt Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất Liên khu 1 và Liên khu 10. Rõ ràng là với sự ra đời của Liên khu Việt Bắc thì từ thời điểm đó, Liên khu 1 và Liên khu 10 đã "đi vào lịch sử" chứ không còn tồn tại trong thực tế trên phương diện một tổ chức HC-QS nữa. Thế nhưng, khi viết lịch sử giai đoạn 1952, 1953, các tác giả cuốn QK 3-LSKCCP vẫn viết: "Vùng tự do của ta, tới đây đã bao gồm hầu hết các tỉnh miền núi rộng lớn thuộc Liên khu 1, 10, tỉnh Hoà Bình..." (tr. 423~ "đêm 8-10-1952, trong khi... và lực lượng vũ trang Liên khu 10 còn đang tiến vào " (tr. 379). Như chúng tôi đã trình bày ở trên, các đơn vị HC-QS thời kỳ 1945-1954 lúc thì gọi là chiến khu, khu, liên khu... Mỗi tên gọi gắn với một giai đoạn lịch sử nhất định. Chẳng hạn, từ cuối năm 1946 đến cuối năm 1948, các đơn vị HC-QS được gọi là khu, không còn gọi là chiến khu như trước nữa. Vậy mà, nhiều tác giả khi trình bày về giai đoạn lịch sử này vẫn dùng thuật ngữ chiến khu. Ví như cuốn "50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam" của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (VLSQSVN), Nxb QĐND, H, 1995, tr. 49; Cuốn Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb QĐND, H, 1994, tr. 263, 275; QK 3-LSKCCP, Sđd, tr. 112, 117, 118...

        Lại cũng có trường hợp, một đơn vị HC-QS được "xưng danh" khi trong thực tế nó chưa ra đời. Cuốn Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp - Những sự kiện, Nxb Văn hoá - Thông tin, H, 1997, có viết: "Năm 1947... từ 21 đến 24-5, Toà án quân sự Liên khu 3 đã xét xử...". (tr. 135). Sự thực, Liên khu 3 chỉ ra đời sau tháng 1-1948, do vậy làm gì đã có Liên khu 3 từ tháng 5 năm 1947!

        Cũng bởi sự tách, nhập nên số các đơn vị HC-QS cũng tăng giảm theo từng thời kỳ. Cụ thể, cuối năm 1945, cả nước có 9 chiến khu: Bắc Bộ 3 chiến khu (1, 2, 3); Trung Bộ 3 chiến khu (4, 5, 6); Nam Bộ 3 chiến khu (7, 8, 9). Vậy mà, ở trang 154, cuốn Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 (Nxb Hà Nội, 1986) lại viết: "Theo quyết định của Trung ương từ tháng 10- 1945, cả nước được chia làm 12 chiến khu. Hà Nội là Chiến khu đặc biệt - Chiến khu XI trực thuộc Trung ương".

        Vào thời điểm tháng 9 năm 1947, cả nước có 13 khu, trong đó, ở Bắc Bộ có 6 khu (1, 2, 3, 10, 12, 14); ở Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15); ở Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9). Song, một số sách lại viết là 14 khu: “Từ 12 khu năm 1946, đến tháng 9 năm 1947, cả nước có 14 khu: Bắc Bộ có khu 1, 2, 3, 10, 11, 12, 14 (Lai Châu, Sơn La, một phần Hoà Bình, Phú Thọ). Trung Bộ có khu 4, 5, 6, 15 (Tây Nguyên). Nam Bộ có khu 7, 8, 9" (LSKCCTDP 1945-1954 của VLSQSVN, Nxb QĐND, Hà Nội 1994, tr. 284). Viết như thế này, có nghĩa là Khu 11 - Hà Nội vần tồn tại.

        Ở trang 444 cuốn Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam - Sđd, viết: “Khu, đơn vị HC-QS thường gồm một số tỉnh, thành phố tiếp giáp nhau thuận lợi cho chỉ đạo, chỉ huy tác chiến và xây dựng lực lượng vũ trang trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp (cuối 1946). Cả nước có 14 khu: Bắc Bộ 7 khu 7 (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14), Trung Bộ 4 khu (4, 5, 6, 15), Nam Bộ 3 khu (7, 8, 9)". Viết như trên vừa khó hiểu, vừa không đúng ở chỗ: số lượng 14 khu mà tác giả nêu trên là vào thời điểm nào? Nếu là cuối năm 1946, thì không đúng. Bởi lúc đó chỉ có 12 khu (chưa có Khu 14 và 15). Còn nếu như vào năm 1947, sau khi thành lập Khu 14 và 15 thì Khu 11 đã sáp nhập vào Khu 2, nên cả nước lại chỉ có 13 khu chứ không phải 14 khu như con số mà Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam nêu.

        Đôi điều chúng tôi trình bày và diễn giải trên đây, thực ra là một trong nhiều vấn đề hiện còn tồn tại và chưa được khảo chứng để giải đáp thoả đáng trong không ít công trình lịch sử về thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) đã được ấn hành ở Trung ương và địa phương. Chính vì vậy, bàn thêm về đơn vị HC-QS, mục đích của chúng tôi là "sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ". Và, rất có thể, ngay cả những điều trong bài viết này cũng lại sẽ được "sửa lại", "bàn thêm". Mong được sự chỉ giáo của bạn đọc và nhất là các tác giả của các cuốn sách mà chúng tôi lấy làm "vật chứng".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:39:49 am
     
TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH - QUÂN SỰ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ (1945-1954)1

TRẦN VĂN THỨC       

        Nam Bộ là nơi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra sớm nhất (23-9-1945). Suốt trong cả 9 năm (1945-1954), về tổng thể, đây là một chiến trường nằm sâu trong vùng địch hậu, bởi thế vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT), xây dựng hậu phương căn cứ địa, tổ chức chiến trường... mang nhũng nét đặc thù riêng. Bài viết này đề cập tới vấn đề tổ chức chiến trường, các đơn vị hành chính-quân sự (HC-QS) của Nam Bộ, thế nhưng cũng chỉ ở một số khía cạnh trong rất nhiều nội dung của nó.

        1. Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến trong điều kiện các đơn vị HC-QS chưa được hình thành. LLVT tuy có số lượng đông, nhưng tổ chức thiếu chặt chẽ. Xứ ủy, ủy ban nhân dân, cấp ủy ở các địa phương chưa hoàn toàn quản lý, nắm bắt được LLVT. Đó là các yếu tố trong nhiều yếu tố ảnh hưởng lớn tới khả năng tác chiến, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và ngăn chặn bước tiến quân của kẻ thù hung bạo.

        Chỉ một thời gian ngắn sau ngày Nam Bộ kháng chiến, đồng chí Nguyễn Bình - một cán bộ quân sự cao cấp, được Trung ương Đảng phái vào Nam Bộ. Sau khi tới tỉnh Thủ Dầu Một, ngày 20 tháng 11 năm 1945, đồng chí đã triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ (thực ra chỉ có đại biểu của các đơn vị miền Đông Nam Bộ, tại ấp An Hoà, An Phú Xã). Hội nghị bàn việc thống nhất lực lượng, thống nhất chỉ huy, tổ chức lại bộ đội, vạch chương trình chống Pháp, diệt tề - trừ gian, đoàn kết quân dân, tiếp tế cho bộ đội, phân chia lại hoạt động cho các đơn vị vũ trang, chuẩn bị phát động phong trào chiến tranh du kích, thống nhất tên gọi các đơn vị Giải phóng quân và thành lập các chi đội. Hội nghị nhất trí cử đồng chí Nguyễn Bình làm Tổng Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ, đồng chí Hoàng Đình Giong (Vũ Đức) làm Chính trị ủy viên.

        Sau hội nghị này, trên thực tế, các LLVT Nam Bộ vẫn chưa được thống nhất về tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, nhưng những vấn đề mà hội nghị quyết định đã có tác dụng bước đầu thống nhất LLVT trên danh nghĩa, tạo nên tinh thần kháng chiến, củng cố lòng tin của quân và dân Nam Bộ.

        Một tháng sau ngày họp Hội nghị An Phú Xã, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy triệu tập hội nghị mở rộng tại một xã bên bờ sông Vàm Cỏ Đông (Về địa điểm họp, có nhiều ý kiến cho là ở bên bờ hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, tại xã Bình Hoà Nam. Tuy vậy, cung có ý kiến là ở Hoà Khánh, hoặc ở Hiệp hoà bên bờ là ngạn sông Vàm Cỏ Đông). Hội nghị quyết định một số vấn đề quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của cuộc kháng chiến đang ngày một lan rộng. Một trong những nội dung là bàn biện pháp thống nhất LLVT, phân chia các chiến khu theo chỉ thị của Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo quyết định của hội nghị này, các chiến khu (thường vẫn gọi là khu) ở Nan Bộ được hình thành. Chiến khu 7, miền Đông Nam Bộ, gồm các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Bà Rịa, Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh và thành phố Sài Gòn1 (Theo miền Đông Nam Bớ kháng chiến, 1945-1975, Nxb QĐND, Hà Nội, 1990, thì "Chiến khu 7 gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Tây Ninh, Gia Định", tr.86). Khu bộ trưởng là Nguyễn Bình (Theo "Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, 1945-1975”, Sđd, thì sau khi dự Hội nghị Vàm Cỏ Đông, đồng chí Nguyên Bình ra thông báo bỏ chức Tổng Tư lệnh Giải phóng quân", tr.86). Chính trị ủy viên là Trần Xuân Độ. Khu bộ phó là Dương Văn Dương.

        Chiến khu 8, miền Trung Nam Bộ, gồm các tỉnh bến Tre, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Sa Đéc. Khu bộ trưởng là Đào Văn Trường. Chính trị bộ chủ nhiệm là Võ Sỹ. Khu bộ phó là Trương Văn Giàu.

        Chiến khu 9, miền Tây Nam Bộ, gồm các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Vĩnh Long và Trà Vinh. Khu bộ trưởng là Hoàng Đình Giong (Vũ Đức). Chính trị bộ chủ nhiệm là Phan Trọng Tuệ. Khu bộ phó là Nguyễn Ngọc Bích.

        Trong tiến trình của cuộc kháng chiến, địa giới hành chính, tên gọi của các đơn vị HC-QS, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy có sự thay đổi nhằm đáp ứng những yêu cầu thực tế của cuộc kháng chiến. Về địa giới hành chính, tháng 10-1946, các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh (vốn thuộc Khu 9) được chuyển về Khu 8. Một năm sau đó, khoảng cuối năm 1947, hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc (thuộc Khu 9) được hoạch định lại thành tỉnh mới là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu. Tỉnh Long Châu Tiền chuyển thuộc Khu 8. Như vậy, đến năm 1948, địa giới hành chính của Khu 8 được mở rộng thêm 3 tỉnh nữa là Vĩnh Long, Trà Vinh và Long Châu Tiền. Cả 3 tỉnh này vốn dĩ thuộc Khu 9, bởi thế địa giới hành chính của Khu 9 bị thu hẹp lại.

        Năm 1948 (Về thời gian thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, các tài liệu ghi khác nhau. Cuốn Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996, tr. 144 viết ngày thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn là tháng 1-1948, trong khi đó cuốn Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh, tr. 126 lại viết là tháng 12-1948), các tỉnh Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn và Sài Gòn tách khỏi Khu 7 để thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn2 (Về địa giới Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, theo cuốn Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh, tr. 126, thì chỉ có thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, tỉnh Gia Định và huyện Trảng Bàng (thuộc Tây Ninh). Về tên gọi của Đặc khu Sài Gòn , có một số tài liệu vẫn viết là Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn). Bộ Tư lệnh đầu tiên gồm. Tô Ký - Tư lệnh, Phan Trọng Tuệ - Chính ủy, Huỳnh Văn Một - Phó Tư lệnh.

---------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-2000, xem thêm Tạp chí LSQS, số 6-1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:45:22 am

        Đến giữa năm 1950, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cuộc kháng chiến của quân và dân ta gặp nhiều khó khăn. Một trong những biện pháp để đẩy mạnh kháng chiến tiến tới của Xứ ủy Nam Bộ là tổ chức, sắp xếp lại chiến trường. Theo đó, thành phố Sài Gòn tách ra cùng các huyện vùng ven phía Bắc là Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Chánh thành lập Đặc khu Sài Gòn. Bộ Tư lệnh đầu tiên gồm Nguyễn Thi - Tư lệnh, Nguyễn Văn Mười (Mười Cúc tức Nguyễn Văn Linh) - Chính ủy, Nguyễn Hộ và Đào Tấn Xuân - Phó tư lệnh, Trần Lương (Lương Đình Minh tức Trần Hải Phụng) - Tham mưu trưởng.

        Sau khi Đặc khu Sài Gòn được thành lập, địa bàn Khu 7 được mở rộng thêm do sáp nhập các tỉnh, huyện còn lại của Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn cũ gồm Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh.

        Giữa năm 1951, Nam Bộ có sự thay đổi lớn về địa giới, tên gọi các tỉnh. 20 tỉnh của Nam Bộ sát nhập thành 10 tỉnh. Tháng 5-1951, giải thể các khu 7, 8, 9, chiến trường Nam Bộ được phân chia thành 2 phân liên khu đó là Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây (Về ngày tháng phân chia Nam Bộ thành 2 phân liên khu, sách Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 - Những sự kiện, Nxb VH-TT, Hà Nội, 1997, tr.280, viết: theo chúng tôi, Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp, không có lúc nào được gọi là Liên khu Nam Bộ, còn ngày thành lập là 12-10-1951, thì cần được nghiên cứu và thẩm định lại, bởi điều đó rất có thể là không chính xác). Phân liên khu miền Đông gồm các tỉnh Thủ Biên (Thủ Dầu Một, Biên Hoà và huyện Thủ Đức thuộc Gia Định), Gia Ninh (Gia Định, Tây Ninh và huyện Đức Hoà, Trung Huyện, khu Đông Thành thuộc Chợ Lớn), Bà Chợ (Bà Rịa, Chợ Lớn và huyện Long thành thuộc Biên Hoà, huyện Nhà Bè thuộc Gia Định), Mỹ Tân Gò (Mỹ Tho, Tân An, Gò Công), Long Châu Sa (một phần Long Xuyên và Châu Đốc phía tả ngạn sông Hậu cùng Sa đức, Đạc khu Sài Gòn. Tư lệnh và Chính ủy đầu tiên là Trần Văn Trà và Phạm Hùng.

        Phân liên khu miền Tây gồm các tỉnh Vĩnh Trà (Vĩnh Long, Trà Vinh), Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Long Châu Hà (một phần tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc ở hữu ngạn sông Hậu và Hà Tiên). Tư lệnh và Chính ủy đầu tiên là Phan Trọng Tuệ và Nguyễn Văn Vịnh.

        Cả hai phân liên khu này trực thuộc Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

        2. Ngoài việc tổ chức các đơn vị HC-QS, ở Nam Bộ còn có Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Đây và một tổ chức chỉ có ở Nam Bộ, còn Bắc Bộ và Trung Bộ thì không có. Về vấn đề này, sách 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1995. tr.65 viết: “Ngày 24 tháng 9 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị tổ chức Ban Quân sự Nam Bộ. Tên gọi và thành phần: để phù hợp với hệ thống chung, Ban Quân sự Nam Bộ gọi là "Bộ Tư lệnh Nam Bộ", "nhiệm vụ và quyền hạn trong Bộ Tư lệnh: 1. Về bàn việc, theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nghĩa là kế hoạch chủ trương phải đưa ra thảo luận trong Ban Thường vụ hay Bộ Tư lệnh tuỳ điều kiện. 2. Chính uỷ phải có quyền quyết định tối hậu. Nhưng trong lúc dùng quyền ấy, cần trọng uy tín của Tư lệnh và Phó Tư lệnh và không lấn át sáng viên chuyên môn".

        Cũng theo cuốn sách nói trên, trang 66 viết: "Tháng 10 (1948), thành lập Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tư lệnh Trung tướng Nguyễn Bình" (Theo sách Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975 thì sau khi Trung tướng Nguyễn Bình được điều ra Bắc, "đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy trực tiếp giữ chức Chinh ủy kiêm Tư lệnh Nam Bộ, đồng chí Dương Quốc Chính làm Phó Tư lệnh", tr. 172).

        Như vậy, vấn đề Bộ Tư lệnh Nam Bộ, theo sách 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, là rõ ràng, bởi lẽ:

        - Việc thành lập Bộ Tư lệnh Nam Bộ được căn cứ theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

        - Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập vào tháng 10 năm 1948, một tháng sau ngày có chỉ thị.

        - Chỉ thị thành lập Ban Quân sự Nam Bộ, nhưng tên của tổ chức này lại là Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

        Thế nhưng, sách Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) - Những sụ kiện, Nxb VH-TT, Hà Nội, 1997, lại viết: "Ngày 21-3-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức Tư lệnh, ông Trần Văn Trà giữ chức Phó Tư lệnh, ông Phạm Ngọc Thuần giữ chức Chính trị ủy viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ", (tr. 195-196). "Tháng 4-1949 thành lập Bộ Tư lệnh Nam Bộ". Và, theo các sách Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, 1945-1975 và Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh thì trước khi có chỉ thị thành lập Ban Quân sự Nam Bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở Nam Bộ đã có Ban Quân sự Nam Bộ. Chứng cứ là, sách Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, 1945-1975, viết: "Ngày 12-12-1947, Ban Quân sự Nam Bộ được thành lập do đồng chí Nguyễn Thanh Sơn làm Trưởng ban" (tr.135), “Tháng 6-1948, Chính phủ gửi điện vào công nhận Ban Quân sự Nam Bộ và cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức ủy viên Quân sự. Tháng 10, Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập thay cho Ban Quân sự Nam Bộ, do Trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh" (tr. 150).

        Còn ở sách Lực lượng vũ trang thành phố Hồ Chí Minh, lại viết Tháng 11-1947, Ban Quân sự Nam Bộ được thành lập do đồng chí Nguyễn Thanh Sơn làm Trưởng ban" (tr. 110). "Tháng 10-1948, Bộ Tư lệnh được thành lập thay cho Ban Quân sự Nam Bộ, Trung tướng Nguyễn Bình được cử làm Tư lệnh, đồng chí Dương Quốc Chính được cử làm Chính ủy” (tr. 126).

        Trên đây là một số vấn đề về các đơn vị HC-QS ở Nam Bộ thời kỳ 1945-1954 đã được công bố rải rác ở một số công trình lịch sử quân sự. Nay chúng tôi sắp xếp lại, trên bình diện chung của chiến trường Nam Bộ, để bạn đọc tiện theo dõi. Kèm theo đó là một số điều còn nghi vấn, mong rằng bạn đọc, cùng giới nghiên cứu lịch sử, nhất là các bậc lão thành đã từng tham gia chiến đấu và công tác ở Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hiểu biết về vấn đề này, góp phần lý giải thêm cho sự kiện thêm sáng tỏ và chuẩn xác.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:54:55 am

PHẦN III


TRẬN TUA HAI, VÀI CHI TIẾT  CẦN XEM LẠI VÀ CHỈNH SỬA1


TRẦN PHẤN CHẤN       

        Với ý nghĩa vượt hơn một trận đánh tương đương "cấp tiểu đoàn tăng cường", trận Tua Hai ở Tây Ninh (đêm 25 rạng 26-1-1960) đã đi vào lịch sử như tiếng súng mở màn phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ, tạo ra một điển hình cho loại hình tiến công địch bắt đầu bằng tiến công quân sự kết hợp nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng. Chính vì ý nghĩa lịch sử như vậy, trận Tua Hai không chỉ được đưa vào danh mục nhiều sách biên niên lịch sử mà cả từ điển.

        Nhân đọc tuần san Sài Gòn giải phóng ngày 14 tháng 10 năm 2000, chúng tôi phát hiện trong mục "Bạn đọc đặt câu hỏi", khi báo giải đáp cho một bạn đọc hỏi về trận Tua Hai, đã căn cứ vào "Từ điển địa danh lịch sử văn hoá Việt Nam" (TĐĐDLSVHVN, tác giả Nguyễn Văn Tân, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr.1.243). Chúng tôi đã tra tìm đúng sách này, đồng thời lại tra tìm đến "Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam" (TĐBKQS, Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự - Bộ Quốc phòng, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996, tr.868).

        Cả hai cuốn sách trên đều có danh mục "Trận Tua Hai", song khi đối chiếu nội dung, chúng tôi thấy các yếu tố thông tin chủ yếu trong hai cuốn sách không thống nhất, thậm chí một số tài liệu khác nhau. Cụ thể:

        - Về vị trí căn cứ Tua Hai:

        TĐĐDLSVHVN ghi: "Cách thị xã Tây Ninh 5 km về phía Bắc".

        TĐBKQS ghi:  "Tây Bắc thị xã Tây Ninh 7 km".

        - Về cấp căn cứ và lực lượng địch trong căn cứ:

        TĐĐDLSVHVN: "Lực lượng Mỹ, ngụy ở đây gồm hai trung đoàn, một chi đoàn thiết giáp và một đại đội pháo binh”.

        TĐBKQS: "Căn cứ Tua Hai của Trung đoàn 32 quân đội Sài Gòn...", "Gồm 4 khu do 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn xe tăng chiếm giữ, xung quanh có 14 tháp canh và hệ thống phòng thủ cẩn mật".

        - Về lực lượng vũ trang của ta được sử dụng trong trận đánh:

        TĐĐDLSVHVN: "Một tiểu đoàn lực lượng vũ trang nhân dân ta và một đoàn quân giáo phái đã phối hợp tấn công..."

        TĐBKQS: "3 đại đội bộ binh (59, 70, 80), Đại đội đặc công 60 và 3 tiểu đội vũ trang Tây Ninh".

        - Về kết quả trận đánh:

        TĐĐDLSVHVN: "400 địch bị chết, 500 tên bị bắt sống, thu 1.200 súng các loại".

        TĐBKQS: "Diệt 500, bắt giáo dục thả tại chỗ 500 quân, thu 1.500 súng các loại".

        Từ điển là "chuẩn khoa học", chưa nói đến tính chuẩn xác thì sự khác nhau nói trên giữa hai sách đã gây sự nghi ngờ cho độc giả.

        Khách quan mà nói, do hoàn cảnh lịch sử, việc chỉnh sửa những thông tin do hai sách trên đưa ra thật không đơn giản. Trận đánh diễn ra cách nay đã hơn 40 năm, tư liệu “văn bản" phía ta còn lại chủ yếu là những dòng tin thông tấn được ta phát đi với tinh thần động viên, cổ vũ Đồng khởi thời đó; Phía địch còn lại một số mẫu báo cáo; phần chủ yếu còn lại hiện nay là nhân chứng trong đó chủ yếu là phía ta. Tỉnh ủy Tây Ninh đã hai lần tổ chức hội thảo về chiến thắng Tua Hai, lần thứ hai vào cuối năm 1999, đã in kỷ yếu (Chiến thắng Tua Hai và phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Nxb QĐNĐ, Hà Nội 1999). Nhưng ngay trong kỷ yếu này có rất nhiều số liệu khác nhau được đưa ra trong các bài tham luận. Mặc dù vậy, với những việc có thể làm được, kể cả việc tham khảo ý kiến nhân chứng phía bên kia, chúng tôi mạnh dạn đề đạt một số điểm cụ thể cần chỉnh sửa.

        - Về vị trí căn cứ Tua Hai: Theo khảo sát thực địa, số liệu do TĐBKQS đưa ra là phù hợp ("Tây Bắc thị xã Tây Ninh 7 km"); số liệu trong TĐĐDLSVHVN cần chỉnh lại.

        - Về địch ở căn cử Tua Hai: Với quá trình nghiên cứu tư liệu từ hai phía, chúng tôi cho rằng: Tua Hai là căn cứ của Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn (như TĐBKQS đã nêu, lúc đó còn được gọi là thành Nguyễn Thái Học). Lực lượng thường xuyên ở đây gồm 3 tiểu đoàn bộ binh: (1, 2, 3), 1 đại đội trọng pháo (cối 81 và ĐKZ trở xuống), 1 đại đội quân xa, 1 đại đội chỉ huy công vụ.

        Nếu thừa nhận ý kiến này, thì nhiều chi tiết trong 2 sách cần xem lại để chỉnh sửa.

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 2-2001)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 03:55:23 am

        Về chi tiết "Lực lượng Mỹ, ngụy ở đây gồm 2 trung đoàn...": Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn lúc bấy giờ có 3 trung đoàn đóng ở 3 căn cứ riêng rẽ: căn cứ Trung đoàn 31 ở Bến Cát (Bình Dương), căn cứ Trung đoàn 32 ở Tua Hai (Tây Ninh), căn cứ Trung đoàn 3 ở Cẩm Giang (Tây Ninh). Riêng sư đoàn bộ đóng ở Bến Kéo (Tây Ninh). Vào thời điểm ta tiến công, không có việc địch tăng cường thêm 1 trung đoàn vào Tua Hai, chỉ có việc Trung đoàn 32 mới nhận về khoảng 300 tân binh (phần lớn là từ Bến Tre lên) để huấn luyện, nhưng trước giờ ta nổ súng, phần lớn lực lượng các tiểu đoàn 2, 3 đã tập hợp trước căn cứ (quân ta có phát hiện việc này và thoạt đầu tưởng là địch báo động) để lên xe hành quân về Trại Bí, thực hiện cuộc càn vào khu vực Kà Tum (trong vùng căn cứ của ta). Trong căn cứ Tua Hai còn lại tiểu đoàn 1, phần còn lại của các tiểu đoàn 2, 3, các đại đội pháo, quân xa, công vụ, sở chỉ huy trung đoàn (vắng mặt thiếu tá Phạm Văn Liễu - Trung đoàn trưởng). Tài liệu địch còn cho biết, Trung đoàn 32 vẫn cho nhiều lính về phép Tết bình thường.

        Về chi tiết "tiểu đoàn xe tăng", “chi đoàn thiết giáp", "tiểu đoàn pháo": đều không có căn cứ. Cho đến cuối năm 1959, trang bị cho một sư đoàn quân đội Sài Gòn chỉ có 2 tiểu đoàn pháo và 1 tiểu đoàn thiết giáp (Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ, nguỵ trên chiến trường B2, Phòng Tổng kết chiến dịch - Ban Tổng kết chiến tranh B2, Nxb QĐND, H, 1988) (so với trước đó, chỉ có 1 tiểu đoàn pháo và 1 đại đội thiết giáp), chưa nói gì đến xe tăng. Trong diễn biến trận Tua Hai cũng không thấy sự xuất hiện của tăng thiết giáp và không có tư liệu nào nói các đơn vị trên đóng ở Tua Hai (mà có tài liệu nói, có pháo cụm ở Bến Kéo, Cẩm Giang). Năm 1961, Mỹ đưa vào 268 xe cơ giới, trong dó phần lớn là thiết giáp M113 để xây dựng 4 tiểu đoàn cơ giới (Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Viện LSQS Việt Nam, Hà Nội. 1991), chưa thấy nói đến việc xây dựng đơn vị tăng thiết giáp.

        Về lực lượng ta được huy động trong trận đánh: Như TĐBKQS là đúng (tổng số 225 cán bộ, chiến sĩ, không kể 300 dân công); không có "đoàn quân giáo phái", đó chỉ là tên ngụy trang của Trung đội vũ trang Tây Nình tham gia trận đánh.

        Về thiệt hại của địch: Con số địch bị diệt (500), bị bắt (400 hoặc 500) đều được ước lượng, làm tròn, căn cứ báo cáo của các mũi tiến công, của chiến đấu viên. Về số súng lấy được (1.200-1.500 khẩu) có thể coi là tương đối chính xác do có thể "đếm được" khi mang ra, nhưng cần trừ lại một nửa (khoảng trên dưới 750 khẩu) vì ta có lấy quân xa của địch để chở, nhưng bị chúng phục kích, đánh lấy lại một nửa (việc này được cả hai bên thừa nhận). Nhìn chung, với kết quả trên, mỗi thành viên tham gia chiến đấu đều phải diệt, bắt gần 5 tên địch, thu gần 7 súng. Việc thu súng nhiều như vậy có thể hiểu được vì ta đánh trúng kho (cũng chính là quyết tâm của ta) mà địch lại tập trung súng vào kho khi chưa sử dụng. Về tỷ lệ diệt, bắt dịch như vậy là quá cao, nếu xét rằng bộ đội vào trận rất thiếu đạn (nên có chủ trương lấy đạn địch đánh địch ngay trong trận) và chỉ được trang bị thêm 76 thủ pháo. Địch tuy bị bất ngờ, chống cự yếu, nhưng vẫn có chống cự (gây cho ta 7 hy sinh, 25 bị thương). Đại tá Nguyễn Hữu Có Tư lệnh Quân khu 1 của địch thừa nhận (trong báo cáo ngày 1-2-1960): chúng chết và bị thương 76 người, mất tích một số. Con số này tương đối phù hợp với ý kiến của một số nhân chứng thuộc Trung đoàn 32 sống sót sau trận đánh: số chết là 49 (nhân chứng chính là người đi mua hòm chôn và cho biết thêm: số 300 tân binh bị đẩy vào thực hiện cuộc càn ở Kà Tum đều không dám trở về căn cứ Tua Hai, rã ngũ, phần lớn trốn luôn về Bến Tre, trùng hợp với ý kiến "mất tích một số” của Nguyễn Hữu Có). Căn cứ những tư liệu từ hai phía, có thể "tóm lại kết quả trận đánh: ta đã đánh chiếm, làm chủ căn cứ cấp trung đoàn của địch tại Tua Hai trong khoảng 1 giờ, diệt, bắt, giáo dục, thả tại chỗ và làm tan rã hàng trăng tên, thu trên 750 súng các loại và nhiều chiến lợi phẩm khác, gây thiệt hại nặng Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn.

        Việc ước lượng về số sinh lực địch bị loại như vậy (trong điều kiện chưa có chứng cứ cụ thể để đưa ra con số chính xác) tuy chưa đạt yêu cầu cụ thể về tính chuẩn xác, nhưng vẫn đúng, khoa học và vẫn hơn là đưa ra những con số quá cao mà không có sức thuyết phục.

        Và việc đánh giá kết quả như trên cũng như việc xem xét lực lượng địch cho đúng (theo hướng "ít" hơn) chẳng những không hạ thấp ý nghĩa, vị trí lịch sử của trận Tua Hai, như đã được đánh giá, mà trái lại, còn làm tăng tính thuyết phục, bởi vì sự nghi ngờ những số liệu đưa ra bao giờ cũng dẫn đến sự nghi ngờ về đánh giá. Với một lực lượng vũ trang được gom góp lại từ các bộ phận, được nhen nhóm, xây dựng để tự vệ tiến lên hỗ trợ đấu tranh chính trị, có bộ phận còn phải ngụy trang giáo phái, trang bị chắp vá... mà đã đánh trúng, đánh chiếm, làm chủ một căn cứ cấp trung đoàn của địch, diệt sinh lực, bắt tù binh, thu vũ khí... đó là một kỳ tích mà sau này khi lực lượng đã thành "Quân giải phóng" còn phải phấn đấu.

        Như vậy, việc chỉnh sửa danh mục "Trận Tua Hai" trong các từ điển và trong các công trình lịch sử là việc làm cần thiết. Làm rõ sự kiện lịch sử này không chỉ để bảo đảm tính khoa học mà còn làm tăng sức thuyết phục đối với những đánh giá từ trước đến nay về trận này.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:05:53 am

ĐỐI THOẠI XUNG QUANH "SỰ KIỆN VỊNH BẮC BỘ”1

TRẦN BƯỞI       

        Vừa qua tại Hà Nội, các nhà sử học Việt Nam đã tiếp đón và tổ chức hai cuộc hội thảo khoa học với các bạn đồng nghiệp Mỹ (Cuộc hội thảo lần thứ nhất tổ chức cuối tháng 11-1988, do Trung tâm nghiên cứu W. Joyner đề nghị. Cuộc hội thảo lần thứ hai tổ chức vào tháng 5-1989, theo đề nghị của Uỷ ban Hoa Kỳ hợp tác khoa học với Việt Nam (U.S committee for scientific co-operation with Vietnam)) về các đề tài của cuộc chiến tranh Việt Nam. Một trong những đề tài được đưa ra thảo luận khá sôi nổi và lý thú là "Đánh giá lại cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ" (Đầu đề bản tham luận của giáo sư Gareth Porter (The Tonkin Gulf crisis reconsidered)) theo cách nhìn mới.

        Với phương pháp đối thoại trực tiếp trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và không định kiến, hai bên đã đưa ra lập luận của mình và qua tranh luận để đi tới một sự đánh giá khách quan nhất đối với sự kiện lịch sử.

        Trong đoàn các nhà sử học Mỹ, Giáo sư Gareth Porter và Giáo sư Edwin E.Moise3 (Giáo sư Gareth Porter, Trường Đại học American; Giáo sư Edwin E.Moise, trường đại học Clemson) đã chuẩn bị công phu bản tham luận và những cứ liệu về "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ". Đoàn sử học Việt Nam cũng phân công các bình luận viên (commentator) chuẩn bị trước để phát biểu về sự kiện này. Mở đầu cuộc đối thoại, hai bên đồng ý rằng, thời điểm Xuân - Hè năm 1964 là thời điểm quan trọng, có tác động sâu sắc đối với cục diện chiến tranh. Chính quyền của Tổng thống L.B. Johnson bắt đầu xúc tiến mạnh mẽ chính sách gây áp lực ngoại giao đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH), trong khi chính sách của Chính phủ VNDCCH là kiềm chế và liên tiếp đưa ra những giải pháp thương lượng để giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ông Gareth Porter nhấn mạnh ý đồ của chính sách ngoại giao Mỹ lúc này chỉ nhằm gây sức ép buộc Bắc Việt Nam phải ngừng chi viện cho các lực lượng cách mạng ở miền Nam, nhưng trong hành động, Mỹ đã vô tình thúc đẩy cuộc chiến tranh leo thang để sau đó trở thành cuộc chiến tranh quy mô lớn mà không bên nào mong muốn. Từ lập luận tổng quát đó, ông Gareth Porter đánh giá: "Sự kiện Vinh Bắc Bộ" là sự khiêu khích vô tình trong nền ngoại giao vũ lực Mỹ (Nguyên văn của câu tham luận: unwittinh provocation in U.S coercive diplomacy). Các sự kiện xảy ra liên tiếp trong các ngày đầu tháng 8 năm 1964 trên Vịnh Bắc Bộ không có dụng ý thúc đẩy tình huống căng thẳng để đi tới một cuộc chiến tranh, bởi vì Mỹ lúc đó rất sợ chủ lực của miền Bắc ồ ạt kéo vào miền Nam. Tiếp đó, ông Gareth Porter đã đưa ra nhiều dẫn chứng rằng Mỹ đã không làm chủ được các hoạt động ngoại giao cưỡng bức của mình nên đã vô tình đẩy cục diện chiến tranh phát triển theo chiều hướng ngược lại cái mà Mỹ mong muốn gây sức ép quân sự buộc VNDCCH lùi bước.

        Trong cuộc đối thoại tháng 5, Giáo sư E. E. Moise không đưa ra những lập luận tổng quát mà lại bắt đầu bằng những sự việc cụ thể. Theo ông, đúng là Mỹ đã có kế hoạch chi tiết đánh phá VNDCCH từ đầu năm 1964 nhưng còn do dự, đến tháng 7 mới quyết tâm hành động. Tuy nhiên, hành động của Mỹ không nhằm ý định đẩy cuộc khủng hoảng lên cực điểm - chiến tranh, mà chỉ muốn tạo ra một tín hiệu rõ ràng, báo cho VNDCCH biết rằng Mỹ không từ bỏ cam kết của mình ủng hộ chế độ Sài Gòn của Nguyễn Khánh. Về tính chất các sự kiện xảy ra ở Vịnh Bắc Bộ, ông E. E. Moise cho biết, ông đã tiếp xúc với các sĩ quan, thủy thủ Mỹ, kể cả đại tá J. Herrich là người chỉ huy các cuộc tuần tiễu Desoto thì, đêm 30 rạng sáng 31 tháng 7, tàu khu trục Maddox có mặt ở Vịnh Bác Bộ là theo kế hoạch tuần tiễu thường lệ chứ không phải có ý hỗ trợ cho các tàu biệt kích Sài Gòn tấn công hai đảo Hòn Mê và Hòn Mát. Trận đụng độ trên biển chiều 2 tháng 8 là do Mỹ không lường được quyết tâm đối trả của hải quân Bắc Việt Nam. Cũng là vô tình và ngẫu nhiên đó, trận đụng độ tiếp theo xảy ra trong đêm ngày 4 là không có thật; đó là do sự sai lầm về kỹ thuật của các thủy thủ và sĩ quan trên hai tàu khu trục Mỹ gây nên nhưng là sai lầm không cố ý, không tính toán trước. Để kết luận, E. E. Moise cho rằng, quyết định chung của chính quyền Mỹ là có cân nhắc, song khi thực hiện thì cấp thấp hơn, có thể là các quan chức điều hành của Mỹ ở Sài Gòn đã thúc đẩy các hành động khiêu khích, kể cả sử dụng các tàu biệt kích nguỵ hành động quá giới hạn dự định mà hậu quả của nó đã dẫn đến sự leo thang chiến tranh của hai bên.

        Điều đáng chú ý trong phần kết luận, ông Gareth Porter đã bình luận: nếu như chính quyền Mỹ lúc đó hiểu được sự kiềm chế của Hà Nội mong muốn một thoả hiệp thương lượng hơn là một cuộc chiến tranh, thì Washington đã có thể kết hợp áp lực ngoại giao với sức mạnh mà đạt được một giải pháp thương lượng, bảo vệ được lợi ích tối thiểu của mình ở Nam Việt Nam. Điều đó có lợi hơn là tung sự hiện diện quân sự của Mỹ vào miền Nam để chuốc lấy hậu quả thua thiệt hơn nhiều sau này.

        Các nhà sử học Việt Nam đã không đồng ý với nhiều điển của những lập luận đó. Tại cuộc đồi thoại trực tiếp, chúng ta cũng trình bày tóm tắt bản tham luận của mình và sau đó thẳng thắn nhưng cởi mở trao đổi với các nhà sử học Mỹ.

        Chúng ta đề nghị các bạn Mỹ không nên bó hẹp không gian và thời gian lịch sử khi nghiên cứu "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", không sa quá nhiều vào những tình tiết cụ thể của các sự kiện và nên nghiên cứu thật kỹ các chủ trương, chính sách của cả hai bên ở cấp Nhà nước.

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 8-1989)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:06:29 am

        Bằng những tư liệu tin cậy, chúng ta đã chứng minh: “Chiến lược chiến tranh đặc biệt" của Mỹ vào cuối năm 1963 đang đứng trước nguy cơ thất bại. Chế độ độc tài Diệm - Nhu bị lật đổ, ngụy quyền Sài Gòn sa vào một cuộc khủng hoảng toàn diện đang phá vỡ những nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Đây là nguyên nhân trực tiếp buộc Mỹ phải đẩy mạnh những hoạt động phá hoại vốn đã diễn ra từ năm 1962 do lực lượng biệt kích ngụy tiến hành, được Mỹ viện trợ và khuyến khích. Chúng ta cũng lưu ý các nhà sử học Mỹ về sự xuất hiện từ rất sớm ý đồ phá hoại nước VNDCCH, khi cố Tổng thống J. Kennedy lên nắm chính quyền ở Mỹ. Ông ta đã từng nói “một trong những cách chống du kích tốt nhất là cho người của chúng ta luồn vào thánh địa của Cộng sản mà phá". Tuy nhiên, chúng ta đồng ý với các bạn đồng nghiệp Mỹ, kể từ tháng 2 năm 1964, kế hoạch chi tiết phá hoại miền Bắc với cái tên 34A mới được vạch ra, bao gồm cả những hoạt động biệt kích đường bộ, đường biển và đường không của ngụy Sài Gòn. Việc điều hành phần lớn các hoạt động phá hoại này đã được chuyển giao cho Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương. Do đó, các hoạt động tuần tiễu Desoto ở Vịnh Bắc Bộ của các tàu khu trục Mỹ và hoạt động của các tàu biệt kích ngày xuất phát từ Đà Nẵng để bắn phá dọc bờ biển miền Bắc đã có sự phối hợp theo một kế hoạch nhất định.

        Các hoạt động khiêu khích và phô trương sức mạnh quân sự của Mỹ là một mặt biểu hiện quan trọng của “chính sách ngoại giao cưỡng bức" ("Effort át coercive diplomacy" trong phát biểu của ông Gareth Porter) như ông Gareth Porter đã thừa nhận. Các hoạt động đó vừa nhằm tạo sức ép, đồng thời cũng là sự chuẩn bị cần thiết về quân sự cho các hoạt động đánh phá bằng không quân và hải quân của Mỹ vào miền Bắc sau này. Chúng ta đề nghị phân tích lại sự việc tháng 5 năm 1964, khi Bộ Tham mưu của Tổng thống L. B. Johnson đã dự thảo nghị quyết đưa trình Quốc hội, nhấn mạnh cam kết ủng hộ chế độ Sài Gòn và đề nghị cho phép Tổng thống sử dụng mọi biện pháp, kể cả việc đưa lực lượng vũ trang đến hỗ trợ. Sau này, Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ (ngày 7-8) do Quốc hội Mỹ thông qua cũng là sự phát triển của tinh thần dự thảo tháng 5 mà thôi.

        Rõ ràng, đường hướng chính sách của chính quyền Mỹ đối với Việt Nam được tính toán cho việc leo thang chiến tranh chú không phải là sự vô tình hoặc không lường được hậu quả. Vì vậy, lập luận của chúng ta là, với chính sách đó thì dù "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" chưa xảy ra vào đầu tháng 8 cũng sẽ xảy ra vào các tháng tiếp sau đó. Và cuối cùng, hậu quả sai lầm của “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ" dã đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh hao người, tốn của và mất uy tín kéo dài hàng chục năm sau đó.

        Chúng ta không đồng ý với một số lý giải chi tiết sự kiện của ông E. E. Moise; bởi vì khi nghiên cứu cục diện chiến tranh, phải nghiên cứu từ chính sách của nhà nước, của ban lãnh đạo cấp cao chứ không thể lấy hành động của cấp thừa hành. Những dẫn chứng vô tình, không cố ý của thủy thủ, sĩ quan trên các tàu khu trục Mỹ không thể làm bằng cớ để biện minh cho chính sách; vả lại, chính họ đã bị sự điều hành của cấp cao lừa dối, thậm chí chính quyền Mỹ hồi đó còn che giấu cả nhân dân và Quốc hội nhằm thông qua cho được bản nghị quyết sai lầm về Vịnh Bắc Bộ, một nghị quyết mà thượng nghị sĩ Uâynơ Moócxơ bang Origân đã mô tả như là một bản “tuyên chiến đề ngày trước" (Thượng nghị sĩ Uâynơ Moócxơ bỏ phiếu không tán thành dự thảo Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ trong cuộc họp của uỷ ban đối ngoại của Thượng nghị viện trước khi đưa ra thông qua tại cuộc họp toàn thể Thượng nghị viện).

        Cuộc đối thoại đã dành một thời gian để trao đổi về chiều hướng có thể thay đổi nếu lúc đó chính quyền Mỹ hiểu rõ được sự kiềm chế và lập trường đúng đắn của nước VNDCCH và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam qua các giải pháp thương lượng. Nhân dịp hội thảo, chúng ta đã trình bày rõ 6 yêu cầu cấp bách để giải quyết cuộc chiến tranh ở miền Nam của Mặt trận tuyên bố ngày 7 tháng 11 năm 1963 và sự ủng hộ của Chính phủ VNDCCH đối với 6 yêu cầu đó (Xem Tuyên bố 6 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miên Nam Việt Nam ngày 7-11-1963, trích đăng trong “Những sự kiện lịch sử Đảng”, Nxb Thông tin lý luận, 1985, tập 2, tr. 277). Nhưng chúng ta cho rằng, trong bối cảnh lịch sử đó, chính quyền Mỹ chưa chịu chấp nhận giải pháp thương lượng, bởi lẽ tham vọng của giới cầm quyền còn rất lớn. Nó thể hiện ngay trong Nghị quyết số 273 của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ họp ngày 26 tháng 11 năm 1963 khẳng định rằng: Mục tiêu của Mỹ ở Nam Việt Nam là để giúp đỡ nhân dân và chính phủ nước này chiến thắng cuộc đọ sức chống âm mưu chỉ đạo từ bên ngoài và được Cộng sản ủng hộ.

        Trong đối thoại, các bạn đồng nghiệp Mỹ hoàn toàn không bác bỏ các điểm lập luận của chúng ta và trong không khí cởi mở, họ đánh giá cuộc hội thảo đã có những kết quả rất bổ ích. Ông E. E. Moise rất cảm ơn cuộc đối thoại thẳng thắn này và nói rõ ý định trong thời gian tới. Ông sẽ viết một quyển sách trình bày với công luận Mỹ về sự thật của "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", nhằm bác bỏ những sai lầm của một số cuốn sách đã viết về sự kiện này.

        Qua đối thoại, mối quan hệ giữa các nhà sử học Việt Nam và Mỹ đã có bước tiến bộ tốt, đặt cơ sở cho sự phát triển rộng lớn trong tương lai. Các bạn đồng nghiệp Mỹ hứa sẽ cung cấp cho chúng ta những tư liệu cần thiết để làm sáng tỏ thêm nhiều đề tài phong phú về cuộc chiến tranh Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:12:36 am

VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG VỊNH BẮC BỘ THÁNG 8-19641

TRẦN BƯỞI       

        Cách đây 35 năm, ngày 5 tháng 8 năm 1964, lần đầu tiên máy bay của Hải quân Mỹ đã bắn phá một số địa phương trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là hành động chiến tranh nguy hiểm, bất chấp luật pháp quốc tế, xâm phạm trắng trợn chủ quyền nước ta. Để biện minh cho hành động này, Mỹ công bố phải "đánh trả đũa” vì các khu trục hạm của Mỹ đã bị Hải quân Việt Nam vô cớ tiến công hai lần trên vùng biển quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ vào chiều 2 và đêm 4 tháng 8.

        Thực ra, trận tập kích bằng không quân ngày 5 tháng 8 chỉ là đỉnh cao của một loạt các vụ khiêu khích của Hải quân Mỹ và ngụy Sài Gòn diễn ra từ cuối tháng 7 năm 1964. Các tàu khu trục của Mỹ tiến vào Vịnh Bắc Bộ để hoạt động do thám, đã xâm phạm hải phận thuộc chủ quyền Việt Nam và đã Bị Hải quân nhân dân Việt Nam đánh đuổi. Hải quân Mỹ. qua hành động tuần tiễu của mình trên vùng Vịnh Bắc Bộ, đã đóng vai trò hỗ trợ cho các tàu biệt kích ngụy xâm nhập, bắn phá các đảo và ven biển Nghệ An, Thanh Hoá, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống và lao động sản xuất của ngư dân Việt Nam. Mỹ không chịu dừng lại sau trận đụng độ ngày 2 tháng 8 mà nhanh chóng tăng cường thêm tàu khu trục và tàu sân bay đến vùng biển Việt Nam để đe dọa làm cho tình hình căng thẳng hơn, dẫn đến "trận chiến đấu không hề có" trong đêm 4 tháng 8 (Về chiến đấu trên biển không hề xảy ra, Tạp chí Lịch sử quân sự số 8-1989).

        Chính quyền của Tổng thống L. B. Giôn-xơn đã tập hợp các sự việc xảy ra ở Vịnh Bắc Bộ để dựng lên cái gọi là cuộc "khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ" nhằm lừa dối, kích động Quốc hội Mỹ nhanh chóng thông qua trong ngày 7 tháng 8 một nghị quyết lấy tên là “Nghị quyết Vinh Bắc Bộ". Nghị quyết tai hại này đã cho phép: “... Tổng thống với tư cách là Tổng tư lệnh được áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để đẩy lùi bất kỳ một cuộc tiến công vũ trang nào chống lại các lực lượng của Mỹ và nhằm ngăn chặn sự xâm lược tiếp theo" (J. S. On-xơn - Từ điển chiến tranh Việt Nam. Nxb Gơ-rin-út, Con-nếch-ti-cớt, 1988, tr. 180 (tiếng Anh)).

        Sai lầm của Nghị quyết trên đã bị các chính quyền L. B. Giôn-xơn và R. Ních xơn lợi dụng để phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và mở rộng ra toàn bán đảo Đông Dương. Mãi tới năm 1972, Quốc hội Mỹ mới dùng quyền phủ quyết để xoá bỏ hiệu lực của Nghị quyết này.

        Khi nghiên cứu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, thì thấy rằng thời điểm Xuân-Hè 1964, nhất là từ khi có Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, là bước chuyển quan trọng trong ý định mở rộng quy mô chiến tranh của chính quyền L. B. Giôn-xơn. Cùng với việc xúc tiến các áp lực ngoại giao, Mỹ còn đẩy mạnh các hoạt động chống phá Việt Nam dân chủ cộng hòa; đồng thời tích cực chuẩn bị dư luận và kế hoạch để sử dụng quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Để tranh thủ sự đồng tình của Quốc hội Mỹ và nhân dân Mỹ, chính số quyền Giôn-xơn ra sức tạo dựng hình ảnh các lực lượng của Mỹ là nạn nhân bị khiêu khích và bị tấn công vô cớ. Kết quả là trong một thời gian ngắn, chính giới và ngay cả một bộ phận dân chúng đã bị đánh lừa và tin là thật. Chỉ đến khi Giôn-xơn mở rộng chiến tranh, đưa ồ ạt lính Mỹ trực tiếp tham chiến và đổ máu ở Việt Nam thì chính trường nước Mỹ bắt đầu xáo động. Các chi tiết của cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ được phanh phủi, nhiều nghị sĩ cảm thấy mình bị lừa dối và bắt đầu cuộc đấu tranh để hạn chế và chống lại chính sách điều hành chiến tranh sai lầm của chính quyền Mỹ.

        Sau khi chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ thất bại, nhiều học giả ở Mỹ và phương Tây đã nghiên cứu về cuộc chiến tranh này và họ không bỏ qua việc phân tích về các sự việc xảy ra trong cuộc khủng hoảng ở vùng Vịnh Bắc Bộ trong mùa Hè năm 1964. Thậm chí có những học giả công phu điều tra, thu thập tư liệu để viết sách chuyên khảo về cuộc khủng hoảng này. Các học giả có quan điểm tiến bộ, tôn trọng sự thật lịch sử đều có chung nhận xét rằng: "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, trong tất cả chiều cạnh của nó, về sau được chứng minh là một sai lầm lớn của chính quyền..." (G. Côn-cô - Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb QĐND, Hà Nội, tập 1, tr 152).

------------------
        1. (Tạp chí LSQS Số 4- 1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:12:56 am

        Họ phê phán đòn trả đũa của không quân với tinh thần tương đối khách quan là: "Kết luận chủ yếu rút ra sau khi nghiên cứu nghiêm chỉnh về các sự kiện đã viện dẫn thì không có bằng chứng nào của cuộc tấn công có đủ cơ sở lý luận để bào chữa cho sự trả đũa" (A Hustinaud và E. G. Wnơely - Vịnh Bắc Bộ, Nxb Gác-đen Xi-ti, New York 1971).

        Và khi phân biệt người chủ mưu và nạn nhân thì Pi-tơ A. Pu-lơ đã vạch rõ. "Chính quyền Giôn-xơn lợi dụng bầu không khí khủng hoảng, một phần do các biện pháp chiến tranh bí mật chống Bắc Việt Nam của chính họ gây ra, để đạt được ủy quyền to lớn của Quốc hội cho phép tiến hành chiến tranh ở Đông Nam Á vào bất cứ lúc nào nó thấy phù hợp" (Pi-tơ A. Pu-lơ - Nước Mỹ và Đông Dương từ Ph. Ru-dơ-ven đến Nich-xơn, nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 165).

        Tuy nhiên, cũng có những cuốn sách có lập luận tán đồng cách đánh giá các sự kiện Vịnh Bắc Bộ như chính quyền. Đáng chú ý là năm 1986, Hải quân Mỹ chính thức xuất bản cuốn lịch sử của mình trong chiến tranh Việt Nam (EJ. Marolca, OP. Fidzgerald - The United States navy and the Vietnam Conflict, Volume 11, P 410-449, Naval history Center, Department of the naval, Washinglon D.C, 1986 (nguyên bản tiếng Anh)), đã dành hẳn một chương để chứng minh việc các tàu khu trục Mỹ bị tấn công vô cớ ngoài hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ và do đó, đòn trả đũa của không quân Mỹ vào một số căn cứ của Hải quân Việt Nam là sự phát triển hợp lô-gích.

        Để thấy được nguồn gốc và bản chất của các sự việc xảy ra trên Vịnh Bắc Bộ, quan điểm của chúng ta là phải đặt các sự việc đó trong mối quan hệ với toàn bộ chính sách của Mỹ đối với Việt Nam. Sự cam kết ủng hộ và viện trợ để duy trì chế độ ngụy miền Nam lệ thuộc Mỹ đã làm cho nước Mỹ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Cho đến cuối năm 1963, khi ở miền Nam Việt Nam đã có mặt trên 16.500 cố vấn quân sự Mỹ cùng với các phương tiện chiến tranh yểm trợ khá mạnh mẽ mà vẫn không ngăn được đà thất bại của 406.000 quân ngụy, thì Mỹ buộc phải tiến hành các biện pháp khẩn cấp dể cứu vãn sự đổ vỡ của chế độ tay sai. Các biện pháp đó chính là hàng loạt các vụ khiêu khích trên biển, trên không và bắn phá vùng ven biển miền Bắc nước ta, đi đôi với các hoạt động ngoại giao gây áp lực.

        Từ việc tạo dựng ra cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ, thông qua sức mạnh của hải quân và không quân, Mỹ coi đó là con chủ bài để răn đe và khi cần thì hành động bất ngờ và nhanh nhất. Ngay từ thế kỷ XIX, Mỹ đã dùng sức mạnh hải quân đánh bại đế quốc Tây Ban Nha từ biển Ca-ri-bê sang tới Thái Bình Dương. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hải quân và không quân của Mỹ phát triển vượt xa các nước đế quốc khác cả về số lượng và chất lượng. Để thực hiện tham vọng bành trướng toàn cầu, Mỹ thiết lập nhiều căn cứ không, hải quân tại các nước đồng minh và chư hầu để sử dụng các lực lượng này can thiệp vào nhiều nơi như vùng biển Ca-ri-bê, eo biển Đài Loan, Nhật Bản, vịnh Hồng Hải và biển Đông (Việt Nam)...

        Từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ, Mỹ càng dựa vào sức mạnh của các hạm đội và không quân tầm xa hành động ngang ngược, vượt mặt cả Liên Hiệp quốc Sau chiến tranh vùng Vịnh (năm 1991), Mỹ tự ý quy định vùng cấm bay ngay trên không phận của I-rắc. Tháng 8 năm 1998, Mỹ lấy cớ truy đuổi tổ chức khủng bố quốc tế, dùng tên lửa phóng từ các tàu chiến vào đất Xu-đăng và Áp-ga-ni-xtan. Cuối tháng 3 năm 1999, lợi dụng cuộc khủng hoảng Cô-xô-vô, Mỹ và các nước NATO không áp đặt được giải pháp của mình cho Nam Tư nên đã dùng không quân đánh phá ác hệt nước này.

        Những hành động sử dụng sức mạnh quân sự của Mỹ đang là mối nguy cơ đe dọa hoà bình và ổn định ở các khu vực. Bài học cảnh giác rút ra từ cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ hơn 30 năm trước đây vẫn còn nguyên giá trị.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:17:52 am
       
NGUYỄN VIẾT XUÂN VỚI LỜI HÔ BẤT TỬ “NHẰM THẲNG QUÂN THÙ MÀ BẮN!"1

NGUYỄN THANH HỒNG        

        Lâu nay trên một số tạp chí xuất hiện những bài viết về sự kiện lịch sử Nguyễn Viết Xuân với lời hô bất tử: "Nhằm thẳng quân thù bắn” trong đó có một số chi tiết cần bàn thêm cho rõ như: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!" hay: "Nhằm thẳng quân thù, Bắn!"? Nơi Đại đội 3 lập trận địa phòng không nằm trên đất Lào hay miền Tây tỉnh Quảng Bình và đơn vị đó trực thuộc Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu 4 hay nằm trong đội hình của Sư đoàn 325?

        Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu lưu giừ tại Phòng Lịch sử Quân khu 4, tôi xin ghi lại sự kiện trên để bạn đọc tham khảo.

        Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ 37 ly thuộc Sư đoàn 325, Quân khu 4 do Đại đội trưởng Lê Hữu Mai và Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân chỉ huy, xây dựng trận địa phòng không tại khu vực Cha Lo trên đường 12, miền Tây tỉnh Quảng Bình, làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn.

        Ngày 15 tháng 10 năm 1964, tin về anh Nguyễn Văn Trỗi bị Mỹ, nguỵ giết hại đã gây xúc động lớn trong cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3. Trong buổi truy điệu Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức ngay tại trận địa, Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân thay mặt chỉ huy đơn vị kêu gọi cán bộ, chiến sĩ trả thù cho anh Trỗi và học tập gương anh. Nguyễn Viết Xuân nói: "Anh Trỗi đã ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào mặt kẻ thù mà đấu tranh đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta cũng sẽ nhìn thẳng vào máy bay giặc Mỹ mà bắn".

        Toàn Đại đội nhất trí đồng thanh hô vang khẩu hiệu. "Noi gương anh Trỗi, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bảo vệ mục tiêu”.

        10 giờ trưa ngày 18 tháng 11 năm 1964, một tốp 3 máy bay Mỹ lao xuống bắn phá mục tiêu do Đại đội 3 bảo vệ. Lúc này toàn Đại đội đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, Đại đội trưởng Lê Hữu Mai ra lệnh: "Nhằm chiếc đi đầu, bắn!". Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân hô tiếp: - Các đồng chí! Hãy trả thù cho anh Trỗi. Phản lực Mỹ không có gì đáng sợ. Nhằm thẳng vào quân thù mà bắn!

        Ngay lập tức, các khẩu pháo gầm lên, hàng loạt đạn xé không khí chụp lấy chiếc máy bay đi đầu. Một tiếng nổ vang. chiếc máy bay bốc lửa đâm đầu xuống chân núi cách trận địa vài cây số! Hai chiếc còn lại vứt bom, tháo chạy.

        Trận địa đã bị lộ, hàng chục tốp máy bay Mỹ từ biển nối tiếp nhau lao vào, phóng gần 150 quả đạn rốc-két xuống trận địa. Có 4 quả trúng công sự Khẩu đội 3, hất các pháo thủ ra khỏi mâm pháo. Nguyễn Viết Xuân băng mình trong lửa đạn lao tới Khẩu đội 3, nhưng các pháo thủ đã bò dậy, nhảy lên mâm pháo và tiếng súng của Khẩu đội 3 lại gầm lên hoà vào tiếng súng của toàn đại đội. Lại một chiếc máy bay Mỹ trúng đạn bốc cháy. Nguyễn Viết Xuân đứng trên trận địa hô lớn:

        - Hoan hô Khẩu đội 3! Các đồng chí chiến đấu rất dũng cảm. Thay mặt chi bộ Đảng tôi biểu dương các đồng chí. Chúng ta đã "vít cổ” máy bay Mỹ xuống ngay từ đầu như thế là rất tốt nhưng đừng có ai chủ quan. Có thể địch sẽ đến nữa và ta còn phải đánh ác liệt hơn. Chúng ta chớ bắn phí đạn, mà phải bắn gần, bắn khi máy bay địch bổ nhào, bắn cho chắc ăn...

        5 tốp máy bay Mỹ tiếp tục lao vào bắn phá điên cuồng. Cả trận địa Đại đội 3 gầm lên tiếng súng bắn trả. Trong lửa đạn mịt mù, Chính trị viên Xuân như con thoi chạy khắp các khẩu đội kịp thời động viên bộ đội giữ vững vị trí chiến đấu.

        Một quả đạn rốc-két nổ sát bờ công sự ngay cạnh sở chỉ huy Đại đội. ống chân bên phải của Nguyễn Viết Xuân bị dập nát. Đoạn chân đứt còn bám lủng lẳng vào đùi bằng lớp da, máu tuôn như xối.

        Chiến sĩ Tình vội chạy đến. Xuân xua tay:

        - Cứ bình tĩnh. Đừng cho ai biết tôi bị thương.

        Tình đi gọi y tá Nhu. Vừa thấy bóng Nhu, Xuân đã hỏi:

        - Nhu đấy à? Anh em có ai việc gì không? Nhu chưa kịp trả lời Xuân đã ôn tồn nhưng kiên quyết:

        - Cậu cắt cái chân cho mình tý. Vướng quá!

        Nhu đỡ lấy đùi Xuân, run rẩy, lưỡng lự, nhưng Xuân đã rướn người lên:

        - Nào! Đồng chí bắt đầu đi.

        Nén cơn đau, Xuân thì thào: "Thế là tốt. Giấu khúc chân của mình đi Nhu ạ. Chớ cho anh em biết mình bị thương phải cắt chân".

        Không dằn được lòng mình, Tình đứng dậy hét to:

        - Các đồng chí ơi! Chính trị viên bị thương rồi. Hãy bắn tan xác máy bay Mỹ, trả thù cho Chính trị viên!

        Cả trận địa hô vang: "Trả thù cho Chính trị viên!”

        Từng loạt đạn thẳng căng bao vây lấy máy bay Mỹ, thêm 1 chiếc F.100 trúng đạn rơi xuống chân núi.

        Trận chiến đấu tạm lắng xuống. Đại đội trưởng Mai và Trung đội trưởng Nguyên chạy tới bên Xuân. Anh vẫn nở nụ cười trên đôi môi nhợt nhạt:

        - Các đồng chí đừng lo, tôi chỉ mất một cái chân thôi, không hề gì đâu. Anh em chiến đấu dũng cảm lắm, các đồng chí nhớ ghi công anh em và động viên đơn vị tiếp tục chiến đấu tốt Đồng chí Nguyên thay tôi làm Bí thư chi bộ như đã dự kiến. Sau trận chiến đấu này nhớ tiến hành ngay công tác phát triển Đảng. Chú ý chăm sóc anh em thương binh...

        Nguyễn Viết Xuân lịm dần trong vòng tay đồng đội.

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 5-1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:23:04 am

VỀ NGÀY THÀNH LẬP TRUNG ĐOÀN BA GIA1

NGUYỄN ĐỨc THÁI         

        Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các đơn vị Quân giải phóng miền Nam nói chung, Quân khu 5 nói riêng do phải giữ bí mật nên sau khi thành lập thường mang những mật danh khác nhau. Bên cạnh đó, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt những tài liệu lưu trữ thất lạc nên trong quá trình nghiên cứu biên soạn lịch sử của các đơn vị không tránh khỏi những thiếu sót, nhầm lẫn... Bài viết này xin bàn thêm về ngày thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam (Sau chiến dịch Ba Gia (28-5-1965 đến 31-5-1965), Trung đoàn 1, Quân khu 5 được vinh dự mang tên Trung đoàn Ba Gia) - Trung đoàn ba lần Anh hùng, gắn bó với mảnh đất Quảng Nam "Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ".

        Trong sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia (1963-1998), Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, trang 15 ghi: "Nhằm nâng cao số lượng và chất lượng của lực lượng vũ trang, đáp ứng với yêu cầu mới của chiến tranh cách mạng, cuối năm 1962, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định thành lập các trung đoàn bộ đội chủ lực của Quân khu.

        Thực hiện kế hoạch đó, ngày 20 tháng 11 năm 1962, “Công trường 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam" chính thức được thành lập. Với lực lượng gồm hai tiểu đoàn bộ binh 60, 70 và một số đại đội trực thuộc, do đồng chí Quách Tử Hấp làm Chỉ huy trưởng Công trường, kiêm Tỉnh đội trưởng Quảng Nanh, đồng chí Dương Liên làm Chính ủy Công trường kiêm Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam. Đây là một trong ba đơn vì cấp trung đoàn được thành lập đầu tiên trên chiến trường Khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước".

        Sách Sư đoàn 2 (tập 1), Nxb Đà Nẵng, 1989, trang 16 ghi: "Tháng 11 năm 1962, theo quyết định của Quân khu, Trung đoàn bộ binh 1 - một trong hai trung đoàn chủ lực đầu tiên của chiến trường được thành lập. Lúc này Trung đoàn còn kiêm nhiệm vụ Tỉnh đội Quảng Nam. Các đồng chí Quách Tử Hấp, Trung đoàn trưởng kiêm Tỉnh đội trưởng; Dương Loan (Liên) - Chính ủy kiêm Chính trị viên Tỉnh đội. Hiện nay Trung đoàn Ba Gia lấy ngày 20 tháng 11 năm 1963 - ngày Trung đoàn tách khỏi nhiệm vụ kiêm chức năng Tỉnh đội Quảng Nam - làm ngày truyền thống" (Ngày 20-11-2003, Trung đoàn Ba Gia làm lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập).

        Năm 2000, được giao nhiệm vụ sưu tầm tư liệu, nghiên cứu biên soạn lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh giai đoạn 1945-2000, tôi có điều kiện tiếp xúc với một số nguồn tư liệu gốc. So sánh với hai cuốn sách trên thì các mốc thời gian hoàn toàn khác. Tôi đã thể hiện điều này trong tập 2 "Lịch sử Lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam - Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)" do Nxb QĐND xuất bản năm 2004.

        Trong tập hồi ức Chỉ một con đường của Trung tướng Nguyễn Huy Chương, Nxb Đà Nẵng, 2001, từ trang 150 đến 153, mục "Trở lại chiến trường xưa" có viết: "Tết Nhâm Dần năm 1962 (Tức ngày 5-2-1962) khung trung đoàn bộ binh được bộ tăng cường cho Khu 5 đón Tết tại Binh trạm Tà Lê; sau đó tiếp tục hành quân về trạm Nước Lá trà Mỹ), đây là binh trạm tiếp đón phân phối lực lượng cho các tỉnh. Trung đoàn cán bộ khung được Quân khu phân công về Quảng Nam (có biệt danh Dì 2)". Đồng chí về xây dựng Trung đoàn 2 (còn gọi là Công trường 2).

        Tài liệu lưu trữ tại Ban Khoa học Lịch sử quân sự tỉnh Quảng Nam, số 602/2, Báo cáo tình hình 6 tháng đầu năm 1962 của Công trường 1 Quảng Nam (bản viết tay) có đoạn viết: "Cơ quan Dì 2 được trên chú ý tăng cường cán bộ, bước đầu đã xây dựng, làm việc và chỉ đạo công tác các đơn vì tương đối có kết quả". Còn ở trang 18, tài liệu ghi: "Các cấp ủy Đảng từ Công trường đến chi bộ đã được tổ chức và sinh hoạt đều, nhất là các đơn vị tập trung như 60, 70, 75. Các đơn vị phân tán thì sinh hoạt thất thường hai, ba tháng một lần như cơ quan Công trường". Phần phương hướng 6 tháng cuối năm 1962, trang 22 tài liệu ghi: "Cuối tháng 7 họp Đảng ủy chuẩn bị họp sơ kết đầu năm... lên kế hoạch hoạt động mùa đông. Đề nghị Khu hướng dẫn thêm nhiệm vụ 6 tháng cuối năm và chỉ đạo Hội nghị sơ kết của công trường. Ký tên Công trường 1".

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS sô s3-2004)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:23:24 am

        Tài liệu Dự thảo báo cáo phong trào du kích chiến tranh từ năm 1961 đến tháng 3 năm 1966, ký hiệu A2/8, lưu tại Ban Khoa học Lịch sử quân sự tỉnh Quảng Nam, trang 5, 6, mục "Quá trình hình thành cơ cấu quân sự các cấp ủy Đảng câng như lực lượng vũ trang và bán vũ trang" có ghi: "Tháng 9 năm 1962, Quân khu giải tán Ban Quân sự và thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam, lực lượng gồm 3 tiểu đoàn 70, 60, 751 (Tiểu đoàn 75 vào đến Quảng Nam tháng 2 năm 1962, có 1 đại đội đủ quân); Đại đội 10 độc lập, các đại đội trực thuộc như ĐK, cối 81, trọng liên, đặc công, trinh sát, công binh, giao thông chiến, thông tin. Lực lượng chủ yếu của trung đoàn kể cả chỉ huy sở ở cánh Nam, riêng Tiểu đoàn 75 ở cánh Bắc"... "Tháng 11 năm 1962 tách Bắc Quảng Nam thành lập Tỉnh đội Quảng Đà... Về phần lực lượng vũ trang có Tiểu đoàn 75, chia một bộ phận công binh, trinh sát, thông tin, cán bộ của ba cơ quan và thủ trưởng cho Quảng Đà. Trung đoàn 1 vẫn kiêm nhiệm Tỉnh đội Quảng Nam". Ở trang 7, tài hếu ghi tiếp: "Tháng 11 năm 1963, Quân khu quyết định tách Trung đoàn 1 khỏi Tỉnh đội Quảng Nam để tiện cơ động làm nhiệm vụ và thành lập Tỉnh đội Quảng Nam. Trung đoàn để lại cho Tỉnh đội Quảng Nam có Tiểu đoàn 70, Đại đội 10 độc lập, còn các đơn vị trực thuộc như thông tin, công binh, trinh sát, cơ quan, thủ trưởng mỗi bên một nửa, nhưng dành ưu tiên cho Trung đoàn...".

        Từ những tài liệu trên và gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, chúng tôi được biết: Tiểu đoàn 60 đủ quân vào đến chiến trường Quảng Nam tháng 3 năm 1962. Tiểu đoàn 90 là đơn vị cơ động của Quân khu, hoạt động ở phía Nam Quảng Nam, đơn vị đã hỗ trợ cho lực lượng địa phương giải phóng Tứ Mỹ - Xuân Bình - Phú Thọ - Kỳ Thạnh - Kỳ Trà (Nam Tam Kỳ), đánh đồn Trà Mỹ, đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của địch ở Nà Niêu (Tiên Phước)... Khi tách Trung đoàn 1 khỏi Tỉnh đội Quảng Nam, Tiểu đoàn 90 mới về đội hình Trung đoàn 1.

        Về Đảng, sau khi tách tỉnh, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, tổ chức ở Nà Cau (tháng 11 năm 1962), đồng chí Dương Loan được bầu vào Ban thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Quách Tử Hấp và 3 cán bộ của Trung đoàn 1 là: Trần Kim Anh, Trần Đình Hiếu, Nguyễn Đình Trọng được bầu là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Nam.

        Tại hội nghị lấy ý kiến thông qua bản thảo tập 2 sách Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh, các đồng chí Quách Tử Hấp, Trần Tốc ( Khi thành lập Trung đoàn kiêm Tỉnh đội, đồng chí Trần Tốc (Khanh) làm Phó Chính ủy kiêm Chính trị viên phó; đồng chí Nguyễn Hữu Đức (Đinh Châu) làm Trung đoàn phó kiêm Tỉnh đội phó. Tháng 11 năm 1962, hai đồng chí Tốc và Đức về làm Tỉnh đội trưởng và Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Đà), Trần Kim Anh và tất cả các cựu cán bộ chỉ huy tỉnh Quảng Nam, Quảng Đà trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về dự, đã công nhận sự kiện Trung đoàn 1 thành lập tháng 2 năm 1962 là chính xác.

        Tổng hợp các dữ liệu trên đây tôi thấy có đôi điều cần bàn về ngày thành lập Trung đoàn 1 như sau:

        Thứ nhất, ngày 20 tháng 11 năm 1962 không phải là ngày thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam, mà đây chính là ngày tỉnh Quảng Nam được tách làm hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà. Nếu ngày đó mới được thành lập thì tại sao có báo cáo 6 tháng đầu năm của Công trường 1 như đã viết ở trên.

        Thứ hai, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Quảng Nam thành lập Ban quân sự trực thuộc Tỉnh ủy, có 17 đồng chí. Ngày 3 tháng 2 năm 1962, Tỉnh ủy quyết định thành lập Tiểu đoàn 70 trên cơ sở khung của Tiểu đoàn 79 mới từ miền Bắc vào chiến trường cuối năm 1961. Vào tháng 2 năm 1962, Quân khu 5 giải tán Ban quân sự, thành lập Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam. Còn về ngày cụ thể nào trong tháng 2, chúng tôi đã gặp nhiều nhân chứng và được xác định đó là ngày 20 tháng 2.

        Lực lượng ban đầu của Trung đoàn 1 có ba tiểu đoàn 70, 60. 75 và các đơn vị trực thuộc. Tháng 11 năm 1962, Tiểu đoàn 75 về Quảng Đà, Trung đoàn 1 kiêm Tỉnh đội Quảng Nam còn 2 tiểu đoàn là 70 và 60. Khoảng mùa Đông năm 1963, tiểu đoàn 40 đủ quân vào đến chiến trường Quảng Nam và sau đó được bổ sung vào đội hình Trung đoàn 1. Lúc Trung toàn tách ra khỏi Tỉnh đội Quảng Nam (20-11-1963), Tiểu toàn 70 ở lại Quảng Nam, Tiểu đoàn 90 về đội hình Trung đoàn. Như vậy, tháng 11 năm 1963, Trung đoàn Ba Gia đủ 3 tiểu đoàn là 40, 60, 90 và các đơn vị trực thuộc chứ không phải có hai tiểu đoàn như sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia đã viết.

        Trong sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia (1963-1998), ảnh đồng chí Quách Tử Hấp chú thích là "Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn Ba Gia" là đúng. Nhưng ghi đồng chí Quách Tử Hấp làm Trung đoàn trưởng ngày 20 tháng 11 năm 1962 hoặc ngày 20 tháng 11 năm 1963 đều không chính xác. Ngày 20 tháng 11 năm 1963, Trung đoàn tách khỏi Tỉnh đội Quảng Nam, lúc đó đồng chí Phạm Duy Minh làm Trung đoàn trưởng; đồng chí Nguyễn Đình Trọng làm Chính ủy; đồng chí Quách Tử Hấp làm Tỉnh đội trưởng Quảng Nam.

        Trên đây là vài ý kiến xin mạnh dạn trao đổi với tác giả tập sách Lịch sử Trung đoàn Ba Gia (1963-1998). Qua đây cũng đề nghị Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn và các nhân chứng lịch sử cùng xác định chính xác ngày thành lập của Trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:29:28 am

BÀN THÊM VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA CUỘC TỔNG DIỄN TẬP CHIẾN LƯỢC MẬU THÂN 19681

TRẦN BẠCH ĐẰNG       

        Muốn đánh giá chính xác ý nghĩa cùng hiệu quả chính trị lớn lao của cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968 đối với toàn bộ quá trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, trước hết cần đặt nó trong một hiện thực lịch sử xác định và trong ý đinh lãnh đạo của Đảng ta.

        Có lẽ cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ là bài toán phức tạp và gay gắt nhất không những Đảng mà cả dân tộc ta phải xử lý từ khi đất nước cầm vũ khí giữ bờ cõi và giành lại chủ quyền suốt nhiều ngàn năm tồn tại.

        Dĩ nhiên, mỗi sự nghiệp kháng chiến quá khứ đều có những khó khăn riêng và do đó khi giành được thắng lợi thì thắng lợi ấy luôn đáng tự hào. Các triều đại phong kiến chúng ta kể từ nhà Lê trở về trước chống cường địch phương Bắc vời lực lượng so sánh ta bao giờ cũng kém hơn, xét quân số, binh chủng và đôi khi, cả trang bị bộ binh thông thường, song ta và địch đều ở trong một trình độ sản xuất xấp xỉ nhau.

        Cuộc kháng chiến chống Pháp, nhất là chống Mỹ, tình hình khác hẳn. Kẻ thù - nước tư bản công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, vượt trội hơn chúng ta về các phương tiện vật chất kỹ thuật quân sự và phục vụ cho quân sự; có phương diện chúng ở ưu thế tuyệt đối.

        Đó là một sự thực và chính từ sự thực ấy mà bài toán thêm hóc hiểm. Vả lại, xét đến mức mà chúng tôi vừa xét, cũng chỉ mới đề cập phần hình thức của vấn dề. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mang tính chất khác hẳn tất cả các cuộc kháng chiến trước đó - cũng không hoàn toàn giống tính chất cuộc kháng chiến chống Pháp.

        Mỹ không nhằm dập tắt một phong trào giải phóng dân tộc mà nhằm bóp chết một hình thái xã hội, một chế độ chính trị trong một hệ thống thế giới đang hình thành mà Việt Nam là mũi nhọn ở Đông Nam Á với sức cổ vũ mang giá trị quốc tế.

        Bởi vậy, hoàn toàn đúng đắn khi chúng ta nói rằng chiến thắng đế quốc Mỹ là chiến công lớn nhất của dân tộc từ ngày lập quốc bởi vì chúng ta nhận thức sự kiện ở giác độ nội dung tính giai cấp và xu thế của nó. Nước Nga từng đánh bại Napôlêông năm 1812, song rõ ràng, không thể nào đánh đồng chiến công Brôđinô với công cuộc phá Béclin, đánh sụp chủ nghĩa phát xít Hítle năm 1945.

        Muốn thắng Mỹ, ngoài lòng dũng cảm, tính kiên trì, sụ giúp đỡ của bạn bè, còn đòi hỏi phải có trí tuệ. Ở đây, loại trí tuệ khá độc đáo, chưa có tiền lệ. Hoặc đã có thì một tiền lệ để ta suy ngẫm: cuộc chiến tranh Triều Tiên 1951-1953, diễn ra ngay trong lúc chúng ta còn đánh Pháp. Chúng ta đều biết trên bán đảo Triều Tiên, thực binh Mỹ và quân chí nguyện Trung Quốc trực tiếp chạm trán, chiến tranh có lúc đến tận cảng Phú Sơn, cực Nam bán đảo và có lúc lên tận bờ sông Áp Lục, sát biên giới Trung Quốc. Đàm phán Bàn Môn Điếm rồi Giơnevơ chấm dứt xung đột với cái kết quả rõ rệt nhất là đường giới tuyến 38 phân chia hai phần nước Triều Tiên dời xuống phía Nam được mười cây số.

        Tiền lệ như thế không thể không khiến bộ não của cách mạng Việt Nam phải tính toán bước đi, ngay liền sau khi vừa ký Hiệp nghị Giơnevơ. Tác phẩm Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn là những dự kiến phác thảo và cuộc Đồng khởi 1959-1960 ở Nam Bộ, cung cấp cho Đảng những cơ sở để làm phong phú thêm tính lý luận và thực tiễn của chiến lược đánh và thắng Mỹ bằng kiểu cách Việt Nam.

        Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Mậu Thân - không xét ý định ban đầu và không xét về những mặt va vấp trong chỉ đạo thực hiện mà chỉ xét về cái đáng xét nhất là hiệu quả cuối cùng - là một công đoạn cực kỳ quan trọng trong chiến lược đánh và thắng Mỹ của Đảng ta, một sự tiến tới vừa mang tính đột xuất vừa biểu thị tính quy luật của một tư tưởng, đến lúc đó, đã hình thành tương đối hoàn chỉnh.

        Trọng điểm của Mậu Thân là Sài Gòn. Ở đây, hoàn toàn không thể đặt Mậu Thân như một đợt công kích quân sự thông thường. Một số thành phố, thị xã, thị trấn bị quân ta đánh chiếm có nơi làm chủ dài ngày hơn Sài Gòn, song giả sử Mậu Thân không diễn ra ở Sài Gòn thì tự thân đợt tiến công đã không bảo đảm ý nghĩa hàng đầu của nó và tác động dứt khoát thấp hơn như cái đã có. Trong mệnh lệnh của Bộ Chính trị, phổ biến bằng miệng, mục tiêu của cuộc tiến công và nổi dậy phải là Sài Gòn. Bởi vậy, kế hoạch tiến công và nổi dày Sài Gòn được nghiên cứu kỹ, vạch đi vạch lại nhiều lần và cuối cùng, chỉ 5 tháng trước khi hành động, kế hoạch này thới được thông qua, sau này còn tiếp tục bổ sung thêm chi tiết. Để giành thắng lợi ở Sài Gòn, Bộ Chính trị và Trung ương Cục tổ chức hẳn một khu trọng điểm gồm nội thành Sài Gòn, năm phân khu chung quanh mà mỗi phân khu nối dài với một hai tỉnh, như Phân khu 1 gồm cả Bắc Gia Định, Tây Bắc Long An, tỉnh Tây Ninh; Phân khu 2 gồm phần còn lại của Long An và Mỹ Tho; Phân khu 3 gồm Nhà Bè, Cần Giuộc và vùng Rừng Sát; Phân khu 4 gồm Thủ Đức và cả tỉnh Biên Hoà; Phân khu 5 gồm Dĩ An và cả tỉnh Bình Dương nay là Sông Bé). Bí thư khu trọng điểm là đồng chí Nguyễn Văn Linh .

----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 7- 1988)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:29:52 am

        Ta sẽ không nói về những mặt đơn giản, chủ quan, máy móc trong hợp đồng cả chiến trường trọng điểm - các bài viết trước đã đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự và nhiều tờ báo và tập san đã phản ánh - mà muốn nhấn mạnh đến mục tiêu nhất thiết không được bỏ qua, nó quyết định giá trị của chiến dịch. Tất nhiên, muốn hiểu chính xác Mậu Thân thì không thể xét diễn biến của nó như một chiến dịch đơn thuần quân sự Trong mệnh lệnh, Bộ Chính trị nhấn mạnh hai mục tiêu mà ta phải đánh cho kỳ được bất cứ với giá nào là Đại sứ quán Mỹ và Dinh Độc Lập - tiêu biểu cho quyền uy của Mỹ, ngụy ở miền Nam. Ta có thể nói rằng, hai đợt Mậu Thân, nhất là đợt 1 đã làm choáng váng kẻ thù, trong trường hợp đó, tiến công vào Sài Gòn và hai điểm tiêu biểu nhất kia tác dụng như Quân giải phóng đánh vào chính Thủ đô nước Mỹ và Nhà trắng có thể cách nói đó hơi cường điệu song không phải hoàn toàn vô căn cứ.

        Còn một quan niệm cần tranh luận: ở Sài Gòn, trong Mậu Thân, có nổi dậy của quần chúng không? Chúng ta gặp lại lần nữa sự phủ nhận quần chúng nổi dậy ở Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Theo chúng tôi, phải trao đổi chung quanh hai chữ "nổi dậy". Kinh nghiệm lịch sử ở ta và nhiều nước, quần chúng nổi dậy là một hiện tượng không bao giờ lặp lại, không theo một mẫu nào cả, Cách mạng Tháng Mười Nga, thợ thuyền và binh lính kết hợp, trong một tình thế cách mạng cụ thể, lật đổ Chính phủ lâm thời tư sản và trận tiến công lớn tập trung ở Cung điện Mùa Đông với mức xô xát quyết liệt, ngắn ngủi và với số thương vong nhỏ - nhỏ so với một cuộc cách mạng lớn. Trước Cách mạng Tháng Mười Nga, Công xã Pari diễn ra một hình thức nổi dậy giành chính quyền của quần chúng lao động và sau đó, biến thành cuộc chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng bằng lực lượng dân chúng vũ trang và chướng ngại vật trên đường phố. Cách mạng Tháng Tám ở Hà Nội bừng lên trong cao trào quần chúng giữa lúc kẻ thù suy sụp mà hoạt động vũ trang chỉ đóng vai trò hỗ trợ có giới hạn; tình hình ở Sài Gòn năm 1945 cũng na ná như vậy.

        Những năm 1959-1960, nông thôn Nam Bộ "đồng khởi" - quần chúng diệt tề, trừ gian, thiết lập chính quyền cách mạng...

        Mậu Thân, chúng ta Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa. Nói cách khác, quần chúng nổi dậy trong điều kiện chiến tranh lên đến đỉnh cao. Một phóng viên của một tờ báo Mỹ hỏi tôi vài tuần lễ trước đây: Tại sao trong Mậu Thân, Sài Gòn không có đình công, bãi chợ, bãi khoá và biểu tình? Tôi trả lời: Xưởng, hiệu buôn, chợ không hoạt động, trường học nghỉ...; dù không phải ngày Tết, giữa bom đạn xối cả, các hình thức ấy không cần chủ trương tự khắc cũng diễn ra; còn biểu tình, quần chúng kéo ra đường để làm gì và sẽ đạt hiệu quả gì? "Nổi dậy" trong trường hợp chiến tranh phải thể hiện bằng hình thức riêng: giành chính quyền ở các xóm lao động, giải tán ngụy quyền, kiểm soát đường phố, truy lùng bọn mật thám chỉ điểm, giữ an ninh trật tự, tổ chức quần chúng, dẫn đường, tiếp tế cho bộ đội, tải vũ khí, tải thương và săn sóc thương binh, vận động quân ngụy về với cách mạng hoặc hạ vũ khí... Mức độ mỗi khu vực không đều, song cả thành phố đã xuất hiện không khí khác thường đó.

        Ta hiểu một trong những thất vọng lớn của Mỹ không chỉ vì quân biệt động và lực lượng vũ trang của ta thọc được vào thành phố, đánh các điểm đầu não xung yếu của chúng mà còn vì chúng thấy thái độ đồng tình của quần chúng - thấp nhất cũng là rời bỏ khu vực chiến sự kéo vào khu trung tâm, tạo nên cảnh hoảng loạn. Ngay bọn phản động cũng không tổ chức nổi một cuộc phản biểu tình.

        Ta hiểu quan niệm "nổi dậy" trong một hiện thực như vậy, theo tôi, là cách hiểu khoa học, không lấy bất cứ mô hình nào làm chuẩn.

        Tôi muốn giới thiệu thêm một khía cạnh không kém quan trọng, là đặc thù của Mậu Thân ở Sài Gòn: cả hai đợt, không hề xảy ra một sự việc đáng tiếc nào trong mối liên hệ giữa quân cách mạng, lực lượng cách mạng với quần chúng bình thường, ngay với công chức, binh sĩ ngụy và gia đình họ. Sau Mậu Thân, ở Sài Gòn, bọn bồi bút chịu không nặn nổi ra một phóng sự, một quyển tiểu thuyết bôi bác Mậu Thân, bởi chúng không tìm được tư liệu. Về mặt này, kỷ luật quân Giải phóng và lực lượng cách mạng được tôn trọng rất nghiêm chỉnh.

        Chúng ta nhớ, sau hai mươi tám ngày rưỡi chính quyền Việt Minh làm chủ thành phố từ 25 tháng 8 đến 23 tháng 9 năm 1945, Sài Gòn liên tục sống dưới chế độ thống trị của Pháp rồi Mỹ. Mậu Thân là lần đầu tiễn sau ngần ấy thời gian, cách mạng công khai xuất hiện với con người bằng xương thịt, xuất hiện ồ ạt, xuất hiện trong tư thế chiến đấu, thế mà lại được quần chúng đón tiếp, ít nhất cũng không với thái độ thù địch. Đó là nét nổi bật của Sài Gòn.

        Nét nổi bật đó đã một lần nữa bao trùm thành phố ngày 30 tháng 4 năm 1975; quân ta và nhân dân giải phóng Sài Gòn gần như một cuộc tiếp quản. Chắc chắn Mậu Thân đã chuẩn bị một phần tư tưởng cho đông đảo quần chúng Sài Gòn đón ngày 30 tháng 4, một biến cố cũng đáng được phân tích sâu mà chúng tôi xin hẹn trở lại trong một dịp khác trên Tạp chí Lịch sử quân sự.

        Trên đây là một vài khía cạnh nói thêm về Mậu Thân, để chúng ta hiểu toàn diện hơn sự kiện bây giờ đã nằm trong biên niên sử dân tộc, thậm chí, biên niên sử thế giới.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:34:35 am
       
ĐÒN TIẾN CÔNG TẾT MẬU THÂN BẤT NGỜ HAY KHÔNG BẤT NGỜ?1


TRẦN TÂM        

        25 năm đã trôi qua, dư luận Mỹ vẫn còn tranh luận xung quanh cuộc tiến công Tết Mậu Thân của quân và dân ta có hay không gây bất ngờ cho quân đội và nước Mỹ. Giới quân sự nhất là các tướng lĩnh Mỹ ở Nam Việt Nam hồi đó thì ra sức bác bỏ yếu tố bị bất ngờ. Họ dẫn ra hàng loạt căn cứ để chứng minh sự chủ động đối phó của Bộ Tư lệnh Mỹ, nhưng nhiều nhà sử học lại cho rằng: Mỹ bị bất ngờ lớn. Đây là một bất ngờ chiến lược chứ không phải bất ngờ chiến thuật. Cuộc tiến công Tết đã làm rã rời ý chí chiến thắng của giới cầm quyền hiếu chiến Mỹ, làm chán nản sâu sắc công chúng Mỹ đang bị mê hoặc bởi lời lẽ lạc quan "đã thấy ánh sáng ở cuối đường hầm" của giới quân sự và làm sửng sốt dư luận quốc tế trước một chiến công phi thường của Việt Nam đang đối mặt với trên 1 triệu quân địch, trong đó có tới 48 vạn quân Mỹ. Màn ảnh truyền hình đã cho hàng triệu gia đình Mỹ và hàng chục triệu khán giả phương Tây tận mắt nhìn thấy quang cảnh chiến trận ở những nơi tưởng chừng an toàn nhất là Toà Đại sứ Mỹ, Dinh Tổng thống và Bộ Tổng tham mưu ngụy, rồi cả sân bay Tân Sơn Nhất - nơi đặt Lầu Năm Góc phương Đông của Mỹ. Truyền hình lại quay được cả cảnh tướng Oét-mo-len đang đứng thị sát ngay tại Toà Đại sứ kiên cố sau trận đánh, mà xung quanh ông ta còn ngổn ngang xác người.

        Giới quân sự Mỹ phê phán các phương tiện thông tin đã làm cho dân chúng Mỹ đánh giá sai về quân đội Mỹ trong cuộc tiến công Tết Mậu Thân. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Nước Mỹ quả thật đã bị bất ngờ về cuộc tiến công này. Năm 1988, các học giả biên soạn "Từ điển chiến tranh Việt Nam" ("Dictionary of the Vietnam war, Nxb Green Wood xuất bản tại Mỹ năm 1988), Vẫn đánh giá cuộc tiến công Tết là một cú sốc đối với toàn nước Mỹ. Họ viết những hình ảnh trên truyền hình đã làm xấu di một cách tồi tệ niềm tin chiến thắng trong dân chúng; nó nhanh chóng dẫn đến sự thất bại của Tổng thống L.B Giônxơn trong cuộc lựa chọn ứng cứ viên của Đảng Dân chủ ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ mới (1969-1972). Giônxơn đã sớm biết điều đó dể tuyên bố không ra tranh cử tổng thống và tìm con đường rút ra khỏi Việt Nam một cách danh dự.

        Năm 1992, để làm sáng tỏ thêm chuyện "Bất ngờ hay không bất ngờ", Trung tướng về hưu P.B Davidson2 (Lieutenant General Philip B. Davidson (Ret) đã tham gia chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) ở cấp Trung tá, Trưởng nhóm lập kế hoạch và đánh giá tình hình của Cục Tình báo thuộc Bộ Tổng tư lệnh Viễn Đông do tướng Mc. Arthur đứng đầu. Từ tháng 6-1967 đến tháng 5-1969, là Cục trưởng tình báo của Bộ Tư lệnh quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV)) - nguyên Cục trưởng Tình báo của Bộ Tư lệnh quân Mỹ ở Nam Việt Nam (MACV) đã cho xuất bản lần đầu tiên ở Ấn Độ cuốn sách “Những bí mật của chiến tranh Việt Nam" ("The Secrets of the Vietnam war , Nxb Lancer, in tại New Dehli (Ấn Độ năm 1992)) trong đó đề cập nhiều về cuộc tiến công Tết. Trong chương 6 của cuốn sách với đầu đề "Nghệ thuật bất ngờ trong tác chiến", tướng Davidson mở đầu bằng một trích dẫn của Tôn Tử (500 năm trước Công nguyên): "Toàn bộ chiến tranh dựa trên sự đánh lửa" (All warfare is based on deception", Sun Tzu). Sau đó Davidson viết: "Do cương vị công tác, tôi hiểu khá tường tận về ba bất ngờ quân sự lớn đã xảy ra đối với quân đội Mỹ trong nửa thế kỷ này. Đó là, cuộc tiến công của Bắc Triều Tiên xuống Nam Triều Tiên ngày 25 tháng 6 năm 1950; tham chiến của Trung Quốc vào Triều Tiên cuối năm 1950 và cuộc tiến công Tết ở Việt Nam".

        Tướng Davidson dẫn ra một loạt các bất ngờ mang tầm vóc chiến lược trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới diễn ra ở phần nửa cuối thế kỷ này. Theo Davidson, Pháp đã bị bất ngờ trước cuộc chiến tranh chớp nhoáng của Đức năm 1940; Liên Xô bị bất ngờ về thời gian phát động chiến tranh của Đức năm 1941; Đức bị bất ngờ về các cuộc đổ bộ của quân Đồng minh lên Bắc Phi năm 1942 và Noócmăngđi (Pháp) năm 1944; Bắc Triều Tiên, Liên Xô và cả Trung Hoa đỏ đều bị bất ngờ trước phản ứng mau lẹ của Mỹ, đổ bộ lên Nhân Xuyên, tháng 9 năm 1950; Việt Minh làm cho nước Pháp bị bất ngờ về chiến thắng ở Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954; Ítxraen bị bất ngờ trước cuộc tiến công của Ai Cập năm 1973; Bắc Việt Narn bị bất ngờ về cuộc đổ quân ồ ạt của Mỹ vào Nam Việt Nam năm 1965. Và phải thêm vào dãy các sự kiện đó những bất ngờ quan trọng khác đối với Mỹ; đó là: Trận tiến công Trân Châu Cảng (Pearl Harbour) của Nhật tháng 12 năm 1941; cuộc phản công lớn cuối cùng của Đức ở vùng đất lồi nước Bỉ cuối năm 1944; Bắc Triều Tiên tiến công xuống Nam Triều Tiên và cuộc tiến công Tết 1968 của Cộng sản ở Việt Nam. Mặc dầu trong khi phân tích về sự bất ngờ của cuộc tiến công Tết, tướng Davidson đã cố gắng biện bạch cho Bộ Tư lệnh Mỹ ở Nam Việt Nam. Họ đã có dự đoán và ứng phó có kết quả nên gây cho địch quân tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng Davidson cũng phải thừa nhận rằng, cuộc tiến công đã gây bất ngờ và làm rung chuyển nước Mỹ. Davidson còn trách móc các phương tiện thông tin của Mỹ đã làm rối loạn việc đánh giá sự thật, nhưng vẫn phải phê phán quân đội Mỹ không chịu phân tích, đánh giá kỹ và chấp nhận những bất ngờ đã từng xảy ra trong chiến tranh"...,nó chứng tỏ sự khiếm khuyết của công tác tình báo".

        Tóm lại, dù cuộc tranh luận về "bất ngờ hay không bất ngờ" chưa kết thúc và giới quân sự Mỹ càng không thể chấp nhận mình bị bất ngờ. Những khi xem xét một cuộc chiến tranh đã tiến hành với gần 50 vạn quân triển khai trên chiến trường, mà cả giới cầm quyền và quần chúng đông đảo ở hậu phương đã bị choáng váng vì đòn tiến công lớn của đối phương thì không thể chối cãi được rằng: đây là một bất ngờ lớn trong cuộc chiến.

        Nói một cách khác, chính quyền Mỹ, kể cả giới lãnh đạo, chỉ huy quân sự đã tự ru ngủ mình, đánh giá khả năng đối phương sai lầm nên không thể nào tránh khỏi bất ngờ. Cuối cùng cuộc tiến công Tết năm 1968 của quân tân ta xứng đáng được gọi là điểm mốc của bước ngoặt chiến lược, như nhà sử học Don Oberdofer đã viết cuốn sách với cái tên: "Tết! Điểm ngoặt”1 ("Tet! The Tuming pooin”) xuất bản năm 1983 ở Mỹ.

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1-1993)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2016, 04:40:48 am

YẾU TỐ BẤT NGỜ TRONG TIẾN CÔNG TẾT MẬU THÂN1

LÊ KIM       

        Cho tới nay, đã có rất nhiều bài báo, thậm chí nhiều cuốn sách, viết về cuộc tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968, một cuộc tiến công táo bạo đã ghi thêm vào pho sử kháng chiến của nhân dân ta một trang rất đẹp. Nhiều báo xuất bản ở nước ta khi viết về cuộc tiến công này đều nhận xét là ta đã “giữ được bí mật tuyệt đối" hoặc "bí mật triệt để từ đầu đến cuối" do đó làm cho địch "hoàn toàn bất ngờ không kịp đối phó". Gần đây nhất, báo Quân đội nhân dân số Xuân Quý Dậu 1993 trong bài "25 năm Tết Mậu Thân..." cũng viết: "Sự bất ngờ, kinh ngạc kéo dài đối với cả bộ tham mưu độ sộ sử dụng máy tính điện tử tại Lầu Năm Góc phương Đông, tại ngay Nhà Trắng Hoa Kỳ, từ ngày đầu tiên đến ngày kết thúc Tết Mậu Thân". Đúng là cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã làm chấn động cả Lầu Năm Góc lẫn Nhà Trắng và có tiếng vang rộng khắp trên thế giới. Cuối năm 1967, giới quân sự Mỹ đã có những nhận định, đánh giá rất khả quan về thực tế ở chiến trường miền Nam Việt Nam. Với một đội quân viên chinh hơn 50 vạn cùng với quân đội ngụy Sài Gòn đang ở thời điểm sung sức, họ tin rằng thế cờ chiến lược có lợi cho họ khó mà đảo ngược được. Bởi vậy khi cuộc tiến công và nổi dậy với quy mô lớn nổ ra cùng lúc ở khắp miền Nam làm thay đổi cục diện chiến trường thì Nhà Trắng đã hoàn toàn bất ngờ trước những toan tính chiến lược, trước kết cục của cuộc chiến Mậu Thân. Nhưng như vậy không có nghĩa là Nhà Trắng hoàn toàn không biết gì về cuộc tiến công của đối phương vào dịp Tết. Về yếu tố "bất ngờ" trong cuộc tiến công chiến lược này còn có nhiều điểm cần nghiên cứu thêm. Chúng ta hãy đứng từ phía đối phương để nhìn lại cuộc tiến công này.

        Đôn Ô-bơ-đô-phơ là một trong nhiều nhà báo nước ngoài có mặt tại miền Nam Việt Nam trong vùng kiểm soát của Mỹ, ngụy hồi đó, không những có hoàn cảnh để chứng kiến mà còn có điều kiện thu thập nhiều tư liệu xung quanh cuộc tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968. Năm 1971, nhà báo này đã cho xuất bản một cuốn sách nhan đề chỉ có vẻn vẹn một chữ "Tết" in to trên nền đen, được dư luận đánh giá cao. Trong phần đầu trang 118 của cuốn sách, Đôn Ô-bơ-đô-phơ ghi một dòng chữ đậm nét như một phụ đề: "Tư liệu thu được (của đối phương) chỉ rõ giai đoạn cuối cùng của cuộc cách mạng đã nằm trong tầm tay". Liền theo đó, Đôn Ô-bơ-đô-phơ công bố thêm nhiều dẫn chứng cho biết, trước khi bùng nổ cuộc tiến công Tết Mậu Thân, phía Mỹ đã bắt được tù binh, thu được một số văn bản tài liệu về cuộc tiến công và nổi dậy dự định bùng nổ trong dịp Tết âm lịch 1968.

        Năm năm sau, tướng Oét-mo-len, nguyên Tư lệnh các lực lượng Mỹ và Đồng minh tại Việt Nam, sau khi bị "đá hất về Lầu Năm Góc" rồi nghỉ hưu, cũng cho xuất bản một cuốn sách nhan đề "Một người lính báo cáo" (Westmoreland - A Soldier reports, Garden city, New York, 1976) công bố thêm nhiều chi tiết cụ thể, kèm theo một số mệnh lệnh chỉ thị của Lầu Năm Góc phương Đông, tức tổng hành dinh của Oét-mo-len tại Sài Gòn, gửi các cấp dưới quyền trong thời gian trước ngày bùng nổ cuộc tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968. Oét mo-len cho biết:

        - Khoảng trung tuần tháng 12 năm 1967, Oét-mo-len đã được một viên tướng ngụy là Trần Ngọc Tâm cho biết về “những dấu hiệu đáng nghi" về hoạt động quân sự sắp xảy ra của đối phương. Căn cứ vào những tin tức tình báo thu lượm được ngày 20 tháng 12 năm 1967, Oét-mo-len đã gửi chỉ thị cho các cấp dưới quyền, vạch rõ: "Quân địch đã sẵn sàng có một quyết định dứt khoát về cách thức tiến hành chiến tranh, nhằm tập trung các lực lượng tiến hành một cố gắng cao độ trên tất cả các mặt trận, cả chính trị lẫn quân sự để giành thắng lợi trong một khoảng thời gian ngắn".

        Căn cứ vào chỉ thị này, quân Mỹ trong Vùng chiến thuật III đã tiến hành càn quét vùng Tây Bắc Phước Long nhằm ngăn chặn, cản phá cuộc tiến công của đối phương, dự kiến xuất phát từ Chiến khu C và Chiến khu D. Quân Mỹ đóng ở 4 tỉnh phía Bắc miền Nam Việt Nam cũng tiến hành cuộc hành binh mang tên Y-oóc càn quét những khu vực căn cứ của Việt cộng ở giáp biên giới Lào (Westmoreland - A Soldier reports, Sđd, các trang 315, 316, 317, 320).

---------------------
        1. (Tạp Chí LSQS số 1-1993)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:03:24 pm

        Ngày 5 tháng 1 năm 1968, người phát ngôn của Mỹ là Ba-ri Gio-thi-an tổ chức họp báo, cho biết: Sư đoàn 101 đổ bộ đường không của Mỹ, trong một cuộc hành quân càn quét, đã tịch thu được một tài liệu của Bắc Việt về hoạt động sắp tới. Tài liệu này ghi rõ: "Dùng lực lượng quân sự mở cuộc tiến công mạnh kết hợp với cuộc nổi dậy của nhân dân địa phương nhằm vào các đô thị. Các đơn vị quân đội cần tràn tới những vùng đồng bằng. Phải giải phóng Sài Gòn giành chính quyền về tay nhân dân và vận động binh lính ngụy đứng về phía cách mạng" (Westrnoreland - A Soldier reports, Sđd , các tr. 315, 316, 317, 320).

        Chiều 20 tháng 1, khai thác một tù binh Bắc Việt được biết: Ngày 5 tháng 1 năm 1968, Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ trong một cuộc hành quân càn quét, thu được một mệnh lệnh khẩn số 1, vạch kế hoạch tỉ mỉ về cuộc tiến công chiếm thị xã Plei Ku trong dịp Tết. Thiếu tướng Tôn - Tư lệnh quân Mỹ ở khu vực này, lập tức báo động cho toàn đơn vị và điều động đại đội xe tăng dự bị vào trung tâm thị xã để tăng cường bảo vệ cho Plei Ku. Đồng thời, phía Mỹ cũng báo cho tướng Vĩnh Lộc chỉ huy Vùng chiến thuật II để cùng chuẩn bị đề phòng.

        Ngày 20 tháng 1, Bộ tư lệnh Mỹ nhận định: địch có thể tiến công nhiều nơi vào thời điểm trong hoặc sau Tết". Ngày 22 tháng 1, tướng Uy-lơ nhận được điện cho biết "địch có thể mở cuộc tiến công bằng nhiều tiểu đoàn đánh vào Huế và cả Quảng Trị trong dịp Tết" (Westrnoreland - A Soldier reports, Sđd , các tr. 315, 316, 317, 320). Cũng trong ngày 22 tháng 1, tướng Đa-vit-sơn - Cục trưởng Cục Quân báo, gửi điện cho vợ ở Ha-oai, báo tin "không thể nghỉ phép đi gặp vợ được" vì còn bận theo dõi, thu thập tin tức tình báo về hoạt động của đối phương.

        Ngày 28 tháng 1, tức chỉ còn hai ngày nữa là đến Tết âm lịch, quân ngụy sục vào một nhà dân ở bờ biển Quy Nhơn, bắt được 11 "Việt cộng" đang họp, tịch thu được một máy ghi âm và hai băng cát-xét. Khai thác những tù binh vừa bị bắt, những người này cho biết vào dịp Tết sẽ tiến đánh Quy Nhơn và nhiều thành phố khác, trong đó có kế hoạch đánh chiếm Đài phát thanh, phát đi lời kêu gọi đã ghi sẵn trong băng cát xét, kêu gọi nhân dân nổi dậy lật đổ chế độ phát-xít Thiệu - Kỳ...

        Đến đây, đã có thể kết luận được rằng, trước khi bùng nổ cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, phía Mỹ đã thu lượm được nhiều tin tức tình báo phong phú, nhiều dạng, từ văn bản tài liệu vật chứng đến lời khai của tù binh và cả những tiết lộ của những tên phản bội đầu hàng địch. Biết trước như vậy, tại sao Mỹ không cản phá được cuộc tiến công?

        Theo nhà báo Đôn Ô-bơ-đô-phơ (và sau đó chính Oét-mo-len cũng thừa nhận), ngày 15 tháng 1, Oét-mo-len đã triệu tập cuộc họp các sĩ quan tham mưu và quân báo tại tổng hành dinh để phân tích và nhận định về những tài liệu thu thập được chung quanh cuộc tiến công Tết Mậu Thân. Vấn đề nêu lên là: Cuộc tiến công này sẽ bùng nổ trước Tết hay sau Tết? Oét mo-len nhận định: Cuộc tiến công có khả năng xảy ra trước Tết là 60% và sau Tết là 40%. Tướng Quân báo Đa-vit-sơn cũng nhận định: Cuộc tiến công sẽ xảy ra sau Tết là 40% và trước Tết là 60% (Don Oberdopher - Tet. Garden city, New York, 1971. tr. 121). Như vậy, cả Oét-mo-len và đa-vit-sơn đều thống nhất nhận định, có nhiều khả năng cuộc tiến công này sẽ xảy ra vào thời gian trước Tết. Nhưng đến những ngày trước Tết, khi thấy tình hình vẫn im ắng thì phía Mỹ lại tăng thêm chủ quan, lơ là cảnh giác. Cả Oét-mo-len lẫn Đa-vit-sơn đều không ai phán đoán là cuộc tiến công này sẽ xảy ra đúng vào dịp Tết.

        Theo nhà báo Đôn Ô-bơ-đô-phơ, không khí chủ quan lan tràn cả trong giới báo chí, là những người đã được Lầu Năm Góc phương Đông báo trước về cuộc tiến công này. Tâm trạng lúc được phổ biến tài liệu là "rất ít quan chức và các nhà báo Mỹ quan tâm đến những tài liệu vừa được công bố". Mọi người cho rằng: "Quân Cộng sản không có khả năng đánh lớn, không có khả năng đánh chiếm và giữ được các đô thị", "Nếu cuộc tiến công lớn xảy ra, quân Cộng sản sẽ bị thiệt hại nặng nếu không nói là thất bại". Về phía chính quyền ngụy, tâm trạng chủ quan càng lớn hơn. Dẫn chứng cụ thể là, dù được thông báo trước về cuộc tiến công này, Thiệu vẫn bỏ Sài Gòn về Mỹ Tho ăn Tết và vẫn cho các sĩ quan "nghỉ Tết thoải mái", không kịp thời hạ lệnh báo động hoặc cấm trại vào đêm 30 Tết.

        Tình hình thực tế là như vậy. Về phía ta rõ ràng có sơ hở trong việc giữ bí mật cũng như giáo dục chiến sĩ, thậm chí còn có những vụ đầu hàng, phản bội, trước khi xảy ra trận đánh cực kỳ quan trọng. Mặc dù vậy, do tinh thần dũng cảm, quyết tâm, ta vẫn gây cho địch nhiều thiệt hại, lúng túng, vẫn tiến hành được một cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt rất oanh liệt. Viết rõ về sự thật này để rút kinh nghiệm và nêu lên những bài học bổ ích cho đời sau. Việc không giữ được yếu tố bí mật hoàn toàn và triệt để trong cuộc tiến công chiến lược Tết Mậu Thân 1968 không làm giảm nhẹ ý nghĩa chiến thắng mà càng tô đậm thêm chiến thắng đó. Mong các nhà viết sử, các nhà văn... suy nghĩ và nghiên cứu thêm.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:12:14 pm

VỀ CÁC ĐỢT TỔNG TIẾN CÔNG NĂM MẬU THÂN1

NGUYỄN VĂN MINH       

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã đi qua cách đây 24 năm, nhưng nó vẫn còn làm sôi dộng lòng người như những sự kiện vừa mới xảy ra. Vì thắng lợi to lớn, toàn diện của cuộc Tổng tiến công đã vượt khỏi biên giới Việt Nam đến với các dân tộc trên thế giới và các nhà quân sự Mỹ như một câu chuyện thần kỳ "không thể tưởng tượng nổi". Chính vì vậy, suốt 24 năm qua, những nhà nghiên cứu, những nhà chính trị, quân sự ở trong nước và ngoài nước luôn tìm cách tiếp cận đến chân lý lịch sử "Sự kiện Tết Mậu Thân". Càng đi sâu nghiên cứu người ta càng đi đến thống nhất đánh giá ý nghĩa lớn lao của "Sự kiện Tết Mậu Thân". Riêng các nhà quân sự Mỹ thì cho rằng Tết Mậu Thân đã đánh hỏng một chiến lược của Mỹ, đã buộc Mỹ xuống thang chiến tranh"...

        Do tầm vóc thắng lợi của đợt Tổng tiến công Tết Mậu Thân mà cho đến nay nhiều người nghiên cứu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 1968 dường như bỏ qua các đợt tổng tiến công tháng 5 và tháng 8; hoặc có nhắc đến thì nặng về phê phán, cho đó là sai lầm, duy ý chí trong chỉ đạo chiến lược của Bộ Thống soái Việt Nam, chẳng những nó không mang lại ý nghĩa thắng lợi mà còn bị thất bại nặng, làm cho địch có cơ hội giành thế chủ động bình định nông thôn, đẩy lực lượng cách mạng miền Nam vào thế khó khăn hơn bao giờ hết...

        Đúng là các đợt Tổng tiến công sau Tết Mậu Thân có nhiều khuyết điểm, thậm chí sai lầm trong chỉ đạo chiến lược và thực hiện, làm cho ta tổn thất về lực lượng, mất đất mất dân. Lịch sử đã diễn ra rồi, ta không đặt chữ "nếu”, nhưng thử hỏi: không có các đợt Tổng tiến công sau Tết Mậu Thân (tháng 5, 8 ) liệu Mỹ có xuống thang chiến tranh thật sự không, có đến Hội nghị Pa-ri nghiêm chỉnh không và dẫn đến kết cục quân Mỹ khi chưa hoàn thành "sứ mệnh" đi chinh phục có "cút" khỏi Việt Nam thật không? Đó là vấn đề cần phải tiếp tục làm sáng tỏ. Trong bài này, người viết xin nêu một suy nghĩ: Giá trị của các đợt Tổng tiến công sau Tết Mậu Thân có thể ví như một "chất xúc tác" trong quá trình phản ứng hoá học. Mặc dù ta bị thiệt hại, nhưng cũng chính nhờ các đợt tiến công tiếp sau Mậu Thân đã buộc Mỹ đến Hội nghị Pa-ri với thái độ nghiêm chỉnh hơn, xuống thang chiến tranh nhanh hơn. Đó là ý nghĩa thắng lợi đích thực và đó cũng là thành công của ta trong các cuộc Tổng tiến công sau Mậu Thân.

        Đợt Tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết "long trời lở đất" chấm dứt, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn chính thức thông báo ngừng mọi hành động không quân, hải quân chống miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, đồng ý với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đàm phán tại Pa-ri, bỏ chiến lược "tìm diệt" thay bằng chiến lược "quét và giữ". Đây là một tình thế bắt buộc Mỹ phải làm, vì thua ở chiến trường, vì bị sức ép đòi chấm dứt chiến tranh ở ngay nước Mỹ. Nhưng thực chất Giôn-xơn và tập đoàn hiếu chiến cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc "xuống thang" là "xì hơi" cho "quả bóng" đỡ căng, dư luận dịu xuống và hy vọng sẽ buộc ta đàm phán theo điều kiện của Mỹ bằng việc tập trung ném bom ồ ạt xuống phía Nam Vĩ tuyến 20. Tao-xen Hốp-xơ, nguyên Thứ trưởng không quân Mỹ viết trong cuốn Những giới hạn của sự can thiệp có nhận xét rằng: "Giôn-xơn hiểu rằng thực tế không cho phép ông ta tái diễn leo thang ném bom miền Bắc hoặc tăng bộ binh với số lượng đáng kể tại Việt Nam, nhưng ông ta vẫn nuôi hy vọng rằng đối phương có thể bị hao mòn, mệt mỏi nếu Mỹ duy trì áp lực quân sự này chỉ nằm trong giới hạn mới". Rõ ràng "xuống thang" nhưng trên thực tế sau Mậu Thân, Mỹ vẫn tiếp tục "leo thang" ngày càng ác liệt. Theo tướng Mỹ Crao, giám đốc Ngân sách không quân thú nhận thì, tổng số bom trút xuống Việt Nam trong tháng 1 là 67.000 tấn, đã tăng lên 91.000 tấn trong tháng 3. Và ở vùng "cán xoong Lào” trung bình mỗi ngày Mỹ sử dụng 160 vụ oanh kích, riêng ngày 9 tháng 4 có tới 500 máy bay oanh tạc, chưa kể máy bay B-52. Vừa tăng cường ném bom, Mỹ vừa đưa ra công thức đàm phán "có đi có lại” và quả quyết rằng "phía bên kia (ta) phải theo"; Mỹ nhất định "không khuất phục trước việc 40.000 quân Bắc Việt ào vào Khe Sanh, cũng như không khuất phục các điều kiện thương lượng của Hà Nội" (AFP ngày 9 tháng 2). Với công thức thương lượng "có đi có lại", Ngoại trưởng Mỹ Đin Rát-xcơ đòi "Bắc Việt Nam ngừng thâm nhập" là điều kiện để Mỹ ngừng ném bom; Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Cơ-líp-phớt thì yêu cầu “Bắc Việt Nam đừng thâm nhập trong khi cuộc thương lượng kéo dài". Còn chính quyền Sài Gòn buộc phải đồng ý để Mỹ chấm dứt ném bom, nói chuyện với Hà Nội, nhưng tuyên bố không công nhận Mặt trận dân tộc Giải phóng. Lúc này ở Pa-ri, ta và Mỹ chỉ bàn quanh việc ngồi theo bàn tròn hay bàn vuông mà không đi vào nội dung cuộc thương lượng.

----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1-1993)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:12:55 pm

        Giữa tháng 3 và tháng 4 có thể nói là thời gian tạm yên tĩnh ở chiến trường. Lợi dụng tình hình này, Oét-mo-len, Nguyễn Văn Thiệu và cả Tổng thống Giôn-xơn cùng với bộ máy tuyên truyền Mỹ và Sài Gòn đều tuyên bố, phát tin: Việt cộng và quân Bắc Việt Nam đã bị đánh tan; quân đồng minh đang lập lại quyền kiểm soát trên khắp lãnh thổ Nam Việt Nam, quân Việt cộng và Bắc Việt Nam đang bị truy kích ráo riết... Những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh ở Mỹ đang nổi lên, bỗng ngưng lại, không còn rầm rộ như sau cuộc tiến công Tết. Nhân dân Mỹ và cả những nghị sĩ Quốc hội Mỹ đâm ra hoài nghi, có lẽ phía chính quyền của họ nói thật? Tâm trạng bi quan, sợ hãi của những người dân Mỹ được vợi đi một phần. Nhân dân Mỹ và thế giới đang trong tâm trạng nửa tin nửa ngờ, thì cuộc tổng tiến công tháng 5 của ta vào Sài Gòn và các thành phố lớn ở miền Nam nổ ra. 0 giờ 30 phút ngày 5 tháng 5, bộ binh, pháo binh, đặc công, biệt động quân giải phóng đồng loạt đánh vào 30 thành phố, thị xã, 58 thị trấn, quận ly, 12 chi khu quân sự, 10 bộ tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, 11 sở chỉ huy lữ đoàn, trung đoàn Mỹ, ngụy, 30 sân bay, 20 căn cứ hành quân và trung tâm huấn luyện - Sài Gòn là trọng điểm tấn công nổi bật. Đợt tăng tiến công tháng 5, ở nhiều nơi không thực hiện được ý định của lãnh đạo và nhiều nơi chỉ có pháo kích, nhưng quy mô của cuộc tiến công rất rộng lớn, như "một cơn chớp giật chói loà giữa Lầu Năm Góc tối mịt, làm lộ những bộ mặt hoài nghi hoặc chống đối trước đây vẫn còn giấu mình" (Những giới hạn của sự can thiệp, Tao-xen Hốp-xơ). Phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh của chính quyền lại bùng lên thạnh mẽ, lan sâu vào các nghị sĩ Quốc hội Mỹ. Họ phẫn nộ vì chính quyền Mỹ đã lừa dối họ. Giôn-xơn, Oét-mo-len, Nguyễn Văn Thiệu "nói láo" rằng Việt cộng đang bị truy kích, nhưng kết quả ngược lại "Việt cộng dang tiến công", “chiến tranh vẫn tiếp diễn trong thành phố". Những cuộc biểu tình phản kháng, những cuộc bạo động của người dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, kết hợp và hoà lẫn với các cuộc nổi dậy của người Mỹ da đen, tạo thành sự chia rẽ chính trị nghiêm trọng nhất ở nước Mỹ từ một thế kỷ nay. Những thượng nghị sĩ Mỹ J.W. Phun-brai, R. Ken-nơ-di, G.M. Ga-vơn... chất vấn tổng thống là không thua tại sao luôn luôn đòi tăng quân, chỉ biết đòi tăng quân mà không có con mắt nhìn toàn cục... Giôn-xơn bị sức ép chính trị hết sức nặng nề từ nhiều phía: nhân dân Mỹ, Quốc hội và chiến trường, Tổng thống Mỹ đã yêu cầu Uy-lơ, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân nói với Oét-mo-len: "Quyết định động viên nhiều lực lượng dự bị để đối phó với việc địch mở rộng chiến tranh về mặt địa lý là điều không thể làm được về mặt chính trị. Ông cảm thấy không có sự lựa chọn nào trong vòng ít tháng, ngoài việc cố gắng trấn an những người phản đối vì họ sẽ làm bùng nổ một phong trào đòi rút quân Mỹ rất hèn hạ" (Oétmolen - Một quân nhân tường trình, Chương 19. tr; 43, 47 (bản đánh máy)).

        Đến lúc này, tháng 5 năm 1968, Oét-mo-len, một tên tướng hiếu chiến đã từng giải thích sau Tết Mậu Thân "quân đồng minh đã bắt đầu truy kích Việt cộng", đã phải thú nhận thất bại chua chát: "Họ đã đạt được mục tiêu là làm cho phía Mỹ phải đơn phương xuống thang, ngừng ném bom, đình chỉ việc tăng quân và làm hỏng một chiến lược đánh mạnh; làm cho người Mỹ phải đến bàn hội nghị trong khi đó nhiều người Mỹ cứ tưởng là Chính phủ Mỹ đã bắt buộc địch đến hội nghị" (Oétmolen - Một quân nhân tường trình, Chương 19. tr; 43, 47 (bản đánh máy)). Giờ đây "cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành một tấn thảm kịch lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ kể từ thời nội chiến" (Mc. Na-ma-ra, dẫn theo Tao-xen Hốp-xơ). Sự kiện tổng tiến công tháng 5 khiến Mỹ, ngụy kiệt quệ về nhân lực, phương tiện. Hậu quả nghiêm trọng của nó là Chính phủ Mỹ không còn sức lực và thì giờ để lo giải quyết tình hình nội bộ nước Mỹ đang rối như tơ vò và những "điểm nóng" khác trên thế giới. Nhà Trắng, Lầu Năm Góc lại luẩn quẩn trong cái vòng tăng quân, tăng phương tiện, leo thang ném bom miền Bắc để mong tìm lối thoát. Nhưng, tăng cường ném bom, thì đợt tiến công tháng 5 của ta đã minh chứng rõ ràng là chiến dịch ngăn chặn của Mỹ bị thất bại. Bộ Quốc phòng Mỹ ước tính trong tháng 5, số quân miền Bắc Việt Nam vào Nam là 29.000 so với 4.000 người trung bình mỗi tháng hồi năm 1966, 7.000 hồi 1967. Tăng quân ngụy, thì quân ngụy đang rêu rã, tinh thần bạc nhược, không làm được nhiệm vụ "giữ nhà".  Tăng quân Mỹ, thì càng không ổn, vì như vậy phải động viên quân trù bị, điều mà Giôn-xơn trong những năm cầm quyền cố tránh. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết định trang bị vũ khí hiện đại cho quân ngụy để "Mỹ dần dần giảm bớt số quân Mỹ ở Việt Nam vào lúc thích hợp... chuyển phần lớn việc chiến đấu cho quân Nam Việt Nam" (Tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Cơ-líp-phớt, theo UPI ngày 22-5). Mỹ cấp tốc chuyển súng M16, xe tăng sang miền Nam, đến tháng 7-1968, toàn bộ quân ngụy có súng mới.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:13:12 pm

        Tuy nhiên, Giôn-xơn thấy biện pháp tăng cường quân ngụy là việc làm có tính chất "lấp lỗ trống" chắp vá, khó có thể giữ miền Nam Việt Nam. Cuối cùng, Giôn-xơn nghĩ đến giải pháp phải chấm dứt ném bom trên toàn miền Bắc và đồng ý họp Hội nghị Pa-ri để đổi lấy việc rút quân Mỹ về nước. Để trấn an tinh thần cho ngụy quyền Sài Gòn, Giôn-xơn với Nguyễn Văn Thiệu sang Hô-nô-lu-lu họp tìm cách đối phó. Nhưng tại Hô-nô-lu-lu, Giôn-xơn lại cam kết "quyết tâm ngăn chặn xâm lược", "không bỏ miền Nam Việt Nam", "Mỹ rút quân thì Bắc Việt Nam rút quân", "không ủng hộ việc đặt một chính phủ liên hiệp ở Sài Gòn" (Thông cáo chung Hô-nô-lu-lu ngày 20-7-1968). Từ Hô-nô-lu-lu, Giôn-xơn bay về Tếch-dát, còn Nguyễn Văn Thiệu về Sài Gòn với tâm trạng buồn lo lẫn lộn. Giữa lúc đó, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố "đồng thời với việc Mỹ không ngừng chồng chất tội ác mới trên cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam, việc Giôn-xơn và tay sai của y công khai cam kết với nhau đẩy mạnh bắt lính, đưa thêm vũ khí và phương tiện chiến tranh vào miền Nam càng bóc trần sự thật xấu xa về cái gọi là "thiện chí hoà bình" của Mỹ tuyên bố ngày 29-7).

        Đồng thời với tuyên bố của Mặt trận, đợt tiến công tháng 8 nổ ra và kéo dài đến hết tháng 9 năm 1968. Những người dân Mỹ chưa một lần đặt chân tới Việt Nam, họ không cần biết đến “Việt cộng" đánh như thế nào, đánh lớn hay đánh nhỏ, mà qua hệ thống thông tin tiên tiến của Mỹ, họ biết đích xác "Việt cộng" lại tiến công vào các thành phố lớn ở miền Nam thật. Những lời tuyên truyền trấn an dân chúng của chính quyền Giôn-xơn về đợt tiến công tháng 5 của "Việt cộng" và Hà Nội như ngọn đèn dầu dồn sức phụt sáng lần cuối cùng trước khi tắt hẳn, giờ đây đồi với người dân Mỹ nó trở thành sự lừa dối lố bịch. Dù Giôn-xơn và bộ máy tuyên truyền Mỹ và Sài Gòn có giải thích, có gào thét gì cũng chẳng ai tin. Sức ép chính trị ở Mỹ đòi tổng thống chấm dứt chiến tranh Việt Nam càng tăng lên nặng nề hơn bao giờ hết. Tại Hội nghị Hô-nô-lu-lu, cam kết với Nguyễn Văn Thiệu cứng rắn bao nhiêu, thì giờ đây Giôn-xơn mệt mỏi gần như kiệt sức. Ngày bầu cử Tổng thống Mỹ đến gần. Mặc dù Giôn-xơn từ bỏ cuộc tranh cử, nhưng tiếng nói và hành động phản chiến càng mạnh, gây nên một tâm trạng "buồn chán lan tràn trong các giới chính thức ở Oa-sinh-tơn, một sự phản ánh những ngày vô định mà báo chí và vô tuyến truyền hình đã nói" (Oét-mo-len - Một quân nhân tường trình). Khuynh hướng "chiến" thụt lùi; khuynh hướng "hoà" tiến bước. Cơ-líp-phớt vừa thay Mc.Na-ma-ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, nổi tiếng "diều hâu”, lần này cũng nhận ra không thể thắng được. Sức ép càng dữ dội đòi Giôn-xơn phải tiến thêm bước nữa trên con đường "xuống thang", vì kỳ vọng hoà bình, độc lập, tự do, thống nhất của dân tộc Việt Nam không thể lay chuyển. Trong khi đó thì Oét-mo-len đưa ra một so sánh lý thú làm cho mọi người kinh ngạc: Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cần phải có 6 triệu quân đồng minh để giữ mặt trận phía Tây; trong Chiến tranh thế giới thứ hai cần có 4, 5 triệu quân đồng minh để giữ mặt trận phía Tây dài 570 dặm. Ở Triều Tiên cần có 1 triệu quân của Liên hợp quốc để giữ một mặt trận dài 123 dặm chạy qua vùng thắt lưng của bán đảo Triều Tiên. Để bảo vệ đường biên giới trên đất liền dài 900 dặm ở Việt Nam với mật độ tương tự sẽ đòi hỏi nhiều triệu quân, cộng với số quân đông khác để chống nổi loạn. Một con số thật là phi lý không thể nào có được? Cho nên, dù Mỹ có ném bom miền Bắc, có tăng quân hoặc làm phép gì đi nữa cũng không ngăn cản được cuộc tiến công. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn không có cách nào cưỡng lại. Thế là ngày 31 tháng 10 năm 1968, Giôn-xơn trịnh trọng đọc bài diễn văn, tuyên bố hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện và nhận họp hội nghị 4 bên ở Pa-ri.

        Như vậy, đến đây Tổng thống Mỹ Giôn-xơn mới chính thức công nhận sự thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam sau những năm dài cố gắng giành thắng lợi bằng sức mạnh quân sự của một siêu cường.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:23:22 pm

CÓ THẬT MỸ KHÔNG THUA VỀ QUÂN SỰ TRONG TẾT MẬU THÂN HAY KHÔNG?1

HỒ KHANG       

        Tết Mậu Thân cùng những hậu quả của nó, cho đến hôm nay, vẫn còn là một nghịch lý trong tâm trí của giới quân sự, chính trị và một số tác giả Mỹ. Bởi theo họ, điều trớ trêu của Tết là ở chỗ: "Cộng sản đã thua trên chiến trường nhưng lại thắng về chính trị ngay trên nước Mỹ". Không chỉ khi còn là Tư lệnh chiến trường tại miền Nam Việt Nam mà lúc đã bị triệu hồi về nước và nhiều năm sau đó, tướng W Oét-mo-len vẫn luôn khẳng định rằng, trong dịp Tết Mậu Thân, quân đội Mỹ sắp giành được thắng lợi quyết định thì lại bị các nhà dân sự trong Chính phủ Mỹ cùng các nghị sĩ Quốc hội Mỹ buộc phải bỏ cuộc. Theo ông ta, Tết là một khúc ngoặt của cuộc chiến tranh; có điều, khúc ngoặt đó lẽ ra dẫn đến thắng lợi của Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam thì ngược lại, nó dẫn tới thất bại của Mỹ? Kỷ niệm tròn 30 năm sự kiện Tết Mậu Thân, bài viết nhỏ này mong góp phần lý giải câu hỏi: Mỹ có thua về quân sự trong Tết Mậu Thân không? Và nếu thua thì thua như thế nào ngay trên chiến trường Việt Nam thuở đó?

        Từ ngày đầu "Chiến tranh Cục bộ", mục tiêu của Mỹ là dùng lực lượng quân sự Mỹ lục quân, không quân, hải quân để tiêu diệt lực lượng vũ trang và cơ sở chính trị của cách mạng miền Nam, uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta, củng cố chế độ Sài Gòn làm cơ sở cho sự thống trị thiền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

        Để đạt mục tiêu chiến lược đó, Mỹ sử dụng quân Mỹ mở các cuộc hành quân "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng và cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam, dùng quân đội Sài Gòn yểm trợ chương trình "bình định" nông thôn, dùng không quân và hải quân leo thang đánh phá miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Thế nhưng, trải qua hai mùa phản công chiến lược, những biện pháp trên đây không mang lại hiệu quả như Mỹ trông đợi Ngược lại, qua hơn hai năm đương đầu với quân Mỹ, lực lượng, thế trận chiến tranh nhân dân của ta ngày càng phát triển; ý chí, quyết tâm đánh Mỹ được tăng cường trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc. Lực lượng, thế trận, ý chí, quyết tâm đó cho phép quân dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

        Trong gần hai tháng, Tết Mậu Thân như những đợt sóng tới tấp đánh vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ. Tại nhiều đô thị, lực lượng vũ trang ta chiếm giữ nhiều nơi trong nhiều ngày, nhiều giờ. Hầu hết các cơ quan đầu não từ trung ương tới địa phương của Mỹ, ngụy bị tiến công. Bộ binh, pháo binh, đặc công, biệt động Quân giải phóng đã đánh mạnh, đánh trúng 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong số 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, các tiểu khu, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự, kho tàng, sân bay, bến cảng. Nhiều tuyến giao thông thủy, bộ bị chặn cắt, nhiều cơ sở thông tin bị tiến công khiến hoạt động vận chuyển, liên lạc tại nhiều vùng do Mỹ, ngụy kiểm soát bị ngừng trệ. Như vậy đây là lần đầu tiên sau nhiều năm lao vào chiến tranh Việt Nam, toàn bộ hệ thống phòng thủ đô thị của Mỹ, ngụy bị tiến công, bị phá vỡ, hậu phương, hậu cứ chiến tranh của địch trở thành chiến trường - nơi đọ sức, đọ lực, đọ ý chí giữa hai bên trong nhiều tuần, nhiều tháng.

        Trong cuộc đọ sức đó, bằng lối đánh táo bạo và dũng mãnh, lực lượng vũ trang Quân giải phóng đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh; làm rối loạn hậu phương, hậu cứ an toàn của chúng. Mặc dù trong cuộc đọ sức quyết liệt Tết Mậu Thân ngày đó, cả hai bên tham chiến đều bị hao tổn nặng nề về lực lượng, phương tiện chiến tranh, nhưng điều quan trọng khiến cho phía Mỹ và dư luận thế giới kinh ngạc là ở chỗ: Quân giải phóng có thể tiến công đồng loạt, rộng khắp vào hàng trăm đô thị trên toàn Miền và gây cho phía Mỹ nhiều thương vong trong khi chỉ sử dụng một bộ phận lực lượng không nhiều.

-------------------
         1. (Tạp chí LSQS số 1- 1998)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:23:41 pm

        Theo nhận định của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn lúc đó và được nhiều tác giả Mỹ sau này trích dẫn thì "Bộ chỉ huy Cộng sản đã tung vào một lực lượng ước chừng 67.000 quân trong tổng số 240.000 ở miền Nam Việt Nam... Dàn ra để chống lại họ là 1.100.000 tay súng, 492.000 quân chiến đấu Mỹ, 61.000 quân Nam Triều Tiên, Thái Lan và các nước trong "thế giới tự do" khác, 342.000 quân thường trực của Chính phủ Việt Nam cộng hoà và 284.000 quân địa phương, phòng vệ dân sự. Ngoài ra, Mỹ còn huy động 2.600 máy bay, 3.000 trực thăng và 3.500 xe thiết giáp" (Dẫn theo Đôn Ô-bơ-đô-phơ - Tết, Nxb An Giang, 1988, tr. 78) mong chống đỡ lại cuộc tiến công. Cho dù sự chênh lệch về quân số, hoả lực là hết sức lớn - nghiêng hẳn về phía Mỹ, nhưng Quân giải phóng không những đã phá vỡ tuyến phòng thủ kiên cố của địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về sinh lực, phương tiện chiến tranh mà còn ghìm chân được một đội quân đông hơn một triệu tên được trang bị hiện đại vào mặt trận đô thị. Mười bảy năm sau Tết Mậu Thân, G. Côn-cô trong cuốn Giải phẫu một cuộc chiến tranh, đã xem đây là "một trong những bài học cay đắng nhất trong chiến đấu của Mỹ". Trong khi cuộc tiến công Tết đang lên tới đỉnh cao, Uy-lơ, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đã báo về Oa-sinh-tơn ngày 17 tháng 2 năm 1968 rằng, cuộc tiến công ban đầu của đối phương đã "gần thành công" ở hàng chục địa điểm. Để tránh bị thất bại, Mỹ chỉ có thể có những biện pháp "phản ứng kịp thời". Sự "phản ứng kịp thời" đó đã buộc Mỹ phải sử dụng ồ ạt hoả lực trọng pháo, máy bay, thiết giáp để san bằng nhiều thành phố, giết hại nhiều dân thường ngay ở giữa hậu cứ, hậu phương chiến tranh của chúng. Tại Cố đô Huế, "hoả lực Mỹ đã biến 80% thành phố thành gạch vụn" (G. Côn-cô. Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1980, tr. 287). Trọng pháo và máy bay Mỹ còn san bằng một nửa tỉnh lỵ Mỹ Tho - thị xã có 80.000 người dân sinh sống. Thị xã Bến Tre cũng chịu chung số phận.

        "Cần phải hủy diệt thành phố này để cứu nó". Đó là lời một sĩ quan Mỹ nói trong lúc quân Mỹ đang tàn phá thị xã Bến Tre. Lời nói điển hình đó ngay lập tức được phổ biến rộng rãi trên báo chí Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Bởi lẽ, nó như một định đề vạch rõ sự trớ trêu đầy mâu thuẫn giữa lục đích và biện pháp của cuộc chiến tranh mà Mỹ đề ra từ ban đầu hy vọng sẽ chinh phục được "khối óc và trái tim" của người dân miền Nam; hy vọng có thể làm cho ai nấy tin rằng sự có mặt của quân Mỹ vì là sự phồn vinh và nền "độc lập" của một miền Nam không Cộng sản? Như vậy, dù cho sau đó với quan điểm thuần tuý quân sự "kiểu Mỹ" và phương Tây, Mỹ có đẩy được Quân giải phóng ra khỏi đô thị và xem đấy đích thị là một thắng lợi của mình đi chăng nữa thì Tết Mậu Thân và hành động thực tế của quân Mỹ, về thực chất, vẫn là một thất bại nặng nề của Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

        Trong khi đó, tại nông thôn đồng bằng và rừng núi, đòn Tổng tiến công đã làm cho bộ máy kìm kẹp của chế độ Sài Gòn và hơn 50.000 "cán bộ bình định" thuộc 555 đội chẳng được ai ngó ngàng tới, làm mục rã một trong những "gọng kìm" của Mỹ. Bởi vì, một khi phần lớn lực lượng đích bị ghìm chặt vào mặt trận đô thị thì ngay lập tức lực lượng vũ trang tại chỗ của ta đã hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải tán dân vệ, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng, giáng đòn nặng vào hệ thống chính quyền cơ sở địch ở nông thôn.

        Tình hình trên đây đã được chính Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ thú nhận trong báo cáo gửi Giôn-xơn ngày 17 tháng 2 năm 1968 rằng: "Trên một số phạm vi rộng lớn, Việt cộng đã nắm quyền kiểm soát nông thôn". Chương trình "bình định" mà lúc đó Mỹ gọi là "chương trình phát triển cách mạng" đã bị "thụt lùi nghiêm trọng" (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ. tập Z, Thông tấn xã Việt Nam dịch, Hà Nội. 1971, tr. 263, 249). Vào thời gian này, tại Oa-sinh-tơn, Văn phòng Hệ thống phân tích tình hình Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ đưa ra nhận xét: "Cuộc tiến công Tết hình như đã vĩnh viễn giết chết chương trình bình định" (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ. tập Z, Thông tấn xã Việt Nam dịch, Hà Nội. 1971, tr. 263, 249). Sau này, một số tác giả Mỹ trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam cũng gặp nhau ở nhận định về thất bại này của Mỹ. Ấy là khi họ đều nhận xét rằng, thật khó mà minh họa được tình hình kiểm soát của mỗi bên ở nông thôn. Theo G. Côn-cô, chính vào dịp Tết Mậu Thân, ở cả Oa-sinh-tơn lẫn Sài Gòn, giới lãnh đạo chỉ huy Mỹ đều đã phải thừa nhận rằng: "Mặc dù Mặt trận dân tộc giải phóng không thành công ở các đô thị, nhưng họ đã thu được những thành tựu ở nông thôn" (Dẫn theo G. Côn cô, Gái phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr. 289 và 303). Lời thú nhận này từ phía Mỹ, ngụy ở thời điểm Tết Mậu Thân trên đây đã chứng minh rõ ràng rằng: Tết Mậu Thân không chỉ đưa chiến tranh vào tận dinh luỹ của Mỹ, ngụy mà còn là đòn nặng giáng vào chương trình "bình định" trên phạm vi toàn Miền.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:25:27 pm

        Tình hình đó làm cho nhiều người Mỹ làm việc trong chương trình "bình định" hoang mang, kinh hãi. Họ không lý giải nối tại sao "Việt cộng đã vào được tất cả các thành thị để tiến công mà không có một người Việt Nam nào báo cho Chính phủ Nam Việt Nam biết" (Dẫn theo Trần Văn Giàu. Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 5, Nxb KHXH, Hà Nội, 1970, tr. 55) "tình hình đó rõ ràng đã là mối đe doạ trực tiếp tới sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn - một cơ cấu chính trị mà Mỹ từ lâu dày công xây dựng và dựa vào để tiến hành chiến tranh xâm lược kiểu thực dân mới. Vì thế, cuối tháng 2 năm 1968, ủy ban Clác Clíp-phớt được thành lập theo chỉ định của Giôn-xơn nhằm cứu xét yêu cầu xin được tăng quân của tướng Oét-mo-len để ứng phó với Tết Mậu Thân - đã nhận thấy rằng: "Sự đáp ứng chính trị không có hiệu quả của Chính phủ Việt Nam cộng hoà có thể còn giúp cho Việt cộng cải thiện sự nghiệp của họ trong các đô thị cũng như ở nông thôn" (Dẫn theo G. Côn cô, Gái phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr. 289 và 303). "Sự đáp ứng" chính trị mà Mỹ nói ở đây không ngoài điều gì khác mà chính là Mỹ đã giật dây cho Thiệu - Kỳ - Hương bắt giam các nhân vật đối lập, thanh lọc các cơ quan hành chính, ban hành lệnh tổng động viên để bắt lính đôn quân, đẩy việc "tổ chức phòng vệ dân sự" lên thành "quốc sách", cấm tụ họp quá ba người, cấm dân chúng ra vào thành phố, phát "thư tố cáo cho mọi gia đình"...

        Song, hậu quả của những "đáp ứng" chính trị đó, trên thực tế, mang lại những kết quả trái với mong muốn ban đầu của Mỹ: nó càng làm tăng thêm sự thù địch của nhân dân, thu hẹp hơn cơ sở xã hội của chế độ Sài Gòn và làm suy yếu thêm lực lượng ngụy quân - một lực lượng vốn đã bại trận trước khi Mỹ buộc phải đổ quân vào miền Nam và ngày càng thêm phụ thuộc vào sự có mặt của quân đội Mỹ và ngay cả trong nhiệm vụ "bình định" nông thôn, nó cũng đã tỏ ra thụ động, bất lực. Vì thế, vào lúc Tết Mậu Thân nổ ra, tỷ lệ đào ngũ trong quân ngụy lên tới đỉnh cao hơn bao giờ hết; các tiểu đoàn chiến đấu của nó, trong hai tuần đầu của Tết, chỉ còn một nửa số quân. Sau Tết, tình trạng đó tiếp tục gia tăng. Cũng từ đây, hiện tượng phản chiến ngày càng trở nên phổ biến, không chỉ trong hàng ngũ binh lính mà cả trong hàng ngũ sĩ quan, không chỉ có ở quân đội Sài Gòn mà ở cả quân đội Mỹ - một đội quân mà từ sau tuyên bố ngày 31 tháng 1 năm 1968 của vị Tổng thống - Tổng tư lệnh Giôn-xơn, đã bước vào thời kỳ thoái chí.

        Như thế, Tết đã phơi bày toàn bộ những yếu kém, thụ động và bất lực của chính quyền cũng như của quân đội Sài Gòn. Không ai ở Sài Gòn và ở Oa-sinh-tơn có thể tin chắc rằng, mai này quân Mỹ rút, chế độ Sài Gòn lại có thể tự tồn tại được Đó là lý do vì sao dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã bước vào Tết Mậu Thân với một niềm tin cháy bỏng, với một quyết tâm to lớn đến nhường ấy. Bởi đây là đòn tiến công đồng loạt bất ngờ, mãnh liệt, trên quy mô toàn Miền, nhằm vào chỗ yếu kém nhất của Mỹ ở miền Nam và chính quyền Sài Gòn để làm nản lòng giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn đặng đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ. Đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ là mục tiêu quán xuyến của chúng ta. Ngay từ trong ý đồ ban đầu khi hoạch định Tết Mậu Thân, cơ quan chỉ đạo chiến lược Việt Nam không hề ảo tưởng thắng Mỹ trên thế mạnh đơn thuần về quân sự bằng cách tiêu diệt chiến lược hoặc đánh bật gần 50 vạn quân chiến đấu Mỹ khỏi Việt Nam mà đã chủ trương đánh vào ý chí của Mỹ bằng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng miền Nam, bằng việc kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao...

        Để phát huy cao độ sức mạnh đó, trong Tết Mậu Thân, Đảng ta chủ trương, một mặt, đánh mạnh đồng loạt vào cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy bằng lực lượng tại chỗ để gây cú sức mạnh, tác động nhanh tới ý chí xâm lược của Mỹ, mặt khác, rất chú trọng tới lực lượng nổi dậy đồng loạt của quần chúng ở nông thôn và đô thị.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:25:43 pm

        Việc mở hướng tiến công vào đô thị trên quy mô toàn Miền đã buộc toàn bộ lực lượng Mỹ đang từ thế phản công "tìm diệt" đối phương phải dồn về mặt trận đô thị, lâm vào thế bị động chống đỡ. Quân Mỹ đã như vậy, nên quân ngụy Sài Gòn cũng co cụm quanh các thành phố, thị xã và thị trấn; khiến cho Uy-lơ, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ phải thúc ép chính phủ Sài Gòn đưa quân đội đánh thốc ra vùng ven và vòng ngoài để mong giải toả áp lực cho Sài Gòn và các đô thị khác đang bị đối phương vây hãm. Thế nhưng, quân đội Việt Nam cộng hoà - theo chính lời họ nói, đang ở trong tình thế khó xừ, bởi họ không thể nào đối phó được với bất kỳ cuộc tiến công nào của "địch" vào các thành phố. Trong tình huống như thế, bộ chỉ huy quân sự Mỹ buộc phải dốc hết lực lượng hiện có trong tay để giải quyết vấn đề hòng làm giảm áp lực của đối phương xung quanh các đô thị. Cùng khi đó, Mỹ lại phải huy động 50% quân số ra mặt trận phía Bắc để ứng phó với mọi nguy cơ có thể xảy ra ở đây. Và việc này lại đặt Mỹ trước một tình thế khó khăn mới nảy sinh là lực lượng dự bị của Mỹ trên chiến trường đã bị tước đi quá mỏng. Điều đó sẽ rất nguy hiểm nếu Khe Sanh, Huế, Quảng Trị, Tây Nguyên, Sài Gòn... lại bị đồng loạt tiến công. Vì những lẽ đó, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ phải xin tăng gấp 206.000 quân Mỹ sang miền Nam Việt Nam. Đề nghị đó, thêm một lần nữa, lại đã làm bàng hoàng nước Mỹ. Một số thành viên trong Chính phủ Mỹ khi đó đã thẳng thừng nói rằng: ông Oét-mo-len không được sợ thua nếu yêu cầu tăng viện của ông ta không được Oa-sinh-tơn chấp thuận. Sau nhiều ngày họp bàn, thảo luận, đến giữa tháng 3 năm 1968, đề nghị tăng quân đó đã bị bác bỏ. Điều đó có nghĩa là Mỹ không còn ý chí để theo đuổi chiến lược “tìm và diệt" như trước đây. Chính vì vậy mà từ sau Tết Mậu Thân, quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường chuyển sang làm nhiệm vụ chiếm đóng, phòng thủ, thực hiện chiến lược quân sự "quét và giữ".

        Thế là, sau 3 năm không sao "tìm diệt" được chủ lực đối phương, quân Mỹ phải quay sang làm nhiệm vụ "lính giữ nhà" của quân ngụy trước kia để tránh bị thương vong cao, đẩy dần quân ngụy ra trận trực tiếp đương đầu với chủ lực Quân giải phóng, khởi đầu một quá trình đi xuống về mặt chiến lược của Mỹ và quá trình đó là không thể đảo ngược được.

        Như vậy, với Tết Mậu Thân, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã giành được những kết quả to lớn: tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh; phá rã chính quyền địch ở nhiều vùng nông thôn; phá vỡ hệ thống phòng thủ đô thị kiên cố của Mỹ, ngụy trên quy mô toàn Miền; làm đảo lộn thế bố trì chiến lược của chúng ở miền Nam; làm lộ rõ những mâu thuẫn mà Mỹ, ngụy đã không sao khắc phục được trung đường lối và cách thức điều hành chiến tranh; phơi bày toàn bộ sự thất bại về quân sự, chính trị của Mỹ suốt những năm "Chiến tranh Cục bộ". Không phải đợi đến sau này mà ngay trong Tết Mậu Thân, Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) cũng buộc phải thừa nhận rằng: "Những người Cộng sản đã đạt được các mục tiêu quân sự, chính trị và tâm lý lớn. Họ đã kiểm soát được nhiều vùng nông thôn rộng lớn, đập tan hệ thống chính trị, kinh tế và quân sự Việt Nam cộng hoà". Thành công đó của Tết Mậu Thân đã là căn nguyên, là động lực chính tạo nên sức chấn động dừ dội, làm lung lay nền móng sâu xa của đời sống chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội Mỹ; buộc giới cầm quyền Mỹ dù không muốn nhưng vẫn phải công khai tuyên bố đơn phương "xuống thang", thay đổi chiến lược rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam sau 3 năm lao sâu vào và chưa một mục tiêu nào của cuộc chiến tranh này được thực hiện. Đó là sự thất bại to lớn của Mỹ. Đó cũng là lý do tại sao ngót 30 năm qua, Tết vẫn còn là một ám ảnh khôn nguôi trong ký ức của giới quân sự chính trị nước Mỹ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:31:49 pm

MỘT SỐ ĐIỂM CHƯA CHÍNH XÁC KHI VIẾT VỀ BIỆT ĐỘNG1

HỒ SĨ THÀNH       

        Lực lượng biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược đã lập được những chiến công xuất sắc, thần kỳ. Với lòng quả cảm và nghệ thuật chiến đấu mang tính đặc thù, mưu trí, sáng tạo, biến hoá, lực lượng biệt động đã giáng cho kẻ thù những đòn sấm sét kinh hoàng ngay tại sào huyệt của chúng ở Sài Gòn, trung tâm đầu não bộ máy chiến tranh của Mỹ, ngụy. Có thể nói, con người và chiến công của biệt động đã trở nên bất tử - như những biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

        Trong thời gian qua, kể từ sau ngày giải phóng miền Nam, rất nhiều tài liệu, sách báo, phim ảnh đã đề cập đến đề tài biệt động dưới nhiều dạng thức, thể loại khác nhau, góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước và giúp chúng ta hiểu thêm về lực lượng đặc biệt này.

        Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, khi đề cập đến lực lượng này đã có khá nhiều sai sót về sử liệu thậm chí thêu dệt sự kiện, có bài báo còn cường điệu đến mức phi lý. Hơn thế, có nhân chứng là người từng giữ vai trò quan trọng trong lực lượng biệt động lại phản bác những vấn đề đã được tổng kết đánh giá thống nhất bằng văn bản.

        Trong bài viết này, chúng tôi xin nêu những điểm chưa chính xác trong một số bài báo và tài liệu gần đây.

        Trong bài "Nhân chứng sống kể chuyện trận đánh Sứ quán Mỹ, Tết Mậu Thân", đăng trên Đặc san Sự kiện và nhân chứng, số tháng 4 năm 2002, tác giả Mỹ Thư ghi theo lời kể của ông Trần Sĩ Hùng, người lái xe cho Đội 11 biệt động đánh Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968. Tác giả viết: "ta đồng loạt đánh vào các mục tiêu Bộ Tổng tham mưu, Tổng Nha cảnh sát, Đài phát thanh, Dinh Độc Lập, quân cảng hải quân ngụy... nhưng đều không đánh được như kế hoạch vạch ra, chỉ có đánh vào Sứ quán Mỹ là đúng ý định". Theo tôi, nhận định trên có mấy điểm chưa đúng. Trong 5 mục tiêu trọng yếu của địch tại Sài Gòn bị lực lượng biệt động tiến công đêm mồng một Tết Mậu Thân, không có Tổng nha cảnh sát và quân cảng hải quân ngụy; trong khi đó trận đánh vào Bộ Tổng tham mưu ngụy rất ác liệt, lại không thấy đề cập? Về vấn đề này, lịch sử biệt động đã xác nhận: trong 9 mục tiêu đầu não dự kiến tiến công, biệt động đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh vào 5 mục tiêu: Dinh Độc Lập, Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ tư lệnh hải quân ngụy, Sứ quán Mỹ và Bộ Tổng tham mưu ngụy. Do đụng địch dọc đường và xuất phát chậm nên một số đội biệt động khác không đánh được các mục tiêu: Tổng nha cảnh sát, Biệt khu Thủ đô, Khám Chí Hoà, trại Phi Long (cổng sân bay Tân Sơn Nhất). Ở đây, có lẽ nhân chứng nói nhầm mục tiêu Bộ tư lệnh hải quân ngụy ra quân cảng hải quân (?). Tất cả 5 mục tiêu trên, các đội biệt động đều chiếm được ở mức độ khác nhau và giữ vượt thời gian quy định của trên.

        Còn về nhân chứng quan trọng cuối cùng của trận đánh Đại sứ quán Mỹ, như mọi người đã biết, đó là đồng chí Ba Đen (Ngô Thành Vân), người trực tiếp chỉ huy 16 chiến sĩ chiến đấu suốt 6 giờ trong toà Đại sứ Mỹ. Đồng chí Tư Hùng (Trần Sĩ Hùng) là người được tổ chức phân công lái xe đưa Đội 11 đến mục tiêu rồi quay về, chứ không trực tiếp tham gia trận đánh. Trong trận đánh này, đồng chí Ba Đen là người còn lại sau cùng, sau khi anh em đã hy sinh hết. Đồng chí bị thương, ngất đi và bị địch bắt; sau Hiệp định Pa-ri, được trao trả. Sau này, đồng chí bị tai nạn giao thông và đã qua đời. Do đó, ngoài đồng chí Ba Đen ra, không ai có thể kể diễn biến trận đánh Đại sứ quán Mỹ chính xác hơn.

-------------------

        1. (Tạp Chí LSQS Số 2-20003)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:32:21 pm

        Trong trận này, đồng chí Tư Hùng có xác định một chi tiết sai của một tài liệu cấp Bộ tổng kết, tôi hoàn toàn nhất tri. Đó là: khi đi đánh Sứ quán Mỹ, Đội 11 biệt động không phải cải trang thành cảnh sát ngụy, mà mặc đồ dân sự.

        Trong bài "Khai sinh 5 con cùng một ngày" của Nguyễn Trần Thiết, dăng trong số báo Xuân Quân đội nhân dân năm 2003, có một số chi tiết sai lạc, mâu thuẫn. Ví dụ: "Để có tiền ngụy đủ cấp cho dăm ngàn cán bộ, du kích, tự vệ, biệt động từ chiến khu được điều vào Sài Gòn tham gia cuộc tiến công Mậu Thân, nhà thầu khoán Năm Lai bán ngay một biệt thự riêng...". Như ta đã biết, trong Mậu Thân 1968, lực lượng địa phương đã vào nội thành Sài Gòn, chủ yếu là biệt động, chưa quá 100 chiến đấu viên; ngoài ra là một số tiểu đoàn mũi nhọn, lấy đâu ra dăm ngàn quân? Nếu tính lực lượng Phân khu và của R đánh ở vòng ngoài, thì các đơn vị này đã có hậu cần riêng, không dính gì tới biệt động. Vậy ông Năm Lai bán biệt thự, quá lắm là cung cấp cho lực lượng biệt động; làm sao nuôi dăm ngàn người vào Sài Gòn tham gia Mậu Thân?

        Ở một đoạn khác trong bài báo trên, tác giả viết: "Đánh Dinh Độc Lập đêm mùng 2 Tết"... “Sáng 3 Tết chúng tôi chiếm được mục tiêu... hết đạn, chúng tôi buộc phải rút về"...

        Tài liệu tổng kết về biệt động từ trước đến nay vẫn xác định ngày giờ nổ súng Tết Mậu Thân ở Sài Gòn là khoảng 2 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968, nhằm đêm 1 Tết. Vì vậy, nói Đội 5 biệt động đánh Dinh Độc Lập vào đêm 2 Tết là không chính xác. Thực tế trận đánh này, sau khi không phá được cổng bên hông Dinh Độc Lập ở đường Nguyễn Du, 3 chiến sĩ lọt vào khuôn viên bị hy sinh, số còn lại chỉ trụ trên đường Nguyễn Du đánh địch phản kích nhiều đợt và hy sinh 8 người. Bảy đồng chí còn lại lui vào cố thủ trên ngôi nhà tầng đường Thủ Khoa Huân (Quận 1), sau đó hy sinh và bị bắt toàn bộ trong ngày mồng 2 Tết. Do đó, chi tiết "Sáng 3 Tết chúng tôi chiếm được mục tiêu... hết đạn, chúng tôi buộc phải rút về" là không có căn cứ!

        Nhân đây, cũng xin nói thêm về ngày giờ tấn công Sài Gòn trong Tết Mậu Thân. Trong chiến tranh chống Mỹ, lực lượng cách mạng ở miền Nam dùng giờ Hà Nội, chứ không bao giờ dùng giờ theo ngụy Sài Gòn (hồi đó, giờ ta và ngụy chênh nhau 1 giờ; Hà Nội 6 giờ thì Sài Gòn 7 giờ). Trong Tết Mậu Thân 1968 cũng vậy, giờ tấn công đồng loạt ở Sài Gòn là tính theo giờ Hà Nội và ngày âm lịch cũng tính theo Tết miền Bắc. Do đó, các đơn vị đánh vào Sài Gòn là đêm 1 Tết. Ở Khu 5 nổ súng trước Nam Bộ 1 ngày là vào đêm 30 Tết (sau giao thừa). Điểm này, sách báo cần thống nhất để chuẩn hoá thời gian sự kiện lịch sử quan trọng này.

        Cũng trong báo Xuân Quân đội nhân dân năm 2003 và cũng bài của tác giả Nguyễn Trần Thiết: "Người được mời đi đánh Đài phát thanh", nói về chị Trần Thị Út - vợ Anh hùng Trần phú Cương (Năm Mộc), chưa hoàn toàn đúng. Trận đánh quan trọng này đã được bố trí lực lượng và vũ khí xong xuôi, xuất phát từ căn nhà 65 Nguyễn Bỉnh Khiêm (gần Đài phát thanh), là nhà của vợ chồng đồng chí Năm Mộc. Chị Út chỉ là người phục vụ cơm nước, canh gác, bảo vệ Đội biệt động từ khi đến trú ém cho đến khi đi chiến đấu. Nhiệm vụ cụ thể đã được giao cho từng chiến đấu viên. Vì thế, không có chuyện phân công cho một phụ nữ có con mọn vào một mục tiêu nguy hiểm như thế. Vả lại, trong chiến tranh làm gì có chuyện "mời" đi đánh giặc như đi dự tiệc (!).

        Trong Tết Mậu Thân 1968, có tài liệu còn cho rằng khi Đội 4 biệt động đánh chiếm Đài phát thanh Sài Gòn, lực lượng thanh niên, sinh viên của Thành đoàn đã đến phối hợp chiến đấu. Chi tiết này nằm trong dự kiến kế hoạch, nhưng thực tế khi trận đánh nổ ra, mặc dù phải trong một thời gian khá lâu, Đội 4 mới chiếm được Đài phát thanh, nhưng không hề có một lực lượng nào đến tiếp ứng; các chiến sĩ đơn độc chiến đấu và hy sinh cho đến người cuối cùng.

        Biệt động sẽ còn là đối tượng nghiên cứu rộng rãi, do đó, khi viết, trước khi công bố cần kỹ lưỡng, cẩn trọng đến mức cao nhất, tránh làm "méo mó" sự thật lịch sử.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:38:02 pm
             
THƯ GIẢI TRÌNH "MỸ HOÁ”, “VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH1

HỒ KHANG        

        Trong một số công trình nghiên cứu lịch sử về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đã công bố, khái niệm "Mỹ hoá" được dùng để bao quát sự phản ứng quân sự của Mỹ sau ngày ta mở cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân 1972. Theo đó Mỹ hoá là một chủ trương có tính chất chiến lược. vượt ra ngoài khuôn khổ chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Những sự kiện quân sự, Hà Nội, 1968, tr. 263). Một số tác giả còn cho rằng "Mỹ hoá là một chủ trương chiến lược mới... vượt hẳn ra ngoài khuôn khổ Việt Nam hoá" (Bùi Đình Thanh, Hoàng Vĩ Nam, Quỳnh Cư, Cao Văn Lượng... Một số vấn đề “Việt Nam hoá" chiến tranh, Viện Sử học - Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 1984, tr. 175. 507), “Làm cho tính chất tham chiến của Mỹ trong Việt Nam hoá chiến tranh thay đổi hẳn, vượt rất xa khuôn khổ Việt Nam hoá đã được Nhà Trắng dự liệu” (Đại tướng Văn Tiến Dũng - Cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 12, 113). Đôi khi, ở những công trình khác, “Mỹ hoá" mang nội hàm hạn hẹp hơn: "Ních-xơn buộc phải thực hiện một chủ trương chiến lược vượt ra ngoài khuôn khổ Việt Nam hoá chiến tranh; tức là Mỹ hoá trở lại cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân ở miền Nam".

        Dù hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp, các công trình trên đây đều viện dẫn những thông số hầu như giống nhau về máy bay, tàu chiến, bom đạn, cường độ, quy mô oanh tạc, bắn phá... của không quân, hải quân Mỹ sau ngày 30 tháng 3 năm 1972.

        Cách hiểu này, thực ra mới chỉ là sự nhận diện hiện tượng chứ chưa đi sâu vào bản chất của nó. Theo chúng tôi, cái gọi là "Mỹ hoá" chẳng qua vẫn là nội hàm của khái niệm "Việt Nam hoá" chiến tranh mà thôi.

        Nhằm đối phó với đòn tiến công mãnh liệt, bất ngờ của ta, từ tháng 4 năm 1972, Mỹ đã huy động một bộ phận không quân và hải quân ứng cứu cho quân ngụy Sài Gòn. Tại các căn cứ ở Việt Nam, Thái Lan, Gu-am, An-đéc-xơn, Mỹ tập trung 1.270 máy bay chiến đấu, trong đó có 193 máy bay ném bom chiến lược B-52. Trong thời điểm cao nhất, ngoài khơi vùng biển Việt Nam, ngày đêm rình rập 4 đến 5 tàu sân bay, 4 đến 5 tàu tuần dương cùng hơn 50 tàu chiến và tàu đổ bộ chiếm 2/3 số tàu chiến đấu của Hạm đội 7. Mặt khác, không quân, hải quân Mỹ đã sử dụng một khối lượng bom đạn lớn, chi viện cho quân ngụy Sài Gòn mở các đợt phản kích tái chiếm những vùng vừa bị mất; trên miền Bắc, không quân, hải quân Mỹ mở rộng phạm vi đánh phá - kể cả khu vực Hà Nội, Hải Phòng và phong toả cảng biển, cửa sông hòng chặn đứng luồng tiếp tế từ ngoài vào miền Bắc, từ miền Bắc tới các chiến trường.

        Tất cả những hoạt động trên đây của Mỹ tuy so với trước tháng 4 năm 1972 có dữ dội, ác liệt hơn... song không phải vì thế mà vượt ra khỏi chiến lược "Việt Nam hoá" để hình thành khái niệm "Mỹ hoá" khác biệt.

        Sự thất bại của chiến lược "chiến tranh cục bộ” đã kéo theo sự sụp đổ của chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt của Mỹ và làm cho nội tình nước Mỹ "cấu xé, chia rẽ, xơ xác, tơi bời...", "sự bất đồng, cay đắng đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ" (Diễn văn nhậm chức của Ních-xơn, ngày 20-1-1969). Với lời hứa sẽ chấm dứt chiến tranh - mà không nói rõ chấm dứt bằng cách nào, Ních-xơn đã trúng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 1969-1973.

        Ngay khi được vào Nhà Trắng, R. Ních-xơn đã đề ra "Học thuyết Ních-xơn” và chiến lược toàn cầu "Ngăn đe thực tế" để chống đỡ lại sự phát triển của lực lượng cách mạng và tiến bộ trên khắp thế giới, tiếp tục thực hiện chính sách bá chủ toàn cầu Đối với Việt Nam, cuộc tìm kiếm chính sách mới của Mỹ "chấm dứt vào tháng 3- 1969" (Đình Thanh, Hoàng Vĩ Nam, Quỳnh Cư, Cao Văn Lượng... Một số vấn đề "Việt Nam hoá" chiến tranh, Sđd, tr. 124) bằng cách "điều chỉnh đúng hướng" (Theo tạp chí Mỹ Tuần tin tức số ra ngày 3-12-1969, Ních-xơn nói: chính sách của Giôn-xơn bây giờ đã được điều chỉnh đúng hướng") chủ trương "phi Mỹ hoá" của Giôn-xơn. "Chính sách đó mang tên "Việt Nam hoá" từ cuộc gặp gỡ Ních-xơn, Nguyễn Văn Thiệu ngày 8 tháng 6 năm 1969 tại Mít-uê, một hòn đảo nhỏ bé ở Thái Bình Dương (Đình Thanh, Hoàng Vĩ Nam, Quỳnh Cư, Cao Văn Lượng... Một số vấn đề "Việt Nam hoá" chiến tranh, Sđd, tr. 124). “Trong tất cả các thay đổi về chính sách trong năm đầu tiên của chính quyền Ních-xơn không có gì quan trọng bằng việc "Việt Nam hoá" vì chính sách mới này đối với Việt Nam thực tế là sự áp dụng và thử thách một chính sách rộng lớn hơn đối với châu Á mà tổng thống đã tuyên bố tại Gu-am (tháng 7- 1969) (Diễn văn của Le-đơ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời Ních-xơn làm Tổng thống, đọc tại Phòng thương mại bang Ca-li-phoóc-nia ngày 14-1-1970).

        Như vậy, khái niệm "Việt Nam hoá" đã xuất hiện ngay sau khi Ních-xơn tựu chức. Có điều, khác với "phi Mỹ hoá" - một kế hoạch thuần tuý về quân sự nhằm tránh cho quân Mỹ khỏi bị thất bại nặng nề bằng cách duy trì cục diện chiến trường không bị xấu thêm, đồng thời tiến hành thương lượng để rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự, “Việt Nam hoá" là một chiến lược tổng thể, hoàn chỉnh về: quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao... nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu bánh giữ miền Nam Việt Nam, giảm thiểu sự dính líu của quân chiến đấu Mỹ trên bộ nhưng phải giành thế mạnh trên chiến trường để kết thúc chiến tranh bằng thương nghị theo những điều kiện do phía Mỹ đưa ra.

----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 4-1992)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:38:22 pm

        “Việt Nam hoá" không phải là một chiến lược ứng phó tức thời mà là "thủ tục do Ních-xơn vạch ra để kéo dài chiến tranh Việt Nam" (Peter Dale Scott, The secret road to the second lndochina War (Con đường bí mật dẫn tới cuộc chiến tranh Đông Dương lấn thứ hai), Boobbs-Merrill Company, New York, 1972). "Thủ tục" đó thực hiện trong một thời gian dài, chia làm 3 giai đoạn:

        a) Giai đoạn đầu (từ 1969 đến giữa hoặc cuối 1972), trong giai đoạn này, Mỹ sẽ chuyển giao từng bước nhiệm vụ tác chiến trên bộ cho quân ngụy, rút dần quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam.

        b) Giai đoạn hai, chuyển giao dần nhiệm vụ tác chiến trên không.

        c) Giai đoạn ba, chuyển giao nhiệm vụ tác chiến trên biển, trên sông; hoàn tất các mục tiêu của chiến lược "Việt Nam hoá" (Theo tài liệu “Kế hoạch chiến lược mật" của địch do Cục 2, BTTM QĐND Việt Nam cung cấp).

        Với chiến lược mới này, như báo chí và các chính khách Mỹ nhiều lần vạch rõ: “Ních-xơn đã hầu như chấm dứt sự tham gia tích cực chiến đấu của Mỹ và chấm dứt bằng cách không hy sinh tất cả một mục tiêu nào của Mỹ ở Việt Nam" (Báo Mỹ Bưu điện Oa-sinh-tơn, ngày 9-3-1972. "Tham gia tích cực" ở đây được hiểu là sự tham gia trực tiếp của lục quân Mỹ trên chiến trường) điều mà trước đây, có trong tay hơn 50 vạn quân Mỹ và chư hầu, gần 60 vạn quân chủ lực ngụy, Giôn-xơn cùng Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn không thể nào thực hiện nổi. Thế nhưng, muốn "chấm dứt sự tham gia tích cực chiến đấu của Mỹ" mà lại "không hy sinh bất cứ một mục tiêu nào của Mỹ ở Việt Nam" thì, thay vì bằng lục quân, bằng xác lính Mỹ, Mỹ đã Phải viện cầu tới không quân, kỹ thuật. Đây là sở trường quen thuộc của Mỹ.

        Nhìn lại vết xe đổ của chính quyền Giôn-xơn với hơn 50 vạn quân Mỹ trong "chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam (1965-1968), Ních-xơn và các chiến lược gia Mỹ cho rằng, cơ sở của chính sách an ninh quốc gia mới của Mỹ phải dựa vào 2 thực tế căn bản. Một là, sức mạnh của Mỹ dù sao cũng "có giới hạn". Hai là về mặt chiến lược, muốn phát huy sức mạnh hữu hạn đó, phải "chủ yếu dựa trên hải quân và không quân chứ không phải trên lục quân" (James Donovan, Militarism U.S.A, Ed Charles Sorib-nerssons, New York, 1970, tr. 244). Do vậy, dù là "Học thuyết Ních-xơn" hay chiến lược "Việt Nam hoá" đều vẫn nhấn mạnh đến "kỹ thuật của không quân", coi đó như "đầy tớ để định đoạt một loạt mục tiêu trong chính sách của Mỹ" (Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương, công trình nghiên cứu của trường Đại học Coóc-nen, Mỹ, bản dịch của Thông tấn xã Việt Nam). Thực ra, quan điểm coi sức mạnh của không quân, hải quân là đòn chiến lược quyết định chủ yếu trong chiến tranh hiện đại không phải đến lúc Ních-xơn lên cầm quyền mới có, nó xuất hiện trước đó và trở thành nhân tố tương đối ổn định trong học thuyết quân sự của Mỹ. Điều này được chứng tỏ không chỉ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam mà ngay cả gần đây, trong chiến tranh Vùng Vịnh. Thế nhưng, đến Ních-xơn, tình thế đã buộc ông ta phải phụ thuộc nhiều hơn vào loại vũ khí này, đặc biệt là trong cuộc chiến ở Việt Nam là bởi 2 lẽ:

        a) Khi mà làn sóng phản đối chiến tranh ở Mỹ lên cao "đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ…" (Diễn văn nhậm chức của Ních-xơn. ngày 20-1-1969), với khả năng cơ động nhanh, tiến hành từ xa, ít gây nên sự chú ý, giảm được tổn thất về sinh mạng lính Mỹ và tổn phí đô-la, không quân, hải quân được chính quyền Ních-xơn chọn dùng làm lực lượng thay thế cho quân chiến đấu trên bộ của Mỹ tại chiến trường Việt Nam;

        b) Nhanh chóng leo thang đánh phá mà không dễ bỉ công chúng Mỹ phát hiện và phản đối; không sợ bị đối phương trả đũa.

        Vả chăng, với chủ quan vốn có, Mỹ vẫn cho rằng, Bắc Việt Nam sẽ không thể "ném bom các vị trí của quân đội Việt Nam cộng hoà bằng bom na-pan, bắn phá các làng mạc nằm trong tay các lực lượng thân phương Tây, nói gì tới việc họ ném bom lãnh thổ nước Mỹ. Vì vậy, trong khi sử dụng lực lượng không quân chống lại một nước yếu hơn, không cần phải nghĩ tới khả năng xảy ra hành động trả đũa. Trong khi đó thì hiện nay, chính là nỗi lo sợ bị trả thù này đã tỏ ra là nhân tố hùng mạnh nhất chế ngự việc sử dụng các vũ khí chiến tranh" (Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương, Tlđd).

        Như vậy, thực chất của chiến lược "Việt Nam hoá" chỉ là một quá trình chuyển giao dần trách nhiệm chiến đấu trên bộ, trên không, trên sông, trên biển của Mỹ cho quân ngụy Sài Gòn nhưng thực chất cuộc chiến tranh, tính chất sự dính líu của Mỹ không hề thay đổi. Với cách nhìn như thế, chúng ta sẽ không lấy làm ngạc nhiên là, đi đôi với quá trình triệt hồi dần từng bộ phận quân Mỹ và diễn biến thực tế ở chiến trường là sự tăng trưởng của không quân và hải quân Mỹ. Vì vậy không thể căn cứ vào cường độ gia tăng của không quân thay vì bằng việc dính líu của lục quân mà có thể thay thế khái niệm "Việt Nam hoá" bằng "Mỹ hoá". Thực tế trên chiến trường đã chứng minh điều đó.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:39:07 pm

        Ai cũng biết rằng, liên tục trong những năm 1969, 1970, 1971, không quân Mỹ đã dội một khối lượng bom đạn khổng lồ xuống chiến trường 3 nước Đông Dương. Chỉ riêng từ năm 1969 đến tháng 3 năm 1971, không quân Mỹ đã ném xuống Đông Dương khối lượng bom đạn nhiều hơn số bom Mỹ đã sử dụng ở khắp 2 chiến trường châu Âu và Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Ở miền Nam Việt Nam, trong 3 năm (1969 đến 1971), không quân chiến thuật Mỹ đã thực hiện 269.042 lượt xuất kích, ném khoảng 1,7 triệu tấn bom" (Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương. Sđd). Chỉ 5 tháng đầu năm 1970, máy bay Mỹ đã dội xuống Việt Nam chủ yếu là miền Nam) 594.171 tấn bom, vượt xa tổng số bom mà Mỹ đã thả trong 3 năm chiến tranh Triều Tiên (360.000 tấn) (Nguồn Tạp chí Môi trường, số tháng 11-1970). Đến trước ngày ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, chiến tranh không quân của Mỹ đã mở rộng cả về quy mô, cường độ; trở thành chiếc ô trùm phủ một vùng cột sống Đông Dương gồm khu vực Bắc Lào, vào sâu nội địa Campuchia, khu vực khu phi quân sự kéo dài tới Đông Bắc Thái Lan. "Các cuộc oanh tạc đó cung cấp cho Ních-xơn phương tiện để duy trì chế độ Thiệu và sự có mặt của Mỹ ở Sài Gòn trong một thời gian nào đó với cái giá phải trả là tính mạng của hàng triệu người ở Đông Dương" (F.Fitzgerald. Fire in the lake (Lửa trong hồ), MC. Milan, New York, 1972).

        Rõ ràng, việc Mỹ tăng cường chiến tranh không quân, hải quân do tình thế chiến lược "Việt Nam hoá" bị đe dọa phá sản năm 1972 là sự tiếp nối không gián đoạn quá trình sử dụng không quân, hải quân như một phương tiện chiến lược suốt những năm triển khai "Việt Nam hoá" chiến tranh ở mức độ cao hơn mà thôi.

        Lên cầm quyền, Ních-xơn đã cho rằng, cách điều hành chiến tranh "leo thang từng nấc" thời Giôn-xơn là một sai lầm. Ông ta đã phê phán công khai điều này trong cương lĩnh đảng Cộng hoà; cho rằng như vậy là triệt tiêu lợi thế về sức mạnh không quân, hải quân. Chính vì thế mà cuối năm 1968, thời kỳ chuyển giao quyền lực giữa Giôn-xơn và Ních-xơn, cố vấn Kít-sinh-giơ đã đệ trình lên Tổng thống Mỹ 4 biện pháp quân sự nhằm giành ưu thế trên chiến trường Việt Nam:

        a) Bỏ những hạn chế đã kìm hãm các tư lệnh chiến trường, cho phép họ sử dụng sức mạnh ồ ạt, tối đa.

        b) Chấm dứt việc ngừng ném bom; nối lại cuộc tiến công bằng không quân chống miền Bắc Việt Nam.

        c) Phong toả cảng Hải Phòng và một số cảng biển, cửa sông miền Bắc.

        d) Truy đuổi lực lượng đối phương ở bên ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam; tiêu diệt các vừng "đất thánh" ở bên kia biên giới Việt Nam - Campuchia...

        Những kiến nghị này đã được Ních-xơn chọn làm biện pháp "hỗ trợ" cho quá trình triển khai chiến lược "Việt Nam hoá" của Mỹ. Quả nhiên, ngay từ những ngày đầu tựu chức và trải suốt nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ (1969-1973), Ních-xơn vừa đẩy mạnh việc xây dựng ngụy quân, ổn định ngụy quyền vừa thực hiện các hoạt động quân sự được mệnh danh: chiến tranh giành dân; chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh hủy diệt - trong đó, hoả lực không quân Mỹ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Ngày 18 tháng 3 năm 1969, không quân Mỹ được lệnh thực hành các phi vụ ném bom bí mật Campuchia. Từ đó, đất nước này bắt đầu một thời kỳ đầy đau thương và biến động. Trong vòng một năm (3-1969 - 4-1970), chỉ riêng máy bay chiến lược B.52 đã thực hiện 3.630 phi vụ, dội xuống Campuchia 104.000 tấn bom; chiếm 60% tổng số phi vụ B. 52 trên khắp chiến trường Đông Dương trong cùng thời gian. "Ngày 17-2-1972, Ních-xơn đã nói rằng, trừ vũ khí nguyên tử chiến thuật, Mỹ sẽ không hạn chế việc sử dụng không lực ở Hoa Kỳ trên toàn Đông Dương (Peter Dale Scott, The secret road to the second lndochina War, Tlđd). Hồi tưởng về một Ních-xơn trong "Những năm ở Nhà Trắng”, Kít-sing-giơ thừa nhận rằng: "Ních-xơn không thể dùng kiểu sức mạnh nửa chừng hoặc không đúng cách... Các chính khách sẽ chẳng giành được gì nếu bị thất bại do hạn chế việc sử dụng sức mạnh". Điều đó cắt nghĩa vì sao những năm Mỹ tiến hành "Việt Nam hoá", cuộc chiến không một ngày dịu lắng mà trở nên khốc liệt hơn - không chỉ giới hạn ở Nam Việt Nam mà đã lan nhanh sang Lào, lan sâu vào nội địa Campuchia...

        Xem thế, việc Mỹ tăng cường và mở rộng chiến tranh không quân, hải quân ở 2 miền Nam, Bắc Việt Nam là biểu hiện tập trung, cách thức tiến hành chiến tranh, là ánh xạ quan điểm dùng sức mạnh mà Ních-xơn, Kít-sing-giơ đã đề ra ngay từ những ngày đầu bước chân vào Nhà Trắng và áp dụng suất thời kỳ "Việt Nam hoá" chiến tranh.

        Nhìn chung lại, "Việt Nam hoá" là một quá trình mà ở đó, Mỹ tiếp tục nỗ lực chiến tranh với những biện pháp, hình thức và mức độ mới. Nhưng khác chăng là, rút kinh nghiệm của Giôn-xơn, suốt quá trình này, sức mạnh của không quân, hải quân Mỹ được Ních-xơn xem như một công cụ chiến lược thay thêm cho những đơn vị chiến đấu trên bộ mà Mỹ buộc phải rút dần về nước. Chính vì thế, trong Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương, để trả lời câu hỏi: Vì sao, chính quyền Ních-xơn "lại có thể tiếp tục một cuộc chiến tranh mất lòng người ở Đông Dương từ 4 năm nay sau khi nước Mỹ đã bỏ phiếu chống lại cuộc chiến tranh đó trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968" thì các nhà viết sử phát hiện ra rằng: "một trong những câu trả lời cho câu hỏi đó sẽ là những bước tiến kỹ thuật của vũ khí, chủ yếu là những bước tiến trong sức mạnh không quân" (Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương. Tlđd) của Mỹ. Rõ ràng là: việc Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân để đánh phá dừ dội hai miền Nam, Bắc Việt Nam từ tháng 4 năm 1972 không phải là một chủ trương chiến lược mới, vượt ra khỏi hạn định của chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh, tuy về thực tiễn, nó có thể bớt đi những đau khổ cho nhân dân Mỹ; nó có thể thay vì xác lính Mỹ chết trên chiến trường bằng sự tổn hại của những "Con ma", "Thần sấm", những "pháo đài bay B52"... song ngân sách ném vào cuộc chiến tranh (Ngân sách quốc phòng của Mỹ năm 1969 là 78,5 tỉ đô-la, con số đó đến năm 1971 tăng lên 112 tỉ đô-la, chủ yếu là bởi tác động của cuộc chiến mà Mỹ đang theo đuổi ở Việt Nam và Đông Dương. Đối với ngụy Sài Gòn, viện trợ quân sự cũng như tổng viện trợ không ngừng tăng. Chỉ riêng viện trợ quốc phòng của Mỹ cho quân ngụy từ 1,71 tỉ đô-la (năm 1969) lên 1,73 tỉ đô-la (năm 1970) và 1,9 tỉ đô-la (năm 1971)) và nhất là tính chất tham chiến của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hoá" chiến tranh không vì thế mà thay đổi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:43:21 pm
         
CHIẾN DỊCH TRỊ THIÊN (1972) QUA Ý KIẾN CỦA MỘT NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ1

LÊ TỰ ĐỒNG        

        Năm 1976, Viện Khoa học Quân sự xuất bản cuốn sách nói về chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972. Cuốn sách này trình bày khá đầy đủ về chủ trương, diễn biến, những bài học kinh nghiệm... gần như một bản tổng kết, biên soạn rất công phu, có nhiều tư liệu quý. Tôi xin trích một đoạn viết về kết quả và đánh giá chiến dịch: "Trong chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị, sau 88 ngày chiến đấu, tính từ 30-3- 1972 đến 27-6-1972, ta đã giết và làm bị thương 24.070 tên (có 34 tên Mỹ) bắt 3.388 tên.

        Đơn vị địch bị diệt gồm: Sư đoàn 3 bộ binh ngụy (có 3 trung đoàn: 2, 56 và 57), lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, 2 liên đoàn 4 và 5 biệt động, 4 thiết đoàn 11, 17, 18 và 20.

        Đơn vị địch bị đánh thiệt hại nặng gồm: Liên đoàn 1 biệt động quân và 2 lữ đoàn 258 và 369 thủy quân lục chiến.

        Ta phá hủy và thu 636 xe tăng, thiết giáp, 1.870 xe ô tô các loại 419 khẩu pháo các loại, bắn rơi và phá hủy 340 máy bay. Riêng pháo cỡ lớn ta đã thu được 73 khẩu và đã tận dụng tổ chức thành 8 đại đội tham gia đánh trong chiến dịch.

        Ta giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị và ba xã thuộc huyện Hương Điền tỉnh Thừa Thiên, lần đầu tiên một tỉnh ở miền Nam được giải phóng hoàn toàn trong một chiến dịch tiến công.

        Tuy vậy, thắng lợi của chiến dịch chưa đáp ứng được yêu cầu cao nhất mà nhiệm vụ chiến lược đã giao cho là giải phóng Thừa Thiên-Huế”.

        Đúng như vậy, chiến dịch đã không hoàn thành nhiệm vụ được giao mà còn để mất một phần đất đai mới được giải phóng (kể cả Thành cổ Quảng Trị) mặc dù trong lúc địch phản công, cán bộ và chiến sĩ của ta đã chiến đấu rất anh dũng, kiên cường. Tổn thất của ta trong đợt phản công này cũng rất nặng nề.

        Trong cuốn sách Chiến dịch tiến công Quảng Tri 1972 có viết: Trước tình hình trên, phương án thích hợp nhất là chủ động kết thúc chiến dịch, chuẩn bị cho một chiến dịch mới hoặc chuyển một bộ phận sang phòng ngự có tính chất chiến thuật, đồng thời chuẩn bị lực lượng để tiến hành phản công với ý định dứt khoát thì ta có khả năng đánh bại cuộc hành quân của địch, chiếm lại vùng giải phóng Quảng Trị và như thế tình hình chung toàn chiến trường có thể chuyển biến có lợi cho ta hơn" (tr.89).

        Tôi tán thành ý kiến này. Trên thực tế lúc bấy giờ mấy ai dám nói đến hai tiếng "phòng ngự"! Cũng có đôi lần trao đổi về vấn đề này nhưng không ngã ngũ và còn bị quy là "tiêu cực".

        Trước đợt 3 của chiến dịch, chúng tôi đề nghị với trên: "Nên củng cố vững chắc trận địa mới được giải phóng, đồng thời chuẩn bị lực lượng tiến công tiếp", nhưng đề nghị này không được chấp nhận và buộc chúng tôi phải tiến hành tiến công tiếp. Trong thế bị động chống đỡ, cán bộ và chiến sĩ ta chiến đấu cực kỳ anh dũng và quyết liệt, song cuộc tiến công đã không đem lại kết quả đáng kể. Ngày 27 tháng 6, địch phản công và ta buộc phải rút lui.

        Tôi hiểu rằng: vấn đề cơ bản của cách mạng là tiến công. Nhưng trên thực tế cách mạng cũng có lúc thoái trào, Đảng phải rút vào bí mật, nhưng phải nắm vững tư tưởng tiến công để đưa phong trào lên. Trong nghệ thuật quân sự cũng vậy, cần nắm vững tư tưởng tiến công. Trên phạm trù chiến lược, ta không chủ trương phòng ngự. Trong thực hành tác chiến, có tiến công, có phòng ngự rõ nét và biến hoá sinh động. Không nên mơ hồ giữa tư tưởng và nghệ thuật.

        Trong lịch sử đấu tranh giữ nước, ông cha ta xa xưa cũng vận dụng linh hoạt giữa tiến công và phòng ngự. Có lúc phòng ngự để chuyển sang tiến công hoặc phòng ngự ở hướng này để tiến công ở hướng khác.

        Trong cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên Xô trước đây đã cho ta thấy: trận Xta-lin-grát kiên trì phòng ngự để rồi phản công đẩy lùi quân phát xít Đức; hay như trận phòng ngự ở vòng cung Cuốc đang trên đà tiến công đã dừng lại củng cố lực lượng rồi phản công tiếp đến tận Béc-lin, sào huyệt của phát xít Hít-le. Tôi nghĩ rằng không nên hiểu một cách máy móc: phòng ngự là thúc thủ, là tiêu cực. Trong chiến dịch Xuân 1972, giải phóng Quảng Trị, trên thực tế cũng đã diễn ra "phòng ngự" mặc dù không ai dám nói đó là phòng ngự (như cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ). Khi địch chiếm được Thành cổ Quảng Trị, chúng đâu có muốn dừng lại ở đó. Chúng muốn giành lại toàn bộ đất đai đã bị mất, nhưng sức chúng đã kiệt, thế của chung đã mất nên buộc chúng phải dừng lại ở đó.

        Về ta, đã có một ít kinh nghiệm chiến đấu phòng ngự và trên thực tế đã tiến hành phòng ngự. Ví dụ: từ chợ Sãi ra đến Thanh Hội, địch không tiến thêm được một bước. Hoặc như ở rảnh đất nhỏ Tích Tường - Như Lệ, bao lần địch tấn công nhưng cũng không làm gì được. Đặc biệt là trận phản công nhằm tiêu diệt tiểu đoàn 6 của địch ngay trên bờ Bắc sông Thạch Hãn hôm 31 tháng 10 năm 1972. Với âm mưu chiếm lại toàn bộ vùng đất đã bị mất: Do Linh, Cam Lộ, Đông Hà... lợi dụng đêm tối, chúng đã dòng dây sang bờ Bắc một cách bí mật, quân của chúng bám dây lần sang để chiếm đầu cầu. Về ta, nhờ có chuẩn bị công sự phòng ngự sẵn, khi phát hiện địch đã kịp thời phản công quyết liệt. Cả một tuyến dài bờ Bắc sông Thạch Hãn, từ cầu sắt Quảng Trí đến Ngã ba Bến, ta đã diệt gọn quân địch, thu toàn bộ vũ khí.

        Từ những thực tế trên đây, tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải dứt khoát giữa tư tưởng cách mạng tiến công và nghệ thuật quân sự. Dĩ nhiên, đối với người chỉ huy lúc gặp những tình huống này phải rất linh hoạt và quyết đoán. Nếu nhập nhằng thì sẽ bất lợi. Đây chỉ là ý kiến của riêng tôi, rất mong độc giả nghiên cứu và trao đổi để vấn đề được sáng tỏ.

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-2001)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 09:50:50 pm
       
VỀ TRẬN ĐÁNH CĂN CỨ 241 VÀ SỰ ĐẦU HÀNG CỦA TRUNG ĐOÀN 56 NGUỴ Ở QUẢNG TRỊ NĂM 19721

PHAN ĐĂNG THÌN        
       Chiến dịch Trị-Thiên năm 1972 là một chiến dịch hiệp đồng binh chủng có quy mô lớn, sử dụng một số lượng pháo binh lớn nhất cho đến thời điểm bấy giờ: 453 khẩu pháo, bao gồm 121 pháo xe kéo (130, Đ74, 122, 100, 85); 28 pháo phản lực (ĐKB, H12); 34 súng cối. Về cách đánh chiến dịch, tập trung giả quyết 3 vấn đề lớn: Một là, chọc thủng cho kỳ được tuyến phòng thủ bên ngoài để đưa lực lượng vào tiến công Đông Hà, Ái Tử, Mai Lộc. Hai là, phá hủy hệ thống trận địa pháo binh định. Ba là, đánh bại quân cơ động ứng cứu cỡ tiểu đoàn, trung đoàn địch.

        Từ cách đánh chiến dịch, nhiệm vụ hoả lực pháo binh được xác định:

        - Chế áp, tiêu diệt các trận địa pháo chủ yếu của dịch ở tuyến ngoài, kiềm chế các trận đìa pháo của đích trong chiều sâu phòng ngự. Tập trung trước hết vào các căn cứ hoả lực ở điểm cao 241, Mai Lộc, Miếu Bái Sơn; tiêu diệt, phá hoại hệ thống công sự, hoả điểm, chi viện cho bộ binh xe tăng đột phá dành chiếm tuyến phòng ngự vòng ngoài. Bắn phá các sở chỉ huy, sân bay, kho tàng ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, Quảng Trị. Phối hợp cùng các lực lượng đánh xe tăng cơ giới; đánh pháo hạm địch. Chi viện cho các lực lượng giữ vững vùng giải phóng.

        Trên cơ sở lực lượng hiện có và nhiệm vụ được giao, pháo binh tham gia chiến dịch hình thành 3 cấp: cấp chiến dịch, cấp sư đoàn và pháo đi cùng các phân đội bộ binh (4 cụm pháo chiến dịch, 3 cụm pháo sư đoàn, 1 cụm pháo trung đoàn).

        Trung đoàn pháo binh 38 - Đoàn Bông Lau (dự bị của Bộ) là cụm pháo 1, cụm pháo chiến dịch có 1 tiểu đoàn pháo 130 mm có nhiệm vụ chi viện hoả lực cho Sư đoàn 304 (tiến công trên hướng chủ yếu). Trong đợt 1 của chiến dịch, mục tiêu pháo kích là Căn cứ 241; sang đợt 2, phối thuộc cho Sư đoàn 304. Đài quan sát chỉ huy mang phiên hiệu "Sao Mai".

        Điểm cao 241 là một trong 5 cứ điểm phòng thủ tuyến ngoài của Quảng Trị. Căn cứ này có công sự, chướng ngại vật khá kiên cố, có đủ hầm ngầm cho người; hoả lực có 20 khẩu pháo 105 mm và 155 mm, 4 pháo tự hành 175 mm. Vì vậy, một nhiệm vụ quan trọng nữa của pháo binh là phải vô hiệu hoá được hoả lực pháo địch.

        10 giờ 55 phút ngày 30 tháng 3 năm 1972, từ Sở chỉ huy Bộ chỉ huy chiến dịch, Tư lệnh mặt trận Lê Trọng Tấn phát lệnh "Bão Táp”, mở màn chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị. Sau tiếng gầm rít của đạn pháo ta, đài quan sát "Sao Mai" báo về: "Căn cứ 241, đạn trúng mục tiêu, kho đạn nổ...". Pháo ta cấp tập nổ rền đến 18 giờ ngày 30 tháng 3. Những ngày tiếp sau đó, ta tiếp tục bắn gấp, bắn cầm canh. Với cách bắn đó, pháo địch gần như hoàn toàn im bặt.

        Khoảng hơn 12 giờ ngày 2 tháng 4, có tiếng báo thoại viên xen vào máy của Đài "Sao Mai" xin gặp người chỉ huy "Bông Lau”... Tưởng địch phá thông tin, đồng chí báo vụ viên của ta chuyển sang tần số phụ, nhưng tiếng báo thoại viên lạ kia vẫn tiếp tục bám theo... Sau khi báo cáo về Sở chỉ huy, 12 giờ 45 phút, cuộc gặp của chỉ huy trưởng Căn cứ 241,Trung đoàn trưởng trung đoàn 56 ngụy - trung tá Phạm Văn Đính, với chỉ huy cao nhất của Đoàn Bông Lau được thực hiện. Tiếp nhận lời đầu hàng của Phạm Văn Đính, ta yêu cầu cử đại diện căn cứ đi về phía Tây Bắc mang theo cờ trắng để được hướng dẫn cụ thể, bảo đảm an toàn cho toàn bộ binh lính khi ra hàng. Phạm Văn Đính cử một viên đại úy và hai tuỳ tùng ra gặp ta (lúc đó bộ binh ta đã triển khai sát gần căn cứ), sau khi 3 người trên trở lại căn cứ thì binh lính ngụy từ trong căn cứ lố nhố ra khỏi công sự có thể là chuẩn bị để ra hàng). Đúng lúc đó thì chiếc trực thăng đến cứu tên cố vấn Mỹ hạ cánh. Từ đài quan sát, ta lệnh cho "trận địa chuẩn bị". Bắt được thông tin đó, binh lính ngụy lại chui tọt vào hầm. Trước tình hình đó, ta quyết định dừng pháo kích để bảo đảm tính mạng cho binh sĩ Trung đoàn 56 ngụy và đành để tên cố vấn Mỹ chạy thoát...

        14 giờ, toàn bộ si quan, binh sĩ Trung đoàn 56 nguỵ đã mang theo súng trở về với cách mạng.

        15 giờ ngày 2 tháng 4 năm 1972, đồng chí Lê Trọng Tấn điện khen: "Pháo binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã trị được hệ thống pháo binh, phá nát hầm hào công sự địch, chi viện đắc lực cho Sư đoàn 304 và Trung đoàn 27 chiến đấu giành thắng lợi giòn giã, từng mảng quân địch đã đầu hàng hoặc rút chạy, thu được nhiều pháo, xe cơ giới địch".

        Những ngày đó, người lính Đoàn Bông Lau (với chữ "G" trên ngực áo) thấy tự hào không sao kể xiết, sung sướng nhất là khi gặp anh em bộ binh ở Sư đoàn 304. Họ đều phấn khởi xúc động nói: "Cám ơn các anh, cám ơn pháo binh, không có các anh thì tối nay chúng tôi đánh vào, dù chúng có bạc nhược đến mấy thì cũng khó tránh khỏi sự đổ máu...".

        Sau khi bảo đảm cho đám hàng binh về nới an toàn, những người lính giải phóng và những người tìm đường hoàn lương có phút giây trao đổi chuyện trò... Chúng tôi còn nhớ rõ trung tá Phạm Văn Đính, 36 tuổi, quê ở Huế, có 3 con (chưa biết mặt con thứ 3). Trao đổi với chúng tôi, Phạm Văn Đính cho biết: "Tôi định cho anh em ra hàng xong thì mình tôi trở lại với căn cứ (tự vẫn), song anh em thấy tôi không ra nên họ cũng không đi, buộc lòng tôi phải đi". Phạm Văn Đính còn tự giới thiệu là đã từng du học 6 năm ở nước ngoài... Trung tá Đôn Thanh, phái viên của Bộ Tư lệnh Pháo binh có mặt lúc đó cũng nhẹ nhàng cho biết: "Tôi là học sinh Quốc học Huế, còn anh em chiến sĩ đây phần lớn đều là sinh viên đại học năm thứ 2, thứ 3 cả...".

        Những ngày sau đó, chúng tôi được tin trung tá Phạm Văn Đính - trung đoàn trưởng và trung tá Vĩnh Phong - phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 cùng binh sĩ ngụy được giữ nguyên cấp hàm sau khi trở về với cách mạng. Lúc bấy giờ, nhãn quan chính trị của một người lính làm tôi nảy sinh băn khoăn... Song về sau mới thấy rõ đây là một chiến dịch tổng hợp cả quân sự và chính trị, vì vậy, vì lợi ích chung của cách mạng và vì nhiệm vụ tuyên truyền cho cuộc kháng chiến nên chúng ta phải chấp nhận như vậy.

        Liên quan đến sự kiện này, lúc bấy giờ, một số phương tiện thông tin đại chúng cũng đã phản ánh, như báo Quân đội nhân dân số 391 (thứ ba, ngày 4-4-1972) đưa tin, ta loại khỏi vòng chiến đấu Trung đoàn 56, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2, Tiểu đoàn 57 và Thiết đoàn 20. Cũng báo Quân đội nhân dân trong phần tin chi tiết trang 4, số ra ngày 2 tháng 4 có ghi: đại bộ phận Trung đoàn 56 thuộc Sư đoàn bộ binh 3 quân ngụy Sài Gòn đóng tại Tân Lâm và 241 đã phản chiến tại trận, mang vũ khí trở về với nhân dân...

        Quá khứ đã là quá khứ, những chi tiết lịch sử dù nhỏ nhặt cũng xin được kể lại để mọi người, nhất là thế hệ trẻ hiểu đúng hơn về sự kiện lịch sử nêu trên.

------------------
        1. (Tạp Chí LSQS số 4-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 10:16:31 pm

TRẬN PHẢN ĐỘT KÍCH CỬA VIỆT BA MƯƠI NĂM SAU NHÌN LẠI1

VŨ TRỌNG HOAN       

        Trận phản đột kích Cửa Việt là một trận đánh quy mô lớn ở địa hình ven biển, có ý nghĩa chính trì, quân sự rất quan trọng. Bằng quyết tâm chiến đấu cao, cách đánh sáng tạo, quân dân ta đã đập tan cuộc hành quân "Tăng-gô-xi-ty" của địch, hòng đánh chiếm cảng Cửa Việt - một cảng biển quan trọng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong thời điểm Hiệp định Pa-ri chuẩn bị có hiệu lực, để thay đổi thế trận ở chiến trường Quảng Trị, lập bàn đạp phục vụ cho kế hoạch lấn chiếm vùng giải phóng sau này của chúng.

        Ở nhiều góc độ khác nhau, 30 năm qua, đã có một số sách báo đề cập đến sự kiện lịch sử quan trọng này. Tuy nhiên, việc phản ánh diễn biến trận đánh có một số mốc thời gian và việc điều động, sử dụng lực lượng của hai bên trong trận này vẫn còn những điểm chưa rõ.

        Sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập II Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, trang 141 viết: "Cuộc tiến công lấn chiếm Cửa Việt của quân ngụy bắt đầu từ 5 giờ sáng ngày 27-1-1973. Địch đã sử dụng 95 lần chiếc máy bay có 48 lần chiếc B.52) và gần 2 vạn viên đại bác đánh phá, chi viện cho 2 lừ đoàn bộ binh, 150 xe tăng, xe bọc thép tiến chiếm Cửa Việt. 6 giờ sáng 28-1-1973, chúng đã hình thành 7 cụm quân chốt xen kẽ trong vùng giải phóng từ Nam Cửa Việt 200m tới Long Quảng - Thành Hội".

        Sách Lịch sử Sư đoàn 325, tập II, Nxb QĐND, Hà Nội, 1986, trang 185 ghi: "Ngày 25-1-1973 cuộc hành quân "Tăng-gô-xi-ty" của địch bắt đầu khai diễn. Sau khi dùng 40 lượt chiếc B.52, nhiều máy bay phản lực ném bom và bắn gần ba vạn quả pháo vào khu vực Thanh Hội - Cửa Việt, Sư đoàn lính thủy đánh bộ dồn dập nổ súng đánh vào toàn tuyến phòng ngự của ta trên cánh Đông, trong đó chúng tập trung cao độ đánh Thanh Hội - Vĩnh Hoà Phường, một cụm chốt quan trọng của ta ở sát biển, để tạo bàn đạp lấn chiếm cảng Cửa Việt".

        Về mốc thời gian Hiệp định Pa-ri bắt đầu có hiệu lực cũng có những sai lệch khác nhau: có sách viết thời gian Hiệp định có hiệu lực là 7 giờ, các cuốn sách khác lại viết 8 giờ 30 hoặc 9 giờ ngày 28 tháng 1.

        Qua nghiên cứu các sách lịch sử, tổng kết chiến tranh của các đơn vị trực tiếp tham gia trận đánh và một số tài liệu có liên quan, bài viết này xin được trao đổi để làm rõ thêm một số vấn đề như sau:

        Cảng Cửa Việt được xây dựng ở bờ Nam sông Thạch Hãn gồm có cảng của ngụy ở phía trong cửa sông và cảng của Mỹ ở giáp biển. Phía Bắc bên kia sông là các xã Gio Hải, Gio Việt thuộc huyện Gio Linh, phía Nam giáp xã Triệu An, huyện Triệu Phong, phía Đông giáp biển Đông. Cảng Cửa Việt là một vị trí rất quan trọng về quân sự, chính trị, kinh tế, đâu mối giao thông đường thủy trọng yếu để lưu thông với miền Bắc và quốc tế. Vì vậy, sau 3 cuộc hành quân Sóng Thần (36, 45, 18) đánh ra Cửa Việt thất bại, địch vẫn ngoan cố tập trung lực lượng mở một cuộc hành quân mới có quy mô lớn hơn mang tên "Tăng-gô-xi-ty" để thực hiện tham vọng đánh chiếm Cửa Việt.

        Sau khi được các tướng Mỹ là A-bram và Hét trực tiếp vạch kế hoạch, được Tổng thống và Bộ Tổng tham mưu quân lực Việt Nam cộng hoà ủy quyền, tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 1 ngụy, đã sử dụng Sư đoàn thủy quân lục chiến (gồm các lữ đoàn 147 và 258, mỗi lữ đoàn này có 2 tiểu đoàn), Lữ đoàn đặc nhiệm mới được tổ chức (gồm 3 tiểu đoàn 2, 4, 9), 2 tiểu đoàn bảo an, 3 thiết đoàn (17, 18, 20 với khoảng 170 xe), 4 tiểu đoàn pháo (70 khẩu), 4 tàu LCU của hải quân ngụy, 5 tàu khu trục của hải quân Mỹ và không quân Mỹ chi viện hoả lực, mở cuộc hành quân lớn đánh ra phía Đông Nam vùng giải phóng Quảng Trị. Cuộc hành quân chia làm hai bước: bước 1, chiếm các bàn đạp Thanh Hội, Vĩnh Hòa, Long Quang, An Trạch; bước 2, chiếm Lệ Xuyên, Bồ Bảng, Điểm cao 12, Hà Tây, trong đó mục tiêu chủ yếu là cảng Cửa Việt.

        Từ ngày 24 tháng 1 năm 1973, địch bắt đầu tăng cường các hoạt động do thám thăm dò và cơ động lực lượng từ phía sau lên chiếm lĩnh các bàn đạp. Dấu hiệu về một cuộc hành quân lớn của địch ra phía nam Cửa Việt đã được các trinh sát ta báo cáo kịp thời về Bộ tư lệnh chiến dịch.

        Theo dõi chặt chẽ các diễn biến về địch, ta chủ trương: chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, kiên quyết tiêu diệt gọn quân dịch, giữ vững cảng Cửa Việt. 12 giờ 30 ngày 25 tháng 1, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho Bộ tư lệnh cánh Đông (nòng cốt là chỉ huy Sư đoàn 320b), bỏ chủ trương đánh chợ Sải (Theo kế hoạch 14 giờ ngày 25-1-1973, Trung đoàn 27 và một số đơn vị hoả lực của cánh Đông tập trung đánh chợ Sải), tập trung lực lượng sẵn sàng tiêu diệt địch tiến công ra Cửa Việt; đồng thời ra lệnh:

        - Điều hai đại đội pháo 85 ly vào đông Điểm cao 31 và Lâm Xuân, sẵn sàng đánh biển và chi viện cho hướng Cửa Việt.

        - Hai đại đội xe tăng dự bị sẵn sàng, hiệp đồng với Sư đoàn 304 đánh địch ở Đông Hà hoặc Cửa Việt;

        - Sư đoàn 304 (các trung đoàn 24 và 66) sẵn sàng cơ động sang nam và bắc Cửa Việt hiệp đồng với Sư đoàn 320b đánh địch;

        - Các trận địa pháo ở phía tả ngạn sông Thạch Hãn tăng thêm số đầu khẩu pháo và cơ số đạn đủ chi viện cho các sư đoàn 320b và 325 đánh liên tục từ 5 đến 7 ngày với cường độ cao.

--------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 5-2003)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 10:16:56 pm

        Thực hiện chủ trương đó, trên cơ sở thế trận phòng ngự sẵn có, Bộ tư lệnh cánh Đông điều chỉnh bổ sung lực lượng và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị như sau: Trung đoàn 101 phụ trách hướng Thanh Hội; Trung đoàn 48 giữ hướng Long Quang; Trung đoàn 64 đánh địch trên trục đường 68; trung đoàn 27 giữ chợ Sải, cùng Trung đoàn 48 hình thành tuyến phòng ngự từ chợ Sải đi Vinh Hoà; Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 271) nguyên làm dự bị hướng chợ Sải nay chuyển sang làm dự bị cho hướng Thanh Hội; Lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích các xã kết hợp chốt phòng ngự với các đơn vị bộ đội chủ lực theo địa bàn được phân công; các đơn vị chống tăng ở nam Cửa Việt gồm các đội B40, B41, hai đại đội B72 và một đại đội pháo 85 ly (3 khẩu) sẵn sàng tiêu diệt xe tăng địch.

        Như vậy, lực lượng phòng ngự tại chỗ của ta ở cánh Đông tương đương khoảng một sư đoàn bộ binh tăng cường. Riêng tại Cửa Việt có khoảng một trung đoàn bộ binh và một số đơn vị chống tăng. Phương châm tác chiến của ta là: dùng lực lượng tại chỗ của các chốt, cụm chốt trong khu vực phòng thủ, kiên quyết tiêu hao, ngăn chặn địch, kết hợp lực lượng cơ động của bản thân và của trên, với sự chi viện của pháo binh, xe tăng, thiết giáp hiện có, diệt từng bộ phận địch, khôi phục giữ vững trận địa, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch, phát huy tác dụng của hoả lực pháo đi cùng, các loại súng chống tăng, các loại mìn để diệt xe tăng, thiết giáp địch.

        Trong khi ta đang khẩn trương hoàn thành mọi công tác chuẩn bị chiến đấu thì đêm 25 tháng 1, địch tập trung hoả lực đánh phá dữ dội vào các khu vực Vĩnh Hoà, Hà Tây, xóm Mộ, phó Hội, Cảng, Điểm cao 12, Bồ Bảng, Lệ Xuyên, Long Quang, Thanh Hội... Sau đó, địch tiếp tục triển khai đánh chiếm các bàn đạp của ta trên ba hướng: lữ đoàn đặc nhiệm và 5 chi đoàn thiết giáp tiến công theo hướng ven biển vào Thanh Hội, đây là hướng đột kích chủ yếu phát triển ra Cửa Việt; Lữ đoàn 147 và 2 chi đoàn thiết giáp đánh vào Long Quang bảo vệ sườn cho hướng chủ yếu; Lữ đoàn 258 đánh vào Nại Cửu, chợ Sải.

        Ngay trong đêm 25 tháng 1, Lữ đoàn đặc nhiệm dùng 1 tiểu đoàn đánh vào Thanh Hội, Lữ đoàn 258 sử dụng Tiểu đoàn 3 đánh Nại Cửu, chợ Sải; sáng 26 tháng 1, Lữ đoàn 147 đánh vào Long Quang. Tuy vậy, trên cả ba hướng, địch đều bị ta chặn đánh quyết liệt và chịu nhiều thương vong, phải dừng lại để củng cố đội hình chiến đấu. Như vậy, ý định đánh nhanh thắng nhanh, chiếm các bàn đạp để phát triển ra Cửa Việt trong đêm 25 và ngày 26 của chúng đã bị ta đập tan. Cũng trong đêm 26 tháng 1, một số đơn vị của hai trung đoàn 64 và 101 khẩn trương bổ sung kế hoạch phòng thủ khu vực cảng Cửa Việt, hình thành 3 tuyến phòng ngự liên hoàn từ Xam Tuân đến Hà Tây.

        Ngày 27 tháng 1, sau 4 lần tiến công, bị thiệt hại nặng, lữ đoàn đặc nhiệm mới chiếm được Thanh Hội và một phần làng Vĩnh Hoà. Trong khi đó, Lữ đoàn 147 với khoảng 35 xe tăng và bộ binh, nhiều lần tiến công mới chiếm được một phần trận địa của ta ở Long Quang và Đông An Trạch.

        Như vậy, nếu lấy mốc thời gian địch bắt đầu đánh phá mở đầu cho cuộc hành quân "Tăng-gô-xi-ty" thì phải tính từ đêm 25 tháng 1 năm 1973 và với lực lượng tham chiến như đã nêu ở trên mới đủ. Còn nếu lấy mốc địch trực tiếp dùng lực lượng bộ binh, xe tăng đánh chiếm một số hầm chốt của ta và cụm lại ở ngoài bãi cát ven biển phía nam cảng Cửa Việt thì mốc thời gian 5 giờ sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973 với lực lượng 2 lữ đoàn bộ binh và 150 xe tăng lại sớm và quá lớn.

        Về chi tiết địch trực tiếp dùng bộ binh, xe tăng lợi dụng đêm tối, nước thủy triều rút, vòng ra xa, tránh các chốt tiền tiêu của ta, rồi bí mật đánh lên Cửa Việt, các cuốn sách lịch sử các đơn vì trực tiếp tham gia chiến đấu ở khu vực Cửa Việt đã ghi khá rõ. Lịch sử Sư đoàn 325, tập II xuất bản năm 1986, trang 187 ghi: "1 giờ 30 phút, trinh sát Trung đoàn 101 phát hiện 1 tiểu đoàn địch và khoảng 30 xe tăng tiến theo mép nước biển lên cảng Cửa Việt. Một đơn vị khác khoảng 10 xe tăng đang tiến vào hướng Tường Vân - Hà Tây, ở hướng Vĩnh Hoà có nhiều tiếng động cơ xe tăng địch đang nổ máy...". Như vậy, về thời gian thì 1 giờ 30 phút tức là đã thuộc ngày 28-1-1973.

        Trong cuốn "Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ", tập 4 của Quân đoàn 1 xuất bản năm 1995, trang 180 ghi: "1 giờ ngày 28-1-1973 đội hình địch đi ngang qua chốt của các tiểu đoàn 2 và 3, Trung đoàn 101, ta phát hiện được và sử dụng hoả lực bắn vào đội hình cơ động của địch". Về lực lượng địch, sách này cho biết, có khoảng 40 xe tăng, xe thiết giáp và 3 đại đội bộ binh.

        Cuốn "Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972” của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản năm 1987, trang 108 cũng ghi: "23 giờ 30 ngày 27 tháng 1 nhân lúc gió to sóng lớn, nước thủy triều xuống, Lữ đoàn đặc nhiệm bí mật tiến theo mép nước ra Cửa Việt. Ta mất cảnh giác nên địch tiến quân thuận lợi. Đến 1 giờ 30 ngày 28 tháng 1, ta mới - phát hiện được...". Tuy không nói rõ số liệu về bộ binh, xe tăng địch, nhưng căn cứ số lượng xe tăng, bộ binh địch bị diệt trong đêm và lực lượng còn lại mà chúng triển khai trong 4 cụm quân ở nam Cửa Việt ngay sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, cũng chỉ trên dưới 40 xe tăng, thiết giáp và gần 1 tiểu đoàn bộ binh.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 10:17:18 pm

        Theo chúng tôi, mốc thời gian từ 1 giờ đến 1 giờ 30 ngày 28 tháng 1, ta phát hiện lực lượng địch khoảng 40 xe tăng, thiết giáp và gần 1 tiểu đoàn bộ binh đánh ra Cửa Việt là phù hợp, bởi dù sao đây cũng chỉ là lực lượng đột kích bí mật trên hướng chủ yếu của lữ đoàn đặc nhiệm. Diễn biến tác chiến những ngày sau đó cho thấy, mỗi lần ta đánh, các cụm quân này địch đều cho bộ binh, xe tăng, thiết giáp ra tăng viện và ứng cứu giải toả. Điều này chứng tỏ lực lượng cơ động lớn của địch vẫn ở phía sau chứ không phải dồn cả ra đóng trong các cụm quân ở nam Cửa Việt.

        Về thời gian hiệu lực của Hiệp định Pa-ri, điều 2, chương 2 của Hiệp định ghi rõ: "Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ 24 giờ (giờ GMT) ngày 27-1-1973). Cùng ngày giờ nói trên, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên Diễn, bất cứ từ đâu tới...". Trong lệnh của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và mệnh lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam gửi các lực lượng vũ trang nhân dân cả hai miền cũng ghi rõ Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam có hiệu lực từ 7 giờ giờ Hà Nội) và 8 giờ (giờ Sài Gòn) ngày 28 tháng 1 năm 1973. Như vậy, các mốc thời gian 8 giờ 30 hoặc 9 giờ ngày 28 là không chuẩn xác. Việc sử dụng giờ GMT, giờ Hà Nội, hay giờ Sài Gòn là tuỳ theo nguồn sử liệu Người viết sử dụng. Tuy nhiên, các tác giả cần có chú thích rõ để bạn đọc tiện theo dõi.

        Sau khi Hiệp định Pa-rl có hiệu lực, Mỹ, ngụy tiếp tục đưa bộ binh, xe tăng ra lấn đất cắm cờ. 1 giờ sáng ngày 29 tháng 1, chúng đưa 1 đại đội bộ binh và 4 xe tăng ra lập thêm 1 cụm quân nữa ở Bắc Vĩnh Hoà 1.

        Về phía ta, sau khi nắm lại tình hình địch và chỉ thị của Bộ tư lệnh chiến dịch: Bộ tư lệnh cánh Đông quyết định tăng cường thêm Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48), Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 271), Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 64), Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 27) và Tiểu đoàn 38 địa phương cho hướng Cửa Việt đồng thời lệnh các hướng Long Quang, chợ Sải kìm giữ hai lữ đoàn 147 và 258 của địch để hướng Cửa Việt tiêu diệt Lữ đoàn đặc nhiệm. Trong ngày và đêm 29 tháng 1, Bộ tư lệnh chiến dịch tiếp tục điều Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304), 1 đại đội xe tăng T-54 từ Miếu Bái Sơn sang tăng cường cho cánh Đông. Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) được lệnh cơ động xuống Vinh Quang làm dự bị cho cánh Đông. Các đồng chí Cao Văn Khánh - Phó Tư lệnh, Hoàng Minh Thi - Phó Chính ủy, Doãn Tuế - Phó Tư lệnh chiến dịch kiêm Tư lệnh pháo binh chiến dịch được cử xuống giúp đỡ Bộ tư lệnh cánh Đông triển khai kế hoạch tác chiến. Đến ngày 30 tháng 1 năm 1973, ta tổ chức đội hình trận phản đột kích Của Việt, bao gồm:

        - Bộ phận chặn đầu gồm 2 đại đội của 2 trung đoàn 101 và 48; K5 hải quân và công binh Sư đoàn 320b bố trí từ Phó Hội đến cảng của Mỹ có nhiệm vụ chặn không cho địch phát triển ra Cửa Việt.

        - Bộ phận khoá đuôi gồm Trung đoàn 64 (thiếu), Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 24), Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 101) bố trí tại Vĩnh Hoà, đánh địch tăng viện từ Thanh Hội lên và chặn lực lượng rút chạy từ Cửa Việt xuống.

        - Bộ phận tiến công gồm Trung đoàn 101 (thiếu), Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24), Tiểu đoàn 38 (thiếu) và Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 64) tiêu diệt địch từ Vĩnh Hoà lên cảng của Mỹ.

        6 giờ 30 phút ngày 31 tháng 1 năm 1973, ta tập trung hoả lực bắn phá mãnh hệt các cụm quân địch. Sau đó, các đơn vị đồng loạt tiến công vào các mục tiêu được giao. Đến 8 giờ 30 ngày 31 tháng 1 năm 1973, các cụm quân địch ở phía Nam cảng Cửa Việt cơ bản đã bị quân ta tiêu diệt, chỉ còn một số ít tháo chạy về Vĩnh Hoà. Tại đây, chúng tiếp tục bị các lực lượng chốt chặn của ta chặn đánh.

        Do đường cơ động khó khăn và bị địch đánh phá ngăn chặn, chỉ có 1 trong số 8 xe tăng của đại đội xe tăng T-54 kịp vào tham gia đánh địch ở Vĩnh Hoà. Chiếc xe tăng này đã tiêu diệt 2 trong số 4 xe tăng địch còn lại ở đây và tiếp tục cùng bộ binh truy đuổi địch về phía Thanh Hội (chứ không phải cả 8 xe tăng của ta đều tham chiến trận này như một số sách đã viết).

        10 giờ 30 ngày 3 tháng 1, quân địch từ cảng Cửa Việt đến Vĩnh Hoà bị quét sạch. Tuyến phòng thủ từ Thanh Hội, Long Quang đến chợ Sải của ta được khôi phục. Cuộc hành quân "Tăng-gô-xi-ty" của địch bị đánh bại hoàn toàn.

        Từ ngày 26 đến ngày 3 tháng 1 năm 1973, ta đã tiêu diệt 2.232 tên địch, bắt 170 tù binh, phá hủy 113 xe tăng, xe thiết giáp, thu 13 xe, bắn rơi 5 máy bay, bắn cháy 1 tàu, phá hủy 10 khẩu pháo, thu hơn 300 súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự. Lữ đoàn đặc nhiệm ngụy bị tiêu diệt. Lữ đoàn 147 và 4 chi đoàn thiết giáp bị thiệt hại nặng.

        Trận phản đột kích Cửa Việt thắng lợi đã làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta trên chiến trường Quảng Trị, góp phần bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, buộc địch phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri. Điều đặc biệt của trận đánh này là, tuy không sử dụng lực lượng xe tăng lớn để đối đầu với xe tăng địch mà chỉ dùng vũ khí chống tăng thông thường nhưng ta đã tiêu diệt phần lớn xe tăng, thiết giáp địch và buộc số còn lại phải tháo chạy.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 10:31:32 pm
         
TRẬN BUÔN MA THUỘT XUÂN 1975 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LÀM RÕ1

TRẦN TIẾN HOẠT        

        Chiến dịch Tây Nguyên diễn ra tháng 3 năm 1975 với ba trận tiến công then chốt (trận điểm huyệt thị xã Buôn Ma Thuột, trận đánh quân địch phản kích hòng chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột và trận truy kích tập đoàn quân địch rút chạy chiến lược trên Đường số 7) đã được Binh đoàn Tây Nguyên, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, nhiều học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội và một số tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến dịch nghiên cứu, tổng kết, đánh giá trong nhiều thập niên qua. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu đã được công bố qua sách, báo, phương tiện truyền thông và được các học viện, nhà trường vận dụng vào giảng dạy, huấn luyện trong các bộ môn nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật Việt Nam...

        Tuy nhiên, thời gian gần đây, đặc biệt là dịp kỷ mềm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam nói chung, chiến thắng chiến dịch Tây Nguyên nói riêng, một số nhân chứng từng giữ những cương vị nhất định trong chiến dịch này hồi ức lại các trận đánh tiêu biểu như đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột, trận đánh Sư đoàn 23 ngụy thiếu) phản đột kích... đã được Báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Văn nghệ quân đội đưa tin, đăng tải. Trong các bài viết trên đã xuất hiện khá nhiều điểm không thống nhất với các kết quả đã được tổng kết, gây ra những nhận thức ngược chiều nhau. Với tâm huyết và trách nhiệm trước lịch sử, nhiều cán bộ cấp cao (nguyên là lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt chiến dịch Tây Nguyên) đã đề nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị chỉ đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức nghiên cứu, tọa đàm để làm rõ những điều khác biệt, tạo sự thống nhất nhận thức đúng với sự thực lịch sử đã diễn ra. Cuộc tọa đàm do Thượng tướng Nguyễn Văn Được - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì, đã diễn ra ngày 13 tháng 5 năm 2005.

        Mở đầu cuộc tọa đàm, một số ý kiến cho rằng, trong thời gian qua, nhiều cơ quan truyền thông văn hoá và khoa học... tuyên truyền về đại thắng mùa Xuân 1975, để tôn vinh bản lĩnh và trì tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cần thiết và bổ ích, góp phần giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ gìn giữ, phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đa số các bài báo được các đại biểu tham dự tọa đàm tán đồng là có "nội dung trung thực", "độ chuẩn xác cao", làm rõ thêm tài nghệ quân sự của các cấp chiến lược, chiến dịch trong việc nắm bắt thời cơ, tạo ra mưu kế thế trận đánh địch giành thắng lợi. Tuy vậy, vẫn còn những bài báo phản ánh một chiều, thiếu khách quan toàn diện, khiến dư luận không đồng tình.

        Một là, về lực lượng tham gia trận đánh "điểm huyệt" Buôn Ma Thuột.

        Nhiều người từng có mặt ở chiến trường Tây Nguyên năm 1975, khi đọc bài: "Buôn Ma Thuột - đòn điểm huyệt" (báo Quân đội nhân dân ngày 10-3-2005) có sơ đồ minh hoạ Sư đoàn bộ binh 316 tác chiến đều băn khoăn và đặt câu hỏi không hiểu người viết dựa vào đâu mà đã viết: "Trận then chốt quyết đinh mở đầu chiên dịch Tây Nguyên thắng lợi sau 32 giờ tiến công mãnh liệt, chiến đấu kiên cường, dũng cảm của lực lương vũ trang và nhân dân ta. Kết quả: ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ Sư đoàn 23 ngụy, Ban chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, Trung đoàn  53 (thiếu), 1 tiểu đoàn xe bọc thép và khu hậu cứ của một số đơn vị của địch, cắt đứt ba con đường tiếp tế chiến lược số 14, 19, 21...". Đọc bài báo này và xem sơ đồ tác chiến, người ta có cảm giác như chiến thắng Buôn Ma Thuột - đòn điểm huyệt quyết định là chỉ do Sư đoàn 316 và một số đơn vị lập nên, mà không thấy vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên - cơ quan trực tiếp quán triệt và triển khai ý định chiến lược của Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp thiết lập phương án tác chiến chiến dịch và trực tiếp điều hành chiến đấu trong trận then chốt quyết định này. Là người chỉ huy đốc chiến ở Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch, Trung tướng Nguyễn Năng (nguyên Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên) nêu rõ: Về nhận thức thực tế lịch sử trận đánh Buôn Ma Thuột, người viết bài báo này đã không tìm hiểu "đến nơi, đến chốn" mối quan hệ tổng thể của một chiến dịch, nghĩa là mối quan hệ giữa cấp chỉ huy chiến lược, chiến dịch và các đơn vị sư đoàn, trung đoàn về chỉ huy, điều hành tác chiến, nên đã phản ánh chưa thỏa đáng cả về chủ thể tác chiến (lực lượng ta) và đối tượng tác chiến lực lượng địch), lẫn lộn không gian, thời gian, quy mô và cường độ tác chiến của một chiến dịch mang ý nghĩa chiến lược. Rõ ràng, để có được kết quả chiến đấu như bài báo nêu, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã chiến đấu tạo thế từ ngày 4 tháng 3 đến ngày 9 tháng 3 và đã phải chiến đấu quyết liệt từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 18 tháng 3 (tức 9 ngày đêm liền), khi Sư đoàn 10 và các lực lượng phối thuộc đánh tan cuộc phản đột kích của hai trung đoàn (44, 45) thuộc Sư đoàn 23 và Liên đoàn biệt động quân 21 ngụy nhằm chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột, chứ không phải chỉ sau 32 giờ (từ 2 giờ ngày 10 tháng 3 đến 11 giờ ngày 11 tháng 3 năm 1975) mà Sư đoàn bộ binh 316 và lực lượng phối thuộc của ta đã giành được chiến công to lớn ấy (!).

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 7-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 10:31:46 pm

        Trung tướng Nguyễn Năng nhấn mạnh, trên thực tế các đơn vị trực tiếp tham gia đánh trận then chốt quyết định Buôn Ma Thuột gồm Sư đoàn 316, các trung đoàn 198 đặc công, 95B bộ binh, 24, 66, và nhiều trung đoàn binh chủng xe tăng thiết giáp, pháo cao xạ, pháo mặt đất, công binh, thông tin, vận tải (khoảng 17 trung đoàn) chưa kể thê đội  (Sư đoàn 10 (thiếu) và Sư đoàn 320). Thắng lợi của trận đánh là kết quả của cả quá trình thực hiện rất thành công nghệ thuật nghi binh, chuẩn bị kế hoạch tác chiến và thế trận cho chiến dịch của Bộ Tư lệnh chiến địch. Thử hỏi trước ngày 10 tháng 3, nếu các đơn vị tham gia chiến dịch như Sư đoàn 968 không thành công trong hoạt động thu hút kìm chân địch ở Thanh An, Thanh Bình (Tây thị xã Plây Ku), Trung đoàn 95A và các lực lượng vũ trang địa phương Gia Lai không đánh cắt giao thông trên đường 1 (Tây đèo Mang Yiang); Sư đoàn 320 không đánh cắt giao thông ở Ea H'leo, đường 14, tiến công giải phóng quận lỵ Thuần Mẫn (Bắc thị xã Buôn Ma Thuột 80 km, ngày 8-3); Sư đoàn 10 không tiến công và làm chủ được quận ly Đức Lập, Đắc Song (Nam thị xã Buôn Ma Thuột 50 km, ngày 9-3); Trung đoàn 25 không đánh cắt giao thông đường 21 ở phía Tây Khánh Dương (Chư Cúc) đông thị xã Buôn Ma Thuộc 60 km)... đẩy thị xã Buôn Ma Thuột rơi vào thế bị cô lập hoàn toàn, thì làm sao các đơn vị tác chiến ở mục tiêu tiến công chủ yếu có thể giải phóng được thị xã Buôn Ma Thuột. Vì vậy khi đánh giá thành tích của các đơn vị đã lập công xuất sắc ở thị xã Buôn Ma Thuột, không thể không kể tới công lao của các sư đoàn 968, 320, 10, các trung đoàn 95A, 25 và nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật khác - đã vượt qua không ít gian khổ hy sinh, để tạo dựng thế trận cho trận then chốt quyết định đầu tiên của chiến dịch Tây Nguyên...

        Hai là, hướng tiến công và xử lý tình huống trong chiến đấu.

        Đối với hai bài báo "Giải phóng Buôn Ma Thuột" (Đặc san Sự kiện và nhân chứng số 131, tháng 11-2004) và “Ký ức Buôn Ma Thuột" (Tạp chí Văn nghệ quân đội số 618, tháng 3-2005), Trung tướng Nguyễn Quốc Thước (nguyên Tham mưu trưởng chiến dịch) đã phê phán "những hồi ức" lồng ghép ý kiến chủ quan cá nhân, thiếu khách quan trong những bài báo kể trên. Sư đoàn bộ binh 316 và nhiều đơn vị tham gia chiến đấu giành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột là công sức trí tuệ của cả Mặt trận Tây Nguyên, xa hơn nữa là của cả chục năm trời dồn nén, tích tụ tạo dựng. Do đó, khi nhắc tới thắng lợi không nên chỉ thấy "cái cụ thể" mà không thấy "cái toàn thể"; chỉ thấy hướng Sư đoàn 316 trong trận đánh Buôn Ma Thuột mà không thấy ba, bốn sư đoàn khác và nhiều trung đoàn độc lập của Mặt trận đã tạo thế thuận lợi cho mình chiến đấu giành thắng lợi. Đặc biệt, Đại tá Nguyễn Cần (nguyên Chủ nhiệm Phòng không chiến dịch) đã tỏ rõ chính kiến không nhất trí với một số chi tiết cụ thể trong các bài viết nêu trên. Chẳng hạn như trong các bài viết tác giả cho rằng, hướng tiến công chủ yếu trong trận đánh thị xã Buôn Ma Thuột là Tây Nam là sai. Hướng này tuy tạo bất ngờ, địch có nhiều sơ hở, nhưng việc đưa binh khí kỹ thuật cơ giới vượt sông Sê Rê Pốc luồn sâu sẽ gặp khó khăn. Nên Bộ Tư lệnh chiến dịch chọn hướng Bắc - Tây Bắc làm hướng tiến công chủ yếu là chính xác. Hướng này tuy địch có đề phòng, nhưng ta tập trung được binh, hoả lực mạnh, đánh bằng thế áp đảo, quân địch đã mau chóng tan rã... Đồng thời, nhiều ý kiến tại buổi tọa đàm cũng không nhất trí với ý kiến cho rằng "Trận đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột chỉ có bốn mũi tiến công của 4 trung đoàn" (Trận đánh nở hoa trong lòng địch" - báo Quân đội nhân dân số 15757 ngày 10-3-2005). Hồi ức của tác giả đã quên hẳn một mũi tiến công quan trọng bằng bộ binh cơ giới hợp thành do Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24) làm chủ công. Mũi tiến công này phát triển từ hướng Tây đánh thẳng vào sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy và là một trong năm mũi đột phá mạnh nhất trong hai ngày 10 và 11-3.

        Điều đáng lưu ý nữa là, trong diễn biến trận đánh Buôn Ma Thuột, khi gặp tình huống bất ngờ "Trung đoàn 174 báo cáo đã giải quyết xong sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy" nhưng "cơ quan tham mưu chiến dịch phát hiện thấy sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy vẫn còn liên lạc với các đơn vị ở vòng ngoài". Để giải quyết tình huống này (bài báo viết), đồng chí Sư đoàn phó Sư đoàn 316 đã đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch cho xuống kiểm tra và sau đó lập phương án tác chiến tiến công sở chỉ huy địch là thiếu khách quan, không đúng thực tế và không đúng thẩm quyền.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 10:44:35 pm

GÓP BÀN VỀ NGÀY GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN-HUẾ XUÂN 19751

TRẦN VĨNH TƯỜNG       

        Tháng năm, cứ đến dịp ngày 26 tháng 3, nhân dân Thừa Thiên-Huế nô nức tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm như một sinh hoạt tinh thần đầy ý nghĩa. Đây không chỉ là hoại động kỷ niệm mang tính chính trị mà đã trở thành nét văn hóa của người dân xứ Huế... Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là, trong thực tế, Thừa Thiên-Huế được giải phóng vào ngày nào, ngày 26 hay ngày 25 tháng 3 năm 1975? Thiết nghĩ, với lịch sử cần phải khách quan và công bằng. Trên tinh thần đó, tôi xin có đôi điều mong góp phần xác định thêm cho rõ ngày giải phóng Thừa Thiên-Huế.

        Trong cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 3, có ghi: “Ngày 26-3-1975, sư đoàn 1 ngụy bị tiêu diệt, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng. Thắng lợi đó đã tạo thế uy hiếp từ hướng Bắc đối với quân địch ở Đà Nẵng" (Lê Mậu Hãn (Chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2001, tr. 263). Trong thực tế, sư đoàn 1 ngụy không phải đến ngày 26 tháng 3 mới bị tiêu diệt.

        Trong cuốn Thừa Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), viết: “Trong khi 2 cánh quân Nam và Bắc của ta đã tiến vào Huế, thì ở cánh phía Tây, Trung đoàn 6 trung đoàn Phú Xuân) - con đẻ của Quân khu Trị-Thiên, trước khi bước vào chiến dịch được Quân khu giao nhiệm vụ cắm cờ chiến thắng ở thành phố Huế, nhưng trên đường về Huế gặp khó khăn. Đến 6 giờ sáng ngày 26 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 6 mới chính thức kéo lá cờ lớn dài 12m, rộng 8m lên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu, đánh dấu mốc lịch sử thành phố Huế và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên-Huế hoàn toàn được giải phóng” (Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên-Huế - Thừa Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Nxb CTQG, Hà Nội, 1999, tr. 356. 355). Cũng trong cuốn sách này, các tác giả khẳng định: "Đúng 10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3 năm 1975, lá cờ chiến thắng được các chiến sĩ giải phóng cắm trên đỉnh Phu Văn Lâu, phần phật bay báo tin vui với nhân dân Cố đô Huế. thành phố Huế được giải phóng" (Đảng ủy - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thừa Thiên-Huế - Thừa Thiên-Huế kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Nxb CTQG, Hà Nội, 1999, tr. 356. 355).

        Trong cuốn Thừa Thiên-Huế Xuân 1975, Trung tướng Lê Tự Đồng - nguyên Bí thư Khu ủy Trị Thiên-Huế, viết: "Các đơn vị từ phía Nam đánh lên vừa lùa địch bên ngoài thành phố, vừa cho những đơn vị nhỏ thọc vào thành phố. Từ 8 giờ sáng đến khoảng 13-14 giờ ngày 25-3 các đơn vị không hẹn mà gặp nhau tại thành phố giải phóng đang nồng nặc mời thuốc súng" (Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế - Thừa Thíên-Huế Xuân 1975, Nxb Thuận Hoá, 2000, tr. 50).

        Đồng chí Vũ Thắng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế viết: "Ngày 25-3-1975, từ hai hướng Nam và Bắc Huế, các lực lượng đi đầu của Tiểu đoàn 8, bộ đội địa phương Quảng Trị, được tự vệ dẫn đường tiến vào nội thành Huế. Đúng 10 giờ 30 phút ngày 25 tháng 3 năm 1975, lá cờ giải phóng được cắm trên đỉnh Phu Văn Lâu. Thành phố Huế đã được giải phóng” (Tỉnh ủy Thừa Thìên-Huế - Thừa Thiên-Huế Xuân 1975, Nxb Thuận Hoá, 2000, tr. 70).

        Đồng chí Nguyễn Vạn - nguyên Bí thư Tinh ủy Thừa Thiên-Huế, người đã từng chiến đấu lâu năm ở chiến trường này kể: "... ngày 23 tháng 3 đến ngày 25 tháng 3, đồng chí Hoàng Lanh - Bí thư Thành ủy chỉ huy lực lượng bí mật bên trong cùng lực lượng biệt động đặc công thành phố ở ngoài vào huy động cơ sở cách mạng và quần chúng nổi dậy chiếm các nhà máy điện, nước, bưu điện, đài phát thanh, đài truyền hình và những cơ quan công sở quan trọng, bảo vệ an toàn thiết bị, vật tư tài liệu... tạo thuận lợi cho việc tiếp quản thành phố nhanh gọn, sớm ổn định. Một số cốt cán thành phố do đồng chí Nguyễn Huy Ngọc chỉ huy đã ra tận cửa An Hòa đón Tiểu đoàn 8 Quảng Trị vào thành, cùng vào có một đơn vị của Quân đoàn 2, hai đơn vị này đã treo cờ ở Phu Văn Lâu và Ngọ Môn.

        Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 6 vào tiếp quản nội thành Huế, treo cờ giải phóng rộng 8m, dài 12m lên Kỳ đài Thừa Thiên-Huế đã hoàn toàn giải phóng" (Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế - Thừa Thiên-Huế Xuân 1975, Sđd, tr. 91-93).

        Thượng tướng Nguyễn Hữu An - nguyên Tư lệnh Quân đoàn 2, viết: "Sau khi giải phóng Phú Bài và Hương Thủy, Trung đoàn 101, tiếp theo là Trung đoàn 3 bộ binh có xe tăng đi cùng, được nhân dân địa phương giúp phương tiện... vận chuyển tiến rất nhanh vào nội đô Huế. Đúng 13 giờ ngày 25 tháng 3, Tiểu đội phó Tiểu đội trinh sát Nguyễn Văn Phương đã cắm cờ chiến thắng lên Phu Văn Lâu.

        Một bộ phận của Trung đoàn  (Sư đoàn 324) cùng xe tăng, chiều ngày 25 tháng 3 đã tiến vào sở chỉ huy Quân đoàn 1 ở Mang Cá và tới giải phóng cho hơn 2.000 tù chính trị ở nhà lao Thừa Phủ.

        Cùng chiều hôm đó, các lực lượng của Quân khu Trị - Thiên từ hướng Bắc cũng tràn vào đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố" (Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế - Thừa Thiên-Huế Xuân 1975, Sđđ, tr. 124).

        Từ những mô tả trên của các vị lãnh đạo và chỉ huy chiến trường lúc bấy giờ có thể nhận thấy rằng có một điều chưa thống nhất là thời điểm cắm cờ giải phóng trên Phu Văn Lâu. Nhiều người cho là cờ được cắm vào 10 giờ 30 phút ngày 25-3, có người nói là 13 giờ cùng ngày. Nhưng tất cả các ý kiến đó đều thống nhất ở những điểm sau.

        - Lá cờ giải phóng được cắm trên đỉnh Phu Văn Lâu vào trưa ngày 25 tháng 3 năm 1975.

        - Đơn vị cắm cờ là Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị.

        - Sở chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy ở Mang Cá bị quân ta đánh chiếm vào ngày 25-3.

        - Thành phố Huế được giải phóng ngày 25 tháng 3 năm 1975.

        Vậy tại sao lấy ngày 26 tháng 3 làm ngày giải phóng Thừa Thiên-Huế? phải chăng đây là ngày cả tỉnh được giải phóng? Chúng tôi xin dẫn ra đây ý kiến của các đồng chí chỉ huy chiến trường, tham gia giải phóng Thừa Thiên-Huế.

---------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 4-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 10:44:58 pm

        Thượng tướng Nguyễn Hữu An viết: "Rạng sáng ngày 23, Trung đoàn 101 đã phá vỡ căn Cứ Lương Điền, mở được cửa phía Nam về Huế, đồng thời hỗ trợ cho Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 tiêu diệt địch ở 303, núi Bông, núi Nghệ, Mỏ Tàu… Trung đoàn 18 tiến công vào căn cứ Mũi Né... Nắm thời cơ địch đang hoảng hốt, Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Lẫm cho Tiểu đoàn 3 truy theo và đánh thẳng vào chi khu Phú Lộc. Tới 19 giờ ngày 23, Trung đoàn 18 diệt xong chi khu và đánh tan tiểu đoàn 128 bảo an, rồi đưa tiếp Đại đội 7 phối bợp với Tiểu đoàn 21 bộ đội địa phương chiếm cửa Tư Hiền... chiều 23 tháng 3, các trung đoàn 1 và 2 (Sư đoàn 324) đã chiếm cửa Thuận An, Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) cùng bộ dội địa phương đã áp sát cửa Tư Hiền.

        Phía Bắc Huế, từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 3, bộ đội địa phương Quảng Trị có Đại đội 7 xe tăng (Lữ đoàn 203) yểm hộ đã quét một loạt căn cứ, quận lỵ như Thanh Hương, Đại Lộc, Hương Điền rồi vượt sông Mỹ Chánh tấn công Phò Trạch, Lương Mai, tiếp đó hình thành hai mũi; một mũi đánh chiếm Bao Vĩnh, một mũi đánh chiếm bờ Bắc Thuận An.

        Tảng sáng ngày 25 tháng 3, Tiểu đoàn 3 đã nổ súng đánh chiếm quận ly Lương Thủy, cùng lúc, Trung đoàn 101 đánh vào Phú Bài. Địch bị bất ngờ tháo chạy hỗn độn, bỏ lại toàn bộ vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó có một đoàn xe cơ giới đang nổ máy" (Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế - Thùa Thiên-Huế Xuân 1975, Sđd. tr. 91-92 , 122-123).

        Đồng chí Nguyễn Vạn viết: "Chiến trường Bắc Thừa Thiên có khó khăn mới, nhưng trong tình thế địch bị hoảng soạn, tinh thần rêu rã, dù co cụm đông đặc cũng không giữ được sẽ bị quân ta đánh tan. Chấp hành lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch không để địch co cụm vào Huế, không để địch xúc dân, tối 23-3-1975, toàn bộ mặt trận đồng bằng phát động cao trào tấn công nổi dậy...

        Như vậy là 3 huyện Bắc Thừa Thiên-Huế đã hoàn toàn được giải phóng trong 2 ngày 24 - 25-3-1975" (Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế - Thùa Thiên-Huế Xuân 1975, Sđd. tr. 91-92 , 122-123).

        Theo đồng chí Vũ Thắng: "Phối hợp với đòn tiến công quân sự, Đảng bộ và nhân dân các huyện và thành phố Huế đã nổi dậy giải phóng quê hương. Ngày 24 tháng 3, giải phóng các huyện Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy. Ngày 25 tháng 3, tiếp tục giải phóng Phú Vang, Quảng Điền, thành phố Huế và huyện Phú Lộc” (Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế - Thừa Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd, các tr. 71-72, 281, 242-243).

        Từ những trình bày trên có thể nhận thấy rằng, các huyện của Thừa Thiên-Huế đều được giải phóng trong các ngày 24 và 25 tháng 3 năm 1975. Để cụ thể hơn, chúng tôi dẫn ra đây ý kiến về ngày giải phóng các huyện. Đồng chí Võ Nguyên Quảng - nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy khẳng định: "Đến ngày 25-3, nhân dân 18 xã trong huyện đồng loạt nổi dậy cướp chính quyền. Huyện Hương Thủy hoàn toàn giải phóng (Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế - Thừa Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd, các tr. 71-72, 281, 242-243).

        Đồng chí Nguyễn Hữu Hường - nguyên Bí thư Huyện ủy Hương Trà kể lại: "Đồng chí Lành và đơn vị xuất phát tử 5 giờ sáng ngày 25-3-1975 vào tới thành phố lúc 6 giờ sáng... thì được biết Hương Trà không còn địch... Gặp tôi đồng chí Dương Bá Nuôi bắt tay, ôm hôn tôi rất chặt: "Hoan hô Hương Trà đã giải phóng sớm..." (Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế - Thừa Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd, các tr. 71-72, 281, 242-243).

        Ở Phong Điền, "Ngày 24-3 một tiểu đoàn của Quảng Trị đánh chiếm Mỹ Chánh rồi tiến thẳng vào Phò Trạch, An Lỗ hướng về Huế. Các lực lượng Phong Điền chớp thời cơ giải phóng ngay quận lỵ. Cùng lúc ấy Tiểu đoàn 812 từ Hải Lăng tràn sang. Các xã Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương đồng loạt nổi dậy giành chính quyền làm chủ huyện. Huyện Phong Điền được hoàn toàn giải phóng” (Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế - Thừa Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd, các tr. 71-72, 281, 242-243).

        Tại Quảng Điền, đồng chí Nguyễn Trung Chính - nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, kể: "Ngay đêm ấy (24-3), anh Hoàng Điền liên lạc được với bộ đội ở Phong Chương rồi chỉ đạo ngay mũi công tác của huyện và các đội công tác xã phát động quần chúng nổi dậy tiến công giải phóng các xã Quảng Thái, Quảng Hưng (nay là Quảng Lợi, Quảng Phước - TVT) và quận lỵ Quảng Điền. Đúng 15 giờ ngày 25, cờ giải phóng phấp phới tung bay trên nóc tòa quận trưởng, chi khu quân sự Quảng Điền" (Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế - Thừa Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd , các tr. 222, 268).

        Đồng chí Lê Viết Phong - nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Phú Vang viết: "Thừa thắng xông lên, lực lượng vũ trang của huyện... lấy xe và lái xe của địch (GMC)... tổ chức tiến lên vùng trên (Ân - Tài - Thiện) hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, bao vây tiêu diệt quận lỵ Phú Vang... Ngày 25-3-1975, toàn huyện Phú Vang được giải phóng, một số xã tiến hành mít tinh mừng giải phóng và ra mắt Uỷ ban nhân dân Cách mạng lâm thời" (Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế - Thừa Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd , các tr. 222, 268).

        Từ thực tế chiến trường mà các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp đã phản ánh trong bài viết của mình gần đây nhất, có thể nhận thấy toàn tỉnh Thừa Thiên-Huế được giải phóng ngày 24 và 25 tháng 3 năm 1975. Như đã dẫn ở trên, đồng chí Vũ Thắng viết: "Ngày 24-3, giải phóng các huyện Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy. Ngày 25-3, tiếp tục giải phóng Phú Vang, Quảng Điền, thành phố Huế và huyện Phú Lộc".

        Có thực tế là "Trung đoàn 6 bộ binh Quân khu là đơn vị con đẻ của Trị-Thiên, được Quân khu giao nhiệm vụ cắm cờ chiến thắng ở thành phố Huế, thì đúng 6 giờ 30 phút ngày 26-3- 1975 mới chính thức kéo cờ lớn (dài 12 m, rộng 8 m) lên cột cờ phu Văn Lâu..." (Chiến trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1985, tr. 256). Theo đồng chí Nguyễn Vạn thì “Ngày 26-3-1975, Trung đoàn 6 vào tiếp quản nội thành, treo cờ giải phóng" (Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế - Thừa Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd. các tr. 93). Nói tiếp quản, bởi vì thành phố Huế đã được giải phóng và cờ giải phóng đã được Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị và một đơn vị của Quân đoàn 2 cắm trên Phu Văn Lâu trước đó một ngày (25-3-1975).

        Từ những trình bày trên, mà chủ yếu là dẫn ý kiến từ các bài viết của chính các nhân chứng lịch sử, những vị lãnh đạo và chỉ huy chiến đấu trực tiếp ở chiến trường Trị-thiên-Huế trong chiến dịch Xuân 1975, theo chúng tôi có thể khẳng định, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế đã được giải phóng ngày 25 tháng 3 năm 1975.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:10 pm
       
VỀ LỰC LƯỢNG THAM GIA GIẢI PHÓNG ĐÀ NẴNG1

LÊ HỮU ĐỨC        

        Qua 20 ngày Tổng tiến công và nổi dậy, chủ lực ta trên chiến trường chính Tây Nguyên cùng quân dân các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung thuộc Quân khu 5 đã cơ bản tiêu diệt và làm tan rã lực lượng quân khu 2 - quân đoàn 2 ngụy, giải phóng 3 tỉnh Tây Nguyên; đập tan tuyến phòng thủ Tây Nam thị xã Tam Kỳ, giải phóng thị xã và toàn tỉnh Quảng Ngãi. Cùng thời gian trên, lực lượng Quân khu Trị-Thiên và Quân đoàn 2 đã tiêu diệt và giải phóng vùng còn lại của tỉnh Quảng Trị và toàn bộ tỉnh Thừa - Thiên, gồm cả thành phố Huế. Lực lượng địch trên chiến trường Trị-Thiên gồm Sư đoàn bò binh 1, sư đoàn mạnh nhất của quân ngụy; Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến; 2 liên đoàn biệt động quân số 14 và 15, các thiết đoàn xe tăng thiết giáp, các tiểu đoàn pháo binh và toàn bộ lực lượng bảo an đều bị diệt và tan rã, lực lượng địch có hơn 4 vạn tên, bỏ chạy về Đà Nẵng gần 1 vạn 6. Trên chiến trường miền Đông, ta đang bao vây tiến công Sư đoàn 18 ngụy ở Xuân Lộc, các quân khu 8 và 9 cũng giành thắng lợi liên tiếp.

        Trước thắng lợi to lớn, có tính quyết định của chiến trường Tây Nguyên, thắng lợi giòn giã ở Trị-Thiên, thắng lợi dồn dập của Quân khu 5, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã mở ra một cục diện mới, thời cơ mới. Nói cách khác, chỉ trong một thời gian ngắn, quân dân ta trên các chiến trường đã thực hiện đúng nhận định sáng suốt của Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương trong hội nghị chính thức thông qua lần cuối cùng kế hoạch giải phóng miền Nam hai năm, đã chọn phương án thứ nhất "Tổng tiến công thực hiện đòn tiêu diệt chiến lược đi trước một bước, tích cực thúc đẩy nhanh chóng điều kiện nổi dậy ở các thành phố trung tâm". Vì ưu điểm lớn nhất của phương án I là: "bảo đảm trong một thời gian ngắn, thực hiện được đòn tiêu diệt chiến lược lớn có thể từ 1 đến 2 quân đoàn và một số sư đoàn chủ lực ngụy, tương đương 1/3 đến 1/2 toàn bộ lực lượng quân ngụy, kể cả chủ lực và địa phương, giải phóng dân và một số tỉnh miền Nam, tạo điều kiện tích cực, vững chắc cho cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở thành phố và chủ động xử trí mọi tình huống phức tạp, ngay cả trường hợp Mỹ can thiệp vào".

        Trước thời cơ lớn, ngày 18 tháng 3, Bộ Chính tr!, Thường trực Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm "chuyển cuộc tiến công chiến lược, thành cuộc Tổng tiến công chiến lược, hoàn thành kế hoạch 2 năm: 1975 và 1976 ngay trong năm 1975". Hội nghị còn quyết định rất kịp thời, khẩn trương "chuyển qua phương án đón thời cơ"; thực hiện đúng phương châm: "khẩn trương, táo bạo, bất ngờ" (Võ Nguyên Giáp - Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb CTQG, Hả Nội. 2000. tr. 226-240).

        Ngày 25 tháng 3 năm 1975, trên hai khu vực bàn đạp Thừa Thiên-Huế ở phía Bắc và Nam Ngãi ở phía Nanh, bộ đội ta nhanh chóng tiến công căn cứ hên hợp quân sự Đà Nẵng.

        Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy Trung ương thành lập Bộ chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch mang tên 475. Đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng, được cử làm Tư lệnh và đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5, được cử làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Vì thời gian quá gấp, không thể họp Đảng ủy và Bộ tư lệnh chiến dịch để bàn bạc kế hoạch, hai đồng chí phụ trách chính trao đổi nhận định, thống nhất phương án tác chiến qua điện đài. Mọi công tác điều hành bộ đội hành quân, bảo đảm vật chất kỹ thuật đều do Bộ Tổng tham mưu phụ trách. Thực chất, đây là một chiến dịch tiến công trong hành tiến.

        Quá trình thảo luận phương án tác chiến, trước khi đồng chí Tấn lên đường vào chiến trường, tại Tổng hành dinh ngày 26 tháng 3 năm 1975, đồng chí Tấn đề nghị tiến công Đà Nẵng trong 5 ngày, nhưng đồng chí Bộ trưởng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp không chấp nhận "vì chuẩn bị 5 ngày, địch rút mất cả thì sao" và chỉ thị đánh Đà Nẵng trong 3 ngày.

        Trong bức điện số 1 ĐBTK hồi 8 giờ 30 phút ngày 26 tháng 3 gửi đồng chí Chu Huy Mân, Đại tướng viết: "Đánh Đà Nẵng nên:

        - Hướng An sẽ tiến công phía Bắc và Tây Bắc theo đường Quốc lộ 1a và Quốc lộ 14.

        - 711 từ Tây Nam đánh lên, trước mắt diệt lữ 369.

        - Đề nghị anh chuẩn bị cho Sư 2 và Lữ 52 đánh theo đường 1 về Mỹ Khê (đông Đà Nẵng) bịt đường rút lui bằng đường thủy của địch" (Tất cả các bức điện trên đây trích từ sách "Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các trang 243, 244, 245. Hướng An - tức quân đoàn 2, Tư lệnh là Nguyễn Hữu An, còn 711 là khu Thượng Đức, khu trú quân của Sư đoàn 711 Quân khu 5 và Sư đoàn 304 Quân đoàn 2 khi tiến công Thượng Đức. Hoà là Tư lệnh Quân đoàn 1 Nguyễn Hoà.

-----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-2004)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:15 pm

        Điện trả lời của đồng chí Chu Huy Mân:

        "1. Nhất trí với ý định của "Cậu Vũ”.

        2. Chúng tôi đã chuẩn bị cho Sư 2 và Lữ 52 tiến công từ hướng Nam ra, đánh chủ yếu theo đường núi Quế ra Vinh Điện; cánh thứ yếu theo đường Đèo Le qua núi Mạc ra Đường 100 để phối hợp với lực lượng "Cậu Vũ” từ ngoài tỉnh vào tiêu diệt địch ở Đà Nẵng.

        3. Đang tích cực chuẩn bị, chậm nhất là 29 tháng 3 có một trận địa pháo có thể bắn vào núi Quế.

        (Cậu Vũ là bí danh của Bộ Tổng tư lệnh).

        Ngay ngày hôm sau: ngày 25 tháng 3, đồng chí Tấn lại điện cho đồng chí Mân: "Phúc điện số 320 hồi 16 giờ của anh:

        1. Hoàn toàn đồng ý về hướng tiến công, mục tiêu tiến công của Sư 2 và Lữ 52.

        2. Lực lượng của An và một số sư của Hoà tiến công theo 2 trục:

        - Mũi thứ nhất theo đường 14, Mũi Trâu, Lệ Mỹ vào sân bay chính.

        - Mũi thứ hai từ Lăng Cô đến Hải Vân, Liên Chiểu, Nam Ô, đồng thời đánh từ Lộc Mỹ lên đỉnh đèo Hải Vân diệt lữ 258.

        3. Lực lượng của 711 tiến công Trung đoàn 57 ở Đại Lộc và vòng đằng sau Lữ 369.

        4. Pháo binh triển khai được một trận địa ở Mũi Trâu bắn vào sân bay chính, cảng Sơn Trà và tàu biển. Đề nghị anh cho triển khai ngay một trận địa pháo nòng dài bắn vào sân bay Nước Mặn, nếu có pháo 85 càng tốt để đánh tàu biển bốc quân ở Mỹ Khê".

        Ngày 27 tháng 3, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5: "Tình hình Đà Nẵng rất khẩn trương. Cần có những biện pháp đặc biệt nhanh chóng tiến công địch, bỏ qua những mục tiêu dọc đường, đánh thông vào Đà Nẵng nhanh nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất với những lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất" (Điện số 3ĐB/TR ngày 27-3-1975, dẫn theo Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, Nxb QĐND, Hà Nội, 1994, tr. 527).

        Do nhiều khó khăn, nhất là cầu cống dọc đường số 1 bị đánh phá, tình hình lại diễn biến quá nhanh, đêm 27 tháng 3, pháo binh chiến dịch mới tổ chức được 1 trận địa 4 khẩu 130 ly ở Mũi Trâu và Lăng Cô, gồm 14 khẩu (6 khẩu 130 ly). Ở phía Nam, Quân khu 5 mới có 4 khẩu 130 ly ở Sơn Khánh.

        Đúng 5 giờ 30 ngày 28 tháng 3, tất cả các khẩu pháo dồn dập bắn vào thành phố. pháo 130 ly, Đ74, ĐKB bắn mãnh liệt vào Hoà Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, cảng Sơn Trà, sân bay Nước Mặn và các mục tiêu quân sự khác. Đòn tập kích hoả lực của pháo binh ta làm cho địch đã hoang mang càng thêm hoảng loạn. Chúng không hiểu nổi vì sao quân đội ta lại có sức cơ động cao như vậy, đánh vào thành phố nhanh và sớm như vậy. Sân bay Đà Nẵng chưa bị thiệt hại lớn đã phải đóng cửa. Cũng như ở Huế, chúng hy vọng vào con đường biển nhưng lần này thì chúng không thoát được.

        Từ hướng Bắc, theo Đường số 1, Sư đoàn 325 Quân đoàn 2, được tăng cường 1 đại đội xe tăng PT-85 và được Trung đoàn 84 pháo binh yểm hộ, sáng 29 tháng 3, tiến công địch trên đèo Hải Vân, đập tan các chốt phòng ngự của 2 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn thủy quân lục chiến số 258, chiếm kho xăng Liên Chiếu. Đến 10 giờ, bộ phận đi đầu đã đến ngã ba trung tâm thành phố, nhanh chóng tiến ra bán đảo Sơn Trà, cắm cờ Tổ quốc lên căn cứ chỉ huy địch trên bán dạo lúc 11 giờ ngày 29 tháng 3.

        Hướng Tây Bắc, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 hành quân cơ giới theo trục đường 14, đập vỡ tuyến ngăn chặn của Sư đoàn 3 ngụy, vượt qua núi Phước Tường, Hoà Khánh, chiếm Toà thị chính lúc 13 giờ và tiến ra bán đảo Sơn Trà.

        Hướng Tây Nam, Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9), đánh tan lực lượng địch ngăn chặn ở Ái Nghĩa, truy kích tàn quân của lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 369 trên đoạn đường dài hơn 30km, chiếm Trung tâm huấn luyện Hoà Cầm và tiến vào sân bay Đà Nẵng lúc 12 giờ 30 ngày 29 tháng 3.

        Hướng Nam và Đông Nam, Sư đoàn 2 bộ binh Quân khu 5, Trung đoàn 95 bộ đội địa phương Quảng Đà nhanh chóng chiếm các vị trí bàn đạp ở Nam sông Thu Bồn, phát triển vào thành phố. Khoảng 14 giờ ngày 28 tháng 3, máy bay địch đánh phá cầu Câu Lâu và cầu Bà Rén, ngăn chặn quân ta tiến công. Lãnh đạo địa phương phải huy động hàng trăm thuyền chở bộ đội qua sông, nên tốc độ có bị chậm. Đến 3 giờ sáng ngày 29 tháng 3, đội hình của Sư đoàn 2 mới qua đượm sông. Xe tăng, pháo còn ở bờ Nam sông. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 quyết định đánh chiếm ngay thị xã Vểnh Điện không chờ binh khí kỹ thuật. Các trung đoàn Ba Gia và 31 nhanh chóng vượt sông, tiến vào trung tâm thành phố, đánh chiếm căn cứ Bộ tư lệnh sư đoàn không quân và Bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy. Trung đoàn 38 đánh chiếm sân bay Nước Mặn, sau đó tiến ra Sơn Trà, bắt liên lạc với bộ đội Quân đoàn 2 lúc 15 giờ ngày 29 tháng 3. Cùng lúc, các trung đoàn 93. 96 tỉnh Quảng Đà tiến công giải phóng thị xã Hội An, khu Non Nước, khu An Đồn, căn cứ hải quân ngụy, cùng Trung đoàn 38 đánh chiếm sân bày Nước Mặn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:33 pm

        Đến đây, sau đúng 25 ngày chiến đấu, quân dân Quân khu Thừa Thiên-Huế, Quân khu 5 cùng Quân đoàn 2 đã tiêu diệt, làm tan rã, xoá sổ hoàn toàn 2 quân khu - quân đoàn địch, trong đó có quân khu 1 - quân đoàn 1 là quân khu - quân đoàn mạnh nhất trong 4 quân khu - quân đoàn của ngụy. Riêng ở quân khu 1 - quân đoàn 1 có Bộ chỉ huy Quân đoàn 1, sư đoàn thủy quân lục chiến, Liên đoàn biệt động quân số 15, các đơn vị binh chủng và lực lượng còn lại của các sư đoàn 1, 2, 22, 23, đã bị tiêu diệt, bị bắt và tan rã. Ta thu và phá hủy 69.000 khẩu súng các loại, có 109 khẩu pháo từ 105-175 ly, 138 xe tăng bọc thép, 115 máy bay, 47 tàu chiến...

        Chiến dịch Huế - Đà Nẵng mở đầu ngày 21 tháng 3, đã kết thúc giòn giã bằng trận tiến công giải phóng Đà Nẵng vào chiều 29 tháng 3 năm 1975. Riêng trận tiến công giải phóng căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng bắt đầu lúc 5 giờ 30 ngày 28 tháng 3 và kết thúc sau 33 giờ chiến đấu.

        Qua diễn biến, theo báo cáo và tài liệu của Quân đoàn 2, Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã chứng minh đầy đủ, rõ ràng việc tiến công giải phóng Thừa Thiên-Huế là sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các lực lượng vũ trang Quân khu Trị-Thiên và Quân đoàn 2. Còn tiến công giải phóng căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng Quân khu 5 và Quân đoàn 2.

        Qua thắng lợi chiến dịch Huế - Đà Nẵng, quân đội ta "có những tiến bộ mới về tổ chức chiến dịch tiến công gấp rút khi có thời cơ thuận lợi, tích lũy được nhiều kinh nghiệm về chỉ huy, nghệ thuật tác chiến và phát triển tiến công trong chiến dịch. Sau gần 1 năm thành lập, Quân đoàn 2 đã tiến bộ rất nhanh chóng về tổ chức và trình độ chiến đấu, tăng thêm vũ khí trang bị thu được của quân địch, trở thành 1 cánh quân lớn binh chủng hợp thành, có khả năng cơ động nhanh, sức đột kích mạnh. Lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên, Quân khu 5 tiến bộ vượt bậc, đảm nhận nhiệm vụ bảo đảm địa phương mới giải phóng và đã cử nhiều đơn vị, động viên nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật - tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định" (Đầu năm 1975, tổng số quân địch trên toàn Miền là 1.351.000 tên (trong đó có 415.000 chủ lực), 381.000 phòng vệ dân sự (theo Đại tướng Văn Tên Dũng - Đại thắng mùa xuân, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 49-50). Riêng Quân khu 1 - Quân đoàn 1 ngụy có 5 sư đoàn bộ binh (1, 2, 3, sư đoản dù và thủy quân lục chiến), 4 liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 50); 50 tiểu đoàn, 5 đại đội bảo an; 6 chi đội xe tăng thiết giáp (449 xe), 21 tiểu đoàn, 4 đại đội và 14 trung đội pháo (418 khẩu); 1 sư đoàn không quân; hải quân có 165 tàu. Tổng số địch ở Quân khu 1: 134.000 tên (84. 000 chủ lực), 50.000 địa phương quân và 137.000 phòng vệ dân sự (theo Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội 1994, tập 2, tr. 510). Quân khu 1 của địch gồm tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngãi.) Quân khu 2 gồm 3 tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc) và 7 tỉnh: Bình Định. Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đút, Lâm Đồng. Lực lượng địch ở quân khu 2 - quân đoàn 2 gồm 2 sư đoàn bộ binh (22, 23), 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu đoàn và 1 3 chi đội xe tăng thiết giáp: 477 xe; 2 sư đoàn không quân (138 máy bay chiến đấu); 36/38 tiểu đoàn bảo an. Tổng số địch bị diệt và tan rã của 2 quân khu - quân đoàn ngụy là 7/13 sư đoàn 11/18 liên đoàn biệt động quân; 36/86 tiểu đoàn bảo an; 35/64 tiểu đoàn và một số đại đội pháo: 800/1.556 khẩu pháo; 10/19 thiết đoàn và 51 chi đội xe tăng thiết giáp: 954/2102 xe; 3/5 sư đoàn không quân (234/556 máy bay chiến đấu)).

        Chính đồng chí Võ Chí Công - nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Khu ủy Khu 5, trực tiếp tham gia chỉ đạo cuộc tiến công vào Đà Nẵng, đã xác nhận: "Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh mặt trận Quảng - Đà và Quân đoàn 2 được tăng cường tiếp sức cùng quân dân Quân khu 5 tiến công Đà Nẵng". Chỉ một thời gian ngắn, ta đã tiêu diệt và làm tan rã 2 quân khu - quân đoàn địch, có căn cứ liên hiệp quân sự mạnh nhất, hiện đại nhất, xoá sổ gần 1/2 lực lượng vũ trang kể cả chủ lực địa phương của địch (Dẫn theo Lê Duẩn - Một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr. 50), tạo điều kiện tập trung được lực lượng cả nước sẵn sàng cho cuộc tiến công chiến lược cuối cùng nhằm đập tan đầu não chính trị - quân sự địch: Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện trọn vẹn Di chúc của Bác Hồ kính yêu.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:18:14 pm

GÓP MỘT SỐ Ý KIẾN VỚI BÀI KÝ SỰ "CỰC NAM TRUNG BỘ, THÁNG TIẾN CÔNG1

PHẠM HOÀI CHƯƠNG         

        Tôi đã đọc bài ký sự dài "Cực Nam Trung Bộ, tháng tiến công" của tác giả Trần Hữu Tòng (THT), đăng trong các số báo Quân đội nhân dân ngày 8, 9, 10, 11 tháng 4 năm 2005, viết về các sự kiện chiến đấu, sinh hoạt của những vùng đất, con người mà tác giả đã đến, đã gặp ở Cực Nam Trung Bộ (CNTB) - Khu 6. Tuy nhiên, bài viết có rất nhiều điểm không đúng sự thật lịch sử đã diễn ra ở đây từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1975. Tôi là người quê ở Bình Thuận, CNTB - Khu 6, đã chiến đấu suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ điên chiến trường này và cũng đã đi qua Khu 10, miền Đông Nam Bộ. Trong mùa Xuân 1975, tôi chiến đấu ở Hoài Đức - Tánh Linh, Phan Thiết, Bình Tuy, La Gi, biết nhiều cán bộ ở lại miền Nam đấu tranh chính trị, cán bộ tập kết rồi về lại miền Nam chiến đấu ở Bình Thuận, Khu 6. Vì vậy, tôi phát hiện nhiều chỗ viết chưa đúng sự thật trong bài báo nói trên. Xin được đóng góp một số ý kiến về những chỗ sai sót ấy như sau:

        1. Ở số báo Quân đội nhân dân ngày 8 tháng 4 năm 2005, từ cột 1 dòng 1 xuống, THT viết: "Đoàn phóng viên báo Quân đội nhân dân chúng tôi đến trạm dân chính ở Bù Đốp để về Khu 6... Đây là con đường tắt gần nhất để tiếp cận chiến trường. Chúng tôi gặp anh Ba - Phó Bí thư Khu ủy... Sau khi hỏi chúng tôi đôi điều về tình hình hậu phương, hỏi việc ăn Tết trên đường giao liên, anh nói:... Quý hoá quá, các anh vào đây đúng dịp đó, nhân dân Khu 6 mong các anh viết lên báo để bà con cả nước biết về vùng cực phía Nam này, gian truân lắm mà cũng kiên cường bất khuất lắm... Anh vui vẻ đọc mấy câu thơ khái quát sự gian truân của vùng đất này: Rừng Ô Rô những năm tắm lửa và củ nần lá bép thay cơm. Khu 6 gian lao thế đấy. Sau Mậu Thân có thời kỳ địch đẩy ta lên rừng sâu, lên chỏm núi đá. Cơ sở ta thành vùng trắng, ta mất đất mất dân. Phải tắm lửa. Các anh có hiểu không Vì không có nước, giặc bao vây các vùng nước rồi, các chiến sĩ ta trong rừng Ô Rô, trên núi đá phải đốt lửa lên hơ cho nóng người cho mồ hôi toát ra để kỳ cọ ghét rồi lấy áo lau đi. Thời kỳ đó không có gạo ăn, muối ở dưới Cà Ná bị giặc chặn đường lên, anh em phải ăn lá bép gần giống như lá rau ngót ở ngoài Bắc ta đó, ăn củ nần như củ khoai môn rừng và ăn măng lồ ô để sông mà đánh giặc. Anh cười, thế mà quân dân vùng Cực Nam này vẫn sống, vẫn đánh thắng và gây được cơ sở cách mạng như hôm nay đó". THT không cho biết rõ là đến Bù Đốp ngày nào, có thể là cuối tháng 2 năm 1975 vì Đoàn của anh ăn Tết trên đường giao liên. THT cũng không viết rõ tên anh Ba - Phó Bí thư Khu ủy, này là gì, vả lại ở Khu 6 không có Phó Bí thư Khu ủy mà chỉ có Bí thư Khu ủy, các Thường vụ Khu ủy và các Khu ủy viên thôi. Theo như tác giả thì "anh Ba - Phó Bí thư Khu ủy" này cũng biết một số tình hình Khu 6 nhưng lại nói nhiều chỗ không đúng.

        Rừng Ô Rô thì có ở Khu Lê Hồng Phong - một vùng rừng cát gần biển của tỉnh Bình Thuận, nhưng việc tắm lửa ở Ô Rô chỉ có trong nhưng năm 1946- 1947 - thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp mà thôi. Không hề có việc tắm lửa ở Ô Rô sau Mậu Thân 1968. Thêm nữa, việc phải ăn củ nần cũng chỉ một thời gian ngắn đầu chống Pháp, chứ không phải là thời kỳ sau Mậu Thân. Lá bép chỉ có ở miền núi Bình Thuận, Lâm Đồng, Tuyên Đức, chứ không có ở rừng Ô Rô. Miền núi Bình Thuận, Lâm Đồng, Tuyên Đức thì lại không có củ nần; chỉ có củ mài, củ từ, củ chụp. Đã từng ở Ô Rô, Kha Lê từ năm 1946 đến năm 1949, nên tôi biết rõ việc tắm lửa ở Ô Rô, mà cũng chỉ có ở cơ quan trong căn cứ, rừng sâu, chứ bộ đội chúng tôi thì không có tắm lửa đâu! Và bộ đội cũng không đói đến nỗi phải ăn củ nần, lồ ô thay cơm.

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 10-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:22:32 pm

        Mậu Thân 1968, tôi là Phó Chính trị viên tỉnh đội Bình Thuận, làm Chỉ huy trưởng 1 trong 3 cánh quân đánh vào thị xã Phan Thiết. Sau đợt 1, địch phản kích, ta có rút ra nông thôn và lên căn cứ củng cố một thời gian ngắn rồi lại xuống đồng bằng. Đợt 2 (tháng 5 tháng 1968), chúng tôi đánh mạnh ở nông thôn và đánh đặc công vào uy hiếp đầu não địch ở Phan Thiết. Đợt 1, Bình Thuận vẫn mở nông thôn, giải phóng 35.000 dân, không có chuyện "mất đất, mất dân" "thành vùng trắng", rồi “lên núi cao tắm lửa, ăn củ nần, lá bép" như “anh Ba - phó Bí thư Khu ủy" nào đó nói với nhà báo. Trung ương, Trung ương Cục, Khu ủy Khu 6 vẫn chỉ đạo thông suốt đến tỉnh, huyện, xã, tuy có khó khăn nhưng không như THT mô tả. Tôi biết các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận, Tuyên Đức, Phước Long của Khu 6 có khó khăn nhưng cũng không đến nỗi mất đất, mất dân, thành vùng trắng, lên chỏm núi tắm lửa, ăn củ nần...

        - Ở cột 2, dòng 16 dưới lên, THT viết: "Chúng tôi về trạm khách chờ giao liên đón. Hiện tại Sư đoàn 7 của ta đang vây đánh Bình Long, chiếm núi Bà Rá. Địch cố thủ trong hầm ngầm chống trả. Ngầm sông Bé, tàn quân ngụy đang phục kích. Chiến sự ở căn cứ Đồng Xoài đang ác liệt nên đường chưa thông"... ở đây THT đã nhầm Phước Long với Bình Long, núi Bà Rá và ngầm sông Bé đều thuộc tỉnh Phước Long chứ không phải tỉnh Bình Long. Vả lại, Sư đoàn 7 vây đánh Bình Long - An Lộc là vào năm 1972, còn lúc này là tháng 2 năm 1975, Quân đoàn  (có Sư đoàn 7) chủ lực Miền giải phóng Đồng Xoài từ 26 tháng 12 năm 1974 và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long từ ngày 9 tháng 1 năm 1975 rồi. THT sau Tết mới đến Phước Long thì Phước Long đã được giải phóng gần 2 tháng, làm sao còn có "địch đang cố thủ trong hầm ngầm, đang phục kích ở ngầm sông Bé", cũng làm gì có Đồng Xoài đang có chiến sự ác liệt nên đường chưa thông"? Đây là một nhầm lẫn đáng tiếc.

        - Ở cột 6, dòng 22 dưới lên, THT viết: "Chúng tôi đến bờ sông Đồng Nai (trên thượng nguồn) thực ra nó như một dòng suối lớn… Một chiếc thuyền giao liên đã chờ ở đó, đưa chúng tôi xuôi dòng... Mái chèo khua nhẹ, chị giao liên chèo thuyền dặn chúng tôi: Em chạy sát bờ. Các anh sẵn sàng. Động em ghé vào. Oánh. Đoạn này thường có thám báo". Tôi thấy THT viết đoạn này cũng không chính xác. Ở bờ sông Đồng Nai nơi mà THT đến thì đâu phải là thượng nguồn, thượng nguồn còn rất xa trên phía Bắc, mà có ai dại gì lại phải đi đến thượng nguồn sông Đồng Nai để về H50? Tôi đã đi đoạn này hồi đầu năm 1974, lúc đưa đoàn Anh hùng Chiến sĩ thi đua Quân khu 6 về Miền dự Đại hội liên hoan Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn Miền. Lúc đó, chúng tôi đã đi com-măng-ca từ Miền đến Bù Đốp, từ Bù Đốp đi xe ô tô vận tải quân sự của Khu 6 đến sông Đồng Nai, từ sông Đồng Nai đi thuyền máy cả ngày đêm mới đến H50. Tiếng động cơ nổ dòn, vang xa, vui tai, làm gì có "mái chèo khua nhẹ" bí mật và có động thì đánh vì thường có thám báo. Năm 1974, đây đã là vùng chân cứ giải phóng từ lâu rồi, sao đến năm 1975 gần giải phóng thiền Nam mà THT vẫn còn đi bộ vất vả và đi thuyền với “mái chèo khua nhẹ", đề phòng thám báo?

        - Ở cột 3, dòng 9 trên xuống, THT viết: "năm, tháng các chị (chị em H50-PHC) chỉ ăn ngô ăn sắn, ăn lá bép, củ nần, họa hoằn lắm mới được một bữa cơm". Điều này THT viết cũng không đúng sự thật. Làm sao đến năm 1975 mà các chị quanh năm suốt tháng chỉ ăn ngô sắn, củ nần lá bép? Ăn như vậy thì làm sao các chị quanh năm suốt tháng mang hàng nặng đến 50 - 60kg, chị Thích còn mang đến cả trăm kilôgam, mấy chục lần đạt danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng! Tôi có đi, về trên đoạn đường H50 mang hàng, các năm trước có gian khổ nhưng cũng không đến nỗi "chân xiêu, mắt hoa, đom đóm xanh vàng toé ra phía trước" như THT viết. Đến đầu năm 1975, gần ngày toàn thắng mà THT còn trải qua gian nan đến như vậy sao?

        - Ở số ra ngày 10 tháng 4 năm 2005, cột 2, dòng 5 dưới lên có kể việc vào đầu năm 1975 địch đưa vào vùng H50, Lâm Đồng đến 500 - 700kg chất độc, ai có thể biết được số liệu này? Việc 4 người ăn mì tôm chết cả 4, một gia đình mua cá khô về ăn chết cả gia đình, 30 người mua bột về làm bánh ăn cả 30 người đều chết, rồi Trường Thiếu sinh quân Khu mua đường về nấu chè, 18 em cứu không kịp đã chết hết... Theo tôi biết, Trường Thiếu sinh quân Quân khu 6 đến Mậu Thân 1968 đã không còn nữa, thì làm gì có chuyện 18 em bị ngộ độc chết vào đầu 1975 được? Ở Bình Thuận, ở một số đơn vị bộ đội, cơ quan, có chuyện bị ngộ độc chết nhưng đó là vào các năm 1963-1964, chứ những năm 1974-1975 không còn bị nữa, có chăng cũng chỉ bị lẻ tẻ, chứ không bị ngộ độc cả gia đình, cả mấy chục người chết như THT viết. Có thể THT chỉ nghe kể lại chuyện xảy ra đã lâu rồi vận vào đầu năm 1975.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:22:50 pm

        - Ở Cột 5 dòng 16 xuống, THT viết: Bộ Tư lệnh Quân khu 6 đóng trong một hang đá lớn đào luồn sâu trong lòng núi là không chính xác. Từ sau Hiệp định Pari, cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu 6 đã dời về chỗ mà đoàn THT đến (có thể là đầu tháng 3 năm 1975), tuy cũng ở chân núi rừng rậm, nhưng chỉ cách xã Hàm Thạnh đồng bằng vài giờ đi bộ, không phải ở trong hang núi đá ngút ngàn như núi ông ở Tánh Linh hay núi Tà Đùng ở tây bắc Đà Lạt. Tôi là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu đã ở căn cứ cơ quan Quân khu, không hề ở trong hang đá đào luồn sâu vào lòng núi như THT viết.

        - Ở phần này, THT có kể chuyện làm việc với Tư lệnh Quân khu Nguyễn Trọng Xuyên và Cục trưởng Chính trị Ba Thiệp (Đĩnh Sĩ Uẩn). Theo tôi, THT làm việc với Tư lệnh Quân khu 6 Nguyễn Trọng Xuyên thì có, nhưng với Cục trưởng Chính trị (Ba Thiệp) thì không, vì Ba Thiệp (Đinh Sĩ Uẩn) đã đi công tác Tuyên Đức - Đà Lạt từ giữa năm 1974 đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 mới về lại Quân khu. THT có thể gặp Ba Thiệp ở Đà Lạt sau giải phóng, chứ không thể gặp cùng với Nguyễn Trọng Xuyên ở căn cứ cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu 6 được.

        - Ở cột 4 dòng 12 xuống số báo ngày 9 tháng 4, có một chuyện nhỏ mà THT viết cũng không đúng, đó là cây đèn "ló thụt" ở miền Nam. Có lẽ THT ngay cả khi vào chiến trường miền Nam cũng chưa hề thấy cây đèn ló thụt nên mới viết: nó là một cái chai nút kỹ, có dùi một lỗ nhỏ ở nắp để nó cháy bông tẩm dầu trong chai. Cây đèn như tác giả mô tả thì đâu phải là đèn ló thụt. Đèn ló thụt được làm bằng một chai Alcooldementhe, đựng đầy dầu lửa, tim luồn trong một ông thiếc có lò xo để khi nhấn xuống thì tim ló lên, cháy ngọn lớn sáng hơn, khi đậy nắp đèn thì tim thụt xuống, như vậy mới gọi là đèn ló thụt.

        - Ở số báo ngày 11 tháng 4 năm 2005, cột 2 dòng 5 xuống, THT viết căn cử Tỉnh đội Bình Tuy đóng ở núi ông cũng không đúng. Thực tế thì nó đóng ở một vùng rừng cát Biển Lạc, cách núi ông hàng chục kilômét. Từ khi tỉnh Bình Tuy được thành lập năm 1968 đến 30 tháng 4 năm 1975 chưa bao giờ căn cứ tỉnh Bình Tuy đóng ở núi Ông cả.

        Ngoài ra, đoạn này, THT còn viết mâu thuẫn về thời gian, như: "tôi lên ngay mặt trận Tánh Linh - Hoài Đức rồi theo các đơn vị xuống giải phóng Bình Tuy, Hàm Tân, La Gi". THT không nói đến Tánh Linh - Hoài Đức ngày nào và đến ngày nào thì theo các đơn vị nào giải phóng Bình Tuy. Vì nếu THT đến Tánh Linh - Hoài Đức khoảng ngày 15 tháng 3 năm 1975 thì ngày 16 tháng 3, Trung đoàn 812 Quân khu 6 tiêu diệt chi khu Hoài Đức, ngày 23 tháng 3 giải phóng hoàn toàn huyện Hoài Đức, rồi tiếp tục tiến lên Di Linh - Đà Lạt chứ không xuống Bình Tuy, mà chỉ các đơn vị địa phương tỉnh Bình truy mới tiến xuống Lộ 1, Lộ 2 và đến ngày 22 tháng 4 năm 1975 mới đánh Tiểu khu Bình Tuy, La Gi. Vậy, THT có theo Đại đội 88 tỉnh Bình Tuy đi Lộ 1 để một tháng sau tham gia giải phóng Bình Tuy không?

        - Ở cột 4, dòng 15 dưới lên, THT lại viết: "tôi theo cánh quân tiến vào giải phóng Đà Lạt thì anh Hà Đình Cẩn đã ở đây rồi. Chúng tôi chỉ kịp giơ tay chào nhau bên Hồ Xuân Hương rồi anh Cẩn theo đơn vị tiên về phía Bảo Lộc - Dầu Giây vào Sài Gòn. Tôi lại đi cùng đơn vị xuống giải phóng Hàm Tân, Bình Tuy. Mặt trận mở ra như những cơn lốc lôi cuốn chúng tôi theo... Tôi đến thị xã Bình Tuy và theo một phân đội Quân giải phóng vào giải phóng nhà tù..." ở đây, không hiểu THT đang nói từ Tánh Linh - Hoài Đức rồi theo các đơn vị xuống giải phóng Bình Tuy, Hàm Tân, La Gi, bỗng nhiên lại nói theo cánh quân tiến vào giải phóng Đà Lạt, gặp Hà Đình Cẩn. Không rõ THT ở Bình Tuy theo cánh quân nào lên Đà Lạt, vì cuối tháng 3, chưa giải phóng Bình Tuy, cũng không có cánh quân nào lên giải phóng Đà Lạt cả, thì THT đi với cánh quân nào và làm sao THT lên Đà Lạt được? Lên Đà Lạt ngày nào, với ai, THT nói không rõ và không có lý lẽ thuyết phục. Cũng không có cánh quân nào sau khi giải phóng Đà Lạt từ đây tiến xuống giải phóng Bình Tuy. THT xuống lại Bình Tuy ngày nào, với đơn vị nào? Đà Lạt ta tiếp quản ngày 3 tháng 4 còn địch rút chạy bỏ Đà Lạt ngày 2 tháng 4. Còn Bình Tuy thì đến ngày 22 tháng 4, một bộ phận Quân đoàn 2 cùng lực lượng địa phương Bình Tuy mới đánh. Mà Quân đoàn 2 là từ Phan Thiết vào chứ không phải từ Đà Lạt xuống. Tôi là Phó Chính ủy chiến dịch Tánh Linh - Hoài Đức, đánh giải phóng Hoài Đức, xong tôi về lại Bình Thuận chứ không lên Đà Lạt. Tôi cũng là Phó Chính ủy Bộ chỉ huy giải phóng Bình Tuy, cùng Quân đoàn 2 từ Phan Thiết vào đánh Bình Tuy, chứ không phải từ trên Đà Lạt tiến xuống. THT thoắt đến Tánh Linh - Hoài Đức, thoắt xuống Bình Tuy, thoắt lên Đà Lạt rồi thoắt xuống lại Bình Tuy một cách lạ kỳ, khó hiểu. Tôi là người trong cuộc còn khó hiểu thì các độc giả khác làm sao hiểu được và chắc sẽ thắc mắc làm sao mà THT tham gia giải phóng Bình Tuy hai lần?


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:23:12 pm

        - Ở cột 2, THT viết: "Anh Loan - Tỉnh đội trưởng Bình Tuy... có dáng người cao gầy, da xanh, vành môi tái nhợt. Cơn sốt rét vừa giày vò anh. Anh là dân đánh cá ở cửa biên Hàm Tân, quen vào lộng ra khơi, lượn quăng sóng ném, giông người Cửa Hội quê tôi (quê THT) nên tính cách táo bạo, nói năng thoải mái. Anh tâm sự: sau ngày tiễn bạn đi tập kết, anh ở lại bám trụ giữ cơ sở. Năm chúng tố cộng diệt cộng theo luật 10/59 khốc liệt, cơ sở bị vỡ, anh lẩn vào núi Ông để gây dựng lại phong trào. Rồi anh được đưa ra Bắc đào tạo và trở về nhận công tác ở Tỉnh đội cho đến nay. Anh Loan đã 3 lần mổ vết thương, 3 lần chết hụt trong hầm bí mật, 1 lần bị giặc bắt, anh trốn thoát...". Nhân vật "Anh Loan - Tỉnh đội trưởng Bình Tuy" mà THT miêu tả thật ly kỳ, đặc biệt nhưng lại là một nhân vật không có thật. Tỉnh đội trưởng Bình Tuy từ khi tỉnh mới được thành lập năm 1968 cho đến năm 1975 - khi THT đến, không có Tỉnh đội trưởng nào tên Loan, quê Hàm Tân, B trụ (tức không đi tập kết, ở lại miền Nam đấu tranh chính trị)…

        Xin nói rõ về Tỉnh đội trưởng Bình Tuy như sau: Anh là Nguyễn Thanh Đức (Tư Thanh) quê ở La Gàn, nay là xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, phía Bắc tỉnh Bình Thuận. Tư Thanh cũng dân biển nhưng người to lớn, mập mạp, da đen, môi thâm chứ không tái nhợt vì sốt rét. Anh hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ, chứ không ăn to nói lớn. Anh là Đại đội phó Đại đội độc lập 216 Bắc Bình, đi tập kết tháng 9 năm 1954, đến năm 1959 về lại miền Nam chiến đấu, là Đại úy Tiểu đoàn trưởng, đã làm Chủ nhiệm Hậu cần Tỉnh đội Bình Thuận, có thời gian làm Bí thư Huyện ủy Tuy Phong. Khi tỉnh Bình Tuy thành lập (8-1968), Tư Thanh làm Tỉnh đội trưởng Bình Tuy cho đến ngày miền Nam giải phóng. Năm 1976, Tư Thanh công tác ở Sư đoàn kinh tế Quân khu 5. Anh nghỉ hưu với quân hàm Đại tá và đã mất ở quê nhà hơn chục năm nay. Như vậy, Tỉnh đội trưởng Bình Tuy không phải tên Loan, quê ở cửa biển Hàm Tân mà là Nguyễn Thanh Đức (Tư Thanh) quê ở Tuy Phong. Tư Thanh tập kết rồi về lại miền Nam chiến đấu, chứ không ở lại miền Nam đấu tranh chính trị, do vậy không có việc khi bể vỡ cơ sở thì lên núi ông gây dựng lại phong trào. Thêm nữa, núi Ông là vùng rừng núi, căn cứ của huyện Tánh Linh trong kháng chiến chống pháp, không có dân, thì làm gì có chuyện lên đó dựa vào dân để gây dựng lại phong trào? Tư Thanh cũng không có ra lại miền Bắc một lần nữa để đào tạo, không có chết hụt ở hầm bí mật, không bị thương nên không mổ vết thương 3 lần, không bị địch bắt nên cũng không có việc trốn thoát.

        Cả 5 đồng chí cán bộ (Tỉnh đội trưởng, Tỉnh đội phó, Chính trị viên, Phó chính trị viên) Tỉnh đội Bình Tuy đều không có một "Anh Loan - Tỉnh đội trưởng Bình Tuy" nào như THT gặp và mô tả đến đặc biệt như thế. Tôi biết rõ và rất quen thuộc với cán bộ chủ chốt của Tỉnh đội.

        - Ở đầu cột 3, THT viết: "Chúng tôi cùng ngồi dậy, anh Loan kể cho tôi nghe đôi điều về núi Ông đang mùa mai vàng này (thật ra thì mai vàng chỉ có trong dịp Tết âm lịch chứ đến tháng 3 năm 1975 thì không còn mai nở nữa - PHC)... Tôi cử suy nghĩ miên man: Sao ở đây, Tánh Linh có tên là núi Ông. Ở Yên Bình - Yên Bái lại có tên thác Bà, thế thì từ xa xưa cái tên núi Ông với thác Bà có liên quan gì với nhau không?". THT không biết chứ ở Tánh Linh ngoài núi ông còn có núi Bà và thác Bà nữa. Ở Tánh Linh có một huyền thoại rất thú vị về Ông, Bà, Cậu (Cậu là con của Ông, Bà). Ông có đền thờ trên núi Ông, Bà có đền thờ trên núi Bà, nay vẫn có dinh thờ Cậu ở chân núi Ông về phía Đông Bắc. Thác Bà hiện là một thắng cảnh du lịch của Tánh Linh, thu hút rất nhiều du khách đến tham quan. Ở Hàm Thuận còn có một núi Bà nữa. Vậy thì núi ông ở Tánh Linh có liên quan gì với thác Bà ở Yên Bái có lẽ chỉ là một suy nghĩ của THT mà thôi!


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:23:31 pm

        - Cũng ở cột 3, THT viết tiếp: "Sáng sớm anh Tỉnh đội trưởng đưa tôi xuống Tánh Linh (cũng không nói ngày nào). Các sư đoàn chủ lực Miền đã đánh chiếm cao điểm Lồ Ô đang tiến vào chi khu quân sự (Tánh Linh - PHC). Một đơn vị khác đang vây đánh đồi Bảo Đại và bắn phá hủy diệt sự phòng thủ của địch ở Chi khu Võ Đắc (tức chi khu Hoà Đức - PHC). Bà con các xã Lạc Tánh, Võ Xu, vùng Biển Lạc đang bừng bừng khí thêm nổi dậy diệt ác ôn. Bà con ở Bắc Ruộng, ở Gia Khiêm cùng Quân giải phóng truy bắt tàn quân"... Tường thuật chỗ này, THT đã có sự nhầm lẫn lớn về hai thời kỳ của chiến dịch Tánh Linh - Hoài Đức. Như trên đã nói, các sư đoàn chủ lực Miền chỉ chiến đấu trong đội hình Quân đoàn 4 của Miền, đánh giải phóng Phước Long (6-1-1975) chứ không có các sư đoàn chủ lực Miền nào đánh chiếm cao điểm Lồ Ô và đang tiến vào chi khu Tánh Linh cả. Đánh Lồ Ô do Tiểu đoàn 200c đặc công Quân khu 6 đánh diệt đêm 10 tháng 12 năm 1974, mà Lồ Ô chỉ có 1 đại đội địch tăng cường thôi. Sau đó 1 đại đội của ta chiếm Lồ Ô, bắn phá chi khu Tánh Linh, giải phóng hoàn toàn huyện Tánh Linh. Đêm 9 tháng 12, ở chi khu Hoài Đức, Sư đoàn  (thiếu) của Quân khu 7 phối hợp với Quân khu 6 tiến hành chiến dịch Tánh Linh - Hoài Đức, đánh Hoài Đức không dứt điểm, Tiểu đoàn 19 đặc công Sư đoàn 6 diệt đồi Bảo Đại và bắn phá hủy diệt chi khu Hoài Đức. Sau hai lần tiến công chi khu Hoài Đức (Võ Đắc) không dứt điểm. Chủ lực Miền đã giải phóng Phước Long xong, ngày 10 tháng 1 năm 1975 Miền cho kết thúc đợt 1 chiến dịch Tánh Linh - Hoài Đức, rút Sư đoàn 6 về lại Quân khu 7. Tôi có mặt ở Tánh Linh - Hoài Đức thời gian này. Vậy khi THT đến Tánh Linh, Hoài Đức, sau Tết khoảng 3 tháng thì Tánh Linh đã được giải phóng hơn 2 tháng rồi, nhân dân Tánh Linh sững yên ổn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các xã Bắc Ruộng, Huy Khiêm (không có xã Gia Khiêm) là căn cứ ở Bắc sông La Ngà từ năm 1965 nên không có chuyện tưng bừng nổi dậy diệt ác ôn ngày 24, 25 tháng 12 năm 1974 như xã Lạc Tánh. Chỉ có các xã Võ Xu, Trà Tân, Đức Chính mới nổi dậy phá ấp chiến lược ngày 23 tháng 3 năm 1975 lúc bộ đội giải phóng chi khu Hoài Đức và quyện Hoài Đức. Biển Lạc là địa danh của rừng Cát Lớn, có hồ Biển Lạc là căn cứ của các cơ quan, đơn vị ở tỉnh Bình Tuy, không có dân. THT viết xã Biển Lạc là không đúng vì không có xã Biển Lạc.

        THT không phải là người địa phương, mới đến cực Nam Trung Bộ - Khu 6 lần đầu, không nắm chắc các địa danh, ngày giờ của các sự kiện nên viết sai sự thật lịch sử. Đã vậy, tác giả không đối chiếu kỹ bài viết của mình với các nguồn tư liệu lịch sử trong thời gian từ cuối năm 1974 đến tháng 3 năm 1975 đã có đầy đủ trong các tài liệu, sách, báo của Trung ương và địa phương. Đối với tôi và những ai ở và biết về cực Nam Trung Bộ - Khu 6 - Bình Thuận đều có thể thấy rõ bài viết "cực Nam Trung Bộ, tháng tiến công" của THT có nhiều chỗ chưa đúng với sự thật lịch sử như tôi đã nêu trên đây. Và chính điều này vô hình dung làm giảm tính thuyết phục của bài báo.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:30:09 pm
     
PHẦN IV


TÌM HIỂU MỘT SỐ HUYỀN THOẠI VỀ MƯU LƯỢC CỦA GIA CÁT LƯỢNG TRONG "TAM QUỐC DIỄN NGHĨA”1

HOÀNG ĐAN        

        L.T.S: Giữa một công trình lịch sử và một cuốn tiểu thuyết lịch sử có sự khác nhau. Tiểu thuyết lịch sừ có những tình tiết hư cấu xung quanh cái "nhân” của sự thực sự kiện lịch sử mà các nhà sử học và bạn đọc có thể rút ra, từ những sự kiện trong những tiểu thuyết đó, những điều bổ ích. Toà soạn xin giới thiệu bài viết của tác giả Hoàng Đan để bạn đọc tham khảo.

        Đọc Tam quắc diễn nghĩa của La Quán Trung, chúng ta không khỏi nghi vấn sự thật một số huyền thoại về Gia Cát Lượng, nổi lên ba huyền thoại chính:

        - Gia Cát cầu phong.

        - Trận đồ bát quái.

        - Trâu gỗ, ngựa máy.

        Chúng tôi đưa vấn đề này hỏi một số giáo sư ở Học viện Quân sự Trung Quốc tại Nam Kinh trong lần sang Trung Quốc để trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa hai Học viện quân sự Việt Nam và Trung Quốc. Chúng tôi được các giáo sư lọc viện quân sự Trung Quốc giới thiệu như sau:

        Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết của La Quán Trung. Người viết tiểu thuyết có quyền hư cấu theo sáng tạo của họ. Ba vấn đề các đồng chí Việt Nam tìm hiểu thì khoa học ngày nay chứng minh đó là câu chuyện hư cấu của người viết tiểu thuyết, không thể đúng với thực tế.

        1. Gia Cát cầu phong

        Mượn gió Đông nảy sinh trong đại chiến Xích Bích, tức tạo yếu tố quyết định thắng bại của trận đánh, Gia Cát Lượng liệu có thể hô phong hoán vũ được không? Đáp án khoa học đương nhiên là không thể được. Cũng có không ít nhà khoa học cho rằng Gia Cát Lượng thấu hiểu thiên văn học và khí tượng học, nên có thể dự đoán được sẽ có gió Đông Nam. Thực ra, khả năng có gió Đông Nam là rất ít. Những nhân vật cổ xưa, không ít người hiểu được thiên văn học và khí tượng học. Nếu Gia Cát Lượng biết được thì trong quân đội viễn chinh của Tào Tháo tất nhiên cũng có người biết được. Huống chi theo ghi chép của sử sách, Gia Cát Lượng sinh ở Lãng Nha (thuộc tỉnh Sơn Đông) lớn lên ở Nam Dương (tỉnh Hà Nam) cách Trường Giang mấy nghìn dặm. Vào thời ấy, giao thông và tin tức chưa thuận lợi, Gia Cát Lượng chẳng thể có khả năng thấu hiểu địa hình và tư liệu khí tượng của khu vực Trường Giang.

        Các nhà khoa học Trung Quốc đã đi tới vùng xảy ra trận Xích Bích và đi đến kết luận: do đặc điểm địa hình vùng Xích Bích, tuy vào thời điểm tháng Một, gió Tây Bắc là chính, nhưng thỉnh thoảng cũng xuất hiện gió Đông Nam. Đó là gió địa hình tạm thời, mỗi lần xuất hiện chỉ một, hai ngày; thậm chí một, hai giờ, tư liệu khí tượng cũng không ghi chép. Vì vậy chỉ có những người sống ở vùng này lâu năm mới nắm được Gió Đông Nam xuất hiện tạm thời ở vùng Xích Bích vào tháng 11 chỉ là do người trong đội quân Chu Du nắm được. Thực tế Chu Du cũng chỉ biết có thể có gió Đông Nam, nhưng cụ thể ngày nào gió Đông Nam xuất hiện thì Chu Du cũng không thể nắm chắc. Điều đó chứng minh khi Hàm Trạch đưa thư của Hoàng Cái xin làm nội ứng cho Tào Tháo, khi quân Ngô xuất quân đánh quân Tào, Tào Tháo hỏi vặn Hàm Trạch tại sao trong thư không ghi rõ ngày giờ hành động, Hàm Trạch nói rằng: "Hoàng Cái chẳng phải là thống soái, làm sao biết được ngày giờ Đông Ngô xuất quân". Bởi thế, hai bên cùng xác định lấy cờ hiệu có vẽ sông làm tín hiệu. Như vậy, có thể kết luận: lợi dụng gió Đông Nam để đánh hoả công diệt quân Tào là công của Chu Du, Gia Cát Lượng không tham dự vào việc này.

--------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-1998)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:30:47 pm

        2. Trận đồ bát quái

        Tam quốc diễn nghĩa chép: Lục Tốn đã giành được đại thắng, dẫn quân đuổi đến phía Tây. Cách Quí Quan không xa, Lục Tốn chợt nhìn thấy ở bãi sông phía trước một trận địa sát khí đùn lên, giật cương ngựa quay lại báo các tướng rằng: "Trước mặt ắt có mai phục, ba quân không được tiến bừa". Lục Tốn sai thám mã đi xem xét, báo lại rằng không có quân đóng ở đấy. Qua nhiều lần quan sát không thấy quân Thục, chỉ thấy sát khí bốc lên, Lục Tốn cho rằng đó là thuật mê hoặc người nên dẫn quân xông vào trận đá. Trời sắp tối, Lục Tốn dẫn quân về, đột nhiên cuồng phong nổi lên ầm ầm. Trong phút chốc cát bay, đá chạy trùm cả trời đất, lại thấy quái thạch cao chót vót, tua tủa như kiếm, bãi cát dưới chân dựng thành luỹ như núi. Lục Tốn vội vã trở về mà không tìm cược lối ra. Sau nhờ một trưởng lão ở vùng đó dẫn ra và qua trưởng lão mới biết đó là Bát trận đồ do Gia Cát Lượng bày ra. Nhà viết tiểu thuyết miêu tả tình tiết này thực thần kỳ, song lấy quan điểm lịch sử mà xem xét, có thể nói là hoang đường.

        Các nhà khoa học Trung Quốc qua khảo sát đi đến kết luận: có Bát trận đồ nhưng chẳng phải thuật thần kỳ môn độn giáp như miêu tả trong Tam quốc diễn nghĩa. Như vậy rốt cục Bát trận đồ là gì?

        Qua khảo sát nơi Lục Tốn vấp phải Bát trận đồ thuộc huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên thấy ở đây vẫn còn di tích. Các nhà khảo cổ cho đó là những khối đá xếp thành Bát trận đồ Trận đồ bát quái ở Phụng Tiết còn thấy ở hai địa phương khác, một nơi ở huyện Miễn Tính, tỉnh Thiểm Tây gần với phần mộ Giá Cát Lượng; một nơi thuộc huyện Tân Quận, tỉnh Tứ Xuyên. Các nhà khảo sát kết luận đây chỉ là nơi Gia Cát Lượng xếp đá bày trận để luyện quân.

        Căn cứ vào trận đá còn lại và qua nghiên cứu tài liệu do các nhà sử học, các tướng lĩnh ghi chép lại, thì Bát trận đồ thực chất là cách bày quân theo một thế trận nhất định, dùng khi chiến đấu phòng ngự và khi đóng quân, đề phòng đối phương tập kích.

        Trận đồ này lấy trận lớn ôm lấy trận nhỏ, hình thành một khu vực phòng ngự vòng tròn, có thể đánh được địch tiến công bất kỳ hướng nào. Trận nhỏ nhất, cơ sở của toàn bộ trận đồ được bố trí gồm 8 phân đội đứng 8 góc (thực chất đã hình thành vòng tròn). Ngoài 8 phân đội bố trí 8 góc (8 phương) còn có một phân đội cơ động bố trí ở giữa bảo vệ cơ quan chỉ huy, vừa để cơ động ra hướng bị uy hiếp. Lực lượng cơ động này di chuyển bằng một loại xe bốn phía đều có gỗ che đê tránh mũi tên của địch sát thương khi phải rời trận địa ở giữa để tiến ra một hướng nào đó. Các trận nhỏ xung quanh cộng với lực lượng cơ động, hình thành một trận lớn. Cứ thế, số quân càng nhiều, trận càng lớn. Di tích ở Phụng Tiết có 64 trận nhỏ (trận cơ sở). Di tích ở Tân Quận có 128 trận. Cách bố trí như trên thực chất là phòng ngự vòng tròn có chiều sâu có lực lượng dự bị bố trí bên trong. Bên tiến công rất khó phá vỡ loại thế trận như trên. Vì vậy, Gia Cát Lượng đã nói: "Bát trận đã thành, từ nay việc quân không lo thất bại nữa”. Cùng thời với Tam Quốc, tại Việt Nam, Thục An Dương Vương xây Loa Thành bao gồm ba lớp thành vòng tròn. Triệu Đà đã đánh vào đấy nhiều lần nhưng đều thất bại. Cuối cùng Triệu Đà phải dùng gián điệp mới thắng được Thục An Dương Vương. Tổ chức phòng ngự ở Cổ Loa cũng là một cách của lấy trận lớn ôm trận nhỏ.

        3. Trâu gỗ, ngựa máy

        Cần nói ngay không thể có trâu bằng gỗ và thời Tam Quốc cũng không thể có ngựa máy. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đi đến kết luận: trâu gỗ, thực ra là một loại xe có bánh tròn bằng gỗ, do người đẩy. Xe chở được lượng lương thực cho một người ăn trong một năm (khoảng 200kg), tốc độ di chuyển là tốc độ của người đi bộ. Đầu xe có hình trâu tròn nên gọi là trâu gỗ. Xem hình cũ miêu tả trong nhà bảo tàng Học viện quân sự Nam Kinh, chúng tôi thấy nó giống như loại xe mà người Nghệ Tĩnh dùng phổ biến trước năm 1945, gọi là xe cút-kít, chở được 150kg - 200kg.

        Ngựa máy thực chất là một loại xe có bốn bánh cũng bằng gỗ chở được nhiều hơn trâu gỗ, có thể do người kéo và đẩy, hoặc do trâu kéo. Nhưng để có tốc độ cao hơn, Gia Cát Lượng còn dùng ngựa kéo, vì vậy gọi là ngựa máy. Xem hình vẽ thiêu tả chẳng khác xe bò ta dùng hiện nay là mấy, có khác là xe có hai trục bốn bánh, không phải một trục hai bánh.

        Gần đây, đọc quyển sách Gia Cát Lượng Khổng Minh đại truyện do Trần Vân Đức biên soạn, Nguyễn Quốc Thái dịch, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin xuất bản năm 1998), cũng thấy nói về Gia Cát cầu phong, Bát trận đồ, trâu gỗ, ngựa máy giống như các giáo sư Học viện quân sự Nam Kinh giới thiệu. Chúng tôi thấy những nội dung trên đã được các nhà khoa học Trung Quốc nghiên cứu, có thể tin cậy được.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:41:06 pm

AI LÀ TÁC GIẢ ĐÍCH THỰC CỦA KHẨU SÚNG AK47 HUYỀN THOẠI1

LÊ MINH QUANG       

        Khẩu súng trường mang nhãn hiệu "AK" cho đến hôm nay vẫn là vũ khí bộ binh tốt nhất thế giới và nhiều người vẫn tin rằng Ka-la-xnhi-cốp là tác giả của sáng chế lịch sử này. Chữ "A" trong nhãn hiệu này là viết tắt chữ cái đầu tiên của từ “Auftomat" có nghĩa là súng trường), còn chữ "K" là chữ cái đầu tiên của từ "Ka-la-xnhi-cốp" là họ của người sáng chế ra súng. Nhưng sự chân thực về sự ra đời khẩu súng này và vai trò của Ka-la-xnhi-cốp trong lịch sử đó như là một nhà thiết kế đầu tiên thì chưa có một tài liệu nào xác nhận. Trên thực tế việc thiết kế, chế tạo khẩu súng huyền thoại này liên quan đến rất nhiều các công trình sư Xô-viết đầy tài năng trường lĩnh vực súng bộ binh. Trong đó, người đóng vai trò chủ yếu là kỹ sư quân sự Va-xi-li Phê-đô-rô-vích Liu-tưi. Vậy, Liu-tưi là ai và ông có quan hệ thế nào với khẩu súng huyền thoại này?

        Va-xi-li Phê-đô-rô-vích Liu-tưi sinh năm 1918 ở làng Ut-xtơ La-bin-xcai-a, xứ Cu-ban (Nga). Năm 1941, sau khi tốt nghiệp Học viện Pháo binh của Hồng quân vào loại xuất sắc ông được điều đến phục vụ tại Trường Thử nghiệm nghiên cứu khoa học về vũ khí bộ binh và súng cối của Tổng cục Pháo binh ở làng Xu-rô-vô (tỉnh Mát-xcơ-va) với cương vị là kỹ sư thử nghiệm. Trong những năm chiến tranh, ông phụ trách các công trình thử nghiệm vũ khí bộ binh trong điều kiện chiến đấu.

        Lịch sử khẩu súng trường nổi tiếng bắt đầu từ ngày 15 tháng 7 năm 1943, khi Hội đồng kỹ thuật của Bộ Dân ủy Trang bị tiến hành nghiên cứu hàng loạt chiến lợi phẩm của quân Đức, trong đó có súng và đạn của khẩu MP-43. Trong một thời gian rất ngắn, tại Văn phòng thiết kế số 44, Tổng công trình sư E-li-za-rốp và kỹ sư trưởng Ri-a-za-nốp đã nghiên cứu thiết kế thành công một kiểu đạn của Nga để bắn súng của Đức. Bộ phận công nghệ do kỹ sư Xê-men phụ trách. Sau đó, các công trình sư Liên Xô bắt đầu nghiên cứu thiết kế một kiểu vũ khí bộ binh hoàn toàn mới để bắn loại đạn này. Một cuộc thi thiết kế, chế tạo súng bộ binh của Liên Xô, có sự tham gia của 15 công trình sư, đã được tổ chức. Trong hai năm đầu, chưa có tên Ka-la-xnhi-cốp trong danh sách những người này. Tất cả các cuộc thử nghiệm đã được tiến hành tại trường thử Xu-rốp. Chỉ huy bộ phận thử nghiệm hồi đó chính là Thiếu tá Va-xi-li Phê-đô-rô-vích Liu-tưi. Còn người trực tiếp tổ chức toàn bộ hoạt động thử nghiệm là Thiếu tá Đây-kin, người của Tổng cục Trang bị Pháo binh Mẫu thử nghiệm đầu tiên của khẩu súng, do Ka-la-xnhi-cốp thiết kế, chỉ được thử nghiệm sau đó vài năm, vào giữa năm 1946. Trong biên bản kết luận thử nghiệm kiểu súng của Ka-la-xnhi-cốp, do Thượng úy Pơ-chê-lin-xép, cấp dưới của Liu-tưi, có ghi rõ: "Hệ thống không hoàn thiện và không nên tiếp tục cải tiến". Theo lời kể của Liu-tưi, hồi đó Ka-la-nhi-cốp là kỹ sư thuộc bộ phận do Liu-tưi chỉ huy và Ka-la-xnhi-cốp có đề nghị ông giúp đỡ, xem xét lại nội dung kết luận chính thức do Pơ-chê-lin-xép soạn thảo. Liu-tưi viết trong hồi ký: “Tôi rút ra kết luận là gần như phải làm lại toàn bộ bản thiết kế của Ka-la-xnhi-cốp. Căn cứ vào nhận xét của tôi, mọi người đã tiến hành thay đổi kết luận của Pơ-chê-lin-xép trong bản báo cáo và đưa ra chỉ định tiếp tục cải tiến khẩu súng của Ka-la-xnhi-cốp. Sau đó, trong quá trình cải tiến và hoàn thiện mẫu súng của Ka-la-xnhi-cốp, có sự tham gia của một đồng chí của tôi, một kỹ sư có kinh nghiệm và đầy tài năng. Đó là Vla-đi-mia Đây-kin mà chúng tôi đã từng cùng làm việc với nhau trong nhiều năm để thiết kế chế tạo súng bộ binh. Cả ba chúng tôi cùng làm việc đến năm 1947 để chế tạo khẩu súng trường mới. Tôi đích thân thử nghiệm khẩu súng đó".

        Liu-tưi thay đổi kết luận của Pơ-chê-lin-xép trong bản báo cáo, đề ra 18 nội dung sửa đổi có tính căn bản và cần thiết, đồng thời đề nghị cải tiến mẫu súng trường tự động của Ka-la-xnhi-cốp. Trong khi đó, bộ chỉ huy lại hy vọng vào súng trường tự động của Thiếu tá Xu-đai-ép, 36 tuổi. Lúc đó, khẩu súng của Xu-đai-ép đã được thử nghiệm đến lần thứ ba. Nhưng Xu-đai-ép bị chết đột ngột và Ka-la-xnhi-cốp thay vào vị trí của anh.

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1-2004)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:41:33 pm

        Ka-la-xnhi-cốp đến nhà máy quân khí để chuẩn bị chế tạo mẫu súng trường tự động đã được cải tiến căn bản. Theo nhận xét của kiến trúc sư trưởng Đi-mi-tơ-ri Xi-ria-ép, Viện nghiên cứu khoa học trung ương chế tạo máy chính xác của Nga, một tổ chức hàng đầu trong thiết kế, chế tạo súng bộ binh, thì trên trường thử nghiệm hôm đó, trong phân đội do Liu-tưi phụ trách có 15 mẫu súng trường tự động của các kiến trúc sư khác nhau. Kết luận thử nghiệm về từng khẩu súng dự thi, kể cả súng của Ka-la-xnhi-cốp, phụ thuộc không nhỏ vào ý kiến Đây-kin, người chỉ huy Trường thử nghiệm và là biệt phái của Tổng cục Trang bị Pháo binh. Như vậy, trong cuộc thi đó có sự tham gia của những người, mà xét theo chức vụ và quyền hạn, cần phải là những người trung lập. Các giai đoạn của cuộc thi được giữ bí mật. Những người đạt kết quả đầu tiên là Xpa-gin và Đe-gơ-chia-ép. Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc thử, vào tháng 1 năm 1947, có ba khẩu súng trường tự động được lọt vào chung kết là TKB-415 của Bun-kin, KBP-520 của Đê-men-chép và KBP-580 của Ka-la-xnhi-cốp.

        Theo kết luận thử nghiệm, khẩu súng trường tự động của Bun-kin được xếp đầu bảng. Nhưng Bun-kin là con người có tính cách rất kỳ dị, có thể nói là khó chịu, luôn phê phán ý kiến nhận xét của các nhà quân sự. Vì thế, kiến trúc sư đầy tài năng này đã bị loại khỏi danh sách. Còn Ka-la-xnhi-cốp là một người có tính cách dễ hòa hợp hơn. ông biết lắng nghe những người đi trước đầy kinh nghiệm và có quân hàm cao hơn. Vì thế, trong cuộc thử nghiệm cuối cùng, Ka-la-xnhi-cốp đã tính đến tất cả những mong muốn của các kiến trúc sư đầy kinh nghiệm như Đây-kin và Liu-tưi. Và thế là Ka-la-xnhi-cốp đã đạt được kết quả. Trong số các văn bản còn lưu giữ đến ngày nay, theo kết luận của ủy ban vào ngày 10 tháng 1 năm 1948, kiểu súng trường AK-47 của Ka-la-xnhi-cốp đã được lựa chọn. Lẽ ra, khẩu súng này không nên được đặt tên là "AK", mà nên đặt tên là "LĐK" (gồm tác giả ba người là Liu-tưi, Đây kín và Ka-la-xnhi-cốp). Nhưng lịch sử đã không diễn ra như thế.

        Nhưng khi giở lại những trang trong cuốn "Ghi chép của một kiến trúc sư vũ khí bộ binh" của tác giả Ka-la-xnhi-cốp, trong đó chỉ có một vài từ nhắc lại về Liu-tưi, đã từng đóng vai trò nhất định trong số phận của khẩu AK: "Va-xi-li Phê-đô-rô-vích là một người khéo nói, rất thích đùa, nhưng đằng sau những câu nói vui vẻ của anh, chúng tôi đều nhận thấy quan điền nghề nghiệp rất nghiêm túc". Không rõ vì nguyên nhân gì Liu-tưi, người thầy của Ka-la-xnhi-cốp, lại bị buộc tội và bị bắt vào năm 1951. Chỉ sau khi Xta-lin qua đời, vào năm 1954, Liu-tưi mới được phục hồi danh dự. Theo đề nghị của viện sĩ Bơ-la-gôn-ra-nốp, Liu-tưi được điều động trở lại vào quân đội và làm việc ở Viện nghiên cứu khoa học số 3 của Tổng cục Trang bị Pháo binh. Được nhận quân hàm Trung tá, kỹ sư Liu-tưi tiếp tục hoạt động nghiên cứu thiết kế trong lĩnh vực vũ khí bộ binh. Về giai đoạn này, Ka-la-xnhi-cốp có nhắc lại về ông. Trong những năm 1956-1957, các công trình nghiên cứu thiết kế mới của Liu-tưi chính là cơ sở kỹ thuật chủ yếu để chế tạo khẩu súng AK kiểu mới, gọi là AKM. Khẩu súng này đã thể hiện độ ổn định rất cao của hệ thống súng trường tự động có nhịp bắn tối ưu và với kết quả này, Liu-tưi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Về sau, ông đã tham gia nghiên cứu thiết kế, chế tạo tổ hợp các tên lửa phòng không "Xtrê-la-1", "Xtrê-la-2". Năm 1969, Liu-tưi về hưu và làm công tác giảng dạy với chức danh Phó Giáo sư ở Trường đại học Bách khoa Ki-ép. Còn từ năm 1982, ông làm việc tại Viện nghiên cứu khoa học thiết kế các công trình dân sự quốc gia ở Ki-ép.

        Chỉ đến khi đã về già và trở thành một con người ốm yếu, Liu-tưi mới quyết định kể hết sự thật về thời gian đó. Vào giữa những năm 1990, một tạp chí ở U-cơ-rai-na đã đăng bài phỏng vấn ông, trong đó có đoạn viết. "Theo một số nguyên nhân mà chỉ có Liu-tưi được biết, trong cuốn hồi ký cũng như trong rất nhiều các bài phỏng vấn, Ka-la-xnhi-cốp không bao giờ nhắc đến tên các thầy giáo và đồng nghiệp của mình. Những cuốn sách của Ka-la-xnhi-cốp không phản ánh lịch sử chân thực về chế tạo súng trường tự động của Liên Xô. Ngoài ra, lịch sử chế tạo súng trường tự động đã bị bóp méo quá nhiều. Không có một lời nào nhắc đến tên nhà thiết kế vũ khí đầy tài năng Đê-men-chép, trong khi đó, trong lần thử cuối cùng vào năm 1947, những người ủng hộ Ka-la-xnhi-cốp khó khăn lắm mới đánh bật được Bun-kin và Đê-men-chép ra khỏi danh sách lựa chọn lần cuối".

        Sau nhiều cuộc phẫu thuật năm 1990, Liu-tưi đã qua đời. Hiện nay Ka-la-xnhi-cốp đã là tên gọi của một hãng công nghiệp vũ khí. Đây là một hãng của Nga mang tên "AK", ẩn giấu trong đó lao động và trí tuệ của rất nhiều các nhà sáng chế đầy tài năng của Liên Xô đã bị lãng quên một cách không công bằng. Những cứ liệu công bố ở đây là một quan điểm bất ngờ về lịch sử chế tạo khẩu súng nổi tiếng AK, nhưng cũng chỉ là một nỗ lực nhỏ nhằm lập lại sự công bằng trong khoa học.

        Theo báo “Sự thật" (Nga)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:05 pm

VỀ THỜI ĐIỂM BÙNG NỔ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939-1945)1

LÊ KIM         

        Vừa qua, nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng phát xít Đức (9.5.1945 - 9.5.2005) một số bài viết đăng trên các báo khi đề cập đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đều cho là: ngày 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tiến công Ba Lan. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.

        Không riêng gì báo chí Việt Nam, mà trước đây một số sách, báo phương Tây, thậm chí cả những loại sách lịch sử, sách giáo khoa, cũng cho rằng: Ngày 1 tháng 9 năm 1939 là ngày bùng nổ chiến tranh thế giới thứ hai. Trong khi đó thì nhiều công trình nghiên cứu lại ghi ngày bùng nổ chiến tranh thế giới thứ hai là 3 tháng 9 năm 1939 chứ không phải 1 tháng 9 năm 1939, đồng thời cũng nhấn mạnh, đây không phải là chuyện ghi sai, viết nhầm "con số 3 thành số 1" mà rõ ràng là sự ngộ nhận có tính chất lập trường, quan điểm. Những người cho rằng Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào ngày 1 tháng 9 năm 1939 dù vô tình hay cố ý vẫn làm cho người đọc thuộc những thế hệ sau nghĩ rằng ngay sau khi Hitler mở cuộc tiến công quân sự đánh chiếm Ba Lan thì lập tức vấp ngay phải sự giáng trả quyết liệt của Anh, Pháp làm cho chiến tranh thế giới bùng nổ ngay trong ngày 1 tháng 9 năm 1939.

        Vậy thực tế lịch sử đã diễn ra như thế nào?

        Chỉ cần lướt qua biên niên sử cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai do chính các cơ quan nghiên cứu lịch sử các nước phương Tây, chủ yếu là Anh, Pháp ghi chép và công bố công khai trên toàn thế giới từ nhiều năm nay mà rất nhiều người còn nhớ và biết rõ, ta sẽ thấy ngay.

        Hồi 4 giờ 35 phút sáng 1 tháng 9 năm 1939, phát xít Hitler bất ngờ nổ súng tiến công Ba Lan, nhưng mãi đến 11 giờ ngày 3 tháng 9, tức hơn hai ngày sau, Chính phủ Anh mới tuyên bố trên đài phát thanh lệnh "tuyên chiến với Đức". Chinh phủ Pháp mãi đến 17 giờ cùng ngày mới ra tuyên bố tương tự. Đến 10 giờ sáng 4 tháng 9, công hàm "tuyên chiến" của Anh và Pháp mới chính thức chuyển tới Đức qua đường ngoại giao.

        Cho mãi tới lúc này cũng mới chỉ có một mình Đức "đánh nhau” với Ba Lan. Tại Tây Ban Nha, trùm phát xít Franco tuyên bố "trung lập". Tại I-ta-li-a, trùm phát xít Mussolini tuyên bố "không tham chiến" cùng với Đức ở Ba Lan.

        Như vậy là, nếu tính vào thời điểm 1 tháng 9 năm 1939 thì lúc đó mới chỉ là cuộc xung đột vũ trang tay đôi, gọi là cuộc chiến tranh láng giềng, chiến tranh cục bộ giữa Đức và Ba Lan, không thể nào hoặc chưa thể nào gọi là "chiến tranh thế giới bùng nổ" được!

        Đi ngược dòng thời gian xa hơn nữa, ta tiếp tục nhận thấy (qua những tài liệu lịch sử do chính các nước phương Tây biên soạn):

        Năm 1933, Hitler lên cầm quyền ở Đức, công khai tuyên bố chương trình "phục thù rửa hận" sau thảm bại trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), ngang nhiên bác bỏ những "điều cấm" trong Hiệp định Versailles, ráo riết tái vũ trang rồi trắng trợn tiến quân vào lưu vực sông Rhin, tiếp đó lại thôn tính toàn bộ nước Áo. Trước hàng loạt hành động này, Anh - Pháp và Hội Quốc liên (tiền thân của Liên hợp quốc) chỉ "phản kháng bằng miệng" hoặc "tuyên bố trên giấy” mà không có biện pháp thiết thực để ngăn chặn. Thậm chí Anh, Pháp còn mưu toan ký kết với Đức và I-ta-li-a một "Hiệp ước tứ cường" gồm Anh, Pháp, Đức, I-ta-li-a nhằm chĩa mũi nhọn chiến tranh của Đức sang Liên Xô.

        Nhưng trước khi tiến đánh Liên Xô, phát xít Đức cần phải tăng cường lực lượng, bành trướng thế lực ở ngay trên mảnh đất của tư bản phương Tây. Năm 1938, sau khi nuốt chửng ngon lành nước Áo mà không cần phải động binh, Hitler lại công khai tuyên bố đòi sáp nhập phần đất Sudetes ở miền Nam Tiệp Khắc (nay là Cộng hoà Séc) vào lãnh thổ Đức. Anh, Pháp “đối phó" bằng cách "hoà giải" với Đức.

        Ngày 29 tháng 9 năm 1938, Hội nghị cấp cao Anh, Pháp, Đức I-ta-li-a họp tại Muchen (ta thường phiên âm theo tiếng Pháp là Hội nghị Muynich) công nhận "chủ quyền" của Đức tại Sudetes và Bohemia gồm 1/5 lãnh thổ và 1/4 số dân Tiệp Khắc). Lúc này chỉ có một mình Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố phản đối và cảnh cáo Đức. Mỹ tuyên bố trung lập.

        "Được đằng chân, lân đằng đầu”, ngày 15 tháng 3 năm 1939, Đức tiến quân chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Séc.

        Trước sức ép của nhân dân trong nước, đồng thời cũng thẳm tránh bẽ mặt trước nhân dân thế giới, hai chính phủ Anh và Pháp ra tuyên bố cam kết "sẽ bảo vệ toàn bộ lãnh thổ và đường biên giới hiện tại của Ba Lan, Ru-ma-ni, Hy Lạp nếu những nước này bị "một thế lực bên ngoài xâm chiếm".

        Chính vì những lý do đó cho nên khi Ba Lan bị Đức tiến đánh vào ngày 1 tháng 9 năm 1939 và chính phủ các nước Anh, pháp bị quốc hội chất vấn, lúc đó Thủ tướng Anh Chamberlain và Thủ tướng Pháp Daladier mới "tuyên chiến" với Đức ngày 3 tháng 9 năm 1939. Nhưng mặc dù đã tuyên chiến với Đức, cả quân đội Pháp lẫn quân đội Anh đóng trên đất Pháp vẫn "án binh bất động" tới gần 8 tháng, không dám tiến đánh Đức (Việc “tuyên chiến nhưng không tiến đánh" đã bị ngay những binh sĩ Pháp mỉa mai gọi là Drole de guerre, tức "chiến tranh kỳ cục" và danh từ "chiến tranh kỳ cục" này sau đó đã được ghi nhận trong các từ điển quân sự và chiến tranh của Pháp' Anh, Mỹ...) để rồi cuối cùng bị Đức quật lại bằng việc tiến đánh một loạt nước Tây Âu trong đó có Pháp. Nhưng đó là một sự kiện mãi tới ngày 10 tháng 5 năm 1940 mới diễn ra. Còn từ ngày 1 tháng 9 năm 1939 đến ngày 9 tháng 5 năm 1940 chiến tranh vẫn chỉ xảy ra trên lãnh thổ một nước Ba Lan.

---------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:29 pm

        Đó là những sự kiện đã rõ ràng mà cho tới nay, rất nhiều người cao tuổi trên thế giới và cả Việt Nam đều nhớ. Còn một số chứng cứ nữa ít được biết hơn, đó là những chủ trương hành động của Hitler trong tập "Hồ sơ mật từ Tổng hành dinh Quốc trưởng Đại Đức Adolf Hitler" lần đầu tiên được xuất bản năm 1965, tức 20 năm sau ngày chiến tranh kết thúc (Người viết bài báo này (LK) rất tiếc chưa tìm được bản dịch tập tài liệu này nên đành phải trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của nhà sử học Liên Xô, Tiến sĩ lvan Kobliakov trong tạp chí Sinh hoạt quốc tế xuất bản tại Liên Xô, tháng 2 năm 1980 và một số từ điển lịch sử chiến tranh của Pháp). Tập tài liệu mật này cho biết:

        Kế hoạch đánh chiếm Ba Lan được đích thân Hitler đề xuất từ ngày 1 tháng 4 năm 193 (tức là trước khi thật sự tiến công vào ngày 1-9) kịch bản vẫn tương tự như kế hoạch đã thôn tính áo và Séc. Tức là: yêu sách về đất đai, đòi hỏi về khoảng "không gian sinh tồn", lấy cớ để bảo vệ những kiều dân Đức và gốc Đức sinh sống tại các nước nhằm mục tiêu chiếm đóng. Cụ thể đối với Ba Lan là: đòi quyền được sử dụng quân cảng Dantzig và lập một hành lang đường bộ nối Đức với vùng đất Silesie của Ba Lan mà sau này khi đã chiếm đóng, Đức sáp nhập luôn vào lãnh thổ Đức, gọi là Đông Phổ. Nhưng, mặc dù chính Anh và Pháp liên tục gây sức ép, khuyên Ba Lan nên nhân nhượng Đức để cứu vãn hoà bình, Ba Lan vẫn nhất định không chịu nhượng bộ. Đó là lý do chủ yếu đồng thời cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến Hitler phải tiến đánh Ba Lan sau khi bản "tối hậu thư" cuối cùng bị Ba Lan bác bỏ.

        Hồ sơ mật của Đức tiết lộ: khi họp bàn tại Tổng hành dinh kế hoạch đánh chiếm Ba Lan, "nhiều” sĩ quan cấp cao tỏ ý lo ngại vì "việc tiến đánh Ba Lan có thể sẽ vấp phải phản ứng quyết liệt của cả Ba Lan lẫn Anh, Pháp". Như vậy, Đức sẽ phải đói phó với sự "giáp công" của ba nước: Ba Lan ở phía trước mặt Pháp ở phía sau lưng, Anh ở phía biển trên đầu. Binh lực của ba nước này, nhất là của bộ binh Pháp, hải quân và không quân Anh, gộp lại sẽ hơn hẳn binh lực Đức đang trong thời kỳ tái vũ trang chưa hoàn chỉnh. Hitler đã giải thích: "Tại Hội nghị Muchen (ngày 29-9-1938) tôi đã trực tiếp gặp và nhìn thấy tận mắt Daladier (Thủ tướng Pháp) Chamberlain (Thủ tướng Anh). Những con giun đất này không dám đánh lại Đại Đức quốc xã đâu. Phản ứng quyết liệt nhất của bọn hèn nhát này, bất quá chỉ là một bản tuyên bố chung "cấm vận" Đại Đức là cùng" (trích dịch nguyên văn trong biên bản cuộc họp tại Tổng hành dinh của Hitler).

        Hồ sơ mật của phát xít Đức cũng ghi nhận, chính Hitler đã đề ra chiến lược "chiến tranh chớp nhoáng": tập trung lực lượng bộ binh cơ giới, xe tăng, máy bay tiến đánh Ba Lan bất thình lình, thật mạnh, thật nhanh nhằm giải quyết xong thục tiêu Ba Lan trước khi Anh, Pháp có phản ứng thật sự về quân sự.

        Bản kế hoạch cũng như dự kiến: nhất định trước khi mở cuộc tiến công phản ứng nhằm bảo vệ Ba Lan, phía Anh, Pháp theo truyền thống sẽ ra tuyên bố chung lên án, gửi công hàm phản đối, hạ tối hậu thư đe dọa... Trong trường hợp đó, Đức sẽ chấp nhận tiếp xúc, thương lượng nhưng vẫn đẩy mạnh nhịp độ tiến công cho tới khi hoàn thành các mục tiêu đã định.

        Rất rõ ràng, qua tập hồ sơ mật của phát xít Đức có thể khẳng định: khi tiến đánh Ba Lan, chính nước Đức phát xít vẫn chưa sẵn sàng đối phó với một cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại nhiều nước trên nhiều mặt trận. Bản thân Hitler tuy quyết tâm đánh chiếm Ba Lan nhưng vẫn cố giới hạn cuộc chiến tranh trong phạm vi một cuộc đối đầu giữa hai nước, chỉ có hai nước Đức - Ba Lan mà thôi. Vì vậy, càng có cơ sở để nhấn mạnh: ngày 1 tháng 9 năm 1939 chưa phải là ngày bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc chiến tranh Đức - Ba Lan mới chỉ là "châm ngòi nổ" chứ chưa phải là nổ bùng, và từ khi đầu dây cháy chậm bật lửa vẫn còn một thời gian nhất định rồi "quả mìn Chiến tranh thế giới thứ hai" mới nổ. Trong cuốn đại từ điển chuyên đề về chiến tranh của nhà xuất bản Larousse (Pháp), những người biên tập đã rất có lý khi viết: "Cuộc chiến tranh này (tức Thế chiến thứ hai 1939- 1945) có nguồn gốc xuất phát từ châu Âu từ năm 1939 nhưng thật sự chỉ trở thành chiến tranh thế giới vào năm 1941 khi Liên Xô, Nhật Bản, Mỹ bước vào vòng chiến".

        Mặc dù vậy, nhiều nhà sử học vẫn khẳng định, đứng về mặt pháp lý và chính thức thì Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu từ ngày 3 tháng 9 năm 1939, khi Anh và Pháp tuyên chiến với Đức (mặc dù trước đó đã xảy ra chiến tranh giữa Đức và Ba Lan từ ngày 1-9). Cũng theo nhiều nhà sử học, Chiến tranh thế giới thứ hai đứng về mặt pháp lý và chính thức kết thúc vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 là ngày lực lượng Đồng minh chống phát xít chính thức làm lễ công nhận Nhật Bản đầu hàng mặc dù trước đó vua Nhật Bản đã công khai tuyên bố trên đài phát thanh Tokyo, hoàn toàn chấm dứt chiến tranh, đình chỉ mọi hoạt động quân sự trên biên, trên không và trên đất liền từ ngày 15-8-1945).

        Như vậy là, đứng về mặt "pháp lý và chính thức", Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu từ ngày 3 tháng 9 năm 1939, kết thúc vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, kéo dài suốt 6 năm chẵn. Trên thực tế, sau ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô vẫn còn phải chiến đấu quyết liệt với quân đội Nhật Bản từ miền Đông Bắc Trung Quốc tới Xakhalin, Kurin... mãi tới ngày 1 tháng 9 năm 1945, chiến sự mới thật sự chấm dứt.

        Như vậy là, với một loạt dẫn chứng trên đây, dù tính theo cách nào thì ngày 1 tháng 9 năm 1939 vẫn không thể nào gọi là ngày bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai được.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:08 pm

VỀ TUYẾN BỐ CỦA HỘI NGHỊ PỐT-XĐAM ĐÒI NHẬT BẢN ĐẦU HÀNG KHÔNG ĐIỀU KIỆN1

PHAN VĂN THUẬN         

        Sau khi phát xít Đức bị đánh bại, những người đứng đầu các cường quốc trong phe Đồng minh chống phát xít đã tổ chức Hội nghị tại Pốt-xđam, một thành phố ở miền Nam nước Đức, để xác định đường lối chung của các nước tham gia chống phát xít, về giải quyết vấn đề nước Đức và kế hoạch đánh bại Nhật Bản. Hội nghị được tiến hành tại cung điện cũ của các vua Phổ ở thành phố này.

        Xta-lin dẫn đầu đoàn đại biểu Liên Xô. Tham gia hội nghị, về phía quân đội Liên Xô có các đồng chí G.K. Giu-cốp, N.G. Cu-dơ-nét-xốp, Ph.I. Pha-la-lê-ép, S.G. Cu-dơ-rốp...

        Đoàn đại biểu Mỹ do Tổng thống G. Tơ-ru-man dẫn đầu. Đoàn đại biểu Anh lúc đầu do Thủ tướng Sớc-sin làm trưởng đoàn, nhưng phần cuối của hội nghị lại do Át-li, lãnh tụ của Công Đảng, thắng phiếu trong cuộc tổng tuyển cử ở Anh, lên thay làm Thủ tướng và làm trưởng đoàn đàm phán.

        Hội nghị họp từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945. Các nước Đồng minh thông qua hiệp nghị quy định việc phi quân sự hoá và dân chủ hoá nước Đức, bồi thường cho những nước bị phát xít xâm lược, xác định biên giới giữa các quốc gia. Nhiều vấn đề khác có liên quan đến nước Đức tương lai và hoà bình ở châu Âu cũng được giải quyết. Các nước tham gia hội nghị cũng đã cam kết nỗ lực tập trung sức mạnh để đánh bại phát xít Nhật. Hội nghị đã phân chia địa bàn tác chiến và giải giáp quân đội Nhật Bản cho các nước tham chiến.

        "Trong ngày họp đầu tiên, Liên Xô xác nhận là phía mình đã sẵn sàng hoàn thành trách nhiệm chiến tranh với Nhật. Tướng An-tô-nốp đã thông báo tỉ mỉ những kế hoạch của Liên Xô ở Viễn Đông" (X.M. Stê-men-cô, Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Nxb QĐND, Hà Nội, 1971, tr. 400). Sau một tuần làm việc, G. Tơ-ru-man mới thông báo cho Xta-lin biết là Mỹ đã chế tạo được bom nguyên tử có sức mạnh khủng khiếp, sau khi đã thoả thuận trước với Sớc-sin. Tại hội nghị, Mỹ, Anh và Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch đã ký kết bản Tuyên bố chung theo hình thức tối hậu thư, đòi Nhật Bản đầu hàng không điều kiện.

        Đề cập đến Hội nghị Pốt-xđam và bản Tuyên bố chung đòi Nhật Bản đầu hàng không điều kiện, tác giả Lê Kim trong bài "Về thời điểm Cách mạng Tháng Tám", đăng trong Tạp chí Lịch sử quân sự, số  (tháng 7 và 8-1995), có viết: “Từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945, những người đứng đầu ba nước Liên Xô, Mỹ, Anh lại gặp nhau ở Pốt-xđam là một thành phố miền Nam nước Đức vừa mới bại trận để thảo luận việc tập trung nỗ lực đẩy mạnh chiến tranh chống Nhật Bản và phân chia địa bàn giải giáp quân đội Nhật Bản. Những người dự hội nghị đã ký một bản Tuyên bố chung đòi Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Sau đó, chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc cũng tham gia bản tuyên bố này".

        Trong vấn đề này, có thể tác giả Lê Kim đã có một số nhầm lẫn. Thứ nhất, tham gia Hội nghị Pốt-xđam không phải chỉ có những người đứng đầu ba nước Liên Xô, Mỹ, Anh mà còn có cả một số nước Đồng minh khác, trong đó có Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch. Thứ hai, Tuyên bố chung đòi Nhật Bản đầu hàng không điều kiện lúc đầu chỉ có Mỹ, Anh và Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch ký chứ chưa có Liên Xô. Trước khi bắt đầu chiến tranh với Nhật Bản, Chính phủ Liên Xô mới tham gia ký vào bản Tuyên bố chung với tư cách là thành viên thứ tư.

        Điều này tưởng chừng như vô lý, bởi vì Liên Xô là một trong ba cường quốc Đồng minh chống phát xít. Mọi sự kiện trọng đại của thế giới trong giai đoạn này đều do Liên Xô, Mỹ và Anh quyết định. Vậy mà với bản Tuyên bố chung của Hội nghị Pốt-xđam đòi Nhật Bản đẩu hàng không điều kiện Liên Xô lại không phải là một trong những nước ký kết đầu tiên, mà chỉ sau đó mới tham gia với tư cách là thành viên thứ tư. Nhưng nếu nghiên cửu một cách kỹ lưỡng thì ta thấy điều này hoàn toàn phù hợp thực tế lịch sử.

        Chúng ta đều biết rằng: trước Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra ít lâu, để tránh phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù, Liên Xô đã ký với Nhật Bản Hiệp ước trung lập, không xâm phạm lẫn nhau. Mặc dù ngày 5 tháng 4 năm 1945, Chính phủ Liên Xô đã tuyên bố Hiệp ước trung lập ký với Nhật Bản hết hiệu lực, nhưng điều đó không có nghĩa là Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Tháng 2 năm 1945, tại Hội nghị Crưm, Chính phủ Liên Xô cam kết sẽ: "tuyên chiến với Nhật Bản hai hay ba tháng sau khi kết thúc chiến tranh ở châu Âu”. Đoàn đại biểu Liên Xô nêu ra trước hội nghị ba điều kiện:

        1. Bảo vệ sự tồn tại của nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ.

        2. Khôi phục những quyền lợi của Nga đã bị Nhật vi phân năm 1904: thu hồi Nam Xa-kha-lin; quốc tế hoá Đại liên và lập lại tô giới Lữ Thuận làm thành hải cảng quân sự của liên Xô; cùng với Trung Quốc khai thác các đường sắt Đông Bắc Trung Quốc và Nam Mãn Châu.

        3- Trả lại quần đảo Cu-rin cho Liên Xô" (X.M. Stê-men-cô. Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Sđd, tr. 375-376, 405).

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 4-2002)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:33 pm

        Các nước Đồng minh đồng ý tiếp nhận những điều kiện trên của Liên Xô. Những cam kết của Liên Xô và những thoả thuận đạt được tại Hội nghị Crưm lúc đó vẫn chưa được công bố. Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Liên Xô trao cho đại sứ Nhật Bản ở Mát-xcơ-va bản tuyên bố của mình, nêu rõ: "từ ngày mồng 9, Liên Xô tự xem là ở trong tình trạng chiến tranh với Nhật. Ngay lúc ấy ở Viễn Đông tuyên bố có chiến tranh" (X.M. Stê-men-cô. Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Sđd, tr. 375-376, 405). Đúng 0 giờ 10 phút theo giờ địa phương, ngày 9 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô bắt đầu vượt biên giới tiến công đạo quân Quan Đông của Nhật Bản. Vì vậy, trong thời gian diễn ra Hội nghị Pốt-xđam thì Liên Xô và Nhật Bản vẫn còn trung lập với nhau. Nên hai nước không giao chiến và cũng chưa tuyên chiến với nhau thì không thể có việc nước này đòi nước kia phải đầu hàng không điều kiện.

        Mặt khác, Liên Xô không thể tham gia ký Tuyên bố chung ngay từ đầu vì muốn giành yếu tố bất ngờ khi bắt đầu chiến tranh với Nhật Bản. Mặc dù từ lâu, Nhật Bản vẫn tin chắc rằng chiến tranh với Liên Xô là không thể tránh khỏi, việc giành cho được bất ngờ chiến lược đối với Liên Xô là cực kỳ khó khăn, nhưng Liên Xô tin rằng nếu chuẩn bị chu đáo thì vẫn có thể thực hiện được. Yếu tố bất ngờ lúc bắt đầu chiến tranh phụ thuộc trước hết vào việc giữ bí mật về tình hình chuẩn bị chiến tranh của Nhà nước Xô-viết. Liên Xô chỉ có thể ký vào bản Tuyên bố này ngay trước khi bắt đầu chiến tranh với Nhật. Đại tướng X.M. Stê-men-cô, một cán bộ của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Liên Xô cũng đã viết trong hồi ký của mình rằng: Mỹ, Anh và Quốc dân đảng Trung Quốc "ký kết ở Pốt-xđam bản Tuyên bố chung theo hình thức tối hậu thư, yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Ý nghĩa cơ bản của văn kiện ấy phù hợp với lợi ích của Liên Xô, nên trước khi bắt đầu chiến tranh với Nhật, Chính phủ chúng ta cũng tham gia vào bản Tuyên bố với tư cách là thành viên thứ tư" (X.M. Stê-men-cô, Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Sđd, tr. 401. 388, 414, 415). Việc Liên Xô không tham gia ký Tuyên bố chung của Hội nghị Pốt-xđam ngay từ đầu đã làm cho Nhật Bản hoàn toàn bị bất ngờ về thời điểm bắt đầu của cuộc chiến tranh. Bộ chỉ huy quân Nhật cho rằng Liên Xô thế nào cũng phải bắt đầu tiến công chậm lại, khi thời tiết đã sang hẳn mùa khô. Nhật Bản “phán đoán là đến giữa tháng 9" (X.M. Stê-men-cô, Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Sđd, tr. 401. 388, 414, 415). Liên Xô mới có thể tiến công được. "Tướng U-e-mua, Tư lệnh Tập đoàn quân số 4 của Nhật, bị bắt làm tù binh, khai rằng: việc thiết bị những tuyến phòng ngự phải tới tháng 10 năm 1945 mới có thể làm xong. Và tướng Xi-mít-du - nguyên Tư lệnh Tập đoàn quân số 5, cũng cho rằng việc xây dựng những trận địa phòng ngự của chúng, tức Liên Xô, còn đang dở dang" (X.M. Stê-men-cô, Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Sđd, tr. 401. 388, 414, 415). Bộ Tham mưu đạo quân Quan Đông cũng đã biết rằng: "từ tháng 3-1945, quân số của Liên Xô trên các biên khu giáp Mãn Châu vẫn thường xuyên được tăng lên; nhưng Liên Xô sẽ tuyên chiến vào thời gian cụ thể nào thì chưa biết" (X.M. Stê-men-cô, Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Sđd, tr. 401. 388, 414, 415). Tướng Tô-mô-ca-xu - nguyên Phó Tham mưu trưởng đạo quân Quan Đông của Nhật Bản thừa nhận rằng: "việc Liên Xô tuyên bố chiến tranh với Bộ tư lệnh đạo quân Quan Đông ngày 8-8 thực sự là hoàn toàn bất ngờ đói với chúng tôi" (X.M. Stê-men-cô, Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh, Sđd, tr. 401. 388, 414, 415).

        Việc Liên Xô có phải là một trong ba nước tham gia ký kết bản Tuyên bố chung của Hội nghị Pốt-xđam đòi Nhật Bản đầu hàng không điều kiện, ngay từ đầu hay không, hoàn toàn không quan trọng. Nhưng đây là sự kiện lịch sử, vì vậy nó phải được nhận thức một cách khách quan đúng như nó đã từng xảy ra. Dù chỉ là thành viên thứ tư ký vào bản Tuyên bố chung, nhưng Liên Xô vẫn là nước tiêu diệt đạo quân Quan Đông, có vai trò vô cùng to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn phát xít Nhật Bản, nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nhân loại đời đời ghi nhớ công ơn của Đảng Cộng sản, Nhà nước, nhân dân và Quân đội Liên Xô đã cứu nhân loại khỏi thảm họa phát xít, cả ở phương Tây lẫn phương Đông.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:58:42 pm
           
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939-1945) - NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU1

PHAN NGỌC LIÊN và TRẦN THỊ VINH        

        Cho đến nay, khi nói về những sự kiện lớn, các cuộc xung đột vũ trang trong thế kỷ XX, sách báo các nước đều nhắc đến cuộc Chiến tranh thế giới (CTTG) thứ hai (1939-1945) (X.S.M Ha-ri-xơn (Harrison), Xung đột quốc tế trong thế kỷ XX (World Conflict in the twentieth century), Mac Millan education. 1987). Đây là một sự kiện lớn không phải vì quy mô (76 nước tuyên bố tình trạng chiến tranh, so với 36 nước trong CTTG thứ nhất), về số người bị động viên vào quân đội (110 triệu so với CTTG thứ nhất là 74 triệu), về tổn thất người và của (60 triệu người chết và 4.000 tỉ đô-la so với 13,6 triệu và 388 tỉ đô la trong CTTG thứ nhất), mà là những hệ quả của nó. Đó là chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước trở thành một hệ thống thế giới; việc tổ chức lại trật tự mới của thế giới, sự xuất hiện cuộc chiến tranh lạnh, hai khối quân sự đối đầu, cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối, sự kết thúc chiến tranh lạnh và sự hình thành trật tự thế giới mới với xu hướng "đa cực".

        Vì ảnh hưởng sâu rộng đến thế giới trong và sau chiến tranh mà hơn 60 năm qua, từ khi CTTG thứ hai nổ ra đến nay, các nhà sử học, quân sự, chính trị, hoạt động xã hội... đã bỏ nhiều công sức để tìm hiểu sự kiện to lớn này. Dĩ nhiên, nhiều quan điểm khác nhau đã ra đời và gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi, gay gắt.

        Khối lượng tài liệu gốc ngày càng được công bố nhiều hơn, đầy đủ chính xác hơn. Ở Liên Xô trước đây, đã có bộ “Tài liệu và Văn kiện chiến tranh thế giới thứ hai" (2 tập, Mát-xcơ-va, 1948, tiếng Nga). Ở Mỹ đã xuất bản bộ "Quan hệ đối ngoại của Mỹ" (nhiều tập, tiếng Anh, 1959-1961). Ngoài ra, còn có những tập tài liệu về các chuyên đề như "Thư, điện trao đổi giữa Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Mỹ, Thủ tưởng Anh trong chiến tranh giữ nước vĩ đại 1941-1945" (2 tập Mát-xcơ-va, 1957, tiếng Nga) và tập “Âm mưu và sự xâm lược của Quốc xã" (Oa-sinh-tơn, 1947). Nhiều nhất là các công trình nghiên cứu về cuộc CTTG thứ hai, trên các lĩnh vực khác nhau.

        Ở Liên Xô trước đây, việc nghiên cứu CTTG thứ hai gắn với cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô-viết. Cuộc chiến tranh xâm lược Liên Xô của phát xít Hít-le bắt đầu từ 3 giờ 30 phút ngày 22 tháng 6 năm 1941. Nó đã được chuẩn bị từ lâu, nhằm tiêu diệt chủ nghĩa xã hội và biến đất nước mênh mông, giàu tài nguyên này thành nơi cung cấp mọi nhu cầu của chiến tranh. Cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân Xô-viết không chỉ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của mình mà còn góp phần to lớn, có tính quyết định đối với chiến thắng chủ nghĩa phát xít. Tiêu biểu cho loại công trình này của các nhà sử học Xô-viết là các tác phẩm: “Lịch sử của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô 1941-1945" (4 tập, Mất-xcơ-va, 1960-1962, tiếng Nga), "Chiến tranh thế giới thứ hai", do X.P Pla-tô-nốp chủ biên (Mát-xcơ-va, 1958, tiếng Nga). Số công trình nghiên cứu về cuộc CTTG thứ hai của giới sử học phương Tây cũng khá nhiều, tiêu biểu là bộ "Chiến tranh thế giới thứ hai" (The Second World War), gồm 6 tập của nguyên Thủ tướng Anh Sớc-sin (Churchill) được xuất bản từ 1948-1954; quyển "Sớc-sin, Ru-dơ-ven, Sta-lin" (Churchill, Roosevelt, Stalin) của H. Fây (H. Feis, New York, 1957), "1939-1945 Chiến tranh thế giới thứ hai - Biên niên sử và tư liệu” của Han-xơ A-đô-phô Gia-cốp-ben ("1939-1945, Der Tweite Walthrieg in Chronik und Dokumenten”, Hans Adolf Jacoben) và "Chiến tranh thế giới thứ hai" (The Second World War) của A.J.p Tay-lo (Taylor). Hai quyển sau này được dịch và xuất bản ở Nga, dưới nhan đề: "Chiến tranh thế giới thứ hai: hai quan điểm" (Mát-xcơ-va, 1995, tiếng Nga).

        Do quan điểm, phương pháp luận khác nhau, trái ngược nhau, nên kết quả nghiên cứu cũng không giống nhau trên nhiều lĩnh vực của cuộc CTTG thứ hai. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi giới thiệu một số vấn đề chủ yếu nhất.

        Trước hết là những vấn đề về nguồn gốc CTTG thứ hai. Các nhà sử học Xô-viết trước đây xuất phát từ quan điểm của V I Lê-nin về "Chủ nghĩa đế quắc còn tồn tại, chiến tranh còn nổ ra". Quan điểm này được Lê-nin trình bày trong một số tác phẩm nổi tiếng: "Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản", "Chủ nghĩa xã hội và chiến tranh", “Chiến tranh và cách mạng", "Chiến tranh và Đảng Xã hội Dân chủ Nga", "Về khẩu hiệu Hợp chủng quốc châu Âu”... Việc vận dụng quan điểm mácxít-lêninnít đã giúp cho những nhà sử học Xô-viết góp phần làm sáng tỏ rằng, chủ nghĩa đế quốc là thủ phạm của việc khởi xướng và tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt này. Quan điểm về chiến tranh nhân dân, về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử đã thể hiện khá đầy đủ về cuộc chiến đấu anh bùng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những lực lượng dân chủ tiến bộ để chiến thắng chủ nghĩa phát xít ở xiên Xô và tất cả các nước khác. Tuy nhiên, việc sùng bái cá nhân Sta-lin cũng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu cuộc CTTG thứ hai của các nhà khoa học Xô-viết. Ví như, quá đề cao vai trò của Tổng tư lệnh, Đại nguyên soái Sta-lin, có khi vượt qua trí tuệ của tập thể lãnh đạo Đảng, tinh thần và sức mạnh chiến đấu của quân, dân Liên Xô. Trong một số công trình, có những lời biện minh không đủ căn cứ tài liệu và sức thuyết phục đối với sự thất bại, rút lui của Hồng quân trước những cuộc tấn công bất ngờ, mạnh mẽ của phát xít Đức. Một số người chịu ảnh hưởng luận điểm của Sta-lin về sự tồn tại của các dân tộc xâm lược" và “các dân tộc yêu chuộng hoà bình" để thổi phồng "nguy cơ một cuộc chiến tranh mới", coi thường cuộc đấu tranh cho hoà bình của nhân dân các nước đế quốc tạo “bức màn sắt" giữa các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản.

----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 4-2000)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2016, 11:59:03 pm

        Ở phương Tây, bên cạnh việc công bố các tài liệu gốc có lợi cho Anh, Mỹ trong việc xuyên tạc các hội nghị Tê-hê-ran, I-an-ta, Pốt-xđam, nhiều công trình nghiên cứu đã bóp méo lịch sử. Không ít sách quy nguyên nhân của CTTG thứ hai là do "sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội ở Nga" đe dọa hoà bình và an ninh thế giới. Họ tìm cách hạ thấp vai trò của Liên Xô trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít Đức, khuếch đại ảnh hưởng, vai trò thắng lợi của Mặt trận thứ hai. Một số tác giả lại khẳng định rằng chiến thắng của Liên Xô là do được Đồng minh phương Tây giúp đỡ và sau khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại lại mong dựng lên "chế độ độc tài cộng sản" trên thế giới.

        Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu phương Tây cũng đã nêu ra nguồn gốc và diễn biến của CTTG thứ hai một cách khá khách quan. Han-xơ A-đôn-phơ Gia-cốp-ben trong quyển "1939-1945: Chiến tranh thế giới thứ hai - Biên niên sử và tư liệu”, ở phần "Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra như thế nào", đã cho rằng hoạt động mở màn cho chiến tranh là việc thực hiện âm mưu của chủ nghĩa phát xít muốn thống trị thế giới. Theo tác giả: "Ngày 31 tháng 8 năm 1939, khi Hít-le ban bố lệnh cuối cùng về cuộc tấn công thì đúng 4 giờ 45 phút sáng ngày 1 tháng 9, các sư đoàn Đức tấn công ngay Ba Lan. Song đây là sự bắt đầu trong thực tế âm mưu đã được thực hiện của Hít-le trong việc chiếm đóng Pra-ha trước đó. Đây thực sự là khởi đầu của bước ngoặt quyết định dẫn tới chiến tranh... Lúc bấy giờ, Hít-le đã nhìn đến Ba Lan" (tr.10). Cho nên "khi Hít-le có ý thức gây ra cuộc chiến tranh chống Ba Lan thì cũng chính thức gây ra cuộc CTTG thứ hai" (tr.11).

        H.A Gia-cốp-ben, ở phần thứ II, khi trình bày "Những hồ sơ tư liệu, về “Con đường dẫn đến chiến tranh, 1933-1939", "Chính sách và việc tiến hành chiến tranh 1939-1942", "Chính sách và tiến hành chiến tranh 1943-1945", "Bất chấp truyền thống" và "Tục lệ Đức trong thời chiến", đã nêu rõ ý đồ gây chiến tranh xâm lược thống trị của bọn cầm đầu nước Đức phát xít.

        Kế hoạch và tiến trình chiến tranh xâm lược do Hít-le vạch ra, chứng tỏ rằng "việc tấn công Liên Xô đã được định ra từ trước" (tr.34) (Những con số trong vòng ngoặc đơn chỉ số trang mà chúng tôi trích dẫn theo quyển "Chiến tranh thế giới thứ hai. Hai quan điểm", Nxb Mư- xli, Mát-xcơ-va, 1995). Theo H.A. Gia-cốp-ben, "...việc Đức tấn công Liên Xô năm 1941 không phải là cuộc chiến tranh phòng ngừa. Quyết định của Hít-le tiến hành cuộc tấn công này không phải là nỗi lo sợ một cuộc tấn công sấm sét từ phía Liên Xô vào Đức, mà là sự kế tục của đường lối xâm lược đã bắt đầu từ năm 1939 và ngày càng bộc lộ công khai" (tr.34). Một trong những nguyên nhân thất bại chủ yếu của phát xít Đức ở Liên Xô là "không đánh giá đúng điều kiện, hoàn cảnh nước Nga, đặc biệt không đánh giá được sức người, sức của và dự trữ của Liên Xô" (tr.36).

        A.J.P Tay-lo, trong quyển "Chiến tranh thế giới hai" nêu rõ: do đã suy ngẫm trong 30 năm nên ông có đủ thời giờ để trình bày quan điểm của mình về cuộc CTTG (tr.375). Tác giả xác định rằng: "khi viết quyển sách này, tôi không đứng về phía một nước tham chiến, hay một liên minh nào, mặc dù tôi nghĩ rằng đất nước tôi đã chiến đấu vì sự nghiệp chính nghĩa. Vì vậy, khi nêu ý kiến của mình về các vấn đề đang tranh cãi tôi đã cố hiểu kỹ tất cả nguồn thông tin có được" (tr.378).

        Tác giả cho rằng "người ta đã nhìn thấy trước CTTG nổ ra, nhưng trong quá trình diễn biến nó đã thay đổi tính chất và vai trò quyết định của những thành viên tham gia chiến tranh... Bản chất của cuộc CTTG thứ nhất được xác định là cuộc xung đột giữa các quốc gia của hai liên minh, hai khối Anh - Pháp - Nga và áo - Hung - Đức. Cuộc chiến tranh diễn ra giữa các nước cùng một chế độ xã hội" (tr.379). CTTG thứ hai phức tạp hơn về nguyên nhân bùng nổ, về lực lượng tham gia, về tiến trình, về hậu quả. Theo tác giả, chiến tranh nổ ra là một cuộc "đấu tranh về kinh tế" của Mỹ, Anh chống lại "Hít-le muốn xác lập sự thống trị của mình ở châu Âu”. Đây lại là một cuộc "đấu tranh giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, đối địch nhau; có lúc phải liên minh với nhau” (tr.382-386). Từ nhận thức như vậy, A.J.P Tay-lo đã nêu những điều không thống nhất, mâu thuẫn, ngay trong nội bộ lỗi phe. Mút-xô-li-ni thường hoạt động riêng rẽ, muốn độc quyền làm chủ vùng Địa Trung Hải. Đức và Nhật thường không hành động phối hợp với nhau được. Giữa Mỹ và Anh tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế, quân sự, nhưng có lúc sự hợp tác cũng là hình thức. Liên minh giữa Liên Xô với Anh và Mỹ chỉ về danh nghĩa. "Các nhà lãnh đạo Xô-viết nhiều lần đề nghị (các nước Đồng minh) cùng nhau tấn công kẻ thù, nhưng lời kêu gọi của họ chưa lần nào được chấp nhận. Các chính khách phương Tây cho rằng, Nga muốn gây nên sự rối loạn ở châu Âu, còn các nhà chính trì Xô-viết lại tố cáo các cường quốc phương Tây đẩy mình vào cuộc chiến còn họ thì đứng ngoài... Song phương Tây không đánh giá đúng khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang nước Nga Xô-viết..." (tr.385).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:26:22 pm

        Về kết thúc chiến tranh, nổi lên vấn đề về vai trò của Mỹ và Liên Xô trong việc buộc Nhật Bản đầu hàng không điều kiện.

        Các nhà nghiên cứu tư sản, chủ yếu là Mỹ, đã khẳng định việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki là đòn quyết định thủ tiêu chế độ quân phiệt Nhật, kết thúc CTTG thứ hai, đã được bắt đầu bằng việc phát xít Hít-le đầu hàng không điều kiện (9-5-1945). Các nhà sử học Xô-viết và các nhà sử học tiến bộ đã chứng minh việc Mỹ ném bom là để "răn đe" Liên Xô và phong trào cách mạng thế giới; Mỹ đã phạm tội ác lớn. Một số nhà nghiên cứu phương Tây cũng đã nêu rõ sự thực về việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống đất Nhật.

        A.J.P Tay-lo đã nêu rõ sức mạnh của Liên Xô khi tấn công tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức. "Sta-lin đã không mất thì giờ”, khi quân Anh, Mỹ đổ bộ lên đất Pháp. "Cuộc tấn công theo kế hoạch sẽ tiến hành vào ngày 20 tháng 1 năm 1945, nhưng được bắt đầu từ ngày 12 tháng 1. Lúc bấy giờ Nga phải đối đầu với 170 sư đoàn của kẻ thù, so với 70 sư đoàn (của Đức) ở mặt trận phía Tây, trong số này có 30 sư đoàn rải ra dọc duyên hải Ban-tích... Người Nga có quân số đông hơn (quân Đức) 5,5 lần, vũ khí gấp 7,8 lần, xe tăng hơn 5,7 lân, máy bay gấp 17,6 lần" (tr.536).

        Trước sức mạnh từ hai phía Liên Xô và quân Đồng minh Anh - Mỹ, nhất là cuộc công phá Béc-lin của Hồng quân, sau khi giải phóng các nước Trung, Đông Âu, quân Đức phải đầu hàng. Các nước phương Tây xem ngày 8 tháng 5 là ngày chiến thắng phát xít, họ gọi đó là "ngày chiến thắng châu Âu”; còn đối với Liên Xô (nay là Nga) "ngày chiến thắng là ngày 9 tháng 5". Thực ra, "ngày các đơn vị Đức đầu hàng ở châu Âu không giống nhau. Ở Na-uy, số quân Đức lên tới 350.000 người, nhưng chưa bao giờ tham chiến, đã đầu hàng ngày 8 tháng 5. 20.000 quân Đức ở vùng Noóc-măng-đi (Normandie) đầu hàng vào ngày 9 tháng 5. Cuộc chiến tranh còn kéo dài đến ngày 11 tháng 5 và ngày 12 tháng 5 quân đội Xô-viết mới vào Pra-ha" (tr.541).

        Sau khi Đức đầu hàng, quân phiệt Nhật chỉ có thể tồn tại một thời gian ngắn, và khi đội quân Quan Đông bị Hồng quân Liên Xô đánh tan thì giờ đầu hàng đã điểm. Mỹ đã "muốn Nhật đầu hàng không có thương lượng" nên quyết định đánh "đòn phủ đầu”. Mỹ đã "chuẩn bị 3 quả bom nguyên tử. Một quả được thử ngày 16 tháng 7 ở A-la-mô-gô-đô thuộc bang Niu Mê-hi-cô. Quả bom thứ hai ném xuống Hi-rô-si-ma ngày 6 tháng 8, trong nháy mắt giết 71.000 người, làm nhiều ngàn người bị thương. Khi được tin bom nguyên tử đã ném xuống Hi-rô-si-ma, Tổng thống Mỹ Tơ-ru-man (Truman) vui mừng nói "Đây là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử!". Quả bom thứ ba ném xuống Na-ga-sa-ki ngày 9 tháng 8; 80.000 người đã chết.

        Cùng với việc Hồng quân đánh tan đội quân Quan Đông, việc Mỹ ném bom nguyên tử đã buộc Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô quyết định "phải đầu hàng ngay, không được chậm trễ". Ngày 14 tháng 8, Nhật quyết định đầu hàng không điều kiện; trên thực tế vẫn có một điều kiện - giữ lại Thiên hoàng. Sáng sớm ngày 15 tháng 8, lời tuyên bố đầu hàng của Nhật hoàng Hi-rô-hi-tô truyền đi trên đài phát thanh” (tr.548).

        Chủ nghĩa phát xít hoàn toàn bị đánh bại. Nhân loại ra khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc do bọn đế quốc hiếu chiến gây ra.

        Ngày 21 tháng 11 năm 1941, trên báo "Việt Nam độc lập", số 113, Hồ Chí Minh đã viết bài "Thế giới đại chiến và phận sự dân ta", Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân nắm lấy thời cơ chuẩn bị lực lượng đấu tranh giải phóng. Người đã đoán định: "Lịch sử loài người từ trước đến nay đã qua mấy cuộc chiến tranh, mấy cuộc cách mạng cho tới cuộc cách mạng này. Người đoán độ 4-5 năm nữa, ở ta chiến tranh sẽ tới bước quyết định và lúc ấy là cơ hội rất tốt cho cách mạng ta" (Võ Nguyên Giáp - Hồ Chủ tịch, người cha của quân đội cách mạng Việt Nam, trong quyển “Bác Hồ", Nxb Văn học, Hà Nội, 1960, tr.187). Lời dự đoán của Hồ Chí Minh đã được lịch sử xác nhận.

        Trong CTTG thứ hai, Đảng ta đã xác định tính chất chiến tranh, hiểu rõ bản chất của các nước tham chiến, đứng về phía Đồng minh, hướng về cuộc chiến đấu của quân dân Liên Xô đã kết hợp cuộc đấu tranh yêu nước, giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh chống phát xít, góp phần đáng kể vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:28:14 pm

VỀ CHỦ TRƯƠNG THÀNH LẬP ĐỘI QUÂN VIỄN CHINH PHÁP Ở VIỄN ĐÔNG1


LÊ KIM       

        Nhiều năm nay, trong khi đề cập đến đội quân viễn chinh của Pháp ở Viễn Đông, có nhiều bài báo thậm chí một số cuốn sách đã nhận định lực lượng này được thành lập từ năm 1945, sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã kết thúc, nhằm chiếm lại Việt Nam và toàn bộ thuộc địa cũ của Pháp ở Đông Dương. Có tác giả viết: "Nghe tin Việt Minh đã giành được chính quyền tại Hà Nội, Chính phủ Pháp vội vã thành lập một đạo quân viễn chinh, giao cho tướng Lơ-cléc chỉ huy...".

        Sự thật hoàn toàn không đúng như vậy.

        Theo những tài liệu hiện đang lưu trữ tại Pháp thì chủ trương thành lập đội quân này đã có từ trước năm 1945, trước khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, và nhiệm vụ của đạo quân này cũng không chỉ dừng lại trong việc "tái chiếm Đông Dương" mà còn lớn hơn nhiều. Đồng thời tướng Lơ-cléc cũng không phải là người đầu tiên được chỉ định làm tư lệnh đạo quân này.

        Năm 1992, nhà xuất bản Đờ-nô-en ở Pháp đã cho ra mắt bạn đọc cuốn "Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương" do tướng I-vơ Gra biên soạn (Genéral Yves Gras - Histoire delagurre d'Indochine, Nxb Denoel. Paris. 1992) dày tới 610 trang, khổ 21 x 30 cm. Trong cuốn sách này, quá trình thành lập đội quân viễn chinh Pháp ở Viên Đông được đề cập với nhiều chi tiết cụ thể, trích dẫn từ các văn bản tài liệu chính thức của Pháp.

        Như nhiều người đã biết, sau khi Quốc trưởng Pê-tanh đầu hàng Hít-le thì tướng Đờ Gôn lập tức bay sang Luân Đôn (Anh) thành lập lực lượng kháng chiến Pháp bên cạnh Đồng minh. Năm 1942, lực lượng này đã tham gia chiến đấu bên cạnh liên quân Mỹ, Anh, Canada tại châu Phi.

        Ở Viễn Đông, Nhật Bản đưa quân vào Đông Dương từ tháng 9 năm 1940, đến tháng 12 năm 1941 thì phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, chiếm một loạt thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan. Năm 1943, quân Đồng minh bắt đầu phản công. Chính trong thời điểm này tướng Đờ Gôn chủ trương thành lập một đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, gọi tắt là CEFEO (Corps expéditonnaire Francais en Extrême Orient), có nhiệm vụ tham gia chiến đấu bên cạnh Đồng minh tương tự như lực lượng kháng chiến Pháp đang chiến đấu ở châu Phi. Như vậy, chủ trương thành lập đội quân này đã có từ trước khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, trước cả khi Nhật Bản tiến hành đảo chính Pháp ở Đông Dương (9-3-1945), và tất nhiên là trước khi Cách mạng Tháng Tám 1945 bùng nổ.

        Tuy nhiên, do thiếu quân nên suốt năm 1943 và gần hết năm 1944 đội quân này vẫn chưa tổ chức được. Cuối năm 1944, nước Pháp được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của phát xít Đức nhưng các lực lượng vũ trang kháng chiến của Pháp vẫn tiếp tục chiến đấu bên cạnh Đồng minh trên lãnh thổ nước Đức Cho đến khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu, tướng Đờ Gôn lúc này đã là Chủ tịch Chính phủ lâm thời của Pháp mới có thể rút ra một số quân để đưa sang Viễn Đông. Ngày 4 tháng 6 năm 1945, Chính phủ lâm thời của Pháp chính thức quyết định thành lập đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Hai sư đoàn bộ binh thuộc địa ở châu Phi được chỉ định biệt phái sang Viễn Đông. Nhưng đến ngày 15 tháng 6 năm 1945, Chính phủ Pháp lại quyết định chỉ đưa sang Viễn Đông những đơn vị ở châu Âu đã được tôi luyện trong chiến tranh chống phát xít Đức. Đó là Sư đoàn bộ binh thuộc địa số  (9e DIC) đang đóng trên đất Đức, do Thiếu tướng Va-luy chỉ huy và một đoàn xe bọc thép thuộc Sư đoàn xe bọc thép số  (đã đi đầu khi tiến vào Pa-ri hồi tháng 8 năm 1944) do Trung tá Massu chỉ huy. Còn các sư đoàn bộ binh thuộc địa số 1 và 2 đóng ở châu Phi mà trước kia dự định đưa sang Viễn Đông thì nay được lệnh loại bỏ các binh sĩ da đen, chỉ giữ lại những binh sĩ da trắng, biên chế lại thành một sư đoàn, gọi là Sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 do Thiếu tướng Ny-ô chỉ huy.

        So với số quân tham gia kháng chiến chống Đức (1 tập đoàn quân) thì cái gọi là "đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông" chỉ vẻn vẹn có 2 sư đoàn bộ binh và một binh đoàn xe bọc thép. Từ năm 1943, tướng Đờ Gôn đã chỉ định Thiếu tướng Blaizot chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Nhưng đến tháng 6 năm 1945, Chính phủ Pháp lại thay đổi quyết định, cử tướng Lơ-cléc làm Tư lệnh CEFEO. Lơ-cléc chính là người đã chỉ huy Sư đoàn xe bọc thép số 2 tiến vào Pa-ri hồi tháng 8 năm 1944.

---------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 3-1993)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:28:36 pm

        Sau khi đã ổn định tổ chức, biên chế, Chính phủ Pháp liền báo tin đặt đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông dưới sự chỉ huy của tướng Mỹ Mac Arthur - Tư lệnh lực lượng Đồng minh ở Viễn Đông để cùng tham gia chiến đấu chống Nhật Bản. Theo nhận định của tướng I-vơ Gia thì, sau khi nhận được thông báo này "Chính phủ Mỹ chấp nhận trên nguyên tắc" nhưng không cung cấp cho Pháp các phương tiện để chở quân. Tướng Đờ Gôn nhận thức rõ Pháp đang bị bạn đồng minh Mỹ bỏ rơi vì tại một loạt cuộc hội nghị, ở Cai-rô, Tê-hê-ran rồi Pốt-xdam đều không có đại diện của Pháp. Vì vậy, ông càng xúc tiến việc cử đội quân viễn chinh đi tác chiến ở Viễn Đông, vì chỉ có góp xương máu vào việc đánh Nhật Bản mới có thể được chia phần sau khi chiến tranh kết thúc. Do Mỹ quá chậm trễ trong việc cung cấp phương tiện chở quân, tướng Đờ Gôn phải vật nài Anh là nước tạo điều kiện cho ông thành lập lực lượng kháng chiến chống Đức. Lời đề nghị của Pháp được Anh chấp nhận. Đô đốc Mounbatten - Tư lệnh lực lượng Anh ở Viễn Đông đồng ý tiếp nhận lực lượng CEFEO của Pháp. Một kế hoạch phối hợp tác chiến được vạch ra: lực lượng CEFEO của Pháp sẽ tập kết ở Ấn Độ. Sau khi Anh chiếm lại Sinh-ga-po, lực lượng này sẽ được "ưu tiên" đổ bộ lên bán đảo Đông Dương. Lúc này, các nhà chiến lược Mỹ, Anh đều dự đoán đến năm 1946 chiến tranh mới kết thúc.

        Khó khăn chủ yếu của Pháp vẫn là phương tiện chở quân. Toàn bộ tàu buôn của Pháp (chạy thoát khỏi tay Đức) đều đã đặt dưới sự điều động của Đồng minh và còn đang sử dụng để vận chuyển quân đội của Mỹ, Anh, Canada, Hà Lan trên chiến trường Thái Bình Dương rộng lớn. Cho mãi tới ngày 16 tháng 8 năm 1945, sau khi Nhật Hoàng chính thức tuyên bố xin hàng, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, và sau khi Chính phủ Pháp đã liên tục đề nghị, lúc này Mỹ mới đồng ý trao lại cho Pháp một số tàu biển. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, Hội đồng Chính phủ Pháp lập tức họp bàn và quyết định, căn cứ vào số phương tiện vận chuyển ít ỏi hiện đang nắm được trong tay, sẽ đưa dần lực lượng viễn chinh pháp sang Viễn Đông làm ba đợt, trong tháng 9, tháng 10 và tháng 11 năm 1945. Mục tiêu lúc này không còn chiến đấu chống Nhật nữa mà là khôi phục chủ quyền của Pháp trên bán đảo Đông Dương. Cũng trong ngày 17 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Pháp quyết định cử tướng Đắc-giăng-li-ơ làm Thượng sứ Pháp ở Đông Dương. Thiếu tướng Lơ-cléc vẫn giữ chức Tư lệnh lực lượng CEFEO.

        Vẫn theo I-vơ Gra, ngày 18 tháng 8 năm 1945, tướng Lơ-cléc lập tức đáp máy bay lên đường làm nhiệm vụ, trong khi các tàu biển đang từ các nơi kéo về tập trung tại bến cảng Tu-lông để chuẩn bị chở quân. I-vơ Gra viết: "Khi máy bay cất cánh, tướng Lơ-cléc vẫn chưa biết tình hình gì đã xảy ra tại Đông Dương cho nên ông dự định bay thẳng đi Sài Gòn. Khi máy bay đáp xuống Ca-ra-si để tiếp nhiên liệu, lúc đó Lơ-cléc mới nhận được điện của Đô đốc Mounbatten mời tới Cô-lôm-bô, thủ phủ Xây-lan (là Srilanca) là nơi đặt tổng hành dinh của Anh để "phổ biến tình hình". Ngày 22 tháng 8 năm 1945, Lơ-cléc tới Cô-lôm-bô mới biết, Đồng minh đã quyết định tạm chia Đông Dương thành hai khu vực với đường ranh giới là Vĩ tuyến 16. Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) tiếp quản khu vực phía Bắc vĩ tuyến, Anh tiếp quản khu vực phía Nam để tước vũ khí quân đội Nhật Bản. Quyết định của Đồng minh không nói gì đến vai trò và nhiệm vụ của quân Pháp ở Đông Dương cả.

        Để vận chuyển 70.000 quân và trang bị của đội quân viễn chinh từ Pháp tới Đông Dương với quãng đường dài 14.000 hải lý, Pháp cần 145 tàu biển nhưng trong số đó chỉ có 12 tàu được mang cờ Pháp, số còn lại vẫn mang cờ Đồng minh vì "chưa làm xong các thủ tục để chính thức trao lại cho Pháp" (!) Vì vậy cuộc chuyển quân tiến hành rất chậm và kéo dài. Suốt tháng 8 năm 1945, tướng Lơ-cléc nằm chờ "đại quân" mà chưa thấy tới. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Lơ-Cléc nhận được chỉ thị của Chính phủ Pháp trao cho nhiệm vụ đặc biệt: thay mặt nước Pháp tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản trên tàu chiến Mít-su-ri ở Vịnh Tô-ki-ô. Dự lễ xong, Lơ-cléc quay trở về Ấn Độ khẩn khoản đề nghị bạn đồng minh Anh cho phép được "cùng đưa quân vào Sài Gòn, dù chỉ là một số đơn vị tượng trưng". Đô đốc Mounbatten đồng ý cho Pháp được đưa một đại đội bộ binh đi cùng với quân Anh vào Sài Gòn, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung tướng Anh Đu-glát Grê-xi. Đại đội này rút từ Trung đoàn bộ binh thuộc địa số  (5e RIC) đang túc trực ở Ấn Độ. Ngày 5 tháng 9, đại đội này cùng đi với đội tiền trạm của Anh tiến vào Sài Gòn.

        Mấy ngày sau, 1.500 quân thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 1 (11e RIC) nằm trong số quân của Pháp bị Nhật Bản tước vũ khí và bắt giam sau vụ đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 được các thế lực phản động của Anh bí mật tiếp tế vũ khí, gây nhiều vụ khiêu khích tại Sài Gòn, chiếm đóng các công sở của ủy ban nhân dân. Các lực lượng tự vệ của ta lập tức chống lại. Ngày 21 tháng 9 năm 1945, Tư lệnh quân Anh là Grê-xi tuyên bố lệnh thiết quân luật ở Sài Gòn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chiến tranh bùng nổ.

        Mãi tới ngày 5 tháng 10 năm 1945, tức hơn một tháng sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, tướng Lơ-cléc - Tư lệnh CEFEO mới đáp máy bay tới Tân Sơn Nhất giữa lúc cuộc kháng chiến đang bùng nổ tại Nam Bộ. Cuối tháng 11 năm 1945, toàn bộ trung đoàn bộ binh thuộc địa số  (5e RIC) và sư đoàn bộ binh thuộc địa số  (9e DIC) mới tới Nam Bộ. Cuộc kháng chiến anh dũng của quân và dân ta ở miền Nam buộc tướng Lơ-cléc phải suy nghĩ. Ông báo cáo về Pháp, đề nghị: vừa điều đình với Trung Quốc (Quốc dân đảng) vừa điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh để đưa quân đội Pháp vào miền Bắc, thay quân đội Tưởng Giới Thạch. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định Sơ bộ được ký. Sư đoàn bộ binh thuộc địa số  (9e DIC) được rút từ miền Nam đưa ra miền Bắc...

        Giai đoạn đầu của đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn đông là như vậy. Cuốn “Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương" của I-vơ Gra cung cấp cho ta một số tư liệu bổ ích, mặc dù trong cuốn sử này còn có một số quan điểm cần tranh luận. Chúng ta ghi nhận chủ trương của Đờ Gôn sớm thành lập đội quân viễn chinh để chiến đấu chống phát-xít Nhật Bản, nhưng không thể nào đồng ý với việc Pháp sử dụng đạo quân này để chiếm lại Đông Dương, mặc dù Đờ Gôn ngày 24 tháng 3 năm 1945 đã tuyên bố sẽ "cho 5 xứ trong Liên bang Đông Dương được "tự trị".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:30:07 pm
           
QUỐC KỲ VIỆT NAM: CỜ ĐỎ SAO VÀNG NĂM CÁNH1


TRẦN QUANG VỸ        

        Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, biểu tượng của nước Việt Nam trên chính trường quốc tế, là niềm tự hào của nhân dân ta, vì chính nhân dân ta đã phất cao lá cờ này trong những năm tháng hào hùng đấu tranh gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh để giành Độc lập - Tự do - Thống nhất cho dân tộc trước đây và phấn đấu để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ngày nay.

        Để tìm hiểu thêm về nguồn gốc và làm rõ thêm vài chi tiết trên Quốc kỳ, chúng tôi xin cung cấp với độc giả một đôi điều vừa mới được sưu tầm.

        I. Về nguồn gốc của lá cờ đỏ sao vàng

        Trong công trình nghiên cứu Lịch sử cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (năm 1940), công trình khoa học cấp Nhà nước đã dược nghiệm thu, đánh giá xuất sắc, Hội đồng chỉ đạo và chủ nhiệm công trình gồm phần lớn là các đồng chí đã tham gia cuộc khởi nghĩa này và các thời kỳ cách mạng nối tiếp, hiểu biết tình hình mọi mặt (trong đó có 9 đồng chí nguyên là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2 đồng chí là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam) đã khẳng định "cờ đỏ sao vàng năm cánh, lần đầu tiên được dùng trong cuộc khởi nghĩa, đã được giương cao trong cùng thời gian ở nhiều nơi nổi dậy thuộc 18 tỉnh như Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Thủ Dầu Một, Bến Tre... diễn ra từ đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940 đến ngày 14 tháng 1 năm 1941.

        Pháp đã bắt được cờ đỏ sao vàng đem về để trong góc phòng tra tấn ở Sở Mật thám đường Ca-ti-na (Catinat) thành phố Sài Gòn và bắt được cả cờ đỏ sao vàng trong căn cứ Mớp Xanh - Bo Bo. Một số sách, báo có nói tới đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (Đồng chí Nguyễn Hữu Tiên (1910-1941) người thôn Lũng Xuyên xã Yên Bắc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam, một nhà giáo đã sớm tham gia cách mạng. Năm 1927, được kết nạp vào Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1929, đồng chí là người đầu tiên thành lập chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng của huyện Duy Tiên. Năm 1931, đồng chí phụ trách in lại tờ báo "Búa Liềm", sách "Bước đầu của Chủ nghĩa Cộng sản và xuất bản tờ báo "Đỏ" của Đảng bộ Hà Nam. Cùng năm, đồng chí bị địch bắt và phải lĩnh án tử hình. Khi ở nhà tù Hoả Lò (Hà Nội) đồng chí tham gia viết bài cho "Lao tù Tạp chí”. Năm 1932, đồng chí chống án tử hình và được giảm xuống án khổ sai chung thân, bị đưa giam ở nhà tù Sơn La, rồi bị đưa đi đày ở Côn Đảo năm 1933. Năm 1935, qua hai lần vượt biển mới thoát khỏi nhà tù Côn Đảo trở về đất liền, hoạt động tại các tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá), sau đó hoạt động xây dựng cơ sở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, là Xứ ủy viên Nam Kỳ. Năm 1940, đồng chí bị địch bắt cùng đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đến năm 1941, bị toà án thực dân Pháp kết án tử hình cùng một số đồng chí trong Xứ ủy Nam Kỳ. Ngày 26-8-1941, địch đưa đồng chí ra xừ bắn tại Hóc Môn (Gia Định)) là người thiết kế lá cờ này, vẽ mẫu từ năm 1939.

        Hiện nay, tại thôn Lũng Xuyên xã Yên Bắc, thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam là quê hương của ông, có nhà lưu niệm Nguyễn Hữu Tiến. Ở đó có bức chân dung của ông bằng sơn dầu do nhạc sĩ Văn Cao (người sáng tác bài Tiến quân ca, Quốc ca của Việt Nam) vẽ vào năm 1981 khi nhạc sĩ Văn Cao về thăm, đã dựa theo bức ảnh từ thời Pháp thuộc còn lại của Sở Mật thám Pháp.

        Vài tư liệu có nói rằng: khi Xứ ủy Nam Kỳ họp quyết định khởi nghĩa, Hội nghị có bàn đến việc quần chúng cách mạng sẽ dùng cờ gì (không dùng cờ búa liềm của Đảng), đồng chí Võ Văn Tần - Bí thư Xứ ủy đã cùng các đồng chí Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến... quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến lúc bấy giờ phụ trách cơ quan ấn loát của Xứ ủy được phân công thể hiện lá cờ đó.

        - Có tài liệu cho rằng cờ đỏ sao vàng đã được phổ biến cho các đại biểu các tỉnh trong các cuộc hội nghị ở Tân Hương (tháng 7) và Xuân Thới Đông (tháng 9 năm 1940) của Xứ ủy Nam Kỳ.

        - Trong cuốn "Nguyễn Hữu Tiến - truyện" của Sơn Tùng, do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 1981, ở mục 15 với tiêu đề "Vẽ cờ Tổ quốc", tác giả viết Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc. Tuy nhiên, đây là một tác phẩm văn học chứ không phải là sách nghiên cứu về khoa học lịch sử.

        - Một lão đồng chí trên 90 tuổi đời Nguyễn Văn Cung - người từng sống chung với đồng chí Nguyện Hữu Tiến trong nhà tù, nói: "Đồng chí Nguyện Hữu Tiến đoán biết địch sẽ xử tử đồng chí. Đồng chí dạy tôi lý luận, kể cho tôi biết nhiều chuyện. Tôi chưa hề nghe đồng chí nói về việc đồng chí là người vẽ sáng tạo lá cờ đỏ sao vàng".

---------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 5-2002)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:31:09 pm

        Uỷ  ban nhân dân (UBND) tỉnh Hà Nam có Tờ trình số 207/TT-UB ngày 21 tháng 3 năm 2001 gửi Bộ Văn hoá - Thông tin về việc công nhận đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc.

        Bộ Văn hoá - Thông tin đã giao trách nhiệm cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam sưu tầm, tập hợp, phân tích các nguồn tài liệu có được về vấn đề này.

        Đến ngày 18 tháng 4 năm 2001, Bộ đã có công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Lưu Trần Tiêu ký phúc đáp Tờ trình của UBND tỉnh Hà Nam, trong đó có đoạn như sau:

        “Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng; tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người đã vẽ lá cờ Tổ quốc. Gần đây nhất, công trình khoa học cấp Nhà nước đã được nghiệm thu, đánh giá với kết quả xuất sắc, cũng không khẳng định tác giả vẽ cờ đỏ sao vàng là ai..."

        Nói tóm lại, qua phân tích các nguồn tài liệu hiện có, Bộ Văn hoá - Thông tin không thể chứng minh được đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ đỏ Tổ quốc và do vậy cũng không thể đề nghị Thủ tướng Chính phủ ghi nhận công trạng này của đồng chí. Hơn nữa, việc xác định các nhân vật lịch sử, nhất là các nhân vật có liên quan đến lịch sử Đảng lại là việc của Viện Lịch sử Đảng chứ không phải là của Bộ Văn hoá - Thông tin.

        II. Nguồn gốc ý tưởng của lá cờ đỏ sao vàng năm cánh

        Theo chúng tôi thì nền cờ màu đỏ, biểu tượng cho sự đấu tranh đã có trong một số cuộc khởi nghĩa hoặc cách mạng. Trước đó, trên thế giới, hoặc cờ của Quốc tế Cộng sản (3-1919) hoặc quân hiệu trên mũ của Hồng quân Nga (2-1918) hay Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (8-1927) đều là ngôi sao màu đỏ.

        Vì vậy về nguồn gốc của ý tưởng, một vài ý kiến cho rằng đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, khi ở trong tù (năm 1931) đã nói tới cờ màu đỏ, có ngôi sao vàng.

        Trước đó nữa, phải chăng là ý tưởng ban đầu của Bác Hồ từ khoảng năm 1925, khi Người, với tên là Lý Thụy, đến Quảng Châu (Trung Quốc) sáng lập Việt Nam Cách mạng thanh niên, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất bản tuần báo Thanh niên (21-6-1925) do Người trực tiếp chỉ đạo. Vi-nhét cạnh tên tờ báo có hình ngôi sao năng cánh biểu tượng của tờ báo, cũng là biểu tượng của Việt Nanh Cách mạng thanh mến.

        Hình ảnh ngôi sao vàng năm cánh đã biểu hiện trong cả giấc ngủ của Bác qua bài thơ "Không ngủ được" mà Bác viết trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch (Năm 1942, Người lấy tên là Hồ Chí Minh. Thảng 8 năm đó, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng chống Nhật của người Việt Nam ở đó nhưng vừa qua biên giới, Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt và giam giữ qua nhiều nhà tù ở Quảng Tây. Trong thời gian này, Người viết tập thơ "Nhật ký trong tù”. Tháng 9-1943, Người được trả lại tự do).

                                “… Canh bôn, canh năm vừa chợp mắt
                                Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh"

        Một câu chuyện về Bác giải thích ý nghĩa của năm cánh sao vàng do tác giả Trần Văn Hà viết mới đây (Giáo sư Trần Văn Hà - Cách mạng mùa Thu, ấn tượng sâu sắc, báo Sức khoẻ và Đời sống, số 102, ngày 24 tháng 8 năm 2002), đại ý như sau:

        “Năm 1946, Hội Liên hợp quốc dân Việt Nam được thành lập thay cho Mặt trận Việt Minh. Đồng chí Hoàng Hữu Nam, là Chủ tịch Hội, một hôm bảo ông Hà, khi đó là Tổng thư ký, chuẩn bị tổ chức đoàn đại biểu của Hội ở Thủ đô Hà Nội vào chào Bác. Đoàn gồm đủ đại diện các giới: sĩ, nông, công, thương, binh. Bác nói chuyện rất thân tình và hỏi: "Các cụ, các cô các chú có biết ý nghĩa của sao vàng năm cánh là gì không?". Im lặng. Bác xoè bàn tay chỉ vào từ ngón cái đến ngón út và nói: "Đây là sĩ, nông, công, thương, binh. Năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn, đủ năm ngón kết lại một thành bàn tay". Rồi Bác nắm chặt bàn tay lại, đưa ra phía trước và nói tiếp: "Đoàn kết, đại đoàn kết mới có sức mạnh, mới thành công được"


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:31:34 pm

        III. Về quá trình lịch sử của Quốc kỳ

        Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Bác Hồ với tên gọi là Già Thu về nước, ở hang Pắc Bó (Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người có mang theo một lá cờ bằng lụa đỏ, ở giữa đính ngôi sao vàng năm cánh bằng giấy và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng (tháng 5-1941), quyết định thành lập Mặt trận Việt minh và lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ chính thức của Mặt trận (19-5-1941).

        Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước và lấy cờ Việt Minh làm ngọn cờ khởi nghĩa. Tại Hà Nội, ngày 17 tháng 8 năm 1945, ta đã biến cuộc mít tinh của Tổng hội công chức của Chính phủ thân Nhật thành diễn đàn của cách mạng và thành cuộc biểu tình tuần hành ủng hộ Việt Minh. Một lá cờ đỏ sao vàng rất to từ bao lơn tầng gác Nhà Hát Lớn buông xuống phủ kín cả một khoảng mặt tiền của Nhà Hát, rồi cờ Việt Minh đã cùng quần chúng diễu hành ở các phố lớn trước mặt lính Nhật đứng im không dám giở trò gì.

        Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền tại Hà Nội, cũng như các cuộc khởi nghĩa ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước (từ 18-8 đến 28-8-1945) nhân dân ta, với biển người, biển cờ đỏ sao vàng đã làm cuộc cách mạng long trời lở đất, giành lấy chính quyền về tay mình.

        Ngày 2 tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng được kéo lên tại lễ đài ở Quảng trường Ba Đình khi Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ đó cờ đỏ sao vàng trở thành Quốc kỳ của nước ta.

        Một chi tiết cần lưu ý là sự thay đổi về hình múi ngôi sao được quy định ở Quốc kỳ nước ta, theo văn bản Nhà nước là múi sao phình ra cánh sao góc thẳng rộng) và múi sao thon lại (ngôi sao có cánh thon).

        Theo các nhân chứng lịch sử thì lá cờ năm 1940 tại cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa có cánh sao thon như Quốc kỳ hiện nay, có cờ lại đặt vị trí ngôi sao không ở chính giữa. Trong thời kỳ Mặt trận Việt Minh và khi họp Quốc dân Đại hội ở Tân Trào (lá cờ còn lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng) thì cờ có múi sao rộng hơn.

        Ngày 19 tháng 8 năm 1945, trong cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội thì ngôi sao trên các lá cờ của quần chúng cách mạng cũng như trên lá cờ được buông xuống trước Nhà Hát Lớn có lá cờ thì sao múi rộng, có lá lại là sao múi thon.

        Để chuẩn hoá Quốc kỳ, ngày 5 tháng 9 năm 1945, sau ngày Độc lập, Sắc lệnh số 5 do dộng chí Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Nội vụ lúc đó, ký thay Chủ tịch Chính phủ lâm thời về Quốc kỳ, có quy định:

        - Bác bỏ cờ quẻ ly.

        - Cờ hình chữ nhật màu đỏ và vàng tươi, bề ngang bằng 2/3 chiều dài. Ngôi sao có 5 góc lồi và 5 góc lõm.

        - Ngôi sao ở trung tâm nền cờ.

        Mẫu cờ này được Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I, tháng 11 năm 1946 biểu quyết thông qua.

        - Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá I tháng 9 năm 1955, Bộ Tuyên truyền thay mặt Chính phủ báo cáo lên Quốc hội xin sửa đổi chi tiết về ngôi sao vàng trên Quốc kỳ như sau:

        “Múi sao phình ra bây giờ sửa lại múi sao thon lại. Năm góc thẳng đều nhau, như vậy vẽ dễ hơn, đơn giản hơn".

        Quốc hội giao cho một Tiểu ban nghiên cứu về Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy, do Bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng làm Trưởng tiểu ban và báo cáo của Tiểu ban đọc trước Quốc hội có đoạn như sau:

        "Tiểu ban chúng tôi hoàn toàn đồng ý với đề nghị của Chính phủ quy định rằng: hình những cánh sao của Quốc kỳ sẽ thon lại. Năm nét thẳng đều nhau những nét vẽ thẳng trông đẹp hơn, khoẻ hơn là những cánh sao góc thẳng rộng). Nhân dân từ trước đến nay vẫn vẽ ngôi sao với cánh thon".

        Quốc hội đã nhất trí thông qua quy định này về Quốc kỳ. Như vậy, chính thức là ngôi sao cánh rộng đã ghi dấu ấn trên khắp nẻo đường của Tổ quốc trong những sự kiện lịch sử từ tháng 9 năm 1945 đến cuối năm 1955.

        Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ngày 2 tháng 7 năm 1976 tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội đã nhất trí đặt quốc hiệu "Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng năm cánh, cùng với Quốc ca và Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

        Xin nói thêm về Quân kỳ của Quân đội nhân dân Việt Nam, được Hội đồng Chính phủ chính thức duyệt y ngày 25 tháng 12 năm 1954. Vì vậy, ngôi sao vàng trên Quân kỳ khi đó cũng là sao múi rộng và phải đến sau khi Quốc hội thông qua sao có cánh thon (9-1955) thì mới như Quân kỳ hiện nay.

        Lịch sử dân tộc khẳng định cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện từ thời kỳ cách mạng còn đang trứng nước, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã hy sinh biết bao xương máu, bao người con yêu quý của đất nước đã ngã xuống để giành độc lập tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:33:18 pm

NGUỒN GỐC CỤM TỪ "ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ”1


TRẦN QUANG VỸ         

        Cách đây độ 5, 6 năm, các thầy, cô giáo dạy môn lịch sử ở một số trường phổ thông đã viết thư đến Đài Truyền hình Việt Nam hỏi về nguồn gốc và ý nghĩa cụm từ "Anh bộ đội Cụ Hồ".

        Đài Truyền hình Việt Nam (THVN) gửi công văn sang cơ quan chức năng nghiên cứu về lịch sử Quân đội nhờ giải thích, và sau đó đã phát bài trả lời gửi các thầy, cô giáo dạy lịch sử trên toàn quốc, với những ý như sau:

        a- Bác Hồ là người cha thân yêu của quân đội. Tháng 12 năm 1944, Bác trực tiếp thảo ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, trong đó Người nêu rõ "vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân". Tuân theo chỉ thị này, ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng giữa 2 tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ được cử hành.

        b- Từ nhân dân mà ra, Quân đội nhân dân Việt Nam (ĐNDVN) đã được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, có nhiệm vụ chủ yếu là cùng toàn dân chiến đấu thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, bảo vệ Tố quốc đồng thời quân đội là một đội quân công tác, tham gia tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng, phát triển cơ sở chính trị, xây dựng chính quyền cách mạng ở cơ sở và lực lượng vũ trang địa phương, là một đội quân sản xuất, cần cù sáng tạo.

        c- Vì vậy, "Bộ đội Cụ Hồ" là một danh hiệu mà nhân dân suy tôn, nói lên đức tính cao đẹp của những người dân mặc áo lính, xứng đáng với lời Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu trong dịp lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Quân đội (22-12-l964): "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng" (Các chữ vàng này đã có từ trước. Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ, Bác đã cho thành lập Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Bác đã bảo đồng chi Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: “Bộ Quốc phòng chuẩn bị một lá cờ thêu có 6 chữ vàng Trung với nước, hiếu với dân để Bác tặng trường làm cờ truyền thống". Ngày 26-5-1946, tại lễ khai giảng khoá đầu tiên của trường, sau lễ chào cờ, Bác Hồ từ lễ đài bước xuống sân đi thẳng tới hàng quân danh dự. Bác dừng lại trao lá cờ thêu 6 chữ vàng trên nền sa tanh đỏ cho học viên Bùi Bình Tâm, chiến si Nam Bộ (theo cuốn Lịch sử Trường Sĩ quan Lục quân 1, xuất bản 1-1955).

        Nội dung của bài trả lời trên đúng với bản chất của những cán bộ và chiến sĩ quân đội, đã được Đảng và Bác tổ chức, lãnh đạo, giáo dục rèn luyện, được nhân dân đùm bọc, nuôi dưỡng đã cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành nhiệm vụ giành độc lập, thống nhất đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

        Nhưng theo những điều mà chúng tôi tìm hiểu được, ở đây chúng tôi muốn đề cập tới nguồn gốc cụ thể của cụm từ "Anh bộ đội Cụ Hồ". Nó ra đời trong những hoàn cảnh, điều kiện nào? Để các bạn đọc cùng trao đổi.

        Lần đầu tiên tôi đã được nghe nghĩa là gọi "Anh bộ đội Cụ Hồ" vào ngày 6 tháng 2 năm 1946, khi đó tôi nhập ngũ vào Ban Y tế Vệ Quốc đoàn "được cử lên Bộ phận Y tế Vệ Quốc đoàn ở trên Bắc Kạn. Lúc nhập ngũ được đeo quân hiệu trong vành vàng và sao vàng thêu bằng chỉ trên nền đỏ của miếng nỉ (được gọi là cán bộ cấp úy). Từ phố Phủ Doãn đi bộ sang bến xe Gia Lâm ở gần cầu Chui để lấy vé xe khách lên Bắc Kạn. Lúc đó ở bến xe chỗ ra vào có 1 tên lính Tàu Tưởng khoác súng trường đứng để kiểm soát đi lại. Tôi ra xe thì anh phụ lái nói "các bà con ngồi thu lại để “Anh bộ đội Cụ Hồ" lên. Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy cụm từ này.

        Nhưng theo chúng tôi, cụm từ này được nhân dân lao động dùng vào cuối năm 1945.

        Về mặt ngôn ngữ, cụm từ này rất dân dã. Từ "Cụ Hồ" được dùng phổ biến vào những tháng năm đầu sai khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam độc lập được khai sinh. Trong thời gian này, cũng như trong thời kỳ còn bị Pháp thuộc, những người trên dưới 50 tuổi trở lên được nhân dân tôn kính gọi bằng Cụ. Hồ Chí Minh khi đó đã 55 tuổi, nên mọi người dân đều gọi bằng Cụ Hồ vừa để tôn vinh về tuổi tác vừa để tỏ lòng biết ơn công lao to lớn của Người. Từ “Bác Hồ" chỉ được nhân dân dùng nhiều hơn về sau này (Hồ Chủ tịch chỉ xưng Bác với những người thân cận trong thời gian đầu và bút danh "Bác Hồ" lần đầu tiên xuất hiện ở trên bài báo Bác viết vào tháng 10 năm 1946) (Ngay đến thời kỳ đầu Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bức mật điện vào cho Trung đoàn Thủ Đô ở Liên khu 1 còn dùng "các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh..." chứ không dùng chữ các chú).

        Để phân tích nguồn gốc của cụm từ “Anh bộ đội Cụ Hồ", chúng tôi thấy cần thiết điểm lại những sự kiến đáng lưu ý ở khu vực và nước ta những tháng cuối năm 1945, đầu năm 1946.

        Đó là những ngày tháng lịch sử, cả nước Việt Nam sục sôi khí thế cách mạng nhưng cũng là những ngày tháng mà chính quyền cách mạng còn non trẻ, vận mệnh đất nước đứng trước những thử thách to lớn:

        Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, đến ngày 28 tháng 8 năm 1945, thắng lợi trong cả nước.

        Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của Tổ quốc và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH).

-------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1-2003)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:33:39 pm

        Từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 9 năm 1945, hàng vạn quân Tưởng kéo vào chiếm đóng các vị trí xung yếu, các cửa ngõ của Thủ đô; kiểm soát, khám xét, bắt giữ người, ngăn cản sự đi lại của nhân dân như một đội quân chiếm đóng nước ngoài. Bám gót quân Tưởng là hàng trăm tay sai phản động trong các tổ chức yêu nước giả hiệu: Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mạng Đồng minh hội, Phục quốc đảng do Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam cầm đầu.

        Trong khi đó, ở miền Nam, quân Pháp, được sự hỗ trợ của quân Anh, kéo vào gây hấn ở Sài Gòn, rồi lần lượt mở rộng chiến tranh ra các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ, nên từ ngày 23 tháng 9 năm 1945, đồng bào miền Nam đã phải tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến.

        Tình hình đất nước cực kỳ khó khăn, nền độc lập của nước nhà bị đe dọa bởi các thế lực phản cách mạng bên trong lẫn bên ngoài. Trong khi đó, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ còn phải lo toan đối phó với tình hình kinh tế tài chính, xã hội hết sức nguy nan: nạn đói còn dai dẳng, hết lụt lại đến hạn, sức dân kiệt quệ, đồng ruộng bỏ hoang. Kho bạc của chính quyền cũ để lại chỉ còn 1 triệu 23 vạn đồng, quá nửa là tiền hào rách.

        Lúc bấy giờ, ở Hà Nội có 3 lực lượng mặc quân phục: trước hết là bộ đội và tự vệ chiến đấu của ta, quân của Trung Hoa dân quốc và các phần tử đảng phái phản động.

        Chợ Đồng Xuân là một chợ lớn ở trung tâm thành phố, cung cấp lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm cho nhân dân, cũng là nơi mà cả 3 lực lượng trên đều cử người đến mua, nhất là bộ đội ta đóng rải rác trong Liên khu 1, quân Tưởng đóng ở trong thành và một số vị trí trên đường bờ sông. Lực lượng phản động có sào huyệt ở Quán Thánh, Đỗ Hữu Vị, nay là phố Cửa Bắc, Ngũ Xã...

        Bọn lính Tưởng, bọn phản cách mạng đến chợ với thái độ ngông nghênh, chòng ghẹo phụ nữ, mua quệt, phá quấy, ăn nói sàm sỡ, trái ngược hoàn toàn với các bộ đội và tự vệ của ta, nên những người buôn bán ở chợ đều nhận rõ. Vì vậy, bà con tiểu thương ở chợ Đồng Xuân bảo nhau cất giấu những thực phẩm tươi, ngon xuống gầm bàn và nói nếu “Anh bộ đội Cụ Hồ" đến mới đưa ra.

        Cụm từ "Bộ đội Cụ Hồ" và "Anh bộ đội Cụ Hồ" nhằm chỉ những anh lính rất trẻ, đội mũ ca-lô có quân hiệu tròn bằng nỉ màu đỏ với ngôi sao vàng thêu bằng chỉ (Vệ quốc quân) hoặc quân hiệu vuông (Tự vệ chiến đấu) mà bản chất tốt đẹp thể hiện bằng lời ăn tiếng nói, bằng cử chỉ thái độ, bằng nét mặt nụ cười, ánh mắt của các anh.

        “Anh bộ đội" là cụm từ thân thương, trìu mến mà chị em tiểu thương, những người lao động nghèo của Thủ đô gọi bộ đội cách mạng, đối lại với các từ "bọn lính, lũ lính, tên lính, thằng lính" để chỉ bọn phản cách mạng. Như vậy, cụm từ "Bộ đội Cụ Hồ" và "Anh bộ đội Cụ Hồ" xuất phát từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng mà tác giả của nó không rõ là Của một người cụ thể nào đó trong số bà con buôn bán ở chợ Đồng Xuân lúc bấy giờ.

        Cụm từ này càng được phổ biến trong nhân dân Thủ đô khi quân Tưởng và các đảng phái phản động ra sức chống phá chính quyền của ta, gây ra những vụ lộn xộn.

        Đến tháng 6 năm 1946, quân Tưởng rút hết về nước theo quy định của Hiệp ước Pháp - Hoa (28-2) và Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) một số bọn phản động chạy theo quân Tưởng về Trung Quốc, số còn lại quay làm tay sai cho thực dân Pháp. Bọn Việt Nam quốc dân đảng và bọn Đại Việt quốc dân dáng (lập ra từ khi quân Nhật kéo vào Việt Nam vốn là tay sai của Nhật) thống nhất với nhau thành Quốc dân đảng Việt Nam để chống lại cách mạng. Không còn công khai mặc quân phục, đeo súng, nhưng câu kết với Pháp, đã tổ chức vũ trang ở 132 Bùi Thị Xuân, số 7 ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều) tiến hành các vụ bắt cóc, tống tiền, ám sát cán bộ, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng vào ngày 14 tháng 7 năm 1946. Nắm được âm mưu này ngày 12 tháng 7 năm 1946, ta bất ngờ tiến công vào số nhà 132 Bùi Thị Xuân, tóm gọn bọn phản động. Đến ngày 13 tháng 7 năm 1946, ta đã diệt sào huyệt số 7 phố ôn Như Hầu.

        Khi bọn phản động ở Thủ đô và các nơi khác (Việt Trì, Vĩnh Yên, Yên Bái, Bắc Ninh) bị trấn áp và tan rã, sau đó, cụm từ "Anh bộ đội Cụ Hồ" không còn được bà con tiểu thương ở chợ Đồng Xuân dùng để phân biệt bộ đội ta với bọn phản động mặc quân phục nữa. Tuy vậy, cụm từ này, vẫn còn lưu truyền nơi cửa miệng dân gian trong những năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp (Những năm kháng chiến chống Pháp, trên các nẻo đường ở Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh, người ta thầy các quán hàng "Quán Quân nhân, Quán Mẹ chiến sĩ, Quán Bộ đội Cụ Hồ" do Hội Mẹ chiến sĩ các địa phương tổ chức để các anh bộ đội hành quân. hoặc đi công tác qua dừng chân ăn uổng không phải trả tiền vì khi đó hàng quán rất thưa thớt (có khi là quán của đồng bào Thủ đô tản cư dựng lên)) gian khổ nhưng rất hào hùng. Điều này, nói lên sự tôn vinh của quần chúng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng - một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cụm từ "Bộ đội Cụ Hồ" hoặc “Anh bộ đội Cụ Hồ" vẫn được luôn nhắc đến để nói lên bản chất tốt đẹp của những người dân mặc áo lính, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, từ thế hệ này đến thế hệ khác, đã được Đảng, Bác Hồ tổ chức lãnh đạo, giáo dục, nhân dân cưu mang, đùm bọc, nuôi dưỡng, như lời giải thích của cơ quan chức năng về lịch sử quân đội đã trả lời trên Đài THVN trước đó.

        Đến nay, những "Anh bộ đội Cụ Hồ" thuộc thế hệ mà bà con buôn bán nhỏ ở chợ Đồng Xuân (Hà Nội) gọi một cách trìu mến trong những ngày đầu của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa non trẻ nhiều người đã hy sinh hoặc đã mất, người còn sống đã thành cụ, thành ông bà, nhưng các thế hệ "Anh bộ đội Cụ Hồ" vẫn nối tiếp truyền thống của ông, cha, và cụm từ này vẫn đọng mãi mãi trong con tim và khối óc của nhân dân ta.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:35:31 pm

TÌM HIỂU THÊM VỀ TỪ "BỘ ĐỘI” VÀ “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”1


TRẦN QUANG VỸ       

        1. Định nghĩa về từ “Bộ đội”

        Từ ghép "Bộ đội" là từ Hán Việt, trong cuốn "Hán Việt từ điển" của Đào Duy Anh xuất bản năm 1943 thì: chữ "bộ” là bước đi "đội” là một đội quân, có nghĩa là đội quân đánh trên bộ.

        Tìm xuất xứ chữ Hán, chúng tôi thấy ở cuốn từ điển "Từ Nguyên" xuất bản ở Bắc Kinh (Trung Quốc), năm 1998, thì nó được dùng đầu tiên ở sách "Tân Đường thư binh chi”' (sách ghi về việc binh nhà Đường mới) từ cuối đời Đường vào thế kỷ thứ IX.

        Chúng tôi không tìm thấy từ này được sử dụng trong sách báo thời kỳ Pháp thuộc (như báo Đông Pháp...) mà người viết chỉ dùng chữ "quân đội, lục quân, bộ binh, đạo quân...", còn nhân dân thì thường nói là "lính, lính Tây, lính lê dương (để chỉ quân chiếm đóng người Âu), lính khố đỏ, lính khố xanh (để chỉ người Việt đi lính cho Pháp vì họ có thắt lưng vải để vạt ở trước bụng màu đỏ (lính chính quy), màu xanh (lính bản xứ: garde indigène), lính cơ, lính lệ (lính gác của Nam Triều)…

        Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở các vùng bị tạm chiếm, hầu như từ "bộ đội" cũng không dùng trên sách báo mặc dầu trong các cuốn từ điển xuất bản trong vùng này, các tác giả đã dịch từ bộ đội ra tiếng Pháp, tiếng Anh, trong khi đó từ bộ đội lại dùng rất phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong giao tiếp dân dã tại các vùng tự do.

        Chúng tôi xin nêu một dẫn chứng. Cuốn Quân đội nhân dân Việt Nam anh dũng của Tổng cục Chính trị xuất bản năm 1954, trong bài “tình cá nước", ở trang 27 có đoạn viết. Nhân dân ta biết ơn bộ đội, các cụ già thường nói "thương dân như bộ đội cụ Hồ. Lòng yêu mến bộ đội không khác tình “ruột thịt"...

        2. Thời điểm mà từ bộ đội được thấy trên sách báo

        Chúng tôi muốn tìm xem từ bộ đội được viết trên sách báo từ lúc nào. Trong cuốn "Sức mạnh Việt Nam", Nxb QĐND, Hà Nội, năm 1976, bài "Ba mươi một năm phấn đấu làm tròn chức năng của Đội quân chiến đấu, công tác và sản xuất", trang 457 có đoạn viết: "Từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27-9-1940) đã ra đời đứa con "đầu lòng của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam": Đội "Du kích Bắc Sơn", phát triển lên thành "bộ đội du kích Bắc Sơn" (14-2-1941) rồi thành "Cứu quốc quân" (5-1941)...

        Chúng tôi có đọc hết các số của báo "Việt Nam độc lập" (Báo Việt Nam độc lập, phát hành từ năm 1941 đến năm 1945. Lúc đầu là Cơ quan tuyên truyền Việt Minh của tỉnh Cao Bằng. Khi căn cữ địa mở rộng, Việt Nam độc lập trở thành cơ quan của Liên tỉnh Hội Việt Minh Cao Bằng, Bắc Kạn, rồi sau thành cơ quan của 3 tỉnh Cao-Bắc-Lạng. Toàn bộ bộ sưu tập báo có 171 số Bảo tàng Cách mạng còn lưu trữ được 156 số bản gốc. Bác Hồ là người chỉ đạo trực tiếp báo "Việt Nam độc lập", là Tổng biên tập và là người viết nhiều bài nhất cho báo) lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng để tìm chữ bộ đội được viết trên báo này và thấy rằng:

        Từ đầu năm 1943, Việt Minh khu căn cứ Cao Bằng - Bắc Kạn đã tuyên truyền việc chống khủng bố, việc thành lập các ban xung phong chống khủng bố, các đội tự vệ thường, đội tự vệ chiến đấu để biến thành đội du kích…

        Tuy vậy, trên các trang báo cho đến số 200 ra ngày 15 tháng 12 năm 1944 (tức là một tuần lễ trước khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân) chưa xuất hiện từ bộ đội, còn đối với quân của các nước Đồng minh và các nước phát xít vẫn dùng các từ "quân đội, Hồng quân hay lính Nhật"...

        Số 201 ra ngày 5 tháng 1 năm 1945, báo đưa tin ngay trên trang đầu "Chào mừng năm 1945". "Đội tuyên truyền của Việt Nam giải phóng quân xuất hiện", rồi ngay sau đó là "Thông báo số 1" như sau: "Ngày 11 tháng 11 là ngày 25-12 tây, một bộ đội lạ, ở đâu đến không rõ, bộ đội gì không rõ, kéo đến Phai Khắt, tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình. Sau đó, người cai tây và tất cả 17 người lính dõng mang toàn bộ khí giới trong đồn và tuyên bố với dân làng là cùng c.m đi đánh Nhật, rồi cùng bộ đội lạ kéo đi đâu mất..." (Theo chúng tôi, lời viết giản dị, mộc mạc này có thể là của Bác Hồ viết để đồng bào, đồng chí độc giả dễ hiểu, và nhất là Bác lại là "Tổng biên tập" của tờ báo, như vậy phải chăng Bác Hồ là người đầu tiên đã sử dụng từ "bộ đội" trên báo. - Chữ c.m là viết theo nguyên văn của bài).

        Từ bộ đội còn thấy ở các số báo Việt Nam độc lập tiếp theo, số 21 (ra ngày 10-4-1945), 21 (ngày 12-4-1945), 21 (ngày 21-4-1945), 21 (ngày 10-5-1945), 21 (ngày 31-5-1945).

        Số 2 (ngày 20-7-1945 là số cuối của báo Việt Nam độc lập có từ "bộ đội" trong mục "chú ý", có nhắc đến: “Cán bộ đi lại, nhất là bộ đội phải có giao thông quen đưa (thư từ-TQV) mới nhận, trừ người thật quen...".

--------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 6-2003)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:36:53 pm

        3. Một vài suy nghĩ về từ “bộ đội” được ghi trên sách báo.

        Sơ bộ nghiên cứu một vài tư liệu như trên và một số sách báo hiện nay, chúng tôi có suy nghĩ sau:

        - Từ bộ đội đã được định nghĩa trong cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh trong giai đoạn nước ta còn bị thực dân Pháp xâm chiếm là quân đánh bộ, nhưng không thấy sử dụng để nói về quân đội của đế quốc hoặc quân đội các nước khác trên sách báo.

        Trong bài "Gọi bộ đội Cụ Hồ bằng anh, không ai gọi bằng chú” của tác giả Dương Xuân Đống (Dương Xuân Đống - Từ cây giáo đến khẩu súng, Nxb QĐND, Hà Nội. 1998, tr.215-218) có viết: "Về lý luận, bộ đội là tên gọi chung các đơn vị từ cấp trung đoàn trở lên trong nhiều quân chủng, trừ không quân và hải quân". Theo chúng tôi nghĩ cũng không đúng với thực tiễn của thời điểm mà nó được ghi lên báo lần đầu tiên bởi vì Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân khi mới thành lập là một trung đội mới có 34 người, nhưng bài báo của Việt Nam độc lập (ngày 5-1-1945) đã gọi là bộ đội.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Võ Nguyên Giáp - Những chặng đường lịch sử, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tr.140) cũng dùng từ bộ đội ở sự kiện lịch sử này.

        - Từ bộ đội xuất hiện và dùng để chỉ lực lượng vũ trang cách mạng của nước ta trước Cách mạng Tháng Tám. Nếu không kể tới thông tin về cụm từ bộ đội du kích Bắc Sơn ngày 14 tháng 2 năm 1941 (đã nói ở trên) và đoạn viết về Cứu quốc quân có dùng từ bộ đội (Bài "Thời kỳ thành lập quân đội và cao trào đấu tranh vũ trang trong sách "Quân đội Nhân dân Việt Nam anh dũng", Tổng cục Chính trị, 1954, tr.9) vì chúng tôi không tìm được văn bản gốc khác nên theo các bài viết trên báo Việt Nam độc lập, từ bộ đội đã được nói tới khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, tức là các ngày cuối của năm 1944 ở chiến khu Cao-Bắc-Lạng. Cũng trong bài “gọi bộ đội Cụ Hồ bằng anh... “, tác giả Dương Xuân Đống có viết: "Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thì ở từ trong khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang là bộ đội ông Ké (Ông Ké tiếng Tày là ông Cụ) hay bộ đội ông Cụ ("Ông Cụ” là chỉ Bác Hồ khi ở chiến khu. Cuốn Nhớ Nguồn, tác giả Bích Tùng, Lý Đào, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1993, tr.207). Nói như vậy cũng rõ thêm từ bộ đội được dùng khi lực lượng vũ trang của cách mạng được thành lập.

        Trong tiềm thức của người Việt Nam (ở cửa miệng nhân dân và ngay cả trên các phương tiện thông tin đại chúng) khi nói đến bộ đội là nói tới quân đội của nước ta, quân đội của Đảng và Bác Hồ đã xây dựng rèn luyện, mặc dầu đó là một từ rất chung để chỉ đội quân của bất cứ một nước nào.

        Sở dĩ như vậy, theo chúng tôi, trước Cách mạng Tháng Tám, báo chí chưa bao giờ sử dụng cụm từ này. Khi đội quân cách mạng thành lập để giải phóng dân tộc thì trên báo Việt Nam độc lập đã lấy từ này để thông tin về Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân hạ đồn Phai Khắt, rồi từ đó từ bộ đội đã gắn liền với truyền thống cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta - những người không ngại gian khổ, không sợ hy sinh không tiếc xương máu, chiến đấu để giành và giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc, sự tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

        Ngay trong các văn bản của các đồng chí lãnh đạo nước ta cũng sử dụng từ bộ đội. Thí dụ ở một bản báo cáo của đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Đảng về việc giáo dục chính trị cho quân đội năm 1952 (Bài giác ngộ cách mạng là sức mạnh vô địch", trong sách "Quân đội nhân dân Việt Nam anh dũng", Sđd, tr.30): “Bộ đội ví như mũi mác dùng để giết quân địch. Mũi mác cần phải nhọn, phải sắc. Nên phải ra sức mài dũa, ra sức chỉnh huấn quân đội. Phải chăm lo cái ăn, cái mặc, vũ khí và cách đánh của bộ đội, nhưng cái phải chăm lo trước hết là tư tưởng bộ đội. Nên lúc này phải lấy việc chỉnh đốn tư tưởng, giáo dục chính trị cho bộ đội lành một việc làm chính".

        Tác giả Dương Xuân Đống giải thích: "Tại sao mà lực lượng vũ trang của ta với từ bộ đội vào những ngày đầu cuộn kháng chiến chống Pháp lại mang tính cách mạng rõ rệt?". Trong bài "gọi bộ đội Cụ Hồ bằng anh...", có viết: "Theo nếp suy nghĩ cố hữu, lúc bấy giờ, mọi người không có thiện cảm với tử quân đội. Ai cũng ngờ rằng "Tập đoàn người vũ trang này chính là nơi tụ tập những tên lính khố xanh, khố đỏ, những tên lính lệ, lính dõng, những kẻ nợ máu truyền kiếp của nhân dân và đem so sánh với những chiến sĩ vì nhân dân quên mình, để rồi đặt niềm tin vào họ, những người được mệnh danh là bộ đội".

        Theo chúng tôi, việc sử dụng từ bộ đội (troop) chính là do quy mô của lực lượng vũ trang lúc bấy giờ, mà không dùng từ quân đội (army). Khi mới thành lập, chúng ta chỉ có một trung đội gồm 34 chiến sĩ theo nhiệm vụ được giao như trong chỉ thị của Bác Hồ:

        1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền...

        2. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong chóng có những đội quân đàn em khác...

        Trung đội này nhanh chóng phát triển thành một đại đội, rồi tiến về các nơi; ngày 15 tháng 5 năm 1945 thống nhất với Cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang khác lấy tên là Việt Nam giải phóng quân, như Bác Hồ đã nói: "Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt tử Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập  (1930-1945), Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.508).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:37:56 pm

        Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của nước nhà, bộ đội ta tuy đã phát triển nhưng vẫn là các đơn vị bộ binh, được đổi thành Vệ quốc đoàn, Vệ quốc quân, chưa dùng đến từ quân đội.

        Năm 1946, có nhiều binh chủng được thành lập như Thông tin liên lạc (9-9-1945), Công binh (25-3-1946), Pháo binh (29-6-1946)... và sau đó lực lượng vũ trang được thay tên thành Quân đội quốc gia Việt Nam; năm 1954, đổi thành Quân đội nhân dân Việt Nam cho đến ngày nay.

        Như vậy, khi quy mô của lực lượng vũ trang nước ta đã phát triển thành một quân đội thì từ bộ đội không thể mang đầy đủ ý nghĩa, nội dung của một phạm trù quân đội được.

        4. Bộ đội, đội quân đánh bộ, nếu theo nghĩa hẹp (bộ: bước đi) thì chỉ là bộ binh (infantry), nếu theo nghĩa rộng thì gồm các binh chủng của lục quân (land forces) như bộ đội cơ giời, bộ đội thiết giáp, bộ đội vận tải... Tuy vậy, nhiều khi nhân dân còn dùng các cụm từ "bộ đội không quân” (không phải nói riêng về quân đổ bộ đường không), hoặc "bộ đội hải quân” (không phải nói riêng về linh thủy đánh bộ) và dùng từ Bộ đội để chỉ tất cả mọi cán bộ, chiến sĩ ở mọi quân, binh chủng của quân đội nhân dân Việt Nam. Như thế, định nghĩa từ bộ đội trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt viết là "người trong quân đội" (Nguyễn Như Ý (Chủ biên) - Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999, tr. 187) là đúng.

        Cách gọi này lại còn đúng cả vời bản chất của bộ đội vì những cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đều là những người dân mặc áo lính, đều từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

        Cũng cần nói thêm rằng từ bộ đội không có nghĩa chỉ là con người mà nó còn bao hàm ý nghĩa của một tổ chức, một đơn vị gồm cả con người và trang thiết bị, phương tiện khí tài để chiến đấu nữa.

        5. Từ bộ đội là chỉ một đội quân, một tập thể, nhưng chúng ta cũng còn sử dụng nó ở một số trường hợp như là một cá thể. Thí dụ gọi anh bộ đội, đồng chí bộ đội tức là coi như cá thể đó đã hoà quyện vào tập thể mà muôn triệu người như một, cùng sống với nhau với nghĩa tình đồng đội, cùng chiến đấu cho một mục đích chung: bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu để giữ vững chủ quyền đất nước mà tổ tiên đã xây dựng và giao phó lại.

        Về cụm từ Anh bộ đội Cụ Hồ, chúng tôi đã viết một bài đăng ở Tạp chí LSQS số 1 năm 2003. Ở đây, chúng tôi muốn bàn về cụm từ Anh bộ đội Cụ Hồ và Chú bộ đội mà bài của Dương Xuân Đống nêu lên trong bài "Gọi Bộ đội Cụ Hồ bằng anh, không ai gọi bằng chú” trong sách Từ cây giáo đến khẩu súng Nxb QĐND, Hà Nội, 1998, tr.215-218. Sau khi nói, bộ đội tuyệt đại đa số là nam giới, những thanh niên trên dưới đôi mươi, tác giả viết: "Như vậy, người ta gọi bộ đội bằng anh cũng là thoả đáng. Vì đại từ này vừa chỉ lứa tuổi, chỉ giới tính lại vừa thể hiện sự kính trọng của xã hội đối với lớp người đã mạnh khoẻ lại dũng cảm, đem xương máu để giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Họ là thế hệ thanh niên đầu tiên tham gia quân đội theo chế độ tình nguyện...".

        Rồi tác giả Dương Xuân Đống nói đến lớp thanh mến vào bộ đội theo chế độ nghĩa vụ quân sự ở thời gian sau này và từ đó cụm từ chú bộ đội ra đời chủ yếu dùng để chỉ chung cho tất cả mọi quân nhân thuộc các thế hệ con cháu của lớp người đi trước. Tác giả viết: "Rõ ràng là từ giữa những năm 60 trở lại đây khi mà các thế hệ kế tiếp những bộ đội Cụ Hồ gia nhập quân đội, người ta vẫn gọi những lớp chiến sĩ trẻ này là chú bộ đội mà ít khi gọi là anh bộ đội mặc dù tuổi đời của họ cũng hệt như ông, cha họ trước đó mấy chục năm. Khác chăng ở chỗ, một bên nhập ngũ theo chế độ tình nguyện và một bên theo chế độ nghĩa vụ quân sự. Đây tựa như một sự ưu ái của ngôn tử, một sự quy ước chung của xã hội. Người ta chỉ chấp nhận để đại từ anh với tính khái quát rất cao trước cụm từ bộ đội Cụ Hồ. Hình như ai nấy đều cho rằng, đặc biệt là thế hệ anh bộ đội Cụ Hồ mới xứng đáng là anh là cha anh, còn tất cả mọi thế hệ bộ đội kế tiếp mãi mãi là em, là con, là cháu”.

        Theo chúng tôi, ý nghĩa của cụm từ anh bộ đội Cụ Hồ tuy ban đầu chỉ là một cụm từ rất dân dã, xuất phát từ cửa miệng nhân dân nhưng nó đã trở thành một danh hiệu mà mọi người tôn vinh tất cả các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi thành lập, đến ngày nay và mãi mãi về sau.

        Các từ ghép anh bộ đội và chú bộ đội đều có nghĩa là những người lính trẻ, người sinh ra trước và người sinh ra sau mà không phải là hàng cha chú mà là hàng con cháu.

        Trong thực tế cuộc sống, các cụm từ anh bộ đội và chú bộ đội thường gặp trong việc xưng hô khi giao tiếp theo lứa tuổi của những người đối thoại. Chúng tôi là lớp người bước vào quân đội từ những ngày đầu của đất nước độc lập, cũng đã được nhân dân gọi bằng anh bộ đội, đồng chí bộ đội khi đồng bào chưa biết tên mình. Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng còn có người gọi bằng anh, có người gọi bằng chú, nhưng dần dần cách xưng hô bằng anh, em không còn nữa mà là chú, cháu hoặc là bác, cháu (ngoại trừ các bạn bè, đồng chí cùng lứa tuổi).

        Ngược lại, đối với các chiến sĩ nghĩa vụ trẻ măng, trên dưới 20 tuổi, các người lớn tuổi hơn thì gọi họ bằng chú bộ đội, nhưng với các thanh niên, nhất là đối với các cô thiếu nữ chắc không ai có thể gọi họ bằng chú ngoài việc xưng hô bằng anh, em (trừ phi là các cháu nhỏ).

        Trên các sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi cũng ít thấy sử dụng cụm từ chú bộ đội. Khi nêu gương người tốt, việc tốt của các cựu chiến binh (những cán bộ, chiến sĩ tình nguyện của thế hệ trước) cũng như của các chiến sĩ nghĩa vụ hiện nay, thì đều được nêu là đã phát huy truyền thống cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ, những người con thân yêu của Tổ quốc, đã được Đảng, Bác Hồ giáo dục, rèn luyện, được nhân dân cưu mang, đùm bọc từ thế hệ này sang thế hệ khác.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:20 pm

HÃY THẬN TRỌNG KHI SỬ DỤNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ VIẾT VỀ LÃNH TỤ1



BÙI PHAN KỲ       

        Trong tờ nguyệt san "Công an nhân dân" số tháng 9-1999, mục "Kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ", trang 4, tác giả Thanh Tùng viết bài "Nhớ Bác... ngày tiễn biệt" với ý tưởng "tính ngày, nhớ việc, đã thấy bao điều xúc động tâm can, biết bao sự việc phải trân trọng ghi nhớ, là những kỷ niệm về Người". Nhưng đáng tiếc là bài viết có nhiều tư liệu chưa chính xác cần được đính chính, trao đổi:

        - Sự kiện mở đầu, người đọc không còn tin ở mắt mình khi đọc câu: "Việc đầu tiên khi về nước trực tiếp lãnh đạo công cuộc cách mạng, ngày ấy 8-9-1941, Bác tổ chức, thành lập "Việt Nam cách mệnh đồng minh hội", gọi tắt là "Việt Minh" đã khẳng định tư tưởng lớn của Người về sức mạnh và vai trò quần chúng trong đấu tranh cách mạng" (người viết bài này viết nghiêng những từ cần lưu ý). Ai cũng biết mùa xuân 1941 Bác Hồ về nước đã Chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ  (Khoá I) họp từ ngày 10 đến 19 tháng 5 năm 1941 mà Nghị quyết có câu nổi tiếng. "... Lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được (Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương , Văn kiện Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tập 1, tr.307). Hội nghị đã quyết định thành lập “Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh" gọi tắt là "Việt Minh".

        Còn "Việt Nam cách mệnh đồng minh hội" là tổ chức thành lập ở Trung Quốc vào tháng 10 năm 1942, được viên tướng của quân đội Tưởng Giới Thạch là Trương Phát Khuê ủng hộ. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, tổ chức này đã theo gót Quân đoàn 62 thuộc đoàn quân Lư Hán vào Việt Nam từ hướng Cao Bằng - Lạng Sơn. "Việt Nam cách mệnh đồng minh" gọi tắt là "Việt Cách" do Nguyễn Hải Thần cầm đầu, về Hà Nội đóng trụ sở ở phố Hàng Bún. Cùng thời gian đó, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu "Việt Nam Quốc dân đảng" theo chân cánh quân Tàu vào Việt Nam từ Lào Cai xuống Việt Trì, lập căn cứ ở Vĩnh Yên, đặt trụ sở ở phố Quán Thánh, Ngũ Xã, Ôn Như Hầu... (Hà Nội). Đoàn quân Lư Hán còn bao gồm Quân đoàn 93 do Chu Phúc Thành, Tiêu Văn chỉ huy từ Vân Nam về Hà Nội. Dựa vào thế quân Tàu, "Việt Cách" và "Việt Quốc" điên cuồng chống phá cách mạng. Mặc dù trước khi đưa quân vào Việt Nam, Trương Phát Khuê (là Tư lệnh Đệ tứ Chiến khu, đại diên Quốc dân đảng Trung Quốc) có mời Hồ Chí Minh tham gia Ban trù bị Đại hội Việt Nam cách mệnh đồng chí hội, được Bác uốn nắn thành "Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng Việt Nam" họp ở Liễu Châu tháng 3 năm 1944, nhưng không thể vì thế mà lẫn lộn với Việt Minh được.

        - Tác giả Thanh Tùng viết tiếp: "Cũng lại ngày 8 tháng 3 năm 1946 Bác phát động chiến dịch diệt giặc dốt, giặc đói và giặc ngoại xâm - mở ra phong trào bình dân "i-tờ" và lập hũ gạo tiết kiệm (phần để cứu đói, phần dành để nuôi quân đánh giặc) và Bác thực hiện đầu tiên việc bớt phần gạo hàng ngày làm gương cho mọi người noi theo". Không rõ sự khái quát này tác giả dựa vào tư liệu nào? Nếu dựa vào "Lời kêu gọi chống nạn thất học" của Hồ Chủ tịch thì nó được công bố từ tháng 10 năm 1945 trong đó có câu: “những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào Bình dân học vụ (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà nội 1970, tr.63, 61, 81), sau khi sắc lệnh thành lập Bình dân học vụ được ký ngày 8 tháng 9 năm 1945, “Lời kêu gọi chống nạn đói" của Hồ Chủ tịch cũng được công bố vào thời gian gần đó, từ 194 (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà nội 1970, tr.63, 61, 81); còn ba câu "Diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm" thì được Bác viết trong "Lời kêu gọi Thi đua ái quốc" ngày 11 tháng 6 năm 194 (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà nội 1970, tr.63, 61, 81). Nếu tôn trọng thực tế thì việc chống dốt, chống đói gắn với chống ngoại xâm được Hồ Chủ tịch đặt ra ngay sau khi nước nhà được độc lập, chỉ sau Tổng khởi nghĩa không quá hai tháng. Đó cũng không phải là một chiến dịch mà là một phong trào thi đua yêu nước được toàn dân hưởng ứng trong suốt hai cuộc kháng chiến... Còn viết Bác Hồ "lập hũ gạo tiết kiệm... bớt phần gạo hàng ngày làm gương" là không chuẩn xác. Trong lời kêu gọi nhường cơm sẻ áo để cứu đói của Hồ Chủ tịch có câu: "... Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước. Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo" (Hồ Chí Minh tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà NộI, 1960, tr.229), thì không phải Bác “bớt phần gạo hàng ngày" như tác giả viết. Sau đó, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Hội Phụ nữ cứu quốc Việt Nam vận động nhân dân mỗi bữa bớt một nắm gạo bỏ vào hũ, lấy tên là “Hũ gạo kháng chiến", còn gọi là “Hũ gạo nuôi quân” (Xem Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1996. tr.385)...

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 5-1999)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:39:35 pm

        Cũng trong bài viết trên tác giả Thanh Tùng còn viết: "Trong cuộc kháng chiến 9 năm, nhưng ngày tháng 9-1950, Bác đích thân đi chiến dịch Biên Giới - chiến dịch mở đầu giai đoạn tổng phản công. Là người Việt Nam, ít nhất cũng một lần thấy hình ảnh của Bác, quần xắn cao, tay cầm ông nhòm chiếu thẳng về Đông Khê, chỉ huy đến tận giờ phút 2 binh đoàn Sác-tông và Lơ-pha-giơ bị tiêu diệt gọn". Người đọc không hiểu tác giả muốn nói đến hình ảnh nào của Hồ Chủ tịch? Nếu quả có một hình ảnh như tác giả mô tả thì nhiều người chưa thấy. Nhưng nếu là hình ảnh quen thuộc đã được in trên nhiều văn kiện (và vẽ thành tranh sơn mài) với chú thích Hồ Chủ tịch trên đài quan sát trận Đông Khê, trong chiến dịch Biên Giới (năm 1950), là tấm ảnh Bác đang ngồi trên tảng đá, tay phải chống nạnh, cánh tay trái tì trên đùi, hai ngón tay cặp điếu thuốc cháy dở, đầu đội mũ cát, đôi mắt tinh tường đang nhìn thẳng, còn người cầm ông nhòm đang quan sát là một chiến sĩ đứng bên trái Bác (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Sđd, ảnh in giữa tr.80, 81). Chúng ta biết trận Đông Khê (mở đầu chiến dịch) diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 9 năm 1950. Gần hai chục ngày sau, quân Sác-tông mới bị tiêu diệt tại điểm cao 47 (thuộc vùng núi giữa Đông Khê và Thất Khê) vào buổi chiều 7 tháng 10 năm 1950, còn quân Lơ Pa-giơ bị tiêu diệt ở vùng núi Cốc Xá (cách tây nam Đông Khê khoảng từ 6 đến 7 km) vào buổi chiều ngày 8 tháng 10 năm 1950. Trong chiến dịch này, ngoài các đơn vị pháo binh và công binh của Bộ, lực lượng bộ binh ta có Đại đoàn 308, hai trung đoàn 174 và 209 cùng với ba tiểu đoàn chủ lực của Liên khu Việt Bắc. Do tầm quan trọng của chiến dịch thở thông biên giới, Bác thân hành ra mặt trận cùng Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ dạo, nhưng Bác không làm thay Tư lệnh chỉ huy chiến dịch lúc đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

        Còn một số chi tiết nữa mà tác giả đưa ra cần được tiếp tục làm rõ: "Khi đế quốc trùm sỏ hùng mạnh nhất vào xâm lược nước ta (1965), trong những bài nói của Bác, hiệu triệu của Bác nhân ngày Quốc khánh đã nhấn mạnh ý chí kiên cường, tinh thần quyết thắng. "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, ta còn phải chiến đấu cút sạch nó đi" và "Không gì quý hơn độc lập tự do". Bác khẳng định "Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn". Hồ Chủ tịch có đức tính viết không thừa, không thiếu. Ba câu trích của tác giả không câu nào nằm trong "những bài nói" hoặc "hiệu triệu của Bác nhân ngày Quốc khánh" như tác giả khẳng định. Câu "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi" (tác giả trích thiếu 3 từ, sai 1 từ), Bác viết trong "Lời kêu gọi ngày 3 tháng 11 năm 1968", sau khi Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Sđd, tr. 319, 282, 328). Câu "Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Bác viết trong "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước" ngày 17 tháng 7 năm 1966 sau khi giặc Mỹ bắn phá ngoại ô Hà Nội và Hải Phòng (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Sđd, tr. 319, 282, 328). Còn câu cuối trích từ Di chúc mà các tư liệu đều ghi ngày 10 tháng 5 năm 196 (Hồ Chí Minh - Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Sđd, tr. 319, 282, 328).

        - Đoạn chốt của bài, tác giả viết: "Nhớ Bác, cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay không gì hơn là lấy những chỉ định cụ thể của Bác trong bài viết 30 năm về trước (3-2-1969) làm tiêu chí để từng cấp ủy, mỗi đảng viên cán bộ tự kiểm điểm và phê bình. Đó là - "Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm khắc trong Đảng bác viết là nghiêm chỉnh) - Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên (đến đây tác giả bỏ sót một câu quan trọng: Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc) - kỷ luật của Đảng phải thật nghiêm minh (tác giả thêm từ thật) - Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ - Mỗi cán bộ đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên trên hết, trước hết..." (Bác viết: lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân...). Đoạn này trích trong bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" Bác viết nhân dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam, sau Nhà xuất bản Sự thật in cùng 6 bài khác của Bác viết từ 1952, 1959, 1961, 1963, 1965 thành một tập sách lấy đầu đề đó, phát hành ngày 1 tháng 5 năm 1969. Đối chiếu với nguyên bản có từ bị đổi, bị thêm, bị đảo lại, có đoạn bị cắt bỏ mà không có dấu...).

        Người xưa nói "thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ" (kể lại không thêm bớt điều xưa (mà) ta tin chuộng), ý tưởng "trân trọng ghi nhớ" về Bác của tác giả rất đáng hoan nghênh. Nhưng nếu hiểu và trích dẫn "tam sao thất bản" như vậy sẽ ảnh hưởng đến bạn đọc, nhất là với thế hệ trẻ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:41:02 pm
         
ĐÔI ĐIỀU VỚI TÁC GIẢ SÁCH “VIỆT NAM - NHỮNG TRẬN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH"1

TRỊNH VƯƠNG HỒNG        

        Cuốn Việt Nam - những trận đánh quyết định của tác giả Mỹ, Giôn Pim-lốt (J.Pim-lốt: Việt Nam - Những trận đánh quyết định, Nxb Mac Millan, New York, 1990. Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng dịch và ấn hành, 1997. Người dịch: Lê Mỹ, Lý Văn Sáu, Trần Minh) là cuốn sách chứa đựng những tư liệu đáng chú ý. Đây là cuốn sách đã cung cấp “một số tư liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu tổng kết... giúp bạn đọc thấy được "cuộc chiến tranh nhìn từ phía bên kia" như thế nào.

        Nội dung chính của cuốn sách dành giới thiệu về 17 trận đánh, mà Pim-lốt cho là "những trận đánh quyết định", trong đó có 1 trận thuộc thời kỳ kháng chiến chững Pháp và 16 trận còn lại thuộc thời kỳ lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Pim-lốt có quan niệm về "trận đánh" và "trận đánh quyết định" cùng phong cách trình bày riêng của mình. Có những điểm trùng hợp với nhận thức của chúng ta; cũng có nhiều điểm khác biệt. Đó cũng là điều dễ hiểu.

        Do Pim-lốt đề cập phạm vi nội dung rộng, gồm các mục: Hồ Chí Minh - Người soi sáng; Hai vị tư lệnh đối địch nhau: De Castries và Tướng Giáp; Quân Anh ở Việt Nam; Chiến tranh theo đường lối của Mao; Việt Minh; Chính sách của Mỹ ở Việt Nam 1945-1954; Hiệp định Giơ-ne-vơ và cuối cùng là liệt kê Các mốc thời gian, nên cũng có nhiều vấn đề và chi tiết lịch sử cần nêu lên trao đổi. Dưới đây chúng tôi chỉ nêu hai vấn đề liên quan đến thời kỳ 1945-1946:

        1. Về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ vào thời điểm Việt Nam giành được độc lập

        Pim-lốt viết: "Ngày 2-9-1945, ông Hồ vào Hà Nội và được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, đã tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà" (tr.12).

        Sự thật lịch sử hoàn toàn không phải như Pim-lốt viết. Điều này đã được làm rõ từ lâu, trong đó có đóng góp của nhiều người đồng hương với tác giả.

        Như ta đã biết, trong chuyến đi Côn Minh (Trung Quốc) đầu năm 1945 để giải quyết nhiều công việc cách mạng, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với một số người Mỹ thuộc Cơ quan cứu trợ không quân (AGAS); Cơ quan thông tin chiến tranh Mỹ (AOWI); tướng Sê-nôn, Tư lệnh không đoàn 14 của Mỹ ở Hoa Nam; trung úy Sác-lơ Phen, người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo OSS đang hoạt động trên đất Việt Nam lúc đó... Qua những người này, Hồ Chí Minh đã chuyển một số yêu cầu của cách mạng Việt Nam đến các đại diện chính thức của Mỹ. Đầu tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh gửi thư cho A.Pát-ti cùng hai tài liệu đề nghị chuyển cho phái đoàn Mỹ ở Hội nghị Liên hợp quốc, kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Ít ngày sau, Người gửi tiếp một tài liệu nữa kèm mảnh giấy nhỏ hỏi A. Pát-ti xem các văn kiện trên đã gửi đi Xan Phran-xi-xcô chưa? Giữa tháng 5, Người lại gửi "Bản sách đen" và một tập ảnh chụp nhân dân Việt Nam trong nạn đói ở Bắc Kỳ cho Pát-ti và yêu cầu ông ta chuyển cho Đại sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh để gửi về cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Ngày 15 tháng 8, Người nhờ trung úy Giôn gửi về Tổng hành dinh của ông ta  bức điện yêu cầu nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo cho Liên hợp quốc rằng Việt Nam đã đứng về phía Liên hợp quốc chống Nhật; nay Nhật hàng, yêu cầu Liên hợp quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập.

        Đáng tiếc, mọi yêu cầu về nền độc lập của Việt Nam đều không được phía nhà nước Mỹ phúc đáp.

        Để thêm sức nặng cho lập luận của mình, Pim-lốt dẫn ra rằng trong chiến tranh chống Nhật, "Hoa Kỳ cung cấp cố vấn và vũ khí, khi ông Hồ tuyên bố độc lập của Việt Nam ngày 2 tháng 9 năm 1945, thì các sĩ quan Mỹ cũng có mặt" (tr.20).

        Đúng là vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai, do nhu cầu kháng Nhật của Việt Nam thống nhất với nhu cầu nắm thông tin về phát xít Nhật và cứu trợ phi công Mỹ bị bắn rơi trên đất Việt Nam của phía Mỹ, Đội "Con Nai" (thuộc OSS) được phép hoạt động trên tuyến đường số  (Thái Nguyên - Cao Bằng). Vào đầu tháng 8 năm 1945, họ giúp huấn luyện khoảng 200 du kích Việt Nam sử dụng vũ khí thông thường. Trước đó họ cũng hướng dẫn một số người được chọn lọc để sử dụng điện đài. Và như thế, việc những người trong Đội "Con Nai" có mặt ở Hà Nội dịp ngày 2 tháng 9 và chia tay Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi họ kết thúc một nhiệm vụ của thời chiến, không có nghĩa là nhà nước Hoa Kỳ "ủng hộ" nền độc lập của Việt Nam, như cách hiểu (hoặc cố tình hiểu) của Pim-lốt.

---------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 5-1998)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:41:52 pm

        Còn thời điểm sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời thì sao? Bạn đọc hẳn đã biết đến 4 bức thư (có tài liệu viết là 8 bức thư) của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các nhà chức trách Mỹ. Đó là thư gửi Tổng thống Mỹ, Tru-man ngày 17 tháng 10 năm 1945; gửi Quốc vụ khanh Mỹ, Bai-nét ngày 22 tháng 10 năm 1945 và ngày 1 tháng 11 năm 1946, gửi tiếp cho Tru-man ngày 16 tháng 2 năm 1946. Trong các thư trên, Người đều bày tỏ thiện chí và mong muốn của Việt Nam hợp tác với nhân dân Mỹ, trước hết là lĩnh vực văn hoá, giáo dục.

        Người khẳng định: "Chúng tôi yêu cầu nước Mỹ-có bước quyết định ủng hộ nền độc lập của Việt Nam... Mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác hoàn toàn với Mỹ" (thư gửi Tổng thống Mỹ Tru-man ngày 16-2-1946).

        Rất tiếc là các bức thư trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi nhà cầm quyền Mỹ lúc đó, đã không nhận được một hồi âm nào. Bình luận về điều này, Giô-dép Am-tơ, luật gia Mỹ, trong cuốn Lời phán quyết về Việt Nam, viết: "Một cách lý tưởng mà nói thì nếu có sự ủng hộ của Mỹ, Cụ Hồ Chí Minh đã thành lập một Chính phủ ở Việt Nam, mà mặc dù là Cộng sản, vẫn có quan hệ hữu nghị với Mỹ... Nếu Mỹ ủng hộ Cụ Hồ vào lúc đó, thì Mỹ có thể đã tránh khỏi được một cuộc chiến tranh tốn kém, bi thảm ở Việt Nam trong nhiều năm về sau”.

        Pim-lốt đã bất chấp thực tế và bỏ qua kết luận trên của G. Am-tơ.

        2. Pim-lốt cũng đề cập đến hàng loạt vấn đề liên quan đến nhiều phía vào thời điểm năm 1946

        Tác giả viết: "... Việc quân Anh đổ bộ vào Sài Gòn cùng với thế yếu của ông Hồ trong việc giữ miền Nam đã làm cho tiệc tái lập quyền kiểm soát của người Pháp là điều khó tránh khỏi" (tr.12).

        Sen-bai Xten-tơn nguyên là sĩ quan Mỹ từng chiến đấu tại chiến trường miền Nam Việt Nam đã viết trong Lời nói đầu rằng cuốn sách của Pim-lốt là "sự phản ánh xuất sắc thực tế chiến trường", rằng nó "bổ sung rất nhiều nhận xét sáu sắc". Nhưng thật lạ lùng là tác giả không nhớ, hoặc  cố tình quên rằng quân Pháp theo chân quân Anh trở lại Sài Gòn từ hồi đầu tháng 9 năm 1945 là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc, xâm lược một nước độc lập có chủ quyền. Cả thế giới đều biết Pháp đã trao quyền thống trị Đông Dương cho Nhật từ tháng 3 năm 1945 và chính nhân dân Việt Nam đã đấu tranh tự mình giành chính quyền vào tháng 8 năm 1945.

        Pim-lốt cũng cố tình không nhắc đến việc quân Anh, lấy danh nghĩa lập lại trật tự, buộc bộ đội Việt Nam rút khỏi thành phố, đòi đặt công an Việt Nam dưới quyền chỉ huy của họ. Đồng thời, họ thả và trang bị cho tù binh Pháp bị Nhật giam trước đây, sử dụng quân Nhật giúp Pháp, để Pháp trương cờ Anh trên xe, trên tàu thủy Pháp xâm chiếm các tỉnh Nam Bộ... Nhờ đó quân Pháp mới có điều kiện nhanh chóng mở rộng đánh chiếm ra Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

        Tác giả viết tiếp: “... Ở phía Bắc, quân Trung Hoa tràn vào, mặc dầu họ không can thiệp vào Chính phủ của ông Hồ, nhưng hành động của họ cũng làm giảm lòng tin của dân chúng" (tr.12).

        Sự thật là quân Trung Hoa dân quốc vào Việt Nam đã kéo theo đủ loại tay sai. Tuy nhiên, lúc ấy nhân dân Việt Nam đã giành được độc lập, chính quyền cách mạng đã được thiết lập từ Trung ương xuống cơ sở, khiến quân Tưởng không thể đưa tay sai lên lập chính phủ quân sự như dự định. Tuy nhiên, để tỏ thái độ không công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà, trong giao dịch, họ không dùng công hàm của Chính phủ Trung Hoa dân quốc mà chỉ dùng Bị vong lục không có tiêu đề tên nước. Ngày 4 tháng 10 năm 1945, Hà Ứng Khâm đến Hà Nội, chỉ thị cho Lư Hán, Tiêu Văn thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá Việt Minh, giúp tay sai đánh đổ chính quyền nhân dân, lập chính phủ phản động. Toàn bộ âm mưu và hành động của quân Tưởng đã được ghi lại trong hồi ký của Lăng Kỳ Hàn - một nhà ngoại giao trong bộ máy của Lư Hán, có mặt ở Hà Nội lúc bấy giờ (Xem Lăng Kỳ Hàn. Đằng sau việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản tại Hà Nội, Nxb Tri thức thế giới, Bắc Kinh, 1984).

        Pim-lốt viết tiếp: "Tháng 2-1946, ông Hồ yêu cầu người Pháp giúp đỡ, chấp nhận nền độc lập hạn chế của Việt Nanh trong khuôn khổ một Liên bang Đông Dương do Pháp kiểm soát để đổi lấy áp lực buộc quân Trung Hoa rút đi" (tr.12).

        Thực ra, quan hệ giữa Pháp, Tưởng và Nhà nước Việt Nam khi ấy phức tạp hơn cách hiểu của Pim-lốt nhiều, và cũng không phải như tác giả đã viết.

        Đến tháng 2 năm 1946, quân Pháp đã xâm chiếm miền Nam, vấn đề tiếp theo là làm thế nào đưa được quân ra miền Bắc. Họ chuẩn bị cả phương án tiếp cận và bất ngờ đánh chiếm Thủ đô Hà Nội. Phương án này lại tuỳ thuộc vào các nhà chức trách Tưởng Giới Thạch.

        Để mở lối thoát, người Pháp ra sức tìm kiếm sự đồng loã của chính quyền Tưởng bằng cách trao đổi quyền lợi giữa hai bên trên lưng dân tộc Việt Nam. Hiệp ước Pháp - Hoa ra đời ngày 28 tháng 2 năm 1946 là kết quả của sự mua bán đó.

        Nhưng cả Pháp và Tưởng không thể không tính đến người chủ thực sự của xứ sở này là nhân dân Việt Nam với chính quyền cách mạng của mình. Bởi vậy, ngày 5 tháng 3, hạm đội Pháp tới ngoài khơi Hải Phòng, quân Pháp nóng lòng đổ bộ lên đất liền, nhưng quân Tưởng kiên quyết ngăn cản khi chưa có được sự thoả thuận của Việt Nam. Quân Pháp sợ cùng một lúc phải đương đầu với cả cách mạng Việt Nam và quân Tưởng và điều nguy hiểm hơn là như vậy sẽ dẫn đến sự can thiệp của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:42:55 pm

        Vào những ngày cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1946, Xanh-tơ-ni, Uỷ viên Cộng hoà Pháp, đại diện Chính phủ Pháp đã có nhiều cuộc hội đàm với Chủ tịch Hồ Chí Minh để tìm một giải pháp. Tuy nhiên, do lập trường thực dân của phía Pháp, nên bế tắc chưa được khai thông.

        Sáng sớm ngày 6 tháng 3, chiếc tàu đổ bộ đầu tiên của Pháp vừa đến cửa sông Cấm thì bị quân Tưởng bắn cháy. Quân Pháp bắn lại làm cháy kho vũ khí của quân Tưởng.

        Ngay từ tối hôm trước, cả đại diện Tưởng và sau đó là Pháp liên tiếp tới thương lượng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, mong muốn đạt được thoả thuận có lợi cho họ.

        Để tránh đương đầu với cả Pháp, Tưởng cùng một lúc và gạt Tưởng về nước, mặc dầu không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, Chính phủ ta vẫn ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, đưa cách mạng ra khỏi hoàn cảnh nghiệt ngã và cam go, tạo thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến.

        Thực tế là như vậy. Không có cái gọi là Việt Nam "yêu cầu người Pháp giúp đỡ" như kiểu đảo ngược phải trái của Pim-lốt.

        Khép lại năm 1946, Pim-lốt viết: "Quân Pháp lật đổ chính quyền của ông Hồ ở Hà Nội ngày 19 và 20-12-1946. Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất bùng nổ" (tr.12).

        Phải nói rằng trong nhiều khía cạnh, sự kiện mà Pim-lốt đã viết ẩu, thì đây là chỗ ẩu nhất. Sự kiện ngày 19 tháng 12 năm 1946, ngày mà quân và dân Việt Nam chủ động mở đầu kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp đã quá rõ với độc giả. Không kể trong nước, nhiều tác giả nước ngoài đã đề cập đến sự kiện này trong các công trình của họ như Ph. Đơ-vi-le (Pháp), S. Tôn-nét-sơn (Na Uy), Kinh C. Chen (Mỹ gốc Hoa), He-ri-xơn (Mỹ)... với sự nhìn nhận khá khách quan. Và, không có chính quyền nào, cả Trung ương và địa phương, ở Hà Nội và nơi khác, "bị lật đổ" cả. Khi khả năng. thương lượng với Pháp không còn, chiến tranh không thể tránh khỏi, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo thống nhất, quân và dân Việt Nam ở đô thị Bắc Vĩ tuyến 16 đã nhất tề nổ súng tiến công địch. Điều này được ghi vào lịch sử như một nghệ thuật mở đầu kháng chiến. Đây cũng không là mốc khởi đầu chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Nếu viết như Pim-lốt thì từ ngày 23 tháng 9 năm 1945, khi quân Pháp khởi hấn ở Nam Bộ, rồi Nam Trung Bộ và tiến hành các hoạt động xâm chiếm của họ cho tới trung tuần tháng 12 năm 1946, cùng cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam suốt thời gian đó, là gì vậy?

        3. Điểm lại diễn biến những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến, Pim-lốt còn nêu một số sự kiện, số liệu và nhận định không đúng hoặc thiếu chính xác

        Ví như, tác giả cho rằng Bộ chỉ huy quân Pháp tổ chức cuộc hành quân Ca-xto, bắt đầu từ ngày 20 tháng 11 năm 1953, là nhằm biến "Điện Biên Phủ thành một điểm thả neo để tiến công các tuyến tiếp tế của Việt Minh... quét sạch căn cứ địa phương của Việt Minh" (tr. 15).

        Thực ra, một số tướng lĩnh Pháp có ý định chiếm đóng Điện Biên Phủ từ khá sớm. Tuy nhiên đến cuối năm 1953, họ vẫn còn tranh cãi chưa quyết cho một thời điểm thực hiện ý đồ trên. Bỗng... Na-va nhận được tin tình báo rằng Đại đoàn 316 của Việt Minh từ ngày 15 tháng 11 sẽ di chuyển từ phía nam Hoà mình lên xứ Thái... Na-va quyết định đi trước một bước và ngày 20 tháng 11 cho ném 6 tiểu đoàn dù xuống Điện Biên Phủ. Na-va đã bị động phải xé lực lượng cơ động đang tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ ứng phó với việc điều binh của Bộ, chỉ huy tối cao Việt Nam.

        Pim-lốt còn viết bừa rằng Việt Nam Quốc dân đảng đã "góp phần tạo nên một hình thức kháng cự tập trung... Hình thức này đã được Đảng Cộng sản Đông Dương kế thừa và phát triển" (tr.11).

        Đây là một nhận xét rất sai lầm. Tác giả, không biết căn cứ vào đâu lại viết (tr.11) Việt Minh được thành lập vào tháng 3 năm 1941; sau đó (tr.21) lại viết Việt Minh thành lập 10 tháng 5 năm 1941 (??). Tác giả cũng giải thích rằng sở dĩ đại diện Mỹ không ký vào Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 vì cho rằng: Không có gì bảo đảm chắc chắn tính chất "tự do" của các cuộc bầu cử ở Việt Nam sau đó (tr.21). Ai cũng biết sự thực không phải như vậy.

        Trên đây là đôi điều trong số những điều mà Pim-lốt đã viết cần phải nói lại cho rõ. Nói như một danh nhân phương Tây: "Khoa học là một chuỗi sai lầm luôn luôn được sửa chữa". Nếu đó là sai lầm do khách quan hoặc vô ý thì có thể còn xem xét. Chúng ta hoan nghênh Pim-lốt đã giới thiệu lịch sử Việt Nam ở nước ông, nhưng lại thấy khó hiểu và khó tìm được sự thông cảm với Pim-lốt vì ông đã viết trái ngược hẳn nhiều vấn đề đã rất rõ, ngay cả với nhiều tác giả phương Tây. Mà những điều trái ngược ấy đều là những đánh giá khái quát mang ý nghĩa bào chữa, bênh vực cho chủ nghĩa thực dân và không đúng với lịch sử kháng chiến của nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:44:29 pm

VỀ NHỮNG SAI SÓT ĐÁNG TIẾC TRONG MỘT CUỐN TỪ ĐIỂN LỚN1

HỒ SĨ THÀNH         

        Từ điển thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh là một cuốn từ điển lớn bao trùm nhiều lĩnh vực của một thành phố lớn nhưng còn rất trẻ với lịch sử 300 năm. Tập từ điển này do Thạch Phương và Lê Trung Hoa chủ biên cùng với 18 cộng tác viên. Với độ dày 1.140 trang, nó chứa đựng 9 nội dung: sự kiện, nhân vật, địa danh, đường phố, kinh tế, văn hoá - xã hội, báo chí xuất bản, tác phẩm, thành phố - những điểm đáng nhớ.

        Đây là tập từ điển được biên soạn khá công phu và phong phú về tư liệu, hấp dẫn và có ích đồi với nhiều đối tượng, nhất là những người làm công tác nghiên cứu, biên khảo... Trong đó, phần nhân vật và đường phố không chỉ giới hạn trong phạm vi thành phố mà còn mở rộng ra các tỉnh thành trong cả nước.

        Tuy nhiên, vẫn còn nhiều sai sót và nhiều lỗi rất phô thông không đáng có đối với một công trình có quy mô như tập từ điển này. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi chủ yếu đề cập những mục từ liên quan đến lĩnh vực quân sự.

        Chúng ta đều biết rằng lịch sử 300 năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh gắn liền với lịch sử đấu tranh anh hùng của Đảng bộ và nhân dân thành phố, trong đó, một phần quan trọng nằm trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, những sự kiện quân sự in đậm dấu ấn trong các giai đoạn lịch sử được thể hiện trong từ điển. Tiếc rằng ở đây, những người biên soạn phần chiến tranh và lực lượng vũ trang có lẽ thiếu am hiểu vấn đề hoặc chưa nghiên cứu đầy đủ tư liệu trước khi viết.

        Đơn cử ở phần "Thành phố - Những điểm đáng nhớ”, mục quân sự vần T, từ điển đưa vào "Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng (tr.1.035)", theo tôi là thiếu chọn lọc hoặc là một sự nhầm lẫn (?). Như ta đã biết, Tiểu đoàn nữ Lê Thị Riêng là đơn vị được thành lập cấp thời trong Tết Mậu Thân 1968 nhằm khuếch trương thanh thế của ta. Trên thực tế chỉ có khoảng 30 người, chủ yếu làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng và binh vận. Đơn vị chỉ trực tiếp chiến đấu trong đợt  (5-1968), chừng gần một ngày ở khu vực đường Cô Giang, hẻm 83 Đề Thám (Quận 2 cũ). Sau khi các đồng chí chỉ huy hy sinh và bị bắt thì "tiểu đoàn" tự giải thể và không còn tồn tại từ giờ phút ấy. Ở đây cũng cần nói thêm, đơn vì này, Quân khu 7 và Bộ Chỉ huy quân sự Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận không có trong hệ thống lực lượng vũ trang.

        Chúng ta trân trọng những thành tích của Tiểu đoàn Lê Th! Riêng, đã đóng góp công sức, xương máu vào chiến thắng lịch sử Xuân Mậu Thân 1968. Nhưng một đơn vị như vậy không thể là sự kiện tiêu biểu "đáng nhớ" cho 300 năm thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh. Trong lúc đó, vần T, từ điển lại bỏ sót những đơn vị rất tiêu biểu như Tiểu đoàn Quyết tử 950, Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng anh hùng, Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn đặc công Gia Định 4. Đây là những đơn vị có bề dày truyền thống, từng lập được những chiến công xuất sắc qua hai cuộc kháng chiến.

        Cũng ở vần T, từ điển còn bỏ sót nhiều trận đánh vang dội tại trung tâm đầu não chính quyền Sài Gòn, gây chấn động trong và ngoài nước như trận tiến công Đại sứ quán Mỹ (30-3-1965), diệt 150 quan chức cao cấp Mỹ và chư hầu; trận cường tập của F100 biệt động vào sân bay Tân Sơn Nhất (4-12-1966); trận đưa pháo vào sát Sài Gòn pháo kích tan tác lễ quốc khánh ngụy (1-11-1966)...

        Ở vần C, tuyệt nhiên không thấy "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968", một sự kiện rất quan trọng, góp phần tạo bước ngoặt chiến tranh, buộc địch phải đến Hội nghị Pa-ri bàn việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Một sự kiện mang tầm vóc như thế mà không "lọt" được vào "những sự kiện đáng nhớ" của từ điển thì thật là đáng tiếc.

------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 5-2001)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:44:45 pm

        Về phần nhân vật và tên đường liên quan đến quân sự, sai sót còn rất nhiều. Phần lớn là sai về thuật ngữ, quan niệm, đánh giá, thời gian, tên tuổi, cấp chức... Những cái tưởng chừng nhỏ nhặt, vô hại, đã thực sự làm giảm chất lượng của cuốn từ điển. Chỉ cần dẫn ra một số thí dụ cũng đủ thấy bất ổn, như cụm từ "Phó Chính ủy lực lượng vũ trang Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn", trong câu này thừa hẳn nhóm từ lực lượng vũ trang. Hay sách in: "Nguyên Thượng tướng Trần Văn Trà" là sai căn bản. Ta thường dùng chữ “nguyên" để chỉ chức vụ đã qua, còn cấp bậc trong quân đội là vĩnh viễn. Dùng như vậy có thể hiểu gây ngộ nhận là bị tước quân hàm hay quân tịch. Hoặc "đưa rước cán bộ" thì viết là "chuyển" rước... Từ điển còn giải thích rằng đường "Giải phóng" là do "biến cố” 30- (!) Tại sao có thể dùng từ một cách cẩu thả như vậy? Mọi người đều biết trước đây địch thường dùng chữ "biến cố” để làm giảm ý nghĩa thắng lợi của ta, như "biến cố Mậu Thân, Xuân - Hè 1972". Giải thích tên Chí Hoà thì viết rằng: "Nơi đây quân đội Pháp đã chiến thắng quân ta"... Với những cách "kiến giải" như trên thì đối tượng là học sinh, sinh viên (như trong Lời giới thiệu sách) làm sao có thể tiếp nhận lịch sử một cách đúng đắn, để nâng cao lòng tự hào dân tộc?!

        Theo tôi, những sai sót có thể tránh được nếu như người viết cẩn thận hơn và chịu khó cập nhật thông tin tư liệu thì trong từ điển không thể có chuyện Nguyễn Văn Trỗi (tr.28) hy sinh ngày 17 tháng 10 năm 1 (viết đúng là 15-10-1964). Anh hùng Phạm Văn Hai (tr.475) hy sinh năm 1966, lại viết là "tham gia nhiều trận đánh suốt hai cuộc kháng chiến”. Đội 5 biệt động F100 được tuyên dương Anh hùng một lần thì in sai là hai lần; ngày tuyên dương: ngày 20 tháng 11 năm 1969 thì in là 1989... Nữ Anh hùng Nguyễn Thanh Tùng (Điểm) đồng thời là Bà mẹ Việt Nam anh hùng rất xứng đáng được đưa vào mục từ Nhân vật, nhưng không thấy; trong khi nhiều người chưa thật tiêu biểu lại có tên (!).

        Ở phần Địa danh - đường phố cũng rất nhiều sai sót và bất cập trong cách kiến giải. Như đường Huỳnh Văn Chính (tr. 436) có câu: "... là đại đội phó biệt động vùng 3". Trong lịch sử biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định không bao giờ có vùng 3. Vùng 3 là từ mà chính quyền ngụy dùng để chỉ Sài Gòn và vùng phụ cận, tức "Vùng 3 chiến thuật". Các địa danh Bến Súc, Gót Chàng, Gò Đình, Tây Trắc... từ điển đều giải thích rằng "đây vốn là tên cũ của vùng này". Thực ra đây là những vùng căn cứ rất ác liệt, gắn liền với chiến công của Tiểu đoàn Quyết Thắng và các anh hùng Phạm Văn Cội, Tô Văn Đực, Lê Văn Đạm... Đặc biệt bưng Sáu Xã là căn cứ rất quan trọng của huyện Thủ Đức trong hai cuộc kháng chiến, đã trở thành vùng đất lịch sử, vậy thì khi mang tên đường đâu phải chỉ đơn thuần là một địa danh bình thường "có sẵn" như trong sách dẫn giải? Chỉ cần một câu bình ngắn gọn là ý nghĩa của con đường được nâng lên ở cấp độ cao hơn.

        Ngoài ra còn nhiều con đường viết sai tên khó chấp nhận như Lương Như Học thì viết là Lương Như Hốc, Trương Quốc Dung thành Trương Quốc Rụng, Láng The thành Láng Thé... Trong một câu thì trên là Quảng Lợi, dưới là Quán Lợi (tr.157)...

        Điểm nổi cộm đáng bàn cuối bài viết này là cuốn từ điển đã không cập nhập tên các tỉnh thành nên trong sách còn nhan nhản những tên như Nam Hà, Nghệ Tĩnh, Hà Bắc, Sông Bé, Nghĩa Bình... trong khi các tỉnh này đã tách ra và trở lại tên cũ từ năm 1997 về trước.

        Tóm lại, cảm giác chung khi đọc lướt qua đã có thể thấy "Từ điển thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh" còn gợn lắm "cát sạn", riêng phần quân sự chỉ nhặt ra chừng ấy đã thấy khó chấp nhận. Nguyên nhân có nhiều, nhưng có lẽ cái chính là do sự thiếu cẩn thận và không tham khảo các cơ quan khoa học quân sự. Chính vì vậy mà cuốn từ điển đã có nhiều sai sót không lợi cho việc tìm hiểu, tra cứu, học tập của nhiều đồi tượng, làm sao "bạn đọc dễ dàng chia sẻ đồng cảm và lượng thứ" như Lời nói đầu của cuốn sách?.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:46:25 pm
         
ĐÔI ĐIỀU CẦN NÓI VỀ MỘT CUỐN SÁCH QUÝ1

TRẦN TRỌNG TRUNG        

        Almanach-những nền văn minh thế giới (Almanach-những nền văn minh thế giới, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1999) là một cuốn sách quý, vì nó mang nội dung bác học, giúp cho người đọc có những hiểu biết toàn diện về lịch sử nền văn minh nhân loại từ những buổi đầu khai thiên lập địa. Chỉ cần đọc qua mục lục cũng đủ thấy đây là một công trình nghiên cứu công phu, kết quả lao động dài ngày của một tập thể các nhà khoa học để có được trên 2.000 trang sách khổ lớn. Có điều đáng tiếc là cuốn sách có khá nhiều thiếu sót, làm giảm lòng tin của người đọc, cả về nội dung sự kiện, số liệu lịch sử, ngôn từ, cách thể hiện... Trong phạm vi một bài viết và trong tầm hiểu biết của mình, tôi xin nêu một số ý kiến để cùng các tác giả trao đổi.

        Thứ nhất: Nội dung các mục, các bài, làm cho người đọc nhận thấy thiếu sự thống nhất giữa các tác giả về mục đích biên soạn, nội dung, yêu cầu và phương pháp thể hiện. Xin nêu một vài dẫn chứng:

        1. Viết về danh tướng thế giới:

        Tôi cho rằng mục đích chủ yếu là để người đọc thấy được phương thức tổ chức xây dựng lực lượng, bản lĩnh cầm quân, . tài thao lược của từng vị tướng trong các thời điểm có ý nghĩa quyết định bước ngoặt quan trọng của chiến tranh. Trong cuốn sách, nội dung và cách viết về Giu-cốp (Joukov) là phù hợp. Và như vậy, những điểm dưới đây cần được nghiên cứu thêm:

        + Đầu đề giới thiệu tên của mỗi vị tướng, không nên kènmtheo mấy lời đánh giá của người viết (ví dụ: Đại nguyên soái Su-vô-rốp (A.V.Souvorov), vị danh tướng bất khả chiên bại). Nên thống nhất chỉ có họ tên, không nên vị tướng này thì có lời đánh giá, vị tướng khác thì không. Cần tránh những đầu đề tuỳ tiện, lạc lõng, không đồng dạng (như Vó ngựa xâm lăng Thành Cát Tư Hãn). Ta viết về danh tướng, muốn phê phán đầu óc xâm lược của họ, ta viết trong phần nội dung, không nên cho lên đầu đề.

        + Nội dung viết về một danh tướng không nên đi sâu, viết quá nhiều về gia thế, thời thơ ấu, chuyện thê thiếp và những giai thoại không liên quan đến sự hình thành và phát triển thiên tài quân sự của vị tướng đó (điển hình như trong trường hợp Thành Cát Tư Hãn). Tu-kha-sép-xki (Toukhatchevski) là một ví dụ khác. Sau mấy dòng về thân thế sự nghiệp, bài viết chỉ tập trung nói về nỗi oan uổng của viên tướng (do bọn Đức làm hồ sơ giả khiến Ban lãnh đạo Liên Xô mắc lừa và kết án tử hình ông về tội phản bội Tổ quốc). Không có nội dung gì chứng minh lời đánh giá của Giu-cốp (được dẫn ở cuối bài viết) rằng Tu-kha-sép-xki là một người khổng lồ của tư tưởng quân sự, một ngôi sao lớn nhất trong những chỉ huy ưu tú của Hồng quân. Đặc biệt đáng chú ý là bài viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp của chúng ta. Những mốc chiến lược quan trọng nhất trong 30 năm chiến tranh, trong đó Võ Nguyên Giáp thể hiện thiên tài quân sự của ông, là gì? Hoặc không rõ, hoặc sai và thiếu. 1- Riêng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trước hết cần làm rõ về chiến dịch Điện Biên phủ: Trong chiến dịch này, nếu ông không quyết đoán khi thay đôi phương châm tác chiến chiến dịch thì đâu có thắng lợi? Có phải khi địch mới đổ quân xuống Điện Biên Phủ và bị bao vây Phương châm tác chiến chiến dịch là “đánh nhanh giải quyết nhanh" với yêu cầu đánh tiêu diệt và đánh chắc thắng (như tác giả viết ở trang 328?). 2- Sao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chỉ thấy Đại tướng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân - Hè 1975? Thế còn vai trò của ông trong những thời điểm lịch sử khác trên cả hai miền đất nước từ 1955 đến 1974 thì sao? 3- Sao tác giả dễ dàng đồng tình với người nước ngoài gọi ông là vị tướng 5 sao của quân đội Bắc Việt? Quân đội ta không có quân hàm 5 sao. Võ Nguyên Giáp là Tổng tư lệnh của quân đội cả nước. Những điều giản đơn đó, nếu người viết thận trọng hơn một chút thì cuốn sách sẽ được tôn giá trị lên biết bao?

-----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1-2002)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:47:19 pm

        + Các tác giả ca ngợi thiên tài quân sự của các vị danh tướng, điều đó rất đúng vì đó chính là mục đích của các bài viết. Nhưng bên cạnh đó, thái độ của người viết nên như thế nào trước thảm họa chiến tranh mà những nhân vật như Na-pô-lê-ông, Thành Cát Tư Hãn... đã gây ra cho nhân loại? Theo tôi, nên có đôi lời bàn, dù chỉ một vài dòng. Thực tế, nhiều danh tướng đã phải trả giá cho những tham vọng xâm lược và bá chủ quá lớn và quá tàn bạo của họ. Không những thế, đầu óc coi sinh mạng quân lính thuộc quyền như cỏ rác, sẵn sàng bỏ rơi để chạy thoát thân như trường hợp Na-pô-lê-ông năm 1812, để mặc cho hàng chục vạn quân bị chết rụi trên đất Nga, đâu phải là hành động anh hùng, là trách nhiệm trước xương máu binh sĩ của một danh tướng?

        + Nhân đây xin đề nghị xem lại việc chọn và in ảnh các danh tướng (cũng như ảnh các danh nhân văn hoá, khoa học, chính khách... nổi tiếng). Nên chọn ai và đặt ở đâu... là việc cần nghiên cứu. In ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở trang 21 (trong bài viết về chiến dịch Huế - Đà Nẵng) là rất không hợp lý.

        2 - Viết về những trận đánh lớn trong lịch sử.

        - Các tác giả chọn và viết 8 chiến dịch của Việt Nam. Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin lưu ý vấn đề thống nhất thể loại và cân nhắc nên đưa chiến dịch nào vào cuốn sách.

        + Về chiên dịch Huế - Đà Nẵng (mà tác giả gọi nhầm là chiến dịch Quảng - Đà 29-3-1975), tôi cho rằng không nên lấy nguyên văn 42 trang trong cuốn Tổng hành dinh trong Mùa Xuân toàn thắng của đồng chí Võ Nguyên Giáp để cho vào Almanach. Thể loại và độ dài không phù hợp, không thống nhất với 29 bài khác trong toàn bộ mục này (Chiến dịch Huế - Đà Nẵng chiếm 16 trang, trong khi chiến dịch Điện Biên Phủ chỉ 2,5 trang - cả bản đồ). Như vậy, khiến cho cả nội dung và hình thức thể hiện Mục C Phần thứ nhất của cuốn sách bị khập khiễng.

        + Nếu độ dày của Almanach chỉ cho phép số lượng bài như trên thì tôi đề nghị nên cân nhắc giữa 3 chiến dịch Tây Nguyên - 1 (CDTN-72), Huế - Đà Nẵng 1 (CDHĐN-75) và chiến dịch Biên Giới 1950 (CDBG-50). Về tầm cỡ và hiệu quả chiến lược, CDTN-72 không có gì là đặc sắc so với các chiến dịch kia. Trong CDHĐN-75, không những không gian được giải phóng rất rộng, số lượng địch bị loại khỏi vòng chiến rất lớn, âm mưu chiến lược (co cụm) của địch bị hoàn toàn phá sản mà đây còn là "chiến dịch hôm trước” của đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng. Nhưng dù sao, CDHĐN-75 cũng diễn ra trong cao trào Tổng tiến công 1975, trong tình thế thắng thua đã quá rõ ràng. Ngược lại, bối cảnh chiến tranh trong Thu - Đồng năm 1950 khác hẳn. Ta vẫn còn "chiến đấu trong vòng vây", chưa có giao lưu quốc tế, lực lượng so sánh còn bất lợi cho ta, làm gì đã có "thế chẻ tre" như Xuân 1975? Hồi đó, bằng 8 cuộc hành quân, chiến dịch lớn, quân Pháp mở rộng vùng tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, ta đứng trước rất nhiều khó khăn, nhất là về vật chất để phát triển lực lượng và về cách đánh. Vậy mà, với sự phát triển vượt bậc về nghệ thuật chỉ đạo chỉ huy tác chiến chiến dịch, kết quả là 8 tiểu đoàn tinh nhuệ của địch bị diệt gọn và cả vùng biên giới Đông Bắc được giải phóng, chiến dịch Biên Giới đã tạo nên một bước ngoặt chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Những gì dư luận Pháp và phương Tây đã nói về "thảm hoạ Đường số 4", những biện pháp chiến lược đối phó quyết liệt của Pháp - Mỹ từ đầu năm 1951 và những thắng lợi hên tiếp của ta trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, tất cả đều đã khẳng định tầm chiến lược đặc biệt quan trọng của chiến dịch này. Tóm lại, theo tôi, không nên viết CDTN-72, cần viết lại CDHĐN-75 cho đồng dạng, với số trang vừa phải và dành chỗ cho CDBG-50.

        + Cũng nhân đây, xin đề nghị xem lại chất lượng các bài viết về các trận đánh của Việt Nam đã in trong Almanach. Người đọc mong rằng nếu không hơn, không có gì mới được bổ sung thì về chất lượng ít nhất cũng bằng những gì đã được tổng kết về các chiến dịch lớn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:48:16 pm

        3- Về lược khảo biên niên lịch sử thế giới:

        Thứ nhất, đọc những trang biên niên, người ta dễ dàng nhận thấy các tác giả không quan tâm thoả đáng đến phần lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam, không chỉ từ những thế kỷ trước Công nguyên, mà cả từ các mốc khó quên của các triều đại phong kiến cho đến lịch sử hiện đại, bao gồm cả 30 năng chiến tranh giải phóng dân tộc vừa qua.

        + Việt Nam là một quốc gia phát triển sớm, trên mảnh đất được coi là một trong những chiếc nôi của loài người, một đất nước sớm hình thành dân tộc, hình thành nhà nước. Từ thời Văn Lang - Âu Lạc, dân tộc Việt Nam đã có truyền thống giữ nước (chống Tần, chống Triệu Đà từ những thế kỷ thứ III, thứ II trước công nguyên). Văn hoá Phùng Nguyên, có niên đại khởi đầu cách đây chừng 4.000 năm, là điểm xuất phát của nền Văn minh sông Hồng rực rỡ. Vậy mà trên những trang biên niên lịch sử, chỉ tới khi đề cập đến các sự kiện của những năm 598-614 sau công nguyên mới thấy lần đầu tiên các tác giả nói đến Việt Nam, mà lại nói gián tiếp (nhà Tuỳ xâm lược nước Vạn Xuân). Rồi từ thế kỷ thứ X trở đi, các tác giả không nói đến một sự kiện chính trị, văn hoá, một chiến công nào, từ Ngô Quyền, đến Đinh - Tiền Lê - Lý (Trần, cho mãi đến thời Tây Sơn cũng vậy. Chỉ có 2 lần và vẫn là cách đề cập gián tiếp dưới dạng nước ta bị nhà Tống (năm 981) rồi Mông - Nguyên xâm lược (1258-1285-1288). Điều đáng chú ý là, cũng trong khoảng thời gian này, một số sự kiện không có gì là đặc biệt của thế giới lại được các tác giả nói đầy đủ trong biên niên (Bồ Đào Nha trở thành vương quốc độc lập năm 1144; thành lập trường đại học Cambridge - Anh, năm 1231; nạn dịch hạch ở Công-xtăng-ti-nốp (Constantinople), (năm 1334).

        + Từ thế kỷ thứ XIX trở đi, các tác giả nói đến năm sinh của V.Huy-gô, của Đác-uyn (C.Darwin), năm mất của Đơ Lít (De Lisle) - tác giả quốc ca Pháp - đến việc tìm được mỏ vàng ở Mỹ, việc Bi-xmác rời khỏi chức Thủ tướng Đức... nhưng lại không nói đến sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đó là năm 1890, năm Hồ Chí Minh chào đời. Tiếp đến năm 1911, tác giả nói đến khởi nghĩa Vũ Xương và Cách mạng Tân Hợi - Trung Quốc, Viên Thế Khải lên làm Thủ tướng, nhưng sự kiện Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước thì không được nói đến.

        + Năm 1945, cuộc Cách mạng Tháng Tám được các tác giả viết bằng một câu vừa không có hồn, vừa khá lạ lẫm về nội dung và ngữ nghĩa: 19-8-1945: Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.

        Trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, những mốc chuyển biến lớn của đất nước cũng không được các tác giả quan tâm đúng mức. Vài ví dụ: Năm 1947, nói đến đảo chính ở Thái Lan nhưng bỏ qua chiến thắng có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong năm đầu kháng chiến toàn quốc là chiến thắng Việt Bắc. Cuối năm 1950, nói đến Quân Chí nguyện Trung Hoa sang chiến đấu kháng Mỹ, viện Triều nhưng không một lời về chiến thắng Biên Giới (mà tầm quan trọng tôi đã có dịp nói ở phần trên). Những mốc quan trọng đánh dấu các bước mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên cả hai miền đất nước (5-8-1964, 8-3-1965, 18-12-1972...) đều không được nói đến, nhưng các tác giả lại nhắc nhiều lần lời tuyên bố (lừa bịp để trấn an dư luận) của Ních-xơn (R.Nixon) về vấn đề rút quân những năm 1969, 1972.

        + Tóm lại, về nội dung lịch sử dân tộc Việt Nam trong dòng lịch sử chung của thế giới, để đi tới thống nhất ý kiến chung quanh việc chọn sự kiện nào để đưa vào Almanach cho thoả đáng là vấn đề cần được trao đổi thêm. Đối với các nước trên thế giới, có những sự kiện cụ thể xét ra không có tác động và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cộng đồng xã hội thì không nên tham, vì càng viết càng thấy thiếu, nói sự kiện này sao không nói sự kiện kia, cùng một loại sự kiện sao nước này thì nói, nước kia thì không. Ví dụ: Thành lập trường Đại học Răng-gun (Rangoon, 8-1920), việc nhậm chức của các tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi (J.Kennedy, 1-1961) và của Ca-tơ (J.Carter, 1-1977)...

        Thứ hai: Việc biên tập, sửa bản thảo, bản in, để lại khá nhiều lỗi, trong đó có những lỗi làm sai lạc thời điểm, nội dung sự kiện và số liệu lịch sử, đồng thời để lại những thiếu sót cụ thể về kỹ thuật cần khắc phục.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:49:03 pm

        1 - Về thời điểm, nội dung sự kiện và số liệu lịch sử: (xin điểm theo trình tự các trang của Almanach):

        + Quan hệ giữa binh lính với A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan (Alexandre Macedoine) thế nào, yêu mến hay nổi dậy chống lại vì A-lếch-xăng-đrơ đem quân xâm lăng Ấn Độ? (tr.67 và 253).

        + Chung quanh việc Tổng thống Hoa Kỳ Mắc Kin-ly (Mc Kinley) bị ám sát và Th. Ru-dơ-ven (Roosevelt) lên thay (tr.101). Sự kiện diễn ra tháng 9 chứ không phải tháng 1. Mc Kin-ly bị ám sát ngày 6-9-1901, chết ngày 14-9-1901, cũng là ngày Phó tổng thống Th.Ru-dơ-ven nhậm chức.

        + Nội chiến Tây Ban Nha (các trang 109, 110 và 339) không thống nhất: tháng 7 năm 1936 hay ngày 1 tháng 10 năm 1936 hay ngày 17 tháng 7 năm l937? Theo Pơ-ti La-rút-xơ (Petit Laurousse) (1983 - tr.1.305) thì nội chiến diễn ra từ 1936 đến 1939.

        + Văn hào Ta-go (R.Tagor) được giải thưởng Nô-ben (Nobel) năm nào? Giữa hai trang 111 và 1.549 của Almanach, chỗ thì ghi 1941, chỗ thì 1913. Theo Pơ-ti La-rút-xơ (tr.1.715), năm 1913 ông được giải thưởng Nô-ben, ông mất năm 1941.

        + Thiệt hại do Thế chiến 2 gây ra là bao nhiêu người? Tr.113 Almanach: 40 triệu, tr.338: 53 triệu. Pơ-ti La-rút-xơ (tr.1.374): 49 triệu. Lịch sử hiện đại, tập 2, tr.46, Nxb Sự. Thật, 1963 dịch sách của Liên Xô dựa theo Niên giám thế giới của Mỹ: 46 triệu. Vậy nên lấy số nào? Vì giữa hai trang 113 và 338 của Almanach cũng chênh nhau 13 triệu người. Riêng số thiệt hại của Nhật Bản, hai trang của Almanach cũng không thống nhất (tr.113: 2 triệu, tr. 833: hơn 3 triệu). Tổn thất của Mỹ trong trận Trân Châu Cảng cũng không thống nhất giữa trang 193 và trang 195 cuốn sách.

        + Ngày nào được coi là bắt đầu chiến tranh lạnh? (tr.114: 5-3-1946; tr.115: 12-3-1947 và 26-7-1947).

        + Ngày độc lập của Ấn Độ là ngày nào? Tr.115: ngày 14 tháng 8 năm 1947: Anh công nhận độc lập, hôm sau 15 tháng 8 J.Nê-ru nhậm chức thủ tướng Chính phủ liên bang Ấn Độ tự trị. Tr.117: Ngày 26 tháng 1 năm 1950 Hiến pháp quy định thể chế Cộng hoà bắt đầu có hiệu lực. Theo La-rút-xơ là ngày 15 tháng 8 năm 1947, nhưng theo cuốn Các nước trên thế giới (Nxb Sự thật, 1983, tr. 16 thì "Ngày 26-1-1950, Ấn Độ tuyên bố độc lập và trở thành một nước cộng hoà").

        + Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1963, chứ không phải ngày 2 (tr.122).

        + Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ ngày 7 tháng 8 năm 1 (tức chỉ mấy ngày sau khi không quân và hải quân Mỹ gây ra Sự kiện Vịnh Bắc Bộ) chứ không phải năm 1 (tr. 122).

        + R.Ních-xơn từ chức Tổng thống Mỹ ngày 9 tháng 8 năm 1974 chứ không phải ngày  (tr.127). (Xem: 42 đời Tổng thống Hoa Kỳ, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, 1995, tr.1.079).

        + Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa vũ trang của Ápganixtan ngày 27 tháng 4 năm 1978, lập nước Cộng hoà dân chủ Ápganixtan ngày 30 tháng 4 năm 1978 chứ không phải năm 197 (tr.128).

        + Lời Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn khẳng định với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay giặc đến dễ đánh" là câu nói của ông vào lần thứ 3 cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên chứ không phải lần thứ  (tr.281). Xem Một số trận quyết chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nxb QĐND, Hà Nội 1976, tr.91, trích theo Đại Việt Sử ký toàn thư.

        2 - Một số vấn đề cụ thể về từ ngữ

        Có thể vì lý do nào đấy trong khâu biên tập hoặc việc "dọn vườn" làm chưa chu đáo, lại do nhiều người viết, nên còn khá nhiều hạt sạn nhỏ trên một số trang sách. Rõ nhất là vấn đề chữ nghĩa, không chỉ chữ nước ngoài (phiên âm) mà cả chữ “tiếng Việt". Xin nêu vải dẫn chứng để lưu ý cho lần tái bản.

        + Chỉ trên 3 dòng cột bên phải trang 197, hai từ tấn công và tiến công đã dùng không thống nhất. Nhiều trang khác như 254, 255... cũng vậy. (Từ những năm 70 của thế kỷ XX trong một cuộc hội thảo tổ chức ở Viện Khoa học Quân sự, mọi người đã thống nhất chỉ nên dùng từ tiến công).

        + Chỉ trên 1 dòng tr. 199, tác giả viết một từ theo 2 cách khác nhau (Stalingrad và Xtalingrat). Nhiều trang khác lặp lại cách dùng khác nhau về một từ Staline - Xtalin và Stalin.

        + Những tên riêng như Tojo Hadeki gồm 2 từ chứ không phải  (tr.334); Hirohito là 1 từ chứ không phải  (tr.131 và 833). Viên bại tướng cuối cùng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam không trùng tên với cầu thủ bóng đa số 10 của nước Anh (Owen) như tác giả viết ở trang 327, viên tướng này tên là Weyand. Thủ đô nước Áo là Vienna chứ không phải là Wien như tác giả viết ở các tr.90, 93.

        + Việc phiên âm tiếng nước ngoài cần cố gắng thống nhất và chuẩn mực hơn. Ví dụ (tr.101) Mc Kinkey viết là Mekenley rồi mở đóng ngoặc (Mackinlây); Theo tiếng nước ngoài, hoàng - tử Ba Tư tên là Xerxes chứ không phải Xerces, dù đều phiên âm là Xec-xet (tr.149).

        + Nên có chú thích để người đọc dễ hiểu một số từ như chiến tranh Punique của Carthage thời Hannibal; Đại Hãn Thiết Mộc Chân (Thành Cát Tư Hãn), Mạc Phủ (Nhật Bản)…

        + Riêng tên của Aristote (hay Aristotelex hay Aristotle) nên dùng thống nhất một từ, theo cách viết của Anh hay của Pháp. Tiện đây cũng xin có ý kiến chung quanh bài viết về nhân vật này. Liệu có nên tách thành 2 bài (tr.1.417 và 1.463), một bài viết về nhà tư tưởng, nhà triết học, một bài viết về danh nhân văn hoá. Rồi 2 lần giải thích về 3 tên khác nhau, và bài nọ lặp lại công trình khoa học của Aristote đã nói trong bài kia (Phép siêu hình - Siêu hình học). Aristote đã vậy, nhiều danh nhân khác thì sao? Ví dụ trường hợp Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc đồng thời là Danh nhân văn hoá thế giới.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:50:38 pm
       
ĐÔI ĐIỀU VỀ CUỐN SÁCH
“TÌM HIỂU CÁC PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGHĨA (1885-1945)”
1

ĐINH XUÂN LÂM        

        Bạn đọc ham tìm hiểu lịch sử đấu tranh yêu nước cách mạng của cả nước nói chung, của các địa phương nói riêng, rất vui mừng tiếp nhận cuốn "Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân tỉnh Quảng Nghĩa (1885-1945)" của Bùi Định, do Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng và Sở Văn hoá-Thông tin tỉnh Nghĩa Bình xuất bản năm 1985.

        Cầm trên tay cuốn sách khá dầy dặn (284 trang), trình bày một cách trang nhã, người đọc đã có cảm tình. Đọc "Lời giới thiệu” (tr.5), được biết tác giả vốn là một cán bộ tham gia cách mạng từ những ngày đầu thành lập Đảng bộ tỉnh và đã liên tục hoạt động trong phong trào địa phương qua các thời kỳ, người đọc càng thêm tin tưởng. Đây là trường hợp biết và quý, vì do chính người đã góp phần làm ra lịch sử trực tiếp viết lịch sử địa phương mình với tất cả sự hiểu biết và tình cảm gắn bó.

        Ấn tượng tốt đẹp đầu tiên càng được củng cố qua các chương mục của tác phẩm sắp xếp theo một bố cục hợp lý và xây dựng trên cơ sở nhiều nguồn tư liệu phong phú. Những hiểu biết và kinh nghiệm của tác giả, vốn là một chiến sĩ phong trào, đã được kết hợp chặt chẽ với những hiểu biết và kinh nghiệm của nhiều đồng bào, đồng chí, có đối chiếu, thẩm tra và đánh giá một cách thận trọng với các nguồn tư liệu thành văn ở Trung ương và các địa phương, đặc biệt là các tư liệu điều tra thực địa và những tư liệu do chính các chứng nhân lịch sử cung cấp, kể cả một số tư liệu từ phía địch (Như các báo cáo của Công sứ và Ty mật thám tỉnh Quảng Nghĩa, của Toà khâm sứ và Sở mật thám Trung Kỳ…).

        Nhờ vậy, quá trình phát triển của phong trào yêu nước cách mạng từ năm 1885 đến năm 1945 của nhân dân Quảng Nghĩa đã được dựng lại một cách đầy đủ trên những chặng đường phát triển chính, với các đặc điểm nổi bật.

        Tuy nhiên, do đề tài nghiên cứu đề cập tới một địa phương có phong trào mạnh, phát triển liên tục qua cát thời kỳ, vừa mang tính chất chung cả nước, vừa có những đặc điểm riêng, việc nhận định, đánh giá tính chất, khuynh hướng, quy mô của phong trào Quảng Nghĩa đặt trong mối quan hệ chung với phong trào toàn quốc, không khỏi có những khó khăn nhất định, không dễ sớm đi tới thống nhất ý kiến, nhất là đối với thời kỳ trước khi chính đảng của giai cấp vô sản ra đời.

        Bài viết này chưa đề cập tới phong trào yêu nước chống Pháp trong tỉnh Quảng Nghĩa trên con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác-Lênin (1926-1945) mà tập trung vào hai phần: Phần một - Phong trào Cần Vương chống Pháp tỉnh Quảng Nghĩa (1885-1896) và Phần hai - Phong trào yêu nước mang màu sắc dân chủ tư sản trong tỉnh Quảng Nghĩa (1899-1926), vì có một số vấn đề chúng tôi muốn trao đổi bàn bạc thêm.

        Vấn đề thứ nhất là xung quanh phong trào Cần Vương tỉnh Quảng Nghĩa (1885-1896):

        Tác giả khẳng định vai trò lãnh đạo phong trào Quảng Nghĩa thuộc về các sĩ phu phong kiến yêu nước chống pháp cuối thế kỷ XIX và cho rằng phong trào Quảng Nghĩa trong thời kỳ đầu do Lê Trung Đình lãnh đạo là một bộ phận của phong trào Cần Vương, do Tôn Thất Thuyết cầm đầu, điều đó là hoàn toàn đúng với sự thật lịch sử. Nhưng khi ông khẳng định rằng từ lúc bù nhìn Đồng Khánh được Pháp dựng lên sau khi vua Hàm Nghi “xuất bôn” kêu gọi đánh Pháp thì các văn thân, sĩ phu yêu nước chống Pháp lúc đó đã bị "kẹt", vì đến nay chữ "ái quốc" đã mâu thuẫn với chữ "Trung quân" (tr.35), thì lại không chính xác. Vì tuy triều đình Đồng Khánh có được thực dân Pháp dựng lên, nhưng lập tức đã bị nhân dân cả nước - trong đó có bộ phận đứng đầu là các văn thân, sĩ phu yêu nước chống Pháp - phỉ nhổ, nên quyền hành chỉ giới hạn trong một khu vực nhỏ hẹp xung quanh kinh thành Huế, ngay cả chuyến đi ra Bắc do "quan thầy" bố trí để gây thanh thế cho Đồng Khánh cũng hoàn toàn phá sản. Y vừa ra khỏi kinh thành chưa được bao xa đã bị nghĩa quân các địa phương chặn đánh quyết liệt, buộc phải quay về. Rõ ràng là nhân dân và văn thân sĩ phu yêu nước chống Pháp hồi đó không chấp nhận cái triều đình đầu hàng, con đẻ của bè lũ cướp nước. Và khi họ nổi dậy chống thực dân Pháp, đó là họ hưởng ứng Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, là họ biểu lộ lòng "trung" với một ông vua kháng chiến và "triều đình" của ông ta - mặc dù nó nằm trong tình trạng lưu vong. Lúc này, các văn thân, sĩ phu yêu nước chống xâm lược Pháp hoàn toàn không bị rơi vào "một chỗ kẹt", trái lại, họ đã được "khai thông", địch - ta lúc này đã rõ rệt, nên có điều kiện kết hợp chặt chẽ "Trung quân" với "Ái quốc", chớ đâu có tình cảnh ngang trái của văn thân sĩ phu yêu nước dưới triều Tự Đức, muốn đánh mạnh mà bị chính bản thân triều đình hạn chế, ngăn cản, thậm chí phá hoại.

----------------
        1. (Tạp chí LSQS số 2-2002)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:51:32 pm
  
        Một vài dẫn chứng: năm 1858, Phạm Văn Nghị hăng hái đưa đội quân sĩ tử lên đường vào Nam đánh giặc đã bị triều đình buộc phải quay ra Bắc; Trương Định buộc phải bãi binh sau khi triều đình ký Hàng ước năm 1862 dâng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp; đó là chưa nói tới trường hợp nhà yêu nước Hoàng Phan Thái đã bị triều đình Tự Đức xử chém vì "tội" yêu nước chống Pháp? Cuối cùng, văn thân, sĩ phu và nhân dân cả nước đều nhận thấy rõ rằng: muốn đánh giặc Pháp có kết quả thì phải chống luôn cả triều đình đầu hàng giặc Và đó là cách giải quyết đúng đắn của họ, ngay cả khi triều đình mới có một số hành động thoả hiệp đầu hàng mà chưa trở thành tay sai hoàn toàn cho giặc. Huống chi đến khi triều đình phong kiến đã hoàn toàn sụp đổ trước sự tấn công của tư bản Pháp, Đồng Khánh đã trở thành tay sai đắc lực và trung thành của giặc Pháp, thì tình hình lại càng rõ ràng hơn. Lúc này, khi hưởng ứng Chiếu Cần Vương, văn thân, sĩ phu và nhân dân yêu nước có "danh chính ngôn thuận" và trong hành động đã thống nhất chặt chẽ "Trung quân" với "Ái quốc". Đối với họ bấy giờ, cái "tiểu triều đình" kháng chiến của Hàm Nghi lưu động nơi thâm sơn cùng cốc miền Tây Nghệ Tĩnh và Quảng Bình mới đại diện cho dân, cho nước, chớ đâu phải là cái triều đình bù nhìn Đồng Khánh ru rú nơi cung vàng điện ngọc chốn thần kinh. Chính thực dân pháp lúc đó cũng phải xác nhận Hàm Nghi là "linh hồn của cuộc kháng chiến".

        Nhận định thứ hai của tác giả Bùi Định là phong trào Cần Vương Quảng Nghĩa có hai thời kỳ: Thời kỳ "công khai hợp pháp" với hai cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình (1885), Nguyễn Bá Loan (1886-1888) và thời kỳ "bí mật, bất hợp pháp" với cuộc khởi nghĩa Thái Thú (1894) và cuộc vận động phục quốc của Trần Du (1895 - 1896).

        Theo chúng tôi, việc phân chia tách bạch như vậy không hợp lý vì không phản ánh được đặc điểm từng lúc, từng vùng của phong trào Cần Vương cả nước nói chung, của phong trào Cần Vương Quảng Nghĩa nói riêng. Sự thật thì chỉ sau một giai đoạn phát triển sôi nổi và ồ ạt khi có Chiếu Cần Vương thứ nhất (13-7-1885), phong trào nổi dậy của các tỉnh Nam Trung Kỳ - từ Bình Thuận ra tới Quảng Nam, đã bị giặc Pháp và phong kiến tay sai dập tắt trong máu lửa. Khi vua Hàm Nghi sa vào tay giặc (11-1888), về cơ bản, phong trào nơi đây đã tan rã và bộ máy kìm kẹp của thực dân Pháp đã được siết chặt trên toàn vùng. Trong hoàn cảnh đó, những người yêu nước, trong quá trình tập hợp lực lượng tiến tới khởi nghĩa, bắt buộc phải hành động thận trọng, bí mật, để tránh khỏi tai mắt của kẻ thù và tay sai. Tình hình đó có khác tình hình các tỉnh ngoài Bắc, từ Hà Tĩnh trở ra. Tại các tỉnh này, sau khi Hàm Nghi bị giặc bắt, phong trào cũng dồn dập trải qua những khó khăn to lớn, kẻ thù giờ đây rảnh tay phía Nam nên có điều kiện dồn sức đánh phá ngoài Bắc. Nhưng cũng không thể vì vậy mà chúng có thể dập tắt được phong trào một cách dễ dàng? Chỉ có điều mới là trong hoàn cảnh miền đồng bằng giờ đây đã bị kẻ thù "bình định", các cuộc khởi nghĩa phải chuyển địa bàn hoạt động lên miền trung du và rừng núi để kéo dài cuộc chiến đấu (khởi nghĩa Phan Đình Phùng - Cao Thắng ở Nghệ Tĩnh; khởi nghĩa Tống Duy Tân - Cao Điển ở Thanh Hoá).

        Nếu chỉ căn cứ vào một số đặc điểm của phong trào Cần Vương Quảng Nghĩa, thể hiện ở các mặt tổ chức lực lượng và xây dựng cơ sở - thực ra các đặc điểm này đều do tình hình địch - ta ở từng địa phương, vào từng thời gian quy định - để cho rằng "đó là những bước phát triển mới về chỉ đạo" của phong trào trong tỉnh (tr. 36) thì lại không sát và đúng tình hình thực tế phong trào cả nước, cũng như phong trào Quảng Nghĩa hồi đó.

        Khi nêu nguyên nhân thất bại của phong trào Cần Vương Quảng Nghĩa - sự thật đây cũng là nguyên nhân thất bại chung cho phong trào cả nước - tác giả đã phân tích khá kỹ và đầy đủ các mặt. Tiếc rằng cuối cùng lại không đi tới cái nguyên nhân cơ bản nhất là tình trạng khủng hoảng lãnh đạo trong phong trào. Hơn nữa, trong khi đánh giá Tôn Thất Thuyết, phần nào tác giả tỏ ra quá khe khắt, chưa "thông cảm" đúng mức với người xưa, làm cho bạn đọc có thể hiểu lầm ông là phần tử đào ngũ. Sự thật đâu phải người cầm đầu phái chủ chiến trong triều đình Huế "chỉ nhân danh vua Hàm Nghi ra được tờ Chiếu Cần Vương", sau đó bỏ vua Hàm Nghi lại Quảng Bình để "chạy sang Tàu cầu viện nhà Mãn Thanh?" (tr.38-39). Không phải vô cớ khi chính kẻ thù buộc phải xác nhận Tôn Thất Thuyết là "một nhân vật lớn" trong lịch sử Việt Nam, rằng "ông ta đã tỏ thái độ đối địch quyết liệt trong mọi hoàn cảnh" đối với chúng, nhưng cũng phải công nhận rằng "đấy là quyền mà cũng là bổn phận của ông ta (Đại úy Ba-xtit (Bastide) - Cuộc nổi dậy và việc chiếm đóng thành Huế năm 1885, Pa-ri, 1912).

        Hơn nữa, tác dụng của Chiếu Cần Vương đâu phải nhỏ! Nó đã phát động được cả một cao trào yêu nước chống Pháp trong toàn quốc, mang tính nhân dân sâu sắc (trừ Nam Kỳ bị giặc pháp chiếm sớm nên không có điều kiện hưởng ứng kịp thời và mạnh mẽ), làm cho giặc Pháp và phong kiến tay sai phải chật vật đối phó trong hơn 10 năm (1885-1896).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:52:09 pm

        Còn đối với sự kiện Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc vào tháng 3 năm 1886, một mặt cần thấy đây là một ngộ nhận của ông đối với phong kiến Mãn Thanh, nhưng mặt khác cũng phải nhận rõ động cơ yêu nước của ông trong chuyến "công du” này. Trước sau ông vẫn là người chân thành yêu nước, ra đi đâu phải để trốn tránh nhiệm vụ, mà với ý định tranh thủ viện trợ bên ngoài cho kháng chiến trong nước. Trước khi ra đi, ông đã giao nhiệm vụ phò vua diệt giặc cho những người đồng tâm, đồng chí ở lại - trong đó có cả hai người con trai của ông. Khi cầu viện thất bại - mà cũng không thể quay về nước nữa vì giặc Pháp đã khoá chặt biên giới Việt - Trung, bản thân ông cũng đã có những cố gắng vượt bậc trong việc tự lực tuyển quân, mua khí giới gửi về tiếp sức cho nghĩa quân trong nước, rồi cuối cùng chết nơi đất khách quê người với một nỗi bi phẫn khôn cùng.

        Vấn đề thứ hai cần được trao đổi ý kiến để đi tới một nhận định đánh giá sát đúng là xung quanh phong trào cách mạng tỉnh Quảng Nghĩa trong những năm 1897-1926.

        Trước hết là về sự biến chuyển trong cơ cấu xã hội Việt Nam hồi đầu thế XX. Ở đây, không có điều kiện đi vào tất cả các mặt của sự biến chuyển đó, mà chỉ đề cập tới sự phân hoá giai cấp mới.

        Tác giả Bùi Định cho rằng vào đầu thế kỷ XX, "trong xã hội Việt Nam đã có sự phân hoá mới" và "bên cạnh các giai cấp tầng lớp dân cư vốn tồn tại trong xã hội phong kiến Việt Nam như địa chủ, phú nông, nông dân lao động, đã xuất hiện những giai cấp, tầng lớp mới non trẻ, như giai cấp công nhân, công nhân nông nghiệp, giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị, trong đó có tầng lớp trí thức mới Tây học" (tr.42).

        Khẳng định như vậy là không đúng với tình hình xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Lúc đó hai giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị chưa ra đời, mà phải đợi tới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất mới có điều kiện hình thành. Một đặc điểm nổi bật trong sự phân hoá xã hội Việt Nam dưới thời thống trị của đế quốc Pháp là giai cấp công nhân ra đời sớm, cùng với sự khai thác đầu tiên của chủ nghĩa đế quốc Pháp, bỏ rơi đằng sau khá xa hai giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Đến khi hai giai cấp tư sản và tiểu tư sản gần như đồng thời xuất hiện sau chiến tranh - vào khoảng trước sau năm 1924 - thì giai cấp công nhân, ra đời từ trước chiến tranh, giờ đây đã trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Để tới tháng 8 năm 1925, khi bùng nổ cuộc bãi công Ba Son, thì chuyển vào giai đoạn "tự giác". Và khi chính đảng vô sản ra đời (3-2-1930) thì quá trình chuyển từ "tự phát" lên "tự giác" của giai cáp công nhân đã hoàn thành.

        Tiếp đó, khi đề cập tới các phong trào yêu nước của Quảng Nghĩa thời kỳ 1904-1908, tác giả đã phân tích khá kỹ sự phân hoá trong phong trào. Tác giả đã có lý khi khẳng định các phong trào hồi đầu thế kỷ ở nước ta "có sự giống nhau, có quan hệ mật thiết với nhau, song cũng có sự khác nhau” (tr.44-45).

        Nhưng khi đi vào phân tích cụ thể sự giống nhau và khác nhau thì tác giả tỏ ra lúng túng, trình bày dàn đều, không thấy được đâu là cái chính yếu, đâu là cái thứ yếu.

        Thực vậy, dưới tác động của chính sách thuộc địa của đế quốc pháp, từ những năm đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã biến chuyển cả về hai mặt kinh tế và xã hội. Nhưng điều quan trọng là sự biến chuyển kinh tế đó diễn ra không đồng đều giữa các vùng trong nước tuỳ theo điều kiện tư bản Pháp tiến hành khai thác nhiều ít khác nhau trong các vùng đó. Từ đặc điểm kinh tế này đã dẫn tới một đặc điểm xã hội là sự phân hoá xã hội đã diễn ra không đồng đều giữa các vùng. Vùng trào tư bản Pháp khai thác mạnh, phương thức tư bản chủ nghĩa du nhập sớm thì ở đó tầng lớp tư sản có điều kiện tập hợp đông hơn và chịu ảnh hưởng trào lưu tư tưởng mới (tư tưởng tư sản) sâu sắc hơn. Chính đặc điểm tình hình đó đã dẫn tới sự phân hoá không đồng đều trong phong trào, cũng như trong hàng ngũ những người yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX. Nói một cách khác, phải thấy rằng việc chịu ảnh hưởng tư sản sâu hay nông là tuỳ thuộc vào nền tảng kinh tế mới bên trong nhiều hay ít. Chỉ trên cơ sở đó mới giải thích được một hiện tượng khá độc đáo trong phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là cùng một lúc mà có hai xu hướng bạo động và cải lương song song tồn tại và phát triển. Đồng thời, cũng phải thấy hai xu hướng trên không đối lập nhau, trái lại còn ảnh hưởng qua lại, có tác dụng cổ vũ, thúc đẩy nhau phát triển vì cùng chung tính chất tư sản. Hơn thế nữa, cũng cần tránh xu hướng muốn nhập cục cả hai xu hướng vào làm một, vì làm như vậy là không phản ánh sát đúng thực chất sự phân hoá trong hàng ngũ những người sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX.

        Đi vào phong trào cụ thể, tác giả Bùi Định đã có sự lẫn lộn giữa hội Duy Tân với phong trào Duy Tân (tr.47). Sự thật cần phân biệt hội Duy Tân do Phan Bội Châu cùng các đồng chí thành lập vào hồi tháng 5 năm 1904 trong cuộc họp bí mật tại nhà Nguyễn Hàm ở Quảng Nam với cuộc vận động Duy Tân lan tràn ở các tỉnh miền Trung trong năm 1908.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:52:28 pm

        Hội Duy Tân chủ trương dùng thủ đoạn bạo động để khôi phục độc lập dân tộc, còn cuộc vận động mang tính chất cải cách lại chủ trương bước đầu phát động phong trào khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh để dân giàu, nước mạnh, sau mới tính đến chuyện khôi phục độc lập dân tộc.

        Chúng tôi xin nhấn mạnh lại là sở dĩ có sự phân hoá trong phong trào như vậy, chính là do mức độ tiếp thu ảnh hưởng lới không đồng đều trong bộ phận sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX những người chịu ảnh hưởng tư sản ít hơn, và phần nào còn gắn với truyền thống đấu tranh vũ trang của dân tộc, thì thiên về hoà bình cải cách. Tuy rằng đối với họ, dù thuộc xu hướng bạo động hay cải lương, thì mục đích cuối cùng vẫn là cứu nước, họ chỉ khác nhau về phương tiện, phương pháp hành động. Ngay cả đối với Phan Châu Trinh, là người đại diện triệt để nhất cho xu hướng cải lương hồi đó, tuy tác giả Bùi Định đánh giá gay gắt là "thoả hiệp, hợp tác với Pháp", nhưng rồi cũng phải công nhận mục đích cuối cùng của ông là để "mưu cầu cứu nước, cứu dân" (tr.46) một sự đánh giá rõ ràng là có mâu thuẫn trong lập luận.

        Duy có điều tác giả Bùi Định chưa làm nổi bật lên được, đó là sự khác nhau giữa hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Nghĩa hồi đó về mức độ tiếp thu ảnh hưởng mới.

        Cũng chính vì lẫn lộn giữa hội Duy Tân với cuộc vận động Duy Tân và cũng vì chưa nắm chắc sự giống nhau và khác nhau của phong trào Quảng Nghĩa so với phong trào Quảng Nam mà tác giả Bùi Định đã đưa ra nhận xét: "Có thể nói, nhiều điểm về đường hướng, chủ trương cơ bản của hội Duy Tân ở Quảng Nghĩa trái hẳn lại với đường hướng, chủ trương của phái Đông Du của cụ Phan Bội Châu và phái ỷ Pháp cầu tiến bộ của cụ Phan Châu Trinh". Trong khi đó ông vẫn buộc phải thừa nhận: "Tuy nhiên, về những chủ trương cụ thể và hình thức của phong trào thì có nhiều điểm giống với chủ trương của cụ Phan Châu Trinh, cụ Phan Bội Châu và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục" (tr.52). Cũng vì không nam được thực chất phong trào mà tác giả đã đi tới một nhận định không khoa học, thậm chí rất cảm tính, chủ quan khi khẳng định phong trào Quảng Nghĩa "là một phong trào yêu nước, trong khi chưa tìm được con đường đúng đắn để tiến lên, bí quá mà phải đi theo con đường dân chủ tư sản từ nước ngoài vừa dội vào để mưu cầu cho sự nghiệp “chống Pháp, cứu nước mà thôi" (tr.57).

        Sự thật là trong điều kiện xã hội và chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX, sau thất bại của phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX, đồng thời trước ảnh hưởng tư tưởng tư sản phương Tây từ ngoài tràn vào theo hai con đường Nhật Bản và Trung Quốc - từ Phan Bội Châu, qua Phan Châu Trinh đến Lương Văn Can - nói chung là với bộ phận sĩ phu tiến bộ, mặc dù có những hạn chế nhất định, đã tự nguyện chọn con đường Duy Tân, lấy tân học làm nền tảng tư tưởng và xu hướng chính trị của mình, tức là tư tưởng và chính tri tư sản trong căn bản. Tất nhiên, do tư sản Việt Nam còn là một tầng lớp rất mong manh, đang trong .buổi đầu tập hợp và xây dựng lực lượng, thế lực kinh tế còn yếu, nên không phải chính nó sáng tạo ra cái tư tưởng Duy Tân đổi mới của sĩ phu yêu nước, mà chính các vị đã chủ động tiếp nhận trào lưu tư tưởng mới từ ngoài vào. Nhưng vấn đề là từ những năm đầu thế kỷ, cùng với những biến đổi trong cơ cấu kinh tế, xã hội dưới ảnh hưởng chính sách khai thác của đế quốc Pháp, trong xã hội Việt Nam cũng đã xuất hiện một tầng lớp tư sản, đã có quan hệ tư bản chủ nghĩa, dù ở trình độ rất thấp kém. Đó là những cơ sở xã hội và chính trị tối thiểu để tư tưởng mới thâm nhập vào một số người, đặc biệt vào những người sĩ phu yêu nước - những người tri thức chân chính của dân tộc, mặc nhiên họ đã đại diện cho xu hướng tư sản. Cần nhấn mạnh rằng không phải bản thân các cụ đã có ý thức rằng mình đại diện cho tầng lớp tư sản, mà chỉ có ý thức tranh đấu vì nước nhà, vì dân tộc, nhưng khách quan mà nói thì tư tưởng và quan điểm chính trị của các cụ căn bản đã là tư tưởng và quan điểm chính trị tư sản. Vì những lẽ trên không thể không nhận định rằng phong trào yêu nước đầu thế kỷ thực chất đã là phong trào dân tộc có tính chất tư sản do các sĩ phu tiến bộ có khuynh hướng tư sản hoá lãnh đạo.

        Trên đây là một số ý kiến muốn được trao đổi thêm với tác giả sách "Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân tỉnh Quảng Nghĩa (1885-1945)" và cũng qua đây tranh thủ thêm ý kiến của bạn đọc rộng rãi. Nhưng sau khi bài viết xong chuẩn bị gửi đăng Tạp chí thì tôi được tin tác giả sách mới qua đời. Tuy vậy, tôi nhận thấy vẫn cần công bố bài viết của mình vì đây là một vấn đề học thuật cần được trao đổi rộng rãi trước khi đi đến một ý kiến thống nhất. Và tôi xin phép được xem bài viết của mình như một nén nhang tâm thành dâng lên hương hồn của tác giả Bùi Định.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:54:23 pm

KHU 5 HAY LIÊN KHU 5, QUÂN KHU 5 TRONG CUỐN SÁCH
 “KHU 5 - 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHONG”
1

VÕ CAO LỢI         

        Khu 5 - 30 năm chiên tranh giải phóng là cuốn lịch sử chiến tranh đầu tiên ở cấp Quân khu được hoàn thành và ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19.12.1946 - 19.12.1986).

        Đây là cuốn lịch sử viết về cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trên địa bàn Nam Trung Bộ (Nam Trung Bộ được tính từ đèo Hải Vân đến huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận)) trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Nó "đã phản ánh sinh động cuộc đấu tranh cách mạng, chủ yếu là chiến tranh cách mạng phát triển tử thấp đến cao trong sự phát triển chung của cuộc kháng chiến toàn quốc; dựng lại được bức tranh khá đậm nét về hoạt động quân sự của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, của lực lượng vũ trang cách mạng và cả lực lượng nhân dân đông đảo về sự kết hợp đấu tranh quân sự với các hoạt động đấu tranh về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, kết hợp nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế" (Đại tướng Hoàng Văn Thái - lời Tựa cuốn sách "Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng", tập  (thời kỳ kháng chiến chống Pháp), tr.5).

        Đúng như lời nhận xét của Đại tướng Hoàng Văn Thái - người đã từng làm Bí thư Khu ủy, Bí thư Quân khu ủy, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu  (1966-1967), quyển sách đã trở thành mẫu mực, trở thành nguồn tư liệu gốc để cho các địa phương, đơn vị, cơ quan trong Quân khu 5 làm chuẩn để viết lịch sử chiến tranh giải phóng của địa phương, đơn vị và ngành mình. Tất cả những cuốn sử trên đều dựa rất nhiều (về sự kiện và tư liệu) vào "Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng". Như thế cũng đủ cho chúng ta thấy chất lượng và giá trị của cuốn sách như thế nào. Nhưng vấn đề mà chúng tôi băn khoăn suy nghĩ là mối quan hệ giữa tiêu đề và nội dung cuốn sách. Nói cụ thể hơn là tên sách không thống nhất với phạm vi trình bày các sự kiện trong cuốn sách.

        Để làm rõ thêm điều này, chúng ta hãy ngược dòng lịch sử, xem lại quá trình hình thành và tồn tại của các khu hành chính quân sự ở miền Nam Trung Bộ trong hai cuộc kháng chiến và cho đến hiện nay như thế nào.

        Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 16 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập Chiến khu 5 và Chiến khu  (Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, tập 1. tr.73, 74 và Công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 5 - Biên niên sự kiện, tập 1, tr.33, 34).

        - Chiến khu 5 gồm 5 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai và Kon Tum. Đồng chí Cao Văn Khánh làm Chiến khu trưởng, đồng chí Nguyễn Chánh làm Chính ủy Chiến khu.

        - Chiến khu 6 gồm 7 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

        Đồng chí Trần Công Khanh, sau đó là đồng chí Nguyễn Thế Lâm làm Chiến khu trưởng, đồng chí Trịnh Quang Huy lành Chính ủy Chiến khu.

        Thực hiện sắc lệnh "Về quân đội quốc gia Việt Nam" do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 22 tháng 5 năm 1946, Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam quyết định cải tổ các chi đội Vệ Quốc đoàn ở Nam Trung Bộ và biên chế lại chính 3 đại đoàn với các phiên hiệu 31, 27 và 23 gồm 11 trung đoàn và 1 tiểu đoàn độc lập, đồng thời giải thể Chiến khu 5 và Chiến khu 6.

        Để thuận tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy, phù hợp với sự phát triển của tình hình kháng chiến, đầu tháng 12 năm 1946, Trung ương Đảng quyết định giải thể Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và ba đại đoàn ở Nam Trung Bộ, tổ chức lại hai khu hành chính quân sự (Khu 5 và Khu 6). Số tỉnh và phạm vi quản lý của Khu 5 và Khu 6 giống như Chiến khu 5 và Chiến khu 6.

        Ngày 28 tháng 8 năm 1947, được sự ủy nhiệm của Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng - đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ, ký Quyết định số 100/BT thành lập Khu 15 Tây Nguyên. Khu 15 được thành lập trên cơ sở tách các tỉnh Tây Nguyên ra khỏi Khu 5; tách 3 tỉnh Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng ra khỏi Khu 6. Khu 15 gồm 5 tỉnh Tây Nguyên nói trên. Đồng chí Trần Công Khanh được cử làm Khu trưởng và đồng chí Bùi San làm Chính ủy.

        Như vậy đến lúc này (8-1947), chiến trường Nam Trung Bộ được chia làm 3 khu hành chính quân sự:

        - Khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.

        - Khu 6 gồm Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận.

        - Khu 15 gồrn Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng (Đến năm 1950, hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng sáp nhập thành tỉnh Lâm Đồng).

        Thực hiện Sắc lệnh 120/SL ngày 25 tháng 1 năm 1948 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về thành lập các liên khu trong cả nước, ngày 20 tháng 10 năm 1948 theo quyết dình của ông đại diện Chính phủ Trung ương tại Nam Trung Bộ, các khu 5, 6 và 15 sáp nhập thành Liên khu 5.

        Chiến trường Liên khu 5 phụ trách bao gồm cả miền Nam Trung Bộ, kéo dài từ đèo Hải Vân (Bắc Quảng Nam) phía Bắc vào đến Hàm Tân (Nam Bình Thuận) phía Nam, phía Tây giáp biên giới hai nước Lào và Campuchia.

------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 1-2003)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:54:58 pm

        Bộ Tư lệnh Liên khu 5 gồm: Nguyễn Thế Lâm - quyền Tư lệnh; Nguyễn Chánh - Chính trị ủy viên; Nguyễn Nên - Đàm Quang Trung - Phó tư lệnh.

        Tháng 5 năm 1961, để đáp ứng với tình hình phát triển của cách mạng miền Nam nói chung, ở Nam Trung Bộ nói riêng, Trung ương Đảng quyết định tổ chức chiến trường Nam Trung Bộ thành hai khu (Khu 5 và Khu 6), đồng thời thành lập Quân khu 5 và Quân khu  (27-7-1961).

        Khu 5 và Quân khu 5 gồm các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum và Gia Lai. Đồng chí Võ Chí Công - Uỷ viên Trung ương Đảng, làm Bí thư Khu ủy, đồng chí Nguyễn Đôn - Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu.

        Khu 6 và Quân khu 6 gồm các tỉnh: Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Tuyên Đức và Lâm Đồng. Đồng chí Trần Lê - ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, làm Bí thư Khu ủy, đồng chí Y Blok Ea Ban làm quyền Tư lệnh Quân khu, đồng chí Nguyễn Mô (Tư Khiêm) làm Chính ủy. Đến năm 1962, đồng chí Nguyễn Minh Châu được Trung ương cử vào làm Tư lệnh Quân khu 6.

        Tháng 10 năm 1963, tách hai tỉnh Khánh Hoà và Đắc Lắc của Khu 6 về Khu 5. Đồng thời các tỉnh Bình Tuy, Quảng Đức và Phước Long của Khu 10 lại được sáp nhập vào Khu 6.

        Tháng 4 năm 1966, hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị tách khỏi Khu 5. Từ đây cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, Khu 5 gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Kon Tum, Gia Lai và Đắc Lắc. Khu 6 gồm các tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy, Tuyên Đức và Quảng Đức.

        Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân khu 5 và Quân khu 6 sáp nhập thành một quân khu và gọi là Quân khu 5. Quân khu 5 bao gồm các tỉnh của Nam Trung Bộ: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Lâm Đồng.

        Điểm lại quá trình hình thành các khu hành chính quân sự ở Nam Trung Bộ như trên, ta dễ dàng nhận thấy rằng địa giới Khu 5 chưa bao giờ vượt quá tỉnh Khánh Hoà và cũng chưa bao giờ với tới tỉnh Lâm Đồng. Trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng ở Nam Trung Bộ luôn luôn tồn tại Khu 5 và Khu  (cũng như Quân khu 5 và Quân khu 6), “mỗi Khu có vị trí chiến lược và đặc điểm riêng" (Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, tập 2, tr.37).

        Lịch sử rõ ràng như vậy, nhưng không hiểu tại sao ngay chương mở đầu giới thiệu về địa bàn chiến lược quan trọng của Nam Trung Bộ các tác giả của “Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng" lại viết:

        “Trong kháng chiến chống Pháp, Khu 5 chia làm 12 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận (đồng bằng ven biển), Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng (Tây Nguyên). Trong kháng chiến chống Mỹ, Khu 5 chia thành 14 tỉnh: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng. Hiện nay (1986) Khu 5 chia làm 7 tỉnh: Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hái, Gia Lai - Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng" (Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, tập 1, tr.12).

        Tất cả các tỉnh của Khu 6, tác giả gộp cả vào cho Khu 5 và như vậy, người đọc có thể hiểu là chưa từng có Khu 6 trong 30 năm chiến tranh. Vì thế, dẫn đến sự thiếu nhất quán giữa tên sách và nội dung, như phần đầu bài viết đã đề cập.

        Cũng giống như cuốn "Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng", hiện nay ở Bảo tàng Khu 5 đặt tại thành phố Đà Nẵng, nội dung bên trong các hiện vật trưng bày, các sự kiện, các nhân chứng lịch sử... là của cả quân và dân Nam Trung Bộ (nghĩa là của cả Khu 5 và Khu 6) nhưng tên của nhà Bảo tàng thì đề là: "Bảo tàng Khu 5”. Vì vậy, vừa qua một số đồng chí lão thành cách mạng ở Nam Trung Bộ có đề nghị Trung ương cho xây dựng "Bảo tàng Nam Trung Bộ", theo các đồng chí đó nếu miền Nam có "Bảo tàng miền Đông Nam Bộ", ở miền Bắc có "Bảo tàng Việt Bắc", "Bảo tàng Tây Bắc", thì ở miền Trung cũng cần phải có "Bảo tàng Nam Trung Bộ" lắm chứ!

        Đúng là như vậy. Trong 30 năm chiến tranh giải phóng, quân và dân Nam Trung Bộ đã góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp chung của dân tộc, lập nên bao chiến công hiển hách đồng thời cũng phải chịu bao đau thương mất mát, cần phải có một "bảo tàng" để lưu giữ những hiện vật gắn liền với những hy sinh mất mát cũng như những chiến công oanh liệt của quân và dân Nam Trung Bộ, đồng thời cũng là để giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống oách mạng cho các thế hệ mai sau. Trên thực tế, một bảo tàng như vậy đã có rồi. Theo chúng tôi đó chính là "Bảo tàng Khu 5" hiện nay, nhưng vì do cái tên "Khu 5" đó không thể bao hàm (đại diện) cho cả Khu 6 hay thay thế cho cả Nam trung Bộ được.

        Lịch sử cần có sự chính xác và cụ thể. Đối với văn học có thể lấy tên một bài thơ đặt tên cho cả tập thơ, nhưng lịch sử thì không thể làm được như vậy. Lịch sử của Khu 5 là của Khu 5; Lịch sử của Khu 6 là của Khu 6; Lịch sử của Nanh Trung Bộ là của Nam Trung Bộ (bao gồm cả Khu 5 và Khu 6) chứ không thể viết lịch sử của Khu 5 mà nói luồn cả sự kiện của Khu 6 hoặc ngược lại...

        Nhân dịp Quân khu 5 cho biên soạn và chuẩn bị xuất bản Biên niên sự kiện lực lượng vũ trang Quân khu, xin có một số ý kiến để chúng ta cùng nghiên cứu, trao đổi "bàn thêm cho rõ", để nếu cần thì phải "sửa lại cho đúng".


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:57:07 pm
        
“NGƯỜI LÍNH GIÀ ĐƯỜNG SỐ 4”1

NGUYỄN VIỆT QUÂN        

        Tháng 4 năm 2004, Nhà xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh - cho ra mắt bạn đọc cuốn hồi ký nhan đề: Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ Đường số 4 anh hùng. Gọi là "chiến sĩ Đường số 4" nhưng tác giả đã kể lại toàn bộ cuộc đời mình, từ quê hương đất tổ, gia tộc, gia đình thời thơ ấu thanh niên, tình yêu, hôn nhân, các công tác lần lượt đảm nhiệm cho tới khi nghỉ hưu. Phần viết về Đường số 4 chỉ chiếm 15 trang (từ trang 143 đến trang 158) trong toàn bộ 339 trang sách.

        Trong phần Lời tác giả, người viết hồi ức bộc lộ: "Những câu chuyện nhỏ nhoi của tôi, mong sẽ giúp bổ sung một phần những chi tiết mà một số nhà viết lịch sử chưa nói hết được, hoặc đã ghi chưa đúng sự thực". Nhưng rất tiếc, sau khi đọc hết toàn bộ cuốn hồi ký của Đặng Văn Việt, nhiều người đọc thông thường chưa nói đến nhà nghiên cứu lịch sử) đều nhận thấy ngay, có nhiều đoạn ông đã viết sai sự thật, thậm chí có những quan điểm cần "sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ".

        Trong phạm vi bài báo này, người viết (Nguyễn Việt Quân) không thể đi sâu vào toàn bộ nội dung cuốn sách, mà chỉ tập trung vào một số vấn đề mà tác giả đã viết quá sai nhưng lại ngộ nhận là viết đúng, gây tác hại cho một số người đọc (nhất là lớp trẻ) và cả bản thân tác giả.

        Về cuộc đảo chính Nhật - Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945

        Trong Phần mười một của cuốn sách, tác giả cho biết, ngày 9 tháng 3 năm 1945, ông đang theo học Trường Đại học Y tại Hà Nội, được chứng kiến tận mắt việc Nhật Bản lật đổ Pháp. Nhưng khi kể lại chuyện này, ông đã viết: “Từ sáng tinh mơ, nhân dân Hà Nội đang ngái ngủ bỗng thấy tiếng súng đại liên, đại bác rền vang... Nhìn ra đường, từng đoàn quân Nhật đang dồn dập di chuyển, xe, pháo, ngựa thồ dốc về phía thành Hà Nội...".

        Tuy nhiên, mọi người dân Hà Nội đều biết, rất nhiều người còn nhớ, và tất cả sử, sách cũng như báo chí hồi đó đã tường thuật, cuộc đảo chính của quân Nhật tại Hà Nội bắt đầu vào lúc 20 giờ 45 phút. Tại Sài Gòn và các thành phố khác, có chênh lệch ít phút, nhưng đều xảy ra "sau bữa ăn tối của người Pháp" chứ không phải vào lúc "sáng tinh mơ", khi tác giả "đang ngái ngủ”!

        Tất cả hồi ký của những nhân vật liên quan và các nhà nghiên cứu Nhật, Pháp đều viết, cuộc đảo chính này được thực hiện theo chiến thuật "mật tập", tức là "bất ngờ đánh úp". Riêng tác giả Đặng Văn Việt lại nhìn ra đường thấy người, ngựa, xe, pháo dồn dập di chuyển về phía thành Hà Nội, là không đúng.

        Tác giả viết tiếp: "Tôi lấy xe đạp, đạp thẳng lên phía cột cờ Hà Nội, nơi đây mới là chiến địa chính" (trang 69). Nhưng thực tế "chiến địa chính" không phải ở phía Cột cờ, tức Cửa Nam mà là ở Cửa Đông và Cửa Bắc. Theo bố trí của quân Pháp hồi đó, phía Cửa Đông là khu nhà ở của các hạ sĩ quan và gia đình, phố Cửa Bắc (gồm cả Hoàng Diệu Phan Đình Phùng hiện nay) là biệt thự các sĩ quan cao cấp. Cửa Đông và Cửa Bắc tạo một vành đai bảo vệ vành ngoài của thành hà Nội với nhiều vọng gác kiên cố, bảo vệ khu "cư xá nhà binh". Đây mới là trận địa chính, chứ không phải là "phía Cột cờ" vì phố Cửa Nam chỉ là khu phố buôn bán của dân thường người Việt.

        Tác giả còn viết: "Quân đội Nhật lấy ngày 9 tháng 3 năm 1945 làm một lễ kỷ niệm long trọng. Chúng mở tiệc lớn, mời các quan chức quan trọng của bộ máy cai trị Pháp, mời các sĩ quan quân đội Pháp... Bữa tiệc đang đông vui thì một tướng Nhật với chiếc kiếm dài sát đất đứng lên bục tuyên bố. "Tất cả các ông bà đều là tù binh" (trang 68).

        Thật ra, việc "mở tiệc để bắt sống" chỉ diễn ra ở Hà Giang, còn ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn... đều không có chuyện "mở tiệc". Trong phần này, tác giả còn có sự nhầm lẫn lớn sự kiện ngày 9 tháng 3 năm 1945 tại Lạng Sơn với sự kiện ngày 22 tháng 9 năm 1940, khi Nhật Bản tiến quân vào Lạng Sơn. Phần viết về Chiến tranh thế giới thứ hai cũng có rất nhiều sai sót và những suy luận không chính xác.

----------------------
        1. (Tạp chí LSQS số 8-2004)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:57:43 pm
 
        Hiện nay, Thư viện Trung ương quân đội tại Hà Nội cũng như nhiều thư viện trong nước ta đều có lưu trữ những hồi ký của cựu Toàn quyền Decoux, cựu Tổng tư lệnh quân đội Mordant, các tướng Pháp Alessandri, Sabattier và cả nhiều tờ báo hằng ngày xuất bản ngay sau khi nổ ra cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 đều nói kỹ về sự kiện này. Tiếc rằng tác giả đã không tham khảo và tra cứu.

        Về việc đánh giá quân đội Nhật Bản

        Trang 66, tác giả viết: “ấn tượng và cảm tưởng đầu tiên của nhân dân Huế (với quân đội Nhật Bản) là một đội quân có tổ chức, có kỷ luật, không cướp của, giết người, không chọc ghẹo phụ nữ, ức hiếp dân". Trang 72, tác giả viết thêm: "Dù sao quân đội Nhật Hoàng cũng để lại trong lòng nhân đần Việt Nam những ấn tượng đẹp: có kỷ luật nghiêm minh, có tinh thần chiến đấu dũng cảm". Đến trang 73, tác giả đưa ra lời khuyên có tính kết luận: "Chúng ta phải thán phục và học tập tinh thần thượng võ, sự dũng cảm, dám hy sinh cả tính mệnh cho Tổ quốc của họ".

        Rõ ràng, đây là những ý nghĩ và nhận thức của riêng cá nhân tác giả, và có thể là của một số người gần gũi với tác giả nhưng tuyệt đồi không vì thế mà viết, đây là “ấn tượng và cảm tưởng" của "nhân dân Huế", "nhân dân Việt Nam", thậm chí còn gộp cả mọi người trong danh tử "chúng ta". Bởi vì:

        - Ngay từ năm 1937, trước khi Nhật Bản tiến quân vào Đông Dương, đã có nhiều người Trung Hoa từ Thượng Hải, Quảng Châu, Nam Kinh chạy sang Hà Nội, Hải Phòng... lánh nạn, kể lại nhiều tội ác dã man của đạo quân Nhật Bản xâm lược Trung Quốc. Báo chí hằng ngày ở Việt Nam đều có tường thuật, bình luận, đưa tin, đăng ảnh. Vì vậy, "ấn tượng và cảm tưởng đầu tiên" của nhân dân ta với quân đội phát-xít Nhật Bản là sự căm ghét chứ không phải "có ấn tượng đẹp" như tác giả suy diễn.

        - Sát ngày Nhật Bản tiến quân vào Đông Dương và trong những ngày Nhật Bản chiếm đóng nước ta, từ tờ báo Việt Lập đến Cứu Quốc, Cờ giải phóng của Đảng đều vạch rõ chân tướng, bản chất của quân đội Nhật Bản. Dù những tờ báo này lưu hành bí mật, nhưng vẫn được tuyên truyền trong nhân dân, kể cả trong giới học sinh, sinh viên. Chính vì vậy, sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, Đảng phát động "cao trào kháng Nhật cứu nước", đã được sự hưởng ứng rộng rãi, nhiệt liệt của nhân dân. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa, ở các thành thị đều có rất nhiều học sinh, sinh viên tham gia, không mấy ai "thán phục", khiếp sợ, đánh giá cao quân đội Nhật Bản như tác giả viết.

        - Trong Thư viện Trung ương quân đội, bên cạnh nhiều văn kiện, sách, báo của Đảng ta viết về quân đội Nhật Bản, còn có nhiều cuốn sách của nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản viết về chính "quân đội của Thiên Hoàng" thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong phạm vi bài báo này, chỉ xin dẫn chứng một cuốn của Giáo sư sử học Nhật Bản Saburo Ienaga, xuất bản năm 1978, bản tiếng Anh nhan đề The Pacifc war, ký hiệu 355N/A10763 cũng có thể thấy và hiểu rõ thế nào là "tinh thần thượng võ" và "tinh thần hy sinh vì Tổ quốc" của quân đội Nhật thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, thông qua các văn bản, điều lệnh, huấn thị, phương pháp giáo dục tư tưởng của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, do chính các nhà sử học Nhật Bản sưu tầm, phân tích, chứ không phải suy diễn theo cảm tính.

        Về những chiến công trên Đường số 4

        Nhiều người, nhất là các cựu chiến binh Việt Bắc, các cán bộ đã từng công tác tại cơ quan Bộ Tổng tư lệnh cũng như cơ quan Liên khu  (gồm mười tỉnh Việt Bắc và Trung du) đều nhớ rất rõ, sau khi thực dân Pháp bị thất bại trong trận tiến công lên Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, thì từ cuối năm 1948 - đầu năm 1949, ta tiến hành một loạt chiến dịch trên Đường số 4 và đến tháng 10 năm 1950, là chiến dịch lớn Cao - Bắc - Lạng, còn gọi là chiến dịch Biên Giới.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 10:58:01 pm

        Trung đoàn 174, mà đồng chí Đặng Văn Việt được cử làm Trung đoàn trưởng hồi mới thành lập, là một trong những trung đoàn chủ lực có nhiều thành tích chiến đấu, ghi được nhiều chiến công. Tuy nhiên, bên cạnh Trung đoàn 174 còn có những trung đoàn khác, trong đó có cả Trung đoàn Quân Tiên phong, tiền thân của Đại đoàn chủ lực 308, từ năm 1949 cũng đã chiến đấu nhiều lần ở mặt trận Đường số 4. Đến chiến dịch Biên Giới, Đại đoàn chủ lực 308, trong đó có 3 trung đoàn 102, 88, 36 tiếp tục lập thêm nhiều chiến công to lớn, đã được ghi rõ trong các bản tổng kết chiến dịch cũng như trong sử sách.

        Tuy nhiên, trong Phần ba mươi hai, nhan đề 174 - Trung đoàn của tôi, tác giả viết: "... là đơn vị luôn là chủ công trong một số trận lớn có tính chất then chốt quyết định... Tiêu diệt 2 binh đoàn Le Page - Charton (trong chiến dịch Biên Giới 1950)... Tiêu diệt Đồi A (trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954), trận then chốt, quyết định De Castries phải treo cờ trắng, đầu hàng, kết thúc thắng lợi chiến dịch...".

        Viết như vậy, dễ làm cho người đọc, nhất là lớp trẻ và cả một số người bình thường, ít nghiên cứu lịch sừ quân sự, có thể hiểu nhầm là Trung đoàn 174 đã tiêu diệt 2 binh đoàn Le Page - Charton, trong khi trên thực tế, trực tiếp truy kích, vây đánh 2 cánh quân này là Đại đoàn 308, có Trung đoàn 209 phối hợp. Tác giả còn viết: "Hai binh đoàn Le Page - Charton, đã chiến đấu đến người cuối cùng" (trang 325) trong khi thực tế là trên đường bị truy đuổi, hơn một trăm binh sĩ của 2 cánh quân trên đã xin hàng, ngay cả các chiến sĩ cấp dưỡng của quân ta cũng bắt được nhiều lính Âu - Phi xin nộp vũ khí để đổi lấy "cơm nắm". Trong trận Cốc Xá, toàn bộ Ban chỉ huy của Le Page, rồi tiếp đó là Charton, đã xin hàng, nộp vũ khí cho Trung đoàn 36, Đại đoàn 308.

        Lối viết trên của tác giả còn khiến cho một số người đọc, có thể hiểu nhầm là "chỉ có Trung đoàn 174 là đơn vị duy nhất tiến công, tiêu diệt Đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ”. Trong khi trên thực tế, trận đánh gay go, quyết hệt, dài ngày này có nhiều đơn vị tham gia.

        Có thể khẳng định, không chỉ nhiều đơn vị bạn, mà ngay cả các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174, là một trung đoàn có nhiều chiến công, nhiều thành tích, cũng không tán thành lối viết "vơ vào” như "người lính già Đường số 4" đã viết trong hồi ức của mình.

        Vài lời đề nghị

        Từ nhiều năm nay, một loạt hồi ký, hồi ức, hồi tưởng và suy ngẫm... về đề tài chiến tranh cách mạng của nhiều tướng lĩnh và cán bộ các cấp trong quân đội ta đã lần lượt được xuất bản và được đông đảo người đọc hoan nghênh. Nhìn chung, đây là loại sách tốt, trong đó có nhiều cuốn hấp dẫn, bổ ích, có tác dụng giáo dục truyền thống vẻ vang cho thế hệ trẻ. Hơn nữa, đây là những lời kể lại của các nhân chứng lịch sử, vì vậy có nhiều đóng góp quý báu cho các nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước. Có những cuốn sách của cấp chỉ huy rất cao trong quân đội, viết rất khiêm tốn, luôn nêu cao vai trò và sự chỉ đạo của Đảng, của Bác Hồ, sự đóng góp to lớn của nhân dân, công lao của tập thể, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được phẩm chất, tài trí của người chỉ huy và các nhà nghiên cứu tìm thấy trong trang sách nhiều tư liệu sống động chính xác.

        Tuy nhiên, cũng do có một số hồi ký được viết sau khi những sự kiện đã lùi vào dĩ vãng quá lâu, người viết cũng đã cao tuổi, thêm một số nguyên nhân chủ quan khác, nên đã có nhiều sự việc bị nhầm lẫn hoặc không chính xác. Hơn nữa, nếu kèm theo những tư liệu thiếu chính xác, người viết lại "suy ngẫm" thiếu thận trọng thì sẽ có kết quả xấu.

        Dù sao, hồi ký về đề tài chiến tranh cách mạng vẫn luôn luôn là một thể loại rất cần thiết, rất cần được cổ vũ, khuyến khích, phát huy, và nhất là cần được góp ý xây dựng để nâng cao hơn nữa, xứng với tầm vóc cách mạng và kháng chiến của toàn dân tộc .


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:00:38 pm

ĐÔI ĐIỀU VỚI TÁC GIẢ SÁCH
QUAN HỆ VIỆT - Mỹ 1939-1945
1

LÊ KIM       

        Với 284 trang sách khổ 14,5 x 20,5cm, cuốn Quan hệ Việt Mỹ 1939-1945 của Tiến sĩ Phạm Thu Nga (PTN), Hội Giáo dục lịch sử, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004, là một công trình nghiên cứu công phu, có nhiều tư liệu bổ ích. Nhưng rất đáng tiếc là trong công trình này có nhiều điểm cần "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ". Trong phạm vi bài báo này, người góp ý (LK) chỉ xin tập trung vào một điểm: đó là quan hệ Việt - Mỹ, hoặc đúng hơn là quan hệ giữa Mặt trận Việt Minh - đứng đầu là Hồ Chí Minh với cơ quan tình báo chiến lược (OSS) của Mỹ, từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1945. Đây là một vấn đề gần gũi, khá quen thuộc, nhiều tư liệu đã công bố, nhiều sách báo đã đề cập nhưng tiếc rằng tác giả PTN đã để xảy ra quá nhiều sai sót trong sưu tầm tư liệu, nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu họ tên các nhân vật, thậm chí cả việc dịch thuật. Bên cạnh đó, việc giải thích, lập luận cũng có nhiều nội dung mà theo chúng tôi là cần phải đính chính.

        Trước hết, không rõ căn cứ vào đâu (vì không thấy ghi nguồn xuất xứ từ văn bản, tài liệu, sách báo nào hoặc theo lời kể của ai) mà tác giả cuốn sách đã đưa ra nhận định: chuyến đi của Hồ Chí Minh tới Trung Quốc lần thứ hai này đã "vượt xa những dự đoán ban đầu của Người" (Sđd, tr.123). Hơn thế nữa, tác giả Còn viết, qua những cuộc tiếp xúc với người Mỹ ở Côn Minh, Hồ Chí Minh đã nhận được từ người Mỹ ở Trung Quốc "những cái được vô giá".

        Quả là những nhận định quá táo bạo và có tính chất suy diễn.

        Bởi vì, muốn đánh giá đúng đắn, chính xác kết quả chuyến đi của Bác Hồ sang Trung Quốc hồi tháng 2 năm 1945 thì phải biết rõ mục đích chuyến đi này là gì để đối chiếu với kết quả đã gặt hái được. Về vấn đề này, tốt nhất, rõ nhất, cụ thể nhất là hỏi ngay những người Mỹ mà Bác Hồ đã tiếp xúc, đã trực tiếp đề ra những yêu cầu và phía Mỹ đã đáp ứng ra sao.

        Archimedes Patti hồi đó là Đại úy Trưởng phòng Đông Dương (Tháng 8-1945 được thăng cấp Thiếu tá; năm 1982 trở lại Việt Nam với cấp bậc Đại tá, đã nghỉ hưu) thuộc cơ quan tình báo chiến lược Mỹ (Office of Stragic Service, viết tắt là OSS) đặt trụ sở tại côn Minh, là một quan chức Mỹ đã gặp gỡ và nói chuyện rất lâu với Bác Hồ. Trong cuốn hồi ký nhan đề Tại sao Việt Nam do nhà xuất bản Calìfornia ở Mỹ xuất bản năm 1980 (Năm 1995, Nxb Đà Nẵng đã dịch sang tiếng Việt), Patti đã tiết lộ rõ, mục đích chuyến đi này của Hồ Chí Minh là nhằm "tìm kiếm sự công nhận chính thức" của Mỹ đối với Mặt trận Việt Minh. Cụm từ "tìm kiếm sự công nhận chính thức" đã được in chữ đậm trong tiêu đề nhỏ của chương 6, nhan đề: "Người Mỹ phát hiện ra Hồ Chí Minh". Patti cũng đã kể lại khá tỉ mỉ cuộc đối thoại kéo dài nhiều giờ với Hồ Chí Minh tại một bản nhỏ gần biên giới Hoa Nam và ghi nhận: "Tôi biết, mục tiêu cuối cùng của ông Hồ (trong chuyến đi này) là giành được sự ủng hộ của Mỹ đối với sự nghiệp của nước Việt Nam tự do". Tuy nhiên, Patti cũng thừa nhận là, mặc dù bản thân cá nhân Patti cảm thấy có thể tin cậy ông Hồ như một Đồng minh chống Nhật Bản nhưng đã vấp phải sự phản đối của nhiều nhân vật trong Sứ quán và Lãnh sự quán Mỹ ở Trung Quốc. Cuối cùng, cơ quan tình báo chiến lược Mỹ ở Côn Minh chỉ được phép "hợp tác với Việt Minh chống Nhật Bản" chứ không được chính thức công nhận Việt Minh. Cho mãi tới khi Việt Minh đã hoàn thành cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, Patti lúc đó là Thiếu tá, Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ ở Đông Dương, nhận được giấy mời chính thức của Hồ Chí Minh, lúc này đã là Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tới dự lễ mừng ngày tuyên bô độc lập nhưng Patti vẫn không dám đi với tư cách là một quan chức Mỹ (vì không được phép) mà chỉ mặc thường phục, cùng với các nhân viên khác trong nhóm OSS, đứng dưới lễ đài rồi la cà ở ngoài phố, quay phim, chụp ảnh.

        Rất rõ ràng, từ chuyến đi tiếp xúc với Trung tướng Claire Chennault là Tư lệnh lực lượng không quân số 14 của Mỹ và Đại úy Archimedes Patti là Trưởng phòng Đông Dương thuộc cơ quan tình báo chiến lược Mỹ ở Hoa Nam, cho tới khi lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành được độc lập, Mặt trận Việt Minh vẫn chưa được Mỹ công nhận, dù ở cấp thấp nhất. Như vậy, căn cứ vào đâu mà tác giả PTN lại nhận định chuyến đi đó là "thu được thắng lợi lớn vượt xa nhưng dự đoán ban đầu” của Bác Hồ được?

--------------------
        1. (Tạp Chí LSQS số 8-2005)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:00:57 pm

        Một điều cần lưu ý là, ngay trong cuốn sách này, tác giả cũng viết: "Trung tuần tháng 8 năm 1944, một số cán bộ Việt Minh đang hoạt động ở Trung Quốc đã gặp các sĩ quan Mỹ, nhờ chuyển thư tới Đại sứ Mỹ ở Trùng Khánh, yêu cầu giúp Việt Nam cùng Đồng minh chống Nhật. Nhưng viên Tổng lãnh sự Mỹ ở Côn Minh Landon đã không tích cực đáp lại" (tr.118). Đến trang 121, tác giả lại viết thêm. "Trong chuyến đi này, Hồ Chí Minh bày tỏ ý định của Việt Minh muốn hợp tác với Mỹ cùng chống Nhật và yêu cầu có một sự công nhận chính thức ở mức cao nhất (LK nhấn mạnh) của Mỹ đối với tổ chức cách mạng của Việt Nam. Nhưng vì chấp hành chỉ thị của Tổng thống Mỹ về việc không được phép quan hệ với bất cứ tổ chức kháng chiến nào ở Đông Dương trong thời gian này, nên những sĩ quan đó chưa thể quyết định được điều gì mà Người đề nghị".

        Thực tế phơi bày rành rành như vậy, thế mà tác giả vẫn cứ cho là Bác Hồ "đã nhận được từ người Mỹ ở Trung Quốc những cái được vô giá" (LK nhấn mạnh). Quả là không thể hiểu nổi, mặc dù sau đó tác giả có giải thích, nhưng vẫn thiếu tính thuyết phục. Ví dụ:

        - Tác giả viết, việc Bác Hồ tiếp xúc với người Mỹ ở Côn Minh đã (...) "hạn chế sự phá hoại của Quốc dân đảng Trung Hoa đang ráo riết chuẩn bị thực hiện kế hoạch "Hoa quân nhập Việt" sau chiến tranh" (tr.119).

        Như mọi người điều biết, sự phá hoại của Quốc dân đảng Trung Quốc đối với Việt Minh kéo dài từ khi Bác Hồ bị bắt giữ trong chuyến đi Trung Quốc năm 1942 và cho mãi đến tháng 10 năm 1945, khi Việt Nam đã giành được độc lập, đặc phái viên của Tưởng Giới Thạch là Hà Ứng Khâm khi tới Hà Nội còn mang theo chỉ thị mật "diệt Cộng, cầm Hồ", tức là "tiêu diệt Đảng Cộng sản, bắt giữ Hồ Chí Minh". Sở dĩ chúng không thực hiện được mưu đồ đó là do bản lĩnh và trí tuệ của chính Bác Hồ, sức mạnh của Mặt trận Việt Minh (có thực lực là cơ sở rộng khắp), sức mạnh của quảng đại nhân dân ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Bác Hồ, chứ đâu có phải vì được Mỹ che chở nên Quốc dân đảng Trung Quốc "sợ bóng sợ vía" Mỹ mà không thực hiện được các mưu đồ phá hoại của chúng đối với cách mạng Việt Nam!

        Dĩ nhiên, trong chuyến đi trên, Bác Hồ cũng gặt hái được nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong quan hệ với cơ quan tình báo chiến lược Mỹ ở Côn Minh, đứng đầu là Patti, được cơ quan này giúp đỡ súng đạn, thuốc men, điện đài, huấn luyện viên quân sự... Nhưng, trong đề mục này nếu tác giả PTN không có những đoạn viết nào cần "bàn thêm cho rõ" thì lại có nhiều chỗ cần "sửa lại cho đúng". Ở đây, cũng chỉ xin tạnh nêu vài dẫn chứng:

        Charles Fenn, viên sĩ quan Mỹ đầu tiên (trước cả Chennault và Patti), tiếp xúc với Bác Hồ tại Côn Minh nhưng sau đó đã không nhảy dù xuống Việt Bắc cùng đồng đội và mãi tới năm 1995 mới đặt chân tới Việt Nam lần đầu tiên sau khi Bác Hồ đã đi xa (Người viết bài này (LK) đã có dịp được gặp và trực tiếp hỏi chuyện Charles Fenn tại Hà Nội năm 1995, không chỉ được nghe mà còn được đọc một số hồi ký của Fenn). Theo tự thuật cũng như theo lời lẽ của Charles Fenn, thì người nhảy dù xuống Việt Bắc hồi đó, cũng là trung úy, nhưng tên là Phelan chứ không phải là Fenn. Trong cuốn "Quan hệ Việt - Mỹ 1939-1945", tác giả PTN đã có một sự nhầm lẫn là liên tục nhầm Fenn với Phelan (trong phần viết có liên quan).

        Cũng theo lời kể và cả các bài viết của Charles Fenn, thì Trung tướng không quân Claire Chennault gặp Bác Hồ ngay tại trụ sở Bộ Tư lệnh lực lượng không quân số 14, chứ không phải "tại quán cà phê Đông Dương của ông Tống Minh Phương" như tác giả đã viết trong trang 122. Charles Fenn kể lại rất tỉ mỉ, hôm gặp Hồ Chí Minh, tướng Chennault mặc quân phục đại lễ, ngực đeo đầy huân chương”. Dĩ nhiên, một vị tư lệnh oai vệ trong bộ đồ quân phục như thế này, không thể nào ngồi la cà trong một quán cà phê nhỏ của người Việt Nam giữa khu phố náo nhiệt, đầy bụi ở Côn Minh được. Người gặp ông Hồ ở quán cà phê này chính là trung úy Fenn, mặc thường phục, chứ không phải là Trung tướng Chennault!

        - Tác giả PTN còn viết: "Để tỏ lòng biết ơn việc làm đầy tính nhân đạo của Việt Minh (trong việc cứu phi công Mỹ), Tướng Chennault đã tặng Hồ Chí Minh một tấm ảnh cá nhân dưới có đề dòng chữ "Bạn chân thành của ông - C.Lai L.Chennault" (tr.122).

        Sự thật hoàn toàn không đúng như vậy. Bởi vì, Charles Fenn là một “nhân chứng lịch sử" có mặt trong buổi tiếp này, đã viết: “Khi đã kết thúc cuộc gặp, đúng lúc chia tay, lúc đó ông Hồ mới nói, có một lời đề nghị với tướng Chennault. Tất cả chúng tôi đều cau mày, lo ngại người mới được tiếp kiến này có một yêu sách gì không suôn sẻ đây. Nhưng ông Hồ đã mỉm cười và khẽ nói: "Tôi muốn có một tấm ảnh chân dung của tướng Chennault kèm theo chữ ký". Nét mặt Chennault đang rắn lạnh như tạc vào đá núi, bỗng sáng lên vì nụ cười rạng rỡ. Tướng quân lập tức cho gọi cô thư ký riêng, chỉ thị cho cô chọn một tấm ảnh chân dung rồi tự tay ký rõ cả họ tên cùng với câu "thân tặng" trao cho ông Hồ” (Xem Historia, số 436, tháng 3 năm 1983).

        Charles Fenn còn kể thêm, ông ta rất ngạc nhiên và khâm phục, không hiểu Bác Hồ đã "điều tra nghiên cứu như thế nào, tìm hiểu qua những người nào” để biết rõ tướng Chennault rất thích tặng ảnh chân dung nên đã đưa ra lời đề nghị này vào đúng lúc (khi đã kết thúc cuộc họp, chứ không phải lúc mới mở đầu câu chuyện). Hơn nữa, với tấm ảnh chân dung có ghi chữ "thân tặng" của tướng Chennault, ông Hồ còn có một "báu vật" thay cho giấy thông hành, để ông đi lại thoải thái trên đất Trung Hoa, không sợ bị bắt giữ như lần trước! (Xem Bác Hồ đấu trí với tình báo phương Tây, Nxb CAND. Hà Nội, 2004).


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:01:42 pm

        Rất rõ ràng, cần viết và phải viết như Charles Fenn mới nêu bật được bản lĩnh và trí tuệ của Bác Hồ. Còn nếu viết như PTN thì không những không đúng sự thật lịch sử mà còn mô tả Chennault như một viên tướng lịch sự, lịch thiệp và làm lu mờ hình ảnh Hồ Chí Minh.

        - Trong những trang 126, 127, 128, về quan hệ giữa Hồ Chí Minh với toán điệp viên Mỹ Con Nai nhảy dù xuống căn cứ địa Việt Bắc giúp Việt Minh đánh Nhật, tác giả PTN nêu lên một vài sự việc nhằm dẫn chứng, những sĩ quan tình báo Mỹ này vẫn không biết Hồ Chí Minh là Cộng sản, thậm chí "Phen cũng khẳng định chắc chắn rằng Hồ Chí Minh không phải là một cộng sản".

        Trước hết, cần nói ngay, tác giả nhầm lẫn Fenn với Phelan. Đây là Trung úy Phelan, chứ không phải là Trung úy Fenn (mà tác giả PTN phiên âm là Phen). Nội dung mà tác giả PTN nêu lên trong sách không đầy đủ. Toàn bộ sự việc là như thế này: Phelan được thay Fenn nhảy dù xuống căn cứ Việt Bắc nhằm xác minh xem Hồ Chí Minh có đúng là Cộng sản không? Sau một thời gian trực tiếp quan sát, tiếp xúc với Bác Hồ, Phelan điện về trung tâm: "Hồ Chí Minh chẳng cộng sản một tý tẹo nào". Trung tâm bác bỏ nhận xét này và cung cấp cho Phelan nhiều tài liệu chứng minh Hồ Chí Minh đúng là Cộng sản. Phelan lại điện về trung tâm: "Nếu Hồ Chí Minh là cộng sản, thì đúng là một người cộng sản đáng mến".

        - Trong trang 128, tác giả PTN nêu lên chính kiến của mình: "Phải chăng, thái độ nhân hậu, lịch thiệp của Hồ Chí Minh đã khiến người Mỹ có cái nhìn đầy thiện cảm đối với Người cũng như lực lượng kháng chiến của ta?" Cách "đặt vấn đề” như thế này theo chúng tôi là không khoa học.

        Theo tướng Trương Phát Khuê, trong những ngày quản thúc Bác Hồ tại Liễu Châu, cả Trương Phát Khuê lẫn Tiêu Văn đều biết rất rõ Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc (Trong phạm vi bài báo này, chỉ có thể viết vắn tắt, xin mời đọc thêm bài Bản lĩnh và trí tuệ Hồ Chí Minh trong những lần đối mặt với mật vụ quốc tế, đăng trong Tạp chí Lịch sử quân sự số 161, tháng 5-2005). nhưng vẫn cứ trả lại tự do cho Bác Hồ để Người trở về Việt Nam lãnh đạo phong trào đấu tranh chống Nhật Bản, chuẩn bị cáo "Hoa quân nhập Việt", và "Trương Phát Khuê đã không hề hối tiếc về việc này". Nếu Trương Phát Khuê đã biết rất rõ Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, thì cơ quan tình báo chiến lược Mỹ ở Côn Minh và nhất là Patti cũng biết.

        Tuy nhiên, trong những lần đối thoại với Trương Phát Khuê, rồi Patti, mặc dù biết Hồ Chí Minh đúng là Cộng sản, nhưng cả Quốc dân đảng Trung Quốc lẫn cơ quan tình báo chiến lược Mỹ đều biết thêm, ở Việt Nam lúc này chỉ có Mặt trận Việt Minh do Cộng sản làm nòng cốt là tổ chức duy nhất có thực lực, có cơ sở khắp đất nước, có vùng giải phóng bao gồm 6 tỉnh thượng du (theo điều tra của tình báo Mỹ). Muốn chiến thắng Nhật Bản, nhất thiết phải dựa vào Việt Minh của Hồ Chí Minh. Ngoài ra, không còn bất cứ một tổ chức nào có khả năng hợp tác với Mỹ chống Nhật Bản.

        Hơn nữa, từ năm 1941 - tức ngay sau khi trở về nước, Bác Hồ đã trực tiếp chỉ đạo Hội nghị Trung ương VIII, ra nghị quyết đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trước hết, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, xoá bỏ vấn đề Liên bang Đông Dương, lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở công - nông liên minh, đẩy mạnh đấu tranh giành độc lập, xây dựng một nước Việt Nam mới... Bác Hồ đã trình bày cương lĩnh Mặt trận Việt Minh ngay trong buổi đầu tiên gặp Patti và đã hoàn toàn thuyết phục được Patti cũng như trước đó thuyết phục được Trương Phát Khuê, vì bản cương lĩnh này rõ ràng "không theo đường lối của Quốc tế cộng sản, không rập khuôn theo Nga Xô, chứng tỏ Đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh có đường lối sáng suốt", và Hồ Chí Minh rõ ràng không phải là "tay sai của Mátxcơva", như Patti và các cộng sự viên đã nhận xét, đã tranh luận với "những đầu óc thành kiến trong Sứ quán Mỹ tại Trùng Khánh". Tóm lại, dù đã biết rất rõ Hồ Chí Minh là Cộng sản nhưng cơ quan tình báo chiến lược Mỹ vẫn hợp tác và giúp đỡ Việt Minh, vì những lý do vừa trình bày trên, chứ không phải vì Hồ Chí Minh đã "khéo giữ bí mật, khéo chan hoà thân thiện với Mỹ" như tác giả PTN trình bày.

        - Trong phần họ tên, lai lịch một số nhân vật trong sách, tác giả PTN đã viết nhầm hoặc hiểu sai. Không phải là tướng C. Lai L. Chennault như tác giả viết, mà là Claire Chennault ~tr.222). Đến trang 225, tác giả lại viết: “Mỹ đã phái Frank Tan (người Mỹ gốc Hoa) và Maxim (người Trung Quốc) đi Việt Bắc”. Đúng ra, phải viết là Mac Shin chứ không phải là Maxim và chú giải "cũng là người Mỹ gốc Hoa như Frank Tan" chứ không phải là "người Trung Quốc".

        Đây không phải là những nhầm lẫn nhỏ, vụn vặt, mà chính là do tác giả đã không chịu khó dày công tìm kiếm các văn bản gốc (bằng tiếng Anh là ngôn ngữ hiện đang phổ cập và có lưu trữ trong các thư viện nước ta), mà ngược lại chỉ lướt nhanh qua các bản dịch tiếng Việt rồi đưa nguyên xi vào sách. Những tài liệu dịch sang tiếng Việt đã sai, công trình nghiên cứu của Tiến sĩ PTN dựa vào đó cũng sai nốt, và rồi những "công trình" tiếp theo - nếu vội vã tham khảo cuốn Quan hệ Việt - Mỹ 1939-1945 này - cũng lại tiếp nối thành một chuỗi sai dây chuyền. Không phải chỉ riêng cuốn sách này mà nhiều cuốn khác hiện đang lưu hành cũng cùng chung tình trạng như vậy.

        Chính vì lẽ đó nên người viết bài này mạnh dạn đề xuất một vài ý kiến xin được trao đổi cùng tác giả PTN.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:25 pm
           
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỔNG KẾT CHIẾN TRANH VÀ BIÊN SOẠN LỊCH SỬ QUÂN SỰ1

LÊ ĐỨC THỌ        

        LTS: Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Quân ủy Trung ương về tổng kết chiến tranh, biên soạn lịch sử quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã đề nghị nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội cho ý kiến về một số vấn đề quan trọng trong chỉ đạo chiến tranh, chỉ đạo chiến lược và những sự kiện lớn mà giới sử học và cả dư luận chung chưa thống nhất. Từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 12 năm 1 (tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam) và ngày 5 tháng 2 năm 1 (tại Văn phòng Trung ương Đảng), đồng chí Lê Đức Thọ lúc đó là Uỷ viên Bộ Chính tri, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã trò truyện với một số cán bộ nghiên cứu lịch sử trong và ngoài quân đội về một số vấn đề nêu trên.

        Trước khi nói đến một số vấn đề về tổng kết chiến tranh và viết lịch sử quân sự theo yêu cầu nội dung mà các anh đề ra, đáng lẽ tôi phải đọc lại một số nghị quyết, tài liệu nhưng không có thời gian. Vì vậy tôi nhớ đến đâu, nói đến đó. Tất cả những sự kiện này tôi được may mắn tham gia cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị chỉ đạo kể từ trước Cách mạng Tháng Tám đến nay. Nhưng cũng chỉ nhớ lại sự việc để nói, cho nên tôi chưa thể nói được đầy đủ. Hơn nữa, đáng lẽ những vấn đề lớn như thế này phải có một hội nghị, ít nhất của Bộ Chính trị chứ chưa nói tới của Trung ương, để tổng kết từ Cách mạng Tháng Tám rồi đến thời chống Pháp, chống Mỹ. Đó là tổng kết về đường lối chính trị, đường lối quân sự, chứ chưa nói những vấn đề chiến dịch, chiến đấu mà anh em là những người trực tiếp nghiên cứu. Những vấn đề đó Bộ Chính trị chưa tổng kết, nên có thể có một số ý kiến còn khác nhau; chưa phải là thống nhất hết. Đây chỉ là ý kiến của tôi, không thể nói là ý kiến của Bộ Chính trị, hay là đại diện của bất kỳ đồng chí nào. Đây là ý kiến của tôi, suy nghĩ của tôi trong quá trình tham gia với Bộ Chính trị, từ Cách mạng Tháng Tám đến nay. Biết thế nào tôi nói như thế, có thể chưa đầy đủ và khó nói đúng được hoàn toàn. Có những vấn đề trước đây chưa thấy, bây giờ nhìn lại mới thấy rõ được. Việc ấy phải nhờ trí tuệ tập thể mới có đúng được, còn trí tuệ của từng người có thể có cái đúng, có thể có cái chưa đầy đủ. Các anh nên tập hợp ý kiến của các nơi, xin ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị. Theo suy nghĩ riêng, tôi cho đó là cách làm tốt.

        Đây là lần đầu tiên tôi phát biểu tương đối hệ thống với các anh về vấn đề này. Lần phát biểu với một số anh ở Viện Lịch sử Đảng cũng chưa đầy đủ. Lần này, tôi đi sâu vào những câu hỏi cụ thể của các anh.

        Một số quan điểm và phương pháp luận lịch sử

        Tôi mới xem bản dự thảo tổng kết các anh gửi cho, thấy các vấn đề các anh nêu ra rất đúng. Còn các vấn đề các anh thắc mắc, tôi thấy rất tốt. Nó chứng tỏ sự nghiên cứu sâu và thận trọng của các anh nên các anh đã đặt ra được những câu hỏi đi vào trọng tâm của những vấn đề cần giải đáp. Thực ra trong suốt quá trình cách mạng mấy chục năm qua, chúng ta làm được rất nhiều, đúng rất nhiều; đúng là chủ yếu mới dẫn đến thắng lợi của cuộc cách mạng như ngày nay. Nhưng chúng ta cũng có mấy cái sai lớn. Điều này cũng là dễ hiểu. Bởi vì mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn, chuyển hướng, không dễ gì mà nắm bắt đúng ngay thực tiễn, lường trước được thực tiễn, những cái đúng, cái sai thường là bộc lộ ở những thời điểm này. Cho nên, nếu có sai lầm vấp váp cũng là khách quan, là khó tránh khỏi trong quá trình cách mạng, dĩ nhiên, phần chủ quan vẫn là chính. Chúng ta thừa nhận có những cái không đúng. Chúng ta nói đến sai lầm khuyết điểm chẳng qua chỉ để rút kinh nghiệm, để thấy mà sửa. Như thế là nghiêm khắc với mình, là trong sáng bình thường chứ không phải e ngại gì. Rồi đây, anh em nghiên cứu lịch sử sẽ căn cứ vào tài liệu, tài liệu của Trung ương, tài liệu sống, lại căn cứ vào thực tiễn tình hình lúc đó, tổng hợp lại để đối chiếu và phân tích thì tôi tin rằng ta cũng tìm ra được cái đúng, cái sai. Chúng ta phải làm như vậy để tìm ra kết luận. Tôi tin rằng có thể tìm ra được những kết luận đúng đắn.

-----------------
        1. (Tạp chí LSQS từ số 1 đến số 8-1988)


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:43 pm

        Trước hết, tôi nói về những vấn đề các anh đã nêu lên mà theo tôi còn phải có những nhận định cho sát đúng hơn. Chẳng hạn có nghị quyết chúng ta đưa ra khác, nhưng trên thực tế lại diễn ra khác. Cũng dễ hiểu thôi, là vì nghị quyết đưa ra bao giờ cũng căn cứ vào tình hình chung và tổng hợp những kinh nghiệm rồi nêu ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo giải quyết nhiệm vụ cụ thể. Nhưng có thể do ta không nắm bắt được đầy đủ những tình hình cụ thể, hơn nữa thực tiễn diễn biến rất khách quan, rất động, thành thử có những nghị quyết đưa ra lúc đầu đúng, nhưng khi thực hiện thì thực tiễn còn diễn biến mà ta phải kịp thời nhanh nhạy biết những thực tiễn đó để bổ sung cho nghị quyết. Cũng có khi không nắm bắt đúng được thực tiễn cho nên đề ra nghị quyết sai. Vậy cuối cùng thì ta vẫn phải lấy thực tiễn để tổng kết thành lý luận và đường lối. Thực tiễn quan trọng ở chỗ đó Thực tiễn chứng minh nghị quyết có đúng hay không. Điều này rất quan trọng. Phải nhận thức và làm như vậy chúng ta mới không ngại mỗi khi nói về những cái sai. Ví dụ, thời kỳ chống Pháp, nghị quyết về chiến lược quân sự có-nói chia ra "ba giai đoạn", nhưng trên thực tế, theo ý kiến tôi, thì diễn biến cũng không hoàn toàn đúng như vậy. Tại sao? Là vì lúc đầu ta chưa có thực tiễn, thậm chí chưa hiểu hết "phòng ngự”, "cầm cự", "tổng phản công” là thế nào. Lúc đó, đã mấy ai biết về quân sự mà đi vào nội dung, mà hình dung ra tết cả? Bấy giờ vừa Cách mạng Tháng Tám xong, lao ngay vào cuộc kháng chiến chống Pháp, đã hình dung nó thế nào đâu. Chúng ta đề ra như vậy cũng là dễ hiểu thôi. Đương nhiên, ngày ấy khi Trung ương đã ra nghí quyết rồi thì ta phải thi hành. Nhưng chúng ta đã sớm biết rút kinh nghiệm, biết giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn đã đặt ra nên chúng ta đã tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi vẻ vang.

        Cũng một ví dụ khác như trong chống Mỹ, anh em có nêu ra một vấn đề là có "tổng công kích", "tổng khởi nghĩa" không? Khái niệm, nội dung, thực tiễn của nó diễn ra trên chiến trường như thế nào? Nói tổng khởi nghĩa tức là nói khởi nghĩa vũ trang của quần chúng diễn ra rộng khắp, đặc biệt là ở đô thị, nhất là ở thủ đô của địch để đạp đổ bộ máy chính quyền của chúng, giành chính quyền về tay nhân dân. Nói đến khởi nghĩa là nói đến phong trào cách mạng của quần chúng kết hợp với vũ trang, ví như Cách mạng Tháng Tám... Vậy trong chống Mỹ có tổng khởi nghĩa ở đô thị không?

        Những vấn đề này chúng ta sẽ lần lượt trao đổi cụ thể. Song trước hết chúng ta cần thống nhất với nhau là nghiên cứu lịch sử phải hết sức khách quan, trong sáng, không để bị bóp méo, xuyên tạc. Lịch sử là hếch sử. Đó là sự thật diễn ra. Lịch sử đó là những con người, những văn bản, những sự việc của nó. Tức là nó tổng hợp lại những việc đó để chúng ta nghiên cứu nó, chứ đâu có phải là một bài thơ, hoặc một cuốn tiểu thuyết mà tác giả nhiều khi "hư cấu” được? Lịch sử không thể hư cấu được. Lịch sử đó là thực tế. Cho nên nghiên cứu lịch sử, chúng ta phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, thực sự cầu thị, tổng hợp nhiều mặt của cả thực tiễn và cả các văn bản, các tài liệu sống... , trên cơ sở đó mà phân tích thì mới đúng được... Tôi cho rằng chúng ta nghiên cứu lịch sử phải làm như vậy.

        Nghiên cứu lịch sử lại còn phải nhìn thấy sự liên tục của nó. Chúng ta phải trải qua 30 năm của chiến tranh giải phóng dân tộc từ Cách mạng Tháng Tám đến chống Pháp, chống Mỹ. Nói như thế tức là không lúc nào chúng ta được ngừng nghiên cứu, không được để lịch sử có quãng trống mà không được nghiên cứu một thời gian dài. Sau khi giành chính quyền trên toàn quốc được một tháng, Nam Bộ bắt đầu kháng chiến. Nam Bộ bắt đầu kháng chiến thì ngoài này chúng ta Nam tiến đưa quân và cán bộ vào để đánh Pháp trong Nam, rồi đến Toàn quốc kháng chiến, đến Giơ-ne-vơ, sau đó độ vài năm lại "Đồng khởi", lại bắt đầu đánh. Đấy, lịch sử nó liên tục như vậy. Tất nhiên, mỗi cuộc chiến tranh chúng ta sẽ tổng kết riêng, nhưng khi phân tích chúng ta phải phân tích toàn bộ 30 năm của chiến tranh. Không có Cách mạng Tháng Tám, không có khởi nghĩa thành công thì không có kháng chiến chống Pháp. Không có chống Pháp thì  hông có chống Mỹ. Thực tiễn là như vậy. Cho nên chúng ta phải thấy hết tính liên tục của lịch sử và điều kiện lịch sử của mỗi giai đoạn để đánh giá nó. Nhiều khi tách ra từng cái lột, có thể đó là do nội dung khoa học, do đề tài. Vì mỗi đề tài, mỗi giai đoạn lịch sử có cái riêng của nó; mỗi cuộc chiến tranh có đối tượng của nó. Nhưng đã đi vào những đề tài cụ thể thì lại phải có một cái nhìn quán xuyến, toàn diện, xa rộng mới mong phản ánh được thực tiễn khách quan. Nói như thế để ta thấy rằng vì sao anh em chúng ta có lúc, có nơi nhìn sự kiện lịch sử không đúng với bản thân nó. Cho nên, tôi cho rằng nghiên cứu lịch sử cần có thái độ như vậy.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:09 pm

        Trong nghiên cứu lịch sử cũng cần có so sánh. Nhưng nên so sánh như thế nào cho đúng. Có một phóng viên Mỹ hỏi tôi: Thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, thời kỳ nào khó khăn nhất? Tôi nói khó so sánh, vì mỗi thời kỳ có khó khăn khác nhau. Nhưng nếu gọi là ác liệt, thắng lợi lớn nhất, ảnh hưởng lớn nhất thì phải nói là chống Mỹ. Thực ra nếu nói đến khó khăn trong buổi đầu chống Pháp thì quả thật lúc ấy ta tưởng khó mà nói còn gì là khó khăn hơn thế. Lúc ấy lực lượng ta còn yếu, 5 năm trời ta chiến đấu trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, trong lúc cách mạng Trung Quốc chưa thành công. Với ba khẩu súng lấy được của Pháp, thế mà dám đứng dậy đánh, có biết bao nhiêu khó khăn của buổi ban đầu. Tuy nhiên lúc đó Pháp cũng vừa thua trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nên lực lượng cũng còn yếu. Bước qua thời kỳ chống Mỹ, chúng ta đã giải phóng được một nửa nước, chúng ta đã có một hậu phương rộng lớn đang xây dựng chủ nghĩa xã hội; cán bộ quân sự của ta đã được trưởng thành qua chống Pháp và được huấn luyện cả về quân sự và chính trị hùng hậu... Chúng ta có cả một tuyến đằng sau là hệ thống xã hội chủ nghĩa giúp đỡ, không những Liên Xô, Trung Quốc mà còn có những nước anh em khác. Trước đây khi đánh Pháp, phải mấy năm về sau Trung Quốc mới giúp được ta. Sau chống Pháp, chúng ta có hậu phương miền Bắc, hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa thì chúng ta lại phải đánh một tên đế quốc đầu sỏ là Mỹ. Bởi thế không thể so sánh cái khó khăn này với cái khó khăn khác, những khó khăn lần này hơn những lần kia... Chúng ta phân tích đánh giá tình hình phải căn cứ vào thời gian, không gian của lịch sử, không làm rõ như vậy chúng ta nói sẽ không đúng lắm.

        Tôi muốn nói thêm về vấn đề này. Đứng về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, theo tôi có thể chia thành hai giai đoạn. Một giai đoạn chống phong kiến Trung Quốc; một giai đoạn chống đế quốc chủ nghĩa, giai đoạn mà chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc, thò vòi vào các nước thuộc địa. Hai giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác nhau. Giai đoạn trước là chống phong kiến. Lúc đó phong kiến Trung Quốc đã là một nước có dân số đông, vậy mà chúng ta dám đánh và đánh thắng bao nhiêu trận: nhà Trần ba lần chống Mông - Nguyên; rồi Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... Một nước nhỏ như nước ta, ở trong một phạm vi còn có phong kiến trên toàn thế giới mà dám đánh phong kiến Trung Quốc thì anh hùng lắm. Nhưng chiến tranh lúc đó chỉ là kiểu chiến tranh phong kiến, chiến tranh ở từng khu vực. Nhưng đến khi chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa đế quốc, chúng ta đã chống Pháp, rồi chống Mỹ thắng lợi. Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới. Những chiến công đó có ảnh hưởng lớn lắm. ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống Pháp của ta đã lan ra khắp thế giới, như tấm gương của một nước nhỏ bé đầu tiên dám đánh bọn thực dân cũ, làm cho hệ thống của chúng cũng bị rung chuyển. Nhưng đến chống Mỹ, ta đã đánh thắng một tên đế quốc đầu sỏ, có chiến lược toàn cầu cực kỳ phản động, do đó có ác liệt hơn và thắng lợi của ta có ảnh hưởng lại càng rộng lớn hơn, lan rộng hơn và thế của ta cũng mạnh hơn. Nhưng không nên vì thế mà nói rằng thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi lớn nhất trong mấy ngàn năm lịch sử. Vì chống phong kiến là ở giai đoạn khác, mình không thể so sánh được. Hai giai đoạn, đối tượng và tương quan lực lượng khác nhau. Ngày xưa chống phong kiến thì kẻ thù đông như thế, mình nhỏ như vậy, nó chỉ có vũ khí thô sơ, mình cũng chỉ có vũ khí thô sơ. Nhưng đến bây giờ, bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì mình cũng đã lớn mạnh và phạm vi không chỉ bó hẹp trong một nước, bị bưng bít như thời cổ xưa. Chúng ta có cả Liên Xô, Trung Quốc, hệ thống xã hội chủ nghĩa, cả loài người tiến bộ, kể cả nhân dân Mỹ ủng hộ.

        Thành thử, nếu chúng ta nói cuộc chống Mỹ là thắng lợi lớn nhất trong mấy ngàn năm lịch sử là chúng ta không có quan điểm thời gian, không gian của lịch sử. Tôi nói như thế không biết các anh nghiên cứu lịch sử có nhất trí với tôi không? Phải suy nghĩ để nắm quan điểm lịch sử và biện chứng như vậy.

        Nhưng đến khi chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc rồi so sánh với các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lớn nhất thế giới. Nhất, là ở chỗ so với cuộc đấu tranh khác của các dân tộc bị áp bức, chứ không phải so với thắng lợi của Liên Xô chiến thắng phát-xít Đức - Nhật. Còn so sánh khó khăn của chống Mỹ và của chống Pháp thì đánh Mỹ, thắng Mỹ cũng có cái khó; đánh Pháp và thắng Pháp cũng có cái khó của nó. Cho nên khi so sánh cũng phải có quan điểm và phương pháp đúng thì mới có khoa học và có sức thuyết phục.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:18 pm

        Chúng ta thường nói trong chống Mỹ, chúng ta có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo, nói như vậy là hoàn toàn đúng. Nhưng cũng phải thấy rằng sự sáng tạo đó dựa trên cơ sở kinh nghiệm của chống Pháp mà nâng cao lên. Trong chống Pháp có sáng tạo không? Có. Nhưng theo tôi, chúng ta chưa thấy hết cái sáng tạo trong kháng chiến chống Pháp, mà có khi thường chỉ chú ý đến khía cạnh sai lầm ở điểm này điển nọ. Tuy có cái sai, nhưng có cái sáng tạo. Ví dụ: chúng ta có phần nào giáo điều nói đến ba giai đoạn về chiến lược quân sự nhưng trong chỉ đạo thực tế thì diễn biến lại khác, không chia ra những giai đoạn như vậy. Lúc đó chúng ta cũng chưa hiểu biết về quân sự, chúng ta rập khuôn đề ra như thế thì cung là lẽ tất nhiên, khó mà tránh khỏi. Đến năm 1950, chúng ta chủ trương tổng phản công là không đúng. Ngay lúc đó ở miền Nam, anh Ba cũng không tán thành, vì điều kiện chưa đầy đủ. Khi trao đổi, Thường vụ Xứ ủy cũng nhất trí với anh Ba. Trong kháng chiến chống Pháp, chủ trương không phải hoàn toàn rập khuôn như Mao Trạch Đông. Về mặt chiến lược, chúng ta còn nói đến kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi, kháng chiến toàn dân toàn diện: quân sự, chính trị, kinh tế. Lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp của Bác cũng phản ánh quan điểm chiến tranh nhân dân. Về mặt chiến dịch và chiến đấu, Đảng ta cũng có sáng tạo như cách đánh đặc công, như chiến dịch Điện Biên Phủ đánh chắc, tiến chắc, đánh lấn. Đó là những sáng tạo của ta trong chống Pháp. Đến chống Mỹ sau này, rút kinh nghiệm trong thời kỳ chống Pháp, có những vấn đề chúng ta sáng tạo thêm và có những vấn đề được hoàn chỉnh và nâng cao lên một bước mới. Như về mặt quân sự với tư tưởng chiến lược tiến công, chiến lược chiến tranh nhân dân, đánh cả ba vùng, đánh toàn diện trên cả bốn mặt quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao kết hợp vừa đánh vừa đàm. Sự sáng tạo này cũng phải từ cơ sở, từ kinh nghiệm đã có trước mà nâng cao lên, mà sáng tạo thêm trong điều kiện mới. Nói sáng tạo mà tách rời khỏi các kinh nghiệm lịch sử, cô lập sáng tạo này với sáng tạo kia, và đồng thời coi cái kia như không có sáng tạo là không đúng. trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân mình, dân mình có biết bao nhiêu sáng tạo. Người lãnh đạo không phải chỉ đề ra nghị quyết mà phải qua thực tiễn, lấy thực tiễn là cơ sở và tiêu chuẩn chân lý rút ra kết luận rồi đúc kết kinh nghiệm của mình, học tập thêm kinh nghiệm của bạn mới mong có sáng tạo được. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, không phải chúng ta dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm của Trung Quốc đâu. Chúng ta có những sáng tạo của chúng ta như đề ra kháng chiến toàn dân, toàn diện. Đó là về chiến lược, còn về cách đánh ta sáng tạo đánh đặc công biệt động nên đánh vào lòng địch như đánh cả sân bay Gia Lâm, sân bay Cát Bi, kho xăng Phú Thọ... Đấy cũng chỉ là những trận đánh ở ven đô chứ không phải đánh ở nội thành của đặc công, biệt động như trong kháng chiến chống Mỹ. Trong chống Mỹ, đặc công đã trở thành binh chủng chiến lược. Thành thử thực tế trong chiến đấu đẻ ra sáng tạo. Tôi nói như vậy để cho chúng ta có cái nhìn khách quan, công bằng với lịch sử, đúng với lịch sử, thấy cái sáng tạo của lịch sử.

        Trong chống Pháp, chúng ta ai cũng được nghe thấy trường kỳ kháng chiến; kháng chiến toàn dân, toàn diện; được nghe lời kêu gọi của Bác: "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm"... tức là toàn dân đứng lên kháng chiến, đó cũng là biểu hiện quan điểm của chiến tranh nhân dân mà ngày nay ta vẫn nói. Ngày ấy, nếu không có sự sáng suất của Bác, của anh Trường Chinh và Trung ương thì chắc gì chúng ta đề ra được khẩu hiệu chiến lược ấy? Mà ngay khi có khẩu hiệu rồi, có phải mỗi lúc mà ta hiểu ngay đâu? Bản thân tôi lúc ấy cũng chưa hình dung nổi. Nhưng khi các đồng chí lãnh đạo vạch ra rồi mới thấy sáng tỏ. Thế thì, trên cơ sở của những sáng tạo thời chống Pháp, chúng ta mới đúc kết kinh nghiệm để đến lúc chống Mỹ lại có sáng tạo mới và hoàn chỉnh hơn.

        Tôi muốn làm sáng tỏ thêm một ý nữa trước khi đi vào những vấn đề mà anh em hỏi: Trong mọi sự việc, cần nhớ rằng ưu điểm hay khuyết điểm, thắng lợi hay thất bại đều do cả tập thể của chúng ta chịu trách nhiệm. Phải luôn luôn nhớ như vậy. Không vì một đồng chí nào mà phủ nhận tập thể. Nhưng ngược lại, cũng không chỉ thấy tập thể mà không thấy trách nhiệm vai trò của cá nhân. Nguyên tắc của Đảng là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phải luôn luôn nhớ như thế. Cho nên khuyết điểm, ưu điểm là của tập thể. Nhưng trong tập thể lại có cá nhân phụ trách. Cá nhân phụ trách theo cương vị được phân công mà chịu trách nhiệm quan trọng về nhiệm vụ mà tập thể đã giao cho. Trường hợp tự cá nhân quyết định không có tập thể thì cá nhân phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Khi phân tích thành công hay thất bại chỉ thấy cá nhân mà không thấy tập thể, hoặc là thấy tập thể rồi mà không thấy trách nhiệm của cá nhân, là không toàn diện. Ví như trong đánh giặc, Bộ Chính trị hay Quân ủy Trung ương quyết định tập thể, rồi phân công cho từng cá nhân phụ trách thì mặt trận đó thành công hay thất bại trong chấp hành quyết định, cá nhân phải có trách nhiệm quan trọng của mình, chứ không thể quy trách nhiệm hoàn toàn cho cấp trên khi gặp thất bại. Khi phân tích đánh giá tình hình, phải luôn luôn nhớ mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể, không nên đặt một người nào ngoài tập thể mà nhận xét. Khi đánh giá ưu, khuyết điểm về những vấn đề chung, cũng như cá nhân của con người trong lịch sử thì phải thấy mặt gì là cơ bản, là chủ yếu, không nên lẫn lộn và cũng không nên thổi phồng một chiều, mà phải đánh giá một cách toàn diện cho đúng.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:34 pm

        Tất cả những cái đó khi chúng ta làm tổng kết, biên soạn lịch sử phải phân tích và nắm cho vững. Như thế thì tự nhiên ta sẽ có những nhận định đúng đắn, công bằng, không phải băn khoăn gì cả, có ưu điểm thì nói ưu điểm, có khuyết điểm thì nói khuyết điểm. Tôi thường nói với các đồng chỉ là phải nhìn thẳng vào sự thật mà nói, phải trung thực với sự thật. Chúng ta không ngại những khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không thấy mà sửa chữa thôi. Làm cách mạng phải có ưu điểm và khuyết điểm chứ, ai mà đúng được tất cả. Cái quan trọng là phải thấy nhận ra khuyết điểm và sửa chữa nó. Ý chung về vấn đề này, tôi muốn nói với các anh là chúng ta cần tổng kết, viết lịch sử là để rút kinh nghiệm và nêu lên những bài học lịch sử là chính. Trong các sự kiện lịch sử cần đi từ chủ trương, đường lối, thực tiễn tình hình để xem xét, đánh giá từ sự lãnh đạo đến phong trào quần chúng không bao giờ quên vai trò quần chúng vẫn là vai trò của những người làm nên lịch sử, dẫn chứng cá nhân là cần thiết, song không bao giờ xem nhẹ vai trò của quần chúng.

        Bây giờ tôi phát biểu lần lượt từng giai đoạn và từng sự việc theo những câu hỏi của anh em. Có chỗ nào tôi nói chưa đủ hoặc còn thiếu, anh em cứ nhắc, mà thậm chí tôi nói nửa chừng, anh em thấy cái gì chưa đúng thì cứ phát biểu. Anh em có thể vặn lại tôi, có như thế mới làm sáng tỏ các vấn đề mà chúng ta đề cập tới. Nếu tôi nói, anh em cứ ghi, có thắc mắc cũng không hỏi lại, chốc nữa tôi về, chúng ta không trao đổi gì được với nhau thì buổi nói chuyện sẽ mất hứng thú và chưa làm sáng tỏ được vấn đề. Tôi nêu ý kiến của tôi, anh em có thắc mắc là lẽ thường; có trao đổi ý kiến mới thống nhất được.

        Trước và sau Cách mạng Tháng Tám

        Các anh chỉ đặt ra những câu hỏi trong hai cuộc kháng chiến, như vấn đề cải cách ruộng đất, Hội nghị Giơ-ne-vơ, Tết Mậu Thân, Hiệp định Pa-ri..., nhưng tôi thấy cần nói thêm một ít, ngắn thôi về những bước đi dẫn chúng ta đến Cách mạng Tháng Tám, giành chính quyền trong toàn quốc. Theo tôi đây là một vấn đề rất lớn, nhưng chúng ta chưa tổng kết được đầy đủ đâu Cũng có thể là các anh đã làm rồi mà tôi chưa được đọc. Nếu chúng ta không tổng kết đầy đủ được giai đoạn này là một thiếu sót lớn. Bởi vì có thấy rõ giai đoạn này, ta mới thấy sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đứng đầu là Bác và anh Trường Chinh lúc ấy là Tổng Bí thư, đã chèo lái con thuyền cách mạng qua bao nhiêu thác ghềnh như thế nào, để đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi, và từ đó mà dẫn dắt, chúng ta viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc. Lịch sử là một sự liên tục, tiếp nối. Chính vì vậy, thắng lợi của chúng ta suốt mấy chục năm qua là sự kế thừa những di sản quý báu mà Bác và Đảng ta đã đem lại từ những ngày đầu giành chính quyền.

        Ở đây tôi chỉ ôn lại với các anh hai giai đoạn: một là, từ Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) đến Cách mạng Tháng Tám; hai là, từ Cách mạng Tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946).

        Ở giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám, tình hình Đảng ta ra sao? Sau Mặt trận Dân chủ là khởi nghĩa Nam Kỳ và Bắc Sơn; trước sự khủng bố của địch, Trung ương cũ gần như không còn, cơ sở Đảng bị nhiều tổn thất. Đảng ta phải lập lại Trung ương mới. Sau Hội nghị lần thứ 8, bầu xong Trung ương thì Bác đi công tác nước ngoài. ít lâu sau, Bác bị bọn Tưởng bắt, các anh ở trong nước cũng bị bắt một số. Trước Cách mạng Tháng Tám, khi chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa, chỉ có Bác, anh Trường Chinh, 3 đồng chí Trung ương và 5.000 cán bộ, đảng viên ưu tú thôi. Ấy vậy, mà vẫn lãnh đạo tạo nên phong trào cách mạng ở cả rừng núi, nông thôn, thành thị - nhất là phong trào ở Hà Nội và làm nên Tổng khởi nghĩa. Như thế là giỏi lắm. Trong Tổng khởi nghĩa, việc sớm giành được chính quyền tại Hà Nội - cơ quan đầu não của kẻ thù là rất quan trọng, vì nó làm rung chuyển cả nước, ngụy quyền sụp đổ, tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa thành công trong toàn quốc.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:52 pm

        Nếu nói giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám thì khoảng thời gian từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến Tổng khởi nghĩa tháng Tám, tôi cho là khoảng thời gian sôi động nhất. Thời gian sôi động này được đánh dấu bằng cái mốc của Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng khai mạc vào đêm 9 tháng 3, trong đó có chỉ thị rất sáng suốt của Trung ương Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị này đã đánh giá đúng tình hình và thời cơ để có chủ trương hành động cách mạng kịp thời. Cho nên, sau chỉ thị đó, ngoài chiến khu Việt Bắc là khu căn cứ lớn nhất, mấy chiến khu nữa trong toàn quốc được thành lập. Có nhưng vùng nông thôn đã nổi dậy tước vũ khí của địch ở một số huyện, tổ chức các đội du kích và cứu quốc quân, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, thành lập đội du kích đầu tiên ở miền Trung. Nhiều cuộc đấu tranh và nổi dậy của quần chúng phá các kho thóc của địch để giải quyết nạn đói - lấy giải quyết nạn đói làm khẩu hiệu trung tâm để phát động quần chúng. Đây là khoảng thời gian ngắn chưa đầy sáu tháng, nhưng có thể vì nó sôi động chẳng khác gì tám tháng trước Cách mạng tháng Mười Nga mà Lê-nin đã nói tám tháng đó bằng hàng chục năm bình thường. Hội nghị ngày 9 tháng 3 được triệu tập trước khi Nhật đảo chính Pháp song lại họp đúng vào ngày chúng nó đảo chính nhau. Nhưng địa điểm bị lộ, phải chạy sang Đình Bảng để họp. Lúc bấy giờ Bác còn ở biên giới, đương cùng một số đồng chí lo xây dựng căn cứ Việt Bắc. Lúc đó Bác có một sách lược lợi dụng mâu thuẫn giữa Nhật và Mỹ - Đồng minh chống phát-xít một cách rất khôn khéo để lấy vũ khí Mỹ góp phần xây dựng đơn vị chủ lực đầu tiên để chống Nhật ở dưới này anh Trường Chinh đã thay mặt Trung ương triệu tập Hội nghị Trung ương mở rộng (có một số đồng chí Xứ ủy tham gia). Hội nghị này đã ra chỉ thị có ý nghĩa lịch sử nói trên. Có thể nói, không có chỉ thị này ta sẽ bỏ lỡ thời cơ khi Nhật - Pháp bắn nhau và không chuẩn bị sẵn sàng để tiến tới Tổng khởi nghĩa khi Nhật bị thất bại.

        Sau Hội nghị trên, còn có hai cuộc hội nghị nữa đáng chú ý: Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ để thống nhất hai lực lượng quân sự: Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu Quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân. Hội nghị của Xứ ủy Bắc Kỳ để phổ biến chỉ thị của Trung ương về vấn đề Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta và bàn kế hoạch thực hiện.

        Đến Hội nghị Tân Trào thì ý nghĩa lịch sử của nó lại càng đặc biệt. Hội nghị có đại biểu của cả nước về dự. Nhưng lúc đó tình hình đã biến chuyển rất mau lẹ nên Trung ương đã quyết định Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ cử một mình đồng chí Bí thư Xứ ủy - đồng chí Nguyễn Văn Trân - đi dự, còn có các anh Xứ ủy viên khác được phân công, ở lại phụ trách các tỉnh trọng điểm và địa phương để đón thời cơ khi Nhật đầu hàng thì nổi dậy khởi nghĩa - như phân công anh Nguyễn Khang - Quyền Bí thư Xứ ủy phụ trách khởi nghĩa ở Hà Nội... Như vậy ta đã không bỏ lỡ thời cơ khởi nghĩa và khi chúng tôi dự Hội nghị Tân Trào về nửa đường thì Hà Nội đã giành được chính quyền. Trước Hội nghị Tân Trào còn có Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng. Cùng với Hội nghị đó thống nhất lực lượng của Đảng trên toàn quốc, thông qua kế hoạch và lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, thành lập Chính phủ lâm thời, tổ chức Tổng bộ Việt Minh, bổ sung Trung ương... Lần đầu tiên trong lịch sử, kể từ ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước, đến Hội nghị này Bác mới chính thức ra mắt toàn Đảng, toàn dân. Hội nghị lịch sử Tân Trào khẳng định sự thống nhất ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân từ Bắc đến Nam.

        Như vậy, trong bốn cuộc Hội nghị bấy giờ thì Hội nghị ngày 9 tháng 3 và Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng là hai hội nghị quan trọng nhất. Nếu không có những cuộc hội nghị như vậy thì cuộc Cách mạng Tháng Tám không thể nào thành công được.

        Đặc biệt trước ngày Nhật đảo chính Pháp, có nhiều anh em đã vượt ngục được. Sau ngày ấy nhiều anh em lại phá ngục, ra hoạt động bên ngoài, hăng hái lao ngay vào công tác. Đó là những cán bộ đã được rèn luyện, thử thách, rất dày dạn. Nếu không có một đội ngũ cán bộ vượt ngục ra đông như thế thì cũng không đảm bảo cho các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương được thực hiện một cách tốt đẹp. Cũng như ở miền Nam, do Cách mạng Tháng Tám thành công, tất cả những anh em ở nhà tù Côn Đảo được đón về ngay, trong đó có anh Ba (đồng chí Lê Duẩn), anh Hùng (đồng chí Phạm Hùng), anh Bảy Linh (đồng chí Nguyễn Văn Linh), và nhiều đồng chí cán bộ ưu tú khác. Nếu không có những cán bộ như vậy thì làm sao cuộc kháng chiến chống Pháp lại có thể vượt qua nhiều khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi. Vì các anh đó đều là cán bộ lãnh đạo của Đảng. Anh Ba làm Tổng Bí thư 26 năm nay, ngày ấy cũng là người ở Côn Đảo về. Chúng ta phải đánh giá tất cả cái này cho đúng thì mới thấy được sự nắm bắt kịp thời cơ, xoay chuyển tình thế của Đảng ta trong những bước ngoặt lịch sử nhanh nhạy đến như thế nào để làm nên Cách mạng Tháng Tám.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:38 pm

        Còn giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến thì tôi thấy rõ có bốn sự kiện lớn của lịch sử, ta cần phải phân tích cho rõ, để rút ra những bài học kinh nghiệm. Đó là: giải tán Đảng; Hiệp định Sơ bộ 6-3; Tạm ước 14-9 và Toàn quốc kháng chiến.

        Khi cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng ta lúc ấy chỉ có chừng 5.000 đồng chí, quân đội ta còn non trẻ, lực lượng nòng cốt của ta là các đội du kích tập hợp lại, hậu quả của nạn đói do Pháp - Nhật gây ra chưa được giải quyết thì quân Tưởng kéo hàng mấy chục vạn vào miền Bắc; quân Anh vào miền Nam. Bọn phản động "Việt Quốc" dựa vào quân Tưởng phá ta dừ dội và chiếm một số tỉnh ở phía Bắc. Lúc đó bọn Tàu Tưởng bắt ta phải giải tán Đảng; phải thay đổi Quốc kỳ; thay đổi Quốc ca và cho bọn Việt Quốc tham gia vào chính quyền. Chúng bắt ép ta đủ điều, thậm chí có lúc đã giữ Bác một ngày. Nếu chúng ta không có sách lược khôn khéo, đối phó kéo dài với nó, mãi đến tháng 11 năm 1945 ta mới tuyên bố giải tán Đảng. Sau đó ta nhân nhượng cho nó một số ghế ở Quốc hội và Chính phủ. Nhưng đại bộ phận chính quyền ở trong nước từ trên xuống dưới vẫn do Đảng ta lãnh đạo và vẫn điều hành cả nước. Còn Quốc kỳ, Quốc ca ta không thay đổi.

        Thực hiện chỉ thị của Bác, Đảng tuyên bố giải tán và lấy tên là "Hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác". Giải tán Đảng chỉ là hình thức bên ngoài, chứ còn toàn Đảng vẫn hoạt động bình thường, các tổ chức của Đảng ở Trung ương và các địa phương vẫn công khai hội họp. Tờ báo của Đảng vẫn là tờ báo Cộng sản, chỉ thay đổi tên gọi một cách hình thức: trước là tờ báo của "Đảng Cộng sản Đông Dương", nay là tờ báo của "Hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác". Như vậy, thực chất Đảng ta vẫn còn nguyên vẹn, tiếp tục củng cố và phát triển. Tuy nhiên, lúc đầu cũng có một số ít cán bộ đảng viên hiểu sai, tưởng đâu như giải tán Đảng thật, nhưng được giải thích thì không có cán bộ đảng viên nào hiểu sai mà dẫn đến việc giải tán Đảng ở chỗ này, chỗ kia. Thật ra, lúc đó cũng có một vài anh em do không hiểu cho nên không tán thành ý kiến của Bác và Trung ương Đảng, không làm như vậy thì khó cứu vãn được tình hình. Chính quyền ta còn non trẻ mà lực lượng địch thì mạnh, nó có thể bắt cán bộ của ta, lật đổ chính quyền của ta, đưa bọn Quốc dân đảng lên, lập cái chính phủ và thể chế gì đó thì sẽ gây cho ta nhiều khó khăn lắm. Sự nhân nhượng khôn khéo như vậy, sách lược khôn khéo như thế của Bác cốt là để cho chúng ta rảnh tay hơn mà xây dựng lực lượng và củng cố chính quyền. Đồng thời Bác cũng biết là quân Tàu Tưởng chỉ đóng một thời gian để giải giáp quân đội Nhật rồi trở về nước. Nếu chúng ta không hiểu cái đó mà phê phán thế này, thế kia thì không đúng đâu. Quyết định của Bác và Trung ương, tôi cho là sáng suốt lắm.

        Về Hiệp định Sơ bộ 6-3, ta nhớ rằng ngay từ cuối tháng 2 năm 1946, Pháp và Tưởng đã ký Hiệp định "buôn bán chính trị" với nhau: Tưởng cho Pháp vào miền Bắc Việt Nam, Pháp trả lại cho Tưởng những quyền lợi của Pháp mà chúng đã chiếm từ trước ở Trung Quốc. Tình thế đó đặt chúng ta trước hai con đường: hoặc là tạm thời hoà hoãn với Pháp để đẩy Tưởng ra mau; hoặc là đánh Pháp khi nó vào miền Bắc? Có thế thôi. Lợi hại thế nào, chúng ta phải phân tích bối cảnh lịch sử lúc đó. Trong Nam, ta đang kháng chiến chống Anh - Pháp; ngoài Bắc còn có 20 vạn quân Tưởng, bọn Quốc dân đảng đã chiếm một phần trong Quốc hội và một vài nơi. Lúc đó tuy có cao trào cách mạng, nhưng chính quyền của ta còn non trẻ... Nếu bấy giờ chúng ta đánh Pháp thì bọn Tưởng lấy cớ chưa yên để ở lại. Tình thế buộc ta phải đương đầu với hai kẻ thù trong một lúc. Bởi thế, lúc bấy giờ sách lược của ta là phải làm sao đẩy Tưởng ra mau. Muốn vậy, ta phải tạm thời nhân nhượng cho Pháp về một số điều khoản như Hiệp định Sơ bộ đã nói. Trong điều kiện lúc đó mà không có sách lược khôn khéo như vậy thì chính quyền của ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Cho nên, sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3, ngay khi quân Pháp vào thì Bác cho tổ chức ngày sinh của Bác để biểu dương lực lượng cả nước, động viên toàn quốc về chính trị. Đó là một cách đồi phó rất tài tình, gây áp lực với địch, làm cho Pháp thấy, không phải nó kéo quân vào rồi là yên đâu, vi Hiệp định có điều khoản là 5 năm nó sẽ rút, đóng quân ở đâu chỉ đóng đấy thôi...


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:53 pm

        Sau Hiệp định Sơ bộ, Pháp lại đòi ta phải ký một hiệp định chính thức. Lúc ấy có thể chọn 3 địa điên để ký: Một là Sài Gòn, hai là Hà Nội, ba là Pa-ri. Nếu sang Pa-ri, ta sẽ có cái lợi để gây thanh thế của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà trong nhân dân Pháp và trên trường quốc tế mà lúc bấy giờ có mấy ai biết đến. Nhưng cũng có điều bất lợi là ta phải họp trên đất đối phương. Hơn nữa lúc đó Pháp còn có lợi thế là đã kéo quân vào nước ta thì dễ gây sức ép với ta. Vả lại phái đoàn Chính phủ do Bác dẫn đầu mà ở trên đất nó, nó muốn khấu lưu lúc nào thì nó khấu lưu ( Thực ra phái đoàn ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dăn đầu (BBT)). Mặc dù phân tích lợi hại như vậy, nhưng chúng ta vẫn đi Pa-ri để ký. Ai cũng biết lần đi này Bác đã ký Tạm ước 14-9 nhân nhượng cho bọn Pháp thêm quyền lợi về kinh tế, văn hoá, tài chính, ngoại giao... coi như quyền lợi của nước ta không còn bao nhiêu nữa. Buộc phải ký như vậy, Bác phải suy nghĩ rất dữ. Đêm cuối cùng trên đất Pháp, Bác biết rằng nếu không ký nó sẽ giữ lại, vì cảnh sát đã vào ngay chỗ Bác để làm áp lực Thành thử Bác cốt sao ký xong để mà về. Vào khoảng trung tuần tháng 10, vừa về tới nhà, Bác bảo: không còn nhân nhượng gì nữa, chỉ còn cách đánh thôi. Không còn cách nào khác. Cho nên chỉ trong vòng hơn hai mươi ngày, sau hôm về nước, Bác đã ra chỉ thị nói phải đánh và Bác bảo những việc phải làm để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Theo chỉ thị của Bác, sau gần 2 tháng chuẩn bị kháng chiến, đến ngày 17 tháng 12 năm 1946, ta đã họp Hội nghị Thường vụ Trung ương ở Vạn Phúc. ở hội nghị này, theo sự chỉ đạo của Bác, anh Trường Chinh ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến và Bác viết ngay tại chỗ Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Cũng ở Hội nghị đó, Bác phân công chúng tôi mỗi người một việc, người thì lo về quân sự; người thì lo triệu tập Hội nghị Xứ ủy để phổ biến chỉ thị và tổ chức phân chia các khu; và theo địa giới quân sự, thành lập khu ủy, các quân khu và bàn kế hoạch kháng chiến. Những việc lớn như vậy đã được chuẩn bị trong vòng hai tháng kể từ khi Bác về. Ngay cả việc chuyển các cơ quan, các máy móc ra khỏi Hà Nội, chúng ta cũng đã làm theo chỉ thị của Bác và Trung ương. Chứ còn đợi đến lúc có lời kêu gọi kháng chiến, tức là bắt đầu chiến tranh rồi, thì chuyển làm sao kịp được nữa? Chúng ta đã chuyển ra căn cứ địa đầu tiên ở Hà Đông và bước thứ hai mới lên Việt Bắc. Trung đoàn Thủ đô còn đánh hai tháng nữa ở trong lòng thành phố. Và đồng thời quân ta còn vây địch ở Hà Nội. Nếu không có thời gian chuẩn bị trước, làm sao chúng ta làm được những việc to lớn như vậy?

        Lịch sử đã diễn ra như vậy. Phải nhạy bén lắm, khôn khéo lắm và tài giỏi lắm Bác mới ký Hiệp định Sơ bộ 6-3. Cho nên trong giờ phút lịch sử ấy, quyết định của Bác thật là vô cùng quan trọng. Nhờ có ký Hiệp định Sơ bộ 6-3; Pháp mới chập chững ở Nam Bộ trong một thời gian. Chúng ta cần nhớ rằng, khi ấy ở Nam Bộ, chúng ta vừa cướp được chính quyền ngày 25 tháng 8 thì ngày 23 tháng 9 Pháp đã gây hấn rồi. Nó đưa hàng vạn quân vào đánh ta ngay. Ban đầu chúng cũng làm cho ta gay go chứ? Nhưng Hiệp định Sơ bộ 6-3 đã khiến nó chập chững và tạo điều kiện cho chúng ta củng cố lại lực lượng ở trong đó và ở ngoài này để chúng ta có thời gian chuẩn bị thêm. Những Hiệp định như thế làm ta một mặt thoát khỏi tình trạng một lúc phải đương đầu với hai kẻ thù, mặt khác lại có thời gian củng cố lực lượng để kháng chiến. Đó là những Hiệp định vô cùng sáng suốt và hoàn toàn đúng đắn. Thời gian này, Bác, anh Trường Chinh cũng như các đồng chí Trung ương không ai ảo tưởng với bọn Pháp cả. Có người hỏi về bài diễn văn công khai Bác đọc lúc mới ở Pháp về. Thực ra đó là để đối phó ngoại giao mà thôi. Vì trong diễn văn đó, Bác nhấn mạn một câu: "Nhất định chúng ta độc lập, nhất định chúng ta tự do", nghĩa là chúng ta bước vào cuộc đấu tranh không khoan nhượng. Vì thế bài diễn văn khi Bác ở Pháp về tuy là lời kêu gọi đồng bào bình tĩnh và thực hiện những điều đã ký kết, nhưng đó chỉ là sách lược ngoại giao. Thật ra lúc đó chúng ta đã đi vào chuẩn bị kháng chiến. Và quả nhiên một tháng sau chỉ thị đó, Hội nghị Thường vụ Trung ương quyết định toàn quốc kháng chiến và Bác ra "lời kêu gọi". Không có lừng chừng, ảo tưởng gì trong giai đoạn này cả. Nếu lừng chừng, ảo tưởng thì đâu có chuẩn bị được như thế.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:06:14 pm

        Tôi cho thời kỳ này là thời kỳ khó khăn, ngàn cân treo sợi tóc. Tôi có thể nói đứng về mặt chính trị và ngoại giao, từ ngày chúng ta giành chính quyền cho đến khi ta giải phóng hoàn toàn miền Nam thì đây là thời kỳ khó khăn nhất, về mặt chính trì, ngoại giao chứ không phải về mặt quân sự. Thời kỳ ấy phải đối phó với nhiều mâu thuẫn phức tạp và rất nhiều cái ngoắt ngoéo quanh co. Chứ còn bắt đầu chống Pháp đến Điện Biên Phủ thì vấn đề chính trị, ngoại giao không có khó khăn gì nhiều như thời kỳ đó. Sau chống Pháp đến chống Mỹ củng vậy, về mặt chính trị, ngoại giao không có gì phức tạp, tuy rằng về quân sự thì rất gay go, rất ác liệt và cuộc đấu tranh ngoại giao ở Hội nghị Pa-ri kéo dài 5 năm rất căng thẳng. Có thể nói rằng: Bác là người đi nước ngoài nhiều, Bác hiểu Tàu, Bác lại hiểu Pháp, Bác mới có những sách lược và ngoại giao rất tài giỏi, rất đúng lúc như thế. Phải nói rằng lúc ấy chúng ta mới có chính quyền chỉ trên một năm. Nếu không có sách lược đúng đắn lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp và Tàu Tưởng thì không có thời gian để mà đối phó với tình hình đói rét, để phát động được phong trào, để xây dựng cơ sở xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị kháng chiến, thì làm sao chúng ta đi vào cuộc kháng chiến chống Pháp một cách chủ động như thế được. Điều kiện tạo ra những sự kiện lịch sử đó là rất khách quan. Nhờ có Bác, anh Trường Chinh và Trung ương nắm chắc tình thế để điều hành, chúng ta mới có được những thắng lợi như vậy.

        Bản thân tôi lúc đó vừa hoạt động bí mật ra, cũng chỉ có thể am hiểu những việc làm như công tác chinh trị, vận động quần chúng, xây dựng Đảng... còn những cái gọi là sách lược mềm mỏng đối ngoại như thế này, có thể nói cũng chưa hiểu được bao nhiêu. Ngay anh Trường Chinh dạo đó trình độ giỏi hơn chúng tôi, nhưng cũng chưa thạo về đối sách ngoại giao khôn khéo như vậy. Đó là một sự thật. Bác ở Trung Quốc lâu, hiểu bọn Tưởng nhiều, hiểu rất kỹ cả Tiêu Văn là đại diện của Tưởng vào giải giáp quân phiệt Nhật. Cho nên bao nhiêu biện pháp để đối phó với nó chủ yếu do Bác nghĩ, Bác làm. Đến ngay như việc giải tán Đảng lúc đầu có phải ai cũng đồng ý cả đâu. Hay như Hiệp định 6-3 và Tạm ước 14-9 cũng vậy có những ý kiến chưa nhất trí với Bác. Nhưng thấy Bác đã quyết vì hoàn toàn tin vào Bác mà chấp hành một cách nghiêm túc. Nhờ thế mới thắng được trong tình hình rất phức tạp gay go. Cho nên nếu các đồng chí nghiên cứu lịch sử mà không thấy hoàn cảnh lịch sử như vậy, không thể hiểu được đâu. Thực tiễn là như vậy.

        Đúng là trong vòng 30 năm từ ngày Cách mạng Tháng Tám đến khi giải phóng miền Nam, thì thời kỳ Tổng khởi nghĩa đến Toàn quốc kháng chiến là thời kỳ về mặt chính trị, ngoại giao là khó khăn, phức tạp nhất. Cho nên tôi mới nói trong các cuộc hội nghị ngoại giao thì Phông-ten-nơ-blô là khó khăn hơn Giơ-ne-vơ và Pa-ri là như vậy. Hội nghị Pa-ri găng thì găng thật, căng thẳng ghê gớm thật, nhưng không có áp lực của địch đối với mình ngay trên đất của nó. Hơn nữa chúng ta đang ở trên đà thắng lợi và được sự đồng tình ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và của phong trào tiến bộ rộng rãi trên thế giới, kể cả của nhân dân Mỹ. Lúc còn tiến hành Hội nghị Giơ-ne-vơ, ta đương ở thế thắng Điện Biên Phủ, tình hình thế giới cũng đang thuận lợi cho ta: Trung Quốc giải phóng đã hình thành phe xã hội chủ nghĩa; thắng lợi ở Điện Biên Phủ ảnh hưởng lớn đến phong trào giải phóng dân tộc. Còn với Hiệp định 6-3 và Phông-ten-nơ-blô thì ta ở cái thế vừa có Tàu Tưởng, vừa có Quốc dân đảng, vừa có Pháp. Phải đối phó với hai, ba kẻ thù cùng một lúc, tuy phong trào quần chúng lúc đó đang có khí thế, nhưng chính quyền còn non trẻ, quân đội mới tập hợp từ du kích lại, chưa có bao nhiêu, lực lượng Đảng còn yếu. Mặt khác, lại phải tổ chức các đội Nam tiến chi viện cho miền Nam đánh giặc. Tình hình quốc tế cũng chưa có thuận lợi cho ta như ở Giơ-ne-vơ và Pa-ri, ta còn bị bao vây và cô lập. Tình hình lúc ấy căng thẳng như thế đó. Cho nên, tôi nghĩ rằng các đồng chí cần nghiên cứu sâu hơn và phải làm cho rõ hơn thời kỳ 16 tháng nắm chính quyền ban đầu của Đảng ta. Đó là thời kỳ lịch sử gay go, khó khăn, thử thách nhất về mặt chính trị, ngoại giao. Nhưng Đảng và Bác Hồ đã giải quyết một cách thật sáng suốt.

        Tóm lại, kể từ Hiệp định Sơ bộ 6-3 cho đến Tạm ước 14-9, tuy rằng ta nhượng bộ đến như thế đấy nhưng cũng là lúc địch nó đẩy ta đến chân tường rồi. Không đánh không được nữa, chỉ còn một cách là đánh thôi. Cho nên trong Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Bác Hồ mới nói: "Chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới". Phải vùng dậy mà đánh thôi. Ngày nay, chúng ta phải phân tích cho thật sâu thật kỹ về tình hình chiến lược, sách lược lúc đó...


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:15:25 pm

        Về tình hình sau chiến thắng Điện biên phủ và hiệp định Giơ-ne-vơ

        Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, ta và Pháp ký Hiệp định Giơ-ne-vơ. Việc ký kết này là tất yếu thôi. Nhưng về phần ta giành được ở Hiệp nghị này thì hiện vẫn còn một số anh em đặt ra những câu hỏi. Có người cho rằng ta dừng ở Vĩ tuyến 17 có thể là chưa phản ánh đúng lực lượng so sánh trên chiến trường lúc ấy chăng? Liệu ta tiếp tục đánh dấn lên trong một thời gian nữa thì có thể giành thắng lợi hoàn toàn được không? Tôi cho rằng: nếu chúng ta kiên trì đàm phán, kéo dài hơn và có kinh nghiệm hơn thì cũng có khả năng chúng ta giành thắng lợi nhiều hơn, không loại trừ có thể đạt tới Vĩ tuyến 13 chẳng hạn. Đó cũng là một khả năng, bởi vì lúc ấy nếu chúng ta kéo dài cuộc đàm phán sau khi chúng ta đánh thắng Điện Biên Phủ, rồi đem lực lượng đánh sâu xuống dưới, không ngại gì Mỹ can thiệp vào, thì ta có thể giành thắng lợi hơn nữa. Thế nhưng lại có anh em còn đặt ra câu hỏi khác là: liệu ta nhân đà chiến thắng Điện Biên Phủ, đánh luôn một thời gian nữa, không vội ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ thì đã có thể giải phóng toàn quốc rồi không. Tôi cho rằng không hẳn đã là như vậy. Vì cuộc chiến tranh nào cũng vậy, tình hình nào cũng vậy, ta phải phân tích mặt khách quan, mặt chủ quan của nó. Về mặt chủ quan, chúng ta lúc bấy giờ có những vùng tự do khá lớn như Việt Bắc, Thanh-Nghệ-Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và có cả những vùng khá lởn ở miền Nam; đồng thời lại có vùng mới giải phóng cũng khá rộng. Lúc đó nếu chúng ta xây dựng thêm lực lượng để đánh thêm một thời gian nữa thì về điều kiện chủ quan, chúng ta có khả năng đánh như vậy. Nhưng chúng ta còn phải tính đến tình hình khách quan lúc đó. Tình hình quốc tế lúc đó có những mặt làm ta phải suy nghi. Lúc ấy Mỹ đứng về phía Pháp, giúp Pháp rất nhiều. Khi ấy Pháp thua, vì đang rất sợ con bài "Đô-mi-nô" đổ, Mỹ đã càng can thiệp sâu vào Đông Dương, tìm cách thay chân Pháp, giữ con bài "Đô-mi-nô" khỏi đổ. Đến trước năm 1975 chúng nó cũng rất lo con bài "Đô-mi-nô" đổ. Sau này, Việt Nam thắng rồi, không thấy con bài "Đô-mi-nô" đổ, nó mới bàn với nhau là cách mạng mỗi nước có một vẻ, nước nào có phong trào thì mới nổi dậy được, đâu có phải dễ đổ theo kiểu "Đô-mi-nô"' Nhưng lúc bấy giờ nó sợ "Đô-mi-nô" thật. Nhất là bấy giờ Trung Quốc đã thắng lợi, phong trào cách mạng thế giới đã hình thành một thế mạnh và vững chắc. Cho nên Mỹ doạ can thiệp, dọa ném bom nguyên tử. Chúng hung hăng lắm vì tự xem mình là kẻ chiến thắng ở Triều Tiên. Ta cũng chưa hiểu khả năng của Mỹ can thiệp như thế nào và chưa tính được hết. Không thể loại trừ khả năng Mỹ can thiệp vào vì nó rất sợ để mất Đông Dương thì sẽ mất cả Đông Nam Á. Điều này về sau càng rõ... Cho nên sau Giơ-ne-vơ, Mỹ bèn lập ra khối SEATO. Sau khi đánh Triều Tiên, nó hung hăng lắm, vì nó biết Trung Quốc và Bắc Triều Tiên chưa trị được nó. Xem như vậy thì cũng có thể lúc bấy giờ Mỹ can thiệp vào Việt Nam và thay chân Pháp. Nếu mà chúng ta đánh dồn dập thì không loại trừ khả năng Mỹ nhảy vào chia cắt và giữ ít nhất nếu không phải cả miền Nam thì cũng là B (Đông Nam Bộ). Cũng cần phải thấy thực tế lúc đó lực lượng quân sự của mình ở Nam Bộ còn yếu. Tuy gọi là quân chủ lực đấy, nhưng thực ra chỉ có mấy tiểu đoàn (như Tiểu đoàn 307, Tiểu đoàn 338). Còn phần lớn là du kích cả. Trong tình hình ấy nó can thiệp vào thì cuộc chiến tranh sẽ kéo dài nhiều năm dù rằng cuối cùng chúng ta cũng thắng thôi.

        Còn một thực tế khách quan nữa là trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng lúc ấy, sự giúp đỡ quốc tế là vô cùng quan trọng. Lúc ấy Trung Quốc mới giải phóng, từ năm 1949 đến năm 1954, mới được 6 năm, trong đó, họ lại phải tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ, viện Triều mất 3 năm, tổn thất cũng lớn nên họ lo xây dựng mất nước sau nhiều năm chiến tranh. Đó là chưa kể đến họ còn nghĩ đến lợi ích dân tộc và có thể cho rằng: một nửa nước Việt Nam giải phóng cũng đã đủ để làm hàng rào bảo vệ sườn phía Nam của họ. Giúp ta giải phóng tiếp thì họ không tranh thủ được thời gian xây dựng đất nước sau bao nhiêu năm chiến tranh. Nếu để Mỹ can thiệp vào thì họ phải dính líu thêm vào, phải đụng đầu với Mỹ, họ sẽ có khó khăn và trái với lợi ích của họ. Còn Liên Xô lúc ấy, thực tế cũng mới qua thảm họa phát-xít hơn 8, 9 năm, đất nước đang còn đầy rẫy khó khăn cũng cần phải có thời gian củng cố xây dựng. Chúng ta phải hiểu chủ nghĩa quốc tế vô sản là kết hợp hai mặt lợi ích của quốc tế và lợi ích dân tộc, không thể chỉ nghĩ về mình được. Hoàn cảnh riêng của anh em lúc ấy còn có những khó khăn như vậy, chả lẽ mình cứ đòi hỏi anh em vì mình mãi sao? Không thể không quan tâm đến lợi ích của Liên Xô, Trung Quốc lúc bấy giờ, thành thử nếu nhờ anh em giúp đỡ để đánh nữa thì có những cái khó khăn khách quan của nó. Và thật sự là Liên Xô và Trung Quốc lúc đó không thể giúp ta đánh nữa. Cho nên đều chủ trương ký Hiệp định Giơ-ne-vơ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:16:02 pm

        Trong kháng chiến chống Mỹ vừa qua cũng thế thôi. Nếu chúng ta không khéo đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế thì chúng ta cũng không thể thắng được, không thể nào thắng to như thế được.

        Tôi xem các kết luận tổng kết của các anh thì thấy các anh nói chưa đầy đủ phần quốc tế giúp đỡ ta. Nên nhớ rằng phần này quan trọng ở chỗ tình hình quốc tế lúc bấy giờ rất phức tạp. Nếu chúng ta không khéo đoàn kết, tranh thủ được tất cả sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của phong trào cách mạng thế giới thì trong chống Pháp và cả trong chống Mỹ, chúng ta không thể thắng to như thế được. Đó là một yếu tố vô cùng quan trọng góp phần quyết định thắng lợi. Cho nên trong chống Pháp không có Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em giúp mà mình cứ đánh thì đánh sao được? Trong tình hình khách quan lúc đó, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ là đúng. Nếu không phân tích tình hình thực tế của quốc tế và của chúng ta khi ấy, nếu chỉ nhìn vào chúng ta mà thôi thì chưa đủ. Phân tích cho ra những yếu tố chủ quan, khách quan như thế chúng ta thới thấy được không có cách gì khác, chúng ta phải chủ trương như vậy. Cũng có khả năng là nếu lúc bấy giờ chúng ta uyển chuyển hơn ngồi vào bàn đàm phán rồi nhưng cứ đánh thêm ít lâu nữa thì có thể chiếm thêm được ít vĩ tuyến nữa, mà không chỉ dừng lại ở Vĩ tuyến 17. Nhưng hy vọng không ký Hiệp định Giơ-ne-vơ mà cứ đánh tiếp một thời gian nữa để giải phóng cả nước lúc bấy giờ là không thực tế.

        Tình hình lúc đó như vậy, quan hệ Việt - Xô - Trung như anh em một nhà chúng ta không thể nào mà làm trái lại với lợi ích của Liên Xô, Trung Quốc. Lúc đó, chúng ta không thể giải quyết tiếp tục chiến tranh như ý muốn chủ quan của chúng ta được, mà phải tính đến lợi ích của Liên Xô, Trung Quốc, đến tình hình khách quan như trên đã nói.

        Từ nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng đến Chiến tranh Cục bộ

        Theo Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, thì sau 2 năm phải tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất Tổ quốc. Lúc đó có nhiều anh em tin như vậy và phải nói trong chúng ta cũng có phần nào còn nhận thức mơ hồ, cho nên khi đi tập kết, có nhiều anh em đã giơ hai ngón tay hò hẹn ngày trở về.

        Trong lúc đó, ở miền Nam, Trung ương Cục có nhận định thêm, cho rằng sẽ có hai khả năng. Một là, địch sẽ thi hành Hiệp định, sẽ có tổng tuyển cử. Hai là, chúng sẽ xé Hiệp định và chiếm lấy miền Nam. Khi đồng chí Lê Duẩn ở miền Bắc vào (sau Hiệp định Giơ-ne-vơ), chúng tôi có trao đổi ý kiến. Đồng chí Lê Duẩn hoàn toàn nhất trí với nhận định của Trung ương Cục về hai khả năng và cũng nhất trí với chúng tôi cho rằng phải chuẩn bị cho khả năng xấu nhất. Vì vậy, đồng chí và Trung ương Cục đã quyết định phải để phần lớn cán bộ và vũ khí lại.

        Được sự phân công của Trung ương Cục, tôi phổ biến Nghị quyết của Trung ương và Trung ương Cục về việc thành lập Xứ ủy Nam Bộ, sắp xếp lại bộ máy tổ chức và bố trí cán bộ cho phù hợp với tình hình, chủ trương mới. Đại đa số cán bộ trung cao cấp dân - chính - đảng và một số cán bộ quân sự trung cao đều ở lại.

        Trước khi ra miền Bắc, tôi bàn với đồng chí Lê Duẩn là sẽ đưa thêm một vài đại đội có đầy đủ vũ khí tốt vào vì số súng ống để lại không tốt lắm. Ra đến Đồ Sơn, tôi bàn với anh em tổ chức và trang bị cho một đại đội để đưa trở lại làm lực lượng bảo vệ căn cứ địa của Xứ ủy.

        Ở Khu 5, tình hình có khác Nam Bộ. Lúc đó, Khu ủy và các cấp ủy hầu hết đều đi tập kết, đến cấp xã nhiều người cũng không ở lại. Súng ống, đạn dược đều mang đi. Tình hình lúc đó có nhiều khó khăn. Sau một thời gian, Bộ Chính trị có quyết định thành lập lại Khu ủy và đưa các đồng chí Khu ủy và một số cán bộ và vũ khí nhẹ trở lại Khu 5. Đến khi có Nghị quyết 15 thì đại bộ phận cán bộ trung cao cấp của Khu 5 trở lại chiến trường và đưa vũ khí vào.

        Như vậy, sau khi ký Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, chúng ta phải thành thật nhận rằng lúc đầu đã có phần ảo tưởng, cho rằng địch sẽ thi hành Hiệp nghị, nên đã chú trọng về đấu tranh chính trị. Tuy nhiên phải thấy rằng nhận thức cho đúng tình hình lúc này không phải là dễ. Trong một cuộc hội nghị cán bộ để phổ biến nghị quyết của Trung ương sau Hội nghị Giơ-ne-vơ, khi tôi thay mặt Trung ương Cục nói là sẽ có hai khả năng và chúng ta phải chuẩn bị để đối phó với khả năng xấu nhất, thì có đồng chí cán bộ cao cấp trong quân đội cho rằng tôi đã nhận định trái với Nghị quyết của Trung ương.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:17:10 pm

        Tôi phải giải thích cho rõ: đành rằng Trung ương không nói hai khả năng như thế, nhưng chúng ta phải chuẩn bị cả hai khả năng và sẵn sàng đối phó với khả năng xấu nhất. Lý lẽ của Trung ương Cục lúc đó là tình hình và kinh nghiệm của Triều Tiên đã cho chúng ta thấy rằng mặc dù đã có Hiệp định chia Nam - Bắc song sau đó chiến tranh vẫn nổ ra. Vì thế chúng ta phải chuẩn bị và phân bố lại đội ngũ cán bộ cho phù hợp với tình thế mới để đề phòng khả năng xấu nhất. Như vậy, cũng không có gì trái ngược với Nghị quyết của Trung ương. Vì vậy theo chỉ thị của Trung ương Đảng, chúng ta đã thành lập Xứ ủy thay cho Trung ương Cục. Các đồng chí Xứ ủy ở lại trực tiếp chỉ đạo trong Nam. Anh Ba lúc đó ở lại làm Bí thư Xứ ủy.

        Trong những năm 1954-1956, cũng có một số đồng chí nhận định được âm mưu xảo quyệt của địch, nhưng cũng có những đồng chí chưa thấy ngay được. Phải trải qua thực tiễn một thời gian để quần chúng nhận biết được sự lật lọng của địch, phải có thời gian chín muồi mới phát động được quần chúng. Vì thế nên lúc đó ta có súng đạn nhưng cũng chỉ để làm hậu thuẫn cho đấu tranh chính trị và bảo vệ căn cứ, sẵn sàng đối phó với địch nếu chúng khủng bố. Tuy thế cũng không phải là dễ. Ví như ở Khu 5 có nơi anh em chạy lên rừng, tuy có vũ khí trong tay, mà những ngày đầu gặp địch khủng bố, anh em đề nghị cho đánh vẫn chưa được chấp nhận.

        Trải qua đấu tranh, thấy địch xé bỏ Hiệp định, cán bộ và quần chúng đã có thực tiễn, lập tức chúng ta phát động đấu tranh là đúng. Hai năm đấu tranh hiệp thương đã diễn ra như thế. Có điều, đáng lẽ ra, chúng ta cần phải chuẩn bị cho khả năng thứ hai - tức là khả năng xấu nhất sớm hơn.

        Đến những năm 1957, 1958, khi chính quyền Diệm đã dẹp xong giáo phái thân Pháp rồi, chúng bắt đầu khủng bố rất dữ. Lúc đó, anh em ở miền Nam mới thấy rõ là không thể sống nổi dưới chế độ Diệm. Ngô Đình Diệm tàn bạo hết sức, chúng lê máy chém khắp nơi. Vì thế có những cuộc nổi dậy mà ta gọi là "Đồng khởi" cũng nổ ra những cuộc vũ tráng đánh đồn bốt địch ở Khu 7, ở miền Đông Nam Bộ và giành được một số thắng lợi.

        Có đồng chí hỏi là vì sao, tình hình ở miền Nam trong những năm 1957, 1958 đã khác những năm 1954-1956 mà mãi đến năm 1959, Nghị quyết 15 của Trung ương mới ra được? Nghị quyết ra như thế có dúng với tình hình thực tiễn lúc đó không? Có phải là muộn không? Có tác dụng gì không? Nhìn lại giai đoạn này chúng ta sẽ thấy thực tế là lúc đó Trung ương ở xa miền Nam. Bác và nhiều đồng chí Trung ương chưa ở miền Nam. Tôi và một vài đồng chí tuy đã ở miền Nam nhưng do chưa nắm đầy đủ tình hình nên những ý kiến nêu ra chưa được đầy đủ. Phải chờ đồng chí Lê Duẩn - người trực tiếp phụ trách miền Nam, nắm được tình hình mọi mặt trong đó ra báo cáo, Bộ Chính trị và Trung ương mới có được Nghị quyết 15 vào năm 1959. Khi thảo luận đề ra Nghị quyết 15, trong Hội nghị Trung ương cũng có hai ý kiến: Một là, phải xây dựng căn cứ và phát động chiến tranh du kích. Hai là, hãy vũ trang tuyên truyền, xây dựng căn cứ đã.

        Song, trên thực tế khi Nghị quyết 15 ra đời thì cũng là lúc miền Nam đã có những cuộc nổi dậy và đã có những trận đánh rồi. Thế nhưng dù là chậm và chưa đầy đủ, song với sự phát triển của tình hình, Nghị quyết 15 vẫn có những tác dụng rất quan trọng. Nhờ có Nghị quyết đó, miền Nam đã nhất tề đứng dậy, anh em ta như có cái gậy để nắm lấy, xông vào cuộc đấu tranh vũ trang. Trung ương đã cho đấu tranh vũ trang thì phải đánh, không có cách nào khác. Cho nên, không thể nói là Nghị quyết 15 không đúng và không có tác dụng gì như một số anh em nói.

        Sau Nghị quyết 15, vào năm 1960 để đối phó với chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ ở miền Nam, chúng ta lại có một cuộc thảo luận giữa hai ý kiến. Có ý kiến cho rằng: đây là lúc chúng ta cần xây dựng bộ đội chủ lực ngay, áp sát vào Sài Gòn để thực hiện ý định chiến lược lâu dài thắng địch trong "chiến tranh đặc biệt". Ngược lại, có ý kiến cho rằng: lúc này cơ sở Đảng và quần chúng của ta còn yếu, lực lượng du kích mới bắt đầu phát triển, phải có thời gian mới có thể xây dựng được bộ đội tập trung. Và nếu như chỉ với lực lượng ở miền Nam và sự chi viện cán bộ, chiến sĩ ở miền Bắc thì cũng khó mà thắng được "chiến tranh đặc biệt". Vì chưa hiểu nhau nên anh em đã thảo luận rất găng. Về sau, khi đã hiểu nhau, chúng ta đã nhất trì là phải từng bước mới có thể xây dựng được lực lượng đánh cả ba vùng chiến lược và phải từng bước mới có thể xây dựng được lực lượng tập trung lớn để thực hiện ý đồ chiến lược là: thắng Mỹ trong "Chiến tranh Đặc biệt", và đồng thời đề phòng "Chiến tranh Cục bộ" như Nghị quyết của Trung ương sau này đã nói.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:17:24 pm

        Một vấn đề nữa cần nói thêm là sau đó chúng ta đã bổ sung Nghị quyết 15, đưa thêm cán bộ, vũ khí vào miền Nam để thực hiện cuộc đấu tranh vũ trang toàn diện theo như chủ trương chiến lược đã định.

        Trong vấn đề "Chiến tranh Đặc biệt" dạo đó, do chủ trương thắng Mỹ ngay trong "Chiến tranh Đặc biệt", trong chúng ta đã có một chủ trương không đúng cũng cần nhắc lại Đó là chủ trương cho rằng: hãy để miền Nam tự đánh thắng trong "Chiến tranh Đặc biệt" là chính. Còn miền Bắc chỉ ủng hộ, chiếu cố bằng cách giúp đỡ vũ khí, cán bộ mà thôi - chứ không đưa chủ lực vào.

        Chủ trương đó không đúng. Miền Bắc phải là hậu phương lớn để giúp đỡ, chi viện miền Nam mới đúng, chứ sao lại "chiếu cố miền Nam"? Sao lại hạn chế việc chống "Chiến tranh Đặc biệt" chỉ trong phạm vi miền Nam mà thôi?

        Sở dĩ có chủ trương không đúng như thế là vì chúng ta cho rằng nếu đưa quân ở miền Bắc vào đánh ở miền Nam thì Mỹ sẽ trực tiếp nhảy vào và chiến tranh sẽ lan ra miền Bắc. Thực tiễn đã không diễn ra như vậy, vì Mỹ đã rút kinh nghiệm ở Triều Tiên. Khi Mỹ nhảy vào Triều Tiên thì Trung Quốc trực tiếp đưa quân để chống Mỹ, viện Triều, và Mỹ đã thất bại. Cho nên khi Mỹ đã tăng cường vũ khí trang bị và đã đưa hàng vạn cố vấn Mỹ để xây dựng lực lượng cho chính quyền Diệm, thì tại sao ta lại chủ trương "chiếu cố miền Nam", hạn chế đưa đơn vị chủ lực vào chi viện để chiến tranh khỏi lan ra miền Bắc? Khi Mỹ đã giúp Diệm tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang lớn, đưa hàng vạn cố vấn Mỹ vào giúp thì ta cũng phải đưa quân vào, vừa xây dựng, vừa đánh chứ? Quả nhiên sau khi ta mới thắng ấp Bắc, Bình Giã, Mỹ đã thấy không thể thắng ta trong "Chiến tranh Đặc biệt", nên chúng đã chuyển sang "Chiến tranh Cục bộ". Tình hình thực tiễn diễn ra như vậy chứng tỏ rằng chủ trương thắng địch trong "Chiến tranh Đặc biệt" với lực lượng quân sự của miền Nam và chi viện về quân sự của miền Bắc là không thể thực hiện được. Nhận rõ tình hình, ta cũng kịp thời chuyển ngay từ chống chiến lược "Chiến tranh Đặc biệt" sang chống 'Chiến tranh Cục bộ". Năm 1963, Mỹ lật đổ Diệm. Vì sác chúng lại thay ngựa giữa dòng như thế Vì Diệm không muốn đưa quân Mỹ vào, chỉ muốn Mỹ giúp đỡ vũ khí và cố vấn thôi. Lật đổ Diệm thì Mỹ mới có thể chuyển sang “Chiến tranh Cục bộ" để đem quân can thiệp trắng trợn vào miền Nam.

        Trên thực tế, khi Mỹ chuyển sang "Chiến tranh Cục bộ", ta cũng đã kịp thời chuyển sang chủ trương chiến lược vừa xây dựng chủ lực phát triển, vừa đánh. Và chúng ta đã sớm nhận thức là phải chi viện lớn cho miền Nam không một chút lưỡng lự, không một chút hạn chế hay "chiếu cố" gì nữa.

        Có một vấn đề nữa mà anh em hỏi là: Nếu ta chủ trương đón thời cơ Diệm đổ, lại có chuẩn bị thì liệu có thể giành thắng lợi ngay vào năm 1963, nghĩa là có thể thắng Mỹ ngay trong "Chiến tranh Đặc biệt" không?

        Theo tôi, không thể được, vì có hai nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về phía chủ quan, lúc đó ta chưa có chuẩn bị gì và lực lượng của ta còn yếu, chưa đủ khả năng để làm việc đó; về phía khách quan, ta phải thấy hết được ý đồ chiến lược của Mỹ. Ai cũng rõ là sau Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, khi Pháp đi rồi thì Mỹ nắm ngay miền Nam như nắm một bộ phận trong chiến lược toàn cầu của chúng. Vì xem là chiến lược như thế nên Mỹ đã đưa Diệm về sau khi đã diệt những tay sai của Pháp. Mỹ biết trong số Công giáo có một bộ phận rất phản động. Bọn này rất trung thành với chúng. Vì thế Mỹ hết dùng Diệm lại dùng Thiệu và ra sức xây dựng những lực lượng cho chúng ở miền Nam với những vũ khí, trang bị hiện đại của Mỹ. Với một ý đồ chiến lược như thế thì khi thấy không thể thắng được trong "Chiến tranh Đặc biệt", Mỹ lập tức chuyển sang "chiến tranh cục bộ". Điều đó chứng tỏ rằng khi Diệm đổ, điều kiện khách quan và chủ quan không cho phép ta chớp thời cơ mà giành thắng lợi trong "Chiến tranh Đặc biệt” được.

        Tóm lại, tình hình sau Hiệp định Giơ-ne-vơ rất phức tạp, không dễ gì nhanh chóng nắm bắt chính xác được thực tiễn - nhất là lúc đất nước đang còn bị chia cắt, Trung ương thì ở xa, Mỹ - Diệm điên cuồng tố cộng, diệt cộng, phong trào nhiều nơi bị tan rã. Vì thế việc chúng ta ra Nghị quyết 15 có chậm và chưa đầy đủ so với sự phát triển của thực tiễn đấu tranh ở miền Nam lúc ấy là điều dễ hiểu. Hoặc sau đó chúng ta hy vọng giải quyết hoàn tất nhiệm vụ cách mạng miền Nam ngay trong "Chiến tranh Đặc biệt" là có phần chủ quan, cũng là dễ hiểu thôi.

        Nhưng, vẫn phải thấy rằng điều quan trọng là chúng ta đã sớm nhận rõ tình hình, nên đã kịp thời chuyển hướng chiến lược từ chống "Chiến tranh Đặc biệt" sang chống "Chiến tranh Cục bộ", đẩy mạnh đấu tranh vũ trang làm cho Mỹ thấy rằng chiến lược "Chiến tranh Đặc biệt" của chúng có nguy cơ thất bại. Còn chúng ta, chúng ta đã sẵn sàng đón đánh Mỹ khi chúng chuyển sang "Chiến tranh Cục bộ", đưa cách mạng tiến lên những bước phát triển mới.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:18:29 pm
 
        Mấy vấn đề về Tết Mậu Thân

        Thất bại trong "Chiến tranh Đặc biệt", buộc phải chuyển sang "chiến tranh cục bộ" trong mấy năm liền mà vẫn bị thiệt hại nặng trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô và ngày càng bị sa lầy, đế quốc Mỹ đã đưa cuộc chiến tranh ở Việt Nam lên đỉnh cao. Mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ ngày càng trở nên gay gắt, trong năm bầu cử tổng thống. Phong trào chống chiến tranh ở Việt Nam của nhân dân Mỹ ngày càng lên cao.

        Trước tình hình đó, ta chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược vào Tết Mậu Thân 1968 bằng phương pháp tổng công kích (TCK) và tổng khởi nghĩa (TKN), kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy khởi nghĩa của quần chúng ở các đô thị - nhất là Sài Gòn, nhằm đánh sập chính quyền ngụy, tiêu diệt bộ phận quân Mỹ, giành chính quyền về tay nhân dân; đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ngồi vào đàm phán để rút quân. Vì thế, nhân dịp ngày Tết Mậu Thân, ta lợi dụng lúc bất ngờ, mở cuộc tiến công vào các đô thị trên toàn miền Nam mà điểm chủ yếu là Sài Gòn.

        Ở Sài Gòn, ta dùng đặc công biệt động đánh vào một số cơ quan ở nội thành như Toà Đại sứ Mỹ và Đài phát thanh. Ở Huế, ta giành thắng lợi giữ được Thành nội trong gần một tháng. Ngoài ra, ta không đánh chiếm được bất kỳ một quận, huyện hay một thị trấn nào khác. Nhưng sau đó, địch tập trung lực lượng phản công. Mục tiêu (TCK, TKN) ở đô thị của ta không đạt được. Sau đó ta lại liên tiếp mở nhiều cuộc tiến công nữa vào các thành phố, nhất là Sài Gòn, nhưng bị tổn thất nặng. Từ đó, những ý kiến khác nhau về chủ trương chiến lược của đợt tiến công Tết Mậu Thân được anh em đặt ra để tranh luận.

        Theo tôi, nhìn toàn cục thì cuộc TCK và TKN Tết Mậu Thân là một cuộc tiến công bất ngờ, táo bạo và rất dũng cảm; đã giành được thắng lợi lớn, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh mạnh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải giải quyết cuộc chiến tranh bằng chính trị chứ không thể bằng quân sự được, nên đã bắt đầu phải ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri. Đó là bắt đầu một bước ngoặt cơ bản về mặt chiến lược trong cuộc "Chiến tranh Cục bộ" của Mỹ ở miền Nam. Tuy sau đó Mỹ còn tiếp tục leo thang mở các cuộc tiến công lớn vào những năm 1970, 1971; sang Campuchia và Đường 9 - Nam Lào, bị ta đánh cho thiệt hại nặng; nhưng đó chỉ là những cuộc tiến công để mà xuống thang chiến tranh. Đến năm 1972, ta mở cuộc tiến công và nổi dậy đánh chiếm được Thành Cổ Quảng Trị, giải phóng Lộc Ninh và đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng; đồng thời ở Lào chúng ta đã thắng lớn trong chiến dịch đánh ở Cánh Đồng Chum; buộc địch phải ký kết Hiệp định Pa-ri, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam; đánh dấu sự thất bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh Cục bộ" của đế quốc Mỹ. Đó là một thắng lợi rất lớn của ta về mặt chiến lược; tương quan lực lượng giữa ta và địch ở chiến trường miền Nam đã thay đổi về cơ bản, tạo điều kiện rất thuận lợi cho ta giành toàn thắng trong cuộc Tổng tiến công Xuân 1975, đánh thắng hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ.

        Cuộc TCK và TKN Tết Mậu Thân là đỉnh cao của quá trình chống Mỹ - kể từ khi Mỹ đem quân vào miền Nam nước ta cho đến lúc phải ngồi vào bàn đàm phán. Tuy vậy cuộc Tổng tiến công đã mắc sai lầm là: chủ quan, đánh giá không đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, đánh giá quá cao về phong trào quần chúng nổi dậy và khởi nghĩa ở đô thị. Vì thế chúng ta đã đề chủ trương lấy TCK và TKN để giành chỉnh quyền toàn miền Nam. Mặt khác chúng ta đã xem TCK, TKN là một giai đoạn, một quá trình nhằm kết thúc chiến tranh nên đã nhằm vào đô thị, liên tiếp mở hết đợt tiến công này đến đợt tiến công khác, để bị tổn thất nhiều mà không đạt được mục tiêu đã định. Đến cuối năm 1968, khi lực lượng ta đã tổn thất nhiều, yếu tố bất ngờ không còn nửa, thế mà ta vẫn còn chủ quan sai lầm ra nghị quyết về TCK, TKN vào đô thị như hồi Tết Mậu Thân. Vì thế, địch đã tập trung lực lượng bình định ở nông thôn và đối phó với ta ở đô thị, gây cho ta khó khăn trong giai đoạn 1969, 1970.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:18:46 pm

        Từ khi đế quốc Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam, chưa bao giờ chúng ta gặp nhiều khó khăn như 2 năm này: cơ sở ở nông bị tổn thất; phong trào quần chúng bị sa sút một bước, căn cứ bị thu hẹp ở nhiều nơi, chủ lực của ta bị tổn thất không còn chỗ đứng chân ở miền Nam, phải trú quân trên đất bạn.

        Nhưng sau đó, đế quốc Mỹ đã mắc sai lầm trong việc lật đổ Xihanúc, dựng lên chính quyền Lon non thân Mỹ và đem quân sang đánh Campuchia, hòng tiêu diệt chủ lực và cắt đứt đường tiếp tế chiến lược của ta trên đất bạn. Lợi dụng sai lầm chiến lược của Mỹ, chúng ta đã chủ động kịp thời xoay chuyển thế trận, phối hợp với lực lượng của bạn Campuchia, tiến công tiêu diệt địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, vừa tạo điều kiện cho cách mạng Campuchia tiến lên vừa lấy lại được chỗ đứng chân của chủ lực ta trên chiến trường liền Nam, hình thành thế trận ba nước Đông Dương cùng đánh giặc.

        Những vấn đề trên đây đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 21 phân tích một cách cụ thể... vấn đề như chủ trương TCK, TKN hay khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp" trong Tết Mậu Thân mà chúng ta đề ra khi ấy, đúng hay sai thế nào...

        Chúng ta đều biết rằng, trong các Nghị quyết của Đảng từ trước, phương hướng đi lên của cách mạng miền Nam để giành thắng lợi là: đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, vừa đánh, vừa đàm, giành thắng lợi từng phần rồi tiến tới TCK, TKN để giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thế nhưng trong dịp Tết Mậu Thân, xét về tương quan lực lượng, liệu chúng ta đã có thể TCK, TKN ở các đô thị để giành chính quyền trong lúc đó hay chưa?

        Trước hết, tôi cho rằng chủ trương đánh một đòn chiến lược vào đầu Xuân 1968 là đúng và táo bạo. Song về chủ trương, chúng ta TCK, TKN để mong dứt điểm cuộc chiến tranh, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền, giành chính quyền về tay nhân dân, là chủ quan. Bởi vì, về mặt quân sự, khi đó Mỹ vừa đưa lực lượng của chúng lên tới mức cao nhất: hơn 50 vạn quân Mỹ và chư hầu vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, quân ngụy có hơn 1 triệu và ngày càng trang bị hiện đại; không quân Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc ngày một ác liệt nhưng bị ta đánh cho thiệt hại nặng. Trong khi đó ở miền Nam tuy ta đã xây dựng được một số đơn vị chủ lực, đã tiến hành chiến tranh nhân dân, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở cả ba vùng chiến lược... nhưng cũng chưa thể xem lực lượng quân sự của ta lúc ấy là đủ mạnh để mở một cuộc TCK, TKN ở các đô thị với mục đích như thế. Còn về mặt chính trị, trong phong trào quần chúng, tuy đã có những cuộc biểu tình đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn hay các cuộc đụng độ giữa các giáo phái, trong hàng ngũ địch, bọn ngụy quyền có những lục đục lăm le đảo chính lẫn nhau. Nhưng đó chỉ là những cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng, những mâu thuẫn nội bộ giữa các giáo phái hoặc tay sai địch, chứ chưa phải là tiền đề của phong trào cách mạng của quần chúng sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa.

        Từ sự đánh giá tương quan lực lượng và phong trào quần chúng không đúng như thế mà ta lại còn đặt và lợi dụng yếu tố bất ngờ - lơ là của địch nhân dịp Tết để TCK, TKN nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đề ra. Vì thế chúng ta đã chủ trương một kế hoạch là: vào dịp Tết dùng lực lượng quân sự kết hợp với nổi dậy khởi nghĩa, bất ngờ đánh vào các đô thị - đặc biệt là Sài Gòn, thì làm sao mà làm được.

        Trong đợt 1, do nắm được yếu tố bất ngờ, lúc đầu ta đã làm cho địch bàng hoàng, bối rối. Song sự thật, ngày ấy ở Sài Gòn, phần lớn lực lượng đánh trong thành phố là đặc công và biệt động, còn chủ lực chỉ có một số và cũng chỉ đánh được ở ven đô, nhưng đã bị thiệt hại nặng. Còn ở Huế, tuy chủ lực đã đánh vào thành phố, chiếm giữ được thành Nội gần một tháng, song lại cũng phải rút và bị thiệt hại nhiều. ở Khu 5, bộ đội chủ lực hành quân vào đến ven Quảng Nam - Đà Nẵng nhưng khi thấy khó đánh vào được đã rút ra, và kịp thời chuyển hướng cách đánh cho thích hợp. Đáng lẽ sau đợt 1, ta phải biết ngừng và chuyển hướng hoạt động chiến đấu để chống địch bình định mới đúng; trái lại ta còn hên tiếp mở đợt 2, đợt 3. Và cuối năm còn ra nghị quyết tiếp tục TCK, TKN.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:19:07 pm

        Khi nói đến cuộc nổi dậy và khởi nghĩa, chủ yếu là nói đến phong trào cách mạng của quần chúng có kết hợp với một phần của lực lượng vũ trang để nổi dậy giành chính quyền.

        Hồi ấy ở Sài Gòn, chúng ta sử dụng chủ lực chỉ có một phần, còn phần lớn là đặc công và biệt động, không khí nổi dậy của quần chúng. Đánh như vậy thì chỉ đạt được kết quả như vậy thôi. Thực tiễn đó đã chứng tỏ ta không thể đạt được mục đích chiến lược đề ra từ lâu. Ngay như ở Huế, dù đợt 1 ta giành thắng lợi như thế mà quần chúng có nổi dậy khởi nghĩa được đâu. Ngay cả khi đã chiếm thành phố một thời gian rồi, quần chúng cũng đã sẵn sàng nổi dậy khởi nghĩa đâu? Theo tôi, suốt 15 năm chiến tranh chống Mỹ, thực tế không có trường hợp nào mà quần chúng ở các đô thị nổi dậy TKN được. Xem như khi đã giải phóng Buôn Ma Thuộc, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và nhiều thành phố, tỉnh ly khác thì cũng đủ biết là ở những nơi đó không hề có phong trào quần chúng nổi dậy TKN. Cho nên nhìn vào phong trào quần chúng ở các đô thị mà không phân tích cho kỹ thì rất dễ bị lầm. Chẳng hạn ở miền Nam lúc đó, bên cạnh phong trào đấu tranh chính trị của học sinh, sinh viên còn có một số cuộc biểu tình, một số cuộc rối ren giáo phái nổ ra phần lớn là do mâu thuẫn tôn giáo và do bàn tay đạo diễn của địch. Ngày ấy, bọn địch thường dùng lực lượng này ép lực lượng kia để nắm chắc hơn bọn tay sai của chúng. Vì vậy, khi thì chúng dùng Phật giáo chống lại Công giáo, khi thì chúng dùng Công giáo chống lại Phật giáo. Những cuộc đụng độ ấy nhiều khi rất găng. Có cả những vụ tự thiêu của Phật tử nữa. Đôi lúc ta cũng lợi dụng những mâu thuẫn này lôi kéo một số quần chúng yêu nước để gây phong trào và làm cho địch thêm khó khăn.

        Tuy nhiên, đó chỉ là biểu hiện những mâu thuẫn nội bộ của bọn tay sai địch chứ chưa phải là phong trào quần chúng cách mạng đã sẵn sàng nổi dậy TKN ở đô thị.

        Hồi Tết Mậu Thân, phong trào quần chúng của chúng ta lưới ở mức như thế, trong khi lực lượng địch còn mạnh như thế, thì làm sao mà tiến hành TCK, TKN để giành chính quyền ở đô thị được? Hơn nữa, chúng ta còn có chủ trương đôn quân ở xã, huyện lên để giải phóng đô thị. Vì thế bị thiệt hại khá nhiều. Thế là nông thôn bị yếu đi, địch quay lại bình định. Tình thế của ta lúc ấy khó khăn thế nào các anh đã biết. Thế mà sau đó chẳng những ta liên tục mở mấy đợt tiến công; mất yếu tố bất ngờ rồi mà vẫn mở hết đợt này đến đợt khác mà lại đánh vào đô thị. Đến tận cuối năm 1968 mà ta vẫn ra nghị quyết TCK, TKN như lúc đầu. Như vậy, rõ ràng là ta đã rất chủ quan, không thấy rõ được thực tế lúc đó.

        Bây giờ tổng kết lại thì thấy rằng: ngày đó nếu mục đích trong cuộc TCK, TKN Tết Mậu Thân mà chúng ta đề ra chỉ là đánh địch thiệt hại nặng, nhất là nhằm vào những vị trí ở trung tâm đầu não địch để chúng phải ngồi vào đàm phán thì ta có cần phải mở cuộc TCK, TKN giành chính quyền như ta đã đề ra để đến nỗi bị tiêu hao quá nhiều lực lượng như thế không? Cái giá ấy quá đắt. Vì thế, sau này thảo luận về Tết Mậu Thân, có ý kiến của nhiều anh em cho rằng: chỉ cần mở một cuộc tập kích chiến lược hoặc là một cuộc tổng tiến công và nổi dậy trên cả ba vùng chiến lược, nhằm mục tiêu như đã đề ra thì cũng làm cho địch thiệt hại nặng nề và đủ để buộc địch phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán. Cho nên sau Tết Mậu Thân, tôi thấy các anh em không dùng cụm từ "Tổng công kích, tổng khởi nghĩa” trong tài liệu và báo chí nữa mà chỉ nói là Tổng tiến công và nổi dậy. Như vậy là đúng. Đó là vì các anh đã cảm thấy khuyết điểm, sai lầm của ta. Tuy nhiên, cũng chưa ai phân tích cái đúng, cái sai của Mậu Thân cho rõ ràng. Tôi cho rằng như thế là chưa phải, có gì đúng ta nói đúng, có gì sai ta nói sai. Mãi đến Nghị quyết 21 Trung ương mới nhận định rõ rằng: việc đề ra các nghị quyết trong cuộc TCK, TKN trong Tết Mậu Thân là chủ quan tuy có giành được thắng lợi lớn. Đúng là chỉ vì chủ quan mà chúng ta đã bị thiệt hại và gặp nhiều khó khăn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:20:39 pm

        Phải chăng chúng ta đã rập khuôn một cách máy móc theo những kinh nghiệm cũ về khởi nghĩa ở đô thị trong Cách mạng Tháng Tám và Cách mạng Tháng Mười mà không hiểu được rằng điều kiện và hoàn cảnh khởi nghĩa của hai cuộc cách mạng ấy là khác hẳn với thực tế của chúng ta lúc bấy giờ ở chiến trường miền Nam. Thực tế của chúng ta lúc bấy giờ là đang ở trong cuộc chiến tranh ác liệt. Thực tế cho thấy rằng: trong hoàn cảnh chiến tranh, không thể có điều kiện nổ ra TKN ở các đô thị - vì điều kiện khởi nghĩa và nổi dậy ở các đô thị khác với điều kiện khởi nghĩa và nổi dậy ở nông thôn (tôi sẽ phân tích ở phần nói về cuộc Tổng tiến công Xuân 1975). Thực tiễn trong 15 năm chiến tranh, ở đô thị đã không diễn ra cuộc tổng khởi nghĩa hoặc nổi dậy như vậy. Chúng ta cần nhớ rằng ngay đến năm 1972, sau khi Mỹ đã buộc phải "Việt Nam hoá chiến tranh" rồi mà ta cũng phải dùng chủ lực mới đánh vào được thị trấn Quảng Trị - mà cũng còn phải giành đi giật lại mãi, nhưng cuối cùng chỉ giải phóng được Đông Hà. Đến sau Hiệp định Pa-ri, thế ta đã mạnh, Mỹ đã rút ra, so sánh lực lượng đã thay đổi căn bản mà ta cũng phải dùng chủ lực mới đánh được Phước Long và sau đó còn phải tiến hành nhiều chiến dịch tháo gỡ đồn bốt, giải phóng từng khu vực suốt trong hai mùa khô nữa, mới tạo ra được thế mạnh và đến năm 1975 mới dùng toàn bộ chủ lực mở các chiến dịch đánh vào các đô thị miền Nam, nhất là Sài Gòn thì mới có thể kết thúc được chiến tranh, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thế mà, trong Mậu Thân với tương quan lực lượng lúc đó mà ta toan làm một cuộc TCK, TKN để giành chính quyền ở đô thị, nhất là Sài Gòn, thì làm sao làm được?

        Cho nên trong chiến tranh, đã đánh vào đô thị thì phải có chủ lực mạnh mới giải phóng lớn được. Mà ngay khi có chủ lực mạnh rồi mà đánh chác lôi thôi, lằng nhằng cũng khó mà thắng nổi. Khi ta đánh Buôn Ma Thuộc, quân Mỹ đã rút ra rồi mà ta vẫn phải dùng tới 4 sư đoàn trong lúc địch chỉ có hơn một trung đoàn thôi. Đánh Huế - Đà Nẵng cũng phải dùng chủ lực mới chiếm được. Khi đánh vào Sài Gòn cũng vậy, chúng ta đã phải huy động một lúc gần 5 quân đoàn kết hợp với những đơn vị đặc công và biệt động mới phá được tuyến phòng thủ của địch và mới đánh chiếm được Sài Gòn. Đương nhiên là mỗi khi chúng ta đánh vào đô thị, khi quân địch đã có nguy cơ tan rã, chúng ta thường vẫn được quần chúng ở các cơ sở Đảng, quần chúng tiến bộ hỗ trợ.

        Cho nên trong chiến tranh, cuối cùng phải có chủ lực đánh vào đô thị, nhất là cơ quan đầu não về quân sự và chính trị của địch mới kết thúc được chiến tranh, giải phóng được hoàn toàn đất nước. Thực tế cuộc Tổng tiến công Xuân 1975 đã chứng tỏ điều đó.

        Khi nghiên cứu để tổng kết về Tết Mậu Thân, có anh em lại hỏi tôi là: trong Tết Mậu Thân, khẩu hiệu ”công nông binh liên hiệp" có phù hợp không?

        Vấn đề này thì tôi thấy rằng: ngay từ những năm 1930, khi chưa nắm được chính quyền, cũng có lúc Đảng ta đề ra khẩu hiệu này; và trong lịch sử đã có những cuộc binh biến hoặc khởi nghĩa của binh lính nổi lên đánh Pháp như Đớ Lương, Thái Nguyên hay Yên Bái; ở Liên Xô, vào năm 1917, khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp" cũng đã được đề ra. Tuy nhiên, những khẩu hiệu đó ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn khác lịch sử hồi Tết Mậu Thân. Vì không nghiên cứu kỹ nên trong Tết Mậu Thân chúng ta đưa ra khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp", xem đó như là khẩu hiệu chiến lược. Theo tôi như vậy là không đúng. Bởi vì trong thời kỳ bọn thực dân Pháp cai trị nước ta, bên cạnh các đội quân chính quốc và Lê dương, bọn chúng còn tổ chức thêm các loại lính khố đỏ, khố xanh... để đàn áp cách mạng. Song lực lượng binh lính bản xứ này thường bị chúng bạc đãi, bóc lột và khinh rẻ, đánh đập. Một số anh em lính có một phần ý thức dân tộc đã nổi lên chống lại chúng. Chính vì thế mà khi chưa nắm được chính quyền, nhất là trong thời kỳ bí mật vận động cách mạng (1930) có những lúc Đảng ta đề ra khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp". Khẩu hiệu ấy mang tính chất chiến lược, nhằm thức tỉnh anh em binh lính quay súng khởi nghĩa làm binh biến. Bởi vì vào những năm đó, Đảng ta xem anh em binh lính này như một bộ phận quần chúng nông dân nghèo khổ bị thực dân Pháp trực tiếp chỉ huy và cũng bị chúng áp bức bóc lột, kìm kẹp, nên có thể kêu gọi họ là quần chúng nổi dậy khởi nghĩa đánh đuổi bọn xâm lược, giành độc lập Còn ở Nga thì vào những năm cuối của Chiến tranh thế giới thứ nhất, do nước Nga thua trận, anh em binh lính bất mãn căm ghét Sa hoàng, bỏ ngũ hàng loạt, chống chiến tranh, đòi hoà bình. Đảng Bônsêvích Nga lúc đó đã đưa ra khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp" để tập hợp lực lượng này vào đội ngũ quần chúng cách mạng để tham gia khởi nghĩa. Số binh linh ấy đã thật sự liên hiệp với công nhân và nông dân Nga làm lên Cách mạng Tháng Mười. Nhưng sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công thì xảy ra cuộc nội chiến. Bọn Bạch vệ được các nước đế quốc ủng hộ nổi lên đánh phá cách mạng. Khi đó khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp" không còn tác dụng nữa. Học tập kinh nghiệm cách mạng Nga, trong Xô viết Nghệ - Tĩnh, chúng ta cũng đề ra khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp". Song thời gian của Xô viết Nghệ - Tĩnh diễn ra quá ngắn và cũng chỉ ở một địa phương nên không đủ thực tiễn để đánh giá hiệu lực của khẩu hiệu này trong lúc đó.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:21:58 pm

        Vì không nghiên cứu đầy đủ các kinh nghiệm lịch sử cụ thể đó, nên trong Tết Mậu Thân chúng ta cũng đề ra khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp" như một khẩu hiệu chiến lược là không thích hợp. Bởi vì, quân ngụy Sài Gòn lúc đó là một đội quân được Mỹ tổ chức lại từ đội quân ngụy của Pháp. Bọn chúng bao gồm những phần tử địa chủ, phản động chống phá cách mạng quyết liệt, theo chân Pháp chạy vào Nam. Đến thời Mỹ, đội quân này lại được bổ sung thêm một bộ phận lực lượng phản động trong các giáo phái ở miền Nam. Những phần tử này mang nặng hận thù giai cấp với cộng sản do bản chất giai cấp của chúng, cộng thêm những khuyết điểm của ta trong cải cách ruộng đất và chính sách đối với tôn giáo lúc đầu kháng chiến chống Pháp gây ra. Đế quốc Mỹ còn xây dựng bồi dưỡng trong ngụy quân một đội ngũ sĩ quan chỉ huy độc ác từ trên xuống dưới và khét tiếng chống cộng. Bọn CIA dùng chiến tranh tâm lý nhồi sọ tinh thần quốc gia chống cộng để nắm chặt đội ngũ này. Với chính sách mua chuộc, nuôi dưỡng, cưng chiều, Mỹ đã làm cho bọn sĩ quan ngụy trở thành một giai tầng quyền quý, phụ thuộc chặt vào Mỹ, trở thành công cụ và tay sai đắc lực trung thành với Mỹ và phần nhiều là những phần tử tôn giáo chống cộng. Vì vậy, Mỹ hết dùng Diệm lại đến Thiệu.

        Điều đó giải thích vì sao suốt cả cuộc chiến tranh chống Mỹ, chúng ta không thấy có một cuộc binh biến nào. Không có một đơn vị binh lính nguỵ nào chạy ra theo cách mạng mà chỉ có một số ít đo ta địch vận hoặc làm nội ứng cho ta để đánh đồn bốt.

        Phản ứng giai cấp của nguỵ quân gay gắt đến mức trong mùa Xuân 1975, trước những đòn tiến công quyết liệt của ta, có những tên tướng ngụy thà tự sát chứ không chịu đầu hàng. Khi chúng bị tan rã mà không có đơn vị nào làm binh biến khởi nghĩa để hưởng ứng cuộc tổng tiến công của ta, trừ trường hợp ta đánh bại chúng, chúng phải tan rã mới chịu đầu hàng.

        Vì thế, trong Tết Mậu Thân, việc đề ra khẩu hiệu "công nông binh liên hiệp" là không sát hợp. Nhưng ngay sau đó, ta đã kịp thời rút kinh nghiệm, bỏ khẩu hiệu trên. Đối với binh lính địch, ta chỉ còn đặt thành vấn đề địch vận mà thôi. Công tác địch vận được anh em đặt trong phương thức tác chiến, gọi là "hai chân, ba mũi". Hai chân là quân sự và chính trị; ba mũi là quân sự, chính trị và địch vận. Hai chân là chiến lược, ba mũi là chiến thuật.

        Tôi nói thêm về một khuyết điểm nữa trong Tết Mậu Thân mà các anh hỏi. Đó là vấn đề muốn giành thắng lợi dứt điểm trong một thời gian tương đối ngắn, trong lúc tương quan lực lượng quân sự và chính trị giữa ta và địch lúc đó chưa cho phép, chưa thể nào TCK, TKN ở các đô thị để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn như thế được.

        Thực ra, trong chiến tranh, vấn đề đánh ngắn hay đánh dài không phụ thuộc vào su.y nghĩ hoặc ước muốn chủ quan của chúng ta. Chúng ta không thể lấy nguyện vọng thay cho khả năng thực tế được. Tiến hành cuộc chiến tranh, chúng ta ai cũng muốn kết thúc trong một thời gian tương đối ngắn cho đỡ tổn thất xương máu. Song tương đối ngắn là thế nào kia, chứ kể từ khi Mỹ nhảy vào miền Nam cho đến năm 1968 thì mới là 3 năm. Lúc đó số binh lính Mỹ ở miền Nam đã lên đến mức cao nhất, và thực tế sau Tết Mậu Thân, ta còn phải đánh 7 năm nữa mới kết thúc được chiến tranh, trong khi đó lực lượng chính trị, quân sự và phong trào quần chúng của chúng ta còn nhiều hạn chế như thế thì chưa thể nào có điều kiện để thực hiện TCK, TKN ở đô thị để giải phóng miền Nam trong một thời gian ngắn được. Mà sau khi đã ngồi vào đành phán rồi, phải 5 năm nữa chúng ta mới đuổi được quân Mỹ ra khỏi Việt Nam và phải 2 năm nữa mới đánh đổ được ngụy quân và hàng mấy ngàn cố vấn Mỹ còn lại sau Hiệp định Pa-ri, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ ở miền Nam. Như thế là dài chứ không phải là ngắn mà giải quyết được vấn đề...

        Hôm nay, nhân các đồng chí hỏi một số vấn đề về cuộc Tổng tiến công, Tổng khởi nghĩa trong Tết Mậu Thân, tôi có dịp suy nghĩ và đối chiếu lại giữa nghị quyết với thực tiễn đã diễn ra nhằm làm rõ hơn cái đúng, cái sai để chúng ta cùng rút kinh nghiệm. Nghị quyết cũng có lúc sai hoặc chưa đầy đủ.

        Trước đây tôi vẫn nghĩ rằng Lê-nin không bao giờ nói và làm sai. Nay mới biết là Lê-nin cũng có lúc chủ trương sai. Đó là sau nội chiến, Lê-nin muốn chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội ngay không qua thời kỳ quá độ. Nhưng chỉ mấy tháng sau, Lê-nin thay đổi ngay, đề ra chủ trương kinh tế mới rất táo bạo và độc đáo. Đó là thiên tài của Lê-nin. Vì thế cái quan trọng của lãnh đạo không phải là đề ra chủ trương không bao giờ sai hoặc lúc nào cũng đúng ngay. Điều đó khó lắm. Mà vấn đề là ở chỗ có thấy được cái sai mà chuyển kịp thời hay không. Có khi vừa đưa ra, thấy không đúng là phải sửa ngay, giành chủ động làm chuyển biến tình hình ngay. Vấn đề là ở chỗ đó.

        Hôm nay, chúng ta tổng kết và phân tích những cái đúng, cái sai của Tết Mậu Thân cũng như những sự kiện khác trong hếch sử cũng chỉ là nhằm rút ra những bài học lịch sử để cùng nhau nghiên cứu, học tập thôi. Biết rút ra những thiếu sót như thế cũng là biểu hiện sự trưởng thành của tất cả chúng ta.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:22:31 pm
       
        Về cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972

        Xung quanh cuộc tổng tiến công và nổi dậy chiến lược năm 1972 nổi lên một vấn đề mà anh em hỏi tôi là: Trong cuộc tiến công ấy, ta có bỏ lỡ thời cơ chiếm Huế không? Và nếu là bỏ lỡ, phải chăng đó là sai lầm có ý nghĩa chiến lược của ta?

        Khi nói về Tết Mậu Thân, tôi đã nói rằng: sau năm 1968, tuy có thắng lợi lớn là buộc địch phải ngồi vào đàm phán song vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhưng ta đã kịp thời lợi dụng sai lầm chiến lược của Mỹ trong việc lật đổ Xihanúc, xây dựng chính quyền Lonnon thân Mỹ, đưa lực lượng ta sang đó giúp Bạn đánh để giải phóng nhiều vùng ở Campuchia, vừa xây dựng lực lượng, tạo thêm căn cứ cho bạn và chỗ đứng chân cho ta. Sau đó Mỹ, ngụy đưa quân sang đánh Campuchia hòng tiêu diệt lực lượng của ta. Nhưng chúng đã thất bại, phải kéo quân về. Đến năm 1971, Mỹ - nguỵ lại sai lầm kéo quân ra Đường 9 - Nam Lào hòng chặt đứt đường tiếp tế qua đường mòn Hồ Chí Minh của miền Bắc vào miền Nam, bị ta đánh cho thiệt hại nặng đến nỗi Nguyễn Cao Kỳ khi ra Vĩ tuyến 17 đã phải tuyên bố rằng đó là trận Điện Biên Phủ thứ hai, đến nỗi ở Hội nghị Pa-ri, Kít-xinh-giơ phải thú nhận rằng: Mỹ không ngờ mạng lưới phòng không của Việt Nam ở Đường 9 - Nam Lào lại dày đặc như vậy. Thất bại ở Đường 9 - Nam Lào bước đầu đã làm phá sản chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Ních-xơn. So sánh lực lượng giữa ta và địch thay đổi có lợi cho ta.

        Trước tình hình Mỹ và Trung Quốc đã ký tuyên bố chung Thượng Hải và nhân đà thắng lợi của Đường 9 - Nam Lào, ta chủ trương mở một cuộc tổng tiến công chiến lược và nổi dậy trên toàn tuyến miền Nam vào mùa khô năm 1972. Mục đích của cuộc tổng tiến công và nổi dậy này nhằm tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng dân, mở rộng vùng giải phóng, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định, buộc Mỹ - ngụy phải chấp nhận một giải pháp chính trị đi vào ký hiệp định Pa-ri.

        Đầu năm 1972, cuộc tiến công chiến lược đã mở ra trên chiến trường miền Nam. Ta đã tiến công địch ở Trị - Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu. Tôi không nói toàn bộ cuộc tiến công chiến lược mà chỉ trả lời những điều các anh hỏi trên đây.

        Chiến dịch Trị-Thiên năm 1972 là một chiến dịch mang tính chất chiến lược diễn ra trong thời điểm chính trị hết sức quan trọng, phối hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh. Đây là một chiến dịch hiệp đồng quân chủng, binh chủng quy mô lớn nhất, dài ngày nhất từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến lúc ấy của ta (tháng 10-1972), tác chiến trên các loại địa hình phức tạp; là một cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch chủ lực ta đọ với một lực lượng lớn không quân và hải quân Mỹ và lực lượng tổng dự bị ngụy), đọ sức toàn diện cả về ý chí, tiềm lực thời gian, cường độ và năng lực hành động.

        Chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã một tập đoàn phòng ngự mạnh bậc nhất của địch, giải phóng hoàn toàn một tỉnh (Quảng Trị), tiêu hao, tiêu diệt một lực lượng lớn địch, bảo vệ vùng giải phóng trong điều kiện rất khó khăn.

        Đợt 1 của chiến dịch đã giành được thắng lợi giòn giã, đập tan tuyến phòng thủ của địch ở Vĩ tuyến 17. Đợt 2 chiến dịch, ta thu thắng lợi lớn, giải phóng Quảng Trị. Sau khi giải phóng Quảng Trì, địch ở Huế rất hoang mang nên anh em có ý kiến là lúc đó đã xuất hiện thời cơ để giải phóng Huế hay chưa? Nếu đã có thời cơ mà ta bở lỡ thì đó có phải là sai lầm không? Tôi thấy rằng không hẳn như vậy. Bởi vì, lúc đó trên thực tế, địch mới hoang mang giao động, chứ chưa định rút khỏi Huế. Khả năng của ta muốn chiếm Huế cũng chưa được. Vì sao? Vì lúc đó quân Mỹ mới bắt đầu rút ra một phần, còn ở Đà Nẵng chúng đã rút hết đâu? Không quân Mỹ và Hạm đội 7 vẫn còn trực tiếp yểm trợ cho ngụy. Chúng dùng không quân, pháo hạm chặn ta dữ dội lắm. Hơn nữa, sau khi đánh chiếm được Quảng Trị, lực lượng của ta cũng bị hao tổn nhiều. Và tại đây ta và địch còn giằng co rất quyết liệt, hai bên đều tổn thất rất lớn. Lúc đó, Mỹ cũng đã ném bom trở lại miền Bắc rất ác liệt. Cuộc chiến đấu ở Quảng Trị quyết liệt lắm, thậm chí chỉ có một cái Thành Cổ mà giành đi giật lại nhiều lần nên sau này ở Pa-ri, Kít-xinh-giơ nói với tôi: đứng về quân sự mà nói thì cả hai bên đánh nhau đề giành giữ một cái thành cổ như vậy thì không ai đánh như thế cả. Thế mà cả hai bên cứ đánh nhau mãi!

        Tôi trả lời: Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh về chính trị trong đàm phán thôi chứ, còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế. Các ông phải nhớ tinh thần chiến đấu của quân đội chúng tôi là dũng cảm như thế đó.

        Bởi thế cho nên khả năng ta đánh chiếm Huế lúc đó là chưa được. Đây không phải là sai lầm về chiến lược mà phải thấy là tình hình lúc đó chưa cho phép nên ta mới dừng lại ở bên này sông Thạch Hãn để tổ chức phòng ngự chứ không cho địch phản công trở lại.

        Vì thế, khi nghiên cứu về chiến dịch Quảng Trị, anh em vẫn còn băn khoăn về vấn đề phòng ngự này, e trái với tư tưởng chiến lược tiến công. Vấn đề này các anh bàn thêm vì về quân sự các anh thạo hơn tôi. Theo tôi, tư tưởng tiến công là tư tưởng chỉ đạo chiến lược. Còn đánh nhau thì phải có tiến công, phòng ngự, phản công, thậm chí có lúc còn rút lui nữa chứ. Nhưng phòng ngự hay rút lui không phải chỉ là để phòng ngự hay rút lui đơn thuần, mà là để chuẩn bị điều kiện tiếp tục tiến công. Vấn đề đánh thế nào đảm bảo thắng lợi đâu có phải ngại ngần chữ phòng ngự, không nên nhầm lẫn tư tưởng chiến lược tiến công với phương thức phòng thủ tác chiến tiến công hay phòng ngự


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:23:34 pm

        Sau hiệp định Pa-ri

        Anh em có hỏi là: Sau khi ký Hiệp định Pa-ri chúng ta có chuệch choạc không?

        Theo tôi thì cũng có một số bộ phận anh em cán bộ nhận định chuệch choạc, song sự chuệch choạc này chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn. Bởi vì ta có kinh nghiệm của Hiệp định Giơ-ne-vơ nên sau Pa-ri, Trung ương cho rằng tình hình cũng giống như Giơ-ne-vơ, nghĩa là khó có sự thi hành nghiêm chỉnh. Sau khi ký, các đồng chí tham gia đàm phán ở Pa-ri có họp rút kinh nghiệm trước khi tôi về nước, anh em đều nhất trí nhận định rằng: phải chuẩn bị tích cực đối phó với địch không chịu thi hành Hiệp định. Hôm đó, tôi có nói: miền Nam chưa được giải phóng thì có chết chúng ta cũng không nhắm mắt được.

        Nói chung, Trung ương và Bộ Chính trị không có ảo tưởng là địch sẽ nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định. Nhưng đã ký Hiệp định thì chúng ta một mặt phải thi hành, mặt khác phải tích cực chuẩn bị đối phó với khả năng xấu. Tình hình chính trị trong nước và trên thế giới lúc ấy đều muốn có ổn định và trong miền Nam cũng có lực lượng muốn thi bành Hiệp định. Vì thế, một mặt ta vẫn phải tiến hành những việc để đối phó với địch phá Hiệp định, và phải tích cực đánh địch lấn chiếm, song một mặt nữa vẫn phải tiến hành những việc để chuẩn bị thực hiện Hiệp định.

        Chuẩn bị đối phó như thế nào? Chúng ta không còn ấu trĩ như hồi Giơ-ne-vơ năm 1954 nữa nên khi đó ta tranh thủ thời cơ để chuyển nhiều vũ khí đạn dược vào miền Nam. Và mặt khác, ta vẫn phải tiếp tục đánh địch khi chúng lấn chiếm vùng giải phóng.

        Song cũng phải thấy tình hình thực tế là sau khi ta ký Hiệp định Pa-ri, vì cho là có hoà bình rồi, cả Liên Xô và Trung Quốc đều không viện trợ quân sự cho ta nữa. Liên Xô chỉ viện trợ kinh tế để ta xây dựng. Còn Trung Quốc thì cắt luôn cả viện trợ kinh tế và có ý đồ khác như chúng ta đã biết.

        Ta vừa chuẩn bị vừa triển khai thi hành Hiệp định, cử đại biểu vào phái đoàn bốn bên. Trong khi ta triển khai thì địch khiêu khích. Ta rút luôn các tổ liên hiệp đình chiến ở các địa phương về, chỉ còn để lại phái đoàn ở Tân Sơn Nhất. Sau một thời gian, cán bộ chủ chốt ở phái đoàn bốn bên cũng rút về, chỉ để lại một số người.

        Lúc đầu còn thi hành Hiệp định như vậy, nhưng khi địch lấn chiếm, càn quét, đánh phá, ta chủ động đánh trả quyết liệt và tích cực chuẩn bị về quân sự để tiến công địch. Đó là điều quan trọng nhất.

        Tuy nhiên, lúc đầu cũng có sự chuệch choạc trong nhận thức và hành động của một số đồng chí. Chẳng hạn ngày ấy có một số đồng chí cán bộ cao cấp vào miền Nam đã giải thích tình hình và nhấn quá nhiều vào khả năng hoà hoãn để xây dựng, nên ngay từ ngày ấy và đến bây giờ cũng còn có những anh em thắc mắc. Vì vậy, mới có tình trạng là ngày ấy có chỗ địch đánh, anh em ta chỉ giữ và rút chứ không đánh lại.

        Nhưng rồi thực tiễn cho thấy là sau đó anh em ta cứ đánh. Khu 9 và một số nơi khác đã đánh nên giành được nhiều thắng lợi. Khu 9 trước không có Mỹ, chỉ có ngụy mà ta còn đánh mạnh như vậy thì ở nơi khác trước kia vốn có Mỹ, sau Hiệp định Pa-ri, Mỹ lại đã rút đi làm sao ngụy mạnh hơn ta được. Kinh nghiệm của Khu 9 giúp anh em nhận thức được tương quan lực lượng càng rõ hơn. Đến Hội nghị Trung ương tháng cuối tháng 6 đầu tháng 7 và tháng 10 năm 1973 thì chúng ta đã bàn và đã có được nghị quyết chủ động đánh địch lấn chiếm và quyết tâm giải phóng miền Nam.

        Nhờ có đánh địch như thế mà từ 1973 đến 1974, anh em càng đánh giá được tình hình địch rõ hơn và đến trước khi mở đợt tiến công 1975, ta lại giải phóng được Phước Long, anh em mới càng thấy rõ Mỹ đã rút rồi, ngụy mất chỗ dựa, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi về cơ bản và một khi Mỹ đã thua rút ra rồi thì không thể nào trở lại được. Đó là quá trình đánh giá địch và hiểu đúng thực tế tình hình.

        Cũng cần phải nói rõ là Bộ Chính trị chưa có một nghị quyết nào nói là ta phải hoà hoãn với địch. Việc giải thích của một số đồng chí cán bộ nói trên bị anh em miền Nam phản ứng ngay từ dạo ấy cũng chứng tỏ anh em ta qua đấu tranh trong thực tế chiến trường đã rất nhạy bén với thực tiễn của tình hình. Chính vì không thông với cách giải thích đó nên anh em ta dạo đó tiếp tục đánh. Tuy cũng có một số nơi chuệch choạc, nhưng sự chuệch choạc này không rộng và cũng không lâu. Nhìn chung, miền Nam đã sớm nhận rõ tình hình, và tháng 10 năm 1973, Trung ương đã có nghị quyết đánh địch để giải phóng miền Nam. Nhờ đó quá trình đánh địch ở đồng bằng sông Cửu Long và nhiều nơi ở Khu 5 rồi đến Phước Long mới giúp ta đánh giá được tình hình, tương quan lực lượng, thấy được sự thay đổi cơ bản ở chiến trường và Mỹ không thể nào trở lại. Không phải sau Hiệp định Pa-ri ta đã nhận định được đầy đủ về tương quan lực lượng trên chiến trường như thế, mà phải trải qua một quá trình chiến đấu mới rõ được.

        Mặt khác, Mỹ cũng chủ quan cho là sau 15 năm chiến tranh, ta đã mệt mỏi và với sự viện trợ về quân sự, kinh tế của Mỹ cho quân ngụy và hàng nghìn cố vấn Mỹ còn lại ở miền Nam thì lực lượng ta trong đó yếu hơn ngụy, không thể làm gì được ngụy. Và Mỹ tưởng lúc đó ta quan tâm nhiều đến việc xây dựng kinh tế miền Bắc hơn là giải phóng miền Nam.

        Tóm lại, thời kỳ sau Hiệp đinh Pa-ri, lúc đầu cũng có ý kiến này ý kiến khác cũng có suy nghĩ thế này thế khác, nhưng những cái đó chỉ xảy ra rất ngắn ở một số đồng chí, và khi đã thấy rõ tình hình, anh em đã chuyển ngay kịp thời.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:23:53 pm
         
       Về Đại thắng mùa Xuân 1975

        Về Đại thắng mùa Xuân 1975 đã có nhiều sách báo, tài liệu nói rồi. Ở đây tôi chỉ nói thêm mấy vấn đề theo các câu hỏi của các anh để làm cho một số điểm cụ thể về tình hình lúc ấy.

        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta có thể chia thành 4 giai đoạn chiến lược: Giai đoạn thứ nhất là lúc nhân dân miền Nam bắt đầu nổi dậy vũ trang chống Mỹ cho đến khi Mỹ thấy không thể thắng được trong chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt" phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh Cục bộ". Giai đoạn thứ hai: Mỹ bắt đầu tiến hành "Chiến tranh Cục bộ" cho đến khi ta Tổng tiến công Tết Mậu Thân, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán, bắt đầu một bước ngoặt cơ bản về mặt chiến lược trong cuộc "Chiến tranh Cục bộ" của Mỹ ở miền Nam. Giai đoạn thứ ba: Mỹ bắt đầu ngồi vào bàn đàm phán cho đến khi Hiệp định Pa-ri. Ở giai đoạn này, ta đã đánh bại Mỹ trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô ở Campuchia và Đường 9 - Nam Lào. Đến năm 1972, ta mở cuộc tổng tiến công đánh bại một bước nghiêm trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút toàn bộ quân Mỹ, quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, đánh dấu sự thất bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh Cục bộ" của đế quốc Mỹ đối với miền Nam Việt Nam. Giai đoạn thứ tư: sau khi ký Hiệp định Pa-ri cho tới lúc ta mở cuộc Tổng tiến công Xuân 1975, đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" với hơn một triệu quân ngụy và hàng ngàn cố vấn Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trong mỗi giai đoạn lại có nhiều đợt chiến đấu, nhiều chiến dịch và đánh theo mùa mùa khô và mùa mưa); mà mỗi giai đoạn có chấm dứt bằng đỉnh cao của những chiến thắng lớn của ta. Nhưng trong 4 giai đoạn thì có 2 giai đoạn quan trọng nhất, có tính chất quyết định, làm chuyển biến tình hình. Đó là giai đoạn ba: đánh rồi ký Hiệp định Pa-ri, đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ (giai đoạn đánh cho Mỹ cút); và giai đoạn bốn: sau Hiệp định Pa-ri liên tiếp diễn ra nhiều trận chiến đấu, mở nhiều chiến dịch, tiếp tục tiến công địch cho đến đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công Xuân 1975, đánh sập ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam giai đoạn "đánh cho ngụy nhào" giải phóng miền Nam).

        Bốn giai đoạn chiến lược này liên quan mật thiết với nhau, giai đoạn trước tạo điều kiện thắng lợi cho giai đoạn sau.

        Chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam bằng bạo lực đã được nêu ra trong các nghị quyết của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng. Mọi việc chuẩn bị được xúc tiến và ngày càng khẩn trương. Nói chung là nhất trí. Khi vạch kế hoạch chiến lược để giải phóng miền Nam, chúng ta đã dự kiến sẽ đánh trong hai mùa khô. Mùa khô 1975, giải phóng Tây Nguyên và Huế, mùa khô 1976, sẽ giải phóng Quảng Nam, Đà Nẵng, Sài Gòn và toàn bộ miền Nam. Trong việc chọn hướng tiến công chiến lược, hướng chủ yếu của Xuân 1975, mọi người dễ dàng đồng ý khi mở đầu chiến dịch không đánh Bắc Tây Nguyên mà đánh Nam Tây Nguyên. Thế nhưng khi bàn cụ thể, trận then chốt sẽ đánh mở màn ở đâu thì thảo luận rất găng. Có hai ý kiến: Một là, đánh Đức Lập trước rồi mới đánh Buôn Ma Thuột để mở đường vận chuyển vào Nanh Bộ. Hai là, đánh thẳng vào Buôn Ma Thuột trước rồi mới đánh Đức Lập, vì nếu đánh Đức Lập trước thì khi đánh Buôn Ma Thuột sẽ mất yếu tố bất ngờ. Ý kiến đánh Đức Lập trước là do đánh giá tình hình thực tế địch - ta trên chiến trường lúc bấy giờ. Còn ý kiến đánh Buôn Ma Thuột trước là căn cứ vào nhận định của chúng ta: đây là nơi địch tương đối yếu, sơ hở và bất ngờ nhất. Trước đây, nếu có đánh, thường thì ta chỉ đánh vào Công Tum, Plây Cu, chứ chưa hề đánh vào Buôn Ma Thuột. Nếu giải phóng được Buôn Ma Thuột, chúng ta sẽ có thêm một vùng đất nối liền với Phước Long, tạo thành một địa bàn rộng lớn, làm chỗ đứng chân của chủ lực để mùa khô năm sau đánh vào Sài Gòn. Đây còn là một địa bàn thuận lợi, dễ cơ động lực lượng: muốn đánh vào Sài Gòn cũng được; muốn đánh lên Công Tum, Plây Cu cũng được; muốn đánh xuống miền Trung cũng được; và sẽ có ảnh hưởng đến toàn bộ chiến trường. Hơn nữa, ở Buôn Ma Thuột địch chỉ có hơn một trung đoàn, trong khi ta có 4 sư đoàn thì làm sao ta không đủ sức mạnh để giải phóng. Song, một đồng chí chưa thông với kế hoạch chọn Buôn Ma Thuột để đánh mở màn. Trong Hội nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, có đồng chí còn cho rằng: Nếu đánh, giải phóng được Buôn Ma Thuột, trong lúc Tây Nguyên đang thiếu gạo, thì lấy gạo đâu mà tiếp tế nuôi dân? Thế nhưng, trên thực tế, sau khi giải phóng được Buôn Ma Thuột, chẳng những nạn thiếu gạo không xảy ra, mà chúng ta lại đỡ vất vả hơn trong việc tiếp tế gạo vào những ngày sau đó.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:24:23 pm

        Thực ra, khi đồng ý đánh mở màn ở Buôn Ma Thuột, chưa mấy ai dự đoán được rằng việc đánh vào nơi này lại tạo nên được sự thối động, làm rung chuyển toàn bộ chiến trường thiên Nam đến như vậy.

        Đến khi chiếm xong Buôn Ma Thuột, cắt đứt được các đường số 19, 21, 22, buộc địch phải rút khỏi Plây Cu, Công Tum, sau đó ta giải phóng Huế, tạo ra thời cơ chiến lược giải phóng miền Nam trong một mùa khô thì chúng ta mới thấy hết được ý nghĩa của sự chọn điểm mở màn Xuân 1975 là Buôn Ma Thuột nó to lớn là vậy. Thực ra, khi thảo luận đã nhất trí là vậy mà trước khi anh Văn Tiến Dũng vào trong đó, còn có đồng chí vẫn chưa nhất trí là đánh Buôn Ma Thuột đâu. Cho nên, trong một cuộc họp của Quân ủy và cơ quan tham mưu, chúng tôi lại phải thảo luận thêm một lần nữa và vẫn quyết định dứt khoát là đánh Buôn Ma Thuột. Do còn có đồng chí phân vân như thế, nên Bộ Chính trị đã cử anh Văn Tiến Dũng vào chiến trường; vì cho rằng đánh một trận then chốt như vậy cần phải có một đồng chí chỉ huy có đủ quyền hạn, cương quyết chấp hành ý định chiến lược của cấp trên.

        Chính vì thế mà anh Dũng được cử vào trong đó. Anh Dũng vào thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên cùng với Bộ Tư lệnh B (Tây Nguyên) và sử dụng các đơn vị chủ lực và địa phương của B3 để thực hiện ý định chiến lược của Bộ Chính trị: đánh Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên.

        Việc anh Dũng lên đường được hết sức giữ bí mật, vì nếu địch thấy một Uỷ viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng vào chiến trường ắt chúng sẽ đoán được ý đồ chiến lược mà chuẩn bị đối phó; và như vậy sẽ đẻ ra nhiều vấn đề khó khăn.

        Vào đến Tây Nguyên, anh Dũng đã thấy B3 chuẩn bị xong kế hoạch tác chiến, bố trí lực lượng đánh Đức Lập rồi. Trước tình hình đó, anh Dũng đã quyết định vẫn cương quyết theo ý đồ của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đánh Buôn Ma Thuột, nhưng đồng thời đánh luôn cả Đức Lập.

        Quả nhiên, sau khi đánh xong Buôn Ma Thuột, địch bị rung chuyển lớn, rút chạy khỏi Tây Nguyên, khỏi Huế, Bộ Chính trị đã nhận thấy thời cơ lớn để giải phóng hoàn toàn miền Nam trong mùa khô 1975 đã đến, nên đã kịp thời quyết định phải tập trung lực lượng thần tốc, táo bạo hơn nữa, nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong thùa khô 1975.

        Sau khi Tây Nguyên được giải phóng, thời cơ lớn đã đến, có một vấn đề là Nam Bộ xin thêm quân, mà các anh hỏi, tôi nói rõ thêm: Tôi còn nhớ có hai lần B (Nam Bộ) xin quân. Lần thứ nhất, lúc chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Xuân 1975, B2 xin thêm quân cốt là để tăng cường lực lượng chứ chưa phải là để giải phóng Sài Gòn. Chúng tôi thấy việc tập trung lực lượng để đánh Nam Tây Nguyên đã đủ rồi, thì có thể điều cho Nam Bộ một số lực lượng theo yêu cầu của anh em. Chuyện đó được giải quyết không có vướng mắc gì. Nhưng đến khi đánh xong Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên và địch bỏ chạy ở Plây Cu, Công Tum rồi, thì B2 lại xin quân lần thứ hai. Mục đích xin quân lần này có khác lần trước. Bởi vì lúc đó các đồng chí ấy thấy rằng nếu với lực lượng hiện có của miền Nam mà xin thêm được Quân đoàn 3 về giúp Quân đoàn 4 thì có thể đủ chủ lực để giải phóng Sài Gòn. Thế nhưng lúc đó Bộ tư lệnh chiến trường thấy sau khi thắng Buôn Ma Thuột lại muốn dùng lực vừa đánh Buôn Ma Thuột xong để đánh xuống Khánh Hoà - Phú Yên, nhằm chia cắt miền Trung về chiến lược, không cho địch co cụm lại ở đó, rồi sau mới chuyển quân vào đánh Sài Gòn. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhất trí với ý kiến này, đồng thời giao nhiệm vụ cho anh Lê Trọng Tấn cùng với Quân đoàn 2, sau khi cùng với Bộ tư lệnh và các lực lượng Khu Trị Thiên và Khu 5 giải phóng xong Huế - Đà Nẵng, thì nhanh chóng đánh dọc theo miền Trung phối hợp với các sư đoàn chủ lực và địa phương của Khu 5 và Khu 6 phá vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang, tiến về giải phóng Sài Gòn. Lần xin quân thứ hai này, B2 muốn xin thêm cả một quân đoàn, nếu không được thì xin thêm một sư đoàn để đánh Sài Gòn, cụ thể là xin Sư đoàn 316. Vì ý định chiến lược đánh như trên, ngoài này không thể đáp ứng yêu cầu của B2 được, nhưng trước đề nghị nhiều lần đó, cũng điều cho các anh ấy Sư đoàn 341 là một sư đoàn mới tổ chức lại. Khi vào đến nơi, sư đoàn này vẫn còn xộc xệch, cũng chưa tham chiến được ngay. Mà dù lúc đó có đưa thêm Sư đoàn 316 vào cùng với Quân đoàn 4 và các lực lượng khác ở miền Nam thì cũng không thể giải phóng được Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:24:49 pm

        Sau hai lần B2 xin quân thì tôi vào chiến trường, gặp lúc hội nghị Miền cũng vừa kết thúc. Tôi được nghe anh em báo cáo lại là đã bàn về việc đánh Xuân Lộc. Tôi có tham gia với anh Dũng và các đồng chí rằng: Vội gì mà phải đánh Xuân Lộc vào lúc này? Hiện nay ta đang điều quân và các cánh quân cũng đang hành quân gấp. Đợi khi hình thành xong thế chiến dịch đánh vào Sài Gòn đã, rồi cùng đánh luôn có hơn không? Đánh Sài Gòn thì các nơi khác tự tan rã và tạo điều kiện rất thuận lợi cho chúng ta đánh địch. Anh Văn Tiến Dũng nói: Tôi cũng thấy như vậy. Nhưng anh em đã quyết định rồi. Tôi mới vào, chưa nắm được cụ thể tình hình. Thôi, cứ để anh em đánh. Lúc ấy, tôi cũng được biết trước đó theo chủ trương của Miền, anh em đã đánh Thủ Thừa, đường số 4, nhưng bị thiệt hại nặng, không giải quyết được chiến trường. Do đó, tôi mới có ý toan bàn với các đồng chí ngừng đánh Xuân Lộc lại. Nhưng nghe anh Dũng nói, tôi cũng nghĩ có thể mình mới vào chưa rõ hết tình hình, cứ để các đồng chí đánh vậy. Kết cục là anh em ta cũng không đánh được Xuân Lộc, bị thương vong nặng, phải rút ra. Thực tế diễn biến chiến đấu sau đó chứng tỏ việc đánh Xuân Lộc lúc ấy là chưa cần thiết. Khi cánh quân của anh Lê Trọng Tấn (gồm Quân đoàn 2 với lực lượng cả Khu 5 và Khu 6) phá vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang, tiến về Bình Tuy, Bà Rịa thì Sư đoàn 18 ngụy hoảng loạn rút bỏ Xuân Lộc.

        Lúc ấy, các đồng chí miền Nam đã có chủ trương "xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh". Tôi liền bàn với anh Phạm Hùng và Trung ương Cục hãy thôi chủ trương đó, chờ ta mở chiến dịch đánh chiếm Sài Gòn - cơ quan đầu não của địch, thì ngụy quân ngụy quyền ở các tỉnh khác sẽ bị suy sụp tan rã. Lúc này, chỉ nên dùng chính trị, địch vận và đánh tiêu hao địch, chưa đủ chủ lực chưa đánh vào các thành phố và thị trấn vội. Như vậy sẽ đỡ tốn xương máu hơn. Sau đó anh Phạm Hùng đã bàn với các đồng chí Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền thôi kế hoạch trước.

        Chúng ta có thể xem việc đánh Buôn Ma Thuột là một quả đấm làm rung chuyển cả chiến trường miền Nam. ý nghĩa thắng lợi của trận đánh Buôn Ma Thuột đối với chiến trường cũng giống như ý nghĩa thắng lợi của trận Sta-lin-grát của Liên Xô trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1941-1945). Trận đánh Sta-lin-grát là một thắng lợi lớn, làm rung chuyển cục diện chiến tranh. Nhưng để tới Béc-lin - sào huyệt của Hít-le, Liên Xô phải mở thêm nhiều chiến dịch nữa. Chúng ta cũng vậy: đánh xong Buôn Ma Thuột buộc địch rút khỏi Tây Nguyên làm rung động cả chiến trường miền Nam, ta còn phải mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng, và cuối cùng mới hình thành chiến dịch giải phóng Sài Gòn - chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Để chỉ huy chiến dịch cuối cùng này, Bộ tư lệnh chiến dịch được thành lập, kết hợp với Bộ tư lệnh Miền, cùng với các quân đoàn, phối hợp với các lực lượng chủ lực lực và địa phương miền Nam đánh chiếm Sài Gòn. Bộ tư lệnh Miền chỉ huy các tỉnh phối hợp với chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Về Đảng, Bộ Chính trị chỉ thị ba đồng chí ủy viên thay mặt Bộ Chính trị chịu trách nhiệm tập thể trực tiếp lãnh đạo chiến dịch lịch sử này.

        Chúng ta đều biết chiến dịch này phải có thời gian để tổ chức lực lượng. Phải hình thành những cánh quân lớn, gần 5 quân đoàn, từ 6 hướng cùng đánh vào Sài Gòn. Một cánh quân (Quân đoàn 2 với chủ lực Khu 5 và Khu 6), sau khi đánh Huế, giải phóng Quảng Nam - Đà Nẵng, đánh dọc theo miền Trung, phá vỡ phòng tuyến Phan Rang, đánh vào đông Long Thành và căn cứ Nước Trong. Một cánh quân từ Tây Ninh (Quân đoàn 3) đánh vào Đồng Dù; một cánh quân (Quân đoàn 1) đánh vào Thủ Dầu Một; một cánh quân nữa (Quân đoàn 4) đánh vào Biên Hoà; và một cánh quân nữa gồm 3 sư đoàn phía Nam Sài Gòn từ Long An, Cần Đước, Cần Giuộc và đường số 4 đánh lên. Cùng lúc ấy, ở nội thành những đơn vị đặc công, biệt động chiếm giữ các cầu lớn, bảo đảm đường tiến quân của các quân đoàn chủ lực tiến vào trung tâm thành phố được thuận lợi; đồng thời đánh phá một số mục tiêu trong thành phố, làm cho địch càng thêm rối loạn, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực ta tiến vào đánh chiếm các cơ quan đầu não về quân sự, chính trị của ngụy quân, ngụy quyền ở nội thành trong tình thế địch đã suy sụp nên không gặp khó khăn cản trở gì. Trong khi chủ lực tiến vào nội thành và quân địch bị tan rã thì các tổ chức Đảng và quần chúng chiếm giữ các quận lỵ và một số cơ sở của địch, không gặp sự xung đột phản kháng nào đáng kể.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:05 pm

        Sau khi hình thành thế bao vây chiến dịch, phá vỡ tuyến phòng thủ xung quanh Sài Gòn, phối hợp với đặc công, biệt động thành, các cánh quân lớn của chúng ta tiến vào thành phố đánh chiếm các cơ quan đầu não về quân sự và chính trị của địch. Sau đó, cánh quân của anh Lê Trọng Tấn đã tiếp- vào Chiếm dinh Độc Lập, bắt toàn bộ chính quyền Trung ương của ngụy, buộc chúng phải tuyên bố đầu hàng và kêu gọi binh lính ngụy hạ vũ khí, nộp cho Quân giải phóng. Tuy vậy có hướng bọn địch ngoan cố chống cự, như trận đánh vào Đồng Dù, Nước Trong là các trận đánh ác liệt, thương vong của ta không phải ít. Trong khi các cánh quân lớn của ta đánh vào nội thành thì không quân của ta đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và hải quân thì đánh chiếm các đảo như Phú Quốc, đảo Vây, Trường Sa...

        Phải hình thành các cánh quân lớn như thế, kết hợp với bộ đội địa phương và các đơn vị đặc công, biệt động ém sẵn trong nội thành thì mới đánh nhanh vào Sài Gòn được. Có làm như vậy thì chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mới thắng nhanh, thắng gọn và mới đánh chiếm nguyên vẹn một thành phố lớn, đông dân như thế này được.

        Bây giờ tôi nói sang vấn đề khác, theo câu hỏi của các anh.

        Có ý kiến cho rằng đánh Xuân Lộc là bắt đầu mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh. Nói như vậy là không đúng. Quân đoàn 4 đánh Xuân Lộc bị thương vong nặng rồi ngừng thì làm sao lại có thể nói bắt đầu chiến dịch từ đây. Cũng không phải đánh vào Phan Rang là mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó chỉ là phá vỡ phòng tuyến ngăn chặn của địch để cùng các cánh quân khác tiến vào Sài Gòn. Mãi đến ngày 26 tháng 4, mới hình thành rõ thế bao vây chiến dịch để đánh vào Sài Gòn cùng một lúc.

        Thời gian ấy, đế quốc Mỹ đã hai lần có ý đồ can thiệp vào Việt Nam: lần thứ nhất, Kít-xinh-giơ qua con đường ngoại giao yêu cầu gặp ta để đàm phán mong cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Ta bác bỏ, không nhận gặp. Lần thứ hai, CIA tung tin: nếu ta đánh vào Sài Gòn thì Mỹ sẽ can thiệp. Khi được tin ấy, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy chiến dịch triệu tập cán bộ chỉ huy các quân đoàn, phân tích tình hình và nhận định rằng: đây chỉ là đòn tâm lý chiến của bọn CIA tung ra. Bọn Mỹ không có một phương cách gì để can thiệp, cứu vãn nổi tình hình suy sụp của bọn ngụy Sài Gòn trong lúc này. Mà dù Mỹ có can thiệp bằng cách này hay cách khác, với mức độ nào đi chăng nữa thì ta cũng quyết tâm đánh, không một chút do dự trù trừ và nhất định thắng.

        Anh em hỏi về chuyện có chiến dịch thứ tư là nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long không? Theo tôi, phải hiểu nội dung nổi dậy chủ yếu là dùng lực lượng chính trị kết hợp với một phần quân sự, tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, để giành và giữ chính quyền. Do đó, ở đồng bằng sông Cửu Long cũng như các vùng nông thôn toàn miền Nam, trong quá trình chống Mỹ có nhiều nơi nổi dậy ở đô thị, thị trấn, đến nỗi coi nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long là đòn quyết định đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền ở đó lúc bấy giờ, nên anh em mới cho đó là chiến dịch thứ tư. Thực ra, anh em không thấy toàn bộ cục diện chung của chiến trường, mà chỉ nhìn thấy ở địa phương thôi. Thực tế là, khi các cánh quân lớn của ta tiến vào đánh chiếm Sài Gòn - cơ quan đầu não về quân sự, chính trị của ngụy quân, ngụy quyền và làm cho chúng sụp đổ thì lực lượng quân sự của địch ở các nơi bị hoang mang tan rã hầu hết. Quân đoàn 4 ngụy tuy còn đông song hết hy vọng chống cự. Lúc ấy ta dùng chính trị để kêu gọi chúng đầu hàng, chiếm các quận lỵ và thành phố còn lại mà không bị địch chống cự, đỡ phải đổ thêm xương máu, chỉ có một số ít nơi phải dùng áp lực quân sự mà thôi. Do đó, sau này, có ý kiến cho rằng: việc giải phóng đồng bằng sông Cửu Long là chiến dịch thứ tư, không cần có chủ lực, mà nổi dậy chỉ cũng giành được quận lỵ, tỉnh lỵ là không đúng với thực tiễn diễn ra của toàn bộ cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Những anh em có ý kiến như thế là chỉ nhìn thấy tình hình cục bộ của một vùng, của riêng khu vực đồng bằng sông Cửu Long mà không thấy được tác động của sự sụp đổ của ngụy quyền Trung ương ở Sài Gòn đã ảnh hưởng quyết định đến toàn bộ chiến trường Nam Bộ, làm tan rã mau chóng ngụy quân, ngụy quyền ở các cấp, tạo điều kiện thuận lợi rất cơ bản cho đồng bằng sông Cửu Long giải phóng. Cũng ví như trong chống Pháp, tuy quân ta không đánh vào Hà Nội nhưng chủ lực lớn của ta đã đánh vào Điện Biên Phủ, nơi tập trung lực lượng tinh nhuệ nhất của Pháp. Địch bị thất bại nặng, tuy có hoang mang nhưng 3 tháng sau mới chịu ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, ta giải phóng được nửa nước. Nếu ta đánh vào Thủ đô Hà Nội, cơ quan đầu não của địch bị sụp đổ thì chúng sẽ còn bị hoang mang, tan rã ở nhiều nơi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:25:37 pm

        Hoặc như trong Cách mạng Tháng Tám, nếu ta chỉ chiếm được vùng rừng núi và nông thôn, mà chưa khởi nghĩa chiếm được Hà Nội thì chưa thể dẫn đến việc giành chính quyền trong cả nước.

        Cho nên, trong chiến tranh, cuối cùng muốn kết thúc được muốn giành toàn thắng phải dùng chủ lực mạnh, đồng thời tùy nơi kết hợp một phần với đặc công, biệt động ở nội thành, đánh vào các thành phố, đô thị, nhất là thủ đô, cơ quan đầu não về quân sự, chính trị của chúng.

        Thực tiễn trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ xâm lược không thể có các cuộc nổi dậy và khỏi nghĩa để giải phóng các thành phố, đô thị. Thực tế đã diễn ra như vậy.

        Ở thành phố chỉ có các cuộc biểu tình, đấu tranh của học sinh, sinh viên, bãi công đòi tăng lương của công nhân, hoặc hoạt động của đặc công, biệt động đánh vào một số vị trí quan trọng của địch. Những cái đó không phải là nổi dậy, mà là những cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng và những trận chiến đấu của một số đơn vị đặc công, biệt động trong nội thành, nhằm tiêu hao một phần lực lượng địch. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, chúng ta có đề ra và dự kiến đến khởi nghĩa, đến nổi dậy. Nhưng thực tế đã không diễn ra ở các thành phố miền Nam như vậy. Tại sao? Vì trong chiến tranh, ở các đô thị, địch tập trung lực lượng quân sự và bộ máy kìm kẹp khá mạnh với mòi thủ đoạn lừa bịp nham hiểm, mà cơ sở của ta lại yếu, hoạt động quân sự của ta trong nội thành bị hạn chế nhiều. Song, ở nông thôn, lực lượng địch vừa mỏng, vừa yếu, mà lực lượng chính trị và quần chúng của ta ở đây lại mạnh hơn. Vì thế, khác với đô thị, nhiều vùng ở nông thôn, ta có thể nổi dậy kết hợp với công kích, tiến công để làm chủ, làm chủ để tiến công, và cũng phải giành đi giật lại, giằng co giữa ta và địch nhiều lần, ta mới giữ được. Vì không hiểu được một cách toàn diện tình hình diễn biến của cuộc Tổng tiến công Xuân 1975 đã diễn ra từ Buôn Ma Thuột - Tây Nguyên đến Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh như tôi đã nói ở trên, cho nên có anh em mới cho rằng việc giải phóng đồng bằng sông Cửu Long là do nổi dậy. Có anh em còn cho rằng nói như vậy là nói đúng với nghị quyết đã đề ra. Như vậy, cũng là không đúng, vì có khi nghị quyết và thực tiễn khách quan diễn ra lại khác nhau.

        Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa qua, ngoài việc Trung ương Cục, Khu ủy Khu 5 và Khu ủy Trị - Thiên trực tiếp chỉ đạo chiến tranh ở miền Nam, Bộ Chính trị còn chỉ định mấy đồng chí trước đây phụ trách miền Nam, do anh Ba chỉ đạo, chịu trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất ý kiến với Bộ Chính trị. Sau Hiệp định Pa-ri, Bộ Chính trị lại tổ chức Ban miền Nam để theo dõi tình hình miền Nam và nghiên cứu, đề xuất những vấn đề trong tình hình mới đặt ra. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương (đa số cũng là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị cả) vạch ra những chủ trương lớn và từng chiến dịch, trực tiếp chỉ đạo cụ thể, nhất là Tổng tiến công Xuân 1975. Sau khi có chủ trương của Bc Chính trị và Quân ủy Trung ương thì Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu triển khai kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện.

        Thắng lợi mùa Xuân 1975 là kết quả của đường lối chính trị đúng đắn và sáng tạo của Trung ương Đảng ta, đứng đâu là Bác Hồ và đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn.

        Đó là kết quả của 15 năm chống Mỹ, cứu nước, của sự hy sinh chiến đấu dũng cảm vô bờ bến của đông đảo cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào trong cả nước. Đó là thắng lợi của cả hai miền đất nước, của mọi người, của toàn dân đánh giặc, của cả tiền tuyến và hậu phương, của sự liên minh chiến đấu, đoàn kết đặc biệt của nhân dân ba nước Đông Dương, của sự giúp đỡ chí tình của Liên Xô, Trung Quốc và cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng cách mạng yêu chuộng hoà bình trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Những sự giúp đỡ quốc tế đó là hết sức quan trọng và to lớn. Sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là của Liên Xô và Trung Quốc đã góp một phần trong việc quyết định thắng lợi của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:26:05 pm
 
        Trong công tác tổng kết chiến tranh, viết lịch sử quân sự, các anh cần làm cho rõ những vấn đề này một cách chân thật, khách quan và khoa học.

        Tại sao từ trước đến nay, mỗi khi cách mạng chuyển giai đoạn hoặc khi gặp một số vấn đề lớn chúng ta thường vấp phải một số chuệch choạc, vấp váp?

        Lịch sử đấu tranh cách mạng mấy chục năm qua đã cho chúng ta kinh nghiệm là: sau mỗi bước ngoặt của từng giai đoạn cách mạng, chúng ta thường mắc phải những vấp váp, chuệch choạc ở một mức độ nào đó trong việc đề ra chủ trương cách mạng hoặc một số vấn đề lớn do tình hình mới đặt ra. Các anh hỏi vì sao mà chúng ta đã mắc phải những vấp váp, chuệch choạc như thế?

        Trước khi tìm hiểu vấn đề này, tôi thấy cần phải khẳng định một điều là: kể từ trước Cách mạng Tháng Tám, qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước thì đường lối của chúng ta là đúng, có nhiều sáng tạo. Đường lối đó là kết quả của những kinh nghiệm hàng ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc và cả những kinh nghiệm của các Đảng anh em mà chúng ta đã chọn lọc, đúc kết lại. Cách mạng Tháng Tám có sáng tạo. Kháng chiến chống Pháp cũng có sáng tạo. Kháng chiến chống Mỹ lại có những sáng tạo mới.

        Suốt thời kỳ dài của lịch sử ấy, các Hồ là người lãnh đạo cao nhất. Bác là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, là lãnh tụ của toàn Đảng, toàn dân tộc...

        Hơn 30 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bác, của đồng chí Trường Chinh, đồng chí Lê Duẩn, tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ mà anh Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng trên 30 năm và với sự hy sinh lớn lao của đông đảo cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta, chúng ta đã đạt được những thắng lợi hết sức to lớn mà đỉnh cao là giành được toàn vẹn độc lập, thống nhất trong cả nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa hếch sử và thời đại đó đã ảnh hưởng lớn tới phong trào cách mạng trên thế giới, xứng đáng là ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức. Những thắng lợi rất to lớn đó còn là kết quả của sự giúp đỡ nhiệt thành của các nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn khắp năm châu, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và Đảng Cộng sản Pháp mà nhân dân ta mãi mãi nhớ ơn.

        Tuy nhiên, khi tiến hành tổng kết lịch sử quân sự, chúng ta không thể không nói đến các tướng lĩnh đã có thành tích của quân đội ta cả về quân sự và chính trị...

        Trong công tác tổng kết, chúng ta cần đánh giá cho thật đúng và ghi nhận công lao của những tập thể, những con người và đông đảo quần chúng đã làm nên lịch sử vẻ vang đó.

        Bây giờ nhìn lại, nếu như bên cạnh những thành công to lớn, những sự đúng đắn sáng suốt của Đảng ta trên đây' chúng ta thấy còn có một số khuyết điểm, vấp váp nào đó trong những bước ngoặt của cách mạng thì cũng phải thấy đó là tất yếu khách quan của lịch sử, khó mà tránh khỏi được. Bởi vì "có thắng lợi nào mà lại không có vấp váp hy sinh"? Hơn nữa, trong cuộc cách mạng kéo dài hàng mấy chục năm, không thể có đường lối, chủ trương nào đưa ra lại chỉ có đúng mà không hề có vấp váp gì. Điều đó không thể có được. Và cũng là điều khách quan thôi. Không ai có thể dự đoán được tất cả mọi diễn biến của tình hình thực tiễn để đề ra chủ trương đúng ngay được. Bây giờ nhân các anh nêu ra một số câu hỏi, tôi mời có dịp suy nghĩ sâu hơn về những ưu điểm và khuyết điểm trong các giai đoạn cách mạng của chúng ta suốt mấy chục năm qua, chứ không phải có những vấn đề dễ thấy ngay từ trước. Nhưng điều quan trọng là khi đã phát hiện ra một khuyết điểm hoặc vấp váp, chuệch choạc nào đó, đừng bao giờ chúng ta chỉ đổ lỗi cho khách quan, mà phải thấy từ phía chủ quan là chính, để rút kinh nghiệm, sửa chữa. Đó cũng là một thái độ khoa học trong việc xem xét vấn đề Bởi vì, nói như Lê-nin, nhận thức bản thân nó vốn là một quá trình từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều... để tiếp cận với chân lý. Không ai biết đầy đủ ngay hết mọi việc...


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:26:53 pm

        Thực tiễn bao giờ cũng là tiêu chuẩn của chân lý, hay nói theo tinh thần tư tưởng của Mác: giai cấp vô sản không thể nào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn chưa đặt ra. Tôi nói như vậy cũng là để xác định rằng bao giờ chúng ta cũng phải nhìn thấy cái thực tiễn khách quan của mỗi sự vật làm sao cho kịp thời - và ngay cả trong khuyết điểm chủ quan của chúng ta, cũng có cái khách quan của nó.

        Tất nhiên, nguyên tắc của Đảng là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nên bất cứ ưu điểm, khuyết điểm nào của tập thể, cá nhân cũng phải thấy được phần trách nhiệm của mình trong đó. Ngược lại, ưu điểm, khuyết điểm nào của cá nhân thì tập thể cũng có phần trách nhiệm, chứ không thể chỉ quy cho một cá nhân. Nhưng chúng ta phải thấy rõ trách nhiệm cá nhân có phần quan trọng của nó. Còn những vấn đề nào cá nhân độc đoán hoặc tự một mình quyết định mà không có sự bàn bạc của tập thể thì cá nhân đó phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Mỗi khi có ưu điểm, khuyết điểm, không thể chỉ quy cho cấp trên mà không thấy trách nhiệm của cấp dưới, hay ngược lại. Thậm chí, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng cũng phải thấy phần trách nhiệm của mình.

        Trên cơ sở những nguyên tắc của Đảng trên đây, trong công tác tổng kết, chúng ta cần tìm ra được những nguyên nhân chính của những ưu điểm, khuyết điểm để phát huy và rút kinh nghiệm sửa chữa.

        Theo tôi thì nguyên nhân của những thành công, cũng như những vấp váp, chuệch choạc, sai lầm mà chúng ta mắc phải gồm có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nhưng tôi chỉ muốn nói những nguyên nhân chính về mặt chủ quan sau đây để chúng ta cùng nhau suy nghĩ:

        Một là, chính trị và lý luận bao giờ cũng phải gắn liền với thực tiễn. Hai mặt đó có quan hệ hữu cơ với nhau. Khi nào chúng ta kết hợp được hai mặt đó và phân tích sự việc một cách khách quan khoa học thì chúng ta sẽ đề ra được những chủ trương, đường lối đúng đắn và sáng tạo.

        Hai là, mỗi khi chúng ta chỉ có lý luận mà không nắm được thực tiễn thì chúng ta sẽ vấp phải sai lầm. Ngược lại, nếu chúng ta nắm được thực tiễn mà lại không có trình độ lý luận để phân tích thực tiễn, thì chúng ta cũng đề ra đường lối chủ trương không đúng.

        Ba là, khi học tập kinh nghiệm của bạn, nếu chúng ta biết áp dụng kinh nghiệm đó vào thực tiễn của ta một cách chọn lọc thì chúng ta sẽ đề ra được đường lối, chủ trương có sáng tạo; ngược lại, nếu chúng ta không đào sâu suy nghĩ trên thực tiễn của ta, nhất là khi chưa có kinh nghiệm gì trước vấn đề mới nảy sinh, thì chúng ta sẽ dễ mắc phải giáo điều hoặc dập khuôn máy móc khi đề ra chủ trương, đường lối của mình.

        Bốn là, mỗi khi có những thắng lợi lớn, chúng ta thường say sưa với thắng lợi, chủ quan, tự mãn nên dễ vấp phải sai lầm.

        Năm là, sai lầm, khuyết điểm của chúng ta còn gắn liền với những vấn đề công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Công tác chính trị, tổ chức và cán bộ có tính chất quyết định đến sự thành bại của đường lối chính trị; ngược lại, đường lối chính trì của chúng ta đúng hay sai cũng sẽ ảnh hưởng quyết định đến phương hướng công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Đó là mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau mà chúng ta cần phải chú ý trong quá trình tổng kết lịch sử.

        Đây là năm nguyên nhân về mặt chủ quan của chúng ta. Thường là sự vật thành hay bại đều do chủ quan là chính dù cho nguyên nhân khách quan cũng giữ vai trò rất quan trọng. Nhìn lại chặng đường lịch sử mấy chục năm qua, nếu có những lúc chúng ta đề ra những chủ trương nào đó đúng đắn, sáng tạo hoặc có những sai lầm, vấp váp, khi thì "tả", khi thì "hữu”, thậm chí có khi lại duy ý chí hay giáo điều dập khuôn một cách máy móc theo kinh nghiệm cũ, thì cũng là bắt nguồn từ năm nguyên nhân đó mà thôi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:08 pm

        Chẳng hạn:

        1- Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp

        Do chúng ta nắm tình hình thực tế chính xác, đón bắt thời cơ và đề ra chủ trương Tổng khởi nghĩa đúng lúc nên chúng ta đã ra chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (ngày 12-3-1945) rất kịp thời và sáng suốt. Sau chỉ thị đó, chúng ta đã biết nắm và đề ra một khẩu hiệu trung tâm là chống nạn đói, nhằm phát động quần chúng nổi dậy phá các kho thóc của Nhật chia cho nhân dân. Khẩu hiếu này phù hợp và rất đúng với nguyện vọng của đại đa số nhân dân ta lúc ấy đang chịu một nạn đói khủng khiếp, nên được nhân dân hưởng ứng rất rầm rộ và đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi mạnh mẽ, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám. Cũng nhờ chỉ thị đó, chúng ta đã biết bố trí đúng lực lượng cán bộ mới ra khỏi các nhà tù đế quốc về các địa phương để kịp thời thực hiện nghị quyết Tổng khởi nghĩa của Đảng. Do vậy, phong trào cách mạng của quần chúng đã nổi lên trong toàn quốc mà đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Hà Nội. Nếu như ngày ấy chúng ta chỉ cần bỏ lỡ thời cơ, để chậm khởi nghĩa cướp chính quyền ở Thủ đô Hà Nội 15 ngày thôi, thì khi quân Tưởng vào miền Bắc và quân Anh vào miền Nam, chúng ta sẽ gặp khó khăn khó mà lường hết được. Nhưng khi quân Tưởng kéo vào, ta đã có chính quyền trong cả nước và đã có Tuyên ngôn độc lập rồi thì tình thế trở nên khác hẳn. Hay như, ngay sau khi giành được chính quyền, nếu chúng ta không đánh giá đúng tương quan lực lượng và có những chủ trương, sách lược mềm dẻo, khôn khéo đối với quân Tưởng và Pháp thì không thể nào chỉ có hơn một năm trời mà chúng ta lại vừa giữ vững được chính quyền, vừa đẩy được quân Tưởng ra, tích cực chuẩn bị đánh Pháp, và bước vào cuộc kháng chiến 9 năm một cách kịp thời và chủ động như thế.

        Khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta ở trong tình thế bị bao vây, cô lập suốt 5 năm. Bởi vì, lúc đó, Trung Quốc chưa được giải phóng. Về mặt địa lý, chúng ta chưa nối liền được với phe xã hội chủ nghĩa. Cũng chưa bao giờ chúng ta tiến hành một cuộc chiến tranh lớn như vậy. Nhưng do chỗ ngay từ đầu, chúng ta nắm chắc được tình hình thực tiễn, lại phân tích tình hình một cách khoa học và đã kết hợp được với một số kinh nghiệm của các Đảng anh em để vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của chúng ta, nên chúng ta đã đề ra được chiến lược cho cuộc kháng chiến chống Pháp đúng đắn, sáng tạo. Chiến lược đó là "trường kỳ kháng chiến" và "kháng chiến toàn dân, toàn diện" cả về quân sự, chính trị và kinh tế.

        Về mặt quân sự, lúc đó chúng ta đã phát động một cuộc chiến tranh du kích toàn dân, toàn diện, xây dựng được ba thứ quân: tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập và du kích để đánh địch. Những đơn vị đặc công cũng bắt đầu xuất hiện và đã lập được những chiến công lớn đánh sâu vào lòng địch, như sân bay Cát Bi, Gia Lâm và kho bom Phú Thọ.

        Về chính trị, chúng ta đã tập hợp được một mặt trận hết sức rộng rãi để lôi kéo một bộ phận địa chủ, tư sản tham gia kháng chiến; tiến hành giảm tô, giảm tức, hiến điền, tập hợp mọi lực lượng đông đảo tham gia cuộc kháng chiến toàn dân.

        Về mặt kinh tế, lúc đó vùng giải phóng của chúng ta còn rộng, địch muốn bao vây kinh tế, nhằm ngăn cản sự giao lưu giữa vùng giải phóng và vùng tạm chiếm. Nhưng chúng ta đã phá vỡ vòng vây, tạo ra sự giao lưu kinh tế giữa hai vùng để bảo đảm việc cung cấp cho kháng chiến.

        Về mặt tổ chức, để thực hiện chủ trương chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Trung ương, chúng ta đã kịp thời chuyển hướng cho thích hợp với tình hình chiến tranh, tổ chức lại Khu ủy và các Bộ tư lệnh quân khu, bố trí lại cán bộ cho phù hợp với giai đoạn mới. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã có nhiều sáng tạo về chỉ đạo chiến tranh. Chúng ta đã tiến hành mấy chiến dịch lớn, cuối cùng đã kết thúc chiến tranh bằng chiến dịch Điện Biên Phủ đại thắng, tạo điều kiện cho việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ một cách đúng lúc, phù hợp với điều kiện chủ quan và khách quan lúc đó...


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:36 pm

        Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã có phần nào giáo điều trong việc đề ra ba giai đoạn chiến lược quân sự không phù hợp với thực tiễn. Như tôi đã nói ở trên, thực tiễn đã không diễn ra ba giai đoạn chiến lược như vậy Việc đề ra ba giai đoạn như thế có mặt khách quan của nó là ngày ấy trong chúng ta chưa mấy ai có kiến thức gì về chiến tranh. Vì thế, việc đề ra chủ trương giáo điều đó cũng là một điều khách quan, khó mà tránh khỏi. Ngày đó cũng có một số anh em chúng ta còn bị ảnh hưởng tư tưởng "lấy nông thôn bao vây thành thị" và "trường kỳ mai phục". Nhưng thực tế cũng không diễn ra như vậy mà ở thành thị chúng ta vẫn luôn có phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Chủ trương "tiêu thổ kháng chiến" khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, theo tôi, cũng là một chủ trương tả khuynh của chúng ta. Để thực hiện chủ trương này, trước khi ra vùng kháng chiến, chúng ta đã đốt phá nhiều nhà cửa, thành phố và động viên nhân dân tự phá nhà cửa, làm "vườn không nhà trống" để đi tham gia kháng chiến nhằm gây khó khăn cho địch. Nhưng trên thực tế, với phương tiện sẵn có, bọn địch đã xây dựng và làm những lán trại dã chiến rất nhanh. Việc đốt phá không những đã làm thiệt hại nhiều về tài sản mà lẽ ra sau giải phóng chúng ta đỡ phải xây dựng lại mà còn gây thêm một phần khó khăn cho ta trong việc dựa vào quần chúng để hoạt động trong lòng địch.

        Trong công tác xây dựng Đảng, chúng ta đã giáo điều, ghi cả tư tưởng Mao Trạch Đông vào trong Điều lệ Đảng, để lành phương hướng giáo dục tư tưởng cho cán bộ. Ngoài ra, còn những vấn đề như phương pháp giáo dục tư tưởng trong chỉnh huấn, chỉnh đảng, tiêu chuẩn đức, tài của cán bộ và vấn đề thành phần trong Đảng cũng dập khuôn theo chủ trương của Trung Quốc, không thích hợp với tình hình xây dựng Đảng ta. Đến Đại hội Đảng lần thứ III, chúng ta bắt đầu sửa chữa những khuyết điểm nói trên.

        Năm 1949, cũng do đánh giá tình hình không đúng nên chúng ta đã vội đề ra chủ trương tổng phản công, nhưng chỉ qua một thời gian ngắn thì chúng ta đã phát hiện ra chủ trương dó không đúng, nên tác hại của nó không nhiều.

        Về vấn đề cải cách ruộng đất, có đồng chí nói là trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã chậm tiến hành, nhưng trên thực tế không phải như vậy: ngay sau khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã có sách lược mềm dẻo để phân hoá địa chủ và đề ra chủ trương giảm tô, giảm tức, hiến điền, lấy ruộng hiến điền và ruộng của địa chủ vắng mặt chạy vào vùng địch chia cho nông dân - lúc đó có tới 70% ruộng đất của địa chủ đã được chia cho nông dân. Do sách lược đúng đắn đó của Đảng, nên chúng ta đã tập hợp được một bộ phận địa chủ tham gia đánh Pháp, đồng thời cũng động viên được giai cấp nông dân tham gia kháng chiến cứu nước. Nhưng sau đó, lúc tiến hành cải cách ruộng đất chúng ta đã giáo điều không phân tích được tình hình thực 'tiễn cải cách ruộng đất của chúng ta khác với Trung Quốc, do đó đã sai lầm cả về chính sách và phương pháp nên đã dẫn đến tổn thất nặng nề. Trong khi tiến hành cải cách ruộng đất, chúng ta lại bố trí một số cán bộ kém năng lực, trong đó có cả những cán bộ bất mãn, có sai lầm, khuyết điểm cốt để cho họ được cải tạo, giáo dục qua công tác, thậm chí có cả cán bộ không phải là đảng viên đi làm công tác chấn chỉnh tổ chức Đảng ở cơ sở, nên càng làm cho những sai lầm trong công tác này nghiêm trọng thêm. Khi phát hiện ra sai lầm, Trung ương đã tự phê bình và kiên quyết tiến hành công tác sửa sai. Từ trước đến nay chưa có lúc nào Trung ương tự phê bình khuyết điểm của mình một cách công khai, thẳng thắn và nghiêm túc đến như vậy.

        2- Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, Bộ Chính trị đã để anh Ba cùng nhiều cán bộ trung, cao cấp ở lại và bố trí lại tổ chức cho thích hợp với từng chiến trường để lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam. Đến khi có kinh nghiệm thực tiễn ở chiến trường, Trung ương đã ra Nghị quyết 15, bắt đầu phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

        Trong cuộc kháng chiến chững Mỹ, chúng ta đã tổng kết được kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nâng cao lên một bước và có những sáng tạo mới. Trong cuộc chiến tranh này, chúng ta phải đương đầu với đế quốc Mỹ, một tên đế quốc đầu sỏ trên thế giới. Chúng ta đã kịp thời đề ra được nhiệm vụ chiến lược chung cho cuộc kháng chiến chống Mỹ có tính chất sáng tạo mới khác với thời kỳ chống Pháp. Chúng ta đã xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam; đồng thời, chúng ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc hòng ngăn cản việc tiếp tế của chúng ta cho chiến trường miền Nam. Chúng ta đã hoạch địch một chiến lược cho cuộc chiến tranh chống Mỹ không phải chỉ trường kỳ mà còn phải đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ toàn bộ bọn đế quốc và tay sai. Trong quá trình kháng chiến, chúng ta lại biết tranh thủ thời cơ vừa đánh vừa đàm đê giành thắng lợi một bước quyết định trong cuộc chiến tranh trường kỳ.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:27:52 pm

        Vì thế, về mặt quân sự, chúng ta đã đề ra chiến lược tiến công cho cuộc chiến tranh nhân dân. Trong vấn đề "chiến lược tiến công" này, lúc thảo luận tổng kết, anh em ta có hai ý kiến: một ý kiến cho rằng về mặt quân sự, không thể chỉ nói đến chiến lược tiến công mà còn phải nói tới chiến lược phòng ngự, phòng ngự để tiến công. Có ý kiến lại cho rằng trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, thì có chiến lược tiến công chứ không có chiến lược phòng ngự. Trong quá trình thảo luận đó, có anh em lại cho rằng: trong chiến tranh nhân dân, chúng ta chỉ nên nói tới tư tưởng chiến lược tiến công chứ không nên nói tới chiến lược tiến công.

        Theo tôi, cả ba ý kiến đó đều không đúng. Bởi vì, đứng về toàn cục mà nói, chiến lược của cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta là chiến lược tiến công; vì cái thế của cuộc chiến tranh nhân dân là cái thế của một cuộc chiến tranh rộng khắp toàn quốc. Nó không chỉ đánh địch bằng chủ lực mà còn đánh bằng bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công, biệt động và nhiều hình thức chiến đấu phong phú của nhân dân tham gia đánh địch rộng khắp trên toàn quốc. Cuộc chiến tranh nhân dân này đánh địch ở bất cứ lúc nào, bất kể một hình thức nào và không thành một trận tuyến rõ rệt. Bởi thế, trong cuộc chiến tranh này, không có tiến công và phòng ngự mà chỉ có tiến công thôi. Nhưng xét riêng về lực lượng chủ lực, thì có khác: chủ lực đánh phải có hiệp đồng binh chủng, có bố trí trận địa, có tiến công, có khi phòng ngự để tiến công, có khi phản công, thậm chí có khi bất lợi phải rút lui để rồi lại tiến công.

        Cho nên, nhìn toàn cục, cuộc chiến tranh nhân dân của ta thì chiến lược của nó phải là chiến lược tiến công. Nhưng phải chú ý tới đặc điểm riêng của chủ lực. Không thể chỉ thấy cái chung của chiến tranh nhân dân mà quên mất cái riêng của chủ lực; ngược lại, cũng không thể chỉ nhìn thấy cái riêng của chủ lực mà quên mất cái tổng thể của cuộc chiến tranh nhân dân. Đó là cách hiểu đúng đắn khái niệm "chiến lược tiến công" của chúng ta trong cuộc chiến tranh nhân dân vừa qua.

        Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ vừa qua, để căng địch ra mà đánh, chúng ta không chỉ chủ yếu đánh địch ở vùng nông thôn như trong cuộc kháng chiến chống Pháp, mà chúng ta còn đề ra chiến lược tiến công đánh cả ở ba vùng, bằng ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, kể cả đặc công và biệt động. Ở thời kỳ này, chúng ta đã nâng đặc công lên thành một binh chủng lợi hại đặc biệt và tổ chức ra những đội biệt động thành để phối hợp với chủ lực đánh địch. Bằng lực lượng nhỏ, những lực lượng đặc công biệt động này đã đánh những đòn rất hiểm vào cơ quan đầu não và lực lượng chỉ huy của địch, làm cho chúng bị thiệt hại về sinh lực và hoang mang giao động về tinh thần. Lực lượng đặc công biệt động tuy nhỏ, nhưng những thắng lợi của nó trong nội thành, nhất là Sài Gòn không kém gì chiến công đánh thắng một sư đoàn địch. Trong đánh địch, chủ lực của chúng ta lại đã biết căn cứ vào đặc điểm tình hình của đất nước mà đánh theo mùa. Với tinh thần chủ động tiến công, tuỳ theo tình hình mỗi lúc trên chiến trường mà biết khi thì tiến công, khi thì phòng ngự - phòng ngự để tiến công; có khi phản công, có khi rút lui để rồi tiến công và luôn luôn giành được thế chủ động trên chiến trường. Có những khi chúng ta ở vào thế bị động nhưng lại nhanh chóng chuyển thành chủ động để đánh địch.

        Trong chiến tranh chống Mỹ, chúng ta đã nâng cuộc chiến tranh nhân dân lên một bước phát triển mới, sử dụng được sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công - quân sự, chính trị, địch vận; công kích và nổi dậy; làm chứ để tiến công, tiến công để làm chủ... nên chúng ta đã phát động được cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến tranh nhân dân với các hình thức đánh địch bằng sự kết hợp cả ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công biệt động và các hình thức đánh địch phong phú khác của nhân dân ở cả nông thôn và thành thị, kể cả phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở đô thị. Đồng thời, về mặt chính trị, chúng ta đã thành lập thêm liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam để tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong cuộc chiến tranh này, chúng ta đã biết sử dụng sức mạnh tổng hợp của thời đại để đánh Mỹ, tranh thủ được sự đoàn kết ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và các đảng anh em; có sách lược phân hoá, lợi dụng triệt để những mâu thuẫn trong hàng ngũ đế quốc và trong nội bộ địch; kêu gọi động viên được phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ ủng hộ chúng ta, làm cho đế quốc Mỹ bị cô lập. Trong đấu tranh ngoại giao, chúng ta đã nắm vững nguyên tắc và có sách lược khôn khéo, kiên trì trong đàm phán và đã kết hợp với chiến trường để tiến công ngoại giao, phân tích được đúng tình hình để chấm dứt cuộc đàm phán đúng lúc một cách thắng lợi.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:28:12 pm

        Về mặt tổ chức, để thực hiện chủ trương chiến lược chống Mỹ, cứu nước, Trung ương đã đưa các cán bộ cao cấp có đầy đủ năng lực ở Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương vào, để cùng với anh em miền Nam lãnh đạo cuộc kháng chiến và đưa hàng vạn cán bộ, chiến sĩ vào miền Nam để đảm bảo thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Suốt quá trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã nắm sát - được tình hình của từng giai đoạn để chủ động tổ chức những cuộc tiến công có tính chất chiến lược hoặc phản công để giành lại thế chủ động. Đó là những cuộc tiến công chiến lược năm 1968, 1972, 1975 và những cuộc phản công 1970, 1971. Ấy là chưa kể biết bao cuộc chiến đấu của bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công biệt động và các hình thức chiến đấu của nhân dân ta rộng khắp trên toàn quốc, phối hợp với bộ đội chủ lực chiến đấu trong suốt mười mấy năm qua. 

        Hồi Tết Mậu Thân, do đánh giá được thế của địch sau ba năm chiến tranh cục bộ bị sa lầy và thiệt hại nặng, mâu thuẫn trong năm bầu cử Tổng thống Mỹ rất gay gắt, lợi dụng thời cơ bất ngờ, ta đã mở cuộc TCK, TKN Tết Mậu Thân và giành được thắng lợi lớn, làm cho tinh thần quân đội Mỹ bị giao động và hoang mang. Nhân đà thắng lợi lớn đó, ta đã tiến hành tiến công ngoại giao kịp thời, buộc địch phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán, thực hiện được chủ trương vừa đánh vừa đàm của ta để đánh bại cuộc "Chiến tranh Cục bộ" của địch. Đó là một bước ngoặt chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        Nói đến đây, tôi nhớ đến ý kiến của một số đồng chí chúng ta dạo đó đã cho rằng: chưa phải ta đã buộc địch phải xuống thang chiến tranh. Bởi vì, sau đó địch còn mở những cuộc tiến công sang Campuchia và Đường 9 - Nam Lào. Các đồng chí đó đã không hiểu rằng đó chỉ là những cuộc tiến công mà địch muốn làm áp lực để giành lợi thế ở bàn đàm phán trong thế chiến lược xuống thang chiến tranh của địch mà thôi.

        Tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, chúng ta cũng có những vấp váp, khuyết điểm. Chẳng hạn, sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, do chúng ta xa thực tế, không nắm bắt được đúng tình hình và có phần chủ quan tự mãn sau thắng lợi, nên chúng ta đã vấp phải khuyết điểm như tôi đã nói ở phần trên. Khuyết điểm đó là ở chỗ chúng ta không chuyển biến kịp tình hình để tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền Nam sớm hơn. Thực ra, những vấp váp mà chúng ta mắc phải sau Hiệp định Giơ-ne-vơ cũng còn là vì chúng ta có một phần bị ảnh hưởng ý kiến của bạn bè quốc tế, không muốn tiến hành đấu tranh vũ trang để tập trung đi vào xây dựng ở miền Bắc.

        Trong Tết Mậu Thân, cũng do chủ quan đánh giá tương quan lực lượng giữa ta và địch không đúng, nên chúng ta đã đề ra chủ trương TCK, TKN với mục tiêu chiến lược không sát với khả năng thực tế. Việc dập khuôn, máy móc theo kinh nghiệm cũ về vấn đề tổng khởi nghĩa và nổi dậy ở các đô thị hồi Tết Mậu Thân đã dẫn đến những khuyết điểm, tổn thất ra sao, vừa qua tôi đã nói rõ. Những khuyết điểm trong việc đề ra mục tiêu quá khả năng của chúng ta lúc đó thực tế là cũng bắt nguồn tử tư tưởng chiến lược đánh thắng địch trong một thời gian tương đối ngắn. Trên thực tế, cuộc kháng chiến chống Mỹ đã không đi đến thắng lợi trong một thời gian ngắn mà đã kéo dài 15 năm mới giành được thắng lợi. Điểm này tôi cũng đã phân tích kỹ khi nói về cuộc TCK, TKN trong Tết Mậu Thân...

        Đến năm 1971, địch mở cuộc tiến công ở Đường 9 - Nam Lào hòng cắt đứt đường tiếp tế của ta từ Bắc vào Nam qua đường Hồ Chí Minh. Ta đã phản công thắng lợi lớn. Địch thất bại nặng nề và phải rút lui. Sau chiến thắng giòn giã ở mặt trận Đường 9 - Nam Lào, chúng ta đã thừa thắng, kịp thời chủ động mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa khô vào năm 1972 để làm áp lực trong cuộc đàm phán ở Pa-ri. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa khô năm 1972 đã giành thắng lợi lớn. Đây là lần đầu tiên trong chiến tranh chống Mỹ, ta đã giải phóng được một vùng rộng lớn ở Quảng Trị và miền Đông Nam Bộ. Đây cũng là năm đến nhiệm kỳ bầu cử Tổng thống Mỹ, mâu thuẫn trong giới cầm quyền Mỹ gay gắt, phong trào đòi chấm dứt chiến tranh, giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam ở Mỹ lên cao. Đồng thời, cũng trong năm 1972 này, Mỹ và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung Thượng Hải gây ra những bất lợi cho ta. Do phân tích đúng được thuận lợi khó khăn của tình hình, ta đã ký Hiệp định Pa-ri đúng lúc, buộc Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam, đánh bại chiến lược "Chiến tranh Cục bộ" của Mỹ. Sau khi ký Hiệp định Pa-ri cũng có một số đồng chí cho rằng đó không phải là một thắng lợi; vì đất nước vẫn còn chia cắt, quân ngụy vẫn giữ được chính quyền ở miền Nam: được Mỹ viện trợ, chúng vẫn tiến công quân sự, không đếm xỉa gì tới Hiệp định Pa-ri. Nhưng các đồng chí đó đã không nhìn xa thấy rộng: một khi quân Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam và không thể quay lại được nữa thì quân ngụy không còn chỗ dựa như trước; tương quan lực lượng đã thay đổi về cơ bản. Do đó, đã tạo được thời cơ thuận lợi để chúng ta mở cuộc Tổng tiến công Xuân 1975 đúng như chủ trương của Trung ương đã đề ra trước đó là: vừa đánh vừa đàm, đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ toàn bộ Mỹ - ngụy.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:28:41 pm

        Đi đôi với cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972, thì lực lượng của bạn cũng phối hợp với lực lượng của ta ở Lào, phản công đánh địch ở Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, sau đó mở chiến dịch đánh vào căn cứ Long Chẹng của bọn Vàng Pao, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng của Lào. Đây là cuộc tiến công lớn nhất trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Lào, đã giành được thắng lợi lớn và đã đưa đến việc buộc Mỹ phải ngừng bắn, rút quân đội Mỹ và Thái Lan ra khỏi Lào, mở Chính phủ liên hiệp ở Lào. Nhân việc miền Nam Việt Nam và Campuchia đã được giải phóng, bạn đã kịp thời nắm thời cơ khách quan rất thuận lợi, nhanh chóng mở cuộc tổng tiến công kết hợp giữa chính trị và áp lực quân sự để giải phóng toàn bộ nước Lào vào cuối năm 1975.

        Sau khi ký Hiệp định Pa-ri, tuy ta đã biết cụ thể tình hình, tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi về cơ bản ở chiến trường, song phải trải qua diễn biến thực tiễn chiến đấu trong 2 năm 1973-1974 ở đồng bằng sông Cửu Long, Khu 7 và Phước Long, ta mới càng thấy rõ được đúng tình hình, thấy rõ thời cơ lớn đã tới, hạ quyết tâm giải phóng toàn miền Nam trong hai mùa khô 1975-1976, mà mục tiêu chiến lược của chúng ta trong giai đoạn này là tiến công chủ yếu vào các đô thị, mở đầu là đánh vào Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên và kết thúc bằng việc đánh vào đầu não của địch ở Sài Gòn, trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhưng đến năm 1975, khi bắt đầu mở cuộc tiến công vào Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên, thấy được quân địch đã giao động đến cực độ, lập tức ta kịp thời chủ động chuyển ngay chủ trương trước đây, hạ quyết tâm chỉ đánh một mùa khô thôi và chỉ đánh trong 55 ngày là giải phóng được miền Nam. Trong khi mở cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, ta đã bố trí những cán bộ có năng lực chỉ huy để đảm bảo thắng lợi cho từng chiến dịch của cuộc Tổng tiến công...

        Về công tác tuyên truyền và viết lịch sử quân sự

        Về công tác này, tôi thấy chúng ta cũng cần phải rút kinh nghiệm. Kinh nghiệm lớn nhất, theo tôi là chúng ta phải nói và viết sao cho đúng sự thật. Bởi vì, có nói và viết đúng thì mới có sức thuyết phục; nếu không, thì không những không thuyết phục được ai mà ngược lại có khi còn phản tác dụng. Nghĩa là nó phải thực, phải đúng, phải nói cả ưu, cả khuyết. Chúng ta tuyên truyền một sự kiện lịch sử, một đơn vị, một cá nhân cũng vậy, phải trung thực, phải đúng mức.

        Nói chung, về tuyên truyền mà nói, bất cứ vấn đề gì chúng ta cũng phải nói và viết đúng với sự thật. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt rõ trong tuyên truyền, có ba thứ khác nhau:

        a. Tuyên truyền chung về đường lối chủ trương của Đảng.

        b. Tuyên truyền về cá nhân trong lịch sử.

        c. Viết lịch sử có khác với tuyên truyền về cá nhân trong lịch sử.

        Khi tuyên truyền đường lối chủ trương công tác của đảng thì chúng ta phải tuyên truyền cả những mặt làm được và những mặt chưa làm được và rút ra kinh nghiệm để đề ra biện pháp sửa chữa thì mới làm cho cán bộ đảng viên biết cách để thực hiện. Chứ không chỉ nêu lên thành tích một chiều, từ đó làm cho người ta đánh giá tình hình sai lầm đi đến lạc quan giả tạo. Ngược lại, nếu tuyên truyền mà chỉ nêu những khuyết điểm mà không nêu ra được những phương hướng sửa chữa những khuyết điểm đó như thế nào thì có khi người ta lại sinh ra bi quan, không tìm ra lối thoát.

        Nhưng khi tuyên truyền về cá nhân thì lại khác. Đối với những đồng chí đã qua đời thì không những chúng ta chỉ nêu gương các đồng chí lãnh đạo mà còn nêu gương cả những cán bộ, chiến sĩ và quần chúng bình thường mà có những thành tích xuất sắc. Chúng ta cần chú ý nêu lên những đặc điểm cần học tập ở mỗi người về mặt tài năng, phẩm chất và thành tích khác nhau để giúp cho mọi người học tập truyền thống tốt đẹp đó, chứ không phải cứ viết theo cách kể lể như viết tiểu sử mà chúng ta thường làm.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:29:01 pm

        Còn đối với các đồng chí lãnh đạo còn sống, chúng ta chỉ nên tuyên truyền những hoạt động chính trị, ngoại giao trong, ngoài nước có tính chất quan trọng, những bài phát biểu có ý kiến hay, những chủ trương sáng suốt đúng đắn của các đồng chí ấy chứ không nên tuyên truyền tràn lan. Chúng ta cần phải hết sức tránh lạm dụng việc tuyên truyền một cách hình thức phô trương, thổi phồng, làm cho tự bản thân việc tuyên truyền ấy dẫn đến phản tác dụng. Từ trước đến nay, chúng ta đã có những kinh nghiệm về vấn đề này. Uy tín của một cán bộ đảng viên phải là thực chất hiệu quả của năng lực và phẩm chất của các đồng chí ấy chứ không phải cứ tuyên truyền là tạo nên được uy tín.

        Nhưng tuyên truyền về cá nhân không hoàn toàn giống với viết lịch sử. Trong công việc viết lịch sử, tất nhiên chúng ta phải kể đến ngày tháng, sự kiện lịch sử. Điều đó là rất cần nhưng không phải là điều chính yếu. Vấn đề quan trọng nhất trong khi viết lịch sử là phải phân tích cho được những chủ trương, đường lối đúng hay sai của Đảng trong sự kiện lịch sử lúc đó, để rút ra được những ưu điểm, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm của cá nhân và tập thể. Khi nói đến mỗi sự kiện lịch sử, chúng ta cần phải gắn liền sự kiện ấy với cá nhân và tập thể, chứ không thể chỉ nói tới cá nhân mà quên mất vai trò của tập thể. Gặp trường hợp có đồng chí trong một thời gian nào đó, có vai trò lịch sử tích cực, nhưng sau này lại có những sai lầm nghiêm trọng thì chúng ta không nên bỏ qua mà phải viết một cách trung thực về vai trò lịch sử tích cực của đồng chí đó trong giai đoạn lịch sử ấy, đồng thời chú thích rõ về khuyết điểm cụ thể của đồng chí ấy. Chúng ta có làm như thế mới là khách quan, là tôn trọng sự thật lịch sử.

        Bây giờ, tôi nói một vài sự kiện về mặt tuyên truyền và viết lịch sử quân sự mà theo chủ quan của tôi, lâu nay các đồng chí làm chưa được đúng.

        Như Hà Nội từ trước đến nay, kỷ niệm ngày tiếp quản Thủ đô rất to. Trong khi đó ngày kỷ niệm Tổng khởi nghĩa ở Thủ đô thì lại gần như không làm gì. Sự thật thì khởi nghĩa ở Hà Nội hết sức quan trọng, có ý nghĩa rất lớn như tôi đã nói ở phần đầu, nhưng cuộc khởi nghĩa này lại không được kỷ niệm, không được tuyên truyền cho đúng với vị trí và ý nghĩa quan trọng của nó. Còn ngày 10 tháng 10 năm 1954 chỉ là ngày tiếp quản Thủ đô thôi; gọi là ngày giải phóng Thủ đô thì không đúng đâu. Ví dụ nữa như: ngày Toàn quốc kháng chiến, chúng ta có một tấm gương rất quả cảm là: một trung đoàn Thủ đô mà dám bám trụ, đánh kìm chân địch ở tron thành phố Hà Nội được hai tháng trời, buộc địch chậm đánh lan ra ngoài thành phố. Nhờ đó, ta có thời gian để tiếp tục rút lực lượng nhân dân ra vùng tự do. Sau đó, theo kế hoạch rút lui khôn khéo, táo bạo và dũng cảm, Trung đoàn Thủ đô và các lực lượng vũ trang của thành phố rút ra ngoài được hết. Cuộc rút lui của cả quân và dân Thủ đô thắng lợi cũng là một chiến công. Chiến công dạo ấy của Trung đoàn Thủ đô đúng là một chiến công đáng phải tuyên truyền, đáng được nêu gương. Nhưng việc tuyên truyền về trung đoàn này chúng ta chưa làm một cách đúng mức.

        Một ví dụ nữa là, mỗi lần kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ hay Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta tuyên truyền chưa toàn diện. Ở những trường hợp này chúng ta hay cắt khúc lịch sử ra và thường quên đi cả quá trình, chỉ nhấn mạnh riêng vào cái kết thúc; có khi chỉ thấy chủ lực mà không thấy địa phương quân, đặc công biệt động và lực lượng quần chúng. Chúng ta chỉ thấy ngọn mà quên đi cái gốc. Chẳng hạn, trong lúc tuyên truyền chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta chỉ thấy rằng thắng lợi đó là đỉnh cao kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp mà không thấy đó là kết quả cuối cùng của một quá trình 9 năm chống Pháp Cũng như thế, cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 là kết quả của 15 năm đánh Mỹ, đó là điểm then chốt kết thúc 15 năm chiến - tranh chứ không thể coi như cuộc tổng tiến công đó làm nên tất cả Nếu quên đi cả một quá trình, chỉ nhấn vào cái kết thúc thì việc tuyên truyền của chúng ta sẽ dễ bị lệch.


Tiêu đề: Re: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:29:46 pm

        Trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta phải trải qua nhiều chiến dịch như: Biên Giới, Đồng Bằng, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc... mới đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là rất lớn. Song ta tuyên truyền không toàn diện, làm cho người ta thấy hình như trong chống Pháp chỉ có chiến dịch Điện Biên Phủ thôi, cũng như trong chống Mỹ chỉ có chiến dịch Hồ Chí Minh thôi. Như thế là không đúng. Kết quả của cả quá trình 9 năm đánh Pháp mới tạo nên cái thế để đánh thắng ở Điện Biên Phủ; cũng như phải trải qua 15 năm đánh Mỹ mới tạo nên cái thế để chiến thắng lớn trong chiến dịch Hồ Chí Minh được Chúng ta phải đánh thắng địch từ "Chiến tranh Đặc biệt" đến "Chiến tranh Cục bộ"; phải qua biết bao chiến dịch và chiến đấu đánh Mỹ, đánh ngụy; không chỉ đánh riêng ở chiến trường miền Nam, mà còn đánh cả trên đất bạn Lào, Campuchia và chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc rất ác liệt mới tạo nên cái thế để thực hiện cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh được. Tất nhiên, chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh có vị trí và ý nghĩa lịch sử quan trọng về việc kết thúc chiến tranh của nó. Ngay như nói riêng việc tuyên truyền về cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 mà không chú ý cũng lệch rồi. Thí dụ: nói về thắng lợi này mà chỉ nói đến hai chiến dịch thôi thì anh em băn khoăn là phải. Nhưng nếu ta nói đến cả ba chiến dịch, đánh giá từng chiến dịch và vai trò, tác dụng của nó, thì anh em thấy đúng sự thật. Mỗi chiến dịch đều mang đặc điểm riêng của nó. Như thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên với trận điểm huyệt Buôn Ma Thuột là thắng lợi của chiến dịch mở đầu có tác dụng thối động toàn bộ chiến trường miền Nam. Còn thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Năng làm tan rã quân ngụy ở gần hầu hết các tỉnh miền Trung. Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch quyết định cuối cùng, đánh chiếm cơ quan đầu não của địch, làm cho toàn bộ quân ngụy ở các quân khu Nam Bộ bị tan rã nhanh chóng, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước ở Việt Nam. Do đó mà chiến dịch được mang tên Bác. Trong viết lịch sử mỗi đơn vị đều có ý nghĩa và chiến công riêng của nó, ví dụ như đơn vị đầu tiên tiến vào dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ bọn cầm đầu ngụy quyền Sài Gòn. Anh em người ta muốn qua lịch sử để nhận đúng vị trì và tác dụng của từng chiến dịch, của từng đơn vị chiến đấu. Cái đó làm phấn khởi ngay cả chiến sĩ của từng đơn vị đã lập được những chiến công. Chứ không phải là vấn đề anh này muốn thế này, anh kia muốn thế nọ một cách chủ quan mà được. Chiến sĩ của chúng ta thực tế là như vậy, nhiều khi chúng ta đánh giá chưa đúng. Lúc đầu, ta cũng đánh giá chưa đúng lắm về từng chiến dịch. Gọi là chiến dịch Tây Nguyên, nhưng ta chỉ đánh có Buôn Ma Thuột. Khi vào đến Kon Tum, Plây Cu thì địch rối loạn bỏ chạy cả. Cho nên, chúng ta phải thấy tất cả chuyện này mà tuyên truyền cho đúng. Ngay cả việc viết về một sư đoàn thì cách đánh giá cũng thế. Làm sao phải nêu lên những nét tiêu biểu của các sư đoàn đánh giỏi thì mới có tác dụng tuyên truyền giáo dục được. Trong khi tuyên truyền những đơn vị chủ lực, ta không được quên những đơn vị đặc công, biệt động trong nội thành và vai trò quần chúng ủng hộ quân chủ lực.

        Có lúc chúng ta chỉ thấy vai trò của chủ lực mà quên đi vai trò của bộ đội địa phương, đặc công đã hỗ trợ đắc lực cho chủ lực; đặc công và biệt động đã đóng vai trò quan trọng trong việc đánh vào nội thành suốt thời kỳ chững Mỹ. Có những đơn vị đánh vào cư xá của sĩ quan Mỹ làm chúng bị thương vong hàng trăm tên sĩ quan. Giá trị của những chiến công đó không kém gì chiến công đánh thắng một sư đoàn Mỹ - ngụy mà ta lại ít thương vong.

        Ngay khi ta viết về vai trò của cá nhân trong lịch sử cũng vậy. Phải trung thực, phải đúng mức mới có tác dụng giáo dục. Ta phải viết ở mức độ đúng với vai trò của cá nhân đó trong lịch sử, đừng có làm quá sẽ dẫn đến sùng bái cá nhân, hoặc ngược lại, không làm đến nơi đến chốn thì rút cục lại viết vừa không đúng với thực tế, mà lại vừa thành ra phản lại tuyên truyền mà không có tác dụng giáo dục. Khi viết vai trò của cá nhân, phải gắn liền với vai trò của tập thể, của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân. Và ngược lại, khi tuyên truyền vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử cũng phải gắn liền với vai trò của lãnh đạo và những cá nhân tiêu biểu của lịch sử Người lãnh đạo là người nảy sinh ra từ trong phong trào của quần chúng. Không có người lãnh đạo thì khó có thể có phong trào quần chúng đi đúng hướng được. Chúng ta luôn luôn nhớ rằng, quần chúng làm nên lịch sử; một khi người lãnh đạo xa rời quần chúng thì không còn là người lãnh đạo nữa. Quan hệ biện chứng giữa lãnh đạo và quần chúng là như vậy. Tôi đến Thuận Hải, thấy một bà mẹ có bảy người con đi bộ đội hy sinh hết, bây giờ tỉnh làm nhà và nuôi bà mẹ đó Một bà mẹ có bảy người con hy sinh tất cả cho đất nước, bây giờ nuôi cháu. Những tấm gương như thế và những anh hùng như vậy thật là vĩ đại. Tôi có đề nghị phong anh hùng cho những bà mẹ như thế. Chúng ta có những bà mẹ rất đặc biệt và biết bao nhiêu tấm gương anh hùng liệt sĩ trong suốt 30 năm chiến tranh đã hy sinh anh dũng mà ta cần phải viết để giáo dục truyền thống. Cho nên, trong tuyên truyền, chúng ta phải làm sao viết và nói cho đúng với thực tiễn lịch sử và đúng với cái tạo nên nó. Lịch sử là thực tiễn khách quan. Không phải ngòi bút viết như thế nào thì đề cao được như thế ấy. Không phải đâu. Nói cho đúng mức là cái tốt nhất để đề cao các tấm gương của cá nhân mà học tập và làm gương sáng cho mai sau. Trong quân đội cũng vậy, khi đánh giá từng chiến dịch, từng quân đoàn, sư đoàn, từng đồng chí, chúng ta cũng phải đánh giá cho đúng. Đánh giá không đúng thì anh em người ta băn khoăn. Có khi là băn khoăn cá nhân, nhưng có khi lại là băn khoăn đúng. Vì sao? Vì tuyên truyền mà quên mất anh em sẽ làm người ta thấy không công bằng trong lịch sử. Người ta thấy làm sao không nói đến anh em. Tôi nói ví dụ như vậy. Viết cho đúng thì có sức thuyết phục lớn. Hễ viết không đúng thì sức thuyết phục không có. Sự thực là như vậy. Có những sự thực nếu ta quên đi thì không nên, quần chúng sẽ thắc mắc, có khi cán bộ cũng thắc mắc, nhưng đúng về cái chung thì ta phải chú ý. Vì không chú ý cái đó thì không công bằng, không có tác dụng giáo dục gì được cả.

        Ta cần nêu gương các anh hùng, các liệt sĩ, các tướng lĩnh, các cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu dũng cảm, đã hi sinh thân mình, đã cống hiến cả cuộc đời mình cho Tổ quốc. Ta nên lấy đó để đặt tên cho các đơn vị và cả tên địa phương, tên trường học... để nhắc nhở và để giáo dục truyền thống cho thế hệ mai sau.

        Tôi nói thêm vài nét để chúng ta thấy rõ, để làm tốt hơn công tác tuyên truyền lịch sử quân sự cho đúng, để rút ra được những kinh nghiệm quý, những bài học hay để nêu gương, để giáo dục truyền thống. Mục đích tuyên truyền của chúng ta là như vậy, chứ không có mục đích nào khác.

HẾT