Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Hồi ký - Hồi ức => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 03:07:28 pm



Tiêu đề: Chiến đấu ở Tây Nguyên
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2016, 03:07:28 pm
        
        - Tên sách: Chiến đấu ở Tây Nguyên
        - Tác giả: Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo Người thể hiện: Phạm Vũ Quỳnh
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản: 2004
        - Số hóa: Đánh đông dẹp bắc

(https://cdn.vatgia.vn/pictures/thumb/418x418/2013/07/csz1374201835.jpg)


LỜI CẢM ƠN

        Để hoàn thành cuốn hối ký này, tôi đã nhận được sự giúp đờ nhiệt tình và quí báu của:

        - Nhà xuất bản Quản đội nhân dân, Tổng công ty Sách Viêt Nam, báo Văn nghê Trẻ.

        - Bài viết của đống chí Nguyễn Văn Hùng và Tiến sĩ Vũ Cao Phan.

        - Các ý kiến đóng góp của nhiêu bạn hữu cùng với các tài liệu tham khảo trích dẫn.

        Vậy tôi xin có lời chăn thành cảm ơn.

        Tuy nhiên, cuốn sách vẫn không tránh khỏi còn nhiêu thiếu sót.

        Rất mong sự góp ỷ của bạn đọc.


Hà Nội, ngày 29-11-2004
Thượng tướng Giáo sư
Hoàng Minh Thảo


LỜI NÓI ĐẦU

        Thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, sinh năm 1921 tại làng Cao, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình thợ may, cha là Tạ Quang Khai, mẹ là bà Nguyễn Thị Tành.

        Cũng như bao nhiêu thanh niên Việt Nam giác ngộ thời đó, ông rời quê hương đi tham gia cách mạng từ năm 1937, hoạt đông ở Lạng Sơn. Từ năm 1941 đến năm 1944 ông được Bác Hồ cử đi học quân sự tại trường Tây Cán Bang ở Liễu Châu, Trung Quốc. Trở về nước tham gia Cách mạng Tháng Tám rồi trở thành Tư lệnh Chiến khu 3 (1945-1946), Tư lệnh Chiến khu 4 (1948-1950). Năm 1950, ông làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, năm 1954 ông được bổ nhiêm làm Hiệu trưởng Trường Quân chính.

        Ông là người đam mê đánh giặc bằng mưu kế, thế trận điển hình là chiến dịch Đắc Tô 1 (1967) chiến dịch Đắc Xiêng (1970), chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh (1972), chiến dịch Tây Nguyên mà ông đều làm tư lệnh là đỉnh cao về nghệ thuật đánh giặc bằng mưu kế của ông. Và, ông luôn tạo ra được niềm tin cho những sĩ quan và chiến sĩ của mình.

        Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng viết: "Trong một buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là một thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân, thiếu nước".

        Sau giải phóng miền Nam, năm 1976 ông về làm Phó giám đốc Học viện Quốc phòng, năm 1977 ông làm Giám đốc Học viên Quốc phòng cho tới năm 1990... Với những đóng góp của ông, năm 1984 ông được phong quân hàm Thượng tướng, năm 1986, ông được phong hàm Giáo sư và năm 1989, ông được nhận danh hiệu Nhà giáo nhân dân.

        Cuốn sách Chiến đấu ở Tây Nguyên là tập hồi ký của Thương tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo, giới thiêu khái lược cuộc đời từ khi tham gia cách mạng đến mùa Xuân 1975 của ông, chủ yếu ở chiến trường Tây Nguyên. Bằng lối viết giản dị, dễ hiểu cuốn sách cho người đọc thấy được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở chiến trường Tây Nguyên, ta đã thắng địch bằng mưu, bằng kế, như thế nào. Thắng địch bằng mưu bằng kế cho đến nay luận điểm này vẫn giữ nguyên giá trị.

        Xin trân trong giới thiệu với các đồng chí và đông đảo bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN        


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2016, 12:24:50 am

LỜI GIỚI THIỆU

        Thượng tướng Hoàng Minh Thảo thuộc thế hệ những tướng lĩnh đã có mặt và góp phần xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam ngay từ những ngày mới hình thành.

        Khi nói về thế hệ này, tôi luôn nhớ đến câu hỏi mà rất nhiều người trong đó có các đồng nghiệp sử học nước ngoài hỏi về người Anh Cả của quân đội ta là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đó là câu hỏi: Vị Tổng tư lệnh của hai cuộc chiến tranh vệ quốc đánh thắng "hai đế quốc to" được đào tạo từ đâu?

        Câu trả lời không chỉ đến từ một thầy giáo sư trẻ tuổi của Trường tư thục Thăng Long ở Hà Nội mà đến từ mọi người thuộc thế hệ những tướng lĩnh đầu tiên, trong đó có một người "con của một tiểu chủ yêu nước, sau khi bị bọn Pháp lùng bắt đã buộc phải bỏ miền đông Bắc bộ để lên vùng rừng núi Tràng Định - Thất Khê (Lạng Sơn) kiếm kế sinh nhai bằng nghề thợ may" là Hoàng Minh Thảo. Họ là thế hệ chứa chất trong lòng nỗi nhục mất nước, khao khát Tổ quốc được độc lập, tự do và cùng tình nguyện tụ nghĩa dưới ngọn cờ lãnh đạo của người Anh hùng Cứu quốc Hồ Chí Minh. Đó là câu trả lời chung và mỗi người trong số họ tùy theo hoàn cảnh và tài năng đã cống hiến và trưởng thành trong thực tiễn thử thách của Cách mạng.

        Hoàng Minh Thảo đừng là một học trò - hiểu đúng nghĩa đen của chữ - của thày giáo Võ Nguyên Giáp trên ghế Trường Thăng Long (Hà Nội) nổi tiếng, ông tham gia cách mang từ không khí sôi nổi của phong trào Mặt trận Bình dân vào cuối thập kỷ 30, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn cùng một số đồng chí trẻ tuổi vượt biên giới qua Trung Quốc đào tạo quân sự để kháng Nhật từ năm đầu thập kỷ 40; rồi được điều về tăng cường cho chiến khu 3; rồi tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng tại Hải Phòng trước khi Toàn quốc Kháng chiến:..

        Và khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc thắng lợi, ông được giao một trọng trách gắn bó lâu dài với cuộc đời binh nghiệp của mình, đó là tham gia công tác đào tạo của lực lượng vũ trang, bắt đầu từ cương vị hiệu trưởng Trường Quân chính trung cấp trên chiến khu Bắc Sơn lịch sử... cho đến khi được phong quân hàm Thượng tướng, học hàm Giáo sư và vinh danh Nhà giáo Nhân dân gắn với hệ thống đào tạo cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

        Nhưng, cuộc đời của ông không chỉ đứng trên bục giảng mà uy tín học thuật của ông còn được đúc kết từ thực tiễn ác liệt của chiến trường, mà Tây Nguyên là địa danh đã gắn liền với cuộc đời binh nghiệp, ông đã dành tên sách "Chiến đấu ở Tây Nguyên" và hai phân ba số trang hồi ký để viết về chiến trường mang tầm vóc chiến lược này, vừa như một kỷ niệm chinh chiến của một vị tướng cầm quân, vừa là một bản tổng kết nghệ thuật quân sự của một vị tướng - giáo sư cầm bút.

        Đó là phần đóng góp mà ông cho là tâm đắc nhất của đời mình đối với Quân đội và Tổ quốc. Đọc những trang viết của ông, người đọc thấy toát lên tư chất của một của một con người góp phần làm nên lịch sử, hiểu theo cả nghĩa bóng là người chiến sĩ cách mạng và theo cả nghĩa đen là một nhà sử học thực thụ.

        Đến nay, số đông trong họ đã hoàn thành nhiêm vụ và giờ đây một trong những việc làm có ý nghĩa nhất đối với các vị tướng lĩnh thuộc thế hệ "khai quốc” là viết hồi ký. Mỗi cuốn hồi ký của ho là một thiên tiểu thuyết về cuộc đời một con người. Nhưng mỗi cuốn hồi ký ấy cũng là một phần của lịch sử. Lịch sử của một thời đã qua nhưng nó mãi mãi có ý nghĩa với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của mọi thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Hội Khoa học Lịch sử coi đó là một phương thức để bảo tồn ký ức của một "thế hệ vàng" đã làm nên một thời đại của những chiến công hùng vĩ, viết tiếp những trang sử vẻ vang của Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... của tổ tiên.

        Ở nước ta, việc dựng tượng đồng các tướng lĩnh chưa thành một tập quán phổ biến như nhiều quốc gia khác, thì mỗi cuốn hồi ký là một bức tượng gắn vào ký ức các thế hệ hình ảnh những gương mặt cụ thể làm cho lịch sử trở nên không vô nhân xưng và làm cho lịch sử là một tấm gương không chỉ để chiêm ngưỡng mà còn để noi theo.

        Vì lẽ đó tôi trân trọng giới thiệu cuốn hồi ký của Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo, người mà giới sử học luôn coi là một đồng nghiệp lão thành đáng kính.


10 – 2004                 
Dương Trung Quốc           
Tổng thư ký Hội KHLSVN       


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:29 am

PHẦN 1

ĐI THEO CÁCH MẠNG

        Vào năm 1956, nhận lời mời của Đảng ta, hai ông Nông Kỳ Chấn và Phan Toàn Chân từ biên giới Long Châu, Trung Quốc về thăm Hà Nội. Tại một ngôi nhà nằm trên phố Hoàng Diệu, tôi cùng với một vài đồng chí cán bộ khác đã dự bữa cơm thân mật với họ. Trước năm 1945, ông Nông Kỳ Chấn vốn là một lãnh tụ du kích Cộng sản Trung Quốc ở Hạ Đống (Long Châu) Trung Quốc, giáp ranh huyện Tràng Định Lạng Sơn, lại vừa là hương trưởng (Lý trưởng) của chính phủ Tưởng Giới Thạch. Bọn thổ phỉ vì khiếp sợ và khâm phục đã phong cho ông biệt hiệu "Đầu To” (Tài Thầu). Uy danh của ông lừng lẫy một thời. Còn ông Phan Toàn Chân cũng là một lãnh tụ du kích Trung Quốc có uy tín, một cơ sở để anh em Việt Minh ăn ở và hoạt động gây dựng phong trào Việt Minh trước Cách mạng Tháng Tám ở vùng biên giới. Đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Rong cũng quan hệ với khu vực này.

        Một vinh dự đến với chúng tôi là được Bác Hồ đến thăm, Bác không ăn cơm mà chỉ trò chuyện với chúng tôi một lát rồi ra về. Bác Hồ đã từng biết tiếng "Tướng Đầu To". Vì thế mà Bác đến chơi. Trong buổi gặp ấy, Bác nói một câu rất vui với Tài Thầu:

        - Tôi muốn xem đầu chú to như thế nào?

        Bữa cơm hôm ấy diễn ra rất thân mật, gợi lại trong tôi kỷ niệm cuộc đời, của thời thanh niên trong những ngày đầu đi theo cách mạng, những kỷ niệm đó cứ hiện về rất rõ. . .

        Tôi lớn lên ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Cha tôi một tiểu chủ yêu nước, sau khi bị bọn Pháp lùng bắt đã buộc phải rời bỏ miền đồng bằng Bắc Bộ để lên vùng rừng núi Tràng Định - Thất Khê (Lạng Sơn) kiếm kế sinh nhai bằng nghề thợ may.

        Bước ngoặt cuộc đời tôi cũng bắt đầu từ đây. Năm 1935 tôi hoàn thành năm học thứ 6 – năm học cuối cùng (lớp nhất) của trường tiểu học ở thị trấn Thất Khê.

        Ngay từ những năm 1935 - 1936, tôi đã được các đồng chí đảng viên địa phương tuyên truyền giác ngộ về lòng yêu nước. Năm 1937 tôi về Hà Nội theo học tại trường tư thục Thăng Long.

        Lúc bấy giờ ông Hoàng Minh Giám là hiệu trưởng, các thầy dạy học là anh Phạm Văn Đồng, anh Võ Nguyên Giáp, nhà phê bình văn học thầy giáo Đặng Thai Mai. . .

        Ở trường, tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính để giảng dạy và học tập. Điều này khiến cho những người Việt Nam yêu nước, trong đó có nhiều học sinh và ngay cả một số thầy giáo cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Tuy vậy, qua sách báo thời bấy giờ, tiếng Pháp cũng là "chiếc chìa khoá" để mở rộng tầm nhìn ra thế giới.

        Sau thắng lợi của Mặt trận Bình Dân Pháp, phong trào cách mạng ở Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ và ngày càng đi vào chiều sâu. Những thông tin về tình hình chính trị trên thế giới lan nhanh sang thuộc địa Đông Dương - An Nam qua con đường sách báo có tác dụng tích cực trong việc truyền bá những tư tưởng cách mạng tiến bộ từ đây đã kích thích chủ nghĩa yêu nước và ý thức giải phóng dân tộc trong những người yêu nước Việt Nam.

        Thực dân Pháp thấy được nguy cơ này đã ra sức hạn chế lượng sách báo, tài liệu lan tràn trên thị trường. Những chuyện lục soát bắt bớ người đọc "sách cấm" xảy ra như cơm bữa. Khi đó tôi có cho một người bạn mượn cuốn "Sự giãy chết của chủ nghĩa tư bản" của Nhà xuất bản Xã hội Pháp. Người bạn này bị cảnh sát Pháp bắt và đã khai ra chủ nhân của cuốn sách, và tôi cũng bị bắt ngay sau đó. Tôi nhớ là đã bị tạm giam tại một nhà giam trên phố Trần Hưng Đạo - Hà Nội. Lúc đầu bọn Pháp giở trò tra khảo, doạ nạt tôi, nhưng tôi không sợ mà cứ đàng hoàng nói:

        - Tôi thấy sách hay và rẻ thì tôi mua, sách bán đầy ngoài phố ai mua mà chẳng được. Sao các ông không bắt người bán sách mà lại bắt tôi.

        Tên chánh mật thám Pháp thấy tôi nói có lý bèn ghi vào biên bản "Mua sách vì tò mò" giam mấy ngày ăn cơm hẩm và tra khảo qua rồi sau đó phải thả tôi ra. Lần bị Pháp bắt trở thành bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi.

        Vì thế, khi tôi về nghỉ hè ở Thất Khê bọn tri phủ ở đây đã gọi tôi lên để cảnh cáo đe nẹt tôi vì đã từng tạm giam ở Hà Nội với tội danh "Tham gia hoạt động chống đối”. Bố tôi thấy vậy liền giữ tôi ở nhà không cho xuống Hà Nội học nữa. Tuy vậy tôi vẫn không từ bỏ con đường cách mạng của mình, mà tiếp tục tham gia các hoạt động của Đảng bộ huyện Tràng Định.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2016, 12:32:52 am

        Năm 1940, Nhật đánh vào Lạng Sơn, tôi cùng một số anh em thanh niên ở địa phương dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng tham gia phong trào chống ảnh hưởng của Cường Để (tay sai của Nhật). Lúc này, có nhiều người lầm tưởng việc Nhật vào nước ta là để giúp dân ta thoát khỏi ách áp bức của thực dân Pháp, giành lại quyền độc lập cho dân tộc, nên họ đã ủng hộ Cường Để, tham gia các tổ chức Phục quốc đi theo Nhật. Đảng bộ địa phương đã kịp thời tổ chức lực lượng quần chúng, lãnh đạo một số cuộc mít tinh để chống lại Cường Để. Lần đầu tiên, một thanh niên yêu nước như tôi được tham gia cuộc mít tinh mang tính chính trị như vậy. Hoạt động thực tiễn đã giác ngộ chúng tôi rất nhiều về lý tưởng cách mạng, bước đường cách mạng. Đó là con đường thật không bằng phẳng; nhiều chông gai, nhưng chỉ có đấu tranh cách mạng mới đem lại tự do hạnh phúc, cơm no, áo ấm cho nhân dân.

        Được hoà vào dòng người đông đảo của những cuộc mít tinh lần ấy, trong trái tim tôi dòng máu cách mạng như được tiếp thêm không bao giờ cạn để chảy mãi chảy mãi cho đến hôm nay. Chính từ nhận thức đó, mà sau các cuộc mít tinh, số lớn anh em thanh niên yêu nước, căm ghét chủ nghĩa thực dân càng quyết tâm đi theo cách mạng. Khi Nhật điều đình lại với Pháp và thực dân Pháp trở lại khủng bố phong trào cách mạng nước ta, một số anh em phục quốc thì đi theo Hoàng Lương - lãnh tụ của tổ chức Phục Quốc thân Nhật sang Trung Quốc, còn một số anh em chúng tôi đi theo đường cơ sở của Đảng ta sang vùng Hạ Đống (Long Châu - Trung Quốc) để dựa vào cơ sở cách mạng ở biên giới tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia phong trào chống Nhật và Pháp.

        Năm 1941, Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu nên phải nhanh chóng hình thành các tổ chức Việt Minh để đẩy phong trào cách mạng ở trong nước lên cao. Đồng thời với chủ trương đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn một số anh em thanh niên yêu nước đưa sang Trung Quốc để học tập quân sự nhằm đào tạo những cán bộ chỉ huy quân sự sau này và tham gia chống Nhật. Chủ trương đó phù hợp với quyền lợi của quốc dân Đảng Trung Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu. Với ý đồ vừa hợp tác vừa lợi dụng lực lượng Việt Nam để đánh Nhật nên chúng tiếp nhận chúng tôi vào học ở trường quân sự và tham gia đánh Nhật. Lúc đó, Tưởng tổ chức 2 trường: một trường dành riêng cho số anh em theo tổ chức Phục Quốc, một trường dành cho anh em Việt Minh. Tuy nhiên, trong trường của chúng tôi học cũng có cả một số ít anh em Phục Quốc và cả một số người Hoa Kiều ở Đông Nam Á. Điều đó không phải là vô cớ, mà chính là quân Tưởng đã cài người của họ vào hàng ngũ của ta để theo dõi, giám sát và cung cấp các tin tức cho chúng. Chúng tôi được huấn luyện cả quân sự, chính trị và tình báo. Thời gian đầu vì chúng tôi chưa thạo tiếng Trung Quốc nên họ đã cử một số người Việt Nam đi làm phiên dịch và tuyên truyền đường lối của Tưởng. Trong số họ tôi còn nhớ có tên Trần Báo.

        Cùng học với tôi lúc bấy giờ có anh Hoàng Văn Thái, anh Đàm Quang Trung, anh Vũ Nam Long, anh Thanh Phong, anh Vũ Lập và một số anh em khác. Lúc này ở Trung Quốc ta chưa có tổ chức Đảng, nên anh em chúng tôi thường sinh hoạt riêng, gọi là "sinh hoạt Việt Minh". Có một điều thật lý thú, anh em chúng tôi sống và ở chung với kẻ thù, bên ngoài thì tỏ ra bình thường và có vẻ cùng chung một mục đích còn bên trong thì hoàn toàn khác. Ban đêm, khi anh em chúng tôi sinh hoạt Việt Minh thì nhà trường đưa cả người của họ trà trộn vào, chúng tôi rất cảnh giác nên phát hiện được và đã tìm mọi biện pháp để giữ vững lập trường quan điểm lãnh đạo của Đảng ta, đánh lạc hướng chúng, giữ bí mật nội dung sinh hoạt. Có lúc thì chúng tôi thay đổi địa điểm sinh hoạt, có lúc thì chúng tôi thay đổi nội dung sinh hoạt (chủ yếu sinh hoạt theo nội dung học tập).

        Thật khó cắt nghĩa được đâu là trận tuyến đâu là ranh giới khác biệt. Chúng tôi hoàn toàn "độc lập tác chiến”, vừa học vừa rèn luyện ngay trong lòng người bạn hờ. Tạm thời hoà hoãn với nhau để đạt mục đích riêng của mình, ta và bạn hờ đều có chung ý định như vậy. Thực chất đó chỉ là sự hoà hoãn tạm thời với nhau về chiến thuật. Sau một thời gian huấn luyện ở Điền Đông Quảng Tây chúng tôi lại được chuyển về Liễu Châu để tiếp tục học chương trình quân sự, sau đó lại chuyển về Nam Ninh (Quảng Tây) theo học lớp chiến thuật và kỹ thuật biệt động quân. Có một điều đặc biệt là lớp này do sĩ quan Mỹ trực tiếp huấn luyện.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2016, 12:33:27 am

        Những năm tháng học tập ở nước ngoài, chúng tôi học được rất nhiều điều bổ ích và lý thú. Đó không chỉ là những kiến thức quân sự, mà chính là từ những thanh niên mới lớn, bồng bột, trẻ trung, vô tư, sôi nổi, năm tháng ấy đã giúp chúng tôi giác ngộ được nhận thức của mình, ý thức được mình là người dân mất nước, ý thức được cuộc đời cách mạng với những khó khăn hy sinh không sao lường trước. Tất cả anh em chúng tôi chỉ mong đem những kiến thức đã học được để về phục vụ Tổ quốc, đấu tranh giải phóng dân tộc.

        Trong thời kỳ học tập ở Trung Quốc, chúng tôi phải đối phó với nhiều lực lượng khác nhau, như Quốc dân Đảng Trung Quốc, Hoa Kiều, Phục quốc ngoài ra còn phải đối phó với cả quốc dân Đảng Việt Nam. Đoàn học sinh Việt Minh lúc đó có khoảng 30 người. Đảng ta đã cử anh Hoàng Văn Thái làm lãnh đạo. Ban lãnh đạo lúc ấy gồm có anh Hoàng Văn Thái, anh Thanh Phong và một vài cán bộ khác. Nội dung học tập của chúng tôi chủ yếu là học tập quân sự, bên cạnh đó có học một số bài chính trị. Nhà trường vẫn thường xuyên chú ý theo dõi anh em Việt Minh chúng tôi bằng cách dùng người Hoa kiều nắm tình hình học sinh Việt Minh rồi báo cáo với ban lãnh đạo nhà trường. Mặc dù phải học tập trong hoàn cảnh phức tạp như thế nhưng anh em Việt Minh vẫn tìm mọi biện pháp linh hoạt để giữ vững sinh hoạt Việt Minh, giữ vững đoàn kết, tranh thủ những anh em tốt trong tổ chức Phục quốc.

        Đối với tổ chức quốc dân Đảng Việt Nam do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo, chúng tôi cũng chỉ tạo mối quan hệ xã giao, nhưng thực chất là kiên quyết không hợp tác. Khi thành lập tổ chức cách mạng Đồng minh hội do quốc dân Đảng Việt Nam lãnh đạo, cụ Nguyễn Hải Thần lúc bấy giờ được bầu làm chủ tịch, nhưng thực chất chỉ làm bung xung, quyền bính đều nằm trong tay Vũ Hồng Khanh. Cụ Nguyễn Hải Thần là một người không có bản lĩnh. Tuy nhiên đối với anh em Việt Minh, Cụ đối đãi không có gì ác cảm lắm, nên anh em chúng tôi vẫn thường ủng hộ vật chất mỗi khi hoàn cảnh gia đình cụ gặp nhiều khó khăn cũng có lẽ chính vì thế mà có lần Việt Minh mời cụ đi gặp Đại tướng Trương Phát Khuê ở đại bản doanh của Đệ tứ chiến khu thì Cụ cũng đi. Do có cụ đi cùng mà những kiến nghị của chúng tôi về một số vấn đề đối với tướng Khuê có thể được giải quyết thuận lợi hơn.

        Như vậy, đối với Cụ Nguyễn Hải Thần, ngoài hạn chế, còn có ít nhiều thế mạnh, mà chúng ta đã kịp thời phát hiện và tranh thủ, cốt sao có lợi cho cách mạng là được. Cái khôn khéo của người làm cách mạng là phải biết tận dụng mọi khả năng cả khách quan và chủ quan, cả của ta và phía địch để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động thực tiễn.

        Tổ chức quốc dân Đảng cũng không chịu ngồi yên, khi tham gia tổ chức Cách mạng đồng minh hội, họ đã tổ chức vận động tuyên truyền anh em Việt Minh đi theo họ. Song mọi biện pháp của họ đều không thành, vì một phần chủ yếu là chúng tôi đã được giác ngộ cách mạng, có quan điểm lập trường Việt Minh vững vàng. Hơn nữa, những lần chúng đến, Ban lãnh đạo đã chủ trương cho anh em Việt Minh toả đi chơi ở nhiều nơi khác nhau, không đồng ý tập trung anh em Việt Minh để cho quốc dân Đảng tuyên truyền.

        Hoạt động thực tiễn phải rất linh hoạt, nhạy bén, cần phải tránh tư tưởng cứng nhắc. Chúng tôi đã hiểu được điều đó, nên để giữ được mối quan hệ bình thường với nhà trường và Đệ tứ chiến khu, khi anh em chúng tôi còn đang học, tránh được những mâu thuẫn không cần thiết, tránh những khó khăn khách quan nên chúng tôi có cử anh Nguyễn Thanh Đồng, đại diện cho anh em Việt Minh tham gia tổ chức cách mạng đồng minh Hội. Đặc biệt ở trong nước, Đảng ta cũng cử đồng chí Phạm Việt Tử ra hoạt động ở Trung Quốc và tham gia tổ chức này, anh Việt Tử nắm vững quan điểm Việt Minh, có trình độ lý luận vì thế anh thường tranh luận một cách sôi nổi, với những người trong tổ chức Quốc dân Đảng và Đồng minh Hội, sau cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, anh được cấp trên giao nhiệm vụ phụ trách công tác hậu cần của Bộ Quốc phòng. Mục đích của đồng chí Việt Tử tham gia chính là để nắm vững nội dung hoạt động và hạn chế những hoạt động mang tính chất phản động của họ. Anh Việt Tử là một cán bộ rất hăng hái hoạt động, và hoạt động có hiệu quả.

        Như trên đã nói, mặc dù chủ tịch Hội là Nguyễn Hải Thần, nhưng thực chất cách mạng đồng minh Hội là do Vũ Hồng Khanh nắm quyền lãnh đạo.

        Vũ Hồng Khanh là lãnh tụ quốc dân Đảng Việt Nam ở Hải ngoại Trung Quốc. Hắn có vẻ mặt kiên nghị, nhưng rất nham hiểm, ăn mặc cũng xuềnh xoàng. Trái lại, Nghiêm Kế Tổ, cấp phó của Vũ Hồng Khanh lại là con người trình độ chính trị non yếu nhưng lúc nào cũng ăn mặc bảnh bao và khoác bên ngoài một dáng vẻ ăn chơi. Chẳng thế mà nếu có tổ chức cuộc tiếp xúc gì với anh em Việt Minh thì Nghiêm Kế Tổ chỉ nói được vài câu là Khanh đã phải xen vào nói đỡ cho hắn, kẻo lại bị nói hớ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2016, 12:51:31 am

        Chỉ cần thông qua một vài nhân vật chính trong tổ chức quốc dân Đảng và cách mạng đồng minh Hội, cũng đủ phác hoạ được diện mạo chân dung và đánh giá được vai trò, uy tín, ảnh hưởng của các tổ chức này đối với quần chúng nhân dân như thế nào rồi.

        Mặc dù, lúc bấy giờ, trong hoàn cảnh phải đối phó với nhiều lực lượng như thế, song anh em Việt Minh không những vẫn vững vàng, giữ vững đội ngũ đấu tranh, mà còn tuyên truyền, giác ngộ, vận động được một số anh em Phục Quốc đi theo mình nữa.

        Mọi hoạt động của chúng tôi có đúng chủ trương của Đảng, của cách mạng hay không chính là nhờ sự chỉ đạo của trong nước thông qua đường dây liên lạc bí mật. Khi còn đang học ở nước ngoài, anh em Việt Minh vẫn thường xuyên liên lạc với một số cán bộ trong nước được phái ra nước ngoài hoạt động, liên lạc với anh em ở trong trường học.

        Có một hôm, tôi được thi trước, sau khi thi xong, tôi xin phép được ra ngoài phố và mục đích là để bắt liên lạc với anh em ta. Tôi vừa gặp và bắt được liên lạc với một đồng chí của ta xong thì bỗng lúc đó chúng tôi phát hiện được từ đằng xa có ông Tổng đội phó, ông này vốn là người đã từng giảng cho anh em Việt Minh chúng tôi một số bài về kỹ thuật tình báo. Tôi và anh bạn thấy cạnh đường có một quán nước, chúng tôi vội rẽ nhanh vào quán nước tránh mặt ở đó, để tránh sự nghi ngờ và theo dõi của ông Tổng đội phó này. Cứ mỗi lần như thế, chúng tôi lại tích luỹ được thêm rất nhiều kinh nghiệm bổ ích và lý thú trong hoạt động cách mạng.

        Thời học sinh của chúng tôi qua đi rất nhanh, nhưng những kỷ niệm của năm tháng đó chẳng hề phai mờ trong tôi. Nói cho thật công bằng thì trong số anh em Phục Quốc lúc bấy giờ cũng có người xấu và người tốt. Bằng hành động và những hiểu biết của mình, chúng tôi đã tuyên truyền được đến họ những tình cảm cách mạng, lòng yêu nước chân chính, ý thức phân biệt bạn thù, vì thế trong số anh em Phục Quốc đó lúc bấy giờ có anh Hán Văn Phục và một số anh chị em khác, được giác ngộ đã đi theo Việt Minh làm cách mạng, đã từng mang cấp quân hàm trung tá, cán bộ của quân đội ta, nay anh đang nghỉ hưu tại Hà Nội. Anh Hán Văn Phục đã chọn cho mình một con đường chân chính như thế đấy. Song cũng có những kẻ thì bám gót tay sai đến cùng.

        Cùng chung một ngôn ngữ trong lớp học, cùng chịu ảnh hưởng chính trị chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và dưới quyền kiểm soát khống chế của Tưởng, nhưng anh em Việt Minh chúng tôi được sự dìu dắt của các đồng chí đảng viên như anh Hoàng Văn Thái nên vẫn giữ vững tư tưởng cách mạng của Đảng ta. Lúc ấy, nỗi khao khát nhất của chúng tôi là được hoạt động thực tiễn, được cầm súng mặt đối mặt với quân thù, tình cảm luôn luôn hướng về Tổ quốc thân yêu của mình.

        Và điều đó đã đến, năm 1943, bọn Tưởng cử một số anh em chúng tôi về hoạt động ở biên giới Long Châu, Bằng Tường giáp với Văn Lãng, Na Sầm, Tràng Định, Thất Khê. Đó là vùng Hạ Đống (Long Châu) giáp với Tràng Định, Thất Khê, Lạng Sơn của ta. Nơi đây, cơ sở du kích của Đảng Cộng sản Trung Quốc hoạt động rất mạnh. Từ đây, các đồng chí đảng viên của ta đã in truyền đơn để đem về trong nước. Như con chim được sổ lồng, chúng tôi tham gia hoạt động cách mạng rất sôi nổi, hăng hái. Có điều rất thuận lợi là tôi được gặp anh Hoàng Sâm và anh Bằng Giang, anh em Việt Minh chúng tôi ăn ở với các anh như trong cơ sở du kích của mình. Anh Hoàng Sâm có dáng người oai phong, đi đâu cũng có khẩu súng Pạc hoọc kè kè bên hông. Do tác phong sinh hoạt giản dị và chịu khó bám dân của mình, cuộc sống của anh sớm hoà nhập với cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng biên giới Trung Quốc, anh đã từng ngồi uống rượu và nói chuyện với bọn thổ phỉ..., vì thế tuy là người gốc Quảng Bình mà anh Hoàng Sâm lại là người Việt Nam uy tín nhất vùng này. Anh là một người trung thực, hăng hái, dũng cảm, anh em ai cũng quý mến. Chúng tôi đi đến những nơi nào mà đã được anh giới thiệu trước thì được người Trung Quốc tiếp đãi rất tốt. Có một lần chúng tôi hành quân từ Tịnh Tây về Cót Mà (một bản ở biên giới Trung Quốc vừa là cơ sở của du kích cộng sản Trung Quốc, vừa là cơ sở Việt Minh, cách Pắc Bó chừng 1km). Từ huyện Tịnh Tây về Cót Mà (biên giới Trung Quốc giáp với Pắc Bó ) phải đi qua một phố nhỏ mang tên Dùng lầu. Đến cơ sở của anh Hoàng Sâm và anh Lê Quảng Ba, tôi tự xưng là em các ông thế là được gia đình người Trung Quốc đó đối đãi rất niềm nở. Nhân đây cũng phải nói thêm về phong tục người Trung Quốc, khi có khách đến nhà buổi chiều, thì chủ nhà cho con bê ra một chậu nước nóng để khách rửa mặt, sau đó khi khách dùng xong họ lại trút số nước đó sang một chiếc chậu gỗ để khách ngâm chân. Nếu ai được tiếp đón như vậy mới thật là khách quý. Chúng tôi thầm nghĩ anh Hoàng Sâm thật sự có uy tín không chỉ đối với đồng bào ta mà đối với cả đồng bào Trung Quốc. Do một vài sơ suất của anh em ta, có nhiều lần bọn thổ phỉ gây rắc rối cho anh em Việt Minh, anh Hoàng Sâm nghe tin đem thư của Tài Thầu đến là mọi việc đều được giải quyết ổn thoả. Bọn thổ phỉ đã phải khiếp sợ và kính nể đặt cho anh cái tên là con "gấu núi" Trần Sơn Hùng. Việc đi lại và hoạt động của chúng tôi gặp nhiều thuận lợi. Khi hoạt động ở những địa bàn phức tạp hay thành phố thị trấn, chúng tôi thường mặc quân phục và mang vũ khí như quân Tưởng, trên ngực có đeo phù hiệu biệt động quân, thế là chẳng mấy ai dám hỏi và mấy anh em Việt Minh đi ở biên giới mà thổ phỉ không làm gì, vẫn an toàn. Khi về tới khu du kích, vào sinh hoạt trong dân thì chúng tôi lại ăn mặc thường dân.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2016, 12:53:29 am

        Ở vùng này có 3 người nổi tiếng mà tôi đã có lần nhắc đến. Chúng tôi đã được làm quen và sau này là bạn thân, đó là ông Nông Kỳ Chấn với cái tên Tài Thầu (đầu to) như chuyện kể vào năm 1956 lần gặp Bác, ông vừa là Lý trưởng cho Tưởng vừa là lãnh tụ du kích ở địa phương. Tài Thầu dáng người to lớn, mặt mũi phương phi, quắc thước, tính tình ngổ ngáo, ngang tàng. Đó là một con người vừa có uy, vừa có danh, nổi tiếng khắp vùng mà cả bọn Tưởng và bọn thổ phỉ đều phải kính nể. Nhờ có mối thiện cảm với chúng tôi, đi đâu, làm gì, nếu cần là chúng tôi chỉ cần tự giới thiệu: tao là em Tài Thầu, Phan Toàn Chân đây thì ai cũng phải kiêng sợ, và bọn thổ phỉ không dám quấy rầy. Tài Thầu và Phan Toàn Chân cũng có gia đình vợ con ở ngay trong vùng, quan hệ của chúng tôi với hai ông rất thân thiết, tự nhiên như anh em trong nhà.

        Chúng tôi đi lại hoạt động nhiều khi đói thì lại đến nhà Tài Thầu và Phan Toàn Chân để lục xem có gì ăn được thì ăn, tôi vẫn thường gọi vợ các ông là thím. Ở con người Tài Thầu nổi lên mấy điểm mạnh mà chúng tôi đều tận dụng được, vừa là lãnh tụ địa phương vừa là chỉ huy du kích. Uy và quyền đều thống nhất trong con người ấy ở một vùng biên giới rộng lớn. Xét cả hai góc độ, về xã hội học: phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo và quyền lực hành chính: cai quản một hương (xã) đều có thể thấy con người này có đầy đủ khả năng để giúp anh em Việt Minh tạo địa bàn xây dựng phong trào Việt Minh. Chính nhà ông là một trong những cơ sở để anh em Việt Minh in ấn truyền đơn chuyển về trong nước.

        Một người nữa là ông Hẻn Máy với đôi mắt gần loà mà tấm lòng rất trong sáng, ông có người em trai là tướng cướp. Do có cảm tình với anh em Việt Minh chúng tôi mà nhiều lần đến gặp ông chúng tôi đã đòi lại được tài sản cho dân bị em ông cướp bóc. Sau cách mạng tháng Tám thành công, anh em ở Tràng Định đã đưa ông Hẻn Máy sang đất ta cưới vợ cho ông để rồi sinh sống luôn ở đó. Những người bạn mà chúng tôi còn nhớ mãi như ông Chu Chỉ Hồng, ông Phan Toàn Chân cũng là những người có tiếng trong vùng này, họ đối đãi với anh em Việt Minh rất tốt. Khác với ông Tài Thầu, Phan Toàn Chân có dáng người thấp bé, béo mập, ít nói mà tính rất hiền, ông là lão thành cách mạng đã từng tham gia khởi nghĩa ở Long Châu. Bằng đạo đức của mình ông đã thu phục được nhân tâm, ai ai cũng quý mến ông.

        Thật là có lỗi nếu quên không nhắc đến cụ Bùi Ngọc Thành - người có gốc Nghệ Tĩnh. Cụ là trạm liên lạc của ta với ông Tài Thầu và Phan Toàn Chân ở biên giới Hạ Đông. Cụ là một người rất tận tuỵ với công việc cách mạng. Việc gì của Việt Minh dù khó khăn đến mấy, cụ đều không quản tuổi cao, sức yếu, đều nhiệt tình đi giúp đỡ. Với nghề thợ may kiếm sống thanh bạch giúp đỡ nhân dân địa phương, hai ông Tài Thầu và Phan Toàn Chân rất quý mến, thương yêu và giúp đỡ Cụ trong cuộc sống. Sau cách mạng tháng 8 chính quyền ta đón cụ về Hà Nội, bố trí cho Cụ sinh sống tại khu tập thể ở Học viện Nguyễn Ái Quốc.

        Nhờ có phương pháp hoạt động Việt Minh thích hợp, được sự che chở và đùm bọc của nhân dân, có chỗ dựa đáng tin cậy ngay trong cơ sở cách mạng nên chúng tôi ở và hoạt động trong vùng khá thuận lợi. Ở biên giới Trung Quốc, bọn Tưởng bỏ ngỏ, thỉnh thoảng tổ chức các cuộc càn quét cỡ đại đội. Ở biên giới Việt Nam, bọn Pháp cũng phải bỏ ngỏ, thỉnh thoảng tổ chức càn quét cấp đại đội, những cuộc càn quét đó tuy đông người nhưng rồi sau đó chúng lại rút lui chứ không dám đóng giữ. Từ đó, nơi đây trở thành bàn đạp để ta xây dựng cơ sở du kích, cơ sở cách mạng rất tốt để rồi phát triển rộng rãi các nơi khác. Thời kỳ này hoạt động của chúng tôi nằm giữa nhiều thế lực. Ở bên đất Trung Quốc có 3 thế lực Tưởng, thổ phỉ và du kích cộng sản Trung Quốc. Còn ở trong nước và nhân dân, lính dõng và Pháp. Như vậy ở 2 bên biên giới hình thành 3 lực lượng chủ yếu tự do hoạt động: du kích Trung Quốc, thổ phỉ và Việt Minh mà bọn Pháp và bọn Tưởng không sao kiểm soát nổi. Trong những năm 1943 - 1944 ở biên giới hình thành 2 chính quyền song song cùng tồn tại nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền Pháp còn các vùng nông thôn cách thị trấn 2-3km thì lại nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền Việt Minh. Ta quy định những vùng nào có cơ sở Việt Minh thì bọn thổ phỉ không được cướp phá, tuy nhiên cũng có lần chúng vẫn cướp bóc nhưng ta lại sang biên giới Trung Quốc đòi lại được. Hoàn cảnh trên đã cắt nghĩa cho những khó khăn và thuận lợi mà trong quá trình hoạt động chúng tôi gặp phải. Hoạt động cách mạng đã giúp cho chúng tôi có được những bài học hết sức thấm thía, đó là tính sáng tạo trong việc phân hoá hàng ngũ kẻ thù, triệt để lợi dụng mâu thuẫn của chúng để cô lập chúng giành thuận lợi về mình. Vì thế, trong suốt thời kỳ này hoạt động Việt Minh phát triển rất nhanh chóng và gặp nhiều thuận lợi.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2016, 12:54:04 am

        Tuy nhiên thời kỳ này mới chỉ là thời kỳ hoạt động mang tính chất tự vệ, gây dựng cơ sở chính trị là trọng tâm, vũ trang chỉ là hỗ trợ, xây dựng lực lượng quần chúng nhằm chống lại bọn thổ phỉ và lính dõng, uy hiếp bọn lý trưởng, chánh tổng bảo vệ nhân dân. Thử thách lớn nhất đối với anh em Việt Minh chúng tôi lúc này là phải xây dựng được cơ sở cách mạng trong nhân dân, mở rộng uy tín và ảnh hưởng của phong trào Việt Minh, tranh thủ lính dõng và làm công tác binh vận trong lính khố xanh, khố đỏ giác ngộ nhân dân ý thức đấu tranh giải phóng giành độc lập dân tộc. Đó chỉ là những bước đi chập chững đầu tiên của những thanh niên yêu nước đang tìm đến với cách mạng, ấp ủ những hoài bão của tuổi trẻ trong một bối cảnh lịch sử hết sức phức tạp nhưng cũng rất nhiều thuận lợi rất hào hùng của cách mạng nước ta.

        Giữa lý luận và thực tiễn có một khoảng cách rất khắc nghiệt, có hoạt động thực tiễn chúng tôi mới thấu hiểu điều đó. Nhân dân nhìn chung là tốt nhưng không phải là tất cả, nên rất cần đến sự giác ngộ của Đảng và Việt Minh. Nhân dân thiểu số là những người có tính vị tha, tính cộng đồng cao, vô tư không tư lợi, trung thực rất thuần phác nên cách mạng bén rễ trong họ rất nhanh và xây dựng sức mạnh trong nhân dân cũng rất nhanh. Họ là những người có bản chất rất tốt, rất ủng hộ cách mạng, đi theo cách mạng đến cùng, vì thế họ có tinh thần chiến đấu rất cao, chiến đấu rất dũng cảm chống kẻ thù thực dân xâm lược Pháp, họ một lòng tin tưởng vào Việt Minh đi theo Việt Minh, tham gia Việt Minh, tham gia du kích. Nhờ nhận thức rõ được thế mạnh đó mà chúng tôi đã phát triển được phong trào Việt Minh ở vùng các dân tộc thiểu số. Chẳng thế mà, tổng đoàn trưởng Choảng ở bản Nà Phiềng đã từng là nơi chúng tôi mở lớp huấn luyện Việt Minh ngay ở nhà ông và đông đảo anh em lính dõng sau này cũng đi theo Việt Minh.

        Dân tộc Choang (Trung Quốc) và dân tộc Việt, Tày ở hai bên biên giới lúc đó là có quan hệ huyết thống, nên cuộc sống của họ rất thân thuộc và đoàn kết. Họ am hiểu nhau tường tận về cả phong tục, tập quán và ngôn ngữ. Hai dân tộc đi lại với nhau rất chân tình tốt đẹp. Vì thế nếu có chuyện gì từ ma chay, cưới xin hay giỗ tết, thì trong những ngày vui buồn đó, anh em Việt Minh, du kích được tin lại xách súng sang đất Trung Quốc để dự với họ.

        Phải có dân tốt, phải có chỗ dựa tin cậy thì phong trào cách mạng mới nhen nhóm, tồn tại và phát triển được. Đã một ai trong số chúng tôi lúc bấy giờ dám nghĩ rằng mình đang là những người bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ, bằng dòng máu nóng của trái tim mình nhen nhóm ngọn lửa phong trào cách mạng ở một vùng rừng núi biên giới xa xôi hẻo lánh của Tổ quốc.

        Và lẽ đương nhiên là chúng tôi đã đến với cách mạng từ buổi ấy.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 05:23:19 pm
         
PHẦN 2

NHỚ NGÀY GẶP BÁC HỒ Ở TRUNG QUỐC

        Nếu ai đó trong chúng ta đã được gặp Bác Hồ, dù ít hay nhiều đều đọng lại trong mình một sự hiểu biết mới, một kỷ niệm sâu sắc nhất. Trong đời mình, thật may mắn tôi cũng đã từng được gặp Bác Hồ, khi Người đang ở Trung Quốc, đó là một kỷ niệm mà tôi không thể nào quên.

        Vào mùa Hè năm 1944, sau tốt nghiệp trường quân sự ở Liễu Châu (Trung Quốc), đại bộ phận đoàn học sinh quân sự Việt Minh chúng tôi được chuyển về Nam Ninh dự một lớp bổ túc về kỹ thuật và chiến thuật biệt động quân do chuyên gia Mỹ huấn luyện (Trung Quốc và Mỹ thuộc phe Đồng Minh trong chiến tranh thế giới thứ hai). Trong đó có tôi cùng các anh Hoàng Văn Thái, Thanh Phong, Đàm Quang Trung, Nam Long, Hán Ninh và một số đồng chí khác. Một số khác học về thông tin như anh Đông Tùng, Lưu Minh Đức được Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu (Trung Quốc) cử về trong tổ vô tuyến điện ở Bằng Tường. Chỉ có anh Thanh Đồng và Hoàng Điền còn ở lại Liễu Châu để giữ mối liên hệ với Bác Hồ. Lúc bấy giờ, Bác Hồ bị giam giữ trong doanh trại của Tướng Trương Phát Khuê. Cụ vẫn được phép đi tắm ở một cái hồ trong khu vực doanh trại. Và mỗi lần đi qua nơi ở của tướng Khuê, tướng Khuê vẫn rất kính trọng chào cụ. Trong thời gian học ở đó, tôi cũng có lần đến đó, nhưng chỉ có anh Hoàng Điền là có dịp gặp cụ. Sau khi mới ra khỏi nhà tù Liễu Châu (khoảng giữa năm 1943) được ít lâu, trước những biến động của tình hình thế giới, Bác chủ trương về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

        Tướng Trương Phát Khuê Tư lệnh Đệ Tứ chiến khu nhất trí để Bác về Việt Nam. Trên đường về nước, Bác qua Nam Ninh, nơi chúng tôi đang học tập và Bác có gặp gỡ anh em chúng tôi.

        Trong buổi gặp đó, Bác nói chuyện với anh em chúng tôi về tình hình thế giới, Bác chỉ cho chúng tôi thấy rằng: Hồng quân Liên Xô đang thắng lớn, quân Đồng minh cũng đang thắng ở cả chiến trường Châu Âu và Thái Bình Dương. Vì vậy mà tình thế cách mạng ở nước ta cũng đang chuyển biến mạnh. Đó là thời cơ cách mạng, cần phải nhanh chóng đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, tích cực mở rộng đấu tranh vũ trang bằng các hoạt động du kích ở trong nước. Bác động viên anh em chúng tôi chuẩn bị tinh thần, tư tưởng để về nước tham gia hoạt động vũ trang. Bác dặn dò chúng tôi phải hết sức chú ý vấn đề đoàn kết thương yêu gắn bó với nhau, và chịu khó học tập để đem kiến thức về phục vụ Tổ quốc. Phải tuân thủ kỷ luật quân đội của Trung Quốc và đoàn kết với nhân dân Trung Quốc.

        Sau đó, Bác còn cho chúng tôi biết: khi ở Liễu Châu, Bác đã gặp và trao đổi với tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu về việc cho anh em học sinh quân sự Việt Minh về nước để tham gia chiến đấu chống Nhật. Ý kiến của Bác phù hợp với chủ trương của Trung Quốc (chính quyền Tưởng Giới Thạch) là lợi dụng lực lượng cách mạng Việt Nam để hợp tác đánh Nhật nên được tướng Khuê chấp nhận. Nhờ đó một số anh em học sinh quân sự Việt Minh của ta gửi vào huấn luyện đang đi chiến đấu chống Nhật ở Trung Quốc cũng được rút về tập trung ở Liễu Châu để chuẩn bị về nước, trong số đó có anh Vũ Trường Khê.

        Còn ở Nam Ninh, nơi mà anh em học sinh quân sự Việt Minh đang học, nằm trong biên chế tổ chức của tướng Từ Quang Anh - chỉ huy trưởng biệt động quân. Vì vậy nhân chuyến đi này Bác muốn gặp để tác động thêm tướng Từ Quang Anh, như thế sẽ thuận lợi hơn cho việc về nước sớm của anh em chúng tôi. Bác bảo: "Bây giờ Bác cần một đồng chí dẫn Bác đi gặp tướng Từ Quang Anh". Vinh dự đó may mắn đến với tôi khi đoàn học sinh quân sự Việt Minh cử tôi đưa Bác đi. Trên đường đến sở chỉ huy của tướng Từ, lúc đó tôi và Bác cũng đã đói, tôi nảy ra ý định nhân dịp này muốn "bồi dưỡng” Bác một bữa "khá khá". Hồi đó tuy là học sinh nhưng cũng có phụ cấp do về dự lớp huấn luyện Trung Mỹ, nên tôi ngỏ lời mời Bác vào tiệm ăn món mỳ vằn thắn, sau đó sẽ tráng miệng bằng món rượu nếp đường trứng gà (tiếng Quảng Tây gọi là: thìm chẩu cáy tàn). Bởi thấy Bác vừa phải trải qua chặng đường dài hành quân từ Liễu Châu về Nam Ninh, trông người Bác còn gầy và hơi xanh. Bác ngăn tôi và bảo rằng: "Bây giờ ta phải tiết kiệm, dùng thế thì sang quá. Thôi được Bác cháu ta sẽ đi ăn cháo bình dân vậy". Tôi cùng Bác vào tiệm bình dân gần đó gọi món cháo quẩy. Thấy Bác ăn ngon miệng và vui vẻ tôi rất mừng, nhưng cũng vẫn băn khoăn vì thấy nó đạm bạc quá. Càng băn khoăn hơn nữa là sau đó chính Bác lại thanh toán với nhà hàng cho tôi. Kỷ niệm sâu sắc này mỗi khi nhớ đến Bác như nhớ đến một người cha hiền từ, độ lượng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 05:23:53 pm

        Dù chỉ là câu chuyện về bữa ăn, đơn giản vậy thôi mà tôi cũng đã học được ở Bác một đức tính cao quý - ý thức tiết kiệm và tác phong sinh hoạt giản dị của người cán bộ cách mạng, và còn hiểu thêm được tính chủ động, tự chủ không để ai điều khiển được Bác.

        Trên đường về, Bác có hỏi thêm tôi về tình hình biên giới Trung Việt để chuẩn bị tiếp cho những chặng đường về nước sắp tới của Bác. Cũng may là tôi lại thông thạo vùng này. Tôi báo cáo với Bác có hai tuyến đường đi từ Nam Ninh để về tới cơ sở cách mạng ở trong nước: Một đường đi tới Long Châu, ở đó là cơ sở cách mạng của đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Sâm, Hồ Đức Thành. Đó là gia đình ông Nông Kỳ Chấn (Tài Thầu). Ông Nông Kỳ Chấn vốn là đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc bề ngoài thì làm hương trưởng cho Tưởng nhưng bên trong có trong tay hàng trăm du kích vũ trang thường xuyên giúp đỡ, cưu mang cho cán bộ cách mạng Việt Nam. Một con đường nữa đi qua Tịnh Tây qua Dùng Lầu đến Cót Mà là căn cứ cách mạng của anh Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Từ Cót Mà đến Pắc Bó chừng vài km, tới đây như đã về nhà. (sau này tôi mới được biết Bác đã đi theo đường Long Châu, qua cơ sở ông Nông Kỳ Chấn và có lưu lại đó ít ngày).

        Tôi còn được thấy Bác là người rất thông thạo giao tiếp và có quyết tâm thực hiện ý định của mình. Nên đến đâu Bác cũng có thể gặp các nhà chức trách và tướng lĩnh Trung Quốc để thuyết phục họ.

        Xong công việc, Bác về nước trước chúng tôi, trước khi ra đi Bác ân cần dặn dò chúng tôi: " Các đồng chí phải tích cực vận động tất cả các anh em Việt Minh và tất cả anh em Phục quốc nữa về nước để tham gia phong trào cách mạng”. Chúng tôi hứa với Bác ở lại chuẩn bị và hết sức làm theo lời Bác dặn.

        Từ Nam Ninh, Bác đi canô về biên giới. Chúng tôi định đi tiễn Bác, nhưng Bác không cho cả đoàn mà chỉ cho mấy người đi tiễn. Khi tôi và mấy anh em xuống canô theo Bác thì mới biết Bác đã thuê một căn buồng nhỏ, đơn sơ ở tầng dưới nhưng kín đáo. Việc làm của Bác cho chúng tôi thêm hiểu một điều rất sâu sắc: đó là ý thức giữ bí mật và kỷ luật trong hoạt động cách mạng. Về nước cùng Bác lúc ấy ngoài một số cán bộ ở Liễu Châu còn có một vài anh chỉ em trong tổ chức Phục quốc.

        Sau lần gặp Bác, chúng tôi thật thấm thía những lời Bác nói và những việc Bác làm. Bác đã nhận định rất sáng suốt về tình hình trong nước và quốc tế. Bác đã sớm phát hiện được thời cơ và đón thời cơ cách mạng. Thời cơ chủ trương đưa anh em học sinh quân sự cách mạng về nước tiến hành chiến tranh du kích, đấu tranh vũ trang là rất chính xác. Nhờ đó, việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay là rất kịp thời cơ để đẩy mạnh đấu tranh vũ trang hỗ trợ cho đấu tranh chính trị mở rộng phong trào cách mạng, căn cứ cách mạng, lực lượng cách mạng tiến tới cùng cả nước tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng tám thắng lợi.

        Đến cuối năm 1944, chúng tôi về nước bước vào cuộc chiến đấu mới trong khí thế cách mạng cả nước đang ngày càng dâng cao. Sau buổi gặp Bác lần ấy, tôi còn được nghe Bác nói chuyện, lên lớp và gặp gỡ một số lần nữa. Dõi theo và làm việc theo sự lãnh đạo, chỉ đường dẫn bước của Bác tôi càng thêm kính phục tầm nhìn xa trông rộng của Người.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 05:30:51 pm

PHẦN 3

TRỞ VỀ TỔ QUỐC

        Cuối năm 1944, anh em Việt Minh được trở về nước theo chỉ thị của trong nước và sự đồng ý của Đệ tứ chiến khu.

        Sau khi về nước, đại bộ phận anh em học sinh Việt Minh ở nước ngoài theo chỉ thị của Đảng ta cùng với anh em du kích trong nước tham gia thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, còn một số anh em mà đã quen thuộc với việc hoạt động ở biên giới thì ở lại hoạt động du kích, chống thổ phỉ, bảo vệ khu căn cứ cách mạng và xây dựng cơ sở cách mạng. Lúc đó, tôi được trên phái xuống huyện Tràng Định - Lạng Sơn, gây dựng cơ sở hoạt động, phát triển phong trào Việt Minh và phong trào du kích, bảo vệ căn cứ cách mạng. Nhiệm vụ trọng tâm mà trên giao cho chúng tôi là: bằng mọi cách phải củng cố, mở rộng và phát triển khu căn cứ cách mạng, nhất là chống lại bọn thổ phỉ.

        Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng có cử đồng chí Đàm Minh Viễn (anh đồng chí Đàm Quang Trung) cùng tôi xuống Tràng Định. Anh Viễn chịu trách nhiệm chỉ huy chung. Từ Cao Bằng chúng tôi hành quân qua Tây Đông Khê để về Tràng Định. Anh Viễn là một người sắc sảo, có tác phong hoạt động linh hoạt, dũng cảm, ngoài khả năng và trình độ quân sự khá, anh còn có biệt tài trong công tác vận động quần chúng. Lúc bấy giờ, việc dựa vào dân để sống và hoạt động, gây dựng cơ sở cách mạng, phát triển phong trào Việt Minh và du kích, thì những con người như anh là rất quý, rất có lợi cho cách mạng.

        Có một chuyện này, mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn cho là có ý nghĩa rất sâu sắc trong đời sống thường nhật của mỗi con người. Đi cùng với chúng tôi có cả chị em phụ nữ, có lần vào ban đêm khi hành quân chưa trèo lên được hang núi, chúng tôi phải tạm nghỉ qua đêm ở dưới chân núi, hoặc có lần chỉ tìm được có một chiếc lán nhỏ. Trong hoàn cảnh đó, thì chỉ còn một cách là nằm ngủ chung với nhau ở một chỗ. Nam, nữ ngủ cùng với nhau mà không hề có chuyện rắc rối, không xảy ra điều gì không hay. Điều đó chứng tỏ, lúc đó anh em ta có tinh thần đồng chí đồng đội rất tốt, thương yêu, quý trọng nhau mà lại rất nghiêm túc trong việc giữ vững các nguyên tắc trong sinh hoạt. Thật là lầm lẫn, nếu một ai trong số chúng ta lại cho rằng đó là việc làm đơn giản, chỉ có những ý nghĩ và động cơ trong sáng, không bao giờ gợn đục trong mỗi con người mới giữ được phong cách và giới hạn của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa nam giới và nữ giới.

        Thế là, hơn một năm sau, tôi lại được trở về vùng giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Đó là vùng Tràng Định giáp với Hạ Đống - Long Châu, nơi mà tôi đã từng đến hoạt động từ những năm 1940 và 1943. Cuối năm 1944 đầu năm 1945, cơ sở Việt Minh của ta ở vùng này đã phát triển khá mạnh, phần lớn các làng xa cách thị trấn 2-3km đều có các cơ sở Việt Minh và phần lớn lĩnh dõng đóng ở đây ta đã thu phục được. Họ trở thành lực lượng vũ trang ta. Còn một số tên Chánh tổng, lý trưởng ác ôn, phản động đều bị ta xử phạt rất nghiêm để răn đe và bảo vệ phong trào, nên sau này, những tên khác lên thay cũng không còn hung hăng như trước nữa. Lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang của ta lúc này khá mạnh. Vì thế mà tình báo địch, gián điệp của địch không tài nào lọt vào được khu du kích của ta. Có lần chúng đi lẻ một vài tên là bị ta bắt gọn.

        Về đây tôi được gặp lại một số cán bộ cốt cán của địa phương như anh Hải, anh Ý, anh Hẻn. Anh Hải là người dân vùng biên giới giáp Trung Quốc nên rất thông thạo địa hình, chúng tôi đi đâu mà có anh dẫn đường, thì việc đi lại rất dễ dàng, thuận lợi. Anh Hải như con sóc trên rừng, hoạt động rất mưu trí, dũng cảm. Có lần chúng tôi đến một cơ sở, ăn ở công khai cả ngày lẫn đêm, không ngờ bọn mật thám đánh hơi thấy, chúng đi báo cho quan thầy biết. Khi chúng tôi di chuyển sang bản khác cũng là lúc ban đêm địch đem quân đi càn ở bản mà chúng tôi vừa ở. Với kinh nghiệm dày dạn, anh Hải cùng du kích trinh sát dũng cảm đi trước dọn đường. Khi gặp toán địch đi càn, anh chỉ huy anh em tạt vào bìa rừng và chủ động đối phó rất khôn khéo.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 05:31:19 pm

        Khi thấy ta chỉ có vài người lại không có vũ khí, nên chúng không nghi ngờ và bỏ đi. Lần ấy anh em chúng tôi đã kịp tạt rừng đi tắt sang bản khác, tránh được cuộc đụng độ không cần thiết. Tuy nhiên, sau sự việc đó, chúng tôi lại có được bài học vô cùng quý giá, bài học chủ quan về mất cảnh giác.

        Sau khi chúng tôi đi khỏi bản, bọn lính đi càn không đạt được mục đích chính, nhưng chúng đã bắn chết một vài cán bộ địa phương. Đó là sự trả giá cho bài học này. Thực ra lúc đó, địch chỉ dám tổ chức càn quét ở những bản nằm sâu trong nội địa (trong đó có bản Nà Cạo), còn những bản nằm giáp biên giới thì chúng không dám đưa quân ra. Vì thế chúng tôi không chú ý, cho rằng bản này cũng sẽ an toàn. Anh em chúng tôi tổ chức giết chó, gà, lợn, ăn uống công khai, ồn ào, vui vẻ. Có lẽ vì thế mà chúng cho rằng quân du kích đông nên chúng đã tổ chức cuộc càn để "cất vó" du kích. Thật hú vía, nếu không có anh Hải làm sao chúng tôi rút lui kịp.

        Do cơ sở cách mạng, cơ sở du kích của ta vững như vậy nên ban ngày, anh em Việt Minh, du kích cũng có thể vào được những bản chỉ cách đồn lính khố đỏ khoảng 2-3km. Do làm tốt công tác vận động binh lính địch mà một số anh em lính khố đỏ đã làm cơ sở Việt Minh, có đêm anh em Việt Minh vào tận trại con gái (khu gia binh) để liên lạc với anh em khố đỏ, lấy tin tức của địch do họ cung cấp cho.

        Lúc này, ta đã hầu như hoàn toàn làm chủ vùng nông thôn, ngoài ra đã tổ chức hệ thống giao thông liên lạc tốt Mỗi làng (hoặc bản) đều có tổ giao liên và người phụ trách giao liên để tổ chức đưa đường hoặc tư tín. Có những lần chúng tôi muốn đi qua đường cái lớn vào buổi chiều thì chỉ cần các em nhỏ 13-14 tuổi dẫn đường. Thư từ lúc đó, ngoài phong bì thường có con dấu ký hiệu bằng hai chữ VM, còn nếu thư nào ngoài phong bì có chữ VM kép (VM/VM) thì phải chạy ngay, đưa ngay (công văn hoả tốc). Hồi đó, đi đưa công văn thư từ hoả tốc thì ban đêm cũng phải đi, đốt đuốc và đi đường tắt nên rất nhanh.

        Có một điều rất thuận lợi và lý thú là khi trở về vùng này hoạt động, tôi lại được gặp lại những người bạn cũ (chiến hữu). Đó là ông Tài Thầu và ông Phan Toàn Chân. Lần này tôi và một đồng chí cán bộ nữa đi ra biên giới thì gặp một toán thổ phỉ đang cướp bóc ở một bản. Chúng tôi có can ngăn bọn chúng và gặp một tên tướng phỉ nói cho nó hiểu đây là cơ sở Việt Minh, nhưng bọn chúng không nghe, hơn nữa tên tướng phỉ này chúng tôi lại không quen. Chúng tôi lại nghĩ ra cách cũ, tự xưng tao là em Tài Thầu và Phan Toàn Chân đây, song chúng vẫn thu súng của chúng tôi. Thấy bị lộ, chúng vội vàng thu dọn những thứ cướp đã được và rút lui, chúng tôi lại tìm gặp hai ông Tài Thầu và Phan Toàn Chân; kể lại tình hình và nhờ hai ông giúp đòi lại súng. Thế là sau đó, chúng phải trả lại súng cho chúng tôi thật. Điều ấy lại càng chứng tỏ rằng hai ông là những lãnh tụ địa phương có uy tín trong vùng và trong nhân dân rất cao, bọn phỉ nào mà chẳng phải sợ! Đặc biệt, có lần, nếu cần Tài Thầu có thể huy động tới 100 tay súng.

        Cán bộ Việt Minh, lúc đó rất có uy tín đối với dân, chẳng thế mà những mâu thuẫn, những gì vướng mắc trong dân, trong mỗi gia đình, nếu cán bộ Việt Minh đến, giải thích là đồng bào đều nghe theo.

        Ngày 9 - 3 - 1945 Nhật đảo chính Pháp, lúc này phong trào Việt Minh lại càng phát triển mạnh. Bọn lính dõng, lính khố đỏ tan rã và chạy về nông thôn khá đông, ta đã thu được nhiều vũ khí trang bị cho các đội du kích mới thành lập. Thậm chí anh em lính khố đỏ, khi chạy về theo ta, họ mang theo cả súng máy (trung liên), chẳng thế mà khi ta đánh đồn Pò-Mã đã có súng máy để sử dụng. Ở Cao Bằng, tháng 4/1945 Tổng bộ Việt Minh liên tỉnh uỷ Cao -Bắc - Lạng đã phái một trung đội vũ trang xuống phối hợp với du kích Tràng Định để mở rộng địa bàn hoạt động. Việc ra đời của các đội du kích vũ trang mạnh là nhằm bảo vệ và mở rộng các căn cứ địa. Sau khi Tràng Định có một trung đội du kích tập trung, đón thời cơ vô cùng thuận lợi, chính quyền Pháp tan rã, chính quyền Nhật chưa được củng cố vững chắc, ta đã tổ chức đánh đồn lính khố xanh Pò Mã ở vùng biên giới (Quốc Khánh -Tràng Định - Lạng Sơn), đồn này nằm ở phố chợ biên giới có đường sang Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 05:31:39 pm

        Lúc này, đồng chí Lê Thiết Hùng là đại diện Tổng bộ Việt Minh được cử đến trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang Tràng Định. Đồng chí Hùng và đồng chí Tuân Trung đội trưởng trung đội du kích tập trung chỉ huy trận đánh đồn. Lần ấy, ta dùng chiến thuật vừa đánh vừa gọi hàng. Quân ta giương cờ đỏ sao vàng lên, và một chị đội viên bắc loa tay gọi hàng. Quả nhiên ta mới đánh chiếm một góc đồn thì chúng hàng thật. Sau này, khi chúng tôi hỏi cung tù binh thì chúng nói rất thật rằng:

        - Chúng tôi trông thấy cờ đỏ sao vàng và nghe thấy tiếng nói phụ nữ, thì biết ngay là Việt Minh, không phải là thổ phỉ nên chúng tôi mới đầu hàng, chứ nếu biết là thổ phỉ thì không dễ gì chúng tôi đầu hàng sớm thế, chúng tôi còn chống cự nữa chứ!

        Khi thấy ta chiếm được đồn rồi, bọn thổ phỉ Trung Quốc cũng muốn sang đánh hội để cướp bóc phố chợ đó, nhưng không thành. Chuyện là thế này: được tin bọn thổ phỉ Trung Quốc sang ta đã bố trí một lực lượng ở trên đồn sẵn sàng đối phó với chúng. Đồng chí Hùng cử tôi và một vài anh em xuống phố chợ để giao thiệp với bọn thổ phỉ. Vì thế, chúng tôi không đem theo súng mà chỉ dắt trong bụng mỗi người một quả lựu đạn. Một tình huống bất ngờ xảy ra, khi chúng tôi đến nơi, không chỉ có bọn thổ phỉ mà còn cả cả một lực lượng của biệt động quân Trung Quốc phối hợp, chỉ huy bọn thổ phỉ. Rất may, người chỉ huy biệt động quân hôm ấy lại là lính của tôi trước kia khi còn tham gia tổ chức biệt động quân ở Nam Ninh. Hồi đó tôi là tiểu đội trưởng tiểu đội biệt động quân, tiểu đội của tôi phần lớn là lính người Trung Quốc. Khác với tiểu đội trưởng người Trung Quốc, họ có tác phong quân phiệt, thường hay đánh mắng, hách dịch, quát nạt chiến sĩ, còn chúng tôi tuy là chỉ huy nhưng đối xử với chiến sĩ tử tế, nên họ rất mến phục. Với những tình cảm vốn có đó mà cuộc "thương thuyết" của chúng tôi thành công, họ đã rút quân.

        Sau khi đánh xong đồn, bọn Nhật ở Đông Khê có vào trinh sát vũ trang, do có người báo tin nên bọn Nhật tổ chức một trung đội lùng sục một số vùng căn cứ của mình, ta tạm thời lui khỏi đồn Pò Mã. Anh em du kích phục ở các đỉnh đèo, cứ nhằm thằng nào vác súng máy, đeo súng ngắn hoặc đeo kiếm là bắn. Bắn xong, lợi dụng địa hình họ lại di chuyển ngay sang chỗ khác. Vì thế lực lượng ta an toàn, còn địch thì bị thiệt hại một số. Từ đó chúng không dám lùng sục vào khu du kích nữa.

        Sau khi đánh đồn Pò Mã bọn thổ phỉ nội địa thân Nhật nổi lên quấy phá, ta dùng lực lượng vũ trang để dẹp. Nói chung, với lực lượng nhân dân, du kích xã và du kích tập trung ta đã dẹp được địch, bảo vệ an toàn, ổn định và mở rộng được khu căn cứ.

        Uy tín của Việt Minh ngày càng lớn, cơ sở Việt Minh ngày càng phát triển. Vì thế đầu năm 1945, ngay sát thị trấn Thất Khê có những bản chỉ cách nhà tri phủ có lính khố xanh canh giữ chừng 1km, Việt Minh vào ban ngày cũng vẫn được. Và bọn phản động phải co lại nằm im, không dám hoạt động như trước nữa. Lúc này, phong trào Việt Minh đã phát triển đến mức ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân, vào mọi giới trong xã hội. Thậm chí, các cô then cũng theo Việt Minh lên núi dự các lớp huấn luyện Việt Minh.

        Đời hoạt động du kích của anh em chúng tôi tuy có vất vả gian khổ thật đấy nhưng cũng có những giây phút thật vui. Có những lần, sau một chặng đường hành quân đã mệt, đoàn chúng tôi dừng chân cạnh đường, tại một bản nằm ngay ngã ba sông. Ban đêm, bầu trời đầy sao, lồng lộng gió, chúng tôi đang ở tràng thái thư giãn cơ bắp với cảnh sắc thơ mộng đó thì bỗng nhiên nghe thấy tiếng đàn bà và tiếng hát của các cô then. Ôi, tiếng đàn then và giọng hát cô then mới dịu dàng làm sao, lúc này dường như ai cũng cảm thấy đỡ mệt nhọc hẳn đi. Các cô then, cũng như nhiều cô gái dân tộc ở vùng này cũng có những đôi má hồng, nước da trắng ngần, xinh đẹp chẳng kém gì phụ nữ kinh thành Hà Nội.

        Lại có những lần hành quân vào mùa đông, trời rét căm căm, lội suối, vì ngại cởi giầy, cởi tất, chúng tôi cứ để nguyên vậy mà lội. Khi qua suối, đôi chân mới nặng làm sao! Tạt vào nhà dân, được ngồi bên bếp lửa hồng, được ăn sắn nướng và được hơ lửa sưởi ấm bàn chân lạnh cóng vì nước, dù chưa khô, có lệnh hành quân tiếp cũng phải sỏ giày ướt lạnh để tiếp tục lên đường, nhưng bất kỳ ai trong số chúng tôi cũng thầm cảm ơn những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi đó...

        Và hình như đó là nguồn sức mạnh để tiếp thêm nghị lực cho chúng tôi trong chặng đường hành quân tiếp đó

        Phụ nữ Cao bằng rất văn minh tiến bộ. Chúng tôi hành quân qua các bản, các chị em phụ nữ đều ra tiễn và bắt tay.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 05:39:23 pm

PHẦN 4

TRƯỚC NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN Ở HẢI PHÒNG

        Sau khi Hồng quân Liên Xô và phe đồng minh thắng Phát xít Đức và Đế quốc Nhật, Đảng ta đã ra kêu gọi toàn quốc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, cả nước ta dấy lên khí thế cách mạng rất sôi sục, với nhiều hoạt động vũ trang và chính trị công khai đêm ngày. Trong khi nhiều đồng chí khác được tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở thủ đô Hà Nội, thì chúng tôi lại tham gia cướp chính quyền ở Tràng Định (Lạng Sơn). Mặc dù không được chứng kiến không khí cướp chính quyền ở Hà Nội, nơi đông dân, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, song tâm trạng anh em chúng tôi rất phấn khởi lòng tưng bừng rộn rã với niềm tin sâu sắc trước khí thế sôi sục của cả nước bước vào cuộc đời mới.

        Tình hình cách mạng lúc bấy giờ diễn ra hết sức mau lẹ, có thể tính bằng ngày, bằng giờ. Quả thật khi tôi về đến Lạng Sơn thì lúc này ở đây đã hoàn thành việc cướp chính quyền rồi. Ít ngày sau đó, tôi cùng anh Đàm Minh Viễn về Hà Nội. Về đây chúng tôi lại được gặp anh Hoàng Văn Thái, anh Đàm Quang Trung. Gặp nhau ai nấy tay bắt mặt mừng, vì đã lâu lắm rồi, sau nhiều năm tham gia cách mạng gian khổ, giờ đây chúng tôi mới thực sự được hoà với mềm vui chung của mọi người ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội. Lúc này Hà Nội vẫn còn đọng lại không khí tưng bừng của ngày hội khởi nghĩa. Ngồi trong nhà, chúng tôi vẫn còn được trông thấy các cháu thiếu niên tay cầm cờ đỏ sao vàng ríu rít trên đường phố, vừa đi vừa hát vang bài Tiến quân ca giục giã lòng người, trong lòng tôi lại rạo rực khí thế tưng bừng sục sôi của cách mạng.

        Đầu tháng 9 năm 1945 thì Bộ Quốc phòng cử tôi về làm Tư lệnh chiến khu 3 - vùng duyên hải Bắc Bộ. Lúc đó anh Lê Quang Hòa là phái viên chính trị, được trên cử về trước tôi để nhận bàn giao công việc với anh Nguyễn Bình để anh ấy đi nhận nhiệm vụ mới ở miền Nam. Vào một buổi chiều, có đồng chí đến báo cho tôi là đi Hải Phòng; Tôi ngạc nhiên hỏi lại là chiều rồi thì còn đi sao được? Đồng chí ấy trả lời là đi bằng ô tô. Lúc đó tôi mới sực nhớ ra là mình đã bị thói quen đi bộ trên rừng "thôi miên" mất rồi. Khi tôi về tới Hải Phòng tiếc là không gặp được anh Nguyễn Bình.

        Chúng tôi về đến Hải Phòng thì ở đây nhân dân đã cướp chính quyền xong. Ở Hải Phòng, lúc này chúng tôi có tiếp một đồng chí du kích ở phía Nam Trung Quốc sang. Anh tên là Trần Quang - người của đảng Cộng sản Trung Quốc cử sang liên lạc với ta, cùng với ta bàn kế hoạch hiệp đồng tác chiến trên biên giới phía nam Trung Quốc, giáp với Việt Nam. Đó là vùng biên giới Quảng Đông - Quảng Tây. Thời gian ở Hải Phòng, anh ăn nghỉ với chúng tôi ở bộ chỉ huy chiến khu 3 rất thoải mái và an toàn. Nói vậy là vì, khởi nghĩa vừa xong bọn Lam y (y phục màu lam - tình báo của Tưởng) vẫn còn hoạt động rất nguy hiểm. Chính bọn Lam y cũng định ám sát Uông Tinh Vệ ở Hà Nội. Sau đó ta có đưa anh ấy về Trung ương.

        Bấy giờ, tôi đã nhận một trách nhiệm mới rất nặng nề, khó khăn: phụ trách một địa bàn lớn, với bao công việc chồng chất, phức tạp. Ở cương vị này, chắc chắn không chỉ riêng tôi mà bất kỳ ai cũng phải lo lắng, trăn trở, suy nghĩ rất nhiều.. Lo sao cho mình hoàn thành được nhiệm vụ và trách nhiệm trên cương vị mới. Lo là vì, từ một người phụ trách cương vị nhỏ, vài chục người, với lối hoạt động du kích, đánh nhỏ lẻ trên một địa bàn hẹp, nay lại phụ trách đơn vị trên một địa bàn rộng. Đó là những công việc hoàn toàn mới mẻ và thật sự là một thử thách lớn đối với tôi. Lúc này, ta mới thành lập chiến khu 3, nhiệm vụ trọng tâm của chúng tôi là phải tập hợp đoàn kết được anh em càng nhiều càng có sức mạnh. Phần đông anh em về với chiến khu là các anh em ở chiến khu Đông Triều cũ và một số anh em khác từ các vùng lân cận trở về, đây là lần đầu tiên biết nhau. Anh em tham gia bộ đội là những người yêu nước, mong nước nhà độc lập, thoát khỏi ách nô lệ thực dân. Trong hàng ngũ bộ đội có những đồng chí là nông dân, công nhân, các sĩ quan hạ sĩ quan và binh lính yêu nước trong quân đội Pháp và có cả những anh em một thời là "anh hùng hảo hán" ở đất cảng, do có lòng yêu nước, quý mến Vệ quốc quân, ưa thích hành động dũng cảm. Ngoài ra còn có những thanh niên, sinh viên yêu nước. Trong số đó có cả một số anh em là con quan tổng đốc tuần phủ, như anh Lê Tôn Hy con một ông quan tuần phủ quê ở Hưng Yên; anh chiến đấu rất dũng cảm sau làm tiểu đoàn trưởng và bị hy sinh trong một trận ở Từ Ô (Tứ Hồ) Hưng Yên năm 1947. Phải thường xuyên đi sát anh em, gần gũi để tìm hiểu, để đoàn kết được anh em trong một khối thống nhất, đó là trách nhiệm của người chỉ huy mà tôi luôn ý thức được trong quá trình công tác của mình. Đó cũng là một yếu tố quan trọng để tiến hành công tác được thuận lợi và đạt kết quả tốt. Đây là một bức tranh sinh động và kỳ vỹ của một dân tộc đoàn kết đứng lên đấu tranh để giành và giữ quyền độc lập tự do của mình. Nó thể hiện đúng lời nói bất hủ của Hồ Chủ tịch là "Không có gì quí hơn độc lập tự do". Đảng ta đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và nêu lên chân lý sáng ngời, nên đã đoàn kết được toàn dân tộc.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 05:39:53 pm

        Nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là vừa ổn định tổ chức vừa phải tìm cách đối phó với bọn tàn quân Pháp còn lảng vảng ở một số đảo đang chiếm giữ ngoài vịnh Hạ Long; phải chống lại bọn Quốc dân đảng, bọn thổ phỉ và cả quân Tưởng nữa. Đối với quân Tưởng, nhiệm vụ chủ yếu của ta là cùng nhân dân giữ gìn chính quyền non trẻ của mình, chống sự cướp bóc quấy nhiễu nhân dân của chúng. Mặt khác lại phải hạn chế đến mức tối đa khả năng xung đột vũ trang với chúng. Đó là mâu thuẫn cần được giải quyết hết sức khôn khéo, mềm mỏng và đó cũng là sách lược trong việc đấu tranh phân hoá hàng ngũ kẻ thù mà Đảng và Hồ Chủ tịch đã chỉ bảo.

        Lúc này, do phong trào cách mạng của ta đang ở thế mạnh nên bọn Quốc dân đảng cũng không còn hoạt động mạnh như trước nữa. Riêng ở vùng Quảng Yên tuy lực lượng Quốc Dân đảng đã cướp được chính quyền ở một vài nơi, nhưng ta đã cử lực lượng vũ trang đến và cùng với nhân dân địa phương đã giành lại được chính quyền ở những nơi đó. Với bọn tàn quân Pháp ở đảo Cô Tô, có bị ta tổ chức đánh nhưng chúng hơn ta về tàu chiến và các loại vũ khí khác, nên ta không đánh lui được chúng, chỉ có thể hạn chế tối đa khả năng chúng không mở rộng chiếm đóng được nữa. Trái lại, lúc này gay go nhất đối với ta vẫn là bọn thổ phỉ. Bọn chúng đã chiếm được hai vùng Móng Cái và Hà Cối. Hai vùng này nằm dưới sự kiểm soát của bọn thổ phỉ, đứng đầu chỉ huy là tên Vũ Kim Thành. Còn ta vẫn giữ được Tiên Yên, Đầm Hà. Chủ trương của Trung ương và Bộ Quốc phòng là phải chiếm lại được hai vùng Móng Cái và Hà Cối. Yêu cầu đó thật nặng nề, song chúng tôi đã xác định quyết tâm và tích cực tìm mọi cách thực hiện.

        Để đánh chiếm được Móng Cái, Hà Cối, cần phải có kế hoạch điều tra, nắm tình hình thực tế thật cụ thể, tỉ mỉ. Đối với chúng tôi, điều này cần thiết hơn bao giờ hết, vì vùng này đã lâu chúng tôi không hoạt động. Biết được băn khoăn lo lắng của chúng tôi, trên Trung ương đã giới thiệu tôi với người cháu của ông Trần Tề Đường, ông Đường lúc đó là Tổng đốc Lưỡng Quảng (vùng Quảng Đông và Quảng Tây). Tôi đã gặp người đó ở Hà Nội và sau đó anh ta cùng tôi và một đồng chí cán bộ nữa đi sang Đông Hưng. Hoạt động trinh sát của chúng tôi là ban đêm chúng tôi ăn nghỉ ở Đông Hưng, ban ngày trở lại Móng Cái để quan sát và nắm tình hình. Vì thị trấn Đông Hưng và thị trấn Móng Cái nằm hai bên bờ sông chỉ cách nhau có một chiếc cầu, nên việc đi lại của chúng tôi phần nào cũng có thuận lợi. Có lần anh ta đã dẫn chúng tôi vào cả khu doanh trại của bọn thổ phỉ. Vì thế chúng tôi nắm tình hình địch khá cụ thể tỉ mỉ.

        Sau khi nghiên cứu và nắm chắc tình hình địch, chúng tôi trở về Tiên Yên bàn kế hoạch với Trung đoàn Vệ quốc quân đóng ở Tiên Yên và Đầm Hà. Trung đoàn này do đồng chí Đinh Thịnh làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Đàm Quang Thìn là chính trị viên Trung đoàn. Do công tác chuẩn bị chu đáo nên trận đánh Hà Cối – Móng Cái thắng lợi nhanh gọn. Sau trận này, về phía chính quyền, Trung ương có cử anh Vũ Đình Đức giữ chức chủ tịch tỉnh Hải Ninh.

        Như vậy, lúc này ta đã giải phóng được cả vùng Duyên hải Khu 3 từ Thái Bình đến Móng Cái. So với trước tình hình có phần nào ổn định, mặc dù trên thực tế vẫn còn bọn tàn quân thổ phỉ lén lút hoạt động ở vùng rừng núi. Tôi lúc đó phải thường xuyên viết thư tướng thổ phỉ tên là Nghiêm Cảnh Đông ở Tiên Yên, nên dần dần cũng cảm hoá được. Họ cũng nằm im không hoạt động như trước nữa.

        Nước ta mới giành được độc lập, nhân dân ta tràn ngập niềm vui sướng hân hoan, nhưng từ sau ký Hiệp định sơ bộ với Pháp (6/3/1946) tinh thần của mọi người càng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với tai hoạ xâm lược mới đang rình rập phía trước. Trong lịch sử dân tộc ta chưa bao giờ lại có nhiều thù trong, giặc ngoài mạnh như thế, đóng ngay trên đất nước ta, hàng ngày hàng giờ uy hiếp nền độc lập của dân tộc và chính quyền cách mạng của ta.

        Với dã tâm xâm lược đất nước ta một lần nữa, núp phía sau danh nghĩa Đồng minh, quân Pháp từng bước mở rộng chiến tranh, nhanh chóng tăng cường đạo quân Viễn chinh trên chiến trường Đông Dương.

        Sau khi gây hấn ở Nam Bộ, Trung Bộ, nuốt lời hứa trong Hiệp định sơ bộ, gạt bỏ mọi khả năng thương lượng quân Pháp âm mưu chuyển sang giai đoạn bình định và tiến quân ra Bắc.

        Hải Phòng là cửa ngõ chính của Bắc Bộ, là đầu cầu của quân xâm lược Pháp. Với vị trí chiến lược quan trọng như thế, nên sự đối đầu giữa ta và địch ở Hải Phòng là rất quyết liệt và phải là trước tiên. Ở Hải Phòng, lực lượng quân Pháp ngày càng được tăng cường, có lục quân, hải quân và một số máy bay. Tình hình Hải Phòng ngày càng trở nên căng thẳng. Quân Pháp ngày càng kiêu căng, ngạo mạn. Chúng ngang nhiên cướp bóc, bắn giết bừa bãi, uy hiếp chính quyền ta, lấn chiếm mở rộng vị trí chiếm đóng, vi phạm rồi phá hoại các hiệp định đã ký kết. Ta đã hết sức cố gắng hạn chế các cuộc xung đột để kéo dài hoà hoãn, chuẩn bị kháng chiến. Sau mỗi lần đàm phán, sự yên ắng ấy chỉ được mấy ngày, rồi những vụ khiêu khích, gây rối mới lại nổ ra, và lần sau lại bùng to hơn lần trước. Sự khiêu khích gây rối của quân Pháp ngày càng bộ lộ rõ âm mưu chiến tranh của chúng. Để chuẩn bị đối phó, Hải Phòng đã tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân gồm các đơn vị công an xung phong và các đơn vị tự vệ ở khu phố và Xí nghiệp. Toàn dân Hải Phòng sôi sục lòng yêu nước, chuẩn bị kháng chiến, thanh niên nô nức tham gia Vệ quốc đoàn, công an xung phong, tự vệ chiến đấu. Công tác huấn luyện cho các lực lượng vũ trang cũng diễn ra rất khẩn trương. Các tầng lớp nhân dân đều sôi nổi tích cực ủng hộ và thiết thực tham gia đào hầm, đào ngách đục tường trong các dãy phố và chuẩn bị rào cản ở các ngả đường.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:47:31 pm

        Một vấn đề nổi lên trong tình hình thời sự lúc đó là vũ khí. Trang bị vũ khí cho lực lượng vũ trang gặp rất nhiều khó khăn. Ta hoàn toàn phải tự giải quyết. Nếu trước đây, vũ khí trang bị của ta có được là do lấy được của quân Pháp và quân Nhật trong cuộc tổng khởi nghĩa Tháng tám, thì bây giờ ta phải mua vũ khí của quân Tưởng, quân Nhật và một số vũ khí quân Pháp còn sót lại để trang bị cho lực lượng vũ trang. Lúc này ở Hải Phòng là cái chợ Trời về mua bán vũ khí của quân Tưởng và quân Nhật. Người ta bán súng bán đạn như người ta bán ốc bán rau. Các loại vũ khí bộ binh nhẹ được bày bán la liệt. Không phải chỉ có dân Hải Phòng mua, mà dân ở nhiều tỉnh khác cũng đổ xô về đây để mua vũ khí. Nhờ đó các lực lượng vũ trang Hải Phòng có điều kiện về trang bị vũ khí khá hơn nhiều địa phương trong nước.

        Hải Phòng vốn là một thành phố công nghiệp, nên Đảng bộ và bộ chỉ huy chiến khu 3 có chủ trương, kịp thời di chuyển một số máy móc sơ tán về vùng nông thôn Kiến An, Thuỷ Nguyên để lập xưởng quân giới, rèn đúc vũ khí, nghiên cứu sản xuất bom mìn, lựu đạn, chai xăng Crếp.

        Điều bất ngờ là một số công nhân ta đã ra Cát Bà, Đồ Sơn thu lượm pháo 138 ly ở pháo đài cũ của Pháp về nghiên cứu và chế tạo thành công ra mìn đánh xe cơ giới. Lúc bấy giờ cũng xuất hiện một "hiện tượng đặc biệt" có một ông cố đạo với cái tên thật là mềm mại, triết lý, đó là ông Nguyễn Công Lý. Tuy là cha cố nhưng hình như cuộc đời ông rất gần gũi với cuộc sống thường nhật. Tính tình ông rất hiền lành, chất phác, có tinh thần yêu nước, được anh Nguyễn Bình giác ngộ cách mạng đã tham gia chiến khu Đông Triều và sau khi giải phóng cũng tham gia Ban quân giới Chiến khu 3. ông đã cùng anh em công nhân chế tạo sản xuất bom mìn, lựu đạn. Chính ông đã thường làm thử nghiệm, mặc dù bị cụt tay do một lần thử lựu đạn, với bàn tay giả ông vẫn dũng cảm tiếp tục hăng say trong công việc của mình, tích cực chuẩn bị vũ khí cho kháng chiến. Cùng làm việc với cha Lý có ông Lê Quang Thiệu, Trịnh Văn Yên, là công nhân kỹ thuật - Quân giới Chiến khu 3. Các ông đã cùng nhau nghiên cứu chế tạo ra nhiều loại vũ khí như lựu đạn, bom, mìn và đặc biệt chế tạo được cả Bazôka 75 ly để đánh xe tăng, ô tô địch trên đường 5. (Sau rút vào Thanh Hoá bộ phận này còn xây dựng cả lò cao để chế tạo vũ khí). Anh Lê Thanh Nghị bí thư khu uỷ Khu 3 rất chú ý sản xuất vũ khí.

        Đến tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp tăng thêm quân số bộ lên Đồ Sơn, Cát Bà và Đà Nẵng. Đặc biệt nghiêm trọng là việc chúng thực hiện đánh chiếm Lạng Sơn và Hải Phòng.

        Ngày 20 tháng 11 năm 1946, Pháp đánh chiếm Hải Phòng, một cửa ngõ của Bắc Bộ - đầu cầu để xâm lược Bắc Bộ và là nơi quân Pháp có sức mạnh hơn ta và có thế tác chiến thuận lợi. Đằng sau chúng có hải quân và mặt biển làm chỗ dựa và ta thì không thể bao vây được chúng. Quân và dân Hải Phòng đã kiên quyết đánh trả. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Công an xung phong do đồng chí Trần Thành Ngọ chỉ huy chiến đấu rất dũng cảm làm cho mỗi bước tiến của địch đều bị đánh trả. Quân và dân ta chiến đấu giữ từng khu phố, từng căn nhà. Quân Pháp phải đối phó với nhiều lực lượng cùng một lúc. Đặc biệt đội vũ trang tuyên truyền Khu 3 chiến đấu ở Nhà hát thành phố với tinh thần cách mạng rất cao, đã tiêu diệt nhiều giặc Pháp kể cả sĩ quan. Đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Đạo phụ trách tuy trang bị vũ khí ít, song đã biết phối hợp với đội tự vệ nhà máy nước do đồng chí Nở chỉ huy chiến đấu quyết liệt với quân Pháp có trang bị xe tăng và nhiều vũ khí hiện đại. Trong khi đó anh em công nhân quân giới bằng tìm tòi sáng tạo, dùng các khẩu pháo cũ của Pháp ở Thuỷ Nguyên đã cùng với Vệ quốc quân đánh tàu chiến địch ở bến Bính, làm cho quân Pháp phải phân tán lực lượng không tập trung được phần lớn lực lượng dể đánh vào Trại Cau (Quận Lê Chân). Trong khi đó ta tích cực phát động chiến tranh nhân dân trên toàn địa bàn chiến khu và tích cực sản xuất bom mìn cung cấp cho bộ đội và dân quân. Do có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân không kém phần quan trọng là kiến thức chỉ huy tác chiến của ta còn kém, còn ấu trĩ và không bao vây được đường sông và đường biển nên không thể kéo dài được cuộc chiến đấu, mà chỉ duy trì được trong một tuần lễ ở nội thành. Sự thành công của ta lúc đó là đã chủ động, có kế hoạch xây dựng và bảo vệ hành lang Trại Cau - An Dương - Cầu Niệm - Kiến An, nên khi chiến sự nổ ra trong thành phố thì nhân dân và các cơ quan đã kịp thời rút sang Kiến An được an toàn. Sau khi rút lui ta vẫn tổ chức được những đợt tiến công vào sân bay Cát Bi, Quán Toan, trên đường 5 và phát động chiến tranh nhân dân rộng khắp. Cùng với bộ đội chủ lực từ Trung ương về tăng cường, quân và dân Hải Phòng kịp thời chặn được bước tiến của địch đánh lên Hải Dương trước ngày toàn quốc kháng chiến. Du kích phát triển trên đường số 5.

        Cuộc chiến đấu ở Hải Phòng là một trong những nét vẽ tuyệt vời rung động lòng người trong bức tranh hoành tráng về những ngày đầu kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Đó còn là một phác hoạ đặc sắc về cuộc chiến tranh nhân dân ta chống xâm lược trên địa bàn thành phố Cảng trước ngày toàn quốc kháng chiến. Như đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm "Những chặng đường lịch sử" đã viết:

        "Trận chiến đấu anh dũng” tại Hải Phòng đã có tác dụng của một cuộc tổng diễn tập thực sự cho trận đánh kéo dài ngày ở Thủ Đô Hà Nội xảy ra sau đó hơn một tháng”.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:55:04 pm

PHẦN 5

NGHIÊN CỨU VÀ HUẤN LUYỆN

        Thời gian ở Khu 4, sức khoẻ của tôi có phần giảm sút phải đi điều trị một thời gian ngắn ở bệnh viện. Sức khoẻ bình phục, từ bệnh viện trở về đơn ví cũ, thủ trưởng Bộ Quốc phòng phân công tôi làm hiệu trưởng trường Quân chính trung cấp. Trường này vừa mới được thành lập xong trên cơ sở của trường bổ túc quân chính sơ cấp (theo quyết định của Tổng Quân uỷ tháng 4 năm 1954). Đúng vào lúc đất nước còn đang chiến tranh nên phải lấy địa điểm Bắc Sơn làm địa bàn xây dựng trường.

        Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi cùng anh Đỗ Hạp, cán bộ của phòng quân sự và một số chiến sĩ cần vụ, mỗi người một xe đạp, một bi đông nước chè xanh đi tìm địa điểm mới cho trường. Sau nhiều ngày lặn lội tìm kiếm, chúng tôi đã tìm được nơi đóng quân phù hợp. Đầu tháng 5 năm 1954, nhà trường dời đến địa điểm mới trong khu rừng xã Tân Hương, huyện Bắc Sơn. Vốn là một trong những căn cứ cách mạng trong những ngày đầu khởi nghĩa, nơi đây là vị trí an toàn, có địa hình tốt để làm thao trường, bãi tập, nhất là lại có con đường 1B mà chúng ta mới làm xong, chạy từ Thái Nguyên qua Bắc Sơn đến Đồng Đăng, nên việc đi lại khá thuận lợi. Con đường này một thời đã được anh Tố Hữu tả bằng thơ rất đỗi tự hào, khoẻ khoắn:

                                    Đường ta rộng thênh thang tám thước
                                    Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên
                                    Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên
                                    Đường Cách mạng dài theo kháng chiến...

        Lúc đầu, mọi việc hầu như còn mới lạ hoàn toàn, "thầy trò" chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, nhưng rồi cũng nhanh chóng vượt qua được. Điều đó cũng dễ hiểu bởi nhân dân Bắc Sơn phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số lại là quê hương của phong trào cách mạng. Được đồng bào 5 xã Tân Hương, Tân Lập, Vu Lăng, Nhất Hoà, Nhất Thế hết sức giúp đỡ, và sau một thời gian lao động vất vả xây dựng trường sở, chúng tôi đã sớm có nơi ăn ở và học tập khá tốt. Lúc ấy, bộ đội đi đến đâu, ở đâu cũng có nhiều ấn tượng tốt với dân, bằng nhiều hình thức phong phú như giúp đỡ nhân dân học tập văn hoá, cùng với thanh niên và nhân dân địa phương tổ chức các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao. Các cuộc thi chạy, đá bóng với thanh niên địa phương, những đêm văn nghệ "lửa trại" với nhân dân lúc ấy vui vẻ, trẻ trung và đầm ấm lắm.

        Qua đây, chất keo đoàn kết đã và bền chặt nhân dân với bộ đội, nhà trường với chính quyền địa phương. Cả học viên và giáo viên chúng tôi lúc đó còn trẻ lắm, nên ai cũng hồn nhiên sôi nổi, thích thú và hưởng ứng các hoạt động mang tính chất bề nổi này. Trường của chúng tôi huấn luyện cán bộ trung cấp, lúc đầu còn ít cán bộ, giáo viên nhưng sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thì Bộ lại điều về đây nhiều cán bộ mới, có nhiều kinh nghiệm thực tế để làm giáo viên, nên lực lượng giáo viên đã được tăng cường khá mạnh. Lúc bấy giờ giáo viên dạy các bộ môn chính trị là anh Hoàng Phương (anh Hoàng Phương là Trưởng phòng chính trị, kiêm chính uỷ nhà trường), anh Lê Linh, anh Mạc Ninh... còn cán bộ giảng dạy quân sự có các anh Lê Ngọc Hiền, Minh Văn, Hồ Quang Hoá, Nguyễn Năng, Hùng Sinh (anh Hùng Sinh là trưởng phòng quân sự, anh Nguyễn Năng là phó phòng quân sự) và nhiều đồng chí khác nữa. Sau này, nhiều anh em trong số chúng tôi, kể cả học viên và giáo viên của trường đã là những cán bộ cao cấp, cán bộ chủ chốt của quân đội ta.

        Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ có tăng cường cho nhà trường các chuyên gia Trung Quốc cả quân sự và chính trị. Nói là trường trung cấp quân sự, nhưng trường huấn luyện cả hai hệ: chính trị và quân sự. Anh em học viên là cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn. Bấy giờ môn chính trị cũng được huấn luyện tương đối kỹ, ngoài việc huấn luyện những lý luận cơ bản ra, nhà trường còn rất chú trọng đến môn công tác Đảng - công tác chính trị.

        Trong số anh em học viên của trường lúc bấy giờ có đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, ở miền Nam ra học, chế độ huấn luyện của nhà trường đã bắt đầu mang tính chính quy ăn ở nền nếp gọn gàng tuy là nhà tranh, nhà lá thôi. Vì chỉ quen với khí hậu miền Nam - ấm, mát quanh năm nên anh Nghệ không chịu được cái rét của miền núi, thực tế đó buộc nhà trường phải chấp nhận riêng đồng chí này thì mùa rét được phép để trong phòng ở một đống củi để đốt lửa sưởi suốt ngày đêm. Ai cũng phải thừa nhận đó là sự quan tâm chu đáo của nhà trường, không vì nguyên tắc chế độ chính quy mà tỏ ra cứng nhắc trong việc xử lý những trường hợp cụ thể, đặc biệt như thế.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:55:28 pm

        Đây là một khoá học có quy mô và chất lượng nhất từ ngày thành lập trường bổ túc quân chính đến nay, từ việc tổ chức cơ quan, đội ngũ giáo viên gồm nhiều cán bộ đã chỉ huy lãnh đạo chiến đấu nhiều năm, giàu kinh nghiệm được điều động từ nhiều đơn vị chủ lực về.

        Cùng với việc kết thúc khoá học đầu tiên là quân và dân ta giành thắng lợi to lớn, quyết định trên chiến trường Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại ở miền Bắc thì trường lại được lệnh về vùng xuôi - Kim Đái - Sơn Tây.

        Nội dung huấn luyện trong thời gian này có thêm một lớp tập huấn cho cán bộ, có cả cán bộ cao cấp như anh Đồng Sĩ Nguyên, anh Hoàng Sâm. Ngoài huấn luyện chung còn huấn luyện cả đội ngũ theo hướng quân đội chính quy. Chưa được "nóng chỗ" trường lại phải chuyển đến địa điểm mới, đó là khu Quần Ngựa - Hà Nội. Ngoài lớp đào tạo ra, trường vẫn tiếp tục mở một lớp tập huấn gồm cả cán bộ cao cấp, lớp này có những cán bộ cao cấp như anh Giáp Văn Cương (nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân), anh Phạm Hồng Sơn (phó viện trưởng Viện Chiến lược quân sự), anh Nguyễn Hoà ...

        Với nội dung huấn luyện đó, tháng 5 năm 1955 Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định thành lập trường Bổ túc quân sự trung cao cấp. Anh Văn Tiến Dũng lúc đó là Tổng Tham mưu trưởng được trên phân công kiêm hiệu trưởng nhà trường, và tôi là phó hiệu trưởng. Chẳng được bao lâu trường lại chuyển về quận Ba Đình (trường An Be Sa Rô của Pháp nằm trên đường Hùng Vương và Hoàng Văn Thụ). Và rồi trường lại chuyển về Bạch Mai, lần này trường lại đổi tên thành Học viện Quân sự và Bộ phân công tôi làm Viện trưởng, anh Minh Vân làm phó viện trưởng. So với các địa điểm mà trường ở trước đây, thì Bạch Mai là nơi ở khá ổn định và lâu dài thuận lợi hơn cả.

        Vì vậy nhà trường có điều kiện để thực hiện việc tăng gia sản xuất, trồng rau xanh cải thiện đời sống. Việc thực hiện các chế độ nền nếp tác phong của nhà trường chính quy cũng được mọi người chấp hành nghiêm chỉnh. Không khí thi đua trong giảng dạy, học tập, công tác, phục vụ rất sôi nổi. Bộ phận cấp dưỡng có khẩu hiệu "ba nóng, năm ngon, bốn sạch" được duy trì rất nghiêm túc.

        Nội dung huấn luyện chủ yếu của Học viện là cấp Trung đoàn, Sư đoàn, huấn luyện cả chính trị và quân sự, nhưng quân sự là chính vì lúc đó ta đã thành lập Học viện chính trị riêng rồi. Về cơ cấu tổ chức của trường lúc này cũng khá hoàn chỉnh, gần như đã thành lập hầu hết các khoa như Học viện quân sự cấp cao sau này. Lúc ấy ngoài các khoa cơ bản như chiến thuật và các khoa binh chủng, tổ quân chủng, lần đầu tiên có tổ chức thêm 3 khoa mới: Đó là khoa đường lối quân sự, khoa quân sự địa phương và khoa lịch sử quân sự.

        Những khó khăn của công tác nhà trường trong bước đi ban đầu là tất yếu. Phương pháp huấn luyện, phương pháp sư phạm, cơ sở vật chất đảm bảo huấn luyện, đó là những khó khăn cơ bản, mục tiêu nhà trường phải tháo gỡ, mà phần nào anh em giáo viên ta sớm tránh khỏi bỡ ngỡ ban đầu.

        Song, thật khiếm khuyết, nếu quên đi những nỗ lực chủ quan của tập thể cán bộ giáo viên Học viện. Đội ngũ này còn khá trẻ, hầu hết họ đều chưa có gia đình, rất hăng hái nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao. Những khó khăn vừa nói ở trên cũng như khó khăn trong việc dịch các tài liệu do chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc cung cấp và biên soạn tài liệu giảng dạy đã dần dần được khắc phục.

        Có đồng chí trước khi lên lớp vài ngày đã một mình đóng cửa buồng làm việc của mình để tự giảng, tập giảng. Chúng ta thử tưởng tượng xem: một mình anh ấy đi đi lại lại tiếng nói lúc trầm lúc bổng, lúc đều đều, lúc nhấn mạnh... một cách trách nhiệm, tự giác để đạt đến nội dung lên lớp gần như học thuộc lòng. Đó chính là thái độ lao động nghiêm túc để đưa kiến thức vào bộ não của mình.

        Giờ đây, mỗi khi nhớ lại những ngày ấy, chúng tôi thật sung sướng tự hào, nếu không có những tháng năm như vậy đâu có được sự trưởng thành như hôm nay.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:55:53 pm

        Cũng cần phải nói thêm là học viên của Học viện phần lớn là cán bộ trung cấp, nên đó cũng là động lực thúc đẩy anh em giáo viên phải cố gắng rất nhiều. Với tinh thần trách nhiệm cao, tinh thần phấn khởi học tập, nghiên cứu nên họ đã hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra. Nổi lên trong số giáo viên lúc đó, chúng tôi còn nhớ mãi anh Hoàng Đan, một con người vui tính, nhưng khá mạnh dạn sôi nổi trong giảng dạy. Cho đến khi, trên các cương vị cao trong quân đội anh vẫn giữ tác phong giản dị, tính tình vui vẻ đó.

        Trong nội dung huấn luyện giảng dạy của Học viện, lúc đó đã chú trọng trong việc học tập kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp, tiếp thu thành tựu của nền khoa học nghệ thuật quân sự Xô viết, đồng thời học tập kinh nghiệm của cuộc chiến tranh ở miền Nam trong thời kỳ Mỹ - Nguy thực hiện cuộc chiến tranh đặc biệt. Vì vậy, các đồng chí như đồng chí Trần Văn Quang (thượng tướng, nguyên thứ trưởng Bộ Quốc phòng) và nhiều cán bộ đã chiến đấu ở miền Nam ra, được Học viện mời đến báo cáo kinh nghiệm chiến đấu cho cả học viên, giáo viên và cán bộ nhà trường nghe.

        Những kinh nghiệm thực tiễn đó làm sáng tỏ rất nhiều lý luận mà nhà trường đã giảng dạy, qua đó rút kinh nghiệm kịp thời, bổ sung cho giáo trình tài liệu giảng dạy của Học viện. Có một kinh nghiệm muôn thuở, đó là lý luận phải gắn liền với thực tiễn, học phải đi đôi với hành. Điều ấy, được phản ánh qua những đợt diễn tập thực binh khá tốt, do Học viện tổ chức.

        Trong một lần diễn tập thực binh, Học viện đã lấy Trung đoàn 209 của Sư đoàn 312 làm đơn vị thực hành. Đơn vị hành quân từ Phổ Yên (Bắc Thái) - Thái Nguyên qua Đèo Khế, vòng về Lập Thạch qua thị xã Vĩnh Yên đánh vào công sự vững chắc của địch ở chân núi Tam Đảo. "Trận chiến đấu” đó thu được kết quả khá tốt. Nó chứng tỏ phương pháp đưa học viên vào các vị trí chỉ huy, tổ chức hành quân đường dài, trong quá trình thực hành tác chiến có cán bộ của Trung đoàn thực binh giám sát chặt chẽ là phương pháp rất tốt để nâng trình độ của cán bộ, học viên.

        Có một lần trong diễn tập thực binh, chúng tôi phải làm gấp một con đường quân sự để cho cả pháo binh cơ giới, xe tăng đi. Con đường ấy chạy từ chân núi Tam Đảo đến Bá Vân qua đèo Nhe, đánh sang quân địch ở Bá Vân phía bắc chân núi Tam Đảo. Bộ đội làm con đường này, được nhân dân hai tỉnh Vĩnh Yên và Thái Nguyên rất hoan nghênh và ủng hộ. Nó vừa là con đường phục vụ cho diễn tập thực binh vừa là con đường rất thuận lợi cho nhân dân hai tỉnh đi lại không phải đi vòng khá xa. Trong chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đã từng biết bao con đường như thế ra đời, nó mang nhiều ý nghĩa không chỉ là quân sự mà cả chính trị, kinh tế rất lớn lao.

        Có một lần khác, trong đợt diễn tập làm đường quân sự làm gấp ở Hải Dương, Kiến An, chỉ huy đơn vị ra lệnh cho 2 xe ủi đi trước mở đường cho pháo binh cơ giới đi tiếp Không ngờ, trên trục đường đó đơn vị phải đi qua một cái cầu gỗ trông có vẻ không được chắc chắn lắm. Vì thế, anh Hoàng Đan phải cùng với mấy đồng chí cán bộ, giáo viên công binh và vài chiến sĩ lái xe đi "tiền trạm".

        Đến nơi, anh Hoàng Đan nghĩ ra một kế khá táo bạo: cho mấy chiến sĩ chạy nhảy trên cầu và giáo viên công binh xem xét khảo sát kỹ các dầm cầu chân cầu, thấy chiếc cầu không hề rung gì cả, thế là chỉ huy đơn vị quyết định cho xe ủi đi qua trước, quả nhiên là xe ủi đi qua được. Khi đơn vị hành quân qua an toàn, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm, bởi sự quyết đoán dựa trên tính toán rất thô sơ như thế.

        Bắt đầu từ năm 1954 Trường bổ túc quân sự trung cao cấp đã mời cố vấn Trung Quốc sang giúp đỡ. Và sau đó các thời kỳ đều có cố vấn Trung Quốc và Liên Xô giúp đỡ.

        Mùa hè năm 1957, anh Hoàng Văn Thái, anh Vương Thừa Vũ cùng với tôi đi tham quan diễn tập của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc ở Tô Châu. Ở đấy chúng tôi thấy có cả chuyên gia cố vấn Liên Xô. Diễn tập và tập trận là điều rất cần thiết cho một quân đội thường trực, để luôn luôn có khả năng hiệp đồng và sẵn sàng chiến đấu. Mong sao sau này khi có điều kiện quân đội ta cũng làm được như vậy.

        Tại cuộc chiêu đãi của Bộ Tổng tham mưu ở Khách sạn Thái Hồ, khi ngồi bên bờ Thái Hồ, đồng chí Trung Quốc có kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện rằng: Đây là nơi Tây Thi đã từng ở, trên núi có giếng gương soi của Tây Thi cạnh đồn Cô Tô. Việt Vương Câu Tiễn sau khi đánh bại Phù Sai, thì Phạm Lãi đã cùng Tây Thi dùng thuyền bỏ trốn ở trên hồ này. Thái Hồ là một cái hồ rất rộng, chung quanh cây cối rậm rạp um tùm.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:56:15 pm

        Sau đó, vào năm 1960 trong dịp Nguyên soái Diệp Kiếm Anh sang thăm Việt Nam, ông đã đi thăm quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghệ An. Đoàn đưa ông đi bằng máy bay, còn chúng tôi cũng đi theo sau nhưng bằng ô tô. Cùng đi với tôi có đồng chí người bạn Trung Quốc là Tướng Dương Thành Võ. Trên đường đi chúng tôi có nghỉ một chút dưới gốc đa bên đền thờ An Dương Vương ở Diễn Châu và nói chuyện vui. Sau này tôi mới được biết chính Tướng Dương Thành Võ là người trực tiếp tham gia bắt lũ bốn tên là Giang Thanh, Vương Hồng Văn, . ...

        Đến năm 1961, Bộ tổ chức thành lập thêm Học viện quân chính. Anh Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng, kiêm Viện trưởng và bổ nhiệm tôi làm Phó Viện trưởng, anh Lê Chưởng làm Chính uỷ. Thực tế lúc đó hai Học viện như là một. Giáo viên hai học viện sang dạy cả hai nơi. Khi chiến tranh phá hoại miền Bắc xảy ra, Học viện lại phải sơ tán về vùng nông thôn, trên có cử thêm đồng chí Vũ Yên và đồng chí Đỗ Trình làm Phó Viện trưởng Học viện.

        Trước yêu cầu của chiến trường miền Nam tháng 9 năm 1964, Học viện đã tổ chức cho một số cán bộ, học viên của hệ quân sự được điều động vào chiến trường Nam Bộ tham gia chiến đấu. Trước khi lên đường, đoàn được gặp Bác Hồ và Bộ Chính trị thăm hỏi dặn dò. Đảng uỷ và chỉ huy Học viện tổ chức mời cơm thân mật, chụp ảnh lưu niệm và Đoàn cũng đã gặp gỡ chia tay với anh em trong Học viện rất cảm động.

        Trong một đêm cuối năm 1963 con tàu "Phương Đông II", con tàu không số của Bộ Tư lệnh Hải quân rời cảng Hải Phòng đưa các đồng chí vào tận Cà Mau từ đó các đồng chí toả đi các chiến trường. Có một số anh em chiến đấu và ở lại chiến trường luôn cho đến khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, còn một số anh thì sau một thời gian chiến đấu lại trở về Học viện tiếp tục giảng dạy. Nhưng cũng có một số đồng chí đã chiến đấu dũng cảm và bị hy sinh ở chiến trường.

        Từ năm 1954 đến năm 1965, trong khoảng 10 năm, đó là một cơ hội lớn cho tôi có được một thời gian dài để làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, nhất là được đọc sách và nghiên cứu nhiều tài liệu lý luận quý giá. Điều mà tôi đã hằng mong mỏi từ nhiều năm trước đó. Tôi tranh thủ thời gian nghiên cứu các tài liệu của Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc và các tài liệu trên thế giới.

        Với tài liệu Việt Nam tôi lần giở lại những tài liệu cổ quý giá như: Binh thư yếu lược, Quân Trung từ mệnh tập, Đại cáo Bình ngô, Tôn Tử, Các Mác, Anggen, Lênin, Hồ Chí Minh, Claodơvit...và các chiến lệ như: trận Lớt của Êpamirônđa, trận Can của Haniban, trận Bối Thuỷ trận của Hàn Tín, trận Austerlite của Napôlêông, Xitalingơrát ...Bạch Đằng, Chi Lăng, Ngọc Hồi, Đống Đa, chiến dịch Biên giới 1950, Điện Biên Phủ... Qua đấy, vừa kế thừa được tinh hoa truyền thống của dân tộc ta, một nước nhỏ đã chiến thắng các nước lớn, một đội quân ít cả người và vũ khí thô sơ đã chiến thắng những đạo quân xâm lược lớn - đông quân, nhiều vũ khí hiện đại.

        Mặt khác, quan trọng hơn là hiểu biết về tư tưởng quan điểm, nguyên lý và các quy luật của đấu tranh vũ trang trong chiến tranh. Hiểu được điều đó quả thật không đơn giản, nhưng rất thích thú với những ai đam mê nghệ thuật quân sự, thích tìm tòi những căn nguyên của thắng lợi và thất bại. Vì thế tôi còn bước đầu hiểu được phần nào tư tưởng biện chứng quân sự của Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Nhờ có những hành trang đó mà khi tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, một số kiến thức cơ bản đó trở thành cơ sở để vận dụng sáng tạo trong chiến đấu và đã giành được một số thắng lợi.

        Không những thế, với hành trang đó mà tôi có thêm kiến thức để thai nghén hai cuốn sách nhỏ được xuất bản ngay tại chiến trường và cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ (cuốn Tổ tiên ta đánh giặc - năm 1971 và cuốn Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa năm 1974).

        Tất cả những điều ấy, dù bước đầu hiểu được, nhưng thành thật mà nói, chưa ai dám mạnh dạn vận dụng nhiều vào chương trình huấn luyện, giảng dạy của học viện. Vì lúc đó chúng tôi còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng giáo điều máy móc, nặng về học tập hình mẫu của Liên Xô, thoát ly thực tiễn Việt Nam, có khuynh hướng thiên về tác chiến hiện đại hiệp đồng binh chủng và có phần nào đó là tác chiến dưới điều kiện vũ khí hạt nhân, còn coi nhẹ chiến tranh nhân dân. Sau đó, Bộ cũng thấy được tình hình này nên chúng tôi kịp thời rút kinh nghiệm, chấn chỉnh lại, khuynh hướng tư tưởng giáo điều, máy móc.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2016, 11:56:36 pm

        Bây giờ có thời gian để suy ngẫm, chúng tôi mới thấy nếu giáo điều máy móc dập khuôn là hết sức nguy hiểm, hậu quả tác hại của nó là rất lớn khó mà lường trước được Bài học đó không chỉ cảnh tỉnh giới quân sự mà còn với mọi lĩnh vực khác của xã hội ta trước kia và cả ngày nay và thực tế chiến trường cũng phải vận dụng theo điều kiện thực tế của chiến tranh.

        Mặt khác, qua công tác đào tạo cán bộ ở Học viện cũng khẳng định một chân lý: "Lý luận phải đi đôi với thực hành". Cái đó ví như người phải đi bằng cả hai chân mới vững chắc, nếu chỉ đi một chân ắt sẽ chậm chạp và không đạt được tốc độ cần thiết.

        Sự trưởng thành của các đồng chí mà giờ đây đã từng giữ cương vị cao trong chỉ huy bộ đội, và cấp hàm cao như thượng tướng Minh Châu... Lê Ngọc Hiền, thượng tướng Giáp Văn Cương... là một bằng chứng xác thực rằng họ đã trưởng thành không chỉ trong thực tiễn chiến đấu mà cả trong việc họ đã được dự các lớp học bồi dưỡng lý luận ở Học viện.

        Có một điểm đáng tự hào và rất đúng đắn thuộc về quan điểm chỉ đạo của Ban lãnh đạo nhà trường là: Phải thật sự cầu thị, khiêm tốn trong việc tiếp thu tất cả các ý kiến đóng góp của các chuyên gia Trung Quốc và Liên Xô. Song các chuyên gia của Bạn chỉ bồi dưỡng, giúp đỡ cho số cán bộ giảng dạy cho học viên của ta. Tiếp thu ý kiến đến đâu và như thế nào là do ta, còn nội dung ta giảng gì, giảng như thế nào thì do ta xác định vì thế mà ta giữ được tính độc lập. Hồi đó, cũng có một số học viên là cán bộ quân sự của Lào và Campuchia. Cũng có đồng chí học qua học viện mà hiện nay đang là uỷ viên Bộ chính trị ở Lào.

        Về đội ngũ giáo viên của Học viện, sau năm 1954, trên đã chọn được những đồng chí vừa có trình độ lý luận vừa có kinh nghiệm chiến đấu. Chính vì thế mà chất lượng huấn luyện của nhà trường được bảo đảm. Điều đáng nói ở đây là qua Học viện này phần lớn học viên đều nắm được những tri thức cơ bản về tác chiến hiệp đồng binh chủng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thì ta chưa thực hiện được, nay trên cơ sở học tập kiến thức quân sự của Liên Xô, Trung Quốc và một phần đầu kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, mà giảng dạy và vận dụng vào thực tiễn chiến tranh.

        Lúc này, chế độ huấn luyện và sinh hoạt của Học viện đã đi vào nền nếp chính quy chặt chẽ. Làm được điều đó bởi nhiều lẽ, trong đó có một thuận lợi là cán bộ, giáo viên cũng như học viên đều là thanh niên trẻ tuổi, chưa có gia đình, ăn ở sinh hoạt học tập tập trung tại trường. Các chế độ nội quy được thực hiện khá nghiêm, như chế độ trực ban, trực nhật, trực chỉ huy, tập đội ngũ, bắn súng, thể dục thể thao, tăng gia sản xuất v.v ..

        Thủ trưởng học viện thường xuyên cùng trực ban kiểm tra việc thực hiện chế độ giờ giấc, nơi ăn, chốn ở ... Điều này chắc là có nhiều người cho là quá cụ thể và không cần thiết, nhưng thực ra đó chính là những biểu hiện tính sâu sát cụ thể, sự quan tâm lãnh đạo chỉ huy trong đơn vị. Việc làm đó là vô cùng cần thiết và không phải đơn vị nào cũng thực hiện nghiêm được.

        Ngoài các vấn đề đó ra, các phong trào thi đua, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, tăng gia sản xuất cũng được chú ý đúng mức. Đấy là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của đơn vị quân đội. Không chỉ ta mà cả lớp học của Bạn (Lào, Campuchia) cũng có chế độ học tập chặt chẽ, cũng được huấn luyện theo phương pháp chính quy hiện đại.

        Ngoài phần lý luận ra, quy trình huấn luyện thường bao gồm những bước cơ bản như: lên lớp, thảo luận tổ, tập bài trên bản đồ, tập bài ở dã ngoại, diễn tập thực binh, kiểm tra sát hạch, thi cuối khoá. Tất cả quy trình đó đặt cơ sở rất tốt cho công tác huấn luyện chính quy của nhà trường sau này. Vì có như vậy chất lượng đào tạo mới được nâng cao.

        Nhưng cũng nên nhắc tới những khó khăn khách quan ít nhiều cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quy trình cùng như chất lượng huấn luyện, đó chính là cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập của nhà trường rất thô sơ. Chỉ xin nêu một ví dụ thôi: khi chúng tôi cho anh em học viên lớp đào tạo học bộ môn binh chủng xe tăng thì cũng có được ra bãi tập được ngồi trong xe tăng để nghe giới thiệu tính năng kỹ thuật và cấu tạo, còn không có điều kiện để tập lái (thực hành) hoặc cũng có dành một ít thời giờ để anh em học về lái xe ô tô, nhưng vẫn còn nặng về lý thuyết.

        Song, chúng tôi vẫn cho là tất cả những gì mà chúng tôi đã làm được đều khẳng định hướng vươn lên, thể hiện nỗi trăn trở, khao khát chính đáng của mỗi cán bộ, giáo viên học viên học viện, đặt cơ sở bước đầu rất khiêm tốn cho một số phương pháp huấn luyện cơ bản của một Học viện chính quy.

        Và những ai trong số cán bộ trưởng thành qua bước đường binh nghiệp của mình, hẳn sẽ không bao giờ quên được những kỷ niệm đơn sơ, nhỏ bé nhưng vô cùng quý giá, ấy là những năm tháng "dùi mài kinh sử" ở các nhà trường, Học viện trong quân đội. Đa số các đồng chí được đào tạo cơ bản đều thừa nhận có như vậy thì cán bộ mới vượt lên vừa nhanh chóng, vừa chất lượng, thể hiện được ở việc đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của quân đội.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 12:04:51 am

PHẦN 6

TIẾNG GỌI CỦA CHIẾN TRƯỜNG

        Trước sự phát triển của cách mạng Việt Nam, bị thất bại trong loại hình "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ tiến thêm một bước trong chính sách vũ trang xâm lược bằng loại hình "chiến tranh cục bộ".

        Cùng với việc đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ còn mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc.

        Những năm đầu của thập kỷ 60 (1960-1965) nước Mỹ phạm một sai lầm nghiêm trọng mà sau này tất cả các nhà nghiên cứu Lịch sử và các nhà lý luận quân sự, các chính khách và tướng lĩnh Hoa Kỳ đều xác nhận. Đó là việc để cho Lin-đơn Giôn Xơn bước vào Nhà trắng sau cái chết của Ken - Nơ - Đi (11-1963) và việc quốc hội Mỹ đã thông qua "nghị quyết Vịnh Bắc Bộ", cho phép Giôn Xơn leo thang chiến tranh trên toàn cõi Việt Nam.

        Bằng thủ đoạn lừa bịp mà sau này đã được phơi bầy nhân vụ công bố tài liệu mật của Lầu năm góc (ngày 13-6-1971) do một quan chức cao cấp Mỹ là Đa - ni - en En -xbe tiến hành, Giôn Xơn đã thao túng các cơ quan lập pháp của Hoa Kỳ, buộc quốc hội Mỹ thông qua "bản nghị quyết tai hại" mà sau này được coi là "một sai lầm lớn nhất có tính chất lịch sử đối với ngành lập pháp Hoa Kỳ".

        Với chính sách hiếu chiến của Giôn Xơn, cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu bước vào một giai đoạn mới, ngày càng quyết liệt hơn. Sau khi quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết về sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Giôn Xơn đã giành được đặc quyền tiến hành mở rộng chiến tranh trên cả hai miền Nam Bắc Việt Nam. Một mặt, Giôn Xơn liên tục cho không quân và hải quân Mỹ "leo thang” chiến tranh ở miền Bắc, một mặt ông ta bắt đầu nghĩ đến chiến lược mở rộng phạm vi hoạt động trên bộ của quân đội Mỹ ở miền Nam song song với việc củng cố chính phủ Sài Gòn đang trong cơn khủng hoảng nặng nề sau một loạt cuộc đảo chính của giới quân sự. Tướng Nguyễn Khánh đang loay hoay trong cái mớ bòng bong của một chính phủ mọt rỗng, chia rẽ xâu xé lẫn nhau.

        Chiến lược của Giôn Xơn không có gì khác hơn là việc đẩy mạnh cường độ chiến tranh trên cả hai miền Nam Bắc Việt Nam mà mục tiêu của nó là hòng đánh gục ý chí của Bắc Việt và dập tắt mọi hy vọng thắng lợi của “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam”. Nhưng phải đến tháng 11 năm 1964, khi Giôn Xơn được bầu lại làm tổng thống nước Mỹ thì những âm mưu đó bắt đầu được thực hiện với một tốc độ ngày một ráo riết hơn.

        Cuộc chiến đấu của nhân dân ta đứng trước những thử thách mới. Lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên như một hồi kèn xung trận:

        "Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng. Chúng ta từng đánh đổ phát xít Nhật, đánh bại thực dân Pháp và hiện nay đang kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược"

        “Chúng ta quyết tâm giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, giành tự do hoàn toàn cho nhân dân.”

        “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu , dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn" (Lời kêu gọi thi đua sản xuất và chiến đấu chống Mỹ của Hồ Chủ tịch ngày 20/7/1965)

        Trong những ngày tháng sôi sục đó tôi đang công tác ở Học viện Quân sự. Đối với một người đã từ lâu có ham thích học hỏi nghiên cứu nghệ thuật quân sự thì Học viện là nơi lý tưởng. Đây là nơi quy tụ những cán bộ chỉ huy, những nhà nghiên cứu chiến thuật, nghệ thuật chiến dịch có nhiều năng lực của quân đội ta. Nhiều người được phân công về đây làm cán bộ giảng dạy, nhiều người từ các chiến trường về để tham gia nghiên cứu học tập những vấn đề mới mà thực tiễn chiến đấu đang đặt ra. Chính họ đã mang tới Học viện không khí náo nức sôi sục của các chiến trường, chính họ luôn đặt ra cho những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu những vấn đề ngày càng trở nên bức thiết đối với cuộc chiến đấu ngoài Mặt trận.

        Mỗi khi có những đồng chí mới từ các chiến trường ra, về Học viện để học tập nghiên cứu hay phổ biến kinh nghiệm, thì chúng tôi thường tổ chức những cuộc gặp gỡ, trao đổi để qua đó nhận được từ họ hơi thở nóng ấm và những điều sục sôi của Mặt trận.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 02:46:40 pm

        Sau mỗi cuộc gặp gỡ như vậy, những ấn tượng trong tôi thật sống động và thường thường kéo theo sau đó là những ngày trăn trở, những đêm mất ngủ về những câu hỏi mà mới đặt ra. Và, rồi trong học viện của chúng tôi đã lác đác có người được ra trận. Những cuộc tiễn đưa đó để lại trong tôi những băn khoăn, trăn trở mới. "Liệu rồi có đến lượt mình được ra Mặt trận hay không”. Liệu với độ tuổi như thế này, sức khoẻ như thế này mình còn có thể vượt Trường Sơn được hay không?

        Để làm nòng cốt cho sự phát triển chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy trên chiến trường miền Nam, chúng ta cũng đã thành lập được một số đơn vị cấp Trung đoàn, Sư đoàn. Tuy nhiên để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ tác chiến thì phải tăng thêm quân số cho lực lượng vũ trang.

        Việc Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam là một yêu cầu thực tế buộc chúng ta phải có đối sách phù hợp. Do vậy, cũng trong thời gian này, cùng với việc đưa bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam để xây dựng các đơn vị chủ lực, Bộ cũng đã tổ chức việc cử nhiều đoàn cán bộ quân sự tăng cường cho các chiến trường và tổ chức ra nhiều Sư đoàn.

        Sau một thời gian nghiên cứu về địch, chúng ta đã xác định muốn đánh Mỹ và thắng Mỹ phải tổ chức được những đòn đánh tập trung, chính quy theo cấp Sư đoàn, tác chiến bằng các Sư đoàn. Kết hợp chặt chẽ với tác chiến du kích, tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương. Chiến tranh phát triển phải tuân theo quy luật là kết hợp tác chiến du kích với tác chiến chính quy, từ đánh nhỏ đánh vừa tiến lên đánh lớn.

        Một trong những chiến trường có khả năng đánh lớn lúc đó là chiến trường Tây Nguyên. Ý định của ta là tổ chức đánh lớn, tập trung trên chiến trường này. Phải đưa những cán bộ có kinh nghiệm tác chiến bằng bình đoàn chủ lực vào chỉ đạo ở chiến trường miền Nam. Đó là lý do của bước ngoặt mới, trong cuộc đời quân ngũ của tôi.

        Giữa năm 1966, tôi đang làm Viện trưởng Học viện Quân sự, nhà trường phải sơ tán vào chân núi Tam Đảo (Vĩnh Phú) vì cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Không khí ở cả hai miền Nam - Bắc lúc bấy giờ vô cùng sôi động, chiến tranh ác liệt đã xảy ra không chỉ ở tiền tuyến mà ngay cả hậu phương lớn.

        Người ở hậu phương nóng lòng chờ đón tin chiến thắng từ chiến trường. Nam nữ thanh niên háo hức xung phong ra Mặt trận. Người ngoài Mặt trận cũng chờ đón những tin vui tin bắn rơi máy bay Mỹ - nguồn động viên vô tận của hậu phương miền Bắc.

        Đúng lúc ấy, tôi được lệnh Bộ Quốc phòng gọi lên nhận nhiệm vụ mới. Người đầu tiên tôi được gặp là đồng chí Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí ấy phổ biến chỉ thị của Thường vụ Quân uỷ Trung ương cử tôi vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Thú thực, là người lính tôi cũng đã nhiều lần nhận nhiệm vụ, nhưng lần này tôi lại cảm thấy hồi hộp lạ thường, cho dù lúc này, mọi dự đoán đã đúng, là người lính khi đất nước đang có chiến tranh ác liệt thì chỉ có thể ra Mặt trận. Mình vốn đang ở hậu phương nay thì chỉ có ra Mặt trận chứ còn đi đâu nữa. Thế mà sao tôi vẫn cảm thấy xốn xang trong lòng trước những gì đã xác định được chắc chắn.

        Trong những năm 1965 và đầu năm 1966, Học viện đã cử nhiều đoàn cán bộ đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam, trong đó có chiến trường Tây Nguyên. Nhiều đồng chí đã đi thực tế chiến trường, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và nay trở lại học viện để tiếp tục làm công tác giảng dạy. Những kinh nghiệm quý báu mà các anh thu hoạch được trong cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt ấy đã giúp cho chúng tôi nâng cao một bước chất lượng huấn luyện ở Học viện. Được các anh kể lại chuyện chiến trường, bọn tôi nghe rất háo hức. Nhiều người, trong đó có tôi đang ấp ủ nguyện vọng sớm được đến lượt mình ra trận.

        Và giờ đây, nguyện vọng của tôi đã thành hiện thực. Nhiều năm ở Học viện, được nghiên cứu lý luận nhiều, tôi vẫn mong được dịp này để khảo nghiệm, tích luỹ thêm những kinh nghiệm thực tiễn chiến tranh. Tôi muốn cùng đồng đội của mình tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ. Lúc đó, anh Chu Huy Mân đang giữ cương vị Tư lệnh kiêm Chính uỷ Mặt trận Tây Nguyên, anh Cao Văn Khánh là Phó tư lệnh Mặt trận. Bộ Quốc phòng cử thêm tôi vào làm Phó tư lệnh Mặt trận.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 02:47:10 pm

        Nếu ai đã từng nhận nhiệm vụ đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam lúc ấy, hẳn còn nhớ lắm từ "đi B". Đã ra đi chiến đấu ai cũng mong đến ngày chiến thắng trở về xum họp hạnh phúc với gia đình, vợ con. Và lẽ dĩ nhiên chiến tranh luôn đi liền với sự mất mát, hi sinh. Ở Học viện chúng tôi, có đồng chí đã ra đi nhưng vĩnh viễn nằm yên nghỉ ngay Mặt trận... Tâm trạng đó, vui có, băn khoăn có, ấy là lẽ thường tình của những người "đi B".

        Với tôi lúc đó có tâm trạng như thế, háo hức và sẵn sàng vui vẻ nhận nhiệm vụ. Thời gian chuẩn bị rất gấp, gần ngày lên đường tôi cũng không khỏi lo lắng cho gia đình, hậu phương của mình. Vợ tôi vất vả vì sức khoẻ vốn kém, các con còn nhỏ, lại phải bồng bế nhau đi sơ tán. Người phụ nữ trong cuộc sống chiến tranh thật sự vất vả, phải chịu đựng bao nỗi gian truân, thiệt thòi, những khó khăn không kể hết, nhiều khó khăn khó hình dung nổi, liệu ai cũng có thể vượt qua được không? Nhưng cũng vì họ mà lớp lớp chúng tôi ra trận mới yên lòng. Đó chính là sức mạnh phi thường để chiến thắng quân thù.

        Song, nhìn tấm gương của các anh đi trước, với nhiều hoàn cảnh éo le khác, thậm chí khó khăn hơn mình, nhiệm vụ người lính và tiếng gọi của đồng bào chiến sĩ miền Nam – đang chịu bao đau thương mất mát đã thúc dục tôi, động viên, tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi vững bước lên đường.

        Đây là nhiệm vụ lớn - cả nước đang dốc sức hoàn thành. Mệnh lệnh với người lính là phải chấp hành một cách nghiêm chỉnh. Tôi nhanh chóng bắt tay vào làm công tác chuẩn bị cá nhân và thu xếp công việc gia đình.

        Vào một ngày đầu tháng 7 năm 1966 tôi được mời lên gặp đồng chí Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị để nhận nhiệm vụ mới. Vừa bước vào tới cửa, anh Song Hào đã vừa cười vừa tiến lại, bắt tay tôi:

        - Chúc mừng anh! Thế là anh toại nguyện rồi đó. Tôi muốn được chia xẻ niềm vui với anh nên mời anh lên đây. Những chi tiết của nhiệm vụ, cấp trên sẽ thông báo với anh sau.

        Thế là rõ. Tôi đã được cấp trên phân công vào công tác tại chiến trường Tây Nguyên với cương vị là Phó tư lệnh, làm Phó cho đồng chí Chu Huy Mân. Trước đó có các anh Huỳnh Đắc Hương, Nguyễn Chánh, Đoàn Khuê, Cao Văn Khánh, toàn là những đồng chí dầy dạn kinh nghiệm và giàu năng lực cả. Rõ ràng Đảng ta và Bộ Tổng tư lệnh đã nhận rõ tầm quan trọng chiến lược của chiến trường Tây Nguyên nên đã bố trí ở đó những cán bộ có năng lực của quân đội ta. Được sự giúp đỡ của các đồng chí ấy tôi có thể yên tâm vượt qua những khó khăn của buổi ban đầu.

        Nhưng dù sao đứng trước một nhiệm vụ vô cùng to lớn như vậy tôi vẫn rất lo lắng. Khi ngồi trên xe, tôi phác nhanh trong đầu những kế hoạch làm việc của mình trong những ngày mới. Làm việc với Bộ Tổng tham mưu để tìm hiểu tình hình chiến trường. Đặc biệt chú ý về địch ở chiến trường này. Đọc một số tài liệu về địa lý, xã hội phong tục tập quán của các dân tộc Tây Nguyên. Gặp gỡ một vài đồng chí ở Tây Nguyên để tham khảo ý kiến. Thu xếp bàn giao các công việc ở Học viện.

        Giải quyết một số việc gia đình, con cái trước khi lên đường. Tóm lại trước mặt tôi là một loạt các công việc phải làm nhưng tôi không hề cảm thấy bối rối. Các đồng chí, đồng đội xung quanh tôi và cả gia đình tôi, chắc chắn sẽ tìm mọi cách giúp đỡ tôi để tôi để tôi có thể hoàn thành mọi công việc chuẩn bị thật nhanh, gọn để sớm có thể lên đường ra trận.

        Hình như cũng đoán được tâm trạng của tôi lúc lên đường, trong buổi gặp tôi, sau khi phổ biến nhiệm vụ, anh Song Hào có hỏi tôi rất thân tình:

        - Trước lúc lên đường, Anh còn có khó khăn gì, nguyện vọng gì thì cứ nói?

        Tôi có tâm sự với Anh, những băn khoăn thật sự của mình, nhưng nhất định tôi khắc phục được và giờ đây không gì có thể cản trở được công việc mà tổ chức đã giao cho tôi.

        Sau khi nghe tôi nói, Anh Song Hào tỏ ý rất mừng và khẳng định ngay:

        - Cậu cứ yên tâm lên đường, ở nhà bọn mình sẽ bàn với cơ quan tổ chức giúp đỡ thêm cho "hậu phương” của cậu ổn thoả. Việc đó nhất định bọn mình phải lo rồi, trách nhiệm của tổ chức mà. Thế là xong nhé, còn nhiệm vụ cụ thể thế nào thì đến khi gặp đồng chí Văn Tiến Dũng cậu sẽ biết rõ.

        Tiễn chân tôi ra khỏi phòng làm việc, anh Song Hào còn nói một câu rất vui, vừa là động viên vừa là nhắc lại:

        - Thế là cậu vinh dự được đi chiến trường để cùng anh em chiến đấu nhé!

        Tôi tạm biệt anh Song Hào trong vòng tay thân thiết ôm chặt lấy nhau đầy hứa hẹn ngày chiến thắng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 02:47:41 pm

        Sau đó, tôi đi gặp anh Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng. Anh Dũng trao đổi với tôi khá kỹ càng về tình hình địch, ta trên chiến trường, những kinh nghiệm mới vào chiến trường nên như thế nào. Tôi còn nhớ rõ tinh thần cơ bản mà anh Dũng trao đổi với tôi trong buổi giao nhiệm vụ cụ thể hôm ấy là:

        - Bây giờ Mỹ nhảy vào miền Nam rồi, vì thế ta lại càng phải tích cực tìm cách đánh lớn. Mặt trận Tây Nguyên là địa bàn có thể tập trung đánh lớn được. Dự kiến của chúng ta là sẽ tổ chức ở đây cấp Sư đoàn. Anh vào trong đó sẽ làm phó cho anh Chu Huy Mân. Dù sao ít nhiều thì anh cũng đã có kinh nghiệm tác chiến tập trung. Ở Học viện anh đã có ít năm học tập, nghiên cứu và giảng dạy về vấn đề này rồi, giờ chiến trường cần, đó là thuận lợi và hợp với anh đấy? Anh hãy cố gắng khảo nghiệm. Chỉ có điều anh nhớ là đi lúc này dọc đường 559 đang rất thiếu gạo, anh em ta đi lại rất vất vả. Tôi sẽ nói với Tổng cục hậu cần cho xe thồ gạo đi theo. Việc bảo đảm cho anh đi vào trong đó tôi sẽ giao cho anh em chỉ huy ở các trạm trên đường 559 lo tổ chức chu đáo.

        Trước khi lên đường tôi còn được làm việc vài lần với đồng chí Thượng tướng Văn Tiến Dũng. Với tư cách là Tổng tham mưu trưởng, Thượng tướng đã giúp tôi tìm hiểu toàn bộ tình hình chiến trường và cũng luôn nhắc nhở tôi về tam quan trọng chiến lược của Tây Nguyên.

        Trong một lần trao đổi về nhiệm vụ của tôi, đồng chí Văn Tiến Dũng nói:

        - Nếu muốn đi đến thắng lợi lớn thì trước hết phải xây dựng căn cứ địa Tây Nguyên, phải nắm chắc địa bàn Tây Nguyên.

        Trong lần gặp gỡ cuối cùng, Tổng tham mưu trưởng đặc biệt quan tâm tới cuộc hành quân sắp tới của tôi. Rõ ràng đồng chí rất lo cho sức khoẻ của tôi khi tiễn tôi ra về, đại tướng (Nhầm, phải là thượng tướng – Sao Vang) nắm chặt tay tôi, im lặng một lát rồi nói:

        - Ở vào tuổi chúng ta mà phải hành quân vượt Trường Sơn thì không phải là chuyện đơn giản nữa rồi. Tôi đã liên lạc với các đơn vị tuyến trong yêu cầu họ giúp đỡ anh. Nhưng trong cuộc ra trận này có lẽ anh phải tự lo lấy sức khoẻ của mình là chính anh Thảo ạ. Chúng tôi sẽ rất vui mừng khi nhận được tin anh vào chiến trường an toàn.

        Xiết chặt tay nhau, anh Dũng tiễn tôi ra về với thái độ rất tin tưởng vào thắng lợi của cuộc chiến đấu. Và lúc này, tôi mới thực sự cảm thấy nhiệm vụ đặt ra cho mình biết bao công việc ngổn ngang phía trước. Tôi chợt nghĩ, phải làm thế nào để khỏi phụ lòng tin của các anh, của bạn bè, đồng đội.

        Người thứ ba mà tôi được gặp trước khi lên đường là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

        Mấy ngày sau tôi được mời lên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Đại tướng Bộ trưởng đã dành phần lớn thời gian để nói về vị trí chiến lược của chiến trường Tây Nguyên và vai trò của bộ đội chủ lực Tây Nguyên. Đại tướng nhấn mạnh:

        - Muốn giành được thế chủ động chiến lược tại chiến trường này thì vấn đề sống còn là phải xây dựng cho được một lực lượng chủ lực đủ mạnh để đánh những trận tiêu diệt tiến tới đủ sức chủ động mở những chiến dịch, bộ đội chủ lực đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên sẽ có những vai trò đặc biệt tác động rất lớn đến cục diện chiến tranh. Rất có thể từ vùng đất này ta sẽ tạo nên những bước ngoặt lớn của chiến tranh.

        Gần chục năm sau, năm 1975, diễn biến của chiến tranh đã hoàn toàn xác nhận lời tiên đoán đó của Đại tướng. Còn trong những ngày này, tôi rất xúc động khi được Đảng và quân đội giao cho nhiệm vụ quan trọng trên địa bàn chiến lược đó.

        Trước đồng chí Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi đã hứa khi vào chiến trường sẽ dựa chắc vào các đồng chí đi trước để nắm tình hình chiến trường. Tích cực tham gia vào việc xây dựng bộ đội chủ lực Tây Nguyên, mở rộng địa bàn, tạo ra thế trận vững chắc để bám trụ chiến trường tiến tới đánh to thắng lớn.

        Đại tướng còn nhắc nhở tôi rằng, muốn tạo được điều kiện để bộ đội chủ lực có thể rảnh rang xây dựng và tổ chức những chiến dịch lớn, phải xây dựng cho được những lực lượng vũ trang nhân dân địa phương vững mạnh và rộng khắp. Trách nhiệm này của bộ đội chủ lực Tây Nguyên rất nặng nề vì những vấn đề về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địa phương ở các tỉnh Tây Nguyên có những đòi hỏi đặc biệt và có nhiều đặc thù cần phải luôn luôn vận dụng sáng tạo đường lối quân sự, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng để luôn luôn đáp ứng đúng với tình hình ở từng khu vực, từng địa phương và từng dân tộc khác nhau trong những thời kỳ cách mạng khác nhau.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2016, 02:48:10 pm

        Tôi ghi nhớ những lời căn dặn sâu sắc đó của Đại tướng và sau này trong quá trình chỉ huy chiến đấu ở Mặt trận Tây Nguyên, tôi đã có dịp để tìm hiểu, thể nghiệm và dần dần nhận ra sự sáng suốt của luận điểm đó.

        Riêng với anh, tôi được gặp hai lần, một lần ở trong cơ quan Bộ - nơi anh làm việc và lần khác với tư cách thân tình đồng đội ở nhà riêng của Anh. Lúc ấy, dù với tư cách là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng Anh căn dặn tôi rất tỉ mỉ, sâu sắc. Anh ôn tồn động viên, chỉ bảo:

        - Anh Mân, anh Khánh là hai đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp, nay thêm anh vào nữa, mấy anh em cùng lo chỉ huy đánh lớn, tôi cho chắc chắn là thuận lợi. Nhưng các anh nên nghiên cứu kỹ kinh nghiệm tác chiến và những quy luật hoạt động cũng như thủ đoạn chiến thuật của quân Mỹ. Trước đây đánh Pháp khác, nay đánh Mỹ khác. Vì Mỹ mạnh hơn Pháp. Ta mới đánh Mỹ nên chưa thể hiểu hết Mỹ đâu.

        Ngừng nói, anh đưa cốc nước mát cho tôi, mời tôi uống, rồi anh tiếp tục phân tích:

        - Anh thấy đấy, cuối năm 1965, ta đã đánh một trận (Plâyme) - điều này thì anh Mân có nhiều kinh nghiệm vì là người trực tiếp chỉ huy. Các trận Vạn Tường, Plâyme, Bầu Bàng là dịp cho ta hiểu về quân Mỹ ít nhiều. Quân Mỹ mạnh, nhưng nếu ta điều được chúng lên chiến trường rừng núi mà đánh thì có thể hạn chế cái mạnh của nó. Nếu biết đánh thì cũng có thể thắng được.

        Sau lần gặp Anh Võ Nguyên Giáp, tôi ra về mà lòng thanh thản. Và tự tin tuy cũng không khỏi lo lắng vì lần đầu đánh Mỹ.

        Tôi hiểu rằng, lúc này xung quanh tôi đã có một tập thể cán bộ chỉ huy quân sự có nhiều kinh nghiệm, dám đánh và biết thắng. Tổ chức càng tin mình bao nhiêu, mình cũng thấy trách nhiệm nặng nề bấy nhiêu. Lúc này mới là lúc thử thách ác liệt nhất, nghị lực và ý chí của mỗi người lính trong chiến tranh.

        Tôi gấp rút trở về đơn vị, tổ chức cuộc họp với Ban giám đốc Học viện, Đảng uỷ Học viện để báo cáo lại tình hình gặp cấp trên nhận nhiệm vụ. Tôi đề nghị trên phân công anh Vũ Yên thay tôi làm Viện trưởng, anh Đỗ Trình và anh Minh Vân làm phó viện trưởng. Cấp trên đã chấp nhận đề nghị của tôi .

        Thời gian ngắn ngủi còn lại, tôi tranh thủ nghiên cứu lại những kinh nghiệm đánh Mỹ do anh Trần Văn Quang và một số anh em giáo viên đã đi thực tế ở chiến trường miền Nam về giới thiệu ở Học viện. Ngoài ra tôi cũng đã gặp gỡ trực tiếp các Anh ấy để nghe các anh kể lại kinh nghiệm cụ thể hơn rút ra qua những lần đi thực tế.

        Công việc cuối cùng của tôi trước khi lên đường là tổ chức số anh em đi cùng. Tôi chọn anh Dương Trọng Khoan, lúc đó là giáo viên khoa Pháo binh làm thư ký riêng và một vài chiến sĩ nữa đi bảo vệ.

        Những ngày còn lại trôi đi rất nhanh. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng vẫn chưa hoàn toàn thu xếp xong những công việc riêng tư. Khác hẳn những cuộc ra trận năm xưa, lần này tôi không còn hồi hộp thấp thỏm nữa nhưng lại có nhiều điều cần phải quan tâm hơn. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi có cái may mắn là có nhiều thời gian được tham gia chiến đấu trên giải đất đồng bằng và vùng duyên hải Bắc Bộ. Nói chung, không nơi nào không gần gũi với cảnh sắc của làng quê mình. Nghe một tiếng ru con, một câu dân ca chèo hay nhìn thấy một cánh cò lướt trên thảm lúa xanh rờn, lòng tôi cũng dịu đi bao niềm thương nỗi nhớ. Nhưng cuộc ra trận lần này tôi sẽ tới một vùng đất hoàn toàn khác với cảnh sắc quê hương. Tuy vậy, là người cán bộ quân sự của Đảng tôi biết phải tìm ra cái để mà yêu, mà gắn bó với vùng đất mình sẽ chiến đấu cho nó.

        Từ hôm nhận được quyết định công tác ở Tây Nguyên tới nay, như có một tình cảm tự nhiên vừa hình thành, hễ đọc những tài liệu về Tây Nguyên tưởng như chính những tài liệu ấy đang nói với tôi những lời tâm tình về một vùng đất xa xôi mà tôi sắp đặt chân tới.

        Thấm thoắt thời gian trôi đi rất nhanh. Ngày lên đường đã đến. Buổi chia tay hôm ấy thật bịn rịn. Tôi còn nhớ mãi. Vợ tôi, các con tôi, bạn bè thân thiết, những đồng nghiệp của tôi... những cái bắt tay rất chặt, rất lâu, những vòng tay ôm chặt lấy nhau bịn rịn tưởng chừng không dời ra được, và cả những giọt nước mắt nhớ nhung, tiễn biệt lên đường... ôi! thật gần gũi, thân thiết và trìu mến làm sao? Vừa lo đi làm nhiệm vụ, vừa lo cho vợ con ở hậu phương sống trong cảnh sơ tán. Phải kìm lắm tôi mới không để nước mắt mình trào ra khỏi hàng mi. Tôi quay đi nơi khác để giấu nỗi xúc động của mình. Những tình cảm dễ hiểu đó rồi cũng nén lại được, bởi lời giục giã của chiến trường, bởi không chỉ riêng tôi bước vào cuộc chiến đấu này, nhiều đồng đội, đồng chí của tôi đã ra đi trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng đâu có kém mình về khó khăn, ai cũng có gia đình, người thân và họ cũng đã có những cuộc chia tay như vậy.

        Xe đã nổ máy và lăn bánh, những cánh tay còn vẫy mãi lưu luyến tiễn chúng tôi đi xa ... 


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:25:38 am

PHẦN 7

ĐƯỜNG RA MẶT TRẬN

        Chuyến đi này Tổng cục Hậu cần cho tôi một xe và một đồng chí lái xe đã có "thâm niên chiến trường”. Đồng chí ấy đã từng quen với bom đạn, đường xá. Đoàn chúng tôi từ Hà Nội vào Khu 4. Hầu như suốt chặng đường đó, xe chúng tôi chỉ chạy được vào ban đêm, còn ban ngày thì nghỉ, ngủ cho lại sức vì lúc này giặc Mỹ đang điên cuồng đánh phá miền Bắc ác liệt.

        Từ Hà Nội chúng tội đi ô tô thẳng tới Bộ Tư lệnh Quân khu 4 ở nơi sơ tán. Cùng đi chiến trường với tôi lần này còn có đồng chí Dương Trọng Khoan, bí thư của tôi khi còn công tác ở Học viện và một vài đồng chí phục vụ, cảnh vệ. Anh Vũ Lăng Tư lệnh Quân khu 4, được Bộ thông báo đã chuẩn bị sẵn sàng để giúp đỡ chúng tôi vượt qua chặng đường tuyến lửa Khu 4.

        Đó là những ngày mưa dầm dề, nước các triền sông dọc miền Trung đang dâng lên cuồn cuộn. Tuy thời tiết xấu nhưng máy bay địch vẫn hoạt động rất tích cực. Có nơi chúng đánh phá trực tiếp vào các công trình thuỷ lợi hay những nơi đang bị nạn lụt đe doạ. Để bảo đảm cho đoàn chúng tôi đi lại thuận lợi Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đã điều hẳn cho chúng tôi một chiếc xe lội nước. Thế là bất chấp mưa gió, lụt bão, chúng tôi vội vã chào tạm biệt các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu 4 rồi khẩn trương lên đường ngay.

        Đối với tất cả các cán bộ và chiến sĩ đã từng một lần đi đánh Mỹ ở miền Nam đều không thể quên được những kỷ niệm về tuyến lửa Khu 4. Là một cán bộ nghiên cứu quân sự, mặc dù đã có lần đi nghiên cứu tình hình địch đánh phá ở Quân khu và thường vẫn được thông báo về những hoạt động của không quân và hải quân Mỹ dọc các tuyến đường khu 4 nhưng tôi vẫn bị bất ngờ trước mức độ tàn phác ác liệt của bom đạn Mỹ, và tôi càng bất ngờ hơn trước sự chịu đựng kiên cường, bền bỉ của nhân dân các tỉnh Khu 4 trước sức tàn phá dã man của bom đạn Mỹ. Phải có một niềm tin thật vững bền mới có thể trụ vững trên những vùng lửa đạn này. Sách báo, phim ảnh đến nay đã cung cấp cho chúng ta những lượng thông tin đáng kể để hiểu biết toàn bộ quy mô của cuộc chiến tranh phá hoại mà đế quốc Mỹ đã tiến hành ở các tỉnh khu 4 trong những năm tháng này. Nhưng ngày nay, đọc những tư liệu đó nếu không có những kinh nghiệm trực tiếp, những ấn tượng cụ thể, cũng khó mà hình dung nổi vì sao mà nhân dân ta lại có thể vượt qua được, trụ vững được mà để rồi hoàn toàn chiến thắng.

        Đi suốt chặng đường tuyến lửa Khu 4 trong những ngày quyết liệt đó tôi đã có dịp để hiểu thêm ý nghĩa rộng lớn của chiến tranh nhân dân và thấy rõ quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược giành độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta. Tôi tự hỏi, ở Mặt trận, người lính của chúng ta có trách nhiệm nặng nề biết mấy khi đối mặt với kẻ thù.

        Chặng đầu chúng tôi đi được vào đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hoá. Trên trục đường này, chúng tôi đã bắt đầu "nếm mùi" bom đạn, chứng kiến tận mắt những trận oanh kích của không quân Mỹ. Trong đó, phải kể đến những trọng điểm mà địch đánh phá dữ dội nhất là cầu Đò Lèn, dốc Bỉm Sơn và cầu Hàm Rồng trên dòng sông Mã anh hùng. Nhưng rồi đêm thứ nhất đã trôi qua. Đêm thứ hai, đoàn chúng tôi vào đến Quân khu 4. Lại phải qua những trọng điểm mới như Phà Ghép, khe nước lạnh. Vào đây chúng tôi gặp anh Vũ Lăng, anh Lăng thông báo với chúng tôi: Từ đây trở vào đoàn chúng tôi sát nhập với một đoàn cán bộ đi Quân khu 5.

        Vì số lượng người đông hơn, anh Vũ Lăng đã kịp thời bổ sung cho đoàn một xe lội nước để đi vào Quảng Bình. Trên chặng đường này xe phải qua các sông, đèo, khe vừa trơn vừa dốc rất khó đi, nhờ có thêm một xe lội nước mà từ Nghệ An đi Quảng Bình mọi khó khăn về đường xá đều được khắc phục.

        Ở chặng đêm thứ nhất chúng tôi phải nghỉ chân ở Hương Khê (Hà Tĩnh) rồi đi tiếp vào Đồng Hới.

        Đêm thứ nhất chẳng có chuyện gì, nhưng đến đêm thứ hai thì xảy ra một chuyện mà anh em trong đoàn ai cũng phải hú vía.

        Chuyện là thế này: Khi xe leo lên dốc, là người có chút vốn liếng hiểu biết về xe cộ, tôi đã "cẩn tắc vô áy náy"dặn đồng chí lái xe:

        - Cậu nhớ là xe lên dốc, để đảm bảo an toàn phải cài cầu trước vào nhé!

        - Vâng! Thủ trưởng cứ yên tâm và tin ở tôi - đồng chí lái xe đáp.

        Không ngờ, đồng chí lái xe chỉ vâng thế thôi rồi tuổi trẻ cứ vô tư chứ có làm đâu. Thế là khi xe gần lên đỉnh dốc, thấy "xài" hết ga mà xe vẫn không "dướn" lên được, lúc đó cậu ta mới hốt hoảng cài cầu. Giờ thì làm sao mà cài cầu được nữa.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:25:56 am

        Thế là đành mặc cho số phận may rủi mà thôi. Xe cứ thế mà tụt xuống chân dốc. Anh em chúng tôi vẫn ngồi cả trên xe bình tĩnh động viên đồng chí lái xe cố mà phanh cho được, nếu không thì chết cả nút. May quá, khi xe vừa tụt xuống đến bờ miệng một hố bom to tướng, thì cũng vừa lúc xe dừng lại được vì "phanh đã thắng”. Anh em trong đoàn vội nhảy cả xuống xe, nhìn hố bom sâu hoắm vừa sợ vừa thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng "nghìn cân". Đồng chí lái xe lúc ấy như hiểu ra điều tai hại, nét mặt cậu ta hối hận và xúc động thật sự. Đồng chí ấy đề nghị các thủ trưởng cho nghỉ ít phút để lấy lại sức lực và tinh thần thì mới có thể đi tiếp được. Chúng tôi vui vẻ đồng tình vì thấy lúc này cậu ta là người quan trọng nhất.

        Trên đường vào Quảng Bình, không phải chúng tôi đi liên tục được, nghỉ ngày đã đành, nhưng có lúc phải nghỉ cả đêm nữa, vì chặng này nhiều đêm địch vẫn đánh phá ác liệt, pháo sáng chúng thả lúc đằng trước xe, lúc đằng sau xe trông cũng "khiếp".

        Trên đường đi vào chiến trường lần này, gợi cho tôi nhớ lại lần đầu tiên chúng tôi đi thực tế Khu 4. Đó là vào năm 1965, Học viện tổ chức cho một đoàn cán bộ đi thực tế. Lúc ấy, cái gian khổ ác liệt bởi bom đạn đã gớm, nếu so với lần này lại chẳng thấm vào đâu cả. Vào đến Quảng Bình chúng tôi gặp anh Sự đang là Tỉnh đội trưởng Quảng Bình. Nghe chúng tôi hỏi thăm về cách tránh bom đạn của Mỹ thế nào, anh giới thiệu cho chúng tôi xem các hầm trú ẩn, đồng thời cũng chính là nhà ở luôn. Bấy giờ nhà ở dưới lòng đất nên thường gọi là "nhà âm". Tất cả mọi sinh hoạt đều ở "dưới nhà". Qua đây chúng tôi nhận thức sâu sắc hơn một điều: sức chịu đựng của con người Việt Nam trước sự tàn khốc của chiến tranh thật khó tưởng tượng nổi!

        Có lẽ vì thế mà địa đạo Bến Hải, Củ Chi đã đi vào lịch sử không chỉ Việt Nam, mà cả trên thế giới - Điều làm cho biết bao người Mỹ tiến bộ phải hết lời thán phục. Còn những kẻ xâm lược phải kinh ngạc và khuất phục.

        Đến đây, đoàn chúng tôi thay đổi phương tiện hành quân từ "ngựa sắt" sang "thuyền rồng”. Anh Sự nói giờ nên đi đường sông an toàn hơn. Và anh tổ chức cho đoàn đi bằng một chiếc xuồng máy theo đường sông vào huyện Lệ Thuỷ. Đang đi đường bộ mệt mỏi bụi bặm, gập ghềnh căng thẳng bao nhiêu, thì giờ đây chuyển sang đường thuỷ mới thấy được cái ngọt ngào êm dịu và mát mẻ của làn nước dù máy bay địch vẫn bay qua trên đầu.

        Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã vào đến Lệ Thuỷ. Thế là hết đoạn "sướng" rồi nhé. Một đồng chí trong đoàn nói vui.

        Tới khu vực làng Ho (Quảng Bình) chúng tôi đã chấm dứt chặng đường hành quân bằng các phương tiện cơ giới. Tất cả những gian truân, nguy hiểm khi hành quân từ Hà Nội vào tới đây hoá ra chỉ là "trò đùa" so với chặng đường dài đằng đặc qua ngàn dặm núi non sắp tới.

        Thật khó mà tả hết nỗi vui mừng của tôi khi qua được ngày trèo dốc đầu tiên. Đôi chân chưa đến nỗi "phản bội" tôi, dĩ nhiên so với các đồng chí cùng đi tôi được ưu tiên hơn cả, nghĩa là được miễn mang vác nặng. Tuy vậy, qua được cái dốc đầu tiên mồ hôi vẫn cứ ướt đẫm áo, mắt hoa đầu váng, tôi đã tưởng khó mà có thể hoàn thành được cuộc hành quân.

        Nhưng rồi qua ngày thứ hai, thứ ba trở đi chân dường như có "dẻo" hơn thật. Vả lại, càng đi vào đường giao liên càng đông vui. Thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp một đoàn cán bộ chiến sĩ từ các chiến trường đi ngược chiều. Đôi khi ra hỏi thêm tình hình hậu phương, người vào sốt ruột muốn biết tình hình chiến trường nên chuyện lập tức nở như ngô rang.

        Một lần chúng tôi gặp một đoàn các em dũng sĩ diệt Mỹ trên đường hành quân ra Bắc. Chúng tôi lập tức dừng lại, các em quây chúng tôi đòi kể chuyện miền Bắc, kể chuyện Bác Hồ. Nhìn các em nhỏ tuổi mà đã vượt Trường Sơn, cũng lưng đeo ba lô vai vác gạo, gậy chống trong tay, lòng tôi rưng rưng xúc động. Tôi cố gắng kể cho các em nghe đôi điều về thủ đô Hà Nội. Về Bác Hồ, về thiếu nhi miền Bắc. Còn các em, bằng giọng nói thơ ngây các em cặn dặn chúng tôi đủ điều từ cách đi tìm rau rừng, cách chống muỗi vắt đến cách tránh lũ trực thăng đi soi đường ban đêm và tránh pháo bẫy như thế nào. Với chiến trường có lẽ tôi quả là "lính mới" so với những chiến sĩ tý hon này. Không ai có thể ngờ ở tuổi như các em mà lại biết được nhiều điều về chiến tranh, về kẻ thù đến thế. Ở những nước xã hội chủ nghĩa không có chiến tranh, lứa tuổi các em được hưởng biết bao niềm vui hạnh phúc. Vậy mà ở nước ta, các em đã biết đánh giặc. Nghĩ vậy, tôi bỗng thấy trách nhiệm của mình thật nặng nề, làm gì đây để góp phần vào sự nghiệp giải phóng đất nước, mang lại hạnh phúc cho các em?


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2016, 01:26:39 am

        Cuộc gặp gỡ các em nhỏ chiến sĩ đã động viên chúng tôi rất nhiều. Trường Sơn chẳng có gì ghê gớm nếu như những chú bé tí hon này đã có thể vượt qua bằng những đôi chân nhỏ xíu của mình? Tôi bỗng thấy mình bước đi khoẻ khoắn hơn, lưng bớt đau hơn và chặng đường như ngắn lại.

        Giờ thì chúng tôi lại chuyển sang hành quân bộ theo đường 559, Ai đã một thời là lính trong chống Mỹ, chắc còn nhớ con đường này - con đường nổi tiếng hôm qua, hôm nay và vĩnh hằng tồn tại. Nó bắt đầu được tính từ Ho trở vào - Từ đây trở vào là đoạn đường đi bộ nên bom đạn cũng ít hơn nhưng đường lại rất khó đi. Ngay khi đến trạm đầu tiên bắt đầu đi vào "chế độ" ăn ở sinh hoạt lán trại là thấy vất vả hơn trước rồi. Qua dốc 1001 rất khó đi, toàn đường núi đá quành quèo, ngay khi đi bộ không mang gì đã khó, nay lại còn cả ba lô, súng, gạo, thì lại càng khó đi hơn... chúng tôi đâu có dám sánh với đồng đội của mình. Nếu so sánh với anh em bộ đội ta phải mang vác đạn dược, cối, ĐK thì khó biết chừng nào? Thế mới biết được các đồng chí ấy có nghị lực rất phi thường, và không kém phần quan trọng là họ có tài leo núi, để vượt qua những đoạn đường khó khăn như thế.

        Qua được dốc 1001 chúng tôi thở phào nhẹ nhõm, và phải nghỉ lấy lại sức để rồi đi tiếp. Cũng may là đoạn sau dễ đi hơn đoạn trước. Lúc đó cùng đi với đoàn là một xe đạp thồ gạo. Trên đường vào, dọc đường chúng tôi gặp anh em bộ đội ta ra Bắc, cũng đói quá. Chúng tôi bàn nhau, phải đồng cam cộng khổ với anh em, nếu thiếu gạo ta tính sau, trước mắt còn gạo ta cứ chia cho các đồng chí ấy một ít. Trên chặng đường không dài, xe gạo có vơi hẳn đi nhưng lòng chúng tôi cũng thanh thản một phần.

        Vào đến Bạc (trạm giữa của đường 559), đó là vùng đói nhất, gạo chúng tôi đem theo lại gần hết, lúc này lương thực là vấn đề nan giải. Ở một trạm giao liên gần sông Bạc, chúng tôi đã may mắn gặp được anh Ba, anh Nguyễn Lang và anh Nguyễn An, các anh phụ trách các binh trạm của tuyến đường Trường Sơn. Qua các anh tôi biết thêm một số tình hình chiến trường. Ở tình hình chiến trường cũng đang có nhiều biến động. Mỹ đang ráo riết chuẩn bị cho những bước phiêu lưu quân sự mới ở Tây Nguyên đã quyết giành lấy thế chủ động trên chiến trường quan trọng này.

        Tôi chú ý đến hoạt động của bộ đội chủ lực Tây Nguyên và rất vui mừng khí biết tin các đơn vị chủ lực bộ đội Tây Nguyên đã biết đánh Mỹ và thắng Mỹ. Anh Nguyễn An trước kia thời kỳ đánh Pháp đã công tác và chiến đấu với tôi ở Hải Phòng Kiến An. Nay gặp nhau ở trên đường 559, trong bữa ăn cơm chiều, và bom đạn ác liệt, nhưng rất vui, Anh An kể cho tôi nghe về những trận đánh hay trong chiến dịch PLây Me nổi tiếng diễn ra mùa khô năm ngoái (1965). Khi còn ở Học viện, chúng tôi đã thảo luận rất sôi nổi về những trận đánh diễn ra ở PLây Me dưới chân núi Chư Pông và ở thung lũng Ia drăng. Tôi cho rằng đó là những trận đánh rất quan trọng của bộ đội Tây Nguyên, cho phép chúng ta rút ra nhiều kinh nghiệm hay khi tác chiến với quân Mỹ ở chiến trường rừng núi hiểm trở.

        Giờ đây tôi càng nao nức trong lòng, chỉ muốn đi được thật nhanh vào chiến trường, để trực tiếp được gặp những đồng chí, đồng đội đã làm nền những chiến công tuyệt vời đó, đồng chí An, cán bộ chỉ huy, bạn chiến đấu cũ với tôi hồi còn ở khu 3 trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhìn anh một lúc tôi mới nhận ra, vì thiếu thốn gian khổ, nên anh rất gầy và già đi nhiều, nước da xanh tái như người bị bệnh sốt rét. Tôi xúc động và thương anh vô cùng. Đã một thời sống và công tác cùng nhau, tôi hiểu Anh là một con người trung thực, chất phác, tính tình hiền lành, ăn ở rất tốt. Anh An vội đem ra ít sữa, và một nắm gạo lẫn lộn thành cháo đường để cùng nhau ăn mừng ngày hội ngộ.

        Nếu ai không cùng thời với chúng tôi, lúc đó, chắc khó mà thấu hiểu cái thiếu, cái khổ vì đói. Mọi vật chất thật nhỏ nhoi trước tinh thần yêu nước, cách mạng. Anh em cơ quan, chiến sĩ phải ăn cơm (rất ít) độn với rất nhiều quả gắm hoặc củ chuối, củ rừng. Được tận mắt "mục kích" thấy một số anh em ta bị phù chân vì thiếu chất đạm, mà ứa nước mắt vì thương mến và cảm phục họ. Những người đang hi sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm. Tinh thần chiến đấu của họ cao hơn cả sự thiếu thốn gian khổ. Vì họ đã thấm nhuần lời hiệu triệu bất hủ của Bác Hồ, "Không có gì quý hơn độc lập tự do", hơn thế họ luôn luôn lạc quan yêu đời dù cái sống cái chết chỉ cách thau gang tấc.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 05:10:31 am

        Nhưng đường vẫn còn dài, càng đi vào khó khăn càng nhiều. Tôi đã được nghe nói nhiều về đường giao liên Trường Sơn nhưng đến bây giờ mới thật hiểu hết những nỗi gian lao mà những người chiến sĩ đường dây phải vượt qua.

        Đường giao liên không chỉ thơ mộng như trong bài thơ, bài hát mà trên thực tế đó là những con đường đầy chông gai, thử thách. Bom đạn, biệt kích, muỗi vắt và cái đói là những kẻ thù thường xuyên của bộ đội Trường Sơn. Chúng tôi dù sao cũng chỉ là "khách qua đường” tuy cũng được hưởng đầy đủ "mùi vị" của đường giao liên Trường Sơn nhưng chưa thấm đâu so với với những chiến sĩ Trường Sơn. Hết năm này qua năm khác gắn bó với tuyến đường này. Có đồng chí có mặt trên đường dây này từ khi con đường mòn chưa hình thành, từ khi còn phải vạch lá mà đi, đi tới đâu xoá dấu vết tới đó không để lộ một dấu chân. Nhiều đồng chí đã nằm lại đây đó trên những nẻo đường rừng heo hút và bị sốt rét, bị trúng bom đạn Mỹ hay có khi hy sinh chỉ vì cây đổ hay nước lũ cuốn đi bất thần. Những người chiến sĩ vô danh đó đã hiến thân để làm nên con đường đi giải phóng Tổ quốc.

        Đi trên đường Trường Sơn, tôi càng thấm thía hơn nữa lời thề quyết tâm đánh Mỹ của Đảng của Bác. "Nếu có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập tự do....". Đã có lần Bác kêu gọi chúng ta như vậy.

        Ngày nay câu nói "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" đã trở thành câu nói cửa miệng của mỗi người ra trận. Trên con đường này, các thế hệ đánh giặc cứu nước đã gặp nhau. Từ lớp chúng tôi, thế hệ đã từng được tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp đến các chiến sĩ tí hon mà chúng tôi vừa gặp hôm qua trên đường Trường Sơn đều có chung một nguyện vọng, một lý tưởng. Có lẽ vì thế mà chúng ta gặp nhau là hiểu nhau ngay, phải khôngđồng đội của tôi?

        Tôi muốn được cám ơn những người đi trước đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh để dựng nên tuyến đường cho chúng tôi ra trận hôm nay. Nhìn những hàng tên khắc trên các thân cây trong các trạm giao liên tôi bổng hiểu rằng, cả nước đã ra trận, cả nước đang đi trên con đường này, cả nước đang hướng về miền Nam ruột thịt. Trong những tháng năm này tôi chỉ như một chiếc lá nhỏ góp phần làm nên cái xanh tươi hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn.

        Thông thường, cuộc hành quân bộ của chúng tôi chỉ tính bằng trạm. Một ngày đi hết một trạm. Nhưng có một lần, chúng tôi đi đến một trạm, nghĩ là bình thường, nên cũng vẫn vào nghỉ ngơi để ngày mai đi tiếp. Không ngờ, vừa đặt ba lô xuống, anh em trong trạm thông báo rằng: "Theo trinh sát của ta, tối nay bom Mỹ và biệt kích sẽ đánh vào trạm này. Như thế là trạm đang ở tình trạng không được an toàn.

        Thế là, không còn cách nào khác đồng chí trạm trưởng bắt chúng tôi phải hành quân ngay đến trạm tiếp sau không được nghỉ lại qua đêm nữa. Ai cũng mệt mỏi rã rời khi phải đi gấp đôi chặng đường thường đi. Riêng tôi vì chưa rèn luyện đi bộ thường xuyên, sức khoẻ lại có hạn, nhiều năm lại chưa đi bộ thế này bao giờ nên mới đi hết một phần ba cung đường thì tôi mệt quá không đi được nữa. Anh em chiến sĩ thấy tôi như vậy, rất thương, họ giục tôi nằm lên võng để khiêng đi. Lúc đầu, mệt quá tôi đành chấp nhận. Đi được một vài cây số, tôi cảm thấy người có dễ chịu hẳn đi, nhưng nằm trên võng thấy anh em đi lại vất vả quá sao đành lòng? Tôi vội bảo các đồng chí đó cho tôi xuống đi bộ tiếp vì thấy đỡ mệt rồi, nhưng giờ nên đi chậm lại vậy.

        Mọi khó khăn trên đường rồi cũng qua đi, tất cả đều ở lại sau lưng chúng tôi. Vào đến địa phận của B3 (lúc đó Mặt trận Tây Nguyên được gọi là Mặt trận B3), chúng tôi gặp đồng chí Đoá. Đồng chí này cũng là đồng nghiệp của tôi trước đây là giáo viên khoa Thông tin của Học viện. Anh Đoá vui mừng ôm chầm lấy tôi và anh em trong đoàn:

        - Được tin anh vào, anh Chu Huy Mân cử tôi ra đây chờ và đón các anh. Tôi rất mừng vì các anh vượt được chặng đường dài gian khổ để vào được đến đây an toàn, khoẻ cả. Anh Đoá vừa cười vừa nói vui vẻ.

        Ít phút sau, anh Đoá như sực nhớ ra và nói:

        - à! anh Mân còn dặn tôi đem cho các anh một con gà để "thết đãi các anh”. Biết chắc đi đường các anh ăn uống kham khổ lắm.

        Từ đây trở vào đường đi lại thuận lợi hơn. Chúng tôi gặp gỡ rất nhiều đoàn người đi mương, rẫy, đi rừng - đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Mặc chiến tranh ác liệt, họ vẫn sống hồn nhiên vui vẻ lạc quan. Cũng giống như ở chặng đường trước, chúng tôi đã gặp đồng bào Vân Kiều, vào đây lại gặp đồng bào Tây Nguyên, những nét tương đồng giữa họ thật dễ nhận thấy, mộc mạc, chất phác, hiền dịu vô tư. Trong số họ có cả cán bộ địa phương và bộ đội đi làm công tác dân vận. Họ rất ủng hộ bộ đội, vui mừng chào đón khi thấy các chú bộ đội vào đây sát cánh đoàn kết cùng với họ chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 05:10:58 am

        Sau đấy, vô tình tôi gặp đồng chí Mai Nhân cán bộ của B3 giữa một khu rừng cây cối um tùm xanh ngát. Lúc đấy, trời đã lạnh, anh Nhân cho tôi một chiếc chăn dù, chiếc chăn đó theo tôi đi khắp chiến trường và hiện giờ vẫn còn "sống” cùng tôi. Thật thú vị khi anh em chúng tôi được anh Nhân "chiêu đãi" một bữa cơm rất "thịnh soạn”. Này nhé, măng le nấu với thịt thú rừng, loại măng rừng ngon nhất đấy. Tôi vẫn nghĩ, ở ngoài Bắc, có tiền cũng không mua được.

        - Giờ đã cuối mùa mưa mà vẫn còn măng le sao anh? Tôi hỏi anh Đoá

        - Còn, nhưng ít thôi anh ạ! anh trả lời.

        Từ đây trở vào thật "sướng” đủ đường, được ăn thịt thú rừng đủ loại như khỉ, gà rừng, hưu, nai, chồn, hoẵng... sức khoẻ bọn tôi sau khi được "tẩm bổ” có khác ngay.

        Đến các trạm tôi thường được nằm võng; mỗi trạm đều có một bãi cho bộ đội ở. Anh em cũng căng võng vào cây rừng mà nghỉ, việc nấu ăn và sưởi ấm đều bằng bếp Hoàng Cầm. Dưới ánh lửa bập bùng của đêm rừng cao nguyên, những kỷ niệm thời chống Pháp lại sống dậy trong tôi...

        Còn trời mưa thì sao? Mưa thì căng ni lông lên trên võng mà ngủ. Cán bộ có ưu tiên hơn, được nằm ở trong trạm tuy nhà tranh vách nứa vẫn đỡ mưa hơn anh em ngủ ngoài trời. Nói vậy chứ khó khăn gian khổ vẫn là chính, buộc mỗi người phải tự biết rèn luyện và thích nghi với hoàn cảnh thực tại.

        Đi trong rừng, ngủ trong rừng không phải không nguy hiểm nhưng lại rất thú vị. Đặc biệt ở đây rất nhiều vắt, có đoạn vắt nhiều đến vô kể, đầu nó cứ nhoi lên nhu nhú như đàn đỉa con, nhìn quen mắt rồi mà người vẫn cứ thấy nổi da gà.

        Một lần, khi chúng tôi hành quân qua một đoạn rừng có tổ ong bò vẽ rất to. Kể ra đi quành bằng đường khác cũng tránh được nhưng rất xa. Vì thế anh em dặn nhau cứ thẳng tiến nhưng cấm được cười nói hoặc làm các động tác trêu trọc gì hết, cứ nín thở mà đi. Quả nhiên khi đi qua, một vài con bay lượn xung quanh chúng tôi nhưng thấy không có "thái độ” khác thường nên chúng không "tấn công”. Thế là chúng tôi ai cũng thở phào nhẹ nhõm vì thoát nạn.

        Lần khác, tôi đang ngủ trong một chiếc lán, ngay cửa lán có một cây xanh tươi tốt, còn anh em chiến sĩ thì mắc võng lên cây ngủ ở ngoài. Ai ngờ đâu, sáng tinh mơ, khi tỉnh dậy mấy chiến sĩ phát hiện trên cây ngay cửa lán có một con rắn lá (màu xanh) rất độc và nguy hiểm đang nằm rất “hiền lành". Một vài anh em lo quá, hét ầm lên, định đánh, nhưng may quá thấy động con rắn bò đi mất.

        Thưởng thức món ăn ở rừng thì nhiều, và món rất bổ ấy là chuyện con trăn. Có một lần, vào 12 giờ đêm khi tất cả ăn đang ngon giấc ngủ, tôi cũng vậy. Bỗng có người lay tôi dậy uống tiết trăn. Chưa hết ngạc nhiên, tôi vội dậy đi ra sân đã nhìn thấy một con trăn to, dài đến vài mét được treo trên cành cây bằng một sợi dây rừng. Chả là anh em vừa bắn được xong. Một anh cầm bát rượu hứng dưới, còn anh khác cầm đuôi con trăn dùng dao cắt đuôi tiết trăn chảy vào bát rượu. Thế là sau đó từ cán bộ đến chiến sĩ truyền tay nhau bát rượu bổ đó mà thưởng thức. Tôi chưa uống bao giờ, nhưng thấy anh em nói là rất bổ, nên tôi cũng uống xem sao. Quả nhiên uống xong, chỉ mấy phút tôi cảm thấy trong người nóng ran lên, khí thế lắm. Buổi tiệc rượu giữa đêm khuya thế mà trở nên rôm rả khác thường.

        Đây đó, câu nói của Nguyễn Trãi lại sống lại trong trí nhớ của tôi: "Rượu hoà nước dưới trên đều một bụng cha con". Đó là chiến công của đồng chí Ón cần vụ của tôi là người Cao Bằng. Đồng chí Ón là tay thiện xạ chuyên đi bắn khỉ, hươu và sau đó chế biến món ăn. Có lần đồng chí ấy trèo lên lấy phong lan, tôi cản không được sau đành đặt tên cho phong lan đó là "Ón lan". Đồng chí này rất tốt, rất yêu quý tôi. Có lần ở Liên khu 5, năm 1944, tôi và đồng chí đó bị pháo địch bắn phá, chúng tôi phải tạm chạy vào trong rừng, đồng chí Ón đã nằm đè lên người tôi để che chở đạn pháo của địch cho tôi. Tôi rất mến đồng chí đó và cảm ơn đồng chí đó rất nhiều.

        Thế mới biết cuộc sống người lính có biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp. Lúc khổ, lúc sướng là vậy.

        Anh Đoá bảo tôi:

        - Bây giờ thì hết gà nhà rồi, nhưng anh muốn ăn gì có nấy, khỉ, nai, dê hay gà rừng? Anh muốn ăn thịt gì thì anh em xin "phục vụ” ngay. Đúng thế, nhiều lần ước là thấy. Một hôm, anh em họ bắn được một con nai, họ bắc bếp đun hai nồi: một nồi nước sôi và một nồi mỡ sôi. rồi xẻ thịt nai ra, giờ thì tuỳ anh muốn dùng kiểu tái nào thì dùng. Thế mới biết, nếu cứ ở Hà Nội, thì dù có ao ước đến bao nhiêu cũng không có được món ăn vừa lạ vừa bổ như thế...


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 05:11:44 am

        Trên đường vào Mặt trận B3, tôi còn được gặp anh Hoàng Kiện, người bạn, người đồng chí mà sau này còn gắn bó với tôi nhiều năm ở Học viện Quân sự Cấp cao. Lúc đó anh Hoàng Kiện chỉ huy Sư đoàn 304 vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Sau khi đánh xong trận Plâyme thắng lợi - đánh cho sư kỵ binh không vận Mỹ, một phát minh mới của Mắc-na-ma-ra những đòn choáng váng, anh được Bộ điều động đi nhận nhiệm vụ mới. Vì thế trên đường anh ra Bắc chúng tôi đã gặp nhau. Hai anh em tôi dừng chân nghỉ dọc đường. Anh say sưa kể lại chuyện đánh trận Plâyme như thế nào? và vì sao ta thắng lợi giòn giã như thế!

        Qua câu chuyện anh kể, tôi lại có thêm kinh nghiệm thực tế chiến trường rất bổ ích và quý giá. Anh như tiếp cho tôi nguồn sức mạnh mới trước khi vào trận. Trong người tôi bỗng trào dâng niềm cảm xúc thật khó tả vừa hồi hộp bồn chồn vừa háo hức và lo lắng về trách nhiệm và cương vị của mình.

        Càng đi vào gần chiến trường không khí chiến tranh càng rõ rệt. Đi trong rừng bạt ngàn nhưng vẫn là đi dưới tiếng gầm rú của máy bay và tiếng pháo địch. Địch đang hoạt động mỗi ngày một dữ dội hơn.

        Lúc bấy giờ, vào chiến trường, con đường 559 này chưa phải là nhộn nhịp lắm. Có lẽ cũng có nhiều lý do, nhưng lý do chính là ta chưa tổ chức được nhiều trận đánh lớn hợp đồng binh chủng, và chưa tổ chức vận tải cơ giới một cách thông suốt. Và vì thế nhu cầu cung cấp cho chiến trường chưa lớn.

        Sau này, tôi ra vào nhiều lần thì lúc đó mới thấu hiểu sâu sắc hơn giá trị, "tầm vóc chiến lược” của con đường 559, con đường đọng lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó phai mờ.

        Các lần sau đó đi ra vào nhiều lần tôi đi hoàn toàn bằng phương tiện ô tô, tuy có nguy hiểm thật nhưng nhanh hơn nhiều so với việc hành quân bộ trước đây. Trên con đường ấy, tôi đã gặp biết bao điều cảm hứng bởi thiên nhiên, cảnh sắc thơ mộng. Con đường trải dài thẳng tắp giữa các đồi thông dưới ánh trăng thơ mộng của chị Hằng. Nhưng thiên nhiên thơ mộng đó và chị Hằng có biết đâu mọi người qua lại đây đều rất ngại, cả tôi cũng thế vì đó là mục tiêu - miếng mồi ngon cho máy bay giặc, khác hẳn với những con đường quanh co, dốc núi quành quèo, chính nó lại không nguy hiểm bằng một con đường thẳng băng. Những đồi thông, rừng thông xanh biếc rầm rì lời tâm sự của gió, nhưng cũng đang bị khuấy động bởi tiếng gầm rú của máy bay và tiếng bom đạn của giặc Mỹ trong cuộc chiến tranh ác liệt. Lúc ấy, tôi chợt nghĩ: có lẽ "xe không kính” của "nhà thơ 559" Phạm Tiến Duật cũng đã đi qua con đường này rồi còn gì nữa. Và trên con đường ấy tôi đã gặp biết bao nhiêu người, bao nhiêu số phận.

        Thật xúc động và cảm phục khi gặp những chị đang địu cả con ra Bắc để học tập, có những chị thì đi làm nhiệm vụ vận chuyển thương binh... Thấy các chị "địu” con vất vả quá, anh chị em giao liên phải thay nhau bế hộ, trông đến tội. Tôi nghĩ đó là điều kỳ lạ về tinh thần con người - người phụ nữ Việt Nam, với sức mạnh kỳ lạ của những vóc dáng mảnh mai và thậm chí thể lực yếu đuối ấy mà đã vượt lên tất cả, đó chính là sức mạnh về ý chí của cả một dân tộc dồn mọi tâm sức, để chiến thắng một đế quốc khổng lồ như Mỹ. Cho đến giờ lịch sử chiến tranh chưa cắt nghĩa được điều đó.

        Lần ấy, trong số thương binh chuyển ra Bắc, tôi đã gặp đồng chí Sĩ Động, anh bị cụt một chân. Lúc mệt anh nằm võng, lúc đỡ anh lại chống nạng đi lấy. Anh Động cũng là giáo viên cũ của Học viện. Anh em gặp nhau ai nấy mừng mừng tủi tủi, rơi nước mắt. Chúng tôi ôm lấy nhau thấy xúc động quá, chẳng phải anh em ruột thịt mà tình cảm đồng chí đồng đội lúc này còn hơn thế nữa, thương nhau chia sẻ ngọt bùi cùng nhau.

        Sau này khi chúng ta triển khai làm thêm trục đường ống dẫn dầu dọc theo con đường 559 thì không khí trên con đường này sôi động hẳn lên. Sự thần kỳ của con đường cũng được nhân lên gấp bội. Cũng chính từ khi ta làm con đường ống dẫn dầu thì địch càng luôn luôn tìm mọi cách đánh phá, dử dội hơn nhiều lần bằng những hành động thả biệt kích, thám báo chỉ điểm thậm chí tổ chức cả một chiến dịch đánh phá qui mô ... . Nhưng nhờ có dân tốt, quân và dân ta đều cảnh giác nên bọn chúng không làm gì được.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Hai, 2016, 05:12:04 am

        Chúng tôi đã từng gặp và còn nhớ mãi những khuôn mặt đáng yêu của các nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường này. Họ đã cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho cách mạng, đất nước độc lập tự do ngày đêm chống chọi với bom đạn ác liệt để bảo vệ sự sống của con đường huyết mạch. Những giờ phút căng thẳng khi điều khiển cho từng đoàn xe qua ngầm, qua đèo dưới làn bon đạn địch, những lần phá bom nổ chậm hay san lấp hố bom để thông đường... Có lần xe ô tô hết xăng vào trạm bơm xăng của 559 thì toàn là các cô gái cả miền Nam và miền Bắc bơm xăng cho các xe ô tô. Mặc dù từ rất nhiều quê khác nhau trên khắp đất nước: Nghĩa Bình, Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Vĩnh Phú, Thái Bình... nhưng họ sống với nhau ở nơi đây như chị em ruột thịt, sống chết có nhau. Sự gian khổ hy sinh là chất keo gắn chặt họ với nhau trong cuộc sống và chiến đấu. Với họ cũng có nhiều ngành nghề, có cô được trên cho đi học nâng cao trình độ y tá y sĩ nhân viên chuyên môn điều trị, có cô là chiến sĩ thông tin, văn công... Tất cả họ phần lớn đều còn rất trẻ, hồn nhiên mà dũng cảm phi thường, trong trắng và đáng yêu biết bao.

        Những năm sau đó còn có dịp đi lại trên con đường này, chúng tôi lại tích luỹ thêm những kinh nghiệm hành quân. Và lại có thêm bao nhiêu kỷ niệm về con đường ấy: Có lúc xe chúng tôi chạy cả ban ngày nhưng chủ yếu là ở những đoạn đường đã được nguỵ trang kín đáo.

        Một lần, tôi được nghỉ ngay tại Tổng hành dinh Bộ Tư lệnh đường 559, ở đây tôi được gặp anh Đồng Sĩ Nguyên, một đồng chí chỉ huy gan dạ, mưu trí. Lúc ấy, anh đang là Tư lệnh đường chiến lược vận tải Trường Sơn (559). Rồi tôi lại gặp cả đoàn của anh Năm Công ở Quân khu 5 đi ra Hà Nội họp. Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên quyết định đoạn này rậm rạp được nguỵ trang tương đối kín đáo, địch lại không bắn phá lắm nên có thể đi ban ngày.

        Tất cả anh em chúng tôi đều phải mang mũ sắt trên đầu. Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay trên đầu rồi những tiếng nổ vọng từ xa tới. Sau lần gặp anh Đồng Sĩ Nguyên, chúng tôi và đoàn anh Năm Công được anh Nguyên "chiêu đãi" một bữa khá thịnh soạn, tươm tất. Nhất là tối hôm ấy chúng tôi còn được thưởng thức một tối văn công do đoàn văn công Trường Sơn biểu diễn. Các cô văn công lúc đó không son phấn, chẳng trang điểm gì hết, nhưng nghe họ hát, múa sao mà vui thế, đẹp thế. Thế mới biết, đang lúc bom đạn ác liệt, giữa rừng Trường sơn được ưu đãi như vậy có khi còn thích thú hơn nhiều so với một số đêm ở nhà hát lớn Thủ đô Hà Nội.

        Đi xe ô tô có nhanh, đỡ vất vả hơn nhiều so với đi bộ, song không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có lần chúng tôi đi bằng xe "Bắc Kinh", khi xe đang vượt qua một chiếc đèo lên gần tới đỉnh đèo thì két nước không còn một giọt vì máy quá nóng. Đây thường là tụ điểm đánh phá của địch nên rất nguy hiểm. Phải lấy nước nhanh. Gần đỉnh đèo thì khó mà kiếm được nước. Quả nhiên anh em phải chia nhau đi tìm khắp các khe lạch, vất vả lắm mới lấy được nước để đổ cho xe chạy tiếp.

        Sau này khi được dùng xe Uát thì mới thấy xe này bảo đảm hơn, "khoẻ" hơn xe '"Bắc Kinh" nhiều. Nó không những đi nhanh qua đèo, dốc mà ở những ngầm sâu, suối sâu nếu xe Jin ba cầu qua được thì nó cũng qua được.

        Còn lần khác khi xe đi vào mùa mưa, đường trơn, chúng tôi phải đi bằng xe Jin ba cầu có đầu tời, mỗi khi lên dốc phải dùng tời để kéo. Nhất là qua những chỗ nước lũ mực nước lên cao trên các ngầm, lại phải dùng xe kéo pháo Uran để kéo xe Jin. Thậm chí còn dùng cả xe máy húc để kéo.

        Cá biệt, có các ngầm như Tà Lê, đèo Mụ Giạ, cua chữ A là những mục tiêu mà địch bắn phá rất ác liệt, đoạn đường ấy rất khó đi. Lần ấy, khi xe chúng tôi qua đèo Mụ Giạ vào buổi chiều, nhìn cây cối hai bên đường trơ trụi hết, lộ ra toàn là đất đỏ, ấy là sự tàn khốc của chiến tranh. Song cũng vì bom đạn đánh phá nhiều nên cây cối quang đãng hơn, nhất là các "cua" trên đèo lại rất rộng, anh em lái xe mở rộng được tầm nhìn, xe đi lại dễ dàng hơn. Lợi và hại là bạn đồng hành mà. Một đồng chí có nhận xét như thế đấy. Tất cả điều ấy cũng là khó khăn, vất vả đấy nhưng đừng so sánh với sự chịu đựng khó khăn nguy hiểm của các đồng chí công binh mở đường. Họ không chỉ phải chịu đựng bom đạn mà phải chống chọi với cả thiên nhiên khắc nghiệt, nắng mưa, gió rét... Nhất là các đồng chí ở cung đoạn có cầu phà, cầu phao thì nhiều đồng chí ngày đêm phải dải trên cầu để chờ đón và dẫn đường cho các đoàn xe qua. Dũng cảm nhất là những đồng chí phải đứng ở giữa cầu phao để đảm bảo vững chắc cho cầu xe qua. Các đồng chí lái phà cũng phải thường xuyên nằm ở trọng điểm đánh phá của địch. Nguy hiểm biết bao, phi thường biết bao tinh thần bất khuất, dũng cảm hy sinh, sự gan dạ phi thường ấy đã trở thành sức mạnh to lớn chiến thắng vũ khí kỹ thuật hiện đại của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 02:54:11 pm

        Lịch sử mãi mãi còn ghi nhận những tấm gương hy sinh dũng cảm của các nữ thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc. Ở đoạn ngã ba này, có lần chúng tôi đi qua cầu được một đoạn thì địch ném bom dữ dội, trước mặt chúng tôi cũng vậy đó là cảnh nhà dân hai bên đường lửa còn đang cháy dở. Chắc ai trong số chúng ta quê ở Quảng Bình thì rõ hơn hết những hy sinh cao cả của các bà mẹ. Họ đã từng dỡ hết cánh cửa nhà mình để lát đường cho xe bộ đội ra Mặt trận. Mẹ Suốt ngày đêm chèo đò chở bộ đội qua sông dưới làn đạn giặc. Sau chiến tranh, từ các em nhỏ đến các cụ già toàn quốc cũng đã biết hình ảnh bà mẹ Suốt Quảng Bình qua thơ ca kháng chiến chống Mỹ... Đó là những tấm gương trường tồn với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

        Đường 559 - với tầm vóc chiến lược của nó thật xứng đáng có nhiều công trình tổng kết và viết thành lịch sử chiến tranh. Là một trong những người được đi qua con đường có nhiều lần tôi không sao kể hết và thấy hết được mọi điều. Chỉ biết rằng đó là một con đường vận tải, cung cấp lương thực, thực phẩm, vũ khí cho chiến trường thắng Mỹ - ngụy. Với những trạm chuyển tải, cứu chữa thương bệnh binh với các trạm quân y, bệnh viện dã chiến, các trạm thông tin liên lạc với đường ống dẫn dầu như "cánh tay khổng lồ" vươn tới chiến trường miền Nam nó đã góp một phần rất quan trọng, quyết định sự thành công của cuộc chiến đấu. Vì thế nó phải được giữ gìn như mạch máu trong cơ thể con người. Đường ống dẫn dầu đó là mạch máu chảy từ Bắc vào Nam, chảy từ khi quân Mỹ đặt chân lên mảnh đất miền Nam. Đường ống đẫn dầu qua đèo núi thật là thần kỳ.

        Quả thật con đường 559 đã chứng kiến bao sự kiện. Con đường ấy đã từng đưa đón vợ chồng Pôn-pốt Iiêng xa-ri và vợ chồng Si-ha-núc đi lại giữa Cămpuchia và Hà Nội. Ở mỗi trạm giao liên, đều có các căn nhà giành riêng cho vợ chồng Xi-ha-núc nghỉ mỗi khi dừng chân. Có nhiều ngôi nhà rất đẹp, sàn toàn bằng gỗ được bào nhẵn. Xung quanh nhà treo đầy các làn phong lan hiếm lạ hoa toả ngát hương. Ở giữa rừng gian khổ vậy mà tưởng nơi nghỉ mát hay khu du lịch.

        Với tôi còn những kỷ niệm khác không kém phần thú vị, lần đó, khi qua một trạm giao liên trên con đường 559, vô tình tôi trông thấy một quyển tạp chí nghiên cứu lịch sử. Ở giữa rừng cuốn sách trở nên quý giá vô cùng. Tôi ngỏ lời xin đồng chí trạm trưởng cuốn sách ấy. Biết tôi là người ham mê lịch sử, anh vui vẻ tặng tôi. Nhờ có cuốn sách ấy mà tôi có thêm tư liệu để hoàn thành cuốn sách "Tổ tiên ta đánh giặc" - một trong những cuốn sách đầu tay của tôi được thai nghén và xuất bản ngay tại chiến trường.

        Lần khác, vào năm 1973, khi đường 559 chuyển từ Tây Trường Sơn sang Đông Trường Sơn. Lúc ấy bom đạn đã ít đi, mỗi lần tranh thủ lúc dừng chân ở các trạm giao liên chờ nước lũ qua đi là thời gian tôi suy nghĩ để hoàn thành bản thảo cuốn sách "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa".

        Thế đấy, với tôi thì con đường 559 đã trở nên thân thiết biết nhường nào. Giờ đây mỗi khi xem lại các cuốn sách trên, tôi tự nhủ, những lúc khó khăn như thế mình vẫn cố viết sách thì giờ đây khi điều kiện có đầy đủ hơn nhiều, lẽ nào lại không tiếp tục "sự nghiệp " đó.

        Cũng vì tầm vóc của nó cần phải nói thêm một chút kỹ càng hơn và con đường này. Nó được chia thành 3 chặng:

        Chặng một, từ miền Bắc (làng Ho - Quảng Bình) đến Bến Hét trên con đường 18 từ Tân Cảnh đi Atôpơ, do Bộ Tư lệnh 559 quản lý, chặng thứ hai, từ Bến Hét đi Đức Lập (Đắc Lắc). Chặng này do Mặt trận Tây Nguyên quản lý và chặng ba, từ Đức Lập đi vào Miền do Bộ Tư lệnh Miền quản lý.

        Bộ Quốc phòng và Tổng cục Hậu cần đối với con đường 559 cũng vô cùng tài giỏi. Theo quyết định của Bộ, tất cả các đồng chí phục vụ trên con đường này đều nằm trong biên chế binh chủng hợp thành. Trong đó có các binh chủng như: vận tải, công binh, phòng không, thông tin, giao liên. Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp rất chú ý làm đường, cả đường 559 và các đường chiến dịch. Nhờ có con đường này, ngoài việc vận tải nói chung, ta có thể đưa quân ra vào, đưa thương binh từ chiến trường về phía sau (hậu phương)... một cách thuận lợi hơn . Cũng chính vì tầm quan trọng của đường 559 mà chiến lược của Mỹ là phải cắt đứt tiền tuyến và hậu phương của ta. Chiến lược của Mỹ là nhằm đánh phá cả tiền tuyến và hậu phương. Với con đường 559 chúng đánh phá ác liệt không kém gì tiền tuyến. Nhưng đường 559 vẫn hiên ngang, trụ vững, vẫn phát triển và vươn dài theo núi rừng Trường Sơn hùng vĩ dọc ngang hàng vạn km và đường ống dẫn dầu hàng ngàn km. Con đường đã chứng kiến cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa ta và địch, giữa lòng dũng cảm vô song của con người Việt Nam với mọi vũ khí hiện đại của không lực Hoa Kỳ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 02:54:37 pm

        Chúng tôi vẫn ao ước một ngày nào đó phải có được những công trình lịch sử, những tác phẩm văn học tương ứng với tầm vóc của con đường chiến lược này. Bởi vì thiếu nó, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước khó mà đi đến thắng lợi.

        Bộ đội 559 không chỉ bảo vệ mạch máu giao thông giỏi mà cũng có một bộ phận trong số họ đó là bộ đội cao xạ pháo tham gia vào chiến công của chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971, bắn rơi nhiều máy bay địch, nhất là máy bay trực thăng. Trong chiến dịch Buôn Ma Thuột, Đoàn 559 cũng tham gia với Mặt trận Tây Nguyên 1 Trung đoàn công binh, 1 Trung đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn bộ binh đã tăng thêm sức mạnh cho trận Buôn Ma Thuột.

        Không thể nói hết, kể hết những chiến công của họ, cả chiến công thầm lặng những chiến công đã trở nên huyền thoại, thần kỳ. Bởi vì tôi đâu có ý định chỉ giành riêng cuốn sách này để nói về con đường, mà chỉ với ý định khi nói về cuộc chiến đấu rực lửa ở chiến trường Tây Nguyên, chiến trường miền Nam, thì con đường 559 cũng như vậy không thể không nhắc đến. Đấy là chúng tôi - những người chiến sĩ đã từng trong cuộc. Không chỉ vậy mà cả những người "ngoài cuộc" như anh Tố Hữu – nhà thơ danh tiếng cũng thế và anh còn nói hay hơn chúng tôi nhiều. Năm 1973 anh Tố Hữu có vào miền Nam trên con đường này bằng nhạy cảm của mình, anh đã cảm xúc thật sự thành những lời thơ lắng đọng:

                                        "Trường Sơn đông nắng, tây mưa
                                        Ai chưa qua đấy như chưa biết mình"


        Giá trị của việc "biết" là như thế đấy. Vì thế trách nhiệm của chúng tôi, những người lính đã đi qua chiến tranh chưa phải là xong, mà đó chỉ mới là một nửa. Hôm nay, chiến tranh đã hết, chúng tôi rất muốn chiêm nghiệm và viết về nó, trong đó có cả con đường 559 để cho tất cả những ai, nhất là những người chưa qua đường 559 hãy "biết mình" là ai?

        Ai ở đường 559 quên làm sao được anh Đào "móm" - chỉ huy trưởng một binh trạm của 559, quê ở miền Nam Trung Bộ. Vì ý thức đối với quê hương mình rất cao, tình cảm dễ xúc động trước lời kêu gọi của quê hương, chiến trường, lần ấy anh đã đi vượt cung của 559 (qua Bến Hét) để vào địa bàn B3, nhanh chóng vận tải sớm hậu cần cho Mặt trận Tây Nguyên, chỉ với ý nghĩ là tạo thuận lợi cho chiến trường thôi mà sau "sự kiện" này, Bộ Tư lệnh 559 thì phê bình anh nhưng Bộ Tư lệnh B3 lại khen anh. Chuyện lạ mà có thật. Có người hỏi Đào "móm":

        - Thế là thế nào?

        Anh hồn nhiên trả lời:

        - Có sao đâu, lời khen của chiến trường "nặng hơn cân" lời phê của Bộ Tư lệnh 559, tôi vẫn thích.

        Tôi vào đến Mặt trận đúng vào lúc chiến dịch bắt đầu, vào đến chỉ huy sở B3, tôi được gặp các anh Chu Huy Mân, Cao Văn Khánh, Nguyễn Hữu An, Nam Hà, Lê Linh, Hoàng Phương và anh Vương Tuấn Kiệt. Anh Cao Văn Khánh lúc ấy là Phó tư lệnh Mặt trận. Các anh nóng lòng chờ tôi vào trận, và tôi cũng chỉ mong sớm được gặp các anh ấy để bắt tay vào công việc chính. Số anh em này toàn là bạn chiến đấu cũ thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Những người đã từng lăn lộn với thực tiễn chiến đấu và công tác, những kinh nghiệm trong công tác chính trị, quân sự, những cán bộ được đào tạo khá cơ bản trong thời bình được rèn luyện thử thách trong cả thời chiến vừa có trình độ, vừa có bản lĩnh chính trị cao. Đấy là một bộ chỉ huy mạnh.

        Anh em chúng tôi gặp nhau trong không khí sôi động, tấp nập của chiến trường. Vui vẻ, tự tin, ở bên cạnh các anh, những đồng chí đi trước có nhiều kinh nghiệm, tôi cảm thấy vững dạ và dường như được tăng thêm sức mạnh.

        Không thể nghỉ ngơi gì nữa - mặc dù vừa phải hành quân qua một chặng đường dài. Tôi sốt ruột hỏi anh Mân những kinh nghiệm đánh Mỹ. Anh đưa cho tôi xem kế hoạch tác chiến của địch Sa Thầy mùa khô 11/1966. Đây là một trận đánh mà nghệ thuật rất hay. Mưu kế rất tài tình. Đối chiếu giữa kế hoạch tác chiến và hoạt động của quân Mỹ trong thực tế thấy gần giống nhau. Do rút được kinh nghiệm từ trận đánh Plâyme 1965, ở trận này ta nhử địch vào sâu trong thế trận ta đã bày sẵn mà tiêu diệt.

        Bài học nữa là vấn đề lựa chọn chiến trường để đánh Mỹ rất quan trọng. Lựa chọn chiến trường chiến lược Tây Nguyên là rất phù hợp, trong chiến trường Tây Nguyên phải tiếp tục lựa chọn hướng nào để đánh Mỹ mà cũng sẽ thu được thắng lợi giòn giã như Sa Thầy?

        Qua đấy, tôi rất khâm phục nghệ thuật mưu kế chiến dịch của Bộ Tư lệnh Tây Nguyên và nhất là đồng chí Tư lệnh Chu Huy Mân.

        Trong khi trăn trở suy nghĩ điều đó, tôi chợt nhớ lời nhắc nhở của các anh - Anh Văn, anh Dũng khi còn ở Hà Nội trước lúc lên đường - Đó là phải tìm hiểu thật kỹ, nghiêm túc để nắm cho được chắc quy luật thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ. Từ đó về sau tôi nghiệm mãi và thấy rất đúng điều này: biết địch biết ta trăm trận không nguy. Nghệ thuật hay mưu kế giỏi cũng phải xuất phát từ cái gốc ấy.

        "Hôm nay trên đường hành quân ra Mặt trận, trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác. Cả đoàn quân tiến theo Người như thác đổ... "

        Nhạc sĩ nào đã viết bài hát ấy - cảm ơn vì họ đã giúp chúng tôi dựng lại không khí trên đường ra trận hồi đó như vậy đấy. Ai cũng phải tự hào nếu được hoà mình vào không khí đó, và nhất là được đặt chân trên con đường 559 trong những năm đánh Mỹ, dù chỉ một lần thôi.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 02:56:01 pm

PHẦN 8

ĐẾN TÂY NGUYÊN

        Tây Nguyên là địa danh chỉ miền núi và cao nguyên phía tây Trung Bộ chạy dài từ vĩ tuyến 15 xuống đến vĩ tuyến 11: Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; nam giáp tỉnh Bình Phước miền Đông Nam Bộ; đông giáp các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ; tây giáp nước Lào và Campuchia, với một biên giới chung dài khoảng 700 km.

        Tây Nguyên rộng khoảng 67.000 km2 (phần Tây Nguyên thuộc Khu 5 có khoảng 35.962km2) gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Quảng Đức (nay là Kon Tum - Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng).

        Đó là nói về mặt địa lý. Nhưng trong kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên là một bộ phận của Khu 5. Kể từ năm 1964, để tiện cho việc chỉ huy tác chiến, Bộ Tư lệnh Khu 5 còn thành lập Mặt trận Tây Nguyên - gọi tắt là B3, bao gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc - Phú Bổn, còn Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức thuộc Khu 6. Số dân ở Tây Nguyên có khoảng gần 1 triệu người gồm hơn 30 dân tộc anh em, đông dân hơn cả là các dân tộc Xê Đăng, Dẻ, Cơ Giông (Kon Tum); Gia Rai, Ba Na (Gia Lai); Ê Đê, MơNông (Đắc Lắc), Cờ Ho (Lâm Đồng). Các dân tộc đều có tiếng nói riêng và một số dân tộc có chữ viết theo các hệ ngôn ngữ Môn Khơ me, Malaia.

        Địa hình Tây Nguyên được hình thành bởi năm cao nguyên nối tiếp nhau từ Bắc vào Nam; phía bắc là cao nguyên Kon Tum, độ cao trung bình trên 1000m với các dãy núi cao trùng điệp, có các đỉnh cao như Ngọc Linh 2598m, Ngọc Niay 2259m, Ngọc Krinh 2025m và thấp dần cho tới bắc tỉnh Gia Lai, chỉ còn một số dãy núi cao trên dưới 1500m. Tỉnh Kon Tum Gia Lai nằm trong cao nguyên này.

        Tiếp đến là cao nguyên Đắc Lak có độ cao thấp hơn, trung bình dưới 1000m, địa hình tương đối bằng phẳng, không có ngọn núi cao nào đáng kể. Phần bình nguyên ở phía nam cao nguyên này là thị xã Buôn Ma Thuột củatỉnh Đắc Lắc.Địa hình từ Buôn Ma Thuột về phía nam lại cao dần lên.

        Tiếp giáp về phía nam của cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Lâm Viên và sau đó là cao nguyên Di Linh. Độ cao trung . bình trên 1500m với các dãy núi cao có đỉnh như Chư Yang Sơn 2405m, Chư Yên Du 2075m. Tỉnh Lâm Đồng với thủ phủ Đà Lạt bao gồm hai cao nguyên này.

        Tiếp giáp về phía tây nam cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Mơ Nông có độ cao thấp, trung bình 1000m bao gồm các tỉnh Tuyên Đức, Quảng Đức, nay thuộc tỉnh Đắc Nông. Trên các cao nguyên thường có rừng thưa, phần lớn là rừng khoọc, xen lẫn rừng Le, có các bãi trồng, có bãi rộng tới 1 km2.

        Càng về phía nam, phần giữa Tây Nguyên đất tương đối bằng phẳng, song lại có nhiều hồ nước rộng và sâu như ở khu vực Phước An, Lạc Thiện và Biển Hồ ở Plâyku (đặc biệt hồ Lạc Thiện sâu và rộng, là một trong những hồ đẹp nhất ở miền Nam).

        Đất đai Tây Nguyên rất màu mỡ, nhìn chung có hai loại đất phong hoá, phong hoá bazan và phong hoá granít. Đất mang màu đỏ gạch mà ta thường gọi là đất đỏ bazan rất thích hợp với việc phát triển cây công nghiệp như: cao su, cà phê, bông, hồ tiêu ...

        Tây Nguyên có nhiều sông và suối lớn phát nguyên từ các dãy núi cao, nhưng đáng kể là ba sông chính: Sê San (Pô Cô), Sêrêpốc và sông Ba.

        Sông Sê San (Pô Cô) bắt nguồn từ các dòng suối trong dãy núi phía bắc cao nguyên Kon Tum, chảy qua phía tây thị xã Kon Tum sang tới Campuchia rồi đổ vào sông Mêkông đoạn thuộc thị xã STung Treng.

        Sông Sêrêpốc bắt nguồn từ các dòng nước suối và hồ lầy nam cao nguyên Đắc Lắc chảy về phía bắc qua Bản Đôn sang thị xã Lom Phát tỉnh Ratanakiri thuộc Campuchia hợp lưu với sông Sê San chảy vào sông Mê Kông.

        Sông Ba bắt nguồn từ nam cao nguyên Kon Tum phía đông thị xã Plâyku, chảy qua thị xã Phú Bổn đổ ra Biển Đông ở địa phận thị xã Tuy Hoà (Phú Yên).


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:52:15 pm

        Tây Nguyên sớm có một mạng lưới giao thông ngang dọc. Quốc lộ 14 chạy suốt từ Huế qua Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột, nối liền với đường số 13, ở ngã ba Chơn Thành ra quốc lộ 1 vào đến Sài Gòn.

        - Quốc lộ số 19 chạy từ Quy Nhơn đến biên giớiCampuchia.

        - Quốc lộ số 21 chạy từ Buôn Ma Thuột về Ninh Hoà Khánh Hoà.

        - Liên tỉnh lộ số 7 từ Plâyku đi Tuy Hoà (Phú Yên)

        Còn có các đường liên tỉnh, giữa các huyện về thị xã. Ngoài ra Tây Nguyên đã hình thành thêm một hành lang đường quân sự chiến lược: trục đường 1b (đường Trường Sơn) nối liền từ Bắc chạy dọc theo phía tây của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Quảng Đức vào phía nam tới Lộc Ninh (Nam Bộ); một số đường nhánh nối với quốc lộ số 14 và các đường xuyên rừng nằm trên phần phía tây các tỉnh ở Tây Nguyên.

        Ở Tây Nguyên, các con đường quốc lộ, tỉnh lộ có vẽ trên bản đồ trong suốt hai cuộc kháng chiến thì thường bị địch chiếm giữ. Chỉ sau năm 1960 kể từ khi ta bắt đầu mở đường Trường Sơn (đường 559) một tuyến đường chiến lược nối liền hậu phương lớn - miền bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, từng tháng, từng ngày vươn tới Tây Nguyên rồi vào miền Đông Nam Bộ thì lúc đó ta mới có một mạng lưới giao thông bí mật xuyên rừng, vượt núi, có những đường hành lang dọc từ Bắc xuống Nam, men theo biên giới Việt Lào, Việt - Campuchia. Có những đường ngang từ Tây sang Đông xuống các tỉnh ven biển miền Trung.

        Núi rừng, cao nguyên với đất đai, sông suối, đường sá ở Tây Nguyên còn bị chi phối bởi thời tiết và khí hậu. Hàng năm, ở Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 360 đến 500 ly; giữa mùa mưa có tháng mưa rất to và liên tục làm cho núi lở, sông suối nước lũ chảy xiết trở ngại đến mọi hoạt động, đi lại. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5, gió khô hanh, đất se cứng, thời tiết thuận lợi cho việc lưu thông, nhất là các hoạt động quân sự.

        Từ những vùng xung quanh, muốn đến Tây Nguyên phải vượt qua đèo cao, có những rừng cây rậm rạp, thường xuyên mây mù che phủ, càng đi càng gặp nhiều suối sâu vách đứng và đường đèo phức tạp. Song cũng gặp nhiều rừng gỗ quý, nhiều loại cây có quả ăn được, nhiều loại thú rừng quý hiếm.

        Người dân Tây Nguyên sống thưa thớt, nhưng các buôn làng thường ở tập trung, sống bằng nông nghiệp và săn bắn với những tập quán cổ truyền nhiều màu sắc. Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiêu buôn làng bị đánh phá, hoặc chống lại việc gom dân của địch, nên đồng bào thường ở phân tán vào các khe suối, có khi vài ba nhà ở trong một khe suối nhỏ, đi một nửa ngày đường mới gặp.

        Đồng bào Tây Nguyên giàu lòng yêu nước, kiên cường bất khuất, yêu quý buôn làng vốn có truyền thống cách mạng chống giặc ngoại xâm. Trong kháng chiến chống Pháp chúng ta đã từng biết tinh thần cách mạng rất cao của người dân Tây Nguyên như anh hùng Ma Trăng Lơn và anh hùng Núp qua tác phẩm "Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc. Trong kháng chiến chống Mỹ, tinh thần đó lại càng thêm bùng cháy.

        Đồng bào luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ. Nhiều thanh niên Tây Nguyên đi bộ đội, du kích, các buôn làng đều đóng góp sức người, sức của, lương thực, thực phẩm cho cách mạng và có những anh hùng chiến sĩ thi đua.

        Thiên nhiên của Tây Nguyên không chỉ giàu tiềm năng về mặt kinh tế, mà còn tạo nên những đặc điểm nổi bật hình thành một vùng có tầm chiến lược quân sự rất quan trọng đối với đất nước ta và thậm chí đối với toàn Đông Dương.

        Tây Nguyên có thế rất cao so với các khu vực tiếp giáp với nó. Từ trên thế cao này, Tây Nguyên có thể khống chế hầu như toàn bộ các khu vực xung quanh. Đây là một thế đứng vô cùng lợi hại. Thêm vào đó, Tây Nguyên có có thế rộng lớn cả về bề rộng, về chiều sâu và sự kín đáo; lại có thế dài liên tục, từng khu vực địa hình có giá trị được núi rừng bao quanh, nhưng lại nối tiếp với nhau, khu vực này có thể hỗ trợ cho khu vực kia, tạo nên một thế liên hoàn vững chắc.

        Tây Nguyên vừa có rừng núi, vừa có cao nguyên; có dung lượng chiến trường lớn, có thể tác chiến hợp đồng binh chủng. Có thể nói Tây Nguyên là "mái nhà" của Đông Dương và vì vậy người Pháp khi phát hiện ra Tây Nguyên đã từng đánh giá: "Ai làm chủ Tây Nguyên, sẽ làm chủ Đông Dương ?".

        Là một địa bàn chiến lược quân sự hết sức quan trọng như vậy nên cả ta và địch đều hết sức chú ý giành giật với nhau từng tấc đất trên cao nguyên này.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:57:12 pm

PHẦN 9

TRẬN ĐÁNH ĐẮC TÔ I

        Tôi vào đến Tây Nguyên vào dịp gần Tết năm 1967. Trong Thư chúc Tết năm 1967 của Bác Hồ, có bài thơ Xuân:

                                        Xuân về xin có một bài ca
                                        Gửi chúc đồng bào cả nước ta
                                        Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
                                        Tin mừng thắng trận nở như hoa


        Ngày ấy, mỗi khi Tết đến, cả nước mong đón thơ của Bác, như chờ đón một mệnh lệnh mới, một niềm tin về bước phát triển mới của cách mạng mà Đảng và Bác đã dẫn dắt từng bước đi cho toàn dân tộc.

        Kể từ khi đế quốc Mỹ hiếu chiến leo thang chiến tranh bằng không quân bắn phá miền Bắc (1964) và đưa quân viễn chinh hùng hổ kéo vào miền Nam (1965), đẩy cuộc "chiến tranh cục bộ" của chúng lên đến đỉnh cao thì cũng là lúc chúng bị quân và dân ta giáng cho những đòn nặng nề nhất.

        Phát huy thắng lợi mùa khô 1965 - 1966, quân và dân hai miền tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công trong suốt Hè Thu 1966, như trong thư chúc mừng năm mới, mà Bác Hồ đã tóm tắt:

        "Chỉ tính đến tháng 11 năm 1966, quân và dân miền Nam anh hùng đã loại khỏi vòng chiến đấu 34 vạn tên địch, trong đó có hơn 10 vạn tên là xâm lược Mỹ, bắn rơi và bắn hỏng hơn 1900 chiếc máy bay địch v.v...Quân và dân miền Bắc dũng cảm đã bắn tan xác hơn 1600 máy bay giặc Mỹ" (Chú thích: Hồ Chí Minh, Toàn tập, T 12, tr 187. 188 Nxb CTQG Ha Nội 1996.).

        Bài thơ chúc Tết của Bác đến với Tây Nguyên đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn quân và toàn dân đang bước vào cuộc đọ sức với quân Mỹ trong mùa khô lần thứ hai 1966 - 1967.

        Tết đến, nhưng Tết trên chiến trường còn nhiều gian khó, nên đạm bạc lắm. Trong lúc tổ chức cho anh em chiến sĩ văn hóa, văn nghệ vui ngày Tết để làm vơi đi phần nào nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, thì cán bộ được triệu tập họp để nghe phổ biến nhiệm vụ khẩn trương trong những ngày sắp tới.

        Chiến dịch Sa Thày đợt 2 nổ súng giành thắng lợi giòn giã, như một đóa hoa Xuân của Tây Nguyên dâng lên Bác kính yêu. Địch buộc phải rút khỏi phía tây sông Sa Thày, sau đó rút cả phía đông và sang bờ bên kia sông Pô kô. Thậm chí chúng còn bỏ cả Sùng Thiện, Sùng Lễ sau một trận pháo kích ác liệt của ta.

        Chiến thắng Sa Thày đã góp phần phối hợp với quân và dân miền Đông Nam Bộ đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai mùa khô 1966 - 1967 của Mỹ, bẻ gãy chiến lược "hai gọng kìm" là "bình định" và "tìm diệt" của chúng. Trên toàn Miền, lợi dụng thời cơ địch đang lúng túng bị động về chiến lược, ta liên tiếp mở nhiều đợt hoạt động tấn công địch không để cho chúng có thời gian củng cố chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược lần 3.

        Ở Tây Nguyên, tháng 9 năm 1967, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mật trận quyết định mở chiến dịch Đắc Tô 1, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ, phá hủy phương tiện chiến tranh, buộc Mỹ phải điều lực lượng cơ động chiến lược lên Tây Nguyên để ta tiêu diệt, đồng thời tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quân ngụy thuộc quân đoàn 2, phối hợp và tạo điều kiện cho chiến trường Khu 5 và các nơi khác tiến công địch mở rộng vùng giải phóng.

        Khó khăn lớn nhất của chiến dịch Đắc Tô là công tác bảo đảm vật chất, hậu cần kỹ thuật, bởi đây là một chiến dịch quy mô lớn đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên.

        Bộ Tư lệnh Mặt trận đồng thời là Bộ Tư lệnh chiến dịch Đắc Tô gồm có: Tôi là Tư lệnh, anh Trần Thế Môn là Chính ủy, anh Cao Văn Khánh là Phó Tư lệnh, anh Bùi Nam Hà - Tham mưu trưởng, anh Đặng Vũ Hiệp - Chủ nhiệm chính trị.

        Anh Cao Văn Khánh-Phó Tư lệnh Mặt trận, anh còn là giáo viên toán học, một nhà toán học. Anh đã cùng với anh Vương Tuấn Kiệt tham mưu phó, anh Vĩnh chủ nhiệm hậu cần, và anh Đặng Văn Khoát trưởng phòng kế hoạch dày công nghiên cứu mấy ngày đêm mới làm được kế hoạch vận chuyển vật chất đạn dược cho chiến dịch; rồi phải huy động cả bác sĩ y tá, đội vận tải nữ gồm các cô người dân tộc và các cô gái Nghĩa Bình v.v...đi vận tải đạn ĐKB. Anh Cao Văn Khánh là một người chỉ huy rất giỏi, rất tốt, rất đoàn kết với anh em cán bộ chiến sĩ, bộ đội đều quý mến anh.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:57:35 pm

        Sở dĩ chúng tôi chọn Đắc Tô để mở chiến dịch mùa Đông - 1967, bởi Đắc Tô là thung lũng như một lòng chảo án ngữ ngã ba đường 14 và đường 18, cách thị xã Kon Tum 40km về phía tây bắc. Địch xây dựng khu vực này thành một căn cứ quân sự tương đối lớn với hai sân bay và nhiều kho tàng, nhằm làm căn cứ xuất phát cho các cuộc hành quân của chúng ra vùng ba biên giới. Ở phía tây nam Đắc Tô là vùng rừng núi trùng điệp có độ cao trung bình 800m, gồm nhiều đỉnh cao nằm ở bờ tây sông Pô Cô tạo thành lá chắn thiên nhiên che chở cho Đắc Tô. Nếu ta chiếm được các điểm cao này thì toàn bộ thung lũng Đắc Tô sẽ nằm trong tầm bắn của pháo binh và khống chế của ta.

        Địa hình khu tác chiến tuy không rộng, nhưng có đầy đủ các yếu tố để mở chiến dịch cấp Sư đoàn. Từ các dãy núi bên bờ tây sông Pô Cô như Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tang, Ngọc Bờ Biêng ta có thể bố trí hoả lực khống chế toàn bộ Đắc Tô - Tân Cảnh, buộc địch phải đưa quân ra phản kích. Khu vực Ngọc Dơ Lang là khu chiến thứ nhất, ta có thể triển khai hàng Trung đoàn để đánh bại đòn phản kích thứ nhất của địch. Khu vực Ngọc Kom Liệt, Bãi Le và điểm cao 875 là khu trung tâm, nơi triển khai lực lượng chủ yếu của ta nhằm thực hiện trận quyết chiến chiến dịch. Khu vực bắc đường 18, đông và đông bắc Tân Cảnh có thể triển khai lực lượng đánh vào sau lưng đội hình địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu của chiến dịch.

        Với địa hình như vậy rất thuận lợi cho ta thực hành mưu kế điều địch đến nơi ta chọn sẵn để tiến công tiêu diệt. Rút kinh nghiệm chiến dịch PLây Me năm 1965 và chiến dịch Sa Thày năm 1966, đặc biệt là chiến dịch Sa Thày, từ chiến dịch Sa Thày ta mới bước đầu nắm được quy luật của quân Mỹ. Chiến dịch Sa Thày là cơ sở của chiến dịch Đắc Tô 1, lần này ta cũng vận dụng cách dụ địch điều địchvào thế trận của ta nhưng là thế trận có chiều sâu và áp dụng chiến thuật "vận động tiến công kết hợp với chốt" đến độ hoàn thiện hơn.

        Ở Tây Nguyên, quân ta mở cuộc tiến công vào hướng Đắc Tô. Ở hướng này, để đối phó với cuộc tiến công của ta, quân Mỹ đã sử dụng 2 lữ đoàn của Sư đoàn bộ binh số 4 trong đợt đầu. Sau đó trong đợt hai của chiến dịch, Bộ Tư lệnh dã chiến số 1 của quân Mỹ còn phải sử dụng thêm lữ đoàn dù số 173, đội dự bị chiến trường, và cuối cùng quân Mỹ lại phải tung thêm một bộ phận của Sư đoàn kỵ binh bay số 1 - lực lượng cơ động chiến lược.

        Trên mỗi chiến trường, quân Mỹ có tới 2 - 3 Sư đoàn bộ binh và các Trung đoàn, có tiểu đoàn thiết giáp và pháo binh. Ngoài ra ở đó còn có các Sư đoàn, Trung đoàn quân nguỵ và quân chư hầu. Quân tuy đông, nhưng chúng phải sử dụng phân tán, vì một thành phần lực lượng khá lớn phải làm nhiệm vụ bảo vệ các tuyến phòng ngự, các căn cứ quân sự, các trục đường giao thông, và tiến hành công tác bình định cũng như đối phó với các hoạt động chiến đấu của du kích trên toàn bộ lãnh thổ chúng tạm thời kiểm soát.

        Ở Tây Nguyên, quân Mỹ có Sư đoàn bộ binh số 4 phụ trách chiến trường. Ngoài ra chúng còn có lực lượng dự bị của các cấp trên. Khi phải đối phó với cuộc tiến công của ta thì lực lượng phụ trách chiến trường - Sư đoàn bộ binh số 4 - phải ứng phó đầu tiên. Sau đó mới lần lượt có sự tham gia của lực lượng dự bị của các cấp trên.

        Để đối phó với cuộc tiến công của quân ta ở Đắc Tô, Sư đoàn 4 Mỹ chỉ có thể sử dụng tối đa hai lữ đoàn. Còn một lữ đoàn thì phải đảm nhiệm nhiệm vụ phòng ngự và làm lực lượng dự bị luân phiên. Khi hai lữ đoàn thê đội một không đủ sức đối phó thì phải sử dụng lực lượng dự bị của các cấp trên.

        Trên toàn chiến trường miền Nam, cuộc tiến công của quân ta vẫn còn nằm trong giai đoạn đánh vận động, có đánh một phần vào tuyến phòng ngự vành ngoài của địch. Ở Đắc Tô, quân ta cũng áp dụng chủ trương đánh vận động, tiến công quân địch ở vành ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2016, 11:58:02 pm

        Sư đoàn 4 Mỹ có một lữ đoàn đóng ở Tân Cảnh và sau đó địch điều thêm lên đây lữ đoàn dù 173 - dự bị chiến trường. Còn ta có Sư đoàn 1 gồm 3 Trung đoàn: 66, 174, 320; Trung đoàn 24; Trung đoàn pháo 40 cùng đặc công và lực lượng vũ trang Kon Tum.

        Trong các dãy cao điểm, có cao điểm 875 là nơi ta chọn để tổ chức trận quyết chiến chiến dịch.

        Mưu kế của ta như sau: Dựa theo kinh nghiệm chiến dịch Sa Thày do Tướng Chu Huy Mân chỉ huy.

        Ta phán đoán, khi ta cho đơn vị pháo binh đánh khêu ngòi thì địch có thể cho bộ binh ra đánh đuổi bộ phận khêu ngòi của ta, kết hợp với dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau đội hình đơn vị khêu ngòi của ta để bao vây tiêu diệt. Nếu đơn vị đổ bộ bằng máy bay lên thẳng này bị ta đánh, thì chúng lại đổ tiếp vào sâu hậu phương của ta để đánh phá hậu phương ta và cắt đứt liên hệ giữa bộ đội đang chiến đấu với hậu phương.

        Dựa vào kinh nghiệm phán đoán quy luật, thủ đoạn hành động của địch ta bố trí thế trận như sau: ở đằng sau bộ phận đánh khêu ngòi, ta bố trí một Trung đoàn để đón đánh quân đổ bộ đường không của địch. Khi quân đổ bộ đường không này bị đánh, địch tất sẽ đổ bộ đường không thứ hai vào sâu trong hậu phương của ta. Ở đó ta bố trí hai Trung đoàn sẵn sàng đón đánh đội quân này.

        Với mưu kế đó, ta bố trí thế trận như sau:

        - Ở dãy cao điểm Ngọc Bơ Biêng và Ngọc Tang, ta bố trí Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 độc lập, được tăng cường 2 khẩu sơn pháo 75 ly, 2 ĐKZ 75 ly, 6 khẩu cối 82 ly của Trung đoàn pháo binh 40. Đây là trận địa chốt hiểm yếu của chiến dịch, nằm ngay sát tuyến phòng thủ của địch, có nhiệm vụ khống chế căn cứ Đắc Tô 2 và sân bay Phượng Hoàng, thu hút kìm chân tiêu hao quân địch, dụ chúng vào sâu tạo điều kiện cho Sư đoàn 1 đánh trận then chốt. Đây chính là lực lượng đánh khêu ngòi chiến dịch.

        - Đằng sau cao điểm này là Ngọc Dơ Lang ta bố trí Trung đoàn 320, tiếp đến đằng sau Ngọc Dơ Lang ta bố trí Trung đoàn 174 ở cao điểm 875 và Trung đoàn 66 ở cao điểm 823. Đây là khu quyết chiến và cao điểm 875 là điểm quyết chiến.

        Trung đoàn 174 chiến đấu ở điểm quyết chiến 875 trong khu quyết chiến. Trung đoàn 66 đánh vào cạnh sườn và bảo vệ cánh trái cho Trung đoàn 174. Trung đoàn 320 tùy theo tình huống diễn ra, khi cần đánh quặt lại phía sau đội hình tiến công của địch vào cao điểm 875.

        Trong khi ta triển khai lực lượng chiến dịch (từ 25 -26 tháng 11) quân địch vẫn không phát hiện được gì. Quy luật và thủ đoạn của địch về cơ bản diễn ra như ta dự kiến. Ta điều địch từng bước vào thế trận của ta.

        Ngày 3 tháng 11 pháo binh đánh khêu ngòi được lệnh nổ súng vào căn cứ Đắc Tô. Bị đòn bất ngờ nên địch bị thiệt hại rất nặng. Lữ 3 của sư 4 Mỹ cho hai tiểu đoàn tiến công đường bộ vào trận địa khêu ngòi của ta ở Ngọc Bơ Biêng và cho trực thăng đổ bộ quân xuống đằng sau trận địa khêu ngòi của ta ở khu vực Ngọc Dơ Lang, hòng bao vây tiêu diệt ta. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, dựa vào công sự vững chắc, ta giữ vững trận địa; và ở khu chiến thứ nhất (khu chiến trung gian), Trung đoàn 320 của ta chiến đấu với quân đổ bộ đường không của địch.

        Không đẩy được ta ra khỏi trận địa khêu ngòi, lại bị đánh ở mũi bao vây. Bị đòn đau, bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn vội vã điều gấp lữ đoàn dù 173 Mỹ từ Phú Yên lên Đắc Tô tăng cường cho sư 4 Mỹ để đối phó. Lữ đoàn dù 173 đóng ở hai nơi, sở chỉ huy và một lực lượng đóng ở Tân Cảnh. Một lực lượng nữa đóng ở PLây Cần. Ý định của địch là dùng hai lữ đoàn Mỹ cùng một lúc tiến hành phản kích trên hai hướng tây và tây nam Tân Cảnh. Lữ đoàn 1 , Sư đoàn 4 triển khai trên hướng tây nam đánh chiếm Ngọc Dơ Lang. Ngọc Kông Krinh. Lữ đoàn dù 173 từ hướng tây đánh chiếm các cao điểm phía nam PLâyCần (Bến Hét), Ngọc Kom Liệt. Cả hai cánh quân này sẽ hợp vây tại khu vực điểm cao 875.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2016, 08:52:55 pm

        Nhiệm vụ của lữ đoàn dù 173 Mỹ còn đánh vào hậu phương ta, cắt đứt liên hệ giữa tuyến trước với tuyến sau của ta, hòng bao vây và tiêu diệt các lực lượng phía trước của ta và giải tỏa cho Tân Cảnh.

        Lữ đoàn dù 173 dùng hai cánh làm hai mũi tiến công vào hậu phương ta. Mũi đổ bộ trực thăng đánh vào cao điểm 875, điểm khống chế và dùng đường bộ từ căn cứ PLây Cần đánh vào sườn bắc cao điểm 875; đồng thời chúng còn sử dụng máy bay chiến lược B52 đánh phá ác liệt suốt ngày đêm vào khu vực tây nam Đắc Tô.

        Phản kích trực tiếp, đánh chính diện không thành công, quân Mỹ liền sử dụng một bộ phận của thê đội hai mở một mũi đánh vào sườn sau trận địa tuyến một của ta ở vùng núi Ngọc Dơ Lang, phía sau Ngọc Rinh Rua và Ngọc Bơ Biêng. bộ chỉ huy của ta đánh giá được khả năng cơ động và nắm được "sở trường” này của quân Mỹ. Do đó mũi vu hồi gần của chúng được tung ra lại sa ngay vào thế trận trong một trận đồ hiểm hóc đã được bày sẵn của ta. Mũi vu hồi đó liền bị đánh cho tơi tả. Kết quả là nó không hoàn thành được nhiệm vụ phản kích, buộc phải co lại thành từng điểm và chuyển vào thế phòng ngự.

        Thê đội một chiến dịch không hoàn thành được nhiệm vụ phản kích, quân Mỹ phải sử dụng lực lượng cơ động dã chiến, tức là lực lượng dự bị của Quân khu (quân đoàn) tiến vào làm thê đội hai chiến dịch. Lực lượng này là lữ đoàn dù độc lập số 173, một trong những đơn vị sừng sỏ của quân viễn chinh Mỹ. Nó vào Việt Nam tương đối sớm nên đã có nhiều kinh nghiệm tác chiến trên chiến trường Việt Nam. Thê đội hai chiến dịch là một đơn vị quân dù có máu mặt nên bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng nó tương đối tích cực và táo bạo. Lữ dù 173 không được sử dụng vào tuyến thứ hai mà được sử dụng vào tuyến thứ ba của chiến dịch phản công này. Đây là một hành động chiến dịch rất lợi hại, là một thủ đoạn chiến dịch hiểm hóc. Đánh vào hậu phương của đối phương, đánh sâu, đánh xa vào phía sau tuyến tác chiến của đối phương là một cách đánh rất chủ động và tích cực, vì nó làm rối loạn đội hình của đối phương, làm đảo lộn thế trận của đối phương.

        Quân đội các nước công nghiệp tiên tiến, có đủ điều kiện và khả năng về binh lực, hoả lực và cơ động, mới tạo ra được sức đột kích mạnh và tốc độ tiến công cao, có chiều sâu để áp dụng cách đánh trên.

        Đảm nhiệm nhiệm vụ chiến dịch quan trọng và hóc hiểm đó, lữ đoàn 173 tiến vào cánh phải của đội hình chiến dịch và chiếm lĩnh vị trí xuất phát ở PLây Cần, nhằm đánh vào sườn trái và tuyến sau cùng của đội hình chiến dịch của ta. Đây tuy là nơi hiểm yếu, nhưng cũng chưa phải là nơi hiểm nhất.

        Với một lữ đoàn, tuyến xuất phát lại ở PLây Cần, quân địch không thể đánh vào toàn bộ tuyến sau cùng hoặc đánh lan rộng sang tới sườn phải của tuyến sau cùng trong đội hình chiến dịch của ta. Hoặc có thể: bước thứ nhất, lữ đoàn dù 173 đánh chiếm sườn trái rồi chúng mới đánh sang sườn phải vào toàn bộ tuyến sau cùng trong đội hình chiến dịch của ta.

        Về mặt chiến dịch, tuyến tác chiến thứ ba phía sau có ý nghĩa là chỗ dựa cho tuyến thứ hai và tuyến thứ nhất.

        Về mặt địa hình, ở đây là một dải địa hình rất quan trọng, có nhiều điểm cao lợi hại, khống chế chiến dịch với tuyến thứ hai của ta. Nếu quân địch chiếm được tuyến này thì các đơn vị của ta tác chiến ở tuyến thứ hai sẽ bị chia cắt và bị cô lập. Nếu giữ được tuyến này thì các đơn vị tác chiến ở tuyến thứ hai mới có chỗ dựa vững chắc và mới có được sự chi viện từ hậu phương chiến dịch.

        Ta cho rằng ở trên tuyến này có thể sẽ diễn ra các trận chiến đấu quyết liệt giữa hai bên và dự kiến khu quyết chiến có thể sẽ hình thành ở trên tuyến thứ ba hoặc ở giữa tuyến thứ hai và tuyến thứ ba, nơi có dải địa hình có nhiều điểm cao khống chế quan trọng, trong đó có điểm cao 875, nằm ở giữa trung tâm, là một trong những điểm khống chế quan trọng nhất. Xác định được tính chất quan trọng của tuyến thứ ba với dải địa hình hiểm yếu đó, ta đã không tung lực lượng chủ yếu ra tác chiến ở trên tuyến thứ hai. Phần lớn lực lượng của ta được bố trí ở trên tuyến thứ ba, vừa để giữ tuyến đó, vừa làm lực lượng dự bị.

        Trong bước một của chiến dịch, ta chỉ sử dụng một phần lực lượng để tác chiến ở tuyến một và tuyến hai. Bước này vừa có mục đích tiêu diệt vừa có mục đích thăm dò, tạo ra thế trận và thời cơ. Khi đã tạo ra được thế trận có lợi và thời cơ có lợi, ta mới tung chủ lực ra đánh những trận then chốt để đạt được trận đánh tiêu diệt quyết định.

        Khi bố trí cụm quân chủ yếu ở trên tuyến thứ ba, ta xác định điểm cao 875 là một cái nút then chốt, đã bố trí một lực lượng tương đối mạnh chiếm lĩnh và tổ chức xây đắp trận địa, công sự tương đối vững chắc. Và vận dụng chiến thuật chốt kết hợp với vận động tiến công ở hai bên sườn.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2016, 08:53:19 pm

        Trong khi đó, các trận đánh giữa quân ta và quân Mỹ vẫn tiếp diễn ở tuyến thứ nhất và tuyến thứ hai. Lữ đoàn dù 173 sau khi chiếm lĩnh tuyến xuất phát ở Plây Cần, liền tung một cánh quân gồm 2 tiểu đoàn, mở một mũi tiến công hạ cánh trực thăng xuống chân cao điểm 875 và một mũi tiến từ PLây Cần từ cao điểm 823 - Ngọc Cam Liệt vào cao điểm 875 để hỗ trợ và phối hợp với mũi trực thăng và đánh chiếm điểm cao 875. Cánh quân này tiến vào tới sườn trái tuyến thứ ba thì liền bị đánh ngay và bị thiệt hại nặng nề. Một tiểu đoàn bị tiêu diệt và một tiểu đoàn bị đánh thiệt hại nặng. Chúng không hoàn toàn chiếm lĩnh được sườn trái, nhưng còn bám giữ được một số đoạn.

        Để cứu nguy cho cánh quân này, đồng thời để thực hiện ý đồ chủ quan và tham lam đã sẵn có, lữ dù 173 liền tung hết đội dự bị của chúng ra để đánh chiếm điểm cao 875. Thật không may mắn chút nào, chúng đã nhảy ngay vào cái lưới được giăng sẵn, vào ngay thế trận quyết chiến của ta. Một tiểu đoàn dù đã bị tiêu diệt. Để cứu nguy cho một số ít tàn quân còn sống sót chạy thoát, để lấy thương binh và lấy xác, bộ tư lệnh dã chiến 1 quân Mỹ phải cấp tốc điều động thêm lực lượng cơ động chiến lược là Sư đoàn ngựa bay (kỵ binh bay) được máy bay lên thẳng đưa tới trận địa nóng bỏng này. Chịu thiệt hại nặng nề, bọn lính ngựa bay cùng với một bộ phận lính dù 173 mới tạm đặt chân được lên điểm cao 875. Nhưng sau đó quân ta liền mở trận đánh giành giật với địch và cuối cùng đã chiếm lại được điểm cao này.

        Trong khi đó, ở phía sau lưng trận địa địch, một bộ phận chủ lực cùng bộ đội địa phương và du kích của ta cũng mở các mũi tiến công vào sườn đông và đông bắc Đắc Tô - Tân Cảnh. Quân Mỹ phải rải một số đơn vị nguỵ là lữ đoàn dù nguỵ và một đơn vị của Sư đoàn kỵ binh bay để đối phó. Lực lượng địch trở thành phân tán không tập trung được vào khu quyết chiến ở phía tây Đắc Tô - Tân Cảnh.

        Cuộc phản kích của địch bằng các lực lượng tinh nhuệ của chiến trường đã bị đánh bại. Lữ đoàn dù 173 đã bị đánh thiệt hại nặng. Các lữ đoàn của Sư đoàn 4 cũng bị đánh tiêu hao nặng. Quân địch buộc phải rút lui về tuyến phòng ngự cũ.

        Sau trận này, viên tư lệnh Sư đoàn bộ binh số 4 của Mỹ phải rầu rĩ thốt ra những câu tuyên bố là sau này hắn sẽ không cho quân đánh sâu vào hậu phương của đối phương nữa.

        Qua ba lần thất bại, viên chỉ huy Sư đoàn 4 Mỹ cũng như đồng bọn hẳn không thể không rút ra những bài học cho mình.

        Chiến thuật phòng ngự cơ động có chiều sâu, thủ đoạn phản kích ngăn chặn từ xa có nhiều bậc thang của quân Mỹ đã bị giáng một đòn nặng nề.

        Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 24 ở bộ phận khêu ngòi tiếp tục giữ vững trận địa và Trung đoàn 320 Sư đoàn 1 tiếp tục vây đánh bộ phận đổ bộ đường không ở khu chiến trung gian. Trung đoàn 174 đánh địch ở cao điểm 875 và Trung đoàn 66 đánh địch vu hồi ở cao điểm 823. Nổi bật là trận đánh "chốt kết hợp vận động tiến công” xuất sắc của Trung đoàn 66 ở cao điểm 823 đã đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mỹ đã mở đầu bước phát triển mới về trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực Tây Nguyên.

        Hai lần tiến công trên hai hướng tiến công của lữ dù 173 Mỹ bị đánh thiệt hại nặng; qua 2 ngày chiến đấu, chúng chỉ chiếm được một phần cao điểm 875. Đến ngày 19 tháng 11 năm 1967, trong lúc địch bị kìm chặt ở cao điểm 875, từ các hướng, Trung đoàn 174 vận động tới liên tiếp tấn công vào các cụm quân Mỹ và đánh bại tiểu đoàn 2 - lữ đoàn dù 173 của Mỹ. Đây là trận quân Mỹ phải bỏ xác lại trận địa nhiều nhất.

        Trong khi đó các ngày 12, 15, 16 tháng 3 pháo binh của ta bố trí trên dãy Ngọc Bờ Biêng bắn phá sân bay Đắc Tô và căn cứ Tân Cảnh. Với cách đánh táo bạo đưa pháo lên cao, vào gần bắn thẳng ta đã làm tê liệt sân bay, phá huỷ 3 máy bay vận tải C130 chở đầy lính, gây thiệt hại nặng cho sở chỉ huy dã chiến Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ, bắn cháy 2 kho xăng, 1 kho đạn làm cho chỉ huy địch bị rối loạn, tiếp tế hậu cần bị gián đoạn, đến nỗi bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn phải hốt hoảng kêu lên: "Đây là cơn bão lửa kinh khủng nhất...Việt Cộng bắn cả ngày lẫn đêm rất chính xác, gây thiệt hại cho quân đồng minh".

        Còn Trung đoàn 24 cùng đặc công, bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Kon Tum cài xen kẽ với địch; đánh vào phía sau của địch ở phía đông Tân Cảnh, phân tán sự đối phó của chúng. Địch bị thương vong lớn, chúng phải điều một tiểu đoàn của sư không vận ở An Khê lên để hỗ trợ lữ dù 173 lấy xác địch ở chân cao điểm 875 và rút chạy vào ngày 20 tháng 11 năm 1967.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2016, 08:53:37 pm

        Như thế là mưu kế dụ địch từng bước vào thế trận của ta đã thành công.

        Lực lượng của ta có Sư đoàn 1 (thiếu), Trung đoàn 174, Trung đoàn 320, một tiểu đoàn của Trung đoàn 24, Trung đoàn pháo 40 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum phối hợp chiến đấu, nhử địch vào khu quyết chiến chiến dịch ở dãy cao điểm Ngọc Dơ Lang, Ngọc Cam Liệt, Ngọc Rinh Rua...

        Mặc dù Mỹ - nguỵ tăng cường mọi sức mạnh sẵn có, sử dụng trung bình mỗi ngày 700 lần chiếc máy bay, có cả B52 tham gia ném bom yểm trợ nhưng vẫn không cản phá được các trận tiến công rộng lớn của ta đánh tập trung, đánh bại từng tiểu đoàn địch bằng vận động tiến công kết hợp chốt.

        Kết quả chiến dịch Đắc Tô 1, sau 17 ngày đêm liên tục chiến đấu, ta đã đánh quỵ 1 lữ đoàn Mỹ, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và 2 đại đội Mỹ, đánh tiêu hao nặng 4 tiểu đoàn Mỹ, 2 tiểu đoàn nguy, loại khỏi vòng chiến đấu 4092 tên, phá huỷ 15 khẩu pháo, 32 xe quân sự, bắn rơi 38 máy bay.

        Chiến dịch Đắc Tô 1 là chiến dịch đánh quân Mỹ có hiệu xuất cao nhất từ trước đến thời điểm đó. Qua chiến dịch này, bộ đội Tây Nguyên đã sáng tạo và hoàn thiện chiến thuật "Vận động tiến công kết hợp với chốt" để bộ đội ta có thể đánh liên tục dài ngày dưới phi pháo ác liệt của địch giành thắng lợi, mở ra khả năng đánh tiêu diệt những đơn vị quân Mỹ, ngụy từ cấp tiểu đoàn trở lên trên chiến trường và sáng tạo những nét phát triển mới về Nghệ thuật chiến dịch.

        Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, ta đã dùng mưu lừa được 2 lữ đoàn Mỹ và 1 lữ đoàn thiếu quân Ngụy ra nơi ta chọn sẵn, để đánh bại chiến lược "tìm diệt" của Mỹ và ta đã đánh thiệt hại nặng 1 lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ, làm cho quân Mỹ từ đó rất e ngại tiến sâu vào khu căn cứ của ta.

        Cùng với cả nước, Hà Nội bắn rơi chiếc máy bay thứ 200, miền Bắc bắn rơi chiếc máy bay thứ 2680, miền Nam trên thế tiến công, chiến thắng Đắc Tô mùa Đông 1967 là một trong những chiến thắng lớn, mở đầu tạo đà cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1968, đều là những bông hoa đẹp dâng lên Bác Hồ kính yêu, thực hiện ý nguyện và thơ chúc tết của Người mùa Xuân năm 1967.

        Đầu năm 1970, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chủ trương mở chiến dịch Đắc Xiêng, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, bao vây, tiến lên dứt điểm giải phóng một khu vực. Qua tác chiến nhằm nâng cao trình độ của bộ đội chủ lực ta, đánh bại chiến thuật của địch, thu hút, giam chân quân địch tạo điều kiện cho việc phá ấp giành dân và phối hợp với chiến trường toàn Miền, đánh bại thêm một bước âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh" tạo điều kiện cho chiến dịch sau giành thắng lợi to lớn hơn.

        Đánh Đắc Xiêng để gọi địch ở Tân Cảnh ra cứu, rồi tiêu diệt quân cứu viện. Mưu kế của ta là đánh cứ điểm Đắc Xiêng để Trung đoàn 42 của địch ở Tân Cảnh ra cứu; ta sẽ đánh quân cứu viện.

        Để yểm hộ cho Trung đoàn 28 của ta bao vây tiến công Đắc Xiêng, ta cho một đơn vị thuộc Trung đoàn này chiếm lĩnh một vài cao điểm trên dãy núi Et. Địch từ Tân Cảnh tiến lên phía nam Đắc Xiêng. Bị quân ta đánh chặn lại, địch lại cho đổ bộ trực thăng xuống phía tây Đắc Xiêng và đánh lên núi Et. Ý định của địch là đánh quân ta ở núi Et trước, sau đó mới giải toả cho Đắc Xiêng. Bị đơn vị của Trung đoàn 28 đánh bật khỏi núi Et, địch co cụm lại dưới chân núi Et. Ta liền cho Trung đoàn 66 ở nam Đắc Xiêng cơ động lên bao vây quân địch ở phía tây Đắc Xiêng, dưới chân núi Et. Trận quyết chiến diễn ra.

        Ta quyết tâm bao vây chặt bốn mặt quân địch và tiêu diệt chúng ở đây. Rút kinh nghiệm một số trận trước để địch thoát vây, lần này ta quyết tâm áp sát, siết chặt vòng vây, không để cho địch chạy thoát. Vòng vây siết chặt đến đâu, công sự siết chặt đến đó. Có công sự tốt, phi pháo của địch ít tác dụng.

        Sau hai ngày đêm chiến đấu liên tục, một Trung đoàn của ta đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 42 của địch; bắt sống tù binh, trong đó có cả chỉ huy và thu toàn bộ vũ khí. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 đi trên máy bay lên thẳng nhìn thấy cảnh đó cũng đành chịu bó tay. Đó là chiến thuật đánh điểm diệt viện. Viện bằng đường bộ và viện bằng đường không.

        Trong trận Đắc Xiêng ta vây tròn, vây chặt cả bốn mặt, nên địch không chạy được, không thoát vây được, nên bị tiêu diệt hoàn toàn. Từ trận này mà hình thành chiến thuật "vận động bao vây tiến công liên tục", ở chiến trường lúc đó ta gọi là "bao vây công kích". Đây là một hình thức chiến thuật mới được hoàn thiện trong chiến dịch này: bao vây chặt quân địch, sau đó liên tục công kích cho đến khi dứt điểm làm chủ trận địa.

        Trận Đắc Xiêng ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng, bắt tù binh, thu vũ khí, hạ nhiều máy bay, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của địch, đã vây ép giam chân địch, thu hút và kéo địch ra để tiêu diệt, hoạt động quân sự đã phối hợp và hỗ trợ tốt cho phong trào quần chúng nổi dậy phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ nhiều nơi, góp phần phá âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh".


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2016, 09:00:59 pm

PHẦN 10

CHIẾN THẮNG ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH

        Năm 1972 là một năm bản lề trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Những chiến thắng trong năm này có ý nghĩa to lớn bước đầu dẫn đến mục tiêu chiến lược: "Đánh cho Mỹ cút" mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra.

        Sau thắng lợi của nhân dân ba nước Đông Dương trên chiến trường trong năm 1971, đã mở ra triển vọng đánh bại "Học thuyết Ních Xơn" và hỗ trợ mạnh mẽ cho thế tiến công về ngoại giao của ta tại Hội nghị Pa ri dồn đế quốc Mỹ vào tình thế ngày càng bị động.

        Tuy nhiên ngay trên chiến trường miền Nam, ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa tạo được những chuyển biến lớn về chiến lược. Trước tình hình đó Bộ Chính trị đã đề ra nhiệm vụ cách mạng là kịp thời nắm lấy thời cơ, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh quân sự chính trị ngoại giao và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972".

        Từ đó Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đã tích cực chỉ đạo hướng tiến công chiến lược chính là Trị Thiên. Hai hướng tiến công chiến lược phối hợp là miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Cuộc tiến công chiến lược này nhằm đẩy mạnh đánh phá "bình định” của địch ở nông thôn, đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị, giành thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam giải phóng một số địa bàn, mở rộng căn cứ địa của ta, tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi cục diện chiến tranh.

        Nhiệm vụ chiến lược của chiến trường Tây Nguyên lúc này là: Với lực lượng Sư đoàn 2 - Quân khu 5 và Sư đoàn 320 cùng các Trung đoàn 28, 66, 95, 40 và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật Trung đoàn 24B, Trung đoàn Công binh 7, Trung đoàn pháo binh 675, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly, và đại đội pháo cao xạ tự hành 57 ly, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn ô tô vận tải, 1 tiểu đoàn thông tin. Thực hành tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực quân đoàn 2 và tổng dự bị nguỵ, giải phóng Đắc Tô – Tân Cảnh, sau đó giải phóng thị xã Kon Tum, có điều kiện thì phát triển xuống Plâyku.

        Tây Nguyên vốn là khu vực quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược của địch, nên mặc dù trong năm 1971 nhiều vị trí phòng ngự trên cao nguyên của Vùng 2 chiến thuật bị ta đánh nhiều lần; nhưng chúng vẫn ngoan cố phản kích chiếm lại.

        Bước vào năm 1972, Mỹ ngụy phán đoán rằng ta sẽ mở chiến dịch lớn ở Tây Nguyên nên ra sức đề phòng... Chúng dùng B52 đánh phá tập trung vào các tuyến đường, các khu vực kho tàng của ta. Chúng tập trung lực lượng vùng 2 chiến thuật gồm Sư đoàn 22 (Đắc Tô - Tân Cảnh), Sư đoàn 23 (Kon Tum), hai liên đoàn biệt động quân số 2 và số 6, Sư đoàn dù (thiếu) là lực lượng tổng dự bị chiến lược tất cả gồm 44 tiểu đoàn bộ binh. Về binh chủng có 10 chi đoàn thiết giáp của 4 Trung đoàn, 7 tiểu đoàn pháo binh khoảng 160 khẩu pháo từ 105 ly đến 175 ly. Khi tác chiến chúng được Sư đoàn không quân số 6 và các đơn vị không quân khác khoảng 214 máy bay các loại chi viện. Ngoài ra, địch còn có 14 tiểu đoàn và 14 liên đoàn bảo an. Tổng số quân địch tập trung ở khu vực chủ yếu của chiến dịch là 27 nghìn quân chủ lực và hàng chục nghìn quân địa phương.

        Lúc này địch hình thành ở Đắc Tô - Tân Cảnh một cụm phòng ngự dày đặc gồm có Sư đoàn 22 (thiếu), Trung đoàn thiết giáp số 14 và - tiểu đoàn biệt động biên phòng. Đồng thời hình thành tuyến ngăn chặn ở bờ tây sông PôCô từ Ngọc Bờ Biêng đến Chư Cô Tông do Lữ đoàn dù 2 đảm nhiệm án ngữ, bảo vệ đường 14 và thị xã Kon Tum. Tăng cường cho tuyến phòng ngự cơ bản ở khu vực bắc Kon Tum trên đường 14 và 19 địch dùng Sư đoàn 22 và 2 liên đoàn biệt động làm lực lượng dự bị bố trí ở Plâyku và Buôn Ma Thuột.

        Sau những năm đánh Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên ta và địch đều đã hiểu nhau phần nào. Những người chỉ huy quân đội Mỹ là những người biết nghiên cứu và biết rút kinh nghiệm nhanh. Nhưng họ có cách đánh giá theo luận điểm của kẻ đi xâm lược, ỷ vào sức mạnh của vũ khí và phương tiện hiện đại. Còn ta chiến đấu vì chính nghĩa, có sức mạnh của chiến tranh nhân dân, có tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, vì vậy việc vận dụng mưu kế lừa địch phải coi là một nghệ thuật vận dụng vào chiến dịch với những sáng tạo và những điều kiện cụ thể, tình huống cụ thể.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2016, 11:02:40 am

        Chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh được mở ra từ 31 tháng 3 năm 1972 nhằm giáng đòn phủ đầu vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" và kế hoạch "bình định" của địch ta trên chiến trường Tây Nguyên; đồng thời phối hợp chặt chẽ với chiến trường Trị Thiên và chiến trường miền Đông Nam Bộ. Không gian chiến dịch gần trùng hợp với chiến dịch Đắc Tô I - năm 1967 nhưng đối tượng tác chiến lần này là quân nguỵ có sự chi viện tối đa của hoả lực Mỹ.

        Kế thừa chiến dịch Sa Thầy, mùa Đông năm 1966 của Tướng Chu Huy Mân, và trong chiến dịch Đắc Tô 1, ta đã lừa được các tiểu đoàn của lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 4 Mỹ và lữ đoàn dù 173 Mỹ hạ cánh trực thăng vào hai khu chiến ta đã dự kiến để đánh thiệt hại một số tiểu đoàn Mỹ và đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 173 Mỹ ở đồi 875 nổi tiếng phía tây bắc Kon Tum. Nguyễn Trãi nói: “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tránh chỗ thực, đánh chỗ hư, thì sức dùng một nửa mà công được gấp đôi".

        Ở chiến trường Tây Nguyên, cuộc tiến công của ta đã diễn ra mạnh mẽ. Địch cho rằng đòn tiến công chiến lược chủ yếu, hướng tiến công chủ yếu của ta đã diễn ra ở đây. Chúng vội vã điều một lữ đoàn dù, rồi đến hai lữ đoàn dù lên tăng cường cho quân đoàn 2 ở chiến trường Tây Nguyên.

        Để kịp thời đối phó, hòng chặn đứng cuộc tiến công của ta, lữ đoàn dù đã cập rập tiến ra phía trước để tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn từ xa. Quân đoàn 2 có Sư đoàn bộ binh số 23 và Sư đoàn bộ binh số 22 thiếu, cùng liên đoàn 2 quân biệt động - lực lượng cơ động của quân đoàn. Ngoài ra chúng còn một chục tiểu đoàn biệt động biên phòng - lực lượng biệt kích "mũ nồi xanh" của quân Mỹ, cùng một số lượng đại đội, tiểu đoàn, liên đội quân bảo an tương đối đông. Về binh chủng, chúng có hơn 3 Trung đoàn bọc thép, 10 tiểu đoàn pháo binh và 1 Trung đoàn không quân.

        Binh lực của chúng được bố trí như sau: Sư đoàn 23 và liên đoàn 2 quân biệt động phụ trách phòng ngự từ thị xã Plâyku, đường số 19, đường số 14 cho đến thị xã Kon Tum. Sư đoàn 22 thiếu phụ trách phòng ngự ở khu vực thị trấn Tân Cảnh và sân bay Đắc Tô. Lữ đoàn dù số 2 phụ trách phòng ngự trên dãy điểm cao phía tây sông Pô Cô từ điểm cao 1015 đến điểm cao 966, đoạn giữa điểm cao Ngọc Bơ Biêng và cứ điểm Kleng.

        Quân địch cho rằng hướng tiến công chủ yếu của ta sẽ từ phía tây đánh vào Đắc Tô - Tân Cảnh, đường 14 và thị xã Kon Tum. Do đó địch đã tổ chức một tuyến phòng ngự vòng ngoài ở phía tây đường 14, tây Đắc Tô – Tân Cảnh, tây thị xã Kon Tum từ PLây Cần - đến điểm cao Ngọc Rinh Rua? Ngọc Bơ Biêng, điểm cao 1015, điểm cao 1049, 966 đến cứ điểm Kleng.

        Quân địch triển khai thế trận phòng ngự về cơ bản đúng như phán đoán của ta. Nắm được thủ đoạn và quy luật tác chiến của địch, biết được tính nết của chúng là chủ quan, hám ăn, rất dễ bắt mồi và dễ bị sai khiến, nên quân ta đã nhử được chúng ra vòng ngoài tuyến phòng ngự của chúng để tiêu diệt. Đồng thời ta còn tiến hành chia cắt, vây hãm các cụm phòng ngự trong tập đoàn phòng ngự của địch, rồi tiến công đột phá vào các cụm phòng ngự đó để tiêu diệt và phá vỡ thế trận phòng ngự của địch.

        Từ thị xã Plâyku qua thị xã Kon Tum đến thị trấn Tân Cảnh, thế trận của địch là một thế trận chiều dọc có một chiều sâu mỏng hoặc không có chiều sâu. Ở từng khu vực trọng điểm như trung tâm phòng ngự Kon Tum, địch tổ chức một vài tuyến phòng ngự vòng ngoài, có chiều ngang và chiều sâu mỏng. Riêng ở thị trấn Tân Cảnh, một trung tâm phòng ngự mạnh thì tổ chức phòng ngự của địch có sâu, dày và vững chắc hơn. Từ phía nam thị xã Kon Tum đến phía bắc thị xã Plâyku, tuyến phòng ngự cơ bản của địch không được che chở.

        Quân địch chỉ tổ chức tuyến phòng ngự vòng ngoài ở phía tây đường 14 từ thị trấn Tân Cảnh đến thị xã Plâyku, bảo đảm cho trận địa phòng ngự của địch có chiều sâu ở trên khu vực đó. Như thế là hợp với lô gích quân sự tư sản. Cũng với quan điểm quân sự tư sản, chúng không thể phân tích được cách đánh cách mạng độc đáo của ta, do đó tuyến phòng ngự cơ bản của chúng bị bỏ hở, không được che chở ở phía đông.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2016, 11:03:43 am

        Trong khi nghiên cứu, phân tích thế trận và cách đánh của địch, ta đã phát hiện ra chỗ sơ hở, chỗ yếu nguy hiểm dó của chúng. Về hình thái thế trận của địch, ta đã đứng ở góc độ các chiều của thế trận mà nghiên cứu, phân tích tìm ra các đường tuyến cấu thành thế trận của địch và đường tuyến nào là đường tuyến cơ bản của thế trận. Ta đánh vào đường tuyến nào, đảo lộn được góc cạnh nào, cắt được cái nút nào thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị xiêu vẹo, lung lay và đổ vỡ. Ta đã tìm ra chiều ngang và chiều dọc trong thế trận của địch và thấy rằng chiều dọc thế trận của địch là cái rường cột cho toàn bộ thế trận của địch, cũng là một sự bắt buộc đối với địch vì chúng phải chịu sự tác động của quy luật chiến tranh nhân dân của ta. Thế trận chiều dọc bị đánh nhão, bị đập nát thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị lung lay hoặc bị phá vỡ.

        Mưu kế chiến dịch của ta là thu hút đội dự bị chiến lược của địch về phía Kon Tum để sơ hở ở hướng Tân Cảnh. Muốn thu hút hai lữ đoàn dù về phía Kon Tum, ta làm giả hai con đường cơ giới ở phía tây bắc thị xã Kon Tum khoảng 20-30 km buộc sư dù (thiếu) phải ra ngăn chặn và ta bố trí Sư đoàn 320 để đánh sư dù đó. Quả nhiên, một lữ đoàn dù ra ngăn chặn, phá ta làm đường. Trung đoàn 64 Sư 320 đánh ngay và Sư 320 của ta cùng sư dù (thiếu) nguỵ cùng liên đoàn biệt động quân nguỵ số 22 chọi nhau ở đó. Thế là địch mắc mưu của ta.

        Lúc này, Sư đoàn 2 (thiếu), Quân khu 5, do anh Nguyễn Chơn làm Sư đoàn trưởng, Trung đoàn 66 và tiểu đoàn đặc công B3 cùng các binh chủng pháo binh, pháo cao xạ (đặc biệt có pháo cao xạ tự hành 57 mm) và xe tăng yên ổn tiến vào phía đông Tân Cảnh. Địch chú ý phía tây Tân Cảnh, ta lại bất ngờ cơ động vào phía đông Tân Cảnh, nơi địch ít đề phòng mà mở mũi tiến công chủ yếu.

        Mưu kế của ta là lừa địch, đánh vào chỗ sơ hở, địch ít đề phòng. Lừa địch ở Kon Tum. Làm đường để địch đối  phó ở Kon Tum. Địch đề phòng phía tây Tân Cảnh, ta lại đánh vào phía đông Tân Cảnh. Do đó chỉ trong một ngày ta đã giải phóng Tân Cảnh.

        Phải nói rằng đến chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh mưu kế chiến dịch của ta lại có thay đổi. Mưu kế đánh địch ở đâu và lừa địch ở đâu rồi đến vấn đề lập thế trận đã được bàn rất kỹ trong Bộ Tư lệnh Mặt trận. Bộ chỉ huy trực tiếp đánh trận Đắc Tô-Tân Cảnh là anh Nguyễn Mạnh Quân Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên làm Chỉ huy trưởng, anh Đặng Vũ Hiệp Phó chính ủy Mặt trận Tây Nguyên làm Chính ủy.

        Ý định chiến dịch của ta là bước đầu giải phóng thị trấn Đắc Tô - Tân Cảnh, sau đó mới đánh xuống thị xã Kon Tum. Kế hoạch tiến công của quân ta đã sẵn sàng, quân địch phải bị động rải Sư đoàn 23 ra đối phó với quân ta trong giai đoạn đánh nhỏ, giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch ở trên đường 14 và đường 19. Chúng ném lữ đoàn dù 2 ra tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở dãy điểm cao 1015 đến 1049 và 966, vào đúng thế trận của quân ta. Thế là thời cơ tiêu diệt lữ đoàn này đã tới.

        Tiếp đó, địch điều thêm lữ đoàn dù số 3, từ Sài Gòn ra Võ Định làm lực lượng dự bị, điều liên đoàn 6 quân biệt động từ Nam Bộ ra tăng cường phòng giữ thị xã Kon Tum.

        Hai bên ta, địch đều đã triển khai lực lượng, bố trí thế trận và sẵn sàng vào cuộc chiến đấu quyết liệt.

        Cùng ngày giờ với cuộc tiến công đồng loạt trên toàn chiến trường, ở Mặt trận Tây Nguyên ta cũng mở đầu cuộc tiến công đánh vào tiểu đoàn dù số 7 chiếm giữ điểm cao 1049. Tiểu đoàn này bị đánh thiệt hại nặng. Kế tiếp sau đó, mũi tiến công của ta chuyển sang đánh vào tiểu đoàn dù số 11 chiếm giữ điểm cao 1015. Tiểu đoàn này bị tiêu diệt, bộ chỉ huy quân địch liền tung lực lượng dự bị và lữ đoàn dù 3 ra phản kích. Một tiểu đoàn của lữ đoàn dù này bị đánh thiệt hại nặng và sở chỉ huy lữ đoàn ở Võ Định cũng bị đánh những đòn đau. Số tàn quân của hai lữ đoàn dù phải rút bỏ một số điểm cao còn lại, tháo chạy khỏi bờ tây sông Pô Cô, lui về giữ tuyến phòng ngự cơ bản trên đường số 14, từ Võ Định về đến thị xã Kon Tum.

        Quân ta đã hoàn thành trận then chốt thứ nhất của chiến dịch. Tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở phía tây bắc thị xã Kon Tum của địch đã bị phá vỡ. Cánh cửa chiến dịch phía tây đường 14 đã được mở toang. Quân dù, lực lượng tinh nhuệ, mạnh nhất của địch đã bị đánh sụn xương sống. Thế trận của địch đã bị lung lay mạnh và đã có phần bị rối loạn. Thời cơ tiến đánh vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, tiến công các khu trung tâm phòng ngự của địch, tiêu diệt các cụm phòng ngự trong tập đoàn phòng ngự của địch, thời cơ của những trận quyết chiến, chiến dịch đã đến.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:04 am

        Quân ta nhằm vào cụm phía bắc của tập đoàn Kon Tum để mở đòn tiến công thứ nhất. Cụm này do Sư đoàn 22 thiếu được tăng cường 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 Trung đoàn thiết giáp và 3 tiểu đoàn pháo binh tổ chức thành, phòng ngự ở thị trấn Tân Cảnh và sân bay Đắc Tô 2. Đây là một cụm đột xuất, bị cô lập, dễ bị bao vây, chia cắt, dễ bị vây hãm.

        Để vây hãm chặt Sư đoàn 22 ở Đắc Tô - Tân Cảnh, bảo đảm cho quân ta tự do hành động, bảo đảm cho cuộc tiến công được thuận lợi, ta đã tiến hành hai tầng chia cắt. Tầng thứ nhất cắt đứt đường 14 từ Võ Định đến Tân Cảnh. Tầng thứ hai cắt đứt đường 14 từ bắc thị xã Plâyku đến nam thị xã Kon Tum. Ngoài ra, bộ đội địa phương và dân quân du kích còn tổ chức một tuyến đánh ngăn chặn, tiêu hao trên đường số 19 từ phía tây thị xã Quy Nhơn đến phía đông thị xã Plâyku.

        Bộ chỉ huy quân địch đã mất sáng suốt. Chúng không phán đoán được mũi tiến công chủ yếu của đối phương sẽ nhằm vào mục tiêu nào? Thị trấn Tân Cảnh hay thị xã Kon Tum? Mà dù có biết thì đến giờ phút này chúng cũng chẳng nhúc nhích gì được nữa. Vì thế trận của quân ta đã mở ra và cài chặt vào thế trận của chúng rồi. Chúng đành phải ở đâu nằm đó, bị động chờ các đòn tiến công của quân ta sẽ ập lên đầu chúng.

        Trong nghệ thuật chỉ huy, lâm vào cảnh bị động và do dự không điều động, cơ động được lực lượng là một điều vô cùng thất sách. Tuy quân địch có máy bay lên thẳng, có thể cơ động bằng hạ cánh đường không nhưng vì hai mục tiêu đều phải giữ, đều bị vây hãm, hơn nữa máy bay lên thẳng cũng không phải là vạn năng, chỉ một mình nó cũng không thể giải quyết được toàn bộ vấn đề về chiến dịch và chiến thuật.

        Để thực hiện nghi binh lừa địch, làm cho địch tập trung lực lượng vào thị xã Kon Tum mà để sơ hở Đắc Tô - Tân Cảnh, bằng cách ta cho mở một con đường cơ giới phía tây thị xã Kon Tum. Đây là con đường làm giả nhằm thu hút địch về phía đó. Quả nhiên địch cho hai lữ đoàn dù và liên đoàn biệt động số 22 ra đối phó định ngăn chặn, phá việc làm đường của ta. Ta đã sử dụng Sư đoàn 320 cùng các binh chủng ra đối chọi đánh địch nống ra ở đây.

        Trong lúc lực lượng chủ chốt của địch tập trung vào khu vực thị xã Kon Tum đã để sơ hở thị trấn Đắc Tô – Tân Cảnh. Lợi dụng sự sơ hở đó ta làm một con đường quân sự gấp nối vào đường 14 để đưa lực lượng chủ chốt của ta gồm Sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng Trung đoàn 66, một tiểu đoàn đặc công của B3 cùng pháo binh, pháo cao xạ, tên lửa chống tăng và xe tăng vòng về phía đông Đắc Tô - Tân Cảnh.

        Đã tạo ra được thế trận và thời cơ, quân ta liền tập trung lực lượng đột phá cụm Tân Cảnh và siết chặt vòng vây vây hãm cụm thị xã Kon Tum.

        Quân ta thực hành đột phá cụm Tân Cảnh từ phía đông và phía bắc, mũi đột kích chủ yếu là từ phía đông. Bộ đội xe tăng từ tuyến xuất phát ở phía tây Tân Cảnh đã cơ động theo đường quân sự làm gấp, vu hồi sang phía đông tham gia đột phá trong đội hình binh chủng hợp thành ở hướng đột kích chủ yếu. Một bộ phận nhỏ xe tăng cũng tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành ở hướng bắc Tân Cảnh.

        Hướng đột kích chủ yếu của ta ở hướng đông, cùng với hành động vu hồi của bộ đội xe tăng của quân ta sang phía đông là một sự bất ngờ hoàn toàn, làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch và thế trận phòng ngự của quân địch.

        Hướng phòng ngự chủ yếu của địch là ở phía tây và tây bắc Tân Cảnh. Các đơn vị xe tăng chủ yếu của chúng đều chiếm lĩnh trận địa chiến đấu ở phía tây căn cứ Tân Cảnh và hướng phản kích chủ yếu của cụm xe tăng này là hướng tây và tây - bắc căn cứ Tân Cảnh. Vì thế, khi bộ đội xe tăng của ta xuất hiện ở phía đông căn cứ Tân Cảnh thì cụm xe tăng này - lực lượng phản kích chủ yếu của địch - đã trở thành vô dụng. Cho nên, khi bộ binh của quân ta đã bao vây căn cứ Tân Cảnh và khi bộ đội xe tăng của ta đã tiến tới quận lỵ Đắc Tô thì tên sư trưởng Sư đoàn 22 Lê Đức Đạt chỉ còn cách báo cáo lên tư lệnh quân đoàn 2 Ngô Du xin rút chạy.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2016, 11:04:55 am

        Trước tình cảnh hiểm nghèo đó Ngô Du cũng chẳng còn phép gì lạ để cứu cho Sư đoàn 22, nên đã phải chấp nhận. Nhưng khốn thay, quyết định cuối cùng không phải là do các sĩ quan và tướng lĩnh nguỵ Sài Gòn. Chúng do Mỹ nuôi và Mỹ dắt cho đi đứng, nên quyết định cuối cùng vẫn phải do người Mỹ. Giôn PônVan, cố vấn trưởng quân đoàn 2, đã bác bỏ quyết định của Ngô Du và Lê Đức Đạt.

        Vậy tên cố vấn Mỹ hợm hĩnh đó có phép màu gì để cứu sống Sư đoàn 22? B.52 và F.4 đã chẳng bất lực đó rồi sao? B.52 và F.4 đã không thể nào ngăn được quân ta, nào bộ binh, nào pháo binh, nào xe tăng, từ phía tây cơ động sang phía đông và đã tiến sát tới hàng rào của căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh đó sao? Rốt cuộc, với những "bảo bối" quen thuộc đó, Giôn Pôn Van đã chẳng cứu nổi được Sư đoàn 22 mà ngay chính bản thân hắn cũng toi mạng trong một chiếc máy bay lên thẳng bị quân ta bắn rơi.

        Trước cuộc đột kích, pháo binh của ta thực hành pháo kích vào căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh theo đúng kế hoạch. Căn cứ bị phá huỷ từng phần, sinh lực địch bị tiêu hao một số, hệ thống chỉ huy của địch bị xộc xệch và tinh thần quân lính địch bị sa sút nghiêm trọng.

        Dưới sự chi viện và yểm hộ đắc lực của pháo binh, sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, bộ binh và xe tăng của ta nhanh chóng đột phá thắng lợi vào sở chỉ huy Sư đoàn 22 ở căn cứ Tân Cảnh. Tiếp đó, một cánh mai phục của ta cũng đột phá thành công vào căn cứ Trung đoàn 47 ở sân bay Đắc Tô 2, hiệp đồng chặt chẽ với cánh quân đang tiến công ở đó, cùng bộ binh đánh bại đợt phản kích của xe tăng địch. Trung đoàn 47 địch đã bị cánh quân này tiêu diệt. Một chiếc xe tăng 377 anh hùng của ta đã đánh gục 5 xe tăng của địch ngay trên đường băng sân bay. Bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum cùng phối hợp với bộ đội chủ lực đánh chiếm quận ly Đắc Tô.

        Trải qua hơn mười tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt quân ta đã hoàn toàn tiêu diệt Sư đoàn 22 thiếu, gồm sở chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn 42, Trung đoàn 47, 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 41, tiểu đoàn dù số 9 thuộc lữ đoàn dù số 3, 1 Trung đoàn thiết giáp và hơn 2 tiểu đoàn pháo binh, cùng các đại đội bảo an và cơ quan hành chính quận Đắc Tô, quận Đắc Sút lưu vong. Quân ta đã bắt sống hơn một nghìn tên, trong đó có tên sư phó Vi Văn Bình cùng với cơ quan tham mưu của Sư đoàn. Tên sư trưởng Lê Đức Đạt bị bắn chết.

        Cụm phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh của địch được bố trí rất mạnh và dày đặc, nhưng hướng phòng ngự chủ yếu của chúng là về phía tây. Nên khi lực lượng của ta lợi dụng sơ hở ít phòng bị của địch, đã áp sát bất ngờ đánh vào căn cứ quân sự 42, trong khi xe tăng và pháo binh của địch lại bố trí ở phía tây căn cứ hòng đối phó với ta ở phía tây. Khi cuộc chiến giữa ta và địch đang diễn ra quyết liệt xung quanh thị xã Kon Tum thì căn cứ 42 bất ngờ bị ta tiến công ở phía đông, nơi mỏng yếu và ít đề phòng của địch không kịp trở tay. Địch rất hoang mang hãi hùng vì bị tên lửa chống tăng của ta bắn phá vào chòi canh gác trên cao. Sư dù thì mắc ở Kon Tum không đi cứu được thị trấn Đắc Tô - Tân Cảnh, thêm vào đó Trung đoàn 28 của ta đã ra cắt đường 14 từ Kon Tum đi Đắc Tô - Tân Cảnh không cho địch đi ứng cứu nên Trung đoàn ở thị trấn Đắc Tô - Tân Cảnh cùng bộ chỉ huy nhẹ Sư đoàn 22 bị tiêu diệt và bị bắt sống chỉ trong gần một ngày và những tên có chạy thoát thì cũng bị quân ta bắt sống trên đường chạy trên đường 14.

        Sau gần một tháng mở chiến dịch, cuộc chiến đấu giữa ta và địch đã diễn ra rất quyết liệt, bị trói chân ở Kon Tum địch không còn lực lượng đi phản kích, mục tiêu ban đầu của ta đã giành được thắng lợi. Toàn bộ quân địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh đã bị tiêu diệt, cụm phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum sụp đổ nhanh chóng. Quân nguỵ ở các căn cứ dải phòng ngự phía tây Sông Pô Cô trên các trục đường 14, 19 từ Diên Bình, Công Hơ Rinh, quận lỵ Đắc Tô, Đắc Mót phải rút chạy tán loạn.

        Đắc Tô - Tân Cảnh là một cụm phòng ngự lớn của địch, có tính chất một tập đoàn phòng ngự trên tuyến phòng ngự cơ bản, do một Sư đoàn (thiếu) chiếm giữ. Diệt được nó một cách nhanh chóng là do ta đã có thế trận hay, có cách đánh chiến dịch hiệp đồng binh chủng. Quân ta đã làm cho địch bị động, kéo địch ra ngoài trận địa của chúng để tiêu diệt, khiến lực lượng của chúng bị tiêu hao một bước, lực lượng dự bị của chúng bị suy yếu.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2016, 11:05:20 am

        Trong khi đó, quân ta tiến hành bao vây, chia cắt quân địch ra làm nhiều mảnh trên tuyến phòng ngự cơ bản của chúng và vây hãm, tiêu hao các cụm phòng ngự chủ yếu. Thừa lúc quân địch đã bị tiêu hao, mệt mỏi, rối loạn, mê muội và bị bất ngờ, quân ta liền tập trung lực lượng tiêu diệt, giải quyết từng cụm một. Thế trận ở đây là sự kết hợp giữa thế chính và thế kỳ, thế nổi và thế chìm cũng như giữa vây hãm và đột phá, giữa chính diện và vu hồi. Thế trận đó lại vận động uyển chuyển và biến hoá linh hoạt.

        Sau khi tiêu diệt Sư đoàn 22 và giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, quân ta liền tiến xuống phía đông Kon Tum, hiệp đồng với cánh quân đang bao vây địch ở đây, cùng tiến công vào thị xã Kon Tum, do Sư đoàn quân nguỵ số 23 phòng giữ. Ở đây, tuy đã bị vây hãm nhưng địch vẫn còn dự trữ về vật chất, hơn nữa chúng lại có ưu thế về máy bay lên thẳng, do đó sức chống cự của chúng còn mạnh.

        Quân ta tiến công tiêu diệt được một bộ phận địch ở các tuyến phòng ngự vòng ngoài, sau đó đánh vào tiêu diệt một bộ phận quân địch và chiếm được một số khu vực trong thị xã và cũng không thành công trong việc đánh vào thị xã Kon Tum.

        Ở Tây Nguyên lần đầu tiên ta mở chiến dịch tiến công vào tuyến phòng ngự cơ bản mạnh nhất của địch và cũng là lần đầu tiên, bộ đội Tây Nguyên đánh thiệt hại nặng một Sư đoàn, nhiều Trung đoàn, thiết đoàn trong một cụm phòng ngự kiên cố và dày đặc của địch, giải phóng thị trấn Đắc Tô và một nửa phía Bắc tỉnh Kon Tum, đồng thời đã đánh bại liên tiếp các đợt phản kích của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Do mùa mưa đến sớm, tiếp tế hậu cần của ta gặp khó khăn, cũng do nghệ thuật sử dụng lực lượng dự bị cơ động của ta còn phân tán và tác chiến phòng không của ta còn kém nên chưa giải phóng được thị xã Kon Tum. Chiến dịch kết thúc vào 5 tháng 6 năm 1972.

        Chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh là chiến thắng bằng mưu kế. Có thế ta mới thắng nhanh và ít thương vong.

        Cùng thời gian này ở Trị Thiên, quân và dân ta đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở đây, đánh chiếm và làm chủ các căn cứ từ Ái Tử, La Vang, Đông Hà đến thành cổ Quảng Trị, giải phóng Quảng Trị và trực tiếp uy hiếp Thừa Thiên - Huế.

        Ở miền Đông Nam Bộquân và dân ta đã phá vỡ tuyến phòng ngự biên giới của địch, giải phóng ba huyện Lộc Ninh, Bù Đốp, Thiện Ngôn, mở ra một khu vực giải phóng rộng lớn và hoàn chỉnh ở miền Đông Nam Bộ thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long.

        Chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh cùng với chiến thắng Quảng Trị và miền Đông Nam Bộ là những đòn tiêu diệt chiến dịch có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng nó đã tạo ra một cục diện mới trên chiến trường miền Nam, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" và "Học thuyết Ních Xơn" ở Đông Dương.

        Cùng với Chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972 ở Hà Nội, Hải Phòng phối hợp với quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52, đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa ri, rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc ra khỏi miền Nam nước ta.

        Chiến thắng năm 1972 có ý nghĩa chiến lược, đưa chiến tranh bước sang một giai đoạn mới, buộc địch chuyển vào thế phòng ngự chiến lược.

        Trong cuốn sách "Việt Nam - những trận đánh quyết định" của J.Pimlott " NXB Mac Millan – Newyork 1990 khi nhận xét về trận đánh Đắc Tô - Tân Cảnh có đoạn viết:

        "Từ ngày 12-4, quân Bắc Việt Nam để lộ ý đồ đối với khu vực này bằng cuộc tiến công đồi "Rocket Ridge" nhìn xuống Đắc Tô. Cuộc tiến công kéo dài đến ngày 23 và kết thúc bằng cuộc tiến công quy mô lớn vào các tiền đồn đơn độc của Sư đoàn 22 Việt Nam cộng hòa ở Tân Cảnh, Đắc Tô 2 và Bến Hét. Chỉ huy lực lượng Việt Nam cộng hòa, đại tá Lê Đức Đạt, bị bất ngờ. Hậu quả là các tiền đồn nhanh chóng bị đè bẹp bất chấp có mặt của Paul Vann, con người nhiều kinh nghiệm và là cố vấn trưởng quân đoàn II Việt Nam cộng hòa. Khi số quân Việt Nam cộng hòa sống sót rút về Kon Tum, Vann (sau đó chết trong chiếc trực thăng rơi) đích thân tổ chức phòng thủ thị xã, điều động lực lượng Biệt động quân và các đơn vị của Sư đoàn 23 Việt Nam cộng hòa từ các nơi khác trong Quân khu II. Đến đầu tháng 5, Kon Tum bị bao vây, sự sống của nó chỉ còn trông cậy vào yểm trợ đường không của Mỹ".

        Những tư liệu trên có tính chất để bạn đọc tham khảo chút ít về những đánh giá từ phía các nhà nghiên cứu quân sự Mỹ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:09 am

QUYẾT TÂM CHIẾN ĐẤU

        Tôi từ Tây Nguyên về công tác ở Quân khu 5 chưa được bao lâu, chỉ vừa mới đủ thời gian để làm quen với mọi việc thì cuối tháng 8, khi tiếng súng vẫn đang nổ giòn giã từ Thượng Đức đến Quế Sơn, có điện triệu tập tôi ra Hà Nội. Lại lên đường.

        Đến Thủ đô vào một ngày nắng dịu, phố xá tràn đầy cờ, hoa và người, xe trong không khí ngày hội. Mồng 2 tháng 9 năm 1974. Bất giác, ký ức và những sự liên tưởng dâng trào, xáo trộn, chảy êm đềm rồi cuồn cuộn trôi khiến tôi không thể hình dung được ngay là mình đang xúc động bởi những gì.

        Vâng, bạn đọc đã cùng tôi đi suốt những năm tháng chiến tranh hẳn sẽ nhắc để tôi nhớ rằng đúng ngày này cách đây 8 năm, tôi đã rời Hà Nội vào chiến trường - Tám năm tròn. Bao nhiêu trận đánh, bao nhiêu nẻo đường, bao nhiêu đồng chí, bao nhiêu chiến thắng và hy sinh.... Chỉ biết rằng chúng ta đã tới gần, chúng ta đã tới gần.... Tự nhiên, cứ vang ngân mãi trong lòng tôi một giai điệu hành khúc từ những xúc cảm dạt dào.

        Trong thời gian này đã diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng có tính chất quyết định đến vận mệnh của cả một dân tộc.

        Ngày 30 tháng 9 Bộ Chính trị họp Hội nghị xem xét Kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm 1975-1976 dự thảo lần thứ bảy do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị. Hội nghị đã đề ra phương hướng chiến lược là phải chuẩn bị cả trên hai hướng:

        - Tây Nguyên, trọng điểm là Nam Tây Nguyên, là hướng chiến lược rất quan trọng.

        - Miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng.

        Sau đó Bộ Chính trị thấy cần có thêm thời gian đánh giá tình hình kỹ hơn, xây dựng kế hoạch đầy đủ hơn, để đi tới hạ quyết tâm chiến lược có cơ sở khoa học, bảo đảm chắc thắng.

        Ở Tây Nguyên lúc này có một nhiệm vụ hết sức cần thiết là phải mở thông đường chiến lược Hồ Chí Minh, để đưa lực lượng và phương tiện, trong đó có đường ống dẫn dầu từ Tây Nguyên tiến vào Đông Nam Bộ.

        Bởi vậy, ta đã cho Sư đoàn 320 đánh chiếm căn cứ Chư Nghé (Lệ Minh) và mở một con đường 200 từ Võ Định qua Kon Rẫy vươn dài tới bắc đèo Măng Giang, An Khê. Đây là con đường vu hồi hết sức quan trọng về chiến lược đối với chiến trường.

        Lúc này tỉnh Kon Tum chỉ còn lại 3 căn cứ địch nằm sâu trong vùng giải phóng của ta là Đắc Pét, Măng Đen, Măng Buk án ngữ trên đường 14 sát biên giới Việt - Lào. Ta cũng cho Trung đoàn 66 và một Trung đoàn của Sư đoàn 324 Quân đoàn 2 tiêu diệt căn cứ Đắc Pét; sử dụng bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum bao vây bức rút quận lỵ Măng Đen, Măng Buk. Do đó đến tháng 10 năm 1974, ở Tây Nguyên địch bị dồn gọn lại trong các thị xã và một số vị trí quan trọng trên các trục đường giao thông huyết mạch như đường 14, 19, 21.

        Vùng giải phóng Tây Nguyên được mở rộng và nối liền thành một vùng căn cứ tương đối hoàn chỉnh từ Bắc Kon Tum đến Bắc Đắc Lắc. Hành lang chiến lược từ miền Bắc có thể vào đến tận chiến trường Nam Bộ, theo đó là đường ống dẫn dầu, lực lượng, binh khí kỹ thuật sẽ được đưa vào. Điều này đã mở ra những thuận lợi cơ bản để Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đưa ra những quyết định quan trọng cho việc Hạ quyết tâm chiến lược.

        Đến ngày 18 tháng 12 năm 1974, Bộ Chính trị quyết định triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng để thông qua quyết tâm lần cuối. Giữa lúc đó, tin chiến thắng Phước Long đã đến với Hội nghị. Ngày 6 tháng 1 năm 1975 toàn bộ thị xã Phước Long được giải phóng.

        Chiến thắng Phước Long mang ý nghĩa một đòn trinh sát chiến lược rất quan trọng. Lần đầu tiên ở miền Nam, một tỉnh ở gần ngay Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng mà địch không có phản kích để chiếm lại. Vùng căn cứ trọng yếu của ta ở miền Đông Nam Bộ được mở rộng. Điều này cho thấy khả năng lớn mạnh của quân ta, đồng thời nó cũng đánh dấu một bước suy sụp mới của quân ngụy khi chúng đã không còn khả năng giải toả qui mô lớn để chiếm lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng bị đánh chiếm ngay cả trên tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn - Gia Định. Đặc biệt nó còn chứng tỏ Mỹ không có khả năng trở lại can thiệp bằng quân sự ở miền Nam, khi người phát ngôn của Nhà Trắng tuyên bố. "Tổng thống Pho không có ý định vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc hội ) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam".

        Chiến thắng Phước Long là một nhân tố mới rất quan trọng để Hội nghị khẳng định quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam với yêu cầu cao hơn.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:12:59 am

        Ngày 8 tháng 1 năm 1975 Bộ Chính trị ra Nghị quyết lịch sử:

        "Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam để tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”.

        Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976 được dự thảo lần thứ tám và nhắc nhở:

        "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975".

        Ngay hôm sau, ngày 9 tháng 1 năm 1975, Thường trực Quân uỷ Trung ương họp để quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị. Tôi được tham dự cuộc họp này. Vấn đề trọng tâm là bàn về chiến dịch Tây Nguyên.

        Ở Hà Nội, khi tôi còn đang hiệu chỉnh lại các tài liệu để chuẩn bị báo cáo thì nhận được lời mời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến gia đình dự bữa cơm thân mật. Những dịp như vậy, chúng tôi vẫn quan niệm như một lần làm việc sơ bộ. Quả nhiên sau bữa cơm, khi còn có hai chúng tôi, Đại tướng đã cho biết ý định của Bộ Chính trị và Bộ Tổng tư lệnh - Bộ Tổng tham mưu mở một chiến dịch lớn ở Nam Tây Nguyên vào mùa Xuân 1975, rồi hỏi tôi:

        - Ý kiến của các anh?

        Ý kiến của chúng tôi?- Vâng. Một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên.

        Cũng như những lần trước được gặp anh tôi còn nhớ, trong một buổi làm việc tôi đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng dễ hơn Kon Tum. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân vì thiếu nước. Anh rất đồng tình.

        Đúng là do nhiều yếu tố rất dễ giải thích, các chiến dịch của Mặt trận Tây Nguyên đã thường thường được tổ chức ở phía bắc. Sáu trên bảy đợt hoạt động quân sự có tính chất chiến dịch cho đến trước Hiệp định Pa-ri đã diễn ra ở đây. Nhưng cũng có một chiến dịch cho nam Tây Nguyên: chiến dịch Bu Prăng- Đức Lập vào thời kỳ khó khăn 1969. Còn một chiến dịch nữa định mở ra ở bắc Buôn Ma Thuột năm 1966, nhưng đã không thực hiện được.

        Một chiến dịch cho Nam Tây Nguyên định mở ra lúc này với tầm cỡ rộng hơn nằm trong kế hoạch chiến lược. Nam Tây Nguyên xét về mặt địa lý quân sự, đó là một địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi cho đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, nhất là vùng chung quanh Buôn Ma Thuột. Vì nó có dung lượng chiến trường lớn, dễ triển khai binh khí kỹ thuật cho việc thực hiện tác chiến hiệp đồng binh chủng hợp thành. Và cũng về mặt ấy, với một ý nghĩa chiến lược đó là vùng tiếp giáp giữa Tây Nguyên và Nam Bộ - giữa Mặt trận B2 và B3 (Chú thích: Trong kháng chiến chống Mỹ, B2 là mật danh của Mặt trận Nam Bộ, B3 là mật danh của Mặt trận Tây Nguyên) đã luôn luôn là khâu trọng yếu cho việc bảo đảm hậu cần chiến lược. Nhưng khâu trọng yếu ấy vẫn đang còn là một khâu yếu, B2 không với ra, B3 chưa vươn tới. Cái nguyên nhân khiến cho các chiến dịch không thể mở được ở vùng này, oái ăm thay, lại chính là cái nguyên nhân buộc phải mở các chiến dịch ấy: vấn đề hậu cần. Cả địch và ta đều biết rõ điều đó. Nếu ta khắc phục được những khó khăn này thì nhất định đây sẽ là một trong những bất ngờ lớn đối với địch.

        Cần mở chiến dịch để giải quyết vững chắc vấn đề bảo đảm hậu cần chiến lược, nhưng không mở được các chiến dịch vì không thể bảo đảm hậu cần chiến đấu cho các trận đánh. Vẫn còn nhớ khi mở Bu Prăng-Đức Lập mùa Đông 1969, B3 phải tổ chức một tuyến bảo đảm hậu cần dài nhất từ trước tới nay: 25 cung vận chuyển gùi thồ dưới bom B52 và mưa lũ.

        Toàn quân làm công tác vận chuyển, kể cả các đơn vị trực tiếp nổ súng. Nhưng vấn đề hậu cần ở đây đâu chỉ là vấn đề vận chuyển. Có gì mà vận chuyển? B3 lúc đó không có gạo, các cơ quan, đơn vị phía sau đồng loạt ăn một lạng gạo một ngày, phải trồng sắn để ăn mà dành gạo cho phía trước. Không đủ, phải vào tận B2 xin gạo ra với 25 cung gùi thồ như vậy đấy.

        Từ năm 1973, nếu khả năng bảo đảm hậu cần chiến dịch đã tốt hơn lên rất nhiều thì việc bảo đảm vận chuyển chiến lược Bắc - Nam khi qua khu vực này đã ngày càng phức tạp hơn, khiến cho một chiến dịch tiến công ở nam Tây Nguyên càng trở nên cấp thiết.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:13:26 am

        Tôi đã có dịp nói đến những quan hệ khó khăn giữa Tây Nguyên và "Khơ – me” đỏ thời kỳ sau đảo chính của Lon Non. Những khó khăn này lại càng tăng thêm trong những năm sau đó.

        Ta trở lại vấn đề trên. Hành lang vận chuyển Bắc-nam của chúng ta cho đến thời kỳ này khi đi qua phía bắc Đức Lập (Nam Tây Nguyên) - nơi có địa hình độc đạo rất hiểm nghèo mà địch chiếm giữ vẫn phải né một chút sang đất đông Campuchia trước khi vào đến Nam Bộ. "Khơ me đỏ” lợi dụng điều này, nhất là trên đoạn đường tiếp giáp với Nam Bộ, đã nhiều lần tung lính ngăn chặn xe vận tải của ta, giết người, cướp của, đồng thời lại luôn luôn đưa yêu sách đòi ta rút bỏ con đường. Xuất phát từ những nguyên nhân ấy, các cơ quan chiến lược của chúng ta đã nhìn thấy trước hết vấn đề phải có ngay một chiến dịch tiến công ở hướng này để "nắn" lại hành lang vận chuyển chiến lược.

        Ý kiến của chúng tôi?

        Vâng, thực ra Bộ Tư lệnh Tây Nguyên cũng đã dự kiến một chiến dịch như thế vào cuối năm 1973. Thật là cần thiết. Chúng ta sẽ giải phóng Đức Lập, giữ vững địa bàn, nối ngay đường vận chuyển chiến lược của bộ đội 559 với đường 14 từ bắc Đức Lập, tạo thành hành lang Bắc-Nam hoàn toàn nằm trên đất nước chúng ta. Nhưng muốn thế phải có đủ lực lượng, phải có nhiều lực lượng. Ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, chúng ta đã ra khỏi yêu cầu tác chiến hầu như duy nhất là tiêu diệt sinh lực địch để coi trọng song song cả mục đích giải phóng lãnh thổ. Riêng đối với một chiến dịch ở nam Tây Nguyên như mục đích xác định ban đầu - ta càng phải giữ vững địa bàn đã giải phóng để đảm bảo sự thông suốt của hành lang vận chuyển chiến lược. Lực lượng quá ít sẽ không làm nổi việc này. Và muốn vậy, cần được tăng cường để tạo nên thế mạnh bởi: "Một lực lượng trực tiếp đánh chiếm mục tiêu và đánh địch phản kích, một lực lượng vòng ngoài để buộc địch phải phân tán đối phó, lực lượng này sức một có thể thành hai, vì không bị câu thúc giữ địa bàn, không bị xé lẻ..." (Chú thích: Điện gửi Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng 12-12-1972. Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu.).

        Khi ở Quân khu 5, chúng tôi cũng đã bàn phương án này và đề nghị rằng nếu có sự tăng cường lực lượng của Bộ thì nên tăng hai Sư đoàn cho Tây Nguyên và một Sư đoàn cho đồng bằng Trung Trung Bộ (Quân khu 5). Một chiến dịch như vậy là phải tính tới khả năng đánh địch phản kích cả năm và muốn thế ngay từ bây giờ (1973) phải lo gạo, đạn cho đến Xuân 1975 (Chú thích: Điện gửi Phó Tổng tham mưu ttưởng Lê Trọng Tấn ngày 6-12-1973. Lưu trữ Bộ Tổng tham mưu.).

        Nghĩa là tôi muốn nhắc lại chiến dịch này trong thiết kế ban đầu chỉ mang mục đích khai thông và giữ vững hành lang Bắc-nam và mục tiêu cụ thể của nó là Đức Lập. Nhưng vào lúc nào thì Buôn Ma Thuột được đề cập đến? Tôi còn nhớ trong những dịp trao đổi, thảo luận ở Quân khu 5, một lần nữa chúng tôi đã nhất trí đánh giá tầm quan trọng chiến lược của Tây Nguyên và đã dự kiến một phương án đánh lớn giải phóng thị xã, thị trấn ở khu vực này.

        Sau khi nêu ra những số liệu so sánh địch, ta, đồng chí Võ Chí Công có đặt câu hỏi; Chúng ta có thể ngay trong mùa khô này, tập trung lực lượng giải phóng trước hết Buôn Ma Thuột được không? Câu trả lời là có thể. Thượng tướng Chu Huy Mân nhấn mạnh, trong trường hợp đó, nhất thiết Mặt trận Khu 5 phải phối hợp chặt đứt đường 19, đường 21, chia cắt chiến lược địch ở Tây Nguyên với đồng bằng.

        Chúng tôi cũng đã có dịp đặt vấn đề giải phóng Buôn Ma Thuột trong Bộ Tư lệnh Tây Nguyên. Ta hãy thử nhìn lên bản đồ. Đức Lập cách Buôn Ma Thuột có 50 km. Mất Đức Lập, sống chết địch cũng phải phản kích để khôi phục lại, và chúng có ngay một căn cứ xuất phát rất tốt cả về mặt chiến dịch lẫn chiến đấu là Buôn Ma Thuột. Khi bàn đến tình huống này, Đại tá Vương Tuấn Kiệt, Tham mưu trưởng Tây Nguyên, đã thốt lên: "Phải chi chúng ta có thêm 2 Sư đoàn nữa để đánh ngay Buôn Ma Thuột".

        Chúng tôi đã nhìn thấy khả năng này không những sẽ là đảm bảo vững chắc cho sự thông suốt cửa hành lang Bắc-nam, là mục đích chiến dịch lúc ấy mà còn tạo được một địa bàn chiến lược rất cơ động hướng tới các ngả. Không, nếu được như thế thì chiến dịch sẽ mang một ý nghĩa và mục đích khác hẳn rồi.

        Ta phải nhìn vào bản đồ, Buôn Ma Thuột giữ một khoảng cách khá đều với bắc Tây Nguyên, đồng bằng Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ -Sài Gòn. Một trung tâm của chiến trường vượt ra ngoài phạm vi Tây Nguyên hướng tới toàn cục. Một ngã ba đường, những con đường rất tốt và thuận tiện theo nghĩa đen. Có đồng chí đã vừa chỉ vào bản đồ vừa nói đùa rằng đứng về ý nghĩa vật lý học, sức chấn động của một trận đánh vào Buôn Ma Thuột chẳng khác gì những sóng giao thoa mà một hòn đá ném xuống giữa mặt nước tạo nên.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:01 am

        Vấn đề này, năm 1973 trong một dịp gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tôi đã có đề xuất, vì đánh Kon Tum thì không phát triển được, đánh Plâyku thì địch còn mạnh, chỉ có Buôn Ma Thuột là địch yếu và sơ hở ít phòng bị.

        Cố nhiên, đánh Buôn Ma Thuột vấn đề ở đây vẫn là lực lượng. Tây Nguyên lúc đó, chỉ có hai Sư đoàn đang ôm lấy Mặt trận chính hướng bắc Plâyku, Kon Tum và một số Trung đoàn độc lập hoạt động ở các hướng khác. Cơ sở đâu để ra quyết tâm? Lại vẫn là chiến lược, chính là chiến lược những người vạch kế hoạch ở Bộ Tổng tư lệnh - BộTổng tham mưu và ở cấp cao nhất, Bộ Chính trị Trung ương Đảng - đã hạ quyết tâm giải phóng Buôn Ma Thuột. Và như trên đã nói, những dự kiến của chúng tôi về một chiến dịch ở Nam Tây Nguyên cũng bắt nguồn chính từ sự gợi ý và chỉ đạo của chiến lược. Nó có mục đích gắn chặt với chiến lược.

        Vấn đề còn lại là thời cơ: Khi nào thì có thể? Và thời cơ ấy đã đến vào cái thời điểm mà tất cả chúng ta đều đã biết, khi các điều kiện đã chín muồi cho việc hạ quyết tâm.

        Cần phải có lý luận kết hợp với thực tiễn chiến đấu có nhiều lúc đem đến những kết quả bất ngờ, và thước đo sự thành công là ở đấy. Chúng ta có thể thấy, chiến dịch đã được thiết kế với mục đích ban đầu là tạo một hành lang vận chuyển cơ giới thông suốt Bắc-nam bằng cách tiêu diệt và giữ vững Đức Lập. Trong quá trình, khi xét tới các dữ kiện, chúng ta đã chuyển mục tiêu sang giải phóng Buôn Ma Thuột, một trung tâm chính trị và đầu mối giao thông quan trọng, khoác lên chiến dịch Nam Tây Nguyên một tầm cỡ chiến lược. Lúc này trận Đức Lập thậm chí không được coi là mục tiêu chiến dịch mà chỉ là hành động tác chiến mở màn.

        Nhưng cuối cùng, thực tế là chiến dịch Nam Tây Nguyên đã biến thành chiến dịch Tây Nguyên, rồi trở thành chương mở đầu đầy hứng khởi cho bản giao hưởng vũ bão Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Sự vận động biện chứng của tư duy và thực tiễn giao tiếp nhau, thúc đẩy nhau để dẫn tới kết cục thần kỳ.

        Ở đây sự nhạy bén và tầm nhìn xa rộng của Bộ tham mưu chiến lược của chúng ta là xuất sắc. Tôi muốn nói thế vì vẫn còn có những kẻ ở phía bên kia cho rằng thắng lợi tuyệt đối mà chúng ta giành được có yếu tố ngẫu nhiên. Hiệp định Paris được ký kết có phải ngẫu nhiên không? Quân Mỹ buộc phải rút khỏi chiến trường có phải ngẫu nhiên không? Huống hồ vào năm 1975, tất cả đã rõ ràng là nếu không có Tây Nguyên thì sẽ có một cái gì đó giống như Tây Nguyên, hệ quả trực tiếp của những sự kiện mà tôi vừa đặt thành câu hỏi trên, hệ quả trực tiếp của cuộc kháng chiến lâu dài chống Mỹ, cứu nước.

        Và thắng lợi trọn vẹn mà chúng ta giành được đã sớm hơn dự kiến thì cũng chứng tỏ rằng đường lối lãnh đạo của Đảng ta là đúng đắn, những nhận định của chúng ta là chính xác và thực tiễn chiến đấu là sự phán quyết cuối cùng.

        Đúng như lòng mong muốn, sau các cuộc họp khẩn trương tại Hà Nội, tôi nhận được quyết định trở lại Tây Nguyên với cương vị Tư lệnh Chiến dịch, một chiến dịch mở đầu cho chiến cuộc mùa Xuân năm 1975. Sát ngày lên đường, tôi gặp đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí nhấn mạnh đây là thời cơ lớn: "Địch đã xuống sức rồi, phải kiên quyết và táo bạo nắm lấy các tình huống phát triển của chiến dịch. Chúc thắng lợi lớn. Đồng chí hãy chuyển đến đồng bào và chiến sĩ Tây Nguyên lời thăm hỏi và lòng tin tưởng của Trung ương Đảng”.

        Rời Hà Nội, chúng tôi cố gắng vào chiến trường thật sớm. Chẳng may chiếc xe quá cũ phải nằm lại ngang Quân khu, và chúng tôi lập tức nhận được sự giúp đỡ đầu tiên. Thiếu tướng Tư lệnh Quân khu Đàm Quang Trung ưu tiên đổi cho chúng tôi một chiếc xe mới. Vào đến Hiền Lương, chúng tôi tìm đến sở chỉ huy của Bộ đội Trường Sơn. Các đồng chí mới xê dịch từ miền tây Quảng Bình vào đây công việc còn đang ngổn ngang nhưng tôi vẫn được Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và các đồng chí có trách nhiệm hướng dẫn chu đáo. Việc đầu tiên là đồng chí thông báo cho tôi biết tình hình hành quân nhập tuyến của các lực lượng tăng cường cho Tây Nguyên. Rồi cười:

        - Còn gạo, đạn, xăng dầu, anh yên trí, không phải kêu đâu, chúng tôi đã lót sẵn và đang tiếp tục chuyển nữa, đủ để làm lại "cả năm 1972".

        Chúng tôi đã quá hiểu nhau, cái năm 1972 ấy, khi chiến dịch nổ ra ở Bắc Tây Nguyên. Hồi đó, tôi không hiểu đồng chí "Tư lệnh đường dây" (Tên thông tục để chỉ Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn) đã phải vò đầu bứt tai như thế nào khi luôn luôn thấy xuất hiện trước mắt mình các bức điện thượng khẩn của Bộ Tư lệnh Tây Nguyên với những câu ngắn gọn, mạch lạc đến chát chúa: "Rất thiếu xăng”, "Cần cấp gạo và xăng", "Gạo vào quá nhỏ giọt", "Không đủ đến ngày N" và lại còn thế này nữa: "Bắt đầu mưa xuống rồi".

        - Cám ơn. Chúng tôi có thể "vào" đêm nay được không anh?

        - Ngay bây giờ cũng được, đường tốt, không có máy bay địch từ Trị Thiên trở ra. A, chúng tôi đã thông xong con đường phía đông rồi đấy. Mời anh hành quân trên tuyến đường mới này.

        Còn gì bằng nữa, chúng tôi đang muốn rút ngắn khoảng cách về thời gian với chiến trường. Đây là con đường thẳng, còn con đường quen thuộc phía tây lại phải đi một vòng cung.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Hai, 2016, 11:14:24 am

        Ngày vào đầu tiên thuận lợi. Không có máy bay địch hoạt động, mặc dù chúng tôi đi ban ngày. Khỏi cần nói xa xôi thắng lợi của Hiệp định Paris là đây chứ còn đâu nữa. Các nam nữ chiến sĩ công binh, thanh niên xung phong nhộn nhịp trên mặt đường từ sáng đến tối. Đường còn đang mở tiếp, còn đang nắn lại, đoạn nào xong thì tiếp tục củng cố. Chạy cùng với ô tô là đường ống dẫn dầu, một kỳ công nữa của ngành hậu cần trên dải Trường Sơn. Chúng tôi say mê ngắm từng đoạn đường ống ló ra khỏi rừng cây và cảm động nhìn những chiến sĩ trẻ măng thao tác nhanh nhẹn tại một trạm bơm mà chúng tôi dừng lại lấy xăng. Đó là những cô gái Nghệ Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Hà Bắc ở các trạm xăng đã bơm xăng dầu cho xe chúng tôi.

        Cuối tháng 1, tiết trời dìu dịu. Cảnh vật, con người, không khí gợi đến cho tôi sự liên tưởng về những lần đi vào chiến trường của mình. Nó vẫn như còn bay nhảy trước mắt đấy, giữa biết bao kỷ niệm của cuộc đời.

        Lần đầu, năm 1966, tôi đi bộ xuyên dọc Trường Sơn, phải mất hai tháng trời gian khổ mới vào tới Tây Nguyên.

        Lần thứ hai, năm 1969, tôi đi khá nhanh bằng máy bay, nhưng phải qua một nước trung gian, rồi một nước trung gian nữa, cộng với phương tiện cuối cùng là đôi chân, mới về đến sở chỉ huy của mình.

        Lần thứ ba: ấy là vào năm 1973, tôi lại sử dụng đường Trường Sơn nhưng đã không phải đi bộ mà ngồi trên xe hơi. Một con đường vòng mà phần lớn lại nằm trên lãnh thổ hai nước anh em. Như thế đã là khá lắm rồi.

        Còn lần này: xe hơi, đường thẳng, hoàn toàn đi trên đất nước mình Điều tôi muốn nói lên tưởng chẳng cần viết ra trên giấy trắng mực đen nữa.

        Đường đi thật dài nên từ lần đi ra thứ hai cũng như khi trở vào trên đường đi tôi thường kết hợp tranh thủ viết sách. Những lúc chờ thông đường, những khi chờ sửa xe và nhất là những ngày gặp mưa lũ phải đợi cho nước sông, nước suối xuống mới đi được, tôi liền bỏ giấy bút ra viết sách. Có lúc ngồi bên bờ suối kê lên tảng đá để viết, có khi lại tựa vào một gốc cây trong rừng để sửa. Nhờ thế mà năm 1974 tôi ra được cuốn sách "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa" được in và xuất bản ngay trong năm 1975.

        Còn lần này thì khác, mọi tâm trí của tôi đều dồn cho một chiến dịch vô cùng quan trọng - chiến dịch Nam Tây Nguyên-Buôn Ma Thuột.

        Vào đến địa đầu đất Quảng, chúng tôi gặp một ít khó khăn: đường lầy vì mở ra đúng vào mùa mưa Trung Bộ, và vì bắt đầu có máy bay địch nên lại phải nắm quy luật hoạt động của chúng mà đi. Nhưng khi gặp phải khó khăn có vẻ khó khắc phục nhất thì chúng tôi lại vượt qua dễ dàng: đồng chí lái xe đột ngột ốm và chúng tôi đã thuyết phục được ngay một đồng chí lái xe đi ngược chiều, đồng chí đã lập tức vui lòng gửi xe mình lại rồi đưa chúng tôi vào mà không quản ngại khó khăn. Tôi vẫn còn nhớ tên con người thành tâm ấy và hôm nay xin một lần nữa gửi lời cảm ơn đồng chí, đồng chí Lê Văn Đoài, hạ sĩ lái xe thuộc Mặt trận B5.

        Sở chỉ huy Mặt trận

        Chúng tôi đến sở chỉ huy Tây Nguyên đêm 29 tháng 1, chỉ hơn 1 tuần sau khi xuất phát. Thật là một thời gian kỷ lục vào thời kỳ ấy? Nhưng sở chỉ huy chiến dịch đã chuyển mãi vào phía nam, chúng tôi chỉ còn gặp ở đây Đại tá Phó Chính uỷ Phí Triệu Hàm, Thượng tá Phó tham mưu trưởng Hồng Sơn và một số đồng chí khác. Tôi nắm qua tình hình địch rồi đi ra phía trước. Mùa này Tây Nguyên đầy hoa phong lan, chúng tôi đi đường kín trong rừng lại càng tha hồ chiêm ngưỡng phong lan đủ màu, đủ vẻ. Có nhiều chỗ, phong lan xoè ra như cách tay tiên mời chào.

        Một chuyện nho nhỏ là vào dịp này, tôi nhận được một giò lan tai trâu tuyệt đẹp. Và giò lan ấy như một tín hiệu chiến thắng đã đi cùng tôi suốt chiến dịch, suốt chiến cuộc 1975, từ Tây Nguyên xuống đồng bằng Trung Bộ, vào thành phố Sài Gòn giải phóng rồi ra Hà Nội mới chịu từ biệt vị trí sau xe để đến ở nhà Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Huy Phan (Viện quân y l08), một người bạn cũ rất thích phong lan.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:06:11 am

        Khi tôi đến nơi, không khí nhộn nhịp như ngày Tết ở sở chỉ huy đã gây ấn tượng rất mạnh. Tôi hoà ngay vào không khí say lòng người lính ấy. Mà cũng chỉ còn ít ngày nữa thôi là đến Tết Nguyên Đán Ất Mão. Tôi tranh thủ nắm ngay tình hình mọi mặt qua Thiếu tướng Vũ Lăng Tư lệnh Mặt trận và Đại tá Đặng Vũ Hiệp Chính ủy Mặt trận. Phải nhận là các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Mặt trận (mà bây giờ trở thành Bộ Tư lệnh Chiến dịch) đã hoàn tất xong rất nhiều việc, có thể nói đã đi quá nửa đường trong công tác chuẩn bị chiến dịch và riêng về các mặt công tác đảm bảo một khối lượng khổng lồ từ việc xây dựng kho tàng, đường xá, vận chuyển, thiết lập mạng thông tin, mạng quân y, chở gạo, đạn đi các hướng đến các chi tiết của việc tiến hành nghi binh lừa địch, trinh sát thực địa và đảm bảo tuyệt đối giữ bí mật thì đã "hòm hòm", theo như lối nói của chiến sĩ.

        Đảm bảo mọi mặt cho một lực lượng trên sáu mươi ngàn người thật không phải dễ. Các đồng chí cũng mới nhận được quyết tâm chuyển mục tiêu chủ yếu vào Buôn Ma Thuột chỉ ít ngày trước đây khi Thiếu tướng Phó tổng tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền trực tiếp vào phổ biến, vậy mà công tác trinh sát chiến dịch bước I cũng đã được tiến hành, do đồng chí Phó Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Năng chỉ huy trinh sát thực địa. Lực lượng đang được triển khai về các vị trí tập kết: Sư đoàn 320 xê dịch về giữa hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, Sư đoàn 10 đang hành quân từ phía bắc vào phía nam Mặt trận với một cung đường không phải là ngắn; Sư đoàn 968 đã đưa một phần lực lượng của mình từ Hạ Lào sang thay thế vị trí các Sư đoàn trên và đang còn tiếp tục đến; các Trung đoàn bộ binh độc lập cũng đang tiến vào các địa bàn hoạt động được xác định.

        Chỉ riêng Sư đoàn 316, đang hành quân gấp bằng cơ giới từ miền Bắc vào. Nhưng Sư đoàn trưởng, Phó Sư đoàn trưởng và các sĩ quan Tham mưu thì đã có mặt và đang tiến hành trinh sát thực địa. Các nội dung chuẩn bị cho việc xác lập phương án tác chiến đang được thảo luận. Tất cả những cái đó đã làm giảm nhẹ gánh nặng của tôi rất nhiều trong cương vị Tư lệnh Chiến dịch.

        Tôi thầm cảm ơn các đồng chí mình. Tôi cần phải nhấn mạnh một điều là công tác chuẩn bị chiến dịch đã được và sẽ được tiến hành còn có sự chi viện to lớn, nhiều mặt của chiến lược và các chiến trường bạn. Chúng tôi xem đó là một yếu tố quyết định. Chỉ riêng một vấn đề lực lượng, đã được gửi đến tăng cường cho chiến dịch không chỉ Bộ đội Dự bị Chiến lược mà cả một số đơn vị của Mặt trận Trị-Thiên, Mặt trận Duyên Hải Trung Bộ, Mặt trận Nam Bộ và Mặt trận Trường Sơn. Cái yêu cầu "cần được tăng cường để tạo nên thế mạnh bởi hai lực lượng" mà chúng tôi nêu ra trước đây như thế là được thoả mãn; vượt quá mức là đằng khác.

        Cơ cấu của bộ chỉ huy chiến dịch nói lên điều đó: sự có mặt của các Phó tư lệnh, Đại tá Phan Hàm (Phó Cục trưởng Cục tác chiến) Đại tá Nguyễn Lang (Phó tư lệnh bộ đội Trường Sơn) đã giúp cho việc điều động và tăng cường lực lượng được nhanh chóng và đúng yêu cầu. Bộ Tổng tư lệnh - BộTổng tham mưu còn cử đến các Thượng tá Hoàng Niệm (thông tin), Lê Xuân Kiện (xe tăng) và Tạ Vân (pháo binh) để giúp vào việc chỉ đạo, chỉ huy các binh chủng. Bộ chỉ huy quân sự Miền cũng đã cử ngay một tổ cán bộ do Thượng tá Vũ Long - người giáo viên cũ đã cùng tôi công tác ở Học viện quân sự dẫn đầu, ra phổ biến kinh nghiệm tiến công thị xã Phước Long, một kinh nghiệm thật sự bổ ích.

        Đặc biệt là sự xuất hiện lần đầu tiên bên cạnh một bộ chỉ huy chiến dịch. Cơ quan đại diện Quân uỷ Trung ương - Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Chính trị do Đại tướng Văn Tiến Dũng đứng đầu, gồm các đồng chí Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần Đinh Đức Thiện, Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền và các đồng chí khác đã chứng tỏ quyết tâm cao độ của Trung ương và tầm mức quan trọng của chiến dịch này. Bộ đã tăng cường các đồng chí có trình độ vào giúp đỡ Mặt trận.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:06:31 am

        Đại tướng Văn Tiến Dũng là người có nhiều kinh nghiệm đã giúp đỡ Mặt trận nhiều ý kiến thông qua, duyệt kế hoạch tác chiến. Đồng chí Thiếu tướng Vũ Lăng là người chỉ huy quả đoán có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, hay nóng tính nhưng rất tình cảm, trong quan hệ với anh em được mọi người thương yêu. Đồng chí Đại tá Đặng Vũ Hiệp rất nhậy cảm về tình hình, hiểu biết về quân sự, có nhiều ý kiến lãnh đạo xây dựng quyết tâm cho bộ đội, Đồng chí Đại tá Nguyễn Năng có tinh thần chiến đấu cao, luôn đi sát bộ đội và có nhiều kinh nghiệm. Các đồng chí đều là cán bộ tốt, có trách nhiệm, đoàn kết hợp tác chung quanh Bộ Tư lệnh chịu trách nhiệm trước Đảng và quân đội hoàn thành mọi nhiệm vụ.

        Trên thực tế, Cơ quan đại diện không những chỉ đạo chúng tôi trong quá trình chuẩn bị mà chính là chỉ đạo việc chỉ huy tác chiến sắp tới.

        Chiều ngày 8 tháng 2, tại Bộ Tư lệnh Mặt trận, đã có cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và các đồng chí bên Dân, Đảng. Đồng chí Bùi San (Chín Liêm), Thường vụ Khu uỷ 5, người đã cùng chúng tôi làm việc trong một bộ chỉ huy chung năm Mậu Thân lại một lần nữa được Khu uỷ cử lên phối hợp các hoạt động nổi dậy của nhân dân và giúp đỡ Bộ Tư lệnh Chiến dịch trong công tác dân vận. Phía Đắc Lắc có các đồng chí Huỳnh Văn Mẫn (Năm Cần), Yblok, Nguyễn Xuân Nguyên (Mười Nguyên) và nhiều đồng chí khác. Bí thư tỉnh uỷ Gia Lai, đồng chí Võ Trung Thành (Năm Vinh), cũng lặn lội từ Bắc Tây Nguyên vào để nhận kế hoạch hiệp đồng. Riêng các đồng chí Kon Tum vì ở quá xa nên không trực tiếp đến được, đã hứa với Khu uỷ sẽ phối hợp các hoạt động chiến trường ở mức cao nhất.

        Trong những ngày này, chúng tôi đã sống lại không khí của năm Mậu Thân giữa nhiệt tình cách mạng nóng bỏng của lãnh đạo và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Có thể nói, đồng bào, đồng chí đã làm hết sức mình để chiến dịch thắng lợi. Ở phía bắc, khối chủ lực chính rút đi, nhưng phong trào du kích không những vẫn giữ vững mà còn được đẩy mạnh hơn lúc nào hết đã góp phần kìm giữ một bộ phận quan trọng sinh lực địch. Ở phía nam, địa phương đã cùng chúng tôi giải quyết nhiều khó khăn nảy sinh trong quá trình chuẩn bị và chủ động đề xuất kế hoạch hiệp đồng tác chiến và nổi dậy, chủ động nhận nhiệm vụ tiến đánh chi khu quân sự - quận lỵ Lạc Thiện và một số căn cứ ngoại vi để phối hợp với đòn của bộ đội chủ lực. Cuộc gặp gỡ đã biến thành một cuộc liên hoan vui vẻ đón giao thừa nhân dịp Tết Ất Mão và cũng là để khẳng định những kết quả đã đạt được. Anh Chín còn lưu ý thêm chúng tôi phải đề phòng Fulro, vì Đắc Lắc là địa bàn hoạt động mạnh của bọn này.

        Sau đó, Đại tướng Văn Tiến Dũng Tổng tham mưu trưởng, đại diện Bộ Tổng tư lệnh công bố thành phần Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm: Tôi làm Tư lệnh; Đại tá Đặng Vũ Hiệp - Chính uỷ; Thiếu tướng Vũ Lăng, Đại tá Nguyễn Năng, Đại tá Phan Hàm, Đại tá Nguyễn Lang, Phó Tư lệnh; Đại tá Phí Triệu Hàm - Phó Chính ủy. Khu uỷ Liên khu 5 cử đồng chí Bùi San, Phó Bí thư Khu uỷ; đồng chí Huỳnh Văn Cần, Bí thư tỉnh uỷ Đắc Lắc và một số cơ quan phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo phong trào nổi dậy của quần chúng.

        Trong mấy ngày Tết, tôi tranh thủ xuống kiểm tra một số đơn vị và chúc Tết anh em. Tất cả đều phấn khởi, tất cả đều háo hức một không khí vào trận mùa Xuân.

        - "Nghỉ" mấy mùa đánh lớn buồn lắm. Phen này chúng tôi phải trả bữa, xin thủ trưởng cho đủ đạn nhé!

        Và tất cả đều khoẻ mạnh. Quân y vừa cho biết, tỷ lệ quân số khoẻ tháng 1 của toàn chiến trường là 96,2% cao nhất từ trước tới nay? Ai ở Tây Nguyên lâu mà không nhớ những năm khó khăn, được một tỷ lệ 80% đã thật là lý tưởng.

        Đến một ngã ba, vì không được báo trước, các đồng chí ba-ri-e buộc xe tôi phải dừng lại theo nguyên tắc giữ bí mật, nhưng sau khi nhận ra chúng tôi thì các đồng chí lại giúp đỡ vượt ngầm rất nhiệt tình, chu đáo. Tôi gặp bộ đội đang hành quân bằng cơ giới. Các chiến sĩ bộ binh ngồi trên một chiếc xe tăng vui vẻ reo lên:

        - Chúc mừng năm mới các thủ trưởng

        Tôi chào các chiến sĩ và chuyện lại nở bung. Anh em phàn nàn là nuôi mấy chú gà dành tết, cuối cùng chẳng được ăn.

        - Tại sao?

        Chúng tôi lần đầu tiên hành quân trên tăng, không biết thế nào cả. Có bu gà buộc cẩn thận sau xe, khi dừng nghỉ kiểm tra thì ôi thôi, chết thui chẳng còn một chú. Mới hay chỗ đó là ống xả, lính rừng Tây Nguyên mà thủ trưởng!

        Lại cười "Không sao, tất cả rồi sẽ quen", tôi trìu mến nghĩ về các chiến sĩ của mình.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:15:34 am
               
PHẦN 12

BUÔN MA THUỘT - TRẬN THEN CHỐT QUYẾT ĐỊNH

        Quyết tâm chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm trận then chốt, trận đánh mở đầu là rất chính xác là một đòn đánh hiểm, nhằm vào chỗ sơ hở, vào điểm yếu của địch. Đánh chiếm được Buôn Ma Thuột, ta sẽ tạo được đà để nhanh chóng phát triển lực lượng xuống các tỉnh ven biển miền Trung, và tuỳ theo tình hình lúc đó sẽ phát triển được lực lượng xuống miền Đông Nam bộ, hay phát triển tiến công thị xã Plâyku.

        Một khi đã tạo ra được đà phát triển thì cũng tức là đã làm chuyển biến tình thế chiến lược, mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược toàn miền Nam của địch, cô lập quân địch còn lại ở Quân khu 2 và trực tiếp uy hiếp Quân khu 3 của chúng. Ý nghĩa quan trọng của việc đánh Buôn Ma Thuột là tạo thế phát triển tiến công ra các hướng hiểm yếu khác.

        Quyết tâm chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm trận then chốt, là một quyết tâm chiến lược, trong một kế hoạch chiến lược của Đảng và quân đội ta. Bởi vậy kế hoạch tác chiến chiến dịch là phải thực hiện cho bằng được quyết tâm đó.

        Theo phương án tác chiến chiến dịch của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch là phải bố trí lực lượng hình thành một thế trận “trói địch lại mà diệt", một thế trận hoàn toàn chủ động để tiến công địch đánh, chắc thắng, quyết đánh và quyết thắng.

        Đánh địch bằng thế và lực, đánh địch bằng mưu kế. Muốn vậy, trước hết ta phải thực hiện tạo dựng cho bằng được trong không gian chiến dịch một thế trận "chia cắt, vây hãm, vừa vây hãm vừa tiến công, đột phá vừa bằng sức mạnh, vừa bằng mưu kế, bí mật bất ngờ giành toàn thắng”.

        Chia cắt chiến lược là chia cắt giữa Tây Nguyên với các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung và các chiến trường khác ở miền Nam. Mục tiêu chia cắt là các đường chiến lược số 19 và 21.

        Chia cắt chiến dịch là chia cắt giữa các khu vực phòng ngự với nhau, chia cắt nam và bắc Tây Nguyên, làm cho các khu vực này không liên hệ và chi viện được cho nhau, nhằm chia cắt và kìm giữ lực lượng chủ yếu của địch ở Kon Tum - Plâyku; làm cho Buôn Ma Thuột bị sơ hở và cô lập để ta "trói địch lại mà diệt". Mục tiêu chia cắt là một số đoạn trên đường chiến lược số 14, 19 và 21.

        Bởi vậy việc chỉ huy đảm bảo để các đơn vị hành quân an toàn về đúng vị trí tập kết theo ý định của chiến dịch là tiền đề để thực hiện một mưu kế rất quan trọng - nếu không muốn nói là quan trọng nhất của chiến dịch: lập thế. Xác lập thế trận là lập sẵn các ý đồ của ta để tạo nên một chiều sâu cả về không gian lẫn thời gian cho chiến dịch, giành quyền chủ động phát triển.

        Chúng tôi dự kiến sẽ tạo nên một thế trận kìm địch, chia cắt địch, vây địch để đi tới tiêu diệt chúng. Nhưng để có một thế trận tốt thì còn cần thiết phải thực hiện một mưu kế khác: Đó là việc nghi binh đánh lạc hướng địch, giành thế bất ngờ. Chúng ta đã thực hiện việc này hoàn hảo đến mức sau này, một viên đại tá thất trận của quân đội Sài Gòn bị bắt ở Buôn Ma Thuột phải thốt lên: "Thật là một trò ảo thuật?".

        Trong một cuốn sách có tiêu đề "Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng” tôi đã có dịp trình bày về ý nghĩa các sự lựa chọn để dẫn tới nam Tây Nguyên chứ không phải là nơi nào khác, Buôn Ma Thuột chứ không phải là nơi nào khác cho mùa Xuân năm 1975. Ở đây liên quan đến việc nghi binh lập thế trận, tôi chỉ muốn nhắc lại một điều: bắc Tây Nguyên luôn luôn là nơi đối đầu là nơi tập trung lực lượng mạnh của ta và địch.

        Lúc này, lực lượng chiến dịch của ta đã hình thành các cụm quân trên các hướng tiến công.

        Cụm quân trên hướng Buôn Ma Thuột gồm: Sư đoàn 316, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 24, Trung đoàn đặc công 198 và Tiểu đoàn đặc công 27, Trung đoàn thiết giáp 273, hai Trung đoàn pháo binh 40 và 675, hai Trung đoàn cao xạ 232 và 234, hai Trung đoàn công binh và lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc.

        Cụm lực lượng trên hướng Đức Lập gồm: Sư đoàn 10 (thiếu Trung đoàn 24), Trung đoàn 271 (Nam Bộ). Lực lượng trên đường số 21 có Trung đoàn 25.

        Cụm lực lượng trên đường số 19 gồm: Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân khu 5 (thiếu một Trung đoàn), Trung đoàn 95A, lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai và Kon Tum.

        Các hoạt động nghi binh của ta đã làm cho địch bị lạc hướng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:16:46 am

        Ngày 18 tháng 2, trong một cuộc họp với các tướng lĩnh để kiểm điểm tình hình thực hiện Kế hoạch phòng thủ Quốc Gia "Lý Thường Kiệt 1975" và các biện pháp của Hội đồng an ninh Quốc Gia đã quyết định trước đây, Tổng thống nguỵ Nguyễn Văn Thiệu vẫn cho rằng: Quân khu 2 sẽ là chiến trường trọng điểm, Quân khu 1 và 3 là chiến trường phối hợp:

        Cần đề phòng Việt Cộng có thể đánh vào một số thị trấn hoặc thị xã như Quảng Đức, Kon Tum.

        Sau cuộc họp này về, Phạm Văn Phú thiếu tướng tư lệnh Quân khu 2, kiêm tư lệnh quân đoàn 2 đã triệu tập các chỉ huy trưởng đơn vị, các tiểu khu trưởng trong Quân khu để nhận định tình hình và bàn kế hoạch đối phó. Chúng cho rằng với sự bố trí lực lượng hiện thời của ta (sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 đều đang tập trung ở hai tỉnh Kon Tum, Plâyku) nếu đánh lớn Việt Cộng sẽ lấy Kon Tum - Plâyku làm "điểm", chiến sự sẽ diễn ra ác liệt ở đây. Nơi diễn ra sôi động thứ hai có thể là Quảng Đức vì hiện nay Việt Cộng đã chiếm được Phước Long, nên cần đánh Quảng Đức để mở thông hành lang Đông Trường Sơn.

        Mưu kế của ta là:

        Nghi binh lừa địch ở Plâyku; tập trung lực lượng đánh Buôn Ma Thuột. Hành động này phải rất bí mật. Chia cắt chiến lược và chiến dịch Tây Nguyên thành các cụm cô lập, không ứng cứu được nhau. Triển khai mưu kế này ta nghi binh bằng làn sóng điện và cho một Sư đoàn đánh vào Plâyku. Đòn này rất có giá trị.

        Mưu kế của địch là:

        Giữ vững Plâyku, đặc biệt phía tây nam. Cho trinh sát vũ trang ở bắc Buôn Ma Thuột. Trung đoàn 53 lùng sục ở Mê Van;

        Trung đoàn 45 lùng sục ở bắc Buôn Ma Thuột. Do đó Sư đoàn 320 của ta phải lùi trước cuộc lùng sục để giữ bí mật.

        Từ đó địch củng cố hệ thống phòng thủ Kon Tum - Plâyku, các đơn vị vừa phòng giữ vừa tăng cường sục sạo ra xa để sớm phát hiện ý đồ đối phương và tổ chức tiến công ngay từ tuyến ngoài; tiêu hao làm giảm sức tiến công của đối phương khi đánh sâu vào khu vực phòng thủ thị xã. Tăng cường cho Quảng Đức thêm một Trung đoàn để phòng bị. Buôn Ma Thuột có thể bị đánh nhưng quy mô không lớn vì chỉ là "diện" nên chưa cần tăng lực lượng. Ngoài ra, cần chú trọng theo dõi điều tra sự di chuyển của các Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10. Hai Sư đoàn này di chuyển về hướng nào thì nơi đó sẽ nổ ra đánh lớn.

        Tuy vậy, Phạm Văn Phú vẫn tỏ ra lo âu, nên sau cuộc họp, Phú trao đổi riêng với Trần Văn Cẩm- chuẩn tướng phụ tá hành quân và Lê Khắc Lý-đại tá tham mưu trưởng quân đoàn là tình hình có thể có rất nhiều điều bất ngờ ngoài dự tính, trong khi lực lượng Quân khu ít và đã phải dàn mỏng và gắn chặt vào từng nơi. Phú than phiền rằng hôm họp ở Sài Gòn đã xin Thiệu tăng thêm quân dù, là lực lượng quen chiến trường để làm quân ứng cứu tại chỗ, nhưng không được Thiệu chấp nhận, mà chỉ được tăng phái thêm 2 liên đoàn biệt động quân cho Tây Nguyên. Như vậy trong tay Phú lúc này có 9 đơn vị (trung đoàn hoặc tương đương) thì 7 đơn vị tập trung ở hai tỉnh phía bắc, còn phía Nam Tây Nguyên chỉ có 2 đơn vị (trung đoàn 53 và liên đoàn biệt động số 23) để đối phó với thế "nặng đầu nhẹ đuôi" của Việt Cộng ở Tây Nguyên.

        Bởi vậy, mùa này Việt Cộng sẽ đánh ở đâu trên chiến trường cao nguyên? Nhắm mắt lại khỏi cần suy nghĩ, kẻ địch sẽ đặt cuộc 10 ăn 1: phía bắc.

        Còn Buôn Ma Thuột? - Không đâu, Việt cộng không có lực lượng. Họ có thể đưa lực lượng đến? - Mạo hiểm, và để làm gì chứ? Tại sao lại không là Kon Tum, nơi mà sự hiểu biết sơ sài về địa lý quân sự cũng thấy cần phải giành lấy, hơn nữa để thanh toán "món nợ " l972?

        Từ đầu chí cuối, cả tư lệnh lớn Nguyễn Văn Thiệu lẫn tư lệnh vừa Phạm Văn Phú đều một mức khẳng định Kon Tum. Nếu có nơi nào khác ở phía nam thì chỉ là những thị xã, thị trấn nhỏ không đáng kể lắm như Gia Nghĩa, Đức Lập nhằm mục đích thông đường. Được lắm, chúng ta sẽ cho điều khẳng định ấy những bằng chứng mà họ muốn.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2016, 01:17:06 am

        Bộ Tư lệnh Tây Nguyên đã làm tất cả những gì có thể làm được để buộc địch phải tăng cường lực lượng hơn nữa lên hướng bắc, rồi kìm giữ chúng ở đây. Có thể nói chúng ta đã thực hiện cả một chiến dịch nghi binh từ tung tin thất thiệt, tạo những sơ hở giả đến việc tiến hành công tác thiết bị chiến trường, điều động lực lượng úp úp mở mở. Thậm chí, vào thời kỳ cuối của giai đoạn chuẩn bị, khi địch đã nắm được một vài bằng chứng về ý đồ của ta ở nam Tây Nguyên, ở Buôn Ma Thuột thì ta lại tìm cách vô hiệu hoá để khiến chúng tin rằng đây chỉ là động tác giả.

        Nhưng "động tác giả" lừa địch có hiệu quả nhất lại chính là những hành động tác chiến thật, thật mà là thật giả. Chúng ta đã sử dụng một số đơn vị và thậm chí cả một Sư đoàn - Sư đoàn 968 để làm việc này. Tôi xin nói ngay là Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ này một cách xuất sắc

        Một, từ Hạ Lào sang, tập kết trên hướng đường 19 kéo dài tây Pleiku, Sư đoàn đã chứng tỏ cho địch thấy một sự tăng cường lực lượng về phía Pleiku. Động tác này khá đến nỗi có lúc địch cho rằng thậm chí ta đã tăng cường đến hai Sư đoàn chứ không phải một. Chúng vội vã thông báo cho nhau.

        Hai, khi Sư đoàn 10 chuyển vào phía nam, một số đơn vị của Sư đoàn 968 đến thay thế được lệnh nghi binh để địch tin rằng Sư đoàn này vẫn ở Kon Tum. Các đồng chí đã "chơi trò điện tử" bằng hệ thống thông tin, khi đơn vị di chuyển, mọi quá trình chỉ huy liên lạc chỉ được phép sử dụng đường dây của các binh trạm, còn các phương tiện thông tin vô tuyến vẫn phải để tại chỗ, rồi phát đi những thông tin giả làm cho địch vẫn tin rằng quân ta đang hoạt động tại đó, đến nỗi sau này tên tướng Mỹ Tim-mét, cố vấn trực tiếp của Nguyễn Văn Thiệu phải kêu lên: "Bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt Cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của Quân khu 2 ở Kon Tum và Pleiku”(?'?).

        Ba, Sư đoàn 968 đã thực hiện một loạt những trận đánh có bài bản theo kiểu "đột phá lần lượt" trước khi "gõ” vào mục tiêu chính, thậm chí có cả pháo lớn tham gia. Cách triển khai như là có nhiều Sư đoàn sắp đánh vào Pleiku.

        Một điều quan trọng và rất hay là Bộ Thống soái đã nhanh chóng tăng thêm cho Tây Nguyên hai Sư đoàn (sư đoàn 968 và Sư đoàn 316) là thành Tây Nguyên có 4 Sư đoàn và một số Trung đoàn độc lập - một tập đoàn chiến lược mạnh. Do đó chiến dịch có điều kiện hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến dịch, mọi hành động tác chiến, như đánh phản đột kích, đánh truy kích. Địch cũng bị bất ngờ với việc tăng cường lực lượng cho Tây Nguyên. Địch cũng không biết Sư 316 đã vào chiến trường. Sư đoàn 316 là lực lượng dự bị chiến lược của Bộ tăng cường cho chiến dịch, đã gấp rút hành quân từ Nghệ An vào thẳng Đắc Lăk. Suốt trong chặng đường hành quân Sư đoàn không dùng điện đài vô tuyến và không để lộ phiên hiệu.

        Đến chiến trường, Sư đoàn được bố trí giấu quân vào khu rừng già ở bờ tây sông Sê-rê-pok. Do vậy, đến ngày nổ súng mà dịch vẫn không hay biết. (sự bất ngờ chí mạng này vào lúc quyết định nhất ở phần sau, mãi tới khi những chiếc xe tăng của Sư đoàn 316 cán xích trên đường phố thị xã Buôn Ma Thuột thì tướng Phú mới biết phải sửng sốt thất kinh).

        Đưa bí mật đột ngột 2 Sư đoàn lên Tây Nguyên là mưu hay của ta, của Bộ Thống soái mà trực tiếp là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người đã có kinh nghiệm tác chiến lớn, người có trình độ chỉ huy các chiến dịch lớn, người có tri thức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành. Đó là cái nút trong mưu kế chiến lược.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch rất quan tâm và trực tiếp chỉ huy các hành động chiến đấu nghi binh. Chúng tôi coi nó sẽ tạo nên bất ngờ đối với địch mà bất ngờ là bảo đảm của thắng lợi. Thực hiện đánh nghi binh, đây là bức điện mà bộ chỉ huy chiến dịch gửi cho Sư đoàn trưởng Thanh Sơn ngày 2 tháng 3, sau khi Sư đoàn 968 đã tiêu diệt các vị trí Đồn Tầm, điểm cao 535, nằm trong kế hoạch đó:

        1- Tổ chức ngay việc vây, diệt 605, uy hiếp quận lỵ Thanh An

        2- Dùng hoả lực đánh vào Chư Kara kết hợp bộ binh bao vây buộc địch đối phó.

        3- Đưa lực lượng ta chiếm giữ ngay dãy Chư Gôi, tổ chức thành trận địa mới trên đông sông Ia Puk.

        Trên tuyến đường 5A, 5B:

        1 Tích cực bám đánh liên đoàn 4, không cho chúng rút khỏi Chư Sang

        2- Tiếp tục hoạt động nhỏ trên đường 5B, giam chân Trung đoàn 44 tại đó.

        Tóm lại: Sư đoàn phải giam chân chủ lực địch trên hướng Pleiku - Kon Tum và cố gắng thu hút thêm để tạo thuận lợi cho hướng chính..." (Chú thích: Điện gửi 968 ngày 2-3-1975 lưu trữ Sư đoàn 968 và quân đoàn 3 )


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 05:59:26 am

        Để giành lấy yếu tố bất ngờ, đi liền với các hành động nghi binh lừa địch là việc đảm bảo tuyệt đối giữ bí mật. Rất nhiều biện pháp đã được áp dụng một cách tỉ mỉ để thực hiện điều đó. Chỉ một việc nhỏ là luồn dây điện thoại ngang qua lộ 14 về sở chỉ huy (liên lạc bằng vô tuyến sóng cực ngắn đã được cấm tuyệt đối cho đến khi nổ súng), chúng tôi cũng phải bàn rất kỹ. Và phải mất tới ba ngày thảo luận mới đi đến một giải pháp tối ưu về vấn đề hiệp đồng - một vấn đề rất phức tạp nhưng không khó hiểu. Đó là vì chiến dịch này đã được tiến hành với mức độ hiệp đồng binh chủng rất cao. Đoàn 559 tăng cường cho chiến dịch 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 Trung đoàn công binh và 1 tiểu đoàn bộ binh. Các binh chủng kỹ thuật đều đưa vào chiến đấu ở cỡ binh đoàn, nhất là sự xuất hiện lần đầu tiên một Trung đoàn xe tăng, những yếu tố không dễ đảm bảo bí mật. Trên tất cả các hướng tấn công ở trận mở đầu then chốt - Buôn Ma Thuột - đều có một khối lượng quan trọng các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ đi cùng bộ binh. Bốn trên năm hướng có xe tăng. Đặc công đánh độc lập một hướng nhưng cùng hiệp đồng với từng hướng.

        Nhưng ở đây tôi đang đề cập tới vấn đề giữ bí mật bất ngờ nên chỉ muốn nói về động tác chuẩn bị thiết bị chiến trường cho hiệp đồng chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công làm sao để địch biết được ý định của ta càng muộn càng tốt. Có lúc ta buộc phải tạm ngừng việc làm đường (bao gồm cả các bến phà vượt sông) từ các vị trí tạm dừng cuối cùng đến tuyến xuất phát tấn công khoảng cách này trung bình là 25 đến 30km, có nơi đến 40km, tổng cộng là hàng trăm km và hai bến phà. Ta đã huy động vào việc này hai Trung đoàn công binh làm đường và cầu phà.

        Các đồng chí công binh bảo đảm rằng công việc có thể hoàn thành trong khoảng 4, 5 tiếng đồng hồ bằng các phương pháp khẩn cấp, chúng tôi dự định (và thực tế đã như vậy) công binh sẽ tác nghiệp vào thời gian trước giờ nổ súng. Vấn đề là phải tính toán làm sao để từ các cự ly khác nhau -trong vài tiếng đồng hồ - bộ binh, xe tăng, pháo binh và các thành phần khác có thể vượt sông Sê-rê-pok (một con sông rộng 200m, lưu tốc lớn và... có cả cá sấu) trước 5 giờ sáng đến các vị trí xuất phát tiến công. Đã tính tới khả năng (có đơn vị) sẽ phải tác chiến trong hành tiến. Các đơn vị công binh phải ngày đêm hoạt động trên nhiều tuyến đường, phải san rừng, xẻ núi, bắc cầu... có những tuyến đường xuất phát tiến công cho xe tăng, xe bọc thép anh em phải bí mật triển khai, cưa gốc cây sẵn một phần chờ khi có lệnh cho xe húc đổ cây là thành ngay con đường.

        Nhưng một điều rất khó là: Ta mở đường khẩn cấp bằng bộc phá, tiếng nổ của nó cộng với tiếng máy ầm ầm của tăng, pháo khi vận động sẽ khác nào "lạy ông tôi ở bụi này”, giữ được bất ngờ chiến dịch rồi lại để mất bất ngờ chiến đấu. Thế là đi tới quyết định sẽ dùng đặc công và pháo mang vác (Rốc két, DKB, H12) tiến công các mục tiêu địch vào thời gian công binh tác nghiệp mở đường từ 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3. Đây là hành động "một công đôi việc":

        Một, yểm hộ cho bộ đội cơ động và dọn bớt các mục tiêu râu ria để tạo bàn đạp.

        Hai,... như các đại tá nguỵ Vũ Thế Quang, Nguyễn Trọng Luật sau này đã khai: "Vâng, đến lúc đó chúng tôi vẫn khẳng định rằng đây chỉ là các hoạt động bình thường của đặc công và pháo binh các ông, đến sáng rồi sẽ chấm dứt...", nên không biết rằng cùng lúc đó công binh của ta đang nổ mìn tác nghiệp tuyến đường xuất phát tiến công.

        Có tình huống như: gần sát ngày ta nổ súng, phát hiện những dấu hiệu nghi ngờ, địch cho nống càn thăm dò lên phía bắc, nơi của bộ đội Sư đoàn 320 đang trú chân và chuẩn bị thiết bị trận địa. Địch càn đến đâu, các chiến sĩ của ta phải lui vào đến đó và phải xoá hết dấu vết những gì đã làm được. Chúng chỉ rút khoảng 40 tiếng đồng hồ trước khi ta nổ súng và các chiến sĩ Sư đoàn 320 lúc ấy mới lại có điều kiện hối hả lao vào các công tác chuẩn bị.

        Không phát hiện được gì, địch yên tâm và chúng ta lại thêm một lần thắng địch và Trung đoàn 45, sư 23 nguỵ đi trinh sát vũ trang ở Bắc Buôn Ma Thuột phải chuyển về Plâyku để đối phó với Sư đoàn 968 đang đánh ở tuyến phòng ngự vòng ngoài thị xã Plâyku. Đó cũng là mưu hay của ta, lùi một bước để mà tiến.

        Nghi binh lừa địch, giữ bí mật giành yếu tố bất ngờ, là một trong các mặt công tác tiến hành có hiệu quả nhất, nhưng cũng là căng thẳng nhất, phải dồn tâm trí nhiều nhất trong giai đoạn trước ngày nổ súng. Tôi còn nhớ chiều 5 tháng 3, khi ngày N đã ở ngay trước mặt, rất nhiều tin tức đưa đến chứng tỏ địch có khả năng nắm được các ý đồ của ta đã khiến cả sở chỉ huy chúng tôi như lặng đi. Thiếu tướng Vũ Lăng nói: "Thật là những tin tức có thể làm rụng tim được". Và chúng tôi đã gửi ngay một bức điện cho các đơn vị nhấn mạnh phải kiên trì giữ bí mật đến cùng "Phải kiên trì giữ bí mật đến cùng, thà nhận những khó khăn để đánh địch chưa dự phòng còn hơn gấp nhiều lần đánh địch đã sẵn sàng ứng phó".


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 06:00:31 am

        Vì vậy tất cả những công việc phải làm là để nhằm hướng đến khả năng được đánh địch theo phương án tác chiến thứ nhất: Phương án đánh địch không dự phòng. Do đó ngay sau Tết chúng tôi đã chỉ định một bộ phận các cán bộ tham mưu, do Thượng tá Nguyễn Thế Nguyên, người đã tham gia biên soạn tài liệu đánh địch trong thành phố của Bộ Tổng tham mưu, Phó tham mưu trưởng Chiến dịch phụ trách.

        Trong quá trình chuẩn bị, phương án đã được hoàn chỉnh bởi kinh nghiệm Phước Long; bởi thực tiễn nắm địch và địa hình của bộ phận trinh sát do Thiếu tướng Vũ Lăng và Đại tá Nguyễn Năng, các Phó tư lệnh Chiến dịch trực tiếp dẫn đầu; bởi những ý kiến bổ sung của các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Mặt trận và nhất là những ý kiến của cơ quan đại diện Bộ Tổng tư lệnh - Tổng tham mưu trưởng và cá nhân đồng chí Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đại tướng đã chỉ thị những điều bổ sung cụ thể, sâu sắc và chính xác cho quyết tâm chiến dịch.

        Chúng tôi đã cố gắng để tạo khả năng đánh địch theo phương án thứ nhất nhưng trong thực tế phải soạn thảo kế hoạch thật kỹ để chủ động đánh địch theo phương án thứ hai, phương án khó khăn nhất: Đánh địch có dự phòng. Tức là đánh với khả năng chúng có thể tăng cường thêm lực lượng phòng ngự cho Buôn Ma Thuột từ một, hai Trung đoàn đến một Sư đoàn trước khi ta nổ súng tiến công. Trong phương án này, chúng tôi dự kiến hai cách đánh:

        - Thứ nhất, điệu hổ ly sơn, tìm cách kéo địch ra, tốt nhất là ở tây cầu Sê-rê-pok hoặc tây Cẩm Ga, Thuần Mẫn, rồi dùng các Sư đoàn của ta đánh một vài trận lớn, khiến lực lượng địch không còn đáng kể rồi nhanh chóng thọc thẳng vào thị xã.

        Những kinh nghiệm thú vị của lối đánh kéo địch ra trận địa bày sẵn này ở Dakto năm 1967, và cũng như là ở Sa Thầy năm 1966, vẫn còn đó. Nhưng hồi đó là với quân Mỹ, cái kiêu căng của lính Mỹ lúc mới vào cuộc có khác cái sợ đòn của lính nguỵ vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh này.

        - Do đó, chúng tôi đã tính tới cách đánh thứ hai trong trường hợp địch co cụm không chịu thoát ly công sự. Sẽ phải đột phá lần lượt trước khi vào đến trung tâm. Đây là cách đánh kinh điển đối với địch phòng ngự công sự vững chắc. Cách đánh này thực tế tuy khó nhưng kế hoạch hiệp đồng dễ.

        Chúng ta muốn đánh địch không dự phòng, nhưng hẳn là địch đã không muốn thế, nếu chúng nắm được ý đồ của ta. Mưu kế ở đây là làm sao khi thế trận đã được xác lập rồi, địch chỉ có thể cựa quậy được trong phạm vi thế trận bày sẵn ấy mà thôi. Và bởi vì là sản phẩm của tư duy, thế trận cũng vận động theo yêu cầu chủ quan và thực tế khách quan, tức là vận động theo tình huống liên quan trực tiếp đến tạo thế (lập thế) hay nói cách khác, thế trận là nguyên nhân (mà cũng là kết quả) của tạo thế (lập thế). Nó đi từ việc dự kiến, gạn lọc tình huống nghĩa là tìm cách loại trừ những tình huống khó khăn không để cho nó có thể xảy ra, đến việc tạo lập tình huống theo ý muốn chủ quan có lợi cho mình. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã phải dự kiến rất nhiều tình huống mà dự kiến chính xác là một công việc thật không phải dễ.

        Chúng tôi quan tâm nhất đến khả năng địch tăng cường lực lượng. Quy luật phát triển tình hình trong chiến đấu (chiến dịch) cho chúng ta một nhận thức là địch luôn luôn phải tăng cường lực lượng cho các mục tiêu bị ta tấn công. Lực lượng này thường lấy ở đâu? Thông thường là biệt động quân, dự bị Quân khu và các Sư đoàn chủ lực Quân khu. Sau nữa là lực lượng tổng dự bị chiến lược: lính dù và thuỷ quân lục chiến. Bí quá thì huy động lực lượng của các chiến trường (Quân khu) kế cận.

        Ở đây một cách khách quan, chúng tôi nhìn thấy khó có khả năng địch tăng cường lực lượng dự bị cho Buôn Ma Thuột vì lực lượng này đang bị mưu kế chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông bố trí lực lượng của ta là Quân đoàn 2 ở tây Huế, Quân đoàn 4 ở đông bắc Sài Gòn nhằm kìm giữ địch ở hai đầu nam bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng: lính dù ở Thượng Đức, thủy quân lục chiến ở Trị Thiên và một số còn lại phải giữ Sài Gòn.

        Mưu kế này nhằm căng địch ra hai đầu nam bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà nẵng, buộc chúng phải để hở quãng giữa là Tây Nguyên và sau này ông còn cho Quân đoàn 1 áp sát bờ bắc sông Bến Hải chuẩn bị tăng cường cho Huế - Đà Nẵng, nhằm tạo thế cho Tây Nguyên. Chúng tôi đã đề nghị Bộ Tổng tham mưu cho các chiến trường trên phối hợp mạnh để giữ chân chúng. Còn lại khả năng rõ nhất là địch sẽ tăng cường cho khu vực này bằng chính các lực lượng của Quân khu 2, Sư đoàn 22 từ đồng bằng lên, Sư đoàn 23 từ Pleiku xuống. Thêm vào đó là một vài liên đoàn biệt động quân.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 06:02:00 am

        Như thế, dự kiến lực lượng được điều động ở mức cao nhất cho Buôn Ma Thuột là khoảng một Sư đoàn. Với lực lượng này, chúng tôi không ngại phải đối phó khi Buôn Ma Thuột đã giải quyết xong vì lúc đó chúng ta đã rảnh tay. Chỉ e chúng tăng cường để phòng ngự dự phòng trước khi ta nổ súng hoặc đến trong lúc trận đánh còn đang tiếp diễn thì sẽ gây nhiều khó khăn cho ta. Bởi vậy phải dự kiến các tình huống có thể để tìm cách đối phó.

        Chúng tôi dự kiến và thấy có khả năng loại trừ tình huống địch tăng cường lực lượng bằng máy bay có cánh cố định vì các sân bay xung quanh Buôn Ma Thuột ta đã khống chế bằng nhiều cách trong kế hoạch tác chiến. Địch chỉ có thể xuống Pleiku, nhưng sân bay này lại không thể hạ cánh được C5A mà chỉ với loại máy bay vận tải quân sự này - có trong biên chế của Mỹ -mới mang theo được xe tăng. Chưa nói đến Pleiku lại không phải là Buôn Ma Thuột!

        Chúng tôi cũng dự kiến và loại trừ cả tình huống địch tăng cường bằng đường bộ, bằng cách đưa vào phương án tác chiến việc cắt đứt các đường quốc lộ 19, 21 và 14. Địch nhạy cảm vô cùng với hai con đường huyết mạch 19 và 21 nối liền Tây Nguyên với đồng bằng, nhất là con đường 19, nguồn sống của Tây Nguyên. Chúng sẽ phải trả bằng mọi giá để giải toả con đường này. Lực lượng đưa đến có thể từ 1 đến 2 Sư đoàn.

        Do đó, để đảm bảo cắt đường một cách chắc chắn, ngoài Trung đoàn 95A- một đơn vị thiện chiến về đánh giao thông đã có sẵn ở đây từ cuối năm 1973, chúng tôi đã đề nghị Bộ Tổng tham mưu và Quân khu 5 cho Sư đoàn 3 Sao Vàng đến tham gia. Việc này cũng đã có bàn trước với Thượng tướng Chu Huy Mân. Yêu cầu được chấp thuận.

        Chỉ còn vấn đề là Sư đoàn 3 lúc ấy đang đương đầu với Sư đoàn 22 nguỵ ở vùng Bồng Sơn, Tam Quan, chống phá bình định của chúng. Ta rút đi địch sẽ có cơ lấn tới? Không, chúng tôi đã tính là nếu đường 19 bị cắt thì một chứ có đến hai Sư đoàn 22 địch cũng phải tung ra mà giải toả và như thế là khu vực Bồng Sơn, Tam Quan sẽ nhẹ gánh hơn (thực tế sau này đã đúng như vậy). Như thế là chúng ta sẽ có 4 Trung đoàn làm nhiệm vụ cắt giữ đường 19. Năm 1972, chúng ta chỉ dùng một lực lượng ít hơn cắt đường 13 (Đông Nam Bộ), và một lực lượng còn ít hơn nữa cắt đường 14 (Tây Nguyên) mà hàng mấy tháng trời địch không qua nổi. Ở đây ta lại chỉ yêu cầu giữ được trong một thời gian tối thiểu. Nhiệm vụ cắt giữ đường giao thông ở đường 14 được giao cho Sư đoàn 320 (sư đoàn này còn một nhiệm vụ khác nữa) và ở đường 21 ít quan trọng hơn, Trung đoàn 25.

        Việc cắt đường cũng loại trừ một tình huống thứ ba nữa là địch rút chạy một cách tự do. Như thế chỉ còn lại tình huống, hay nói cách khác ta buộc địch phải chấp nhận tình huống tăng cường lực lượng bằng đổ bộ trực thăng, một tình huống sẽ trở nên bất lợi đối với địch nếu không kết hợp được với đường bộ,và ít nhất là vì rất dễ làm mồi cho ta và khả năng cơ động tăng, pháo cũng hạn chế. Việc phán đoán các khu vực đổ bộ trực thăng không khó và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã dự kiến sử dụng Sư đoàn 10 ngay sau khi đánh xong Đức Lập, đối phó với tình huống này.

        Chưa hết, bằng cách gạn lọc loại trừ các tình huống trên, chúng tôi đã tạo nên tình huống mới: địch bị cô lập hoàn toàn. Tây Nguyên cô lập chiến lược với đồng bằng. Buôn Ma Thuột cô lập chiến dịch với cụm binh lực chủ yếu ở Pleiku, Kon Tum. Địch bị chia cắt mà ta thì hoàn toàn được tự do, được chủ động, đồng thời lại đã triển khai vững chắc các lực lượng ở những vị trí cơ động. Tức là vào lúc ấy một thế trận theo ý muốn của ta đã được xác lập.

        Tạo thế cô lập là chia cắt địch ra thành nhiều cụm bị cô lập phá thế liên hoàn của địch, làm cho địch mạnh thành yếu.

        Có thể nói rằng nghệ thuật chỉ huy, không chỉ bắt đầu từ việc tổ chức các đòn tiến công và cũng không phải kết thúc ở đây. Bản chất của nghệ thuật khó khăn này là mưu kế. Nó được diễn ra trong suốt quá trình chuẩn bị và không dừng lại khi đã giành được thắng lợi (hoặc thất bại), đứng về ý nghĩa đơn thuần một trận đánh (hoặc một chiến dịch).

        Và bộ phận cấu thành quan trọng nhất của mưu kế - đó là chỉ đạo tình huống. Nó gồm: sự phán đoán (dự kiến), sự loại trừ (gạn lọc) và sự tạo lập những tình huống theo ý định của người chỉ huy. Nó là điều mà chúng ta vẫn quen gọi là đánh (chỉ huy) có bài bản. Và ý nghĩa triết học của nó được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng: mưu kế càng sâu, thế trận càng phức tạp thì tình huống diễn ra càng giản đơn, và chỉ huy càng chủ động.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 06:04:50 am

        Cần đúc kết từ lịch sử và thực tiễn để nâng lên thành lý luận, từ lý luận khái quát thành quy luật và nguyên lý hoặc có tính chất nguyên lý. Để rồi lại vận dụng nó vào cho phù hợp với thực tiễn thì mới là sáng tạo.

        Bởi vậy có thể nói:

        "Mưu cao nhất là mưu lừa địch,
        Kế hay nhất là kế điều địch,
        Mưu sinh ra kế,
        Kế đẻ ra thời,
        Đánh bằng mưu kế,
        Thắng bằng thế thời".


        Hồ Chí Minh nói:

        "Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
        Gặp thời một tốt cũng thành công”.


        Người còn nói:

        "Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế có lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực”.

        Nguyễn Trãi nói:

        "Được thời, có thế thì mất biến thành còn; nhỏ hoá ra lớn. Không thời, mất thế thì mạnh hoá ra yếu, an lại thành nguy”,

        Và:

        "Ngẫm xưa nghiệm nay,
        Xét cho cùng mọi lẽ hưng vong,
        Trải biến nhiều thì suy nghĩ sâu,
        Tính việc xa thì thành công lạ”.

        Lịch sử chiến tranh với những trận đánh hay (và dở) chứng tỏ điều đó.

        Tây Nguyên như đang âm ỷ những cơn sóng ngầm.

        Ta và địch đang cùng nhau đấu trí.

        Mưu kế của địch là phòng bị Plâyku vững chắc, một mặt đưa một bộ phận Trung đoàn 53 và địa phương quân ra lùng sục ở phía bắc Buôn Ma Thuột, một mặt tung Trung đoàn 45 cũng ra lùng sục và trinh sát vũ trang ở Bắc Buôn Ma Thuột, như thế thì vừa giữ vững Plâyku, đồng thời vẫn tìm và phát hiện quân ta ở bắc Buôn Ma Thuột và như thế là được cả hai.

        Nhưng ta vẫn cao tay hơn địch ở chỗ đành cho Sư đoàn 320 lùi về phía sau trước cuộc lùng sục của địch.

        Lúc này địch cho rằng: Sư đoàn 10 của ta vẫn đang ở Võ Định, chuẩn bị đánh Kon Tum: Sư đoàn 320 vẫn ở Plâyku và sẽ cùng với Sư đoàn 968 đánh Plâyku. Nhưng đến tháng 1 năm 1975 địch phát hiện Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 đã ăn Tết trước và đang chuẩn bị đi vào Nam Tây Nguyên.

        Tiếp đó, địch nhận được nguồn tin là Trung đoàn 25 của ta đang chuẩn bị xuống đường số 21. Với những triệu chứng đó, địch đã phán đoán là ta cũng có thể chuẩn bị đánh ở Buôn Ma Thuột. Do đó, chúng đã đưa Trung đoàn 53 (thiếu) ra lùng sục ở bắc thị xã, trên khu vực Quảng Nhiêu - Mê Van. Quá trình lùng sục, địch đã đánh nhau với bộ phận trinh sát của Trung đoàn pháo binh 675 và bắt một chiến sĩ bị thương nặng đem về Plâyku thai thác.

        Khoảng giữa tháng 2, một tên đảo ngũ đã khai với địch "Sư đoàn 10 đang chuẩn bị đánh Đức Lập, Sư đoàn 320 đang ở tây Eahơleo chuẩn bị đánh Thuần Mẫn, một lực lượng khác chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột".

        Nhận được nguồn tin trên, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân khu 2 nguỵ hết sức hoang mang, nên có lúc gã định đưa Sư đoàn 23 về lại Buôn Ma Thuột. Nhưng tình báo Mỹ lại khẳng định rằng Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 vẫn còn ở chỗ cũ. Những tin tức trái ngược nhau làm cho Quân khu 2 ngụy rất lúng túng. Sau khi bị bắt, đại tá Vũ Thế Quang khai rằng; "Những tin tức trên là không có cơ sở".

        Tuy vậy, ngày 19 tháng 2, Phú vẫn quyết định đưa Trung đoàn 45 từ Plâyku về khu vực Eahơleo để lùng sục phát hiện Sư đoàn 320.

        Trước tình hình đó, cuối tháng 2 năm 1975 Bộ Tư lệnh chiến dịch có nhận định: "Địch có nghi ta chuẩn bị đánh Đức Lập; Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột, cắt đường số 14 ở Cẩm Ga, với một số bằng chứng riêng lẻ. Nhưng địch vẫn chưa phát hiện được ý định và lực lượng chiến dịch của ta. Những hoạt động lùng sục nói trên có tính chất rời rạc, cục bộ, tuy nhiên cũng vẫn chủ động đề phòng tình hình phức tạp xảy ra".

        Từ nhận định đó, Bộ Tư lệnh đi đến quyết tâm và xử trí như sau: "Kiên trì khôn khéo giữ bí mật ý định chiến dịch và lực lượng ta ở hướng tác chiến chủ yếu (Buôn Ma Thuột). Tích cực hoạt động nghi binh trên hướng Kon Tum - Plâyku. Kiềm giữ Trung đoàn 44 về các lực lượng khác ở lại bắc Tây Nguyên ".

        - Ra lệnh cho Sư đoàn 320 tránh đụng độ với Trung đoàn 45 nguỵ và tạm lùi đội hình về phía Tây.

        - Ra lệnh cho Sư đoàn 968 hoạt động ráo riết theo kế hoạch nghi binh, phối hợp với lực lượng địa phương tỉnh (Gia Lai -Plâyku) huy động dân công làm đường và phao tin ta sẽ đánh lớn ở Bắc Tây Nguyên, sử dụng mạng thông tin, vô tuyến điện phát các tin tức nghi binh trên làn sóng địch để đánh lừa địch rằng Sư đoàn 10 vẫn còn ở bắc Kon Tum và Sư đoàn 320 vẫn còn ở Plâyku.

        Khi địch điều Trung đoàn 45 xuống Eahơleo, ta đã cho phát một bức điện nghi binh nữa trên làn sóng gửi cho các đơn vị với nội dung: "Địch đã bị mắc lừa, cho rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột nên đã điều quân xuống phía nam". Nhận được bức điện đó, địch rất hoang mang, không biết là nên tin vào lời khai của tên đảo ngũ, hay tin vào nguồn tin kỹ thuật vô tuyến điện do chúng thu nhận được.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 06:08:08 am

        Cuộc đọ sức âm thầm giữa ta và địch kéo dài suốt trong tiến trình chuẩn bị chiến dịch. Đến cuối tháng 2 địch vẫn chưa phát hiện được rõ rệt ý định chuẩn bị chiến dịch của ta. Đại bộ phận chủ lực địch vẫn còn bố trí ở bắc Tây Nguyên. Quyền chủ động chiến dịch vẫn nằm trong tay ta. Tình hình đó tạo nhiều thuận lợi cho ta mở màn chiến dịch.

        Từ ngày 1 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên trực tiếp điều hành mọi hoạt động của các lực lượng tham chiến trên toàn chiến trường.

        Mở đầu chiến dịch.

        Theo dự kiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch, ngày 1 tháng 3 là ngày đánh nghi binh, ngày 4 tháng 3 là ngày nổ súng đánh chia cắt để cài thế chiến dịch làm mốc để bắt đầu tạo thế chiến dịch. ngày 10 năm 3 tháng 1975 là ngày N của toàn chiến dịch đánh trận then chốt ở thị xã Buôn Ma Thuột. Nhưng thực ra những tình huống được xử trí dẫn tới thế trận xác lập đã được thực hiện từ cuối tháng 2 nếu không muốn nói là trước đó nữa. Song tính đến ngày N thì vẫn còn năm ngày đêm. Trong việc tranh chấp thời gian với địch, để có được năm ngày đêm để triển khai hoàn chỉnh thế trận là quá ít, nhưng để đạt được yếu tố bất ngờ thì lại quá dài.

        Giữa lúc cơ quan tham mưu chiến dịch đang làm việc khẩn trương và liên tục để chuyển lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch tới các đơn vị thực hiện kế hoạch đánh chia cắt và bố trí đội hình, thì cơ quan tác chiến nhận được tin điện khẩn báo cáo về.

        Nội dung bức điện như sau?

        "Lâm Đồng điện gửi

        Bộ phận đi chuẩn bị trận địa pháo phía bắc A (Buôn Ma Thuột) gặp bộ binh xe tăng địch (Trung đoàn 53) nống ra sục sạo. Do ta thiếu cảnh giác, bị chúng sát thương một số đồng chí và bắt mang đi một đồng chí bị thương nặng, nhưng đồng chí này đang hôn mê, địch chưa khai thác được gì”.

        Đây là một tin quan trọng. Nhận được tin trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã kịp thời nhận định: Sơ hở để xảy ra thương vong, mất người có thể dẫn tới tình huống xấu. Ta phải sẵn sàng chuẩn bị phương án 2 để đánh địch trong trường hợp có phòng ngự dự phòng. Song trước mắt cần tiếp tục theo dõi và tiếp tục chuyển lệnh đôn đốc các đơn vị thực hiện kế hoạch đã đề ra. Vì đến ngày 4 tháng 3, theo trách nhiệm hiệp đồng, các đơn vị phải lần lượt tiến ra cắt đứt giao thông trên các đường 19, 21 và 14, chia cắt chiến lược và chiến dịch đối phương.

        Tiếp theo, ngày 8 tháng 3 ta chiếm quận lỵ Thuần Mẫn ở phía bắc và ngày 9 tháng 3 tiến công quận lỵ Đức Lập ở phía nam Buôn Ma Thuột.

        Cũng trong thời gian đó, trên tất cả các hướng tiến công Buôn Ma Thuột bộ đội phải vào vị trí tập kết cuối cùng.

        Cuộc tiến công tạo thế bắt đầu.

        Mở đầu cuộc tiến công tạo thế, trước hết nhằm nghi binh lừa địch thu hút sự chú ý của địch về hướng Bắc Tây Nguyên, tạo điều kiện thực hành đánh chia cắt. Ngày 1- 3, Sư đoàn 968 đã sử dụng pháo binh bắn vào thị xã Plâyku, sử dụng lực lượng bộ binh tiến công các vị trí "Chốt Mỹ", "Đồn Tâm" của địch trên đường số 19 kéo dài (tây Plâyku), đánh chiếm dãy Chư Ka Ra, Chư Gôi, 605 uy hiếp quận lỵ Thanh Bình, Thanh An (tây nam Plâyku). Tiếng pháo nổ, dường như báo hiệu một cuộc tiến công lớn sắp bắt đầu vào thị xã Plâyku.

        Ở hướngKon-tum, tiến hành các trận đánh nhỏ, làm đường, làm trận địa pháo, huy động dân công rầm rộ, một bộ phận lực lượng khác đánh trên đường số 14 ở đoạn giữa Kon Tum và Plâyku.

        Những hoạt động trên của Sư đoàn 968 được tiến hành rầm rộ với ý định đánh lừa quân địch gây cho chúng hiểu lầm là ta đã mở đầu chiến dịch trên hướng Plâyku.

        Khi Sư đoàn 968 bắt đầu tiến công đánh thật mà là thật giả, nghĩa là vẫn dùng pháo lớn như đánh thật, nhưng chỉ tiến công vào một số cứ điểm nhỏ) vào vùng ven thị xã Plâyku thì tại sở chỉ huy Quân khu 2, tướng Phạm Văn Phú đã triệu tập cuộc họp khẩn cấp với Bộ tham mưu Quân khu để nhận định tình hình. Trong cuộc họp đã diễn ra cuộc tranh luận căng thẳng. Đại tá Trịnh Tiêu, trưởng phòng 2 của địch nêu ý kiến "Tiến công vào Plâyku và Kon Tum chỉ là đòn nghi binh. Ý định thực sự của đối phương là sẽ đánh vào Buôn Ma Thuột" Phú đã hoài nghi ý kiến đó. Nhưng cuối cùng Phú đồng ý cho thêm một Trung đoàn nữa về Buôn Ma Thuột (Erann Snepp) (Khoảng cách thời gian vừa phải -tập 2 - trang 371).

        Phú đã ra lệnh cho Chuẩn tướng Phạm Duy Tất, tư lệnh biệt động quân và các viên chức khác: "Sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công vào Plâyku”.

        Cuộc tiến công nghi binh dồn dập của Sư đoàn 968 đã gây áp lực nặng hơn trên hướng tây nam thị xã Plâyku, buộc địch phải tung liên đoàn biệt động quân số 23 ra để đối phó.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 09:24:30 pm

        Trong lúc đó Trung đoàn 53 lùng sục phía bắc Buôn Ma Thuột vẫn không tìm thấy gì. Còn Trung đoàn 45 sau hơn 10 ngày lùng sục ở tây đường số 14 vẫn không phát hiện được Sư đoàn 320 ở Ea H'leo, thì được tin Sư đoàn này (sư đoàn320) (?) lại xuất hiện và đang tiến công vào hướng tây thị xã Plâyku. Không dấu nổi bực tức, Phạm Văn Phú ra lệnh đưa ngay Trung đoàn 45 về để tăng sức chống đỡ ở hướng tây thị xã. Sáng ngày 3 tháng 3, Trung đoàn 45 nguỵ đã vội vã từ Ea H’leo hành quân về lại phía tây thị xã Plâyku. Với việc địch điều Trung đoàn 45 từ phía nam về Plâyku chứng tỏ đòn nghi binh của ta đã đạt kết quả. Quân địch đã lún sâu vào sai lầm.

        Thời cơ đánh tạo thế chia cắt đã đến.

        Ngày 4 tháng 3 tiến ra cắt đường số 19, trên đoạn phía đông thị xã Plâyku.

        Từ sáng đến trưa ngày 4-3. Trung đoàn 95A đã tiêu diệt một loạt các vị trí địch, trong đó có căn cứ Adun do một tiểu đoàn Bảo an chiếm đóng. Trong ngày 4 tháng 3, Trung đoàn 95A đã làm chủ một đoạn đường 20km (từ Plâyku đến ấp Phù Yên, cắt đứt đường số 19 ở đông Plâyku).

        Cùng ngày Sư đoàn 3 (thiếu) Quân khu 5 cũng đã khắc phục rất nhiều khó khăn, ra cắt đường số 19 trên đoạn Thượng Giang - Bình Khê, Sư đoàn 3 đã tiêu diệt một loạt các vị trí: nam Cây Rui, Chóp Nón, Hòn Kiềng, Cột Cờ, Truông Ổi, Che Chẻ, Đối Đá, Lăng Mai Xuân Thưởng... Trong ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 đã cắt đứt đường số 19.

        Về các trận đánh trong ngày 4 tháng 3 trên đường 19, Hãng thông tấn AP đưa tin: "Đường 19, con đường tiếp tế chủ yếu cho Tây Nguyên bị cắt đứt. Các trận đánh tập trung ở Lệ Trung, phía đông Plâyku 16km và Bình Khê, phía tây Quy Nhơn 40km. Nhiều vị trí từ Lệ Trung đến Bình Khê đã bị tiến công mất liên lạc điện đài. Một căn cứ pháo 105mm ở tây bắc Bình Khê đã bị đánh tràn vào” (AP ngày 05-3-1975).

        Thế là trong ngày 4 tháng 3, việc giao thông của địch trên đường số 19 đã bị gián đoạn hoàn toàn.

        Để đối phó lại, địch điều thiết đoàn 3 và liên đoàn biệt động quân số 4 ra đông Plâyku phản kích Trung đoàn 95A ở phía đông. Đồng thời, địch điều Sư đoàn 22 từ phía bắc Bình Định vào đường số 19 để đối phó với Sư đoàn 3.

        8 giờ sáng ngày 4 tháng 3, tại sở chỉ huy, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã nhận định tình hình: "Đường số 19 đã bị khoá chặt, đại bộ phận chủ lực của địch vẫn bị thu hút ở Bắc Tây Nguyên. Tình hình ở thị xã Buôn Ma Thuột vẫn như cũ. Ta đã giữ được bí mật, chủ động điều địch hành động theo ý muốn của ta. Lực lượng chiến dịch đã triển khai xong thế bao vây chia cắt địch. Thế ban đầu đã tạo thời cơ rất thuận lợi cho chiến dịch mở đầu. Tuy nhiên, cần phải có biện pháp xử trí với Trung đoàn 53 ở Mê Van (bắc Buôn Ma Thuột)"

        Từ nhận định đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm "đánh địch theo phương án địch không có phòng ngự dự phòng ở thị xã Buôn Ma Thuột".

        Quyết tâm trên đây đã được Đại tướng Văn Tiến Dũng, đại diện Bộ Tổng tư lệnh phê chuẩn. Đồng chí nhắc nhở Bộ Tư lệnh chiến dịch về các biện pháp giữ bí mật bất ngờ. Đồng thời, đồng chí cũng đã chỉ thị cho Quân khu 5 đôn đốc Sư đoàn 3 tích cực hoạt động.

        Để thực hiện quyết tâm trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tiến hành các biện pháp cấp thiết sau:

        - Đôn đốc Sư đoàn 968 hoạt động tích cực. Từ 4 tháng 3 đến 9 tháng 3, Sư đoàn 968 được sử dụng thêm đạn pháo bắn vào Kon Tum, Plâyku, kết hợp với nghi binh kiềm giữ khối chủ lực địch ở lại Bắc Tây Nguyên.

        - Ra lệnh cho Sư đoàn 320 vẫn tiếp tục giữ bí mật, đồng thời, sẵn sàng cắt đường số 14 khi có lệnh, đưa Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 9 ra phục kích trên đường số 14 ở đoạn nam cầu Eahơleo.

        - Ra lệnh cho Sư đoàn 316, đêm 4 tháng 3 cho Trung đoàn 149 vượt đường số 14 (đoạn tây Cầu Sê-rê-pók) để vào nam thị xã Buôn Ma Thuột như kế hoạch đã định.

        - Ra lệnh cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24 chuẩn bị đánh địch ở Mê Van.

        Thực hiện mệnh lệnh trên đây, các đơn vị đã triển khai nhiệm vụ theo đúng kế hoạch bổ sung.

        Ngày 5 tháng 3, bộ phận tuần tra của địch nhặt được một quyển nhật ký của một đồng chí thiếu uý thuộc Trung đoàn 149. Trong nhật ký có ghi: "Đêm 4, vượt đường số 14 vào thị xã Buôn Ma Thuột” Quân nguỵ đã mang quyển nhật ký đó về Gia Nghĩa (?) để nghiên cứu.

        Cũng sáng ngày 5 tháng 3, Trung đoàn 25 đã tiến ra cắt đường số 21 trên đoạn Chư Xuê. Con đường quan trọng thứ hai nối từ Nha Trang - Ninh Hoà lên Buôn Ma Thuột, từ đồng bằng với Tây Nguyên đã bị gián đoạn.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 09:26:49 pm

        Những hiện tượng đó đã làm cho địch thấy rõ Buôn Ma Thuột bị rơi vào tình thế cô lập.

        "Tuy có chú ý đến những dấu hiệu về sự chuyển quân không bình thường của Bắc Việt ở phía tây và bắc Buôn Ma Thuột, nhưng tôi không có dự kiến Cộng sản sẽ tìm cách cắt đứt đường sá trong khu vực và cô lập thành phố. Tuy nhiên không phải chỉ mình tôi nghĩ như vậy, mà cả DAO và các bạn đồng nghiệp CIA của tôi ở Mỹ cũng đều tập trung vào Plâyku - Kon Tum, mà không nói gì đến Buôn Ma Thuột" như Franh Suepp - chuyên viên tình báo chiến lược CIA ở Sài Gòn - DAO cơ quan tình báo Mỹ đã thừa nhận.

        Tuy cơ quan tình báo Mỹ cho là như vậy, nhưng Phạm Văn Phú vẫn quyết định cử đại tá Vũ Thế Quang, phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 về Buôn Ma Thuột với nhiệm vụ mới - tư lệnh Nam Tây Nguyên, chỉ huy toàn bộ lực lượng quân nguỵ từ Đắc Lắk đến Gia Nghĩa, để giải quyết tình hình. Đồng thời địch chỉ thị cho đồn Chư M'nga (bắc Buôn Ma Thuột 12km) để phòng bị pháo kích. Ra lệnh cho Trung đoàn 53 và 1 tiểu đoàn bảo an tiếp tục lùng sục ở bắc thị xã.

        16 giờ ngày 5 tháng 3, đoàn xe 15 chiếc chở bộ phận của Vũ Thế Quang trên đường từ Plâyku về Buôn Ma Thuột đã bị Trung đoàn 9 ta tiêu diệt 8 xe, 7 chiếc còn lại tháo chạy về Plâyku, trong đó có Vũ Thế Quang.

        Điều trở ngại nhất lúc này là đã gần đến ngày đánh vào Buôn Ma Thuột, mà Trung đoàn 53 (thiếu) vẫn tiếp tục lùng sục ở bắc thị xã, gây khó khăn cho việc làm đường, làm trận địa pháo, khu vực tập kết của bộ đội. Do đó trên hướng này có khả năng không thực hiện được khối lượng công trình theo kế hoạch.

        Trước tình hình đó, sáng ngày 6 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã nhận định: "Đường số 14, đường số 21, tuy đã xuất hiện một bộ phận lực lượng của ta, nhưng chưa có gì buộc địch phải xử trí lớn. Tuy địch có phát hiện một số chi tiết, nhưng chúng chưa chú ý nhiều, trong mấy ngày tới địch chưa có phản ứng gì lớn. Từ đó Bộ Tư lệnh đi đến quyết định "Kiên trì khôn khéo giữ bí mật đến cùng cho trận đánh ở thị xã theo phương án đã định".

        Cũng trong ngày 6 tháng 3, Bộ Tổng tư lệnh đã thông báo: "Trên chiến trường toàn miền, địch vẫn tập trung vào hướng phòng thủ chính là ở Quân khu 1, Sư đoàn dù vẫn còn ở Quân khu 1 , vì lúc này quân đoàn 1 của ta đang áp sát bờ bắc sông Bến Hải. Địch ở Quân khu 4 vẫn đề phòng ta gây sức ép ở đồng bằng, một bộ phận lực lượng của địch ở Quân khu 3 đang lên núi Bà Đen (Tây Ninh), ở Tây Nguyên, Bộ Tổng tham mưu nguỵ và CIA vẫn khẳng định: Hướng đối phó chính của chúng vẫn là Plâyku và Kon Tum. Chúng cho rằng hành động cắt đường số 19, số 14 và số 21 chỉ là hoạt động phối hợp của ta".

        Để tạo điều kiện cho các đơn vị ở bắc thị xã hoàn thành công tác chuẩn bị, Bộ Tư lệnh chiến dịch thấy cần thiết phải tìm cách điều Trung đoàn 53 của địch ra đường số 14.

        6 giờ ngày 7 tháng 3, Trung đoàn 48 đã tiến công đánh chiếm cao điểm Chư Dsê, tiêu diệt 1 trung đội bảo an của địch. Mất Chư Dsê, đường số 14 bị gián đoạn, Buôn Ma Thuột đã bị chia cắt với Bắc Tây Nguyên.

        Ngày 7 tháng 3 qua khai thác tin tức, Phú phán đoán ta chuẩn bị pháo kích vào Buôn Ma Thuột và cũng căn cứ vào những tin tức về dấu vết ta chuẩn bị đánh Đức Lập nên đã cho Vũ Thế Quang đáp trực thăng về Buôn Ma Thuột và cử Quang làm tư lệnh lãnh thổ nam Cao Nguyên Trung Phần. Về đến nơi, Quang đã ra lệnh báo động ở Buôn Ma Thuột và Đức Lập. Đồng thời, ra lệnh cho Trung đoàn 53 trưa ngày 8 tháng 3 kéo về thị xã.

        Như vậy, tính đến ngày N thì có thể địch biết được ý định tiến công của ta trước hai ngày. Tuy nhiên chúng chưa hẳn đã phán đoán được qui mô lực lượng và hình thức tác chiến của ta, hơn nữa nếu có biết thì cũng là quá muộn.

        Thế trận của ta đã dần trói chặt chúng lại rồi.

        Thế trận đã bày, các cửa ra vào đã khoá chặt, quân ta trong tư thế chủ động đàng hoàng, có khả năng đánh ngăn chặn bất kỳ lực lượng nào của địch định cơ động trên các đường số 14, 19 và 21. Để mở rộng khu vực, tạo thêm thời cơ thuận lợi và rảnh tay khi đánh Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh ra lệnh tiến công tiêu diệt cứ điểm Cẩm Ga (tức quận lỵ Thuần Mẫn).


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 09:29:12 pm

        Thuần Mẫn là một quận lỵ nằm trên ngã ba đường 14 và tỉnh lộ số 7B đi Cheo Reo (thị xã của tỉnh Phú Bổn). Thuần Mẫn cách Buôn Ma Thuột về phía bắc khoảng 120km và cách Plâyku về phía nam khoảng 82km. Quận lỵ do 1 tiểu đoàn bảo an chiếm giữ ở cứ điểm Cẩm Ga.

        Sau khi nhận mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Sư đoàn trưởng Kim Tuấn một Sư trưởng chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm và rất trung thực. Sư đoàn 320 đã ra lệnh cho Trung đoàn 48 đang hoạt động ở khu vực đường số 14, ngay trong đêm 7 tháng 3 vào chiếm lĩnh trận địa.

        Đúng 6 giờ ngày 8 tháng 3, Trung đoàn 48 với một bộ phận pháo cơ giới gồm 3 khẩu pháo 85 ly, được tăng cường 2 khẩu pháo 105mm đã nổ súng tiến công quận lỵ Thuần Mẫn. Sau hơn một giờ chiến đấu, Trung đoàn 48 đã tiêu diệt phần lớn quân địch và chiếm được quận lỵ. Tuy nhiên, do ta bao vây không chặt nên đã để địch chạy thoát một số, trong đó có tên quận trưởng. Cùng với trận Cẩm Ga trong ngày 7 tháng 3 là trận Chư Sê ta đã tiêu diệt nhanh gọn quân địch. Đây là hai trận đánh không nằm trong kế hoạch trong thời gian này.

        Thuần Mẫn bị đánh chiếm, đường số 14 càng bị gián đoạn nghiêm trọng. Về phía địch, chúng hiểu được ngay là Sư đoàn 320 đã đánh trận Thuần Mẫn. Do vậy, chiều 8 và sáng ngày 9 tháng 3 địch đã dùng máy bay chở liên đoàn biệt động quân số 21 từ bắc Tây Nguyên đổ xuống sân bay Hoà Bình và đưa lên Buôn Hồ (nam Thuần Mẫn 30km) để bảo vệ phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột.

        Ở thị xã Buôn Ma Thuột, Vũ Thế Quang đã ra lệnh báo động, rút Trung đoàn 53 về phòng thủ thị xã và đưa một tiểu đoàn của Trung đoàn này xuống tăng cường cho Đức Lập.

        Như vậy, Trung đoàn 53 đã rút khỏi Mê Van đúng theo ý muốn của ta, tạo điều kiện cho cánh quân phía bắc nhanh chóng hoàn thành mọi công tác chuẩn bị còn lại của chiến dịch. Nhưng một khó khăn mới đã nảy sinh, đó là việc địch đã tăng thêm 1 Trung đoàn nữa về Buôn Ma Thuột. Tình huống mới đó bắt buộc Bộ Tư lệnh chiến dịch phải tính toán đến. Tuy đường bộ đã bị cắt đứt, nhưng địch vẫn còn sử dụng được các sân bay để vận chuyển quân. Việc đánh phá các sân bay, do vậy là vấn đề cấp thiết phải được giải quyết ngay. Bộ Tư lệnh ra lệnh cho Tiểu đoàn pháo 33 đang bố trí ở đông bắc Plâyku bắn phá mãnh liệt vào sân bay Cù Hanh (Plâyku). Chấp hành lệnh trên, Tiểu đoàn 33 đã đánh rất trúng, phá hỏng đài không lưu vào đường băng sân bay Cù Hanh.

        Đối với sân bay Hoà Bình (Buôn Ma Thuột ), Bộ Tư lệnh ra lệnh cho cụm pháo 675 ở phía tây bắc thị xã, đưa 1 tiểu đoàn pháo nòng dài vào chiếm lĩnh trận địa bắn lâm thời, sẵn sàng bắn vào sân bay khi địch đổ quân.

        Một nguyên nhân nữa khiến địch có thể rút bớt lực lượng ở Bắc Tây Nguyên là do lúc này Sư đoàn 968 đã giảm cường độ hoạt động ở Kon Tum và Plâyku. Vì vậy, Bộ Tư lệnh đã ra lệnh cho Sư đoàn 968 phải tăng cường độ hoạt động mạnh hơn, bằng cách cắt đứt đường số 14 ở phía giữa Plâyku - Kon Tum (khoảng cách này độ 40km) và tiếp tục bắn phá hai thị xã đó.

        Nhìn chung quá trình điều khiển chiến dịch, thế trận của ta đã hình thành: đánh chia cắt tốt, cài thế bao vây chắc, hoạt động nghi binh khôn khéo, thu hút được địch về hướng Kon Tum -Plâyku, giữ được chân chúng ở đó lại có sáng kiến đánh hai trận ngoài kế hoạch thành công nhanh gọn. Kết quả trên đã tạo ra thời cơ rất thuận lợi cho chiến dịch. Điều kiện thực hiện tiến công chín muồi sắp đến.

        Theo kế hoạch Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tiến công quận lỵ Đức Lập vào rạng sáng ngày 9 tháng 3 và sẵn sàng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột vào ngày 10 tháng 3 (ngày N) theo phương án 1 (phương án địch không có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng)

        Ngoài ý nghĩa dứt điểm để có thể cơ động lực lượng sớm cho Buôn Ma Thuột, trận đánh Đức Lập còn có ý nghĩa bảo đảm hành lang cho các lực lượng khi tiến công vào hướng nam Buôn Ma Thuột, và trước hết là nhằm thu hút thêm sự chú ý của địch vào Đức Lập để đảm bảo tính bất ngờ cao nhất cho trận đánh then chốt ở thị xã Buôn Ma Thuột, hơn nữa còn dự kiến làm bàn đạp tiến công trong trường hợp phải đánh địch có phòng ngự dự phòng.

        Vì vậy đêm 8 tháng 3 dưới sự chỉ huy của sư đoàn trưởng Hồ Đệ và chính uỷ Lã Ngọc Châu, Sư đoàn 10 hành quân vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công. Đội hình Sư đoàn phải vượt qua nhiều địa hình phức tạp, vượt qua những cánh đồng trống trải, những cánh rừng cà phê, phải thận trọng vòng qua hệ thống "ấp chiến lược" dày đặc bảo an, dân vệ và mìn trên dọc đường để tới nơi tập kết an toàn.

        Trên hướng Đức Lập, quân ta hoàn thành công tác chuẩn bị tương đối tốt, các lực lượng đã sẵn sàng chờ lệnh triển khai tiến công địch.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 09:31:42 pm

        Đức Lập là quận lỵ nằm sát biên giới Việt Nam - Campuchia về phía tây nam thị xã Buôn Ma Thuột, khoảng hơn 50km.

        Quận lỵ gồm các vị trí: Căn cứ 23 do Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 53 và 1 chi đoàn thiết giáp đóng. Căn cứ Núi Lửa do 1 tiểu đoàn bảo an đóng, sở chỉ huy khu (quận lỵ Đức Lập) và đồn Đắc Xắc. Ngoài ra về phía nam, trên ngã ba đường số 14 và đường đi thị xã Gia Nghĩa còn có các căn cứ Đắc Song.

        Quận lỵ Đức Lập nằm trên đường số 14, án ngữ đến tận sát biên giới. Do vậy, đường chiến lược Hồ Chí Minh (14B) nối từ Tây Nguyên vào Nam Bộ, đến đoạn này phải vòng sang đất Campuchia.

        Theo yêu cầu của chiến lược, việc giải phóng quận lỵ Đức Lập, chiếm đường số 14 ở đoạn này để nối tiếp đường chiến lược vào Lộc Ninh đang trở thành yêu cầu hết sức cấp thiết. Việc giải phóng Đức Lập, do vậy là nhiệm vụ rất quan trọng mà chiến lược đã giao cho chiến dịch.

        Về mặt chiến dịch, giải phóng Đức Lập có tác dụng uy hiếp trực tiếp Buôn Ma Thuột từ hướng tây nam. Việc đánh Đức Lập trước là nhằm bảo đảm thuận lợi cho trận đánh then chốt Buôn Ma Thuột, nên khi thảo luận phương án tác chiến chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã cân nhắc, thảo luận kỹ lưỡng và được đại diện Bộ Chính trị và Bộ Tổng tư lệnh phê chuẩn. Nếu ta tiêu diệt nhanh quân địch ở Đức Lập, ngoài việc tạo cho bộ chỉ huy chiến dịch sớm có lực lượng sẵn sàng tăng cường cho Buôn Ma Thuột, bảo đảm hành lang cho các lực lượng tiến công ở hướng nam Buôn Ma Thuột, mà còn nhằm thu hút thêm sự chú ý của địch về hướng Đức Lập để bảo đảm bất ngờ cao nhất cho trận đánh then chốt vào thị xã Buôn Ma Thuột.

        Mục tiêu Đức Lập, do vậy vừa có ý nghĩa về mặt chiến lược vừa có ý nghĩa về mặt chiến dịch, đặc biệt trong trường hợp địch phòng ngự dự phòng thị xã Buôn Ma Thuột.

        Nhiệm vụ đánh chiếm Đức Lập, được Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Sư đoàn 10 đảm nhiệm.

        Chiều 8 tháng 3 sau khi kiểm tra lại tình hình thấy Sư đoàn 10 đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị tấn công, đồng thời, các lực lượng tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột cũng đã sẵn sàng trong tư thế chuyển sang tiến công, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: "Tiến công Đức Lập".

        Hồi 5 giờ 35 phút ngày 9 tháng 3, Sư đoàn 10 (thiếu Trung đoàn 24) bắt đầu tiến công vào quận lỵ. Sau đòn hoả lực chuẩn bị, 15 khẩu pháo của Sư đoàn dồn đập nã những loạt đạn chính xác vào căn cứ hành quân Sư đoàn 23 nguỵ, căn cứ Núi Lửa và quận lỵ Đức Lập. Phối hợp với pháo binh Sư đoàn, các trận địa pháo của Trung đoàn 28 và Trung đoàn 66 cũng tới tấp trút đạn xuống căn cứ địch. Sau 90 phút bắn phá liên tục của pháo binh ta vừa ngừng, bộ binh ta lập tức được lệnh tiến công. Trung đoàn 66 đã đột kích vào căn cứ 23, đến 8 giờ 30 phút đã tiêu diệt quân địch và chiếm xong Căn cứ 23. Cùng lúc, ở phía tây Trung đoàn 28 cũng đã đánh xong Căn cứ Núi Lửa. Tiếp đó Sư đoàn 10 đã tổ chức tiến công vào chi khu (quận lỵ Đức Lập ). Quân địch trong căn cứ đã lợi dụng công sự và xe thiết giáp đặt âm dưới đất (đây là thiếu sót do trinh sát điều tra chưa kỹ) nhờ đó chúng chống trả quyết liệt, khiến ngày hôm đó Sư đoàn 10 không đánh chiếm xong, phải tạm ngừng lại

        Đêm hôm đó các hãng thông tấn phương Tây đã đưa tin "Việt Cộng đã phải chật vật với 2000 quân Sài Gòn có công sự vững chắc, ba trận địa pháo và mấy chục thiết giáp, xe tăng”.

        Ngày 9 tháng 3, trong khi chiến sự đang diễn ra quyết liệt ở Đức Lập, thì Phạm Văn Phú đáp trực thăng về Buôn Ma Thuột gặp đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh nam Cao Nguyên và đại tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng Đắc Lắc.

        Địch hoang mang, khẳng định, rồi lại hoang mang, khẳng định. Cho đến tận ngày 9 tháng 3, một ngày trước khi ta đánh vào Buôn Ma Thuột, khi các cỡ súng của Sư đoàn 320 đã nổ giòn và làm chủ Thuần Mẫn, thì Buôn Ma Thuột cái thành phố lớn nhất cao nguyên thực tế đã ở trong tình thế cô lập hoàn toàn mà viên tướng tư lệnh quân đoàn 2 - Quân khu 2 Phạm Văn Phú từ Nha Trang bay lên vẫn ở trong một tâm trạng như thế.

        Đáng buồn nhất là cho đến phút ấy ông ta vẫn "Moa khẳng định Pleiku, mặc dù các dấu hiệu về Buôn Ma Thuột đã khá rõ và các biện pháp đối phó chỉ là xác nhận đại tá Vũ Thế Quang là tư lệnh lãnh thổ nam Tây Nguyên (bao gồm Daklac, Quảng Đức) và hứa sẽ cho Liên đoàn biệt động quân số 21 và một thiết đoàn về cùng với Trung đoàn bộ binh 53 nống ra vòng ngoài ngăn chặn quân giải phóng, giữ an cho Buôn Ma Thuột. Và để cho hết trách nhiệm tư lệnh Quân khu, Phú dặn thêm:

        - Tổng thống nói rằng, nơi nào bị đánh thì gắng mà giữ lấy 3 tháng. Ba tháng thôi, vì hiệp định Ba Lê sẽ họp lại, cố mà giữ mà mặc cả, ông Quang. (Biên bản lời khai của các sĩ quan nguỵ - lưu trữ Học viện quốc phòng)


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2016, 09:34:45 pm

        Thực hiện ý định của Phú, Quang đã đưa liên đoàn biệt động 21 từ Buôn Hồ về Đạt Lý (đông bắc thị xã 10km). Chiều 9 tháng 3, Quang điều tiểu đoàn bảo an 224 từ Bản Đôn về để tăng cường cho phía nam thị xã. Đồng thời, Quang rút 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 53 về để giữ khu vực sở chỉ huy Sư đoàn 23.

        Sáng 10 tháng 3, Sư đoàn 10 đã tổ chức lại lực lượng, tiến công lần thứ 2 vào chi khu Đức Lập. 6 giờ 05phút, pháo của ta trên đồi Nhà Thờ nổ súng bắn vào các lô cốt công sự vòng ngoài quận lỵ. Máy bay địch đến ném bom, bắn phá vào trận địa pháo của ta, nhưng đã bị các chiến sĩ cao xạ Trung đoàn 234 đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải bay vọt lên cao cắt bom bừa bãi, có quả rơi cả vào quận lỵ.

        Đến 7 giờ 30, các Tiểu đoàn 2, 8, 9 bắt đầu mở cuộc tiến công mới. Được hoả lực chi viện đắc lực và có sự hiệp đồng chặt chẽ, các mũi tiến công của ta phát triển khá nhanh, đè bẹp mọi sự kháng cự của địch. Tới 8 giờ30 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ quận lỵ.

        Kết quả Sư đoàn đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch trong đó có cả tên trung tá quận trưởng. Chiều 10 tháng 3 Sư đoàn tiếp tục chiếm căn cứ Đắc Xắc và giải phóng luôn Đắc Song.

        Sau 2 ngày chiến đấu, Sư đoàn 10 đã giải phóng quận lỵ Đức Lập, tiêu diệt toàn bộ quân địch, bắt sống 100 tên, thu 4 khẩu pháo và 20 xe tăng, thiết giáp. Sư đoàn 10 đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Đức Lập, song về thời gian tác chiến đã bị chậm mất 1 ngày so với kế hoạch. Tuy nhiên điều này cũng vẫn nằm trong giới hạn cho phép của kế hoạch.

        Phối hợp với đòn tiến công quân sự, huyện uỷ đã chỉ đạo các đội công tác bám sát phát động quần chúng nổi dậy làm chủ quận lỵ và các xã ấp, xoá bỏ tề nguỵ giành quyền làm chủ. Đến cuối ngày 10 tháng 3, ta đã giải phóng hoàn toàn quận Đức Lập.

        Trong ngày 10 tháng 3, tuy ta chưa chiếm hết các mục tiêu ở Đức Lập, nhưng Bộ Tư lệnh chiến dịch đã kiên quyết điều động một bộ phận lực lượng và phương tiện của Sư đoàn 10 nhanh chóng chuyển về phía đông thị xã Buôn Ma Thuột để sẵn sàng đánh phản đột kích của dự bị quân đoàn địch.

        Tôi nhắc Tham mưu trưởng Quốc Thước:

        - Nắm chắc lại tình hình cơ động của Trung đoàn 66. Đôn đốc Sư đoàn 10 khẩn trương dứt điểm Đắc Xắc ngay.

        Trận đánh của Sư đoàn 10 ở Đức Lập - Đắc Xắc có quan hệ mật thiết đến trận đánh Buôn Ma Thuột và đến tình hình mà tôi vừa nói đến. Phải nhìn rộng ra một chút để thấy rõ vấn đề. Chúng ta có một lực lượng lớn ở Tây Nguyên nhưng trước ngày nổ súng, toàn bộ lực lượng này đã được đưa vào lập thế chiến dịch với các nhiệm vụ: nghi binh sư đoàn 968), chia cắt (Sư đoàn 320, Trung đoàn 95A), đánh thị xã Buôn Ma Thuột (Sư đoàn 316, Trung đoàn 95B, Trung đoàn 271). Khi chiến dịch bắt đầu thì ba sư đoàn và ba Trung đoàn độc lập phải đảm nhiệm một chính diện tiến công 200km và một chiều sâu phát triển 100km (theo dự kiến ban đẩu) ở hướng Nam Tây Nguyên, hướng chủ yếu của chiến dịch; và một Sư đoàn cùng với một Trung đoàn độc lập phải đảm nhiệm một chính diện 300km ở hướng bắc vừa để bảo vệ vùng giải phóng rộng lớn vừa tham gia tiến công phối hợp. Guồng máy đã được sử dụng hết công suất. Vào đúng lúc đó, lực lượng dự bị có trong tay chúng tôi chỉ còn một Trung đoàn (trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn bộ binh 10), nhưng cũng chỉ là trên danh nghĩa vì Trung đoàn này đã phải rút ra một tiểu đoàn đảm nhiệm mũi thọc sâu trong trận Buôn Ma Thuột và một tiểu đoàn nữa làm dự bị cho Sư đoàn 10.

        Một lực lượng dự bị chiến dịch như thế là quá mỏng! Để khắc phục tình trạng này, đã có dự kiến đưa Sư đoàn 10 ngay sau khi giải quyết xong Đức Lập ngày 9 tháng 3,về đứng chân phía đông bắc Buôn Ma Thuột làm dự bị. Nhưng tình huống chiến đấu không suôn sẻ đã khiến Sư đoàn này cho đến sáng hôm sau, ngày 10 tháng 3 mới dứt điểm Đức Lập và hiện đang phát triển vào mục tiêu cuối cùng là ngã ba Đắc Xắc.

        Suốt cả ngày 9 tháng 3, chúng tôi có mặt ở sở chỉ huy theo dõi các động thái của địch và nhất là các hành động của bộ đội ta.

        Một mặt các hành động ấy là cuộc tiến công của Sư đoàn 10 vào Đức Lập, một cuộc tiến công theo kế hoạch sẽ diễn ra nhanh gọn (chúng tôi rất tin khả năng của Sư đoàn này) nhưng đã không được như thế vì vấp phải hoả lực bất ngờ của những xe tăng địch đặt ngầm dưới mặt đất.

        Mặc dù trận đánh ở đó vẫn còn đang tiếp diễn, chúng tôi vẫn quyết định điều lực lượng cao xạ ở hướng này về Buôn Ma Thuột để làm nhiệm vụ phòng không cho trận đánh then chốt ngày mai. Ngày mai, nếu Sư đoàn 10 vẫn chưa giải quyết xong Đức Lập thì đương nhiên máy bay địch cũng sẽ tập trung hết về Buôn Ma Thuột, đó là điều thấy trước được.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 01:19:32 am

        Một mặt các hành động ấy là những bước chuẩn bị cuối cùng của các đơn vị sẽ tiến công thị xã Buôn Ma Thuột. Vào lúc 14 giờ, trực ban tác chiến báo cáo với Bộ Tư lệnh về kết quả chuẩn bị của từng đơn vị.

        - Tiểu đoàn 4 trên hướng thọc sâu phía tây, xong.

        - Trung đoàn 95B trên hướng đông bắc, xong.

        - Trung đoàn 149 trên hướng đông nam, xong.

        - Trung đoàn 148 trên hướng tây bắc, xong.

        - Trung đoàn 174 trên hướng tây nam, xong.

        - Xe tăng, pháo binh, cao xạ, xong.

        - Đặc công, xong.

        - Các đơn vị bảo đảm, xong.

        - Dự bị, xong.

        Sử dụng đặc công trong trận này cũng có những điểm phát triển. Sử dụng đặc công có tính chất bộ binh. Đặc công đánh sân bay để mở cửa cho bộ binh và được trang bị phối thuộc cả A72 (tên lửa phòng không vác vai). Trung đoàn 95B của Sư 325 quân đoàn 2 được tăng cường cho chiến dịch ở hướng chủ yếu tiến công vào Ngã sáu trong thị xã Buôn Ma Thuột.

        Đồng chí trực ban tác chiến vừa báo cáo vừa nhìn tôi từ bên phải như có ý dò hỏi, hay sợ tôi nghe không rõ? Không, tôi vẫn chú ý nghe đồng chí đấy chứ, và tôi biết rằng mọi việc tất nhiên phải như thế, đồng chí hiểu không? Xoay người lại, tôi nói:

        - Đồng chí trực ban, đồng chí cho kiểm tra lại phương tiện thông tin đi các hướng. Nhắc giữ nghiêm chế độ liên lạc theo giờ. Và yêu cầu cơ yếu sẵn sàng mã dịch ngay bức điện gửi cho Sư đoàn 316. Hỏi xem phiên liên lạc cuối cùng với Sư đoàn là mấy giờ?

        Tôi muốn nói phiên liên lạc cuối cùng bằng máy vô tuyến điện 15W trước khi đơn vị này bước vào triển khai chiếm lĩnh.

        Đúng, chúng tôi đã dành cho Sư đoàn mối quan tâm đặc biệt. Đương nhiên vì nó là đơn vị được giao nhiệm vụ đánh trận mở đầu chiến dịch, lại là trận mở đầu có ý nghĩa then chốt. Hơn thế, nó còn những nguyên nhân sâu xa để chúng tôi càng phải quan tâm.

        Sư đoàn 316 là một trong những Sư đoàn được thành lập sớm của quân đội ta. Không còn nghi ngờ là Sư đoàn đã lập được nhiều chiến công vẻ vang qua hai cuộc kháng chiến và hiện nay nằm dưới sự chỉ huy của một Anh hùng quân đội - Đại tá Đàm Văn Nguỵ. Tên tuổi của nó gắn liền với núi rừng Tây Bắc, Việt Bắc và Thượng Lào. Nhưng đây là lần đầu tiên nó đương đầu với một đối tượng khác hẳn trên một chiến trường mới lạ. Đó là điều khiến chúng tôi băn khoăn.

        Phải nhận rằng lúc đầu cũng đã có ý định để Sư đoàn 316 đánh Đức Lập - một mục tiêu ít khó khăn hơn và chuyển Sư đoàn 10, một Sư đoàn thiện chiến trên chiến trường Tây Nguyên đánh trận then chốt Buôn Ma Thuột. Nhưng bởi vì Sư đoàn 316 được bổ sung cho chiến trường hơi muộn trong khi Sư đoàn 10 đã hoàn thành nhiệm vụ trinh sát vị trí Đức Lập (vốn là mục tiêu chủ yếu trong thiết kế ban đầu của chiến dịch) nên sự thay đổi này sẽ khiến ngày mở màn chiến dịch phải lùi sâu hơn nữa. Điều đó không được.

        Chúng tôi hạ quyết tâm để Sư đoàn 316 đánh Buôn Ma Thuột và tự thấy trách nhiệm phải quan tâm đến đơn vị này nhiều hơn và Sư đoàn này cũng do nhiều cán bộ chỉ huy có nhiều kinh nghiệm chiến đấu đánh Mỹ ở chiến trường miền Đông Nam Bộ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu như Sư đoàn trưởng Đàm Văn Nguỵ, Sư phó Nguyễn Hải Bằng.

        Sau khi có phương án tác chiến, tôi và Đại tá Nguyễn Năng cùng với Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền ở Cơ quan đại diện Bộ Tổng tư lệnh đã trực tiếp xuống theo dõi và giao nhiệm vụ hiệp đồng cho Sư đoàn trên sa bàn ở khu huấn luyện Đắc Đam. Với một tinh thần hăng hái và nhạy bén "nghề nghiệp", vượt qua nhiều khó khăn, Sư đoàn đã khiến chúng tôi hoàn toàn tin tưởng. Tuy nhiên, cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn phải dành sự quan tâm theo dõi nhiều nhất đến Sư đoàn này, đặc biệt là Trung đoàn 149.

        Trung đoàn 149 đảm nhiệm hướng luồn sâu tạo yếu tố bất ngờ nhiều nhất đối với địch, Trung đoàn phải hành quân trên một cung đường xa nhất - hai ngày hai đêm - để đến vị trí tập kết cuối cùng. Vả lại nữa, Trung đoàn sẽ do chính Sư đoàn trưởng dẫn đầu tiến vào vị trí triển khai chiếm lĩnh.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 01:21:22 am

        - Báo cáo, phiên điện cuối cùng với đồng chí Đàm Văn Nguỵ là 15g30' - đồng chí trực ban chợt xuất hiện trở lại làm gián đoạn dòng suy tưởng của tôi. Tôi nhìn vào đồng hồ: 14g40'.

        - Được đồng chí ghi bức điện sau đây:

        "Gửi anh Ba Dân (biệt danh Sư đoàn 316 )
        Đêm 9 tháng 3, chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định
        Sáng 10 tháng 3, nổ súng đúng thời gian quy định
        Nắm chắc đơn vị, hiệp đồng chặt chẽ
        Bắt đầu hành quân, báo cáo.
        Triển khai chiếm lĩnh, báo cáo.
        Nổ súng xung phong, báo cáo"
(Điện gửi Sư đoàn 316 ngày 9/3/1975 – lưu trữ Sư đoàn 316)

        Tôi nhắc thêm: "Ký điện tên tôi và Chính uỷ Đặng Vũ Hiệp”.

        Thế trận đã bày xong.

        Sư đoàn 320 ở hướng bắc Buôn Ma Thuột chiếm giữ đường 14 và làm dự bị. Trung đoàn 25 cắt giữ đường 21 từ Nha Trang đi Buôn Ma Thuột.

        Trong thế trận này đặc biệt ta rất linh hoạt trong nghệ thuật sử dụng "chính - kỳ” trên toàn chiến trường Tây Nguyên. "chính binh và kỳ binh” có sự biến hoá ở giai đoạn đầu được xác định như sau: Sư đoàn 968 được sử dụng có tính chất như một mũi chính binh, nhưng thực chất lại là đánh nghi binh để kẻ địch tưởng rằng ta sẽ tiến công Plâyku. Còn Sư đoàn 316, các Trung đoàn 24, 95B và các binh chủng, là chính binh đánh thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột nhưng được sử dụng một cách bí mật mà kẻ địch bị bất ngờ có tính chất như một tập đoàn kỳ binh. Nhưng sau đó khi thế trận đã bắt đầu chuyển hoá thì "chính”, "kỳ" cũng theo nó mà biến hoá theo một cách linh hoạt.

        Có thể nói, chính - kỳ là hướng đánh chính, mũi đánh chính và hướng đánh lừa, hướng đánh bất ngờ, mũi đánh bất ngờ làm cho địch mắc sai lầm để nhanh chóng giành thắng lợi. Khi đánh với một quân địch có hoả lực mạnh và sức cơ động cao, bao giờ cũng phải đánh lừa, đánh bất ngờ. Phải nghi binh lừa địch, tạo ra bất ngờ làm cho địch mắc sai lầm. Vu hồi thọc sâu cũng là làm cho địch bị đánh bất ngờ và bị thua nhanh.

        Nhân đây xin nói thêm một chút về nghệ thuật "chính - kỳ" của ông cha ta như sau:

        Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai(1285), Trần Hưng Đạo đã giải phóng thành Thăng Long một cách nhanh chóng. Thế trận được diễn ra như sau: Trần Quang Khải đã dùng một bộ phận đánh vây hãm Chương Dương để nhử Thoát Hoan ở thành Thăng Long đem đại quân ra cứu Chương Dương. Trên đường từ Thăng Long đến cứu Chương Dương, Thoát Hoan đã bị Trần Quang Khải đánh bại. Trong khi đó, các tướng của ta là Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền lợi dụng sơ hở của thành Thăng Long, đánh chiếm thành một cách bất ngờ, có tính chất như mũi kỳ binh. Khi Thoát Hoan bị đánh thua, định rút chạy vào thành Thăng Long nhưng thành đã bị quân ta chiếm, nên hắn buộc phải tháo chạy qua sông Hồng. Sau này năm 1798 Quang Trung cũng đại thắng quân Thanh bằng cách khi chính binh đánh ở hướng Hạ Hồi, Ngọc Hồi, thì Đặng Tiến Đông (Đô đốc Long) đánh vu hồi vào hướng Đống Đa, bất ngờ đánh thẳng vào Tây Long Cung, đánh bại Tôn Sỹ Nghị. Đây là mũi kỳ binh góp phần quan trọng cho chiến thắng.

        Còn bây giờ là Buôn Ma Thuột, nghệ thuật "chính-kỳ" cũng được áp dụng nhưng với một hoàn cảnh khác và có những nét khác. Hãy chờ đợi xem sao.

        Đến lúc này tất cả đã ra quân, hoặc đã sẵn sàng bước vào trận đánh.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 01:25:11 am

        Vào thời điểm này về phía địch

        Những diễn biến về phía chỉ huy quân nguỵ theo lời kể của một trong số thân cận của tướng Phạm Văn Phú đã cho biết như sau: (Lược thi theo Phạm Huấn - "Điện Biên Phủ 1954, Ban Mê Thuột 1975".(PO. Box 6921. San Jose. CA 95150.1988 )

        Ngày 9 tháng 3 năm 1975, đó là một ngày Chủ Nhật. Bốn ngày liền trước đó, tướng Phú đi thanh sát các mặt trận và những Trung đoàn của Sư đoàn 22 bộ binh, đang hành quân tại Bắc Bình Định và quốc lộ 19, từ Quy Nhơn đến đèo An Khê. Về đến Nha Trang khoảng 9 giờ tối thứ bảy ngày 8 tháng 3. Lẽ ra, tướng Phú dự định ở lại Nha Trang một ngày nghỉ dưỡng sức, và họp với tướng Lê Văn Thân, tư lệnh phó, phụ trách về lãnh thổ, Bộ tham mưu Quân khu ở Nha Trang và Đại tá Lý Bá Phẩm, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng tiểu khu Khánh Hoà. Nhưng hình như có linh tính đặc biệt, sáng ngày 9 tháng 3, ngay khi vừa thức dậy, ông đã quyết định bay lên Buôn Ma Thuột.

        Bộ tham mưu quân đoàn đi theo tướng Phú thu hẹp. Có lẽ ông là một vị tướng duy nhất khi đi thanh sát các Mặt trận, các tiểu khu, đơn vị... chỉ mang theo một người sĩ quan tuỳ viên, là thiếu tá Nguyễn Hoá. Hôm đó, tướng Phú đã làm việc liên miên với Hoá, ra lệnh cho các tư lệnh Mặt trận, các tiểu khu trưởng trên hệ thống điện thoại và siêu tần số, cho đến khi lên xe ra phi trường.

        Khoảng 8 giờ 30 sáng, xe của tướng Phú đã tới bãi đậu VIP bên phi trường dân sự Nha Trang, ông lên Buôn Ma Thuột hôm nay bằng một máy bay C-47 hai động cơ. Đây là chiếc Dakota chỉ huy của đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng Hòa. Vì lãnh thổ quân đoàn 2 rộng lớn, với hai Mặt trận Cao nguyên và Duyên hải, nên cứ đầu mùa mưa, hoặc đúng vào thời điểm Cộng quân tung quân đánh phá đồng loạt trong chiến dịch Đông Xuân hàng năm, đại tướng Viên cho biệt phái chiếc C'47 này lên Pleiku để vị Tư lệnh quân đoàn 2 sử dụng. Chiếc chuyên cơ này có thể dùng làm bộ chỉ huy hành quân trên không của quân đoàn, bay nhiều giờ liên tiếp, và rất an toàn khi gặp mưa bão lớn.

        Tướng Phú lên máy bay, vừa ngồi xuống đã hỏi Thiếu tá Hoá dồn dập:

        - Anh liên lạc được với ông Tường chưa?

        - Thưa, rồi, chuẩn tướng Tường sẽ từ Pleiku bay về Buôn Ma Thuột trước khi thiếu tướng tới.

        Tướng Lê Trung Tường, tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh, hiện là tư lệnh Mặt trận nam Pleiku, đang chỉ huy 2 Trung đoàn 44 và Trung đoàn 45 tại Mặt trận này.

        Tướng Phú:

        - Còn tỉnh trưởng Quảng Đức?

        Thiếu tá Hoá:

        - Đại tá Nghìn, tỉnh trưởng, báo cáo quận Đức Lập đang bị pháo rất nặng, và ông cho biết sẽ cố gắng có mặt tại bộ tư lệnh Sư đoàn 23 Buôn Ma Thuột sáng nay theo lệnh thiếu tướng. Đại tá tư lệnh phó Sư đoàn 23 và đại tá tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột cũng đã sẵn sàng chờ đón thiếu tướng.

        Tướng Phú suy nghĩ giây lát rồi nói với Hoá:

        - Được tốt? Còn một chuyện tôi dặn anh kẻo tôi quên mất. Tới Buôn Ma Thuột gọi ngay lên Pleiku, nói Vinh trình cho tôi biết xem cái "bunker” (hầm chỉ huy), tổng hành dinh quân đoàn thì công binh làm đến đâu rồi?

        - Dạ thưa nhận rõ

        (Vinh là thiếu tá chánh văn phòng của tướng Phú)

        Tướng Phú tới Buôn Ma Thuột lúc 9 giờ 45 sáng ngày 9 tháng 3 năm 1975, đó cũng là thời gian tình hình Quảng Đức vô cùng nguy ngập. Những báo cáo dồn dập từ chiến trường Quảng Đức gọi về trung tâm hành quân Sư đoàn 23 bộ binh cho biết, những trận đánh ác chiến đang diễn ra tại khu vực cuối cùng của chi khu Đức Lập.

        10 giờ, tướng Phú, tướng Tường, các tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột, Quảng Đức bước vào trung tâm hành quân Sư đoàn 23 bộ binh. Ngay khi thiếu tá trung tâm trưởng trung tâm hành quân Sư đoàn vừa trình bày tình hình được mấy câu, Phú đã bốc ống liên hợp của một máy truyền tin ra lệnh:

        - Gọi cho tôi nói chuyện với trung tá Vực, quận trưởng Đức Lập

        - Thưa thiếu tướng, trung tá Nguyễn Cao Vực đã bị thương và hiện không có ở hầm chỉ huy chi khu.

        - Ông ta bị thương nặng hay nhẹ?

        - Một quả đạn súng cối của Việt Cộng rơi trúng hầm chỉ huy, người sĩ quan an ninh bị tử thương, trung tá quận trưởng bị thương ở đầu và tay.

        - Tình trạng ông ta hiện giờ ra sao?

        - Thưa thiếu tướng, trung tá quận trưởng hiện đang ở bên ngoài chỉ huy trung đội pháo binh, điểu khiển bắn trực xạ vào Cộng quân.

        Tướng Phú quay hỏi đại tá tỉnh trưởng Quảng Đức:

        - Ở Đức Lập có mấy khẩu đại bác 105?

        Đại tá Nghìn:

        - Dạ chỉ có 2 khẩu

        - Còn lực lượng thiết giáp, tại Quảng Đức có đơn vị nào tăng phái không?

        - Dạ không! Chi đoàn thiết vận tăng phái cho Quảng Đức trước đây cũng đã rút theo Trung đoàn 53 bộ binh, khi chấm dứt cuộc hành quân, về phòng thủ tại phi trường Phụng Dực Buôn Ma Thuột.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 01:28:05 am

        10 giờ 30 sáng 9 tháng 3 năm 1975, Cộng quân tràn ngập chi khu Đức Lập. Phi cơ quan sát gọi về báo cáo Đức Lập đã thành biển lửa.

        Tướng Phú quay hỏi các tư lệnh Mặt trận

        - Quý vị nghĩ sao về tình hình này? Sau Đức Lập sẽ là Quảng Đức hay Buôn Ma Thuột?

        trong 31 Tháng Ba, 2008, 07:55:03 pm

        Chuẩn tướng tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh:

        - Trình thiếu tướng, với tình hình này theo tôi nghĩ sau khi dứt Đức Lập, địch có thể tấn công Quảng Đức, và cũng có thể tiến thẳng về đánh Buôn Ma Thuột.

        Tướng Phú suy nghĩ giây lát, quay sang phía đại tá Nghìn tỉnh trưởng Quảng Đức:

        - Thôi anh khỏi họp tiếp, bay về đốc thúc chỉ huy các đơn vị chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Nếu Quảng Đức bị nguy ngập, ngoài liên đoàn 24 biệt động quân tăng phái, tôi sẽ cho anh thêm quân. Lệnh tổng thống phải giữ Quảng Đức bằng mọi giá.

        Đại tá Nghìn:

        - Xin tuân lệnh thiếu tướng

        Tướng Phú bắt tay đại tá Nghìn và ra lệnh cho thiếu tá Hoá, sĩ quan tuỳ viên:

        - Chuẩn bị bản đồ các Mặt trận, họp tại văn phòng Tư lệnh Sư đoàn.

        - Dạ

        Rời trung tâm hành quân, tướng Phú bước ngay vào văn phòng tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh. Nét mặt ông thoáng hiện vẻ lo lắng, suy tư. Sau khi nghe đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 bộ binh trình bày tình hình Buôn Ma Thuột, bỗng tướng Phú quay hỏi chuẩn tướng Tường:

        - Anh Tường nghĩ sao về nguồn tin Sư đoàn 10 của địch về Quảng Đức? Mình có thể rút bớt quân từ Pleiku về không?

        Tướng Tường:

        - Trình thiếu tướng, tôi nghĩ rằng có thể một phần 2 của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 Cộng sản Bắc Việt, đã về hoạt động tại Quảng Đức và Buôn Ma Thuột. Nhưng tôi không tin là toàn bộ Sư đoàn 10 đã di chuyển xuống Quảng Đức. Có thể chúng sẽ để lại 1 hay 2 Trung đoàn phối hợp với Sư đoàn 968 Cộng sản ở Lào sang, hoạt động tại Mặt trận nam Pleiku.

        Đại tá Nguyễn Hữu Luật, tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột:

        - Có một nguồn tin tình báo vô cùng quan trọng, tôi muốn được trình bày với thiếu tướng. Cách đây 2 ngày, trung đội thám báo tiểu khu Đắc Lắc phục kích bắt được 2 tù binh Việt Cộng, trong đó có một sĩ quan thuộc toán tiền sát Sư đoàn 320 Cộng sản Bắc Việt. Viên sĩ quan tù binh này tiết lộ, Sư đoàn 320 của địch đã được lệnh sẵn sàng tấn công đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Nếu thiếu tướng cho phép, đại uý Bình trưởng phòng nhì tiểu khu sẽ trình lên thiếu tướng những chi tiết quan trọng thâu thập sau khi thẩm vấn 2 tù binh Việt Cộng.

        Tướng Phú gật đầu:

        - Anh cho gọi anh Đại uý đó tới

        Đại uý Bình, sĩ quan trưởng phòng nhì tiểu khu, đã đợi sẵn ở trước sân Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 từ buổi sáng, ngay khi có lệnh của đại tá Luật, Tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng tiểu khu Đắc Lắc, vào trình diện Tướng Phú. Anh trình bày rất rành mạch về việc trung đội thám báo của Tiểu khu phục kích bắt được hai Việt Cộng, trong đó có một sĩ quan bị thương tại một ấp Thượng, cách Buôn Ma Thuột khoảng 10 cây số về phía đông bắc. Hai Việt Cộng này khai thuộc bộ phận tiền sát của Sư đoàn 320 Cộng Sản Bắc Việt, và Sư đoàn này được lệnh dốc toàn lực lượng từ biên giới Việt-Miên, vùng thung lũng Ia drang, Plâyku xuống đánh chiếm Buôn Ma Thuột.

        Tướng Phú nói với đại uý Bình:

        - Giỏi ? Đại uý về nói, tôi khen ngợi anh em trung đội Thám báo, và đại tá tiểu khu trưởng sẽ thưởng xứng đáng cho anh em. Về người sĩ quan Việt Cộng bị thương, anh nên cho đi nhà thương chữa trị, và đãi ngộ tử tế, để khai thác thêm những tin tức khác.

        Đại uý Bình:

        - Thưa thiếu tướng tôi đã làm những công việc đó?

        Tướng Phú bắt tay đại uý Bình:

        - Tốt bây giờ anh có thể trở về làm việc

        Sau đó, tướng Phú quay sang đại tá Luật:

        - Tại sao ông tham mưu trưởng quân đoàn không trình tôi sự việc này? Anh có báo cáo lên quân đoàn không?

        Đại tá Luật;

        - Tôi có trình lên Bộ Tư lệnh Sư đoàn.

        Lặng lẽ tướng Phú bước lại gần tấm bản đồ hành quân Mặt trận Buôn Ma Thuột, mà thiếu tá Hoá vừa dựng trên một cái giá. Những chấm đỏ chi chít phía Tây bắc và đông bắc Buôn Ma Thuột, nghi ngờ có những Trung đoàn chính quy Cộng sản Bắc Việt đang hiện diện, làm ông suy nghĩ, lo ngại. Nếu nguồn tin mà một sĩ quan tù binh Việt Cộng mới tiết lộ là đúng, toàn bộ Sư đoàn 320 của địch đã từ Pleiku kéo xuống, thì số phận Buôn Ma Thuột thật nguy ngập. Cả hai mặt trận Quảng Đức và Buôn Ma Thuột, nếu cùng nổ một lượt, chắc chắn hai đơn vị chủ lực quân lực Việt Nam cộng hoà, gồm Trung đoàn 53 bộ binh tại Buôn Ma Thuột, và liên đoàn 24 biệt động quân ở Quảng Đức, và những tiểu đoàn địa phương quân của 2 tỉnh này, không thể nào chống đỡ được với những Sư đoàn quân chính quy 320, 10 Cộng sản Bắc Việt, với chiến xa và đại pháo yểm trợ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2016, 01:30:34 am

        Tướng Phú cắn chặt môi lại. Một lát sau, khi đã có quyết định, ông quay lại ra lệnh cho các cấp chỉ huy hiện diện:

        - Chuẩn tướng Tường lát nữa bay lên Pleiku sắp xếp lại các đơn vị phòng thủ Mặt trận trên đó, sẵn sàng để nếu tình hình ở đây, hay Quảng Đức nặng, tôi sẽ bốc đi tăng cường!

        Chuẩn tướng Tường:

        - Dạ, xin tuân lệnh thiếu tướng

        Phú hỏi:

        - Anh sẽ cho Trung đoàn nào về? nếu cần phải tăng cường cho Buôn Ma Thuột?

        Chuẩn tướng Tường:

        - Trung đoàn 45, vì hầu hết gia đình anh em binh sĩ đều ở đây

        - "Bon" như vậy tốt? ....

        Sau đó, tướng Phú quay sang phía đại tá Quang và Luật:

        - Tình hình Buôn Ma Thuột sẽ rất nặng, nếu cả hai Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 của địch cùng kéo về mở đồng loạt hai Mặt trận lớn một lúc. Do đó, hai anh phải ra lệnh cấm trại 100% ngay lập tức, báo động các đơn vị chuẩn bị tác chiến. Cho mở những cuộc hành quân xa để khám phá, dò xét những hoạt động của Việt Cộng. Thiết lập những nút chặn trên những ngả đường tiến về thị xã để phòng đặc công Việt Cộng len lỏi, xâm nhập. Kho xăng, kho đạn phải phân tán, đề phòng bị nổ, bị phá hoại.

        Ngừng lại giây lát, tướng Phú nói tiếp:

        - Để tạo sự tin tưởng cho các đơn vị phòng thủ tại đây, tôi sẽ tăng cường cho hai anh 1 liên đoàn biệt động quân.

        Tướng Phú ra lệnh cho thiếu tá Hoá, sĩ quan tuỳ viên:

        - Gọi đại tá Tất ở Kon Tum cho tôi nói chuyện.

        - Dạ

        Chừng nửa phút sau, thiếu tá Hoá trình tướng Phú:

        - Thưa thiếu tướng, đại tá tư lệnh Mặt trận KonTum hiện đang chờ đợi lệnh thiếu tướng.

        Tướng Phú cầm lấy chiếc ống liên hợp máy điện thoại từ tay Hoá:

        - Anh Tất, tình hình ở đây hiện rất nặng. Tôi muốn anh chuẩn bị gấp 1 liên đoàn với 100% quân số, gởi xuống tăng cường cho Mặt trận dưới này.

        - ...

        Tôi không cần biết. Trong hai giờ nữa phải sẵn sàng di chuyển.

        - ...

        - Địa điểm sẽ được thông báo sau?

        Tướng Phú cúp máy, ông quay lại sang Hoá:

        - Gọi chuẩn tướng Sang không quân

        Trong khi chờ đợi thiếu tá Hoá liên lạc với chuẩn tướng Sang, tư lệnh Sư đoàn 6 không quân ở Pleiku, bỗng tướng Phú hỏi đại tá Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 bộ binh:

        - Đạn đại bác 155 và 105 của anh còn đủ xài không

        - Dạ đủ.

        Tướng Phú:

        - Tôi muốn anh tự đi kiểm soát các kho xăng, kho đạn và thanh sát các đơn vị pháo binh, ra lệnh cho họ chuẩn bị sẵn một số toạ độ để có thể tác xạ, phản pháo kịp thời khi bị địch tấn công.

        Đại tá Quang:

        - Dạ, tôi nhận rõ lệnh thiếu tướng?

        Tướng Phú nhìn vào đồng hồ đeo tay và quay sang Hoá gắt:

        - Tại sao lâu quá vậy? Gần 10 phút rồi, vẫn chưa liên lạc được với ông Sang?

        Thiếu tá Hoá:

        - Thưa thiếu tướng, sĩ quan trực Sư đoàn 6 không quân cho biết đã gọi về tư thất của chuẩn tướng Sang, và liên lạc khắp nơi cũng không biết hiện chuẩn tướng Sang ở đâu

        - Hỏi xem ông ta có đi Sài Gòn hay Nha Trang không?

        - Dạ không, sĩ quan trực nói buổi sáng chuẩn tướng Sang còn tới văn phòng làm việc.

        - Thế ông ta đi đâu?

        Một lúc thật lâu sau, Hoá mới trình lại với tướng Phú:

        - Thưa thiếu tướng đã có chuẩn tướng tư lệnh Sư đoàn 6 không quân ở đầu máy.

        Tướng Phú:

        - Kiếm được ông ấy ở đâu vậy?

        Thiếu tá Hoá:

        - Sân Tennis... ngoài phố

        Tướng Phú lắc đầu, quay sang phía đại tá Quang trút cơn giận dữ:

        - "Mẹc" (merde) bố láo, bố láo? Tình hình này mà vẫn còn Tennis phây phây. Tôi ra lệnh cho anh phải bắt nhốt mấy ông bác sĩ, sĩ quan hậu cứ mặc đồ trắng tôi thấy đang đánh banh trước dinh tỉnh trưởng. Bắt mang súng đi phục kích hết.

        Thiếu tá Hoá đưa ống liên hợp máy điện thoại cho tướng Phú. Anh thật tế nhị, tay vẫn bịt chặt ống nói. Tướng Phú chỉ thị cho chuẩn tướng Sang tư lệnh Sư đoàn 6 không quân:

        - Anh cho tập trung trực thăng lên Kon Tum bốc 1 Liên đoàn biệt động quân tăng cường cho Mặt trận Buôn Ma Thuột. Phải thực hiện trong ngày hôm nay, (9-3-1975).

        Cái lệnh của Tướng Phú cho tư lệnh Sư đoàn 6 không quân thật ngắn gọn. Sau đó, ông chỉ trên bản đồ và nói với các cấp chỉ huy hiện diện:

        - Một liên đoàn biệt động quân từ Kon Tum, nội trong chiều nay sẽ được đổ xuống Buôn Hồ (cách Buôn Ma Thuột 30 cây số về phía đông bắc). Từ đó, có thể tạm ứng phó với tình hình hiện nay, tiếp cứu cấp thời cho nơi nào bị nguy ngập.

        Khoảng 4 giờ chiều, Chuẩn tướng Tường bay lên Pleiku trước, tướng Phú vẫn tiếp tục ở lại Buôn Ma Thuột thảo luận, ban bố những chỉ thị cần thiết cho đại tá Quang và đại tá Luật, ông nhấn mạnh tuỳ theo tình hình có thể cho phá cầu 14, giữa đường Quảng Đức về Buôn Ma Thuột, để làm chậm sức tiến của chiến xa Bắc Việt.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:36:33 am

        Thời gian này, để cho có sự thống nhất chỉ huy, tướng Phú cũng đã cân nhắc và thật khó khăn, khi chỉ định đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 bộ binh làm tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột.

        Lúc từ giã đại tá Vũ Thế Quang ở phi trường Phụng Dực, trước khi lên máy bay rời Buôn Ma Thuột, tướng Phú nói:

        - Ráng lên, nghe Quang, đừng để hụt lên tướng kỳ này. Mình nhảy dù mà

        Đại tá Quang đứng nghiêm chào tướng Phú, và dõng dạc nói:

        - Thiếu tướng yên tâm, tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được. Và tôi sẽ chết ở đây, trước khi Buôn Ma Thuột mất?

        6 giờ chiều ngày 9 tháng 3 năm 1975 rời Buôn Ma Thuột, tướng Phú ra lệnh bay thẳng lên Pleiku, thay vì về Nha Trang như đã dự định. Từ phi trường Pleiku, ông cũng đã vào thằng Bộ Tư lệnh quân đoàn, ở và làm việc trong chiếc "bunker" trước trung tâm hành quân quân đoàn còn đang làm dở dang. Lệnh cấm trại 100% được ban hành.

        Đêm 9 tháng 3 trong chiếc hầm chỉ huy đó, không ngờ cũng là một đêm đặc biệt trong đời tướng Phú; ông đã được hưởng cái thú vui theo sở thích lần cuối cùng, đó là xoa một tẩy mạt chược để giải trí.

        Khoảng 11 giờ 30 đêm, trước khi ngồi xuống bàn mạt chược, đại tá Lê Khắc Lý đã trình với tướng Phú những sự việc quan trọng đã xảy ra tại những Mặt trận chính trong ngày 9 tháng 3 năm 1975, do trung tâm hành quân quân đoàn vừa đúc kết. Giờ phút đó, Cộng quân vẫn nã pháo vào vị trí của một số đơn vị tại Mặt trận nam Pleiku. Trên hai Mặt trận Bắc Bình Định và Quốc lộ 19, Quy Nhơn, An Khê, các đơn vị Sư đoàn 22 bộ binh đều giao tranh lẻ tẻ suốt ngày với Việt Cộng. Hoàn toàn mất liên lạc với quận trưởng Đức Lập. Quảng Đức và nhóm tàn quân rút khỏi chi khu buổi trưa. Đặc biệt 3 tiểu đoàn chiến đấu của 2 liên đoàn 21 biệt động quân trực thăng vận xuống Buôn Hồ đã hoàn tất.

        Đại tá Lý nhấn mạnh thêm:

        - Tuân theo chỉ thị của thiếu tướng, "em" đã chuyển lệnh cho đại tá Quang tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột bắt liên đoàn 21 biệt động quân phải bung ra hoạt động ngay.

        Tướng Phú hơi nhíu mày khó chịu về cách trình bày của đại tá Lý, nhưng rồi lại cười:

        - Tốt, thôi bây giờ mình làm một tẩy mạt chược văn nghệ cái đã!

        Canh mạt chược giải trí đêm 9 tháng 3 năm 1975 ngắn ngủi đúng hai tiếng đồng hồ. Tướng Phú bị thua cả ba người. Khi đứng dậy ông chép miệng than:

        - Chà. hôm nay tôi xui quá, nên chỉ một mình tôi thua?

        Đại tá Lê Khắc Lý an ủi:

        - Bài của thiếu tướng thật đen. Ngồi tay trên Thiếu Tướng "em" không dám đánh lành mà Thiếu Tướng "xơi" không được

        Tướng Phú cười:

        Ồ, ăn thua gì. Mình chơi giải trí cho vui. Xui lần này, nhưng lần sau hên, tôi được lại các ông mấy hồi?

        Và sau đó trong giấc ngủ, ông không thể ngờ rằng số phận của ông cùng với số phận của cả một chế độ mà cuộc đời ông theo đuổi đang được định đoạt ở Nam Tây Nguyên-Buôn Ma Thuột.

        Thị xã Buôn Ma Thuột có 12 vạn dân, là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá của tỉnh Đắc Lăk, nơi tập trung bọn đầu sỏ phản động trong vùng và là hậu cứ của Sư đoàn 23 ngụy. Lực lượng quân sự của địch có 1 Trung đoàn bộ binh, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh và các căn cứ, sở chỉ huy Sư đoàn 23, hậu cứ Trung đoàn 45, Trung đoàn 8 thiết giáp, Trung đoàn 232 pháo binh. Ngoài ra còn có lực lượng cảnh sát, mật vụ, bảo an, với tổng số quân lên tới 8.000 tên.

        Các khu vực liên quan trực tiếp bảo vệ thị xã theo đường 21 về phía đông 5 km có căn cứ B50 (Hoà Bình, trại lực lượng đặc biệt của Mỹ giao cho ngụy sử dụng làm hậu cứ cho Trung đoàn 53); về phía bắc, tây và nam có các cứ điểm chốt trên điểm cao như Chư Duê, Chư Bua, 595, 491. ..

        Căn cứ vào hình thái bố trí lực lượng phòng ngự của địch, tính chất các mục tiêu và đặc điểm địa hình, Bộ Tư lệnh chiến dịch đề ra cách đánh như sau: Đánh bên ngoài thị xã kết hợp với đánh trực tiếp vào thị xã, lấy đánh trực tiếp vào thị xã làm chủ yếu. Kết hợp với đặc công luồn sâu chia cắt và cô lập địch từng khu vực; dùng đột phá kết hợp với thọc sâu làm chủ yếu để tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 12:37:47 am

        5 mục tiêu quan trọng trong thị xã được xác định là: sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắc, khu pháo binh - thiết giáp, khu kho Mai Hắc Đế và sân bay thị xã. Mọi công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công của ta vào thị xã Buôn Ma Thuột đã sẵn sàng.

        Trong lúc này, trên hướng bắc Tây Nguyên, Sư đoàn 968 vẫn tiếp tục bao vây quận lỵ Thanh An, áp sát vào tây plâyku, khiến Trung đoàn 45 ngụy đang trinh sát vũ trang ở Bắc Buôn Ma Thuột phải kéo về Tây Nam Plâyku phải đối phó rất chật vật. Trên đường số 19, Trung đoàn 95A liên tiếp đánh bại các đợt phản kích của địch, ghìm chân liên đoàn biệt động quân số 4, giữ vững đoạn đường đã chiếm. Trên khu vực đèo Bình Khê, Sư đoàn 3 mở rộng đoạn đã chiếm trên đường số 19 và ghìm chân Sư đoàn 22 của địch lại đó.

        Ở Kon Tum và Plâyku, các đơn vị của địch vẫn giữ nguyên vị trí cũ, riêng Liên đoàn Biệt động quân số 7 đã được lệnh về Sài Gòn.

        Mặc dù Thuần Mẫn đã bị mất, Đức Lập đang bị tiến công dồn dập, nhưng đến chiều 9 tháng 3 địch vẫn chưa đoán được ý định tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột của ta. Tuy vậy địch cũng đã tăng cường các chuyến bay trinh sát chung quanh thị xã và dọc theo sông Sê-rê-pốc nhiều hơn trước.

        Về phía ta, các lực lượng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị và sẵn sàng cơ động về hướng thị xã. Khó khăn còn lại là đường dây thông tin giữa bộ chỉ huy cơ bản và sở chỉ huy bổ trợ bắc qua sông Sê-rê-pốc chưa nối lại được (vì sợ lộ bí mật nên chưa nối trước được). Một số đường cơ động từ vị trí tập kết lên tuyến xuất phát tiến công chưa làm xong hoàn chỉnh. Về so sánh lực lượng hai bên, ta có ưu thế hơn địch cả về bộ binh và binh chủng xe tăng, pháo binh.

        Về lực lượng dự bị của chiến dịch, lúc này Sư đoàn 320 đã có thể sẵn sàng cơ động, riêng Sư đoàn 10 trừ một bộ phận phải tiếp tục đánh địch ở Đức Lập, còn phần lớn Sư đoàn đã có thể lần lượt cơ động về hướng đông thị xã.

        Sau khi kiểm tra lần cuối tình hình các mặt, đặc biệt chú ý về việc giao nhiệm vụ: Sư đoàn 316 tập trung lực lượng đánh trên ba hướng bắc, nam, và đông, lấy hướng bắc làm hướng chủ yếu. Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 10 tổ chức và chỉ huy mũi thọc sâu binh chủng hợp thành từ hướng tây đánh thẳng vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, đồng thời chỉ huy Trung đoàn 95B nhanh chóng đánh chiếm Ngã Sáu, phát triển sang tiểu khu Đắc Lắc và phối hợp với mũi thọc sâu đánh vào sở chỉ huy Sư đoàn 23; Trung đoàn đặc công 198 có nhiệm vụ luồn sâu lót sẵn, được ưu tiên nổ súng trước, bất ngờ đánh chiếm sân bay thị xã, khu kho Mai Hắc Đế và sân bay Hoà Bình.

        Chiều 9 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: "Tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột". Và các đồng chí lãnh đạo của địa phương cũng nhận được thông báo về quyết tâm này.

        Khoảng 16 giờ ngày 9 tháng 3, bộ đội tiến công Buôn Ma Thuột bắt đầu rời khu vực tập kết để chuyển lên tiến công, khoảng cách vận động của các đơn vị không đồng đều, đơn vị xa khoảng 25km, còn đơn vị gần nhất cũng phải 10km. Khó khăn nhất là các đơn vị vượt qua sông Sêpêrốc, nhất là bộ đội pháo binh, phòng không cơ giới và bộ đội xe tăng.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tổ chức chỉ huy và điều hành chặt chẽ suốt quá trình cơ động và triển khai của bộ đội. Cả mười hai Trung đoàn bộ binh và binh chủng cùng lúc vận động và triển khai trên 5 hướng tiến công trong một giai đoạn rất phức tạp của quá trình chuyển sang tiến công. Để đảm bảo bí mật, từ 2 giờ sáng ta đã cho các đội đặc công và pháo phản lực mang vác đánh trước để thu hút sự chú ý của địch vào đó, đánh lừa chúng và che giấu hành động của ta và bảo đảm cho quân của ta triển khai tiến công.

        Đêm nay mồng 9 tháng 3, trên bầu trời Buôn Ma Thuột đầy sao. Ngoài vài loạt súng nổ vu vơ, thị xã vẫn dường như yên tĩnh như mọi đêm. Nhưng với chúng tôi, nó là một đêm dài đáng nhớ, vì hàng vạn anh em cán bộ, chiến sĩ chúng tôi hầu như không ngủ để chuẩn bị vào trận đánh quyết định. Trong sở chỉ huy chiến dịch, mọi người nóng lòng chờ đường dây thông tin bắc qua sông Sê-rê-pốc nối với sở chỉ huy phía trước ở bắc thị xã, để nắm lại tình hình cánh quân phía bắc. Hai mũi đặc công luồn vào thị xã và đặc biệt là Trung đoàn 198 phải vòng sang phía đông để đánh sân bay Hoà Bình vẫn chưa liên lạc được. Trận địa pháo DKB ở phía bắc thị xã đã sẵn sàng chưa. Trong khi đó dốc nam ngầm Kơ Mua vẫn còn chờ súng nổ mới mở được. Các bến phà trên sông Sê-rê-pôc đang chờ tiếng súng mới khai thông.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 05:55:33 am

        Không khí làm việc trong sở chỉ huy diễn ra hết sức căng thẳng và sôi động. Các máy điện thoại réo liên hồi, mỗi người mỗi máy liên tục nhận tin, rồi truyền lệnh tới các đầu mối. Các mũi tên trên bản đồ tác chiến nhích dần về hướng thị xã Buôn Ma Thuột theo sự chuyển động của các mũi tiến quân. Chiếc kim đồng hồ đã nhích qua con số 12 và tiến dần sang con số 1.

        Việc giữ bí mật để tiến công Buôn Ma Thuột một cách nhịp nhàng theo đúng kế hoạch, đúng thời gian, địa điểm, đúng hướng, đúng mũi, đúng mục tiêu của một lực lượng lớn các binh đoàn binh chủng hợp thành gồm bộ binh, đặc công, công binh, thông tin, pháo binh, xe tăng, vận tải và các đơn vị hậu cần, v..v...là một việc rất phức tạp. Muốn vậy, yêu cầu về tổ chức và chỉ huy phải rất chặt chẽ, yêu cầu về tinh thần trách nhiệm và kỷ luật của từng đơn vị và cá nhân phải rất cao. Nếu không bộ đội không thể hiệp đồng ăn khớp, nhịp nhàng được, kẻ địch sẽ phát hiện sớm và xử trí, đối phó, làm cho ta giảm mất chủ động, bất ngờ. .

        Quân ta tập kết cách thị xã Buôn Ma Thuột khoảng từ 15-20 km. Xe tăng ở cách xa 25-35 km, có bộ phận ở xa tới 40 km. Ở cự ly này, bắt đầu từ buổi chiều và trong đêm. Riêng các mũi tiến quân của bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ và hậu cần phải vượt qua sông Sê-rê-pốc ở phía tây và tây- nam gặp nhiều khó khăn, phức tạp hơn do phải vượt sông và đi xa hơn. Nhưng cuối cùng, do tổ chức hiệp đồng và bảo đảm tốt nên nhìn chung, các binh đội phân đội được vận động và triển khai đúng theo kế hoạch đã đề ra.

        Ngày 10 tháng 3 đã bắt đầu.

        Đúng 2 giờ (có chênh lệch từ 5-10 phút) khi đặc công và pháo binh của ta bắt đầu nổ súng vào giữa lòng thị xã, thì xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, của ta bắt đầu vượt sông Sê-rê-pốc, cùng các đơn vị, các binh chủng trên các hướng, các mũi theo thứ tự tiến vào vị trí triển khai chiến đấu.

        Đúng 2 giờ 03 phút ngày 10 tháng 3 các đội 1, 9, 18 Trung đoàn 198 Đặc công đã nổ súng tiến công sân bay thị xã. 3 giờ 30 đơn vị đã làm chủ phần lớn sân bay. Nhưng ở góc đông bắc sân bay, 1 đại đội biệt kích của địch vẫn còn bám công sự chống trả.

        2 giờ 10, Trung đoàn 198 đặc công tiến công và làm chủ sân bay Hoà Bình và đánh vào căn cứ Trung đoàn 53. Quân địch trong căn cứ đã tổ chức phản kích quyết liệt, đánh bật ta ra ngoài.

        2 giờ 16, đội 2 Trung đoàn 198 Đặc công đánh chiếm và làm chủ khu kho Mai Hắc Đế.

        Phối hợp với bộ đội đặc công, 2 giờ 10 các trận địa tên lửa H12 và DKB bắt đầu bắn phá hoại căn cứ Sư đoàn bộ 23 và kéo dài từng đợt đến 6 giờ 30 sáng.

        Tiếng bộc phá của đặc công và tiếng nổ của đầu đạn tên lửa làm rung chuyển Buôn Ma Thuột. Đèn trong thị xã vụt tắt. Nhiều đám cháy trong thị xã bùng lên.

        Sau một lúc bàng hoàng, Vũ Thế Quang đã nhận định tình hình: "Cộng sản chỉ dùng pháo và đặc công đánh thị xã, đến sáng họ sẽ rút”. Và Quang đã ra lệnh cho các đơn vị phải chống cự đến cùng.

        Lúc này ở Plâyku, Phạm Văn Phú cũng đã được đánh thức dậy với cái tin sét đánh: "Buôn Ma Thuột đã bị tiến công”.

        Về phía ta, lợi dụng tiếng nổ trong thị xã, các đơn vị xe tăng, pháo cơ giới, pháo cao xạ, đã nhanh chóng tiến lên chiếm lĩnh tuyến tiến công.

        Theo lệnh của Bộ, tiếng súng tiến công vào Buôn Ma Thuột là hiệu lệnh hiệp đồng về giờ "G" và ngày N của toàn miền Nam. Do vậy, đêm nay cùng với Buôn Ma Thuột, các Mặt trận khác cũng đã tiến công vào nhiều mục tiêu khác của địch khiến cho quân địch cùng bị động lúng túng.

        Khi đặc công và pháo binh ta nổ súng đè đầu quân địch xuống và bắt chúng phải đối phó một cách bối rối, thì xe tăng và các binh chủng cơ giới của quân ta bật đèn sáng trong đêm, mở hết tốc lực chạy trên đường quân sự làm gấp và dũng mãnh tiến thẳng, tiến mạnh về các mục tiêu chiến đấu đã được xác định ở vị trí xuất phát tiến công.

        Trời dần hửng sáng. Những làn sương mù vẫn còn bao trùm lên thị xã. Các trận địa pháo và xe cơ giới đã sẵn sàng, nhưng các đài quan sát chưa nhận rõ mục tiêu nên phải tạm hoãn giờ pháo bắn chuẩn bị lại.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 05:58:08 am

        Đúng 5g30. Cùng lúc với bộ binh và xe tăng chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công. Một bất ngờ không phải không đáng kể là lúc đầu trời mù, chúng ta đã không nhìn thấy các mục tiêu để xác định ngay kết quả xạ kích một cách chính xác. Nhưng rồi tầng mù cũng xua nhanh và trời sáng rõ dần.

        Trận pháo bắn chuẩn bị thực sự bắt đầu từ 7g00. Tiếng nổ đầu nòng lẫn với tiếng nổ của đạn phá, rồi tất cả đập vào vách núi từ bốn hướng đã tạo nên cả một biển triều không dứt những âm hưởng đặc trưng của chiến tranh. Từ sở chỉ huy chiến dịch cách Buôn Ma Thuột 9km đường chim bay có thể nghe rõ cả tiếng nổ hỗn độn của các kho đạn địch bị cháy và tiếng phản pháo yếu ớt của chúng.

        Tôi thấy gì lúc đó? Phải, chưa bao giờ trong hơn ba mươi năm cầm súng - cho đến lúc ấy - tôi đã tham gia một trận đánh mà trong đó lực lượng pháo binh của chúng ta lại hùng hậu và áp đảo như vậy, áp đảo? Đúng thế, tỷ lệ so sánh là gần 5 trên 1 trong trận mở đầu. Nhưng số lượng không nhất thiết là yếu tố quyết định. Ở Điện Biên Phủ, chúng ta chỉ có 24 khẩu pháo mà vẫn giành được ưu thế hoả lực khiến tư lệnh pháo binh Pi-rốt lúc đó phải tìm đường tự vẫn để biểu thị sự bất lực một cách "khảng khái" nhất. Vậy thì vấn đề quyết định bao giờ cũng là ở cách sử dụng.

        Trận pháo bắn chuẩn bị kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ đã làm tê liệt quan trọng sức đề kháng của địch. Chưa bao giờ chúng ta có dồi dào đạn pháo đến như vậy, chúng ta có dồi dào đạn pháo không chỉ do sự chi viện của trên mà còn do chúng tôi đã sử dụng tiết kiệm trong những năm 1973, 1974. Hầu hết đạn pháo sử dụng trong thời kỳ đó là cỡ 105mm và 155mm lấy được trong các kho của địch hồi năm 1972 và cả những năm tiếp theo, mà các chiến sĩ pháo binh Tây Nguyên thường gọi đùa là đạn "lương khô".

        Khi các cỡ pháo chuyển sang bắn chi viện, từ các hướng, bộ binh và xe tăng ta dũng mãnh tiến lên xung phong đánh chiếm các mục tiêu đã được hiệp đồng.

        Lúc này mà Vũ Thế Quang còn đang ngủ ở nhà riêng. Y thức dậy gọi hỏi khắp nơi rồi tự lái xe đến trung tâm chỉ huy. Tin đầu tiên Võ Ân báo là đơn vị của hắn đang bị đánh mạnh, bộ binh của đối phương đã tràn vào một phần căn cứ B50. Tiếp đó đài quan sát cũng báo về bộ binh, xe tăng đối phương áp sát khu Mai Hắc Đế, sân bay thị xã và nhiều nơi rìa thị xã. Được tin ấy, Quang hốt hoảng, bối rối ra lệnh cho Nguyễn Trọng Luật đưa quân địa phương ra chặn giữ các ngả đường vào thị xã, điều 1 đại đội và 4 xe M113 ra chốt ở Ngã Sáu.

        Quang còn nhắc sĩ quan điều không tập trung hướng dẫn cho máy bay oanh tạc ngăn chặn đối phương và yểm trợ cho các mũi phản kích. Quang điện xin Lê Trung Tường chi viện thì Tường cho biết, bộ chỉ huy còn đang tập trung đối phó ở Kon Tum và Plâyku, ý của tư lệnh nhắc Quang ráng giữ thị xã trong vài ngày là tình hình sẽ ổn, Việt Cộng không đủ sức kéo dài cuộc chiến.

        Đến 7giờ 15 phút, sương mù tan dần, các mục tiêu đã hiện lên rõ ràng. Hai cụm pháo binh của hai Trung đoàn chiến dịch là Trung đoàn pháo binh 40 và 675 trút bão lửa liên tiếp trong 60 phút xuống ba mục tiêu chính là sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắk và khu pháo binh, thiết giáp.

        Trên không trung, máy bay địch xuất hiện và đánh vào các trận địa pháo của ta. Chúng đã bị hai Trung đoàn cao xạ 234 và 232 nổ súng đánh trả quyết liệt.

        Trong khi đó các cụm pháo chiến dịch, các cụm pháo của Sư đoàn tiến hành hoả lực bắn vào căn cứ sở chỉ huy Sư đoàn 23, tiểu khu, khu pháo binh, thiết giáp. Ngay loạt đạn đầu, ta đã bắn trúng sở chỉ huy tiểu khu. Đại tá Nguyễn Trọng Luật phải tháo chạy về sở chỉ huy của Vũ Thế Quang. Lợi dụng kết quả hoả lực sát thương địch, bộ binh lên chiếm lĩnh tuyến chuyển sang xung phong.

        Trên hướng đông bắc thị xã

        7giờ 00 ngày 10 tháng 3, lợi dụng đòn đánh của đặc công chiếm sân bay thị xã, Trung đoàn bộ binh 95B được bộ đội đặc công bảo đảm và một đồng chí trong đội công tác dẫn đường thực hành mở cửa đã đưa Tiểu đoàn 5 tiến vào đánh chiếm Ngã Sáu. Ở hướng đông bắc này do Trung đoàn 95B đảm nhiệm, tình hình có khác một chút. Cũng xin nói thêm rằng, đây là đơn vị được tăng cường cuối cùng theo yêu cầu của chúng tôi, một đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong trận đánh thị xã Quảng Trị năm 1972, phía địch rất để ý đến Trung đoàn này, đến chiến trường mới được 20 ngày nhưng lại phải phát triển trên hướng chủ yếu của trận mở đầu then chốt. Trung đoàn không gặp nhiều khó khăn khi đột phá, đánh chiếm mục tiêu đầu khá nhanh nhưng phải trụ lại trong nhiều giờ để đánh bại các đợt phản kích địch.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2016, 06:02:07 am

        Địch đã chống trả quyết liệt. Máy bay địch ném bom ngăn chặn bộ đội tiến công. Bộ binh địch được xe tăng chi viện đã phản kích đẩy lùi Tiểu đoàn 5 ra khỏi Ngã Sáu. Trung đoàn 95B đưa tiếp Tiểu đoàn 4 có tăng cường 4 xe tăng bước vào chiến đấu. Cuộc tranh chấp ở Ngã Sáu diễn ra gay go, ta bắn cháy xe tăng của địch, bộ binh địch rút chạy. Tiểu đoàn 4 đã chiếm và làm chủ Ngã Sáu.

        Tiếp đó, Trung đoàn 95B tiến theo đường 14 liên tục phát triển tiến công đánh chiếm từng góc phố, căn nhà. Đến 15 giờ 30 Trung đoàn 95B ngoan cường tiến đến mục tiêu quan trọng đã được xác định là cơ quan tiểu khu quân sự Đắc Lắc. Và dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, một xe tăng của ta đã bị địch bắn cháy ngay trước cổng tiểu khu, nhưng ngay sau đó quân ta ào ạt xung phong và đánh chiếm được khu vực này.

        Đến 17 giờ 00 theo yêu cầu của đơn vị đặc công. Trung đoàn 95B đã sử dụng 3 xe tăng quay lại tiêu diệt đại đội biệt kích còn lại ở sân bay thị xã.

        (Về sau này, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, Trung đoàn 95B là một mũi thọc sâu đánh địch ở ngã ba Dầu Giây, đánh cao điểm 396 góp phần làm tan rã quân địch ở Xuân Lộc).

        Trên hướng tây bắc thị xã, Trung đoàn 148 tiến công từ hướng tây bắc đã phải đột phá qua cả một trung tâm bố phòng của căn cứ Trung đoàn thiết giáp và trận địa pháo binh địch. Bọn chúng tuy bị bất ngờ nhưng đã nhanh chóng củng cố lại trận địa phòng ngự có sẵn. Bộ đội ta gặp nhiều tổn thất nhưng vẫn anh dũng tiến lên.

        7 giờ 00, Trung đoàn 148 đã chiếm xong cao điểm Chư Esua, tiêu diệt bộ phận bảo an ở đó. Theo kế hoạch thì cao điểm này được đánh chiếm vào lúc 2 giờ 00, nhưng vì bộ đội đi lạc, nên gần sáng mới đánh chiếm được.

        Trung đoàn 148 có nhiệm vụ đánh chiếm khu vực pháo binh, thiết giáp. Nhưng do đưa pháo bắn thẳng vào chậm, nên đến 10 giờ mới bắt đầu đột phá trận địa địch. Quân địch đã kịp tổ chức đối phó, ngăn chặn bộ phận mở cửa. Đội mở cửa bị thương vong, cửa mở không sạch, đội hình bộ đội xung phong bị ùn lại trước của mở. Trước tình hình đó, đồng chí đội trưởng bộc phá đã anh dũng ôm bộc phá vượt qua làn đạn địch xông lên mở thông cửa mở, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng xung phong đánh chiếm trận địa địch.

        Đến 13 giờ 30, Trung đoàn 148 đã chiếm và làm chủ khu pháo binh, khu thiết giáp và hậu cứ Trung đoàn 45 ngụy. Tiếp đó, Trung đoàn đã phát triển tiến công thao trường Phan Bội Châu, tiêu diệt một bộ phận địch ở chùa Bồ Đề và tiến đến Ngã Sáu bắt liên lạc với Trung đoàn 95B.

        Trên hướng tây nam thị xã

        Các chiến sĩ tiến giữa một liên hợp kho tàng dài gần 2km được mệnh danh là Mai Hắc Đế mà địch vốn đã triển khai các hình thức bảo vệ chặt chẽ. Bốt canh dày chi chít là những điểm tựa khống chế cả một dải hành lang phát triển của bộ đội ta.

        Hồi 7 giờ, địch dùng 2 xe M113 và 2 xe GMC chở đầy lính ra để phản kích hòng chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế. Đội 2 đặc công phối hợp với một bộ phận của Trung đoàn 179 đã đánh bại phản kích của địch, giữ vững khu kho.

        Cùng lúc, Trung đoàn 174 được phối thuộc đại đội xe tăng tiến công vào thị xã. Tiểu đoàn 2 đã đánh chiếm cao điểm Chư Dluê. Tiểu đoàn 1 đánh vào khu kho xăng của Sư đoàn 23, nhưng địch đã đưa quân ra phản kích. Tiểu đoàn 1 dừng lại. Trung đoàn trưởng đưa tiếp Tiểu đoàn 3 và xe tăng bước vào chiến đấu, chiếm toàn bộ kho xăng và khu vực các đại đội trực thuộc của Sư đoàn 23 ở Nam đường 429.

        Trên hướng tây thị xã

        Mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Tiểu đoàn 4 theo đường 429 tiến vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Chiếc xe tăng dẫn đầu bị sụp lầy, đội hình bị ùn lại, máy bay địch oanh tạc vào đội hình. Đồng chí tiểu đoàn trưởng đã hy sinh, đồng chí tiểu đoàn phó Bùi Văn Bịn lên thay tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh vào khu quân y và khu truyền tin.

        Địch tung quân ra phản kích liên tục. Bộ phận thọc sâu đánh trả địch, giữ vững khu đã chiếm. Đồng thời báo cáo nhầm về trên là đơn vị đã chiếm xong sở chỉ huy Sư đoàn 23. Bởi vì qua làn sóng điện, sở chỉ huy chiến dịch biết rõ rằng Vũ Thế Quang, đại tá tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột còn ở sở chỉ huy và vẫn còn liên lạc thông tin với Phạm Văn Phú.

        Để kiểm tra lại, Bộ tham mưu chiến dịch đã phái một số cán bộ đi đến tận nơi để xác minh thì thấy rằng mũi thọc sâu còn ở vòng ngoài, chưa đến trung tâm sở chỉ huy. Sau đó đoàn đã hiệp đồng lại cho trận đánh vào sáng hôm sau.

        Mặc dù một phần lực lượng xe tăng tiến trên hướng này phải nằm lại dọc đường, máu đổ nhiều, tiểu đoàn trưởng hy sinh, chính trị viên tiểu đoàn hy sinh, bộ đội thọc sâu vẫn tạo thành một mũi khoan nhanh và hiểm vào gần trung tâm địch.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Giêng, 2017, 04:26:32 pm

        Trên hướng nam thị xã

        Khi đặc công bắt đầu nổ súng trong thị xã, Trung đoàn 149 vẫn cách thị xã khá xa, nên bộ đội phải chạy thật nhanh vào để kịp giờ. Con suối Ea Tam nước lớn và chảy xiết, Trung đoàn phải tổ chức vượt qua. Địa hình phía nam toàn là nương rẫy trống trải, máy bay địch phát hiện đã oanh tạc vào đội hình của Trung đoàn. Một bộ phận đã bám sát đường số 14, địch chống trả quyết liệt, Trung đoàn phải tạm dừng ở đó chưa chiếm được các mục tiêu đã qui định.

        Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 174 được đội công tác dẫn đường, hồi 7giờ 30 đã tiến đến quận lỵ Hoà Bình và triển khai tiến công địch. Đến 11 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 9 đã chiếm được quận lỵ. Lợi dụng tiếng súng tiến công của bộ đội, anh em tù nhân đã phá cửa ngục chạy thoát ra ngoài 350 người.

        Hoả lực pháo binh địch đã bị hạn chế do hình thái xen kẽ địch, ta trong thành phố, song để bù lại, chúng sử dụng tối đa lực lượng không quân có thể huy động được. Máy bay địch dội bom, vãi đạn cố bịt các đầu cầu, nhất là trên các hướng tây bắc, đông-bắc, đông nam nhưng cũng đã vấp phải hoả lực mãnh liệt của bộ đội phòng không theo sát bộ binh.

        Trong ngày, địch đã sử dụng 73 lần chiếc máy bay đánh vào đội hình tiến công của ta và ném bom tràn vào đường phố, khu dân cư, gây thương vong cho một số dân.

        Mặc dù rất hốt hoảng nhưng địch vẫn ngoan cố cho rằng, tốc độ tiến công của ta cũng như mùa xuân năm 1968. Nên nếu chúng trụ lại được 3-4 ngày thì chúng có thể đẩy lùi ta ra khỏi thị xã và khôi phục lại phòng ngự.

        Còn Phạm Văn Phú đến lúc này đã hiểu rõ chỉ có những binh đoàn chủ lực mới có xe tăng, có xe tăng là đánh lớn rồi. Sau khi nhận được nguồn tin xe tăng của ta xuất hiện ở Ngã Sáu thị xã Buôn Ma Thuột, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Phạm Văn Phú: "Phải tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá và đưa ngay Sư đoàn 23 về cứu nguy".

        Phú đã yêu cầu Vũ Thế Quang cố giữ thị xã 2-3 ngày để chúng đưa Sư đoàn 23 về cứu Buôn Ma Thuột. Vũ Thế Quang ra lệnh điều Liên đoàn biệt động quân 21 từ Đạt Lý về tăng cường phòng thủ cho sở chỉ huy. Nhưng Liên đoàn biệt động quân 21 chỉ về đến đông suối Ea'tam, lẩn quẩn ở đó, rồi sau đó lại chuồn thẳng về phía đông thị xã.

        Bộ Tư lệnh chiến dịch trên cả hai sở chỉ huy cơ bản và phía trước đã theo dõi chặt chẽ các tình huống diễn biến. Nhưng chính lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt trong thị xã thì nhãn quan chiến dịch đã buộc chúng tôi một mặt vẫn phải hết sức chú ý đến nó, mặt khác bỏ qua nó để nhìn đến toàn cục. Trinh sát cho biết chưa thấy có động tĩnh quan trọng của địch trong phạm vi toàn Quân khu 2. Tôi yêu cầu các đồng chí thông qua bộ phận tham mưu của cơ quan đại diện chiến lược để tìm hiểu thêm tình hình địch ở cả Miền Nam và sự phối hợp tác chiến của các chiến trường bạn.

        Riêng trong phạm vi Tây Nguyện, vào hồi 15g00, chúng tôi đã được tin địch quyết định điều liên đoàn biệt động quân số 21 ở ngoại vi đông bắc vào phản kích hòng chiếm lại một số mục tiêu quan trọng đã mất trong thị xã. Nhưng lực lượng ô hợp này, rõ ràng sợ bị chung đòn trước cuộc tiến công như vũ bão của ta, vẫn chần chừ chưa dám tiến.

        Ở Plâyku, Trung đoàn bộ binh số 45 được lệnh cấm trại để sẵn sàng đổ bộ trực thăng xuống vùng Buôn Ma Thuột. Nhưng tin tức đó không có gì đặc biệt, địch tất nhiên phải phản ứng như thế, nhưng nó cũng đã khiến chúng tôi quan tâm.

        Còn ở trong thị xã Buôn Ma Thuột lúc này, trải qua một ngày đầu chiến đấu quyết liệt (10/3), quân ta đã đánh chiếm được khu doanh trại liên hợp bộ binh, pháo binh, xe tăng, bộ chỉ huy tiểu khu, một phần quan trọng của Sư đoàn bộ 23, và đã tiến sát vào sở chỉ huy hành quân của Sư đoàn 23.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Giêng, 2017, 04:30:32 pm

        Những diễn biến tại sở chỉ huy quân đoàn 2 của địch (Lược ghi theo: Phạm Huấn "Điện Biên Phủ 1954, Ban Mê Thuột 1975" (Sđd).) lúc này được kể lại như sau:

        Bốn giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, đúng 10 tiếng đồng hồ sau khi tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2 và chiến trường Tây Nguyên rời Buôn Ma Thuột về nhiệm sở của ông ở Plâyku, thì Việt Cộng khởi sự tấn công vào thành phố này.

        Tại sở chỉ huy quân đoàn 2 ở Plâyku, người đầu tiên vào chiếc "bunker" chỉ huy đánh thức báo cáo cho tướng Phú biết là tham mưu trưởng quân đoàn 2 - đại tá Lê Khắc Lý.

        Tướng Phú ngồi bật dậy, ông vẫn mặc bộ đồ bay của phi công màu quân phục bộ binh, nên chỉ xỏ vội đôi giày vào rồi bước sang trung tâm hành quân quân đoàn ngay sát cạnh.

        Tướng Phú hỏi:

        - Ai vừa gọi lên tường trình tình hình Buôn Ma Thuột cho anh biết?

        Tham mưu trưởng quân đoàn 2:

        - Thưa Thiếu tướng, chính đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột

        Vừa bước vào trung tâm hành quân, tướng Phú đã cầm ngay lấy ống liên hợp của máy siêu tần số 106:

        - Gọi đại tá Quang, Buôn Ma Thuột?

        Lúc này Trung tâm hành quân, ngoài đại tá tham mưu trưởng quân đoàn, các sĩ quan trưởng phòng 2, phòng 3, phòng 6, cả 2 sĩ quan chánh văn phòng, thiếu tá Vinh và sĩ quan tuỳ viên, thiếu tá Hoá đều có mặt với quân phục tề chỉnh. Vinh và Hoá là 2 Sĩ quan đã theo tướng Phú từ lâu nên biết rõ phương thức làm việc và thói quen của ông. Hoá ngồi liền sát với máy truyền tin, còn Vinh cầm sẵn cuốn "agenda" và cây viết trên tay, chuẩn bị ghi chép những mệnh lệnh.

        Tiếng đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột vang trong chiếc loa nhỏ của máy siêu tần số 106:

        - Trình Mặt Trời (tư lệnh quân đoàn) địch vẫn đang, tiếp tục pháo vào thị xã? Mặt trời nghe tôi trình rõ không?

        Tướng Phú:

        - Tôi nghe anh 5/5. Tình hình nặng lắm không?

        - Dạ, rất nặng? Cộng quân sử dụng đại bác 130 ly, pháo chính xác nhiều nơi, như bộ tư lệnh Sư đoàn, sân bay L-19 và khu vực kho xăng, kho đạn từ 2 giờ sáng, và hiện đã tiến sát gần phi trường đầu thị xã.

        Tướng Phú:

        - Tối hôm qua anh có kiểm soát việc phân tán kho xăng, kho đạn không?

        Tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột:

        - Dạ có, nhưng mới chỉ phân tán được 1/3 như dự định.

        Tướng Phú:

        - Anh ra lệnh cho các đơn vị trưởng phải sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu. Có thể địch tấn công ngay sau những trận mưa pháo.

        - Dạ, tôi nhận rõ.

        Tướng Phú:

        - Ráng chống đỡ, và ra lệnh sử dụng pháo binh phản pháo tối đa vào những địa điểm nghi ngờ có đại bác 130ly của địch. Chờ trời sáng, không quân sẽ ưu tiên yểm trợ cho anh.

        - Dạ ... trình Mặt Trời ...Tiếng máy xè xè làm câu trả lời của tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột bị ngắt quãng.

        Tướng Phú quay lại gắt:

        - Máy móc gì kỳ cục vậy?

        Rồi ông hét to:

        - Anh nghe tôi rõ không?

        Tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột:

        - Trình Mặt trời rõ, xin tuân ... lệnh?

        Tướng Phú chấm dứt cuộc đàm thoại với tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột. Nhưng có một điều ông không thể ngờ rằng việc ông kỳ vọng và tin rằng vị tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột sẽ tuân theo lệnh sử dụng pháo đội đại bác 155 ly mà ông đã ra lệnh tăng cường cho Buôn Ma Thuột tháng trước, đã không bao giờ xảy ra, vì hiện tại ở Buôn Ma Thuột, phía Quân lực Việt Nam Cộng hoà không có đại bác 155 ly. Lý do, vị tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh đã không cho điều động 1 pháo đội đại bác 155 ly về Buôn Ma Thuột trước đó, mà chỉ gởi 2 khẩu đại bác 105ly một pháo đội (thiếu), và trên đường từ Mặt trận nam Pleiku về Buôn Ma Thuột 2 tuần trước đó, đã bị Việt cộng phục kích chặn đánh và huỷ diệt. Tất cả quân nhân trong pháo đội (cùng với vũ khí) đều bị chết, bị thương hoặc bắt sống. Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh và tham mưu trưởng quân đoàn 2 đều biết rõ sự việc này xảy ra, nhưng không biết vì lý do gì họ đã không trình cho tướng Phú biết.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Giêng, 2017, 04:36:15 pm

        Trên chiến trường Buôn Ma Thuột từ ngày khởi đầu 10 tháng 3 năm 1975, cho đến khi kết thúc, chỉ có những pháo đội đại bác 105 ly chống trả với Trung đoàn pháo nặng của Cộng sản Bắc Việt, gồm những đại bác 130 ly và đại bác 122 ly.

        07 giờ sáng, đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hoà từ Sài Gòn gọi lên Pleiku để ghi nhận tiếp về tình hình chiến trường Buôn Ma Thuột mà ông được trình trước đó, và cho phát triển những lệnh đặc biệt.

        Đại tướng Viên cũng chấp thuận yêu cầu, đề nghị của tướng Phú sẽ cho không quân yểm trợ chiến trường Buôn Ma Thuột.

        Khoảng gần 2 giờ sau đó, lúc 8 giờ 40, đại tướng Trần Thiên Khiêm, Thủ tướng chính phủ Việt Nam cộng hòa cũng từ Đà Lạt điện đàm nói chuyện với Tướng Phú. Cuộc điện đàm ngắn ngủi từ Đà Lạt gọi lên Pleiku sáng nay, đại tướng Khiêm đã khuyên tướng Phú phải hết sức cẩn trọng, đừng đổ quân quá nhiều vào Buôn Ma Thuột để bị kẹt, sa lầy. Có thể Cộng quân sẽ mở những Mặt trận lớn khác trên chiến trường Cao nguyên.

        Trong khoảng thời gian này, lúc 10 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, các lực lượng đặc công Việt Cộng và một số chiến xa địch đã đột nhập vào trong thị xã, và những khu vực quân sự Buôn Ma Thuột; nhưng các chiến sĩ quân lực Việt Nam cộng hòa chiến đấu chống trả rất mãnh liệt.

        Sau khi nói chuyện với Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Tướng Phú chỉ thị cho các tư lệnh mặt trận nam Pleiku, Kon Tum (chuẩn tướng Lê Trung Tường và đại tá Phạm Duy Tất), ra lệnh cho các đơn vị chuẩn bị chiến đấu Chuẩn tướng Lê Trung Tường, tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh chỉ huy mặt trận nam Pleiku sẵn sàng gởi về một Trung đoàn với 100% quân số, tăng viện cho Buôn Ma Thuột. Tình hình mặt trận Buôn Ma Thuột vẫn được chính đại tá Vũ Thế Quang tư lệnh phó Sư đoàn 23 gọi lên báo cáo mọi diễn biến.

        Tướng Phú cũng đã thảo luận với trung tá Nguyễn Văn Giang, Giám đốc không trợ vùng 2, các sĩ quan trưởng phòng 2 và phòng 3 quân đoàn để lựa chọn các mục tiêu ưu tiên cho không quân đánh. Đó là các vị trí quanh Buôn Ma Thuột nghi ngờ có pháo nặng và phòng không của Cộng quân bố trí, những ngả đường Cộng quân sẽ di chuyển quân tới bằng xe, cũng như bằng bộ..v..v.

        Liên đoàn 21 biệt động quân mới được thả xuống Buôn Hồ chiều hôm trước được lệnh tức tốc di chuyển về Buôn Ma Thuột, mở một mũi từ phía bắc xuống, có nhiệm vụ bảo vệ Mặt trận đông thị xã và tiếp ứng cho những nơi bị nguy khốn.

        10 giờ 10 phút, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tổng tư lệnh tối cao quân lực Việt Nam cộng hoà từ Dinh Độc Lập Sài Gòn gọi lên. Tướng Phú trình bày tình hình:

        - Kính trình Tổng thống, Mặt trận Buôn Ma Thuột rất nặng, nhưng cho đến giờ phút này các đơn vị quân ta vẫn giữ vững tin thần, chiến đấu sinh tử với địch để bảo vệ Buôn Ma Thuột.

        Tổng thống Thiệu:

        - Anh trình về Tổng tham mưu là hiện có 2 Sư đoàn Cộng sản Bắc Việt ở Buôn Ma Thuột?

        Tướng Phú:

        - Trình Tổng thống, chắc chắn 2 Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 của địch với chiến xa và pháo binh nặng đã vào trận địa, cùng đang đánh Buôn Ma Thuột?

        Tổng thống Thiệu:

        - Sao mới đây anh nói với tôi chỉ có 1 Trung đoàn của "thằng” Sư 10 (sư đoàn 10 Cộng sản Bắc Việt) từ Bắc Kon Tum về đánh Quảng Đức?

        Tướng Phú:

        - Thưa Tổng thống 5 ngày trước đó, lực lượng địch tại Quảng Đức chỉ có 1 Trung đoàn. Nhưng Cộng sản quân hiện tấn công Buôn Ma Thuột với pháo binh và chiến xa yểm trợ, nên tôi có thể đoán quyết rằng toàn bộ Sư đoàn 10 Cộng sản Bắc Việt đã từ Kon Tum kéo xuống. Vì đây là Sư đoàn cơ giới nặng của địch có các Trung đoàn pháo, chiến xa và đại bác phòng không.

        Tổng thống Thiệu:

        - Anh phải giải quyết chiến trường thật mau lẹ, đừng để bị kẹt như Phước Long (tỉnh Phước Long mất ngày 8 tháng 1 năm 1975).

        Tướng Phú:

        - Tôi xin tuân lệnh Tổng thống, và sẽ cố gắng hết sức vì tôi cũng rất lo ngại nếu không giải quyết mau lẹ, Sư đoàn 968 của địch từ Pleiku kéo xuống hoặc một Sư đoàn mới của Cộng quân vừa từ ngoài Bắc xâm nhập vào như nguồn tin tình báo cho biết, mở một Mặt trận lớn khác, tôi sẽ không đủ quân để chống đỡ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Giêng, 2017, 04:39:35 pm

        Tổng thống Thiệu:

        - Ông đại tướng Viên đã thảo luận với anh về tình hình Buôn Ma Thuột chưa?

        Tướng Phú:

        - Đại tướng Tổng tham mưu trưởng gọi ra lệnh cho tôi lúc sáng sớm. Tôi xin thêm quân, nhưng đại tướng cho biết các lực lượng tổng trừ bị đã sử dụng hết, chỉ có thể ưu tiên yểm trợ không quân cho Mặt trận Buôn Ma Thuột. Do đó, tôi đã ra lệnh cho chuẩn tướng Tường tư lệnh Mặt trận nam Pleiku sẵn sàng cùng với 1 Trung đoàn của Sư đoàn 23 bộ binh, nhảy xuống tăng viện cho Buôn Ma Thuột, nếu nội nhật ngày hôm nay chiến trường chưa giải quyết xong.

        Tổng thống Thiệu:

        - "Bon"! Ráng lên nghe ... Phú. Đừng để bị kẹt như Phước Long. Nếu tình hình nguy ngập phải gọi về trình thẳng cho tôi biết.

        Tướng Phú:

        - Thưa Tổng thống, tôi nhận rõ, và xin tuân lệnh Tổng thống”

        Tuy nhiên trận chiến Buôn Ma Thuột đã không thể giải quyết mau lẹ như các giới chức quân sự cao cấp mong muốn. Khoảng thời gian từ 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa, những trận đánh bom tới tấp của không quân, và những trận giao tranh ác liệt, đã biến Buôn Ma Thuột thành một bãi chiến trường khủng khiếp. Khắp thị xã, từng góc phố, và những khu vực quân sự, chỗ nào cũng nghe súng nổ. Những cột bụi đất đỏ, những cột khói bốc cao ngất trời. Không quân đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong ngày đầu của Mặt trận Buôn Ma Thuột.

        Những trận giao tranh ác liệt giữa các đại đội địa phương quân khác như đại đội 702, 889 tại quanh bộ chỉ huy tiểu khu và phi trường L-19, vẫn tiếp tục kéo dài cho đến trưa ngày 10 tháng 3 năm 1975. Khoảng thời gian này, kho đạn chính của khu 23 chiến thuật trong trại Mai Hắc Đế bị đặc công đột nhập, sau khi những hầm đạn đại bác bị trúng pháo, nổ kéo dài nhiều tiếng đồng hồ.

        12 giờ trưa, Cộng quân tràn ngập một số khu vực quan trọng trong thị xã và mất liên lạc hoàn toàn với bộ chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc.

        14 giờ, phi cơ quan sát phát hiện một đoàn xe chở quân Cộng sản Bắc Việt kéo dài hàng cây số phía tây bắc Buôn Ma Thuột khoảng 30 cây số. Oanh tạc cơ bay tới trút bom xuống đầu địch.

        14 giờ 15, một nguồn tin tình báo vô cùng quan trọng, sau khi phối kiểm được đại tá Tiếu, trưởng phòng nhì quân đoàn trình với tướng Phú làm cho ông bối rối, điên đầu. Đó là sự việc hệ thống kiểm thính bắt được tần số liên lạc của Cộng quân, phát hiện một đại đơn vị mới tinh Cộng sản Bắc Việt từ Buôn Ma Thuột đang di chuyển xuống. Đại đơn vị này có thể là Sư đoàn tổng trừ bị 316 của Bắc Việt từ Thanh Hoá vào. Ngoài ra, những bộ phận còn lại của các Trung đoàn pháo, đại bác phòng không của Sư đoàn nặng 10, cũng đã rời Mặt trận Quảng Đức kéo về Buôn Ma Thuột.

        Tướng Phú quyết định chớp nhoáng, ra lệnh cho không quân oanh tạc phá sập cầu 14, khoảng giữa đường Quảng Đức - Buôn Ma Thuột, để làm chậm bớt sức tiến công của Cộng quân.

        Những trận giao tranh ác liệt trong thành phố, sau đó kéo dài tới khuya quanh trụ sở bộ tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh, và các khu vực quân sự phía đông nam Buôn Ma Thuột, gồm hậu cứ Trung đoàn 45 bộ binh, Hậu cứ các tiểu đoàn 232, 231 pháo binh, thiết đoàn 8 kỵ binh, đại đội 514 vận tải, trung tâm huấn luyện v.v...

        Một sự kiện vô cùng quan trọng khác được trình với tướng Phú làm cho ông rất lo ngại, Trại Mai Hắc Đế bị một đơn vị cảm tử Việt Cộng đột nhập lúc chiều tối. Trước đó những hầm đạn đại bác của kho đạn này bị trúng pháo Việt Cộng, nổ nhiều giờ liên tiếp, và đạn dược của các đơn vị đã gần cạn sau một ngày dài chiến đấu. Do đó, lúc 23 giờ đêm, tướng Phú đã ra một lệnh chót cho đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột, ngay khi liên đoàn 21 biệt động quân di chuyển tới, phải điều động bằng mọi cách tái chiếm bộ chỉ huy tiểu khu và kho đạn Mai Hắc Đế.

        Trận đánh lớn xảy ra lúc 5 giờ sáng ngày 10 tháng 3. Lực lượng địch được tăng viện thêm 1 Sư đoàn mới vừa xâm nhập từ miền Bắc vào. Đó là Sư đoàn 316 chủ lực quân Tổng trừ bị của Bắc Việt đóng tại Thanh Hoá; từ giữa tháng 2 năm 1975 đã di chuyển ngày đêm trên xa lộ đường Hồ Chí Minh, băng qua rừng núi để tới chiến trường Cao nguyên, và là một trong những đơn vị nòng cốt quan trọng trong cuộc tổng tấn công này. Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt tới trận địa Buôn Ma Thuột đêm 9 tháng 3 năm 1975, và ngay rạng sáng ngày 10 tháng 3 được lệnh dốc toàn lực lượng đánh thẳng vào bộ chỉ huy của Trung đoàn 53 Bộ binh. Toàn bộ Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt, với chiến xa, đại pháo đã mở những đợt tấn công vũ bão vào phòng tuyến của Trung đoàn 53 bộ binh,và các khu vực phía đông thị xã. Các chiến sĩ của Trung đoàn 53, dù bị thiệt hại nặng nề nhưng đã đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của Cộng quân.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Giêng, 2017, 04:42:00 pm

        Khoảng gần 8 giờ sáng, những phi tuần phản lực A-37 xuất hiện trên vùng trời Buôn Ma Thuột, làm giảm bớt sức ép của Cộng quân tại phi trường Phụng Dực. Quân ta lợi dụng lúc này tổ chức lại phòng tuyến và lo việc tiếp tế đạn dược, băng bó thương binh giữa các phòng tuyến quanh phi trường.

        Cũng thời gian này, đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột gọi lên Pleiku tường trình với tướng Phú tình hình vô cùng khẩn trương, nguy ngập. Lực lượng bộ binh và chiến xa Cộng sản Bắc Việt đã vào sát hàng rào phòng thủ bộ tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh. 10 chiến xa T54 Bắc Việt đang bắn trực xạ vào hầm chỉ huy của tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột. Đại tá Vũ Thế Quang chấp nhận mọi rủi ro yêu cầu không quân đánh bom thẳng xuống chiến xa Cộng quân trước bộ tư lệnh Sư đoàn.

        7 giờ 55 phút, hai phản lực cơ A-37 lao thẳng xuống. Ba chiến xa Bắc Việt bốc cháy. Một phi tuần kế tiếp, trút bom ngay cạnh bộ tham mưu của tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột. Nhưng rồi một rủi ro, đáng tiếc xảy ra sau đó. Một trái bom 500 cân Anh rơi trúng hầm chỉ huy của đại tá Vũ Thế Quang huỷ diệt hệ thống truyền tin liên lạc. Mất liên lạc với tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột từ lúc đó.

        Trong giờ phút đau thương kinh hoàng này cũng là lúc đại tá Vũ Thế Quang và đại tá Nguyễn Hữu (nhầm “Trọng” – Sao Vang) Luật tiểu khu trưởng kiêm tỉnh trưởng Đắc Lắc và Bộ tham mưu mở đường máu thoát ra ngoài.

        Từ trung tâm hành quân quân đoàn 2 Pleiku, tướng Phạm Văn Phú nóng nẩy lồng lộn như con hổ dữ, ông ra lệnh cho đại tá tham mưu trưởng quân đoàn tổ chức, trang bị những máy móc truyền tin gấp rút cho hai chiếc máy bay C-47 và U- 17 được sử dụng như bộ chỉ huy hành quân trên không của quân đoàn để chỉ huy. Tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh, chuẩn tướng Tường được lệnh bay trực thăng chỉ huy mặt trận Buôn Ma Thuột trước nhất. Sau đó các tướng lãnh, tham mưu trưởng quân đoàn và các sĩ quan trưởng phòng 2, phòng 3 luân phiên bay đến Buôn Ma Thuột chỉ huy. Ông cũng dự trù trường hợp bộ tư lệnh Sư đoàn 23 và tiểu khu Đăk Lắc bị mất hoàn toàn; các tư lệnh mặt trận và tiểu khu trưởng Đăk Lắc bị chết, sẽ thiết lập một bộ chỉ huy ngoài Buôn Ma Thuột với một tư lệnh chiến trường và một tỉnh trưởng mới được thả xuống trận địa.

        11 giờ, chuẩn tướng Tường bay chỉ huy mặt trận Buôn Ma Thuột đợt đầu về trình tướng Phú:

        - Trình thiếu tướng, vẫn không có tin tức gì về Đại tá Quang và đại tá Luật.

        Tướng Phú hỏi:

        - Còn liên đoàn 21 biệt động quân tình trạng ra sao?

        Chuẩn tướng Tường:

        - Tôi được trung tá Dậu, liên đoàn trưởng báo cáo tình hình bi đát. Lính mất tinh thần, vì đạn dược đã gần cạn, và tất cả đều biết hành dinh của Bộ tư lệnh Sư đoàn và tiểu khu Đăk Lắc đã bị Cộng quân chiếm.

        Tướng Phú:

        - Anh có ra lệnh cho biệt động quân về chiếm lại tiểu khu và kho đạn Buôn Ma Thuột như tôi đã quyết định không?

        Chuẩn tướng Tường ấp úng:

        - Dạ... trình thiếu tướng có?

        Sự thật, thì liên đoàn 21 biệt động quân từ Buôn Ma Thuột di chuyển về theo lệnh của tướng Phú chiều hôm qua, 10 tháng 3 để tái chiếm bộ chỉ huy tiểu khu và kho đạn, chỉ mới bị thiệt hại nhẹ trong những cuộc giao tranh dọc đường, về tới gần thị xã, nhưng đã không được điều động, sử dụng vào mục đích trên. Lý do, vợ con chuẩn tướng Tường bị kẹt tại Buôn Ma Thuột, nên khi bay chỉ huy sáng nay, ông đã ra lệnh cho liên đoàn trưởng 21 biệt động quân, điều quân ngược lại phía trung tâm huấn luyện Sư đoàn để bảo vệ bãi đáp cho ông đáp trực thăng xuống cứu vợ con, gia đình?! Ngày hôm sau, khi trở về lại thị xã, Liên đoàn này bị Cộng quân chặn đánh tan tác và thiệt hại rất nặng nề.

        Tướng Phú lại hỏi chuẩn tướng Tường:

        - Trung đoàn 53 ở phi trường Phụng Dực sau trận đánh sáng nay, tinh thần anh em binh sĩ còn vững vàng không?

        Chuẩn tướng Tường:

        - Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng trình tôi tinh thần anh em vẫn còn rất cao, dù bị thiệt hại khá bộn.Trung tá Ân xin tiếp tế gấp đạn, kể cả đạn đại bác.

        Tướng Phú quay ra lệnh cho thiếu tá Hoá, sĩ quan tuỳ viên:

        - Nói đại tá tham mưu trưởng xin tổng cục tiếp vận Sài Gòn cho máy bay thả dù tiếp tế đạn và lương thực cho Trung đoàn 53 ngay.

        - Dạ...

        Chuẩn tướng Tường trình tiếp tướng Phú:

        - Trung tá Võ Ân trình tôi, đã khai thác 2 tù binh bắt được tại trận sáng nay, chúng đều khai thuộc Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt.

        Tướng Phú mặt hơi biến sắc hỏi dồn:

        - Sao,

        - Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt, trình Thiếu tướng!


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Giêng, 2017, 10:55:09 am

        Tướng Phú lẩm bẩm:

        - Thêm Sư đoàn 316 vào trận địa? Sư đoàn 316 là Sư đoàn tổng trừ bị của Bắc Việt.

        Chuẩn tướng Tường tưởng tướng Phú hỏi mình liền trình tiếp:

        - Dạ, trung tá Ân cho biết 2 tù binh khai, Sư đoàn 316 đóng ngoài Thanh Hoá mới di chuyển tới Buôn Ma Thuột hôm 10 tháng 3. Chúng tham dự trận đánh đầu tiên và bị bắt.

        Tướng Phú vừa nghe xong liền bỏ đi nơi khác. Đầu óc ông đang quay cuồng khi nghĩ đến các Sư đoàn 316, Sư đoàn 320 Cộng sản Bắc Việt. Đó là những Sư đoàn do Lê Quảng Ba chỉ huy đánh Điện Biên Phủ cách đây 21 năm. Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt đã tấn công những cứ điểm của trung tâm kháng cự Eliane những ngày sau cùng, khi ông còn là đại uý tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 nhảy dù Việt Nam, trấn giữ cứ điểm E-4 cùng với một đại đội, Điện Biên Phủ thất thủ sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, tướng Phú (hồi đó còn là đại uý) bị thương trong đêm cuối cùng và ông sống sót cùng với 30 quân nhân khác.

        15 giờ 30, tham mưu trưởng quân đoàn bay C-47 cùng với sĩ quan trưởng phòng 3 về tường trình tình hình Buôn Ma Thuột vô cùng nguy ngập. Tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột và tiểu khu trưởng Đăk Lắc được ghi nhận mất tích.

        Cùng lúc đó, đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng hoà gọi lên tướng Phú, tướng Phú tường trình với tướng Viên:

        - Trình đại tướng, cho đến giờ này tư lệnh chiến trường Buôn Ma Thuột và tỉnh trưởng được ghi nhận mất tích, bộ tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh và bộ chỉ huy tiểu khu trong thị xã do địch kiểm soát.

        Đại tướng Viên:

        - Anh sẽ xử trí thế nào với tình hình này?

        Tướng Phú:

        - Trình đại tướng tôi hiện chuẩn bị đổ quân tăng viện và thiết lập bộ tư lệnh Sư đoàn 23 hành quân ở Buôn Hồ, để chỉ huy mặt trận Buôn Ma Thuột. Hiện tại từ sáng, 2 máy bay C-47 đã được trang bị máy móc truyền tin để sử dụng như những bộ chỉ huy hành quân trên không của quân đoàn.

        Đại tướng Viên:

        - “Bon", nhưng tôi muốn anh "bốc" Chuẩn tướng Tường về chỉ huy tại Buôn Ma Thuột, ông ta hiện ở đâu? Cứ ở trên Pleiku thì làm được cái gì?

        Tướng Phú:

        - Trình Đại tướng, chuẩn tướng Tường vừa mới bay chỉ huy mặt trận Buôn Ma Thuột sáng nay về. Tôi xin tuân lệnh đại tướng sẽ thả chuẩn tướng Tường xuống Buôn Hồ để chỉ huy.

        Đại tướng Viên:

        - Anh còn gì trình tôi thêm không?

        Tướng Phú:

        - Trình đại tướng nếu có thể được cho quân đoàn 2 xin thêm một lữ đoàn dù hay một liên đoàn biệt động quân nữa .

        Đại tướng Viên:

        - Tôi đã cho anh biết tất cả lực lượng tổng trừ bị đã được sử dụng, tôi không thể tăng quân thêm cho anh. Tôi chỉ có thể chấp thuận cho không quân ưu tiên yểm trợ, và nếu cần cho lập cầu không vận tiếp tế cho quân đoàn 2 mỗi ngày.

        Tướng Phú:

        - Trình đại tướng tôi nhận rõ.

        Đại tướng Viên:

        - Nếu tình hình biến chuyển đặc biệt anh phải gọi về cho tôi biết ngay.

        Tướng Phú:

        - Tôi nhận rõ, xin tuân lệnh Đại tướng.

        Khoảng 11 giờ đêm, lần lượt Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và đại tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng Chính Phủ từ Sài Gòn gọi lên Pleiku để nghe tướng Phú tường trình tình hình.

        Một loạt những chỉ thị tướng Phú được trao cho toàn quyền quyết định và được khuyến cáo tránh đổ nhiều quân để bị sa lầy tại Buôn Ma Thuột. Nếu tình hình nguy ngập hơn nữa, có thể bỏ luôn Buôn Ma Thuột vì trên chiến trường Cao nguyên, Việt Cộng có khả năng mở đồng loạt 2 hoặc 3 Mặt trận lớn khác. Tổng thống Thiệu cũng rất thắc mắc về nguồn tin mà Sư đoàn 316 Tổng trừ bị của Cộng sản Bắc Việt đã rời Thanh Hoá vào Nam. Ông hỏi gặng tướng Phú nhiều lần và ra lệnh báo cáo đích xác về những đại đơn vị của Bắc Việt hiện đang tham chiến tại mặt trận Buôn Ma Thuột.

        Một đề nghị cuối cùng trong ngày của tướng Phú được Tổng thống Thiệu chấp thuận. Đó là việc bổ nhậm một tỉnh trưởng mới và thả xuống mặt trận để thành lập bộ chỉ huy hành quân Tiểu khu của tỉnh Đăk Lắc, chỉ huy những đơn vị của tỉnh này đang tập trung lại phía ngoài thị xã, sau khi Buôn Ma Thuột được ghi nhận đã nằm trong tay Cộng quân. Vị sĩ quan tình nguyện trong chức vụ này là đại tá Tiếu, trưởng phòng nhì quân đoàn 2.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Giêng, 2017, 10:57:39 am

        Trở lại diễn biến ở Buôn Ma Thuật trong ngày 10 tháng 3. Đến cuối ngày, do những nỗ lực rất lớn của bộ đội chúng ta giành được nhiều thắng lợi trên các hướng tiến quân.

        Vào khoảng 16 giờ chiều, chúng tôi liên tiếp nhận được báo cáo là cán bộ thọc sâu tiến công từ hướng tây và sau đó là một mũi của Trung đoàn 174 do thiếu tá Trung đoàn phó Nguyễn Văn Minh dẫn đầu tiến công từ hướng tây nam đã phát triển đến mục tiêu cuối cùng, sở chỉ huy Sư đoàn 23 địch. Đồng chí Đoàn Sinh Hưởng đại đội trưởng xe tăng của tiểu đoàn chọc sâu cũng báo cáo nhầm như thế.

        Trong khi đó, các thông tin về tình hình địch do phòng 2 quân báo cung cấp thì lại cho thấy chúng ta chưa đến được mục tiêu chủ yếu này. Lịch sử có lặp lại không đây? Tôi nhớ ngay tình huống tương tự xảy ra năm 1972, khi chúng ta đánh vào thị xã Kon Tum: Bộ đội báo cáo ta đã ở trong sở chỉ huy Sư đoàn 22 địch nhưng quân báo - lại vẫn là quân báo - thì lại khẳng định rằng đó không phải là sào huyệt của chúng, và quân báo đúng. Điều này không có gì lạ: chúng ta chưa quen đánh trong thành phố, việc nhận dạng các vị trí của địch thường có tính ước lệ và nếu có dựa vào bản đồ chiến thuật, ảnh chụp và các vật chuẩn thì những thứ ấy, do không được cập nhật, đã mất tính thời gian. Có sự nhầm lẫn là điều khó tránh khỏi, nhưng điều quan trọng là không để tình trạng mơ hồ kéo dài, tuyệt đối phải xác minh lập tức.

        Chỉ huy sở phía trước, do các Đại tá Nguyễn Năng và Phí Triệu Hàm chỉ huy, đã cử ngay Thượng tá Phó tham mưu trưởng Lê Minh và một tổ các sĩ quan tham mưu gồm nhiều thành phần dùng xe "gíp" tiến theo hướng của bộ đội thọc sâu ...

        Đúng như dự đoán, các chiến sĩ của chúng ta nhầm lẫn. Do hình thái cấu trúc tương tự bên ngoài, bộ đội đã tưởng vị trí của khu thông tin và tiểu đoàn quân y địch mà họ vừa tiến đến là sở chỉ huy Sư đoàn 23. Nhưng như vậy là cũng đã tiến sát mục tiêu cuối cùng.

        Và trên tất cả các hướng, chúng ta đã làm chủ đại bộ phận thị xã. Các dấu hiệu chứng tỏ kẻ địch tuyệt vọng, mặc dù chúng không ngừng phản kích.

        Chúng tôi lệnh cho Thượng tá Lê Minh bắt liên lạc trực tiếp với năm mũi tiến quân, cho bộ đội dừng lại ban đêm để củng cố, thống nhất các động tác hiệp đồng, chuẩn bị cho đòn tổng công kích ngày hôm sau.

        Ngày tiếp theo của trận đánh

        Ngày 11 tháng 3

        Từ 6 giờ đến 8 giờ, pháo binh ta bắn dồn dập vào sở chỉ huy Sư đoàn 23. Tiếp đó, bộ binh và xe tăng ta hình thành bốn mũi tiến công vào sở chỉ huy sư đoàn 23.

        Hướng đông bắc, từ tiểu khu bảo an, 1 đại đội của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 95B và 2 xe tăng theo đường 429 tiến thẳng vào cổng chính, bắn cháy đánh đuổi thiết giáp địch và tiến thẳng vào trung tâm sở chỉ huy.

        Các chiến sĩ xe tăng Đoàn Sinh Hưởng, Bùi Mạnh Hồng, Phạm Hồng Vách và đồng chí Bưởi anh dũng cho xe tăng lao thẳng vào thiết giáp địch, mở đường cho bộ binh.

        Hướng tây, từ khu thông tin 1 đại đội của mũi thọc sâu và 2 xe tăng vượt qua khu "quân cụ biệt lập” phá rào tiến thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 23.

        Hướng nam, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 149 từ khu hành chính, vượt qua nhà thờ, qua khu đại đội tổng hành dinh cũng chọc thẳng vào sở chỉ huy địch.

        Cùng lúc đó, từ hướng bắc Trung đoàn 148 cũng phái một đại đội và 2 xe tăng tiến vào sở chỉ huy Sư đoàn 23, nhưng khi đơn vị đến nơi thì bộ đội bạn đã chiếm xong.

        Trước sức áp đảo của bộ đội tiến công, máy bay địch hốt hoảng ném bom tràn xuống khu vực sở chỉ huy. Bom rơi xuống gần khu hầm của Vũ Thế Quang. Trong khói đạn hỗn loạn, Vũ Thế Quang và Nguyễn Trọng Luật cùng bọn sĩ quan tham mưu bỏ sở chỉ huy, tháo chạy. Lúc đó là 8 giờ 15 phút. Quang và Luật chạy trốn ra rừng cà phê ngoài thị xã. Nhưng Luật đã bị các chiến sĩ Tiểu đội 3, đại đội 3, tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24 bắt sống, còn tên Quang chạy xuống đến phía nam thị xã cũng bị các chiến sĩ Trung đoàn 174 tóm cổ tại buôn A Lê.

        Sau trận pháo như thác giội, bộ binh ào lên từ các hướng. Bộ đội ta tràn vào sở chỉ huy, tiêu diệt bọn tàn quân. Đến 9g05, chiếc xe tăng đầu tiên phá vỡ hầm chỉ huy địch.. Hầu như cùng một lúc các mũi tiến quân đã hội quân ở mục tiêu cuối cùng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Giêng, 2017, 10:58:28 am

        Đến 1 giờ trưa ngày 11 tháng 3, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã được kéo lên trên cột cờ của sư bộ Sư đoàn 23. Và trận công kích cuối cùng vào căn cứ Sư đoàn 23 sáng ngày 11 tháng 3 đã diễn ra đúng như dự kiến, tuyệt đẹp nữa là khác, sở chỉ huy của chúng tôi lúc ấy đã giống như một ngày hội.

        Ngày 11 tháng 3, Quân uỷ Trung ương điện chỉ thị: "ở Buôn Ma Thuột cần nhanh chóng tiêu diệt địch còn lại, vừa phát triển ra xung quanh, vừa sẵn sàng đánh viện của địch, nhanh chóng phát triển về hướng Cheo Reo, hình thành thế bao vây Plâyku để tiến tới tiêu diệt Plâyku, cô lập Kon Tum, mở rộng phạm vi kiểm soát (đường – Sao Vang) số 19, thực hiện chia cắt chiến lược tiến tới tiêu diệt An Khê".

        Theo tinh thần Chỉ thị đó, Bộ Tư lệnh đã nhận định tình hình "Ta đã chiếm hết các mục tiêu quan trọng nhất, làm chủ được thị xã Buôn Ma Thuột, khống chế được sân bay Hoà Bình, nhưng một số căn cứ quan trọng ven thị xã địch vẫn còn chiếm giữ, chúng có thể đổ quân xuống các căn cứ đó để phản kích đánh chiếm lại thị xã.

        Từ tình hình trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch có quyết tâm: “Nhanh chóng phát triển thắng lợi tiêu diệt địch ở ngoại vi, phụ cận, trọng điểm là căn cứ các Trung đoàn 45 và 53 quét sạch tàn binh địch, củng cố vững chắc khu đã chiếm, sẵn sàng đánh lại phản kích địch".

        Bộ Tư lệnh đã ra lệnh cho Sư đoàn 10 (thiếu) nhanh chóng cơ động về đông bắc thị xã, sẵn sàng làm dự bị và chuẩn bị đánh địch phản kích lớn.

        Thực hiện quyết tâm trên, ngày 12 và 13 tháng 3 ta tiếp tục tiến công và truy quét tàn quân trong thị xã và các vị trí ở ven thị.

        Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 95B đánh chiếm khu nhà lao, bắt hơn 100 địch, giải phóng số tù nhân còn lại.

        Từ 6 giờ 25 đến 8 giờ 25 phút ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 24 và 1 đại đội xe tăng đánh chiếm hậu cứ Trung đoàn 45 và khu trung tâm huấn luyện Sư đoàn 23, diệt và bắt 350 tên địch, thu 400 súng.

        Chiều 12 tháng 3, Trung đoàn 174 tiến công cụm quân địch ở cầu Sê-rê-pốc bắt 300 tên địch.

        Ở phía bắc, Trung đoàn 9 Sư đoàn 320 đã đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, điểm cao Chư Bao, ấp Đạt Lý. Cùng với tiến công quân sự, các đội công tác và cơ sở tại chỗ tiến hành phát động quần chúng nổi dậy giải tán bộ máy kìm kẹp của địch.

        Nhiều buôn làng đồng bào kéo nhau về lại làng cũ. Các cuộc mít tinh quần chúng mừng chiến thắng và ra mắt chính quyền cách mạng ở cơ sở, bước đầu ổn định đời sống cho dân, giữ gìn trật tự an ninh, kêu gọi bọn địch tan rã ra đầu thú.

        Ngày 12 tháng 3 Quân uỷ điện cho anh Văn Tiến Dũng, đồng gửi cho tôi và Thường vụ Đảng uỷ Chiến dịch Tây Nguyên có đoạn: " Địch đang có ý định dựa vào các lực lượng chưa bị tiêu diệt của chúng và các điểm phụ cận, tăng thêm lực lượng phối hợp với không quân tiến hành phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột...Vì vậy, việc cấp thiết nhất là nhanh chóng tập trung lực lượng hơn nữa, nhanh chóng tiêu diệt các đơn vị và các căn cứ của địch ở chung quanh Buôn Ma Thuột, tiêu diệt viện binh của chúng. Tiêu diệt được bộ phận quan trọng sinh lực của đích chung quanh Buôn Ma Thuột sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của chiến dịch, Đồng thời chỉ đạo mọi công tác hoạt động trên các hướng phát triển đã dự định: Cheo Reo, Plâyku và đường 19, chú ý khai thác tù binh phục vụ cho tác chiến và binh vận. Chúc thắng to. Ký tên: Chiến".

        Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương cũng gửi điện nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Tây Nguyên đã giành được thắng lợi to lớn ngay trong những ngày đầu của chiến dịch. Bộ Chính trị chỉ thị: "Cần nhanh chóng nắm lấy thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa".

        Sau khi giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, biết thế nào địch cũng phản kích để định chiếm lại Buôn Ma Thuột, ta đã chủ động điều ngay Sư đoàn 10 (thiếu) về ngay đông bắc Buôn Ma Thuột để đánh địch phản kích, và gạn lọc tình huống đánh địch đi phản kích bằng máy bay lên thẳng. Vì đi phản kích là chữa cháy; phải đi rất nhanh. Mưu kế của địch sau khi mất Buôn Ma Thuột là một mặt đưa Sư đoàn 23 ra phản kích và mặt khác là đưa lữ đoàn 3 dù ra chiếm lĩnh đèo Phượng Hoàng để ngăn chặn ta tiến xuống Nha Trang.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Giêng, 2017, 09:58:52 am
         
        Đánh hậu cứ Trung đoàn 53

        Bị mất Buôn Ma Thuột bọn tàn quân địch chạy về căn cứ 45, trường huấn luyện, căn cứ 53, một số tên chạy về ấp Châu Sơn, nhằm co cụm cố giữ những căn cứ còn lại làm bàn đạp chờ quân ở Bản Đôn, Chư Nga kéo về, quân tăng viện tới, hòng cùng nhau phối hợp thực hành phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.

        Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổ chức ngay lực lượng, nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm các mục tiêu còn lại ở ngoài thị xã và truy lùng tàn quân địch lẩn trốn, để ổn định tình hình trong thị xã để sẵn sàng đánh địch phản kích. Trong đó mục tiêu chủ yếu là căn cứ Trung đoàn 53.

        Căn cứ Trung đoàn 53 nguỵ nằm về đông nam sân bay Hoà Bình, cách trung tâm thị xã khoảng 10km. Căn cứ được thiết bị phòng ngự rất vững chắc. So với các căn cứ khác, căn cứ 53 được bố trí phòng ngự vững chắc hơn cả. Quanh căn cứ có 5 đến 7 lớp rào kẽm gai, xen kẽ giữa các lớp rào là bãi mìn. Lớp tường đất bao quanh căn cứ đắp cao và dày, các lô cốt và các ụ súng cũng được bố trí ngay trong tường đất hướng mũi súng ra ngoài. Hai hầm chỉ huy của Trung đoàn trưởng bằng bê tông xây chìm xuống đất. Trong căn cứ lúc này có Trung đoàn 53 (thiếu), 1 chi đội M113, do viên trung tá đoàn trưởng Võ Ân chỉ huy. Gọi là căn cứ Trung đoàn 53, nhưng đó là hậu cứ của 2 Trung đoàn 44 và 53. Dựa vào hầm ngầm chúng chống trả quyết liệt và làm thất bại các cuộc tiến công của ta.

        Khi vạch kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh chiến dịch rất quan tâm đến mục tiêu sân bay Hoà Bình và căn cứ Trung đoàn 53. Bởi kinh nghiệm từ năm 1972, khi quân ta đã bao vây thị xã Kon Tum, quân nguỵ chỉ còn một cửa ngõ duy nhất là sân bay Kon Tum. Vậy mà, từ sân bay còn giữ được này, quân nguỵ dùng làm bàn đạp đưa Sư đoàn 23 đến phản kích để giành giật lại được thị xã.

        Do vậy, việc đánh chiếm căn cứ Trung đoàn 53 và sân bay Hoà Bình lúc này là rất quan trọng, nhằm đập tan khu vực đầu cầu để phản kích của Sư đoàn 23 hòng chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột.

        Trước mắt việc đánh chiếm sân bay Hoà Bình (Phụng Dực) do Trung đoàn đặc công 198 đảm nhiệm. Trung đoàn đặc công 198 được trang bị súng phòng không12,7 mm và tên lửa phòng không vác vai A72 để có thể đủ khả năng trụ bám lại sau khi đánh chiếm được sân bay. Do bảo đảm tính bí mật, bất ngờ, nên Trung đoàn phải hành quân theo đường giao liên xuống Phú Yên rồi mới vòng trở lại. Đường đi mất 12 ngày, đến ngày thứ 9 lương thực đã cạn nên có đơn vị phải đào củ mài để ăn. Do hành quân liên tục, nên nhiều ngày Trung đoàn không giữ được liên lạc với sở chỉ huy chiến dịch.

        Tuy vậy, đúng theo hiệp đồng, 2 giờ 10 phút ngày 10 tháng 3 Trung đoàn 198 đã nổ súng và nhanh chóng đánh chiếm được sân bay Hoà Bình. Riêng đội đặc công đánh vào căn cứ 53 gặp nhiều trở ngại. Sau khi đột nhập vào căn cứ, các mũi đã nổ súng đánh được một số mục tiêu, nhưng sau đó lại bị địch đánh bật ra. Quân địch phát hiện được cửa mở xông ra bịt lại. Một số rút được ra ngoài, nhưng một số khác đã bị địch bắt và chúng đã đưa vào căn cứ tra tấn đánh đập, có đồng chí bị chúng thiêu chết rất dã man.

        Ngày 12 tháng 3, Phạm Văn Phú bay trực thăng đến vùng trời căn cứ 53. Phú đã cho trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53 biết quân tăng viện đang được đổ xuống Phước An để giải vây tái chiếm lại thị xã và toàn bộ Sư đoàn 23 đang rời Mặt trận Nam Plâyku, trở về Buôn Ma Thuột trong một cuộc hành quân trực thăng vận đại qui mô và động viên tên này cố chống cự đến cùng, chờ Sư đoàn 23 về phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột.

        Thực hiện ý định đó, Ân đã chỉ huy Trung đoàn 53 chống cự rất ngoan cố. Y đã ra lệnh cho binh lính: "Kẻ nào ra khỏi công sự sẽ bị bắn tại chỗ". Được cấp trên khích lệ, Võ Ân càng tỏ ra độc ác, hắn ra lệnh cho binh lính trong căn cứ tăng cường củng cố công sự. Mỗi gia đình binh lính bị lùa vào giữ một lô cốt, hoặc một côngtơnơ được đắp bao cát xung quanh; trong mỗi lô cốt có một khẩu đại liên và một bao lựu đạn to. Khi căn cứ bị tiến công, tên nào rời công sự lập tức bị bắn chết tại chỗ. Theo lệnh của Ân, các tên chỉ huy cấp dưới của hắn đã tàn sát dã man những người rời vị trí, có khi chỉ vì đi xin nước uống, xác chết chỉ được vùi lấp qua loa.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Giêng, 2017, 10:02:10 am

        Do các nơi đều bị mất, nên tàn quân địch đợi đến đêm lén chạy trốn vào căn cứ, mặc dù đã bị quân ta vây bên ngoài bắn đuổi theo chúng vẫn cố lao vào căn cứ.

        Liên đoàn biệt động quân số 21 (thiếu) sau khi thấy Buôn Ma Thuột bị mất, cũng đã lần mò về phía đông căn cứ 53. Binh lính các nơi khác bị thua cũng đều dồn về căn cứ 53. Lúc này căn cứ 53 như cái túi chứa đủ mọi loại tàn quân của địch.

        Căn cứ 53 còn thì sân bay Hoà Bình có nguy cơ sẽ bị địch chiếm lại và đó sẽ là cửa ngõ để địch đưa quân phản kích giành lại thị xã. Do vậy, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đưa Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 vào tiến công căn cứ 53.

        Ngày 14 tháng 3 khi tiến công Trung đoàn 149 đã đánh nhầm vào khu điều vận máy bay, vì không nhận rõ được mục tiêu; đến khi tiến sang căn cứ 53 thì đã bị địch biết và chặn lại.

        Ngày 15 tháng 3, Trung đoàn 149 tiến công lần thứ hai. Máy bay địch đến đánh vào đội hình gây thương vong nặng cho Trung đoàn, cuộc tiến công vào căn cứ 53 lần này vẫn bị thất bại.

        Tuy quân địch vẫn còn giữ được căn cứ 53, nhưng chúng đã hết lương thực, địch phải dùng máy bay thả dù xuống tiếp tế. Vì sợ pháo cao xạ của ta nên máy bay phải bay rất cao để thả dù và dù đã lọt vào tay quân ta. Tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước, người chết tăng lên mà không có chỗ chôn cộng với mùi khói đạn làm cho bầu không khí trong căn cứ hết sức căng thẳng và ghê rợn.

        Lúc này, Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 đã đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống đông bắc căn cứ 53, một đại đội trinh sát của Trung đoàn 45 đã tiến đến gần sát rào căn cứ này. Do vậy Trung đoàn 53 càng chống cự lại ta một cách điên cuồng.

        Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 của Sư đoàn 10 vừa từ Đức Lập về, được tăng cường 1 đại đội xe tăng phối thuộc cho Sư đoàn 316 để tiêu diệt căn cứ 53.

        Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 3 dưới sự chi viện đắc lực của cụm pháo binh chiến dịch, Trung đoàn 66 đã từ hướng tây bắc và Trung đoàn 149 từ hướng tây nam đã đột phá vào căn cứ 53. Quân địch bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại tháo chạy về phía đông.

        Căn cứ 53 bị tiêu diệt, bàn đạp triển khai phản kích của Sư đoàn 23 đã bị mất. Niềm hy vọng tái chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột của địch đã bị lung lay.

        Trong lúc này trên các hướng khác, bộ đội đã tiến công địch dồn dập.

        Ngày 19 tháng 3 Trung đoàn 271 đã chiếm ấp Nhân Cơ Nhơn Hải, áp sát vào sân bay Nhân Cơ.

        Trước đó trên các hướng phối hợp.

        Ngày 11 tháng 3, Trung đoàn 25 diệt một đoàn xe địch trên đường số 2 1 ở khu vực Chư Cúc và diệt một bộ phận địch từ Khánh Dương lên giải toả đường 21.

        Ngày 12 tháng 3, Trung đoàn 19 Sư đoàn 968 đã chiếm thêm 2 vị trí của địch ở nam Plâyku, áp sát vào quận lỵ Thanh Bình 2, uy hiếp Thanh An, tiếp tục bắn pháo vào Plâyku, Kon Tum.

        Ngày 13 tháng 3, Trung đoàn 95A tiêu diệt một cụm địch ở ngã ba Plâyku. Tiếp đó, đã tiêu diệt 2 chi đoàn thiết giáp, đánh bại phản kích của địch và phát triển xuống hướng đèo Mang Giang. Ở phía đông, sau khi tiêu diệt 9 chốt của địch, Sư đoàn 3 (thiếu) Quân khu 5 đã phát triển tiến công về hướng Vườn Xoài, đường số 19 vẫn tiếp tục bị cắt đứt hoàn toàn.

        Trên các chiến trường bạn, ngày 10 tháng 3 bộ đội Quảng Nam đã đánh chiếm quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, uy hiếp địch ở Tam Kỳ. Tiếp đó, đã đánh bại các đợt phản kích của Sư đoàn 2 nguỵ.

        Ở Thừa Thiên, ngày 10 tháng 3 Sư đoàn 324, Quân đoàn 2 đã tiến công căn cứ 303 và nhiều căn cứ khác trên trục đường số 14 ở khu vực phía tây Truồi.

        Ở Nam Bộ, đã đánh mạnh ở Bình Long và Tây Ninh.

        Thời gian là lực lượng !

        Có điều gì khắc nghiệt mà dễ hiểu hơn chân lý đó của chiến tranh? Tranh thủ được một tiếng đồng hồ, lực lượng có thể tăng gấp đôi, tranh thủ được 24 tiếng đồng hồ, lực lượng có thể tăng gấp mười !

        Khi nhận thấy không còn cần thiết, Bộ Tư lệnh đã điều ngay tiểu đoàn làm dự bị Sư đoàn 10 về trong đội hình Trung đoàn 24 và cho lệnh điều tiếp Trung đoàn 66 khi Đức Lập đã chắc thắng, khẩn trương cơ động về vị trí sẵn sàng đánh địch phản kích.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Giêng, 2017, 10:06:20 am

        Để tranh lấy yếu tố thời gian, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã huy động tất cả các phương tiện cơ giới có thể có được lúc đó để cơ động bộ đội. Vừa ra khỏi chiến đấu, đẫm mình hơi thuốc súng và bụi đất, nguyên cả âm vang của thắng lợi vừa qua và lòng hăm hở hướng tới, các chiến sĩ Sư đoàn 10 lại lao nhanh trên đường để bước tiếp vào trận chiến đấu mới. Dù kẻ địch có điều đến thêm lực lượng thì Sư đoàn dự bị chiến dịch đã sẵn sàng đối phó. Vấn đề quan trọng nhất lúc này là chúng ta phải tranh thủ được thời gian.

        Vừa cơ động đến nơi, từng đơn vị của Sư đoàn 10 đã lao ngay vào trận chiến đấu đánh địch trong hành tiến, và trận chiến đấu quyết định số phận Sư đoàn bộ binh 23, liên đoàn biệt động 21 và thậm chí cho cả chiến dịch nam Tây Nguyên đã đến.

        Sau khi ta giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, bọn chỉ huy địch đề ra một số tình huống xử trí như sau:

        - Ngăn chặn bước tiến của quân ta từ Buôn Ma Thuột theo đường số 21 về Ninh Hoà và Nha Trang.

        - Đối phó với cuộc tiến công của quân ta vào Plâyku

        - Có điều kiện thì phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột.

        Thế nhưng, trong thế trận lúc bấy giờ, đối với tình huống nào chúng cũng khó xử trí.

        Bản thân lực lượng quân đoàn 2 của địch ở Tây Nguyên chỉ có Sư đoàn 23 là đáng kể, còn các liên đoàn biệt động quân thì sức chiến đấu kém. Lực lượng tổng dự bị chiến lược thì bị phân tán ở nhiều nơi và cũng đang bị tiến công. Bọn chỉ huy quân đoàn 2 ngụy giờ đây sống chết phải tự mình lo liệu, không nhờ cậy được gì ở sự chi viện của bọn cầm đầu Mỹ - nguỵ.

        Vô cùng bối rối và cay đắng, bọn chúng chỉ có cách tung đứa con cưng là Sư đoàn 23 (thiếu) gồm Trung đoàn 44 và Trung đoàn 45 xuống phía đông Buôn Ma Thuột, trên đường số 21. Mọi đường bộ đều bị quân ta chiếm giữ và cắt đứt. Chúng không có cách nào hơn là đổ quân xuống bằng máy bay lên thẳng. Như vậy, số quân phản kích không thể mang theo xe tăng mà chỉ có một số khẩu pháo, rất ít đạn dược, xăng dầu và các thứ cơ sở vật chất khác.

        Rõ ràng, hai Trung đoàn bộ binh đổ bộ bằng máy bay lên thẳng dù có liều lĩnh cũng không thể đối địch được với một đối phương hùng mạnh, có đủ các binh chủng đang tràn đầy khí thế chiến thắng và đang ở trong cao trào của cuộc tiến công mãnh liệt. Mặc dầu có một số máy bay chi viện, song không có xe tăng và pháo binh thì bọn quân phản kích của địch khó có sức chiến đấu mạnh,

        Đây là vấn đề gạn lọc tình huống. Địch đi phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột có hai tình huống. Tình huống đi đường bộ và tình huống đi bằng máy bay lên thẳng. Ta cho Sư đoàn 320 ra cắt đường. Địch không có khả năng đi đường bộ. Vì đi phản kích như đi chữa cháy, phải đi bằng máy bay. Ta gạn lọc tình huống đi bằng đường bộ, buộc địch phải đi bằng máy bay ta đánh dễ hơn.

        Từ chiều ngày 12 tháng 3 đến hết ngày 13 tháng 3 năm 1975, với tổng số 145 lần chiếc máy bay lên thẳng và 81 lần chiếc các loại máy bay chiến đấu cường kích hoạt động yểm hộ, địch đã đổ Trung đoàn 45 và pháo đội 232 xuống đông Buôn Ma Thuột, từ điểm cao 581 và dọc theo đường số 21 đến Phước An.

        Trong ngày 12 tháng 3, ta được tin tên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 nguỵ báo cho căn cứ 53 ở sân bay Phụng Dực (Hoà Bình) đang bị quân ta bao vây là: chúng sẽ có lực lượng xuống tăng viện, ứng cứu và sẽ thực hiện phản kích lấy lại thị xã Buôn Ma Thuột. Theo kế hoạch phản kích, chúng lấy khu vực từ căn cứ 45 đến căn cứ 53 và điểm cao 581 làm tuyến bàn đạp, các lực lượng tàn quân phải tập trung về đó, phối hợp với quân đến tăng viện để thực hành phản kích vào đông và đông – nam Buôn Ma Thuột.

        Kế hoạch tiêu diệt Sư đoàn 23 nguỵ đã được lập ra kế tiếp ngay sau với kế hoạch đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Bởi vì gần như điều tất yếu Buôn Ma Thuột bị tiến công thì đơn vị đầu tiên về ứng cứu sẽ là Sư đoàn 23. Mặt khác, hậu cứ của Sư đoàn này ở Buôn Ma Thuột, nên binh lính càng nóng lòng muốn về chốn cũ. Dự kiến đánh địch phản kích của ta rất chủ động. Ta đã bố trí lực lượng đánh phản kích trước khi địch đổ quân hướng đông bắc Buôn Ma Thuột.

        Trong kế hoạch đánh Sư đoàn 23 điều cốt lõi là dự kiến cho đúng thời gian, địa điểm và cách thức trở về của sư đoàn này để điều hành chuyến trở về của nó theo quyết định của ta. Từ việc gạn lọc tình huống ta đã dự kiến, Sư đoàn 23 có thể về sau khi Buôn Ma Thuột bị tiến công 2-3 ngày.

        Về địa điểm, ta dự kiến chúng có thể xuống đường số 14, hoặc đường số 21.

        Về cách thức đi về thì đường bộ đã bị ta cắt đứt, sân bay ta đã bị khống chế, nên chúng chỉ có thể trở về bằng máy bay lên thẳng, mà loại máy bay này trong biên chế của quân nguỵ chỉ đủ khả năng chở lần lượt từng Trung đoàn và không mang theo được xe tăng và những dàn pháo lớn đi cùng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Giêng, 2017, 03:05:11 pm

        Để loại trừ khả năng địch xuống đường 14, ta phải quét sạch địch trên con đường này và chiếm lĩnh ngay các địa hình mà chúng có thể lợi dụng để triển khai phản đột kích vào thị xã. Giải quyết được việc đó thì địch chỉ còn một địa điểm đổ quân là đường số 21 và ở đó còn có sự kháng cự của Trung đoàn 53.

        Từ dự kiến trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 (từ Đức Lập mới về) chuẩn bị tiêu diệt Sư đoàn 23 trên đường số 21.

        (Xin lưu ý cùng bạn đọc. Vì các trận được kể ra ở đây có lúc diễn ra gối đầu nhau, nên về mặt thời gian đôi khi phải lặp lại. Mong bạn đọc chú ý theo dõi. Cảm ơn ).

        Quân nguỵ thực hành phản kích hòng tái chiếm Buôn Ma Thuột. Diễn biến này được kể lại như sau:

        "Cuộc đổ quân tăng viện cho Mặt trận Buôn Ma Thuột trong 2 ngày 12 và 13 tháng 3 năm 1975 được coi là cuộc đổ quân tăng viện bằng trực thăng vĩ đại nhất kể từ khi Hiệp định Pa ri 1973 được ký kết, và cũng là cuối cùng trên chiến trường Cao nguyên.

        Những phi đoàn trực thăng của các Sư đoàn 1 và 4 không quân từ Đà Nẵng, Cần Thơ cùng với một số trực thăng cơ hữu của Sư đoàn không quân (Plâyku), với hơn 100 trực thăng đủ loại kể cả những Chinook khổng lồ, đều được tập trung để sử dụng cho cuộc đổ quân tăng viện này.

        Từ 8 giờ sáng ngày 12 tháng 3, tại căn cứ Hàm Rồng, bản doanh Bộ Tư lệnh hành quân của Tư lệnh Mặt trận Nam Plâyku, và bộ chỉ huy các Trung đoàn 45 và 44 thuộc Sư đoàn 23, trực thăng bay rợp trời. Những sĩ quan điều khiển và chỉ huy cuộc hành quân này là các Trung đoàn trưởng, trưởng phòng 3 hành quân của quân đoàn 2 và Sư đoàn 23, phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng Sư đoàn 6 không quân.

        Đợt bay đầu tiên, đại đội trinh sát của Sư đoàn 23 và 2 tiểu đoàn tác chiến của Trung đoàn 45 được bốc đi trước nhất.

        Tiếp đó, những Chinook khổng lồ móc theo những khẩu đại bác 105 ly thả xuống trận địa, Quận lỵ Phước An phía đông Buôn Ma Thuột là địa điểm mà đoàn quân tăng viện nhảy xuống”.

        Cũng theo lời kể:

        "13 giờ trưa ngày 12 tháng 3, tướng Phạm Văn Phú rời Plâyku bay chỉ huy mặt trận Buôn Ma Thuột trên chiếc phi cơ nhỏ U- 17. Tới Buôn Ma Thuột khoảng 14 giờ 30, tướng Phú đã bay trên trận địa chỉ huy các cánh quân gần 1 giờ liền. Lần lượt tướng Phú đã liên lạc ra lệnh cho tất cả đơn vị trưởng các đơn vị đang chiến đấu phía dưới, như Trung đoàn bộ binh 53, liên đoàn 21 biệt động quân, các tiểu đoàn địa phương quân Đăk Lắc.

        Vẫn không có tin tức gì về đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 và đại tá tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột, ngoài nguồn tin của các đài phát thanh Việt Cộng loan báo họ đã bắt sống.

        Buổi trưa ngày 12 tháng 3, trời trong sáng. Từ trên cao, qua khung cửa sổ nhỏ của chiếc U-17 cả một vùng trời và thị xã Buôn Ma Thuột hiện ra rất rõ. Những phản lực cơ A -37 và khu trục cơ vẫn tiếp tục bay tới đánh bom yểm trợ cho những cánh quân bạn dưới đất. Từng cột khói, và những đám cháy bốc cao. Dân chúng kéo nhau lũ lượt băng rừng chạy về phía Phước An, Khánh Dương.

        Tướng Phú trở về Plâyku được tin Tổng thống Thiệu gọi lên lúc 14 giờ, khi ông đang bay thanh sát mặt trận Buôn Ma Thuột, ông đã liên lạc với Sài Gòn và trình Tổng thống Thiệu tình hình sau cùng của trận chiến Buôn Ma Thuột. Cả Tổng thống Thiệu và tướng Phú đều lo ngại về sự cung khai của hai tù binh Bắc Việt do Trung đoàn bộ binh 53 bắt được về nguồn gốc đại đơn vị của chúng: Sư đoàn 316 tổng trù bị Cộng sản Bắc Việt, mà theo tin tức tình báo còn ở ngoài Thanh Hoá tháng trước. Tổng thống Thiệu cũng đã ra lệnh cho tướng Phú phải thâu thập mọi tin tức địch tình chính xác tại Mặt trận Buôn Ma Thuột, và đặc biệt về Sư đoàn 316, đệ trình lại ông trong một buổi họp quan trọng sắp tới mà tướng Phú sẽ được thông báo sau .

        Chiều ngày 12 tháng 3, Việt Cộng từ những đỉnh cao phía tây bắc Plâyku quân ta nã hoả tiễn vào phi trường quân sự Cù Hanh, và bộ tư lệnh quân đoàn. Một quân nhân tài xế bị trúng đạn tử thương ngay gần cột cờ trước bộ tư lệnh làm cho tướng Phú nổi cơn thịnh nộ. Người sĩ quan chỉ huy lực lượng thám kích quân đoàn 2, thiếu tá Ngọ được lệnh bằng mọi cách không để cho một hoả tiễn, hay một viên đạn súng cối nào của địch bay tới Bộ Tư lệnh quân đoàn nữa (!) đứng đó chịu trận, và thấy trước mặt những cơn thịnh nộ khác của vị tư lệnh quân đoàn còn tiếp tục đến với ông ta. Bởi vì với núi đồi trùng điệp với đêm tối chỉ cần một vài đặc công cảm tử của Việt Cộng sau khi thoát được những ổ phục kích của lực lượng thám kích quân đoàn 2, đeo ống phóng bò tới gần cho những hoả tiễn bay khỏi nòng rồi bỏ chạy, thì chẳng có cách nào có thể tìm ra tung tích của chúng. Nhưng, trong quân đội, "lệnh là lệnh !".


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Giêng, 2017, 03:09:27 pm

        Tướng Phú đi trực thăng vào vùng trời Buôn Ma Thuột lần này là để chọn đường về cho Sư đoàn 23. Ý tưởng đó được hình thành ngay sau khi biết tin xe tăng của Việt Cộng đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột. Nhưng về bằng con đường nào? và triển khai ở đâu? Tình hình biến chuyển quá nhanh.

        Sau khi thị xã Buôn Ma Thuột bị mất, đại tá Quang và đại tá Luật bị bắt. Phần lớn các căn cứ chung quanh Buôn Ma Thuột đã bị đánh chiếm. Hiện chỉ còn căn cứ 53 và quận ly Phước An là những nơi có thể dựa được. Phú quyết định chọn khu vực này để đưa Sư đoàn 23 về đứng chân. Muốn vậy phải giữ được căn cứ 53 bằng mọi giá. Phú bay trên vùng trời căn cứ 53 động viên Võ Ân cố gắng giữ vừng căn cứ và hứa sẽ đưa Sư đoàn 23 về ngay.

        Do con đường số 14, con đường bộ duy nhất nối Plâyku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt, nên cách duy nhất để đưa được cả Sư đoàn 23 về là sử dụng máy bay trực thăng chở quân. Tuy vậy, dù có cố gắng đến mấy thì mỗi ngày cũng chỉ đổ quân được một Trung đoàn. Và như vậy phải mất hai, ba ngày mới xong.

        Về phía ta, thấy trước âm mưu và khả năng phản kích của địch vào thị xã, ngay sau khi trận Đức Lập vừa kết thúc, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều Sư đoàn 10 tới phía đông Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh quân địch phản kích. Như đã dự kiến từ trước về tình huống này, nhằm đánh bại âm mưu dùng các căn cứ còn lại làm bàn đạp đổ quân phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột. Ngay trong đêm 11 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 10 tổ chức tiêu diệt căn cứ 45 và cứ điểm Chư Nga, Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 và Trung đoàn đặc công 198 tiêu diệt căn cứ B50.

        5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 cùng thời gian với các đơn vị đánh căn cứ B50, được sự chi viện của pháo binh Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 10 cùng xe tăng chia thành hai mũi đột kích, thọc thẳng vào trung tâm căn cứ 45.

        Thật rủi ro cho quân địch tăng viện. Hồi 9 giờ 30 phút ngày 12 tháng 3, quân ta đã chiếm mất căn cứ 45 rồi. Thế là Trung đoàn 45 và pháo đội 232 của địch không còn chỗ đứng chân ở căn cứ 45 nữa, và chúng cũng chẳng liên lạc được với căn cứ 53. Cuối cùng chúng buộc phải đổ xuống các toạ độ không được xác định trước ở khu vực Nông Trại - Phước An. Bọn tàn quân của liên đoàn biệt động quân số 21 đang tháo chạy tan tác vội xô nhau tới nhờ bọn mới đổ bộ tăng viện che chở.

        Nhưng, như ta biết: trong phương án tác chiến chiến dịch, quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng đánh quân địch tăng viện bằng đường không. Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, ta đã di chuyển các trận địa pháo binh và pháo cao xạ ra phía đông thị xã này. Sau khi tiêu diệt địch và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Đức Lập, Sư đoàn bộ binh 10 dự bị của chiến dịch, 1 sư đoàn tinh nhuệ do đại tá Hồ Đệ chỉ huy; người có nhiều kinh nghiệm tác chiến binh chủng hợp thành đã tổ chức lực lượng, khẩn trương chuyển đến khu vực tác chiến dự kiến.

        Từ ngày 10 tháng 3, các lực lượng của Sư đoàn đã lần lượt hành quân bằng cơ giới qua hơn 100 ki-lô-mét đường quân sự làm gấp tới đông Buôn Ma Thuột. Trung đoàn 24 là đơn vị đầu tiên triển khai lực lượng sẵn ngay tại chỗ. Trung đoàn 45 địch vừa đổ quân xuống, liền bị Trung đoàn 24 của ta đánh luôn một trận phủ đầu và lập tức bị ngăn chặn không liên hệ được với Trung đoàn 53 nguỵ đang bị quân ta bao vây tiến công uy hiếp ở sân bay Phụng Dực. Quân ta liên tục bám đánh và bao vây cô lập quân viện, tạo thế cho các lực lượng của Sư đoàn tiếp sau triển khai đội hình tiến công.

        Mưu kế của địch là Trung đoàn 53 cố giữ vững trận địa, đợi Trung đoàn 45 tới cùng hiệp lực để đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột.

        Chiều ngày 12 đến sáng 13 tháng 3, phát hiện địch cho Trung đoàn 45 của Sư đoàn 23 đổ quân xuống vùng cao điểm 581, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 10 tiến công Trung đoàn 45 nguỵ.

        Quân địch từ chỗ tăng viện để phản kích của quân ta, giờ đã trở thành kẻ bị bao vây. Chúng hiểu được nguy cơ đó nên chúng rất tích cực đào công sự, rất tích cực "gào" máy bay, pháo binh bắn phá oanh tạc ngăn chặn quân ta.

        Suốt đêm 13 tháng 3, địch cho máy bay C.130 liên tục thay nhau thả pháo sáng, bắn đạn 201y quanh cao điểm 581 và dọc đường 21 để trấn an tinh thần bọn lính vừa được đổ xuống. Song địch ngăn sao nổi dòng thác tiến công của quân ta ập tới.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Giêng, 2017, 03:13:47 pm

        Ngay trong đêm 13 tháng 3, Trung đoàn 24 và các đơn vị tăng cường của quân ta đã vượt mọi địa hình sình lầy, gai góc, đường khúc khuỷu, quanh co dưới làn pháo đạn địch để tiến vào vị trí xuất phát tiến công. Vì gặp khó khăn nên các hướng quân ta không thực hiện được kế hoạch hiệp đồng theo giờ "G" nổ súng vào lúc trời mờ sáng.

        Tới 7 giờ ngày 14 tháng 3, pháo binh ta mới bắt đầu bắn được, Trung đoàn 24 cùng xe tăng của Trung đoàn 273 chia thành 2 mũi đột thẳng lên cao điểm 581. Khi thấy bộ binh ta và xe tăng tiến đến gần, nhiều tên địch khiếp sợ xin hàng hoặc bỏ chạy. Bị truy ép từ phía sau, lại rơi đúng vào trận địa đón lõng của ta ở phía trước, các lực lượng của tiểu đoàn 2 nguỵ nhanh chóng bị tiêu diệt và tan rã. Thừa thắng các chiến sĩ Trung đoàn 24 cùng xe tăng đánh thẳng ra đường 21.

        Mặc dù lực lượng ít, các chiến sĩ ta vẫn táo bạo lao vào giữa đội hình dày đặc của tiểu đoàn 1 nguỵ, dùng hoả lực diệt chúng và tiếp tục phát triển về phía đông. Trên đường tiến công, một chiếc cầu bị đại đội bảo an cho nổ bộc phá rồi bỏ chạy. Các chiến sĩ công binh nhanh chóng làm ngầm cho xe tăng tiếp tục truy kích và phải mất gần hai giờ chiến đấu với địch, bộ binh và xe tăng ta mới làm chủ hoàn toàn được trận địa tới phân chi khu Phước Bình.

        Đến 12 giờ ngày 14 tháng 3 Trung đoàn 24 đã tiêu diệt, làm tan rã tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 45 và tiểu đoàn bảo an địch đóng tại khu vực, chiếm điểm cao 581, giải phóng đoạn đường số 21 dài 12 ki-lô-mét. Quân địch còn lại tháo chạy, chiều 14 tháng 3 chúng co cụm vào được khu Nông Trại. Quân ta lập tức tung ngay trinh sát bám sát chúng, đồng thời tổ chức các lực lượng phát triển tiếp theo.

        Mưu kế của địch vẫn không thay đổi, chúng chuẩn bị cho Trung đoàn 44 xuống tiếp để cứu Trung đoàn 45 và chi viện cho Trung đoàn 53.

        Mưu kế đối phó của ta khi một tiểu đoàn của Sư đoàn 316 và một đội đặc công không đánh được Trung đoàn 53 địch ở căn cứ 53, ta điều Trung đoàn 66, Sư 10 vào tác chiến để phá tan bàn đạp căn cứ 53. Trung đoàn 66 vào tác chiến là ta tiêu diệt được Trung đoàn 53.

        Tình thế chiến trường ở khu vực đường số 21 lúc này chuyển biến rất nhanh, một hình thái mới đã xuất hiện: Quân địch tuy vẫn còn khả năng đưa thêm quân đến tăng viện, nhưng bàn đạp để chúng triển khai thực hành phản kích vào Buôn Ma Thuột đã bị đẩy ra xa... Xét các yếu tố tinh thần, vật chất của địch, trước mắt chúng không đủ sức phản kích và thời cơ phản kích trực tiếp vào Buôn Ma Thuột cũng không còn nữa.

        Qua ngày 15 tháng 3, theo các tin tức trinh sát, kỹ thuật và các phân đội bám sát địch báo cáo về thì quân địch đến tăng viện bị đánh phủ đầu thua chạy đang thực sự co vào phòng ngự ngăn chặn quân ta phát triển tiến công. Quân tăng viện của địch cũng đã đến thêm, có Trung đoàn 44 (Sư đoàn 23) đang đổ quân xuống phía bên trong tuyến co cụm Phước An, riêng sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 di chuyển xuống ở luôn khu vực Nông Trại với tàn quân của Trung đoàn 45. Kể cả số quân ở các nơi bị đánh tan tác chạy về, từ khu vực Nông Trại đến Phước An tổng cộng có khoảng 5.600 tên và từ đông Phước An đến Chư Cúc có khoảng 3 tiểu đoàn bảo an chiếm giữ.

        Quân ta đang từ thế trận đánh quân địch phản kích đã nhanh chóng hình thành thế trận tiến công trong hành tiến và phát triển sâu vào hướng Phước An – Chư Cúc. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên lập tức chỉ thị cho Sư đoàn bộ binh 10 điều Trung đoàn 28 dùng xe cơ giới hành quân ngay trong đêm 15 tháng 3 để tăng cường nhanh sức chiến đấu, cùng Trung đoàn 24 đánh tiếp các lực lượng của Sư đoàn 23 địch, trước mắt tiêu diệt nốt lực lượng còn lại của Trung đoàn 45 nguy, đánh chiếm bằng được ngã ba Nông Trại và quận lỵ Phước An càng sớm càng tốt, tạo điều kiện cho quân ta phát triển tiến công tiêu diệt toàn bộ Sư đoàn 23 nguỵ và các đơn vị nguỵ khác ở trong khu vực, giải phóng Phước An, Chư Cúc.

        Chấp hành ý định của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Sư đoàn bộ binh 10 đã nhạy bén phát hiện ra chỗ yếu của địch là ít pháo, lại không có xe tăng và đối phó lúng túng. Căn cứ vào phát hiện đó, quân ta đã vận dụng nhiều hình thức đánh địch rất phong phú. Ít hơn địch về số lượng, quân ta đã khẩn trương tổ chức trận đánh theo một kế hoạch tập trung, thống nhất hành động và có chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ. Đặc biệt đánh quân địch ở trạng thái thua chạy, co vào tuyến phòng thủ ngăn chặn cùng với quân bảo an và tàn quân ô hợp các nơi kéo về, quân ta đã dùng hình thức vận động bao vây tiến công liên tục, tiến công địch trong hành tiến, vây rồi mới đánh, vừa đánh vừa vây, địch chạy thì truy kích sát gót, làm cho chúng không kịp trở tay đối phó, và từ đó đẩy chúng vào thế bị động hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Giêng, 2017, 11:08:57 am

        7 giờ 15 phút ngày 16 tháng 3, pháo binh ta lại tiếp tục bắn vào Nông Trại, trúng ngay sở chỉ huy Trung đoàn 45 nguỵ. Sau đó 25 phút, xe tăng - xe bọc thép chở bộ binh một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 được phối thuộc cho Trung đoàn 24 và Trung đoàn 24 từ tuyến xuất phát tiến công các tiền duyên địch 300 mét tiến lên đột phá vào trận địa địch. Dọc đường, bộ đội ta gặp một bộ phận địch xảo quyệt phục kích hai bên đường, dùng súng chống tăng và trung liên ngăn chặn, kết hợp với pháo binh trong Nông Trại bắn ra và máy bay A.37 lao tới phóng hoả tiễn vào xe tăng ta. Nhưng vỏ quít dày có móng tay nhọn, quân ta táo bạo triển khai ngay xe tăng, dùng hoả lực yểm hộ cho bộ binh xông tới đánh trả quyết liệt và dùng toàn bộ hoả lực cao xạ trong đội hình tập trung bắn máy bay. Cùng lúc, pháo binh ta cũng tập trung bắn dồn dập vào quân địch ở tuyến một.

        Quân phục kích của địch bị phản phục kích một trận đau: một số bị tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Quân ta thừa thắng cho xe tăng – xe bọc thép chở bộ binh tiếp tục xông thẳng vào trận địa địch. Một mũi xe tăng - xe bọc thép đánh vào sở chỉ huy địch, một mũi bộ binh đột phá từ hướng bắc xuống và một mũi bộ binh khác được xe tăng yểm hộ từ phía tây – nam đánh vào. Từng bước phát triển, quân ta tận dụng mọi thứ trang bị, phát huy uy lực của súng B.40, B.41 để tiêu diệt các hoả điểm, công sự và sinh lực địch. Mỗi mũi tiến công của quân ta như một mũi dao nhọn, tiến đến đâu quân địch gục ngã đến đó.

        Đúng 8 giờ 15 phút ngày 16 tháng 3, quân ta làm chủ Nông Trại, tiêu diệt hoàn toàn các lực lượng còn lại của Trung đoàn 45 nguy. Sở chỉ huy dã chiến Sư đoàn 23 nguỵ trốn chạy bằng máy bay lên thẳng. Ta chiếm được một chiếc máy bay lên thẳng còn đang nổ máy và 4 khẩu pháo 105 ly. Số tàn quân địch chạy về hướng ngã ba Phước An lại bị bộ phận khoá sẵn phía sau của ta tóm gọn.

        Chiều ngày 16 tháng 3, Trung đoàn pháo binh 40, bắn pháo dồn dập vào cụm quân của Trung đoàn 44 nguỵ ở Nông Trại. Đồng thời, trong đêm 16 tháng 3, Trung đoàn 66 (thiếu) cùng 1 đại đội xe tăng và 2 khẩu pháo 85ly phối hợp chiến đấu với Trung đoàn 149 thuộc Sư đoàn 316 đánh dứt điểm căn cứ 53 làm cho quân địch không còn chỗ dựa để phản kích vào Buôn Ma Thuột.

        Tại Phước An, có khoảng bốn ngàn quân địch dựa vào công sự, hình thành một cụm quân rất mạnh.

        Trong khi Trung đoàn 24 truy kích quân địch chạy về hướng quận lỵ Phước An, Trung đoàn 28 đã cử trinh sát bám địch để chuẩn bị đón Trung đoàn cơ động sang đánh Phước An, theo kế hoạch. Nhưng quân địch phòng giữ quận lỵ Phước An đã rút chạy và trên hướng đông-bắc quận lỵ chỉ còn 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 44 nguỵ đổ bộ xuống từ chiều 16 tháng 3. Tiểu đoàn này đứng ở đây đón bọn tàn binh của Trung đoàn 53 nguỵ ở sân bay Phụng Dực bị các Trung đoàn 66 và 149 tiến công quyết liệt vào căn cứ, đang tan tác chạy tới.

        Trung đoàn 24 liền triển khai lực lượng chiếm ngay khu vực Phước An, truy lùng bọn địch lẩn trốn, đón đánh bọn tàn binh Trung đoàn 53 nguỵ, đồng thời chấn chỉnh lực lượng để sẵn sàng cơ động. Còn Trung đoàn 28 thì cơ động lực lượng, phối hợp với xe tăng - xe bọc thép, pháo binh và cao xạ đánh theo trục đường số 21, diệt các lực lượng của Trung đoàn 44 nguỵ, tiến công Chư Cúc và phát triển về hướng đông.

        Ngày 17 tháng 3 quân ta phát hiện thấy Trung đoàn 44 nguỵ đang giấu quân lẩn tránh ở khu vực từ bản Ea Phê đến tây nam đường vòng bản Croong Búc, có một bộ phận ở Chư Cúc bảo vệ cơ quan sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 nguỵ còn lại. Ngoài ra, còn 3 tiểu đoàn bảo an địa phương và các nơi chạy về cũng tụ lại ở khu vực này.

        6 giờ 30 sáng 18 tháng 3, mặc dầu kém địch nhiều về số lượng, song nắm thời cơ địch đang nao núng, Trung đoàn 28 cùng xe tăng của Trung đoàn xe tăng 273 đã hạ quyết tâm nhanh chóng tập trung lực lượng đột phá theo trục đường số 21 trong hành tiến, dùng các lực lượng nhỏ nhanh chóng vượt qua đội hình địch lên chặn ở các đoạn phía tây và phía đông Chư Cúc, hình thành thế bao vây chặt để hiệp đồng với lực lượng đột phá trước mặt tiêu diệt gọn quân địch.

        Khí thế tiến công và cách đánh linh hoạt đó đã tạo cho lực lượng đột kích của ta một sức mạnh hơn hẳn địch, giáng đòn bất ngờ vào Trung đoàn 44 nguỵ. Chúng bị tiêu diệt nhanh chóng, số còn lại chạy tán loạn. Trước tình thế nguy ngập, địch dùng pháo bắn ngăn chặn và dùng máy bay oanh tạc sập cầu số 13 để cản bước tiến quân ta. Lợi dụng lúc quân ta tạm dừng chờ công binh lên bắc cầu, địch co lại tập trung thành một cụm lớn trên đoạn đường số 21 từ cầu số 15 đến cầu số 20. Nhưng đến 11 giờ 30 phút, vừa bắc cầu xong là quân ta lập tức tiến lên xung phong như vũ bão, đập tan cụm quân địch ở đoạn đường nói trên và phát triển ngay về phía Chư Cúc.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Giêng, 2017, 11:11:21 am

        Nhận được tin báo Sư đoàn 10 của đối phương đang tiến về Chư Cúc, chuẩn tướng Lê Trung Tường- Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 nguỵ đang chỉ huy vội vã gọi trực thăng đến cứu hắn thoát thân. Chiếc máy bay lên thẳng liều mạng sà xuống định "bốc" Tường, nhưng cả hắn và chiếc máy bay đều bị đạn pháo cao xạ của Trung đoàn 4 pháo binh bắn trúng.

        Đúng 12 giờ, quân ta hoàn toàn làm chủ thị trấn này và tổ chức ngay các lực lượng truy lùng tàn quân địch lẩn trốn. Số địch tan chạy về phía đông cũng không thoát, vì vấp phải Trung đoàn 25 quân ta đang chuẩn bị đánh Khánh Dương thấy chúng chạy đến đã chủ động đón đánh, diệt và bắt sống 500 tên, chỉ còn một số lọt lưới chạy vào rừng.

        Toàn bộ lực lượng cuối cùng của Sư đoàn 23 và liên đoàn 21 biệt động quân bị tiêu diệt và tan rã. Như vậy từ ngày 14 đến 18 tháng 3, bằng bốn trận đánh liên tiếp, trên một đoạn đường dài 50 km ở đường số 21, Sư đoàn 10 (thiếu) và Trung đoàn 25 cùng với Trung đoàn xe tăng 273 đã cơ bản tiêu diệt Sư đoàn 23 nguỵ.

        Trận đánh quân tăng viện phản kích ở khu vực Phước An - Chư Cúc đến đây là kết thúc. Quân ta đã đập tan ý đồ phản kích của địch chiếm lại Buôn Ma Thuột và ngăn chặn tốc độ tiến công của quân ta về hướng đồng bằng, không những xoá sổ Sư đoàn 23, “những thiên thần lịch sử" của quân nguỵ, mà còn quét sạch luôn cả các lực lượng bảo an dân vệ địa phương và tàn quân các nơi chạy về giải phóng thêm hai quận Phước An và Chư Cúc.

        Giữa lúc bọn quân phản kích đang bị đánh tơi bời thì những tên cầm đầu nguỵ quân, vì quá hốt hoảng trước sức uy hiếp của quân ta về hướng đồng bằng ven biển, vội vàng ra lệnh cho bọn chỉ huy Quân khu 2 rút bỏ Tây Nguyên (sẽ nói ở những phần sau). Mưu kế phản kích để định chiếm lại Buôn Ma Thuột bị phá sản.

        Mưu kế lớn của địch lúc này là liều lĩnh cố phòng giữ Đà Nẵng và rút một lữ đoàn dù phòng giữ phía tây Đà Nẵng ra đem đến phòng giữ vòng ngoài cho Nha Trang để nếu không giữ được Nha Trang và Cam Ranh, đồng thời bỏ Tây Nguyên rút về đồng bằng để giữ đồng bằng từ Nha Trang vào phía Nam.

        Thắng lợi đập tan cuộc phản kích, xoá sổ Sư đoàn 23 nguỵ - đòn then chốt thứ hai của chiến dịch, cùng với thắng lợi Buôn Ma Thuột - đòn then chốt mở màn chiến dịch, là những thắng lợi rực rỡ và hoàn chỉnh trong một thế trận, đã tạo ra đà phát triển tiến công nhanh chóng của quân ta xuống các tỉnh ven biển miền Trung, đồng thời thúc đẩy thêm sự suy sụp, tan rã ngày càng nhanh của đoàn quân địch đang tháo chạy trên đường số 7.

        Nhớ đến biên bản về cuộc thẩm vấn các sĩ quan nguỵ mà tôi đã nói ở trên. Chúng tôi đã đặt ra với họ câu hỏi này theo lối trắc nghiệm: "Trận tiêu diệt quân đoàn 2 tháo chạy trên đường 7 đã có ý nghĩa then chốt quyết định chiến dịch Tây Nguyên? Hay trận tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột rồi sau đó tiêu diệt Sư đoàn 23?" Hai trong số các ý kiến trả lời xác định trận truy kích trên đường số 7, còn tất cả 80% xác định trận Buôn Ma Thuột. Và trận đánh bại phản kích của Trung đoàn 45, sư 23. Có thể nói thêm điều gì nữa? Hai trận then chốt Buôn Ma Thuột và Sư đoàn 23 là một trận then chốt quyết định đánh bại quân đoàn 2 của địch. Đòn điểm trúng huyệt? Nhìn lại trận đánh ấy từ góc độ lịch sử, chúng ta thấy điều đó đúng với cả ý nghĩa chiến thuật, chiến dịch lẫn chiến lược.

        Như vậy đòn phản kích tiếp liền sau đó do bộ chỉ huy Quân khu 2 địch tung ra đã tiêu nốt những lực lượng còn lại của Sư đoàn 23, khiến Sư đoàn này hoàn toàn bị xoá sổ (Khi xảy ra trận đánh Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 chỉ có sở chỉ huy hành quân Sư đoàn và một Trung đoàn bộ binh trong tổng số hơn 8.000 tên địch trong thị xã. Hai Trung đoàn khác của nó lúc ấy ở Plâyku)

        Điểm lại ta thấy ngay sau khi cơ động lực lượng từ Đức Lập sang phía đông thị xã, từ ngày 11 tháng 3, những đơn vị đến trước của Sư đoàn 10 đã tiến công ngay các căn cứ ngoại vi còn lại rồi bước vào đánh địch phản kích. Từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 3, bằng vận động bao vây tiến công liên tục đánh địch trong hành tiến - một hình thức tác chiến mới mẻ có trình độ đánh tiêu diệt cao các Trung đoàn 24 và 28 của Sư đoàn bộ binh 10 và Trung đoàn bộ binh độc lập 25, đã lần lượt tiêu diệt cả Trung đoàn 45, 44, 21 và các đơn vị tăng phái đổ bộ xuống.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Giêng, 2017, 11:14:17 am

        Còn cần phải nhắc đến ở đây trận tiêu diệt Trung đoàn 53 địch ở sân bay Phượng Dực (đông thị xã Buôn Ma Thuột), ngày 17 tháng 3, một trận đánh góp phần xoá sổ Sư đoàn 23 và cắt đứt bàn đạp mà địch hy vọng sử dụng để phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột. Nhiệm vụ thực hiện trận đánh này, theo quyết tâm, được giao cho Trung đoàn 149 thuộc Sư đoàn 316. Nhưng do Trung đoàn một phần thấm mệt vì trận tấn công vào thị xã trước đó, và chủ yếu là vì nắm địch chưa chắc, nên trận đánh đã qua ba ngày mà vẫn chưa ngã ngũ. Một tình huống như thế bao giờ cũng cho thấy phải tăng cường lực lượng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đưa thêm vào Trung đoàn 66 của Sư đoàn 10.

        Chúng ta hẳn còn nhớ hình ảnh đồng chí chiến sĩ cảnh vệ ốm yếu gày gò sau một cơn sốt rét ác tính vẫn nằng nặc không chịu về tuyến sau trong năm Mậu Thân? Bây giờ, đồng chí ấy đây, Thiếu tá trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 Nguyễn Đình Kiệp người chỉ huy gan dạ dũng cảm. Nhận được lệnh, đồng chí lập tức dẫn ngay các cán bộ của mình vượt lên trước để nhận nhiệm vụ hiệp đồng. Không gặp người chỉ huy Sư đoàn tại toạ độ xác định, các đồng chí đã chủ động đi tìm suốt một đêm ròng với lòng nôn nóng được lao vào trận đánh.

        8g 00 sáng hôm sau gặp được chỉ huy, lập tức quay ra đưa bộ đội vào chiếm lĩnh. 14g 00 giao nhiệm vụ cho từng tiểu đoàn tại trận địa. 17g 00 nổ súng tấn công. 8g 00 sáng ngày 17 tháng 3, cùng với Trung đoàn 149, các đồng chí cắm cờ chiến thắng lên vị trí địch. Chúng tôi rất cần những chiến sĩ, những cán bộ như thế trong chiến đấu và nhận thấy rằng quân đội của chúng ta đã không bao giờ thiếu.

        Sư đoàn 23 bị tiêu diệt. Trong những ngày đó, chúng tôi không thể hiểu được kẻ địch lại có thể tổ chức phản kích ốm yếu đến như vậy. Thứ nhất, Sư đoàn 23 được tung vào trận không hề đúng lúc. Nếu chúng đưa lực lượng đến trong ngày 10 hay thậm chí trong ngày 11 tháng 3 thì chúng ta sẽ gặp khó khăn, trận đánh chiếm thị xã có thể kéo dài hơn và như vậy các tình huống tiếp theo sẽ khác. Nhưng chúng lại đến sau khi ta đã rảnh tay, được gì? Thứ hai, các lối ném lần lượt từng Trung đoàn xuống..., chúng ta đã lần lượt tập trung tiêu diệt. Tại sao chúng làm như thế? Bây giờ nhìn lại, chúng ta có thể thấy rõ hơn. Đúng là chúng đã chỉ huy tồi trước đòn choáng Buôn Ma Thuột. Vào lúc ấy, mất hết hy vọng Thiệu đã quyết định bỏ Plâyku, Kon Tum, thực hiện một cuộc rút lui chiến lược của quân đoàn 2 về đồng bằng ven biển miền Trung để mong tìm kiếm một hy vọng mới bằng co cụm chiến lược.

        Trong trận đánh địch định phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột, ta có gạn lọc tình huống từ trước và rất chủ động. Ta cho Sư đoàn 320 ra đánh cắt đường bộ, chiếm lĩnh các đoạn đèo hiểm trở ở Plâyku, đi Buôn Ma Thuột. Vì đi phản kích định chiếm lại Buôn Ma Thuột là đi như chữa cháy, địch phải đi rất nhanh, buộc phải đi bằng máy bay lên thẳng. Như thế là ta đã gạn lọc được tình huống địch đi đường bộ. Tiếp đến ta rất chủ động chờ đánh địch phản kích. Khi địch đổ quân xuống, chưa kịp triển khai phản kích thì đã bị Sư đoàn 10 của ta bố trí sẵn đón đánh ngay.

        Trong khi các sư đoàn giải phóng Buôn Ma Thuột thì bộ đội địa phương tỉnh giải phóng thị trấn Lác trên hồ Lắc.

        Ngày 18 tháng 3, Uỷ ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột do Đại tá Y BLốc Êban, Phó Bí thư tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đắc Lăk đã ra mắt nhân dân và trực tiếp quản lý hành chính trong thị xã, tổ chức ra chính quyền ở các cơ sở, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân.

        Chỉ trong thời gian ngắn, anh em công nhân đã khôi phục lại điện và nước trong thị xã. Uỷ ban Quân quản mở kho thóc để cấp phát lương thực cho dân.

        Cùng với nhân dân lao động, những người tri thức yêu nước, những nhà tu hành, các nhà giáo và ngay một số nhân viên nguỵ quyền cũ cũng nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống mới. Nhiều người tình nguyện giúp chính quyền mới nắm bắt tình hình và điều hành công tác trong thị xã.

        Bị thất bại nặng nề nhưng địch còn phản ứng điên cuồng, ngày 19 tháng 3 máy bay địch ném bom vào các khu đông dân cư trong thị xã làm chết và bị thương trên 200 đồng bào. Uỷ ban Quân quản thị xã và các lực lượng ta tổ chức lo chôn cất những người chết, cứu chữa những người bị thương, giúp đỡ những gia đình bị thiệt hại. BộTư lệnh chiến dịch phối hợp với Uỷ ban Quân quản đặt kế hoạch đề phòng địch tiếp tục phản kích vào thị xã và phối hợp với các đội công tác ở vùng ven phát động quần chúng các ấp các buôn làng, các đồn điền xung quanh thị xã, nổi dậy phá tề, trừ gian, thành lập chính quyền cách mạng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Giêng, 2017, 11:22:19 am

PHẦN 13

TIÊU DIỆT TẬP ĐOÀN RÚT CHẠY KHỎI TÂY NGUYÊN TIẾN XUỐNG ĐỒNG BẰNG

        Đánh địch rút chạy. Kon Tum - Plâyku không đánh mà thắng.

        Nói trở lại tình hình địch vào những ngày 14 và 15 tháng 3 về trước. Lúc bấy giờ, tuy các đơn vị phản kích của địch chưa bị ta tiêu diệt hết, song tình thế chung của quân địch ở Tây Nguyên và Quân khu 2 đã lâm vào chỗ hết sức hiểm nghèo.

        Mưu kế của địch trong lúc này. Địch đành cắn răng rút lữ đoàn dù 3 ở Đà Nẵng về bố trí ngăn chặn ta từ Buôn Ma Thuột tiến về Nha Trang và rút quân từ Plâyku, Kon Tum co về để giữ đồng bằng. Với hai hành động này, địch hy vọng giữ được Nha Trang và Cam Ranh. Nhưng ta đều phá được mưu kế này của địch.

        Sư đoàn 10 tiếp tục tiến công sau khi đã tiêu diệt Sư đoàn 23 ngụy. Sư đoàn 320 truy kích tiêu diệt quân rút chạy đến tận thị xã Tuy Hoà; làm cho địch không còn quân để co về giữ Nha Trang. Sư đoàn 10 sau khi tiêu diệt sư đoàn 23 đến phản kích để định chiếm lại Buôn Ma Thuột, liền trong khí thế chiến thắng tiêu diệt luôn lữ đoàn dù này và tiến thẳng xuống chiếm Nha Trang và Cam Ranh. Mưu kế của địch định co về giữ đồng bằng và ngăn chặn ta xuống đồng bằng đã bị phá tan. Ta đã cao tay hơn địch; không để cho địch co cụm và ngăn chặn.

        Buôn Ma Thuột bị ta chiếm. Sư đoàn 23 bộ binh không còn sức chiến đấu vì có 3 Trung đoàn thì 2 Trung đoàn đã bị diệt (Trung đoàn 53 và Trung đoàn 45), Trung đoàn 44 và bộ chỉ huy Sư đoàn đang bị vây và có nguy cơ bị tiêu diệt nốt. Sư đoàn 22 bộ binh giải toả đường số 19 ở đèo Thượng An, tây Bình Khê, đông An Khê cũng đã bị tiêu diệt một bộ phận và đang bị bao vây.

        Một nửa số biệt động quân bị tiêu diệt, bị đánh thiệt hại nặng hoặc bị giam chân (liên đoàn 21 bị diệt, liên đoàn 6 và liên đoàn 25 bị đánh thiệt hại nặng, liên đoàn 23 bị mắc kẹt ở Quảng Đức). Một Trung đoàn xe tăng - xe bọc thép, một số tiểu đoàn và đại đội pháo binh bị tiêu diệt. Các đường chiến lược bị ta chiếm lĩnh và cắt đứt hoàn toàn. Sân bay duy nhất là Cù Hanh thì đang bị khống chế.

        Tóm lại, ở chiến trường này, chúng đã bị tiêu diệt và tiêu hao một lực lượng chủ lực quan trọng, số còn lại đang bị vây hãm và bị tiến công ở Plâyku - Kon Tum và đường số 19. Đội quân bị trói chặt ở địa bàn này không phát huy được tác dụng gì đối với toàn chiến trường Quân khu 2 mà còn đang suy yếu và có nguy cơ bị tiêu diệt. Vùng đất Quân khu 2 từ nam đường 19 trở vào tới Ninh Thuận, Bình Thuận, Đà Lạt, Lâm Đồng chỉ có lực lượng bảo an phòng giữ và cũng đang bị đánh.

        Trong khi đó, quân ta một mặt đang chuẩn bị tiến công vào tập đoàn địch ở Plâyku - Kon Tum, mặt khác lại sắp đánh vỡ trận địa cuối cùng của Sư đoàn 23 nguỵ ở Phước An và từ đó tiến công về hướng Nha Trang – Cam Ranh đang bị bỏ ngỏ. Mũi tiến công về hướng Nha Trang, Cam Ranh quả rất đáng sợ, vì mất địa bàn này thì coi như mất Quân khu 2 về cơ bản, mất vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ tức là miền Nam Việt Nam bị cắt làm đôi ở một khúc rất quan trọng. Quân khu 3 và Sài Gòn sẽ bị uy hiếp từ phía đông, nơi có khu căn cứ hậu cần trung ương, vùng yết hầu liên lạc với thế giới bên ngoài bằng đường biển. Quân khu 1 sẽ bị cô lập không liên lạc được với Sài Gòn bằng đường bộ và rồi cũng sẽ mất theo cả vùng đồng bằng ven biển của nó.

        Ở các chiến trường khác, bấy giờ quân ta đều hoạt động mạnh để phối hợp với Tây Nguyên một cách hết sức nhịp nhàng. Từ Trị - Thiên đến Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Biên Hoà, Bình Dương, Dầu Tiếng, Tây Ninh, đồng bằng sông Cửu Long... nhiều cứ điểm địch bị ta đánh chiếm, nhiều quận ly và thị trấn được giải phóng. Quân địch phải đối phó với ta ở khắp nơi và nơi nào cũng lâm vào tình trạng khó khăn nguy ngập. Vì thế bọn cầm đầu Mỹ - nguỵ không thể điều quân từ chiến trường này đi cứu chiến trường khác được.

        Hậu phương là một nhân tố thường xuyên có tác dụng quyết định thắng lợi của chiến tranh. Đối với quân đội Mỹ - nguỵ thì điều đó lại càng vô cùng quan trọng, càng có ý nghĩa sinh tử. Vì chúng không thể chiến đấu trong điều kiện gian khổ kéo dài, không đủ sức chịu đựng những vất vả thiếu thốn liên tục. Trong tình thế thất bại và so sánh lực lượng đã thay đổi đến mức nghiêm trọng, nguy cơ hậu phương bị mất đã hiện ra trước mắt, bọn cầm đầu Mỹ - nguỵ không thể không buộc phải thay đổi chủ trương chiến lược: rút hẹp phòng tuyến lại, co về giữ hậu phương; bỏ vùng rừng núi, co về giữ vùng đồng bằng ven biển, các đô thị lớn, các đầu mối giao thông quan trọng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Giêng, 2017, 11:24:25 am

        Đúng như lời tiên đoán của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi chia tay tôi vào chiến trường, ở Hà Nội đã nói: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng sẽ về co cụm ở các tỉnh ven biển miền Trung. Quả nhiên, điều này khi đang diễn ra cũng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiên liệu ngay trước một ngày mà bọn đầu sỏ nguỵ họp bàn về việc rút bỏ Tây Nguyên.

        Ngày 13 tháng 3 Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp điện cho anh Văn Tiến Dũng có nhận định: "...Trường hợp địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, mất thị xã Buôn Ma Thuột và nhiều quận lỵ, việc chia cắt chiến lược đường số 19 thực hiện tốt thì có khả năng chúng tập trung các lực lượng còn lại ở Kon Tum, Plâyku, cũng nên nghĩ đến khả năng chúng buộc phải thực hiện rút lui chiến lược. Vì vây, cần bao vây ngay Plâyku bằng các thứ hoả lực, kể cả các loại pháo cao xạ, triệt đường tiếp tế của địch trong cả hai tình huống: địch co cụm ở Plâyku, hoặc rút chạy khỏi Tây Nguyên...Ký tên: Văn."

        Thì ngày 14 tháng 3 năm 1975, bọn đầu sỏ nguỵ quyền nguỵ quân gồm Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên hốt hoảng kéo nhau ra Cam Ranh gặp Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân khu 2, để bàn bạc và đi tới một quyết định cay đắng và gấp gáp: rút bỏ Tây Nguyên? Cụ thể là rút toàn bộ lực lượng quân đoàn 2 còn lại ở Kon Tum - Plâyku nhằm tránh bị quân ta tiêu diệt, co về giữ đồng bằng, củng cố một thời gian rồi tập trung lực lượng chờ thời cơ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên.

        Nội dung các cuộc họp quan trọng của cấp cao nguỵ theo một số tư liệu nước ngoài được miêu tả như sau:

        Để đối phó với tình hình nguy ngập của chiến trường Buôn Ma Thuột, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với cương vị Tổng tư lệnh tối cao quân lực Việt Nam cộng hòa, đã triệu tập và chủ toạ một phiên họp có tính cách lịch sử tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975. Thành phần tham dự gồm những tướng lãnh đang giữ những chức vụ cao cấp quan trọng nhất: đại tướng Trần Thiện Khiêm - Thủ tướng chính phủ, đại tướng Cao Văn Viên- tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng hòa, trung tướng Đặng Văn Quang - Phụ tá an ninh quân sự của Tổng thống và Thiếu tướng Phạm Văn Phú - Tư lệnh quân đoàn 2

        Phiên họp diễn ra từ 11 giờ 30 đến 13 giờ 30. Sau khi nghe tướng Phú báo cáo tình hình diễn biến trên chiến trường Cao Nguyên, Tổng thống Thiệu quay sang hỏi đại tướng Viên:

        - Còn lực lượng chi viện cho Quân khu 2 không?

        - Không còn ạ.

        Tổng thống quay sang tướng Phú:

        - Nếu không có quân tăng viện, anh có khả năng giữ được bao lâu ?

        - Nếu được Tổng thống và tướng Viên yểm trợ không quân tối đa, tôi sẽ giữ được một tháng. Vùng 2 chiến thuật không xin tăng viện mà chỉ xin quân số bổ sung để bù đủ tổn thất nặng nề sau trận Buôn Ma Thuột. Với trách nhiệm là tư lệnh Vùng chiến thuật tôi sẽ ở lại Plâyku và sẽ tử thủ ở đấy. .

        Tổng thống Thiệu lắc đầu nói:

        - Phải rút khỏi Kon Tum và Plâyku để bảo toàn lực lượng, lấy quân về giữ đồng bằng ven biển, tiếp tế thuận lợi hơn.

        Tuy hỏi như vậy, nhưng mọi việc đã được ông quyết định từ buổi họp hôm trước ngày 13 tháng 3, khi ông triệu tập hội đồng an ninh quốc gia và công bố quyết định chiến lược "nặng ở đáy, nhẹ ở đầu » điều đó có nghĩa là: Không có quân tăng viện và cũng không có thêm trang bị...Không có cách nào để phòng thủ Plâyku và Kon Tum. Chỉ còn cách là bỏ cả hai tỉnh (Kon Tum và Plâyku), và sử dụng lực lượng đó để tăng cường cho vùng bờ biển và tăng cường cho một cuộc phản kích vào Buôn Ma Thuột. Khi kết thúc cuộc họp này ông còn ra lệnh không được nói việc đó cho ai, kể cả người Mỹ).

        Tiếp đó Tổng thống lại hỏi đại tướng Viên:

        - Rút theo đường 19 có được không?

        - Trong lịch sử chiến tranh ở Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường số 19 mà không bị tiêu diệt, cả đường số 14 nữa đều không thể sử dụng được. Chỉ còn đường 7 chạy qua tỉnh Phú Yên. Nếu rút theo đường này có hai cái lợi: Một là không có địch, hai là Cộng Sản không dự kiến có một sự chuyển quân nào trên đường đó, theo tôi là như vậy.

        Cuối cùng tổng thống Thiệu quyết định rút theo đường số 7b bất chấp sự phản đối của tướng Phú và còn doạ: Nếu không chấp hành sẽ bị ngồi tù, hoặc cách chức. Khi cuộc họp sắp chấm dứt, tướng Phú hỏi bao giờ thì bắt đầu rút quân? Tổng thống Thiệu nói điều đó tuỳ tướng Phú quyết định, chỉ yêu cầu là phải tuyệt đối giữ bí mật kể cả với người Mỹ, không cho các lực lượng địa phương và người Thượng ở Kon Tum và Plâyku biết.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Giêng, 2017, 10:20:39 am

        Buổi sáng sớm khi bay về Cam Ranh, và sau đó được chỉ thị từ Sài Gòn của Tổng thống Thiệu, tướng Phú đã ra lệnh cho chuẩn tướng Nguyễn Văn Lượng, tư lệnh Sư đoàn 2 không quân tại Nha Trang cùng với 2 trực thăng nữa bay lên Cam Ranh. Tướng Phú yên trí thế nào các Tướng : Thiệu, Khiêm, Viên cũng xuống mặt trận PhướcAn, nên ông thật hứng khởi lúc bay trên đầu những cánh quân tăng viện vừa đổ xuống hai ngày trước đó; ông đã liên lạc ra lệnh cho chuẩn tướng Lê Trung Tường tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh và những đơn vị trưởng khác chỉ huy các cánh quân tại mặt trận này. Nhưng khi Tổng thống Thiệu và các tướng Khiêm, Viên khi họp xong đã về thẳng Sài Gòn. Do đó, ngay sau khi đưa tiễn phái đoàn Tướng lãnh, tướng Phú cũng đã ra lệnh bay về Nha Trang, trước khi lên lại Plâyku.

        Khi tướng Phú trở về Plâyku thì trời đã tối.

        Sáng 14 tháng 3 khi chuẩn tướng Phạm Duy Tất phụ tá của tướng Phú, kiêm tư lệnh biệt động quân đang đi kiểm tra tình hình ở phía đông thì được gọi cấp tốc về sở chỉ huy quân đoàn để bàn bạc tình hình. Tướng Phú ra lệnh triệu tập ngay một cuộc họp với các viên chỉ huy thuộc cấp để thông báo cho họ biết tình hình và nhiệm vụ mới.

        Vào cuộc họp tướng Phú nói:

        - Cuộc họp bàn vận mệnh quốc gia (ở Cam Ranh) hoàn toàn bí mật chỉ có 5 người tham dự: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đại tướng Trần Thiên Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, trung tướng Đặng Văn Quang và tôi đã bàn về việc rút khỏi Cao Nguyên.

        Sau khi tướng Phú chỉ định chuẩn tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy quân biệt động, làm người phối hợp và điều hành việc rút lui.

        Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm người được giao phụ trách lập kế hoạch rút lui muốn hỏi rõ một số vấn đề:

        - Ta có thông báo cho các tỉnh trưởng và cơ quan hành chính cấp tỉnh cùng lực lượng bảo an, dân vệ và dân chúng địa phương không? Ta có đảm nhiệm tổ chức cho họ rút khỏi chiến trường không?

        Tướng Phú nói:

        - Theo lệnh của Tổng thống không được thông báo cho các tỉnh trưởng, cứ để họ tiếp tục chống cự. Khi ta rút xong, ai biết thì chạy theo. Địa phương quân toàn là người Thượng, trả họ lại cho Cao Nguyên. Còn dân thì để họ tuỳ nghi di tản. Cũng không được báo cho người Mỹ biết.

        Như vậy tuy Nguyễn Văn Thiệu cấm không báo cho người Mỹ biết, nhưng chỉ một giờ sau khi Thiệu họp ở Cam Ranh, một thành viên CIA trong bộ tham mưu của Phú đã báo cho viên sĩ quan chỉ huy mình biết. Viên sĩ quan đó không tin và gửi một bức điện khẩn về Nha Trang và yêu cầu Lãnh sự quán giải thích. Polgar thành viên chủ chốt của CIA trong sứ quán Mỹ, khi nghe tin này đã nhảy lên và chạy xuống phòng đại sứ để báo tin cho Lehmann, nhưng đi vắng. Polgar gọi điện cho Spear, Tổng Lãnh sự quán Mỹ ở Nha Trang yêu cầu xác nhận nguồn tin trên: Đến trưa, Polgar đã ra lệnh rút tất cả các nhân viên CIA ở Plâyku bằng máy bay của Air America và kiến nghị với Lehmann, đóng cửa ngay lập tức tất cả các hoạt động của Mỹ ở Tây Nguyên.

        Ngày 15 tháng 3, Phạm Văn Phú vội vàng cho sở chỉ huy quân đoàn 2 ở Plâyku chuồn trước bằng máy bay lên thẳng về Nha Trang. Tiếp đó đến cuộc tháo chạy lớn bằng đường bộ. Đường số 19 và đường số 14 đã bị quân ta cắt đứt. Chúng chỉ còn cách đánh liều chạy theo con đường số 7 từ Plâyku qua thị trấn Phú Thiện, thị xã Cheo Reo (Phú Bổn) về Củng Sơn - Tuy Hoà. Đây là con đường cũ, hẹp đã bỏ hoang lâu ngày vì du kích của ta hoạt động mạnh.

        Lực lượng rút chạy của địch gồm có: 6 tiểu đoàn biệt động quân; lữ kỵ binh 2 có 3 thiết đoàn 19, 21 và 3; 6 tiểu đoàn pháo binh (có 1 tiểu đoàn pháo 175 ly); 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 44; tiểu đoàn 89 thuộc liên đoàn 21; liên đoàn 20 công binh; liên đoàn 66 truyền tin, cơ quan quân đoàn 2; bộ phận sĩ quan của Sư đoàn 6 không quân; 2 liên đoàn bảo an của tỉnh Kon Tum - Gia Lai và tàn quân ở các nơi chạy về, tổng cộng 27 đầu mối đơn vị. Ngoài ra, trên đường rút chạy còn có các lực lượng bảo an, biệt kích, dân vệ đồn trú trong các căn cứ thị trấn, thị xã từ Phú Thiện đến Củng Sơn.

        Theo lệnh của Thiệu, bọn chỉ huy Quân khu 2 không thông báo cho các lực lượng địa phương biết, "cứ để cho chúng chống giữ, khi chủ lực rút xong ai biết thì biết". Còn "địa phương quân là người Thượng thì trả chúng về với Tây Nguyên".

        Theo kế hoạch chúng định rút từ Plâyku về Cheo Reo trong ba ngày: 15 tháng 3, rải quân chốt bảo vệ và sửa đường; ngày 16 tháng 3, rút Kon Tum và ngày 17 tháng 3 rút Plâyku, đến lượt bộ phận nào rút thì bộ phận ấy biết. Sau đấy sẽ vừa sửa đường vừa rút, sửa xong đường đến đâu rút đến đó. Để chống lại du kích ta và sửa săm đoạn đường từ phía nam Củng Sơn đến Tuy Hoà, chúng phải điều lực lượng ở đồng bằng lên hỗ trợ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Giêng, 2017, 10:33:40 am

        Thế nhưng, bắt nguồn từ sự choáng váng và rối loạn về chiến lược dẫn đến sai lầm về chiến lược sau đòn hiểm Buôn Ma Thuột, cuộc rút bỏ Tây Nguyên đã diễn ra hoàn toàn ngược lại với mong muốn của bọn chỉ huy địch. Đó không phải là một cuộc rút lui "có tổ chức, có chỉ huy và tuyệt đối bí mật" như kế hoạch chúng đã đề ra, mà chỉ là một cuộc tháo chạy hỗn loạn của một đoàn quân bại trận thảm hại.

        Khó khăn rất lớn chúng không sao khắc phục được là: lực lượng đông, binh khí kỹ thuật nhiều, thời gian rất gấp, bảo đảm đường cơ động và hậu cần rất phức tạp. Dù có cố gắng dựa vào các căn cứ thị trấn, thị xã trên dọc đường rút chạy mà thiết lập các khu chỉ huy, các bàn đạp để vừa chuẩn bị vừa rút, chúng cũng không thể tránh được tình trạng rối loạn đội hình, rối loạn tổ chức chỉ huy và bảo đảm. Hơn nữa, bên cạnh đoàn quân vốn đã ô hợp do tinh thần dao động lại còn kèm thêm cả một đoàn người "di tản".

        Vì, sau khi thấy Phạm Văn Phú chuồn trước cùng sở chỉ huy của hắn về Nha Trang, tiếp đến những đơn vị chuyên môn rút về Cheo Reo mang theo cả gia đình, thì bọn sĩ quan, binh lính cũng khiếp sợ, gia đình chúng ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay, gây nên sự hỗn loạn. Kẻ nào không vào được sân bay thì dùng đủ các loại xe để chạy về Cheo Reo.

        Đường sá tắc nghẽn vì chật ních xe tăng, xe kéo pháo, xe vận tải, xe buýt, xe lam... chật ních binh lính và vợ con chúng.

        Quân đè dân, kẻ khoẻ đè kẻ yếu, xe to đè xe con, chúng chửi bới, đánh nhau ầm ĩ, tranh nhau mà đi. Cuộc tháo chạy hỗn loạn dẫn đến một bước ngoặt, một đột biến về tinh thần tư tưởng. Mất hết lòng tin ở cuộc chiến, chúng chỉ còn lo giữ lấy cái mạng của bản thân và gia đình chúng mà thôi. Tóm lại, đó là một cuộc tháo chạy vô định và tuyệt vọng.

        Về phía ta, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã sớm dự kiến một cuộc rút lui chiến lược của địch ở Tây Nguyên. Vì vậy, khi cài thế chiến dịch trước ngày nổ súng đánh Buôn Ma Thuột, chúng ta đã tính đến việc không cho địch tăng cường lên cứu Tây Nguyên cũng như không cho địch rút chạy khỏi Tây Nguyên một cách dễ dàng, hơn nữa với thế trận hợp lý nên có thể sẵn sàng đối phó kịp thời với mọi tình huống.

        Qua những tin tức thu được trong những ngày 13, 14 và 15 tháng 3 năm 1975, Bộ Tổng tư lệnh, sở chỉ huy tiền phương và Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên đã phát hiện ra nhiều dấu hiệu rút chạy của địch. Qua những dấu hiệu đó, chúng ta ngày càng đi đến nhận định dứt khoát rằng, đây không phải là một cuộc rút chạy trong phạm vi chiến dịch nữa mà đã lên tới tầm chiến lược rồi.

        Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, trong phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch được trang bị hiện đại đã phải bỏ địa bàn chiến lược quan trọng rút chạy. Sự kiện này chứng tỏ rằng, đòn đánh trúng huyệt Buôn Ma Thuột đã bắt đầu ngấm và làm cho địch choáng váng, đi tới phạm sai lầm rất lớn về chiến lược. Nó sẽ dẫn đến nhiều sự kiện quan trọng khác, có thể dẫn đến việc ta kết thúc thắng lợi nhanh chóng trong cuộc chiến tranh.

        Rõ ràng thời cơ lớn đã đến với chúng ta! Vậy thì, muốn nắm chắc thời cơ, trước mắt phải tiêu diệt bằng được quân dịch rút chạy, phải diệt chúng ngay trên chiến trường Tây Nguyên, không cho chúng thoát về đồng bằng. Phải diệt cho nhanh, cho gọn để thúc đẩy sớm quá trình chuyển biến cục diện chiến tranh.

        Chiều 15, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã gọi điện trực tiếp cho tôi nói rằng địch có khả năng rút chạy khỏi Plâyku, Kon 'Tum. Nhận định ấy đến khá đột ngột vì chúng tôi chưa dự kiến tình huống lại có thể chuyển biến nhanh chóng đến như thế.

        Nhưng sau khi triển khai nắm lại các tin tức, quả nhiên có những hiện tượng để phán đoán khả năng ấy. Đúng là cơ quan chiến lược nắm tình hình chắc hơn cơ quan chiến dịch. Đêm 15, chúng tôi điện báo cáo về Bộ Tổng tư lệnh, đề cập đến chiều hướng địch rút chạy. Cùng ngày, tôi đã đề nghị với Thượng tướng Chu Huy Mân cho lực lượng Quân khu 5 và lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên sẵn sàng đón đánh địch ở Củng Sơn.

        Trong khi chúng tôi đang khẩn trương chuẩn bị các phương án đánh địch trên cơ sở những tin tức được sáng tỏ dần, vào lúc 20g 00 ngày 16, khi cả Bộ Tư lệnh chiến dịch lẫn các sĩ quan tham mưu đang có mặt bên tấm bản đồ chỉ huy thì chuông điện thoại réo vang. Tôi nhấc tổ hợp lên, và tiếng nói rành rọt của Đại tướng Văn Tiến Dũng vang từ đầu dây bên kia, cả hầm chỉ huy đều nghe rõ:

        - Truy kích ngay Địch đã rút chạy theo đường 7.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Giêng, 2017, 10:40:03 am

        Chấp hành lệnh của sở chỉ huy tiền phương, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên cho rằng, sai lầm lớn về chiến lược của địch nhất định sẽ dẫn chúng đến hàng loạt sai lầm về hành động tác chiến và chiến thuật. Đây là thời cơ rất thuận lợi để tiêu diệt toàn bộ quân tháo chạy, vì chúng đã ra ngoài công sự, tinh thần đang hoang mang rối loạn, hàng ngũ lộn xộn, tổ chức chỉ huy không chặt chẽ. Mất đoàn quân này thì quân đoàn 2 ngụy coi như sạch túi, vì Sư đoàn 23 chỉ còn 1 Trung đoàn 44 sắp bị tiêu diệt ở Phước An, Sư đoàn 22 đã bị loại 1 Trung đoàn ra khỏi vòng chiến, rồi đây cũng sẽ bị tiêu diệt nốt.

        Quyết tâm tiêu diệt đoàn quân tháo chạy của địch từ Plâyku - Kon Tum về Cheo Reo, bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng vào trận đánh:

        - Sư đoàn 320.

        - Tiểu đoàn xe tăng 1, Trung đoàn 273

        - Trung đoàn pháo cao xạ 593.

        - Trung đoàn pháo binh 675.

        Ngoài ra, khi chiến đấu còn có 2 tiểu đoàn địa phương tỉnh Phú Yên và các lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc, huyện Phú Túc, huyện Củng Sơn phối hợp tác chiến. Để hiệp đồng với đòn tiêu diệt đoàn quân tháo chạy của địch về Cheo Reo, các hướng cũng tiếp tục đẩy mạnh đà tiến công của mình.

        Ở hướng Plâyku - Kon Tum, các đơn vị chủ lực và địa phương gồm bộ binh, pháo binh, đặc công dùng một bộ phận lực lượng tiến nhanh vào Plâyku, vượt qua các vị trí dọc đường để bám sát đội hình rút chạy của địch, từ phía sau đánh tới.

        Các đơn vị bộ đội địa phương và du kích hai tỉnh Đắc Lắc, Phú Yên, đánh chặn và chốt ở dọc đường không cho địch chạy thoát về Tuy Hoà.

        Sự điều động lực lượng tiếp theo là cả một cơn lốc. Những mệnh lệnh ngắn gọn được khẩn trương phát đi. Bộ Tư lệnh chiến dịch trong lúc này, vừa chỉ huy lực lượng đang đánh địch phản kích, vừa đề ra kế hoạch đánh địch rút chạy. Kế hoạch tác chiến hình thành trong chốc lát. Chúng ta kiên quyết giành lại quyền chủ động thời gian.

        Kế hoạch tác chiến đánh địch rút chạy được định ra như sau:

        - Tiểu đoàn 9 (trung đoàn 64, Sư đoàn 320) đang làm nhiệm vụ ở tây-nam Cheo Reo lập tức cơ động ra chặn đứng quân địch ở cầu Ia-Nu, tiếp đó toàn Trung đoàn 64 ra bố trí thế trận vận động tiến công kết hợp với chốt đã có sẵn của Tiểu đoàn 9 tiêu diệt địch trong khu vực Chư Mơ-ri A. Nếu quân địch co cụm ở thị xã Cheo Reo thì dùng một mũi đánh từ phía nam lên, phối hợp với các hướng tiến công khác đánh địch trong thị xã.

        - Trung đoàn 48 (sư đoàn 320) đánh ép và chia cắt địch ở phía tây, tây bắc Cheo Reo. Các đơn vị vừa diệt địch, vừa ngăn chặn, bám chắc không cho chúng rút chạy. Sư đoàn khẩn trương điều động các lực lượng đến tiếp, tổ chức bao vây tiến công tiêu diệt địch.

        - Trong khi các Trung đoàn bạn truy kích, tiến công, ngăn chặn địch ở khu chiến Cheo Reo thì Trung đoàn 9 (sư đoàn 320) nhanh chóng hiệp đồng đánh chiếm Phú Nhơn - Mỹ Thạch và bao vây cô lập quận lỵ Phú Thiện ở tây bắc Cheo Reo để chia cắt đội hình rút chạy của địch.

        Thực hiện kế hoạch tác chiến, đêm 16 tháng 3 quân ta bắt đầu triển khai lực lượng tiến công địch.

        Sư đoàn 320 và các đơn vị nhận lệnh truy kích trên đường đường số 7 lúc đại bộ phận còn đang làm nhiệm vụ trên đường số 14, đoạn giữa Buôn Ma Thuột và Plâyku, trên ngã ba đường từ Thuần Mẫn đi Cheo Reo. Về số lượng, bọn địch rút chạy đông hơn ta đến hai, ba lần, hoả lực pháo binh, xe tăng và các phương tiện chiến đấu khác cũng nhiều hơn, đồng thời có không quân yểm hộ trực tiếp Chúng lại rút bằng cơ giới và chạy trước ta một, hai ngày đường. Thế nhưng nắm chắc thời cơ lớn và thế thua chạy hỗn độn của địch, các đơn vị vẫn tràn đầy khí thế quyết thắng, khẩn trương chuẩn bị và nhanh chóng chạy đua thời gian với địch để bắt kịp và chặn chúng lại mà tiêu diệt.

        Suốt đêm 16, chạy dưới ánh đuốc bập bùng do chính mình đốt lên (còn cách nào tốt hơn nữa?), Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 nhận lệnh xuyên rừng ra chốt chặn đường 7, làm bức tường chặn đứng cuộc tháo loạn ô hợp của cả vạn tên địch để lực lượng lớn phía sau có thể kịp vận động đến tiêu diệt. Và nhiệm vụ ấy đã được hoàn thành xuất sắc, mặc dù bộ đội ta phòng ngự trong hình thái dã ngoại không công sự.

        Tôi còn nhớ tấm gương của người chiến sĩ anh hùng Nguyễn Vy Hợi và tiểu đội của đồng chí. Các đồng chí đã chặn giữ một đoạn đường đầu cầu diệt hàng chục xe tăng địch với một tinh thần anh dũng ngoan cường.

        Nhiệm vụ tiêu diệt những lực lượng tháo chạy của quân đoàn 2 được giao cho Sư đoàn 320, lúc đó đang là lực lượng dự bị chiến dịch đứng chân ở đường 14. Hành quân thần tốc bằng mọi phương tiện, Sư đoàn đã triển khai ngay thành ba mũi bao vây đội hình mấy chục ki-lô-mét của địch trên đường số 7.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Giêng, 2017, 10:43:26 am

        Mũi phía bắc do Trung đoàn 9, mũi phía nam do Trung đoàn 64, và hình thành một tay dao chém vào cụm lực lượng chủ yếu của địch ở thị xã Cheo Reo là Trung đoàn 48. Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn này do Trung tá, Tham mưu trưởng Sư đoàn Ngô Huy Phát trực tiếp nắm lúc đó, đã kiên quyết táo bạo đánh bại một lực lượng địch đông gấp bội từ thị xã nống sục về phía tây, buộc chúng phải co về để Trung đoàn từ phía sau kịp đến hình thành thế bao vây.

        Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) xuất phát từ 22 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3, hành quân gấp băng qua rừng rậm, vượt núi cao đến 11 giờ ngày 17 tháng 3 ra tới mặt đường số 7 thì bộ phận địch đi đầu đã lọt qua từ sáng. Tiểu đoàn lập tức tổ chức chốt ở đó và đến 16 giờ 30 phút đã chặn đứng rồi tiêu diệt cả một đoàn 8 xe chở bộ binh địch chạy tới.

        Tiếp sau, các đơn vị khác của Trung đoàn 64 lần lượt đến đầy đủ, đã liên tục vận động tiến công kết hợp với chốt của Tiểu đoàn 9 đánh tan nhiều toán quân địch rút chạy ở khu vực đèo Mơ-ri A. Từ đấy, không một tên địch nào chạy lọt qua được trận địa chốt của quân ta. Trung đoàn đã tranh thủ chuẩn bị sẵn sàng hiệp đồng cùng xe tăng tiến công vào khu chiến Cheo Reo.

        Từ hướng nam tiến lên, sở chỉ huy và tiểu đoàn đi đầu Trung đoàn 48 đã đến khu vực Chư Pa. Phát hiện thấy liên đoàn 23 biệt động quân nguỵ và lực lượng bảo an từ thị xã Cheo Reo nống ra hướng tây-nam, quân ta liền nhanh chóng chiếm dãy Chư Pa đánh ngăn chặn và buộc chúng phải quay về thị xã.

        Thừa thắng, Trung đoàn đưa đội hình vào sát sân bay và phái một bộ phận ra cắt đoạn đường số 7 cách Cheo Reo 3 ki-lô-mét về phía bắc hình thành thế bao vây cô lập địch trong khu chiến, đồng thời chuẩn bị bàn đạp cho các lực lượng đến tiếp sau tiến công vào thị xã trên hướng chủ yếu.

        9 giờ ngày 17 tháng 3, ở hướng Phú Nhơn, Trung đoàn 9 cũng đến khu vực Kênh Sắn thuộc chi khu Phú Nhơn. Phát hiện thấy địch ở Kênh Sắn sắp chạy, quân ta liền đánh ngay, diệt một số lớn, còn lại một số tháo chạy về Phú Nhơn.

        Trước khí thế áp đảo của quân ta, cả bọn chiếm đóng lẫn bọn tàn quân mới đến vội vàng tháo chạy. Một bộ phận của Trung đoàn 9 tiếp tục truy kích và phát triển thế tiến công, giải phóng một loạt "ấp chiến lược" từ Phú Quang đến Mỹ Thạch, diệt luôn cả đồn Mỹ Thạch và căn cứ 443. Bộ phận còn lại cơ động xuyên rừng sang đường số 7 đánh chiếm các chốt bảo an, đến sáng 18-3 thì đưa được đội hình vào sát phía tây và đông-nam Phú Thiện, chuẩn bị tiến công quận lỵ này, thực hiện kế hoạch chia cắt phía sau đội hình quân địch rút chạy, tạo điều kiện thuận lợi cho các Trung đoàn bạn tiến công địch ở Cheo Reo.

        Trong lúc các đơn vị bộ binh đi trước ngăn chặn và bao vây cô lập địch ở Cheo Reo, các đơn vị pháo binh, cao xạ được công binh tích cực mở đường, tiến vào chiếm lĩnh trận địa. Đúng 7 giờ sáng 18 tháng 3, về cơ bản quân ta đã hình thành thế trận tiến công vào hướng nam, hướng bắc và trong thị xã Cheo Reo.

        Về phía địch, bấy giờ bọn chỉ huy quân đoàn 2 cũng lệnh cho các lực lượng của chúng phải chốt giữ bằng được hai cụm Cheo Reo và Phú Thiện, bảo đảm cho đoàn quân rút chạy được an toàn.

        Trước tình hình địch co cụm như vậy, quân ta liền thay đổi thủ đoạn tiến công, dùng hoả lực tập trung của pháo binh tập kích các cụm quân địch, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận địch làm cho chúng hoang mang, đội hình rối loạn rồi bộ binh bất ngờ xung phong tiêu diệt toàn bộ.

        Đúng 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 3, pháo binh ta bắt đầu bắn đã trúng mục tiêu: nhiều xe địch bốc cháy, quân địch hoảng sợ, có bộ phận đè cả lên nhau tháo chạy lung tung. Đồng thời, các cỡ súng cối ta cũng bắn vào các mục tiêu trên hướng đột phá. Địch bị thiệt hại nặng, tinh thần vốn đã hoang mang, đội hình vô cùng hỗn loạn. Lợi dụng thời cơ, pháo binh bắn dồn dập mãnh liệt vào khu sân bay và cơ quan tiểu khu, nơi địch co cụm đông.

        Phối hợp với Trung đoàn 64 chặn đầu và Trung đoàn 9 đuổi đánh ở phía sau, hồi 1 giờ Trung đoàn 48 bắt đầu công kích vào giữa đội hình quân địch ở Cheo Reo.

        Bị tấn công dồn dập, hồi 13giờ ngày 18 tháng 3 (theo lời khai của Tướng Phạm Duy Tất sau này khi bị bắt) tướng Phạm Văn Phú điện cho Phạm Duy Tất: "Mở đường máu mà thoát thân, xe không đi được thì phá xe, bỏ qua mọi tình huống mà chạy, lấy Củng Sơn làm tụ điểm".


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Giêng, 2017, 10:45:31 am

        Nhận được điện, Tất than thở: Tổn thất quá nặng nề, gần như tan rã! Phạm Duy Tất được Phú giao cho nhiệm vụ chỉ huy cuộc hành quân này. Tất hoàn toàn bất lực trước sự tan rã và thất bại không thể nào cứu vãn của đám quân rút chạy. Tất bỏ mặc binh lính trèo lên máy bay trực thăng và chạy trốn.

        17 giờ phát hiện thấy quân địch ở khu sân bay định tháo chạy, bộ binh ta lập tức tiến lên xung phong đánh chiếm vị trí này. Mặc cho địch dựa vào các công sự, vật cản có sẵn ở bắc sân bay chống trả, quân ta vẫn lợi dụng nhà cửa che đỡ, vận động áp sát bao vây và dùng các loại hoả lực chi viện cho bộ binh liên tục đột phá, liên tục công kích các mục tiêu. Đến 18 giờ 30 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ sân bay, tiêu diệt và đánh tan toàn bộ Liên đoàn 23 biệt động quân nguỵ.

        Ở hướng tây bắc Cheo Reo, quân ta cũng nắm thời cơ đột phá vào cụm địch ở trại Ngô Quyền. Địch co lại, dựa vào hoả lực xe tăng chống trả mạnh. Quân ta tổ chức lại đội hình, dùng hoả lực đi cùng diệt xe tăng, đến 18 giờ thì đánh chiếm được trại Ngô Quyền, đài phát thanh. Và đến 21 giờ 30 phút hiệp đồng với hướng tây-nam đánh lên, quân ta đã đánh chiếm được hết các mục tiêu ở tây-bắc tiểu khu.

        Đêm hôm đó, quân địch trong thị xã Cheo Reo bị ta tiêu diệt phần lớn, bộ phận chỉ huy và xe tăng cùng lực lượng chiếm đóng cụm lại trong tiểu khu ngoan cố chống cự. Nhưng rốt cuộc đến 24 giờ, chúng cũng bị pháo binh và bộ binh ta hiệp đồng chặt chẽ, tiến công tiêu diệt nốt.

        Số tàn quân địch và bọn địch rút chạy trên đường số 7 bị các trận địa chốt của ta đánh bật trở lại, dồn cục thành hai cụm ở cách thị xã Cheo Reo 2 ki-lô-mét về phía nam, 6 giờ 30 phút ngày 19 tháng 3, quân ta tiếp tục bao vây và tiến công. Bị ta đánh bất ngờ, cả hai cụm quân địch này đều không chống đỡ nổi, một số lớn bị tiêu diệt và số còn lại phải kéo cờ trắng xin hàng. Quân nguỵ bị chết đầy đường, từng đoàn dài kéo nhau ra hàng đông nghịt. Tù, hàng binh không còn đủ người giữ, nên cứ chỉ đường để họ tự đi về hướng trại tập trung.

        Đến 9 giờ ngày 19 tháng 3, quân ta hoàn toàn giải phóng thị xã Cheo Reo.

        Cùng thời gian đó, ở phía tây-bắc thị xã, Trung đoàn 9 quân ta cũng đánh chiếm được Phú Thiện. Một số xe tăng, cơ giới địch chở bộ binh địch chạy về Cheo Reo. Song thị xã đã bị ta chiếm, chúng hốt hoảng tháo chạy theo đường 2e. Quân ta trong thị xã phát hiện thấy, liền dùng pháo 155 ly mới chiếm được của địch bắn chặn và cho một bộ phận cơ động ra hiệp đồng cùng Trung đoàn 9 diệt hết đoàn xe này.

        Ở phía đông-nam thị xã, một bộ phận lớn quân địch và xe pháo rút chạy trên đường 7 đến chốt Ia Nu bị quân ta đánh bật trở lại, phải co cụm ở tây đèo Mơ-ri A, từ 10 giờ đến 13 giờ ngày 19 tháng 3, Trung đoàn 64 đã vận động tới tiêu diệt và bắt sống toàn bộ.

        Tổng cộng trong ba ngày liên tục chiến đấu (17, 18, 19-3), Sư đoàn 320 và các đơn vị tăng cường đã diệt, bắt sống và gọi hàng hơn 13.000 tên địch, thu và phá huỷ hàng nghìn xe các loại, thu gần 4.000 súng, pháo các loại và rất nhiều phương tiện, khí tài. Đồng thời ta cũng chiếm được quận lỵ Phú Nhơn, Mỹ Thạch, Phú Thiện và thị xã Cheo Reo, giải phóng hàng chục vạn dân.

        Như vậy tiếp cận địch trong ngày 17 tháng 3, Sư đoàn 320 lao ngay vào cuộc chiến đấu không một giây ngừng nghỉ. Truy kích, tập kích vào các cụm phòng ngự, đánh chặn giao thông, đánh gặp gỡ, vận động bao vây tiến công liên tục... Tất cả các hình thức tác chiến đã được cán bộ và chiến sĩ trong Sư đoàn vận dụng trong từng trường hợp đánh địch cụ thể, quyết giành thắng lợi về mình. Và thắng lợi ấy đã đến vào ngày 19 tháng 3 khi Sư đoàn giải phóng thị xã Cheo Reo quét sạch địch trên đường số 7, diệt và bắt hàng vạn tên cùng rất nhiều trang bị kỹ thuật. Một bộ phận địch chạy thoát trước đó về Phú Yên đã bị hai tiểu đoàn bộ đội địa phương và du kích Phú Yên được lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 bỏ hết các mục tiêu khác, ra chặn đứng ở Củng Sơn, rồi cùng với Trung đoàn 64 vận động xuống tiêu diệt nốt. Giải phóng Tuy Hòa là do bộ đội địa phương và du kích Phú Yên cùng sư 320 hợp sức lập nên.

        Thắng lợi ở Củng Sơn cùng với thắng lợi ở Cheo Reo đã làm nên chiến thắng trọn vẹn tiêu diệt hoàn toàn đoàn quân rút chạy của địch trên đường số 7, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến công của quân ta xuống vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ vào những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Giêng, 2017, 03:37:49 pm

        Trong lúc quân ta giải phóng thị xã Cheo Reo, tiêu diệt bộ phận đi đoạn giữa và đoạn cuối của đoàn quân địch tháo chạy trên đường số 7 thì nhận được tin quân địch ở thị xã Quảng Trị tháo chạy về Huế (19-3). Như vậy quân địch không phải chỉ bỏ cái cửa Tây Nguyên mà còn bỏ cả cái cửa ngoài đồng bằng. Sự chỉ đạo chiến lược của kẻ địch lúc này càng thêm lỡ đà và thất thế, càng thêm bối rối và do dự - một điều vô cùng nguy hiểm đối với chúng.

        Cùng thời gian này, ngày 18 tháng 3, Trung đoàn 19 và tỉnh đội Kon Tum giải phóng thị xã Kon Tum, Trung đoàn 95A giải phóng thị xã Plâyku, Trung đoàn 19 giải phóng Thanh Bình. Ngày 20 tháng 3, Trung đoàn 271 (thiếu) đánh chiếm Kiến Đức, địch ở Gia Nghĩa rút chạy, quân ta vào tiếp quản thị xã này.

        Trước tình hình thắng lớn của ta ở Tây Nguyên, trong cuộc họp ngày 18 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền Nam trong năm 1975. Và chỉ thị cho toàn quân: Tập trung binh khí kỹ thuật và vật chất, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Nắm thời cơ địch đang rút lui chiến lược, làm tan rã quân đoàn 1 và bộ phận quân đoàn 2 nguy, không cho chúng co cụm về xung quanh Sài Gòn.

        Cờ đến nước bí, bọn cầm đầu quân nguỵ buộc phải điều Sư đoàn dù thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược từ Đà Nẵng về giữ Sài Gòn. Chiến trường Quân khu 1 của địch mất hẳn một lực lượng nòng cốt. Song thực ra Sư đoàn dù này cũng đã bị sa sút nghiêm trọng vì bị đánh nhừ tử trong trận phản kích ở khu vực Thượng Đức (Quảng Đà) từ mùa thu 1974, tiếp đó lại phải chiến đấu liên miên cả mùa đông cho đến mùa Xuân 1975. Trên đường chuyển vào Sài Gòn, chúng phải bớt lữ đoàn dù số 3 để ném vào khu vực Nha Trang bấy giờ hầu như đang bị bỏ ngỏ. Lữ đoàn này sau được phái ra tổ chức một tuyến phòng ngự mới từ xa để bảo vệ Nha Trang, ở đèo Phượng Hoàng trên đường số 21, quãng giữa Ninh Hoà đi Khánh Dương.

        Biết rằng một lữ đoàn dù đã mệt mỏi, tiêu hao cả về vật chất và tinh thần khó có thể ngăn nổi cuộc tiến công vũ bão của ta, bọn cầm đầu ngụy quân đành phải bỏ chiến trường Bình Định, rút Trung đoàn 40 (thiếu) của Sư đoàn 22 đưa ra chiếm lĩnh thêm một tuyến phòng ngự của quân dù trên đường số 21. Mặt khác, chúng cố tìm mọi cách đưa bộ phận còn lại của đoàn quân tháo chạy trên đường số 7 về Tuy Hoà rồi đi Nha Trang để cùng với các lực lượng được tăng cường ngăn chặn cuộc tiến công của quân ta từ Tây Nguyên xuống hướng này.

        Về phía ta, sau khi giải phóng Buôn Ma Thuột, Plâyku, Kon Tum, Cheo Reo và Gia Nghĩa, quân ta đã có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển xuống vùng đồng bằng. Mục tiêu của ta là tiêu diệt gọn đoàn quân tháo chạy trên đường số 7 và tiêu diệt Trung đoàn 40 (thiếu) cùng lữ đoàn dù 3 trên đường số 21. Sau đó, quân ta sẽ chia làm ba mũi, tiến trên ba hướng xuống giải phóng các thị xã ở vùng đồng bằng ven biển.

        Các tư liệu lịch sử và nhiều cuốn sách khác nhau nói về thời kỳ này đều coi bước ngoặt của chiến tranh đã được quyết định vào những ngày giữa tháng 3 Tây Nguyên năm 1975, xuất phát từ sự kiện là lần đầu tiên một quân đoàn địch đã bị giập xương sống trên một địa bàn chiến lược trọng yếu. Nhưng đã khác nhau căn bản ở cách tìm đến nguyên nhân. Các tác giả phương Tây - tôi muốn nói đến ngay cả nhiều sĩ quan của nguỵ quyền Sài Gòn đã chạy đi - đã có xu hướng quy mọi thất bại lên đầu tổng thống tồi Nguyễn Văn Thiệu mà họ cho rằng quyết định rút bỏ Tây Nguyên của y là một sai lầm "chết điếng” đã dẫn đến sự tháo chạy chiến lược của cả miền Nam.

        "Vậy thì trong trường hợp cụ thể đó, bộ chỉ huy chiến lược của các anh cần xử trí như thế nào thì hợp lý". Đáp lại câu hỏi này của chúng tôi, tại cuộc làm việc đã được đề cập ở trên, lạ thay, không ít sĩ quan cao cấp cũ của quân đội Sài Gòn lại tỏ ra khá lúng túng. Ít kẻ có thể đưa ra ngay một giải pháp rõ ràng. Thậm chí, có viên sĩ quan nọ lúc đầu cho rằng nên như thế này, về sau lại "à...", rồi đưa ra một kế hoạch khác. Và thậm chí nữa, có kẻ còn xin "để tôi suy nghĩ thêm rồi trả lời sau”, (chết nỗi ba năm qua rồi (1978) mà ngài chỉ huy vẫn lúng túng, để mất cả thời cơ chiến lược lẫn chiến thuật!).

        Nhưng đáng chú ý là tất cả những kẻ có nhãn quan chiến lược một chút đều cho rằng trong hoàn cảnh đó không có cách nào hơn, chỉ có thể "tẩu vi thượng sách!" Nghĩa là "tướng Thiệu đã quyết định đúng khi rút bỏ cao nguyên nhưng ông ta đã thiết kế hành quân quá vội vã..."


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Giêng, 2017, 03:39:45 pm

        Nói như thế thì còn khả dĩ. Sai lầm của chúng là ở chỗ ấy, nhưng rõ ràng sự thất bại đã không phải là sai lầm chủ quan của một cá nhân (điều đó nếu có cũng chỉ là thứ yếu). Sự thất bại nằm trong tồn tại khách quan là, đối phương đã đẩy đến tình trạng không còn cách lựa chọn nào khác. Sẽ đi quá xa phạm vi một cuốn hồi ký thông thường nếu tôi đưa thêm những ý kiến phân tích nữa, cho nên chỉ có thể tóm tắt: rút bỏ, khó mà lựa chọn cách nào khác.

        Giữ nguyên hiện trạng lúc đó? Lực lượng đối phương đang dồi dào trong thế chẻ tre. Tây Nguyên đằng nào cũng không thể giữ, và quân đoàn 2 sẽ bị tiêu diệt. Thiệu biết rõ điều đó. Cũng không thể trông vào lực lượng tổng dự bị chiến lược, đang bị căng ra đối phó ở Sài Gòn và Huế, Đà Nẵng, chưa nói tới nếu như tất cả các quân đoàn chủ lực của Việt Cộng - đang sẵn sàng – đều nhất loạt vào trận thì ... Thiệu biết rõ điều đó.

        Còn lực lượng của chính quân đoàn 2 - Quân khu 2? Cạn rồi! Cần khẩn trương gom lại nếu còn muốn có một đòn phản công tái chiếm Buôn Ma Thuột, nơi có vị trí chiến lược quan trọng hơn cả trên cao nguyên, nhưng ôi thôi! con át chủ bài đã bị mất rồi, niềm hy vọng cuối cùng đã bị tiêu tan nên chỉ có một con đường bỏ chạy mà thôi. Gom lại, co hẹp phòng tuyến lại nếu còn muốn giữ lấy đồng bằng hậu phương, nhân tố thường xuyên quyết định trong chiến tranh. Và thế là việc rút bỏ cao nguyên được quyết định và thi hành ngay, còn diễn biến và kết cục của nó như thế nào thì ta đã biết.

        Tôi nhớ ngay đến những cuộc họp của chiến lược để chuẩn bị cho năm 1975 mà tôi được tham dự ở Hà Nội. Khi bàn đến hướng phát triển tiếp theo của Chiến dịch Nam Tây Nguyên, đồng chí Lê Duẩn đã nói: "Địch sợ nhất một đòn chia cắt chiến lược toàn miền Nam. Giải quyết xong Nam Tây Nguyên thì cần phát triển xuống đồng bằng duyên hải Phú Yên, Khánh Hoà, cắt đôi miền Nam ra". Tình hình phát triển vào những ngày giữa tháng 3 đó đã tạo cơ hội cho quyết sách chiến lược sáng suốt ấy.

        Nếu trận Buôn Ma Thuột đã quyết định chiến dịch Tây Nguyên thì trận đường số 7 tiêu diệt quân đoàn 2 tháo chạy ấy đã tạo nên bước ngoặt chiến lược. Từ sự bùng nổ về chiến dịch đã châm ngòi cho sự bùng nổ về chiến lược. Từ những ngày giữa tháng 3, thời gian đối với chúng tôi đã là một dòng chảy xiết đến chóng mặt các sự kiện chiến đấu, chảy xiết cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh.

        Cùng thời gian đó, phối hợp với bộ đội địa phương và các lực lượng nổi dậy của nhân dân, Trung đoàn 29 tiến vào Kon Tum, Trung đoàn 95A tiến vào Plâyku, Trung đoàn 19 tiến vào Thanh Bình ở hướng bắc Tây Nguyên.

        Phía cực nam Mặt trận, thị xã Gia Nghĩa nằm ven đường 14, hướng được dự kiến phát triển ban đầu của Chiến dịch nam Tây Nguyên cuối cùng đã được giải phóng bởi Trung đoàn 271.

        Trong suốt những ngày tháng 3 ấy, khi thời gian được đếm không phải bằng ngày giờ mà bằng các sự kiện chiến đấu diễn ra liên tiếp, có một phút chúng tôi để cho lòng mình thư thái: ấy là cái phút chúng tôi nhìn vào bản đồ Tây Nguyên - 70.000 ki-lô-mét vuông của vùng cao sơn nguyên bao la lần đầu tiên bỗng chợt nhận thấy các sĩ quan tham mưu không tác nghiệp lên đó những lá cờ xanh. Chúng ta đã qua một chớp mắt hay một thế kỷ? Hay bốn mươi thế kỷ đến ngày hôm nay?

        Một cái gì cay nơi mắt dễ mềm lòng người lính khiến tôi bước ra khỏi hầm chỉ huy. Chúng tôi vốn vẫn nhận ra Tây Nguyên ở những rừng khộp, những rừng già tán lá kín bưng, những sườn đá cheo leo mà mỗi "quăng dao" là một buổi đi đường cật lực.

        Ở đây, tại sở chỉ huy Chiến dịch phía tây Thuần Mẫn, tôi lại bất chợt nhận thấy một Tây Nguyên giải phóng rồi, đồng bào các dân tộc sẽ thoát khỏi cảnh đói khổ. Với đất này, với bàn tay lao động cần cù của mình, đồng bào sẽ cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Có gì khác đâu, đây là mục đích mà chúng ta cầm súng.

        Bầu trời trên Cao nguyên trong những ngày này thật trong sáng làm sao, khiến tôi sực nhớ ra đang là mùa con ong đi lấy mật, mùa phát rẫy làm nương của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên...nhưng, từ phía xa xa vẫn còn tiếng súng nổ ì ầm.

        Có điện gấp. Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định tập trung các Sư đoàn: 10, 320, 316 và những đơn vị binh khí kỹ thuật nhanh chóng chấn chỉnh, sẵn sàng cơ động vào miền Đông Nam Bộ để chuẩn bị giải phóng Sài Gòn.

        Với tinh thần chủ động và trách nhiệm, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhận thấy quân ta đang trên đà phát triển thuận lợi xuống vùng ven biển miền Trung, nên đã đề nghị xin cho bộ đội được tiếp tục tiến xuống giải phóng các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Cam Ranh rồi sau đó sẽ hành quân vào Nam Bộ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Giêng, 2017, 03:42:27 pm

        Kiến nghị đã được trên chấp thuận. Ngày 21 tháng 3, Bộ Tổng tư lệnh điện giao nhiệm vụ tiến công tiếp theo cho Bộ Tư lệnh chiến dịch "Tiếp tục phát triển tiến công trên 3 trục đường số 7, 19, 21, giải phóng Phú Yên và Khánh Hoà, đồng thời phối hợp với Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Hướng vào mục tiêu chủ yếu là tiêu diệt lữ dù 3 ở đèo Phượng Hoàng, tiến xuống giải phóng Nha Trang và Cam Ranh.

        Ngày 27 tháng 3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư cho chúng tôi chúc mừng chiến thắng nội dung bức thư như sau:

        "Anh Hoàng, Vũ Lăng, Hiệp. Tôi viết thư vắn chúc mừng quân ta, mùa Xuân 75 ra quân đại thắng trên chiến trường Tây Nguyên.

        Chúc các anh khoẻ, chỉ huy và lãnh đạo quân đội giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

        Nhờ chuyển lời chào đại thắng và lời chúc sức khoẻ của tôi đến anh em cán bộ.

        Thân.

        Ký tên:

        Văn Hà Nội 27/3/75."

        (Hoàng là bí danh của tôi)

        Cùng ngày 27 tháng 3 Bộ Tổng tham mưu thông báo chính thức tuyên bố thành lập Quân đoàn 3 rút ra từ những lực lượng chủ yếu của bộ đội Tây Nguyên. Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh đã hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn. Quân đoàn 3 được thành lập và được giao nhiệm vụ sẽ đảm nhiệm một hướng tiến công quan trọng. Nhưng ngay bây giờ, các chiến sĩ Tây Nguyên ấy còn phải hoàn thành trách nhiệm tiến xuống đồng bằng, cùng với các đơn vị bạn giải phóng vùng duyên hải. Cánh cửa lớn đã bật tung, ba cánh quân tràn xuống theo ba con đường của Tây Nguyên: Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A trên đường 19; Sư đoàn 320 trên đường số 7, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 trên đường số 21.

        Các trận chiến đấu còn tiếp tục.

        Tôi lại từ giã Tây Nguyên vào một ngày cuối tháng 3 để cùng các đơn vị Tây Nguyên tiến xuống đồng bằng duyên hải miền Trung. Các hướng chiến trường đang phát triển, biết bao công việc trước mắt? Tôi muốn nói với các bạn chiến đấu thân thiết của tôi rất nhiều mà hầu như không nói được gì cả. Vừa ký vào tấm bản đồ Quyết tâm chiến dịch Nam Tây Nguyên mà các đồng chí xây dựng lại để giữ làm kỷ niệm, tôi vừa nói: Xin hẹn giữa thành phố Sài Gòn giải phóng! Tạm biệt...Tây Nguyên hoàn toàn giải phóng.

        Quân ta thừa thắng chia làm ba mũi tiến xuống đồng bằng ven biển miền Trung và một mũi tiến vào Đông Nam Bộ.

        Mũi thứ nhất trên đường 19 tiến xuống tỉnh Bình Định. Ở đây, Sư đoàn 3 thuộc Quân khu 5 của ta đang hoạt động trên đường số 19 và tiêu diệt sư 22 Sài Gòn.

        Tiếp đó, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A cũng từ Tây Nguyên tiến xuống, ngày 31 tháng 3 đánh một trận lớn từ Phú Phong đến sân bay Gò Quánh thuộc tỉnh Bình Định góp phần tiêu diệt Sư đoàn bộ binh số 22 ngụy, lúc chúng đang hoảng loạn rã rời, không còn sức chiến đấu.

        Nhân đà thắng lợi, mưu kế của Trung đoàn địa phương Bình Định thật hay. Khi Sư đoàn 3, Quân Khu 5 và Trung đoàn 95A đang đánh bại sư đoàn 22 nguỵ thì Trung đoàn địa phương Bình Định lợi dụng thời cơ này tranh thủ tiến vào đánh chiếm để giải phóng thị xã Quy Nhơn và ngày 1 tháng 4 Trung đoàn địa phương tỉnh Bình Định kết hợp với quần chúng nổi dậy và tiến công giải phóng thị xã Quy Nhơn. Đây chính là nghệ thuật tranh thủ thời cơ.

        Các Sư đoàn kịp thời chấn chỉnh lực lượng, được các đơn vị địa phương và nhân dân thị xã giúp đỡ vật chất và phương tiện vận chuyển, tiếp tục phát triển theo dọc quốc lộ 1, tiến về thị xã Nha Trang, Cam Ranh và Phan Rang.

        Mũi thứ hai trên đường số 7 tiến xuống Tuy Hoà. Sau khi để lại một bộ phận cùng lực lượng địa phương tỉnh Phú Yên diệt nốt cụm địch ở phía nam sông Ba và lùng quét tàn binh, đại bộ phận lực lượng của Sư đoàn 320 nhanh chóng phát triển xuống đồng bằng tỉnh Phú Yên. Ngày 1 tháng 4, sư đoàn cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Phú Yên nổ súng tiến công thị xã Tuy Hoà.

        Quân địch trên toàn tỉnh Phú Yên lúc này đã hoang mang cao độ. Nhưng trước nguy cơ bị tiêu diệt, chúng vẫn cố sức tập hợp số tàn quân ở Tây Nguyên chạy thoát về và lực lượng tại chỗ, gồm 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội bảo an lẻ, 1 chi đội thiết giáp, ban chỉ huy tiểu khu Phú Yên, ban chỉ huy liên đoàn 21 mới khôi phục và toàn bộ lực lượng ác ôn, cảnh sát ở các quận lỵ, thị xã. Bọn cầm đầu quân nguỵ phái Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng phó tư lệnh quân đoàn 2, ra thị xã Tuy Hoà để động viên trấn an binh lính và củng cố phòng ngự. Chúng tổ chức thành các cụm lớn trên nhiều tuyến ở các quận lỵ, các điểm cao xung quanh thị xã, có hải thuyền, tàu chiến ngoài biển trực tiếp chi viện. Thế nhưng vì thua lớn quá, tinh thần của cả binh lính lẫn sĩ quan địch đều suy sụp, không sao gượng dậy nổi.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Giêng, 2017, 03:45:00 pm

        Quán triệt tư tưởng tích cực tiến công nhân đà quân địch hoang mang, quân ta dùng cách đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng tiến công địch trong hành tiến, phát triển nhanh là chính, song vẫn chuẩn bị tốt mọi mặt để kiên quyết đánh thắng địch nếu chúng co cụm chống lại ta.

        Trận đánh diễn ra từ 6 giờ 30 đến 15 giờ ngày 1 tháng 4. Sư đoàn 320 phối hợp chặt chẽ với các lực lượng địa phương của tỉnh và quần chúng nổi dậy làm chủ hoàn toàn thị xã Tuy Hoà, quận Tuy Hoà I, quận Tuy An và từ quận Hiếu Xương đến đèo Cả.

        Trong trận đánh thị xã Tuy Hoà, máy bay địch lồng lộn bắn phá, pháo binh địch cũng bắn không tiếc đạn để yểm hộ cho các lực lượng cơ động ra ngăn chặn từ xa. Nhưng mũi tiến công bằng hiệp đồng binh chủng của Sư đoàn vẫn tiến như vũ bão, chọc thẳng vào mục tiêu then chốt và cơ quan chỉ huy đầu não của địch, đồng thời kết hợp nhịp nhàng các hành động thọc sâu vu hồi đánh vào sườn và phía sau quân địch, làm cho chúng trở tay không kịp. Những tên sống sót phải tự phá vỡ đội hình xô nhau chạy tán loạn, có tên kịp leo được lên tàu xuồng, nhưng cũng có không ít tên chìm sâu dưới đáy biển. Những tên không chạy được đều bị quân và dân ta tóm gọn, trong đó có Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng phó tư lệnh quân đoàn 2, viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy.

        Còn mũi thứ ba? Đây là mũi tiến công quan trọng nhằm phá tan mưu kế mới của địch. Mưu kế của địch để chọi lại mưu kế của ta là địch rút 1 lữ đoàn dù ở Đà Nẵng về để phòng ngự ở đèo Ma Đrắc bảo vệ Nha Trang. Cộng với số quân còn lại ở Tây Nguyên (Plâyku và Kon Tum ) rút về đồng bằng thành hai lực lượng để giữ Nha Trang. Nhưng mưu kế của ta còn cao hơn mưu kế địch. Do đó ta mới thắng được địch.

        Đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc là một đỉnh cao thuộc dãy Trường Sơn, ngăn cách quận lỵ Khánh Dương với Ninh Hoà. Địa hình ở đây rất hiểm trở, chỉ có duy nhất đường 21 chạy qua. Đèo dài 15 km, chạy quanh co, khúc khuỷu theo các triền núi, một bên là núi cao, một bên là vực thẳm. Trên đường đèo có nhiều cầu cống và eo núi, nếu bị phá rất khó khắc phục.

        Sư đoàn dù là lực lượng tổng dự bị chiến lược, đơn vị sừng sỏ nhất của quân nguỵ sẵn sàng bảo vệ ở Quân khu 1, tình hình ngày càng nguy ngập, Thiệu buộc phải điều gấp về bảo vệ Sài Gòn. Nhưng trước nguy cơ Nha Trang - Cam Ranh bị mất, không còn cách nào khác, Thiệu phải ném lữ đoàn dù 3 lên đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc lập tuyến phòng thủ ngăn chặn từ xa. Lực lượng của lữ dù 3 có 3.800 quân, biên chế thành 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 chi đoàn thiết giáp. Ngoài ra, chúng còn được tăng cường 1 tiểu đoàn biệt động quân của quân đoàn 2 nguỵ. Sư đoàn 6 không quân được lệnh huy động tối đa máy bay ném bom, sẵn sàng chi viện cho lữ dù này giữ đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc.

        Trong khi mũi thứ nhất tiến công kết hợp với nổi dậy ở khu vực Bình Định, mũi thứ hai tiến công trong hành tiến như chẻ tre theo đường 7 tiến xuống thị xã Tuy Hoà, thì mũi thứ ba trên hướng đường 21, Sư đoàn 10 quân ta còn sung sức đã tiến xuống khu vực đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc nhằm tiêu diệt lữ đoàn dù 3 và Trung đoàn 40 nguỵ, giải phóng tỉnh Khánh Hoà, thị xã Nha Trang và quân cảng Cam Ranh.

        Khi lữ đoàn 3 nguỵ lên đường số 21 thì quân ta đã uy hiếp Khánh Dương và truy sát gót bọn tàn quân của Sư đoàn 23 chạy lên đèo Ma-Đrắc - Phượng Hoàng. Thế là vừa ra quân, chúng đã sa vào thế cô lập, không còn một lực lượng nào của quân đoàn 2 nguỵ hỗ trợ. Tâm lý thất bại làm cho lữ đoàn dù 3 vốn tinh thần đã nao núng nay lại càng sa sút nghiêm trọng. Song vốn là con cưng của quân đội nguỵ, lúc ra quân chúng thường được bọn chỉ huy động viên và chi viện cho hoả lực tối đa, mặt khác quân số còn đông nên chúng vẫn còn chỗ dựa để ngoan cố hơn bọn nguỵ khác.

        Lên đường số 21, chúng dùng ngay thủ đoạn cổ truyền là lập tức chiếm đèo Ma-Đrắc - Phượng Hoàng, dựa vào các chốt bảo an có sẵn, tích cực đào công sự xây dựng các trận địa hoả lực và co cụm để ngăn chặn quân ta, đồng thời dùng chiến thuật mạng nhện, di tản đến phân đội nhỏ, từng tiểu đội, trung đội có xe tăng nằm sâu sang hai bên đường đèo.

        Phát hiện hoặc nghi ngờ quân ta tiến công trên hướng nào đó là chúng lập tức dùng hoả lực mạnh của máy bay, pháo binh bắn sát thương rồi cơ động quân di tản đến ngăn chặn.

        Thế nhưng khốn thay, các thủ đoạn đó chẳng đưa lại cho chúng một kết quả nào. Bởi lẽ địa hình ở đây hiểm trở, đường đèo độc đạo, đối phương lại có kinh nghiệm của thế thắng, với lối đánh tập trung sức mạnh các binh chủng hiệp đồng, đặc biệt là nghệ thuật tập trung rất cao vào lúc có thời cơ xuất hiện.

        Tình hình trên buộc chúng phải tuân theo cách đánh của đối phương, phải rải quân rất rộng, bố trí đã phân tán lại kéo dài khoảng 30 ki-lô-mét trên hai bên trục đường số 21, lộ ra thế ngăn chặn với chính diện hẹp, sườn hở, tung thâm mỏng, lực lượng phản kích nhỏ.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Giêng, 2017, 03:51:56 pm

        Ngày 22 tháng 3 Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 được lệnh đánh chiếm Khánh Dương. Tại Khánh Dương, lực lượng địch có Trung đoàn 40 (thiếu), một trận địa pháo 6 khẩu 105 ly vừa được điều từ Bình Định lên, cùng 2 tiểu đoàn bảo an. Với lực lượng này địch hy vọng đủ sức lập tuyến phòng thủ mới ngăn chặn và hạn chế sức tiến công của quân ta để chúng kịp đưa lực lượng từ phía sau lên lập tuyến phòng thủ ở đèo Phượng Hoàng - Ma Đrắc chắn đỡ cho vùng đồng bằng ven biển.

        Nhưng ý định ấy chưa kịp thực hiện thì sáng ngày 22 tháng 3, bộ binh và xe tăng ta từ ba hướng đã dũng mãnh tiến công đánh thẳng vào Khánh Dương. Sau 2 giờ chiến đấu, Trung đoàn 66, Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 25 cùng xe tăng và pháo binh, cao xạ hiệp đồng tác chiến tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng địch ở đây.

        Sau khi ta giải phóng Khánh Dương, Sư đoàn 10 được lệnh tiếp tục tiến công ngay vào tuyến lữ đoàn dù số 3 để mở đường phát triển xuống giải phóng Khánh Hoà, Nha Trang. Sư đoàn tổ chức tiến công với quyết tâm: tập trung lực lượng toàn Sư đoàn, được tăng cường Trung đoàn 25 cùng các binh chủng phối thuộc, kiên quyết tiêu diệt gọn quân địch (gồm lữ đoàn dù, chi đoàn 2 thiết giáp, 32 khẩu pháo 105 ly và 155 ly, trung bình được 70-80 lần chiếc máy bay chi viện).

        Lúc này, đài quan sát pháo binh phát hiện địch đã chiếm đèo Ma Đrắc, quân ta xin lệnh cho pháo bắn chi viện tiến công. Nhưng do công tác nắm địch chưa tốt, chưa lường hết khả năng cơ động của quân dù. Chúng đã chiếm đèo trước dự kiến của ta đến hơn một ngày. Hơn nữa, sự hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh chưa tốt nên đã gây tổn thất lớn cho bộ đội ta.

        Trước tình hình đó, nếu tiếp tục cho bộ đội tiến công theo đường 21 như những trận đánh vừa qua thì khó có thể giành được thắng lợi. Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tạm ngừng phát triển tiến công để làm công tác chuẩn bị, bảo đảm đánh chắc thắng.

        Ngày 25 tháng 3 Sư đoàn 10 vào trận với phương châm: Tích cực chủ động tiêu diệt gọn lữ đoàn dù 3 bằng nhiều trận liên tiếp từng tiểu đoàn địch; thực hiện cài thế bằng lực lượng vây ở phía đông đèo; kết hợp chặt chẽ đột phá chính diện với bao vây chia cắt đánh bên sườn; chủ động khắc phục khó khăn, phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, giành cho được thế chủ động bất ngờ; cố gắng đánh nhanh diệt gọn từng đơn vị địch.

        Như vậy, trong thời gian từ 3 đến 7 ngày, bằng cách bao vây chặt toàn bộ đội hình lữ đoàn địch, khoá chặt phía sau, biến địa hình hiểm trở thành thế lợi cho ta để tiêu diệt chúng. Trên cơ sở thế trận đã bao vây chặt, hướng chính diện tập trung sức mạnh của các binh chủng kỹ thuật như xe tăng, pháo binh, cao xạ cùng bộ binh đột phá tiêu diệt từng tiểu đoàn địch, đồng thời hai bên sườn và sau lưng dùng lực lượng trang bị tinh và nhẹ, xẻ đường xuyên rừng thọc sườn đánh hiểm, tiêu diệt và khống chế các trận địa pháo binh rồi tiến công ngay vào các bộ phận chỉ huy, cơ quan đầu não của chúng.

        Trong quá trình tiến công, thế trận của Sư đoàn được bổ sung hoàn chỉnh bằng các lực lượng dự bị theo sát đội hình. Do đó trận đánh được tiến hành với hiệu suất cao: chỉ trong ba ngày đêm (từ 29-3 đến 1-4), quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lữ đoàn dù 3 cùng các đơn vị tăng cường, thu và phá huỷ toàn bộ vũ khí trang bị của chúng.

        Sáng ngày 1 tháng 4, được tin lữ đoàn dù 3 thua trận, tuyến phòng thủ đèo Phượng Hoàng- Ma Đrắc bị phá vỡ, Phạm Văn Phú vội vã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tìm cách "tử thủ Nha Trang”, ra lệnh thiết quân luật 24/24 giờ trong ngày; gấp rút củng cố lại các trận địa phòng thủ; thu gom tàn quân thành lập các đơn vị mới, bổ sung súng đạn cho lực lượng bảo an, dân vệ; đồng thời quyết định thành lập "Mặt trận Nha Trang” và cử chỉ huy trưởng trường hạ sĩ quan Đồng Đế làm tư lệnh. Họp xong, Phú cùng một số tướng tá dùng máy bay lên thẳng thị sát chiến trường.

        Những dòng nhật ký hành quân sưu tập được sau đây đã ghi lại được những ngày chỉ huy cuối cùng trong cuộc đời của tướng Phạm Văn Phú: (Lược ghi theo. Phạm Huấn “Điện Biên Phủ 1954 - Ban Mê Thuột 1975 " (sđd)

        "Ngày 1 tháng 4 năm 1975.

        07 giờ 00: Phụ tá hành quân quân đoàn 2, tướng Trần Văn Cẩm, gọi từ Phú Yên về báo, Cộng quân pháo vào thị xã rất dữ dội và bắt đầu tấn công cả ba mặt. Sau lần liên lạc này, tướng Cẩm, tư lệnh mặt trận Phú Yên coi như mất tích.

        08 giờ 15: tư lệnh quân đoàn 2 bay C-47 chỉ huy hai mặt trận Phú Yên và Bình Định.

        10 giờ 00: Tướng Phú, tư lệnh quân đoàn 2 bay trở lại Nha Trang- Trên đường về từ Quy Nhơn, ông không liên lạc được với trung tá Tỉnh trưởng, bộ tham mưu Mặt trận Phú Yên, bộ chỉ huy tiểu khu, các cánh quân. 

        12 giờ 15: Một sĩ quan của trung tâm hành quân quân đoàn 2, hớt hải chạy ra la lớn:

        - Phi cơ quan sát báo cáo về chiến xa Bắc Việt đã tới Dục Mỹ và Ninh Hoà ...

        Thế là một số quân nhân các Phòng khác chạy ùa ra ngoài. Tướng Phú từ lầu nhì đi xuống, ông "hét":

        - Thế là... thế nào ? Tại sao bỏ chạy ?


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Giêng, 2017, 03:54:16 pm

        12 giờ 30: Tướng Phạm Quốc Thuần, Chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan, tới bộ Tư lệnh quân đoàn 2. Tướng Phú bước ra đón ông, và giơ tay phân trần:

        - Sỹ quan và lính tráng tôi bỏ chạy hết

        Sau đó, tướng Phú thảo luận với tướng Thuần.

        12 giờ 45: Tướng Phú ra lệnh cho thiếu tá Hoá, sĩ quan tuỳ viên:

        - Bay lên Khánh Dương

        Nói xong, ông hối hả bước đi, không bắt tay, không chào tướng Thuần. Và, ông cũng không biết trực thăng hiện đậu ở chỗ nào? Sau đó Tướng Thuần vẫn cùng bay chỉ huy với tướng Phú.

        13 giờ 25: Bay trên Khánh Dương, tướng Phú không liên lạc được với lử đoàn 3 nhẩy dù. Không liên lạc được với các tiểu đoàn biệt động quân, và những đơn vị bộ binh còn lại của quân đoàn, (một phần của Trung đoàn 40, Sư đoàn 22, và trung đoàn 45, Sư đoàn 23). Bay ngang Dục Mỹ, ông không liên lạc được với Đại tá Đại, chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện biệt động quân, và những đơn vị phòng thủ "tuyến Dục Mỹ” gồm quân của các Trung tâm huấn luyện bộ binh, biệt động quân, pháo binh, v.v...Tướng Phú ra lệnh bay về Phan Rang.

        17 giờ 00: Tư lệnh quân đoàn 2 bay trực thăng trở lại Nha Trang. Và đây là lần thứ 4 ... bay từ Phan Rang đi Khánh Dương, Nha Trang kể từ lúc 13 giờ trưa nay, 1-4-1975

        17 giờ 50: Đúng 20 phút sau, chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Oánh, chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện không quân Nha Trang, và chuẩn tướng Nguyễn Văn Lượng, tư lệnh Sư đoàn 2 không quân bước vào.

        Tướng Phú ngồi ở ghế sát với bàn của Tư lệnh Sư đoàn 2 không quân. Nhưng hai tướng Lượng và Oánh, không chào hỏi, tới ngồi ở cái bàn khác đối diện.

        Thấy thái độ và cách xử sự khác thường của hai tướng Lượng và Oánh, tướng Phú hơi ngạc nhiên, nhưng rồi chợt hiểu, ông hất hàm hỏi tướng Lượng:

        - Có chuyện gì sảy ra?

        Tướng Lượng không trả lời, mặt lầm lì. Nhưng tướng Nguyễn Ngọc Oánh, với một giọng hết sức từ tốn, lễ độ nói với tướng Phú:

        - Tôi muốn thưa với thiếu tướng, tôi được chỉ định làm tư lệnh mặt trận Nha Trang, vì quân đoàn 2 không còn nữa?

        Tướng Phú mặt biến sắc, hỏi dồn:

        - Lệnh ai? Anh nhận lệnh. .. ai?

        Tướng Nguyễn Ngọc Oánh vẫn thật điềm đạm, chậm rãi:

        - Thưa thiếu tướng, lệnh của bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam cộng hòa, của trung tướng Đồng Văn Khuyên từ Sài Gòn

        18 giờ 40: Tướng Phạm Văn Phú dùng điện thoại của tướng Lượng gọi về Sài Gòn. Đây cũng là một sáng suốt cuối cùng để tướng Phú không bị đau đớn hơn, và bị nhục trước hai tướng Lượng và Oánh.

        Đầu giây bên kia là trung tướng Đồng Văn Khuyên, tham mưu trưởng liên quân quân lực Việt Nam cộng hòa.

        Ngay từ câu đầu tiên, tướng Phú đã hét lên trong ống liên hợp:

        - Tôi đi đâu? Tôi bay chỉ huy?

        - !!!!

        - Tôi ra lệnh cho tư lệnh Sư đoàn 2 không quân đóng cửa phi trường lúc 1 giờ trưa và bay đi... Mặt trận Khánh Dương. ..

        - !!!

        - Tôi là tư lệnh quân đoàn. Đi đâu, đó là quyền của tôi? tướng Thuần trên máy bay chỉ huy của tôi mấy tiếng đồng hồ, nhưng tôi không cần trung tướng phải tin! Và tôi cũng không cần phải trình trung tướng.

        19 giờ 45: Tướng Phú ra trực thăng bay trở về Phan Rang.

        Về phía quân ta, sáng ngày 2 tháng 4 Trung đoàn 24 và tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 cùng xe tăng, pháo binh tiến vào quận lỵ Ninh Hoà. Lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Ninh Hoà được bộ đội hỗ trợ đã nổi dậy diệt những tên địch ngoan cố, giành quyền làm chủ. Cả thị trấn Ninh Hoà nhân dân đổ ra đứng chật hai bên đường vẫy cờ hoa, reo hò mừng đón bộ đội cách mạng.

        Thừa thắng, ngay trong ngày 2 tháng 4, quân ta lập tức tiến thẳng xuống giải phóng thị xã Nha Trang. Sau đó, đến 12 giờ 30 ngày 3 tháng 4, quân ta lại giải phóng quân cảng Cam Ranh. Vùng giải phóng trên địa bàn của mũi thứ ba được nối liền ngay với địa bàn hai mũi phía bắc, hình thành một khu vực đồng bằng ven biển hoàn chỉnh.

        Tại đây, Sư đoàn 10 cũng được sự giúp đỡ nhiệt tình của các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân vùng giải phóng, nên ngày 10 tháng 4 đã kịp thời cơ động sang hướng Sài Gòn và bàn giao lại Trung đoàn 25 cho Sư đoàn 3 Quân khu 5 hiệp đồng cùng Quân đoàn 2 giải phóng thị xã Phan Rang chiếm lĩnh sân bay Thành Sơn và bảo đảm cho phi công của ta sử dụng máy bay vừa chiếm được của địch làm bàn đạp xuất phát để ném bom sân bay Tân Sơn Nhất


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Giêng, 2017, 12:36:03 am

        Sau một tháng liên tục tiến công (từ 4-3 đến 3-4-1975). Từ chiến dịch Nam Tây Nguyên trở thành chiến dịch Tây Nguyên, rồi phát triển thành chiến dịch chiến lược giải phóng cả một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Tây Nguyên đến các tỉnh ven biển miền Trung từ Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà đến Cam Ranh; Vùng 2 chiến thuật của địch bị xoá sổ hoàn toàn, thế bố trí chiến lược của địch ở miền Nam đã bị quân ta chia cắt, cùng với chiến dịch Huế - Đà Nẵng tạo nên sự bùng nổ về chiến lược dẫn đến bước ngoặt của cuộc chiến tranh.

        Chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng mở đầu Chiến cuộc mùa Xuân năm 1975, đã tạo ra một sự đột biến về chiến lược.

        Ta tiêu diệt một quân đoàn địch trong một chiến dịch, đó là một đòn rất nặng làm cho chúng bị suy yếu nhanh chóng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ lực lượng vũ trang của địch. Việc tiêu diệt địch nhanh (từ 4 tháng 3 đến 24 tháng 3 năm 1975) làm cho sự chuyển biến diễn ra càng nhanh và càng mạnh, gây ra những tác động đột biến về phía địch. Một lực lượng lớn bị tiêu diệt tất sẽ kéo theo mất một vùng đất đai rộng lớn, có số dân đông; địa bàn địch kiểm soát tất sẽ bị thu hẹp và trận địa còn lại của chúng cũng sẽ bị uy hiếp mạnh. Đương nhiên, ý nghĩa quan trọng của vấn đề không phải chỉ có như vậy mà còn biểu lộ ở sự suy sụp về tinh thần và ý chí chiến đấu của địch cũng như sự thay đổi về so sánh lực lượng và thế trận chiến lược hai bên.

        Bị một đòn điểm huyệt choáng váng ở Buôn Ma Thuột, khởi điểm dẫn đến sự tan rã về chiến lược của chúng. Địch từ chỗ chủ quan, tham lam và ngoan cố, bỗng đột ngột bị một đòn quá nặng, đã đi tới chỗ đột biến về tinh thần và chính trị, hoang mang mất phương hướng, bi quan chán nản, không còn tin tưởng ở mình nữa. Sự đột biến đó làm cho sức chiến đấu của chúng bị sa sút hẳn. Tâm lý thất bại bao trùm lên quân địch, quân địch buộc phải rút bỏ Tây Nguyên, nhưng rồi đến lượt toàn bộ quân tháo chạy cũng lại bị tiêu diệt gọn. Rõ ràng, chúng đã bị thất bại, đã phạm sai lầm và mất đà về chiến lược, một nguy cơ mà lịch sử chiến tranh từ trước tới nay đều chứng minh rằng đã sa vào đó thì khó lòng cứu vãn và gượng dậy nổi.

        Chiến thắng Tây Nguyên là khởi điểm dẫn đến sự tan rã và suy sụp về chiến lược của địch, đã tạo đà cho quân và dân ta những điều kiện thuận lợi để chuyển sang cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ngày càng phát triển mạnh mẽ.

        Tiến xuống đồng bằng, những chiến binh vừa làm nên một Tây Nguyên đại thắng ấy lại lao ngay vào cuộc chiến đấu mới, đập tan những âm mưu mới của kẻ địch hòng co cụm ở đồng bằng, giải phóng một vùng rộng lớn các tỉnh ven biển miền Trung để rồi sau đó lại hội quân với Đại quân tiến lên quyết giành thắng lợi cuối cùng.

        Ngày 7 tháng 4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho các đơn vị đang đổ vào chiến trường:

        "Mệnh lệnh:

        1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới Mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.

        2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ".

        Mệnh lệnh của Đại tướng đã nhanh chóng đập tan mưu đồ chiến lược "Nhẹ ở đầu, nặng ở đáy” của Nguyễn Văn Thiệu.

        Mệnh lệnh của ông như một hồi kèn xung trận, tốc độ hành quân nâng lên không ngừng với một thế đánh như chẻ tre, các cánh quân của ta nhanh chóng tiến về Sài Gòn.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ 17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975. Năm cánh quân của ta gồm: quân đoàn 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 trong thế bao vây Sài Gòn được lệnh vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài, chọc sâu tiến thẳng vào Trung tâm Sài Gòn. Với sức mạnh của 15 Sư đoàn, 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 xe tăng của ta tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Bộ thống soái địch. Lá cờ cách mạng tung bay trên nóc phủ Tổng thống nguỵ Sài Gòn, báo hiệu "Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng” kết thúc 30 năm chiến tranh trường kỳ của dân tộc.

        Sau này, mùa Xuân 1978, người trợ lý của tôi Đại uý Vũ Cao Phan - đã thực hiện một cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở phía bên kia của các sự kiện mà tôi đang đề cập đến trong cuốn sách này.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Giêng, 2017, 12:37:10 am

        Tướng Phạm Duy Tất, phụ tá chỉ huy trưởng Quân khu 2 đặc trách biệt động quân; Tướng Lê Văn Thân, phó chỉ huy trưởng Quân khu 2 đặc trách lãnh thổ; Tướng Lê Trung Tường, tư lệnh Sư đoàn bộ binh 23; Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 25 Sư đoàn 23; Đại tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53 Sư đoàn 23; Tướng Trần Văn Cẩm, phụ tá chỉ huy trưởng Quân khu II đặc trách hành quân; Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân đặc trách cao nguyên (sở chỉ huy Plâyku) và đại tá Vũ Thế Quang, phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 23 kiêm tư lệnh lãnh thổ nam Tây Nguyên. Nghĩa là tất cả nhũng kẻ chịu trách nhiệm chủ yếu ở Tây Nguyên năm 1975, trừ viên tư lệnh của nó đã trốn chạy sự thật bằng một viên đạn tự kết liễu vào phút hấp hối của nguỵ quyền Sài Gòn. Cộng vào các khuôn mặt Cao nguyên ấy còn có Tướng Nguyễn Hữu Cò, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng của một thời "tam hùng” Thiệu - Kỳ - Có, người có quan điểm gần cận với Dương Văn Minh và tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh Mặt trận phòng thủ Phan Rang vào phút cuối cùng, kẻ luôn luôn nhận sự che chở của Nguyễn Văn Thiệu.

        Chúng tôi đã nêu ra một loạt vấn đề và để họ được phát biểu ý kiến một cách độc lập. Về vấn đề đầu tiên và cũng là vấn đề then chốt: "Anh hãy phát biểu một cách khái quát nhất về chiến dịch Tây Nguyên", hầu như tất cả bọn họ, diễn đạt dưới những cách tiếp cận vấn đề khác nhau, đều cho rằng đây là một đòn thối động chiến lược đã tạo nên khúc quanh của chiến tranh.

        - Bước ngoặt của chiến tranh, đúng thế - Tướng Có còn đưa thêm ý kiến có vẻ tiên tri. Ngay khi hay tin quân đoàn 2 bị gục, tôi đã nói với ông Dương Văn Minh: Đừng mong gì hơn, đây không phải là cái kết cục mà chỉ là cú mở màn, thưa đại tướng...

        Không, tôi không muốn khẳng định một điều gì, nhất là với cương vị là người đã chứng kiến và tham gia vào các sự kiện ấy. Đây lại là những ý kiến từ phía bên kia và rốt cục họ lại cũng là những kẻ trong cuộc. "Thua trong một trận quyết định cũng là điều vinh hạnh", phải chăng châm ngôn ấy đã khiến họ chủ quan? Không, quả là tôi chưa muốn khẳng định một điều gì khi bản thân lịch sử - sự khách quan tuyệt đối - cần có thời gian để khẳng định. Hơn nữa, họ cũng chỉ là tay sai, những người lính đánh thuê cho một mục đích xâm lược của ngoại bang nên vẫn còn bàng hoàng, ảo vọng, mà không hiểu được rằng vì sao họ bị thua nhanh đến thế.

        Bởi có một quy luật đã trở thành chân lý: chính nghĩa bao giờ cũng thắng phi nghĩa, cuộc chiến tranh nhân dân chính nghĩa chống xâm lược bao giờ cũng chiến thắng chiến tranh phi nghĩa đi xâm lược, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Di chúc mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân rằng:" Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn ".

        Chỉ biết rằng cho đến tận hôm nay và có lẽ suốt cả quãng còn lại của cuộc đời, tôi vẫn còn xúc động sâu sắc về thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên cùng với những hệ quả của nó, cũng như buổi sáng hôm ấy, buổi sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, tôi đã xúc động như thế nào khi nghe những giàn pháo nổ như chưa bao giờ nổ trên chiến trường quen thuộc này.

        Nhìn lại bài học về Trận đánh Buôn Ma Thuột

        Nghệ thuật chiến dịch Tây Nguyên mở đầu Chiến cuộc mùa Xuân 1975, phát triển thành cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975 đã có những nét phát triển rất cao.

        Đó là nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu rất đúng và rất hiểm của bộ chỉ huy chiến lược. Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu, Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu, ta đã điểm trúng huyệt, đánh vào nơi rất hiểm yếu của địch. Chiếm được Buôn Ma Thuột là ta có điều kiện mở ra các hướng phát triển tiến công thuận lợi trên cả các hướng bắc, đông, nam theo các trục đường số 14 , đường số 7 và đường số 21.

        Đó là nghệ thuật mưu kế nghi binh, lừa địch tạo thế, giữ quyền chủ động chiến dịch. Ta đã tiến hành một kế hoạch nghi binh rất công phu từ việc thay quân chuyển quân đến việc đánh nghi binh, đánh mạnh như đánh thật, gọi là đánh thật mà là thật giả, khiến cho địch ngày càng tin chắc là ta tiến công ở bắc Tây Nguyên. Đánh Buôn Ma Thuột, ta dự kiến cả hai tình huống (địch chưa dự phòng và có dự phòng) nhưng lấy tình huống khó nhất là địch đã tăng quân và tăng cường phòng ngự thị xã để đặt kế hoạch tác chiến; nhưng vẫn tiếp tục nghi binh tạo thế, triệt để lợi dụng suy đoán sai lầm của địch để dẫn dắt chúng rơi vào tình huống chưa tăng cường phòng ngự.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Giêng, 2017, 12:38:04 am

        Đó là nghệ thuật bí mật bất ngờ tập trung lực lượng tạo ra thế trận hơn hẳn địch trên hướng và mục tiêu chủ yếu ở trận then chốt Buôn Ma Thuột ta tập trung lực lượng từ 3 đến 4 lần hơn địch để đánh thắng trận mở đầu, đồng thời đó là nghệ thuật đánh chiếm đường, đánh cắt đường giao thông tạo thành thế trận chia cắt địch nhờ đó ta đã cô lập chia cắt địch thành nhiều cụm, khó ứng cứu nhau bằng đường bộ. Đến khi Sư đoàn 23 thực hành phản kích buộc phải đổ bộ bằng đường không, tuy lực ta và địch xấp xỉ nhau, nhưng thế ta lại hơn hẳn thế địch, ta đã cài sẵn thế đánh úp khi địch đổ bộ, nên ta cũng nhanh chóng giành thắng lợi.

        Còn trận truy kích trên đường số 7, do thế bố trí lực lượng của ta tương đối hợp lý, quân ta đã kịp thời vào trận với tinh thần kiên quyết và dũng cảm, tuy số lượng địch đông hơn ta nhiều lần, nhưng chúng đã thất thế (rút chạy hỗn loạn đã mất tinh thần, mang theo tâm lý thất bại) nên chúng đã bị thất bại thảm hại.

        Đó còn là nghệ thuật sử dụng chính kỳ vận dụng sáng tạo cách đánh chiến dịch và tổ chức các trận then chốt. Cách đánh đó thể hiện cụ thể trong các biện pháp tác chiến, đánh cắt giao thông, đánh thị xã, đánh căn cứ, đánh quân địch phản đột kích, đánh địch rút chạy.

        Cách đánh chung của chiến dịch là: tiến hành nghi binh tạo thế, thu hút và giam chân chủ lực địch trên hướng khác đánh nghi binh có tính chất như mũi chính binh, trong khi đó lại dùng chính binh một cách bất ngờ có tính chất như một cụm tập đoàn kỳ binh nhằm tạo ưu thế trên hướng và mục tiêu chủ yếu, thực hiện bao vây, chia cắt chiến lược và chiến dịch, cô lập từng cụm quân địch; kết hợp với kỳ binh đột phá với luồn sâu, thọc sâu, thực hiện trong ngoài cùng đánh thị xã, dùng các cụm đột kích binh chủng hợp thành để phá vỡ phòng ngự địch.

        Trên cơ sở đó, tạo điều kiện kéo địch ra ngoài công sự để tiếp tục tiêu diệt chúng trong vận động (đánh phản đột kích, đánh địch rút chạy), lần lượt tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tiến tới tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, không chỉ trên địa bàn chiến dịch (lúc đầu là nam Tây Nguyên) mà ở toàn bộ địa bàn chiến dịch - chiến lược Tây Nguyên.

        Các trận then chốt trong chiến dịch Tây Nguyên thực sự là động lực thúc đẩy tiến trình phát triển của chiến dịch, phát triển kết quả chiến thuật thành kết quả chiến dịch và phát huy thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược tạo ra cục diện mới của chiến tranh. Trận đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột là một trận then chốt thứ nhất, tạo ra đột biến về chiến dịch, dẫn đến đột biến về chiến lược, gây tác động dây chuyền, tạo thời cơ cho những trận then chốt tiếp sau, tạo nên bước ngoặt quyết định của sự phát triển chiến dịch và cả chiến lược..

        Đó là nghệ thuật gạn lọc tình huống để có thể loại trừ hoặc hạn chế tình huống khó nhất. Đối với trận tiêu diệt Sư đoàn 23, trên thực tế ta mới chuẩn bị trước được một số công việc chính, những việc còn lại đều phải tiến hành gấp rút trong hành tiến kể từ sau khi đánh chiếm dứt điểm thị xã Buôn Ma Thuột. Trong kế hoạch chiến dịch, ta cũng đã dự kiến và gạn lọc tình huống địch chỉ có thể đổ bộ Sư đoàn 23 bằng máy bay lên thẳng xuống đường số 21 phía đông Buôn Ma Thuột để phản kích ứng cứu thị xã vì Sư đoàn 23 không thể đi đường số 14, do Sư đoàn 320 của ta đã đánh chiếm.

        Nhưng trong quá trình diễn biến chiến dịch, vấn đề xử lý tình huống cũng rất quan trọng, như việc dứt điểm Đức Lập bị chậm gần một ngày, nên sau khi đánh xong Đức Lập, ta dùng xe ô tô cơ động Sư đoàn 10 về đứng chân ở phía đông bắc thị xã Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh Sư đoàn 23 nguỵ đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống các khu vực có dự kiến. Tình huống đã diễn ra đúng như vậy. Thế là ta đã đưa địch vào kế và thế của ta. Đánh bại phản kích của Sư đoàn 23 nguỵ hòng cứu nguy cho Buôn Ma Thuột là trận then chốt thứ hai. Trận then chốt giải phóng Buôn Ma Thuột và trận then chốt đánh địch phản kích; hai trận then chốt thành một trận then chốt quyết định, tạo ra đột biến về chiến tranh.

        Bị mất con chủ bài quan trọng, địch mất hết hy vọng đã dẫn đến sự bùng nổ về chiến dịch, dẫn đến sự rút chạy khỏi Tây Nguyên của địch. Trận tiêu diệt tập đoàn rút chạy của địch trên đường số 7 cũng nảy sinh trong quá trình chiến dịch.

        Thắng lợi của trận truy kích - tiêu diệt này thể hiện thế bố trí lực lượng của ta trên chiến trường rất hợp lý. Sẵn sàng chủ động trong mọi tình huống và trình độ cả về tổ chức quyết đoán của Bộ Tư lệnh chiến dịch, trách nhiệm và năng lực tổ chức của cơ quan chiến dịch cũng như tinh thần dũng cảm và thông minh, ý thức chấp hành mệnh lệnh của bộ đội Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Giêng, 2017, 12:38:28 am

        Hướng phát triển thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên xuống đồng bằng ven biển Khu 5 đã tạo thế chia cắt chiến lược rất hiểm làm cho Quân khu 1 địch lâm vào thế bị cô lập, đồng thời tạo thế uy hiếp trực tiếp Sài Gòn từ phía bắc đã dẫn đến sự bùng nổ về chiến lược. Nó đã phá vỡ ý định chiến lược co cụm của địch làm rung chuyển toàn chiến trường, nhanh chóng bị suy sụp, trở thành rút chạy về chiến lược.

        Nghệ thuật chiến dịch Tây Nguyên thể hiện sâu sắc tư tưởng quan điểm chiến tranh nhân dân Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm truyền thống của các chiến dịch trước ở Tây Nguyên cũng như trong các cuộc chiến tranh, hội tụ gần đầy đủ các yếu tố cấu thành nghệ thuật chiến dịch; do đó đã phát triển sáng tạo và thể hiện ở trình độ cao về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Đó là thắng bằng mưu kế.

        Nghệ thuật chiến dịch Tây Nguyên còn là một bộ phận cấu thành của nghệ thuật tác chiến chiến lược trong chiến cuộc mùa Xuân 1975. Trong chiến cuộc thì các chiến dịch và các hoạt động tác chiến đều có sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, theo một kế hoạch thống nhất nhằm đạt được mục đích mà Bộ tổng tư lệnh đề ra. Bởi vậy, có được thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, về mặt nghệ thuật quân sự, trước hết phải khẳng định nó được bắt nguồn từ những mưu kế chiến lược rất hay của Bộ Thống soái chúng ta là: ghìm địch ở hai đầu Nam- Bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng, buộc địch phải sơ hở ở quãng giữa là miền Trung và Tây Nguyên, tạo thế cho Tây Nguyên; Và sau đó bất ngờ tăng thêm cho Tây Nguyên Sư đoàn 316 và Sư đoàn 968 thành 4 Sư đoàn và một số Trung đoàn độc lập cùng các binh chủng chiến đấu hùng mạnh, có phối hợp với Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân khu 5 đã tạo nên một quả đấm thép. Quả đấm thép đó đã ghìm giữ địch ở Plâyku, cắt đường 19, để phá vỡ Buôn Ma Thuột và đánh bại phản kích của Sư đoàn 23 nguỵ Sài Gòn làm nên đột biến về chiến tranh.

        Đưa bí mật đột ngột hai Sư đoàn lên Tây Nguyên là mưu hay của ta, của Bộ thống soái mà trực tiếp là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người đã có kinh nghiệm tác chiến lớn, người có trình độ chỉ huy các chiến dịch lớn, người có tri thức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành.

        Đó là cái nút trong mưu kế chiến lược đánh bại địch trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã dạy:

        "Quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế có lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực..."(Chú thích: (Hồ Chí Minh. Toàn tập Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. 2000, t2. tr 445.).

        Những nét nổi bật về nghệ thuật chỉ huy trong chiến dịch Tây Nguyên và trận đánh Buôn Ma Thuột là:

        Hai điểm mưu kế về chiến lược.

        - Điểm thứ nhất là: Ghìm địch ở hai đầu Nam Bắc chiến tuyến - Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng.

        - Điểm thứ hai là: đột ngột bất ngờ tăng cho Tây Nguyên hai sư đoàn.

        Đó là điểm nổi bật của chiến lược

        Hai điểm mưu kế về chiến dịch.

        - Điểm thứ nhất là dùng một sư đoàn đánh nghi binh ở Plâyku, đưa ba sư đoàn bí mật chuyển quân xuống, bất ngờ đột phá Buôn Ma Thuột.

        - Điểm thứ hai nổi bật về chiến dịch là chủ động đưa sư đoàn 10 ra đón đánh địch phản kích để định chiếm lại Buôn Ma Thuột là gạn lọc tình huống và tiếp đến đã chủ động đưa Sư đoàn 10 ra bố trí sẵn để đón đánh địch phản kích định chiếm lại Buôn Ma Thuột. Đó là điểm nổi bật của chiến dịch.

        Nhìn chung những nét nổi bật đó là tài nghệ sáng tạo trong nghệ thuật chỉ huy.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Giêng, 2017, 12:40:20 am
           
PHẦN 14

CHIẾN CUỘC MÙA XUÂN 1975
ĐIỂM HỘI TỤ NHỮNG SÁNG TẠO CỦA NỀN NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

        Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải trải qua một chặng đường dài chiến đấu và chiến thắng oanh hệt quân giặc ngoại xâm, lập nên những kỳ tích huyền thoại. Những chiến thắng Như Nguyệt, Bạch Đằng, Hàm Tử, Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang, Rạch Gầm, Soài Mút, Ngọc Hồi, Đống Đa, . ..đã vẽ lên bức tranh hoành tráng sinh động và rực rỡ về tài thao lược của ông cha ta trong nghệ thuật tạo sức mạnh của chiến tranh nhân dân.

        Phát huy truyền thống đó, trong thời đại Hồ Chí Minh ta đã có chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu và đến chiến cuộc mùa Xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, là biểu hiện đặc sắc nhất tài năng sáng tạo của Đảng ta và nhân dân ta, trong nghệ thuật lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh để giành thắng lợi trong chiến tranh. Nghệ thuật đó thể hiện sâu sắc tính kế thừa truyền thống dân tộc vừa đậm nét tính thời đại. Vào giai đoạn cuối cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc, thực hiện được mệnh lệnh chiến lược của Hồ Chủ tịch trước khi Người đi xa là: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Từ những chiến thắng kế tiếp chiến thắng ta đã đánh cho Mỹ cút. Nhưng tập đoàn tay sai cùng với âm mưu xâm lược của Mỹ vẫn còn đó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến cuộc mùa Xuân 1975 được kế thừa từ những chiến thắng đó, ta đã thực hiện thành công cách đánh chiến lược được đề ra trong suốt cuộc kháng chiến là: Đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ toàn quân địch.

        Nhờ có nghệ thuật chỉ đạo chỉ huy tài giỏi, tạo thế tạo lực tạo thời cơ, phát hiện sớm và nhạy bén nắm bắt thời cơ, hạ quyết tâm chính xác kịp thời, sử dụng nghệ thuật mưu kế trên nền tảng chiến tranh nhân dân, phát triển tiến công táo bạo và thần tốc, đánh địch bất ngờ và liên tục, nên chiến cuộc mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi hoàn toàn trong thời gian ngắn. Đó là nghệ thuật sử dụng lực lượng khôn khéo để luôn luôn đánh địch trên thế mạnh tạo nên sức mạnh áp đảo quân địch trong chiến đấu, thực hiện những chiến dịch đánh tiêu diệt lớn, buộc địch từ chỗ bị đánh bất ngờ đến bị động lúng túng, phải co cụm chiến lược rồi rút lui chiến lược mà dẫn đến sự tan rã và bị thất bại hoàn toàn, đã thực hiện trọng vẹn mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch là: Đánh cho ngụy nhào.

        Với 60 ngày đêm (và tính cả đánh nghi binh) cuối cùng của cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm, chúng ta đã tập trung toàn bộ sức lực, trí tuệ của cả một dân tộc, đấu mưu đấu trí một cách quyết liệt nhất để đi đến giành thắng lợi trọn vẹn.

        Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến cuộc mùa Xuân 1975 đã thể hiện tính cách mạng, tính nhân dân, tính sáng tạo và tính hiện đại. Nó khẳng định tài năng to lớn của Đảng ta, cơ quan tối cao lãnh đạo cuộc chiến tranh.

        Đó là nghệ thuật dùng mưu kế buộc địch phải bố trí lực lượng theo ý định của ta. Từ đó bắt địch phải bộc lộ sơ hở trong thế trận. Mưu kế tạo ra "Hình trận" và "Thế trận". Mưu kế chiến lược của ta đã tạo ra một hình trận chiến lược rất đẹp là ghìm địch ra hai đầu Nam Bắc chiến tuyến ở Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng, bằng cách áp sát các quân đoàn chủ lực của ta (Quân đoàn 1 ở bờ bắc sông Bến Hải, Quân đoàn 2 ở tây Huế, và quân đoàn 4 ở đông bắc Sài Gòn ) vào gần các khu vực trọng yếu đó, buộc địch phải tập trung cả hai Sư đoàn tổng dự bị chiến lược vào giữ Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng, để sơ hở ở quãng giữa là Tây Nguyên

        Hình trận nhọn ở hai đầu, hở ở giữa này đã tạo ra thế trận có lợi cho Tây Nguyên. Đặt Quân đoàn 1, Quân đoàn 2 ở phía bắc chiến tuyến, và Quân đoàn 4 ở phía nam chiến tuyến là cách nghi binh chiến lược cho Tây Nguyên.

        Khi địch đã bị giữ chặt ở Huế và Sài Gòn thì ta mở cuộc công phá lớn ở Tây Nguyên. Ta điều Sư đoàn 316 và Sư đoàn 968 vào Tây Nguyên một cách đột ngột, nhanh chóng cũng làm cho địch bị bất ngờ.

        Mặt trận Tây Nguyên từ một tập đoàn chiến dịch có 2-3 Sư đoàn, bỗng nhiên trở thành một tập đoàn chiến lược gồm 5 Sư đoàn (các Sư 10, 320, 316, 968, Sư 3 Sao Vàng Quân khu 5 và bốn Trung đoàn độc lập cùng bộ đội địa phương) đã tạo nên quả đấm thép. Quả đấm thép đó đã giữ ghìm địch ở Plâyku, cắt đường 19 để phá vỡ Buôn Ma Thuột và đánh bại phản kích của Sư đoàn 23 nguỵ làm nên đột biến về chiến tranh. Hai Sư đoàn tăng thêm đó là cái nút trong mưu kế chiến lược để đánh bại địch.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2017, 12:10:47 pm

        Mưu kế chiến lược tiếp theo là đưa bí mật đột ngột 2 Sư đoàn nữa lên Tây Nguyên là mưu kế hay của ta, của Bộ Thống soái mà trực tiếp là Đại tướng Võ Nguyên Giáp Tổng tư lệnh, người đã có kinh nghiệm tác chiến lớn, người có trình độ chỉ huy các chiến dịch lớn, người có tri thức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành. Hai Sư đoàn bất ngờ tăng thêm cho Tây Nguyên đó là cái nút trong mưu kế chiến lược. Do bất ngờ đột ngột tăng cho Tây Nguyên hai Sư đoàn nữa mà địch không biết, không kịp đối phó. Và nhất là khi xích sắt xe tăng của Sư đoàn 316 lăn bánh trên đường phố Buôn Ma Thuột thì mọi chuyện đối với địch là đã quá muộn. Hai Sư đoàn đó là Sư đoàn 316 và Sư đoàn 968 thành ra Tây Nguyên có 4 Sư đoàn và một số Sư đoàn độc lập cùng các binh chủng chiến đấu hùng mạnh có phối hợp với Sư đoàn 3 Sao Vàng Quân khu 5 đã tạo nên quả đám thép làm cho lực lượng ta vượt trội hơn địch.

        Ở Tây Nguyên, quân ta từ một lực lượng chiến dịch bỗng trở thành một lực lượng chiến lược. Quả đấm thép đó đã đủ sức mạnh đánh ghìm địch ở Plâyku; cắt đường 19 và đường 14; phá vỡ Buôn Ma Thuột và đánh bại phản kích của Sư đoàn 23 ngụy Sài Gòn làm nên đột biến về chiến tranh. Hai Sư đoàn và thời cơ tăng thêm cho Tây Nguyên là cái nút trong mưu kế chiến lược đánh bại địch trong Chiến cuộc mùa Xuân năm 1975. Địa điểm và thời cơ sử dụng 2 Sư đoàn này là "chữ thời" về tài năng và trí tuệ trong nghệ thuật chỉ huy.

        Ở Tây Nguyên ta chọn mục tiêu phá vỡ là Buôn Ma Thuột, nơi mà địch yếu, ít phòng bị. Mưu kế của ta là: Nghi binh thu hút, ghìm địch ở đầu mạnh; để tiến công phá vỡ địch ở đầu yếu. Mưu kế chiến dịch là đánh nghi binh ở phía bắc, ở Plâyku; tập trung sức mạnh ở phía nam, ở Buôn Ma Thuột thực hành đột phá đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Hình trận chiến dịch ở Tây Nguyên còn được thể hiện trong việc sử dụng "chính- kỳ”. Ở giai đoạn đầu được xác định như sau:

        Sư đoàn 968 được sử dụng có tính chất như một mũi chính binh, nhưng thực chất lại là đánh nghi binh để kẻ địch tưởng rằng ta sẽ tiến công Plâyku. Còn Sư đoàn 316, các Trung đoàn 24, 95B và các binh chủng, là chính binh đánh thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột nhưng được sử dụng một cách bí mật mà kẻ địch bị bất ngờ có tính chất như một tập đoàn kỳ binh. Nhưng sau đó khi thế trận đã bắt đầu chuyển hoá thì "chính”, "kỳ” cũng biến hoá theo một cách linh hoạt.

        Dùng lực lượng tương đối (sư đoàn 968) đánh nghi binh lừa địch ở phía bắc trước hết nhằm vào Plâyku làm cho địch tin rằng ta sẽ mở chiến dịch ở bắc Tây Nguyên. Trong khi đó các đơn vị chủ lực bí mật di chuyển xuống nam Tây Nguyên (sư đoàn 10 tiến về Đức Lập, Sư đoàn 320 đứng chân ở tây Cẩm Ga). Tiếp đến (Sư đoàn 3 SaoVàng Quân khu 5) đánh cắt đường 19, (Sư đoàn 320) đánh cắt đường 14 nhằm chia cắt địch về chiến lược và chiến dịch, làm cho các cụm quân địch bị cô lập, tách rời nhau, không chi viện được cho nhau, tạo thế cho nam Tây Nguyên, tập trung đòn đánh vào Buôn Ma Thuột được thuận lợi.

        Thời cơ chiến dịch đã đến, ta đánh địch trong trường hợp địch không có phòng ngự dự phòng. Giờ nổ súng đã đến, ta bí mật tập trung lực lượng đủ mạnh (Sư đoàn 316 và một số Trung đoàn độc lập) bất ngờ đánh đòn đầu tiên vào chỗ sơ hở nhưng lại hiểm yếu của địch là thị xã Buôn Ma Thuột. Trong trận này ta có các mũi chia cắt để tạo thế, mũi nghi binh tạo điều kiện cho mũi đánh chính vào thị xã Buôn Ma Thuột và trong trận này, các mũi đánh chính đã kết hợp với mũi thọc sâu, vu hồi để đánh bại địch một cách nhanh chóng.

        Đánh chiếm được thị xã Buôn Ma Thuột ta đã thành công trong trận then chốt thứ nhất.

        Hình trận bao giờ cũng cần có lực lượng dự bị, đội dự bị để sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Ta đã linh hoạt sử dụng Sư đoàn 10, đánh Đức Lập xong, chuyển về làm đội dự bị cho Buôn Ma Thuột đã đánh bại phản đột kích của Sư đoàn 23 nguỵ định ứng cứu chiếm lại Buôn Ma Thuột, làm nên chiến thắng trong trận then chốt thứ hai.

        Hai trận then chốt này tạo thành trận then chốt quyết định là giải phóng Buôn Ma Thuột một cách chắc chắn, địch không còn khả năng chiếm lại. Sau khi mất Buôn Ma Thuột và Sư đoàn 23 phản kích bị đánh bại, tất cả các thủ đoạn tác chiến, các hình thức chiến thuật của địch bị đánh bại ở Tây Nguyên, tạo ra một sự đột biến về chiến tranh, tác động lớn đến chiến lược của địch, làm hoảng loạn về tư tưởng và thế bố trí chiến lược của địch; buộc địch phải rút lui để co cụm phòng ngự. Tổng thống nguỵ Nguyễn Văn Thiệu liền ra lệnh rút chạy khỏi Tây Nguyên. Plâyku và Kon Tum không đánh mà thắng.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2017, 12:11:49 pm

        Phản ứng dây chuyền đó tạo ra đột biến về chiến dịch; chiến dịch tuy đang thắng lợi nhưng bỗng trở nên thắng lợi rất lớn, thắng lợi một cách đột ngột, rất nhanh, ngoài dự tính của cả hai bên. Sau thắng lợi đột biến về chiến dịch, đó là một thời cơ chiến lược.

        Chớp được thời cơ, ta đánh địch rút chạy khỏi Plâyku, Kon Tum phát triển chiến thuật truy kích tiêu diệt quân địch ở Cheo Reo, Củng Sơn và đuổi địch trên đường 7, Sư đoàn 320 đã phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch đến tận bờ biển thị xã Tuy Hoà. Sư đoàn 10 sau khi đánh tan phản kích của Sư đoàn 23 nguỵ, trên đà chiến thắng, được phối thuộc một số đơn vị và xe tăng đã phát triển tiến công trên đường số 21, giải phóng quân lỵ Khánh Dương, đập tan "cánh cửa thép" đèo Phượng Hoàng tiêu diệt lữ đoàn dù 3 và tiến xuống giải phóng Nha Trang - Cam Ranh.

        Cùng lúc đó trên đường số 19 Sư đoàn 3 và các lực lượng vũ trang Quân khu 5 tiến công tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn 22 nguỵ, giải phóng Bình Định và thị xã Qui Nhơn.

        Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu Chiến cuộc mùa Xuân năm 1975, đã tạo ra một sự đột biến về chiến lược. Ta tiêu diệt một quân đoàn địch trong chiến dịch, đó là một đòn rất nặng làm cho chúng bị suy yếu nhanh chóng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ lực lượng vũ trang của địch. Việc tiêu diệt địch nhanh (từ 4 tháng 3 đến 24 tháng 3 năm 1975) làm cho sự chuyển biến diễn ra càng nhanh và càng mạnh, gây ra những tác động đột biến về phía địch.

        Một lực lượng lớn bị tiêu diệt tất sẽ kéo theo mất một vùng đất đai rộng lớn, có số dân đông; địa bàn địch kiểm soát tất sẽ bị thu hẹp và trận địa còn lại của chúng cũng sẽ bị uy hiếp mạnh. Đương nhiên, ý nghĩa quan trọng của vấn đề không phải chỉ có như vậy mà còn biểu lộ ở sự suy sụp về tinh thần và ý chí chiến đấu của địch cũng như sự thay đổi về so sánh lực lượng và thế trận chiến lược hai bên.

        Bị một đòn điểm huyệt choáng váng ở Buôn Ma Thuột, một quân đoàn bị tiêu diệt; một vùng đất đai rộng lớn, một địa bàn chiến lược quan trọng có lợi thế về địa hình bị mất; là khởi điểm dẫn đến sự tan rã về chiến lược của chúng. Địch từ chỗ chủ quan, tham lam và ngoan cố, bỗng đột ngột bị một đòn quá nặng, đã đi tới chỗ đột biến về tinh thần và chính trị, hoang mang mất phương hướng, bi quan chán nản, không còn tin tưởng ở mình nữa. Sự đột biến đó làm cho sức chiến đấu của chúng bị sa sút hẳn. Tâm lý thất bại bao trùm lên quân địch, quân địch buộc phải rút bỏ Tây Nguyên, nhưng rồi đến lượt toàn bộ quân tháo chạy cũng lại bị tiêu diệt gọn. Rõ ràng, chúng đã bị thất bại, đã phạm sai lầm và mất đà về chiến lược, một nguy cơ mà lịch sử chiến tranh từ trước tới nay đều chứng minh rằng đã sa vào đó thì khó lòng cứu vãn và gượng dậy nổi.

        Hình trận và thế trận trong chiến dịch Tây Nguyên và trận Buôn Ma Thuột thể hiện tính linh hoạt, hiểm hóc của đội hình tác chiến; đánh bằng nhiều thủ đoạn tác chiến, nhiều hình thức chiến thuật, nhiều thế, nhiều hình thức tác chiến làm cho địch không có cách nào đối phó, đã dẫn tới kết quả là ta đã xoá sổ vùng 2 chiến thuật của địch, giải phóng một vùng rộng lớn từ Tây Nguyên, Bình Định, Phú Yên; Khánh Hoà, đó là một hình trận và thế trận hay.

        Về thế và lực, thì sau chiến thắng Tây Nguyên, sức mạnh của quân ta như được tăng lên gấp bội, lại có một bàn đạp rất vững chắc và cơ động, chiếm ưu thế về địa hình và thế trận hiểm sắc để đánh xuống đồng bằng, cắt toàn bộ trận địa địch ra làm đôi và mở ra một hành lang chiến lược rất thuận lợi để tiến xuống Sài Gòn, đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch.

        Chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên là khởi điểm dẫn đến sự tan rã và suy sụp về chiến lược của địch, đồng thời đã cổ vũ, động viên rất mạnh mẽ khí thế của quân và dân ta ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, càng củng cố quyết tâm chiến đấu, lòng tin vào thắng lợi cuối cùng và tạo đà cho quân và dân ta những điều kiện thuận lợi để chuyển sang chiến dịch gối đầu Huế - Đà Nẵng và cuộc quyết chiến chiến lược là chiến dịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2017, 12:12:20 pm

        Hình trận chiến lược của ta cũng phát triển rất hay. Khi ta đã trói chặt lực lượng cơ động ở một địa bàn hiểm yếu khác, chúng không thể tự do điều động phản kích, hàn gắn chỗ bị phá vỡ, bị chia cắt, buộc chúng phải bị động đối phó, chịu đòn. Hình trận và thế trận chiến lược phát triển đã tạo ra thời cơ chiến lược.

        Chiến thắng ở Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên đã tạo ra thời cơ giải phóng Đà Nẵng.

        Đó là nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ, khi ở hướng chủ yếu, chiến dịch Tây Nguyên mới giành thắng lợi một bước, quân địch mới bắt đầu rút chạy với ý định co cụm về đồng bằng thì ở hướng phối hợp, ta kịp thời mở ngay chiến dịch gối đầu Huế - Đà Nẵng. Quân ta đánh thọc xuống đồng bằng, cắt đường số 1, hình thành thế bao vây chiến dịch. Đến khi ở Tây Nguyên ta đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch, giải phóng Tây Nguyên, thì chiến dịch Huế - Nẵng đã ở trong thế tiến công mãnh liệt, dồn dập, tiến công trong hành tiến, tiêu diệt lớn, làm tan rã lớn, giải phóng Thừa Thiên -Huế, Quảng Ngãi, Tam Kỳ tiến tới đánh chiếm căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng.

        Như vậy dưới sự chỉ đạo nhạy bén, sắc sảo của cấp chiến lược, chiến dịch Huế - Đà Nẵng vừa tận dụng được thời cơ của chiến thắng Tây Nguyên, vừa chủ động tự tạo được thời cơ trên chiến trường đồng bằng để đánh nhanh thắng nhanh trong thời cơ chiến lược. Chiến thắng Huế - Đà Nẵng đã tạo nên một sự bùng nổ về chiến lược, quân địch từ chỗ định co cụm phòng ngự chiến lược đã buộc phải chuyển sang rút chạy và chống đỡ một cách tuyệt vọng.

        Chiến dịch Hồ Chí Minh được mở ra kế tiếp cũng vậy, khi chiến dịch Tây Nguyên vừa kết thúc thắng lợi và chiến dịch Huế - Đà Nẵng mới hoàn thành bước một (giải phóng Thừa Thiên - Huế) thì cấp chiến lược đã quyết định vừa kiên quyết tiêu diệt quân đoàn 1 (chủ yếu là Đà Nẵng) và tàn quân quân đoàn 2 địch (các tỉnh ven biển miền Trung), không cho chúng co cụm về Sài Gòn, vừa khẩn trương tập trung lực lượng khoảng 12 Sư đoàn trở lên để giải phóng Sài Gòn - Gia Định trước mùa mưa. Đến khi vừa kết thúc chiến dịch Huế - Đà Nẵng ta đã dồn được toàn lực vào Chiến dịch Hồ Chí Minh.

        Trên đà chiến thắng, các binh đoàn chủ lực của ta hành tiến với khí thế "Thần tốc, bất ngờ, chắc thắng”. Sau khi đập tan Phan Rang phòng ngự từ xa, cùng với việc giải phóng BìnhThuận, Ninh Thuận, quần đảo Trường Sa, địch bị tan vỡ từng mảng trong từng ngày một cách nhanh chóng và đột ngột. Chỉ huy địch rối loạn, chiến lược của chúng chuyển sang bị động đối phó và rút lui.

        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ngày càng quyết liệt. Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. 17giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, năm cánh quân của ta gồm 4 quân đoàn chủ lực và Đoàn 232 trong thế bao vây Sài Gòn, từ vị trí xuất phát tiến công được lệnh vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Với sức mạnh của 15 Sư đoàn và mũi thọc sâu của lữ đoàn xe tăng, 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975 xe tăng của ta tiến thẳng vào dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ Bộ thống soái của địch, giành toàn thắng.

        Chúng ta đã có kế hoạch hai năm 1975-1976 cho việc giải phóng miền Nam. Kế hoạch ấy là kết quả của việc đánh giá đúng về địch, nắm qui luật của địch và việc nắm thời cơ trên cơ sở phân tích sâu sắc, khoa học về tình thế lúc đó. Phải có cách nhìn táo bạo, năng động, không cứng nhắc mới nhận ra từ đấy một thời cơ chiến lược. Khi thông qua kế hoạch, Hội nghị Bộ Chính trị cũng đã nhấn mạnh yêu cầu phải có kế hoạch tạo thời cơ và đón thời cơ trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lỡ thời cơ khi thời cơ xuất hiện. "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975".


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2017, 12:12:54 pm

        Tuy nhiên, thời cơ tự nó không phải là yếu tố vật chất đem lại chiến thắng. Đi đôi với việc nắm bắt thời cơ là nghệ thuật tạo thế và tạo lực. Chúng ta đã xác lập một thế trận sâu hiểm và vững chắc. Đó là thế trận chiến tranh nhân dân với hai phương thức đánh địch, thế trận cài xen kẽ đã được xây dựng qua hàng chục năm đấu tranh cam go, quyết liệt của cuộc chiến tranh chính nghĩa cả nước đánh giặc, bằng cả chính trị và quân sự, bằng ba thứ quân với tư tưởng tiến công và phương pháp của một cuộc chiến tranh cách mạng là tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, tiêu diệt và làm chủ, làm chủ và tiêu diệt. Chỉ có lực lượng tổng hợp của ba thứ quân và kết hợp chặt chẽ hai phương thức thì mới tạo ra được cách đánh hay, cách đánh bằng mưu kế và thế trận, đánh trước mặt địch, đánh sau lưng địch, bên trái bên phải địch, thường gọi là cách đánh "thiên la địa võng", do đó lực lượng của chúng bị phân tán căng mỏng ra, thế trận bị chia cắt tạo thành một trận tuyến vừa dài vừa mỏng, không có lực lượng dự bị hùng hậu, không thể cơ động ứng cứu lẫn nhau, chỉ biết đối phó tại chỗ. Đến lúc bị đánh đau, có nguy cơ bị tiêu diệt muốn co cụm hòng chống đỡ, nhưng khi co cụm không thành thì chỉ còn một con đường rút lui và rút chạy thảm hại.

        Cho đến sát cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, chúng ta đã bố trí những lực lượng mạnh và năng động trên tất cả các hướng chiến trường, tạo nên so sánh lực lượng có lợi và tạo được thế trận tổng quát hơn hẳn địch. Dựa vào việc triển khai binh lực, tổ chức bảo đảm hậu cần, giành quyền chủ động tác chiến, mở rộng vùng giải phóng, tạo nên một hậu phương trực tiếp đáng tin cậy trên từng hướng chiến lược. (Sao Vang xoá một đoạn bị trùng lặp ở trang trước)

        Có được một thế trận như thế thì việc điều hành nó là cả một vấn đề rất lớn. Đó là nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng.

        Chưa bao giờ trong một thời gian ngắn như vậy, chúng ta lại có thể mở một loạt chiến dịch gối đầu nhau, kế tiếp nhau cỡ trên quân đoàn và nhiều quân đoàn và giành thắng lợi triệt để.

        Để đạt được điều đó, ở cấp chiến lược phải có sự huy động và tập trung binh lực to lớn và cung cấp một khối lượng vật chất khổng lồ. Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch mở đầu, ta mới tập trung được 5 Sư đoàn, đến chiến dịch Huế - Đà Nẵng ta sử dụng 2 quân đoàn, thì Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng ta đã tập trung được sức mạnh của 5 quân đoàn. Có thế ta mới thực hiện thắng lợi đòn quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh.

        Chiến cuộc mùa Xuân năm 1975, chúng ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn, hoàn thành được tâm nguyện của Bác Hồ là " Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào", thực hiện thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước đi lên trên con đường chủ nghĩa xã hội ngày càng giàu đẹp. Có được thắng lợi, công lao đó trước hết thuộc về Đảng ta, nhân dân ta, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tư tưởng cách mạng của Người đã soi rọi cho con đường giải phóng dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

        Chiến cuộc mùa Xuân năm 1975, điểm hội tụ những sáng tạo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam, khẳng định sự đúng đắn về sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta; về sức mạnh của chiến tranh nhân dân ta; về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; về trường phái sử dụng nghệ thuật truyền thống của dân tộc để chống lại mọi cuộc chiến tranh xâm lược là "Dĩ đoản chế trường”, "Thế thắng lực"; “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều” để đi đến giành thắng lợi quyết định trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, kết thúc chiến tranh.

        Cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm của dân tộc ta đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu và Chiến dịch Hồ chí Minh toàn thắng; đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên kiến thiết đất nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến thắng vẻ vang đó sẽ mãi mãi là những bài học rất quý báu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của các thế hệ chúng ta ngày nay và mai sau.


Tiêu đề: Re: Chiến đấu ở Tây Nguyên - Thượng tướng Hoàng Minh Thảo
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2017, 12:14:15 pm

        Ngày nay nếu chiến tranh có xảy ra thường là chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, để bảo vệ Tổ quốc, muốn đánh bại được cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao có máy bay và tên lửa hành trình kết hợp với lục quân cơ giới. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc của ta vẫn phải là chiến tranh nhân dân ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Địch chủ yếu tấn công hoả lực đường không bằng máy bay và tên lửa hành trình một số ngày rồi mới đưa quân bộ có xe tăng được máy bay yểm hộ để tiến công tiếp theo. Dù địch đánh phá bằng hoả lực đường không rất ác liệt nhưng ta vẫn phải quyết tâm đánh tiêu hao ngay một phần nào hoả lực của chúng để khích lệ tinh thần và giữ vững niềm tin cho toàn quân, toàn dân đánh giặc.

        Ta phải có phương pháp chống lại hoả lực đường không và chống lại sức đột phá của xe tăng địch. Muốn vậy ta phải có trang bị vũ khí, có công cụ, có tinh thần thì mới chiến đấu được. Ta không có đủ sức mạnh về không quân thì phải kết hợp với sức mạnh của tên lửa phòng không, súng pháo phòng không để chống lại hoả lực đường không của địch.

        Ở cấp chiến lược phải có tên lửa phòng không và pháo phòng không để đánh máy bay chiến lược. Bộ đội chủ lực (từ các Quân khu đến cấp Sư đoàn) phải có pháo phòng không và súng phòng không. Bộ đội địa phương ở cấp tỉnh cũng có pháo phòng không, súng phòng không; cấp huyện có súng phòng không cùng với dân quân tự vệ xã và phường vừa có súng phòng không, vừa có tên lửa vác vai để đánh máy bay tầm thấp, máy bay lên thẳng và tên lửa hành trình. Có như vậy ta mới tạo nên một thế trận chiến tranh nhân dân về phòng không.

        Đồng thời cũng phải trang bị cả vũ khí phòng tăng, tên lửa chống tăng. Chiến đấu đánh địch ở trên bộ cũng quan trọng như đánh trả cuộc tiến công của hoả lực đường không. Đánh mạnh được máy bay và xe tăng thì bộ binh địch không mạnh. Vì vậy ta phải tổ chức lực lượng ở các cấp sao cho ai cũng đánh máy bay, đánh tên lửa hành trình, đánh địch trên bộ và xe tăng thì mới có sức mạnh của toàn dân. Vừa tổ chức, vừa trang bị và làm tốt công tác huấn luyện.

        Chiến tranh nhân dân là cốt lõi của học thuyết quân sự Việt Nam, là trường phái sử dụng nghệ thuật "dĩ đoản, chế trường”, “thế thắng lực", "lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn". Vẫn phải là đánh địch bằng mưu kế có hình trận và thế trận, nghi binh lừa địch, có "chính - kỳ"; có tạo thế- tạo lực- tạo thời cơ, dám đánh và quyết đánh để đi đến thắng lợi. Ta có kém địch về vũ khí thì phải vận dụng phương châm lấy hiện đại thông thường có một ít tinh xảo một nửa hiện đại và thô sơ, để đánh lại hiện đại tinh xảo.

        Tinh thần ý chí chiến đấu của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng và tài thao lược của trí tuệ Việt Nam vẫn là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi. Ta không muốn chiến tranh. Chiến tranh khủng bố là một tội ác bị loài người tiến bộ lên án. Nhưng không thể để đất nước bị bất ngờ trước những khả năng xảy ra chiến tranh, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động trên bất cứ phương diện nào. Dựng nước phải đi đôi với giữ nước.

        Đó là quy luật.


THAY LỜI KẾT LUẬN

        Tây Nguyên là một địa bàn rừng núi rộng lớn, một vùng chiến lược trọng yếu. Nó là ngã ba Đông Dương. Các dân tộc Tây Nguyên có tinh thần cách mạng kiên cường, có tinh thần chiến đấu bất khuất, đoàn kết quyết đấu tranh để bảo vệ buôn làng, nương rẫy của mình. Các dân tộc Tây Nguyên có lịch sử và truyền thống kháng chiến lâu đời tiêu biểu là lãnh tụ anh hùng dân tộc Ma trang Lơn. Các dân tộc Tây Nguyên đã sinh ra các người con ưu tú của mình trong Kháng chiến cứu nước như các anh hùng Đinh Núp, Kơpa Kơlơng. Anh hùng Đinh Núp hướng dẫn lãnh đạo bà con đấu tranh và nổi tiếng trong cả nước và thế giới. Các cán bộ quân đội lãnh đạo chỉ huy bà con chiến đấu chống giặc để bảo vệ quê hương mình như các thiếu tướng Y Ba Hăm, Y BLốc, A Sang. ..

        Ngày nay bà con càng đoàn kết để giữ vững thành quả cách mạng, kháng chiến của mình, xây dựng một cuộc đời mới, ấm no hạnh phúc và ngày càng tiến bộ, quyết phá tan mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại của kẻ thù.

        Thắng lợi trong kháng chiến để bảo vệ cuộc sống của mình, ngày nay chúng ta tiếp tục thắng lợi để xây dựng cuộc đời mới đi theo con đường Hồ Chí Minh - ngôi sao sáng trời Nam chói lọi muôn đời.

        Chúc bà con Tây Nguyên đoàn kết tiếp tục thắng lợi và phát triển.

        Viết xong Tháng 9 năm 2004

HẾT