|
Tiêu đề: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:48:23 pm Chiến dịch Biên giới (https://scontent-hkg3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/90249276_617387402324477_8348613041201348608_n.jpg?_nc_cat=106&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=Y3Gjmnp7xsMAX-utXBN&_nc_ht=scontent-hkg3-1.xx&oh=8110b079bbd9ea8cc2f34fe45893bf06&oe=5E9B5657) * TÁC GIẢ: NGUYỄN HUY TƯỞNG * NHÀ XUẤT BẢN: THANH NIÊN * NĂM XUẤT BẢN: 2005 * SỐ HÓA: - Scan: ptlinh - Ebook: Cao Trung Hiếu https://www.facebook.com/dragunov.svd.16 Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:52:11 pm NGUYỄN HUY TƯỞNG (http://s2.upanh123.com/2017/02/25/taixunga5138.jpg) Tiểu sử Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6 tháng 5 năm 1912 trong một gia đình nho giáo ở làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh, nay thuộc xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội., Ông tham gia các hoạt động yêu nước từ năm 1930. Làm thư ký nhà Đoan (thuế quan) ở Hà Nội, Hải Phòng cho đến trước cách mạng. Bắt đầu có tác phầm từ đầu những năm 40. Vừa viết văn vừa tham gia các hoạt động Hướng đạo, Truyền bá quốc ngữ. Năm 1943, gia nhập tổ chức văn hóa cứu quốc của Đảng. Cách mạng thành công, trở thành một trong những ngừoi lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc và sau đó là Hội văn nghệ Việt Nam. Đại biểu Quốc hội khóa I. Mất ngày 25-7-1960 tại Hà Nội. Được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I) về văn học cho các tác phẩm kịch, tiểu thuyết, ký sự, truyện viết cho thiếu nhi,…Tác phẩm chính (theo năm xuất bản hoặc đăng báo) Đêm hội Long Trì (Tiểu thuyết-1942), Vũ Như Tô (Kịch-1943), An Tư công chúa (Tiểu thuyết-1944), Bắc Sơn (Kịch-1946), Những người ở lại (Kịch-1948), Truyện Anh Lục (Tiểu thuyết-1955-1956), Bốn năm sau (Tiểu thuyết-1959), Sống mãi với Thủ Đô (Tiểu thuyết-1961), Lũy hoa (Truyện, phim-1960), các truyện viết cho thiếu nhi như: Tìm mẹ, Anh Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Qung Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng,… Ông còn viết nhiều tiểu luận, bút ký đăng rải rác trong suốt 20 năm cầm bút, về sau được tập hợp trong tập Một ngày chủ nhật (2000). Ngoài ra ông còn để lại hàng chục tập nhật ký mà một phần nhỏ được giới thiệu trong cuốn sách này. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 10:57:00 pm LỜI NÓI ĐẦU Trong văn học sử Việt Nam, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng được ghi nhận như một ví dụ tiêu biểu về thể loại ký sự, bên cạnh Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác và một số ít tác phẩm khác. Ký sự Cao Lạng là một trong những tác phẩm dài hơi đầu tiên của nền văn học kháng chiến chống thực dân xâm lược. Tác phẩm có tham vọng phản ánh trọn vẹn một chiến dịch lớn, đồng thời là chiến dịch tiến công đầu tiên của quân đội ta. Trong Chiến dịch Biên giới, Bác Hồ, người Cha thân yêu của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đích thân ra mặt trận chỉ đạo, và Đại tướng Tống tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp đảm nhận trọng trách Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Chiến dịch. Thiên ký sự bắt đầu từ những ngày đêm âm thầm chuẩn bị cho Chiến dịch, tác giả theo chân những đoàn dân công tải lương thực, vũ khí ra mặt trận, để rồi đến với những chiến sĩ pháo binh, những người có vinh dự lần đầu tiên trong lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam được tiếp nhận những vũ khí hiện đại của bạn, bắn bằng máy ngắm hẳn hoi chứ không còn phải ngắm qua nòng như với những khẩu pháo cũ kỹ hồi còn trứng nước. Và theo dòng sự kiện, tác giả dẫn dắt bạn đọc đến với những diễn biển lớn nhỏ của chiến dịch, từ những sự kiện có tính bước ngoặt như trận mở màn Đông Khê, trận tiêu diệt các binh đoàn Lơ Pa-giơ, Sác-tông... cho đến “cận cảnh” những trận đánh giành giật từng mỏm đồi, từng lô cốt ở Khâu Luông, Nà Pá, Cốc Xá... Từng trang, từng trang của thiên ký sự mở ra với chúng ta những khung cảnh lớn lao, những câu chuyện phi thường, những tấm gương chịu đựng gian khổ, hy sinh anh dũng đến tột cùng của bộ đội, dân công mà ở đó, nhiệt tình của người viết như được cộng hưởng với niềm lạc quan cách mạng bao trùm trên khắp mặt trận. Với tất cả âm hưởng sử thi của một tác phẩm đầy chất sống và sức sống, Ký sự Cao Lạng ngay từ khi ra đời đã được bạn đọc nói chung và cán bộ, chiến sĩ nói riêng nồng nhiệt đón nhận. Tác phẩm cũng nhanh chóng được khẳng định giá trị bằng một giải thưởng văn học - Giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 – cùng với Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi... (Có thể kể thêm, Ký sự Cao Lạng là tác phẩm thuộc cụm công trình tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt xét tặng đầu tiên năm 1996, bên cạnh những Vũ Như Tô và Sống mãi với Thủ đô, Đêm hội Long Trì và Lá cờ thêu sáu chữ vàng...). Còn với một người đọc đặc biệt như Nguyễn Minh Châu, một bạn đọc đồng thời cũng là một đồng nghiệp có nhiều nét tương đồng với Nguyễn Huy Tưởng, thì trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng để lại, ông “thích Vũ Như Tô và Ký sự Cao Lạng hơn cả”. Ở đây có thể có sự đồng cảm dễ hiểu của tác giả Dấu chân người lính, nhưng đồng thời cũng là một nhận xét được viết ra với sự chiêm nghiệm của một quãng lùi thời gian tới gần bốn chục năm sau khi thiên ký sự ra đời! Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng còn ghi lại, Ký sự Cao Lạng được tiết với sự hưng phấn cao của tác giả: “Viết xong Thắng từ biên giới (tên ban đầu của Ký sự Cao Lạng). Nhẹ nhõm. 74 trang. Hai mươi ngày một bài đây” (nhật ký ngày 8-1-1951). Đọc Ký sự Cao Lạng với những trang viết sinh động dồn dập không khí chiến dịch, chúng ta có thể cảm nhận được đầy đủ cảm giác phơi phới của tác giả khi đưa nhanh ngòi bút trên trang giấy. Nếu như giờ đây, điều này được coi là phong cách, là cái làm nên bản sắc của cây bút Nguyễn Huy Tưởng - một cây bút có khuynh hướng sử thi hoành tráng, thì đã từng có thời, nó lại bị coi là lối viết “tráng lệ hơi dễ dãi”, lối “lý tưởng hóa con người hơi ngây thơ”. Thực ra, mỗi trang viết, mỗi con người, mỗi sự kiện cụ thể được phản ánh trong Ký sự Cao Lạng đều là kết quả của sự quan sát trực diện của tác giả khi thâm nhập đời sống chiến đấu của bộ đội, dân công, mà trước hết là kết quả của sự ghi chép hết sức tỉ mỉ những điều mắt thấy, tai nghe với tất cả tính khách quan của một nhà văn đi chiến dịch. * * * Trong di cảo của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, có một cuốn sổ tay khá dày dặn chỉ nhỉnh hơn lòng bàn tay một chút. Song chính khuôn khổ cuốn sổ đó lại rất tiện cho nhà văn mang theo bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào: Trong một lần theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Hưng) vượt đèo Mã Phục đi thị sát vị trí Cao Bằng (N5), hay trong những đêm trú trong hang trong hốc cùng với những đoàn dân công Thổ, Mán để ghi lại vẻ âm thầm nhẫn nại của họ, hay khi bám theo bộ đội hành quân thở không ra hơi mà tác giả vẫn cố viết mò trong đêm tối để kịp ghi những mẩu đối thoại, những câu nói đầy chất lính tráng của cán bộ, chiến sĩ... Cuốn sổ đó chính là toàn bộ nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng, được viết liên tục suốt bốn tháng ròng tác giả tham gia chiến dịch, bắt đầu từ những ngày nhà văn lên đường ra mặt trận (đầu tháng 7 năm 1950) cho đến khi được vinh dự dự những hội nghị tống kết, báo công của bộ đội (đầu tháng 11 năm 1950)... Với quãng lùi hơn nửa thế kỷ, những trang nhật ký này của Nguyễn Huy Tưởng giờ đây trở thành những tư liệu vô cùng quý giá. Một mặt, nó cung cấp những tư liệu đối chiếu hết sức thú vị giúp bạn đọc hiểu thêm về một tác phẩm đã được viết ra như thế nào, bắt đầu từ những chất liệu gì, những chất liệu đó đã được khai thác, sử dụng, nhào nặn ra sao để biến thành những trang văn giàu sức sáng tạo. Mặt khác, và có thể đây mới là điều hấp dẫn chủ yếu bạn đọc hôm nay, những trang nhật ký đó, với tư cách là những ghi chép riêng tư của tác giả, chứa đựng những trải nghiệm, những suy nghĩ, quan sát dưới dạng nguyên sơ nhất, và do vậy mà cũng cảm động và chân thực nhất. Nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những trang viết về Chiến dịch Biên giới của Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn đã từng gắn bó với quân đội, hay nói như Nguyễn Tuân, “một nhà văn nhiều xúc động về chiến đấu võ trang”. Hy vọng cuốn sách sẽ mang đến cho bạn đọc những khám phá mới mẻ về một nhà văn, về một chiến dịch, về một thế hệ cha anh đã phấn đấu hết mình vì cách mạng và kháng chiến... NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:04:01 pm KÝ SỰ CAO LẠNG In theo bản in lần thứ hai (Nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, tháng 11 năm 1954), có sự sửa chữa của tác giả sau những ngày về tiếp quản Thủ đô. I Khi hạ lệnh mở chiến dịch Cao Lạng, Hồ Chủ tịch nói: - Trận này chỉ cho thắng không cho thua. Và toàn thể quân dân Cao Lạng, từ trên xuống dưới, quyết tâm làm theo lời Bác. Lòng căm thù giặc của người dân Cao Lạng, âm ỉ sáu năm nay đã đến lúc phải bùng nổ. Ý chí giải phóng quê hương Đông Bắc của binh đoàn Cao Bắc Lạng đã đến lúc phải thử thách trong lửa lớn. Nỗi giận của người lính miền xuôi trước cảnh làng mạc, cửa nhà bị phá trụi, bố mẹ, vợ con bị đày đọa. chém giết tại các vùng giặc đóng đã đến lúc không thể kìm được nữa. Những biểu ngữ viết bằng than, bằng vôi, bằng đất đỏ, trong các nhà, các lán, dọc đường, đầu chợ, bên suối, trên thân cây, trên phiến đá nghiêng giữa ruộng, trên các tảng đá chi chít chân núi, trên tường thành các hang, các hốc: cả những biểu ngữ kháng chiến kẻ trước tháng 10 năm 1947 trên các tường thị xã Cao Bằng, mà giặc đã quét vôi lên, cũng hiện rõ dần dần trước mặt quân cướp nước đang gấp rút chuẩn bị. Tất cả đều chung một tư tưởng: - Chỉ được thắng, không được thua. * * * Những người cán bộ huy động dân công, ngày đêm đi vào từng lán một, tun hút trong rừng rậm - có cái cách nhau hàng hai, ba chục cây số - để động viên nhân dân. Cao Bằng, giang Sơn của phụ nữ, của những người mẹ vắng con, của những người vợ góa còn trẻ, chồng bị giặc giết, khăn vuông và thắt lưng trắng, của những người vợ lặng lẽ mong tin chồng đánh giặc ở xa. Cao Bằng đã ba năm kiệt quệ vì giặc phá hoại, ba năm gánh vác những chiến dịch mở liên miên. Cao Bằng bị giặc dồn vào các hang, các hốc. Cao Bằng đã phải ăn ngô, ăn sắn, ăn cháo, lại một lần nữa. Cao Bằng tự vắt mình để dốc hết người và của vào trận đánh mới. Mấy chị Mán đỏ, khăn áo sặc sỡ, trán cạo nhẵn, nhể nhại mồ hôi, đang còng lưng đeo sọt đi giữa đám đông. Những chị Nùng áo ngắn, tay rộng. Những chị Thổ tay chẽn, áo dài. Những anh Mán cao lớn để hồng mao. Số đông áo chàm. Khi tản, khi chụm. Khi lố nhố dưới thung lũng, khi thoăn thoắt lên đèo cao. Khi lẩn vào rừng cây chuyển động, khi xóa đi, hòa vào những hàng dài đá xám lởm chởm bên đường, thỉnh thoảng bật lên vài chấm trắng của người đàn bà Mán lài, áo pha màu đất, váy nhiều nếp xùm xòa, ngực hở để lộ các vành xương và đường dẹt của đôi vú. Các chị đi, hành quân dài và lủng củng, ngoằn ngoèo, nối rừng nọ với rừng kia, đèo này với đèo khác, ngày đêm không nghỉ. Không phải là vòng vây thép, dể phá vỡ hơn, mà là vòng vây của muôn hạng người chung một ý chí giết giặc, của người Kinh từ miền xuôi lên, của người Mán từ những đỉnh chon von xuống, của người Ngái, người Thổ, người Nùng từ các bản, các lán, các hang, các hốc đổ ra. Cái trật tự im lìm của núi rừng bị phá vỡ. Người ta có cảm tưởng không phải họ theo núi rừng đi, mà núi rừng theo họ khép chặt lại những thị trấn Cao Bằng, Đông Khê, Na Sầm, Đồng Đảng, mỗi ngày một cô độc. một hoảng loạn. Một người nói: - Thằng Tây thật là mù. Chúng mình chuẩn bị như thế này mà chúng nó chẳng biết gì cả. Không, chúng nó biết. Chúng biết rằng chúng ta đang sửa soạn gấp. Nhưng cái nổ lực cách mạng phi thường của chúng ta thì chúng không sao cân được. Một đêm, đã gần sáng, một chiếc GMC chạy trên con đường Quảng Yên - Trùng Khánh, cách Cao Bằng vài chục cây số. Ôi! Những đêm chuẩn bị của Đông Bắc! Trong cố gắng, nó có một cái gì lớn lao và cũng một cái gì gian khổ. Có tiếng gọi ú ớ như tiếng bóng đè. Xe rít mạnh, chồm chồm rồi đứng lại. Hai bên đường, ẩn hiện những phiến gỗ dài đã xẻ, bản dày bằng hai gang tay, mặt loáng nước. Một ánh đuốc xa xa, chập chờn, khói như tóc xõa trong sương, chiếu vài bóng đen dưới ruộng, nhấp nhô chạy lại. Bốn người nhảy lên đường. Đấy là bốn đồng chí Thổ cởi trần, thân hình gầy gò, gối ngập bùn. Họ bắt đầu chuyển những phiến gỗ lớn và nặng quá sức họ lên ô tô, hò nhau bằng tiếng bản địa, thỉnh thoảng kêu đau ai ái, xuýt xoa, rồi cãi nhau, rồi cười hiền lành, rồi lại khiêng, rồi lại đẩy gỗ. Trong bóng tối, họ đánh vật với hơn năm chục phiến gỗ, tiếng thở kiệt sức mỗi lúc một to, một hổn hển. Gỗ sát vào nhau xè xè, lục cục. Đã có lúc, hai người đứng ở sau xe, không còn đủ sức đẩy nữa, đầu gục vào đầu phiến gỗ, lịm đi một lúc lâu. Một anh ở trên xe giục, hơi nói gần tàn. - Cố lên! Anh ở dưới nói: - Mệt lắm rồi! - Đã hai hôm cầu phải nghỉ rồi đấy. Mình chỉ hơn thằng Tây có cái cố thôi. Anh vừa nói, vừa chùi tay lên mặt một phiến gỗ và lẩm bẩm: - Gỗ nó nghiến nát cả tay, ngày mai thì làm thế nào đây. Người dưới lại đẩy, người trên lại xếp gỗ. Tiếng gà gáy bắt đầu vang. Sương căng đặc. Xa xa, một đoàn đuốc rồi lại một đoàn đuốc của anh chị em dân công, cái nền rực rỡ làm cho bốn đồng chí Thổ đột nhiên lớn vô cùng. Xa xa, Cao Bằng trong bóng tối. Chắc chắn rằng trong đêm bốn anh dân công chuyển gỗ làm cầu để tiếp tế vận chuyển và bộ đội hành quân, đem cánh tay nhỏ yếu của mình bênh hàng tấn gỗ, thì chúng nó đang ngủ kỹ. Chúng có thể biết chút ít ngày của chúng ta. Nhưng chúng không thể nào biết đêm của chúng ta. * * * - Khó thì khó thật, nhưng đã đánh là phải thắng. Đó là lời ông Chỉ huy trưởng chiến dịch, hồi ông đi quan sát mặt trận. Ông lại nói: - Chuẩn bị thực sự đầy đủ là đã thắng được một nửa. Ông nhấn mạnh vào hai tiếng thực sự. Sự chỉ đạo tối cao nhiều khi phải đi sâu vào những chi tiết chi li, đến chai dầu cho đại bác, cái xẻng cho bộ binh. Càng ngày càng rõ rang rằng chiến tranh là một sự cần lao, một thứ cần lao định sẵn, có trật tự và được nghiên cứu tỉ mỉ, một thứ cần lao mà cái tầm rộng lớn và sự mãnh liệt vượt lên trên những mức từ trước tới nay(1). Vị trí quan sát cách xa thị xã Cao Bằng không đầy cây số. Một quan sát viên lom khom sau một thân cây mà sương mù phân đôi cành lá, báo cáo: - Mình không trông rõ nó, nó không trông rõ mình. Một cán bộ quân báo chỉ trỏ, nói: - Trước mặt mình là thị xã, bên trái thẳng phía đồng chí quan sát viên, sau quả đồi mờ mờ, là đồn ngụy binh cách mình tám trăm thước. Nhưng phía tay anh trỏ toàn là mù bạc cuồn cuộn dâng từ thung lũng lên trời. Ông chỉ huy trưởng ngồi trên miệng hầm nhìn xuống thị xã ẩn trong hơi đặc. Lắng nghe đồn ngụy binh có tiếng hát. Một cơn gió mát thổi. Mọi người đứng cả lên. Bể mù xô nhau, phía Cao Bằng, những đỉnh đồi nổi lên thành những đường cong bạc. Một người miệng nói tay chỉ: - Kìa con sông Bằng. Trong mù lả tả, một vệt mờ dài, quanh co, hiện lên. Rồi lại một cơn gió mạnh. Đỉnh đồi núi sau thị xã hiện màu biếc. Ánh nước Sông Bằng đã rõ trong sương mù. - Đồn to kia kìa... Bốn bề lại trắng xóa. Rồi gió lại thổi. Sương mù xô nhau, rách ra, bíu lấy nhau, bay lên, lộn xuống, cuối cùng tan đi để lộ toàn đồ thị xã dưới chân. Sân bay với chiếc đa-cô-ta, chiếc cầu đen qua sông Bằng, con sông Hiến, đồn to, khu phố, nhà trắng, cây xanh. Đồn ngụy binh đỏ kệch. Con đường số bốn uốn khúc chạy vào dồn to. Đứng dưới hầm, tì ngực vào đất. ông chỉ huy trưởng ngắm Cao Bằng qua chiếc ống nhòm, hỏi tỉ mỉ anh quân báo đứng bên về những khu vực thành phố. cho đến khi thị xã tối dần, đèn điện đã bật, và trời đổ mưa. mới trở về. Chung quanh bếp lửa một nhà sàn, anh em vừa hơ quần áo, vừa rang ngô. Ông Chỉ huy trưởng cởi trần, hơ xong chiếc nay ô, cho vào bọc, nói: - Ngày hôm nay, trong buy-lơ-tanh của nó, chắc lại nói: Không có gì quan trọng đáng kể chung quanh khu Cao Bằng! (1). Của Phê-đô-rốp (Tỉnh ủy bí mật). Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:10:55 pm II Những hội nghị mở liên tiếp; từ thấp lên cao, để định những kế hoạch chống máy bay, chống quân nhảy dù, đánh vận động, đánh liên tục: để chỉnh lý những tư tưởng sai lầm, để giải quyết những thắc mắc của đội viên và cán bộ. Vấn đề đề bạt, vấn đề tạm cấp ruộng đất, vấn đề sức khỏe, cả những chuyện gia đình, chuyện tình duyên, tác phong quân phiệt của một số cán bộ, chuyện lấy chiến lợi phẩm trong các chiến dịch trước… Tác phong nói thẳng được đề cao. Đi xa, người ta để lại ở nhà những thứ cồng kềnh không cần thiết, thì sắp ra trận người ta cũng trút hết những chướng ngại vật tinh thần... Hội nghị cấp dưỡng. Hội nghị thông tin. Hội nghị giám mã. Hội nghị văn phòng. Hội nghị định những người thay thế cho cán bộ bị thương vong. Hội nghị tân binh. Người ta theo dõi tân binh, săn sóc tân binh. Người ta nêu ra những khó khăn, đặt ra những giả thuyết về những khó khăn để cho đội viên giải quyết. Người ta học nhau trong các cuộc hội nghị, trong các cuộc họp, trong các cuộc hội ý hội báo. Người ta tìm hiểu nhau trong những lúc tâm sự riêng lẻ. Người ta điều chỉnh cán bộ trước sự phát triển nhanh chóng của đơn vị. Hội đồng binh sĩ bầu lại chủ tịch. Và giữa lúc dồn dập ấy, nhiều đơn vị mới đẻ ra, nhiều binh chủng mới thành lập. Pháo binh đang thảo luận sôi nổi về bốn điều yêu cầu của bộ chỉ huy chiến dịch. Trong đơn vị, đang có phong trào vận động lập chiến công. Những tiếng tiểu công, trung công, đại công, đặc công, anh hùng Cao Lạng, líu tíu chỗ nào cũng nghe thấy nói. Một đội viên đang húi đầu cho một đồng ngũ nửa đầu trắng hếu. Anh nói: - Đây là điểm thi đua của tôi. Tôi húi trọc cho anh em, để khi anh em bị thương khỏi vướng víu. Một đội viên khác nói có vẻ tự hào, với một anh ở công trường đến chữa súng. - Anh đến lần này thì khác hẳn hồi anh đi Tây Bắc. Không phải chỉ một khẩu thôi, mà nhiều lắm anh ạ! Mà không phải chỉ có chúng tôi thôi. Bây giờ nhà pháo đông lắm. Voi có, cỏ có, tha hồ cho Tây xơi kẹo. Một anh chỉnh ngay: - Sắp chủ quan đấy nhớ! Anh khác khoe: - Ấy là chưa kể đến bộ binh pháo đấy. SKZ bắn khỏe như voi. Lại thêm moóc-chi-ê, ba-dô-ca rót vào đồn địch. Bắn lại xuya nữa chứ... Anh chính trị viên ngắt lời: - Này các đồng chí. Khéo mà lại rơi vào tư tưởng ỷ lại kỹ thuật, ỷ lại võ khí đấy. Võ khí thì cố nhiên là phải có, phải có nhiều, thì mới đánh được giặc, nhưng đối với chúng ta, là quân nhân cách mạng thì cái gì quan trọng nhất? Mọi người cúi đầu nghĩ ngợi. Trong hang. Hàm ngồi trên một càng súng, đang ngắm qua máy ngắm, lẩm bẩm nói, như nói một mình cái giọng lè nhè mà anh em thường hay chế giểu: - Tinh thần chứ gì mà không nhớ. Hàm vào pháo binh từ ngày toàn quốc kháng chiến, vừa gan da, vừa nhiều thành tích: Anh khiêng voi trong hầu hết cuộc hành quân và dự gần hết những trận của pháo binh. Nhưng vì văn hóa kém, người chậm chạp, ăn nói lè nhè, nên anh vẫn chỉ là đội viên. Vừa rồi, anh mới được đề cử tiểu đội phó, trong trường hợp cán bộ tiểu đội bị thương vong. Tiểu đội súng đang xúm xít chung quanh một khẩu súng đặt trong hang, dầu máy loang mặt đá. Thành hang, một hàng dài ba thồ. Trong ngách hang sâu hơn, lại một khẩu sơn pháo phủ dưới bạt, nòng chĩa ra cửa hang, có bao da chắn bụi. Ngoài hang, đàn lừa, tám con, con hung, con đỏ, con đen nhánh, con màu hồng nhạt, những vết thương ở lưng, ở cổ đã lên lông trắng. Chúng vừa ăn ngô, vừa cắn nhau, thở hít ầm ầm. Mấy anh giữ lừa, khoanh tay ngồi xổm trên thành hang, ngắm đàn lừa do các anh vỗ đã khá béo. Nho, một đội viên đã đánh trận Phủ Thông, Đèo Khách, Phố Lu, gắt: - Cái con “trục" là hỗn lắm cơ đấy. Nhóc con chỉ khỏe cắn bậy, ốm đòn bây giờ. Nói thế, nhưng chẳng anh nào đánh nó. Nho kể khi người chủ cũ giao đàn lừa này cho đơn vị, người ấy khóc và nói: - Nó là chiến sĩ không biết nói. Các anh nên coi nó như người, nuôi nấng nó, đừng đánh đập nó. Nó sẽ giúp các anh nhiều. Anh vẫn nhớ đinh ninh những lời tha thiết ấy. Anh lo ăn cho nó. lo tắm cho nó. Sau mỗi cuộc hành quân, nó sút đi nhiều, anh cố vỗ cho nó chóng lại sức. Anh theo dõi hàng giờ những vết thương trên lưng con vật. Trước vết thương sâu hoắm, miệng to như cái phễu, sau nhỏ dần, nhỏ dần, lên da non và sau cùng - niềm vui sướng của anh - vết thương lành hẳn. Những tơ trắng mọc lên, loang lổ người nó, nhưng cũng bóng và cũng rung rung luôn trên thân lừa. Lúc mới đầu, anh cũng ngại. Trước kia, khiêng đại bác, dọc đường có khó nhọc hơn thật, nhưng tới địa điểm, xếp các bộ phận đại bác xong là anh được lăn ra ngủ. Có lừa lại phải tìm chuồng cho nó, đặt máng, cho ăn, lích kích lắm. Dần dần anh thấy có lừa vẫn nhẹ thân hơn nhiều, lợi thì giờ, lợi sức khỏe. Từ đó, đàn lừa đã đem lại niềm vui cho anh pháo thủ, đã thành một bộ phận khăng khít trong cuộc đời chiến đấu của anh. Có những đêm, Nho mải cho lừa ăn trong bóng tối - vì đèn phải giấu đi sợ lừa quen ánh sáng, không chịu đi đêm - anh ngồi nhìn nó. Khi nó cắn nhau, khi nó bắt rận cho nhau. Nghe nó ăn sột soạt, đều đều, lắm khi anh ngủ gà ngủ vịt rồi lại choàng thức vì nó tranh nhau ăn lục đục. Không có đồng hồ, và cũng vì mải vui, nhiều đêm, Nho thức suốt sáng, quên không đánh thức bạn dậy thay phiên. Anh yêu nhất con "ống xiết" vì nó đã già, lại chột một mắt. Sức nó kém, nhưng nó chịu khó, do đấy Nho càng thương nó, chăm nom nó... Có một cái gì vui vầy trong cảnh nhộn nhịp của hang này. Tiếng quát tháo. Tiếng lừa tranh nhau ăn. Tiếng nhai rào rào như mưa. Tiếng guốc lừa gõ xuống đá rin rít. Trong khi ấy, mấy đội viên trong tiểu đội súng, đang lặng lẽ nghiên cứu sử dụng máy ngắm. Chiếc máy ngắm đen nhánh, kính sang loáng với những phân độ tinh vi, tương phản với những bàn tay thô kệch vốn chỉ quen với cái cày, cái cuốc. Hàm nói: - Lấy ni-vô đi. - Vặn nòng lên một tí, xuống một tí - Anh trung đội trưởng truyền. Nước đỏ trong ống ni-vô chao đưa, lặng lẽ, giữa tiếng lục cục của chiếc ma-ni-ven, rồi đọng ở giữa ống thành một hình bầu dục đứng im. Họ xoay máy ngắm, chọn tầm, chọn hướng. Hai chiếc máy bay khu trục lượn xa xa. Một người chửi nó xong, quay vào công việc: - Lôi thôi lắm. Tôi tính cứ cái lối ngắm qua nòng của ta là ăn tiền. Đánh xong trận này đã rồi học sau. Hàm lè nhè: - Nói như anh thì suốt đời chịu dốt. - Xin lỗi anh nhé! Anh trung đội trưởng vừa vặn cái vòng máy ngắm kêu đánh tách một cái, vừa chỉnh cái tư tưởng sai của người đội viên sốt ruột. - Máy ngắm vẫn chính xác hơn chứ. Lại có lúc cậu khóc vì thiếu nó cho biết thân. Anh đội viên kia cười thẹn thò, tì tay lên đuôi nòng súng, ngắm nghía cái ni-vô đồng sáng ánh dầu. Anh trung đội trưởng đi rồi, anh đội viên nói: - Cái máy ngắm này nói thực tình thì cũng cũ rồi Hàm lè nhè nói như muốn khóc: - Cũ người mới ta. Thôi thì hẳng được thế này. - Vừa nói Hàm vừa đặt cái máy vào hộp của nó. - Hàm độ này tiến bộ gớm. Ý kiến rất dồi dào. Voi đến lúc phát có khác. Nhưng hôm nọ, cậu là phó chủ tịch hội đồng binh sĩ mà báo cáo như đánh vần cho riêng cậu thì vẫn chưa thật tiến bộ. Ai lại để cho hội nghị phải hò anh thư ký ra đọc thay. Mất cả tư thế. Một người khác nói: - Lần này quân tướng đổ rầm rầm, cậu có cơ lên tiểu đội phó, cũng phải bỏ cái giọng lè nhè đi thì nói anh em người ta mới nghe. Hàm trả lời: - Lúc nào cũng nói quân tướng đổ rầm rầm! Đánh thì đánh chứ làm gì phải nói thế. Anh vẫn lè nhè, nói như nói với mình. Lời nói lờ mờ. không góc cạnh, không sinh khí, như nét mặt xám xịt và đôi mắt lờ mờ, không động của anh. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:15:27 pm Tết rất to là rằm tháng bảy của đồng bào miền núi đã qua. Lúa đã có dòng dòng, nhiều nơi bông lúa đã trĩu nặng. Vẫn chưa có lệnh hành quân.
Rồi cό tin Đại tướng Tổng tư lệnh lên thăm mặt trận, có xuống một vài đơn vị nói chuyện. Rồi khắp nơi xôn xao, thì thào: Hồ Chủ tịch cũng lên thăm mặt trận. Câu chuyện trao đi, đổi lại: Bác đi từ dưới ấy lên có tám ngày cả thảy. Bác đi bộ. Bác đi đất, lúc nào gặp chỗ có đá nhọn mới xỏ dép, đến chỗ dễ đi lại cho dép vào ba lô... Bác đem cả chiếu... Bác cũng đeo gạo như bọn mình thôi... Anh chính trị viên lè lưỡi: - Con cháu chịu hết. - Anh là tay cần kiệm liêm chính mà còn nói thế nữa là bọn mình, - lời anh đại đội trưởng. - Chết thật. Bác lò dò lên tận đây! Sợ quá, sợ quá! - Đánh càng chắc tay. Hì hì. Đánh chết thôi! Đại đội trưởng xoa tay vui vẻ, ngồi xuống bàn, lấy trong , một cái hộp ra những cái ngòi nổ chậm, nổ nhanh của đạn đại bác. Anh chúc một cái ngòi xuống bàn, huýt một tiếng sáo gọn: - Hấp! Nổ trúng đồn thế này! Anh đập tay xuống bàn, lại huýt một tiếng sáo gọn. - Lần này bắn phải xuya! Hì hì. Cả văn phòng cười rộ vì cử chỉ của anh. Rồi ngày giờ lại qua. Bộ đội vẫn chuẩn bị. Bộ đội đã bắt đầu sốt ruột. Những bao gạo xếp đống, chật ních hang đã vơi dần, rồi lại xếp đống. - Hoan nghênh Cục Cung cấp. Lần này thật lắm cái ưu điểm. - Trang bị thế này, cung cấp thế này, chả lẽ lại không đánh! - Cụ lên là thế nào cũng đánh! Giặc tăng cường Cao Bằng. Giặc tăng cường Thất Khê, Ta-bo lên nhiều lắm. Rồi tin giặc Pháp đánh lên Phú Thọ cũng đến tai mọi người. Một đội viên “ra cái điều” quân sự nói: - Đánh thắng trận này thì rồi lõ cũng đến rút nhiều nơi. Một anh khác: - Chiếm đất không thành vấn đề. - Mình gửi áo rét ở nhà mẹ nuôi Ấm Thượng, rét năm nay không có áo thì đến chết co! - Lúc này mà đánh thì thật hợp thời cơ. - Nhất mạn cơ mà. - Hàm không sốt ruột à? Giá vợ con không chết bom thì bây giờ cũng rầy rà đấy nhỉ? - Thì cũng đến lo chứ làm gì? - Đánh bây giờ thì nó rút ngay. Hàm lè nhè nói một mình, và tiếp tục lắc cái bánh xe hơi rão của đại bác mà người thợ công trường vừa chữa xong. - Bộ chỉ huy chiến dịch dễ không biết lo như mình đấy. - Rồi các cậu cứ nghiệm xem. Lại đợi đến mưa liên miên rồi mới hành quân cho mà xem. Lính Việt Nam chúa thần là xuất quân ngày mưa. Rồi trung đoàn... tập phối hợp bộ pháo. Trung đoàn... đến. trang bị đầy đủ. Rồi đã loáng thoáng người lính của d 3. Trùng Khánh. Quảng Uyên rầm rập người và lừa ngựa. Ô tô nối đuôi nhau chạy đêm này sang đêm khác, có đoàn táo bạo, tinh mơ còn đuổi nhau trong sương. Những vụ oanh tạc của giặc ráo riết. Bỗng một buổi chiều, đại đội trưởng hấp tấp đi trước, chỉ mang theo chiếc địa bàn quân sự, lưng cuốn màn chăn như chiếc khố bao. Anh đã xuống hết cầu thang, lại trèo lên, mắt sâu thẳm sau kính trắng, thẹn thò nói: - Tối hôm nay, tôi không được họp chi bộ. Vậy tôi đề nghị các đồng chí ở nhà thẳng tay phê bình tôi để cho tôi biết những khuyết điểm của tôi mà sửa chữa. Thư của Bác Hồ gửi tới. Hỡi chiến sĩ yêu quý Vệ quốc đoàn, Bộ đội địa phương, Dân quân du kích, Chúng ta quyết đánh thắng trận này. Để thăng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận phải kiên quyết dũng cảm một trăm phần trăm. Ai có công to Chính phủ sẽ thưởng. Hỡi các chiến sĩ yêu quý, Bộ đội này thi đua với bộ đội khác, địa phương này thi đua với địa phương khác. Cuộc thi đua "giết giặc lập công” và chiến dịch nhất định sẽ thắng lợi. Toàn thể các chiến sĩ tiến lên! Thắng lợi đang chờ các chú. Tôi đang chờ để khen thưởng các chú. Chào thân đi và quyết thắng HỒ CHÍ MINH Anh chính trị viên tập hợp bộ đội trước hang: - Thế nào, các đồng chí đã đọc thư Bác chưa? - Đọc rồi. - Có thích không? - Thích. - Có yêu Bác không? - Chúng tôi yêu cầu hát bài Hồ Chí Minh muôn năm. - Đuốc gươm thiêng, hai ba... - Thế thì bây giờ làm gì? - Bây giờ thì đánh! - Đánh thì phải làm gì? - Phải hăng! - Và phải nhớ lời Bác. Bác đang chờ để khen thưởng chúng ta. Vậy chúng ta phải kiên quyết dũng cảm một trăm phần trăm để cố lĩnh thưởng của Bác phải không? - Hoan hô! Đánh xong có được gặp Bác không? - Đồng chí nhất định lĩnh thưởng phải không? - Không, nhưng để nghe xem Bác gọi bộ đội là chú thế nào? - Đánh xong giặc hẳng hay. Bây giờ thì ta hẵng biết là đi đánh giặc. Đấy là việc trước mắt phải không? Các đồng chí đợi mãi ngày lên đường giết giặc. Ngày ấy đã đến. Các đồng chí có vui không? - Vui lắm. Đánh dâu ạ? Ấy, đồng chí nào hỏi thế? Sai nguyên tắc bí mật rồi. Mình cứ biết là đi. Đánh đâu mình cũng đánh. Có phải không nào? Bây giờ tôi hỏi nhớ. Các đồng chí có vui không? - Vui lắm! - Các đồng chí có sợ tàu bay, quân nhảy dù, quân tiếp viện không? - Không! - Các đồng chí có còn thắc mắc điều gì không? - Không! - Các đồng chí có quyết tâm giết giặc không? - Quyết tâm! - Các đồng chí có hứa quyết tâm thực hiện bốn điều yêu cầu của chiến dịch không? - Xin hứa! - Vậy tôi chúc các đồng chí thành công. Chúng ta nên nhớ luôn luôn rằng chiến dịch này Bác Hồ đi sát chúng ta đấy. Chúng ta quyết đánh một trận căn bản. Giải phóng quân có chiến dịch Hoài Hải, chúng ta nhất định có chiến thắng Cao Lạng. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:18:11 pm Bộ đội viết những lời quyết tâm giết giặc.
Bộ đội bắt đầu vào cuộc hành trình lớn. Trưa, Trùng Khánh bị ném bom nặng. Chiều, bộ đội lên đường. Một người đàn bà, quần áo lấm như vùi, một tay ằm đứa con, nói với bộ đội. - Các anh giết chúng nó đi cho tôi! Bộ đội lặng lẽ đi, trong bóng chiều, loang lổ một vài ánh hoàng hôn. Khói và bụi bám vào những cành bị đốt và những lá bị thiêu co quắp, rũ rượi. Cảnh vật càng mờ mờ. Trên mấy nhà sàn buồn tênh, ba bốn bà ké nhìn ra, nhớ những ngày vui các đồng chí đóng tại nhà mình. Các em bé giơ ngón tay nhỏ xíu chỉ trỏ. Giữa tiếng sắt của vó lừa ngựa, tiếng súng lách cách, bộ đội tiến quân, không nói nửa lời. Trời tối hẳn. Hai bên đường, hết lớp này đến lớp nọ, đoàn dân công đi phục vụ, dừng lại nép sau những gậy cao tua tủa, sừng sững như những cột dây thép trông xa xít lại. Hôm sau, pháo binh hồi hộp chờ dân công. Không biết có phụ nữ không? Các chị đến đây có nhiều chị đẹp như nhiều chị đi với các đơn vị gặp dọc đường không? Các anh dân công có khỏe không? Người nói, có các chị thì tươi thêm. Người nói họ nhà voi chỉ cần người khỏe. - Pháo binh căn bản là ăn no vác nặng. Bỗng họ reo lên. Dân công đã đến. Toàn là anh em Thổ, tuổi trên dưới bốn mươi. Dăm chị phụ nữ thẹn thò. Một anh nói: - Các chị, các anh đi với pháo binh thì vất vả lắm đấy lố. Các anh không nói gì. Các chị mỉm cười. Một chị cười rũ. - Các chị cười gì chúng tôi thế? - Không biết tiếng Kinh đâu. - Chị úp mặt vào lưng bạn mà cười. Bộ đội và dân công vui vẻ lên đường. Dần dần, hai bên hiểu nhau. Chị Thiếp đã hoãn ngày cưới để đi dân công. Chồng chưa cưới của chị cũng đi dân công, không biết ở đơn vị nào. Đồng chí Thào, người cao lớn nhất trong đám dân công trạc ngoài năm mươi tuổi, có một người con cũng đi bộ đội, không biết ở đơn vị nào. Anh Hàm ăn nói lè nhè. Anh Ngưu hay ngắt. Anh Ngộ hay pha trò... - Chị Thiếp ơi! - Không phải tên đâu. - Chị vừa nói vừa cười rũ, hóm hỉnh. - Anh ấy đâu? - Không biết tiếng Kinh đâu? - Không biết tiếng Kinh là không yêu nước. - Không biết tiếng Thổ là không yêu nước. Con đường ra tiền tuyến nắng gắt. Dân công tấp nập sửa đường. Lại các chị Thổ, chị Nùng, chị Mán, chị Mèo. Họ đập đá. Đá bốc lên mùi thum thủm. Một vài em gánh đá. Mấy người đàn ông có tuổi, cuốc đất xuống đường. Dăm ba phụ nữ nằm ngủ vệ đường, khăn tay đắp mặt. Một tốp phụ nữ, nón nhọn, ở tiền tuyến về thảnh thơi với chiếc đòn không. Bộ đội qua một cầu tre đồ sộ do công binh mới bắc ngang sông. Lừa, ngựa đều đi qua được. Sáng 14-9: Cuộc hành quân khổng lồ tới vị trí bàn đạp. Con đường độc đạo ứ người. Bộ binh, công binh, pháo binh, cấp dưỡng, thông tin, quân báo, cần vụ, liên lạc, chính trị, cán bộ, phái viên, tuôn vào cuộc đi lớn. Bộ đội, dân công đi, rừng núi cũng đi. Pháo binh nhường bước cho bộ binh tiến. Bộ binh đọng Sau, tiến lên vun vút, hùng hục. - Đi nhanh lên, anh hùng Cao Lạng. - Lắm lừa quá. Sao có con lừa cao thế. Đẹp thật! - Khốn khổ, con này chột một mắt phải không anh? Thế thì sắp về vườn rồi còn gì? Nho đáp: - Nó còn khỏe chán. Còn theo được các anh. Nho vừa nói, vừa nhìn con "ống xiết". Lời nói của anh bộ binh vừa qua làm cho anh càng thương nó. Nó bứt lá cây nhai sột soạt. Bộ binh chạy. Người vắt trên vai bao gạo kẹp trong hai mẹp tre như bó lợn, cái ca bên hông kêu coong coong. Người vác hai súng chập một, dây thừng quàng vai đeo một hồ lô, nước óc ách, thắt lưng mang một chùm lựu đạn. Người gánh sáu ba lô da, một tay ve vẩy chiếc đồng hồ báo thức. Dân công áo chàm mới, nón vành to sau lưng. Anh dắt con chó đen ức trắng. Anh gánh hai bồ lớn cắm cành cây như chậu cảnh. Những chị dân công lớn nhỏ, cúi đầu bên chân núi, yểu điệu trong cành lá ngụy trang. Đám người đi cuồn cuộn. Thỉnh thoảng ánh lên chiếc túi thêu xanh đỏ của chị phụ nữ Thổ. Líu ríu tiếng những người Mán để hồng mao, áo rách như khăn tua. Có lúc đi giữa hai bó tre đồ sộ của dân công, giữa treo cái nón sơn vàng nhạt, to vành, uyển nhiên như đi giữa cửa khải hoàn. Một tiếng huýt sáo bài Tiến về Hà Nội. Nồi cấp dưỡng thỉnh thoảng điểm như tiếng chuông chùa. Qua "cửa khải hoàn", một dãy lán lợp lá chuối lụp xụp, trước mặt là một dãy bếp nguội tanh, rải rác vỏ bí đỏ, đu đủ. Mấy chị dân công trong lán nhìn ra, cổ tay đeo vòng trắng. - Gia đình quân dân thật! - Quân dân tiền tuyến. - Đi đi, vát, vát. Một biểu ngữ vắt qua đường, chữ trắng nền xanh: Quyết giật giải của Hồ Chủ tịch và huy hiệu anh hùng Cao Lạng. Một người vừa chạy, vừa ngước mắt lên đọc. Một người chạy sau - Hoan hô! - Truyền xuống chạy nhanh lên. - Câm không truyền à? - Truyền xuống chạy chóng lên. Gậy lọc cọc. Xẻng xè xè. Lá rào rào. - Bắt đầu hỏa lực mở máy nào. - Gớm, thuốc lá con cú không chê được. - Anh dũng ngoan cường, chạy đi. Một người cố đọc: - Quyết giật giải của Hồ Chủ tịch. - Rồi lại chạy, chân bùn nhem nhép, những quả lựu đạn giắt trong những giỏ con đan bằng tre xinh xinh sau đít. - Bắt đầu choảng rồi đây. Rất là một sự xa. - Quyết giật giải của Hồ Chủ tịch. - Anh hùng Cao Lạng. - Có phụ nữ dâng hoa không, các cậu? - Dân chủ không nhiễu sự! - Dưới nhá, dưới nhá. Dồn lên, dồn lên! Cách xa lắm rồi. Một người đi qua biểu ngữ, rẩu mồm định đọc, nghe tiếng truyền lại chạy. Tiếng núi truyền vang lên, âm và nghiêm. Tiếng huýt sáo ương ca. Một đội viên lủng củng gánh một hòm đạn, một đế moóc-chi-ê. Cuốc xẻng, súng trên vai. Lưng lủng củng hơn. Hộp máy ảnh, lựu đạn, xà cột, lưới ngụy trang thây lẩy chuôi dao, ống tre nước chạm vào lựu đạn lách cách. - Lần này vớ anh hùng Cao Lạng thì bỏ mẹ. - Anh hùng Cao Lạng, hú ù! - Yêng hùng Cao Lạng a! - Khẩu hiệu dài quá. Căng ngay vào chỗ lên dốc mờ cả mắt. - Phê bình ngay! Rồi lại những người lệch vai vác hòm đạn. Rồi lại các chị Thổ khiêng hòm đạn nặng. Rồi lại các anh Mán, cổ đeo vòng bạc, mồ hôi như bôi dầu. Người vừa đi vừa hát. Người vừa gánh vừa ho. Những quả bí xỏ đầu treo lủng lẳng đòn gánh. Một cán bộ dáng mệt mỏi, đi thất thểu, chăn và bao gạo đeo chéo vai. Anh se sẽ đan bàn tay: Bàn tay còng queo còn một ngón. Anh đã dự những trận nào? Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:20:24 pm Một tốp phụ nữ đi ngược lại. Một cán bộ dân công đi trước. Anh nói:
- Xin giới thiệu với các anh, trong số các chị đây, có chị Dậu. Chị Dậu đã dự trận Đông Khê lần trước. Chị đã xung phong vào chỗ đánh nhau, cõng các anh thương binh về. - Hoan hô chị Dậu, chị Dậu đâu? - Lần này chị vẫn đeo cái thắt lưng chị đã dùng để buộc anh thương binh mà chị cõng về. - Ưu điểm. Ưu điểm. Hoan hô, hoan hô đi. Cảm động quá, chị Dậu đâu? - Chị mặc quần áo mới nhất ấy? Các chị chúi cả vào bụi rệ đường, cười ngặt nghẽo. - Hoan hô! Vỗ tay đi! - Em không biết đâu. - Một chị vụt chạy, má đỏ ửng. - Ưu điểm. Ưu điểm. Hoan hô nữ chiến sĩ dân công. Vỗ tay di Tiếng vỗ tay râm ran, lộp bộp, lẹt đẹt, lẻ tẻ ở mãi sau lưng. - Thằng Tây thì phải chết chứ sống thế nào được? - Thế này thì như ném đá xuống ao còn gì là lõ! - Đánh xong trận này thì là về Hà Nội. - Chả cần. Con cua ta cứ vặt hết chân càng đi thì hết chạy! - Lại chủ quan rồi! - Truyền xuống, nhanh lên! - Truyền xuống, nhanh lên! Khẩu hiệu: Giữ vững kỷ luật chiến trường, treo trên mái một lều lợp chuối. Chữ đỏ kẻ trên giấy bản. Một đội viên đi một mình vấp vào đá kêu úi dùi dụi se sẽ, rồi lại nhăn mặt đi, lẩm bẩm: - Giữ vững kỷ luật chiến trường. Một tốp chạy sau, thở hồng hộc, vác súng Mỹ, túi sơ mi sặc sỡ những bông xanh đỏ của áo bút máy, con chó đen nhởn nhơ chạy theo, cổ quàng một dây vải trắng. - Chạy bở hơi tai. - Kìa sao không liên tục đi? Lệnh của đại đội trưởng. - Giữ vững kỷ luật chiến trường. - Trung đội bốn có quyết tâm giữ vững kỷ luật chiến trường không? - Trung đội bốn quyết giữ! Chiều tà, pháo binh tới bản Viện, cách địch sáu cây số. Người chạy qua suối, với gậy gạc, nhảy như cào cào, trước một cái khung đại bác nghểu nghện. Một phụ nữ bứt lá về. Chị Thiếp đã khuân một cành cây lớn. Việc làm lán bắt đầu. Bếp đã dựng trên bãi, khói tỏa như chiều ba mươi. Đồng chí Thào cao lênh khênh, cái đầu hói bóng, đi lĩnh gạo về cho dân công. Ngựa hí vang lừng. Mùi thịt thơm bay lên. Con lừa "ống xiết" đứng bên bờ suối, quay lại như nói chuyện với Nho. Trời đã tối. Trong hang, suối lượn trước mặt, một đơn vị đến trước đóng. Hai đội viên ốm ngồi nấu cháo. Trên những phiến đá to, dân công ngồi quanh bếp lửa. Giữa hang, bên những giá để hòm đạn, trên một phiến đá phẳng, mấy phụ nữ nằm ngủ như Hằng Nga trong rừng. Một ngôi sao sáng qua khe lá lọt vào miệng hang. Mọi người trầm ngâm chờ đợi. Trong một ngách hang, hai người Mán có tuổi, râu lưa thưa, nằm song song giữa chiếc bàn đèn thuốc phiện sơ sài đặt trên đám lá. Mấy đội viên đi qua. - Các đồng chí vất vả quá nhỉ. - Nghiện thuốc phiện khổ lắm lố. Có tội với Chính phủ lắm lố. Cái Chính phủ nó bảo không được hút mà. - Không chừa được à? - Chừa mãi không được lố. Tại đế quốc cả đấy. - Nghiện thế mà các đồng chí đi được thì thật là giỏi. - Không đi thì con cháu nó không đi. - Sao thế? - Nó sợ xuống núi thì thối chân, cái cóc, cái nhái nó kêu không ngủ được. Phải ủng hộ Cái Chính phủ mới đánh Tây được lố. - Đồng chí ở có cao không? - Cao lắm. Ngày xưa không có ai xuống đi phu cho thằng Tây mà. Nhưng bây giờ thì phải đi. Ở nhà không tốt. - Đánh xong cái thằng Tây thì lại về mà. - Phải rồi, đồng chí ạ. Nói xong, người ấy ngồi dậy nạo thuốc. Người bạn nghiện nằm lim dim ngủ. Anh chính trị viên đại đội pháo binh khai hội với các cán bộ. Những cái đầu túm tụm. Anh nói: - Lần đầu tiên trong lịch sử kháng chiến Việt Nam, chúng ta đánh ban ngày. Đấy là một vinh dự lớn. Chúng ta phải xứng đáng. 6 giờ 16 phút ngày 16, chúng ta khai hỏa đánh Đông Khê. Thời gian chúng ta còn trước mặt để chuẩn bị cho thật đầy đủ là ba mươi sáu tiếng. Các đồng chí, giờ này, có thể phổ biến cho anh em là đánh Đông Khê. Nhưng đừng nói vung. Các đồng chí nhớ chúng ta ở sát vị trí địch có sáu cây số. Chú ý ngày mai. Không được để một dấu vết gì có thể để máy bay biết chúng ta ở đây. Triệt để ngụy trang. Ra trận, mỗi người chỉ đem một bộ quần áo, một chăn. Nguyên tắc là thật nhẹ. Đối với những dân công ra vị trí, phải gượng nhẹ, nâng đỡ. Việc nặng mình phải làm lấy. Người ta chưa quen, vả lại dân công có phải là trâu kéo cày cho mình đâu? Lừa ngựa và cấp dưỡng ở đây, cho đến khi thắng trận sẽ có lệnh mới. Suốt đêm lục đục. Gần sáng, có lệnh cử người đi Bố Bạch ngay. Không ai biết đường. Bộ đội mệt, ai cũng ngần ngại. Các đồng chí vẫn nói phải có tinh thần anh dũng ngoan cường. Đây là lúc tỏ tinh thần ấy. Đây cũng là một điểm thi dua, một dịp lập công. Đồng chí Thào không ngủ được, ngồi nhỏm dậy. - Tôi biết đường đi Bố Bạch. Tôi dẫn đường. - Thế thì ông Thào cùng đi với đồng chí Hàm. Trong bóng đêm, hai người đi vội vã. Bộ phận công sự cũng đi nhận vị trí. Mắt húp lên, người cán bộ bắt tay từng người, nói se sẽ: - Chúc các đồng chí cố gắng. Nhớ rằng trận này phải thắng đấy nhé. - Vâng. Phải thắng. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:23:09 pm III Ôi! Cái đêm ra tiền tuyến! Không đèn, không đuốc, không trăng, không sao. Đường mòn không trông rõ, hoặc không có. Hành quân chậm, ngắc luôn. Nghỉ để chờ cho bộ đội bạn đi đằng trước vượt được qua chỗ khó. Nghỉ để tìm đường. Nghỉ vì gẩy đòn khiêng. Nghỉ để đợi một bộ phận ì ạch đằng sau. Nghỉ để đợi liên lạc. Đi từ bốn giờ chiều, mà mười hai giờ đêm rồi còn cách xa vị trí hơn hai cây số. Cán bộ sốt ruột: - Kinh nghiệm lần sau phải để cho pháo binh đi trước bộ binh! Mười hai giờ, theo lệnh của ban chỉ huy trận địa, mọi nơi phải bố trí xong xuôi rồi, mà mình còn ở đây! Cán bộ giục đội viên tiến nhanh. Bộ đội vẫn cách nhau xa. Lâu lâu, có tiếng thở hồng hộc to dần tiến lại. - Các đồng chí có biết ngày mai là ngày gì không? - Có. Tiếng ừng ực uống nước rất lâu, tưởng như không bao giờ uống xong. Tiếng vặn mình răng rắc. Hai du kích ở vị trí về. Hỏi. Đáp se sẽ; Chiều hôm nay nó bắn moóc-chi-ê. Bộ đội đến đông đủ cả rồi. - Ra đấy còn xa không? - Còn xa - Có khó đi không? - Nhiều dốc lắm. Rừng lại tuôn ra những bóng lom khom, bì bõm trong ruộng bùn, quờ quờ quạng quạng với tiếng thở hồng hộc, tiếng kêu ai ái se sẽ, tiếng gọi trở vai, rồi thốt nhiên im lặng. Chiếc nòng chao đưa, một bóng rụi xuống, loạng choạng, xuýt xoa, dừng lại. Vai đè nặng quá. Chân không sao rút khỏi bùn, im lặng. Một tiếng nấc của bùn. Chiếc nòng lảo đảo. Người khiêng lảo đảo. - Cố lên, gần sáng rồi. - Tiếng Hàm dịu dịt nói với đồng chí Thào. - Nát cả hai vai rồi. - Mai y tá băng cho. Một tí nữa thôi. Anh liên lạc đi trước từ sẩm tối để ra nhận vị trí, trở về đón đơn vị. Khi anh đi, trời đã tối mịt. Đường lối quanh co: Đèo đá, lối mòn trong rừng, đường ruộng lầy dọc ngang, khi vượt suối, khi theo dòng suối, đồi này rồi lại đồi khác, không phân biệt cái nào vào cái nào. Vị trí là một chấm nhỏ, li ti trong cái cảnh hỗn mang lừa dối ấy. - Địch có biết rõ không? - Có lẽ không. Chiều hôm nay nghe nói có vài tiếng moócchi-ê nổ vu vơ. - Thôi được. Đồng chí nhớ đường chứ? - Nhớ ạ. Tiếng thở hồng hộc và tiếng lọc cọc, lạch cạch lại theo anh đi. Trời càng tối, rừng càng rậm. Anh liên lạc đi trước, lom khom, sờ soạng, mò mẫm, chỏm mũ đính một miếng gỗ mục lờ mờ sáng xanh. Trong tối đen, vệt lờ mờ sáng ấy len lỏi, khi xuống, khi lên, khi thành hình gập ngắn, dài, khi thành hình tròn, khi ngoặt đi không thấy nữa, khi hiện lên, khi thốt nhiên lẫn vào muôn vạn vật lờ mờ sáng của một khu rừng lấp lánh, mơ hồ như đêm trăng. Những bóng đen ngẩn ngơ. Tiếng nói thì thầm: - Đây kia mà. Vệt sáng nhấp nhô. - Chỗ này rậm lắm. Cẩn thận, chỗ này nhiều cây đổ, khó đi lắm. Xuống dốc này thì lên một cái dốc cỏ gianh, dựng ngược, trơn lắm. - Còn nhiều dốc không? - Còn hai cái nữa. Nhưng chỉ có cái này là vất vả. Một dây leo quật anh xuống dốc. Vệt sáng quay tròn, biến mất. Xuýt xoa. Sờ lần. Vệt sáng đứng dậy, quay lại: - Dể không phải... - Thôi chết. Ba giờ rồi! Anh loay hoay, quờ vào hết cây này đến cây khác, cúi xuống nắm bụi cỏ này đến bụi cỏ khác, giữa tiếng thở dốc ra, không phải của người nữa mà của cả rừng núi ban đêm. Tiếng nói xa xa: - Đằng này cơ. Tiếng thở lại lộc cộc theo tiếng nói mà đi. - Sắp đến rồi. Trước mặt mình bây giờ là nó. Mình bây giờ đứng cao hơn nó. Tay anh trỏ một mỏm núi lẩn trong sương. - Trung đội súng đến đủ chưa? - Có. - Thưa ban chỉ huy, bây giờ cứ lần đường điện mà đi. Dễ Bên lối đi, nằm trên cỏ gianh, thoai thoải dốc, dăm ba người ngủ, cuộn tròn trong chăn đơn trắng ngáy đều đều. Thào lảo đảo, thở như hắt ra, rồi ngã xuống. Hàm chạy lại đỡ. - Sao thế? Hàm lè nhè nói như muốn khóc: - Ông Thào. Người ta có quen như mình đâu... Rồi lại một tốp người ngủ, trắng xóa trong sương. Một bóng nằm bên mấy hòm đạn, nhỏm dậy, lù lù lại, thì thậm. Đây là vị trí. - Đơn vị ta đến trước giờ khai hỏa hai giờ. Các nơi hình như đã bố trí xong rồi. Dân công khổ lắm phải không? Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:25:56 pm Trời đã sáng. Dưới chân đồi, một cánh đồng cỏ chạy thẳng tới đồn Đông Khê, xa xa trắng đỏ. Sườn đồi, pháo binh đang túi bụi đặt súng, ngụy trang biệt súng, gọi nhau ơi ới. Mặt người nào cũng bóng loáng. Đây là trận địa pháo binh cũ của một đơn vị đánh Đông Khê hồi tháng năm.
Tin tức cuối cùng. Phía nam mới có hai khẩu đội này lên. Hai khẩu khác chưa tới. Phía bắc chưa đặt được khẩu nào. Nhiều khẩu vẫn còn trên đường đi. Ban chỉ huy trận địa nhận được những đề nghị tới tấp gửi lên xin cho tạm rút, chờ bố trí đầy đủ sẽ tổng công kích. Đối thoại với trung đoàn đánh phía bắc; - Tiểu đoàn xung kích phía bắc đã tới đâu? - Đã tới sát đồn Phìa Khóa. - Rút có lộ không? - Lộ. - Tình hình pháo binh phía bắc thế nào? - Mới có một khẩu bố trí ở Phìa Khinh. Sáng đã rõ. Sáu giờ hai mươi nhăm. Phía đông, một bánh xe đại bác của đơn vị đi sau, lò dò lên dốc, rồi đến cái nòng. Mấy anh dân công phụ trách tiếp đạn, lom khom chạy về phía sau đồi theo anh cán bộ tiểu đội. Điện thoại réo: - Lệnh của ban chỉ huy trận địa, đúng sáu rưỡi, pháo binh khai hỏa. Người chạy, người xuống hầm, người đứng vào vị trí mình. Dưới hầm, sau biệt súng, một cán bộ tiểu đội đứng bên ba cái hòm đã mở sẵn, bày các ngòi đạn như hàng xén. Đại đội trưởng chạy lại một khẩu đội, mũ rách, chân đất, mắt sâu thẳm sau kính cận thị. Hàm chìa vội điếu thuốc lá cuối cùng cho Thào, lạch bạch đến đứng nghiêm sau súng. Trung đội trưởng, mặt nổi giận, nhảy lên một cây tre xùm xòa, đánh đu vít nó xuống để ngụy trang thêm biệt súng. Tiếng hô. - Khẩu đội Một, chuẩn bị bắn! Tiếng mở quy-lát, tiếng đóng quy-lát. Hàm cầm dây cò lom khom. - Khẩu đội Một, bắn! - Bắn! - Trung đội trưởng hô to, tiếng nói cuối cùng của cuộc chuẩn bị kéo dài, và tiếng nói đầu tiên của trận đánh chính thức. Tiếng giật cò. Lửa tóe. Cỗ súng chồm chồm, rầm rầm như đống sắt rơi. Hàm nghển nhìn. Khói bốc ngoài ruộng. Mặt Hàm không động. Đông Khê im lìm, như có vẻ thản nhiên. Người ta bắt đầu đào thêm hầm chung quanh vị trí... Bên kia Phình Khinh một khẩu đã được đặt trên sườn đồi, các pháo thủ phần đông là anh em miền núi, lực lưỡng. Đội trưởng giục mọi người: - Mau lên, mau lên, các đồng chí - Chặt cây mau làm công sự. - Chặt thì lộ mục tiêu. Nó trông thấy. - Sang bên sau núi chặt rồi đem về đây. Trung đội công sự đi cùng hai mươi dân công. Mau! Mấy cây cổ thụ đổ xuống. Anh em khiêng lên đỉnh, rồi lại choãi chân khiêng xuống sườn đồi. Tiếng nổ của đại bác phía đông long trọng. - Đánh rồi! Tay anh trung đội trưởng run run xoay máy ngắm. Sáu giờ bốn nhăm, đại bác Phìa Khinh rót sang đồn Phìa Khóa. Xung kích nằm trước đồn to, động đậy. La Văn Cầu, một đội viên miền núi, nhỏm đít. Tiếng thét xung phong dồn dập giữa tiếng liên thanh vun vút bay lên đồn. Liên thanh trên quạt xuống. Một tiếng nổ long trời. Đồn Phìa Khóa bốc khói. La Văn Cầu ôm lựu đạn chồm lên, mang máng tiếng reo hò... Phía đông, tiếng soạt soạt trên đầu. Một pháo thủ kêu: - Nó bắn đấy! Tiếng mô đăng sau vị trí, âm âm. 105 rồi! Cuộc đối pháo bắt đầu, 105 và moóc-chi-ê giặc bắn sang dồn dập. - Báo cáo anh Nạp, tôi bị thương. Đây là lời nói cuối cùng của người đội viên hy sinh đầu tiên trong trận đánh, một tân binh người Thanh Hóa. 105 giặc bắn bậc thang. Hầm gần biệt súng, một cành cây răng rắc, một viên đạn nổ bên miệng hầm. Đất sỏi vùi những người nằm rúi rụi. - Phong bị thương. - Tiếng anh chính trị viên. Băng trắng đã loang lổ máu trong hầm. Người cứu thương lớp ngóp bò. Trên con đường dốc xuống suối, mổi hòn đá đều loang một giọt máu nhờ nhờ. Một dân công đầu trọc, ngã gục bên một gốc cây, tay ôm đầu. Cạnh đó, một xác tân binh, mặt đầy máu, hai chân gập lại. Nhiều hố cá nhân mới đã được đào, đất đỏ hỏn, cái nông, cái sâu. Pháo binh ta ngừng bắn. - Chú ý phòng bị máy bay sắp lên. Dọc con đường dốc hoen máu, chiến sĩ và dân công vẫn tiếp tục lên xuống. Một vài anh cấp dưỡng gánh cơm hỏi thăm đơn vị mình. Trong hốc đá ẩm ướt, ri rỉ nước, một em liên lạc ngồi trên một chiếc chõng tre rải bạt, chờ những người tải thương đến. Rồi bà già lên, lượn chung quanh vị trí pháo binh. Rồi bốn khu trục ầm ầm, trút bom xuống trận địa pháo. Trợ chiến bắn lên. Núi rập lên rập xuống. Mấy cổ ngỗng ngóc đầu lên hung hăng. Đường dây chi chít, chỗ một dây, chỗ hai dây chập lại, lủng lẳng bên đường sền sệt ngang đường bắc qua suối giắt lên những dốc cao thăm thẳm. Mấy anh điện thoại đi lần đường dây đứt. Một liên lạc viên mặt đỏ gay mũ man gài khâu hiệu giấy xanh: Quyết tiêu diệt Đông Khê! chạy hộc tốc đi tìm trung đoàn, biến lút vào rừng sâu. Máy bay rạch trời bay, lượn, bắn phá... Hai bên suối Đông Khê dưới bóng cây um tùm, xung kích, phụ trách phía nam, chờ giờ xuất phát. Suối vui hẳn vì những màu phức tạp của chăn, bạt, áo quần. Bộ đội ngụy trang nằm la liệt, hoặc một, hoặc hai, hoặc túm tụm. Người nằm lên đám sỏi mấp mé nước. Người nằm trong hố mới đào hai chân sác lên miệng hố. Những lứa ôm nhau, co ro đầu gối. Lựu đạn, súng, bi-đông, khăn mặt, xà cột treo trên cây. Suối chảy róc rách, róc rách. Những người còn thức, hoặc ngồi trong hố viết sổ tay, hoặc hút thuốc lá, hoặc trảy ổi bên bờ suối. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:29:15 pm Trần Cừ về. Anh em choàng dậy.
Một người hỏi: - Thưa anh, có tin gì mới không? Trần Cừ nhìn đại đội mình, cười chúm chím: - Các cậu vừa rồi có ngủ được không? - Ngủ được ạ. - Thoải mái cả chứ. - Rất là một sự thoải mái. Chắc anh mệt, vì không được ngủ. - Nhưng tôi đã không phải khiêng vác nặng như các cậu. Thôi nhé. Bây giờ cho các cậu biết tin này. Trung đoàn... đã giải quyết xong đồn Phìa Khóa sau ba lần xung phong. Hoan hô đơn vị bạn đi. - Hoan hô! - Các cậu hoan hô ỉu lắm. Tổ thanh niên thế thì bét. Thế là đơn vị bạn đã giải quyết được một đồn ngoại vi ở phía bắc. Còn chúng ta chưa giải quyết được một đồn ngoại vi nào. Các cậu thấy thế nào? - Phải đánh mạnh. - Phải rồi. Chiều hôm nay, chúng ta phải đánh gấp đôi đơn vị bạn, chúng ta vừa phải giải quyết ngoại vi, vừa phải đánh tung thâm. Nhiệm vụ có nặng không? - Nặng. - Nhưng chúng ta có sợ nặng không? - Không. - Vì sao? - Vì đại đội ta đã nhận làm nhiệm vụ chính. - Nhiệm vụ chính thì phải nặng, cố nhiên rồi. Nhưng đại đội ta không bao giờ sợ nặng, bao giờ cũng xung phong nhận lấy những nhiệm vụ nặng nhất. Lần này cũng vậy, tôi xin hứa với các đồng chí là quyết tâm chỉ huy các đồng chí làm tròn nhiệm vụ. - Xin hứa với anh, chúng tôi quyết tâm làm tròn nhiệm vụ. - Giặc đã thả dù tiếp tế Đông Khê. Chiều nay tình hình rất có thể gay go nhiều. Rất có thể nó đánh ra. Rất có thể nó nhảy dù. Tôi báo tin này để các đồng chí chuẩn bị, đối phó với mọi sự biến chuyển không ngờ. Chứ nó đánh ra chúng ta chẳng sợ, nó nhảy dù chúng ta cũng cóc cần. - Hoan hô! - Thưa anh, nghe nói một bộ phận pháo binh được lệnh rút, một bộ phận lạc đường chưa tới. - A, phải rồi. Pháo binh đi chậm thì ban chỉ huy trung đoàn vừa bắt được liên lạc. Thế nào cũng đến kịp. Nhưng nếu đến phút cuối cùng, pháo binh chưa tới, mà có lệnh tổng công kích thì các đồng chí nghĩ sao? - Cứ đánh. Giải quỷết bằng xung lực. - Phải rồi. Đối với bộ đội cách mạng như chúng ta, xung lực là chính. Chúng ta là gì? - Là xung lực. - Vậy thì sao? - Không có pháo binh cũng cứ đánh như thường. Một đoàn nữ dân công đi qua bên suối. Xung kích đứng lên vô tay: - Hoan hô các chị xung phong tải thương. - Chị Dậu đâu? - Kia kìa, đang nép mình sau chị Hồng kia kìa. - Chưa ra trận, các bà đã đến rồi, khá thật! Dậu thỏ thẻ: - Chúng em xung phong đi sát các anh đấy. - Hoan hô các chị. Chị Dậu, chị xem trong bọn chúng tôi, chị sẽ phải cõng anh nào? - Không biết đâu. - Sao lại không biết? - Em chẳng phải cõng anh nào đâu. - A, chị Dậu có duyên tệ! Đêm 16, bắt đầu từ năm giờ rưỡi, bộ đội hai mặt đánh vào Đông Khê. Phía bắc, ta chiếm Yên Ngựa, Cạm Phầy, đánh xuống đồn to. Phía nam, ta đánh vào trường học tiến lên nhà thông tin, bãi ô tô, phố cũ. Giặc chỉ còn ở Phủ Thiện. Các đơn vị hoan hô nhau trong máy nói. Các đơn vị báo cáo có lẽ giặc sắp xin hàng. Thực ra, đồn to chưa chiếm được. Gần sáng, bộ đội mặt bắc đã rút lui. Mặt nam bị đồn to bắn xuống, Phủ Thiện bắn lên, các hầm chung quanh giặc ẩn trong ấy, bắn vào. Tờ mờ sáng cũng được lệnh rút ra để đỡ thương vong. Nhiều cán bộ hoang mang. Họ đề nghị cho rút để chấn chỉnh đội ngũ, đợi một dịp khác có điều kiện sẽ đánh. Ban chỉ huy trận địa ra lệnh: - Ở đâu giữ đấy, tử thủ Cạm Phầy, Pò Hẩu(1). Chuẩn bị tổng công kích lần thứ hai, chiều 17, giải quyết Đông Khê cho bằng được. Lệnh chuẩn bị đối phó với phi cơ, đánh quân nhảy dù, quân tiếp viện. Xung kích đã trở về vị trí xuất phát hôm trước. Nét mặt đều mệt mỏi. Anh em bàn tán sôi nổi, bực tức. - Lúc thằng Kiên chạy lên, sao tiểu liên lại không bắn? Có yểm hộ thì thằng Kiên không chết. - Xung phong rời rạc quá. - Xung phong không liên tục. - Hỏa lực phân tán chứ không tập trung tí nào. - Nếu có ý thức tiêu diệt sinh lực địch, thì đã biết phá từng cái hầm ngầm của nó trước khi tiến. Đằng này cứ chạy lướt qua, nó vòng lại bao vây mình. - Nhưng bực nhất vẫn là sự phối hợp kém. Nếu biết rõ là anh em trên ấy chưa chiếm được đồn to, thì không đời nào mình bị thương vong nhiều thế này. - Tức lắm, chỉ mong chóng tối mà vào. Hôm qua như đánh chơi đánh bời, chứ không phải đánh giặc. Họ nóng ruột chờ tối. Máy bay bắn phá suốt ngày. Trần Cừ nói với người đội viên của anh nằm trên cáng: - Về chóng khỏi nhớ. Vài hôm nữa tôi đem quà về cho. Người đội viên mỉm cười, gật đầu lễ phép, mắt lại nhắm nghiền. Cáng đi rồi, anh quay lại bộ đội. Bộ đội đã ngoảng mất nhiều người. Bộ đội biết anh muốn nói với anh em. Lâu lâu anh nói: - Chúng ta có thể tự hào rằng đêm qua chúng ta đã làm tròn nhiệm vụ. Những đồng chí của chúng ta không còn nữa chứng tỏ điều ấy. Những đồng chí bị thương, nhất là những đồng chí không muốn làm bận chúng ta, tình nguyện ở lại Đông Khê, chứng tỏ điều ấy. Những đồng chí xung phong lên đồn Pò Hẩu cao như hình tháp bút, vật nhau với địch mà chiếm đồn, và hiện nay tử thủ ở đấy chịu đựng mấy trận ném bom vừa rồi của địch, cũng chứng tỏ điều ấy. Các đồng chí thấy đơn vị chúng ta có hăng không? Có cừ không? - Cừ lắm. - Vậy chiều hôm nay, chúng ta cừ gấp trăm hôm qua để hoàn thành nhiệm vụ. Phải không, các đồng chí? - Vâng. Chúng tôi sốt ruột lắm rồi. - Chúng ta rút kinh nghiệm trận hôm qua. Chúng ta thề trận hôm nay phải thắng. Một đội viên nói: - Tôi có ý kiến. là hôm nay không chơi cái điệu hớ hênh hôm qua nữa. Đánh chắc, bám chắc mới ăn. - Phải đấy! - Trần Cừ vừa nói vừa quay đi, giữa tiếng hoan hô của anh em. Một anh trong ban chính trị trung đoàn vừa xuống, tươi cười vỗ mạnh vào vai Trần Cừ, và nói đùa. - Hôm qua cậu xông xáo ghê quá. Cậu sống kể đã dai, vào sinh ra tử mấy phen rồi mà vẫn chưa suy suyển mất tí gì. Chiều hôm nay xem ra gay lắm. Không khéo thì ngoẻo đấy. Trần Cừ nói: - Ngoẻo thì tớ không sợ. Chỉ sợ không làm tròn nhiệm vụ thôi. Làm xong nhiệm vụ, chết tớ cũng vui lòng. Chết cũng sướng vì đã được chỉ huy một đơn vị quyết thắng. Họ ngước nhìn hai cái cổ ngỗng bay thấp trên dầu. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 25 Tháng Hai, 2017, 11:32:18 pm Giờ tổng công kích đợt thứ hai sắp tới. Trong hang đá, nơi chỉ huy sở trung đoàn phụ trách đánh phía nam, trung đoàn phó hạ lệnh tấn công bằng máy nói.
Năm giờ chiều, hai máy bay khu trục còn vòng lượn Đông Khê thì đại bác mô. Đại bác, SKZ, moóc-chi-ê, liên thanh các cỡ nổ. Đám cháy bốc. Xung kích tiến. Giặc rút cả lên đồn to. Mười giờ đêm. Giặc chống cự kịch liệt, cố kéo dài đến sáng. Đợt xung phong thứ nhất không giải quyết được đồn to. Một vài báo cáo nao núng: - Tinh thần bộ đội chúng tôi vẫn cao. Nhưng số thương vong quá nhiều. Một đại đội đã bị hy sinh quá nửa. Những người còn chiến đấu được thì mỏi. Khó lòng mà giải quyết được đồn to... Lệnh của ban chỉ huy trận địa truyền xuống: - Lúc này, báo cáo thương vong không cần bằng những báo cáo cụ thể về tác chiến. Bộ đội đã làm xong nhiệm vụ chưa? Bộ đội cần gì để tiếp tục chiến đấu? Nếu bộ đội xung kích yếu, thì lập tức cho bộ đội dự bị vào thay. Giải quyết trận đánh cho bằng được. Phía đông, đại đội của La Văn Cầu được lệnh đánh lên phía đồn to. Đường lên đồn dốc. Liên thanh quạt xuống. Đại bác rót xuống đồn. Một quả bom vừa nổ, dây thép gai gẫy tung. Cầu đi trước tiểu đội. Anh nhảy lên. Cả tiểu đội gội đạn tiến vào trước một lô cốt. Quả bom Cầu thu trong tay rơi xuống. Cánh tay lủng lẳng. Tiểu đội trưởng hỏi: - Cầu bị thương à? Cầu không nói, cúi đầu nhặt bom, nhảy lên. Tiếng thét xung phong vang lừng. Bóng một người chạy về, đến gần tiểu đội trưởng. - Cầu đấy à? Lên đi chứ, sao quay lại? Cầu chìa cánh tay lủng lẳng: - Báo cáo anh, anh chặt cho tôi, nó lủng lẳng không tì được vào bom giật kíp. Tiểu đội trưởng cúi xuống, giơ kiếm chặt. Cầu đã chạy lên. Dâm lên cái khúc tay mình vừa chặt, người cán bộ dừng lại. Một tiếng bom nổ sáng rực. Tiếng gạch đá nổ ầm ầm. Xung kích hò reo. Trong ánh chớp, tiểu đội trưởng thoáng thấy Cầu thất thểu chạy ra, đầu và vai lệch hẳn một bên: - Báo cáo anh, lô cốt vỡ rồi. Tôi bị thương. Tiểu đội trưởng giằng lấy bắt tay Cầu. Anh nắm vào cái tay cụt đẫm máu: - Thôi đồng chí xuống. Giặc chết rụi trong lô cốt. Một tên còn sống sót, mở mắt ra, không thấy tường đâu cả, mà chỉ thấy bàng bạc sương và bóng xung kích nhảy vào. Nó quỳ xuống lạy... Phía tây, tiểu đoàn của Trần Cừ, hồi chín giờ, đã đánh trường học; một đại đội lên bãi ô tô, vào Phủ Thiện. Một đại đội chiếm Nha cũ và gặp một tiểu đội của trung đoàn phụ trách đánh phía bắc. Trần Cừ đang xông xáo, thì được lệnh trung đoàn anh, đánh lên đồn to. Tiếng nổ ở phía đông dữ dội. Trần Cừ nói với đội phó Xuân Minh. - Thi đua với đơn vị bạn vào trước đồn to. Anh thét: - Nhằm lô cốt một mà tiến! Đại đội theo hai anh tiến lên sườn đồi. - Các đồng chí nhớ đêm nay quyết giải quyết xong Đông Khê nhé. Trần Cừ băng băng lên trước. Một chú liên lạc đang cố rún người lên để ném lựu đạn vào một lỗ châu mai là là mặt đất. Cừ nói: - Chú đưa anh một quả. Phải triệt lỗ châu mai này mới tiến được. Anh mở nút lựu đạn xông lên. Những tràng đạn liên thanh, những chai thuốc nổ từ trong ném ra. Trần Cừ lảo đảo. Anh hô to: - Giải phóng Đông Khê! Hồ Chủ tịch muôn năm! Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Trần Cừ cố nhoai lên, rồi gục xuống, xác bịt lỗ châu mai. Các bạn anh xông lên. Một đội viên nhếch nhác: Anh Cừ chết rồi! và cũng gục xuống. Xung phong! Đội phó Xuân Minh vừa thét vừa dẫn đầu bộ đội xông ào ào trên những đống gạch đổ vụn và thây người. Anh ôm bụng ngã xuống. Xung kích chạy lại. Minh cười nói: - Không sao cả. Tiến lên đi! Minh lảo đảo đi, nhưng kiệt sức, ngồi phịch xuống. Giữa lúc ấy, lô cốt thứ nhất đổ ầm. Minh cố gượng đứng dậy: - Vào lô cốt thứ hai đi! Súng của giặc, từ những lô cốt ngầm. dội trên đầu, quạt xuống hầm, rào rào tứ phía. Xung kích cướp lựu đạn của giặc để ném giặc. Một chiến sĩ nằm bên xác hai người bạn trong tổ súng máy, vẫn bắn. Đạn hết, anh ôm súng chạy ra, báo cáovới trung đội trưởng: - Tổ tôi hai đồng chí bị hy sinh. Tôi bắn hết đạn rồi. Báo cáo hết. Trợ chiến xông lên. Lô cốt thứ hai đổ. Mấy tên giặc giơ tay. Một tên chưa kịp chạy đã gục xuống. Một đội viên bị thương ở đầu, ở lại trong đồn từ đêm trước, quên hẳn vết thương, ôm đầu chạy một mạch lên đồn, hét to: - Anh em ơi! Sướng quá! Cho tôi đánh vào lô cốt mấy! A-li-úc(2), trong hầm nhìn ra ngoài thấy sương mù mịt. Hắn lắc đầu thất vọng. Gần sáng, đồn to đen nghịt xung kích. Viên quan ba chửi Thất Khê đã bỏ mặc Đông Khê. Hắn nhún vai, đứng dậy. Bọn tàn quân nhao nhao hỏi. - Bây giờ thì làm thế nào? Hắn dịu giọng: - Chúc các anh may mắn(3). Và hắn theo đường hầm lần đi trốn. Năm chiếc xe của giặc còn nguyên vẹn, bắt đầu chuyển bánh, đem theo khẩu 105 và võ khí chiếm được, về con đường Phục Hòa mà công binh và dân công sửa suốt đêm ấy. Đèn pha chiếu sáng rực. Còi bóp vang vang. Xe nghiêng ngả. Mọi người hỏi: - Đông Khê thế nào các anh? - Đông Khê đây này! Reo lên. Đông Khê đây này. Xe chạy, tiếng reo hò, tiếng xe vẳng lại. - Đông Khê đây mày! Hoan hô dân công. Đông Khê đây nàv! Trên đống gạch ngói của Đông Khê, xác giặc ngổn ngang. Bóng dân lẫn bóng lính. Súng lẫn với đòn khiêng. Tiếng súng vẫn còn lác đác trên đồn. Một tiếng gọi: - Chị Dậu ơi! Tôi bị thương rồi. Dậu đến bên anh. Anh nói: - Nhưng tôi bị nhẹ thôi. Các chị ra khiêng anh Minh hộ. - Anh đi được chứ? - Được. Dậu cởi sẵn thắt lưng, đi thoăn thoắt lại chỗ anh kia giơ tay chỉ. Bên suối, một đội viên hý hoáy rửa một đôi giày đinh máu loang mặt nước. Đêm trước, khi đánh lên đồn to, anh thấy một đôi giày đinh quẳng đấy. Anh nói với trung đội trưởng: - Báo cáo anh cho phép tôi đi tạm đôi giày này để xung phong, dây thép gai đau chân khó xung phong lắm. Xung phong xong, tôi lại xin rửa sạch sẽ đem lại trình anh. (1). Đồn ngoại vi vế phía nam Đông Khê chiếm được sáng 17. (2). Allioux. (3). Bonne chance à tous. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 26 Tháng Hai, 2017, 11:24:42 pm IV Lừa lại trở về với đơn vị pháo binh. Mặt mọi người bừng vui. Mới có mấy hôm mà tưởng như xa cách chúng nó đã lâu lắm. Hai con đã mất chủ: con "khung" và con "ống xiết". Chủ con "khung" chết trong trận đối pháo ở Đông Khê. Chủ con "ống xiết", là Nho, đã hy sinh vì nó. Nho dẫn nó đi lấy gạo. Gặp máy bay oanh tạc, Nho chỉ vừa kịp dắt nó vào một cái hốc đá con trú ẩn, thì quả bom rơi xuống. Hốc chỉ đủ chỗ cho lừa. Nho đành nằm gí người ngoài hốc. Một mảnh bom cắt hẳn hai châm Nho. Con "ống xiết" chưa quen với chủ mới. Nó giở chứng, rất hay phá phách. Đàn lừa không được béo, lông không được óng ánh như hồi mới lên đường. Phần đông, những vết thương cũ lại lở loét. Băng trắng quàng ngang bụng. Nhưng ba thồ lênh khênh vẫn lặc lè trên lưng chúng. Pháo binh lại hành quân. Chị Thiếp đau chân. Một hôm trời tối, chị vào rừng lấy củi cho bộ đội, bị nứa nhọn đâm gần suốt bàn chân. Nhưng chị không chịu nghỉ, vẫn tập tễnh đi theo bộ đội. Đồng chí Thào hơi buồn. Hôm bốn người dân công trong toán hy sinh ở Đông Khê, đồng chí Thào đã rửa ráy họ sạch sẽ, và khóc rưng rức khi đem táng họ ở gần vị trí pháo binh. Đồng chí Thào chỉ vui khi gặp Hàm. Mỗi khi anh em dân công ốm đau. Hàm hay đến hỏi thăm. Đồng chí Thào thích Hàm ở chỗ không bao giờ Hàm đùn việc nặng cho dân công như một hai đội viên khác, không nặng tiếng với dân công bao giờ. Hôm đơn vị được chia chiến lợi phẩm. Hàm biếu đồng chí Thào miếng phó mát, phần của anh. Nể quá, đồng chí Thào phải ăn, nhưng rồi nôn tháo cả ra. Hai người cùng ngượng. Hàm lại cố đi tìm cho đồng chí Thào một cái vỏ đồ hộp. Đồng chí Thào cảm động lắm. Dân công nhiều hơn ngày chưa đánh Đông Khê. Bộ đội cũng nhiều hơn. Tinh mơ, các chị đã rầm rập trên dường. Đêm khuya vẫn còn những hàng dài đuốc đi, về. Một cảnh tượng lạ mắt. Thỉnh thoảng lại gặp một hai tù binh. Chúng nó vẫn còn sang. Thằng nào cũng đeo đồng hồ tay. Chúng lấm lét, nhìn những gánh chiến lợi phẩm gánh về. Có thằng chìa tay xin đồ hộp, hoặc xin thuốc lá. Một hôm, bọn Hàm đang rửa mặt ở suối, thì có một tốp tù binh đến. Anh địch vận nói: - Cái thằng lùn, già già là viên quan ba A-li-úc, chỉ huy Đông Khê đấy. Hàm quay lại. A-li-úc xin anh cho uống nước. Anh múc cho nó một ca nước suối. Nó nói: Méc-xì, rồi nốc hết, rồi lại xin. Nó uống xong, ra hiệu bảo Hàm đưa nước cho những thằng khác. Hàm giận lắm, nhưng anh không biết nói gì cho nó đúng. Anh đi, chúng nó lội xuống suối, vục nước bằng hai bàn tay uống ừng ực... * * * Chưa có lệnh đánh Thất Khê. Chỉ những hành quân là hành quân. Bố Bạch rồi bản Xiền, rồi bản Tồn, rồi Pò Mã, rồi bản Nùng. Rồi lại bản Nùng - Pò Mã, rồi lại Pò Mã - bản Xiền... Bộ đội bàn tán: - Thế này đã là vận động chiến chưa? - Chưa, đây vẫn là hành quân. Đồng lúa đã bắt đầu chín. Xuống dốc. Con đường chữ chi lầy lội. Con lừa "ống xiết" không chịu chủ mới, phá phách. Trông nó hung dữ, đồng thời cũng tội nghiệp. Răng nó nhe trắng nhởn, lưỡi đỏ nghẹn ngập với hàm thiếc, mũi thở phì phì, lông đen ướt như tắm, vài giọt máu chảy trên bụng, hai chân sau nhợt nhạt bùn, đá vung hừ hự. Anh chủ mới của nó, tay rít chặt dây cương, cái mũ nan rụng xuống bùn, cành lá ngụy trang rào rào như gió thổi. Con lừa lôi anh di sành sạch. Lúa đổ nát một khoảng rộng. Bỗng con vật ngã xuống, chân đạp điên cuồng. - Hỏng hết lúa của dân rồi! Quãng đường này - cũng như nhiều quãng đường khác - lúa hai bên đã dạt cả, thành đường đi khá nhẵn, lúa lẫn với bùn, với đất. Con lừa đã tự nó đứng lên, thở hồng hộc, mắt dại đờ, mồm nhai mấy nhánh lúa. Một chị phụ nữ rất xinh, cầm liềm nhỏ, cắt một vài lượm lúa, bỏ vào một cái sọt nhỏ. Cái hình ảnh đáng lẽ rất tự nhiên trong mùa gặt hái, trái lại ở đây, là một cảnh bất thường. - Kéo nó vào không hỏng hết lúa của người ta. - Tiếng anh chính trị viên. Tiếng chị phụ nữ. - Lừa đấy. Có phải các anh đâu. - Chị tốt quá. - Chẳng tốt đâu. - Chị không di dân công à? - Em mới đi về đấy, các anh ạ. Bộ đội cười quên mệt. Đàn lừa lại cúi đầu đi. Chỗ chị phụ nữ, chỉ còn một chấm nhỏ chàm. Một chút êm mát của cuộc đời bình thường hòa bình, làm nhẹ đầu óc căng thẳng của những người không nhà, không cửa, liên miên chiến đấu. Anh chính trị viên, tới chô nghỉ, nói: - Dân mình tốt quá. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không có lỗi đối với dân đâu. Hại bao nhiêu lúa của đồng bào! - Thưa anh có phải chỉ riêng mình đâu. - Mình cứ biết việc mình, nhiệm vụ mình. Một hột gạo của dân, mình cũng phải trọng. Hôm nọ Bác đi thăm mặt trận. Qua một thửa ruộng bị giẫm nát, Bác đã phê bình bộ đội vô ý thức, không biết tôn trọng của dân. Trận Đông Khê, Bác phê bình bộ đội phí phạm. Đấy, các đồng chí đã thấy chưa? - Thấy rồi ạ. - Thì ra Bác để ý từng ly từng tý một. - Thật là Cha bảo con từng sợi tơ kẽ tóc. Bọn mình ẩu thật. - Thưa anh, hình như Bác đi nhiều nơi lắm. - Tôi không biết rõ, nhưng được tin rằng Bác có đến Đông Khê, mấy hôm trước thì Bác đi thăm anh em thương binh... - Chắc là Phong nhà mình được gặp Bác. - Có lẽ. Lúc Bác đến thì anh em còn ngủ, Bác vén màn từng giường, rồi ra ngồi một chỗ chờ anh em dậy. Anh em biết tin chạy cả ra. Nghe nói trông thấy anh em, Bác nghẹn ngào mãi mới nói được. - Anh có gặp Bác bao giờ không? - Không! - Phong nhà mình thế mà bở. Chắc là vết thương chóng lành lắm. * * * Ngày giờ trôi qua. Bộ đội và dân công liên miên hành quân. Bộ chỉ huy chiến dịch vẫn chưa có lệnh đánh. Anh đại đội trưởng đi công tác về, gặp anh chính trị viên ở dọc đường nói: - Nản quá. Tây Bắc nó làm hăng hơn bọn mình. - Pa Kha, theo mình, mạnh chẳng kém gì Đông Khê. - Thế mà nó lại hơn bọn mình. Hoàng Xu Phì, Xi Ma Cai vừa mới có tin giải phóng xong. Mình vừa vui mà lại vừa ức. Bọn mình cứ rì rì ra thế này. Từ sau Đông Khê, hơn tuần lễ rồi mà chưa được đánh. Có khi mình thành chiến trường phụ không biết chừng. Hì hì. Một đại đội trưởng bộ binh dẫn bộ đội mình cũng vừa tới đấy, mắt láu lỉnh, miệng chế giễu. Người lùn tè, đeo một chiếc kiếm dài. Anh bắt tay hai người bạn: - Bét quá, chúng mày ạ. Đợi đến bao giờ? Anh chính trị viên: - Giải quyết xong V2, đánh luôn V3 là đúng hơn cả. Bây giờ nó tăng cường Thất Khê, mà lại rút được kinh nghiệm Đông Khê. Khó chơi lắm nhé. Gay lắm, chứ đừng tưởng. - Mồm anh dài ra và trán anh nhãn lại. - Tăng cường thì đánh cũng cứ được. Miễn là cho đánh ngay. Tớ cho đánh công kiên vẫn gọn, đỡ mệt. Cứ rập rà rập rình thế này, tốn cơm gạo Chính phủ lắm. Nhưng bộ chỉ huy lại chủ trương là đợi cơ. Mười lần đợi nó ra, chín lần không gặp mà một lần gặp cũng cứ đợi. Thế mới lôi thôi chứ. - Một điểm hoài nghi trong giọng nói của anh chính trị viên. Anh đại đội pháo binh góp. - Đánh Thất Khê gay chứ không dễ đâu. Bây giờ nó quét sâu vào nội địa mình, hàng sáu, bảy cây, cái lán nhỏ nó cũng sục. Những chỗ mình dự định đặt pháo bây giờ là nó đóng hết. Hôm mới rồi, tớ đi trinh sát chiến đấu suýt tý nữa thì nó tóm được. Hì hì. - Nóng ruột lắm. Sinh ra cái trò vận động mệt lính Cụ Hồ lắm. - Anh đại đội bộ binh vừa nói vừa cười. Một anh bạn phái viên tham mưu đi qua. Anh hỏi: - Có tin gì mới không cậu? Ở chỗ ông T.. về đấy phải không? - Vẫn thế thôi. - Anh phái viên ngồi xuống một phiến đá, lấy khăn mặt lau mồ hôi. - A, cho các cậu biết cái tin này. Trong một tuần lễ, khu Ba hạ bảy đồn ở Hưng Yên và Thái Bình, phá nhà máy sợi Nam Định. - Gì nữa? - Có cái tin này thú hơn. Ở Sầm Sơn. mình đánh đắm một thông báo hạm, tên là Gioăng-vin, mang sáu đại bác 105 ly. Hai trăm rưởi thủy thủ chết hết, trong ấy có cả một thằng quan năm. - Bọn mình trên này tép quá. Mới được một quan ba. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 26 Tháng Hai, 2017, 11:27:31 pm Anh đại đội bộ binh vỗ tay vào kiếm nhảy nhót.
- Còn một chi tiết này đáng chú ý: Chiếc thông báo hạm này, Pháp định đem giúp Mỹ ở Triều Tiên. - Tuyệt quá. Đánh một cú, nhẹ cả cho mình, nhẹ cả cho nước bạn. Thế thì chúng ta bây giờ làm gì? Anh chính trị viên mắt xa thẳm: - Triều Tiên được tin này chắc là phấn khởi lắm. Nghĩ đến Triều Tiên, lắm lúc mình đau quá. Mỹ nó tàn sát ghê lắm, như thằng Pháp ở đây. Triều Tiên cũng nhiều Bình Trị Thiên lắm. Đánh đắm được chiếc tàu kia, mình hả lắm. Anh đại đội bộ binh: - Cho nên trùng trình thế này, mình sốt ruột lắm. Anh đại đội trưởng bộ binh trật mũ, hai tay cào tóc, mặt nhăn nhó, rồi lại bỏ mũ lên đầu: - Hành quân vậy. * * * Rồi tin giặc định chiếm lại Đông Khê. Bộ đội chờ giặc ở Đông Khê mãi không thấy nó tới. Rồi tin giặc sẽ nhảy dù. Bộ đội chờ mãi không thấy nó nhảy dù. Rồi tin giặc đem chín mươi xe lên bản Ne. Pháo binh được lệnh xuống Pò Mã. Bộ binh ở Pò Mã về. Một anh thở dài. - Quân báo thế thì chết! Rồi giặc đánh vào Pò Mã, giết một số dân công, bắt một số bộ đội, cướp một số đạn đại bác, phá nhiều gạo của vận tải gánh về. Một đơn vị ra đánh, chúng chết mười tên, rút. Lại những cuộc bàn tán trong cán bộ: - Mình đang chủ động, thế mà lúng túng, bây giờ lại hóa bị động rồi. - Mình có sợ đi đâu, nhưng cứ xách đi mà không thấy giặc, mình mới ngại. - Cũng mất hứng nhiều. - Bã cả người ra. - Điệu này thì kéo đến bao giờ? Bộ đội ốm hết. - Rồi còn dân công. Trông thấy lúa chín mình còn sốt ruột nữa là bà con. Chợt có lệnh bộ đội đi lấy gạo. - Thế giặc đến thì làm thế nào? - Lệnh đi là đi, không thắc mắc. Người đội viên lại lặng lẽ đi lấy gạo. Số ở nhà bắt đầu làm lán. Rừng vang lên những tiếng nô đùa. Những gạc, những cành, những lá ráy chất đống bên vệ núi. Họ đang lúi húi chôn cột thì trời đô mưa to. Anh chị em dân công chạy lộn xộn lấy nón, lấy lá che cho nồi cơm đang sôi. Nhưng chỉ trong nháy mắt bếp cháy rụi. Nước mưa đổ đầy nồi cơm. Họ ướt luốt tuốt, rét co ro, đứng nép dưới cây, hoặc ngồi xổm che nón, tần ngần nhìn nồi cơm hỏng. Bộ đội ướt đến tận thịt. Một người hét to: - Cứ làm lán, không tối nay ngủ vào đâu? - Giời ác quá đi mất thôi! Chú liên lạc của đại đội chạy hộc tốc, ngã lăn chiêng xuống dốc trơn. Một người nói: - Thôi, lại hành quân rồi! - Vừa mới bắc máng cho lừa xong! - Biết ngay cái lệ nhà Vệ là thế mà! Nửa giờ sau, dưới trời mưa mù mịt, những bóng người nho nhỏ, và những bóng lừa lêu đêu, với những bóng gậy, bóng súng, bóng nón, bóng lá lòa xòa, lại đùn dùn ra khỏi rừng. Nhấp nhô, gập ghềnh, cái đi, cái chạy. - Mình đã hết vía cái đèo Bố Bạch này rồi. Hàm lè nhè nói: - Thôi, cứ nhớ điều yêu cầu thứ hai của chiến dịch là hết. Gió quật mưa tới tấp vào mặt mũi anh. Trên đèo, nước chảy ầm ầm xuống như đổ. Hàm tháo ba thồ, để cho lừa nghỉ dưới chân đèo vì chúng không vượt được đèo đá, còn anh và các bạn bắt đầu chuyển những bộ phận đại bác sang bên kia chân đèo: dài ba cây số. Dốc trơn cao ngất. Dốc đá tai mèo, đá sắc như dao, lổm chổm như chông. Những hòn đá chắn lối đi, dựng đứng cao hơn người, xếp thành ba bốn bực phải vượt qua. Mắt các anh không mở được vì mưa. Hàm phải làm gấp ba công việc: Mang được một bộ phận sang chân kia đèo, rồi lại trở lại chỗ cũ để khiêng nốt những bộ phận còn sót. Cuối cùng, anh lộn lại một lần nữa để đánh lừa sang. Nhiều anh em ì ạch khiêng, léo nhéo gọi Hàm đỡ cho một quãng. Tối, mới tới bản Nhần. Gạo chưa về. Ba lô ướt sũng, các chiến sĩ đành mặc bộ áo ướt ban nãy. Mưa đã ngớt. Bóng đồng chí Thào gầy và cao đi lại. Thào đến ngồi bên Hàm, thở hơi khói ngang ngang của cái tẩu cục mịch làm lấy. Lâu lâu Thào không nói. Mọi người thì thào: - Thôi, "biến" rồi, chắc là đến xin về rồi. Mấy hôm nay, đã có vài dân công sốt ruột vì mùa màng, xin nghỉ. Hàm sờ áo đồng chí Thào nói: - Áo đồng chí ướt hết rồi. - Đồng chí Hàm cũng ướt đấy. - Nhưng đồng chí run, mà tôi không run. Đồng chí Thào im lặng, hít cái tẩu không ra khói. Một lúc, nói: - Các đồng chí hết gạo phải không? Hôm nọ, chúng tôi hết gạo, đồng chí Hàm cho vay. Bây giờ các đồng chí hết gạo. Chúng tôi còn ít gạo bữa nay để thổi cơm. Nhưng toàn thể chúng tôi không thổi cơm, mà nấu cháo để các đồng chí cùng ãn. Bộ đội chạy cả lại hoan hô đồng chí Thào. Đồng chí cao lênh khênh ngậm tẩu, cười bằng những nét nhăn trên mặt, mắt buồn nhìn mọi người, rồi lại nhìn Hàm. Một lúc sau, chị Thiếp tập tễnh khiêng với một chị khác một nồi cháo lớn đến. Chị Thiếp cười: - Cháo đây các anh ạ. Bộ đội và dân công cùng ăn. Các chị phụ nữ không chịu ăn chung. Các chị đốt đuốc soi cho anh em. Đôi mắt nhỏ của Thiếp nhắm lại. Một đội viên yêu cầu chị nói chuyện, Thiếp ngoẹo đầu, nói: - Em không biết đâu... Đêm lại có lệnh đi Cốc Bố. Hai hôm sau, pháo binh đã lại trở về Bố Bạch… Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 27 Tháng Hai, 2017, 10:28:05 pm V A ha khoái quá anh em, Giặc ở Thất Khê ra. Mong chờ nó mãi nó lên đây rồi. Mày lên mày chết Tây ơi, Phen này dù chạy lên trời đố yên (1) Lệnh của bộ chỉ huy chiến dịch: - Không cho địch chạy về Thất Khê. Đánh bật địch khỏi Khâu Luông. Tiêu diệt địch ngay trên đường số Bốn. Lơ Pa-giơ(2) tiến lên Đông Khê. Nó huy động một lực lượng lớn: Tiểu đoàn Ta-bo 11, tiểu đoàn nhảy dù, tiểu đoàn lính Ma-rốc, tiểu đoàn dõng và phu. Bép(3) chưa hề thua trận nào. Mặt trận nào nguy nan nhất thì Bép xuống. Lại có Ta-bo thiện chiến. Mỗi khi xung phong, qua rừng lên núi, chúng ngậm dao găm, giắt dao găm, dùng súng ngắn, víu đá tai mèo, vượt lên băng băng như đàn vượn. Chúng đã đánh ở Phi, chúng đã đánh ở Ý: chúng đã vượt sông Ranh(4); một tiểu đoàn chúng đã tiêu diệt một trung đoàn của Hít-le. Trên chiến trường Đông Dương, chưa hề có một Ta-bo bị bắt và một khẩu súng của Ta-bo bị mất. Hai giờ chiều mồng một tháng mười, giặc chiếm các mỏm Khâu Luông và Nà Pá. Trung đoàn... vẫn đợi giặc ở đấy. Vừa có lệnh rút đi thì giặc tới. Khâu Luông gồm bốn mỏm mà mỏm bốn là cao nhất. Dưới chân là rừng rậm, nhưng cách mỏm chừng hai trăm thước thì toàn cỏ gianh, dốc cao sáu mươi độ. Suốt đêm, trên một nhà sàn ven núi Bố Bạch, nơi ban chỉ huy tiểu đoàn... (thuộc trung đoàn trên) đóng, liên lạc di về tới tấp. Tiểu đoàn trưởng ra mặt trận. Anh chính trị viên, một thư sinh nho nhã, ngồi trước bàn bên một ngọn đèn, hoặc vắng mặt trong giây lát. Chuông điện thoại réo luôn. Mấy chú điện thoại ngập tai và mồm vào ống máy. Các hang Bố Bạch lấp lánh ánh đèn. Bố Bạch đêm nay tấp nập. Thung lũng sương mù cuồn cuộn đuốc. Trên bàn, bên cái đồng hồ tay năm kim, đĩa ngô, phần của ban chỉ huy, đến sáng vẫn còn nguyên vẹn. Cả ngày hôm qua, tiểu đoàn nhịn. Sáng hôm nay ăn cháo, và chiều nay mỗi người được chia một dúm ngô. - Gạo đã về chưa? - Chốc chốc anh chính trị viên lại hỏi. - A-lô, đã bắt được liên lạc với đại đội trợ chiến chưa? - A-lô, trung đoàn. Gạo của chúng tôi vẫn chưa về. - A-lô, anh có nghe rõ tôi không? Không có tiếng gì đâu. Giặc ở Khâu Luông cho đến lúc này vẫn chưa biết gì cả. À, có lẽ là tiếng gà gáy dưới sàn nó âm vào máy đấy. Vâng, ta đã bố trí ở Keo Ái, không cho nó rút về Thất Khê... Trong một hang nhỏ, trung đội trưởng Xá hỏi tiểu đội phó Trần Quang Vinh: - Tiểu đội anh có mấy người? - Tám. - Tình hình anh em thế nào? - Tin tưởng, vì anh em quen đường lắm. Anh em chỉ ân hận tại sao đang đóng ở đấy lại rút đi, để nó đến chiếm, rồi bây giờ lại phải lấy lại. - Ấy mình có rút thì nó mới đến. Rử mà lại. Có ai kêu đói không? - Ai cũng ghi quyết tâm, không có ai kêu. Ngày mai thì còn đánh được. Sợ nhịn thì yếu sức, chứ nhịn thì không thành vấn đề. Xá vỗ vai Vinh: - Cố nhé. Trung đoàn ta chưa đánh núi bao giờ. Mà xung phong lên cái dốc ngược ấy thì khó đấy. - Được. Có quái gì. Nói thế, nhưng Vinh cũng thấy việc anh sắp làm là khó. Một cái mỏm cao, dốc gần dựng đứng, lên đã khó, lại không có lấy một thân cây, một mô đất để ẩn nấp. Đứng ở trên mỏm, nó trông thấy rõ mồn một. Lại còn máy bay chặn xung phong nữa chứ. Vinh về đến chỗ tiểu đội mình đóng. Một tổ sinh tử bất ly, bốn người, trong tiểu đội anh, cũng sắp họp xong. Lực, tổ trưởng, cũng tức là anh cả, đọc lại lời quyết tâm chiến đấu của người cuối cùng trong tổ, anh ghi trong sổ anh. - Xung phong nhanh nhẹn, tiêu diệt được hai Tây và cướp súng địch. Anh nói tiếp: - Bây giờ đến lúc tôi và ba chú thực hiện lời quyết tâm của chúng ta. Một lần nữa, tôi nhắc lại. Bốn anh em chúng ta ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu, thân nhau hơn ruột thịt. Lúc sống thế nào, lúc chết chúng ta cũng thế. Sáng em út, mặt bụ bẫm, nói: - Em xin hứa tuyệt đối vâng lời anh Cả, quyết không rời các anh nửa bước. Vinh trước là anh cả tổ này, từ ngày lên tiểu đội phó, anh nhường cho Lực. Nhưng anh vẫn chú ý theo dõi tổ. Tờ mờ sáng. Tiểu đoàn lên đường ra Khâu Luông. Sát chân giặc, trong khu rừng Khuôi Xâm, quân ta len lỏi tiến lên chiếm lĩnh trận địa. Trên ngọn đồi số bốn giặc đi đi lại lại, thỉnh thoảng dồn lại một chỗ. Sáu giờ rưỡi chiều. Đại bác khai hỏa. Moóc-chi-ê, M.G., 12,7 lẫn lộn ríu rít, tằng tặc. Dưới luồng đạn rú trên đầu, đại đội xung kích vượt rừng, leo dần lên ngọn đồi. Sườn dốc, phải đu mình bằng những sợi dây leo quấn chằng chịt. Súng liên thanh của địch quạt xuống. Cành cây gẫy răng rắc, đạn xé lá rừng. Bộ đội đào công sự. Tiếng cuốc xẻng chạm nhau. Lệnh của trung đoàn trưởng: - Bám chặt trận địa. Đúng sáu giờ sáng ngày mai, xung phong. Trời còn mù sương. Lực vỗ vào người Sáng vừa mới ngủ thiếp đi. - Dậy, chú Tư, sắp rồi. Sáng ngồi nhỏm dậy, co ro. Anh Hai đang hý hoáy với lựu đạn, móc túi đưa cho Sáng mẩu thuốc lá hút dở. - Phần chú. Chúng tôi hút rồi. Anh Ba đã mai mịt gọn, rẽ cành lá bước хuóng, đưa cho Lực một gói con: - Còn ít cơm, anh ăn. - Đưa chú Hai. - Thôi, cho chú Sáng. Đại bác nổi tiếng thét xung phong nổi lên. Ba tiểu đội lao lên sườn đồi. Đỉnh đồi khói mù, thấp thoáng mấy thằng giặc. Cỏ gianh trơn tuột. Súng địch nổ tới tấp. Đại liên của giặc ở mỏm bên bắn sang. Tổ của Lực lớp ngóp. Lực thủ thỉ: Đừng chú nào lùi nhé. Trung đội trưởng Xá, một tay nắm đốc kiếm, một tay vung kiếm sáng loáng, hét: - Tiến! Vinh bò bên Lực nói: - Tổ ta tiến lên thôi. - Và Vinh đã lên trước Lực. Trên đồi, trước mặt Lực, hai thằng Ta-bo râu xồm. Lực nhằm - Tôi và chú Tư bắn cái thằng đang chỉ chỉ trỏ trỏ kia, còn chú Hai, chú Ba thì xơi cái thằng trật khăn nhớ. Trông rõ chứ. Đéo mẹ nó, nào ta làm. Một, hai... Hai thằng giặc ngã xuống. Cả tổ reo. Lực nhích lên. - Cứ thế nhớ. Làm vài chuyến thế là tổ ta lập công to. Một tiểu đội trưởng xông lên đỉnh đồi. Vừa giơ súng bắn một tên giặc, thì một tên ở sau lưng anh bắn. - Nó bắn đấy. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 27 Tháng Hai, 2017, 10:30:43 pm Đông, một đội viên loắt choắt, vừa kêu lên thì anh tiểu đội trưởng đã gục xuống. Đông nhảy lên, ôm chầm lấy thằng Tabo vừa bắn. Một thằng Bép, áo dù loang lổ, ở hố bên giơ súng. Anh đội viên thứ hai nhảy lên. Vì mệt và đói, không còn sức nữa, anh lao cả người vào nó, ôm lấy cổ nó, bóp bằng hai bàn tay không sao xiết chặt. Mấy bóng đội viên chạy lên lảo đảo gục ngã xuống đồi. Tiểu đội của Vinh, tổ của Lực vẫn băng băng tiến. Lựu đạn lăng lên. Lực quay lại:
- Giặc nó rú ằng ặc trong hầm. Lên nào, các chú. Lực chúi xuống, một luồng đạn đồi bên vèo vèo qua đầu. Lực quay lại. Sáng thở hồng hộc. Lực chìa tay kéo Sáng lên. Sáng rung tiếng: - Anh Hai chết rồi! Cả tiểu đội đã bị tiêu diệt, trừ tổ của Lực. Vinh thét: - Tiến! Trung đội trưởng Xá vung kiếm: - Các đồng chí tiến. Còn một người cũng lên! Lực nhảy lên miệng hầm. Trung đội trưởng Xá vừa lúc ấy ngã gục, lăn xuống sườn đồi. Lực đứng ghếch chân hẳn lên miệng hầm, tay ghì cò súng. Mắt hăm hở nhìn về phía đồi bên. Ba thằng Bép nhô lên. Súng nổ. Ba thằng rụng xuống. Sau đồi, tiếng giày đinh lẫn tiếng cục cục, chít chít, cục cục, chít chít. Ba thằng Ta-bo hùng hục chạy sang, tiếng kêu man m rợ. Sáng nhỏm lên, ném liền hai quả lựu đạn. Một thằng Tabo đổ. Chúng ào ào sang. Trông trước trông sau, chỉ còn hai anh em. Lực bắn một loạt súng, quay xuống, cùng Sáng mang khẩu trung liên cướp được trên đồi, nặng quá đối với họ. Súng giặc ríu rít quanh người... Trong rừng, bên một cái hố mới đào, trung đội trưởng Xá nằm, các cán bộ tiểu đội tập hợp trước mặt. Anh bị thương ở mông. Đạn còn mắc ở đấy. Ban chỉ huy đại đội hạ lệnh anh phải về hậu phần. Xá trao lại cho anh em kế hoạch lập công của đơn vị và nhắc lại nhiệm vụ: - Tiếc rằng tôi bị thương sớm quá, thành thử kế hoạch lập công của chúng ta chưa thực hiện đến đâu. Mong các đồng chí tiếp tục đánh bật giặc ra khỏi Khâu Luông để giữ lấy lời hứa danh dự của đơn vị ta. Yêu cầu các đồng chí hứa với tôi như thế. Các cán bộ nói: - Chúng tôi nhất quyết thay đồng chí, quyết đánh bật địch ra khỏi Khâu Luông, quyết trả thù cho vết thương của đồng chí. Tiếp viện tới. Lệnh xung phong đợt hai. Xá dùng dằng. Vinh nói: - Đồng chí cứ yên tâm. Đã có chúng tôi thay đồng chí. Đại bác, súng cối, đại liên lại nổ. Vĩnh chỉ huy trung đội Xung phong. - Các đồng chí quyết giữ vững lời hứa với anh Xá nhớ. Xung kích xông lên trong khói. Lực và Sáng dẫn đầu. - Trung đội ta....! Vinh chưa nói hết câu, thì một quả moóc-chi-ê nổ cạnh anh. Một tiểu đội phó chạy lại. Vinh thở dài. Đôi mắt xếch của anh nhìn lên đồi rồi lại nhìn người bạn. - Tôi bị nặng, không tiếp tục được nữa. Đồng chí giúp tôi chỉ huy trung đội, giữ lời hứa với anh Xá... Vinh lê xuống suối. Đạn xén mất hẳn một mảng lưng. - Tức quá đi mất! Anh thỉnh thoảng lại nói vậy. Băng bó xong, anh hậm hực quay lên. Anh chính trị viên đại đội nói: - Đồng chí hãy về nghỉ. - Báo cáo ban chỉ huy, tôi nóng ruột lắm. Về cũng chẳng làm gì. Tôi đã hứa với đồng chí Xá chỉ huy trung đội. Tôi chưa lên được đồi. - Thế là được. Đồng chí phải về. Anh em bị thương nằm la liệt bờ suối. Vinh nói: - Tôi có ý kiến. Chúng ta không chiến đấu được nữa, chúng ta không nên làm bận anh em. Tôi đề nghị anh em nào có thể đi được thì chúng ta về lấy. - Đúng đấy! Vinh dẫn hơn hai chục thương binh đi bộ, vượt đèo đá về Bố Bạch. Trước một trăm thước nghỉ, sau vài ba bước, anh đã phải nghỉ. Xâm xẩm tối, mới lê về tới trạm giải phẫu. Một tiểu đoàn đi lấy gạo vừa về, quăng vội gạo trước hang, vác võ khí lên vai, và như tổ ong vỡ, chạy ra mặt trận… Chung quanh mỏm đồi số bốn, xác xung kích, chỗ một, chỗ vài ba người, máu chảy trên những đám cỏ gianh. Nắng trưa gay gắt. Trên mỏm, xung kích vật nhau với Ta-bo, với Bép. Những báng súng đập nhau chan chát. Lực giằng một khẩu súng trong tay một thằng Đức cao lớn, trên miệng hầm. Cả hai ngã lộn xuống hầm, ôm nhau, đấm nhau, cắn nhau. Lực gỡ ra được, ngồi trên ngực nó nghiến răng bóp cổ thằng giặc nhầy nhụa mồ hôi. Sáng hết đạn, súng không lưỡi lê, lao cả nòng súng vào bụng một thằng Ta-bo. Nó giằng được súng. Sáng nhặt một khẩu súng giặc vứt đó, giáng mạnh vào thằng giặc. Nó kêu rống lên, chạy xuống. Sáng ôm lấy nó. Một thằng Ta-bo khác phang vào người Sáng một báng súng. Sáng ngã trên công sự. Nó dậm giày đinh lên mặt Sáng. Giặc đã nhảy khỏi mỏm đồi. Xung kích loang loáng đuổi. Sáng lớp ngóp bò dậy, toàn thân bê bết đất và máu, mặt thâm tím không nhận ra được. Lực đi qua. Nước mắt Sáng giàn giụa. - Sao trận này, ta không chuẩn bị mác xung kích? Có thì em còn giết được nhiều, anh Cả ạ. - Chú xuống băng bó đi. - Chả cần. Hai anh em ngồi trên miệng hầm. Dưới chân con đường số Bốn chạy, không một bóng người. Bốn cổ ngỗng nhô ra khỏi mây, bắn xả vào các chiến sĩ, trút ét xăng và bom lửa. Cỏ gianh chung quanh đồi cháy ngùn ngụt. Lực và Sáng bùi ngùi, xác hai người bạn trong tổ cháy xèo xèo. Mấy phút sau giặc phản kích, đánh bật ta ra khỏi mỏm đồi bốn. Chiều, tiếp viện tới, công kích cả bốn mỏm đồi. Mười hai giờ đêm, ta hoàn toàn chiếm Khâu Luông. Cỏ đồi nhơm nhớp máu, đất mới lùng nhùng. Giặc chôn vội xác chúng nó trong hầm. Mùi đồ hộp, mùi máu, mùi thịt người, mùi thuốc đạn hòa lẫn lộn, tanh tanh. Trăng cuối tháng chênh chếch mờ chiếu một vệt cỏ nát chạy dài xuống chân đồi. Những vỏ hộp, những mảnh giấy thiếc, lóng lánh. Lối rút lui của Ta-bo và Bép. Năm thằng giặc giơ tay hàng. Lực đứng trên đồi, tóc bơ phờ, áo rách, gió lạnh thổi phần phật, nói với Sáng. - Núi Nhẫm, mỏ Thổ bây giờ thì tép, chú Tư nhỉ? Chú có đói không? Sáng nói: - Giá còn anh Hai, anh Ba thì vui... Sáng được lệnh giải hàng binh về chỉ huy sở trung đoàn. Lực chỉ ước được nằm một cái. Nhưng xung kích được lệnh truy kích giặc cấp tốc. Họ vừa đi vừa ngủ, chân như không dẫm tới đất, xuống đồi. Sáng sớm tới Nà Pá. Trên công sự, ngổn ngang những dù và hai khẩu đại bác lỏng chỏng. Xung kích reo mừng, xục đi các ngả, vui vẻ dẫn về những con lừa cao lớn. Một anh tìm được xác một con trâu giặc đâm chết nhưng chưa kịp làm thịt. Lực nói: - Thế này thì nó chết. Đói rồi. Thế này thì nó chết. Anh em bố trí ở Nà Pá, đợi lệnh. Bỗng một tin đột ngột do bộ chỉ huy chiến dịch loan báo cho toàn quân. Mười giờ ngày mồng ba, Sác-tông(5) rút khỏi Cao Bằng, chưa rõ đi đường nào, nhưng rất có thể về phía Thất Khê. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 27 Tháng Hai, 2017, 10:38:50 pm Đại tướng Tổng tư lệnh điện cho các chiến sĩ.
Suốt mấy hôm nay, các chiến sĩ đã chiến đấu anh dũng. Binh đoàn Lơ Pa-giơ hiện đã kiệt sức, thiếu đạn, thiếu lương, nhiều bộ phận gặp quân ta chạy tán loạn. Chúng chỉ còn một hy vọng là ra sức liên lạc được với binh đoàn Sác-tông từ Cao Bằng xuống để cứu vãn nguy cơ của chúng. Hỡi các chiến sĩ! Thời gian lúc này rất quý giá. Hành động sớm được một phút nào là tiết kiệm được xương máu, lập được chiến công, giành được thắng lợi. Hành động kịp thời, giải quyết chiến đấu cho nhanh chóng, mãnh liệt dồn dập vì dịch đã yếu, tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ để kịp thời chuyển lực lượng tiêu diệt binh đoàn Sác-tông, làm cho cuộc giải phóng Cao Bằng ghi sâu vào sử sách những chiến công lớn của binh đoàn, của Quân đội quốc gia Việt Nam. Quyết tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ! Tin giải phóng Cao Bằng, lời của Đại tướng. Chiến sĩ nhảy nhót. - Bắt sống thằng quan năm Lơ Pa-giơ. Và nếu nó chết, phải đem xác nó về! - Bắt sống bọn Ta-bo để nó gánh gạo cho bộ đội. Khẩu hiệu của bộ chỉ huy chiến dịch tung ra. Các chiến sĩ hào hứng bắt tay nhau. - Hay, hay. Chả nhẽ bộ đội gánh gạo mãi! - Cho Ta-bo gánh hàng tạ. Các cậu chả to nhớn mà! - Bắt cả thằng trùm Ta-bo gánh gạo cho vui! Rồi lệnh của bộ chỉ huy: - Tất cả nhân viên các cơ quan đi gánh gạo, tải thương để các chiến sĩ truy kích. Rồi tin giặc đánh lên Thái Nguyên, tuyên bố hống hách. Đã chiếm được thủ đô quân sự của Việt Minh! Tin Thái Nguyên đã chuẩn bị sẵn sàng chờ giặc. Tin giặc tiến lên Giang Tiên. Cán bộ, bộ đội lại càng sốt ruột: - Đồng bào Thái lại hỏi bộ đội đi đâu thôi! - Đánh mạnh trên này thì nó rút Thái. Họ băng mình vào một cuộc đuổi giặc liên miên. Nhưng núi cao, rừng rậm, tìm Tây như thể tìm chim. Vệ quốc quân sốt ruột. Báo cáo gửi về hỗn độn, mâu thuẫn. Luôn luôn bám sát địch. Vẫn bám sát dịch. Quân báo gửi mật điện về. Đại tá... sốt, ăn vội một nắm cơm, tiêm vội một ống thuốc, lật đật rời Khuôi Xâm. Máy bay giặc rạch nát trời, bay loạn. Nắng thu gay gắt. Những cành ngụy trang lào rào. Từ ngã ba Nà Ngần, đội thông tin liên lạc chạy về, lòng thòng dây điện thoại. Tiểu đoàn... vừa đánh Khâu Luông hấp tấp điều chỉnh đội ngũ, bầu lại tổ dân vận, tổ văn nghệ, sáp nhập đội này vào đội khác. Đại tá ôn tồn: Đừng sáp nhập lung tung các đại đội. Gây nó lại. Giữ truyền thống cho nó. Những anh cấp dưỡng, gồng gánh lủng củng, lơ thơ vài người đeo lựu đạn, chạy như cờ lông công, tốp gánh cơm đi, tốp gánh cơm về, vừa thở vừa nói: - Bộ đội truy kích giặc, bọn mình truy kích bộ đội, mệt gấp đôi, các cậu ạ. Lừa của giặc đánh về. Phấp phới vài gánh dù. Vài thằng tù binh, mũ, áo, quần vải dù, cồm cộm máu... * * * Cái cảnh Bố Bạch trong những ngày đêm cuộc vận động chiến mới lạ lùng thay! Lúa đã đỏ ối. Dân công đã vãn. Vài cáng thương binh. Trong những hang đá quây chầu vào cái thung lũng trước đây âm u, cái ngay chân núi, cái lưng chừng núi, cái gần đỉnh núi, bộ phận hậu cần của các đơn vị tham chiến tấp nập làm việc. Đây là nơi tản cư cuối cùng của dân chúng lánh giặc khủng bố. Nơi ban chính trị trung đoàn... đóng là một cái hang cao. Tua tủa những sào cùng cọc, trông như xóm thuyền chài. Những phản kê để làm cầu. Những phản kê để làm sân phơi thóc. Tầng trên, tầng dưới, những sàn xếp vuông vuông, quây cót như rạp tuồng, nóc là những phiến đá to vươn ra khỏi núi. Trong cùng hang, tối om, màn chàm quây tùm hụp. Nơi ở của nhà chủ. Họ nhường những chổ thoải mái nhất cho cơ quan. Bếp đen ngòm, ngay chỗ ở. Đêm, ông ké, bà ké đi gặt, tinh mơ về. Họ gánh nước, phơi thóc, thổi cơm. Tiếng trẻ khóc. Ông ké vào đưa võng cho cháu, hát buồn buồn. Máy bay rầm rầm rung hang, một chiếc, bốn chiếc. Con chó chạy hết hang này sang hang khác. Gà nhảy loạn xị. Tiếng gà con chiêm chiếp trong một kẽ đá. Bà ké đứng nhìn một con lợn nằm trong khe sâu. Tiếng đàn réo rắt. Người sửa soạn ra đi tiền phần. Người ở tiền phần về đem tin tức. Anh trưởng ban cán bộ ngồi đọc danh sách những đồng chí bị thương vong. Dưới núi, người ta lễ mễ gánh lên khi súng, khi bộ đồ mổ, khi máy ra-đi-ô. Anh phó ban chính trị, ngồi xếp bằng tròn trên giường, ẵm đứa cháu ông chủ, hỏi một thằng quan hai Bép, râu Lý Thiết Quài. Ông ké nhìn cháu, rồi nhìn thằng giặc dữ. Trên sàn cao, một cán bộ thò chân xuống xem, tay cầm một quyển sách mác-xít đang đọc. Bà ké đun nước mời cán bộ. Suốt đêm, tổ ly-tô làm việc bên ngọn đèn dầu le lói. Ru-lô lăn lạch cạch, lục cục. Tiếng đọc bài cho nhau viết. Tiếng nói chuyện rì rầm: Cốc Xá. 477, Lao Kay... Tiếng cười giòn giã, rồi lại tiếng ly-tô, trong khi gió thu ở ngoài hang thổi ào ào, lá bay lách tách, sương tỏa trắng xóa, bụi lất phất lùa vào. Tờ mờ sáng, mặt các chú ly-tô bóng nhãy. Các chú đứng mỗi người một mỏm đá, soát lại những chữ viết hỏng, ẩn hiện trong đám khói mù của cấp dưỡng đưa lên. Đấy cũng là lúc ông ké, bà ké gánh cái gánh lúa nhỏ trở về. Trong hang phẫu thuật của trung đoàn, các chị dân công tình nguyện ở lại để săn sóc thương binh. Đêm đêm, các chị thức đến một, hai giờ. Mờ sáng, các chị đã có nước sôi đưa anh em uống suốt lượt, và nước nóng tự tay các chị rửa mặt cho anh em. Nghỉ tay đun nước, các chị lại hấp lại bông băng. Những ống tre của anh em đi đái, các chị luôn luôn xách đi đổ. Quần áo, chăn màn đẫm máu mủ của anh em mới đến, các chị giặt giũ ngay. Sau bữa cơm của anh em, các chị lúi húi ăn ở một xó hang. Những buổi trưa thường thấy các chị cặm cụi vá quần áo rách cho các chiến sĩ. Thỉnh thoảng những tiếng "anh ạ" trìu mến cất lên se sẽ bên đầu giường. - Anh uống nước anh ạ! - Anh ăn cơm anh ạ! - Anh thay quần áo anh ạ! - Khăn mặt đây anh ạ! Ngoài hang, chốc chốc lại những tốp tù binh dẫn về. Anh bộ đội áp tải lút đầu trong lúa... * * * Ngoài tiền phần, bộ đội truy kích giặc. Lệnh của bộ chỉ huy: - Giặc đã tan rã. Ta phải tự động truy kích. Có bao nhiêu truy kích bấy nhiêu. Không đợi mệnh lệnh. Ra đường cái mà đuổi. Phải chạy nhanh mà đuổi. Ta mệt nhưng địch mệt hơn. Lơ Pa-giơ chạy qua Nà Pá sang bên kia đường số Bốn, về phía tây nam Đông Khê. Một bộ phận nhỏ chiếm giữ hai quả đồi cao nhất trong vùng: 760 và 765. Đại bộ phận kéo vào dãy núi đá Cốc Xá cách đó hai cây. Thư Hồ Chủ tịch gửi xuống: Hiện nay, tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt dịch cho kỳ hết để tranh lấy toàn thắng. Bác theo dõi cuộc chiến đấu anh dũng của các chú từng giờ. Bác sẽ có phần thưởng đặc biệt cho những bộ đội và chiến sĩ nào lập công nhiều nhất. Nào, chiến sĩ nào hứa với Bác quyết giật cho được giải thưởng anh hùng Cao Lạng và đơn vị kiểu mẩu? Bác chờ các chú trả lời ngay. Các chiến sĩ chạy qua đường số Bốn: - Nhớ là Bác theo dõi từng giờ đấy. - Chạy nhanh lên. Cố mà lấy thưởng của Bác. - Mình sưng chân quá! - Lấy tạm dép của mình vậy. - Chạy thế này thì làm thế nào mà cấp dưỡng bắt được liên lạc? - Chúng mình đã quyết tâm nhịn đói ba ngày cũng chịu được cơ mà. - Bắt được Ta-bo thì giải quyết mọi vấn đề. Quân Lơ Pa-giơ chưa kịp làm công sự. Ngày bốn, ta chiếm 760. Giặc ném bom lửa cháy khoảng giữa hai đồi. Ngày năm, ta chiếm 765. Cốc Xá là một dãy núi đá có rất nhiều hang nhỏ. Sườn phía đường số Bốn có con suối chảy thẳng vào, dốc lên thoai thoải. Sườn bên kia là một con chạch, chạy xuống một khoảng ruộng nhỏ, rồi chạy sang một dãy đồi thấp. Ngày sáu. Lơ Pa-giơ đánh điện yêu cầu máy bay bắn phá chặn đường tiến của ta. Binh đoàn Sác-tông về tới đỉnh Quý Chân(6). Đờ la Bôm(7) ở Thất Khê tiến lên chiếm các đồi 515, 608 để đón Sác-tông, Lơ Pa-giơ. Lệnh của bộ chỉ huy chiến dịch: - Nội nhật hôm nay, phải tiêu diệt Lơ Pa-giơ. Để cho nó liên lạc được với Sác-tông thì cuộc chiến đấu sẽ gay go nhiều. Bộ chỉ huy của giặc cũng ra lệnh cho hai binh đoàn phải liên lạc với nhau, ở Quý Chân, nội nhật hôm nay… Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 27 Tháng Hai, 2017, 10:43:05 pm Năm giờ chiều, hai tiểu đoàn xung phong đánh vào tây và tây nam Cốc Xá. Trong hang, núp sau các tảng đá, giặc bắn liên thanh, ném lựu đạn, chống cự. Chiến sĩ trên đồi trước mặt hang, lao xuống:
- Cứ vào bừa đi. - Chúng nó không có tinh thần chống cự đâu. Đánh mạnh - Không cho nó gặp Sác-tông. Trời tối. Các chiến sĩ xục vào các hang đá. - Các anh ơi! Cho chúng em về với Tổ quốc! Mấy người phu trong bóng tối chạy ra. Họ đem theo hai máy ra-di-ô-phô-nі. - Thưa các anh, đây là của thằng quan năm. Nó vừa gọi quan năm Cao Bằng không được, gắt om lên. Chúng em thừa cơ lấy đem ra. - Tốt lắm. Tốt lắm. Nó đâu? - Nó còn ở trong hang kia. Bộ đội ào ào xông vào. Một xung kích đang tiến, bỗng đụng phải một thằng Bép. Nó rên rỉ: - Sếp, tí ti nhước! Sếp, tí ti nhước! Anh cúi xuống, chìa bi đông cho nó uống. Lại một thằng thứ hai bị thương xin nước. Anh lại cho. Trung đội trưởng chạy lại, không nỡ mắng. Chỉ giục: - Mau lên, đồng chí. Nó chạy hết rồi. Đuổi mà bắt sống chúng nó chứ. Anh leo lên hang, ném lựu đạn xuống. Giặc ồ ra khỏi hang. Các hang khác cũng ồ ra. Đêm bỗng đổ mưa. Giặc rút cả lên núi. Các chiến sĩ tiến lên theo. Đêm tối như mực. Bộ đội dò từng hòn đá tai mèo trơn tuột, lần từng cái rễ cây. Tiếng trượt chân. Tiếng lá soạt. Tiếng ới. Tiếng rơi huych xuống khe. Anh em mở to mắt đã đói ngủ mấy hôm để nhận bóng giặc mà bắn. Bấm nhau truyền mệnh lệnh. Tiếng chân lạo xạo trên đá. Một quả lựu đạn nổ. Lửa xanh nhằng. Bộ đội nhìn thấy địch nhảy sang vật nó xuống. Một tiếng Ta-bo. Lưỡi lê đâm theo. Lưỡi lê đâm vào chỗ trống. Tiếng súng rú lên. Địch hú lên. Vòng vây tây và tây nam xiết chặt. Địch dàn hàng ngang đối phó. Sau lưng chúng, phía bắc là một vách núi đá dựng đứng. Mệnh lệnh hỏa tốc: - Đánh thốc sau lưng Lơ Pa-giơ. Trời đã gần sáng. Tình hình cấp bách. Bắc ống nhòm, đã thấy quân Sác-tông đen ngòm đỉnh Quý Chân. Hai tiểu đội xung phong đánh sau lưng địch. Muốn lên, phải leo dây rừng chằng dọc theo vách đá. Dưới chân là vực thẳm. Họ tuột xuống, lại leo lên. Tay họ run run, máu chảy ròng ròng. Bàn chân không giày đau nhức móc vào các khe, các hốc. Báng súng va vào vách, chực đẩy họ xuống vực. Một anh yếu quá, rơi xuống vực sâu, không một tiếng kêu. Một giờ sau, họ trèo lên được mỏm núi. Địch ở ngay trước mặt. Họ đặt súng máy. Một hiệu tay, lựu đạn nổ. Trung liên nhả đạn vào lưng địch. - Việt Minh! Giặc kêu lên những tiếng thất thanh. Hàng ngũ rối loạn. Một thác người lăn xuống chân núi. Ta-bo, Bép chen nhau, xô nhau. Hết lớp này đến lớp khác, ào ào đổ xuống. Chưa bao giờ bộ đội thấy giặc tan rã như vậy. Nhiều anh không kịp né sang bên, bị xô ngã, máu me đẫm mình mẩy. Lựu đạn ta nổ ầm ầm. Súng máy bắn không ngớt. Giặc vẫn lao xuống. Hơn một tiếng đồng hồ, chúng lao xuống. Có thằng chết cắm đầu xuống đất. Có những đống ba bốn chục xác chết. Một bọn đã lấy vải bạt, quần áo buộc vào làm dây leo xuống. Dây đứt. Chúng rơi xuống vực sâu. Hơn ba trăm xác giặc ngổn ngang trên núi, dưới núi. Hàng trăm tay giơ hàng. Ba giờ sáng, trong tác chiến thất của ông Chỉ huy trưởng chiến dịch, lệnh: "Tiêu diệt nốt toán quân Lơ Pa-giơ, chuyển sang tiêu diệt quân Sác-tông" đã đọc đến đoạn cuối cùng: Đêm nay trời mưa, các đồng chí ướt mệt, nhưng lửa của người chiến sĩ Vệ quốc, của người chiến sĩ cách mạng hun nấu tinh thần xung phong của các đồng chí. Quân địch đói rét hơn ta, bị thương và chết rất nhiều. Chúng lại chỉ có tinh thần một lũ bại binh xâm lược. Cho nên ta lại phải cố lên nữa, tiêu diệt cho thật nhiều địch. Mưa mù lại càng có lợi cho ta. Các đồng chí tiến lên! * * * Được lệnh của trung đoàn... suốt đêm mồng sáu, tiểu đoàn... xuất phát từ bản Ca, theo dọc suối đi Quý Chân. Tiểu đoàn để lại một đại đội ở bản Ca. Anh chính trị viên đại đội hỏi An, một đội viên trong tổ súng máy, không nhắc nổi cái nòng súng: - Cậu có đói không? Anh binh nhì không trả lời. Cán bộ cười và nói: - Chịu khó một tí, đói, chúng ta cùng đói. Anh đội viên cười, loạng choạng đứng lên, cái mòng trên vai. Đại đội phó Long, một thanh niên chừng hai mươi tuổi, vỗ vai một trung đội trưởng. - Này, trung đoàn cho biết là Lơ Pa-giơ hôm lên Khâu Luông có đánh điện cho Sác-tông: Anh cứ về, anh sẽ không nghe thấy tiếng súng. Ghê không? - Đề nghị với ban chỉ huy gửi cho nó một quyển Sửa đổi lối làm việc để nó đọc cái mục "bệnh chủ quan". Một đội viên, nghe lỏm được câu chuyện, lẩm bẩm: - Rồi mày khóc với súng của ông! Đại đội lên đường. Họ đã mệt và đói lả. Họ vừa chạy vừa nhai vội mấy quả ổi xanh, hay nhằn những hạt thóc bứt ở dọc đường. Qua những nương bí nương sắn, họ thèm quá. Nhưng họ vẫn lộc xộc chạy, lên dốc, xuống dốc, len lỏi, chui luồn qua bao nhiêu bụi rậm, chân đã nhừ nát, vì dá tai mèo đâm ngược lên gan bàn chân. Hai phần ba vừa đi vừa chống gậy. Mặt mày họ bị xây xát vì ngã, vì cỏ, vì đá, vì dây dợ. Được nghỉ là họ ngồi rũ xuống. Họ đã thức hai đêm liền. Bữa ăn cuối cùng của họ, cách đây một hôm, là bữa sắn nướng vội. Thấy bộ đội kiệt sức quá, anh chính trị viên đã bằng lòng để anh em đào mỗi người ba củ sắn của một cái nương dân chúng. Ăn xong, họ chỉ còn biết gài trên hàng rào mẩu giấy viết vội cho chủ nương: Chúng tôi thuộc đại đội... tiểu đoàn... trung đoàn... đã lấy của ông bà mấy chục gốc sắn. Xin ông bà cứ theo địa chỉ trên mà tìm chúng tôi, để chúng tôi trả tiền. - Giấy bay mất thì làm thế nào? - Thì càng phải đánh thắng. Trời tối đen. Họ sờ lưng nhau, lội hết khoảng suối này đến khoảng suối khác. Trời tang tảng sáng, họ đến chân một quả đồi. Hai chị Thổ mang em nhỏ, báo tin giặc đã về đêm qua. Cuốc xẻng lọc cọc suốt đêm. Họ xoa tay vui sướng. Đây là dãy Quý Chân. Chiều mồng sáu, binh đoàn Sáctông gồm lê dương, ngụy binh, ngót hai nghìn quân, tới đây. Quý Chân là một dãy núi dài bảy cây số, cao từ ba đến năm trăm thước, cỏ gianh rậm rạp. Có tất cả chín ngọn. Sác-tông ra lệnh cho bộ đội hắn sống chết phải giữ lấy cao điểm này làm căn cứ đánh tỏa ra, tiến về Thất Khê. Bị chặn đánh ở đồi 590, hắn đã mất viên quan tư Ti-nô và hàng trăm quân sĩ. Hắn đánh điện cho Lơ Pa-giơ và Lơ Pa-giơ im lặng. Tiếng súng suốt đêm ở Cốc Xá làm cho hắn lo ngại. Núi âm vang. Bốn bề là tiếng súng. Rồi lẻ tẻ những tên Ta-bo sống sót ở Cốc Xá, chạy sang ngơ ngác mất hồn, xin ăn. Quân hắn hoang mang. Phu và dõng đào ngũ lung tung. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 27 Tháng Hai, 2017, 10:50:26 pm Tờ mờ sáng, đại đội xung phong đánh lên đồi. Giặc bị đánh bất ngờ, chạy cả sang đồi cháy trước mặt. Ta thừa thế đánh sang đồi cháy. Chúng chạy dài về Quý Chân. Sác-tông quát bọn trở về;
- Chiếm lại bằng được hai quả đồi! Đồi cháy, giặc đã đào được hơn ba trăm hố cá nhân. Súng bỏ lại trên đồi nhiều. Các chiến sĩ chọn những khẩu tốt để dùng ngay. Giặc để lại một số đồ hộp. Anh chính trị viên xoa tay: - Đánh được giặc là giải quyết vấn đề ăn, các cậu đã thấy chưa? Một đội viên nói: - Nhưng vẫn nhớ cơm. Giá có cơm ăn với thịt bò hộp thì có cái diều nó vẫn hay hơn. An loạng choạng vác nòng súng đê bố trí băn sang Quý Chân, mồ hôi toát ra. Anh chính trị viên hỏi đùa: - Mới có ba bữa mà đói thế à? - Mới có ba bữa thôi ư? - Mặt An ngơ ngác. Anh chính trị viên ái ngại, đưa cho An miếng bít-quy, phần của anh mà anh chưa ăn. An chần chừ mãi mới nhận: - Thế mà tôi ghi quyết tâm nhịn đói bốn ngày! Long bỏ chiếc ống nhòm xuống, nói: - Đại đội chuẩn bị. Có lẽ địch phản kích! Giặc đen ngòm dưới chân đồi. Moóc-chi-ê và trung liên giặc bắn dồn dập lên đồi. Một anh mang đạn vừa lên, mệt quá, anh ngồi rũ xuống. Tiếng thét: - Moóc-chi-ê đấy! Anh không buồn tránh. Tiếng nổ. Nửa người anh băng ra. Máu chảy xuống hầm. Bộ đội nằm rạp cả xuống, chúi đầu trong hầm mà bắn ra. Giặc đã tiến sát. Lựu đạn ném lên. Đồi mịt mù đất và khói. Tiểu đội phó Hiển cắp trung liên nhảy ra, đạn vèo vèo chung quanh anh. Đứng sau một gốc cây, Hiển thúc mũi súng xuống đồi bắn. Một thằng giặc văng súng lộn mấy vòng xuống chân đồi, Hiển vừa cười vừa nói: - Luồng đạn địch còn cao. Các đồng chí cứ bình tĩnh mà lên. Mẹ cha nó, bắn thế kia như đổ đạn lên giời thì đi đến đâu. Hiển lại bắn. Tiếng anh oang oang. - Đứng lên bắn thế này dễ, chúng mày ạ. Tiếng reo hô: - Phải đấy, đứng cả lên! Họ ngóc đầu lên. Một vài người, rồi tất cả mọi người nhảy cả ra. Năm trung liên bắn thành một lưới lửa bao vây sườn đồi. Long đứng bên một đội viên, vỗ yêu vào lưng anh, tay chỉ trỏ. - Nhằm mấy thằng kia mà bắn. Thế nào cũng ăn. - Và quay lại, cầm tay một anh mang đạn đang nằm dán xuống đất lôi lên: - Đưa tôi đỡ, mau lên. Lên mà xem. Chúng nó đang chạy như vịt kia kìa. Từ bảy giờ đến mười một giờ sáng, đại đội chịu năm lần phản kích của giặc. Đại đội chỉ còn một trung đội. Mặt mọi người phờ phạc, không ai nói chuyện với ai. Cấp dưỡng gánh cơm lên, mọi người nhổm dậy. Họ vứt mũ, vứt khăn, bứt cỏ gianh ném vào các anh cấp dưỡng. Họ tung lên trời những vỏ đồ hộp. Họ quăng thuốc lá vào các anh tới tấp. Một cấp dưỡng thấy bạn đồng ngũ chết nhiều, mắt đỏ hoe. - Mãi mới được gặp, thì các anh ấy lại không được ăn! - Và anh khóc nhếch nhác. Ba chị dân công cũng nhô lên. Các chiến sĩ để nắm cơm xuống đất, vỗ tay hoan hô: - Lâu lắm mới được gặp các chị. - Chào các anh ạ. Các chị ngồi xuống bên các chiến sĩ. Một chị nói: - Chúng em đã vận động địa phương mua gà nấu cháo chờ các anh đấy. Moóc-chi-ê của giặc bắn sang, nổ sau đồi. Các chiến sĩ vồ lấy súng. Một anh nói: - Các chị xuống đi. Nó lại sang... Đợt phản kích hết sức dữ dội. Suốt nửa giờ, các chiến sĩ chống đỡ. Dần dần khẩu đội 60 và 82 hết đạn. Chỉ còn một khẩu trung liên của An. An còn có một mình. An vừa lao băng. An vừa mang đạn. An vừa lắp đạn. An vừa bắn. Giặc xông lên ào ạt. An vừa di chuyển súng, vừa làm mọi công việc. Tay anh không một phút nghỉ ngơi. Anh trung đội phó chạy lại. An nói không ra hơi: - Tổ tôi chết hết rồi. Chỉ còn một mình tôi. Báo cáo trung đội phó, mang hộ tôi cái nòng dự bị. Tôi không sao mang nổi. Nói rồi, An chạy đi mang đạn. An chạy lên hốt hoảng, mếu máo, mắt dại đờ. Đạn hết! An chạy lại khẩu súng, đạn giặc bên tai. Quân tiếp viện mà đại đội đề nghị với tiểu đoàn chưa tới. Địch tập trung hỏa lực rất mạnh bắn lên. Chúng chia ba mặt kẹp lấy đồi. Long nói trong điện thoại: - Đề nghị với ban chỉ huy tiểu đoàn cho rút! - Không rút đi đâu cả. Còn một người cũng chiến đấu. Không còn súng máy thì giết giặc bằng lựu đạn, súng trường. Lệnh cấp tốc cho đi thu hết lựu đạn, súng của liên lạc, văn phòng, cấp dưỡng. Long nhắc lại lời nói của ban chỉ huy tiểu đoàn. Lựu đạn và các súng đạn tập trung được cũng vừa tới. Mắt nghịch ngợm, Long vỗ hai tay vào đùi đánh nhịp hát: Lựu đạn súng trường giết Tây. Nào anh em ơi! Anh em ơi! Gậy tầy lựu đạn... Bỗng tiếng hát đồng thanh tiếp nhanh: Gậy tầy lựu đạn Lựu đạn súng trường Gậy tầy lựu đạn súng trường giết Tây. Này anh em ơi... (8.) Họ chia nhau lựu đạn, và hát vang lừng. Vừa bắn súng, vừa ném lựu đạn, họ vừa hát. Vừa lúc ấy, một trung đội của tiểu đoàn bạn được điều sang để cùng chiếm giữ đồi. - Các anh cứ đánh đi. Có chúng tôi sang phối hợp đây! - Hoan hô! - Còn nhiều lựu đạn đây. - Anh cho tôi mượn khẩu súng, mau, để tôi bắn thằng lê dương kia, nó nhâng nhâng nháo nháo cái gì. Hai đơn vị trao cho nhau lựu đạn, súng trường. Thi nhau ném, thi nhau bắn. Trung liên của trung đội bạn nổ rền. Tiếng hát vang lừng, hòa với tiếng reo mừng Tây ngã. Họ vỗ tay, họ vổ súng đánh nhịp loạn... Sác-tông bỏ vội Quý Chân, rút vội vàng về bản Ca bằng con đường suối độc đạo phía đông dãy đồi. Hàng ngũ rối loạn. Không đơn vị nào vào đơn vị nào. Chúng lao đầu chạy. Ngụy binh, phu quăng cả đồ đạc chạy trốn. Chúng chạy như trong một cơn mê loạn, không còn liên lạc gì với nhau nữa. Có bộ phận chỉ mang toàn đạn. Có đơn vị chỉ mang toàn súng không. Chúng quăng đạn đi. Chúng vứt súng đi. Ta-bo nằm lăn ra đường, không chạy. Tới bản Ca, đại dội phục kích ở đó nổ súng. Hoảng hốt trên nét mặt binh đoàn tên quan năm Cao Bằng. Một anh phu xéo cả lên người lê dương chạy. Một viên quan một giữ anh lại, mặt sượng sùng: - Tòi biết anh muốn quay về với Tổ quốc anh. Thôi được. Tôi cũng chẳng giữ anh làm gì. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 27 Tháng Hai, 2017, 10:56:51 pm Những tiếng hô: “Các bạn ra hàng đi, các bạn sẽ được đối dãi theo danh dự nhà binh” ở trong rừng, trên núi đưa ra. Hàng ngũ của Sác-tông tan dần. Trước một vài tên ra hàng. Sau từng đại đội. Rồi từng tiểu đoàn. Hai giờ chiều, bộ đội bắt được Sác-tông. Hắn chỉ còn lại có bộ tham mưu của hắn và hai bàn tay ngượng ngập giơ lên. Tên phản quốc Hai Tu, tỉnh trưởng Cao Bằng, giơ tay sau lưng đám anh em phu. Nhưng anh em xua đẩy hắn ra chỗ bọn sĩ quan tham mưu. Sác-tông lắc đầu nói nhỏ với một sĩ quan của hắn:
- Không hiểu làm sao chỗ nào cũng có chúng nó. Phụ nữ cũng ra trận! Và hắn xoay ra chửi Lơ Pa-giơ, chửi Pi-nhông, chửi Pa-ri, chửi Công-tăng, chửi Các-păng-chi-ê(9), chửi phu lười biếng đã không vận tải vũ khí cho hắn, lại làm mất cái cần vô tuyến điện, khiến cho hắn mất phương tiện liên lạc và chỉ huy. Bản Ca hoang vắng với những nhà sàn bỏ không, đêm hôm nay, rực rỡ đuốc và rầm rập người. Bắt đầu từ đấy, rừng léo nhéo những tiếng reo cười: - Đây rồi. Bắt được rồi! Bép. Ta-bo, lê dương vác súng ra hàng. Đứa nào cũng há miệng, giơ tay ra hiệu xin ăn. Câu đầu tiên của chúng khi đến với ta là: - Xin các ông cho chúng tôi ăn. Chúng tôi đã đói từ bốn hôm nay rồi! Nắm cơm trên tay, bộ đội giơ cao đi lùng giặc. Họ làm loa giấy gọi: - Các bạn Pháp ơi! Các bạn lại đây mà ăn cơm. Lơ Pa-giơ trốn trong rừng Pắc Bó, cho một viên quan hai ra đón ông đại đội trưởng Việt Minh. Và khi ông ấy, tay không vào trại giặc, tên trùm Ta-bo đứng dậy, nộp ông khẩu súng, khóc và hôn ông: - Bây giờ tôi và quân đội tôi đây xin thuộc quyền ông sử dụng. Đây là một tai họa: cái tai họa đầu tiên trong đời tôi, và tôi lấy làm cực lắm! * * * Buổi chiều mồng tám, hai anh thương binh của hai đơn vị, gặp nhau giữa đường, rủ rỉ về Bố Bạch. Cảnh vật yên tĩnh. Họ xuống suối tắm. Anh bị băng đầu kỳ cho anh bị băng tay. Chợt anh hỏi: - Cậu đã biết tin Bác khao chưa? - Chưa. Tắm xong, anh giở tờ thông tin của trung đoàn anh. Hai người ngồi trên phiến đá. Lá rụng quanh mình. Anh đọc: Các chiến sĩ yêu mến! Từ ngày kháng chiến đến nay, trận này là trận đầu tiên bộ đội ta đánh vận động liên tiếp trong mấy ngày. Đó là mấy cuộc thử thách lớn. Các chứ không quản mệt nhọc, đói rét, chỉ ra sức thi đua giết địch, các chú đã đánh tan đoàn quân tinh nhuệ của địch. Các chú đã hoàn thành cuộc thử thách bảy phần mười một cách dūng cảm. Bác và Tổng tư lệnh khao các chú một bữa thịt bò đó. Bác hôn tất cả các chú. - Bác cũng nhé với bọn mình nhỉ. Y như bọn mình viết thư cho nhau. - Cụ xưng là Bác. Nhưng không biết bọn mình gọi là Bác có tiện không? - Thiếu nhi gọi là Bác Hồ còn được nữa là bọn mình. - Thấy nói Bác đi bộ lên, cũng ăn hang, ở hốc như bọn mình, hôm nghe tin bọn mình đói, Bác bắt đem hết ngựa đi tải gạo cho bọn mình. - Bác biết cho mình thế là đủ. - Bây giờ ăn bò của Bác mới ngon đây. Hai anh lại rủ rỉ đi. Đến chân đèo, trông xuống cánh đồng Bố Bạch. Nắng chói lóa. Họ dừng lại. Một anh cười, chỉ đồng lúa: - Lúa đã đỏ hoe rồi. * * * Lệnh truy kích Đờ la Bôm. Hắn chạy về Na Sầm, để B.C.C.P., tiểu đoàn cưng nhất trong các tiểu đoàn nhảy dù, mới xuống ứng cứu cho Thất Khê, chặn hậu. Cầu bản Trại đã bị công binh phá để ngăn địch rút lui. Tiểu đoàn... chạy gấp để chặn đường giặc(10). - Nhanh lên. Chở mảng nhanh lên! - Các đồng chí nào biết bơi thì bơi ngay sang. Chỉ để súng đạn và ba lô lên mảng sang thôi. - Nhanh lên. Đờ la Bôm rời khỏi Thất Khê rồi. Từng đoàn người vội vã qua sông. Không có chèo, họ lấy gậy. Không có gậy, họ lấy tay. Ba cái mảng con vùn vụt ngang dọc trên làn nước trắng xanh. Bộ đội trần trùng trục, lao mình xuống dòng nước. - Tành, tành, tành, tành. Uỳnh! - Mau lên, con khỉ! - Nhảy xuống đi, còn trù trừ gì? - Thưa ông, trung đội một chưa đi. - Trung đội hai đi trước cũng được. Anh trung đội trưởng, bên mình ống nhòm, đôi dép cao su đen, quần nâu bạc xắn quá đầu gối, cũng vừa sang sông. - Tiểu đội tám mốt sang hết chưa? - Thưa ông chưa hết. - Chưa hết cũng đi. Một khẩu cũng được. Theo tôi mau. Bộ đội băng mình theo anh trên con đường dốc trơn. Mấy dân công khiêng súng, hòm đạn nặng trình trịch. - Oạch - Úi chà trơn. - Nhanh lên moóc tám mốt. Lên tới đỉnh đồi, đã nhìn thấy con đường số Bốn, chỗ trắng chồ đỏ, uốn theo con sông Kỳ Cùng đục ngầu. Đằng xa, mấy tên địch còn sống sót, vừa chạy vừa la. - Chà, lại sông. Vừa mới qua sông, giờ lại sông. Toán sau của địch đã gần chạy tới bờ sông. - Thế này thì nó chạy mất hết. - Nhanh lên, xuống mảng nhanh lên. - Tôi xuống trước. - Không, để tôi xuống trước. Hai chiếc mảng con tròng trành. Vừa được vài chuyến, hai chiếc khu trục tới. Tặc, tặc, tặc. Từng tràng đui xết xả xuống. Đại liên bắn lên. - Dàn ra. - Tiếp tục qua sông nhanh lên. Lên đồi bố trí ngay. Họ cứ qua sông. Cố gắng lắm mới sang được hai trung đội. Họ tiến trong mưa đạn của máy bay. Họ chiếm được mấy quả đồi trên đường rút của địch. Khu trục thay nhau quần. Anh bắn đại liên gục. Anh khác tiếp tục bắn. - A, đa-cô-ta bốn chiếc. - Họ nằm ép xuống sườn đôi. - Uỳnh, oàng, oàng. - Không sợ. Cứ bình tĩnh. Súng cối, đại liên, trung liên của ta vẫn nổ dồn về phía địch. Trời sẩm tối. - Chà, thế là mày chết. Trời tối đen như mực. Mưa bắt đầu trút xuống. Nước sông lên to. Họ tiếp tục qua sông. Trên sườn dốc, giữa khu rừng rậm, cơ quan chỉ huy đóng. - A lô, a lô! Địch chết nhiều lắm. Đã sang hết chưa? Bên này đã ra lệnh cho 16 tích cực bám sát, cản địch rồi. A lô! Nhớ động viên bộ đội là kỳ này chúng ta được giữ điểm của chiến dịch đấy nhé. Quyết tâm diệt hết toán địch này đấy. Đói, mỏi, chịu khó nhé. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 27 Tháng Hai, 2017, 11:07:12 pm Trời vẫn cứ mưa. Ướt. Đói. Mỏi. Buồn ngủ. Ngứa ngáy. Sườn đồi dốc, ngồi trơn tượt xuống.
- Vào đây Cương. Ngồi sát vào đây cho đỡ lạnh. - Ngồi sát hẳn vào. - Có điếu thuốc lào xin điếu, cậu. Lạnh quá. Hút cho ấm ngực một tí. Thỉnh thoảng tiếng súng nổ từng tràng, diệt mấy tên địch định lợi dụng đêm tối chuồn. Gần sáng. Vòm trời trắng, mấy thằng lê dương ướt như chuột lột, hốc hác, chạy ra hàng. Rồi hơn một tiểu đội lê dương co ro dưới cành cây, giơ tay thẳng, theo mấy anh cấp dưỡng. Bên kia suối, những lá cờ trắng cố nâng cao. - Đề dác mê vu(11). Lê dương. Nhảy dù. Ngụy binh. Quan. Lính. Chiến trường nhộn nhịp. Chỗ này mấy tù binh. Chỗ kia đống súng đạn. Những cái xác béo nịch nằm ngang, nằm dọc trên sườn đồi. Dọc đường nhựa. Khe suối. Hai chiếc khu trục bay tới, lượn mấy vòng rồi bay đi. - A lô! Chuẩn bị mảng để cho tù binh qua sông nhé. - A lô! Cho dân công sang gánh chiến lợi phẩm. - A lô! Nhớ nhặt mấy vỏ hộp to để đựng thức ăn nhé. - Tiếng anh cấp dưỡng. Đường về bản trơn như mỡ. Trời tối. Mưa ào ào. Tù binh ngã. Tên quan ba Mo-rô, ngừng lại men đường, tay chống chiếc gậy tre, run run: - Tôi đói, rét, và mỏi lắm rồi! Vài đội viên lấy bạt của mình đưa cho mấy tên tù binh ốm yếu. Tới bản. Gian nhà tối om. Bà ké đang ngồi thu hình, giơ đôi bàn tay cóng bên bếp lửa. Bà mới ở đồng về. - Đây là tù binh Pháp chúng con vừa bắt được. Họ chưa kịp rửa chân. Các bà già, trẻ em, phụ nữ đã xúm quanh, dòm ngó. Họ kể cho bà con nghe trận vượt sông Kỳ Cùng, trong lúc máy bay địch bắn dữ dội. Bà con phồng mồm, trợn mắt, theo điệu nói của người kể chuyện. Mấy chị dân công cũng ghé vào xem, líu lô tiếng Thổ, cười khanh khách, chỉ cái mũi chúng dài, dài. Các chú Tây im thin thít, buồn rầu, đầu gục xuống nghĩ ngợi, thỉnh thoảng lấy tay nắn đôi chân, hoặc xin bát nước chè. Chợt một tiếng kêu: - Có phải thằng Hai Nạng đây kia không? Mọi người nhìn về phía một tên ngụy binh ngồi khoanh tay trong một xó, đầu gục xuống. Bà con chạy lại, lôi nó ra. Nó lùi lại. - Đích nó rồi. - Đánh bỏ mẹ thằng Việt gian đi. Họ ngửa mặt nó lên. Một ông ké lấy trong bếp ra một thanh củi xông lại, mắt căm hờn. - Mày chết với ông. Mày dẫn Tây vào để nó chặt đầu con ông. Cả những thằng giặc kia nữa, để chúng nó làm gì? Ông ké vung thanh củi, tàn bay lấp loáng. Bọn tù binh giạt cả ra một bên. Một đội viên giữ cụ lại. Ông ké xô anh, quát: - Để tôi phang cho nó một cái. A, anh là anh Triều phải không? Anh là cháu nó, anh định bênh nó phải không? Các bà ké, các phụ nữ, cả bà ké chủ nhà cũng loay hoay đi tìm một cái que, một cái gậy. Một bà ké tay cầm con dao quắm, khóc nhếch nhác: - Mày đốt nhà tao. Mày bắt cháu tao. Cháu tao đâu? Mọi người: - Các anh để cho chúng tôi giết nó. Ừ những thằng giặc Pháp kia, chúng nó không máu mủ gì với mình, chúng nó ác đã đành, còn mày sao mày chó má thế được. Băm vằm nó ra. Chính phủ hỏi tội. Chúng tôi xin chịu. Một trung đội trưởng đứng ra giữa mọi người. Anh nói: - Xin bà con để cho tôi nói. Tôi cũng là em họ nó. Trong số anh em chúng tôi, có nhiều người có họ với nó. Không phải là chúng tôi bênh nó dâu. Chúng tôi cũng muốn giết nó. Nhưng tội trạng của nó, phải để Chính phủ xử. - Phải giết ngay nó đi. Nó đã đi dự hội nghị Sài Gòn! Nó với thằng Hai Tu, phải đem chôn sống chúng nó đi! - Nó đã giết hại bao nhiêu đồng bào! Họ xô cả lại phía tên Việt gian. Anh trung đội trưởng nói: - Tội ác của nó còn nhiều nữa. Thế nào những thằng bán nước cũng phải đền tội. - Nó phải đền tội ngay bây giờ! Anh để chúng tôi đánh chết nó đi. - Chúng ta phải đợi lệnh Cụ Hồ chứ? Họ lùi cả lại. Ông ké ngồi xuống, rúi thanh củi vào bếp. Các bà ké gục đầu khóc. Ông ké nói: - Chỉ sợ Cụ Hồ tha thôi! - Tùy người Cụ Hồ tha. Những đứa bán nước hại dân thì Cụ Hồ không tha. Chúng ta cứ đợi lệnh Cụ Hồ. Bà con cứ bình tĩnh. (1). Ca dao của trung đoàn đánh Khâu Luông. (2). Le Page. (3). Tiểu đoàn nhảy dù. (4). Rhin. (5). Charton (6). Tức 477 (7). De la Beaите. (8). Bài hát Hò dân cày của Văn Chung (9). Pignon, Paris, Constant, Carpentier (10). Thuật theo báo Tiến mạnh của tiểu đoàn... (11). Hạ khí giới! Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 01 Tháng Ba, 2017, 08:29:29 pm VI Giặc chạy Thất Khê. Giặc bị chặn đánh. Giặc về Na Sầm. B.C.C.P. quỳ xuống hàng. Bộ đội vào Đồng Đăng. Công-tăng bỏ Lạng Sơn, chạy lấy người, bỏ hàng kho võ khí, hàng kho quân trang, bỏ cả xe cộ, bỏ cả giấy má, bỏ cả Việt gian, bỏ cả âm mưu nặn xứ Nùng tự trị, bỏ cả chó béc-giê. Giặc rút về Cao Lộc. Giặc bỏ Lộc Bình. Giặc chạy về Đình Lập. Giặc rút về Móng Cái. Hải Phòng xôn xao. Hà Nội nhớn nhác. Dân chúng nội thành tích trữ gạo. Dân chúng chạy ra vùng tự do. Các-păng-chi-ê bị cách chức. Pờ-lê-ven(1) báo cáo cuộc thất bại thảm thương trước Quốc hội Pháp. Pa-ri truy điệu đoàn quân viễn chinh tử trận. Ô-ri-ôn(2) xin lỗi chúa Ma-rốc về nông nỗi để mất hai tiểu đoàn Ta-bo và hứa báo thù! Và giặc rút Thái Nguyên! Máy bay muối mặt cố làm mờ bầu trời quang đãng của quân dân Cao Lạng. Cố ngăn cản những ngày hội chiến thắng của ta mở tại khắp nơi trong miền mới giải phóng. Cố tàn phá những thành phố, những đô thị đã được trở về Tổ quốc. Cố giết hại dân ta, ngay giữa lúc chúng ta trao trả tù binh cho chúng nó. Những chị dân công gày gò, nhỏ bé, khiêng những tên Tabo, Bép, lê dương to xác, qua những đèo, những suối về Thất Khê, ngước mắt hiền lành nhìn đoàn máy bay lượn trên đầu. Rồi những tiếng bom nổ, tiếng liên thanh bắn rất lâu. Các chị ngơ ngác. Các chị lại khiêng cáng đi. Bọn tù binh có tên nhắm mắt lại, có tên nhìn đâu đâu, có tên nhìn các chị muốn ngỏ ý xin lỗi. Tiếng oanh tạc lại gần hơn nữa. Bọn tù binh không chịu nổi sự tàn nhẫn của chính người nó, nhao nhao lên: - Treo cổ những thằng phi công chó đểu ấy lên! - Treo cổ chúng nó lên! - Nó không những là kẻ thù của các anh, các chị, mà nó chính là kẻ thù của chúng tôi. Chính cái thằng A-li-úc nó ton hót với cấp chỉ huy của các anh, các chị, đề nghị để chúng tôi ở lại, còn cho nó được về với gia đình nó. Bẽ mặt cho nó là cấp chỉ huy của các anh, các chị lại không nghe nó! - Treo cổ thằng A-li-úc lên! - Treo cổ tất cả những thằng A-li-úc lên! - Về Hà Nội, chúng tôi sẽ đập ba toong vào mặt chúng nó. Một đêm tới Thất Khê, chúng thấy dân chúng tới thăm, tặng kẹo, bánh, thuốc lá. Chúng dự buổi lửa trại liên hoan với dân chúng. Phụ lão, bộ đội, trẻ con, đàn bà, Hoa kiều, người Kinh, người miền núi, trà trộn với tù binh, tất cả các giống người. Giữa những âm thanh của ca nhạc, do một đoàn nhạc sĩ biểu diễn, tiếng hát của các em thiếu nhi và các chị phụ nữ bật nổi lên, giọng trong vắt, hát không đúng điệu lắm. Đã ba năm nay, bà con đã phải hát thầm những bài ca cách mạng! Một lính Đức đứng lên hát một điệu Đức. Rồi Hung, rồi Áo, rồi Thụy Sĩ, rồi Ba Lan, rồi Ý, rồi Tây Ban Nha, rồi Ta bo, rồi Pháp, nối nhau hát những bài ca không biên giới. Tù binh về, thao thức suốt đêm. Sáng sớm, một chị cứu thương nói được tiếng Pháp đến băng bó một lần cuối cùng cho một tù binh. Chị hỏi: - Anh có ngủ được không? Hắn lắc đầu: - Cảm động quá. Tôi không sao ngủ được. Một tên cụt tay, ngồi bên, hỏi chị: - Sao các chị tốt thế? Sao các chị lại khiêng chúng tôi? Chị đang tươi cười, mặt chị nghiêm hẳn lại: - Sự thật là chúng tôi thâm thù các anh. Nhưng các anh là bại binh rồi thì chúng tôi đối đãi thế. - Nói xong, chị lại cúi xuống băng bó cho tên tù binh kia. Tên tù binh cụt tay cúi đầu. Một lúc lâu hắn nói: - Chị nói đúng lắm. Chúng tôi cũng nghĩ nhiều. Tôi tiếc rằng tôi cụt, nếu không, tôi sẽ xin ở lại chiến đấu bên các chị. Tôi không ngờ. Tôi thật không ngờ. Tôi tiếc những việc tôi đã làm. Nhưng đã muộn rồi! Chị đã biến vào đám đông. Ngoài sân bay, máy bay đã hạ cánh. Trong này, tù binh còn tíu tít hỏi chuyện các chị, các anh dân công. Chúng viết thư cho những người đã khiêng chúng mà lúc ấy vắng mặt. Chúng thuật trên giấy những tội ác của đoàn quân viễn chinh Pháp. Chúng chia nhau quà bánh, thuốc lá. Chúng chìa tay nhận mỗi người một món tiền của Chính phủ ta gửi cho. Máy bay sắp cất cánh, một lính Pháp mải nói chuyện với một dân công, tất tả chạy đi nhận cái phần của hắn. - Để tôi mua bàn chải và thuốc đánh răng. Đợi bọn chỉ huy ở Hà Nội phát các thứ này, thì đến bao giờ? Chào nhé. Chào nhé. Chào nhé. Qua mỗi người, hắn lại chào. Đến người cuối cùng thì tiếng hắn rung lên. Máy bay đã rời khỏi đất. Những khăn mùi soa vẫy tới tấp về phía dân chúng. Đã xa và cao rồi, mùi soa còn vẫy. Một ông ké, vai đeo ba lô, vừa đi vừa nói: - Ngày mai thằng Tây Hà Nội lại lên ném bom. Đéo mẹ chúng nó! - Thế tù binh ta đâu? - Đấy là lời một anh dân công đang hý hoáy thu dọn cái cáng tre. Dân chúng Thất Khê gọi nhau đào hầm léo nhéo. * * * Chiến thắng lên như nước vỡ bờ. Tin giải phóng các đất đai mới, các thị trấn mới, truyền đi. Các ủy ban chiếm lĩnh đô thị lên đường vội vã. Các ủy ban thu dọn chiến trường đi gấp. Trạm tiếp nhận tù binh không ngớt hỏi cung những tên mới đến. Các ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, bấy lâu rúc rừng, rúc núi, lục tục kéo ra, lủng củng giấy tờ, máy chữ, ba lô. Bộ đội vẫn mải mê truy kích giặc, tiếp sức cho những bộ đội du kích địa phương tỉa đánh. Những bộ phận được nghỉ ngơi nhóm những hội nghị kiểm thảo sơ kết trận đánh của mình, từng tổ, từng tiểu đội, từng trung đội, từng đại đội. Huấn luyện những anh em trong hàng ngũ Pháp tình nguyện ở lại với bộ đội. Bộ đội tổ chức những buổi ca nhạc, những tối kịch cho dân chúng. Các chiến sĩ gánh những gánh lúa nặng trĩu, óng ánh vàng, rào rào như gió thu, về cho bà con. Một hôm, bộ đội tíu tít như gà tìm chuồng. - Làm cái gì mà ồn lên thế? - Không ạ, Đấy, cậu thích cái bút máy của mình thì mình cho cậu, cậu nhường cho mình đi. - Kiếu thôi. Bút máy thì rồi tớ cũng mua được. - Tớ lạy cậu. - Tôi cũng lạy anh. - Đã bảo mà. Đánh thắng là thế nào cũng được gặp mà. - Vừa mới ăn bò khao xong. - Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ! - Chiến thắng tuyệt thật! - Cũng là nhờ nhịn đói khỏe! - Tề chỉnh một chút nào, cậu! - Bác không cần hình thức đâu. - Thắng thì cũng phải thế nào chứ lị! - Để cho tôi đi. Từ ngày tôi vào bộ đội, tôi chưa đề nghị xin xỏ cái gì bao giờ. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 01 Tháng Ba, 2017, 08:31:24 pm Đội viên, cán bộ sửa soạn như ngày Tết. Nhưng Bác giản dị như một ngày thường. Ô tô sình sịch.
- Đấy! Đấy! Các chú nhìn ra đường. Không phải Bác. Bác đi bộ tới giữa lúc các chú không ngờ. Vòng người đang rộng bỗng hẹp lại, hẹp lại. Tiếng hoan hô chạy vòng trên đầu. Mũ ca lô tung lên. Đầu súng nhấp nhô. Kiểng chân, xô cả vào người trước. Lại những tiếng hoan hô. Bác không đứng trên diễn đài. Bác di thẳng xuống bãi cỏ. Bác không đội mũ. Mặt Bác xạm phong trần. Đầu hoa râm đã bạc nhiều. Bác mặc áo hở ngực. Quần Bác nhàu. Chân Bác đi dép cao su trắng, đứt quai sau. - Ồ! Bác không đeo kính. - Bác cũng quàng khăn mặt như ta thôi. - Tưởng cụ Chủ tịch thì ghệt phải cao ngập đầu gối! Bác đi đi lại lại. Bác hỏi các chú có mệt không, có khỏe không. Bác bảo các chú ngồi xuống kẻo mỏi. Bác hỏi các chú có ỉa bậy không. - Thưa Bác không. Bác nhìn về phía có tiếng trả lời. Bác hỏi: - Có thật là không không? - Thưa Bác có đấy ạ. Bác khuyên các chú không nên tiếp tục việc phản vệ sinh ấy. Dân người ta kêu. Mà việc ấy không xứng với bộ đội. - Có đúng không? - Thưa Bác đúng ạ. Bác nói chuyện vui. Bộ đội cười. Khi Bác thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú, các chú thốt nhiên im lặng. Bác nhắc ngay đến thương binh. Bác khuyên phải thu dọn chiến trường ngay, chôn cất tử thi, kẻo sinh bệnh tật. Bác chạm vào chân chú này. Bác đứng trước mặt chú kia. Các chú sinh bạo, nhao nhao xin nói. Bác hỏi một chú ngồi đằng sau, trong bóng tối. Bác hỏi vì sao ta chiến thắng to. Chú nói vì cố gắng. Chú nói vì kỹ thuật tiến bộ. - Thưa Bác, cháu có ý kiến, vì nhân dân ạ. Bác quay lại xem chú nào. Bác khen nói đúng. Chú rú lên vì các bạn chung quanh cù nách. Bác nói về nhân dân. Lời Bác rung lên khi Bác nói đến những nỗi khổ của nhân dân, đến những hy sinh lớn lao, những đóng góp vô lượng của nhân dân, đưa lên cho Chính phủ từng hột cơm, hạt gạo để Chính phủ đánh giặc. Bác nói thêm rằng ta thắng lớn vì chỉ huy sáng suốt và kiên quyết. Bác khuyên các chú phải kính dân, yêu dân, tin dân. Bác khuyên các chú phải triệt để chấp hành mệnh lệnh. Bác phê bình kỷ luật chiến lợi phẩm không nghiêm của một vài cá nhân và đơn vị. - Phải biết tiếc chiến lợi phẩm. Nó là xương máu của chiến sĩ. Đừng có như chú nào Bác gặp hôm qua làm gà mà đốt bốn ngọn nến. Thế là phí. Các chú nên nhớ rằng, nước ta nghèo, dân ta khổ, chúng ta không được phí Các chú bấm nhau: - Chết chưa. Chết chưa. Trúng tủ nhớ. Bác nói về cán bộ: - Cán bộ phải thương yêu đội viên. Nhất là chính trị viên, phải là người chị, người anh, người bạn, người mẹ của đội viên, phải hằng ngày trông nom đội viên, từ cái ăn, cái ở, khi tập luyện, khi mệt mỏi, ốm đau. Mà phải gương mẫu. Đừng có như cái chú chính trị viên nào mồm thì nói phải giúp dân, bắt đội viến quét tước, mà mình thì đi nằm. Các chú nhảy lên, vỗ tay. - Bác mà làm chính trị viên đại đội mình nhỉ. Bác quay về phía cán bộ: - Có đúng không? Cán bộ cười, nhìn nhau, bấm nhau. Mặt Bác hiền từ: - Chú nào có cái tật ấy thì vứt nó đi. Cán bộ phải coi đội viên như tay chân. Đội viên phải coi cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì đánh đâu thắng đấy. Bác nói đã nhiều. Bác không uống nước. Bác hôm nay không ho. Bộ đội còn muốn nghe. Vòng người khép chặt lại. Bác đem vài món quà tặng cho cá nhân nào xuất sắc nhất. Bộ đội yêu cầu Bác cho xem trước. Bàn tay Bác gày gò chìa cho mọi người xem ngôi sao xinh xinh, đỏ thẫm, lóng lánh như ngọc, lóng lánh như mắt các chú trố to nhìn lên. Bác ngồi xuống cỏ, trước các chú. Các chú lần lượt ra trước mặt Bác hứa cố gắng giết giặc, nghe lời Bác dạy. Một đội viên biếu Bác cái hộp mề đay của giặc mà anh chiếm được khi xung phong đầu tiên vào nhà chỉ huy của A-li-úc. Một chú đứng sau nói: - Thưa Bác, Bác cho chúng cháu biết hộp gì đấy ạ. - Các chú lại bắt Bác báo cáo nữa! Bộ đội cười ầm ĩ, khoái trá. Bác giơ từng chiếc mề đay cho mọi người xem. - Thưa Bác, chúng cháu chưa trông rõ ạ. Bác giơ cao hơn. Các chú cười sung sướng, ôm nhau, nghiêng ngả. – Thôi, đừng bắt Bác giơ mãi, Bác mỏi tay. Thốt nhiên im lặng. Bác chạy ra hôn người chiến sĩ cụt tay đã làm cho giặc bạt hồn, một thanh niên gày gò, đang đứng trước Bác hứa quyết tâm chiến đấu. Đầu bạc của Bác sát đầu xanh của người chiến sĩ, tay áo sơ mi lòng thòng quờ quạng bên sườn Bác. Người chiến sĩ trở về chỗ cũ. Tiếng vỗ tay của bộ đội, núi sau vang vọng lại. Bác đứng lên từ tạ ra về, và nói: - Bây giờ thì Bác bận, không thể ở lâu với các chú được. Vậy Bác chúc các chú khỏe và cố gắng. Cố gắng luôn luôn để khi Bác bảo đi là đi, Bác bảo đánh là đánh, đánh là được. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 01 Tháng Ba, 2017, 08:33:54 pm Bội đội lại vận động đi...
Cao Bằng ngập lụt. Dân công đang quét dọn. Nậm Nàng, nơi Sác-tông đốt đoàn xe của nó, các anh tài xế đang hí hoáy chữa, lắp bộ phận máy nọ vào bộ phận máy kia, và đã cho chạy được sáu chiếc. Đông Khê tàn phá không một bóng cây. Một vài tù binh Đức, Ý chạy đi chạy lại. Bông Lau, quãng đường hiểm trở, chật ních những xác xe đổ trong trận phục kích ác liệt năm xưa. Thất Khê xinh đẹp giữa một thung lũng lúa chín vàng. Đồn Khâu Trích, Chấp Giao trên đỉnh núi, đàn quạ đông tụ tán. Miếu Quan Đế đã được gỡ ra khỏi hàng rào dây thép gai trói chặt. Đêm đêm xe chạy, gọi nhau ấm ớ, người xuống người lên. Mấy anh sốp phơ hàng bình Âu líu tíu. Con đường số Bốn thênh thênh, lỗ chỗ vết giày đinh của bộ đội, những giấy gói đồ hộp, mẩu thuốc lá bết xuống đất. Hai bên đường, toàn bụi cỏ um tùm. Ruộng đã bỏ đấy ba năm. Dân chúng trở về. Em nhỏ chạy lon ton. - Thích quá! Lại gặp mày. - Tiếng kêu của anh đại đội trưởng bộ binh, người lùn tè, đeo chiếc kiếm dài, khi gặp anh đại đội trưởng pháo binh, đeo kính trắng. Bộ đội nghỉ. Anh cán bộ bộ binh chỉ lên núi, chỉ lên đồi, chỉ xuống đường, chỉ lên trời, cười tít mắt. - Rộng quá. Của chúng ta hết. Có thể từ đây đi thẳng Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa. Tao có cảm tưởng rằng gió này thổi tới tận Mạc Tư Khoa, và gió từ Mạc Tư Khoa thổi tới tận đây. Gió dân chủ sướng quá. Họ nhìn lên trời, lên núi, lên đồi. Bộ đội cũng nhìn theo. Lừa lại bắt đầu đi, ba thồ lênh khênh, tiếng kim khí lanh canh, tiếng guốc sắt rít rít. Hàm vỗ mông lừa giục: - Nhanh, nhanh. Lời Hàm vẫn lè nhè, nhưng bước đi gọn. ... Bình Gia, cái phố nhỏ bên suối. Đoàn ngựa của nhà buôn đi thủng thẳng. Bắc Sơn, thung lũng đỏ như son. Với tấm lòng son của những anh hùng khởi nghĩa mười năm xưa. Các em đi học chạy tung tăng. Vũ Lễ, một khu rừng cháy, cây là những thỏi than vĩ đại. Con suối chảy róc rách bên một phố vắng người. Đá to dưới suối cùng đàn trâu trên bờ một màu. Các nhà trong phố đã xếp dọn gọn ghẽ. Phố này, toàn là những người đàn bà Cao Lộc, Lộc Bình di cư tới, làm máng, làm nương, sống hiu hắt, sáu năm nay. Họ đi ăn tiệc liên hoan với bà con địa phương để ngày mai về đất cũ. Một bà cụ tám mươi tuổi nói: - Khi chạy giặc, dắt cả trâu lẫn trẻ. Trâu cũng chết nhiều mà trẻ cũng chết nhiều. Bây giờ cũng hãy còn có trâu, có trẻ, nhưng ít thôi. Máy bay giặc khủng bố các thị trấn, các đường giao thông. Nhưng giặc vẫn rút Hoà Bình. Hành lang đông tây bị chọc thủng. Tiếng máy bay như tiếng kêu tuyệt vọng của bầy giặc điên. Cửa khải hoàn rồi lại cửa khải hoàn. Biểu ngữ rồi lại biểu ngữ: - Hoan hô các chiến sĩ dân công! - Dành gạo cho bộ đội. - Pây vận tải se khả sắc(3). Một cái biểu ngữ đồ sộ trên đỉnh đèo Trám. Trước người ta đề:Hoan nghênh Đông Khê giải phóng. Sau lại được tin giải phóng Cao Bằng, họ viết thêm Cao Bằng bên Đông Khê. Rồi nhiều nơi khác được thu hồi. Người kẻ đành dán lên hai tiếng hoan nghênh và giải phóng một tờ giấy khác viết chi chít: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, v.v... Mỗi thứ chữ một kiểu, một thứ mực, tùy theo hôm nhận được tin. Nhiều biểu ngữ tương tự. Có cái đã ghi thêm Lào Cai. Có cái đã ghi thêm Hòa Bình. Có cái, tác giả dành hẳn một khoảng trắng dài ở dưới để điền thêm. Giặc đang cố tăng viện. Súng và tàu bay của Tờ-ru-man(4) tải sang thêm. Gian khổ còn nhiều. - Bác bảo đi là đi, Bác bảo đánh là đánh, đánh là được. Bộ đội đã nghe rõ Bác Hồ. Trên khoảng trắng dài kia của biểu ngữ, tác giả sẽ còn điền thêm nhiều tên đồn, huyện, tỉnh, thành phố, đường xá, hải cảng sắp thu hồi. Và nhất định, tác giả còn phải dán lên nhiều lần giấy nữa, để một ngày nào đó, không xa lắm, nhưng còn mang theo nhiều đau thương, tang tóc, anh chỉ cần viết gọn hai tiếng Việt Nam. 12- 1950 (1). Pléven. (2). Auriol. (3). Đi dân công để giết giặc. (4). Truman. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 05 Tháng Ba, 2017, 10:10:36 pm NHẬT KÝ CHIẾN DỊCH Rút từ sổ tay của Nguyễn Huy Tưởng những ngày tham gia Chiến dịch Biên giới, bắt đầu từ 14 tháng 7 năm 1950 - ngày tác giả “lên đường ra mặt trận một buổi trưa nắng dữ” và kết thúc ngày 7 tháng 11 năm 1950, tác giả kỷ niệm 11 năm ngày cưới của mình bằng một quyết tâm: “Ta nhất định phải có tác phẩm cho kháng chiến, cho chiến dịch”. GHI CHÚ - Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng về cơ bản được giữ nguyên như đã từng được tác giả viết ra trong suốt thời gian đi chiến dịch. - Trong sổ tay của tác giả, có rất nhiều chỗ được viết tắt vì nhiều lí do: Để bảo đảm nguyên tắc bí mật, để viết cho kịp lời kể hoặc đơn giản là để tiết kiệm giấy mực. Nay xin chuyển thành cách viết đầy đủ để bạn đọc tiện theo dõi. - Các chú giải của người biên soạn được đặt trong ngoặc đơn và in nghiêng ngay sau văn bản của tác giả (để phân biệt với những chỗ tác giả cũng sử dụng ngoặc đơn trong nhật ký), hoặc được đánh số và đưa xuống cuối trang. - Những chữ có thể tác giả viết nhầm hoặc đề nhầm ngày ghi nhật ký (hoặc có khả năng bị đọc nhầm do mờ, thiếu nét...), được kèm theo dấu chấm hỏi trong ngoặc đơn (?). - Những chỗ lược bớt vì một lý do nào đó, được ký hiệu dấu chấm lửng đặt trong ngoặc đơn (...). - Một số chỗ xét thấy cần thêm vào nhằm làm rõ ý tác giả và giúp cho bạn đọc dễ theo dõi, được đặt trong móc vuông []. - Phiên hiệu của các đơn vị quân đội được giữ nguyên như sau: a - tiểu đội; b - trung đội; c - đại đội; d - tiểu đoàn, e - trung đoàn; f- đại đoàn. - Trong quá trình làm công việc biên khảo phần nhật ký này của Nguyễn Huy Tưởng, người biên soạn đã nhận được sự chỉ dẫn, góp ý quý báu của nhiều vị lão thành, trong đó có những người đã trực tiếp tham gia Chiến dịch Biên giới. Chúng tôi xin chân thành cám ơn và mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị bạn đọc, đặc biệt là về những sai sót có thể có do hạn chế của người biên soạn. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 05 Tháng Ba, 2017, 10:18:56 pm 14-7-50
Lên đường ra mặt trận một buổi trưa nắng dữ. Từ biệt Thi. Dùng dằng với Kim(1). Cùng đi: Nam Cao, Nguyên Hồng, Lưu Hương, Văn Cao. Tối tắm rửa nhà thím Hằng. Bữa cơm ngon. Uống nhiều chè tàu, không ngủ được. Chưa biết làm gì. Đầu óc lung tung. (1). Kim là bí danh của Hoài Thanh. 16-7-50 Đến Lợi(1). Vui vẻ. Đổi ba lô da, tuy không thích ba lô da. Gặp Phương Mai, Hồng Trang(2), chị Hảo. Tán phét. Tin Triều Tiên đánh mạnh: Mỹ nói khó đánh, vì khác hẳn với quy luật chiến tranh. Trường Chinh làm conférence de presse (họp báo). Gắn liền cuộc chiến đấu của Cao Ly(3) với cuộc chiến đấu của Việt Nam. Gặp Lành. Quốc tế phê bình Đảng mình còn nhiều tác phong phong kiến, ít chú ý đến đời sống của nhân dân. Đúng. (1). Lợi: Lưu Văn Lợi, người bạn thân thiết của Nguyễn Huy Tưởng, bấy giờ công tác ở Phòng Địch vận thuộc Cục Chính trị. (2). Hồng Trang: Cán bộ phụ nữ, có quan hệ khá gắn bó với Nguyễn Huy Tưởng. (3). Trước đây, người ta thường gọi Triều Tiên là Cao Ly. 17-7-50 Đi với Đạo(1). Vững tâm. Đeo bao gạo, mang muối. Gặp Cương. Thương quá. Hỏng một phổi. Một phổi bắt đầu đau. Đau tim. Tràng nhạc đang phát. Lương 3000 [đồng]. Con gái Tú Anh. Lo cho con. Không ăn được. Ngủ ít. Đêm dậy thắp đèn. Ho, mồ hôi trộm. Mặc áo ấm luôn giữa mùa hè. Mỗi khi ho, uống nước vì khan cổ quá. Đẹp. Mắt đẹp. Thanh tú quá. Thương. Biếu 1000. Cương nói: Anh ở nhà thì xin nhận, nhưng đi đường tốn. Vẫn cứ cho. - Trời nắng quá. Qua C.C. (Chợ Chu) gặp bọn Trang. Không thú mấy, lạc với Nguyên Hồng. Qua suối, thác cuốn. Đường hoang vu. Nghe suối chảy ầm ầm là sợ. Cả ngày không ăn, nhưng đi nhanh. Đêm tối, không trông thấy gì. Thấy ruộng vui, nhưng lại lạc vào rừng. Chân đau không biết. Lưu Hương cởi truồng qua suối, đi trên rừng chon von như Tarzan. Hỏi mình có thiếu gì thì biếu vì mình ướt. [Đồng hồ] Movado không việc gì. Thấy lửa. Vào. Một nhà miền núi nghèo. Nấu cháo. Vắt cắn d… Quần đùi ướt như thấy tháng. Một đêm ngủ được. (1). Có thể là Lê Quang Đạo, bấy giờ là Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị, Phó chủ nhiệm Phòng Chính trị mặt trận. 18-7-50 Không có đường. Toàn đi đường piste (đường mòn). Mệt lử. Đầu gối không chịu đi. Đến C.M. (Chợ Mới). Trông thấy đường nhựa, vui quá. Cảm thấy vất vả. Một vai gạo, một vai túi sách, lưng ba lô da. Ghét thằng Tây quá. Vui gặp Nguyên Hồng. Cà phê Trâm ngon. Cùng Nam Cao nói chuyện về các lãnh tụ. Méconnaissance totale de Văn nghệ (Hoàn toàn không hiểu gì về văn nghệ). Không thích cách bợ đỡ, xum xoe chung quanh. Các lãnh tụ chụp ảnh nhiều. Trong khi các lãnh tụ Tàu giản dị. Dọc đường một biển đề (kẻ): Đồng bào thôn Na Ráo phục hồi rẫy cũ 1947. Đêm trằn trọc thương Cương. 19-7-50 L.H. khụng khiệng, nói toàn giọng Nguyễn Dinh Thi. Khinh bạc. Chuyện xây dựng con người, cậu, mình, v.v... Nam Cao và Nguyên Hồng đều không thích. Đến đâu, gục đầu vào ăn. Lười, không chịu làm gì cho đoàn. Yêu cầu cho làm việc nhẹ vì người mệt lắm. Văn uể oải không muốn đi nữa. Trông như cờ bạc bịp. Đi mệt. Nắng to. Đường không một bóng cây. Cùng Nam Cao nói chuyện về mấy ông T.V. (Thường vụ) (...) Suối trong mát như nước đá. Đau cổ muốn sốt. Ngủ một giấc ngon ít mơ. Văn và Lưu tầm quất cho nhau và nói chuyện tếu với nhau. Quí đức độ và sự cẩn thận của Nam Cao. Thấy Đ. hẹp hòi về phương diện đàn bà. 20-7-50 Lại qua Bắc Kạn. Một buổi sáng. Có cái thú đi trên đường nhựa như một buổi sáng ở tỉnh. Nhà cửa trống. Vẫn những cây thông trên đồi. Hàng quán lơ thơ. Cầu phà bị phá. Đến ngồi ở một hàng chỉ bán bánh giò, cạnh cầu phà. Ở đây đã có vết ô tô. Hình như có 4 chiếc chở hàng cho Chính phủ. Anh chủ quán, một thanh niên, khoe có 2 chiếc ở biên giới sang. - Lo, không biết viết gì. - Bộ đội đã bắt đầu tiến lên. Cán bộ tếu nhiều. Ý thức bí mật ít. - Nam Cao: (...) Thiên hạ sai cả, bọn văn nghệ sĩ sai ít, nhưng chính vì thế mà thiên hạ bảo nó sai. 20-7-50 (?) Đợi ô tô. Tối L.L(1) xách cặp đi. Nghe đâu chuyến này có cả VNG(2). Ăn cơm nhà một hàng. Vợ chặt giang làm giấy ở Chợ Chu, bị giang bắn vào con ngươi. Lòa mắt. Chồng hút thuốc phiện: Ngượng mặt quá. Nơi này tứ chiếng: Có cả người ngồi uống rượu trong hàng (1). Lê Liêm, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch. (2). Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Tổng tư lệnh, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Chiến dịch. 21-7-50 Sáng, một người chạy vào hỏi những người đi C.B. (Cao Bằng). Tếu quá. Nguyên Hồng rất lấy làm xót xa. Một trung đội vận tải đi qua, gánh sọt, nửa dưới bọc lá gồi khô, lộ bát, chăn, v.v... Có cả bó rau. Sọt thì ngụy trang lá đã khô, sọt thì lá còn tươi như cây mọc. Trung đội trưởng chít khăn trắng, đeo kính đen, tay đeo đồng hồ tập hợp [bộ đội] ngoài đường, dặn muốn đi đâu phải xin phép tiểu đội trưởng. Giải tán chưa biết chào. Một bà già gánh rau qua. Họ xúm mua. Đều là thiểu số. Đội nón ăn chúp(1), có người khăn xanh bạc. Trẻ có, đứng tuổi để râu có. Họ ngồi trên nón ăn bánh tẻ. Rồi lại một trung đội khác đến. - Đoàn vận tải. Có người phàn nàn phải đem gạo nhà đi. Một người nói lên trên kia có lương của Chính phủ. Một người nói: Khối đấy! Người ta nhao nhao phản đối. Có người ngoài nói: Các ông nên ăn sớm rồi đi thì hơn. Một người vận tải nói: Chúng tôi làm gì có quyền. Trung đội trưởng nói: Thế nào gọi là tập trung? Viết thư cho Lành. Làm nghịch một bài thơ cho Kim: Nhật mộ tòng quân đăng Chợ Mới Mang mang cố hữu mộng trung không. Hồi đầu thâm ức Hoài Thanh diện Huy thủ cao đàm Anh Nghĩa(2) phòng. Tố Hữu dĩ thừa Tuyên huấn vụ Xuân Sanh nan xuất kiểm tra lung. Thử phiên phục vụ Cao Bằng dịch Sáng tác thời lai ý khí hùng. (1). Một loại nón của người Tày (tiếng Tày, ăn có nghĩa là cái, chúp là nón). (2). Huy là Nguyễn Huy Tưởng, Anh Nghĩa là Nguyễn Đình Thi. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 05 Tháng Ba, 2017, 10:28:04 pm 22 - chiều
Dạo chơi Bắc Kạn đêm trăng. Nam Cao nói: Chúng mình bây giờ có tiến, và gần như độc tôn, đã thay thế cho Tự lực văn đoàn rồi. Một người đàn bà gánh gạo nhanh nhảu cho ngủ. Nói chuyện về những ngày Bắc Kạn giải phóng. Qua những nhà Pháp ở, ghê ghê. Gặp chủ quán Phủ Thông. Biết mình hồi trước khi giặc nhảy dù. Ragout (ragu), xúc xích bò. Bộ đội địa phương tấp nập sửa soạn ngày xuất phát. Trang hoàng trụ sở. Ăn: mỗi người một nắm. Với măng. Uống nước lá ổi. Áo chàm bên áo nâu. Có người trông nhanh nhẹn. Có người hát và nói cả hai tiếng văn nghệ. Xà cột, đẫy chàm, ba lô. Mũ nâu có lưới. Hút thuốc lá. Một người quạt. Một người đứng gãi trước cổng lá có hoa đỏ trang trí - Viết thư cho Cương. - Tối đợi ô tô dưới ánh trăng. Đã bốn năm lại trông thấy ô tô, không có cảm giác gì lạ. Thường. Bọn tài vẫn thế. Chen chúc chất như đồ hộp. Một người thanh niên nói chuyện Triều Tiên(1). Nehru(2) đề nghị đứng ra trung gian. Một phái đoàn Mỹ tới Saigon(3). Ngủ la liệt. Đoàn xe bò đi về. Dân công(4) hát. Bọn tài vứt mình xuống Nà Pạc. Mưa. Không có hàng. Tới nhà Công chính. Bộ đội ngủ say trên giường, trên ghế, dưới đất, hoặc màn hoặc không. Mỏi. Lưu Hương tìm một chỗ tốt nhất nằm trước. Ngủ tới gần 9 giờ sáng. Bọn Tấn râu vào tìm. Họ đi trước mấy hôm nay vẫn còn ở đây. Đợi ô tô. (1). Cuộc chiến tranh Triều Tiên giữa hai miền Nam - Bắc (1950-1953). (2). Jawaharlal Nehru (1889-1964); Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ (từ 1947). (3). Trong cuốn Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945-1975) (Nhà xuất bản Giáo dục, 2003) có ghi về sự kiện này như sau: "Ngày 21-7-1950, phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ tới Hà Nội” - không rõ có phải là cùng một sự kiện hay không. (4). Nguyên văn là dân quân. Trong sổ ghi của Nguyễn Huy Tưởng, tác giả dùng phổ biến chữ dân quân và đôi khi cũng viết dân công để chỉ những người dân được huy động đi phục vụ chiến dịch. Nay xin thống nhất lại là dân công cho sát nghĩa. 23-7-50 Không đi đường 3 bis mà đi đường số 3. Ản cơm lạp xường, dưa, măng chua ngon, chè bột báng. Mật ong. Chiều tới chợ Hà Hiệu. Ở đây toàn Ngái. Màn. Có khi màn vải. Ruộm xanh. Dây màn to bản, xanh, một mặt đỏ. Chủ nhà áo chàm đang băm thịt. Người con gái bọc chuối lá, để trên cái rổ trên bếp. Một cái chảo lớn trên kiềng. Nhà lợp ngói. Phên tre dọc. Phần lớn ngang. Trước giường thờ, một cái giường gỗ có khung bóng, đồ sộ. Bàn ghế. Cối đá dài. Cối xay ngô trên giường bên những thúng mủng, thạp. Màn cái còn buông, cái vắt dở. Có cửa ra vào cài then. Dây vắt đầy quần áo chàm. Nhà làm trên đất. Nhiều ngô. Không có ảnh Cụ Hồ. Nhưng có ảnh Staline bé dán vào cột. - Đường đi heo hút. Hàng chục cây số không có hàng. Dọc đường một vài cái bếp với những kiềng bằng gỗ cắm xuống đất. Tưởng tượng một thời cổ, nếu không là đường đá. Cao Bằng xa lắm anh ơi! Mưa. Noria (guồng nước) từ từ rít, như mùa đông. Năm rưỡi, ngoài đồng, trước nhà này, vẫn có người làm chưa về. Nền đất sạch sẽ. Một đôi giầy hài mũi xanh. Vài cái ống xa. Người con gái có chửa hát về đồng quê. Nhà cao lắm. Gà chiêm chiếp chiều. Mưa dầm dề. Không biết làm gì. Lo cho ngày mai. Chuẩn bị gạo, đồ ăn nấu dọc đường. Vũ Cao(1) nói chuyện Cương. Nhớ và thẹn trong lòng. Người Ngái ăn nhiều, không kham khổ như ta. Mua ngô không được. (1). Nhà thơ Vũ Cao. 24-7-50 Đường càng heo hút. Ám ảnh thổ phỉ. Đỗ ở một cái nhà của anh em vận tải. Sửa đường. Cầu không bắc được, người ta làm hẳn con đường lượn vòng. Gỗ ở dọc đường. Xác ô tô. Bên suối, một cái mái, trong có bễ, đe, người ta đang rèn. Lên dốc mạnh. Đá cuội trắng óng ánh. Vị thế núi đẹp. Mây trắng chắn ngang sườn. Vách đá một bên. Có câu viết trên vách: Bể ái nguồn ân khôn xiết kế, Xa xôi nghỉ mát tí cô ơi. Thỉnh thoảng có vòi nước chảy bên đường, trong vách. Lắm lúc như đi vào đồn điền. Mưa. Lắm lúc toàn hơi nước, xóa hết núi, lờ mờ hình đỉnh núi trong mây. Chiều đến Phia Đén. Nơi nghỉ mát của chủ mỏ Tĩnh Túc cũ. Người vào đây nhiều. Có bếp lửa ấm cúng. Nhưng bẩn và dột. Có trồng thông. Có máy nước. Đêm trăng gió thổi ào ào. Sực tỉnh dậy. Ngao ngán vì đã say rượu, nói nhảm đối với Thận và Văn. Trách nhiệm đối với L.H. Không phải vấn đề ghét hắn mà là vấn đề giúp hắn tiến, nói thẳng cho hắn biết những cái xấu của hắn. Ngao ngán thứ hai: đã gây ảnh hưởng không tốt trong đoàn. Mất tinh thần vì ở nhà này người ta thổi nấu đông quá. Củi hiếm, trời mưa bão. Quyết nghị anh em người nào người ấy tự túc về ăn chiều. Hoang mang một lúc. 25-7-50 Lên đèo Léa: 1375 thước. Trời tạnh, gió thổi trong vắt lọt vào xương thịt. Tỉnh táo. Trời như mùa đông. Qua chỗ nghỉ mát, núi non trùng điệp, xa xa các chỏm núi biếc, gần: những đồi mamelons trụi, cỏ xanh sạch như lau. Một mảng núi xen giữa rực rỡ nắng. Dưới chân: một nhà nghỉ mát đỏ. Đường đẹp. Đi lạnh. Rừng xứ ôn đới sạch sẽ. Núi cao. Phong cảnh thay đổi luôn luôn. Thung lũng sâu, thác chảy bọt trắng xóa. Ve kêu. Có chỗ núi mọc lởm chởm hình tháp bút, xanh sẫm trên những núi đồi màu mạ. Những xe bò nằm rúc trong bụi. Dân chúng đang sửa đường, một khoảng lõm sâu bên cầu đổ. Trong thác, mấy người thanh niên gánh đá trên dòng nước, ra đặt lên đường. Lơ thơ vài người. Họ làm những việc đồ sộ. Chiều đến Nguyên Bình. 1 đ 20 quả mận. 10 đ 8 quả mooc coọc. Mấy người Mán đỏ nhảy lấy đá ném chim. Họ đang sửa đường. Nguyên Bình: đồn phá trụi. Phố Khách. Toàn màu xanh, bày ngoài hiên các mẹt: mooc coọc, dưa, mận. Có những ghế tre lên nước bóng như ngà. Miếu Quan Đế nhà dạy học. Nhà lợp ngói đã xám. Chật chội. Bàn vuông. Có nhà gác. Bộ đội đến nhiều. Một dãy cột suốt từ đầu phố tới cuối. Những người đàn bà vạch vú [cho con bú], ngồi trên ghế dài nhìn ra đường. Một em bé đứng bán các maillot (áo may ô). Phở lạp xường. Ít rau cỏ. 360 đ một đôi vịt. Suối lượn bên phố. Lợn trong nhà, ngoài thềm. Cà dái dê tím như nhung. Tối. Đàn ông ngồi trên những ghế cao trầm ngâm không nói. Ngoài phố, dưới ánh trăng, một thanh niên dạy các em Tàu hát những bài hát Việt Nam. Một thiếu nữ làm bánh rợm, đặt trên một mâm vuông đem ra bán, rồi lại thoăn thoắt bưng mâm vào. Bánh rợm tròn trông như bánh bao. Có chuyện phiền trong đoàn. Không chịu đi nấu cơm với Đào. Đi ngủ sớm. Không gây được cảm tình. Ít uy tín. 26-7-50 Từ Nguyên Bình đi Nước Hai, qua Nà Ngạn. Đường tắt, leo trèo rất khổ. Mất dép. Những vách núi trông như động chùa. Có chỗ sâu hoắm vào, hai con bò nằm nhai lại. Thỉnh thoảng bên đường, một cô Mán đỏ đứng bán mooc coọc. Mán áo đỏ hôm nay đi nhiều. Đàn bà mặc lòe loẹt. Đầu cạo trọc, chít khăn vành dây đen đỏ, hai bên cổ áo có những bông đỏ. Có những người hở ngực. Gần Nà Ngạn. Có mương. Một công trình vĩ đại của thực dân. Trước đây có máy phát điện cho mỏ Tĩnh Túc. Lấy nước ở suối vào bể, rồi xây hẳn một lạch nước, dài ngót hai cây số. Ở Nà Ngạn trọ nhà Nùng. Có vài người con gái xinh. Một người áng chừng con gái trưởng, khăn nhung, đuôi gà, nhanh nhẹn đun nước pha chè cho. Nhà sàn lợp ngói, chia hai ngăn. Một người đàn ông đang khoét gỗ làm một cái vỏ cân. Nghe nói là cân thuốc phiện. Trưa nắng hấp. Pha chè vối, trên sàn, có vẻ nhàn nhã lắm. Sau trận uống rượu nói nhảm(1): Người ta lắm lúc phải làm quá đi rồi khi trở về mực thường mới khôn ngoan thêm ra được. (1). Xem nhật kỷ 24-7-1950. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 05 Tháng Ba, 2017, 10:34:14 pm 27-7-50
Ở Nà Ngạn đi Sán Luồng, đi Nước Hai. Bà cụ Nà Ngạn tốt quá. Không biết nói tiếng Kinh, chỉ chỉ trỏ trỏ, ấm ớ. Thấy tôi nằm và thu xếp chỗ nằm, người con đi lấy chiếu, bà cụ ra hiệu bỏ chiếu ra, rồi đi lấy cót cuốn ở chân giường giải lên sàn, rồi ra hiệu giải chiếu lên trên. Rồi lại đi lấy sào để làm cọc mắc màn, lấy dây ngô buộc. Người con trai tôi cho quinacrine(1) lúc mới tới, biếu 4 quả trám. Chị Hoa tốt không kém, thấy khách đến đi đun nước pha chè. Bà cụ có 5 trai 2 gái. Một trai đi bộ đội. Mấy người con gái xinh, đêm nằm cười rúc rích. Sáng ra, mặc áo trắng cụt tay khêu gợi. - Nà Ngạn đi Sán Luồng. Vượt 4 đèo cao vút đỉnh núi, đứt hơi đứt ruột. Chửi Tây. Bộ đội tập mortier (súng cối). Gặp một người đàn ông Nùng, hỏi đi đâu. Nói đi chợ mua đồ ăn để các anh ăn chứ. Cùng đi với Nguyên. Nói chuyện về sự không hiểu văn nghệ của lãnh đạo. Một đám dân chúng tập hợp, toàn chàm, có cả Mán đỏ, Thổ, Nùng để đi nhân công. Nón vành to. Vài người hút pipe (tẩu) cần tre. Có người đeo hồ lô. Một thanh niên đọc tên, đứng giữa vòng người. Hỏi đường chỉ lối lên dốc. Lên dốc nhìn xuống một thửa ruộng ở bên, có một bà cụ và một người con gái rất xinh đẹp đang bừa. Bà cụ cười và nói: - Đường đi Sán Luồng đấy anh ạ. Và bà cụ cười, nhìn mãi. Nguyên vẫy mũ chào. Yêu quần chúng. Xa xa, dưới chân: thung lũng. Xanh núi, ruộng mạ, ruộng nâu, nhà lợp ngói xám, đen. Màu sắc rực rỡ. Tài liệu cho sơn dầu. Đèo cao. Đỉnh núi. Giang sơn Mán. Những người Mán đi về, áo xanh đội khăn, đầu không, cạo trọc để chỏm tóc dài, phần nhiều không biết tiếng [Kinh], đứng nép bên đường nhìn... Một anh dân công già có một hình ảnh: - Mán đỏ ăn mặc như phường chèo. Thấy máy bay cứ nhảy đỏ vào rừng. Ở quê ta mà ở ruộng nhô ra một nố ấy thì phải biết. Người Nùng văn minh hơn. Vào một nhà có ban thờ, chữ nho. Hỏi nước. Một em bé xinh xắn đi đun nước, mắt trong và mặt tươi. Khi đi, biếu một gậy trúc. Một anh Mán đẹp trai, đi với hai chị Mán. Nhanh nhẹn lấy nước sôi ở cái nồi nấu ngô đem ra. Hai chị Mán đi lấy ngô nấu. Anh con trai lấy ra một xâu cá con băm vụn. Các chị khăn vành dây. Đầu cạo nhẵn, khuyên to trong có mũi mác. Họ sống cổ sơ quá. Không có đồ vật gì của văn minh, toàn tre và đá. Trước kia Tây không làm cho họ xuống núi, mà bây giờ họ xuống làm việc với Chính phủ. Tăng gia khỏe. Có những rẫy ngô chạy từ đỉnh núi cao xuống chân. Nhiều ngô quá. Dọc đường có những người Mán bứt thân ngô tước ăn như mía. Tới Nà Bát. Những người Thổ gánh ngô cho Chính phủ. Có những chị xinh xinh. Bên suối ngồi nghỉ lấy thuốc lá cuốn, rồi lấy cái bùi nhùi ra bật lửa hút. Gần Nước Hai. Bộ đội nhiều. Phong cảnh đẹp. Cây xứ ôn đới sạch. Ruộng trong thung lũng xanh tươi. Gặp Nam Cao, Lưu Hương đi đường khác cũng vừa tới bến. Gặp hai người Thổ, nói chuyện trước phong trào Cao Bằng cao, nhưng bây giờ đã xẹp rồi. Tới Nước Hai. Gặp chị Tuyết, làm crème (kem) trứng tuyết. Nhiều nhãn trơ. Dưa. Vẫn rẻ, nhưng giá thực phẩm cũng cao. Hàng hóa, lơ thơ, cũng đắt. Gặp Cần, Hồ Phương, v.v... Cả bọn Tấn. Vui. Đêm trăng. Ăn bánh mì lạp xường quán Bằng Giang. Cháo gà. Cháo gan. Mua dầu con hổ. Định bỏ rơi bọn Đào Tùng đi với [Đại đoàn] 308. Một bà cho ngủ nhờ ở gian nhà không có ai. Mới mất một đứa con trai. Con gái trông giống Hiền(2) như đúc. [Cũng] Xanh xao như thế, thương con. Mẹ bà chủ nhà đã 72 tuổi. Lạc con, sau khi nghe Bắc Kạn giải phóng mới lần lên Việt Bắc tìm con cháu. Đi 3 tháng rưỡi, vì lạc đường. Có khi đi với thổ phỉ. Lạc trong rừng gianh, trông thấy cả hổ. Lạc hai ngày, gặp một bộ đội, mừng quá. [Anh] Nói: Cháu có việc cần chứ không thì cháu đưa cụ ra đường cái, nhưng cũng quay lại hơn một cây số để chỉ đường cho bà cụ. Ra đến đường cái bà cụ mới biết mình thoát chết. Hôm nay nói chuyện với cụ, trong khi cụ ăn cơm nguội, mồm móm. Cháu gái tên là Phương ngồi bên cạnh. Cảm động nghĩ đến nhân dân hướng về Chính phủ Kháng chiến. - Đào Tùng đến tìm. Khó chịu giữa lúc muốn tách đôi đoàn. Uống rượu với bọn 308. Đêm về địa điểm của Tùng. Biết là sẽ phải lộn về Nước Hai, nhưng cũng đi: vấn đề tình cảm! Nhớ Nước Hai. Một ngày rưỡi vui. Nhãn, bánh mì, cháo. Cơm cá và đậu. Gặp bạn, chuyện như pháo ran. (1) Quinacrine: Một loại thuốc chống sốt rét, được sử dụng nhiều trong kháng chiến. (2). Con gái đầu của Nguyễn Huy Tưởng, 8 tuổi, bị kẹt lại ở Hà Nội từ hồi đầu Toàn quốc kháng chiến. 29-7-50 Lên đường đi Quảng Nguyên. Hàng nào cũng bán dưa. Gặp Lê Minh, tuyên huấn Liên khu Việt Bắc. Đường này mới đắp. Đỏ. Lên xuống đẹp. Bên đường có cây nên mát. Lê Minh phụ trách huyện Hòa An. - Hình như các cán bộ đã được phân phối. Tập trung cán bộ trung ương và khu vào tỉnh Cao Bằng để làm cho chiến dịch Cao Bằng. - Đường đi An Lại lầy lội, lên dốc xuống đèo. Chân đau, mồ hôi thấm áo quần. Chiều đến một thung lũng, sau khi qua một quán bán phở thịt lợn của một người đàn bà thiểu số. Có một người đàn ông bán ghép chuối. Nguyên gây sự với họ vì họ nghi không trả tiền. Sau một dãy tảng đá: một em bé Thổ - không biết tiếng Kinh, trên này nhiều người không biết tiếng phổ thông - đứng bán chuối lá và những quả mooc coọc nhỏ xíu - 5 đ 4 quả. Ít nước, một khe nước bẩn. Một giếng đầy rêu. Đoàn ở một nhà to, lợp ngói hoang tàn. Chủ nhà sợ máy bay đã vào núi. Sàn trơ những khúc gỗ ngổn ngang. Buồng có sập đồ sộ, mắc áo tủ lớn. Bàn vuông và ghế. Buồn chiều tối, mỏi, dép hỏng. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 08 Tháng Ba, 2017, 12:17:07 am 30-7-50
Ngủ sớm. Đêm rức chân. Lo đường trường. Dậy, lạnh. Núi mờ sương. Như mùa thu. Nhớ tiếc một cái gì ấm cúng. Chán lữ thứ. Đi từ đây đến An Lại. Con đường này mới làm. Rộng. Đỏ. Đã có không khí chiến dịch. Bộ đội ở QN(1) đi lại. Đoàn vận tải đi lên. Một phụ nữ mỏi mệt, mặt chữ nãi(2). Đoàn vận tải này ở khu 3, có 300 người. Đủ màu sắc, đủ nón, phần nhiều mang ống tre, áo bó mo, nồi, lồng vịt. Đi chân đất. Có người mặt buồn. Có em mới 16, 17. Nắng. Mồ hôi. Xuống dốc, một thanh niên reo: Xuống dốc không phanh. Và họ xuống tuồn tuột. Những đoàn áo chàm. Phụ nữ áo chàm tập trung dưới gốc cây. Ngủ lăn bên bếp. Dưới chân núi, gốc cây, một tốp vận tải. Có vài mái nhà dựa vào chân núi. Lố nhố người đủ các áo. Có người cởi trần ở trong lều ra. Có người trên những bậc đá lưng chừng núi như lối lên. Rồi suối. Rồi bờ suối những hòn đá. Rồi ruộng ngô. Vài người thiểu số đi vào. Phía gần đường, một cô em áo chàm mới lom khom. Cây tỏa khói. Phong cảnh như một tranh Tàu. Đường mới làm xong tháng 4. Mỗi làng phụ trách một khúc. Gần Nà Tú, có con đường tắt ra Cao Bằng độ 4 cây số. Giặc có thể phục kích được. Hàng quán nhiều. Nhưng dân chúng hai bên đường chạy cả. Suốt từ đây đi An Lại, toàn nhà sàn lợp ngói bỏ không, tồi tàn. Thỉnh thoảng một nhà con trên dốc cao. Vài người Thổ ngồi nói lớn. Hàng: bán phở, chè gốc báng, thịt vịt. Dưa, dâu da, quả mề gà. Anh em mỏi mong có cốc bia, nước đá. Phải phản động mới được hưởng. Pha trò: Có một người khổng lồ bước qua các mỏm núi, xách ô tô võ khí về, khỏi phải phiền đoàn vận tải... Những phụ nữ Thổ, nón lệch, thắt lưng quặt, gánh rọ ngô, v.v... Nghỉ hốc núi. Đồn An Lại phảng phất Nguyên Bình. Giặc oanh tạc, chỉ còn mái, ngói, đá. Một đồn công an lẻ loi. Xa xa, dưới nắng dốc Mã Phục cao ngất, ngại ngùng. Nghỉ quán chân đèo. Một quán dựa hốc đá, người chủ nguyên khu 3. Vợ ngồi chênh vênh trên hốc đá. Quán đối diện bán nước chanh và thạch. Chiều mưa, quán nhung nhúc người, ngựa, bộ đội, súng, ba lô, túi dết, lá bánh, người ngồi đứng, hút thuốc lá. Bếp cháy bên cạnh một người mẹ Thổ đang nhai cơm mớm cho con. Tứ hồn nhiên. Nguyên xốc nổi, hay to tiếng, cãi nhau luôn. Đào vẫn nhạt. Tấn râu cười luôn. Ô tô về bên đèo kia. Có vài người gánh những hòm điện trên đèo xuống. Nhà chủ đã bắt đầu ăn. Có cả phụ nữ cầm gậy gánh, đội nón có chóp rất cao. Chóp nón người đàn ông bịt bạc. Nền núi, như có ráng. Bây giờ toàn là phụ nữ áo chàm dài, khăn chàm khăn trắng chống gậy gánh các tay nải chàm, lủng lẳng chiếc hộp sắt tây đun nước hay ngụy trang - đạn - và những hòm munition (đạn). Lội suối ngang đòn gánh. Trước hàng, mấy phụ nữ bán dưa. Có yếm. Đeo xà tích lủng lẳng những đồng bạc Tây. Người đeo bị gạo trắng, quay lại, ngây thơ. Rồi lại đàn ông. Giơ cao gậy xuống đèo. Rồi lại phụ nữ. Tay đeo vòng, người uyển chuyển. Đường cái đá, lại một đoàn phụ nữ gánh các hòm về. Bước dài bên những cột téléphone, dây téléphone rất rõ. Giữa núi xanh, có ánh sáng khoảng núi tiếp nhau. Họ tập trung bật nổi vài cành lá. Những đẫy viền thêu rất cũ, họ đem gánh. Croiser (đi ngang qua) những người gánh củi. Đi xuống suối, bên cạnh một lồng hai con vịt. Hòm sắt gánh ngược, chữ vàng, có chua phấn, trên để một chiếc hải sảo. Hai người chia nhau thuốc lá lưng chừng đèo. Quần vén tới đầu gối, các chị vẫn xuống đèo. Bên tay nải, một nậm đựng nước. Người một tay một vòng, một tay hai vòng. Nhẫn đồng. Áo có revers (cổ áo) đen thẫm. Đoàn đi đã vãn. Một người vận tải trở lại quán. Một vài người công tác ăn bên quán bình tĩnh. Mưa vẫn rơi. Một nửa cầu vồng vắt qua núi. Các chị khỏe quá. Các chị tỉnh thần lắm. Lúc nào cũng vui. Không phàn nàn. Đầm cũng không khỏe bằng. Một chị thùy mị nhìn. Anh em hoan hô. Tây thai lố(3). Một chị nhoẻn miệng cười răng đen, để lộ một nửa hàm răng vàng. Đường lên dốc Mã Phục lởm chỏm đá. Đêm trăng lên. Hai giờ sáng mới có xe GMC(4) đến. Anh em ngủ lăn lóc bên vệ đường. Bốn bề im lặng, núi mỗi lúc một mờ. Trăng tỏ. Ở trên đi xuống những đoàn áo chàm mấy trăm người, phụ nữ, nam giới đủ. Họ đi nhân công, ra tải súng đạn. Họ đi nhiều đường, khi lẻ, khi tụ, đen ngòm, để vào nghỉ một cái bản gần đường. Giữa cảnh núi cao, họ hùng vĩ quá, đòn gánh liền nhau, chạm nhau. Một đoàn đi đường tắt có tiếng phụ nữ trong vắt, êm dịu. GMC đi êm quá. Dưới một mỏm núi vắt nghiêng qua đường - lúc nào cũng như muốn sập đổ, trần nhẵn như vòm Nhà Hát Lớn, le lói ánh đèn, những người thiểu số chuyển những hòm khí giới xuống, chất thành một đống vuông. Họ cởi trần, như những thiên thần bên đống lửa. Nghĩ đến các chị ban chiều. Đêm nay họ phải đi suốt đến Nước Hai, đoạn đường mà mình phải đi thành hai ngày. Vĩ đại, phục các chị quá. Hình ảnh những nón bóng, chóp cao như mái tháp. Áo chàm ăn nhịp với màu sắc núi rừng. Và im lặng như núi rừng. Vững chãi như núi rừng. Bốn giờ sáng tới Q.N. Trần Độ gọi tên mình, anh vui vẻ quá. Vào ở nhà một anh phó ban vận tải. Nhà ở đây rất to. (1). Viết tắt của Quảng Nguyên, tên gọi cũ của huyện Quảng Uyên, Cao Bằng. (2). Mặt cong dài (ngược với mặt chữ điền: vuông vức). (3). Tây chết lố. (4). Xe vận tải của Mỹ trang bị cho Pháp do ta thu được. 31-7-50 Q.N. phố đẹp như phố một tỉnh nhỏ. Nhà cửa đổ. Vài hàng lơ thơ. Ản phở chua. Gặp Nông Ích Đạt(1). Nghe Đạt nói: Các chị rất tinh thần. Rất thích được gánh khí giới. Thích hơn các thứ. Nói: Gánh khí giới để bộ đội đuổi Tây ra khỏi Cao Bằng. Để chúng em lại được họp chợ. (1). Có thể là họa sĩ Nông Ích Đạt, người đã tham gia Hội nghị tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc cuối tháng 9-1949. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 08 Tháng Ba, 2017, 12:21:49 am 1-8-50
Ở tỉnh đảng bộ Cao Bằng. Gặp Tùng, con Khải. Kể thì gọi mình bằng ông, chào mình bằng anh. Tỉnh ủy vào ban cung cấp nhân công cả. Thanh niên Cao Bằng tòng quân nhiều. Nhiều anh mê miền xuôi, không muốn trở về, lấy vợ Kinh. Vợ thiểu số buồn lắm. Nhưng không vì thế mà họ oán Chính phủ. Ruộng cằn: lởm chởm đá. Những tảng đá xếp hàng bên đường như người áo chàm đi. Nhà: toàn nhà sàn lợp ngói, nhà nọ thông sang nhà kia, có tới 5, 6 nhà họp thành xóm. Các chị tinh thần cao. Nhà vắng thanh niên: toàn những người đàn ông ngoài 40, và các thiếu nhi. Có chị nhân công trả 1000 đ, mà không đi, đi gánh bánh úy lạo chiến sĩ. Với Cao Bằng, phụ nữ là một điển hình quan trọng. Nhà sàn phần nhiều to. Giữa và trên cao có ban thờ. Hai bên, trước mặt là sàn. Một bên có cửa thông vào bếp làm ở sau lưng và các buồng trong. Có cửa sổ, chấn song. Dân chúng trên này yêu 174(1) lắm. Đường đi nhiều đá. Có những suối trong, xanh vắt, dưới là đá, nước mát buốt. Lắm cái trông như bể tắm. Nhà làm lẫn màu sẫm với đá. Gặp Đạo [ở] thôn Cốc Đưa. Cách biên giới ngót hai chục cây số. Pháp đã bàn. Việt Minh phải đánh Cao Bằng, Lao Kay để gỡ mặt. Tân Sắc(2) bàn: Cao Bằng không thắng lợi thì mất đường về. Pháp đã nói: Có lẽ Chính phủ Việt Minh sẽ dọn lên BS (Bắc Sơn) để tiện đường sang Tàu. Ở nhà một trưởng thôn. Đi công tác suốt ngày. Về ăn cháo ngô rồi lại sắp đi. Thức ăn rẻ. Ăn bữa cơm toàn mỡ. Nhiều gà. Có lạch nước chạy suốt xóm. Tuyên huấn đã lên đây đông đủ. Xe đạp trên sàn. Hút thuốc lá Gemflower. Tắm rửa. Thoải mái. Ở nhà một dân chúng Thổ. Nghèo, bố hút thuốc phiện bán hết, nên làm ăn khó khăn. Buôn vịt. Nhà nhỏ, bẩn như một bếp. Chung quanh, dưới giường đều là lồng gà vịt. Hỏi có biết Hồ Chủ tịch không? Nói không biết - nghĩa là không trông thấy. Ở nhà bẩn thỉu, không dám treo ảnh Cụ, vì Cụ phù hộ nước Việt Nam, chỉ ở các ban, nhà trưởng thôn mới có ảnh Cụ. Nhà có 5 con, 2 đi bộ đội. Còn 3 con nhỏ. Đứa con giai biết nói tiếng phổ thông, học bình dân học vụ. Đứa con gái út, mắt một mí như Nhật, áo rách vai, nằm lòng mẹ. Bố 48 tuổi, hút thuốc lá, đầu đội mũ xanh choen hoẻn trên đầu. Người vợ nhanh nhẹn, đun nước, rót vào chậu mời mình rửa chân. Rửa chân khoan khoái quá. Sáng dậy đun nước sôi mời uống. Nghĩ đến thân phận Mán, sống cheo leo, trên núi, nay xuống tham gia cách mạng khổ và vất vả. Phục ảnh hưởng của cách mạng. (1). 174: Trung đoàn chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh, do Đặng Văn Việt chỉ huy. (2). Tân Sắc: Nhà thơ Thôi Hữu. 2-8-50 Đổi được ba lô. Lòng nhẹ nhõm. Chính Hữu nói chuyện vào nhà một bà cụ. Trông thấy anh em nước mắt vòng quanh khóc. Bà cụ có con giai đi bộ đội chết. Nay thấy anh em nhìn xem ai giống con mình. Anh em hỏi mua gà. Bà cụ chạy đi vo gạo cho là mua gà thì phải ăn cơm. Ở với con gái. Làng này là Nà Pài. Hôm nay có Hội nghị căn bản của Mặt trận. Không được dự. Đêm nào cũng nằm mê thấy vợ. Ân ái và thờ ơ. Không nghĩ gì đến con. Ở đây chỉ thiếu muối, còn dân chúng tự túc. Giữa ruộng lúa, có xen những thửa ruộng cói xanh sẫm. Vài thửa ruộng đã có lúa chiêm. Chiều, lại sang ngủ nhà ông Pàng. Giữa lúc ông gánh sọt đi ra: Ông đi vận tải. Đứa con lớn tên là Xén, nhanh nhẹn, ngồi bên: Nhà em nghèo lố. Hỏi bố đi vận tải mấy lần, nói nhiều lắm rồi. Hồi 1948, đi T.N. (Thái Nguyên) có mua cái bút máy có 50 đ, viết giỏi lắm, nhưng anh em đánh mất rồi. Đưa ảnh Cụ, kêu: Hồ Chủ tịch. Cho: Vui vẻ cám ơn anh nhớ. Họ đã giải chiếu cẩn thận: chiếu bẩn. Nhà nghèo. Họ phải mượn thứ hộp ở nhà bên đun nước cho chúng tôi, người bên đòi, bắt con sang giả, rồi lấy một ống bơ loay hoay hậm hực làm rồi đun nước. 3-8-50 Đạo sang khai hội. Pha trò, không chỉnh. 4-8, Khoa(1) sang chơi. Cháo vịt. Nguyên pha trò quấy. Tin giặc tăng viện Đông Khê. Cuộc chiến đấu gay go. Buồn. Mượn T.H. 2 tiểu đoàn pháo binh. Từ chối, vì vấn đề quốc tế. (1). Có thể là nhà điện ảnh Phạm Văn Khoa. 5-8-50 Hưng(1) triệu tập văn nghệ sĩ tới sa bàn nói chuyện. Hai hàng rào đi vào sa bàn. Hưng cỡi ngựa đỏ, mặt hồng hào và tươi, đi trước. Anh em theo sau. Sa bàn làm tại một góc rừng. Đắp núi giả, có đường cái, sông chung quanh vị trí N5(2). Pháo đài, khu phố, sân bay, các vị trí chung quanh yểm hộ. Hưng bảo Hiếu chỉ dẫn sa bàn, và bổ khuyết sau, nhấn mạnh về những khó khăn ta cần phải khắc phục. Giặc yên trí về cách bố trí N5. Tin AFP nói Việt Minh đang sửa soạn tấn công những vị trí biên giới, nhưng chúng ta đã sẵn sàng. N5 khó đánh. Thắng lợi thì ảnh hưởng to, nhưng cần nhất là giữ bí mật. Cảm thấy không e ngại Hưng mấy, anh thiết tha với văn nghệ và giao việc động viên một phần lớn cho văn nghệ. Dọc đường, được tin Hưng cho hai văn nghệ [sĩ] đi theo để nói chuyện Cao Bắc Lạng. Muốn rủ Nam Cao cùng đi. Nam Cao không đi. Đi một mình, nhưng ngại. Cùng anh em thảo luận về kế hoạch văn nghệ trong chiến dịch. Bắt tay, mỗi người đi một ngả. Chiều tới L.L. (Lê Liêm). Cậu cậu mình mình. Phó thác công việc văn nghệ cho bọn mình. Cảm thấy nặng nề. Gặp Tâm Trung, Hồng Trang. Thư của Thanh Hương(3) gửi cho, yêu cầu viết thư mặt trận về cho vui cơ quan. Thư của Đạt(4) đượm tình thân. Mưa. Ướt hết. Tới chỗ Hưng. Ăn cơm với Nguyễn Văn Tiến, Bí thư quân sự, nguyên Trung đoàn trưởng BB(5). Trẻ, thông minh. Hay dùng, để nói đùa, chữ bèn. Rất lạ một thanh niên như thế mà giữ nhiệm vụ to, nặng. Tiến nói các đồng chí Giải phóng quân phê bình ta ảnh hưởng chiến thuật Tây. Cân nhắc lực lượng. Chuyện các đồng chí Giải phóng quân, nhiều người không biết chữ, nhưng nhiều kinh nghiệm, ít lý thuyết. Ngô sư phó rất ít học, mà lại là một tay công kiên chiến giỏi. Quân sự Trung Hoa hoàn toàn theo quan điểm nhân dân. Phát huy sáng kiến của cá nhân. Tập trung lực lượng, đánh những trận căn bản. Mất đất cũng không sao. Kinh nghiệm mất Diên An mà đánh thốc vào Mãn Châu. Giải phóng quân có khi truy kích sư đoàn thiết giáp của Tưởng, mà đi bộ một ngày 160 cây số. 7 ngày 1200 cây số, phục trước 4 ngày, quân thiết giáp mới tới. Ta thắng chiến dịch này, sẽ ảnh hưởng lớn trong toàn quốc. Có thể có 5 sư đoàn đánh thốc về Trung du. Chiều tới QU (Quảng Uyên). Không đi qua phố Hưng ngồi trên tảng đá, tay cầm roi ngựa, bảo thư ký viết thư cho Ninh(6). Tối sẩm, ô tô đến. Lên ngồi cạnh Hưng. Đèn pha sáng rực. Xe chạy nhanh. Hưng nói: Impression (cảm giác) lạ. Tối ngủ tại một bản gần đường. Ăn cơm gan lợn, rau rớn. Hưng nói chuyện Cao Bắc Lạng hồi ở Nguyên Bình, ở hang, gần Mán. Đi đất. Có khi lên hang, sau khi khai hội về, phải ngược suối mà lên. Leo thác. Xem carte (bản đồ), Hưng mệt ngủ. Tối, canh. (1). Bí danh của Võ Nguyên Giáp. (2). Mật danh của vị trí Cao Bằng. (3). Tâm Trung: Cán bộ phụ nữ làm công tác dân vận, về sau làm Phó giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Hồng Trang: Xem chú thích nhật ký 16-7-1950. Thanh Hương: Cán bộ phụ nữ làm công tác tuyên huấn, về sau làm Tổng biên tập báo Phụ nữ Việt Nam. (4). Có thể là Nông Ích Đạt (xem chú thích nhật ký 31-7-1950). (5). Trung đoàn Bắc Bắc (viết tắt của Bắc Ninh và Bắc Giang), tức Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308. (6). Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, phụ trách hậu cần chiến dịch. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 08 Tháng Ba, 2017, 12:25:22 am 6-8-50
Cùng An, Khiêm vượt đèo Mã Phục, đi trên đường số 3 về phía Cao Bằng. Hưng tới sau, thấy mình nằm, hỏi có mệt không? Ngủ. Lúc dậy Hưng đang ăn cơm, hỏi: Anh có ăn để chúng tôi bố trí bát đũa. Trưa đi. Qua một con suối, một đội viên cõng Hưng: Theo trò phong kiến. Lên dốc. Mưa. Có những lúc tạnh. Phong cảnh đẹp. Thung lũng nhỏ, núi biếc. Có cây lá màu hung. Tới một hốc, trước có một trung đội gác ở đây. Vài cái lều lơ thơ, một cái bếp, sàn ọp ẹp. Hưng: Tôi lại nhớ hồi xưa, ở hang Mán. Hưng có vẻ sốt ruột. Mưa sùi sụt. Tới một bản con. Người ít. Một trung đội. Mưa. Rét. Đói. Một đội viên đội mưa, cầm súng, áo xanh, mũ phủ vải, đứng gác lom khom bên một rặng trúc. Nhà làm trên mỏm núi, sườn núi ngô thoai thoải. Hưng thảo luận với Phan(1) về việc đi. Nhiều người không tin tưởng. Đói. Ngồi trú mưa ở một nhà con, một người đàn bà Thổ đắp chăn sốt, đứa con gái nằm bên. Mua ngô, nướng và rang. Hưng thảo luận xong, sang cùng Phan, cởi áo hơ lửa, để lộ thân hình trắng nõn. Bên cạnh là một đội viên Thổ. Hưng hỏi chuyện. [Người đội viên] Nhổ tóc bạc cho Hưng. [Hưng] Cười hỏi: Có bạc cả đâu, còn một nửa đen, sao đồng chí lại bảo là bạc mà nhổ của tôi. Hỏi có hay viết thư về nhà không? Ít viết. Chỉ có Tết viết thôi. Ra bộ đội, vì thanh niên đi cả. Hỏi có lấy vợ không? Không, vì lấy vợ thì để [ở nhà] cho du kích. Hưng vịn vai anh ta. Gọi Hưng là ông. Ông trắng quá. Hưng nói vì đi đánh Tây nhiều cho nên trắng. Ra đi, Hưng nói: Không biết hắn có nghĩ gì không, mà hồn nhiên quá. Hưng muốn làm văn nghệ. Đi. Vì lúc ấy hửng. Hưng đi đất. Càng đi, trời càng mù, không trông rõ gì cả. Mình vẫn tin tưởng, nhưng An nói chiều rồi. Hưng có vẻ không vui, nhưng anh pha trò. Đến dây có cái lợi là biết vị trí. Càng gần N5 càng mù. Toàn lau. Ngụy trang. Có tranchée (hào) của Nhật đào. Có người hú. Cấm ho và nói to. Không mưa, nhưng mù. Có người nói: Mình không trông thấy nó, nó cũng không trông thấy mình. Đứng lố nhố trên hào. Đã có binoculaire (ống nhòm) trong hào. Ông nhòm. Anh quân báo, một thanh niên vui vẻ, lắc đầu: Không trông thấy gì. Gió thổi mát. Mình tin rằng mù sẽ tan. Vì gió đánh mạnh. An chụp ảnh(2), Leica avant dernier modèle (máy ảnh Leica kiểu áp chót). Viện trợ(3). Bỗng mình reo lên. Trông thấy rồi. Một viền đỉnh núi trắng, sáng. Gió chọc thủng một màn mù. Chạy cả xuống hào. Nhưng mù lại trở lại. Rồi trong một giây nó lại bay. Phan chỉ trỏ: Kìa con sông Bằng Giang. Kìa đường số 4. Mù lại đặc, rồi lại lộ một dãy núi xanh biếc, có mây trắng chắn ngang. Mọi người hồi hộp. Anh Hòa Lạc đứng im lìm trước mặt, bên một khóm cây. Thất vọng, như một trò ú tim. Mù. Rồi lại im lặng chờ. Hưng đứng sau lưng mình, sờ lưng mình. Hỏi: Anh có hay làm thơ không? Tôi lắm lúc rất muốn làm thơ. Như cái cảnh lúc này, làm được thơ thì thú biết mấy. Rồi thì màn sân khấu mở ra, N5 hiện dần dần, rồi rõ nét, sông Hiến, sông Bằng. Cầu. Hô xuống cả tranchée. An chụp mấy pose (kiểu). Nhấp nhô. Có người nói: Xuống cả tranchée, không thì vị trí bảo vệ sân bay chỉ cách mình có 800 thước. Hưng áp ngực trên thành tranchée, nhìn sang vị trí. Sân bay có một chiếc máy bay. Bên kia sông, phố. Con đường số 4 lượn tít mù. Cảm thấy một cái gì nhơ nhớ, bực bực. Đất nước của mình, mà phải lén lút. Nhưng cũng tự hào. Hưng đã nói đùa. Bulletin (bản tin) của nó hôm nay lại ghi: Rien à signaler (Không có gì đáng chú ý). Có mấy người trong bộ Tổng tư lệnh hỏi: Anh có cảm giác gì không? Anh quân báo cũng hỏi. N5 im lặng như một bức tranh. Không thấy người đi lại. Các vị trí ngoại vi đỏ kệch. Mấy thằng ngụy binh hát tiếng Thổ. Có người nghe tiếng kèn. Hôm nay chủ nhật. Minh! Hưng gọi. Minh đến gần. Hưng hỏi ôn tồn, từng chỗ. Từ pháo đài, sang khu phố. Đâu là nhà chỉ huy, đâu nhà thờ, đâu nhà máy điện. Hưng nhòm ống nhòm. Nhà mái tôn trông như hai cái ao. Trông vào ống nhòm mới rõ. Trời tối dần dần. Chung quanh chỗ chúng tôi mù đã bao phủ. Nhưng N5 còn rõ. Nhà sân bay lên bếp. Hưng: Đ. mẹ nhà tụi ngụy binh không có đèn. Đèn trong phố bắt đầu bật. Hai ba ngọn sáng. Một chiếc đèn ô tô hay xe đạp. Hưng đứng lên thành hầm xem, và hỏi rất tỉ mỉ. Nói: Khác sa bàn nhiều lắm. Anh đưa cho tôi ống nhòm, lúc ấy đã tối. Nhìn vào nom rõ, như cái vườn có điện trước mặt. Hỏi có xem thấy gì không? Anh vui lắm. Nói: Đánh được N5 thì Tây khiếp. Dọc đường về. Anh nói: Phải có vài trận thắng mới được. Ngã nhiều quá. Rét. Uớt. Rách áo. Nhưng mình đi phăng phăng. Về đến nhà quân báo thì đã 1 giờ 30 sáng. Ăn cơm. Hôm nay còn một việc nữa. Một anh nói: Cắt gác. Hưng cười. Hỏi quân báo tình hình ở đây - lúc đi quan sát, có người báo ở vùng gần N5 có vài người đi lại với giặc - các đường, các ngả. Không nên để trung đội quân báo gác không, mình mệt mà họ cũng mệt. Ngủ. Nghĩ đến Cương. Vui. Đêm nay không phải gác. (1). Phan: Có thể là đại tá Phan Phác. Tổng Tham mưu phó. (2). Qua đây có thể đoán An là nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An. (3). Hàng viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp. 7-8-50 Về nhà. Tắm giặt. Ăn bữa cơm ngon, chè đường, thuốc lá thơm. Mọi người thoải mái. Hơ sách vở bị ướt dọc đường. Những chị Nùng, vòng đeo tai lủng lẳng, những anh con trai có yếm cổ. Các chị bưng cơm nước. Thân mật lắm. Hưng sửa soạn tiếp Trần Canh(1). Khai hội với Phan, Tiến, Phương sau khi bọn này ngủ dậy. Và nói chuyện với mình. Cao Bằng đã có phong trào phụ nữ ngay từ 30 - 36. Hòa An phong trào mạnh nhất. Cụ thường ở Sóc Giang. Suối Pắc Bó, nước trong xanh. Gần đó có hang, cửa hang có lau, rét đốt lửa. Ngày ngày ra suối nói chuyện, aménager (bố trí) những chỗ ngồi bên suối. Lúc về Nguyên Bình, Cụ bảo tổ chức, thấy mệt, vì trông lên những quả núi cao ngất. Phải vận động Mán, vì ở đồng bằng nó khủng bố thì sẽ không có đường rút. Nhờ một anh Thổ vận động một người Mán. Tổ chức những lễ dân tộc đoàn kết. Cảm tưởng gặp Cụ: Thường thôi. Không gọi là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mà Cụ cũng không tự xưng. Mở trường quân sự. Văn hóa phải khá. Nhưng cứ lấy những người thất học, vì đứt liên lạc với dưới xuôi, mà Cao Bằng không có người. Trương Bội Công(2) bần tiện, không cho lấy một xu. Ai sang bên ấy cũng không nhờ vả được. Nó làm khó dễ. Không được dạy. Tới trường mà không được đến. Học sinh khóc. Nhớ học sinh. 100 người. Tổ chức tự vệ. Một dao, thừng - để trói Việt gian. Tổ chức tổ bí mật, bán bí mật (ngày ở nhà, đêm lên núi), tổ trung kiên. Danh từ: lên ngủ núi. Nghị quyết không đi giày, không chống gậy. Lau chân sạch rồi mới vào hang. Có những hang to, có colonnade (hàng cột). Hai tháng rưỡi sốt. Có người Thổ cho một chén thuốc khỏi. Có lúc buồn, tưởng như từ hang đến đồng cỏ ngoài hang không xa. Xin Tàu viện trợ. Ngốt người vì sức mạnh của Tưởng. So với mình, bùi ngùi. Được vài khẩu súng đã lấy làm sung sướng. Nó đòi xem lực lượng. Khu chỉ có 6 cây số rộng, 8 cây số dài. Tổ chức cuộc tham quan. Hưng đóng vai thượng cấp. Dẫn đi các nơi. Điều động mít tinh. Nó về làm một báo cáo dài, đã đi tới Ngân Sơn, khen lực lượng mình. Nhưng Hải Thần(3) bảo đấy là Cộng, lại không giúp. Cụ bắt tổ chức đội tuyên truyền trong một tháng. Tính đi khai hội cũng mất 1/2 tháng rồi. Cho người về Nguyên Bình tìm địa điểm trước. Rồi ở Sóc Giang về, tới đâu lấy người tới đó. Tổ chức những lớp huấn luyện. Khủng bố ngày ấy, đốt một cái nhà là to lắm. Viết sách. Cố sức giản dị. Có một hôm, một đồng chí hỏi: Việt Nam độc lập gì nhỉ? Họ không nhớ được chữ thành công. Nhớ lời Cụ dặn: Chú Tống(4) đã biết chính trị thì phải biết thêm quân sự. Chú Hưng biết quân sự thì phải học thêm chính trị. (1). Trần Canh: Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc. (2). Một nhân vật hoạt động ở Trung Quốc, cùng thời với Nguyễn Hải Thần. Nguyễn Tường Tam. (3). Nguyễn Hải Thần: Thủ lĩnh của Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (gọi tắt là Việt Cách). (4). Bí danh của Phạm Văn Đồng. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 08 Tháng Ba, 2017, 12:31:15 am 8-8-50
Ở Pò Na, các anh em chưa đến. Cùng một anh ở ban Nghiên cứu. Trời mưa. Lạnh. Nhà chủ tốt. Ông chủ búi tóc, hút thuốc phiện trong màn. Bà chủ na ná bà cụ Tú. Có con gái đi vận tải, về mệt. Có cô Thêm, người Kinh, bố mẹ chết, ở với chú ở Lạng Sơn, đi bán bánh đa, mất hàng sợ chú đánh, trốn đến đây ở với bà cụ. Nói tiếng Kinh có vẻ không thạo mấy. Ông cụ là bố nuôi Lưỡng Nghi. Có con trai đi bộ đội, tiểu đội phó SL(1). Về nghỉ. Con trai nữa bị giặc bắt. Hai con gái lớn. Mới tản cư về. Hôm nay họ làm bún. Chiều khách. Cho bắp. Đưa tăm. Rửa bát. Cho vay muối. Khác với nhiều nhà. Ông cụ nói: Để các anh đi còn bảo cái nhà ấy tốt. - Băn khoăn về chuyện do Hưng kể. Không biết có làm gì nên chuyện không. Nhà này giồng nhiều thứ: chanh, đào, lê, su su, mướp, đậu đũa, mía. Trước mặt ruộng cả một cánh đồng khá rộng. Con gái út đi chợ về. Chị ta răng bạc. Có đi vận tải. Mệt lắm. Ông cụ có 6 gái. Hai con gái theo chồng đi với Pháp. Con rể cả đi lính cho Pháp, mất tích từ hồi Nhật đảo chính. Ông cụ nói: Hút thuốc phiện có người bán cả nhà cả ruộng, tôi chưa bán. Ở đây chỉ còn có tôi hút thôi. Cụ thương bộ đội, nói: - Trong làng họ bảo bộ đội thì khổ gì. Có biết đâu mưa thế này cũng phải đi, rồi ra mặt trận. Tôi có con đi bộ đội, thấy họ nói bộ đội không khổ, tôi tức lắm. Ý nghĩ: Nếu nghĩ vì ta khó nhọc mới có mà không chia sẻ với người khác thì tức là ích kỷ, tư hữu(2). (1). Viết tắt của Sông Lô, tức Trung đoàn 209, trung đoàn chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh. (2). Có thể nhận thấy lúc này đã bắt đầu phong trào chỉnh huấn và đây là Nguyễn Huy Tưởng tự kiểm thảo mình. 9-8-50 Nóng ruột đợi anh em. Chuyện anh chính trị viên đại đội độc lập: đề cao sự đề kháng của quân đội, gây cơ sở chính trị. Trước hết dùng tình cảm: Tây miệt thị, tình quê hương, bắt gia đình ngụy binh đi, rồi viết thư khuyên nhủ. Bắt tề, ngụy binh ký giấy - có khi ký giấy trắng để họ bắt buộc đi theo mình. Mua chuộc: muối, thuốc lào. Có khi đang ăn, Tây đến, lên núi nhìn nó ăn, bố trí đánh đường về. Thu phục châu mộc: một đại đội trưởng con quan lang, có uy tín. Dân tin tưởng. Con gái đẹp. Tắm suối. Làm chăn màn: nếu có hai gối tức là nó bằng lòng. Đến phải hỏi con gái họ: nếu không họ cho là khinh họ. 10-8-50 Văn nghệ bất lực quá. Cần phải gắng làm tươi đời bộ đội. - Một bộ phận báo chí đã đến. Các anh em không đến đây mà đi công tác cả rồi. Chưa biết xoay xỏa ra làm sao. Nhận xét về các nhà: ít đàn ông, phần nhiều là đàn bà. 11-8-50 Viết: Cách viết kịch(1). Trưa: tán phét với Đạo. Một buổi trưa yên tĩnh, nói chuyện ba lơn. Nắng. Cẩn(2) nói chuyện văn nghệ. Họ có vẻ thú bọn mình, nhất là Nam. Chiều tới Q. Các anh em đi. Nam ngơ ngác, không lộ tình cảm. Thảo luận một vài chi tiết với Chính Hữu. Gặp Thiện, Lê Quân: nói chuyện văn chương, Đảng. Hoạt bát. Bông lơn với Hồng Trang, Tâm Trung. Nguyên ngồi trong quán uống rượu gọi. Cùng bạn uống vài hớp. Bọn cán bộ lộ bí mật quá: nào 308, nào hỏi phụ vận trung ương, nào nói danh từ chiến dịch. Cáu và chỉnh họ. Gặp Khoa: biếu ảnh Quách Mạt Nhược(3). Ô tô đến. Mưa như trút. Họ đi. Ngồi ăn cơm với Thiện, Lê Quân. Chủ hàng làm cơm xoàng. Gọi thêm đồ ăn: vịt mới mổ. Không cần chiều khách. Uống cà phê nhiều. Không ngủ. Nằm bên lò trằn trọc. Bên ngoài, mấy người đợi ô tô. Họ nói chuyện Cụ Hồ. Có một anh ở Hải Phòng câm, nghe tin Cụ sang Pháp(4) chỉ âm thầm sợ Cụ bị Tây ám hại. Khi Cụ về, anh ta buột miệng: Cụ đã về Thần thánh hóa Cụ. Hôm qua, cũng nhà này có người ăn phở, trở ra thì thâm tím cả người rồi chết. Đêm ô tô đến. Người ta trở dậy, gọi nhau ra đi. Trằn trọc mãi: báo cáo cho Lành, thư cho Thi, Kim, Tuân. Đầu gối mỏi. (1). Viết kịch và tổ chức sáng tác tập thể, Nhà xuất bản Văn nghệ, 1951. (2). Xem chú thích nhật ký 12-9-1950. (3). Quách Mạt Nhược (1892-1978): Nhà thơ, nhà viết kịch Trung Quốc. (4). Chuyến thăm Pháp của Hồ Chủ tịch với tư cách là thượng khách của nước Pháp, từ 31-5 đến 16-9-1946 (20-10-1946 về đến Hải Phòng). 12-8-50 Sáng lạnh. Nghĩ đến sự nghiệp. Man mác muốn một buổi diễn kịch huy hoàng. Muốn soạn vài kịch nhỏ về khẩu hiệu cho chiến dịch. Soạn xong cách viết kịch. Thấy nhẹ nhõm một cái gì. Hồng Trang kể chuyện đêm qua đi ngủ nhờ. Hỏi nhà một chị cà phê. Chị ta chờ mãi đến đêm. Chị ta người Kinh lấy chồng trên này. Nam uống rượu, chửi. Nhưng tin có tác phẩm. Định nhan tập nhật ký là N5(1). - Trưa tắm xong, gặp Hữu Mai, Hồng Cư(2). Có consideration (sự coi trọng) với bọn này. Lê Quân lên nghiên cứu và thí nghiệm thanh niên dân chủ nhân dân (tức TNCS) trong quân đội. Đội xung kích theo sau (brigade de choc). Đạo phản đối việc đem đội xung kích lên trên này, vì nó sẽ thất bại trong nhiệm vụ: nếu không tổ chức xung kích địa phương, có sự hướng dẫn của đội xung kích quốc gia. Đọc: Chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế của Lưu Thiếu Kỳ. Đạo tổ chức học bạch thoại. (1). Xem chú thích nhật ký 5-8-1950. (2). Hữu Mai: Nhà văn Hữu Mai Hồng Cư: Phó Chính ủy Trung đoàn 36. 13-8-50 Viết xong báo cáo về cho Lành: sơ sài. Viết một lô thư cho Thi, Kim, Tuân, Mãi(1). Thoải mái. Viết cả thư cho Cương. Trưa gió thu thổi. Cùng Hữu Mai ra Nà Tú ăn bánh chưng, chuối, dâu da. Vào nhà một bà cụ Thổ đang rang ngô. Một con [là] chị Ngơ, mới 19, xinh đẹp, nói chuyện như tiếng đàn. Người chị lớn, Thanh, ăn nói ý nhị: - Đã 2 lần, 4 lần đi vận tải. - Có nặng không? - Cũng nặng, cũng nhẹ. - Vai có đau không? - Có đau, không đau. Chị đi 6 ngày. Đoàn thể cho 50 đ một ngày. Đem gạo và một cân thịt đi. - Chị gánh gì? Chị cười: - Gánh súng đạn. Gánh hòm đạn có 1000 viên. Còn súng thì gánh 4. - Súng của ai? - Của Hồng quân, của Mao Trạch Đông. Chị lại cười. Chị có học bình dân học vụ. Không có chân trong Phụ nữ cứu quốc, Liên hiệp phụ nữ. Ngót 40 tuổi. Hỏi có mấy con. Chị thẹn thò: 4 con rồi chạy vào bếp. Chị cũng không có chồng. Ở đây, nhiều người không có chồng cả. Công việc hoàn toàn do phụ nữ. Công lao con đường An Lại có lẽ cũng là phụ nữ. Làm bật rõ vai trò của họ lên mới được. Một kịch toàn phụ nữ? - Đã bắt đầu nóng ruột ở mãi nhà. * * * Đêm nói chuyện với Lê, Đạo về văn chương. Chuyện Tuân. Tâm sự của những người cán bộ này: muốn làm văn nghệ. Lê; chính trị viên một đoàn chiếu bóng. Đạo: làm báo. Không muốn ở cấp lãnh đạo. Họ rất ngạc nhiên nghe chuyện phụ tình của mình. Lòng họ trong trắng lắm. - Những danh từ: đại táo, tiểu táo. Thuốc lá con cú, con chim, v.v... Người bị đầu độc. (1). Mãi: Nguyễn Văn Mãi, phụ trách hành chính quản trị của Hội Văn nghệ Việt Nam, sau này là Phó giám đốc Nhà xuất bản Văn học. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 08 Tháng Ba, 2017, 12:37:40 am 15-8-50
Sau một đêm nói chuyện vui với bọn 28(1). Duyệt lại: cách viết kịch. Viết thể lệ giải thưởng cho nhật ký, kể chuyện, ca dao. Trời lạnh lạnh. Cảm thấy mình không làm gì. Không đọc, mà cũng lười nghĩ về sáng tác. Trên nhà sàn tối, các cán bộ, nhân viên đã làm việc, đầu cúi xuống bàn, hay những phản kê bên cửa sổ ánh sáng chết rọi vào. Ông cụ chủ nhà. Nói chuyện hai năm tản cư: nhà không trông thấy, bán trâu, bán lợn, làm mướn độ thân, nhà làm không có gianh, rất khổ. Đến khi về, giết lợn ăn mừng. Có con đi bộ đội, con dâu không về, có giỗ bảo nó mới về. Hỏi có yêu Cụ Hồ không? Nói có: Ai không yêu Cụ Hồ? Họ hút thuốc phiện. Mấy người con gái cũng đi vận tải. Chúng tôi cũng đi tiếp tế gạo, vì già chỉ đi hai ba ngày thôi. Còn đi vận tải thì phải lâu hơn. Dự định viết một vở kịch cho 88. Diễn khi vào Nõ. Ngại đi với đơn vị này. Họ có quan niệm sai về văn nghệ, vì anh em văn nghệ động viên hồi thu đông 49. - Gặp Hoàng Đạo Thúy, cục trưởng cục Thông tin liên lạc. Máy vô tuyến điện trong hang. Vài hộp Mobiloil: - Đem hết lực lượng đi. Anh nói. Nói về chiến thuật Scout (hướng đạo) của anh. Phần tử khá giới thiệu cho Cách mạng. Phần tử trung bình cho đi với Nhật (nay cũng gọi ra). Phần tử tồi cho đi học. Viết cuốn Thông tin liên lạc, in nhà in Tiến bộ đẹp. Cười nói: - Mình chính trị hơn các ông ấy nhiều. Mà có phải là scout đâu. Cho một anh công nhân sang nói với công nhân Tiến bộ, thế là xong. Phàn nàn máy Tàu xoàng. Cho vô tuyến điện Hồng Kông, toàn lắp bằng máy Mỹ. Chỉ trích sự làm việc luộm thuộm của Tàu. Phàn nàn ở chi bộ Quốc phòng thiệt thòi. Thiên về quân sự. Vẫn hút pipe (tẩu). Đắp chăn của con gái để lại. Chết năm xưa, nên đi đâu cũng mang đi. Chiều. Thái Duy ở bên kia về(2). Nói hành quân vất vả. Đi luôn 3, 5, 6 ngày mới được nghỉ. Có người phải vứt áo xuống suối, chẳng ai nhặt. Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận phải xé tranh để khỏi mang. Bộ đội yếu, đi té re nhiều, vì ăn nhiều khoai. Súng nhiều. Phải bỏ lại 9 đại bác. Giải phóng quân cho lừa. lừa cũng chết. Bộ đội rục rịch về. Bọn Thái Dũng(3) về nghiên cứu thực địa. Ngày lớn sắp tới rồi. Được tin Tuế(4) cũng về. Nảy ra ý muốn đi pháo binh: em nuôi. (1). Tiểu đoàn 28 thuộc Trung đoàn 88, Đại đoàn 308. (2). Tức là ở bên kia biên giới Trung Quốc về, nơi bộ đội ta sang nhận vũ khí, quân trang quân dụng do nước bạn giúp. (3). Thái Dũng: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 thuộc Đại đoàn 308. (4). Tuế: Doãn Tuế, Trung đoàn phó Trung đoàn 95 pháo binh. 16-8-50 Lên đường với Thái Duy, anh địch vận [Trung đoàn] 88. Trở lại Nà Suối - gửi một số sách ở [Tiểu đoàn] 28. Trong túi còn đúng 20.000 đ. Thái Duy mang ba lô đen trắng bằng chăn. Dù của Giải phóng quân biếu. Gặp Khánh, Vũ. Vũ Yên(1), Doãn Tuế đang thảo luận. Quyết định sang Trịnh Tây(2). Đưa Tâm Trung, Hồng Trang xem nhật ký. Có ảnh hưởng. Thương Tâm Trung. Chị thiết tha với văn nghệ, thật đầm ấm. Lên xe ô tô. Chạy nhanh trên đường núi. Ý nghĩ liên miên. Mù, lạnh, quàng ngoài áo tơi rách. Những người đời vạc làm đêm. Đá. Gỗ. Núi mờ. Có chỗ chỉ còn chỏm. Ruộng nhiều. Vui tự hào. Anh tài xế lái xe tự hào. Trận đánh đang nhộn nhịp. Tây đang ngủ. Nó nghĩ gì đây. Đèn pha chiếu trong sương mù. Đồng bào Thổ, giọng líu lô, khuân những tấm ván nặng lên xe - để làm cầu ở đâu đây. Rồi lại nghĩ đến chỗ họ khiêng xuống. Sự làm việc sốt rét trong đêm. Sao ta lại ngồi trên xe này. Ở đâu lại? Ở nhà đang có một hội nghị báo cáo tình hình quân, dân, chính. Giận họ không cho mình dự, để biết. Xe rú lên. Rồi lại chạy đều đều, rồi chồm lên dữ dội. Những đoàn xe này rầm rộ đi về hàng trăm, đẹp quá. Nó sắp lao mình xuống ruộng, hay đâm vào núi. Rùng mình. Tổng phản công. Chiếm lại Trung du. Xe đỗ tại Lũng Đỉnh. Đường lầy lội. Vào nhà một hàng: ăn bánh mì. Họ quen với tài xế. Câu chuyện thân mật. Ngái ngủ. Gặp một đội viên pháo binh. Sáng ra đường. Một anh tài đã dậy. Hai GMC trong sương. Một quả núi mờ bên một quả núi rõ như hình và bóng. Hai hình ảnh chiến tranh trong sương. Gần biên giới. Núi lởm chởm, phần nhiều đứng một mình, trơ đá. Một cái đồn biên giới trên một mỏm núi dựng thẳng. Dưới là làng mạc. Xe như luồn qua những quả núi cách nhau, ánh sáng rực rỡ. Chưa có gì là khác. Vượt biên giới lúc nào không biết. Không trông thấy đống đá ngăn đôi hai nước. Giải phóng quân đóng ở một làng cạnh đường. Dây nói sơ sài. Họ lầm lì. 10 giờ tới Hoa Đồng. Vào phố xem. Ô tô chạy mất. Chạy hộc tốc đi tìm ba lô để trên xe. Chân đất dận trên đá nhọn không biết. Đồng đất nước người. Không có nhân dân tệ. Lo. Tài liệu. Tiền. Gặp Uớc, Minh(3). (1). Khánh: Có thể là Cao Văn Khánh, Đại đoàn phó Đại đoàn 308. Vũ: Có thể là Vương Thừa Vũ, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308. Vũ Yên: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102, đơn vị chủ công của Đại đoàn 308. (2). Trịnh Tây. Một địa danh thuộc Trung Quốc, sát biên giới với Việt Nam. (3). Ước: Nguyễn Đình Ước, trong Chiến dịch Biên giới là Chính trị viên Tiểu đoàn 40 pháo binh. Minh: Hoàng Đình Minh, bấy giờ là cán bộ cấp đại đội. 18-8-50 Ở Đại đoàn. Hút Eagle(1). Gặp bọn Minh Bắc, Hồ Phương. Chẳng có gì là đất khách. Sự giúp đỡ của Trung Quốc rõ. Trang bị như Tàu. Mũ sao bát nhất. Chiều ra đứng nói chuyện trên đường cái. Hóng mát. Dân chúng kiện bộ đội Điền Tây: lấy củi, tắm truồng, theo gái. Dân đây lạc hậu, còn nhớ Tưởng [Giới Thạch]. Hay ăn cắp. Mất dép ở đây không biết do đội viên hay dân. Phong cảnh không có gì là khác. Đại đoàn biếu mỗi người một vạn. Hiếm nhân dân tệ quá. Tới Trần Độ dự kỷ niệm 19-8. Ở trên gác. Có tiệc trà. Thuốc lá Lion. Giường trải khăn trắng, dưới lót vải sơn tốt. Tối diễn ương ca, hát Hoa Đồng vui, Con chim kháng chiến. Téléphone nói suốt ngày. SL(2) được trang bị đầy đủ. Anh em về chế biến quần áo, không thích mặc lối Tàu. Bị phê bình là tiểu tư sản. Kể cũng khắc nghiệt. (1). Thuốc lá Con cú. (2). Xem chú thích nhật ký 8-8-1950 19-8-50 Phố không có gì là Tết(1). Nhưng quang cảnh cũng là Tết. Đọc Biélinski(2). Một bài giới thiệu Anna Seghers(3) trong Littérature Sovietique (Văn học Xô viết). Lời văn không hay. Tuyên truyền nông. Dự mít tinh kỷ niệm. Không ảnh Cụ, không cờ giữa một đồi thông. Quân nhân triển lãm những vật dụng tự túc: lưới ngụy trang cho đại bác. Áo súng. Bồ. Mũ lá. Bằng lá chít, rễ ngái. Tối diễn ương ca, tuồng về Hội nghị học tập. Kết quả. Có những Giải phóng quân, maillot, quần đùi mang ghế đẩu ra ngồi xem. Quần chúng nông dân cần những cái gì ồn ào. (1). Tức là ngày lễ Cách mạng 19-8, mà ở trong nước thường có không khí như ngày Tết. (2). Biélinski (1811-1848): Nhà phê bình văn học và nhà cách mạng dân chủ Nga. (3). Anna Seghers (1900-1983); Nữ văn sĩ Đức. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Ba, 2017, 11:39:07 pm 20-8-50
Độ biếu đôi giầy. Thăm Tĩnh Tây, phố giữa một thành cổ. Đường đá. Gợi phố Hàng Buồm. Bán nhiều thuốc lá. Không có đồ giải khát. Mái ngói đen, tường trắng. Có những nhà kiên cố, thăm thẳm. Đã có nhà: Tân Hoa văn hóa cung ứng xã: ảnh Mao lòe loẹt, Chu Đức, Lénine, Staline, Maiakovski. Những bà cụ bán Bát bảo lường xà. Lê, mắc lì, nhãn, táo. Lê muối. Giải phóng quân đóng. Xuềnh xoàng. Người bán hàng nhao nhao mời mua: hàng họ cũng ế. Các hàng ra cả ngoài thềm. Có một thiếu phụ hao hao đầm, miệng tươi ngồi khâu giầy vải. Giày đen. Hài bạc phếch. Có số nhà, tường trắng bẩn. Giải phóng quân thiết lập một radio giữa đường đi. Dân có người nói được tiếng Việt Nam. Chiều, một Giải phóng quân kê giường cho một cán bộ. Màn cao, giường trải toile de lit (khăn trải giường). Đêm không ngủ được. Người cán bộ ngáy: không biết anh ta đã chiến đấu ở đâu, mai đi đâu. Có một cái gì thân thân, giữa cái cót mình nằm với cái giường anh nằm với những đồ đạc: đèn pin, rất nhiều giầy, bình toong, ca nước. Sáng hôm sau không nhận ra anh là ai, vì lẫn trong đội viên. Một cảm hứng nhẹ nhẹ, vui vui, bâng khuâng. Không biết mua bán gì. Chờ bọn Chính Hữu. 21-8-50 Vơ vẩn ở Tĩnh Tây. Mua Eagle mộc. Bút đàm với một anh điện đài Giải phóng quân. Biếu ảnh Hồ Chủ tịch. Giời nóng quá. Oi bức. Không nghĩ ngợi gì cả. Cảm thấy một cái gì trống rỗng. Trưa, gặp X Trường, Lương Ngọc. Tắm. Vườn hoa Tĩnh Tây. Đẹp. Cây. Những ghế bằng đá xếp lên nhau. Mấy em gái đi nhìn bọn tài xế tắm cởi truồng nhông nhông bên suối. Quan tài một bộ đội Giải phóng quân chết vì tắm: nhảy xuống nước và va mũi vào đá. Rượu say. Mưa. Đường đá lõm bõm. Ngủ tại nhà bưu điện, có một thanh niên Trung Hoa nhã nhặn, biết nói tiếng Việt Nam, cho ngủ nhờ, mượn màn, cho nước uống. Tĩnh Tây mới được giải phóng 5 tháng nay. Cổng: Bất diệt tàn phỉ bất thu binh(1), bên những câu đối, giấy dán cửa: cái đỏ cái phai. Bích báo. Cổng tò vò hai bên có những tảng đá hình đầu rau để ngồi. Đằng trong có nhà lớn: Giải phóng quân đóng, có cờ. Sáng, tiếng kèn Giải phóng quân, nghe ầm ề tiếng làm nghĩ tới những ngày Diên An(2). Mấy hôm trước bắn 4 thổ phỉ phần nhiều là võ quan cao cấp của Tưởng Giới Thạch. Nạn thổ phỉ vẫn còn. Một liên lạc viên 102(3) bị giết, cách Tĩnh Tây 3 cây số. Vô công rồi nghề quá rồi. Chỉ chơi la cà, mà không nghiên cứu đề tài gì cả. Chưa biết rõ một đơn vị nào. Mưa xong đêm oi bức: mồ hôi ướt đẫm quần áo. Ngứa. Lấy mực đã lâu rồi mà bút chưa hết mực. Chẳng có gì viết cả. Ăn hại cơm. Nhớ cái đêm ngủ bên [anh] Giải phóng quân, vẫn còn phảng phất cảm hứng. Vài khẩu hiệu trong nhà Bưu điện: Phát dương tân dân chủ chủ nghĩa đích văn hóa. Phát dương giai cấp hữu ái đích tinh thần(4). Nỗ lực học tập - Gia khẩu sinh sản. Tường báo: hình Mao trên hai lá cờ Giải phóng quân. (1). Không tiêu diệt được tàn quân phỉ không thu quân về. (2). Diên An. Căn cứ địa của cách mạng Trung Quốc. (3). Trung đoàn 102, tức Trung đoàn Thủ đô. (4). Phát huy nền văn hóa dân chủ mới. Phát huy tinh thần hữu ái giai cấp. 22-8-50 Đuổi theo pháo binh. Cùng đi với [Dương Bích] Liên: cũng khó chịu vì cái lầm lì, hơi ích kỷ của anh họa sĩ trẻ tuổi này. Giữa hai thế hệ, có cái gì thật là cách biệt. Đường xấu, đá lởm chởm. Cũng có những người dân làm đường: gánh đá, đổ đá. Cảm động: làm đường để chở võ khí cho ta. Dân chúng ăn ngô. Mỗi nhà chỉ có một người ở nhà, còn thì ra đường hết. Hoa Đồng nhộn nhịp. Vệ SL(1) nhảy ương ca. Dân có cảm tình với bộ đội. Khâu, vá. Đàn bà nhiều người không có chồng, vấn đề môn đương hộ đối. Có người con gái mới 17, uống thuốc độc vì dì ghẻ hành hạ. Vũ Sắc(2) thết cơm, biếu thuốc lá. Cũng gây được ít nhiều cảm tình với ban chính trị SL. (1). Vệ quốc quân thuộc Trung đoàn Sông Lô. (2). Vũ Sắc: Cán bộ chính trị Trung đoàn Sông Lô, về sau làm công tác biên tập ở Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. 23-8-50 Giặc ném [bom] cầu Lũng Đỉnh không trúng. Trưa nay nghỉ tại Nhạc Huy, cách biên giới ngót 3 cây số. Gió. Giải phóng quân đóng bên cạnh: căng màn. Một người kéo nhị cò cưa. Một người hát. Bình toong, túi dết trên đường. Càng thắm thiết với Giải phóng quân. Càng về gần nước càng nóng ruột. Ngày lớn sắp đến. Ta chưa làm gì. Lười và lang thang quá. Dựng một bộ tiểu thuyết về pháo binh chăng? Tiếc không đi với bộ binh: chiến thuật mới. Hôm qua SL diễn tập: có kết quả. Các vệ nóng muốn về. Lừa ngựa trong chợ Hoa Đồng. Có con đã dự cuộc Vạn lý trường chinh: người ta nói thế. - 14 giờ, vượt biên giới lúc nào không biết. Lại cái đồn biên giới. Núi non thu hẹp lại. Đã thấy biểu ngữ viết trên núi đá. Bằng chữ Hán: Việt Nam độc lập, Tận tâm cứu quốc. Chữ quốc ngữ: Hoan nghênh những người đi nhân công và làm nhân công để giết giặc. Một cái bốt canh biên giới: Đồn Po Phiao, giữa có sao. Tường chất đá. Vài hàng đá chất bên bờ ruộng. Đồng bào áo chàm. Lưa thưa người. Cảm thấy không biên giới mà vẫn Tổ quốc. Trông thấy biểu ngữ thấy rõ Việt Nam. Một chiếc dakota(1) chó đểu lượn lên rồi lại vòng về. (1). Máy bay vận tải của Mỹ viện trợ cho Pháp. 24-8-50 Đi với pháo binh. Quen nhiều, còn nhớ được vài tên. Quyết định viết tiểu thuyết về pháo binh. Nói chuyện về Đảng với Phao(1). Phao nhận thấy khắc khổ không đi đến đâu. Bây giờ thấy vui. Đêm khuya. Phao, Ước bàn về việc điều chỉnh cán bộ. Sáng hành quân sớm: những con lừa béo. Ô tô Giải phóng quân chạy bụi mù. - Một cô bé. Nói chuyện rất tươi. Nói thầy em đi với đế quốc từ ngày em còn bé thế này. Em mới độ 11, 12. Hỏi em có yêu thầy không? Đáp: Ghét lắm lố. Bây giờ không biết ở đâu. Mến những tiếng: Anh ạ - rất thân mật - của các cụ, các chị, các em vùng này lắm. Nó êm tai vô cùng. (1). Phao: Chính trị viên Đại đội 301 pháo binh. 25-8-50 Dự cuộc lau súng của c 1. Ba súng Nhật. Trong hang chăng khăn mặt, yên lừa, ba thồ lủng củng những dây. Nệm. Máng ăn. Lừa tranh nhau ăn. Lưng xây xát, lông trắng. Con đen nhánh, con trắng, con beige (màu be). Trông thấy ngựa hí râm ran, lồng lộn. Ông cụ Sáu theo sang chữa súng: cụ lang voi. nghị chi ủy mở rộng: vấn đề đề bạt cán bộ một khi phải thay thế cán bộ ốm, hi sinh, vấn đề san sẻ quần áo cho đơn vị ở nhà, vấn đề trú quân, bí mật v.v... - Sáng mùa thu đã mát. Nắng trưa đẹp. Thời gian đi, chưa biết làm gì. Ngày mai sửa soạn đi xuống các đơn vị trung đội. Đêm nay trăng. Ông cụ chủ đặc biệt để ban chỉ huy ngủ giường giữa, nơi thờ phụng mà cụ không cho nằm hôm qua. Bộ đội đã được mến: trẻ em sán vào xem lừa. Dân chúng hỏi nhau: Bộ đội ở đâu về. Đi đâu? Liên tưởng những súng, những lừa từ Nhật sang Giải phóng quân, từ Giải phóng quân sang Việt Nam. Có đồng chí Giải phóng quân khi giao lừa cho Việt Nam khóc, dặn trông nom nó. - Nó đúng là chiến sĩ không nói. Đời sống pháo binh thêm vui vì những con lừa. Đầm ấm. Cỏ. Ngô. Từ khi khiêng cho đến khi có lừa: những anh nông dân sung sướng. Cười những người khác còn ở giai đoạn 1 (khiêng) trong khi mình đã tiến sang giai đoạn 2 (có lừa) và đang tiến sang giai đoạn 3 (cơ giới). Tủi [cho] những người ở nhà: rách rưới, không có lừa, v.v... Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Ba, 2017, 11:46:17 pm 26-8-50
Dự buổi thử tháo và lắp súng của một trung đội. Mới đầu 5 phút, sau hơn 3. Có cảm tình với Sáng và Thông, tiểu đội trưởng. Sáng không về thăm gia đình bao giờ, đột nhiên được tin vợ có con! Anh Thân khì, cười luôn và cũng hay cáu. Xúc: tiểu đội đóng ở một ngôi đền bên hang đá. Lừa ở đấy. Đời sống: sáng thể dục, cho ngựa uống nước. Cho ăn từ 12 đến 14 giờ. Rồi lại từ 21 đến 24 giờ. Từ 2 đến 6 giờ sáng ăn. Họ nhớ số con lừa. Cả tiểu đoàn biết con lừa số 4, gánh khỏe, ít ngã, hiền hòa, nhưng thấy ngựa thì lồng lộn. Luôn luôn cửng dương vật. Sáng dậy, ai động tình, anh em đùa: số 4 tính. Phần nhiều không đánh lừa, tẹt sẽ vào nó thôi. Những chỗ xây xát đã bắt đầu hàn: lông trắng mọc. Mỗi con 4 cân ngô một ngày. - Hôm nay anh em [Đại đội] 303 lên. Số quần áo của cán bộ san sẻ đã tập trung ở c bộ. Sáng bạch. Gió thổi mùa thu đến. Lúa rập rờn trên một khoảng khá rộng. Một anh nhà quê hót cứt ngựa thành một đống và lợp mái lên trên. Dân quanh miền thường vào hang hốc tránh máy bay. Có nhà làm cao, có thang luồn qua hang đi lên, có cả lan can trông xuống. 27-8-50 Hôm nay mưa. Nhà chủ ăn Tết rằm tháng 7 (14-7). Lục đục suốt đêm. Bánh chưng, bánh tái. Phao(1) ngồi biên chế lại c để bổ sung cho các đơn vị khác. Mạnh dạn cất nhắc. Lan(2) lên tiểu đoàn phó. Có lẽ Phú(3) cũng lên chức này. D này tiến tới thành một e. Pháo binh phát triển mạnh. Tấp nập sửa soạn lên đường. Ra phố. Mấy anh 73(4) nói chuyện Tàu. Lại lộ bí mật. Một khẩu hiệu ngồ ngộ. Nhà tôi quyết tham gia nhân công. Uống hai bát rượu mạnh của chủ nhà mời. Say. (1). Phao: Xem chú thích nhật ký 24-8-1950. (2). Lan: Đào Lan, cán bộ đại đội, sau là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 40 pháo binh. (3). Phú: Chính trị viên Đại đội 303. (4). 73 là mật số của Trung đoàn 209 (tức Trung đoàn Sông Lô). 28-8-50 Sáng lạnh. Nhớ một cảnh sum họp đầm ấm gia đình. Một tiêng riu rít trê con. Bắt đầu đọc Politzer. - Hội nghị cấp dưỡng. Mấy vấn đề khó khăn. đại bác máy bay nhảy dù viện binh (bộ) Thành tích: hành quân 1 tháng 5 người ốm cơm : 3 lần khê món ăn không biết thay đổi Trang: không muốn về b 1 vì Dần đánh đập đội viên. Cương lùn: không muốn ở cấp dưỡng, muốn ở đội lừa. Anh em cười lùn chỉ làm nổi cấp dưỡng. Tý: tân binh, hơi một tí xin đi quân y. - Ăn Tết 15 tháng 7 với c 303. 29-8-50 Siêu Hải(1) về. Chuyện Liệu kể lại Sơn(2) phê bình Những người ở lại và nói bài mình viết về Siêu Hải: cảm tình cá nhân(3). Mưa thu. Trời lạnh. Tâm sự Hoàng Đình Minh: phải đổi về f. Buồn bực. Bị nhiều thành kiến ở d. Xu hướng vào Đảng: không được chấp nhận, v.v… Công lao xây dựng pháo binh. Lấy súng ở T.Q. (Tuyên Quang), Phả Lại về. Những công nhân có công trong việc chữa súng: Quế, Sáu, Đó. Minh nói: Tôi không phải kể công vì việc của đất nước cả. Kể chuyện giết Tây hồi đảo chính, gặp Phạm Văn Đồng, vào chiến khu Tam Đảo, không vào Đại Việt, v.v... Khoe giỏi món ăn: 19 món ngon. Khoe con: bây giờ học lục quân (làm thợ) và bị tây bắt 3 tháng rồi thoát ra, v.v... Ngậm ngùi vì anh em lên mà mình phải đổi đi: Tôi già, yếu, ít năng lực. Nông dân học tập tiểu tư sản. Cũng bật lửa, xà phòng thơm, để dành không dùng, khi nào cần vây mới đem ra. Phao, Hải, Minh nói chuyện về những ngày đầu bỡ ngỡ của pháo binh, công sự, đặt ra cách bắn, những ngày thăng trầm, hết súng, mất súng, v.v... Những ngày chạy voi Bản Hẹ, H.7, những ngày tin đại bác vỡ. Các cán bộ tập trung, nhiều đội viên đã thành cán bộ. Sự trưởng thành của pháo binh. Bây giờ đã vững. (1). Nguyễn Siêu Hải: Đại đội trưởng Đại đội 301 pháo binh, nhà văn quân đội. (2). Có thể là Trần Huy Liệu và Nguyễn Sơn (nhật ký Nguyễn Huy Tưởng không ít lần nhắc đến vị tướng này với thái độ coi trọng). (3). Có lẽ là bài Nguyễn Huy Tưởng viết về ký sự Voi đi của Siêu Hải mà Nguyễn Huy Tưởng rất khen. 30-8-50 Anh em bàn tán sôi nổi về vấn đề lệnh trên đã quyết định không cho 28 giữ độc quyền tên: Quân tiên phong(l). Và chờ sau trận đánh này sẽ trao cho đơn vị nào trội nhất. Siêu Hải về thích súng, máy ngắm và lừa ngựa. Chăm nom ngựa. Hoàng Văn Ngưu: 35 tuổi. Bố mẹ chết sớm, anh em ở với nhau, dựng vợ gả chồng cho nhau, chung một nhà. Các em ra bộ đội cả, nay Ngưu thứ hai mới đi. Anh cả ở nhà trông các cháu. Hàm(2): ăn nói lè nhè. Làm việc quần quật. Được bầu làm dự bị khi tiểu đội phó bị hi sinh. Được mến. Hôm nay họp chi bộ, được một phiếu bầu làm tổ trưởng. (1). Tiểu đoàn 28. Trung đoàn 88 là một đơn vị thuộc Đại đoàn 308. Còn gọi là Đại đoàn Quân tiên phong. (2). Nhân vật người đội viên pháo binh được tác giả giữ nguyên tên trong Ký Sự Cao Lạng. 31-8-50 Tiến tới thành lập Trung đoàn pháo binh ngay trong mặt trận này. Đỗ Thiện trên bộ T.T.M. (Tổng tham mưu) về. Sáng hôm nay Phú đã cho người đi lĩnh hai khẩu súng Mỹ. Bìa cũng về đây, rất bốc, rất tin tưởng. Nói chuyện SL ương ca. Xét ra pháo binh lầm lì, ít bay bướm(1). Trưa: các anh em tiểu đội lừa đứng trông nom lừa ở các gốc cây. Rỗi rãi, họ trẩy quả bồ quân tranh nhau nhặt. Người gây gây sốt. Mỏi. Một ý nghĩ thoáng qua: thích quần chúng hơn một đảng viên. Vì người đảng viên thường đúc theo một khuôn cứng nhắc, trong khi quần chúng muôn màu muôn vẻ. Đảng chỉ là một tổ chức nhất thời. Loài người phải tiến tới chỗ không còn đảng phái mới hoàn toàn là tự do. Trời hửng, sau mấy đêm ngày mưa rả rích buồn. (1). Ý nói ở Trung đoàn Sông Lô có phong trào múa ương ca, không như ở pháo binh. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 09 Tháng Ba, 2017, 11:55:09 pm 1-9-50
Gây gây sốt. Họp Hội nghị thống nhất tư tưởng pháo binh. Các cán bộ chỉ có những ý kiến vụn vặt. Đã sang tháng 9. Chiến dịch có thể kéo dài. Không có quần áo rét. Không mang nặng một tác phẩm gì. Mơ hồ một lối viết truyện pháo binh. Lười nghĩ. Không làm gì cho chiến dịch. Cần phải làm một cái gì. Phân chia thì giờ mà làm việc. 2-9-50 Dự cuộc bắn tập của pháo binh. Mục tiêu cách 800 và 1100 thước. Lần đầu tiên bắn theo máy ngắm. Lâu. Nhưng trúng. Không quá ghê với tiếng nổ của đại bác. Khẩu súng bắn chồm chồm. Những viên đạn lóng lánh, có những ngòi đựng trong hộp: một việc mới lạ với pháo binh. Người đứng sau đại bác mỗi lúc một đông. Lố nhố. Những binoculaire (ống nhòm) và théodolide (máy kinh vĩ). Gần đó, trên đỉnh một núi đá mọc thẳng, có những người dân lên đứng trông nom máy bay. Có chòi trên ấy. Thấy động thì họ đánh trống. Trưa Siêu Hải khai hội với các cán bộ Trung đội để hỏi anh em có tin máy ngắm không. Anh em đều tin, tuy cũng có những người tin ngắm qua nòng súng. Tối, mít tinh 2-9. Nói chuyện Cụ Hồ. 307 múa ương ca, và nông tác vũ. 303(1) diễn chèo Hữu Lượng. Nói chuyện vui. Có nhiều cảm tình với Phao và Siêu Hải. Phao kể chuyện sau Phố Lu(2), Phú, Lan, Quang(3) dự định một đám cưới tập đoàn. Toàn mặc kaki. Cô dâu màu đỏ, màu xanh (tranh luận nhiều). Do Hội Văn nghệ Việt Nam đỡ đầu (kết luận ông Tưởng chủ hôn vì ông Tố Hữu bé quá, Nguyễn Đình Thi to quá). Có đoàn kịch Chiến thắng giúp vui (tranh luận không biết có thể có đoàn kịch ấy giúp cho không, nhưng tin tưởng). Nơi cưới, bất đồng ý kiến. Lan muốn ở YB (Yên Bái). Phú: Thanh Cù. Quang: Tuyên Quang. Rồi những lúc lên ký trên bục, v.v... Lần này gặp nhau, họ cười váng vì sau một năm hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, hết cuộc hành quân này đến cuộc hành quân khác. Rút cục vẫn không thành một việc gì: - Thế là một năm rồi! Họ kết luận và lại cười xòa với nhau. Vui mà cũng ngậm ngùi. Càng ngày càng thấy rõ một vài nét về pháo binh. Pháo binh mới thêm một đơn vị mới: nguyên bộ binh, áo xanh đồng màu. Nhanh nhẹn. Không chậm chạp lầm lì như các anh pháo binh cũ. Nay vào Trung đoàn và sáp nhập Cục. Tiến tới sư đoàn. Ước nói: Có lẽ chỉ đủ năng lực làm Trưởng ban chính trị c. Phao có thể làm chính trị viên Tiểu đoàn 40. Về khuya. Nói chuyện vui với Phao và Siêu Hải. Hải nói: Đám cưới thế nào cũng có Đỗ Thiện(4) và Mr Tưởng. Thân mật. (1). 307: Đại đội 307 pháo binh. 303: Đại đội 303 pháo binh. (2). Trận công kiên đồn Phố Lu, tháng 1-1950. (3). Phú, Lan. Xem chú thích nhật ký 27-8-1950. Quang: Trần Thái Quang, Đại đội trưởng Đại đội 307 (4). Cán bộ pháo binh, thân với Siêu Hải và Nguyễn Huy Tưởng. 3-9-50 Siêu Hải đi dự lớp của Trung đoàn từ 4 giờ sáng. Lớp này gồm toàn thể các cán bộ từ Tiểu đoàn tới Tiểu đội. Sáng: bắt đầu tập thể dục. Sương mù. Lo ngại máy bay, nhảy dù. Nhưng náo mức. Họp Hội nghị các tân binh phần nhiều người phủ Hoàng Hóa (Thanh). Họ tự phê bình và phê bình nhau. Hiến: lành quên ăn cơm. Phái lười. Hoàng Văn Ngưu chủ tịch. Nói: Anh em nói với nhau thì nói cho nó thẳng; cơm thì nói là cơm, đừng có nói là cháo. Tự phê bình xong, xin anh em nhận xét. Bởi vì khuyết điểm thì nhiều, ưu điểm bao giờ cũng ít. Đi một bước là có khuyết điểm, nói một câu cũng là có khuyết điểm. - Quế, công trường lên. Nói có lẽ lộ. Người đi rầm rập. Ai cũng mong giải phóng Cao Bằng. Được cái người đem SKZ lên, người lại gánh đạn và súng Mỹ về đẹp lắm. Phải cái ta không biết giữ. Vứt ngổn ngang. Mỗi một chuyến có thể trang bị cho một đại đội. Hoàng Văn Thái tới thăm đơn vị. Pháo binh thao diễn tại một bãi cỏ rộng. Thiếu tướng(1) nói thường không hay lắm. Khi bộ đội hát, ông cũng giơ tay đánh nhịp một cách ngượng nghịu. Ông nói có lỗi với văn nghệ vì không gặp các anh em. Và tin rằng mình cũng có thể làm văn nghệ được. Tin: giặc đánh Phú Thọ, qua Đại Đồng, Thanh Cù, Ấn. Thượng. Ở Triều Tiên: Truman cải chính ý kiến của Mac Arthur(2) nói sẽ cử sư đoàn Mỹ giữ Đài Loan giúp Tưởng. Hoàng Phương(3) làm chính trị viên Trung đoàn pháo binh. Thương hại những con lừa. Có con lồng lộn, đá vung. Có con mồ hôi nhễ nhoại. Bộ tổng tư lệnh rất chú ý đến lừa. (1). Tức Hoàng Văn Thái. Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng. (2). MacArthur (1880-1964); Tướng Mỹ, chỉ huy các lực lượng Liên Hợp Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. (3). Hoàng Phương: Nguyên một trong những cán bộ chỉ huy của Trung đoàn Thủ đô, giờ được cử làm Chính ủy Trung đoàn 95 pháo binh mới thành lập. 4-9-50 Gió heo may. Đã hết tiết thu. Có một cái gì nhẹ nhàng trong người. Lúa mọc cao - Lúa nếp. Những bông còn xanh đen. Mùa sáng tác. Ông Quế xem lại các súng và các ba thồ. Máy ngắm. Culasse (khóa nòng). kim hỏa. Bốn chiếc King Cobra(1) lượn hùng hổ trước hang. Chạy vào sân đứng nhìn phi cơ bay thấp bên sườn núi xa. Tắm rửa sạch sẽ. Chiều ra chơi Trùng Khánh. Bộ đội SL nhan nhản. Những bao tải gạo cách đây mấy hôm cao ngất đến đỉnh hang hôm nay đã thấp. Những con lừa lặc lè bao gạo đem về. Hai người khiêng gạo bọc trong chăn trấn thủ như con lợn con. Liên nói: Bọn trong thành cũng buồn cười chẳng biết gì cuộc sửa soạn lớn lao ngoài này. Chiều buồn rượi. Một màu xám xanh. Ánh tà dương úa. Càng thấy lối làm việc đợi thời của mình không đi đến đâu. Không nghĩ gì cả. Chưa có chuyện gì giúp cho công tác chính trị của pháo binh. Lừa. Súng. Nghĩ đến cuộc triển lãm và những tác phẩm tuyên truyền cho chiến dịch này trong và ngoài nước. Cần phải chấn chỉnh lối làm việc. Nằm hút thuốc lá. Nhà chủ giã gạo trong nhà. Họ khá giả: có cả báo Cứu Quốc tới. Nghĩ đến việc được trọng vọng. Tất cả những tác phẩm của ta: do Đảng cả. Ta có đôi chút tên tuổi, có chút địa vị trong xã hội là vì Đảng cả. Đảng của ta. Có can gì trong Đảng có những thằng đồng chí bần tiện, bợ đỡ cấp trên. Thành tích của Đảng, công lao của Đảng đối với lịch sử, với dân tộc. Những chiến sĩ cộng sản đã hi sinh cho cách mạng, cho kháng chiến. Ta muốn có những lời tuyệt say sưa, nồng nàn để ca tụng Đảng. Phao khai hội suốt ngày: chi bộ, tổ trưởng, tân binh; giải quyết những việc lặt vặt: mua tre, đan sọt, đánh dao, giầy da, v.v... Chiều nói chuyện với anh em tại tiểu đội lừa của Xúc(2). Anh em đội viên ngồi trên những phiến đá. Lừa buộc gốc cây. Thỉnh thoảng con số 4 rú lên, khàn khàn và ai oán. Xúc: dùng danh từ sai. Cải chính(3) Nhật. Basi (Paris). Nói chuyện vào chợ ở Paris, chuyện đầm dễ dãi. Cười nhe răng vàng. Hai vợ và con đều chết cả. Càng ngày càng thấy thú anh chàng này. Trước cũng đã được đề bạt làm cai Pháp. Cùng với Tuế. Nay: nhất tự cách trùng. Vui vẻ với đội lừa. Muốn tả cảnh thân mật của pháo binh trong trung đội lừa. Cả đêm vất vả. Ngày cắt cỏ, lấy ngô, lấy nước. Trông cho nó không nằm. Nằm nó to bụng. Nghĩ đến công lao của bọn lừa, nay thuộc quyền sở hữu của mấy anh nông dân pháo binh. Có thể thành một scène (cảnh) rất đẹp, rất thân mật như trong Odyssée, về cảnh sinh hoạt tỉ mỉ của đội lừa. Cố tả. Cần phải tả tỉ mỉ, một nông dân cục mịch bắt đầu quen với máy. Tay sần sùi, vụng về tháo lắp những bộ phận của culasse, của súng. Tiếng nổ đầu tiên. Chú trọng anh Tẩy. Đầu óc Phao khá có tổ chức: ngăn hộp đựng các đồ phụ tùng và những bộ phận dự bị. Tối nay Phao họp trung đội 4 (đại đội bộ) để phân công lại và định trách nhiệm rõ rệt cho từng người: quản trị kém nên việc gì Phao cũng phải nhắc. Đêm nay, đại đội ra TK (Trùng Khánh) lấy các hòm đạn ở Trung Quốc xe về. Xe ở Trung Quốc chiều vượt biên giới. Ngày lên đường đã gần. - Viết thư cho Tố Hữu. Nghĩ tới kết thúc của tiểu thuyết: Bước Voi. Tiểu đoàn thành Trung đoàn. Các chiến sĩ lại lăn vào cuộc chiến đấu. Dương Bích Liên khuyên mình nên viết một truyện épique (có tính cách sử thi). Mình nói muốn thiên về những truyện có tính cách lyrico épique (sử thi trữ tình). Có lẽ đấy cũng là bản chất của mình. Thích nhiều những truyện có tính cách trữ tình, thân mật, có chiến đấu, nhưng cũng có nhiều tình yêu, tình bạn và sôi nổi huyết khí thanh niên. Ta vẫn thiên về những truyện thanh niên. Càng ngày càng thấy sốt ruột. Ở với pháo binh 10 ngày rồi. Chưa đi sâu vào các tiểu đội, tuy đã nảy ra một vài điển hình. * Một nhân vật đáng chú ý. Hiếu: chủ tịch Hội đồng binh sĩ đại đội 301. Nông dân, lờ đờ, chậm chạp, nhưng thẳng thắn và rất ráo riết trong việc bênh vực quyền lợi anh em đội viên cho nên rất được anh em tín nhiệm. Cạo trọc, mặt đen. Có chân trong ban Chi ủy. Trong chiến dịch này, có thể đề bạt làm tiểu đội phó. Từ chức Hội đồng binh sĩ, vì tuy được toàn thể anh em tín nhiệm, nhưng sợ anh em dị nghị; chức chủ tịch là cầu thang đưa lên hàng cán bộ. Phụ trách quân lương. Vài giá: 50 đ cốc trứng kem. 30 đ bát phở. 10 đ một chùm nhãn. 35 đ một cốc café. 15, 20, 25 đ một quả lê. 50 đ một đôi lạp xường. 400 đ mười tablets chocolat (thỏi sôcôla). Hơn hai trăm một cân đường bánh. (1). Một loại máy bay khu trục, còn được gọi là “Cổ ngỗng”. (2). Lỗ Xúc Tiểu đội trưởng tiểu đội lừa. (3). Đảo chính. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Ba, 2017, 11:31:03 pm 5-9-50
Vương Thừa Vũ và Cao Văn Khánh(1) tới thăm d. Vũ nói chuyện với các anh em: thân mật, giản dị khiến cho anh em tin tưởng. Nhiệm vụ chiến dịch: mở đường giao thông, anh em không phải khiêng vác. Nêu những điểm không đáng sợ máy bay, xe cơ giới. Khuyên anh em cố gắng giữ sức khỏe. Nói về thế ta hơn địch: võ khí nhiều. Thăm anh em: 303 còn yếu. Nêu sự đoàn kết giữa các binh chủng. Nói về giải thưởng: Anh hùng Cao Bắc Lạng. Pháo binh là một bình chủng đặc biệt, thì phải giật tiếng Anh hùng Cao Bắc Lạng. Pháo binh đặc biệt ở chỗ đánh du kích bằng đại bác, v.v... Anh em tin tưởng. * Tối: dự Hội đồng binh sĩ. Hỗn độn. Hàm phó chủ tịch. Ê à. Nằm xuống giường đọc báo cáo, giọng đều đều. Đọc cả nhật ký công tác. Anh em kêu để anh thư ký đọc. Chất vấn: khuyết điểm về kinh tế, chính trị. Mua bán không cho anh em biết khiến thiếu muối. Dự Hội nghị văn nghệ. Bính chỉ quan niệm có bích báo, chứ không nghĩ bích báo để làm gì. Toàn giọng cảm tưởng. Thống nhất bài hát, thống nhất băng(2). Thiếu quan điểm nhân dân. Chuyện Long: [trận] Phủ Thông. Bộ đội để một đường rút cho giặc rồi phục kích. Giặc chạy ra, họ chém lia lịa, có khi chém gẫy đôi người. Long đang chém, có tiếng kêu: Anh Long ơi. Dừng gươm lại. Thì ra một chị trước ở Sơn Tây nơi Long đóng quân. Rồi khi giặc càn quét Sơn Tây, chúng bắt chia cho bọn Phố Ràng, trong giải trí đoàn. Long dừng tay, nên anh em cũng không chém nữa. Qua Phố Ràng, chốn cũ. Còn những xương. Có cả xương ống chân bị xích: một tên lính Đức bị xích để bắn đến cùng. (1). Vương Thừa Vũ và Cao Văn Khánh. Đại đoàn trưởng và Đại đoàn phó Đại đoàn 308 (2). Có lẽ là viết tắt của băng-rôn khẩu hiệu. 6-9-50 Đổi đồng hồ cho Ước. Viết thư cho Lành. Một buổi trưa tại tiểu đội giám mã. Trước mặt ruộng lúa cao vàng, xanh, nâu. Tiếng tanh tách, ruộng trước mặt rập rờn. Những người Vệ đi lọt thỏm giữa lúa. Gần: xóm Than Nà, chỗ vào xóm gốc cây và vài vệt nắng lốm đốm. Một con đường vắt qua núi như một ánh chớp. Lừa: Có con ưa nịnh, có con ác phải gắt. Chuồng phải cho sạch, sợ thối móng. Không được ăn cỏ, có khi nó gặm cột. Quen người chăn, người khác đến không chịu. Sang đàn khác không ăn. Đêm đèn, nhưng che đi sợ nó quen không đi đêm. Tắm, nó đứng yên cho kỳ, bật lông tơ. Tránh để nước vào tai. Nó chết. Lau dử mắt cho lừa. Tắm xong, ngồi lên, nó chịu. Lúc đầu sợ, vì nó to, cứ phải đứng xa cầm chạc, sau lại gần và quen. Bảo nó nó nghe. Lúc để nó ngủ, buộc dây đều hai bên, nó ngủ, ngả và dựa vào nhau, nếu chỉ treo dây một bên, nó ngã. Có con lành, con khác đi xa vài ba trăm thước vẫn thủng thỉnh. Cũng có con thấy bạn đi xa thì cố gắng đuổi kịp, người đi chăn mệt lắm. Khi thấy bạn đã lên đỉnh và khuất, thì nó quên mệt đuổi cho đến khi gặp thì thôi. Ăn muối, đường, trứng, lươn, cây ngô, dưa. Con nhóc nâu không thể để bên con nhóc đen vì nó nghịch nhau. Không nên để cách nhau rộng, vì nó dễ xoay ngang, đá nhau. Cho cách sát nhau. Mới đầu nó hùng hổ. Một người dắt, hai người đánh đu mỗi người một bên bánh, nó vẫn chạy. Đến khi nó mệt thì nó thuần. Nó đói thì ăn đều, đến khi đã no thì hay nghịch nhau. Mệt thì nó ít nghịch nhau. Không có móng, nó ghê nên đi trên cỏ. Anh em gọi lừa: con ống xiết, con máy, con nòng(1). Thức: cũng vui. Vì nó ăn sột soạt, có ngủ gật mà nó nghịch nhau thì cũng không ngủ được. Không có giờ, nên gọi nhau lung tung, có người canh mãi không hết sáng, có người mới canh đã sáng. Sáng cho lừa uống. Chiều cho nó nằm vài phút. Nhìn thấy nó béo, sạch, không có mụn nhọt, tự hào và vui. Sau máng, đàn lừa ăn, rayée chân đều không động(2). Thỉnh thoảng nó bắt rận cho nhau. Sang ta không có bàn chải sắt. Lấy tre làm bàn chải tắm cho lừa. * Siêu Hải hồn nhiên. Nói sẽ vào đồn, vì đã nhận nhiệm vụ chính. Băn khoăn một quà biếu để kỷ niệm cho anh Tưởng. * Tin giặc ném bom Hoa Đồng. Bộ đội không thiệt hại gì, nhưng dân chúng hoang mang. Giải phóng quân có bắn lên. Việc chuẩn bị có vẻ bị lộ. (1). Tên các bộ phận của khẩu pháo mà mỗi con lừa chuyên mang. (2). Rayée tiếng Pháp là chùm sáng. Có thể ý tác giả muốn nói lừa đứng ăn im lìm đến nỗi ánh nắng chiếu lên chân không động đậy. 7-9-50 Họp Hội nghị toàn liên chỉ pháo binh. Không khí nặng nề. Soi mói nhau. Phú: tội buôn trâu. Phao: [Đại đội] 301 không chịu được và mong đồng chí Hoàng về để cải thiện đời sống. Ước: tội xa hoa. Phú bị xuống đại đội phó và đồng chí(1) thường. * Giặc ném bom dây xuống TK (Trùng Khánh). Mỗi hố như cái phễu lớn lút đầu người. Phố cháy ra gio. Kho gạo còn nguyên. Một người đàn bà ẳm đứa con, giơ một con gà - duy nhất còn lại – đã chết cứng trên tay. Người trong hang lố nhố và ngẩn ngơ. Những người mất nhà bơ vơ. Tối đến. Không biết ngủ đâu. Còn trơ một cái nhà hàng cơm, người vào đông. Chợ vẫn họp chen chúc người. Dân ra nhặt những mảnh bom về. Vài bộ đội chết. Một anh, tên là Giao bị mất mông, dặn bạn bảo vợ ở nhà: Nàng có thể đi lấy chồng được. Cám ơn chị vợ đã nuôi cháu. Đêm khuya, ăn cháo vịt. Nói chuyện với Siêu Hải, khuyên viết lại Voi chạy. Gợi những cảnh tình để viết. Hải say sưa, hồn nhiên, cười khì khì. Khuyên mình nên giữ gìn, ì không nên exposer(2). Đêm khuya nói chuyện văn chương, gác chân lên nhau, càng thấy yêu Siêu Hải. Hải vừa nói chuyện vừa ghi dặn Phao, vừa bảo người chuẩn bị chăn màn, cơm nắm, súng để sáng mai lên đường đi trinh sát chiến đấu. Thỉnh thoảng nghịch đùa với những đội viên lên báo cáo công việc. Thích viết. Có nhiều sôi nổi, trẻ. Đi vào nguy hiểm như không. (1). Không còn làm chính trị viên nữa. (2). Ý nói nên bảo trọng. 8-9-50 Tinh sương, Hải từ giã ra đi. Lo và nhớ Hải. Sợ xảy ra sự gì bất trắc cho Hải: rất có nhiều tương lai. Mối tình bằng hữu với Hải càng thêm thâm trọng. Nhắc chuyện cô Lường, Hải buồn. Làm gì còn có chuyện ấy nữa. Nhớ lại hồi đánh trận xong, dắt Lường đi, chống súng bên ngực, ngồi nói chuyện với Lường mà không làm gì. Bây giờ không biết hôm đó đã nói chuyện gì với Lường. Trận Phố Lu nhiều đàn bà Thái bị giết. Anh em bảo Hải: Biết đâu trong số đó không có Lường. Hải nhớ và buồn. Gặp Nam Cao. Chuyện Thâm Tâm chết(1). [Nam] Cao nói: Sáu dòng trên báo, hai gạch đen thế là hết. Nam Cao kết luận: Chỉ có tác phẩm, nhiệm vụ làm tròn như Thâm Tâm cũng chẳng đi đến đâu. Tin buồn rồi là hết. Tin ngày mai lên đường. Phao đi khai hội để thảo luận về tổ chức hành quân. * Địa bàn tự do mỗi ngày một thu hẹp. Giặc đóng hết khu X. Ở Trung du, phong trào phụ nữ để bộ đội giải quyết. Minh buồn sắp phải xa đơn vị. Phú mặt ngơ ngác và buồn. (1). Nhà thơ Thâm Tâm hi sinh ngày 18 tháng 8 năm 1950 tại mặt trận Cao Bằng, không lâu trước khi Chiến dịch Biên giới bắt đầu. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 11 Tháng Ba, 2017, 11:53:02 pm 9-9-50
Trời mưa, lạnh. Pháo binh lên đường. Thường lệ pháo binh là thế. Tối, lệnh chưa đi. Lừa ngựa lại trở về. Nhà chủ rang ngô ăn, đầm ấm. Ông chủ nhà niềm nở khác mọi ngày: Để các anh đi, còn nhớ lão già cho ăn ngô. Dân chúng có cảm tình nồng nhiệt nhưng lặng lẽ với bộ đội. Sao(1) Đao, sao Tiên ngồi bên chảo rang ngô, mồ hôi chảy trên cổ tròn. Mắt nói. (1). Sao: tiếng Tày có nghĩa là cô gái 10-9-50 Tổng kết kinh nghiệm văn nghệ sao đây? Lo và thẹn vì đã lười nghĩ. Hôm nay nắng. Gió khô. Hang đá sẵn sàng. Các súng phủ bạt chờ giặc. Ba thồ xếp chung quanh, gọn ghẽ. Giọt nước trên đỉnh hang tĩnh mịch. Một người nằm ngủ trong màn. Ra hàng tìm ổi. Chủ hàng: cụt chân, tai nạn hồi làm mỏ Tĩnh Túc. Một người ẵm đứa con gái bé: mắt nó hõm sâu, toàn trắng trông ghê. Đầu trọc. Nó cũng nghịch như những đứa trẻ thường, nhưng nó không trông thấy gì. Và như thế suốt đời. Thấy có một cái gì ngậm ngùi, bực người bố, bực nhân loại. Nó giơ tay, nó rún chân nhảy trên tay bố. Và lâu lâu nó khóc. Càng thương nó. * Pháo binh. Tưởng một con đường khó nhất, rồi lại có những con đường khó hơn. - Tối, bộ đội tấp nập. Tiếng sắt của vó ngựa. Những nhà hàng quấn quít. Lập lòe thuốc lá. Gậy, đòn tre. Một ánh sáng xanh đèn pin. Một bật lửa. Trên trời xanh: một ngôi sao ngự tọa. Muỗi đốt đít. Con ngựa hí đàng xa. Đoàn vận tải líu lo. Nón to bên người. Một xe súng đi lọc cọc như xe bò. Thuốc lá cháy lẫn đom đóm. Bếp lửa ngoài hàng cháy khói. Tường phá hoại nhô lên như một cây thông. Khiêng và gánh. Phổ mua quinacrine của một nhà hàng xén, ngọn đèn yên gió. Con bò cấp dưỡng. Hai con ngựa trắng cúi đầu, bao tải xòa hai bên. Chiều: một dân chúng trên nhà sàn nhìn ra. Bộ đội đã đi hết. - Những gậy gạc chống. Những bó gạc. Sọt đạn có chân. Télémètre (kính đo xa). Con lừa què. Những đàn ngựa của dân công, lặc lè bồ có bó rơm. Một khẩu súng. Bọc vải bạt. Một cán bộ ngất nghểu trên ngựa: trong bóng tối thân ái gửi lời chào anh Tưởng nhé, thân mật và vui. Nồi cấp dưỡng. Một con bò lùn: con rắn gạo trên vai cày. Ô tô chạy qua. Rẽ rạt hai bên. Một người tạt vào hàng hút thuốc lào. Những cuộn thừng. Những con rắn gạo cuộn bên đầu gánh. Bộ đội lặng lẽ không một ai nói gì. Pha ô tô sáng chói chân và đít lừa. Một người mẹ nựng con bên đường, cạnh súng. Tiếng coong coong của nồi cấp dưỡng thong thả như tiếng chuông chùa. Bộ đội bạn dưới dốc lên. Ngã: loảng xoảng. Thở hổng hộc. Trên rừng cao xào xạc tiếng người: bộ đội trú quân. Lừa số 4 thấy ngựa rú lên. Lừa số 8 hôm nay không phá vì trước khi đi đã chồng cho cậu một tạ. Tiếng Xúc: Siết chặt dây lưng nó lại. Một con lừa lồng lộn, mã thủ khó nhọc mới chế ngự được. Đoàn dân công trước mặt với những bó gậy cao ngất, lầm lì. Hàng quán lơ thơ. Ánh đèn le lói. Ban đêm lừa cao quá. Lừa đói. Nguyễn Hữu Sáng khoe viết nhật ký nói về tình lưu luyến của dân chúng khi bộ đội đi. Tiếng sáo. Hát chèo, tuồng: Ới ông ơi. Điệu xẩm. Bò lũn cũn. Vì sơ suất, ống máy rơi cong một góc. Phao buồn. Chạy đi chạy lại. Truyền xuống: Nghỉ, bỏ ba thồ. Truyền xuống: Chuẩn bị. Tới chỗ trú quân. Có một con đường con, người ngựa ứ lại. Tổ chức tiền trạm kém. Bộ đội làm máng cho lừa. Nó được cởi ba [thổ], gặm cỏ ngon lành. Ngủ bên bờ ruộng, lất phất mù bay vào mặt. Mắt cay xè. 11-9-50 Dậy sớm. Xúc đã cho đánh lừa vào chỗ trú rừng sâu. Các bộ đội khác căng lều: chăn đen trắng, phủ lá, chặt cây. Nghỉ tại một nhà sàn có gác. Một cấp chỉ huy nằm trên bạt xanh, đắp chăn kaki. Có người hầu. Nằm sang trọng và uể oải. Bảo [người hầu] mua xôi đỏ, chả của bà cụ làm khi thấy bộ đội đến, ngồi ăn tóp tép. Hình như cũng cảm thấy mình được trang bị khá sang. Nghĩ tới Cương. Thương Cương rất mực. - Lên đường 5 giờ rồi cũng đến tối mới đi. Mỏi quá. Gần QU (Quảng Uyên): pháo binh ngắc lại vì bộ binh. Một con bò đeo ba lô. Gậy, những cây tre của dân công. Trong bóng tối, gặp Đạo và Hưng rẽ xuống một con đường. Gọi lại. Hưng tươi, hỏi đồng chí phụ trách pháo binh. Vẫn cái dáng élégant (duyên dáng). Đêm ngủ tại QU. Rầm rập ngoài đường. Một vài câu sa mạc, bồng mạc. Không có chỗ ngủ, họ ngủ đường. Tiếng gọi nhau. Một vài câu chuyện bông lơn. Vài tiếng thì thào. Ít ngủ và đầu nặng. 12-9-50 QU bị tàn phá. Bộ đội [Trung đoàn] 88 đi như nước buổi sớm bên đường: lúa cao. Maxim, mortier(1). Một cán bộ chống can uể oải. Ngụy trang bằng lá. Bò. Hầu bao gạo. Đế mortier. Sten(2). Hòm đạn buộc ngoài một xẻng cán ngắn. Ống tre lủng lẳng. Túi đỏ. Khăn xanh. Áo Tàu, áo tím. Gặp Tường Kính(3) nhẹ nhõm, tươi, cái áo maillot (may ô), mũ lá ngụy trang. Croiser (đi ngang qua) một bộ phận pháo binh khuân hộp đạn ba viên. Một đồng chí đánh ngã một hộp. Tiếng chết rồi. Anh cán bộ chạy lại, bảo: Phải cẩn thận nhé. Đồng chí trọc đầu, cúi xuống để hộp đạn lên vai, nhăn mặt, xúm lưng(4). Anh cán bộ giúp cho hắn đứng dậy. Lẻ tẻ những bộ đội sau, đòn gánh lủng lẳng hòm. Một người vắt trên vai một hầu bao nặng muối. * Gặp Cung. Giữa lúc bộ đội trẩy. Cơ quan Cẩn(5) cũng dọn lên. Bộ đội đã đi cả. Phố vắng. Những tốp nữ dân công áo mới, mũ nhọn, gánh sọt hay vai đeo tay nải tiến về phía TK (Trùng Khánh). Trong một quán bỏ không, một đội viên sốt cuộn tròn dưới bao tải. Tuế nói về thư Cụ gửi cho bọn mình. Muốn viết một kịch về Thư Hồ Chủ tịch. * Chỉ có [cái] đẹp khi con người có ý thức. Cả cái đoàn cần vụ nó vĩ đại chỉ vì đấy là những con người tranh đấu cho một lý tưởng. Bỏ cái ý thức ấy đi, họ chỉ còn là những con người nô lệ, hết đẹp. Những người phu cao su do chủ mộ đi hàng vạn con người cũng chẳng có gì là vĩ đại. - Tin Léo Figuères(6) bị bắt giữa Quốc hội. Thao thức vì tin này. Bứt rứt. Phục và thương Léo. Những lúc ở bên này. Tin giặc rút Phú Thọ. (1). Maxim: Đại liên. Mortier. Súng cối (moóc-chi-ê). (2). Sten: Tiểu liên. (3). Tường Kính: Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Bình Ca (Tiểu đoàn 54) thuộc Trung đoàn Thủ đô. (4). Có lẽ tác giả muốn nói sụn lưng. (5). Có lẽ là họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và họa sĩ Trần Văn Cẩn. (6). Léo Figuères: Đại biểu Quốc hội Pháp, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, năm 1950 đã sang thăm Việt Nam, ủng hộ cuộc kháng chiến của ta. 13-9-50 Hành quân đi. QU - PH. Nhớ con đường Léa đi Nguyên Bình. Nắng. Những phụ nữ Thổ, Nùng, Mán Lài sửa đường, cả mấy em gánh đá. Họ cười và nói chuyện với đoàn cần vụ. Một sở đập đá mùi thum thủm. Những bếp dọc đường, người trong ánh nắng. Lúa cao. Cán bộ cũng lên cả. Gặp Đạo. Tin Triều Tiên. Trước Nam phần cũng tranh đấu như Nam Bộ. Cũng phổ thông đầu phiếu. Do đấy họ mới nổi dậy chóng thế. Mỹ đàn áp rất gay: triệt hạ hàng làng. Pháp nói: Việt Minh và Trung cộng liên kết với nhau. Chỉ chờ có chứng cớ là đem ra Liên Hợp Quốc. Càng rõ vì sao có thư Cụ. Đã có lệnh thủ tiêu các tài liệu có thể là bí mật. Đạo hỏi Phao về tình hình chi bộ, về tinh thần lính. Sẽ xuống khai hội trong một thời gian ngắn. * Ngủ rừng. Có bố trí nên gọn. Một con bướm lượn trên ngực. Một con quạ kêu trên cành. Nghĩ đến người đội viên, thương và kính phục họ. Chỉ làm, không được hưởng gì. Người thường dân cũng thế. Một tiếng gà gáy trưa. Bên đường, một em bé đang nạy một hòn đá trên sườn núi. Hai người đàn ông cuốc đất xuống đường. Hai ba phụ nữ nằm ngủ bên rệ đường khăn đắp mặt. Bên suối, một tốp phụ nữ đang làm cơm. Thịt, bí đỏ, đu đủ. Một câu nói: Chó chê khỉ lắm lông. Thổ công chê ông Táo nhọ mồm. - Thế này thì như ném đá xuống ao còn gì. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Ba, 2017, 10:04:40 pm 14-9-50
Hành quân. Bộ đội chạy: vai bao gạo tướng kèm hai thanh tre như bó lợn. Tiếng kêu coong coong của ca. Thừng buộc nút đầu súng. - Đi nhanh lên anh hùng Cao Bắc Lạng. Ôi thôi, rơi nắm cơm rồi. - Máy bay hay trù nắm cơm lắm. - Lắm lừa quá. Sao có con lừa cao thế. Hồ lô nước. Ống nước tre bọc vỏ. Những dân công nep(1), đòn tre cao. Xẻng xè xè, lọc cọc. Một quả bí giữa khúc gạo. Vai nghiêng hòm. Đu đủ, rau muống. Hai súng chập một. Những quả lựu đạn thành chùm. Khăn mặt, slip (xi líp) cùng ngụy trang lùng thùng. Đóng đai hai bao gạo. Tay cầm đồng hồ báo thức. Gánh 6 ba lô da. - Lừa chuẩn bị lên thồ nhớ! Một anh mặt rỗ môi dày nói. Dân công áo chàm lẫn nón sau lưng. Kẹp giữa bộ đội. Những chị phụ nữ cúi đầu, mặt kiên nhẫn. Một dân công có tuổi đầu trọc. Hai bồ cắm cành cây trông như chậu cảnh. Dắt một con chó đen ức trắng. - Anh hùng Cao Bắc Lạng đeo xoang xoảng cả. - Quan ba trông thấy có khoái trí tang bồng không. - 75 hay gì thế, có vẻ ngoan ngoãn phục tùng lắm. - Gớm vận tải khỏe nhất. Những chị dân công lớn nhỏ cúi đầu yểu điệu cành ngụy trang. Bộ đội bloqué (ùn lại) ven rừng bên đống khói lam. Con lừa ghê chân. Một dân công Mán đầu hồng mao, áo rách như khăn quàng. Ánh lên túi thêu của phụ nữ Thổ. Một người dân công nép bên đường ăn vội nắm cơm. Một đội viên húp vội cháo. Hai bó tre cao dựng như khải hoàn môn. Một cột ánh lên hai nón trắng to vành. Một người dân công khăn tay xách chai. - Truyền lên ơ, có đem dù cho ông Dần không. Đuôi lừa vắt như vẫy khăn tay. Cây đi lên, cây đứng. Bốn quả lựu đạn chày cắm trên một bao da sau lưng. Ống tre đút trong túi quần. - Lừa cách nhau 10 thước. - Voi gầm. Bát sứ trong lưới sau ba lô. Gánh hai cuộn dây điện thoại. Các chú thiếu sinh quân áo tím, áo nâu bạc màu, áo xanh lá cỏ, áo kaki bạc trắng. Một chiếc kèn đồng. Một cán bộ sạch sẽ áo quần trắng tay vung vẩy đồng hồ. - Ấy đừng đá tao mày. (lừa) - To quá này. - Tích cực như thế, chứ có đâu như bác xã nhà ta. . Một tiếng huýt sáo bài Tiến về Hà Nội. Ba thồ grincer (kêu cọt ket) se se như tiếng trẻ ọ oẹ. Bên đường nhà [lợp] bằng lá chuối. Mấy phụ nữ dân công nhìn ra. Dây xúc xích. Cổ tay vòng trắng. - Gia đình quân dân thật. - Quân dân tiền tuyến. Túi đỏ giữa cành ngụy trang. - Cố đi rồi về Chính phủ phát vợ. - Cứ phát tiền hơn. - Cấm tranh nhau. Hội nghị nói thẳng. - Vợ vừa làm thồ, vừa đẻ. - Sao anh lại có tư tưởng ấy. - Đi đi, vát. - Đấm tốt đi. Đoàn quân áo dài. Anh em vui giữa lúc người đi người về. Một biểu ngữ bắc qua đường, chỗ dốc đi lên, của e 36. Qиуết giật giải của Hồ Chủ tịch và huy hiệu Anh hùng Cao Bắc Lạng. Đường lầy lội trơn. Hai anh đợi cho quân đi rồi tháo biểu ngữ. Một người ngước lên đọc. Một người vừa chạy vừa nói: - Hoan hô. Chạy. - Truyền xuống chạy nhanh lên. - Câm không truyền à. - Truyền xuống chạy chóng lên. Tiếng lọc cọc. Lá rào rào. - Chạy tướt chưa. - Sao la mãi không lên? - La còn giờ nữa. - Chạy lên. - Bắt đầu hỏa lực mở máy nào. - Gớm thuốc lá con cú không chê được. - Mồm có phải lỗ đít đâu. - Chạy đi. - Quyết giật giải của Hồ Chủ tịch - rồi lại chạy, chân nhem nhép bùn. Vừa chạy vừa nhìn biểu ngữ: - Đây làm gì thế này. - Hú... Hú... Những quả lựu đạn xỏ trong những giỏ con đan bằng tre xinh xinh sau đít. - Bắt đầu. Rất là xa. - Quyết giật giải của Hồ Chủ tịch. - Anh hùng Cao Bắc Lạng. - Α. - A, rất văn nghệ à. - Tuyên truyền à? - Gió lên. - Dưới nhá, dưới nhá. - Dồn lên, dồn lên. - Gớm [thuốc lá] con cú thơm quá. Mẹ kiếp. Một anh đi qua biểu ngữ, dẩu mồm định đọc. - Dưới dồn lên nhé, cách xa lắm rồi. Tiếng núi truyền vang lên, giòn và âm. Tiếng huýt sáo ương ca. Một người Mán khăn vành gánh bọc, thây lẩy một bô đũa tre. - Bác mua con lợn (gạo) bao nhiêu? - 5 vạn. Một anh gánh một hòm đạn, đế mortier. Cuốc, xẻng, súng trên vai. Lưng: hộp máy ảnh, lựu đạn, xà cột, lưới ngụy trang thây lẩy chuôi dao. - Mau lên. Ống tre chạm vào lựu đạn cạch cạch. Ca oang oang. - Giết giặc (nhầm: giật giải). Xẻng cán ngắn. - Cao Bắc Lạng. - Lần này vớ thì bỏ mẹ. - Anh hùng Cao Bắc Lạng (hú,ù). - Văn nghệ bây giờ mới bắt đầu. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Ba, 2017, 10:09:44 pm Một cán bộ mệt, bandoulière chăn(2) và hai bao gạo. Một đồng chí đau tay: bàn tay còng queo còn một ngón. Anh đã dự những trận nào?
- Anh em có trông thấy cái gì to to treo ở dưới ấy không? Một người đầu trọc vừa đi vừa hút. Một dân công Mán vừa gánh vừa ho. Một người đứng tuổi: - Gớm các đồng chí đặt khẩu hiệu như thế này. Làm cho người ta thoạt trông đã đọc được mới phải chứ. Phê bình ngay. - Có riêng mình ông [không đọc được]. (Mấy anh trong ban chính trị khó chịu...) Những gạc gậy. Bông áo bút máy, xanh đỏ trước túi. Con chó đen nhởn nhơ chạy theo, quàng cổ cái dây vải trắng. - Trên đứng lại ăn cơm. Tiêng reo rầm rĩ. Há à. - Khấu hiệu dài quá. - Rút kinh nghiệm (hai [cán bộ] ban chính trị nói). Yêng hùng Cao Bắc Lạng. Pháo binh lên dốc. - Còn một tí dốc nữa thôi. Lên đi cho người ta đổi vai. - Mau lên để xem khẩu hiệu. Đẹp quá. - Du lên hộ tớ một tí. - Nặng quá đấy. Đỡ đi. Mấy người đàn bà Mán Lài lưng lom khom, để hở ngực thõng vú. Một người Mán cổ đeo vòng bạc, đầu để chỏm, áo rách. Mán Lài đeo giỏ sau lưng. Khẩu hiệu: Giữ vững kỷ luật chiến trường, treo trên mái một lều lợp chuối. Một đội viên đi một mình nép kêu: úi dùi se sẽ. - Lúc ấy khẩu hiệu là khẩu hiệu gì? - Không biết. Lên dốc mờ cả mắt. - Làm ngay vào chỗ mờ mắt. - Mỗi người đi qua đọc to cho mọi người nghe. - Giữ vững kỷ luật chiến trường. - Giữ vững kỷ luật chiến trường. - Kìa sao không liên tục đi? - Lệnh của đại đội trưởng. - Truyền lên, rẽ sang tay phải để ngựa đi. - Báo cáo lên, ở dưới còn xa lắm. Một cuộn thừng cuốn lối garrot (garô), vắt vẻo sau đít như cái đuôi giữa hàng lựu đạn chày. Rồi lại những người lệch vai vác hòm đạn, bộ phận của liên thanh. Những quả bí xỏ trên đầu gánh, to kệch. Cổ mồ hôi như bôi dầu. * Bị lạc. Nằm nghỉ an nhàn dưới một lều, lợp chuối dãy dài. Một gói cơm lớn với đôi đũa. An nhàn nhìn bộ đội và dân công trẩy qua. Chờ pháo binh. Vì đi quá xa thành lạc. Không thấy sợ. Có một cái gì thoải mái. Một rừng chuối dưới khe. Một con chim the thé trong rừng. Một người Mán, đầu trọc, hồng mao búi thành tóc nhỏ xíu, đi lom khom. Củi đã đốt trên tay, gió. Hai búp chuối đỏ trong tay. Hai người gánh một hòm gỗ, một hòm sắt lênh khênh bên một chiếc nồi đồng. Giữ vững kỷ luật chiến trường, một người Thổ đọc một cách dõng dạc. Hai chị Thổ khiêng hòm đạn, chị đi trước áo nâu, chị đi sau áo chàm, quần đến bẹn, khua gậy, mặt châm kim yêu kiều. Gặp Vi Huyền Trác(3). Đóng ở Bố Bạch. - Không mong gặp nhau ở giải phẫu viện đâu nhé. Hơi ngại. Ta có làm sao không? * - Trung đội 4 có quyết tâm giữ kỷ luật chiến trường không? - Truyền lên: có quyết tâm giật giải của Hồ Chủ tịch không mà đứng cả lại thế kia? Một đội viên thủng thẳng một mình dưới bóng râm dừng lại đọc khẩu hiệu. Tin Hưng và các cố vấn sắp đi qua. [Trung đoàn] 174 làm nhiệm vụ chính. [Trung đoàn] 36 đánh quân nhảy dù. Một đồng chí mặt đỏ gay, lảo đảo. - Không đi được nữa à? - Anh lắc đầu. - Thế thì chiều hôm nay làm thế nào? - Nghỉ. Anh quị xuống và ngã lăn ra bên đường. - Dậy đi. Sao lại liều thế. Anh Hiệu! Hai con bò loang trắng thấp lè tè đi qua. - Ai người ta chả mệt. Đến nơi anh vật ra thế à? - Đi đi, xa lắm rồi. (c trưởng gắt) Đi cả một f. Không đi được thì cho gọi người khác chứ. * Đảng Tàu phê bình: Việt Nam hình thức nhiều. Bắt dân làm nhiều. Khiêng không được thì cán bộ phải mó tay vào. Nhiều người tay không quá. Hỏi một người cần vụ. Nói: - Mệt nhưng vui. Nhà có 3, 4 anh em. Người đi vệ quốc, người đi làm việc. Chỉ có vợ ở nhà. Phải có người ở nhà để đi trâu, đi bò chứ. - Mán chỉ đeo sọt, không biết gánh, nó quay đi quay lại không gánh được, không khiêng. Phải ở núi, xuống thì đau chân, thối chân. Trưa. Nằm ngủ la liệt. Một dân công nằm giữa hai đòn tre khiêng đạn, che cái nón lên trên: giấc ngủ của một người vô tội. Bộ đội ngồi kể chuyện Phố Lu, Nghĩa Lộ. * Siêu Hải yêu lừa, thích ngựa. Vỗ tay vào lừa. Đi đường nói chuyện với anh em. Những lừa và ngựa do Lỗ Xúc trông nom được mọi người trầm trồ khen ngợi, khỏe và béo. Xúc sung sướng. Trước làm tiểu đội phó, văn hóa kém, không học được máy ngắm. Nay đắc địa. Chiều tà, bộ đội tới Bản Viện, cách địch 6 cây số. Bên suối, một bãi đá. Người qua suối, với gậy gộc như cào cào. Những bếp dựng trên bãi. Suối đục. Các chị phụ nữ vén quần. Một chị khăn vuông trắng. Một cái khung đại bác nghễu nghện. Người đã trút được gánh nặng nên đi nhanh. Một phụ nữ áo chàm viền trắng bứt lá về. Người ta đi kiếm củi. Một phụ nữ khuân một cành cây lớn. Việc làm lán bắt đầu. Chiều bảng lảng. Khói tỏa đầy bãi: [giống như] chiều 30. Liên nói: Mình thấy ấm cả người. Sức con người thật lớn. Mùi thịt thơm bay lên. Rồi lại những bộ đội gánh gạo, ba lô. Con lừa ống xiết đứng chờ bên bờ suối quay lại như nói chuyện với mã thủ. Những nón Thổ chụm lại với những người xếp thành hình tròn. Đại đội ở một hang. Suối lượn trước mặt. Giữa hang, mấy phụ nữ nằm như hằng nga ngủ trong rừng. Một bên là những giá để hòm đạn. Vài nón treo trên cành trước hang. Trên bực cao, một nhóm phụ nữ ngồi nói chuyện: một ngôi sao sáng lọt vào. Trong hang đá to, những phiến lớn: dân công ngồi. Vài bếp lửa. Hai đội viên ốm của e 36 ngồi nấu cháo. 18.30. Phao khai hội. Báo tin 6 giờ 16 [bắt đầu]. Thời gian còn: 36 tiếng. Một người nêu vấn đề chứng minh thư. Mang chứ. Vì có chết địch nó biết là Vệ quốc quân. Cử người đi BB (Bố Bạch) lấy gạo. Tập trung 5 tải gạo, còn giao trả để công sự. Tơ mơ sáng về báo cáo để cho lừa đi đón. Nướng thịt bò, trừ bữa sáng mai. Phát tiền cho dân công (20 đ một ngày). Trung đội 1 và 3; ăn cơm xong, đi ngay BB để nhận vị trí (nhớ 6 cây số cách vị trí địch. Bí mật). Phổ biến cho anh em: đánh V2(4) (họp nhóm đừng nói vung). Chúng ta làm nhiệm vụ chính. Việc mai: B 1 và 3: đan sọt. Lấy được càng hay, không thì mua. (Có người nói đã có bao tải. Phao: Càng dày càng hay. Có người đề nghị nhờ dân công. Một người: Dân công có phải là trâu kéo cày cho mình dâu). Công sự [pháo] làm theo kiểu cũ: giao thông hào hai bên. Không dùng ván mà dùng cỏ gianh. Hòm đạn: xúc đất đổ vào để làm công sự. Cửa súng phải có tải. Các hộp đựng ngòi phải vặn ra bằng hết. Nếu không lúc ấy lúng túng. Đạn: sáng mai. Làm thế nào các hòm mở cho dễ. Cắt người thường trực để gọi một cái có ngay để đi lấy đạn. Được thêm 50 viên. Phân chia dân công ngay. Bao nhiêu cho Khánh, bao nhiêu cho Thát. Dân công: 7 giờ sáng đã cơm sáng xong, và xong cả cơm chiều. Còn bộ đội ăn nóng được (vì nhiều bếp). Quân y: tải thương xuống suối, rồi đi BB. Hộp đựng ngòi để đựng thuốc tím. Đội lừa ở lại đây: 5 người. Chiến thắng thì về thồ rồi đi đánh ngay. Chưa chiến thắng thì phải thắng. Một người tỏ ý bi quan. Anh em: Phải tin tưởng. Một người: Ngộ Mỹ... Công sự: 3 giờ chiều mai đi, 6 giờ đào, 3 giờ sáng: xong. Ngưu lo dân công chạy. Công sự. Đề nghị cấp dưỡng nắm cho anh em công sự mỗi người một nắm cơm. Thỉnh thoảng pha trò. Cơm xong, trong bóng tối Nạp và Dần sửa soạn đi. (1). Tác giả viết không có dấu, nên không rõ ý là các dân Công nép bên đường hay mang nẹp? (2). Ý nói đeo chăn chéo qua vai. (3). Bác sĩ quân y và là con của nhà viết kịch Vi Huyền Đắc. (4). Mật danh của vị trí Đông Khê. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Ba, 2017, 10:18:09 pm 15-9-50
Sớm. Các chị Thổ đã dậy, ăn cơm nắm. Mấy chị Mán trắng, váy trắng xùm xòa, rách gấu nhảy trên các mỏm đá trong hang. Hai chị ngồi bắt rận cho nhau. Ngực đen nâu, Xương rõ. Hiếu, Kỷ đi BB (Bố Bạch) về báo tin không được gạo. Xúc săn sóc đàn lừa, đem vào hang. Một người ngái ngủ nằm trên một phiến đá nhẵn. Cảnh hang như động. Các anh mã thủ cắt cỏ cho lừa, mắc máng. Mấy anh dân công đứng trên mỏm đá bên những chồng nón, cười xem khoái chí. Phao đi khai hội tân binh và các tổ. Thát nói: Chỉ ngại máy bay. Và phàn nàn cách bố trí hỏa lực: không dồn vào diệt một điểm nào mà phân chia mỗi khẩu đội phụ trách một điểm. Ngại nó nhảy dù xuống chỗ đặt đại bác. Trọng sửa soạn đem lừa đi lấy gạo ở QU (Quảng Uyên). Một anh Thổ cúi xuống xới cơm, lủng lẳng bầu nước. Một chị Thổ mặt rỗ vừa ăn xong, doãi chân, để thây lẩy ở cổ chân một chiếc vòng sắt to tướng. Tay anh Thổ đeo một vòng đồng cuốn thừng. Con lừa beige (màu be) đang ăn, đá con nhóc. Mã thủ cầm cành lá đập vào má lừa. Xúc không bằng lòng. Phao khai hội với các cán bộ, đại biểu các xã, nói về vị trí đánh. Không phải chỉ riêng bộ đội mà các đồng chí cũng dự vào trận đánh. Các đồng chí cố gắng. Trưa, ánh nắng chiếu qua mõm nhọ mấy con lừa nghỉ không ăn. Máng vải phơi rung rinh. Đại biểu một xã ra dặn dò các bạn đồng hành: Để ba lô lại, và chỉ đem chăn cần thiết. * Lòng hoang mang. Ngại đi, nhưng vẫn đi. Có một cái gì nghiêm trọng. Phao tươi cười. Lần đầu tiên trong lịch sử kháng chiến Việt Nam, chúng ta đánh ban ngày. Sáng hôm nay có máy bay lượn qua. Bộ đội tấp nập. Chắc các nơi khác cũng thế này. Phao hỏi Tạo: Địch có biết gì không? Nói: Không. Vài tiếng nổ mortier. Một người bạn đưa cho Phao tín hiệu. Để 48 đi trước, 301 nghỉ bên bờ suối. Bộ đội đề nghị ban chỉ huy cho ăn. Những nắm cơm nắm to kệch. Họ cười: thẹn mang nắm cơm to. Đoàn phụ nữ đi ở tiền tuyến về xắn quần, đùi to và tròn. Mặt thùy mị. Đúng là ngày Tết. Bộ đội bạn đi thủng thỉnh, quay lại hỏi nhau. Không vội vã. Ngụy trang. Những lá ở đòn lòa xòa. Chỗ nghỉ một thung lũng khá rộng. Ngại máy bay, nhưng ngồi hơn một tiếng không thấy gì cả. Một vài tiếng sấm. Nắng gắt. Suối chảy rầm rì. Bộ đội ngồi lâu nhấp nhổm rình đi. - Anh hùng Cao Bắc Lạng: 3 điếu thuốc lá. - A, ta ra đi lòng không biên giới. Tiếng hát hơi làm ra điệu khóc. Hành quân chậm, ngắc luôn. Bộ đội qua ruộng. Có anh rúm ró cả người lại, loạng choạng bước qua bờ. Giọt mồ hôi đầu mũi. Chân không rút ra được, rút ra nước như nấc. Núi đè xuống, đá cản lại. Anh bộ đội nhẹ nhàng chỉ bảo cách đi cho dân công. - Văn nghệ đã làm gì cho những đau khổ này? Uất ức muốn khóc. Họ đi vất vả vào con đường định mệnh. Hàm bị vắt cắn. Hỏi, nói nhỏ nhẻ như con gái: Vắt cắn đấy. Trời tối dần dần : Trên dốc cao Sáng cắt dây leo. - Cỏ cây đều phải bạt với nhà Vệ. Đoàn đứng đằng sau trông lên con đường kinh khủng sắp phải đi – Vấn đề lao lực. Lên những dốc thẳng. Nghe trong đêm tiếng thở dài. Có người lên thở dốc, ngã lăn ra. Ảo não. Nhất là người dân công. Nằm ngủ thiếp, dậy giữa tiếng chuyển đạn. Lại Siêu Hải. Phao gắt bảo mình xuống hầm. Hầm do [Trung đoàn] 174 đào sẵn khá sâu. Nạp lúi húi trên súng, vắt người ngả một cây tre xuống ngụy trang. Thái Hậu trong hầm, bên 3 hòm đã mở sẵn: một hòm các ngòi. Siêu Hải nói: Bộ chỉ huy không muốn cho một văn nghệ sĩ vào, nhưng các anh cứ vào. Giao cho Siêu Hải một bao thuốc lá thơm. 6.30 Siêu Hải hô bắn. Giờ lịch sử chạy một cách thong thả. Hai khẩu của 48 chưa tới. Bốn quả sau mới có réaction (phản ứng) của địch. Pháo binh ta im tiếng bắn, 105 của nó bắn sang. Đạn đại bác réo trên đầu, nổ sau lưng. Phong bị thương, tiếng Phao nói. Hình như cả Hàm. Rồi Cường. Một quả rơi, đầu toàn đất. Rồi nó lại bắn xa. Rồi thốt nhiên một quả nổ bên, nổ trước, Cường bị thương nằm trong hầm, Yến thở mất tinh thần. Chạy sang bên, rồi chạy theo sau giữa tiếng nổ của đại bác. Đi gặp bộ đội, một dân công hôm qua khiêng súng nằm ôm đầu máu me. Anh ... người Thanh tân bình đã chết, hai chân sưng gập lại. Những giọt máu dọc đường. Những chiến sĩ hi sinh đầu tiên trong trận đánh. Qua một bên đường: một em bé ngồi trên chiếc chõng tre, giải bạt. Em ở tiểu đoàn bộ, nằm chờ những người tải thương. Máy bay bà già lượn. Hai lần. Rồi bốn khu trục lượn, ném bom xuống Khâu Bảng, phía nam nơi đặt pháo binh. Trợ chiến và súng liên thanh bắn lên. Tình hình loạc choạc. Định trở [lại] bản Bun. Dọc suối, những người binh nằm ngủ, hoặc đào đất lõm xuống, hoặc xếp đá vây quanh. Tinh thần hoang mang, không dám trở về. Gặp hai anh, bộ đội hỏi mình: dơ đời. Gặp Hồng Vũ. Đi với xung kích, nói sẽ gay go chiều nay. Tới e bộ 73(1), gặp Tấn, lạnh lùng. Độ(2) ngủ. 3 giờ, 4 Dakota thả bom dây phía Bố Bạch. Mitchell(3) lượn. Bà già lượn trên Nà Pá. 73 quyết định Tổng tấn công. Mặc dầu không có pháo binh - mấy bộ phận chưa tới kịp. Một [máy bay] thả bom phía đông bắc thị trấn. E130 (?) đóng ở một hang đá, dây nói chạy suốt. Những người ngủ giữa khe đá. Trong hang kê phản bốn người làm việc. Tấn nằm hơi affecté (kiểu cách) trên phiến đá nghiêng. Gọi là Chỉ huy sở. - Gọi Khau. Bản bảo pháo binh lên, Tấn truyền lệnh. 4g10 hai khẩu pháo đến: lắp xong rồi. Mọi người vui vẻ. 1/ Mục tiêu chính Pò Hẩu: 166. 2/ 130(4) đánh Pò Đình sau đó đánh tung thâm Phủ Thiện. Kế hoạch như cũ, hơi khác là 130 đánh thêm Pò Đỉnh, vì có 2 SKZ. Mortier 82 bắt đầu 5g30 bắn 20 [viên] vào đồn to. 3/ [ở Trung đoàn] 178 - Các đơn vị bắt đầu nghe máy để nghe lệnh anh Tấn. - Suốt chiều khu trục lượn ầm ầm chuyển núi. Giặc thả 10 dù [xuống] đồn to. [Mortier]82 bắn ngay. Trận đánh: [Trung đoàn]174 bắn trúng đồn to, nhà thương. 73 chưa đánh. Bàng(5) sốt ruột. Cố vấn khen và sốt ruột. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Ba, 2017, 10:20:16 pm Sau một buổi chiều khu trục quần. Núi xanh rồi sương tan dần. Từ đồn to một vệt dài lam lan ra ruộng. Không trông thấy gì ngoài khơi. Một vài đạn lửa đỏ ối.
0g07: 73 chiếm Trường học, nha cũ, tiến vào phố cũ đánh vào công binh. Phủ Thiện vẫn chống giữ. 174 xung phong một c vào phía bắc đồn to, giặc chạy về phía nam. 73 ra lệnh cho 66(6) chuẩn bị truy kích và tiêu diệt. 36 chặn. 178 chú ý bảo vệ pháo đề phòng địch tiến vào đấy. Tiểu đoàn đánh đồn to và tiểu đoàn đánh công binh đã liên lạc với nhau. Phủ Thiện: - Các đơn vị báo cáo vui vẻ, hoan hô lẫn nhau. Độ: Nous nous coupons la gorge lui (Chúng ta cắt họng bọn chúng). Bộ chỉ huy ra lệnh 66 gọi địch ở Khâu Áng đầu hàng, bắc loa về Pò Hẩu, Khâu Áng. Địch vẫn bắn liên thanh ầm ầm núi. - Mời ông Hứa nói chuyện giải quyết được Đông Khê rồi. - Dặn Kim Thành vẫn giữ một đại đội khá để buổi sáng giải quyết nốt Pò Hẩu và Khâu Áng, nếu cần. Giải quyết xong cho cất hai khẩu trọng pháo, còn hai khẩu vẫn để nguyên. Có máy bay không được bắn. - Địch ở Phủ Thiện còn nhiều và chống kịch liệt. Ta đã chiếm được hai nhà ở Phủ Thiện. Nhà Ký Sầu chưa lấy được (nhiều hầm, dùng thuốc nổ và SKZ giải quyết). Ông cố vấn quần đùi loạng choạng chạy ra. Địch xuống phố bắn lên đồn to. D cho sục sạo đề phòng địch bao vây. Nhưng ở phố không có đèn, ở Phủ Thiện, Ký Sầu bắn, đang dùng bộc phá. Đột nhập Ký Sầu trước nhà thương. - Đánh hỗn chiến mà téléphone không đứt. Chuẩn bị một trọng pháo, ngắm sẵn vào Pò Hẩu chờ lệnh đánh. Tối 15-9-50: đi trong rừng, nhìn vào lá mục trên đầu liên lạc, đi đêm nhớ đường. Có chỗ lấp lánh như sáng trăng: lá mục. Mơ màng như trông thấy nhà, vườn, v.v... Tối nay: trăng mới lẩn trong mây. Công dụng của bộc phá: 1 giờ 7’, địch rút cả về Phủ Thiện. 30(7) tập trung 50 [khối] thuốc nổ và SKZ giải quyết Phủ Thiện. 66 cũng vậy, giải quyết Ký Sầu. Kế hoạch chiến lợi phẩm, phòng không ngày mai. (1). 73 là mật số của Trung đoàn 209. (2). Tấn: Lê Trọng Tấn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209, một trong những chỉ huy mặt trận. Độ: Trần Độ, Chính ủy Trung đoàn 209. (3). Mitchell: Máy bay khu trục, còn có tên phổ biến hơn là Spitfire. (4). Bên trên tác giả có viết E 130, nghĩa là Trung đoàn 130, nhưng trong thực tế không có Trung đoàn 130 mà chỉ có Tiểu đoàn 130 của Trung đoàn 209. (5). Bàng: Trung đoàn phó Trung đoàn 209. (6). 66 là cách gọi rút gọn của Tiểu đoàn 166 thuộc 73 (mật số của Trung đoàn 209). (7). 30 là cách gọi rút gọn của Tiểu đoàn 130 cũng thuộc 73. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Ba, 2017, 10:25:34 pm 17-9-50
Địch cố thủ Phủ Thiện bắn ra điên cuồng. Bắt đầu từ một giờ sáng, địch bắt đầu phản kích. Tên chỉ huy rất giỏi, bình tĩnh, trong lúc bộ đội vào không bắn, rút xuống các công sự. Bộ đội ta chủ quan, vào nghênh ngang, có người cho là nó sắp đầu hàng. Bộ đội đã phải rút các vị trí đã chiếm được, trừ Phìa Khóa, Cầm Phầy, Yên Ngựa và Pò Hẩu. Khuyết điểm to nhất là thông tin kém, sai. 174 chiếm được đồn to, nhưng không đánh xuống phía nam, ở đấy hỏa lực nó mạnh. Nhưng điện lại vẫn cho là 174 đã hoàn toàn chiếm được đồn to và do đấy ta không bắn đại bác vào đấy nữa. Bộ đội 73 vì thế bị thương vong nhiều. Có cảm tưởng như hồi 19-12-46. Lạc quan rồi sai hết. Chính ủy Lê Tư gửi chỉ thị cho các cấp, nói toàn những giọng bã mía, không thực tế một chút nào. Trần Độ cười, cũng như nhiều người cười. Chỉ thị rỗng tuếch. Toàn những tiếng kiên quyết. Tinh thần: Anh em biết là đã làm tròn nhiệm vụ. Nhưng băn khoăn không phối hợp chặt chẽ. Mệt. Pò Hẩu bắt được 1 tù binh, 1 đại liên, 5 súng trường. * Tinh thần mỏi mệt sau một đêm thức vui tin tức. Chiều 15 giờ. Phi cơ hoạt động, oanh tạc. Thư Hồ Chủ tịch: Hỡi các chiến sĩ yêu quý: Vệ quốc đoàn Bộ đội địa phương Dân quân du kích Chúng ta quyết đánh thắng trận này. Để thắng trận này, các chiến sĩ ở mặt trận phải kiên quyết dũng cảm 100%. Ai có công to, Chính phủ sẽ thưởng. Hỡi các chiến sĩ yêu quí Bộ đội này thi đua với bộ đội khác, địa phương này thi đua với địa phương khác. Cuộc thi đua “giết giặc lập công” và chiến dịch nhất định sё thắng lợi. Toàn thể các chiến sĩ tiến lên! Thắng lợi đang chờ các chú. Tôi đang chờ để khen thưởng các chú. Chào thân ái và quyết thắng Hồ Chí Minh. Chiều 5 giờ Tổng công kích lần thứ 2. 1/ Pháo binh: lúc đầu 4 khẩu - phía nam đồn to. Bộ binh tiến vào Ký Sầu. 82 ly bắn Phủ Thiện. 2/ Bộ đội nhằm tấn công Phủ Thiện 2 khẩu đại bác bắn vào Phủ Thiện đồng thời. Còn 2 khẩu vẫn bắn phía nam đồn to. 3/ Bộ đội nhằm tấn công trường học 2 khẩu bắn vào trường học 2 khẩu vẫn cứ thong thả bắn kiềm chế phía nam đồn to. Và cứ theo đà đó tiếp tục. 2 khẩu bắn đồn to. 2 khẩu bắn trước vị trí định chiếm trước cho bộ đội xung phong. Từ lúc Tổng công kích, cho đến khi có obus fusant (đạn pháo nổ trên không), 2 khẩu cứ đánh phía nam đồn to, còn 2 khẩu làm nhiệm vụ tung thâm. Lúng túng lệnh. 5 giờ phát hỏa, mà pháo binh còn chưa bắn. Bàng gắt trong máy nói. Ra lệnh, Liễn không ghi, lúc đến giờ hỏi lại. Bàng nói: Bây giờ con người cần phải tinh vi, không ở du kích thời kỳ nữa, không thể luộm thuộm nữa, không lý thuyết suông nữa. Không đúng giờ là một cái bệnh cần phải đập tan. Dưới ánh nắng chiều của Chỉ huy sở, hội họp chờ đợi phát súng đầu của đợt hai. Máy bay giặc vẫn hoạt động, chủ trương bay đến tối. Sự chỉ huy xung kích hôm nay có vẻ khoa học hơn hôm qua. Bàng nói: Không những phải khắc phục khuyết điểm, mà phải khắc phục cả những nhược điểm: ví dụ không có téléphone, thì phải kiếm cách có téléphone. Tối - Gặp Lê Thước(1). Biết tin tức Siêu Hải, Phao. Tiếc không theo rõi sự điều khiển và kết quả chiến tranh, về với anh em. Họ vui vẻ, ngờ rằng mình đã chết. Không ngủ được: lo không biết có giải quyết xong Đông Khê không? Hình ảnh Hoàng Văn Ngưu, Vãn, Phái, v.v... nhất là Ngưu phảng phất trong đầu. Thương Ngưu. Sẽ viết một truyện về tân binh. (1). Có thể là tác giả ghi nhầm họ của Nguyễn Thước, Phụ trách trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 pháo binh, được thành lập trong Chiến dịch Biên giới (9- 1950). 18-9-50 Đông Khê ta đã chiếm, giặc xuống một cái hầm. Ta bắt một thiếu úy cho nó xuống hầm dụ bọn kia ra hàng. Vui. Máy bay hôm nay không lên sớm. Các chiến sĩ bị thương của 73, 36 trở về quân y, bộ mặt quê mùa không hợp với bộ quần áo binh phục, và sự trang bị mới. Bốn hàng binh. Giặc Pháp. Các dân công đi tiếp tế đạn, gánh đạn trở về. Những phụ nữ vẫn hàng một dài đi vận tải. Một người nói: - Giặc đi qua đánh cho nó một cái. - Mình không làm thế được. Nó đã hàng thì phải tử tế với nó. - Do thế mà mình thắng nó. Đông Khê hoàn toàn bị tiêu diệt. Tù binh Pháp hơn một trăm giải về Bố Bạch phần lớn bị thương. Mấy thằng Việt gian trâng tráo, mũ cao bồi, áo Mỹ, một thằng dử mắt. Mấy người phu mặt mũi cháy xém. Thằng quan hai trẻ. Mấy con mụ me Tây: xin các anh cho một ngọn mác. Vì sinh kế phải đi với nó, các anh còn sỉ vả. Một chị Thổ xinh xắn, hỏi, cái tươi tắn ánh lên trong cảnh bẩn thỉu. - Bắt những con này về làm gì? Giết mẹ nó đi để cơm cho bộ đội. Một ông lão: - Mày tưởng Việt Nam không có anh hùng à? Quân địch chống cự rất kịch liệt. Nó rút xuống hầm hơn 100[tên], không hàng, ta cho thuốc nổ giết hết. Có 8 tên cũng không hàng, còn một tên cũng không hàng. Kỷ luật chiến trường giữ vững. Có đồng chí chỉ cầm một đồ vật lên, rồi lại vứt xuống. Thuốc nổ: có người xông lên rồi các bạn tiến lên đặt thuốc. Dân chúng sung sướng. Tiếng thì thào: - Bây giờ cũng dễ làm ăn. Giặc còn sang: [thuốc lá] Craven A. Đồng hồ. Những đồ trang sức cuối cùng của một giống điên rồ. Những đoàn phụ nữ tối ra Đông Khê thu dọn chiến trường. Dân công vui, nhưng không lộ vẻ gì. Ngồi thu lu trong hốc nhìn ra. Dân công tắm cho những người bạn tử trận rất kỹ. Buổi chiều nhẹ nhõm, tuy thẹn không làm gì. Riêng [Đại đội] 301 không vui lắm. Chưa bao giờ pháo binh có cái tang lớn như thế: 8 người tử trận. Nhưng họ ngồi phê bình [Trung đoàn] 48. Hàm: - Không có mình thì d này chẳng bắn được phát nào. - Đi chiếm lĩnh trận địa mà lại mang hai bánh và nòng lên trước. Đáng lẽ hai bánh và trục lên trước nòng đặt sau cùng. Máy bay hoạt động ít. Có tin 2 máy bay bị hạ, một chiếc hoàn toàn không hỏng. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 15 Tháng Ba, 2017, 10:32:48 pm 19-9-50
Đồng chí Thào(1), dân công. Trước đã đánh ở khu X, đã đi lính cho Pháp, người dong dỏng cao, trán bóng, tóc thưa, rất được việc. Hỏi đường đi, khuyến khích anh em. Sự săn sóc dân công của bộ đội kém. Trong liên hoan không đề cao công của dân công. Để một dân công bị thương đi lấy thuốc lạc lõng không biết quân y ở đâu mà tìm. Thảm [cho] anh em thương binh. Trong một hang rộng. Làm những giường sơ sài. Nhật lệnh của Đại tướng trên phiến đá. Thư Cụ. Cuối hang, chung quanh riềm trắng, Vi Huyền Trác và các y sĩ đang mổ cho Hồ Kỳ Lân. Các chị phụ nữ áo xanh đi rót nước vào những đĩa kền vuông cho thương binh. Vài chị đun nước, nấu cơm, hay ăn cơm. Những tiếng “anh ạ” trìu mến. Chán ghét chiến tranh. Tuy lòng mừng phơi phới. Trời thu. Lá rụng lơ thơ. Cánh đồng lúa chín xanh vàng. Mùa gặt năm nay đẹp. Mùa sáng tác rồi đây. Và cũng mùa chiến thắng. Bên dòng suối đục, ba thằng giặc, một thằng mặt như Montesquieu(2), úp tay lấy nước uống, hoặc cho nước vào ống tre. Vài chị phụ nữ thành một hàng dài đi tiếp tế, mỗi người bốn con rắn gạo vắt ngang, trắng, làm thành những áo trắng hở ngực. Máy bay ném bom một bản bỏ không. * Đêm qua hai đơn vị phối thuộc liên hoan, d phó Đăng nói chuyện về trận thắng Đông Khê. Họ không có ý thức, không đả động đến dân công: công lao của những người này to. Chỉ cơm và muối. Ý thức bí mật kém. Chiến thời mà vương vãi quần áo bừa bộn. * Ngưu(3) bị thương, chỉ nói được: Báo cáo anh Nạp, tôi bị thương. Và tắt thở. Một buổi trưa. Lúa con gái bọc lúa chín. Lúa chín bọc lúa xanh, lúa con gái bọc núi đá. Trong khóm cây một người đàn bà đứng tuổi còn xinh ngồi chăn bò. Bộ đội lại lên đường đi PM (Pò Mã), xen lẫn những đoàn áo xanh lút trong ruộng lúa chín. - Các chị đi vận tải cho tôi đấy à? - Thế các anh làm gì? - Đi vận tải đầu Tây đây. Ôi ruộng lúa lộng lẫy của chiến thắng, tôi muốn ôm lấy ruộng lúa như núi rừng ôm lấy chúng. Người đi và đường cũng đi. Hỏi đùa một chị vác xẻng: - Chị đi đâu? - Đi chơi đây. - Người ta đi đánh giặc mà chị lại đi chơi. - Đi giết Tây đây. Người đi rầm rập. Có cảm tưởng không phải bộ đội đánh Tây mà dân chúng đánh Tây. Gậy, nồi. Các chị đi. Lòng người phấn khởi. Nhận được thư Lan và Ước. Đêm: Thọ mần tuồng. Giời mưa. C ẩn tại một bản bỏ hoang. Chung quanh núi đá, lọt thỏm ra ngoài một đồi đất có ruộng đỏ bên ruộng vàng bên vườn xanh tàu bạch, giữa những bụi cây. Dân công mệt, vừa đun bếp đã lại phải gánh đi trú mưa. Mặt ngơ ngác, nhưng không có một tiếng phàn nàn. * Công phu xương máu được một trận, lại để hàng chục tù binh trốn khi một tiểu đội dẫn chúng qua đường số 4. Không trói! Để một tiểu đội dẫn! Nhân đạo vô lý, và sơ hở chủ quan vô cùng. Không thể tha thứ được lối làm việc ấy. (1). Nhân vật người dân Công được tác giả giữ nguyên tên trong Ký sự Cao Lạng. (2). Montesquieu (1689-1755): Nhà văn Pháp, có khuôn mặt khá đặc trưng. (3). Hoàng Văn Ngưu: Xem nhật ký 30-8-1950. 20-9-50 Sáng. Tiếng mortier giặc nổ. Chúng liều đánh ra hay sao? Ngoài ra yên tĩnh. Trong ao đàn vịt con nghịch nước, ba con ngỗng béo đứng trên bờ rỉa lông. Đoàn cần vụ đã có mặt trên đường rừng. Ô! Nhiều quá. Hình ảnh họ nổi bật hơn cả hình ảnh người vệ quốc quân. Một ông cụ ngoài 50, cao như người Anh, lưng hơi gù, nhưng dáng nhanh nhẹn, mời tôi vào nhà. Cụ đi giao thông suốt đêm vừa qua. Hỏi, cụ nói: - Vì anh em dân công đi hết rồi. Không đi thì làm thế nào? Gần Bản Ne. Đơn vị Siêu Hải nhẹ nhõm trở về d của mình. Thoải mái. - Có lẽ giặc tiếp viện ở Thất Khê cho Đông Khê. Và có lẽ gặp [Trung đoàn] 102. Tao ngộ chiến. Dọc đường gặp 102 quay trở lại V2 để đánh giặc. Địch tăng viện hơn 1000 quân ở Thất Khê. Bọn Vũ(1) đang rối rít lập công sau trận thắng. - Một đội viên thấy tù binh cởi trần, cởi chiếc áo của mình cho hắn mặc. - Chị Thiếp nữ dân công bị đau chân, nhưng không về. Chị đi kiếm củi, bị đá làm thủng chân, đau, nhưng không như các bạn, chị vẫn vui vẻ ở lại với bộ đội. Đồng ở đây đẹp quá. Lúa và lúa. (1). Có lẽ là Vương Thừa Vũ, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 mà Trung đoàn 102 là đơn vị trực thuộc. 21-9-50 THỨ TƯ HẢNH QUÂN PHÁO BINH Đồ phụ tùng Bánh xe, trục Khung Ống xiết Lá chắn Nòng Đuôi Bó gậy Các đòn Một con lừa: một bên cỏ, một bên rơm, có cây ngụy trang, anh mã thủ mũ lá ngụy trang lá non mơn mởn. Bó rơm để chèn đuôi súng. * Lại có lệnh lên đường. [Đại đội] 301 vừa về lại đi. Nỗi ngại của người đội viên, trở lại chỗ hôm qua đáng lẽ đóng quân. Dân công khổ quá. [Chỉ có] Cơm và muối. Không có nhà ở, toàn ngủ ngoài đồng, trong núi. Lệnh hành quân, họ đang thổi cơm. Mưa to như trút. Chúi bên những cây lưa thưa. Nồi cơm đã có gạo nước mưa trên miệng nồi, lửa rụi. Chiến dịch khó khăn, vất vả, lao lực quá. Thương hại những người dân công. Mắt họ hiền lành quá. Mưa. Áo quần ướt. Rét. D bộ đi, lanh lảnh tiếng cười trong trẻo của các nữ dân công. Tin giặc đánh từ Thất Khê tới Lũng Phày, tiến về Đông Khê. Thất Khê tăng viện mạnh, sục sạo, đốt nhà chung quanh. Báo cả tin ta đánh Đông Khê và sửa soạn đánh Thất Khê. Dân chúng tản cư vào lán. [Tiểu đoàn] 28 chặn địch ở Lũng Phày. Lại cuộc đời không nhà, ngủ rừng, đêm mưa vất vả. Thấy mệt, nhưng vui. Tin tưởng. Giặc đã đổi ra thế tấn công, phòng thủ. [Đại đội] 307 bắt đầu không có gạo. Siêu Hải cay không được vào tung thâm, nhận nhiệm vụ chính. 303 nhận nhiệm vụ này(1). (1). 303 là đại đội bạn, còn Siêu Hải là Đại đội trưởng Đại đội 301. 22-9-50 Trở lại bản Tồn, hôm nay về bản Xùi. Nhà nào cũng có đồ hộp, giấy bóng gói chocolat (sôcôla), gói [thuốc lá] Gaulois trên mặt sàn. Giặc đánh xuống 2500. 2500 chiến đấu viên. Thế rất mạnh. Tuế lo. Tuế, con người xốc vác, rất khôn, chính trị, tự mình làm lấy những việc lặt vặt nhiều. Vấn đề chiến lợi phẩm: 301 không được tiền úy lạo, không được chiến lợi phẩm, mặc dầu đã hành quân đúng giờ và chịu sức nặng của cuộc chiến đấu đầu tiên. Một phụ nữ xinh cầm liềm nhỏ gặt một vài lượm lúa chín, rồi bỏ vào một cái sọt nhỏ. Một hình ảnh bất thường trong chiến thời. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 08:45:30 pm 23-9-50
Giặc đánh từ Pò Mã vào bản Tồn. Pháo binh trở về. Những tiếng màn màn, khoa khoa (vỗ lừa). Đầu chạy đuôi lọt. Con lừa lộc cộc lên núi, trượt chân. Con lừa ngã dưới thồ, sau khi chui qua một thân cây tướng. Chồm chồm, nặng nhọc, lăn lộn. Thương nó quá. Bộ đội bố trí đánh quân nhảy dù. Giặc định chiếm lại Đông Khê. Các đơn vị tham chiến được chiến lợi phẩm: đồ hộp. Các đơn vị dự chiến dịch cũng được biếu. Vỏ đồ hộp. Cảnh chia nhau, xin nhau, cướp lại của nhau, cười nói. Máy bay giặc quần bắn suốt chiều. Pháo binh mất đạn và gạo. Mấy thằng tù binh mới bắt được. Một thằng bịt mắt đâm vào cây. Ngạo nghễ. Một thằng capitaine (đại úy) nói: Các anh cứ gọi tôi là tù binh, các anh đông hơn thì các anh được, nhưng tôi tin rằng tôi sẽ thắng! Thắng ở chỗ nào nhỉ? Tàu bay và đạn Mỹ ư? Mấy anh Đức địch vận xum xoe. Phớt những thằng tù binh. Nói vài tiếng Việt Nam với mấy người Việt Nam. Đi chân đất. Đi lấy củi. Tay đeo ký hiệu đỏ. Bùi ngùi. Đêm ngủ ngoài trời. Trăng sáng. Màn trắng, màn Mỹ. Những tốp dân công bên nồi nước, bếp cháy. Lừa sau máng. Bò. 24-9-50 Một dân công gánh được gạo ở Pò Mã về, nói: Mình đã đi gánh gạo thì phải giữ. Không để mất thì mình cũng chết, không có gì ăn. Người đông quá. Thung lũng Bố Bạch đặc những người đi đan nhau. Tập trung trong những hang đá. Sáng bảnh mắt, đèo đá đã đầy áo chàm và nón rộng, và sọt và len lỏi vài anh bộ đội ngụy trang. Một phụ nữ nhỏ bé, khiêng hai vai mỗi bên một viên đạn đại bác, sau lưng cái đẫy trắng. Và lại gậy. Bộ đội người vác súng, người vác gạo. Người cuốc chim, người xẻng. Người bộ phận mortier. Người những viên đạn mortier, kẹp trong những cái nẹp tre. Giục nhau, nhưng ứ người không lên được. Bộ đội: bạt đen, bạt ka ki, bao gạo quấn thành đai chung quanh bụng, hoặc chéo qua vai. Lại vài chị Mán trắng còng lưng đeo sọt. Những cấp chỉ huy không ngụy trang. Ban mai, đèo đá, rừng âm. Mấy tên tù binh vác gạo, chân giầy chân bít tất, giầy quá hẹp, qua đèo đá. Hỏi chuyện thằng capitaine (đại úy) Allioux, nó nói: “Vous avez fait du progrès” (Các anh đã tiến bộ). *Quand on a affaire avec des fanatiques, on n'a rien à faire” (Khi người ta có việc với những người cuồng tín thì chăng còn làm được gì). “Các anh làm việc hay, nhưng thả những thằng lính thì nó biết gì. Phải thả những thằng như tôi mới có lợi.” Các chị dân công đi rầm rập. Lại gặp Sao Tiên(1) trong đám các chị. Hỏi có mệt không, nói: Nhiều người thế này, chẳng mệt. Một đội viên giải thằng quan ba. Nó biếu anh ta một cái đồng hồ đẹp, anh lắc đầu. Nó đập đồng hồ vào đá. Hàm đi đi lại lại qua đèo khiêng súng. Vất vả. Nói sau này về Trung du, có con gái đẹp, Hàm ề à: Nó không lợi cho sức khỏe. Đêm mưa như trút nước. Dân công núp vào những hốc đá nông. Nằm nghĩ đến mấy vạn bộ đội ngủ không(2), hay trong những lán trên sườn núi, trong rừng, sau một ngày vất vả, chung quanh giặc. Vắt. Rét. Ướt. (1). Cô gái mà tác giả đã gặp và ghi lại trong nhật ký 9-9-1950. (2). Ý nói ngủ vạ vật ngoài trời, không chăn, không màn. 25-9-50 Sáng tinh sương, núi hơi lam đã tách ra những người áo chàm đi nhảy trong ruộng lúa. - Địch vận kém. Không có vệ binh áp tải. - Phan Tổng Ngộ hay nói: Trơ trọi một mình. Có 4 anh em giai, một lần giặc giết 3, còn một giết nốt hồi SL 49(1). Mình không biết chết lúc nào. Đối với cấp trên, tôi chẳng sợ. Làm cán bộ tiểu đội, khổ, trên nó đì, dưới nó kêu. Nhưng công việc thì cứ thẳng tay. Đại đội chỉ nắm được 3, trung đội chỉ nắm được 3(2), mình nắm những mười. Toàn sứt đầu mẻ tai. Đi ỉa không xong nó cũng đì. * Dân công mất tinh thần. Đêm qua 3 phụ nữ trốn mất. Kham khổ quá. Hình như trận tấn công Pò Mã, có mấy người mất tích. - Bộ đội kiến thiết lán, làm sàn. Xúc nói: Dù đêm nay đi thì cũng cứ làm: một đêm nằm bằng một năm ở. Một người bạn nói: Bao giờ diệt xong Gia Lâm(3) thì tươi lắm. Ngộ nói: Con cua ta cứ vặt hết càng và chân đi, còn cái thân nó thì cần gì. (1). Ý nói hồi chiến dịch Sông Lô tháng 5-1949, đánh lại cuộc tấn công của địch lên Phú Thọ, Tuyên Quang. (2). Ý nói đại đội trưởng chỉ nắm được ba trung đội trưởng, trung đội trưởng chỉ nắm được ba tiểu đội trưởng, trong khi mình là tiểu đội trưởng thì nắm được những mười đội viên. (3). Sân bay Gia Lâm, diệt được sân bay tức là triệt được máy bay của địch. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 08:56:02 pm 26-9-50
Tin d cho biết giặc có thể tấn công. Chuẩn bị rút lui. Siêu Hải dậy từ sớm, phân phối công việc. Chiều hôm qua dân công và bộ đội phải ăn cháo. Tất cả sự vất vả của chiến dịch. - Còn lại hơn một vạn tư. PHƯƠNG PHÁP NUÔI LỪA NGỰA Vê sinh: Chuồng: phải thoáng khí. Mỗi ngày dọn một lần rồi lại [lấy] đất khô lấp chỗ phân trước. Mỗi con buộc cách nhau một thước. Sân chăn: Tìm chỗ mát, râm, thoáng. Không buộc về hướng mặt trời. Rét, tránh nơi gió lộng. Thân thể: Chải lông ít nhất mỗi ngày một lần. Mùa xuân lừa hay rụng lông. Sinh hoạt: Mỗi ngày cho lừa vận động hai lần: sáng và chiều (mỗi lần một giờ). Không nên phóng nhiều (hay đau bụng, dạ dày). Công việc hằng ngày: Phụ trách: 2 người (giám mã, pháo thủ) thay phiên nhau gác, môi người 1 giờ, trước khi giao gác phải nói tình hình lừa ngựa: cho ăn uống, kiếm tra sức khỏe, bệnh tật báo ngay. Luôn luôn kiểm tra móng. Mang lừa ra ngoài phải quét chuồng. Ăn uốոց: Sang mùa: tiêm thuốc phòng bệnh. Mỗi ngày 2 lần ăn, uống 2. Ăn trước, uống sau. (12 - 14 h và 2 - 6 h). Không cho nó lăn -> đau bụng. Khoảng [thời gian] không ăn: buộc cao, xích chặt để khỏi đánh nhau. Thức ăn: Cỏ: phải khô, sạch, cắt ngắn, không được để lẫn lông gà, tóc - mắc bệnh. Đổ dần dần cỏ vào máng, hết đến đâu đổ đến đó. Thiếu cỏ, [ cho ăn] cám trộn với nước. Khi ăn, phân biệt lừa già cho ăn với nhau, trẻ với nhau. Lượng: từ 6 đến 12 kg, trung bình 8. Thóc: Cho ăn 2 tiếng sau khi ăn cỏ (xem có cát, sạn không). Mùa xuân cho ăn tả mễ để dễ rụng lông. Mùa hạ đỗ xanh cho mát. Mùa đông đậu đen nấu dừ, không ăn nóng quá. Có thể cho ăn cám lẫn với mì và một ít nước. Thóc không nên cho ăn nhiều: sưng chân. Trước giờ hành quân 2 giờ cho ăn thóc. Trong khi hành quân lấy ngô thay vào. Thức ăn bổ cho lừa: đậu đen, [đậu] xanh, lúa mì, băp, đậu ván. Muối: mỗi tháng 3 đến 4 lạng. Bốn giờ sau [khi ăn muối], mới cho uống nước. Phương pháp cho uống: Thu đông: nước giếng. Hạ: nước sông (không uống nước ao). Đói quá thì không cho uống. Chạy mệt không nên cho uống nhiều: chết. Lừa không uống nước có mùi tanh. Những điều cần chú ý: - Xem yên, thồ có vừa lừa ngựa không, có lẫn đất sỏi không? - Trước khi đóng thồ, vuốt chăn lau sạch lưng lừa. - Khi đi mệt, ra mồ hôi, không được tháo yên thồ ra ngay, nên để 1 tiếng sau. - Khi bỏ súng xuống, nên dẫn đi 4, 5 vòng cho điều hòa thân thể. - Tháo thồ, tránh luồng gió. - Chỗ nghỉ độ 1 giờ, nên để chăn trên mình lừa. Nếu nghỉ dài, tháo thồ cho nó lăn. - Ăn no phải cho đi chậm, sau 1, 2 giờ mới cho đi nhanh. - Đừng chất thồ quá sức. - Đừng đánh vào đầu, mắt, mũi. Thương bệnh: Chữa sầy da: Lấy kéo cắt lông chỗ sầy da. Nấu rễ hành rửa rồi đắp bột hoàng liên. Tóc người, mai rùa, ba ba đốt cháy lấy tro làm bột rắc. Thóc đốt cháy thành bột. Lở ghẻ: Rửa bằng nước sôi để nguội hòa rễ bã mạch, lưu hoàng, tóc với dầu lạc. Bệnh thông thường: - Lông quặm: vạch ngược mi mắt, lấy nhíp nhổ hay cắt ngắn. - Đau bụng, trương [bụng], phân đen vì đi mệt uống nhiều (lấy rẻ rách, giấy bản đốt lên cho nó ngửi). Chú ý đừng để khói vào mắt. - Ăn no, bụng trương: lấy rơm hay rẻ sát mạnh vào bụng cho nóng. - Táo: uống lá trẩu. Có thể thụt hay thông. (...) * Pháo binh lại hành quân trưa. Qua một bản có Giải phóng quân. Một con suối khá to: đàn ngỗng vươn đầu kêu trên lòng suối. Chiến dịch mở liên miên Anh vớc súng đi rền... Anh bỏ nhà bỏ cửa Tình duyên anh lãng quên. Ông già, tôi chẳng lấy ông đâu Ông đừng cắt tóc, nhổ râu làm gì. Dân công: Ốm mất tiền không kêu, bị [sây] sát đầu, đau chân, vẫn di. Dân công hết gạo, bộ đội cho vay. Khi bộ đội phải ăn cháo, dân công lại chia cho bộ đội. Hai dân công đứng tuổi ngồi một mình, không nói chuyện, trong khi anh em bộ đội tìm chỗ nghỉ trưa. Hỏi: - Không có chỗ ngủ. Không ăn được phó mát, thấy bộ đội ăn cũng chịu khó ăn, nôn tháo. Chỉ thích cái hộp. Nhớ nhà. Con nhỏ, vợ phải chăn trâu. Nóng ruột vì mùa màng đã chín. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 09:09:28 pm 27-9-50
90 xe giặc đến B.N. Chúng lại rút lui. Bộ đội trú quân. Mệt xác. Ngoài Pò Mã bộ binh án ngữ. Trưa, một đội viên phát cây lấy lá làm giường, treo ba lô cho dân công, giải chiếu rách bảo dân công xuống ngủ, cùng nằm bên nhau. * Một đội viên xung kích thấy anh em mọi người đều có chiến lợi phẩm, mình chẳng tơ hào gì. Phàn nàn. Bộ đội làm lán, lợp lá ráy, sàn tre. Ngộ nói: Sàn tre thì tốt, nhưng xâm phạm đến quyền lợi của dân. Chúng tôi làm bằng củi, không tốt, nhưng được cái không hại dân. Trong lán, họ ngồi nói chuyện. * Một đội viên ngồi trên mỏm đá khâu yên ngựa trong khi anh em ngủ trưa. 28-9-50 Trở lạnh. Bão rớt. Vài chị phụ nữ dậy trong bóng tối, nhớ cảnh trời rét quanh ấm chè. Lúa rơi. Tiếc. Vài hòn đá và vài anh dân công cùng màu, cùng im lìm như nhau, ngồi nghỉ bên ruộng lúa. Hội nghị họp bên hốc đá, giời mưa.(1) (1). Tiếp theo, Nguyễn Huy Tưởng dành đến 5 trang để ghi lại cuộc hội nghị của bộ đội. Do khuôn khổ có hạn của cuốn sách, chúng tôi không đưa vào đây. 29-9-50 Mưa bão. Trời rét. Bộ đội ngủ tại các lán sơ sài. Thiếu gạo. (Tiểu đoàn] 28 thảo luận kế hoạch tại một nhà sàn dột. Bốn bề trống hơ trống hác. Gió lạnh lùa. Vũ Yên(1): sôi nổi, quyết tâm đánh. Thái Dũng(2): tuy kế hoạch không được tán thành, nhưng góp ý kiến để trên nhận định rõ, còn đơn vị nhất định quyết tâm, chọn chỗ rắn mà đánh. Cố vấn nói về điểm, đánh có nhiều điểm, nhiều lộ (đường). Khuyên mọi người tin tưởng, không hoài nghi, kế hoạch thế nào cũng có sai, nhưng đại cương không sai là được. Đại tá(3): thì giờ gấp, không hội nghị nữa mà đánh, lúc đánh không động viên lằng nhằng nữa. Những gương anh dũng: - Biết là chết mà vẫn đặt bộc lôi. Trên miệng hầm có đến 6 xác. - Lý Văn Cầu(4) gẫy tay lúng túng không đặt được bộc lôi, yêu cầu a trưởng chặt chỗ lủng lẳng rồi lại cầm bộc lôi vào. - Đánh đồn: núi đá dựng thành vách. Họ làm cầu thang bằng người đem súng đạn lên bắn vào đồn giặc. - Các chị dân công sợ máu, mà cởi quần áo của chiến sĩ máu me, đem giặt rồi lại mặc. - Chỗ đặt công sự không dám chặt cây, sợ lộ. Họ lên núi, đẵn cây khiêng xuống làm công sự. Mỗi đơn vị, 30 gương anh dũng. * Ta lờ mờ quá. Không biết gì đến chiến sự. Những gương anh dũng hi sinh trên, ta đều không biết. Chỉ toàn biết những chuyện tầm thường. [Trung đoàn] 174 sắp đánh. Cuộc hành quân gấp. N chưa định. Đường đi có lẽ rất vất vả. * Tối. Trời rét. Một liên lạc đi tìm c 95, lạc đường, hỏi mãi mới tìm đến c 14, tưởng đã đến nơi. Xoa hai tay vào cột cho ráo, rồi trụt mũ lấy công văn đưa cho Ước, vui sướng đã gặp nơi nhận thư. Nhưng lại không phải, lại phải quay trở về liên lạc. Siêu Hải cho bộ đội ở Bố Bạch đến Cốc Bố. Lại được lệnh đi. Suốt ngày khuân đạn đến mấy chuyến, tìm hang, được tin mỗi người phải mang 4 viên đạn, cho người đi đẵn tre để mang - quá nặng. Được tin phải quay lại, Hải bực mình tính: 2 súng, 12 tạ, 200 đạn 14 tạ, 12 tạ gạo, 38 tạ trên lưng 200 [người]. Dân công đào ngũ 2 người, mặc dầu hôm qua thề. Trở lại dốc đá, khổ nhục: một ngày đá bằng một năm đi thường. Dân công đào ngũ vì rét quá. Vấn đề gạo: sáng mai hành quân còn được ăn buổi sáng. Chiều không rõ. Ước nói: Thôi phải ăn cháo(5). Đạn phải mang đủ. Nếu không đủ đội viên và dân công, thì tất cả cán bộ phải mang. Kể cả cán bộ c, d cũng phải mang. * Trí: con người láu táu, việc gì cũng làm, coi việc pháo binh như việc mình, tuy là cán bộ ở Bộ Tổng tham mưu cử đến. Đêm mưa gió, lệnh: Bọn Siêu Hải, cán bộ quân sự, phải đi ngay nghiên cứu trận địa. Phú đau chân. 2/3 bộ đội phải đi lấy gạo. Mỗi c phải đem theo thêm 100 viên đạn. Sức phi thường. (1). Vũ Yên: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102. (2). Thái Dũng: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 mà tiểu đoàn 28 là đơn vị trực thuộc. (3). Có lẽ là Vương Thừa Vũ, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, lúc đó là một trong số ít người được phong đại tá. (4). La Văn Cầu (có thể có sự nhầm tên lúc nêu gương ban đầu). (5). Lối nói hài hước: Hết gạo thì đỡ phải ăn cháo, vì ăn cháo cũng chẳng thích thú gì (Qua đây có thể hiểu rằng, bộ đội bị thiếu gạo đã phải chuyển sang ăn cháo nhiều ngày rồi). 30-9-50 Lên đường ra mặt trận. Tin ta giải phóng Hoàng Su Phì, bao vây Pa Kha, đánh Sì Mà Ca. Thế Tổng phản công. Các phụ nữ dân công bị mất quần áo. Nhiều người cáo ốm Trong một hang rộng, đạn đại bác xếp một khoảng. Trên một mỏm đá, mấy chị phụ nữ ngồi. Một chị khăn vuông, tay ôm đùi, dựa một cách mệt mỏi vào đá. Một đội viên tì tay vào gậy đứng cười. Chung quanh một bếp, một số đội viên. Một anh hút thuốc lào bằng hai điếu thuốc lá. Ngoài hang mưa vẫn nặng hột. Tin xử bắn Trần Dụ Châu(1). (1). Nguyên đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Bộ Quốc phòng, bị xử tử hình về tội tham ô trong quân đội. 1-10-50 Tin giặc ra đóng cả các ngoại vi V3(1). Thay đổi kế hoạch. Bọn Siêu Hải đi ban đêm rồi lại trở về, vì không dám phiêu lưu cán bộ. 301 vất vả. Hôm qua ngủ chân đèo. [Đường từ] Bản Nhèm đi Bố Bạch rất khó đi. Dốc đá, dốc trơn, con ngựa thối. Anh em nghỉ ở đó vì không đi nhanh được. Một bà già nói: - Các anh đừng dẫm vào luống khoai. Lúa của tôi thiệt tôi cũng chịu, nhưng các anh xéo nát khoai thì tôi không bằng lòng. Kiểm thảo Đông Khê Quyết định mệnh lệnh chậm. Chuyển đạn chậm. Thi hành chậm. Nhược điểm của bộ đội từ du kích sang vận động quá nhanh chóng nên: Tinh thần chấp hành mệnh lệnh hoài nghi, không thảo luận có đúng không. Kêu khổ. Có địch không, có nhất định [đánh] không, yêu cầu trên phải đoán địch tình thế nào, trên không sát. * Một đồng chí húi đầu thi đua cạo trọc cho anh em để anh em bị thương khỏi vướng víu, và sẽ ra trận để tải thương. Giặc tiến đến Khâu Luông, Nà Pá, cách Đông Khê 2 cây số. Tiền vệ nó gặp ta cách Đông Khê 400 thước. (1) Có thể là mật danh của vị trí Thất Khê. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 09:16:33 pm 2-10-50
Suốt đêm, d84 lục đục vấn đề gạo, chuyển vận quân. Gần sáng, Cư(1) đánh điện cho 28 báo cáo tình hình một tên lính Pháp xổng, dây nói hỏi: Có tiếng gì thế? Cư nhè nhẹ nói: Tiếng gà gáy dưới nhà đấy mà. Liên lạc viên đi đi về về. Báo cáo suốt đêm. 84 hôm nay phải ăn ngô. Một c của 84 lạc. Đi với [Trung đoàn] 36. Gặp T. Giang, Phú Túc, Minh Hải. Khẩu hiệu dọc đường: Giặc đến Đông Khê chúng ta có thời cơ diệt giặc Chúng ta cố găng nhớ lời hôm qua phổ biến lập công Giết giặc cướp súng Giết giặc cướp súng nêu danh anh hùng Anh hùng Cao Bắc Lạng Chiến sĩ 36 mấy lần tìm địch không được đánh náo nức thi đua với 73, 174. Tin giặc đến, sung sướng. Lên đèo. Anh chính trị viên nói: Truyền xuống. Đố ai làm được bài ca dao lên đèo cho biết tên. Bộ đội đuổi theo bộ đội đi trước. Chính trị viên hỏi: - Có đói không? - Sáng nay thì đói nhưng bây giờ thì thôi rồi. Tới Khâu Luông. Máy bay lượn, bắn. Phú Túc, Minh Hải họp. Tiếng hô: Lợi dụng địa hình địa vật mà bố trí. Quốc, Hùng Sơn, Thước(2), cố vấn họp nhau ở Chỉ huy sở, mùi cứt xông lên. Chiều đại bác bắt đầu bắn. Máy bay bà già, cổ ngỗng lượn. Ngủ tại một lán: con giai đi bộ đội địa phương. Bà ké nhường chỗ tốt cho ngủ. (1). Cư: Hồng Cư (xem chú thích nhật ký 12-8-1950). (2). Quốc: Lê Vinh Quốc, cán bộ chính trị cấp Đại đoàn (308). Hùng Sơn: Có thể là Hồng Sơn (tác giả viết nhầm ô thành u), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308. Thước: Xem chú thích nhật ký 17-9-1950. 3-10-50 Gặp Nguyên Hồng. Tiêu chuẩn lập công: Xung phong anh dũng quả cảm. Khắc phục khó khăn giỏi. Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh và kỷ luật chiến trường. Đoàn kết và phối hợp chiến trường. Trung đội trưởng 80; bị thương ở đít, nhất định không về, bắt phải về, giao mệnh lệnh lại cho các tiểu đội trưởng xung phong, và bắt hứa làm tròn nhiệm vụ trước mặt rồi mới trở ra. B trưởng bị thương, a trưởng: đồng chí cứ về, đã có tôi thay. Thúc anh em xung phong, rồi cũng bị thương. Ra, dẫn các anh em bị thương về. Mất đít, đau tay, thỉnh thoảng lại nằm. Hỏi về thi đua lập công. Quên hết, có ghi cho anh em, nhưng mình thì quên. Cho xem thư Cụ. Trung đội bazooka, đánh quân nhảy dù thì không dùng đến, lần này cũng không ra trận. Không biết lập công chỗ nào. Bây giờ chỉ còn nước xin ra tải thương cho anh em là lập công. Hỏi một liên lạc về lập công: thi đua cấp dưỡng cho Ban chỉ huy khỏi đói. Hỏi về điểm khắc khổ nhẫn nại. Nói: Lại còn hỏi tôi nữa. Tôi nhịn đói từ hôm qua rồi đây. Trưa. Trong hang. Một người đội nón đang đập đồ. Trong một hang, có màn trẻ con khóc, một lũ gà con chui vào đá lách ra. Một người đang sàng, hai cô bé giã ngô. Máy bay quần ngoài. Màn, những nhà lều làm trong hang sào, màn xanh, nâu, phản gỗ mục. Bếp vẫn thôi. Xen lẫn vài bộ quần áo xanh của bộ đội. Thúng mủng, giỏ, lồng rỗng hay nhốt gà sống, gà mái. Máy bay trút bom như sấm sét. Trên đồng lúa dịu nhiều màu, không ánh nắng, bộ đội chạy. Thương binh ngoài tiền phần: những anh nhẹ đã bắt đầu về. Tình hình: Địch huy động d 11e (tiểu đoàn 11) Tabor(1), một bộ phận 8e (tiểu đoàn 8) Tabor, một c BEP(2), một bộ phận 1/8 RTM(3), tất cả hơn 2 d. Hiện bị bao vây từ Khâu Áng đến Khâu Luông. Địch chết 2 đại đội trưởng ở Nà Keo, 2 đại đội bị tan rã. Ta bắt được 1 c trưởng ở Tróc Ngà. Chiều, một c của d89 vừa đi lấy gạo về trong khi máy bay hoạt động, tập trung ở rìa núi lẫn với đá, lại đi ngay. D trưởng Hùng Phong nói: Phải ra nhanh không thì 80 nó làm xong nhiệm vụ. Họ chạy nhanh, nhảy nhót. Anh em 36 khi rời Trung du luyến nhớ, nhưng khi được súng thì khuây khoa, vui vẻ. Mong chiến thắng trở về. Lúc mới lên, không biết làm lán, làm rất lâu, nhưng nay đã quen. Hành quân ở Việt Bắc dễ hơn ở Trung du. Dân công đào ngũ hết, vì cán bộ đánh lừa họ nói chỉ đi độ nửa tháng. Họ bị thu hết giấy má, nhưng họ cũng cứ về nóng ruột mùa màng. Anh em thương binh bị nặng không có người khiêng về. Những thương binh nhẹ lục tục đi bộ về trước. Quân y thiếu ăn, phải ăn cháo. Một khẩu hiệu có vẽ dán trên cột: 1/ Mày lên mày chết Tây ơi Phen này dù chạy lên trời đố yên. 2/ A ha khoái quá anh em Mong chờ nó mãi nó lên đây rồi. 3/ Quyết tâm giật giải Bác Hồ Cùng đơn vị bạn thi đua diệt thù. 4/ Các anh mặt trận xông pha Chúng tôi dồn sức dốc ra tiền phần. BẮN CHO TRÚNG - XÔNG CHO MẠNH – DIỆT KỲ HẾT Buổi sáng sớm, anh em cấp dưỡng gánh cơm nắm ra cho anh em. Họ không ngụy trang. Bộ đội kém ý thức bí mật quá. Chiều, cánh đồng yên tĩnh, một con trâu, cót phơi lúa chung quanh mấy cái sọt. Vài anh bộ đội đi đi về về. Sáu anh ngồi ăn cơm, ngửa mặt nhìn 4 khu trục và 3 Dakota lượn những phút cuối cùng ở Khâu Luông. Một bộ đội và một chị phụ nữ áo chàm gánh một thương binh. * Tổ chức tam tam chế. Tổ tương thân tương trợ Tổ sinh tử bất ly Tổ Đoàn kết Đối với dân công: Tổ Liên Việt. Tổ trưởng bầu là anh cả. Gọi các anh kia là chú hai, chú ba. Phê bình, hội ý hội báo, kiểm thảo hằng ngày, về công việc hàng ngày từ ăn, ngụy trang, kỹ thuật, v.v... Hàng ngày Tổ trưởng hội ý hội báo với Tổ Đảng, Tổ này trực tiếp với Chi ủy. Học nhau truyền khẩu. Trèo lên cây bắc loa truyền tin, nhắc nhiệm vụ, dưới hố anh em im lìm (đánh quân nhảy dù). * Cấp dưỡng nhường cơm cho tiền phần. Anh Đoan Hùng, b trưởng 43, hôm qua đi, nghe tiếng: Báo cáo ông Hùng. Rồi mình đi với b của anh, nhưng không biết mặt. Chỉ nghe tiếng vọng của núi tên anh. Chiều hôm nay, một đội viên cáng anh về, báo tin anh đã hi sinh. Một buổi tối, ban chính trị cho người đưa xác anh đến quân y viện. Đêm tiếng súng. Litho (máy in litô) in kì cạch suốt đêm, bên ngọn đèn lù mù. (1). Tiểu đoàn lính Marôc trong đội quân viễn chinh của Pháp. (2). Tiếu đoàn dù lê dương (viết tắt của các chữ tiếng Pháp Bataillon étranger de parachutistes). (3). Tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn bộ binh Marôc số 8 (viết tắt của các chữ tiếng Pháp Régiment de tirailleurs marocains). Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 09:23:25 pm Chưa giải quyết xong Khâu Luông. Ba giờ sáng, tin ta chiếm được hết các đồi, giặc rút đi. Ta đang truy kích. Khẩu hiệu: Bắt sống bọn Tabor bắt nó gánh gạo cho bộ đội - Bắt lấy thằng quan năm Le Page(1): nó chạy trốn với một số tàn quân vào rừng, và nếu thấy xác nó không được bỏ phải đem về. C 36 (?): sau trận Đông Khê thì những đồn trung du coi như mõ tép. Gặp Yên, đại đội phó, bị thương. Trung đội Xá bị thương, trao nhiệm vụ cho a phó, Ng Q Vinh giúp tôi làm tròn nhiệm vụ, báo thù cho các bạn. Vinh bị thương hồi 6 giờ sáng: nó bắn như vục gạo trong thúng vứt xuống. Trước làm lợn, có đến bán ở Dục Tú, quê hương ta. Cạo trọc, mặt nhỏ, mắt sắc, một vết thương bên má. Đi bộ về QY (Quảng Yên) mãi đến lúc không đi được mới thôi. Bút: trung đội trưởng bị thương nhẹ, còn đem tin tức mới phổ biến cho anh em. Cắp 5 súng cướp được đem về. Nguyên Hồng khóc. Có mấy học viên lớp văn nghệ(2) [bị thương vong]. Một trung đội phó bị thủng má, há mồm, y tá rửa những máu đầy mồm. Mắt nhắm, ghếch lưng lên đá, hai chân chao đưa vô ý thức. 36 đánh hăng. Một trung đội 29 người. 15 chết, 7 bị thương. Đánh nhau trên hầm, vật lộn với giặc, cầm báng súng đánh giặc, súng mình hết đạn, lấy súng giặc bắn, rồi lại vứt cái ấy lấy cái khác. Quân y: các chị đổ nước vào mồm bệnh nhân. Bên suối, các chị giặt giũ quần áo cho anh em. * Dự định viết chuyện Khâu Luông. Dự định tổ chức những cuộc nói chuyện về Đông Bắc sau khi về. - Những cáng thương binh mới về. Anh Khế, còn trẻ, b trưởng d 84, khe khẽ nói: Đau lưng. Các chiến sĩ nói chung, không ai phàn nàn gì cả. Họ rất lặng lẽ. 4 cổ ngỗng ném bom xuống Khuôi Xâm. Theo tin Pháp, Hà Nội và Lạng Sơn rất bối rối, không biết có thể tiếp viện được không. Vì mấy tiểu đoàn trên này đều là những tiểu đoàn thiện chiến mà đều bại vong. Hai tàn quân, hai trung đội đang chạy về TK (Thất Khê) do 88 chặn, còn 102 và 36 truy kích. Địch thả 28 dù, ta thu được hết. Tin: 10 giờ 3-10, địch rút Cao Bằng. Đêm mưa bão, chúng tiến lên TN (Thái Nguyên). Trận đêm qua, ta thu được 3 đại bác 75 li, 1 đại bác 20 li. Thăm Phương Mèo(3), bị thương vì máy bay trước khi ra Xung kích. Anh cấp dưỡng không tìm thấy bộ đội - vì đóng kín quá (chống quân nhảy dù) không đưa được cơm cho bộ đội, mặc dầu là đã gần mà không biết, đứng khóc hu hu. Đêm, lửa ở các hang: chiến sĩ hoan hô cấp dưỡng. Chiến sĩ nuôi quân. Hoan hô bộ đội chiến thắng. (1). Le Page (đúng ra là trung tá chứ không phải là đại tá quan năm). Chỉ huy binh đoàn từ Thất Khê lên. (2). Lớp đào tạo cán bộ văn nghệ do Nguyên Hồng phụ trách. (3). Cán bộ Tiểu đoàn Bình Ca thuộc Trung đoàn 102. 5-10-50 Mấy người dân sáng tỉnh mơ đã đi gặt về. Các chị cần vụ chỗ thương binh rất tận tụy. Nam giới đã về cả, mà các chị vẫn tiếp tục ở lại. Ra Khâu Sâm, gặp Minh Hải, Quý. Họ đang điều chỉnh bộ đội, do thương tổn vừa qua. Bộ đội trong rừng đang bầu lại Tổ văn nghệ. Gặp Bính, [tiểu đoàn] 84, và được tin 84 phải ra bố trí Tróc Ngà, đánh quân nhảy dù và không cho giặc liên lạc với nhau. 84 ngủ bên suối, nơi hôm xưa xuất quân. Tin 1 giờ; Đạo quân của Charton và đạo quân của Le Page(1) còn cách nhau 7, 8 cây số. Từ Cốc Xá đến [mỏm] 760. Cảnh anh tân binh hôm qua ở Bố Bạch ra trận, hôm nay lại bị thương trở về: màu lúa vàng. Một anh nói: Lúa đỏ hoe rồi. (1). Charton: Trung tá, chỉ huy binh đoàn rút khỏi Cao Bằng, Le Page: xem chú thích nhật ký 4-10-1950 - hai binh đoàn này đang tìm cách hội quân với nhau. 6-10-50 Tấn(1) cho những tin không vui. Khâu Luông mình thiệt mà không tiêu diệt được địch, để chúng rút về Nà Pá. Xung phong không có. Kỹ thuật: đáng lý phải chia ra tổ bao vây giặc thì lại đánh một mặt. Hết hứng viết về Khâu Luông. Tin đạo quân của Charton đến Nậm Nàng thì đốt hết xe, vào đường trong. Và nay không biết tin tức gì về nó. Chiều: tin ta bao vây Cốc Xá. Bọn Le Page nghe đâu thiếu đạn, thiếu lương. Ta bắt được cả trâu ngựa. Biết được nó có hơn 100. Nó nói: Un veritable drame, une mauvaise aventure (Một bi kịch thực sự, một cuộc phiêu lưu tồi tệ). Tổng tư lệnh hạ lệnh phải chiếm núi 765. Nội nhật phải tiêu diệt được Le Page. Thương Vũ: chưa được chiến công nào(2). Bấn. Vũ Lăng(3) bị xé quân, ngồi bên Hùng Sơn (?) mách nước. Ta bắt được 3 đại bác 75 li, một 20 li. Cả ngày hôm nay, phi cơ hoạt động ít. Tin tối: [Tiểu đoàn] 89 cho liên lạc về lấy mortier 82 để bắn vào giặc. Pháo binh chuẩn bị, hơi buồn vì không được đánh chác gì. Có một khẩu tiễu động ra chỉ bắn 3 phát rồi lại về. Bộ đội nói chung chưa quen vận động có ý mệt. Toàn đuổi giặc mà không gặp. Tâm lý công kiên chiến, quân y đặt xa, đình huỳnh. Nay phải đi sát. Cấp dưỡng khó nhọc. Cả đêm lo ngại cho TN (Thái Nguyên), cho đống tài liệu của mình. Giặc tấn công, không biết tình hình ra sao. Liên miên, việc Mỹ đặt Nhật, Triều Tiên dưới quyền chỉ huy tối cao của nó và xin Nhật đánh vào Hải Xâm Uy(4). Đi đến đâu, chúng triệt hạ đến đấy. Căm thù bọn này. Bố Bạch yên tĩnh; trong khe, một chiến sĩ [tiểu đoàn] 11 bị thương ở tay tắm, nhờ bạn bị thương ở đầu tắm hộ. Một cấp dưỡng thấy quần áo anh trên cầu, giặt hộ. Gặp Văn Giang. Viết truyện William Beck đưa mình xem. Sau khi nghe phê bình, nói: Tôi đọc cho đội viên và cán bộ, ai cũng thích. Nét mặt còn trẻ và kiêu hãnh. Đêm vên tĩnh. Chưa có tin gì lạ. Nhớ TN. Dự định viết một kịch lớn: Bố Bạch có tính cách tableau (như một bức tranh). (1). Xem chú thích nhật ký 15-9-1950. (2). Cho đến thời điểm này, Đại đoàn 308 của Vương Thừa Vũ còn đang vận động tiến công tiêu diệt binh đoàn Le Page từ Thất Khê lên và binh đoàn Charton từ Cao Bằng rút về, và sẽ hoàn thành nhiệm vụ này vào ngày 8-10-1950. (3). Vũ Lăng. Cán bộ chỉ huy Trung đoàn 102 thuộc Đại đoàn 308. (4). Phiên theo tiếng Trung của Vladivôxtôc. [/list][/list] Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 09:32:39 pm 7-10-50
Nghỉ tại một nhà. Chủ đang ngủ, gọi dậy, nhờ rang ngô. Anh rửa chảo nấu lợn, cho gio vào, rang ngô mời ăn. Anh pha café như pha chè, rồi đổ ít đường trắng mời. Nói: Đông Khê giải phóng, em phải cám ơn các ông, các ông vất vả. Trả tiền, nhất định không lấy: Chả mấy khi ông đến nhà em. Khi nào rỗi, mời ông vào nhà em nghỉ. * Quân đội 36 phần nhiều là người nam phần Bắc Ninh(1). Không mấy ai còn gia đình. Được nghỉ năm ngày, chẳng biết đi đâu. Chức, Dần là ở trong cảnh ngộ ấy. Cảnh Bố Bạch. Hang hốc. Ngoài cánh đồng lúa chín, mỗi ngày một chín thêm. Thiếu thốn, đắt đỏ cực độ. Chiều láy pháy mưa, đi mò thức ăn, không có. Vài anh bộ đội phòng không. Mấy đội viên gánh đạn đại bác về. Y sĩ ngủ. Vận động chiến vất vả. Mưa. Máy bay không hoạt động, nhưng chiến sĩ rét, và ướt. Thèm chất tươi, của ngọt, hàng quán. Dân chúng có gà, không bán. * Chức, hoạt động ở nam phần. [Kể chuyện] Bà Mốc, người xấu, có 8 sào ruộng. Bộ đội, cán bộ muốn ăn gì thì ăn. Ăn hết, bà cụ đi bán rong. Gặp bộ đội vẫn cho ăn. Hôm bộ đội chạy, nói: U chả còn gì. Cởi hầu bao còn 5 đồng. Đưa cho một đồng chí, hẹn khi nào rỗi lại về chơi với u. Giặc khủng bố. Nó quây làng, đặt người ở gần vị trí báo về, chạy ra đồng. Sau nó đi sớm, vào bắt. Đào hầm, chó berger biết. Đánh lạc [hướng] bằng tỏi. Nó tổ chức gián điệp. Mình tổ chức du kích bí mật để phá. Nó tổ chức bắt thanh niên. Trốn. Đi quây, không biết phá cách nào. Tổ chức đánh lừa: một vài thanh niên đi. Nó cho người lại bắt. Cả bọn xông ra đánh. Nhưng cũng không phá nổi. Mỗi khi ngủ, chân đều để thõng xuống đất, súng để trên bụng. Có động là chạy ngay. Xin e từng 10 viên đạn, có khi phải xin ngụy binh: nhục. Mỗi khi được về khu tự do, sung sướng. Mỗi khi phải trở về, qua sông Đuống sợ quá, cứ phải cởi áo sẵn, để nếu bị bắn thì nhảy ùm xuống sông. * Một thằng quan ba bị thương, ta bắt. Nó không nói gì. Đau không lộ ra nét mặt. Không ăn gì. Không uống nước đường. Cái khí tiết đáng khen, nhưng không đúng chỗ. Chiều. Chấn(2) đem một bộ đồ mổ về. Quân Le Page hoàn toàn tan rã. Chúng chạy dạt cả cỏ. Đâm trâu dọc đường không kịp ăn. Chân lừa. Xác Tây đen. Bộ đội tìm thức ăn, không biết những đồ quí. Mortier. Súng. Đạn. Quân ta vây giặc ở Cốc Xá. Chúng hết lương, hết đạn, khát. Ta truy kích lên một ngọn núi. Chúng chạy. Bắt được cả những dù và võ khí tiếp tế xuống. Ta đuổi sang núi thứ hai. Chúng chạy sang núi thứ ba. Đóng ở một hang. Núp vào các hòn đá. [Tiểu đoàn] 11 đánh vào một phía, [Tiểu đoàn] 89 đánh vào một phía, nhưng 89 đánh mạnh. Trời tối. Một số phu đem hai radiophonie (máy vô tuyến điện) của Le Page sang hàng. Ta bắt được hai quan ba, ba quan hai, trong số ấy có một quan hai BEP rất ác, phu chửi thậm tệ. Chúng chịu sang hàng hết. Chỉ chờ một lá thư. Bộ đội vào là giơ tay hàng. Một xung kích đang tiến vào. Một thằng Tây nói: Tí ti nước. Anh cho nó uống, rồi lại cho thằng thứ hai. Mặc dầu đang chiến đấu. Cấp chỉ huy không nỡ mắng. Một thằng BEP: Các anh hoàn toàn thắng. Bắt được lon một quan tư. Charton cũng đang tan. [Trung đoàn] 209 giết 100, bắt 30. Hiện chúng đóng trên các mỏm 477, 599 vùng La Hai (trên Quang Liệt). Capitaine (đại úy) De la Beaume ở Thất Khê lên Lũng Phầy ở 603 và 708. [Tiểu đoàn] 84 được lệnh chặn đánh. Tây thông cáo: Đông Khê một đồn nhỏ ở biên thùy đã bị Việt Minh đánh và tiêu diệt. Ta bị chết 50, bị thương 30. Rồi lại có tin mâu thuẫn. Pignon và Carpentier hội kiến để bàn về Đông Khê. Constant(3) ở Lạng Sơn mâu thuẫn với Hà Nội. Trận Đông Khê. Một tù binh nói: Nhất định kỳ này có Đại tướng chỉ huy. Vì đại bác bắn cả vào lúc bộ đội xung phong, trúng cả lỗ châu mai nhỏ. Cả ngày máy bay không hoạt động được. Chiều hai đacôta chở nặng lừ lừ bay. Hai cổ ngỗng bắn một băng rồi đi. Suốt ngày vân vụ. Đêm, có lệnh cho pháo binh lên đường. (1). 36 là Trung đoàn 36, còn gọi là Trung đoàn Bắc Bắc, viết tắt của Bắc Ninh và Bắc Giang. (2). Không rõ là ai. nhưng qua những dòng nhật ký sau này của Nguyễn Huy Tưởng có thể đoán đây là một quân y sĩ. (3). Pignon: Cao ủy Đông Dương. Carpentier. Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Constant: Chỉ huy quân đội Pháp ở Liên khu biên giới. 8-10-50 Thằng quan hai BEP mũ vành to, áo sơ mi vải dù, quần chẽn, bết bê máu, chống gậy trên hang xuống khe để rửa mặt. Râu quanh cằm. Người gây gây. Ho. Dự định viết truyện, lồng chiến dịch Đông Bắc vào. Trong cuộc nói chuyện sẽ tổ chức khi về, sẽ có một đoạn riêng về Bố Bạch. Gặp Tâm Trung. Chị phụ trách dân vận mấy xã gần đây. Vận động để dân chúng bán gà cho thương binh. Hồng Trang huy động dân làm cáng tải thương binh và dẫn 20 cáng mới làm qua Bố Bạch. Một đồng chí Trung Hoa buộc con ngựa đánh bằng một cái gậy to. Con vật khốn nạn chồm chồm, mặt chảy máu. * Dẫn tù binh về. Toàn những người phu gầy gò, rách rưới, cúi đầu: Chào các anh. Nhiều người phàn nàn đồng bào diếc móc – nếu ở đồng bằng thì còn khổ nữa. Nhưng tin rằng chả làm sao. Bọn BEP và Tabor (râu). Báo tin Le Page bị bắt trong hang bị thương, do 4 vệ binh bảo vệ. Một thằng BEP mắt láu lỉnh nói: Càng hay. Chúng tôi bị bắt là vì nó. Nó cũng sẽ như tôi. Sốt: tin Charton bị bắt. Le Page quăng radiophonie nói: Lên máy bay về Trùng Khánh mà nghỉ. Sự thật: Charton đem cả bộ Tham mưu ra hàng. 84 bắt cả 400 giặc. 9-10-50 Cả ngày sốt. Tin Bộ Tư lệnh trao cho đại biểu Pháp số tù binh. Tù binh giải về Bố Bạch ùn ùn. Xác chiến sĩ và xác Tây nằm các ngả đường. Dòi. Thối. Có tình trạng: giặc đói xông ra cướp gánh cơm của cấp dưỡng. Trận truy kích vất vả. Bộ đội đói ba ngày. Vẫn đi. Có người lao xung phong lên núi đá rồi ngã xuống chết. Người khác vẫn lên. Mỗi nhóm mỗi tốp đi lùng Tây, kêu: Bắt được rồi. Đây rồi. Nheo nhéo. Vui lắm. Trưa: một tiếng súng nổ như pháo 30 Tết. Một anh litho (thợ in litô) hát, buồn như trấu cắn. Pháo binh leo dốc không một tiếng động. Sấm sét đến mà hiền lành vô cùng. Tin: có nhiều tiếng nổ ở TK (Thất Khê). Triệu chứng giặc sẽ rút lui. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 09:46:07 pm 10-10-50
Bắt được thằng Hai Tu, tỉnh trưởng Cao Bằng. Một thằng Tây mặt bị eclat (mảnh) lựu đạn, hỏi có thể gửi thư cho nhà được không. Hắn nói hắn có ba con, và gạt nước mắt như đứa trẻ, ệu ạo nói: Khi tôi sang, chúng nó có bảo là sang đánh nhau đâu, sang để bình định. Ông cụ Thổ sung sướng được về. Bị bắt ở Trùng Khánh tám tháng, vì có con đi bộ đội và cán bộ. Giặc bắt giặt giũ. Vớ được cái đồng hồ ba kim. Gặp bộ đội anh Trang, anh ấy mượn để đi đánh giặc, cụ cho mượn. Súng vứt nhiều quá. Anh nhiếp ảnh đi cũng vớ được khẩu súng máy: mas. MỘT VÀI GƯƠNG ANH DŨNG 1- Anh b trưởng c 9 bị thương vào mông đạn còn mắc ở trong, được Bộ chỉ huy cho về, anh vẫn không muốn về và đề nghị cho ở lại để tiếp tục chiến đấu. Bộ chỉ huy hạ lệnh anh phải về nghỉ. Trước khi về, anh tập trung các cán bộ lại xung quanh trao nhiệm vụ, anh không quên trao lại kế hoạch lập công của đơn vị mình: - Tiếc rằng tôi bị thương sớm quá thành thử kế hoạch lập công dự định chưa thực hiện được đến đâu, mong các đồng chí tiếp tục cho tới thành công để giữ lấy lời hứa danh dự của đơn vị ta. - Chúng tôi nhất quyết thay đồng chí thực hiện bằng được và trả thù cho vết thương của đồng chí. 2- Một lục sao(1), tiếp tế cơm nước ở c 9, chị vừa trẻ, vừa vui tính, dáng người nhỏ nhắn, nhưng cũng thoăn thoắt bước nhanh không kém vệ chiến(2). Tàu bay bắn lu bù, bom vỡ trời. Chị vẫn thản nhiên ngồi nấp bên các anh vệ vui vẻ chuyện trò. Quân ta xung phong lên núi, đại bác, đạn liên thanh như xả vào mặt. Các anh chiến đấu vượt lên trước đuổi giặc. Chị lặng lẽ theo sau, cũng bò, cũng tiến, mang cơm nắm cho các anh. Thế rồi đơn vị ấy thắng trận trở về. Đi sau những anh chiến đấu, người ta lại thấy chị đều bước vẻ mặt hớn hở hồng hồng. 3- Đạn liên thanh rú trên đầu. Tiểu đội trưởng T nhanh nhẹn tiến lên đỉnh đồi gặp một tên giặc. Hai bên vật nhau. Nhưng vì yếu hơn, T bị tên giặc giằng súng bắn chết. Một đội viên chạy lại ôm lấy tên đó, cả hai cùng lăn xuống hố. Tiếng ằng ặc ở dưới vẳng lên. Đội viên 2 xông đến miệng hố chĩa súng bắn chết giặc. Lúc ấy một thằng nữa ở hố bên lẻn ra sau giơ báng súng nện vào đầu hai đội viên. Tiểu đội trưởng Lực vừa lên kịp, ba phát súng nổ. Tên giặc gục xuống. Sau đồi ba lê dương mặt đỏ gay vừa chạy lại, súng bắn lia lịa. Chín phát súng nổ ba tên ngã. Ba tên nữa chạy lên. Lực ngang nhiên đợi. Một loạt súng rít lên. Ba tên giặc gục lên nhau. Súng giặc ở đồi bên bắn sang tới tấp. Lực ngoảnh lại, các đội viên bị đạn gần hết. Anh biết không tiến được nữa, ném liền mấy quả lựu đạn, bắn một loạt súng rồi lùi lại định vác khẩu trung liên nhưng nặng quá, anh đành rút xuống, súng địch vẫn ríu rít quanh người. BAN CHỈ HUY E GHI CÔNG - Anh Nguyễn Huy Riểu chính trị viên c can đảm nắm vững bộ đội, trong khi bộ đội bị thương vong, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. C còn 15 người vẫn xung phong. Anh bị thương sau khi dũng cảm làm nhiệm vụ. - Anh Phan Đề Yêm c phó, bình tĩnh dẫn bộ đội, xung phong lên sát địch trong mấy đợt, bị thương ở bả vai. - Anh Nguyễn Văn Hạ b trưởng - bình tĩnh dẫn bộ đội lên xung phong tiêu diệt địch và bị thương vào mặt. - Anh Nguyễn Văn Các chiến đấu viên rất gan dạ, sau khi đã ném lựu đạn làm cho hai Tây chết, anh nhảy bổ lên xung phong để cướp súng, nhưng bị thương ngay vì mảnh lựu đạn của địch ném vào mạng sườn bên phải. - Đội viên Dương Văn Dung, tổ trưởng đã bình tĩnh, gương mẫu nắm vững tinh thần anh em trong khi giáp lá cà và giao chiến với địch. Chị Hồng Trong hang giải phẫu, chị thoăn thoắt đi lại, chị làm được tất cả mọi việc, nhanh, trọn vẹn, chăm chỉ. Lúc này chị bón cơm cho anh em thương binh, bị đạn vào tay, lúc khác đã thấy chị rửa ráy chân tay cho một anh khác. Chị sẵn sàng dùng khăn mặt của mình để lau cọ cho anh em. ĐIỆN HỒ CHỦ TỊCH GỬI CÁC CHIẾN SĨ Cùng toàn thể chiến sĩ thân mến,Trong chiến dịch này, toàn thể bộ đội và nhân dân ta đã cố gắng gây được thành tích khá như khôi phục lại Đông Khê, bức địch phải rút khỏi Cao Bằng. Hiện nay tình thế rất lợi cho ta, vậy các chiến sĩ cần phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết để tranh lấy toàn thắng. Bác theo rõi cuộc chiến đấu anh dũng của các chú từng giờ. Bác sẽ có phần thưởng đặc biệt cho những bộ đội và chiến sĩ nào, đơn vị nào lập chiến công nhiều nhất. Nào chiến sĩ nào, đơn vị nào hứa tới Bác quyết giật giải Anh hùng Cao Bắc Lạng và đơn vị kiểu mẩu. Bác chờ các chủ trả lời ngay. Chào thân ái và quyết thắng. 6-10. LỜI ĐẠI TƯỚNG GỬI CÁC ĐƠN VỊ Có tin hồi 10 giờ hôm qua 3-10, dịch rút khỏi Cao Bằng, chưa rõ đi đường nào, nhưng rất có thể về phía Thất Khê trì vậy Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho F28(3) lợi dụng điều kiện của ta hôm nay mà tích cực hành động tranh thủ từng giờ từng phút giải quyết được nhanh chóng để kịp thời khuếch trương chiến quả và không cho quân dịch cứu vãn tình thế nguy ngập của chúng hôm nay. Bộ Tổng tư lệnh kêu gọi toàn thể chiến sĩ phát huy đến cùng tinh thần xung phong anh dũng chiến đấu quả cảm, hoàn thành nhiệm vụ lớn của E(?) và bảo đảm cho cuộc chiến đấu được toàn thắng, cơ hội này là một cơ hội hiếm có để quân ta lập công to trên chiến trường biên giới. Chúng ta nắm lấy và lợi dụng triệt để. (1). Tiếng Tày, có nghĩa là con gái. (2). Chiến sĩ Vệ quốc quân. (3). Có thể là mật số của f 308 (Đại đoàn 308). 10-10-50 (?) Vận động chiến: Bộ đội truy kích giặc. Cấp dưỡng truy kích bộ đội. Chấn: con người hào phóng. Anh em cấp dưỡng cũng biết Haut les mains (Giơ tay lên). Anh em vắt dây trèo lên, ném lựu đạn xuống hang chết hàng trung đội. Có anh rơi xuống vực nát sọ. Một anh tù binh ra hàng dẫn bộ đội vào hang bị Tây bắt, anh kia lợi dụng mình là tù Tây không để ý lẻn đến giết thằng Tây. Bộ đội cầm nắm cơm truy kích. Tây ra hàng. Do đấy bộ đội cứ cầm nắm cơm đi. Allez, venez manger (Nào, ra ăn đi). Le Page [cho người ra] hỏi: Người tiếp nhận tôi đầu hàng là cấp nào. Trần Đăng Khiêm, c trưởng lên bắt nó bỏ vũ khí. Nó yêu cầu phải là những người ngang cấp. Xuống núi thì ta tước võ khí. Cho bươm bướm lên các núi để địch vận dụ Tây ra Tối, hai vệ binh bắt được một Tây trâng tráo và hai Việt gian. Tây nói không có nationalité (quốc tịch), khẩu súng ấy của tôi, v.v... Sợ chết và muốn tâng công. Bộ đội đuổi giặc, gặp giặc ở đâu là đặt chỉ huy sở ở đấy. Ông cụ chủ không bán gà, nhưng nấu nước mời, lấy mỡ trả tiền không nhận. - Nó nghĩ gì, những thằng Tabor(1) ngu ngốc, râu xồm? Nó có nghĩ đến xứ có cây đat(2), có bãi sa mạc của nó không? Mỗi khi một đứa chết, chúng hướng về phương Tây mà vái lậy. Bao giờ khai thông khối óc cho họ? (1). Lính Marôc trong đội quân viễn chinh của Pháp. (2). Dattier. Chà là. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 09:58:23 pm 11-10-50
Tin giặc rút Thất Khê. Hôm qua 4 chiếc đến, rồi lại 4 chiếc đacôta khác đến. Có lẽ là để đem bộ đội Tây đi. Tin Lao Kay [địch] cũng rút, sau khi ném bom xuống Hồ Kiều. TN (Thái Nguyên): giặc càn quét dữ. Lo cho tài liệu. [Thư của trung úy Bros Roger gửi Lusette] Ma chère Lusette. Je suis prisonnier, c'est une affaire peu intéressante. Je n'ai plus rien que ce que j'ai sur moi. Je n'ai su comme survivants de mon équipe et prisonniers que Milou - Golbes (?) - Devaud - Vernay - Fernandez. Je suis avec le colonel Charton et d'autres officiers. Fais toi rapatrier d'urgence et attends moi en France.(...) Il faudrait que tu essaie d'intervenir pour nous faire par venir par les organismes officiels — ce qui serait nécessaire - voir la croix rouge. Pour moi fais moi parvenir pipe. Tabac, interieurs chauds, jeux de bridge. Enfin tu verras. Fais moi parvenir qq. petits mots par le (...) canal. Voila (...) tout le monde jusqu'à ce qu'on s'occupe de nous. Bon baiser (...) Le Lt Bros Roger du 3e(1) Gặp Charton. Nó trâng tráo. Không chịu cho chụp ảnh, nói: Tôi không xinh như Le Page. Và để tay lên mũi khình bỉ. Một đám khố đỏ bên một đống súng cướp được. Một thằng đội đã đi lính với Pháp từ 1928. Một thằng đội thông ngôn răng vàng nói đã có ra bộ đội nhưng không được tuyển vì đau tim, sau lại xin đi học y tá cũng không được. Lương được 2800, coi kho. Xin nói chuyện riêng với Lê Vinh Quốc, muốn Chính phủ tha cho về Lạng Sơn tìm vợ con và làm tay trong cho mình. Láu lỉnh và ngờ nghệch. Một anh khố đỏ rưng rưng nước mắt xin vào Vệ quốc quân. Hỏi có muốn vào bộ đội không, đa số xin vào. Một anh áo complet gris (com lê xám), chỉ xin về Cao Bằng, đón vợ con ở Lạng Sơn về. Vì khi rút Cao Bằng, giặc không phá phách, và bắt đàn bà trẻ con lên máy bay trở về Lạng Sơn, còn thanh niên thì bắt đi theo. Có một chiếc xe ô tô của ta ở Đông Khê về Cao Bằng chở thương binh. Mấy thằng Tây trốn trong rừng tưởng xe nó, chạy ra bám lên. Chúng bị kéo vào và biết rằng mình đã bị cầm tù. Trần Độ gọi dây nói cho Lê Vinh Quốc: Ai đưa Tây đến chốn này Bên kia 28 bên này, 73 (2). * Ông cụ đi mua gà mua trứng cho không được. Được tin mai bộ đội đi, cụ kinh ngạc: Bộ đội đi thì cụ nó buồn, buồn hai, ba ngày mới hết mà. Rồi ông cụ cho sắn nướng, đi sao chè để pha chè. Trong khi ấy thì nhà bên cạnh bộ đội và dân cãi nhau về một cái ca mất. * Chấn: tát một anh thổi capote (bao cao su) của Tây. Quân ta đuổi Tây. Nó lên một bước là đuổi một bước. Không cần gì. Chiến lợi phẩm bừa bãi: lột đồng hồ, áo, ba lô của Tây. Nó trần như nhộng. Có anh bắt được lừa, giao cho cấp dưỡng để nó thồ cơm cho anh em, rồi cấp dưỡng lại bị người khác lấy mất lừa. Tuy nhiều chiến sĩ trực tiếp đuổi giặc thì ít giữ chiến lợi phẩm. Có thể viết một vở kịch vui về bộ đội đuổi Tây. Hình ảnh Chấn. Có đội viên lúc hấp hối muốn gặp Chấn vì yêu mến. Cảnh trộ Tây: Nắm cơm: Camarades francais, venez manger (Các bạn Pháp, đến đây ăn nào). Thơ : Đói cơm đuổi giặc Giặc lại chạy tràn Mình cẩn đuổi tràn Tụi giặc đâm lo Mình cũng hóa no. Lusette thân yêu,Anh bị bắt làm tù binh, một việc chẳng lý thú gì. Anh chẳng còn lại gì ngoài những thứ mang trên người. ་Trong đội của anh, anh chỉ biết những người còn sống sót và bị bắt làm tù binh là Millou, Golbes (?), Devaud, Vemay và Fernandez. Anh đang bị giam giữ cùng với đại tá Charton và một số sĩ quan khác. Em hãy sớm hồi hương và đợi anh ở Pháp. (...) Em phải cố can thiệp để người ta gửi đến cho bọn anh thông qua các tổ chức chính thống - điều này là cần thiết - hoặc là qua tổ chức chữ thập đỏ. Về phần anh thì làm sao để chuyển đến cho anh chiếc tẩu. Thuốc lá, các đồ lót ấm, bộ bài bridge. Rồi em sẽ thấy. Hãy làm sao để gửi đến cho anh vài ba chữ thông qua kênh (...) Đây là (...) tất cả mọi người cho đến khi người ta quan tâm đến bọn anh. Hôn em (...)Trung úy Bros Roger thuộc binh đoàn 3 (1). Lusette thân yêu, (2). 28: Tiểu đoàn 28 thuộc Trung đoàn 88. Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân tiên phong). 73, mật số của 209 (Trung đoàn Sông Lô). 12-10-50 Giặc rút được TK (Thất Khê). Diệt đồn bản N. trong 10 phút. Diệt đồn Nà Cạn và Nà Lạm. Đêm 9-10. Diệt Bản Trại, phá cầu Bản Trại. Diệt một c ở Na Sầm. Khu 3 diệt 20 đồn. 304 lên Thái [Nguyên] đánh. * Lúc trở về Cốc Xá, anh em gặp dân chúng, hát bài của Phạm Duy: Bộ đội đã ghé về đây Quân dân nắm tay vui vầy. Ngày hôm nay Bố Bạch vẫn bắn súng bừa bãi, vui như Tết. * Lấy của bộ đội nhiều, không làm gì cho bộ đội. Chấn phàn nàn bị kỷ luật. Con người sắc mắc, không chịu khuất, không sợ cấp trên. Không ăn ý với Hồng Sơn(1), qua Tùy nói thẳng với Hồng Sơn là không phục. Thích văn nghệ. Thích ai thì thích ra mặt, không thích ai thì không thích ra mặt. Không có tình cảm lẫn lộn. Cũng nói về Đảng: tư sản hóa. * Trong cả cái mớ hỗn độn của Đông Bắc, không biết cái nào là cái chính. Mung lung trong đầu óc. Chỉ thấy rõ rệt nhất là cảnh Bố Bạch. Tụi Tây nói chuyện với nhau rằng ta có cả ĐKZ. Một thằng nói: Tàu chứ gì. Thằng khác trả lời: Không. Fabrication locale (tự chế tạo lấy). Báo tin giặc rút TK (Thất Khê), Lao Kay, một thằng rún vai nói: - Alors, c'est l'offensive générale (Thế là tổng công kích). (1). Hồng Sơn: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 10:09:27 pm 13-10-50
Lên đường đi TK (Thất Khê). Xác ngựa và một xác Tây đen trần truồng, thối. Lâu ngày giam hãm trong rừng, được trông thấy đường cái, lòng nhẹ nhẹ. Lại những lán, những hố. Qua Bông Lau, những xác ô tô năm xưa. Một xe mới bị rớt, những quãng đường bộc lôi phá. Cuộc chiến đấu ác liệt. Nảy ý kiến viết về con đường số 4. Bộ đội đi như nước. Lại thấy bóng dân công. Đồn Bản Ne trên đỉnh. Bộ đội ta đóng. Hòm đạn, một chiếc 105 nằm rúc bên đường. Những vỏ đồ hộp. Gần TK (Thất Khê). Trên đỉnh núi, một lũ tây đen do dự không dám xuống. Một Tabor, một Đức gọi chúng. Lâu lâu chúng xuống, quần ướt [như] chuột lột. Không biết gì, ngơ ngác, đeo súng sau vai. Anh bộ đội tước súng, một thằng chỉ vào mồm xin ăn. Bóng TK (Thất Khê) giữa thung lũng, lúa vàng. Bộ đội mua củ đậu. Những người dân đạo xóm đạo. Những đồn ngoại vi đỏ kệch. Một đồn vuông. Không có cờ. Một đàn quạ đen, lượn trên trời muốn mưa, rồi đậu trên hàng rào tre. Cầu Bông Lau quằn nghiêng. Vào TK. 84 chiếm đóng. Vành trăng liềm. Đàn quạ bay quanh. Xóm lạnh lẽo. Một mả binh lính REI(1). Những ruộng trong thị trấn ép trong hàng dây thép gai. Một ngọn nến trong một nhà công giáo. Ủy ban thu dọn chiến trường. Những quân trang ngổn ngang. Vài cái dù giấy chung quanh đồn. Mấy cái casemate (hầm) trắng mắt ngang mặt đất. Cầu: suối chảy lặng lẽ. Ô tô chạy đêm. Xe gip. Ngựa, lừa các cố vấn. Hôm nay Cụ và Hưng tới. Không được tới gặp. Tin giặc rút TN (Thái Nguyên), và đêm nay rút NS (Na Sầm). Rút TN 10 giờ hôm qua. * Bộ đội đi, thỉnh thoảng bắn súng. Dũng 84 nói chuyện: đói. Đuổi giặc qua một ruộng sắn, mừng lấy ăn, viết giấy treo: Bộ đội ăn, nếu tính tiền viết thư cho d 3, nếu không thì ủng hộ bộ đội, cám ơn. Gặp Le Page. Nó ôm lấy khóc: Không muốn chiến tranh. Tù binh ở TK đông ngang bộ đội và dân chúng. Chúng ở một camp (trại). Nấu nướng. Bộ đội cho là nó không muốn đi. Chủ quan. (1). Trung đoàn bộ binh lê dương (viết tắt của các chữ tiếng Pháp Regiment étranger d'infanterie). 14-10-50 Đồn Khâu Tích – Hang Mạ – Chấp Giao. Rất nhiều tù binh. Họ không muốn về (theo chủ quan của bộ đội). Một thằng múc nước, đổ cho mình rửa tay. Tối qua, sau bữa tiệc [với] Hưng, đạn nổ do sự sơ suất của mình. Cháy nhiều. Đêm vẫn còn nô Nằm ngủ tại một nhà thương. Có cửa kính sần, khá văn minh. Có sân - quang cảnh sân nhà tỉnh lẻ hồi xưa nay rất hiếm. Đêm nằm trằn trọc, nghĩ tới chiến lợi phẩm. Và công việc. Tâm hồn cán bộ khổ vì chiến lợi phẩm. Ăn vương vãi, quần áo vứt. Có người không phải cấp chỉ huy hớp một ít rượu. Một hộp bơ phì bên đường. Bẽn lẽn vì chiến lợi phẩm. Thu vén vì chiến lợi phẩm. Con người hạ thấp quá. Bỏ công bỏ việc vì chiến lợi phẩm. Tìm cách để có chiến lợi phẩm, v.v... J. Moch(1) báo cáo ở Mỹ về tình hình Đông Khê, xin tích cực viện trợ, vì: mặc dầu do Việt Minh làm, nhưng sự giúp đỡ của Giải phóng quân đã rõ rệt. Mỹ nói: Đồng ý tăng viện, nhưng không can thiệp bằng súng(2) (1). Jules Moch. Thủ tướng Pháp trong một thời gian rất ngắn. (2). Tiếp theo tác giả dành gần bốn trang ghi lời kể của Trần Giang, Tiểu đoàn 84 với nhiều chi tiết về chiến dịch. 15-10 Buổi sáng: tiếng xe ô tô chạy. Một quang cảnh mới lạ trong nước. Vào nhà một người trước thợ bạc, sau về Trùng Khánh làm buvette (mở quầy rượu). Nói nhiều. Không thấy thú trong một đô thị mới được giải phóng. Gặp Hưng. Kết quả: 200%. Hưng có gặp Le Page nói: - Nếu có junction(1)… - Cũng có jonction, nhưng jonction với các anh. Sultan(2) đòi hồi hương Tabor. - Hắn phải làm trước mới phải. Đối với Charton, ghẻ lạnh. - Mettez-vous là (Ngồi đấy). Thông cáo của Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Tràng Định Thị trấn Thất Khê đã giải phóng. Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Trường Định thông cáo cho toàn thể nhân dân kể cả người Hoa kiều trong và ngoài phố được biết. 1- Tất cả các tầng lớp nhân dân trong vùng mới giải phóng đều được hoàn toàn bảo đảm tính mạng và tài sản nếu xét ra người đó không có phương hại đến công cuộc kháng chiến của toàn dân. Người nào có công sẽ được khen thưởng tùy theo thành tích mình. 2- Chỉ trừng trị những tên đầu sỏ Việt gian, đặc vụ và tịch thu tài sản bọn ấy sau khi đã chia phần cho vợ con chúng. 3- Các người vì sinh kế hoặc vì lầm đường, làm việc cho Pháp như: ngụy binh, viên chức, v.v... nếu biết hối lỗi, mau đem tội lỗi của mình ra thú với các nhà chức trách địa c phương. Chính phủ và nhân dân sẵn sàng khoan hồng hoặc tha thứ cho. Người nào có tài năng cẩn được trọng dụng như thường. 4- Tất cả mọi người nhất là các viên chức có nhiệm vụ: - Giữ gìn của công, cấm xâm phạm hoặc phá hoại. - Không ai được lấy làm của riêng những của cải, võ khí của Việt gian và của địch còn sót lại. - Khai báo tất cả những kho tàng, tài sản của Việt gian, Pháp và các công ti buôn bán của chúng. - Tố cáo những người lợi dụng hoặc giấu giếm. - Khai quang thành phố giữ vệ sinh chung. - Giúp các nhà chức trách thu dọn các thứ như: tài liệu, số sách, tài sản, võ khí của địch, Việt gian và lùng bắt bọn phản động đặc vụ còn lẩn trốn. 5- Đồng bào trong thị trấn phải trở lại làm ăn như thường và tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ. 6- Kẻ nào có hành động, hoặc cố ý phá hoại an ninh và trật tự chung sẽ bị trừng trị theo quân pháp. Tràng Định ngày 12-10-1950 Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Chủ tịch: Hoàng Cương Chính (1). Y nói nếu Le Page hội quân được với Charton thì sẽ ra sao, (2). Vua Marôc, nước có binh lính tham gia các đơn vị Tabor của Pháp. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 10:26:40 pm Chiều 15
Máy bay lượn. Dân chúng tụm năm tụm ba nói chuyện. Hôm nay vẫn chưa cho đi lại, buôn bán như thường. Sợ trên nét mặt. Hai chữ Chủ tịch... kẻ dở. Ảnh Cụ, Đại tướng. Ảnh Mao. Thông cáo. Hiệu triệu. Máy bay lượn. Dân chúng càng sợ. Vài bóng dáng công an. Cần phải làm vui và trật tự trở lại ngay để yên lòng dân. Làng Khuổi Dạ bỏ không. Bộ đội tới đóng. Tù binh giải về. Thổi cơm. Vui vẻ. Tấp nập. Bộ đội hôm nay được gặp Bác. Vẫn lẻ tẻ vài tiếng súng. Vào Khiêm. Nói: Như Tết. Có thuốc lá. Cơm nước cẩn thận. Chuyện gặp Le Page, ý thức địch vận. Thấy cây động là vây. Bắn súng gọi hàng ngay. Venez manger, camarades (Lại dây ăn đi, các bạn). Có đứa xuống. Oui, camarades marocains (Vâng, các bạn Marôc). Cho ăn. Cho gọi. Hô anh em không được bắn để cho chúng nó nghe. Le Page chạy lại ôm và hôn: Capitaine, je suis à votre disposition (Đại úy, tôi xin phục tùng ngài). Đói đã năm ngày. Những võ quan khác cũng hôn. Bộ đội hăng, nhưng khi thấy Tây thì đưa nắm cơm của mình cho. Chúng cũng biết lòng tốt của mình và cảm phục vì sự đối đãi của mình. - Ông xem bộ đội tôi sau khi đã thắng rồi thì rất hiền lành, đấy họ chia cơm cho các anh đấy, mà họ đói đã hai hôm nay. Thế là bộ đội tất thắng. Cụ đến thăm bộ đội. Ăn mặc xuềnh xoàng, dép đứt quai sau. Hỏi bộ đội có khỏe không, có đói không? Vấn đề ỉa bậy. Rồi nói đến chiến thắng vừa rồi vì nhân dân - vì chỉ huy kiên quyết. Cần phải giúp dân. Cán bộ cũng phải quét tước: dân càng tin. Đi cho bộ đội xem quà tặng: sao bằng ngọc, chân dung. Ăn nói dễ hiểu, vui. Khăn mặt quàng vai. Cố gắng để Bác bảo đi thì đi, bảo đánh là đánh, đánh là thắng. Bộ đội tất thắng. Hôn TD(1). Tây rất sợ thằng què. Vậy hôn thằng què. Một đội viên biếu quà đoạt được trong đồn: giấy và mề đay. Ngồi trên cỏ bên ba dù, nơi Tabor ra hàng nhiều. (1). Có lẽ là Thái Dũng. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, bị thương cụt một bên tay (Pháp gọi là Commandant Manchot - Chỉ huy cụt tay). 16-10-50 Mưa. Lên đường về Cao Bằng. Nguyên Hồng thu vén. Những bộ đội đi về. Anh em 23. Tới Đông Khê. Hoang tàn. Ướt sũng không chỗ nằm. Gặp mấy thằng Đức. Chẳng biết gì. Chúng ngu quá. Chỉ mong được về, và lĩnh lương cho vợ. Xác Tây đen người ta đã đốt. Trơ những mảnh xương trắng giữa gỗ và than. 17-10-50 Con đường chiến thắng trở về. Không có nơi trú. 18-10-50 Một dãy xe giặc đốt. Nòng 105, 12.7 li. Đạn lẫn với lá khô. Bọn tài xế đang chữa, chắp vá. Hôm qua đã chạy được ba xe về Cao Bằng. Dân công tải ngựa đầy đồ hộp cho phái đoàn. Càng phá hoại ngổn ngang khó đi. Đêm nằm lo cho tác phẩm. Tiếc ít xin chiến lợi phẩm. Nghĩ đến Cương. Mong mỏi một quán hàng. Cao Bằng lụt. Bùn ngập chân. Dân chúng ngơ ngác về, không có nhà. Những dân càn quét: phá đồ hộp, lấy bút máy, đồng hồ sang. Thiếu tổ chức: chưa có sự sống trong thành phố. Cục vận tải: vài anh tài xế. Đạn nhiều quá: trong chuồng xí cũng có đạn. Ăn ở hỗn độn: ỉa cả trong buồng. Có cái bẩn lạnh lẽo của những nơi không người. 19-10-50 Cả ngày không làm gì. Nguyên Hồng tới. Thành phố vẫn chết. Ngồi ở nhà thương. Tin giặc ở TN (Thái Nguyên) bị giết 6, 7 trăm. Tin cuối cùng. Nó rút Thái Bình. Bộ đội về nghỉ ở QU (Quảng Uyên). Gặp bọn Linh, Mạc Phi. Sực nhớ phải viết kịch(1). (1). Linh: Hoàng Tích Linh, nhà viết kịch, Mạc Phi: nhà văn, từng là chính trị viên đoàn kịch Chiến thắng - có lẽ trong câu chuyện của các ông khi gặp nhau có nói nhiều đến kịch. 20-10-50 Dân đến các nhà moi trong bùn ra những đồ vật ngập trong bùn. Nói: Của toàn dân, chúng tôi lấy đi. Bến đò đi Cao Bình nước sông chảy mạnh, mảng trôi người. 21-10-50 Tin giặc rút Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lạng Giai. Do đấy Đại hội chiến thắng ở Cao Bằng tổ chức nhỏ(?). Vẫn bẩn. Đoàn thể huy động một vạn nhân công để chữa tỉnh. Bác: - Biếu áo tù binh. - Hôm gặp bộ đội, nhân danh Chính phủ khen ngợi các chú đã chiến thắng. Giặc truy điệu. Pléven(1) báo cáo 70 sĩ quan, 100 hạ sĩ quan, 2500 quân bị tiêu diệt. Chúng truy điệu. Trong lịch sử chinh phục, chưa bao giờ một chương thất bại thảm hại thế. Hà Nội cũng truy điệu. Dân chúng hoang mang: chúng phải hô hào bình tĩnh vì tình thế không có gì là nghiêm trọng. (1). Thủ tướng Pháp. 22-10-50 Mán đỏ sửa đường ở gần thị xã. Một anh Mán đội khăn, đi giầy săng đá. Có những người đi càn quét muộn gánh cối đá, các mảnh sắt. Hôm mới vào tỉnh, An(1) gặp một người đội mũ sắt, khoác áo tơi, đi giầy đế đinh, quát. Có tiếng phụ nữ trả lời: Em đấy. Dân công Bắc Giang hôm nay trở về, hỏi đường. Họ đi đã 3 tháng 10 ngày. Đeo rọ. Chả có chiến lợi phẩm, họ mang mỗi người vài chai không. Mạc thép: con dao con để cắt lúa nếp. Mạc liềm: cắt lúa tẻ. Ăn loỏng: để đập lúa. (1). Có thể là Vũ Năng An, người đã được nói đến trong nhật ký 6-8-1950. 23-10-50 Đò tổ chức kém. Mảng ít. Mà nhiều người sang ứ lại. Chuyện tù binh: - Allioux gà cách trị tù binh: Vous navez quà lui couper la ration de tabac (Các anh chỉ việc cắt khẩu phần thuốc lá của nó) Allioux muốn vào cạo đầu, thằng Tây nói: Không được vào. Tôi còn đợi lệnh capitaine (đại úy) Việt Minh. - Một lũ tù binh ngồi, lại có đoàn tù binh khác, họ nói: C'est toute la compagnie (Đủ cả đại đội). Lại có đoàn tù binh khác, họ nói: Mais c'est tout le bataillon (Đủ cả tiểu đoàn chứ!). - Tiếng vang của súng cối trong núi càng làm Tây rợn. Nó làm cho [Tây nghĩ] rằng hỏa lực mình nhiều và dữ. Tây chết vì đạn, và còn bị đá giết nữa. Khiêm hạ lệnh lấy tất cả giấy má làm loa địch vận. - Sau Đông Khê, sự chỉ huy khó khăn. Đánh Đông Khê khó, Cao Bằng công sự kiên cố, rút cục: công viện. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 10:41:40 pm 24-10-50
Tình bằng hữu khi lẳng nhẵng thành buồn cười: Tô Hoài - Nam Cao. Trăng 12, 13. Tiệc liên hoan. Cố vấn. Tỉnh Đảng [bộ]. Các cấp từ d trở lên. Sự khó chịu cho Văn nghệ. Đảng viên cho đến để biết không khí. Lê bảo ăn ở nhà. Khinh rẻ văn nghệ quá. Bực mình về. Đạo bảo: Đây là nhiệm vụ! Hưng: Thắng vì: - nhân dân - sự đoàn kết giữa mặt trận dân chủ . - sự trực tiếp chỉ huy của Hồ Chủ tịch. Hứa: - Không chủ quan. - Phê bình và tự phê bình: xứng người quân nhân cách mạng, cộng sản. Kiên quyết chỉ huy: yếu tố của trận thắng. Cảm phục những chiến sĩ anh dũng. Những chiến sĩ bị thương mong chóng lành mạnh. Thương tiếc những tử sĩ. Nâng cốc. Đồng(1) nâng cốc. Đùa: Phải kiểm thảo Hồ Chủ tịch vì không săn sóc mình, hẹn trong ba tháng phải có vợ. Vậy: Phạt. Bác: Quyết nghị ấy chủ quan. Nếu là cán bộ phụ nữ thì mới đúng. Tám đacôta, tám cổ ngỗng chiều tà, bóng trăng ném bom thị xã lúc sắp tổ chức Đại hội chiến thắng. Bộ đội chết 4, 5 chục. Vẫn tổ chức. Tổng tư lệnh nói: Nó định phá, nhưng chúng ta nhất định tổ chức - giọng tức bực. Bắt bộ đội chờ lâu: bệnh của Đại tướng. Đáng lý phải có mặt ngay để trấn tĩnh dân tâm. (1). Có thể là Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng. 25-10-50 Sáng sớm sương mờ, máy bay giặc lại thả bom. Nói chuyện với Song Ninh(1): người thổ Cao Bằng, đẻ ở Mongcay, học ở Hà Giang. Người thùy mị, có duyên thầm. Cùng Nghiêm(2) đi đường bản Tuấn (?) về. Những ảnh khiêu dâm của Nghiêm. Bến đò yên tĩnh. Một phụ nữ phê bình. - Chính phủ chủ quan. Phải tổ chức lễ chiến thắng ở chỗ khác mới phải. Các văn nghệ sĩ chờ lệnh của Đạo, không có việc, nóng về, nằm ngổn ngang ở bản Thành, chuyện gẫu. Tình thần mỏi mệt. Đọc thư Thi và Bạch(3); sôi nổi việc viết. Lo ngay ngáy không thành công. Đêm trăng rất đẹp. Họp anh em bàn về tập san. Nam Cao cáu một cách vô lý. Đi uống cà phê. 80 đ một cốc. Chán quá. (1). Văn công lên phục vụ chiến dịch. (2). Có thể là họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm. (3). Thi: Nguyễn Đình Thi. Bạch: Nguyễn Tuân. [size=103pt]26-10-50[/size] Một đoàn tù binh do hai vệ quốc quân nhỏ bé dẫn đi trong một buổi chiều, giữa đồng lúa rộng của Hòa An. Vừa đi vừa hát. Một vài thằng ủ rũ. Bác sang thăm thương binh ở Thủy Khẩu. Vào vén màn từng người xem. Anh em còn ngủ. Bác trở ra. Sau biết tin Cụ Hồ đến, chạy cả ra. Bác nói, rồi ứa nước mắt, ngoảnh mặt đi lâu lâu 5 phút, rồi mới tiếp tục nói chuyện. Về nói: - Trông thấy các cháu có đứa 17, 18 tuổi mà đã bị cưa, cụt, không sao đành lòng được. Tối. Hưng nói chuyện về chiến dịch. Vui. Ngã ngửa ra: mình không biết gì về chiến dịch cả. 27-10-50 Lại trở về CB (Cao Bằng). Sau khi ăn đồ hộp với Khoa ở LS (Lạng Sơn). Văn Chung(1) nói chuyện thằng Đức được trao trả viết thư nói: a- Bộ đội Việt Nam đánh xong thì lành như đàn bà. b- Dân chúng cả phụ nữ cáng thương bình Âu ra TK (Thất Khê), những con người to khỏe. Thật là dân tộc nhân đạo, không phải là kịch. Huard(2) dự buổi hòa nhạc. Ngạc nhiên có cả những người trước ở TK mà vẫn hát được những bài cách mạng. Dự định thu thập tài liệu viết về Chiến dịch Cao Bắc Lạng. * Một máy bay, rồi 2, 3. Nghĩ tới thằng phi công đang ném bom tàn sát. Nghĩ đến những tù binh vừa bắt được: hèn hạ, khóc lóc. Căm thù thằng phi công. (1). Nhạc sĩ Văn Chung. (2). Bác sĩ Pháp, đại diện Chữ thập đỏ lên nhận tù binh Pháp do ta trao trả. 28-10-50 Những chiến sĩ quán ở Cao Bằng, Lạng Sơn được nghỉ một tuần lễ về quê hương thăm gia đình. Mùa gặt, đầm ấm chiến thắng. Vào nhà một gia đình nghèo. Có một đứa trẻ nghịch, nó cũng bập bẹ vài câu Tiến quân ca. Người chị đun nước. Nói cám ơn. Chị nói: Cám ơn gì, nước lã đun sôi đấy. Chị nói chè Thái mới ngon. Chủ nhà: con cháu một ông huyện cũ. Có một ông già người nhà đến chơi. Bàn chuyện Tây đã rút Hanoi, Haiphong. Nông nghiệp vi bản. Muốn có truyện đọc, thích Truyện Kiều, ngâm hai câu Kiều. Hỏi không biết người ta đeo cái gì tròn ở túi, hình người beo béo, tròn tròn. Có phải Staline không? - Molotov(1). - Staline. - Staline mà béo tròn thế à? * Chuyện một ủy viên kháng chiến. Có 4 Tabor đến nộp súng hàng. Tước súng. Không có người [giải họ đi]. Viết thư giới thiệu 4 đồng chí này do tôi tước vũ khí, đến với ủy ban kháng chiến. Chuyện Huard đến TK (Thất Khê), nhận tù binh. Hà Nội sôi nổi, có đầm đi đón chồng. TK dạ hội mời Huard. Ta giải thích, thành chửi thực dân hai tiếng. Hôm nay chúng ta giao thương binh, nhưng ngày mai có lẽ lại chính những phi công này sẽ ném bom TK. Vậy bà con phải chuẩn bị. Nhiều thằng không muốn về. Tây địch vận nói: Võ quan Pháp đòi về, để các anh ở lại để chúng nó về với gia đình nó. Bọn lính la: Allioux au poteau! (Treo cổ thằng Allioux lên!) Tranh nhau lên tàu bay. Cất cánh còn vẫy tay cảm động. Có thằng cảm động vì sự săn sóc của Tâm Trung: Nếu tôi còn ở đây, tôi sẽ lấy chị. (1). Molotov. Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô. 29-10-50 Cần phải gây niềm vui cho mình trong sáng tác. Viết bài cho ST (Sự thật) ì ạch. 31-10-50 Nam Cao đi với Tô Hoài. Nguyên Hồng về với cần vụ. Ngày về lẻ tẻ không vui. Cùng với Chính Hữu đi về đường An Lại, gặp bộ đội. Đắt. 200 đ một bữa cơm, 50 đ bát phở. Mà tồi. (...) Đường An Lại vắng người. Lẻ tẻ một vài bộ đội. Vài con ngựa. Dân chúng thưa thớt. Nhà mình ngủ có sập hồi lên nay thấy thấp thoáng bóng người. Một bên nhà đã trát đất mới. Nhiều nhà dựng dọc đường, nhưng cũng nhiều cái dọn đi. Nhớ ngày rộn rịp. Đường mùa thu. Suối xanh chảy giữa hai bờ cây thấp thoáng. Một cái chuồng lợn bé xíu nằm giữa hai hòn đá bỏ không, mái gianh xiêu vẹo. Vài người Nùng làm lạp xường. Một người mẹ bên bếp nhà lều, vạch vú cho đứa con ốm, bên đứa con gái khóc đòi luộc khoai. Mưa, vào nhà một người mới hồi cư. Bố nằm quay chăn giữa nhà trước bếp âm ỉ than không khói, gian buồng trong đáng lẽ đóng và lủng củng áo quần, màn: người con gái đắp chăn nằm. Tường lở nên nhà sáng. Trong cùng: mấy quả bí đỏ, một quả đã bổ, những miếng bí thái rồi trong sọt. Một hộp thuốc lá bên điếu cày. Trên ghế, một vỏ hộp cá. Trong một gian nhà: cót thóc và thóc. Ngoài: bàn vuông, bàn thờ bỏ không. Thóc trên cót giữa nhà. Một bó vừng trong xó. Cái quạt thóc sạch, cối xay sạch, cối đá xay bột sạch không có hột thóc nào. [Khẩu hiệu trên] Xà: Hồ Chủ tịch muôn năm - Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm. Trên ban thờ - có lẽ đây là một thày mo – câu đối đỏ còn: Gia tân mãn thất. Một chiếc chén trên bàn vuông. Dựa vào vách, bốn cái sọt, lá đã khô, xâu trong một đòn gánh bằng thân cây, một cái nón: vết tích cần vụ. Yên tĩnh không tiếng động. Nhà bên vài tiếng phụ nữ. Mưa ngoài nặng. Mấy chữ: Tôi có lời hỏi thăm, bên cạnh mấy chữ nho nguệch ngoạc. * Cảnh một chiến sĩ về thăm nhà giữa lúc bố mẹ hồi cư đang dọn nhà. Vui. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 10:49:11 pm 1-11-50
Nghĩ kịch cho Đại hội. Khải hoàn môn: cột gỗ, bện rơm trước đèo Mã Phục: Hoan hô các chiến sĩ chiến thắng. Biểu ngữ vào đá: Pây vận tải se khả sắc, dịch: Đi vận tải để giết giặc. Sau chiến thắng, cảnh buôn bán chiến lợi phẩm. (...) 2-11-50 [Trung đoàn] 36 bắt đầu huấn luyện ngụy binh. Họ phần nhiều xin ở lại. * Thương binh vui. Hát chèo. Một anh xin Chấn ngồi xuống nghe: [anh bị thương khi] đào hố đặt mortier 82 (đất đỏ chưa kịp ngụy trang) rồi bị bom phi cơ. Một lính 18 tuổi, hai tháng lấy vợ. Bị thương tay. Lên bàn mổ, thấy kìm, kéo, chạy ra một xó, họ kéo lên bàn, trói chân, chị cứu thương sát ngực vào người khó chịu. Chỉ lo giá lớn tuổi thì không sao, nhưng mới 18, mà lại bảo ba năm mới được ngủ với vợ. Một anh plâtré (bó bột) tay, nói: Tôi có cái thắc mắc, là buổi sáng nó cứ dậm dật. * Không phải vấn đề tài liệu. Trước hết phải biết không khí, còn thì phải suy nghĩ, phát triển. Cứ chép nguyên tài liệu, thì mất cả sáng kiến, sáng tạo, suy nghĩ: không còn có tác phẩm nữa. 3-11-50 Mưa mù mịt. Nghĩ đến cuộc tranh đấu còn gay go với đế quốc, đến Triều Tiên: thấy thèm cảnh gia đình yên ấm. Bộ đội sắp đi chiến dịch khác. (...) 4-11-50 Bộ đội hành quân đi chiến dịch. Tới [Trung đoàn] 102. Trời vẫn mưa. Nói chuyện về Cương với Chấn. Càng thấy rõ cái cảnh bị thảm của Cương. Chấn có ý kiến: Không nên quá hi sinh cho một người mà có hại cho sự nghiệp. Bệnh lao nguy hiểm lắm. Hoang mang. Hết Cương tức là hết người mình yêu. Tuổi già đuổi nhanh. Ngại cái cảnh hai anh em lủi thủi ra về. Đường từ đây đi Ngân Sơn không có nhà cửa hàng quán gì. Phòng chính trị ở một nhà dân chúng chia đôi: một nửa nhà chủ, một nửa nhà chủ dành cho một gia đình tản cư. Nhà này đông con: 4. Vợ chồng đã già. Tốt, không biết tiếng phổ thông. Luộc khoai biếu cơ quan. Thích hộp và thùng. [Địch] Rút Na Sầm, quan tư không kịp đem cả chó berger. Trên bàn một tờ giấy gài kim. Il y a loin de la coupe aux lèvres. Votre succès n'est que passager. Nous reviendrons (Miếng ăn đến miệng mà còn rơi. Chiến thắng của các anh chỉ là tạm thời. Chúng tôi sẽ trở lại). 6-11-50 (?) Sáng rét. Trở dậy, bộ đội hát các thứ bài hát hùng, mơ. Trên ruộng, sau nhà hai tốp tập thể thao: 1, 1, 2, 3, có người đứng trên sân tập. Sau trận đánh, cảnh bộ đội buồn. Không có kịch, nhạc, ciné. Chiến thắng do đó không tưng bừng. Vắng thư nhà. Thư gửi về chưa được. Vì cũng không biết gia đình phiêu dạt đâu. Gia đình phần đông ở nơi bị chiếm. 6-11-50 Uống rượu với Vũ Lăng. Anh chàng nhớ TN (Thái Nguyên) và người yêu. Vũ Yên hồn nhiên. Chỉ nói chuyện quân sự. Anh em nói đùa làm mối cho một quân y sĩ. Gặp ở Ba Giăng, bóp chuông, nàng quay lại, [Vũ Yên] cúi đầu đạp nhanh không dám nhìn. Nói đến chuyện ấy chỉ mỉm cười. Ngồi bên bếp lửa, nói chuyện với Vũ Lăng. Về Đảng, về đàn bà. Vũ Lăng thấy mệt. Đã hết hạn đầu quân hai năm rồi. Chiến dịch liên miên. Giận về nỗi 102 không được đề bạt(1). [Tiểu đoàn] 54 hi sinh nhiều. Năm ngoái Tết, khi tập hợp, c 101 còn ngót 100. Yên méo mồm khóc. E bộ chỉ giết có hai con chó chia ăn. Đã lâu không được hưởng một cái Tết cho ra trò. (...) Đi ngủ sớm, nằm trên thùng thóc, chăn dạ co quắp với một người lính trong Ban chỉ huy. Cùng Lăng nói chuyện về tình hình VN (văn nghệ). Đọc: Những kẻ lạc loài của Nguyễn Minh Loan, một sản phẩm lạc hậu về hình thức cũng như về nội dung của văn chương thực dân trong Hà Nội. Lăng, Dũng. say sưa với việc thành lập Đại đoàn Thủ đô. Dũng đi khai hội khuya mới về. (1). 102: Trung đoàn 102, tức Trung đoàn Thủ đô, mà Vũ Yên, Vũ Lăng là cán bộ chỉ huy. 7-11-50 Rét buốt. 11 năm trước, ngày cưới của ta đây. Đêm rét, một tay thừa, nhớ cảnh gối đầu tay vợ. Những kẻ lạc loài đầu độc quá. Nó nhắc tuổi trẻ xa lắc, không còn lấy lại được, và những cảnh trụy lạc, xác thịt ghê gớm. Kháng chiến thiếu sách quá rồi. Cần phải chấm dứt tình trạng này. Họp hội nghị kiểm thảo công tác chính trị với 102. Nhiều câu chuyện hay, anh dũng, cảm động. Chiều, dự buổi liên hoan của Tham mưu 102. Nói chuyện về Cụ Hồ. Về nhà chung quanh bếp lửa, nói chuyện về Bình Trị Thiên với Lăng, Dũng, Khôi, Chính Hữu. Lăng buồn rũ, suốt mấy hôm nay làm việc uể oải. Nhớ nhà, nhớ người yêu. Uống rượu, ăn đồ hộp, cà phê đêm không ngủ được. Trằn trọc. Vấn đề sự nghiệp văn chương. Còn bao nhiêu tuổi nữa mà cứ lần chần mãi thế này? Tác phẩm dự định nhiều quá. Rồi kịch cho Đại hội. Vấn đề Cương. Muốn ôm ngay lấy chị, được nói những lời âu yếm. Đêm không lạnh mấy. Chỉ nghe thấy ngựa phá dưới sàn. Anh em ngủ cả. Cảm thấy tin ở mình. Tin rằng mình có thể sáng tác một cái gì lớn. Miễn là tổ chức cho hợp lý. Tiểu thuyết série (liên hoàn). Kịch trilogie (bộ ba). Cái gì cũng được. Không hay, nhưng phải lớn. Tin ở những cái mình dự định viết. Phơi phới vì những nhân vật, những cảnh đã ăm ắp trong đầu. Vui lắm. Nhưng cũng lại rất lo. Lo vì tư tưởng kém. Lý luận kém. Trông thấy Dũng khai hội, chỉ huy một Trung đoàn(1) có thành tích, mới có 26 tuổi, xưa kia chỉ là một chú bé tầm thường, càng thấy thèm tuổi trẻ. Sợ cho mình. Con người đang xuống chăng? 40 tuổi rồi. Viết làm sao xuể những tác phẩm dự định? Cố gắng. Thu xếp thì giờ mà tích cực làm một cái gì đi. Chưa có một tác phẩm nào khá cả. Phải có những tác phẩm khá mới được. Nhớ Cương, thương Cương. Tha thiết muốn được về ngay để trông thấy Cương. Cảm thấy thú cái việc Hồng Trang, Tâm Trung biết câu chuyện này(2). Tác phẩm! Một cái gì lớn lao quá. Ta mơ mộng năm nay một tác phẩm dày dặn. Ta muốn có một vở kịch khá to. Trời rét ngọt. Phảng phất một cảnh gia đình êm ấm. Tiếng trẻ. Bếp lửa. Mỏi mệt đầu óc quá. Ôi những tin đưa đến sốt ruột: giặc rút Hòa Bình. Hoang mang vô cùng. Phải nghiên cứu cho bộ đội cách tự động giải trí. Trò chơi, nhẩy múa. Hát mãi mỏi lắm rồi. Họ cũng không có hào hứng gì trong việc hát nữa. Sắp sửa lên đường về. Trong lòng rộn rịp. Gặp Lành, Thi, Mãi, Châu. Câu chuyện ở nhà. Câu chuyện Đông Bắc, câu chuyện sáng tác. Và cái cảnh tương đối yên ổn, tập trung những dự định, những cái mắt thấy, tai nghe, ý nghĩ trong chiến dịch. Ta muốn về, về nhanh hơn nữa. Ta mong một chốn tương đối yên ổn để viết. Và gặp Cương, nói chuyện với Cương, giúp đỡ Cương. Cùng Cương ở chung, sáng tác. Trung đoàn bộ. Bộ đội ngồi khâu. Một tiếp tế [viên] được chính trị viên cho đôi giầy Tây đi đi lại lại trên sàn rung chuyển. Mong có một đôi bí tất len. Đã khá được trang bị, họ không đến nỗi bi lắm. Trông bộ đội mà thêm tin tưởng. Bộ đội đã có Cao Bắc Lạng. Văn nghệ nhất định cũng phải có Cao Bắc Lạng. Ta nhất định phải có tác phẩm cho kháng chiến, cho chiến dịch. (1). Thái Dũng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88. (2). Chuyện tình cảm của Nguyễn Huy Tưởng với người phụ nữ tên là Cương được nhắc đến nhiều lần trong nhật ký. (Nguyễn Huy Tưởng đã bị mất liên lạc với vợ từ nhiều năm sau những ngày lưu lạc hồi đầu toàn quốc kháng chiến). Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 10:54:32 pm Thay lời bạt VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN HUY TƯỞNG VÀ CÁC VĂN NGHỆ SĨ ĐÀN ANH KHÁC TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI SIÊU HẢI Tháng 7 năm 1950, tôi đang nằm viện điều trị thương hàn thì được anh em rỉ tai nói nhỏ ta sắp mở chiến dịch lớn hướng biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn. Anh Xuân Phong, người bạn từ hồi đánh bi đánh đáo ở Hà Nội còn cho biết: “Pháo binh các cậu được trang bị pháo đạn mới, lại thêm cả lừa ngựa để thồ pháo nữa. Oách lắm!” Thế là tôi lên gặp ngay bác sĩ viện trưởng Nguyễn Văn Hiếu khẩn khoản xỉn cho về đơn vị và cuối cùng đã được bác sĩ Hiếu đồng ý. Tôi ra khỏi viện, như chim sổ lồng, ba lô trên vai, mấy chục đồng bạc “tài chính” trong túi, không một bạn đồng hành, không vũ khí phòng thân. Đường đi đuổi theo đơn vị qua bốn tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng, vừa đi vừa hỏi đường, ăn ngủ nhờ vào đồng bào. Mà đúng như vậy. Gần tối tìm đến một nhà dân nói chưa ăn cơm và xin được ngủ lại. Thế là đồng bào có gì cho ăn nấy, hôm thì bát cháo bẹ ngô, bữa thì mấy khúc sắn luộc. Một hôm gần ngã ba “Cây đa nước chảy” ở thị xã Tuyên Quang bỗng dưng tôi gặp anh Tố Hữu. Nhà thơ đi thư thái một mình, không ba lô túi xách. Anh Tố Hữu đã một lần cùng anh Nguyễn Đình Thi xuống “thâm nhập” trung đội pháo binh của tôi đầu năm 1948. Lúc đó đơn vị còn hừng hực khí thế chiến thắng Sông Lô. Hai văn nghệ sĩ tất nhiên được nghe chúng tôi kể các trận chiến oai hùng pha chút lãng mạn lôi cuốn cả hai anh. Ngược lại, một đêm ngồi quanh bếp lửa, chúng tôi được nghe nhà thơ kể về chuyến vượt ngục của mình. Nhà thơ giả con gái, “chít khăn vuông che nửa mặt, tay cầm mấy thẻ hương đi lễ chùa...” Và những trận mưa roi vọt của bọn cai ngục: “... Mình nhỏ nhắn thường được anh em đẩy vào giữa che cho mình.” Hai anh ở với đơn vị chúng tôi bốn ngày. Trong bốn ngày ấy, anh Tố Hữu đã hoàn thành hai bài thơ Bà bủ và Bầm. Anh Thi sáng tác bài hát ngắn Voi ăn kẹo… Gặp nhau, anh Tố Hữu choàng vai tôi vỗ vỗ, cười rất tươi. Rồi nhận ra áo quần tôi còn dính bụi đường, anh hỏi: “Đi đâu đấy?” Tôi đáp là đang gấp rút đuổi theo đơn vị, lỡ chuyến này, tiếc lắm! Tất nhiên tôi hỏi thăm ngay các anh Nguyễn Huy Tưởng, Tô Ngọc Vân, Nguyên Hồng... - Anh Tưởng, Nguyễn Tuân, - Tố Hữu đáp, - đang ở cơ quan Trung ương Hội chuẩn bị cho ra số tạp chí mới. Tạm biệt anh, tôi lại rảo bước trên đường. Vừa đi vừa suy đoán về “số tạp chí mới”? Liên tưởng luôn đến “Tạp chí Văn Nghệ số đặc biệt Sông Thao” đã được ra mắt bạn đọc sau chiến dịch Sông Thao thắng lớn của ta, trong có nhiều bài rất hay của các cây bút đàn anh, chen chân vào được có bài Voi đi của tôi, anh Tưởng đã chủ trì bộ phận biên tập. Sau hơn chục ngày kiên trì hăm hở trên đường, rồi tôi cũng mò tới xã Nà Tấu, huyện Quảng Uyên, Cao Bằng. Đã ngửi thấy mùi chiến dịch rồi. Bộ đội đi lại đông, hối hả. Chưa biết còn phải tìm đơn vị ở đâu, mệt mỏi, tôi vào một quán nhỏ bên đường mua quả mắc coọc ăn. Bất ngờ có tiếng hỏi: “Có phải thủ trưởng là Siêu Hải không?” Thế là đã bắt liên lạc với anh bạn pháo binh nối khố Đỗ Thiện. Thấy tôi lấm láp bơ phờ, Đỗ Thiện khao tôi cốc cà phê và cốc kem trứng. Tôi cứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác qua các mẩu chuyện rỉ tai của Đỗ Thiện: Nào là Đại đội 301 của tôi đã được trang bị hai khẩu sơn pháo có đủ kính ngắm, tê lê mét đo độ xa, cả máy điện thoại nữa... Lại có đàn lừa thồ pháo anh em đỡ phải khiêng vác “oằn lưng, vẹo sườn” như trước. Đã có quyết định thành lập Trung đoàn sơn pháo dự bị của Bộ Tổng tư lệnh. Anh Đỗ Thiện lúc này đã được điều lên làm trợ lý tham mưu của Trung đoàn sơn pháo... Tôi về tới đại đội cũ, cán bộ chiến sĩ mừng rỡ là đơn vị đã có chỉ huy. Đặc biệt là anh Trương Thành Phao, Chính trị viên Đại đội 301 như được sẻ nửa trách nhiệm đang đề nặng lên vai: Đại đội 301 nhận nhiệm vụ pháo chi viện chung toàn mặt trận. Chiến dịch đánh lớn, sẽ thương vong nhiều... Tôi thật quá bất ngờ và phấn khởi khi nhận được cú điện thoại là có nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và họa sĩ Dương Bích Liên trong chiến dịch này sẽ đi với pháo binh, với Đại đội 301. Điện thoại còn nhắc nhẹ là phải coi hai văn nghệ sĩ này là thượng khách. Anh Tưởng và tôi đã giáp mặt, thắm thiết tình cảm. Còn họa sĩ Dương Bích Liên lúc nào cũng như lúc nào nhỏ nhẹ như con gái. Anh Phao, chính trị viên, bí thư chi bộ còn coi anh Tưởng như một đồng chí lãnh đạo cấp trên. Hai văn nghệ sĩ và hai cán bộ chỉ huy quân sự chuyện trò cởi mở tâm đắc. Tôi thuật lại lần gặp anh Tố Hữu vừa rồi ở Tuyên Quang. Ngẫm nghĩ giây lát anh Tưởng hỏi lại tôi: “Anh Lành (Tố Hữu) không nói với anh là tôi lên đây?” - Đúng thế, - tôi đáp, - lúc gặp Đỗ Thiện tôi mới biết là anh đã lên đây rồi. Ít ngày sau qua các cuộc họp trong tiểu đoàn, họp chung với cán bộ bộ binh, qua những lời lẽ kín kín hở hở tôi mới được biết tầm quan trọng của chiến dịch này. Nó sẽ nối liền Việt Bắc cũng như cả Việt Nam ta với phe xã hội chủ nghĩa. Căn cứ địa Việt Bắc sẽ vươn tới tận đông Béc lanh. Vì vậy, phải quyết tâm phá toang vòng vây địch từ Cao Bằng tới Lạng Sơn. Quan trọng là vậy nên ngoài Đại tướng Tổng tư lệnh, đích thâm Bác Hồ cũng lần đầu tiên đi chỉ đạo chiến dịch. “Thảo nào mà anh Tố Hữu bí mật thế, tôi nghĩ. Các văn nghệ sĩ cựu trào như anh Nguyễn Huy Tưởng cũng xuất trận. Sẽ lại có số tạp chí đặc biệt Chiến thắng Biên giới như số đặc biệt Sông Thao năm ngoái (1949). Chưa biết chừng sẽ có ngay một đầu sách về chiến dịch to lớn này”. Tiện đây tôi muốn nhắc lại một kỷ niệm khác về anh Nguyễn Huy Tưởng. Sau chiến thắng Biên giới, Trung đoàn sơn pháo 675 của chúng tôi được thành lập đã cùng các Đại đoàn 308, 304 tham gia chiến đấu trên nhiều hướng. Tôi nhớ vào khoảng tháng 8 năm 1951, các đơn vị thuộc Đại đoàn 308 và pháo binh chúng tôi hành quân từ Thanh Hóa ngược lên Việt Bắc. Giặc Pháp theo dõi, tích cực cho máy bay bắn phá dọc đường, gây căng thẳng cho cán bộ chiến sĩ ta. Hôm đó tôi đứng ở bến đò Phương Lâm, Hòa Bình chỉ huy trung đội pháo ta khẩn trương vượt sông. Một cánh tay bỗng đặt lên vai tôi và giọng nói lộ vẻ rất hân hoan: “Chef militaire đây rồi!” (Chỉ huy quân sự đây rồi). Tôi không ngờ là được gặp anh Tưởng giữa cuộc hành quân đang bị máy bay rượt đuổi. Chúng tôi đón tiếp anh như vị thượng khách thân tình. Còn anh như tìm thấy một bảo đảm chắc chắn là cùng ăn nghỉ, cùng hành quân trong đội hình bộ đội ta. Theo lời anh kể lại, anh từ Việt Bắc đi công tác Liên khu Ba và chỉ đi có một mình. Khi xuống lại đúng vào dịp bộ đội ta mở chiến dịch, máy bay giặc đuổi theo người đi xe đạp, đi bộ trên đường lộ. Xong việc ngược lên Việt Bắc lại đúng vào lúc bộ đội ta học tập củng cố ở Thanh Hóa xong hành quân lên Việt Bắc. Bộ đội đêm đi ngày nghỉ. Còn anh vẫn đi ban ngày, dọc đường lại bị máy bay bắn phá vào những nơi nghi ngờ bộ đội ta ẩn náu. “... Có những kẻ, anh Tưởng kể, không rõ có phải là bọn chỉ điểm cho máy bay địch không mà thấy nó đun bếp thổi cơm, khói um cả lên. Mình đến can ngăn nó, nó còn sừng sộ dọa đánh. Thế là mình lại phải ba chân bốn cẳng đi thật nhanh rõ xa.” Anh Tưởng phải chuyển đi vào ban đêm, nhập vào một đơn vị nào đó cho bảo đảm. Lại gặp phiền toái vì chiến sĩ ta cũng luôn cảnh giác với bọn chỉ điểm nên có một người lạ nào xen vào đội hình một tiểu đội thôi cũng bị anh em phát hiện gạt sang một bên. Trên hai tuần lễ hành quân, chúng tôi lại có dịp hàn huyên vui vẻ thân tình trong mối quan hệ nhà văn với quân đội và ngược lại. Những kỷ niệm đó đến nay vẫn tươi rói trong ký ức của tôi về anh Tưởng... * * * Chưa vàọ cuộc chiến mà tất cả ai ai cũng cảm thấy mình đã là người thắng trận. Dốc cao như thấp xuống, suối sâu hóa ra nông. Đỉnh núi sương mù chưa kịp giăng đã bị gió xua tan. Bản làng vốn vắng vẻ heo hút nay rộn ràng tiếng chày giã gạo, tiếng chân người ra vào tấp nập. Nhiều đêm anh Tưởng và chúng tôi thức giấc, nhìn qua cửa sổ nhà sàn thấy từng vầng sáng xanh của đèn pha ô tô vận tải nối đuôi nhau trên đường lớn mà say sưa rạo rực. Hết ô tô lại lắng nghe tiếng rào rào của đàn lừa thồ pháo ăn đêm, nhai cỏ trộn ngô hạt rất vui tai. Có một cái gì vui vầy từ ngày đại đội tiếp nhận đàn lừa gồm 8 con, đủ ba thồ dây da chằng buộc. Bảy con đánh số từ 1 đến 7 khi hành quân thồ trên lưng 7 bộ phận pháo tháo rời. Còn con thứ 8 thồ mấy bao tải ngô và cỏ khô. Anh em đặt tên cho con số 8 là “nàng tích lương”. Điều vui vẻ nữa là anh tiểu đội trưởng tiểu đội lừa lại có họ tên là Lỗ Súc(1). Lỗ Súc được bổ sung về Đại đội 301 từ cuối 1948. Khỏe mạnh, xốc vác, cười luôn miệng, mỗi lần cười để lộ chiếc răng nanh bịt vàng nom rất hồn nhiên, ngồ ngộ. Nhìn Súc khiêng pháo thật đúng với một câu cửa miệng thân thương của các chiến sĩ bộ binh trợ chiến: “Pháo binh ăn no vác nặng, khiêng pháo trầy vai”. Đàn lừa về, cả đại đội đều nhất loạt giơ tay bầu Lỗ Súc phụ trách tiểu đội lừa. Thế là nghiễm nhiên Lỗ Súc nhận chức vụ tiểu đội trưởng. Anh Nguyễn Huy Tưởng đến với đại đội chúng tôi nhận thấy ngay cái tình của người lính pháo với đàn lừa. Mỗi chiến sĩ chăm sóc một con lừa, tưới tắm, chải lông, xén bờm, gọt móng, đóng đinh móng lừa. Các chiến sĩ yêu quý lừa như những con trâu cày ruộng của mình. Cỏ tươi, cỏ khô đến giờ cho ăn luôn luôn được bỏ vào đầy máng bằng bạt căng dài cho cả đàn cùng ăn. Đàn lừa béo tròn, lông mượt bóng nhẫy. Nhà văn Huy Tưởng đã sáng tạo ra cụm từ “pháo Siêu Hải, lừa Lỗ Súc”, và anh nói thêm: “Nay mai về Thái Nguyên duyệt binh, rồi cả ở Hà Nội giải phóng nữa xem có nhiều cô nàng mê mẩn không nào?” Nghe xong, tất cả mọi người phá lên cười. Và hình như chỉ có anh Tưởng mỗi lần phát ra cụm từ trên kết hợp với cử chỉ, nụ cười và cặp mí hơi nheo nheo mơ màng của anh mới làm bật lên những nụ cười giòn tan. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 10:57:13 pm Không ngờ, “pháo Siêu Hải, lừa Lỗ Súc” đã được tham gia buổi diễu binh mừng chiến thắng, nhưng không phải ở Hà Nội hay Thái Nguyên mà ngay tại thị xã Cao Bằng vừa được giải phóng, vào một đêm trăng rất sáng hạ tuần tháng 11 năm 1950. Lẽ ra buổi lễ diễn ra sớm hơn nhưng vì bị máy bay giặc đến quấy rối nên phải lùi lại quá nửa đêm. Sau đội hình các đơn vị bộ binh, trợ chiến đến đội hình pháo binh. Tôi đi đầu đội hình, sải những bước dài chiến thắng rầm rập trên mặt đường nhựa. Tới lễ đài, tôi hô to: “Bên trái, chào!” cùng lúc đặt bàn tay lên vành mũ ca lô. Tôi nhận ngay ra Đại tướng Tổng tư lệnh kiêm Tư lệnh trưởng và Chính ủy chiến dịch Võ Nguyên Giáp đứng giữa các tướng lĩnh và các vị lãnh đạo. Cố nhìn xem có anh Tưởng trên lễ đài không nhưng nhịp hành quân nhanh nên không tìm thấy. Chỉ thấy trên lễ đài có nhiều cánh tay chỉ chỉ trỏ trỏ con lừa số 1 thồ trên lưng cái nòng pháo, con số 4 thồ cái máy hãm lùi... ngật ngưỡng theo nhịp bước của những chú lừa mà cán bộ, chiến sĩ pháo binh chúng tôi âu yếm gọi là “những chiến sĩ không biết nói”.
* * * Tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê là trận mở màn cho chiến dịch giải phóng Biên giới. Theo kế hoạch tác chiến, Trung đoàn 174 có pháo đi cùng yểm hộ đánh từ phía bắc xuống, Trung đoàn 209 cũng có pháo đi cùng yểm hộ đánh từ phía nam lên, hai mũi cùng hợp lực tiêu diệt toàn bộ cụm cứ điểm từ các đồn ngoại vị đến trung tâm. Đại đoàn Quân Tiên Phong (308), quả đấm thép của Bộ, chưa vội xuất trận đợi thời cơ khuếch trương chiến quả. Riêng Đại đội 301 của Tiểu đoàn 40 pháo binh trong biên chế của Đại đoàn 308 được sử dụng làm pháo chi viện chung cho trận đánh. Cán bộ, chiến sĩ từ pháo thủ, giám mã, nuôi quân coi đây là một vinh dự và một trách nhiệm nặng nề. Liên chi bộ d 40 họp xong, đến lượt chi bộ c 301 họp hạ quyết tâm quyết chiến quyết thắng. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và họa sĩ Dương Bích Liên được mời dự. Anh Tưởng đến với pháo binh từ những năm đầu kháng chiến toàn quốc. Cán bộ chỉ huy đơn vị hầu hết là thanh niên, học sinh “tiểu tư sản” hoặc là cựu pháo thủ trong quân đội thuộc địa Pháp. Lần anh Tưởng và anh Hoài Thanh đến với Tiểu đoàn 40 pháo binh hai năm trước đó, hai anh còn phân vân chưa rõ đồng chí Chính trị viên và Trưởng ban Chính trị tiểu đoàn đã là đảng viên chưa? Hai anh phải lựa lời vòng vo một lúc để thăm dò đã. Khi thấy đúng rồi mới đưa giấy giới thiệu. Đi cùng với pháo binh dự các trận Xú Đá, Ba Khe, Gốc Báng trên đường Yên Bái - Nghĩa Lộ năm 1948, hai anh càng mến yêu các chiến sĩ “vai sắt, chân đồng” và rất có cảm tình với các cán bộ chỉ huy - những học sinh “tiểu tư sản” mưu trí sáng tạo đã biến những khẩu pháo cũ trơ trụi không kính ngắm, ni vô, bảng bắn... thành những vũ khí lợi hại khiến quân thù phải khiếp sợ. - Sao các anh không kết nạp họ vào Đảng, họ đều xứng đáng cả... Các anh còn có điều gì ngần ngại?... - đó là những lời lẽ của anh Nguyễn Huy Tưởng trong nhiều lần gặp gỡ, trao đổi chân tình với bí thư liên chi Tiểu đoàn pháo binh 40, và các bí thư chi bộ đại đội. Cuộc họp chi bộ trước trận Đông Khê hôm đó bầng bầng khí thế chiến thắng, đoàn kết, tin tưởng. Nhiều đồng chí đã hạ quyết tâm xong, anh Tưởng được mời lên phát biểu. - Mấy lần trước, - anh Tưởng nói, - tôi thấy chi bộ ta còn thưa thớt, nay thêm nhiều khuôn mặt kiên nghị mới, bảo tôi không mừng vui sao được. Vui hơn nữa là người bạn rất thân của tôi, anh Siêu Hải, cũng đã thành đảng viên... Đến đây tôi đưa mắt lên nhìn anh, cái nhìn như muốn nói: Đánh đấm sầy vẩy mãi rồi đấy anh ạ. Đến lượt họa sĩ Dương Bích Liên được mời phát biểu. Tôi đã gặp anh Dương Bích Liên từ cuộc Hội nghị tranh luận Văn nghệ Việt Bắc tháng 9 năm 1949 và còn nhớ buổi anh được đề nghị phát biểu quan điểm của mình về phương châm cho các văn nghệ sĩ “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”. Dương Bích Liên đứng lên, ấp a ấp úng. Tôi ngồi cạnh anh, nghe rõ lời nhắc khe khẽ rất Nguyễn Tuân: “Bình tĩnh, bình tĩnh!” Buổi nay cũng vậy, Dương Bích Liên ngập ngừng giây lâu mới nói nhỏ nhẹ đại ý là: “Đi thực tế xuống cơ sở thấy bộ đội vui quá, đánh giặc mà hào hứng như trẩy hội. Tôi ký họa được khá nhiều cảnh, khẩu pháo, đàn lừa. Và quay sang tôi anh nói tiếp: Đại đội trưởng của các đồng chí cũng vẽ nhiều đấy, trong sổ tay, đẹp lắm”. Cuộc họp chi bộ 301 chuẩn bị kết thúc thì anh Nguyễn Huy Tưởng lại đứng dậy. Anh chỉ lá cờ búa liềm treo giữa gian chính nhà sàn nói lời nhận xét đại ý là chỉ trương riêng cờ Đảng trong cuộc họp chi bộ là chưa đủ. Đảng là của giai cấp công nhân mà giai cấp công nhân cũng nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, không thể quên được lá cờ của Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam. Bí thư chi bộ 301 Trương Thành Phao gật đầu tiếp thu vui vẻ. * * * Đến lúc này tôi còn nhớ đã được đọc trong Tạp chí Văn Nghệ số Chiến thắng Cao Lạng những trang viết của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng về cuộc hành quân chiếm lĩnh trận địa trên dãy cao điểm phía đông cụm cứ điểm Đông Khê vào đêm 15 rạng ngày 16 tháng 9 năm 1950, được gọi là “ngày N” (ngày nổ súng mở màn chiến dịch). Một đêm hành quân không trăng không sao tối đen như mực, đường mòn độc đạo lởm khởm, lên lên xuống xuống, bốn năm con suối sâu nước chảy xiết. Đội hình hành quân dài dằng dặc. Các chiến sĩ pháo binh - ở đây là Đại đội pháo 301 - trở lại cái cảnh đòn dây nhũng nhẵng, gậy chống lưng oằn tháo rời pháo ra khiêng từng bộ phận. Vì vậy, đội hình đã dài càng dài thêm. Gặp con suối sâu, một đoạn đường nhỏ hẹp khó đi lập tức xảy ra cảnh dồn toa, ách tắc, ngột ngạt, hơi thở phì phò. Hai anh Nguyễn Huy Tưởng và Dương Bích Liên đi trong đội hình Đại đội 301. Trước ngày xuất trận, muốn có điều gì đó để nhớ lâu tôi nói với anh Tưởng là sẽ mời nhau điếu thuốc lá tại công sự pháo. Anh Tưởng đồng tình, cố gửi mua được bao thuốc “Con cú”. Những lúc bị dồn toa ách tắc, bao thuốc cũ đã hết, nhà văn thèm thuốc quá nhưng vẫn cố nhịn để dành bao thuốc nguyên để tặng tôi tại công sự pháo. Về phần tôi, gần 3 giờ sáng tôi phải bứt đi trước cùng với một số anh em vác cuốc xẻng lên đào công sự, mắc dây điện thoại với sở chỉ huy trận đánh... Rạng sáng, chưa nhìn rõ mặt người, hai khẩu pháo của trung đội 1 và 2 đã tới trận địa. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và họa sĩ Dương Bích Liên bám theo anh em khiêng các bộ phận pháo từ chân dốc vượt qua sườn khuất khá cao sang bên này dốc, cách vài chục bước chân là tới trận địa của Đại đội 301. Tôi đang tranh thủ hất đất lên miệng gờ công sự thì bắt gặp bóng dáng của hai văn nghệ sĩ đã đến bên công sự. Có tiếng của anh Tưởng: - Siêu Hải đấy à, thuốc lá đây. Tôi nhận bao thuốc còn nguyên vẹn trong tay anh. Tôi xé vỏ bao định rút ra vài điếu rồi trao lại anh. Nhưng cả hai bàn tay tôi đào công sự còn bám đầy đất vụn nên lúng túng để tuột bao thuốc xuống. Anh chiến sĩ thông tin giúp tôi tìm bao thuốc dưới đáy công sự vừa mới đào xới còn lổn nhổn đất hòn, lại tối nhờ nhờ. - Nó biến đâu mà nhanh thế, - tiếng của anh chiến sĩ thông tin. - Thôi, thôi, cánh mình đi đây, - anh Tưởng vừa nói vừa chìa tay về phía tôi đang đứng dưới công sự. - Tay bẩn, tay bẩn! - tôi vừa nói vừa xua hai tay. Anh Tưởng nắm luôn được cánh tay trái tôi, cùng lúc Dương Bích Liên tóm tay phải, lắc lắc. - Nhất định thắng nhé, viết luôn đi nhé. - Anh Tưởng nói xong, Dương Bích Liên nối lời: Cả vẽ nữa chứ, chúc thành công! Cuối cùng bao thuốc lá của anh Tưởng đã tìm thấy, thì ra nó rơi trúng cán xẻng của tôi bắn vào hố hàm ếch thành công sự. Tôi chia cho một số anh em cùng hút, khói thuốc lẫn trong màn sương giăng quanh mọi người. Trời sáng dần. Cụm cứ điểm Đông Khê nhờ nhờ trong sương mù. Qua ống nhòm tôi với hai anh Đình Nạp, trung đội trưởng trung đội 1 và Trọng Dần, trung đội trưởng trung đội 2 đã thống nhất với nhau mục tiêu phải tiêu diệt, tốc độ bắn và số đạn tiêu thụ. Có tiếng điện thoại réo gọi tôi vào cầm máy. Tôi nhận ra giọng nói đầu bên kia là đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng quân đội ta lúc đó đảm nhiệm Chỉ huy trưởng trận Đông Khê mở màn cho chiến dịch. Đồng chí Hoàng Văn Thái ra lệnh cho tôi chuẩn bị bắn. Tôi đề nghị xin lùi lại ít phút vì sương còn mờ lắm. - Cho thêm hai phút, - tiếng của Chỉ huy trưởng trận Đông Khê. Tôi hạ lệnh cho hai trung đội pháo 1 và 2: Chuẩn bị... Bắn! Trong cuốn sổ tay ghi chép nhanh của cố nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng ghi rõ: “6 giờ 30 Siêu Hải hô. Bắn!” Và anh đã không quên ghi lại cảm xúc của mình, theo lối của một người “viết sử bằng văn chương”(2) “Giờ lịch sử chạy một cách thong thả”... Tháng 10 năm 2004 S.H (1). Trong nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng viết là Xúc. (2). Chữ dùng của nhà sử học Dương Trung Quốc. Tiêu đề: Re: Chiến dịch Biên giới Gửi bởi: loiho000 trong 16 Tháng Ba, 2017, 11:03:34 pm Đây là ebook dạng PRC dành cho ai muốn tải về đọc:
https://drive.google.com/open?id=0B8pjhdNvuCbdUWhlVkhVNVNHd2c P/S: trong ebook có phần bảng tra đối với 1 số tên người, tên đơn vị, địa danh |