|
Tiêu đề: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Ba, 2017, 03:39:09 pm (https://scontent-hkg3-2.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/90482640_619727755423775_7502416703347752960_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_sid=8024bb&_nc_ohc=OQxaHGAvIZIAX87uSxM&_nc_ht=scontent-hkg3-2.xx&oh=f1a16297a7c5be4c4fad0304ddad5b6d&oe=5E9EECE2) - Tên sách: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 - Số hóa: quangcan Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập sư đoàn 3 Sao Vàng (02/9/1965 - 02/9/2010), được sự đồng ý và cho phép của Thường trực Ban liên lạc Bạn chiến đấu Sư đoàn 3 Sao Vàng khu vực Hà Nội (bác Lê Anh Sáng, bác Nguyễn Văn Tích, bác Nguyễn Văn Tạo), cuốn Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 sẽ được đưa lên trang nhà. -------------------------- VÀI DÒNG CẢM XÚC: Tháng 9 về, mùa thu lại đến, lại nhớ về những tháng năm đã qua, những dòng thác cách mạng ào ào cuốn phăng mọi vật cản trên con đường đưa đất nước đi lên; lại nhớ về sư đoàn 3 – sư đoàn Sao Vàng ấy. Nhớ về một sư đoàn mà tôi, một người ngoại đạo, một anh lính “dân sự” nhưng lại là người gắn bó, có nhiều “duyên nợ” với nó; không biết từ lúc nào, từ khi nào, phải chăng tôi đã trở thành một người lính của sư đoàn! Có lẽ, là lúc đứng ở đèo Nhông , núi Bà lộng gió, nhìn bốn bề sông núi mênh mông, bên tai vẫn vẳng nghe tiếng thét xung phong; Có lẽ, là lúc đứng trên đường “huyết lộ” 19, lần tìm dấu giầy của tiểu đoàn 6, đoàn Tây Sơn, những con người đã đứng vững, đứng chắc tiếp lửa cho chiến dịch đánh chiếm Kontum, khiến kẻ thù Nam Hàn run sợ. Phải chăng, là lúc dừng chân bên đồi 9, đồi 10, bên dòng sông Kim Sơn hiền hòa để quan sát, để thẩm thấu “đất và người Hoài Ân, Hoài Nhơn”. Hay có khi là lúc lặng người trước giờ chiến thắng 30/4, từ cầu Cỏ May vào tới Vũng Tàu có mấy cây mà còn biết bao người con Việt đã ngã xuống. Có lẽ cũng vì bài thơ viết vội trên bước đường vào chiến dịch : RA TRẬN HÔM NAY Kính tặng Trung đoàn 2 (Quyết Chiến) Cùng đội ngũ hôm nay tôi ra trận Có chim về, có nắng rọi xôn xao Có hoa rừng chen lá thắm vẫy chào Có bạn, có ta và trời xanh biếc! Ôi! Kiêu hãnh trên tay ta nòng súng thép Hãy nghĩ gì? Anh Giải Phóng thân yêu…? *** Miền Nam ơi! Mỗi sớm sớm chiều chiều Nhức nhối tim gan tiếng rú gầm quạ sắt Quặn thắt lòng ta khi tăng cày xéo đất Lúa đương thì rũ gối dưới bùn đen. Một xóm nhỏ yên lành cũng hoen ố Na-pan Một mảnh trời trong cũng đặc mù hóa học Quả dừa ngọt cũng lìa cành đại bác Con chim non cũng lạc tổ xa đàn Nào mẹ, nào cha, nào chị, nào em. Trong giấc ngủ đã bao lần trở giấc Năm tháng ấy bao vành tang trắng tóc Bao mái nhà xám xịt một màu tro Hỡi chiếc cầu tre, bụi chuối, con đò Mỗi một ta yêu còn chăng nguyên vẹn?... …Chúng ta đi trong tiếng súng đợi chờ Ấp ủ vai ta sáng ngời ánh thép Có nước mắt, máu xương người đi trước Lon gạo chia tư, hạt muối chân tình Có anh Bính , anh Tòng , anh Võ , anh Canh Cùng đồng đội anh Cao đập nát đầu bọc thép Hoa dũng sỹ trên ngực hồng gan góc Nổi bật ra quân mang chiến thắng lẫy lừng Những con người tựa tên núi, tên sông An Lão, Đèo Nhông đứng ngang tầm lịch sử Mỹ Trinh đó Truông Sỏi dài nắng đỏ Sấm sét xung phong chấn động xứ dừa xanh… Nắng hối hả gọi hè vào trận chiến Hãy cùng ta mang bão lửa lên đường Hãy quyện tim ta bao tiếng thét căm hờn Một đoạn nôi xơ của Bình An – Tân Giảng Chiếc khăn máu Ba Làng An, Khánh Giang thê thảm Đạn lên nòng cháy bỏng trái tim ta **** Cùng đội ngũ hôm nay tôi ra trận Vòng ngụy trang chải chuốt lá lao xao Bầy chim rừng chao cánh giữa trời cao Mấp máy bảo nhau “Mùa đang chiến dịch” Bác Hồ gọi: Con đường đi thẳng đích Thơ mùa Xuân – đánh Mỹ cút, Ngụy nhào. Bừng sáng Miền Nam – Tổ quốc xôn xao Mừng thọ Bác bằng chiến công đẹp nhất Chuyến thần tốc xin hẹn cùng Đất nước Trung đoàn II rầm rập lên đường Từng đại đội Thành Đông hoa đẹp hương thơm TRUNG-DŨNG-KIÊN-CƯỜNG, RA QUÂN LÀ CHIẾN THẮNG ! Đại tá Như Cảnh 14h30 ngày 28-4-1969 Rừng Ba Lương (huyện Ba Tơ – Quảng Ngãi) Viết và đọc thơ tại C3/D1/E2/F3 (Sao Vàng) - lên đường vào chiến dịch. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Ba, 2017, 03:43:01 pm Hào hùng và bi tráng thay, đã có hàng lớp lớp cán bộ chiến sỹ gia nhập sư đoàn và cũng có đến hai vạn người đã ngã xuống; mảnh đất Bình Định nuôi nấng các anh các chị và cũng lặng lẽ đón anh, chị về. Ôi, đã 45 năm ấy, người còn người mất; 45 năm anh chưa có tên, 45 năm anh vẫn nằm đâu quanh đâu: bờ mương, góc núi, ven sông. Hôm nay đây, vài dòng tâm sự, thắp nén hương tưởng nhớ các anh. LỜI NGƯỜI ĐÃ KHUẤT Hòa bình đã mấy mươi năm Mà tôi vẫn ở trong hầm chữ A Bạn gần cho tới bạn xa Buồn vui vẫn đến giao hòa cùng nhau Vẫn nghe ai đó nhắc nhau Ơn người ngã xuống cho bầu trời xanh Hòa bình chấm dứt chiến tranh Bao người nay đã trở thành chỉ huy Lớp sau đến, lớp trước đi Bao nhiêu thế hệ nhắn gì mai sau? Những trang truyền thống nặng sâu, Bây giờ nối tiếp nhịp cầu nữa không! Tôi thường vẫn nhớ vẫn mong Được ghi tên thật cho lòng thảnh thơi Nỗi mong không của riêng tôi Còn bao đồng đội cùng thời chiến tranh Nhà chúng tôi, giữa đồng xanh Hay trong hang đá, bên ghềnh biển reo Chúng tôi vẫn sống đói nghèo Tấm tranh không có che chiều mưa giông Nói ra mà thấy chạnh lòng Để hồn Tử sĩ long đong giữa đời Hòa bình đất nước niềm vui Bạn bè trang lứa lên ngôi, lên hàng Họ tên quê quán đàng hoàng Còn tôi vẫn sống lanh thang không nhà Những khi trời nổi phong ba Mênh mông Tổ quốc đâu nhà của tôi Chỉ mong một chút nghĩa đời Chỉ mong Tổ quốc sáng ngời vinh quang. Xây dựng Đất nước đàng hoàng Cho con cháu, đến muôn ngàn năm sau Chúng tôi vĩnh viễn nằm đây, Chỉ mong một nén nhang chay người đời. Hà Nội, tháng 5/2009 Đại tá Lê Anh Sáng, Trưởng Ban Liên lạc Bạn chiến đấu Sư đoàn 3-Sao Vàng, Khu vực Hà Nội Nguyên Phó Sư đoàn trưởng về Hậu cần Sư đoàn 3- Sao Vàng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 14. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Ba, 2017, 03:57:29 pm BÌNH ĐỊNH : CHIẾC NÔI CỦA SƯ ĐOÀN 3 – SAO VÀNG Nguyễn Thanh Quang Ban quản lý Di tích lịch sử và danh thắng Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Bình Định Sau những thất bại từ nửa cuối năm 1964 và đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ về cơ bản đã bị đánh bại. Đứng trước tình thế bất lợi đó, Chính quyền Mỹ quyết định mở rộng và leo thang chiến tranh, đánh phá miền Bắc bằng Không quân và Hải quân. Đồng thời ồ ạt đưa bộ binh vào miền Nam, tập trung vào 3 chiến trường chính là: Đồng bằng duyên hải Trung Bộ (từ Quảng Nam đến bắc Phú Yên), Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Bình Định trở thành địa bàn trọng điểm của chiến trường trọng điểm. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Khu 5 cố gắng xây dựng lực lượng vũ trang, tập trung xây dựng lực lượng chủ lực. Ngày 2 tháng 9 năm 1965, kỷ niệm lần thứ 20 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tại khu rừng Bà Bơi (xã Bok Tơih, huyện Hoài Ân) Sư đoàn 3 - Sao vàng được thành lập. * Địa bàn trọng điểm: Rừng Bà Bơi là khu rừng đầu nguồn sông Kim Sơn, nằm trong hệ thống rừng Trường Sơn chạy từ Bắc tới Nam, là nơi xuất phát của con sông Kim Sơn, một trong hai con sông lớn hợp thành sông Lại Giang đổ về cửa An Dũ. Địa điểm thành lập Sư đoàn 3 là dốc Bà Bơi, trên tỉnh lộ 630, một con đường tư ích có từ thời Pháp, xuất phát từ Quốc lộ 1 tại cầu Dợi (Hoài Đức, Hoài Nhơn) lên Kim Sơn (Ân Nghĩa) qua rừng Bà Bơi, vượt dốc Đót (Bok Tơih) xuống vực Bà, qua Vĩnh Sơn lên huyện KBang (Gia Lai) và nối với tỉnh lộ 637 qua huyện Vĩnh Thạnh xuống Vườn Xoài (Tây Thuận, Tây Sơn) gặp quốc lộ 19. Địa phận rừng Bà Bơi trước đây thuộc làng Nghĩa Nhơn, xã Ân Nghĩa, ngày nay thuộc làng T2, xã Bok Tơih, huyện Hoài Ân. Theo đồng bào Ba Na ở nguồn Kim Sơn kể lại: Ngày xưa nơi đây rừng núi cây cối um tùm, nhiều chim thú. Ở một làng nọ có Bá Bơi là một người chuyên săn bắn thú rừng, quanh năm suốt tháng lặn lội trong rừng sâu núi thẳm đặt bẫy săn bắn. Một hôm ông gặp cọp và bị cọp ăn thịt. Từ đó dân làng gọi rừng này là rừng Bá Bơi. Sau này, từ “Bá Bơi” bị đọc trệch thành “Bà Bơi”. Từ năm 1959, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Trung ương Đảng đã xác định: Khu 5 không phải là vùng kinh tế, chính trị của địch. Trọng điểm kinh tế của chúng là vùng đồng bằng sông Cửu Long, trung tâm chính trị của chúng là Sài Gòn – Gia Định. Khu 5 là tiền tuyến của địch, là đầu cầu chiến lược để bảo vệ chế độ độc tài của chúng, không giữ được Khu 5, Sài Gòn sẽ bị uy hiếp… Đối với Đảng bộ Khu 5, nhận thức được địa bàn xung yếu như vậy nên đã sớm chú ý đến việc xây dựng lực lượng vũ trang. Ngày 20 tháng 7 năm 1961, sau 2 năm nổ ra cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Trà Bồng (Quảng Ngãi), Bộ Tư lệnh Quân khu 5 được thành lập. Tháng 5 năm 1964, Mặt trận Tây Nguyên ra đời. Tháng 8 năm 1965, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị Khu 5 tập trung xây dựng lực lượng chủ lực là chính. Ở Khu 5, Bình Định là tỉnh có địa hình khá hiểm trở, là địa bàn quân sự trọng yếu xuyên suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến địa phận Bình Định hình thành một vòng cung lớn, ôm cả 3 mặt Bắc, Tây, Nam với những vùng rừng núi bạt ngàn, có nhiều dãy núi nhô ra sát biển. Bình Định còn là nơi tiếp giáp giữa Quân khu 1 và Quân khu 2 ngụy, là ngã ba của 2 con đường chiến lược lớn: Quốc lộ 1 và Quốc lộ 19, nối cảng Quy Nhơn với Pleiku – trung tâm của Tây Nguyên. Tướng Mỹ Oét-mo-len đã từng nói: Mất Bình Định, miền trung sẽ bị cắt đôi ở quãng giữa và sẽ mất một đầu cầu chiến lược quan trọng nuôi sống các tỉnh Tây Nguyên. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Ba, 2017, 04:04:02 pm * Chiến trường trọng điểm: Cuối năm 1964 đầu năm 1965, tuyến vận tải chiến lược ở Khu 5 đã được củng cố và mở rộng. Các đường mòn chiến lược xuyên rừng, xuyên biển đã lần lượt đến các chiến trường. Tháng 12 năm 1964, chuyến tàu không số vận chuyển 35 tấn vũ khí từ miền Bắc vào cập bến Lộ Diêu (Hoài Mỹ, Hoài Nhơn) an toàn. Đây là con tàu không số đầu tiên cập bến Khu 5. Tiếp đó, năm 1965, các trung đoàn bộ binh 12, 22 và một số tiểu đoàn hỏa lực được bổ sung cho Khu 5. Gần 5 ngàn thanh niên nam nữ các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Gia Lai...hăng hái xung phong nhập ngũ. Hàng vạn tấn gạo, thực phẩm cung cấp cho các đơn vị chủ lực được dân công chuyển đến các kho trạm dự trữ trên căn cứ... Những điều kiện để hình thành các sư đoàn chủ lực đã chín mùi. Ngày 9 tháng 8 năm 1965, Thường vụ Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết thành lập các sư đoàn chủ lực. Và đúng ngày kỷ niệm lần thứ 20 Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Sư đoàn bộ binh 3, mang tên Đoàn Sao Vàng đã được thành lập. Sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh : 2, 12 và 22, các đơn vị trực thuộc gồm: 1 tiểu đoàn pháo cối mang vác, 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,7 ly, 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 tiểu đoàn quân y, 1 đại đội trinh sát...hoạt động chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bình Định, nam Quảng Ngãi, đông Gia Lai... Sau hơn 10 năm (1954 - 1965) đấu tranh quyết liệt đầy hy sinh, gian khổ, niềm mong mỏi của Đảng bộ và nhân Khu 5 đã được thực hiện. Việc ra đời Sư đoàn 3 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt không những của lực lượng vũ trang mà còn đánh dấu sự phát triển cao của phong trào cách mạng tỉnh Bình Định nói riêng và Khu 5 nói chung. Theo “ Ký sự lịch sử Sư đoàn Sao Vàng”, trong 10 năm đánh Mỹ trên chiến trường Bình Định (1965 - 1975), Sư đoàn đã đánh 5.500 trận lớn nhỏ, bình quân 2 ngày 3 trận. Một số trận tiêu biểu như: Thuận Ninh, Truông Ổi, đường 19, chốt Cây Rui, Vườn Xoài (huyện Bình Khê), Gò Đình, Gò Trạm, Núi Một, Núi Bà (huyện Phù Cát), Dương Liễu, Đèo Nhông, Phủ Cũ, An Bảo, Mỹ Trinh, Trà Lương, Núi Lá (huyện Phú Mỹ), Chợ Cát, Quy Thuận, Đồi Mười, Tam Quan, Đệ Đức, Bồng Sơn, Diên Khánh (huyện Hoài Nhơn), Núi Một, An Hòa, Vạn Trung, Đường 5 (huyện An Lão), Long Giang, Lộc Giang, Đèo Mọi, Xuân Sơn, Nhơn Tịnh, Gò Loi, Hòn Bồ, Truông Sỏi, Du Tự (huyện Hoài Ân), Định Quang, Vĩnh Bình (huyện Vĩnh Thạnh), Phương Danh, Đập Đá, Lai Nghi (huyện An Nhơn), Phước Sơn, Phước Thuận, Gò Bồi, Tân Giảng (huyện Tuy Phước)... Mười năm hoạt động trên địa bàn trọng yếu của Khu 5, Sư đoàn được Đất và Người Bình Định đùm bọc, nuôi dưỡng với tất cả tấm lòng vì giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nhân dân Bình Định đã không tiếc công sức và xương máu để cho Sư đoàn trưởng thành và chiến thắng. Đúng như “Ký sự lịch sử Sư đoàn” đã khẳng định: Không có phong trào cách mạng của quần chúng ở Bình Định, sẽ không có sự ra đời của Sư đoàn 3. Trong lịch sử của quân đội ta, không có sư đoàn chủ lực nào không được hình thành từ phong trào cách mạng của nhân dân. Nhân dân tác thành, nhân dân nuôi dưỡng... Nhân dân tỉnh Bình Định thật sự là người mẹ đẻ và nuôi dưỡng Sư đoàn 3 từ lúc ra đời cho đến khi trưởng thành, lớn mạnh. Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, ngụy và chư hầu, quân dân Bình Định luôn được sự phối hợp, hỗ trợ mạnh mẽ, đắc lực của Sư đoàn 3. Những chiến công của quân dân Bình Định luôn luôn có sự đóng góp xương máu to lớn của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3. Ngược lại, những chiến công của Sư đoàn 3 đều có sức người, sức của và sự đùm bọc, chở che của đồng bào Bình Định; nhờ có thế trận chiến tranh nhân dân to lớn và vững mạnh của tỉnh Bình Định. Mối quan hệ giữa Sư đoàn 3 – Sao Vàng và quân dân Bình Định là sự gắn kết máu thịt trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Mối quan hệ đó đã và sẽ trường tồn cùng lịch sử, trở thành bài học trong sáng cho mọi thế hệ về tình đoàn kết Quân – Dân. Qui Nhơn, tháng 7 năm 2009 N.T.Q. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Ba, 2017, 04:08:41 pm Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Nguyên Chính ủy Sư đoàn 3 – Sao Vàng, Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đã nghỉ hưu. Ông đã gắn bó với Sư đoàn trong những năm tháng gian khổ nhất (1967 - 1970). Từ khi xa Sư đoàn, ông vẫn luôn quan tâm tới Sư đoàn với tất cả tấm lòng quý mến và tự hào. Xin trích đăng một số hồi ức của ông khi viết về Sư đoàn 3-Sao Vàng: MỘT CUỘC PHÁ VÂY. Tháng 11 năm 1967, Bộ tư lệnh Sư đoàn đang triển khai kế hoạch hoạt động Thu Đông 1967 đã được thống nhất giữa Sư đoàn 3- Sao Vàng và Thường vụ tỉnh ủy tỉnh Bình Định thì nhận được điện Quân khu 5 do đồng chí Giáp Văn Cương – Tham mưu trưởng Quân khu ký. Nội dung chỉ mấy chữ: “Sư đoàn triển khai gấp phương án tiến công lớn vào thị xã Quy Nhơn”. Rõ ràng đây là mệnh lệnh, khỏi phải bàn. Điều cần bàn là tiến công Quy Nhơn theo hướng nào? Hướng Bắc và Tây Bắc là đánh vào chỗ mạnh, chỗ rắn của địch, còn hướng Nam và Đông Nam, địch bố phòng yếu nhưng hướng này chưa ai nắm được tình hình thuận lợi, khó khăn gì. Sau cuộc hội ý nhanh, Bộ tư lệnh Sư đoàn quyết định tổ chức đoàn đi khảo sát vùng Đông Nam Phù Mỹ. Đoàn gồm có tôi - chính uỷ; Huỳnh Hữu Anh (tức Quang) - phó Sư đoàn trưởng; Trần Trọng Sơn - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Nguyễn Văn Chước - Chính uỷ Trung đoàn 2 và bộ phận nhẹ cơ quan Sư bộ Sư 3, và trung đoàn bộ Trung đoàn 2. Đi sau chúng tôi là Tiểu đoàn bộ binh 1, Trung đoàn 2. Lộ trình: ngày thứ nhất (11 tháng 11-1967) từ núi Cát Sơn ngược ra Mỹ Trinh, tới Mỹ Lộc, nghỉ đợi 12 giờ đêm vượt đường số I đoạn bắc đèo Nhông, tạm dừng tại hang đá Mỹ Phong. Đêm thứ 2 (đêm ngày 12-11-1967) trời vừa tối, chúng tôi rời Mỹ Phong xuống Mỹ Thọ, vào Tân Phụng thì trời sáng. Bộ phận chỉ huy Sư đoàn, Trung đoàn phải tạt vào khu vực suối đá có nhiều hang hốc để tạm trú. Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2 từ Mỹ Phong xuống thẳng xã Mỹ Thành, đào hầm chuẩn bị chiến đấu nếu địch càn quét. Trời sáng dần, không gian tĩnh lặng, nước suối trong vắt róc rách chảy qua các kẽ đá. Ai cũng thèm được tắm gội sau mấy ngày đêm hành quân lấm láp, người dính bụi, mồ hôi bốc mùi chua chua. Nhưng do yêu cầu bí mật nơi đóng quân nên những sinh hoạt đời thường nhỏ nhoi ấy đành phải cho qua. Sự mệt nhọc đã tan nhanh bởi không gian trong lành của con suối. Chúng tôi đang bàn công việc của đêm nay, ngày mai, ngày mốt thì có tiếng máy bay trực thăng từ phía Tây Bắc vọng lại mỗi lúc một gần. Không hề bắn phá mà lập tức đổ xuống một Đại đội lính Mỹ thuộc Lữ đoàn không vận 173 ngay trước cửa suối, vít chặt lối ra của chúng tôi. Phía đỉnh núi (đầu suối ) chúng cũng đổ quân. Đã rõ, chúng hình thành thế vây. Lúc đó là 15 giờ ngày 3 tháng 11. Có lẽ chúng tôi để lộ dấu vết trong hành quân nên giờ đây phải trả giá. Mỹ đổ quân nhưng không xáp vô, không tiến công. Chúng định giở trò gì đây? Từ trong nhìn ra, tôi và anh Huỳnh Hữu Anh thấy rất rõ địch đang triển khai thành nhiều vòng vây. Lớp gần nhất ở cửa suối đá cứ 5 mét có 1 lính Mỹ. Lớp thứ 2 khoảng 50 đến 100 mét có 1 Tiểu đội Mỹ. Lớp thứ 3 khoảng 200 mét có một tốp lính Mỹ. Ngoài đường cái chúng đặt một chốt chặn có hoả lực đại liên, súng cối. Trời bắt đầu tối, cũng là lúc chúng bắn pháo sáng và cứ 5 phút lại ném lựu đạn xuống lòng suối. Rõ ràng, địch đang khép chặt vòng vây để ngày mai “cất vó” chúng tôi. Một cuộc hội ý được triệu tập, gồm có tôi, Huỳnh Hữu Anh, Trần Trọng Sơn, Nguyễn Văn Chước và các cán bộ tác chiến, trinh sát, thông tin... bàn cách thoát khỏi vòng vây địch trong đêm. Đánh địch mà ra, không ai đồng ý, cho đây là hành động phiêu lưu, thương vong không nhỏ, về quân số ta ít lại toàn “lính văn phòng”, súng “cùi chỏ” (súng ngắn) là chủ yếu. Chỉ còn cách bí mật vượt khỏi vòng vây. Nhưng lại nảy sinh vấn đề là ra tất cả hay ra một số. Ra một số thì yếu tố thành công lớn. Ra tất cả một lúc dễ lộ. Ra một số thì chọn ai? Thấy mọi người đùn đẩy đi, ở mãi, tôi hội ý với anh Quang (tức Huỳnh Hữu Anh) và kết luận: Những người ra trước có trưởng ban trinh sát Sư đoàn và 2 chiến sỹ liên lạc. Tiếp đó là tôi, anh Quang, anh Chước. Sau khi vượt khỏi vòng vây địch, nhanh chóng điều Tiểu đoàn 1 đến giải vây cho số còn lại. Nếu có tình huống bất trắc, ngày hôm sau phải nổ súng với địch thì đồng chí Sơn sẽ chỉ huy anh em chiến đấu đến cùng. Tư tưởng xuyên suốt là giữ bí mật để không phải nổ súng với địch. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Ba, 2017, 04:13:04 pm Để bảo đảm lách khỏi 3 lớp vây của địch, đồng chí Phó Sư đoàn trưởng phải trực tiếp quán triệt cho mọi người kỷ luật và kỹ thuật di chuyển: 1. Vũ khí cá nhân phải đảm bảo không để va chạm, không để bị rơi, không bị cướp nổ 2. Vừa bò vừa quan sát địch, chờ khi lựu đạn chúng ném nổ xong lập tức bò ngay, khoảng mười mét nằm lại chờ quả lựu đạn khác nổ mới bò tiếp. 3. Đến trạm cuối cùng của địch, địa hình trống, phải thực hành bò thấp, bò trườn như thằn lằn. Người ra trước phải chờ người phía sau, khi đủ mới đi. Riêng trưởng ban trinh sát, khi ra khỏi vọng gác địch, nhanh chóng tới thôn Dương Liễu đưa lệnh của Sư đoàn và Trung đoàn cho D1 giải vây cho anh em còn lại. Quả thật là khó hình dung nổi thời khắc giữa sự sống và cái chết cách nhau chỉ một chớp mắt. Thần kinh căng như dây đàn. Tim đập nhanh như muốn văng ra khỏi lồng ngực, có những khi tưởng như tim không đập nữa. Sau này, những lúc nghĩ lại, tôi thấy rằng, sự an toàn của chúng tôi hôm đó là sự hoà nhập của 2 yếu tố tất nhiên và ngẫu nhiên. Tất nhiên là do ý chí nghị lực và thái độ chấp hành nghiêm mệnh lệnh trên, là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện để đạt tới trình độ kỹ thuật khiến kẻ thù không thể phát hiện được. Còn cái ngẫu nhiên chính là việc kẻ thù cứ lặp đi lặp lại quy luật ném lựu đạn đã tạo nên những khoảng không an toàn cho ta bò ra. Đồng thời chính tiếng nổ của lựu đạn địch đã góp phần xoá tiếng động của ta (nếu có) khi vượt qua trận địa chúng. Khoảng 4 giờ sáng, chúng tôi ra khỏi vòng vây địch. Trưởng ban trinh sát cắt đường đi xuống Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2. Chúng tôi đi về Mỹ Thành nhưng trời sáng rõ phải tạt vào khu gò ở nam Mỹ Thọ ẩn mình trong bụi rậm bên đường, cách bốt gác của địch khoảng 400m. Lại một tình thế hiểm nghèo khác ập tới. Đến giờ đi làm, con đường trước mặt, bà con đi lại tấp nập. Qua kẽ lá chúng tôi nhìn thấy cả lính Mỹ, lính Nguỵ, tay xách súng, mắt đảo qua đảo lại như cú vọ. Hàng quán hai bên đường phát ra tiếng nhạc giật cục và tiếng hát rỉ rên, sướt mướt. Tôi vẫn còn nhớ lõm bõm: Tình chết không đợi chờ, Tình cũ ai nào ngờ, tình yêu! Lại còn có loa phát thanh phát tin của bọn tâm lý chiến: “Tin mới đây! Tin mới đây. Quân đồng minh Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hoà vừa bắt được 2 đại tá Việt Cộng”. Chúng không nói tên sợ lộ tẩy sự lừa bịp vì nhân dân trong vùng hầu hết đều biết tên cán bộ ta. Còn tôi, tôi thầm bảo: Hai đại tá còn đang ngồi trước mặt chúng mày đây. Nắng lên. Nắng ven biển không đau nhức vì có gió nhưng vẫn là nắng nóng. Chúng tôi không còn giọt nước nào. Cơm cũng không. Cổ khô cháy, ruột cồn cào, nhưng phải ráng chịu. Chỉ lo anh Chước-chính uỷ Trung đoàn 2 rất dễ ngủ, đã ngủ là ngáy, đã ngáy là ngáy rất to. Con người ấy có bộ máy điều hoà giữa hưng phấn và ức chế thật tuyệt. Ngủ thức sòng phẳng phân minh. Nhưng lúc này và ở vị trí này, điều đó làm cho mọi người lo lắng, căng thẳng. Thỉnh thoảng tôi lại phải đập vào người để anh tỉnh dậy, dứt ngáy, khẽ nói vào tai: “Mỹ đang đi ở đường cái”, anh dửng dưng đáp: “Biết rồi, cứ kệ chúng nó”. Ở vùng này, ngày địch đêm ta. Đến 20 giờ chúng tôi xuống đường tạt vào nhà hàng. Những ông chủ vừa mới tiếp bọn địch ban chiều, bây giờ lại niềm nở nấu mỳ Ông Phật cho chúng tôi, luôn miệng kể hết mọi thông tin mà bà con thu lượm được. Biết chúng tôi là cán bộ Giải phóng, chủ quán không chịu nhận tiền, tôi phải nằn nì mãi bác mới nhận và vẻ tự hào nói: “Bà con ở đây đa số là người đàng mình, các chú cứ yên tâm”. Ông chủ còn cho biết “ngày nào bộ đội ở thôn Dương Liễu cũng tới đây nhờ tôi mua gạo, cá, mắm”. Tôi cảm ơn và giật mình nghĩ “bộ đội để lộ nơi cư trú là điều cần phải kịp thời chấn chỉnh”. Tạm biệt chủ quán, chúng tôi đi về hướng Đông theo bờ ruộng muối rồi quặt vào thôn Dương Liễu. Các đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn 1 báo cáo trận đánh giải vây buổi sáng táo bạo, đưa lực lượng vào sau lưng địch bất ngờ nổ súng khiến bọn Mỹ không kịp trở tay. Chúng đưa trực thăng tới bị ta bắn trọng thương cố lết về Quận lỵ Phù Mỹ. Anh em ta rút ra an toàn, chỉ có 2 đồng chí bị thương nhẹ vào tay. Tôi thở phào nhẹ nhõm, triệu tập cán bộ Trung đoàn, Tiểu đoàn tới quán triệt yêu cầu bảo đảm bí mật để bảo toàn lực lượng cho nhiệm vụ sắp tới nặng nề và to lớn hơn. Hà Nội, tháng 5-2000 N.N.K Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Ba, 2017, 04:22:13 pm ĐÁNH ĐỊCH VÙNG SÂU Tháng 12 năm 1969, Sư đoàn 3 được lệnh của Quân khu trở lại Bình Định (sau hơn một năm hoạt động ở tỉnh Quảng Ngãi). Thế là phải tạm xa vùng đất và con người đã cùng chia sẻ ngọt bùi trong những ngày tháng đánh giặc khốc liệt. Cũng vẫn con đường hơn một năm trước ra đi, nay theo nó trở về, nhưng cảnh sắc thì thật đổi thay. Cây rừng ngả nghiêng, đổ gãy, héo úa. Mặt đường bị băm bổ, cày xới. Đó là vết tích của các chiến dịch tàn phá hành lang, vít cửa khẩu của địch bằng tối đa bom đạn và chất độc hoá học. Con đường trở nên đau quằn, nhức nhối. Thời gian trở về như dài ra, mệt nhọc và xót xa hơn. Bộ Tư lệnh Sư đoàn vừa đến khu vực dốc An Toàn thì đã thấy anh Đặng Thành Chơn, Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Bình Định và một số cán bộ cơ quan tỉnh đứng đón ở đỉnh dốc như đón chào người thân đi chiến đấu xa trở về. Mừng mừng, tủi tủi, anh Chơn nắm tay tôi, mắt chớp chớp để ngăn dòng lệ rơi, nói: - Được Quân khu thông báo, tụi này ngày nào cũng nhắc đến Sư đoàn Sao Vàng. - Nhận lệnh là chúng tôi lên đường ngay, nhưng đường khó đi quá! – Tôi đáp. Ngay chiều hôm đó, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Sư đoàn cùng Thường vụ Đảng uỷ tỉnh Bình Định họp liên tịch để bàn chủ trương và kế hoạch phối hợp thực hiện chống phá “bình định” của địch... Các đồng chí Tỉnh uỷ cho biết, sau khi Sư đoàn ra Quảng Ngãi (sau hè 1968), chiến trường Bình Định chỉ còn Trung đoàn 12 hoạt động ở một địa bàn quá rộng, không thể kiềm chế được những thủ đoạn của địch trong thời điểm chúng tập trung sức “bình định cấp tốc”, “bình định bổ sung”. Tháng 4 năm 1969, chúng làm thí điểm ở một số khu vực như An Thái, Hoài Mỹ, Chánh Khoan, Tân Phụng, sau đó mở rộng ra toàn tỉnh. Thực tế trên đã gây cho địa phương vô vàn khó khăn, tổn thất. Hầu hết những vùng giải phóng trong năm 1967, 1968 đều bị địch chiếm lại. Chúng còn lấn sâu lên vùng giáp ranh, đóng chốt các núi cao tiến hành càn quét, đánh phá dai dẳng các khu căn cứ, cắt đứt các tuyến đường vận chuyển xuống đồng bằng. Tuy vậy, dù bị tổn thất khá nhiều cán bộ trung kiên trong và sau Mậu Thân (1968) nhưng những cơ sở còn lại của tỉnh vẫn vững vàng. Hiện nay, tỉnh đang rất cần một lực lượng vũ trang đủ sức làm nòng cốt cho phong trào địa phương đánh phá “bình định” của địch. Đến lúc ấy, chúng tôi mới hiểu rõ hơn vì sao Quân khu lại điều gấp Sư đoàn trở lại Bình Định. Tôi xúc động muốn khóc khi được nghe những tin tức không vui này. Trong tâm tưởng tôi lại hiện về những kỷ niệm của những chuyến đi xuống vùng Đông Phù Mỹ cuối năm 1967. Ngày ấy, cả một tiểu đoàn bộ binh (Tiểu đoàn1, Trung đoàn 2) hai lần đứng chân ở thôn Dương Liễu, xã Mỹ Thành, bốn bề nước biển, nước đầm mà địch vẫn không hề hay biết, mặc dù đồn quân Nam Triều Tiên nằm cuối thôn Dương Liễu, bắc cửa biển Đề Dy. Cả cơ quan nhẹ của Sư đoàn 3 và một Đại đội bảo vệ, hai lần đi về ở thôn Tân Phụng đều được bà con cô bác đùm bọc, che chở. Bọn Mỹ càn vào làng, chị Hoà, anh Bình, cán bộ thôn đã dành những căn hầm bí mật tốt nhất, nhờ đó mà thoát hiểm. Giờ đây, vùng đất đó đang bị chúng đè nén, áp bức hòng “tát nước” để “bắt cá”. Việc Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu V chủ trương “diệt kẹp”, “phá kìm” để giành dân ở đồng bằng là phù hợp với lòng người, cả bộ đội và nhân dân. Đối tượng tác chiến chủ yếu là bọn bảo an, dân vệ đóng chốt kìm kẹp đồng bào. Theo phương án hoạt động chiến dịch Xuân Hè năm 1970, Sư đoàn bộ binh 3 dùng Trung đoàn 2 đánh ở quận Phú Mỹ, Trung đoàn 22 kìm và tiêu hao Lữ đoàn 173 Mỹ ở Hoài Nhơn, Trung đoàn 12 đánh ở quận Phù Cát và An Nhơn. Vấn đề nổi cộm lúc này của Sư đoàn là quân số, vũ khí thiếu hụt nghiêm trọng. Mỗi đơn vị chỉ còn 50% cơ số đạn và khoảng 36% quân số (Mỗi Đại đội khoảng 35 tay súng), gạo, thực phẩm, ăn từng ngày, từng bữa. Suy nghĩ mãi,cân nhắc mãi, câu trả lời cuối cùng và duy nhất là bám dân, bám đất. Phải dựa vào dân, bám chắc địa bàn, quyết không lùi lên núi. Trước hết là phải giành lấy dân từ trong tay địch để làm chỗ dựa. Không cho chúng “tát mất nước”. Dân mãi mãi là nguồn sống vô tận của Sư đoàn. Quyết tâm ấy đã được quán triệt tới mọi cán bộ, chiến sỹ và tất cả đều hứa, sẵn sàng hi sinh để đánh địch, giải phóng dân, giành lại đất. Sau một số trận tập kích vừa và nhỏ vào quân địch đóng chốt trên núi, buộc chúng co lại, Sư đoàn đã đưa được Trung đoàn 2 và 22 xuống, tạo thế đứng ở đồng bằng hai huyện Phù Mỹ và Hoài Nhơn. Hàng trăm cán bộ, chiến sỹ đã hi sinh nhưng sợi dây liên lạc giữa Sư đoàn và quân dân địa phương được thiết lập. Một thực tế mới xảy ra là lực lượng vũ trang địa phương, sau tổn thất Tổng tiến công Mậu Thân 1968 chưa phục hồi được, cán bộ xã đội và dân quân, du kích thiếu hụt, phải xin Sư đoàn 3 chi viện. Trước tình hình đó, tháng 2/1970, Quân khu chấp nhận ý kiến đề nghị của tôi cho phân tán Trung đoàn 22 bổ sung cho các tỉnh. Cụ thể: Tiểu đoàn 7 đưa về tỉnh Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 8 đưa về tỉnh Bình Định, Tiểu đoàn 9 đưa vào Phú Yên, số còn lại bổ sung cho Trung đoàn 2, Trung đoàn 12 và Sư đoàn bộ. Sư đoàn hoạt động xem như một sư đoàn thiếu. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 04:39:02 am Mở đầu là chiến dịch Xuân Hè năm 1970, khôi phục cho được phong trào Cách mạng ở hai huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn và nam Phù Cát, tây An Nhơn. Cụ thể: - Trung đoàn 2 và Tiểu đoàn Đặc công của Sư đoàn tập trung tiêu diệt Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 41 Nguỵ đang tham gia “bình định” ở Phù Mỹ. Đồng thời kìm, kéo, tiêu hao quân cơ động của Lữ đoàn 173 và Lữ đoàn 2, Sư đoàn 4 Mỹ ở vùng núi phía tây Bình Định. - Trung đoàn 12, vừa đánh quân nam Triều Tiên, cắt giao thông trên đường 19, vừa phân tán từng Đại đội luồn sâu vào vùng địch ở Bình Khê, An Nhơn, ngày nằm hầm bí mật, đêm bật lên đánh Nguỵ quân, Nguỵ quyền, xây dựng cơ sở Cách mạng. Tư tưởng chỉ đạo và phương châm tác chiến thời gian này là “Kìm Mỹ, diệt Nguỵ, phá kẹp, giành dân”. Nửa đêm 31 tháng 3 năm 1970, Tiểu đoàn 40 đặc công Sư đoàn tiến công căn cứ Núi Lá (tây Phù Mỹ). Chỉ sau 20 phút, toàn bộ Tiểu đoàn 3 Nguỵ (thiếu một đại đội) đã bị tiêu diệt và bắt sống. Lửa bốc cháy dữ dội tới sáng. Đây là trận đánh tập trung đầu tiên của Tiểu đoàn đặc công đạt hiệu suất chiến đấu rất cao. Cùng với trận Núi Lá, một loạt 15 chốt điểm, trận địa pháo từ bắc tới nam tỉnh bị Sư đoàn và bộ đội địa phương tiêu diệt. Địch phản ứng mạnh ở phía tây Núi Lá. Ngày 5 tháng 4 năm 1970, một Tiểu đoàn thuộc Lữ dù 173 Mỹ đổ xuống khu vực rừng dầu Cát Sơn và đồi tranh Mỹ Hiệp, nơi chúng nghi ngờ là hậu cứ của ta. Đúng phương án tác chiến của Sư đoàn, bọn Mỹ vừa đổ quân xuống, lập tức bị Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 2 quây đánh liên tục, kìm chân chúng, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của ta thọc xuống vùng đồng bằng Phù Mỹ, tiến công một loạt “Ấp chiến lược” ở các xã Mỹ Đức, Mỹ Chánh, Mỹ Thọ ... diệt và bắt hàng trăm tên bảo an, dân vệ và cán bộ “bình định”. Ngày 8 tháng 4, Trung đoàn 41 chủ lực Nguỵ cho một Tiểu đoàn có 11 xe bọc thép dẫn đầu đi cứu viện, nhưng vừa tới đoạn giáp giới hai xã Mỹ Chánh và Mỹ Thọ đã bị Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2 phục kích tiêu diệt. Địch ở vùng đông Phú Mỹ hoảng loạn. Bọn Nguỵ quyền xã, ấp nhiều nơi ban đêm phải trốn vào quận lỵ, thị trấn, ban ngày mới dám về trụ sở. Không khí vùng quê dịu dần, đồng bào đã bàn tán công khai: Bộ đội miền Bắc vẫn ở lại (sau Mậu Thân 1968 địch tuyên truyền “lính Bắc Việt” đã ra Bắc, Việt Cộng đã tập kết lần thứ 2). Ở những vùng “ngày địch đêm ta”, chiều chiều đã thấy xuất hiện những nam nữ du kích đội mũ tai bèo, tay súng đi tuần tra, hoặc bảo vệ các cuộc mít tinh (trong những “du kích” đó có cả chiến sỹ Sư đoàn 3, trong những cán bộ xã đội cũng có chiến sỹ Sư đoàn 3 biệt phái tăng cường). Tuy nhiên, ở đồng bằng, do lực lượng địa phương mỏng, lực lượng chủ lực của ta, đánh được nơi này, phá bung dân ra, khi bộ đội vừa rút đi, địch đã líp lại, gom dân vào ấp như cũ. Đúng là cuộc chiến tranh giữa ta và địch trên lĩnh vực “bình định” và “chống bình định” diễn ra thật gay go quyết liệt, giành đi giật lại. Qua thực tế trên, thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định: muốn hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy vững chắc, phải quét sạch bọn bảo an, dân vệ và bọn ác ôn Nguỵ quyền thôn xã. Đó là bọn kẹp dân trực tiếp nhất. Không diệt được bọn này, dân không dám nổi dậy. Do đó, đối tượng tác chiến trước mắt của Sư đoàn 3 không phải là quân chủ lực ngụy hay quân Nam Triều Tiên mà là bọn bảo an, dân vệ và bọn Nguỵ quyền ác ôn. Đây là một quyết định đầy khó khăn, bởi nó trái với chức năng, nhiệm vụ của một Sư đoàn chủ lực. Bộ đội chủ lực mà phân tán đánh như bộ đội địa phương và dân quân du kích thì có làm “hư hỏng” tư tưởng và cách đánh của chủ lực không. Và liệu bộ đội chủ lực có dám phân tán nhỏ lẻ, luồn sâu, lót sát trong vùng địch như du kích địa phương không? Bởi vì, quanh các chốt điểm kẹp dân công khai, địch còn tổ chức dày đặc những loại “quân chìm” cài cắm trong dân dưới nhiều hình thức nham hiểm khác nhau. Bọn này thường được nhân dân ta ví là “kẹp” của “kẹp”. Cơ sở địa phương bị tổn thất khá nhiều chính bởi bọn này. Rất may là quyết định trên của Sư đoàn đã được Quân khu nhìn thấy và đồng ý, Quân khu nhắc thêm: phải giáo dục cho bộ đổi hiểu đây chỉ là tạm thời phân tán, phải sẵn sàng đánh tập trung bất cứ lúc nào. Khi đánh phân tán phải có phương thức thích hợp và dùng lực lượng thích hợp. Tóm lại, để thực hiện được nhiệm vụ trước mắt trên đây, mỗi cán bộ, chiến sỹ, phải làm tốt hai chức năng: vừa là người lính chủ lực có kỹ năng chiến đấu cao, vừa là người cán bộ phong trào giỏi. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 04:44:08 am Sau khi nghiên cứu tình hình, Bộ tư lệnh Sư đoàn chủ trương lấy đại đội làm đơn vị tổ chức thực hiện, phối hợp với địa phương và du kích luồn sâu hơn nữa vào vùng địch kiểm soát. Khi cần, đại đội có thể phân tán thành từng tổ làm công tác vận động quần chúng. Để đối phó với quân chủ lực địch có thể đi càn quét, giải toả, Sư đoàn dành một phần lực lượng cơ động, sẵn sàng đánh tập trung cỡ Tiểu đoàn hoặc Tiểu đoàn tăng cường. Được chuẩn bị kỹ cả về nhận thức, tư tưởng và kỹ năng chiến thuật, các đơn vị đã vận dụng ngày một tốt hơn phương thức hoạt động mới. Đêm ngày 4 tháng 6 năm1970, Đại đội trưởng Võ Thành Khuê, phụ trách một tổ 3 người lọt vào trụ sở Hội đồng xã Mỹ Hoà, huyện Phú Mỹ, một xã điển hình về “bình định nông thôn” của Nguỵ quyền tỉnh Bình Định. Tám giờ sáng, theo lệ thường, bọn cán bộ Hội đồng từ quận lỵ phóng xe hon đa tới, chờ cho cả bọn 11 tên ngồi vào làm việc, Khuê và 3 chiến sỹ từ vị trí ẩn nấp bất ngờ xuất hiện, chỉ trong giây lát, cả một “mâm” tề xã bị diệt gọn. Mấy ngày sau, Võ Thành Khuê chỉ huy 5 chiến sỹ lọt vào ấp Gò Dưa, xã Mỹ Hiệp “lót” quanh nhà cụ Ba Hiền diệt gọn một Trung đội dân vệ 20 tên. Tiểu đội trưởng trinh sát Đỗ Văn Đạo cùng với 2 du kích xã Mỹ Đức đã đột nhập vào “ấp chiến lược” bắt sống tên Thượng sỹ ác ôn, lập phiên toà công khai, phát động quần chúng vạch tội rồi tuyên án tử hình tại chỗ v.v... Cách đánh của Võ Thành Khuê và Đỗ Văn Đạo nhanh chóng trở thành phổ biến trong Sư đoàn. Phong trào diệt ác phá kèm ở các địa phương phát triển chưa từng thấy. Các xã đều thành lập đội diệt ác. Du kích diệt ác, thanh niên diệt ác, cụ già diệt ác và các em nhỏ cũng tham gia diệt ác. Tôi nhớ ở xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, kề sát thị trấn Bồng Sơn, các em thiếu nhi thành lập đội diệt ác lấy tên là “Đội chim Én”. Trong Hội đồng xã Hoài Thanh có tên Huân khét tiếng gian ác, “Đội chim Én” giao cho em Đào trừ khử. Một buổi sáng, Đào lững thững đi trên đường từ quận đến xã. Tên Huân đi làm việc ở quận về, hắn không để ý tới Đào. Chờ nó đến cự ly đã tập luyện, Đào rút chốt lựu đạn, chờ mấy giây mới ném vào mặt tên Huân, lựu đạn nổ ngay khiến tên Huân chết tại chỗ. Đường trống, bọn dân vệ đổ xô đến, Đào không kịp chạy thoát, bị chúng bắt. Suốt một ngày, hết tra tấn đến dụ dỗ, Đào quyết không khai đồng đội “chim Én” của mình. Bất lực và giận dữ, một tên ác ôn gầm lên: - Mày muốn sống hay muốn chết? Đào thản nhiên trả lời: - Tao muốn sống để giết hết tất cả chúng mày cho cô bác đỡ khổ. - Mày không khai thì đừng hòng sống. Tao sẽ cho mày chết. Một là gìm đầu mày xuống nước, hai là buộc chân mày cho ô tô kéo lê trên đường. Mày chọn cách nào? Đào lại thản nhiên trả lời: - Bọn mày muốn làm cách nào thì làm, tao không sợ. Và bọn ác ôn đã làm theo cách thứ 2. Những tưởng kéo thân thể xác xơ của Đào đi khắp xóm, phố để răn đe, nhưng chúng đã chuốc lấy hậu quả là bộ mặt tàn bạo của chúng càng phơi bày, thổi bùng ngọn lửa căm thù trong nhân dân cao ngút, không chỉ ở vùng ta mà cả trong vùng chúng kiểm soát. Phong trào diệt ác càng mạnh mẽ hơn. Mùa Xuân và mùa Hè năm 1970, từ thế bất lợi ban đầu, Sư đoàn đã biết kết hợp có hiệu quả giữa chủ lực và địa phương, giữa tập trung và phân tán, linh hoạt, hợp lý, vận dụng chiến thuật có hiệu quả, bước đầu đánh vỡ mắt xích chủ yếu trong hệ thống kìm kẹp của địch. Ta đã tạo được thế đứng khá vững chắc giữa đồng bằng, giữa lòng dân để thực hiện vai trò một đội quân chiến đấu và đội quân công tác. Xét đơn thuần về quân sự, một Sư đoàn chủ lực lại phân tán hoạt động nhỏ lẻ theo chiến thuật du kích. Đối tượng chiến đấu là quân địa phương, là điều không thể chấp nhận. Nhưng xét tình hình thực tế tương quan lực lượng địch ta và yêu cầu nhiệm vụ chính trị lúc bấy giờ của địa bàn hoạt động thì việc Sư đoàn chuyển đối tượng tác chiến trong một thời gian nhất định, chuyển hình thức và quy mô tác chiến nhỏ lẻ trong một thời gian nhất định là hoàn toàn đúng đắn. Sự linh hoạt, sự sáng tạo của Sư đoàn chính là chỗ đó. Chung quy, mọi hoạt động quân sự, cuối cùng là để phục vụ nhiệm vụ chính trị. Sư đoàn Sao Vàng đã làm tốt điều đó, ở thời điểm lịch sử đó. Và nhờ đó, Sư đoàn đã tạo được nét đặc trưng của một Sư đoàn chủ lực hoạt động ở vùng sâu, bám trụ đồng bằng và độc lập tác chiến. Hà Nội, tháng 5 năm 2000. N.N.K Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 04:50:45 am BỨC RÚT GÒ CỚ - MỘT MÔ HÌNH VỀ KẾT HỢP “3 MŨI GIÁP CÔNG” Hai năm 1969-1970, trong chiến dịch “Diệt kẹp, giành dân, giành quyền làm chủ”, Sư đoàn 3 đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy đấu tranh, bức rút hàng trăm đồn bốt địch. Nhưng hệ thống chốt điểm của chúng vẫn còn nhiều. Dùng biện pháp quân sự đơn thuần bằng chiến thuật đặc công, ta đã và vẫn làm, nhưng đánh xong, rút lui thì đâu vẫn vào đấy. Đã đến lúc phải dùng 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) thì mới giải quyết được cơ bản việc phá ấp, giành dân. Đầu năm 1971, tôi trình bày ý nghĩ của mình với Thường vụ Tỉnh ủy của Bình Định. Thật may là ý nghĩ của tôi trùng hợp với suy tính của các anh trong Thường vụ Tỉnh ủy. Chúng tôi bàn bạc và quyết định lấy chốt điểm Gò Cớ làm thí điểm, sau đó nhân rộng ra. Gò Cớ là một điểm chốt kiên cố nằm giữa 5 lớp rào kẽm gai và hệ thống hầm hào liên hoàn do một Đại đội bảo an đóng giữ. Nó được coi là “Lá bùa hộ mệnh” để bọn địch kìm kẹp, khống chế nhân dân dọc ven biển Phú Thứ, Hà Ra, Phú Hòa đến Châu Trúc, Vạn An (huyện Phú Mỹ, tỉnh Bình Định). Nhá nhem tối một ngày đầu tháng 2 năm 1971, tôi và anh Đinh Bá Lộc, chính trị viên Tỉnh đội Bình Định vượt đường số 1 xuống khu căn cứ của ta ở núi Chóp Chài, gặp huyện ủy và huyện đội Phú Mỹ để bàn kế hoạch tổ chức thực hiện. Về chủ trương thì ai cũng thông suốt nhưng vẫn còn một vài ý kiến thấy địch còn mạnh, quần chúng chưa có kinh nghiệm trong đấu tranh bức rút đồn địch và mũi quân sự của huyện chưa đủ mạnh. Tôi trình bày hết suy nghĩ của mình về những thuận lợi mà ta có. Đó là quần chúng huyện Phú Mỹ, cán bộ cơ sở xã thôn dày dạn và sáng tạo. Tôi khẳng định rõ Sư đoàn 3 vừa qua tồn tại và hoạt động được chủ yếu là nhờ nhân dân Phú Mỹ nuôi, che chở và hậu thuẫn. Điểm Gò Cớ là một căn cứ mạnh của địch nhưng nó nằm sâu trong vùng ta. “Nhổ” được Gò Cớ không chỉ xóa một điểm kẹp dân lớn mà còn làm suy sụp lòng tin của địch vào chiến lược “bình định nông thôn”. Sư đoàn sẽ dùng đại đội đặc công của trung đoàn 2 hỗ trợ. Tỉnh cũng đưa 1 đại đội đặc công đến chi viện. Vậy là trên dưới thống nhất tin tưởng. Ngày 20-2-1971 mở đầu đợt đấu tranh, ta đưa 300 quần chúng 2 thôn Phú Thứ, Phú Hòa đấu tranh, bao vây đòi địch rút quân. Địch trong đồn bắn ra uy hiếp, quần chúng có nòng cốt dẫn dắt nên vẫn bình tĩnh, không ai bỏ chạy. Theo hướng dẫn của cán bộ cốt cán, 10 người là gia đình binh sỹ ngụy mang thư của chính quyền Cách mạng, truyền đơn và tin chiến thắng đưa cho binh lính địch. Địch nhận thư, bà con đe dọa nếu không rút quân thì sẽ không cho xuống gò lấy nước. Ngày 23-2, số người đấu tranh lên tới 1000, có cả người già, trẻ em, gia đình binh sỹ ngụy đi đông hơn, từng tốp, có cán bộ binh vận, cán bộ phụ nữ, cán bộ chính trị đi kèm. Đoàn người hình thành thế vây 4 phía Gò Cớ. Sau đó, phát loa, giải thích chính sách của Mặt trận đối với binh sỹ và sỹ quan tình nguyện trở về với dân. Địch phản ứng dữ dội bằng cách bắn các cỡ súng về phía loa. Ta cũng uy hiếp lại bằng mấy quả đạn B40, B41 (quân ngụy vốn rất sợ B40 của ta). Ngày 24-3, huyện Phú Mỹ điều động quần chúng lên tới 1500 người, vòng vây ép chặt hơn vào tận chân gò, gần cổng đồn. Địch tuyên bố: Nếu bà con không lui về thì chúng sẽ nổ súng vào thôn. Sau đó chúng bắn cối vào thôn, làm chết một đồng bào ta. Lập tức, súng cối 60, cối 82 và B41 của ta bắn gần chục quả vào đồn địch. Bọn lính hoảng sợ chui vào công sự. Chị Lang, vợ đồng chí Đinh Râu, tự đốt nhà mình. Nhà sát đồn, đồng bào lấy cớ kéo lên chữa cháy và xáp vào đồn địch đấu tranh lên án binh lính quốc gia giết dân lành và bắn cháy nhà dân. Hàng ngàn đồng bào thôn 11, xã Mỹ Thắng ở gần đó, được chuẩn bị trước, đã vượt bãi cát kéo sang hỗ trợ đấu tranh. Thấy quần chúng quá đông, bọn địch hứa sẽ không bắn vào dân nữa. Ta siết chặt vòng vây, không cho chúng đi lấy nước, không cho đi mua thực phẩm. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 04:52:02 am Chúng tôi họp nhận định: địch đã núng thế, ta phải đẩy mạnh tiến công chính trị, tổ chức khênh người chết vào cổng đồn đòi đền mạng. Địch hứa sẽ báo cáo với cấp trên và yêu cầu đồng bào lùi ra. Được thể, ta càng bao vây sát hơn, đưa lực lượng du kích, bộ đội huyện lên phía trước để hỗ trợ cho đồng bào yên tâm. Địch im lặng. Ta trương khẩu hiệu đòi chúng rút khỏi Gò Cớ, không muốn đổ máu, trả đất cho dân. Chúng tôi thảo bức thư lấy danh nghĩa Bí thư huyện ủy Phù Mỹ gửi tên Xuân, trung úy, đồn trưởng Gò Cớ. Nội dung đại ý: Thuận theo yêu cầu của nhân dân thì sẽ rút lui an toàn. Nếu ngoan cố sẽ bị trừng trị. Phần kết có đoạn: “Ông là người chỉ huy cao nhất đồn này, phải có trách nhiệm với tính mạng của binh sỹ và chính bản thân ông. Phải thức thời, không nên chết vô nghĩa, khổ vợ con, người đời nguyền rủa. Nhận thư, mời ông ra gặp đại diện Mặt trận giải phóng huyện Phù Mỹ. Khi đi không mang theo vũ khí. Quân giải phóng sẽ bảo đảm an toàn tính mạng cho ông.” Tối hậu thư vừa gửi trực tiếp vừa được phát lên loa để tranh thủ binh sỹ. Ngày thứ 7, tên Xuân cử một chuẩn úy và một trung sỹ xuống gặp ta. Ta không đồng ý và yêu cầu chỉ gặp trung úy Xuân. Tên Xuân phải chấp nhận và mang theo 7 tên lính có vũ khí đi kèm. Đồng bào đấu tranh phản đối tên Xuân không làm đúng yêu cầu tối hậu thư. Xuân buộc phải đi một mình, không có lính đi kèm. Cuộc nói chuyện bắt đầu. Phía ta, đồng chí Trần Thị Nhung, phó ban Binh vận huyện Phũ Mỹ, đồng chí Đinh Râu, Đảng ủy viên xã Mỹ Đức và một đại diện của nhân dân. Mở đầu, cô Nhung thông báo tin chiến thắng trong Quân khu và vùng đông tỉnh Bình Định, phong trào nổi dậy của các xã trong huyện Phú Mỹ. Sau đó nói rõ rằng: Mặt trận giải phóng và bà con không muốn đổ máu thêm nữa... Tên Xuân mặt cúi gầm, đắn đo, căng thẳng, lúc đầu còn viện cớ trì hoãn nhưng bị cô Nhung bắt thóp dồn tiếp mấy câu: “Không còn cơ hội nữa đâu. Không nên trông chờ quân viện. Quận Phù Mỹ cũng đang bị uy hiếp, chỉ có mình cứu lấy mình thôi.” Cuối cùng tên Xuân nhận lời rút khỏi Gò Cớ, trả đất cho dân. Mấy ngày sau, một cuộc hội nghị “đầu bờ” được chúng tôi gấp rút tổ chức cho cán bộ các cấp trong tỉnh Bình Định. Tất nhiên có tham dự của cán bộ Sư đoàn 3. Vấn đề rút ra đã được hội nghị đúc kết là: - Ba mũi giáp công là phải giáp công trong hành động cụ thể ở cơ sở, ở các chốt điểm địch, nơi trận tiến công xảy ra chứ không phải giáp công trên giấy, càng không phải chỉ giáp công ở 3 người đứng đầu của 3 mũi tiến công. - Lực lượng giáp công ở mỗi mục tiêu phải được chuẩn bị chu đáo, trên cơ sở dự kiến các tình huống có thể xảy ra. Phải kiên định quyết tâm và ý chí khi có tình huống khó khăn và chuẩn bị sẵn lực lượng để giải quyết tình huống đó. Trong lực lượng phải tổ chức từng đội hình chặt chẽ, gồm: đội hình trực tiếp đấu tranh, đội hình bao vây uy hiếp, hỗ trợ, đội hình dự bị và lực lượng phục vụ bảo đảm phía sau. Đội hình trực tiếp phải trang bị lý lẽ. Đội hình bao vây trang bị gậy gộc, dao, cuốc và có bộ phận được trang bị vũ khí. - Về chỉ huy phải tổ chức Ban Chỉ huy hỗn hợp gồm cán bộ phụ trách đấu tranh chính trị, cán bộ phụ trách công tác binh vận và cán bộ đại diện các lực lượng vũ trang (dân quân du kích, bộ đội huyện, tỉnh và bộ đội chủ lực, nếu cần). Từ bài học đó mà trong Xuân Hè 1971, ở huyện Phù Mỹ chúng ta đã bức hàng, bức rút 56 chốt điểm của địch, giải phóng gần hai vạn đồng bào thoát khỏi ách kìm kẹp của địch, trở về làng cũ làm ăn. Những kinh nghiệm đó còn được phát huy cao độ trong chiến dịch Xuân, năm 1972, quân dân tỉnh Bình Định, có Sư đoàn 3 làm nòng cốt đã tiến công và nổi dậy, tiêu diệt 80% chốt điểm địch (quân chủ lực chỉ diệt 20%), nêu ngọn cờ đầu của Khu V và toàn miền Nam về tiến công và nổi dậy, bằng kết hợp 3 mũi giáp công, giải phóng hoàn toàn Bắc Bình Định. Hà Nội, tháng 9 năm 2000 N.N.K. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 04:57:08 am NHỮNG BỨC THƯ CUỐI ĐỜI Thiếu tướng Lê Huẩn Nguyên Phó Chính ủy Sư đoàn 3 – Sao Vàng Đồng chí Lê Huẩn, nguyên Chính uỷ Trung đoàn 2, Chính uỷ Trung đoàn 12, Phó Chính uỷ Sư đoàn 3- Sao Vàng, Chính uỷ Lữ đoàn 52, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy tỉnh Phú Khánh (Phú Yên, Khánh Hoà hiện nay), Tư lệnh Mặt trận 579 Quân khu V ở Campuchia rồi nghỉ hưu và qua đời tháng 4-2004. Cuộc đời anh, như anh nói, đã ở nhiều đơn vị, làm nhiều cương vị khác nhau, nhưng không ở đâu bằng Sư đoàn 3 – Sao Vàng. Khắc sâu trong anh tình đồng đội, tình quân dân không thể nào quên. Những năm cuối đời, do bị trọng bệnh, anh không thể đi được các nơi để thăm đồng đội, anh đã gửi lòng mình qua những bức thư chan chứa tình người đối với Sư đoàn và cán bộ Sư đoàn một thời gian khó hy sinh. Xin trân trọng giới thiệu 2 bức thư anh gửi cho đồng chí Đồng Sĩ Tài, một cán bộ cũ của sư đoàn để mỗi chúng ta cùng suy ngẫm: Nha Trang, ngày 28-2-2003 Anh Tài thân mến! Tôi nhận được thư anh ngày 20-2-2003 do cháu Hồng Hạnh gửi đến. Mừng quá vì lâu rồi không nhận được tin tức về anh. Năm 1998 tôi ra chữa bệnh ở Quân y viện 108. Anh Phụ và anh Tích đến thăm mới biết được anh đã về hưu ở Thái Bình, nhưng do sức khoẻ và điều kiện không cho phép nên không đến thăm anh được. Những lần Sư đoàn tổ chức gặp mặt, tôi chỉ nghe thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, không có giấy mời cụ thể nên tôi không đi. Rất mừng vì biết được anh chị vẫn mạnh khoẻ, các cháu đã trưởng thành. Nhớ anh em cũ ở Trung đoàn 12 và Sư đoàn 3 nhưng xa xôi quá không làm sao đi thăm được. Hôm nay viết thư này thăm anh, chúc anh chị và các cháu mạnh khoẻ, hạnh phúc. Nếu gặp anh em cũ ở Thái Bình cho tôi gửi lời hỏi thăm. Anh chị em Sư 3 về nghỉ và công tác ở Khánh Hoà có 150 đồng chí (đông nhất là ở Nha Trang) đã thành lập ban liên lạc bạn chiến đấu Sư đoàn 3 – Sao Vàng từ năm 1993, sinh hoạt tình nghĩa. Năm 2001 có mời anh chị em cũ của Sư đoàn ở Bình Định, Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh đến dự. Cảm động lắm. Anh Lê Chí Thuận (Nẹt), nguyên Sư đoàn phó và anh Đặng Hoà (Vân) nguyên Chính uỷ Sư đoàn cũng ra dự. Anh Nguyễn Văn Hồng, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 (nguyên Đại tá, Phó Quân đoàn trưởng Quân đoàn 4) đang nghỉ hưu tại TP Hồ Chí Minh về dự và gặp riêng một buổi với anh chị em Trung đoàn 12 để hồi tưởng những năm tháng chiến đấu ở đường 19, vùng núi Bình Khê, Vĩnh Thạnh và những năm phòng ngự trên địa bàn Hoài Ân, Hoài Nhơn. Nhớ và nhắc những đồng chí cũ, hỏi nhiều về anh nhưng không biết anh đang ở đâu. Lần này tôi sẽ báo cho anh chị em địa chỉ của anh. Anh Trần Trọng Sơn, nguyên Phó Sư trưởng Sư đoàn 3 đã từ trần năm 1996. Chị Lành, vợ anh Sơn qua đời trước đó 1 năm. Anh Lê Thái bị tai biến mạch máu não liệt một tay một chân, đi lại phải có người dìu. Anh Mai Tân, chính uỷ Sư đoàn nay ở Quy Nhơn bị bệnh Pakitson 5 năm nay. Anh Quang, Sư trưởng mất từ năm 1995. Còn anh Trần Bá Khuê (Sư trưởng) và anh Dương Minh Ngọ (Phó Chính uỷ sư đoàn) qua đời chắc các anh đã biết. Về phần tôi, cuộc sống gia đình tương đối ổn định. Các cháu (1 trai, 1 gái) đã trưởng thành và có gia đình riêng. Hai vợ chồng “son” chúng tôi ở với nhau. Tôi nghỉ 13 năm rồi, địa phương giao làm Bí thư chi bộ 5 năm và làm ban chấp hành CCB phường 7 năm. Gần đây do sức khoẻ kém nên tôi nghỉ. Nhưng tỉnh uỷ, CCB tỉnh và thành phố luôn kéo làm hết việc này đến việc khác, càng mệt hơn. Từ năm 1999 đến nay, sức khỏe xuống hẳn. Đầu năm bị liệt toàn thân không nói được, phải vào TP Hồ Chí Minh mổ não, nằm viện 6 tháng. Rất may hồi phục tốt. Năm 2001 bị nhồi máu cơ tim suýt chết. Nay tim vẫn chưa bình thường, phải cố giữ gìn và cầm cự với nó. Có điều tôi vẫn lạc quan vì nếu chết ở tuổi này cũng là đại thọ rồi. Năm nay tôi đã 78 tuổi, sống hơn 3/4 thế kỷ 20 và sống những năm đầu thế kỷ 21. Cuộc đời đã nếm trải, chứng kiến thế nào là tủi nhục của người dân nô lệ bị mất nước, được sống và tham gia những sự kiện trọng đại của dân tộc: Cách mạng 8 năm 1945, tham gia 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (30 năm), làm nghĩa vụ quốc tế cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Ngày nay đang chứng kiến sự đổi mới của đất nước... Nhìn lại cuộc đời tôi thấy thật hạnh phúc. Đáng tự hào nhất là trong những biến cố của lịch sử, trong những giờ phút nghiêm trọng của đất nước, bản thân mình luôn sẵn sàng có mặt ở những nơi đầu sóng ngọn gió. Tài năng có thể thiếu nhưng lòng trung kiên với Đảng, với đất nước thì không lúc nào suy suyển. Một cuộc sống như vậy bây giờ phải nhắm mắt xuôi tay thì có gì phải ân hận. Còn hai năm nữa tôi tròn 60 năm tuổi Đảng. Trong những năm Chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, trong nước ta có người bộc lộ tư tưởng cơ hội, dao động. Có người hỏi tôi: Anh có ân hận cho những năm tháng làm người Đảng viên Cộng sản? Tôi đã trả lời: Tôi thấy mình thật hạnh phúc và tự hào là một Đảng viên Cộng sản đã làm tròn nghĩa vụ với Tổ quốc. Và tôi đã ứng khẩu mấy câu thơ: Kiếp sau nếu được làm người Vẫn đi theo Đảng trọn đời sắt son Có hạnh phúc nào cao hơn Được làm người Cộng Sản vẹn toàn với non sông. Anh Tài thân mến, hồi còn ở đơn vị, tôi với anh hay trao đổi những vấn đề về thời sự và công tác tư tưởng vì anh là nhà chính trị có thời gian làm công tác tuyên huấn Trung đoàn, Sư đoàn, có khả năng sáng tạo, còn tôi có thời gian là Chính uỷ trung đoàn, Phó Chính uỷ Sư đoàn... Tôi tự nhủ tôi và tôi cũng mong anh một điều là: dù hoàn cảnh nào, môi trường nào cũng không được để cho tình cảm Cách mạng của chúng ta nguội lạnh, đừng để lòng ta nguội lạnh. Thư đã dài, một lần nữa mong anh khoẻ và vui. Cho tôi gửi lời thăm anh em Sư đoàn 3 cũ ở Thái Bình, nhất là anh Viêng, anh Duyên ở Trung đoàn 12. Nhớ anh! Thân. Lê Huẩn. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 05:01:01 am Nha Trang, 20-4-2003. Anh Tài thân mến! Tôi nhận được thư của anh ngày 23-3-2003 nhưng đến hôm nay mới viết cho anh được. Chậm là vì quả tim của tôi nó lại trở chứng, sinh “đỏng đảnh” với cơ thể nên phải vào bệnh viện để “chỉnh huấn” cho nó một thời gian. Vừa về nhà là viết ngay cho anh đây. Đọc thư anh, biết Thái Bình đã tổ chức Ban liên lạc Bạn chiến đấu Sư đoàn và Trung đoàn 12, sinh hoạt đông đảo, tôi mừng quá. Rất nhớ bạn bè đồng đội, nhất là những đồng chí ở Trung đoàn 12 trước đây. Ước gì có điều kiện mà dự cuộc họp mặt các anh em ở Thái Bình cho thoả nỗi nhớ mong sau hơn 30 năm xa cách. Ước là vậy nhưng thật khó thực hiện vì xa xôi và vì sức khoẻ. Tôi nhờ anh gửi lời thăm hỏi ân cần và nỗi nhớ thương tha thiết của tôi đến các đồng chí Sư đoàn 3 cũ và Trung đoàn 12. Những người bạn, những người đồng chí đã từng cùng nhau chiến đấu với kẻ thù trong những năm tháng gian khổ ác liệt, hy sinh vì nền tự do của Tổ quốc. Kính chúc các đồng chí luôn mạnh khoẻ, luôn tự hào về những năm đã sống, rất xứng đáng, rất tốt đẹp trong cuộc đời mỗi người, đóng góp phần mình vào sự nghiệp của Tổ quốc. Anh Tài thân mến! Gần đến ngày 30-4, trong lòng tôi thấy rất rạo rực. Nhớ lại những ngày tháng sôi nổi, hào hùng trong chiến cuộc Đông Xuân 1974-1975. Mới đó mà đã gần 30 năm rồi, nhớ các đồng chí đã hy sinh, từ trần, nhớ những đồng chí thân thiết nay mỗi người ở một chân trời góc bể... Muốn gặp để thăm nhau cũng không dễ dàng gì. Cách đây không lâu, tôi có về lại Hoài Ân, Phù Mỹ và Bình Khê. Sau gần 30 năm giải phóng, quê hương thay đổi nhiều lắm. Nơi nào thôn xóm cũng đông đúc dân cư, đường sá mở rộng, đồng lúa bát ngát, cây trái xanh tươi, mua bán trù phú. Đời sống nhân dân khá lên nhiều lắm. Những dấu tích chiến tranh (hố bom, hố đạn) ở đồi Du Tự, núi Bụt, núi Chéo, cao điểm 174 v.v... (ở Hoài Ân) bị che phủ một màu xanh cây cối. Có cả bia tưởng niệm của những bạn chiến đấu Sư đoàn khắc ghi chiến công đồng đội ở đồi Dư Tự. Tôi đến những nơi Trung đoàn 12 ở năm xưa, như: suối Quéo, M6, suối Nước Tấn .... (Vĩnh Thạnh). Di tích còn đó nhưng đường đi vì dân đã xuống hết vùng thấp, cánh đồng Thuận Ninh bây giờ là hồ chứa nước của công trình thuỷ lợi Đông Bình Khê - Nam Phù Cát. Nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt các huyện và tỉnh Bình Định gặp tôi đều nói: Đảng bộ và nhân dân Bình Định còn nợ Sư đoàn 3 – Sao Vàng nhiều lắm, phải trả nhiều thế hệ cũng chưa hết, gần 2 vạn cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn đã nằm lại trên đất Bình Định. Và máu của hàng vạn người khác của Sư đoàn đã đổ ra ở đó. Tôi nghĩ, ý thức này cần phải nuôi dưỡng trong các thế hệ lãnh đạo của Bình Định từ nay về sau và phải cho dân biết về tinh thần đó. Có điều đáng nói là phải giáo dục thế nào cho thế hệ trẻ Sư đoàn để cán bộ, chiến sỹ hôm nay, ngày mai biết tôn trọng, nhớ ơn đồng bào, đồng chí ở chiến trường xưa. Chắc anh còn giữ trong ký ức về chiến dịch cắt đường 19 của Trung đoàn 12 năm 1972. Cách đây mấy tháng, có một đoàn làm phim và viết sử của Hàn Quốc qua Việt Nam để xây dựng bộ phim về quân đội Hàn Quốc chiến đấu ở Việt Nam. Đoàn này có gặp tôi để tìm hiểu những trận đánh trên đường 19 đầu năm 1972 mà họ cũng gọi là các trận đánh ở “Cây Rui”. Theo họ nói: trong lịch sử quân đội Hàn Quốc có ghi: đây là những trận đánh đẫm máu nhất của quân Nam Hàn trong những năm ở chiến trường Việt Nam. Trung đoàn 24 của Sư đoàn Mãnh Hổ bị loại khỏi vòng chiến đấu với 1150 tên chết và bị thương (Ký sự lịch sử Sư đoàn viết là diệt trên 700 tên và 2 tên bị bắt sống). Tôi đã trao đổi với họ để họ hiểu rõ hơn những trận đánh này và cũng nói cho họ biết những tội ác của quân Nam Hàn trên chiến trường Bình Định. Rất tiếc là cái bia quân đội Nam Hàn dựng ở đèo An Khê đã bị đập vỡ, không còn dấu tích. Điều tôi day dứt nhất là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử lớn lao như vậy, một sự kiện anh hùng như vậy mà nay không được lưu lại để cho mọi người biết. Một trung đoàn thiếu của ta đã hiên ngang đứng trên một đoạn đường chiến lược làm nhiệm vụ một hướng chiến dịch của Quân khu, chặn đứng sự lưu thông của địch gần một tháng trời, loại khỏi vòng chiến đấu một Trung đoàn thuộc Sư đoàn con cưng quân đội Nam Hàn có sự chi viện tối đa của không quân, pháo binh và xe tăng, xe bọc thép. Đã có hàng trăm cán bộ, chiến sỹ anh hùng của chúng ta đổ máu và ngã xuống ở đấy. Vậy mà đến nay không còn lại dấu tích gì! Có thể sự kiện lịch sử ấy sẽ bị quên lãng. Tôi đã nhiều lần trực tiếp bàn với các đồng chí lãnh đạo tỉnh Bình Định về xây dựng tượng đài kỷ niệm ở cây Rui nhưng vẫn chưa được đáp ứng. Tôi rất buồn và xót xa nhớ những cán bộ, Đảng viên Cộng sản trung kiên của Tiểu đoàn 6 đã nhẹ nhàng hiến dâng mạng sống của mình ở xung quanh Cây Rui như Chính trị viên Đại đội 3 Hoàng Sinh Tùng, tham mưu trưởng Tiểu đoàn 6 Nguyễn Hữu Thông, Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Tài v.v... Không biết sau này còn có ai nhớ và nhắc đến nữa không! Nếu không làm một cái gì đó để ghi dấu sự kiện lịch sử ấy có lẽ chúng ta, những con người đang sống sẽ có lỗi với sự hi sinh của những đồng chí đó, chúng ta còn mắc nợ nhiều đối với các đồng chí đó. Về phần tôi, còn 3 năm nữa là tròn 80 tuổi đời và 60 tuổi Đảng. Tôi nghĩ tôi là người rất hạnh phúc vì đã sống qua hai Thế kỷ, đời trải qua nhiều sự kiện lịch sử to lớn của Đất nước .... Anh Tài ạ, nhiều lúc tôi nghĩ mình cũng đa năng. Hai mươi ba tuổi làm Bí thư huyện uỷ rồi vào quân đội, làm cán bộ chính trị, sau đó lại làm cán bộ quân sự, chỉ huy hàng Quân đoàn (lúc làm Tư lệnh mặt trận 579 ở Campuchia), chẳng mấy khi được học ở trường lớp, cứ cắn răng làm tới, vừa làm vừa học, thế rồi cũng làm được. Làm có ưu, có khuyết, trình độ năng lực có lúc bất cập với nhiệm vụ, nhưng lòng trung với Đảng, tận hiếu với dân thì không bao giờ thiếu. Tôi luôn khắc sâu trong tâm khảm là từ một học sinh nghèo, Cách mạng đã rèn tôi trở thành một cán bộ cao cấp, một vị Tướng. Thật không có vinh dự nào lớn hơn. Được biết anh chị mạnh khỏe, gia đình hạnh phúc, tôi rất mừng. Chúc anh luôn sống lạc quan, thảnh thơi trong những năm tháng cuối của cuộc đời. Tôi đã đọc bài thơ của anh. Thơ hay đấy, có tình cảm và gây ấn tượng. Xa nhau lâu quá, muốn nói mãi mà vẫn không hết chuyện. Chuyện chẳng đầu, chẳng đuôi, anh cố đọc cho vui nhé. Nhớ anh nhiều! Thân! Lê Huẩn. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 05:08:56 am Đại tá Đinh Bá Lộc ( còn gọi Đinh Bá Tòng ), Nguyên Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chính trị viên Tỉnh đội tỉnh Bình Định. Ông là người đã gắn bó với Sư đoàn 3- Sao Vàng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tình cảm đó đã được ghi đậm nét trong bộ Hồi ký của ông. Xin trích đăng một số truyện ông viêt về cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn trong cuốn Hồi ký ấy. TRẬN HUYẾT CHIẾN Ở PHƯƠNG DANH NAM Nhiệm vụ cơ bản của Trung đoàn 12 trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân là phải kéo cho được chủ lực địch và ghìm chân chúng ở ngoài thị xã Quy Nhơn để cho lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng tiến công, nổi dậy cướp chính quyền ở nội thị. Những trận đánh mở đầu của trung đoàn ở Gò Trạm, Đập Đá và Sơn Lại Sứ (núi Bà) trong tháng 12 năm 1967 với tư tưởng “Đánh nhanh, rút nhanh” nên chưa tạo được sức ép mạnh để kéo chủ lực địch ra. Trong khi đó giờ G của chiến dịch Tổng tiến công đã tới gần. Ban chỉ huy Mặt trận Nam Bình Định họp quyết định phải đánh lại thị trấn Đập Đá và trụ đứng ban ngày tại đó, khống chế đường số I, chẹn yết hầu thị xã Quy Nhơn. Chỉ có như vậy mới buộc chúng đưa quân ra giải toả, tạo điều kiện cho đặc công, biệt động và bộ đội tỉnh đưa lực lượng vào Quy Nhơn. Lực lượng sử dụng vào trận đánh Đập Đá lần 2 gồm Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 và 1 Trung đội bộ binh huyện An Nhơn. Đây là trận đánh dự kiến sẽ hết sức ác liệt. Cán bộ chiến sỹ đều quàng khăn đỏ Ngô Mây (một anh hùng liệt sỹ thời chống Pháp của tỉnh Bình Định) thề dưới cờ Tổ quốc: “Sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!” Đêm 18 tháng 1 năm 1968 (trước Tổng tiến công Mậu Thân 13 ngày), Trung đoàn 12 xuất quân. Trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Hồng và Chính uỷ Trung đoàn Nguyễn Văn Vợi trực tiếp đến động viên. Quân số Tỉểu đoàn lúc đó, mỗi Đại đội chỉ có 30 tay súng do đồng chí Cừ (Chính trị viên Tiểu đoàn) và đồng chí Sen (Tiểu đoàn phó) chỉ huy, Trung đội của Huyện có 20 tay súng, do đồng chí Trợ , chính trị viên chỉ huy. Một giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1968, Tiểu đoàn tiêu diệt gọn 2 Trung đội dân vệ tại trị trấn Đập Đá và phát triển chiếm lĩnh thôn Phương Danh Nam xây dựng trận địa. Phương Danh Nam là một thôn lớn, nằm phía Tây đường số 1, có nhiều cây cối. Đặc biệt có những luỹ tre già, cơ sở Cánh mạng của ta đã đào những hầm bí mật. Cán bộ Tiểu đoàn, Đại đội, Trung đội tranh thủ đi khảo sát địa thế, dự kiến hướng tấn công của địch, đặt ra các yêu cầu xây dựng tuyến phòng ngự của ta. Thực tế lúc đó bộ đội chưa được học chiến thuật phòng ngự trận địa, chỉ có phòng ngự chống càn. Chống càn thì đánh vừa phải, tiêu hao được địch là rút. Do yêu cầu nhiệm vụ chính trị lần này, Tiểu đoàn phải bám trụ đánh địch từ 5 đến 7 ngày. Đánh giữa đồng bằng và giữa vùng đất có nhiều căn cứ địch xung quanh. Biết chắc sẽ rất ác liệt, sẽ phải hy sinh nhưng không một ai tỏ ra dao động. Để dân khỏi liên luỵ, cán bộ ta đã vận động bà con sơ tán qua các thôn bên cạnh để tránh bom đạn. Trước hết là người già, trẻ em. Nhiều chị em phụ nữ kiên quyết ở lại giúp bộ đội nấu cơm nước và chăm sóc thương binh khi chiến đấu xẩy ra. Đúng như dự đoán, 8 giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1968, bọn địch tưởng rằng trận đánh đêm qua chỉ là bộ đội địa phương nên cho hai Đại đội bảo an của quận An Nhơn kéo đến. Lập tức bị Tiểu đoàn xuất kích đánh tan tác. Chiều hôm đó, tên quận trưởng trực tiếp chỉ huy bọn tàn quân và tăng thêm 2 Đại đội bảo an khác, nhưng cũng bị đánh thiệt hại nặng phải rút lui.Sức mạnh của ta đã bộc lộ. Mất Đập Đá, thị trấn Bình Định bị uy hiếp trực tiếp, Thị xã Quy Nhơn bị đe doạ. Ngày hôm sau (20-1), tên Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định đi trực thăng tới khu chiến khảo sát. Hắn khẳng định “Quân của Sư đoàn Sao Vàng đã đến đây”. Thời đó, tiếng tăm Sư đoàn Sao Vàng là nỗi ám ảnh kinh hoàng của quân nguỵ, vì qua 2 mùa khô 1966, 1967, Sư đoàn Kỵ binh không vận Mỹ và Sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên đã không “tìm diệt” được họ mà còn bị họ tiêu diệt lại. Với sự khẳng định trên, tên Tỉnh trưởng cầu cứu Bộ Tư lệnh vùng II chiến thuật xin quân Nam Triều Tiên chi viện. Nắm được tin tức tình báo nội tuyến về điều động lực lượng của địch, Ban chỉ huy Trung đoàn 12 chỉ thị cho Tiểu đoàn 6 phải tích cực củng cố công sự, xốc lại quân số, sẵn sàng đối mặt với quân Nam Hàn. Mờ sáng ngày 21 tháng 1, địch cho 1 Trung đoàn Nam Triều Tiên có 32 xe tăng, xe bọc thép kéo đến. Mở đầu là những trận ném bom dữ dội xuống làng Phương Danh Nam, tiếp đó, các trận địa pháo từ Mỹ Long (xã Cát Thắng), chợ Gồm, Gò Trạm và pháo từ hạm đội ngoài biển Quy Nhơn bắn dồn dập hàng tiếng đồng hồ. Làng Phương Danh Nam chìm trong khói bụi và lửa cháy. Bộ đội ta vừa kịp tu sửa lại công sự thì 2 Tiểu đoàn bộ binh Nam Hàn có 2 chi đội xe tăng dẫn đầu, đột kích 2 hướng vào thôn Phương Danh. Chúng ngạo mạn dàn hàng ngang, những tưởng bộ đội ta đã bị nghiền nát sau 2 tiếng đồng hồ bom pháo dội xuống. Chiến sỹ ta được lệnh để cho chúng vào thật gần mới bất ngờ nổ súng. Mấy chiếc xe tăng đi đầu đã bị B40, B41 của ta bắn cháy. Bọn chỉ huy thúc lính xông lên. Từ trong các công sự, hào giao thông đã sụt lở, bộ đội ta đồng loạt nổ súng. Xác địch nằm phơi ở rìa làng, không kéo ra được. Từ đó, địch lặp đi lặp lại điệp khúc: Dùng bom pháo bắn phá rồi cho xe tăng dẫn bộ binh xông vào. Suốt ngày chúng tiến công hàng chục lần nhưng vẫn không vào được trận địa ta. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Ba, 2017, 05:09:35 am Mặt trời vừa xuống núi, địch tăng thêm quân hình thành thế bao vây vòng trong, vòng ngoài. Máy bay C130 thả đèn dù, bắn pháo sáng tầng cao, tầng thấp sáng rực. Bộ đội ta cũng tranh thủ xây dựng công sự kiên cố hơn. Đào hầm chứa thương binh, sửa chữa vũ khí... Cán bộ đi quan sát thế vây của địch để dự kiến hướng tiến công ngày hôm sau. Ngày 22 và 23 tháng 1, địch dồn toàn bộ Trung đoàn Nam Triều Tiên và 1 liên đoàn bảo an phối hợp tiến công. Cường độ bom, pháo cao hơn. Thôn Phương Danh Nam bị cày nát, bị san bằng, nóng bỏng khói đạn. Cây cối gãy gục, nhà cửa đổ sập, đất bị xới thành bùn (chúng ném bom quá nhiều, nước từ ngoài ruộng ngấm vào, dềnh lên thành ao, thành vũng trong từng hố bom). Bộ đội ta bị tổn thất nặng, quân số hao hụt dần, nhưng vẫn bám giữ trận địa. Thương binh không thể đưa ra ngoài, được chị em dân quân du kích giúp đỡ chuyển xuống hầm bí mật hoặc đưa xuống các hầm do bộ đội ta mới đào. Để giảm áp lực của địch đối với Tiểu đoàn 6, Ban chỉ huy Trung đoàn 12 cho Tiểu đoàn 5 đánh lên Bàng Châu, Cầu Xi-ta trên đường số I, nhằm thu hút địch. Nhưng bọn Nam Triều Tiên không để ý, cứ bám riết lấy Phương Danh Nam. Từ Sở chỉ huy Trung đoàn ở núi Bà nhìn xuống, chúng tôi ứa nước mắt khi nghĩ đến kết cục trận đánh, ứa nước mắt nghĩ đến lòng dũng cảm hy sinh của các chiến sỹ. Ngày 24-1, ngày thứ 6 ở Phương Danh Nam, hầu hết bộ đội ta đều bị thương. Địch mở đợt tiến công tổng lực. Cả Tiểu đoàn chỉ còn 1 quả đạn B40, Đại đội trưởng Đại đội 3 Vũ Đăng Cộng đã bị thưong gãy một cánh tay. Anh bảo xạ thủ B40 đặt súng chống tăng lên vai, chờ cho xe tăng địch vào cách 20 mét mới nổ súng. Địch biết thế trận của ta đã suy giảm nên chúng vẫn thúc xe tăng và bộ binh tràn lên. Những cuộc hỗn chiến giữa bộ đội ta và bộ binh địch diễn ra khốc liệt khắp thôn Danh Nam. Những đồng chí bị thương nặng thì lắp đạn cho đồng chí bị thương nhẹ chiến đấu. Đồng chí này hy sinh, đông chí khác thay. Súng hết đạn thì dùng lưỡi lê, báng súng. Ở góc phía Tây thôn, bọn địch ỷ thế đông, quây lấy các chiến sỹ ta để bắt sống. Nhưng các đội viên Quyết tử của Tiểu đoàn đã đứng dậy dùng cuốc xẻng và báng súng đánh giáp lá cà với địch cho đến khi hy sinh tới người cuối cùng. Hôm đó mặc dù đã chiếm được đa phần thôn Phương Danh nhưng địch không dám ở lại mà lùi ra xa, dùng dây thép gai rải quanh làng. Cho xe tăng chốt chặn các ngõ ngách tạo vòng vây thứ 2. Ngoài cùng là vòng vây của bọn bộ binh. Chúng bắn pháo cầm canh vào thôn để không cho bộ đội ta làm công sự (chúng vẫn không biết lực lượng ta ở trong thôn còn bao nhiêu). Đèn dù pháo sáng thả dày đặc, sáng như ban ngày, có thể thấy được bất cứ di động nào trong làng. Chúng định vây chặt để sáng hôm sau quét mẻ lưới cuối cùng. Nhưng đêm đó, Tiểu đoàn chỉ còn 7 đồng chí, do đồng chí Chúc, trợ lý tác chiến (người Thanh Hoá) đã lách khỏi 3 vòng vây của địch trở về. Tất cả các liệt sỹ đều phải nằm lại, hoá thân vào mảnh đất Phương Danh Nam đẫm máu. Ngày hôm sau, địch vẫn tiếp tục ném bom, bắn pháo hàng tiếng đồng hồ rồi cho xe tăng dàn hàng ngang dẫn đầu bộ binh tràn vào làng. Chúng lồng lộn chạy ngang, chạy dọc chà nát tất cả. Không có một tiếng súng kháng cự nào của ta nhưng bọn lính Nam Hàn đã chứng kiến hàng trăm cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 6 hy sinh trong mọi tư thế: đầu, mình, tay, chân quấn đầy băng mà vẫn ôm chặt súng, mắt mở trừng trừng nhìn thẳng về phía trước, biểu lộ ý chí bất khuất, khiến chúng kinh sợ, vội vàng tuyên bố “Đã hoàn tất quân vụ” và nhanh chóng rút lui, giao cho địa phương quân và chính quyền sở tại giải quyết hậu chiến. Trận Phương Danh Nam của Tiểu đoàn 6 và bộ đội huyện An Nhơn là tấm gương sáng chói về tinh thần dũng cảm và đức hy sinh cao cả của cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn Sao Vàng nói riêng, của quân Giải phóng miền Nam nói chung. Họ đã hy sinh nhưng đã hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang mà Bộ chỉ huy Mặt trận Bình Định đặt ra là thu hút kìm chân phần lớn chủ lực địch ở cánh Nam, tạo điều kiện cho quân dân Khu Đông Bình Định tiến công và nổi dậy tại thị xã Quy Nhơn, gây tiếng vang lớn trong mùa xuân năm 1968. Liên tục mấy ngày sau đó, bọn địch bắt tù chính trị và nhân dân quanh vùng đến gom thi hài các liệt sỹ ta, mai táng chung một ngôi mộ tại làng Phương Danh Nam. Với lòng kính trọng và biết ơn, nhân dân ta, từ già đến trẻ, đã gọi đó là Mộ Tổ. Hễ có dịp đi qua, bất kỳ lúc nào cũng tìm cách đắp một hòn đất, hòn đá, thắp một cây nhang để bày tỏ tấm lòng mình. Những gia đình có người tham gia nguỵ quân, nguỵ quyền cũng không bỏ qua tục lệ đó. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Định và huyện An Nhơn đã cho xây lại ngôi mộ, xây dựng bia, khắc tên 153 liệt sỹ đã ngã xuống trong trận huyết chiến ở thôn Phương Danh Nam. Vào ngày rằm và mồng một hàng tháng, bà con thường đến thắp hương. Riêng ngày 24 tháng 1 và rằm tháng 7 hàng năm được đồng bào xem là ngày giỗ các liệt sỹ. Hương hoa, lễ vật tuỳ tâm, bà con kính cẩn đặt lên Bia tưởng niệm để tri ân hương hồn những liệt sỹ trận vong. Đó là một nét đẹp trong văn hoá tâm linh, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với thế hệ trẻ ở huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định hôm nay và mai sau. Quy Nhơn, tháng 9 năm 2005 Đ.B.L. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Ba, 2017, 10:21:32 am TRẬN MỞ ĐẦU CỦA SƯ ĐOÀN SAO VÀNG Ở NÚI BÀ, KHU ĐÔNG Mặt trận Quy Nhơn là trọng điểm của chiến dịch Xuân Mậu Thân (1968) ở chiến trường Bình Định. Đồng chí Nguyễn Xuân Hữu, Thường vụ Khu uỷ 5 xuống chỉ đạo trực tiếp. Ban chỉ đạo chiến dịch quyết định điều Trung đoàn 12 (Sư đoàn Sao Vàng) tăng cường cho chiến trường Khu Đông. Nhiệm vụ trước mắt của Trung đoàn là đánh địch dọc Quốc lộ I- đoạn phía Bắc thị xã Quy Nhơn, thu hút chủ lực nguỵ và quân Nam Hàn (Nam Triều Tiên) cho lực lượng tỉnh mở hành lang, làm bàn đạp tiến công vào nội thị. Sau đó, tuỳ tình hình, Trung đoàn sẽ là một mũi tiến công quan trọng vào Quy Nhơn. Là Trung đoàn chủ lực trong đội hình Sư đoàn, thường đứng chân các dãy núi phía Tây của tỉnh Bình Định, nay phải xuống vùng sâu, địa bàn đồng bằng, tác chiến độc lập, cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 12 không khỏi bỡ ngỡ. Nơi đây, qua 2 mùa khô, quân Nam Triều Tiên (ta thường gọi là Nam Hàn hoặc Đại Hàn) đã thực hiện chính sách đốt sạch, phá sạch, tàn sát hàng ngàn dân vô tội, biến vùng đồng bằng trù phú, đông đúc dân cư trở thành vùng trắng, cây cỏ hoang tàn. Hàng ngày, máy bay do thám các loại của địch quần lượn chỉ điểm. Hễ phát hiện bóng người là gọi bom, pháo dội tới và đổ quân bao vây bắt sống. Đường vận chuyển vũ khí từ phía Tây xuống bị địch dùng rào kẽm gai hoặc bãi mìn và quân phục kích ngăn chặn. Một con vật hoang đi qua cũng bị tiêu diệt. Lực lượng của ta hoạt động ở đây không chỉ chịu đựng ác liệt, hy sinh mà còn thiếu thốn mọi bề. Đó là những khó khăn mà Trung đoàn 12 phải vượt qua. Để vào được Khu Đông, Trung đoàn đã phải dùng trinh sát, công binh mở đường qua các bãi mìn bố phòng của địch. Chỉ một lối nhỏ đủ một người đi. Bước lệch ra ngoài là giẫm phải mìn địch. Đi từng phân đội, đi làm nhiều đêm, nhiều đợt, không được để lại dấu vết vì ban ngày địch đi kiểm tra. Cuối tháng 11 năm 1967, Trung đoàn vào tới núi Bà. Đó là một dãy núi lớn ở phía Đông đường số 1, sát biển Đông, thuộc địa phận huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Từ lâu, núi Bà là căn cứ của chiến trường Khu Đông gồm nam Phù Cát, đông An Nhơn và bắc thị xã Quy Nhơn. Vừa đến nơi dừng chân, Trung đoàn đã quyết định chọn 2 mục tiêu: Gò Trạm và thị trấn Đập Đá. Đánh 2 mục tiêu này nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tạo khí thế và niềm tin cho đơn vị, thăm dò sự phản ứng của địch ở chiến trường mới, rút kinh nghiệm cho các trận tới. Trung đoàn giao cho Tiểu đoàn 6 chuẩn bị mục tiêu Gò Trạm, Tiểu đoàn 5 chuẩn bị mục tiêu Đập Đá. Là cán bộ chỉ huy bộ đội tỉnh nhiều năm, lại là thành viên Ban chỉ đạo Mặt trận Quy Nhơn, tôi được phân công giúp đỡ Trung đoàn chuẩn bị chiến trường đánh thắng trận đầu. Gò Trạm nằm phía Nam quận lỵ Phù Cát hơn 1km. Địch xây dựng tại đây một trung tâm huấn luyện Hạ sỹ quan cho Vùng Chiến thuật II (Vùng Chiến thuật tương đương như Quân khu). Diện tích căn cứ gần 10 ha. Học viên có lúc đến hàng ngàn tên. Hệ thống phòng thủ kiên cố, có 1 trận địa pháo 105 ly 4 khẩu, do 1 tiểu đoàn bảo vệ. Thị trấn Đập Đá nằm sát Quốc lộ 1, có 2 Trung đội dân vệ và bọn chính quyền quận khét tiếng phản động, kìm kẹp nhân dân khắc nghiệt. Cả 2 mục tiêu trên từ lâu chưa bị ta đánh nên rất chủ quan, hống hách. Phương án đánh Gò Trạm, Trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Hồng xác định: Căn cứ rộng, quân địch đông nhưng ô hợp. Ta tổ chức đánh 2 mũi từ hướng Đông Nam (hướng địch sơ hở) tiêu diệt bọn học viên. Còn lại dùng hoả lực DKZ, cối 82 đánh vào Sở chỉ huy và trận địa pháo. Đánh nhanh, rút nhanh, qua sông Chánh Mẫn về đứng chân ở xã Nhơn Phong (nam Phù Cát). Tại Đập Đá, địch luôn di động, dân đông, do đó phải nhờ cơ sở địa phương dẫn đường, tổ chức 2 mũi, bí mật rê quân gặp địch ở đâu, tác chiến tại đó. Ai gặp địch trước đánh trước, không phải chờ nhau. Đánh xong rút về nơi quy định. Mật danh Gò Trạm là 01, Đập Đá là 02. Đêm 4 tháng 12 năm 1967, từ vị trí tập kết, các đơn vị xuất quân. 23 giờ, Sở chỉ huy Trung đoàn nhận báo cáo “01 đã đến vị trí tạm dừng. Tình hình thuận lợi, đang làm công tác tổ chức”. Anh Hồng, Trung đoàn trưởng nhắc 01: “Phải nổ súng đúng giờ G”, 02 báo cáo: “Đã vào tới ngoại vi thị trấn. Cơ sở cho biết, địch đang tập trung tại trụ sở”. Anh Hồng chỉ thị cho 02 “Phải sau giờ G+1 mới nổ súng, không được nổ súng trước 01”. Đúng giờ G (01 giờ ngày 05 tháng 12 năm 1967), ta tiến công Gò Trạm. Cối 82, ĐKZ 75 và các hoả lực đi cùng bộ binh của ta nổ dồn dập. Bọn địch hoảng loạn kêu la. Ở Đập Đá, các chiến sỹ Tiểu đoàn 5 nổ súng giòn giã. Các trận đánh chỉ diễn ra khoảng nửa tiếng đồng hồ. Ta chủ động lui quân, địch chưa kịp hoàn hồn thì bộ đội đã biến mất. Sáng hôm sau, cơ sở 2 nơi báo cáo: Tại Gò Trạm, địch thiệt hại 150 tên. Bọn học viên hoang mang, một số tên đào ngũ hoặc bỏ về đơn vị, không theo học nữa. Ở Đập Đá, 2 Trung đội dân vệ bị thiệt hại nặng, ta bắt một số tên, giao cho địa phương. Cùng đêm đó, Đại đội vũ trang huyện Phù Cát đánh tan 2 Trung đội dân vệ ở Nam quận lỵ, phối hợp với Gò Trạm. Ba trận đánh đều thắng lợi. Ta thương vong không đáng kể. Mọi người phấn khởi, nhân dân lan truyền tin tức: Bộ đội chủ lực đã về vùng Đông. Nguỵ quân, nguỵ quyền lo sợ. Trung đoàn 12 đã khẳng định được vai trò của mình trên địa bàn mới. Nhưng những thử thách mới đang chờ họ ở phía trước. Quy Nhơn, tháng 01- 2005. Đ.B.L. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Ba, 2017, 10:27:05 am VỤ THẢM SÁT Ở THÔN KIM TÀI Trong Tổng tiến công năm Mậu Thân (1968), mỗi lần ra quân đánh những trận quyết liệt, các chiến sỹ Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3-Sao Vàng), cổ quàng khăn đỏ, tập hợp trên nền nhà bỏ hoang ở thôn Kim Tài (xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định) làm lễ tuyên thệ “Cảm tử để trả thù cho nhân dân Kim Tài”. Đây là một hình thức công tác chính trị tư tưởng của bộ đội ta thời bấy giờ. Tội ác của địch được các nhân chứng tố cáo. Cán bộ chính trị luận tội, lên án và phát động lòng căm thù địch trong cán bộ, chiến sỹ để hăng hái xung trận. Thiết nghĩ, những cán bộ, chiến sỹ của Sư đoàn hôm nay và mai sau nên biết tội ác dã man của kẻ thù để góp phần luận giải vì sao chúng ta phải tiến hành chiến tranh Cách mạng. Câu chuyện mà tôi viết lại đây là từ lời kể của một con người đã sống sót trong vụ thảm sát của bọn lính Nam Hàn tại thôn Kim Tài. Chị là Phan Thị Năm, sinh năm 1940 ở thôn Tam Hoà, xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn. Chị sinh được 3 con. Con lớn 6 tuổi, con giữa 4 tuổi và con nhỏ nhất mới 10 tháng tuổi. Chồng chị là Lê Đình Sơn, cán bộ thông tin-văn hoá thôn, đã bị địch bắt. Chị tần tảo nuôi mẹ chồng và nuôi con. Chị kể: Mờ sáng ngày 9 tháng 1 năm 1966, các trận địa pháo địch bắn tới Núi Đất suốt nửa tiếng đồng hồ. Sau đó, máy bay phản lực đến ném bom dọn bãi. Dứt bom, từng đàn trực thăng chở quân đến đổ quân xuống Núi Đất. Tám giờ, bộ binh Nam Hàn tràn xuống thôn Liêm Lợi. Bọn lính Bảo An từ thị trấn Đập Đá kéo vào thôn Thanh Danh và Thanh Giang. Tiếng súng nổ loạn xạ khắp thôn xóm. Chị Năm đưa mẹ chồng và 3 con xuống hầm tránh đạn. Tới 10 giờ, tiếng súng im dần, chị tranh thủ vào nhà nấu cơm. Cơm vừa chín thì quân Nam Hàn xộc vào nhà, đá hết nồi niêu, đập phá mọi đồ dùng gia đình. Chúng bắt mẹ chồng, 2 em chồng và 4 mẹ con chị ra dấu hỏi “vi si?” (Việt Cộng đâu?). Chị lắc đầu. Nó đánh báng súng ngang hông, chị đau quá kêu lên 2 tiếng “Trời ơi!”, hai con lớn chạy tới ôm mẹ. Một tên khác đạp chị ngã sấp. Tưởng chị chết, cả nhà vật vã kêu khóc. Chúng lao tới lôi mọi người ra và dựng chị dây. Nó ra dấu bảo đi. Chị bước tới nồi cơm bị vỡ, bốc nắm cơm cho các con. Nó đá nắm cơm tung tóe rồi lấy dây trói chị cùng mẹ chồng, 2 em chồng và 2 con lớn. Con nhỏ chị bế trên tay, nó giật ra để trói tay nhưng chị cố ôm chặt con nên nó trói lỏng hơn. Chúng dồn tất cả đến nhà ông Trạc ở thôn Kim Tài. Ở đó đã có khoảng bốn chục người, hầu hết là người già, phụ nữ, trẻ con. Trong nhà có giường tủ, bàn thờ và người chật kín. Tất cả đều bị buộc vào nhau. Bảy người nhà chị bị tống vào vách ngăn phía sau. Bọn Nam Hàn mặt hằm hằm, mắt trợn tròn, không có lông mày, trông rất man rợ. Chúng ra dấu bảo mọi người ngồi im. Ai cũng tưởng chúng nhốt vào đây, chờ lục soát xong sẽ thả. Không ngờ, một lát sau mấy tên lính xách ba bốn can xăng tưới vào nhà, đóng chặt cửa rồi ném lựu đạn vào. Lựu đạn nổ, căn nhà bốc cháy đùng đùng. Bà con kêu la thất thanh, trẻ con kêu cha kêu mẹ xé lòng. Lửa cháy càng to, tiếng kêu càng lịm dần. Chị Năm 2 chân bị bỏng, nhờ tay bế con chúng trói lỏng nên chị gỡ ra được. Trong nhà khói mịt mù, ngộp thở, chị quờ quạng mò tìm người thân, thấy 2 con và 2 em chỉ thoi thóp, mắt mở trưng trừng, chị gào lên: “Con ơi, em ơi”. Vuốt mắt cho con, cho em xong, thấy mẹ chồng đang còn quằn quại, bà cố gắng hỏi: “Con có sao không?”, chị lẩm bẩm trong miệng nói không ra tiếng vì lửa và khói. Chị vội cởi trói cho mẹ chồng rồi một tay bồng con, một tay kéo mẹ chồng trườn xuống nhà dưới. Nhìn ra sân thấy chúng bắn chị Cao Thị Thảnh khi chị bò ra. Ông Hạt và chị Năm bị thương cũng bò xuống nhà dưới. Lửa khói ngợp, ông Hạt trốn chạy ra vườn, chị Năm bị thương nặng lại còn con nhỏ và mẹ chồng nên không chạy theo được, đành tụt xuống căn hầm tránh pháo. Bỗng nghe đánh “Rầm” một tiếng và khói lửa mịt mù. Thì ra, nhà dưới cháy bị sập, xà ngang rơi ngay nóc hầm. Chị cố kéo mẹ chồng lên nhưng bà đã tắt thở. Vuốt mắt mẹ, chị bế con lăn ra ngoài bất tỉnh. Khi tỉnh lại, thấy mình còn sống, đứa con chị cũng còn sống. Chị ôm con bò ra vườn chuối, xuống hầm trú ẩn ngoài vườn. Một chân bị thương mất nhiều máu, chân kia bị bỏng rộp nóng rát. Khát nước đến đắng họng, chị nằm thiếp trong hầm suốt đêm. Gần sáng, con chị khóc đòi bú, chị giật mình tỉnh dậy. Một tên lính Nam Hàn đứng trên nóc hầm chĩa súng xuống hét to mấy tiếng gì đó rồi ra dấu bảo chị bước lên. Chị ráng trườn lên, hắn dùng báng súng đánh vào lưng, bắt chị đứng dậy. Hai chân chị đã tê dại không thể đứng nổi. Chúng kéo lê chị, đau quá chị lại ngất lịm. Tên lính thấy vậy bỏ đi. Khi tỉnh dậy, chị thấy bên cạnh là xác 2 đồng chí du kích. Năm 2001, sau 35 năm, tôi trở về thôn Tam Hoà thăm chị Năm. Tuy đã cao tuổi nhưng chị vẫn nhớ rõ về vụ thảm sát của lính Nam Hàn ở thôn Kim Tài. Chị nói: “Trong số 38 người bị thảm sát hôm đó, riêng thôn Kim Tài có 23 (6 trẻ em và 17 phụ nữ), 15 nạn nhân nữa là các thôn trong xã. Mối hận thù này phải nhắc con cháu không thể nào quên”. Tôi xúc động trước tấm lòng chị và xin phép ra thắp hương nơi tạc bia ghi tên những người vô tội đã bị kẻ thù tàn sát. Quy Nhơn, tháng 1 năm 2005 Đ.B.L. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Ba, 2017, 10:32:22 am CƠ QUAN CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN CŨNG VÀO TRẬN Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đối tượng tác chiến là quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ, có khả năng cơ động bằng máy bay, trực thăng nên không bao giờ có chiến tuyến nhất định. Chúng có thể đánh phía trước, đánh phía sau và đánh từ trên xuống v.v... Thực tế đó đặt ra cho các đơn vị phục vụ và cơ quan đều phải sẵn sàng chiến đấu và biết cách chiến đấu để đánh địch, bảo vệ mình. Trận tử chiến của Trung đoàn bộ, Trung đoàn 12 là một tấm gương về tinh thần đó. Đầu tháng 6 năm 1968, Trung đoàn 12 được lệnh rời khỏi khu Đông về phía Tây huyện Phù Cát, Phù Mỹ nhận nhiệm vụ mới. Lúc đó Trung đoàn bộ đứng chân ở phía Nam hòn Vọng Phu (núi Bà) thuộc xã Cát Chánh (nay là Cát Hải). Nơi đây có nhiều hang, gộp đá lớn nhỏ kế tiếp chồng lên nhau. Cây cối chỉ có loại gai quýt và dây leo, trong quân sự chỉ có giá trị che khuất, còn che đỡ phải nhờ những hang đá. Dưới hang đá thật kỳ lạ, trời ban là luôn có nước chảy. Trú quân tại đây, yếu tố bí mật đặt lên hàng đầu vì khả năng cơ động lực lượng khó khăn do đồi núi trống trải. Cơ động trong hang chỉ lên xuống dọc từng con suối, cơ động ngang phải qua đồi trọc. Lần đó, do một cán bộ đại đội đặc công đi chiêu hồi (bỏ đơn vị vào vùng địch) nên vị trí đóng quân của cơ quan bị lộ. Lập tức, chúng dùng một Trung đoàn Nam Triều Tiên đổ xuống núi Bà. Sáng ngày 20-6-1968, sau hàng tiếng đồng hồ ném bom, bắn pháo rồi trực thăng vũ trang đến phóng rốc két dọn bãi, từng đàn máy bay chở quân đổ xuống xung quanh hòn Vọng Phu. Tới 10 giờ, chúng chia làm nhiều cánh quân tiến vào nơi ở của Trung đoàn bộ, Trung đoàn 12. Như con thú đã đánh hơi thấy mùi, bọn chỉ huy địch thúc lính bò vào các hang đá. Đại đội trinh sát, Trung đội vệ binh của Trung đoàn thoắt ẩn thoắt hiện qua các gộp đá dùng M79, tiểu liên, lựu đạn diệt từng tốp địch, lấy xác địch chất ở cửa hang. Bọn chỉ huy địch cho lính bắn hoả tiễn M72 và thả lựu đạn xuống hang để kéo xác đồng bọn. Chiến sỹ ta tìm lối ra khác, tập kích sau lưng chúng. Cuộc chiến giằng co suốt ngày. Địch không dám ném bom, bắn pháo vào vì xác đồng bọn còn ở cửa hang. Đánh tay đôi bằng súng bộ binh, dù chúng lợi thế về quân số, vũ khí vẫn không thể diệt được ta. Ngày thứ 2, chúng tăng quân, hình thành thế vây Trung đoàn bộ. Cán bộ, chiến sỹ sát bên nhau rời khỏi hang, bám các gộp đá phía ngoài chờ cho địch vào gần mới nổ súng. Bất chấp xác đồng bọn, chúng giãn quân ra và gọi trực thăng đến phóng rốc két vào các hang đá, sau đó cho từng toán nhỏ bò vào dùng lựu đạn hoá học (lựu đạn cay) ném xuống hang. Từ dưới hang nhìn lên, mấy chiến sỹ trinh sát đã bắn gục địch khi chúng chưa kịp thả lựu đạn và mù cay. Bọn chỉ huy vẫn thúc lính xông lên. Một số tên đã vào được hang. Hang hẹp, tối, các chiến sỹ trinh sát và vệ binh đã dùng lưỡi lê, dao găm và cả võ thuật quật ngã từng tên. Sau đó tụt xuống sâu, chuyển qua hang khác. Một ngày nữa trôi qua. Địch vẫn bủa vây 4 phía, chúng cẩu máy phát điện đặt tại đèo Chánh Hy để phục vụ đèn pha chiếu sáng cả vùng ruộng phía đông núi Bà. Mấy chiếc Bo bo chạy dọc bờ biển canh chừng ta rút ra phía biển. Đêm hôm đó, ban chỉ huy Trung đoàn đang họp bàn tìm cách phá vòng vây thì nhận được điện của Sư đoàn ra lệnh phải đưa đơn vị chuyển gấp ra huyện Phù Mỹ để đánh địch, phối hợp chiến trường chung. Tinh thần và khí thế “Tổng tiến công” lúc bấy giờ vẫn còn nóng bỏng nên ý thức hợp đồng tác chiến luôn hết sức nghiêm túc trong mỗi cán bộ, chiến sỹ. Thường vụ Đảng uỷ Trung đoàn họp chớp nhoáng và quyết định: ra lệnh cho các tiểu đoàn bộ binh, các đại đội hoả lực chủ động rút khỏi khu chiến về tập kết tại Đèo Bồng, chân điểm cao 500 (tây Phù Mỹ). Trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Hồng và chính uỷ Nguyễn Văn Vợi cùng Trưởng tiểu ban tác chiến, tiểu ban trinh sát, tổ chức gọn nhẹ, vượt khỏi vòng vây địch để kịp về Phù Mỹ chỉ huy đơn vị. Phó trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Thương, Phó chính uỷ Dương Minh Ngọ, chủ nhiệm chính trị Hoàng Hữu Phĩa sẽ ở lại chỉ huy cán bộ, chiến sỹ các cơ quan và đơn vị trực thuộc tiếp tục đánh địch rồi tìm cách về hậu cứ sau. Người ở lại và người ra đi ôm nhau từ biệt. Những giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên má. Ngày thứ 3, địch đánh thẳng vào khu vực cơ quan tham mưu và cơ quan chính trị Trung đoàn. Các chiến sỹ vệ binh, trinh sát lần lượt hi sinh. Tham mưu trưởng Hoàng Xuân Dĩnh bị một mảnh lựu đạn địch, gãy cánh tay phải, anh chuyển súng ngắn sang tay trái bắn chết 2 tên địch trước khi chúng bu vào bắt sống. Phó tham mưu trưởng Trọng vừa nhô lên ném trái lựu đạn vào toán địch phía trước thì bị một loạt đạn của địch ở phía bên phải bắn sang. Anh hi sinh trong tư thế vươn ra phía trước. Ở khu vực cơ quan chính trị, sau khi trợ lý thanh niên Hà Văn Quỳ và nhân viên văn thư Nguyễn Xuân Trạch xông ra dùng súng Các-bin và CKC chiến đấu hi sinh, toàn cơ quan chỉ huy còn súng ngắn, lựu đạn. Trưởng tiểu ban bảo vệ Nguyễn Xuân Viên và trưởng tiểu ban cán bộ Cao Xuân Bấm chỉ huy anh chị em bám chắc cửa hang chiến đấu đến cùng, quyết không để địch bắt. Các anh lần lượt hi sinh, tiếp đó là trợ lý tổ chức Trần Xuân Ba, Nguyễn Công Sô, trợ lý bảo vệ Nguyễn Uông, súng ngắn hết đạn đã dùng lựu đạn diệt địch. Thi thể các đồng chí nằm rải rác quanh các gộp đá trước cửa hang. Địch chiếm được nơi trú chân của cơ quan Trung đoàn nhưng không thu được bất cứ tài liệu quan trọng nào. Tất cả đều đã được thiêu huỷ khi mọi người hạ quyết tâm tử chiến với kẻ thù. Thường ngày họ luôn tới các đơn vị động viên bộ đội sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, và lúc này, chính họ đang thực hiện lời thề đó. Đó là phẩm chất cao quý của người cán bộ Trung đoàn 12 nói riêng và của đội ngũ cán bộ trong và ngoài quân đội thời chống Mỹ, cứu nước. Nói và làm, làm và nói, không phân biệt trên dưới, khi lâm trận là cùng nhau gánh vác, chia sẻ. Gần một năm đánh giặc ở khu đông tỉnh Binh Định, Trung đoàn 12 đã tỏ rõ khí chất “Kiên cường trụ bám, độc lập tác chiến, tự lực tự cường”. Đó là nét đặc sắc tạo nên truyền thống của Trung đoàn và của Sư đoàn Sao Vàng. Trung đoàn được tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Tiểu đoàn 5 được nhận lá cờ “Đơn vị diệt nhiều quân Nam Triều Tiên nhất” do Quốc hội Chính phủ và nhân dân Bắc Triều Tiên tặng. Quy Nhơn, tháng 9 năm 2005 Đ.B.L. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Ba, 2017, 10:36:36 am LẠI TIẾP TỤC “TỔNG TIẾN CÔNG” Các đơn vị đánh vào thị xã Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân vừa rút ra thì nhận được điện của cấp trên: “ chiến dịch Mậu Thân là một giai đoạn liên tục tiến công không được dừng lại”. Ban chỉ huy Mặt trận nghiên cứu kỹ bức điện và nhận thức rằng “ chiến dịch phải đánh nhiều đợt nối tiếp nhau trong một thời gian dài. Kết thúc chiến dịch là do cấp trên quyết định, không phụ thuộc vào tình hình cụ thể của một đơn vị nào.” Từ nhận thức đó, mặc dù hai tháng qua, các đơn vị liên tục quần lộn đánh địch, quân số tổn thất không có bổ sung nhưng chúng tôi phải chấp hành mệnh lệnh cấp trên để phối hợp với toàn miền. Cái khó lúc này là không còn yếu tố bí mật, bất ngờ và quân số, vũ khí thiếu hụt. Nhưng “quân lệnh như sơn”, phải quán triệt tinh thần đó tới từng cán bộ, chiến sỹ, động viên anh em tiếp tục chiến đấu. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 Sao Vàng cử đồng chí Nguyễn Huyền (tức Nguyễn Đình Trọng), Phó chính ủy Sư đoàn xuống Khu Đông. Cùng đi có Tiểu đoàn 300 đặc công của Quân khu 5. Sự có mặt của chỉ huy Sư đoàn và lực lượng đặc công đã tăng thêm niềm tin và phấn khởi trong cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 12. Họ lại hào hứng vào trận. Đợt tiến công này, cả Trung đoàn ra quân. Tiểu đoàn đặc công đánh căn cứ Xuân Mỹ trên núi Kỳ Sơn và trận địa pháo tại ngã ba Quán Cây Xoài ( xã Phước Thuận). Đây là những mục tiêu do bọn Nam Triều Tiên chiếm giữ, Tiểu đoàn 4 đánh các vị trí ngoại vi quận lỵ Tuy Phước. Tiểu đoàn 5 bố trí tại xã Phước Sơn, sẵn sàng đánh địch hành quân giải toả. Hỏa lực của trung đoàn tập kích, khống chế các trận địa pháo địch ở Gò Bồi ( Phước Hòa) và Mỹ Long ( Cát Thắng). Tiểu đoàn 6 làm lực lượng dự bị. Sở chỉ huy trung đoàn ( tiền phương) đặt tại xã Phước Sơn có đồng chí Huyền (phó chính ủy Sư đoàn) tham gia. Việc tổ chức cho các đơn vị hành quân giữa vùng đồng bằng nhiều sông, rạch khá vất vả, chỉ đi được vào ban đêm. Ban ngày ém quân trong các làng hoang. Cỏ, cây dại rậm rạp nhưng thấp bé, trực thăng tuần tiễu của địch có thể bay đến bất cứ lúc nào. Nếu sơ hở để lộ dấu vết là bom, pháo và chúng đổ quân vào đánh ngay. Bộ phận đánh các mục tiêu sát thị xã Quy Nhơn phải vượt sông Gò Bồi, dùng thuyền chèo trên đầm Thị Nại vào trú quân dưới tán lá sú, vẹt ở mé đầm. Bộ đội mắc võng giữa các cành của những cây mắm, ăn cơm vắt, nhai gạo rang. Khi có máy bay địch đi lùng là phải ngâm mình xuống nước Ban lãnh đạo Mặt trận đã chỉ thị cho cơ sở ta ở xã Phước Sơn tích cực giúp đỡ các đơn vị. Ở Khu Đông, thời gian này xã Phước Sơn là xã còn dân và có cơ sở mạnh nhất. Bao nhiêu lần địch xúc tát vào vùng chúng kiểm soát, đồng bào vẫn đấu tranh quay trở về thôn xóm. Lần này, những tưởng sau Tết Mậu Thân, các lực lượng vũ trang đã rút lên núi nhưng lại được báo bộ đội chủ lực Sao Vàng trở về, nhân dân vui mừng lo sắm cơm nước chào đón. Các mẹ, các chị che đèn rọi từng chiến sĩ khen ngợi: “ Tuổi trẻ, thư sinh thế này mà đánh giặc thật anh dũng, kiên cường.” 23 giờ ngày 22 tháng 4 năm 1968, cơm nước xong, các đơn vị hành quân tiếp cận căn cứ địch. Đúng 1 giờ ngày 23 tháng 4 năm 1968, đặc công đánh chiếm trận địa pháo quán Cây Xoài. Chỉ có tiếng đạn B40, B41 và thủ pháo, lựu đạn...Sau 30 phút, 5 khẩu pháo 105 ly của địch bị phá hủy, 15 xe quân sự bị đốt cháy. Một đại đội quân Nam Triều Tiên gian ác phải đền mạng. Cùng thời gian đó, cứ điểm Xuân Mỹ ở núi Kỳ Sơn cũng bị tiến công. Nhưng do nghiên cứu địa hình gấp gáp, không phát hiện hết các hàng rào phòng thủ nên ta đột nhập được ba hàng rào, còn hai hàng rào nữa đã đến giờ nổ súng. Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định cường tập để thực hiện mệnh lệnh hiệp đồng chiến đấu. Cường tập mà không có pháo binh chi viện nên bộ đội ta không thể nào vượt qua lưới đạn dày đặc của địch. Hơn 50 cán bộ,chiến sỹ đã hy sinh ngay trên hàng rào. Trận đánh thất bại. Một sự mất mát to lớn đối với ta, vì đây là những chiến sỹ đặc công ưu tú. Họ sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng mình vì sự nghiệp cách mạng nói chung, vì phong trào cách mạng của tỉnh Bình Định nói riêng. Suốt ngày hôm đó (23-4), bọn Nam Triều Tiên đã dùng xe chở thi haì của 56 cán bộ chiến sỹ đặc công chôn chung ở ba đoạn hào dưới chân núi Kỳ Sơn. Sau ngày đất nước thống nhất, chính quyền và nhân dân Tuy Phước đã quy tập hài cốt anh em vào nghĩa trang liệt sỹ. Trở lại với đêm 22 rạng 23- 4- 1968, phối hợp với Tiểu đoàn 300 đặc công, các chiến sỹ Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12 đánh vào các chốt địch ở ngoại vi quận lỵ Tuy Phước. Đại đội hỏa lực của Trung đoàn và các Tiểu đoàn, pháo kích vào trung tâm quận lỵ Tuy Phước. Lửa cháy ngút trời. Các trận địa pháo địch ở Mỹ Long, Gò Bồi bị pháo ta kìm chặt, không phản ứng được. Hoàn thành nhiệm vụ trong đêm, bộ đội rút về các vị trí quy định, sẵn sàng đánh địch phản kích. 8h ngày 24- 4-1968, địch cho máy bay phản lực ném bom vào thôn Kỳ Sơn. Trực thăng vũ trang đến bắn phá dọn đường cho hai chi đoàn xe M113 và hai tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên hành quân bộ từ quận lỵ Tuy Phước xuống. Đồng thời dùng trực thăng đổ một tiểu đoàn khác xuống núi Kỳ Sơn. Tiểu đoàn 4 bắn cháy bốn chiếc. Đoàn xe tăng địch đến đầu thôn Kỳ Sơn bị Tiểu đoàn 5 bắn cháy ba chiếc. Đội hình địch dừng lại, không dám tiến công bằng bộ binh, chỉ dùng bom, pháo đánh suốt ngày vào trận địa ta. Phó chính ủy Sư đoàn cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 12 nhận định: ngày 25 địch sẽ tăng lực lượng bộ binh và xe tăng mới tiến công. Ta không thể trụ đánh như Tiểu đoàn 6 ở Phương Danh Nam trước đây, phải khẩn trương đưa bộ phận hậu cần và thương binh về núi Bà. Các đại đội bộ binh tổ chức gọn nhẹ ở lại, dựa vào công sự đánh theo hình thức chống càn. Đánh xong, rút xuống hầm bí mật do địa phương đã chuẩn bị. Đúng như dự đoán, sáng 25- 4- 1968, địch dùng gần 100 xe tăng và xe các loại, đổ thêm lính bảo an cùng với một Trung đoàn quân Nam Hàn ào ạt đánh vào xã Phước Sơn. Ta quần đánh suốt ngày với địch, sau đó rút vào hầm bí mật. Tiểu đoàn 5 hy sinh năm đồng chí. Đồng chí Nguyễn Đình Trọng ( Huyền) phó chính ủy Sư đoàn Sao Vàng và đồng chí Quý tham mưu phó Trung đoàn 12 đã hy sinh do xe tăng địch đè sập hầm bí mật. Tối hôm đó, các đơn vị được lệnh rút khỏi khu vực tác chiến. Địch đoán hướng lui quân của ta là núi Bà nên dùng máy bay, pháo binh bắn chặn và đổ quân mai phục mọi con đường. Các chiến sỹ Tiểu đoàn 5 được giúp đỡ của địa phương và che chở của nhân dân, đã đi sâu vào vùng địch kiểm soát ở tận chân đèo Cù Mông, 15 ngày sau mới về tới núi Bà. Quy Nhơn, tháng 9 – 2005 Đ.B.L. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Ba, 2017, 10:47:43 am HỎI CUNG TƯỚNG NGỤY SÀI GÒN - Nguyễn Vĩnh Nghi Thiếu tướng Lê Phi Long, Nguyên trưởng Phòng Tác chiến Bộ Tư lệnh Cánh quân Duyên Hải. Sau khi phần lớn Tây Nguyên được giải phóng, ngày 25 tháng 3 năm 1975, một cơ quan chiến dịch gọn nhẹ gồm cán bộ của 3 Tổng cục vừa được hình thành bắt đầu hành quân từ Hà Nội vào chiến trường bằng cả 2 phương tiện máy bay và ô tô. Tôi ở Bộ Tổng Tham mưu với đồng chí Lê Trọng Tấn, may mắn được tham gia cuộc hành quân cấp tốc này với cương vị là Trưởng Phòng Tác chiến Mặt trận. Ngày 4 tháng 4 năm 1975, Quân ủy Trung ương ra nghị quyết số 74 do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương ký, nói rõ: “ Giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Lê Quang Hòa chỉ huy Quân đoàn 2 (trừ Sư đoàn 324 ở lại bảo vệ Huế, Đà Nẵng) và Sư đoàn 3 của Quân khu 5 cùng các đơn vị binh khí kỹ thuật do Bộ Tổng Tham mưu điều động hành quân cấp tốc theo đường ven biển về đông nam Sài Gòn để cùng các lực lượng tại chỗ hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường trọng điểm”. Với tinh thần đó, cánh quân này được gọi là Cánh quân Duyên Hải, có nhiệm vụ cơ động và tác chiến dọc theo vùng duyên hải miền Trung, giải phóng các tỉnh ven biển trước khi tiến vào khu vực tập kết tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sáng ngày 7 tháng 4 năm 1975, sau 2 ngày chuẩn bị, Cánh quân Duyên Hải xuất phát từ Đà Nẵng bắt đầu cuộc hành quân thần tốc tiến về phía Nam và ngày 14 tháng 4 năm 1975 đánh chiếm Phan Rang, tuyến phòng thủ từ xa của quân đội Sài Gòn. Lực lượng địch ở Phan Rang gồm Lữ đoàn 2 dù, Sư đoàn 2 bộ binh mới phục hồi, Liên đoàn 31 biệt động, Sư đoàn 6 không quân ở Thành Sơn có hơn 100 máy bay các loại, cùng các đơn vị địa phương quân của Tiểu khu Ninh Thuận, quân số tổng cộng khoảng hơn một vạn tên do Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 Ngụy chỉ huy, đứng đầu là trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi. Năm giờ sáng ngày 14 tháng 4 năm 1975, quân ta bắt đầu tấn công Phan Rang, đến khoảng 10 giờ ngày 16 tháng 4 thì hoàn toàn làm chủ thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn, bắt sống trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, cố vấn Mỹ Javel Lewis cùng nhiều sĩ quan khác của quân ngụy Sài Gòn. Nhận được báo cáo về quân ta đã bắt sống tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, đồng chí Lê Trọng Tấn rất mừng. Là tướng vừa ở Tổng Hành dinh ra trận, vốn có tầm nhìn chiến lược, trung tướng Lê Trọng Tấn liền gọi tôi tới giao nhiệm vụ đi hỏi cung ngay 2 viên tướng ngụy. Trước khi đi, Tư lệnh bảo tôi: “ Đối với tù binh cấp tướng như Nghi và Sang, đồng chí chỉ cần tìm hiểu 2 vấn đề: một là có khả năng Tổng thống Thiệu bị lật đổ không. Thiệu đổ thì ai lên thay? Hai là, nếu quân ta đánh vào Sài Gòn thì Mỹ có can thiệp không?”. Rồi ông vui vẻ nói đùa: “ Cậu có mái đầu bạc xem ra có vẻ lão tướng. Làm việc này thuận lợi đấy”. Sau khi nhận được lệnh đó, tôi liên lạc ngay với đơn vị đang giam giữ Nghi, Sang và tên cố vấn Mỹ. Đơn vị cho tôi biết là ba người đang ở trước mặt và họ đòi được đối xử tử tế. Tôi ra lệnh dẫn họ về một ngôi nhà tại Suối Dầu, cạnh quốc lộ I, giao lại cho đơn vị cảnh vệ của Mặt trận để tôi trực tiếp xuống hỏi cung. Vệ binh dẫn họ về lúc trời đã tối vì giữa đường xe bị hỏng máy. Trên xe, ngoài 2 viên tướng ngụy còn có một người Mỹ trạc 30 tuổi, từ đầu chí cuối ngồi im lặng, làm như không biết tiếng Việt nên quân ta hỏi gì cũng không trả lời. Nhưng khi màn đêm buông xuống, anh ta sợ quân du kích từ trong rừng ra sẽ xử anh ta nên anh ta lân la lại gần đồng chí lái xe và nói một câu rất chuẩn tiếng Việt: “Tôi có thể phụ giúp các ông việc gì nào?”. Với tay nghề thành thạo, sau 15 phút sửa chữa, anh ta đã làm cho chiếc xe nổ máy và đoàn người lại lên đường. Khi 3 tù binh đã về tới trại giam tạm thời ở Suối Dầu, nam Diên Khánh (Khánh Hòa), tôi chỉ thị cho đơn vị cảnh vệ ở đấy tổ chức canh gác cẩn thận, cho tù binh ăn uống, tắm giặt tử tế, chờ sáng ngày mai sẽ hỏi cung.. 8 giờ sáng ngày 17 tháng 4, cuộc hỏi cung bắt đầu. Giúp việc tôi có đồng chí Mẫn, cán bộ Cục Quân báo và đồng chí Hà Thúc Đại, cán bộ Cục Địch vận. Hai đồng chí này phụ trách ghi cung và giúp tôi về mặt nghiệp vụ. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tư, 2017, 05:58:22 pm Trước khi vào cuộc, tôi hỏi thăm đêm qua họ có ngủ được không, ăn uống thế nào, có điều gì phàn nàn không? Hai tù binh tỏ lời cảm ơn và không có điều gì đề đạt. Tách riêng từng người, tôi hỏi Nguyễn Vĩnh Nghi trước. Nghi sinh năm 1927, đã có vợ và 2 con, đậu tú tài, sau đó học sĩ quan, đã qua các cấp từ úy đến tá rồi đến cấp trung tướng. Gần đây nhất, giữ chức Tư lệnh Vùng 4 (đồng bằng sông Cửu Long). Do không ăn cánh với Thiệu và phạm tội tham nhũng, bị Thiệu điều về làm Giám đốc trường bộ binh Long Thành, sau đó về làm phó cho Tư lệnh Vùng 3, do trung tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ huy.. Sau một vài câu hỏi có tính chất thủ tục ban đầu và trấn an tư tưởng bằng cách nhắc lại một số điều trong chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng, tôi đi ngay vào vấn đề. Tôi cũng không quên nói rõ tình hình chiến sự gần đây và hình thái quân sự hai bên để Nghi nhận rõ thêm tình hình tuyệt vọng của phía Sài Gòn. Tôi nói: - Ông Nghi! Ông thấy đấy, chúng tôi đang lợi thế, sớm muộn sẽ tiến công Sài Gòn. Khi chúng tôi vào Sài Gòn, liệu Mỹ có nhảy vào không và nhảy bằng cách nào? - Xin lỗi ông – Vĩnh Nghi đáp – Đây là một vấn đề thuộc lĩnh vực chiến lược, một vấn đề thuộc cấp trên. - Nhưng ông là tướng, lẽ nào ông không có tầm nhìn và không có ý kiến của riêng mình? - Nếu ông muốn hỏi ý kiến cá nhân thì tôi cũng có thể trả lời. Tôi thấy người Mỹ hứa nhiều, nhưng chẳng làm bao nhiêu. Nói một cách khác, Mỹ ít giữ lời hứa với bạn bè mỗi lúc đụng chạm tới quyền lợi của họ. Vả lại, nước Mỹ cũng đang bê bối lắm. Làm bạn với Mỹ thật khó. - Cám ơn ông đã nói thật suy nghĩ của mình. Thế về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu? Chúng tôi được biết, gần đây ông ta không còn được tín nhiệm trong hàng ngũ tướng lĩnh? Trước tình hình nghiêm trọng như hiện nay mà ông Thiệu là người chịu trách nhiệm chính, ông có nghĩ đến việc ông Thiệu từ chức hoặc bị đánh đổ không? Nếu trường hợp đó xẩy ra, theo ông, ai là người có khả năng lên thay ông Thiệu? - Tôi nghĩ rằng, tình hình đã đến mức nghiêm trọng mà tướng lĩnh chúng tôi thì mỗi người có cách suy nghĩ riêng, có chỗ dựa riêng, khó đồng tâm nhất trí. Hiện nay chỉ có ông Thiệu là người duy nhất đoàn kết được các tướng lĩnh và Quốc dân đồng bào. Nếu ông Thiệu bó tay thì coi như mọi việc đã kết thúc. Nói xong, Vĩnh Nghi nhìn sang một phía khác, cặp mắt lơ đễnh, hình như không muốn nói thêm điều gì. Tôi thấy cần phải đánh vào lòng tự ái của Nghi, khêu gợi sự chống đối của hắn ta đối với Thiệu, người đã hạ bệ mình. Tôi nói: - Ông Nghi! Kể thật khó lý giải vì sao một người như ông, nguyên Tư lệnh Vùng 4, một vùng giàu có, có vị trí chiến lược quan trọng mà phải về làm phó cho ông Toàn, cũng là Tư lệnh một Vùng? Hình như hiểu rõ ý đồ của tôi, Vĩnh Nghi nhẹ cười và nói vắn tắt: - Tôi là một quân nhân. Tôi chỉ biết chấp hành lệnh trên. - Theo ý ông thì tại sao Phan Rang bị thất thủ nhanh như vậy trong lúc các ông đã tuyên bố tử thủ tại Phan Rang? - Đối với người chỉ huy từng trải như ông, điều đó cũng dễ hiểu thôi. Sở dĩ Phan Rang thất thủ nhanh vì 3 lẽ: Một là binh lính mất tinh thần, không chịu chiến đấu. Hai là, chúng tôi thiếu tiếp liệu, thiếu vũ khí, đạn dược cần thiết. Ba là, chúng tôi thiếu thời gian. Xin lỗi ông, nếu chậm một tháng nữa các ông mới tới thì tình hình có thể khác. Đánh vào tự ái của Nghi không được, tôi chuyển sang phương pháp khác. Tôi rót nước, đưa thuốc lá mời Nghi nhưng Nghi từ chối hút thuốc, chỉ uống nước. - Chúng ta có thể kết thúc cuộc nói chuyện tại đây. Ông có đề nghị gì không? - Hiện nay, tôi là một tù binh, tính mạng nằm trong tay các ông. Yêu cầu các ông tuân theo đúng luật pháp quốc tế về vấn đề tù binh mà hiệp định Giơ-ne-vơ đã quy định. Nếu các ông làm khác đi thì tôi xin chịu cả, xin đừng làm hại gia đình, vợ con tôi. Xin cám ơn các ông. Tôi được dịp nói rõ để Nghi an lòng: - Ông thấy đấy, chúng tôi đối xử với tù binh rất nhân đạo. Từ khi ông bị bắt đến giờ, chúng tôi đối đãi với ông chắc không có gì đáng để ông phàn nàn. Nhưng tôi cũng khuyên ông một điều: phải nhận rõ mình là người có tội với dân tộc, với nhân dân, phải biết ăn năn, hối lỗi, thành thật khai báo để lập công chuộc tội. Ông có sớm được về với vợ con gia đình là tùy thuộc thái độ của ông. Ông sẽ được về tuyến sau. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tư, 2017, 06:09:19 pm Đến đây, Vĩnh Nghi hơi chột dạ, hình như muốn nói gì thêm. Tôi không bỏ lỡ dịp tốt: - Tôi còn ít thời gian. Nếu ông muốn chúng tôi sẽ trao đổi thêm về thế cuộc. Không rõ các ông đánh giá thế nào về chúng tôi? - Tôi cũng không có nhiều thông tin. Bộ Tổng Tham mưu cũng chẳng mấy thông báo, chỉ biết là các ông có một số lực lượng mới chuyển từ miền Bắc vào, có ý định đánh chiếm Sài Gòn theo hai hướng, đường 1 và đường 22, sử dụng lực lượng có sẵn tại chỗ là chủ yếu. - Ông có thể phân tích đôi điều về trận chiến sắp tới nếu xảy ra không? - Thật là khó nói lúc chưa có đủ các yếu tố. Về các ông thế nào thì tôi chưa được rõ lắm, tôi chỉ nói về phía chúng tôi. Chúng tôi đang ở thế yếu. Cách phòng thủ Sài Gòn hiện nay là phòng thủ từ xa theo hình vòng cung từ Gò Dầu Hạ, Lai Khê, Biên Hòa, Xuân Lộc, lực lượng mỗi hướng có khoảng một Sư đoàn. Còn trong nội đô thì không có chủ lực, không tổ chức phòng ngự kiên cố, chỉ có lực lượng cảnh sát, địa phương quân, nhân dân tự vệ... Nếu các ông diệt được lực lượng án ngữ vòng ngoài, khống chế và làm tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa và chiếm được hai mục tiêu quan trọng là Bộ Tổng Tham mưu và trại Hoàng Hoa Thám của quân dù thì các ông sẽ làm chủ Sài Gòn, Sài Gòn sẽ sụp đổ nhanh. Thấy thái độ của Vĩnh Nghi đã có chuyển và đã nói ra được những điều mà cả cơ quan tham mưu chiến lược của ta cũng đang cần biết, tôi bèn tranh thủ “lấn sân” luôn: - Ông có nhận xét gì về tác dụng của các sân bay trong hoàn cảnh hiện nay không? - Hiện nay lực lượng bị căng mỏng, lực lượng trù bị còn ít nên phía chúng tôi chủ yếu dựa vào không quân của bốn sân bay Thành Sơn, Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ. Nay sân bay Thành Sơn đã bị mất, chỉ còn lại ba cái mà quan trọng nhất là sân bay Biên Hòa vì toàn bộ máy bay F5 và A37 đều được sửa chữa và bảo trì tại đây, còn sân bay Tân Sơn Nhất và Cần Thơ không có kỹ thuật để bảo trì hai loại phản lực này. Muốn khống chế sân bay, dùng pháo bắn từng đợt cũng tốt, nhưng trong lúc này tôi sợ nhất lối bắn liên tục kéo dài của các ông, cứ 15-30 phút bắn một đợt, mỗi đợt vài phát vào hai đầu đường băng. Như vậy thợ máy không dám ra bảo dưỡng và lắp bom, máy bay không dám cất cánh. - Còn kho tàng, nên phá hủy cái nào? Chiếm giữ cái nào? Sau một giây lát suy nghĩ, Vĩnh Nghi trả lời: - Hiện nay kho Cái Bè và kho Cát Lái là quan trọng nhất. Kho Cái Bè chứa xăng dầu, kho Cát Lái chứa đạn dược. Kho Long Bình chứa hàng hóa và một số vật tư, thiết bị máy móc. Còn chiếm cái nào, phá cái nào là tùy các ông. Tôi gật đầu hỏi chủ bài cuối cùng: - Vùng 4, vùng chiến thuật quan trọng, xưa kia nằm dưới quyền của ông có thể là nơi tử thủ cuối cùng của quân đội Cộng hòa hay không? - Không, trăm ngàn lần không. Tôi chưa bao giờ nghe nói kế hoạch này và tôi tin là không có, vì Vùng 4 không chuẩn bị cơ sở tiếp tế và hậu cần. Trước khi ra về, tôi nói với Nghi: - Ông sẽ được đối xử tử tế theo đúng chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và sẽ được đưa về tuyến sau. Tôi cũng mong ông tiếp tục suy ngẫm về quá khứ và thời cuộc để có hành động tức thời, có lợi cho dân, cho nước, chuộc lại phần nào lỗi lầm đã qua. Vĩnh Nghi không đáp, chỉ cúi đầu chào tôi. Trở lại Sở Chỉ huy, tôi báo cáo lại với đồng chí Lê Trọng Tấn toàn bộ diễn biến cuộc hỏi cung. Sau giây lát trầm ngâm suy nghĩ, đồng chí vui vẻ nói: “Thế là đã rõ. Ngụy quyền dao động, lục đục. Ngụy quân mất sức chiến đấu, khó lòng chống đỡ nổi cuộc tiến công vũ bão của chúng ta. Mỹ cũng đang gặp bê bối không dễ gì quay trở lại can thiệp. Thế là an tâm thực hiện kế hoạch đã định, giải phóng miền Nam. Còn các mục tiêu chiến dịch và cách đánh vào Sài Gòn mà Vĩnh Nghi đã nêu lên, cơ quan Tham mưu cần nghiên cứu thêm để bổ sung kế hoạch tác chiến cho đầy đủ”. Các mục tiêu mà Nghi đề cập đến đúng là những mục tiêu hiểm yếu mà trong kế hoạch tác chiến của ta đã xác định, còn cách đánh táo bạo khôn ngoan để giảm bớt thiệt hại cho dân thường, để thành phố khỏi đổ nát thì làm sao mà tướng Nghi hình dung ra được. Bản cung của tướng Nghi, theo chỉ thị của đồng chí Lê Trọng Tấn đã được điện gấp về Tổng Hành dinh ở Hà Nội để cơ quan đầu não có thêm cơ sở đánh giá tình hình, vững tâm thực hiện kế hoạch giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Tháng 4, năm 2005 L.P.L. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tư, 2017, 06:15:44 pm GIẢI PHÓNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU Thiếu tướng Nguyễn Minh Ninh Nguyên Chính trị viên tỉnh đội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đầu tháng 4-1975, anh Tư Lạc tỉnh đội trưởng Bà Rịa – Long Khánh được bổ nhiệm làm thành viên của Bộ chỉ huy Mặt trận Xuân Lộc, anh Tư Hy được điều về Cấp để lãnh đạo mặt trận Vũng Tàu. Ban chỉ huy Tỉnh đội chỉ còn lại tôi là Chính trị viên và anh Tám Còn, Tỉnh đội phó. Sở chỉ huy cơ bản lúc này đang ở Cô Nhi, suối Thề, nhưng để tiện việc phối thuộc với mặt trận Xuân Lộc, được phép của Quân khu và Tỉnh ủy, chúng tôi đã đặt Sở chỉ huy tiền phương ở xã Cẩm Mỹ, đồng thời điều Tiểu đoàn 445 của Tỉnh ra chốt chặt ở ven lộ 1, đoạn cuối sông Cát, rừng Lá phía đông Xuân Lộc nhằm ngăn chặn tàn quân địch từ Xuân Lộc tháo chạy ra hướng Bắc. Khi chiến dịch Xuân Lộc gần kết thúc thì tàn quân địch tháo chạy theo lộ 1 vào Dầu Giây và lộ 2 vào Bà Rịa, Vũng Tàu. Anh Út Đặng ở Tham mưu Quân khu xuống giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Bà Rịa tổ chức chặn địch trên lộ 2 (phía nam Xuân Lộc), đó là chiều ngày 19 tháng 4 năm 1975. Không để lỡ thời cơ, ngay đêm ấy, các lực lượng của tỉnh đã khẩn trương cơ động về bao vây các đồn bốt địch ở đồn điền cao su ông Quế, đồn Con Rắn ở Cẩm Mỹ, các đồn điền ở Kim Long, Bình Giã, Đức Thạnh, Chi khu Long Lễ ở Hòa Long. Mục đích là mở thông đường, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực tiến công giải phóng Bà Rịa và Vũng Tàu. Qua máy bộ đàm, tôi ra lệnh điều tiểu đoàn 445 về cua chữ S trên lộ 2 và mời các anh Tám Tổng, tiểu đoàn trưởng, Hai Khanh, chính trị viên về gấp cua chữ S nhận nhiệm vụ cụ thể. Phải nói, trận địa phục kích ở cua chữ S rất lợi hại, bởi ở đây, đường vừa quanh co lại lắm dốc đèo, địa hình rất thuận tiện cho việc bố trí hỏa lực. Chiều 20 tháng 4, tất cả các lực lượng đều tập kết đúng vị trí được phân công. Bố trí xong thế trận, tôi thấy thanh thản trong lòng nên chiều 21 tháng 4 mới cùng anh Út Đặng dùng xe máy xuyên qua các rừng cao su kiểm tra tất cả các trận địa, đồng thời vào thăm các cơ sở cách mạng trong đồn điền cao su. Tới đâu chúng tôi cũng được chứng kiến không khí hồ hởi của nhân dân chờ đón quân giải phóng và nhất là lòng khao khát được giết giặc, thể hiện trên từng cặp mắt của người công nhân cao su, những chiến sĩ dân quân, du kích ở khắp các địa phương. Nhá nhem tối, chia tay anh Út Đặng ở Tây Lộ, tôi phóng như bay về Sở chỉ huy tiền phương ở Cẩm Mỹ, lòng mừng vui khấp khởi. Trời tối hẳn, có việc đột xuất, tôi nói Út Lép, em trai tôi, dùng xe Hon Đa 67 quay lại phía tây lộ 2 làm nhiệm vụ. 23 giờ, Út Lép chạy bộ về, xộc vào Sở chỉ huy, vừa thở vừa nói: “Anh Năm ơi. Xe tăng địch xuống quá trời, có tới hàng trăm chiếc.”. Sao không nghe súng nổ ở cua chữ S. Tôi băn khoăn tự hỏi và cũng rất nhanh tự trả lời: Chắc chắn anh em quá mệt nên đã ngủ quên. Tôi ghé tai áp đất, nghe đất rung chuyển rất mạnh. “Nhiều xe lắm”, tôi thầm nghĩ và nhanh chóng trèo lên một điểm cao quan sát. Trước mắt tôi, trong đêm tối mịt mùng, một vệt sáng đèn gầm của đủ các cỡ xe vạch một vệt dài mấy cây số, đoạn đầu đã vượt qua cua chữ S. Việt sáng như con rắn khổng lồ đang lén lút trườn về hướng Bà Rịa. Tôi đánh thức Tám Còn, anh bật dậy rất nhanh, mở bộ đàm liên lạc với tiểu đoàn 445 ở cua chữ S nhưng không được, mạng điện thoại hữu tuyến chưa triển khai xong. Không được phép chậm trễ, anh Tám Còn cắt rừng phóng như bay tới cua chữ S. Một chiến sĩ liên lạc dùng xe máy xuyên qua rừng cao su, lao về phía nam, nơi đó, ở phía đông Xà Bang, có đại đội 41 của huyện Châu Đức do đại đội Châu Kền chỉ huy, thông báo sẵn sàng chiến đấu. Tại Sở chỉ huy, lòng tôi bồn chồn, vừa lo vừa tiếc vì đã lỡ thời cơ diệt địch, để sổng một lực lượng lớn xe pháo và binh lính địch... Bỗng các cỡ súng ở Xà Bang đua nhau nổ. Tôi reo lên: “ 41 giỏi lắm! Châu Kền khá lắm!”. Liền sau đó, tiếng súng của tiểu đoàn 445 nổ dồn dập như đáp lời kêu gọi hợp đồng của đại đội 41. Thế là suốt một tuyến dài mấy cây số trên lộ 2, từ cua chữ S vào tới Xà Bang, tiểu đoàn 445 đánh vào, đại đội 41 đánh ra, đội hình địch bị rối loạn. Xác địch, xác xe ngổn ngang. Cuộc chiến đấu kéo dài tới sáng ngày 22 tháng 4. Tàn quân địch bỏ xe pháo xô đẩy nhau chạy tháo thân về phía nam để tới Bà Rịa, Long Hải, Vũng Tàu. Đông nhất là đám tàn quân chạy vào rừng phía tây lộ 2 để về Cẩm Đường, Bình Sơn, Nhơn Trạch, Long Thành và căn cứ Nước Trong. 10 xe tăng và hàng chục xe quân sự bị bắn cháy, hơn 100 tên bị bắt sống, trong đó có tên đại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tư, 2017, 06:16:08 pm Chiều 22 tháng 4, theo lệnh trên, tôi giải Phạm Văn Phúc về Xuân Lộc. Đồng thời, đón Sư đoàn 3 của đại tá Trần Bá Khuê hành quân qua ngả 3 Tân Phong theo lộ 2 tiến vào Cẩm Mỹ. Những ngày này, dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, nhiều cán bộ đã được cử vào nội thị, nội thành vận động quần chúng chuẩn bị mọi mặt để nổi dậy khởi nghĩa phối hợp với bộ đội, giải phóng quê hương.. Chiều 25 tháng 4, đại quân ta đã tới đập nước xã Châu Pha. Pháo địch từ các trận địa ở Núi Đất, Phước Hòa và máy bay địch quần lượn oanh tạc vào đội hình hành quân của Sư đoàn 3 và các đơn vị phối thuộc. Nhưng đoàn quân vẫn tiến lên và các cỗ pháo mặt đất, pháo phòng không của ta đã buộc các trận địa pháo địch im tiếng, máy bay địch tháo chạy. Ngày 26 tháng 4, trong lúc Sư đoàn 3 đang tiến về thị xã Bà Rịa thì các lực lượng vũ trang và nhân dân toàn tỉnh cũng vùng lên giành quyền làm chủ khắp nơi, giải phóng thị trấn Long Điền, Đất Đỏ, Phước Bửu... Đúng 17 giờ ngày 26 tháng 4, pháo binh của Sư đoàn 3-Sao Vàng đồng loạt nã đạn vào thị xã Bà Rịa và chi khu Phước Thãnh. Khi pháo chuyển làn, bộ binh và xe tăng ta ào ạt tiến công. Được lực lượng biệt động thị xã dẫn đường, bộ đội ta liên tiếp đập tan các cụm đề kháng của địch. Cuộc chiến đấu ở thị xã Bà Rịa và quận lỵ Đức Thãnh kéo dài suốt đêm 26 đến sáng ngày 27. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Chiều ngày 27 tháng 4 năm 1975, thị xã Bà Rịa và tất cả các huyện Long đất, Xuyên Mộc, các thị trấn Long Điền, Đất Đỏ, Phước Bửu được hoàn toàn giải phóng. Mờ sáng 28 tháng 4, tôi và anh Trần Bá Khuê, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 dùng 2 xe jeep theo lộ 15 chạy xuống Vũng Tàu để nghiên cứu tình hình chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Xe tôi chạy trước, do Út Lép lái. Vừa leo đến đỉnh cầu, Út Lép vội vàng quật xe quay đầu lại. Thì ra bọn địch đã đánh sập cầu để cản bước tiến của quân ta. Chúng lập một điểm phòng ngự mạnh ở phía nam cầu. Bộ đội Sư đoàn 3 đã hy sinh khá nhiều trong những trận đánh để vượt sông Dinh. Đội hình tiến công bị chặn lại. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu qua Phước Tỉnh dùng ghe thuyền của dân vượt Cửa Lấp sang mũi Hải Đăng. Đại đội 12 đặc công nước của Vũng Tàu cùng phân đội L22 bí mật vượt sông Dinh trong đêm 28-4 đánh chiếm tàu trọng tải 10 ngàn tấn của địch ở cảng Rạch Dừa, chiếm cầu Rạch Bà, đánh dọc lộ 15 ngược lên cầu Cỏ May. Bị bất ngờ, hầu hết các ổ đề kháng ở tuyến này của địch tháo chạy. Quá nửa đêm 28-4 rạng ngày 29, Tiểu đoàn 3 của Sư đoàn 3 vượt sông Dinh nơi cầu Cỏ May đánh chiếm phía nam cầu. Địch vẫn kháng cự. Trong khi đó, ở hướng Cửa Lấp, Trung đoàn 12 đã vượt sông an toàn, đánh chiếm căn cứ Chí Linh, tiến công cụm phòng ngự Phước Thành. Bị cô lập, bọn địch ở cụm phòng ngự cầu Cỏ May hoang mang dao động. Chớp thời cơ, Tiểu đoàn 3 đã giáng đòn quyết định đánh tan tác bọn địch tại đây, hoàn toàn làm chủ đầu cầu phía Nam. Sáng 29-4, lực lượng còn lại của Sư đoàn 3 và Tiểu đoàn 445 của Tỉnh dùng ghe thuyền vượt sông Dinh nơi cầu Cỏ May tiến xuống Vũng Tàu và ngay trong đêm ấy, các hướng tiến công của quân ta đã vào tới Trung tâm thành phố. Sáng 30-4, ta chiếm Tòa Thị chính. Cờ giải phóng tung bay khắp phố phường. Anh Phạm Văn Hy, bí thư thành ủy, kiêm Chủ tịch ủy ban quân quản Thành phố đọc nhật lệnh kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền nạp vũ khí và cổ vũ nhân dân truy bắt tàn quân địch, dọn dẹp phố phường, ổn định cuộc sống. Hàng vạn tàn quân địch từ miền Trung, từ Xuân Lộc, Bà Rịa dồn về Vũng Tàu chen chúc ẩn nấp khắp các nhà thờ, chùa chiền, trường học để tìm đường chạy ra biển, bỏ lại trên bờ đủ lại xe pháo, súng đạn, chen lấn, tranh giành nhau cướp tàu thuyền của dân tháo chạy. Một số nơi, do bọn chỉ huy ác ôn, chúng ngoan cố chống cự đến cùng buộc ta phải dùng sức mạnh đè bẹp như ở khách sạn Palas. Đó cũng là lúc tôi dẫn tiểu đoàn 445 tới chiếm sân bay Vũng Tàu. Cùng với bộ binh, hải quân ta từ miền trung theo đường biển đã vào tới Vũng Tàu. Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tàu chiến hải quân ta đã đưa Tiểu đoàn 445 của tỉnh và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 của Sư đoàn 3- Sao Vàng vượt biển ra giải phóng và tiếp quản Côn Đảo. BÀ RỊA – VŨNG TÀU HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG. Tháng 4, năm 2005 Hoàng Minh Mẫn ghi. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Tư, 2017, 06:23:00 pm Đại tá Đồng Sỹ Tài, Nguyên Chính ủy E12-F3- Sao Vàng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu I. Ông là người hết sức tâm huyết với lịch sử và truyền thông Sư đoàn, có nhiều kỷ niệm sâu sắc về Sư đoàn, nhất là với trung đoàn 12. Xin trích đăng một số bài viết của Ông. CÓ NHỮNG TRẬN ĐÁNH NHƯ THẾ Cuối năm 1967, Trung đoàn 12 được lệnh biệt phái vào khu Đông tỉnh Bình Định để chuẩn bị cho Tổng tiến công Xuân Mậu Thân (1968). Lúc đó, tôi là chính trị viên Đại đội 53, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 12. Không một ai biết về quy mô chiến dịch xuân 1968, nhưng ai cũng biết vào khu Đồng là vào giữa vùng địch kiểm soát, vào một vùng mà bọn địch tuyên truyền rằng chúng đã đuổi sạch Cộng sản, “bình định” xong vùng nông thôn trù phú sát phía bắc thị xã Quy Nhơn. Nhìn bề ngoài thì đúng như vậy thật. Lúc đó, cả vùng đất phía đông Phù Cát, phía bắc Quy Nhơn hầu như là một vùng trắng. Làng xóm không còn nhà cửa, cây dại mọc um tùm. Ngoài đồng chỉ có cỏ với cỏ, có nơi cỏ ngập đầu người. Mùa khô, nước rút xuống sông, để lại từng hố bom, tôm cá nhiều vô kể, làm mồi cho chó và mèo hoang. Vùng đất mà chúng nói có thể đặt vào lồng kính để minh chứng cho sự thành công của chiến lược “bình định” nông thôn là như thế đó. Dân cư bị chúng dồn vào các ấp ven trục lộ và quanh thị trấn, thị tứ như chợ Gốm, Phù Ly, Đề Dy, Đập Đá v.v.... Giữa khu Đông mênh mông đó, tạo hóa đã kiến tạo nên một ngọn núi cao 318m, gọi là Núi Bà, trên đỉnh có một hòn đá rất lớn mà nhân dân gọi là Hòn Vọng Phu. Núi Bà nằm gọn trọng địa phận huyện Phù Cát, sát bờ biển Đông, cây cối lúp xúp ở lưng chừng núi. Trên đỉnh là cỏ tranh, chỉ các khe suối là có cây cối tương đối cao. Điều kỳ diệu là có rất nhiều hang đá, có những hang đá liên hoàn suốt một con suối, nước ngầm chảy dưới hang. Có những khu vực, đá tảng rất to nhưng lại nằm xen giữa cây cối um tùm... Đúng là thiên nhiên đã ban tặng cho Cách mạng một khu căn cứ lý tưởng để đương đầu với bom đạn giặc Mỹ. Không có Núi Bà thì cơ sở Cách mạng Khu Đông tỉnh Bình Định không thể tồn tại được. Địch rất biết sự lợi hại của địa thế Núi Bà nên suốt 2 năm 1966-1967 càn đi quét lại không biết bao nhiêu lần. Nhưng địch càn phía trước ta lại vòng phía sau, địch càn phía Tây ta lại vòng ra phía Đông v.v... chúng không sao quét sạch được cơ sở của ta. Khi chúng tôi vào Núi Bà thỉnh thoảng lại gặp những hang đá sặc mùi chất độc hóa học, trong đó có rất nhiều xương người ngổn ngang. Hỏi ra mới biết đó là những gia đình đồng bào không chịu khuất phục chế độ Ngụy, lên núi, lấy các hang đá làm nhà. Bọn Nam Triều Tiên càn quét kêu gọi đầu hàng không được đã ném lựu đạn hóa học vào giết chết cả gia đình họ .... Bên trong sự hoang tàn đầy vẻ chết chóc ấy, lúc bấy giờ đã sục sôi một cuộc bạo động Cách mạng. Đêm đêm, từng tổ chiến sỹ trinh sát, từng tổ chiến sỹ giao liên, từng tổ chiến sỹ thông tin âm thầm dẫn các đoàn quân từ các ngả tiến vào Núi Bà. Họ đi xuyên qua các tuyến bố phòng bằng mìn của địch, có khi đi sát căn cứ bọn Nam Triều Tiên để vào Núi Bà. Phải mất một tháng, Trung đoàn 12 mới đưa hết đội hình vào các vị trí đóng quân ở Núi Bà. Từ các nguồn tình báo và phát hiện một số dấu vết do ta để lại qua các cuộc hành quân, bọn Nam Triều Tiên tổ chức cuộc càn lớn, cỡ trung đoàn vào Núi Bà để truy quét, tiêu diệt, đẩy lực lượng ta ra khỏi dãy núi lợi hại này. Theo quy luật, thông thường trước mỗi cuộc càn, địch cho ném bom, bắn pháo cực kỳ dã man rồi mới đổ quân. Nhưng lần này, có lẽ chúng định đánh bất ngờ nên chỉ bắn pháo vài tiếng đồng hồ vào các khu vực nghi vấn rồi ào ạt đổ quân xuống vùng Sơn Lại Sứ, một khu vực khá bằng phẳng ở mạn phía tây núi Bà. Ở đây chỉ có những gộp đá nửa nổi nửa chìm chen lẫn các bụi cây lúp xúp. Từ đây, chúng chia quân đi lùng sục, phục kích các con đường mòn ta hành quân di chuyển. Ta chủ trương chỉ đánh nhỏ lẻ như du kích để bảo tồn lực lượng và bí mật quân chủ lực. Bọn Nam Triều Tiên ranh ma, chỉ qua tiếng súng đã biết chủ lực ta xuất hiện. Thế là chúng tăng thêm quân và tăng những đợt ném bom, bắn phá vào các khe đá nghi ngờ ta giấu quân. Tại trạm Mật, thôn Tân Hóa, xã Cát Hanh, nơi đứng chân của Tiểu đoàn 4, địch đã ném bom suốt 2 ngày liền. Một con suối dày đặc hang đá to lớn bị bom nghiền nát như bãi đã vôi. Bụi đá bốc lên mù mịt. Chưa đánh trận nào mà Tiểu đoàn 4 đã thiệt hại nặng nề. Đồng chí Chính ủy Trung đoàn 12, Lê Hoài Thanh hôm đó hành quân cùng Tiểu đoàn 4 đã bị thương nặng, may nhờ có chiến sỹ cần vụ Lê Huy Liệu dũng cảm cõng ra khỏi vòng vây quân Nam Triều Tiên mới thoát nạn. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2017, 10:59:16 am Tiểu đoàn 5 được lệnh cơ động đánh vào sau lưng địch để kéo giãn chúng ra. Địch lại thêm quân đối phó với Tiểu đoàn 5. Đại đội 51, Đại đội 52 (Tiểu đoàn 5) đã đánh một trận tao ngộ chiến ở Sơn Lại Sứ, tiêu diệt gần hết một Đại đội Nam Triều Tiên, bắt sống 5 tên lính Nam Hàn (nhưng ta khó khăn trong việc dẫn dắt và nuôi tù binh nên đã nhét truyền đơn vào túi chúng rồi phóng thích tại trận). Đại đội 53 của tôi lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ Bệnh xá Trung đoàn. Suốt 3 ngày liền đánh địch bật khỏi suối đá để bảo vệ thương binh. Đơn vị rơi vào tình trạng hết gạo ăn. Cả đại đội gần 60 người chỉ còn nửa ruột nghé gạo ( khoảng 3kg). Thấy bộ đội đánh giặc bị đói, đồng chí Phúc, Chính trị viên Bệnh xá cử người mang sang chi viện cho Đại đội nửa ruột nghé gạo (khoảng 3kg). Anh chuyển lời cho tôi rằng: một miếng khi đói bằng một gói khi no. Đây là tấm lòng của anh em thương binh, mong các anh đánh thắng giặc thì gần 20 thương binh của Bệnh xá mới bảo đảm an toàn. Như vậy, cả Đại đội có khoảng 6kg gạo. Nếu nấu cơm không được mỗi người một bát, nhưng lúc đó cũng không thể nổi lửa để nấu cơm vì địch ở xung quanh, lại chiếm các mỏm núi nên rất dễ bị chúng phát hiện. Tôi phải triệu tập Chi bộ họp chớp nhoáng, chuyên đề bàn cách lãnh đạo bộ đội giữ vững ý chí chiến đấu và bàn phương hướng sử dụng số gạo thế nào cho có hiệu quả. Chi bộ lúc đó có 5 đảng viên, gồm tôi, đồng chí Xanh, đại đội trưởng, đồng chí Vinh, đại đội phó, đồng chí Thăng, tiểu đội trưởng Tiểu đội hỏa lực thượng liên và đồng chí Thoảng, trung đội trưởng. Rà xét quyết tâm chiến đấu ai cũng yên lòng vì bộ đội vẫn vững vàng, nhưng trong tâm tư ai cũng lo hết gạo, bộ đội sẽ mất sức chiến đấu. Giữa khu chiến, bên ngoài không tiếp tế lương thực vào được. Tôi nêu vấn đề: chỉ có tích cực đánh địch mới bảo vệ được mình, đẩy chúng ra mới có đường sống. Chi bộ biểu quyết và tinh thần đó đã được tất cả cán bộ chiến sỹ nhất trí. “Hết gạo cũng đánh, đánh để có đường đi lấy gạo”. Đó là quyết tâm của mọi người lúc ấy. Trước mắt, số gạo hiện còn 6kg, phải sử dụng thế nào đây? Sau khi thảo luận, Chi bộ nhất trí, mỗi người mỗi bữa được 2 thìa gạo nhai sống để lấy chất bột, còn lại là tìm rau rừng (rau diếp dại), lá rừng (lá bứa, lá giang), quả rừng (sim, ổi) để ăn. Anh em thương binh và bộ phận hỏa lực tiêu chuẩn khá hơn chút ít. Đúng là “tình thế như thế nên đành phải thế” không còn cách nào hơn. Đồng chí Đỗ Đức Xanh. Đại đội trưởng (quê Thanh Miện, Hải Dương) đã qua cương vị Trung đội trưởng, Đại đội phó phụ trách hậu cần, vốn có tác phong tỉ mỉ, chặt chẽ, giờ đây được giao nhiệm vụ quản lý và phân phát số gạo đúng Nghị quyết Chi bộ. Ai cũng yên tâm. Suốt một tuần lễ sau đó, Đại đội tôi liên tục chiến đấu 5 trận với một tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên. Khi bọn địch chủ động đánh vào Đại đội thì Đại đội lại luồn lách ra nơi khác để chúng đánh vào chỗ trống. Khi địch dừng lại phục kích thì ta lại chủ động tập kích. Tuy đánh nhỏ lẻ cỡ Đại đội, Trung đội nhưng ta hoàn toàn chủ động theo cách đánh của mình, làm cho tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên bị tiêu hao đáng kể. Những trận đánh của Đại đội tôi và Tiểu đoàn 5 đã có tác dụng kéo dãn địch ra, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 cùng các lực lượng của Tỉnh tiến sâu vào phía Nam, chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968. Sau đợt chiến đấu, Đại đội rút kinh nghiệm. Ai cũng phấn khởi vì đã vượt qua được thử thách khắc nghiệt ban đầu để trụ đứng ở khu Đông Bình Định. đồng chí Trần Văn Soạn, một sinh viên khoa Văn Trường đại học Sư Phạm đã làm 4 câu thơ khá thú vị: Bảy ngày 5 trận có sao đâu Thắng trận như xưa thắng trận đầu Gạo hết, rau rừng ăn lót dạ Bảy ngày 5 trận đã sao đâu! Ngày xưa, các cụ ta có câu “Bảy ngày 3 bão biết cây cứng mềm”. Vận vào Đại đội tôi trong đợt hoạt động này “Bảy ngày 5 trận” có lẽ phải cứng hơn sắt thép. Đối với tôi, đó là một trong những kỷ niệm không bao giờ quên. Không có những người lính như thế thì không thể có những trận đánh như thế. Và nhờ đó mà cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta mới toàn thắng! Thái Bình, tháng 6 năm 2009 Đ.S.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2017, 11:06:50 am MÁ HƯƠNG Tên “Cái” của má là gì chúng tôi cũng chẳng ai hay, mọi người trong đơn vị thường gọi má là má Hương và cũng có người gọi là má Ngọc. Hương là tên người chồng của má, ông tham gia kháng chiến hồi 1949-1950, là cán bộ huyện An Lão. Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, ông cùng đoàn cán bộ của tỉnh ra tập kết ở miền Bắc. Còn Ngọc là tên người con trai duy nhất của ông bà, khi ông đi tập kết, Ngọc mới được 2 tuổi. Chúng tôi nghe má kể lại, khoảng từ năm 1957 đến cuối 1959, bọn chính quyền Nguỵ ở cơ sở ra sức bắt bớ giam cầm, tra tấn những người trong các gia đình mà chúng gọi là “Kháng chiến cũ”. Đối với má, mỗi năm cũng phải 3, 4 lần chúng gọi lên quận giam giữ, tra hỏi, đánh đập, bắt phải khai báo về việc liên lạc với chồng và bắt má làm giấy li khai ông Hương, vì ông hoạt động kháng chiến, là “phản bội Quốc gia”. Mỗi lần chúng tra tấn, thân hình má tím bầm ngày càng tiều tuỵ, có lần chết đi sống lại. Nhờ có sự giác ngộ cao độ về lòng căm thù bè lũ cướp nước và bọn bán nước, má Hương tỏ ra là người “bướng bỉnh”, chẳng bao giờ khai ra một điều gì có hại cho Cách mạng. Bọn mật vụ cứ nghe tên má ở thôn Long Khánh là chúng đã “ngán ngẩm” rồi, chúng bảo “Con mụ này ngoan cố” lắm, đánh mấy cũng không hề khai báo được chút gì, cũng không làm giấy li khai “Cộng sản”. Từ cuối năm 1972 trở đi, đơn vị chúng tôi lấy thôn Long Khánh làm hậu cứ. Thôn Long Khánh nằm sát trục đường chiến lược số 5 từ Bình Định qua Quảng Ngãi, cách thị trấn, quận lỵ An Lão chừng 4,5km. Sau chiến dịch, đơn vị lại về đây củng cố rút kinh nghiệm và chuẩn bị mọi mặt cho những trận đánh tiếp sau. Ở nhà má Hương, bọn tôi được má chăm sóc quý mến như chính đứa con má sanh ra. Mỗi khi ở mặt trận về, má chú ý xem, những đứa nào trong số chúng tôi vắng mặt. Đứa nào vắng là má đã “nghi nghi” rồi. Má nói “đánh nhau thì phải mất mát tránh sao khỏi, cầu mong cho tụi bay tai qua nạn khỏi là má mừng rồi”. Bao giờ cũng vậy, mỗi khi chúng tôi từ trận địa về, má cũng nấu nồi xôi hoặc bí lắm cũng luộc mấy củ mì (sắn), thắp hương khấn tổ tiên rồi gọi tất cả bọn tôi tới “liên hoan”, má gọi đó là “Mừng thắng lợi”. Má bảo “Nhà má nghèo lắm, không có gì giúp các con bằng vật chất, má chỉ có tinh thần và giúp được việc gì thì má sẵn lòng”. Bữa “liên hoan” hôm nay thiếu thằng Quyết, má hơi buồn. Má bảo: “Tụi bay giấu má chứ thằng Quyết nó hi sinh rồi. Tội nghiệp cho nó, có được mai táng tử tế không”. Tối đó má lại nấu xôi và cắt một nải chuối đã ương ương ngoài vườn. Xôi chuối đặt lên một cái bàn nhỏ thắp hương, má lầm bầm khấn khấn, vái vái hương hồn thằng Quyết. Sau đó má lại gọi mọi người đến ăn, má bảo không ăn là chê của má, là có tội với người đã ra đi. Tụi bay phải ăn, có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít cho má vui. Quyết là lớp thanh niên còn rất trẻ, quê ở Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc (cũ). Học xong phổ thông tình nguyện vào Nam chiến đấu, được bổ sung về đơn vị. Hiền lành, chịu khó lại bảnh trai, cả đơn vị ai cũng quý mến. Đặc biệt má Hương thì coi Quyết như đứa con đẻ ra, có cái gì cũng dành phần “thằng Út”. Làm vườn về kiếm được củ mì (sắn) cho vào bếp nướng cũng dành cho thằng Út. Má bảo má không có con gái, nhưng sau thắng lợi, nếu thằng Út nó ưng thì má làm mai đứa cháu gái của má cho, rồi ở đây với má. Chúng tôi ở nhà má, ngày nào cũng vậy, má ra vườn, lên nương, ra bờ suối hái đủ thứ rau: rau muống, rau dền, rau tàu bay, rau sắn, rau dệu v.v... gọi là rau tập tàng hàng rổ mang về cho nuôi quân. Má bảo để “bồi dưỡng” cho tụi nó. Chiều đến cầm cái giỏ, má lại “lang thang” đi ra gần thị trấn An Lão để nghe ngóng và nắm tình hình, vì ở cái thị trấn miền núi này có các “bà buôn” từ thị trấn Bồng Sơn và thị xã Quy Nhơn về. Địch có làm gì là các bà nắm được hết, bởi ta có cơ sở ở vùng tạm chiếm cung cấp tin tức qua hệ thống các “bà buôn”. Cứ như thế hết ngày này qua ngày khác, công việc của má cứ đều đều, có nhiều tin má cung cấp rất có giá trị, giúp cho ta chủ động đối phó với địch, vừa giành thắng lợi vừa bớt tổn thất. Mọi người phong cho má danh hiệu “Trinh sát làng”. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2017, 11:07:34 am Ngọc là đứa con trai duy nhất của má. Khi ba Hương đi tập kết, Ngọc mới 2 tuổi chưa biết gì, lúc chúng tôi về ở nhà má thì Ngọc đã ở tuổi thanh niên. Ngọc hăng hái hoạt động, đã tham gia làm liên lạc cho xã đội. Ban đêm tham gia tuần tra, canh gác để bảo vệ vùng giải phóng. Khi có công văn của xã đội, dù khó khăn mấy Ngọc cũng hoàn thành. Đã mấy lần Ngọc gặp tôi nằng nặc xin vào Bộ đội Giải phóng, Ngọc nói: “Ở nhà buồn lắm, nhất là khi bộ đội hành quân đi thì buồn ơi là buồn”. Nhưng khốn nỗi, má Hương có chồng đi tập kết, ở nhà má chỉ có mỗi mình Ngọc nên các anh ở xã có ý định giữ Ngọc ở lại hoạt động để bồi dưỡng nguồn Xã Đội trưởng khi cần và lại nữa, để má đỡ trống vắng. Vì theo các đơn vị ở địa phương cho biết thì Ngọc là một trong số thanh niên trung kiên của địa phương. Hỏi ý kiến má thì má chỉ trả lời: “Tao chỉ có mình nó. Bọn bay muốn làm sao cũng được. Vào Quân Giải phóng cũng được, ở nhà hoạt động cũng được, miễn sao nó xứng đáng với ba nó ngoài kia, nó hoạt động tốt là má mừng”. Những lúc yên tĩnh, má ngồi nhai trầu và giãi bày tâm sự, má bảo: “giá như nó chấp hành đúng Hiệp định thì đâu đến nỗi. Chỉ hai năm sau hiệp thương thống nhất đất nước làm sao tụi tao phải khổ thế này, tụi bay làm gì phải ngoài ấy vào đây mà gian khổ, hi sinh như vậy. Tất cả là do bọn cướp nước và quân bán nước mà thôi”. Trầm ngâm một lúc, má nói tiếp: “Các con có biết không, cái thôn Long Khánh này rất rộng, người rất đông, đất đai màu mỡ, xóm làng trù phú như thế mà bây giờ thì trông thật hoang tàn, chỉ còn lưa thưa mươi lăm gia đình. Ruộng đất thì hoang hoá, cây cối thì bom pháo, chất độc hoá học nó làm trụi sạch trơn. Ôi, không đánh thì nó cũng làm khổ dân mình, cho nên phải đánh. Cụ Hồ đã dạy phải quyết giành lấy Độc lập, Tự do kia mà. Đánh thì hao người tốn của, có hao người tốn của thì mới mong có ngày hoà bình. Má chỉ mong sao đến ngày đó, lúc đó có chết cũng sướng”. Nghe những lời tâm sự của má, lòng chúng tôi như nghẹn lại. Vâng thưa má, chúng con hiểu, phải đánh để giành lấy độc lập tự do, mất độc lập tự do là mất tất cả. Thế rồi chiến dịch Xuân Hè 1975 đến, chúng tôi lại ra đi. Trước ngày chúng tôi lên đường, má lại nấu xôi, lần này má nấu xôi trộn dừa nạc. Cúng tổ tiên xong má lại gọi tất cả vào ăn, thằng nào vắng má để phần. Vừa ăn má vừa dặn dò: “Các con ra trận nhớ về đông đủ nghe, tụi bay đi má buồn lắm đó. Má dặn điều này, ra trận đánh nhau phải cẩn thận đó nghe, cẩn thận không bao giờ thừa, má chỉ mong thắng trận trở về đông đủ là má mừng rồi...”. Chúng tôi đều im lặng, thấm từng lời má nói. Chính má đã lo cho chúng tôi tất cả, má lo cho chúng tôi như đứa con đẻ của mình. Bỗng tôi lại nhớ đến bài thơ của nhà thơ Tố Hữu: “Bao bà cụ từ tâm làm mẹ Yêu quý con như đẻ con ra” Lại nhớ đến người mẹ già của tôi ở miền quê xa xôi, chắc giờ đây mẹ cũng trông mong tôi “chân cứng đá mềm” và lại nữa, mong đến ngày toàn thắng trở về. Thế là chiến dịch Xuân Hè 1975 ấy, chúng tôi đi và cứ thế đi mãi cho tới chân trời góc biển, đến nơi tận cùng Tổ quốc, vì “vận nước” đã đến rồi. Thời cơ bao nhiêu năm cuộc chiến đấu đầy hi sinh gian khổ, ngày thắng lợi hoàn toàn đã đến rồi, không thể chần chừ được nữa. Giải phóng xong Bình Định chúng tôi được vinh dự tham gia chiến dịch cuối cùng mang tên Bác – Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng các đơn vị bạn đánh đuổi giặc như thế “chẻ tre”. Ngày 30-4, lúc 11 giờ 30 phút, Sài Gòn giải phóng, cờ Cách mạng phần phật bay trên nóc toà nhà “Dinh độc lập” thì đạo quân của chúng tôi có mặt tại thành phố Vũng Tàu, thành phố xinh đẹp trên bờ biển Đông ấy, dưới ánh nắng vàng rực rỡ hoà quyện với màu xanh của biển cả đã chứng kiến sự thất bại thảm hại của chế độ Nguỵ Sài Gòn do đế quốc Mỹ đã dựng lên. Hôm nay, đầy đường đầy bãi, đâu đâu cũng thấy giày đinh, mũ sắt, vũ khí trang bị vứt ngổn ngang toàn của Mỹ, đã trở thành bãi rác khổng lồ. Sau ngày đó chúng tôi cùng nhân dân dọn dẹp để khỏi ô uế mùi chiến tranh, dọn để mảnh đất này mãi mãi xanh tươi, cho nước biển Đông này mãi mãi trong xanh. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi lại về làng Long Khánh, về thăm má Hương. Vừa đến đầu làng, thì bà con trong thôn ùa ra đón, ai ai cũng mừng mừng tủi tủi. Riêng má Hương, đôi mắt đỏ hoe, má hỏi cụ thể từng người có khỏe không, có đứa nào sao không. Bây giờ hết giặc rồi, tụi bay có về với má, với bà con ở cái làng Long Khánh này nữa không. Chắc giải phóng rồi tụi bay về phố xá ở chứ gì? Má vừa nói vừa suy ngẫm những điều gì sâu kín. Thế là từ đó chúng tôi xa má Hương, xa làng Long Khánh thân yêu ấy. Chính má và mảnh đất ấy đã bao năm chở che nuôi dưỡng chúng tôi, tạo cho chúng tôi sức mạnh và niềm tin tất thắng. Tôi còn nhớ đã nhiều lần, đồng chí Nguyễn Trọng Dy, Chính uỷ trung đoàn tôi thường nói với mọi người trong đơn vị: “Mỗi suy nghĩ, mỗi việc làm của các bà má miền Nam nói chung và má Hương ở thôn Long Khánh nói riêng làm cho chúng ta cứng cáp hơn, vững vàng hơn trong cuộc chiến đấu đầy khó khăn gian khổ này. Đó chính là sức mạnh tinh thần chỉ có cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có”. Thời gian đã 35 năm rồi, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hình ảnh má Hương và thôn Long Khánh thân yêu không bao giờ tôi quên được. Thái Bình, tháng 5 năm 2009 Đ.S.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2017, 11:13:05 am VỀ HOÀI CHÂU – MẢNH ĐẤT ANH HÙNG! Mùa thu này chúng tôi về lại Bình Định. Bình Định – mảnh đất ấy đối với chúng tôi- những người lính Sư đoàn 3 anh hùng không thể nào quên, nhiều người trong chúng tôi đều nói: “ đây là quê hương thứ hai...”. Còn tôi, gần 11 năm gắn bó với mảnh đất này, những năm tháng đánh Mỹ đầy khó khăn, gian khổ ấy, chính nơi đây là điểm tựa cho tâm hồn và ý chí của tôi, chính nơi đây đã che chở, đùm bọc, nuôi dưỡng tôi và đồng đội của tôi. Thật vậy, đồng bào, đồng chí ở đây không tiếc một thứ gì khi chúng tôi cần đến cho cuộc chiến đấu sống mái với quân thù. Về Bình Định, chúng tôi lại về cùng cát trắng Hoài Châu, mảnh đất có Đồi 9, Đồi 10, những địa danh đã in sâu trong trí nhớ chúng tôi. Những năm chống Mỹ cứu nước của thế kỷ 20, chính nơi đây là khu vực giành đi giật lại với kẻ thù. Bởi lẽ chiếm được xã Hoài Châu, chiếm được Đồi 9, Đồi 10 sẽ khống chế cả một vùng rộng lớn từ Đông sang Tây, là tai mắt để bảo vệ đoạn đường số một, cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Bình Định, là bàn đạp để tấn công các xã phía Tây và Tây Nam huyện Hoài Nhơn, khống chế và uy hiếp hậu cứ của Sư Đoàn 3, của lực lượng vũ trang tỉnh ở An Lão, Hoài Ân...Vì vậy, Đồi 9, Đồi 10 xã Hoài Châu vừa có ý nghĩa chiến thuật vừa có ý nghĩa chiến dịch, đối với cả ta và địch. Những năm tháng đánh Mỹ, quân và dân nơi đây đã bền bỉ anh hùng chiến đấu “ một tấc không đi, một ly không rời”, quyết không để kẻ thù chiếm được Đồi 9, Đồi 10 và xã Hoài Châu nói chung. Đã có biết bao chiến sỹ Sư đoàn 3, lực lượng vũ trang địa phương và đồng bào nơi đây đã thấm đẫm mồ hôi, xương máu để giữ cho được mảnh đất quan trọng này hàng mấy chục năm trời cho đến ngày toàn thắng. Chả thế mà xã Hoài Châu đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý “ Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Xã Hoài Châu trước đây, nay chia thành 2 xã là xã Hoài Châu Bắc và xã Hoài Châu, chỉ có khoảng 8000 dân mà trong hai cuộc chiến tranh đã có tới 1752 liệt sỹ, hàng trăm thương bệnh binh, 154 bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 3 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Có thể nói, đây là một trong những xã có số lượng liệt sỹ, thương binh, bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhiều nhất của tỉnh Bình Định. Chúng tôi về thăm Nhà Truyền thống nhân dân của thôn Liễu An, chỉ một thôn đã có danh sách 236 liệt sỹ, 22 bà mẹ Việt Nam Anh hùng được khắc trang trọng trên bia đá. Nhà Truyền thống này là sáng kiến của các cụ trong thôn đã nghỉ hưu, tổ chức quyên góp và xây dựng. Ông Phan Thanh Bình, trong thời kỳ đánh Mỹ là Tỉnh Đội trưởng nói với chúng tôi: “ Thiết nghĩ, có bạc tỷ để lại rồi cũng hết, xây dựng một công trình đền ơn đáp nghĩa thế này thì có thể lưu lại cho con cháu mãi mãi sau này...” Nghĩa trang đặt ở chân Đồi 10 là nơi yên nghỉ của gần ngàn con em trong xã và các nơi được quy tụ về đây. Hàng năm, vào ngày lễ, ngày tết đồng bào trong xã lại đến đây thắp hương để tưởng nhớ những liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp cao cả của dân tộc. Chúng tôi đến thắp hương tại nghĩa trang này, hàng ngàn bà con đang làm nhiệm vụ nâng cấp, sửa chữa. Tôi hỏi một chị chừng 30 tuổi, chị nói: “ nâng cấp sửa chữa để chuẩn bị cho năm 2007, kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sỹ, đây là việc làm “ đền ơn đáp nghĩa” các chú ạ...” Nhân dịp này, chúng tôi ghé thăm nhà bà Nhương, người mà trong những năm đánh Mỹ, lúc hiểm nghèo bà đã dành sữa của mình nuôi thương binh Sư đoàn 3 - Nguyễn Văn Bình. Đến đây chúng tôi cảm thấy như một phòng truyền thống thu nhỏ, phòng nhà ngoài hai gian, xung quanh tường trang trọng treo 5 bằng Tổ quốc ghi công, một bằng Bà mẹ Việt Nam anh hùng và nhiều huân, huy chương, phần thưởng cao quý Nhà nước trao tặng. Bà khiêm tốn nói: “ ở đây có nhiều gia đình, chứ không riêng nhà chị có số người hy sinh thế này đâu...” Về lại Hoài Châu hôm nay, cảnh và người đã thay đổi hẳn, nhà xây lợp ngói, nhà mái bằng san sát. Chợ Hoài Châu ngay chân Đồi 10, hằng ngày người khắp nơi tấp nập mua bán những sản vật do chính bàn tay lao động của người dân ở đây làm ra. Các trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, bưu điện văn hóa, bệnh xá ... được xây dựng khang trang, đường giao thông liên thôn, liên xã theo phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm” được mở rộng và bê tông hóa, đời sống về mọi mặt của nhân dân được nâng lên, an ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm, không trộm cắp, không có người nghiện hút, không có người nhiễm HIV...Vườn tược, đồng ruộng xưa kia hoang tàn, đứng làng này trông sang làng khác mồn một, nay vườn dừa, ruộng lúa, ngô, khoai xanh như một tấm thảm tận từ chân núi Thành Sơn ra bãi biển Tam Quan. Ai mới đến đây không thể biết vùng đất này đã từng có chiến tranh tàn khốc. Tôi để ý xem có còn “chứng tích” gì của chiến tranh để lại. Thấy tôi đăm chiêu, chị Quốc- người thôn Quy Thuận nói ngay: “ trước đây thì bom cày đạn xới tan hoang là như vậy, bây giờ chỉ còn một mảng tường khoảng chừng hơn 2m2 của nhà thờ Quy Thuận”. Nhà thờ Quy Thuận là một trong những nhà thờ lớn ở vùng này, là nơi tôn nghiêm dành cho đồng bào theo đạo Thiên chúa đến cầu nguyện, thế mà trải qua chiến tranh, nay chỉ còn lại duy nhất một mảng tường nhỏ. Phải chăng mảng tường nhỏ ấy đã nói lên tất cả, là chứng tích của chiến tranh, là tội ác của kẻ thù, phải chăng mảng tường ấy phải được giữ lại, giữ lại nó sẽ là tài liệu sống để giáo dục con cháu chúng ta hôm nay và mai sau. Về Hoài Châu, chúng tôi được dự “ Lễ hội Đồi 10” do Huyện ủy , UBND huyện Hoài Nhơn cùng với xã Hoài Châu Bắc tổ chức, đón nhận “ Di tích lịch sử Đồi 10 - cấp Nhà nước” trong chống Mỹ cứu nuớc. Chúng tôi được gặp lại nhiều gương mặt thân thương trước đây đã cùng nhau “nằm gai nếm mật”, gặp lại bà con, cô bác nơi đây sau hơn 30 năm xa cách. Trong buổi hội ngộ thân tình này, chúng tôi vừa vui vừa bùi ngùi khó tả. Vui vì Hoài Châu đang đổi mới và phát triển, vui vì được gặp lại những người thân lâu nay mong đợi...xen lẫn những niềm vui ấy, chúng tôi không khỏi bùi ngùi nhớ tới các đồng chí, đồng đội, đồng bào đã cùng chúng tôi chiến đấu, nay đất nước hòa bình thì họ không còn nữa, họ mãi mãi nằm dưới lòng đất mẹ để cho mảnh đất này mãi mãi tươi xanh...Chúng tôi tự nhủ: vinh quang này mãi mãi thuộc về họ, mọi người chúng tôi và tất cả chúng ta mãi mãi biết ơn họ, nguyện làm những việc thiết thực để “ Đền ơn đáp nghĩa”, thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sỹ ( 27/7/1947- 27/7/2007). T hái Bình, năm 2007 Đ.S.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2017, 11:22:15 am HOÀI CHÂU - NHỮNG NGÀY SAU HIỆP ĐỊNH PARIS NĂM 1973 Trước khi Hiệp định Paris được ký kết, phản bội lòng mong mỏi của nhân dân ta được sống trong hòa bình sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn khốc, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Ngụy Sài Gòn đã điên cuồng gào thét chiến tranh. Hiệp định Paris về Việt Nam đã bị Thiệu xé toang ngay từ khi chữ ký chưa ráo mực, súng vẫn nổ, máu vẫn đổ sau ngày 28 tháng Giêng – ngày Hiệp định Paris có hiệu lực... Cũng như các nơi khác trên địa bàn tỉnh Bình Định, nơi Sư đoàn 3 đứng chân hoạt động, chiến sự vẫn tiếp diễn, máu của chiến sỹ và đồng bào ta vẫn đổ. Sáng ngày 28-1, tên Nguyễn Văn Toàn – Tư lệnh Quân đoàn 2 Ngụy đã ra lệnh cho Sư đoàn 22 bộ binh, một liên đoàn biệt động cùng năm chi đoàn xe bọc thép, bốn tiểu đoàn pháo binh và toàn bộ lực lượng không quân ở ba sân bay trong tỉnh mở ba cuộc tấn công ồ ạt vào ba khu vực Nam Bồng Sơn – Bắc Phù Mỹ, Bắc Bồng Sơn – Nam Đệ Đức và Bắc Tam Quan – Nam Bình Đê nhằm khai thông đường số 1 và giành lại hai cửa biển là Tam Quan và cảng biển Sa Huỳnh. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra liên tục và quyết liệt. Trong lúc những trận đánh ác liệt đang diễn ra ở cầu Vợi – Lại Khánh và các nơi khác thì trên Đồi 9, Đồi 10 thuộc xã Hoài Châu (Hoài Nhơn), bọn địch vẫn tỏ ra “chấp hành nghiêm túc” Hiệp định Paris. Ở những khu vực đó, Sư đoàn 3 - Sao Vàng và địa phương chủ trương mở các cuộc tiếp xúc giữa ta và địch, dựng cổng chào, dựng cờ hòa hợp. Thông qua các cuộc tiếp xúc này, ta đã trao cho các sỹ quan Ngụy những văn bản về Hiệp định Paris, những chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam... Đồng thời cũng trao cho chúng những tài liệu tố cáo hành động vi phạm của quân đội Ngụy Sài Gòn, kêu gọi họ hãy chấp hành đúng những quy định của Hiệp định để nhân dân yên ổn trong cảnh hòa bình làm ăn sinh sống... Qua nhiều buổi tiếp xúc, bọn sỹ quan, binh lính ở đây đã phân biệt được bản chất hai chế độ và dần dần trở thành nỗi ám ảnh trong tư tưởng họ. Trạm tiếp xúc ở Đồi 9, Đồi 10 đã không dừng lại ở các nhà “hòa hợp” với mấy tên sỹ quan tâm lý chiến của địch, đồng bào còn tổ chức thành từng tốp năm người, bảy người gồm những bà, những chị có trình độ vừa thuyết phục vừa nắm được lý lẽ để “trả miếng” bọn chúng. Khi gặp địch cản lại, các bà nói: “Tụi tui đi làm điều nhơn, điều nghĩa chớ có đi chiếm chốt của các ổng đâu mà các ổng cản bà con tui” hoặc “Tụi tui toàn đàn bà con gái, tay không có súng ống, mần chi các ổng phải sợ...”. Cứ như thế, đồng bào Hoài Châu, Hoài Sơn bền bỉ đấu tranh làm cho binh lính trong các đồn bốt ngán ngẩm bỏ bê công việc. Bọn chỉ huy phải tính đến việc thay thế bọn lính khác về vùng này để bảo đảm “sự trong sạch” hàng ngũ của chúng. Để hỗ trợ cho mũi đấu tranh chính trị, Sư đoàn với địa phương đầu tư vào đây nhiều cụm loa pin, loa tay tạo thành hệ thống truyền thanh thường xuyên từ Quy Thuận đến Chương Hòa, nói lên tiếng nói chính nghĩa của dân tộc, tố cáo hành động vi phạm của địch... Bằng sức mạnh của mũi đấu tranh chính trị của nhân dân, bọn địch lúng túng hoảng hốt. Đến cuối tháng 7-1973, bọn chúng bị thất bại trước lý lẽ vô cùng sắc bén và thiết thực của đồng bào, chúng buộc phải cắt đứt quan hệ, đình chỉ các cuộc tiếp xúc và tình hình từ đó trở nên căng thẳng... Những ngày yên ả sau Hiệp định ngắn ngủi, các chiến sỹ Trung đoàn 12 vừa ngày đêm sẵn sàng chiến đấu, vừa tích cực củng cố các tuyến phòng thủ. Ngày đêm các chiến sỹ cùng với hàng trăm người dân ở vùng cát trắng này hăng hái xây dựng công sự, hầm kèo, hào chiến đấu. Hầm trú ẩn cho nhân dân cũng được sửa chữa và xây dựng mới. Tất cả đều chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới sẽ lại bắt đầu. Công việc bề bộn, khẩn trương nhưng ai nấy đều vui vẻ và tin tưởng. Những khẩu hiệu “Chốt là nhà, trận địa là quê hương” được kẻ vẽ đậm nét trên vách hầm, tường nhà... Cuối tháng 7- nghĩa là sau ba tháng tạm thời hòa hoãn, địch tuyên bố chấm dứt những cuộc gặp gỡ,chúng đơn phương gây xung đột với ta ở vùng cát trắng này. Đầu tháng 8, toàn bộ quân chủ lực Ngụy đang phòng thủ chốt giữ trên tuyến Hoài Ân được lệnh rút ra giao cho lực lượng Bảo An, chi đoàn 23, thiết đoàn 14 kéo về tập kết ở căn cứ Đệ Đức. Tất cả những hiện tượng ấy cùng với việc địch tuyên bố chấm dứt những cuộc tiếp xúc là bằng chứng chúng đang ráo riết chuẩn bị âm mưu mới ở phía Bắc huyện Hoài Nhơn – nơi Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 bảo vệ. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2017, 11:22:37 am Có thể nói mảnh đất Hoài Nhơn này các chiến sỹ Trung đoàn 12 đã gắn bó bằng xương máu của mình. Mấy năm qua họ đã khắc sâu tình nghĩa của đồng bào trong những lúc khó khăn, gian khổ. Họ cũng cảm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào “thà chết chớ không để bọn chúng dồn vào các ấp chiến lược”, “thà chết nhất định không để địch chiếm nơi đây”, “thà chết quyết không rời bộ đội” v.v... Đó là bài học lớn, là nguồn sinh lực lớn tiếp sức cho các chiến sỹ Trung đoàn 12 nói riêng và Sư đoàn 3 nói chung. Giờ đây: Thế cách mạng đã vững, lực lượng cách mạng đã mạnh thì niềm tin của họ đối với đồng bào càng vững chắc, không có gì có thể lay chuyển được. Ban ngày trực tiếp tham gia chiến đấu cùng bộ đội, ban đêm nhân dân, dân quân du kích ở các xã Hoài Châu, Tam Quan, Hoài Sơn, Hoài Thanh, Hoài Hảo...lại cùng các chiến sỹ củng cố hầm hào mà bom đạn địch phá vỡ ban ngày, tiếp lương thực, vận chuyển đạn dược, thương binh... Ở xóm 2 Quy Thuận lúc nào cũng đông và nhộn nhịp vì đây là Sở chỉ huy của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12. Nhân dân ở đây rất nghèo về vật chất, chỉ một củ sắn, một củ khoai, một tấm bánh tráng...bà con cũng dành cho bộ đội, cho nên các chiến sỹ Trung đoàn 12 đã thề “Sống làm con đồng bào Hoài Châu, hy sinh cũng vùi trên đất Hoài Châu”. Thế là cái gì đến sẽ đến. Sư đoàn 22 ngụy công khai mở cuộc hành quân lấn chiếm các xã phía Bắc huyện Hoài Nhơn. Rạng sáng ngày 7-9-1973, Trung đoàn 41 bộ binh và thiết đoàn 14 được chúng đẩy lên phía trước làm lực lượng xung kích. Mục tiêu của chúng là chiếm bằng được thôn Quy Thuận, Đồi 9, Đồi 10 để làm bàn đạp đánh bật lực lượng Trung đoàn 12 ra khỏi Bắc Hoài Nhơn, mở rộng vùng kiểm soát của chúng. Biết trước mưu đồ của địch, Bộ tư lệnh Sư đoàn Sao Vàng đã ra lệnh cho toàn bộ lực lượng Trung đoàn 12 sẵn sàng chiến đấu. Trước đó một tuần lễ, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 2) cũng được lệnh hành quân, chiến đấu. Sở chỉ huy tiền phương của Sư đoàn được triển khai sát sở chỉ huy Trung đoàn 12 tại Hoài Sơn. Các Đại đội tên lửa H12, cối 120 ly cũng gấp rút chiếm lĩnh trận địa để chi viện cho Trung đoàn 12 ở phía trước. Sáng hôm ấy, chúng huy động ba cánh quân có 18 xe tăng, xe bọc thép yểm trợ đánh vào khu vực chốt giữ của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12 ở xã Hoài Châu. Sau khi mấy trận địa pháo ngừng bắn, bộ binh và xe tăng địch dồn hàng ngang tiến vào. Thoạt đầu chúng dè dặt thăm dò, nhưng khi cách trận địa ta 100m mà vẫn thấy yên tĩnh, chúng vội vã hô quân tràn tới. Trận địa Tiểu đoàn 4 vẫn giữ bí mật để chúng vào thật gần mới bật dậy nổ súng. Ở thôn Quy Thuận, các chiến sỹ Đại đội 41 do Đại đội trưởng Oánh và chính trị viên Thêm chỉ huy, đồng loạt bắn B40, B41. Hai quả đạn B41 của chiến sỹ Trung đội 1 cùng một lúc trùm lên chiếc xe tăng M48 (loại xe tăng hiện đại nhất ở chiến trường) và chiếc M113 đi đầu, khẩu pháo 85 nòng dài trên tháp xe tăng M48 bị gục, hai chiếc xe bốc khói đen kịt, các chiếc khác còn lại vội vã quay đầu tháo lui. Các cánh quân khác của chúng cũng chung số phận phải tháo chạy cùng xe tăng. Tấn công không được, địch lùi ra, các trận pháo ở Đệ Đức, Tam Quan và ngoài tàu biển bắn phá vào thôn Quy Thuận. Lúc này không gian ở đây chỉ thấy khói pháo và cát bụi. Khi pháo ngừng, chúng dùng máy bay đến dội bom. Cứ như thế sau từng đợt pháo bom chúng lại cho bộ binh hò hét xung phong. Đánh suốt ngày mà không chiếm được mục tiêu, chúng phải lui quân về Đệ Đức. Trận địa của ta hoàn toàn được giữ vững. Cay cú, ngày hôm sau, mồng 8 tháng 8, chúng dùng hơn một Tiểu đoàn của Trung đoàn 41 cộng với 11 xe tăng, xe bọc thép đánh chính diện vào thôn Quy Thuận, thu hút toàn bộ lực lượng của ta vào hướng này, đồng thời cho xe tăng và hai đại đội bộ binh đánh vòng về phía Gia An, toan thọc sườn sở chỉ huy Tiểu đoàn 4 ở Quy Thuận. Nhưng “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, cánh quân vu hồi này đã bị Đại đội 63 Tiểu đoàn 6 và Đại đội 42 Tiểu đoàn 4 chặn đứng ở những ruộng mía và gò bãi dưới chân đồi 10. Đại đội trưởng Xoàng và chính trị viên đại đội 42 Nguyễn Hữu Ba, mỗi người dẫn một mũi đánh tạt sườn quân địch. Xạ thủ B41 Nguyễn Hồng Sánh vận động tiếp cận bắn cháy hai xe tăng. Những chiếc còn lại vội vã tháo chạy, bộ binh địch hoảng loạn tinh thần, mạnh thằng nào thằng ấy chạy ra đường số 1... Liên tục nhằm vào mục tiêu thôn Quy Thuận và Đồi 9, Đồi 10, ngày 15,16,17 tháng 8, chúng thay đổi thủ đoạn đột kích. Một mặt cho tăng cường mật độ phi pháo, một mặt chúng đổi hướng tấn công vào Tây Nam Quy Thuận. Nhưng tại đây chúng đã bị hai trận tập kích. Trên bãi cát thôn An Quý, hai đại đội địch chỉ còn 16 tên sống sót chạy về thị trấn Tam Quan. Cách Đồi 10 không xa, thôn Quy Thuận và nhà thờ vẫn sừng sững đứng đó, ở đây, địch đã bắn hàng ngàn quả pháo các loại, hàng trăm tấn bom. Nhà thờ và tháp chuông dù đã bị đổ vỡ từng mảnh nhưng vẫn ngạo nghễ hiên ngang trước mặt kẻ thù như tinh thần bất khuất của đồng bào Hoài Châu vậy. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 06:34:19 am Những trận chiến đấu của các chiến sỹ Trung đoàn 12 tại mảnh đất này kéo dài trong mấy tháng trời, làm thất bại mọi thủ đoạn tấn công của Sư đoàn 22 Ngụy. Ý chí lấn chiếm Quy Thuận bắt nguồn từ chính quyền Trung ương Ngụy Sài Gòn. Khoảng tháng 10-1973, Nguyễn Văn Thiệu – Tổng thống Ngụy Sài Gòn đã đến Bồng Sơn, Tam Quan ra lệnh cho sư đoàn 22 và liên đoàn biệt động số 4 phải chiếm cho đuợc nhà thờ Quy Thuận và Đồi 9, Đồi 10... Được Tổng thống tiếp sức, Sư đoàn Ngụy dồn toàn bộ lực lượng để chiến đấu với Trung đoàn 12 “Việt cộng”. Hơn bốn tuần lễ điều quân như “đèn cù”, hết thê đội này đến thê đội khác, được pháo binh và không quân chi viện tối đa, hết đánh từ An Quý lên, từ đèo Bình Đê xuống, hết thọc từ Chương Hòa, Đồi 9, Đồi 10 rồi vu hồi từ Gia An sang, cuối cùng, địch chỉ lấn thêm được rìa phía đông làng Quy Thuận. Sở chỉ huy Tiểu đoàn 4 vẫn trụ vững tại xóm 2 thôn này để chỉ huy chiến đấu. Kết quả là 860 tên địch chết và bị thương. Trung đoàn 41 và Trung đoàn 47 Ngụy bị tổn thất nặng nề, địch phải rút lực lượng này ra củng cố, đưa liên đoàn biệt động số 4 vào thay. Hai tiếng “Quy Thuận” đã thành nỗi ám ảnh của kẻ thù. Nắm chắc lực lượng địch, Trung đoàn 12 và Trung đội du kích tập trung của xã Hoài Châu do nữ đồng chí Bảy chỉ huy xốc lại đội hình, bổ sung vũ khí, củng cố lại hầm hào và nhanh chóng rút kinh nghiệm triển khai nhiệm vụ chiến đấu. Huyện ủy Hoài Nhơn cũng chỉ đạo các xã bắc Hoài Nhơn rút kinh nghiệm việc đấu tranh chính trị với địch để phối hợp với bộ đội chiến đấu và huy động dân công phục vụ chiến trường... Đầu tháng 11-1973, Liên đoàn biệt động số 4 địch bắt đầu mở màn cuộc tiến công nhưng bị D4 và D6 phục kịch đánh phủ đầu ở đông Quy Thuận và Gia An buộc chúng phải co cụm lại. Cuối năm đó trời mưa nhiều, nước từ đầu nguồn tràn về mênh mông trên các cánh đồng, bộ đội du kích ngày đêm dầm mình trong nước, trong mưa, tát nước và sửa chữa lại hầm hào. Đồng bào mang cánh cửa và tre gỗ cho bộ đội sửa chữa hầm, hào chiến đấu. Những ngày cuối tháng 10 năm ấy là những ngày ảm đạm, nặng nề và hết sức căng thẳng đối với Liên đoàn biệt động số 4 Ngụy. Chúng đã ba lần thay đổi hướng đột phá, bắn hàng ngàn quả pháo cối. Mỗi ngày thường xuyên có từ 12 đến 18 chiếc xe tăng, xe bọc thép chi viện, dùng đủ các loại bom như bom đào, bom cháy, bom lân tinh...thế mà không chiếm được một tấc đất ở đây trước ý chí kiên cường bám trụ của quân và dân Hoài Nhơn mà điển hình là xã Hoài Châu. Trong các ngày đó, ngày nào cũng có hàng chục tên lính chết và bị thương vì kỹ thuật bắn tỉa của bộ đội ta, ngày nào cũng có lính bỏ ngũ hoặc chống lệnh hành quân. Rồi mưa lũ tràn về đã cuốn trôi hẳn một Đại đội của chúng ở Tân Thành. Đồng bào nói “tội ác của chúng Trời cũng không tha”. Gắn bó với mảnh đất Hoài Nhơn thân yêu và bất khuất, các chiến sỹ Trung đoàn 12 thấy mình có một nguồn sinh lực vô tận. Họ càng thấm sâu ý nghĩa câu nói “có dân là có tất cả”. Trong mấy tháng trời chiến đấu sau Hiệp định Paris là sự đối chọi giữa hai tư tưởng: địch quyết chiếm, ta quyết giữ. Cuối cùng thắng lợi đã thuộc về tay nhân dân và bộ đội ta. Trong chiến đấu xuất hiện nhiều gương tập thể và cá nhân chiến đấu dũng cảm như Đại đội trưởng Hoàng Văn Xoàng, chính trị viên Nguyễn Hữu Ba, chiến sỹ B41 Nguyễn Hồng Sánh, Trung đội 1, Đại đội 41, Trung đội du kích tập trung xã Hoài Châu. Đặc biệt tấm gương chiến đấu dũng cảm và chỉ huy gan dạ của chính trị viên Nguyễn Hữu Ba trên đường cầm quân chi viện cho chốt, anh bị mảnh đạn pháo địch cắm vào mắt không nhìn thấy gì, anh nhờ y tá băng bó và dìu ra trận địa, quyết không trở về trạm xá. Anh nói: “mắt không nhìn thấy nhưng tai còn nghe là còn chỉ huy được” và anh đã có mặt khi chốt của Đại đội gay go ác liệt nhất. Sự có mặt của Ba lúc đó thực sự là chỗ dựa tinh thần đối với chiến sỹ, truyền cho anh em sức mạnh đẩy lùi tất cả các đợt tấn công của địch, cùng các đơn vị bạn bảo vệ vững chắc trận địa được phân công. Nếu như cuối năm 1972, ở Hoài Ân, Sư đoàn Sao vàng rút được kinh nghiệm trong chiến đấu phòng ngự ở vùng đồng bằng xen rừng núi thì ba tháng chiến đấu của Trung đoàn 12 và nhân dân bắc Hoài Nhơn đã thu được thắng lợi cả phòng ngự và tiến công, thắng lợi cả quân sự và chính trị ở vùng đồng bằng. Tại đây, bộ đội ta vận dụng khá linh hoạt chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”, “tập kích hợp đồng binh chủng”. Điểm nổi bật ở đây là quân dân gắn bó mà biểu hiện là bộ đội du kích chiến đấu, nhân dân phục vụ chiến đấu rất nhịp nhàng. Có thể nói trên mảnh đất xã Hoài Châu này là một trong những điểm sáng của chiến tranh nhân dân thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Năm tháng qua đi, những hình ảnh tuyệt vời về lòng dũng cảm, ý chí quật cường của một vùng đất quê dừa Bình Định – xã Hoài Châu vẫn mãi mãi chói sáng trong lòng cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn 3 Sao Vàng. Thái Bình, tháng 4 năm 2009 Đ.S.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 06:39:26 am TRƯA HÔM ẤY Ở VŨNG TÀU Khoảng 12 giờ ngày 30-4-1975, khi Tổng thống ngụy Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện lúc 11giờ30 thì ở Vũng Tàu, đơn vị chúng tôi (E12-F3) vẫn đang chiến đấu ở 2 khu vực khách sạn Pa-lát (khách sạn Hòa Bình hiện nay) và Trường Thiếu sinh quân (trụ sở Tổng công ty dầu khí Việt Nam hiện nay). Vũng Tàu lúc bấy giờ là cái túi khổng lồ đầy ắp tàn quân địch từ miền Trung Trung bộ và miền Đông Nam Bộ đổ dồn về, đủ các sắc lính và đủ các loại ác ôn trung thành với Mỹ, chúng hy vọng sẽ thoát ra biển nhờ tàu thủy của Mỹ ngụy hứng đón. Nhưng lúc bấy giờ pháo tầm xa của Sư đoàn đã được lệnh phong tỏa tất cả luồng lạch từ Cần Giờ đến Vũng Tàu. Chúng dồn cục tại trung tâm thành phố, biến mỗi cao ốc, nhà lầu là một trận địa phòng ngự, hy vọng sẽ được Mỹ cứu vớt. Nơi nào có nhiều bọn ác ôn, nhiều bọn sỹ quan thì ở đó cuộc chiến đấu của Trung đoàn tôi càng ác liệt. Trước khách sạn Pa-lát, lúc 11 giờ 30, chúng tôi được báo cáo, một Tiểu đội bộ binh của Tiểu đoàn 6 đã hy sinh tất cả khi đánh vào cổng chính. Sở Chỉ huy tiền phương của Trung đoàn do anh Sơn, Phó Trung đoàn trưởng và tôi, phó Chính ủy Trung đoàn chỉ huy, đặt tại căn nhà 2 tầng ở đường Nguyễn Tri Phương. Trong khi chúng tôi đang theo dõi các trận đánh ở Pa-lát và trường Thiếu sinh quân thì một số bà con tập trung ở tầng trệt, cử một cụ già chừng 60 tuổi lên gác hai, nơi chúng tôi đang làm việc. Cụ hớt hải, mừng rỡ nói trong hơi thở gấp: “Mấy chú ơi! Sài Gòn giải phóng rồi. Giải phóng thiệt rồi!” Tôi bực mình quát to: “Cụ không thấy bộ đội chúng tôi đang đổ máu ngoài kia mà nói lung tung gì vậy?” Một chị theo sau bà cụ chen vào: “Không tin, các anh mở radio mà coi. Tụi tôi hổng nói xạo đâu.” Tôi vội chạy lại chiếc ba lô để ở góc nhà lấy chiếc đài National lập cập dò sóng. Sóng rất yếu nhưng tôi nghe rõ không phải là tiếng của phát thanh viên mà là tiếng của người thay mặt Chính phủ Cách mạng và tiếp đó là lời tuyên bố đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa kêu gọi các binh sỹ và ngụy quyền hạ vũ khí đầu hàng quân Cách mạng. Cùng lúc ấy, chúng tôi nhận được điện của Chính ủy Sư đoàn Mai Tân. Ông thông báo Sài Gòn đã được giải phóng và ra lệnh cho đơn vị phải vững vàng tay súng, kiên quyết tiến công, kết hợp tiến công với kêu gọi chúng đầu hàng để bớt đổ máu. Tôi xem đồng hồ. Lúc đó là 12 giờ 05 phút. Từ hướng khách sạn Pa-lát, Tiểu đoàn 6, đồng chí Quế, Tiểu đoàn trưởng báo cáo đơn vị đã chiếm được tầng trệt. Địch ở các tầng trên (9 tầng) vẫn đang chống cự. Bộ đội đang tìm cách đánh ngược lên. Liền đó các đồng chí báo cáo đã bắt được nhiều tù, hàng binh, trong đó có một tên Thiếu tá. Ta đã giải thoát cho hàng trăm đồng bào bị địch bắt làm lá chắn. Đồng chí Sơn, phó Trung đoàn trưởng ra lệnh đưa ngay đồng bào ra khỏi trận địa và sử dụng tên Thiếu tá kêu gọi bọn còn lại đầu hàng. Lệnh cho các đơn vị phải kết hợp tiến công bằng hỏa lực với binh vận, không sử dụng bộ binh (sợ anh em thương vong). Tiểu đoàn 6 đưa ĐKZ và đại liên lên sườn đồi gần khách sạn bắn từ tầng 2 trở lên rồi kêu gọi địch đầu hàng. Khoảng 15 phút sau, tiểu đoàn 6 báo cáo, địch đang lần lượt đầu hàng. Chúng dùng khăn mặt trắng cắm vào đầu súng hoặc cầm tay đưa ra cửa sổ vẫy rối rít. Hướng khách sạn Palats im tiếng súng. Hướng trường Thiếu sinh quân, Tiểu đoàn 4 cùng với Tiểu đoàn 2 cũng dùng ĐKZ đặt trên tầng thượng các biệt thự xung quanh bắn áp đảo bọn địch ở các tầng lầu cho bộ đội ta vượt tường rào vào sân trường. Những bọn ngoan cố chống cự đều bị tiêu diệt. Ở hướng Núi Nhỏ, tiểu đoàn 5 báo cáo đã bắt được nhiều tàn binh, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Phải đến 13 giờ, Trung đoàn 12 mới thực sự im tiếng súng. Theo chỉ thị của Sư đoàn, các đơn vị chuyển sang tảo trừ tàn quân và thu chiến lợi phẩm. Trong một hướng tảo trừ, đại đội hỏa lực ĐKZ do đồng chí Thời, phó đại đội trưởng chỉ huy đã gặp một tình huống hi hữu. Một phụ nữ trạc 30 tuổi nằm trên bãi cát kêu la thảm thiết. Các chiến sĩ ta đến hỏi, chị vừa sợ vừa mếu máo nói: “Tui đau sanh (sinh đẻ), nhờ các ông giúp...”. Luống cuống trong giây lát, các chiến sĩ bắt tay vào việc. Người lục tìm ni lông để làm chiếu, người bế chị vào bóng cây, người đi tìm nước, người xé vải dù ngụy trang để làm tã lót... Được chiến sĩ ta động viên, sau một cơn đau dữ dội, một cậu bé đỏ hoe đã cất tiếng chào đời. Có lẽ, đó là công dân đầu tiên của Thành phố Vũng Tàu được sinh ra dưới chế độ mới. Ôm đứa con bé bỏng nguyên lành, người phụ nữ cảm động trào nước mắt nhìn các chiến sĩ ta với lòng biết ơn thân thiện pha lẫn sự cảm phục, ngỡ ngàng. Thì ra, bộ đội Giải Phóng không những đánh giặc giỏi mà còn giỏi cả việc bà đỡ. Họ đã làm được một việc thiện, gây ấn tượng tốt đối với nhân dân ở vùng đất suốt mấy chục năm qua luôn bị địch tuyên truyền xuyên tạc về Quân Giải phóng. Vì mải mê thực hiện nhiệm vụ, các chiến sĩ ta không kịp hỏi tên người mẹ ấy. Hy vọng giờ đây, người mẹ và người con ấy đã và đang sống xứng đáng với lòng nhân ái của chiến sĩ Sư đoàn 3 – Sao Vàng. Khoảng 13 giơ 30 phút, Sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn, gồm anh Đới Ngọc Cầu, trung đoàn trưởng, anh Trần Hữu Biền, chính ủy trung đoàn cùng cán bộ các cơ quan chuyển tới trung tâm Thành phố. Chúng tôi họp chớp nhoáng bàn cách giải quyết những việc cần làm gấp. Trong đó, nổi cộm là tù, hàng binh. Tù, hàng binh lên tới hàng ngàn tên. Các đơn vị không còn người để áp giải. Anh Nguyễn Lư, chủ nhiệm chính trị trung đoàn phụ trách việc này phải xử trí, chỉ bố trí người áp giải tù binh, còn hàng binh tập trung từng khối, phổ biến chính sách của Mặt trận, sau đó giao cho tên nào có cấp hàm cao nhất chỉ huy chung đi về thị xã Bà Rịa sẽ có người đón. Quy định: tên đi đầu cầm cờ Giải Phóng hoặc khăn trắng buộc vào que. Dọc đường không được quậy phá nhân dân...Vẫn biết, làm như vậy là quá lỏng lẻo, nhưng ở thời điểm đó – thời điểm ta ở thế áp đảo, và trong điều kiện cụ thể của đơn vị quân số không còn bao nhiêu, việc giữ gìn trật tự, an ninh Thành phố không thể lơ là thì cách tổ chức đưa tù, hàng binh về phía sau chỉ có thể làm như vậy. Thế là trong vòng 56 ngày đêm, từ ngày 4 tháng 3 đến 30 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 12 chúng tôi đã liên tục chiến đấu, liên tục phát triển với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, chắc thắng” và “ Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa...”, góp phần cùng Sư đoàn và quân dân cả nước giành thắng lợi vẻ vang. Trong chiến dịch này, trung đoàn chúng tôi đã có hàng trăm cán bộ và chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, hàng trăm người khác bị thương. Khi viết những dòng này, lòng tôi không khỏi bồi hồi thương tiếc những chiến sĩ trẻ đã ngã xuống trên đường 19, trên đường băng sân bay Thành Sơn, giữa dòng Sông Dinh (cầu Cỏ May) và trên đường phố Vũng Tàu, trước khách sạn Palats v.v...xin các đồng chí hãy coi đây là nén tâm hương của tôi và gia đình tôi tri ân các đồng chí. Thái Bình, tháng 4 năm 2009 Đ.S.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 06:44:42 am MỘT THƯƠNG BINH CỦA SƯ ĐOÀN TRÊN MẶT TRẬN MỚI Đang học lớp 9 trường huyện, Nguyễn Văn Khoa xã Đông Thọ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tình nguyện gia nhập quân đội lên đường đánh Mỹ. “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn, nhân dân ta cũng phải giành cho được tự do, độc lập...”. Câu nói đó của Bác Hồ thôi thúc hàng vạn thanh niên quê lúa Thái Bình tòng quân giết giặc, trong đó có Khoa. Vào chiến trường Khu 5, một chiến trường khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất. Được bổ sung vào Đại đội 61, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, hoạt động ở chiến trường Bình Định, Quảng Ngãi, Khoa bắt đầu bước vào cuộc thử thách mới. Thời gian trôi đi, anh cùng đơn vị tham gia nhiều chiến dịch, trận đánh nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được biểu dương khen thưởng. Đặc biệt, trận ngày 8-6-1969, tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ đánh phá giao thông cắt đường 19 thuộc địa bàn xã Bình Giang, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định để phối hợp với chiến trường Tây Nguyên. Khoa cùng bốn đồng chí được giao nhiệm vụ chốt trên cao điểm Sô Đô để bảo vệ đơn vị đánh giao thông và cắt đường 19. Cả đêm ngày 7 tháng 6, năm người trên chốt thay nhau đào công sự, không ai đuợc chợp mắt. Sáng ngày 8 tháng 6, ngụy trang trận địa xong, mọi người đem cơm vắt muối vừng ra ăn. Cả đêm thức đào công sự mất ngủ, ai cũng mệt nhoài, họ phân công nhau người cảnh giới người tranh thủ đi ngủ. Khoảng 10 giờ, pháo địch ở các trận địa bắn phá vào các cao điểm ven đường 19. Trong số đó, Sô Đô là một trọng điểm. Sau khi bắn pháo xong, một đại đội lính Nam Triều Tiên chia thành nhiều hướng, nhiều mũi đánh lên chiếm điểm cao Sô Đô. Cuộc chiến đấu ở đây bắt đầu. Sau mỗi đợt dùng bộ binh tiến công không thành, địch lại lui ra dùng phi cơ và pháo binh đánh phá. Cứ như thế cho đến 14 giờ, năm chiến sỹ ở Sô Đô đánh lui nhiều đợt tấn công của đại đội Nam Triều Tiên và làm bị thương nhiều tên địch, riêng Khoa đã bắn rơi một máy bay lên thẳng HU1A. Vào lúc này đã có ba đồng chí hi sinh, chỉ còn lại hai người là Khoa và Ngô Hữu Xông. Địch lại hô hoán tấn công. Bỗng Khoa bị một viên đạn bắn thẳng xuyên qua bả vai phải từ phía trước về phía sau, máu chảy ướt đẫm áo, Xông vẫn chiến đấu bắn điểm xạ những tên đến gần. Địch bị thương vong, la ó lùi ra xa, Xông tranh thủ băng bó vết thương cho Khoa. Tình hình lúc này rất căng thẳng, lực lượng cơ động của Tiểu đoàn vận động lên chi viện nhưng đều bị chặn giữa. Tuy đau, Khoa động viên Xông: “mình đã bị thương không chiến đấu được, Xông cứ yên tâm đi, tớ sẽ nạp đạn cho cậu chiến đấu, quyết giữ cho được chốt...”. Thế là trên điểm cao Sô Đô chỉ còn hai chiến sỹ, trong đó có Khoa bị thương nặng, nhưng họ động viên nhau quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ... Cuối năm ấy, năm 1969, Xông được thay mặt cho năm chiến sỹ trên cao điểm Sô Đô đi báo cáo điển hình tại Đại hội thi đua Quân khu 5. Nguyễn Văn Khoa được tuyên dương “Chiến đấu dũng cảm bị thương nặng vẫn cùng đồng đội giữ vững trận địa.” Do vết thương không thể ở lại chiến trường để điều trị, bệnh viện Quân khu 5 quyết định chuyển Khoa ra miền Bắc. Sau khi điều trị xong vết thương, xét thấy sức khỏe anh không đảm bảo, cấp trên ra quyết định cho anh rời khỏi quân ngũ trở về địa phương. Trên lĩnh vực mới, Khoa lại tiếp tục “dùi mài kinh sử” học hết lớp 10 phổ thông và thi đỗ vào Đại học Y Thái Bình. Năm, sáu năm trời đèn sách trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh thật là một thử thách lớn đối với người thương binh ấy. Nhưng nhờ có nghị lực, tất cả những khó khăn Khoa đều vượt qua. Kỳ thi tốt nghiệp cuối khóa anh đạt điểm cao, xếp vào loại khá. Ra trường được phân công công tác tại Viện lao Thái Bình, Khoa luôn chứng tỏ là một bác sỹ tận tụy với danh hiệu “Người thầy thuốc”. Thế rồi trên xét cho Khoa đi học lớp chuyên khoa I ngành nhãn khoa. Năm 1982, học xong được phân công về Trung tâm mắt Thái Bình, và từ đó đến nay Khoa gắn bó với nghành “nhãn khoa” cùng đồng nghiệp làm “sáng con mắt cho đời”. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 06:45:38 am Gần 30 năm qua công tác tại trạm mắt rồi lên trung tâm mắt (nay là Bệnh viện mắt) tỉnh Thái Bình, từ một bác sỹ điều trị được bổ nhiệm làm trưởng khoa, phó giám đốc, rồi giám đốc, anh đã cùng tập thể trung tâm mắt xây dựng được một cơ sở chữa mắt có uy tín không những chỉ ở trong tỉnh mà còn đối với những tỉnh lân cận như: Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên.... Từ một cơ sở vật chất kỹ thuật đơn sơ nay đã có một cơ ngơi khang trang, sạch đẹp, có đầy đủ những trang thiết bị hiện đại. Là một giám đốc, anh luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên trong trung tâm. Những năm gần đây, Trung tâm mắt Thái Bình đã đưa kỹ thuật mổ thủy tinh thể trong bao theo phương pháp Fa cô, trả lại ánh sáng cho hơn hai vạn người. Ngoài ra anh còn tham mưu cho tỉnh, cho ngành xây dựng chiến lược “Phòng chống mù lòa”, “Phòng bệnh mắt hột, lông quặm”, “Phấn đấu đến năm 2010 Thái Bình sẽ thanh toán bệnh đau mắt hột và lông quặm”. Ngoài ra anh còn kết hợp với các ban, ngành, đoàn thể như Giáo dục, Văn hóa, Phụ nữ, Bảo hiểm y tế...để triển khai chương trình phòng chữa mắt hột học đường. Do có nhiều giải pháp hữu hiệu nên năm 2004, đã có 100% số trường học triển khai chương trình này với tổng số 367.360 học sinh được khám, gần 50.000 học sinh được điều trị mắt hột. Cùng với trung tâm mắt, bác sỹ Nguyễn Văn Khoa đã đạt được lòng tin với các tổ chức từ thiện nước ngoài và hàng năm đem về nguồn viện trợ đáng kể như máy móc và kỹ thuật hiện đại, giúp hàng vạn người dân nghèo thoát khỏi cảnh mù lòa. Là một cán bộ quản lý, với ý thức ham học hỏi, chịu khó nghiên cứu, bác sỹ Khoa đã làm chủ nhiều đề tài khoa học cấp tỉnh, cấp cơ sở như “Hiện trạng các bệnh về mắt ở Thái Bình”, “Hiện trạng tật khúc xạ ở học sinh và giải pháp phòng ngừa”, trực tiếp chỉ đạo đưa phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo bằng phương pháp Fa cô – một phương pháp tiên tiến nhất của ngành mắt thế giới hiện nay bằng cách chủ động cử cán bộ viên chức lên Viện mắt TW để học tập. Trong quá trình thực hiện chương trình này, trung tâm gặp nhiều khó khăn về vốn, giám đốc Nguyễn Văn Khoa trăn trở nhiều đêm nghĩ kế để thực hiện kế hoạch đầu tư mua máy móc, trong đó có một quyết định rất táo bạo là đem bất động sản nhà mình gần hai tỷ đồng để thế chấp vay vốn ngân hàng lấy tiền mua máy móc thiết bị... Vốn sợ không thành công, “mất cả chì lẫn chài”, chị Rơi vợ anh lúc đầu cũng không đồng ý và không ký vào bản thế chấp, anh lại phải làm công tác tư tưởng động viên thuyết phục hàng tháng trời. Thấy chồng mình có quyết tâm cao và lòng tin vào việc làm mạo hiểm, chị cũng đồng ý cho chồng thực hiện. Số tiền vay ngân hàng được anh bàn với cấp ủy và anh em trung tâm mua máy Fa cô về triển khai mổ theo phương pháp tiên tiến với tư tưởng “đi tắt đón đầu” tiếp thu những kỹ thuật công nghệ hiện đại. Kết quả ban đầu, trung tâm đã phẫu thuật cho hơn 1112 ca theo phương pháp Fa cô chất lượng đảm bảo tốt, không có tai biến và nhiễm trùng, giảm được 2/3 số ngày nằm điều trị tại bệnh viện. Nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận được chữa mắt bằng kỹ thuật cao, giá viện phí rẻ...góp phần làm lợi cho nhân dân hàng tỷ đồng, đó là chưa kể chi phí đi lại và lưu trú từ Thái Bình lên Hà Nội của người bệnh và người nhà bệnh nhân. Chương trình chữa mắt theo phương pháp Fa cô đã sớm được nhân dân đón nhận và hoan nghênh nên ngày càng nhiều người đến khám và chữa bệnh tại Trung tâm mắt Thái Bình. Kết quả, từ năm 2004 đến 2007, Trung tâm mắt Thái Bình đã phẫu thuật thành công bằng phương pháp mới cho gần 8000 ca trong và ngoài tỉnh, rất nhiều ca thuộc diện chính sách, người già và người nghèo. Năm 2006, cùng đoàn cán bộ của Bộ Y tế đi nghiên cứu tại Mỹ, anh lại kéo về cho trung tâm một số ngân sách của các tổ chức phi chính phủ trị giá hàng tỷ đồng. Khi tiếp xúc với anh, anh phấn khởi thông báo: “Trung tâm mắt Thái Bình đã được chuẩn y thành Bệnh viện mắt Thái Bình vào tháng 3-2008”. Và anh được bổ nhiệm làm giám đốc Bệnh viện mắt Thái Bình. Nguyễn Văn Khoa bản chất là một người lính, là thương binh 2/4 giàu nghị lực, luôn có chí vươn lên, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên, phấn đấu 15 năm liền là chiến sỹ thi đua, năm 1999 anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú” và hai bằng lao động sáng tạo, được Thủ tướng Chính phủ cấp bằng khen. Nguyễn Văn Khoa đúng là một thương binh “tàn nhưng không phế”, dũng cảm trong chiến đấu, năng động, sáng tạo, thành đạt trong công tác. Tôi đến gặp Khoa, anh khiêm tốn nói: “công lao này là của mọi người trong Trung tâm, trong đó có một phần công sức của tôi, những năm qua còn muốn làm nhiều việc nữa nhưng sức lực con người thì có hạn mà thời gian thì nó cứ trôi.” Anh thực sự được mọi người yêu mến, xứng đáng là một thương binh trên mặt trận mới, vừa có tài vừa có tâm. Với kinh nghiệm 30 năm trong nghề, lại có một đội ngũ nhân viên có tay nghề vững, mọi người đồng tâm hiệp lực, nhất định Bệnh viện mắt Thái Bình sẽ còn phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh và nhân dân các tỉnh lân cận. Chia tay anh trong buổi sáng xuân - một mùa xuân hứa hẹn chồi xanh lộc biếc./. Thái Bình, tháng 2 năm 2008 Đ.S.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 06:52:34 am Đại tá Lê Hữu Lộc, Nguyên Chính trị viên Đại đội 2 Cù Chính Lan (Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3- Sao Vàng), Nguyên Trưởng Ban biên tập Báo Quân giải phóng miền Trung Trung bộ, Nguyên Trưởng Ban Tổng kết và Viết sử Quân khu V, đã nghỉ hưu. Ông có nhiều kỷ niệm về Sư đoàn 3- Sao Vàng, đã gửi cho chúng tôi hàng chục bài nhân Kỷ niệm 45 năm thành lập Sư đoàn. Xin trích đăng một số bài sau đây. NHỮNG CHIẾN CÔNG ĐẦU CỦA NGÔ HỒNG QUẢNG Tại Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua của Đoàn Trung Dũng (E2 hiện nay), Ngô Hồng Quảng là một bông hoa tiêu biểu của những chiến sĩ bộ đội đặc công trẻ tuổi, lần đầu xuất trận đã lập công xuất sắc. Học xong lớp 10 phổ thông (lớp 12 hiện nay), Ngô Hồng Quảng mới 17 tuổi. Anh tình nguyện vào bộ đội để được trực tiếp cầm súng đánh Mỹ, được giáp mặt với quân thù. Song, Quảng gặp một khó khăn khá lớn là sức khỏe anh kém quá. “ Mặc! sức khỏe rất quan trọng nhưng có thể khắc phục được”, Quảng nghĩ vậy nên đã quyết tâm rèn luyện thể lực, và chỉ một thời gian sau, anh đã rắn chắc hẳn lên. Quảng lao vào học tập quân sự say sưa với tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ và niềm tự hào đối với binh chủng. Anh tập ngày, tập đêm, không kể mưa, nắng vất vả. Đặc biệt, anh rất chú trọng đối với những động tác kỹ thuật. Có hôm, nửa đêm, khi mọi người đang ngủ, anh lặng lẽ một mình ra bãi tập, tập chui qua hàng rào. Anh tâm sự: “Tập cho giỏi là để bảo vệ mình, để chiến thắng chứ bọn địch đâu phải là những thằng mù”. Và hôm nay, Ngô Hồng Quảng bước vào trận đánh đầu tiên, trận Mỹ Chánh. Lúc đầu anh rất hồi hộp với từng động tác nhỏ của chính anh, cứ lo bị sai, bị lộ. Quảng liếc nhìn tổ trưởng Bình rồi mũi trưởng Thành. Đươc các anh ấy khuyến khích, Quảng vững vàng hẳn lên. Lệnh nổ súng, theo hướng đã phân công, Quảng ôm bộc phá nhảy vào trận nội nhưng bị hàng rào phản xung phong hất nhào ra. Anh cố sức, bật cao hơn và đã vào được bên trong. Phút đầu tiên, Quảng diệt được 2 mục tiêu, phát triển tiếp, diệt thêm 2 mục tiêu nữa. Đánh hết lựu đạn, thủ pháo, anh quay ra gặp đội trưởng Chút, hỏi xin thêm. Chút bảo: “tìm lấy của địch mà đánh”. Quảng nhớ ra và vội quay vào tìm nhặt lựu đạn dịch, đánh thêm mấy nhà lính. Gặp 1 lô cốt đã bị ai tiêu diệt, anh chui vào, nhặt được 1 khẩu A15 nhưng bắn không nổ (súng hết đạn). Tuy vậy, anh vẫn dí súng vào cửa chiếc hầm ngầm gọi được 3 tên lính ra hàng. Anh dẫn chúng ra giao cho đồng đội rồi tiếp tục quay vào tảo trừ trận địa, bắt thêm 2 tên nữa. Đến lúc ấy, Quảng mới thấy ngực đau và người mệt luội. Thì ra, anh đã bị thương ngay từ lúc đầu nhưng không hề hay biết. Trận đánh kết thúc. Quảng được giao nhiệm vụ áp giải tù binh . Tuy rất mệt nhưng Quảng vẫn cố gắng hiên ngang trước kẻ thù. Anh đạp rào, gạt vật chướng ngại. Thấy anh nhỏ con, lợi dụng lúc qua rào, chúng định tháo chạy. Quảng thét lớn “ Đứa nào chạy, tao bắn!”. Mấy tên địch phải ngoan ngoãn làm theo anh. Quảng cười thầm vì thực ra, khẩu súng trên tay anh đâu có bắn được. Giao đầy đủ tù binh cho đơn vị xong, Quảng mới chịu về trạm phẫu xử lý vết thương. Vừa ra viện, Ngô Hồng Quảng đã lao ngay vào học tập để được tham gia trận đánh thứ 2. Đó là trận Gò Mang (huyện Phù Mỹ) đêm 28 tháng 4 năm 1971. Lần này vào trận, Quảng không còn hồi hộp như trước. Anh luôn bám sát tổ trưởng Cư và mũi trưởng Rỗi để vượt qua các lớp rào kẽm gai của địch. Khi Rỗi và Quảng vượt hào giao thông thì bị địch phát hiện. Lập tức, anh và Rỗi tống 2 quả thủ pháo vào lô cốt trước mặt rồi nhảy qua hàng rào phản xung phong, lao vào trong. Địch bắn ra dữ dội. Lợi dụng góc cấn lô cốt, Quảng nép mình, từ từ thò tay đút quả thủ pháo vào lỗ châu mai, nhưng ác thay, bị tấm lưới sắt ngăn lại. Lập tức, anh vòng ra phía sau, đạp mạnh vào tấm cửa ra vào lô cốt. Lần thứ nhất, cửa không nhúc nhích. Quảng lùi mấy bước lấy đà, đạp lần thứ 2. Cửa vừa bung ra, anh ném liên tiếp 2 quả thủ pháo vào trong. Một tên Mỹ và một tên ngụy mang chiếc máy PRC25 lao bật ra. Anh kết liễu chúng bằng 1 quả lựu đạn, thu máy thông tin đeo vào vai, tiếp tục chiến đấu. Tới một lô cốt khác, thấy 2 tên địch định chui ra khỏi cửa tháo chạy, Quảng lao tới ấn đầu chúng đẩy vào lô cốt. Hai tên địch vẫn cố nhào ra. Tức mình, Quảng giật nụ xòe quả thủ pháo rồi giơ trên tay mấy giây. Hai tên địch khiếp sợ chạy tọt vào lô cốt, cũng là lúc Quảng ném quả thủ pháo vào. Trận đánh sắp kết thúc thì Rỗi bị thương nặng và Quãng cũng bị thương vào đùi. Măc dù phải lê lết chân, nhưng Quảng vẫn cố mang chiếc máy 2W chiến lợi phẩm và dìu Rỗi trở về an toàn. Hai lần ra trận, hai lần lập công xuất sắc, Ngô Hồng Quảng đã diệt được 72 tên địch, bắt sống 5 tên, đánh sập 12 nhà lính, 2 lô cốt, thu 1 súng AR15, 1 máy PRC25, góp phần cùng đơn vị tiêu diệt 2 căn cứ địch, hỗ trợ cho nhân dân phá ấp, trở về vùng giải phóng. Anh xứng đáng là một đảng viên lớp Hồ Chí Minh quang vinh và là ngọn cờ đầu thi đua của đoàn Trung Dũng. Bình Bịnh, tháng 10 năm 1971 L.H.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 06:58:19 am NGƯỜI ĐẢNG VIÊN LỚP HỒ CHÍ MINH Trong đại hội Chiến sĩ thi đua và dũng sĩ Đoàn Chiến thắng Dương Liễu – Đèo Nhông ( E2 hiện nay), bản báo cáo của Vũ Đức Long rất ngắn nhưng thật cô đọng và hấp dẫn lạ thường. Anh đã đưa Đại hội trở lại những giờ phút chiến đấu quyết liệt và sôi nổi trong chiến dịch Xuân – Hè năm 1970. Về cuộc đời riêng của anh, Long nói rất ít, bởi mỗi lần nhắc đến là một lần gây cho anh cảm xúc xót xa vì cảnh nhà nghèo khổ mà phải tha phương cầu thực tận cái xứ xa xăm có cái tên rất mỹ miều “ Tân Thế Giới”. Long sinh ra và lớn lên ở nơi đất khách, quê người, trong một xã hội đầy rẫy những bất công, phân biệt đối xử nên luôn hướng về Tổ quốc. Và rồi, cũng như bao bà con Việt Kiều khác, Long đã được Đảng và Nhà nước đón về Tổ quốc. Từ đó, anh thực sự sống trong độc lập, tự do và trong sự yêu thương đùm bọc của nhân dân. Long quyết cống hiến tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc. Mùa Xuân năm 1968, Long xung phong nhập ngũ và tình nguyện lên đường vào Nam đánh Mỹ. Về đến đơn vị, anh được giao nhiệm vụ làm liên lạc của một đại đội đặc công. Tuy là chiến sĩ mới nhưng bất cứ việc gì đơn vị giao cho, Long đều phấn đấu hoàn thành. Ngoài ra, anh còn tranh thủ học kỹ thuật chuyên môn của binh chủng. Bởi vây, Long được cán bộ và đồng đội rất yêu mến và tin tưởng. Tháng 2 năm 1970, giữa lúc đơn vị đang chuẩn bị làm nhiệm vụ thì bọn Nam Triều Tiên đổ quân càn quét gần vị trí đóng quân. Trong đơn vị có một số đồng chí chưa từng đánh bọn Nam Hàn, chỉ nghe những tin đồn về sự hung ác của chúng nên bàn ra, tán vào vẻ e ngại. Đơn vị phát động tinh thần “ Đánh phủ đầu, hạ uy thế quân Nam Triều Tiên”. Long xin đại đội cho đi đánh trận này và anh được phân công ở tổ đối diện. Suốt một ngày quần lộn với 1 Đại đội Nam Triều Tiên, cả tổ của Long đã diệt 25 tên địch, bảo đảm an toàn cho đơn vị, riêng Long đã diệt 5 tên. Trận đánh đó tuy không lớn nhưng đã thực hiện được ý định của lãnh đạo, cổ vũ và động viên đơn vị rất lớn trước khi bước vào nhiệm vụ. Trận đánh tiếp theo của Long là trận đánh tập kích tiêu diệt cứ điểm Núi Lá, đêm 31-3-1970, do một Tiểu đoàn Ngụy đóng giữ. Trong trận này, Long được giao nhiệm vụ ở tổ thọc sâu đánh vào khu trung tâm Sở chỉ huy địch. Tổ gồm 3 người: Vinh tổ trưởng, Thảo và Long. Phấn khởi vì được cấp trên và đơn vị tin tưởng giao nhiệm vụ đánh sâu vào lòng địch, Long hứa trước đại hội quân nhân: “ Dù khó khăn mấy tôi cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ...” Đêm hôm ấy, sau khi đã bí mật lách địch ở vòng ngoài, Vinh, Thảo, Long chỉ còn hai lớp rào mái nhà nữa là vào được khu trung tâm. Cả tổ đang tiếp tục tiến thì phía hướng đối diện bị lộ, đồng thời cũng được lệnh nổ súng. Chớp thời cơ, Long nhanh chóng diệt ngay mấy hỏa điểm và lô-cốt bên cạnh để mở đường tiến. Sau đó như một mũi tên, anh ôm quả bộc phá lao thẳng về hướng Sở chỉ huy địch. Trong lúc Long đang chạy thì một quả lựu đạn của địch ném ra nổ ngay trước mặt. Anh ngã xuống, quả bộc phá văng ra khỏi người. Lúc này toàn trận địa đang gặp khó khăn, địch bắn ra như vãi đạn, các mũi chưa vào được. - Không thể để mất quả bộc phá; Giờ quyết định này không thể một phút chậm trễ. Nghĩ vậy, Long nhanh chóng mò tìm quả bộc phá và nhảy lên đánh vào hàng rào cuối cùng sát Sở chỉ huy địch. Bộc phá nổ mạnh quá hất anh ra xa, anh ngất đi một hồi lâu, khi tỉnh dậy, Long nhớ đến nhiệm vụ của tổ, nhớ đến lời chính trị viên trước lúc lên đường: “Đảng rất tin tưởng ở Long, cả đơn vị cũng rất tin Long, nhiệm vụ của tổ Long sẽ góp phần quyết định thắng lợi của trận đánh, Long phải làm thế nào để xứng đáng với lòng tin đó, xứng đáng là một Đoàn viên Thanh niên được mang tên Bác...” Như được tiếp thêm sức mạnh mới, Long bật hẳn dậy. Nhưng trước mặt khói đạn mịt mù, các mũi bạn vẫn chưa vào được, tổ trưởng Vinh đã bị thương, Thảo còn bị kẹt ở phía ngoài. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 06:58:50 am Thế là ở đây chỉ có mình Long. - Một mình cũng đánh! Nhưng trời tối như mực thế này thì làm sao vào cho đúng cửa mở. Long bình tĩnh xác định lại hướng rồi lấy tay sở tìm chỗ đất nóng để xác định điểm nổ của bộc phá. Mò mẫm một lúc, Long tìm được cửa mở, và nhanh như sóc anh nhảy ngay vào khu trung tâm Sở chỉ huy của địch. Giữa lúc bọn địch đang tập trung đối phó ở phía ngoài, thì Vũ Đức Long đã tung hoành ngang dọc liên tiếp tiêu diệt hết nhà lính này đến nhà lính khác ngay sau lưng chúng. Bị đánh bất ngờ, một số tên địch vội rúc xuống hầm để mong thoát chết, Long kịp thời dùng thủ pháo tiêu diệt chúng ngay dưới hầm ngầm, nơi mà chúng cho là an toàn nhất. Giỏ lựu đạn, thủ pháo gồm 12 quả mang từ nhà đi đã đánh hết, nhưng trước mặt anh vẫn còn một số tên địch ngoan cố chống cự. Anh quay trở ra lấy lựu đạn thủ pháo đánh tiếp đợt 2. Đánh được một lúc lại hết lựu đạn, thủ pháo. Long tiếp tục quay trở ra lấy thêm thủ pháo đánh tiếp đợt thứ 3, tảo trừ diệt toàn bộ quân địch trong Sở chỉ huy của chúng và bắt liên lạc với các mũi bạn. Trận chiến đấu kết thúc thắng lợi, một Tiểu đoàn địch hoàn toàn bị tiêu diệt. Riêng Vũ Đức Long trong trận này, với 3 giỏ lựu đạn, thủ pháo đã diệt 43 tên địch, đánh sập 6 nhà lính, 2 lô-cốt, 3 hầm ngầm, phá hủy 1 DKZ 57 ly, góp phần quan trọng vào chiến công chung của đơn vị. Tháng 5-1970 Long được giao nhiệm vụ phụ trách mũi trưởng mũi chủ yếu đánh vào vị trí Dông Do (Phù Mỹ). Trong lúc đơn vị đang tiềm nhập còn 3 hàng rào thì bị lộ, địch bắn ra rất dữ. Các mũi bạn đang gặp khó khăn, Long lại bị thương ở tay nhưng với ý nghĩ: “Nếu do dự không kiên quyết xông vào trong lúc khó khăn này thì anh em sẽ đổ máu thêm”, Long củng cố ngay lại đội hình và nhanh chóng dẫn đầu toàn mũi vượt qua 3 hàng rào, vào trận nội tiêu diệt địch. Tay phải đã bị thương nên Long chỉ dùng tay trái và răng để rút dây lựu đạn, thủ pháo đánh địch; thấy hỏa điểm địch xuất hiện ở đâu là anh lao tới tiêu diệt, nên đã tạo điều kiện cho các mũi bạn xông lên. Cuộc chiến đang diễn ra sôi nổi và quyết liệt thì Long lại bị thương lần thứ 2 vào chân. Lần này vết thương nặng hơn lần trước, máu ra nhiều. Nhưng anh vẫn tiếp tục đánh địch và chỉ huy mũi chiến đấu cho đến lúc mệt lả, cũng là lúc đồng chí chính trị viên vào trận nội. Anh báo cáo và đề nghị chính trị viên tiếp tục chỉ huy đơn vị rồi mới chịu để đồng đội đưa ra. Thắng lợi trong trận tiêu diệt vị trí Dông Do là có sự đóng góp xứng đáng của Vũ Đức Long. Sau khi ra viện, Vũ Đức Long lại tiếp tục trở về đơn vị chiến đấu. Là Trung đội trưởng, lại là một Đảng viên lớp Hồ Chí Minh, được vinh dự kết nạp giữa những ngày tháng 5 lịch sử, trong dịp kỷ niệm 80 năm ngày sinh của Bác Hồ, Long càng thấy trách nhiệm nặng nề của mình đối với Đảng, đối với đơn vị. Anh ra sức xây dựng, giúp đỡ anh em trong Trung đội để bất cứ lúc nào cũng hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Một hôm, Long được cử đi chuẩn bị cho một trận đánh mới thì anh bị thương, mất một cánh tay. Long không chịu ra Bắc điều trị. Anh xin thủ trưởng đơn vị cho ở lại chiến trường để tiếp tục chiến đấu. Lúc tâm sự với anh em, Long rất ít nói về mình mà thường lo lắng đến nhiệm vụ của tập thể. Anh thường động viên đồng đội cố gắng giữ vững và phát huy truyền thống của đơn vị. Sau khi nghe bản báo cáo của Long trong đại hội thi đua, đồng chí thủ trưởng đơn vị đã kết luận: “Đồng chí Vũ Đức Long là một cán bộ trẻ, mới 19 tuổi đời, 2 năm tuổi quân, nhưng đã có chí căm thù giặc sâu sắc, tình thương yêu đồng bào, đồng chí thiết tha, luôn luôn có ý thức trách nhiệm chính trị đầy đủ với mọi nhiệm vụ Đảng giao. Trong chiến đấu luôn nêu cao tinh thần dũng cảm ngoan cường, mưu trí, linh hoạt, liên tục và triệt để tấn công địch, thực hiện đúng khẩu hiệu: “Một người là một mũi tiến công”, có đòn đánh quyết định trong những tình huống quyết định. Đồng chí xưng đáng là một chiến sỹ thi đua xuất sắc của Đoàn, xứng đáng là một Đảng viên lớp Hồ Chí Minh”. Rất vinh dự, Vũ Đức Long được Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Trung Trung bộ tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhất. Tháng 10-1971 L.H.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 07:02:33 am ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG LÊ VĂN CAO BẮT SỐNG XE TĂNG MỸ Sau đòn trời giáng đêm 4-5-1968 của Sư đoàn 3-Sao Vàng vào một số vị trí quân Ngụy ở Mỹ Trinh, Mỹ Lộc (Phù Mỹ - Bình Định), bọn địch ở đây hốt hoảng kêu chủ Mỹ cấp cứu. Theo lược đồ phương án của tiểu đoàn, đại đội Lê Văn Cao và các đơn vị bạn đã dàn sẵn trận địa chờ chúng đến tiêu diệt. Đúng như dự đoán của ta, sáng ngày 5-5, sau nhiều đợt pháo cấp tập và máy bay trút bom dọn đường, 8 xe bọc thép và một đại đội bộ binh Mỹ từ đèo Nhông chậm chạp, ì ạch tiến vào trận địa Mỹ Lộc. Nhìn những con bọ hung Mỹ đã bao lần nghiền nát những thửa ruộng trĩu hạt, những luống khoai xanh mướt, xả súng bắn vào đồng bào ta mà lòng Cao và các chiến sỹ sôi sục căm thù, ý chí tiêu diệt địch trong mỗi người càng thêm nung nấu. 11 giờ 5 phút, lệnh đồng chí chỉ huy trưởng trận địa vang lên trong ống nghe: - Xuất kích! Cao dẫn bộ đội lao đi như những mũi tên, triển khai đội hình theo kế hoạch hiệp đồng giữa các mũi, nhanh chóng tiếp cận địch. Hỏa lực trên xe lúc này trở nên mất tác dụng vì toàn đơn vị của Cao đã tiến sát chúng. Cách chiếc xe đi đầu khoảng 10 mét, Cao vỗ vai Sơn, xạ thủ B40 rồi đưa tay chỉ chiếc xe thứ nhất. Biết ý đại đội trưởng, Sơn đứng thẳng người bình tĩnh bóp cò. Chiếc xe giật nẩy lên một cái rồi ngùn ngụt bốc cháy, khói tỏa mịt mù. - Cháy rồi! – Cao nói như muốn reo to. Chớp lấy thời cơ, Cao hạ lệnh xung phong. Các chiến sỹ của Cao theo anh lao thẳng vào đoàn xe tăng địch. Bị đánh một đòn phủ đầu choáng váng, bọn địch chống cự một cách bị động và tuyệt vọng. Phát hiện được chiếc xe thứ hai gần bên, Cao lệnh cho Kỳ dùng thủ pháo tiêu diệt. Kỳ xông lên địch ném thủ pháo vào thùng xe thì một viên đạn thẳng làm anh ngã xuống. Căm thù càng dâng cao, Lê Văn Cao quyết định trả thù cho đồng đội của mình. Anh lao đến nắm quả thủ pháo trong tay Kỳ, nhanh như sóc bám lấy chiếc xe đang nổ máy, trèo lên đầu xe, tống quả thủ pháo vào thùng xe. Bọn địch hoảng hốt bỏ xe vọt ra, nằm sóng soài trên mặt đất; tiếp theo là một loạt tiếng nổ của đạn các cỡ trong chiếc xe bị bốc cháy. Sức ép của thủ pháo cũng làm cho Cao lăn xuống đất choáng váng. Khi gượng ngồi dậy, anh thấy y tá Mùi, Trung đội phó Ngõa và một số chiến sỹ đang ngồi cạnh anh. Cao hạ lệnh: - Đồng chí Mùi đưa thương binh về phía sau còn tất cả theo tôi. Cao xách thêm khẩu súng trường, lượm một quả lựu đạn dẫn đầu phân đội nhằm hai chiếc xe bọc thép phía trước lao tới. Bọn địch trên xe chống cự điên loạn hòng chặn đứng mũi tiến công của Cao và tìm đường tháo chạy. Biết được khó khăn của phân đội Cao, đơn vị bạn đã kịp thời hiệp đồng bắn cháy luôn 1 chiếc. Bọn lính trên xe còn lại nhốn nháo tranh nhau tháo chạy. Bằng 3 loạt AK bắn điểm xạ, Cao diệt liền 3 tên Mỹ. Thừa thắng anh nhảy phốc lên chiếc xe vẫn còn đang nổ máy, Cao hiên ngang đứng thẳng cắm lá cờ đỏ lên chiếc xe mà anh vừa bắt sống, dùng trọng liên trên xe bắn truy đuổi bọn Mỹ đang tìm đường tháo chạy. Gương bắt sống xe bọc thép của Cao đã có sức khích lệ đối với toàn đơn vị đang thừa thắng xốc tới. Cao đứng trên xe vừa chỉ huy đơn vị diệt nốt số tàn quân đang tháo chạy vừa dùng súng bắn máy bay để yểm trợ cho bộ binh ta truy kích địch. Tin bắt sống xe tăng Mỹ đã nhanh chóng truyền đi khắp trận địa, gây thêm khí thế hào hùng của trận đánh. Chính ủy Trung đoàn 2- Lê Huẩn đã kịp thời thông báo qua máy điện thoại với các đơn vị: “Chúng ta đã phát huy truyền thống đèo Nhông, Trung đoàn đã có Bùi Xuân Bính mới, đó là đại đội trưởng Lê Văn Cao bắt sống xe tăng Mỹ”. Hiệp đầu ta đã phá hủy và bắt sống 5 xe bọc thép, diệt 10 tên Mỹ. Riêng Lê Văn Cao diệt 1 xe bọc thép, bắt sống 1 xe tăng và diệt 6 tên Mỹ. Đối với Lê Văn Cao thì thành tích trận đánh và cả cuộc đời chiến đấu của anh, anh thấy nó còn rất nhỏ bé đối với công lao Cách mạng đã giải phóng cho anh từ một cậu bé mồ côi cha mẹ đi ở cho nhà giàu và lang thang đi kiếm ăn dưới chế độ ngục tù của Mỹ - Diệm, và đến nay anh đã là một Đảng viên, một cán bộ chỉ huy hàng trăm chiến sĩ. Công lao ấy không bao giờ phai nhạt. Có lẽ chính vì vậy mà mỗi khi giáp chiến với quân thù, bao giờ Lê Văn Cao cũng là người chiến thắng. Trên đây là một trong 8 trận chiến đấu từ tháng 4/1967 đến cuối năm 1968 mà Lê Văn Cao đã chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, diệt gần 100 tên địch, diệt gọn 2 Trung đội, bắn cháy và bắt sống 5 xe bọc thép, thu 17 súng (có 4 trọng, đại liên). Năm 1968 tại Đại hội chiến sĩ thi đua Sư đoàn 3, đồng chí được nêu gương là một trong những ngọn cờ đầu của Sư đoàn và được tặng thưởng huy hiệu Bác Hồ. Ngày 20/12/1969 Lê Văn Cao được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng HCQC hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng LLVTND. Tháng 4-1970 L.H.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 07:05:03 am NGƯỜI CÁN BỘ TOÀN DIỆN Tại hội nghị tổng kết chiến dịch của đoàn Trung Dũng (Trung đoàn Bộ binh 2 hiện nay), chúng tôi được nghe kể lại một tấm gương xuất sắc, toàn diện của một Đảng viên là cán bộ, một Bí thư Chi bộ. Đó là Chính trị viên Đại đội 1, Đặng Xuân Bá thuộc Tiểu đoàn Đặc công 40. Đặng Xuân Bá quê ở Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, năm nay vừa tròn 24 tuổi. Anh đã 7 năm lăn lộn trên chiến trường. Tính Bá thường ngày ít nói nhưng sống rất cởi mở thoải mái, cần cù, giản dị và khiêm tốn. Anh em trong đơn vị rất quý mến Bá, coi anh như một người anh trong gia đình, một người anh rất mực thước và hiền hòa. Đến địa phương nào Bá cũng tranh thủ được cảm tình và quý mến của bà con trong vùng đóng quân, bởi vậy, đơn vị Bá luôn được nhân dân tận tình giúp đỡ. Từ lúc còn là cán bộ tiểu đội, trung đội, đến nay là chính trị viên đại đội, anh đều nỗ lực phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Bá nói với tôi: “Mình là Đảng viên, cán bộ, được Đảng tin tưởng giao cho trách nhiệm nặng nề, mình phải làm sao để xứng đáng với lòng tin đó của Đảng”. Từ sau ngày đơn vị triển khai cuộc vận động nâng cao chất lượng Đảng viên đến nay, Bá càng thấy rõ hơn trách nhiệm của người Đảng viên, cán bộ trước yêu cầu nhiệm vụ mới. Anh thường nghĩ: Là một cán bộ chính trị, mình phải làm sao đây để góp phần chuyển biến tình hình đơn vị. Để làm được điều đó, Bá cho rằng bản thân mình phải làm gương trước hết. Bởi vậy Bá đã không quản ngại khó khăn gian khổ, ngày đêm tích cực học tập quân sự, chính trị, đi sâu nghiên cứu nâng cao trình độ chỉ huy và lãnh đạo. Hàng ngày anh luôn làm gương trước đơn vị từ những việc rất nhỏ trong sinh hoạt như ăn ở, tác phong, cách xưng hô... đều nghiêm túc và chuẩn mực. Đối với đồng chí, đồng đội anh thường đi sát tâm tình, gần gũi, giúp đỡ bày vẽ cho từng chiến sỹ. Nhất là đối với các đồng chí mới, các đồng chí ốm đau. Anh thường nhắc nhở cán bộ cấp dưới, y tá, quản lý, anh nuôi chú ý chăm sóc anh em. Đêm đêm Bá thường đi kiểm tra từng nhà một, xem anh em có ngủ yên không. Có đắp bọc võng để chống muỗi không. Anh thường lấy lời Bác Hồ dạy cán bộ để tự nhắc nhở mình: “... đội viên chưa no thì cán bộ chưa được kêu mình đói, đội viên chưa đủ áo ấm thì cán bộ chưa được kêu mình rét...”. Trong thời gian đơn vị tiến hành huấn luyện quân sự, bất cứ ngày, đêm, mưa, nắng, Bá luôn có mặt ở thao trường. Anh cũng chịu khó tập luyện từng động tác kỹ chiến thuật như anh em, qua đó đề xuất ý kiến lãnh đạo giải quyết thắc mắc, xây dựng và củng cố quyết tâm cho đơn vị. Bước vào nhiệm vụ, cấp trên giao cho đơn vị Bá tiêu diệt cứ điểm Gò Mang (huyện Phù Mỹ) để hỗ trợ quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Mặc dù là cán bộ chính trị nhưng Bá xung phong trực tiếp đi với mũi thọc sâu đánh vào khu trung tâm của địch. Đêm hôm đó, giữa lúc mũi của Bá đang tiềm nhập còn 3 lớp rào nữa mới đến được lô cốt đầu cầu thì mũi bên cạnh đã nổ súng. Nhanh như chớp, Bá dẫn đầu đội hình tổ thọc sâu vượt qua 3 lớp rào xông thẳng vào trận nội. Lợi dụng những ánh chớp của lựu đạn, thủ pháo và ánh sáng lờ mờ của những ngọn đèn dù do địch thả, Bá kịp thời phát hiện mục tiêu, tiêu diệt từ lô cốt này đến nhà lính khác. Hành động của Bá đã làm cho cả mũi thọc sâu tiến công như một con dao nhọn cắm và giữa tim địch. Cuộc chiến đấu diễn ra mỗi lúc một khẩn trương thì bất ngờ Bá bị một viên đạn của địch từ bên trái bắn sang. Anh ngã xuống bất tỉnh. Lúc tỉnh dậy, nhìn về phía lô cốt địch anh cố bò lên, bò lên từng thước đất một. Sau đó, với sức mạnh tiềm tàng, anh đứng thẳng người dậy rồi lao về phía trước, ném liên tiếp mấy quả lựu đạn, thủ pháo vào nhà bọn chỉ huy, nhà thông tin điện đài, diệt sạch bọn địch ở đây. Các chiến sỹ thấy vết thương của Bá ra nhiều máu, đề nghị anh ra ngoài để băng bó nhưng anh bình thản nói: “Tôi không sao. Tôi vẫn còn đánh tốt”. Nói xong anh dẫn đầu các chiến sỹ chạy về phía địch, cùng anh em diệt nốt những mục tiêu còn lại. Tiếp đó, Bá động viên anh em giải quyết triệt để chính sách thương binh, tử sỹ và thu dọn chiến lợi phẩm. Đặng Xuân Bá là người cuối cùng rời khỏi trận địa. Cứ điểm Gò Mang đã bị san bằng, 160 tên địch bị tiêu diệt và bắt sống. Trong thắng lợi lớn đó của đơn vị có phần đóng góp xứng đáng của chính trị viên Đặng Xuân Bá. Trong năm qua đại đội 1 của Đặng Xuân Bá đã đánh 10 trận tiêu diệt 450 tên, bắt sống 5 tên, diệt gọn 1 ban chỉ huy liên đội, 1 đại đội và 8 trung đội bảo an, một đoàn bình định, 3 “mân” tề, thu 9 súng, phá hủy nhiều vũ khí đạn dược, lô cốt, hầm ngầm của địch. Đại đội anh được công nhận là ngọn cờ thi đua xuất sắc của đoàn Trung Dũng và được tặng danh hiệu: “Chỉ tiến không lùi, đã đánh là thắng, hiệu suất chiến đấu cao”. Riêng Đặng Xuân Bá đã được hội nghị tặng danh hiệu: “Người cán bộ toàn diện”. Tháng 4 năm 1971 L.H.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 07:09:09 am VŨ ĐĂNG CỘNG - NGƯỜI ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG KIÊN CƯỜNG, DŨNG CẢM Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công vào thị xã Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) Xuân Mậu Thân 1968, trung đoàn 12, Sư đoàn 3 có nhiệm vụ đánh địch ở vùng ven để kéo chủ lực địch ra khỏi nội thị. Trận đánh ở thị trấn Đập Đá (huyện An Nhơn) tháng 12 năm 1967 là nằm trong lược đồ tác chiến ấy. Trận này, sau khi quét sạch các chốt điểm bên ngoài, bộ đội ta tiến sâu vào trung tâm thị trấn thì gặp sự chống trả quyết liệt của địch. Đại đội trưởng Vũ Đăng Cộng đứng ngay cổng trại cảnh sát ngụy để chỉ huy đơn vị. Theo đường chính, các mũi tiến công của ta tiêu diệt vọng gác, đánh thốc vào trong như vũ bão. Một mũi của đại đội bị chặn trước nhà 2 tầng. Một mũi khác đánh sập nhà bên cạnh. Dưới ánh sáng lờ mờ, Cộng quan sát thấy bọn địch đang tập trung chống cự dữ dội vào mũi thứ nhất. Hỏa lực từ trên tầng 2 của chúng bắn ra xối xả. Lập tức, Cộng xách súng phóng lựu (súng M79) cùng đồng chí liên lạc lướt dưới làn đạn địch xông tới. Anh lên tầng 2, nhà bên cạnh, chĩa súng qua cửa sổ phóng liên tiếp 9 quả M79. Hỏa lực địch tắt ngấm. Các mũi quân ta thừa thắng ào ạt xông lên đánh chiếm trại cảnh sát rồi bung ra khắp thị trấn. Trận đánh kết thúc thắng lợi. Đơn vị được lệnh di chuyển qua thôn Phương Danh, kề sát Quốc lộ I, lập trận địa phòng ngự, “cắm một nhát dao” ngay yết hầu Tiểu khu Bình Bịnh ở Quy Nhơn. Đúng như lược đồ phương án chiến dịch của ta, ngày hôm sau, địch huy động 1 trung đoàn lính Păc-chung-hy (Nam Triều Tiên), 4 đại đội lính bảo an, 32 xe tăng, xe bọc thép yểm trợ, ào ạt tiến vào thôn Phương Danh. Trận chiến đấu không cân sức giữa ta và địch diễn ra vô cùng khốc liệt. Một tiểu đoàn của ta đánh với 1 trung đoàn tăng cường của địch, có máy bay, xe tăng, pháo binh yểm trợ. Đại đội 3 do Vũ Đăng Cộng chỉ huy là đại đội chủ công của tiểu đoàn 6, được phân công trên hướng chủ yếu. Cộng bố trí thành nhiều tuyến, lúc đánh phòng ngự, khi tổ chức phản kích, bao giờ Cộng cũng ở vị trí dẫn đầu. Anh nói với chiến sĩ: Đảng đã giao cho đơn vị chốt giữ ở đây, chúng ta hãy vững vàng chiến đấu tới cùng để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của Cách Mạng...Hơn lúc nào hết, trong lúc ác liệt này, chúng ta quyết giữ vững lời thề “ Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cuộc chiến đấu đã sang ngày thứ 5, bọn địch điên cuồng cho xe tăng dàn hàng ngang tiến vào trận địa. Cũng như bao lần trước, Vũ Đăng Cộng lại xông ra. Anh vọt lên chiến hào cùng chính trị viên phó Hồng Bá Cầm trườn tới trước đoàn xe. - Ầm ! Ầm ! Hai tiếng nổ xé tai của 2 quả đạn chống tăng do Cộng và Cầm bắn ra đã thiêu cháy 2 chiếc xe tăng địch. Đoàn xe hốt hoảng chạy dạt ra. Bom, pháo địch lại dội vào trận địa. Vũ Đăng Cộng bị một mảnh pháo phạt gãy cánh tay trái. Người anh lảo đảo. Các chiến sĩ xúm lại định đưa anh về phía sau. Nhưng Cộng gạt ra và nói: “ Tôi không sao. Mọi người hãy bình tĩnh. Hễ tôi còn thở, tim tôi còn đập, tôi vẫn chiến đấu bên cạnh anh em”. Anh bảo y tá băng cánh tay gãy và ra lệnh: “ Mọi người hãy bật lưỡi lê lên, sẵn sàng đánh giáp lá cà với bọn lính Păc-chung-hy để trả thù cho đồng chí, đồng bào”. Hoàng hôn bao phủ trận địa. Bọn địch tràn lên. Từ các chiến hào, công sự, bộ đội ta bật lên như những thiên thần, cùng Vũ Đăng Cộng lao vào quân địch. Họ đã chiến đấu đến người cuối cùng như lời thề trước lúc xuất quân. Trận địa im tiếng súng. Khắp nơi, ở đâu cũng có thân thể chiến sĩ ta nằm đè lên xác địch... Vũ Đăng Cộng sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó. Cảnh kéo xe thuê đã giúp anh sớm nhận ra những bất công trong xã hội và hiểu được lý tưởng đẹp đẽ của Đảng. Anh tình nguyện vào Đảng Lao động Việt Nam ở tuổi 20. Sống trên quê hương, ngày đêm nghĩ tới đồng bào miền Nam bị giặc Mỹ dày xéo, anh xung phong nhập ngũ và làm đơn xin vào chiến trường đánh Mỹ. Đó cũng là thời điểm anh Trỗi hy sinh. Không nói ra nhưng Cộng ôm ấp trong lòng hoài bão sống và chiến đấu như anh Trỗi. Vào chiến trường, Vũ Đăng Cộng đã thực hiện được hoài bão ấy một cách xứng đáng. Ngày 28 tháng 9 năm 1965, trong trận Diên Khánh (huyện Hoài Nhơn), anh dẫn đầu trung đội đánh với một đại đội địch cố thủ trong ấp Diên Khánh. Sau khi phá tung hàng rào ấp, anh cùng tổ mũi nhọn thọc vào tiêu diệt sở chỉ huy địch, rồi từ đó đánh bung ra, truy kích bọn lính “Cọp Đen” trên đồng trống và đường Quốc lộ số I, diệt nhiều tên địch, thu vũ khí. Ngày 19 tháng 11 năm 1966, phục kích tại thôn Long Giang (huyện Hoài Ân), đơn vị anh bị một tiểu đoàn Không vận Mỹ đánh vào trận địa từ phía sau, Vũ Đăng Cộng đã chỉ huy trung đội lật cánh đánh trả quyết liệt, giành lại thế chủ động, sau đó xuất kích đánh thẳng vào đội hình quân Mỹ, đẩy lùi chúng ra. Một tháng sau, trong trận phục kích tại thôn Long Giang và Lộc Giang (huyện Hoài Ân), Vũ Đăng Cộng lại làm cho bọn Mỹ phải khiếp sợ. Từ 8 giờ đến 21 giờ, Cộng đã chỉ huy trung đội vừa diệt bọn bộ binh vừa bắn máy bay Mỹ. Khi địch lùi ra để gọi pháo chi viện, Cộng dẫn đầu anh em xuất kích bám sát chúng, lấy xác địch làm công sự để tiếp tục tiến công. Trung đội anh đã đánh tan 2 đại đội địch, diệt 96 tên, bắn rơi 1 máy bay. Riêng Cộng diệt 16 tên Mỹ, thu 6 súng. Đạt danh hiệu “ Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú”. Vào mùa xuân lịch sử này, sau lời kêu gọi của Bác Hồ, anh tự tay ký vào Cờ Đảng tình nguyện làm đội viên “Đội Quyết tử”. Trận đầu chiến dịch, Cộng chỉ huy đại đội đánh vào Trung tâm huấn luyện hạ sĩ quan ngụy tại Gò Trạm (huyện Phù Cát). Khi bộ đội vào xong hàng rào thứ nhất thì bị lộ, anh ra lệnh: “ Giật rào xông lên ! ”. Được hỏa lực ta chi viện, Cộng hô bộ đội xốc tới. Lúc đại đội anh đã chiếm hết các mục tiêu của mình, thấy đơn vị bạn gặp khó khăn, Vũ Đăng Cộng dẫn một trung đội đánh tạt sang chi viện. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Căn cứ Gò Trạm bị phá tan hoang, 149 tên địch bị tiêu diệt. Và hôm nay, Vũ Đăng Cộng, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, anh đã chỉ huy đại đội kiên cường chiến đấu, cùng với tiểu đoàn kìm chân cả một trung đoàn lính đánh thuê Nam Triều Tiên và một liên đoàn Bảo an, tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang ta tiến vào thị xã Quy Nhơn chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Xuân 1968. Vũ Đăng Cộng là như thế đó. Trong 19 trận chiến đấu từ khi vào Nam, anh đã mang trong mình tư tưởng tiến công của Đảng, tinh thần bất khuất của anh Trỗi, lập nhiều chiến công xuất sắc, có trận đặc biệt xuất sắc. Anh đã đạt nhiều danh hiệu dũng sĩ, 2 lần được bầu là chiến sĩ thi đua và đã được tăng thưởng 4 Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng. Nhưng đối với anh, sung sướng hơn cả, vinh dự hơn cả là được mọi người tin tưởng và noi gương. Vũ Đăng Cộng đã anh dũng hy sinh cùng với hàng trăm cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 6, trung đoàn 12 tại thôn Phương Danh Nam. Nhưng hình ảnh anh, một cánh tay đeo băng trắng lủng lẳng, tay kia cầm súng ngắn dẫn đầu chiến sĩ đánh giáp lá cà với bọn lính Pắc- chung- hy, mãi mãi tạc vào lòng chiến sĩ và đồng bào như một biểu tượng của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng Việt Nam. Tháng 4 năm 1970 L.H.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 07:12:56 am Đại tá Nguyễn Văn Chước, Nguyên Chính ủy Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 – Sao Vàng, Nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Sư đoàn 309, Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận 479 (Căm-pu-chia), Nguyên Phó Cục trưởng Cục Chính trị Quân khu 5, đã nghỉ hưu. Ông là một trong những người có mặt ở chiến trường Bình Định từ những năm 1962-1963, đã tham gia thành lập Sư đoàn 3-Sao Vàng và gắn bó với Sư đoàn suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhân kỷ niệm 45 năm thành lập Sư đoàn, ông có mấy Ký ức nhỏ gửi tới các chiến sĩ trẻ của đơn vị. CHỈ CÓ TRUNG ĐOÀN 2 Hội nghị Pa-ri về Việt Nam chuẩn bị ký kết. Trung đoàn 2 được lệnh triển khai kế hoạch “Tranh thủ thắng lợi” (đánh chiếm những vùng có ý nghĩa chiến lược trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực). Lúc đó, Trung đoàn 2 đang phòng ngự ở huyện Hoài Ân thì được lệnh giao toàn bộ khu vực phòng thủ cho Trung đoàn 21 để hành quân ra Bắc huyện Hoài Nhơn, đánh chiếm Tam Quan và cửa biển Trường Xuân. Ai cũng vui mừng vì biết đây là cơ hội để mở rộng vùng căn cứ địa cách mạng. Nhưng đơn vị vừa hành quân tới xã Ân Tín, chuẩn bị vượt sông An Lão thì nhận điện khẩn của Sư đoàn: Trung đoàn 2 quay lại bảo vệ quận Hoài Ân. Thì ra, bọn địch cũng có ý định chiếm lại quận lỵ Hoài Ân trước khi ký hiệp định Pari. Chúng bí mật dùng Trung đoàn 40 đổ quân lên dãy núi Đất Sét, phía tây bắc quận lỵ Hoài Ân, vượt sông Kim Sơn đánh chiếm Truông Sỏi, phát triển sang núi Một, sát nách phía tây quận lỵ. Bị đánh bất ngờ, Trung đoàn 21 chốt giữ tại các điểm cao này bị bật. Nguy cơ địch chiếm quận lỵ từ phía sau đã hiển hiện trước mắt. Tôi đang chủ trì hội ý cán bộ triển khai kế hoạch đánh chiếm Tam Quan thì có điện cấp trên cần gặp chính ủy Trung đoàn. Tạm dừng cuộc hội ý, tôi cầm máy. Từ đầu dây bên kia, đồng chí Nguyễn Chánh (Bình), phó Tư lệnh Quân khu V đi trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 3, chậm rãi nói từng lời với vẻ nghiêm trọng: “Địch đã chiếm đồi 75, Truông Sỏi, đang triển khai đánh núi Một, đe dọa mất quận lỵ Hoài Ân. Thực lực của Trung đoàn 21 không thể khôi phục được tình hình. Trung đoàn 2 là đơn vị chủ công, có truyền thống. Chỉ có Trung đoàn 2 về đánh mới giữ được Hoài Ân. Quân khu tin tưởng vào các đồng chí.” Nghe trên thông báo địch, tôi biết tình thế đã nguy cấp đối với quận lỵ Hoài Ân nên nhiệm vụ của trung đoàn là nặng nề. Nhưng tôi thực sự cảm động, chen lẫn tự hào vì được cấp trên đánh giá tin cậy. Không thể chần chừ, tôi truyền đạt ngay ý kiến (coi như mệnh lệnh) của đồng chí Nguyễn Chánh và biến cuộc hội ý thành cuộc triển khai nhiệm vụ tác chiến. Đồng chí Trung đoàn trưởng (Lê Trọng Sủng) chỉ huy Tiểu đoàn 2 cấp tốc hành quân về quận lỵ đón đánh địch từ phía Tây. Tôi (chính ủy) và Trung đoàn phó Nguyễn Hữu Quang, chỉ huy Tiểu đoàn 1 tập kích địch ở đồi 75 và Truông Sỏi. Tiểu đoàn 3 nhanh chóng về giữ núi Một và làm lực lượng dự bị. Do đã đổ máu, hy sinh nhiều để bảo vệ “đất thánh Hoài Ân” nên cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn khi nghe địch sắp chiếm lại quận lỵ và Trung đoàn có nhiệm vụ đánh địch để bảo vệ Hoài Ân, mọi người đều xúc động thực sự. Ai cũng tràn đầy quyết tâm diệt địch. Bộ đội hành quân suốt đêm và khoảng 1 giờ sáng đã tới mục tiêu quy định. Trung đoàn sắp ra lệnh nổ súng thì trinh sát từ các trận địa đều báo cáo địch có hiện tượng rút chạy. Tôi ra lệnh bộ đội xông vào nhưng các trận địa đã trống không. Tiểu đoàn 2 đón lõng nhưng không đúng nơi địch rút, thành ra chỉ bắn “vuốt đuôi” xua chúng chạy nhanh hơn. Sau này được cấp trên thông báo, do địch phát hiện qua điện đàm máy 2W của ta rằng Trung đoàn 2 sẽ quay lại Hoài Ân nên chúng không dám trụ lại những nơi đã chiếm, càng không dám đánh vào quận lỵ. Sư đoàn và Trung đoàn trải qua những giờ phút căng thẳng đến nghẹt thở. Và chúng tôi, những người lính của Trung đoàn 2 chủ công có chút tự hào bởi danh tiếng của mình đã làm cho kẻ thù phải khiếp sợ. Đà Nẵng, tháng 8-2009 N.V.C Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 07:17:19 am CẦU HÒA Sau hiệp định Pari về Việt Nam, phương châm “xanh vỏ, đỏ lòng”, “hiu hiu gió thổi” bị phủ định bởi bọn địch ra mặt nống lấn vùng giải phóng . Chúng quyết xóa bằng được “Vùng đất thánh Hoài Ân”. Dãy núi phía Đông quận lỵ Hoài Ân từ điểm cao 305 đến 271, bình độ 200 luôn bị địch ném bom bắn pháo để lấn chiếm. Tại điểm cao 305, Đại đội công binh của Trung đoàn chốt giữ, anh em đã từng bước kiên cố hóa trận địa bằng hầm kèo và địa đạo. Máy bay địch đến ném bom, đồng chí Thưởng, chính trị viên dẫn đầu anh em ra trận địa bắn máy bay bằng súng AK. Vẫn biết súng AK thì làm sao hạ được máy bay phản lực nhưng Thưởng nói: “ Có bắn thì nó mới sợ và ném bom không trúng, không bắn nó cũng ném. Đồi hẹp, dốc đứng, bom dễ trượt xuống vực khi chúng mất bình tĩnh”. Nếu chúng bắn pháo cối hạng nặng thì anh em rút xuống địa đạo. Cuộc sống gắn với bùn đất nhưng tâm thế vẫn đàng hoàng. Phòng họp trong hầm, sinh hoạt văn hóa trong hầm. Ở trong hầm, đồng chí Phung, đại đội trưởng hướng dẫn anh em cải tiến đạn cối 61, cối 82 thành lựu đạn có sức công phá lớn. Khi máy bay địch đến anh cho bộ đội dùng B41 bắn máy bay, khiến địch kinh hoàng. Một hôm, anh em phát hiện Trung đoàn 41 ngụy nghi binh hành quân ra Hoài Nhơn, nhưng chập choạng tối quay lại tập kết dưới chân núi 305 và 271 để ngày hôm sau tiến công trận địa ta. Phán đoán được âm mưu địch, Trung đoàn sử dụng toàn bộ đại đội ĐKZ75, cối 82 và 12,7 li tập kích quyết liệt vào vị trí tập kết của địch. Chúng bị thiệt hại nặng nề và không chối cãi được hành động vi phạm Hiệp định. Sáng hôm sau, tại điểm giao tiếp giữa 2 bên tại chân đồi Du Tự, tên Thiếu tá Tham mưu trưởng Trung đoàn 41 ngụy nhận tội vi phạm Hiệp định và đề nghị ta cho phép để chúng giải quyết hậu quả tổn thất. Anh em về báo cáo tôi. Tôi không trực tiếp ra gặp gỡ mà trao đổi với đồng chí Quỵnh, phó chính ủy và đồng chí Khánh Vân, nhà báo quân đội ra nói với chúng, đại ý: “Chính sách của Mặt trận là nhân đạo, đơn vị sẽ không nổ súng để cho binh lính các ông vào giải quyết tử thương. Khuyến cáo họ không được tráo trở tiến công, sẽ bị đòn đau hơn.” Chiến trường ác liệt, nhưng cũng có những khoảnh khắc thật tuyệt vời. Đà Nẵng, tháng 8-2009 N.V.C CẮM CỜ Hiệp định Pari quy định: Khi thời khắc ngừng bắn có hiệu lực (1 giờ ngày 28-01-1973), bên nào chiếm được ở đâu thì cắm cờ báo cho bên kia biết, không được xâm phạm. Hai bên giữ nguyên trạng phạm vi quản lý của mình. Cắm cờ là một hình thức ngoại giao chứ không phải chia đất. Bộ đội hiểu được điều đó nên đã có nhiều sáng tạo trong thời điểm “tranh tối tranh sáng ấy” để có thêm đất cho Cách mạng. Cụ thể là ở núi Bụt, một mỏm núi án ngự ngay cửa ngõ quận lỵ Hoài Ân đã bị địch chiếm trước ngày 27-01-1973. Ta đánh mãi, không lấy được. Địch chiếm đỉnh đồi, Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2 phòng giữ ở chân đồi. Sáng ngày 27-01-1973, Đại đội 3 cho bộ đội vận động ra vào lấp ló như đang chuẩn bị chiến đấu. Bọn địch trên đồi sợ bị tiến công nên sáng hôm sau, chưa đến giờ thay quân đã cho lính tụt xuống. Một tổ chiến sỹ Đại đội 3 bí mật bám theo và lên đỉnh núi Bụt cắm cờ. Đơn vị địch đến thay quân, lên tới đỉnh, thấy cờ Mặt trận dân tộc giải phóng nên chửi thề rồi quay lại. Cũng cách làm đó, Đại đội trinh sát Trung đoàn đã chiếm lại được mỏm 1 Đầu Tượng, tạo nên thế trận phòng ngự ở quận lỵ Hoài Ân thêm vững chắc trong những ngày chống địch lấn chiếm sau đó. Đà Nẵng, tháng 8-2009 N.V.C Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2017, 07:22:27 am BÌNH ĐỘ 200 Khoảng cuối năm 1972, bình độ 200 là một trong những điểm chốt bảo vệ từ xa của ta đối với quận lỵ Hoài Ân. Địch quyết lấn chiếm để làm bàn đạp tiến vào quận lỵ. Hàng ngày, chúng ném bom, bắn pháo phá nát trận địa. Ngớt bom pháo là cho bọn bảo an đóng giữ ở điểm cao 442 gần đó tiến xuống, chẳng khác gì từ trên nóc nhà đánh xuống mái nhà. Tại đây, bộ đội ta ngoài xây dựng trận địa ở điểm cao, còn xây dựng hệ thống địa đạo ở lưng chừng núi. Địch ném bom, bắn pháo thì lui về địa đạo. Ngớt bom pháo, bộ binh địch xuất hiện, các chiến sỹ ta xông ra giáp chiến. Bọn bảo an đánh mãi không được, chúng phải dùng tới lính biệt động đánh theo cách đánh của bọn biệt kích: Bí mật cơ động lực lượng tới gần chốt của ta để bất ngờ đánh úp. Tại Sở chỉ huy tiền phương của Trung đoàn, đồng chí Nguyễn Hữu Quang, Trung đoàn phó phát hiện địch liền báo cáo về Sở chỉ huy cơ bản tại Hội Long. Tôi triệu tập họp Thường vụ và Ban chỉ huy, hạ quyết tâm chiến đấu. Nhất trí tập kích ngay trong đêm, tiêu diệt bọn biệt động quân trước khi trời sáng, đập tan ý đồ chiếm bình độ 200 của chúng. Trung đoàn trưởng đi dự hội nghị ở Sư đoàn, tôi – Chính ủy và anh Quang – phó trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy. Kế hoạch được triển khai nhanh chóng. Dùng Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 1 làm xung kích có sự chi viện của hỏa lực Trung đoàn. Trận đánh diễn ra dữ dội và nhanh chóng. Toàn bộ Tiểu đoàn biệt động quân của địch, không có công sự che đỡ đã bị pháo cối của ta đánh hoảng loạn, tổn thất. Tiếp đó các chiến sỹ bộ binh tràn lên. Hầu hết bọn địch bị diệt và tan rã. Chốt của Trung đoàn ở bình độ 200 vẫn hiên ngang đứng vững. Trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, thương vong của ta không đáng kể. Đó là nhờ nắm chắc thời cơ, mạnh dạn quyết đoán, chỉ huy hợp đồng bộ - pháo chặt chẽ. Kinh nghiệm ấy đã trở thành một trong những kỷ niệm đẹp cuộc đời lãnh đạo, chỉ huy của tôi. Đà Nẵng, tháng 8-2009 N.V.C ĐỘI QUYẾT TỬ Chiến dịch Xuân Hè năm 1972, Sư đoàn 3-Sao Vàng cùng Quân dân địa phương đã giải phóng hoàn toàn Bắc Bình Định. Quận Hoài Ân trở thành “Mảnh đất thánh”của cách mạng và được bảo vệ cho đến ngày chiến tranh kết thúc. Đã có biết bao cán bộ, chiến sĩ đổ máu, hi sinh để giữ vững vùng “Đất Thánh ” ấy. Ác liệt nhất là đồi Du Tự. Đồi Du Tự là điểm cao khống chế trực tiếp quận lỵ Hoài Ân. Trung đoàn giao cho tiểu đoàn 2 dùng một đại đội thay nhau chốt giữ. Đây cũng là mục tiêu hiểm yếu để chiếm quận lỵ nên bọn địch đánh phá vô cùng ác liệt. Sau nhiều lần bị bộ binh ta đánh lui, chúng thay đổi thủ đoạn, dùng pháo, cối hạng nặng lắp ngòi nổ chậm để khoan sâu phá hoại công sự của ta. Bộ đội thương vong nhiều, lực lượng cơ động của tiểu đoàn 2 bị hỏa lực của chúng ở điểm cao 312 gần đó chế áp, không chi viện được. Chốt Du Tự bị mất. Ta dùng đặc công tập kích chiếm lại. Nhưng ngày hôm sau, lại bị chúng chiếm. Giằng co nhau mãi, bộ đội hao tổn. Sư đoàn khêu gợi trung đoàn 2 thành lập “Đội quyết tử” để bảo vệ quận lỵ Hoài Ân. Ban chỉ huy trung đoàn bàn bạc và phân tích: nguyên nhân mất Du Tự không phải do bộ đội thiếu lòng dũng cảm mà là chưa có cách đánh thích hợp. Công sự không đủ vững và hỏa lực ta chưa kìm chế được hỏa lực địch. Nếu cứ tiếp tục tổ chức các đội “Quyết tử” thì bao nhiêu đội cho đủ. Các cán bộ, chiến sĩ nòng cốt sẽ bị cuốn vào các đội “Quyết Tử” mà hy sinh. Chúng tôi đem suy nghĩ của mình xuống bàn bạc với đại đội công binh đang đảm nhiệm phòng ngự tại quận lỵ Hoài Ân. Anh em thống nhất không thành lập đội quyết tử mà cả đại đội hạ quyết tâm “Còn người, còn quận lỵ”, chỉ cần trung đoàn có kế hoạch chi viện binh, hỏa lực và chi viện lực lượng củng cố công sự. Hai ngày sau, tôi ra trận địa kiểm tra thì thấy, từ ngả 3, ngả 4 trong quận lỵ đến các công sự chốt, tường nhà đều có khẩu hiệu “Còn người, còn trận địa”, “Quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ quận lỵ Hoài Ân”... Lời thề của các chiến sĩ đã thành sự thật. Những ngày sau đó, dù địch tăng cường đánh phá. Đánh ngày, đánh đêm, nhưng ta có cách đánh mới, quyết tâm mới – Quyết tâm của cả tập thể đơn vị chứ không chỉ một đội “Quyết tử”, trung đoàn đã bảo vệ được quận lỵ Hoaì Ân cho đến ngày ký Hiệp định Pa-ri. Đà Nẵng, tháng 8 năm 2009. N.V.C Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:33:17 am LẠI CHUYỆN BẮT SỐNG TƯỚNG NGỤY Vừa qua, tôi có đọc báo Quân đội nhân dân và Sự kiện - Nhân chứng thấy có một số tình tiết không chính xác về việc bắt Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang trong trận Ninh Thuận ngày 16 – 4 – 1975. Tác giả của các bài báo, có người là đại tá, có người Trung tướng. E rằng hậu thế khó bề phân định đúng sai. Nay, nhân kỷ niệm 45 năm thành lập Sư đoàn, tôi xin nói một số điều mà tôi đã trực tiếp “tai nghe, mắt thấy” về việc bắt 2 tướng Nghi, Sang. Trước hết, phải khẳng định, trong “Ký sự lịch sử Sư đoàn Sao Vàng” xuất bản năm 1984, sự kiện này đã được các thế hệ chỉ huy Sư đoàn kết luận qua nhiều lần duyệt bản thảo là hoàn toàn đúng đắn, đáng lẽ không cần phải bàn cãi. Tuy nhiên, do những góc nhìn khác nhau, một số người lại viết theo những thông tin hoặc trí nhớ của chính mình nên chưa thật chính xác, âu cũng là điều khó tránh khỏi. Chỉ tiếc là có tình tiết nhầm lẫn đến mức, đơn vị bắt tướng là Trung đoàn 2 lại nói là Trung đoàn 12 (Sự kiện và nhân chứng số 136 tháng 4, năm 2005). Nay tôi xin kể lại vắn tắt như sau: Quá trưa ngày 16 tháng 4 năm 1975, Ban chỉ huy Trung đoàn 2 cơ động một quãng đường dài từ quận Du Long đến quận Bửu Sơn (tỉnh Ninh Thuân). Tới đường 11 đi Đà Lạt, do quá mệt, tôi ra lệnh tạm dừng cho cơ quan ăn cơm trưa (độ 13 giờ). Mọi người tự động tìm chỗ nghỉ. Lúc đó, tôi là Chính ủy trung đoàn, đồng chí Đoàn Mai Ngữ, quyền Trung đoàn trưởng đã bị thương nhưng vẫn theo đơn vị, đồng chí Nguyễn Văn Hồng, Phó Trung đoàn trưởng giúp đồng chí Ngữ chỉ huy mọi việc, đồng chí Lê Văn Quýt, Phó Chính ủy trung đoàn giúp tôi giải quyết chính sách hậu phương và công tác dân vận. Chưa kịp ngả lưng thì có điện thoại của tiểu đoàn 1. Đồng chí Xích, quyền Tiểu đoàn trưởng báo cáo đã gặp địch đang lẩn trốn ở khu ruộng mía phía nam Đường 11, nhân dân cho biết, chúng có hàng trăm tên. Tôi triệu tập Ban Chỉ huy Trung đoàn họp ngay bên mé đường, quyết định giao đồng chí Hồng chỉ huy Tiểu đoàn 1 với phương châm “ Bao vây chặt, kêu gọi hàng, giảm đánh bằng súng đạn để hạn chế thương vong cho bộ đội”. Đồng chí Hồng đi rồi, tôi gọi điện thoại cho Tiểu đoàn 1, hướng dẫn đồng chí Xích, khi trời tối, tìm một chiếc đèn của dân, treo lên một vị trí đã định để hướng dẫn địch ra hàng. Khoảng 20 giờ, tôi đang lơ mơ chợp mắt thì Tiểu đoàn 1 báo cáo một tin bất ngờ rằng: Trong đám tù binh có 2 tên tướng ngụy. Tôi chưa tin hẳn nên ra lệnh cho đồng chí Xích đi kiểm tra lại. Một lát sau, đồng chí Xích báo cáo đã bắt được tướng thật nhưng chúng nó khiếu nại không cho trói theo luật quốc tế, xin ý kiến của trung đoàn. Tôi cũng chưa biết luật nào quy định về bắt được tướng giặc nhưng nghĩ rằng: Bắt được tướng giặc là quan trọng, lại ban đêm nên ra lệnh cứ trói cẩn thận, đối xử lịch sự, dẫn về trường Tiểu học sẽ có người đón. Tôi báo cáo việc bắt tướng lên Sư đoàn. Chính ủy Sư đoàn Mai Tân ra lệnh cho tôi phải trực tiếp kiểm tra. Lập tức tôi tới trường Tiểu học. Anh em gác hỏi: “ Thủ trưởng có cần gặp chúng không?”. Tôi trả lời: “ Không. Chỉ kiểm chứng thôi”. Trong vai một người lính, tôi nhìn tất cả đám tù binh một lượt, thấy chúng ngồi cúi mặt. Một tên dáng thấp đậm đã đứng tuổi, trên nắp túi áo thêu rõ hàng chữ “ Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi”, cạnh đó, tên có dáng cao to hơn, trên ngực áo thêu hàng chữ “ Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang” (tên này mặc áo liền quần của phi công), kế đến là một tên Mỹ và mấy tên sĩ quan cấp tá. Tôi ra lệnh cởi trói và cấp lương khô cho chúng. Tên Mỹ đón nhận hồ hởi và ăn lia lịa, còn nhét mấy thỏi vào túi. Nghi và Sang không ăn nên bọn cấp dưới cũng ngồi im. Tôi quay về Sở Chỉ huy trung đoàn, báo cáo với Tư lệnh Sư đoàn và ngay trong đêm, Sư đoàn cho cán bộ các cơ quan xuống tiếp nhận đám tù binh đó. Sau này, trước khi mở Đại hội tổng kết thi đua năm 1975, chúng tôi đã tổ chức bình công từ trung đội, đại đội đến tiểu đoàn, trung đoàn và xác định, đơn vị bắt tướng ngụy là Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2. Tổ trực tiếp bắt tướng là đồng chí Loan (trung đội phó), đồng chí Mưu (tiểu đội trưởng) và đồng chí Quân, xạ thủ B40. Tất cả đều được khen thưởng xứng đáng. Đà Nẵng, tháng 8 năm 2009 N.V.C Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:36:47 am KHI CẦN, CHÍNH ỦY TRUNG ĐOÀN CŨNG LÀM CÁN BỘ ĐẠI ĐỘI Đợt 1, Chiến dịch Xuân 1975, Trung đoàn 2 đảm nhiệm vai trò chủ công của Sư đoàn đánh cắt Quốc lộ Số 19. Trong đó, gay cấn nhất là phải đánh sập và làm chủ được cầu 16. Ngày đầu, công binh trung đoàn đánh lần thứ nhất không sập hết cầu. Trung đoàn 47 ngụy tung lực lượng chiếm giữ cầu. Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2 và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 đánh Núi Dài xong, địch đưa quân chiếm lại. Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 2 đánh cầu 16 suốt ngày vẫn không chiếm được. Bộ đội thương vong cao. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội mệt mỏi, có người dao động. Yêu cầu đánh sập cầu 16 là bức thiết vì đó là yếu tố quan trọng bảo đảm cắt đường 19. Trưa hôm đó (tôi không nhớ rõ ngày nào). Trời nắng, nóng bức. Ban chỉ huy trung đoàn đang theo dõi các hướng chiến đấu thì có điện thoại của Sư đoàn. Tôi vội cầm máy: - Tôi. Chước. Xin nghe. - Tôi. Mai Tân đây. Lệnh của Sư đoàn, đồng chí Chính ủy Trung đoàn phải ra trực tiếp chỉ huy bộ đội đánh sập cầu 16. Đánh xong, báo cáo cho tôi. - Anh Mai Tân, Chính ủy Sư đoàn vốn là người sắt đá. Tôi biết, khi Chính ủy Sư đoàn đã ra lệnh là tình hình khẩn thiết lắm rồi. “Quân lệnh như sơn”, tôi nói với anh Thái, trung đoàn trưởng: “Sư đoàn đã lệnh đích danh tôi chỉ huy đánh cầu nên anh ở nhà chỉ huy chung phối hợp cho tôi hoàn thành nhiệm vụ”. Tôi mang theo 1 trinh sát và 1 vệ binh đi cùng. Tay cầm cây lá ngụy trang để vượt đồng trống. Trên trời, máy bay trinh sát địch chao lượn nhưng bị cao xạ của ta khống chế nên không dám xuống thấp. Chúng tôi nhanh chóng tới được Vườn Xoài, nơi tập kết của Đại đội Công binh. Gặp anh em, tôi hỏi vì sao đánh cầu không sập. Anh em trả lời do thiếu bình tĩnh nên vội vàng đặt bộc phá không đúng kỹ thuật. Tôi bảo đại đội trưởng dẫn ra kiểm tra thực địa. Nhờ có bờ suối cao, cây cối rậm nên chúng tôi tiếp cận cầu khoảng 20 mét. Thấy cầu chỉ bị nghiêng, xe tăng không đi được nhưng xe cơ giới có thể vượt qua. Tôi ra lệnh “Phải đánh lại. Đánh vào 2 mố cầu”. Về tới Vườn Xoài, tôi giám sát anh em buộc bộc phá, tra kíp và chọn người ra đánh, bố trí lực lượng yểm hộ. Tất cả do tôi trực tiếp chỉ huy. Mọi người phấn khởi, tin tưởng, có lẽ là thấy Chính ủy Trung đoàn xuống tận nơi, chứ về kỹ thuật đánh cầu thì anh em giỏi hơn tôi. Mặc cho địch ở Núi Dài khống chế, bộ đội vẫn mạnh dạn tiếp cận cầu dưới hỏa lực yểm hộ của ta. Trong chốc lát, 2 tiếng nổ của 2 quả bộc phá khối đã làm bật tung 2 mố cầu 16. Tôi ra kiểm tra kết quả chính xác rồi mới về báo cáo với Chính ủy Mai Tân. Sư đoàn đã theo dõi sát trận này nên biểu dương ngay khi tôi vừa cầm máy báo cáo. Sau khi đánh sập Cầu 16, ta làm chủ mặt đường 19, nối thông với Tiểu đoàn 1 đang chiến đấu ở phía nam đường. Suốt mấy ngày qua, thương binh Tiểu đoàn 1 ùn lại quá tải ở Trạm phẫu tiền phương, không đưa về phía sau được. Pháo địch đêm nào cũng bắn chặn các lối hành lang của ta. Anh em Đại đội Vận tải tổn thất, một số mệt mỏi, có người sợ không dám đi khênh thương. Trước tình hình đó, tôi bàn với Ban Chỉ huy để tôi trực tiếp tổ chức đưa thương binh của Tiểu đoàn 1 vượt Đường 19 về Bệnh xá kịp cứu chữa cho anh em. Tôi huy động lực lượng 3 Cơ quan Trung đoàn ( kể cả Phái viên của Quân khu và Sư đoàn xuống công tác. Nhà văn quân đội Nguyễn Trí Huân cũng hăng hái tham gia). Phân công Trinh sát nắm đường, Thông tin, Vệ binh làm lực lượng bảo vệ đi đầu và đi cuối. Hợp đồng với các Đại đội Hỏa lực chế áp pháo địch ở Đồng Phó và Núi Dài. Tôi đứng trên đường 19, trong ánh sáng lập lòe của pháo sáng địch, mỗi cáng đi qua, tôi lại nói: “Chước đây. Chính ủy Trung đoàn đây. Các đồng chí hãy cố gắng lên nhé ”. Một lần nữa, tôi lại cảm nhận được sự yên tâm, phấn khởi của người lính khi có người chỉ huy cao nhất của trung đoàn cùng sát cánh với mình ở những thời điểm khó khăn nhất. Đêm đó, chúng tôi chuyển được 22 ca thương nặng của Tiểu đoàn 1 đã nằm chờ mấy ngày qua ở nam Đường 19. Đà Nẵng, tháng 8 năm 2009 N.V.C Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:45:09 am Chùm thơ của Đào Quang Thắng Cán bộ Sở Văn Hóa – Thông Tin tỉnh Bắc Ninh. Nguyên chiến sĩ Trinh sát Kỹ thuật Sư đoàn 3- Sao Vàng CÁT TRẮNG – RỪNG DƯƠNG Tặng Út Thơm, nữ du kích huyện Phù Mỹ Anh lại xuống vùng Đông Dù độ này giặc lùng dữ lắm Em không hẹn Anh cũng về Mỹ Thắng Về với rừng Dương, cát trắng của Anh Biển ngoài kia thổn thức ngày đêm Sóng vỗ lòng Anh, Em có biết Những năm quê ta đầy bóng giặc Mặt biển loang máu đỏ dân lành Bãi cát hằn vết xích xe tăng Dương cụt ngọn trong tầm đạn bắn Em không hẹn Anh cũng về Mỹ Thắng Về với rừng dương, cát trắng của Anh Dẫu suốt ngày chôn mình trong cát bỏng Anh vẫn yêu tha thiết những căn hầm Những căn hầm như những chiếc lò nung Nung chí căm thù và lòng dũng cảm Tình nghĩa quê hương rẽ trong cát nóng Theo Anh đi cháy mặt quân thù Ngày toàn thắng không xa Em nhớ đón Anh về Mỹ Thắng Ta nắm tay nhau đi trên cát trắng Nghe rừng dương dìu dặt khúc tình ca Ơi rừng dương cát trắng của Ta. Đông Phù Mỹ, 6-1972 Đ.Q.T QUA DỐC GIÓ Dốc Gió – gió bay tung mũ tai bèo Ta cõng pháo vượt lên cao điểm Dốc dựng, đá chồng, chênh vênh nguy hiểm Vì miền Nam! Tất cả động viên nhau Ta biết dưới kia làng xóm còn đau Mẹ già, em thơ chập chờn giấc ngủ Vườn dừa xanh, xe giặc quần nát úa Đang giục ta xẻ gấp chiến hào Dốc Gió ơi Mở lối ta vào Cho pháo kịp ngự trên cao điểm Giờ trừng phạt quân thù đã đến Trận đánh đêm nay rung chuyển trời sao. Phù Mỹ, năm 1971 Đ.Q.T CHÚNG TÔI ĐI Tặng Đại đội Vận tải Sư đoàn 3 Chúng tôi đi gùi nặng trên lưng Quên hết nỗi nhọc nhằn năm tháng Đi suốt mùa mưa, đi qua mùa nắng Áo sờn vai và chai sạn bàn chân Đường gian nan là đường Trường Sơn Dốc ngược cổng trời hết đèo lại núi Rừng bạt ngàn khe sâu chắn lối Mưa lũ trở về sông suối mênh mông Có những ngày nhạt muối thiếu cơm Củ mì nướng nặng tình bản nhỏ Có nhiều đêm ngủ trong lèn đá Nằm ôm nhau lạnh buốt sống lưng Mà đời vui như cánh én mùa xuân Tiếng hát vang rừng, tiếng cười dậy núi Yêu sao những chiếc võng treo bờ suối Tiếng sáo ngân nâng tiếng thơ bay Chúng tôi đi gian khổ chặng đường dài Càng gắn bó thêm tình đồng chí Yêu biết mấy những tháng năm đánh Mỹ Mỗi bước ta đi – huyền thoại một cuộc đời Bắc Bình Định, 1971 Đ.Q.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:47:20 am GIẤC NGỦ CHIẾN HÀO Đêm Bồng Sơn ngủ với A-Nhin Trong chiến hào thơm mùi đất mới Tôi quàng tay ôm người đồng đội Hơi ấm A-Nhin truyền sang tôi Mái tóc quăn đượm khói Xà-Nu Mùi thuốc súng quyện vào thơm quá Xa mấy mùa nương, A-Nhin có nhớ Đếm chiến công bằng xác quân thù Quê A-Nhin: Kon Tút xa xôi Cái rẫy, cái nương chen giữa núi đồi Dòng sông suối mát, lượn quanh bản nhỏ Nhịp chày khua rộn rã niềm vui Tạm biệt quê hương say tiếng súng xa A - Nhin đứng trong đoàn quân giải phóng Đôi mắt sáng và trái tim cháy bỏng Ngực cầu vồng vươn tới đón phong ba Giấc ngủ chiến hào, súng cũng nằm đôi Lê nhọn hoắt hướng về đồn giặc Hơi sương rắc niềm vui lên nét mặt Tiếng ngáy A-Nhin dội tới biển khơi Có giấc ngủ nào đẹp hơn giấc ngủ chúng tôi Giấc ngủ chiến hào những năm đánh Mỹ. Hoài Nhơn, năm 1973 Đ.Q.T. CHUYỆN NẮM CƠM Đó là một nắm cơm Tôi nhận từ tay anh nuôi Đại đội Anh nuôi tôi ít nói Trao cơm xong chỉ nhoẻn miệng cười Cơm cũng chẳng nhiều lời Chỉ giương mắt nhìn tôi ngộ nghĩnh Nhưng mỗi lần lên chốt với tôi Gió cuốn bụi chiến hào cơm ngả màu nâu Cơm là tình nghĩa trước sau Của anh nuôi với ba người giữ chốt Tôi thương anh nuôi khó nhọc Dậy sớm thức khuya lặng lẽ nấu cơm Bếp lửa hồng là trận địa của anh Cháy suốt những năm dài đánh Mỹ Con đường lên đây vất vả Dốc trơn, lắm lúc ngã nhào Pháo đèo Nhông chặn trước đuổi sau Có mảnh găm thân gùi nhức nhối Tôi ăn cơm lúc trời sẩm tối Cắn phải mảnh gang lại khúc khích cười Có những đêm tối trời Lũ giặc mò lên điểm chốt Ba hướng súng giương lê nhọn hoắt Chúng tôi nghêu ngao hát với xoong nồi Phút xung phong cơm vẫn ấm bên người Bạn ơi, Cuộc chiến còn ác liệt Có thể ngày mai chúng tôi sẽ chết. Trong đoàn quân đại thắng trở về Chúng tôi không có mặt Chuyện nắm cơm sẽ vào sử sách Thì chúng tôi còn mãi với non sông Lấp lánh muôn đời cùng với Trương Sơn Chốt Gộp Chặt, Hoài Ân, đêm cuối năm 1973 Đ.Q.T THÁNG TƯ TÌM GỌI Tặng đồng đội Sư đoàn 3 Anh hùng. Ơi đồng đội một thời trận mạc! Tháng Tư này ở đâu ? Người tóc còn xanh, người đã bạc đầu. Người đã đi xa, người về bên mẹ. Người bám ruộng đồng, người vào Thành phố. Người ngút trùng khơi, người thẳm núi rừng. Người lỗi lầm, người sáng lương tâm Người giầu có, người còn tất bật Người vẹn nguyên, người chân tay thiếu hụt Tháng Tư này mải miết tìm nhau. Sư đoàn ta lật cánh xuống đồng bằng Tháng Tư , 1975 Rùng rùng bước chân thần tốc Sáng Phan Rang, chiều đã vào Phan Thiết Nhấp nhô sông núi mũ tai bèo. Nhớ Ba mươi Tháng Tư, Trước cửa ngõ Sài Gòn Máu đẫm ngực, bạn ôm ta hò hẹn: - “Mai mốt về quê, mày nhớ đến “Thăm mẹ tao, mây trắng xứ Đoài...” - “ Nếu chết đi, tao vẫn tìm mày “ Qua sông Đuống là sang làng quan họ “Lên xứ Lạng, tao tìm chúng nó “ Theo Lượn, Sly, tao đi tới Kỳ Cùng...” (Ơi xứ Đoài, mây trắng...xứ Đoài ơi ! Ơi Kỳ Cùng xa lắc Đầu gối bờ sông, bạn nằm thiêm thiếp Hai mươi phút sau, giải phóng Sài Gòn ) Ôi Tháng Tư Tháng Tư xanh cồn cào Ly rượu đầy, vơi Cay trào nước mắt Đồng đội tìm nhau cùng trời, cuối đất Về đi ! Về đây đông đủ, bạn bè ơi Cuộc rượu chưa tàn. Bắc Ninh, tháng Tư năm 2009. Đ.Q.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:56:23 am Nguyễn Viết Đáng, Nguyên Trưởng Tiểu ban Kế hoạch E2, F3 năm 1970-1971, người có nhiều kỷ niệm đối với Trung đoàn Bộ binh 2. Anh đã viết những trang hồi ký khá xúc động về những ngày tháng gian khó của trung đoàn, xin trích đăng một số chuyện trong cuốn hồi ký ấy. NHẤT ĐÀO MỲ (SẮN) NHÌ ĐÁNH GIẶC Tình cảnh Trung đoàn 2 những năm 1969-1970 đúng là phải lo cái ăn trước rồi mới tính chuyện đánh giặc. Sau Tổng tiến công Mậu Thân 1968, địch phản kích ráo riết thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cơ sở ta sau Tết Mậu Thân, số bị chết, số bị bắt, còn lại phải lên núi. Dân bị dồn vào các khu dồn, sống trong sự kìm kẹp của địch. Bộ đội chủ lực không còn chỗ đứng ở đồng bằng. Đau đớn nhất là mất nguồn cung cấp hậu cần to lớn từ nhân dân. Ngày 7-9-1969, Trung đoàn làm lễ truy điệu Bác Hồ tại khu rừng phía đông dốc Cây Đu, tây đèo Ải, xã Phổ Cường, tỉnh Quảng Ngãi. Và nhận lệnh hành quân về Bình Định. Trung đoàn bộ đi về hướng Tây lên dốc An Toàn. Đường mòn men suối, phải lội qua lội về 32 lần mới tới chân dốc. Nói là An Toàn nhưng bây giờ chẳng an toàn tý nào. Cây cối bị chất độc giết chết, trống hoang trống huếch, trực thăng trinh sát của địch (anh em thường gọi “tàu rọ”) có thể vồ tới bất cứ lúc nào. Từ đây về đến căn cứ phải mất hai ngày nữa. Tiểu đoàn bộ binh 2, đi dọc đồng bằng ven biển về thôn Trung Thứ, xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ. Cánh quân thứ 3 đặt tên là A15 đánh xuống Hoài Nhơn và kiếm gạo muối. Đánh không được ấp nào, gạo không có, phải ngược lên dốc Tân Sơn, đầm Ba Lãnh về Hội Văn. Một số người của Tiểu đoàn 3 và Đại đội vận tải bị chết dọc đường vì đói. Cuối tháng 10-1969, toàn Trung đoàn về tới nơi quy định là đỉnh núi Bình An (dốc Bà Bơi, nơi thành lập Sư đoàn trước đây). Một thảm cảnh hiện ra trước mắt: khắp các thôn xóm từ An Lão đến Ân Nghĩa qua Vĩnh Thạnh không còn một ngôi nhà nào, không trâu bò, không có tiếng chó sủa, gà gáy. Đường làng không có dấu chân người. Ruộng, vườn, cây cỏ mọc thành rừng non. Đúng là “điền vô ngưu canh, lộ vô nhân hành”. (Ruộng không có trâu cày, đường không có người đi). Ban chỉ huy Trung đoàn họp. Vấn đề đặt ra cần giải đáp là cái ăn và nơi ở. Nếu ở núi Chóp Chài, có rừng rậm núi cao, gần vùng đồng bằng Hoài Nhơn và Phù Mỹ nhưng xung quanh địch chiếm dày đặc. Nếu lộ là không có đường lui. Nếu ở núi Bà, có nhiều hang đá nhưng quá sâu trong vùng địch. Chỉ còn khu căn cứ của tỉnh ở Hòn Nọc (cao 918 mét) và Hòn Chè (cao 816 mét) là vững chắc nhưng cái ăn sẽ lấy ở đâu. Đã hơn một tuần nay cả Trung đoàn hết gạo. Người ốm cũng không có cháo gạo. Các đơn vị gom tư trang như vải dù hoa, bi đông Mỹ, đèn pin Mỹ... vào các bản đồng bào dân tộc đổi lấy củ mỳ (sắn) về nạo ra nấu cháo cho bộ đội. Nhưng bộ đội thì đông mà đồng bào thưa thớt và cũng nghèo đói vì lúa, bắp, mì đều bị chất độc hóa học phá trụi. Bộ đội đau ốm nhiều, nhất là bệnh Sâu quảng (ghẻ hờm). Cán bộ, chiến sỹ mắt trắng dã, sâu hóm. Các chiến sỹ gái càng đáng thương: má tóp, tóc rụng, áo quần rộng thùng thình... Trung đoàn cử đồng chí Tròn, trưởng Tiểu ban quân nhu và tôi qua cơ quan tỉnh Bình Định gặp đồng chí Tâm, trưởng ban lương thực. Đồng chí Tâm dẫn tới đồng chí Tám Lý, bí thư Tỉnh ủy để xin gạo. Đồng chí Tám Lý giọng đầy thương cảm nói: - Biết rồi, không phải giải thích. Cơ quan tỉnh cũng đói, đang chạy từng bữa. Các kho dự trữ của Tỉnh ở rừng sâu do chúng rải chất độc, trụi lá, máy bay phát hiện bắn rốc-két cháy hết. Dân bị dồn vào ấp, chúng cấp gạo từng ngày. Tình cảnh chúng ta giờ đây như cá không có nước. Nhưng chỉ trước mắt thôi. Để cứu đói khẩn cấp cho Trung đoàn, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy chỉ thị cho ban lương thực tỉnh giao toàn bộ rẫy mì (gọi là rãy mì Cách mạng) của xã Ka-bang huyện Vĩnh Thạnh cho đơn vị, xuất thêm 20kg gạo dự trữ của Tỉnh ủy cho các đồng chí thương binh nấu cháo. Trước khi chúng tôi ra về, đồng chí căn dặn: - Mì đồng bào Ba-na trồng năm sáu năm, củ to, chui sâu vào hốc đá, gốc cây, khó đào nhưng phải moi bằng hết củ, không được bỏ sót. Đây là lương thực dự trữ dưới đất cuối cùng của Tỉnh. Điều thứ 2 là dân Ba-na cũng đang đói mà vẫn dành rẫy mì cho Cách mạng, các chiến sỹ phải làm tốt công tác dân vận khi đến đào mì. Điều thứ 3 là phải cảnh giác với máy bay địch, không được để lộ dấu vết. Tối hôm đó ở lại cơ quan Tỉnh ủy, chúng tôi được ăn cháo và sáng hôm sau trở về đơn vị, 2 người được một nắm cơm vắt để ăn dọc đường, mặc dù cơ quan Tỉnh nhịn bữa sáng. Tại buổi giao ban các cơ quan Trung đoàn, sau khi nghe đồng chí Tròn báo cáo kết quả chuyến đi qua tỉnh, Chính ủy Trung đoàn Dương Minh Ngọ đã xúc động nói: “Chỉ có coi Trung đoàn như con em của mình thì Tỉnh mới chăm lo cho chúng ta như vậy. Dù là củ mì nhưng chúng ta đã có cái để sống rồi. Phải sống để tính chuyện đánh giặc thế nào cho tốt”. Rãy mì nằm ở phía Tây sông Côn, đang mùa mưa, nước chảy xiết, không có cầu. Trung đoàn trưởng Vũ Quang Trắc (Huy) ra lệnh cho đại đội công binh chặt dây song, chăng thành 2 sợi qua sông. Một sợi cho bộ đội đi, một sợi cho số trở về. Đi lúc mờ sáng còn nhiều sương, về khi trời chiều đã có mù. Có tổ bảo vệ 2 bên bờ sông để canh máy bay và đề phòng cứu người bị nước cuốn. Bộ phận đào mì được quán triệt không được tự do nấu nướng, không được hái rau quả của dân và phải đào hố vệ sinh cẩn thận. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:56:49 am Để thuận lợi cho việc đào mì, đội hình các đơn vị được điều chỉnh thích hợp. Trung đoàn bộ ở dốc Đót đến suối Nước Miên (Đakmiên). Tiểu đoàn 3 vượt sông Côn đứng tại phía nam suối Sum (Đak-sum). Đại đội vận tải ở phía bắc suối Sum, gần rãy mì để vận chuyển mì cho lớp tập huấn cán bộ Trung đoàn sắp tới. Đồng thời cử một bộ phận thái mì, sấy khô để dự trữ lâu dài. Bây giờ chúng tôi mới thấm thía giá trị “Rãy mì Cách mạng” của đồng bào Ba-na. Nhờ rãy mì khổng lồ của bà con mà Trung đoàn 2 được cứu sống, có thời gian để củng cố lực lượng khi Cách mạng gặp khó khăn. Dưới bàn tay của các bếp trưởng, mì được chế biến không chỉ để thay cơm mà còn thay cả thức ăn. Trung đoàn mở lớp tập huấn cán bộ. Đồng chí Nguyễn Nam Khánh, Chính ủy Sư đoàn về dự, cũng ăn củ mì như anh em. Số cán bộ Tiểu đoàn 2 ở đồng bằng lên họp, mang theo gạo, chỉ huy Trung đoàn ra lệnh dành số gạo đó để nấu cháo cho các đồng chí đau ốm và ghế mì cho các đồng chí lớn tuổi. Tết đến, ba người được chia một gói mì Ông Phật và một lon cá Tokyo, có cả bánh chưng bánh tét bằng mì. Sau Tết âm lịch, bộ đội bắt đầu huấn luyện. Suốt 4 tháng liên tục ăn mì và rau rừng nên giờ nghỉ lính ta chỉ nói chuyện ăn. Người nào cũng ao ước chỉ cần được bữa cơm với muối. Các đồng chí quê miền Nam hứa khi nào xuống đồng bằng sẽ mời anh em ăn một bữa cơm với cá lóc, cá rô kho nồi đất. Đồng chí quê Mỹ Thắng, Mỹ Thọ thì hứa sẽ mời ăn cơm với cá mực cá thu. Từ chuyện ăn, dần dà sang chuyện phải đánh địch, phá thế kìm kẹp của chúng, mở dân ra khỏi các ấp, các khu dồn thì ta mới có cái ăn, mới có đất đóng quân. Quyết tâm diệt địch thấm vào lòng chiến sỹ không chỉ qua các bài học chính trị mà chính qua cuộc sống khốn khó của mình. Ai cũng mong muốn được ra trận, được xuống đồng bằng. Ước mong đó đã đến. Đầu tháng 3-1970, sau 6 tháng ăn củ mì và ôn tập, Trung đoàn lần lượt xuống đồng bằng đánh địch. Trên vai, ngoài súng đạn, còn mang theo mì tươi, mì sấy khô và cả bánh chưng bánh tét bằng mì mài và bánh mì bằng củ mì hấp giã nhuyễn... Đội hình Trung đoàn được bố trí ở phía Tây hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát. Trung đoàn bộ đứng ở đông nam núi Hòn Chè, đội phẫu đứng ở núi Khỉ, phía đông đường 1, giữa xã Mỹ Thọ và xã Mỹ Chánh, gần Tiểu đoàn bộ binh 2. Tiểu đoàn 3 đứng ở suối Son, đèo Bồng, phía tây xã Mỹ Hiệp. Tiểu đoàn 1 đứng từ đèo Sung đến đèo Mọi, phía tây xã Mỹ Lộc, nhìn rõ các căn cứ địch ở đèo Nhông và đèo Phủ Cũ. Huyện Phù Mỹ nằm ở trung tâm tỉnh Bình Định, có 16 xã và có tới 12 cái đèo: đèo Lộ Diêu, đèo Phú Thứ, đèo Phủ Cũ, đèo Ông Bộ, đèo Cây Sung, đèo Mọi, đèo Măng Lăng, đèo Bồng, đèo Ngụy, đèo Ông Phi, đèo Cột Cờ và đèo Nhông. Về quân sự đây là một lợi thế địa hình cả khi tiến và khi lui. Nhưng bọn địch thường bố trí đóng chốt hoặc phục binh, bởi vậy những cuộc hành quân của Trung đoàn bao giờ cũng phải mở đường mới – đường không có trong bản đồ. Hơn 6 tháng qua, Trung đoàn đã cho Tiểu đoàn 2 phân tán hoạt động nhỏ lẻ ở vùng đông huyện Phù Mỹ. Cán bộ Tiểu đoàn làm xã đội trưởng xã Mỹ Chánh, chỉ huy lực lượng dân quân du kích mà quân số hầu hết là cán bộ chiến sỹ của Tiểu đoàn. May mắn Tiểu đoàn này là đơn vị có nhiều người miền Nam nên việc “biến thành” bộ đội địa phương khá thuận lợi trong hoạt động vùng sâu, cài cắm trong dân dễ che mắt địch. Từ kinh nghiệm của Tiểu đoàn 2, lần này toàn Trung đoàn ra quân nhưng vẫn với phương thức hoạt động như bộ đội địa phương. Đánh diệt các chốt nhỏ và đánh vào các cơ quan hành chính cấp xã thôn, ấp để bung dân trở về quê. Ngày 5-4-1970, Trung đoàn tiến đánh một loạt chốt điểm địch ở Gò Cớ (xã Mỹ Đức), núi Lồi (xã Mỹ An), Gò Mang (xã Mỹ Thọ), cầu Đá (xã Mỹ Chánh)... Ngày 8-4-1970, phục kích Eo Gió, núi Miếu (xã Mỹ Thành), chặn đánh một Đại đội bảo an có xe bọc thép hộ tống đi cứu viện. Bọn lính thua chạy, bọn hội đồng ở xã Mỹ Chánh, Mỹ Thọ hoang mang bỏ nhiệm sở chạy về quận. Ngày 3-6-1970, Đại đội trưởng Võ Thành Khuê (người xã Hoài Thanh) cùng 2 chiến sỹ cải trang xuống xã Mỹ Hòa, một xã được ngụy quyền Sài Gòn tặng huân chương “Anh dũng bội tinh” vì thành tích chống Cộng. Các đồng chí quyết đánh ban ngày để hạ uy danh của chúng. Ba người bí mật lọt vào trụ sở hội đồng từ 3 giờ sáng. Đến 8 giờ, khi bọn ác ôn đã ngồi quanh bàn làm việc, ba dũng sỹ của ta đạp cửa nhảy vào, dùng tiểu liên tiêu diệt toàn bộ bọn hội đồng xã rồi dán cáo thị: “Khôn ngoan thì hãy trở về với dân. Không có bất cứ nơi nào là an toàn cho bọn bán nước”. Các chiến sỹ ta trở về núi an toàn. Tin bọn hội đồng xã Mỹ Hòa bị Cách mạng tiêu diệt nhanh chóng lan ra khắp huyện làm cho bọn ngụy quyền xã ấp càng hoang mang. Một số bỏ việc, một số nhận làm theo chỉ dẫn của cán bộ ta. Bọn ngụy đi càn không dám hung hăng như trước. Dân ở trong ấp được ra ngoài dễ dàng hơn. Trung đoàn chỉ đạo các đơn vị phối hợp với cán bộ địa phương tổ chức mít-tinh, đọc thơ, ca bài chòi... Gia đình binh lính ngụy xem văn nghệ, dự mít-tinh hiểu thêm chính sách của ta, vận động chồng con trở về. Có người tham gia biểu tình chặn xe địch đi càn quét... Vùng đồng bằng huyện Phù Mỹ bắt đầu được mở ra. Trung đoàn vừa hoạt động quân sự, hoạt động chính trị và đặc biệt, từ nay đã có đủ gạo, thực phẩm và các nhu yếu phẩm cần thiết khác. Trung đoàn bước sang thời kỳ mới. Quy Nhơn, tháng 9 - 2005 N.V.Đ Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 09:03:08 am CHIẾN DỊCH CHUYỂN HÀNG LỊCH SỬ Khoảng đầu mùa thu năm 1971, Trạm Trung chuyển của chúng tôi đang ăn mừng thắng lợi của Trung đoàn sau nửa năm “Diệt kẹp, giành dân” thắng lợi thì một buổi tối, độ 21 giờ, đồng chí Huỳnh Hữu Ai, Chính uỷ Hậu cần Trung đoàn triệu tập tất cả cán bộ đầu ngành cơ quan, đội phẫu, vận tải... tới họp và phổ biến: - Sư đoàn A-mê-ri-cơn (Mỹ) ở Gò Hội (Quảng Ngãi) đang rút về quân cảng Đà Nẵng. Sư đoàn “Mãnh Hổ” Nam Triều Tiên đang chốt ở Gò Đình, cầu Bà Mai, An Điềm (huyện Phù Cát) hoạt động “lết” thay quân Mỹ. Bọn Nguỵ cũng tích cực “lết” nhưng cục diện toàn chiến trường đang có lợi cho ta. Lệnh cấp trên, Trung đoàn 2 (lúc đó có 7 tiểu đoàn, anh em thường gọi là Lữ đoàn 2) lần lượt rút khỏi khu chiến, trở về hậu cứ (vùng núi phía Nam quận Hoài Ân). Trước hết là hoả lực và các đơn vị tăng cường. Ba tiểu đoàn bộ binh vừa đánh nghi binh (như vẫn còn hoạt động) vừa lần lượt rút. Tất cả các đơn vị phải bớt người ở lại để nhận gạo chuyển về hậu cứ đủ ăn trong 4 tháng. Trước mắt, nhiệm vụ vận chuyển gạo là trên hết. Vị trí đứng chân ở hậu cứ được xác định như sau: hậu cần ở nam Nghĩa Điền, trạm xá ở tây nam Nghĩa Điền, đội phẫu ở tây nam suối Đá Tượng (đập Làng), vận tải ở nam Phú Trị. Tất cả phải giữ bí mật. Ngày 15 tháng 7 năm 1971, các đơn vị phải vận chuyển đủ số gạo và ổn định vị trí đóng quân để tháng 8 nhận nhiệm vụ mới. Anh em phấn khởi bàn tán xôn xao. Người nói: tại sao đang đánh thắng mà lại lui. Người thì bảo: chắc là sắp có chiến dịch lớn hơn. Riêng tiểu ban kế hoạch chúng tôi thì lo tính toán thế nào để vận chuyển đủ số lượng gạo quy định. Tính ra, bình quân mỗi người phải đi 3 chuyến gạo và một chuyến thực phẩm mới đủ ăn trong 4 tháng. Nhưng không phải tất cả đều đi mà phải trừ thương bệnh binh, cán bộ đi công tác. Ví như cơ quan ở hậu cần có 60 người mà chỉ có thể huy động được 11 người. Lại còn bố trí lực lượng bảo vệ hành lang. vì gạo do địa phương phân phối cho Trung đoàn ở tận Trung Thứ, phía đông đường số 1, phải qua vùng địch kiểm soát. Rồi tới trạm trung chuyển ở vùng ven xã Mỹ Trinh về hậu cứ, phải đi mất 2 ngày. Tổng cộng nếu trót lọt một chuyến đi về phải mất 4 ngày 1 đêm. Tôi đề nghị Chính uỷ Ai cho dẹp tất cả mọi việc bàn giấy, chưa vội kiến thiết chỗ ở và yêu cầu Đảng viên phải gương mẫu đi chuyển gạo. Số khoẻ, trẻ thì đảm nhiệm cung đường phía trước để đi ban đêm và có thể đánh địch khi cần. Số lớn tuổi thì ở cung đường phía sau. Đồng chí Ai nhất trí và đợt vận chuyển gạo đã vượt thời gian, vượt chỉ tiêu, đủ ăn tới 5 tháng. Đồng chí Chính uỷ Lữ đoàn Nguyễn Ngọc Tiến đã khen ngợi cơ quan là Hậu nhưng rất Cần. Lúc bấy giờ cơ quan, đơn vị mới bắt đầu củng cố chỗ ở giữa rừng già Nghĩa Điền. Chưa làm xong khung nhà thì anh Bách, chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn gọi 3 chúng tôi, gồm: Đáng-kế hoạch, Quế-quân giới, Đắc-vận tải, đến giao nhiệm vụ mới. Đó là việc đi khảo sát thực địa để lập một đường dây vận chuyển hàng ngắn nhất từ hậu cứ của Trung đoàn 2 (Dốc Đót, Nghĩa Điền) đến trạm ông Thâm ở Gia Lai. Tính mỗi ngày đi 8 đến 10 tiếng đồng hồ thì phải mất mấy ngày. Chúng tôi lập lịch trình đi từ Dốc Đót qua núi Bình An, gặp đường dốc Bà Bơi đi về phía tây gặp ngã 3 nước Trinh (Đắk Trinh) tới sông Kôn. Ngược sông Kôn tới Cây Bồng rồi lên ngã 3 Đắk Miên, đi thẳng tới trạm Thâm. Từng cung đoạn, cách nhau một ngày đường sẽ lập một khu kho có thể chứa được 75-80 tấn hàng. Chúng tôi đi về mất 6 ngày. Thời tiết đúng vào mùa mưa, nước sông Kôn lớn, đường trơn, vắt nhiều vô kể. Ngã 3 Đắk Miên nước lớn không qua được phải đi ngược lên đội sản xuất ở đầu sông mới làm cầu độc mộc để vượt qua. Nếu gùi hàng, chúng tôi tính phải đi 4 ngày, lập 3 kho (cũng là nơi tập kết lực lượng vận tải của từng cung đoạn): (1) đỉnh suối Tà Lăng, (2) đông suối nước Miên, (3) trạm ông Thâm. Mỗi cung đoạn phải đi 1 ngày đường nhưng từng người chỉ đi nửa đường rồi giao hàng cho bộ phận ở trạm kế tiếp lên nhận. Dự kiến mỗi cung, mỗi ngày chuyển 900-1000kg. Lực lượng vận chuyển chỉ trông cậy vào cơ quan và các đơn vị phục vụ. Anh em bộ binh, pháo binh ... phải học quân sự. Đại đội công binh chịu trách nhiệm làm kho, bắc cầu. Các cơ quan cứ 3 người cử 1 người đi vận chuyển. Trung đoàn trưởng Việt Sơn trực tiếp giao nhiệm vụ cho cơ quan Tham mưu và cơ quan Chính trị phối hợp tổ chức điều động lực lượng, cơ quan Hậu cần trực tiếp chỉ huy. Tất cả được chia thành 2 liên đội. Liên đội Tham mưu-Chính trị và Liên đội Hậu cần. Trung đoàn làm lễ phát động thi đua chuyển hàng. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:43:10 pm Từ khi vào Nam đến nay, chưa bao giờ Trung đoàn được cấp đạn nhiều như lần này (trước đây chỉ do lực lượng vận tải chuyển nhỏ giọt). Ai cũng ngấm ngầm mừng vì đoán chắc sẽ có trận đánh lớn sắp tới. Trước buổi xuất quân, từng người thi đua, Tiểu đội thi đua, cơ quan thi đua. Cá nhân có đồng chí Thự, đồng chí Phụng, nữ đồng chí Ét. Tiểu đội có Tiểu đội Nguyễn Bá Phụng, Tiểu đội Cao Thị Minh. Tiểu đội Cao Thị Minh là một Tiểu đội có 5 chị em của 4 dân tộc. Cô Minh người Kinh, quê xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ. Cô Ét người Ba-Na, quê xã Book Tới, huyện Hoài Ân. Cô Tuy người Ê-Đê, cô Mươi người Ba-na, quê Book-Bang, huyện Vĩnh Thạnh. Cô Hương, dân tộc H’Rê, quê ở Làng Leo, huyện Ba Tơ (chân đèo Nguyện). Lúc đầu thành lập, khi họp tiểu đội phải có người dịch ra tiếng Kinh mọi người mới hiểu nhau. Sau đó, đồng chí Thân, đại đội trưởng vận tải đã tổ chức cho các cô học văn hoá bằng tiếng Kinh. Đến nay, mọi người đã thoải mái trong giao tiếp bằng tiếng phổ thông. Tiểu đội này rất giỏi về dân vận với đồng bào dân tộc, giỏi kiếm rau rừng, giỏi kiếm củi, giỏi múa hát và giỏi mang hàng. Đại đội vận tải đã bí mật xây dựng thành Tiểu đội tiên tiến của Trung đoàn. Khổ một nỗi là các cô không khiêng được thương binh. Gùi hàng, các cô quen chăng dây gùi qua trán, khênh thương binh phải đặt đòn cáng lên vai, các cô không quen, chân bước lạng choạng, cáng thương xoay tròn không đi đúng đường, trời gần sáng mà chưa tới được cửa rừng, các cô khóc lóc. Sau lần đó, Đại đội phải chuyển Tiểu đội các cô về trạm xá để chuyển hàng và cô Ét trở thành chiến sỹ thi đua trong 3 năm liền. Lần này Tiểu đội các cô nhận thách thức với tất cả các Tiểu đội nữ và quyết tâm dẫn đầu. Khí thế ra quân rầm rộ. 95% quân số tham gia. Liên đội tham mưu, chính trị và trực thuộc, đứng tại trạm nước Miên trở lên. Liên đội Hậu cần, trạm xá đứng tại suối Tà Lăng, sáng lên nhận hàng ở cung phía trên, chiều chuyển về nhập kho tại hậu cứ Trung đoàn (dốc Đót). Sau 2 tháng vận chuyển, bình quân mỗi ngày nhập kho 1000kg trở lên. Năng suất bình quân mỗi người từ 35kg đến 50kg/chuyến. Đồng chí Nguyễn Bá Phụng (trung đội vận tải) mang 3 hòm đạn trên 100kg. Đồng chí Đinh Thị Ét (đội phẫu) mang 2 hòm đạn, có chuyến mang 3 hòm. Tiểu đội nữ tất cả mọi người đều mang 2 hòm đạn (trên 60kg). Để động viên phong trào thi đua, tôi đề xuất với chính uỷ hậu cần Huỳng Hữu Ai đặt chỉ tiêu khen thưởng như sau: mang thường xuyên 1 hòm được tặng giấy khen, mang thường xuyên 2 hòm xếp loại giỏi được tặng bằng khen. Mang thường xuyên 3 hòm xếp loại xuất sắc, cấp giấy chứng nhận kiện tướng. Đồng chí Ai nhất trí, và mọi người, mọi Tiểu đội dấy lên khí thế đuổi vượt nhau từng ki-lô-gam hàng. Có người ngoài hòm đạn (khoảng 33kg) còn móc thêm 1 hoặc 2 quả đạn cối 60 hoặc 82 ly. Tiểu đội cô Minh đạt năng suất cao nhất. Năm cô, mỗi chuyến chuyển 10 hòm đạn ĐKZ75 hoặc cối 82ly (gấp 2 lần Tiểu đội gái người Kinh). Trán gùi hàng, hai tay vòng trước ngực, miệng hát những bài ca Cách mạng, các cô bước từng bước vững chắc, bền bỉ, tâm trí thật lạc quan, yêu đời. Nhìn các cô, tôi lại nhớ năm 1967, các cô xuống đồng bằng, mang thực phẩm (cá, muối) ở thôn Tân Phụng (xã Mỹ Thọ), sau khi nhận hàng xong, các cô múa hát cho đồng bào xem. Hay nhất là bài “Tiếng chày trên sóc Bon Bo”, “Bài ca may áo”... các mẹ, các chị cảm động, khóc ôm các cô, mua tặng các cô đủ thứ tư trang. Tôi lại nhớ năm 1969, tôi đi nhận của Ban lương thực tỉnh Bình Định cấp cho Trung đoàn một rãy mì rộng mênh mông, không biết làm cách nào để đếm được số gốc mì. Tình cờ gặp cô Ét đi hái rau rừng. cô bảo: Các thủ trưởng muốn đếm nhanh, đếm đúng thì mình có cách. Các thủ trưởng chặt mấy khúc chuối rừng, tước thành sợi, buộc 100 sợi thành 1 bó. Rẫy nhỏ thì ít bó, rẫy to thì nhiều bó. Dùng dây đó buộc từng gốc mì, không bỏ sót gốc nào, cuối cùng đếm số dây còn thừa sẽ biết số mì trong rẫy. Đúng là thông minh bẩm sinh. Cuối tháng 10 năm 1971, chiến dịch vận tải của Trung đoàn hoàn thành. Các kho có tới 100 tấn đạn các loại. Một lượng dự trữ chưa từng có từ trước tới nay. Chúng tôi ai nấy lại về với công việc thường ngày của mình. Lòng mừng thầm: Kế hoạch chuyển lửa cho mùa xuân năm tới đã thành công tốt đẹp. Quy Nhơn, tháng 9 năm 2005 N.V.Đ Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:52:10 pm SỰ MẤT TÍCH CỦA MỘT NỮ Y TÁ Khoảng cuối năm 1970, địch ra sức bình định nông thôn, bọn Nguỵ ở vòng trong dồn dân lập ấp, đóng chốt dày đặc. Bọn Mỹ và lính Nam Triều Tiên đảm nhiệm vòng ngoài, đổ quân đỉnh đồi, hốc núi nghi ngờ bộ đội ta hành quân, đóng quân. Có nơi chúng đổ quân chớp nhoáng lùng sục chốc lát rồi rút, có chỗ chúng đổ quân rồi nằm phục suốt mấy ngày liền (anh em thường gọi “ Mỹ lết”). Trung đoàn 2 lúc này được giao nhiệm vụ phá kẹp, giành dân, do đó phải tiến ra đóng quân ở ven núi để dễ tiến xuống đồng bằng. Nhiều nơi bộ đội ta ở xen kẽ với địch trong một khu rừng. Thậm chí ta ở giữa, trước mặt, sau lưng chỉ cách dăm trăm mét đường chim bay là địch. Bộ đội lúc nào cũng trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Hồi đó, tôi được giao phụ trách Trạm Trung chuyển của Ban Hậu cần Trung đoàn 2. Trạm được đặt tại lưng chừng núi phía Tây xã Mỹ Trinh. Trên đỉnh núi là lính “Mỹ lết”, trước mặt qua Truông Xa Vấn là ấp Mỹ Hoà do quân nguỵ chiếm. Phía bắc là đường chiến lược nối Phù Mỹ với Hoài Ân, lính Mỹ, nguỵ đi lại thường xuyên. Chúng bốc cả quân Mỹ ở Gò Hội (Quảng Ngãi) vào phục “lết” sát đường ra vào trạm chúng tôi. Có thể nói, suốt ngày đêm, chúng tôi chỉ nói thầm hoặc ra hiệu với nhau. Súng khi nào cũng nạp đạn, xung quanh trạm lúc nào cũng bố trí vọng gác. Hôm đó, sau khi đi kiểm tra các vị trí gác, tôi về chỗ đồng chí Thứ uống nước. Kiểu nước trà Quân giải phóng – treo bi-đông USA lên, đốt cồn khô lượm của Mỹ, một phút sau là có uống. Uống bằng bát sắt, nóng hôi hổi. Chưa uống xong một bát thì đồng chí Khuynh, đội trưởng đội phẫu của Trung đoàn đến xin gặp. Tôi vui vẻ nói: “Nếu chuyện yêu đương thì qua gặp Chính uỷ Ai. Nếu việc của trạm thì cứ ngồi đây vừa uống trà vừa bàn chuyện. Đây là trà của Phó chủ nhiệm Thân gửi từ tiền phương về khao thưởng chúng ta đấy. Trà Kim Tiền hảo hạng, không uống nhanh hương thơm bay lên đồi, bọn địch ngửi thấy sẽ mò xuống đấy.” Đồng chí Khuynh khen trà ngon, chưa báo cáo công việc thì tôi đã cao hứng nói: “Chúng ta là hậu cần nhưng mấy năm nay luôn ở vị trí xung kích giáp mặt địch như ở Làng Eo (năm 1968), dốc Cây Đa, Phổ Cường (năm 1969), An Đức, An Lão (năm 1969) và hôm nay là núi Chùa, Phú Mỹ. Lần nào cũng căng thẳng nhưng kỳ này có thêm thằng Đại Hàn (Nam Triều Tiên), ta vẫn ung dung của người chiến thắng”. Đồng chí Khuynh liền nói: “Nhưng hôm nay có lẽ chúng ta sẽ thua.” Tôi hỏi gắt: “Vì sao thua?” Khuynh nói: “Vì sáng nay, đội phẫu đã mất tích cô Trợ. Tìm khắp nơi mà không thấy, chỉ còn cái ba lô, thuốc và y cụ của đội.” Tôi thực sự sởn tóc gáy, trách cứ: “Việc động trời như thế mà không nói ngay, lại còn gãi đầu gãi tai như cờ bí nước.” Khuynh thanh minh: “Thì anh đã cho tôi nói đâu, lại còn mời uống nước”. Tôi gặng hỏi: “Mất vào lúc nào?” Khuynh: “Lúc mờ sáng mọi người thấy cô ấy đi giặt băng và vác thêm ống đạn để lấy nước.” Tôi đứng dậy phân công đồng chí Thứ lấy thêm 1 chiến sỹ nữa ra đài quan sát giao thêm nhiệm vụ quan sát bìa núi, đồng chí Khuynh cử một đồng chí qua gặp tôi để đi nhận vị trí mới (vị trí đã được chuẩn bị trước). Lệnh cho anh em trong trạm sẵn sàng chiến đấu. Nếu thấy có trực thăng đổ quân thì cho bộ đội đi về phía nam, tôi sẽ về đón. Tôi và đồng chí Khuyến – y tá đi vòng phía Nam núi Chùa, xuyên qua chân núi Én Liệng (điểm cao 719). Đi khoảng 1 tiếng đồng hồ vẫn không thấy dấu vết gì. Tôi nói cho Khuyến kinh nghiệm: Nếu thấy mạng nhện còn nguyên, lá non không bị lật là không có người qua. Chỗ sơn bình, thuỷ cận (núi bằng, gần suối) là chỗ dễ bị bom pháo, chỗ có vách núi dựng đứng, tuy ở khó nhưng là chỗ bom pháo không thể bắn trúng (ta thường gọi là góc tử giác). Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:52:35 pm Mười một giờ đêm, hai chúng tôi mới trở về trạm. Mọi người đang họp bàn để di chuyển. Đồng chí Ai – Chính uỷ hậu cần Trung đoàn cùng dự họp. Anh nhận định: Dù một ngày nay địch không có động tĩnh gì, nhưng chúng ta không thể bỏ qua tình huống cô Trợ đi chiêu hồi (đầu thú với địch). Đồng chí Nguyễn Thị Thu – Chính trị viên phó đội phẫu phát biểu: Cô Trợ trong công tác và sinh hoạt luôn yêu đời, không có biểu hiện tiêu cực. Nếu đi thì đi dưới thôn Đồng Cầu tối hôm qua, không có lý lên núi rồi lại xuống đầu thú. Đồng chí Thứ nói: Phía trước quá căng thẳng, có thể đồng chí Trợ tìm đường về hậu cứ. Tôi không nghĩ đồng chí Trợ đi chiêu hồi. Đồng chí Khuynh phát biểu: Tôi về đội phẫu sau đồng chí Trợ, qua các đợt phục vụ chiến dịch, tôi rất tin cô ấy. Nhiều lần gặp khó khăn nhưng cô ấy vẫn giữ được vai trò đầu tàu của một Đảng viên. Còn bây giờ cô ấy ở đâu thì tôi cũng đang tự hỏi mình. Đồng chí Châu Ngọc Thân, tổ trưởng Đảng thì nói chắc chắn: Tôi xin khẳng định, đồng chí Trợ bản lĩnh vừng vàng. Chiến dịch Xuân 1968, đội phẫu bị B52 rồi trực thăng lùng sục ở Nghĩa Lâm (Quảng Ngãi), chiến dịch A15 ở Hoài Nhơn năm 1969, đồng chí đều được khen thưởng. Nay ở trên đất quê mình, đồng chí không thể phản bội chúng ta. Nhưng nay, ở đây quá gần ấp Mỹ Hoà (ấp chống cộng), dẫu 1% nghi vấn, chúng ta cũng nên đề phòng - Tôi về muộn nên phát biểu sau cùng, khẳng định cô Trợ không đi chiêu hồi, và dẫn chứng thêm: Đợt hoạt động A15 ở hang đá Cẩm Đức cuối 1969, từ Hoài Nhơn, một mình đồng chí Trợ hộ tống 3 ca thương, đồng chí Tĩnh đi trước, bị Mỹ bắn chết, cô cũng bị thương, thương binh chạy mỗi người một ngả. Đồng chí Trợ đã bình tĩnh đi tìm đủ thương binh rồi lách địch tìm đường về hậu cứ. Bị lạc 2 ngày 2 đêm, mưa, lạnh, đói, vết thương sưng vù nhưng cô đã quên mình, chăm sóc anh em và đưa về an toàn. Đội phẫu lúc đó đã gọi cô là “Bà út tịch” của đội... Ngừng một lát, tôi nói khẽ, giọng hơi run: Chỉ sợ, bọn biệt kích Mỹ bắt về đâu đó giỡn chơi như mèo vờn chuột. Cuối cùng đồng chí Ai kết luận: Dù tin đồng chí Trợ không đi đầu thú, nhưng mọi người vẫn chuẩn bị di chuyển qua vị trí mới do đồng chí Đáng đã bố trí. Phải báo cáo sự việc với Chủ nhiệm Hậu Cần (đồng chí Bách) ở Sở Chỉ huy cơ bản, đồng chí Thân, Phó Chủ nhiệm ở Sở Chỉ huy tiền phương Trung đoàn. Thêm một ngày căng thẳng chờ đợi trôi qua. Đêm đó không có thương binh, chỉ có gạo về. Khu trạm vắng ngắt, không một tí gió, tiếng ve sầu kêu da diết, nghe càng thêm nóng bức. Dù không tin nhưng trong đầu tôi cứ lảng vảng ý nghĩ: Nếu cô ấy đi chiêu hồi thì cả tuyến đường và kho, trạm vừa mới mở sẽ bị lộ hết, rồi những khó khăn về vật chất và tư tưởng bộ đội, địch sẽ biết, chúng sẽ đánh phá mạnh hơn. Tôi trằn trọc suốt đêm, không tài nào ngủ được. Sáng ngày thứ 3, tôi lại ra hố nước, nơi cô Trợ đi giặt băng, sau đó lần theo mấy cây ổi ven đồi để xem có dấu vết người hái quả không. Tới cuối gò, tôi thấy một quả ổi xanh nằm ngay dưới gốc cây, xung quanh gốc có dấu chân dẫm sương trên cỏ, lần theo dấu chân ấy về đến hố nước của bếp ăn đơn vị thì mất. Ý nghĩ cô Trợ bị lạc lớn dần trong đầu. Tôi đề xuất với Chính uỷ Huỳnh Hữu Ai cho thêm người cùng tôi đi tìm. Thấy tôi hăng hái, đồng chí Hồng, chiến sỹ vận tải nói chen vào: “Đề nghị thủ trưởng Ai treo giải, ai tìm được cô Trợ thì gả cô Trợ cho đồng chí đó, vừa khao thưởng, vừa để cô ấy khỏi chòng chành.” Chiều hôm đó tôi đi về phía gò có nhiều cây ổi. Nếu đồng chí Trợ bị lạc sẽ đói và sẽ đi tìm trái cây để ăn. Đi tới, đi lui, đi ngang, đi dọc khu gò. Trời gần tối, tôi định quay về. Bỗng giật mình thấy trước mặt, một người đang ngồi tắm. Cứ như trên trời rơi xuống. Nhìn kỹ, đúng là Trợ rồi. Tôi nép vào bụi cây hồi hộp tự hỏi: Có nên gọi không, mắt theo dõi không buông, sợ cô biến mất. Lần đầu tiên trong đời, nhìn một người con gái tắm trần, tôi thấy nóng mặt, tự ngượng, nhưng lại vẫn muốn nhìn. Thì ra, con gái giải phóng, mặc quần áo thùng thình thì không mấy ai để ý nhưng bên trong, thân thể của họ có đường nét rất đẹp và hấp dẫn. Tôi nhắm mắt nhưng sợ cô biến mất nên lại “phải” nhìn, đành chịu tội mất nết xem lén nẫu tắm. Trong lòng không khỏi lo lắng: Tội nghiệp, 3 ngày nay đói, sao mà tắm lâu vậy? Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 08:53:01 pm Khi Trợ vừa mặc áo quần xong, tôi mới khẽ gọi: “Cô Trợ, cô Trợ phải không? Tôi, Đáng đây.” Trợ dừng lại luống cuống hỏi: “Anh Đáng! Ôi! Anh Đáng! Đơn vị đi đâu cả mà vắng teo, em tìm không ra?” Rồi chợt như nhớ ra điều gì, cô hỏi: “Anh đến lâu chưa?” Tôi trả lời thành thật: “Lâu rồi!” Cô khẽ kêu lên: “Thôi chết, anh nhìn em tắm?”. “Ừ! Có nhìn nhưng không bị tội cố ý. Tôi đi tìm cô!” Trợ nắm lấy tay tôi: “Eo ôi, em bắt đền anh. Em bắt đền anh!” Tôi nói vui: “Hết chiến tranh anh sẽ trả, còn bây giờ lại chỗ tảng đá ngồi, kể anh nghe.” Trợ chủ động hỏi: “Chắc cả đơn vị cho rằng em đi chiêu hồi phải không anh? Họ di chuyển đi nơi khác phải không ? Sao vắng tanh thế này?...” Tôi sốt ruột hỏi lại: “Tại sao cô không về? Cả đơn vị và anh chị em đều lo cho em suốt mấy ngày nay.” Thế là Trợ ôm chầm lấy tôi mà khóc. Cô nói trong nước mắt: - Anh! Thủ trưởng ơi! Em ngốc quá, không thể nào tìm ra đường mà về. Khổ tâm em lắm, anh có tin em đi lạc không? - Không tin mà đi tìm cô? Trợ kể: Sáng hôm ấy, trời còn mù sương, em tranh thủ đi giặt băng. Phải đổ nước bẩn đi xa hố nước nên về chậm. Các anh gác đường đã nguỵ trang quá tốt nên em không tìm được dấu vết để về. Em đi đi lại lại mấy vòng nhưng càng đi càng mất phương hướng. Em hoảng quá, càng lo sợ càng làm em lúng túng, quẫn trí. Chỉ sợ gặp địch sục sạo. Sáng chưa ăn, em thấy đói và khát, lần tìm cái ăn, nước uống. Gặp một hang đá, em lại chui sâu hơn. Nằm trong hang em nghĩ: Chắc là đơn vị đoán mình đi chiêu hồi nên đã chuyển chỗ ở. Em tìm cục đất khô viết lên vách đá: “Trợ này không bao giờ phản bội Đảng và đồng đội”. Anh muốn xem, em đưa anh vào hang đá xem! Tôi bảo: khỏi cần, cô cứ nói tiếp đi! “Em nằm lì chờ chết trong hang. Nhưng không chết mà bụng đói cồn cào. Nhắm mắt mà không ngủ được, cứ nghĩ vẩn vơ và nhớ các anh, nhớ mấy chị em”. Tôi nói xen vào để Trợ bớt xúc động: “Thế có nhớ riêng tôi không?” Trợ đánh khẽ vào vai tôi và bảo: “Đừng nói xạo. Nhưng cũng lạ thiệt, sao lại thấy anh đầu tiên sau bao nhiêu ngày bị lạc?” Rồi Trợ nhắc tới những ngày nấu một ăng-gô nhưng cơm lại thừa vì ai cũng nhường nhau. Một ngày hành quân ăn 6 quả chuối vẫn để dành 1 quả cho người ăn khoẻ... Anh em sống với nhau như thế mà nay lại chết ở đây. Một cái chết không rõ ràng. Có thể còn mang tiếng phản bội. “Thế là em vùng dậy” – Trợ nói tiếp: “Mình phải sống, phải tìm về đơn vị. Em bò ra khỏi hang đi hái ổi. Ăn xong lại đi loanh quanh, tối lại về hang. Và hôm nay em ra tắm”. Trời đã lờ mờ tối, Trợ giục tôi: “Ta về đi anh. Bây giờ thì em phải theo sát anh!” Tôi nói vui: “Là em bảo đấy nhé. Hãy theo tôi về nhà. Hết chiến tranh tôi còn sống sẽ đến hỏi em, không phải trầu rượu nữa nhé!” Trợ cũng không phải vừa, đáp lại: “Em sẽ theo về nhà anh không cần lễ hỏi, nhưng lúc đó anh phải chịu là người tù của em...” Trời tối hẳn thì chúng tôi về tới trạm. Lách qua mấy chiếc võng dù ở sườn đồi, tôi dắt Trợ đi thẳng xuống bếp. Cô Sơn, nuôi quân đang nằm trên võng hát khẽ: “Ngày mai em lên...”. Tôi chợt cắt ngang: - Báo cáo bếp trưởng! Tôi, Đại đội bậc trưởng, Trưởng ban Kế hoạch xin 2 phần cơm! Cô Sơn biết tiếng tôi, không quay nhìn và hỏi luôn: - Chị Liên đến na anh? (Liên là người yêu của tôi) - Ừ .... ừa... Tôi ấp úng. Sơn vẫn nằm trên võng, lúc đó mới ngoái nhìn 2 chúng tôi, rồi cô bỗng bật dậy, kêu lên: - Trời đất! Mô Phật! Chị Trợ phải không? Chị Trợ thật rồi! Tin lan nhanh khắp trạm. Mọi người kéo đến, người cười, người khóc chúc mừng... Quy Nhơn, 30-04-2005 N.V.Đ Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 09:17:11 pm TRẠM HẬU CẦN TRUNG CHUYỂN Cuối năm 1970, Trung đoàn 2 được tăng cường 4 Tiểu đoàn trực thuộc của Sư đoàn (do Sư đoàn phải tạm giải thể vì khó khăn về quân số, vũ khí). Đó là Tiểu đoàn Đặc Công, Tiểu đoàn Pháo Mặt đất, Tiểu đoàn Công Binh và Tiểu đoàn súng máy Cao Xạ. Lực lượng tương đương một Lữ đoàn. Đ/c Việt Sơn làm Chỉ huy trưởng Đ/c Nguyễn Ngọc Tiến làm Chính ủy Đ/c Vũ Quang Trắc, Trung đoàn trưởng nay làm Chỉ huy phó Đ/c Dương Minh Ngọ, Chính ủy Trung đoàn nay là Phó Chính ủy. Đ/c Võ Bách Chủ nhiệm Hậu cần Đ/c Nguyễn Thế Hoạt và Hồ Viết Thân đồng Phó Chủ nhiệm Hậu cần Đ/c Nguyễn Văn Chước, Chủ nhiệm Chính trị... Sau Tết Tân Hợi (1971), Lữ đoàn đánh trận đầu tiên diệt đồn An Bảo (xã Mỹ Lộc). Dự kiến địch sẽ đổ quân phản ứng, nhưng sau 3 ngày vẫn im lặng. Nhân dân vùng đông huyện Phù Mỹ dưới sự lãnh đạo của cán bộ địa phương đã liên tục nổi dậy phá ấp ở 2 xã Mỹ Đức và Mỹ Thọ. Đến ngày thứ 4, địch ồ ạt phản kích. Trung đoàn 41 ngụy càn quét xã Mỹ Lộc, chiếm lại đồn An Bảo. Quân Mỹ từ Quảng Ngãi được trực thăng chở đến đổ ở phía sau khu chiến, chiếm các mỏn núi phía Tây các xã Mỹ Trinh, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc. Quân Nam Triều Tiên đánh ra phía nam khu chiến, chiếm thung lũng xã Cát Sơn. Các hành lanh cơ động của ta từ phía trước đến phía sau bị cắt đứt. Trạm Hậu cần trung chuyển của Trung đoàn do tôi phụ trách đứng ở núi Chùa (tiếp giáp 2 xã Mỹ Trinh và Mỹ Hòa) bị cô lập. Thêm vào đó, quân Mỹ ở An Khê (tỉnh Gia Lai) cũng được trực thăng đổ xuống đỉnh núi Chùa, san ủi, đắp lô cốt, chăng dây thép gai... coi như chúng ở trên đầu trạm chúng tôi. Nhiệm vụ của Trạm là tiếp nhận thương binh từ các đơn vị chiến đấu ở phía trước và tổ chức lấy gạo, thực phẩm ở đồng bằng lên. Sau đó, chuyển về hậu cứ. Đồng thời nhận cơ sở vật chất từ sở chỉ huy Trung đoàn cung cấp cho phía trước. Thấy tình hình địch bủa vây xung quanh, tôi triệu tập cán bộ từ trung đội trở lên đến họp, bàn cách xử trí. Nơi họp đặt dưới một tảng đá nằm nghiêng như mái nhà có thể trú được chục người an toàn. Tôi thông báo cho mọi người, chúng ta đã đứt liên lạc với chỉ huy sở phía trước và chỉ huy sở cơ bản. Xung quanh ta hiện nay là địch. Các con đường về phía sau đã bị địch chiếm. Đồng chí Tân, đồng chí Lới đi tìm đường vẫn chưa thấy trở về. Gạo mấy bữa nay không lấy được, thương binh còn hơn 10 ca v.v... Mở đầu, đồng chí Nguyễn Thị Thu, Phó Chính trị viên Đội Phẫu lên tiếng: - Theo em, tình hình khó khăn còn dài. Xã Cát Sơn không còn dân. Ấp Mỹ Hòa đông nhưng ta chưa móc nối được cơ sở. Gạo ăn của Đội Phẫu, lấy ở xã Mỹ Lộc không đi được. Bởi vậy đề nghị anh Thân, Phó Chủ nhiệm ở Trạm Tiền phương chi viện. Đồng chí Khuynh, Đội trưởng Đội Phẫu phát biểu: - Đồng chí Ích, dược tá đã hy sinh, không có người pha chế thuốc. Băng, gạc sắp hết. Thương binh còn 12 ca, trong đó có 1 ca phải cõng, 2 ca phải khiêng. Đồng chí Thứ, Phó Đại đội trưởng Vận Tải ý kiến: - Đại đội trưởng đã dẫn một trung đội đi phía trước với Sở Chỉ huy tiền phương. Tiểu đội đồng chí Phụng cắm chốt ở xóm Đồng Cầu. Nhân lực đơn vị ở đây yếu. Tôi thấy địch trên đỉnh núi Chùa, dù ở trên đầu chúng ta nhưng đã quây hàng rào thép gai, chứng tỏ nó cũng sợ ta, chắc không dám xuống. Vì vậy, ta cứ ở đây cho bất ngờ. Chỉ cần giữ bí mật cho tốt và khẩn trương tìm đường để đưa hết thương binh về phía sau. Đồng chí Hùng nói: - Bảo đảm an toàn là trên hết. Cần bám chắc địch. Tôi biết giữa khu vực quân Mỹ đóng và khu vực quân ngụy đóng thường sơ hở, có thể lách qua. Chỉ lo không nắm được bố phòng bằng mìn của du kích. Chị Thiết, Xã đội trưởng Mỹ Trinh thường nhắc chúng ta nên đi qua đường xóm vì du kích không bố phòng ở trong làng. Đồng chí Quang, trợ lý quân y phát biểu: - Núi Chùa dù có địch ở trên đỉnh, nhưng thành núi đá dựng đứng, bộ binh địch không đi lùng sục được. Ta đứng chân ở núi Chùa là tốt nhất... Qua ý kiến mọi người, tôi kết luận: Lấy núi Chùa làm nơi cư trú của Trạm. Trước mắt, cử đồng chí Chắt, trợ lý thống kê đi ra Sở Chỉ huy tiền phương báo cáo đồng chí Thân không cho chuyển thương về Trạm Phẫu nữa mà chuyển ra Trạm xá huyện Phù Mỹ ở núi Chóp Chài. Nếu thuận lợi thì thương binh trạm ta cũng chuyển dần ra phía đó. Địch ngăn chúng ta ở phía sau thì ta tiến ra phía trước. Chúng sẽ không ngờ tới. Số bị thương nặng sẽ chuyển thẳng về K17 (Bệnh xá của Quân khu V), không chuyển về Trạm xá Trung đoàn ở hậu cứ. Chiều nay, đồng chí Hùng, đồng chí Khánh tới gặp tôi để bàn cách mở đường chuyển thương về phía sau. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 09:17:47 pm 13 giờ, Hùng và Khánh có mặt. Tôi đặt tấm bản đồ 1:100.000 xuống đất. Mấy đồng chí thương binh ở gần đó cũng lần tới nghe. Tôi chỉ vị trí K17 và vị trí của trạm đang ở Núi Chùa, chỉ vị trí bọn địch đã đổ quân chốt chặn. Sau đó vạch một con đường trên bản đồ và giải thích: “Ta sẽ xuất phát tại đây (gọi là điểm A) đi hướng tây gặp suối Đập Làng, ngược suối Đập Làng đi về hướng bắc xuyên qua Yên Ngựa giữa cao điểm 602 và 550, xuống dốc gặp suối khô, đi tiếp hướng tây nam gặp một suối khô khác tạo thành chữ Y, đi xuống một quãng là suối Đá Tượng. Hạ lưu suối Đá Tượng là K17”. Thấy anh em có vẻ chưa hiểu, tôi nói thêm: “Phải kết hợp bản đồ và địa bàn để không bị chệch hướng. Chệch hướng là đi vào chỗ địch phục kích ngay. Để khênh được thương binh phải chọn bình độ vừa phải mà đi. Bình độ vẽ trên bản đồ thể hiện độ cao thấp. Đường bình độ vẽ thưa là triền núi thoai thoải dễ đi. Đường bình độ vẽ dày là triền núi dựng đứng, khó đi. Lại phải chú ý màu sắc ở bản đồ. Chỗ màu xanh sẫm là rừng già, chỗ màu vàng là đồi tranh. Suối khô là nét màu xanh đứt quãng, suối có nước là nét màu xanh liền mạch... Kinh nghiệm của tôi, nếu giữa hai đường bình độ mà kẻ được một đường bút chì là đi tốt, kẻ được 2 đường bút chì là đi dễ. Còn đường bình độ sít nhau là dốc trên 45 độ, không thể khênh thương được.” Sau khi giới thiệu trên bản đồ, chúng tôi bắt đầu xuất phát. Tôi đi trước, trong tay cầm la bàn. Hùng và Khánh đi sau phát cây đánh dấu. Tới ngã ba suối khô hình chữ Y, tôi dừng lại đặt bản đồ, kiểm tra thấy đúng. Khánh và Hùng mừng vui với vẻ thán phục. Tôi nói: “Từ đây chỉ một đường dọc suối đi xuống là tới K17. Các đồng chí nhớ lấy.” Tất cả chúng tôi quay lại để kịp chuẩn bị cho ngày mai chuyển thương. Mặc dù đã đi khá nhanh nhưng đến tối mịt chúng tôi mới xuống hết dốc. May trời có trăng nên dò dẫm hơn 1 tiếng đồng hồ mới về tới trạm. Mọi người đổ xô tới hỏi: “Đã thông đường chưa?” Hùng trả lời: “Thông được một nửa, nhưng các anh cứ ngủ ngon, mai còn lên đường sớm.” Tôi chuẩn bị đi ngủ thì thấy đồng chí Thứ tới. Tôi hỏi: “Sao anh không đi nghỉ.” Thứ trả lời: “Tôi chờ anh. Báo cáo trưởng ban cho tôi đi chuyển thương vì đợt này đông và có ca phải cõng. Chỉ có tôi và đồng chí Cừ là đủ sức cõng. Hai người thay nhau cõng mới bảo đảm”. Tôi hoanh nghênh và đề nghị Thứ chuyển thương. Nếu có gì khó khăn thì đưa bản đồ cho đồng chí Thịnh, cán bộ tác chiến bị thương sẽ giúp xác định phương hướng. Tôi và đồng chí Khuynh chúc mọi người hành quân trót lọt. Định quay đi thì đồng chí Thịnh, đồng chí Vượng và đồng chí Quế là những cán bộ của Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bị thương, chống gậy tới và nói: “Thay mặt tất cả anh em thương binh cám ơn anh chị em hậu cần, vận tải, quân y trong trạm suốt mấy ngày qua đã chăm lo chu đáo và hôm nay còn mở được đường để chuyển thương. Các đồng chí không chỉ giỏi về công tác đảm bảo hậu cần mà còn giỏi cả công tác tham mưu như những sĩ quan tác chiến.” Tôi và anh Khuynh quay về trạm. Ra khỏi rừng thì trời tối. Trăng sáng, vượt qua mấy đám ruộng hoang ngập cỏ. Mấy con chim kền kền bay vọt lên kêu hoảng loạn “Cheeng cheeng héc! Cheeng cheeng héc!” Đây là một loài chim rất thính, luôn đi cả đàn, bay, nhảy, là là mặt đất. Hễ có động là kêu toáng lên. Nhiều lúc nguy hiểm cho ta lúc hành quân gần địch. Nhưng cũng có lúc báo động cho ta biết có địch hành quân phục kích. 21 giờ, tôi và Khuynh về tới trạm. Đói, mệt. Đồng chí Khê vội xuống bếp lấy cơm. Tôi hỏi Khê mở đài miền Bắc nghe ta bắn rơi chiếc máy bay thứ mấy rồi? Khê trả lời: đài hết pin phải ghé sát tai mới nghe lõm bõm. Các cô nuôi quân cười bảo: “Anh Khê chuyên nghe “đài ghé”. Khê không biết nói lái nên cao giọng thanh minh: “Đài hết pin không ghé tai vào thì làm sao nghe được.” Các cô càng cười to hơn. Tôi phải giải thích cho Khê rằng: các cô nói em nghe “đài ghé” là nói em “đè g...”. Khi đó Khê mới đỏ mặt đi ra. Ngày N+65: đồng chí Ai, Chính ủy Trung đoàn đến Trạm Trung chuyển thông báo những hoạt động thắng lợi của ta đã giải phóng từ xã Mỹ Đức, Mỹ Thắng đến Mỹ An, Mỹ Thành, Mỹ Cát, Mỹ Tài (huyện Phù Mỹ). Nhiệm vụ của trung đoàn sắp tới là giữ vững vùng giải phóng, và tiếp tục trừng trị tề ngụy ngóc đầu dậy. Sẵn sàng đánh lại bọn bảo an và lính Cộng hòa đi càn, không cho chúng lập lại ấp. Thủ đoạn của chúng là dùng xe tăng, xe bọc thép có chi viện của pháo binh, máy bay cho bộ binh tiến công. Ta đang khó khăn về đạn chống tăng. Cuộc chiến sẽ căng thẳng, ác liệt, thương vong sẽ lớn hơn. Bọn Mỹ và lính Nam Hàn tránh tác chiến trực diện để chờ về nước. Nhưng lại tích cực tham gia đổ bộ, phục kích đánh phá hậu cứ của ta. Các kho trạm phải cảnh giác và xác định tự chiến đấu để bảo vệ mình, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm. Trung đoàn tăng cường choTrạm trung chuyển 2 chiến sỹ trinh sát giỏi. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2017, 09:18:18 pm Đồng chí Khuynh, đội trưởng đội phẫu báo cáo, hiện tại có 2 ca thương phải phẫu thuật. Thuốc gây tê, gây mê đều hết. Nếu phẫu thuật sẽ có tiếng kêu la, địch nghe thấy. Đồng chí Hải, phó chính trị viên đại đội vận tải đề xuất đổi giờ làm việc. Buổi sáng từ 4-8 giờ là lúc bọn địch chưa hoạt động. Nếu có tiếng kêu la, địch cũng không nghe thấy. Đồng chí Ai nhất trí. Khoảng 14 giờ hôm đó, tôi dẫn 2 trinh sát ra vọng gác giới thiệu địa hình và tình hình xung quanh. Tôi hỏi: - Các đồng chí về Lữ đoàn lâu chưa? (Lúc đó Trung đoàn 2 gọi là Lữ đoàn) - Em là Tiến, về đơn vị năm 1969, lúc ở Quảng Ngãi. - Em là Hỷ cùng về với anh Tiến. - Vậy là cựu binh rồi – Tôi nói. Nhưng chưa hoạt động vùng này phải không? - Vâng ạ! – Cả hai cùng đáp. Tôi nói rõ nhiệm vụ chủ yếu của 2 đồng chí là bám nắm địch và dẫn đường cho bộ đội chuyển thương binh, chuyển hàng qua vùng địch kiểm soát. Phải giữ bí mật, không để lại dấu vết sau mỗi lần đi và không để xẩy ra tác chiến. Việc nấu nướng nhờ vào dân. Dân ở đây chỉ còn bảy, tám gia đình, toàn đàn bà, trẻ em và người già. Họ rất thương bộ đội nhưng rất nghèo, không được đòi hỏi gì ở họ. Đêm nào họ cũng đón bộ đội và cán bộ dân chính qua lại đun nấu, ngủ nhờ tới sáng. Hai người phải nấu cho mình đủ ăn cả ngày. Ban ngày lên núi không được nấu nướng gì. Địch luôn dòm ngó cái xóm nhỏ này, bắn pháo bất kỳ và muốn tập kích vào ban đêm nhưng sợ mìn của du kích xã đội do cô Thiết chỉ huy. Chúng còn sợ cả con chó nhà bà Hai. Con chó khôn hết nói. Cán bộ, bộ đội đi suốt đêm thì không sao nhưng lính Mỹ, lính ngụy từ vùng địch mò lên là nó sủa từ xa. Địch tiến, nó lui, địch lui, nó bám theo. Nó chuyên nằm chỗ kín ở bìa làng hoặc mé đường cái lớn. Anh em mình ngủ trong làng cũng yên tâm. Đồng bào ở đây sống nhờ hạt gạo, củ khoai, ngọn rau quanh nhà và kiếm củi đem xuống vùng địch bán. Không nuôi heo, gà. Ăn chỉ có cơm, rau, muối, mắm. Tối ngủ dưới hầm kèo (hầm chữ A). Người già có võng nằm. Người khỏe trải chiếu hoặc nilon xuống đất. Họ sống như vậy bao năm nay rồi. Chúng ta phải quý trọng họ, không được làm điều sai trái. Tôi đang say sưa giải thích mọi việc như vậy thì bỗng nhiên, đồng chí Tiến giật tay áo tôi và nói: - Anh Đáng ! em đã nhận ra anh rồi. Anh là người đã từng cắt tóc cho em mấy lần... - Tôi ngỡ ngàng hỏi: - Cắt tóc cho cậu. Ở đâu, bao giờ? - Anh còn nhớ cách đây 16 năm, chiều nào anh cũng trèo lên chòi, dùng loa mo cau đọc báo cho cả xóm em nghe. Em trèo lên, anh không cho, lại còn mách với cha em... - Thế cậu là người Nghệ An? Ở Diễn Kỷ, Nghi Long, Nghi Kiều hay Nghi Đức? - Em quê Hà Tĩnh, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, có nhà thờ Thiên Chúa giữa làng. Tôi nhớ ra rồi. Dó là một làng quê nghèo. Năm 1954 lụt lớn, vỡ đê. Dân đói không có rau ăn. Tết năm 1955, mạ cấy xuống, có phù sa, lúa tốt mơn mởn, nhưng đồng bào theo đạo Thiên Chúa, nghe bọn phản động đội lốt cha cố tuyên truyền “Cộng sản vô đạo, Chúa đã vào Nam”, thế là bà con bỏ ruộng đồng, nhà cửa, kéo nhau xuống Cửa Sót để lên tàu thủy của Pháp đi vào Nam. Hồi đó, tôi được đơn vị cử đi làm công tác dân vận, thực hiện 3 cùng: “Cùng ăn, cùng ở, cùng làm viêc với dân” để vân động đồng bào đừng nghe lời kẻ xấu. Lúc đầu, bà con Công giáo không cho vào nhà. Có nơi còn cho các bà, các chị, các o cởi truồng để bộ đội xấu hổ không dám tiếp cận. Chúng tôi ở ngoài vườn, ngày 2 buổi ra đồng tát nước, làm cỏ. Chiều về dọn vệ sinh, cắt tóc, tắm gội cho trẻ em. Tối tối, từng tổ 3 người đến các gia đình, nói chuyện với bà con mọi điều phải, trái. Dần dần họ hiểu và mời bộ đội vào nhà rồi rủ nhau đi làm đồng. Đa số bà con bỏ ý định đi vào Nam. Thôn xóm rộn ràng tiếng hát, tiếng học chữ. Năm đó lúa tốt, được mùa to. Nhà nào cũng có lúa mới. Đơn vị liên hoan văn nghệ. Bà con đến dự đông nghịt. Sau khi nghe đồng chí chỉ huy tuyên bố, đây là buổi liên hoan chia tay, cả sân đình nhốn nháo hẳn lên, không hát múa gì được. Bà con khóc lóc níu áo bộ đội, kể lể mọi chuyện những ngày bộ đội nhường cơm, sẻ áo cho bà con...Sáng hôm sau, bộ đội lên đường, các mẹ, các chị, các em khóc nức nở chẳng khác gì ngày tôi tập kết ra Bắc. Cậu Tiến kể, cả làng em, mấy năm sau, dù đã quên tên nhưng vẫn nhớ và nhắc anh bộ đội quê Trị Thiên trẻ, đẹp, nói năng lễ phép và giỏi văn nghệ, yêu trẻ em. Tôi cười bảo - Mới đó mà 15, 16 năm rồi. Người thì tớ quên nhưng chuyện về làng cậu thì không bao giờ quên. - Thế anh đã có vợ chưa ? Đột nhiên Tiến hỏi. - Hai lần yêu nhưng phải thôi vì đánh địch liên miên. Tối hôm đó, tôi trực tiếp xuống trạm gác Đồng Cầu để bàn giao 2 đồng chí trinh sát. Trước khi đi, tôi tuyên bố: - Các đồng chí trinh sát còn mới lạ nên đêm nay, các đồng chí vận tải đi trước, kế đến là đội phẫu, sau cùng là trinh sát và tôi. Hai đồng chí trinh sát phải nhớ đường để từ lần sau làm đúng nhiệm vụ. Bàn giao 2 trinh sát cho trạm Đồng Cầu xong, tôi rủ Tiến và Hỷ đi tắm cho biết chỗ. Xóm Đồng Cầu ít nhà, ít người nhưng tối đến là nhộn nhịp. Bộ đội, cán bộ dân chính, dân quân, du kích, đủ mọi thành phần nam, nữ. Nhà nào cũng có bốn năm người nấu cơm, nước. Đường ra suối vắng vẻ. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:24:36 am Bỗng có tiếng con gái rì rầm phía suối. Cậu Tiến hỏi: trước mặt là một xóm nữa hay sao mà có tiếng người? Tôi bảo: không phải xóm làng mà là xóm cơ động của trạm phẫu. Họ đi gùi hàng và cũng tranh thủ tắm như chúng mình. Tôi đằng hắng mấy tiếng để báo động. Các cô im lặng. Tôi lên tiếng: - Ai có xà phòng cho mượn một lát. - Có đây! Anh Đáng phải không? Sang đây lấy một cục mà giặt. Cậu Hỷ hỏi tôi: - Anh là cán bộ mà không được cấp xà phòng? Tôi không trả lời mà hỏi lại: - Cậu vào chiến trường lâu chưa? - Dạ, hai năm ở núi rồi. - Thế cậu có biết tiêu chuẩn của Quân Giải phóng miền Trung Trung bộ chưa. Hãy nghe đây. Trên giấy thì mỗi ngày 2 lon rưỡi gạo (khoảng 6 lạng), 2 đồng tiền thức ăn (tiền ngụy Sài Gòn). Nhưng thực tế, có nhiều thì ăn đúng quy định, có ít thì ăn ít, không có thì tìm củ mỳ (sắn) và rau rừng. Phụ cấp sinh hoạt cá nhân chỉ cấp cho phụ nữ, mỗi tháng 20 đồng tiền vệ sinh. Còn con trai chúng mình “luôn sạch sẽ” nên không có phụ cấp khoản ấy. Chúng tôi tắm vũng nước trên dòng. Các cô tắm vũng nước dưới dòng. Các cô nói vọi lên: “ Đàng ấy có ai bị hắc lào thì khoan hãy tắm, kẽo nó trôi xuống bám vào chúng em thì gay”. Tôi trả lời “ Bọn anh toàn người đẹp. Có cần kiểm tra thì lên đây. Còn các cô cũng tắm sơ sơ thôi, kỳ cọ kỹ quá thì cá sẽ cay mắt, chết mất giống. Mà nhớ ở suối có nhiều đỉa trâu, sờ mà bắt, đừng soi đèn pin, địch trên đồi phát hiện, chúng bắn pháo, không kịp mặc quần áo mà chạy đấy.”, Nghe nói có đỉa trâu, các cô vội vã tắm và rút lui. Ba anh em chúng tôi tiếp tục tắm. Tôi hỏi cậu Hỷ quê ở đâu. Hỷ trả lời: “Em có nói chắc anh cũng không biết... Quê em ở tận Đồng Hỷ, Thái Nguyên”. Tôi hỏi: “Có gần bến đò Huống Trung không? Cậu có biết nhà anh Tính cô Tình, trước cổng có cây bông gòn rất to”. Và rồi tôi kể cho hai người nghe: Đầu năm 1957, tớ được cử đi học lái xe ở trường Tiến Bộ. Trường ở gần chùa Hang Dơi, trên đường đi Trại Cau, Bố Hạ. Ban đầu các học viên phải ở nhờ nhà dân. Tại Đồng Bẩm khi có mới có tổ đổi công. Ban ngày cánh tớ đi tát nước cho bắp cải, su hào. Trời không mưa. Lạnh cóng tay, nứt môi. Đúng là “rét Thái Nguyên”. Tối ra nằm chơi bờ sông với mấy anh câu cá chép. Cách câu cá không mồi ở quê cậu thật lý thú. Đúng là câu chơi ăn thật... Cậu Tiến hỏi chen vào: “Câu kiểu gì mà không cần mồi?” Tôi kể tiếp: “Người đi câu dùng một sợi dây làm triêng giăng từ bên này sông qua bên kia sông. Trên dây triêng từng đoạn khoảng 30cm buộc một dây câu có lưỡi câu chùm, không có ngạnh nhưng rất bén. Một đầu dây triêng buộc vào cọc mềm. Trên cọc treo một ống bơ rỗng chứa mấy hòn đá bi. Xong việc là nằm đó tán dóc. Vào mùa cá đẻ. Bụng tức trứng. Bờ sông cao không có cỏ rác. Cá đi tìm chỗ để cà bụng để cho trứng xịt ra. Gặp dây câu, chúng cà vào và mắc phải lưỡi câu, vẫy vùng làm giật dây triêng, rung cọc, rung lon, ta chèo ghe ra cầm vợt xúc lên. Cá bắt được con nào cũng đầy bụng trứng.” Thật không ngờ ngay ở chiến trường xa xôi này, tôi lại được gặp hai chiến sỹ là những người con của những vùng quê mà tôi có nhiều kỷ niệm. Tôi coi các đồng chí ấy thân thiết như ruột thịt. Tôi cũng cảm nhận tình cảm các đồng chí ấy đối với tôi như người anh thân thiết, từng trải. Bất ngờ cậu Hỷ hỏi: - Suối này là suối gì, anh Đang? - Trong bản đồ là suối Húc Giang. Nhân dân gọi là suối Lạc Sơn, vì nó chảy qua thôn Lạc Sơn, còn bộ đội ta gọi là suối Máu Lửa. Cái tên Máu Lửa được gọi từ mùa hè năm 1968. Năm đó, sau Tết Mậu Thân, Lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 173 Mỹ ra phản kích. Hàng năm, sáu chục chiếc xe tăng, xe bọc thép dàn hàng ngang tiến vào khu vực này, bắn pháo, DKZ 90 li lên vách núi, hang đá. Máy bay trực thăng hai chong chóng mang hàng chục phi xăng thả vào các cửa hang, sau đó máy bay HU1A phóng tên lửa cho xăng cháy. Tiếp đến dùng máy bay phản lực ném bom, triệt hạ cây cối, công sự, hang đá. Chúng chà đi xát lại mấy lần, lửa khói ngút trời. Lúc đó xe tăng và bộ binh Mỹ mới tràn lên như vào chỗ không người. Nhưng chúng không biết rằng, con suối này mùa mưa thì nước lũ, mùa khô thì hết nước. Lòng suối sâu tới hai mét, trở thành đường hào tự nhiên từ trong núi dẫn ra đồng bằng. Khi địch đánh phá rìa núi thì bộ đội ta đã cơ động theo suối, bí mật tiến ra. Khi xe tăng, bộ binh địch tiến sâu vào núi thì các đơn vị từ lòng suối vọt lên đánh vào sau lưng chúng, dùng B40, B41, DKZ 57, DKZ75, bắn cháy 36 chiếc xe tăng, xe bọc thép. Địch bị thất bại thảm hại và ta cũng bị tổn thất một tiểu đoàn. Bãi chiến trường khét lẹt, đen thui khói đạn, máu chảy đỏ lòng suối. Suối này có tên Máu Lửa từ đó. Cũng từ đó, khu vực này luôn là chỗ dòm ngó, đánh phá của địch. Còn chúng ta, với tư tưởng chỉ đạo: “Chỗ nguy hiểm chính là chỗ bất ngờ và an toàn nhất” nên thường đặt trạm tại đây. Mấy tháng qua, chúng đổ quân phục kích liên tục mọi ngả đường. Nhưng đối với ta, đường là do mình tạo ra. Ta muốn đi đến đâu thì cứ mở bản đồ, xem chỗ nào không có địch thì mở đường ta đi. Những con đường không có trong bản đồ. Rừng núi là của ta. Ta có thể đi sát nách chúng, ở sát nách chúng. Trạm Trung chuyển của Trung đoàn tồn tại được ở khu vực này là bởi như vậy. Quy Nhơn, tháng 9 năm 2005 N.V.Đ Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:31:03 am MỘT THỜI ĐỂ NHỚ Những mẩu truyện trích Hồi ký của Đại tá Vũ Quang Dũng, Thầy thuốc Ưu tú, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân y Sư đoàn 3- Sao Vàng (1965-1975) THỜI KỲ GIAN KHỔ NHẤT Tại Bình Định trong năm 1969 chỉ có Trung đoàn 12 hoạt động ở cánh Nam, nên những nơi khác địch gây khó khăn cho ta nhiều hơn. Quân số Sư đoàn thiếu, nhiều đại đội chỉ còn 20-25 tay súng. Kinh tế rất khó khăn, đơn vị đã tự sản xuất nuôi mình 2-3 tháng. Hoạt động vừa thiếu quân vừa thiếu đạn, chỉ còn nửa cơ số nên đánh ít hơn. Tháng 2/1970 Trung đoàn 22 phải giải thể, phân tách các tiểu đoàn cho các tỉnh đội ( Tiểu đoàn 7 về tỉnh Quảng Ngãi, Tiểu đoàn 8 về tỉnh Bình Định, Tiểu đoàn 9 về tỉnh Phú Yên). Cuối năm, Sư đoàn 3 cũng giải thể chỉ còn Trung đoàn 2 và Trung đoàn 12. Đồng chí Mai Nhẫn làm Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 2. Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 60 nhập thành Bệnh xá 305 của Cục Hậu cần Quân khu 5. Hôm Trung tá, bác sỹ Cát Huy Dương, Trưởng Phòng quân y Quân khu 5 tổ chức Bệnh xá Khu vực thì Tiểu đoàn 60, 70 đang chỉnh đốn quân số. Các đồng chí ốm, bị thương, tuổi cao được đề nghị rời chiến trường, một số đi học. Đội trưởng, bác sỹ Thi đã ra Bắc vì bị trĩ nội. Đời sống gian khổ, ác liệt nên một số người mệt mỏi, muốn rời khỏi chiến trường giữa lúc Cách mạng niềm Nam khó khăn nhất. Những người “Cơ hội” tìm mọi cách để được ra Bắc. Những người ở lại cũng mong họ đi sớm để khỏi ảnh hưởng đến công việc của đơn vị. Tôi được lên Đại úy trong 2 năm, điều ấy cũng xác nhận sự đóng góp cá nhân (vì sớm hơn 2 năm). Tôi được bổ nhiệm làm Bệnh xá trưởng Khu vực, bác sỹ Quảng nhiều tuổi, sức yếu hơn, là Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 2 về làm cấp phó. Anh là người Tày, hiền hâụ, thật thà. Quân số đơn vị được biên chế 220 người, trong đó có Đại đội Vận tải 70 người, còn 150 nhân viên khác. Tôi vui mừng được gặp số anh em Tiểu đoàn 70 xưa kia, những người ở lại là những người thật tốt. Bệnh xá 305 có đội ngũ chuyên môn giỏi, quen công việc, sẵn sàng làm bất cứ nhiệm vụ gì của đơn vị. Đại đội Vận Tải là những cựu binh quen chiến trường, có 70 khẩu tiểu liên AK và trung liên. Họ có thể chiến đấu tốt, mang vác tốt, họ mạnh hơn 2 đại đội của đơn vị bộ binh. Các cán bộ chỉ huy nhiều kinh nghiệm, họ đi cõng gạo 5 ngày một chuyến, kết hợp cõng các hàng hóa khác, nộp kho bình quân 50-60kg gạo/người. Họ đã từng phục kích đánh đuổi bảo an dân vệ. Những cán bộ Tiểu đội vận tải được bổ sung xuống đơn vị, sau 1 năm đã làm cán bộ Đại đội, năm nữa là Tiểu đoàn phó. Họ làm việc bằng 3 tân bình, lại thành thạo chiến trường, quen chịu đựng gian khổ ác, liệt. Họ là nòng cốt trong việc cung cấp lương thực, bảo vệ thương binh, xây dựng cơ sở, cho nên trước một đội ngũ hùng mạnh, tôi cảm thấy sung sướng, yên tâm. Anh em tiểu đoàn 70 gặp lại nhau thì mừng vui khôn xiết, nhất là gặp lại người chỉ huy cũ đã từng đưa đơn vị giành nhiều thắng lợi lớn trong những ngày đầu. Anh em kể lại rất nhiều chuyện về Tiểu đoàn 70 vừa qua khi tôi chuyển về Quân khu. Họ hi vọng tôi sẽ dìu dắt đơn vị tiến bộ xa hơn. Anh Trường, chính trị viên Tiểu đoàn 70, năm 1970 cũng ra Bắc vì tuổi cao. Khi ra đi, anh cũng buồn vì khi vào chiến trường là Thượng úy, khi ra Bắc vẫn vậy, có lẽ anh mắc phải một khuyết điểm là đã từ chối không nhận một đồng chí nữ có mang gần tháng đẻ, cho về quê để chị ấy đẻ giữa đường. Đó là thiếu sót về quan điểm, mà anh lại là chính trị viên. Từ ngày đầu, tôi đã giáo dục cho đơn vị phải thương yêu đồng đội, thông cảm với ai đã đến với mình, phải châm chước trong chiến tranh, nhận vô điều kiện, ngay cả thương binh nặng không muốn chuyển viện cũng phải giữ lại tiếp tục điều trị cho tới khi nào họ đồng ý đi mới cho đi. Trong cuộc chiến tranh này, ở Sư đoàn có bao nhiêu số phận éo le, ví dụ như những phụ nữ có mang, rồi đẻ, rồi những người có con nhỏ, những người sức khỏe kém, già yếu, kém năng lực cũng đến với chúng tôi. Biết rằng mình cũng quá khổ, nhưng vẫn thông cảm để cưu mang. Công việc của chúng tôi làm là cứu chữa đồng đội. Có thể khó khăn hơn cho chúng tôi, nhưng không nỡ nhìn thấy họ gặp khó khăn mà không giúp đỡ. Chả thế, có người bảo Tiểu đoàn Quân y 60 như một túi chứa bao cảnh đời khó khăn: người có thai chưa đến tháng đẻ cũng muốn đến bệnh xá trước cho yên tâm, đẻ xong lại muốn ở lại nuôi con cho cứng cáp, con nhỏ sẽ được chúng tôi che chở. Họ đều là lính, vợ con cán bộ, không thể làm chức năng bố mẹ như thời bình, cũng cần giúp đỡ. Cán bộ già yếu đưa về bệnh xá cũng có lý do vì không ai nhận, về bệnh xá yên tĩnh làm công tác nhẹ hơn. Cũng may những người đó biết điều không quấy phá mà chịu làm việc phục vụ cho thương bệnh binh. Chúng tôi không phàn nàn mà lãnh đạo anh em đơn vị thông cảm, việc này không phiền mình nhiều, vả lại mọi người không nhận, ta không thương thì họ còn cách nào khác để khắc phục? Cũng là giúp bạn lúc khó khăn thôi. Mấy chục năm sau hòa bình các chị đó vẫn còn biết ơn chúng tôi, nói với con cái họ rằng: “Không có các bác, con cũng khó sống đến ngày nay”. Tôi vui vì thấy gia đình họ đã toàn vẹn vượt qua khó khăn trong chiến tranh. Năm 1970 việc thu nhận, cứu chữa thương bệnh binh ít hơn, cả hai Trung đoàn có 1434 thương bệnh binh, chữa khỏi về đơn vị giảm xuống còn 50%, tử vong cao hơn (hơn 3%) vì số bệnh binh chết tăng (năm 1969 là 1.7%, năm 1970 là 3.7%). Năm 1970, nhận 150 ca suy kiệt nặng vì đói 3 tháng của một tiểu đoàn tân binh hành quân từ Bắc vào Nam, trên đường bom địch phá hết kho gạo, thực phẩm không có phải kiếm rau rừng ăn để hành quân. Đây là số ca nặng nhất được khiêng tới đơn vị. Những người còn lại phải chuyển xuống đồng bằng bồi dưỡng 1 năm mới hồi phục. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:34:31 am ĐIỀU TRỊ 150 CA SUY KIỆT NẶNG Khi số lượng lớn bệnh binh suy kiệt nặng vừa cáng tới, vừa dìu tới bệnh xá, ai cũng xúc động thương xót. Tôi như vừa nhìn thấy đồng bào ta chết đói năm 1945. Mọi người gầy dễ sợ, như thể da bọc xương, nổi rõ xương sườn. Cẳng tay, chân không nhìn thấy cơ, mặt như nhìn thấy một sọ người, chỉ còn đôi mắt và giọng nói thều thào. Nhiều đồng chí lính trẻ cứng khớp trong mọi tư thế: co quắp chân tay, ngồi bó gối, da xám xịt. Biết họ là những ca nặng, tôi xuống kiểm tra và thông báo không được tự động cho ăn uống, có thể chết đột tử. Huyết áp thật dễ sợ, còn 60, mạch 40-50, tim yếu, người luôn rét. Trong các trường đại học chưa ai giảng và nói tới loại này, thời kỳ học kinh nghiệm Liên Xô về, bệnh này cũng nói quá sơ sài, sách khác chưa nói tới. Chúng tôi họp chớp nhoáng đơn vị, hạ quyết tâm cứu sống các anh, lãnh đạo chặt chẽ không để chết no sau đói kéo dài. Năm 1945 cũng có cảnh này, hồi đó tôi còn là thiếu niên đã tham gia cứu đói, thấy cảnh người ăn cháo no xong lăn đùng ra chết. Kế hoạch chữa chạy gồm: phân loại ca nặng, vừa, nhẹ. Số nặng là những ca rối loạn tiêu hóa, ăn cháo loãng vẫn đi lỏng không cầm, không hấp thụ được, huyết áp thấp dưới 60, bị co quắp cứng khớp, tư tưởng bi quan quá, mất trí khôn, phải truyền dịch nuôi hàng tháng với đủ loại sinh tố, ăn nước thịt hầm. Theo dõi chặt chẽ những ca cấp cứu nặng, kiểm soát theo dõi từng ca, tránh vì đói để họ ăn không kiểm soát được. Có một điều rất khó là Glucô trên cấp chỉ ít ngày là hết mà ta phải truyền dịch 40-50 người hàng tháng. Tôi phải tìm cách khắc phục, vì số này uống vào không hấp thụ, lại còn ỉa lỏng, phải truyền dịch nuôi dưỡng lâu dài. Tôi xin trên được 10kg Glucô cũng chẳng được bao ngày. Tôi nhớ hôm họp Quân y Quân khu thông báo ở miền Bắc có nơi dùng đường khử Lơvôđếch, nhưng chưa dùng rộng. Ở Quân khu V mới thử nghiệm. Tôi bàn với Dược cao Trần Dũng Sỹ thử pha chế đường khử. Tôi báo cáo với lãnh đạo phòng Hậu cần và Sư đoàn, được trên nhất trí cho làm nhưng yêu cầu đảm bảo an toàn. Đơn vị cử cán bộ dược đi xuống vùng địch mua đường Ôxtrơlia hạt to sạch sẽ, từng túi 5kg. Dược sỹ Sỹ dùng a xít Clohydric đun khử theo quy trình đã phổ biến. Khi thử nghiệm lần đầu tiên cho 5 người khỏe, trong đó có tôi. Chuẩn bị sẵn sàng cấp cứu đề phòng phản thuốc. Đợt đầu tiêm tĩnh mạch tăng dần 50, 100, 200, 500ml, rồi một lít truyền đẳng trương. Ban đầu mạch hơi chậm lại một ít, huyết áp bình thường, không thấy phản ứng khác. Sau dùng dung dịch ngọt ưu trương 30% tiêm 5-10, 20, 30, 50, 100, 200ml cũng không bị phản ứng. Kết luận thuốc pha chế đảm bảo chất lượng, nhưng pha dùng trong 24 giờ, có thể dùng cho người khỏe. Lần thứ 2 thử cho người sốt rét, dạ dày, suy dinh dưỡng, ca sốt nặng, sốt rét ác tính cũng không thấy phản ứng. Lần thứ 3 dùng cho ca suy kiệt ăn kém, thể trạng gầy yếu cũng không có phản ứng nên bắt đầu truyền dịch đó cho ít ca nặng, vừa (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa rối loạn) với liều tăng dần, rồi dùng cả loại ngọt ưu trương tới 100ml/lần. Như vậy đã giải quyết xong việc cung cấp dịch truyền. Đối với những ca vừa và nhẹ, tổ chức ăn từng mâm có một nhân viên duy trì tốc độ nhai kỹ, uống từ từ ít một và chia khẩu phần từng người để tránh tâm lý bị thua thiệt khi ăn mà ăn nhanh. Kết quả 150 ca, có 70 ca khỏi hẳn về đơn vị, chết 20 ca do quá nặng, 60 ca phải điều trị hàng năm, ngoài dinh dưỡng còn phải điều trị phục hồi chức năng co gân, cứng khớp gối, khuỷu vai do thế ngồi nằm quá lâu ngày. Thành công cũng nhiều trong giải quyết điều trị, nuôi dưỡng, song vẫn thấy phương tiện, kiến thức hạn chế nên chỉ cứu được 130 người, có 60 người tàn phế. Việc pha chế Lơvôđếch thành công mở ra khả năng giúp hồi sức các ca cấp cứu trước đây phải hạn chế về Glucô do chưa đủ cung cấp cho bệnh xá trong những năm 1972-1975. Tuy nhiên vẫn phải nhấn mạnh đảm bảo tốt nguyên liệu pha chế, chú ý khâu vô trùng và dùng trong 24 giờ. Khi truyền dịch phải theo dõi chặt chẽ bệnh nhân. Những năm 1971-1975 chúng tôi vẫn phải dùng Lơvôđếch khi thiếu Glucô. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:40:37 am CHUYẾN THĂM TIỂU ĐOÀN QUÂN Y CỦA TƯ LỆNH QUÂN KHU 5 Tháng 10 năm 1973, phòng Hậu cần Sư đoàn báo cho Tiểu đoàn Quân y biết: Tư lệnh Quân khu, đồng chí Hai Mạnh (tức Chu Huy Mân) sẽ xuống thăm đơn vị. Trong chuyến đi này, Tư lệnh Quân khu xuống thăm đơn vị lập công xuất sắc trong năm 1972-1973: Trung đoàn 2, Phòng hậu cần và Tiểu đoàn Quân y. Chúng tôi rất mừng vì đó là một vinh dự lớn, song cũng rất lo vì đơn vị vừa bị địch ném bom phá sơ sở phải chuyển vào vị trí dự bị đóng cạnh con suối nhỏ gần dốc Bà Bơi. Địa hình hẹp không bằng phẳng, vừa xây dựng vừa phục vụ nên cơ sở chưa hoàn chỉnh. Chuyến xuống thăm lần này, Tư lệnh dành một buổi chiều, khoảng 5 giờ để kiểm tra công tác điều trị và nuôi dưỡng thương bệnh binh, nghe chỉ huy đơn vị báo cáo, và Tư lệnh sẽ nói chuyện với cán bộ, nhân viên, thương bệnh binh đồng thời thưởng khao cho đơn vị mỗi người 300 đồng tiền Ngụy (mức ăn cao như thương binh) cho 300 người. Trong đơn vị ai cũng phấn khởi, tấp nập chuẩn bị vệ sinh, trật tự gọn gàng nhưng vẫn bí mật việc Tư lệnh xuống thăm. Hậu cần hối hả, tất bật lo cung cấp đủ thực phẩm, phân công nhau tổ chức bữa ăn khao quân phải ngon, sạch, an toàn, để niềm vui tinh thần vật chất trọn vẹn, nhất là khi nghe Tư lệnh sẽ ăn cơm cùng đơn vị nên hậu cần đã chú ý thăm dò món ăn nào Tư lệnh thường dùng. Trước đó một tuần, đồng chí Phó phòng Quân lực cùng một số cán bộ Cục Chính trị đã xuống kiểm tra việc điều trị, ăn uống của thương bệnh binh, khó khăn thuận lợi thế nào để báo cáo Quân khu trước. Khoảng 1 giờ chiều, đồng chí Tư lệnh xuống, có một đoàn cán bộ đi theo. Tư lệnh mặc quân phục vải Liên Xô màu cỏ úa, tư thế đĩnh đạc, vào đơn vị theo đường phụ thẳng xuống bếp (lúc này chỉ huy Tiểu đoàn lại tập trung đón ở cổng chính). Anh em hỏa tốc lên báo cho chúng tôi, xuống bếp đã thấy Tư lệnh đang thăm anh em nuôi quân, nơi chế biến thực phẩm. Tư lệnh hỏi anh em có biết đồng chí là ai, anh em nói đồng chí là thủ trưởng trên Quân khu xuống. Xem xong nhà bếp, nguồn nước, kho, đồng chí khen bếp sạch, tổ chức nấu một chiều. đồng chí tới thăm thương binh, đầu tiên là buồng thương binh nặng. Tư lệnh tới từng giường bệnh, hỏi thăm thương binh bị thương trận nào, quê quán ở đâu, có được chăm sóc, ăn uống và điều trị tốt không? Các thương binh báo cáo bệnh xá đã chú ý chăm sóc tận tình ngay từ lúc vào, đến nay tình trạng vết thương khá hơn nhiều. Tư lệnh nói vui: “Có thật không, hay là động viên cấp trên”. Tới các công trình vệ sinh, đồng chí nói rất vui vì thấy thương binh được điều trị nuôi dưỡng tốt, đi khắp mà không thấy mùi hôi thối, mùi vết thương, nhà cửa, đường sá gọn gàng trật tự. Đồng chí hỏi tôi, đơn vị có giữ được nề nếp này thường xuyên hay không? Tôi báo cáo đơn vị luôn giữ gìn vệ sinh và tổng vệ sinh hàng tuần. Qua hết các buồng bệnh, Tư lệnh bảo tôi đưa tới các cơ sở điều trị. Phòng mổ khang trang có 2 bàn mổ, một bàn inox thu được của địch năm 1972 có thể gấp lên hạ xuống, một bàn mổ do thợ đơn vị đóng cũng gấp được để mổ các vết thương chuyên khoa, nhiều bàn gỗ và inox để thuốc men dụng cụ, các nơi rửa tay (như Viện 105), sàn mổ cao, lót cây gỗ nhỏ, phủ nilông bạt nhựa cao su chiến lợi phẩm, xung quanh buồng mổ quây nilông trong suốt, có 2 máy phát điện nhỏ quay tay (máy15 oát của thông tin cho). Đồng chí vào tận bên trong để xem xét, buồng mổ rất sạch không có mùi khó chịu. Tư lệnh xem xong khen: “Buồng mổ này sạch, đủ dụng cụ không kém cơ sở điều trị ở miền Bắc là mấy, tôi yên tâm nơi này sẽ đảm bảo điều trị tốt cho thương binh”. Tư lệnh còn hỏi tôi có cần gì Quân khu cho thêm. Tôi báo cáo, Sư đoàn đã cố gắng tạo điều kiện tốt để điều trị cho thương binh nên không dám phiền cấp trên. Qua buồng thay băng, buồng tiêm, buồng nào cũng như một buồng mổ nhỏ, có bàn nhỏ inox chiến lợi phẩm, bàn trải bạt nhựa cao su chiến lợi phẩm. Các đồng chí nhân viên từng nơi đón chào, giới thiệu việc làm, quần áo trắng sạch, mũ, khẩu trang rất chính quy ... Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:41:00 am Trở về nhà chỉ huy đơn vị, Tư lệnh cho phép tôi báo cáo trong 1 giờ. Tôi nói bằng những con số cụ thể: Năm 1972, đã thu dung 3.689 thương bệnh binh, chữa khỏi và trả về đơn vị 2.540 (bằng 70%), khối lượng thu dung này gấp 3 lần rưỡi của Tiểu đoàn Quân y và Đội điều trị thu dung năm 1965, gấp 2 lần rưỡi năm 1968. Năm 1973, thu dung 2854 thương bệnh binh, chữa khỏi và trả về đơn vị 2.293 (bằng 80%), tử vong 1% ( chỉ tiêu quy định là 1.5%). Tiến bộ kỹ thuật chữa viết thương chuyên khoa (là vết thương làm ở tuyến trên) như: vết thương thấu não năm 1972, có 106ca, tử vong giảm từ 18% xuống còn 10%, năm 1973 có 58 ca. Vết thương thấu bụng có 37 ca, tử vong giảm từ 30% xuống còn 17%. Kết quả đó là do thường xuyên học tập chuyên môn, rút kinh nghiệm điều trị, thao diễn luyện tập, rèn luyện quan điểm lập trường, khắc phục khó khăn và được cấp trên giúp đỡ. Đơn vị cũng đã tổ chức tập huấn cho 30 bác sỹ toàn Sư đoàn về kỹ thuật chữa vết thương, cấp cứu nội, ngoại khoa, đào tạo xét nghiệm viên, kèm cặp bác sỹ mới về đơn vị bổ sung cho tuyến quân y trung đoàn. Đồng chí khen, trong điều kiện Quân khu ở xa, đơn vị đã xử trí có hiệu quả, đã có cơ sở điều trị dã chiến khá tốt, không thua kém các đơn vị ở miền Bắc bao nhiêu. Đồng chí yên tâm khi thấy có một cơ sở điều trị đảm bảo cho chiến sỹ khi bị thương, đau ốm, cần phát huy hơn nữa để đảm bảo phục vụ các trận chiến đấu lớn hơn. Sau đó, đồng chí thông báo, tôi đã được Bộ gọi ra cho đi học, khóa năm học 1971-1972 (ở Quân khu, số bác sỹ vào Nam năm 1965 cũng được ra Bắc học tập như bác sỹ Tùng, Mạo, Liêm, Thành, Nghi v.v...). Quân khu đã cử 1 bác sỹ xuống thay. Song đơn vị chưa nhất trí, Sư đoàn để nghị: để chuẩn bị cho nhiệm vụ đánh lớn sau này, xin giữ tôi lại vì tôi có kinh nghiệm, nên Tư lệnh đồng ý và động viên tôi yên tâm phục vụ cho Sư đoàn. Tôi nói rất vinh dự được Sư đoàn tín nhiệm giao cho trọng trách này, học cũng để phục vụ nên tôi không thắc mắc gì, sau này sẽ học... Tư lệnh nói vậy là tốt, mong tôi phát huy thêm để phục vụ cho nhiệm vụ mới. Sau 1 giờ kiểm tra và hơn 30 phút nghe tôi báo cáo, đồng chí Tư lệnh xuống hội trường để nói chuyện. Hội trường lúc này đã chật ních người, ngoài thương bệnh binh và nhân viên, còn có cán bộ của Sư đoàn đến dự. Đồng chí nhận xét tốt đẹp về Tiểu đoàn Quân y, tỏ thái độ rất vui khi thấy thương bệnh binh được tổ chức điều trị nuôi dưỡng chu đáo, nhà cửa sạch sẽ, tinh thần thương bệnh binh luôn hướng về đơn vị chiến đấu, cán bộ nhân viên quân y tận tụy. Trong buổi nói chuyện đó, Tư lệnh khen tiểu đoàn quân y tới 5 lần và sau đó gợi ý cho Sư đoàn có thể làm thành tích xét duyệt đề nghị tặng danh hiệu đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang cho Tiểu đoàn với thành tích phục vụ 8 năm qua. Sư đoàn trưởng hứa sẽ thực hiện chỉ thị đó. Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn Dương Minh Ngọ hứa sẽ giúp đỡ Tiểu đoàn quân y phấn đấu để trở thành đơn vị anh hùng ( vì trước đó có phát hiện quản lý ăn cắp 3kg bột ngọt của thương binh). Gần 5 giờ chiều, tôi mời đoàn ở lại ăn cơm cùng bộ đội và thương bệnh binh. Đơn vị bố trí ở nhà chỉ huy 2 mâm để cán bộ cùng đại diện nhân viên, thương bệnh binh đủ thành phần ăn cơm với Tư lệnh. Tôi báo cáo hôm nay toàn đơn vị ăn một chế độ, ở nhà ăn cũng giống như ở đây, Tư lệnh có thể ăn ở bất cứ mâm nào, song anh em có nguyện vọng để đại diện các thành phần lên ăn cơm với cấp trên, đồng chí vui vẻ đồng ý. Rút kinh nghiệm, hôm Tư lệnh ăn cơm ở phòng Hậu cần, anh em làm đủ thứ: giò, chả, thịt, cá nên thừa nhiều, đồng chí không vui, chúng tôi chú ý tới món ăn đồng chí ưa thích là: mắm cái, rau sống, bánh tráng v.v... Ăn xong, đồng chí nói, hôm nay tôi ăn rất ngon và hợp khẩu vị. Cả đơn vị vui mừng vì đã tổ chức đón Tư lệnh Quân khu đến thăm thành công. Các cán bộ chỉ huy và cơ quan Sư đoàn bộ đều khen đơn vị tổ chức tốt. Về phần mình, chúng tôi nghĩ buổi đón tiếp Tư lệnh thật nghiêm trang đúng lễ tiết nhưng vẫn thân mật và an toàn . Những ngày sau đó, phòng Chính trị báo cáo cho đơn vị viết bản thành tích Tiểu đoàn và cá nhân tôi để xét Anh hùng (trước năm 1972 được Huân chương Chiến công hạng Ba). Một thời gian sau đó, có cán bộ quân y Trung đoàn nhặt được bản lý lịch và thành tích của tôi ở dọc đường. Tôi sững sờ, không lẽ cán bộ nào vô ý để rơi lý lịch cán bộ hay là có sự đố kỵ, nhưng rồi tôi cũng quên đi vì bao công việc. Còn về phần đơn vị, thời gian sau cũng không thấy nói gì, rồi chúng tôi cũng quên vì mải tập trung vào nhiệm vụ. Năm 1974-1975, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, chỉ nửa năm 1975 đã thu dung 3.818 thương bệnh binh trong chiến dịch Xuân 1975, chiến đấu tấn công vận động xa, chiến đấu liên tục. Ngày thắng lợi, các cán bộ cũ, người đi học, người thuyên chuyển, người mới đến nên hầu như quên lãng, vì nhiều người còn chưa hiểu gì về Tiểu đoàn Quân y. Tới 10/9/1975 tôi rời khỏi đơn vị cũng chưa kịp xét khen thưởng, nhưng cũng may ở Quân khu còn có người biết, nên Quân khu đã xét thăng quân hàm Thiếu Tá và tặng Huân chương Chiến công hạng Ba cho bản thân tôi. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:46:11 am THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH - GIẢI PHÓNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU Ngày 22 tháng 4, Sư đoàn3 nhận lệnh: Khẩn trương bổ sung quân số, vũ khí nằm trong đội hình Quân đoàn 2 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tấn công trên hướng quan trọng của Quân đoàn, giải phóng Bà Rịa – Vũng Tàu. Sư đoàn được tăng cường một chi đội xe tăng, 3 pháo 130, một Tiểu đoàn cao xạ 37-57. Sư đoàn chiến đấu làm 2 bước: Bước 1, Trung đoàn 141 đánh chiếm thị xã Bà Rịa, Trung đoàn 12 chiếm quận lỵ Đức Thạnh; Bước 2, Trung đoàn 2 là mũi chủ yếu tấn công giải phóng Vũng Tàu, Trung đoàn 12 là mũi vu hồi đánh qua Chí Linh xuống Vũng Tàu. Tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa cách Sài Gòn 100km, có 5 huyện: Long Điền, Long Lễ, Đức Thạnh, Đất Đỏ, Xuyên Mộc. Giao thông bộ có Đường số 1, Đường số 2, ngã ba Tân Phong (nam Xuân Lộc), Đường 15 Long Bình - Bà Rịa – Vũng Tàu, Đường 23 Bà Rịa - Đất Đỏ - Xuyên Mộc – Hàm Tân; Đường 2 Long Lễ - Long Điền - Đất Đỏ - Phước Hải và nhiều đường trong đồn điền. Đường số 1, Đường số 2 và Đường 15 là đường trục tiến quân, nên địch đã phá cầu, gây trở ngại giao thông. Cầu Cỏ May bị phá, Trung đoàn 2 bị địch kìm chân ở đây. Các đường, trừ Đường 15 tốt, còn lại đều xấu. Hàng năm, khu vực này có dịch sốt xuất huyết. Ở đây còn 2 vạn tên địch, máy bay hoạt động ít hơn. Sư đoàn sau chiến đấu ở Ninh Thuận, thương vong ít, được bổ sung quân số và vũ khí, mỗi Đại đội có 60-70 tay súng, được trang bị thêm hỏa lực pháo lớn và nhiều xe cơ giới thu được của địch nhưng phải chiến đấu theo mệnh lệnh, không có thời gian chuẩn bị, không quen địa hình, nắm địch chưa chắc. Phòng Hậu cần chưa có kinh nghiệm nên không thấy hết khó khăn, lúng túng, bị động, xử trí tình huống chưa kịp thời, ít liên lạc với Tiểu đoàn Quân y, nên chỉ đạo sử dụng lực lượng chưa kịp thời. * Nhật ký ghi diễn biến hàng ngày như sau: - Ngày 22/4: Sư đoàn 3 hành quân từ Phan Rang vào Phước Tuy, đội phẫu thuật cùng hành quân theo Sư đoàn bộ. - Ngày 22/4: Tiểu đoàn Quân y theo Phòng Hậu cần vào Phước Tuy, tới đồn điền Cẩm Mỹ triển khai phục vụ (cách Bà Rịa 30km, cách Đức Thạnh gần 10km) nhận 37 thương bệnh binh tại chỗ do đội phẫu thuật Sư đoàn giao lại. Đội phẫu thuật theo Sư đoàn bộ và Trung đoàn 141 hành quân đường rừng tới khu chiến. Bệnh xá 2 triển khai nhận thương bệnh binh, Bệnh xá 1 là lực lượng dự bị cho đợt sau, nhưng vẫn tăng cường giúp Bệnh xá 2 giải quyết nhanh công việc hàng ngày. Tại đồn điền Cẩm Mỹ có nhiều đơn vị cùng đóng quân, Bệnh xá triển khai vào một xóm nhỏ, nhiều nhà gạch, có nhiều nhà vắng chủ. Bệnh xá bố trí đội hình hàng dọc, đầu ngõ là trạm thu dung, phân loại, tiếp theo là các buồng chuyên môn, khu cấp cứu bất động, phía trong là khu thương bệnh binh đi lại được. Khả năng thu dung khu này từ 200-250 ca. Khu vực ngoài có giếng và gần 1 con suối, có thể tắm giặt được, ngoài ra còn có cả máy nước... Đường ôtô vào tận cửa nhà. Nhân dân khu này đông, có thể mượn các phương tiện như bàn ghế để phục vụ cho nhiệm vụ, thực phẩm mua dễ dàng. Đơn vị có 2 ôtô (1 xe nhỏ của chuyên môn, 1 xe ôtô vận tải lớn). Thương bệnh binh không nhiều, công việc chuyên môn tiến hành thuận lợi, chất lượng tốt hơn. - Ngày 26/4: Trung đoàn 141 cùng xe tăng tấn công thị xã Bà Rịa, Trung đoàn 12 đánh huyện lỵ Đức Thạnh. - Ngày 27/4: Trung đoàn 141 làm chủ Bà Rịa, địch phá cầu Cỏ May, Trung đoàn 2 bị địch chặn lại, Trung đoàn 12 đánh Bình Giã, Ngãi Giao, Long Lễ, vây huyện Xuyên Mộc, truy kích tới Long Hải. Ngày này Bệnh xá 2 có 138 thương bệnh binh. - Ngày 28/4: Trung đoàn 12 đánh trung tâm huấn luyện Sư đoàn 18 ngụy ở Long Hải, Phước Lâm, Phước Tĩnh; Trung đoàn 2 vượt cầu Cỏ May bị địch chặn lại. Đội phẫu thuật Sư đoàn hành quân xuống An Ngãi. - Ngày 29/4: Trung đoàn 12 chuyển thành hướng chủ yếu vượt sông Phước Tĩnh đánh Vũng Tàu. Bệnh xá 2 chuyển xuống Long Hoa, Ấp Bắc, huyện Long Lễ mang theo 114 thương bệnh binh. Ấp này có nhiều xóm, có nhiều đơn vị đóng quân. Bệnh xá triển khai vào 1 xóm có mấy ngõ, cách đường cái 500m. Triểu khai thành 3 khu: khu nhân viên phía ngoài, tiếp theo là trạm thu dung phân loại, bãi xe ô tô, khu cấp cứu bất động, rồi đến các buồng chuyên môn, khu thương bệnh binh đi được ở trong cùng. Làng này nhiều cây, có bóng mát, có nhiều giếng, nhiều nhà ở rộng rãi, nhiều phương tiện có thể mượn của nhân dân, lại gần chợ nên điều trị và nuôi dưỡng thương bệnh binh tốt. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi ở cùng Bệnh xá 2, vừa tham gia mổ và chỉ đạo công tác hàng ngày, vừa liên lạc với phòng Hậu cần. Vì dự kiến đánh Sài Gòn, nên tình hình có thể ác liệt kéo dài, Sư 3 cũng chắc chắn được tham gia, nên bố trí Bệnh xá 1 làm dự bị tham gia nhiệm vụ sắp tới, trước mắt Bệnh xá 1 vẫn cử người tham gia công tác chuyên môn để cùng Bệnh xá 2 giải quyết nhanh chóng công việc, sẵn sàng làm nhiệm vụ tiếp theo. - Ngày 30/4/1975: Trung đoàn 12 và Trung đoàn 2 hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Vũng Tàu, Trung đoàn 141 vượt sông tấn công Núi Nưa. Đội phẫu thuật tiếp quản bệnh viện Nguyễn Văn Nhân ở Vũng Tàu. Ngày này bệnh xá 2 có 147 thương bệnh binh; - Ngày 1/5 Bệnh xá 2 có 149 thương bệnh binh. - Ngày 6/5: Bệnh xá 2 về Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp ở Bà Rịa, tiếp tục thu dung thương bệnh binh, tập trung lại thành 2 ban (Nội và Ngoại). Thu dung đợt này là 317 thương bệnh binh, thương binh 256 (chiếm 86% số thương bệnh binh của Sư đoàn), chữa khỏi về đơn vị 22 ca (8,6%), chuyển viện 145 ca (56,6%), tử vong 1 ca (0,39%); bệnh binh 61 ca, khỏi trong chiến dịch 22 ca (36%). Lượng thương bệnh binh trung bình hàng ngày 112 ca, cao là 149 ca, mổ 50,8% số thương binh. Thời gian mổ kể từ khi bị thương trong 12 giờ đầu 20%, trong 24 giờ là 44%, trong 36 giờ là 25,8%, 48 giờ là 10%. 36% mổ muộn là do thương binh ở bước 2 từ Vũng Tàu về qua cầu bị hỏng. Bệnh xá 2 mổ 2 ca thấu bụng, thời gian mổ kể từ lúc bị thương là 8 và 18 giờ, mổ thấu não 2 ca sau 24 giờ, 2 ca sau 36 giờ và 2 ca sau 48 giờ. Gửi về Đội điều trị 84, Quân đoàn 2 là 105 ca, gửi bệnh viện Khu vực 40 ca, chuyển thương do Sư đoàn cho ô tô chở tới. Đội phẫu thuật trong đợt này di chuyển 4 lần, thu dung 54 thương bệnh binh (47 thương binh, 7 bệnh binh), mổ 25 ca có 1 ca thấu bụng, 1 ca thấu ngực. Qua tổng kết sau đợt phục vụ thấy rằng: - Đơn vị đã thu dung 475 thương bệnh binh, thương binh có 393 ca (chiếm 83%), chữa khỏi về đơn vị 13,2%, chuyển viện 66%, chết 0,7%, còn lại tới lúc kết thúc chiến tranh 88 ca (22%); Bệnh binh 82 ca, chữa khỏi về đơn vị 52% ca, còn lại 39 ca. Nếu tính cả số thương bệnh binh đọng lại trong đợt Ninh Thuận của Bệnh xá 2 thì thương bệnh binh 621 ca (thương binh 463 ca, bệnh binh 158 ca), khỏi về đơn vị 19,6%, chuyển viện 59,4%, chết 0,48%. Thành công là: Tổ chức và sử dụng lực lượng phù hợp, chất lượng điều trị nuôi dưỡng được nâng cao hơn trước, nguyên nhân là thương bệnh binh không nhiều, cơ sở phương tiện đầy đủ, thực phẩm dồi dào hơn và ít bị máy bay đánh phá. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:47:52 am KẾT QUẢ THU DUNG CỨU CHỮA TOÀN CHIẾN DỊCH XUÂN 1975 Đã thu dung 1697 thương bệnh binh, chữa khỏi về đơn vị 47%, chuyển viện 44,6%, chết 0,62%. Trong số này thương binh là 1131 ca, chữa khỏi về đơn vị 33%, chuyển viện 66,7%, chết 0,95%; Bệnh binh 566 ca, chữa khỏi về đơn vị 73%, chuyển viện 20%, không có tử vong. Đây là khối lượng thu dung lớn nhất, so với cùng một thời gian, vượt xa dự kiến ban đầu của Sư đoàn. Lần đầu tiên, Tiểu đoàn Quân y làm đúng chức năng của Tiểu đoàn Quân y trong chiến đấu, số thương bệnh binh chữa khỏi về đơn vị giảm so với các đợt khác vì số chuyển viện cao nhất từ trước đến nay, tử vong thấp nhất, chứng tỏ chất lượng điều trị tốt, cách tổ chức hoạt động phù hợp. Ngày điều trị khỏi trung bình: khinh thương 7 ngày, trung thương 14 ngày, trọng thương 16 ngày, trung bình 1 thương binh là 13 ngày (Quân khu quy định 22 ngày), ngày điều trị bệnh binh 17 ngày, tỷ lệ sử dụng giường quy định là 90%, thực tế đã thu dung 200-230%. Như vậy, Tiểu đoàn Quân y đã vượt các chỉ tiêu về khối lượng, sử dụng giường, ngày điều trị rút ngắn, giảm tỷ lệ tử vong. Về kỹ thuật, do đầy đủ phương tiện và thuốc men, công tác tổ chức chu đáo nên kỹ thuật xử trí đảm bảo chất lượng, các Bệnh viện C13-C15 và Đội điều trị C18 đều xác nhận là xử trí tốt vết thương. Các vết thương nặng như thấu bụng tử vong thấp 2/30 ca (6,6%), thấu ngực không có tử vong, thấu não 7/47 ca. Sư đoàn nhận xét: Tiểu đoàn Quân y hoàn thành tốt nhiệm vụ trong hoàn cảnh nhiều khó khăn. Đơn vị trưởng thành về mặt tổ chức và hoạt động phục vụ trong các loại hình chiến thuật, tấn công tại chỗ và vận động tấn công liên tục... * Trong suốt 56 ngày đêm chiến đấu với quân số trang bị rất hạn chế, Sư đoàn đã đánh hơn 200 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2 vạn địch, bắt và gọi hàng 1 vạn rưỡi tên, có 1 trung tướng, 1 chuẩn tướng, 3 đại tá, 9 trung tá, 32 thiếu tá... Xóa sổ ngụy quyền 2 tỉnh: Bình Định, Ninh Thuận và Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo. Sư đoàn 3 đã được tặng thưởng 3 Huân chương Quân công từ hạng Ba đến hạng Nhất, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tặng 2 cờ “Thần tốc, táo bạo, quyết chiến, toàn thắng” và “Đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”. Tiểu đoàn Quân y được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, tôi cũng được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba và được phong hàm Thiếu tá. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 08:58:42 am NGÀY TOÀN THẮNG Ai đã từng tham gia chiến đấu trong chiến dịch Xuân 1975 sẽ không bao giờ quên những giây phút lịch sử trong ngày tháng Tư 1975 ấy. Hàng ngày qua chiếc đài thu thanh nhỏ, tôi nghe Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam thông báo tin chiến thắng. Mỗi lần nghe là thêm xúc động, phấn chấn trong lòng. Mỗi ngày chúng tôi càng tiến gần Sài Gòn hơn, mỗi ngày chúng tôi thấy thêm bao nhiêu cảnh đẹp của Tổ quốc ta. Trời xanh bao la, ít tiếng máy bay, không còn tiếng súng, những vườn dừa xanh bát ngát, những bãi biển sóng vỗ trắng xóa, những con thuyền đánh cá tấp nập ra khơi vào lộng như một bức tranh vậy. Qua những vùng giải phóng, những là cờ đỏ xanh, cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió khắp mọi nơi. Mọi người đi lại hớn hở, vui cười mặc áo đẹp như một vườn hoa nhiều màu rực rỡ. Thấy bộ đội đi trên ôtô ngụy trang, nhân dân lại đổ ra hai bên đường cầm cờ hoa vẫy chào, trẻ nhỏ thì hò reo, phấn chấn lâng lâng. Những ngày tháng này, trên đường số 1 nhiều đoàn xe ầm ầm tiến vào Nam cả ngày và đêm. Đặc biệt là những đoàn xe tăng thiết giáp dài hàng cây số ầm ầm chạy qua, không khác gì một cuộc biểu dương lực lượng. Nhân dân nói với nhau: quân ta lớn mạnh, có đủ vũ khí hiện đại chắc chắn sẽ chiến đấu toàn thắng. Hành quân ôtô trên đường số 1, tôi thấy những xác xe thiết giáp, xe tăng địch bị cháy dọc bên đường. Tới ngã ba Xuân Lộc thì càng thấy rõ hơn sự thất bại thảm hại của quân địch, các quần áo, mũ sắt, súng ống, dụng cụ vứt la liệt trên một đoạn dài. Một số cầu bị phá hủy, bộ đội công binh phải làm “ngầm” cho xe vượt qua. Mỗi ngày qua, mỗi bước tiến vào phía Nam, tôi cảm thấy bộ đội ta đang lớn mạnh như Phù Đổng, quân ta đang hình thành những binh đoàn mạnh để diệt địch trong trận cuối cùng. Ngay ở Sư đoàn, tôi cũng thấy rõ điều này. Sư đoàn được tăng thêm pháo lớn, xe cộ, đạn dược, Tiểu đoàn Quân y đã được bổ sung trang bị thuốc men, chiến lợi phẩm cùng dụng cụ làm việc tốt hơn xưa rất nhiều. Tôi rất sung sướng vì đơn vị đã vượt qua những thử thách rất nặng nề để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào được giao. Mỗi ngày đi ra phía trước như là ngày đi đến hòa bình, tôi sẽ có cơ hội rất gần về thăm gia đình, vì đã 11 năm xa cách. Càng nghĩ, tôi càng thương nhớ vợ con gia đình. Những ngày cuối tháng 4, theo dõi chiến thắng ở khắp nơi của Sư đoàn làm tôi thấy vui sướng quá. Trưa ngày 30/4, nhận được tin Sư đoàn đã giải phóng Vũng Tàu, hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng thời được nghe qua Đài Tiếng nói Việt Nam, người phát thanh viên giọng rắn rỏi, đĩnh đạc báo tin ta đã chiếm được Dinh Độc Lập, dinh lũy cuối cùng của bọn ngụy, Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Ngày 30/4/1975 trở thành mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam, nó đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn; kết thúc mấy chục năm chiến đấu dũng cảm gian khổ hy sinh đầy vẻ vang của dân tộc, một trang sử mới, hòa bình, độc lập, thống nhất bắt đầu. Tôi báo tin này cho đơn vị biết, anh em hò reo: “Chiến thắng rồi! Hòa bình rồi!” Mọi người đều xúc động phấn khởi, ngay cả những thương binh nặng cũng tươi cười vui vẻ quên hết sự đau đớn của vết thương. Mọi người đều tụm năm, tụm ba với nhau giãi bày nỗi vui sướng và nói chuyện tới ngày về thăm gia đình sắp tới. Tôi xúc động ứa nước mắt vì vui sướng và tự hào. Thế là mình đã vượt qua 11 năm ác liệt gian khổ đi tới ngày toàn thắng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và khi trở về với thân hình nguyên vẹn. Với những cống hiến của mình, tôi đã làm tròn lời hứa trước lúc ra đi, chắc giờ này gia đình tôi: Mẹ tôi, mẹ vợ, vợ con, anh chị em đều phấn khởi và mong tôi trở về. Tôi theo dõi, thấy được không khí ngày toàn thắng ở Thủ đô qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Mọi người đổ ra đường hò reo vui sướng, hẳn có nhiều giọt nước mắt mừng vui và nhiều người ngong ngóng người thân chiến đấu trở về. Từ giờ phút này trở đi, trời đẹp hơn, không khí trong lành hơn, những khuôn mặt khói sạm sáng bừng lên những nụ cười và nghĩ tới tương lai, nghĩ tới giây phút về thăm gia đình và bước đường sắp tới. Nhưng lòng tôi cũng rưng rưng nhớ các bạn chiến đấu đã bị thương hoặc hy sinh nằm lại ở các nẻo đường, ở các cánh rừng. Tôi hiểu gia đình đồng đội tôi chịu biết bao nhiêu sự thiệt thòi khi thiếu người chồng giúp vợ, thiếu người cha dạy dỗ con cái. Và rất mừng khi những cặp yêu nhau chân chính trong chiến tranh, giờ đã đến lúc xây dựng hạnh phúc gia đình... Đà Nẵng, ngày 9 tháng 5 năm 2006 V.Q.D Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2017, 09:16:00 am Đại tá Lê Anh Sáng, Trưởng Ban Liên lạc Bạn chiến đấu Sư đoàn 3-Sao Vàng, Khu vực Hà Nội Nguyên Phó Sư đoàn trưởng về Hậu cần Sư đoàn 3- Sao Vàng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 14. Ông là một trong những người có mặt từ ngày đầu thành lập Sư đoàn, gắn bó với Sư đoàn suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc. Ông là một trong những người hết sức tâm huyết với lịch sử và truyền thống Sư đoàn, xin trích đăng một số bài thơ phản ánh tấm lòng ấy của ông: DẤU CHÂN SƯ ĐOÀN Rừng Bà Bơi có tự bao giờ Năm sáu lăm ấy rực cờ đỏ bay Chúng tôi đứng dưới ngàn cây Lời thề “Quyết Tử”, đất này quyết sinh! “Sao Vàng”(2) như ánh bình minh Đi vào chiến dịch mang tình hai quê Nghĩa Bình một chốn đi về Chiến tranh ác liệt, không hề nhạt phai Mười năm chiến đấu chông gai Tình Dân nghĩa Đảng dặm dài trường chinh Mùa vui chiến dịch quê mình Đói cơm nhạt muối nghĩa tình bền lâu. Nhớ ngày đánh giặc vùng sâu Mưa bom, bão đạn đỏ bầu trời xanh Hòa bình chấm dứt chiến tranh Rừng Bà Bơi, lại tươi xanh ngút ngàn Quân dân chung khúc khải hoàn Chiến tranh biên giới, Sư đoàn hành quân Đường xa đâu ngại gian nan, Hai miền Tổ quốc dấu chân Sư đoàn. Hà Nội, tháng 5 năm 2007 XỨ LẠNG Anh lên xứ Lạng cuối đông Rừng đào e ấp, vườn hồng thắm hoa Hội làng giã bạn hôm qua Lời Then vọng mãi cho ta nhớ mình Lạng Sơn đất nghĩa đất tình Một miền biên ải chúng mình gặp nhau Trận địa xây giữa rừng sâu Đường mòn em dẫn, bắc cầu anh qua. Đất này- Đất của Ông, Cha, Ngàn năm chiến thắng, nở hoa cho đời Thâm Mô, Chậu Cảnh mình ơi Đồng Đăng lũy thép rạng ngời núi sông Sử này viết tiếp cha ông Nước non bờ cõi Lạc Hồng vẹn nguyên Sư Ba chung một lời nguyền Cháu con giữ lấy Tổ Tiên, cõi bờ. Hà Nội, tháng 10 năm 2007 Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2017, 02:34:01 am TẶNG NHỮNG NGƯỜI MẸ CÓ CON LÀ LIỆT SỸ CHƯA TÌM ĐƯỢC MỘ Hai bảy tháng bảy hàng năm Tâm nhang trần thế cho âm dương hòa Nghĩa trang liệt sỹ quê nhà Vòng hoa ngũ sắc nhạt nhòa khói hương Vẫn là ngôi mộ thân thương Vẫn là một cõi vô thường trần gian Giơ tay vái vọng gió ngàn Vái hồn đồng đội, vái hồn con xa Nhớ ngày đánh giặc Sông Ba Con Đường 19 máu hòa núi sông Ngày vui có nén hương lòng Nhớ con nằm ở cánh đồng phương xa. Mong sao về với quê nhà Để con tôi, được Vòng hoa cùng người Mẹ già sang tuổi chín mươi Nhớ thương thằng Út đi thời chiến tranh Dẫu rằng nỗi nhớ mong manh Chắt chiu đời mẹ vẫn dành cho con. Hà Nội, 5/2008 MỘT THỜI ANH YÊU (Thân tặng chị em cựu chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng xã Hoài Châu, Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) Hoài Châu ngày ấy anh về Xóm làng nhộn nhịp bốn bề dừa xanh Từ khi khói lửa chiến tranh Cỏ cây vàng úa, dừa xanh lụi tàn Chuyện tình em chịu dở dang Em vào bộ đội Sao Vàng – Sư Ba Mười năm chiến đấu xa nhà Mười năm sống giữa đậm đà tình thương Anh gặp em, giữa chiến trường Trong này, ngoài ấy đã vương tơ tình Xứ dừa em đẹp, em xinh Sông Hồng ngoài ấy cũng tình chân quê. Ra đi son sắt lời thề Đánh tan Mỹ, Ngụy, mới về quê hương. Hoài Châu chói lọi sử xanh Vì đời ta phải để Danh cho đời Sáu trăm phần mộ Đồi Mười Bạn bè, đồng đội, bao người vô danh! Hôm nay em nắm tay anh Nhớ người lớp trước nhớ tình lớp sau Hòa bình hạnh phúc bền lâu Ánh dương chói lọi là mầu anh yêu Dù cho sóng gió trăm chiều Bài thơ anh tặng em yêu, một thời. Tháng 8/2008 LỜI NGƯỜI ĐÃ KHUẤT Hòa bình đã mấy mươi năm Mà tôi vẫn ở trong hầm chữ A Bạn gần cho tới bạn xa Buồn vui vẫn đến giao hòa cùng nhau Vẫn nghe ai đó nhắc nhau Ơn người ngã xuống cho bầu trời xanh Hòa bình chấm dứt chiến tranh Bao người nay đã trở thành chỉ huy Lớp sau đến, lớp trước đi Bao nhiêu thế hệ nhắn gì mai sau? Những trang truyền thống nặng sâu, Bây giờ nối tiếp nhịp cầu nữa không! Tôi thường vẫn nhớ vẫn mong Được ghi tên thật cho lòng thảnh thơi Nỗi mong không của riêng tôi Còn bao đồng đội cùng thời chiến tranh Nhà chúng tôi, giữa đồng xanh Hay trong hang đá, bên ghềnh biển reo Chúng tôi vẫn sống đói nghèo Tấm tranh không có che chiều mưa giông Nói ra mà thấy chạnh lòng Để hồn Tử sĩ long đong giữa đời Hòa bình đất nước niềm vui Bạn bè trang lứa lên ngôi, lên hàng Họ tên quê quán đàng hoàng Còn tôi vẫn sống lanh thang không nhà Những khi trời nổi phong ba Mênh mông Tổ quốc đâu nhà của tôi Chỉ mong một chút nghĩa đời Chỉ mong Tổ quốc sáng ngời vinh quang. Xây dựng Đất nước đàng hoàng Cho con cháu, đến muôn ngàn năm sau Chúng tôi vĩnh viễn nằm đây, Chỉ mong một nén nhang chay người đời.[/i] Hà Nội, tháng 5/2009 Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2017, 03:09:24 am Chùm bài của Trần Văn Khởi Nguyên chiến sĩ Trinh sát Kỹ thuật Sư đoàn 3- Sao Vàng. ĐÊM SINH NHẬT BÁC TRÊN ĐỒI 82 Trong sổ nhật ký tác chiến của Ban Trinh sát F3 năm 1973 có đoạn: “ đêm 19-5-1973, ta tập kích Chóp Chài, Núi Chéo, Đồi 10, Điểm cao 174. Địch bắn rất nhiều pháo ra biển. Máy bay C130 ném bom vùng biển Hoài Mỹ. Pháo phòng không của chi khu Hoài Nhơn bắn dữ dội...Nhưng trinh sát kỹ thuật không nắm được thực hư như thế nào...”. Thực tế chúng tôi nắm được tất cả nhưng không dám báo cáo, bởi chính chúng tôi đã tự động bày ra vụ bắn phá đó mà không xin phép Sư đoàn. Bí mật ấy, lúc bấy giờ nói ra có thể bị kỷ luật. Giờ đây, sau 36 năm, nó trở thành một kỷ niệm sâu sắc của chúng tôi trong những năm tháng sống và chiến đấu ở Sư đoàn 3 Sao Vàng. Xin được kể lại với các bạn. Không biết hiện nay cấp sư đoàn có còn bộ phận trinh sát kỹ thuật nữa không. Đó là bộ phận tựa như quân báo, biên chế khoảng bảy hoặc tám người, trực thuộc trưởng ban trinh sát và Bộ Tư lệnh sư đoàn, chuyên sử dụng vô tuyến điện theo dõi đài địch, thường xuyên cung cấp tình hình đối phương cho Bộ Tư lệnh Sư đoàn (qua Trưởng Ban trinh sát, không qua Đại đội Trinh sát). Chuyện xảy ra đại khái như sau: Đêm 19-5-1973, chúng tôi đang trực máy theo dõi địch để phục vụ cho Sư đoàn đánh phản kích chống lấn chiếm thì ở Chi khu Hòai Nhơn, bọn chúng bắn lộn nhau. Bị cấp trên ở Quy Nhơn vặn hỏi, tên Chi khu trưởng nói dối là có tàu ngầm của Trung Quốc vào vùng biển Hoài Nhơn nên cho lính nổ súng. Thấy đây là cơ hội tốt để lừa địch, tổ đài chúng tôi đóng giả tàu Trung Quốc liên lạc với nhau để công kích Chi khu Hoài Nhơn. Bọn địch ở Hoài Nhơn tưởng rằng có tàu Trung Quốc thật nên ra lệnh bắn pháo ra biển và yêu cầu Tiểu khu Bình Định đưa tàu tuần tiễu ra chi viện. Tiếp đó, Tiểu khu Bình Định còn yêu cầu cả máy bay đến trinh sát. Chúng tôi lại đóng giả chi khu Hoài Nhơn chỉ điểm cho máy bay đánh vào tàu tuần tiễu của chúng. Kết quả, hai tàu tuần tiễu của hải quân ngụy bị máy bay của chúng ở Phù Cát đánh tan tành. Diễn biến cụ thể như sau: Khoảng trung tuần tháng 5 năm 1973, Sở chi huy Sư đoàn 3 Sao Vàng chuyển về xã Ân Tường, huyện Hoài Ân để chỉ huy đợt tiến công đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng, lập công dâng Bác nhân ngày 19-5. Tổ trinh sát kỹ thuật chúng tôi chia làm hai mũi. Mũi 1 gồm Tôn Việt ( tổ trưởng), Phát, Sỹ Hùng và tôi. Tổ 2 có Văn Đài, Quang Thắng và Văn Diêm ( đi hướng Nam). Tổ tôi chọn Đồi 82 tại Ân Tín, Hoài Ân làm điểm đặt máy. Bốn chúng tôi bận bịu suốt ngày đêm. Mỗi người sử dụng hết khả năng mình theo dõi mọi động thái địch, ghi chép, phân tích, sàng lọc thông tin, kịp thời báo cáo cho Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Thời tiết oi nồng, chúng tôi như bị rang trong chảo lửa trên đồi 82. Những bụi lau phờ phạc, khô quắt đến tội nghiệp. Quần áo mặc trong người khô cong vì trộn lẫn bụi cát, đất, mồ hôi. Trong khi đó, tai, mắt không được rời máy. Mỗi người theo dõi hai máy. Một tay dò sóng, tay kia ghi chép đến rã rời. Khoảng 18 giờ ngày 19-5, sau khi toàn tổ đã tìm được sóng vô tuyến của địch và nắm chắc phiên hiệu các đơn vị của chúng, chúng tôi nhận điểm đứng và báo cáo tình hình trong ngày vừa xong thì đột nhiên ở sóng tần số chi khu Hoài Nhơn có tiếng súng nổ chát chúa vọng ra từ tai nghe. Tiếp đó là tiếng gọi gấp gáp của Đại tá Hoài – tiểu khu trưởng tiểu khu Bình Định - Vĩ Long đâu? Bạch Long gọi! ( Vĩ Long là mật danh của chi khu Hoài Nhơn. Bạch Long là tên mật của tiểu khu Bình Định. Chế độ ngụy thời đó, cấp tỉnh gọi là Tiểu khu, cấp huyện gọi là Chi khu. Tỉnh trưởng (như chủ tịch tỉnh) kiêm cả quân sự). Tên thiếu tá Long, chi khu trưởng Hoài Nhơn đáp lại: - Bạch Long đâu? Vĩ Long trả lời. Tiếng Hoài gắt: - Tại sao chỗ “ Moa” có tiếng súng dữ vậy? Thiếu tá Long nói ấp úng: - Bẩm “Đại Bàng”, lúc 18 giờ, “con cái” tôi, thằng “hai đầu, bảy chóp” (mật danh liên đoàn 207 Bảo An) phát hiện hai tàu ngầm Trung Cộng nên nó nổ súng. - Bây giờ nó còn ở đó không? – vẫn giọng của Hoài. - Bẩm! Nó lặn mất tiêu. Lặng một lúc, Hoài ra lệnh: - “ Moa” cho “ Toa” điểm đứng của tàu ngầm. Nhanh lên. Lại im lặng một lúc, thiếu tá Long báo cáo: - Metro.T:03 – F:05 (tọa độ trên bản đồ của chúng). Tiếng của đại tá Hoài: - Được rồi! “ Moa” cho “con cái” và các đơn vị lân cận rút khỏi khu vực trên... Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2017, 03:10:25 am Anh em chúng tôi nhận định: làm gì có tàu ngầm Trung Quốc ở đây? Chắc bọn chi khu Hoài Nhơn có sự cố bắn lộn nhau, sợ bị tội nên nói dối cấp trên để lấp liếm. Tôi bàn với Tôn Việt: bọn này đem tàu ngầm Trung Quốc ra hù dọa cấp trên thì ta chơi cho nó một mẻ. Vì tôi và Phát đều biết tiếng Trung nên hai người dùng máy của mình liên lạc bằng tiếng Trung như có hai tàu ngầm của Trung Quốc vậy. Tôn Việt hơi phân vân có nên báo cáo xin ý kiến anh Phiêu (trưởng ban trinh sát) hay không? Tôi gạt đi mà rằng: “ ta lừa cho chúng bắn ra biển để tiêu phí đạn chứ can hệ gì mà báo cáo.” Tôn Việt nghe lời, và tôi cùng Phát vào cuộc. Mở đầu là tiếng gọi lơ lớ của tôi: - Ủa sư. Sứ lưu. Sứ san khuấy tá. (16 đây, 13 trả lời) - Sứ san thing xin sử. Sử lưu khuấy tá ( 13 nghe rõ, 16 trả lời) - giọng Phát run run nhưng cũng tạm được. - Tả cha truẩn pây tran tâu (chuẩn bị chiến đấu) Lập tức trên tần số chi khu Hoài Nhơn đang nhốn nháo liên lạc với nhau bỗng im phăng phắc. Rồi có tiếng thiếu tá Long ra lệnh. - Tất cả “con cái” sang số nhà “màu tím” mà ở (mã sóng của chúng). Lại xuất hiện tiếng thiếu tá Long ở sóng tiểu khu Bình Định: - Báo cáo “Delta”, tàu ngầm Trung cộng lại làm việc ngay trên sóng của chi khu tôi. Chúng liên lạc với nhau bằng tiếng Tàu. Có tiếng đại tá Hoài ra lệnh: - Đuổi hết “ con cái” anh ra khỏi nhà. Không được động tĩnh gì.Theo dõi chúng. Tôi sẽ qua đó ngay. Lát nữa có thông dịch Trung Hoa tới giúp. Nghe chúng nói có phiên dịch tiếng Trung, tôi sởn tóc gáy, định bỏ cuộc, nhưng rồi lại nghĩ “ chắc chúng trấn an cấp dưới,chứ tìm đâu ra thông dịch Trung Hoa lúc này.” Bỗng lại xuất hiện tiếng đại tá Hoài trên sóng tiểu khu Bình Định khẩn thiết yêu cầu ba đơn vị pháo binh: - Giro-se-vần- xích nai. Giro tori – Bạch Long gọi. Có tiếng gọi như ngái ngủ: - Cái gì đấy?...Cái gì? - Nấu phở ( Tioti). Cấp tập vào tòa độ T:03- F:05 - Tính chất mục tiêu? - Tàu ngầm đối phương. Mấy phút sau, vùng biển Hoài Nhơn chìm trong đạn pháo. Pháo các cỡ của địch thi nhau nổ như ngô rang. Chuông điện thoại hối hả reo. Tiếng của trưởng ban trinh sát ở đầu dây bên kia. - Tại sao địch bắn nhiều vậy? Ta đang chuẩn bị tập kích núi Chóp Chài đó, xem có lộ không? Tôn Việt run run đáp: - Không có gì đâu ạ. Chúng chỉ bắn ra biển. Có lẽ nó nghi ngờ tàu thuyền ta chở vũ khí vào nên bắn chặn. Trưởng ban Phạm Văn Phiêu động viên: - Nhớ trực 24/24 nhé. Đêm nay sinh nhật Bác Hồ. Mình đã cho người mang ảnh Bác và tiếp tế lương thực lên cho các cậu. Cử người xuống chân đồi mà nhận. Tôn Việt bỏ máy, nghĩ ngợi một lúc rồi nói: “ các ông mà biết việc này thì bọn mình chỉ có đi tù.” Tôi cười bảo: “ các ông đánh núi Chóp Chài là diệt sinh lực địch. Tụi mình làm cuộc chơi này là phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng, chẳng phải tốt lắm sao!” Phát nói thêm: “ đã vào trận không được run, phải chơi hết mình.” Tôn Việt im lặng . Tôi và Phát tiếp tục vào máy: - Sử lưu chai nả? Sử san chai khu? ( 16 ở đâu? 13 gọi). - Sử san chai. Sử lưu khuấy tả. (13 đây, 16 trả lời). - Sử san bị thương nặng! Tôi nói cả tiếng Việt để xem chúng đã có phiên dịch chưa, cũng ngầm để cho bọn chi khu Hoài Nhơn biết. - Nỉ xen chai nả? ( hiện nay anh ở đâu?) - Hướng y, cách tọa độ cũ 3 hải lý. Tôi nói lung tung chứ chẳng biết hướng y là hướng nào. Một lát, trên sóng tiểu khu Bình Định có tiếng báo cáo của thiếu tá Long: - Bẩm “ đại bàng”, tàu của chúng bị hỏng nặng. Hiện chúng vẫn quanh quẩn tọa độ cũ. Đại tá Hoài cười: - Ô- kê. Cho “nấu phở” tiếp. Lại một đợt bắn pháo cấp tập. Đợt này dài hơn đợt trước. Biển Hoài Nhơn ồn ào như giông tố. Chuông điện thoại lại vang lên. Lần này là giọng trầm trầm của Tư lệnh Sư đoàn, Huỳnh Hữu Anh: - Tại sao địch bắn dữ vậy mà các cậu đếch báo cáo gì? Bộ đội đã vào hàng rào thứ 3 rồi đó. Tôn Việt trả lời rằng các mục tiêu ta chuẩn bị tấn công không có dấu hiệu bị lộ. Thủ trưởng cứ yên tâm. Bất ngờ tôi bắt được hai mật danh lạ trên sóng chi khu Hoài Nhơn. Biết bọn dưới chi khu chưa nhận được sóng này vì chúng ở thấp, tôi liền đóng giả máy của chi khu trả lời: - Các anh hãy “ vặn cổ gà ” đi ( sang băng khác). Hai mật danh đó gặp tôi tại tần số do tôi chỉ định: - Vĩ Long đâu “ mắt chột”, “ mắt đui”? Hãy cho đối chứng “ lá bùa” Nó đang thử có phải ta lừa nó không. Tôi nghĩ vậy và mạnh dạn bảo: - Cho đi- Vi to- xích xê- vần ( 17). Nó hỏi lại: - Ông Delta, tôi tên gì? Qua khẩu ngữ của chúng tôi biết bọn này là Hải quân, liền đọc cả họ và tên chỉ huy trưởng của hải đội của nó là Huỳnh Tấn Đạt. Hai thằng vui vẻ trả lời “ Ô-kê”. Giọng thằng “ mắt chột” ồm ồm trong máy: - Tôi, hai tàu tuần tiễn của Hải đội Giê-rô phai (05) từ Quy Nhơn ra hỗ trợ cho anh đây. Nghe nói có tàu Trung cộng, tôi sợ lắm. Tôi đang men theo bờ biển. Liệu chúng có ngoi lên như con cá voi khổng lồ nuốt chửng chúng tôi không? Tôi thầm nghĩ: “ một lũ hèn nhát, thì ra thằng nào cũng sợ Hải quân Trung quốc.” Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2017, 03:11:01 am Có tiếng máy bay sè sè, mỗi lúc một gần. Liền đó có tiếng gọi trên sóng chi khu Hoài Nhơn lúc được lúc mất. Tôi biết chắc chắn bọn chi khu Hoài Nhơn chưa bắt được sóng này. Còn máy tôi thì nghe rõ: - Vĩ Long đâu? Ngân Hà gọi (Ngân Hà là mật danh không quân Phù Cát.) Tôn Việt vội bỏ máy của mình, cầm nhanh máy của tôi (đang đóng giả máy chi khu Hoài Nhơn) nói một tràng tiếng anh bảo chúng chuyển sóng và tần số theo chỉ dẫn của chúng tôi. Sau đó tôi đĩnh đạc hỏi: - Cần đối chiếu “ Bùa hộ mệnh” không? Bọn phi công trả lời: - Khỏi cần! Tôi mỉm cười nghĩ: chắc là nó nghe tràng tiếng anh của Tôn Việt nên tin tưởng không bị lừa Bỗng dưng Tôn Việt ra lệnh cho tôi và Phát đóng máy. Việt giải thích: - Có lẽ phải “ stop”. Mình không ngờ lại to chuyện thế này. Cả bọn không quân của chúng cũng được điều động chi viện. Thật là một lũ điên. Nếu việc này ảnh hưởng đến trận đánh của Sư đoàn thì gay to. Sỹ Hùng từ nãy giờ ngồi im bỗng lên tiếng: - Tôi lại cho rằng đây là cơ hội mới. Các anh cứ dụ cho bọn không quân và hải quân đánh nhau. Tôn Việt đồng ý theo hướng đó. Tôi và Phát lại vào cuộc Đóng giả máy hai tàu tuần tiễn, tôi hỏi: - Anh đi đâu mà lạc vào số nhà của tôi? - Được lệnh Phi đoàn Phù Cát, tôi cùng anh tiêu diệt tàu ngầm Trung cộng (tên phi công trả lời). Hiện tôi đang ở Phốt- pho cải cách (mã đèo Phú cũ). Tên phi công có vẻ ngạo mạn, đọc cả thơ nữa “ Biển ồn ào sóng dội Tàu Trung cộng tiến vào Không chịu nổi tên lửa Bom chùm ở trên cao. ” Tôi khen nó thơ hay và đọc tiếp một câu: “ Coi chừng Việt cộng nuốt cả sao.” Tôi cười và hắn cũng cười đáp: - Hay! Hay lắm! Mà phản nghịch đó nghe! Chiếc máy bay lượn mấy vòng rồi nghiêng cánh sà sát xuống mặt biển và vọt lên cao. Nó thất vọng nói rè rè, liên lạc với Chi khu Hoài Nhơn. (sóng Hoài Nhơn vẫn do chúng tôi khống chế) - Vĩ Long đâu? Ngân Hà gọi. Chẳng thấy gì cả. Chỉ có thuyền đánh cá. Dừng một lát nó nói tiếp: - Hay đó là thuyền Việt cộng cụm lại để che dấu tàu ngầm? Tôi sợ chúng bắn vào thuyền chài của dân nên vội gọi: - Ngân Hà đâu? Vĩ Long gọi. Không được bắn vào thuyền đánh cá. Họ kiện đấy. Ở đó, “ con cái” của tôi đang lùng sục, kiểm tra. Đột nhiên tên phi công nói: - Thấy rồi! Thấy rồi! Có hai chấm đen nhỏ. Tôi đoán chắc đó là hai tàu tuần tiễn của bọn Quy Nhơn, liền bảo: - Đúng! Chính nó! “ Nấu phở ngay kẻo nó chuồn mất”. Chỉ mấy phút sau, chiếc máy bay C130 bay tới và hai quả bom đầu tiên trút xuống hai tàu tuần tiễn địch. Tôi giục tên phi công lái máy bay trinh sát: - Xi nhan tiếp. Đúng mục tiêu rồi đó. Thế là tên lửa, bom tạ, bom tấn thi nhau trút xuống hai tàu tuần tiễn của chúng. Lúc này, trên sóng của bọn tàu tuần tiễn liên lạc với sóng chi khu Hoài Nhơn la lối om sòm: - Máy bay Việt cộng! Máy bay Việt cộng! Vậy là các cỡ súng cao xạ của chúng ở Hoài Nhơn thi nhau bắn lên. Chiếc C130 lồng lộn tức giận trút những quả bom cuối cùng rồi chuồn thẳng. Có tiếng đại tá Hoài- trưởng Tiểu khu Bình Định quát trên máy: - Tất cả dừng lại. Không được bắn. Nhầm to rồi. Hai tàu tuần tiễn đi tiêu rồi. Đù mẹ! Tại sao lại chồng nhau vậy? Hắn ra lệnh cho bọn hiệu thính viên rà tìm vô tuyến của ta nhưng dù có xoay đến mòn tay cũng không thể tìm ra. Bọn tôi bỏ ống nghe cười vui. Lúc này gần 24 giờ. Một đêm thật tuyệt vời. Đầy căng thẳng và rất thú vị. Một món quà mừng sinh nhật Bác thật ý nghĩa. Bất chợt, một cơn mưa ập tới. Đồi 82 dịu mát dần. Lũ chúng tôi căng ni lông hứng nước mưa và cởi trần tắm gội. Đúng lúc đó, tiếng súng của ta ở Chóp Chài, Núi Chéo, Đồi 174... lần lượt rộ lên. Chiến dịch phản kích của Sư đoàn bắt đầu. Tôi hứng lên đọc luôn hai câu thơ: “ Đọc thơ Bác giữa chiến hào Bom rơi, bụi đỏ bay vào sổ thơ.” Trên trời, một chiếc trực thăng bay qua bay lại mấy vòng rồi có tiếng trên sóng của Tiểu khu Bình Định - Bạch Long đâu? Chim Ưng gọi Đại tá Hoài nhanh nhẩu thưa: - Chim Ưng đâu? Bạch Long trả lời. Nguyễn Văn Toàn- trung tướng, Tư lệnh Quân khu II ngụy nói giọng bắc pha nam: - Tại sao “ moa” không báo cho “ toa” biết vụ đánh lộn? Hoài chưa kịp trả lời thì Toàn đã ra lệnh: - Bravo, Cha- lie Hâu- theo qui bách Đen ta. (về Bộ chỉ huy Quân đoàn gấp). Tôi cười nói với anh em trong tổ: - Cuộc chơi của chúng ta đã chấn động tới cấp Quân khu chúng nó rồi. Thật đã! Chiếc trực thăng vọt lên cao và mất hút về phía Nam. Vài quả pháo địch bắn vu vơ, lạc lõng nổ ùng oàng phía bắc Đồi 82. Chuyện có thật bây giờ mới nói, âu cũng là kỷ niệm cuộc đời binh nghiệp, một nén nhang thắp cho Văn Phiêu - người Trưởng Ban trinh sát hiền hành và sâu sắc, một nén nhang tưởng nhớ Tôn Việt- Tổ trưởng tổ Trinh sát Kỹ thuật Sư đoàn và bao đồng đội đã ngã xuống trên mảnh đất Bình Định thân yêu. Quảng Bình, ngày 20-8-2008. T. V .K Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2017, 03:17:57 am KÝ ỨC THÁNG BA Tháng Ba chia tay lần cuối Xa nhau ấm nụ hôn nồng Hoa xoan trắng ngần ngõ nhỏ Người đi nước mắt lưng tròng Tháng ba! Tháng ba mùa đói Đong máu đổi gạo lên ngàn Chia tay bạn về với đất Xót lòng măng trúc, măng giang. Tháng Ba! Tháng ba mưa dội Chẳng còn manh áo chắn che Hầm nghiêng, con đường lầy lội Đạn bom cày nát tứ bề Tháng Ba đi tìm đồng đội Bâng khuâng giữa chốn rừng già Mòn tay lật rừng tìm lối Đêm thâu, lưỡi xẻng sáng loà Tháng Ba! Tháng Ba chờ đợi Phương Nam vời vợi trời xa Người đi bao giờ trở lại Vẫn còn trắng một màu hoa. Quảng Bình, năm 2008. T.V.K KHOẢNG TRỜI Bồi hồi thổn thức người ơi Nhớ thương cả một khoảng trời bơ vơ Chao ơi!chỉ mấy dòng thơ Mà nghe ngọt lịm nước dừa Tam Quan Trường Sơn lội suối băng ngàn Để ta ôm ấp đa mang một đời Tìm nhau góc bể chân trời Chờ nhau tóc đã bạc rồi còn đâu Bạn nằm giữa chốn rừng sâu Có nghe ai gọi đêm thâu cháy lòng Mãi còn Phù Cũ, Đèo Nhông Kim Sơn, An Lão, Hoài Ân... nghĩa tình. Mặn mòi nước biển Sa Huỳnh Thảo thơm như đất quê mình Hoài Nhơn Hòn Chè, Dốc Đót, Đá Giang Chia nhau giọt nước lòng hang núi Chùa Lại Giang cõng gạo đêm mưa Sông Kôn máu nhuộm bãi bờ đó em Tưởng rằng chuyện cũ người quên Ai ngờ khơi lại thêm niềm nhớ thương Mỗi tấc đất ở chiến trường Để ta nhớ mãi vấn vương tháng ngày Lung linh Đồng Hới chiều nay Ngả nghiêng Nhật Lệ như say men nồng. Quảng Bình, năm 2008. T.V.K Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2017, 03:23:46 am Thượng tá, nhà báo Ngô Quý Vân, Nguyên phóng viên báo Quân Giải phóng Trung Trung Bộ, Nguyên cán bộ Văn Phòng Tổng cục Chính trị, đã nghỉ hưu. Anh là một trong những người đã gắn bó với sư đoàn 3 – Sao Vàng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở chiến trường miền Nam. Nhân kỷ niệm 45 năm thành lập sư đoàn, anh đã gửi cho ban biên tập nhiều bài viết về bộ đội sư đoàn. Xin trích đăng một số bài sau đây: NHỮNG CHIẾN SĨ KIÊN CƯỜNG TRÊN ĐỒI CHÈ Khác với các đợt càn quét trước đây lên vùng ven phía Tây huyện Phù Cát, lần này bọn lính đánh thuê Nam Triều Tiên, thuộc sư đoàn “Mãnh Hổ” không bỏ qua một điểm cao lợi hại: Đồi Chè. Sáng ngày 24 tháng 4 năm 1971, sau những loạt đạn pháo cấp tập dọn bãi, từng tốp máy bay lên thẳng bắt đầu đổ quân. Chiếm được mỏm cao của Đồi Chè, bọn địch đã không vấp phải một sự đánh trả nào đáng kể. Đến trưa, bộ binh chúng bắt đầu theo đường mòn đi xuống. Chưa biết quân ta bố trí ở đâu. Bất ngờ bị vài loạt AK ngắn, chúng đã toi mạng 3 thằng. Quen thói hung hăng, chúng tiếp tục tràn xuống. Lại thêm 4 tên nữa ngã gục. Bấy giờ chúng mới thận trọng. Dường như tên chỉ huy đã hiểu rằng, muốn xuống được mỏm đồi phía trước chẳng phải dễ dàng gì. Chúng tiếp tục ném bom, bắn pháo và mãi tới 4 giờ chiều mới dám lò dò đi xuống. Năm tên đi đầu tới chỗ ngã ba thì dừng lại, ngơ ngác một lúc rồi quay trở lên. Gặp hai tên từ trên đi xuống, tất cả chúng dừng lại nói xầm xì và nhìn ra xung quanh. Bất thần, một quả đạn B40 của chiến sĩ ta bắn tới. Một tiếng nổ xé tai. Cả 7 tên địch bị thiêu cháy. Trận địa trở lại yên tĩnh. Tối hôm đó, dưới một tảng đá lớn vững chắc làm công sự, ban chỉ huy phân đội 51 (đại đội 51, tiểu đoàn 5, Trung đoàn 12 hiện nay) họp, nhận định tình hình: Qua 3 lần nổ súng trong ngày, có thể địch vẫn chủ quan coi thường. Phải chuẩn bị thật tốt cho ngày mai. Phải biến nơi này thành mảnh đất đẫm máu bọn lính Nam Triều Tiên gian ác. Đó là ý chí, là quyết tâm của 6 chiến sĩ được giao nhiệm vụ chặn đánh quân địch đổ xuống Đồi Chè. Phương án tác chiến được bổ sung. Một trái mìn Clây-mo và một quả đạn pháo cải tiến thành mìn được đặt vào những vị trí dự kiến địch sẽ đi tới. Khẩu B40 của Chiến còn khét mùi thuốc đạn ban chiều được lau chùi sạch sẽ... Bảy giờ sáng ngày 25 tháng 4 năm 1971, bọn địch lại bắt đầu mò xuống. Ba tên đi đầu đến ngả 3 liền rẽ ngang bên trái, núp vào bụi rậm ra hiệu cho bọn đi sau. Bốn tên nữa vọt lên nhập với bọn đi trước. Chúng đang dùng chiến thuật tiến sâu đo. Các chiến sĩ ta vẫn im lặng. Một lát sau, khoảng 40 tên từ trên Đồi Chè lúc nhúc dồn xuống. Ngồi trong công sự, phân đội phó Thanh cùng các chiến sĩ vẫn im lặng chờ thời cơ. Một số tên đã vượt qua quả mìn Clây-mo, chỉ cách công sự ta 15 mét. Bàn công tắc điện trong tay Hùng chập lại. Mìn nổ. Hơn 10 tên địch bị quét ngã gục. Bọn còn lại dồn về phía sau. Khẩu B40 của Chiến lập tức phát hỏa. Anh bắn liên tiếp 2 quả chính xác vào cụm quân địch. Xác chúng nằm la liệt trong khói bụi mù mịt. Ba bốn tên sống sót vội lăn xuống hố bom gần đó liền giẫm phải quả pháo cải tiến. Đạn pháo nổ quét sạch bọn địch trong hố bom. Đất đá văng rào rào. Các chiến sĩ ta bật khỏi công sự dùng AK, lựu đạn tiêu diệt nốt bọn còn lại. Chỉ sau mấy phút, cả toán địch hơn 40 tên đã bị tiêu diệt. Trên đồi, bọn địch dùng đại liên, M79, M72 và DKZ bắn xối xả xuống trận địa ta. Cây cối, đất đá rung lên. Bộ đội ta rút vào công sự ngồi ung dung chờ đánh trận nữa. Địch không dám gọi bom pháo vì xác đồng bọn đang nằm tại trận địa. Chúng chỉ dùng hỏa lực đi cùng bắn không tiếc đạn. Bắn hàng tiếng đồng hồ rồi liên tục mở 6 đợt tiến công để xuống kéo xác đồng bọn. Các chiến sĩ ta dùng chiến thuật bắn tỉa theo lối du kích. Bắn bằng đạn AK, đạn M79 và dùng lựu đạn ném ra khiến chúng không phát hiện được mục tiêu. Trong chiến thuật này, Nguyễn Văn Hùng tỏ ra là một xạ thủ M79 cừ khôi. Phát hiện một cụm quân địch, một khẩu đại liên hay M79 của chúng, Hùng bắn chính xác không sai phát nào. Địch cay cú dùng thủ đoạn dã man là bắn đạn hóa học. Được chuẩn bị trước, anh em ta lấy khăn dấp nước đắp lên mặt và vẫn không rời vị trí chiến đấu. Khoảng 3 giờ chiều, địch dùng trực thăng đổ thêm quân xuống Đồi Chè cùng với 1 khẩu DKZ và 1 khẩu cối 81 ly. Cánh quân địch ở Đồi 38 cũng kéo sang tăng viện. - Được ! Chúng tăng quân, ta càng có dịp “làm ăn” to – Các chiến sĩ động viên nhau như vậy và tích cực củng cố công sự, lau chùi súng đạn, tranh thủ bò ra lật xác địch thu vũ khí. Quân số của ta vẫn còn nguyên 6 đồng chí. Cuộc chiến đấu của 6 cán bộ, chiến sĩ phân đội 51 trên Đồi Chè kéo dài suốt 8 ngày. Càng về sau càng ác liệt. Một điều lý thú là kẻ địch không phán đoán được thực lực ta bao nhiêu. Những ngày cuối, chúng không cần đến xác đồng bọn nữa nên tha hồ bắn pháo, ném bom. Cây cối nát vụn lẫn trong đất đá. Riêng tảng đá các chiến sĩ ta lập trận địa phòng thủ to lớn bằng một tòa nhà, giờ đây đã bị vỡ từng mảng, nhưng nó vẫn là chiếc “áo giáp” bất khả cháy của phân đội. Đúng là “rừng che bộ đội” không sai chút nào. Có tảng đá ấy, khi địch ném bom, bắn pháo, chiến sĩ ta lui vào ẩn nấp. Khi bộ binh chúng mò xuống, ta lại xông ra như từ dưới đất mọc lên, khiến chúng phải kinh hoàng. Ngày cuối cùng, để xóa dấu vết thất bại, bọn Nam Triều Tiên đã dùng bom xăng thiêu cháy toàn bộ xác đồng bọn. Sau 8 ngày kiên cường trụ bám đánh địch, phân đội 51 đã tiêu diệt hơn 90 tên địch, thu và phá nhiều vũ khí. Điều đáng nói nhất là 6 cán bộ, chiến sĩ ta không một ai bị thương vong, góp phần cùng các đơn vị bạn bẻ gãy đợt càn lớn dài ngày của bọn lính Nam Triều Tiên vào khu căn cứ của sư đoàn và của tỉnh Bình Định ở vùng núi phía Tây. Bình Định, tháng 8 năm 1971. N.Q.V Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 10:34:30 pm TRẬN ĐỊA MẶT ĐƯỜNG “Cắt đứt giao thông địch trên đường 19!” Đó là mệnh lệnh chiến đấu của các chiến sĩ đoàn Trường Sơn (tức Trung đoàn 12 hiện nay), và cũng là yêu cầu hợp đồng tác chiến trên toàn chiến trường. Cùng với những trận chiến đấu quyết liệt chung quanh khu vực Cây Rui, tiếng súng tiến công của quân ta cũng nổ ròn dọc đường 19 từ triền đông đèo Thượng Giang đến phía tây Hòn Kiềng. Trên một đoạn đường nằm giữa hai vị trí Mâm Xôi và Hòn Kiềng do bọn lính đánh thuê Păc-chung-hy đóng giữ, có một tổ chiến đấu của đại đội 63 (tiểu đoàn 6, trung đoàn 12) như một mũi dao sắc nhọn cắm ngang hông kẻ thù. Tại đây đã diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch suốt 14 ngày đêm. Vừa lên tiểu đoàn nhận lệnh về, trung đội trưởng Nhâm Xuân Tải đã triệu tập anh em tới, gồm có Bảo, Hạnh và Khiêm để quán triệt nhiệm vụ và bàn cách đánh. Mấy phút sau mỗi người lại về vị trí của mình tiếp tục củng cố công sự. Sáng ngày 17 tháng 4 năm 1972, lúc sương mù còn đọng quanh chân núi, bầy chim le te đi ăn đêm đang rủ nhau về thì pháo địch từ Bình Tân, Đồng Phó, Vườn Mít đã nổ ầm ầm trên trục đường 19. Hai khẩu đội cối 81 ly ở cứ điểm Mâm Xôi và Hòn Kiềng mấy ngày trước bị pháo binh ta kìm đầu, hôm nay cũng kì cạch nã đạn ra liên tục. Khoảng 8 giờ sáng, một chiếc máy bay OV10 bay lên vè vè quần lượn trên trận địa, ngó nghiêng trinh sát. Ngồi trong công sự, chốc chốc Hạnh lại thò đầu ra xem lũ bộ binh địch đã mò lên chưa. Hết đợt pháo này đến đợt pháo khác vẫn không thấy bóng một thằng lính Păc-chung-hi nào cả. Bảo đang cảnh giới, nghe tiếng pháo nổ đều đều như thế làm cho anh cũng phát buồn ngủ. Trung đội trưởng Tải bò tới từng công sự nhắc nhở anh em cảnh giác vì theo kinh nghiệm, thế nào bọn địch cũng sẽ đi giải tỏa. Vừa về tới hầm, Tải đã nghe tiếng ì ầm của động cơ xe tăng. Bốn chiến sỹ nhắc nhau theo dõi địch và chuẩn bị chiến đấu. Từ phía Hòn Kiềng theo đường 19, sáu chiếc xe tăng lù lù dẫn xác ra, theo sau là lũ bộ binh lố nhố. Tới gần trận địa ta, đoàn xe địch dừng lại, 4 khẩu trọng liên trên xe bắn ra như vãi đạn. Sau khi bắn tung từng bụi cỏ, mô đất ở phía trước, bọn địch mới dò dẫm nhích dần lên. Đợi cho chúng tới gần, Nhâm Xuân Tải giương khẩu B40 nhằm vào chiếc xe thứ nhất bóp cò. Chiếc xe trúng đạn bốc cháy. Chiếc thứ 2 định chen sang bên phải leo lên nhưng liền bị phát đạn thứ 2 của Tải phá hủy. Lũ bộ binh và 4 chiếc còn lại chạy lùi về phía sau bắn trả loạn xạ. Ở hướng của Hạnh và Bảo cũng đánh quyết liệt với một Trung đội địch. Tiếng B40 xen lẫn tiếng AK nổ đanh và chắc. Những tên lính đánh thuê cứ nhổm lên lại rạp xuống giống hệt như con thú bị người ta lấy gậy đập vào đầu. Nhiều tên quá hoảng sợ chui cả xuống cống ngầm ở mặt đường. Hai cánh quân địch bị đánh lui. Chúng bỏ lại trận địa hai xác xe và hàng chục xác lính. Các chiến sỹ nhảy ra thu súng địch. Ba chiếc “cá lẹp” (một loại trực thăng vũ trang thân dài và thon) phành phạch dẫn xác tới phóng rốc-két vào trận địa ta. Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, xe tăng địch ta đã diệt được, đến lũ máy bay cũng phải cho chúng nó một trận. Vừa chỉ huy tổ, Tải vừa đưa trung liên lên bờ công sự, kịp thời quất một điểm xạ vào chiếc đi đầu. - Cháy rồi! Cháy rồi! Mấy chiến sỹ trong tổ reo lên, cũng là lúc chiếc máy bay đâm đầu xuống cách trận địa chỉ vài trăm mét. Hai chiếc còn lại vọt lên cao lượn mấy vòng rồi chuồn thẳng. Từ đó đến tối, địch không dám mò lên nữa. Trên trận địa mặt đường 19, bốn chiến sỹ Trung đội 2, Đại đội 63 đoàn Trường Sơn qua một ngày chiến đấu đã ghi một chiến công xuất sắc: đánh tan một đại đội địch, diệt gọn một trung đội lính Nam Triều Tiên, bắn cháy 2 xe tăng, bắn rơi một máy bay, thu 8 súng. Các chiến sỹ ta trong niềm vui thắng trận lại lau chùi súng đạn, sửa sang công sự chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới. Bình Định, tháng 10 năm 1972 N.Q.V Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 10:37:59 pm 30 PHÚT, DIỆT GỌN ĐỒN ĐẠI THẠNH Đợt hoạt động đã bước sang ngày thứ 10. Sau những trận liên tục công kích đánh nát căn cứ trung đoàn 41 ngụy ở Trà Quang, tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 2) được giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm địch ở Hội đồng Đại Thạnh, xã Mỹ Hiệp (quận Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) do một đại đội thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 41 quân chủ lực ngụy đóng giữ. Đây là một vị trí được xây dựng từ lâu, có 9 lô cốt với 8 lớp hàng rào kẽm gai, có hỏa lực mạnh lại nằm lọt giữa đường sắt và đường Quốc lộ Số 1, được sự chi viện trực tiếp của căn cứ trung đoàn 41 ngụy ở Trà Quang và Chi khu quận lỵ Phù Mỹ. Trong khi cán bộ đi chuẩn bị chiến trường, toàn đơn vị tranh thủ rút kinh ngiệm và sẵn sàng chiến đấu. Mọi công tác tổ chức được gấp rút hoàn thành. Sau khi báo cáo quyết tâm và phương án tác chiến trong Đảng ủy, tiểu đoàn trưởng Đoàn Mai Ngữ và chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Nhĩ tiến hành giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Đại đội 3 có hỏa lực của trên tăng cường sẽ làm nhiệm vụ chủ công tiêu diệt căn cứ Hội đồng Đại Thạnh. 19 giờ ngày 10 tháng 6 năm 1972, toàn đơn vị xuất phát chiếm lĩnh trận địa. Con đường mòn qua làng Đại Phước lạo xạo bước quân đi. Tổ trinh sát dẫn đầu bám địch từng bước, đưa đội hình nhích dần vào. Các chiến sĩ bộc phá thận trọng mang những ống thuốc nổ dài và nặng vào sát hàng rào. Những chiến sĩ thông tin nhanh chóng rải dây từ sở chỉ huy tiểu đoàn xuống các phân đội. Tiếng xẻng đào công sự từ đại đội hỏa lực đến các mũi bộ binh nghe ràn rạt. Hình như bọn địch trong cứ điểm đã đánh hơi được sự không lành nên bắn pháo sáng và khua nhau dậy. Đang đêm, dưới ánh sáng lập lòe khi tỏ, khi mờ, bọn ngụy gấp gáp xếp thêm bao cát lên các công sự, lô cốt. Chúng cho một bộ phận luồn ra ngoài hàng rào nằm. Vừa quan sát theo dõi địch, các chiến sĩ ta vừa khéo léo ngụy trang và thận trọng từng động tác nhỏ của mình trong đào công sự. Tới quá nửa đêm, các phân đội hoàn thành trận địa chuẩn bị tiến công. Ba giờ sáng ngày 11 tháng 6, không thấy động tĩnh gì, bọn địch thôi bắn đèn sáng và rút bọn địch ngoài hàng rào vào căn cứ. Chân trời phía Đông chuyển dần sang màu hồng phơn phớt. Sau khi kiểm tra lần cuối sự chuẩn bị của bộ đội, tiểu đoàn trưởng Đoàn Mai Ngữ ra lệnh tiến công. Các loại hỏa lực đi cùng như DKZ, trọng liên, đại liên, B40, B41, theo mục tiêu đã phân công liên tiếp bắn phá. Khói bụi mù mịt trùm lên căn cứ địch. Các tổ mở cửa, theo hợp đồng, lần lượt lên phá hàng rào kẽm gai. Những quả bộc phá đã liên kết qua 4 lớp rào lập tức điểm hỏa. Những chiến sĩ đánh bộc phá liên tục do Nguyễn Tiến Hạt chỉ huy nhanh chóng xông lên đánh tiếp những hàng rào còn lại, mở đường cho mũi thọc sâu của Lê Hồng An xông vào. Tiếp đó, đại đội trưởng Công dẫn bộ phận hỏa lực chiếm lĩnh đầu cầu, dùng DKZ chế áp các hỏa điểm địch cho các mũi đánh tỏa ra. Trận địa hỏa lực của tiểu đoàn đặt trên gò cao cách đó vài trăm mét vừa chi viện trực tiếp cho trận đánh vừa chế áp các vị trí địch ở chung quanh. Bị đánh phủ đầu quá mạnh, bọn địch không kịp đối phó. Mãi tới 10 phút sau, mấy hỏa điểm còn lại trong căn cứ mới phản ứng. Lập tức, DKZ của ta bắn sập ngay những hỏa điểm ấy. Các chiến sĩ đại đội 3 tràn vào trận địa địch, vừa tiêu diệt bọn ngoan cố vừa kêu gọi chúng đầu hàng. Từ trong những lô cốt và công sự sập lở, những tên ngụy sống sót run rẩy giơ tay xin tha tội chết. Một số tên liều mạng, mở cổng sau chạy ra Quốc lộ 1 định thoát về cầu Thạnh An. Phát hiện bọn này, đại đội phó Quý và chính trị viên Việt dẫn một bộ phận đuổi theo tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Mặt trời nhô lên khỏi mặt biển hắt những tia nắng đầu tiên xuống trận địa. Sau 30 phút chiến đấu dũng cảm và quyết liệt, nhờ sự mưu trí, vận dụng tốt chiến thuật đã xác định, đại đội 3, tiểu đoàn 3, đoàn Trung Dũng (tức Trung đoàn 2) đã tiêu diệt và làm chủ cứ điểm Hội đồng Đại Thạnh, diệt gọn đại đội 4, tiểu đoàn 3, trung đoàn 41 chủ lực ngụy, bắt sống 22 tù binh, thu 63 súng các loại, 5 máy vô tuyến điện thoại PRC25, ghi thành tích xuất sắc về đánh tập kích hợp đồng bộ binh và pháo binh, diệt gọn đại đội địch trong công sự vững chắc, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Bình Định, tháng 9 năm 1972 N.Q.V Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 10:42:41 pm Trung tá Doãn Đức Xuân Nguyên trợ lý Cán bộ E12, F3-Sao Vàng ĐÊM MƯA Hoàng hôn vùng núi miền tây Bình Định trùm xuống rất nhanh. Trời mưa mỗi lúc một nặng hạt. Tôi đi họp thống kê cán bộ Sư đoàn về. Đường ven sông vắng tanh. Cáu thời tiết, rồi lại tự trách mình. Giá như không có cơn sốt rét sáng nay thì giờ này tôi đã ung dung ở đơn vị rồi. Trú vào đâu bây giờ. Trời đã tối thực sự. Còn hơn 3 tiếng đồng hồ nữa mới tới nhà. Rừng đêm trùng điệp. Đầu suy nghĩ miên man, chân cứ bước đi mải miết. Bỗng đằng xa, trước mắt như có ánh lửa loé lên rồi lại tắt. Tôi bước vội đến! Một mái lán sơ sài được dựng tự bao giờ để trú tạm bên suối. Chẳng lẽ lại có người? Bỗng nhiên tôi cảm thấy sợ. Đang phân vân có nên vào hay không thì một viên đá dưới chân bị trượt rơi tõm xuống nước. - Ai? Một tiếng kêu giật giọng Tôi cũng hoảng hốt không kém. Nhưng sau tiếng “Ai” thì tôi đã định thần vì nhận ra đó là tiếng người con gái. - Tôi! Tôi đây mà. Cô gái nhìn ra, đôi mắt chưa hết sợ hãi, vẻ dò xét. Tôi nói tiếp: - Tôi, tôi bị sốt, không đi được, trời lại mưa, chóng tối quá. Dừng một lát tôi hỏi - Còn cô! Sao lại ở đây vào giờ này? - Cơ quan em ở đây thôi, còn khoảng một tiếng đồng hồ, nhưng sợ ướt thuốc, em phải vào đây trú, không ngờ trời cứ mưa hoài và mỗi lúc một to dần. “À, một cô dược tá” tôi nghĩ thầm. Cơn mưa lại ập tới. Tôi bước vào lán. Cô gái bảo: - Lạnh ướt vậy dễ cảm lắm đấy! - Giờ mà có bếp lửa thì tuyệt. Tôi nói mà hai hàm răng cứ cầm cập va vào nhau, người lại ngây ngấy sốt. Cô gái đưa cho tôi cái mũ và bảo: - Anh che, để em đánh diêm, ban nãy em định nhóm lửa nhưng gió quá, vả lại một mình em cũng sợ. Lửa bén qua tờ giấy vào mớ phên nứa ải. Tôi nhặt mấy que củi bỏ vào. Lửa mỗi lúc một cháy lớn. Ánh lửa đã đem lại sự ấm áp cho chúng tôi và xua tan bao nỗi sợ hãi. Thật kỳ ngộ! Tôi nhớ lại câu chuyện Rô-bin-xơn đọc hồi còn bé. Cô gái để cằm trên đầu gối, ngồi khêu tàn lửa. Tôi khen cô gan dạ, còn cô thì bảo: - Chẳng biết làm thế nào em đành liều. Nói thật nhé, lúc nãy em cũng sợ lắm - Sợ gì? - Em tưởng thú giữ hay biệt kích cơ đấy! Chúng tôi bắt đầu kể chuyện cho nhau nghe: chuyện đơn vị, chuyện công tác và lân la đến chuyện quê hương, gia đình. - Em là Thanh, Nguyễn Thị Thanh, còn anh? - Anh là: Doãn “Thanh” Xuân. Tôi cố nhấn mạnh chữ “Thanh” do tôi vừa nghĩ ra, vừa nói vừa cười, với ý đùa cho vui, nhưng Thanh chẳng chút gì nghi ngờ - Tên anh hay nhỉ! ... Đêm đã về khuya, trời vẫn mưa sầm sập, chiếc lều nhỏ bé như oằn xuống. May mà còn một góc không dột, khô và ấm. Chuyện mãi rồi cũng hết. Đến lúc hai chúng tôi trầm ngâm mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Thanh phá tan sự im lặng: - Anh kể chuyện gì cho vui đi! - Kể chuyện gì bây giờ nhỉ? Thanh đã đọc “Thép đã tôi thế đấy” chưa? - Đọc rồi! Nhưng anh cứ kể đi! Em vẫn thích nghe lại. Tôi kể đoạn Pa-ven bị thương và được Ri-ta chăm sóc thì bỗng nhiên cơn sốt trong tôi lại nổi lên, giọng nói dần dần lạc đi, trong người nóng ran, đầu choáng váng. Làm nghề y nên Thanh rất nhạy cảm với triệu chứng của “bệnh nhân”. Với vẻ quan tâm, cô nói: - Anh lại lên cơn sốt rồi! Anh nằm xuống đi, để em canh cho. Tôi bỗng thấy khó xử. Chỉ có một tấm ni-lông hẹp của tôi, vả lại để Thanh, con gái phải thức một mình tôi đành lòng nào? Chúng tôi cứ đùn đẩy nhường nhau, đến lúc những đốt sống của tôi như rã rời không ngồi được nữa, tôi đành phải nằm co quắp và run bần bật. Cơn sốt làm tôi thiếp đi lúc nào không biết. Có lúc chập chờn, tôi cảm giác như có một tấm chăn mềm mại phủ lên người ấm áp, dễ chịu. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 10:43:08 pm Tỉnh dậy thấy Thanh vẫn ngồi bó gối bên bếp lửa đã tàn từ lúc nào. Thanh vui mừng giọng như reo lên: - A! Anh đã tỉnh. Anh sốt cao quá, xoa dầu cho anh mà cứ như đụng vào than đỏ vậy. Tôi định tìm câu cảm ơn thì Thanh đã nhỏ nhẹ: - Anh khát nước không? - Có. Thanh cầm ăng-gô đi ra mái lán hứng nước. Giá như không có mùi tanh mặn thì nước trong ăng-gô lúc này là thứ nước giải khát hảo hạng đối với tôi. Tôi uống ừng ực và tỉnh táo hẳn. - Thôi, giờ thì ta phải đổi phiên gác nhé! Thanh ngủ đi, tôi canh cho. Vừa nói tôi vừa ngồi dậy. Thanh đây đẩy: - Không! Không! Em không ngủ đâu, anh cứ nằm đi. Và Thanh cứ bắt tôi phải nằm xuống. Để tôi đỡ ái ngại, Thanh đến ngồi bên một góc tấm ni-lông hẹp đã được trải ra nằm. Lúc này có lẽ đã quá nửa đêm rồi, mưa vẫn triền miên dai dẳng. Thương Thanh quá. Thật là khó nói. Làm sao để Thanh yên tâm bây giờ. - Thanh! Tôi gọi rất khẽ. - Dạ! - Hay là Thanh cứ nằm ghé một tý cho đỡ mỏi! Tôi khẽ kéo áo Thanh. Thanh lẳng lặng sẽ sàng nghiêng người nằm xuống. Tôi dịch ra đất ẩm, lưng hơi lành lạnh. Im lặng! Không hiểu Thanh đang nghĩ gì? Còn tôi, một cảm giác xúc động khó tả. Không! Thanh chỉ như một đứa em gái của mình thôi. Tôi tự bảo vậy. Tôi cố tìm đọc ý nghĩ của Thanh. Tôi biết Thanh vẫn còn thức. Lâu quá, mỏi quá, Thanh như muốn trở mình. Khoảng không “biên giới” trên tấm ni-lông không còn, lưng hai người áp sát vào nhau, hơi nóng lan toả vào nhau nhưng ranh giới nam nữ vẫn được cả hai tôn trọng. Một lúc sau tôi khẽ gọi: - Thanh! - Dạ! Anh gọi em. Thanh khẽ đáp trong hơi thở - Thanh ngủ chưa? - Em ngủ rồi! Tôi buồn cười vì câu hỏi ngớ ngẩn của mình và câu trả lời chẳng lô- rích của Thanh (ngủ rồi mà lại trả lời được). Ướm độ rộng tấm ni-lông, tôi biết Thanh cũng nửa người nằm ra ngoài viền đất. Đánh bạo, tôi nắm vai Thanh kéo vào. - Thanh dịch vào kẻo bẩn áo và lạnh! Theo đà kéo của tôi, Thanh ngoan ngoãn áp vào. Giờ thì gần lắm rồi. Chúng tôi nghe rõ nhịp thở gấp và hồi hộp của nhau. Có lẽ cũng như tôi, lần đầu tiên, Thanh sống qua một đêm như thế này. Chúng tôi nằm ép sát nhau và im lặng. Trời sáng dần và đã tạnh mưa. Tôi trở dậy. Thanh vẫn ngủ. Có lẽ do căng thẳng kìm nén suốt đêm nên bây giờ cô mới ngủ. Tôi ngồi lặng ngắm Thanh, hơi thở nhẹ nhàng, đều đặn trông như một đứa trẻ. Tiếng chim rừng hót vang. Bất chợt một tốp máy bay phản lực Mỹ lao vút qua. Thanh vùng dậy: - Anh chẳng thức em! – Thanh trách. ... Chúng tôi sắp chia tay nhau mỗi người một ngã. Bịn rịn. Nghĩ gì mà Thanh cứ đăm đăm nhìn tôi, ánh mắt như níu kéo muốn nói một điều gì đó. Chẳng ai chịu bước đi trước. Như sực nhớ, Thanh dúi vào tay tôi gói thuốc và nói: - Đắng đấy! Nhưng anh phải chịu khó uống mới dứt được sốt rét. – Tôi cầm tay thanh rất lâu: - Cám ơn Thanh! Anh sẽ không bao giờ quên. - Em cũng vậy! Tôi chầm chậm bước đi. Thanh vẫn đứng nhìn theo. Giá như lúc này chúng tôi đi cùng chiều thì hay biết nhường nào! Hai lần ngoái đầu nhìn lại, Thanh vẫn đứng đó. Vai mang gùi thuốc, tay cầm mũ vẫy theo cho tới khi tôi khuất sau eo núi. Rừng núi Bình Định sau một đêm mưa, trời nắng lên sáng đẹp. Trên cây có đôi chim chuyền cành hót líu lo. Trong bước đi, tôi lại nghĩ về Thanh và một đêm mưa. Một đêm căng thẳng vượt qua mọi cám dỗ thông thường. Đời rộng mênh mông, tưởng chẳng bao giờ gặp lại. Thế mà sau 18 năm, trong một chuyến xe ra tham quan Hà Nội, vào Lăng viếng Bác năm 1988, tình cờ Thanh gặp lại tôi. Lúc đó tôi là cán bộ thuộc BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi người đã có một gia đình riêng, nhưng kỷ niệm về “đêm mưa” ấy, khiến cả hai đều thấy tự hào về một thời đẹp đẽ, sáng trong. Năm 1995, tôi được tin Thanh qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo, để lại trong tôi nỗi tiếc thương không thể nói được thành lời. Hà Nội, ngày 30-05-2009 D.Đ.X Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 10:48:56 pm Đại tá Lê Văn Quýt
Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 3 – Sao Vàng. BỮA CƠM CHAY Ở CHÙA SƯ NỮ Quá trưa ngày 1-5-1975, tôi - lúc đó là Chính uỷ Trung đoàn Bộ binh 2, đang hướng dẫn tổ vô tuyến điện PRC25 tìm làn sóng tàu địch ở Bãi Trước, Vũng Tàu để kêu gọi chúng đầu hàng thì gặp một ni sư còn trẻ, vẻ sợ sệt, khép nép tránh chúng tôi để về chùa. Tôi bước tới chắp tay, ôn tồn hỏi: - Nam mô a di đà Phật. Xin hỏi ni cô có thấy lính Việt Nam Cộng Hoà đang lẩn trốn ở đâu không ạ? Thấy tôi nói năng khiêm tốn, ni cô có vẻ vững tâm hơn, tin tưởng, mạnh dạn trả lời: - A di đà Phật! Thí chủ đi theo tôi. Trên đường đi, qua trò chuyện, ni cô kể cho tôi rằng, cô quê ở Quảng Ngãi, bố tập kết ra Bắc. Cô là sinh viên trường Đại học Sài Gòn, tham gia phong trào Tự nguyện đấu tranh cho hoà bình, bị chính quyền Sài Gòn truy bắt. Cô bỏ học trốn xuống Vũng Tàu vào chùa Sư Nữ đi tu chờ ngày gia đình đoàn tụ. Đến chùa, cô bảo chúng tôi dừng chân ở sân rồi thoăn thoắt vào nhà trong. Tôi và các chiến sỹ thông tin đứng nép sang mấy gốc cây cạnh sân sẵn sàng chiến đấu, đề phòng bất trắc. Một lát, ni cô dẫn một người trạc tuổi 60, mặc áo vàng, cổ đeo 2 chuỗi tràng hat, một chuỗi dài tới đầu gối. Chúng tôi bước ra: - Nam mô a di đà Phật. Bạch Sư cụ, chúng tôi là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam... - Tôi đang định giải thích thêm thì Sư Cả đã ngắt lời: - A di đà Phật. Tôi biết rồi. Mời các thí chủ vào chùa. Tôi nháy mấy đồng chí thông tin đứng lại ngoài thềm để canh chừng. Mình tôi vào chính điện. Ngôi chùa không lớn nhưng trang nghiêm, tên gọi chính thức là “Tịnh xá Niết Bàn”, nhân dân thường gọi chùa Sư Nữ vì người trụ trì là nữ Sư tăng. Sư Cả ra hiệu cho một ni cô rót nước mời khách. Tay vẫn lần tràng hạt vẻ điềm tĩnh. Tôi nóng ruột mong được biết tin tức cụ thể về bọn địch lẩn trốn. Mãi sau, Sư Cả mới nói: - Chẳng dấu gì thí chủ, những người lính của phía bên kia đã về nhà hết rồi. Từ tối hôm qua đến sáng nay họ kéo tới tá túc tại chùa này hơn 300 người. Sỹ quan có, binh lính có. Họ bảo sẽ có tàu của Mỹ tới đón. Bổn Tăng và các Tăng ni trong chùa đã khuyên giải, không nên bỏ đất nước mà đi, hãy về nhà làm ăn. Trong chùa có một số Tăng ni là người nhà bên Cách Mạng nên đã nói cho họ biết chính sách của Mặt Trận rất nhân đạo, không lạm sát người ăn năn thực lòng hối cải. Lúc đầu là mấy ông lính – Sư thầy kể tiếp – Sau đó là cả những ông lớn. Tôi bảo mọi người hãy để súng lại đây. Khi nào Cách Mạng tới, Nhà chùa sẽ đem nộp cho nẫu. Kể xong, Sư Cả dẫn chúng tôi vào nhà dưới. Vừa mở cửa, trước mắt chúng tôi là một đống các loại vũ khí bộ binh: A R15, M79, các bin, có cả máy thông tin PRC25 (đã hết pin)... Tôi cám ơn Sư Cả và các ni cô, hẹn sẽ cử bộ đội tới nhận và sẽ ghi công Nhà chùa. Tôi định ra về thì Sư Cả bước ra trước mặt. Một tay đặt trước ngực theo kiểu hành lễ Nhà Phật, tay kia vẫn lần tràng hạt nói: - A di đà Phật. Nhà chùa muốn mời các thí chủ ăn một bữa cơm chay. Bất ngờ trước lời mời của Sư Cả, tôi thoáng chút lúng túng. Đúng là chúng tôi mải tìm địch nên chưa kịp ăn trưa. Nên nhận lời hay từ chối? Không nhận lời thì sợ Nhà chùa cho là mình làm khách, giữ kẽ, thiếu thiện chí. Trong chùa lúc đó có hàng chục Phật tử là những người dân Thành phố vẫn chăm chú theo dõi. Tôi quyết định nhận lời ở lại dùng bữa. Sư Cả và các ni cô rạng rỡ hẳn lên toả ra đi làm cơm. Không khí thân thiện hiện rõ qua từng nét mặt, cử chỉ và lời nói. Một lát sau, bàn cơm chay được bày ra. Rất nhiều món. Nhìn qua thấy đủ các món tôm, cá, giò, chả, rau, đậu, canh thập cẩm. Thấy chúng tôi ngỡ ngàng với những món ăn, Sư Cả giải thích: - Vẻ ngoài món ăn như thức ăn của người ăn mặn, nhưng tất cả đều làm bằng thực phẩm chay. Không biết các Thí chủ có ăn được không. Tôi hào hứng trả lời: - Đối với Quân Giải Phóng, ăn chay là một sở trường. Hàng chục năm nay, thậm chí mấy chục năm, thức ăn chủ yếu của chúng tôi là cơm rau rừng, củ mài, củ mì, thi thoảng mới có cá thịt. - Rồi tôi bình luận: Cơm của Nhà chùa và cơm của Quân Giải Phóng thật giống nhau. Quân Giải Phóng ăn cơm chay để đánh giặc giải phóng đất nước. Nhà chùa ăn cơm chay để cầu cho Quốc thái dân an. Tất cả chúng ta cùng chung một mục đích, có phải không nào. Tất cả mọi người cười vang. Không khí thân ái lan tỏa trên từng khuôn mặt. Tôi mời Sư Cả và các ni cô cùng ngồi vào bàn. Lúc đầu, các ni cô còn e ngại đùn đẩy nhau, nhưng thấy chúng tôi vui vẻ, bình dị, chân tình, tất cả cùng ngồi nhưng chỉ ăn nhỏ nhẹ, chủ yếu là nhìn chúng tôi ăn có thật tình không. Quả thật là món nào cũng ngon. Tôi tự hỏi, không biết có phải đồ chay thật không vì vẫn có hương vị của thịt, của cá. Sau này tôi mới biết đó là nghệ thuật chế biến thức ăn chay của Nhà chùa. Trong không khí thân mật vui vẻ, đồng chí Nguyễn Tiến Đích, trợ lý tuyên huấn đã chụp mấy kiểu ảnh, và chụp riêng cho tôi cùng Sư Cả một kiểu. Bức ảnh đã được đăng trên Báo Quân đội nhân dân tháng 6 năm 1975. Đông Hà, tháng 5-2009 L.V.Q Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 11:01:57 pm Trung tá Phan Văn Bảy Nguyên Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12, Sư đoàn 3- Sao Vàng. NHỮNG NĂM THÁNG Ở TRẠI TÙ QUÂN SỰ NGỤY SÀI GÒN Cả Trung đoàn 12 hồi đó thường gọi anh là Bảy Râu. Bởi anh là người nhiều râu nhất trong Trung đoàn, và cũng bởi anh là người dễ tính, vui vẻ. Đồng đội gọi như vậy, anh không hề tự ái, trái lại còn tự hào với dung mạo của mình. Anh là một sỹ quan khoẻ mạnh, đẹp trai, da trắng trẻo, càng làm nổi bật bộ râu đen. Tính thẳng thắn, phát biểu mạnh dạn, nói hết lòng mình, không nói dựa, nói theo bất cứ ai. Đối với chiến sỹ, anh cởi mở và thương yêu, độ lượng. Cánh vệ binh ngày đó ai cũng thích đi tháp tùng cho anh. Nhưng rồi trong một cuộc hành quân, địch phục kích, bị thương 2 chân và chúng đã bắt được anh. Bằng trí thông minh và lòng trung thành với Cách mạng, anh đã vượt qua mọi cửa ải do địch bày ra trong nhà tù. Anh giữ kín danh phận sỹ quan của mình, chỉ nhận là một nhân viên giao liên của địa phương trước bao cặp mắt nghi vấn và bất lực của kẻ thù, để cuối cùng anh chiến thắng trở về với đồng đội. Tôi phải khẩn thiết đề nghị mãi, anh mới kể cho nghe về những năm tháng ở trong nhà tù quân sự của chế độ Nguỵ Sài Gòn. Anh tên là Phan Văn Bảy, sinh năm 1935 tại xóm Bồng Sơn (nay là thị trấn Bồng Sơn), huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Tham gia Cách mạng năm 1951, vào bộ đội năm 1954 và tập kết ra Bắc. Năm 1959 hoạt động ở Lào, năm 1962 đi học trường Sỹ quan Pháo Binh, tháng 1-1965 vào chiến trường miền Nam, làm trợ lý kế hoạch Ban Chi viện tiền phương Quân khu 5. Khi Sư đoàn 3 chính thức thành lập (9-1965), anh được bổ nhiệm trợ lý kế hoạch Phòng Hậu cần Sư đoàn. Sau trận Phủ Cũ (23-9-1965) về làm Đại đội trưởng Đại đội 4 (hoả lực) của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12. Năm 1969 làm Phó Ban Tác chiến Sư đoàn, tháng 8-1971 làm Trung đoàn phó Trung đoàn 12, chỉ huy cánh phía Nam đường 19 (đoạn phía đông đèo Thượng Giang). Anh kể: Năm 1971, phía Nam đường 19 là vùng địch kiểm soát khắt khe. Bọn Nam Triều Tiên dùng một trung đoàn phòng ngự, kết hợp bọn bảo an, dân vệ thường xuyên lùng sục nên cán bộ dân chính và bộ đội ta (Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12) gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất. Tôi đến cơ quan huyện Bình Khê ở núi Hữu Giang gặp đồng chí Kim Anh (Bí thư), đồng chí Đấu (Chủ tịch), đồng chí Phú (huyện đội trưởng) để nắm tình hình địch và xin lương thực. Đêm ngày 4 tháng 11 năm 1971, tôi chỉ huy Tiểu đoàn 19 Công Binh vượt Đường 19. Bảo đảm hành lang là Tiểu đội Trinh sát và Đại đội 62, do đồng chí Tứ, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 6 chỉ huy. Tôi đi đầu tốp cán bộ. Phía trước là trinh sát, phía sau là vận tải. Qua đường 19 trót lọt, vượt mấy đám ruộng nữa là tới bìa rừng. Đúng lúc đó, khoảng 4 giờ sáng ngày 5-11, bọn địch từ hai phía nổ súng, trinh sát đánh trả nhưng ruộng trống, anh em lần lượt hi sinh. Chúng tôi dùng súng ngắn chiến đấu nhưng chẳng ăn thua. Đồng chí Giám, phó phòng Công binh Quân khu, đồng chí Nghề, trợ lý hoá học Quân khu hi sinh. Tôi bị thương vào mông phải và một viên vào đùi trái. Hai chân tê dại. Đồng chí liên lạc dìu tôi bò vào bờ ruộng. Biết mình không thể đi được, tôi đưa túi tài liệu và một triệu đồng (tiền Nguỵ Sài Gòn, để mua hàng) cho đồng chí liên lạc và ra lệnh phải tìm cách thoát khỏi trận địa địch. Vì tài liệu có liên quan đến kế hoạch tác chiến của đơn vị trong chiến dịch Xuân 1972. Đồng chí liên lạc đi rồi, tôi thấy người luội dần, vội cởi hết áo chỉ mặc quần đùi, súng hết đạn, vứt ra ruộng, cố lết một đoạn vào bụi cây gần đó thì lịm đi. Mờ sáng, bọn Nam Triều Tiên và bọn ngụy theo vết máu ập tới. Chúng khênh tôi lên xe Zép chở về quận lỵ Phú Phong. Tên Trung uý tâm lý chiến thẩm vấn ngay. Đã xác định không cho chúng biết mình là sỹ quan nên tôi khai họ tên là Ngô Văn Hiền, quê quán Xuân Thành, Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi. Có vợ là Trần Thị Chính và 1 con là Ngô Văn Quang. Nếu khai đúng quê tôi ở Bồng Sơn thì chúng sẽ đi thẩm tra được vì Bông Sơn còn trong vùng địch kiểm soát. Còn vùng quê Xuân Thành, Quảng Ngãi thuộc vùng giải phóng và những con người tôi khai đều đi hoạt động Cách mạng, chúng không thể điều tra được. Tôi lấy lý do vào Bình Định là để kiếm sống rồi đi làm giao liên. Tên trung uý nói: “Cỡ ông cũng phải là cán bộ tiểu đoàn”. Tôi bảo: “Cái mẽ bề ngoài như vậy nhưng tôi làm gì có phước để làm cán bộ Giải Phóng”. Nó đọc tên các Trung đoàn 2, 12, 22 của Sư đoàn 3, tôi đều nói không biết. Nó lại giở sổ đọc tên các cán bộ Tiểu đoàn, Trung đoàn, trong đó có tên tôi. Tôi trả lời không biết. Nó hỏi: “Nhiệm vụ giao liên thì làm gì?”. Tôi thầm bảo “chúng nó đã lùi bước rồi”, liền nói: “Xã bảo lên huyện nhận tài liệu, tiện có bộ đội qua đường tôi theo về”. Nó hỏi: “Có biết cán bộ huyện không?”. Tôi trả lời vanh vách tên, quê quán từng người trong cơ quan huyện, thậm chí nói tên một số nhân viên thường. Tên các cán bộ của bộ đội chúng còn biết thì cán bộ huyện làm gì chúng không biết. Chúng còn biết cả khu vực đứng chân của huyện uỷ, có điều không làm gì được. Bởi vậy tôi thoải mái khai. Cũng thuận lợi là tôi đã nhiều lần qua huyện Bình Khê làm việc nên nói không vấp váp. Cuối cùng, tên nguỵ hỏi: “Ông thấy bộ đội như thế nào?”. “Bộ đội họ vui vẻ. Súng đeo chéo ngực, có băng đạn, lựu đạn đầy người”. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 11:02:32 pm Đến Quy Nhơn, chúng đưa tôi vào quân y viện Vùng II chiến thuật để điều trị. Gặp anh em ta bị thương trước đó mách bảo: đã khai lúc đầu thế nào thì khi khai lại phải y hệt như thế. Khai chệch một chi tiết là chúng đánh chết bỏ. Những ngày tôi ở bệnh viện, nhiều tốp sỹ quan Mỹ, Hàn, Việt tới thẩm vấn. Vì chúng vẫn nghi tôi là cán bộ lớn của quân đội. Một tên Trung tá Mỹ hỏi: - Động cơ nào ông đi theo Mặt trận? - Nhà tôi cần ruộng, theo Mặt trận sẽ có ruộng. Tôi nêu thêm môt lý do có tính chất hận thù cá nhân để chúng tin là do thấy lính Mỹ hung ác, có lần đã nắm râu ông già giật đứt cả nắm, tôi hận lắm. Hôm sau nó dẫn tới một tên Mỹ, hỏi tôi: - Có phải người này không? - Giống, nhưng không phải. Chúng cười rồi bỏ đi. Bọn sỹ quan Hàn Quốc hỏi nhiệm vụ các đơn vị đang làm gì, ở đâu, trang bị thế nào? Tôi trả lời không biết. Chỉ nói họ đi về hướng Bức. Nó hỏi phiên dịch “hướng Bức là gì?”. Tên phiên dịch nói “Đó là hướng Bắc, tiếng địa phương nói trệch là hướng Bức”. Bọn tâm lý chiến ở tỉnh tỏ ra lễ phép. Nhận là tuổi con, hiểu biết chỉ như học trò của tôi, nịnh tôi cứ khai thật thì Quốc gia sẽ trọng dụng. Thủ đoạn đó tôi biết thừa và đúng là không đáng làm học trò tôi nên tôi bảo: - Thưa các quý ông, quý ông đã đánh giá tôi quá cao. Nó cắt ngang: - Đừng gọi quý ông, chúng tôi là bậc con cháu. Tôi trả lời: - nhưng tôi là một thường dân. Tôi phải gọi các ông như thế. Đó là gia giáo nhà tôi. Ba tôi dạy, làm người phải biết trên dưới, phải trái. Tôi đi theo Mặt trận, đối với các ông là trái, nhưng đối với gia đình tôi và bà con cô bác là phải. Tôi nói vậy có đúng không. Bọn chúng tím mặt, bỏ đi. Ở viện, tôi gặp La Văn Hậu, người Hà Bắc, trợ lý Hoá học Trung đoàn 22, quen tôi hồi ở sư đoàn. Thấy tôi không khai, anh em đã quý, khi nghe Hậu cho biết tôi là cán bộ quân đội, anh em càng quý hơn và ngầm bảo vệ tôi. Khỏi vết thương, tôi được liệt vào tàn phế, chúng đưa về trại giam Phú Tài. Bây giờ là tù binh. Chụp ảnh, đeo số tù 6164146 (616 là số vùng, 4146 là số tù nhân). Phổ biến nội quy. Trong đó có việc: gặp gỡ sỹ quan Nguỵ phải chào và phải chào cờ Nguỵ. Tôi lấy lý do phải đi hai nạng nên chỉ gật đầu, chúng phải chịu. Biết tôi không chào cờ, mấy hôm sau tôi được tổ chức bí mật của ta ở trong tù mời tham gia sinh hoạt. Nội dung chủ yếu là phải giữ vững trận địa tư tưởng. Tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của Cách mạng. Thông qua tổ chức đồng hương, tôi sinh hoạt với tổ Quảng Ngãi. Ngày 26 tháng 3 năm 1972, kỷ niệm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chi bộ lãnh đạo cuộc đấu tranh đánh giằn mặt bọn chiêu hồi. Khoảng 19 giờ, anh em dùng song giường đập vỡ bóng điện và quây 17 tên chiêu hồi đánh nhừ tử. Quân cảnh can thiệp, anh em nhân thể đánh bị thương 4 tên quân cảnh. Bọn chúng ra lệnh phạt phơi nắng 5 ngày liền. Trong đó có tôi, La Văn Hậu, anh Thạnh, anh Mai (công binh Trung đoàn 4). Mọi người nằm trên đất sỏi, sau 1 giờ, dội một gáo nước lã. Bắt đầu nằm từ 7 giờ đến 17 giờ mới cho vào. Hết ngày thứ 2 thì anh em tù trong trại (khoảng 200 người) kéo ra phản đối. Nếu chúng không huỷ bỏ hình phạt độc ác đó thì tất cả cùng nằm. Bọn địch chịu thua. Chị em nữ tù ở trại bên cạnh đêm đêm ném dầu xoa cho chúng tôi. Bọn quân cảnh bắn doạ và ném mù cay vào các phòng giam chị em. Một hôm, có tên sỹ quan Nam Hàn định tới thẩm vấn tôi. Đi theo là tên Phấn, vốn là một cán bộ của đại đội thông tin Sư đoàn, được ta cử đi học tiếng Hàn để làm binh vận. Phấn bị bắt cùng đợt với tôi nhưng đã chiêu hồi, đã chỉ điểm cho địch khá nhiều. Nếu Phấn gặp tôi, chắc chắn tôi sẽ không giấu được thân phận vì Phấn biết khá rõ về tôi trong những ngày ở cơ quan Trung đoàn. Trước tình hình đó, tổ chức của ta trong tù đã lãnh đạo trại chị em la ó mắng nhiếc là đồ chó săn, đồ phản bội. Nếu vào đây thì chị em sẽ lấy quần trùm lên đầu, khiến tên Phấn không giám vào. Hắn nói gì với tên sỹ quan Hàn Quốc mà chúng bỏ cuộc thẩm vấn. Không có sự đồng lòng, đồng chí của anh chị em trong tù thì tôi khó thoát khỏi cửa ải này. Tháng 5 năm 1972, qua bọn quân cảnh, chúng tôi biết Sư đoàn ta đã thắng lớn ở Bắc Bình Định. Chúng vội vàng đưa tù quân sự rời khỏi Phú Tài. Nữ tù vào Cần Thơ, nam đưa ra Phú Quốc. Dưới 16 tuổi tới Biên Hoà. Chúng tôi được chở bằng máy bay từ Quy Nhơn tới Phú Quốc. Xuống sân bay đã thấy quân cảnh đứng xếp hàng 2 chờ sẵn bên đường. Tù binh 2 người một xiềng đi giữa. Chưa ai phán đoán ra điều gì thì roi, gậy tới tấp chúng quật xuống đầu, xuống lưng. Thì ra đây là tục lệ nhập đảo. Đường từ sân bay về trại khoảng 1 cây số, chúng tôi bị đánh liên tục. Ai đi nhanh thì bị đánh ít hơn, tôi bị thương đi chậm nên bị đánh nhiều. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Tư, 2017, 11:03:06 pm Tin đồn lính Bình Định giỏi võ nên ngày hôm sau chúng phân tán tù Bình Định. Tôi về trại Đ9-trại tàn phế. Trại có 9 nhà khoảng 900 người, chia thành 2 bộ phận: - Trại trí thức: y, bác sỹ và sỹ quan cấp Đại tá trở lên. - Trại lính gồm: trại Bắc Việt và trại Cộng sản nằm vùng. Tiêu chuẩn ăn hàng ngày chúng nói mỗi người 7 lạng gạo và 25 đồng thức ăn (tiền Nguỵ). Thực tế chỉ có cá ươn hoặc cá khô đã mục. Người nấu là anh em tù khoẻ mạnh. Buổi tối, mỗi phòng chúng đặt 2 thùng nhựa để tù đi cầu. Sáng ra, những tù binh là chiến sỹ đến khênh phân và nước tiểu đi đổ. Anh em thông tin với nhau bằng cách nhét giấy (tài liệu) vào đòn khênh. Để đấu tranh đòi chúng bảo đảm đúng chế độ ăn và cấp đủ thuốc cho người bệnh, chúng tôi tổ chức một cuộc đấu tranh bằng tuyệt thực. Hàng ngày chỉ uống nước và một ít muối. Tới ngày thứ 7 thì chúng phải chấp nhận đề nghị của anh em. Một lần, tôi đi dạo, tình cờ gặp Hạnh, môt tù binh bị bắt năm Mậu Thân (1968). Anh ta trước đây ở miền Bắc, là chiến sỹ của tôi. Hạnh nói với giám thị rằng tôi là thủ trưởng của anh ta chứ không phải giao liên. Mấy tuần liền, chúng gọi tôi lên thẩm vấn và nói rằng: Nếu tôi phản cung thì sẽ được đối xử tử tế. Tôi bảo: Kẻ Bắc người Nam, chắc anh ta lộn (nhầm lẫn) chứ tôi không biết anh ta. Bọn địch chịu thua. Trong tôi, lúc nào cũng nhớ 10 lời thề danh dự của một quân nhân Cách Mạng, trong trường hợp này là lời thề: Khi bị địch bắt dù bị đánh đập tra tấn quyết không khai báo. Lần thẩm vấn này khá lâu, tôi nhìn thấy trên bảng danh sách của chúng ghi có có 30.000 tù quân sự, chia 12 khu, mỗi khu có 4 phân khu, mỗi phân khu có 4 nhà, mỗi nhà 100 người, có lối đi ở giữa, hai bên là sạp gỗ thông. Nó phát màn, anh em xé làm võng, nó phát mền (chăn chiên), anh em xé làm vải đi vệ sinh. Đi xong đem giặt rồi dùng lại. Đầu năm 1973, dịp Tết Âm lịch, anh em lập bàn thờ, mua quà, lễ vật và đề nghị giám thị cho đi viếng nghĩa trang (có 3 nghĩa trang khoảng 3000 mộ). Anh em bàn nhau phải ghi nhớ để sau này về báo cáo với tổ chức. Gần ngày trao trả, trung tâm điều hành tiến hành thẩm vấn một số tù quân sự, trong đó có tôi. Chúng hỏi: - Nếu được ra tù, ông có theo Cộng Sản nữa không? Tôi trả lời thẳng thắn: - Người xưa đã từng nói: Làm dân chỉ thờ 1 vua. Theo đạo nào chỉ thờ 1 đạo. Đó là lẽ thường tình. Ngày 18-3-1973, chúng tôi được thông báo sẽ ra tù và trao trả cho phía bên kia tại Lộc Ninh. Máy bay vận tải đi từ Phú Quốc về Thành phố Sài Gòn, rồi lên trực thăng về Lộc Ninh. Ngồi trên máy bay nhìn thấy rừng cao su bạt ngàn. Thời gian như chậm lại, hồi hộp tự hỏi: Sao lâu thế, hay là chúng đưa đi thủ tiêu? Mãi tới khi thấy cổng chào, cờ đỏ xanh, băng-rôn và người đi lại tấp nập trên sân bay, chúng tôi sung sướng đến chảy nước mắt. Máy bay hạ xuống đã có người của mình chờ sẵn. Bọn nguỵ đọc tên từng người. Khi đến Ngô Văn Hiền, tôi bước ra. Trong lòng thầm bảo: Chấm dứt kiếp tù đày. Tất cả chúng tôi được đưa về lán cấp phát quân trang, tắm giặt. Sau đó tiến hành khai lại tên, chức vụ thật. Phân từng bộ phận: chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Cán bộ trung, cao cấp ở một khu riêng. Sau khi viết tự thuật cho Cục An ninh Miền, tôi được cử làm trưởng đoàn dẫn anh em Khu 5 (khoảng 5000 người) từ Lộc Ninh về. Dọc đường đến tỉnh nào, tỉnh đó nhận. Trạm cuối cùng là Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu, đồng chí Nguyễn Nam Khánh, Cục trưởng Cục Chính trị Quân khu trực tiếp gặp tôi, khen ngợi tinh thần kiên định lập trường Cách Mạng. Đồng chí Nam Khánh nói đại ý: Cậu là Phó Ban Tác chiến của Sư đoàn 3, biết lược đồ chiến dịch Xuân 1972 của Quân khu. Nhưng bọn địch không phán đoán được gì về ta, chứng tỏ đồng chí đã giữ được bí mật cho Đảng, cho quân đội. Anh Nam Khánh còn cho biết, sau khi tôi bị bắt, đồng chí Trần Bá Khuê, Tham mưu trưởng Sư đoàn 3 suốt mấy đêm liền ra lệnh cho trinh sát kỹ thuật theo dõi tin tức và nghe đài địch. Khi thấy mọi việc không có gì khác thường ông mới yên tâm. Mấy ngày sau, tôi nhận được quyết định khen thưởng Huân chương Chiến công Hạng 3 và quyết định giữ nguyên liên tục tuổi Đảng, tuổi quân. Được ra Bắc an dưỡng một thời gian, tôi xin trở lại chiến trường. Tháng 6-1976, tôi được bổ nhiệm làm Trung đoàn phó Trung đoàn huấn luyện của Quân khu, được phong quân hàm Trung tá và năm 1981 nghỉ hưu. Qua những tháng năm tù đày, lúc đầu đêm nằm luôn tự vấn: Có quân, có lính mà để bị bắt, thật nhục nhã. Nhưng rồi hàng ngày liên tục đối mặt với những khó khăn, mới hiểu, để giữ vững khí tiết quả không dễ dàng gì. Thông tin bên ngoài không có, thông tin từ phía địch thì bị bóp méo. Nếu không có lòng tin sắt đá vào Cách Mạng, và không nhạy bén phân tích tình hình thì sẽ mất nhuệ khí. Một lần chỉ nghe bọn quân cảnh nói: “Bọn bay đi tù còn bọn tao cũng đi đày”. Thế là tôi biết ngay địch đã bất mãn với chế độ của nó. Từ đó mà bắt mối với bọn này để lấy thông tin chiến thắng của ta. Tôi luôn nói với chúng: Các ông làm gì thì làm, hãy nhớ tới đường về quê khi Cách mạng thắng lợi. Bởi vậy, cuối năm 1972, một lần thấy tôi đập vỡ chiếc cà mèn lấy một mảnh đem mài lên nền xi măng để làm dao cạo râu, máu chảy túa ra. Bọn chúng đã cho phép tôi mỗi tuần lễ được tới phòng giám thị 1 lần để cạo râu. Đối với tôi, lòng tin vào thắng lợi cuối cùng của Cách Mạng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để giúp tôi vượt qua mọi cửa ải trong những tháng năm bị giam cầm tại nhà tù Quân sự địch. Giao động lòng tin là dần dần sẽ mất hết. Bài học đó cho đến nay, trong cuộc sống hiện tại, tôi thấy vẫn còn tác dụng. Hà Nội, tháng 8-2007 Nguyễn Văn Tích ghi Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2017, 05:57:47 am Đại tá Trần Hữu Biền, Nguyên Chính ủy Cục Hậu Cần Quân đoàn 14, Nguyên Chính uỷ Trung đoàn 12, Chính ủy Trung đoàn 2, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 3- Sao Vàng. TẢN MẠN NHỮNG KỶ NIỆM SỐNG VÀ CHIẾN ĐẤU Ở SƯ ĐOÀN 3 - SAO VÀNG NHỮNG NGÀY Ở TIỂU ĐOÀN CÔNG BINH Tiểu đoàn Công Binh Sư đoàn 3 Sao Vàng vốn là Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 325 – Quân khu 4. Tháng 2 năm 1965 hành quân vào Nam. Một đại đội đi với Trung đoàn 101 vào miền Đông Nam Bộ. Một Đại đội đi với Trung đoàn 95 vào Gia Lai và một Đại đội đi với Trung đoàn 18 vào Bình Định. Tôi là Chính trị viên Đại đội 2 đi với Trung đoàn 18 (tức Trung đoàn 12- Sư đoàn 3 – Sao Vàng). Tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 3 - Sao Vàng được thành lập, Đại đội 2 của tôi nhập với Đại đội 1 Công Binh của địa phương và Đại đội 3 của Trung đoàn 22 thành Tiểu đoàn Công Binh của Sư đoàn, do đồng chí Nguyễn Phi Hồng, người Bình Định làm Tiểu đoàn trưởng. Sau đồng chí Hồng là đồng chí Lê Xuân Chi và tôi – Trần Hữu Biền, Phó Chính trị viên phụ trách chính trị Tiểu đoàn. Sau khi thành lập, Sư đoàn xác định hậu cứ của Tiểu đoàn là huyện An Lão và huyện Hoài Ân, có nhiệm vụ xây dựng lực lượng, độc lập tác chiến, đánh cắt giao thông trên trục đường số 1 ở hai huyện Hoài Nhơn và Phù Mỹ. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn bàn bạc, hạ quyết tâm tự túc lương thực, thực phẩm để nuôi bộ đội đủ sức đánh giặc. Trên tinh thần đó, đơn vị được chia làm 3 bộ phận: - Một bộ phận chuyên tìm bom, đạn lép để lấy thuốc nổ làm bộc phá, thủ pháo, lựu đạn. - Một bộ phận đi thu vén lúa của dân bị địch dồn vào ấp chiến lược, đưa về kho dự trữ. - Một bộ phận chuyên sản xuất lúa và hoa màu. Địch rải chất độc, dừa bị rụng quả, anh em thu gom đem về chất đầy các hang đá để làm thực phẩm lâu dài. Đầu năm 1966, địch mở cuộc càn lớn do Sư đoàn Không vận Số 1 Mỹ tiến hành để “Tìm diệt” Sư đoàn Sao Vàng. Nhân dân An Lão vốn là vùng giải phóng từ tháng 12-1964 nên bị liệt là Cộng sản. Chúng dùng trực thăng chở xuống vùng địch kiểm soát, biến An Lão thành vùng trắng. Một số bà con chạy thoát đi theo cán bộ, bộ đội. Tôi nhớ ở xóm Mít, gần núi có chị Lăn, chồng tập kết ra Bắc, 1 con nhỏ 12 tuổi, đã được Tiểu đoàn thu nhận, chuyên lo việc sàng sảy lúa gạo và đi tìm những nơi có dừa, có mắm để thu gom cho đơn vị. Bộ đội, theo hướng dẫn của địa phương đưa cối xay, cối giã lên núi để xay, giã, chặt tre đan dè, cót đựng gạo, lúa. Mỗi dè đựng 1 tấn, mỗi cót đựng 5 tạ. Tiểu đoàn định tiêu chuẩn ăn mỗi người một ngày 1 lon gạo (2,5 lạng). Phụ trợ thêm thì chà sắn tươi, vắt khô, cho nhân cùi dừa vào gói thành bánh hấp chín. Sống kham khổ nhưng vẫn duy trì các trận chiến đấu theo mệnh lệnh của Sư đoàn. Tôi nhớ nhất là trận phục kích ở đèo Bình Đê, giáp ranh tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Lúc đó sau tổng tiến công Mậu Thân (1968) ta bị tổn thất nặng phải rút lên núi. Địch bủa vây bốn phía, đánh sâu vào hậu cứ của Sư đoàn nhằm “đuổi chủ lực ta ra Bắc”. Một hôm đồng chí Lư Giang, Tư lệnh Sư đoàn đến giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn phải đánh một trận giao thông để cắt tiếp tế của địch từ cảng Quy Nhơn ra Quảng Ngãi. Trận đánh còn có ý nghĩa củng cố lòng tin cho dân. Báo cho dân biết, bộ đội ta không “Tập kết ra Bắc lần 2” như bọn nguỵ tuyên truyền. Bộ đội Giải phóng vẫn còn tồn tại và đánh thắng địch. “Diệt được bao nhiêu thì diệt nhưng phải đánh thắng” – Đồng chí Tư lệnh kết luận. Ban chỉ huy Tiểu đoàn quyết định chọn những đồng chí tiêu biểu nhất, cả cán bộ, chiến sỹ, do đồng chí Nguyễn Hữu Quang – Tham mưu trưởng Tiểu đoàn chỉ huy. Trước khi xuất phát, Tiểu đoàn làm lễ tuyên thệ dưới cờ, sẽ chiến đấu đến cùng, nếu bị bắt thì tự sát, không để làm tù binh. Được cán bộ địa phương giúp đỡ, dẫn đường, bộ đội hành quân vượt đường số 1, tập kết ở phía Đông đèo Bình Đê. Biết rõ quy luật địch khi xảy ra trận đánh là phản ứng về phía Tây vì nghĩ rằng ta rút lui lên núi nên đồng chí Quang cho anh em bố trí đánh từ phía Đông. Bốn khẩu B41 và 4 AK đánh chính diện, 2 khẩu B41 và 2 AK chặn đầu. 2 B41 và 2 AK khoá đuôi. Khi đoàn xe địch lọt vào khu chiến, ta đồng loạt nổ súng. Trận đánh diễn ra lúc 6 giờ sáng, thời điểm địch không ngờ tới, ở một địa bàn chúng không ngờ tới nên đoàn xe địch đã bị phá huỷ hoàn toàn, trong đó có 6 xe bọc thép. Chúng gọi trực thăng bắn phá, bộ phận trung liên đánh trả thu hút địch về phía Tây. Bộ đội ta rút về phía Đông, ven biển, không có ai bị thương vong. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2017, 06:01:58 am DỌC ĐƯỜNG XUÂN 1975 * Ngày 1 tháng 4 năm 1975, Quy Nhơn giải phóng. Trung đoàn đang ở Phú Phong. Trung đoàn trưởng Đới Ngọc Cầu lệnh cho Tham mưu trưởng dẫn đoàn cán bộ 3 cơ quan vào Quy Nhơn để lấy bản đồ và một số phương tiện thông tin phục vụ chiến đấu. Ngày hôm sau (2-4), đồng chí Lê Anh Sáng, trợ lý kế hoạch ban hậu cần báo cáo với tôi (lúc đó là Chính uỷ Trung đoàn), anh em vào kho quân tiếp vụ địch ở Quy Nhơn thu được 1 xe đường (khoảng 4 tấn). Tôi bảo: - Mặc dù lấy từ kho của địch nhưng nay đã là chiến lợi phẩm, không được vi phạm, phải trả cho địa phương. Đồng chí Sáng lúng túng bảo: - Nhưng bộ đội đang thiếu đường. Tôi trả lời: - Thiếu đường thì báo cáo Sư đoàn cấp. Chúng ta không được tự động sử dụng hàng chiến lợi phẩm. Đồng chí Sáng vâng lệnh và đem xe đường đi trả tại kho Quy Nhơn. * Ngày 30 tháng 4 năm 1975, thành phố Vũng Tàu được giải phóng, Trung đoàn 12 làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự thành phố (cùng Trung đoàn 2) Ngày 15 tháng 5 năm 1975, Trung đoàn cử Tiểu đoàn 6 đi tham gia diễu binh ở Sài Gòn (Tiểu đoàn 6 là đơn vị duy nhất của Sư đoàn cùng với Hải quân đi giải phóng Côn Đảo ngày 1-5-1975 nên được vinh dự này). Lúc đó, chiến lợi phẩm do Trung đoàn thu được nhiều vô kể, từ súng đạn, phương tiện chiến đấu đến lương thực, thực phẩm. Tôi đề xuất với đồng chí Nguyễn Duy Thương, Tham mưu trưởng Sư đoàn đang trực tiếp chỉ huy ở Vũng Tàu: - Hôm nay mừng chiến thắng nên cho mỗi người 2 hộp sữa và 1 bao thuốc lá. Đồng chí Thương đồng ý. Và đơn vị triển khai ngay trong buổi sáng. 12 giờ trưa, đồng chí Mai Tân, Chính uỷ Sư đoàn điện xuống mời tôi và anh Cầu (Trung đoàn trưởng) về gặp Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Chúng tôi không nghỉ trưa, vội đánh xe Jep lên Vạn Kiếp (nơi đặt Sở chỉ huy Sư đoàn). Ai cũng nghĩ: chắc có nhiệm vụ đột xuất. Ngồi vào bàn làm việc, anh Mai Tân hỏi ngay: - Nghe tin các đồng chí đã lấy chiến lợi phẩm, cấp sữa cho bộ đội. Đó là lệnh của ai? - Chúng tôi đã báo cáo xin ý kiến anh Thương, Tham mưu trưởng – Tôi trả lời. - Hàng chiến lợi phẩm ai được quyền ra lệnh sử dụng, các đồng chí có biết không? - Anh Mai Tân nghiêm khắc hỏi. Tôi và anh Cầu lúng túng chưa trả lời thì anh Trần Bá Khuê, Sư đoàn trưởng nói: - Đã đụng tới chiến lợi phẩm là phải thi hành kỷ luật. Nhưng lần này không thi hành kỷ luật, thay vào đó các đồng chí về lấy tiền của trung đoàn mua sữa, thuốc lá trả bù vào. Hai chúng tôi trả lời sẽ chấp hành nhưng trong tâm tư quả thật không vui với ý nghĩ: Bộ đội chiến đấu vất vả, gian khổ hai tháng nay, chỉ bồi dưỡng cho họ vài hộp sữa mà bắt phải đền. Đoán biết tâm trạng của chúng tôi, anh Khuê nói: - Phải phân biệt giữa tình cảm và thực hiện chính sách. Nếu đơn vị nào cũng coi mình có công thu chiến lợi phẩm mà tự ý sử dụng thì sẽ như thế nào. Các đơn vị bộ binh có công lớn đánh địch, nhưng chiến thắng là công của tất cả mọi người. Chiến lợi phẩm là của chung toàn Sư đoàn, toàn dân. Việc sử dụng nó đã được phân cấp quyết định. Chuyện đã qua không nên suy nghĩ nhiều. Hãy vì nhiệm vụ, vì đại cục. Anh Cầu có vẻ còn ấm ức nói: - Vâng. Chúng tôi sẽ chấp hành lệnh của Chính uỷ. Coi đây là một bài học, cũng là kỷ niệm đối với Sư đoàn. Lúc đó, Trung đoàn làm gì có quỹ, chúng tôi phải ra lệnh cho tài vụ trừ tiền phụ cấp của quân nhân. Mỗi người 5 đồng để mua sữa, thuốc lá trả kho chiến lợi phẩm. Giờ đây nghĩ lại, những năm tháng chiến đấu, mỗi người luôn sẵn sàng hy sinh bản thân mình nhưng đối với chấp hành chính sách chiến lợi phẩm quả là trong sáng vô tư, quyết không tơ hào một đồng công quỹ. Đìều này đã thấm sâu, thành bản năng, tạo nên phẩm chất cao quý của mỗi cán bộ chiến sỹ. Tôi còn nhớ, năm 1972 khi giải phóng Bồng Sơn, Đệ Đức, các đơn vị thu được số vàng đựng đầy một mũ cối, gồm vàng thỏi, lập lắc, dây chuyền ... không cân kéo gì nhưng không hề suy suyễn. Đồng chí tài vụ báo cáo tôi xin chữ ký để chuyển về Sư đoàn. Anh nói: - Thủ trưởng lấy 1 cái để làm kỷ niệm. Tôi bảo: - Đây là chiến lợi phẩm, là xương máu của anh em, không được vi phạm. Tôi nghĩ, thời đó, ý thức kỷ luật đã đành, nhưng điều quan trọng, điều quyết định là cái tâm trong sáng. Điều lệnh kỷ luật có thể lách, nhưng cái tâm con người đã trong sáng thì tình huống nào, hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn vững vàng xử trí, không sai phạm. Bài học đó, thiết tưởng vẫn còn giá trị trong cuộc sống hiện nay. Thanh Cát, Thanh Chương, Tháng 6 năm 2008 Nguyễn Văn Tích ghi Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2017, 06:12:04 am Trung tá PhạmThái Lai Nguyên cán bộ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 22, Sư đoàn 3-Sao Vàng Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 141, Sư đoàn 3-Sao Vàng. CHUYỆN EM BÉ VÀ BÀI THƠ “NÍN ĐI EM” Cho đến tận bây giờ, 45 năm trôi qua, từ một chàng trai chưa vợ, nay đã có cháu gọi bằng ông; từ cái tuổi “Bẻ gãy sừng trâu”, nay bước sang thời “Thất thập cổ lai hy”, vậy mà trong tôi vẫn vang vọng tiếng gào, thét thất thanh thấu gan, thấu ruột của một đứa trẻ trong chiến tranh chống Mỹ. Cảnh tượng bi thương này không hiếm trong suốt 10 năm ở chiến trường miền Nam. Nhưng không hiểu vì sao, câu chuyện mà tôi sắp kể sau đây lại làm tôi da diết đến như vậy! .... Hồi ấy, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 22 chúng tôi được giao nhiệm vụ tiến công hướng chủ yếu, cùng với Tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 9 của Trung đoàn tiêu diệt Chi khu quận lỵ Minh Long. Đêm 29 tháng 12 năm 1965, các hướng, các mũi của Trung đoàn đồng loạt nổ súng tấn công và tiêu diệt gọn các mục tiêu trên giao, góp phần cùng Sư đoàn 3 giải phóng huyện Minh Long, một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi đơn vị rút khỏi trận địa để chuẩn bị trận khác, anh Nguyễn Quang Tuyển, trợ lý bảo vệ và tôi, trợ lý Quân lực Tiểu đoàn được phân công ở lại trận địa giải quyết chính sách. Tiểu đoàn 7 chúng tôi đánh nhanh, diệt gọn, làm chủ trận địa nên thương vong không đáng kể, các Đại đội tự giải quyết được. Trời sáng rõ, tôi và Tuyển tiếp tục bương qua lớp rào bằng tre, qua những ngôi nhà đang cháy và những lô cốt đổ sập để đi sâu vào trung tâm quận lỵ. Tất cả ở đây vẫn đang còn bốc khói nghi ngút. Không một bóng người, không một tiếng gà gáy sáng; quang cảnh hoang tàn, ngột ngạt đến ngẹt thở sau cơn bão lửa đêm qua. Nhận thấy không còn sót thương binh, tử sỹ trong trận địa, tôi và Tuyển quay trở ra đường cũ. Bỗng nhiên, tôi giật mình nghe tiếng gào khe khé, chờn chợn như từ âm ty vọng lên. Định thần lại, tôi xác định đó là tiếng khóc của một trẻ thơ. Chúng tôi nhảy qua đoạn tường đổ, nhà sập tìm đến nơi có tiếng khóc. Thì ra, đó là một em bé chừng một tuổi, không rõ trai hay gái, máu me bê bết đầy mình đang gào thét, quờ quạng trên xác người đàn bà mang sắc phục dân tộc Hơ-Rê. Tiếng khóc của đứa trẻ lúc đầu nghe còn rõ, sau nhỏ dần, mảnh dần như sắp lịm vào trong im lặng lạnh lùng của trận địa. Chúng tôi, một người bế cháu ra khỏi xác người mẹ, một người vào kho “Quân tiếp vụ” (kho quân trang, quân dụng) lôi ra nào cờ ba sọc (cờ chính quyền Nguỵ), vải trắng, quần áo lót của Nguỵ v.v... lau cho cháu bé. Ôi chao! Một bé gái có nước da ngăm ngăm . Một lúc sau, người bé ấm dần và ngủ say. Cũng rất may, dù là mùa đông, nhưng ở miền Trung không lạnh cóng như miền Bắc, trời chỉ se se lạnh, chỉ cần quấn kín cho cháu là ổn. Nhìn trước, nhìn sau, chung quanh chẳng còn ai, chúng tôi quyết định đưa cháu về đơn vị rồi tính sau. Chả là người dân tộc ở đây bị chính quyền Nguỵ Sài Gòn tuyên truyền: Cộng sản, Việt Cộng man rợ, Việt cộng trả thù, Việt cộng cướp của giết người v.v.... làm dân sợ hãi chạy dạt vào rừng khi chúng tôi tới. Tiều đoàn rút khỏi trận địa, đóng giữ ở khu vực gần sân bay để sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không và chặn quân từ đồng bằng lên chiếm lại Minh Long. Tôi và Tuyển chưa anh nào có vợ, nói gì đến có con, vì vậy khi đưa cháu bé về đơn vị mới thấy hoảng, nuôi cháu bé thế nào đây? Anh nọ trao bé cho anh kia một cách vụng về lúng túng, tay chân có lúc như thừa thãi ... Ngủ được một lúc, cháu bé tỉnh dậy và khóc rất to. Chắc nó đòi ăn rồi, tôi đoán thế. Thật là may, nghe tiếng trẻ khóc, anh Thuyết, lính trinh sát-quê Ninh Bình, anh Thưa-quê Hà Nam, anh Kiểm-quê Hải Hưng, anh Tuyển quân giới-quê Hà Tây và một vài anh nữa đã băng qua đoạn giao thông hào đến với chúng tôi. Trong số các anh, nhiều người đã có con nên biết cách chăm sóc cháu. Chừng nửa giờ sau, hầm của chúng tôi có rất nhiều sữa “Ông thọ”, sữa “Con Chim”, đường phổi, đường phèn, chiến lợi phẩm của các anh mang đến. Anh Tuyển quân giới ở Hà Tây, khi vào chiến trường cách đây 6 tháng cũng có đứa con trạc tuổi bé ở đây, nên anh cứ bế ẵm, hôn hít, vuốt tóc, xoa đầu cháu trông thật cảm động. Uống sữa xong, cháu bé lại ngủ. Bất giác tôi lại nghĩ, có lẽ cháu biết thân, biết phận nên chẳng đòi hỏi gì hơn. Chúng tôi thay nhau bế ẵm, cho ăn, thay tã lót và trông cháu ngủ suốt 2 ngày 2 đêm. Địch không dám tiếp viện nên phương án đánh địch không xảy ra, chỉ có pháo và bom của chúng ở các nơi dội tới ngày một nhiều. Sang ngày thứ 3, có lệnh hành quân. Lúc ấy, Tiểu đoàn cử tôi giao cháu bé cho Đội công tác của tỉnh Quảng Ngãi (đội công tác này đã cùng phối hợp trong đội hình “Ba mũi giáp công” của đơn vị). Biết tôi đưa cháu bé đi, anh em đơn vị tranh thủ đến chia tay với cháu. Các anh, người xoa đầu, người cầm bàn tay bé bỏng của cháu áp lên môi, lên má mình. Anh Tuyển-Hà Tây, anh Kiểm-Hải Hưng và mấy anh có con nhỏ còn quàng vào vai tôi cái túi đựng đầy sữa hộp “Ông thọ” và nói là “Lương khô của bé”. Bế cháu đi một đoạn, nhìn lại, tôi vẫn thấy các anh vẫy vẫy nhìn theo. Đến nơi, tôi giao lại cháu bé cho các đồng chí trong Đội Công tác. Khi đặt cháu xuống tấm chăn thô trên sàn nhà, hai bàn tay cháu níu bám lấy tay tôi như thể không muốn xa rời. Tôi ứa nước mắt gỡ nhẹ những ngón tay nhỏ bé ra khỏi tay mình rồi vội vã về đơn vị. Các đồng chí trong Đội công tác biết không thể giữ lại chúng tôi, cũng bịn rịn nắm tay tôi và chúc hoàn thành nhiệm vụ. Nhìn lại cháu bé lần cuối, tôi đi nhanh về phía đơn vị cho kịp giờ hành quân. Tôi thầm nghĩ: Các đồng chí trong Đội công tác tỉnh Quảng Ngãi cũng sẽ như chúng tôi, dành trọn tình thương cho cháu bé. Đêm hành quân ấy, hình ảnh của cháu nhỏ cứ ẩn hiện trong đầu tôi, và tôi đã nhẩm ra một bài thơ về cháu. Đến nơi nghỉ chân, tôi đã thuộc lòng bài thơ và chép lại trong cuốn sổ công tác của mình. Biết chuyện, anh em đề nghị tôi đọc bài thơ đó. Bài thơ có tựa đề: NÍN ĐI EM Nín đi em, nín đi em! Đừng khóc nữa Cha mẹ em đã chết trong đồn Em vẫy vùng gào thét từng cơn Bé em ơi, đạn bom không có mắt Không nể người theo ta hay theo giặc Không biết người Kinh hay người Thượng, Hơ-Rê Nín đi em! Nín đi em, đây anh - Quân Giải phóng Bồng em trên tay bằng tấm lòng nhân hậu Anh thương em nhiều, thôi nín đi em Bé em ơi, bé em ngoan nhé Các anh đi hẹn ngày quay trở lại Núi rừng Minh Long rộn tiếng chim ca Giữa bầu trời xanh thẳm bao la. Ninh Bình, tháng 6 năm 2009 P.T.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2017, 06:17:19 am TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG CỦA TÔI Kính tặng anh Nguyễn Văn Luyện, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 22, Sư đoàn 3 – Sao Vàng, Trận đánh đồi Thạch Trụ (Quảng Ngãi), tháng 11 năm 1965. Ngày Anh về tiểu đoàn Ở Thạch Thất, Sơn Tây. Thao trường Hòa Lạc đây Nhiều đồng đội nhầm Anh “Lính Tái ngũ” Lúc nô đùa nói năng hòa cùng trang lứa. Buổi làm lễ nào Nam Biết Anh “thư sinh” xứ Huế. Ba hai tuổi, đại úy trẻ măng Giáo viên Lục quân, nay làm tiểu đoàn trưởng. Cái cao hơn cấp chức Là luôn sống tình người Tài ba trong chỉ huy Đức độ trong cuộc sống. Mọi người tin Anh với niềm tin chiến thắng Lúc gian nan, lúc hiểm nguy Anh có mặt Với Sư đoàn, Anh là tiểu đoàn trưởng đi đầu. Chiều chiếm lĩnh Thạch Trụ Trời trong xanh hòa cỏ cây và đất Bất thần sấm sét mưa giông Lũ quét Ba Tơ, Núi Lớn đổ về Nước ngập mênh mông chẳng biết lối đi Người lội, người bơi Đến giờ G nhằm mục tiêu nổ súng... Trận đánh không thành Bao đồng đội ngã xuống Một ngày dài trong bom đạn tối tăm Không còn người chuyển thương Tiểu đoàn trưởng ghé vai khênh chiến sỹ Nước ngập cáng, cáng nằm trên nước Người đi chạng vạng trong đêm. Khênh thương với Anh mà ấm lòng mình Động viên nhau trong cuộc đấu tranh Có bước vấp để mãi thêm vững bước Để thêm nhiều tiểu đoàn trưởng như Anh... Đất nước hết chiến tranh Sư đoàn 3 trưởng thành Người lính già gặp lại Ngày thành lập Sư đoàn Vẫn nhắc nhở nhau Đừng bao giờ quên máu xương và nước mắt Đừng bao giờ quên: Đồng đội Các anh Đã hi sinh vì Sư đoàn Vì Đất nước. Ninh Bình, tháng 7 năm 2005 P.T.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2017, 06:22:43 am Đỗ Thế Chuyền, cán bộ Tổng Công đoàn V.N. Nguyên chiến sĩ Trinh sát d4, E141, Sư đoàn 3-Sao Vàng. ĐỒNG ĐỘI Hai mươi lăm năm, chiến tranh đã đi qua. Vẫn đọng lại trong tôi bao buồn, vui, kỷ niệm. Cứ dữ dội như mưa rừng, gió biển. Về đồng đội, về chiến tranh, về Trường Sơn... Chiến tranh qua rồi, ai mất, ai còn. Về những nơi nào sau thời đánh giặc! Chỉ biết tìm nhau qua những bản tin. Tìm nhau qua chương trình “ Nhắn tìm đồng đội”. Tìm nhau qua bài hát “ Cỏ non thành nội”. Nơi anh nằm là dưới thảm cỏ xanh. Tìm nhau qua bài hát “Cô gái Trường Sơn”. Chiến tranh qua rồi, bây giờ em về đâu! Những người lính cứ mãi tìm nhau. Theo bài hát “Dấu chân tròn trên cát”. Ở miền đất nào? Gần đây hay xa lắc. Cũng chỉ nghe thôi, nhưng chưa gặp nhau. Qua báo, qua đài, ở gần Mũi Cà Mâu. Tôi thấy hình anh, tay vịn trên cán xẻng. Một mắt còn, nhìn về đâu xa thẳm. Một chân còn, dáng đứng vẫn hiên ngang. Dưới lời bình: Thương người vợ đảm đang Nhưng yếu đau, cùng hai con quặt quẹo. Anh đi đào giếng thuê, lấy tiền đong gạo. Nuôi vợ, nuôi con, tháng ngày tần tảo. Và gần đây thôi, cũng qua đài, báo. Bốn chiến sĩ lái xe tăng húc cổng Dinh Độc Lập. Cố ý hay vô tình mà các anh lưu lạc. Để lịch sử đi tìm một dấu hỏi về anh. Rồi ở Thái Bình, một vùng lúa mênh mông. Mấy chục cô Thanh niên xung phong, Sau chiến tranh, đi vào cửa Phật. Ai lý giải, những gì còn và mất, Thì hiểu được: CHIẾN TRANH ĐÂU PHẢI TRÒ ĐÙA! Chiến tranh qua rồi, ngày tháng cứ dần xa. Cái còn lại vẫn còn ở lại. “Thương con đò cắm con sào đứng đợi”, Thương các mẹ già, nước mắt chan canh. Thương đồng đội còn nằm lại Trường Sơn. Vẫn Đông nắng, Tây nưa “Bướm bay lèn đá”. Vẫn những trận lũ đầu nguồn đêm về xối xả. Vẫn chỉ núi và rừng ôm, che các anh. Những người còn lại chúng tôi, luôn nhớ về Trường Sơn. Nhớ những nơi đã qua và những nơi dừng lại, Nhớ từng con đường, dòng sông, con suối. Nơi tuổi Xuân đã gửi lại nơi đây: Nhớ Trạm Lập, Thôn Ba, Rừng Nứa, Suối Đôi. Nhớ ngã ba Sông Tranh, Nước Lía, Trà Gùi. Nhớ đường thồ Lệ Xuân, đồi DK, Dốc Đót... Chưa được trở lại thăm, nên nhớ càng da diết. Nhớ Hòn Bồ, Gò Loi, Đệ Đức, Quy Thuận, Đồi Mười, Bình Đê, Hoài Châu... Gắn liền với cuộc trường chinh là đồng đội có nhau, Sống mãi Mậu Thân, hè Bảy Hai đỏ lửa... Ngoài chúng tôi ra, có ai còn nhớ Về Trường Sơn, về những năm tháng chiến tranh Về những ác liệt, kiêu hãnh , hy sinh Về những con người đã đi vào lịch sử? Ai “ Uống nước, nhớ nguồn”, ai trồng cây để quả Xin đừng vô tình để trở thành xa lạ Cái mất, cái còn của bao thế hệ Cho hôm nay và cho cả mai sau. Mỗi sự hy sinh là một nhịp cầu Cho ta bước tới ngày mai tươi đẹp. Những người đã và chưa qua Trường Sơn đều biết: CHÂN LÝ ĐƯỢC ĐỔI BẰNG MÁU VÀ NƯỚC MẮT HÔM QUA. Hà Nội, 30 – 4 – 2000. Đ.T.C Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2017, 06:28:19 am NÓI VỚI NGƯỜI ĐÃ KHUẤT Nguyễn Mạnh Khải, chiến sĩ Trung đoàn 141. (Tặng linh hồn liệt sĩ Phí Văn Đính) Chúng mình, lính cùng trung đoàn Đến đây đón cậu về quê mẹ. Mấy chục năm rồi.... Đáng lẽ, Phải vào rước cậu từ lâu. Đồng đội mình, đứa trước, đứa sau Rồi tất cả cũng về với đất. Ôi ! Những linh hồn còn, mất Hai nghìn, sáu trăm quân chứ có ít gì đâu. Có đứa nằm tận rừng sâu, Đứa ở ven đường, đứa bên bờ suối vắng... Chúng tớ thấy lòng mình không tĩnh lặng Mỗi khi các cậu chưa về. Những thằng sống, chúng tớ gặp nhau cười hả hả, hê hê Nhưng không mời được cậu cùng uống bia, uống rượu Cũng là lẽ thường thôi mong cậu hiểu... Ở thế giới bên kia, các cậu hãy tìm nhau Và nói giùm chúng tớ một câu: CHO ĐẾN CHẾT CŨNG KHÔNG QUÊN ĐỒNG ĐỘI. Nếu có sơ suất gì cho chúng mình xin lỗi Vì dù sao cũng là lính trung đoàn. Thương các cậu nhiều nên ngày Bắc, đêm Nam Không phải mình tớ đâu, mà anh nào cũng thế, Khi nằm xuống rồi cũng về đất mẹ Sang “Bên kia” nhớ tìm bạn trung đoàn. Lại hành quân đường dài, lại ra Bắc, vào Nam... Thôi chúc cậu mãi nằm yên nghỉ! Ngày 20 tháng 11 năm 2006 N.M.K Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2017, 06:30:53 am Trung tá Nguyễn Đăng Hòa. Nguyên chiến sĩ Trung đoàn 141 LỜI VĨNH BIỆT (Thương nhớ Đỗ Xuân Tiềm, tiểu đội 2W, trung đội thông tin,D3, E141) Vậy mà đã bốn mốt năm xa cách. Nhớ ngày ấy Đèo Ngang, Dốc Dài, Đồi Gianh (Thượng Đức). Những trận đầu, anh em mình đối mặt Đánh kẻ thù bạo ngược nhất thế gian. Ôm Anh ngậm ngùi, nước mắt chảy vào tim. Sườn đồi gianh, tôi gửi anh nằm tạm. Chắc anh biết, đây chưa phải là trận cuối. Đơn vị mình lại gấp gáp hành quân. Bảy năm, sau Đại thắng mùa xuân. Chiến công nở hoa cũng từ những hy sinh ấy. Ai đếm được khăn tang, ai nỡ ngăn những dòng nước mắt, Khóc bạn mình vĩnh biệt ngàn thu. Hôm nay, chúng tôi- Những người may mắn nhất. Đứng trước lễ đài trên đất quê Anh. Nguyện một lòng góp sức chung tay. Xây đất nước mình ngày thêm cường thịnh Tiềm ơi ! Vì Nước, vì Dân anh không còn nữa. Dừng lại cuộc đời ở tuổi thanh xuân. Không chút tơ tình, ra đi thanh thản. Góp thêm cho đời một tấm gương soi...... Hà Nội, tháng 9 năm 2009 N.Đ.H Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2017, 05:45:55 am Bùi Văn Tâm, Nguyên chiến sĩ Trung đoàn 12, Sư đoàn 3-Sao Vàng TÌNH ĐẤT, TÌNH NGƯỜI Được đơn vị cử đi công tác, tổ chúng tôi có 3 đồng chí, tôi làm tổ trưởng, đồng chí Tình và đồng chí Ba là tổ viên. Chúng tôi có nhiệm vụ tìm và đưa các đồng chí bị lạc trở về đơn vị để chuẩn bị cho chiến dịch mới. Đi được một ngày, tối đến nghỉ tạm ở một xóm bên kia sông Kim Sơn, hỏi thăm đồng bào và đã tìm được 2 đồng chí. Định sáng hôm sau đi tiếp, nhưng gặp phải trận càn của quân Mỹ. Tôi nhớ, đó là ngày 27 tháng 3 năm 1966. Từ mờ sáng, máy bay phản lực ném bom, pháo bắn như vãi đạn khắp các thôn xóm. Sau đó, từng đoàn trực thăng các loại bay rợp trời như những đàn châu chấu tới đổ quân từ Nghĩa Điền, Kim Sơn đến Phú Hữu, Ngã 3 Tân Thạnh. Khi chúng tôi vượt qua cánh đồng thì bị máy bay trực thăng phát hiện. Chúng phóng rốc-két. Đồng chí Tình bị thương. Tôi và Ba chạy tới băng bó vết thương cho Tình. Vết thương khá nặng, vỡ đầu gối bên phải, máu chảy đầm đìa. Tôi lấy dây thun quấn chặt phía bắp chân để máu khỏi chảy. Giữa ruộng lúa nước, máu hòa lẫn với bùn. Chúng tôi đưa Tình lên đường cái và tìm cách khiêng cáng. Ngó trước, ngó sau chỉ còn 3 chúng tôi. Hai đồng chí vừa tìm về lại chạy lạc đâu mất. Không thể bỏ đồng đội lúc này. Tôi liền chạy vào nhà dân tìm đòn khênh và mang được Tình vào thôn gần đấy. Trời nhá nhem tối. Trong làng chẳng còn một bóng người. Nhà cửa cháy không có người dập. Tiếng tre nứa nổ lốp bốp. Mùi bom na-pan khét lẹt, buồn nôn. Chúng tôi đành cáng Tình đi tiếp. Sáng hôm sau, bọn Mỹ lại đổ quân càn quét khu vực Nhơn Thọ, bị lực lượng phòng không của ta đánh trả quyết liệt suốt ngày. Máy bay Mỹ bị bắn cháy hàng chục chiếc. Sẩm tối, bọn bộ binh Mỹ nằm rải rác khắp nơi. Chúng tôi bí mật luồn lách qua các khu vực địch nằm để về phía sau. Có nơi chỉ đi cách chúng độ ba, bốn mét. Suốt 2 ngày không ăn uống. Bụng đói, miệng khát nhưng không dám nghỉ, chỉ nhằm hướng núi mà đi. Khoảng 12 giờ đêm, bất chợt tôi phát hiện phía trước có ánh lửa. Mừng quá. Kinh nghiệm cho biết, hễ có ánh lửa là không có địch. Tôi bò tới quan sát, lắng nghe. Không thấy động tĩnh gì, chỉ thấy một cái lều của người chăn vịt. Trong lều có một ông già đang lúi húi nấu gì đó. Tôi nhẹ nhàng bước vào. Ông gìa khẽ giật mình sợ sệt hỏi: - Lạy Chúa ! Các ông là ai ? Các ông cần gì ? - Chào ông Hai – Tôi nói – Chúng con là bộ đội Giải phóng đi công tác, gặp địch càn, một đồng chí bị thương. Chừ phải tìm chỗ nghỉ tạm, rất mong cụ giúp đỡ. Tôi và Ba khênh Tình vào trước lều. Ông già cầm chiếc đèn dầu dừa từ trong lều bước ra soi nặt từng người, soi vết thương của Tình, ngắm nhìn quần áo chúng tôi rồi quay vào bảo: - Chắc các chú đã đói, mệt lắm rồi. Trong lều còn ít cơm nguội. Trên bếp có mấy quả trứng luộc, các chú lấy ăn tạm. Tôi mừng ran vì biết cụ già đã tin chúng tôi. Mừng hơn là đã có cái ăn. Tôi bưng nồi trứng ra gạn hết nước, thấy 5 quả trứng. Tôi và Ba mỗi người 1 quả, còn 3 quả bóc cho Tình. Ông già từ ngoài bước vào giục: - Các chú tranh thủ ngủ một lát để lấy sức, khoảng 3 giờ sáng, tôi dẫn các chú đi lánh. Nghe ông già nói vậy, tôi chỉ muốn đi ngay, nhưng quá mệt và căng thẳng suốt 2 ngày nay nên chỉ ngồi một lát, cả 3 chúng tôi đã ngủ thiếp đi... Đang ngon giấc thì ông già gọi dậy lên đường. Đã có tiếng gà rừng gáy xa xa. Ông già chống gậy, tay xách một chiếc túi, đầu đội chiếc nón cời đi trước. Chúng tôi vượt qua một con lộ lớn rồi tới đường mòn ngoằn ngoèo mấp mô. Trời chưa sáng nên chỉ thấy một vệt mờ mờ, bước thấp, bước cao. Đi khoảng một tiếng đồng hồ thì tới bìa rừng. Để vào được bìa rừng, chúng tôi phải đi qua bãi lầy khoảng bốn năm chục mét. Ông già căn giặn: - Bùn, nước ở ruộng ngập tới cổ, các chú phải đi thật cẩn thận đó nghe. Tôi băn khoăn hỏi: - Đường thế này thì làm sao mà khênh được hở ba ? - Tôi sẽ chỉ cho các chú cách đi. Nói rồi ông đưa cho chúng tôi mỗi người một chiếc gậy khá dài rồi vượt lên trước, nhảy xuống ruộng, đứng trên đầu các cọc tre đã được cắm từ trước. Ông quay đầu, dùng gậy của mình vạch từng đầu cọc đã được phủ kín cỏ dại. Thì ra con đường bí mật của ông là như vậy. Trời vừa sáng, chúng tôi vào được trong rừng, lội qua một đoạn suối nhỏ để xóa dấu chân, xóa bùn đất rồi mới tới một chiếc lán nhỏ. Đưa chúng tôi vào lán, ông già giặn đi, giặn lại: Không được nấu ban ngày, không được đi lại. Chỗ này địch nhìn chúng ta rất rõ. Có động tĩnh gì, tôi sẽ vào báo. Nói rồi , ông quay ra, đi thoăn thoắt trên đầu cọc và dùng gậy khỏa lấp lối đi của mình. Trời sáng hẳn. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2017, 05:46:20 am Đàn chim thấy động, kêu “ te te tò hót” làm cho khu rừng huyên náo. Đưa Tình vào nằm trong lán xong, tôi trở ra quan sát thì thấy đây là một khu đất nổi lên trên bãi lầy. Cây cối mọc um tùm nên tưởng là rừng. Một cái lán làm bằng cây que đơn giản, mái lợp cỏ gianh. Trong lán có mấy chiếc cọc để mắc võng. Chung quang lán, dưới các bụi cây có rất nhiều hũ sành đựng gạo, lọ nhựa đựng muối, mắm. Tôi đoán, đây là khu vực lánh càn của nhân dân. Bước thêm mấy bước nữa, tôi phát hiện có một người con gái đang giặt và một cháu nhỏ đang lúi húi lật đá bắt cua. Tôi nhẹ nhàng tới gần, lên tiếng: - Chào cô. Cô gái giật mình quay lại. Tôi nói tiếp như thanh minh: Chả là bọn anh đi công tác, không may một đồng chí bị thương, được ông già đưa vô đây. Theo chân cô gái đi vào, tôi nhận ra cô còn rất trẻ, khoảng 20 tuổi. Nước da trắng mịn. Khuôn mặt và đôi mắt giống Đức mẹ Ma-ri-a. Cô hỏi tôi: - Vậy hôm qua, hôm tê...các anh ở đâu? - Ở Bình Sơn, Nghĩa Điền. May gặp được ông già tốt bụng. - Ổng là dượng của em đấy. Thấy cô vui vẻ, tôi gợi chuyện: - Có phải em ở gần nhà thờ Kim Sơn không? - Ủa ! Sao anh biết? - Hình như....anh đã thấy em đi lễ ở Nhà thờ vào các sáng Chủ nhật. Đúng không? Câu chuyện đã tự nhiên hơn. - Vậy quê anh ở đâu? Anh có đi lễ Nhà thờ không? - Quê anh ở Bắc. Xa lắm. Trước kia, ở nhà, anh có đi. Từ khi vào bộ đội thì không có điều kiện...Trả lời cô gái xong, tôi thấy mình có lỗi. Vì những điều tôi vừa nói chỉ là “tán dóc” mà thôi. Thế mà cô đã tin liền. Câu chuyện dừng lại khi chúng tôi vào tới lán. Tình đang lên cơn sốt, người nóng ran, mê sảng, miệng nói lảm nhảm. Cô gái bảo: - Phải thay băng, rửa vết thương cho ảnh. Chắc vết thương đã nhiễm trùng. Tôi gật đầu đồng ý. Tôi khẽ gọi đồng chí Ba. Ba chạy vào, tay cầm một đoạn cây. Thì ra, anh đang chuẩn bị cây làm sạp cho Tình nằm. Trưa, chúng tôi đưa Tình lên sạp, đem võng của Tình ra suối giặt. Chiều tối, đun nước sôi, bỏ thêm chút muối để rửa vết thương cho Tình. Tôi lấy chiếc áo cổ vuông xé ra làm băng. Đồng chí Ba vót một đôi đũa để thay panh. Thế là ca sơ phẫu bắt đầu. Cô gái có tên Liên lấy khăn mùi xoa bịt miệng thay khẩu trang, tay cầm đũa gỡ băng. Mùi hôi từ vết thương bốc lên nồng nặc. Gỡ đến vòng băng cuối cùng, lộ rõ dây thun tôi ga-rô ba ngày trước. Thịt bị thối. Hàng trăm con dòi nhô đầu ngo ngoe như những mũi kim đang di động...Vừa rửa vết thương, cô đưa mắt nhìn tôi bảo: - Phải đưa ảnh đi bệnh viện thôi. Không thể để lâu được nữa. - Muốn đi, phải ra ngoài bám địch. Liên có biết bệnh viện ở đâu không? - Ủa, sao anh biết tên em? - À, chú bé giới thiệu chị của nó với bọn anh từ sáng. Liên là con cùng mẹ, khác cha với chú bé. Ông già là dượng của cô. Liên không chịu để địch dồn vào ấp chiến lược nên cô bỏ học, trốn vô núi sống với cha dượng. Đã 3 ngày. Địch vẫn càn quét ráo riết khắp các thôn xóm. Chúng tôi không ra được và ông già cũng không thấy vào. Tôi và Liên cùng lo cho ông già. Chiều tối, thấy êm êm, tôi xác định phải ra bám địch. Liên xin đi với tôi vì cô quen thuộc địa hình. Trời tối hẳn thì chúng tôi tới lều vịt. Nhưng lều đã bị đốt cháy trụi. Không thấy ông già. Vịt không còn con nào. Những tưởng Liên sẽ kêu thét lên, nhưng cô im lặng, lầm lũi bước lên trước: - Ta đi vào làng thôi anh. Cô nói giằn từng tiếng chắc nịch. - Còn ông dượng, liệu có sao không? Tôi lo lắng hỏi. - Dạ, không sao. Miệng trả lời, chân cô bước gấp như đã dự đoán được điều gì đã xẩy ra. Mấy phút sau, chúng tôi vào tới xóm – Cái xóm nhỏ nằm sâu trong hốc núi, có khoảng chục ngôi nhà. Bà con cho biết, hồi sáng, Mỹ càn qua, ngụy càn lại. Bọn “Bình định nông thôn” đưa trực thăng tới, loại 2 chong chóng (H34), lùa hết trâu, bò, khuân hết thóc gạo chở về quận rồi. Vậy là đã rõ, ông già và bầy vịt cũng bị chúng hốt mất rồi. Tối hôm đó, anh em trong đơn vị đi tìm chúng tôi cũng tới xóm nhỏ này, có cả đồng chí thủ trưởng. Tôi báo cáo tình hình và đề nghị cho chuyển gấp đồng chí Tình về bệnh xá. Đồng chí thông báo, địch đã rút và hẹn sáng hôm sau cho người đến tải thương. Tôi mừng đến chảy nước mắt. Một lát sau, Liên chạy tới kéo tôi vào ăn cơm với một cụ già. Cơm chỉ có mắm cái với ớt. Liên lấy đâu một quả dưa chuột khá to, thái mỏng cho vào mắm cái. Đó là cách ăn của bà con vùng này. Mặc dù mỗi người chỉ một chén cơm, nhưng lúc này quả là quý hơn vàng. Tôi thông báo cho Liên biết, sáng mai sẽ đưa Tình đi bệnh viện, nhưng gạo không còn, muốn nhờ Liên dẫn đi xin bà con. Liên chấp nhận ngay. Chúng tôi đến từng nhà. Liên kể hoàn cảnh chúng tôi. Bà con tuy vừa bị địch vơ vét nhưng vẫn sốt sắng quyên góp được gần một ruột nghé (bao đựng gạo của bộ đội khi hành quân). Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2017, 05:46:57 am Chúng tôi trở lại rừng khi trời đã khuya. Sau trận càn, rừng núi im ắng lạ thường. Chúng tôi ngồi nghỉ bên một gốc cây to, cạnh bờ suối, nói đủ thứ chuyện. Có lúc, cả hai đều im lặng, nhìn trời, nhìn trăng, nghe tiếng nước chảy róc rách, nghe lá rừng xào xạc. Một cảm giác yên bình lan tỏa trong tâm trí. Tôi ngồi xịch lại gần Liên... Liên vẫn ngồi yên. Tôi đưa tay quàng qua vai Liên. Liên khẽ nghiêng vào người tôi. Trống ngực tôi đập thình thịch, muốn nghẹn thở. Hình như Liên cũng trong tâm trạng đó. Cô run lên trong cánh tay tôi. Chúng tôi ngủ quên lúc nào không biết. Trời sắp sáng. Liên đánh thức tôi dậy. Liên ngậm ngùi nói: - Mới quen nhau mà đã phải chia tay. Liệu chúng ta còn có dịp gặp lại nữa không anh? - Có chứ. Tôi động viên. Nếu anh còn sống, anh sẽ trở lại tìm em ở xóm Nhà thờ Kim Sơn. Em chờ anh chứ! Liên im lặng, đưa 2 tay vòng ra sau cổ mình, lấy một vật gì đó. Cô khẽ nói như muốn khóc: - Em xin tặng anh kỷ vật này để ghi nhớ những ngày ngắn ngủi chúng ta ở bên nhau.Tôi đỡ lấy tay Liên. Trong ánh sáng lờ mờ, tôi nhận ra, đó là một sợi dây chuyền bằng bạc có mang hình Thánh giá. “ Chúa sẽ phù hộ cho anh và cho chúng ta” – Liên nhẹ nhàng nói. Chúng tôi về tới lán thì trời sáng hẳn. Tôi bảo đồng chí Ba ra đón đoàn tải thương. Họ có 5 người, tất cả đều là thanh niên. Đây là những dân công từ vùng đồng bằng lên, được địa phương phân bổ cho đơn vị để phục vụ chiến đấu. Rời khỏi vị trí “An toàn khu”, tôi bịn rịn ngoái nhìn chị em Liên đang vẫy vẫy tay đưa tiễn, lòng vẫn thầm mong có ngày trở lại. Đi mất 3 ngày, chúng tôi mới tới được bệnh xá. Có lẽ là bệnh xá Sư đoàn, mang mật danh “Thôn An 48”, trên một triền dốc phía đông sông Côn. Trở về đơn vị, chúng tôi được thủ trưởng khen ngợi là đã có tình đồng chí, đồng đội và tinh thần trách nhiệm cao. Tối, nằm trên võng, lấy món quà của Liên tặng, tôi thầm hứa, sẽ luôn đeo nó trên cổ để nhớ mãi tình em. Mối tình đầu hồn nhiên, trong trắng. Ba chục năm, tôi mới có dịp trở lại chiến trường xưa nhân chuyến đi tìm mộ đồng đội. Trên quốc lộ I, đến ngả ba Cầu Dợi, tôi đề nghị ô tô khách cho dừng lại, bước xuống hỏi thăm đường về Phú Hữu, Kim Sơn. Mấy chú xe ôm chạy tới chào mời “ Từ đây tới đó chừng hai chục cây số, bác cho cháu ba chục ngàn”. Tôi đồng ý ngay. Ngồi sau xe, ngó hai bên đường, vượt cầu Giáo Ba, tới quận lỵ Tăng Bạt Hổ, đến Gò Loi, Phú Khương là tới Phú Hữu. Tất cả đều khác xưa. Nhà cửa hai bên đường mọc lên san sát. Những mái ngói đỏ ẩn dưới những vườn dừa xanh tốt, trĩu quả. Trên đường, ô tô, xe máy xuôi ngược hối hả. Chú lái xe ôm hỏi tôi: “Bác về Kim Sơn thăm ai, cháu cũng ở gần đấy” - Cháu có biết bà Liên ở xóm nhà thờ Kim Sơn không? - Dạ, ở đấy không có ai tên Liên. Để dẫn câu chuyện tôi nói thêm: bà Liên trước năm 1966 ở dưới quận, ba chết, má đi lấy chồng khác, bả theo má ở với dượng, nhà ở trong xóm này. Xe đến cổng nhà thờ. Chú xe ôm dừng lại, tôi trả tiền. Thấy có một ông trong xóm đi ngang qua, tôi chạy tới hỏi: - Chào ông, cho tôi hỏi thăm: ở đây có bà nào tên Liên không? Ông lắc đầu. Tôi lại dẫn câu chuyện như đã nói với chú xe ôm. Bỗng ông à một tiếng rồi trả lời: Đúng rồi! Ông Bốn Hòa. Bà Hòa có một người con riêng, không biết có phải tên Liên không. Cổ vào du kích và hi sinh năm 1972 tại Gò Loi. Do chiến tranh ác liệt quá, gia đình ổng chuyển vô sống ở Sài Gòn từ những năm 1969-1970 cơ. Tôi cảm ơn ông và vội quay lai Gò Loi. Gò Loi là một cứ điểm của Mỹ từ đầu năm 1966 đến năm 1972 thì bị quân dân Hoài Ân xóa sổ. Nhân dân đã dựng đài kỷ niệm “Chiến thắng Gò Loi”. Hiện giờ là trụ sở làm việc của Ủy ban Nhân dân xã Ân Tường. Nghĩa trang Liệt sỹ nằm ngay cạnh đó. Tới bàn thờ “Tổ quốc ghi công” tôi đốt một bó nhang thật to, mang đến từng mộ cắm mỗi mộ một nén. Trở đi, trở lại tìm mộ Liên mà không thấy tên em. Thế là hình em chỉ còn lại trong tâm tưởng. Trở lại phòng thương binh-xã hội huyện, tôi đưa giấy giới thiệu tìm mộ liệt sỹ, đề nghị phòng cho tôi đến tìm phần mộ đồng đội mà trước đây tôi đã chôn cất tại thôn Long Giang (còn gọi là xóm Ba Lăm). Nhưng tới nơi, chỗ ấy đã xây dựng thành hồ chứa nước Thạch Khê. Cũng đành vậy. Lại đốt một bó nhang, vái khắp bốn phương và cắm bó nhàng xuống mé hồ cho bạn. Dẫu sao cũng là nơi đồng đội yên nghỉ. Sáng hôm sau, tôi đi thăm những người thân hiện còn sống: mẹ Đốc ở Gò Loi, mẹ Việt Nam anh hùng. Thời chiến tranh ác liệt, mẹ từng cưu mang chúng tôi trong nhà mẹ, ăn bữa cơm trưa ở đấy, được mẹ nấu canh lá giang với nước cốt dừa như ngày xưa tôi thường thích. Sau ba chục năm mới có dịp gặp lại chị Trâm ở thôn Trí Tường, anh Thanh ở thôn Vĩnh Viễn. Hỏi thăm các anh, chị , kẻ mất người còn, nói sao hết nỗi vui mừng, cảm động. Tạm biệt Hoài Ân, bà con ra tận ô tô tiễn tôi. Ngồi trên xe mà lòng cứ nghèn nghẹn lâng lâng... Bao ánh mắt, tiếng cười vẫy theo: “Nhớ lần sau lại về thăm má nghe con!”. Quên sao được trên đất này có biết bao đồng bào, đồng chí, những người thân yêu của tôi đã ngã xuống để quê hương, đất nước mới có ngày hôm nay. Vâng! Tôi sẽ còn trở lại, bởi tình đất, tình người Hoài Ân còn thương còn nhớ.... Qua bài viết này, tôi chỉ muốn gửi đến lớp trẻ hôm nay đang được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc một lời rằng: Đừng bao giờ lãng quên quá khứ, đừng bao giờ lãng quên những năm tháng hào hùng của cha anh. Thị xã Hội An, năm 2006 T.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2017, 05:54:23 am Nguyễn Xuân Tuynh, Nguyên chiến sĩ Thông tin Sư Đoàn 3-Sao Vàng. NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG Giáp Tết năm 2005, tôi ra huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) bàn về việc tổ chức biểu diễn văn nghệ phục vụ nhân dân đón xuân mới. Sau khi làm việc với Nhà Văn hóa trung tâm huyện, thấy thời gian còn sớm, tôi tranh thủ đi thăm chợ Tết Ninh Hòa. Dạo khắp lượt các gian hàng, tôi quay về quầy mỹ phẩm mua cho “bà xã” một vài thứ trang điểm. Bất giác tôi nhìn thấy gương mặt của người phụ nữ bán hàng ngồi bên phải sạp rất quen. Hình như tôi đã gặp chị ở đâu rồi... - Dạ thưa, anh mua chi? Chị bán hàng hỏi tôi. - Vâng...Vâng...Tôi...À, chị cho tôi mua một cây son và một hộp phấn loại tốt, của ngoại. Chị nhanh nhẩu lấy những thứ tôi yêu cầu, gói cẩn thận cho vào túi ni-lông đưa cho tôi. Trả tiền và nhận hàng nhưng trong đầu tôi vẫn cố nhớ xem người bán hàng kia là ai. “ Không có lẽ đó là Út Tư Ninh Quang. Cô ấy ngày đó là giáo viên cơ mà...”. Trả tiền xong, chần chừ một lát, tôi quyết định đánh liều. - Thưa...xin hỏi, nếu không phải, chị thứ lỗi. Chị có phải là...Út Tư Ninh Quang không? Người phụ nữ ngước lên nhìn tôi, ngập ngừng một lát rồi trả lời với gương mặt rạng rỡ như vừa phát hiện ra điều bí mật gì. - Đúng rồi. Tôi, tôi là...Út Tư Ninh Quang đây. Ủa...Sao anh biết...Út Tư Ninh Quang. Trời ơi, đúng Út Tư Ninh Quang rồi! Tôi phải trấn tĩnh để không reo to lên giữa chốn đông người. Lấy lại bình tĩnh, tôi nói. - Vậy mà gần ba chục năm nay, anh đi tìm kiếm mãi, bây giờ mới gặp. Cô Út rời sạp hàng đến nắm lấy tay tôi, giọng xúc động: - Anh là lính Sư 3- Sao Vàng phải không? - Phải. Anh là lính Sư 3 đây. Sau giải phóng miền Nam 2 năm, anh về Ninh Quang tìm nhưng gia đình em chẳng còn ai ở đó. Hỏi tên em, cả làng chẳng ai biết. Họ bảo, ở đây không có ai tên là Út Tư cả. - Sau giải phóng mấy tháng, ba má em dời lên Đăc-Lăc sống với ông bà nội. Còn anh hỏi tên Út Tư thì không ai biết đâu. Tên thiệt của em là Tâm. Lê Thị Thanh Tâm. Ngày đó, mới lần đầu gặp các anh, chưa quen biết nhiều, em nói đại cho xong. Định bụng sau đó, nếu được gặp các anh sẽ xin lỗi. Nhưng em nghe tin, sau giải phóng, Sư đoàn 3 đã chuyển ra Bắc. Chuyện của Tâm có thể tóm tắt thế này: Sáng ngày 8 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 3-Sao Vàng vừa hoàn thành nhiệm vụ ở tỉnh Bình Định, được lệnh của Quân khu 5, tăng cường cho Quân đoàn 2, hành quân cấp tốc vào giải phóng tỉnh Ninh Thuận. Sau 3 ngày chuẩn bị, sáng 12 tháng 4, toàn Sư đoàn hành quân bằng xe cơ giới trên lộ số 1, tiến về phía nam. Khoảng 16 giờ, Sư đoàn tới huyện Ninh Hòa. Bộ Tư lệnh quyết định dừng lại nghỉ đêm, sáng hôm sau đi tiếp. Các trung đoàn, tiểu đoàn nghỉ rải rác ở các xã Ninh Thân, Ninh Đa, Ninh Diêm...Riêng Bộ Tư lệnh nghỉ ở xã Ninh Quang, cách thị trấn Ninh Hòa khoảng 2 ki-lô-mét về phía Tây Nam. Lúc đó tôi trực thông tin tại Bộ Tư lệnh. Theo sự phân công của Ban Tác chiến, tôi ở cùng Sư đoàn trưởng Trần Lâm ( tên thật là Trần Bá Khuê) nghỉ trong một gia đình ở đầu xã. Một ngôi nhà gỗ cổ xưa thoáng mát. Chủ nhà là một cụ già ngoài 70 tuổi, râu tóc bạc phơ. Cụ niềm nở đón chúng tôi. Sư trưởng và tôi vừa đặt ba lô xuống góc nhà, chưa kịp ngồi thì một cô gái khoảng 20 tuổi, bận bộ đồ sơ mi trắng, mặt tái nhợt, từ ngoài chạy vào hổn hển: “ Các ông Giải phóng ơi ! Cứu...Cứu...!”. Tôi và Sư Trưởng vội chạy ra. Sư Trưởng cầm lấy tay cô gái hỏi: - Bình tĩnh. Có chuyện gì, cháu nói cho các chú hay. Cô gái trấn tĩnh: - Cháu ở Nha Trang ra. Trong đó, từ chiều tới giờ, quân ông Thiệu từ đâu tràn về, trút bỏ áo lính, bận thường phục đi cướp khắp nơi. Chúng như hổ dữ, đến từng nhà cướp bóc, dọa dẫm, bắn giết. Cháu may mắn thoát chết, nhờ chiếc xe lam của chú Hai mới về được đây. Mấy ông Giải phóng làm sao vô đó đánh bọn cướp cho bà con được nhờ. Từ tin cô gái cung cấp, Sư trưởng quay sang bảo tôi: - Đồng chí đi mời Tham Mưu Trưởng và Trưởng Ban Tác chiến về hội ý gấp. Nhận lệnh, tôi khoác súng đi ngay. Ít phút sau, Tham Mưu Trưởng Nguyễn Duy Thương và Trưởng Ban Tác chiến Nguyễn Đạt Thanh có mặt. Sư Trưởng mời 2 người ra góc vườn, dưới gốc cây xoài, hội ý. Khoảng 15 phút sau, Sư Trưởng đi vào nhà nói với cô gái: - Các chú đồng ý đưa bộ đội vô Nha Trang. Nhưng cái khó bây giờ là trời sắp tối, không ai quen thuộc đường sá. Cháu có thể dẫn đường cho các chú được không? Không ngần ngại, cô gái nhận lời ngay. Lập tức, Sư Trưởng điều một đại đội bộ binh, trang bị vũ khí đầy đủ, do trợ lý tác chiến Sư đoàn Lã Vinh Dự chỉ huy, hành quân bằng 2 chiếc xe GMC tiến vào Nha Trang. Tôi được Sư Trưởng cử đi để giữ vững thông tin, liên lạc. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2017, 05:54:50 am Đêm đó, Nha Trang nóng bức, mặc dù ban sáng có trận mưa rào. Hầu hết anh em chúng tôi chưa kịp ăn tối nhưng ai cũng hào hứng vì biết rằng mình sẽ được vào dẹp loạn, cứu dân ở một thị xã đã từng nổi danh qua sử sách là vô cùng đẹp đẽ. Mất khoảng 50 phút, chúng tôi đến đầu cầu Xóm Bóng. Cô gái đề nghị cho xe dừng lại để cô nói cụ thể từng con đường và đặc điểm trong thị xã. Tiếp đó đồng chí Dự phân công nhiệm vụ cho từng mũi, từng hướng. Tôi và cô gái đi với bộ phận đồng chí Dự chỉ huy, truy lùng bọn cướp ở đường Độc Lập ( nay là đường Thống Nhất). Các mũi khác truy lùng ở đường Trần Quý Cáp, Phước Hải (nay là đường Nguyễn Trãi), đường Gia Long (nay là đường Thái Nguyên), Lê Thánh Tôn.... Nha trang những ngày đầu giải phóng đáng lẽ phải nhộn nhịp. Nhưng ngược lại, cả thị xã chìm ngập trong tiếng súng nổ hỗn loạn, tiếng bọn cướp la hét, chửi bới đòi chia của cướp được. Thấy xe của bộ đội ta xuất hiện, chúng dạt vào các ngõ hẻm, dựa vào các căn nhà, góc tối, bắn trả. Trước tình thế đó, bộ đội ta buộc phải nổ súng. Chiến đấu diễn ra dữ dội nhất là khu vực Ngả Sáu, trước cửa Nhà thờ Núi. Bọn cướp khoảng 200 tên, có súng AR15 và lựu đạn.Ta phải đánh nhau với chúng suốt 3 tiếng đồng hồ mới tiêu diệt và bắt sống hết bọn này. Điều đáng tiếc là có 2 chiến sĩ ta bị thương và cô gái dẫn đường bị một tốp địch trốn ở rạp hát Tân Quang (nay là siêu thị Ma-xi-mart) bắn lén. Cô bị thương ở bắp chân trái. Hoàn thành nhiệm vụ, cũng vừa lúc gặp bộ đội Sư đoàn 10 từ Diên Khánh đánh xuống. Chúng tôi bàn giao toàn bộ đám lính cướp và tang vật thu được cho đơn vị bạn rồi nhanh chóng về lại Ninh Hòa. Tại đây, cô gái được băng bó vết thương, tiêm thuốc. Sư trưởng phấn khởi tuyên dương cô gái trước toàn đơn vị. Ông bảo quân y cử một y tá ở lại chăm sóc vết thương cho cô gái đến khi ổn định mới đuổi theo đơn vị. Nhưng cô gái kiên quyết nói: “ Vết thương của cháu nhẹ thôi, khỏi phiền chú cử người ở lại”. Sáng hôm sau, trước lúc hành quân, tôi đến gặp cô gái: “Anh rất cảm phục em với những gì em đã giúp bọn anh tối hôm qua để hoàn thành nhiệm vụ. Rất tiếc, vì quá bận, chưa có dịp nói chuyện. Đến tên em cũng chưa biết. Em có thể giới thiệu cho anh, biết đâu, sau này còn có dịp gặp lại?”. Cô gái hồn nhiên trả lời, vẻ hóm hỉnh: “Em làm nghề dạy học. Dạy tiểu học trường Tàu Nha Trang. Còn tên em, các anh cứ kêu là Út. Út Tư Ninh Quang là được rồi”. Tôi lấy trong ba lô ra một chiếc ca do chính tay tôi gò bằng ống pháo sáng của địch, tặng Út Tư. “Bọn anh phải đi đây. Bộ đội Giải phóng chỉ có món quà nhỏ này, xin tặng em để làm kỷ niệm. Hẹn ngày chiến thắng gặp lại”. * * * Thanh Tâm lấy xe hon đa chở tôi về nhà. Một căn nhà nhỏ bé nằm bên Lộ Số I, cách thị trấn Ninh Hòa khoảng 1 ki-lô-mét về phía Nam. Nhà tuy nhỏ nhưng thoáng mát. Trong nhà trang trí tranh ảnh đẹp mắt, rất văn hóa. Tâm mời tôi ngồi rồi nhanh nhẹn pha trà. “Trưa nay em sẽ thết đãi anh đặc sản Ninh Hòa. Anh biết thứ gì không? Nem chua Ninh Hòa, anh đã nghe nói bao giờ chưa?”. “Gặp được em là mừng rồi. Ăn chi chẳng được. Bây giờ em kể cho anh nghe, ngày đó vết thương của em bao lâu mới khỏi. Cuộc sống hiện nay ra sao?”. Tâm nâng ly trà mời tôi rồi chậm rãi tâm sự: “Bây giờ mọi chuyện qua rồi em mới nói. Ngày đó, vết thương của em tưởng đơn giản, ai ngờ đi viện điều trị mất 3 tháng. Viên đạn độc ác chui vào trong xương ống chân làm chân sưng tấy, nhức nhối. Ba má tưởng bị nhiễm trùng, mua kháng sinh thiệt nhiều cho em uống. Nhưng uống mãi cũng không khỏi, càng ngày càng sưng to. Cuối cùng vô viện, bác sĩ phải phẫu thuật lấy đầu đạn ra, sau đó bó bột mới lành. Bây giờ trở trời lại đau nhức”. “Em có khai báo với phòng thương binh-xã hội để làm chính sách không?”. “Em nghĩ chuyện thương tật của mình là chuyện nhỏ, đáng chi mà khai báo. Công lao của các anh, các chị chiến đấu gian khổ, hy sinh bao nhiêu năm mới đáng kể”. Tôi chuyển sang đề tài khác, hỏi: “Thế Tâm thôi dạy học từ khi nào?”. “Năm 1980, em xây dựng gia đình. Chồng em cũng là giáo viên. Sau khi sanh thằng con đầu lòng, em thấy cả hai vợ chồng đều ở ngành giáo dục, lương thấp, không bảo đảm cuộc sống nên em xin nghỉ, ra ngoài buôn bán. Bây giờ nghĩ lại mà tiếc. Đời sống giáo viên hiện nay đã khá, hơn nữa lại đúng nghề, đúng nghiệp. Ngoài thị trường hiện nay làm ăn buôn bán cạnh tranh phức tạp lắm”. Giữa lúc tôi và Tâm đang say sưa trò chuyện thì chồng và con trai của Tâm về. Tâm giới thiệu tôi với chồng, con. Sau đó cô xuống bếp làm cơm. Trước khi vô bữa cơm, Tâm mở tủ lấy chiếc ca, vật kỷ niệm của tôi cách đây 30 năm. Tâm rót bia đầy ca, giơ lên và nói: - Chiếc ca này là vật kỷ niệm quý của em. Suốt 30 năm qua, em luôn đặt nó ở nơi trang trọng nhất, hôm nay mới mang ra dùng. Bây giờ em đề nghị tất cả cùng uống chung một ca để nhớ về một kỷ niệm đẹp và để nói rằng: tình quân dân không bao giờ nhạt phai! Nha Trang, Xuân 2007 N.X.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2017, 06:01:15 am Nguyễn Trọng Dưỡng Nguyên chiến sĩ Trinh Sát, E12 –F3- Sao Vàng. “ÔNG THÙNG PHUY” Ở NHÀ TÙ PHÚ QUỐC Chứng kiến cảnh hoang tàn, đổ nát do đế quốc Mỹ gây ra sau vụ ném bom oanh tạc miền Bắc lần đầu tiên vào ngày 5-8-1964, lòng tôi căm phẫn, muốn ra chiến trường ngay góp sức cùng với quân dân cả nước đánh Mỹ. Tôi nhập ngũ vào ngày 15-11-1964 tại xã Sơn Trường, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, được biên chế vào Đại đội trinh sát 121, Trung đoàn 18 (E.18), Sư đoàn 325 (F325). Lúc đầu, đơn vị đóng quân tại Hà Tĩnh, sau một thời gian thì chuyển vào Bình Định. Tháng 4-1968, tổ trinh sát của tôi (ba người) có trách nhiệm dẫn Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Bộ binh 12 đánh thành Đập Đá ( tỉnh Bình Định). Khi giao tranh, tôi bị thương nặng, được đơn vị đưa vào một gia đình cơ sở ẩn náu trong một hầm bí mật cùng anh Hoàng Công Lược (quê ở xã Hoàng Đạt, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Khi chiến trường tạm yên, lực lượng ta rút về căn cứ, địch bắt đầu cho quân lùng sục. Phát hiện được nơi ẩn nấp của chúng tôi, địch cho quân đào đuôi hầm, sau đó xả đạn vào... Rất may, ba loạt đạn AR15 đầu tiên không ai bị gì. Bất lực, địch ném tiếp hai quả lựu đạn, quả thứ nhất, anh Lược hy sinh, tai tôi ù lên, quả thứ hai thì tôi không biết gì nữa. Sáng hôm sau tỉnh dậy thấy xung quanh mình toàn người mặc áo xanh, đầu trọc... Sau này tôi mới biết, họ là chiến sỹ của ta bị bắt tại chiến trường, bị thương đang nằm điều trị tại bệnh viện ở Phước Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định để chờ hỏi cung. Vừa mở mắt ra có một người đến hỏi tôi tên gì, tôi không trả lời và nhìn ra cửa thấy có hai tên lính ôm súng đứng gác. Đêm hôm ấy, vết thương ở người sưng tấy lên, tôi không thấy đau mà tập trung suy nghĩ nhiều về việc bị bắt, cách đối phó với âm mưu, thủ đoạn của địch dựng lên, sợ có giữ vững được bản lĩnh người lính? Nếu lỡ không chịu nổi các đòn tra tấn của địch thì... Nghĩ đến đây người tôi toát mồ hôi, không tài nào chợp mắt được. Vì bị thương nặng, nên tôi được “lưu trú” tại đây ba tháng để điều trị, ít bị hỏi cung hoặc tra tấn như ở những nhà tù khác. Đến tháng 9-1968, địch đưa tôi sang giam tại nhà lao của sư bộ Sư doàn 22 Ngụy. Ngay chiều hôm ấy, một tên đại úy dẫn tôi đi qua 18 phòng “tham quan” các dụng cụ tra tấn để uy hiếp tinh thần, vừa dẫn tôi đi vừa “giải thích” thêm rằng, có 17 phòng với đầy đủ các dụng cụ tra tấn “ưu tiên” cho những người không chịu khai báo, cứng đầu, còn 1 phòng dành cho người đã “ngộ” ra lý tưởng, lẽ phải, hợp tác với chánh nghĩa quốc gia sẽ được trọng thưởng, đãi ngộ... Tôi im lặng. Sau một hồi dạo quanh, địch đưa tôi về nhốt cùng với số anh em tù chính trị hỏi cung ở trại tạm giam. Như thường lệ, mỗi ngày địch hỏi cung hai lần, sáng và chiều. Tại đây, tôi khai mình là Nguyễn Trọng Dương (chứ không phải là Dưỡng), quê ở Hà Tĩnh, đơn vị bộ binh, cấp bậc binh nhì, chức vụ chiến sỹ, không phải là Đảng viên (thật ra, tôi là Đảng viên, thượng sỹ, trung đội phó). Cứ mỗi lần trả lời xong một câu hỏi thì tôi bị tên lính đứng sau đánh hai cái vào người, nhưng phải gắng chịu đau, không muốn làm mất thể diện của người lính Cách mạng. Qua thẩm vấn, địch lưu ý đến nơi đóng quân của đơn vị. Biết bọn chúng không đủ gan hành quân đến nơi đóng quân của ta, nên tôi nói rằng: Nếu các ông để tôi dẫn bộ đưa về thì còn nhớ đường, nếu đi trên xe hay máy bay thì không được... Nghe vậy, thằng nào cũng “ớn”, không dám đi sợ bị mai phục. Cũng tại nhà giam này, đòn ấn tượng và cân não nhất đối với tôi là việc địch đưa hình Thiếu tá Đào Văn Khang, Trung đoàn phó đơn vị tôi ra và nói ông đã đầu hàng... Rất may, qua suy tính, tôi bảo rằng mình mới đi lính, không biết gì ... nên địch tin tôi không có chức vụ lớn gì trong hàng ngũ Cách mạng. Tháng 10-1968, địch đưa tôi qua nhà giam Phú Tài, Quy Nhơn, Bình Định chờ hoàn chỉnh hồ sơ để đưa ra đảo Phú Quốc. Tại đây, tôi được sinh hoạt chi bộ Đảng tại Chi bộ C3 do đồng chí Đào Văn Khang làm Bí thư. Ngày 19-11-1968, trên một chiếc C130, cùng với hơn 100 đồng chí khác, chúng tôi bị địch đưa ra đảo Phú Quốc. Đến Phú Quốc, chúng cho người trói các tù nhân lại, bọn cai ngục ở đây đánh trận phủ đầu, sau đó tôi bị đưa về giam tại khu D6. Phòng giam nền đất, không có mền, gối, tất cả là 10 phòng (1 phòng ba gian), mỗi gian khoảng 20 m2, có lúc cao điểm địch nhốt đến 120 người. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2017, 06:01:42 am Phải nói rằng, ở Nhà tù Phú Quốc, anh em đều rất đoàn kết, luôn bảo vệ nhau. Tôi còn nhớ, trong đợt đấu tranh tuyệt thực chống lại việc đàn áp tù nhân, có anh Bình (quê ở Thanh Hóa) dùng thìa tự mổ bụng trước cổng giám thị, anh Kinh (quê ở Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) khi tổ chức đào hầm bí mật, bị địch bắt và gim 10 cây kim vào đầu ngón tay, sau đó cùng cồn để đốt nhưng anh vẫn không khai báo điều gì làm tổn hại đến Cách mạng; anh Hiếu (quê ở Vĩnh Phúc) đã xung phong đi giết tên chỉ điểm, chiêu hồi trong trại để trừ hậu họa về sau... Những anh em tù trước đây thường bị địch bắt đi làm, lao động và cứ ba tù có hai lính gác. Có một số đồng chí của ta nhân cơ hội này trốn trại hoặc cố tình tạo ra trận “xô xát giả” để địch mất cảnh giác rồi lấy súng giết lại chúng. Do vậy, về sau, tù chính trị thường không phải làm gì, chỉ bị giam suốt ở phòng. Còn tôi, chứng kiến tinh thần đấu tranh anh dũng của các đồng chí đi trước, đã nung nấu ý định vượt ngục. Nhưng xung quanh nhà tù, bọn Mỹ - Ngụy dựng lên nhiều hàng rào kẽm gai dày đặc, chiếu điện sáng và có lính canh gác suốt đêm, nên phương án vượt rào là mạo hiểm, không thể thành công được. Mặt khác, chính bản thân tôi cùng với các tù nhân khác, dưới sự chỉ đạo của Chi bộ trong nhà lao đã nhiều lần đào hầm bí mật trong phòng song đều thất bại, nguyên nhân là có bọn phản bội chỉ điểm trà trộn vào... Qua bao lần quan sát, tôi để ý thấy vào mỗi buổi chiều hàng ngày địch thường dẫn tù nhân khiêng rác ra đổ cách nhà lao khu A5 khoảng 500m, nên nắm rõ quy luật đi lại... Sau khi báo cáo với tổ chức, qua nhiều lần bố trí cho bốn đoàn viên ưu tú có sức khỏe và được tin tưởng làm nhiệm vụ “khiêng rác”, còn tôi và anh Nguyễn Văn Mai là “rác” nằm ở trong thùng. Vào lúc 16 giờ 30 một ngày giữa tháng 10-1969, sau ba tiếng kẻng vang lên báo hiệu giờ đổ rác đã đến, tôi và anh Mai ngồi vào trong bao tải đựng gạo, rồi được anh em cho vào thùng phuy, sau đó đổ rác lên trên người ngụy trang để khiêng đi. Thú thật, nhớ lại cảm giác ấy, bây giờ tôi thấy vui vui thế nào. Nằm chung với rác, chủ yếu là nước tiểu và phân của anh em thải ra, giữa không khí nóng bức, cùng với mùi hôi thối mà sao lúc đó tôi vẫn thấy bình thường... Lúc đầu, mọi việc diễn biến như kế hoạch, anh em khiêng rác vượt ra khỏi hàng rào nhà lao thuận lợi. Đến nơi, tôi được đổ ra hố rác an toàn, còn anh Nguyễn Văn Mai do sơ ý, khi nằm trong thùng phuy đã để lộ hai cái tay ra ngoài, nên bị lính canh gần đó phát hiện, báo động nên sáu anh em chúng tôi bị bắt giải về phòng đại đội lính quân cảnh. Bực tức trước việc làm của chúng tôi, bọn lính trả thù bằng cách tăng cường đánh đập, tra tấn dã man, làm cho chúng tôi chết đi sống lại nhiều lần. Mặc dù sự việc không thành, nhưng tôi vẫn xác định trước sau chung thủy với Đảng, với Cách mạng, không phản bội lại dân tộc, nên dù bị đánh thế nào tôi vẫn trả lời tự mình vượt ngục, không có ai chỉ đạo. Sau tôi, lần lượt năm anh em khác đều bị hành hạ... Cuối cùng, địch đưa tất cả nhốt vào cônét (Cônet là một cái lồng đan bằng sợi dây thép gai, mỗi chiều khoảng 1,5 mét, đặt ngoài trời nắng rồi nhốt tù nhân vào đó. Mỗi lồng nhốt ba, bốn người). Trong Cônét, chúng tôi tiếp tục động viên nhau, phải cố gắng chịu đựng, không được chiêu hồi và không vào trại chiêu hồi. Do bị thương quá nặng, cộng với việc bị khóa chân, tay, nên sáng ra tất cả mọi người đều mệt lả. Tôi nhớ lúc ấy, có một chiếc xe Jeep tiến lại đưa chúng tôi lên xe, sau đó chúng chia từng người để khai thác. Tôi được bố trí vào một phòng, tại đó có hai tên lính đứng sẵn, chúng tiếp tục tra điện vào đầu ngón tay, vào miệng. Thằng trung úy ngụy hỏi tôi trong trại có hầm không, vì mệt quá nên tôi nói nhỏ “Không có”, không hiểu thế nào mà thằng trung sĩ đứng cạnh la ó lên rằng: “Trung úy ơi, nó nói là có hầm”. Lập tức, tôi phản kháng lại và cũng bị thêm một trận đòn chí tử. Sau nhiều lần thẩm vấn, địch không khai thác ở tôi được gì, chúng tiếp tục giam ở biệt giam và nhiều phòng khác nhau trong nhà tù Phú Quốc. Sau khi trở lại trại gặp anh em, đồng chí, do việc vượt ngục của tôi không thành, mọi người đặt cho tôi cái tên ngồ ngộ là “Ông thùng phuy”. Biệt danh ấy đến nay vẫn được anh em tù chào tôi khi gặp lại nhau, trở thành kỷ niệm đẹp trong cuộc đời hoạt động Cách Mạng của tôi. Còn tôi, sau những năm tháng bị giam cầm ở nhà tù Phú Quốc, ngày 19-2-1973 thì được trao trả tại sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị theo Hiệp định Paris. Sau đó, tôi được biên chế vào đơn vị C11, D4, Đoàn 127, Quân khu Tả Ngạn. Song do bị thương nhiều lần, sức khỏe giảm sút, đến tháng 4-1974, tôi được phục viên trở về địa phương. Với tôi, dù bị giam cầm, tra tấn nhiều, nhưng với bản chất người lính, được Đảng và Quân đội tôi luyện, giáo dục nên vẫn vững vàng trong lúc khó khăn, trong mọi tình huống hiểm nguy, không run sợ trước kẻ thù, bảo vệ khí tiết của người chiến sỹ Cách Mạng. Hà Xuân Nguyên ghi Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tư, 2017, 12:28:21 am Lê Văn Cách, Nguyên cán bộ E2 - F3 – Sao Vàng GIỮ TRỌN KHÍ TIẾT CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN Tôi mồ côi cha từ lúc bốn tuổi, là con thứ 5 trong gia đình có sáu anh chị em. Tuổi thơ chúng tôi trải qua trong sự đói nghèo, cơ cực. Quê tôi ở làng biển An Bàng, xã Cẩm An, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Nhà tôi nghèo nên không mua sắm được các phương tiện làm nghề biển, hai anh lớn phải đi kéo lưới làm thuê với tiền công rẻ mạt chẳng đủ mua gạo qua ngày. Nhờ sự dạy dỗ của mẹ, hiểu được hoàn cảnh thân phận mình, anh chị em chúng tôi được mọi người trong làng khen là sớm khôn, nhất là anh cả tôi, tính ông hiền lành và chín chắn. Ông tham gia Cách Mạng lúc nào cả mẹ tôi cũng không biết, chỉ biết ngày quê tôi cướp chính quyền, ông lãnh đạo lực lượng ở địa phương đi biểu tình, cướp chính quyền ở thôn, xã, rồi lên huyện. Sau này tôi mới biết lúc bấy giờ ông đã là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và là cán bộ Việt Minh. Cũng vào năm 1945 ấy, tôi được hướng dẫn làm công tác liên lạc, khi ấy tôi 16 tuổi. Anh cả tôi thường sai đưa giấy tờ của Việt Minh từ làng lên xã và ngược lại, có khi đi từ làng này sang làng khác. Năm 20 tuổi, tôi tham gia lực lượng du kích xã Cẩm An do anh Định phụ trách và được cử làm tổ trưởng du kích thôn. Ngày ấy, tổ du kích chúng tôi chưa có súng, chỉ có giáo mác, gậy gộc và thường tổ chức đi tuần, canh gác xóm làng, có khi tổ chức nghi binh, quấy rối địch ở đồn Phước Trạch. Nhiều lần được cấp trên phát lựu đạn, anh em chúng tôi phục kích địch ở Phước Trạch đi tuần, ném lựu đạn tiêu diệt được một số tên gây hoang mang cho địch. Tôi nhớ, ngày 6-7-1954, có cán bộ ở trên về xã tôi lấy quân, anh Địch tập hợp các tổ du kích lại lấy tinh thần xung phong. Tôi xung phong đầu tiên, sau đó nhiều anh em trong tổ cũng xung phong nhưng cuối cùng chỉ một mình tôi trúng tuyển. Tôi vào bộ đội được biên chế vào Đại đội 4, Tiểu đoàn 20, Trung đoàn 210, sau đó là Sư đoàn 305. Đơn vị đóng ở Duy Xuyên, mấy tháng đầu chúng tôi làm công tác huấn luyện và tuần tra bảo vệ dân, bảo vệ cơ quan huyện. Tháng 10-1954, đơn vị tôi hành quân vào Bình Định và được lệnh đi tập kết. Chúng tôi đi đợt 2, tàu thủy chở đi suốt hai đêm hai ngày đến ngày thứ ba thì cập bến Cửa Lò – Nghệ An. Sau khi nghỉ lấy sức, đơn vị tôi hành quân ra Thanh Hóa học tập Cải cách ruộng đất trong thời gian sáu tháng, sau đó được điều ra Thái Bình công tác giúp dân cải tạo ruộng đất, làm thủy lợi. Đơn vị chúng tôi vinh dự được tham gia xây dựng công trình thủy nông Bắc Hưng Hải. Sau thời gian ở Thái Bình, chúng tôi còn chuyển quân đến đóng ở nhiều nơi nhưng lâu nhất là đóng tại Mã Bằng, Phú Thọ. Suốt cuộc đời mình, tôi luôn luôn ơn Đảng, ơn dân đã giáo dục tôi, bồi dưỡng và bao bọc, giúp tôi trưởng thành. Từ một đứa trẻ nghèo được đi theo Cách Mạng, được ra miền Bắc công tác và học tập. Thời gian đó đã giúp tôi hiểu hơn về quê hương, Tổ quốc mình, tôi được bồi dưỡng thêm về tinh thần dân tộc, tăng thêm lòng căm thù giặc và chỉ mong được về lại miền Nam chiến đấu ... Những ngày ở miền Bắc, tôi cảm nhận được tình cảm thắm thiết mặn nồng của đồng bào hậu phương, chúng tôi đi đến đâu cũng được các mẹ, các chị chăm lo giúp đỡ. Năm 1960, chúng tôi được lệnh về Nam, anh em ai nấy đều háo hức, cái ngày mà chúng tôi mong đợi từ bấy lâu nay đã thành hiện thực. Ban đầu ai cũng nghĩ sẽ cõng ba lô hành quân thẳng vào Nam, nhưng tình hình chiến trường lúc đó rất gay go ác liệt, không chỉ ở ta mà cả nước bạn Lào cũng thường xuyên bị địch đánh phá. Chúng tôi di chuyển dọc theo biên giới Việt – Lào. Trên đường hành quân, đơn vị đã phối hợp với lực lượng bạn đánh nhiều trận, trong đó có những trận mà tôi không bao giờ quên là trận Mường Phú, trận cầu Xê Ta Mốt, trận Na Pha Lăng và đặc biệt là trận giải phóng sân bay Xê Pôn.... Đơn vị chúng tôi còn có nhiệm vụ bảo vệ tuyến đường từ Bắc vào Nam và ngược lại. Hết mùa mưa năm 1960, anh em mới vào đến Quảng Nam. Tôi được biên chế vào Tiểu đoàn 95, Trung đoàn 2 ( tứcTrung đoàn Quyết Chiến, Sư đoàn 3 - Sao Vàng). Mùa mưa năm 1962, đơn vị tôi thắng lớn tại Giá Vụt. Trong một đêm đã đánh tan cả căn cứ địch, bắt được nhiều tù binh, thu được nhiều súng đạn cùng quân trang, quân dụng. Thừa thắng, toàn đơn vị hành quân đánh chặn viện tại đèo Trà Nô – Quảng Ngãi. Trận đánh Trà Nô này cũng thắng vang dội. Trong đêm liên hoan mừng chiến thắng, anh em đã sáng tác ca khúc Du Kích Trà Nô và cùng nhau hát vang Tôi bị địch bắt vào năm 1965. Đợt đó, được cấp trên điều đi làm công tác tuyển quân ở đồng bằng. Sau khi hoàn thành đợt 1 đưa lên cứ bàn giao cho chỉ huy, tôi xung phong đi tiếp đợt hai. Tôi đưa ra lý do là đã thông thuộc tình hình và có kinh nghiệm trong công tác tuyển quân, không ngờ đó lại là “chuyến đi định mệnh” và bị bắt trong một hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tư, 2017, 12:28:52 am Trên đường quay lại đồng bằng, tôi lọt vào trận càn của mấy ngàn quân Đại Hàn, chúng càn lên căn cứ của ta ở vùng núi Bình Định. Bị lính Đại Hàn chặn đường không quay lại được, tôi một mình luồn lách nhắm hướng đồng bằng mà chạy. Đến vùng Mỹ Cát, huyện Phù Cát, Bình Định, tôi lại gặp trận càn lớn của lính dù Ngụy. Thấy một căn nhà nhỏ bỏ không chắc là của gia đình đã chạy giặc, tôi vội leo lên nóc nhà trốn. Vừa leo lên, tôi đã thấy một thanh niên khoảng 16, 17 tuổi trốn ở đó, em bảo là sợ chúng bắt đi. Khi biết tôi là bộ đội, em chủ động xuống trước khi tụi lính vào làng lùng sục, để khi bắt được em chúng lôi đi, may ra tôi có cơ hội thoát thân. Trong cơn nguy kịch, tôi rất cảm kích tấm lòng của em, chưa kịp nói gì thêm thì nghe tiếng bước chân lính chạy vào đến sân, cậu thiếu niên vội tụt xuống, ba tên lính xúm vào lôi em ra sân vừa đánh vừa hỏi. Em chỉ bảo là chạy trốn bắt lính chứ không còn ai trong nhà nữa. Lúc đó, một toán lính ở lại chạy vào và phát hiện ra tôi. Vì đang bận đồ quân phục nên tôi không thể chối cãi được với tụi lính. Tên thiếu ủy hỏi tên tuổi, cấp bậc, chức vụ, tôi không khai, nó giơ súng định đánh, tôi nhìn thẳng vào mắt nó và cự lại. Tôi bảo, bây giờ tôi đã là tù binh của các ông, ông đánh tù binh là vi phạm hiệp ước Quốc tế. Tôi còn nói thêm cho chúng hiểu là chúng tôi đã bắt được nhiều tù binh Ngụy nhưng Cách mạng đối xử với người của các ông rất lịch sự và chu đáo. Không những thế, chúng tôi còn có chính sách khoan hồng, nhân đạo. Thấy tôi lý lẽ, bọn chúng coi bộ cũng chờn không đánh nữa. Tuy vậy, tôi nghĩ rằng, nếu mình im lặng hoặc chối cũng không được. Khi đó tôi đã lớn, mặt mũi chững chạc nếu khai là lính trơn chúng cũng không tin, tôi bèn khai là tiểu đội trưởng nuôi quân nghỉ phép về thăm nhà thì bị bắt. Suốt hai đêm một ngày chúng tra tấn tôi rất dã man: tra điện, tra nước, đánh bằng roi gân bò, có thằng bê cả cái ghế đang ngồi phang vào đầu tôi. Bọn chúng cứ thay phiên liên tục không cho tôi nghỉ, nhiều lần ngất đi, tỉnh lại chúng vẫn tiếp tục tra hỏi. Do không khai báo gì cả nên tôi không ký vào bất cứ biên bản hỏi cung nào. Cuối cùng, tôi bị đưa vào phòng 2 Quy Nhơn và nghĩ mình sẽ bị giết, vì đây khét tiếng là lò thủ tiêu. Tới nơi, thấy bọn chúng chạy đi chạy lại một hồi, sau đó tôi nghe tiếng trao đổi là dẫn tôi về Nhà lao Quy Nhơn vì ở đây không còn chỗ. Tại Nhà lao Quy Nhơn có một nhân vật không hiểu là do ta cài vào hay anh ta chỉ là người có cảm tình với Cách Mạng. Tôi được anh giúp đỡ nhiều. Tôi nhớ, đêm đầu tiên ở nhà lao, tôi bị còng số tám hai tay ra phía sau. Đã bình tĩnh lại rồi nhưng tôi vẫn chắc là mình sẽ bị thủ tiêu. Phòng giam chật chội, tối tăm, muỗi bay như trấu. Đã nửa đêm, tôi muốn chợp mắt một tí cho quên đi sự đau đớn và mệt mỏi nhưng không tài nào ngủ được, cứ đi lại trong phòng và tôi ngâm nga bài Ba mươi năm đời ta có Đảng. Người coi tù mà tôi nói trên cứ đứng ở cửa phòng giam, tôi cứ coi như không có, vẫn say sưa đọc hết bài thơ của Tố Hữu. Khi tôi đọc hết bài thơ, anh ta mở cửa và bảo với tôi rằng: “Ông bị ma ám hả?”. Tôi trả lời anh ta là tôi thấy buồn nên đọc bài thơ Cách mạng cho vui chứ chẳng mơ mang gì cả. Anh ta giới thiệu với tôi, tên anh ta là “Hùng trật tự”, rồi nói tiếp “Hùng trật tự này hay đánh tù nhưng chỉ đánh những kẻ ăn cắp, ăn trộm, cướp giật, đâm chém nhau, còn những người tù như chú là tốt, Hùng trật tự này không đánh đâu”. Nói chuyện bâng quơ với tôi một lúc, nó đứng lên gọi một thằng nữa lại và bảo với tên kia lấy cho nó chai rượu. Hùng trật tự chuyển sang gọi tôi bằng chú xưng cháu, nó mở còng cho tôi, rót ra một ly rượu mời tôi uống. Cảnh giác trước thái độ của nó, tôi tìm cách khước từ. Nó vẫn tử tế nói chuyện với tôi và ngồi uống rượu một mình thêm vài ly nữa. Hùng trật tự cho tôi biết nó rất cảm phục và tin ở tôi. Anh ta còn bảo cách đây mấy hôm còn làm ngơ cho “tù tốt” vượt ngục. Sáng hôm sau, Hùng trật tự gọi y tá đến tiêm cho tôi một liều thuốc khỏe. Nó hỏi: “Bây giờ chú muốn gì?”. Nghe nó hỏi, tôi suy nghĩ rất lung, rằng nếu có chết, có bị đem đi thủ tiêu thì cũng muốn đi một cách thanh thản. Tôi trả lời rằng: “Nếu anh cho tôi đi tắm giặt một lần sạch sẽ”. Nó bảo tôi cởi hết quần áo ra, khi nào thấy giám thị đến thì cứ nằm bẹp vào góc tường. Khoảng 8 giờ sáng, giám thị đến, tôi cũng làm như Hùng bảo và nghe nó báo cáo là người này cả đêm kêu đau bụng vật vã, ông ta ỉa ra hết cả quần áo, bây giờ phải cho ông ta đi tắm. Giám thị đồng ý, tôi được Hùng trật tự áp giải ra vòi nước trong “tư thế của A Đam”. Anh ta lấy xà phòng cho tôi, trong lúc tôi tắm gội, anh ta giặt quần áo cho tôi. Cho đến giờ, tôi vẫn không hiểu được hành động của Hùng trật tự, tuy thế trong lòng tôi vẫn luôn mang ơn anh ta với những nghĩa cử như vậy. Bị nhốt trong Nhà lao Quy Nhơn ba đêm, mặc dù chưa làm án nhưng chúng vẫn đưa tôi lên Plei Ku. Những ngày ở Nhà lao Plei Ku, chúng không tra tấn, đánh đập tôi nữa. Suốt bảy tháng ở đây, chúng tôi không phải lao động nặng nhọc như tù thường phạm, ăn cơm ngày hai bữa, chỉ làm vệ sinh và nhổ cỏ xung quanh khu trại giam cho đến ngày bị đưa đi Phú Quốc. Đó là vào một ngày tháng 2-1967, trên một chiếc máy bay C130, chúng chở tôi cùng khoảng hơn ba chục anh em nữa (ở nhà lao Plei Ku tôi thấy có nhiều tù binh là người dân tộc thiểu số nhưng chuyến đi này tất cả anh em chúng tôi đều là người Kinh). Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tư, 2017, 12:29:34 am Ra đến Phú Quốc, chúng tôi bị bọn trật tự đánh phủ đầu một trận ngay tại sân bay, sau đó dẫn về trại. Hàng ngày, chúng tôi chỉ dọn vệ sinh, nhổ cỏ xung quanh trại. Một thời gian sau, chúng tôi bị bắt đi lao động, đóng bao cát để đắp lô cốt. Tất cả đều phản đối, anh em đại diện yêu cầu bọn chúng thực hiện đúng hiệp ước Quốc tế, không được bắt tù binh đi lao động khổ sai. Sau sự kiện đánh dấu này, chúng tổ chức điều tra, một số anh em bị bọn chúng nghi là cầm đầu, có một số người tự đứng ra nhận mình là người cầm đầu. Anh em toàn trại đấu tranh, họ dùng cây, dùng tay đập vào vách tôn rầm rầm, miệng hô: “Đả đảo! Đả đảo!”, rừng núi xung quanh vang dội. Trong trận này, bọn địch dùng súng đàn áp, nhiều người bị thương nặng và chết sau đó. Tôi nhớ, khoảng sáu tháng kể từ ngày ra Phú Quốc, trong phòng tôi bí mật thành lập tổ Đảng. Tôi là tổ trưởng Đảng của trại B2. Chúng tôi đấu tranh có tổ chức, sau mỗi trận đấu tranh anh em lại bị chúng đàn áp, đánh đập và phạt. Hình thức phạt là bắt đội tôn phơi nắng hoặc nhốt vào chuồng cọp để ngoài trời, tôi từng bị nhốt chuồng cọp chín ngày chín đêm. Chuồng cọp ở đây là một cái hộp khung bằng sắt, hình khối chữ nhật dài khoảng 2m, cao, rộng. Bị nhốt vào đây là một cực hình vì cái hộp đó khung bằng sắt, xung quanh toàn dây thép gai cựa mình phía nào cũng bị chích. Lúc đầu còn có cảm giác đau rát nhưng sau đó thì toàn thân tê dại vì khắp nơi đều bị rách da tứa máu. Trại B2 của chúng tôi thường đấu tranh nên bọn địch gọi là trại sỹ quan. Một hôm, chúng bắt anh em B2 đi khuân củi cho nhà bếp, chúng tôi thủ mỗi người một cây to bằng cổ tay dài khoảng 50-60cm đem về phòng kê đít ngồi. Hôm đó, tên thiếu tá Huy cho lính xông vào đàn áp, chúng bắn chết một người và một người nữa bị thương. Anh em chúng tôi hô khẩu hiệu và ai nấy đều cầm lăm lăm trong tay sẵn sàng ẩu đả nếu chúng đến đàn áp tiếp. Ban đại diện và những người trẻ khỏe đứng chặn cửa không cho chúng vào đưa những người bị thương đi cứu chữa, người bị chết chúng tôi đào hố chôn tại trại chứ không cho địch khiêng đi chôn. Tình hình căng thẳng suốt cả ngày hôm sau, cuối cùng tên thiếu tá Huy phải xuống nước thương lượng. Chúng tôi đưa ra một số yêu sách, bọn chúng đều đáp ứng, sau đó tình hình dịu lại. Thường thường cứ gần đến các ngày lễ của mình là chúng tăng cường công tác trật tự và luôn luôn chuẩn bị để đàn áp. Những ngày đó, chúng thường gây khó dễ, vì vậy anh em chúng tôi càng có cớ để đấu tranh. Tùy tình hình và hoàn cảnh của từng thời điểm mà anh em chúng tôi tổ chức đấu tranh để tránh tổn thất. Tôi nhớ dịp 2-9-1970, toàn trại B2 chúng tôi đấu tranh tuyệt thực năm ngày đêm. Ngoài việc đàn áp bắn chết tù binh, địch còn nham hiểm cài bọn chiêu hồi vào các trại để nắm tình hình, sau vài lần bị anh em chúng tôi thử thách đều không qua mặt được Tổ chức. Đối với những tên này, một mặt chúng tôi tổ chức cho anh em kèm cặp, khống chế không cho ra ngoài, không cho tiếp xúc, một mặt chúng tôi giải thích giáo dục, nhiều tên ngoan cố đều bị anh em xử tội. Tôi nhớ không kỹ, trong khoảng thời gian ở trại B2 anh em chúng tôi xử khoảng 6-7 tên chiêu hồi ngoan cố. Về phía ta cũng bị tổn thất nhiều. Những anh em bị chúng nghi là cầm đầu trong các cuộc đấu tranh thường bị chúng gọi đi và bảo là chuyển trại, nhưng thực chất là chúng dẫn đi thủ tiêu. Trại An Thới ngoài tên thiếu tá Huy hung ác còn có tên trung sỹ Nhất Như cũng rất tàn bạo. Một ngày không đánh tù là ngày đó nó như ngồi trên tổ kiến, ăn không ngon, ngủ không yên, có khi nó kêu người đánh vô cớ để tiêu khiển. Tên này có hình thức đánh tù binh rất dã man là đục răng. Nó cho người giữ chặt anh em mình rồi dùng một ống sắt phi khoảng 25-30mm đặt vào răng cửa sau đó dùng búa đinh gõ mạnh một cái là hai răng cửa bị gãy ngay tức khắc. Bị đánh kiểu này anh em chúng tôi vô cùng đau đớn. Những ngày ở tù tại Phú Quốc là quãng thời gian anh em chúng tôi sống trong sự khổ ải cả về tinh thần lẫn thể xác, nhưng vẫn luôn giữ vững và nêu cao khí tiết của người Cộng Sản. Mặc dù cái chết, sự hy sinh luôn luôn cận kề nhưng chúng tôi vẫn luôn lạc quan, tin tưởng vào sự tất thắng của Cách Mạng. Bên cạnh công tác đấu tranh với địch, anh em chúng tôi còn thường xuyên tổ chức học tập chính trị và học tập văn hóa. Trại B2 chúng tôi có những anh em ngày đầu mới vào chưa đọc thông viết thạo nhưng đến ngày trao trả họ có trình độ tương đương với lớp 6, lớp 7. Tôi được về trong đợt trao trả tháng 3-1973 tại Thạch Hãn. Bây giờ nhớ lại tôi vẫn còn bồi hồi xúc động trong giây phút gặp lại anh em đằng mình ngày ấy. Sau lễ trao trả tù binh, anh em chúng tôi được đón về Đoàn An dưỡng Quân khu Tả Ngạn. Sau ba tháng, tôi được tổ chức điều về công tác tại cơ quan Tỉnh đội Quảng Ninh cho đến ngày giải phóng miền Nam. Sau năm 1975, tôi chuyển về công tác tại Tỉnh đội Quảng Nam đến năm 1977 thì nghỉ hưu. Phan Thanh Bằng ghi Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tư, 2017, 12:32:40 am Nguyễn Cảnh Lạc, Nguyên pháo thủ Đại đội Tên lửa vác vai Trung đoàn 68, Nguyên cán bộ Tuyên huấn Sư đoàn 3 – Sao Vàng. NẾU LÀ CHÂN ĐỒNG VAI SẮT “Đây chỉ là một biểu tượng có ý nghĩa đặc trưng thôi, chứ nếu các pháo thủ có chân bằng đồng, vai bằng sắt thật thì cũng đã phải mòn lâu rồi”. Khi kể chuyện về những ngày khiêng pháo hành quân trong chiến dịch mùa xuân 75 của Sư đoàn 3 Sao Vàng – QK5, đồng chí Chính trị viên Tiểu đoàn Pháo đã có nhận xét dí dỏm đó. Xin được ghi lại vài mẩu chuyện trong muôn ngàn chuyện kéo pháo lên cao, vào gần của đơn vị để chứng minh cho nhận xét trên. Đó là chuyện pháo thủ Bùi Xuân Khoát. Khẩu đội anh đang tác chiến thì có lệnh di chuyển trận địa gấp để chi viện cho một mũi khác. Đường đi khó khăn, pháo thủ thiếu. Nếu dùng bốn người khiênh nòng cối 120 li thì dềnh dàng khó đi, dễ lộ và chậm. Không chần chừ, Khoát xung phong một mình vác nòng pháo nặng 105 kg chạy đến trận địa kịp tác chiến. Đầu năm 1975, sau khi tham gia đêm mở màn, B của Khoát được lệnh hành quân cấp tốc phía Tây Nam đồi “Ông Bình” làm nhiệm vụ kìm pháo địch trên đồi “Cây Rui”. Hành quân đêm, kéo pháo luồn rừng, vượt dốc. Bàn đế cối 120 ly nặng 95 kg phải bốn người khiêng. Khi vào chiếm lĩnh, dốc cao, đường vừa đi vừa phát không thể khiêng bốn người được. Bùi Xuân Khoát đã tự mình gùi bàn đế vượt dốc đi lên, kịp thời gian chiếm lĩnh. Pháo vượt sông thì có gì đáng kể, nhất là hành quân trên đường Trường Sơn. Nhưng kéo pháo qua sông theo kiểu trẻ nhỏ kéo trâu qua rào thì cũng hiếm. Đó là một ngày cuối tháng 2-1975. Để thiết lập một trận địa thật gần, thật bất ngờ, Sư đoàn lệnh cho đơn vị kéo pháo 105 ly vượt sông Kôn. Sông rộng, bãi cát rộng, lún, nước không sâu nhưng lội cũng đến ngực. Làm sao để kéo pháo qua. Ban đầu dùng xe GMC. Nhưng bản thân xe đã không lội qua được nói gì đến kéo pháo. Cuối cùng các pháo thủ phải dùng dây để kéo. Vừa lót, vừa nâng, vừa đẩy, vừa lôi...lợi dụng sức đẩy, sức chảy của nước, anh em đã kéo pháo qua sông một cách dễ dàng như trẻ con dắt trâu qua rào. Lội sông xong lại phải lên cao điểm 211 – dốc dài 300m, độ dốc trên 450. Thôi thì trăm phương ngàn kế. Lắp bánh phụ vào càng pháo để kéo cho nhẹ. Dùng dây luồn quanh bánh kéo xoay tròn theo bánh. Nhích một tí là chèn ngay. Chèn bằng vai, chặn bằng chân, chèn bằng đá, chèn bằng đòn thọc vào bánh và pháo đã vào trận địa kịp thời tác chiến. Họ nhà pháo không thiếu gì Bùi Xuân Khoát. Nhưng anh em hay nhắc đến Khoát vì hình như Khoát cứ to lớn dần lên bởi nghề pháo thủ. Hồi Khoát mới vào đơn vị (1971) người cũng sàn sàn thôi, thế mà bây giờ thuộc cỡ anh chị trong Trung đội./. Nhật ký chiến sĩ, năm 1975 N.C.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:27:40 am NGÀY CHÔN PHÁO XUỐNG ĐÊM ĐÀO PHÁO LÊN “Say pháo hơn cả thuốc lào Ngày chôn pháo xuống, đêm đào pháo lên” Câu “ca dao” này bắt nguồn từ một “sự tích”, nói rõ hơn là một trận đánh của Đại đội cối 120 ly vào sân bay Gò Quánh (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) Xuân 1975. Để tạo thuận lợi cho các Trung đoàn bộ binh tấn công vào các sào huyệt của địch ở Bình Định, Đại đội cối 120 ly được lệnh hành quân cấp tốc xuống đánh sân bay Gò Quánh. Cả Đại đội khiêng pháo ra đi, suốt 10 ngày đêm ròng rã khiêng pháo, vác đạn luồn rừng, lội suối, bám địch mà đi, lách địch mà tiến. Những lúc vượt trọng điểm, ngày phải thu pháo, dấu đạn, phân tán người theo đội hình chiến đấu, đêm tập hợp lại bám địch lại tiếp tục hành quân. Vị trí tập kết là suối Nước Đục, cách sân bay nửa ngày đường, phải đi qua một khu rừng, rồi đến một Ấp Chiến lược. Đi qua ấp phải vượt qua một bãi trống, chừng hai tiếng đồng hồ mới tiếp cận được sân bay. Sân bay rất rộng, từ hàng rào vào đến trung tâm khoảng 4km. Như vậy, với tầm xa của cối 120 ly, muốn bắn có hiệu quả phải đặt pháo ở vị trí tiếp cận hàng rào. Mặt khác, nhiệm vụ trên giao là phải kìm sân bay trong một tuần, nghĩa là phải đánh địch trong bảy ngày. Đó là một khó khăn rất lớn. Đưa pháo vượt qua ấp, qua sự lùng sục của địch để vào chiếm lĩnh là việc rất khó. Phơi trận địa giữa bãi trống ngay nách sân bay trong một tuần làm sao giữ bí mật được. Chỉ cần lộ một tý là “mất cả chì lẫn chài”. Đánh xong vác pháo chạy về hậu cứ thì không kịp. Hội nghị cán bộ, đại hội quân nhân suốt một ngày đã quyết định: phải đánh được và thắng. Đồng chí Diệu (quê Thanh Hóa), Chính trị viên Đại đội đã kể lại trận tập kích táo bạo đó: Đơn vị quyết định chỉ dùng một khẩu cối nhưng phải 30 người ra quân. 16 giờ từ vị trí tập kết ra đi, 3 đồng chí trinh sát đi đầu bám địch, mở đường, 15 đồng chí mang đạn có trang bị AK để đánh địch bảo vệ pháo, còn lại là khiêng pháo. 23 giờ thì lọt xuống được vị trí chiếm lĩnh. Một bộ phận triển khai đội hình bám địch, sẵn sàng đánh bọn bộ binh lùng sục, còn lại tập trung làm công sự chiến đấu. Đúng 3 giờ sáng nổ súng. Bị đánh bất ngờ nên bọn địch rất kinh hoàng. Còi báo động rú như điên dại trong sân bay. Các trận địa pháo bảo vệ sân bay của địch bắn ra rung chuyển cả khu rừng. Chúng không phát hiện được trận địa của chúng ta vì chúng không ngờ được chúng ta luồn sâu đến thế. Sau 45 phút tập kích, phải thu dọn “trận địa” ngay theo đúng phương án đã chuẩn bị. Các pháo thủ kéo pháo đi chôn. Bệ, chân pháo dầm xuống hồ sen. Nòng pháo đem chôn. Những bộ phận khác được giấu vào các bụi rậm. Còn bộ phận mang đạn, bám địch thì đến dọn trận địa, xóa mọi vết tích. Xong mọi thứ, chia thành từng nhóm vượt bãi trống, luồn ấp về vị trí tập kết. Tất nhiên, cả ngày hôm sau địch cho máy bay trinh sát, bộ binh lùng sục, bom pháo bắn loạn xạ xuống bất cứ nơi nào chúng nghi ngờ. Cứ như thế, đơn vị đánh ba trận trong ba đêm, mỗi đêm một đường đi, một trận địa, một nơi thu dấu, một lần đào lên, chôn xuống, và dĩ nhiên là giờ nổ súng cũng khác nhau, bất ngờ. Bọn địch liên tiếp bị ăn đòn. Sau này, theo cơ sở báo ra, có đêm bắn cháy hàng chục máy bay, có trận hàng trăm lính ngụy chết. Đêm cuối cùng, sau khi tập kích xong, đơn vị được lệnh rút quân. Bọn địch phát hiện đuổi đánh, trên thì máy bay trinh sát L19, trực thăng vũ trang HU1A quần bắn - dưới thì pháo bắn chặn. Mọi tình huống đã tính trước, chỉ tội phải khiêng pháo chạy một bữa “tóe phở”, đúng hơn là “tóe môn dóc và quả sung”, vì suốt đợt tập kích, ngày chỉ có hai gói lương khô, còn phải tự túc bằng quả gắm, quả sung, môn dóc. Phải nói, sức chịu đựng và sự táo bạo của lính ta là vô tận – đó là nhận xét của đồng chí Chính Trị viên Đại đội khi kể chuyện này./. Nhật ký chiến sỹ, 2-1975 N.C.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:32:12 am TRẬN TẬP KÍCH “PHÁO LỦI” “Tại sao gọi là pháo lủi”. Đồng chí Chính Trị viên Đại đội Hai tên lửa thuộc F3 Quân khu V đã giải thích cho tôi về cái tổ hợp từ dí dỏm, giàu tính hình tượng đó. ĐKB vốn là một loại tên lửa có nòng liên hoàn theo giàn. Nhưng vào chiến trường, nhất là những nơi gay go ác liệt, không phải lúc nào cũng có thể đàng hoàng đánh theo kiểu chính quy hiện đại của nó. Quân số ít, lội suối, luồn rừng, mang đủ đạn đã chết, nói chi đến nòng với bệ. Đánh xong lại phải cơ động ngay, nếu không thì pháo, cối, bom bi, bom phạt, có lúc cả bộ binh địch nữa tức khắc bu đến như lũ ruồi nhặng thấy mồi. Đạn ít, đánh nhỏ lẻ nhưng phải ăn to, do đó phải bí mật, bất ngờ, vào thật gần, sờ được “gáy tóc” của địch mới bắn theo kiểu đánh du kích. Đáp ứng được bấy nhiêu nhu cầu là cả một vấn đề nan giải. Thói thường cái khó bó cái khôn. Nhưng với những người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam thì lại khác. Với lòng căm thù giặc, với ý chí kiên quyết tiêu diệt Mỹ, Ngụy thì càng khó khăn càng đẻ ra sáng kiến, càng tìm cách phát huy cao độ sở trường, sở đoản. Thay cho bệ pháo, nòng pháo cồng kềnh là những cọc tre. Của này thì rất sẵn - đối với anh giải phóng thì không phải tìm kiếm vất vả. Trước lúc vào chiễm lĩnh trận địa, tạt sâu vào khoảng dăm phút là xong. Thiết kế trận địa cũng đơn giản, nhanh chóng. Cắm nạng tre hoặc gỗ xuống đất. Gối đầu quả đạn lên nạng – cắm cọc chuẩn rồi điều chỉnh quả đạn theo tầm hướng đã được tính toán trước. Một giàn muốn đánh bao nhiêu quả cũng được, tùy theo cơ số đạn và số lần định đánh. Đến giờ nổ súng, chỉ cần một người điểm hỏa là cả giàn nhất loạt xé rừng bay đi. Thế là trận chiến đấu xong. Các pháo thủ nhanh chóng lủi đi, nhẹ tênh. Tầm bắn của ĐKB là 8.000m đến 10.000m. Nhưng để dáng những đòn bất ngờ, đạt hiệu suất chiến đấu cao, anh em thường đến thật gần giá đạn trên điểm cao bắn tà âm với cự ly 3.000m hoặc 2.000m, có lúc chỉ có 300m đến 500m. Vì thế quả đạn không bay cầu vồng mà cứ lủi xuống. Đấy cũng là một lý do sản sinh ra từ “pháo lủi”. Trong lịch sử tác chiến của mình, Đại hội Hai tên lửa của Tiểu đoàn 12 đã đánh nhiều trận “pháo lủi” làm cho bọn địch tức đến “hộc máu mồm” ra mà kềnh. Trận tập kích vào sân bay Gò Quánh mùa hè 1972 là một thí dụ. Với 40 quả đạn ĐKB, sau mấy tích tắc điểm hỏa, 99 tên Mỹ gồm toàn kỹ thuật và giặc lái tan xác, 17 máy bay các loại bị thiêu hủy, 1 kho đạn nổ cháy suốt ba tiếng đồng hồ. Sân bay chìm trong khói lửa. Bọn địch tối tăm mày mặt. Bao nhiêu trận địa pháo bảo vệ sân bay ngơ ngác chịu ngậm miệng vì không phát hiện ra ta. Còn các chiến sỹ của ta, chỉ có ba đồng chí trực tiếp đó thôi, sau cái tích tắc kỳ diệu đó, ung dung trở về. Nhưng xin nhớ cho rằng: có được những tích tắc kỳ diệu đó, hoàn toàn không phải dễ dãi, giản đơn. Đại đội trưởng cùng tổ trinh sát phải luồn sâu trong lòng địch suốt hàng tháng trời để trinh sát địa hình, xác định mục tiêu, đo đạc cự ly, tính toán hướng, tầm, để cho quả đạn khi được phóng đi là chụp đúng đầu thù. Có lúc suốt ba ngày không cơm, không nước vì địch lùng sục bủa vây. Đưa một quả đạn từ hậu cứ đến trận địa phải lầm lũi bao ngày đêm trong rừng rậm, núi cao, suối sâu, có người ngã xuống không đi đến đích. Riêng các khoản tưởng nhỏ nhặt như Pin để điểm hỏa cũng không phải muốn là có ngay. Có những chị em hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình luồn sâu vào trong lòng địch ra vào hợp pháp với bọn đầu trâu mặt ngựa để móc từng tá pin phục vụ tác chiến. Mỗi chiến công ở chiến trường không bao giờ là kết quả của một sự ngẫu nhiên./. Hoài Ân, 6-1974 N.C.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:44:53 am Nguyễn Văn Định, nguyên Đại đội trưởng Đại đội Thông Tin, Trung đoàn 141, Sư đoàn 3 Sao Vàng (Kính tặng các chiến sĩ Tiểu đoàn 4 Anh hùng Kính tặng các bà mẹ xã Phổ Thạnh,huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi). GẶP LẠI NGƯỜI ĐÃ MẤT Thật không ngờ, chuyến tàu Thống Nhất hôm ấy, tôi găp lại Minh, người chiến sĩ thông tin mà đơn vị tưởng đã hy sinh năm 1973. Chúng tôi trò chuyện, ôn lại những kỷ niệm, những trận đánh... Thượng tuần tháng 6 năm 1972, tôi được điều động về Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 141 (nay là Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 141, Sư đoàn 3 -Sao Vàng) phụ trách trung đội thông tin. Đơn vị vừa dự Chiến dịch Kon Tum về, nay đang tiến hành củng cố. Anh em trong trung đội phần lớn là chiến sĩ mới. Số chiến sĩ cũ, người đã hy sinh, người bị thương, người chuyển đơn vị khác...Tôi đang lo lắng làm sao huấn luyện cho số chiến sĩ mới thông thạo nghiệp vụ để bước vào chiến dịch tới thì nhân được tin đau đớn, anh trai tôi, cũng ở tiểu đoàn này đã hy sinh tại mặt trận Nam Lào. Mọi người kể, tại một khu rừng phía nam Bản Đông, Trạm Thông tin Sư đoàn do tôi phụ trách, cách Tiểu đoàn 4 chừng một ki-lô-mét, Tiểu đoàn bộ bị bom B52, đường dây điện thoại bị đứt, chỗ dây đứt có một chiến sĩ hy sinh. Tôi chạy tới nối dây mà không nhìn kỹ người chiến sĩ ấy vì lo tập trung cho nhiệm vụ thông liên lạc. Nào ngờ, liệt sĩ ấy lại chính là anh ruột tôi. Tôi đau đớn và ân hận vô cùng. Để vơi bớt nỗi đau ấy, tôi lao vào công tác, dốc hết tâm trí cho huấn luyện bộ đội. Ngày 01 tháng 8 năm 1972, đơn vị được lệnh xuống Quảng Ngãi, tiêu diệt các căn cứ địch, mở rộng vùng giải phóng. Ngày 15 tháng 8 năm 1972, đơn vị đang chờ lệnh vào chiếm lĩnh thì cơn bão số 6 ập đến. Bầu trời đen kịt, gió giật từng cơn, mưa như trút nước. 19 giờ. Lệnh xuất phát! 3 trinh sát viên lao vút trong mưa bão. Mười phút sau, đơn vị lặng lẽ chia làm 2 hướng nhằm ấp Thạch Trụ tiến vào. Hướng chủ yếu do tiểu đoàn trưởng Phức chỉ huy vòng qua Quốc lộ 1, từ phía Đông đánh tới. Hướng thứ yếu do đại đội trưởng Tân chỉ huy vượt qua đường sắt từ phía Bắc đánh vào. Tôi đi theo hướng này. Mưa to, bão lớn nên mọi người ướt như chuột. Các chiến sĩ thông tin dành áo mưa che máy, mặc cho nước quất vào mặt, vào người. Lúc này, máy là quý hơn tất cả. Máy khô hay ướt, liên quan đến thắng lợi của trận đánh, đến xương máu của đồng đội. Mưa bão làm cho địch chủ quan, chui vào lô cốt. Bộ đội tiếp cận ít bị lộ. Nhưng thật oái oăm, nước lũ tràn về, cuốn phăng mọi lộ tiêu do anh em thông tin cắm chỉ đường. Cả cánh đồng ban chiều chỉ xăm xắp nước, bây giờ là biển nước mênh mông. Không còn lộ tiêu, bộ đội đi lạc lung tung. Đại đội trưởng Tân liên tục truyền lệnh “bám sát”, nhưng làm sao bám được khi không còn lộ tiêu. Tôi nhanh chóng phân tán các chiến sĩ thông tin đi tìm từng phân đội một để gom về. Nhưng toàn đại đội cũng chỉ được vài chục tay súng vào đúng vị trí chiếm lĩnh. Hỏa lực được 2 khẩu B41, bộc phá có 5 quả, tiểu liên AK gần 20 khẩu. Ai nấy đều rét run cầm cập. Theo quân số hiện có , Đại đội trưởng Tân điều chỉnh lực lượng, đánh theo phương án đã định để bảo đảm hợp đồng chung. Đại đội chia làm 2 mũi. Đại đội trưởng Tân và 10 tay súng đánh vào phía phải. Tôi và Phó Đại đội trưởng đảm nhiệm mũi bên trái. Hai mũi yểm trợ nhau phát triển, hợp điểm với Đại đội 3 tại trung tâm. Nước lớn quá, không rải được đường dây điện thoại, tôi chuyển Minh vào đội mở hàng rào. Minh bò lên, bò xuống chuyển mìn định hướng và bộc phá vào hàng rào. Tôi hồi hộp theo dõi địch. Đột nhiên tên lính gác la lớn - Việt Cộng. Việt Cộng dô ! Nó bắn một loạt đạn. Dưới ánh đèn pháo sáng, tôi thấy Minh nằm yên bất động. Pháo sáng tắt. Minh cắt nốt hàng rào thứ 4. Đặt xong bộc phá, Minh trườn ra. Tôi thở phào nhẹ nhõm, trong lòng tự nhủ: Minh không chỉ là chiến sĩ thông tin giỏi mà còn là một chiến sĩ bộ binh cừ khôi. Một con người toàn năng. - Mìn và bộc phá đã đặt xong. Sẵn sàng nhận lệnh! Minh báo cáo. Chiếc máy vô tuyến 2W vẫn chạy xè xè sẵn sàng đón nhận tín hiệu tiến công. Giờ G đã đến nhưng không thấy pháo hiệu đỏ, cũng không có tín hiệu qua máy vô tuyến. 5 giờ 20 phút. Máy 2W vẫn sôi rào rào, không có tín hiệu chúng tôi mong đợi. (sau này mới biết, hướng chủ yếu cũng trong tình trạng như chúng tôi nên giờ nổ súng phải lui lại). 5 giờ 30 phút. Trời bắt đầu sáng. Bọn địch đã thức dậy. Chúng cho rằng, hồi hôm mưa bão, Quân Giải phóng không thể vào được. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:45:51 am 6 giờ. Trong tiếng lào xào của máy 2W, một tín hiệu vang lên: - 333! 333! Đây chính là tín hiệu nổ súng. Đại đội trưởng Tân liền ra lệnh tiến công. Minh chập mạch điện. Hàng rào kẽm gai bị cuốn phăng sau những tiếng nổ long trời của mìn định hướng và bộc phá. Khói bụi mịt mù. Địch bị bất ngờ, không kịp trở tay. Chúng đang ăn cơm, vứt bát đũa chạy tứ tung. Đức, xạ thủ B41 bắn 1 quả đạn tiêu diệt ngay lô cốt đầu cầu. Bộ đội ta tràn lên. Tiếng súng thi nhau nổ như bù đắp sự chờ đợi suốt đêm qua. Tôi vọt qua một bờ rào kẽm gai. Theo sát tôi là Minh. Một tên địch vai đeo máy PRC25 chạy ngang qua. Tôi nâng súng. Minh gạt đi “ Để đó cho em chiếm máy”. Nói xong, Minh vòng qua tường nhà đón đầu. Tên địch vừa tới góc tường, anh nhảy vọt ra thét lớn: “ Giơ tay lên!”. Tên địch há miệng ú ớ. Tôi chạy tới giật ngay cái máy, thay sóng liên lạc...Ôi ! Thật sung sướng. Tiếng nói của tôi, của hướng tôi đã hòa vào mạng vô tuyến điện của tiểu đoàn, tiếp nhận sự chỉ huy của cấp trên. Chúng tôi lần lượt tiêu diệt các lô cốt, các ổ đề kháng của địch, phát triển vào Trụ sở Hội đồng ấp, hợp điểm với đại đội 3. Tại đây, tôi gặp Việt, chiến sĩ thông tin, tay trái quấn đầy băng, tay phải vẫn đang rải dây điện thoại theo bộ binh. Minh chạy tới bảo “ Việt. Để anh rải cho. Em quay về phẫu đi. Địch còn ẩn nấp, em hãy cẩn thận”. Minh quàng súng qua vai, đỡ cuộn dây từ tay Việt rồi lao nhanh về phía trước. Các bộ phận bị lạc trong đêm, nhằm hướng súng nổ kéo tới nên lực lượng ta mỗi lúc một đông thêm. Trận đánh thắng lợi. Một đại đội Bảo An, 5 trung đội Dân Vệ bị ta tiêu diệt và bắt sống. Nhân dân mừng vui đón chào bộ đội và lập tức phá Ấp Chiến lược trở về vùng giải phóng. Minh khệ nệ khuân về sở chỉ huy 5 máy điện thoại TA312 của địch. Sau đó lại tiếp tục cùng anh em đi thu dây. Một loạt AR15 bắn lén làm Minh bị thương. Chúng tôi băng bó cho anh và tiếp tục tảo trừ. * * * Những ngày cuối tháng 10 năm 1972, chúng tôi được lênh đi chiến dịch. Bản tin 12 giờ ngày 25 tháng 10 năm 1972 của Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo, Mỹ đã lật lọng không ký Hiệp định Pa-ri vào ngày 26-10 như đã thỏa thuận. Lúc này chúng tôi mới biết, chiến dịch này có liên quan đến bàn đàm phán ở Pa-ri.. Đơn vị dừng lại để huấn luyện quân sự và học chính trị. Một hôm, giữa lúc mọi người đang thảo luận sôi nổi thì một loạt bom tọa độ của máy bay B57 trút xuống khu vực Trung đoàn bộ. Ở đó có lớp thông tin 2W đang học tập, ngày mai kết thúc. Chuông điện thoại reo lên. Tôi chụp vội ống nghe. Một giọng nói run run đứt quãng: - Anh Kim đấy à? Bom trúng lớp học. Anh em 2W trung đội mình hy sinh hết, chỉ còn em và Mạnh. Mắt tôi hoa lên. Tai ù đặc. Chao ôi, chiến dịch sắp bắt đầu. 12 chiến sĩ 2W đã được thử thách dày dạn trong chiến đấu. Thế mà nay... Đau xót không cho phép than vãn. Tôi và Minh vội xuống các đại đội bộ binh tuyển lựa gấp người về thay thế. Vấn đề lúc này là thời gian. Chúng tôi huấn luyện suốt ngày đêm, chỉ mong chiến dịch đừng mở vội. Chậm ngày nào hay ngày đó. Nhưng thời gian đâu có chiều ý mình.. Ngày 23 tháng 01 năm 1973, lệnh xuất phát hành quân. Cả trung đoàn lặng lẽ rời khỏi khu rừng Đá Lửa, để lại 10 chiến sĩ 2W vĩnh viễn canh giữ hậu cứ này. Không khí ra quân tràn ngập phấn khởi và lạc quan. Ai cũng thầm nghĩ, đây là chiến dịch cuối cùng để chấm dứt chiến tranh, chuyển sang con đường đấu tranh bằng nghị viện... Đến Đồng Văn, cách Sa Huỳnh 2 km , đơn vị tạm dừng, nhận lệnh bổ sung. Nhiệm vụ khá nặng nề. Địch đã tăng cường thêm tiểu đoàn Biệt động quân số 39 và 1 đại đội công binh. Như vậy, Tiểu đoàn 4 của ta phải đánh với 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo binh, 1 đại đội công binh và 5 trung đội dân vệ, chiếm cảng Sa Huỳnh trước giờ Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, giữ vững cảng biển này làm nơi tiếp tế, chi viện lâu dài trong cuộc đấu tranh mới. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:46:28 am Đêm 25 tháng 01 năm 1973, đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa. Pháo địch bắn chặn các ngả đường. Trời tối đen như mực. Đồn Hải Thuyền, đồn Đá Heo chốc chốc lại bắn pháo sáng. Biệt kích địch tăng cường hoạt động. Chúng tôi phải luồn lách mãi đến 24 giờ mới vào được vị trí chiếm lĩnh. Chỉ huy sở tiểu đoàn đặt dưới một vườn dừa. Tôi nhanh chóng triển khai các mạng thông tin vô tuyến và hữu tuyến xuống tận các đại đội. Một tình huống bất ngờ xẩy ra: Việt, chiến sĩ hữu tuyến điện đang rải dây thì gặp địch phục kích ở đồi Đất Đỏ , hy sinh. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh, bất cứ giá nào cũng phải nối thông liên lạc với Đại đội 1 trước 3 giờ sáng. Tôi trải bản đồ để xác định vị trí của Đại đội 1. Thật khó khăn vì muốn tới đó phải vượt qua đồi Đất Đỏ, địch đã cảnh giác. Chỉ còn cách đi vòng ra phía bắc, nhưng chưa ai biết đường. Tôi đang lúng túng suy nghĩ thì bà má chủ nhà lên tiếng: “Để má dẫn đường cho”. Tôi đang chần chừ thì má giục: “lẹ đi, gần 3 giờ rồi đó”. Tôi cùng 2 chiến sĩ vác dây, máy theo má. Trời đầy sao. Bóng má thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc đi nhanh, lúc bước chậm nghe ngóng, quan sát, trông như chiến sĩ trinh sát dày dạn. Sau này tôi mới biết, đó là má Hồng, bí thư chi bộ bí mật thôn La Văn. 4 giờ 30 phút. Mạng thông tin thông suốt. Pháo địch bắn loạt xa, loạt gần. Giờ G sắp tới. Đây là những giây phút căng thẳng nhất đối với anh em thông tin. Chẳng may một quả pháo địch bắn vu vơ làm đứt dây điện thoại là khốn to... Đúng 5 giờ sáng. Hai phát pháo hiệu màu đỏ vọt lên. Lệnh nổ súng. Tiếng mìn, tiếng bộc phá phá rào nổ inh tai. Các loại pháo vác vai của ta thi nhau bắn vào đồn địch. Chỉ huy sở nhộn nhịp hẳn lên. Các loại máy thông tin liên tiếp nhận điện rồi truyền lệnh của chỉ huy: - Đã mở xong hàng rào. - Đã chiếm được lô cốt đầu cầu. - Yêu cầu pháo ngừng bắn. - Cho bộ đội xung phong! v.v... 5 giờ 30 phút, đồn Đá Heo bị san bằng. Một đại đội bảo an bị tiêu diệt. Đồn Hải Thuyền bị hỏa tiễn B72 của ta khống chế...Hướng ấp Thạch Bi, tiểu đoàn Biệt Động 39 chống trả quyết liệt. Ta và địch giành nhau từng góc nhà, ngõ xóm. Một khẩu đại liên địch ở chuồng cu xả ra từng loạt ngắn. Đại đội 3 không tài nào vượt qua được cầu cảng. Đã có 4 chiến sĩ ngã gục trên cầu. Đối diện với chuồng cu là một căn nhà lầu. Mấy chiến sĩ đang loay hoay tìm cách trèo lên. Vừa lúc ấy, Minh kiếm đâu được một cái thang vác tới. Xạ thủ B41 thoăn thoắt trèo lên. - Ùng ! Oàng ! Một vầng lửa màu da cam ôm trùm lấy chuồng cu. Khẩu đại liên địch câm họng. Bộ binh tràn lên chiếm cảng. Ở phía nam ấp Thạch Bi, bọn Biệt động quân co cụm trong trường học ngoan cố chống cự. Tên thiếu tá , tiểu đoàn trưởng hò hét lính cố thủ chờ viện binh. Bên ta, quân số hao hụt nhiều cũng không đủ sức tiến công. Khoảng 15 giờ, tại Sở Chỉ huy Tiểu đoàn, một cuộc hội nghị liên tịch giữa bộ đội với cán bộ địa phương diễn ra sôi nổi. Vấn đề đặt ra là phải dứt điểm được bọn địch còn lại trước thời điểm Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, trong khi sức tiến công của ta đã suy giảm. Chính trị viên tiểu đoàn Lê Đỏ đề nghị địa phương huy động lực lương đấu tranh chính trị phối hợp. Tôi thấy má Hồng phát biểu ngay, đại ý: Viêc tổ chức đấu tranh chính trị để chúng tôi lo liệu. Nhưng bộ đội chủ lực phải chuẩn bị sẵn một bộ phận, không cần nhiều song phải được trang bị hỏa lực kha khá để có thể bắn đe dọa được bọn ngoan cố. Mọi người vỗ tay tán thành. Hình như đã được chuẩn bị từ trước nên khoảng một tiếng đồng hồ sau, má Hồng đã dẫn đầu đoàn người dọc theo Quốc lộ I tiến vào khu trường tiểu học. Má Hồng đứng trên một mô đất cao nói dõng dạc: - Hỡi anh em binh sỹ! Hiệp định Pari sẽ được ký kết, chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là hòa bình. Anh em sẽ được về với vợ con. Hãy vứt súng quay về với Cách mạng. Bọn địch ở trong trường nhốn nháo. Má nói tiếp: “Thưa quý anh em, Quân Giải phóng họ đông lắm, đã vây chặt cả rồi. Họ chưa muốn tấn công vì không muốn tính mạng của anh em bị chết oan uổng. Hãy bắn vào bọn sỹ quan ngoan cố, về với bà con”. Ngay sau đó, một số binh lính vứt súng chạy ào ra. Má vẫn tiếp tục kêu gọi. Tên chỉ huy gào lên: - Đ. Mạ! Bắn bỏ hết trọi. Một loạt trung liên nổ. Má Hồng gục xuống, vết thương vào mông, máu ra nhiều, thấm đỏ cả chiếc quần dài của má. Tôi luống cuống, mặc dù có băng cá nhân trong tay nhưng do mắc cỡ nên chần chừ. Má mở mắt giục tôi: - Băng cho má đi con, mắc cỡ chi lúc này... Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:47:24 am Đợt đấu tranh chính trị kết thúc. Kết quả 20 tên địch ra hàng. Trời tối dần, những tia nắng vàng hắt lên, báo hiệu một ngày sắp qua. Bọn địch còn lại tăng cường đào công sự cố thủ. Trung đoàn trưởng ra lệnh cho Tiểu đoàn 4 phải tiêu diệt hết bọn địch trước 24 giờ đêm nay. Chính trị viên Tiểu đoàn Lê Đỏ tập trung số anh em còn lại kêu gọi, đại ý: “Các đồng chí thân mến! Bọn địch còn ngoan cố nhưng chỉ là bọn chỉ huy. Chúng ta phải quyết chiến đấu để giành thắng lợi trong trận quyết định này”. Khoảng 8 giờ tối, Tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa. Khi tổ đầu tiên chạm địch nổ súng, cũng là lúc Tiểu đoàn trưởng Phức ra lệnh xung phong. Tiếng B40, B41, tiếng lựu đạn, AK vang lên. Bám sát bộ binh, Minh vọt lên từng đoạn, sợi dây vòng vèo như đánh dấu đường đi của anh. Hôm nay Minh vừa đánh địch vừa nối dây. 17 lần mạch máu thông tin bị đứt, rồi thông suốt nhờ bàn tay của anh. 19 giờ 30 phút, trận đánh kết thúc. Tên thiếu tá chỉ huy phải đền tội. Xác hắn nằm đè sấp lên khẩu trung liên. Xung quanh hắn, xác địch nằm là liệt, máu lênh láng đen kịt, tôi khẽ rùng mình. Minh và tôi sục sạo khắp nơi thu được 5 máy vô tuyến PRC25 và 30 bình pin, một số cái còn mới nguyên, nét sơn trắng ghi dòng chữ B.C.H.B.Đ.Q.39 (Bộ chỉ huy biệt động quân 39). Trăng đã lên cao. Biển reo vui hiền hòa, chứng kiến một ngày đại thắng của Tiểu đoàn 4. Tiểu đoàn Biệt động quân 39, Đại đội Công Binh Sư đoàn 52, một Đại đội Bảo An và 5 Trung đội Dân Vệ bị tiêu diệt gọn. Ta bắt sống hơn 100 tên, có 2 tên trung úy. Ấp Thạch Bi, cảng Sa Huỳnh được giải phóng. Hàng loạt cờ ba que của địch bị hạ xuống, xé nát. Một rừng cờ Cách Mạng mọc lên. Nhân dân hát vang những bài ca Giải Phóng. Hiệp định Pari không được bọn địch thi hành nghiêm chỉnh. Chúng phá hoại toàn tuyến, trong đó có cảng biển Sa Huỳnh. Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 141 được lệnh lên phía đông Cao điểm 415 chặn địch, không cho chúng từ hướng Tây đánh xuống. Trong đoàn quân ấy có Minh, người Tiểu đội trưởng Thông Tin vừa được để bạt Trung đội trưởng Bộ Binh. Trời tối đen như mực, lúc lúc lại lòe lên một ánh chớp và một tiếng nổ đinh tai do pháo từ tàu biển bắn vào. Bộ đội vẫn lặng lẽ hành quân, đến 24 giờ thì tới vị trí chiếm lĩnh triển khai đào công sự. 7 giờ sáng ngày 20-3-1973, địch mò vào trận địa. - 100! 100! Đã nổ súng tấn công. - Phượng Hoàng. Địch đã trộm vào khe cạn. - Cho bắn pháo hiệu đánh dấu khu vực. Gà sẽ gáy ngay. - Đẹp quá. Đạn rất chụm. Gáy tiếp đi. - Địch đã bỏ chạy. - Truy kích. ... Bỗng tín hiệu vô tuyến im bặt. Tôi sững sờ. Linh tính báo cho tôi một tin chẳng lành. Tôi gào to trên máy: - Sông Cầu! Sông Cầu đâu? Trong tiếng gào của máy, len lỏi một tín hiệu quen thuộc nhưng không phải của Mạnh mà là của Minh. Sông Cầu 13. Tôi không bình tĩnh được nữa, gọi to. - Nhắc lại. - Sông... Cầu...13...! Tôi buông tổ hợp máy. Đau xót trước cái tin Minh vừa báo: Mạnh, người chiến sỹ vô tuyến điện ưu tú đã hy sinh. Minh đảm nhiệm luôn chiếc máy vừa chỉ huy đánh địch, vừa liên lạc về Sở Chỉ huy. Nhưng tiếng nói của Minh nghe hổn hển, cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hẳn. Lệnh trên thu quân... Các chiến sỹ tìm mãi vẫn không thấy Minh. Các tổ lùng sục suốt 3 ngày 3 đêm mà vẫn không thấy Minh và tổ của anh. Qua theo dõi đài địch thì chưa có dấu hiệu chứng tỏ tổ của Minh sa vào tay giặc. Về phía Minh, như con chim được sổ lồng, anh mải mê đánh địch, quá ham say truy kích, bỏ lại đội hình của mình phía sau. Thế là tổ của anh lọt vào phục kích của địch. Cả ba đều bị thương. Họ dìu nhau vào một bụi rậm bên bở suối. Bốn phía là địch. Ngày thứ 5, những hạt gạo rang cuối cùng đã hết, Minh nói với đồng đội: Anh em ta thương nhau như ruột thịt nhưng cứ dùng dằng với nhau thế này thì chết hết. Các đồng chí cố gắng bò về đơn vị và mang theo chiếc máy này. Tôi tin tưởng đơn vị đang mong chờ và tìm kiếm chúng ta... Ba anh em ôm nhau cảm động, không ai nỡ xa Minh. Cuối cùng Minh ra lệnh: Thắng về! Kiên tạm thời ở lại với Minh. Màn đêm buông xuống. Thắng chậm chạp bò đi, khoảng 3 giờ sáng, khi vượt qua bãi lầy, Thắng lại rơi vào ổ phục kích của địch. Chúng bắn loạn xạ. Thắng tung quả lựu đạn và hô: “Xung phong!” Nghe tiếng nổ, Kiên và Minh lo lắng cho Thắng nhưng lực bất tòng tâm. Họ nhìn nhau đau xót. Đội tìm kiếm của ta nghe tiếng súng liền lao tới. Anh em thấy Thắng nằm đè lên chiếc vô tuyến điện. Mọi người phán đoán, Minh sẽ ở gần đâu đây nhưng trời đã sáng nên đành mang thi thể Thắng về. Ngày thứ 6. Trước thái độ kiên quyết của Minh, đêm nay Kiên lại bò đi. Gần sáng, tổ lùng sục của ta tìm thấy Kiên đã kiệt sức nằm gần một tảng đá lớn. Kiên được khênh gấp về cấp cứu. Một cuộc họp khẩn cấp, bàn cách mang Minh ra. Ai cũng muốn dùng toàn lực lượng của đội nhưng Tiểu đoàn trưởng Phức nói: “Chúng ta còn phải đánh lâu dài. Quân sự không thể dốc túi. Mục đích chính của ta là bảo vệ cảng Sa Huỳnh. Đêm nay ta dùng một tổ đánh nghi binh thu hút địch. Một tổ bí mật luồn vào, mang Minh ra”. Tôi xin đi trực tiếp với tổ này. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:47:56 am Khi tôi bò vào chỗ Minh nằm, anh không còn nói được nữa. Đôi mắt mở to, hai hàng nước mắt chảy xuống. Tiêm thuốc trợ lực xong, chúng tôi lặng lẽ cáng Minh đi. Về tới đơn vị, ai nhìn Minh cũng phải khóc. Trước kia Minh khỏe mạnh, vạm vỡ, nay chỉ còn da bọc xương, hốc mắt sâu hoắm. Đôi môi khô cứng, nứt nẻ. Minh bị gãy chân trái cùng 12 vết thương khác. Bảy ngày không ăn, nằm đất. Thế mà anh vẫn sống về với chúng ta. Thật là một sức mạnh kỳ diệu. Đồng chí y sĩ rửa vết thương cho Minh. Vết thương đã thối, ròi bọ lúc nhúc. Chúng tôi bón từng muỗng sữa nhỏ cho anh rồi cáng anh đi Bệnh xá Sư đoàn. Hôm sau anh em trở về báo cáo: Minh đã hy sinh. Họ đã khênh anh ra nhà xác... Những ngày sau đó địch tập trung một lực lượng rất lớn gồm 4 Sư đoàn bộ binh có hàng trăm khẩu pháo chi viện để tái chiếm cảng Sa Huỳnh và giải tỏa Quốc lộ 1 từ Đức Phổ đến đèo Bình Đê. Cả vùng đất cực nam Quảng Ngãi suốt ngày ầm ầm tiếng bom tiếng pháo. Mặt đất rung lên như động đất. Hướng bắc Sa Huỳnh một Tiểu đoàn Xe Tăng địch đã chọc thủng phòng tuyến Đá Ngựa của ta. Lực lượng của trung đoàn quá mỏng, đạn dược thiếu, lương thực đã cạn nên trận địa bị mất (sau này kiểm điểm thì thấy lúc bấy giờ do nhận thức lệch lạc, ảo tưởng hòa bình, trông chờ Hiệp định nên sự chuẩn bị thiếu tích cực). Được lệnh rút gấp. Anh em thông tin thu hồi khí tài, tôi đang tháo tổng đài thì một quả bom nổ gần đó. Máu mồm, máu mũi trào ra. Cửa hầm bị sập. Khi nghe tiếng xe tăng địch gầm rú, tôi mới bừng tỉnh. Không kịp nữa rồi. Đành phải ở lại sẵn sàng chờ địch tới và sẽ liều chết với chúng nếu chúng phát hiện ra. Đang chờ đợi như vậy thì nghe tiếng Má Hồng căm giận nói với bọn lính đi càn: “Quốc gia không thương dân. Việt Cộng đánh vô thì lính Quốc gia bỏ chạy. Quốc gia dùng bom pháo bắn cháy nhà dân, bây giờ chỉ còn căn hầm để ẩn nấp, các ông lại định dùng xe tăng chà lên phá hầm. Muốn chà thì chà tôi luôn”, rồi nghe chân má chạy lên nắp hầm. Tôi hình dung hình ảnh má lúc đó hai tay chống ngang hông, mắt nhìn về phía trước như hôm nào má kêu gọi bọn chúng đầu hàng. Bọn lính trên xe tăng chửi đổng rồi cho xe chạy sang hướng khác. Nằm trong hầm, nghe rõ từng câu của má Hồng, tôi càng hiểu sâu sắc giá trị của hình thức đấu tranh chính trị, sức mạnh của đội quân tóc dài. Mệt quá tôi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng nghe tiếng động ngoài cửa, tôi bật dậy, tay vơ khẩu súng AK chĩa nòng ra phía cửa hầm. Tiếng Má Hồng gọi khẽ: - Kim ơi! Con còn sống không? - Má ơi, con đây, anh em đâu cả rồi? Bọn địch ở đâu? - Trời tối, không nhìn rõ mặt má, chỉ thấy những giọt nước mắt của má nhỏ vào vai tôi âm ấm. - Anh em rút hết rồi. Bộ binh địch ở ngoài vườn dừa. - Má nói giọng buồn buồn: “Tội nghiệp cho thằng Tám. Nó đang thu dây thì bị xe tăng bắn. Bây giờ chúng nó mang xác xuống Sa Huỳnh chụp hình rồi. Để sớm mai, má cùng bà con xuống đấu tranh đem xác nó đem về chôn cất. Con cứ nằm ở đây, lát nữa má quay lại đưa con xuống hầm bí mật.” * * * Minh rít một hơi thuốc dài. Anh hỏi tôi: - Lâu nay anh có về Sa Huỳnh không? Có gặp Má Hồng không? - Có. Sau giải phóng anh có về thăm. Má vẫn khỏe. Ai cũng tưởng cậu đã chết. Cậu tệ quá, không viết thư thăm má, thăm đơn vị. - Minh mân mê điếu thuốc, đầu cúi xuống như xin lỗi. Anh nhẹ nhàng nói: - Mai về đến nhà em sẽ viết thư ngay. Bây giờ anh kể nốt câu chuyện của anh cho em nghe đi. - Đêm ấy, má đưa anh xuống hầm bí mật. Mười ngày sau, địch cụm lại, má cho giao liên hướng dẫn anh và một số đồng chí khác vượt phòng tuyến địch trở về vùng giải phóng... Còn cậu? Cậu phải trả lời anh. Ai cho cậu mượn xẻng để đào đất chui lên! Minh cười: “đúng là người ta đã khiêng em ra nhà xác, nhưng em chưa muốn chết. Đời còn trẻ quá mà. Sáng hôm sau, trước khi đưa em đi mai táng, thấy em lại thoi thóp thở thế là mọi người vội đưa vào nhà cấp cứu”... Đoàn tàu vẫn hun hút lao đi trong đêm. Trên tầng toa chỉ còn một vài bóng điện lờ mờ. Hầu hết các hành khách đã ngủ. Bà mẹ vẫn nằm trên chiếc ghế đối diện. Minh xoay người ngoảnh mặt về phía tôi và nhìn mẹ nói. - Anh Kim à. Theo tiếng gọi của Đảng, năm ngoái em đưa gia đình vào Lâm Đồng xây dựng kinh tế mới. Năm nay kinh tế tạm ổn, em ra đón nốt mẹ vào ở với vợ chồng em. Tôi ngắm nhìn bà mẹ. Bà mẹ Việt Nam anh hùng phúc hậu. Mẹ đã sản sinh ra những người con anh hùng dũng cảm. Tôi lại ngắm nhìn Minh, một con người bình dị nhưng thật thông minh dũng cảm và có một sức sống mãnh liệt phi thường. Anh là một con người kỳ diệu. Thần chết cũng phải kính nể anh. Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa, ngày 1-1-2005 N.V.Đ Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:56:04 am Đại tá Nguyễn Chí Vị, Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 16, pháo Cao xạ 12,7 ly, Sư đoàn 3 – Sao Vàng. TIỂU ĐOÀN 20 – SÚNG MÁY CAO XẠ 12,7 LY Hơn một vạn, sáu ngàn ngày trôi qua, từ một cán bộ trung đội đến cán bộ Sư đoàn rồi cán bộ cơ quan Quân khu; hoạt động từ chiến trường Khu 5 đến Quân khu 1 rồi Quân khu 4, nhưng trong tôi, không bao giờ quên được những kỷ niệm đầy máu lửa trong 9 năm sống và chiến đấu ở Tiểu đoàn 20 súng máy cao xạ (tức Tiểu đoàn 16, súng 12,7 ly, Sư đoàn 3 – Sao Vàng). Năm 1965, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đánh mạnh, thắng lớn trên cả 3 vùng chiến lược: miền núi, đồng bằng và đô thị. Lực lượng vũ trang phát triển, có khả năng đánh tập trung, đánh lớn. Để đáp ứng nhu cầu đó, theo chỉ thị của trên, ngày 8 tháng 4 năm 1965, Tiểu đoàn 20 Súng máy Cao Xạ được thành lập tại Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên do đồng chí Thái Phụ làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Lý Trần Dậu làm Chính trị viên Tiểu đoàn. Biên chế của tiểu đoàn có 3 đại đội, 18 khẩu 12,7 ly và một số trung đội trực thuộc, có nhiệm vụ hành quân cấp tốc vào chiến trường Khu 5 tham gia chiến đấu. Sau hơn 3 tháng hành quân bộ với tinh thần “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, tiểu đoàn đã có mặt ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Tại đây, ngày 2 tháng 9 năm 1965, theo quyết định của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Sư đoàn 3 – Sao Vàng được thành lập. Tiểu đoàn 20 của chúng tôi được bổ sung thêm 1 đại đội, thành 4 đại đội với 24 khẩu, trực thuộc Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Tôi nhớ, nhiệm vụ cơ bản của tiểu đoàn lúc đó được xác định như sau: - Là đơn vị hỏa lực đi cùng bộ binh, hợp đồng chi viện cho bộ binh trong chiến đấu tiến công và phòng thủ. - Độc lập tác chiến bắn máy bay địch trên không, khi cần, hạ nòng bắn thẳng, tiêu diệt sinh, hỏa lực địch ở mặt đất, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ căn cứ Sư đoàn... Mười năm chiến đấu trong đội hình Sư đoàn trên chiến trường miền Trung khốc liệt, tiểu đoàn đã đánh hàng trăm trận lớn nhỏ. Mất mát, hy sinh không kể hết nhưng cuối cùng là thắng lợi vẻ vang. Nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Sư đoàn, tôi xin kể một số trận ghi dấu ấn sâu sắc trong đời binh nghiệp của mình. TRẬN ĐẦU ĐÁNH MỸ ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG Mùa khô năm 1966, Sư đoàn Không vận số 1 Mỹ mở cuộc hành quân càn quét ở Bắc Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là “Tìm diệt” Sư đoàn 3 – Sao Vàng mà chúng coi là “Quân chủ lực Bắc Việt”. Sau khi bị thiệt hại nặng nề ở Hoài Nhơn, An Lão, bọn Mỹ dồn lực lượng đánh vào phía Tây Nam huyện Hoài Ân, vùng hậu cứ của Sư đoàn 3. Nắm được âm mưu của địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn sử dụng 2 Trung đoàn Bộ Binh (2 và 12) đón đánh địch từ xã Ân Tường đến xã Ân Hữu. Đồng thời dùng toàn bộ tiểu đoàn cao xạ 12,7 ly bố trí tại thung lũng Kim Sơn, xã Ân Nghĩa, sẵn sàng đánh quân Mỹ đổ bộ đường không. Quyết tâm của Sư đoàn và của đơn vị là tổ chức trận đánh tập trung, đánh lớn để hạ uy thế Sư đoàn Không vận Mỹ. Theo kế hoạch tác chiến, đội hình của tiểu đoàn được bố trí như sau: - Đại đội 1 ở thôn Hội Văn. - Đại đội 2 ở xóm Đèo, xóm Trại. - Đại đội 3 ở Bình Sơn, Kim Sơn, Nghĩa Điền. - Đại đội 4 ở Nhơn Tịnh, Nhơn Sơn. Trong Mệnh lệnh chiến đấu, Sư đoàn nêu rõ: Độc lập tác chiến. Đánh quân đổ bộ đường không. Diệt cả máy bay và bộ binh địch. Để thực hiện được yêu cầu đó, các trận địa phải để cho địch đổ quân xuống đất 20 chiếc trực thăng mới nổ súng! Hôm đó, trời vừa sáng rõ, địch dùng máy bay phản lực, trực thăng vũ trang, trực thăng trinh sát (rọ heo), các loại pháo tầm xa, tầm gần bắn phá ác liệt vào khu chiến, trong đó có các trận địa pháo cao xạ của ta. Lần đầu tiên hứng chịu những trận có thể nói là “mưa bom, bão đạn” suốt hàng tiếng đồng hồ như vậy, nhiều cán bộ, chiến sĩ tỏ ra lo lắng, bồn chồn, căng thẳng. Nhưng sau trận bom pháo dữ dội ấy, số thương vong không đáng kể, các trận địa pháo vẫn nguyên vẹn, cán bộ tiểu đoàn, đại đội kịp thời tới các khẩu đội động viên, anh em ổn định ngay tinh thần và sẵn sàng chiến đấu. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 08:56:29 am Khoảng 9 giờ ngày 14 tháng 2 năm 1966, sau khi vừa dứt bom, pháo, từng đàn máy bay trực thăng ào ạt đổ quân xuống thôn Nhơn Tịnh, cách trận địa đại đội 4 khoảng 200 mét. Trên bầu trời thung lũng Kim Sơn đen đặc máy bay trực thăng. Có nơi chúng đổ một lúc 60 chiếc. Bọn bộ binh Mỹ, tay áo xắn tới khuỷu, mặt đỏ lừ, đầu đội mũ sắt sùm sụp nối nhau nhảy khỏi máy bay, nhanh chóng tỏa ra xung quanh. Mọi người nín thở chờ mệnh lệnh của tiểu đoàn. Không ai dám nổ súng trước khi có lệnh, mặc dù bọn bộ binh Mỹ đã tới rất gần. Chúng như đàn “gà mờ”, cứ khư khư ôm súng xông tới như không có ai trước mặt. Có nơi chỉ cách bờ thành trận địa pháo khoảng 5 mét. Lúc đó, tiểu đoàn mới ra lệnh nổ súng. Hỏa lực ta vừa bắn máy bay trên không vừa hạ nòng bắn quét bọn bộ binh. Có khẩu đội phải bạt bớt bờ đất đắp quanh pháo mới bắn được, vì lính Mỹ đã vào quá gần. Uy lực của đạn 12,7 ly làm cho bọn bộ binh khiếp đảm. Hàng loạt tên Mỹ đổ gục ngay bờ công sự. Chúng bỏ xác đồng bọn lùi ra gọi máy bay tới chi viện. Đến lúc này, cuộc đọ sức của súng phòng không tiểu đoàn với không quân Mỹ mới thực sự bắt đầu. Từng tốp máy bay phản lực thay nhau tới ném bom. Từng đàn trực thăng vũ trang thi nhau phóng rốc-két. Trong khói lửa của bom, đạn; trong bụi đất mù mịt, các pháo thủ được khích lệ của đợt đầu diệt bọn bộ binh đã ngửng cao nòng pháo bắn trả quyết liệt máy bay địch. Nhờ thế bố trí trận địa liên hoàn nên các đại đội có thể chia lửa cho nhau. Bầu trời thung lũng Kim Sơn như sôi lên trong muôn ngàn tiếng nổ hỗn loạn. Một số máy bay Mỹ đã bị bắn rơi tại chỗ, nhiều chiếc bị thương kéo theo khói lửa trườn qua dãy núi Dốc Đót, Hòn Chè để về sân bay Gò Quánh, Núi Một. Địch liên tiếp thay từng tốp máy bay, ta càng ngay càng hết đạn. Bộ đội vẫn kiên cường bám trụ trận địa nhưng lần lượt bị thương vong. Ác liệt nhất là trận địa Đại đội 4, bố trí giữa cánh đồng Nhơn Tịnh. Địa hình trống trải, địch tha hồ ném bom, phóng rốc-két. Đại đội đã bắn rơi, bắn bị thương nhiều máy bay nhưng cán bộ, chiến sĩ thương vong gần hết, súng hỏng, đạn cạn kiệt không tiếp viện được. Khi có lệnh lui quân, bộ đội phải vượt qua sông Kim Sơn trống trải. Hàng chục người nữa tiếp tục thương vong, 2 đồng chí bị địch bắt, toàn bộ súng pháo bị hỏng và bị địch chiếm...Đại đội 2 ở xóm Đèo, xóm Trại lại rơi vào tình huống khác. Do chấp hành máy móc mệnh lệnh “ chờ cho địch đổ xuống 20 chiếc trực thăng mới được nổ súng...” nên đã bỏ lỡ thời cơ khi bọn địch đổ quân ngay trên trận địa, anh em vẫn không nổ súng. Chờ khi có lệnh thì địch đã phát hiện được trận địa và nổ súng trước rồi nhanh chóng rút bộ binh ra cho bom pháo dội vào. Bộ đội thương vong gần hết và pháo cũng bị phá hỏng... Sau hơn hai tiếng đồng hồ chiến đấu, tiểu đoàn đã bắn rơi tại chỗ 8 máy bay (có 1 máy ném bom, 1 máy bay cần cẩu), bắn bị thương nhiều chiếc khác, tiêu diệt hàng trăm tên lính bộ binh Mỹ. Tiểu đoàn bị thương vong gần nửa quân số, 11 khẩu pháo bị phá hủy, phá hỏng và bị địch chiếm. 2 đồng chí bị địch bắt, một số tử sĩ không đem về được... Trước tình hình đó, Sư đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn lui quân về vị trí mới để củng cố. Lần đầu đụng độ với không quân và bộ binh Mỹ, dù đã xác định được quyết tâm nhưng đối với chúng tôi, bài học lớn nhất, sâu sắc nhất là việc sử dụng chiến thuật và phương thức tác chiến chưa hợp lý. Mang tư tưởng đánh lớn, đánh tập trung nên đã dùng chiến thuật “ Trận địa chiến”. Đó là hình thức chiến thuật mà đội quân chính quy Mỹ mong đợi để phát huy thế mạnh về vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Về phía ta, do bị tổn thất người và vũ khí, Tiểu đoàn trưởng Thái Phụ bị cách chức, nhưng bây giờ nhìn lại, tôi thấy thương cho đồng chí đó. Bởi vì, thời kỳ ấy, một Tiểu đoàn Súng Cao xạ 12,7 ly đương đầu với cả một Sư đoàn bộ binh và một trung đoàn không quân Mỹ lại dùng chiến thuật “trận địa chiến” thì sự tổn thất là tất yếu. Đồng chí Phụ là một cán bộ thông minh, dũng cảm. Anh chấp hành kỷ luật hạ xuống 1 cấp, qua làm Phó Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Bộ Binh 12. Sau một vài trận chỉ huy, anh lại được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng. Bài học thứ hai rút ra là việc bố trí trận địa tác chiến. Hầu hết các trận địa đều đặt giữa đồng trống. Hướng xạ kích của ta lớn, có thể đánh địch từ 4 phía, nhưng địch cũng rộng hướng công kích. Chúng có thể thay nhau đánh phá, còn ta, khi hết đạn, cần chi viện hoặc rút lui đều khó khăn do địạ hình trống trải, địch dùng trực thăng chặn đánh. Bộ đội thương vong nhiều là những lúc đó. Từ những bài học đau đớn này mà các chiến dịch tiếp theo, tiểu đoàn đã phân tán từng đại đội, đánh phục kích, đón lỏng với phương thức tác chiến “Đánh nhanh, rút nhanh”, đạt hiệu quả chiến đấu cao mà trận Gò Đình là một minh chứng. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 09:00:35 am GÒ ĐÌNH - TRẬN PHỤC KÍCH ĐƯỜNG KHÔNG TÁO BẠO Gò Đình là khu đồi nằm giữa thung lũng xã Cát Sơn, huyện Phù Cát. Đây là vùng đất Cách Mạng, bọn ngụy liệt vào vùng tự do đánh phá. Mùa khô năm 1966, địch càn quét, dồn hầu hết dân xuống vùng chúng kiểm soát. Một số bà con ở lại phải trốn lên núi. Xung quanh Gò Đình có nhiều ngọn núi cao, là hậu cứ vững chắc của cơ quan tỉnh Bình Định và của Sư đoàn 3 - Sao Vàng. Mỗi lần mở chiến dịch càn quét vào hậu cứ ta, các loại máy bay địch đều phải bay qua Gò Đình, đó là một quy luật. Đầu tháng Tư năm 1967, Tỉnh Ủy tỉnh Bình Định và Bộ Tư lệnh Sư đoàn cho biết, Sư đoàn Không vận Mỹ chuẩn bị càn quét khu vực các điểm cao 500, đồi tranh Cát Sơn, Dốc Đót...ra lệnh cho Tiểu đoàn Pháo Cao xạ 12,7 ly cơ động phục kích tại Gò Đình để đánh phủ đầu quân Mỹ. Tiểu đoàn sử dụng Đại đội 1 do tôi chỉ huy thực hiện nhiệm vụ trên. Để bảo đảm chắc thắng, tôi tranh thủ dẫn 6 đồng chí khẩu đội trưởng đi nghiên cứu chiến trường (thời đó, mỗi đại đội biên chế 6 khẩu 12,7 ly). Chúng tôi thống nhất lấy Gò Đình làm trận địa phục kích. Ba trung đội bố trí 3 hướng thành hình chân kiềng. Mỗi trung đội 2 khẩu, mỗi khẩu cách nhau khoảng 40 mét, tạo thành hình lục giác. Vị trí chỉ huy của đại đội đặt chính giữa. Đường rút lui được xác định có cây cối che khuất tới tận cửa rừng. Mặc dù sử dụng 1 đại đội nhưng vẫn do tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy (qua điện thoại và vô tuyến điện). Chúng tôi ra quân hào hứng. Bộ đội đào hầm xây dựng trận địa suốt đêm. Tất cả đều được ngụy trang kín đáo. Tôi đi kiểm tra thấy anh em đang tranh thủ ăn cơm sáng (anh nuôi nấu cơm nắm cả ngày cho bộ đội, mỗi bữa 1 nắm). Hôm đó, khoảng 8 giờ sáng, máy bay và pháo binh địch bắt đầu oanh tạc vào các điểm cao 800, 500 và khu vực rừng già Cát Sơn, suối Đáp Ma... Từ Sở Chỉ huy Tiểu đoàn, đồng chí Nguyễn Thế Kỷ, Tiểu đoàn trưởng, nhắc lại mệnh lệnh chỉ đánh máy bay địch ở cữ ly một nghìn mét trở xuống. Đồng chí Hồ Nhơn, Chính trị viên Tiểu đoàn thì nhắc nhở phải kiên định tư tưởng chỉ đạo tác chiến: Đánh trúng, đánh nhanh, rút nhanh, thực hiện triệt để chính sách thương binh, tử sĩ. Sau 30 phút ném bom, bắn pháo dọn bãi, 3 tốp trực thăng 15 chiếc phành phạch trườn qua Đèo Ngụy, Đèo Bồng đáp vào khu vực Gò Đình, cách trận địa chúng tôi khoảng 800 mét. Lệnh nổ súng do tôi phát ra đúng vào lúc máy bay địch vừa tiếp đất. Bắn lúc đó, xác suất đường đạn chính xác cao, lại vừa diệt được bộ binh và máy bay địch. Loạt đạn đầu tiên, một trực thăng địch nổ tung. Bọn còn lại nhanh chóng đổ quân rồi vụt lên, bay qua trận địa pháo cao xạ. Tôi ra lệnh bắn tiếp. Bắn ngay khi máy bay bay tới đỉnh đầu, bởi vị trí đó, bọn phi công không phát hiện được mục tiêu hỏa lực ta. Lại 1 máy bay nữa trúng đạn, đâm đầu vào núi. Máy bay trinh sát địch được gọi đến quần đảo tìm trận địa ta nhưng không phát hiện được. Bọn chỉ huy Mỹ ra lệnh tiếp tục đổ quân. Hàng chục chiếc trực thăng bay tới. Lần này tôi sử dụng cả 6 khẩu cùng bắn. Thêm 2 trực thăng chở đầy quân bị bắn cháy. Bấy giờ bọn địch mới phát hiện ra trận địa ta, gọi máy bay phản lực và trực thăng vũ trang tới đánh phá. Nhờ bố trí thế trận hình lục giác, địch tấn công hướng nào cũng bị ta bắn trả. Thêm 1 máy bay nữa bốc cháy. Sau một tiếng đồng hồ chiến đấu, Đại đội tôi đã bắn rơi 5 máy bay lên thẳng, diệt nhiều lính bộ binh Mỹ. Nếu một máy bay chúng chở một tiểu đội, 15 tên (biên chế của Sư đoàn không vận Mỹ là 15 ngàn tên, 500 máy bay lên thẳng, mỗi tiểu đội có 15 tên) thì chúng đã thiệt hại 5 tiểu đội, 75 tên. Theo tư tưởng chỉ đạo: đánh trúng, bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh, tôi ra lệnh cho đơn vị lui quân. Đại đội chỉ một đồng chí bị thương nhẹ.Trận đánh nhỏ nhưng hiệu suất chiến đấu cao. Đặc biệt mở ra một phương thức tác chiến linh hoạt cho Bộ đội Cao xạ Sư đoàn. Từ trận đánh này và tiếp theo một số trận khác thắng lợi, Đại đội 1 được Đảng, Nhà nước tuyên dương Đơn vị “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân”. Năm 1970, Sư đoàn 3 giải thể, Đại đội được điều động biên chế cho Trung đoàn Bộ Binh 2. Tại đây, đơn vị tiếp tục phát huy tốt truyền thống của mình và lại được Đảng, Nhà nước tuyên dương lần thứ hai, danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân”. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 09:06:28 am PHÒNG NGỰ TRẬN ĐỊA , - ĐỐI MẶT TÁC CHIẾN VỚI KẺ THÙ. Cuối năm 1972, chuẩn bị ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, địch ra sức dồn lực lượng chiếm lại các vùng đã mất trong chiến dịch Xuân – Hè 1972. Trọng điểm đánh chiếm của chúng là quận lỵ Hoài Ân, một đầu cầu chiến lược ăn sâu vào vùng giải phóng của ta. Về phía ta, nhiệm vụ quan trọng nhất thời gian này là phải giữ cho được quận lỵ Hoài Ân – mảnh đất Thánh của phong trào Cách mạng tỉnh Bình Định, là một đầu cầu chiến lược của Quân khu 5. Đối với chúng tôi, nó còn thiêng liêng hơn bởi đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ thương vong trong chiến dịch Xuân – Hè 1972 để giải phóng hoàn toàn quận lỵ này. Lực lượng địch có Sư đoàn 22 Ngụy, Liên đoàn Biệt Động 4, Biệt Động 6, Thiết đoàn Xe Tăng 14, một trung đoàn không quân ở sân bay Phù Cát và hàng chục trận địa pháo mặt đất, pháo tàu biển sẵn sàng chi viện. Về phía ta, bảo vệ Hoài Ân có Trung đoàn Bộ Binh 21, Trung đoàn Bộ Binh 2. Các đơn vị binh chủng hợp thành có Tiểu đoàn 17 Pháo Mặt đất và Tiểu đoàn 16 Súng máy 12,7 ly. Trong quân sự, để giải phóng đất đai, ta thường dùng các hình thức chiến thuật tiến công như tập kích, phục kích... Để bảo vệ đất, bảo vệ vùng giải phóng, ta phải dùng chiến thuật phòng ngự. Nhưng, lúc đó ta chưa được học nhiều về chiến thuật này, chỉ mới có chiến thuật “Chốt kết hợp vận động bao vây tiến công liên tục”: Dùng một bộ phận nhỏ đóng chốt ở những vị trí quan trọng nhử địch vào, sau đó dùng lực lượng bộ binh vận động từ xa tới bao vây tiến công liên tục cho đến khi diệt hết quân địch. Tiểu đoàn 16 Súng máy Cao Xạ được Sư đoàn giao nhiệm vụ bố trí trận địa chốt vững chắc trên các điểm cao xung quanh quận lỵ Hoài Ân, như: núi Một, núi Chéo, Du Tự, Điểm cao 500, Điểm cao 174 v.v... bắn hạ tất cả các loại máy bay địch ném bom hoặc đổ bộ đường không. Khi cần, hạ nòng đánh bọn bộ binh địch lên chiếm chốt. Khác với cách đánh trước đây là đánh nhanh, di chuyển trận địa nhanh, bây giờ trận địa không được di chuyển, mà phải trụ lại đương đầu với không quân địch với tinh thần “Một tấc không đi, một ly không rời”, dù phải đánh tới người cuối cùng. Thời gian này tôi là Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trần Môn là Chính trị viên Tiểu đoàn. Anh em chúng tôi phân nhau đảm nhiệm hai phần việc cơ bản: tôi lo nghiên cứu xây dựng trận địa bảo đảm vững chắc, hạn chế tổn thất người và pháo. Đồng chí Môn nghiên cứu giáo dục, xây dựng quyết tâm, ý chí chiến đấu cho bộ đội. Vẫn biết, không quân Ngụy lúc này không như không quân Mỹ mùa khô năm 1966, nhưng với súng 12,7 ly đối chọi với một Trung đoàn máy bay phản lực, trực thăng vũ trang của chúng là một thử thách không dễ dàng. Rút kinh nghiệm những năm trước, chúng tôi xây dựng trận địa cho các khẩu đội, phải để trụ đất chính giữa công sự pháo. Các pháo thủ có thể xoay quanh trụ đất để bắn. Trụ đất vừa thay chân súng, vừa làm vật che đỡ cho pháo thủ. Xung quanh hầm pháo là những hầm kèo (hầm chữ A). Nối với hầm chữ A là địa đạo. Trận địa chọn những ngọn núi có độ dốc cao, như vậy khi địch ném bom dễ rơi xuống vực, không sát thương được bộ đội. Hầm chữ A vừa là nơi trú ẩn, vừa là nơi sửa súng hỏng, nơi sinh hoạt cho chiến sỹ. Chốt ở núi cao, công tác bảo đảm ăn uống cho bộ đội khá vất vả. Anh em thường xuyên ăn cơm nắm, nước uống tính từng bi đông, thỉnh thoảng mới có bữa canh chua lá bứa, quần áo đẫm mồ hôi và đất đá, hàng tuần lễ mới được gửi về phía sau giặt giũ. Bộ đội không sợ địch ném bom, vì đối mặt với súng cao xạ, bọn chúng thường ném chệch ra ngoài. Ác liệt nhất là pháo. Pháo đủ các cỡ và đủ các loại đạn: nổ trên không, nổ tức thì và nổ chậm (anh em thường gọi là pháo khoan) để phá công sự. Máy bay trinh sát L19 bay ngoài tầm đạn 12,7 ly căn chỉnh tọa độ cho bọn pháo binh. Có khi chúng bắn hàng tiếng đồng hồ. Mùa khô đất đá trên trận địa bị nghiền thành bột, mùa mưa thành bùn chảy từng vệt dài xuống núi, từ xa trông tới như nham thạch núi lửa. Suốt 6 tháng trời phòng ngự bảo vệ Hoài Ân, bảo vệ thành quả Cách mạng, Sư đoàn 3 nói chung, Tiểu đoàn Cao xạ nói riêng phải vượt qua muôn vàn gian khổ hi sinh để giữ vững quận lỵ Hòa Ân cho đến ngày ký Hiệp định Paris. Nếu như trước đây, khi mở đầu đánh Mỹ, Tiểu đoàn đã thất bại trong hình thức “Trận địa chiến” thì giờ đây, chúng tôi đã thực hiện thắng lợi “Trận địa chiến” với quân Ngụy Sài Gòn, mở ra khả năng phòng ngự trận địa để bảo vệ vùng giải phóng sau năm 1973, đánh địch lấn chiếm. Xa hơn nữa, đã đóng góp những kinh nghiệm thiết thực cho Sư đoàn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Biên giới Tổ quốc năm 1979. Thiết nghĩ, nếu chịu khó nghiên cứu và phát triển thì sẽ còn có tác dụng tốt đối với chúng ta trong nhiệm vụ chiến lược bảo vệ lãnh thổ hiện nay và mai sau, cả trong phòng ngự và tiến công. Chiến tranh đã lùi xa. Nay tôi đã ngoài 70 tuổi, trí nhớ hạn chế, nhưng với tình yêu Sư đoàn, thương nhớ những đồng đội đã mất, tôi kể một số chuyện mà tôi đã trực tiếp chứng kiến, có thất bại, có thành công, hi vọng góp được chút gì đó cho các thế hệ trẻ của Sư đoàn. Tôi luôn luôn mong Sư đoàn tỏa sáng với danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” mà Đảng và Nhà nước đã phong tặng. Vinh, Nghệ An, tháng 12-2009 N.C.V Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 09:22:58 am Đại tá Đinh Vân Nam Nguyên Chủ nhiệm Pháo binh Sư đoàn 3 - Sao vàng TRẬN NINH THUẬN – NIỀM TỰ HÀO TRONG TÔI Ngày 1 tháng 4 năm 1975, tỉnh Bình Định, nơi chôn nhau cắt rốn của Sư đoàn 3 - Sao Vàng đã được hoàn toàn giải phóng. Không thể nói hết nỗi vui mừng, sung sướng khi quê hương đã sạch bóng quân thù. Nhưng chưa kịp nghỉ ngơi, toàn Sư đoàn đã phải gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ chiến đấu mới. Bởi vì lúc này thời gian là lực lượng, là sức mạnh của chúng ta. Trung đoàn Pháo binh 68 ngày đêm tích cực thu pháo, thu đạn, thu xe và mọi trang bị kỹ thuật quân sự để nhanh chóng chuyển đơn vị từ pháo mang vác, cơ động bằng chân thành đơn vị pháo binh xe kéo, cơ động hoàn toàn bằng cơ giới. Chưa đầy một tuần lễ, Trung đoàn đã có pháo 105mm, pháo 155mm, pháo 85mm và một tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm, nằm trong đội hình hành quân của Sư đoàn tiến về phía nam. Mới hôm qua, đơn vị còn hành quân chạy bộ, hôm nay ngồi trên xe ngây ngất nhìn đất trời Tổ quốc được giải phóng, lòng chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Đoàn xe nối đuôi nhau lượn vòng uốn khúc vượt qua đèo Cù Mông đổ xuống Tuy Hòa (Phú Yên). Xe đi giữa rừng dừa xanh biếc, nhân dân hồ hởi phấn khởi reo mừng vì chưa bao giờ thấy Quân Giải phóng lại có xe pháo hùng hậu như thế. Tới địa phận tỉnh Khánh Hòa, Trung đoàn Pháo binh dừng lại ở huyện Ninh Hòa, bắc Nha Trang khoảng 40km. Ngày 11 tháng 4, Trung đoàn được lệnh hành quân vào vị trí tập kết ở Ba Ngòi, tây nam bán đảo Cam Ranh. Đội hình xe pháo triển khai sơ tán, ngụy trang kín đáo. Đánh hơi thấy lực lượng ta, bọn địch cho máy bay ném bom dọc trục Đường Số 1 và các khe suối chúng nghi ngờ bộ đội trú quân. Tiếng bom, tiếng pháo địch nổ suốt ngày đêm. Không khí chiến đấu lại bắt đầu. Tại Sở Chỉ huy Sư đoàn, đồng chí Tư lệnh truyền đạt nhiệm vụ đại ý: Sư đoàn 3 - Sao vàng được tăng cường Trung đoàn Bộ binh 25, tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Phan Rang, giải phóng tỉnh Ninh Thuận, thu hồi triệt để cơ sở trang bị, kỹ thuật, nhất là máy bay của Sư đoàn Không quân ngụy. Trước khi giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, Sư đoàn thông báo tình hình địch như sau: Ninh Thuận là một tỉnh ven biển cực nam Trung Bộ, cách Sài Gòn 300km theo Đường Số 1 về phía bắc, có sân bay, bến cảng, có địa thế hiểm yếu là cửa ải Du Long. Sau khi mất Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn... địch ra sức củng cố, xây dựng Ninh Thuận thành tuyến phòng ngự kiên cố nhằm chặn quân ta tiến công theo trục Đường Số 1 vào Sài Gòn. Lực lượng bộ binh địch gồm có: Sư đoàn bộ binh 2, liên đoàn biệt động 31, lữ đoàn dù số 2, lực lượng bảo an có bốn tiểu đoàn, Sư đoàn 6 không quân hơn 40 máy bay A37, có hỏa lực pháo binh và xe tăng yểm trợ, có 1 trung tướng làm tư lệnh mặt trận. Căn cứ vào tình hình, thế trận bố trí của địch, Sư đoàn lần lượt giao nhiệm vụ cho các Trung đoàn Bộ binh 2, 12, 141 và 25. Cuối cùng, Trung đoàn Pháo binh 68, hỏa lực chủ yếu của Sư đoàn có nhiệm vụ: Tập trung hỏa lực pháo 105mm, 155mm và pháo 85mm, trực tiếp chi viện cho Trung đoàn Bộ binh 2, tiến công thành 2 mũi: Một mũi đột phá vào mục tiêu chủ yếu là cụm quân địch ở ấp Bà Râu. Một mũi chính diện là cụm quân địch ở quận Du Long, trên trục Đường Số 1, tiêu diệt triệt để, làm chủ chiến trường, khai thông Đường Số 1, thọc sâu vào thị xã Phan Rang. Trên hướng quan trọng, Trung đoàn tập trung hỏa lực pháo 85mm và Đại đội Phòng không 37mm trực tiếp chi viện cho Trung đoàn 25 Bộ binh tiến công Sân bay Thành Sơn, chiếm giữ, làm chủ sân bay. Chi viện hỏa lực pháo binh cho Trung đoàn Bộ binh 141, thực hiện nhiệm vụ đánh vu hồi, vây cắt, ngăn chặn lực lượng quân địch rút quân chạy ra đường biển ở phía đông thị xã Phan Rang. Sẵn sàng chi viện Trung đoàn Bộ binh 12 là lực lượng dự bị mạnh của Sư đoàn, khi được lệnh Sư đoàn bước vào chiến đấu. Bố trí pháo chuyên trách kìm chế các trận địa pháo binh địch trong khu chiến. Pháo Phòng không 37mm có nhiệm vụ đánh máy bay địch, bảo vệ Sở Chỉ huy Sư đoàn, trận địa pháo binh và chi viện cho đội hình tiến công ban ngày của bộ binh. Khi có lệnh Sư đoàn, các trận địa hỏa lực của Sư đoàn nhanh chóng cơ động lên phía trước, đánh vào sân bay và thị xã. Thời gian nổ súng tiến công: Sáng ngày 14 tháng 4. Ngày 11 tháng 4, nhận nhiệm vụ của Sư đoàn xong, trên đường trở về Sở Chỉ huy Trung đoàn, tôi và Chính ủy Trung đoàn Lại Văn Sùng vừa đi vừa trao đổi phác họa kế hoạch để về hội nghị triển khai gấp nhiệm vụ cho cơ quan và chỉ huy trưởng các tiểu đoàn. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2017, 09:30:14 am Khác với các trận chiến đấu trước đây, lần chiến đấu này là trận tác chiến hợp đồng binh chủng (bộ - pháo) quy mô lớn. Thời gian chuẩn bị chiến đấu gấp, địa hình khu chiến hoàn toàn mới lạ, không có thời gian đi trinh sát trước trận địa phòng thủ của địch. Cả Trung đoàn Pháo binh chỉ được cấp một bản đồ khu chiến tỉ lệ: 1/50.000. Việc hợp đồng chiến đấu Bộ binh – Pháo binh chủ yếu trên bản đồ gián tiếp qua thông tin hữu tuyến điện. Khó khăn nhất của trinh sát pháo binh là đo đạc xác định tọa độ đội hình chiến đấu, tọa độ các mục tiêu ta tiến công. Tối ngày 12 tháng 4, pháo binh chiếm lĩnh trận địa. Các cầu trên Đường Số 1 bị máy bay thả bom phá sập đã được lực lượng công binh khắc phục, xe pháo phải vượt đường ngầm qua suối. Đài quan sát chỉ huy của trung đoàn và tiểu đoàn chiếm lĩnh ở điểm cao 300 là vị trí quan sát tốt. Khi chiếm lĩnh đài quan sát chúng tôi phát hiện thấy một làng là người dân tộc, nhà nào cũng có một lá cờ cắm cao trên mái, cả làng thành một rừng cờ ngụy ba sọc. Có lẽ đây là cách phòng ngừa để quân ngụy không thả bom, bắn pháo vào ấp của họ. Tránh gặp dân, đường đi còn dài, ai cũng mệt đẫm mồ hôi, mặt trời đã ngả khuất xuống phía tây núi, bóng mát trải dài về phía đông làm dịu đi cái nóng bốc hơi mùi đất đá. Chúng tôi đi ven qua cánh đồng dưa hấu quả nằm la liệt, cơn khát nước cháy cổ, bi đông nước đã phải chia nhau từng giọt, nay gặp dưa hấu, mắt ai cũng bừng lên hướng nhìn về thủ trưởng. Tôi nghĩ bụng mình đâu dám ra lệnh vì “không được động đến cái kim, sợi chỉ của dân”. Mọi người ngầm hiểu ý vì thấy tôi lắc đầu. Đội hình đơn vị đi nhanh hơn để ngày mai bước vào cuộc chiến đấu. Ngày 13 tháng 4 là ngày phải hoàn tất mọi công tác chuẩn bị để sẵn sàng nổ súng. Nhất là hệ thống thông tin liên lạc, đo đạc chính xác tọa độ mục tiêu và xác định trận địa hỏa lực có phần tử bắn chính xác. Ngày 14 tháng 4, Sư đoàn nổ súng tiến công. Tất cả các khẩu pháo đã lấy phần tử thước tầm, góc bắn. Các khẩu pháo đã ngẩng cao nòng. Các máy thông tin luôn áp vào tai sẵn sàng chờ lệnh. Giây phút trọng đại đã đến. Hàng chục khẩu pháo đồng loạt nhả đạn vào mục tiêu. Quân địch bị bất ngờ. Quận lị Du Long, ấp Bà Râu, Kiền Kiền, Ba Tháp chìm trong khói đạn của pháo binh ta. Mọi người từ đài quan sát nhìn xuống, vô cùng phấn khởi về kết quả chuẩn bị chiến đấu của mình. Sau 30 phút, Pháo binh Sư đoàn cấp tập lần cuối cùng. Tiếp đó hỏa lực đi cùng như cối 82, ĐKZ của các đơn vị bắt đầu bắn chi viện cho bộ binh thực hành đột phá. 8 giờ sáng, quân ta đánh tan cụm quân địch ở ấp Bà Râu. Trên hướng chính diện, trung đoàn 2 tiến công quận lị Du Long, đánh chiếm Cao điểm 105, làm chủ quận lị. Ngày 15 tháng 4, địch tập trung pháo binh, máy bay với mật độ cao đánh chặn quân ta, đồng thời đẩy Liên đoàn Biệt động quân ra cố thủ ấp Kiền Kiền. Sư đoàn tổ chức lại thế trận, dùng pháo binh tập trung hỏa lực chế áp sinh lực địch cắt đứt bọn tăng viện từ phía sau. Bộ binh ta nhanh chóng xông lên lần lượt đánh chiếm ấp Kiền Kiền, Ba Tháp. Hàng chục cây số trên Đường Số 1 đã được khai thông. Trên hướng quan trọng, dưới sự chi viện của pháo binh, Trung đoàn 25 nhanh chóng triển khai đội hình, áp sát vào phía tây Sân bay Thành Sơn, đánh tan lực lượng địch phòng ngự ngoài sân bay. Trung đoàn Pháo binh 68 cơ động pháo lên tuyến 2 triển khai trận địa sẵn sàng chi viện cho bộ binh đánh vào sân bay và thị xã Phan Rang. Ngày 16 tháng 4, trận tiến công tổng lực của Sư đoàn bắt đầu. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tăng cường cho Sư đoàn 3 Trung đoàn 101 (f325) và một Tiểu đoàn Xe tăng của Lữ đoàn 203 cùng với Trung đoàn 2 đột kích thọc sâu vào trung tâm thị xã. Phát hiện xe tăng và bộ binh ta tiến vào, địch cho máy bay liên tục xuất kích ném bom ngăn chặn nhưng bị cao xạ 37mm của Trung đoàn 68 đánh trả. Nhờ đó tốc độ tiến công của các đơn vị phát triển nhanh hơn. Sư đoàn tung Trung đoàn Bộ binh 12 phối hợp với Trung đoàn 25 tiến công phía bắc Sân bay Thành Sơn dưới sự chi viện đắc lực của pháo tầm xa 155mm. Đạn pháo rơi trúng đường băng và Khu Trung tâm Chỉ huy Sư đoàn 6 Không quân Ngụy khiến chúng không dám sử dụng máy bay để rút chạy. Toàn bộ bọn chỉ huy và cơ quan tham mưu của chúng phải chạy bộ qua cửa phía nam sân bay để về cửa biển Cà Ná. Nhưng khi đến quận Bửu Sơn chúng đã lọt vào trận địa phục kích của Trung đoàn 2. Tất cả đều bị tóm gọn, trong đó có trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang và một tên đại tá cố vấn Mỹ. Ngày 16 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử Sư đoàn như một mốc son chói lọi. Sư đoàn đã cùng quân dân tỉnh Ninh Thuận đập tan tuyến phòng ngự từ xa của chế độ ngụy Sài Gòn, mở đường cho đại quân ta tiến vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong trận này Bộ tư lệnh Sư đoàn đã nói về Trung đoàn 68 Pháo binh như sau: Không có pháo chiến dịch, Sư đoàn sẽ không hoàn thành nhiệm vụ cắt đường 19 dài ngày, cũng không thể có trận tiêu diệt tuyến phòng ngự co cụm lớn của địch ở Phan Rang. Sức mạnh đột phá của bộ binh ta được tăng lên rất nhiều khi hỏa lực pháo binh chi viện kịp thời và chính xác vào những mục tiêu trọng yếu và những thời điểm trọng yếu của trận đánh... Cán bộ chiến sỹ Trung đoàn Pháo binh 68 vô cùng phấn khởi tự hào trước sự đánh giá ấy của Sư đoàn. Không phụ lòng tin của Đảng, của Bộ Tư lệnh Sư đoàn và các đơn vị bạn, Trung đoàn 68 Pháo binh càng nỗ lực vươn lên chuẩn bị mọi mặt để bước vào trận quyết chiến, chiến lược cuối cùng, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu. Hà Nội, tháng 10 năm 2009 Đ.V.N (Đ/c Đinh Vân Nam viết bài này khi trong mình đã mang bệnh hiểm nghèo, và anh đã từ trần sau đó 1 tháng) Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tư, 2017, 12:48:11 am Đại tá NHƯ CẢNH Nguyên cán bộ Tuyên huấn Quân khu 5, Nguyên Giám đốc Bảo tàng Quân khu 5, đã nghỉ hưu. Ông là một trong những phái viên của Cục Chính trị Quân khu 5, có nhiều kỷ niệm với Sư đoàn 3 - Sao Vàng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhân kỷ niệm 45 năm thành lập Sư đoàn, mặc dù bị tai biến mạch máu não nhưng ông đã gửi cho Ban Biên tập một số Ký ức của mình về Sư đoàn. Xin trân trọng trích đăng 2 bài. ĐÊM SUỐI LA TINH (Da diết nhớ thương đồng đội) Bằng Lăng ơi! – Xin kết vòng hoa tím Cùng vàng oanh nghiêng cánh tỏa thân người Trung đội lên đường hai bảy quân thôi Ba chục vắt cơm thêm phần đứa khỏe ... * * * ... Những thiên thần lưỡi lê ngời ánh lửa Trận xáp lá cà giặc Mỹ chạy cong đuôi1 Mới hôm qua chung đắp tấm chăn sồi Còn đâu nữa nụ cười tươi roi rói! Nhớ miên man mùa lên hương cốm mới Chuyện hàn huyên tinh nghịch lũ trai làng Võng biếc nghiêng chao gió gợn lùa sang Nào tơ tưởng chút “hương thầm” thi vị Khắc đậm con tim những dáng hình tri kỷ Mười tám vắt cơm được xếp thẳng hàng Mười tám chén dư thành bát trầm nhang Cho một tên chung vẻ vang oanh liệt. Thương, Dũng, Trung ...Bình, Trị, Thiên mộc mạc. Yêu, Thành, Danh... hoa sữa quyện còn nguyên Lạ lùng chưa xứ “nẩu” chỉ một miền Lại hội tụ đủ hồn thiêng tổ quốc Mời anh nuôi – vị “công thần đệ nhất” Vuốt mặt tiễn đưa trên từng vắt cơm thừa ... * * * Đêm suối Latinh vào “Chiến dịch Mùa khô” Xin được khóc để lệ keo thành ngọc Én liệng – Hoa hồng – Vừng đông đã mọc Môi thắm nào đằm áo những em tôi! -------------------- 1.Trận diệt Mỹ “Chiến dịch Mùa khô” của E2 tại suối La Tinh (huyện Phù Cát) – 1969 RA TRẬN HÔM NAY Kính tặng Trung đoàn 2 (Quyết Chiến) Cùng đội ngũ hôm nay tôi ra trận Có chim về, có nắng rọi xôn xao Có hoa rừng chen lá thắm vẫy chào Có bạn, có ta và trời xanh biếc! Ôi! Kiêu hãnh trên tay ta nòng súng thép Hãy nghĩ gì? Anh Giải Phóng thân yêu...? * * * Miền Nam ơi! Mỗi sớm sớm chiều chiều Nhức nhối tim gan tiếng rú gầm quạ sắt Quặn thắt lòng ta khi tăng cày xéo đất Lúa đương thì rũ gối dưới bùn đen. Một xóm nhỏ yên lành cũng hoen ố Na-pan Một mảnh trời trong cũng đặc mù hóa học Quả dừa ngọt cũng lìa cành đại bác Con chim non cũng lạc tổ xa đàn Nào mẹ, nào cha, nào chị, nào em. Trong giấc ngủ đã bao lần trở giấc Năm tháng ấy bao vành tang trắng tóc Bao mái nhà xám xịt một màu tro Hỡi chiếc cầu tre, bụi chuối, con đò Mỗi một ta yêu còn chăng nguyên vẹn?... ...Chúng ta đi trong tiếng súng đợi chờ Ấp ủ vai ta sáng ngời ánh thép Có nước mắt, máu xương người đi trước Lon gạo chia tư, hạt muối chân tình Có anh Bính , anh Tòng , anh Võ , anh Canh1 Cùng đồng đội anh Cao đập nát đầu bọc thép Hoa dũng sỹ trên ngực hồng gan góc Nổi bật ra quân mang chiến thắng lẫy lừng Những con người tựa tên núi, tên sông An Lão, Đèo Nhông đứng ngang tầm lịch sử Mỹ Trinh đó Truông Sỏi dài nắng đỏ Sấm sét xung phong chấn động xứ dừa xanh... Nắng hối hả gọi hè vào trận chiến Hãy cùng ta mang bão lửa lên đường Hãy quyện tim ta bao tiếng thét căm hờn Một đoạn nôi xơ của Bình An – Tân Giảng2 Chiếc khăn máu Ba Làng An, Khánh Giang thê thảm Đạn lên nòng cháy bỏng trái tim ta * * * Cùng đội ngũ hôm nay tôi ra trận Vòng ngụy trang chải chuốt lá lao xao Bầy chim rừng chao cánh giữa trời cao Mấp máy bảo nhau “Mùa đang chiến dịch” Bác Hồ gọi: Con đường đi thẳng đích Thơ mùa Xuân – đánh Mỹ cút, Ngụy nhào. Bừng sáng Miền Nam – Tổ quốc xôn xao Mừng thọ Bác bằng chiến công đẹp nhất Chuyến thần tốc xin hẹn cùng Đất nước Trung đoàn II rầm rập lên đường Từng đại đội Thành Đông hoa đẹp hương thơm TRUNG-DŨNG-KIÊN-CƯỜNG, RA QUÂN LÀ CHIẾN THẮNG ! 14h30 ngày 28-4-1969 Rừng Ba Lương (huyện Ba Tơ – Quảng Ngãi) Viết và đọc thơ tại C3/D1/E2/F3 (Sao Vàng) lên đường vào chiến dịch. --------------------- 1. - Bùi Xuân Bính: chiến sỹ D3/E2, ngọn cờ đầu bắt sống xe tăng địch năm 1965 - Nguyễn Công Tòng: Cán bộ đại đội thuộc E2, anh hùng quân giải phóng miền Nam - Trần Võ: dũng sỹ diệt Mỹ cấp ưu tú, CSTD của Trung đoàn 2 - Trần Canh: dũng sỹ diệt Mỹ cấp ưu tú, xạ thủ đại liên D1-E2 - Lê Văn Cao: đại đội trưởng, trung đoàn 2, dũng sỹ bắt sống xe tăng Mỹ tại An Bảo năm 1968, được phong danh hiệu anh hùng LLVTND. 2.Hai vụ thảm sát ở Bình An (Tây Sơn – Bình Định) và Tân Giảng (Tuy Phước – Bình Định) do bọn lính Nam Triều Tiên gây ra. Nay còn ghi chứng tích tội ác của chúng tại Dốc Dài ( thôn An Vinh, xã Bình An). Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tư, 2017, 12:49:31 am Vũ Hồng Luân, Phó Hiệu trưởng Trường PTTH dân lập Marie Cuire Hà Nội, Nguyên chiến sỹ c2, d30, f3 Sao Vàng. EM GÁI QUÂN Y ( Mến tặng Nữ y tá Minh và những người lính Quân y, Tiểu đoàn 60, Bệnh xá Sư đoàn 3 – Sao Vàng) Tôi bị thương trên đất Hưng Nhơn Đồng đội cõng tôi về Bệnh xá Sư đoàn Vội vã đón tôi dịu dàng, trìu mến Em nhẹ nhàng đưa tay đỡ ba lô Buổi đầu tiên tôi muốn gọi tên Minh Lưỡi đứt, hàm đau, không sao nói được Ba buổi bên tôi, Em ngồi bón bột Đớn đau : An ủi, khó tính : Em chiều... Suốt đêm dài cất tiếng hát thân yêu Như tiếng mẹ hiền ru tôi thuở trước Bữa cháo bột to, tôi ăn khó nuốt Mũ sắt Mỹ, Em dùng, giã lại bột tôi ăn. Kể chuyện tôi nghe, quê Em đất Phổ Vinh Chất độc, na – pan, dừa xanh trụi lá Giặc giết cha Em trên thuyền đánh cá Mười sáu tuổi đời, Em vào Giải Phóng quân. Một buổi chiều mưa, Bệnh xá bị ném bom Nhào đến bên tôi, hai tay ôm chặt, Dìu tôi đi, vượt suối, băng rừng Bám vai Em gầy, mắt tôi rưng rưng. Ba tháng trời, tôi sống lặng câm Nay nói được, Em mừng như đứa trẻ Giọng ríu rít như con chim sẻ Cầm tay tôi, hớn hở với mọi người Trên môi Em đọng mãi nụ cười Em như đóa mai vàng báo mùa xuân đến Ơi Em Gái Quân Y- tuổi vừa mười chín Tấm lòng Em ngọt tựa nước dừa xiêm. Dù xa Em, tôi không thể nào quên Đôi mắt đen tròn rưng rưng dòng lệ Buổi tiễn tôi ra Miền Ngoài điều trị Bàn tay Em còn ấm mãi tay tôi. Em lo đường xa, áo rách, lạc rừng Đã gửi tặng chỉ, kim và đá lửa Em Gái Quân Y ơi ! Đừng lo gì nữa Bởi trong tôi đã ấm lửa của em rồi ! Hà Nội, Mùa Đông năm 1971 V.H.L Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tư, 2017, 12:59:40 am Đại tá, nhà văn Nguyễn Trí Huân, Tổng Biên tập Tạp chí văn nghệ quân đội, Tổng biên tập Báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, người đã có nhiều năm gắn bó với Sư đoàn 3 – Sao Vàng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và bảo vệ biên giới Tổ quốc. Ông là người viết cuốn tiểu thuyết : "Năm 1975, họ đã sống như thế" - viết về những người lính Sao Vàng. DẤU THỜI GIAN Anh Nguyễn Quốc Thì, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hoài Châu Bắc nói với chúng tôi rằng, phần mộ của liệt sĩ Phạm Trung Ổn, anh trai nhà văn Trung Trung Đỉnh, hiện đã qui tập về nghĩa trang liệt sĩ Đồi Mười. Việc di dời mộ ảnh về quê, xã có thể linh động giải quyết nhưng theo tôi, vẫn lời anh Thì, ông Đỉnh nên bàn thêm với chị em cô Đúng. Hơn ba mươi năm qua, phần mộ của anh Ổn đã là một phần đời sống tâm linh của chị em cổ! Anh Đỉnh quay sang giải thích với tôi: cô Đúng là em cô May. Cô May là người yêu anh Ổn, hiện đã lấy chồng trong Phù Cát. Việc di dời mộ anh Ổn, anh Đỉnh đã bàn kỹ với cô Đúng qua điện thoại: “ Tôi cũng cảm thấy có sự hẫng hụt của chị ấy. Nhưng chị ấy cũng yên lòng vì dầu sao, đưa được anh Ổn về quê nằm cạnh cha mẹ, ông bà vẫn hợp đạo hơn”. Tôi còn nhớ lúc ấy, khuôn mặt anh Thì thoắt trở nên trầm ngâm. Đây không phải là lần đầu anh giải quyết cho thân nhân các liệt sĩ ở ngoài Bắc vào xin di dời phần mộ của chồng con họ về quê. Đó là điều mà anh và các thành viên khác trong ủy ban xã không thể từ chối. Mặc dầu anh biết rằng, từ lâu, phần mộ của các liệt sĩ đã trở thành tài sản tinh thần quý giá của người và đất Hoài Châu. Anh bảo, mỗi lần một ngôi mộ được chuyển đi, anh lại cảm thấy trống vắng và thấy đất quê mình như nghèo đi. Còn nghèo cái gì, vì sao nghèo thì anh không thể giải thích cho rành rẽ được. - Thôi vậy nè. Anh Thì đột ngột ngửng lên như đã tìm ra một giải pháp nào đó- Việc di dời mộ anh Ổn ta cứ tiến hành vào sớm ngày mai. Song, vẫn phải xây lại ngôi mộ như cũ để bà con và chị em cô May thờ cúng. Bây giờ ông Đỉnh xuống ngay nhà cô Đúng, còn ông – anh Thì quay sang tôi – Ông nên đến nhà má Hiệu. Tối, hai ông quay về nhà tôi họp mặt với đội du kích xã. Tôi ra cổng trụ sở ủy ban, kêu một cuốc xe ôm. Chiếc xe cũ kỹ chồm qua những ổ gà ngập nước, bám theo con lộ đất đỏ rồi rẽ vào một xóm nhỏ. Trời vừa qua một cơn mưa lớn, cây cối trong các khu vườn ướt đẫm. Vẫn là những khu vườn cũ thấp thoáng những ngôi mộ cổ và những bụi cây cúc vang cằn cỗi, nhưng đã khác xưa rất nhiều. Cây cối, nhà cửa và nhất là dừa, lá dừa ken dày đan nhau trên vòm trời xanh ngút ngát. Mươi năm trước tôi cũng đã có dịp trở lại Hoài Châu. Ngày đó, khi tôi vừa bước vào nhà, má Hiệu không nói gì chỉ cầm chiếc áo đang vắt trên vai quật vào người tôi rồi ngồi xuống bộ ghế ngựa lặng lẽ khóc. Chị Hiệu, con dâu má bảo: Mấy bữa nay, không hiểu sao má hay nhắc tới chú hoài. Hồi chiến tranh, tôi đã từng ở nhiều ngày tháng trong căn hầm của má. Lúc thường tôi mắc võng trên cửa hầm. Khi pháo địch bắn rát, tôi chui xuống hầm ngủ chung với mọi người. Má nằm giữa, tôi một bên và cô Hương con gái má một bên. Sáng ra, má đi mở bò, tôi cùng cô Hương đi san ruộng hoặc dặm lại vồng khoai, khóm mì đêm qua bị pháo địch bắn nát. Nhiều ngày tôi đã ăn cơm với má, trở thành một thành viên của gia đình má cũng như trở thành thành viên của đội du kích xã. Vậy mà đã có những tháng ngày tôi quên. Tôi đã quên trong khi má Hiệu và những người dân Hoài Châu vẫn nhớ. Lần gặp này tôi thấy má Hiệu trầm tĩnh hơn. Từ má không còn tỏa ra cái mùi trầu nồng ấm, một thời gian dài đã trở nên hết sức thân thuộc đối với tôi. Hồi đó, mỗi đêm theo đội du kích hoạt động trở về, tôi đều tạt vào vườn má Di hái mấy lá trầu còi cọc, trở nên rất hiếm hoi mang về cho má. Chị Hiệu bảo năm nay má đã ngoài tám mươi, bắt đầu có dấu hiệu của sự lầm lẫn và đã thôi không còn ăn trầu nữa. “Cách đây một tuần, không hiểu ai xui khiến, má tôi lại nhắc tới chú!”. Chị Hiệu cười bảo tôi. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tư, 2017, 01:00:11 am Tôi ngồi xuống bên cạnh má. Má chăm chú nhìn tôi, cặp mắt dừng lại hồi lâu trên mái tóc đã lốm đốm muối tiêu của tôi, bất giác má thở dài: - Tụi bây thế là cũng có tuổi rồi. Bữa sau về chắc chi tao còn. Mà nè, con Hương nó đang sắm đồ đoàn, tuần sau cưới hỏi cho sắp nhỏ. Con ráng ở lại với nó. Cũng như má Hiệu, tôi hiểu mình đã già. Một thế hệ nữa lại sắp đi qua mà vẫn chưa làm được gì cho người sống và cả cho người chết. Hồi ở với má Hiệu, tôi mới hai mươi ba tuổi, cô Hương con gái má hai mươi. Tôi vẫn nhớ cái cảm giác xao xuyến và yên tĩnh khi ngủ chung trong căn hầm có Hương nằm ở bên kia má Hiệu. Có một cái gì đó thật đẹp đẽ, quyến rũ của những năm tháng ấy khiến mỗi lần nhớ lại ta vừa thấy buồn se sắt vừa kiêu hãnh và hối tiếc. Tôi thưa với má những công việc phải làm. Cuộc gặp với đội du kích xã tối nay và sớm mai cùng với nhà văn Trung Trung Đỉnh dời phần mộ liệt sĩ từ nghĩa trang Đồi Mười về quê tận Hải Phòng. - Có phải mộ thằng Ổn không? – Má Hiệu thoáng giật mình hỏi tôi – Thằng Ổn hay giả trang làm con gái đó. Nếu là thằng Ổn thì phải bàn với con May, con Đúng. Thì ra, không chỉ thành viên cũ của đội du kích mà cả xã Hoài Châu Bắc mọi người đều biết mối quan hệ đặc biệt giữa chị em cô Đúng với phần mộ của liệt sĩ Phạm Trung Ổn. * * * Cuộc họp mặt của những chiến sĩ du kích vào đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước đã diễn ra thật cảm động trong căn nhà nhỏ của anh Nguyễn Quốc Thì. Chúng tôi ngồi quây quần trên ba chiếc chiếu nhựa trải trên nền nhà. Phần lớn các đội viên du kích ngày ấy còn sống đều có mặt. Đôi ba cặp đã trở thành vợ chồng, có cháu nội, cháu ngoại. Câu chuyện xoay quanh những trận đánh dữ dội trên đất Hoài Châu của sư đoàn Sao Vàng. Nhiều tên người được gọi lên, được nhắc tới. Những kỷ niệm của ba mươi năm trước chợt sống lại, xao động, nhức buốt như vừa mới xảy ra tuần lễ trước, tháng trước. Có lẽ cũng cần nói thêm rằng, vào những năm sáu tám, sáu chín, chiến trường Bắc Bình Định là một trong những chiến trường khốc liệt nhất của miền Trung. Sau Tết Mậu Thân, thế trận chiến lược da báo bị xóa, sư đoàn Sao Vàng, một sư đoàn chủ lực, từng là nỗi kinh hoàng của sư đoàn không vận số 1 Mỹ và sư đoàn 22 ngụy buộc phải xé nhỏ đội hình, thọc xuống đồng bằng bám đất, bám dân, sử dụng phương thức tác chiến của du kích biệt động. Anh Phạm Trung Ổn, một cán bộ trinh sát của trung đoàn 22 sư đoàn Sao Vàng trở thành cán bộ của huyện đội Hoài Nhơn cắm trên địa bàn Hoài Châu bắt đầu từ sự lựa chọn có tính chất sinh tử ấy. Những người dân ở Liễu An, An Quý, thường kể rằng, từ khi có cán bộ của sư đoàn Sao Vàng trở về, phong trào Hoài Châu bật dậy rất nhanh. Các đội du kích thôn, xã dần dần được khôi phục và theo đó là những trận đánh nhỏ lẻ nhưng ác liệt liên tiếp xẩy ra tại các nhà hàng, nơi ở và cả trụ sở, căn cứ của bọn tề điệp, chính quyền ngụy. Một tên xã trưởng đang nằm trên giường ngủ, bất chợt bị dựng dậy trước cặp mắt kinh hoàng của vợ con. Người chiến sĩ biệt động gí súng vào sườn anh ta, đẩy ra đầu ấp tuyên án và nổ súng. Một tên chỉ điểm đang trồng cây, bất ngờ một tiếng gọi, ngẩng lên, một họng súng lăm lăm đã chĩa vào ngực anh ta. Máu loang đỏ trên mặt đất đang đào dở... Những trận đánh như thế khiến bọn ác ôn, tề điệp co lại trong các căn cứ, trụ sở căng dày dây kẽm gai và những trận phục kích, càn quét có xe tăng, máy bay và đại bác yểm trợ liên tục xẩy ra dai dẳng biến Hoài Châu trở thành một vùng đất chết. Trong buổi gặp mặt tối ngày hôm ấy, người được nhắc đến nhiều nhất là Phạm Trung Ổn. Chị Nguyễn Thị Đúng kể rằng, anh Ổn được bố trí ở một căn hầm (mật) trong nhà chị. Căn hầm đào ngay dưới nền bếp. Ban ngày anh nằm ngủ. Đêm trở dậy đi hoạt động. Anh người nhỏ, trắng trẻo. Nhiều lần anh giả trang thành một cô gái, đội nón lá, bận áo bà ba đen, quần đen vào sát Tam Quan, có bữa vào hẳn trong chợ, đi lẫn với bọn bảo an, dân vệ mà không ai nhận ra anh là con trai chứ chưa nói tới chuyện phát hiện ra một chiến sĩ biệt động táo bạo và có phần liều lĩnh. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tư, 2017, 01:00:59 am Chị Đúng còn kể, Ổn có một hòm đại liên. Trong đó để một cuốn nhật ký và một vài kỷ vật khác. Mỗi lần đi hoạt động, anh đều giao cho chị May và chị Đúng giữ giùm. Một lần, khi anh vừa đi khỏi, hai chị em tò mò mở hòm đạn ra coi, lén đọc trộm nhật ký của Ổn. Trang đầu cuốn sổ là một dòng chữ to: “Nếu tôi phải vĩnh biệt thế giới này thì xin chuyển giùm cuốn nhật ký này cho mẹ tôi”...Cả hai cô gái đều không biết vĩnh biệt nghĩa là sao bèn đem hỏi một ông thầy tiểu học trong xóm. Ông thầy giải thích đơn giản: Vĩnh biệt có nghĩa là “Chết”. Nghe vậy, cả hai chị em khóc ầm lên, cùng bắt Ổn xóa bỏ những dòng chữ khủng khiếp đó. Đối với hai cô gái trẻ, một người đẹp trai, dũng cảm và tốt như anh Ổn không thể nào chết được. Hình như tình yêu của ba người bắt đầu được nhen nhóm từ trang nhật ký đó. Một đêm cuối năm. Trời mưa như trút nước. Ổn bật nắp hầm lên nhà ngồi với hai chị em một lát rồi khoác áo mưa. Cả May và Đúng đều cảm thấy bồn chồn. Một tiếng súng nổ trầm và đục. Hai chị em cùng chết lặng, ngực đau thắt. Lát sau họ đã đứng bên thi hài Ổn. Anh bị phục kích bất ngờ khi chạy ra khỏi ngôi nhà chưa đầy một trăm thước. May vội vàng chạy về nhà lấy chiếc tăng và hai chị em vừa khóc vừa che mưa cho Ổn đến khi những đội viên du kích khác nghe tiếng súng nổ tìm đến. “Chúng em chôn anh ấy bằng chính chiếc tăng của ảnh ngay trong vườn nhà. Không hiểu sao đêm đó mưa chi, mưa dữ”. Chị Đúng ngừng kể. Mọi người ngồi yên lặng. Một cái chết được nhắc lại như hàng trăm cái chết vẫn thường được nhắc lại để sống, để nhớ trên mảnh đất này nhưng vẫn khiến người nghe bàng hoàng. Các thành viên trong đội du kích xã và người dân Hoài Châu đều biết rằng, bắt đầu từ đêm hôm đó, liệt sĩ Phạm Trung Ổn đã trở thành thành viên chính thức trong gia đình hai chị em. Chị May để tang anh Ổn đủ ba năm mới đi lấy chồng, còn chị Đúng thì ở vậy. Ngôi mộ được hai chị em chăm sóc, thắp hương vào những dịp giỗ chạp, lễ tết cho đến ngày đội quy tập đưa anh về nghĩa trang của xã. - Chị May có hay về quê không? Tôi hỏi chị Đúng. - Năm nào vào ngày giỗ anh Ổn chị ấy cũng về. Có năm đưa cả chồng và các cháu cùng về. Nhà em chỉ có ba cái giỗ mỗi năm: Ba, mẹ em và anh Ổn. * * * Người đến sớm nhất ở nghĩa trang Đồi Mười sáng hôm ấy là chị Đúng. Chiều qua, anh Thì đã cho người căng phông bạt phòng trời mưa. Chúng tôi vào nhà thờ bên kia đường bày hoa quả thắp nhang để báo cáo với Thần công, Thổ địa theo phong tục. Đồ lễ, chị Đúng đã đi chợ chuẩn bị từ hôm trước. Chị còn hái lá, nấu nột nồi nước thơm để tắm rửa cho hài cốt anh Ổn. Trước phần mộ anh kê một chiếc bàn nhỏ đặt đồ cúng. Việc này cũng do chị Đúng đứng ra lo liệu. Chúng tôi đứng trước bàn thờ. Anh Đỉnh run run thắp nhang, hai tay chắp lại, giọng anh nhỏ nghèn nghẹn: “ Anh Ổn ơi, em vào xin phép xã, xin phép chị Đúng, chị May đưa anh về quê theo lời giặn của mẹ. Mẹ mất rồi. Ngày ốm nặng, mẹ chỉ nôn nóng mong đi sớm để được gặp anh”...Tuy không nhìn qua bên cạnh, nhưng tôi biết chị Đúng đang khóc. Mùi khói nhang, mùi thơm từ nồi nước lá nấu chín thoảng lên trong bóng tối nhờ nhợt của buổi đêm sắp tàn. Khi lưỡi xẻng đầu tiên vừa được người quản trang ấn sâu vào lòng đất, mọi người đều giật mình ngẩng lên khi chợt nghe một tiếng chim kêu thảng thốt trên đỉnh Đồi Mười. Ngọn đồi không cao nhưng đứng ngạo nghễ giữa một vùng đất bằng phẳng xanh ngợp cây trái. Ba mươi năm trước, nó là nơi thường xuyên diễn ra những cuộc giao tranh ác liệt giữa ta và địch bởi ai làm chủ ngọn đồi sẽ khống chế được một vùng đất rộng lớn, kể cả mạn Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc và con đường số 1, đường xe lửa đều có thể nhìn thấy. Lưỡi xẻng vẫn được người quản trang ấn sâu vào lòng đất, ba mươi phân, bốn mươi phân rồi nửa mét. “Nhè nhẹ thôi anh. Sắp tới rồi đó”. Chị Đúng nhắc khẽ trong một hơi thở cố nén. Bên cạnh chị, nhà văn Trung Trung Đỉnh luống cuống mở rộng chiếc túi da lót vải đỏ, dịch nó tới gần nồi nước thơm. Lưỡi xẻng vẫn từ từ ấn xuống gượng nhẹ. Sáu mươi phân. Vẫn không thấy gì ngoài cát. Đất Hoài Châu là đất cát. Cát miên man bỏng rát vào mùa hè, trôi dạt vào mùa mưa. Vậy mà không hiểu sao, cây vẫn lên trái, lúa vẫn trổ bông. Trước đây, mỗi lần nhảy xuống một đoạn hào, một căn hầm tránh pháo, nhìn những rễ cây ứa nhựa đâm tua tủa bên vách hào, tôi không sao cắt nghĩa được cái gì trong cát đã làm nên một sức sống bền bỉ đến như vậy. Ở Hoài Châu, người như cát, cát như người, dai dẳng và kiên gan đi đến cùng trong một cuộc chiến tranh tàn khốc. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tư, 2017, 01:01:24 am Lưỡi xẻng trong tay người quản trang đột nhiên dừng lại. Lòng mộ đã hiện ra một màu cát đen. “Đến rồi!”. Anh cắm chiếc xẻng lên thành mộ, rút trong túi quần ra một mảnh tre nhỏ nhẵn bóng. Anh thận trọng ngồi xuống gạt nhẹ từng lớp cát mỏng. Vẫn không có gì ngoài cát, nhưng đã thấy một ít thớ gỗ và một vài mảnh xương vàng khô nằm lẫn trong màu đen của cát. Đến lúc ấy, không ai nói ra, nhưng mọi người đều hiểu rằng, thời gian và cát đã phân hủy toàn bộ hài cốt của anh Ổn. - Nhưng tại sao các phần mộ khác không như vậy? – Anh Thì kêu lên ngạc nhiên. Còn chị Đúng thì kể rằng, ngày quy tập mộ anh Ổn vào nghĩa trang, hài cốt của anh còn nguyên vẹn, cả chiếc tăng bọc ảnh cũng như vậy. “Bây giờ mình tính sao?”. Anh Thì ngẩng lên nhìn anh Đỉnh, không dấu được sự bối rối. Im lặng. Tôi nhìn xuống lòng huyệt rồi nhìn những hàng bia trắng xóa trong nghĩa trang, chợt nhớ cách đây mấy năm, các cháu tôi đã lặn lội vào Điện Bàn, Quảng Nam đưa phần mộ của anh trai tôi về quê trước sự mong đợi quặn thắt của mẹ và chị dâu tôi. Ngôi mộ cũng chỉ còn lại cát và vài mẩu xương nhỏ. Đó là tất cả những gì anh tôi cũng như những người liệt sĩ khác đã để lại cho người thân của mình. Tôi cố giấu nhưng cả mẹ và chị dâu tôi đều biết điều đó. Hình như mẹ và chị dâu tôi, cũng như rất nhiều những người mẹ, người vợ khác đều hiểu rằng, cái còn lại của những người đã khuất không chỉ ở hài cốt mà còn là một cái gì đó linh thiêng không nhìn thấy được, không nắm bắt được nhưng vẫn hiện hữu bên cạnh đời sống của con người. - Thôi đành như vầy – Tiếng của anh Đỉnh – Cứ hốt toàn bộ số cát đen có lẫn hài cốt mang về. Dẫu sao mẹ tôi cũng cần được ở cạnh anh ấy. Vậy là nồi nước thơm gồm lá sả, lá bưởi, lá chanh, lá cây hương nhu và vỏ quế mà chị Đúng nấu suốt chiều qua không được dùng đến. Nửa giờ sau, công việc được hoàn tất. Anh Đỉnh ôm chiếc túi da chứa đầy cát và những vụn xương còn lại với một vẻ mặt bần thần. Không biết nghĩ thế nào anh lại đặt nó xuống bờ huyệt hấp tấp mở khóa. Anh đưa mắt nhìn tôi có ý dò hỏi rồi thận trọng vốc một nắm cát trong túi thả xuống lòng huyệt. Đoạn, múc một gáo nước thơm, vẩy một nửa vào trong túi, nửa còn lại tưới đều xuống lòng huyệt. “Để anh ấy được ở cả hai nơi. Nơi anh ấy sinh ra và nơi anh ấy nằm lại”. Tôi nhận thấy khuôn mặt anh chủ tịch xã hơi rạng lên còn khuôn mặt chị Đúng thì giàn giụa nước mắt. - Mình làm như vầy thật không phải với chị ấy – Lúc đã ôm gọn cái túi cát – hài cốt ngồi trên xe, nhìn khuôn mặt hốt hoảng, bàn tay tội nghiệp bám níu mãi vào cửa xe của chị Đúng, anh Đỉnh ngậm ngùi bảo tôi – Người ta nói cha sinh không bằng mẹ dưỡng. Nhưng biết làm thế nào. Tôi phải làm trọn phần việc đã hứa với bà cụ. * * * Bốn năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi và nhà văn Trung Trung Đỉnh trở lại Hoài Châu đưa hài cốt của anh Ổn về quê. Bây giờ thì anh Ổn đã nằm xuống bên mảnh đất anh đã sinh ra, lớn lên bên cạnh người mẹ mà ngày nào anh vẫn hằng nhắc đến với chị May, chị Đúng. Cũng có thể anh vẫn còn ở Hoài Châu, nơi anh đã gắn bó, đã biến thành cát, hòa tan vào trong cát. Với những người như anh, cát không còn là cát nữa. Năm trước, điện thoại cho tôi, anh Thì báo tin, phần mộ của liệt sĩ Phạm Trung Ổn ở nghĩa trang Đồi Mười đã được xây lại như trước khi nó được di dời. Hàng năm, vào ngày giỗ ảnh, các thành viên của đội du kích xã vẫn tụ tập ở nhà cô Đúng. Khi sống, ảnh đa đoan quá mà! Tôi còn nhớ, một ai đó đã nói rất hay rằng, thời gian sẽ xóa nhòa đi tất cả, nhưng thời gian cũng lưu giữ lại tất cả. Những gì mà thời gian lưu giữ sẽ trở nên bất tử, nó tồn tại bền vững trong thinh không, trong đất, trong nước, truyền từ đời này qua đời khác làm nên những giá trị thiêng liêng trong đời sống tâm linh của con người. Hoài Châu, Đất ấy, Người ấy sẽ còn lại mãi với thời gian. Hà Nội, năm 2003 N.T.H Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:29:41 pm Đại tá Nguyễn VănTạo Nguyên chiến sĩ Sư đoàn 3 – Sao vàng BÌNH ĐỊNH – TÌNH ĐẤT, TÌNH NGƯỜI Sau 10 năm chiến đấu ở Sư đoàn, đến ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975), tôi theo Sư đoàn ra bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ Quốc, rồi về công tác tại cơ quan Bộ Quốc phòng, thỉnh thoảng có về làm việc ở Bình Định, nhưng chưa có chuyến đi nào gây ấn tượng sâu sắc như chuyến trở về Bình Định, tháng 7 năm 2009 vừa rồi. Để hướng tới kỷ niệm 45 năm thành lập Sư đoàn 3- Sao Vàng, 35 năm giải phóng tỉnh Bình Định; Ban Liên lạc Bạn chiến đấu Sư đoàn khu vực Hà Nội chúng tôi đã chủ trương đề xuất 2 công trình tình nghĩa: Một là, biên soạn Tập 3 cuốn sách “ Ký ức Sư đoàn”. Hai là, nghiên cứu để trình với các tỉnh phía Nam xây dựng một số Bia Tưởng niệm, ghi chiến công của Sư đoàn và quân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Việc biên soạn sách thì chúng tôi đã có kinh nghiệm. Song, việc thứ hai mới khó khăn, phải cân nhắc, bàn bạc kỹ. Vì vậy,Thường trực Ban Liên lạc cử 4 anh em chúng tôi: Lê Anh Sáng, Trưởng Ban; tôi, Phó Ban và các đồng chí Đặng Thanh Hiểu, Khuất Duy Khang trở về Bình Định và các tỉnh phía Nam, nơi Sư Đoàn đã từng chiến đấu, để thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Để bảo đảm cho chuyến đi, Thường trực Ban Liên lạc đã chuẩn bị cả năm trời, nghiên cứu quy trình thực hiện việc xây dựng bia di tích; tổ chức một nhóm cán bộ nghiên cứu lập hồ sơ di tích, bao gồm những đồng chí đã từng chiến đấu nhiều năm ở chiến trường, am hiểu lịch sử Sư đoàn; các đồng chí đã tham gia viết lịch sử, làm phim truyền thống Sư đoàn, làm công tác Bảo tồn - Bảo tàng của Quân đội ...Sau đó tổ chức nhiều hội nghị để kiểm định thông tin, thống nhất nội dung các văn bản và bàn kế hoạch thực hiện. Hồ sơ gồm: Lịch sử chiến công các di tích, tóm tắt nội dung khắc bia, các bản vẽ thiết kế và tờ trình lãnh đạo các tỉnh.Về tài chính, chuẩn bị một số tiền khả dĩ có thể xây dựng một số bia với quy mô khiêm tốn... Với hành trang như vậy là khá chu tất, nhưng chúng tôi vẫn chưa dám chắc thuận lợi, bởi vì: xây dựng bia là phải do địa phương chủ trì, là đụng tới đất đai, kinh phí, v.v... Liệu tỉnh có đồng thuận không? Điều kiện kinh tế địa phương còn bao nhiêu việc phải làm, phải cần đến kinh phí. Và rồi, đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp hiện nay hầu hết là thế hệ trẻ, có chung nhận thức và đồng cảm với những ý tưởng của chúng tôi hay không, vv và vv...Tuy vậy, đã từng sống, chiến đấu ở chiến trường Bình Định suốt thời đánh Mỹ, chúng tôi có đức tin và dự cảm tốt đẹp vào TÌNH ĐẤT – TÌNH NGƯỜI của miền quê ấy. Quả không sai, ngay hôm chúng tôi đến Bình Định, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh đã tổ chức tiếp đón rất chu đáo. Hôm dự Hội nghị với các sở, ban, ngành của tỉnh, các đại biểu đã nhất trí rất cao và cho rằng: Với Sư đoàn Ba, dù có xây dựng bao nhiêu công trình lưu niệm cũng không đủ. Đồng chí Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp còn đề xuất: “Nên xây một Nhà Tưởng niệm tại Bình Định thật đàng hoàng, có khắc tên các liệt sỹ Sư đoàn 3 –Sao Vàng để mọi người đến thăm viếng, kiểu như ở Bến Dược, Thành Phố Hồ Chí Minh”...Qua nhiều ý kiến, chúng tôi phải nói rõ thêm: việc xây dựng Bia là để tưởng nhớ đồng bào, đồng chí, trong đó có chiến sĩ Sư đoàn 3, không phải xây riêng cho Sư đoàn . Hôm làm việc với Ban Quản lý Di tích Tỉnh, Anh Thọ, Trưởng Ban hồ hởi tiếp chúng tôi như người thân từ trước (mặc dù đây là lần đầu tiên gặp mặt). Anh thông báo và đưa cho chúng tôi danh sách 10 Di tích có liên quan trực tiếp đến những chiến công của Sư đoàn . Anh say sưa kể: Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân quan tâm tới việc này lắm. Các bác vào đây là đúng dịp. Mới rồi, Bảo tàng Lịch sử Quân sự cử cán bộ vào khảo sát các địa bàn đánh quân Đại Hàn để xây dựng di tích. Có tài liệu lần này của các bác, chắc chắn lãnh đạo Tỉnh sẽ rất mừng ... Nhận những thông tin ấy, đúng là: “Được lời như cởi tấm lòng”. Mọi băn khoăn, dự đoán không thuận lợi của chúng tôi được giải tỏa. Tôi thấy ân hận với những nghi ngại của mình. Thì ra, Tỉnh đã nghĩ và làm việc này từ hàng chục năm nay. Đúng là một vùng quê cách mạng, một vùng quê ân tình. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:30:03 pm Khi làm việc với lãnh đạo Tỉnh, mặc dù đang lúc triển khai rất nhiều việc, nhưng đồng chí Năm Hà, Ủy viên Trung Ương Đảng, Bí thư Tỉnh Uỷ; đồng chí Hai Thiện, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh đều dành cho đoàn chúng tôi sự tiếp đón ân cần, coi chúng tôi như những người thân ở xa mới về. Các anh tâm sự : Những ngày Sư đoàn 3 đánh Mỹ ở Bình Định, chúng tôi còn rất trẻ. Ấn tượng về các bác là dám đánh Mỹ ở Chợ Cát, Xuân Sơn, Thuận Ninh, Hoài Ân... Dần lớn lên, theo các cô, dì đi làm Cách mạng... Những chiến công của Sư đoàn Sao Vàng trên đất Bình Định không ai là không biết. Anh Năm Hà còn cho hay, chính anh, khi làm Giám đốc Sở Văn Hóa, Thể thao và Du lịch đã trực tiếp chỉ đạo xây Ngôi Mộ tập thể 153 liêt sỹ tại thị trấn Đập Đá để tri ân các chiến sĩ của Sư đoàn và đồng bào đã hy sinh tại thôn Phương Danh Nam trong dịp Mậu Thân 1968. Các anh cho biết, dù đã xây được một số Bia ghi chiến công của Sư đoàn, nhưng chưa thỏa lòng mong muốn của bà con. Hôm nay các bác vào đặt vấn đề như vậy là tiếp sức thêm cho Tỉnh, là hợp với lòng người Bình Định. Các anh đề nghị với chúng tôi: trước khi làm việc này các bác cần đi gặp các “Cụ” Lão thành cách mạng của Tỉnh, nói rõ ý định và xin ý kiến các “Cụ” để tạo sự đồng thuận của các thế hệ lãnh đạo. Với cử chỉ này, chúng tôi thấy rõ những nghĩa cử đầy chất nhân văn của các nhà lãnh đạo Tỉnh. Thống nhất cách làm của các anh, chúng tôi đã gặp và làm việc với bác Nguyễn Trung Tín, nguyên Ủy viên Trung Ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh Uỷ Bình Định, người đã từng “Đóng khố, xâu tai” để “Ở lại với dòng sông” mà không tập kết ra Bắc; người đã từng quyết định cho Trung đoàn 2 của Sư Đoàn những “rãy mỳ (sắn) cách mạng” của Tỉnh trong khi Tỉnh cũng đang rất thiếu lương thực, để cho Trung đoàn có thêm lương thực, huấn luyện bộ đội, chuẩn bị xuống đồng bằng “Diệt kẹp, giành dân” năm 1969; người đã từng làm Chính ủy Mặt trận Bình Định, cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn lãnh đạo quân và dân Tỉnh nhà lập nên chiến công vang dội Xuân Hè 1972 ở Bắc Bình Định...Năm nay Bác đã 86 tuổi, chân đi không vững, người nhà phải dìu Bác. Khi biết chúng tôi là cựu chiến binh Sư đoàn 3-Sao Vàng. Bác vội vươn ra bắt tay chào đón, nhưng do sức yếu, Bác loạng choạng, tôi vội bước tới đỡ. Sức yếu nhưng trí tuệ Bác vẫn minh mẫn. Bác nghe chúng tôi báo cáo toàn bộ công việc một cách chăm chú. Nghe xong, Bác im lặng một lúc như suy ngẫm điều gì, rồì bỗng nhiên Bác nói to: “Phải làm như vậy, làm như vậy là rất tốt. Không thể lãng quên những người đã ngã xuống cho vùng đất này!” Rồi như một người trong cuộc, Bác điểm lại hầu hết các trận đánh lớn nhỏ của Sư đoàn từ Bắc đến Nam tỉnh Bình Định trong kháng chiến chống Mỹ. Cuối cùng, Bác nhờ qua chúng tôi nói lại với Tỉnh là Bác hoàn toàn nhất trí đặt bia “Chiến thắng Bắc Bình Định” ở Đệ Đức, bia “Chiến thắng Đường 19” ở ngả 3 Vườn Xoài. Phải chọn nơi đẹp nhất, trang trọng nhất, thuận tiện cho nhiều người qua lại viếng thăm mới có ý nghĩa giáo dục sâu rộng, lâu dài...Trước lúc chia tay, Bác tặng chúng tôi 2 tập Hồi ký của mình. Chúng tôi tiếp tục đến thăm và xin ý kiến bác Đinh Bá Lộc, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội; bác Phạm Chí Công (tức Diên An), nguyên Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định. Các bác đều ngoài 80 tuổi nhưng còn khỏe mạnh và nhiệt thành. Là những người đã gắn bó với Sư đoàn nhiều năm trong kháng chiến chống Mỹ, sát cánh với Sư đoàn trong nhiều chiến dịch. Các bác không những nhất trí với những đề xuất của chúng tôi lập 2 Bia, mà còn nhắc cho chúng tôi những chiến công khác của Sư đoàn trên chiến trường Bình Định. Với giọng sôi nổi, bác Đinh Bá Lộc say sưa kể về những kỷ niệm của mình với Trung đoàn 12 ở Khu Đông, Xuân Mậu Thân( 1968). Nhắc tên từng đồng chí cán bộ Trung đoàn, từ anh Lê Hoài Thanh, Nguyễn Văn Vợi đến anh Nguyễn văn Hồng, anh Khang... với lòng kính phục. Bác đề nghị Sư đoàn nên bàn với Tỉnh dựng một bia chiến tích ở Núi Bà để vinh danh những chiến sĩ Sư đoàn và đồng bào đã ngã xuống ở nơi đây. Bác Diên An thì kể về những kỷ niệm với Trung đoàn 22 (Sư đoàn 3-Sao Vàng) trong những ngày đầu đánh Mỹ ở Chợ Cát, Bồng Sơn (lúc đó Bác làm Huyện Đội Trưởng huyện Hoài Nhơn), cũng nhắc tới những cán bộ của Trung đoàn thời đó, từ anh Hồ Sĩ Lộc, Nguyễn Duy Thương đến anh Luyện, anh Quang Tuyển, anh Trần Chinh... Cuối cùng, Bác đề nghị chúng tôi báo cáo với Tỉnh dựng một tượng đài tại Chợ Cát để ghi nhớ chiến công oanh liệt của quân dân ta. Bác nói rằng, lúc bấy giờ (năm 1966), báo chí Mỹ, Nhật liên tục viết bài, đăng ảnh xác lính Mỹ chất đầy giao thông hào ở Chợ Cát, ảnh lính Mỹ dìu nhau chạy khỏi Bồng Sơn, làm chấn động Lầu Năm Góc. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:30:28 pm Ở tuổi 84 mà bác nhớ được như vậy, hẳn là phải có một tình yêu sâu sắc với Sư đoàn, một sự nhớ tiếc khôn nguôi đối với những hy sinh của bộ đội. Gặp được các “Cụ” Lão thành cách mạng với những phẩm cách ngời sáng như vậy, mỗi chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động . Những ngày tiếp theo, chúng tôi đến thực địa để xác định vị trí đặt bia. Cùng đi có đại diện các ban, ngành chức năng từ tỉnh, huyện như: Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch, Quản lý Di tích, Ban Chỉ huy Quân sự , Ban Liên lạc CCB Sư đoàn 3-Sao Vàng ở tỉnh Bình Định và chính quyền địa phương. Tại Đệ Đức, nơi đặt Bia và khuôn viên có liên quan đến địa phận Giáo xứ Nhà thờ Giốc. Các đồng chí địa phương cho biết, trước đây, có công ty đã xin xây dựng khu kinh tế, bà con giáo dân không đồng ý, nhưng nếu xây dựng công trình văn hóa-xã hội, nhất là dựng Bia tưởng niệm Liệt sỹ Sư đoàn 3-Sao Vàng thì chắc rằng đồng bào sẽ ủng hộ.Tuy vậy,chúng tôi cũng tìm một vị trí dự bị ở bên cạnh Nghĩa trang Liệt sỹ xã Hoài Tân. Trên Đường 19, đồng chí Chủ tịch xã Tây Thuận nói: Bộ đội muốn đặt bia ở đâu cũng được, lấy bao nhiêu đất cũng đồng ý... Tại đây, vị trí đặt bia thoáng, rộng, có thể nhìn được từ xa, đón khách từ Quy Nhơn lên, khách từ Kon Tum, Gia Lai xuống và từ Khu công nghiệp, thủy điện Vĩnh Sơn ra. Từ Ngả 3 Vườn Xoài, chúng tôi ngược đỉnh đèo Thượng Giang lên điểm cao 638 – chốt Cây Rui năm xưa. Ở đây, Chiến dịch Xuân 1972, Trung đoàn 12 đã trụ bám kiên cường suốt 18 ngày đêm, chịu biết bao bom đạn và sự tàn bạo của của Sư đoàn “Mãnh Hổ” Nam Triều Tiên. Nơi mà Tiểu đoàn 6 đã mất gần 2 đại đội, Tiểu đoàn 5 cũng mất gần một nửa quân số, nhưng vẫn “ Đứng vững như bàn thạch” (điện khen của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp). Giờ đây dấu tích của chiến tranh không còn. Chốt Cây Rui năm nào đã được phủ trên mình một màu xanh bạt ngàn của rừng thông, bạch đàn... Nhưng chúng tôi biết rằng, lẫn dưới lớp đất, đá ấy vẫn còn biết bao máu xương của đồng đội... Lá thông đón gió tấu lên bản nhạc lúc bổng, lúc trầm như đang vỗ về, an ủi hàng ngàn linh hồn liệt sĩ đã ngã xuống để cắt giao thông trên con đường huyết mạch này. Giữa trưa hè nóng bỏng của miền Trung, thấy chúng tôi cứ đi thoăn thoắt, trung tá Cao Thành Đức, cán bộ Chính sách được Bộ Chỉ Huy Quân sự Tỉnh cử đi đã phải thốt lên: - Cháu chịu thua các bác, các chú thôi! Trải qua bao năm kháng chiến gian khổ, đã trên dưới 70 tuổi cả rồi mà các bác leo núi cứ băng băng! Đồng chí Hiểu, thành viên của Đoàn nói vui : - Bọn mình đi có hơn 2 vạn “Âm Binh” của Sư đoàn phù trợ nên các anh không theo kịp là phải thôi! Có lẽ rằng, biết chúng tôi là đồng đội, đi làm việc NGHĨA, nên đã được “Âm phù - Dương trợ”, vì thế luôn mạnh khoẻ và may mắn! Nhiệm vụ cơ bản của chuyến đi đã hoàn thành, chúng tôi trở về Quy Nhơn, cùng các cơ quan chức năng làm Tờ Trình lên lãnh đạo Tỉnh. Một lần nữa, anh Năm Hà, anh Hai Thiện đánh giá cao sự nỗ lực của chúng tôi. Trong câu chuyện tâm tình, anh Năm nói: Tôi ít thấy Ban Liên lạc nào lại làm được những việc chu đáo như các bác, rồi Anh khẳng định: Tỉnh Bình Định sẽ đầu tư xây dựng Nhà Bia đàng hoàng . Anh Sáng, trưởng đoàn của chúng tôi tiếp lời: Việc đề xuất xây Bia tưởng niệm là tâm nguyện của cựu chiến binh Sư đoàn trong cả nước, nay các đồng chí đã cho ý kiến như vậy, chúng tôi rất tâm đắc và xin đề nghị: Tỉnh xây Bia quy mô thế nào là do các đồng chí quyết định, nhưng cựu chiến binh của Sư đoàn xin tham gia đóng góp một phần kinh phí theo khả năng và thiện tâm của mình; coi đó là nén nhang thơm gửi tới hương hồn đồng chí, đồng đội, đồng bào mình. Vậy là công việc chính trong chuyến đi chúng tôi đã hoàn thành. Ủy ban nhân dân Tỉnh đã có công văn giao cho Sở Văn Hóa,Thể Thao và Du Lịch phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự Tinh, Ban chấp hành Cựu Chiến Binh Tỉnh nghiên cứu báo cáo cụ thể. Mới đây, ngày 05 tháng 01 năm 2010, Ủy ban Nhân dân Tỉnh đã ra Quyết định đầu tư XÂY DỰNG NHÀ BIA ở Đệ Đức và ngã 3 Vườn Xoài, Đường 19 như đề xuất của Ban Liên lạc Sư đoàn 3- Sao Vàng. Thời gian hoàn thành có thể vào dịp ngày 2-9-2010. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:31:03 pm Việc chọn ngày 2 tháng 9 năm 2010 (kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Sư Đoàn 3- Sao Vàng ) để khánh thành Nhà Bia, một lần nữa nói lên Tình đất, Tình người Bình Định đối với Sư đoàn là vô cùng cao quý. Càng cao quý hơn, bởi tháng 11 năm 2009 vừa rồi, tỉnh Bình Định đã phải chịu những thiệt hại nặng nề do lũ lụt gây ra. Tôi thầm nghĩ: Đảng bộ và nhân dân Bình Định không chỉ xứng đáng ngàn lần Anh Hùng trong kháng chiến, mà còn xứng đáng ngàn lần trong “Đền ơn, đáp nghĩa”, trong sự vươn lên để xây dựng quê hương, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn đổi mới toàn diện, phát triển bền vững... Và, thật là khiếm khuyết, nếu như trong bài viết nhỏ này không nói đến những tình cảm mà đồng đội và đồng bào đã dành cho Đoàn chúng tôi. Không|! Không phải cho riêng Đoàn chúng tôi, mà là cho Sư đoàn 3-Sao Vàng. Sâu xa hơn nữa là dành cho tất cả những hy sinh, mất mát của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã dâng hiến trên mảnh đất này. Biết tin đoàn Cựu Chiến binh Sư đoàn 3-Sao Vàng về Bình Định, Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh đã đón tiếp chu đáo và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho chúng tôi. Ngay từ tối đầu tiên, anh chị em Cựu Chiến binh Sư đoàn từ khu vực Thành phố Quy Nhơn đến tận xã Hoài Châu, Hoài nhơn, nơi địa đầu của Tỉnh lần lượt kéo về Nhà khách. Mấy chục năm mới gặp lại, các anh, các chị trước đây nay đã lên ông, lên bà, đầu đã 2 thứ tóc, nhưng tình bạn chiến đấu vẫn vẹn nguyên. Biết bao chuyện cũ, chuyện mới; chuyện về đồng đội, đồng bào, ai còn, ai mất cứ triền miên không dứt. Nhiều anh chị đã cùng chúng tôi nghỉ lại Nhà khách cho đến tận hôm sau... Tuy thời gian hạn chế, nhưng chúng tôi vẫn thu xếp để viếng đồng đội ở một số nghĩa trang và thăm đồng chí, đồng bào. Chúng tôi đã đến 5 huyện, thăm các đồng chí lãnh đạo 5 xã, thắp hương ở 11 nghĩa trang, thăm 10 di tích lịch sử đã xếp hạng có gắn với những chiến công của Sư đoàn; thăm hỏi gia đình các đồng chí cán bộ của Sư đoàn đã từ trần những năm qua... Hôm về thăm xã Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn. Các đồng chí lãnh đạo đã cùng anh chị em Cựu chiến binh Sư đoàn từ các thôn xóm kéo đến gần bốn mươi người. Anh Thái, Chủ tịch UBND xã, nguyên là chiến sĩ Vệ binh Sư đoàn, vẫn giữ nguyên chất lính Sư Ba –xông xáo, năng nỗ. Anh coi chúng tôi như ruột thịt ... Anh và mấy chục anh chị em khác đã cùng chúng tôi về thăm Hoài Ân, lên tận khu rừng Bà Bơi, xã Bokh - nơi thành lập Sư đoàn 45 năm trước, một di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp tỉnh. Có đồng chí xúc động tự trách mình: “ Mang tiếng là dân Bình Định, mang danh lính Sư đoàn mà gần 45 năm nay mới về thăm nơi khai sinh ra Sư đoàn”. Cả đoàn chụp rất nhiều ảnh kỷ niệm tại mảnh đất thiêng liêng ấy, vì có lẽ rất khó khăn để có sự sum họp đặc biệt như thế này. Khi vào thăm xã Bokh-Tới, tuy không được báo trước, nhưng đồng chí Đinh Xuân Á, Bí thư, đồng chí Đinh Bá Danh, Phó Chủ tịch xã cùng các đồng chí trong UBND đã tiếp chúng tôi ân cần, niềm nở. Đoàn chúng tôi trở lại thành phố Quy Nhơn. Ở đây, anh chị em cựu chiến binh Sư đoàn do anh Thanh làm Trưởng ban, anh Luận Phó ban đã triệu được gần sáu chục anh chị ở khu vực Thành phố về Nhà khách, gặp nhau tay bắt mặt mừng. Các “bà”,các “ông” ríu rít chuyện trò, ôn lại những kỷ niệm của những năm tháng cùng chiến đấu , hỏi về đồng chí, đồng bào, người mất, người còn ... Ôn lại kỷ niệm cũ, nhiều “bà” rơi nước mắt, các cháu đi cùng hỏi “Sao Nội khóc”, mà “bà” nghẹn ngào chẳng nói lên lời. Những con trẻ ngây thơ ấy làm sao hiểu nổi cái nghĩa tình sâu nặng của những ngưòi lính đã từng trải qua những năm tháng gian khổ, ác liệt đến mức muốn khóc không khóc được, muốn cười cũng không cười được ấy! Tuy vậy, tình cảm của chúng tôi đã mau chóng lan truyền đến các cháu. Các cháu cứ nằng nặc đòi ngủ lại Nhà khách với mấy “Ngoại Hà Nội”, nhất quyết không về với các “Nội” . Hôm đi khảo sát đặt bia ở Đệ Đức, qua thị trấn Bồng Sơn, anh Sáng, trưởng đoàn bảo “ Tạm dừng tại đây để uống bữa nước dừa !”. Cả đoàn vào quán giải khát ven đường. Một bà má đã móm mém nhưng còn nhanh nhẹn niềm nở chào mời. Khi biết chúng tôi là Lính Sư 3 ngày xưa, Má bảo: “ Sư 3 - Sao Vàng hả? Uống đi, uống cho đã, tau không lấy tiền tụi bây đâu. Ngày xưa, lính Sao Vàng đêm nào chả có đứa vô ra nhà tau. Nào Quyết Tâm, Quyết Chiến, Quyết Thắng ( tên mật của Trung đoàn 22, Trung đoàn 2 và 12) lui tới hoài. Thế mà, từ ngày giải phóng, mấy chục năm nay không thấy đứa nào qua lại. Không biết đứa nào còn, đứa nào mất!”. Má nói một thôi, một hồi đủ thứ chuyện, từ Sư đoàn đánh Mỹ, diệt bọn ác ôn... Ca ngợi có, trách mắng có, một sự trách mắng do thương cảm, nhớ nhung!... Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:31:29 pm Về lại Quy Nhơn. Đồng chí Khuất Duy Khang, khi đi viếng các nghĩa trang và các bia di tích đã chụp hàng mấy trăm bức ảnh. Lúc vào làm ảnh, thấy toàn bia mộ, bia tưởng niệm, anh chủ hiệu ảnh Vĩnh Yên biết chúng tôi là lính Sư Ba về lại chiến trường làm việc tình nghĩa, anh chị nhất định không nhận tiền thanh toán. “ Mấy trăm bức ảnh bõ bèn gì so với hy sinh của mấy chú, mấy bác”. Tối hôm đó, anh chị còn vào tận nhà khách mời chúng tôi ra ăn bữa cơm với gia đình. Chúng tôi không thể đi được vì công việc đang gấp, nhưng tấm lòng của họ thì chẳng bao giờ quên. Một kỷ niệm mà chúng tôi rất thấm thía là ở Nhà khách Tỉnh đội. Các cháu phục vụ trực chăm lo ăn nghỉ cho Đoàn rất chu đáo. Bữa ăn nào cũng đủ món, trên rừng, dưới biển chả thiếu thứ gì. Chúng tôi đã bảo các cháu hãy bớt cá thịt và cho thêm rau. Một cháu vui vẻ giãi bày: “ Các bác lãnh đạo đã căn dặn chúng cháu: Các bác, các chú là bộ đội Sư đoàn 3- Sao Vàng, là những người đã chiến đấu suốt 10 năm đánh Mỹ ở Bình Định. Có món gì ngon nhất cho các bác ăn, chỗ nào đẹp nhất để các bác ở, xe nào tốt nhất đưa các bác đi. Chúng cháu sinh ra trong hòa bình, rất biết ơn các bác, phải phục vụ các bác chu đáo nhất!”. Tôi thầm nghĩ: Đúng là, sự giáo dục của lãnh đạo Tỉnh đối với thế hệ trẻ thật đáng trân trọng. Dù rất ít thời gian nhưng chúng tôi vẫn cố xếp sắp để đi thăm một số công trình phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh: Cầu cảng Thị Nại, Cụm Công nghiệp An Nhơn, cầu Nhơn Hội, chiếc cầu vượt biển dài nhất Việt Nam bắc qua đầm Thị Nại, nối Thành phố Quy Nhơn với Khu kinh tế mở Nhơn Hội...Tìm hiểu sâu, chúng tôi càng thấy sự phát triển trên con đường công ngiệp hoá, hiện đại hoá của quê hương Bình Định là rất đúng hướng, xứng tầm. Và, vừa qua, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2009, do VCCI xếp hạng, tỉnh Bình Định xếp thứ 7 trong cả nước. Mới đây, tại Hội nghị xúc tiến đầu tư vào Bình Định, đã có 22 dự án đăng ký với số vốn lên đến 7,36 tỷ USD... Được chứng kiến những thực tế ấy, một lần nữa, chúng tôi muốn nhắc lại rằng: Tỉnh Bình Định đã Anh hùng trong chiến tranh giải phóng, giờ đây và tương lai, với phẩm cách ngời sáng của các thế hệ lãnh đạo, cùng với thế và lực của nhân dân Bình Định, chắc chắn rằng sẽ tạo được nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới. Đêm cuối, trước khi rời Bình Định, chúng tôi cùng anh chị em Cựu chiến binh Sư đoàn ở Quy Nhơn ra bãi biển, bên cạnh Đại lộ An Dương Vương để hàn huyên. Nơi đây, 34 năm trước đã diễn ra cảnh thảm bại của sư đoàn 22 ngụy Sài Gòn. Cả một bãi biển dài mấy cây số ngồn ngang súng ống, xe, pháo, quân trang, quân dụng ...của đủ các sắc lính quân đội “Việt Nam Cộng Hòa” trên đường tháo chạy ... Tất cả đều đã lùi vào dĩ vãng, đã được rửa sạch để giờ đây khoác trên mình những công trình kinh tế- xã hội, những công viên, bãi tắm ...phục vụ nhân dân, xây dựng đất nước. Trong không khí thanh bình, đầm ấm với đồng đội, tôi lại nao nao nhớ tới đồng chí, đồng bào đã ngã xuống trong nhữmg trận thắng Mỹ năm nào. Thấm thía cái nghĩa tình sâu nặng của nhân dân Bình Định với Sư đoàn. Trong chiến đấu thì nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che, chia ngọt xẻ bùi, nhường cơm sẻ áo, vắt cạn cả bầu sữa của mình để nuôi giấu thuơng binh ...Khi đất nước thanh bình, biết bao việc phải làm, phải xây dựng quê hương đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề...Vậy mà, nhân dân Bình Định vẫn dành cho Sư đoàn những nghĩa cử cao đẹp, những việc làm tri ân thiết thực này. Chúng tôi kể cho nhau nghe về những quan tâm chu đáo, đầy ân tình của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh, của các đồng chí trong Bộ Chỉ huy quân sự Tỉnh, từ đồng chí Chỉ huy trưởng, đồng chí Chính uỷ đến các cơ quan, nhất là cơ quan Chính trị đã tạo mọi điều kiện để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ; kể về sự nhiệt tình, năng nỗ của Ban Quản lý Di tích Tỉnh; tình cảm mặn nồng của Bạn chiến đấu Sư đoàn 3-Sao Vàng ở Bình Định. Nói về những người dân bình dị mà đằm thắm như bà má bán dừa, cháu công vụ, vợ chồng anh thợ ảnh vv...mà thấy sung sướng, tự hào. Trời về khuya, se lạnh, mà vẫn thấy ấm lòng. Tôi không khóc mà nước mắt cứ ứa trào. Những giọt nước mắt ghi nhận TÌNH ĐẤT – TÌNH NGƯỜI của quê hương Bình Định trí tuệ và bản lĩnh, mãi mãi son sắt- thuỷ chung. Cho đến lúc này, viết lại những kỷ niệm dù rất ngắn ngủi như thoảng qua trong mấy ngày trở về Bình Định, tôi càng thấm thía hơn nghĩa tình ở cái xứ sở Miền Trung không giàu có nhưng thật oanh liệt, kiên cường nhưng thấm đậm tình người ấy ./. Hà Nội, Xuân Canh Dần, 2010. N.V.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:33:11 pm Đại Tá Nguyễn Văn Tích Nguyên Trưởng ban Biên soạn Lịch sử Sư đoàn 3 – Sao Vàng NGUYỄN NHƯ SO - ANH HÙNG LAO ĐỘNG THỜI ĐỔI MỚI Biết tin anh được tặng danh hiệu “Anh Hùng Lao Động thời đổi mới”, tất cả chúng tôi trong Ban Liên lạc Cựu chiến binh Sư đoàn 3 – Sao Vàng khu vực Hà Nội rất mừng. Mừng vì anh là đồng đội một thời máu lửa ở chiến trường miền Nam, ở biên giới phía Bắc, cùng kề vai sát cánh chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Mừng vì trong số hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn chuyển ngành, nhiều người thành đạt nhưng được tặng danh hiệu “ Anh Hùng” thì anh là người đầu tiên. Có một đồng đội như vậy, làm sao không thể tự hào, mừng vui. Cách đây bốn, năm năm, tôi đã có ý định viết một bài về anh cho quyển “ Ký ức Sư đoàn” tập 2, nhưng anh chối từ. Lần này cũng vậy, anh vẫn chối từ việc kể thành tích của mình. Anh chân tình nói: kể về Công ty thì thoải mái, còn kể về mình, em rất ngại. Trong Công ty này rất nhiều người có công, hơn nữa thành tích Công ty có được là do tập thể, cán bộ, công nhân viên làm nên. Em chỉ góp một phần trong đó. Tôi phải nói với anh rằng, viết bài là để khích lệ mọi người cùng vươn lên làm giàu cho đất nước, khích lệ Cựu chiến binh Sư Đoàn phấn đấu noi theo, và cũng để tri ân Sư đoàn vì mình đã tiếp tục làm rạng danh cho đơn vị. Cuối cùng, nể tôi, anh bảo: “Vậy thì em có bản thành tích đề nghị xét tặng danh hiệu Anh Hùng còn lưu giữ đây, anh xem, viết được thế nào có ích cho cộng đồng thì anh viết, miễn sao, đừng để người đọc cho rằng em khoe về mình thì đó là anh hại em”. Tôi đành viết bài này dựa trên bản thành tích ấy và dựa vào những kí ức của tôi đối với anh. ...So kém tôi 15 tuổi (anh sinh năm 1957), nhập ngũ sau tôi 10 năm (anh vào bộ đội năm 1974). Ngày cùng ở với nhau trong Sư đoàn, So tự coi mình là lớp đàn em. Tôi ở cơ quan Chính trị Sư đoàn. So ở tiểu đoàn thông tin, làm nhiệm vụ quân bưu. Trong Binh chủng Thông tin, bộ phận quân bưu là vất vả và ác liệt nhất. Chọn những đồng chí khỏe, năng nỗ, nhanh nhậy ứng biến, và thật trung thành, dũng cảm. Bởi vì các công văn, mệnh lệnh tối mật thường không chuyển bằng vô tuyến hoặc điện thoại, dễ bị lộ. Chỉ chuyển bằng đường quân bưu thì mới bảo đảm. Thông tin chuyển đạt (Quân bưu) phải dùng sức lực, trí tuệ và lòng dũng cảm của mình để vượt qua mọi địa hình, có khi vượt qua phòng tuyến địch, thậm chí qua vùng địch kiểm soát để mang lệnh của người chỉ huy. Nhiều trường hợp phải đánh địch để mở đường và không loại trừ có thể bị địch bắt, hy sinh ... Từ đặc thù ấy đặt ra yêu cầu tuyển chọn chiến sĩ quân bưu phải có lòng trung thành là bởi vậy. Hình ảnh Nguyễn Như So đọng lại trong tôi những năm tháng anh làm chiến sĩ rồi làm trung đội trưởng trung đội Quân Bưu là một thanh niên đen giòn, tóc cắt ngắn, quần luôn xắn quá gối, một vai khoác khẩu súng AK, một vai đeo túi đựng công văn, lúc nào cũng nhanh nhẹn, xốc vác, hành động táo bạo, quyết đoán. Những năm bảo vệ biên giới Tổ Quốc, anh là một lái xe ba bánh cừ khôi. Đội hình đóng quân của Sư đoàn từ Bắc đến Nam tỉnh Lạng Sơn, vì vậy anh phải dùng xe rong ruổi khắp tỉnh để chuyển công văn, mệnh lệnh đến các đơn vị. Do năng động, tháo vát, cơ quan hậu cần phát hiện tố chất làm kinh tế của So nên đã đề nghị Sư đoàn chuyển anh sang làm công tác hậu cần. Tiếp đó, Quân đoàn 14 lại điều anh về Phòng Kinh tế cho đến khi anh chuyển ngành với quân hàm đại úy. Từ đây (tháng 10-1988), cuộc đời anh bước sang một trang mới: một doanh nhân quản lý một doanh nghiệp mà sự khởi đầu là kế thừa một công ty đang làm ăn thua lỗ, đứng bên bờ vực phá sản. Cơ sở hạ tầng chẳng có gì ngoài mấy gian nhà kho cấp 4 đã xuống cấp. Đó là công ty Dâu-Tằm-Tơ tỉnh Hà Bắc(cũ). Toàn công ty chỉ có 30 cán bộ, công nhân viên sản xuất tơ tằm mang tính thời vụ, doanh thu 40 triệu đồng/năm. Đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn. Chính sách với Nhà nước không thực hiện được... Trước tình hình đó, tháng 3-1996, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc chuyển đổi Công ty Dâu-Tằm-Tơ thành Công ty Nông sản và bổ nhiệm Nguyễn Như So làm Giám đốc. Bài toán đặt trước mắt anh lúc này là vốn. Các ngân hàng mất lòng tin với cái dớp của Công ty Dâu-Tằm-Tơ và chưa biết anh là người như thế nào, làm ăn có hiệu quả không nên không dám cho vay vốn. Nguồn lực lao động chủ yếu vẫn là lao động phổ thông, trình độ kĩ thuật không có bao nhiêu . Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:33:43 pm Vừa làm Giám đốc, vừa làm Bí thư chi bộ, anh quyết định vấn đề đầu tiên là phải củng cố tổ chức, sắp xếp lại bộ máy làm việc, lặn lội tìm hiểu thị trường để định hướng sản xuất, kinh doanh. Một quyết định táo bạo có tính đột phá là chuyển ngành nghề kinh doanh sang sản xuất thức ăn chăn nuôi và nuôi gà giống công nghiệp. Phương án, mô hình sản xuất của anh được Tỉnh chấp nhận và ủng hộ về chủ trương. Còn vốn xây dựng chủ yếu do công ty xoay xở. Anh đã vận động cán bộ, nhân viên góp vốn, bản thân anh mang sổ đỏ gia đình ra thế chấp để vay tiền xây dựng nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi và xí nghiệp gà giống Lạc Vệ. Thời gian này, thức ăn chăn nuôi công nghiệp và sản xuất con giống công nghệ cao là ngành còn mới mẻ ở nước ta, chủ yếu là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thực hiện. Vốn bản lĩnh táo bạo và quyết đoán, anh thường nghĩ: Tại sao trên đất nước mình, người nước ngoài làm được mà ta lại không làm được. Họ lấy công sức, tiền của đồng bào mình ngay trước mặt mình mà mình lại ngồi im hay sao. Một số người nói xa nói gần rằng không thể cạnh tranh được với công ty nước ngoài. Anh bực mình nói ào mà rất thực rằng: Ngày xưa quân Mĩ giàu mạnh như vậy ta còn có cách đánh thắng, bây giờ ta làm chủ đất nước, ắt phải có cách để cạnh tranh, để làm giàu. Họ có nhiều tiền thì ta có nhiều dân, dựa vào dân, đi vào nông dân mà tìm đầu ra. Có đầu ra là có vốn. Có vốn ta sẽ có nguồn lực . Chính sách Nhà nước đã mở cửa, ta đi ra nước ngoài để tìm cách đưa công nghệ mới về... Anh suy nghĩ như vậy và anh đã làm như thế. Công việc đầu tiên là đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn để làm chủ công nghệ sản xuất với thiết bị hiện đại, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Coi đây là sự thành bại của công cuộc cạnh tranh, thành bại của Công ty. Việc thứ 2 là xúc tiến xây dựng nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, công suất ban đầu là 10.000 tấn/năm, tổng vốn đầu tư là 11,5 tỷ đồng đi vào sản xuất thử; xây dựng xí nghiệp gà giống công nghiệp Lạc Vệ, vốn đầu tư 4,7 tỷ đồng (khởi công tháng 4-1997, đưa vào sử dụng tháng 5-1998). Gà được nuôi trong nhà kín, có hệ thống làm mát, gà ở trên sàn, hệ thống máng ăn uống và ấp nở tự động. Cử cán bộ đi xuống các huyện, xã kí hợp đồng mua nguyên vật liệu và quảng bá sản phẩm, hợp đồng cung cấp giống gà và thức ăn công nghiệp. Nhờ chỉ đạo sản xuất tốt nên sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty được người tiêu dung đánh giá cao, thị trường ngày càng mở rộng. Nhà máy chạy hết công suất vẫn không đáp ứng nhu cầu thị trường. Năm 2001, anh mạnh dạn đầu tư vốn, động viên cán bộ khoa học kĩ thuật cải tiến nhà máy 10.000 tấn/năm, nâng công suất thiết kế lên 25.000 tấn/năm. Thấy nhu cầu thị trường vẫn lớn, anh trực tiếp qua Đài Loan nghiên cứu công nghệ mới, kí hợp đồng xây dựng nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi cao cấp (TOPFEEDS) có công suất 250.000 tấn/năm. Vốn đầu tư 61,7 tỷ đồng (khánh thành tháng 9-2002). Đây là một trong những nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi có công nghệ tiên tiến nhất nước ta hiện nay. Hàng tháng cung cấp ra thị trường 20.000 tấn thức ăn chăn nuôi các loại đủ tiêu chuẩn dinh dưỡng. Để đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng sản xuất nhiều lĩnh vực khác nhau, năm 2006, anh đề xuất đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn thủy sản Kinh Bắc, công suất 25.000 tấn/năm, góp phần thay đổi cơ cấu nuôi trồng thủy sản trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Về con giống, qua nghiên cứu thị trường, anh quyết định đầu tư xây dựng xí nghiệp lợn giống nạc với 200 nái ông bà và 600 nái bố mẹ. Vốn đầu tư 25,7 tỷ đồng. Hàng năm cung cấp cho thị trường 2.000 lợn giống bố mẹ, 12.000 đến 15.000 lợn giống thương phẩm, hàng trăm ngàn liều tinh giống lợn, góp phần nạc hóa đàn lợn trong tỉnh, trong nước. Không dừng lại kết quả trên, anh tiếp tục nghiên cứu thị trường Tây Âu và đề xuất xây dựng xí nghiệp ngan giống Pháp với qui mô 6.000 mái sinh sản. Vốn đầu tư 25 tỷ đồng. Năm 2007, để đáp ứng nhu cầu thị trường, anh đề xuất xây dựng nhà máy thức ăn chăn nuôi cao cấp DABACO II, công suất 300.000 tấn/năm tại khu công nghiệp Bắc Ninh. Vốn đầu tư 60,5 tỷ đồng (năm 2008 đi vào hoạt động). Mở rộng địa bàn kinh doanh, từ năm 2008, anh góp vốn xây dựng một nhà máy thức ăn thủy sản tại tỉnh Đồng Tháp, công suất 20 tấn/giờ và một nhà máy thức ăn thủy sản ở tỉnh Tiền Giang, công suất 10 tấn/giờ. Tháng 6-2008 cả hai nhà máy bắt đầu hoạt động. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:34:10 pm Là một cán bộ Quân đội được tôi rèn bản lĩnh quyết đoán, táo bạo, nhưng trong môi trường mới, trong nền kinh tế thị trường đã hình thành trong anh tính cẩn trọng với một tư duy khoa học. Trong đó, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt giúp anh đứng vững trong sản xuất, kinh doanh là Chất Lượng Sản Phẩm. Ngày xưa, trong thời bao cấp chúng ta có khẩu hiệu: “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”, bây giờ phải đổi lại “tốt, rẻ, nhanh, nhiều”. Bởi vậy, điều được anh quan tâm là phải xây dựng hệ thống quản lí chất lượng ISO-9001-2000 và đã được Tổng cục Đo lường cấp Chứng chỉ. Nhờ hệ thống quản lí đó mà mọi sản phẩm do xí nghiệp tạo ra giữ được niềm tin của khách hàng. Đặc biệt trong nạn dịch cúm gia cầm, thủy cầm lan tràn trong nước, toàn bộ giống gia cầm, thủy cầm của công ty anh không bị ảnh hưởng. Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với tiến bộ khoa học kĩ thuật và phương thức sản xuất. Nắm chắc điều đó, từ năm 1996, thực hiện chỉ đạo của Trung ương, anh triển khai thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và phát triển công nghệ gia công với phương thức phối, kết hợp bốn nhà: - Nhà sản xuất. - Nhà khoa học. - Nhà quản lí. - Nhà chăn nuôi. Đồng thời, khai thác triệt để tiềm năng kinh tế trong dân, không chỉ nhân dân trong tỉnh mà phát triển rộng ra các tỉnh Vỉnh Phúc, Hải Phòng, Hà Tây (cũ), Hòa Bình... trên cơ sở: - Người chăn nuôi xây dưng chuồng trại theo hướng dẩn của cán bộ kĩ thuật công ty. - Công ty đầu tư con giống, thuốc thú y, hướng dẫn qui trình kĩ thuật chăn nuôi. - Sau chu kì sản xuất, công ty thu lại sản phẩm và trả công lao động theo hợp đồng đã thỏa thuận. Đây là một phương pháp ưu việt, vừa khai thác cơ sở vật chất sẵn có trong dân vừa giúp cho dân tiếp cận, áp dụng tiến bộ khoa hoc kĩ thuật, nâng cao năng xuất lao động, tính rủi ro thấp. Ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật là chìa khóa để nâng chất lượng sản phẩm. Hiểu rõ điều đó, anh đã cùng đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật của công ty nghiên cứu áp dụng thành công các thành tựu lai tạo giống gà của Trung Quốc, ngan (của Pháp), lợn (của Canada, Đan Mạch). Đồng thời cho hàng trăm lượt cán bộ đi thăm quan nghiên cứu ở nước ngoài như: Pháp, Mĩ, Canada, Đan Mạch, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan. Trong sản phẩm thức ăn chăn nuôi, anh chỉ đạo giảm dần nguyên liệu nhập ngoại, khai thác và sử dụng triệt để nguyên liệu trong nước để nắm quyền chủ động trước mọi biến động giá cả thị trường thế giới. Bản thân anh, với tư cách là Giám đốc, là Bí thư Đảng ủy, anh đã làm gương trong học tập. Khi rời quân ngũ anh chỉ có trình độ văn hóa lớp 10 phổ thông (hệ 10 năm), những năm qua vừa tự học trong cuộc sống vừa theo học các trường đào tạo cơ bản như: Đại hoc Kinh tế quốc dân (khoa quản trị kinh doanh), Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (chương trình đào tạo lý luận cao cấp). Và từ tháng 3- 2006 đến tháng 12-2007, anh học xong chương trình Cao học Quản trị kinh doanh Quốc tế thuộc trường Đại học Quốc gia Hà Nội và IRVINE (Mỹ). Đúng là một nghị lực học tập hiếm có đối với một nhà doanh nghiệp ở tầm tuổi anh. Sản xuất kinh doanh phát triển, tạm lấy một vài con số năm 2007 so với 1997: - Doanh thu tăng 63 lần. - Lợi nhuận tăng 53 lần. - Nộp ngân sách nhà nước tăng 424 lần. - Thu nhập bình quân đầu người tăng 5 lần Hiện nay (2009), lương bình quân của cán bộ công nhân từ 3,5 đến 4 triệu đồng/người/tháng (công ty có 4500 cán bộ công nhân viên). Thực hiện đầy đủ thuế doanh nghiệp theo đúng pháp luật... Ngoài ra với tinh thần người lính trận, đã hiểu sự hi sinh lớn lao của đồng đội, đồng bào trong chiến tranh, anh đã chỉ đạo công ty xây dựng các quĩ xã hội như: xóa đói giảm nghèo, khuyến học, xây dựng giao thông, xây nhà tình nghĩa...Tất cả mỗi năm hàng tỷ đồng. Một hiệu quả to lớn khác của công ty là đã tạo công ăn việc làm cho hơn 4.000 lao động tại chỗ (ưu tiên con em thương binh, liệt sĩ) và hàng triệu lao động nông nhàn trong cả nước làm dịch vụ cho công ty, chuyển giao khoa học kĩ thuật chăn nuôi cho họ để họ sử dụng con giống và thức ăn chăn nuôi của công ty (bình quân 15.000 hộ/năm). Từ những thành quả trên, một vinh dự lớn đã đến với anh: ngày 8/9/2004, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã kí quyết định tặng danh hiệu “Anh Hùng Lao Động thời đổi mới” cho Công ty. Và ngày 18/8/2008, Anh được Nhà nước tặng danh hiệu “ Anh Hùng Lao Động thời đổi mới”. Đúng là “ Song hỷ lâm môn”. Hai niềm vinh quang ấy cùng đến với một công ty quả là không phải nơi nào cũng có. Mong cho Anh và chúc cho Công ty anh giữ vững và phát huy danh hiệu cao quý ấy mãi mãi, để góp phần xây dựng nền kinh tế của nước nhà. Hà Nội, tháng 1-2010 N.V.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:36:47 pm Đại tá Nguyễn Văn Tích BLL Cựu Chiến binh Sư đoàn 3 - Sao Vàng-Khu vực Hà Nội CỰU CHIẾN BINH SƯ ĐOÀN SAO VÀNG TRÊN CAO NGUYÊN Tháng 7 năm 2009, tôi lên Tây Nguyên thăm người thân ở KonTum và Lâm Đồng. Đang vui chuyện nhà, chuyện xã hội trên vùng đất cao nguyên, bỗng cháu trai tôi – một cán bộ Hội Đồng nhân dân Thị trấn nói: - Chú là người của Sư đoàn 3 - Sao Vàng phải không, ở Thị trấn này cũng có người của Đoàn Sao Vàng đấy. Tôi sốt sắng hỏi: - Thật vậy không? Là những ai? Tên gì? - Có bác Ngô Tùng Phong hiện đang làm tuyên giáo Thị ủy và anh Ngô Đức Bằng là một doanh nhân có tiếng. Không thể trì hoãn được niềm vui, ngay tối hôm đó, dù trời đang lắc rắc mưa, tôi vẫn nhờ cháu đưa tới thăm anh Phong. Đúng là anh Phong rồi, thời cùng sống với nhau (1983-1988) anh là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Chính trị Sư đoàn (như Chính ủy Sư đoàn hiện nay), tôi là Trưởng Ban biên soạn Lịch sử Sư đoàn. Không cần phải giới thiệu, anh nhận ra tôi ngay, chứng tỏ anh vẫn còn minh mẫn. Anh và tôi đã từng gắn bó với nhau trong các công trình lịch sử cơ bản của Sư đoàn, như: “Ký sự lịch sử Sư đoàn 3 Sao Vàng”, phim tài liệu lịch sử “Ngôi sao rừng dừa” và công trình xây nhà truyền thống Sư đoàn ở xã Mai Sao (huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn). Anh chủ trì công tác Đảng, công tác Chính trị của Sư đoàn nên thường xuyên dự các cuộc hội thảo khoa học về các công trình trên. Bản tính hiền lành, giản dị, nói năng chậm rãi, sâu sắc, anh thường góp những ý kiến giá trị, chứng tỏ là người được đào tạo cơ bản qua các trường quân đội. Đặc biệt, anh tỏ ra thông cảm với những người viết của chúng tôi nên thường quan tâm tới công tác bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất. Anh nói: Để viết được một chữ phải đọc nghìn chữ. Để viết được một trang phải đọc nghìn trang. Phải tạo điều kiện cho anh em bù đắp chất xám ấy. Công bằng mà nói, sự hoàn thành các công trình lịch sử trên đây của Sư đoàn, có vai trò đóng góp tích cực của anh (mặc dù anh không lớn lên từ chiến sỹ Sư đoàn). Thấy anh khỏe, không khác gì mấy so với 21 năm trước, lại có phần trắng ra, mập hơn, tôi rất mừng. Anh kể về quãng thời gian sau khi rời khỏi Sư đoàn, luôn phải xốc vác gánh nặng gia đình. Anh về hưu với cái dạ dày bị cắt, túi mật, đại tràng bị viêm, tưởng sẽ “tàn”, nhưng anh đã biết sống chung với bệnh và tìm những công việc xã hội để quên bệnh tật. Tham gia hai khóa Chủ tịch Cựu Chiến binh xã ở quê Thanh Hóa. Tham gia mấy khóa liền Chủ tịch Hội Người cao tuổi huyện Ngọc Hồi (Kom Tum) và mấy năm nay làm Phó Ban tuyên giáo cho Đảng ủy Thị trấn Plây- cần, Phó Ban Chỉ đạo cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của Đảng bộ Thị trấn. Nói nghỉ hưu nhưng nào nghỉ việc. Trợ cấp các chức vụ trên không đủ cho tiền xăng xe, nhưng cái được là niềm vui thấy mình còn có ích cho xã hội, cho cộng đồng, được cộng đồng tin yêu. Anh tâm sự: Trở về Ngọc Hồi định cư không chỉ vì ở đây, gia đình anh, các em, các con anh đã tới cư trú hàng chục năm trước, mà riêng anh, Ngọc Hồi vốn là chiến trường quen thuộc trong những năm đánh Mỹ. Trong trận ĐắcTô - Tân Cảnh năm 1972, anh và một số đồng đội đã từng nắm tay nhau thề: “Cảm tử để giữ vững trận địa” suốt hàng tuần lễ liền trên đồi Ngọc Hồi... Không đợi tôi đến tìm, vừa nghe cháu tôi báo tin tôi lên chơi, anh Ngô Đức Bằng liền đội mưa phóng Hon-đa tới. Vừa nhìn thấy tôi, anh đã reo lên: - Anh là anh Tích? Sao bây giờ anh mập vậy? Nhưng tôi nhận ra nụ cười của anh, một người luôn lấy nụ cười ra để “hoãn binh” khi chưa thể trả lời ngay một vấn đề nào đó. Và không để tôi hỏi, anh nói liên hồi rằng: “Xưa kia anh gầy, nhỏ, thấp, tóc thưa luôn chải ngược và thường đi dày ba-ta màu trắng để dạo phố Vũng Tàu sau 30 tháng 4 năm 1975...” Quả là tôi không còn nhớ những tình tiết ấy và cũng không nhớ con người “đã từng ôm ngang lưng tôi rồi nhấc bổng lên trên đường Trần Quang Khải, thành phố Vũng Tàu vì mừng vui” như anh nói. Nhưng trước sự nồng nhiệt khẳng định của anh, tôi dần nhớ ra và phải thừa nhận Bằng có trí nhớ cực tốt. Đã 34 năm rồi mà anh vẫn nhớ tới tôi, một trợ lý tuyên huấn của Sư đoàn năm đó xuống đơn vị để viết gương chiến đấu và nắm tình hình tư tưởng bộ đội, nhân dân. Bằng nhớ tường tận rằng, thời điểm ấy, Thành phố vừa giải phóng, cán bộ chính trị Sư đoàn, Trung đoàn xuống đơn vị chỉ lo giáo dục bộ đội sống giản dị, khiêm tốn, không nhẹ dạ, cả tin, không ảnh hưởng lối sống buông thả của nam nữ thanh niên vùng địch kiểm soát lâu năm. Bởi lúc đó, nhiều quãng đường phố Vũng Tàu, đêm đêm là tụ điểm của trai gái làng chơi. Thậm chí trước mặt nhau, từng đôi, từng đôi lấy ngay vỉa đường làm giường nằm, vì các nhà chứa, các khách sạn đã bị đóng cửa. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:37:22 pm Bằng nhắc tới “sự kiện” lý thú là một buổi chập choạng tối, tôi cùng Bằng đi dạo phố, Bằng to cao, đẹp trai, tôi thấp nhỏ không lấy gì hấp dẫn lắm. Chợt nhìn thấy hai cô gái mặc đồ đen (thời điểm đó, không hiểu vì lý do gì mà các cô gái điếm đều mặc đồ đen). Tôi đặt ngón tay lên môi huýt sáo, lập tức một trong hai cô lên tiếng: - Các anh đi theo em xuống cuối phố, đối với Quân Giải phóng chúng em miễn phí. Bằng huých vào người tôi: - Anh thấy chưa, ranh giới giữa sự trong sạch và bẩn thỉu ở đây thật mỏng manh. Còn trẻ như bọn em dễ “ làm thử” lắm. Với tâm trạng của một người đã bị dồn nén ký ức hơn 30 năm chưa gặp người cảm thông, chia sẻ, Bằng kể hết, nhắc hết hàng loạt kỷ niệm về cuộc đời người báo vụ luôn đi theo “Đài kẹp nách” (đài 15w biệt phái đi phục vụ tuyến trước). Anh kể: Trước mở màn Chiến dịch Xuân 1975 của Sư đoàn, bộ phận chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 68 Pháo binh (trong đó có trinh sát và tổ đài 15w) đang trên đường trèo lên đỉnh núi Ông Bình (đường 19, tỉnh Bình Định ) thì lọt vào ổ phục kích của địch. Một chiến sỹ mới tỏ ra dao động, định bỏ chạy. Bằng quát to: “Đứng lại! Nếu bỏ chạy, tôi bắn. Tôi còn, đồng chí còn. Không phải sợ”. Người lính đó đã bình tâm trở lại vị trí vác máy của mình. Bọn địch đánh nhau với trinh sát của ta, không phát hiện ra bộ phận chỉ huy. Lại một lần (Bằng kể tiếp), trong chiến dịch Xuân 1972, anh được lệnh trực tiếp đi chuyển mật điện từ phía trước về sở chỉ huy cơ bản. Khi qua cánh đồng thôn Bình Hòa (huyện Hoài Ân), bất ngờ bị “tàu rọ” (một loại trực thăng trinh sát vũ trang của địch) quây bắt. Trong tay lúc đó chỉ có lựu đạn. Bằng lom khom chạy men bờ ruộng. Chiếc “tàu rọ” chúc đầu bắn trọng liên xối xả. Anh xác định : trúng đạn chết thì thôi, quyết không để chúng bắt. Nếu chúng thả thang dây xuống, anh sẽ ném lựu đạn lên máy bay. Nghĩ vậy, Bằng liều chạy dích dắc giữa ruộng trống, không cho chúng bắn trúng. Cuối cùng, anh tới được bờ sông Kim Sơn, tuột người xuống bờ vực. Chiếc trực thăng mất mục tiêu, bắn vu vơ một lúc rồi chuồn thẳng. Anh rút ra một điều là trực thăng muốn bắn trúng phải ổn định hướng bắn, nếu mình làm cho hướng bắn của nó luôn thay đổi thì nó phải lấy lại vòng lượn. Đó là cơ hội cho ta thoát thân. Lại một lần, trước ngày nổ súng đánh vào Ninh Thuận (tháng 4 năm 1975), đơn vị hành quân từ Bình Định vào tới ga Suối Cát (Khánh Hòa) thì được lệnh rẽ phải. Khoảng 16 giờ, địch dùng máy bay tới ném bom vào đội hình trung đoàn. Bộ đội nhanh chóng tản ra. Do địa hình mới lạ, Bằng bị lạc vào vườn mía bạt ngàn, mất phương hướng. Trời đã tối mà địch vẫn ném bom. Khi hết máy bay, Bằng ghé tai xuống đất lắng nghe tiếng rung do ô tô chạy để tìm đường ra. Khoảng 24 giờ mới tới được đường lớn. Nhiều xe tải, xe kéo pháo bị cháy, lửa còn leo lét. Quanh đó có bóng người qua lại. Bằng nấp vào một bụi cây, gọi mật khẩu: “Hồng Hà đây”. Một người từ bên kia trả lời: “đây Cửu Long”. Anh sung sướng chạy ra. Rất may, đó lại chính là đại đội của anh. Gặp đài trưởng Nguyễn Đình Thọ, Thọ vui mừng nói: “bom ném như vậy tưởng mất mày rồi. Mày về là quá tốt. Khẩn trương lên, đã mất liên lạc với trên từ chập tối đến giờ”. Bằng bảo đồng chí Đông trèo lên cây xoài vắt ăng ten dây và mấy phút sau, đài đã liên lạc được với Sở Chỉ huy Trung đoàn. Khoảng 5 giờ sáng ngày 14 tháng 4 năm 1975, pháo binh Sư đoàn đã bắn hàng ngàn đạn pháo vào các trận địa địch, từ sân bay Thành Sơn đến cửa ải Du Long. Khói lửa ngút trời. Niềm hạnh phúc của người chiến sĩ đài 15W chính là nối thông nhịp cầu chỉ huy để tạo nên những cơn bão lửa như vậy. Bằng kể say sưa tưởng như không bao giờ cạn những kỷ niêm, từ chuyện chiến đấu đến tình cảm quân dân. Tôi thực sự thông cảm với anh vì có lẽ từ lâu lắm rồi, chưa có ai cùng hiểu để cho anh chia sẻ những ký ức của mình về Sư đoàn mà lúc nào anh cũng tự hào và mong nhớ. Qua anh Phong, anh Bằng, tôi biết ở huyện Đăk Hà còn có một số cựu chiến binh Sư đoàn 3 đang cư trú. Tôi bàn với anh Phong nên tổ chức một Ban Liên lạc. Các anh đồng ý ngay và sáng hôm sau, Bằng nhảy xe buýt đi Đăk Hà. Chiều về, Bằng cho biết, ở Đăk Hà có 10 người là CCB của Sư đoàn 3 do anh Nguyễn Xuân Bường làm nhóm trưởng. Tuy chưa thành tổ chức nhưng anh chị em vẫn thường găp nhau hàn huyên. Thế là kế hoạch thành lập BLL Cựu Chiến binh Sư đoàn 3-Sao Vàng ở Đăk Hà-Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum) được hình thành. Một tuần lễ sau, ngày 19 tháng 7 năm 2009, tại nhà đồng chí Nguyễn Xuân Bường, Ban Liên lạc Sư đoàn 3 Sao Vàng được thành lập với tên gọi hoàn chỉnh là: “Ban Liên lạc Cựu Chiến binh Sư đoàn 3 – Sao Vàng Khu vực tỉnh Kon Tum” . Đồng chí Nguyễn Xuân Bường, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Vận tải Sư đoàn làm Trưởng ban và đồng chí Ngô Tùng Phong, nguyên Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị làm cố vấn. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:37:51 pm Với sự chu đáo vốn có, đồng chí Bường đã mượn đủ lễ phục quân đội cho các hội viên trong buổi ra mắt. Niềm vui, niềm tự hào của họ lan tỏa sang cả vợ (hoặc chồng) và con hội viên được mời dự hôm đó. Số lượng hội viên không nhiều, nhưng nghĩa tình sâu nặng và trách nhiệm cao. Mọi người nhanh chóng xác định, vừa góp tiền gây quỹ để thăm nhau vừa cho BLL vay (không tính lãi) để lập quỹ giúp đỡ hội viên khó khăn. Ngay hôm đó, quỹ của BLL đã huy động được hơn 15 triệu đồng. Liền sau đó, cho một hội viên vay để làm nhà cho con trai. Anh Bường nói với tôi: “Việc cho hội viên vay, vừa giúp đồng đội (vì lãi suất thấp hơn lãi suất ngân hàng) nhưng đó cũng là cách để phát triển quỹ. Càng có nhiều người vay, quỹ càng chóng lớn”. Bường còn nói rằng, anh sẵn sàng bỏ tiền gia đình để giải quyết việc thường ngày cho BLL, còn quỹ của BLL dành để cho vay. Cuối năm anh thanh toán với BLL một thể . Đúng là một nghĩa cử đáng quý. Trong BLL, anh Bường là người cao tuổi nhất ( 73 tuổi ), vào bộ đội sớm nhất ( năm 1959 ). Sau khi tái ngũ, anh vào chiến trường (năm 1967), ở Đại đội Hỏa lực Trung đoàn 12, sau đó về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Vận Tải. Năm 1988, anh xin nghỉ hưu về quê Lý Nhân, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc làm Hội trưởng CCB xã. Năm 1996, anh đưa vợ con vào lập nghiệp tại thị trấn Đăk Hà đến nay. Bán hết mọi tài sản ở quê, anh mua được ba ngàn mét vuông đất vườn, dành một ngàn mét làm ao nuôi thủy sản. Phát huy tinh thần tự lực, anh xem ti-vi (chương trình VTV2) để nắm bắt kỹ thuật, vào Nam Bộ mua gống ba ba, ra Hà Tĩnh mua giống ếch, lên trại khuyến ngư của huyện mua giống cá quả. Vụ đầu tiên thua lỗ. Hơn một ngàn con ba ba thương phẩm vượt bờ ao đi mất. Rút kinh nghiệm, anh xây lại ao đúng tiêu chuẩn nên vụ tiếp theo thu nhập một trăm triệu ba ba thịt. Qua nghiên cứu thị trường các tỉnh phía Bắc (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương), anh chuyển sang nuôi ba ba giống. Vụ đầu lại thua lỗ do trứng ba ba chỉ nở được 30%. Anh lại nghiên cứu thử nghiệm cho ba ba ấp nở theo môi trường tự nhiên. Kết quả, 90% trứng nở. Thành công đó đã đem lại cho anh lợi nhuận hơn 30 triệu đồng. Từ đó đến nay, thu nhập từ nuôi thủy sản của gia đình hàng năm hơn một trăm triệu. Trừ mọi chi phí, còn lãi bốn, năm chục triệu. Cuộc sống dư dật. Anh quyết định đầu tư cho đồng đội cùng nuôi ba ba (3 người) trên 40 triệu đồng, khi nào có lãi mới trả vốn cho anh. Đúng là tình cảm của người lính trận vẫn trong sáng, vô tư. Niềm vui của anh giờ đây, như anh nói là mong được đón tiếp đồng đội và bạn bè tới thăm để hàn huyên kỷ niệm và chia sẻ cách làm giàu. Nhà anh ở trong một thị trấn nhỏ vùng cao nhưng trông như một khách sạn mi-ni. Kiến trúc bên ngoài theo cổ truyền nhưng nội thất khá sang trọng. Các cửa lớn, nhỏ đều căng ri-đô. Đầu nhà có gian lồi tới mép ao để ngồi ngắm cảnh ao vườn. Mặt ao có những cột, bồn làm cảnh. Trong tán lá bèo tây (cây lục bình) lúc nhúc những đàn ba ba và ếch thương phẩm. Ở một khu cát nhân tạo cuối ao, đúng dịp trứng ba ba nở, từng đàn ba ba con bằng chiếc nắp bia đen thui, đội cát bò lên rồi thi nhau lao xuống ao như có ai rượt đuổi, trông thật vui mắt. Hệ thống nước tưới, tiêu vừa tôn vẻ đẹp của ao vườn, vừa làm sạch môi trường cho thủy sản sinh sôi. Một cảm giác tươi mát lan tỏa trong mỗi chúng tôi khi đứng tham quan khu ao sinh thái nhà anh. Ban Liên lạc Sư đoàn 3 Sao Vàng Khu vực Kon Tum ra đời muộn nhưng tổ chức khá bài bản. Điều lệ (bản quy ước) chặt chẽ, có văn bản trình lên Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh và chính quyền Huyện, Tỉnh. Có bản tin gửi lên đài phát thanh và truyền hình, khẳng định với địa phương rằng: Ban Liên lạc là một tổ chức tự nguyện và tình nghĩa, sẽ tích cực hoạt động xã hội góp phần xây dựng Cuộc Vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của địa phương. Nhiều người trong ban liên lạc đã từng lập công trong đánh Mỹ xâm lược, thể hiện lòng trung kiên của mình như Nguyễn Trọng Dưỡng, một chiến sỹ Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12 làm nhiệm vụ trinh sát thọc sâu, bị địch bắt năm 1968. Vào tù, mấy lần vượt ngục không thành, bị đòn roi tàn bạo nhưng vẫn giữ vững khí tiết cho đến ngày trao trả ( 1973). Chị Trần Thị Thanh Mai, một trong những y tá xuất sắc của Sư đoàn, được cử đi học ở Quân khu V. Tốt nghiệp, tình nguyện lên Tây Nguyên công tác, được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc huyện Đắc Hà và Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung huyện. v.v... Điều đáng mừng là trong chiến tranh họ đã giữ vững vai trò của mình, ngày nay trong trận chiến mới, nơi vùng đất mới, họ vẫn phát huy truyền thống Sư đoàn 3- Sao Vàng “Bám đất, bám dân, tự lực, tự cường...” vươn lên làm giàu chính đáng, xóa mọi định kiến cho rằng: Bộ đội chỉ biết đánh giặc, không biết làm kinh tế. Giữa những khu đô thị mới hiện nay, đồng chí nào cũng có hàng ngàn mét vuông đất ở, nhà cửa khang trang. Đất vườn có đồng chí một vài hecta, có người làm được khách sạn, nhà nghỉ, nhà cho thuê. Kinh tế đồng chí nào cũng khá giả, có người thuộc hàng tỷ phú. Tỷ phú nhưng vẫn quan tâm đến việc nghĩa, việc tình, việc từ thiện. Đáng quý là ở chỗ đó. Chia tay anh chị em CCB Sư đoàn ở Ngọc Hồi và Đắc Hà, chiếc điện thoại di động trên tay tôi suốt cả buổi sáng luôn nhận tin các đồng đội gửi tới cầu chúc “Thượng lộ bình an, hẹn ngày tái ngộ”. Vâng! Với tình cảm của các đồng chí như vậy, tuy chưa nhận lời “tái ngộ” nhưng trong tôi thầm nghĩ: hàng năm, vào dịp hè, tránh mùa nóng ở Thủ đô thì Ngọc Hồi – Đắc Hà là điểm đến lý tưởng. Lý tưởng về thiên nhiên, môi trường, và lý tưởng về tình người, tình đồng đội. Hà Nội, 2-9-2009 N.V.T Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:39:07 pm Đại tá Nguyễn Văn Hồng, Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6,Trung đoàn 12, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 - Sao Vàng, Nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, đã nghỉ hưu. GẶP LẠI NGƯỜI THƯƠNG BINH ẤY SAU 36 NĂM Đó là Trần Xuân Nựu, thương binh cụt một chân, hiện đang sống tại xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. ...Cuối năm 1971, trong một lần đi trinh sát các mục tiêu địch trên Đường Số 19 tại đèo Thượng Giang, tỉnh Bình Định, không may Nữu đạp phải quả mìn Zíp. Nói “không may” là vì, trên một lối mòn để tiếp cận lề đường, ba đồng chí đi trước, tôi đi thứ tư và sau tôi là Trần Xuân Nựu. Vậy mà anh lại giẫm phải mìn. Mìn Zíp vốn do Pháp chế tạo. Trái mìn hình tròn, lớn bằng hộp zíp đánh răng thời chống Pháp. Vì vậy ta thường gọi là mìn Hộp Zíp hoặc mìn Zíp (gọi theo hình dáng). Vỏ mìn làm bằng nhựa, chống máy dò mìn, trái mìn phủ màu xanh để ngụy trang. Thuốc nổ là hợp chất nhiều thành phần, chủ yếu là thuốc TNT. Mìn cấu tạo theo nguyên lý đạp nổ. Kim hỏa gắn liền với miếng mica hình lõm, đàn hồi. Dưới kim hỏa là hạt nổ. Mìn Zíp có độ chống ẩm cao, chôn dưới mặt đất khoảng 1cm, nhiều chục năm vẫn còn tác dụng. Cây cỏ mọc che phủ rất khó phát hiện. Mìn Zíp chỉ có tác dụng loại khỏi vòng chiến đấu đối phương vì nó chỉ sát thương ở chân. Song, nếu vết thương không được cứu chữa kịp thời, có thể dẫn đến tử vong. Dọc hai bên Đường Số 19 và xung quanh các điểm chốt của địch ở đèo Thượng Giang, chúng đã rải mìn Zíp thành một tuyến trong phạm vi 15 đến 20 mét từ vệ đường trở ra. Ở đây, bộ đội ta thương vong do mìn Zíp chiếm tỷ lệ khá cao. Trái mìn Nựu đạp nổ đúng vào lúc giữa trưa, cách mặt đường khoảng 15 mét. Xung quanh có các chốt điểm địch ở phía nam núi Ông Bình, phía tây là đồi Mâm Xôi, phía đông là đồi Hòn Kiềng...các lô cốt của bọn lính Nam Triều Tiên luôn sẵn sàng nhả đạn. Tuy nhiên, hôm đó, đang giữa trưa lại gần mép đường, nắng gay gắt, địch không thể ngờ tiếng nổ là do có đối phương tiếp cận. Chúng không có phản ứng gì. Bàn chân phải của Nựu bị tiện đứt hai phần ba. Không có dao, kéo để cắt đứt phần còn lại, chúng tôi đành gập phần bàn chân bị cắt, xé áo bó lại cho anh. Một vài cuộn băng cá nhân không thể ngăn được những dòng máu cứ liên tục đùn ra. Bốn anh em thay nhau cõng Nựu nhanh chóng vượt khỏi tầm đạn địch. Tôi động viên anh: - Ở đây gần địch, cậu cố gắng chịu đựng, đừng la to, chúng nó nghe thấy. Bọn mình sẽ đưa cậu về đơn vị. Do máu ra nhiều, khuôn mặt Nựu trắng nhợt. Anh lịm dần trên vai hai đồng chí trinh sát. Kiên đi trước dò mìn, tôi đi sau cảnh giới và nhắc Lê Anh Kiên: - Cậu dò cẩn thận. Nếu giẫm phải mìn, chết chôn thì dễ, còn bị thương thì hết người khiêng đấy nhé. - Thủ trưởng cứ yên tâm ! Kiên tự tin trả lời và thận trọng dò từng bước chân. Nựu đã ngất mấy lần. Khi tỉnh dậy, anh nói qua hơi thở: - Tôi chết mất thôi. Các anh cứ để tôi lại đây, đừng khiêng nữa...Vừa dứt lời, anh lại mê man. Tôi áp tai vào ngực Nựu. Tim vẫn còn đập. Tôi động viên và thúc giục anh em đi nhanh hơn để rút ngắn thời gian về Trạm phẫu, kịp cứu sống Trần Xuân Nựu. Ban đêm, rừng kín mít, đất đá lởm chởm, khó đi. Đốt đuốc thì sợ địch phát hiện, chúng tôi phải lấy khúc gỗ mục có lân tinh cho một người đi trước soi đường để người cõng Nựu khỏi ngã. Nhưng cuối cùng cũng phải dừng lại ở đầu nguồn suối Đồng Tre vì quá mệt.Từ đây về hậu cứ còn phải mất hơn một ngày đường, phải vượt qua đỉnh Hòn Giác cao trên 300 mét và phải vượt qua những ngọn đồi trống trải. Đêm đó, mấy anh em không sao ngủ được. Lo lắng lớn nhất là không biết Nựu có “qua khỏi” không. Mong trời mau sáng đưa Nựu về trạm phẫu sớm chừng nào hay chừng đó. Thỉnh thoảng một cơn gió thổi qua, rừng cây xào xạc. Một vài quả bom vướng nổ làm cả tổ giật mình. Vùng này, địch thường xuyên rải bom vướng nổ. Một quả “bom mẹ” khi rơi xuống sẽ có hàng trăm quả “bom con” bung ra. Mỗi “bom con” to bằng trái cam, màu xanh lá cây, bốn phía bung ra 4 sợi dây như sợi chỉ dù màu xanh rất khó phát hiện. Người đi bất cẩn hoặc thú rừng, hoặc gió thổi đều có thể làm bom vướng nổ. Bởi vậy, nơi đây có tiếng bom nổ suốt ngày đêm. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:39:36 pm Sáng hôm sau trời rét, lại mưa lất phất. Không nấu cơm được, anh em đành ăn gạo sấy, uống nước lã. Khiêng Nựu qua đỉnh Hòn Giác thì mọi người hầu như kiệt sức. Đến đây đã được nửa đường về hậu cứ và có thể đốt lửa được, chỉ cần cảnh giác máy bay phát hiện khói. Ưu tiên số một lúc này là nước sôi để pha cho Nựu chén sữa. Nói đến sữa, Kiên giật mình vì hộp sữa Ông Thọ cấp cho tổ trinh sát khi đi công tác, anh đã bỏ quên tại nơi rút cuộn băng cá nhân để băng vết thương cho Nựu. Tôi đành bảo anh em lấy gạo sấy cho vào “hăng-gô” để nấu cháo. Cháo không muối, không đường nên lỏng bỏng, đút cho Nựu mà lòng tôi se lại. Đã hai ngày không ăn, vết thương mất nhiều máu, bốc mùi hôi, người Nựu như tàu lá héo, thoi thóp thở. Nhưng cuối cùng, Nựu đã chiến thắng. Chúng tôi đã đưa được anh về tới Tram phẫu của Tiểu đoàn. Vết thương bị nhiễm trùng nặng. Các y, bác sĩ đã phải 2 lần tháo khớp cổ chân và đầu gối nhưng vẫn không chặn được tốc độ hoại tử. Thì ra trong thuốc mìn có chất độc nên tại vết thương cứ nổ “lép bép” làm phân hủy cơ xương rất nhanh. Cuối cùng, các đồng chí quân y phải quyết định tháo tới khớp háng mới cứu được Nựu. Đồng chí Trạm trưởng cho biết, nếu để chậm khoảng 20 phút nữa là hết phương cứu chữa. Chúng tôi mừng cho Nựu và cảm phục sức sống kỳ diệu của anh. Từ ngày ấy, tôi và Nựu xa nhau. Ba mươi sáu năm trôi qua, tôi đi theo cuộc trường chinh đánh giặc của Đất nước: hết đánh Mỹ, diệt ngụy rồi tình nguyện quân giúp bạn suốt 10 năm trên chiến trường Căm-pu-chia...Trở về với đời thường, có một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc, trong tôi luôn canh cánh nỗi nhớ đồng đội, nhất là những đồng chí đã hy sinh và bị thương, trong đó Trần Xuân Nựu là một trong những người đầu tiên, tôi quyết đi tìm. Không biết bây giờ anh ở đâu, cuộc sống như thế nào...Cũng may, trong chiến tranh, cán bộ các cấp thường hiểu khá kỹ sĩ quan cấp dưới do mình quản lý nên tôi biết Nữu quê ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tháng 11 năm 2006, một mình một xe, tôi thực hiện chuyến “xuyên Việt” đi tìm đồng đội. Về huyện Nghi Xuân, tôi được mọi người cho biết, Trần Xuân Nựu ở xã Xuân Lam. Tìm đến nhà anh, đứng trước ngưỡng cửa, tôi ngỡ ngàng, xúc động khi thấy Nựu già trước tuổi phải đến chục năm. Sau giây phút im lặng ngắm tôi, Nữu bỗng thốt lên: “ Anh Hồng đó phải không? Đúng là anh Hồng rồi. Mấy chục năm nay tôi cứ dò tìm tin tức về anh. Anh đã sinh ra tôi lần thứ 2, tôi làm sao quên được!...” Hàn huyên với nhau, Nựu cho biết, sau lần bị thương ấy, từ Trạm phẫu Tiểu đoàn, anh được chuyển tới bệnh viện K206 của tỉnh. Các bác sĩ hội chẩn và quyết định giải phẫu ngay. Lúc đó, khoảng 17 giờ. Vì trong mìn có chất độc, nó ăn vào da thịt nổ “lép bép” và đen từng đoạn như than. Bệnh viện thấy tôi khó có thể sống được nên sau khi phẫu thuật đã đưa tôi qua nhà xác. Nhưng rồi tôi không chết, các đồng chí lại đưa tôi trở về cùng điều trị chung với anh em. Cuối năm 1971, tôi được đưa ra Bắc điều dưỡng. Trở về gia đình với chiếc chân giả, anh đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn. Ngày gặp lại vợ, anh bảo “ Tôi như người chết được sống lại”. Vợ anh thực sự là một cái nạng cho chiếc chân còn lại của anh. Ngoài tình thương yêu vợ chồng, họ còn có tình thương của những người cùng chí hướng. Những ngày anh ở chiến trường, chị cũng là “ Thanh niên Ba Sẵn sàng”, cũng là “ Phụ nữ Ba Đảm đang”. Bởi vậy, khi được đoàn tụ, họ thấy mình còn hạnh phúc hơn nhiều so với những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường. Trong cuộc nói chuyện, anh luôn nhắc đi, nhắc lại rằng: “ Nếu không có các đồng chí trinh sát và anh Hồng thì tôi không còn đến hôm nay”. Anh cũng thường nói với các con: “Các bác, các chú trong đơn vị đã cứu sống bố nên bây giờ mới có các con...”. Thế là trong chuyến “đi tìm đồng đội” lần này, tôi đã toại nguyện. Tôi tìm được Nựu, người đồng chí, người bạn chiến đấu đã chia ngọt, sẻ bùi ở một chiến trường khốc liệt, đầy gian khổ, hy sinh: Mặt trận Đường Mười Chín. Chia tay anh lúc hoàng hôn sắp buông xuống. Bên kia cánh đồng, đối diện nhà anh, từng đàn cò trắng bay về đậu trên những lũy tre xanh ở một vùng quê yên tĩnh. Lòng tôi cảm thấy lâng lâng... Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007 N.V.H Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:40:50 pm Nguyễn Đình Thống Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử, Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. HÀNH TRÌNH TÌM MỘ LIỆT SỸ SƯ ĐOÀN 3 - SAO VÀNG HÀNH TRÌNH ĐẦU TIÊN Ngày 24-4-2006, anh Nguyễn Trần Toản, cháu ruột liệt sỹ Nguyễn Văn Dậu đã đến Vũng Tàu đề nghị giúp đỡ tìm phần mộ của thân nhân là liệt sỹ Nguyễn Văn Dậu, sinh năm 1956 tại xã Trấn Khê, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nhập ngũ 1974, đơn vị E2 – F3 có tên trong danh sách do Sư đoàn Sao Vàng cung cấp ghi là anh hy sinh ngày 27-4-1975 tại Bộ Tư lệnh Hải quân (của Ngụy Sài Gòn cũ). Qua thân nhân liệt sỹ, chúng tôi liên lạc được với đại tá Bảo (bạn chiến đấu của anh Dậu, hiện ở Học viện Quốc Phòng, Hà Nội), được biết thêm chi tiết: anh Dậu bị thương khi đánh vào Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy (Cát Lở), có thể là ngày 29 chứ không phải 27, sau đó anh em dùng xe Zeep đưa về bệnh xá rồi hy sinh ở đó, vào khoảng 2 giờ sáng. Ngày 24-4-2006, Hội Khoa học Lịch sử Tỉnh đã cùng gia đình tìm kiếm trong danh sách quản lý mộ liệt sỹ tại Sở LĐ TB XH Tỉnh và nghĩa trang liệt sỹ Tỉnh (ở Bà Rịa), không có tên, không thấy mộ. Anh Dương Xuân Hòe, trưởng phòng TB XH, Sở LĐ TB XH cung cấp cho chúng tôi bản danh sách kèm theo biên bản bàn giao đề ngày 31-12-1993 của Sư đoàn Sao Vàng do Thiếu tá Trịnh Đình Hoằng, trưởng tiểu ban chính sách Sư đoàn bàn giao cho Sở LĐ TB XH tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bên lề bản đánh máy, có một dòng viết tay, ghi: liệt sỹ Nguyễn Văn Dậu chôn tại 95A Lê Lợi. Chúng tôi đã gặp một số người phục vụ tại bệnh xá Đại Hàn khi đó (đối diện với trường Thiếu Sinh Quân, số 95A Lê Lợi). Bà Lạc hiện nghỉ hưu tại phường 6 cho biết, khi đó bà là nhân viên phục vụ tại phòng cấp cứu nhà thương Đại Hàn (nhà thương tê liệt). Thời điểm đó có nhiều thương binh được đưa vào nhưng bà không nhớ được tên tuổi. Các nhân chứng Đặng Thị Phượng, cán bộ tăng cường, Tần Hạnh Ngươn (Đảng viên bám trụ), Đỗ Quốc Hùng, ủy viên Thành ủy Vũng Tàu cho biết, khi đó Thành ủy có phân công các cơ sở tham gia chăm sóc thương binh, chôn cất liệt sỹ, nhưng không nắm cụ thể. Y sỹ Nguyễn Thanh Yếu, phụ trách đội phẫu tiền phương quân y Tỉnh đặt ở Bà Rịa xác nhận, đội phẫu không tiếp nhận các thương binh của Sư đoàn. Anh Nguyễn Tấn Quang (Sáu Quang) làm việc tại tổ y tế trực thuộc ban khởi nghĩa phường Thắng Nhì cho biết, tổ y tế có cấp cứu 3 thường dân bị bệnh và bị thương trong ngày 30-4-1975, nhưng không có trường hợp thương binh nào đưa về điều trị. Chị Trương Minh Thủy, khi đó là cán bộ Đoàn Thanh niên Thành phố Vũng Tàu cho biết, trong ngày 30-4-975, có 3 anh hy sinh ở khu vực trường Truyền Tin (ngã tư Giếng Nước), được mai táng ở khu vực nghĩa địa Phước Lâm Tự, sau đã di dời vào nghĩa trang khoảng năm 1977, thời gian này chị đi học nên không biết cụ thể. Khoảng năm 1992- 1993, chị làm Chủ tịch Thành phố Vũng Tàu, có một CCB Sư đoàn Sao Vàng cho biết, có một anh hy sinh khi đánh vào trường Thiếu Sinh Quân (95A Lê Lợi), được chôn tại chỗ, nay là khu vực sân ten-nit của xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro. Chị đã yêu cầu anh cung cấp sơ đồ, hồ sơ liệt sỹ để tìm kiếm, có lẽ còn hồ sơ ở Phòng LĐ TB XH thành phố Vũng Tàu. Cuộc tìm kiếm rơi vào bế tắc. Chúng tôi cùng với Ban liên lạc CCB Sư đoàn 3 Sao Vàng tiếp tục tìm kiếm thông tin. Một CCB Sư đoàn Sao Vàng chỉ huy trận đánh cầu Cỏ May cho biết, trong chiến dịch giải phóng Bà Rịa – Vũng Tàu, Sư đoàn Sao Vàng có đến hàng trăm người hy sinh, mấy chục người trúng đạn khi đang vượt sông Cỏ May, mất xác. Vậy mà đến nay, danh sách do Sư đoàn Sao Vàng bàn giao cho tỉnh chỉ có 65 liệt sỹ, sưu tầm bổ sung được 4 liệt sỹ (tổng cộng có 69 liệt sỹ). Trong số đó, có 3 ngôi mộ có tên được quản lý tại nghĩa trang Thành phố Vũng Tàu và 17 ngôi mộ có tên được quản lý tại nghĩa trang Bà Rịa. Anh Dương Xuân Hòe, Trưởng phòng Thương binh – Liệt sỹ và Người có công của Sở LĐ TB XH cung cấp danh sách 17 liệt sỹ của Sư đoàn Sao Vàng có tên và có mộ được quản lý tại nghĩa trang của tỉnh. Điều đáng tiếc là sau ngày giải phóng, Sư đoàn Sao Vàng còn làm nhiệm vụ quân quản tại Bà Rịa, Vũng Tàu hơn hai tháng. Nếu như trong thời gian đó, bộ phận làm công tác chính sách cử người đắp mộ, tạc bia và bàn giao cho địa phương thì đến nay đã không bị thất lạc hài cốt của anh em đồng đội... Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2017, 09:41:39 pm LẦN THEO DẤU VẾT Ngày 3-7-2007, anh Đỗ Đình Công từ thị trấn Tiên Lãng, Hải Phòng vào nhờ hỗ trợ tìm mộ anh trai là liệt sỹ Đỗ Đình Đồng. Liệt sỹ Đỗ Đình Đồng có tên trong bản danh sách 65 liệt sỹ (trong danh sách ghi số thứ tự 08, tên là Đỗ Đình Đông, nhưng năm sinh, quê quán, đơn vị đều đúng). Danh sách quản lý mộ trong nghĩa trang liệt sỹ của Tỉnh và Sở LĐ TB XH đều không có tên. Điều may mắn là thân nhân có mối quan hệ với anh Phan Quốc Trượng, CCB Sư đoàn Sao Vàng. Phan Quốc Trượng vốn là người cùng làng, cùng đơn vị, cùng khẩu đội và người trực tiếp mai táng liệt sỹ Đỗ Đình Đồng. Năm 1976, được nghỉ phép về thăm quê anh đã đến thăm và báo tin cho gia đình biết trường hợp hy sinh của liệt sỹ Đỗ Đình Đồng. Gia đình rất cảm động, nhưng khi ấy cuộc sống rất khó khăn chưa có điều kiện vào tìm mộ liệt sỹ. Phan Quốc Trượng hiện nay vào sinh sống tại Vũng Tàu, ở số nhà 178 Chu Mạnh Trinh, phường 8. Chúng tôi cùng anh Phạm Quang Lập, Ban liên lạc CCB Sư đoàn Sao Vàng và thân nhân liệt sỹ đến gặp Phan Quốc Trượng. Anh Trượng kể: chúng tôi ở đơn vị C16, hỏa lực của Trung đoàn 12. C16 có hai khẩu đội DKZ75, hai khẩu đội cối 82. Trận địa đặt ở bìa rừng, cách chốt điểm địch khoảng 500 mét. Trận địa địch đắp bằng bao cát dày, có tháp canh dựng cao để quan sát. Tôi, anh Triết, anh Đồng cùng khẩu đội bắn 6 trái DKZ vào lô cốt địch. Tụi nó phản pháo, anh Đồng hy sinh. Tôi và một đồng đội đưa thi hài anh Đồng qua con suối, băng qua cánh đồng, chôn anh ở chân đồi, hồi ấy gọi là đồi Ba Vĩnh (đất nhà ông Ba Vĩnh). Tôi vẫn còn nhớ vị trí, địa hình, hy vọng là tìm được. Anh Năm Mai đón chúng tôi ở tượng đài chiến thắng Bình Giã. Đây là vị trí Chi khu Đức Thạnh, nơi Trung đoàn 12 đánh trận mở màn chiều 26-4-1975. Anh Năm Mai trước đây là bộ đội huyện Châu Đức, sau giải phóng anh là xã đội trưởng Ngãi Giao, rất rành địa hình, biết rõ những người từng công tác ở đó. Đến đầu dốc Đường Cùng, Năm Mai chỉ cho chúng tôi vị trí chốt tiền tiêu của Chi khu. Phan Quốc Trượng reo lên: “Đúng rồi, tôi nhận ra rồi!” Quốc Trượng bỏ xe, lội bộ xuống chân dốc. Anh chỉ ngọn đồi các anh đặt súng, nơi Đỗ Đình Đồng hy sinh và chỉ khu vực anh đã mai táng người đồng đội, ngay dưới chân đồi, cách con suối không xa, một ngọn suối nhỏ bắt nguồn từ Bàu Chinh, đổ về suối Lúc. Khu vực này bây giờ cây cỏ mọc um tùm, có một số mộ của dân. Anh Năm Mai đưa chúng tôi vào gặp chị Mai Phương Thành (Bảy Thành). Chị Bảy khi đó là Bí thư chi bộ xã Ngãi Giao, nhưng thời điểm giải phóng huyện Châu Đức, chị đang đi học, không về kịp nhưng chuyện ngôi mộ thì chị biết. Khu vực chân đồi chỉ có một ngôi mộ liệt sỹ, vừa bốc cốt đưa về nghĩa trang năm ngoái. Người phát hiện ngôi mộ là cô Ngà, và chính anh Năm Chiến, chồng chị đề nghị huyện quy tập về nghĩa trang liệt sỹ. Anh Năm Chiến (Võ Minh Chiến) trước đây ở Trung đoàn 4, chiến đấu trên địa bàn này. Anh Năm Chiến đưa chúng tôi ra vị trí ngôi mộ đã được bốc cốt. Gạt lớp cỏ lẫn trong đám dây khổ qua rừng, vẫn còn vương một vài mảnh nilon mà chính tay Phan Quốc Trượng đã bọc thi thể đồng đội. Anh Năm Chiến tận tình lấy xe Honda vào xóm chở chị Ngà ra để thân nhân được cảm ơn và hỏi thăm thêm chi tiết. Phạm Thị Ngà (Sáu Ngà), sinh năm 1959 hiện ở ấp Tân Hiệp, xã Bầu Chinh, con của mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Chảng. Chị nhớ, mấy bữa trước đó, tụi lính Sư đoàn 18 ngụy thua trận Long Khánh kéo về rất đông, có toán rút về Bà Rịa, có toán ở lại Đức Thạnh. Bữa đó có nghe súng DKZ, súng AK nổ, biết là anh em mình đánh. Nghe địch phản pháo, má nói chị ra xem anh em đàng mình có bị làm sao không. Sáu Ngà thấy các anh khiêng xác một anh băng qua cánh đồng, vượt con suối nhỏ, vô chân đồi, đào hố chôn. Chị về kể cho má, thấy rõ anh mặc chiếc áo bộ đội màu xanh, đẫm máu, tướng lớn con. Má thường nói với Ngà: Tội nghiệp, chỉ còn mấy bữa là giải phóng mà anh không được trở về, má giục Ngà hôm sau ra đắp lại mộ cho anh. Tết năm ấy, má nhắc Ngà ra thắp nhang cho anh. Rồi má qua đời (1976), Ngà đưa ra chôn má ngay cạnh mộ anh. Năm sau ba cũng qua đời, chôn cạnh mộ má. Lần nào ra thắp nhang cho ba má, Ngà đều thắp cho anh. Mỗi lần thắp nhang, Ngà lại nhớ như in hình ảnh người chiến sỹ ấy. Năm 2000, Ngà xây mộ cho má, cho ba. Ngôi mộ người chiến sỹ ấy trở nên lẻ loi, xập xệ. Sáu Ngà đề nghị chính quyền xã cho hốt cốt về nghĩa trang liệt sỹ... Trở lại Phòng LĐ TB XH, chị Ngà lục lại hồ sơ, có biên bản bốc cốt, biên bản bàn giao về nghĩa trang. Anh Vân, phụ trách tổ quản trang tiếp nhận hài cốt. Suốt cả hành trình tìm mộ, mọi việc đều suôn sẻ, gặp được những nhân chứng, những người đồng đội, những cơ sở Cách mạng đầy lòng nhân ái, ai cũng xúc động và cảm thấy may mắn như có bậc thần linh phù hộ. Hồ sơ, tư liệu và chỉ dẫn của các nhân chứng đều khớp nhau. Vậy mà vẫn có trục trặc. Một trục trặc nhỏ thôi. Đó là khi trở về nghĩa trang liệt sỹ tỉnh, anh Vân phụ trách tổ quản trang cứ băn khoăn tra sổ rồi đưa đoàn ra thực địa. Ngôi mộ an táng tại lô số 21, trong sổ quản lý đánh số thứ tự là 168, nhưng do bữa cải táng phải đợi Tỉnh tổ chức làm lễ nên có 2 hài cốt khác do thân nhân tự quy tập về an táng trước, vì vậy, trên thực tế, ngôi mộ của Đỗ Đình Đồng nằm ở vị trí 170. Anh Vân đã viết giấy xác nhận cho thân nhân theo vị trí thực tế (lô số 21, mộ 170), nhưng trước đó, trong văn bản đề nghị xây mộ gửi Sở LĐ TB XH anh đã ghi số thứ tự mộ là 168. Vì vậy việc nhận mộ vẫn còn phải chờ xác minh. Ngôi mộ vẫn còn đó, không lẫn được vì đợt quy tập này, trong lô, cùng hàng, chỉ có mộ anh là chưa có tên. Trên bia ghi rõ: Liệt sỹ chưa biết tên, quy tập từ ấp Đường Cùng về. Những người biết tên anh, biết mộ anh và thân nhân vẫn còn chờ thủ tục thêm một tuần nữa. Thân nhân của liệt sỹ Đỗ Đình Đồng cảm thấy chuyến đi tìm mộ thật là may mắn. Nhưng chúng tôi biết rằng, đối với những trường hợp khác, hành trình tìm mộ liệt sỹ vẫn còn không ít gian nan. Vũng Tàu, 2007 N.Đ.T. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2017, 07:03:45 pm Đại tá Hoàng Hải, Nguyên Trưởng phòng Tổ chức Cơ quan Tổng cục Chính trị. CÓ MỘT THƯƠNG BINH NHƯ THẾ “ ...Ra khỏi chiến tranh đã mấy thập niên, lại là một thương binh, vậy mà anh vẫn còn nhớ - Một sức nhớ kỳ diệu, đối với 134 liệt sĩ là những đồng đội của anh đã hy sinh tại chiến trường, không cần một sổ ghi chép nào. Đó chính là thương binh Trần Thanh Hải, nguyên chiến sĩ Sư đoàn 3-Sao Vàng, đã phục viên”. Trần Thanh Hải sinh năm 1950 tại thị xã Hòa Bình, nay là Thành phố Hòa Bình, nơi có Nhà máy Thủy điện khổng lồ của Đất nước từ những năm 80 của thế kỷ 20. Như bao thanh niên trong thời chiến, học xong phổ thông, chưa đủ 18 tuổi, Hải xung phong nhập ngũ (tháng 4 năm 1968). Sau đợt huấn luyện và đào tạo tại trường Hạ sĩ quan của Sư đoàn 320B, tháng 12 năm 1968, trong đội hình tiểu đoàn 496 tỉnh Hà Tây, anh hành quân vào chiến trường Khu 5. Trần Thanh Hải được bổ sung về đại đội 1, tiểu đoàn 18, Sư đoàn 3-Sao Vàng, chiến đấu trên địa bàn 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Tháng 5 năm 1970, đại đội trưởng Trần Thanh Hải được điều về chỉ huy đại đội 2, tiểu đoàn 7, thuộc tỉnh đội Quảng Ngãi ( Năm 1970, theo lệnh của Quân khu 5, trung đoàn 22, Sư đoàn 3 - Sao Vàng được giải thể, tiểu đoàn 7 bổ sung về tỉnh Quảng Ngãi, tiểu đoàn 8 bổ sung về tỉnh Bình Định, tiểu đoàn 9 về tỉnh Phú Yên, các đơn vị trực thuộc trung đoàn 22 được bổ sung cho các trung đoàn 2 và 12). Trần Thanh Hải liên tục chiến đấu trên chiến trường Quảng Ngãi cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Nhớ lại ngày ấy, Trần Thanh Hải kể: “ Sau đòn choáng váng năm Mậu Thân 1968, Mỹ, ngụy điên cuồng phản công “ tìm diệt và bình định”. Ở Khu 5, tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định là một trọng điểm đánh phá của chúng. Sư đoàn 3 - Sao Vàng là một trong những mục tiêu “tìm diệt ”của Mỹ, ngụy. Gian khổ, ác liệt tưởng như không thể sống nổi. Cơm không có ăn, quần áo không đủ mặc, súng đạn thiếu, quân số thiếu. Bọn địch tuyên truyền “Lính Bắc Việt đã tập kết lần thứ 2.”Có thể nói, hầu như không có nơi nào không có bom đạn và quân địch đánh phá. Từ Bình Khê, Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Bịnh) đến Ba Tơ, Nghĩa Hành (tỉnh Quảng Ngãi)... trên trời, dưới đất, lúc nào cũng có tiếng máy bay, tiếng rung chuyển của bom B52 rải thảm. Pháo trong đất liền, pháo trên các tàu chiến, liên tục bắn phá. Máy bay trực thăng trinh sát loại “cán gáo”, “rọ heo” có trực thăng vũ trang và máy bay phản lực yểm trợ, ra sức tung hoành, mò vào tận các hốc núi, khe suối sục tìm nơi đóng quân của bộ đội. Trực thăng 2 chong chóng (H34) chở máy ủi, dây thép gai, pháo hạng nặng thiết lập trận địa trên các núi cao để chi viện cho bộ binh chúng lùng sục, càn quét sâu vào hậu cứ của ta. Ở vùng giáp ranh và đồng bằng, chúng dùng hàng trăm chiếc xe tăng, xe bọc thép, dàn hàng ngang chà xát từng khu đồi, đồng ruộng, làng xóm, dồn đồng bào ta vào các khu tập trung, tạo nên những vùng trắng ở Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định), ở Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành (tỉnh Quảng Ngãi)...Làng xóm, quê hương bị tàn phá thành bình địa, thành vùng trắng. Chúng đang làm cái gọi là “tát nước để bắt cá”. Bộ đội hoạt động trong tình cảnh, đi đánh trận phải đếm từng viên đạn AK. Đánh trận xong trở về, vai khênh thương binh, vừa đánh địch vừa cắt rừng để lấy lối đi. Có lúc thương binh chịu chết vì đói hoặc không có thuốc. Hãn hữu, gặp bộ đội địa phương hoặc đồng bào cho ít gạo nhưng không đủ nấu, đành chia mỗi người một nắm nhai để giữ sức...”. Nghe Hải kể, mọi người vô cùng xúc động. Bản thân anh, anh nhớ rõ, từ ngày nhập ngũ đến 30 tháng 4 năm 1975 là tròn 7 năm, trải qua 2.555 ngày đêm. Anh trưởng thành từ một chiến sĩ đến Đại đội Bậc trưởng. Một Đại Đội trưởng dũng cảm, bám trụ địa bàn, bám dân và hết lòng thương yêu đồng đội. Anh đã lập nhiều thành tích, được tặng danh hiệu “ Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe tăng”, được tặng Huân chương Chiến công Giải Phóng, được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh và được cử đi dự Đại hội Liên hoan Anh hùng – Chiến sĩ thi đua Quân giải phóng Miền trung Trung Bộ ( Quân khu 5 ) tổ chức ngày 18 tháng 5 năm 1974 ở Tây Quảng Nam. Do những năm tháng chiến đấu ở địa bàn gian khổ, ác liệt, nhiều lần bị thương, mất 61% sức khỏe nên tháng 4 năm 1978, Trần Thanh Hải được phục viên với quân hàm trung úy. Cũng từ đó, anh chuyên tâm tìm kiếm và cung cấp thông tin về các liệt sĩ là những đồng đội của anh. Tính đến nay, anh đã vẽ được 134 sơ đồ mộ chí cùng với những thông tin cần thiết để thân nhân liệt sĩ có cơ sở đi tìm. Chúng tôi nói với nhau: trời phú cho anh trí nhớ đặc biệt hay do anh là một cán bộ luôn sống chết với chiến sĩ? Mọi người đều khẳng định: cả 2 yếu tố ấy đã hòa quyện ở anh. Trong đó, yếu tố: tình thương yêu đồng đội, cùng sát cánh chiến đấu với chiến sĩ, tự tay mình chôn cất chiến sĩ là ấn tượng sâu sắc nhất, khó phai mờ nhất. Bởi như anh nói, mỗi lần nhắc tên một đồng đội hy sinh là hình ảnh liệt sĩ ấy như hiện lên trước mặt, từ tên, tuổi, quê quán, ngày nhập ngũ, đơn vị, trận đánh, trường hợp hy sinh, nơi hy sinh, nơi mai táng. Có liệt sĩ, anh nhớ cả tính cách, đặc điểm riêng khi còn sống. Nếu không thật sự gắn bó, không thật sự yêu thương, không thật sự trách nhiệm... thì làm sao anh có thể nhớ được như vậy! Cũng từ tình thương cao cả ấy mà những năm qua, dù hoàn cảnh kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào lương giáo viên của vợ và trợ cấp thương tật của anh, nhưng anh vẫn kiên nhẫn làm việc tình nghĩa ấy mà không đòi hỏi bất kỳ một sự đãi ngộ nào, không cần một sự đánh giá, biểu dương nào. Có lúc, anh dùng cả tiền trợ cấp thương tật của mình, thậm chí cả lương giáo viên ít ỏi của vợ để giúp đỡ thân nhân liệt sĩ ở vùng sâu, vùng xa có hoàn cảnh khó khăn đến nhà anh nhờ cung cấp thông tin. Nhiều năm liền, căn nhà bé nhỏ của anh là nơi tá túc của thân nhân liệt sĩ mà mọi chi phí đều do gia đình anh chu cấp. Có trường hợp ( hơn 10 lần), anh trực tiếp cùng gia đình liệt sĩ trở lại chiến trường xưa ở Mộ Đức, Nghĩa Hành..., lặn lội mọi cánh rừng, tìm mộ đồng đội, đưa vào nghĩa trang địa phương hoặc đưa về quê hương. Chiến tranh tàn khốc, đau thương và mất mát còn có thời điểm kết thúc. Nhưng hậu quả của chiến tranh thì không biết đến bao giờ mới có hồi kết. Con số 134 sơ đồ mộ liệt sĩ mà anh nhớ, anh lập chỉ là con số rất nhỏ trong số gần một ngàn cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 và hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3-Sao Vàng, của tỉnh đội Quảng Ngãi đã anh dũng hy sinh. Vì vậy, Trần Thanh Hải luôn tâm niệm rằng: còn sống, anh còn cùng với đồng đội tiếp tục tìm kiếm liệt sĩ và luôn coi đó là món nợ lớn đối với những người đã hy sinh, là cách “đền ơn, đáp nghĩa” mà anh có thể làm được. Hiện nay, công việc tìm mộ liệt sĩ của Trần Thanh Hải vẫn tiếp tục, nhưng biết điều kiện sức khỏe và hoàn cảnh kinh tế gia đình anh, Chi hội Cựu chiến binh Tiểu khu 13 (do anh làm Chi hội trưởng) đã xin đảm nhận phần việc tiếp đón thân nhân, gia đình liệt sĩ và đảm nhận việc chuyển các sơ đồ mộ chí và những thông tin về liệt sĩ do anh cung cấp, đưa lên báo, đài phát thanh và truyền hình. Xin hãy đến địa chỉ: Trần Thanh Hải, tổ 13B, phường PL, Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Điện thoại: 02183895... luôn có người sẵn sàng đón tiếp. Hà Nội, tháng 10 năm 2009 H.H. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2017, 07:04:33 pm Lê Thanh Hải, Nguyên chiến sĩ Sư đoàn 3- Sao Vàng. TRỌN NGHĨA VẸN TÌNH VỚI ĐỒNG ĐỘI Đoàn cựu chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng đang nghỉ hưu tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã 35 năm nay mới có điều kiện trở lại thăm chiến trường xưa, chủ yếu là địa bàn 2 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi. Tâm nguyện của mọi người là tìm mộ đồng đội, thắp nén hương cho các liệt sĩ của đơn vị đã nằm lại ở chiến trường. Thăm lại các vùng quê, thăm đồng bào, đồng chí đã cùng chia ngọt, sẻ bùi trong những năm tháng gian nan đánh Mỹ, cứu nước. Được giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan, đoàn thể hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, anh em trong đoàn đã đi viếng hầu hết nghĩa trang các huyện, xã. Đặc biệt là huyện Hoài Ân, nơi Sư đoàn ra đời và gắn bó suốt 10 năm chống Mỹ, nơi đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã anh dũng hy sinh. Đến nghĩa trang xã Ân Tín, sau khi thắp hương hết lượt các phần mộ, chúng tôi không thấy mộ 2 liệt sĩ Đỗ Công Phan và Đỗ Văn Bản. Tìm hiểu cán bộ địa phương, xem hồ sơ lưu trữ tại cơ quan chính sách huyện cũng không có. Đồng chí Trần Văn Phúc, thành viên trong đoàn kể: “Tháng 11 năm 1974, tôi, đồng chí Phan, đồng chí Bản thuộc Tiểu đội 2, Trung đội 1, Đại đội 15 công binh, Trung đoàn 141, được giao nhiệm vụ giữ chốt ở Cao điểm 174, phía Bắc xã Ân Tín, còn gọi là đồi Vệ Binh. Những đợt chiến đấu không cân sức liên tiếp diễn ra. Địch sử dụng máy bay, xe tăng, pháo binh yểm trợ cho bọn bộ binh tiến công. Chúng tôi bám trụ chiến đấu suốt buổi, sử dụng tất cả các loại vũ khí có trong tay, từ B40, AK, CKC, lựu đạn, nhưng vì lực lượng quá ít, đạn hết, hai đồng chí Phan và Bản đã hy sinh ngay tại chiến hào. Chính bom địch đã vùi xác các đồng chí ấy. Còn tôi may mắn sống sót, mình đầy thương tích bò về được. Địch chiếm Đồi 174. Chắc chắn thi hài các đồng chí ấy vẫn còn trên đó”. Nghe Phúc kể, ai cũng bùi ngùi xúc động. Mọi người hạ quyết tâm đi tìm hài cốt 2 đồng chí Bản và Phan. Được hướng đẫn của cán bộ xã Ân Tín, Phúc đẫn đầu vượt suối, băng rừng. Đường đi gai góc mọc đầy. Trời nắng nóng, mồ hôi ướt đẫm nhưng ai cũng âm thầm tiến bước. Sau hơn 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi tới Đồi 174. Phúc sung sướng nói to: “ Đây rồi! Dấu vết hầm hào vẫn còn”. Khi xác định chăc chắn có thể tìm được hài cốt, chúng tôi cử Phúc liên lạc với thân nhân Đỗ Công Phan ở Vũ Vinh, Vũ Thư, Thái Bình; thân nhân Đỗ Văn Bản ở An Lão , Hải Phòng. Trước đây, các gia đình đã liên lạc với Phúc nhưng Phúc chưa có điều kiện đi tìm. Khi các gia đình thân nhân vào, chúng tôi tổ chức lên Đồi 174. Ngày đầu tiên, đào bới mãi vẫn không tìm thấy dấu vết gì. Đêm về, Phúc trăn trở suy nghĩ, xác định lại nơi phòng ngự, phán đoán khả năng di chuyển chiến đấu của Phan và Bản. Các gia đình thì thắp hương cầu khấn linh hồn người đã mất, xin phù hộ. Ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục lên đồi. Phúc dạo quanh, tìm rộng ra theo suy đoán từ ban đêm. Bất ngờ, anh thấy một con rết khá to chạy trước mặt rồi chui vào một cái lỗ, mất hút đúng vào nơi anh nhớ lại đêm qua. Một linh cảm vô hình như mách bảo Phúc, đó là điềm báo nơi bạn anh nằm. Phúc cho mọi người đào ở khu vực ấy. Đào sâu khoảng 1,2 mét thì gặp chiếc bi đông. Tất cả phấn chấn hẳn lên, đào tiếp. Một khẩu súng B40 và 2 băng đạn AK lộ ra. Tiếp đến là chiếc thắt lưng và đôi dép cao su. Những nhát đào nhẹ dần và thận trọng hơn vì ai cũng hiểu, đã gần đến nơi đồng đội nằm. Đúng như vậy, chỉ mấy nhát xẻng tiếp theo, chúng tôi đã thấy hài cốt các anh...Mừng mừng, tủi tủi, tất cả chúng tôi xúm vào, gạt từng nắm đất, lựa nhặt từng mảnh cốt, kiểm tra kỹ lưỡng để không bị sót mảnh nào. Đảng bộ, Chính quyền và bà con xã Ân Tín đã long trọng tổ chức buổi tiễn đưa hài cốt liệt sĩ Đỗ Văn Bản và Đỗ Công Phán trở về quê hương trong niềm xúc động và biết ơn sâu nặng. Các đồng chí nguyên là cán bộ huyện Hoài Ân năm xưa, như ông Dũng, Bí thư Huyện Ủy năm 1971-1972, bà Hương, Thường vụ Huyện Ủy năm 1972-1973 cũng có mặt. Các ông, bà là những người đã trực tiếp chứng kiến mọi ác liệt, hy sinh mà cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3- Sao Vàng đã trải qua tại ngọn đồi 174 khói lửa. Trở về với người thân ở quê hương miền Bắc, hài cốt 2 liệt sĩ cũng được Đảng bộ, Chính quyền, các cơ quan đoàn thể và nhân dân hai địa phương Vũ Thư (Thái Bình) và An Lão (Hải Phòng) đón nhận, tổ chức lễ an táng trong niềm xúc động, buồn vui lẫn lộn. Anh em chúng tôi, nhất là Trần Văn Phúc cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản vì đã làm được một việc nghĩa, đã “ Trọn Nghĩa, Vẹn Tình” với đồng đội. Tuy nhiên, chúng tôi không khỏi bùi ngùi thương nhớ đối với hàng vạn liệt sĩ của Sư đoàn đang nằm ở khắp các chiến trường, trong đó, biết bao đồng chí chưa tìm thấy mộ, chưa được một lần hương khói. Chúng tôi cũng trăn trở với gần 1 vạn anh chị em là thương binh, bệnh binh hoặc bị nhiễm chất độc da cam...mà đời sống đang gặp nhiều khó khăn, vất vả. Chỉ biết nhắc nhau hãy sống tốt hơn, tình nghĩa hơn và nhắc nhở con cháu sống và làm việc xứng đáng với tất cả những gì mà thế hệ ông cha đã đem lại. Xóm 16, xã Nghi Phú, Nghi Lộc, Nghệ An L.T.H. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2017, 07:05:19 pm Đại tá Lê Anh Sáng, Nguyên Chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn 12, Sư đoàn 3-Sao Vàng. NHỮNG TẤM LÒNG ĐỐI VỚI LIỆT SĨ Nhập ngũ tháng 2 năm 1978, kết thúc 3 tháng huấn luyện tân binh, Nguyễn Văn Công được điều về Tiểu ban Quân giới Trung đoàn 12 vì Công có nghề thợ rèn ở quê. Tại đây, anh được bố trí làm thợ cả để sản xuất và sửa chữa cuốc, xẻng phục vụ bộ đội. Cuộc Chiến tranh Biên giới Tháng 2 năm 1979, Trung đoàn 12 đã chiến đấu sang ngày thứ 6. Thương binh chuyển về đội phẫu ngày một nhiều, yêu cầu bổ sung cơ sở vật chất và vận chuyển thương binh đặt ra cấp thiết. Lực lượng vận tải của trung đoàn không đáp ứng nổi. Tôi, lúc đó là Chủ nhiệm Hậu cần Trung đoàn, quyết định huy động thêm cán bộ, chiến sĩ của cơ quan và các đơn vị trực thuộc Phòng Hậu cần đi làm nhiệm vụ vận tải xuống các tiểu đoàn, đại đội. Bộ phận đi xuống Đại đội 61 do Nguyễn Văn Công phụ trách, có nhiệm vụ chuyển đạn ra và chuyển thương binh, tử sĩ về. Đường đi phải vượt qua những trọng điểm địch bắn pháo, ruộng lầy, ruộng bậc thang mới lên được trận địa phòng ngự. Bàn giao xong cơ sở vật chất cho đơn vị xong, Công bố trí cho anh em khênh thương binh và tử sĩ. Ai làm xong trước cứ theo đường cũ trở về trước, cuối cùng còn một mình Công với ca tử sĩ. Anh bàn với mọi người, cứ bó liệt sĩ vào võng chắc chắn để anh cõng đồng đội như cõng người đang sống. Đoạn đường từ trận địa về tới trạm phẫu khoảng 6 cây số, nhưng phải qua ruộng bậc thang, suối đá, ruộng sình lầy. Thỉnh thoảng pháo địch bắn tọa độ hàng năm, sáu phút liền. Công không dám đặt đồng đội xuống mà cố gắng chạy. Hai vai tê dại, hai chân mỏi nhừ, nhiều lúc muốn khuỵu xuống nhưng anh không dám nghỉ. Nghỉ là sẽ không bước được nữa, kinh nghiệm đã cho Công biết như vậy. Cuối cùng, anh đã về tới Trạm phẫu. Có tiếng gõ cửa, tôi vặn to ngọn đèn dầu, đồng hồ chỉ 2 giờ sáng. Công bước vào báo cáo đã hoàn thành nhiệm vụ chuyển đạn và đưa được 4 ca thương, 1 ca tử sĩ về an toàn. Tôi hỏi: - Lần đầu tiếp xúc với người chết như vậy, cậu có sợ không? Công trả lời: - Trước đây ở nhà, nói tới người chết, em không dám tới gần. Nhưng ở trận địa, thấy anh em bị thương, hy sinh em chỉ thấy thương và mong được chia sẻ, không hề có cảm giác sợ hãi. Tôi thực sự xúc động khi nghe Công kể về việc tự mình cõng tử sĩ với bao tình huống khó khăn. Một chiến sĩ mới 20 tuổi đời, một tuổi quân mà đã giải quyết mọi công việc trôi chảy và đầy tình nghĩa. Sáng hôm sau, trong buổi sinh hoạt cơ quan, tôi đề nghị đồng chí Hồng, Chính trị viên Phòng Hậu cần, biểu dương Công trước toàn đơn vị. Mấy ngày sau, địch đánh qua đường 1B. Pháo chúng bắn dày đặc tại Cây Số 3, cách Sở Chỉ huy Trung đoàn khoảng 2 cây số. Tiếp đó là những trận chiến đấu giữa bộ binh ta và địch. Thương binh, tử sĩ đưa về Trạm phẫu dồn dập, chứng tỏ sự ác liệt của cuộc chiến. Để giảm áp lực cho Trạm phẫu, tôi đồng ý với đề xuất của bác sĩ Bùi, Chủ nhiệm Quân y để Trạm phẫu chỉ tiếp nhận thương binh, còn liệt sĩ chuyển thẳng ra khu vực mai táng. Khoảng 11 giờ hôm ấy, tôi ra khu khâm liệm, thấy có 6 ca tử sĩ, 2 ca đã khâm liệm xong, số còn lại đang nằm trên cáng. Hai chiến sĩ gái đang lau mặt cho các liệt sĩ, cô nào cũng nước mắt đầm đìa. Tôi hỏi: “ Anh chị en đâu cả rồi?”. Các cô trả lời: “ Báo cáo Chủ nhiệm, anh Công đi lấy vải liệm, mấy chị đi lấy cơm và trứng chưa về”. Nói xong các cô òa lên khóc, vừa khóc vừa kể: “ Đây là anh Thời, Đại đội phó DKZ của Trung đoàn, mấy anh vận tải khênh về đến Trạm phẫu thì tắt thở. Trước khi tắt thở, anh nhìn mọi người như muốn nói điều gì nhưng không nói được”. Vừa dứt lời, các cô lại khóc. Tôi lặng đi vì xúc động trước tình đồng đội quý hóa ấy. Anh Hồng cùng mấy chiến sĩ mang cơm và trứng thắp hương cho các liệt sĩ. Tôi nói với Hồng phải làm chu tất các nghi lễ chôn cất tử sĩ như đã quy định, không được bỏ sót việc nào, kể cả việc bắn súng khi hạ huyệt, mặc dù địch cách đấy không xa... Chiến tranh kết thúc. Cơ quan triển khai tổng kết. Trong thành tích chung của Phòng Hậu cần đã đạt được, ấn tượng sâu sắc nhất của tôi là tình cảm của người lính trong ác liệt, hy sinh. Hầu hết họ là những chiến sĩ mới nhập ngũ, tuổi đời độ mười chín, hai mươi. Đất nước hòa bình mới hơn 3 năm. Tổ quốc lâm nguy, họ xung phong ra trận, sống chết vì nhau và bên nhau như ruột thịt. Thật đáng trân trọng và tự hào. Trong quyền hạn của mình, Đảng ủy và Chỉ huy Phòng Hậu cần đã quyết định khen thưởng và đề nghị trên khen thưởng cho nhiều người. Trong đó, Nguyễn Văn Công được đề nghị tặng Huân chương Chiến công Hạng 3. Đã 30 năm trôi qua, bây giờ nghĩ lại, tuy cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ biên giới Tổ quốc không dài và ác liệt như Cuộc Kháng chiến chống Mỹ xâm lược, nhưng nó có đặc thù riêng. Phía trước là ác liệt, hy sinh; phía sau, cách không xa lại là hòa bình, hạnh phúc. Người lính không có bản lĩnh, không có tình yêu thương đồng đội cao cả, chỉ ích kỷ nghĩ cho mình thì không thể có những việc làm như Nguyễn Văn Công, không có những biểu hiện như các chiến sĩ gái đối với những liệt sĩ, những đồng đội của mình. Viết những dòng này, tôi thầm mong, Sư đoàn 3-Sao Vàng của chúng ta hiện vẫn còn nhiều liệt sĩ đang nằm rải rác ở các chiến trường, chưa tìm được hài cốt hoặc chưa xác định được danh tính hài cốt. Nên chăng, chúng ta có thể tìm một hình thức nào đó để tỏ lòng tưởng nhớ đối với họ, tôn vinh họ. Để nói rằng, họ vẫn mãi mãi là những tấm gương của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn. Hà Nội, tháng 9 năm 2009. L.A.S. Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2017, 07:06:09 pm Mạnh Hùng, Phóng viên Báo Quân đội nhân dân. MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA TỪ BÀN TAY CHIẾN SỸ. Cái tin tốt lành: Trung đoàn 2, Sư đoàn 3- Sao Vàng vừa được xếp hàng đầu cùng 3 Trung đoàn trong toàn quân về xây dựng tổ chức doanh trại “Xanh – Sạch – Đẹp” sau cuộc kiểm tra của Tổng cục Hậu Cần tháng 8 năm 2004 không làm chúng tôi bất ngờ. Từ nhiều năm nay, cái đẹp của kỷ luật tự giác, của tình yêu đơn vị, môi trường văn hóa đã được lớp lớp cán bộ, chiến sỹ trẻ ở đây gây dựng, truyền lại cho nhau và bồi đắp. “Không phải nước sông công lính” Những ấn tượng ấm áp trong chúng tôi về Trung đoàn 2 lớn dần theo năm tháng. Không thể quên hơn 10 năm về trước, màu xám xỉn của khu doanh trại nhà tranh, nhà cấp 4 cũ kỹ, rệu nát. Tiếp đó là màu đỏ ối của vùng đồi đá ong bị cày xới, san lấp trong những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Sức máy, sức người cuốn chiếu từng ngày, từng giai đoạn xen những mùa huấn luyện, công tác theo đầu óc quy hoạch và kế hoạch hợp lý để rồi một khu doanh trại khang trang, bề thế và chính quy ra đời – Sắc đỏ, vàng của những tòa nhà nổi bật giữa màu xanh mát rượi của cây xanh, thảm cỏ. Doanh trại mà như công viên. Đến khu kho, khu chế biến, chăn nuôi mà không thấy mùi hôi, lại có vườn hoa... Những lời nhận xét, những lời ngợi khen như thế từ những đoàn kiểm tra, những vị khách từ 76 đoàn trong và ngoài Quân đội, và cả khách nước ngoài đến tham quan học tập kinh nghiệm khá nhiều. Và một lần nữa, trong sự quan sát của chúng tôi, những sự ví von khen ngợi ấy quả không quá lời. Theo bước chân Phó Trung đoàn trưởng Đàm Bảng đi thăm các tiểu đoàn, đại đội, điều chúng tôi quan tâm trước hết về cảnh quan đơn vị chính là những thảm cỏ. Cứ vuông đất nào không phải là đường, là vườn cây, luống rau là có cỏ mọc. Trời đã chuyển sang tiết đông lạnh, hanh hao mà cỏ vẫn bám dày bên lối đi, kể cả những sườn dốc dựng. Cỏ điểm xuyến bên luống hoa, cỏ phủ kín mặt hai sân bóng đá. Và kia nữa, trên “ngọn đồi tình yêu”, dưới bóng những gốc thông già là thảm cỏ mượt mà... xin chưa nói những tấn rau, tấn thịt lợn, thịt gà cùng những vườn rau xanh, bởi công việc tăng gia sản xuất dẫu sao cũng xuất phát từ nhu cầu có tính thực dụng, bắt buộc. Việc trồng cỏ, trồng hoa, những dãy hàng dâm bụt xanh rì bên lối đi, cả những bể nước-hòn non bộ kia và những bộ bàn ghế đá tự tạo quây quần ấm cúng kia nữa...Đó là những sản phẩm về tình yêu đơn vị của người lính. Chỉ khi người lính có nhu cầu làm đẹp cho nơi ở của mình, nghĩa là vượt cao hơn nhu cầu tất yếu, những sản vật ấy mới được yêu thương, chăm chút chỉn chu đến vậy. Trung tá, Chủ nhiệm Hậu cần Nguyễn Thành Nhất kể: Mỗi khi đi rèn luyện hay đi công tác ở nơi có đá, anh em lại chọn mang về để làm hòn non bộ. Cỏ thì thay nhau vào rừng xa hàng chục cây số bứng về... Đó là sáng kiến của anh em Tiểu đoàn 3, sau đó lan ra cả trung đoàn. Rặng dâm bụt, giàn hoa bìm bìm, hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền, vườn đu đủ...bên những lối mòn, những luống rau ngót trồng ven bờ ruộng...những dãy giàn bầu, bí, su su xòa ra hai phía khắp bờ ao...Có thể nói, không một mét vuông nào trong khu doanh trại của Trung đoàn 2 không được tận dụng có lý. Tất cả làm cho mỗi ngôi nhà thêm ấm cúng, gần gũi với hình ảnh quê hương, với tình đồng chí, đồng đội và cho cả những khách thăm như chúng tôi. Ấm cúng và thú vị hơn khi mỗi bước chân chúng tôi đều gặp những lời chào hỏi, giới thiệu, những nụ cười lính trẻ. Móng nền của một cơ quan doanh trại khang trang, tươi xanh, đẹp như công viên là công sức chiến sĩ với hơn 3,2 triệu mét khối đất đá được đào đắp, san lấp. Và nữa, khu trường bắn bảo đảm cho việc kiểm tra bắn đạn thật của tất cả các loại hỏa lực bộ binh trong biên chế, hệ thống V-A-C-G- (vườn, ao, chuồng, giàn), hệ thống phun nước cứu hỏa bán tự động lợi dụng độ cao của đồi để tạo áp suất nước...Cũng chính những đôi tay chiến sĩ đã làm ra một khối lượng sản phẩm tăng gia đáng khích lệ: thừa rau ăn, toàn rau sạch, mùa nào rau đó. Lợn, mỗi tiểu đoàn có từ 100 đến 120 con, bình quân 3,7 người có một đầu lợn. Cá, 8,5 kg/ người/năm. Trung đoàn tự bảo đảm 100% định lượng cá, thịt, trứng, đậu. Nếu như năm 1999, từ sản phẩm tăng gia, trung đoàn đưa vào ăn thêm được 250 đồng/người/ngày thì từ năm 2002 đến nay nâng lên 500 đồng... Công sức chiến sĩ đã đổ ra để chinh phục, cải biến vùng đồi đá ong được tiến hành không phải theo lối tư duy “nước sông, công lính” mà đều gắn với sự quy hoạch, tính toán khoa học, kinh tế, trọng hiệu quả; gắn với sự hào hứng, năng động của từng chiến sĩ. Xin kể mấy ví dụ nhỏ: Không ngẫu nhiên Tiểu đoàn 2 làm cả hệ thống giàn trồng cây leo lấy quả quanh khu ở của mình, bởi vì, doanh trại ở trên đồi cao, đất đá ong quá cứng, không đất màu, xa nguồn nước, do đó phải chọn cách đào hố, lấy bùn, lót phân xanh, tạo nên những hố đủ dinh dưỡng, tiết kiệm được công sức...Cũng không ngẫu nhiên mà Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 1 chọn cách nuôi vịt giống thay vì mua vịt đẻ giá 50.000 đồng/con. Vịt giống tự nuôi, giá thành rẻ hơn và hơn nữa, tránh được dịch bệnh từ bên ngoài. Lợn giống cũng vậy, anh em nuôi lợn nái giống Móng Cái, chấp nhận tăng trưởng thấp nhưng thịt ngon hơn. Cũng chỉ có chuyện Trung đoàn 2 lát gạch hoa cho chuồng lợn. Bởi vì, như vậy, lợn cọ mình vào thành chuồng sẽ không bị xây xát nhiễm trùng mà lại dễ dàng dọn vệ sinh. Chuồng lợn sạch đẹp cũng làm cho người nuôi nấng, chăm sóc chúng thêm hứng thú. Hệ thống vòi phun tự động tưới nước ở vườn rau tập trung không chỉ đỡ sức người mà còn tạo nét đẹp cho cảnh quan đơn vị... Tiêu đề: Re: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2017, 07:07:13 pm TIÊU ĐIỂM: Chiến Sĩ Giờ thứ 8 – Giờ hoạt động thể thao và tăng gia trong ngày, cả khu doanh trại Tiểu đoàn 2 vang động tiếng hò reo. Trên sân bóng đá có đến bốn chục cầu thủ quần nhau, các nhóm ngồi ngoài liên tục cổ vũ. Các sân cầu lông, bóng chuyền cũng vậy. Ở các khu tăng gia của tiểu đoàn, đại đội, từng nhóm hai, ba chiến sĩ tưới rau, bắt sâu. Ai cũng có một việc gì đấy. Không có cảnh chiến sĩ ngồi không, tán gẫu. Làm thế nào để người chiến sĩ luôn ở vị thế chủ động, cả trong học tập, huấn luyện; cả trong sinh hoạt bình thường hàng ngày? Đó là tiêu điểm mà cán bộ các cấp ở Trung đoàn 2 luôn hướng tới và dày công xây dựng. Đi một vòng, trở về về thăm nhà ở của Chỉ huy Trung đoàn, chúng tôi mới thấy một điều bất ngờ: Nhà ở của Chỉ huy là ngôi nhà cũ nhất, vẫn là ngôi nhà trung đoàn nhận bàn giao từ đơn vị trước đóng quân tại đây. Trong khi các đại đội có máy thu hình thế hệ mới, màn hình phẳng và siêu phẳng thì chiếc máy ở nhà Chỉ huy vẫn là máy cũ đã hơn 5 năm tuổi. Cũng ít có đơn vị nào như Trung đoàn 2 làm nhà tắm nước nóng cho chiến sĩ. Đó là một khu bếp đun bằng than đá, tính ra chỉ hết 150 đồng một lượt người tắm. Bếp đun nước cấp cho các nhà tắm qua hệ thống vòi hoa sen. Cũng ở Trung đoàn 2, nơi đầu tiên trong Sư đoàn Sao Vàng trang bị bình nước lọc ngoại đến từng trung đội và trang bị đầy đủ tủ bảo quản thực phẩm cho từng bếp ăn; có máy phát điện, bếp Bi-ô-ga, hệ thống biển, bảng, sân cầu lông có đèn tập luyện và thi đấu vào buổi tối... Các đồng chí Chỉ huy Trung đoàn trao đổi với chúng tôi rằng, những trang bị trên đều lấy từ tiền tăng gia. Trung đoàn không có nguồn thu riêng nào khác. Tiền tăng gia còn góp vào kinh phí hoạt động văn hóa, thể thao, hỗ trợ đơn vị kết nghĩa. Đặc biệt, còn đủ chi dùng cho các đợt tổ chức bộ đội về Hà Nội viếng Lăng Bác, tham quan các Bảo tàng.... Một điều rất đáng ghi nhận ở Trung đoàn 2 là sự dân chủ xuyên suốt trong mọi hoạt động. Dân chủ công khai trong kinh tế tạo cho anh em niềm tin vào cấp trên. Dân chủ góp ý với Chỉ huy tạo cho đơn vị không khí thoải mái, ấm cúng. Phòng Chỉ huy luôn rộng mở. Chúng tôi tìm hiểu kỹ các “hòm thư góp ý”gắn ở các khu nhà dịp này vì sao không có thư gửi. Anh em trả lời: Nếu có điều gì thắc mắc, chúng tôi nói thẳng với cán bộ mà không ngại, thành ra “hòm thư góp ý” trở nên đói thư. “ Ngoài doanh trại không có bóng chiến sĩ rong chơi, vào cổng gác gặp tư thế nghiêm trang của người lính, trong doanh trại thấy mỗi người mỗi việc, biết ngay là một đơn vị quy củ, nề nếp”. Đó là lời nhận xét của một vị khách quân đội nước bạn khi tới tham quan Trung đoàn 2. Còn một cựu chiến binh về thăm đơn vị, bên cạnh niềm vui chung lại có băn khoăn hỏi, đại ý: Bộ đội sướng quá thế này liệu có chịu được khó khăn, gian khổ khi chiến đấu không? Qua tìm hiểu Trung đoàn 2 từ lịch sử đến hiện tại, chúng tôi xin mạnh dạn thưa rằng: Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã tự tạo nên cuộc sống cho chính mình bằng tất cả tình yêu của người lính. Họ trân trọng những sản phẩm do mình tạo ra và sẽ có trách nhiệm để bảo vệ thành quả đó. Đó là cơ sở hình thành bản lĩnh của người chiến sĩ sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình. Chúng ta hãy tin ở họ. Tháng 11 năm 2004. M.H. HẾT |