|
Tiêu đề: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2017, 09:50:29 pm - Tên sách: Béc-lin tháng năm 1945 - Tác giả: Ê-lê-na-rgiép-xcai-a; Đức Thuần dịch - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 1988 - Số hóa: Giangtvx (http://i479.photobucket.com/albums/rr153/Giangtvx/moi/00%20bia%20-%200001_zpspjkevzu6.jpg) VÀO VÁC-SA-VA Cuối năm 1944, tập đoàn quân xung kích số ba, nơi tôi làm phiên dịch quân sự trong bộ tham mưu, được lệnh chuyển sang Ba Lan. Lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh, chúng tôi hành quân bằng đường sắt, chúng tôi vượt qua Xê-lét. Qua cánh cửa mở rộng của toa tàu hàng chở chúng tôi, tôi nhìn rõ những cánh cửa sổ sáng ánh đèn với cây thông trên bậu cửa. Đã là tuần lễ Giáng sinh. Suốt ba năm ròng rã chủng tôi chỉ đi trên những miền đất chỉ có một quang cảnh chung là chiến tranh. Thế nhưng ở đây, qua những khung cửa sổ sáng ánh đèn thoáng hiện và lưót qua mắt chúng tôi là một cuộc sống khác, một cuộc sống có vẻ xa lạ, cho dù vẫn còn nặng nề, gian khổ, nghèo nàn, nhưng dầu sao cũng vẫn là một cuộc sống. Cuộc sống đó đang hồi hộp đợi chờ và nung nấu bao Ý nghĩ về hòa bình. Trước mắt đã là Vác-sa-va. Tôi muốn nói kỹ hơn về thành phố này sau, còn ở đây tôi chỉ lướt qua thôi. Chúng tôi từ một vùng ngoại ô Pra-ha tiến vào Vác-sa-va qua thành phố Vi-xla. Màn sương mù dày đặc lạnh ngắt từ bờ sông tỏa lên, phủ mờ cả thành phố đã bị tàn phá hầu hết. Người lính gác cầu phao luôn đưa tay xoa xoa đôi tai lạnh cóng. Những nhip cầu bị đánh gục xuống sông Vít-xla nhấp nhô cong queo từng đoạn nhô lên mặt nước. Các chiến sĩ Ba Lan đang bì bõm trong nước, chèo lắp những khoang phao cầu. Tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy ở thành phố này khi đã sang được bờ đều không thể diễn tả bằng lời được. Những đống đồ nát, những cảnh điêu tàn của cái thành phố đáng tự hào này - tấn bi kịch và sự cao cả hùng vĩ của nó - sẽ mãi mãi khắc sâu vào ký ức con người Sau những trận đánh giải phóng Vác-sa-va, bộ đội mặt trận chứng tôi đồng loạt tiến nhanh lên trước nhằm phát huy những thắng lợi đã giành được. Chúng tôi lướt nhanh cạnh những cây thánh giá mang tượng chúa Giê-su nằm ngổn ngang hai bên đường và những tấm biển gỗ vê người lính đang cuốn lại xà cạp dưới chân với dòng chữ: "Hãy cùng nhau tiến tới Béc-lin!". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2017, 05:30:24 am Dọc đường chúng tôi được lệnh nghĩ một ngày tại thị trấn N. (Tôi quên mất tên gọi của nó). Trong ký ức vế thị trấn đông dân này chỉ còn lưu lại được những hình ảnh tiêu điều của những ngôi nhà nhỏ đổ gục, xiêu vẹo, tấm biền sắt tây hoen gỉ của hiệu bánh mỳ "Pieczywo" lay lắt đung đưa trên cột điện thoại, những cánh cửa cháy xém cùng mảnh kính vỡ và đá dăm lạo xạo dưới chân. Sau ngày sau khi giải phóng Vác-sa-va các đơn vị chúng tôi đánh chiếm thành phố Brôm-béc (thành phố Bư-gốt theo tiếng Ba Lan), và tiếp tục tiến lên truy kích quân địch đang tháo chạy. Đường phố đặc biệt nhộn nhịp. Hầu như toàn thể nhân dân Ba Lan ở thành phố Bư-gốt đều rời khỏi nhà, đổ ra đường phố. Mọi người ôm lấy nhau, cười nói và khóc nức nở. Và trên ngực áo mọi người lất phất rung rinh mẩu cờ nhỏ màu trắng - đỏ. Từng đám trẻ con đua nhau chạy reo hò lạc giọng biểu lộ sự vui sướng phấn chấn của mình. Nhiều em bé trong bọn chúng không thể biết được rằng, tiếng reo hò của các em đã gây những cảm xúc mãnh liệt mà những người lớn tuổi hơn đã hầu như quên đi trong năm năm bị áp bức, đau khổ và đọa đày là thời kỳ mà ngay cả tiếng nói to cũng không được phép. Nếu như có một người Nga xuất hiện đâu đó trên đường phố thì lập tức chung quanh anh sẽ hình thành ngay một đám đông. Mặc dầu đang là tháng giêng giá, rét và có tuyết rơi nhưng thành phố vẫn rộn lên không khí mùa xuân qua tiếng cười nói rộn rã của những dòng người, tiếng hò reo la hét của trẻ em. Ít giờ sau đường phố Bư-gốt lại tràn ngập thêm những tốp tù binh được giải thoát khỏi các trại tập trung phát xít: những người lính Pháp lặng lẽ,những tốp lính Anh cao gầy trong quân phục bằng vải ka ki, những người lính I-ta-li-a, những con người cách đây không lâu còn là đồng minh của người Đức thế nhưng cũng đã bị dồn vào các dãy hàng rào dây thép gai, lúc đầu còn ngỡ ngàng đứng tách ra thành nhóm riêng nhưng dần dần cũng hòa chung vào dòng người hân hoan trong không khí ngày hội. Những người lính Nga và Ba Lan đứng gác ở đầu cầu, không cần tránh dòng xe qua lại, ùa ra ôm chầm lấy những con người đủ các thành phần các dân tộc khác nhau vừa được giải phóng. Tiếng ca bất bật lên, vang vang phấn chấn... Một cụ già mù đang lần bước trên vỉa hè, trên mũ da cừu gài một ngọn cờ nhỏ Ba Lan, tay đeo dải băng vàng viền đen. Ông cụ đứng lại, nghển cao đầu như cố nuốt lấy tiếng huyên náo trên đường phố. Và kia, một người lính Ba Lan ngà ngà say đang khoác tay hai trung sĩ Pháp. Còn đây là một anh chàng phi công Mỹ cũng vừa được giải phóng khỏi trại tù binh bận bộ quân phục màu phòng không, đầu trần và gặp bất cứ ai cũng kéo dừng lại, ôm hôn, bắt tay cười ngây ngất, nét mặt rạng rỡ hạnh phúc. Một ngõ cụt, chật hẹp chạy thẳng ra ngã tư đường phố và đoàn "trẩy hội" không đi vào đấy. Dọc theo đường hẻm này là một dãy dài đoàn người với hòm xiểng, tay nải, túi bị xếp đầy, chồng chất trên xe ngựa, xe trượt và cả trên lưng. Đó là nhóm người Đức, chủ các trang trại đang chuẩn bị chuồn khỏi "dinh cơ" của chúng để chạy trốn về bất cứ nơi đâu chúng có thể đi được. Một người Ba Lan cam đầu đám thiếu niên đứng chặn lối đi. Một mụ đàn bà Đức khoác chiếc bành tô bẩn thỉu đang cố giải thích điều gì đó với người Ba Lan ngồi trên ngựa còn anh ta thì cứ vung gậy chỉ vào các đống túi, bị thét lên: "Sao không nói bằng tiếng Ba Lan ? Sao không nói bằng tiếng Ba Lan ?". Tôi liền lay vai anh ta hỏi: "Anh làm gì vậy ? Để cho họ đi". Anh ta ngẩng nhìn lên nét mặt đầy căm phẫn và nước mắt. Anh nhìn tôi, đúng hơn là nhìn vào chiếc áo quân phục và ngôi sao nhỏ trên mũ tôi và dịch sang một bên. Cứ vậy anh ta căm giận và có vẻ lo lắng nhìn chúng tôi: có lẽ anh ta không thể chịu nổi cái cảnh tượng là tại sao lại để cho đám người Đức kìa hôm nay được tự do ra đi trên mảnh đất sau khi đã xảy ra tất cả những gì do chúng gây nên. Làn sóng ngày hội lôi cuốn chúng tôi hòa vào khung cảnh lồng lộng trên đường phố. Ở đây mọi người đều cảm thấy tràn ngập không khí tự do và trong ngày hôm ấy, hình như ai ai cũng đều không tiếc một thứ gì đối với những người khác. Chúng tôi say sưa vui cùng đoàn người và không hề biết mình ra tới ngoại vi thành phố từ lúc nào. Trên đường cái lớn chúng tôi gặp một đoàn người tay cầm một chiếc khăn tay lớn màu xanh - trắng - đỏ đi trước. Khi đoàn người tới gần chúng tôi nhìn thấy những tù binh Pháp trong những chiếc áo khoác cũ kỹ, sờn rách đang đi hai bên và ở giữa là những người phụ nữ, quấn mình trong những chiếc chăn, trong các bao tải và có người chỉ quấn độc một chiếc áo khoác rách rưới. Đó là đoàn phụ nữ Do Thái vừa thoát ra khỏi trại tập trung. Té ra những người tù binh Pháp đã bảo vệ và mang hộ đồ đạc cho đoàn phụ nữ này trên suốt quãng đường dài mười cây số từ trại tập trung ra tới thành phố. Tuy đồ dạc không nhiều nhặn gì nhưng chúng ta cũng rõ là, đối với một con người bị đau khổ đọa đầy bao ngày tháng ròng rã thì một chiếc kim thôi cũng đủ là một gánh nặng đối với họ. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Năm, 2017, 05:03:14 am Bỗng trong đám chiến sĩ bật lên tiếng hô lớn: "Nước Pháp tự do muôn năm". Mấy người lính Pháp xô vào người chiến sĩ ấy. Một trung sĩ người Ai-len, cầm chiếc mũ rộng vành, phía trên nổi bật chiếc huy hiệu chiến sĩ cận vệ do một người lính Nga nào đó đã tặng anh ta làm kỷ niệm, giơ lên vẫy vẫy những người lính Pháp và nói một tràng dài câu gì đó rất nhiệt tình bằng tiếng Ai-len. Gần bốn ngày trôi qua sau khi quân ta giải phóng Bư-gốt và đuổi quân địch chạy dài về hướng Tây, trong thành phố này chỉ còn lại một số đơn vị nhỏ, chúng tôi nhận được thông báo cho biết: quân Đức đang tập hợp lực lượng từ hướng Bắc chuẩn bị phản công chiếm lại thành phố này. Lúc đó đã gần nửa đêm, đội tuần tra của bộ chỉ huy quân quản dẫn đến chỗ chúng tôi "một cái lưỡi" họ vừa tóm được. Đó là một tên lính bẩn thỉu, mặc chiếc áo khoác dạ dài quét đất, đầu lại quấn chiếc khăn quàng nữ như thường thấy ở bọn lính Đức khác. Ngồi một lúc có vẻ đã bớt được nỗi sợ hãi ban đầu và sau khi được sưởi ấm đôi chút, tên Đức có phần phấn chấn hơn, cởi áo khoác và bỏ khăn trùm đầu ra. Trong áo khoác té ra còn chiếc bành tô rồi trong bành tô là bộ váy bó chặt lấy mông đùi và dưới chiếc khăn quàng là mái tóc phỉ dê vàng óng ả. Tóm lại, đây là một phụ nữ thực sự chứ không phải là tên lính Đức nào cả. Ả tên là Mác-ta Cát-xen-mai-ơ, gái nhà chứa ở phố Phli-um-đe, nhà 15. Ả chạy trốn cùng với một tên lỉnh Đức nào đó đang trú đêm tại nhà chứa này. Tên này bị bắt làm tù binh ngay sau đấy còn ả đành cô đơn quay lại nhà mình. Ả đi ngược lại dòng người và xe quân sự chở các chiến sĩ Hồng quân và một chiến sĩ động lòng thương ngươi đàn bà rét mướt gập mình trong chiếc bành tô mỏng, liền vất cho à ta chiếc áo khoác chiến lợi phẩm. Tóm tắt,vài nét về ả ta. Sinh ra vào năm cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Mẹ mất sớm còn ông bố là thương binh lại nghiện rượu, lấy vợ kế và gửi cô ta vào trại trẻ mồ côi. Khi được ra khỏi trại này thì, theo điều luật mới của chế độ quốc xã, cô Mác-ta Cát-xen-maí-ơ phải dự một kỳ thi kiểm tra. Cô ta phải trả lời một loạt câu hỏi đại loạt: Hít-le sinh năm nào, bố mẹ quốc trưởng sinh bao giờ, cái bàn và cái ghế khác nhau thế nào, châu Mỹ được phát hiện bao giờ và vân vân... Nói chung là khá nhiều câu hỏi làm cho cô gái mồ côi ấy sợ hoảng lên và đâm ra lầm lẫn. Rồi phải thi lại lần thứ hai. Và cô ta lại sợ hãi, lại lầm lẫn. Cơ quan kiểm tra di truyền xác định cô ta không phải thuộc loại thuần chủng Đức và theo luật mới của Hít-le, cô ta bị tiêm thuốc tuyệt sinh đẻ không có khả năng làm hại dòng giống thuần chủng. Và cũng theo luật này thì cô ta bị cấm lấy chồng. Chỉ có những đàn ông ngoài bốn mươi lăm tuổi mới được phép cưới cô ta làm vợ và cũng phải là người cũng đã bị làm tuyệt sinh như cô ta. Nỗi đau khổ và xấu hổ đã vất cô ra khỏi đời sống xã hội và dẫn cô ta tới nhà chứa. Chúng tôi tròn mắt kinh ngạc trước lời khai của cô ta. Quả thật, chúng tôi chưa hề được đọc biết gì về cái đạo luật này. Còn cô ta thì có vẻ như được cổ vũ bởi các câu hỏi dồn dập, vì tại đây cô ta được chú ý và sự ấm áp trong căn phòng làm cô ta có vẻ thoải mái hơn. Đưa tay vuốt nhẹ mái tóc rất duyên dáng, cô ta kể: Thưa bà trung úy, bà hãy tin tằng, thật khổ sở và thất vọng xiết bao đối với người con gái không được đi lấy chồng! Và hơn nữa tôi lại muốn có người chồng trẻ. Nguyền rủa bất cần phó mặc cuộc đời trôi qua ở Brét-xlau cô đã tiếp những hạng khách chơi là công nhân xây dựng keo kiệt và bẩn thỉu. Còn ở đây, ở cái thành phố Brôm-béc này thì lại là chuyện khác. Đây là nơi dừng chân của những người lính từ mặt trận phía Đông trở về. Nếu người lính nào có giấy nghĩ phép và muốn ở lại một tối với tôi thì phải trả một trăm mác. Chà, bà có biết là những người lính từ mặt trận trở về luôn luôn là những người có nhiều tiền. Cô ta có thể cứ vậy sống những ngày đen tối ở đây cho đến già. Và biết đâu được, nếu công việc làm ăn của cô ta cứ tiếp tục dễ dàng như vậy thì có thể cô ta sẽ thu thập dành dụm được một số vốn kha khá và cung có thể có nhà riêng của mình. Cô ta cứ nói huyên thuyên không ngừng. Còn chứng tôi thì im lặng, buồn rầu và choáng váng. Chúng tôi cho Mác-ta đi ra. Ngay gần đâu đây vang lên tiếng súng lớn. Bọn địch định phản công vào nửa đêm. Các đơn vị chúng tôi đã đánh trả lại và cuộc phản công của địch bị thất bại thế nhưng chúng tôi vẫn cứ bình tĩnh chờ đợi cuộc phản công khác lặp lại vì mọi người chúng tôi đã quen và hiểu rõ mối nguy hiềm chính là không nắm được tin tức chính xác. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Năm, 2017, 01:58:03 pm Bỗng trong đám chiến sĩ bật lên tiếng hô lớn: "Nước Pháp tự do muôn năm". Mấy người lính Pháp xô vào người chiến sĩ ấy. Một trung sĩ người Ai-len, cầm chiếc mũ rộng vành, phía trên nổi bật chiếc huy hiệu chiến sĩ cận vệ do một người lính Nga nào đó đã tặng anh ta làm kỷ niệm, giơ lên vẫy vẫy những người lính Pháp và nói một tràng dài câu gì đó rất nhiệt tình bằng tiếng Ai-len. Gần bốn ngày trôi qua sau khi quân ta giải phóng Bư-gốt và đuổi quân địch chạy dài về hướng Tây, trong thành phố này chỉ còn lại một số đơn vị nhỏ, chúng tôi nhận được thông báo cho biết: quân Đức đang tập hợp lực lượng từ hướng Bắc chuẩn bị phản công chiếm lại thành phố này. Lúc đó đã gần nửa đêm, đội tuần tra của bộ chỉ huy quân quản dẫn đến chỗ chúng tôi "một cái lưỡi" họ vừa tóm được. Đó là một tên lính bẩn thỉu, mặc chiếc áo khoác dạ dài quét đất, đầu lại quấn chiếc khăn quàng nữ như thường thấy ở bọn lính Đức khác. Ngồi một lúc có vẻ đã bớt được nỗi sợ hãi ban đầu và sau khi được sưởi ấm đôi chút, tên Đức có phần phấn chấn hơn, cởi áo khoác và bỏ khăn trùm đầu ra. Trong áo khoác té ra còn chiếc bành tô rồi trong bành tô là bộ váy bó chặt lấy mông đùi và dưới chiếc khăn quàng là mái tóc phỉ dê vàng óng ả. Tóm lại, đây là một phụ nữ thực sự chứ không phải là tên lính Đức nào cả. Ả tên là Mác-ta Cát-xen-mai-ơ, gái nhà chứa ở phố Phli-um-đe, nhà 15. Ả chạy trốn cùng với một tên lỉnh Đức nào đó đang trú đêm tại nhà chứa này. Tên này bị bắt làm tù binh ngay sau đấy còn ả đành cô đơn quay lại nhà mình. Ả đi ngược lại dòng người và xe quân sự chở các chiến sĩ Hồng quân và một chiến sĩ động lòng thương ngươi đàn bà rét mướt gập mình trong chiếc bành tô mỏng, liền vất cho à ta chiếc áo khoác chiến lợi phẩm. Tóm tắt,vài nét về ả ta. Sinh ra vào năm cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Mẹ mất sớm còn ông bố là thương binh lại nghiện rượu, lấy vợ kế và gửi cô ta vào trại trẻ mồ côi. Khi được ra khỏi trại này thì, theo điều luật mới của chế độ quốc xã, cô Mác-ta Cát-xen-maí-ơ phải dự một kỳ thi kiểm tra. Cô ta phải trả lời một loạt câu hỏi đại loạt: Hít-le sinh năm nào, bố mẹ quốc trưởng sinh bao giờ, cái bàn và cái ghế khác nhau thế nào, châu Mỹ được phát hiện bao giờ và vân vân... Nói chung là khá nhiều câu hỏi làm cho cô gái mồ côi ấy sợ hoảng lên và đâm ra lầm lẫn. Rồi phải thi lại lần thứ hai. Và cô ta lại sợ hãi, lại lầm lẫn. Cơ quan kiểm tra di truyền xác định cô ta không phải thuộc loại thuần chủng Đức và theo luật mới của Hít-le, cô ta bị tiêm thuốc tuyệt sinh đẻ không có khả năng làm hại dòng giống thuần chủng. Và cũng theo luật này thì cô ta bị cấm lấy chồng. Chỉ có những đàn ông ngoài bốn mươi lăm tuổi mới được phép cưới cô ta làm vợ và cũng phải là người cũng đã bị làm tuyệt sinh như cô ta. Nỗi đau khổ và xấu hổ đã vất cô ra khỏi đời sống xã hội và dẫn cô ta tới nhà chứa. Chúng tôi tròn mắt kinh ngạc trước lời khai của cô ta. Quả thật, chúng tôi chưa hề được đọc biết gì về cái đạo luật này. Còn cô ta thì có vẻ như được cổ vũ bởi các câu hỏi dồn dập, vì tại đây cô ta được chú ý và sự ấm áp trong căn phòng làm cô ta có vẻ thoải mái hơn. Đưa tay vuốt nhẹ mái tóc rất duyên dáng, cô ta kể: Thưa bà trung úy, bà hãy tin tằng, thật khổ sở và thất vọng xiết bao đối với người con gái không được đi lấy chồng! Và hơn nữa tôi lại muốn có người chồng trẻ. Nguyền rủa bất cần phó mặc cuộc đời trôi qua ở Brét-xlau cô đã tiếp những hạng khách chơi là công nhân xây dựng keo kiệt và bẩn thỉu. Còn ở đây, ở cái thành phố Brôm-béc này thì lại là chuyện khác. Đây là nơi dừng chân của những người lính từ mặt trận phía Đông trở về. Nếu người lính nào có giấy nghĩ phép và muốn ở lại một tối với tôi thì phải trả một trăm mác. Chà, bà có biết là những người lính từ mặt trận trở về luôn luôn là những người có nhiều tiền. Cô ta có thể cứ vậy sống những ngày đen tối ở đây cho đến già. Và biết đâu được, nếu công việc làm ăn của cô ta cứ tiếp tục dễ dàng như vậy thì có thể cô ta sẽ thu thập dành dụm được một số vốn kha khá và cung có thể có nhà riêng của mình. Cô ta cứ nói huyên thuyên không ngừng. Còn chứng tôi thì im lặng, buồn rầu và choáng váng. Chúng tôi cho Mác-ta đi ra. Ngay gần đâu đây vang lên tiếng súng lớn. Bọn địch định phản công vào nửa đêm. Các đơn vị chúng tôi đã đánh trả lại và cuộc phản công của địch bị thất bại thế nhưng chúng tôi vẫn cứ bình tĩnh chờ đợi cuộc phản công khác lặp lại vì mọi người chúng tôi đã quen và hiểu rõ mối nguy hiềm chính là không nắm được tin tức chính xác. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Năm, 2017, 03:22:48 am Những giờ đầu tiên sau khi chiếm thành phố Bư-gốt, khi những trận lốc tuyết tuy đã dịu đi nhưng vẫn còn hoành hành trên các đường phố, khi giao thông còn chưa hoạt động lại được nhưng trên khắp nẻo đường các ngã ha ngã tư, người dân thành phố này đã ùa ra đường, đang vui sướng phá những cửa hàng thực phẩm, bánh kẹo của ngườì Đức và truyền cho nhau tin tức về một mụ già người Đức nào đó định đổi ngôi nhà cách đây chừng đâu hai ba dãy phố. Và giờ đây xác mụ đang nằm phơi trên tuyết lạnh, mấy cô gái cười vang trước anh lính Ba Lan đang đi chiếc xe đạp nữ định vượt qua quãng đường đầy tuyết và trượt ngã, một anh lính Ba Lan khác, khi đi qua chiếc xe bị tắc đường của chúng tôi đang chờ ở giữa phố, liền rút trong túi ra một hộp sô-cô-la đưa cho tôi và nói: "Mời chị nhấm nháp cho đỡ buồn!". Cũng trong những giờ phút đầu tiên sau ngày giải phóng này tôi đã tận mắt trông thấy những người tù đang từ trong nhà tù lớn tỏa ra đường phố. Đó là những người bị tập trung về đây đề xây dựng các công sự phòng thủ của bọn Đức. Những người này sau khi làm việc ban ngày ở công sự, tối bị giam vào nhà tù. Thôi thì đủ... người Bỉ, Đan Mạch, Pháp và cả tù binh Nga... Có cả người Ba Lan. Sau khi giúp đỡ bộ chỉ huy quân quản, tổ chức lập danh sách những người hồi hương, chúng tôi lại lên đường. Trước khi rời Bư-gốt, chúng tôi quyết định dạo lần cuối cùng trên những dãy phố nhỏ hẹp nhưng náo nhiệt gồm những dãy nhà cũ kỹ xây bằng đá xám. Những mái nhà nhọn cao nhô lên trong bầu trời đùng đục của buổi sáng mùa đông lạnh buốt. Trước mắt chúng tôi có một nhóm đàn ông đang dọn tuyết trên vỉa hè. Đến gần, chúng tôi thấy trên áo khoác mọi người đều có vẽ chữ thập ngoặc bằng phấn. Té ra đây là nhóm người Đưc bị bắt phải đi dọn quét đường theo quyết định của cơ quan giao thông thành phố. Chúng tôi không có gì khó hiểu trước lòng căm thù của người Ba Lan. Bởi vì họ đã phải trải qua thời kỳ cưỡng chế "đại Đức hóa". Có nghĩa là đóng cửa các trường học Ba Lan, người dân bị bắt, bị đuổi ra ngay khỏi nhà của mình, bị dồn vào những toa tàu dành riêng có xích cửa và nhiều thứ quy đinh nhục nhã khác nữa. Đó là sư đàn áp của chế độ quốc xã bằng nạn đói, bắt bớ đày đọa và trại tập trung. Làm sao mà chúng tôi lại không hiểu được tình cảm của họ. Chúng tôi là những con người đã trải qua nỗi đau khổ kinh hoàng, đã đi qua cái chết và những cảnh tàn phá đã chứng kiến biết bao tàn tích man rợ của chủ nghĩa phát xít để lại. Đã bao lần chúng tôi cứ tự hỏi mình: chả lẽ những cái đó sẽ lại không bị trừng phạt hay sao, chả lẽ chúng lại không bị trừng phạt vì tất cả những tội ác này hay sao? Chả lẽ lòng căm thù của chúng ta lại không được đền ,bù bằng sự báo thù hay sao ? Nhưng những hình bóng ảm đạm, đen tối của những con người này, những dấu chữ thập ngoặc trên lưng áo của họ giờ đây lại là chuyện khác... Cho đến giờ tôi vẫn không thể quên được những chữ thập ngoặc nặng nề bằng phấn đè lên lưng những con người ấy. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Năm, 2017, 05:23:11 am PÔ-DƠ-NAN Chúng tôi tiến theo đường lớn đến Pô-dơ-nan. Cả một dải đồng bằng yên tĩnh không có tuyết phủ, xác một tên lính Đức chân trần, những con ngựa chết co quắp, những từ truyền đơn trắng do quân ta tung ra trước cuộc tiến công, những chiếc mũ lính và những hố đạn đen ngòm trên trận địa - đó là tất cả những gì thấy được trước mắt chúng tôi. Hàng đoàn tù binh đang bị dẫn đi. Tiếng đại bác vẫn rền vang đâu đây. Các đơn vi bộ đội tuyến hai, tuyến ba của chúng ta đang hành quân. Những lá quân kỳ được gói bọc cần thận trong túi cờ. Xe ô tô, xe ngựa, xe đẩy, xe trượt tuyết và nhiều nhất, đông nhất vẫn là bộ binh, bộ binh và... bộ binh lũ lượt nối nhau. Tất cả dòng người xe chuyển động, hành quân vội vã trên những nẻo đường Ba Lan. Một ông già ngồi trên chiếc ghế đẩu sau thùng xe cứ nảy lên như người gỗ. Bên vệ đường, một người Ba Lan đang hôn tay một phụ nữ. Hai bà "xơ" đội mũ rộng vành trắng phau như tuyết đang im lặng miệt mài cất bước. Một bà mẹ đeo bẵng tang kéo lê một đứa trẻ bước theo mình. Thỉnh thoảng mới gặp một vài đống tuyết. Trời lạnh. Hai bên đường những hàng cây im lìm thân trắng xóa màu vôi. Tại thành-phố Gơ-ne-dơ-nô, trong gia đình một nhà thợ sửa chữa điện người ta chỉ cho tôi xem lá thư được bí mật chuyền từ Brê-xlau tới: "Bọn Nga đã đi chưa, nếu không thì chúng ta chết hết". Các đơn vị Hồng quân phối hợp cùng với bộ đội Ba Lan quét sạch bọn phát xít khỏi những vùng đất Ba Lan bị Đức chiếm đóng. Ngày 9 tháng 2, tờ báo của tập đoàn quân chúng tôi ra số đặc biệt với dòng chữ: "Nước Đức đang khiếp sợ, nước Nga đang tiến về Béc-lin". Chúng ta còn nhớ, các lực lưọmg vũ trang phát xít đã tiến công vào Ba Lan rạng sáng ngày 1 tháng 9 năm 1939. Sau khi thực hiện kế hoạch bàn đạp đầu tiên của mình, bọn Hức bắt đầu chia cắt phần lớn lãnh thổ Ba Lan sáp nhập vào lãnh thổ quốc xã. Còn lại một phần nhỏ đất đai, người Đức tuyên bố lập chế độ "Toàn quyền Đức" tại phần đất Ba Lan. "Chủ quyền trên phần lãnh thổ này thuộc về quốc trưởng của nước đại Đức và tướng quân toàn quyền là người được ủy quyền đại diện quốc trưởng vĩ đại, cai quản vùng đất này". Cách đây hơn một năm tướng Phran- cô, toàn quyền nước Đức tại Ba Lan, đã công khai, hách dịch tuyên bố : "Nếu tôi được đến trước quốc trưởng, tôi sẽ báo cáo với Ngài: Thưa quốc trưởng kính mến, tôi xin báo cáo, tôi đã thủ tiêu thêm được 950 nghìn người Ba Lan cộng sản". Có lẽ Ngài sẽ đáp: "Tuyệt lắm, nếu như đó là điều cần làm". Quốc trưởng lại nhấn mạnh thêm là "đối với người Ba Lan thì chỉ cần một ông chủ thôi - đó là người Đức, không thể có hai ông chủ cùng song song tồn tại bên nhau, điều đó là không cần thiết và không thể được; vì vậy cần phải thủ tiêu hết những tên đại diện của lớp trí thức. Cái này là tàn bạo đấy, nhưng quy luật cuộc sống đòi hỏi như vậy. Nước Ba Lan là nguồn dự trữ của chúng ta, là trại tập trung lớn về sức lao động của chúng ta. Và nếu để cho người Ba Lan lớn lên, đất nước Ba Lan phát triển đến trình độ cao thì họ sẽ ngừng cung cấp cho chúng ta nguồn lao động mà chúng ta rất cần". "Chúng ta cần tiêu diệt bớt một phần dân chúng, vì điều đó là sứ mệnh của chúng ta nhằm bảo tồn phồn vinh của dân tộc Đức - Hít-le chí thị cho lũ tay sai - Chúng ta cần phải nhanh chóng phát triển kỹ thuật giết ngươi. Nếu như người ta hỏi tôi, thế nào là thủ tiêu dân chúng, thì tôi sẽ trả lời cho họ hiểu ý tôi nói thủ tiêu tức là giết hàng loạt, tiêu diệt gọn cả một dân tộc hoặc chủng tộc. Tôi sẵn sàng làm điều đó - hay nói một cách thẳng thừng, thì đó là nhiệm vụ của tôi". Trên đường tiến quân, trong những ngày này các đơn vị bộ đội chúng ta đã giải phóng các địa ngục Trem-blin-ca, Mai-dơ-nen và hàng trăm trại tập trung giết người khác. Cảc chiến sĩ lao vào phá các cổng lớn, bắn đứt dây cáp và cắt dòng điện mạnh ở hàng rào dây thép gai. Tất cả những gì mà tôi đã được trông thấy sau các cánh cổng nặng nề ở các trại tập trung này có lẽ chưa bao giờ nằm trong trí tưởng tượng của con người. Đó là hàng trăm nghìn con người bị đầy đọa, chết chóc, đói khát đang sống vất vưởng. Những ai còn thở được thì cũng trong tình trạng ngắc ngoải, chờ chết do đói khát, ốm đau, mất sức vì bị đọa đầy về thể xác và tinh thần. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Năm, 2017, 05:09:44 am Bộ đội phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a một đang ngày đêm đầy nhanh tốc độ tiến công,- phá tan những vành đai phòng ngự của địch. Hàng đoàn xe tăng ào ạt xông lên đè bẹp mạng lưới phòng thủ nhiều tuyến chiều sâu của đich và tiếp tục tiến lên, tạo điều kiện cho bộ binh phía sau củng cố tiếp thắng lợi của các cuộc tiến công. Các lực lượng tiến công chính không ngừng bám theo lực lượng chủ yếu của địch. Quân Đức không thể chịu đựng nổi nhịp độ tiến công mà chúng phải chấp nhận nên bắt buộc phải cuống cuồng bỏ chạy khỏi nhiều thành phố, vùng dân cư vội vã đến nỗi không kịp phá hoại như trong kế hoạch đã định, thậm chí không kíp dỡ bỏ các bến phà. Nhưng cũng phải thấy rõ là càng tiến sâu vào đất Ba Lan, càng gần đến biên giới nước Đức thì sự chống cự của quân phát xít càng ác liệt hơn, ngoan cố hơn. Tại các khư dân cư, các thành phố quân địch bỏ lại, khắp trên tường nhà, đâu đâu cũng thấy những dòng chữ cảnh cáo dân chúng Ba Lan bị chiếm đóng: "Licht-dein Tod!" (Ánh đèn là cái chết). Trên các bức tường và cánh cửa trước mỗi ngôi nhà đều nổi bật những tấm áp phích in hình một bóng đen trùm lên một con người: "Pst! Tcc!" - (Im lặng. Kẻ thù đang rình nghe!). Chúng tôi dừng chân nghỉ lại trong một ngôi nhà vắng chủ cách Pô-dơ-nan không xa. Trên bàn nhỏ có chiếc khung ảnh đánh bóng lồng bức hình một cậu bé, nét mặt nghiêm trang, hai tay bắt chéo trước bụng. Bố cậu "ngài Pao-un- phôn-gan-den-rai-khơ" đang đọc bản kinh Tân Ước và vở kịch của Sin-le. Trên bàn làm việc của chủ nhân vắng mặt còn vương lại bản sao tờ quyết định mà vào một đêm tháng 10 năm 1939, Pao-un-phôn-gan-den-rai-khơ cùng đội hộ tống của cảnh sát Đức cầm đến đọc cho chủ cũ ngôi biệt thự này biết: Theo quyết định của ngài thị trưởng chính quyền mới của nước Đức tại đây, từ nay ngôi biệt thư sang trọng của nhà kiến trúc Ba Lan Bô-lê-xlao Ma- tu-sép-xki, nằm trên đường phố Mít-kê-vít này sẽ thuộc quyền sử dụng của gia đình "ngài" Pao-un. Người ta chỉ cho chủ nhân mang đi hai bộ quần áo và cái áo khoác mà thôi. Chưa đầy hai lăm phút sau nhà kiến trúc sư phải ra khỏi nhà... Hít-le muôn năm ! Thế là chúng tôi đã đặt chân lên phần lớn vùng đất đai Ba Lan bị sáp nhập hẳn vào nước Đức và bọn phát xít đã dùng bạo lực để khuất phục dân chúng. Vượt qua hai con sông Vác-ta và Nét-xe, bộ đội của tướng Trui-cốp bắt đầu bao vây Pô-dơ-nan. Các ngả đường vào khu ngoại vi được bố trí nhiều vành đai đồn bốt bảo vệ dày đặc khá mạnh. Các cuộc tiến công đều bị chặn lại. Đành phải bao vây chặt từng đồn và diệt gọn từng cụm. Tại Pô-dơ-nan này, ngày 4 tháng 10 năm 1943, Him-le đã từng tuyên bố: «Tôi hoàn toàn không cần biết, người Nga, người Tiệp sống ra sao. Chúng ta chỉ cần chọn lọc những gì tinh túy nhất trong dòng máu của chủng tộc. Và nếu cần thì chúng ta sẽ tự mình chọn lọc bọn trẻ con, sẽ nuôi nấng chúng. Các dân tộc khác sống phồn vinh hay đói khổ, đó không phải là điều tôi quan tâm, điều tôi cần là họ sẽ làm nô lệ cho nền văn hóa chúng ta ở mức độ nào và ngoài điều này ra thì tôi không cần gì hết". Pô-dơ-nan là một trong những thành phố Ba Lan bị quân Đức chiếm đóng đầu tiên. Từ sau ngày 1 tháng 9 năm 1939, đã có hàng nghìn nhà kinh doanh và quan chức đảng quốc xã theo gót các sư đoàn quân Đức kéo đến đây. Kể từ khi chúng chinh phục được "Tỉnh Vác-te-gau". Người Ba Lan bất kể lớn, bé, già, trẻ, đều bị đuổi ra khỏi ngôi nhà thân yêu của mình. Họ chẳng còn gì cả, từ nhà máy, cửa hiệu, trường học, nhà ở và đồ dùng cá nhân. Đường phố bị đổi tên, tiếng mẹ đẻ bị cấm, các tượng đài bị phá đổ, nhà thờ bị bôi bẩn, phóng uế. Các công sự, đồn trú được xây dựng khắp nơi. Người Ba Lan bị dồn sang Đức làm khổ sai. Người Do Thái bị bắn ngay tạì vùng ngoại ô thành phố. Bọn phát xít đã ăn mừng thắng lợi của chúng theo tinh thần chủ nghĩa quốc xã như vậy đấy. Các phân đội chiến đấu từng được thử thách, tôi luyện ở Xta-lin-grát đã chiến đấu dũng cảm chiếm từng đường phố, lừng ngõ hẻm, từng căn nhà, trong các trận đánh giáp lá cà với bọn địch. Mặc dù có pháo binh yểm trợ nhưng các trận đánh vẫn kết thúc bằng những đợt giáp lá cà và đôi khi chuyền thành những trận đấu tay không. Trên bầu trời thành phố luôn thấy cuộn lên những đám mây hồng, những vùng đỏ rực lấp lóa vì bị mất hết căn nhà này sang căn nhà khác, bọn Đức đã tức tối đốt trụi các khu phố, đánh sập các ngôi nhà ở trung tâm thành phố. Và cuối cùng chúng co cụm lại trong thành Pô-dơ-nan, một vùng thành cổ đế làm nơi kháng cự cuối cùng. Ngôi thành nổi bật trên thành phố chiếm diện tích rộng khoảng hai cây số vuông. Trên đường vào thành cổ chi chít hố chiến đấu, sáu chúng là dãy hào sâu và tiếp đấy là tường thành dày xây bằng đá khối nặng. Mặc dầu những khu phố khác bị bọn Đức thiêu trụi nhưng những người dân Pô-dơ-nan sống sót vẫn liều mình mang bánh mì, thịt, thức ăn mà họ cất giấu được, đổ ra đường đón mừng Hồng quân. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2017, 08:46:13 pm Các em học sinh sung sướng trong những chiếc áo blu- dông đồng phục được giấu kỹ từ lâu, dù áo đã quá chật đối với chúng, nhưng trong ánh mắt chúng vẫn toát lên niềm tự hào - vì chúng đã giữ được bộ đồng phục bị cấm, vẫn mặc được bộ quần áo thuần túy Ba Lan mà bọn chiếm đóng hằn học. Từng đội nhạc công đổ ra đường. Những bản nhạc dân tộc vang lên. Các đội nhạc được dân chúng, bộ đội hoan nghênh cổ vũ vì thật đáng tự hào là họ vẫn giữ được bản sắc những bài ca Ba Lan. Từ lâu họ đã bị cấm đàn hát - bọn chiếm đóng rất sợ tình đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước toát lên trong những bài hát dân tộc và không ít người vì hát mà đã bị bắn chết một cách dã man. Những tổ chức, những nhóm kháng chiến bí mật vẫn tồn tại và tiếp tục hoạt động trong thành phố bi chiếm đóng trên năm năm ròng. Tòa thị chính thành phố được khôi phục, bắt đầu hoạt động. Các trường học, cơ quan, cửa hàng Ba Lan hoạt động trở lại. Trong khi đó thì một vùng nhỏ trong ngôi thành cổ vẫn còn bị đội quân hàng nghìn tên Đức chiếm giữ, kháng cự. Những đơn vị tàn quân của cụm quân Pô-dơ-nan đang co cụm tại đó. Ngày ngày chúng vẫn dùng pháo binh bắn phá bừa bãi các khu phố vừa được giải phóng. "Nhưng dần dẫn chúng đã bị pháo binh Hồng quân tiêu diệt. Đêm đến, từ các đường ngầm trong khu thành cổ, bọn Đức vẫn đột nhập vào trung tâm thành phố, cướp bóc, giết người và cải trang thành dân thường để chạy trốn. Khu thành cổ vẫn bị vây hãm chặt. Ít hôm sau hầu như mọi người dân trong thành phố mới giải phóng này đã quên đi sự tồn tại cua cụm quân Đức ở đấy vì thành phố mới giải phóng còn bao công việc phải làm, Bộ đội của tướng Trui-cốp chỉ để lại một vài đơn vị vây hãm còn đại bộ phận tiếp tục tiến về phía Tây. Họ đã tiến gần đến biên giới Bran-đen-buốc Tà Pô- me-ran-ni. Trong những ngày này tôi được phân công ở lại với các đơn vị trong thành phố Pô-dơ-nan. Mãi mấy ngày sau chứng tôi mới biết cách Pô-dơ-nan bốn chục cây số, tại một địa điềm nằm sâu trong vùng hậu phương quân ta, có một trại tù binh giam toàn các tướng tá quân đội I-ta-li-a. Chúng tôi quyết định tới đó. Đội canh gác cùng toàn bộ ban chỉ huy trại tù binh này đã bỏ chạy từ lâu trước khi chúng tôi tới nơi và trên một trăm sáu mươi vị tướng, tá I-ta-li-a không ai canh giữ vẫn thầp thỏm sống trong trại. Mới ít tháng trước đây họ còn là những kẻ chống lại chúng ta, nhưng sau cuộc đảo chỉnh ở I-ta-li-a bộ chỉ huy quân Đức đã ra mệnh lệnh giả triệu tập họ lại và tại đó chúng tuyên bố tước vũ khí, bắt họ là tù binh rồi tống vào trại tập trung riêng này. Trước các sự kiện dồn dập, họ đã sống hoang mang, căng thẳng, đợi chờ như tâm trạng của bọn lính I-ta-lì-a ở thị trấn Bư-gốt trước khi được Hồng quân giải phóng. Bởi với chúng ta, họ là đồng minh của Hít-le hay vẫn là kẻ thù vừa mới hôm qua? Chúng tôi tiến vào cổng, qua hàng rào dây thép gai. Hoang vắng, im lìm. Một vài dãy nhà gỗ. Có hai người đang cưa. Chúng tôi đến gần họ. Họ bỏ cưa, đứng dậy, im lặng đợi chờ. Đó là hai người đứng tuổi mệt mỏi, cặp mắt u sầu và nhẫn nhục lặng lẽ nhìn chúng tôi. Chúng tôi chào họ bằng tiếng Đức. Một người mặt gầy sạm đầy nếp nhăn, cổ quấn chiếc khăn quàng len, gật đầu đáp lại. Đó là tướng Mác-xen-lô. Người thứ hai bắt chuyện với chúng tôi tên là Van-te Trấy-blút, trung úy, phiên dịch người Đức, nhân vật duy nhất của bộ máy quản lý trại tù binh còn ở lại đây. Anh ta đầu đề trần, tóc đã bạc, mũi khoằm, môi trên vầu ra. Đồng chí đại tá cùng viên trung úy phiên dịch Đức Van-te đi xem xét các dãy nhà trại và tuyên bố với các sĩ quan tướng tá tù binh I-ta-Ii-a rằng, họ sẽ được tự do, đợi khi nào tình hình mặt trận cho phép họ sẽ được giúp đỡ trở về nước họ. Ít lâu sau, khi trời ấm áp hơn và cũng là lúc dự trữ lương thực trong trại đã hết nên các tướng tá tù binh I-ta-li-a được lên đường trở về quê hương, tôi lại có dịp gặp và nói chuyện với Van-te - chả là anh ta đã bị bắt giữ vì ngủ đêm ngoài vườn hoa của thành phố. Sau khi chia tay cùng tù binh I-ta-li-a, anh ta chẳng biết làm gì hơn nên đã quay lại Pô-dơ-nan, đến gần ngôi nhà cũ mà anh ta đã sống mấy năm và tin chắc rằng người chủ nhân Ba Lan đã từng bị đuổi khỏi ngôi nhà này có lẽ đã quay trở lại, do đó anh ta quyết định ngủ ngoài vườn hoa còn hơn là vào nhà để gây thêm sự căm thù vào mình. Anh ta đang đói và có vẻ quá mệt mỏi. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2017, 05:52:24 pm Tôi hỏi, tại sao anh ta không chạy cùng đám sĩ quan và binh lính của trại tập trung. Anh ta chỉ im lặng nhún vai chẳng nói gì cả. Lát sau anh ta mới kể vắn tắt về mình. Anh ta sinh ở Rê-ven. Chủ nhân một phòng thí nghiệm hóa chất sản xuất dược liệu và đưa hàng bán ở hiệu dược phẩm của ông bố. Bị đau phổi, anh ta làm một chuyến du lịch sang I-ta-li-a, và tại đây, đã làm quen với con gái một viên chức nhỏ ở Dô-ma-dô trên hồ Cô-mô. Họ chỉ biết nhau vẻn vẹn có năm ngày, hơn nữa lại quen nhau trong tình trạng, cô gái I-ta-li-a không biết nói một tiếng Đức nào, còn anh ta thì cũng chi bập bẹ dăm tiếng I-ta-li-a thông thường. Trở về Rê-ven, anh ta ra sức học gạo tiếng I-ta-li-a, gửi cho người yêu ở Dô-ma-đô hàng lô bưu ảnh và cuối cùng là lời đề nghị được hiến trái tim mình cho nàng Nê-rây-de Bê-tét-ti. Đám cưới của họ được tổ chức ở hồ Cô-mô, sau đấy Van-te đưa cô gái Ý trở về Rê-ven với quốc tịch người E-xtô-ni-a. - Văn học Đức đã viết nhiều về lòng chung thủy cũng như sự nhẹ dạ của những người phụ nữ Đức, về sự nham hiểm, trục lợi của phụ nữ Pháp và I-ta-li-a. Thế nhưng tôi cảm thấy rất hạnh phút trong mối tình với cô gái I-ta-li-a này. Vài ngày sau chúng tôi tiến hành việc "hồi hương" người Đức, nhưng anh ta xin ở lại Pô-dơ-nan với lý do chủ nghĩa quốc xã đã từng hoành hành và anh ta cũng là nạn nhân của nó. Chẳng hạn ở đây, chính quyền quốc xã đã không công nhận cô con gái của anh ta là người Đức vì anh ta đã đặt tên con mình theo tiếng I-ta-lì-a là Phi-a- mét-ta, có nghĩa là "ngọn lửa nhỏ". Anh ta im lặng thở dài. Đôi mắt màu hung mở to và bất động. Anh ta không biết gì thêm về số phận gia đình cũng như số phận tiếp theo của mình sẽ ra sao đây. Anh ta đã quá mệt mỏi bởi cuộc sống trong thế giới của chủ nghĩa quốc xã và chiến tranh. Thành phố Pô-dơ-nan đã nằm sâu trong hậu phương của tập đoàn quân đang tiếp tục tiến lên. Bộ đội Xô-viết đã vượt sông Ô-đe. Bộ đội phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a một, dưới sự chỉ huy của nguyên soái Giu-cốp vừa đánh vừa tiến được bốn trăm ki-lô-mét trong vòng hai tuần. Hồng quân Liên Xô còn cách Béc-lin tám chục ki-lô-mét. Ngày 23 tháng 2 năm 1945 tàn quân Đức trong thành Pô-dơ-nan đầu hàng. Tướng Đức Cô-nen tư lệnh cụm quân này đã ra lệnh đình chỉ kháng cự và ngừng bắn. Đoàn tù bỉnh Đức gồm hàng nghìn tên kéo dài suốt con đường chính trong thành phố. Viên tư lệnh thành Pô-dơ-nan, thiếu tướng Mác-ten-nô đi đầu đội quân tù binh mỏi mệt, ủ rũ, đói khát trong những chiếc áo lính màu xanh lá cây. Ngày thứ tư, 7 tháng 3 trên quảng trường Hội chợ bộ đội Ba Lan đi duyệt binh trước tòa nhà thị chính. Lễ đài trang trí toàn mầu xanh. Đi đầu là đội danh dự mang lá cờ và biểu tượng của tòa thị chính thành phố vẫn còn cất giữ được. Hai hàng phụ nữ danh dự tay đeo băng màu cờ đỏ - trắng Ba Lan đi hai bên ngọn cờ thành phố. Bộ binh đầu đội mũ sắt, súng cắm lê ba cạnh của Liên Xô và trên cắm quốc kỳ nhỏ Ba Lan. Sau đấy là một đơn vị nhỏ trang bị vũ khí chống tăng diễu qua lễ đài. Một phụ nữ Ba Lan tay giơ cao bó hoa tươi, lách qua đám đông chạy đến trao tặng viên chỉ huy đơn vị bộ đội Ba Lan. Đơn vị súng tiểu liên, lưng quàng các băng đạn, súng cũng cắm những lá cờ nhỏ. Cuối hàng là các chiến sĩ cứu thương. Rồi tiếp theo là các đơn vị tiểu liên, từng khối, sáu hàng lần lượt diễu qua. Các chỉ huy đi đầu, tay cầm hoa và cuối cùng vẫn là các chiến sĩ cứu thương. Lại một đơn vị nữ chiến sĩ tiểu liên nữa tiến qua lễ đài. Đến lượt các đơn vị kỵ binh- trên bờm ngựa đều đính băng quốc huy hình con đại bàng và cờ Ba Lan hai màu. Cuối cùng đến lượt các khối nhân dân với các phiên hiệu cờ khác nhau tiến về lễ đài. Dàn nhạc quần chung hòa với dàn nhạc quân đội tiến đến đây rồi dừng lại cạnh lễ đài. Cờ đỏ Xô-viết quyện vào với cờ đỏ - trắng Ba Lan trên khắp quảng trường. -Quân đội tướng Tréc-vôn muôn năm! -Muôn năm! - Từ lễ đài vang lên tiếng hô hòa theo. Chung quanh quảng trường và dọc đường diễu binh người lớn, trẻ em đều bám, trèo lên các cột điện thoại, thân cây và ngay cả trên hàng rào nhà thờ. -Hoan hô các chiến sĩ giải phóng Pô-dơ-nan! , Người ta tung mũ lên cao chào mừng, từng bó hoa đỏ thắm, hoặc vàng rực màu da cam thi nhau bay ào vào các chiến sĩ. Tổng tư lệnh quân đội giải phóng Ba Lan, tướng Rô-li-an Gi-méc-xki đứng trên đài danh dự trước lễ đài đón chào đoàn quân duyệt binh. Nét mặt ông không giấu nổi vẻ cảm động, ở tay trái ông cầm bó hoa lớn hơi nâng trên vai áo. Tướng Coóc-xít, người cao, gầy, tổng tham mưu trưởng đứng bên cạnh. Một lá cờ hai màu đỏ - đen thẫm, lá cờ của đảng công nhân Ba Lan do một một,ông già đeo kính đang giơ cao trên đầu tiến vào quảng trường. Một thanh niên đứng chờ cạnh lễ đài liền tiến đến trước máy phóng thanh đọc bản báo cáo thành tích của đoàn biểu tình này trong tiếng quốc ca vang dội. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2017, 11:38:44 pm Cuối cùng là sáu chiếc xe tăng diễu qua lễ đài, tiếng xích rịn rít nghiến trên mặt đường. Khi tiếng xe tăng vừa ngớt bỗng đám dông có tiếng reo vui mừng làm mọi người chú ý: "Đàn chim sếu kìa! Sếu đã về!". Mọi người bỏ mũ ngang nhìn lên bầu trời đã quang mây, dõi theo bóng đàn sếu đang chậm chạp bay thành hình mũi tên từ phía Nam thành phố về. Mùa xuân đã đến! Và khi những người tụ tập ở nhà thờ đã giải tán, người ta thấy sau hàng rào hiện rõ lên những nấm mồ của những người chiến sĩ Xô-viết anh em xếp hàng lặng lẽ. "Ở đây yên nghĩ thiếu tá Xu-đi-lốp-xki I-van Phô-inít, sinh năm 1923, người chiến sĩ vinh quang, được thưởng năm huân chương, đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến đấu chiếm ngọn đồi thành phố bị quân phát xít Đức chiếm đóng. Pô-dơ-nan ngày 15-02-1945. Vinh quang đời đời thuộc về người anh hùng giải phóng!". Dù lúc đó là đêm tối đày đặc hay trong buổi sáng sương mù, dù là ngoài trời nắng ấm hay mây mù che phủ, bất cứ ở đâu, lúc trên đường phố ồn ào của thành phố xa lạ hay trong cánh rừng êm ả hoặc trên bình nguyên sông Ô-đe, khi các chiến sĩ chúng ta đang vui sướng nghỉ ngơi giữa hai trận đánh có lẽ chúng ta thường chỉ nghe thấy những câu nói đùa, những nguyện vọng, ước mơ, về cuộc sống hòa bình, về những công việc cần làm khi trở về nhà sau chiến thắng. Mùa xuân năm bốn lăm đến với trái đất cùng tin vui vang dội về cuộc chiến tranh sắp kết thúc. Những đống tuyết dần tan, những hồ nước cuộn chảy, những thân cây đen sẫm đều như có một sức mạnh cuốn hút cuộc sống. Thế nhưng trước mặt vẫn là những trận chiến đấu ác liệt. Nhất định sẽ có những người đi được đến thắng lợi cuối cùng và cũng chẳng tránh được khi có những người nào đó sẽ ngã xuống trong khói lửa của những trận đánh khốc liệt này. Chúng tôi đã ở lại pô-dư-nan hơn hai tháng và đã tận mắt chứng kiến sự thay đổi của thành phố từ ngày này sang ngày khác. Trước hết, thành phố đã khoác bộ áo mùa xuân. Điều này có vẻ như là việc bình thường của thiên nhiên, nhưng có lẽ nhiều ngưởi trong chúng ta còn nhớ mùa xuân đầy phấn chấn của năm bốn lăm ở phía Tây với những làn gió nhẹ thổi mang theo hơi thở từ những cánh đồng đang thức dậy cùng với người nông dân Ba Lan tự do, với màu xanh êm dịu và niềm hy vọng mới, mùa xuân hòa bình và lao động. Thành phố đưực khôi phục nhanh chóng. Nó đã sống lại tuv còn khắc khổ nhưng đã mang sức sống mùa xuân. Trên các bức tường nhà dân đã thấy những giàn dáo với thợ xây và người quét vôi. Xe đạp chạy ngược xuôi đây đó. Sáng sáng học sinh đã vội vã đến trường cho kịp tiếng chuông vào lớp. Bất cứ gặp một em nào trong số chúng, chúng tôi cũng đều được nghe tiếng chào thân thiết: "Chào cô trung úy!". Tôi sống trong tầng ba ngôi nhà của ông bà Bu-gin-xki, người Ba Lan. Ngay từ sáng sớm, chủ gia đình, ông Xtê-phan Bu-gin-xki đã thức dậy, mặc chiếc quần thợ đã chật, khoác chiếc áo blu-dông bảo hộ lao động đi đến xưởng sửa chữa toa xe. Vợ ông, bà Vích-tô-ri-a, nghề chính là thợ may nhưng giờ đây lại làm công việc của người đưa hàng thực phẩm. Ở tầng một là các cô gái điều khiển giao thông và phục vụ sinh hoạt của đơn vị chúng tôi. Trong mùa xuân này họ là những người đang đứng ở khắp các nẻo đường châu Âu nên vẻ bề ngoài đòi hỏi phải thật nghiêm trang, gọn gàng. Do đó suốt từ sáng đến tối bà chủ nhà Vích-tô-ri-a cứ bị các cô gái quấy rầy, nũng nịu. Công việc nội trợ trong nhà chủ yếu do cô con gái lớn An-ca đảm nhiệm. Cô khả đẹp, cử chỉ chậm chạp và hay suy tư. Cậu con trai bà Vích-tô-ri-a đang ở tuổi thành niên, được mẹ rất chiều, trước đây đã từng học ở trường nhạc, chơi đàn vĩ cầm. Trước chiến tranh, một bà giáo ở nhạc viện nhận ra bài tập cho cậu bé và để đổi lại, bà Vích-tô-ri-a đã đến dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo cho bà giáo. Trong những năm bị chiếm đóng cậu bé chỉ dám tập vụng vì cảnh sát Đức cấm đàn. Bà chủ nhà thường tâm sự với tôi, bà rất hy vọng giờ đây con trai bà sẽ được nhận tiếp vào trường nhạc. Tập đoàn quân xung kích sổ 3 của thượng tướng Cu-dơ-nép-xốp là đơn vị đầu tiên tiến công Béc-lin bằng những trận đánh tiếp cận trên đường phố Đông-Bắc ngoại ô. Chúng tôi rất sốt ruột chờ lệnh rời khỏi Pô-dơ-nan trở về với đơn vị lớn. Trong những ngày này tôi thường mơ máy thu thanh nghe đài phát thanh Béc-lin. Lần này tôi mở đúng lúc giọng nữ phát thanh viên đang kêu gọi lòng trung thành với Tổ quốc, và sau đấy là đội đồng ca trẻ - chủng hát bài "Chúng ta không bao giờ được quên..." Và, bỗng nhiên đài ngừng bặt im lặng hồi lâu kéo dài. Chờ mãi cuối cùng rồi một giọng nam nghiêm trang và hồi hộp cất lên: "Gửi các đơn vị bộ đội Béc-lin, toàn thể nhân dân Béc-lin! Văn phòng quốc trưởng thông báo: quốc trưởng vẫn luôn luôn có mặt ở Béc-lin. Người đang trực tiếp chỉ huy các đơn vị chiến đấu bảo vệ Béc-lin". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2017, 09:38:22 am Bản thông báo được đọc lại lần thứ hai. Quả thật lức ấy tôi không hề nghĩ rằng, chỉ mấy ngày sau tôi lại được thám gia vào những sự kiện quan trọng như vậy ở ngay Béc-lin và tôi lại có dịp suy nghĩ nhiều lần về cái bản thông báo đó chả lẽ đúng như vậy hay sao? Cuối cùng rồi mệnh lệnh mong chờ đã đến, tất cả chúng tôi phải trở về ngay đơn vị lớn. Tôi mang bản mệnh lệnh đó chạy nhanh về nhà, lao vào cổng. Lúc ấy trời đã tối từ lâu. Bóng những chiếc xe đen ngòm nồi bật trong sân nhà. Một chiếc đang thử đèn, lúc bật lúc tắt lập lòe. Tôi gọi Xéc-gây. Từ dưới gầm xe một cánh tay cầm đèn pin hoa lên ra hiệu, lúc sau Xéc-gây chui ra khỏi gầm xe. Anh mặc bộ quần áo lính Giét-ta-po thay cho quần áo bảo hộ. . Tôi báo cho anh biết là có lệnh đến Béc-lin và lệnh cho anh chuẩn bị xe đến sáu giờ sáng mai xuất phát. Xéc-gây tắt đèn pha và chúng tôi im lặng đứng trong bóng tối một lúc, lòng bâng khuâng. Trong những ngày này ai mà không muốn tới Béc-lin. Tất nhiên Xéc-gây cung mong điều đó. Nhưng chúng tôi đã ở Pô-đơ-nan hơn hai tháng nay không phải trong không khí chiến tranh và Xéc-gây đã lao vào cuộc sống lãng mạng với một cô gái Pô-dơ-nạn, đã kịp bí mật cùng cô làm lễ cưới tại nhà thờ thành phố. Khi nghe tin này trên khuôn mặt vốn tươi vui cời mở của anh hình như thoáng vẻ suy nghĩ. Anh chùi tay dầu mỡ vào tà áo, bật lửa châm thuốc lá hút rồi trầm ngầm nói: - Thế là chiến tranh đã xa Pô-dơ-nan rồi. Bấy lâu nay ở đây người ta thường nói với nhau như vậy. Sáng sớm hôm sau chứng tôi lên đường. Xéc-gây đưa mắt chào từ biệt chiếc "Em-ca" cũ kỹ sơn màu ngụy trang nhem nhuốc, hai bên sườn vẫn còn lỗ chỗ vết đạn. Chính anh đã cùng với chiếc xe đầy thương tích này vượt qua hơn bốn năm chiến tranh. Xéc-gây lái chiếc xe mới nhận của mình, chiếc "Pho" chiến lợi phẩm ra bãi. Chính anh đã lôi nó từ một đường phố Pô-dơ-nan ra và tự tay sửa chữa những chỗ bị hỏng. Nước sơn đen còn mới với hai đường viền mầu ghi, hai bên thành xe và vành bánh xe sơn rõ ký hiệu của đơn vị. Tiếp theo Xéc-gây, cậu Va-nhi-a lái xe mô tô ra tập trung ở sở chỉ huy. Cậu nguyên là người Ri-ga bị quân Đức bắt và đưa sang làm việc ở Pô-dơ-nan. Dừng xe lại, cậu ta nhìn chiếc ô tô mới của Xéc-gậy với vẻ thán phục. Xéc-gây cởi thắt lưng, rút chiếc bi đông đựng rượu trao cho Va-nhi-a, Xéc-gây nhìn sang hai bên đường. Trên đường chỉ có mỗi một cô gái, mặc váy ngắn, đầu trùm khăn. Cô ta có vẻ như đang căng thẳng theo dõi chúng tôi sửa soạn lên đường. Các xe khác đã nổ máy, Xéo-gây khẽ nói vừa đủ nghe : -Em về nhà đi. Anh nói có nghe không? Về nhà ngay đi... Cô gái chậm chạp bước đi thỉnh thoảng quay lại nhìn. Xéc-gây đứng im nhìn một lúc rồi sửa lại áo cho gọn trong thắt lưng và đóng sập cánh cửa xe lại. Anh chàng Va-nhi-a đưa tay vuốt vuốt mái tóc vàng thưa thớt và vẫy tay từ biệt chúng tôi. Chiếc "Pho" giận dữ rú ga lồng lên nhưng lát sau đã lăn bánh bình thường. Tôi ngồi sau lưng Xéc-gây. Hai bên đường bập bềnh từng chùm hoa trắng - táo đã ra hoa. Thành phố cũng đang thức dậy. Cô gái điều hành giao thông ra hiệu cho xe đi qua thanh chắn. Một cậu bé từ trong nhà chạy ra, nhấc mũ hét theo xe: chào các chú bộ đội. Xe chúng tôi rẽ vào đường lớn đi Béc-lin. Xéc-gây hạ kính xe xuống và bỏ mũ. Chiếc xe tăng tốc độ, tiến về hướng Béc-lin. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2017, 02:31:32 am ĐƯỜNG ĐẾN BÉC-LIN Trạm kiểm soát giao thông Biếc-ba-um. Một tấm biển lớn kẻ dòng chữ: "Biên giới nước Đức" đập vào mắt chúng tôi. Trong những ngày này ai đi trên đường quốc lộ về Béc- lin còn được đọc mọt dòng chữ lớn viết trên tường ngôi nhà bị phá đổ có lẽ do một chiến sĩ nào đấy viết một cách đầy căm thù: "Đây, cái nước Đức đáng nguyền rủa!". Những người lính chúng tôi đã trải qua bốn năm chiến đấu để hôm nay mới tiến được đến cái địa điểm này. Trước mắt tôi những cánh đồng trải rộng bằng phẳng. Những thửa ruộng bỏ hoang không cày cấy. Tiếp đấy là những cánh rừng nhỏ và rồi lại đồng ruộng. Xa xa trên, đường chân trời nổi lên hình bóng những chiếc cối xay gió. Dọc những dãy nhà. còn nguyên vẹn, ngoài hàng rào trên những chiếc sào dài treo lay lắt đủ các loại khăn trải giường, khăn mặt trắng, dấu hiệu những lá cờ đầu hàng. Chiến tranh đã ập đến nước Đức với tất cả những gì khủng khiếp mà nước này cảm thấy được: Những đống hoang tàn, những đám cháy và chết chóc. Chúng tôi dừng lại ờ một thành phố nhỏ, cồ kính, bị phá hủy một phần. Chiến tranh đã đi khỏi thành phố này, ở đây, cuộc sống tuy khó khăn, căng thẳng nhưng vẫn nhận ra được. Tại ngã tư, đối diện với ngôi nhà màu xám, chúng tôi thấy một tấm áp phích lớn vẽ một cậu thanh niên đang há miệng như hét to: "Hãy nã súng vào đầu con quái vật!". Thành phố Lan-xbéc-gơ. Mấy cậu bé con tay quấn băng trắng đang trườn trong chiếc xe "Ô-pen" không có bánh nằm bẹp trên vỉa hè. Hình như chúng đang chơi trò chiến tranh. Từ sau các cửa sổ nhà thấp thoáng những khăn trải giường trắng. Nhân dân thành phố khá đông và mọi người nam cũng như nữ, lớn cũng như bé - trên tay áo mỗi người đều đeo một vòng băng trắng. Tôi không thế hình dung tại sao lại như vậy - toàn đất nước đeo bang trắng, biểu hiện đầu hàng, tôi cũng không nhớ rõ đã được đọc về điều này ở đâu. Trên đường phố "Nhà hát lớn" còn nguyên vẹn, nổi bật biểu ngữ độ rực "Vui mừng đón chào". Đấy là trạm đón tiếp những công dân Liên Xô đã bị bọn phát xít đuổi dồn sang làm khổ sai ở Đức. Cạnh con đường lớn ở vùng ngoại ô, một người đàn ông đứng tuổi đang cuốc đất. Chúng tôi dừng lại và vào nhà ông ta. Bà chủ nhà có vẻ như chưa thể quen với cuộc viếng thăm như thế này, lúng túng mời chúng tôi ngồi chơi uống cà phê. Ngôi nhà nhỏ ngay cạnh nẻo đường chiến tranh này có vẻ đầy đủ và sang trọng. Trên các giá trong nhà bếp là các loại rượu xếp đặt thành hàng ngay ngắn. Trong tủ gương ở buồng khách bày con búp bê sứ vẻ tinh nghịch - quà tặng bà chủ nhà nhân ngày cưới cách đây ba mươi hai năm. Trong thời gian này đã diễn ra hai Cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng con búp bê sứ cùng dòng chữ viết trên đó vẫn còn được giữ nguyên vẹn: Kffe und Bier, das lob ich mir - Cà phê và bia, niềm ưa thích của tôi. Một chiếc máy bay thám thính Đức đang lửng lơ trên bầu trời. Còn ở ngã ba đường, phòng vận tải quân sự đã thiết lập một trạm điều hành các loại xe đi đến nước Đức với lời cảnh cáo các tay lái xc: "Xe đi bên trái đường sẽ bị tước bằng lái". Nghe thật buồn cười và cũng thật dễ chịu. Từ lời cảnh cáo đó ta thấy được một cuộc sống không bình thường đã đến, thấy được sự xác định của một thế giới mới - một thế giới không có chiến tranh. Trên đường chúng tôi bắt gặp từng dòng người đủ các dân tộc khác nhau đã được trở về với tụ do: Người Pháp, người Nga, người Anh, Ba Lan, I-ta-li-a, người Bỉ và Nam Tư... Họ là tù binh, là những người dân thường đã bị đọa đầy trong các trại tập trung, các phòng tra tấn, là những người nô lệ bị đuổi dồn từ Liên Xô, từ khắp châu Âu tới đây để sống kiếp lao động khổ sai, đói rét và chết chóc. Thỉnh thoảng có những người ngồi trên cả "các xe bò của người Đức hay đi trên xe đạp. Phần lớn họ đi bộ, thành từng nhóm với những lá cờ tự tạo của nước mình. Người thì mặc quân phục nhàu nát, bẩn thỉu, người thì mặc quần áo dân thường chẳng biết kiếm được ở đâu và có nhiều người bận nguyên bộ quần áo tù nhân vải sọc. Những lời chào hỏi của họ vang lên đầy ấm áp, những khuôn mặt gầy gò nhưng rạng rỡ niềm vui, biểu hiện tình cảm nồng nhiệt - có thể đây là những cuộc gặp gỡ không thể nào quên của những trái tim nhiệt thành. Cạnh một trung đoàn kỵ binh đóng ngay bên đường làng, cạnh một lữ đoàn xe tăng đơn vị dự bị của Bộ chỉ huy và cạnh đường tiến quân đều nổi bật tấm khấu hiệu đầy phấn chấn: "Tiến lên, thắng lợi đã đến gần!". Chúng tôi vượt qua đoàn xe chở đạn pháo binh tiến vào thành phố Cuốc-trin. Thành phố trên sông Ô-đe nàỷ vắng người và bi tàn phà nặng nề. Người Đức gọi thành phố này là: "Cửa ngõ vào Bec-ỉin!" Từ đây tới Béc-lin chỉ còn tám chục ki-lô-mét. Chỉ huy phòng ngự ở đây là tên tướng ss Rây-ne-phác, tên đao phủ thành phố Vác-sa-va. Hắn đa bỏ chạy khỏi nơi đây, đề lại đám tàn quân đang sống chết bảo vệ thành phố. Xe chúng tôi khó khăn vượt qua những đường phố gập ghềnh, tiến vào quảng trường. Cả một quảng trường lớn giờ đây chỉ còn là đống gạch vụn của những ngôi nhà đổ nát. Khắp nơi chỉ thấy đổ nát, hoang tàn. Các cây cầu do quân thù để lại đều gẫy gục, những quãng đường bị phá hoại đây đó, ngổn ngang những phương tiện kỹ thuật bị phá hủy. Nhưng những đoàn xe chở đầy hàng của các đơn vị vẫn vượt qua hàng trăm ki-lô- mét để ngày càng tiến sâu vào trung tâm nước Đức. Tôi nhìn mãi người lái xe mặt trận, con người đã trải qua bao thử thách, đã vượt qua bao chặng đường gian khổ, khó khăn bao bến phà nguy hiểm, đã qua biết bao đầm lầy, đã chịu bao bom đạn và mìn với chiếc xe lỗ chỗ vết đạn, vết bom còn in nguyên dấu vết hai bên thành, để đến đây với niềm ước mơ - được tham gia vào trận đánh cuối cùng, đánh chiếm Béc-lin. Hoàng hôn đã buông xuống, dòng xe trên đường vẫn không ngừng tăng lên. Xe tăng, ô tô, đại bác, xe bọc thép, xe xích, tăng "lội nước" và Xe ngựa nườm nượp đổ về hướng Béc-ỉin. Bộ binh, vừa đi xe vừa đi bộ kéo thành đoàn dài bên mép đường lớn. Trên nòng súng, trên tháp xe tăng; trên các xe tải đều lắc lư dòng chữ "Tiến về Béc-lin". Trời đã tối hẳn nhưng ở mặt đường, dòng người, dòng xe vẫn không ngừng sôi động. Vì ai cũng hiểu rằng, đêm rất ngắn, cần phải hành quân gấp cho kịp. Đoàn xe lầm lũi tiến trong đêm, không bật đèn. Văng vẳng tiếng súng phòng không. Từ các ngõ ngách trong đường làng, đại bác, xe tăng, bệ binh lại dồn dập đổ ra đường lớn. Các loại xe đi thành hai hàng kéo thành một vệt dài trên mặt đường. Tiếng còi, xin đường, tiếng ngựa hí vang, tiếng giầy, tiếng vũ khí va chạm mọi người đang hối hả cố vượt cho kịp người đi trước. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2017, 12:43:27 am ĐÊM ĐẦU TIÊN Ở BÉC-LIN Trung tâm Béc-ỉin đang bốc cháy. Từng lưỡi lửa lớn bốc cao trên bầu trời. Ánh lửa soi rõ những ngôi nhà cao tầng có vẻ như rất gần đâu đây, thế nhưng thực tế để đến được đó cũng còn phải vài ba ki-lô-mét nữa. Những luồng đèn pha rọi về tận đây. Ở đây, ở vùng ngoại ô này, tuy vẫn còn lổn nhổn hàng dãy cột chống tăng của quân địch nhưng xe tăng của chúng ta đã chọc được vào trung tâm thành phố. Ngay chính đêm đó, dưới căn hầm của quốc trưởng Hít-le đã làm lễ cưới chính thức. Về sau, khi biết được điều này, tôi liền nhớ lại cảnh những bức tường của các khu nhà đổ sụp ra sao, nhớ mùi cháy khét lẹt, nhớ những cột chống tăng lầm lũi trong bóng đêm không còn sức mạnh ngăn cản các đoàn xe tăng quân ta xông lên nữa, nhớ tiếng gầm rú trong, bóng đêm của những chiếc xe tăng đang lao lên, tiến về trung tâm - tiến về tòa nhà nghi viện Đức và dinh quốc trưởng... như thế nào. Lúc ấy tôi còn đang ngồi bên vệ đường ngoại ô thành phố, ngay cạnh một cửa hiệu trống rỗng với tấm kính vỡ nát để chờ lệnh của bộ tham mưu bố trí nơi đóng quân cho chúng tôi. Ngay đêm ấy, tuyến tiền duyên của mặt trận đã chuyển vào trung tâm Béc-lin. Thỉnh thoảng lại ầm vang những loạt đại bác. Bầu trời đầy sao. Tôi bỗng nhớ lại một đêm vượt sông ở Xmô-len-xcơ năm bốn ba gian khổ, khi những con ngựa quá đói không còn đủ sức kéo nỗi pháo sang cầu phao và cuối cùng các chiến sĩ mệt mỏi, phờ phạc của chúng ta đành phải tự mình khiêng những khẩu pháo nặng nề qua sông, dưới hỏa lực không ngừng của địch. Và ngay lúc ấy nhà phóng viên quay phim I-van I-va-nô-vit Xô-côn-ni-cốp đã liều mình ghi lại được cảnh này. Ngoài phần hình ảnh được sử dụng trong cuốn phim thời sự nổi tiếng của anh, những thước phim quý giá khác còn lại cũng đã được đưa vào "Viện tư liệu phim" dành cho các thế hệ mai sau biết được cuộc chiến tranh khốc liệt này. Anh đã quay thành công bến vượt sông, hình ảnh các chiến sĩ khiêng pháo thay ngựa dưới sức nặng của vũ khí, và dưới những làn đạn bắn chặn của quân thù, mà vẫn không lùi bước sẽ in đậm mãi trong trí óc con người. Và khi bị cơn lũ do băng tan chặn lại, cắt đứt đội hình những đơn vị đang tiến lên với hậu phương, mặt trận cạn lương thực, Xô-côn-ni-cốp lại may mắn quay được cảnh hiếm có đề "đưa vào Viện tư liệu phim" là cảnh máy bay chúng ta thả những bao lương khô xuống trận địa quân ta. Cảnh những bao lương khô rơi xuống trên vùng đất mới đây còn là của quân địch, tung lên những đám bụi mù ngay trước mắt những người lính đang mệt lả, đói khát. Người ta xếp chúng lên những chiếc xe trượt do chó kéo thường dùng để chở thương binh từ trận địa về tuyến sau, và lũ chó đã ngoan ngoãn kéo những bao hàng quý giá đó về kho đơn vị. Trong tai tôi vẫn còn như văng vẳng tiếng chó sủa phản đối vì phải kéo nặng - nhưng biết làm sao, mặt trận không có đường sá gì cả, chỉ có những vết mòn do xe trượt tạo nên như vậy thôi. Trong ký ức tôi cũng còn ghi rõ những "hình ảnh", có thể chưa hề có trong bất cứ thước phim thời sự hay phim lưu trữ nào: hồi đó cũng vào mùa xuân, nhưng có thể sớm hơn chút ít, tôi bắt gặp một chiếc xe ngựa kéo trên tuyết đang tan, có lẽ nó đã đi một chặng đường quá dài nào đó rồi nên không thể đi tiếp được nữa. Anh chiến sĩ đánh xe đang ngồi bên vệ đường, chờ đợi. Con ngựa của anh gục xuống. Anh đánh xe vực nó dậy, không nhìn con vật bạn đường của mình, anh nhấc càng xe lên, treo lên đấy chiếc xoong nhôm và bỏ vào đó một vốc tuyết, nhóm một bếp lửa nhỏ. Mệnh lệnh khắc nghiệt lúc bấy giờ là - nhất thiết không được để ngựa chết. Phải cứu nó bằng mọi cách có thể được. Nhưng lần này thì con vật bất hạnh đó không thể gượng dậy được. Nước trong xoong sôi, thế nhưng con ngựa, tuy được sưởi ấm, vẫn nằm im lìm, hai mắt trân trân, đờ đẫn, báo hiệu cái chết nhất định sẽ đến. Anh chiến sĩ đánh xe nét mặt rầu rầu vẫn chờ đợi hy vọng... Giờ đây, liệu con người đó có tới được Béc-lin này hay không? Liệu những con người đã nhịn đói, nhìn đám bụi lương khô bốc lên dưóũ cánh mẩy baỳ nam nào, liệu những con người đói, khát, mệt nhoài và bị thương ngày ấy, hôm nay có đến được đây hay không và cả những con người đã được làm dấu thánh vĩnh biệt, hiến dâng cả cuộc sống của mình. Hãy sống lại dù chỉ là giây phút để được nhìn thấy đội quân của họ đã tiến đến hang ổ quân thù với một sức mạnh ghề gớm như thế nào. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2017, 09:37:16 pm THẮT CHẶT VÒNG VÂY Béc-lin bị vây chặt đã ba ngày liền. Sau nhiều trận đánh căng thẳng, nặng nề chọc thủng và đánh chiếm lần lượt hết khu phố này đến khu phố khác, bộ đội tập đoàn quân số 3 của thượng tướng Cu-dơ-nẻt-xốp, tập đoàn quân số 5 của thượng tướng Béc-da-rin và các đơn vị tập đoàn quân cận vệ số 8 của thượng tướng Trui-cốp đã tiến vào trung tâm thành phố theo ba mũi: mũi thứ nhất tới Tia-ga-ten, mũi hai về Un-te đến Lin-đen và mũi thứ ba về khu chính phủ. Tư lệnh bộ chỉ huy quân quản thành phố Béc-lin, thượng tướng Béc-da-rin đã ra mệnh lệnh giải tán và cấm đảng quốc xã hoạt động. Nhân dân Béc-lin sơ tán sống tạm bợ dưới các tầng hầm ngột ngạt, nóng nực. Việc cung cấp nước rất khó khăn và dự trữ lương thực dần dần cạn. Trên mặt đất vẫn là những trận đánh, vẫn là những cuộc đấu pháo liên tục. Mảnh đạn cùng với những mảng gạch ngói, xi măng bay tung tóe trong không gian đầy khói bụi. Thành phố sống trong những đám cháy, ngột ngạt và chết chóc. Tình cảnh dân chúng thật bi đát. Trong tình hình như vậy thì lối thoát duy nhất hầu như đã rõ ràng vì mỗi giờ kéo dài cuộc kháng cự vô nghĩa này được coi là kéo dài thêm tội ác. Trong những ngày này, về phía quân Đức đã có những kế hoạch gì? Cho mãi đến sau này khi mọi vấn đề đã rõ ràng, đã kết thức, chúng tôi mới tìm được lời giải đáp cho câu hỏi đó. Viên sĩ quan SS bảo vệ của Hít-le, Ốt-tô Hun-xe bị bắt làm tù bỉnh vào ngày 2 tháng 5 tại một quán bia, đã khai bằng văn bản như sau: Ngày 22 tháng 4 khi đạn pháo đã rơi vào trung tâm Béc-lin, Hít-le liền triệu tập cuộc họp của bộ tổng tư lệnh tối cao vào hồi 16 giờ 30 phút: "Quốc trưởng thông báo về cuộc tiến công của tập đoàn quân số 9 từ hướng Tây-bắc và cuộc phản công của cụm tạp đoàn quân của tướng SS Stây-ne vào hướng Nam. Người muốn phải làm yếu và đánh bật quân Nga ra bằng lực lượng chủ công của chúng tôi ở Béc-lin đề tạo điều kiện thành lập mặt trận mới. Nếu được như vậy thì lúc đó có thể mặt trận sẽ kéo dài theo một tuyến như sau: ở Stét-tin ngược sông Ô-đe đến thành phố Phrăng-phuốc trên sông Ô-đe, tiếp theo với tuyến hướng Tây qua các tỉnh Phuốc-xten-van-de, Xốt-xen, Trô-en-bri-xen đen-sông En-bơ. Điều kiện để thực hiện ý đồ này có thể là: 1. Phải cố sức kìm tuyến mặt trận lại ở hạ lưu sông Ô-đe; 2. Quân Mỹ đứng lại bên bờ trái sông En-bơ; 3. Sườn phải của tập đoàn quân số 9 phải đứng trụ được bên bờ phải sông Ô-đe; Sau khi tổng tham mưu trưởng lục quân, tướng Crép-xơ báo cáo về việc một lực lượng quân Nga đã chọc thủng mặt trận phía Nam Stét-tin thì quốc trưởng đã hình dung rõ, giờ đây không thề nào thành lập được mặt trận đã nói ở trên, ngài phát biểu ý kiến cho rằng, với tình hình này thì chỉ sau ỉt ngày nữa thành phố Méc-clen-bua cũng sẽ rơi vào tay quân Nga. Tuy vậy, quốc trưởng cũng hạ lệnh điều hai tập đoàn quân số 9 và số 12 và cụm tập đoàn quân của tướng Stây-ne chuyển sang tiến công giải vây cho Béc-lin". Ốt-tô Hun-xe viết những điều này sáu ngày sau khi ra hàng trong đầu óc hắn còn hằn những sự kiện nóng hổi. "26-4-1945 tuyến đường dây điện thoại cuối cùng giữ việc liên lạc giữa thành phố với thế giới bên ngoài đã ngừng hoạt động. Sự liên lạc chỉ cồn thực hiện được qua đài phát thanh, thế nhưng đo những trận bắn phá dồn dập nên ăng-ten bị hỏng hay nói một cách chính xác hơn là, máy thu thanh cung bi hỏng nốt. Các tin tức báo cáo về sự hoạt động của ba tập đoàn quân nói trên rất hạn chế, may lắm thì họ có thể tiến theo đường vòng xa mới tới được Béc-lin. Ngày 28-4-45 thống chế Cây-ten báo cáo như sau: 1. Cuộc phản công của các tập đoàn quân 9 và 12 bị bẻ gãy vì quân Nga chống lại mạnh mẽ không thể tính đến chuyện tiếp tục tổ chức tiến công được nữa. 2. Cụm tập đoàn quân của tướng Stây-ne, cho đến hôm nay vẫn chưa hành quân đến được nơi quy định. Sau tất cả những sự kiện này, chúng ta hiểu rõ là, vận mệnh Béc-lin đã được, định đoạt". Lính Đức chết la liệt trên các đường phố Béc-lin. Trong những ngày đầy thất vọng này người ta đòi hỏi chúng là: phải chiến đấu với một lòng cuồng tín vì đế chế ba và các anh sẽ chiến thắng. Nhưng đế chế của chúng đang phơi mình trên những đống đổ nát và thất bại đã rõ ràng. Chúng được hứa hẹn giúp đỡ đủ thứ nhưng chẳng biết lấy đâu ra lực lượng. Còn chúng, tuy là những tên lính có kinh nghiệm nhưng lại là những kẻ tiến công tồi nên số phận đối với chúng chỉ là: cứ việc chết. Nhưng các đơn vị quân đội Đức bị thắt chặt trong vòng vây vẫn tiếp tục nhận được hàng bó báo "Con gấu đông" (biểu tượng của thành phố Béc-lin) do cơ quan tuyên truyền của Gơ-ben tung ra với hàng nắm truyền đơn vừa lừa dối, kích động, vừa vu khống, hăm dọa. Dưới đây là một trong những tờ truyền đơn kiểu như vậy, loại mới nhất chúng vừa tung ra ngày 27 tháng 4 mà bọn Gơ-ben gọi là "Truyền đơn mặt trận Béc-lin": "Hoan hô nhân dân Bé-lin"! "Béc-lin vẫn là của nước Đức!" Quốc trưởmg đã tuyên bố như vậy đối với toàn thế giới, và các bạn, những công dân Béc-lin phải hành động sao cho lời tuyên bố đó thành chân lý của chúng ta. Hoan hô nhân dân Béc-lin. Hành động của các bạn là tấm gương mẫu mực. Hãy tiếp tục biếu thị lòng dũng cảm như vậy, hãy tiếp tục kiên trì như vậy, không thương xót và thương tiếc và lúc đó các bạn sẽ đánh tan được làn sóng Bôn-sê-vích điên loạn đang trào tới... Hỡi những người dân Béc-lin, các bạn hãy đứng vững, ngẩng cao đầu và đồng loạt tiến lên!". Tờ truyền đơn này rơi vào tay chúng tôi sáng 29 tháng 4 lúc. chung tôi còn cách quảng trường Pốt-xđam không xa lắm. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Năm, 2017, 07:13:54 am NGÀY 29 THÁNG TƯ Chúng tôi nhận được lệnh tiến đến khu vực, nơi tập đoàn quan xung kích số 3 chúng tôi làm bàn đạp tiến công về hướng quảng trường Pốt-xđam. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đi trên chiếc xe bánh xích vượt qua các dãy chướng ngại vật đã bị xe tăng húc ngã, len qua những thanh đường ray, những súc gỗ lớn và đủ loại vũ khí, hư hỏng vất ngổn ngang trên đường. Chúng tôi vượt qua những hào chống tăng đã bị gạch đá phủ đầy, qua nhưng thung phuy trống rỗng. Nhà cửa san sát. Cái thì còn nguyên mấy tầng nhô cao, cái thì chỉ còn là một mảng tường loang lổ đứng chơ vơ, tựa như đang xây dở rồi bị quên đi - đó là những gì còn lại của trận đánh hai ngày hôm trước. Có những chỗ xe tăng đã tạo thành vệt đường trên những đống gạch đá và các loại xe ô tô tải, xe con quân sự liền lợi dụng vết xích xe tăng đó tạo cho mình một lối đi trong hoang tàn đổ nát. Xe mỗi lúc một nhiều. Điều khiển giao thông trong Béc-lin hiện nay do các nữ chiến sĩ giao thông người Xmô-len-xcư, người Ca-li-nin- grát, người Ri-a-dan đảm nhiệm. Các cô gái duyên dáng trong bộ quân phục bó chặt thân mình có lẽ đã được may ở nhà bà Bu-gin-xcai-a ở Pô-dơ-nan. Xe chúng tôi phải dừng lại. Không còn lối nào đi được nữa. Một tốp lính Pháp ngồi trên chiếc xe tải có kẻ cờ Pháp bên thành xe chạy ngược lại phía chúng tôi. Chiếc xe nặng nề nhảy chồm chồm trên những đống gạch vỡ, dầm sắt và đá củ đậu, chúng tôi vẫy tay chào nhau. Càng vào gần trung tâm thành phố không khí như càng đặc hơn. Trong những ngày này ai đã từng ở Béc-lin chắc vẫn còn nhớ được cái không khí đặc quánh khói đạn, khói nhà cháy, bụi gạch và đất đá cay xè trong mắt, cát sạn lạo xạo trong miệng. Chúng tôi xuyên qua những bức tường nhà bị phá hủy. Những đám cháy vẫn âm ỉ, không ai dập tắt chúng, những bức tường vẫn bốc khói trong khi hàng dây leo vẫn bám chặt chân tường. "Tường nhà bị phá đồ, nhưng không phải do ý chúng tôi" trên một mảng tường tôi thấy tấm biển như vậy, ngay trước khung cửa lớn bây giờ không còn dẫn vào đâu được nữa - có chăng chỉ là vào nơi trống rỗng hoang tàn. Chui qua mấy tầng hầm chúng tôi gặp một vài gia đình người Đức đang sống trong đó. Mọi người chỉ hỏi chúng tôi có một điều : "Bao giờ thì cái cảnh kinh hoàng này, cơn ác mộng này chấm dứt?". Hít-le đã từng tuyên bố: "Nếu cuộc chiến tranh này thất bại thì cả dân tộc Đức hãy tự sát". Nhưng bất chấp ý muốn của hắn ta những người Đức vẫn muốn sống, không muốn bị tiêu diệt, không muốn tự sát. Từ trong các cửa sổ còn nguyên vẹn lại thấy những khăn trải giường, khăn mặt trắng vắt vẻo trên những cây sào. "Nhà nào treo cờ trắng thì tất cả đàn ông trong nhà sẽ bị bắn chết tại chỗ" - đó là mệnh lệnh của Him-le. Khó mà định hướng và tìm được đường đi trong thành phố. Những biển chỉ đường bằng tiếng Nga đã dùng hết, còn các biển tiếng Đức thì phần lớn đổ sập theo các bức tường do đó chúng tôi cứ phải hỏi những người dân mà tình cờ bắt gặp trên đường với đống hành lý ít ỏi và nghèo nàn của mình. Các chiến sĩ thông tin len lỏi quá các hốc tường đổ nát - họ đang mắc đường dây. Một chiếc xe ngựa chở cỏ khô đang lọc cọc trên đường, còn người lính đánh xe chiến sĩ cận vệ - để ria mép, đang nhai nhai một cọng cỏ. Một tổ chiến sĩ mang tiểu liên đi qua, trong đó có một người quấn băng trên đầu trắng xóa. Muốn gì thì gì, miễn là đừng bị gục đừng bị loại khỏi hàng ngũ. Cạnh ngã tư đường phố có một phụ nữ tuổi trung niên, đầu trần, tay đeo dải băng trắng to xù mà ngay từ xa đã nhận rõ. Bà ta đang dắt hai đứa trẻ - một trai, một gái. Cả hai đứa bé có vẻ sạch sẽ, trên cổ tay áo cũng đính hai dải băng trắng. Khi đi qua chúng tôi, bà ta cố nói thật to không cần biết là chúng tôi có hiểu lời bà ta không: Hai đứa trẻ mồ côi đây. Nhà chúng tôi bi bom phá sập. Tôi phải đưa hai cháu tới nơi trú khác. Chúng là trẻ mồ côi. Nhà bị bom phá rồi. Từ ngoài khung cửa bị phá, một người đàn ông đội mũ phớt đen bước vào. Trông thấy chủng tôỉ ông ta dừng lại, giơ chiếc gói trong tay ra, mở từ giấy dầu bọc ngoài và chìa ra chiếc hộp nhỏ. Ông ta mở nắp hộp: - Thưa các ngài sĩ quan. Nước hoa "Ô-ri-an Cô-ti" đây. Tôi chỉ xỉn đổi một bao thuốc lá thôi, thưa các ngài. Chúng tôi đứng im, ông ta lại gói hộp lại, bỏ vào túi áo bành tô dài và rộng quá cỡ đối với ông ta rồi bỏ đi. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2017, 10:11:32 pm Càng đi tiếp, đựờng phố càng vắng vẻ Trước mặt chúng tôi nổi bật chiếc cột đã dán đầy áp phích, trong các khung cửa sổ lay lắt mấy tấm diềm cửa bằng sa tanh, trên một chiếc xe buýt còn nguyên, từ quảng cáo, vẽ đôi giày to tướng và trên các tường nhà còn nguyên lời khẳng định của Gơ-ben là, quân Nga không thể tiến vào Béc-lin được. Các khu phố chết lặng với những đống đổ nát. Càng đi càng thấy khó thở hơn. Bụi đất, đá, bụi gạch như bịt mất đường đi của chúng tôi. Hầu như mỗi bước chân đều có vết đạn. Đây là nơi đã diễn ra những trận đánh ác liệt ở khu số chín trong hệ thống phòng thủ Béc- lin - khu chính phủ. Dẫn đường cho chúng tôi là chiến sĩ liên lạc Cua-rơ- cốp. Đã có lần anh dẫn đường cho chúng tôi ở mặt trận Rơ-giốp. Anh nguyên là công nhân mỏ quặng ở U-ran. Anh rất thích kể cho chúng tôi nghe về vùng mỏ của mình và còn khoe cả lá thư chị vợ viết cho anh như thế nào. Vài ngày sau Cua-rơ-cốp tham gia trận đánh vào dinh quốc trưởng và là một trong những người đầu tiên xông vào tòa nhà lớn này, anh bị thương nặng bởi loạt đạn của tên ss bảo vệ Hít-le. Trận đánh đó diễn ra khi trên tòa nhà quốc hội Đức đã phấp phới lá cờ đỏ của Hồng quân Liên Xô. NHIỆM VỤ CUỐI CÙNG "Phải bảo vệ thủ đô của đế chế đến người cuối chung và viên đạn cuối cùng - Mệnh lệnh của bộ chỉ huy Đức đã viết như vậy... Cuộc chiến đấu bảo vệ Béc-lin có thể quyết định vận mệnh của chiến tranh". Bản mệnh lệnh buộc quân đội Đức phải chiến đấu trên bộ, trên không, và cả dưới mặt đất, với tinh thần cuồng tín, không tưởng, với việc sử dụng tất cả những phường tiện để đưa quân thù vào thế bị động, sai lầm, với sư mưu trí, lẫn tính tàn bạo, với việc sử dụng những phương tiện đã được chuẩn bị từ trước và cả những phương tiện đang sẵn có trong tay. "Vật chướng ngại, hầm hào, cột chống tăng và hàng rào con nhím cần phải được sử dụng để cản bước tiến của xe tăng. Các hầm bê tông cốt sắt, những ngôi nhà lớn đều sẽ biến thành những vật cản - những hỏa điểm và cưa sổ của chúng sẽ là những lỗ châu mai. Các xe tăng hỏng, nhưng khẩu súng còn nguyên vẹn đều được biến thành những ụ hỏa điểm mạnh ngăn cản bước tiến của xe tăng Xô-viết". "Cần phải biết sử dụng tới mức cao nhất mọi ưu thế xuất phát tại chỗ, cuộc chiến đấu này sẽ diễn ra trên đất nước Đức, cần phải biết lợi dụng hoàn cảnh, một điều hiển nhiên, quân Nga sẽ mang một nỗi khiếp sợ trước những thành phố với các khối nhà lớn lao mà chúng hết sức xa lạ. Nhớ nắm rõ, chính xác các địa điềm, nhớ biết sử dụng các đường xe điện ngầm và các đường ngầm trong thành phố đã được trang bị các đường thông tin, nhớ mọi khả năng ưu thế để tiến hành chiến tranh và việc ngụy trang trong các khu nhà, biến các khối nhà liên hoàn - đặc biệt là các công trình bê tông thép thành những cứ điểm hỏa lực mạnh, do đó việc phòng ngự Béc-lin sẽ trở thành bất khả xâm phạm đối với bất cứ kẻ thù nào". "Tất cả cho cuộc tổng tiến công! Tất cả cho thắng lợi cuối cùng, hỡi các đồng chí chiến sĩ!" - đó là lời kêu gọi và cũng là mệnh lệnh ngắn gọn của Hội đồng quân sự phương diện quân (mặt trận) Be-lô-ru-xi-a thứ nhất... Đúng là một thành phố khổng lồ, xa lạ. Những cột khói đen cuồn cuộn của hàng trăm đám cháy che mờ những đường nét kiến trúc và hàng dãy nhà đổ nát tạo nên một bộ mặt điêu tàn hoang dại của nó. Gần sáu năm trước đây, từ thành phố này đã xuất phát - một cuộc xâm lược đầy dã man, tàn bạo và tội lỗi chưa từng thấy đối với toàn châu Âu. Giờ đây, cuộc chiến tranh tàn bạo này lại quay trở về với nó - về nơi sào huyệt chính... Xác những lính Đức chết cứng, còng queo. Có thể, những tên lính này đã chiến đấu một cách dũng cảm hết sức mù quáng để tỏ rõ lòng trung thành với tên quốc trưởng của chúng. Cũng có thể, chúng đã được cuộc chiến tranh này nuôi béo, nhưng do hoàn cảnh bắt buộc chúng phải chiến đấu, đã phải thí cả cuộc đời mình như những kẻ đang kháng cự hiện nay chỉ để làm một cái việc vô nghĩa là - hy sinh cho cuộc chiến tranh này. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Sáu, 2017, 05:09:12 am DÒNG SÔNG SƠ-PRE Dù phải trải qua bao ngày đêm ảm đạm gian khổ trong chiến tranh nhưng các chiến sĩ chúng ta vẫn khẳng định rằng: nhất định chúng ta sẽ tái Béc-lin, nhất định chúng ta sẽ được ngắm dòng sông nhỏ này - sông Sơ-pre. Và điều đó đã được thực hiện. Với những dãy bờ cao, uốn khúc, sông Sơ pre, cũng giống như những con sông, con suối, đập nước và hồ khác đã làm phức tạp thêm bước tiến của các đơn vị. Khói thuốc súng mờ đục, bụi đất của gạch ngói vôi vữa tạo nên một tấm màn che dày đặc, lấp loáng một cách kỳ quái, ánh lửa hồng đỏ rực của những đám cháy lơ lửng treo trên dòng sông. Còn bên kia bờ sông Sơ-pre này là khu chính phủ, là đặc khu số chín của tuyến phòng ngự, nơỉ đang diễn ra những trận đánh ác liệt. Trên những tấm biền chỉ đường, trên xe tăng, nòng pháo và cả trên những viên đạn đạỉ bác đều nổi bật dòng chữ đỏ thắm "Tiến tới nhà quốc hội!". Đó là mục tiêu, là tên gọi, là ý nghĩ của tất cả mọi người trong những ngày này ở Béc-lin. Đó là tòa nhà chính của đế chế Đức. Đó là nơi tụ họp của cơ quan lập pháp tối cao: Nhà nước quốc xã. Đó cũng là nơi đã diễn ra cuộc khiêu khích bẩn thỉu và dã man nhất của thời đại - vụ đốt nhà nghị viện năm 1933. Phải chiếm tòa nhà nghị viện, cắm trên đỉnh thấp tròn của nó lá cờ đỏ chiến thắng để báo với toàn thể giới biết chiến thắng của chúng ta đối với chủ nghĩa phát xít, đối với Hít-le. Ngày 29 tháng 4, bộ đội của thượng tướng Cu-dơ-nét- xốp đã tiến vào "Quảng trường Nhà vua" từ đây đã trông rõ tiền sảnh của tòa lâu đài quốc hội Đức màu xám với sáu cột đá trắng. Nhưng sự chú ý của nhóm trinh sát quân báo không phải là tòa nhà nghị viện này mà là những đơn vị địch đang tiến từ đại lộ Vin-hem về dinh quốc trưởng cách tòa nghị viện năm trăm mét. Các chiến sĩ quân báo có nhiệm vụ quan trọng cuối cùng là : bắt sống Hít-le. Lúc ấy chúng tôi đã không được cung cấp tin tức một cách chính xác và chúng tôi cũng không tin là Hít-le đang ở trong căn hầm dưới dinh quốc trưởng cùng bộ tham mưu của hắn. Những nguồn tin quân báo cung cấp thường ít ỏi, lộn xộn, không chính xác hoặc mâu thuẫn nhau. Ngày 23 tháng 4) khỉ còn ở Pô-dơ-nan, tôi đã nghe qua đài phát thanh Béc-lin thông báo rằng Hít-le vẫn đang ở Béc-lin. Trong tờ báo "Người chiến sĩ Béc-lin" mà chứng tôi có được cũng đã bóng gió nói tới điều đó. Tất nhiên chúng tôi không thể tin vào nguồn thông báo này. Còn bọn tù binh Đức cũng hoài nghĩ tin tức này. Một số tên trong bọn chúng thì đoán rằng Hít-le đã bay đi Ba-va-ri-ô rồi, còn phần lớn bọn khác thì thờ ơ với tất cả mọi điều kể cả việc Hít-le đang ở đâu, bởi vì chúng đi choáng váng và kiệt sức vì những điều phải chịu đựng bấy lâu nay. Chúng tôi bắt được "một cái lưỡi" một đứa bé mới mười lăm tuổi, trong bộ đồng phục thanh niên quốc xã, đôi mắt đỏ ngầu, đổi môi nứt nẻ. Vừa rồi nó mới điên rồ bắn vào chúng tôi - thế mà giờ đây nó lại ngồi ngơ ngác, câm như miệng hến, ngó nghiêng nhìn quanh có vẻ tò mò - trẻ con bao giờ cũng là trẻ con mà. Có lẽ nó đang rất ngạc nhiên trước biến cổ đột ngột này của cuộc chiến. Nó khai là sư đoàn của chúng do tên thủ lĩnh thanh niên quốc xã Ác-xman chỉ huy làm nhiệm vụ bảo vệ dinh Hít-le. Điều này nó chỉ được nghe qua bọn chỉ huy. Bọn này thường nhắc đi nhắc lại và hạ lệnh phải cố chống đỡ cho đến khi quân của tướng Ven-cơ tới tăng viện. Suốt ngày tôi phải dịch các buổi hỏi cung bọn tù bỉnh ngay dưới tầng hầm của một ngôi nhà cách quảng trường Pốt-xđam không xa. Trong hầm này còn có một gia đình ngườỉ đưa thư và một thiếu phụ có đứa con trai, cô gái mặc áo trượt tuyết. Tiếng gầm vang của trận đánh lớn không ngừng vang vọng vào đây. Thỉnh thoảng chúng tôi lại cảm thấy nghiêng ngả như đang sống trong cơn động đất Trong tầng hầm còn có cả các tù binh đang chờ đến lượt được gọi ra hỏi cung. Một tên trung ủy trẻ nói nhỏ với tôi: - Đã nửa ngày nay tôi được ngồi với những người văn minh nào đây - Hắn ta muốn nói tới những người dân thường trong căn hầm này - Tôi không hiểu, các ngài có biết như vậy không ?' - Anh định làm gì họ vậy? - Không. Nếu như đây là những con người lương thiện thì tội không phản đổi. Chúng tôi chỉ quan tâm có một điều Hít-le đang ở đâu. Nhưng hắn ta, tên trung úy trẻ không thể trả lời được câu hỏi, song hắn vẫn không bày tỏ điều gì đó, và lẳng lặng đứng dậy rồi chợt nói: - Kẻ thù số một của chúng tôi là nước Anh, số hai là nước Nga. Để đánh tan nước Anh thì chúng tôi phải kết liễu nước Nga trước đã... Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2017, 07:34:33 am Giọng run lên, hắn không nói tiếp được nữa. - Ôi, lạy Chúa!... - Hắn nấc lên và đưa haỉ tay ôm mặt Một người thợ mỏ ở En-dát cũng bị bắt về đây đang ngồi ủ rũ xin chứng tôi giao cho anh ta khẩu súng. - Để dành cho những giờ phứt cuối cùng - Anh ta nói - Dành cho tất cả - Rồi anh ta xắn tay áo lên cho chứng tôi xem vết xăm chàm trên cánh tay - Một hình chữ thập chứng minh cho anh ta chính là ngườỉ ở En-dát Dù cho tin tức nhận được có ít ỏi, nhưng tổng hợp lại và đối chiếu vói cách phòng thủ của bọn Đức chung quanh dinh quốc trưởng chúng tôi cũng có thể đoán được rằng Hít-le đang ở đây. Chiều 29 tháng 4 một nữ y tá bị bắt khi định chạy vượt qua phòng tuyến để tìm mẹ. Khi tra lời câu hỏi của chủng tôi, cô ta rút trong túi áo choàng ra chiếc khăn trắng và cố tình chìa cho chúng tôi xem hình chữ thập đỏ thêu ở một góc khăn. Tôi còn nhớ rõ, suốt cuộc chiến tranh này hễ ở đâu vừa xuất hiện chữ thập đỏ là bon Đức liền ném bom không thương tiếc vào chỗ ấy. Ngày hôm qua cô ta vừa mới chuyền thương binh từ đại lộ Phốc đến nơi duy nhất còn nguyên vẹn chưa bị bom gần đấy là hầm trú ẩn của văn phòng quốc trưởng, cô ta đã nghe được bọn lính cũng như nhân viên hành chính rỉ tai nhau là Hít-le đang trong hầm ngầm khu vực này. Ngày 29 tháng 4 cũng là ngày quân ta tổng tiến công quyết chiếm tòa nhà nghị viện. Các đơn vị bộ đội Liên Xô đang ào ạt không ngừng tiến công về tòa nhà này. Báo chí Mát-xcơ-va cũng như của mặt trận đều hướng về nó. Tuy vậy lúc này các phóng viên mặt trận cũng chưa chú ý lẩm tới cái dinh quốc trưởng vì họ không biết được rằng, chính nơi đây, dưới căn hầm bí mật của nó vẫn còn tồn tại chính quyền chuyên chế của nước Đức. Nhưng cũng vào ngày ấy, ngày 29 tháng 4, các chiến sĩ chúng ta chi còn, cách dinh quốc trưởng chưa đầy năm trăm mét, đây là ồ đề kháng chính vì dưới căn hầm ngầm bí mật này là nơi trú ngụ cuối cùng của hắn, tên quốc trường, tên tổng tư lệnh đế chế Đức - tên Hít-le. Khắp nơi là vật cản, hàng rào thép gai, cột chống tăng, bãi mìn, đường hào và những đống đồ nát. Cả một vùng hoang tàn. Những ngôi nhà sụp đổ vẫn còn cháy bỏng, sặc mùi thuốc súng. Hết nhà này sang nhà khác, trong mỗi ngóc ngách, mỗi cửa sổ còn nguyên vẹn, bọn tàn quàn địch vẫn ngoan cố và liều lĩnh nổ súng chống cự. Những trận đánh diễn ra chính giữa trung tâm thành phố trong điều kiện khó khăn, gay go không hình dung và không tin nổi. Không phân biệt được đâu là chiến tranh và đâu là cái chết. Những viên đạn bay đi không cần phân biệt người chính nghĩa và kẻ phi nghĩa, người chiến thắng và kẻ chiến bại. Các chiến sĩ chúng ta với lòng dũng cảm vô song, trong lúc gay cấn nhất, khó khăn nhất đã dũng cảm xông lên đón nhận cái chết không cần chờ nhận phần thưởng chiến thắng. Nhưng cũng có cảm giác thật đau buồn khi biết rằng chỉ còn gang tấc nữa là giành được chiến thắng và mình sẽ sống mãi nhưng vẫn phải đón nhận hy sinh. Vi mỗi con người chứng tôi đến được Béc-lin hôm nay là những con người đã trải qua tất cả: cả đau thương và căm thù, đã trải qua những ngày bị vây hãm không còn lối thoát, đã trải qua nỗi đau buồn vì bị bắt làm tù binh và sự say sưa khi xốc tới trong phản công, lòng phấn khởi vì những chiến thắng từ sông Vôn-ga đến bờ sông Sơ-pre này. Và giờ đây, họ, những con người đó đang lao vào những trận đánh cuối cùng trên đường phố Béclin. ... Rạng đông. Đường phố thành bãi chiến trường. Xác những tên lính Đức, những quầy cửa kính bị đạn pháo bắn vỡ tan tành, những bức tường nham nhở vết đạn và những ngôi nhà tối om không người có vẻ như lùi sâu vào bóng tối mãi mãi. Cơn gió ban mai cuốn theo rác rưởi và bụi bám trên mặt đường. Trên vỉa hè, cạnh các tường nhà các chiến sĩ chứng ta người ngồi, người nằm, người đang say sưa trong giấc ngủ chập chờn, người thì gối lên tay, người gối lên cả những thanh dầm cửa. Có người lại đang cuốn lại xà cạp. Những giây phút yên tĩnh trước trận đánh mới trong ngày đang chậm chạp trôi qua. Sư yên tĩnh chỉ tính từng phút một, chứ thật ra suốt ngày đêm các trận đánh không hề ngừng. Các đơn vị quân khu Béc-lin, các trung đoàn ss, các đơn vị rút chạy từ sông Ô-đe, từ Cút-tơ-rin, các đơn vị điều từ sông En-bơ, là những đơn vị đã tới được đây khi vòng vây phía tây quanh Béc-lin chưa kịp khép chặt - chúng được dồn cả vào cái thành phố đang bị vây hãm này, đang cố liều mạng bảo vệ ngay cạnh chân tường "dinh quốc trưởng". Tiền duyên mặt trận Đức sao mà bị thu hẹp quá nhanh như vậy - giờ đây nó chỉ còn bao quanh dinh quốc trưởng nữa thôi, vì đây là nơi trú ngụ cuối cùng của chủ nghĩa phát xít. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Sáu, 2017, 07:06:40 pm 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4, một mệnh lệnh được ban ra cho tất cả các đơn vị tham gia trận tổng công phá cuối cùng - hãy bắn mãnh liệt bằng tất cả các loại vũ khí sẵn có vào nhà nghị viện. Đại bác gầm vang dõng dạc, xe tăng đĩnh đạc điểm từng hồi, xe xích, trung liên, đại liên, tiểu liên xen nhau, thi nhau lên tiếng. Những khẩu đại pháo từ Vôn-ga tới thét vang như hỏi tội - hãy bắn vì tất cả, hãy bắn vì mỗi người đã chết. Các loại súng lớn bỗng im bặt và bộ binh xông lên trong trận tổng công kích... Đúng chiều hôm ấy, 30 tháng 4, ngọn cờ đỏ chiến thắng đã tung bay trên mái tròn nhà quốc hội Đức, nhưng những trận đánh diễn ra ngay trong các gian phòng của tòa nhà này vẫn kéo dài suốt ngày 1 tháng 5. Đêm mồng 1 tháng 5 năm 1945 ở Béc-lin, đêm chiến thắng - Những ngôi nhà bốc cháy rực lửa, soi tỏ một cách man dại, kỳ quái bóng dáng thành phố đang quằn quại, tiếng những bức tường đổ ập vang trong đêm và bầu không khí nồng nặc mùi khói và thuốc súng đang bao trùm lên toàn thành phố. Thế nhưng ánh sáng đèn pha mạnh vẫn chọc thủng màn đêm dày đặc soi tỏ, lùng sục trong bóng đêm kinh rợn này. Không một chiếc máy bay Đức nào có thể chọc thủng được bầu trời Béc-ỉin đã bị phong tỏa để lọt ra ngoài. Không một ai và không một vật gì có thể tới đây và trốn thoát khỏi đây được, dù là đi bằng đường không. Quân Đức co cụm lại trong vòng vây hẹp ngay giữa trung tâm Béc-lin; số phận bi đát của chúng chỉ còn tính từng giờ và đây cũng là những giờ phút bi thảm và mù quáng của chúng. Những làn đạn bùng lên trong đêm tối chia cắt chúng thành từng cụm, từng nhóm... Và, bỗng từ phía khu vực đơn vị chúng tôi - khu vực mặt trận của tập đoàn quân cận vệ số 8 của tướng Trui-cốp, xuất hiện một bóng người bên phía đối phương nhô ra. Trong tiếng đạn rít, một quả pháo sáng soi rõ bóng người đó với lá cờ trắng trong tay. Sứ giả đầu tiên của Béc-lin. Dấu hiệu đầu tiên của sự thất vọng đầy tự giác. Súng lập tức ngừng nổ. Lần đầu tiên trên đường phố Béc-lin, hai bên cùng ngừng bắn trong căng thẳng và đợi chờ. Sứ giả đó, viên trung tá Bây-phéc, bước những bước vội vàng tới hỏa điểm quân ta đang ngừng bắn ở ngay góc một ngôi nhà màu xám. Đường đây điện thoại, theo từng cấp một thông báo khẩn cấp việc tên sứ giả xuất hiện đã đến đến sở chỉ huy của tướng Trui-cốp. Viên trung tá trình bức công hàm viết bằng hai thứ tiếng có chữ ký của Boóc-man uy quyền cho trung tá Bây-phéc tiến hành thương lượng với bộ chỉ huy quân đội Nga. Nội dung chính là: thỏa thuận vấn đề ngừng bắn và tiếp tống tham mưu trưởng lục quân Đức, tướng Crếp, để ông ta thông báo một tin đặc biệt quan trọng. Vào khoảng hơn một giờ sau, đúng như lời viên trung tá Bây-phéc, trên đường phố ngổn ngang những đống gạch ngói ngăn cách quân ta với quân địch đã im tiếng súng, bóng hai người Đức xuất hiện. Tính theo giờ Mát-xcơ-va lúc này là 3 giờ sáng, còn theo giờ Béc-lin là 1 giờ đêm. Trời đã hửng nắng, và thật lạ lùng, những người lính của cả hai bên vừa tham chiến cùng im lặng, căng thẳng theo dõi bước đi của hai người Đức - tướng Crếp tổng tham mưu trưởng lục quân Đức và tên thứ hai, lính cận vụ, xách cặp bước theo sau. Hai người Đức, một viên tướng và một tên lính đang bước đi với lá cờ trắng trong buổi sáng ảm đạm của một ngày bất hạnh. Tướng Crếp được dẫn tới phòng tham mưu sư đoàn và qua đấy lên sở chỉ huy của tướng Trui-cốp. Với thân hình tầm thước, vạm vỡ và thái độ đường hoàng, lưng thắt dây da đeo khẩu súng lục, trông Crếp đúng là một sĩ quan chuyên nghiệp con nhà nòi. Lúc ấy là 3 giờ 30 sáng, Hít-le đã tự sát hồi 3 giờ 30 phút trưa hôm qua. Crếp được Boóc-man và Gơ-ben phái tới đây để báo tin này cho tướng Trui-cốp và đề nghị ông báo tiếp cho nguyên soái Giu-cốp. Crếp còn nói thêm rằng, ông ta là người Đức đầu tiên thông báo tin này. Nội dung thương lượng giữa Crếp với tướng Trui-cốp và Xô-cô-lốp-xki ngày nay mọi ngươi đã rõ qua các tài liệu được công bố từ lâu. Nhưng lúc ấy chúng tôi chỉ biết một cách vắn tắt mà thôi. Sau khi thông báo về việc Hít-le tự sát, Crếp đề nghị ngừng bắn để chính phủ mới của Đê- nít - Gơ-ben có thể liên lạc với nhau. (Gơ-ben đang ờ Béc-lin, còn Hê-nít lại đang ở gần Phlen-xbua và sau đấy sẽ đàm phán với chính phủ Liên Xô). Rõ ràng là tổng hành dinh Hít-le muốn lợi dụng ngừng bắn đề thoát ra khỏi vòng vây Béc-lin. Nhưng tướng Trui-cốp đã tra lời Crếp rằng, không có thương lượng, vấn đề chỉ có thể nêu ra, theo như quyết định của ba cường quốc đồng minh, là nước Đức phải đầu hàng không điều kiện. Đêm 1 tháng 5, đài phát thanh Hăm-bua đã truyền đi tin tức từ "tổng hành dinh quốc trưởng" trưa nay, hồi 3 giừ 30 quốc trương kính yêu của chúng ta A-đôn-phơ Hít-le đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng ngay tại sở chỉ huy tối cao của mình trong cuộc chiến đấu vì nước "đại Đức chúng ta". Tin này được phát lại nhiều lần cùng với nhạc quốc tang của Vác-ne. Trước tình huống mới đặt ra như vậy - nhóm chứng tôi vẫn có nhiệm vụ như cũ: tìm cho được Hít-le, còn sống hay chết. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2017, 03:47:37 am NGÀY 2 THÁNG NĂM Bộ tham mưu Hít-le đóng trong hầm trú ẩn ngay dưới dinh quốc trưởng. Căn hầm rộng thênh thang với trên năm trăm căn phòng (chủ yếu là những phòng xép). Ở đây có cả một hệ thống đường điện thoại liên hoàn, các kho dự trữ lương thực và nhà bếp. Một nhà chứa xe ngẫm nối liền với căn hầm. Chỉ có một đường từ trong khu vườn của dinh quốc trưởng là xuống được hầm và một đường hành lang rộng, dốc thoai thoải. Xuống được đường cầu thang, chúng tôi gặp ngay một hành lang dài với nhiều cửa ngách dọc theo nó. Để đến được hầm Hít-le phải đi qua nhiều đường vòng rắc rối. Từ khu vườn lớn có một cửa riêng dẫn thẳng đến "hầm quốc trưởng", như những người sống ở đây gọi vậy. "Hầm quốc trưởng" gồm hai tầng nằm sâu hơn dưới lòng đất so với các dãy hầm khác và nóc bê tông cũng dày hơn nhiều. (Han-xơ Rát-ten-hu-be, chỉ huy đội bảo vệ Hít-le, trong biên bản khi hắn bị bắt làm tù binh và nằm giam ở nước Nga đã mô tả hầm trú ẩn của Hít-le như sau : Hầm trú ẩn của quốc trưởng là căn hầm chắc chắn nhất so với các hầm khác được xây dựng ở Đức, nóc bê tông căn hầm này dày tới tám mét. Han-xơ biết rõ như vậy vì hắn là kẻ có trách nhiệm bảo vệ Hít-le). Gần lối vào còn một chiếc máy trộn bê tông chưa kịp chuyển đi vì mới gần đây nóc hầm này, lại được tu bổ thêm cho dày hơn, có lẽ sau khi nó bị trúng những loạt đạn pháo đầu tiên cách đây mấy hôm. Nhưng tất ca những chi tiết này mãi về sau chúng tôi mới được biết. Sau lời cự tuyệt của Gơ-ben và Boóc-man, chúng không chịu đầu hàng vô điều kiện, đúng 18 giờ 30 bắt đầu cuộc chiến đấu cuối cùng. Sáng sớm ngày 2 tháng 5, các đơn vị xung kích đã chọc thủng tuyến phòng ngự cuối cùng của địch và tràn vào dinh quốc trưởng. Họ còn phải chiến đấu với bọn tàn quân địch cố thủ trong gian tiền sảnh. Chúng tôi lao nhanh xuống hầm. Bỉnh lính, nhân viên hành chính địch, hai tay giơ cao lục tục kéo ra từ các hành lang và các ngóc ngách trong hầm. Trong hành lang, trên các lối đi la liệt bọn lính bị thương, đứa nằm, đứa ngồi nhếch nhác. Tiếng rên rỉ không ngớt. Vẫn còn những loạt súng bắn nhau ngay trong hầm và trên khu đất trong dinh quốc trưởng. Phải nhanh chóng định hướng, phát hiện và bịt các lối ra vào khu hầm, làm chủ tình hình và tiến hành sục sạo. Trong mớ người hỗn độn ẩn tránh dưới hầm khó có thể tìm được một kẻ nào khả dĩ có thể giúp chúng tôi biết được số mệnh của Hít-le và dẫn chúng tôi đi trong hầm này. Chúng tôi mở cuộc thăm dò vội vã, nhanh chóng. Chúng tôi tìm được một thằng bé thợ đốt lò, ăn mặc tồi tàn, nó hướng dẫn trung tá I-van I-xa-ê-vít Cli-men-cô và thiếu tá Bô-rít A-lếc-xan-đrô-vít Bư-xtơ-rốp đi theo nhiều dãy hành lang và những lối đi tối om rất nguy hiểm vì mọi bước đều có thể bị dính đạn bắn lén không biết từ đâu tới. Cuối cùng rồi chúng tôi cũng đến được phòng hầm của Hít-le. Các phòng của hắn đều trống rỗng. Trên tường treo bức ảnh chân dung Phri-đríc Đại đế, trong tủ còn nguyên bộ lễ phục của Hít-le và trên thành ghế tựa vắt một chiếc áo com-lề màu xám cũ. Thằng bé đốt lò đó khai rằng, khi đứng trong hành lang, nó đã trông thấy người ta khiêng hai xác người bọc trong chăn xám, đi ra phía cửa hầm. Nó chỉ biết có thế vì sau đấy không được phép nhìn cái gì hơn, nhưng dù sao thì cũng có thể tin được lời nó. Cli-men-cô và Bư-xtơ-rốp liền đi ra khu vườn trong dinh quốc trưởng đã bị đạn pháo cày xới. Làm gì bây giờ ? Có thể hai cái xác "kia đã bị đốt trong khu vườn này, nhưng đích xác là ở đâu ? Ý nghĩ phải tìm cho ra "nơi đốt xác" nảy ra khi chúng tôi phát hiện được tên Các Snây-de, nhân viên kỹ thuật, đội xe trong dinh quốc trưởng. Hắn khai, vào ngày 28 hay 29 gì đó, - hắn không nhớ rõ - tên trực điện thoại thuộc văn phòng, Hít-le truyền lệnh cho Snầy-de mang đến tám can xăng ỉoạỉ haỉ mươi lít. Cũng ngày hôm ấy, hắn lại nhận được lệnh qua điện thoại là đưa đến ngay những bó đuốc tẩm dầu. Hắn còn tám bó đuốc như vậy, và hắn liền đưa tất cả đến. Bản thân Snây-de không được gặp Hít-le, do đó không biết là y có ở Béc-lin hãy không. Nhưng ngày 1 tháng 5, tên đội trưởng đội xe và cả tên lái xe của Hít-le là E-rích Kem-pe nói với hắn rằng: "Quốc trưởng đã chết". Trong bọn lính cận vệ cũng loan truyền tin Hít-le đã tự sát. Và chúng nói thêm, xác Hỉt-le đã bị thiêu. Khắp nơi đều nghe thấy các tin đồn này, cùng với các mệnh lệnh nhận được, Snây-de cho rằng, có lẽ số xăng người ta ra lệnh cho hắn mang tới là để dùng vào việc thiêu xác quốc trưởng chăng? Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2017, 04:49:47 am Nhưng đến chiều 1 tháng 5 lại có lệnh mới: dồn tất ca số xăng còn lại đưa đến hầm quốc trưởng. Snầy-de lại phải đi vét ở tất cà các bầu xăng trong các xe ô tô được thêm bốn can. Mệnh lệnh này là thế nào đây ? Bốn can xăng kia dùng cho ai ? Trung tá Cli-lnen-cô, thiếu tá Bư-xtư-rốp và thiếu tá Kha-din đi ra vườn cùng với Snầy-de và tên đầu bếp Lan-gbe. Đất bị đạn cày tung tóe, thân cây gãy gục, những cành lá cháy sém vữơng dưới chân, thảm cỏ cháy đen vì lửa đạn, khắp nơi đâu đâu cũng thấy mảnh kính vỡ, gạch ngói vụn... Họ bắt đầu xem xét khu vườn... Họ gọi thêm cả đầu bếp Lan-ghe. Một lát sau họ đã phát hiện ra xác vợ chồng Gơ-ben bị đốt cháy một phần nằm co quắp cách cửa "hầm quốc trưởng" hai bước chân. Đợt lấy xăng lần thứ hái là dùng cho việc này, "té ra hắn lại là người Đức đầu tiêu phát hiện ra chúng nó", Cli-men-cô viết cho tôi có ý ám chỉ Snây-de. Chỉ cần chốc lát nữa thôi khi các đơn vị Hồng quân được điều vào đây, nếu họ không nhìn kỹ dưới chân mình, có xéo nát khu này thì cũng chưa chắc đã phát hiện ra hai cái xác đó. Bầu trời Béc-lin vẫn chưa tan hết khói. Tòa lâu đài dinh quốc trưởng vẫn bốc cháy. Dưới hầm ngột ngạt, tối tăm và ẩm ướt quạt máy không chạy, đèn không có, vì không có điện. Trong mấy ngày đó tôi phải làm việc dưới hầm trú ẩn này để tìm đọc, phân tích các tài liệu và hàng đống văn kiện. Hàng chồng báo cáo từ các mặt trận đường phố, các báo cáo của đảng bộ quốc xã thành phố Béc-lin về tình hình tuyệt vọng, về việc thiếu đạn dược lương thực, thực phẩm, về sự tan rã của quân lính... Những trang nhật ký của Boóc-man. Giấy tờ riêng của Hít-le. Việc trước tiên tôi cần phải lục tìm đọc trong đống giấy tờ này, đề tìm hiểu, dù là một chút ánh sáng về những gì đã xảy ra ở đây trong mấy ngày vừa qua, để có thể hình dung được đôi nét hoặc tìm ra được dấu vết gì đó phỏng đoán được sư tan rã thực sự này... Đấy, Boóc-man đã tới tấp gửi đi Ô-be-đan-béc cho trợ lý của Hôm-men những bức điện đóng dấu đỏ "geheim!" - "Mật!" đề các ngày sau hai mươi tháng 4. Theo nội dung những bức điện này thì chúng tôi thấy rõ là, chúng đang chuẩn bị rời đại bản doanh Hít-le đến Béc-tê-xgát-đên. Có nghĩa là chúng chuẩn bị chạy khỏi Béc-lin. Còn đây là cặp tài liệu đựng những tin tức của đài phát thanh đối phương truyền đi trong mấy ngày gần đây: nào là tin của hãng thông tấn Roi-tơ truyền từ trụ sở chính của khối đồng minh, tin của đài phát thanh Mát-xcơ-va thông báo tình hình chiến sự ở các mặt trận, điện báo về các sự kiện trên thế giới, từ khắp các nơi như Luân-đôn, Rôm, Xan Phran-xi-xcô, Oa-sinh-tơn, Duy-rích... Đại bản doanh Hít-le sử dụng những tin tức này để phân tích và đánh giá tình hình xảy ra trên các mặt trận khác và ở chính ngay Béc-lin, trong những ngày cuối tháng tư. Thời gian này việc liên lạc với các đơn vị hoàn toàn bị cắt đứt Tất cả tài liệu trong chiếc cặp đều được đánh mấy chữ rất to. Tôi chưa bao giờ gặp máy chữ có loại chữ kỳ như vậy. Nó làm tôi kinh ngạc. Nhìn vào đây cứ như nhìn vào kính phóng đại. Sao lạ thế ? Về sau tôi mới được biết là, thư ký riêng của Hít-le, Gết-tru Giun-ghe đã bắt đánh những tài liệu này trên máy chữ đặc biệt dành riêng cho Hỉt-le đọc. Để giữ thể diện, các thầy thuốc đã khuyên Hít-le không nên dùng kính. Còn đây là tin tức về việc xử tử Mút-xô-li-ni và người tình của y là Cla-ra Pê-tat-tra. Nét bút chì của Hít-le gạch dưới chữ "Mút-xô-li-ni" và mấy chữ "bị treo ngược đầu xuống đất". Chả hiểu dòng tin này đã mang lại cho hắn ấn tượng gì ? Điều gì đã kích động hắn đi tới quyết định tự sát? Những tài liệu hầy sẽ nói với lịch sử về cuộc chiến tranh đã im tiếng súng từ hôm nay. Nó sẽ là chiếc chìa khóa mở ra bức chân dung tâm lý - xã hội của các thứ lính và các nhà tư tưởng của chủ nghĩa phát xít Chứng tôi vẫn lục tìm các tài liệu. Đọc lướt qua chúng, tôi ghi vắn tắt lời chú thích vào góc và chúng được gửi đến bộ tham mưu mặt trận để từ đây người ta lại sao lục gửi đi tiếp các biên bản, các tài liệu khác cầp thiết cho công việc lưu trữ. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Sáu, 2017, 05:35:05 am Giờ đây đã gần hai mươi năm trôi qua (tác giả viết cuốn sách này vào giữa năm 1964) tôi được gặp lại những tư liệu này tuy chứng đã ngả màu vàng vì thời gian. Và tôi thật xúc động khi đọc lại chúng, được thấy chữ ký của mình với tư cách người phiên dịch mặt trận, người chính thức đầu tiên đọc các tài liệu đó. Tôi còn được đọc cả những tài liệu mà tôi lần đầu mới gặp vì chúng do các đơn vị mặt trận khác gửi tới và giờ đây cùng nằm chung tại nơi lưu trữ này. Tất cả những tài liệu này, dù cho đôi chỗ còn phạm lỗi hay nhầm lẫn về chính tả nhưng vẫn là những tài liệu sống, là một bộ phận trực tiếp và sinh động của những sự kiện, những biến cố. Tất cả những tài liệu của cái tháng 5 năm 45 đó đã được nằm yên ở đây và có lẽ từ bấy đến nay không ai đọc đến. Khi tôi viết cuốn sách này thì trên báo chí phương Tây người ta lại tuyên bố rằng, cái chết của Hít-le "đang còn là vấn đề bí mật... Các cường quốc phương Tây chưa có đủ bằng chứng về nỏ... " (1964). Tôi đã viết ở trên rằng, tôi là một trong những người đầu tiên được chứng kiến những ngày sụp đổ của Béc-lin. Nhưng giờ đây, khi viết cuốn sách này, được đọc lại kỹ càng những tài liệu quý giá kia, tôi mới có thể tái hiện lại một cách rõ nét hơn về sự sụp đổ đó. Được bới lên từ những đống giấy tờ nằm im lìm bao năm tháng qua, những tư liệu này giờ đây hình như cũng cất lên tiếng nói, cũng vang lên một cách đầy thuyết phục và trung thực tình hình lúc ấy, hé mở cho chúng ta thấy tính chất và bản chất hiện tượng, những nét đặc biệt của thời gian qua và những nhân vật đã từng hoạt động trong thờỉ đại đó. Do đó tôi đặt cho mình nhiệm vụ phải sử dụng trong cuốn sách này càng nhiều tư liệu càng tốt, vì chúng là đại diện cho một thời kỳ lịch sử và không còn phải hoài nghi gì nữa nó cũng sẽ gây nên nhiều điều thú vị lịch sử bởi vì, từ trước đến nãy chúng chưa được công bố. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2017, 06:29:41 am TẬP NHẬT KÝ CỦA GƠ-BEN Một trong những tư liệu quý giá mà chúng tôi tìm thấy trong những ngày ấy là cuốn nhật ký của Gơ-ben. Tôi đã tìm thấy nó ngay ở căn phòng hầm của gia đình Gơ-ben, trong một chiếc va li đựng tài liệu của hắn. Tập nhật ký này gồm mười quyển vở dày cộp viết tay với những dòng chữ nhỏ li ti khá đẹp, hơi ngả về bên phải. Cuốn đầu tiên ghi từ đầu năm 1932 khi bọn phát xít chưa nắm được chính quyền và cuốn cuối cùng kết thúc vào ngày 8 tháng 7 năm 1941. Biết đây là những cuốn vở quý giá nhưng tôi hết sức tiếc là lúc ấy không còn thì giờ đề đọc nữa vì nhiệm vụ chính của chúng tôi là xác định cho rõ tình hình Hít-le, phải tìm cho ra nó, dù nó đã chết hay còn sống. Bởi vậy theo quy định, tôi phải gửi những quyền vở này về bộ tham mưu mặt trận - (phương diện quân). Trong những nam gần đây, mỗi khi nghĩ đến những quyền nhật ký của Gơ-ben tôi cứ lo không khéo chúng bị thất lạc giữa các đống giấy tờ, tài liệu ngồn ngộn từ các nơi gửi về bộ tham mưu mặt trận. Thế nhưng, thật là may, gần hai mươi năm sau, tôi lại bắt gặp nó và mới có thì giờ đọc kỹ tập nhật ký Gơ-ben được lưu giữ cẩn thận tại Cục lưu trữ. Đây, chúng ta hãy đọc cuốn cuối cùng, ghi những sự kiện trong hai tháng năm và tháng sáu, đầu tháng bảy năm 1941. Nó đầy rẫy những sự kiện và mưu đồ chuẩn bị cuộc tiến công bất ngờ vào Liên Xô. Những dòng chữ, những trang nhật ký đã lột trần tính chất khiêu khích, những phương pháp "ngụy trang" mà nước Đức lúc bấy giờ đang thực hiện. Những trang giấy này quả thật có một ý nghĩa lịch sử nhất định, nó mở rộng tầm suy nghĩ và tưởng tượng của chúng ta đốị với tình hình đã dẫn đến bùng nổ cuộc chiến tranh tàn bạo vừa qua. Nhật ký Gơ-ben là một tài liệu tự vạch mặt. Chỉ cần suy luận một chút cũng thấy được, hắn ta đã tự nêu mình lên như là một mẫu chính khách trên sân khấu của chủ nghĩa phát xít. Qua những trang nhật ký chúng ta càng thấy rõ tác giả của nó là loại người như thế nào. Đó là một kẻ ngông cuồng và trống rỗng, một con rối và một kẻ thích phô trương, một kẻ tầm thường và hám danh tàn bạo, một kẻ ti tiện mà toàn thể nhân dân Đức phải phục tùng. Đối với bất cứ vấn đề gì, Gơ-ben cũng một mực: "Tôi ra lệnh", "tôi cấm", "tôi kiên quyết can thiệp", "tôi không đồng ý", "tôi kiên quyết phản đối". Trong nhật ký của mình, hắn đã tư khen ngợi, đề cao những bài báo của hắn : "Bài này rất hay!", "Theo cách viết thì không khó khăn gì mà không nhận biết được ai là tác giả của nó!". Nói về "Tuyền tập các bài viết về vấn đề chiến tranh", hắn đã khoe: "Đây là một tuyển tập rất tốt và rất có hiệu quả. Đầu đề rất hấp dẫn : Giữa ngày hôm qua và ngày mai". "Cuốn sách nay quả là một công trình đồ sộ! Mới có hai năm mà tôi đã viết được và nói được không phải là ít vấn đề". "Tác phẩm của tôi về Crít - thật tuyệt vời". Cuốn nhật ký mang đầy tư tưởng vụ lợi, thực dụng. Tác giả của nó là người không hiểu biết gì nhiều về cuộc sống, về những phản ứng dội lại. Đời sống tinh thần của nó thật nghèo nàn, bị mất hết cả sắc thái và âm điệu. Qua những dòng nhật ký này, ta không hiểu đấy là sự phấn hứng hay là buồn chán, là nièm hân hoan hay là sự lãnh đạm, nỗi ham mê ghi chép hay là sự căm thù mù quáng, độc ác. "... Bọn Nga sẽ bị đánh không còn chỗ đứng, sẽ bị đánh tơi bời, từ trước đến nay chưa có một dân tộc nào bị như vậy ! Cái bóng ma bôn-sê-vích ấy rồi sẽ bị biến, mất!". Và ngay sau đấy, hắn ghi những dòng lẵng mạ, lên án một cách hằn học những người Ý, những người bạn cùng hội cùng thuyền với chúng: "Tôi cho rằng, người I-ta-li-a hiện nay là một dân tộc đáng căm thù nhất trên toàn châu Âu" (12-6). Sau khi xem phim tài liệu và đời sống văn hóa của nước Mỹ, hắn nhận xét: "Thật là quái gở. Đây không phải là một đất nước mà chỉ là một hoang mạc của nền văn minh... Thế mà họ lại đang muốn mang cái nền văn hóa ấy đến cho chúng ta? ... Dẫu sao thì sứ mệnh văn hóa cao cả nhất của chúng ta là phải chiến thắng người Mỹ" (27-5). Gơ-ben tuyệt đối trung thành với Hít-le, hắn luôn cố làm hết sức mình để đổi lấy tiếng khen, sự ủng hộ của quốc trưởng và điều này hắn đã viết thành những dòng nhật ký thật rõ ràng. Đồng thời Gơ-ben cũng hằn học ghen ghét với tất cả những ai có tài năng, có thể mon men đến gần người thầy của hắn, có thể cướp đi vòng nguyệt quế của hắn. Hắn có âm mưu tìm mọi cách dồn các đối thủ chính trị và danh vọng của hắn vào thế bất lợi nhất trước nhân vật lịch sử mà hắn thờ phụng. Cuốn vở nhật ký này ghi những sự kiện diễn ra trong vòng một tháng rưỡi, hắn đã miệt thị, xỉ vả cả bộ trưởng ngoại giao Ri-ben-trốp, Boóc-man là những người mà Gơ-ben đã từng cộng tác, tiếp xúc nhiều. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2017, 07:14:42 am Nhật ký của hắn ghi phạm vi những công việc hàng ngày của viên bộ trưởng tuyên truyền thuộc đế chế thứ ba. Tháng 5 và tháng 6 năm 1941, đó là giới hạn, là những tháng nóng bỏng chuẩn bị tiến công Liên Xô, mở đầu cuộc chiến tranh đầy tội ác này. Gơ-ben là một trong những kẻ chuẩn bị cho chiến dịch gọi là "Bác-ba-rốt" và không những thế, còn là kẻ tích cực tham gia vào chiến dịch này. "Tôi run lên vì xúc động, - ngày 5 tháng 6 hắn đã ghi như vậy - Tôi không thể chờ đợi đến ngày ấy, đến ngày sấm sét sẽ nổ ra". Những tiếng vang đầu tiên của cuộc tiến công đang được chuẩn bị này xuất hiện trong nhật ký Gơ-ben ngày 24 tháng 5. Gơ-ben cử tên đại diện của mình tới gặp Rô-den-béc, người vừa được chỉ định làm Bộ trưởng chuyên trách các vùng đất miền Đông bị chiếm đóng, để phối hợp hành động cho chiến dịch tuyên truyền. Hắn ghi: "Nước N.1 cần phải được chia nhỏ ra nhiều vùng, không thể để ở miền Đông chúng ta tồn tại một cái nhà nước khổng lồ như vậy. ... Thời tiết thật tuyệt vời nhưng chằng có thì giờ để nghỉ ngơi chút ít Nhũng hồi chuông điện thoại liên hồi luôn báo những tin tức mới nhất. Cuộc sống căng thẳng và sôi sục. Cũng có lúc tôi tự hỏi, bao giờ thì sẽ chấm dứt được cảnh này. Một cuộc đi dạo ngắn trong rừng. Phải xây ngôi nhà nghỉ nhỏ. Nó sẽ được dựng ở nơi ngoạn mục nhất 25 - 5. Họp suốt ngày với Gut-tê-réc và Ta-u-béc bàn việc chuẩn bị chống N. Ta-u-béc có vẻ hài lòng vì đã làm được nhiền việc cho chiến dịch này. Đã chuẩn bị xong mười ba đại đội tuyên truyền, ở mỗi trung tâm và thành phố quan trọng sẽ bố trí một đội tuyên truyền nằm trong biên chế của đại đội nhằm mục đích tuyên truyền trong dân chúng. Một nhiệm vụ to lớn và nặng nề, nhưng chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ về mọi phương diện cho nó... Chúng ta vừa công bố báo cáo đầu tiên đầy lạc quan về Crít. Nó gây trong nhân dân một ấn tượng dễ chịu. Luân Đôn đang quá bi quan về vấn đề ở Crít. Sau khi họ phải giấu lực lượng không quân đi thì mọi hy vọng ờ đây đã tiêu tan. Ở Mỹ cũng mang một màu trắng tang tóc không kém, còn Mát-xcơ-va thì đã mất hết nhuệ khí ban đầu của cái chiến dịch này - bạn bè, ôi cái tiếng mới kêu làm sao! - Chúng ta chỉ lặng lẽ tuyên truyền. Chúng ta sẽ chẳng tặng gì thêm cho các ông bạn nước Anh. Công việc bận rộn bầy giờ là đẩy mạnh phao tin đồn nhảm, đánh lạc hướng, tung thật nhiều tin giả làm như chúng ta đang chuẩn bị thực sự tiến công nước Anh. Có như thế mói che giấu được ý đồ thực của Đức. Những tín tức chúng ta tung ra đã có tác đụng. Ở Anh đang hết sức bối rối. Còn đối với nước Nga thì tính chất tuyên truyền cũng có kết quả. Rất nhiều "con vịt" của chúng ta đã làm cho bên kia biên giới rối tinh lên, không hiểu đâu là thật, đâu là giả. Cần phải như vậy. Chúng ta đang rất cần cái không khí hư hư thực thực đó (25-5). 26-5. Hôm qua: các đơn vị mới đã đổ bộ vào Crít. Ở đấy chủng ta sẽ giáng cho hạm đội Anh những đòn kinh hoàng. Sơớc-sin sẽ phải trả giá đắt cho sự bướng bỉnh của ông ta. Một lần nữa chúng ta lại có đầy đủ tài liệu và các nguồn phản ứng khác nhau đổi vói những tin giả của chúng ta. Điều chính yếu là chúng ta đã sử dụng đúng các tài liệu về Crít. Giờ thì chúng ta có thể muốn đánh đâu thì đánh? Điều này thật là dễ chịu... Chủng ta sẽ đánh những tiếng trống thực to miễn là đủ sức. Chúng ta sẽ tung ra mọi nguồn tin cũ kỹ. Buổi tối tha hồ mà bàn tán. Hôm nay là một ngày chủ nhật tốt đẹp. 27-5... Ri-ben-trốp chẳng qua chỉ là kẻ đánh võ miệng. Ông ta lẫn lộn chính trị với buôn bán rưọu sâm banh; ông ta đề cao kẻ địch lên một cách quá đáng. Nhưng đối với ta thì ông ta sẽ không đạt được điều ấy đâu! 29-5. Đối với Boóc-man thì ta có thể nói chuyện được. Ông ta sẽ làm tất cả những gì mình muốn. Chúng tôi lại tranh luận với nhau về chuyện ông bộ trưởng ngoại giao. Giờ là bàn đến vấn đề tuyên truyền sang Hoa Kỳ. Bộ ngoại giao không có ý định gì về việc này cả. Rút cuộc chúng tôi không đạt được thỏa thuận gì về vấn đề này... Ở Mát-xcơ-va ngươi ta đang giải các bài tính khó. Rõ ràng là Xta-ỉin cũng đã đoán được vài ba thủ đoạn gì đó. Nhưng nói chung ông ta vẫn đang trong cơn say sưa như cũ... An-tôn-nét-xcu lại muốn đưa các tay dân sự thay thế các vị tương của mình. Nhiều người trong họ không đáng giá. Thật là một mùa hè tuyệt diệu! Một buổi chiều yên tĩnh tuyệt vời. Nhưng chớ vội vui sướng vì cái khung cảnh này. --------------------- 1. N. Chỉ nước Nga, viết tắt trong nhật ký - ND. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2017, 04:15:30 am 31-5 "Chiến dịch "Bắc-ba-rốt" đang tiến triển. Chúng ta đã bắt đầu cuộc nghi binh lớn đầu tiên. Toàn bộ bộ máy quân sự và cơ quan nhà nước được huy động. Chỉ có vài người mới được biết tình hình thật. Tôi cũng vậy, tôi đã phải đưa toàn bộ công việc của Bộ tuyên truyền đi theo hướng giả, cũng là một bước liều vì nếu bị thất bại thì chẳng còn gì uy tín, thề diện nữa. Thôi, vì sự nghiệp chung! 14 sư đoàn đã được tung về hướng Tây. Cuộc tiến công trên mặt trận tuyên truyền cũng được đẩy mạnh. Tôi hạ lệnh sáng tác thêm các bài hành khúc chiến thắng, tăng cường việc phát thanh bằng tiếng Anh, bổ sung các đại đội tuyên truyền về nước Anh - Cứ như vậy liền trong hai tuần lễ. Tiêu phí khá nhiều thời gian, tiền của, năng lượng rồi sẽ được đền bù. Trong cả bộ chỉ có Kha-da- mốp-xki và Phi-sơ là biết được những điều bí mật này. Nói không ngoa là việc tung tin giả đã thành công phần nào.. Hãy tiến lên! Đã đến thời điểm căng thẳng. Chúng ta đang chứng minh rằng, sự nghiệp tuyên truyền của chúng ta là tuyệt vời, là độc nhất vô nhị. Các bộ dân sư khác không hề có chút hoài nghi nào. Họ đã làm việc theo những phương hướng đã định. Một điều thật hết sức thú vị sẽ đến, khi mọi việc đều bùng nổ bất ngờ. Mác-đa (vợ Gơ-ben) lại kêu ca về tim. Có lẽ sự lo lắng về Ga-ran-đô đã làm cho cô ta xúc động. Ngồi nói chuyện một lúc với Mác-đa. Mình thấy ái ngại cho cô ấy. Chúng ta sẽ làm cho cô ấy vui hơn". Hầu nhữ toàn bộ lục địa châu Âu, hoặc là đang nằm dưới nanh vuốt của nước Đức phát xít, hoặc liên minh với nó. Chi có một nước Anh đang đơn độc và dũng cảm chống lại nước Đức. Thắng lợi giành được ở Crít sau nhiều ngày đè bẹp sự Chống cự kiên cường của quân Anh đã củng cố thêm tinh thần Gơ-ben. 3-6. "Một ngày tuyệt vời! Thắng lợi thật tuyệt vời! Tôi cảm thấy hạnh phúc và vui mừng. Tôi đã viết được một bài báo dài, bài xã luận, như người ta nói, viết một mạch liền. Nắng như rực rỡ hơn. Hôm nay là ngày lễ Ba ngôi. Ăn trưa xong là tiếp khách... Bàn tán nhiều về chiến tranh. Tháng năm chúng ta đã nhận chìm của Anh 746 nghìn tấn hàng. Ngần này chưa chắc đã cải thiện được tình hình nước Anh. Tôi đang nghiên cứu báo cáo về tiềm lực kinh tế - quân sự của hai nhóm thù địch. Báo cáo được lập một cách khách quan. Đối với nước Anh thì đây là điều hoàn toàn không thể an ủi được. Hầu hết trong mọi lĩnh vực chúng ta đều có ưu thế lớn, thậm chí nếu thêm cả nước Mỹ vào nữa. Đế quốc Anh đang đi tới sụp đỗ tuy chậm nhưng chắc chắn không tránh được sự tan rã. Tối nay vừa gọi điện thoại hỏi thăm bốn đứa trẻ. Chúng nó hẳn hoan vui sướng". Bây giờ sang vấn đề Liên Xô. Cuộc tiến công phải hoàn bất ngờ. Và Gơ-ben đã làm mọi việc đề ngụy trang ý đồ này. Chúng đã tung truyền đơn xuống nước Anh, cố tình điều nhiều sư đoàn về hướng Tây và tung tin đồn đại sắp tiến công vào nước Anh. Gơ-ben viết: chúng tôi hành động theo hương "làm cho tất cả rối tung lên" (5-6), "Các chỉ thị tuyên truyền chống N: không nói lời nào chống chủ nghĩa xã hội, không nói gì về việc chế độ Nga hoàng quay trở lại, không nói công khai về việc chia nước Nga ra làm nhiều nước nhỏ... Các nông trang tạm thời vẫn còn giữ lại để cứu vãn vụ mùa". 6-5. "Hôm qua không có các vụ oanh tạc lẫn nhau. Chúng ta đã bị bắn chìm mấy tàu chiến. Nước Anh cũng phải trả giá như vậy... Báo cáo từ Ru-ma-ni: An-tôn-nét-xcu không có nhân dân. Ta đã hình dung trước điều này. Chính sách đối ngoại của ông ta không được sự ủng hộ bên trong... Tinh thần căm thù người Đức càng lên mạnh trong dân chúng Ru- ma-ni. Tất cả những cái đó cần phải tiếp tục theo dõi... Boóc-man nhận phần thưởng xứng đáng - được thăng hàm quốc vụ khanh và ủy viên Hội đồng quốc phòng". 7-6, "Chúng ta đầy mạnh đề tài tiến công. Thế nhưng vẫn chưa thấy được kết quả cụ thể. Khắp nơi đều im lặng. ... Có những tin đồn về một cuộc tiến công bất ngờ vào U-crai-na. Có khá đầy đủ cơ sở và nhiều nguồn tin như vậy. Chúng ta lại càng phải áp dụng mạnh mẽ hơn những phương pháp nói dối đáng tin cậy. Tôi thúc giục hết sức về chuyện này". Trước ngày 6 tháng 6, Gơ-ben nhận được bản chương trình chia cắt ở nước Nga. "Phần Châu Á của nước N. không phải bàn đến nữa. Còn phần châu Âu sẽ bị chiếm đoạt. Bởi vì mới đây Xta- lin đậ nói với Mát-xu-ô-kê rằng, ông ta là người châu Á. - Đấy, sư việc là như vậy" (7-6). Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2017, 03:51:48 am Gơ-ben ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến tranh mới. Hắn "lên dây cót" ở những nơi nào có thể được. Hắn ra lệnh cấm chiếu phim nước ngoài ở các "Tửu quán hài hước" nơi thường tụ tập những kẻ "hay xoi mói". Hắn "chuẩn bị những bỉện pháp mới chống những người Do Thái ở Béc-lin". Hắn công kích thậm tệ những tờ báo không tán dương đầy đủ sức mạnh của vũ khí Đức và hằn học gọi đấy là "loại báo táp nham". Hắn trắng trợn can thiệp cả vào việc bảo vệ bí mật quân sự trong tất cả các cơ quan Bộ ở Béc-lin. "Thậm chí ngay cả Giet-ta-pô cũng không làm tôi yên tâm". Hắn cấm Lây không được phát biều gì về chương trình xã hội sau chiến tranh đề khỏi làm nảy sinh trong dân chúng những hoài nghi ước muốn hòa bình. Nhưng đồng thời, hắn lại bãi bỏ lệnh cấm khiêu vũ "Đây cũng là những điều cần thiết đề ngụy trang cho chiến dịch sắp tới cua chúng ta. Nhân dân cần phải tin chắc rằng, giờ đây chúng ta đã chiến thắng no nê rồi và chúng ta không còn quan tâm vui thú gì hơn ngoài việc nghỉ ngơi và nhảy nhót" (10-6). Hai ngày sau hắn lại viết: "Làm việc với Glat-xmây-e về chương trình phát thanh mới. Giờ cần phải chuyển hoàn toàn sang chương trình văn nghệ nhẹ nhàng. Phai bỏ lệnh cấm nhảy. Tất cả cái này cũng vì mục đích ngụy trang cho những ý đồ sắp tói". ...Hắn say sưa tự phơi bày chương trích khiêu khích của mình: "Được sự đồng ý của quốc trưởng, phối hợp với Bộ tổng chỉ huy tối cao, tôi đang viết bài báo về cuộc đột nhập này. Đề tài "Lấy hòn đảo Grít làm tấm gương". Như vậy cũng đã quá rõ. Bài báo này cần phải xuất hiện trên từ "Phen-ki-sê Bê-ô-bac-tơ" và sau. đấy ra lệnh tịch thu. 24 giờ sau Luân Đôn sẽ biết sự kiện này qua sứ quán Mỹ. Đó chính là ý nghĩa của sự ngụy trang. Tất cả những thứ này cũng nhằm mục đích ngụy trang các hành động của chúng ta ở phía Đông. Bây giờ cần phải sử dụng những phương tiện, mạnh hơn... Đến chiều nay bài báo phải xong. Nó sẽ là một bài báo tuyệt diệu. Một kiệt tác của trò ma lanh" (11- 6). Bài báo viết xong đã được chính quốc trưởng phê chuẩn, và cho gửi đến từ "Phen-ki-se..." đúng với mọi thủ tục của nó. Việc tịch thu sẽ tiến hành ngay đêm nay. Ý nghĩa của thủ đoạn đó là bài báo viết về chiến dịch- đánh chiếm đảo Crít và có ý rút kinh nghiệm chiến dịch này, làm như Đức chuẩn bị tiến công tiếp vào nước Anh. Nhưng sau đấy tờ báo bị tịch thư ngay, như vậy mọi người sẽ tin rằng: Gơ-ben đã vô tình nói lộ ra dự định thật sự của mình. "Tôi làm việc với Tau-béc và Phi-sơ về các biện pháp đối với phía Đông. Trong vấn đề tổ chức mọi việc đều thuận lợi. Phòng tuyên truyền tiếng Anh sẽ dần dần giảm bớt người. Đối với phòng tiếng N., tôi đã có Ma-lô, Mau-e và trước hết là Pan-xô. Họ là những người biết công biết, việc. Cần có thêm máy móc móc đề in truyền đơn. Nói chung cần khoảng 500 triệu tờ truyền đơn. Sẽ in tại nhà in văn phòng quốc trưởng. Phải huy động 45 tên lính đóng gói và không thả chúng ra cho đến trước ngày bắt đầu chiến dịch. Như vậy, sẽ không lo có sự phản bội. Công việc rất khẩn trương với quy mô lớn, nhất thiết không được để một người nào nghi ngờ công việc này" (12-6). "Vấn đề nước N. là(một bài toán khó khăn đối với toàn thế giới. Nó làm đau đầu từng giờ một. Cần phải làm cho mọi người hy vọng là nọ sẽ được giải không quá sớm. Chúng ta phải làm tất cả những gì có thể được đề ngụy trang công việc lớn lao này. Nhưng nó kéo dài được bao lâu thì chỉ có Chúa mới biết được". (13 - 6). "Đề tài nước N. ngày càng được bàn tán nhiều trên báo chí. Tờ "Thời báo" đã đăng cả bài xã luận, trong đó đưa ra những nghi vấn có thể có và, lạy Chúa, cũng khá chính xác". (13-6). . Tối thứ sáu, 13-6, bài báo của Gơ-ben được đăng trên tờ "Phen-ki-se...". Và tất cả đã diễn ra đúng như kịch bản: đêm hôm ấy toàn bộ các số báo bị tịch thu. "Một bất ngờ lớn. Một tin giật gân điếng người. Các đài phát thanh nước Anh đua nhau tuyên bố, khẳng định rằng, cuộc tiến công của chứng ta vào nước Nga chỉ là đòn gió, là trò bịp nhằm che giấu ý đồ thực sự của chúng ta là đánh vào nước Anh. Đó chính là mục đích của trò quỷ thuật. Còn các đài khác lại đưa tin rối loạn, bát nháo. Có lẽ chỉ còn tin được ở chính mình mà thôi. Người Nga hình như chưa linh cảm thấy gì. Dù có xảy ra tình huống nào thì các sự kiện đang phát triển theo hướng rất hợp với mong muốn của chúng ta lực lượng tập trung càng đông càng dễ dàng cho việc bắt tù binh. Dù sao chăng nữa ở Bộ tồng tơ lệnh tối cao không thể ngụy trang quá lâu bởi vì trước sau rồi cung phải để lộ ra những hành động quân sự. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2017, 03:50:20 am ...Tôi giao cho Vin-ken-hem nhiệm vụ bí mật: cho phát thanh bằng các thứ tiếng những ý kiến của nước Anh về các cuộc tiến công và đến giữa chừng thì bất ngờ đình chỉ buổi phát này. Cứ làm tựa như buổi phát thanh này bị chiếc kéo của cơ quan kiểm duyệt cắt mất. Điều này cũng gây nên nỗi lo lắng đáng, kể" (14-6). Và sau đây là một đoạn ghi cùng trong ngày, đó: "Ở nước Đông phổ đày đặc binh lính ta đến nỗi nếu người Nga chỉ cần đánh vài trận oanh tạc cảnh cáo cũng đủ gây cho chứng ta nhiều tổn thất. Nhưng họ lại không làm điều đó...". "Bài báo của tôi đã gây nỗi bất ngờ lớn ở Béc-lin. Tin điện được đánh đi khắp các thủ đô các nước. Màn hỏa mù đã thành công lớn. Quốc trưởng rất vui vì điều này. Thật đáng khen". "Mát-xcơ-va công bố lời cải chính: ho không biết gì về những ý đồ tiến công của chúng ta. Việc chuyển quân của chúng ta là nhằm mục đích khác. Tóm lại, hình như Mát-xcơ-va không có ý định chống lại chúng tạ. Thật tuyệt!". "Tôi lại ra lệnh tung tin trong thành phố Béc-lin rằng, hình như Xta-lin sắp sang Béc-lin, đã thấy người ta mày cờ Nga đề chuẩn bị, v.v. và, v.v. Đến nỗi Lây cũng phải gọi điện thoại hỏi tôi, ông ta đã hoàn toàn bị đánh lừa. Cứ việc để cho ông ta nghi nghi hoặc hoặc như vậy. Trong giai đoạn này tất cả những cái đó đều có lợi cho sự nghiệp của chúng ta". "Vở kịch của chúng ta thật tuyệt vời. Việc liên lạe với Hoa Kỳ chỉ thực hiện với một đường dây nhưng cũng đủ đề toàn thế giới biết rõ mọi chuyện. Qua những cuộc nói chuyện điện thoại của bọn phóng viên nước ngoài thường trú tại Béc-lin cho thấy tất cả bọn chúng đều mắc bẫy. Ở Luân Đôn lại rộ lên đề tài cuộc tiến công. Những lời cải chính của Mát-xcơ-va đã ít hơn so với lần trước. Điều này cũng dễ hiểu: rõ ràng, bằng cách vẫn cố nghiêm chỉnh thi hành hiệp ước hữu nghị và hòa bình, Xta-lịn muốn tỏ ra mình không phải là người gây chiến. Về phần chúng ta, qua những tin tức thu được ở đài phát thanh Nga, chúng ta khẳng định rằng, Mát-xcơ-va đang đặt hạm đội của họ vào thế sẵn sàng, chiến đấu. Như vậy phía bên kia người ta cũng không phải là thờ ơ như vẻ bên ngoài họ vẫn làm. Nhưng sự chuẩn bị của họ xem ra tài tử lắm. Không thể gọi hành động của họ là nghiêm chinh được". (5-6). Những nhân viên, công chức trong Bộ tuyên truyền của Gơ-ben không nắm được ý đồ bí mật của thủ trưởng mình, họ đều tỏ ra chán nản và cho rằng, ông ta đã phạm "sai lầm nghiêm trọng". Gơ-ben từ chối mọi sự xuất hiện trước các cuộc họp báo thường kỳ. Hắn ghi : "Việc dó xem ra có vẻ ngạo ngược. Thế nhưng trong lúc này tôi đang phải thử giọng kèn mới cho nhưng buổi phát thanh sắp tới. Điều này cũng rất hợp với tình hình". Đó là tình hình của sự lừa dối, của sự thất sủng giả vờ, của những tiếng thở dài thông cảm. "Những điệu kèn mới" - đó là bản nhạc dạo báo tin buổi phát thanh hết sức quan trọng. Đúng ngày quân đội Đức tiến công bất ngờ vào Liên xô, khúc nhạc dạo đó mở dầu cho bài tuyên bố của Hít-le báo tin cho toàn thế giới biết một cuộc chiến tranh mới đã bắt đầu. Những tin giả do Gơ-ben tung ra ngày càng nhiều, tin này nối tin kia và thường là mâu thuẫn nhau, bị bóp méo xuyên tạc dần. Thế là cả thế giới thi nhau dự đoán khi thì chiến tranh sẽ xảy ra ở phía Đông, khi thì sẽ xảy ra ở Anh. Tung tin giả, đe đọa, gây sức ép và giương đông kích tây cùng nhưng thủ đoạn tuyên truyền khác cũng chỉ nhằm mục đích "gây nên sự hỗn loạn trên quy mô lớn". (5-6). Gơ-ben nhìn nhận vấn đề chiến tranh cũng giống như người đạo diễn ngồi trước đống phim tư liệu ngồn ngộn. "Dĩ nhiên là trong thời bình này thì nó (phim thời sự) không thể có tác dụng bằng thời chiến. Chúng ta chưa thể hiện được chiến tranh trong các phim thời sự. Nhưng nó sẽ không phải chờ đợi lâu nữa. Đây cũng sẽ là một sự nghiệp... Và hãy chuẩn bị! Đừng bỏ lỡ thời cơ! "Hắn ghi tiếp trong nhật ký: "Quốc trưởng rất hài lòng về những phim thời sự được quay gần đây. Ngài đánh giá nó như là một công cụ tốt nhất để giáo dục và tổ chức dân chúng lạỉ" (16-6). "Đã ký bản hiệp nghị với Rô-den-béc về những công việc ở phía Đông. Chúng tôi có sự thỏa thuận và hoàn toàn hiểu biết nhau. Nếu có được phương hướng rõ ràng thì ông ta cũng là con người biết làm việc" (15-6). "Công việc chuẩn bị chiến tranh được tiến hành khẩn trương, không ngừng" (16-6). Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Sáu, 2017, 07:00:39 am Nhưng Gơ-ben cũng không quên lo đến bản thân mình: tại Béc-lin, trên phố Gô-rin hoặc những nơi hắn ở đều được xây những căn hầm kiên cố. Đấy là những công trình "khổng lồ, vững chắc", - hắn nhận xét một cách hài lòng như vậy. Hắn cho xây thêm ngôi nhà nghĩ ở ngoại ô. Mọi thứ ở đó đều "tuyệt diệu", theo hắn viết. Tất cả những công việc này cũng đều nhằm mục đích "làm cho rối tung lên, làm đảo lộn những dự đoán của chung quanh". Đồng thời hắn cũng không quên thỏa mãn những thị hiếu của mình. "Tôi đã mua được bức tranh tuyệt vời của Gôi-a". Hắn cho đưa từ khắp nơi về Bộ tuyên truyền của hắn những bức tranh cổ. "Chúng ta đã sưu tập được những bộ tranh tuyệt vời, đáng kinh ngạc. Dần dần phải biến Bộ tuyên truyền của tôi thành một bảo tàng tranh nghệ thuật. Cần phải như vậy vì đấy chính cũng là nơi quản lý nghệ thuật". Và hắn đi quản lý nền nghệ thuật này với quy mô toàn thế giới. Hắn tưởng tượng Béc-lin sẽ là thành phố thống trị thế giới về tất cả chính trị lẫn mốt thời trang. Theo mệnh lệnh của Gơ-ben, người ta đã vạch kế hoạch thành lập Viện hàn lâm thời trang ở Béc-lin dưới sự lãnh đạo của Ben-phôn A-ren, một trong những thủ lãnh của các họa sĩ Đức lúc bấy giờ. Chúng đã gạ gẫm, dọa dẫm và lôi kéo những diễn viên điện ảnh nỗi tiếng thể giới về Béc-Iin. Sau khi tiếp một nữ diễn viên điện ảnh I-ta-li-a, Gơ-ben đã ghi: "Tất cả bọn họ đều muốn ở lại nước Đức vì ờ I-ta-li-a họ không thấy được tiến bộ của mình. Chúng ta cần mơe rộng hơn nữa thành phần các loại diễn viên bởi vì sau chiến tranh chúng ta sẽ phải bảo đảm cho các hộ phim của Đức mang tính chất đại diện của dân tộc". "Cần phải dồn về Đức những diễn viên nổi tiếng nhất của các nước" (13-6). Trong một đoạn khác hắn viết: "Tôi đã ra lệnh tập trung những nghệ sĩ danh tiếng nhất từ tất cả các nước cho Béc-lin. Chúng ta cần phải sản xuất phim với khối lượng cao nhất. Hắn luôn luôn cạnh tranh một cách điên rồ với phim ảnh của Mỹ và Anh. Sự suy nghĩ điên rồ về tính chất vĩ đại của nước Đức đã xóa nhòa tất cả. Chiếm lĩnh trên tất cả đó là phương châm đầy tham vọng của nước Đức phát xít. Và mỗi phướng tiện phục vụ cho phướng châm đó đều được dùng, đều là tốt. Và đây chỉ thị của Gờ-ben cho kẻ đại diện của hắn trong ngành điện ảnh Đức tại nước I-ta-li-a đồng minh: "Nhiệm vụ: hãy làm mọi cách giành thuận lợi cho chúng ta. Không được để nền điện ảnh I-ta-li-a phát triển quá nhanh. Nước Đức phải là cường quốc lãnh đạo ngành nghệ thuật này và phải duy trì cho được vị trí đó". Nhưng có lẽ chỉ có một ngành nghệ thuật mà Gơ-ben trội hơn cả là nghệ thuật khiêu khích, dọa dẫm và vu khống. 15 tháng 6 chủ nhật. Ngày chu nhật hòa bình cuối cùng trước cuộc chiến tranh kinh tởm ở phía Đông. Một cuộc họp bí mật của bọn tội phạm. "Sau bữa ăn trưa, quốc trưởng gọi tôi đến dinh quốc trưởng. Tôi phải vào lốỉ cổng sau để không ai có thể phát hiện được. Đại lộ Vin-hem luôn nhung nhúc bọn nhà báo rình mò nên phải hết sức đề phòng, tìm mọi cách tránh chúng. Quốc trưởng vui nên tiếp tôi khá thân mật. Bài báo của tôi làm ngài rất hài lòng. Nó đã tạo cho chúng tôi một chút thì giờ nghỉ ngơi sau những ngày chuẩn bị căng thẳng. Quốc trưởng thông báo tỉ mỉ tình hình, cho tôi. Cuộc tiến công vào nước Nga sẽ nổ ra ngay sau khi chúng ta bố trí xong lực lượng tiến công. Việc này sẽ đòi hỏi khoảng một tuần. Chiến cuộc ở Hi Lạp đã làm chúng ta yếu đi một ít về phương diện vật chất, do đó công việc phải kéo dài thêm chút ít. Được cái tốt là thời tiết đang xấu và lúa mùa chưa chín rộ. \ Như vậy, chúng ta hy vọng sẽ nhận thêm một phần lớn thóc lúa trong vụ này. Đây sẽ là cuộc tiến công tập trung quy mô lớn nhất từ trước đến nay mà lịch sử chưa từng biết đến. Tấm gương Na-pộ-lê-ông sẽ không lặp lại. Ngay sáng đầu tiên của cuộc tiến công nàv chứng ta sẽ bắn phá, oanh tạc với trên 10.000 khẩu đại bác. Chúng ta sẽ sử đụng loại pháo mạnh và mới nhất mà chúng ta định sử dụng đánh chiếm lũy Ma-gi-nô1, nhưng chưa phải dùng tới. --------------------- 1. Trong chiến tranh 1911-1918 chiến lũy Ma-gi-nô. Phòng tuyến kiên cố nhất chạy dọc bĩên giới Pháp - Đức nhằm ngăn chặn quân Đức tiến công nước Pháp nhưng nó đã trở thành vô dụng vì quân Đức đã bất ngờ đi vòng đánh vào hướng khác buộc nước Pháp phải đầu hàng ngay sau mấy ngày chiến tranh. N.D. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Sáu, 2017, 11:30:46 pm Cũng đúng vào lúc này quân Nga đang tập trung dọc biên giới; Đây là cơ hội tốt nhất mà chúng ta có thể mong chờ được. Nếu họ bố trí theo nhiều tuyến chiều sâu thì sẽ là nguy cơ lớn. "Họ có từ 150 đến 200 sư đoàn, và có thể ít hơn chút ít, nhưng dù sao cũng cứ phải cho rằng, lực lượng họ ở đây là ngang bằng với chúng ta. Nhưng về sức mạnh vật chất thì họ không thể sánh với chúng ta được. Chúng ta sẽ chia cắt ra từng đoạn, ở nhiều địa điểm khác nhau. Quân Nga sẽ bị đẩy lùi về phía sau chẳng có gì là khó khăn lắm. Quốc trưởng dư định kết thúc chiến dịch này khoảng bốn tháng sau. Tôi cho rằng có thể còn sớm hơn. Chủ nghĩa Bôn-sê-vích sẽ bị sụp đổ như ngôi nhà các-tông. Chiến thắng có một không hai đang chờ chúng ta ở phía trước. ...Chiến dịch của chúng ta được chuẩn bị với tất cả những, gì mà con người có thể làm được. Lực lượng dự bị và các nguồn dự trữ được huy động đến mức không còn sợ thất bại nữa. Chiến cuộc sẽ không bó hẹp trong phạm vi địa lý. Trận đầu này sẽ kéo dài cho đến lúc lực lượng vũ trang Nga không thể nào tồn tại được. Nhật Bản đã đứng về phía chúng ta, là đồng minh của ta. Nước Nhật cũng đang cần có cuộc tiến công này. Tô-ki-ô sẽ chẳng dại gì mạo hiểm một mình chơi với Hoa Kỳ, nếu như sau lưng họ còn sờ sờ cái nước Nga nguyên vẹn Như vậy "nước Nga nhất định phải bị đánh gục để thực hiện mục đích này... Tôi đánh giá tiềm lực quân sự của nước Nga còn thấp hơn so với sự đánh giá của quốc trưởng. So sánh các chiến dịch trước đây đã tiến hành chiến dịch này sẽ là chiến dịch được bảo đảm hoàn hảo hơn cả. Chúng ta đánh vào nước Nga còn để có thêm sức người. Nước Nga chưa bị đánh bại buộc chung ta phải thường xuyên duy trì 150 sư đoàn thường trực, tức là một khối lượng lớn những con người mà chúng ta đang rất cần cho nền công nghiệp chiến tranh của chúng ta. Nền công nghiệp chiến tranh của chúng ta cần phải làm việc với cường độ cao hơn nữa như vậy "mới có thẻ thức hiện được chương trình sản xuất vũ khí, đại bác, tàu ngầm, máy bay. Có như vậy nước Mỹ mới không làm gì được chúng ta. Chúng ta có đủ nguyên liệu, máy móc và nhiên liệu đề làm việc suốt ba ca nhưng thật oái oăm, lại không đủ người. Khi nào nước Nga bị đánh bại chúng ta mới có thể cho giải ngũ những người lớn tuổi và lúc đó sẽ cho xây dựng trang bị và huấn luyện lại. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể tiến công vào nước Anh bằng đường không với quy mô lớn. Tiến công nước Anh, xét về toàn diện, chả lẽ ta không làm được. Như vậy cho nên cần phải tạo ra những bảo đảm mới cho thắng lợi. Lần này, chúng ta đi theo con đường hoàn toàn khác so với các cách thông thường và sẽ chọn một địa hạt mới. Chúng ta sẽ không tranh luận trên báo chí, sẽ giữ thái độ hoàn toàn câm lặng và sẽ chọn một ngày nào đấy thật đẹp trời để... giáng đòn sấm sét. Tôi cố thuyết phục quốc trưởng là không nên triệu tập nghị viện họp vào ngày ấy. Nếu không sẽ phá tan mất kế hoạch ngụy trang của chúng ta. Ngài đã đồng ý chấp nhận đề nghị của tôi và sẽ đọc lời kêu gọi trên đài phát thanh... „ Mục đích cuộc hành quân đã rõ ràng: nước Nga sẽ bị đánh gục hẳn, còn nước Anh sẽ bị tước khỏi tay thanh kiếm cuối cùng trên lục địa của họ. Có thể chúng ta sẽ yêu cầu các giáo chủ của hai dòng dạo ở, Đức cầu nguyện cho cuộc chiến tranh này với tư cách là những thiên sứ. Chế độ Nga hoàng sẽ không được khôi phục lại ở Nga, nhưng đổi lại, chủ nghĩa Bôn-sê-vích sẽ thực hiện chủ nghĩa xã hội thực sự ở nước này. Mỗi đảng viên quốc xã lão thành chúng ta sẽ hài lòng sâu sắc là chúng ta đã thấy rõ điều này. Hợp tác với nước Nga, nói một cách khác, sẽ là một vết nhơ trong lương tâm chúng ta. Ngày nay chúng ta phải tiêu diệt những gì mà suốt đời chúng ta đã chiến đấu. Tôi đã phát biểu điều này với quốc trưởng và ngài đã hoàn toàn đồng ý với tôi. Tôi đã luôn tâm niệm lời nói của Rô-den-béc1, con người mà nhờ có chiến dịch này sẽ khẳng định thêm mục đích đời ông ta đã chọn là rất đúng !. ----------------------- 1. Rô-den-béc, lý luận gia của chủ nghĩa phát xít, trọng cuốn sách về chủ nghĩa quốc xã "Huyền thoại của thế kỷ XX" đã viết như sau: Giống người thượng đẳng cần phải thống trị giống người hạ đẳng. Tức là, người Đức cần phải thống trị các dân tộc khác, trước hết là người Nga N.D. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2017, 08:25:51 am Quốc trưởng nói, dù đứng hay không, nhưng chúng ta nhất định phải chiến thắng. Đó là con đường duy nhất và quốc trưởng tin chắc vào điều này. Còn bao giờ thì chiến thắng và cũng chả có ai hỏi chúng ta về phương pháp chiến thắng ra sao ? Sự nghiệp đặt ra phải là như vậy! Quốc trưởng không hỏỉ là nhân dân đang nghĩ gì. Nhân dân nghĩ là chúng ta đang hành động cùng nước Nga nhưng họ sẽ rất dũng cảm chiến đấu nếu chúng ta kêu gọi hãy tham gia vào cuộc chiến tranh với nước Nga. ... Theo ý quốc trưởng, những lời thanh minh, tuyên bố của nước Nga là kết quả của sự lo sợ đến kinh hoàng. Xta-lin đang run lên trước những sự kiện dồn dập. Đã đến lúc chấm dứt trò chơi bịt mắt bắt dê với ông ta. Chúng ta sẽ tha hồ sử dụng nguồn tài nguyên bao la của cái đất nước giàu có này. Hy vọng của người Anh định tiêu diệt chủng ta bằng cách phong tỏa đã hoàn toàn thất bại và sau điều này họ chỉ còn cách là chấp nhận cuộc chiến tranh tàu ngầm thực sự. Giờ đây I-ta-li-a và Nhật Bản đã được thông báo là chúng ta định vào đầu tháng bảy sẽ trao cho Nga tối hậu thư. Khắp nơi người ta đang nói về điều này. Như vậy là chỉ còn ít ngày nữa thôi. Toàn bộ quy mô rộng lớn của chiến dịch này chưa được thông báo đầy đủ. An-tôn-nét-xcu có lẽ được biết nhiều hơn chút ít. Ru-ma-ni và Phần Lan cùng hành động với chúng ta. Cứ vậy mà tiến lên ! Những cánh đồng màu mỡ của U-crai-na đang vẫy gọi. Các tướng lĩnh hôm qua dự cuộc họp với quốc trưởng đã được chuẩn bỉ tinh thần ở mức cao nhất. Bộ máy tuyên truyền cua tôi đang sẵn sàng và chờ đợt... ... Giờ đây tôi chỉ còn phải chuẩn bị một số chi tiết thật tỉ mỉ hơn nữa thôi. Cần phải bất chấp tất cả, cứ việc tung tin: hòa bình với Mát-xcơ-va, Xta-lin sẽ đến Béc-lin, việc tiến công nước Anh chỉ còn là vấn đề từng ngày, có như vậy mới che giấu được tình hình thực sự dù chủng có diễn biến thế nào chăng nữa. Hy vọng rằng chúng ta còn giữ được việc này một thời gian nữa... ...Đi dạo qua vườn hoa, vào lối cửa sau, gặp nhiều người cũng đang thảnh thơi đi dạo dưới mưa nhẹ. Những con người hạnh phúc quả thật là sung sướng vì họ chẳng hề hay biết gì những công việc dồn dập, khẩn trương của chúng ta và họ vẫn sống bình thản như thường ngày. Chúng ta đang làm việc vì họ, đang đấu tranh vì họ và vì họ, chúng ta sẵn sàng nhận bất cứ sự liều lĩnh nào. Cứ để cho dân chúng hân hoan, thản nhiên như vậy... "Ra lệnh cho mọi nhàn viên thân cận không được nói gì về cuộc họp bí mật của tôi với quốc trưởng". Dưới làn mưa mùa hè và tiếng nhạc nhẹ vang lên trong, máy phát thanh, những tên tội phạm ấy đang bí mật họp bàn tới một kế hoạch độc ác. Còn những người dân Đức bình thường "đang đi dạo nhởn nhơ dưới trời mqa nhẹ" không hay biết gì về cuộc xung đột tàn khốc sắp diễn ra sau cáỉ ngày chủ nhật hòa bình cuối cùng này, không hay biết là chỉ sau mấy ngày nữa họ sẽ bị những kẻ đang điều khiển vận mệnh của họ làm cho choáng váng. Nhưng ngày cuối cùng... 17 tháng 6 "Mọi sự chuẩn bị đã xong xuôi. Rạng sáng ngày chủ nhật cần phải bắt đầu. Vào đúng 3 giờ 30 sáng. Người Nga vẫn đang đứng bên kia biên giới bị ngụy trang dày đặc. Với những khả năng vận chuyển yếu ớt của mình, trong những ngày tới họ sẽ chẳng làm gì được để thay đổi tình hình nữa rồi... Nhưng trong vấn đề nước Nga này, bọn Ru-ma-ni có vẻ ngụy trang quá kém cỏi. Chúng đã dại dột viết cả lên báo chí cuộc chiến tranh sắp tới, đã lớn tiếng đòi thu hồi lại nhưng tỉnh của chúng bị tước đoạt trước đây và tung ra những lời tuyên bố bí hiểm. “ ... Hoa Kỳ đòi các tòa lãnh sự chúng ta phải rời khỏi nước chúng trước ngày 10 tháng 7. Đóng cửa luôn cả cơ quan thông tin của chúng ta ở Niu-oóc. Tất cả trò này chẳng qua chỉ là những mũi kim găm nhỏ xíu chứ không phải là những nhát dao găm". Về việc đóng chặt các kho hàng Đức ở Mỹ, Gơ-ben viết: "Ông ta (tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven) chẳng qua chỉ làm cái trò cù sườn chúng ta thôi". 18 tháng 6. "Việc ngụy trang đối với nước Nga đã lên tới cực điểm. Chúng ta đã tung ra toàn thế giới một lô tin đồn đến nỗi chính chúng ta cũng không phân tích nổi... Thủ đoạn mới nhất của chúng ta Ịà: Chúng ta dự định một cuộc hội nghị hòa bình quốc tế có sự tham gia của người Nga. Đối với dư luận chung thì có vẻ xuôi xuôi, nhưng một số tờ báo lớn hình như đã ngửi thấy mùi thuốc súng và đoán được đây là cái trò gì rồi. "... Chúng ta đã thử những điệu kèn mới. Nhưng vẫn chưa tìm được điệu kèn cần thiết. Vậy nên cần phải ngụy trang thêm thật kín". "Tin đồn - đó là bánh mỳ thơm ngon của chúng ta" - Gơ-ben ghi tiếp trong nhật ký. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tám, 2017, 03:16:49 pm Ngoài những nguồn "tin vịt chuyên nghiệp" thế giới còn tràn ngập những nguồn tin của các cư quan báo chí, phát thanh của các nước đồng minh với Đức. Họ bàn tán đủ mọi chuyện, cả những điều được biết lẫn những điều không được biết rõ. "Báo chí của họ quả thật bờm xờm, nhẹ dạ một kinh khủng - Gơ-ben nêu lên những nhận xét này của Hít-le đối với báo chí thế giới trong cuộc họp riêng với y - Họ đã làm hại chúng ta. Vì sự tán phét, khoác lác của họ mà họ đã bị thiệt hại nghiêm trọng trong chiến dịch đảo Crít. Vì vậy nên đừng cho họ chõ mõm vào những bí mật nhất là những điều mà chúng ta không hề có ý định tiết lộ cho ai" "Tôi làm việc đến tận khuya. Vấn đề nước Nga ngày càng trở thành vấn đề tuyệt đối không thể để bị rò rỉ. Các chuyên viên phao tin đồn của chúng ta làm việc tuyệt vời. Tất cả cái mớ bòng bong đó chỉ có thể so sánh cái ổ của con sóc được nó ngụy trang khéo đến mức không một con vật thù địch nào có thể phát hiện được". Nhưng qua một số dòng nhật ký chúng ta bỗng thấy nổi rõ sự không nhất quán một cách điên khùng cua Gơ-ben trong đoạn ghi sau đây: "Thế nhưng những ý đồ của chúng ta về nước Nga dần dần bị lộ. Người ta đang phỏng đoán. Thời gian không bao giờ vội vã. Đã khuya, thế mà quốc trưởng vẫn gọi điện cho tôi. Bao giờ chúng ta mới bắt đầu và có thể sử dụng số lượng ba triệu tờ truyền đơn kia được bao lâu. Hãy hành động ngay đi. Thời hạn một đêm phải in xong. Bắt đầu từ đêm nay". Những dòng ghi sau đây toát ra tiếng thở dài: "Thời gian đợi điểm giờ tiến công sao trôi qua một cách quá ư chậm chạp như vậy. Tôi xốn xang chờ ngày cuối tuần sẽ tới. Sự mong đợi này đã ảnh hưởng cả tới thần kinh. Bao giờ các việc chờ đợi nặng nề này được, bắt đầu thì lúc ấy anh mới cảm thấy (như luôn luôn vẫn diễn ra như vậy là tựa như đã vất được quả núi đè nặng trên vai anh bấy lâu nay". 19 tháng 6. "Ngay đợt đầu cần phải in 20.000 tờ truyền đơn cho binh lính. Tôi ra lệnh làm ngay việc nàv với sự kiềm soát chặt chẽ nhất trong mọi quy chế bảo mật. Giét-ta-pô sẽ kiềm soát toàn bộ nhà máy in và công nhân sẽ ở đây cho tới hết ngày quy định. Không một ai được ra khỏi nhà máy. Họ sẽ được cấp thức, ăn và chăn màn. Truyền đơn in xong sẽ đóng gói và chuyền ngay cho đại diện quân đội Đức, các sĩ quan sẽ trực tiếp áp tải ra mặt trận. Ở đây, sáng Sớm trước khi bắt đầu tiến công mỗi đại đội sẽ được nhận một gói. ... Vấn đề nước Nga dần dần được phố biến. Giờ đây vấn đề này không thề lẩn tránh được nữa rồi. Ở nước Nga người ta đang chuẩn bị cho ngày Hải quân Xô-viết. Cái ngày ấy sẽ là ngày thất bại của chúng. 20 tháng 6. Hôm qua việc nhiều đến kinh khủng. Một sự khẩn trương, vội vã đến điên rồ. Lời kêu gọi của quốc trưởng gửi binh sĩ mặt trận phía Đồng đã in, đóng gói và phân phát xong. Nhưng cần phải đính chính lại vì có sự giải thích chưa chính xác về thực chất vấn đề Nga - Đức. Hãy nhằm vào quân thù. Sau khi đã thi hành những biện pháp bảo mật tuyệt đối nhất, chúng tôi quyết định gửi ngay các gói "hàng"ra mặt trận. Đối với quốc trưởng : vấn đề nước Nga đã hoàn toàn rõ ràng. Bộ máy chiến tranh đang dần dần đưa vào hoạt động. Tất cả diễn ra thật khớp. Quốc trưởng hết lòng khen ngợi ưu thế của chế độ chúng ta... Chúng ta đã sử dụng điện ảnh, đài phát thanh và báo chí vào sự nghiệp này, quốc trưởng đã khẳng định chúng như là những phương tiện mạnh mẽ có ý nghĩa nhất trong việc giáo dục dân chúng. Nhà nước không bao giờ từ bỏ những phương tiện này. Quốc trưởng còn khen ngợi cả chiến thuật thông minh của nền thông tin chúng ta. 21 tháng 6. Giờ bi đát của nước Nga đang đến gần. Một ngày căng thẳng tột độ. Còn cần phải giải quyết hàng lô công việc vặt khác nữa. Đầu óc quay cuồng vì công việc. Mô-lô-tốp đề nghị được tới Béc-lin, nhưng yêu cầu của ông ta đã bị từ chối. Đáng lẽ ông ta nên 1àm việc này từ nửa năm trước đây. Mọi kẻ thù của chúng ta sẽ bị chết vì sự chậm trễ của chúng... ...Tôi cho thử điệu kèn mới. Giờ thì đã tìm được những điều cần ... Ở Luân Đôn giờ đây mới hiểu đúng vấn đề nước Nga. Người ta chờ đợi chiến tranh từng ngày một. ... Quốc trưởng rất hài lòng về những điệu kèn mới của chủng tôi và còn hạ lệnh viết thêm một chút gì đấy. Trích từ trong bài "Hoóc-tơ Véc-xen". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tám, 2017, 05:56:33 am 22 tháng 6. Với phương pháp suy diễn cũ, Gơ-ben thường ghi trong nhật ký những diễn biến của ngày hôm trước. Vào cái giờ hắn ghi nhật ký cho ngày 22 tháng 6 thì toàn thế giới đã sửng sốt trước tin Đức tiến công nước Nga và dồn dập những thông báo từ mặt trận phía Đông đưa tới, nhưng trong nhật ký, hắn vẫn cứ kề cà viết, nào là lẳng nghe các bản nhạc mới, gặp gỡ một nữ diễn viên sắp được mời tới để đóng một bộ phim mới về chiến tranh, về buổi chiêu đãi chào mừng bộ trưởng I-ta-li-a Pa-vô-lin, về bữa cơm thân mật hắn thết đãi các vị khách I-ta-li-a tại nhà riêng của hắn ở Sva-neu-béc-de, rồi hắn mới đi vào những vấn đề chính. "Cuộc tiến công bắt đầu lúc 3 giờ 30. Rạng sáng nay. 160 sư đoàn hoàn chỉnh tham chiến. Tuyến mặt trận dài 3 nghìn cây số. Cuộc hành quân lớn nhất, hùng vĩ nhất trong lịch sử thế giới. Càng gần đến giờ giáng đòn sấm sét, tinh thần. quốc trưởng càng ồn định nhanh! Tính ông ta thường như vậy. Ông ta vốn là ngươi dễ cân bằng. Mọi. mệt mỏi trong ông ta hầu như biến nhanh. ...Cuộc chuẩn bị cuối cùng đã kết thúc. Ông ta (Hít-le -tác giả ghi chú) đã làm việc với kế hoạch này từ thángbảy năm ngoái và thế là đã đến cái giờ phút cần thiết! Tất cả những gì có thể làm được đều được làm. Giờ đây có thể quyết định được niềm hạnh phúc của chiến tranh. ... 3 giờ 30 phút. Đại bác gầm lên nhất loạt. Các ngài, hãy cầu phúc cho vũ khí của chúng ta! ì - Quảng trường Vin-bem sau cửa sổ vẫn yên tĩnh và vắng vẻ. Béc lin đáng ngủ, cả đất nước chúng ta đang ngủ. Tôi cũng còn một giờ rưỡi nữa để ngủ nhưng không thể chợp mắt được. Tôi đi dạo quanh phòng, hầu như nghe rõ cả hơi thở của lịch sử1 Thời gian vĩ đại, tuyệt vời đang sinh ra một đế chế mới. Rồi hắn sẽ khắc phục những vết thương, rồi hắn sẽ thấy được ánh sáng mới. Một bản nhạc hiệu mới nổi lên. Nhạc hùng dũng, vang, mạnh và đầy sĩ khí. Tôi đã đưa tới tất cả các trạm lời kêu gọi của quốc trưởng gửi nhân dân Đức. Đây cũng là giờ phút đáng tự hào của bản thân tôi nữa. Phải làm gấp một số công việc. Sau đó sẽ đến Sva-nen- bée-de. Vầng mặt trời tuyệt diệu đang nhô trên bầu trời. Chim chóc nhẫy nhót và hót ríu rít trong vườn. Tôi nằm nghỉ chốc lát và ngủ lịm đi khoảng hai giờ liền. Giấc ngủ thật say và dễ chịu". Gơ-ben nhảy vào cuộc chiến tranh này với niềm tin riêng của hắn là "đối với người lính Đức thì không có cái gì là không thể làm được" và theo bản năng của quốc trưởng hắn. (Một lần nữa bản năng của quốc trưởng lại tỏ ra đúng đắn). Cái bản năng khét tiếng của Hít-le - đó là cái chứng cứ cuối cùng đã dẫn những kẻ gần gũi với hắn đến căn hăm ở khu dinh quốc trưởng trong những ngày tận số này, khi Béc-lin đang bị quân đội Xô-viết vây chặt và thảm họa đối với chúng là điều không thể tránh khỏi. 23 tháng 6. "Người Nga bố trí lực lượng của họ chẳng khác gì quân Pháp năm 1870. Và họ cũng sẽ chịu thất bại như vậy thôi. Hiện tại người Nga phòng thủ có vẻ vững tin hơn nhưng không quân của ho đã bị tổn thất kinh khủng... Chúng ta sắp đè bẹp họ. Chúng ta phải nhanh chóng đè bẹp họ. Tinh thần nhân dân đã hơi lắng xuống. Nhân dân muốn hòa bình, sự thật không phải là đáng xấu hổ, nhưng mỗi chiến trường mới đều có sự đau khổ và lo lắng. Mỗi mục tiêu đặt ra cho ngày hôm nay đều đã đạt được. Cho đến hôm nay, chưa có gì phức tạp cả. Chúng ta có thể yên tâm. Chính quyền Xô-viết đang tan rã như gỗ mục. Tôi còn phải tự kìm mình lại trước tấm bản đồ cỡ lớn của nước Nga - Gơ-ben ghi tiếp sang ngày khác. - Cái không gian bao la ấy có thể làm cho dân chúng sợ hãi. Đã có sự hoang mang trong nhân dân. Bước ngoặt quá ư bất ngờ đối với họ. Cẩn phải làm cho dư luận quen với cái đó. Không thể kéo dài quá lâu - Hắn nhận xét một cách vô liêm sỉ - Phải cho họ thấy rõ những thắng lợi rõ rệt ban đầu". Thật là những tên phiêu lưu tàn bạo. Giờ đây chúng chỉ nghĩ đến thắng lợi. Chúng sợ sự' bất mãn của nhân dân vì tình trạng đói kém lương thực mà chúng đã đày đọa toàn đất nước và toàn khối liên minh phát xít của chúng. Tình hình lương thực ở Đức rất tồi tệ, đó là điều Gơ-ben đã phải thầm thú nhận trong nhật ký của hắn trước khi mở cuộc tiến công vào Liền Xô, nhu yếu phẩm thiếu đến mức chúng phải hạ thấp tiêu chuẩn khẩu phần thịt. Còn ở I-ta-li-a "một bức tranh ảm đạm". "Khắp nơi thiếu một sự tổ chức và sự phân loại. Không có chế độ tem phiếu, không có được những bữa ăn lịch Sự, nhưng đồng thời chúng ta lại phải đáp ứng nhu cầu này cho chiến tranh. Người ta muốn rằng chúng ta tiến hành chiến tranh còn họ thi sẽ gặt hái thành quả. Chủ nghĩa phát xít chưa khắc phục được cuộc khủng hoảng nội bộ của mình. Nó ốm yếu cả về thể xác lẫn tinh thần. Nạn tham nhũng lan tràn quá mạnh". ---------------- 1. Về thời gian, Bec-lin chậm hơn Mát-xcơ-va hai giờ, 3 giờ 30 phút khi chiến tranh bắt đầu, ở Béc-lin mới là 1 giờ 30 phút đêm. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tám, 2017, 07:39:39 pm Chiến tranh dẫn đến việc bóp nghẹt các mâu thuẫn nội bộ của chủ nghĩa phát xít. Kết quả của thắng lợi trong chiến tranh là thượng đế duy nhất của chúng. Gơ-ben, được Hít-le đồng ý, đã ra lệnh cho bộ chỉ huy quân Đức cấm không cho binh lính đọc các sách của đạo Cơ đốc và các loại sách tôn giáo khác. Hắn viết: "Giờ đây binh lính chúng ta cần phải đọc những sách tốt hơn là những thứ sách nhảm nhí ấy: Chúng tuyên truyền sự thấp kém, ủy mị yếu hèn, do đó có thể sẽ ảnh hưởng tới tinh thần binh lính". Nhưng tinh thần "thập tự chinh" chống Liên Xô lại được thổi bùng lên và phải coi đây như một sự tuyên truyền thông thường hàng ngày. "Đối với chúng ta, công việc này lại rất hợp"."Chúng ta có thể lợi dụng nó một cách tốt hơn". "Cứ vậy mà tiến lên! Những cánh đồng màu mỡ của U-crai-na đang vẫy gọi". Nhưng đồng thời hắn lại viết: "Tôi không cho phép động chạm đến những vấn đề lợi ích kinh tế do thắng lợi giành được đối với Mát-xccr-va. Cuộc luân chuyển của chúng ta chỉ là một trò đùa chính trị vô duyên". "Ở tất cả các nước đều khiếp phục sức mạnh của lực lượng vũ trang chúng ta. Tôi cho rằng, chiến tranh chống Mát-xcơ-va là cuộc chiến tranh tâm lý và, có thể nếu xét về mặt quân sự đó sẽ là cuộc chiến tranh mang lại thắng lợi to lớn nhất cho chúng ta". "Giờ đây Phần Lan đã chính thức tham chiến. Thụy Điển đã phải đồng ý cho một sư đoàn Đức đi qua... Ở Bồ Bào Nha có biểu tình với khuynh hướng chống Mát-xcơ-va rõ rệt, I-ta-li-a đang định gửi một quân đoàn viễn chinh nếu như việc này không phản lại chúng và, nói chung, mặt trận chống Bôn-sê-vích đang được tiếp tục hình thành". "Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đứng về phía chúng ta như cũ". "Nhóm Man-néc-gây ở Phần Lan đang sẵn sàng nhảy vào vòng chiến". "Nhật Bản cần phải được rảnh tay ở Trung Quốc để có thể tham gỉa vào cuộc tính sổ với chúng ta". "Người Do Thái ở Môn-đa-vi bắn vào lính Đức. Nhưng An-tôn-nét-xcu đang tiến hành thanh toán chúng. Trong cuộc chiến này ông ta tỏ ra rất xuất sắc. Người Hung-ga-ri đang tiến qua dãy Các-pát. Đã chiếm đưọc Ta-vrô-pốn. Cái vùng dầu mỏ này không thể không rơi vào tay chúng ta". "Những người bạn của nước Anh đã lao vào cuộc xung đột với bọn Bôn-sê-vích. Tùy theo khả năng mà phải tận dụng đầy đủ nhất tình hình này" (28 tháng 6). Mọi suy nghĩ bây giờ đều hướng tới thời hạn chiến thắng. Nếu Hít-le định thời hạn đó là bốn tháng thì giờ đây khắp nơi, đâu đâu cũng thấy vang lên sự tiên đoán sẽ kết thúc cuộc chiến tranh đầy thắng lợi này trong vòng một tuần, thậm chí, chỉ mấy ngày thôi. Trong nhật ký Gơ-ben bấy giờ đã cảm thấy khúc khải hoàn đang đến gần. Mối quan tâm chính của Gơ-ben là làm sao cho khúc khải hoàn đang đến gần khỏi tuột đi như lời sấm truyền. "Tôi kiên quyết phản đối những quy định mù quáng về thời hạn chiến thắng từ phía Bộ ngoại giao. Nếu họ nói trong bốn tháng, thế nhưng phải kéo dài tới sáu tháng thì cái chiến thắng của chúng ta, suy cho cùng có khác gì thất bại. Bộ ngoại giao, trong chừng mực nào đó đã không tuân thủ việc giữ bí mật quân sư. Để chống lại những cái miệng thích ba hoa, tôi đã phải yêu cầu tới sự can thiệp của Giét-ta-pô". Gơ-ben ra lệnh cho các nhà thơ Đức - phải cấp tốc sáng tác những ca khúc về cuộc hành quân sang nước Nga, nhưng kết cục chẳng có bài nào đạt được làm cho hắn phát khùng lên vì xấu hổ. Nhưng cuối cùng hắn cũng: "Đã có một bài hát mới về nước Nga. Sáng tác chung của A-nao-ke Ti-xcơ và Cơn-bê, tôi đang so sánh và cho soạn lại. Sau đấy nó sẽ khác hẳn - Gơ-ben với thói tự phụ bẩm sinh, tự khen như vậy - Một bàỉ hát tuyệt vời". "... Tốc độ ở Béc-linh hầu như làm cho mọi người nghẹt thở. Trong những ngày này, tôi có cảm giác như bị đánh cắp mất thời gian. Nhưng tôi lại mong cho mình có cuộc sống căng thẳng chóng mặt như thế này, và nó quả là cuộc sống đẹp". Gơ-ben càng bị ngây ngất, nghẹt thở vì kết quả của cuộc tiến công bất ngờ bao nhiêu thì sự bất ngờ mà hắn ghi sau đây càng làm hắn sửng sốt bấy nhiêu. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tám, 2017, 10:47:06 pm Lúc đầu nó mới chỉ vang lên có vẻ băn khoăn. "Đối thủ đánh khá tốt" - dòng này hắn ghi trong ngày 24 tháng 6 (như thường lệ ngàv hôm sau hắn mới ghi sự việc của ngày hôm trước). Hắn cố suy nghĩ cân nhắc ghi sao để giam bớt ý nghĩa của những điều bất ngờ này: "Người Nga bảo vệ khá dũng cảm. Không có rút lui. Như vậy càng tốt. Như vậy thi hậu quả càng đến với chúng nhanh hơn. Chúng đã mất vô số xe tăng và máy bay. Đó là tiền đề cho chiến thắng của chúng ta". Theo số liệu chúng ta biết, Mát-xcơ-va hiện có khoảng 2.000 máy bay có khả năng chiến đấu được, nhưng bọn Bôn-sê-vích vẫn lì lợm và liều lĩnh chống cự. Chúng muốn, dù thế nào chăng nữa cũng phải giữ cho được Lê-nin-grát và Mát-xcơ-va, chúng đã cuốn về đây số lớn binh lực, không chú ý đến nguy cơ về mặt cơ động. Điều này chỉ có lợi cho chúng ta. Trong khu vực này càng đông đặc bộ đội chúng bao nhiêu, càng có lợi thế cho chúng ta bấy nhiêu". Nhưng càng về sau, những trang ghi của hắn càng lộ rõ nỗi lo lắng: "Mặt trận phía Nam chiến đấu rất ngoan cường và phải công nhận rằng, chúng có Bộ chỉ huy tốt. Tình hình chưa đến nỗi nguy cấp, nhưng cũng làm cho chúng ta ngấy đến cổ". Trong học thuyết phát xít về mặt yếu của Hồng quân có một lỗ hổng. Có cả lỗ hồng trong trạng thái tâm lý của Gơ-ben. Trò chơi mà hắn đang điều khiển và gắn vào với từng trận thắng một đang làm cho hắn cụt hứng, làm cho hắn thất vọng khi hắn vấp phải sự chống trả của đối phương và làm cho hắn cảm thấy thất bại. Nhưng đây mới chỉ là những ngày đầu trong cuộc chiến ở. phương Đông - cuốn vở nhật ký này kết thúc vào ngày 8 tháng 71 - và thời gian này quân đội phát xít của hắn chưa phải nếm những thất bại đầu tiên nào đáng kể... Nhưng dầu sao bóng ma thất bại cũng đã thấy lởn vởn trong những đoạn ghi này. Lúc đầu Gơ-ben định ghi riêng các sự kiện ở phía Đông - như là một chiến trường riêng biệt và mang tính chất một cuốn ghi chép - sử thi. Cho đến lúc này hắn vẫn hàng ngày ghi về các hành động quân sự chống Anh, rồi chuyển sang vừng khác. Nhưng hắn đã không làm được như thế. Những sư kiện đã xóa bỏ ý định của hắn. "Quân Nga kháng cự dai dẳng và tuyệt vọng... cụm tập đoàn quân "Nam" báo cáo là mưu đồ chọc thủng vòng vây của địch ở gần Đu-bốp đã thất bại... Những ý đồ vượt vây ở Bê-lồ-xtốc cũng phá sản. Quân Nga bị thiệt hại to lớn về xe tăng và máy bay, nhưng chúng vẫn đánh tốt và bắt đầu từ hôm chủ nhật này, đã cho chúng ta nhiều bài học thêm (27 tháng 6). Quân Nga bảo vệ một cách tuyệt vọng. Một sư đoàn xe tăng đã chọc thủng các vị trí xe tăng chúng ta". Ở đây cũng có một trường hợp rất đáng được nêu ra trong ghi chép của tên chỉ huy đội bảo vệ riêng của Hít-le - Rát-ten-hu-be. Một chiếc máy bay chở viên sĩ quan tham mưu Đức bị rơi ở Bỉ. Người Bỉ đã bắt, giữ tên sĩ quan tham mưu này lại. Hắn có một cặp tài liệu gồm các kế hoạch tuyệt mật của quân Đức định tiến công vào nước Pháp qua Hà Lan, Bỉ và Lúc-xăm-bua. "Người Bỉ sợ quá, Rát-ten-hu-be viết, - nên sau khi xem xong tập tài liệu trên liền "kính trọng" gửi trả tên sĩ quan tham mưu cùng chiếc cặp của nó về Đức". Trường hợp hiếm có này đã được đưa ra thảo luận một cách khoái trá tại đại bản doanh Hít-le, và phổ biến "cái tinh thẫn chiến tranh kỳ lạ này" cho khắp các mặt trận phía Tây, khi mà quân Đức đang tổ chức duyệt binh trên toàn châu Âu. Đó là cái không khí lúc bấy giờ, còn giờ đây, cuộc chiến tranh với nước Nga thì lại hoàn toàn khác và cái giá phải trả cho các cuộc tiến công cũng đã khác. "Quân Nga kháng cự mạnh hơn nhiều so với dự kiến ban đầu. Thiệt hại về sinh lực và vật chất của quân ta là "đáng kể" (1 tháng 7). Hắn tìm cách giải thích cho "tình huống phức tạp này" như sau: "Người đồng minh của chúng tạm thời còn có sự ngoan cố của dân Xla-vơ nhưng rồi trong một ngày đẹp trời nào đó, cái tinh thần này sẽ tiêu tan". Hắn đưa ra hết kết luận này sang kết luận khác và luôn mâu thuẫn đối chọi nhau: "Hình như sự kháng cự của bọn Hồng quân đã bị bẻ gây ở khắp các mặt trận. Chủ nghĩa Bôn-sê-vích giờ đây đang chìm trong cơn khủng hoảng tinh thần và tổ chức nặng nề nhất. Chúng ta sẽ lợi dụng tất cả để tăng cường và khoét sâu thêm nó. Lại một lần nữa, chỉ trong một ngày, chúng ta đã diệt 235 máy bay Nga. Nếu quân Nga mất đi lực lượng không quân, to lớn của chúng thì chúng sẽ chết. Cầu Chúa!" (2 tháng 7). Nhưng cũng ngay ở đoạn này:"Nhưng, nói chung những trận đánh diễn ra vẫn rất ác liệt và khó chịu. Không thể nói đến chuyện "đi dạo" ở đây nữa. Bọn đỏ biết cách huy động nhân dân. Thêm vào đó là sư ngoan cố "cuồng tín" của người Nga nữa. Các binh lính chứng ta đã cố gắng vượt bậc. Nhưng dầu sao cho đến nay mọi việc vẫn diễn ra đúng như kế hoạch! Tình hình chưa đến nỗi nguy ngập lắm, nhưng là nghiêm trọng và đòi hỏi phải cố gắng hết sức... -------------------- 1. Đúng ngày 8 tháng 7 năm 1941 ấy Hít-le đã hạ lệnh: "Phải san bàng Mát-xcơ-va và Lê-nin-grát để làm cho nhân dân hai thành phố này không còn chỗ nương thân, không còn gì nuôi nấng chúng trong mùa đông sắp tới..." (Ghi chú của tác giả). Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tám, 2017, 09:12:46 am Người Nga đang tuyên bố thắng lợi... trong những bản thông báo. Hơi to tiếng và hơi quá sớm đấy. Chủng ta phải chống lại điều này. Luân Đôn đã giúp họ bằng những bản thống kê hào nhoáng về những trận đánh thắng "trên giấy", nhưng chúng ta cũng đã quá rõ trong thời kỳ tiến quân của chúng ta sang phía Tây. Đây mới chỉ là những bông hoa thôi, còn quả lại đang ở phía trước. Còn ở Mỹ thì có vẻ trắng trợn hơn. Nốc đọc bài diễn văn táo bạo đòi phải nhảy ngay vào vòng chiến (2 tháng 7). Chúng ta đang sử dụng những phương tiện tuyên truyền mạnh mẽ đã được thử thách trong chiến dịch tiến sang phía Tầy trước đây như những đợt gây hoang mang hốt hoảng trên đài phát thanh và những cách khác. Giờ đây chúng ta đang đâm vào vết thương trống hoác" (4 tháng 7). Và đây lại một hình thức khiêu khích nữa: "Chúng tôi lập ba đài phát thanh bí mật chống Nga. Hướng hoạt động đài thứ nhất mệnh danh nhóm Trốt-kít, đài thứ hai của nhóm phân liệt và thứ ba là của nhóm chủ nghĩa dân tộc Ngá" (30 tháng 6). Hoạt động của ba đài phát thanh bí mật này quả thật là mẫu mực của sư tinh ranh và sành sỏi. Những hoạt động tuyên truyền của Liên Xô làm hắn hết sức yên tâm. Hắn viết: "Cho đến giờ, binh lính Đức vẫn chưa phải là đối tượng tuyên truyền của đối phương. Bọn Bôn-sê-víeh không phải là những kẻ nhát gan, Mát- xcơ-va có đài phát thanh mạnh hơn nhiều, nhưng...". Nhưng Gơ-ben vẫn rất lo lắng tình hình nội bộ: nghiêm cấm nghe đài phát thanh nước ngoài. "Và được sự đồng ý của quốc trưởng tôi đã cấm đọc sách và nghe nhạc của các tác giả Nga". Trong nội bộ bọn đầu sỏ quốc xã cũng không phải êm thấm gì: "Lại có cãi cọ với Bộ chỉ huy tối cao. Vấn đề muôn thuở vẫn là: về quyền hành. Giờ đây lại thêm Rô-den-béc một nhân vật nữa, một kẻ đã tự coi mình là hoàng đế nước Nga bị chiếm đóng, lao vào vòng tranh giành quyền lực. Nếu như có lúc nào đó, chúng tôi va vấp nhau thì vấn đề chính của các xung đột vẫn chỉ là quyền lực (29 tháng 6). Rô-den-béc định tự mình tổ chức cái bẫy tuyên truyền riêng của ông ta... Mỗi người đều muốn làm công tác tuyên truyền riêng và họ càng hiểu biết vấn đề này ít bao nhiêu lại càng thích làm nhiều bấy nhiêu". Thế là sự liên minh tạm thời của hắn ta với Rô-den-béc đã chấm dứt như vậy đấy. "Và giữa chúng với nhau đã hình thành một không khí thường xuyên chơi xỏ, ghen tỵ và rình mò nói xấu nhau". "Chiến tranh vẫn không giải quyết được những vấn đề nóng bỏng, không mang lại được sự hòa giải mong muốn: vùng Ban-căng vẫn "thường xuyên bi nạn đói đe dọa. Đặc biệt là ở Thổ-nhĩ-kỳ, ở Ý ngày càng có nhiều bất bình. Mut-xô-li-ni hoạt động không còn hung hăng nữa. Cảm tình đối vói chúng ta ở Ru-ma-ni ngày càng giảm sút. Nhìn đi đâu cũng thấy có những mối lo lắng". "Pháp và Bỉ vẫn bị nạn đói hoành hành. Do đó tinh thần ở đấy rất căng thẳng". Nhưng không có sự lo lắng nào, không có cuộc chiến tranh nào và cũng không có sự đau khổ nào của nhân dân Đức có thể cản trở tới sự phồn vinh và đời sống trưởng giả của hắn. Bên cạnh khu nhà mới xây ở Svan-nen-bểc-de, nơi Gơ-ben thường lui tới, thường đến nghĩ mỗi khi rời Béc-lin và một số nhà khác ở rải rác quanh ngoại ô, hắn hiện còn đang cho xây dựng một ngôi nhà nhỏ theo kiểu Thụy Sĩ. Ngôi nhà này sẽ được xây cất ở một nơi phong cảnh hết sức hữu tình. "Tôỉ đã đi xem khu dinh cơ mới được xây cất rất đẹp. Khu dinh cơ này nằm trong rừng và rất phù hợp với thời bình, một thời bình mà chúng ta tin chắc sẽ tới với chúng ta vĩnh viễn". Muốn thế chỉ cần nhớ một điều là phải đè bẹp quân Nga. "Chúng ta cần hành động thật nhanh và chiến sự ở mặt trận phía Đông không thể kéo dài quá lâu. Quốc trưởng rất quan tâm tới điều này". Cũng những lời thề thốt và khẳng định như vậy nhưng giọng lưỡi đã có vẻ yếu hơn trước đây ít lâu. Cuối cuốn nhật ký này, Gơ-ben đã ghi với lòng cam giận sâu sắc: "Bọn Anh đang cố làm tất cả những gì có thể được để lợi dụng và kéo dài thêm thời hạn trừng phạt của mình. Nhưng sự trừng phạt này, không bắt chúng phải chờ lâu nữa đâu". "Xmô-len-xcơ bi oanh tạc nặng nề. Quân ta ngày càng tiến gần Mát-xcơ-va". "Chúng ta chưa thể yên tâm được chừng nào chưa đè bẹp được bọn đỏ... - Điều này chúng ta đã đạt được ở Đức năm 1933. Và giờ đây nhất định cũng sẽ đạt được... Phải đầu hàng! Đấy là khẩu hiệu của chúng ta đối với bọn đỏ". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tám, 2017, 02:41:46 am CHIỀU NGÀY 2 THÁNG NĂM Chiến tranh đã đến tận Béc-lin. Đầu hàng! - Đấy không còn là khẩu hiệu nữa và là hiện thực sinh động. Đúng vào chiều 2 tháng 5. Các đơn vị quân Đức ngừng kháng cự đã được mấy tiếng đồng hồ rồi. Việc tước vũ khí thi hành từ lúc ba giờ chiều đến giờ vẫn đang tiếp tục. Quảng trường tòa thị chính la liệt các loại súng: tiểu liên, súng trường, trung liên. Trên các đường phố cũng đầy các loại vũ khí do quân Đức vất lại khi tháo chạy, những khẩu đại bác chúc nòng và những khẩu súng trường cắm phập trong đất. Trời mưa rả rích. Các đơn vị quân Đức bị đánh tả tơi ở Vôn-ga, ở Đnhi-ép, Bu-nai, Vít-xtuyn và Ô-đe đang lũ lượt kéo đi ngay dưới chân cổng chiến thắng Bran-đbua mà trên đỉnh phất phới lá cờ đỏ của quân đội chiến thắng. Những bộ mặt đen nhẻm ủ rũ, hốc hác đầy gian ác và dối trá; qua đó ta còn có thể thấy rõ đứa nào lộ vẻ đau khổ, đứa nào lộ vẻ kinh hoàng, kẻ nào có vẻ mặt nhẹ nhõm thoát nạn, nhưng phần lớn nét mặt bọn chúng đều trầm ngâm lì lợm... Các đám cháy vẫn chưa được dập tắt. Béc-lin đang ngút lửa.. Một con ngựa đủng đỉnh kéo chiếc xe nhà bếp đang tỏa khói, thỉnh thoảng xe lại bị nay xóc lên khi qua chỗ gồ ghề. Có mấy chiến sĩ đang ngồi trên tháp, trên nòng pháo chiếc xe tăng Đức bị bắn gục bên đường, họ vừa hát vừa rít thuốc lá. Họ được tạm nghỉ. Các trận đánh trong Béc lin đã chấm dứt. Bộ đội của nguyên soái Giu-cốp đã chiếm hoàn toàn thủ đô nước Đức phát xít. Trên những đường phố của nó giờ đây lẫn lộn mọi thứ tình cảm: niềm vui và hạnh phúc của những con người được giải phóng khỏi bạo lực, niềm vui gặp gỡ của những con người vừa trải qua chiến đấu và sự kinh ngạc đến phát điên của những cuộc gặp gỡ bất ngờ. Hàng đoàn dài những người đàn ông đã điên rồ bảo vệ thành phố này bị bắt làm tù binh đang nối đuôi nhau đi, đi mãi. Và những nét mặt đau khổ của những phụ nữ đang nhìn theo bóng họ. Một cảnh hòa hợp bi thảm của chiến thắng và thất bại, của niềm vui và nước mắt, của sự kết thúc và sự bắt đầu. Xác Gơ-ben được mang ra ngoài đường phố Béc-lin. Hắn mặc bộ đồng phục-quốc xã - quần len nâu sẫm, áo vét màu nâu nhạt- tất cả đều đã cháy sém nhiều chỗ. Làn gió lay động chiếc ca-vát màu vàng trên ngực hắn. Cái hình ảnh của hắn mà tôi nhớ nhất chính là cái ca-vát màu vàng bị cháy đỏ khé đung đưa trước gió. Một sợi dây thòng lọng màu vầng quấn quanh chiếc cổ bị cháy đen nhẻm - với chiếc lập lắc kim loại in nổi hình chữ thập ngoặc. Những người Đức từ dưới hầm trú ẩn vừa lên mặt đất liền xúm lại nhìn cái xác đen thui của một trong những kẻ thủ phạm đã gây ra nỗi bất hạnh cho họ. Các phóng viên xúm quanh chụp ảnh và quay phim lia lịa để dùng cho phim thời sự nay mai và giành cho kho lưu trữ phim tư liệu lịch sử. Chính hắn là kẻ đầu tiên đã tung các sách báo cộng sản vào đống lửa và có lẽ ngọn lửa đó đã trở thành đám cháy căm hờn đang bùng lên trên khắp nước Đức trong những ngày kết thúc cuộc chiến tranh này. Viên "chính ủy" của đế chế Đức và là linh hồn của Béc-lin cố thủ, hắn đã xua bao nhiêu đồng bào của hắn vào cõi chết, thúc giục họ chiến đấu mù quáng đến hơi thở cuối cùng: "Quân đội của tướng Ven-cơ sẽ đến giải vây cho Béc-lin". Hắn đã hạ lệnh treo cổ bất cứ binh lính hay sĩ quan nào rút lui. Chính Gơ-ben đã hạ lệnh là phải đốt hắn thành than sau khi tự sát. Nhưng quân ta đã ập vào dinh quốc trưởng quá nhanh. Gơ-ben, mình mặc áo vét cháy sém nằm bên cạnh vợ là Mác-đa, trên túi ngực áo của hắn còn nguyên vẹn chiếc huy hiệu vàng đảng viên quốc xã cao cấp và trong túi có chiếc hộp thuốc lá vàng in nổi hình Hít-le. Trước khi chết, Gơ-ben đã hạ lệnh giết tất cả các con của hắn. Vụ giết người dã man này được giấu kín. Thuốc độc và lửa đó là những phương tiện đã được thư thách hiệu nghiệm tại các trại tập trung... Biên bản ghi: "Ngày 2 tháng 5 năm 1945, tại trung tâm thành phố Béc-lin, hồi 17.00 giờ, các sĩ quan quân đội Liên Xô gồm trung tá Cli-men-cô, các thiếu tá Bư-xtơ-rốp và Kha-din với sự chứng kiến của những người dân Béc-lin là Lan-gơ Vin-hem, đầu bếp văn phòng quốc trưởng và Snây-de Các-lơ, nhân viên kỹ thuật đoàn xe thuộc văn phòng quốc trưởng đã phát hiện ở gần cửa vào tòa nhà khu hầm trú ẩn có hai xác người một đàn ông và một đàn bà bị thiêu cháy sém. Xác người đàn ông thấp, chân phải thọt trong trạng thái bị đốt cháy, ngực đeo chữ thập sắt bằng kim loại bị cháy sém, phần quần áo bị đốt cháy còn lại là bộ đồng phục của đàmg viên quốc xã, còn nguyên chiếc huv hiệu đảng viên bằng vàng bị cháy đen...". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tám, 2017, 10:08:10 pm Khẩu súng ngắn kiểu "Yan-te" tìm thấy gần hai xác chết còn nguyên đạn, chưa được sử đụng. Trung tá Gi-men-cô lúc ấy còn trẻ, mới ba mươi mốt tuổi, là sĩ quan chuyên nghiệp. Còn thiếu tá Kha-din thì tôi chưa được quen biết. Thiếu tá Bư-xtơ-rốp, nguyên là phó tiến sĩ sinh vật học, trước đây ở Xi-bia, chiến tranh đã đưa anh vào quân đội. Những năm chiến tranh dai dẳng vừa qua, chúng tôi đã đi trên những vùng đất bị cày xới của các tỉnh Ca-li-nin, Xmô-len-xcơ, Bê-lô-ru-xi-a và Ba Lan. Chúng tôi đã tận mắt thấy những lời tuyên truyền của Gơ-ben được biến thành thực tế: những vùng đất hoang vắng xa lạ, những trại tập trung giết người, tiếng gào khóc đau xót của những con người bị đày đọa, thấy rõ "nền văn minh mới" khi con người với con người đã trở thành đao phủ. Con đường chiến tranh này giờ đây đã dẫn chúng tôi tới thẳng hành dinh của tên quốc trưởng. Ngày nay, mặc dù nhiều năm đã trôi qua, nhiều người vẫn hỏi tôi: Khi nhìn thấy những xác chết này chị có sợ, có thấy khủng khiếp lắm không ? Nhưng lúc ấy tôi chỉ có cảm giác ghê tởm, người tôi hơi run run nhưng không thấy sợ. Không phải vì chúng tôi đã chứng kiến nhiều điều đáng sợ qua bốn năm chiến tranh mà có lẽ là vì, những cái xác này không còn là xác người nữa mà là những cái xác của quỷ sứ. Nhưng khi nhìn xác những đứa bé đã chết thì thật đáng sợ. Sáu đứa bé gồm năm gái, một trai, những đứa con đã bị chính bố mẹ chúng giết chết. - Đây là con ai? - Bư-xtơ-rốp hỏi viên phó đô đốc Phốc. Anh vừa dẫn ông ta tới hầm trú ần này. Phốc có nhiệmvụ tới đây gặp tên đô đốc hải quân Bê-nít đề truyền đạt mệnh lệnh của Hít-le là: phải tiếp tục chiến tranh đến cùng, dù trong bất cứ tình huống nào. Không có chuyện đầu hàng gì cả! Cùng với các nhóm tàn quân của Môn-ke bảo vệ dinh quốc trưởng, Phốc âm mưu vượt vòng vây ở đại lộ Phi- dơ-rít nhưng tại đây ông ta bị bắt làm tù binh. Bư-xtơ-rốp đưa ngài Phốc phó đô đốc đại diện lực lượng hải quân của đế chế trong đại bản doanh Hít-le đi qua các đường phố của Béc-lin đã la liệt cờ trắng. Hàng đoàn tù binh khác lũ lượt, ủ rũ lê bước ngược lại phía hai người. Phốc dán mắt nhìn qua kính xe ô tô. Những đống đồ nát hoang tàn, hắn thấy kinh hoàng. Từng tốp dân Béc-lin đang xúm quanh các xe nhà bếp cạnh người lính cấp dưỡng Nga để nhận cháo nóng. Những dãy chướng ngại vật ngả nghiêng, xe phải lách qua mới đi được, nó như phải bò theo những ngôi nhà đổ nát, nhưng quãng phố hẹp đầy gạch ngói, rác rưởi... - Ông biết những đứa trẻ này ? - Thiếu tá Bư-xtơ-rốp hỏi lại. Phốc gật đầu khẳng định, và sau khi được phép, ông ta nặng nề buông mình xuống chiếc ghế tựa. - Hôm qua tôi còn trông thấy chúng. Đây là bé Gai- đi, - ông ta chỉ vào xác đứa con gái bé nhất của Gơ-ben. Trước khi vào phòng này, ông ta cũng đã nhận ra xác Gơ-ben và vợ hẳn ta. Mùa hè năm 1942, Gơ-ben đã cùng một đám phóng viên lên thăm chiếc tuần dương hạm hạng nặng "Hoàng tưe Ôi-ghen" do Phốc chĩ huy. Ông ta biết ơn Gơ-ben về sự cất nhắc này. Mới gần đây thôi, dạo tháng hai vừa qua, khi đại bản doanh chuyền về Béc-lin, vợ chồng Gơ-ben và Phốc đã được đô đốc Đê-nít mời đến ăn cơm tối tại nhà riêng. Họ nói nhiều chuyện khác nhau nhưng nhiều, nhất vẫn là vấn đề tổ chức phong thủ Béc-lin. "Chúng tôi đã nói chuyện với nhau về việc phải tổ chức xây dựng những tuyến phòng thủ mạnh trên đưìrng phố Béc-lin và phải huy động thật nhiều thanh niên xung kích quốc xã tham gia nhưng rồi việc nấy cũng chỉ được bàn bạc qua loa rồi bỏ lửng. Những ý nghĩ lo ngại lúc ấy cũng không làm cho bữa ăn của chứng tôi mất vui". Khi đi lần theo các sự kiện dưới hầm ngầm, họ đã gặp những người quen cũ. Mới chiều hôm qua, khi từ biẹt Gơ-bfn và rời khỏi đây để đến lữ đoàn Môn-ke, ông ta còn nghe hắn "dối dăng", "Đối với chúng ta, bây giờ mọi việc đều thất bại cả rồi". Vợ Gơ-ben còn nói thêm: "Chúng tôi vướng lũ con quá. Có chúng, chứng tôi không thể đi đâu được". Thiếu tá Bư-xtor-rốp và ngài phó đồ đốc ngồi đối diện nhau dưới căn hầm ầm thấp và kinh tởm vì dưới tấm chăn bên cạnh họ là sáu cái xác của nhưng đứa trẻ vô tội. Phốc có vẻ mệt mỏi, kinh hoàng ngồi cúi gục đầu. Cả hai đều im lặng. Mỗi người theo đuối ý nghĩ rĩêng của mình. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tám, 2017, 10:10:33 pm Ngay ngày hôm ấy thiếu tá Bư-xtư-rốp kề cho tôi nghe sự việc diễn ra sau đấy, khi trong phòng chỉ còn hai người thù địch. Hoàn toàn như con người mất trí, Phốc bỗng bật dậy khỏi chỗ ngồi và lao sâu vào trong đường hầm. Bư-xtư-rốp vội đuổi theo quanh co trong dãy hành lang tối mịt mù. Kia rồi, ông ta đang trốn vào một ngách cụt, và có lẽ định chui vào căn hầm bí mật nào đấy. Nhưng rồi ồng ta bị đuổi kịp và anh hiểu rằng ông ta bị một cơn "sốc", đang hoang mang, ông ta chỉ chạy thục mạng, vô mục đích, vô hy vọng. Thượng úy I-lin đã phát hiện ra lũ trẻ trong một căn phòng dưới hầm hôm mồng 3 tháng 5. Chúng nằm trên chiếc giường đôi, mình mặc váy áo ngủ hoặc bộ pi-gia-ma bằng vải màu sáng, ngủ giấc ngủ cuối cùng của đời chúng. Trên mặt lũ trẻ lấm tấm những mụn đen do thuốc độc tạo nên và trông chúng như đang nằm ngủ bình thường. Về sau, tôi được đọc những dòng chữ do I-lin viết riêng cho tôi: Cám ơn chị, tôi vẫn là thượng úy I-lin mà chị đã không quên... Chúng tôi, tôi cùng hai anh lính Sa-ra- bu-rốp, Pan-kin và một người nữa mà tôi quên tên đều là nhưng người Do Thái, mà chị đã điều động tới để làm phiên dịch trong trường hợp cần thiết. Đứng lúc tôi bước vào căn hầm ấy, chúng đã bắn lén tôi, tôi liền bắn lại, nhưng may thay, chúng tôi vẫn sống. Khau "Van-te" cỡ đạn 6,35 mi li mét đã nạp đầy đạn với băng dư trữ tôi đã thu được trong bàn làm việc của Gơ-ben. Trong phòng còn hai chiếc va-li căng phồng cùng một số tài liệu, hai bộ quần áo và chiếc đồng hồ. Chiếc đồng hồ của Gơ-ben tôi đang giữ, người ta đã tặng tôi làm kỷ niệm và tôi sẽ giữ chúng như một kỷ niệm quý giá của cuộc chiến đấu cuối cùng. Ngày 3 tháng 5, có được ít phút rỗi rãi, chúng tôi rủ nhau đi xem xét các căn phòng, sục vào các kho chứa lương thực. Những căn phòng trong hầm này giờ đây đã trở thành di tích lịch sử bị lãng quên. Đấy là tất cả những gì mà tôi muốn viết cho chị. ... Còn trong căn phòng mà tôi đã phát hiện ra bọn trẻ bị đầu độc bấy giờ chẳng còn gì ngoài chăn và khăn trải giường. Tôi hỏi qua người phiên dịch là, tại sao họ lại giết chết những đứa bé kia bằng thuốc độc. Chúng có lỗi gì đâu? . Tại viện quân y của văn phòng quốc trưởng, chúng tôi tìm được bác sĩ Hen-mút Cun-xơ, người đã trực tiếp tham gia vào vụ đầu độc ở Béc-lin, và ngày 23 tháng 4 khi phòng y tế bị giải tán, ông ta được điều về dinh quốc trưởng. Đó là một con người râu ria lởm chởm, mặt sưng húp, mặc bộ quân phục ss, nói ngắt quãng, thở nặng nề, ông ta luôn bóp bóp ngón tay kêu răng rắc. Quả thật ông ta là người duy nhất ở đây, dưới hầm trú ẩn này còn giữ nguyên được nhưng ấn tượng, những xúc động mạnh mẽ đối với tất cả những gì ông ta được chứng kiến. Ông ta kể lại: "Ngày 27 tháng 4, khoảng tám, chín giờ gì đó, trước bữa ăn tôi, tôi gặp bà Gơ-ben ở lối vào hầm Hít-le. Bà ta nói muốn nhờ tôi một việc hết sức quan trọng. Và đề lộ luôn: hiện nay trong tình hình nguy cấp này, bà ta muốn tôi giúp bà ấy một tay đầu độc lũ con. Tôi đồng ý". Ngày 1 tháng 5 Hen-mút Cun-xơ được gọi tới viện quân y cách "hầm quốc trưởng" 500 mét. "Khi vào hầm, tôi đã thấy trong này có Gơ-ben, vợ ông ta và quốc vụ khanh Bộ tuyên truyền Nau-man đang thảo luận với nhau chuyện gì đó. . Tôi chờ ở cửa phòng khoảng mười phút. Khi Gơ-ben và Nau-man đi ra, bà vợ ông ta liền mời tôi vào phòng và tuyên bố ngay rằng, vấn đề đã được quyết định (tức là việc đầu độc mấy đứa con bà ta) bởi vì, quốc trưởng đã chết và khoảng 8, 9 giờ tối nay, các đơn vị còn lại sẽ đột phá vượt vòng vây ra ngoài, do đó chúng tôi cần phải chết trước. Không có con đường nào khác. Lúc ăn cơm tối tôi đề nghị với bà vợ Gơ-ben cho bọn trẻ tới viện quân y bằng xe hồng thập tự nhưng bà ta không đồng ý và nói thẳng ra rằng, tốt nhất là để chúng chết ngay trong phòng ngủ của chúng cạnh phòng bà ta. Khoảng 20 phút sau, khi chúng tôi đang nói chuyện với nhau thì Gơ-ben trở lại, ông ta chỉ nói với tôi ngắn gọn: "Ngài bác sĩ, tôi hết sức cám ơn ông, nếu ông giúp vợ tôi giết mấy đứa bé nhà tôi". Tôi lại đề nghi với Gơ-ben cũng như với VỢ ông ta lúc nãy, là hãy đưa chúng đến viện quân y bằng xe hồng thập tự và chúng tôi sẽ lo liệu, thế nhưng ông ta liền bác bỏ ngay, "Không thể như vậy được, vì dầu sao chúng vẫn là con của nhà Gơ-ben rồi". Nói vậy rồi Gơ-ben bỏ đi, còn tôi phải ở lại cùng vợ ông ta, ngồi chơi bói bài với bà ta khoảng gần một giờ. Hơn một giờ sau Gơ-ben lại trở vào phòng cùng phó chỉ huy tuyên truyền ở khu vực Béc-lin Sác, qua câu chuyện giữa hai người tôi được biết là Sác sẽ cùng các đơn vị vượt vây thoát ra khỏi Béc-lin nên ông ta tới đây đề từ biệt hai vợ chồng Gơ-ben... Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tám, 2017, 08:57:49 pm Sác đi khỏi vợ Gơ-ben liền nói: "Người của chúng ta đã ra đi hết, bọn Nga có thề ập vào đây bất cứ lúc nào và sẽ phá rối chúng ta, vì vậy tôi đề nghị ông hãy khẩn trương thực hiện hộ vấn đề đã được quyết định (mụ ta không nói là giết con, mà nói là vấn đề đã quyết định)... Gơ-ben vào phòng làm việc và lát sau cùng với vợ đi vào phòng ngủ của họ (cũng ở trong khu hầm ngầm). Vào đấy, vợ Gơ-ben mở tủ lấy một ống tiêm lớn chứa đầy moóc-phin và trao cho tôi. Sau đấy chúng tôi đi đến phòng ngủ bọn trẻ đúng vào lúc, chúng tuy đã nằm trên giường nhưng chưa ngủ mà còn đùa vui với nhau. Vợ Gơ-ben thản nhiên nói với lũ con: "Nào các con, hãy cho bác sĩ chích tay phòng bệnh mà hiện nay có lệnh phải tiêm phòng cho tất cả trẻ em và binh lính ở Béc-lin. Không đau đâu đừng sợ". Nói vậy, rồi bà ta bỏ ra khỏi phòng, chỉ còn lại mình tôi và tôi đã lần lượt chích moóc- phin vào tay từng đứa một... Sau đấy tôi ra và báo tin cho ngài Gơ-ben biết là phải đợi độ nrười phút cho bọn trẻ lịm đi đồng thời tôi cũng vô tình giơ tay xem đồng hồ đã 20 giờ 40 phút. Hen-mút Cun-xơ nói vói bà ta rằng, ông ta không đủ can đảm để giúp bà ta cho bọn trẻ đang ngủ say kia uống thuốc độc nên bà ta liền nhờ ông ta đi tìm bác sĩ Stuin- phéc-ghe, bác sĩ riêng của Hít-le. Sau đó bà ta cùng với Stum-phéc-ghe cạy mồm mấy đứa trẻ dang ngủ say cho ống thuốc độc vào dưới hàm răng chúng và bóp mạnh hàm lại cho ống thuốc vỡ ra. Xong đâu đấy Stum-phéc-ghe bỏ đi, còn Curi-xơ và vợ Gơ-ben đến phòng làm việc của Gơ-ben. Hắn ta đang đi đi lại lại quanh phòng trong tâm trạng gần như phát điên "Đối với bọn trẻ, mọi việc đã xong, bây giờ phải nghĩ đến chúng mình". Vợ Gơ-ben nói với lão chồng. Hắn ta liền nói: "Nhanh nhanh lên, chúng ta còn rất ít thời gian. Moóc-phin và ống tiêm, theo như lời vợ Gơ-ben nói vói Cun-xơ là do bác sĩ ss Stum-phéc-ghe trao cho bà ta. Còn các ống thuốc độc do đâu mà có thì Cun-xơ không biết. Có thể là do Hít-le trực tiếp trao cho vì từ cuối tháng tư Hít-le đã chỉ thị trao thuốc độc cho tất cả mọi người thân cận với y. Điều này mãi sau này chúng tôi mới được biết. Cun-xơ trở về viện quân y với tâm trạng đau khổ, giày vò, sau này giám đốc viện quân y Kha-dơ đã kể lại với chúng tôi: ông ta bước vào buồng riêng, ngồi phịch xuống giường, hai tay ôm chặt lấy đầu. Khi tôi hỏi: "Gơ- ben và gia đình lão ta chết rồi chứ ?". ông ta chỉ nói trống không: "Vâng". Tôi hỏi "Có một mình ông làm à", Cun- xơ tra lời: "Chính lão Stum-phéc-ghe giúp tôi". Tôi không hỏi thêm được điều gì ở ông ta nữa. Khi người ta hỏi Kha-dơ là ông ta có biết Gơ-ben và vợ tự sát thế nào không, ông ta đáp: "Theo lời bác sĩ riêng của Hít-le, Stum-phéc-ghe và bác sĩ Cun-xơ tôi được biết rằng, tối 1 tháng 5 hắn và vợ đã tự sát sau khi đã đầu dộc các con, hình như bằng thuốc độc liều mạnh, còn là loại thuốc gì thì tôi không biết. Phó đô đốc Phốc, bác sĩ Cun-xơ, đầu bếp Lan-gơ, kỹ thuật viên đoàn xe Snây-đe, đội trưởng bảo vệ Gơ-ben Éc-côn-dơ, kỹ sư Xim, trưởng phòng quản trị kỹ thuật và nhiều người khác đã nhận ngay xác Gơ-ben và vợ hẳn. Mặc dầu hắn đã bị thiêu cháy đen nhưng mỗi người trong số kể trên đều nhận được ngay và thậm chí có người đi từ xa cũng nhận rõ được xác hắn. Thậm chí người tà còn nhận ra hắn qua ảnh chụp xác cháy đăng trên báo chí chúng ta. Hắn có ngoại hình đặc biệt. So với thân mình thì đầu hắn quá to và một bên bị bẹp, trán dô còn mặt thì dẹt choắt đến tận cằm. Chân trái bị thọt và ngắn hơn chân phải do đó phải lót thêm bàn đệm bên trong. Chân trái của hắn lúc này chưa bi cháy hết nên vẫn lộ rõ đế giày cao hơn đế thường. Biên bản khám nghiệm tử thi viết: trên xác tử thi bị đốt không phát hiện rõ những dấu hiệu bệnh tật hoặc thương tích khác. Khi mở xác tử thi mới xác định được có mùi hạnh đào chua chua và trong miệng tử thi còn vướng lại những mảnh thủy tinh của một ống thuốc. Khi nhận được kết quả xét nghiệm người ta mới đưa ra kết luận cuối cùng là: "Bằng phương pháp hóa nghiệm nội tạng và phân tích máu đã xác định có hợp chất xi-a- nuya. Như vậy có thề kết luận nạn nhân chết là do uống hợp chất xi-a-nuya " Đối với Mác-đa Gơ-ben cũng cho kết luận tương tự như vậy về nguyên nhàn cái chết của mụ ta. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tám, 2017, 10:52:49 pm KHÔNG CÓ GÌ RÕ RÀNG CẢ Sáng sớm 4 tháng 5. Trên quảng trường A-lếc-xan-đơ sương mu bao phủ dày đặc. Trời mát lạnh. Giữa quảng trường là một "trại, lính" lốc nhốc đám tàn quân của lực lượng bảo vệ Béc-lin. Chứng nằm la liệt trùm kín trong những chiếc chăn lính. Có những đứa đã tỉnh ngủ, đang ngồi trong chăn, thò dầu ra ngoài. Các cô y tá trong những chiếc áo vét màu sẫm và khăn trùm đầu trắng đang đi kiểm tra lại bọn lính bị thương. * * * Trên đại lộ "Un-tée-đen Lin-đơn" nơi duyệt binh của quân Đức cũng la liệt bọn tù binh Đức nằm ngủ co quắp. Dọc hai bên đại lộ là những đống đổ nát, hoang tàn. Những mảng tường loang lổ. Hai người đàn bà đang lặng lẽ và nặng nề đẩy chiếc xe ba gác, có lẽ họ là những "người chạy loạn", nay quyết định trở về Béc-lin. Trên đường phố im ẳng đồ nát hình như cứ đọng mãi tiếng bánh xe vang trong những đống gạch vụn chồng chất. Chúng tôi trở lại văn phòng quốc trưởng. Ai là người cuối cùng thấy Hít-le? Nói chung, ai là người đã được trông thấy Hít-le còn sống trong hầm ngầm này ? Ai biết chắc về số phận hắn ? Các Phri-đrit Vin-hem Snây-de kỹ thuật viên đoàn xe khai: "Nói chung việc Hít-le có còn ở trong hầm cho đến ngày 1 tháng 5 hay không thì tôi không được rõ. Bản thân tôi không trông thấy ông ta từ hôm ấy". Nhưng cũng vào hôm 1 tháng 5, trong ga-ra dưới hầm anh ta lại nghe tin đồn Hít-le đã tự sát. Tin này do En-rích Kem-pe lái xe riêng của Hít-le và cả viên chỉ huy đoàn xe nói ra. "Tin này được loan đi từ người này sang người khác, hầu như mọi người đều nói, nhưng không ai được biết chính xác cả". Hồi chiều nguồn tin này với mệnh lệnh do viên bí thư Hít-le truyền cho gã về việc lấy xăng vào "hầm quốc trưởng", gã cũng đoán được rằng, người ta hạ lệnh lấy xăng để làm gì. Về giả thiết này anh ta cũng đã khai ra với chúng tôi. Một gã khoảng năm mươi tuồi xuất hiện và tự xưng danh một cách trịnh trọng là Vin-hem Lan-gơ đầu bếp chuyên làm bánh ngọt cho quốc trưởng đã khai như sau: "Lần cuối cùng tôi trông thấy Hít-le là vào những ngày, đầu tháng 4 năm 1915 khi ông đi dạo trong vườn với con béc-giê Blôn-đi nòi Hức. -Ổng có tin tức gì về Hít-le. - Không có gì rõ ràng cả. Chiều hôm 30 thảng 4, viên trung úy Toóc-nốp, nhân viên nuôi chó của Hít-le đến bếp lấy thức ăn cho đàn chó con. Anh ta có vẻ rất sửng sốt và nói với tôi: "Quốc trưởng chết rồi và xác cũng không còn nữa". Trong số nhân viên ở văn phòng quốc trưởng cũng bắt đầu lan truyền tin đồn Hít-le có lẽ đã tự sát bằng thuốc độc hoặc bằng súng xác ông ta đã bị đốt. Tin này có xác thực hay không, tôi cũng không đoán chắc. Quản tri trưởng kỹ thuật văn phòng quốc trưởng, Vinhem Bin-nơ khai: "Lần cuối cùng tôi trông thấy quốc trưởng là vào lúc 12 giờ trưa ngày 29 tháng 4. Tôi được gọi vào hầm quốc trưởng đề chữa quạt máy. Tôi ngồi làm và qua cánh cửa hé mở nhìn thấy ông ta đang ngồi trong phòng làm việc". Hồi sáu giờ ngày 30 tháng 4, Véc-ni-ca thợ đường ống và Ghi-un-néc, thợ điện từ hầm quốc trưởng đi về, đã kể lại rằng, họ nghe đồn hình như Hít-le đã chết. Họ không cho biết thêm được chi tiết gì khác. Phó đô đốc Han-xư Hen-rích Phốc là người đã tham dự nhiều cuộc họp ngay tại hầm ngầm của Hít-le cũng nói rằng ông ta được Gơ-ben thông báo cho biết về cái chết của Hít-le. Và đấy là tất cả những gì chúng tôi được biết vào sáng ngày 4 tháng 5. "Không có gì rõ ràng cả", đầu bếp Lan-gor đã nói như vậy. Nhưng từ trong vô số những nguồn tin khác nhau đầy mâu thuẫn và thậm chí có vẻ giật gân nữa, chúng tôi cũng phải cố sàng lọc, phân tích những tin có thể tin cậy được. Thật chẳng thiếu gì những tin tức, lời đồn đại như vậy ! Nào là Hít-le đã cùng nữ phi công nổi tiếng Han-na Rây- trơ chuồn khỏi Béc-lin ba ngày trước khi thất thủ, còn chuyện ông ta chết là người ta bia đặt vậy thôi. Những tin trên đài phát thanh là tin giả để đánh lừa dư luận; Nào là hắn ta đã theo đường hầm bí mật rút ra khỏi Béc-lin và giờ đây đang ở trong một pháo đài "kiên cố bất khả xâm phạm" ở tận miền nam tỉnh Ty-rom (thuộc Áo). Những con người đưa ra những tin tức có vẻ thực này, quả là những người đang hết sức thất vọng, đang hốt hoảng, kinh hoàng trước những thử thách mà họ phải chịu đựng rùng rợn đến nỗi khi nói lại, họ đã nhầm lẫn cả ngày tháng lẫn sự kiện mặc dầu những điều họ nói mới xảy ra hôm kia hoặc ba bốn hôm trước là cùng. Đây đó lúc nào cũng sôi lên những tin tức, những giả thiết mâu thuẫn lẫn nhau. Lại xuất hiện những tin đồn về "những người giống nhau". Để làm sáng tỏ những tin tức và giả thiết này cần phải có thời gian và cuộc điều tra nhiều người tham gia hơn được tiến hành rất khẩn trương. Rất dễ bị lầm lẫn, sa vào mớ bòng bong lạc hướng theo những dấu vết không chính xác và để tìm ra những kết luận sai cũng như bỏ qua những điều may mắn. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tám, 2017, 10:32:20 am Ngày 3 tháng 5 một nhóm tướng lĩnh Bộ tham mưu mặt trận đã đến văn phòng quốc trưởng. Khi đi qua một hố bê tông mà bọn Bức đã vất đầy xác những nạn nhân trong các cuộc ném bom và bắn phá, một vị tướng đã chỉ tay vào một cái xác và nói: "Hắn đấy!" Xác chết mặc áo cổ đứng, cũng có bộ ria mép hao hao giống Hít-le. Xác được đưa lên khỏi hố và mặc dầu ngay lúc ấy người ta đã khẳng định ngay: không phải Hít-le, nhưng dầu sao chúng tôi vẫn cứ phải xem xét, điều tra. Những nhân chứng cũng nhận định ngay: "Không phải hắn!" Thế nhưng cái xác của người đàn ông mặc áo cồ đứng, đề ria mép kiều Hít-le và mang bít tất tay ấy vẫn cứ phải để nằm trong phòng khánh tiết ở văn phòng quốc trưởng cho đến khi chuyên viên nhận dạng của chúng ta - nguyên tham tán đại sứ quán Liên Xô tại Béc-lin người đã nhiều lần gặp Hít-le khi còn sống, từ Mát-xcơ-va bay tới xác nhận không phải hắn. Nhưng con người xấu số vô danh ẩy cũng đã làm phát sinh trong giới báo chí câu chuyện hoang đường về "những người giống nhau" mà thỉnh thoảng, dù muốn hay không người ta vẫn cố lưu truyền dai dẳng cho đến tận ngày nay. Người ta viết khá nhiều về "con người giống nhau"- này. Thậm chí người ta còn quay phim và cố tình gán ghép đây là Hít-le. Và mới gần đầy thôi đã xảy ra chuyện nực cười khi người ta lôi từ trong kho lưu trữ phim ra những hình ảnh "Hít-le" với dòng chú thích của một anh chàng quay phim hiếu danh và cứ phớt lờ đi dựng thành phim. Câu chuyện giật gân này đã làm chấn động báo chí nước ngoài. Những ngày đầu tháng năm 1945 ấý ở Béc-lin, trong các điều kiện hết sức phức tạp như vậy chúng tôi đã phải thành lập một nhóm điều tra nhằm tập họp mọi cố gắng của cán bộ tình báo để phân tích, đánh giá, loại bỏ tất cả những giả thiết giả dối, hoang đường và đồng thời vạch ra phương pháp truy tìm mới. Chỉ huy nhóm này là đại tá Va-xi-li I-van-nô-vít Goóc-bu-sm. Chứng tôi lại lần tìm, khám xét từng thước vuông dưới căn hầm văn phòng quốc trưởng đã hoang vắng. Đâu đâu cũng thấy cảnh đổ vỡ. Những chiếc bàn nghiêng ngả, lộn xộn, những chiếc máy chữ bị phá hủy, sàn hầm dưới chân chúng tôi đầy những mảnh kính vỡ và giấy tờ vương vãi. Những căn hầm ngách, những căn phòng như có vẻ rộng thêm ra, các hành lang và lối đi như dài hơn. Đây đó những mảng tường bê tông bị nứt và trong các hành lang có cả những vũng nước đọng. Không khí ẩm ướt, nặng nề bao trùm toàn khu bầm, hệ thống quạt máy vẫn làm việc khi Hít-le còn ở đây giờ hầu như không còn hoạt động được nữa. Càng đi sâu càng khó thở hơn. Hầm mờ mờ tối... Khắp nơi sau những góc hầm và phòng ngách lúc thì có tiếng xào xạc, lúc thì im lặng như tờ và bất thình lình đôi lúc vang lên một tiếng đạn nổ của một tên sĩ quan nào đó đã hoàn toàn tuyệt vọng. Tiếng giày nghiến trên kỉnh vỡ, tiếng thở nặng nề là những tiếng động duy nhất của các chiến sĩ đi mò mẫm trong bóng tối lờ mờ dưới "dinh thự" cuối cùng của chính phủ quốc xã Đức. Thỉnh thoảng họ lại va phải những hòm rượu còn nguyên vẹn, hoặc gọi nhau soi đèn pin quan sát những mảng trang trí cầu kỳ dưới căn hầm của đế chế thứ ba. Thỉnh thoảng chúng tôi lại giật thót mình khi nghe tiếng lên đạn và tiếng hô của những chiến sĩ gác chi cách mình có vài ba bước: "Khan-đơ-khốc" - họ phải hô âm "kh" thay cho âm "h" của tiếng Đức1. Tình hình thật phức tạp và đầy mâu thuẫn. Bên trên, tức là trên đường phố Béc-lin chiến tranh đã kết thúc. Thế những ở đây, dưới căn hầm hoang vắng và lộn xộn này, chúng tôi đang phải mò mẫm đi tìm cho ra kẻ đã gây ra cuộc chiến tranh này. Những người được giao công việc đều làm hết sức mình, không cảm thấy mệt mỏi hay chán nản bởi vì mỗi người đều nhận thức được trách nhiệm to lớn của mình, trên vai họ là cả sức nặng của bốn năm chiến tranh. Trong hoàn cảnh phức tạp như vậy việc trước tiên là phải xác định được sơ đồ hầm ngầm, phát hiện ra những ngóc ngách ngầm, những phòng bí mật và kiểm tra thật kỹ càng từng mét vuông một. Cần phải sục sạo, tìm kiếm. Xác của tướng Crếp trong bộ quân phục màu xám với đôi quân hàm bị tuột đã được phát hiện ngay trong sân. Ông ta cũng tự sát bằng thuốc độc. Còn về cái chết của Hít-le thì chưa có gì rõ ràng cả. Nếu chỉ căn cứ vào những lời xác nhận của phó đô đốc Phốc là người đã khẳng định về cái chết của Hít-le qua lời thông báo của Gơ-ben, và nếu cứ bằng lòng với lời khai của Snêy-de kỹ thuật viên đoàn xe về lý do bắt hắn mang xẵng tới thì trong chuỗi tin tức này vẫn còn thiếu một mắt xích chính - đó là những người đã trực tiếp tham gia đốt xác Hít-le. Hoặc là chỉ cần người được mục kích thật sự có thể xác đinh nơi đốt xác và đốt thế nào, hoặc giả cùng lắm là người nào đó được nghe tả lại một cách tương đối chi tiết sự kiện này. --------------------- 1. Theo nguyên văn "Han-đơ Hốc". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tám, 2017, 09:29:13 am Tin đồn mỗi ngày một lan nhanh. Có người được nghe nói là xác Hít-le đã bị thiêu thành than và tro của hắn đã được tên Ac-xman, thủ lĩnh thanh niên quốc xã mang đi khi binh đoàn của tướng Môn-ke phá vây; và thú thật là trong nhưng ngày ấy chúng tôi cũng đã để mất dấu vết của tên này. " Cho rằng Hít-le đã bị thiêu ra tro phải chăng như vậy là đã tin vào lời tên Toóc-nốp lính nuôi chó, nói với tên đầu bếp Lan-gơ: "Quốc trưởng đã chết và không còn xác" hay sao ? Nếu đúng xác Hít-le không còn hoặc không thể tìm ra thì chúng tôi sẽ không bao giờ đưa ra được trước thế giới những chứng cứ không thể chối cãi về cái chết của hắn. Sự mất tích của Hít-le sẽ còn là một điều bí mật và, sẽ phát sinh ra bao nhiêu câu chuyện hoang đường khác. Và như thế chỉ làm cho những người sùng bái hắn vui thích mà thôi. Chúng tôi lại tổng hợp những tin tức nhận được, lại phải tìm kiếm những người có thể xác định tình hình chính xác hơn. Dân chúng, các chiến sĩ, sĩ quan và cả những người từ Mát-xcơ-va mới bay đến, các phóng viên đều kéo nhau đến đây và chúng tôi cứ phải cản họ lại. Họ sẽ đi xem các căn phòng trong dinh quốc trưởng, xuống các tầng hầm, bước vào những buồng riêng của Hít-le. Họ muốn mình sẽ là người được chứng kiến những sự kiện lịch sử. Mọi người đều muốn đến đây và họ cũng có quyền được làm việc đó. Nhưng bây giờ chưa phải là lúc đi tham quan như vậy. Công việc tìm kiếm vẫn phải tiếp tục dưới đất, trong các gian buồng và cả trong vườn hoa cũng như những đường phố tiếp giáp với dinh quốc trưởng. Ngày 2 tháng 5, báo "Pra-vđa" đăng tin : "Tối hôm qua, đài phát thanh Đức đã công bố thông báo của cái gọi là "Đại bản doanh quốc trưởng" nói rằng, Hít-le đã chết vào lúc xế chiều ngày 1 tháng 5. Bản thông báo nêu rõ, ngày 30 tháng 4 Hít-le đã chỉ định người thay thế mình là đô đốc Đê-nít... Những điều thông báo trên đây của đài phát thanh Đức rõ ràng là một thủ đoạn mới của bọn phát xít. Với việc xác nhận công khai về cái chết của Hít-le, bọn phát xít Đức hy vọng rằng, như vậy sẽ tạo cho Hít-le khả năng rút khỏi vũ đài và đi vào hoạt động bí mật". ... Sáng 4 tháng 5, tôi gặp gã thợ đốt lò một con người lặng lẽ, nhỏ nhắn nhưng hoàn toàn có vẻ lịch thiệp, một con người mà hầu như không ai ở trong văn phòng này chú ý tới cả. Ngay từ hôm trước gã đã khai là, khi đang ngồi thơ thằn một mình ở lối đi, gã thấy người ta khiêng từ trong phòng Hít-le ra xác hai người cuộn trong chiếc chăn len xám mà gã nhận rõ là xác quốc trưởng và E-va Brao-nơ- Bà ta mặc bộ quần áo đen. Gã chỉ ngồi nhìn chứ không hỏi thêm điều gì cả. Trong những giọng nói đồng thanh như vậy thì không thể không nghe được một giọng to nhất và có vẻ tin cậy nhất. Bản thân gã-thợ đốt lò là một con người thấp kém và khiêm nhường, thì gã cũng khó mà lường được quy mô của những sự kiện trên đây. Còn phó đô đốc Phốc là người thích hợp hơn với sự kiện này nhưng ông ta chưa phải là nhân chứng duy nhất chính xác. Gã thợ đốt lò có lẽ là người Đức đầu tiên cho tôi biết về "dám cưới" của Hít-le. Quả thật lúc ấy, trong cái thành phố Béc-lin đầy khói lửa chiến trận và những đám cháy lớn như vậy, khi nghe điều này tôi thậm chí cho rằng đây là một tin vô lý, hoang đường. Tôi liếc nhìn con người bé nhỏ, nhẫn nhục, xấu xí ngồi trước mặt tôi, gã đang ủ rũ ngồi đây và cố lục trong trí nhớ nghèo nàn của mình những hình ảnh rối rắm của những sự kiện chi vừa mới xảy ra cách đây ba bốn hôm thôi, thế nhưng đối vói gã thì việc đó như đã diễn ra từ thời xa xưa nào rồi. Trong đấu óc tôi cũng vậy, những sư kiện này không phải là sự biến đồi của ba bốn ngày đêm nữa mằ là sư thay đối của cả một thời đại. Tôi không còn nhớ ra tên họ của gã thợ đốt lò. Gã đột nhiên như một cái dấu trong cuốn sách lịch sử, tình cờ đặt vào cái trang cần thiết nhất. Nhưng những trang sách ấy có thể lúc rỗi rãi ta mới cần đọc to nó. Bác sĩ Cun-xơ hầu như phát điên và mất trí trước những điều lão phải chịu đựng. Lão ta rơi vào văn phòng quốc trưởng luc ấy thật là tình cờ và đã buộc phải tham gia vào vụ giết hại mấy đứa trẻ nhà Gơ-ben. Ngày đầu tiên tất cả những gì lão nói khi khai với chúng tôi cũng chỉ xoay quanh có cái chuyện thảm thương và tàn bạo này. Nhưng đến ngày 4 tháng 5, khi đã hơi hồi tâm và dần dần suy nghĩ lại, lão ta đã nhớ được những chi tiết cụ thể xảy ra trong những ngày trước đấy. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2017, 06:03:53 am Trong khi xác nhận chuyện làm lễ thành hôn giữa Hít-le với E-va Brao-nơ là có thật, lão đã nhớ lại được một nét mới, hôm ấy, Brao-nơ khi ngồi nói chuyện phiếm với giáo sư Hát-de, cục trưởng cục quân y trực thuộc văn phòng quốc trưởng với sự, có mặt của Cun-xơ, có kể bọn trẻ con nhà Gơ-ben vẫn quen gọi bà ta là: "Tan-tê Brao-nơ - cô Brao-nơ", thì bà ta đã chữa lại là "Tan-te Brao-nơ Hít-le -Cô Brao-nơ Hít-le"1. Sau đấy lão ta còn nhớ thêm được một chi tiết nữa, khi lão đang ngồi chơi bài trong phòng trà dưới hầm ngầm quốc trưởng cùng với Hát-de và hai nữ thư ký riêng của Hít-le là Giun-gơ và Khơ-rít-chi-an thì E-va đi vào và mời cả hội bài bốn người đó sang phòng bên uống cà phê. Brao-nơ vui miệng khoe rằng, quốc trưởng đã viết di chúc và di chức đó đang được chuyền ra ngoài Béc-lin, giờ đây quốc trưởng đang chờ sự công nhận chính thức chúc thư này và lúc đó ngài sẽ chết. Bà ta nói thêm: "Tất cả mọi người đều phản bội chúng tôi - cả Him-le lẫn Gơ-rinh*. Ba ta nói "Chết không phải là điều khó vì thuốc độc đã được thử nghiệm qua mấy con chó. Thuốc rất mạnh". Bác sĩ Curi-xơ khẳng đinh chắc chắn rằng, câu chuyện dưới phòng trà diễn ra đủng vào tối 30 tháng 4. Nếu hợp với các nguồn tin khác thì lúc đó Hít-le không còn sống nữa. - Tóm lại, mỗi bước đi của chúng tôi đều gặp phải những trở ngại và mâu thuẫn. Nhưng cũng không thể bỏ qua lời khẳng định có tính ngẫu nhiên của lão bác sĩ Cun-xơ. Lão ta nói rằng, vợ Gơ-ben khi nói cho lão biết về việc Hít-le tự sát cũng không thêm được điều gì có tính khẳng định ngoài cái câu chung là Hít-le đã tự sát. Có những tin đồn - Cun-xơ nói - xác Hít-le đã bị thiêu ở trong khu vườn dinh quốc trưởng. - Ông nghe tin này do ai thông báo? - Đại tá Goóc- bu-sin hỏi lại. - Tôi nghe chính ông Rát-ten-hu-be, tướng ss, chỉ huy đội bảo vệ Hít-le và cũng là người chịu trách nhiệm về việc bảo vệ trong văn phòng quốc trưởng. ông ta nói: "Quốc trưởng đã bỏ chúng ta và giờ đây chúng ta phải đưa xác ông lên mặt đất thôi". Vào ngày 4 tháng 5, chúng tôi đã có được những chứng cứ đáng tin cậy hơn đó là lời công nhận của chính viên tướng bảo vệ riêng của Hít-le qua lời khai của bác sĩ Cun-xơ. Một lần nữa lại phải quay về cái nơi của ngày đầu tiên, khu vườn trong dinh quốc trường sẽ là nơi tiến hành các cuộc truy tìm chính. ------------------ 1. Theo phong tục, châu Âu, người con gái khi lấy chồng đều đổi theo họ chồng, ở đây có nghĩa Brao-no đã là vợ chính thức của Hít-le - N.D. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2017, 06:05:44 am NHỮNG TÀI LIỆU BẮT ĐƯỢC TRONG "HẦM QUỐC TRƯỞNG" VÀ Ở KHU VỰC CHUNG QUANH Trong tay tôi ngồn ngộn bao tài liệu. Những báo cáo từ chiến trường. Những mệnh lệnh từ bộ chỉ huy lữ đoàn Môn-ke, đơn vị bảo vệ khu dinh quốc trưởng. Những điện báo khẩn, mật. Trong phòng làm việc của Gơ-ben ngoài hai va ly tài liệu và những cuốn nhật ký riêng của hắn, còn phát hiện thêm mấy kịch bản do các tác giả gửi đến hắn xin kiểm duyệt. Một "cuốn sổ" vàng khá dày - món quà của các chiến hữu đảng Quốc xã tặng nhân dịp hắn bốn mươi tuổi, trong đó ngoài các bức ảnh kỷ niệm trên từng trang còn ghi rõ bút tích của Gơ-ben. Làm việc trong hầm ngầm rất khó khăn, tôi đã phải làm việc liền mấy ngày trong một căn phòng thuộc văn phòng quốc trưởng để tập họp các tài liệu. Đây là phòng chờ của Hít-le khi ra phòng khách, hoặc còn là phòng gì nữa thì tôi không biết đích xác lắm. Tôi khó mà phân biệt dược sơ đồ toàn khu dinh quốc trưởng. Mọi thứ trong phòng đều bị đảo lộn tung lên. Có thể tại đây đã diễn ra trận đánh, cuối cùng của Hồng quân với bọn ss bảo vệ khu dinh quốc trưởng. Bàn ghế đồ ngả nghiêng, trần bi lở từng mảng, mảnh kính vỡ vương vãi khắp sàn phòng. Cho đến giờ tôi vẫn còn nhớ rõ cảnh tượng phòng khánh tiết trong dinh quốc trưởng với la liệt từng bó lớn tài liệu do các chiến sĩ tình báo của chúng ta mang tới đề nghiên cứu. Trong phòng Gơ-ben còn tìm thấy mấy bó tài liệu riêng của Mác-đa Gơ-ben cất kỹ trong va ly. Mụ ta đã mang xuống hăm ngầm những gì kể từ ngày 22 tháng 4 sau khi bọn chúng phải rời phố Géc-man Gơ-rin ? Té ra đây là bản thống kê những tài sản riêng trong ngôi nhà bị đốt cháy ở Lan-kê. Và cả những bản liệt kê tài sản trong khti nhà hắn xây hồi đầu chiến tranh ở Svan- nen-véc-de. Đây là nơi Gơ-ben huấn luyện và tung ra những đội tuyên truyền ma quái của hắn. Một khu nhà chật ních những bộ đồ gỗ, những khay bạc, những bộ đồ ăn mạ vàng. Bản thống kê ghi đủ tất cả những vật dụng nhỏ nhất như: từng chiếc gạt tàn thuốc lá, chiếc gối đi-văng trong vô số gian phòng, từng chiếc khăn tay của bác sĩ riêng của Gơ-ben. Và cứ như vậy từ phòng này sang phòng khác, từ ngồi nhà chính đến những căn phòng phụ. Phòng ngủ của hai vợ chồng, phòng làm việc, rồi lại phòng ngủ của lũ con, của các trợ lý, phòng khách, phòng tiếp phòng cách nhau bằng các lối đi riêng, cầu thang, hành lang, bậc thềm rồi lại phòng làm việc của bọn nhân viên phục vụ, phòng xem phim của gia đình. Bản liệt kê tủ quần áo riêng của Gơ-ben. Bản liệt kê tủ rượu với 87 chai vang khác nhau... Ở đây còn cả bản liệt kê những đồ gỗ quý giá mà Gơ-ben rất tự hào hết lời khoe trong nhật ký của hắn. Và những bản ghi các hàng hóa gửi bán ở các hiệu bách hóa khác nhau từ đầu năm 1939 - các hàng này đều mang tên Mác-đa Gơ-ben. Rồi bản liệt kê tủ quần áo riêng của bọn trẻ con Gơ-ben; Chúng ghi rõ từng cái áo, từng chiếc vảy,, áo măng-tô, mũ, giày, dép, quần áo trượt tuyết,.. Chúng còn ghi cả những bộ quần áo nào của đứa lớn đã chật chuyền lại cho đưa thứ hai và cứ lần lượt như vậy tới đứa thứ ba, thứ tư, v.v. Cả quăn áo đã loại và cả thứ dự trữ nữa. Trong đống giấy tờ đó còn lưu giữ cả bằng khen của quốc trưởng tặng nữ vận động viên Mác-đa - người tham gia thế vận Ô-lim-pích. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tám, 2017, 06:07:04 am Ở đây còn cả một tài liệu có đóng dấu của đảng Quốc xã Đức và chữ ký của tên bí thư đảng bộ Béc-lin gửi cho Mác-đa Gơ-ben. Tài liệu này là lời tiên đoán của một nhà tiên tri nổi tiếng ở Đức lúc bấy giờ. Bây là một đoạn trong đó: "...Ngay từ tháng tư (1942) ông ta đã đoán rằng, đầu tháng 6 này (1942) quân đồng minh sế đồ bộ vào bờ biển nước Pháp và các trận đánh sẽ diễn ra ác liệt nhưng căng thặng và ác liệt nhất là chiến cuộc vào tháng tám (1944). Ngay từ tháng bảy quân Đức sẽ sư dụng vũ khí phòng không mới có sức công phá kinh khủng đối với quân thù, đặc biệt là nước Anh (bom bay VI). Điều này dẫn tới cuộc khủng hoảng chính trị trong nội bộ nước Anh và sẽ kìm hãm cuộc tiến công tiếp tục của các nước đồng minh. Những trận đánh ác liệt với sư tham gia của các binh đoàn lớn hai bên sẽ đặc biệt rộ lên từ tháng tám đến tháng mười một 1944 và đến đầu tháng chạp quân đồng minh sẽ chịu thất bại nặng nề nhất trong suốt cuộc chiến tranh này. Đến tháng tư 1945 nước Đức chúng ta sẽ đủ khả năng tung toàn bộ lực lượng xung kích hùng mạnh sang mặt trận phía Đông và không quá mười lăm tháng sáu nước Nga sẽ bị nước Đức chinh phục hoàn toàn. Chủ nghĩa cộng sản sẽ bị thủ tiêu, bọn Do Thái sẽ bị đuổi khỏi nước Nga và nước Nga sẽ bị chia cắt ra thành nhiều tiểu quốc. Đến mùa hè năm 1946 các tàu ngầm Đức sẽ được trang bị vũ khí mới, rất mạnh và nhờ đó đến khoáng tháng tám 1946 các hạm đội Anh - Mỹ sẽ bị nhấn chìm xuống đáy biển...". Còn đây là một bút tích của Mác-đa ghi trong một tài liệu khác; "Ga-ran-đô bi bắt làm tù binh". Ga-ran-đô là con trai cả của người chồng trước của Mác-đa. Bốn năm trước Gơ-ben cũng đã ghi nhật ký "Mác-đa rất hạnh phúc vì Ga-ran-đô được tặng thưởng và từ nay có thể coi hắn là đứa trẻ đã trường thành" (14-7-1941). Trong tài liệu này ghi đầy đủ tất cả những gì liên quan tới đứa con riêng từ ngày bị bắt làm tù binh. Từ thứ nhất - trường hợp bị bắt làm tù binh. Đây là bản báo cáo của viên sĩ quan chi huy tường thuật cụ thể trường hợp này và gửi đích danh "bác sĩ Gơ-ben". Người ta trông thấy cậu con trai riêng của bà phu nhân bộ trưởng lần cuối cùng trong một trận đánh ở khu đông dâu cư một nước châu Phi. Sau đó là thơ của chính Ga-ran-đô viết từ trại tù binh Mỹ gửi cho mẹ. Hắn viết là hắn sống khá tốt. Có cả ảnh chụp hắn đang đứng trước một bồn hoa. Đó cũng là tấm bưu thiếp chúc mừng mẹ hắn nhân ngày "Những bà mẹ Đức". Trong các giấy tờ của Boóc-man chúng tôi chú ý tới một bức điện. Nó được cất trong tủ lưu trữ riêng và tôi đã có dịp đọc lại nó. Tôi nghĩ, mặc dầu thời gian đã qua đi nhưng có lẽ cho đến nay nó vẫn không kém phần thú vị. "22-4-1945. Gửi ngài Hô-men Ô-béc-dan-béc-gơ Tôi đồng ý với đề nghị vượt qua đại dương theo hướng năm. Boóc-man". Bức điện này có nghĩa gì vậy ? Có lẽ Boóc-man đang nói tới chỗ nương thân mới của hắn ở ngoài phạm vi nước Đức. Liệu hắn đã thoát được khỏi Béc-lin chứa? Còn Hít-le? Đã hình thành được một không khí nào đó, đã phác lên những hình ảnh nào đó nhưng những chứng cứ cụ thể, trực tiếp đến những gì đã xảy ra với Hít-le thì trong các tài liệu đều không một lời ghi chép. Nếu như lúc ấy trong tay tôi có được cuốn nhật ký cua Mác-tin Boóc-man như hiện giờ đang nằm trước mặt tôi thì có lẽ tôi đã không để sót những dòng chữ sau đây: "Chủ nhật 29-4. Chiến sự đã bước sang ngày thứ hai. Trong đêm 28 rạng 29 tháng 4, báo chí nước ngoài đã đưa tin về đề nghị đầu hàng của Him-le. Lễ thành hôn của A-đôn-phcr Hít-le và E-va Brao-nơ. Quốc trưởng đọc cho ghi di chúc riêng và di chúc chính trị của mình. Bọn phản bội I-dôn-đơ, Him-le và lũ tướng lĩnh hèn mạt đã để chúng tôi lại cho bọn Bôn-sê-vích! Lại những trận đánh ác liệt! Theo đài phát thanh của đối phương, quân Mỹ đã bắt đầu tiến công vào Muy-ních !". 30-4-45. "A-đôn-phơ Hít-le... E-va...!" Và bên cạnh cái tên của chúng là dấu thánh gíá vĩnh biệt của Boóc-mam Nếu như lúc ấy chúng tôi được đọc những dòng chữ này thì chúng tôi có thể đã xác định được một điều quan trọng nhất lúc bấy giờ là: Hít-le đã chết vào ngày 30 tháng 4. Nhưng cuốn nhạt ký này không rơi vào tay chúng tôi. Nó được các chiến sĩ tình báo của đơn vị tập đoàn quân bạn nhặt được trên một đường phố Béc-lin và không ai chuyển cho chúng tôi cả. Thật ra, những tình huống kỳ lạ khi nhặt được cuốn nhật ký này vào lúc ấy chưa chắc đã thực sự làm cho chúng tôi tin cậy vi có thể đây là những dòng chữ tung tin giả, đánh lừa buộc chúng tôi phải cảnh giác không tin ngay một cách mù quáng. Nhưng giờ đây thì nó là những dòng chữ thật sự do Boóc-man ghi lại trong nhật ký của hắn và hắn đã đánh rơi khi định rứt chạy cùng binh đoàn của tướng Môn-ke. Cuốn nhật ký đã ghi chép lại những sự kiện theo kiểu khác nhưng dầu sao cũng làm chúng tôi nhớ lại một cách khủng khiếp những cuốn nhật ký khác của bọn tướng lĩnh ngu ngốc của nước Đức vì cái giọng quái gở giống nhau của chúng. Sự giống nhau của chúng với nhật ký của Gơ-ben không phải đâu khác mà chính ở chỗ chung cùng một tư tưởng quái đản do Hít-le đẻ ra và chủ nghĩa phát xít Đức đã sùng bái nó. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tám, 2017, 09:03:05 am MỘT NGÀY DÀI Ngày 4 tháng 5 người ta đã tìm thấy hai xác chết một đàn ông và một đàn bà bị thiêu cháy trong khu vườn dinh quốc trưởng. Hôm ấy trời nắng và có gió. Một nhóm chiến sĩ gồm các đồng chí Tru-ca-rốp, Ô-lây-nít, Xê-rô-úc và các sĩ quan thượng úy Pa-na-xốp, trung tá Cli-men-cô đang đứng hóng gió gần cửa ra vào khu hầm ngầm của Hít-le. Gió lùa những mảnh thiếc bị nung trắng, những dây kim loại và cành cây lung lay trên thảm cỏ. Hai cái xác cháy đen trông thật dễ sự nằm im lìm trong 1 tấm chăn len xám, bám đầy đất ẩm. Đúng vào sáng hôm ấy chúng tôi lại quyết đinh đi thăm thành phố. Tôi cùng đi với mấy chiến sĩ và anh lái xe Xéc-gây. Chúng tôi dừng lại ở cổng chiến thắng Bran- đbua... Tại đây, các đơn vị quân đội Đức đã từng chinh phục Vác-sa-va, Bru-xen, Pa-ri trở về nện vang gót giày chiến thắng trên quảng trường và diễu qua cổng này. Ngay cạnh quảng trường ngập gạch ngói vỡ, mảng tường đổ, những thanh dầm sắt cong queo, vẫn còn những đám cháy âm ỉ từ tòa lâu đài quốc hội bốc lên. Trên nóc tròn chính của tòa lâu đài phất phơ ngọn cờ đỏ chiến thắng của Hồng quân Liên Xô. Đi vòng quanh những hố đạn lớn và những đống gạch vụn, chúng tôi đến trước tòa nhà này. Chúng tôi bước lên từng bậc thềm cao. Ngước mắt nhìn dãy cột đá vốn trắng phau giờ đây nhuộm mùi thuốc đạn đã trở nên đen xỉn đang kiên nhẫn chống đỡ lớp mái nặng nề, chứng tôi đưa mắt nhìn nhau trong lòng lẫn lộn nhiều cảm giác khó ta. Một chiến sĩ Hồng quân đang ngủ - ngồi dựa lưng vào chiếc cột, đầu quấn băng chiếc mũ mềm che mắt. Anh chiến sĩ cận vệ đề ria mép đi với tôi vẻ trầm ngâm cuốn điếu thuốc hút. Những khung cửa sổ lớn tầng dưới bọc gỗ bồ đề trắng chi chít đầy những chữ ký của những người đã đến trước chúng tôi. Xéogây rút mẩu bút chì và viết ngay dưới một chữ ký của người nào đó: "Giờ đây đang ở đâu, bạn thân nhất của tôi? Tôi đã vào Béc-lin, đang đi tìm Hít-le!" Tiếp theo là tôi, nhưng tôi xúc động quá chẳng biết viết gì, chỉ viết mấy chữ "Chào mừng các bạn đồng hương Mat-xcư-va và ký tên mình xuống đấy. Chúng tôi đi vào bên trong tòa nhà hòa vào dòng bộ đội đông đảo ở đấy. Họ đang đi nhặt những đống giấy tờ, chọn lọc và tìm những tờ mỏng đề "cuốn thuốc lá". Xem xét sư qua toàn khu lâu đài này, chúng tôi tiếp tục đi "dạo phố". Hầu như ngoài đường phố chưa co người dân nào. Trên các bức tường và những cột tròn còn dán nguyên vẹn lời kêu gọi của tư lệnh phưưng diện quân Bi-ê-lô-ru-xi-a thứ nhất gửi nhân dân Béc-lin và tỉnh Bran- đbua trong đó có câu: "... Hiện nay Đức không còn chính phủ nào tồn tại nữa..." Thỉnh thoảng đây đó chúng tôi gặp những tốp dân chúng đang đào bới các đống đo nát, chọn từng viên ngói, viên gạch còn nguyên xếp lại với nhau. Mấy chiến sĩ thông tin, cánh tay đeo băng đỏ đang dán những bản thông báo của Bộ tư lệnh ủy ban quân quản thành phố. Một nhóm đồng bộ đội đang dựng khán đài bằng gỗ chuẩn bị cho lễ mừng chiến thắng ở ngay giữa Béc-lin. Chính giữa lễ đài nổi bật một ngôi sao đỏ khá to, chung quanh kết cờ của các nước cộng hòa liên bang. Dòng xe vận tải nặng nề và chậm chạp lách qua những đống gạch vỡ. Các cô gái điều hành giao thông, tay đeo bẵng trắng được phát từ ngày đầu tiên công vào Béc-lin đang đứng trong các chòi cảnh sát cũ trên các ngả đường phố, liên tục điều khiển không mệt mỏi dòng xe cộ đi lại. Nhìn họ quả thật chứng tôi không giấu nổi xúc động. Tôi nhớ lại, chỉ vừa cách đây không lâu họ còn đang khoác áo ngụy trang đứng trên các nẻo đường ra mặt trận, điều khiển các đoàn xe tiến về hướng Tây. Họ điều khiền rất kiên quyết theo đúng điều lệnh. Có lái xe nào tỏ ra bướng bỉnh hay đùa cọt lập tức sẽ được hưởng một báng súng cảnh cáo nện vào cửa xe ngay. Một đơn vị bộ binh đi qua nện gót giày đinh lộp cộp một cách khoái trá và tự hào trên mặt đường, làm đoàn xe phải dừng lại nhường đường. Trên tay các chỉ huy đều thấy những lá cờ đỏ bọc trong bao cờ. Từng nhóm dân chúng Béc-lin đứng vây quanh các bản nhật lệnh của ủy ban quân quản thành phố và ghi chép cần thận những định suất thực phẩm sẽ được phân phối. Chúng tôi đi qua chiếc cầu bắc trên sông Sơ-pre, vòng qua chiếc xe tải đang đi ngược lên. Hai bên thành xe nổi bật dòng chữ mờ mờ trong bụi đất "bảo đảm xe chạy suốt chặng đường chiến tranh". Một phụ nữ ngồi trong ca bin xe, thò đầu ra ngoài vẫy tay cười với mọi người. Tôi vẫy lại. Cô giương to đôi mắt nhìn tôi, miệng cười như rộng hơn và hét gọi điều gì đó tựa như đã nhận ra tôi là người quen: với một giọng the thé đến chói tai:"A-lét ngoẻo rồi". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tám, 2017, 08:17:01 am VIỆC XẢY RA NHƯ THẾ NÀO Hôm 4 tháng 5 khi đi qua khu vườn trong dinh quốc trưởng, Tru-ca-rốp, chiến sĩ trinh sát trong đội của trung tá Cli-men-cô, bỗng đễ ý đến một hố bom .bên trái tôi vào cửa hầm của Hít-le. Điều làm cho anh chú ý đặc biệt là đất dưới chân anh xôm xốp và trong đống giấy tờ cùng như vỏ đạn vương vãi trong hố, còn có một cái gì như mảnh chăn xám lộ ra bên trên. Tru-ca-rốp nhảy vào hố bom, cúi xuống nhìn cho kỹ hơn và phát hiện ra ngay mình đang đứng trên hai cái xác một đàn ông và một đàn bà đã cháy thành than nằm dưới một lớp đất mỏng: Anh gọi thêm ba đồng chí khác giúp mình và bốn người đã khai quật hai cái xác đó lên. Hít-le và E-va Brao-nơ đã được phát hiện ra như vậy. Ngày hôm sau những người tìm ra xác hai vợ chồng Hít-le đã được ký vào biên bản sau đây: "Th/p Béc-lin. Bộ chỉ huy Tập đoàn quân. BIÊN BẢN Ngày 5 tháng 5 năm 1945. Chúng tôi, những người ký tên dưới đây gồm thượng úy Pa-na-xốp A-lếc-xây A-lếc-xan-đrô-vít và các chiến sĩ Tru-ca-rốp I-van Đmi-tơ-ri-ê-vít, Ô-lê-chíc Ép-ghê-nhí Xtê- pa-nô-vít và Xê-rô-úc, I-li-a E-pho-rê-mô-vít xác nhận rằng, hồi xế chiều ngày 4-5-1945 chung tôi đã phát hiện và tìm thấy hai xác người - một xác đàn bà, một xác đàn ông - đã bị thiêu cháy thành than ở hố bom gần cửa hầm ngầm riêng của Hít-le trong khu vực vườn hoa dinh quốc trưởng, gần nơi trước đây đã phát hiện ra xác của vợ chồng Gơ-ben Hai xác đã bị đốt cháy, và biến dạng nghiêm trọng đến mức không thể nhận rõ là xác người nào. Cả hai xác nằm bên nhau dưới hố bom cách lối vào hầm ngầm của Hít-le ba mét, và được phủ một lớp đất mỏng. Sau đấy chúng tôi đào rộng thêm ở hố bom và phát hiện được xác hai con chó nữa - một con lớn và một con bé". Một biên bản được lập tiếp: " ...Nhóm tìm kiếm chúng tôi phát hiện thêm hai con chó đã chết. Đặc điểm của chúng: 1. Con chó lớn nòi béc-giê, giống chó cái, lông màu xám, thẫm, thân cao, trên cỗ còn một vòng xích nhỏ. Không phát hiện thấy vết thương hay máu trên thân chó. 2. Con chó bé màu đen, không có vòng dây xích, chỗ xương hàm trên bi đánh vỡ và có máu ở đây. Hai xác chó này được phát hiện cũng trong hố bom, nằm cách nhau 1,5 mét và cùng phủ một lớp đất mỏng cách hai xác chết ba bước. Có cơ sở đề nhận đinh rằng, hai con chó này chết vì bị đầu độc cách đây khoảng 5 đến 6 ngày vì chưa có mùi hôi thối và lộng da chưa bị rụng. Nhằm mục đích tìm ra những chứng cớ xác định xem hai con chó này là của ai, và nguyên nhân cũng như chất độc đã dẫn đến cái chết của chúng, tổ tìm kiếm chúng tôi đã xem xét cẩn thận tỉ mỉ khu vực phát hiện ra chúng và tìm thấy: 1. Hai ống thuốc tiêm màu đen. 2. Mấy tờ giấy xé trong một cuốn sách in và một tờ giấy có chữ ký còn nguyên. 3. Một tấm thẻ đồng quàng vào dây da, dài khoảng 18-20 cm khắc dòng chữ: "Hay bảo vệ ta bên cạnh mày". 4. Sáu tờ giấy bạc loại 100 Mác. 5. Một chiếc thẻ đồng hình tròn, khắc con số 31907... Những người lập biên bản: Đại úy Bê-ri-a-bin, thượng úy cận vệ Pa-na-xốp, trung sĩ Xi-bô-kin, các binh nhì A-la-bu-din, Ki-ri-lốp, Cốc-sắc và Gu-li-ép". Hai con chó dễ dàng nhận được ra ngay. Con béc-giê lớn là "chó riêng của Hít-le" như trong một biên ban khác đã ghi là "thân cao, tai dài". Không nhận rõ được mặt của hai xác bị đốt cháy. Nhưng sau khi nghiên cứu và khám nghiệm kỹ thì cũng xác định được đó là Hít-le và E-va Brao-nơ. Trên hai xác dầu sao vẫn còn tìm thấy những đặc điểm để xác định. Chúng tôi lại phải đi sâu vào những chi tiết trong những ngày cuối cùng của Hít-le để xác lập lại những sự kiện nhằm xác đinh được dứt khoát hai cái xác bị đốt cháy đến biến dạng kia đúng là xác Hít-le và vợ hắn E-va Brao-nơ". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tám, 2017, 08:51:48 am KHÔNG PHẢI LÀ HUYỀN THỌẠI Phải nói rằng, lúc ấy chúng tôi cũng đã thu thập được nhiều tài liệu, sự kiện, đã tập hợp, đối chiếu và cảm thấy được không khí chính của những biến cố. Nhưng giờ đây, khi có thêm những tài liệu quý giá của Viện lưu trữ ghi rõ đầy đủ những tình tiết trong những ngày cuối cùng của đế chế thứ ba thì tôi lại có thêm khả năng để một lần nữa nhìn lại những sự kiện và hình dung chúng một cách rõ ràng hơn. NHỮNG DỰ BOÁN Đọc nhật kỷ của Boóc-man, phó chủ tịch đảng Quốc xã của Hít-le, chúng ta thấy rõ, ngoài việc ghi chép nhịp điệu làm việc hằng ngày của hắn như dự các cuộc họp với quốc trưởng, các buổi tiếp tân, việc cách chức hay đề bạt một nhân vật nào đó ra khỏi vị trí này hoặc vào vị trí kia, dự những bữa cơm tối với E-va, ký lệnh khen thưởng và giải quyết những việc riêng của gia đình hắn còn để lộ mối lo lắng ngày càng tăng về những cuộc tiến công của quân đội Xô-viết trên mặt trận phía Đông. Ngay từ tháng giêng 1945 những lo lắng này đã hẳn rõ trong nhật ký của hắn: "Bọn Bôn-sê-vích sáng nay đã mở cuộc tiến công lớn, nhưng trước hết vẫn phải cùng với vợ con đến Rây-hen- hát thăm khu trồng nấm của ông già Phân Mác-cơ". Ngày hôm sau: "Chủ nhật, 14-1. Thăm cô Héc-ken". "Thứ bảy, 20-1. Trưa nay được tin tình hình mặt trận phía Đông đã trở nên đáng lo ngại hơn. Quân ta phải rút khỏi tỉnh Vác-tê-gau (Ba Lan), các đơn vị xe tăng tiền tiêu của quân địch đang tiến về Ca-tô-vi-se,". "Thứ bảy, 3-2. Cả buổi sáng hôm nay bọn chúng đã đánh phá mạnh Béc-lin. Các cuộc ném bom của chúng đã gây ra thiệt hại đáng kề, dinh quốc trưởng mới, phòng ở riêng của Hít-le, phòng ăn, vườn mùa đông và trụ sở đảng bị hư hại khá nghiêm trọng. Chiến sự trên sông Ô-đe ngày càng dữ dội. Tầng tiền sảnh trụ sở đảng bị bom ném sập". "Không quân của chúng đã lần đến tận Đrét-xđen, tiến công vào Vây-ma và oanh tạc cả Béc-lin". Cuộc ném bom lần thứ hai vào trụ sơ đảng lần này lại mạnh hơn lần trước. Quân Nga đã chiếm Ki-u-de-lin và Sla-vơ - đây là những sư kiện củng cố thêm niềm tin chính trị của người Nga". Mỗi ngày qua đi cuốn nhật ký của hắn lại càng thêm những dòng đầy bi quan thất vọng: "Bị chọc khá sâu ở Pô-mê-ra-ní-a. Xe tăng của chúng đã tới trước Côn-béc, Sla-va Hram-baa. Ờ phía Tây chỉ còn được một bàn đạp duy nhất" (4-3). "Bọn Anh cũng đã tiến công ở Can. Bọn Nga đã tới Át-đam-mơ !!!" (8-3). “Cuộc tiến công lớn đằu tiền vào Bộ tuyên truyền” (14-3). “Xe tăng Nga đã tới Vác-buốc-hi-xen" (28-3). "Gu-đê-ri-an bị cách chức. Hít-le cũng đã cho tiến sĩ Đi-tơ-rích, người chỉ huy bọn nhà báo ở đây về vườn. Và "trưa nay xe tăng Nga đã tới Bê-vê-run-ghen. Đêm qua "tăng đã tới Héc-phen-dơ" (30-3). "Xe tăng Ngà đã tới Vin-ne Nê-stát" (1-4). "Bôn-sê-vích đã vào Viên. Quân Anh - Mỹ đã vào tỉnh Tiu-rin-gơ" (5-4). Cho đến giữa tháng tư, liền trong ba ngày nhật ký Boóc- man chỉ ghi đi ghi lại có một câu : "Những trận đánh lớn trên sông. Ô-đe !", "Vẫn những trận đánh lớn trên sông Ô-đe!", "Những trận đánh lớn trên sông Ô-đe đang tiếp diễn !!!". Và đã đến lúc những công sự kiên cố trên sông Ô-đe không được coi là vững chắc nữa. Hắn không thấy trước được là, chỉ còn hơn hai tháng nữa là đến ngày tận số của đế chế thứ ba. 24-2, ngày kỷ niệm thành lập đảng Quốc xã, Hít-le tuyên bố: "25 năm trước đây tôi đã tuyên bố thắng lợi tương lai của phong trào, của đảng ta. Hôm nay, với niềm tin sâu sắc vào sức mạnh của nhân dân, tôi có thể tiên đoán trước, thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ đến với nước đại Đức chúng ta!". Bốn tuần trước, các chuyên viên quân sự Đức đã đi đến kết luận rằng, "Mọi phương án đều sẽ thất bại". Nhưng những lời tiện đoán đó của quốc trưởng đã được khẳng định thêm bằng bản mệnh lệnh của Hít-le về việc thành lập các tòa án quân sự lưu động nhằm ngăn chặn, đấu tranh với hiện tượng tan rã mất tinh thần trong quân đội. Những người Đức nào tỏ ý nghi ngờ và mất tin tưởng vào thắng lợi đều bị trừng phạt ngay tức khắc, không thương tiếc. Kề cả Hít-le trong những ngày ấy cũng không hề nghĩ tói sự chiến thắng mà hắn từng ôm ấp - mà lại nghĩ đến một sự kỳ diệu nào đó có thể cứu được hắn, nghĩ đến một - khả năng thực tế để cứu hắn - đó là mậu thuẫn nẫy sinh "giữa các nước đồng minh. Gơ-ben đã ghi trong nhật ký của hắn những quan điểm chính của tên quốc trưởng của gã: "Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm sao đứng vững được trong bất cứ tình huống nào. Cuộc khủng hoảng trong phe đồng minh tuy đã phát triển tới quy mô rộng lớn, nhưng vấn đề chính vẫn là đã đến lúc có thể bùng nổ trong khi chúng ta cũng có thể kháng cự được phần nào. Đó cũng là tiền đề để kết thúc chiến tranh một cách thắng lợi, đề cho cuộc khủng hoảng trong phe đồng minh sẽ nổ ra mạnh hơn trước khi chúng ta bị đánh bại. (5-3)1. ----------------- 1. Từ đây là những đoạn trích trong nhật ký của Gơ-ben ghi những sự kiện năm 1945. Vừa được phát hiện và công bố lần đầu tiên tại Hăm-bua (năm 1977) - TG. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2017, 08:38:22 am Nhưng bộ đội Xô-viết đã chọc thủng mặt trận ở Pô-mê- ra-ni và Hít-le đã đổ toàn bộ tội lỗi cho bộ tham mưu của hắn là không biểt nhìn xa trông rộng. Hắn đã thấy rõ sự thay đổi của tình hình. Và Gơ-ben, kẻ luôn phản ánh quan điểm và tinh thần của Hít-le (chẳng hạn, trước khi mở cuộc tiến công bất ngờ vào Liên Xô một tuần lễ, hắn đã viết: "Các tướng lĩnh của chúng ta dự họp với quốc trưởng hôm thứ bảy đều được chuẩn bị rất tốt về tinh thần", nhưng giờ đây cũng trong nhật ký của mình, hắn lại đổ mọi tội lỗi cho cánh quân sư: "Tôi căm thù những con người đó như căm thù bất cứ kẻ thù nào". (28-2) Quốc trưởng cho rằng, nếu như "ông không đích thân xuất hiện ở Béc-lin và không trực tiếp nắm mọi lực lượng trong tay mình thì có lẽ, hôm nay chúng ta đã bị đẩy ra tới sông En-bơ rồi". Quốc trưởng đã nhận xét Cây-ten và I-đôn-đơ... là họ đã mệt mỏi và kiệt sức, trong tình hình cực kỳ xấu hiện nay thì không thể đưa ra một quyết định nào có tính chất toàn cục được. Trong số các tướng lĩnh chỉ có Mô-den và Séo-ne là có thể phù hợp vói chiến tranh hiện đại..." (28-3). Để loại trừ "hiện tượng phổ biến, không tuần thượng lệnh" của các tướng lĩnh, Hít-le đã vội vàng cho thành lập các tòa án quân sự lưu động và ra lệnh: Mỗi trường hợp xảy ra đều phải điều tra, xét xử ngay tức khắc, phải trừng phạt thật nghiêm kẻ phạm lỗi, nhất là các tướng lĩnh, đều phải bị xử bắn tại chỗ. Ngày 11-3, Hít-le rất hài lòng nghe báo cáo của Gơ-ben, tướng Séc-ne, một trong rất ít số tướng tá còn lại niềm tin với Hít-le, đã áp dụng "những biện pháp cực đoan", "để nâng cao tinh thần binh sĩ", ông ta đã cho treo cổ không ít sĩ quan, binh lính ngang bướng. "Đây là bài học tốt mà mọi ngưừi đều phải biết", Gơ-ben đã ghi như vậy vào nhật ký sau khi được quốc trưởng của hắn động viên, khen ngợi. Hít-le cũng được báo cáo là, để thi hành mệnh lệnh của hắn, tòa án quân sự lưu động đã tuyên án xử tử viên tướng công binh và lệnh này đã được thi hành ngay tức khác. "Đấy, trong tình hình này, quả là một luồng ánh sáng - Gơ-ben đã kêu lên như vậy trong nhật ký của mình - chỉ có như vậy chúng ta mới có thể cứu vãn được đế chế này". Chiều 27-3 Hít-le và Him-le đi dạo trong vườn dinh quốc trưởng theo Gơ-ben ghi lại thì : "Khu vườn vắng vẻ, im lìm. Hàng đống, hàng đống đất cát, gạch ngói. Hầm quốc trưởng đang được củng cố thêm". Cả hai tên đều tỏ ý phàn nàn là đã để mất cơ hội trừng phạt bọn tướng lĩnh sau khi đã giáng đòn chống lại chúng chứ không phải là chống lại tướng Rêm, vì cái tội hắn là "kẻ vô chính phủ và kẻ dục tính đồng giới". "Hắn là kẻ có cá tính, có bản lĩnh và đáng lẽ ra cái ngày 30-6 năm ấy cần phải bắn hàng mấy trăm tướng lĩnh thay cho mấy trăm tên lính xung kích của Rêm. (Đêm 30-6-1934 được gọi là "đêm trừng phạt", khi tướng Rêm - tư lệnh các đội xung kích phát xít của Hít-le lập ra cùng hàng trăm sĩ quan xung kích khác đã bị xử bắn theo lệnh của Hít-le vì nghi Rêm phản bội - chú thích của tác giả). Lần thứ hai, công bố lời kêu gọi tổng động viên. Lệnh động viên lấy cả thiếu niên mười sáu tuổi vào quân đội. Ở Béc-lin thành lập các tiểu đoàn lính nữ. "Các tiểu đoàn này sẽ được bố trí ở tuyến hai và sẽ trừng phạt bọn lính nam, nếu chúng bỏ tuyến một rút chạy". Tổ chức khám xét, lùng sục trên các chuyến tàu chở lính nghĩ phép để phát hiện, bắt giữ bọn đảo ngũ. Ngày 7-3 ban lệnh mới: Những binh sĩ, sĩ quan bị bắt làm tù binh "nếu không phải là đã bi thương hoặc thiếu những chứng cứ cho thấy đã chiến đấu đến cùng", thì sẽ bị trừng phạt và thân nhân của chúng sẽ bị bắt. Những cuộc oanh tạc của không quân Anh - Mỹ diễn . ra hàng ngày trên các thành phố Đức (Gơ-rinh, tổng tư lệnh lực lượng không quân đã cam đoan với Hít-le là không một chiếc máy bay nào của kẻ thù có thề vượt qua biên giới Đức được). Chiến tranh không quân mà nạn nhân của nó đáng lẽ là các thành phố Luân Đôn, Mát- xcơ-va, Lê-nin-grát thì nay đã quay trở lại một cách ác liệt trên bầu trời nước Đức. Nhớ lại nhật ký ngày 8-7-1941 của tên tổng chỉ huy quân đội Đức đã ghi: "Quốc trường kiên quyết nhấn mạnh quyết tâm san phẳng Mát-xcơ-va và Lê-nin-grát khỏi hành tinh này". Và Gơ-ben đã nhắc lại âm mưu này của Hít-le: "Trong tương lai chúng ta không thể chấp nhận việc Lê- nin-grát đầu hàng. Nó phải bị thủ tiêu, phải bỉ san phẳng bằng những phương pháp khoa học nhất" (10-9-1941). Thế nhưng, giờ đầy trong nhật ký ghi ngày 8-3-1945, Gơ-ben đã đau đớn thốt lên: "Chúng tá đang bị oanh tạc suốt ngày đêm. Những tồn thất thật nặng nề... Chúng ta không có gì để chống lại những đòn đánh mạnh mẽ bằng không quân của đối phương. Đế chế của chúng ta đã biến thành những đống hoang tàn vì những đợt đánh phá dữ dội của cuộc chiến tranh trên không". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2017, 07:20:53 am Giao thông bị ngưng trệ. Điện thất thường. Cả Béc-lin biến thành đám cháy lớn. Bưu điện không làm việc. Than ngày càng hiếm. Chất đốt cũng bị hạn chế đến mức thấp nhất. Khẩu phần lương thực trên toàn nước Đức bị giảm nghiêm trọng. Dân chúng bị đói rét. Trung tuần tháng ba 1945 bộ trưởng chiến tranh Đức, tướng Spe-e-rơ cho rằng, chiến tranh đã thất bại, vì hiện nay nền kinh tế Đức chỉ còn thoi thóp được bốn tuần lễ nữa thôi. "Chúng ta đang gặp khó khăn lớn về vấn đề công nhân nước ngoài, - chúng tôi đọc trong nhật ký Gơ-ben - Chúng ta cần phải thuyết phục họ, cố gắng cầm giữ họ lại chừng nào mà nền công nghiệp Béc-lin còn hoạt động được. Chí ít ra thì trong khi bị bao vây, chúng ta cũng phải hết sức cố gắng bảo đảm cho nền công nghiệp Béc-lin, nhất là công nghiệp chiến tranh, làm việc được. Nhưng mặt khác, thủ đô của đế chế chúng ta, hiện còn sử dụng tới 100.000 công nhân từ phía Đông. Nếu chúng rơi vào tay bọn Xô- viết thì chỉ trong vòng ba bốn ngày sau là chúng sẽ trở thành bộ binh Bôn-sê-vích và sẽ chống lại chúng ta. Vì vậy nên chúng ta phải hết sức cố gắng, trong trường hợp cần thiết, làm sao cô lập chúng thật nhanh". Không khó khăn gì mà không hình dung được ý nghĩa tàn bạo dã man nhất của những dòng chữ này. Các cuộc tiến công thần tốc của bộ đội Xô-viết đã phá vỡ kế hoạch và ý đồ man rợ của bọn phát xít và cứu được những con người đã hoàn toàn tuyệt vọng này. "Khi chúng ta chiến thắng, ai sẽ hỏi chúng ta về phương pháp ? Chúng ta không cần phải có phương pháp gì, lương tâm buộc chứng ta phải chiến thắng bởi vì nếu không nhân dân chúng ta và cả chúng ta cũng như những gì quý giá đối với chúng ta đều bị tiêu diệt sạch", đó là những lời Hít-le đã nói với Gơ-ben một tuần trước khi hắn hạ lệnh tiến công vào Liên Xô. Hít-le hứa rằng, thành quả của cuộc chiến tranh này sẽ làm cho nhân dân Đức giàu có, mang lại cho họ những miền đất đai rộng lớn và sự thống trị toàn thế giới. Nhưng thắng lợi không thề giành được bằng những tội ác man rợ. Tất cả đều đã đổ vỡ. Đám cháy đang lan đến gần, Hít- le và những tòng phạm tội ác với hắn đang bị tiêu diệt. Nhưng khi những sự kiện này đang diễn ra thì Hít-le lại nguyền rủa với vẻ căm thù rằng: nhân dân Đức đã lừa đối cả lòng tin và hi vọng của hắn. 19-3, hắn ra lệnh về cái gọi là "thủ tiêu tất cả" nhưng lần này đến lượt nước Đức. Lùa dân chúng đi (nhưng đi đâu) phá hủy các thành phố, làng mạc đã lọt vào tay quân thu. Việc người Đức bị tước đi những điều kiện đề sinh sống và tồn tại cũng không có ý nghĩa gì cả. Thái độ của Hít-le đối với vấn đề này thế nào đều được thể hiện trong mệnh lệnh của hắn gửi cho viên bộ trưởng Spê-e-rơ như sau: Không cần biết là dân chúng sẽ làm thế nào để sống, sẽ sống bằng gì. Trái lại đó là điều kiện tốt nhất để họ tư tiêu diệt mình bởi vì gần đây dân chúng Đức đã tỏ ra yếu đuối... Sau thất bại chỉ còn lại những gì không giá trị mà thôi. ’ Quân Mỹ còn cách Béc-lin 240 ki-lô-mét. Còn Hồng quân là 80 ki-lô-mét. Trải qua cơn ác mộng của cuộc rút lui thảm hại ở ngoại ô Mát-xcơ-va tháng chạp 1941, Hít-le nói với Gơ-ben rang : "Thoáng một chút yếu đuối, hắn (Hít-le) cảm thấy mặt trận biển thành cái đà trượt và cơn thảm họa đã đưa Na-pô- lê-ông vào bóng tối hình như đang đến với hắn"... Giờ đây Hít-le lại trở lại những sự kiện ấy: "Các tướng lĩnh chúng ta lần đầu tiên đứng trước cơn khủng hoảng đúng vào lúc đáng lẽ ra chỉ cần họ giành được một thắng lợi nào đó ‘thế nhưng họ lại cùng nhau bỏ chạy đến tận biên giới đế chế" - Hít-le đã tâm sự như vậy với Gơ- ben (31-3). Thật là một điều trớ trêu, nhưng quả thật giờ đây những bức tranh ảm đạm của cuộc rút chạy cũng như sự sụp đo của bọn chỉ huy lại tác động ngược lại với hắn -- lại là điều đáng khích lệ. Hắn đang nuôi ảo tưởng rằng mối nguy cơ này sẽ đánh thức được tinh thần dân tộc của người Đức và trong cơn nguy biến này, trong khi chiến đấu đề bảo vệ đế chế thứ ba của chúng, quân đội Đức cũng sẽ có được cái tinh thần giống như đối phương của chúng đã cố khi bảo vệ Mát-xcơ-va, và họ sẽ tạo nên được bước ngoặt của chiến tranh. Nắm được suy nghĩ và tâm tư của quốc trưởng, trong khoảnh khắc nào đó, Gơ-ben đã gọi cuộc chiến đấu bảo vệ Mát-xcơ-va là "một ví dụ đáng lạc quan". Trong nhật ký của hắn vào những ngày này đầy những lời ca tụng quốc trưởng. Một phần nào, đấy là những lời khoa trương rỗng tuếch, tự kỷ ám thị, mà Gơ-ben vốn cần đến để không cho ngay chính mình nghi ngờ về khả năng Hít-le có thề thay đổi được tình thế. , "Tôi xúc động sâu sắc khi thấy quốc trưởng nắm công việc rất vững vàng". Nhưng cũng những dòng nhật ký khắc ghi ngay ngày hôm ấy lại viết: "quốc trưởng mong muốn các chỉ huy ngoài chiến trường biết cách dẫn dắt bọn lính trẻ cho xứng đáng, không quản gì cái việc chúng vẫn còn chưa biết cách cầm thìa nĩa ăn uống ra sao... Những hiện pháp đó là rất tốt và có lẽ có tác dụng. Nhưng họ đã áp dụng chúng hơi muộn nếu như không nói là quá muộn" (12-3). Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2017, 08:02:31 am Hít-le phàn nàn rằng các tướng lĩnh đi ngược lại quan điểm của hắn. Gơ-ben kết luận:"Tốt nhất là quốc trưởng hãy ra ngay một mệnh lệnh ngắn gọn và theo dõi chặt việc thi hành nó thay cho những cuộc hội đàm dài dòng". ' "Tôi rất vui sướng vì quốc trưởng vẫn hoàn toàn tin tưởng và quý trọng toỉ". Nhưng cũng chỉnh vì gã Gơ-ben "tuyệt đối trung thành" đó vẫn tự cho phép mình thầm vụng phê phán Hít-le ngay trong nhật ký của hắn. Điều này liên quan tới một mệnh lệnh của hắn: Quốc trưởng đã đưa ra những mệnh lệnh ở Béc-lin mà thực ra chưa chắc đã được phổ biến xuống đến cấp dưới chứ đừng nói gì đến chuyện họ có thi hành chúng hay không; còn về trường hợp Hít-le quyết định không tới đài phát thanh đề đọc lời kêu gọi dân chúng trong tình hình nguy cấp này, hắn viết: "Quả thật tôi hoàn toàn không hiểu được, tại sao giờ đây ông ta (Hít-le) lại sợ đứng trước mi-crô đến thế ?". "Thật là tồi tệ vì quốc trưởng đã tập họp ở quanh mình những tâm hồn yếu đuối mà trong những lúc khó khăn không thề dựa vào được". Nhưng ở vài dòng sau hắn lại ghi ngược lại: "Quốc trưởng không cần sự giúp đỡ của ai khác trong việc củng cố phòng ngự". Những nhận xét này phủ định lại nhận xét kia khi thì ca ngợi Hít-le, khi thì phê phán tính do dự của hắn - đầy rẫy trong những dòng nhật ký của Gơ-ben. "Thật đáng ngạc nhiên không thề hiểu nổi, khi ở tình thế tiến thoái lưỡng nan này (ý nói về những cuộc oanh tạc của không quân Liên Xô) mà quốc trưởng vẫn còn luôn luôn tỏ ra tin ở vận may nào đó của mình. Đôi khi có cảm giác hình như ông ta ở trên trời rơi xuống. Và hắn tiếp: Quả thật, ông ta là một kẻ từ trên mây rơi xuống tựa như Deux ex machina" (28-3). Gơ-ben cũng đã nói trắng ra mọi thực tế đáng buồn. Chẳng hạn: "Quân Xô-viết đã bắt đầu tiến công, mặc dầu mới là bộ phận, nhưng là những cuộc tiến công rất mạnh..." Nhân dân đã mất hết hy vọng và lòng tin vào quốc trưởng. Qua hãng AP được biết rõ là dự trữ vàng của Đức và những kho tàng nghệ thuật trong đó cả kho Nê-phéc-ti) đã rơi vào tay quân Mỹ ở Tiu-rin-gơ "Nếu tôi, là quốc trưởng thì có lẽ tôi sẽ biết bây giờ cần phải làm gì... Chúng ta đang thiếu một bàn tay mạnh... Nhưng biết làm sao được? Tôi luôn chủ trương rằng, không nên chuyển vàng và các kho tàng nghệ thuật ra khỏi Béc-lin". Từ ngày 8-4 áp dụng những biện pháp liều lĩnh nhằm chuyển vàng và kho tàng nghệ thuật này từ Tu-rin-gơ về Béc-lin và giao cho Gơ-ben chọn một địa điểm thật tin cậy nào đó đề cất giấu chúng. "Chúng ta đang sống trong một thời kỳ quái gở, khi lý trí loài người đã bị hoàn toàn suy sụp", Gơ-ben thốt lên như vậy trong trang nhật ký ngày 2 tháng 4. "Trong tôi chợt nảy một câu hỏi đầy thất vọng là chuyển những cái này đi đâu ?" Và hắn tự trả lời: "Tất cả đều tùy thuộc vào quốc trưởng. Tôi hy vọng, ông ta hiểu được tình trạng này" (8-4). "Quốc trưởng cho rằng... trong năm nay bằng cách này hay cách khác sẽ xảy ra bước ngoặt của chiến tranh. Khối liên minh của quân thù trước sau gì rồi cũng sụp đổ; vấn đề là ở chỗ nó có sụp đổ trước khi chúng ta bị sụp đổ hay không..." Vì vậy; nên bất cứ thế nào cũng phải cố sức đứng vững. Nhưng tình hình ngày một nặng nề thêm : "Tình hình mặt trận ngày nay qua tồi tệ hơn bao giờ hết. Chúng ta đã hoàn toàn mất Viên. Quân đich đã chọc sâu vào tới Kê-nin- xbéc-gơ. Quân Anh - Mỹ còn cách Brau-sơ-vai-gơ và Bréc-men không xa. Tóm lại, nếu nhìn vào bản đồ thì rõ ràng là, đế chế chúng ta chỉ còn lại một dải đất hẹp..." (9-4). Trong căn hầm ngầm bê tông dưới dinh quốc trưởng, nơi Hít-le trú ẩn để chờ hước ngoặt của sự kiện, Gơ-ben đã đọc cho hắn nghe từng trang tiểu sử của Phri-đrích Đại đế. Hít-le đã bỏ không ít công sức để thổi vào tâm hồn đồng bào hắn sức mạnh tinh thần của ông vua có nhiều may mắn này của nước Phổ. Khi lên cầm quyền vào năm 1933, Hít-le đã đến ngay Pốt-xđam và chụp ảnh bên cạnh mộ Phri-đrích II trong khu nhà thờ. Hôm đó hắn mặc bộ lễ phục màu đen mà từ trước chưa hề thấy. Và trong hầm ngầm của hắn vẫn còn treo tấm ảnh ấy cùng với tấm ảnh Phri-đrích II. Giờ đây thì những cay đắng của chiến tranh mà nhà vua đã từng chịu đựng trước kia, đã làm cho hai con người này gần nhau hơn. Đúng vào một đoạn trong cuốn sách nói về việc ông vua bị thất bại này quyết định kết liễu đời mình, tác giả đã nói với ông ta: "Hãy chờ đợi ít lâu nữa và những ngày đau khổ của ngài sẽ lùi về dĩ vãng. Mặt trờị quang vinh của ngài đã lấp sau đám mây nhưng chẳng bao lâu nữa lại chiếu sáng vào ngài". Nguồn tin kịp thời về cái chết của nữ hoàng nước Nga Ê-li-da-bét-ta đã làm cho ông vua này thoát được thất bại nhục nhã. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2017, 10:49:09 pm Hít-le cũng đã cảm thấy lo lắng, gì đó và muốn được xem số tử vi đúng vào lúc Gơ-ben cũng đã xem trước đây mấy ngày. ' Thật là thú vị khi đọc lại một lần nữa cuốn nhật ký của Gơ-ben và thấy hắn sung sướng ghi những dòng chữ nhạo báng những nhà chiêm tinh, những nhà nhân chủng học và những thầy tướng nổi tiếng mà trước kia hắn đã mời về đây nhưng sáu khi thấy trò bịp của họ đã bị lộ tẩy, hắn viết : "Điều đáng ngạc nhiên là không có một nhà tiên tri nào trong số này đoán được được họ sẽ bị bắt. Đó là một dấu hiệu xấu của nghề này... "(13-7-1941). Tất cả đều là giả dối. Chỉ có lời tiên tri của một người duy nhất trong đất nước này là cần phải tin tưởng và tuyên truyền trong nhân dân mà thôi - đó là lời tiên tri của quốc trưởng. Để tránh khỏi trùng lặp, lộ bí mật cũng như khỏi có những tin tức mang tính thần bí như lời sấm truyền, và cuối cùng là để cạnh tranh, những nhà tiên tri chuyên nghiệp đều bị Gơ-ben theo dõi chặt chẽ. Nhưng tất cả những điều này chỉ diễn ra ở thời kỳ trước chiến tranh vớii nước Nga, một Cuộc chiến tranh diễn ra với cái đà bách chiến bách thắng như vậy. Còn giờ đây thì như người ta nói - cái đà chiến thắng ấy lại đang kéo về đây. "Tôi có cả một khối lượng tài liệu để tuyên truyền khoa chiêm tinh và các học thuyết duy linh khác trong đó có cả cái gọi là số tử vi của Cộng hòa Đức ngày 6 tháng mười một 1918 cũng như số tử vi của bản thân quốc trưởng. Cả hai bản số tư vi này đúng sư thật một cách đáng ngạc nhiên - chúng tôi đọc những dòng nhật ký của Gơ-ben ghi ngày 30 tháng 3 năm 1945. Tôi hiểu được tại sao quốc trưởng lại cam làm cái nghề không thể kiểm tra được này. Cả hai bản tử vi của nước cộng hòa cũng như của quốc trưởng đều tiên đoán là đến cuối tháng tư này chiến sự của chúng ta sẽ giảm đi... Đối với tôi thì những lời tiên tri này chẳng có nghĩa lý gì cả. Nhưng dầu sao tôi cũng cứ phải cố lợi dụng nó để tuyên truyền và ngụy trang bởi vì trong thời đại hỗn loạn này đại đa số người ta đều hy vọng vào một lối thoát cuối cùng dù là rất yếu ớt mỏng manh. Những lời tiên đoán đã gieo niềm hy vọng có giá trị đến nỗi, các quan chức của đảng Quốc xã đã kể lại cho vợ Gơ-ben cũng giống như sự "tuyên truyền và ngụy trang" của ông chồng bà ta đang tiến hành. Tôi đã đọc kỹ một bản số từ vi như vậy. Những bản số tử vi này đối với người dễ tin, cũng có sức thuyết phục. Trong khi khám xét căn phòng Gơ-ben dưới hầm tránh bom, các chiến sĩ tình báo chúng ta đã tìm thấy bản tử vi của con trai hắn là Hen-mút, và họ đã trao cho tôi. Theo lệnh Him-le, những bản tử vi chính của quốc trưởng và của nước Bức trước đây được bảo vệ cẩn mật tại cái gọi là "phòng nghiên cứu khoa học" của cư quan Giét-ta-pô thì nay lại được đưa xuống hầm quốc trưởng theo yêu cầu của Hít-le. Hít-le và tên Bộ trưởng tuyên truyền cua hắn nghiên cứu kỹ bản số tử vi và tin chắc rằng, theo lời phán truyền thì sau những trận đánh ác liệt đầu tháng tư 1945, quốc trương và đế chế sẽ giành được thắng lợi quân sự vào cuối tháng tư. Sau đấy mấy hôm, vào đêm 12 tháng 4 thế giới biết tin tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven từ trần. Đấy chẳng phải là một sự trùng hợp lịch sử, một điềm báo, một bước ngoặt trong số mệnh của Hít-le hay sao ? "Trong giai đoạn hiên nay, khi số mệnh đã cướp đi khỏi trái đất này kẻ tội phạm chiến tranh của mọi thời đại thì trong cuộc chiến tranh này sẽ diễn ra những bước ngoặt mới có lợi cho chúng ta" - Trong nhật lệnh nhân sự kiện này, Hít-le đã kết thúc như vậy. Nhật lệnh này của hắn cũng nói tới những cuộc tiến công mới của Hồng quân Liên Xô: "Chúng ta đã thấy trước những đòn này và từ tháng giêng năm nay, chúng ta đã làm tất cả để tạo nên một mặt trận mạnh mẽ. Pháo binh hùng mạnh của chúng ta sẽ đón tiếp quân thù. Sư thiệt hại của bộ binh chúng ta đang được bồ sung bằng những đơn vị mới hùng mạnh hơn. Các đơn vị tàu ngầm được trang bi những phương tiện mới đang tăng cường thêm sức mạnh của hạm đội chúng ta. Lần này bọn Bôn-sê-vích sẽ thấy được số mệnh cũ của châu Á: "Chúng sẽ phải đổ máu và ngã gục trước thủ đô nước Đức quốc xã chứng ta" ". Mệnh lệnh, này của Hít-le đề ngày 13 tháng 4 và chiều 14 đã đến với các bộ tham mưu và ngày hôm sau được phổ biến đến các đại đội. "Trước hết phải theo dõi một số ít sĩ quan và binh lính phản bội, những kẻ vì cuộc sống thấp hèn của chúng mà đã nhận tiền của quân Nga quay súng chống lại chúng ta, thậm chỉ ngay ca khi chúng đang bận bộ quân phục Đức. Nếu như có sĩ quan hay tướng lĩnh nào hạ lệnh cho các anh rút lui thì các anh có quyền bắt ngay kẻ đó dù các anh không biết đấy là ai, cấp bậc nào. ... Béc-lin nhất định sẽ thuộc về nước Đức, thành phố Viên nhắt định sẽ trở về với nước Đức...". Ngày hôm sau nhật lệnh này được công bố trên tất cả các báo. Từ trong hầm tránh bom, Gơ-ben gào qua đài phát thanh: "Quốc trưởng dự đoán rằng, ngay cả trong tình hình này, số mệnh sẽ thay đổi và một lần nữa, thắng lợi lại cùng đến với chúng ta. Những thiên tài chân chính luôn cảm thấy trước và tiên đoán đúng những biến đổi của tương lai. Quốc trưởng biết chính xác ngày và cả giờ sẽ diễn ra sự kiện lịch sử này. Số mệnh đã trao cho chúng ta con người vĩ đại như vậy để chúng ta có thể là người chứng kiến những thử thách lớn lao về đối ngoại và đối nội mà chúng ta đang trải quá... Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2017, 07:58:17 am CHỌC THỦNG PHÒNG TUYẾN TRÊN SỒNG Ô-ĐE Ngày 16 tháng 4 quân đội Xô-viết bắt đầu tiến công. Bộ chỉ huy tối cao Đức coi phòng tuyến Ô-đe là hiềm yếu, vì vậy chính họ đã khẳng định chắc chắn rằng, Hồng quân Liên Xô sẽ bị chặn lại ở đây, trên tuyến sông Ồ-đe này. Cách đầy mấy ngày Hít-le định bắt đầu việc cải tồ quân đội. Ý định cải tổ quân đội cũng không làm cho Gư-ben yên tâm chút nào. Trong những ngày tháng tư này hắn trực tiếp đọc các dư thảo cải tổ bộ máy tuyên truyền của hắn, chủ yếu là vụ phát thanh và báo chí "Phải làm sao cho thật cô đọng", thay đổi biên chế (làm cho viên phụ trách báo chí Đi-tơ-rích có thế lực bắt buộc phải đi nghĩ phép và theo lệnh của Hít-le, trước yêu cầu khăng khăng của Gơ-ben cuối cùng, gã này cũng không trở lại được vị trí của mình vì đã vắng mặt khi tiến hành cải tổ), suy nghĩ những hiện pháp tàn bạo nhất chống lại các giới nghệ sĩ Béc-lin và bọn "siêu trí thức". Những suy tính kền cựa về công đanh địa vị vẫn là nguyên nhân chính chi phối bọn lãnh đạo chóp bu của chế độ quốc xã như trước đây. Sự hiềm khích này đã được Gơ-ben nhận xét rõ trong nhật ký của hắn, nhất là vấn đề lại liên quan tới đối thủ của hắn: "Bộ trưởng Rô-đen-béc1 vẫn khăng khăng chống lại việc giải tán bộ phương Đông, ông ta tự gọi mình bây giờ là bộ trưởng các vùng chiếm đóng phía Đông và vấn đề này quả là một sự lố bịch, ông ta đòi bộ ông ta phải quản lý mọi chính sách về phương Đông. Có lẽ với những lý do như vậy tôi cũng có thể đòi lập cho mình bộ phương Tây hay là bộ phương Nam cũng được. Đó là điều vô nghĩa. Nhưng Rô-den-bec vẫn cư khăng khăng giữ quan điểm của mình và nhất đinh không chịu công nhận ngay với chính mình rằng, cái bộ đó đã sụp đổ từ lâu rồi"! Phòng tuyến sông Ô-đe bị chọc thủng đã làm kinh hoàng đại bản doanh Hít-le. Bọn quan chức Béc-lin chạy nháo nhào tới Muy-ních. Con đường lớn từ Béc-lin tới Muy-ních chật ních ô tô các loại và được những người dân Béc-lin lúc ấy đặt cho cái tên là "đường rút chạy của đế chế". Trong những ngày này chẳng ai nghĩ gi đến số mệnh "hay quan tâm tới những người dân Béc-lin cả. "Trong những tuần lễ gần đấy, bằng mọi cách tưởng tượng, người ta luôn nghĩ tóú một"giờ G" nào đấy vào ngày 20 tháng 4, tôi đọc những dòng nhật ký của một mụ Von-te nào đó được lưu giữ tại phòng lưu trữ ở Béc-lin.. Giờ G gì vậy? Té ra dãy là mật danh cùa một loại vũ khí mới mà Hít-le đã hứa sẽ tung ra vào ngày 20 tháng 4. Mọi tầng lớp nhân dân cũng đều có tâm lý mong ngóng chờ đợi cái giờ phút kỳ diệu này sẽ tới. Có ai đó đã được trông thấy những chiếc xe tải lớn, phủ kín bạt bảo vệ loại vũ khí bí mật này. Theo lờỉ ghi của Vôn-te thì một nhà bác học đã miêu tả loại vũ khí này như sau : "Chúng ta đã có được một hợp chất mà nếu sử dụng nó thì có thể làm hạ nhiệt độ xuống tới âm 300 độ. Mọi sinh vật, mọi của cải đều biến thành bẵng trong phút chốc và chỉ cần những chần động nhỏ nhất chung cũng tan vụn ngay thành những mảnh nhỏ như kính vỡ". "20 tháng 4 năm 1945 ngày sinh của quốc trưởng - Vôn-te ghi tiếp: "Những kẻ chỉ trích và những kẻ phản bội đều chờ đợi những điều bất ngờ đặc biệt xuất hiền trên bầu trời. Thế nhưng ngày hôm nay đã trôi qua lặng lẽ không có những cuộc báo động thường xuyên và cung không có cả những trận pháo kích lớn vào thủ đô của quốc trưởng. Nhân dân chúng ta nhất định thắng! Họ hoàn toàn hiểu rõ rằng, đó chính là kết quả của loại vũ khí bí mật mới mà quốc trưởng... đã hứa tặng chúng ta nhân ngày sinh của ngài. Những người trung thành với quốc trưởng suốt ngày nay đều chúi mũi vào các ra-đi-ô để khỏi bị bất ngờ hoặc bỏ qua đi những tin tức mà họ đã nóng lòng mong đợi từ lâu về việc quân ta đã sử dụng loại vũ khí bí mật mới". Thế nhưng, thật đáng buồn suốt cả ngày và đêm 20 tháng tư ấy đài phát thanh Đức lặng tanh không nói gì tới loại vũ khí mới và người ta chỉ nghe được những loạt tiếng nổ của pháo tầm xa bắn vào Béc-lin. Đó là những loạt pháo của tập đoàn quân xung kích số 3 mở màn cho cuộc tổng công kích vào Béc-lin. Ngày hôm sau, đạn pháo tầm xa đã nổ ngay trên những đường phố trung tâm. Những người dân thành phố ẩn nấp dưới hầm tránh bom sâu dưới lòng thành phố vẫn không hiểu nổi tại sao đài phát thanh Đức vẫn chưa đưa tin về những hiệu còi báo động nguy hiểm. Tác giả cuốn nhật ký này để lộ : "Làm công tác lưu trữ hồ sơ mật, tôi được phổ biến một mệnh lệnh tuyệt mật là khi có còi báo động kéo liền năm phút không ngừng tức là hiệp lệnh thông báo khẩn cấp quân nhảy dù và xe tăng địch đã xâm nhập vào thành phố, và bộ phận chúng tôi phải thủ tiêu ngay những tài liệu quan trọng. ------------------- 1. Rô-den-béc - từ tháng 7-1941 là bộ trưởng bộ các vùng đất Nga bị chiễm đóng, “Toàn quyền nước Nga". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2017, 02:05:17 am Nhưng chẳng có còi báo động, chẳng có cả mệnh lệnh của Bộ chỉ huy tối cao nào kịp thông báo khi các đơn vị Hồng quân tiến đển ranh giới thành phố. Và những trận đánh trong lòng Béc-lin diễn ra ác liệt. Khi chiến tranh kết thúc, tại Nu-rem-be phiên tòa xử bọn tội phạm chiến tranh Đức, chánh công tố ủy viên Mỹ Gỉắc-xơn hỏi tên Sơ-péc-rơ tội phạm chiến tranh, bộ trưởng vũ trang Đức về vấn đề nước Đức quốc xã có nghiên cứu những gì trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử thì tên này trả lời:"Rất tiếc, trong lĩnh vực này chúng tôi chưa kịp đạt được những kết quả mong muốn bởi vì những bộ óc, những lực lượng ưu tú nhất được giao nhiệm vụ nghiên cứu năng lượng nguyên tử đều bị lôi cuốn sang Mỹ hết. Trong lĩnh vực này chúng tôi đang rất lạc hậu. Chúng tôi cần độ một vài năm nữa mới tách được hạt nguyên tử. Giắc-xơn: "Như vậy có nghĩa là những nguồn tin về loại vũ khí bí mật mới chỉ là sư tuyên truyền phóng đại để giữ lòng tin của nhân dân Đức đổi với việc kéo dài chiến tranh, phải không ?". Sor-péc-rơ: "Vâng, trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, đúng là có ý đồ như vậy". Sau khi phòng tuyến Ô-đe bị chọc thủng đại bản doanh chuẩn bị rời về pháo đài mới ở Béc-tê-xgát-đen (hay còn gọi là Ô-béc-dan-béc-gơ). Mệnh lệnh về cuộc di chuyển bằng không vận này đã được phê chuẩn. Về Sự kiện này, Boóc-man đã ghi trong nhật ký như sau "Thứ sáu, 20 tháng 4. Hôm nay là ngày sinh quốc trưởng nhưng thật tiếc, chẳng còn ai nghĩ tới ngày vui này được. Bộ phận chỉ huy tiền trạm đã được lệnh di chuyển, về Béc-tê-xgát-đen". Trong những tài liệu của Boóc-man mà tôi thu thập dưới hầm trú ẩn sau ngày Béc-lin đầu hàng trong những ngày tháng năm năm ấy và còn giữ được đến ngày nay gồm có các điện khẩn, chỉ thị mật nói về cuộc di chuyển này. Chẳng hạn những bức điện gửi cho viên sĩ quan trợ lý của hắn là Hum-men và Phran-cô chỉ thị rõ cho hai tên này chuẩn bị gấp việc bố trí nơi ở và nơi làm việc cho các ban, vụ của bộ chỉ huy tối cao. Ngày 21 tháng 4 Hum-men trả lời kế hoạch bố trí đã chuẩn bị và để nghị Boóe-man duyệt lại lần cuối. Một số cơ quan và nhân viên cùng một bộ phận phòng lưu trữ của Hít-le đã được chuyển đi đến nơi mới. Trong số này có viên bí thư thân cận và Mô-ren bác sĩ riêng mà Hít-le không thể xa rời lâu được, vì nếu không có những viên thuốc kích thích mạnh của ông ta thì Hít-le sẽ không làm ăn gì được. Một bằng chứng nữa nói lên ý đồ Hít-le định "dời đô" lâu dài tới Béc-tê-xgát-đen là việc hắn bổ nhiệm tướng Đê-nít làm tư lệnh cụm quân Bắc (Noeđraum). Nhưng trong khi đó thì tư lệnh lực lượng phía Nam chưa có và như vậy rõ ràng là Hít-le còn hi vọng vượt qua phía Nam và quyết định để trống chức vụ này cho mình. Tất cả đã sẵn sàng bay đến nơi mới. Nhưng sáng ngàv 21 tháng 4 đúng vào ngày quân đội Xô-viết mở cuộc, tiến công lớn vào ngoại vi Béc-lin và pháo lớn đã nã vào trung tâm Béc-lin, do đó Hít-le phải hạ lệnh hoãn di tản cùng với lệnh phản pháo. Ngày 22 tháng 4 tại cuộc họp quân sư thường lệ Hít-le nghe các tướng lĩnh báo cáo tình hình và được biết rằng cuộc phản pháo do tướng ss Stây-ne chỉ huy đã không thành công và Béc-lin khó có thể chống cự lâu được như dự kiến, do đó quốc trưởng nên rời khỏi thủ đô ngay để tạo điều kiện cho các đơn vị phòng thủ rút theo. Hơn nữa với tư cách tổng chỉ huy việc Hít-le ở lại thành phố bị bao vây này là không có ý nghĩa gì. Từ đây không thể chỉ huy được những đơn vị quân đội đang ở xa Béc-lin. Hít-le nồi giận như kẻ lên cơn thần kinh, đã lên án bọn ss cùng các đơn vị quân đội là phản bội, đe dọa các tướng lĩnh phải tự sát trước khi thất thủ và trong trạng thái trầm uất hắn lên án luôn cả Boóc-man và Cây-ten (Phó chủ tịch đảng Quốc xã và thống chế quân đội Đức). Tại cuộc họp này chúng nó bàn gì thì chúng ta chưa được biết. Khi trở về hầm trú ẩn hắn tuyên bố với các tướng lĩnh là sẽ ở lại Béc-lin. Về sau này, khi bị quân đồng mình bắt làm tù binh, tướng I-dôn-đơ đã khai: "Ngày 22 tháng 4, Gơ-ben hỏi tôi: có thể ngăn chặn cuộc tiến công vào Béc-lin được không? Tôi trả lời ông ta rằng, có thể được chỉ với một điều kiện duy nhất là nếu chúng ta tập họp được các lực lượng từ sông En-bơ tới và tung tất cả vào việc bảo vệ Béc-liu. Theo đề nghị của Gơ-ben tôi dã báo cáo lại với quốc trưởng ý định này của mình, ông ta đồng ý và hạ lệnh cho Cây-ten cùng với tôi và bộ tham mưu của chúng tôi ở ngoài Béc-lin chỉ huy "cuộc phản công vào quân Nga". Lúc ấy Hít-le đã quyết định, mở cửa mặt trận phía Tây, kéo toàn bộ lực lượng về bảo vệ Béc-lin. Theo lệnh đó tập đoàn quân số 12 của tướng Ven-cơ được lệnh chuyền gấp về giải vây cho Béc-lin. Ngày 22 tháng 4, trên bầu trời Đức tung đi khắp nới những bức điện khẩn gửi Hum-men và Phran-cô. Những mệnh lệnh thượng khẩn về việc chuẩn bị cho quốc trưởng đến Béc-tê-xgát-đen. Và cuối ngày hôm ấy, chúng ta đã bắt được một bức điện nữa như sau: "22-4-45. Béc-lin Gửi ngài Hum-men, Ô-béc-dan-bécígơ. Gửi ngay theo các máy bay hôm nay càng nhiều càng tốt nước suối, rau tươi và nước quả cùng thư từ của tôi. Boóc-man" Chuyến bay di tản đại bản doanh Hít-le không thành công. Quân Anh Mỹ đã tiến đến Muy-ních gần với Béc-tê- xgát-đen. Còn bỏ chạy khỏi Béc-lin theo đường bộ thì Hít-le không dám vì có nguy cơ bị rơi vào tay quân đồng minh. Việc hắn quyết định ở lại Béc-lin, theo đánh giá của các tướng lĩnh, hắn sẽ không có khả năng tiếp tục chỉ huy quân đội được nữa. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2017, 04:23:41 am "HẦM QUỐC TRƯỞNG" Bộ chỉ huy tối cao rời Béc-lin, gồm các tướng lĩnh: đô đốc Đê-nít, Cây-ten - thống chế, tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Đức, I-dôn-đơ đại tướng cục trưởng cục tác chiến, và đại tướng không quân Cô-léc. Họ rời Béc-lin cùng bộ tham mưu cửa mình để tìm nơi ẩn náu mới an toàn hơn. Những ngày sau đó, việc liên lạc với họ trong thực tế không còn nữa. Các sư đoàn xung kích và xe tăng quân đội Xô-viết tiến nhanh như vũ bão, hình thành thế bao vây Béc-lin. Sau những trận đánh căng thẳng chiếm những cứ điểm vành đai chung quanh Béc-lin, các đơn vị bộ đội Xô-viết chúng ta chọc thẳng vào trung tâm thành phố. Đạn pháo quân ta đã vươn tới khu dinh quốc trưởng và nhờ có mái hầm dầy quá cỡ nên Hít-le mới thoát được thảm họa. Cột vô tuyến điện khu dinh quốc trưởng rung lên trong tiếng pháo gầm liên hồi. Dây cáp dưới đường hầm bị đứt. Một tháng sau khi Béc-lin đầu hàng, nữ thư ký riêng của Hít-le Giun-ghe đã kề lại không khí những ngày ấy như sau: Hít-le tin rằng nhất định bộ binh Xô-Viết sẽ tràn vào hầm ông ta, vì họ biết rõ chỗ ở của ông ta và ông ta thấp thỏm chờ đợi cảnh tượng này". Báo cáo của các chỉ huy đơn vị tác chiến trên mặt đất hầu như bị đình chỉ, không tới được đây nữa. Việc liên lạc vô tuyến điện với Ô-béc-đan-béc-gơ tuy có nhưng không thường xuyên và vững chắc. Khi thì mất hẳn, khi thì nối lại được nhưng chẳng bao lâu lại đứt. Về số phận các thành phố Đức khác cũng như tình hình Béc-lin chủ yếu là do các nguồn tin của phóng viên quân sự của đối phương thông báo tại chiến trường cho biết. Tin đồn rồi lại tin đồn, tin này mâu thuẫn với tin kia lan tràn từ phố này sang phố khác và cuối cùng lọt được vào căn hầm này. Mùa xuân 1941, khi nghĩ ra những trò tuyên truyền chống lại loài người, Gơ-ben đã hân hoan tung ra khắp thế giới hết tin đồn này đến tin vịt khác để gieo rắc hỗn loạn, sợ hãi và thất vọng nhằm tạo nên sư hoang mang chung. "Tin đồn đó là bánh mì ăn hằng ngày của chúng ta". Lúc ấy hắn đã ghi nhật ký như vậy. Nhưng giờ đây thì tâm của trận động đất lớn này. đã chuyền tới Béc-lin và tới ngay trung tâm hang ổ của chủ nghĩa phát xít-khu vực dinh quốc trưởng. Giờ đây Gơ-ben chỉ còn biết kêu gọi binh sĩ và nhân dân Béc-lin qua tờ "báo mặt trận Béc-lin" là "đừng nghe tin đồn nhảm !". "Kẻ thù đang sử dụng tin đồn như một thứ vũ khí tâm lý chiến đề làm tê liệt sự kháng cự của chứng ta và làm lung lay niềm tin của chúng ta. Mỗi người chúng ta, bất cứ ai nếu còn loan truyền những tin đồn nhảm sẽ bi coi như là làm việc trực tiếp cho kẻ thù vì như vậy sẽ làm suy yếu ý chí chiến thắng của chúng ta. Do vậy tình hình này chỉ cho phép đánh giá sự thật qua những sư kiện!". Chính ngay bộ tham mưu của Hít-le trong thời gian ấy cũng, phải tự phân tích sự thật qua những tin đồn được nêu trong các báo cáo của bọn quan chức đảng Quốc xã địa phương gửi cho Boóc-man. Thế nhưng thực ra sự kiện cụ thể còn đáng buồn hơn cả những tin đồn. Những sư kiện đó đầy rẫy trong các báo cáo như: "... Kê-pê-ních đã hoàn toàn bi đối phương đánh chiếm. Đối phương đã chọc thủng sang Sơ-prê về hướng A-lê- gốp-phơ 22-4-45 - 14 giờ 15 phút. Ngoài ra còn nhiều tin tức báo chí, điện khẩn xác đinh thêm những sự kiện về các địa phương, các vị trí bí mất, như: "Tĩnh Vin-méc-doóc-phơ. Khu vực E báo cáo: Hầm trú ẩn ở Xtru-véc-hốp nhận được điện thoại. Một giọng Nga vang lên trong máy. Viên chỉ huy hầm trú ẩn chỉ còn kịp kêu lên: "Người Nga đến rồi !" 22-4-45... 16 giờ". Xe tăng Liên Xô. Những đám cháy. Những loạt súng, đại bác của đối phương. Những đường phố đổ nát. Những người chết và bi thương. Không có đủ vũ khí. Những yêu cầu khẩn cấp đòi chi viện pháo binh - Đó là những sự kiện thực tế chứ không phải là tin đồn nữa... Lính Đức chết la liệt trên đường phố Bec-lin. Đây là những dòng báo cáo thực của các "nhà lãnh đạo" địa phương gửi Boóc-man, miêu tả khung cảnh chung và vẽ lên bức tranh vô hy vọng của những người đang chiến đấu trên đường phố thủ đô và cũng nói lên những tai họa mà nhân dân Bec-lin và các tỉnh chung quanh đang phải chịu đựng. Tên tỉnh trưởng Héc-xồn-gơ vừa báo cáo về tình hình quân địch chọc thủng tuyến đường từ Sây-hao-dơ đến đại lộ Stan-gác-đen và nói rằng hắn không làm cách nào để chống cự lại được sức tiến công quá mạnh của quân Nga ở vùng này, vừa điện hỏi thêm : "Vấn đệ lương thực, thực phẩm cho dân chúng thế nào ? Nhân dân không chịu ra khỏi nơi ẩn nấp. Thiếu đủ thứ, thực phẩm, nước uống và điện nên không thể nấu nướng gì được". Những báo cáo như vậy đang lẽ cũng được gửi đến cho Gơ-ben, bộ trưởng đặc trách phòng thủ Béc-lin và ban lãnh đạo đảng Ọuốc xã Béc-lin. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2017, 03:04:49 am Nhưng chúng vẫn mù mịt tin tức. Chúng không nắm được gì hơn ngoài việc phỏng đoán. Không có một bằng chứng nào, không có một lời minh họa hay miêu tả nào khả dĩ có thể căn cứ vào đấy để kết luận rằng trong những ngày thất vọng này của nhân dân Đức ta thấy được bọn tội phạm của mọi bất hạnh này của họ có một chút suy nghĩ xem nhân dân của chúng đang phải chịu đựng những gì và thấy được chúng nhận thức được dù chỉ là một chút trách nhiệm của chúng trước tai họa này". "Tôi và lịch sử là một". "Sứ mệnh lịch sử của tôi", "Tôi tự thấy trách nhiệm của tôi trước nhân dân" - đó là những lời huênh hoang mà nhân dân Đức thường dược nghe nơi cửa miệng Hít-le. "Quốc trưởng, đấy là nước Đức" - sư tuyên truyền quốc xã khẳng định như vậy và sự tuyên truyền đó ru ngủ nhân dân Đức, thổi vào lòng họ tinh thần sùng bái mù quáng Hít-le. Chúng thường kêu gào: "Quốc trưởng suy nghĩ thay cho chúng ta, nhiệm vụ chúng ta là hãy làm theo lệnh của quốc trưởng". Hít-le hạ. lệnh thông báo trên đài phát thanh cho dân chúng biết là hắn vẫn ở Béc-lin và binh sĩ hãy xả thân bảo vệ thủ đô dưới sự chỉ huy của hắn. Mệnh lệnh này được thi hành vào trưa 23 tháng 4. Cũng đứng trưa hôm ấy các tờ báo Đức đăng lời kêu gọi ngắn của hắn và cũng là lời kêu gọi cuối cùng của quốc trưởng đề ngày 22 thang 4: "Hãy nhớ rằng: Bất cứ ai cố tình tuyên truyền hay chỉ là nói lại những điều làm hại đến tinh thần quân đội thì người đó sẽ bị COI như kẻ phản bội! Kẻ đó sẽ lập tức bị bắn hoặc treo cổ! Điều này sẽ áp dụng đối với mọi mệnh lệnh dù là của đô trưởng, bộ trưởng Gơ-ben hay của chính quốc trưởng". A-đôn-phơ Hít-le". Cùng với tinh hình ngày càng xấu đi, trong ngôn từ của Hít-le chỉ còn lại những tiếng nói sặc mùi căm hờn, đe dọa: kẻ phản bội! Bắn! Treo cổ! Những cuộc trấn áp, trừng phạt tàn bạo và tức thời luôn luôn rình mò bất cứ người dân Đức nào bị nghi ngờ là không trung thành với chủ nghĩa quốc xã cuồng tín, và không mù quáng tin vào thắng lợi "nhất định" phải đến của quân đội Đức. "Vấn đề không phải là bắt buộc mỗi người nào tham gia bảo vệ thủ đô nước Đức cũng đều phải tinh thông các kỹ thuật quân sự mà trước hết là phải làm cho mỗi người, mỗi binh sĩ có đầy đủ ý chí tin tưởng và luôn có tinh thần tham gia chiến đấu vì thắng lợi", đó là một trong những đoạn của bản mệnh lệnh bảo vệ Béc-lin. Cùng ngày trên đài phát thanh truyền đi lời kêu gọi của Gơ-ben tới binh sĩ, tất cả những người đàn ông con sức chiến đấu được ở Béc-lin hãy đứng lên tham gia hàng ngũ những người bảo vệ thành phố. Hắn ta gọi những người nào không đến địa điểm tập trung tại đại lộ I-ôn-han-ni-so gần ga trung tâm Béc-lin là "những đứa con phản bội". Tại đây cũng như những nơi đông dân khác, bọn quốc xã dựng ngay những cột bắn và giá treo cổ để đe dọa mọi người. Trong sở lưu trữ thành phố Béc-lin hiện còn bản thú nhận sau đây của một người làm chứng như sau: "Những tên Hít-le con" đã thi hành mệnh lệnh khủng khiếp này của quốc trưởng một cách mù quáng đê tiện, bừa bãi đến nỗi bất cứ người đi đường nào, bất cứ người hành khách tàu điện ngầm nào, dù là đi trên đường phố hay dưới lòng đất trong ngày 23 tháng 4 vừa qua cũng có thể xác nhận được cái ở đây mọi người đều chứng kiến cảnh treo cổ hai tên lính trẻ tuổi bằng những sợi dây thừng còn mới trên hàng rào một cửa hàng. Trước ngực hai kẻ bị hành hình có tấm biền đề dòng chữ và tay những kẻ xấu số này bị buộc chặt chỉ vào đấy: "Tôi bị treo cổ vì không sẵn sàng chấp hành mệnh lệnh của quốc trưởng". Mức độ của những tai họa ngày càng lan rộng, ngày càng tàn nhẫn không thể tả nổi. Chính quyền phát xít bỏ mặc thành phố cho số mệnh may rủi. Không có một sự di tản nào được tổ chức. Thậm chí trẻ con cũng không được đưa ra khỏi Béc-lin để tránh tai họa và chúng cứ phải sống trong cảnh sợ hãi, không bánh mì, không nước uống. Trong khi đó những báo cáo mật của bọn quan chức đảng Quốc xã gửi Boóc-man lại đầy rẫy những lời hiềm khích, hục hặc với bọn chỉ huy quân đội, chứng tỏ những mâu thuẫn ngấm ngầm trong nội bộ đảng chúng nó đang ngày thêm sâu sắc. Đây là một trong những loại báo cáo như vậy; Chủ tịch đảng tỉnh... Cốc thông báo về tốc độ tiến công thần tốc của quân Nga, nêu lên con số thiệt hại của các khu vực và kết thúc bằng câu: "Ở Phri-đrích Xphen-đơ bọn I-van đã tiến đến phía nam Bi-lê-phen-đô", và hắn chuyền giọng đột ngột sang vấn đề khác. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2017, 08:16:27 pm "Thái độ thù địch của vị chỉ huy quân sự, đại tá Giao- đen đã đến mức không thể chịu nổi. Mọi thông báo mà tôi chuyền cho ông ta qua các nhà lãnh đạo địa phương dưới quyền tôi đều bị ông ta coi thường và cho là vô ích, thậm chí là mù quáng. Khi tôi chỉ cho ông ta thấy rằng, các đơn vị quân đội rút chạy tối hôm qua và sáng nay có hàng trăm binh sĩ đang chạy theo những con đường về hướng Tây thì ông ta đã trả lời tôi rằng, có lẽ họ đi nhận được mệnh lệnh nào đó cho phép rút chạy, ông ta cam đoan rằng, hình như đại úy Bau-e đã kiểm tra các tài liệu liền trong hai giờ và hình như mỗi lần như vậy đều xác nhận rằng các đơn vị được rút lui đều do mệnh lệnh cho phép… Hàng ngàn người Đức bị hy sinh một cách vô nghĩa trong thất vọng và đau khổ: bọn lính và dân quân thì chết trong các trận đánh trả chống cự mà mục tiêu đã được xác định, còn dân chúng thì chết vì bom đạn, vì nhà cửa sập đổ, vì mọi tai ương khác. Riêng Hít-le thì vẫn ngồi dưới hầm sâu cùng với những kẻ thân cận của hắn. Với E-va Brao-nơ; với tên bếp trưởng chuyên nấu các món ăn kiêng cho quốc trưởng, với Gơ-ben, Boóc-man con người mà trong trang nhật ký ngày 14 tháng 6 năm 1941 Gơ-ben đã gọi là: "một nhân vật hậu trường nham hiểm", một kẻ bị ngay cả bọn lãnh đạo quốc xã chóp bu ghét cay, ghét đắng. "Ông ta hầu như bị mọi người kinh tởm" - Rát-ten-hu-be đa viết vè hắn - "Đó là một con người tàn bạo, hết sức tàn bạo và nham hiểm, nhẫn tâm và ích kỷ". "Boóc-man nghiện Cô-nhắc, thích ngồi trong góc tối căn hầm và hầu như ghi chép khỏng sót bất cứ lời nào của quốc trưởng nhằm "dành cho lịch sử". Cuốn sổ tay của Boóc-man ghi đầy các trang, nhưng không có ý lớn. Trong những ngày này bất cứ ai được gặp Hít-le đều nhớ rõ câu nói duy nhất của hắn thường lắp đi lắp lại là: "Chuyện gì thế? Cỡ nào?" Hắn cứ thường lắp bắp hỏi như vậy mỗi khi trong phòng có tiếng nổ mạnh từ trêi mặt đất dội xuống. Khi có những viên tướng từ chiến trường được gọi về xuất hiện dưới hầm trú ẩn, Hít-le thường bắt họ báo cáo tình hình chiến sự và cúi nhìn những chiếc khuy đồng găm trên đó - tượng trưng cho các vị trí của quân Đức. Còn Hít-le tự tay mình cắm những mũi tên lên bản đồ - tượng trưng cho hướng phản công. Trong những ngày ấy, việc báo cáo về thất bại mà để cho Hít-le nghe ra là quân đội bị đánh tan thì, những tin như vậy thường phải trả giá bằng cả cuộc sống của báo cáo viên. Hít-le không thích đi vào tình hình thực tế, không cần biết đến nó. Thường mỗi khi nghe báo cáo về những thất bại thì hắn lồng lên như điên dại, lên án các tướng tá là phản bội là hạ lệnh xử tử họ một cách không thương tiếc. Nhưng đối với những viên tướng nào may mắn chạy thoát được về Béc-lin mà lại thông báo cho hắn biết về sự kỳ diệu mà hắn đang chờ đợi là quân đội của tướng Ven-cơ đang cấp tốc kéo về chi viện cho Béc-lin thì kẻ đó sẽ được tặng thưởng và lại được đề bạt và đưa tiếp ra mặt trận. Có lần, khi nghe tin lữ đoàn xe tăng của tưóng Vây-lin- gơ bị thất bại và đang rút chạy khỏi Cút-tri-na, Hít-le điên khùng hạ lệnh bắn viên chỉ huy này. Và khi viên tưóng theo lệnh gọi đã đến trình diện dưới hầm trú ẩn của Hít- le thì Hít-le lại không thèm nghe xem ai đang báo cáo trước mặt mình, mà lại thổ lộ vói chính kẻ có tội kia kế hoạch phòng thủ Béc-lin của mình. Trong cái kế hoạch đầy ảo tưởng này vị trí quan trọng nhất dành cho các đơn vị của tướng Ven-cơ mà trong thực tế không thể tham gia việc bảo vệ Béc-lin được vì hắn đang bị bộ đội Xô-viết bao vây cũng như lữ đoàn tăng của chính Vây-lin-gơ, viên tướng thất trận chỉ còn trong tay một vài đơn vị què. quặt không còn khả năng chiến đấu. Nhưng viên tướng này đã được Hít-le tha tội chết và đề bạt làm tư lệnh phòng ngự Béc-lin mà việc đó, theo chính lời Vây-lin-gơ cũng chẳng khác gì một mệnh, lệnh đi tới cái chết mới. "Những mệnh lệnh trái ngược và điên loạn của ông ta đã hoàn toàn lạc hướng và không có nó thì bộ chỉ huy quân đội Đức cũng đã lộn tùng phèo lên rồi" - thiếu tướng cảnh sát kiêm tư lệnh đơn vị ss bảo vệ Hít-le Rát- ten-hu-be đã ghi những dòng như vậy trong cuốn nhật ký công vụ của ông ta. ông ta kể rằng, trước đây Hít-le rất thích xuất hiện bất ngờ trước các đơn vị quân đội. Những cuộc đi thăm đột kích như vậy thường là chớp nhoáng, sau khi nghe các chỉ huy báo cáo vắn tắt tình hình, hắn ào qua thăm các đơn vị và rút ngay. Những cuộc đi thăm như vậy thường có Rát-ten-hu-be đi theo bảo vệ và cả chuyến đi thị sát tới pháo đài Bret1 cùng Mút-xô-li-ni tại mặt trận phía Đông và đây là chuyến đi dài nhất của Hít- le ra khỏi Béc-lin vào nửa cuối năm 1941. ------------------------ 1. Pháo đài Brét nâm trên biên giới phía Tây Liên Xô giáp Ba Lan. Hít-le đã tới đây trong một chuyến thăm chớp nhoáng tượng trưng sau khi pháo đài biên thùy này bị chiểm đóng sau sáu tháng chiễn tranh .N.D. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2017, 10:04:07 pm Nhưng đó là những chuyến đi trước khi nổ ra những cuộc phản công của quân đội Xô-viết. "Hàng loạt những thất bại ở mặt trận phía Đông, sự cáo chung của những kế hoạch quân sự - chính trị của hắn và đặc biệt là thất bại nặng nề của quân đội Đức tại Xta-lin-grát đã làm cho Hít-le quỵ hẳn. Hắn không dám đi "thăm" các mặt trận nữa. Sau cuộc mưu sát không thành ngày 20-6-1944 tại đại bản doanh của hắn ở miền Đông Phổ thì "sự lo sợ và hoang mang cũng như nghi ngờ đối với mọi người chung quanh đã bao trùm Hít-le và những cơn điên loạn càng tăng thêm". "Giờ đây ông ta đã già khụ hẳn đi đúng với nghĩa đen của từ này - nét mặt như đeo chiếc mặt nạ nhăn nheo kinh hoàng và hoang mang. Đôi mắt thâm quầng điên dại. Tiếng nói thều thào chỉ đủ nghe, đầu luôn cúi gằm như quá nặng trên chiếc cổ nổi đầy gân xanh, tay luôn run rẩy còn đôi chân mỗi khi bước đi cứ như lê trên nền hầm". Nhưng hắn vẫn còn đầy đủ quyền hành để tung hết người ra chiến đấu phòng thủ Béc-lin nhằm cho nó đứng vững được đến khi phe đồng minh tan rã mà theo hắn là có thể sẽ diễn ra trong một ngày nào đó gần đây thôi khi quân đội của họ tiếp cận nhau. Bọn đao phủ SS đã tung ra những lời hứa giả dối để che giấu nỗi sợ hãi cái chết. Ngày 26 tháng 4 vòng vây đã thắt chặt chung quanh Béc-lin. Cũng đúng vào ngày này, bộ binh Xô-viết và Hoa Kỳ gặp nhau trên sông Ô-đe, tay bắt mặt mừng. Sau bức tường của dinh quốc trưởng những người bị Hít-le lừa dối cứ tiếp tục hy sinh vô ích. Còn dưới hầm trú ẩn, mọi người thân cận Với Hít-le vẫn thấp thỏm sống, chờ đợi vận may kỳ diệu do những lời tiên tri trong các bản tử vi đầy dối trá cũng như linh cảm nhạy bén của quốc trưởng mang lại. Chỉ một nguồn tin về sự phản bội của Gơ-rinh rời bỏ Béc-lin và tự tổ chức thương lượng với quân Anh - Mỹ về ký hiệp ước riêng rẽ cũng đủ làm cho những người đang sống thấp thỏm dưới hầm trú ẩn này quên đi tất cả những gì đang xảy ra trên mặt đất. Gơ-rinh gửi cho Hít-le bức thư: "Thưa quốc trưởng của tôi! Chấp hành quyết định của Ngài òr lại trong thành phố Béc-lin này, chẳng hiểu có phải là Ngài cho rằng tôi cần phải nhanh chóng nắm lấy quyền lãnh đạo toàn bộ công việc của đất nước cả về đối nội cũng như đối ngoại, và với tư cách là người kế vị của Ngài theo sắc lệnh Ngài ký ngày 29-6-1941, từ nay tôi có toàn quyền hành động. Có đứng vậy chăng? Nếu đến 10 giờ tối nay, tôi không nhận được phức đáp của Ngài, tôi sẽ cho rằng do sự liên lạc bị gián đoạn của Ngài, và theo đó, căn cứ vào sắc lệnh cũ của Ngài, tôi sẽ bắt đầu hành động theo đứng quyền hạn vì lợi ích của đất nước và dân tộc. Chắc Ngài cũng đã hiểu tình cảm cửa tôi đối với Ngài là như thế nào trong giờ phút tối ư nghiêm trọng này đối với vận mệnh của tôi. Tôi không thể tìm được lời nào xứng đáng để nói lên tình cảm này. Tôi chỉ biết cầu Chúa phù hộ Ngài. Xin gửi Ngài lời chào tuyệt đối trung thành. Géc-man Gơ-rin" Hít-le phát điên lên. "Thằng buôn lậu và phản bội" - Hít-le gọi Gơ-rinh như vậy. Hắn ra lệnh bắt giữ kẻ phản bội. Lệnh này được chuyền qua máy vô tuyến điện cho viên tư lệnh bảo vệ Hít-le và viên tướng này đã thi hành ngay. Hít-le hạ lệnh cho Sau-bơ sĩ quan tùy tùng, đốt toàn bộ hồ sơ lưu trữ của hắn để ở Muy-ních và Béc-tê-xgát-đen. Sau-bơ chỉ kịp ra sân bay đứng chuyến cuối cùng cất cánh. Boóc-man ghi nhật ký: "Thứ tư, 25 tháng 4, Gơ-rinh bị khai trừ khỏi đảng Quốc xã! Mở đầu đợt tiến công rộng khắp của đối phương vào Ô-béc-đan-béc-gơ. Béc-lin bị bao vây hoàn toàn !". Còn điều gì đã xảy ra với Gơ-rinh, "nhân vật số hai" của đế chế và là đại thống chế duy nhất trong lịch sử nước Đức giờ đây mọi nguời đã rõ. Rát-ten-hu-be con người đảm lãnh hai chức vụ chỉ huy đội bảo vệ riêng của Hít-le và đồng thời là tư lệnh cơ quan an ninh nên biết rất rõ những điều bí mật cũng như công khai của những người bạn chiến đấu của Hít-le "Tôi không cần gì hơn ngoài cuộc sống cả, gia đình tôi rất đầy đủ"- Gơ- rinh tuyên bố như vậy vào mùa thu năm 1944 và làm cho Rát-ten-hu-be chú ý. Ông ta ghi rõ trong nhật ký nhận xét về Gơ-rinh là một kẻ khao khát làm giàu, đã lợi dụng chức quyền mình đề ăn cắp, cướp đoạt, lúc đầu là ở Đức, sau đến ở Ý và rồi dần dà ở các nước bị chiếm đóng. Khi phát biểu tại hội nghị tỉnh trưởng các nước bị chiếm đóng ngày 6 tháng tám 1942, hắn đã thẳng thừng de dọa bọn quan chức này bằng quyền hạn vô song của hắn trong lĩnh vực kinh tế được chính Hít-le trao cho: "Tôi buộc phải thực hiện việc cung cấp mà tôi đã giao cho các ngài và nếu như các ngài không thực hiện điều này thì tôi buộc phải trói chặt bên chân các ngài một cơ quan có thẩm quyền khác để người ta đủ sức thu nhặt tất cả những gì của các ngài có trong tay mà không cần biết, các ngài có thích hay không thích". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2017, 11:45:13 am Trong cái việc đi ăn cướp, bòn rút 3 các nước bị chiếm đóng này thì cấp dưới của hắn đã hiểu rõ hắn ngay từ nửa lời đầu tiên, thế nhưng hắn cũng cứ phải giải thích rõ cần phải làm như thế nào đề bóc lột kinh tế trên những vùng lãnh thổ bị chúng chiếm đóng: "Trước đây tôi cho rằng công việc này rất đơn giản. Lúc ấy người ta gọi đấy là thổ phỉ. Nhưng bây giờ về hình thức mà nói, thì phải khôn ngoan hơn. Mặc dầu hình thức gì đi nữa, thì vẫn cứ hạ lệnh cho các ngài là hãy cướp, hay lấy một cách kiên quyết và có hiệu quả... Các ngài phải như những con ngựa háu đá, con chó háu ăn ấy. Bất cứ chỗ nào đó còn có cái, gì để có thể cần thiết cho nhân dân Đức thì phải nhánh chóng cho nhập vào kho của các ngài và nhanh chóng chuyển về đây, về đất nước chúng ta". Dưới sự chỉ đạo của hắn, hàng triệu người từ nhiều nước bị chiếm đóng đã bị dồn về Đức lầà lao động khổ sai. Trong những năm chiến tranh, Gơ-rinh "tên toàn quyền kinh tế của nước đại Đức" đã nhiều lần đến thăm các lâu đài riêng hắn ở Ca-rin-hôn và Béc-ten-ga, đến để ngắm nghía những báu vật trên thế giới mà hắn đã cướp về đây và trong những ngày này hắn thường mặc chiếc áo ki-mô- nô kiểu Nhật Bản bằng lụa hồng, thắt chiếc đai bằng vàng thật để tiếp khách. Còn vợ hắn thì tiếp bạn bè cùng với con sư tử con vàng óng trên tay. Hắn vẫn giữ thú vui săn bắn vào ngày nghỉ tựa như không có chuyện gì xảy ra trên đất nước này cả. Tháng 6 năm 1945, người đội trưởng trong đội săn bắn của hắn đã kể cho tôi nghe hắn đi săn như thế nào. Trong công viên mùa hè có những hàng cây trồng thẳng tắp hai bên lối đi và cuối những hàng cầy ấy người ta thường đặt máng nước cho hươu đến uống theo giờ quy định. Các ngày nghỉ ngài Gơ-rinh trong chiếc áo sơ-mi blu-dông màu đỏ, đi đôi ủng xanh ngồi trên chiếc xe mui trần, phóng dọc theo hàng cây mà ở đấy người ta đã cố bố trí một con mồi đang uống nước hoặc đang ngơ ngác "nhìn lá vàng rơi". Và thế là ngài Gơ-rinh nổ súng, ngài luôn đòi lấy bộ gạc coi như chiến lợi phẩm của một cuộc "đi săn". Cho đến giờ phút cuối cùng Gơ-ben vẫn giữ lòng căm hờn đối vớ1 tất cả bạn đồng nghiệp chóp bu và đặc biệt hắn theo dõi ráo riết người kế vị quốc trường và không giấu vẻ hằn học đối với Gơ-rinh: "Những kẻ ngu đần đeo đầy huân chương và ăn mặc như những công tử bột không thể để vào cương vị lãnh đạo quân sự được. Hoặc là họ phải tỏ ra có khả năng hoặc là người ta sẽ sa thải chúng. Tôi không thể yên lòng được và sẽ không ngủ được chừng nào quốc trưởng vẫn còn chưa lập lại trật tự mới. Quốc trưởng cần phải bắt Gơ-rinh cải tạo lại cả bên trong lẫn bên ngoài, hoặc là vất ông ta ra khỏi cửa. Thật là trớ trêu khi trong tình hình chiến tranh như vậy mà ông ta vẫn thích diện bộ lễ phục màu ánh bạc lóng lánh. Đúng như một con mụ làm đỏm bất chấp cả tình hình ra sao! Hy vọng rằng quốc trưởng sẽ đưa hắn trở lại là một thằng đàn ông thực sự". Gơ-ben ghi như vậy trong nhật ký của mình ngày 28 tháng hai 1945, tức là hai tháng trước khi chúng thất bại hoàn toàn. Gơ-ben đã làm mọi việc để khuyên Hít-le gạt Gơ-rinh đi. "Tình hình như vậy mà Gơ-rinh vẫn đi chuyến tàu đặc biệt tới Ô-béc-đan-béc thăm vợ". (22-3). Nhưng chỉ một tháng sau thôi, bây giờ đến lượt Gơ-rinh chết cháy. Biết rằng sắp bị bắt, Gơ-rinh đã từ bỏ mọi khát vọng của mình. Trong bức điện gửi cho hắn, Hít-le đã nói rằng, cuộc sống sẽ cảm ơn hắn nếu hắn từ bỏ mọi chức vụ và quyền hành hiện nay. Và ngay sau đấy trong căn hầm dưới dinh quốc trưởng người ta nhận được bưc điện báo tin rằng, do bị cơn "đau tim nặng và đột ngột" Gơ-rinh yêu cầu được từ chức. Ngày hôm sau trên từ "Tin Béc-lin" nhân dân và quân đội được đọc bản thông báo như sau: "Thống chế Đức Héc-man Gơ-rinh từ lâu đã bị đau tim nặng và giờ đây bệnh tình đang ở giai đoạn phát triển xấu. Do đó ông đã tự nhận trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải làm việc hết sức khẩn trương mà sức khỏe không cho phép nên yêu cầu được từ chức vụ nặng nề là tổng tư lệnh lực lượng không quân và mọi chức vụ hiện ông đang giữ. Quốc trưởng đã phê chuẩn đề nghị này. Tổng tư lệnh lực lượng không quân mới là trung tướng Rít-te Phôn Grây-mơ và quốc trưởng đã phong ông quân hàm thống chế không quân. Hôm qua quốc trưởng cũng đã tiếp Tổng tư lệnh lực lượng không quân mới tại phong khách chính ở Béc-lin và đã thảo luận kỹ càng cùng vị Tổng tư lệnh mới những công việc cần thiết để đưa lực lượng không quân và phòng không vào chiến đấu được ngay. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2017, 04:40:19 am Lệnh đề bạt Grây-mơ có thể truyền qua vô tuyến điện. Nhưng Hít-le, một con người quen thói phô trương và thích oai vệ, không cần biết đến những khó khăn trở ngại và tình hình gì đang diễn ra trong thực tế, bất chấp mọi điều, kể cả việc hy sinh vô ích các phi công Đức, đã bắt Grây-mơ phải đến nhận lệnh của hắn tại hầm trú ẳn ở Béc-ỉin. Tại đây hắn chỉ làm có một việc là tuyên bố đề bạt viên tướng không quân lên chức tổng tư lệnh quân chủng này. Và Grây-mơ đã bay trên chiếc máy bay riêng của mình với bốn mươi chiếc máy bay chiến đấu khác yểm hộ của lực lượng không quân Đức. Sau khi cất cánh ở sân bay Rê-khlin và vừa mới bay được tới sân bay Ga-tốp thì đội hộ tống của ông ta bị bắn rơi hết chiếc này đến chiếc khác, trong lúc Bộ chỉ huy không quân phải dè xẻn tính toán từng chiếc máy bay, từng tên phi công một. Vội hạ cánh xuống Ga-tốp, sau khi yên ắng ông ta lại bay tiếp trên chiếc máy bay khác và tự lái lấy. Nhưng chỉ ít phút sau, khi đang bay trên vùng trời cổng Bran-đbua một viên đạn pháo đã bắn trúng bụng máy bay và viên tướng không quân bị thương ở chân. Nữ phi công riêng của ông ta Han-na Rây-trơ, người cùng bay theo Grây-mơ vội giằng lấy tay lái và lái máy bay về đường quốc lộ Đông - Tây rồi hạ cánh xuống đấy. Mấy tháng sau, nữ phi công Rây-trơ đã kể lại với Bộ chỉ huy quân Mỹ về tất cả nhưng điều mắt thấy tai nghe tại hầm trú ẩn của Hít-le trong những ngày ấy. Những lời kể lại của cô ta là có thể tin cậy được vì bản thân Rây-trơ vốn là một đảng viên quốc xã đầy cuồng tín, trung thành tuyệt đối với Hít-le. Ngay sau khi tướng Grây-mơ và Rây-trơ xuất hiện dưới hầm, Hít-le liền đưa bức điện của Gơ-rinh ra và gọi ngay y là "kẻ phản bội". "Hắn đã trao cho tôi bức tối hậu thứ này đây !". Mắt quốc trưởng rưng rưng, đầu cúi gục nặng nề, mặt tái xám như mặt người chết, hai tay run run... Đây là một cảnh tượng điển hình... lòng tôi trào lên đầy xúc động - Han-na kể lại. Sau đấy quốc trưởng tuyên bố tước bỏ toàn bộ chức vụ của Gor-rinh và đề bạt tướng Phôn Grây-mor đang bị thương giữ chức vụ Tổng tư lệnh lực lượng không quân. Nhưng bất chấp ý định kỳ quặc của quốc trưởng dưới hầm trú ẩn này, tướng Grây-mơ đang bị thương và tại đây thì ông hầu như bị mất hết khả năng chỉ huy lực lượng không quân què quặt mà từ nay ông ta phải đứng đầu nó. Được ở lại liền ba ngày trong hầm trú ẩn để chăm sóc tướng Grây-mơ, Rây-trơ có dịp quan sát hành vi, thái độ của các nhà lãnh đạo cao nhất của cái đế chế mà cô ta đang hết lòng phục vụ, đã mô tả tỉ mỉ Hít-le đi lại trong phòng ra sao, "tay vung và làm rơi tấm bản đồ đường giao thông và say sưa nói lên kế hoạch điều động các đơn vị của tướng Ven-cơ với bất cứ người nào mà ông ta tình cở gặp trong hầm". "Tinh thần cũng như sức khỏe của ông ta bị suy sụp nhanh chóng". Phòng Grây-mơ nằm, giáp với phòng Gơ-ben và Rây-trơ thấy hắn ta cứ khập khà khập khiễng cà nhắc trong phòng luôn mồm chửi rủa Gơ-rinh là "phản bội", là "con lợn" và dùng những từ tục tĩu khác để thóa mạ con người này. Han-na Rây-trơ bắt buộc phải nhìn cảnh tượng này và nghe những lời chửi rủa khó chịu ấy, vì phòng cô ta luôn phải mở cửa và cô có cảm giác như Gơ-ben đang nói chuyện trước đám đông các nhà sử học đang khao khát ghi chép bất cứ lời nói nào của gã. Trong đầu óc cô ta vẫn luôn luôn có ý nghĩ về những xảo thuật diễn thuyết của Gơ-ben, về cái vẻ ngoài húng hắng và về những lời nói hùng biện nhưng trống rỗng của gã. "Đó là những người đang lãnh đạo đất nước chúng ta đấy chăng ?" - Grây-mơ đã có lần thốt lên thất vọng hỏi nữ phi công của mình như vậy. Ngay buổi tối đầu tiên đến hầm, Hít-le đã cho gọi Rây- trơ đến gặp. "Mỗi người chúng ta ở đây đều phải có sẵn ống thuốc này", hắn nói và trao cho cô ta hai ống thuốc độc - một cho Grây-mơ, một cho cô ta. Giữ lấy, đề phòng trong lúc cấp thiết khi nguy cơ đang đến gần". Rồi hắn nói thêm "mỗi người phải tự hủy diệt bản thân mình ra sao để không thể ai nhận diện được nữa". Người ta đã dỗ dành đám con của Gơ-ben là ở đây, trong cái "động" đầy lãng mạn của "bác quốc trưởng" không có gì có thể đe dọa chúng được nữa. Cũng theo Rây-trơ cho biết thì trong những ngày ấy, Mác-đa Gơ-ben "suốt ngày chỉ ra vào hoặc ngồi im rồi khóc nức nở đầy đau xót", "miệng luôn cảm ơn Chúa đã cho mụ ta sống đến lúc này để tự tay mình được giết những đứa con do mình đẻ ra". Mụ ta tâm sự với nữ phi công: "Chúng tôi là tôi tớ, là công dân của đế chế và của quốc trưởng và nếu hai chúng tôi không còn nữa thì con cái chúng tôi cũng sẽ không có chỗ trên trái đất này. Nhưng cô cần giúp đỡ tôi trong việc này. Tôi sợ nhất là đến phút cuối cùng mình không đủ sức để hành động". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2017, 03:29:24 am "Từ những lời này của Han-na Rây-trơ có thể rút ra kết luận rằng, bà Gơ-ben là một trong những thính giả trung thành nhất của học thuyết "khoa học thượng đẳng", là chồng bà ta thường nói và có thể thấy rõ được ảnh hưởng quái gở của chủ nghĩa quốc xã đối với một phụ nữ trí thức Đức như thế nào" - công tố viên người Mỹ đã viết như vậy khi nhận xét về vợ chồng Gơ-ben. Trước tất cả những người sống trong hầm trú ẩn, Hít- le đã tự tay mình gắn huy chương vàng cho Mác-đa Gơ-ben để ghi nhận cho cái gọi là "một điển hình phụ nữ chân chính dòng máu Đức" "một người tượng trưng cho học thuyết chủng tộc của chủ nghĩa quốc xã". Rạng sáng 27 tháng 4 khu dinh quốc trưởng chao đảo trong trận bắn phá mạnh mẽ của pháo binh. Tiếng đạn pháo nổ mạnh liên hồi dồn dập hòa cùng tiếng nhà đổ sụp trên nóc hầm đã tạo nên sự căng thẳng của mỗi người trong hầm và thỉnh thoảng qua cánh cửa còn nghe rõ cả tiếng rên đau đớn. Ngày 27, anh rể của E-va Brao-nơ là Phê-ghen-lây, tướng SS đại diện của Him-le bên cạnh đại bản doanh Hít- le đã biến khỏi hầm trú ẩn. Hít-le hạ lệnh tìm bắt Phề- ghen-lây. Hắn bị bắt tại nhà riêng ở Béc-lin khi đang cải trang làm dân thường để chuẩn bị chạy trốn. Và ngay sau đó bất chấp lời cầu xin của E-va, theo lệnh Hít-le, hắn đã bị bọn SS xử bắn ngay tại khu vườn hoa dinh quốc trưởng tối 28 tháng 4 trước lúc Hít-le làm lễ thành hôn với E-va mấy giờ. Khuya ngày 28 pháo binh Xô-viết bắn phá dồn dập hơn vào khu dinh quốc trưởng. "Đạn rơi chính xác đến nỗi làm cho những kẻ đang sống trong hầm trú ẩn kinh hoàng - Rây-trơ kể lại. Có cảm giác như viên đạn sau lại rơi đúng ngay hố đạn trước...". Trong bất cứ lúc nào bộ binh Xô-viết cũng có thể tràn vào hầm trú ẩn nên Hít-le đã quyết định triệu tập lần thứ hai "Hội đồng tư sát". Mọi người đều thể tỏ rõ lòng trung thành với quốc trưởng và hứa sẵn sàng tự sát khi tình hình gay cấn nhất. Hội nghị quyết đinh giao cho bọn SS nhiệm vụ "xóa bỏ mọi dấu vết của những người tự sát". Ngày 28 tháng 4, qua các đài phát thanh phương Tây, mọi người biết tin Him-le, qua chính phủ trung gian Thụy Điển, đã nhắn tin với Anh - Mỹ rằng, hắn, với quyền hạn tối hậu đã quyết định thương lượng với quân đồng minh về điều kiện nước Đức đầu hàng riêng với hai nước đồng minh phương Tây này. Him-le, tên Tổng chỉ huy SS của đế chế Đức, người bạn thân của quốc trưởng, cái tên Him-le vẫn được quốc trưởng gọi với những tiếng thân thiết như "Hen-rích trung thành", "Hen-rích sắt đá", phút chốc đã trở thành "tên phản bội". "Mọi người dân Đức, đàn ông cũng như đàn bà đều khóc lóc, kêu than thất vọng và đau khổ - Rây-trơ nói tiếp, mọi người đều như những đám điên loạn". Những người đang bị Hít-le giữ lại dưới căn hầm này đều bị cơn điên loạn man rợ xâu xé vì họ đang đứng trước cái chết không thể tránh khỏi. Cũng theo lời Rây-trơ, trong những giờ phút ấy Hít- le đã trở nên điên thật sự, hắn hầu như không ngủ được. Mặt hắn đỏ rực không còn nhận ra được nữa. Sau đấy hắn mê man, mụ người đi. Chốc lát toàn khu hầm được tin bộ đội Xô-viết đã tiến tới quảng trường Pốt-xđam và đang đào công sự chuẩn bị Tổng tiến công vào khu dinh quốc trưởng. Mặc dầu đang bị thương nằm điều trị trong hầm nhưng Grây-mơ vẫn bị Hít-le dựng dậy hạ lệnh cho ông ta và Rây-trơ phải tìm mọi cách bay ngay về Rê-khlin và, cũng bằng mọi cách đưa cho được những máy bay còn lại tới Béc-lin để đánh phá các vị trí quân Nga. "Với sư yểm trợ của không quân, tướng Ven-cơ nhất định sẽ tới đây cứu viện được"-Hít-le một lần nữa lại đặt niềm tin của hắn vào Ven-cơ. Nhiệm vụ thứ hai của Grây-mơ là: tìm bắt cho được Him-le. Không được để hắn sống và sẽ "nối ngôi quốc trưởng". Trong thâm tâm, Hít-le vẫn nhen nhóm ý nghĩ báo thù. Không cần nghe Grây-mơ trình bày khó khăn của họ, Hít-le vẫn khăng khăng theo ý kiến mình. Chiếc máy bay "a-ra-đô" cuối cùng giấu kín dưới hầm cổng Bran-đbua được chuẩn bị để bay. Người ta đã cố gắng làm hết sức mình để nó cất cánh bay trên đoạn đường đầy nặng nề và nguy hiềm chỉ cốt chứng kiến tận mắt sự tan rã hoàn toàn của lực lượng vũ trang Đức quốc xã. Về điều này thì mãi mấy tháng sau, công tố viên Mỹ mới kể lại qua lời khai của Rây-trơ: "Đường phố rộng lớn từ cổng Ma-đơ-bua được dùng và dọn dẹp để làm đường băng xuất phát cho chiếc máy bay này. Cũng may còn một quãng dài độ bốn trăm mét chưa bị hố đạn, bom phá hỏng. Chúng tôi cất cánh dưói lửa đạn pháo binh. Nhưng khi chiếc máy bay lên cao ngang tầm mái nhà thì nó bị dọi đèn pha của quân đội Xô-viết bắt được và lập tức hỏa lực pháo phòng không liền nã đạn theo nó. Đạn nổ chí chát bao quanh máy bay nhưng chỉ có mấy mảnh trúng thân. Rây-trơ liền vút lên độ cao 2000 mét và trông rõ Béc-ỉin đang chìm trong biển lửa. Khu vực Béc-lin bị bắn phá trải rộng bao la và trông như một thành phố huyền ảo. Sau năm mươi phút bay, máy bay lại hạ cánh trong vòng lửa đạn của pháo phòng không Nga. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2017, 08:36:01 pm Grây-mơ hạ lệnh tập trung ngay những máy bay còn chiến đấu được đến cứu viện Béc-lin. Như vậy là ông ta đã hoàn thành được nhiệm vụ thứ nhất và giờ đây Grây- mơ bước sang nhiệm vụ thứ hai: tìm bắt Him-ỉe. Ông ta bay đi Plô-en để gặp Đê-nít lúc ấy đang ở đây và dò xem Him-le đang trốn ở đâu. Nhưng Đê-nít cũng không được tin gì về Him-le. Ông ta liền đến gặp thống chế Cây-ten và được biết là Béc-lin đừng hy vọng gì vào Ven-cơ vì tập đoàn quân của ông ta đã bị bộ đội Xô-viết vây chặt. Cây-ten cho Grây-mơ biết, ông ta cũng đã thông báo tin này cho Hít-le. Ít hôm sau cả hai đều được tin Hít-le đã chết và chỉ định Bê-nít thay hắn làm quốc trưởng. Hai người trở về Plô-en dự cuộc họp chính phủ do quốc trưởng mới triệu tập. Tổng tư lệnh lực lượng không quân do quốc truởng Hít-le chỉ định, thống chế Grây-mơ đang dự họp thì đột nhiên thấy Him-le xuất hiện ngay ở phòng chờ, nơi Rây- trơ đang ngồi. "Trông ông ta vẫn tươi tỉnh". Rây-trơ ngăn Him-le lại và gọi ông ta là "kẻ phản bội". Thế là diễn ra cuộc đấu khẩu: - Ông đã phản bội quốc trưởng và nhân dân chính trong giờ phút gay go nhất của đất nước! - Hít-le muốn tiếp tục chiến tranh! ông ta vẫn muốn nhắm mắt làm ngơ để cho máu của nhân dân Đức tiếp tục chảy khi ngay cả máu cũng không còn đủ để chảy nữa. ...Giờ đây ông mới nói tới máu của người Đức. Đáng lẽ ông phải nghĩ tới nó sớm hơn trước khi ông ta để cho nó chảy một cách vô ích. Bỗng còi báo động vang lên cắt đứt cuộc đấu khẩu. Cuộc đấu khẩu chỉ hạn chế có thế. Quốc trưởng mới của nước Đức bắt đầu hành động và Him-le định đến để tìm tiếng nói hợp tác chung. Tại cuộc họp với Đê-nít mọi người thống nhất ý kiến là cuộc kháng cự không còn ý nghĩa gì nữa. Tuy vậy Grây- mơ vẫn bay đi gặp thống chế I-oóc-néc, Tổng tư lệnh lục quân đang đóng ở Xi-lê-di và Tiệp Khắc để nghị ông ta cố giữ vững ít hôm nữa chờ đến khi có lệnh đầu hàng, nhằm giúp cho dân chúng có thời giờ chạy sang phương Tây. Sáng ngày 9 tháng 5 Grây-mơ và Rây-trơ đầu hàng quân Mỹ. Hai tuần sau Grây-mơ đã tự sát bằng ống thuốc độc do Hít-le đã trao cho hắn trong hầm trú ẩn ở Béc-lin. Báo "Pra-vđa" đưa tin: "Luân Hôn ngày 27 tháng 5 (TASS). Đài phát thanh Luân Đôn báo tin, tướng Tổng tư lệnh không quân Đức Rít-te Phôn Grây-mơ, người thay thế Gơ-rinh, đã tự sát tại bệnh viện Gian-xơ-buốc-gơ. Tướng Grầy-mơ đã bị quân đồng minh Anh - Mỹ bắt cách đây hai tuần, ông ta tự sát bằng chất xi-a-nuya". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2017, 08:29:11 am HÍT-LE CÓ KẾ HOẠCH GÌ? Thảng hoặc những khi nhìn lại sự kiện những ngày cuối cùng của khu dinh quốc trưởng, các nhà nghiên cứu thấy rõ rằng sự sụp đổ và những nét điên loạn tinh thần biều hiện trong con người Hít-le, nhưng họ không đi sâu vào những sư kiện này mà lại để ý đến kế hoạch hành động của hắn. Nó được dùng để che lấp cho những cơn điên khùng và những trò hề khác của Hít-le trong những ngày ấy. Dưới sức tiến công dồn dập của các đơn vị bộ đội Xô- viết những ý đồ nảy ra một cách vội vàng định chạy trốn khi thì tới Béc-tê-gan-đơ, khi thì tới Sơ-le-đơ-vít Gôn-stây- ne, khi thì lại tới pháo đài ở miền Tây Ti-rôn theo ý định của Gơ-ben, đều bị phá sản. Nghe đề nghị của tên chủ tịch đảng tỉnh Ti-rôn mời hắn đến pháo đài này, Hít-le, với sự chứng kiến của Rát-ten-hu-be đã "phẩy tay một cách tuyệt vọng" và nói: "Tôi thấy việc chạy hết nơi này sang nơị khác thế này quả là chẳng có ý nghĩa gì cả. Tình hình ở Béc-lin trong những ngày cuối tháng tư này chứng tỏ rằng, sắp đến ngày tận số của chúng ta. Các sự kiện diễn ra nhanh hơn chúng ta tưởng". Sân bay Ga-tốp còn chiếc máy bay cuối cùng dành cho Hít-le luôn sẵn sàng cất cánh. Khi máy bay này bị tiêu diệt nốt, người ta đã vội vã chuẩn bị một bãi đỗ khác gần dinh quốc trưởng. Phi đội dành cho Hít-le cũng bị pháo binh Xô-viết tiêu diệt. Nhưng may còn được tên phi công riêng vẫn ở trong hầm. Tổng tư lệnh không quân mới, tướng Grây-mơ đã gửi thêm máy bay tới Béc-lin cho hắn nhưng không một chiếc nào lọt vào được vùng trời thành phố lúc này. Và cũng không một chiếc máy bay nào lọt ra được khỏi vòng vây Béc-lin, theo chính Grây-mơ thú nhận. Trong thực tế, không thế đi đâu được cả vì bộ đội Xô- viết tiến công khắp mọi hướng. Còn nếu bỏ thành phố Béc-lin đang thất thủ để chạy ra với quân Anh - Mỹ thì cũng là việc làm không có hy vọng. Do đó hắn đã chọn kế hoạch khác. Xuất phát từ đây, từ Béc-lin để thương lượng riêng với Anh - Mỹ, nhưng người của phe đồng minh mà theo hắn biết, đang rất quan tâm tới việc làm sao cho quân Nga không thể chiếm được Béc-lin nhanh chóng để có thể thương lượng với những điều kiện chấp nhận được. Nhưng rồi hắn cũng thấy rằng, thương lương chỉ có thể có lợi trên cơ sở tình hình Béc-lin phải được cải thiện tốt hơn. Kế hoạch như vậy là không thực tế, không thể thực hiện được. Nhưng nó lại do Hít-le đề ra và khi giải thích bức tranh lịch sử những ngày cuối cùng của đế chế này, hắn không muốn đi đường vòng. Hít-le không thể không hiểu rằng, dù cho tình hình có tạm được cải thiện trong bối cảnh chung của sự suy sụp về quân sư của nước Đức thì cũng chẳng có tác động gì mấy. Nhưng cũng theo ý kiến của hắn, đó lại là điều kiện chính trị cần thiết phải có trước đối vơi các cuộc thương lượng mà hắn đặt những hy vọng hão huyền cuối cùng vào đấy. Hắn vẫn điên rồ tin vào quân đội của tướng Ven-cơ, Rõ ràng là, giờ đây hắn không còn đủ khả năng chỉ huy cuộc phòng thủ Béc-lin. Nhưng vấn đề bây giờ là ở kế hoạch bảo vệ nó! Hít-le bị choáng váng trước sự phản bội của Gơ-rinh và Him-le, không phải vì đã thương lượng riêng rẽ với quân đồng minh Anh - Mỹ mà là vì đã vuốt mặt mà không nể mũi hắn - tôi đọc được ý kiến này trong lời khai của tướng Rát-ten-hu-be sau khi ông ta bị bắt làm tù binh ở Béc-lin. Gơ-rinh và Him-le đã phản bội hắn, và cả hai có thể làm thêm một việc nữa là đào hẳn mặt đất cứng dưới chân hắn và hất hắn xuống luôn cái hố đó, phớt lờ hắn và đi thương lượng riêng rẽ với quân đồng minh. Khi lục tìm lại các hồ sơ tôi lại thấy được lá thư gửi tướng Ven-cơ do Boóc-man và Crếp ký. Thư được gửi cấp tốc vào đêm 29 tháng 4. Lá thư này cho đến nay mới được biết tới và được coi như một tài liệu quan trọng nói lên những ý đồ cuối cùng của Hít-le. Bức thư này đã tình cờ rơi vào tay ban chỉ huy quân quản chúng ta ở Span-đao ngày 7 tháng năm 1945. Có một anh chàng I-ô-dép Brích-xi nào đó, mười bảy tuồi, học sinh trường điện bị gọi vào đội thanh niên quốc xã xung kích từ tháng 2 năm 1945 và được biên chế vào đội chống tăng bảo vệ khu cơ quan chính phủ. Rạng sáng 29 tháng 4 hắn và một tên thiếu niên khác, mười sáu tuổi được gọi ra khỏi trại lính ở đường Vin-hem Stra-de, và một tên lính đã dẫn thẳng chúng tới dinh quốc trưởng. Ở đây chúng lại được dẫn tới gặp Boóc-man. Boóc-man giải thích với hai đứa rằng, chúng được chọn làm một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Chứng phải tìm mọi cách lọt ra ngoài và đến gặp tướng Ven-cơ, tư lệnh tập đoàn quân số 12 và đưa cho ông ta bức thư này. Boóc- man trao cho chúng chiếc phong bì. Số phận đứa thứ hai không rõ. Còn thằng Brích-xi đã tìm cách nào đó sáng 29 thoát ra khỏi Béc-lin đang bị vây hãm. Hắn đi bằng mô tô tìm tướng Ven-cơ làng Phéc- khơ như ngươi ta đã chỉ dẫn, cách Pốt-xđam không xa về phía Tây-bac. Đến Pốt-xđam, Brích-xi mới rõ là không một quân nhân Đức nào ở đây biết được hay nghe nói tới cái bộ tham mưu của tướng Ven-cơ cả. Brích-xi liền quyết định tới nhà ông bác họ ở Span-đao. Đến nơi, khi nghe rõ chuyện, ông bác liền khuyên là đừng dại gì mà đi đâu cả và chiếc phong bì kia thì cứ đưa nộp cho ban quân quản Xô-viết tại đây. Thế là ngày 7 tháng 5, Brích- xi đã nộp nó cho ban chỉ huy quân quản Xô-Viết. Nội dung bức thư như sau: "Thân gửi tướng Ven-cơ ! Như những tin tức gần đây cho thấy, thủ lĩnh SS Him-le đã tự động đề nghị thương lượng với quân Anh - Mỹ, bán rẻ không điều kiện nhân dân ta cho bọn tài phiệt. Chỉ có quốc trưởng, và chỉ ngài thôi, mới có thể xoay chuyển được tình hình! Điều kiện tiên quyết cho vấn đề này là phải nhanh chóng bắt liên lạc được với bộ đội của tướng quân Ven-cơ và như vậy sẽ tạo cho quốc trưởng quyền tư do cả về mặt đối nội lẫn đối ngoại để tiến hành cấc cuộc thương lượng. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2017, 10:58:57 pm MÙI THUỐC ĐẮNG Trong những ngày cuối cùng này Hít-le cảm thấy rõ rệt điều lừa dối đê tiện trong suốt cuộc đời của hắn để đạt khát vọng là thống trị mọi người và mục đích chính của nó là ca tụng cá nhân mình, và hắn đã lợi dụng toàn thể nhân dân Đức làm công cụ cho khát vọng đó. Chừng nào còn sống, còn hít thở được là hắn còn giết, còn khủng bố. Sân dinh quốc trường đã biến thành nơi hành hình, thành trường bắn. Hít-le càng đe dọa, khủng bố thì sự phẫn bội lại càng tăng hơn. Theo những kẻ gần gũi hắn khai ra thì viên tư lệnh Béc-lin, tướng Vây-lin-gơ đã đề nghị Hít-le rời thành phố để Béc-lin có thể ngừng chiến đấu khỏi bị tiêu hủy hoàn toàn. Hít-le đã thất bại, đã bị chà đạp, đã chết. Những dù chết hắn vẫn còn cố kéo tất cả phải chết theo mình. Cứ để cho tất cả đều chết, đều bị hủy diệt. Hắn tuyên bố: "Phải để cho quân đồng minh chỉ còn tìm thấy ở Béc-lin này những đống đồ nát, đói khát, chết chóc và... lũ chuột cống". Bọn thủ lĩnh quốc xã địa phương không muốn làm cho Boóc-man sợ hãi nhưng trong các báo cáo của chúng đều để lộ ra nỗi thất vọng ngày càng tăng, thể hiện ờ chỗ những báo cáo ngày càng ngắn, và hoảng sợ hơn. Chúng không chịu nổi những đợt bắn phá, những tổn thất nặng nề, sợ thiếu thốn về vũ khí, về thất bại trong việc ngăn chặn những đợt tiến công mạnh mẽ của quân đội Liên Xô. Không ai có thể ngăn chặn được tình trạng này. Còn trong hầm trú ẩn thì "Hội đồng tự sát" như Rây- trơ gọi như vậy, đã bất lực. Tờ báo "Mặt trận Béc-lin" mà chúng tôi có được trong những ngày ấy thì lại kêu gọi với giọng lên dây cót "Hoan hô các bạn, những người dân Béc-lin! Béc-lin vẫn thuộc về người Đức!..." và cao giọng hứa hão huyền rằng: "Các đơn vị quân đội chúng ta từ khắp nẻo đường đất nước đang kéo về đây, về Béc-lin đang sẵn sàng bảo vệ Béc-linl sẽ giáng những đòn nặng nề vào quân đội Nga và đến phút cuối cùng nhất định sẽ xoay chuyển tình thế, sẽ thay đổi số phận của thành phố chúng ta. Những báo cáo từ bên ngoài gửi về đã khẳng định điều đó. Các đơn vị chiến đấu đang tiến về đây vì hiểu rõ rằng, Béc-lin đang hi vọng như thế nào vào họ. Họ sẽ chiến đấu với tinh thần cuồng tín để cứu chúng ta". Chủng tôi lần theo sổ nhật ký của Boóc-man. Những dòng chữ ghi cùng ngày 27 tháng 4, nhưng tinh thần đã khác hẳn. Nó khác với tinh thần trước đó, nó chí mang tính chất những dòng tin và tiếng kêu thất vọng, những dấu chấm lửng: "Thứ sáu, 27 tháng 4. Him-le và I-dôn-đơ giữ các sư đoàn được cử tới giúp chúng tôi. Như vậy là chúng tôi phải chiến đấu và cùng chết với quốc trưởng như người ta nói, trung thành cho đến chết. Còn nhiều người khác thì hành động theo cách khác - họ hi sinh cả quốc trưởng, chà, thật là đều cáng và chó má! Chúng đã mất hết lương tâm và danh dự. Khu dinh quốc trưởng của chúng tôi đang biến thành những đống đổ nát. Cuộc sống treo trên sợi tóc. Bọn đồng minh đòi chúng tôi phải đầu hàng vô điều kiện điều này chẳng khác gì là sự phản bội Tổ quốc! Phê-ghen-lây-nơ đã thoái hóa, đã đồi bại thực sư, hắn mưu chạy trốn khỏi Béc-lin trong bộ quần áo cải trang dân thường". Nhiều lời thề thốt với quốc trưởng là sẽ theo hắn ta cùng xuống mồ cùng sống cùng chết với y, và thậm chí còn ghi cả những điều này vào nhật ký nữa, nhưng đến lúc cần chết thì chẳng thấy ai có vẻ sẵn sàng cả. Như tôi đã nêu trong bức điện ở trên của Boóc-man gửi cho trợ lý của hắn là Hun-men, hắn đã để lộ ý định chuồn xa khỏi nước Đức. Nói tóm lại mỗi đứa đều sẵn sàng hành động ngược lại để tự cứu mình. Hít-le đã cản trở mưu đồ này. "Bước sang ngày thứ hai bắn phá nặng nề - Boóc-man ghi tiếp ngày 29 tháng 4. - Nửa đêm 28 rạng sáng 29 tháng 4, báo chí, đài phát thanh phương Tây đưa tin về những đề nghị đầu hàng của Him-le". Lễ cưới A-đon-phơ Hít-le và Ê-va Brao-nơ. Quốc trưởng đọc di chúc chính trị và di chúc riêng của mình. Những tên phản bội I-dôn-đơ, Him-le cùng các tướng lĩnh khác đang để chúng tôi và quốc trưởng lại cho bọn Bôn-sê-víeh. Lại những trận bắn phá mạnh mẽ, liên hồi. Theo thông bảo của đối phương, quân Mỹ đã vào Muy-ních! Đài phát thanh nước ngoài truyền đi tin của hẵng Roi-tơ về đề nghị của Him-le gửi quân Anh -Mỹ. Bản sao đề nghi này được cô nữ thư ký Giun-ghe chuyển cho Hít-le (đánh máy chữ to) và được lưu trữ trong cặp giấy riêng của hắn: "Xin nhấn mạnh một lần nữa để chính phủ của ngài rõ, vấn đề đặt ra là phải đầu hàng vô điều kiện theo như, ngài đề nghị với ba cường quốc đồng minh và cũng xin nhắc ngài rằng, cả ba nước đồng minh đều thống nhất khẳng định dứt khoát ý kiến này". Câu trà lời này đã giáng đòn trực tiếp vào kế hoạch riêng của Hít-le. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Chín, 2017, 10:40:23 pm Ngày 29 tháng 4, tiếp theo sự kiện Grây-mơ, người mà Hít-le chỉ thi phải đến cho được Rê-khlin để gửi toàn bộ những máy bay còn lại tới chi viện cho Béc-lin, cho tướng Ven-cơ thì có tin đồn đến dinh quốc trương là tập đoàn quân của tướng Ven-cơ trong thực tế không còn tồn tại nữa. "Như vậy là mọi hi vọng được giải vây của chúng tôi đều tan biến - Rát-ten-hu-be viết - Hành động phá vây của binh lính chúng ta ở Béc-lin không có kết qua. Sự bi đát của tình hình con sâu sắc thêm ở chỗ, Hít-le nhận được những tin tức loại này dưới tiếng gầm của đại bác Nga rơi ngay trong khu vực dinh quốc trưởng. Hôm nay trông Hít-le thật đáng sợ". "Sau khi các đơn vị bộ binh cơ giới Nga chọc thủng tuyến phòng ngự ở khu vực nhà ga An-gan-tô và quảng trường Ken-ni-gơ, quốc trưởng lo lắng không yên về việc có thể không kịp tự sát - Gi-un-sơ, sĩ quan cận vệ SS của Hít-le đã viết trong bản tự khai của hắn khi bị bắt - Bởi vì chỉ còn lại những giờ phút eo hẹp trước khi xe tăng quân Nga có thể bất thần xông vào hầm trú ẩn này". Đêm 29 tháng 4 Hít-le tổ chức lễ cưới chính thức. Hít-le thật ra đã chung sống với E-va Brao-nơ trên mười năm nay. Brao-nơ, nguyên là phóng viên nhiếp ảnh tại xưởng ảnh của Hốp-man ở Muy-ních, một chủ hãng nhiếp ảnh kiếm bẫm và phất nhanh nhờ được phép độc quyền chụp ảnh quốc trưởng. Brao-nơ được Hốp-man mang đi theo để chụp vị quốc trưởng rất mê chụp ảnh trong những chuyến đi có tính chất tuyên truyền trước khi hắn chính thức nắm quyền ở Đức. Và thế là Hít-le đã đưa Brao-nơ về lâu-đài riêng của hắn ở Béc-xtê-ga-den và ít. lâu sau bà ta trở thành chủ nhân lâu đài. Còn Hít-le vẫn sống ở Béc-lin một mình: báo chí và cơ quan tuyên, truyền quốc xã vẫn không ngớt ca ngợi cuộc sống "độc thân khổ hạnh" của ngài quốc trưởng. "Nữ sĩ quan phi công Rây-trơ cũng là một phụ nữ có lòng "trung thành" với quốc trưởng, khi được ở gần với Brao-nơ dưới căn hầm trú ẩn đã quan sát kỹ Ê-va và thầm ghen với "người phụ nữ không có nét gì đặc sắc cả" mà lại được chung sống với vị quốc trưởng đáng kính của ả ta và của cả dân tộc Đức thượng đẳng này. Bà ta chỉ là một hạng phụ nữ tầm thường, có vẻ kín đáo, thầm lặng, ngoan ngoãn và hình như chỉ biết chăm lo cho cuộc sống riêng của ông ta thôi. Cho đến những ngày gần đây, nhân dân Đức vẫn không biết về sự có mặt của E-va bên cạnh quốc trưởng. Kể cả những người không có dịp sống cạnh Hít-le cũng vậy. Bà ta chỉ là một người phụ nữ, sống bên hắn không ra vợ mà cũng chẳng phải người tình chính thức, hầu như luôn luôn giấu mình trong bóng tối, sống xa lánh mọi người, thế nhưng vào những ngày giữa tháng tư này, bà ta bỗng nhiên đột ngột, đàng hoàng xuất hiện công khai, phá vỡ mọi tôn ti trật tự trong dinh quốc trưởng, sống ngay trong gian hầm cùng với Hít-le. Những người có mặt ở đây đều nghĩ rằng, bà ta đến sống ở căn hầm này, trước hết là để chia sẻ với Hít-le trong những ngày đầy bi đát này và sau nữa để công khai đạt được cái điều mà bao năm nay bà ta chưa đạt được là - trở thành vợ chính thức của quốc trưởng đế chế Đức. Nhưng chừng nào mà Hít-le chưa quyết định tự sát thì chưa nói đến chuyện cưới xin gì cả. Chỉ sau khi vấn đề tự sát của quốc trưởng được quyết định dứt khoát thì việc cưới vợ chính thức của quốc trưởng cũng mới được khẩn trương tiến hành. Và thế là các thủ tục về lễ thành hôn của Hít-le cũng như bữa tiệc cưới được vộí vã chuẩn bi. Có thể đây là quyết định cuối cùng của E-va Brao-nơ và cũng là điều kiện đặt ra cho bà ta, muốn thành đệ nhất phu nhân thì phải cùng chết với quốc trưởng. Như vậy, Ê-va Brao-nơ, đề đạt được mục đích đời mình là trở thành phu nhân quốc trưởng, bà ta phải trả bằng chính cái giá cả cuộc sống của mình. Hít-le vốn theo đạo Thiên Chúa, hay đi nhà thờ để cầu Chúa phù hộ cho hắn, thế nhưng trong khoảnh khắc nào đó hẳn đã cảm thấy mình phạm lỗi với Chúa vì đã sống với một người phụ nữ chưa làm phép cưới. Rồi đến lúc cũng chẳng cần che giấu trước lịch sử nữa vì gần như mối quan hệ được giữ hết sức bí mật này đã trở nên rõ ràng. Điều này đã được nêu ra trong,"di chúc riêng" của hắn. Hít-le bắt đầu bằng sự giải thích: hắn cho rằng, "tôi không chịu trách nhiệm trước sự kiện tôi cưới vợ, nhưng giờ đây trước khi chết tôi đã phải quyết định, chọn người phụ nữ đã chia sẻ số mệnh với tôi làm". Sau những lời giải thích như vậy đó là... sự tặng thưởng đối với E-va vì "đã tự nguyện chết cùng tôi". Bời vì cả hai cùng chết thì chẳng có gì đánh sợ cả. Và cuối cùng, trong cơn kích động sau lễ cưới, hắn ta sẽ dễ dàng và đủ can đảm để cắn vỡ ông thuốc độc trong miệng. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Chín, 2017, 07:55:28 pm Khi người ta kể lại cho Han-na Rây-trơ về đám cưới này, vì cô ta phải rời hầm trú ẩn trước đấy mấy tiếng, thì cô ta tỏ vẻ không tin là có chuyện như vậy. Cô ta đã bình luận rằng : "Điều kiện trong hầm trú ẩn lúc ấy mà còn bày ra cái chuyện như vậy thì thật buồn cười". Nhưng cái chuyện đó cứ xảy ra. Hít-le đã bước thêm "một bước đi lịch sử" nữa. Hàng loạt binh linh Đức đang bị giết chết ngoài bức tường của khu dinh quốc trưởng. Ngay cạnh đấy, trên quảng trường Pốt-xđam, trong các đường xe điện ngầm, những tên lính và sĩ quan bị thương đang lả đi vì kiệt sức, đang chết dần chết mòn vì thiếu thức ăn, nước uống. Hít-le đã tung lên tuyến phòng ngự toàn bộ lực lượng dự trữ cuối cùng của hắn - bọn thiếu niên quốc xã. Các đội thiếu niên quốc xã được điều đến bảo vệ khu dinh quốc trưởng. Đây là tội ác vô nhân đạo nhất trong những ngày này. "Người bạn của trẻ em" - như cơ quan tuyên truyền quốc xã từng rêu rao - đã vất tất cả bon thiếu niên, chưa đến tuồi thành niên này vào những trận đánh vô nghĩa, đã dìm chết cái thế hệ tương lai của dân tộc Đức. Hắn tuyên bố : trong trường hợp thất bại thì chính người Đức cũng không đáng được sống nữa. "Đám thanh thiếu niên này quá mệt mỏi và khiếp sợ nên không còn đủ sức chiến đấu nữa" - tôi đọc những dòng này trong báo cáo gửi Boóc-man ngày 22 tháng 4. Cùng ngày hôm ấy, trong báo cáo khác đã viết rằng, thủ lĩnh thanh niên quốc xã, tên Ác-xman đã tập họp bọn tay chân gần gũi định chuyẻn sang ngôi nhà số 63 - 64 trên đại lộ Vin-hem. "Để tăng cường sức phòng ngự ngôi nhà này, chúng tôi cần thêm 40 - 50 tay súng thanh niên quốc xã. Thủ lĩnh thanh niên yêu cầu thủ lĩnh đảng (Boóc-man) chấp nhận kế hoạch này". Và hắn đã được Boóc-man đồng ý. Trong báo cáo của bọn quốc xã khu Sa-lốt-yen-bua - San-đao ngày 26 tháng 4 cũng nói thêm: "Các đội thanh niên Hít-le có nhiệm vụ bảo vệ chiếc cầu nhưng họ không làm nổi". . Thế nhưng trong lời kêu gọi ngày 27 tháng 4 trên tờ "Tin tức Béc-lin", Gơ-ben vẫn tâng bốc bọn thanh niên: "Ngày hôm qua, thủ lĩnh thanh niên Ác-xman của chúng ta đã được tặng thưởng huân chưởng chữ thập vàng... Tối qua, tại phòng khánh tiết dinh quốc trưởng, quốc trưởng đã tự tay trao cho Ác-xman huân chương vinh dự này với lời khen ngợi: "Không có những người thanh niên anh dũng của anh thì có lẽ chúng ta không thể tiếp tục bảo vệ được Béc-lin và cả nước Đức nữa". Ác-xman đã đáp lại : "Thưa quốc trưởng, đấy là thanh niên của Ngài!". Có thể là những người thanh niên bị lừa dối kia cũng thực sự tin rằng, họ đang bảo vệ Béc-lin, đang bảo vệ nước Đức của họ. Và họ đã hi sinh. Còn ở đây quốc trưởng của họ đang làm lễ cưới. Hay đúng hơn, đang làm giỗ ngay chính mình. Không khí chết chóc đang bao trùm cả bàn tiệc. Cô dâu mặc toàn đồ đen. Những bức tường hầm ngầm rung lên dưới tiếng nổ của đại bác. Còn ở đây, trong phòng tiệc này lại là một không khí thất vọng tràn trề - Rát-ten-hu-be đã ghi cảnh tượng những giờ phút này như vậy. "Mỗi người đều lo lắng đến mình, đều sống trong những thử thách, sợ hãi riêng, đều lo tìm một lối thoát riêng. Một số khác, vì quá thất vọng không còn hi vọng có lối thoát nào khác đang lặng lẽ ngồi riêng trong góc tối, chẳng cần nhìn ai, đau đớn chờ đợi cái kết thúc không thể tránh được, hoặc trái lại, đến bên quầy rượu nốc đầy những cốc cô-nhắc và rượu vang đề tạm quên đi nỗi đau khổ của mình, ngay trong căn hầm quốc trưởng". Đội bảo vệ SS đang rời rạc đi quanh khu hầm và dinh quốc trưởng. Trong khu vườn hoa sặc sụa mùi cháy khét lẹt và mùi khói cay xè. Béc-lin đang bốc cháy. Đạn nồ ầm vang, tiếng nhà đồ lay động mặt đất. Ở đây, trong khu hầm trú ẩn này đã nghe được tiếng súng tiểu liên. Trong hành lang hầm ngầm la liệt thương binh, không còn chỗ nào khác để cho họ ần. Thế mà, trong không khí như vậy, đúng đêm 29 tháng 4 ấy, lễ cưới đã được tiến hành. Những nghi thức trọng thể do chế độ Hít-le đặt ra lẫn này đều bị bãi bỏ. Cô đâu và chú rề không phải viết tờ giá thú như quy định, cũng không phải xuất trình những giấy tờ chứng nhận họ xuất thân từ giống người thượng đẳng (dòng giới quý tộc), chứng nhận sự hợp pháp về dòng máu dân tộc, về quan điểm chính trị và giấy chứng minh của cảnh sát về tư cách... cũng đều được miễn hết. Trong đơn xin kết hôn, họ chỉ nói rằng, vì hoàn cảnh chiến tranh và trong tình hình cực kỳ đặc biệt này của lễ thành hôn nên xin miễn cho họ mọi thủ tục, và sự hợp pháp của lễ thành hôn này chỉ cần tuyên bố miệng là đủ. Người cha cố được Gơ-ben gọi đến làm chủ lễ đã ghi biên bản rằng, mọi đề nghị của họ đã được chấp nhận và chỉ cần những người làm chứng xác nhận bằng chữ ký của mình là, họ xuất thân từ chủng tộc thượng đẳng và không có bệnh truyền nhiễm gì có hại cho giống nòi. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Chín, 2017, 04:32:33 am Sau đấy là bàn tiệc, khách mời nâng rượu sâm banh chúc mừng. Trong số khách mời rất hẹp đó có cả Mác-đa Gơ-ben. Trước đấy, Hít-le là người đỡ đầu cho đám cưới của bà ta.. Trong tài liệu riêng của Gơ-ben còn lưu giữ một băng ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện của bà ta với quốc trường về chuyện đám cưới này. Đó là cuộc nói chuyện khi Mác-đa quyết định từ bỏ Gơ-ben (tay giáo đồ của nền đạo đức quốc xã vì quá say mê với giới nữ nghệ sĩ điện ảnh nên đã bị nhân dân gọi là con bò đực ở phố Ba-ben-ghéc). Thì chính Hít-le với tư cách quốc trưởng đã khuyên bà ta là hãy bảo vệ gia đình. Hít-le nói rằng "cô là phu nhân của một nhà lãnh đạo cao cấp của đảng" nên cô cũng phải có sứ mệnh của mình. Quốc trưởng cố tạo ra trước nhân dân hình ành là một kẻ sống khổ hạnh, chỉ sống vì sự phồn vinh của nhân dân, còn Mác-đa Gơ-ben cùng người chồng dối trá của bà ta là một gia đình kiểu mẫu, đông con. Giờ thì cái đạo đức giả này được thay thế bằng cái khác. Sau lễ cưới, Hít-le bắt đầu viết di chúc của mình. Đến 4 giờ sáng, di chúc được viết xong. Những người chứng kiện gồm Gơ-ben, Boóc-man, Bua-doóc-phơ, tướng Crếp đều lần lượt ký tên mình. Mấy ngày trước khi mở cuộc tiến công vào Liên Xô, trong một cuộc họp với Gơ-ben, Hít-le đã mường tượng ra thắng lợi của cuộc chiến tranh này và hỏi Gơ-ben một câu nổi tiếng và gã này đã ghi vào nhật ký: "Khi nào chiến thắng, sẽ có người nào đó hỏi chúng ta về phương pháp chiến tranh không nhỉ?" (15-6-1941). Nhưng giờ đây thì ngược lại, sự thất bại đang đến với Béc-lin Và để lẩn tránh câu trả lời trước đây, Hít-le đã mở đầu bản "di chúc chính tri" của hắn bằng việc nói lên niềm tin vững chắc và lòng yêu mến của hắn đối với nhân dân Đức và trắng trợn tuyên bố rằng, hẳn không có lỗi trong việc gây ra cuộc chiến tranh này. "Thật là không đúng khi có ai đó cho rằng, tôi hoặc một người khác ở nước Đức này muốn gây ra cuộc chiến tranh năm 1939. Chính cuộc chiến tranh này hoàn toàn do những nhà hoạt động nhà nước ở nước ngoài muốn nó xảy ra và họ đã đạt được điều đó — đó là người Do Thái hoặc những ngươi hoạt động vì quyền lợi người Do Thái". Khi không còn lập luận nào nữa, không thoát ra được khỏi các vòng luẩn quẩn, khi đã đứng trên miệng hố thất bại và khi phải rũ sạch mọi căm phẫn của nhân dân thì hắn đã sử dụng tới vũ khí hiệu nghiệm là chủ nghĩa bài Do Thái - một thứ chủ nghĩa được coi là vũ khí của học thuyết tư tưởng phát xít. "Tôi đã đưa ra nhiều đề nghị về hạn chế vũ trang và kiểm soát chúng - điều mà thế hệ mai sau không thể chấp nhận được, để tôi khỏi chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh này". Với những lời dối trá như vậy, Hít-le đã đẩy toàn thế giới vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp và giờ đây đang âm mưu trốn trách nhiệm của hắn. Nlnrng đồng thời hắn lại đe dọa thế giới bằng một lò sát sinh mới. Buộc phải tự sát trong cảnh sụp đổ của đế chế Đức, trong "di chúc riêng" hẳn phải nhặn rằng hắn chọn cái chết "để tránh sự nhục nhã của thất bại và đầu hàng. Theo nguyện vọng của chúng tôi, thi thể của hai chúng tôi phải được thiêu cháy ngay", thế nhưng hắn vẫn khuyên đồng bào hắn là: "Nguyện vọng của tôi là đừng ai đầu hàng; dù trong bất cứ điều kiện nào hãy tiếp tục chiến đấu ờ những nơi có thể tiếp tục chống cự đến cùng chống kẻ thù của chúng ta và hãy trung thành với những nguyên tắc của sự nghiệp vĩ đại". Hắn đòi hỏi các tư lệnh, các bộ chỉ huy quân đội, không quân và hải quân "hãy nâng cao hơn nữa tinh thần chiến đấu và niềm tin vào chủ nghĩa quốc xã trong binh lính cùng sĩ quan" và "hãy chiến đấu đến cùng". Sự trung thành cá nhân - đó là định đề quan trọng nhất của chủ nghĩa phát xít. Hít-le cảm thấy rất rõ ràng người của quân đội hắn đã xa rời cái lý tưởng này. Trong di chúc hẳn đã kết án và trừng phạt Gơ-rinh cùng Him-le: "Trước khi chết vì Tổ quốc, tôi tuyên bổ khai trừ cựu "thống chế Gơ-rinh ra khỏi đảng và tước hết mọi quyền hạn mà tôi đã trao cho hắn trong sắc lệnh của tôi ngày 29 tháng 6 năm 1941 và trong lời phát biểu của tôi trước quốc hội đế chế, ngày 1 tháng 9 năm 1939. Tôi quyết định đề bạt đô đốc Đê-nít thay thế chức vụ tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Đức và đồng thời là quốc trưởng mới của đế chế chúng ta. Trước khi chết, tôi cũng tuyên tố khai trừ ra khỏi đảng và tước hết mọi chức vụ và quyền hạn của tổng chỉ huy SS và bộ trưởng nội vụ của ông Hen-rích Him-le" Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Chín, 2017, 10:18:58 pm Hít-le vẫn tiếp tục xóc đảo cỗ bài thay đổi các vị trí đẳng cấp của cái nhà nước phát xít của hắn. Hắn vẫn tiếp tục sự sắp xếp những kẻ có hy vọng vào vị trí độc tài. Trong di chúc này hắn đề bạt Gơ-ben làm thủ tướng chính phủ. Hắn cũng chỉ định nội các mới, phân chia các ghế ngồi đầy đủ. Hắn còn tự lập ra một bộ mới và trao chức chủ tịch đảng cho Boóc-man. Những loạt đạn pháo nổ ầm vang, bức tường khu hầm trú ẩn rung chuyền như báo hiệu những giờ phút cuối cùng của đế chế thứ ba đã đến, Cuộc chiến tranh của hắn đã thất bại. Hít-le vẫn không tính gì đến sự thật hiển nhiên này và tính chất phi lý đầy tội ác trong những quyết định của hắn. Trong "di chúc cá nhân", hắn vẫn hạ lệnh cho chính, phủ mới "tiếp tục chiến tranh, bẵng mọi phương tiện có thể có" và "phải duy trì hiệu lực đến cùng những dạo luật chủng tộc". Mấy tuần sau khi chiến tranh kết thúc, trong các cuộc khai cung trước chính quyền quân sự Anh, Him-le định giấu giếm về thực-chất những cái gọi là đạo-luật chủng tộc" này, Đó là những đạo luật được áp dụng đối với các trại tù binh, là đạo luật thủ tiêu, bắn giết không thương tiếc mọi người bị sa vào các trại tù binh. "Có thể có những sai pham trong các trường hợp riêng biệt về phía những kẻ thừa hành, nhưng nói chung tất cả những việc này đều không được vạch thành "kế hoạch trước" hoặc được hạ lệnh trước - Him-le khai và nói thêm : Nhưng đối với người Nga và Ba Lan thì lại khác. Người Anh các ông khó có thể hình dung được đây là loại người như thế nào. Chúng là loại người khó bảo nhất (khó quản lý nhất), do đó các trại tập trung chỉ có thể áp dụng được một phương pháp duy nhất có thể được". Có thể hiểu trong những lời cuối này của Him-le là sự phát triền những tư tưởng chính của Hít-le về việc chiếm đóng những vùng đất miền Đông. So sánh với di chúc, cũng ngay trong ngày 29 tháng 4 ấy, nhưng khuya hơn một chút, Hít-le đã viết thêm lá thư gửi tướng Cây-ten tổng tham mưu trưởng. Lại cũng là những lời chửi rủa Gơ-rinh và Him-le và trong phần cuối hắn hạ lệnh: "Mục đích vẫn như cũ phải chiếm vĩnh viễn các vùng đất miền Đông để phục vụ nhân dân Đức chúng ta. Câu này trích trong "Cuộc đời tôi". Tinh thần cuốn sách này đã được thể hiện trong bản di chúc. Trước ngưỡng cửa của cái chết, Hít-le vẫn đắm mình trong những tư tưởng đã đưa hắn lên đỉnh cao của quyền lực chính trị và cũng là những tư tưởng đã đưa nước Đức sa vào cuộc xung đột, đồng thời là sự bi thảm của đất nước. Bản di chúc không được những kẻ kế tục quyền lực của Hít-le công bố. Có lẽ vì chúng cũng thấy được tính chất vô nghĩa của cả nó về nội dung cũng như tình hình đã diễn ra ở nước Đức trong những ngày ấy. Chủ nghĩa phát xít được bắt đầu từ chỗ tập hợp nhân dân trên cơ sở tinh thần dân tộc, tách hẳn nó với cái tinh thần chung vốn có của toàn thể loài người. Nó ca tụng và thổi bùng cái gọi là "tính đặc trưng" của dân tộc. Để phát triền tính đặc trưng đó thì mọi việc đều có thể đạt tới được, mọi việc đều có thể cho phép được và không có bất cứ sự trở ngại đạo đức nào hết. Chủ nghĩa phát xít đã thổi bùng mọi thị hiếu thấp hèn, lòng căm thù với mọi dân tộc khác, phát động công khai chủ nghĩa bài Do Thái và ý muốn xâm lược đàn áp các dân tộc khác vì "Sự phát triền phồn vinh riêng của dân tộc Đức". Và giờ đây, cùng với những tư tưởng ấy kẻ cầm đầu chủ nghĩa phát xít đã bị biến đi khỏi sân khấu chính trị. Vào nửa đêm 30 tháng 4, giáo sư Ha-xê, chủ nhiệm bệnh viện riêng của văn phòng quốc trưởng được triệu đến hầm Hít-le. Hít-le đưa cho ông ta xem ba ống thuốc tiêm gói bọc cẩn thận trong ba vỏ đạn súng trường, Rát- ten-hu-be có mặt lúc ấy kể lại - Hít-le nói rằng đây là ba ống thuốc độc cực mạnh do giáo sư bác sĩ Stum-phéc-ghen trao cho, Hít-le hỏi giáo sư Ha-xê xem làm cách nào để thử nghiệm tác dụng của nó. Bác sĩ cho biết là có thể thử vào sinh vật, chẳng hạn như tiêm vào chó. Lúc ấy Hít-le liền hạ lệnh cho gọi Toóc-nốp, tên lính chuyên nuôi con Blôn-di của Hít-le. (Theo như Gơ-ben ghi trong nhật ký cách đây hai năm thì chỉ có con chó này là được phép "ra vào" tự do trong phòng làm việc của Hít-le và có thể nói giờ đây, trong những ngày này, nó là người bạn gần gũi nhất của Hít-le trong hầm trú ẩn). Khi con chó được dắt vào, Ha-xê liền đập vỡ, ống thủy tinh và bảo Toóc-nốp há miệng chó ra và ông ta dốc ngay ống thuốc vào. Chỉ mấy giây sau con chó run bắn lên và đúng ba mươi giây thì chết hẳn. Sau đó, Hít-le liền hạ lệnh cho Toóc-nốp kiểm tra lần nữa xem con chó chết thật chưa. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Chín, 2017, 12:38:02 am Khi rời khỏi phòng Hít-le, tôi liền hỏi giáo sư bác sĩ Ha-xê đây là loại thuốc độc gì và nó có bảo đảm chết nhanh được không. Ha-xê cho biết đó là một thứ thuốc độc cực -mạnh - chất xi-a-nuya, giết người trong nháy mắt; Đó là lần cuối cùng tôi được gặp Hít-le khi ông ta còn sống". Tướng Ven-cơ mà mọi ngưởi mong đợi đã biến mất. Ngay từ ngày 21 thảng 4 Hít-le đã rút quân đội ở phòng tuyến sông Én-bơ về va mở rộng đường phía Tây cho quân Mỹ tiến về Béc-lin, nhưng họ vẫn còn cách khá xa. Để kéo dài thêm giờ hấp hổi, Hít-le hạ lệnh: phá các vật cản trên sông đào, tháo nước vào đường tàu điện ngầm là nơi mà xung kích Hồng quân có thể chọc thủng để tiến đến khu chính phủ. Ra mệnh lệnh kinh khủng nầy, Hít-le biết rõ sẽ có hàng nghìn dân chúng gồm thương binh, phụ nữ, trẻ em, người già đang trốn ẩn trong đường hầm sẽ bị chết đuối. Giun-ghe, nữ thư ký riêng của Hít-le, người đã phải dùng chiếc máy có chữ to đặc biệt để đánh lại các bài phát biểu cho hắn, người đã cùng hắn đi nhiều nơi trong các cuộc kinh lý, đã chứng kiến nhiều sự kiện của hắn, một tháng sau đã kể lại : "Ngày 30 tháng 4, Hít-le tập hợp Gơ-ben, Crếp, Boóc-man lại nhưng tôi không được biết là họ bàn soạn chuyện gì. Mãi gần cuối buổi, tôi mới được cô hầu bàn Lin-gơ gọi vào phòng Hít-le. Khi tôi tới bên Hít-le thì hình như cuộc họp đã kết thúc và mọi người dự họp đang đứng nghiêm bên cạnh ông ta. Hít-le nói mấy lời từ biệt tôi và tuyên bố rằng mọi sự đã chấm dứt, tất cả đã hết. Ồng ta chỉ nói có thế thôi. Sau đấy tôi đi ra khỏi phòng và bước lên tầng trên. Từ đấy tôi không còn được gặp Hít-le nữa. Đó là vao hồi 15 giờ 15 đến 15 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4". 30 tháng 4, có báo cáo: quân Nga đã đến từ hướng đại lộ Vin-hem, cách cổng chính của khu dinh quốc trưởng hai trăm mét. Đây cũng là nơi cánh nhà báo hay phục kích Gơ-ben để moi tin tức, do vậy mỗi khi vào dinh quốc trưởng hắn thường phải đi vòng cổng hậu để tránh bị làm phiền hà và giữ bí mật các cuộc gặp với Hít-le. Lúc ấy là 3 giờ 30 phút sáng theo giờ Béc-lin. Thật là những giờ phút của định mệnh! Bởi vì chúng ta hãy nhớ lại, cũng đúng vào hồi 3 giờ 30 phút rạng sáng 22 tháng 6 năm 1941, theo lệnh Hít-le, nước Đức đã mở đầu cuộc chiến tranh phản bội chống Liên bang Xô-viết. Và giờ đây, gần 5 năm sau, quân ta đã đến ngay cổng chính của dinh Hít-le, đúng vào giờ này. Chết phải đến bằng chết và những người lính đào huyệt đã khiêng xác hắn qua cửa phụ của hầm trú ẩn đưa ra ngoài để đốt, đúng như lệnh của Hít-le. "Hôm trước Hít-le gọi tôi và Lin-gơ cùng Gun-xơ - Rát-ten-hu-be viết trong lời khai - và qua giọng nói thều thào chỉ vừa đủ nghe, ông ta dặn chúng tôi là phải đốt xác ông ta và E-va Brao-nơ ngay sau khi hai người tự sát. "Tôi không muốn kẻ thù của tôi đào xác tôi lên và đưa vào viện bảo tàng". Tôi hỏi lại về lời tuyên bố này. Nhưng sau đấy tôi được thông báo rằng đêm 29 tháng 4, Hít-le nhận được tin Mút-xô-li-ni cùng người tình của hắn là Cla-ra Pê-tat-tra đã chết ở Mi-lăng, sau khi rơi vào tay đội quân du kích Ý. Có thể do cái chết của Mút-xô-li-ni (bị du kích xử bắn và treo ngược chân lên trên quảng trường Mi-lăng) đã thúc đẩy Hít-le đi tới quyết định là đốt xác mình sau khi chết". Về những sự kiện xảy ra trong ngày 30 tháng 4 năm ấy đã diễn ra như thế nào thì ba nhân chứng trực tiếp là Ốt-tô Hun-xe sĩ quan tùy tùng của Hít-le, Han-xơ Rát-ten- hu-be chỉ huy đội bảo vệ riêng và cô hầu Lin-gơ của Hít-le đã khai lại như sau : Hun-xe: Vào hồi 15 giờ 30 phút anh ta có mặt tại hành lang phòng khách của Hít-le cùng với lái xe Kem-pe và đội trưởng đội SS - Sen-dơ. "Chúng tôi đứng với nhau ở đây một lúc khá lâu. Bỗng cửa phòng khách bé mở và tôi nghe tiếng người đội trưởng đội phục vụ riêng của quốc trưởng nói với Lin-gơ: "Quốc trưởng đã chết". Mặc dầu không nghe tiếng súng nồ nhưng tôi vẫn lao ngay vào phòng khách, chạy sang phòng họp và lớn tiếng báo cho mọi người đang ngồi trong phòng này: "Quốc trưởng đã chết". Rát-ten-hu-be: "Vào lúc ấy trong khu dinh quốc trưởng đã nghe rõ tiếng súng tiểu liên của quân Nga. Tôi đi đi lại lại mấy vòng trong phòng khách và vào ca phòng phục vụ vì tình hình quả là hết sức căng thẳng, tôi thấy rằng cần phải tồ chức ngay việc bảo vệ hầm trú ẩn thật chắc chắn hơn nữa, vì bất cứ giây phút nào quân Nga cũng có thể ập vào khu vườn dinh quốc trưởng. Khoảng 3-4 giờ chiều, tôi lại vào phòng khách và cảm thấy có mùi hơi độc nồng nặc". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Chín, 2017, 05:46:39 am Phó chỉ huy của Rát-ten-hu-be, Ha-ghen báo tin cho ông ta biết là Hít-le vừa tự sát. Tổ trưởng phục vụ riêng, cô hầu Lin-gơ bước đến ông ta và xác định... "Bà ta run rẩy như bị động kinh mãi hồi lâu vẫn không tỉnh lại được". Lin-gơ: "Tôi nâng xác quốc trưởng lên sau khi quăng vội tấm chăn len xám lên người ông ta...". Hun-xe: "Sau khi ông ta báo cho mọi người đang ngồi chờ trong phòng biết là: "Quốc trưởng đã chết" tất cả mọi người đều đứng dậy lặng lẽ cúi đầu. Lát sau tôi bước sang phòng khách và trông thấy ngay những người lính SS đang khiêng hai cái xác, trong đó một xác được quấn chăn kín còn xác thứ hai chỉ quấn ở phần trên... Chân quốc trưởng lòi ra khỏi chăn vì tôi nhận ra qua đôi giày và màu tất mà ông ta thường đi; còn trong chăn kia tôi thấy mái tóc E-va xõa ra khỏi đầu chăn. Hun-xe liền bước tới khiêng giúp mấy người kia một tay". Rát-ten-hu-be: "Trong tâm trạng sửng sốt và đau buồn, tôi thấy Lin-gơ, Hun-xe, Kem-pe lái xe riêng của Hít-le cùng mấy tên SS khác đang khiêng xác quốc trường và E-va bọc trong hai chiếc chăn xám đưa ra khỏi phòng riêng của Hít-le. Đờ đẫn khoanh tay trước ngực, tôi im lặng đi theo họ, đưa tiễn đến chặng đường cuối cùng con người mà tôi đã hiến dâng cả quãng đời 12 năm phục vụ của mình". Lin-gơ: "Chúng tôi im lặng khiêng hai cái xác đi theo đoạn cầu thang cao bốn mươi bậc lên tới cửa hầm trú ẩn. Một người lính SS lặng lẽ mở cánh cửa hầm và chúng tôi khiêng họ ra ngoài...". Hun-xe: "Cả hai cái xác được khiêng ra theo cửa phụ hầm trú ẩn của quốc trưởng và đưa ra vườn hoa". Rát-ten-hu-be: "Khi lên đến mặt đất, bọn SS đặt hai cái xác song song bên nhau xuống một cái hố nông cách cửa hầm không xa. Tiếng súng rộn lên ở chung quanh và tình hình căng thẳng đến nỗi chúng tôi không thể dành một vài phút mặc niệm Hít-le và E-va. Thậm chí cũng không còn kịp tìm cả quốc kỳ Đức để phủ lên xác họ". Hun-xe: "Boóc-man thân chinh giội xăng lên xác họ". Lin-gư: "Tôi thậm chí cũng không bật diêm được nữa. Hàng loạt đạn pháo của quân đội Xô-viết âm vang rất gần và những đám cháy bùng lên làm không khí đặc quánh lại. Tôi quay lại hầm trú ẩn và phải nấp sau tấm cửa sắt mới nhóm được ngọn lửa vào tờ giấy đã tẩm xăng. Ra khỏi hầm tôi vứt mồi lửa đỏ vào giữa hai cái xác và ngọn lửa bùng cháy lên ngay". Rát-ten-hu-be: "Một đống lửa lớn bùng lên trên hố, lem lém cháy phủ lên hai tấm chăn". Lin-gơ: "Nhưng sau đấy chúng cháy rất chậm và cả hai xác không bị thiêu hủy hết vì xăng không đủ". Boóc-man, Gơ-ben, các viên tướng Crếp, Bua-đốp-phơ và thủ lĩnh thanh niên quốc xã Ác-xman vừa quan sát vừa nấp vào sau cửa hầm để tránh đạn, lúc ấy trong lối cửa phụ chật ních người đang chen nhau xem đốt xác. Hun-xe: "Sau khi đồ thêm xăng, hai cái xác được đốt lại một lần nữa và lần này buộc phải đóng chặt cửa phụ lại vì mùi thịt và khói khét lẹt, nồng tanh ùa vào phòng không chịu nổi. Lát sau mọi người có mặt đều đi vào phòng khách dưới hầm... Cánh cửa phòng riêng của quốc trưởng hé mở và từ đây vẫn thoang ra mùi thuốc độc nồng nặc...". Vào tối 29 tháng 4, tư lệnh bảo vệ Béc-lin, tướng Vây- lin-gơ được triệu đến hầm quốc trưởng đã báo cáo rõ tình hình như sau: quân đội đã kiệt sức, tình hình dân chúng là hoàn toàn bị đát. Ông ta cho rằng quyết định duy nhất đúng bây giờ là hạ lệnh cho quân đội bỏ Béc-lin và phá vây rút ra ngoài. Vây-lin-gơ yêu cầu quyết định cho bắt đầu phá vây. Hít-le lúc ấy đã bác bỏ quyết định này: "Cuộc phá vây như vậy có thể giải quyết được cái gì ? Chẳng qua chúng ta nhảy từ địa ngục này sang địa ngục khác. Việc gì tôi phải trốn đến một nơi nào đó ở ngoại ô và ngồi chờ ngày tận số của mình tại một ngôi nhà nông dân nào đó ? Trong điều kiện như vậy thì tốt nhất là tôi cứ ở lại và chết ở đây. Rồi sau đấy cứ việc cho họ phá vầy". Nhưng tình hình không thể trì hoãn được, trong khi phải tính từng giờ từng phút. "Nếu lúc ấy quả thực đã có con đường được dọn sẵn từ hầm trú ần đến với tự do thì ông ta cũng không đủ sức vượt qua nó nữa" - Han-na Rây-trơ đã nhận xét về tinh thần Hít-le trong những ngày ấy là như vậy. Hoàn toàn mất hết khả năng và bản lĩnh hành động, Hít-le vẫn cố kéo dài ngày chết của mình và mỗi giờ qua đi thì hi vọng được cứu thoát càng mỏng manh hơn. Tình hình trong khu hầm trú ẩn diễn biến khá phức tạp. Mới ngày hôm qua những kẻ có mặt ở đây đều hết lời thề thốt sẽ sẵn sàng chết cùng quốc trưởng. Thế nhưng giờ đây, khi tên quốc trưởng đã phân bố xong những chiếc ghế tượng trưng mới (theo di chúc) thì mỗi người lại có vẻ sẵn sàng tiếp tục muốn đứng đầu cái nhà nước đã bị đối phương đánh cho tan tành kia để tiếp tục cuộc chiến tranh đang thất bại. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2017, 09:04:28 pm Vốn quen phục tùng một cách mù quáng, sùng bái mệnh lệnh những kẻ còn lại vẫn hành động và hành động một cách khá nghiêm chỉnh. Han-xơ Phrít, giám đốc đài phát thanh Đức đã khai tại bộ tham mưu mặt trận về cuộc họp của y với tướng Bua- đốp-phơ, sĩ quan trợ lý trưởng của Hít-le. Ngày 1 tháng 5 Phrít đã mời Bua-đốp-phơ tới gặp ông ta tại hầm trú ẩn của bộ tuyền truyền để thảo luận về điều kiện đầu hàng của các đơn vị quân đóng ở Béc-lin. Bua-đốp-phơ nói với tôi: "Trước lúc tự sát, quốc trưởng đã viết đi chúc trong đó kiên quyết cấm không được đả động gì đến vấn đề đầu hàng và ngài hạ lệnh phải tiếp tục chiến đấu đến hơi thở cuối cùng". Do đó cuộc nới chuyện giữa tôi với tướng Bua-đốp-phơ khá là nặng nề, căng thẳng. Cái chết của Hít-le đã làm không khí căng thẳng trong hầm trú ẳn của hắn giảm bớt. Đã xuất hiện những loại thuốc lá mà trước đó không ai đươc hút khi có mặt Hít-le. Một không khí náo nhiệt ngấm ngầm - người ta uống rượu vang và chuẩn bị chạy trốn. Rát-ten-hu-be: "Quốc trưởng chết. Mọi người sống trong hầm đều biết ngay tin này. Điều ngạc nhiên đối với tôi là sự kiện này không gây được ấn tượng gì nặng nề khó chiu. Thật ra sau đấy, thình thoảng đây dó trong các góc hăm khác nhau lại vang lên những phát súng - đó là những phát súng của những người đã mất hết hi vong được cứu thoát khỏi cảnh khốn cùng này. Nhưng phần lớn những người trú trong hầm lại bận bịu với việc chuẩn bị tháo chạy". Hun-xe: "Trong khi xác Hít-le và E-va Brao-nơ đang được thiêu, tôi đi vào phòng họp. Ở đây những người có trách nhiệm đang thảo luận tình hình vừa diễn ra và mệnh lệnh của quốc trưởng, theo đó, sau khi ông ta chết chúng tôi phải chia ra thành từng nhóm nhỏ để vượt ra khỏi Béc-lin đang bị bao vây. Tôi nghe nói ngài Boóc-man dự định là trong bất cứ tình huống nào cũng phải chạy được tới chỗ đô đốc Đê-nít đế thông báo cho ông ta biết những ý định của quốc trưởng trước khi chết. Tôi không biết đó là ý định gì. Sau đấy tôi ra khỏi phòng họp và rẽ về phòng tôi nằm nghĩ một lát". Sau đó Hun-xe được báo cho biết "tướng Crếp đã được ủy nhiệm bắt liên lạc với nguyên soái Nga Giu-cốp để đàm phán ngừng bắn, đình chỉ chiến sự; và như vậy là việc phá vây của các đơn vị Bức ở Béc- lin không đặt ra nữa. Sau đấy tôi đến sở chỉ huy đội SS chiến đấu của Môn-ke". Các đội này được thành lập từ các tiểu đoàn tuần tiễu và các đội hậu cần SS. Tướng Crếp được ủy nhiệm thông báo cho bộ chỉ huy quân đội Liên Xô về việc Hít-le chết và đề nghị ngừng bắn ở Béc-lin để các thành viên chính phủ mới của nước Đức liên lạc được với người đứng đầu chính phủ là đô đốc Đê-nít đóng ở ngoại ô Béc-lin cùng thảo luận các quyết định tiếp theo để bắt đầu đàm phán với chính phủ Liên Xô. Với sứ mạng đó Crếp đã gửi cho nguyên soái Giu-cốp bức thư do Gơ-ben thảo cùng với bản di chúc của Hít-le trao toàn bộ quyền hành cho tướng hải quân Đê-nít và bộ trưởng Gơ-ben. Bức thư của Gơ-ben do Crếp trao đã được nguyên soái Giu-cốp công bố, có đoạn kết thúc như sau: "Tôi trao cho Boóc-man quyền liền lạc với lãnh tụ của nhân dân Liên Xô. Sự liên lạc này nhằm mục đích tiến hành thương lượng với các cường quốc để tránh những tồn thất to lớn hơn". Cái ý định này thật là ngộ nghĩnh. Mấy giờ chờ đợi trả lời trôi qua và người ta cũng hi vọng vào việc thoát ra khỏi Béc-lin. Những dòng nhật ký của Boóc-man ngày 30-4-45 có nói đến cái chết của Hít-le và E-va Brao-nơ. Đến ngày 1 tháng 5 dòng nhật ký này chi vẻn vẹn có một câu, rõ ràng là được ghi sau khi Crếp đã trở về: "Ý định vượt khỗi vòng vây Béc-lin!" Đến, đây nhật ký đứt đoạn. Trước đây, hồi 18 giờ Boóc-man đã thông báo bằng điện tín cho đô đốc Đê-nít là quốc trưởng chỉ định ông ta là người kế vị thay Gơ-rinh. Còn Đê-nít, do chưa biết Hít-le đã chết nên đã báo tin: "Thưa quốc trưởng! Lòng trung thành của tôi đối với Ngài là vô hạn. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể được để cứu Béc-lin. Tuy vậy, nếu số phận trao cho tôi nghĩa vụ lãnh đạo đế chế chúng ta với tư cách là người kế tục Ngài thì tôi sẽ tiếp tục chiến đấu đến cùng". Hồi 7 giờ 40 sáng 1 tháng 5 Boóc-man đã gửi bức điện khẩn tối mật cho Đê-nít mà chúng tôi đã tìm thấy trong cặp hồ sơ của ông ta:"Lời di chúc đã có hiệu lực. Tôi sẽ cố gắng hết sức để đến chỗ ngài sớm nhất. Trước khi tôi đến, đề nghị hãy hoãn chưa công bố vội di chúc này". Cũng ngày hôm ấy, lức 15 giờ ông ta cùng Gơ-ben đã gửi tiếp cho Đê-nít bức điện thứ hai báo tin quốc trưởng đã tự sát và danh sách những người được Hỉt-le chỉ định vào các cương vị mới. "Theo lệnh quốc trưởng, bản di chúc sẽ được phổ biến cho ngài, cho thống chế Séc-nơ và cơ quan an ninh. Ngài Boóc-man hôm nay sẽ đến gặp ngài để thông báo tình hình cụ thể. Hình thức và thơi gian thông báo cho quân đội sẽ do ngài quyết định. Ngài hãy xác định ngay hành động của mình. Gơ-ben. Boóc-man". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2017, 09:47:28 pm "Tiếng nút chai kêu bôm bốp trong quầy rượu - Rát- ten-hu-be viết : - Bọn SS đã dùng rượu để trấn an nỗi sợ hãi dưới các làn đạn của quân Nga". Trong hầm chỉ còn lại những người ít bị khả năng phải trả giá nhất. Bọn có tội đã lần lượt chuồn hết. Phrít: "Ngày 1 tháng 5, Nau-man, đã đến gặp tôi tại hầm trú ần và thông báo: "Quốc trường chết đã được 24 giờ rồi. Gơ-ben cũng đã tự sát ngay sau đó". Tôi hỏi ông ta về việc quốc trưởng và Gơ-ben chết ra sao, nhưng ông ta đã trả lời: "Tôi, không, còn tinh thần và thì giờ để trả lời cho ông nữa. Tôi cần phải trở lại ngay cho kịp vì một số đơn vị chung ta đang chuẩn bị vượt khỏi Béc-lin và tôi muốn tham gia vượt vây cùng họ". Phốc : "Thỏ lĩnh SS Môn-ke chịu trách nhiệm bảo vệ toàn khu Vực dinh quốc trưởmg thấy rằng tiếp tục kháng cự thêm là vô ích và theo lệnh của tư lệnh thành phố Bée- lin, ông ta đã tập hợp đám tàn quân của mình được khoảng 500 ngươi. Một số quan chức dân sư cũng đến nhập vào với đám quân ông ta để cùng hi vọng góp phần vào cuộc phà vây Toàn bộ đám quân này đang tập hợp ở cổng số 3 gần dinh quốc trưởng... Trong số đó, sẽ có tôi". Lời bác bỏ do tướng Xô-cô-lốp-xki và Trui-cốp - (đại diện bộ chỉ huy Hồng quân) truyền đạt riêng cho Crếp là vấn để đặt ra bây giờ là đầu hàng vô điều kiện, như thỏa thuận chung của quân đồng minh. Lời bác bỏ này là kết thúc cuối cùng đối với Gơ-ben. Hắn đã nói với phó đô đốc Phốc rằng hắn và các con hắn không còn gì để mà hi vọng nữa. Hắn đã chết. Hắn đã nói thật, không cần kết hợp diệu hộ và thói đạo đức giả nữa. Trong di chúc của mình Gơ-ben viết rằng, để thi hành mệnh lệnh của quốc trưởng, hắn rời bỏ thủ đô và tham gia chính phủ mới do Hít-le chỉ định chính là để được chia sẻ cùng quốc trưởng những khó khăn trong những ngày này. Nhưng chừng nào còn sống thì chính Hít-le đã không rời Gơ-ben nửa bước. Sau khi quyết định ở lại Béc-lịn vào ngày 22 tháng 4, Hít-le tập hơp chung quanh mình những kẻ trung thành nhất trong đó có vợ chồng Gơ-ben, vì tin vào sự phục tùng tuyệt đối của gã nên đã đặc biệt cho cả nhà Gơ-ben vào ở chung trong hầm trú ẩn. Mác-đa Gơ-ben nói với bác sĩ Cun-xơ và nữ phi công Han-na Rây-trơ rằng hà ta đã nhiều lần khuyên và tha thiết đề nghị Hít-le rời khỏi Béc-lin. Có lúc Hít-le đã đồng ý như vậy, do đó cả nhà Gơ-ben sẽ có cơ hội rời khỏi đây. Chưa chắc bà ta đã nghĩ như vậy. Có một chứng cứ cho thấy bà ta đã đề nghị với chồng đưa lũ trẻ ra khỏi hầm trú ẩn này, chuyển sang đường hầm xe điện ngầm nhưng cũng không thực hiện được. Từ lâu Gơ-ben đi có ý định giết lũ con khi cảm thấy thất bại không thể cứu vãn được và y giao việc này cho bà vợ ngoan ngoãn của y. Ngay từ tháng 8 năm 1943 y đã tiết lộ điều đó với tên trợ lý trung thanh Phôn Ô-ven. Tên này viết "lúc ấy ông ta chỉ có một ý nghĩ là, làm như vậy để trốn trách nhiệm với lịch sử". 'Hám danh, đó là bản chất sẵn có của Gơ-ben. Cho đến ngày cuối cùng của đợi mình, y vẫn luôn tìm cách hại các đối thủ của mình, y luôn tìm cách đẩy những kẻ này ra trước vị quốc trưởng của y trong tư thế và hoan cảnh bất lọi nhất và trong nhật ký, hắn đã tự ca tụng tán dương mình đủ mọi điều và còn tính rằng cuốn nhật ký của y sữ là cuốn biên niên sử, là một tài liệu mà qua đấy những người theo chủ nghĩa cuống tín có thể tự hào được. Trong bức thư vĩnh biệt gửi cho Ga-ran-đô, con riêng của người chồng trước, đang bị quân Mỹ bắt làm tù binh, ngồi viết từ hầm quốc trưởng, Mác-đa đã triết lý : "... Cái thế giới sẽ xuất hiện sau thế giới của quốc trưởng chúng ta và của chủ nghĩa quốc xã sẽ là một thế giới không đáng để ta sống, dó đó mẹ đã quyết định sẽ máng theo những đứa em của con đi theo mình sang thế giới bên kia. Mẹ tin rằng Thượng đế rộng lượng sẽ tha thứ cho mẹ nếu như me đã giải thoát cho chúng khỏi kiếp sống sau này". Sau phần tả lại tình hình chịu đựng những điều kiện trong hầm quốc trưởng những ngày vừa qua của những đứa trẻ "sắp được giải thoát" ấy, mụ báo tin đầy tư hào : "Tối hôm qua, quốc trưởng đã tự tay cởi chiếc huy hiệu đảng bằng vàng và trao lại cho mẹ. Mẹ cảm thấy hết sức tự hào và hạnh phúc vì điều này". Còn Gơ-ben trong bức thư vĩnh biệt gửi cho Ga-ran-đô cũng viết một giọng như vậy, hắn nhắc đến việc quốc trưởng của hắn đã gắn huy hiệu vàng cho... "người mẹ đầy hạnh phúc của anh". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Chín, 2017, 04:16:17 am Cả hai thư này đều đo nữ phi công Han-na Rây-trơ đưa ra khỏi Béc-lin tối 28 tháng 4. Bức thư này được Gơ-ben gửi sau một ngày, khi Hít-le đã viết xong "chúc thư" cùng danh sách những thành viên mới của cái chính phủ do hắn chỉ định. Chính vì vậy nên y mới có thể hãnh diện thông báo cho đứa con riêng của vợ biết "giờ phút huy hoàng" của y. Danh vọng đã đạt được. Trong căn hầm nằm sâu dưới lòng đất này, tất cả những cái gì là lố bích nhất đang hòa vào với nhau ở đây. Đó là sự thất vọng chán chường với điệu bộ kênh kiệu, đó là tinh thần cuồng tín với thói đạo đức giả, đó là cái chết và sứ sống. Gơ-ben được mệnh danh là "con chó trung thành của Hít-le". Đối với con chó trung thành và yêu quý nhất của hắn là con Blôn-di, Hít-le đã cho nếm thử ống thuốc độc. Còn đối với Gơ-ben và cả gia đình y thì hắn vẫn giữ lại bên mình cho đến phút chót cuộc đời khi đã quá muộn không còn thì giờ đâu mà nghĩ tới kẻ khác. Với một sự phản bội mới của những người "bạn chiến đấu của quốc trưởng" Gơ-ben càng được bước cao hơn lên bậc thang danh vọng và đã đạt được mục đích ước vọng của đời mình "làm người hùng số hai của đế chế Đức". Và cuối cùng là, vào ngày thứ hai sau "lễ cưới" khi các chiến sĩ quân đội Liên Xô anh hùng đã tràn vào tòa nhà quốc hội Đức, Hít-le liền ký lệnh đưa Gơ-ben lên chức thủ tướng cái chính phủ của một nhà nước đã bị đánh tan tành. Vở hài kịch vẫn tiếp diễn. Gơ-ben nhận chức vụ mới để rồi một ngày sau đó đi theo vết của Hít-le. Viên trung úy Toóc-nốp, sĩ quan nuôi chó của Hít-le, lần cuối cùng tới nhà bếp gặp Lan-gơ để lấy thức ăn cho chó. Lần trước anh ta đến đã báo tin Hít-le chết, lần này anh ta lại mang tới cho nhà bếp một tín mới khác. "Anh ta đến tôi vào quãng từ 8-9 giờ sáng 1 tháng 5, đầu bếp Lan-gơ kể lại với tôi, và báo cho tôi biết tin là Gơ-ben cùng vợ đã tự sát tại vườn gần hầm quốc trưởng. Chỉ thế thôi, trung úy Toóc-nốp không báo thêm được chi tiết gì tỉ mĩ hơn... Tối 1 tháng 5 anh ta chuẩn bị chuồn khỏi dinh quốc trường bằng cách theo một nhóm vũ trang chọc thủng vòng vây của quân đội Nga để thoát ra ngoài. Anh ta đi thoát hay không, tôi không biết". Những người trú trong hầm cùng chạy ra quảng trường Vin-hem rồi theo đường xe điện ngầm chạy tới đại lộ Phri- đrích. Từ đây các nhóm vũ trang của Môn-ke có thể phà vây để chạy tiếp ra ngoài nhưng hỏa lực pháo binh Hồng quân quá mạnh nên đã làm phá sản kế hoạch phá vây lớn. Họ lại phải chia ra nhiều nhóm nhỏ khác. Hun-xe: "Tôi cùng với hai cô nữ thư ký của quốc trưởng là Khơ-rit-chi-an và Giun-gơ, thiếu úy Man- xi-an cần vụ quốc trưởng và cô nữ thư ký của Boóc-man là Criu-gơ phải phá vây để chạy lên phía Bắc đến gặp Môn-ke. Đúng 22 giờ bắt đầu hành động. Nhóm chúng tôi an toàn và nguyên vẹn đến được khu vực nhà ga Vét-din- gơ thì gặp phải một đơn vị đối phương. Sau khi đi vòng vèo tránh đụng độ, đến tảng sáng ngày 2 tháng 5 chứng tôi đến được chỗ quán bia ở gần ga. Qua những lởi bàn tán của đám binh sĩ đứng xum quanh đấy, tôi nghe tin Béc-lin đã đầu hàng, và qua giọng điệu của họ tôi biết đây là bọn lính mất tinh thần, bọn quân tan rã. Bốn người phụ nữ trong nhóm tôi sau đấy được một viên sĩ quan SS của :Môn-ke dẫn đi, họ lập tức rời ngay quán bia. Tôi cũng không biết họ được dẫn đi đâu. Ít lâu sau, tôi và Shun-hai- xơ bị bắt làm từ binh ở ngay quán bia này". Nhóm Boóc-man, Rát-ten-hu-be, bác sĩ Stun-phéc-ghe và lái xe Kem-pe trốn trong một chiếc xe tang nên đã đi được khá xa. Nhưng một quả lựu đạn từ một căn nhà bên đường ném ra nổ ngay bên sườn trái xe, nơi Boóc-man và Rát-ten-hu-be ngồi, và khói trùm lên hai người này. "Tôi bị thương và rơi vào tay quân Nga" - Rát-ten-hu- be viết trong bản khai cung. Tin đồn về Hít-le chết lan từ hầm ngầm quốc trưởng sang đến các hầm khác trong khu dinh quốc trưởng, nhưng không ai biết rõ thực sự hoàn cảnh và thực chất cái chết ra sao. Cố duy trì nhưng huyền thoại về sự vĩ đại của quốc trưởng, người thừa kế của y, đô đốc Đê-nít đã tuyên bố láo xược rằng, Hít-le đã ngã xuống ở hàng đầu những người bảo vệ Béc-lin. Tướng Vây-lin-gơ, sau khi nghe tin Hít-le tự sát đã tuyên bố rằng hành động đó không xứng đáng với một vị tổng tư lệnh trong khi quân đội của ông ta vẫn đang tiếp tục chiến đấu! Tối mồng 1 rạng ngày 2 tháng 5 ông tập hợp một số nghị sĩ quốc hội. Sáng sớm mồng 2 tháng 5, Vây-lin-gơ vượt chiến tuyến, ổng ta gửi các đơn vị binh sĩ Béc-lin: "Đêm 30 tháng 4, quốc trưởng đã bỏ chúng ta cho số mệnh mặc dù chúng ta là những người đã tuyệt đối trung thành với ngài. Các anh cho rằng, nghĩa vụ của các anh là thi hành mệnh lệnh của quốc trưởng, tiếp tục chiến đấu bảo vệ Béc-lin, mặc dầu thiếu súng lớn, đạn dược, bất chấp cả tình hình đang làm cho cuộc chiến đấu của các anh trở nên vô nghĩa. Mỗi giờ phút kéo dài cuộc chiến đấu vô nghĩa này trôi quá là mỗi giờ kéo dài thêm nỗi thống khổ kinh khủng của dân chúng Bec-lin và các thương binh của chúng ta. Mọi ngườì ngã xuống giờ đây trong cuộc chiến đấu bảo vệ Béc-lin này, chỉ là một sự hy sinh vô ích. Theo thỏa thuận với Bộ chỉ huy tối cao quan đội Xô- viết, tôi hạ lệnh các đơn vị ngừng bắn ngay tức khắc". Ngày 2 tháng 5, Béc-lin đầu hàng. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Chín, 2017, 04:18:28 am MỘT KHÂU ĐANG THIẾU HAY LÀ MỘT MẮT XÍCH CHƯA HOÀN CHỈNH Trọng khi chúng tôi vẫn đang chúi mũi vào những sự kiện xảy ra trong những ngày cuối cùng dưới hầm Hít-le, thì trên mặt đất đã diễn ra một cuộc sống khác. Một hôm chúng tôi dừng lại ở ngoại ô Béc-lin, tại khu nhà trong đó có một số phòng của Bộ Tham mưu mặt trận đang đóng tạm. Cạnh một ngôi nhà mà chúng tôi được phân ở có một chiếc xe bò chở đầy đồ đạc và thực phẩm với lá cờ nhỏ màu đỏ-trắng-xanh của nước Ý cắm ở đầu xe. Con bò buộc ở càng xe đang im lặng nhẫn nại đứng chờ chủ nhân của nó. Chỏng tôi bước vào căn phòng, trong đó vọng ra tiếng nhạc. Các cửa lớn nhỏ đều đã mở tung. Trong phòng lớn có mấy người Ý đang ngồi. Họ bận những bộ quăn áo nhàu nát cũ kỹ, tay ôm những chiếc hộp các tông lớn trên đầu gối và tất cả đangs say sưa lắng nghe tiếng nhạc. Người nhạc công trẻ của họ đang say mê lướt tay trên nhữbg phím đàn đương cầm. Trên mặt đàn cũng là một chiếc hộp các tông mở nắp, lòi ra một con búp bê khá lớn. Té ra trên đường tới đây, khi đi qua một cửa hàng bán búp bê vô chủ, mỗi người đã lấy một con làm kỷ niệm. Thấy chúng tôi vào, họ ồn ào cất tiếng chào và đứng dậy. Đáp lại lời chào hỏi của chúng tôi bằng tiếng Đức, họ nhăn mặt lắc đầu tỏ ý không muốn nói chuyện với chúng tôi bằng cái thứ tiếng của kẻ thù đáng nguyền rủa của họ. Họ vừa nói một câu bằng tiếng Ỷ, vừa chỉ vào ngực mình. Chúng tôi chưa hiểu gì thì anh nhạc công trẻ tuồi liền cầm lấy con búp bê đặt trên giá đàn, trinh trọng mang đến tặng tôi, hay nói đúng hơn là giúi vào tay tôi và mẩy người bạn của anh ta reo lên vui vẻ, vỗ vỗ vào lưng anh ta một cách thân mật trìu mến. Họ ra đi, vừa đi vừa hát và múa những con búp bê to trong tay mình. Con ngựa và chiếc xe kéo đứng ngoài đường cùng với các gói thực phẩm kia là toàn bộ tài sản và lương thực nuôi sống họ trên chặng đường dài trở về quê hương nước Ý. - Tiêu diệt Hít-le! - Họ hét lên cái tiếng này với chúng tôi thay cho lời chào từ biệt. Tiếc rằng, trong những ngày này chúng tôi không gặp được hai nhân chứng quan trọng nhất được chứng kiến tận mắt cái chết của Hít-le là Hun-xe và Rit-ten-hu-be. Cả hai lúc ấy đang là tù binh của một quân đoàn bạn mà chúng tôi không biết. Mãi sau này những lời khai của họ mới được bổ sung và tập hợp chung vào với các tài liệu của chúng tôi trong phòng lưu trữ. Cho đến giờ, tôi mới được đọc chúng. Lúc ấy, quả thật chúng tôi cần có được một nhân chứng thực sự đã chứng kiến cái chết của Hít-le, chứng kiến việc thiêu và chôn xác hắn. Việc điều tra đang tiến hành thì các chiến sĩ tình báo của trung tá Cli-men-cô dẫn đến cho chúng tôi tên Ha-ri Men-géc-hau-deri, lính ss thuộc đội cận vệ riêng của Hít-le. Vóc ngưừi cao lớn, vai rộng, hắn đã kịp thay quần áo thường dân. Hắn mặc chiếc bành tô chật cứng, chắc không phải là của hắn, nên hai cánh tay to và dài đã lòi cả ra ngoài hai ống tay quá ngắn. Thiếu tá Bư-xtơ-rốp hỏi cung hắn, còn tôi làm phiên dịch. Chúng tôi ngồi trên một đống củi thông chất ở ngoài sân. Men-géc-hau-den kể: "Ngày 30 tháng tư tôi đứng gác ở dinh quốc trưởng, đang đi dọc theo hành lang nhà bếp và phòng ăn. Ngoài ra tôi còn có nhiệm vụ quan sát khu vườn trước mặt vì cách phòng ăn 80 mét là hầm trú ẩn của quốc trưởng. Vừa đi hết dọc hành lang tôi rẽ vào nhà bếp và gặp Bau-ơ, cần vụ của quốc trưởng, anh ta xúc động ghé vào tai tôi nói nhỏ, Hít-le đã tự sát bằng súng trong hầm ngầm. Tôi hỏi thêm là "bà quốc trường" đang ở đâu. Bau-ơ cho biết bà ta cũng đã chết trong hầm rồi nhưng không rõ là cũng tự sát bằng súng hay là uống thuốc độc. Tồi nói chuyện với Bau-ơ có vài ba phút thôi: anh ta đang vội. Anh ta phải vào bếp chuẩn bị phục vụ đoàn tùy tùng đang ở trong hầm quốc trưởng và mấy phút sau lại quay trở về hầm. Tôi không tin lắm vào lời "rỉ tai" của Bau-ơ và vẫn lặng lẽ đi tuần dọc theo hành lang. Khoảng hơn một giờ sau khi gặp Bau-ơ, khi bước ra thảm cỏ cách hầm quốc trưởng độ 60 - 80 mét, tôi bỗng thấy từ cửa phụ căn hầm, ngài Hun-xe sĩ quan tùy tùng của Hít-le và Lin-cơ, đầy tớ riêng của Hít-le đang khiêng xác Hít-le để gần lối ra vào chừng hai mét rồi quay đi và sau mấy phút lại trở lại với xác của E-va Brao-nơ. Cả hai xác được để vào cùng một chỗ. Gần đấy tôi thấy có hai can xăng loại hai chục lít. Hun-xe và Lin-gơ tưới xăng vào xác chểt và châm lửa đốt... Thiếu tá Bư-xtơ-rốp hỏi thêm là ngoài anh ta ra, trong đội bảo vệ còn có aỉ nhìn thấy việc đốt xác Hít-le này nữa. Man-géc-hau-den không biết chính xác. "Trong tất cả những người đứng phiên gác hôm ấy, chỉ có tôi là người đứng gần hầm trú ẩn nhất". Ánh ta cúi xuống và vẽ sơ đồ khu vườn hoa. Như vậy là cái mắt xích thiếu trong cuộc điều tra này đã được bỡ sung phần nào - đó là người trực tiếp tham gia hoặc là người chứng kiến việc đốt xác, chúng tôi coi đây là nhân chứng quan trọng nhất trong giai đoạn điều tra sơ bộ - Việc truy tìm dấu vết Hít-ler Chúng tôi cùng Man-gée-hau-den vào phòng và ghi lại tất cả những điều hắn ta vừa nói. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Chín, 2017, 12:18:20 am Từ vị trí gác của mình, Man-géc-hau-den chỉ nhìn thấy có Hun-xe va Lin-gơ mà thôi. Còn những tên khác cùng Gơ-ben và Boóc-man thì đứng phía trong hầm để vừa giám sát việc đốt xác vừa tránh đạn nên hắn không nhìn thấy. Những trận đánh vẫn diễn ra cách đấy không xá. Khu dinh quốc trưởng vẫn chìm trong khói đạn. Tiếng đạn rít, tiếng pháo nổ dữ dội bốc tung từng cột đất hòa với tiếng cây đổ, tường sập, cửa kính vỡ tạo nên một khung cảnh và những âm thanh thật kinh hoàng. Gió thổi mạnh làm tung bay những mảnh quần áo cháy dở trên xác chết. Lửa cháy bừng bừng, rồi tắt ngấm, cháy âm ỉ. Lại phải đổ, thêm xăng... Một lần nữa ngọn lửa lại bùng lên, reo phần phật... Sau đó là chuyện gì đến với tên SS Man-géc-hau-đen ? Đúng là chỉ còn lại mình hắn và hắn đã bỏ chạy không cần chờ lệnh gì cả. "Đúng ngày 30 tháng 4 hôm ấy, tôi cải trang thành dân thương và trốn trong hầm trú ẩn". Thiếu tá Bư-xta-rốp chìa cho hắn xem ảnh khu vườn hoa trong dinh quốc trưởng và bảo hắn : "Anh hãy kể lại những gì anh biết, những gì anh trông thấy trên tấm ảnh này". 'Trên tấm ảnh này tôi thấy chụp lối cửa phụ của hầm trú ẩn Hít-le. Đây là nơi tôi biết rõ và có thể chỉ nơi đốt xác Hít-le và vợ ông ta, cũng như nơi người ta chôn hài cốt họ". Tấm ảnh với những dấu chữ thập chỉ dẫn do chính Man-géc-hau-Hen ghi vào được lưu giữ tại phòng lưu trữ. Hôm sau Man-géc-hau-den còn nói rằng, hắn có thể chỉ ngay cả chỗ người ta đã tạm đặt xác ở đâu, sau đấy khiêng ra vất chỗ nào và phủ đất lên thế nào... Hắn không biết rằng, ngay sau đấy hài cốt đã được khai quật và mang đi khỏi đây. Trung tá Cli-men-cô cùng nhóm sĩ quan và chiến sĩ trong đội điều tra cùng Man-géc-hau-den đi vào văn phòng dinh quốc trưởng. Biên bản đầu tiên được lập : Ngày 13, tháng 5, năm 1945. T/P Béc-lin Chúng tôi, những người ký tên dưới đây... cùng với nhân chứng Ha-ri Man-géc-hau-den, ngày hôm nay đã xem xét kỹ nơi chôn xác quốc trưởng đế chế A-đôn-phơ Hít-le và vợ. ...Việc xem xét nơi do nhân chứng Man-géc-hau-den chỉ đã chứng tỏ lời khai của nhân chứng là đúng... Hơn nữa những lời khai của nhân chứng là đúng vì từ trong chiếc hố rộng mà nhân chứng đã khai và chỉ ra trong buổi hỏi cung ngày 4 tháng 5 năm 1945 đã phát hiện được hai xác người, một đàn ông và một đàn bà đã bị thiêu cháy và hai con chó bị chết vì thuốc độc mà theo những nhân chứng khác xác nhận là hai con chó của Hít-le và vợ ông ta, E-va Brao-nơ đã nuôi khi còn sống. Bản vẽ ước lượng bằng mắt và những ảnh chụp nơi chôn xác Hít-le và vợ hẳn do nhân chứng Man-géc-hau-den khẳng định được kèm theo biên Bản này. Biên bản này làm tại dinh quốc trưởng tại Béc-lin". Những người ký tên dưới biên bản có trung tá Cli-men-cô, thượng úy Ca-tu-sép, thiếu tá cận vệ Ga-bê-lốc, thiếu úy phóng viên nhiếp ảnh Ca-la-snhi-cốp, các binh nhì O-lây-nhíc, Tru-ca-rốp, Na-vát-sơ, Mi-an-kin! Về sau, tại bộ tham mưu mặt trận người ta cho tôi biết rằng, tên ss Man-géc-hau-den trong các bản tự khai đã thú nhận thêm rằng hắn không phải chỉ là người quan sát mà sau đấy đã là người tham gia việc đốt xác này. Về điều quan trọng này lúc đó tôỉ không được biết và giờ đây tôi cũng không tìm thấy những bản tự khai này của hắn tại phòng lưu trữ. Nhưng tôi cũng đã đọc được bản ghi chép của thủ trưởng hắn là tướng SS Rát-ten-hu-be: "Xác Hít-le và E-va Brao-nơ cháy không đều và tôi phải xuống hầm hạ lệnh lấy thêm xăng. Khi tôi bước lên mặt đất, cả hai xác đều bị phủ một lớp đất mỏng và tên lính canh Man-géc-hau-den đã báo cáo với tôi là hắn không thể đứng ở vị trí gác được vì mùi khét nồng nặc và theo lệnh của Hun-xe hắn cùng các tên SS khác đã vất hai cái xác này xuống hố xi măng nơi đã chôn hai con chó từ trước". Tiếp theo những đoạn thuật lại việc chúng hối hả chuẩn bị chạy trốn khỏi hầm ngầm sau cái chết của Hít-le. Rát-ten-hu-be lại nhắc tới tên lính Man-géo-hau-đen: "Thật là kinh tởm cho những đầu óc thực đụng, tên SS Man-géc-hau-den đã lẻn vào bàn giấy của Hít-le tháo gỡ huy hiệu bằng vàng gắn trên chiếc áo dài của Hít-le ở trên ghế. Hắn hi vọng rằng đây là một vật quý giá và đem bán cho người Mỹ thì sẽ được nhiều tiền". Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Chín, 2017, 12:19:40 am LẠI NHỮNG ỐNG THUỐC ĐỘC Tất nhiên khi xem tả lại không khí những cuộc truy tìm này, bạn đọc có lẽ khó hình dung được tính chất khẩn trương căng thẳng của chúng tôi lúc ấy. Bởi vì thời gian đó có những việc làm có tổ chức, có những việc làm một cách mò mẫm, tự phát, có việc đạt được kết quả tương đối dễ dàng còn có những việc phải mất nhiều công sức và căng thẳng. Giờ đây, thời gian trôi qua đã lâu, nhiều khó khăn vướng mắc và trở ngại đã được khắc phục, còn lúc ấy trên bước đường điều tra đôi khi vấp phải những trở ngại không lường trước được. Một trong những nguyên nhân nảy sinh những trở ngại này là sự bí mật đặc biệt bao trùm chung quanh việc phát hiện và điều tra về Hít-le. Chúng tôi có lệnh phải rời ngay khu vực dinh quốc trưởng bởi vì theo quyết định của bộ chỉ huy mặt trận, toàn bộ khu vực chính phủ cũng như toàn thành phố Béc- lin được chuyển giao cho quân đoàn của tướng Béc-da-rin quản lý và những chiến sĩ bảo vệ đầu tiên của đơn vị này đã tiếp quản cả vị trí và họ được lệnh nhất thiết không cho ai đi vào khu vực này. Do đó việc tiếp tục tiến hành công việc điều tra ở ngay trong căn hầm quốc trưởng là hết sức khó khăn. Bởi vì chúng tôi không thể làm công khai việc này dù đây cũng là nhiệm vụ quan trọng nhưng lại không được phép cho bất cứ ai biết., Nhưng chúng tôi cũng không muốn chuyển giao "chiến lợi phẩm" này cho ai khác và nói thật ra, không thể bỏ công việc đang tiến hành được. Chúng tôi đành phải thực hiện một "chiến dich" di chuyển bí mật. Sáng ngày 4 tháng 5 đại úy Bê-ri-a-bin cùng lái xe đã đột nhập vào hầm quốc trưởng và "đánh cắp" hai cái xác của Hít-le và E-va Brao-nơ gói vào chăn và lừa lúc người lính gác vừa vòng sang góc khác, hai người liền khênh hai xác đó luồn qua hàng rào đi ra đường lên xe chở hai chiếc hòm đang chờ sẵn. Chúng tôi đến Bu-Sơ một phố ở về phía Đông-Bắc ngoại ô Béc-lin. Tôi cũng không nhớ rõ là chúng tôi đã ở tại một ngôi nhà nhỏ hay chỉ là một nhà kho, vì thời gian đã quá lâu. Xác của vợ chồng Gơ-ben cùng các con của hắn bị bố mẹ giết chết cũng được đưa đến đây. Và theo lệnh của trung tá Goóc-bu-sin, xác của Hít-le và E-va cũng được đưa tới đây. Đường phố này yên tĩnh, vắng vẻ và ít cây nên trông bầu trời có vẻ rộng hơn ở trong thành phố. Bọn trẻ đang nô đùa đuổi nhau bằng xe đạp. Còn người lớn thì trầm ngâm đi lại; nét mặt đăm chiêu trong suy nghĩ nặng nề và cứ thản nhiên đi qua gian hầm ngay cạnh phố, chẳng hề tự hỏi rằng, việc gì đang diễn ra ở đây. Nếu như lúc ấy tôi có thể hình dung được rằng, vài chục năm sau tôi lại có nhiệm vụ kể lại một cách tỉ mỉ tất cả những gì đã xảy ra ở đây thì có lẽ tôi đã chú ý kỹ càng hơn đến những chiếc hòm xấu xí kia và ghé mắt nhìn lại hai cái xác chết cháy đen khủng khiếp và kinh tởm kia vì lúc ấy tôi nghĩ, mình đã nhìn thấy nó ở Béc-lin rồi, việc gì phải tò mò nữa. Và tôi đi qua hai chiếc hòm không mảy may quan tâm tới nó. Chính ở đây, ở Bu-Sơ này, ngay sau khi lên cầm quyền, Hít-le đã hạ lệnh biến ngôi bệnh viện cổ kính nổi tiếng xưa kia của khu phố này thành viện nghiên cứu "bẩm tính chủng tộc" - một công việc vô nhân đạo chưa từng có trên thế giới. Năm 1936 chúng đã lập một phiếu ghi tiềm năng sinh vật di truyền của tất cả dân chúng quận Pan-cọp, một quận lớn của Béc-lin. Số phận của từng con người, mọi quyền của họ trong đó có cả quyền được kết hôn, quyền được sống ở đâu, quyền chọn nghề nghiệp cho đến cả quyền sống đều phụ thuộc vào những gì ghi trong phiếu kiểm tra kia! Và lịch sử trớ trêu lại đưa Hít-le trở về đây để người ta xét nghiệm lại hắn trong cái bệnh viện giải phẫu này. Sau khi phát hiện thi hài vợ chồng và các con của Gơ- ben, ngày 3 thắng 5, một ủy ban gồm các bác sĩ, sĩ quan quân y lúc bấy giờ đang hoạt động tại bệnh viện phẫu thuật dã chiến số 496, được thành lập theo lệnh của trung tướng, ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân Bi-ê-lô-ru- xi-a thứ nhất. Ủy ban này gồm những chuyên gia, những nhà bệnh lý học nổi tiếng nhất tham gia như : trung tá Cra-ép-xki, -trưởng phòng bệnh lý Hồng-quân, các bác sĩ Mà-rân-xơ, Bô-gu-xláp-xki, Gun-kê-vit. Lãnh đạo ủy ban này là trung tá, trưởng pháp y Cục quân y mặt trận Bi-ê-lô-ru-xi-a thứ nhất Phau-xtơ I-ô-xi-phô-vit Sca-rap-xki. Oái oăm thay, việc giải phẫu xác Hít-le lại do bác sĩ Phau-xtơ chỉ đao. Trực tiếp mổ xác là nữ bác sĩ quân y An-na I-a-cốp- lép-na Ma-ran-xo, trưởng phòng pháp y mặt trận Bi-ê-lô- ru-xi-a thứ nhất. Cuộc giải phẫu tiến hành ngày 8 tháng 5; Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Chín, 2017, 01:20:09 am Biên bản giải phẫu miêu tả Hít-le dưới con mắt các chuyên gia như sau: "Xác một người đàn ông đã cháy thành than, bị biến dạng nghiêm trọng do lửa đốt được đặt trong chiếc hòm gỗ dài 163 xăng-ti-mét, rộng 55 xăng- ti-mét, cao 53 xăng-ti-mét; xác chết còn vương một mảnh vải dệt kim khố 23 X 8 xăng-ti-mét, màu vàng nhạt-giống như loai sơ-mi dệt. Do xác bị cháy nên khó xác đinh được tuổi của người chết, nhưng cũng có thể giả định được rằng, người chết khoảng từ 50-60 tuổi, cao khoang 165 xăng-ti-met (việc đo chiều cao không chính xác lắm vì xác đã bị cháy còng queo)... Xác bị cháy gần hết tuy nhiên mùi tạnh nồng vẫn còn nặng... Không phát hiện thấy dấu hiệu nàọ về cái chết là do thương tích hay bệnh tật gây ra - Biên bản ghi tiếp. "Trong miệng tử thi còn phát hiện thấy mảnh thủy tinh vụn của vành và đáy một ống thuốc". Sau khi phân tích kỹ, tiểu ban giải phẫu kết luận rằng, "Chết là do uống chất độc xi-a-nuya". Không phát hiện được những nguyên nhân khác dẫn đến tử vong. Về sau này, các nhà nghiên cứu, nhà báo và các nhà viết hồi ký phương Tây cứ khăng khăng muốn người ta tin rằng Hít-le đã tự sát bằng súng. Mọt số do kém hiểu biết, số khác thì ít nhiều muốn tô vẽ cho cái chết của hắn, vì: theo tập quán quân đội Đức thì, khi một sĩ quan muốn tự sát nhất thiết phải chết bằng súng cho xứng đáng với cương vị người chỉ huy. Thế nhưng ai cũng biết, tướng Crếp - "một quân nhân nhà nòi" cũng đã chọn thuốc độc làm phương tiện tự sát. Đối với chúng tôi thì cách mà Hít-le chọn để tự sát không có ý nghĩa lắm trong những ngày này. Điều quan trọng chính là bác sĩ Phau-xtơ và các đồng nghiệp đầy kinh nghiệm của ông đã xét nghiệm và nghiên cứu kỹ càng và kết luận dứt khoát rằng: Hít-le đã tự sát bằng thuốc độc. Lúc ấy Hun-xe đang đứng ở ngoài cửa, không nghe thấy tiếng nổ nhưng ông ta cảm thấy có mùi thuốc lạ nồng nặc lọt qua cửa hé mở. Nhưng có người khác như thư ký riêng của Hít-le là Giun-ghe có nghe thấy. Bà ta nói: "Khi tôi từ phòng Hít-le đi ra và đang bước theo bậc cầu thang lên phía trên tôi đã nghe thấy hai tiếng súng nổ liền. Tôi đoán tiếng nổ phát ra từ phòng Hít-le". Dù sao chẵng nữa vẫn có người khẳng định là Hít-le đã tự sát bằng súng. Bởi vì chính Bau-ơ, cần vụ của Hít-le khi gặp tên lính gác SS Man-géc-hau-den đã nói cho hắn biết như vậy. Thế là những kẻ gần gũi với Hít-le cũng nói như thế. Vậy trong thực tế có tiếng súng nổ trong phòng Hít-le hay chỉ là sự tưởng tượng của những ai đó đứng sau cánh cửa phòng hắn ? Và nếu như có tiếng súng thật thì, ai đã bắn lúc ấy ? Chúng tôi lại phải bắt đầu tìm hiểu và phân tích cho ra vấn đề này. Nhưng lời khai của chỉ huy đội cận vệ của Hít-le - Rát- ten-hu-be hình như đã chiếu một tia sáng vào vấn đề này : "Khoảng 3-4 giờ trưa hôm ấy khi vào phòng khách của quốc trưởng - hắn viết trong bản khai cung – tôi cảm thấy có mùi thuốc độc nồng nặc. Phó chỉ huy của tôi, ông Ha-ghen hồi hộp báo rằng, quốc trưởng vừa tự sát. Đúng lúc ấy Lin-gơ cũng vừa tới, bà ta xác nhận tin báo này và nói thêm rằng, lúc ấy bà đã phải thực hiện mệnh lệnh khó khăn và nặng nề nhất trong đời mình. Tôi ngạc nhiên liếc nhìn Lin-gơ. Bà ta giải thích rằng "trước khi chết Hít-le đã hạ lệnh cho bà ta ra ngoài phòng độ mười phút, sau đấy lại trở vào và đứng đợi độ mười phút nữa rồi thi hành mệnh lệnh của quốc trưởng. Nói vậy rồi Lin-gơ bước nhanh vào phòng Hít-le và lát sau trở lại phòng khách với khẩu súng ngắn Van-te trong tay và đặt xuống bàn ngay trước mặt tôi; Nhìn qua tôi biết đây là khẩu súng riêng của quốc trưởng. Giờ thì tôi hiểu rõ mệnh lệnh của Hít-le là gì. Rõ ràng là Hít-le nghi ngờ độ nhạy của thuốc độc do hắn dùng quá nhiều kháng sinh trong một thời gian dài trước đây, nên đã hạ lệnh cho Lin-gơ bắn vào hắn sau khi đã uống thuốc độc ...Tên thủ lĩnh thanh niên quốc xã Ác-xnian có mặt trong cuộc nói chuyện của chúng tôi đã cầm lấy súng ngắn của Hít-le và nói là hắn sẽ giấu khẩu súng này đi. Tất nhiên là Rát-ten-hu-be không biết thêm một trường hợp nữa đã khiến Hít-le đưa lệnh này ra cho Lin-gơ. Đó là khi thử thuốc độc vào con chó thứ hai con chó này đã vật vã hồi lâu với cái chết ghê rợn do đó người ta đã phải bắn cho nó chết nhanh hơn. Điều này đã được xác nhận khi tìm thấy hai con chó bị đầu dộc chết vất dưới hố mặc dầu trước đây không để ý đến vết đạn và hiện tượng này không được ghi vào biên bản. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Chín, 2017, 01:22:05 am Các bác sĩ kết luận: "Phương pháp giết chó có thể khẳng định như sau: lúc đầu chúng bị bắt uống thuốc độc nhưng có thể liều nhẹ nên con chó chết lâu và người ta đã bắn nó". Quan sát con chó bị đầu độc có thể Hít-le đã sợ rằng thuốc độc hắn dùng sẽ tác động không nhạy lắm. "Lin-gơ đã được lệnh bắn vào Hít-le", - Rát-ten-hu-be khẳng định. Tôi cho rằng có thể lúc ấy do quá xúc động nên Lin-gơ đã run tay khi chính bà ta lại bắn vào quốc trưởng của mình và do đó đã bắn trượt, Như vậy hai tiếng nổ phát ra trong phòng Hít-le là do Lin-gơ gây nên. Nhưng vết tích của hai viên đạn về sau này cũng bị mất nốt. Có những lúc nghe tin những tên bạo chúa chết, người ta thường hay bàng hoàng tự hòi: chả lẽ chúng cũng thuộc loại người sinh ra để rồi cũng phải chết như ai hay sao ? Tiếp sau cái chết của chúng nếu còn những gì chưa rõ ràng hay bí ẩn một chút là người ta thêu dệt ngay thành truyền thuyết, đó cũng là trường hợp cái chết của Hít-le. Cái chết của hắn không giống như sự sai trái của đô đốc hải quân Đê-nít, người được Hít-le trao toàn quyền, đã tuyên bố trong một bản thông diệp rằng, Hít-le ngã xuống ở hàng đầu những người bảo vệ thủ đô nước Đức. Đó là một sự giả dối, láo xược mà chính ông ta bịa ra. Và đó cũng là sai trái của Ác-xman, tên thủ lĩnh thanh niên quốc xã, kẻ vừa thủ ngay khẩu súng của Hít-le khi hắn tuyên bố rằng: hắn định mang theo xác của Hít-le. Đó là sai trái của Kem-pe, lái xe riêng của Hít-le, với một giọng cảm kích đã viết cuốn hồi ký: "Tôi đã thiêu xác Hít-le" làm lẫn lộn trắng đen. Và thậm chí cũng phải kể đến cả những sai trái của người hầu phòng Lin-gơ. Nhưng cuối cùng phải nói đến sai trái của nhà sử học Anh Tơ-re-vor Rô-pho đã viết trong một tác phẩm tuy có phần nghiêm túc rằng "Dù sao chăng nữa thì Hít-le cũng đã đạt được mục đích cuối, cùng của mình. Như A-la-rít La-gô-thơ tàn phá thành Rôm năm 410 và được các chiến binh của ông ta chôn cất dưới dòng sông Bu-đen-tô ở Ý, con người phá hoại hiện đại của nhân loại lần này cũng đã tránh được vĩnh viễn cái nhìn của loài người". Sau bốn năm chiến đấu liên tục, vô cùng gian khổ và anh dũng, Hồng quân đã tiến vào Béc-lin giải phóng loài người khỏi thảm họa phát xít Hít-le. Những người được giao nhiệm vụ xác minh sự thật về Hít-le đã làm việc hết sức mình. Mọi điều gì chưa rõ ràng xung quanh việc này họ đều cho là có hại vì sẽ làm nảy sinh ra những chuyện đồn đại mang tính chất thần bí, huyền thoại chỉ có lợi cho sư phục hồi chủ nghĩa quốc xã mà thôi. "Hít-le - xác chết hay là huyền thoại? - Đó là đầu đề bài xã luận của hãng Roi-tơ tung ra vào đầu tháng 5-1945. "Nghiên cứu những bộ xương người, bài báo viết - đào bới được trong các đống đồ nát của Béc-ỉin là một công vịệc khó khăn nặng nề kéo dài hàng tuần lễ. Việc tìm kiếm đo bộ đội Hồng quân Liên Xô tiến hành, và đã tìm thấy những chứng cứ không thể bác bỏ được về cái chết của Hít-le". Chúng tôi hi vọng những chứng cớ đó sẽ được đưa ra trong vài ngày tới. Nhân dân đã cống hiến, hi sinh tất cả cho sự chiến thắng chủ nghĩa phát xít, hoàn toàn có quyền đòi hỏi được biết cuộc chiến tranh này đã chấm dứt bằng điều gì. Đưa ra câu trả lời chính xác về Hít-Ịe còn sống hay đã chết cũng là điều rất quan trọng đối vói tương lai của nước Đức sau này. Nhưng bỗng ngày 8 tháng 5, trên báo chí xuất hiện nguồn tin nói rằng, hình như Hít-le đang ẩn náu đâu đó trên nước Đức. Cũng đúng vào lúc đó một số vị chỉ huy của chúng tôi khi nghe được những phỏng đoán mơ hồ của một vài nhân vật "từ trên dội xuống" cũng đã tỏ vẻ hoài nghi về việc xác minh cái chết của Hít-le và đã không nhiệt tình ủng hộ lòng hăng hái của chúng tôi nữa. Thời gian, đầu có nhiều người được huy động tham gia việc tìm kiếm vết tích Hít-le. Nhưng đến ngày 8 tháng 5 nhiều cán bộ chiến sĩ tình báo được rút về các đơn vị để làm nhiệm vụ mới và nhóm tìm kiếm của đại tá Goóc- bu-sin giảm xuống còn một ít người. Cụ thể, ngoài đại tá và thiếu tá Bư-xtơ-rốp ra thì trong nhóm này còn có mỗi tôi với tư cách là phiên dịch nữa thôi. Chung tôi cùng nghĩ rằng, nếu như không phải ngay bây giờ, khi các sư kiện còn đang nóng hồi đã không đưa ra được các bằng chứng chính xác mà để đến vài ba năm sau và có thể lâu hơn nữa mới tìm dược sư kiện để chứng minh cho toàn thế giới và các con cháu chúng ta thì liệu họ có thể tin được không? Chúng tôi đã làm hết lòng để sư kiện về cái chết của Hít-le và việc phát hiện ra xác hắn được đưa ra một cách chính xác hay chưa hay còn phải đợi cho thời gian trôi qua đã ? Chính trong hoàn cành như vậy nên đại tá Goóc-bu-sin quyết định là phải nhanh chóng tìm cho được những bằng chứng không thể bác bỏ được về cái chết của Hít-le. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Chín, 2017, 03:34:18 am BẰNG CHỨNG QUYẾT ĐỊNH Đúng vào ngày 8 tháng 5 khi chúng tôi đang ở làng Bu-sơ ngoại thành Béc-lin thì ở Các-hoóc-tê diễn ra lễ ký biên bản đầu hàng của nước Đức phát xít mà mãi hôm sau tôi mới được biết, đại đá Goóc-bu-sini gọi tôi đến và trao cho chiếc hộp nhỏ rồi nói rằng, đây là hộp đựng răng của Hít-le và tôi phải lẫy đầu ra mà giữ lấy nó. Chiếc hộp đã cũ mòn, màu boóc-đô trong lót sa-tanh, loại hộp thường dùng đựng lọ nước hoa hoặc đồ trang sức. Thế nhưng lần này trong chiếc hộp đó lại đang đựng một vật chứng quan trọng - chứng cứ không thể chối cãi về cái chết của Hít-le. Đó là những chiếc răng hàm của Hít-le, vì, trên thế giới này không thể có người nào có răng hay vân tay trùng nhau cả. Hơn nữa vật chứng này là thứ có thể giữ lâu được. Sở dĩ chiếc hộp này được giao cho tôi vì chúng tôi ở tuyến hai và người ta không biết giao cho ai cất, giữ ở đây cho chắc chắn hơn. Một nguyên nhân nữa khiến tôi được giao giữ nó là vì trong đội truy tìm chỉ còn lại, như tôi nói ở trên, có ba người nữa thôi. Mọi việc liên quan đến truy tìm Hít-le đều được giữ tuyệt đối bí mật. Trong cái ngày sục sôi, rộn rã đầy không khí chiến thắng đó, tôi không lúc nào rời chiếc hộp, luôn giữ nó trong túi và đôi khi cảm thấy khó chịu, lo lắng vì chỉ vô ý một chút là có thể bỏ quên nó bất cứ ở đâu. Nó đã làm tôi hầu như mất ăn mất ngủ, khổ sở lo lắng. Tôi ở trong một trạng thái hư hư thực thực và cảm giác đó càng tăng gấp bội nếu đem so sánh với tình hình hòa bình như hiện nay. Chiến tranh tự nó là một trạng thái bệnh hoạn. Những gì đã diễn ra trong chiến tranh, những gì con người phải trải qua trong chiến tranh đều không thể giải thích được bằng ngôn ngữ hòa bình và tất cả những cái đó đều không liên quan gì đến tâm lý học thông thường. Vào lúc gần nửa đêm của cái ngày 8 tháng 5 đáng ghi nhớ đó, trước lúc khóa cửa căn phòng nhỏ dành riêng cho tôi ờ tầng dưới của ngôi nhà hai tầng để đi ngủ, tôi bỗng nghe có tiếng ai gọi tôi. Tôi vội cầm ngay lấy "chiếc hộp đựng của quý" và chạy theo cầu thang hẹp gần như thẳng đứng lên gác hai, nơi có người gọi tôi. Cánh cửa phòng đang mở rộng. Các thiếu tá Bư-xtơ-rốp và Pít-cô đang đứng căng thẳng chờ đợi cạnh máy thu thanh, nghển cổ lắng nghe. Điều ngạc nhiên là mọi người chúng tôi đều biết và chờ đợi sự kiện này từ mấy hôm nay nhưng khi nghe tiếng phát thanh viên vang lên: "Lễ ký biên bản đầu hàng vô điều kiện của các lực lương vũ trang Đức"... thì cả ba chúng tôi đều lặng đi, bàng hoàng và xúc động. "1. Chúng tôi, ký tên dưới đây, thay mặt Bộ chỉ huy tối cao Đức nhận đầu hàng không điều kiện của tất cả các lực lương vũ trang hải, lục, không quân dưới quyền trước Bộ tư lệnh tối cao Hồng quân và trước Bộ tư lệnh tối cao quân đội viễn chinh đồng minh. 2. Bộ chỉ huy tối cao Đức sẽ tức khắc ra lệnh cho tất cả bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang hải, lục, không quân Đức và tất cả các lực lượng dưới quyền khác ngừng bắn ngay vào hồi 23,01 giờ theo giờ chung của châu Âu ngay đêm 8 tháng 5 năm 1945. Tất cả các đơn vị Đức sẽ ở nguyên tại chỗ khi có lệnh này và phải giao nộp toàn bộ vũ khí...". Tiếng Lê-vi-tan vang lên: "Lễ kỷ niệm Chiến thắng cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại sẽ được tổ chức tại..." Chúng tôi sung sướng hoan hô và vỗ tay reo hò. Sau đó chúng tôi lặng lẽ rót rượu. Tôi để chiếc hộp xuống sàn gác. Ba chúng tôi nâng cốc nghẹn ngào, cảm động, suy nghĩ mông lung và chìm đắm trong tiếng rền vang của những loạt đại bác chào mừng từ Mat-xcơ-va xa xôi đang gầm len trong máy thu thanh. Tôi bước theo cầu thang gỗ hẹp xuống tầng một. Tôi bỗng như bị choáng và vội ghì chặt chiếc hộp trong vòng tay, dựa lưng vào thành cầu thang. Trời! Chả lẽ điều đó đã đến vói tôi? Tôi có cam giác như đấy chỉ là điều tưởng tượng! Phải chăng là tôi đang ở đây, đang ghì chặt vào mình một chiếc hộp nhỏ đựng một phần cơ thể của tên Hít-le - bạo chúa - ngay trong giờ phút nước Đức đầu hàng hay không ? Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Chín, 2017, 03:36:05 am * * * Giờ đây tôi vẫn còn nhớ mãi cái cảm giác khó quên của lần tôi trở lại Béc-lin sau bao năm chấm dứt chiến tranh. Từ đại lộ Sây-khao-de với hai hàng cây xanh um tùm, chuyến tàu đưa tôi đi về phía Đông chạy bẵng qua những dãy nhà một, hai tầng mới, qua những công trường xây dựng, qua những khu vườn công viên, qua những dãy ống khói nhà máy cao ngất kéo dài, kéo dài dọc theo những cánh đồng bát ngát tới tận chân trời phía Đông tràn ngập một màu cỏ xanh mơn mơn và có cảm giác như mình đã ra khỏi vùng ngoại ô thành phố, thế nhưng đây vẫn là nội thành Béc-lin trước chiến tranh. Và cuối cùng rồi tôi cũng ra đến ga Béc-lin Bu-Sơ, nhà ga xa nhất của thành phố. Làng Bu-sơ bây giờ không còn nhận ra được nữa - và cam giác này tất nhiên là của riêng tôi thôi - Bu-Sơ đã hoàn toàn khác xưa - đông đúc, tấp nập và nhiều nhà cửa khang trang sau những vườn cây xanh mát. Tôi đi tìm lại ngôi nhà mà hồi tháng năm năm ấy chúng tôi đã ở tạm mấy ngày nhưng không thấy đâu, tôi đành nhờ hai người đàn ông gặp trên đường phố chỉ đùm - đó là hai người trông có vẻ khác với những con người đang vội vã khẩn trương đi lại quanh tôi. Hai người đàn ông này thong thả như người đi dạo, cũng ngắm nhìn phố xá với vẻ tò mò chiêm ngưỡng như tôi. Trên nét mặt họ in hằn những nếp nhăn nặng nề dấu ấn thời gian, đầu đội những chiếc mũ rộng vành của những người chăn cừu thường đội và cả hai đang dừng lại trước một quầy bia hơi đông đúc. Họ có vẻ không được tự nhiên lắm khi gặp tôi ở đây, một người nước ngoài trong cái quán bia ồn ào có vẻ xô bồ này. Họ tưởng tôi là người du lich. - Không, tôi là người đã từng ở đây hồi tháng 5 năm 45. Cả hai cùng nhún vai không hiểu, nhíu mày và dường như không tin tôi. Cuối cùng rồi họ cũng nói rằng, họ cũng đã từng ở Xta-lin-grát trong thời kỳ chiến tranh. Thế là chúng tôi cùng bắt chuyện, hết chuyện này đến chuyện khác chẳng có đầu có đuôi gì cả. Cả ba chúng tôi dường như cùng ngạc nhiên và cùng thú vị về cuộc gặp gỡ bất ngờ này. Vì cả ba chúng tôi, tuy ở hai trận tuyến khác nhau hồi ấy, nhưng trên vai chúng tôi còn in hằn gánh nặng của những năm tháng không thể nào quên ấy. Tôi còn nhớ một cửa hiệu chữa đồng hồ lúc ấy và tôi đi đến đấy, hi vọng sẽ tìm gặp được đúng ông chủ hiệu là người đã từng sống lâu năm ở đây. Chiếc chuông đồng treo trên cánh cổng rung lên báo tin có khách tới. Từ sau nhà một ông già mặc áo khoác trắng dài đến tận gối bước ra - ông chủ hiệu đồng hồ phố lễ như người ta vẫn thường gọi những ông thợ thủ công như vậy. Ông già làng Bu-Sơ của cái nước Đức xưa nhìn tôi qua cặp kính lão. Dẫn tôi ra tới đầu đường, ông già đưa cho tôi mành giấy vẽ "sơ đồ" khu làng mới để tôi dễ tìm. Trời đã về chiều. Ráng hoàng hôn vàng rực màu da cam, mọi người đang trở về nhà sau một ngày làm việc, trẻ em tung tăng tíu tít từ các vườn trẻ trở về bi bô khoe chuyện, hai hàng cây trong công viên như nặng nề rũ xuống sau một ngày đùa vui cùng gió nắng mệt nhoài, ngôi sao vàng chóe ánh lên trên tấm bia lớn trong nghĩa trang. "Vinh quang đời đời thuộc về các chiến sĩ trong cuộc chiến đấu giải phóng loài người khỏi ách phát xít". Chính từ hướng này, bộ đội tập đoàn quân số 3 của chúng tôi đã tiến vào Béc-lin năm ấy. Tôi bồi hồi đạo bước trên đường phố, đì tìm ngôi nhà với chiếc cầu thang gỗ hẹp dạo ấy, nơi tôi đã đứng lặng đi với chiếc hộp con trong tay sung suớng trào nước mắt đón mừng ngày chiến thắng... Thế nào là Chiển thắng ? Người ta có thể nhìn thấy nó được tượng trưng trên tượng đài Vích-tô-ri-a trang nghiêm. Người ta có thể hình dung thấy nó được thể hiện trong những công trình kiến trúc ca ngợi chiến thắng mà ta vẫn gọi là khải hoàn Prô-pi-lây, cổng chiến thắng Bran-đbua. Nhưng đối vứi một con người đã tham gia chiến tranh thì Chiến thắng - có nghĩa là gì? Chiến thắng là thế nào đối với một con người đã và đang sống trên một đất nước trải qua bao mất mát? Đối với một con người đã đi suốt từ đầu cuộc chiến tranh vừa qua tới tận Béc-lin, thì đó là gì - hai chữ "Chiến thắng" ấy ? Làm thế nào để nắm bắt được đúng nghĩa của nó ? Đó phải chăng là tiếng reo tột độ sung sướng kéo dài "A, A...!" của người lính nào đó trên đĩnh cao của tòa nhà quốc hội năm nào, vì đó là tiếng reo của Chiến thắng, đó là tiếng reo như muốn nói lên: Thôi, thế là hết, thế là ta còn sống, và tim anh ta lịm đi trong niềm vui bất tận, thế là ta sẽ được dạo chơi trên đường phố quê hương thân yêu, mắt ta sẽ được nhìn bầu trời trong xanh, phóng tầm nhìn ra xung quanh ta và sẽ được "làm việc như ta hằng mong muốn vì chiến tranh không còn nữa, và sẽ chẳng bao giờ còn nữa. Và đó cũng là nỗi đau xót vì những mất mát và cũng là sự lo lắng trước tương lai đầy nặng nề đang đến với anh. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Chín, 2017, 04:46:45 am Niềm vui chiến thắng tràn ngập thường kèm theo nỗi buồn và cả đau xót của tồn thất, hi sinh - Làm sao để kìm lại được ? Có cái gì, có chiến thắng nào có thể so sánh được với những cố gắng vĩ đại, với những hi sinh không thể tính toán hết trên chặng đường dài để đạp tới nó không? Sáng sớm ngày 9 tháng 5 làng Bu-sơ Béc-lịn sôi động hẳn lên. Mọi người nhẫy múa hò reo, ca hát với đủ các giọng trong khi chừ đợi một cuộc lễ mừng Chiến thắng quang vinh, một cuộc lễ có lẽ sẽ là hoan hỉ nhất chưa từng có từ trước đến nay. Đường làng toàn ngập các chiến sĩ bá vai nhau vừa đi vừa hát. Các chiến sĩ gái vội vàng giặt áo choàng. Thế nhưng trong buổi sáng hoan hỉ hôm ấy, tôi và đại tá Goóc-bu-sin lại có nhiệm vụ mới - chúng tôi phải đi tìm viên nha sĩ cũ của Hít-le. Ngoài đường, những chiếc xe kéo pháo vẫn đi lại, trên một nòng pháo vẫn còn in hằn dòng chữ "Tiến về Béc- lin" giống như dòng chữ viết trên thành chiếc xe tải đã loang lổ của chúng tôi. Các chiến sĩ Hồng quân, súng lớn và xe pháo tất cả đều như cũ. Nhưng không hiểu sao chúng tôi nhìn vẫn thấy có cái gì đó mới lạ. Các khẩu pháo sẽ không "phải nhả đạn nữa, các chiến sĩ sẽ không phải lao vào các trận đánh giáp lá cà nữa. Nền hòa bình mong mỏi từ lâu đang đến với mảnh đất này, và không phải chỉ có những trận đánh xa xôi trên dòng sông Von-ga mà cả những trận đánh gần gũi mới hôm qua đây đã thúc giục chúng tôi đến với Béc-lin - một thành phố đã đi vào lịch sử của cuộc chiến tranh này. Hôm qua trời nắng nóng như mùa hè, nhưng hôm nay bầu trời có vẻ giận dỗi điều gì. Trời không nắng, hơi âm u. Nhưng những cây hoa còn sót lại vẫn nở rộ, hương tỏa ngào ngạt nhẹ nhàng dễ chịu, và trên bãi cỏ xanh lác đác lá vàng có một đôi trai gái Đức đang ngồi bên nhau. Trên khuôn mặt non trẻ của họ như hiện rõ những nét rạng rỡ nói lên rằng, chiến tranh đã kết thúc, không còn kinh hoàng nữa, không còn chết chóc nữa và cuộc sống lại trở về với trái đất chúng ta. Từ một làng ngoại ô đang gần như nguyên vẹn chúng tôi lại trở vào trung tâm thành phố bị đổ nát hoang tàn. Một đôi nơi vẫn còn những đám cháy âm ỉ khói. Không khí thành phố vẫn còn đông đặc mùi chiến trận. Trên một bức tường đổ treo tấm khăn đỏ - một lá cờ tự tạo vội vã do các chiến sĩ nghĩ ra và luôn luôn quàng ngang thắt lưng để chờ ngày đưa nó vào Béc-lin - thủ đô của cái nước Đức mà ho có nhiệm vụ phải chiến thắng. Liệu chúng tôi có thể hi vọng tìm được những người cần tìm trong cảnh hỗn loạn của thành phố bị chiến tranh tàn phà nặng nề này không? Chiếc xe "Pho" chiến lợi phẩm cùng lái xe Xéc-gây đã đưa chúng tôi đi khắp nơi trong thành phố gần như suốt ngày 9 tháng 5 hôm ấy. Xéc-gây chàng trai Xi-bia hiền lành ấy đã cùng chúng tôi đi suốt chặng đường từ Pô-dơ-nan tới đây. Nhiều lần chúng tôi đã phải dừng lại hỏi thăm những người đi đường chỉ hộ phố này hoặc phố kia. May mà có mấy chú bé Béc-ỉin đã sẵn lòng ngồi vào xe để chỉ đường cho chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi đến được một trong các viện y học của Hội từ thiện, chuyên khoa tai - mũi - họng, do giáo sư Các Phôn Ai-ken làm giám đốc. Ông đã từng chữa răng cho Hít-le. Chúng tôi bước vào nhà, tầng dưới là bệnh viện. Đèn trần tỏa ánh sáng yếu ớt. Phần đông những người bị thương nằm ở đây là dân thường. Các cô y tá mặc áo dài xám, vẻ mặt mệt mỗi lặng lẽ làm công việc của mình. Trước cảnh dân chen chác nhau trong một căn hầm chật hẹp, bẩn thỉu, người ta cảm thấy sâu sắc không khí hãi hùng của chiến tranh vừa mới chấm dứt trọn một ngày. Giáo sư Các Phôn Ai-ken đang có mặt ở đây. Đó là một ông già gầy, cao. Chúng tôi được biết ông đã làm việc ở đầy suốt ngày đêm ngay ca trong những lúc nguy hiểm nhất, trong những điều kiện thật kinh khủng, tàn khốc. Ông đã ở lại không bỏ chạy ngay cả trong giờ phút nước Đức đầu hàng và tấm gương của ông đã lôi kéo được nhiều nhân viên bệnh viện ở lại. Chúng tôi vội vã trao đổi với ông về mục đích cuộc "viếng thăm này". Đúng là ông đã chữa bệnh viêm họng cho Hít-le từ năm 1935 lúc y còn là thủ tướng Đức. Sau vụ mưu sát tháng bảy năm 1944 ông ta còn chữa cho Hít-le một lần nữa, vì màng nhĩ bị hỏng do vụ nổ gâỵ nên, sức nghe của hắn đã bị giảm sút rõ rệt, tuy nhiên không cần phải mổ và đã hồi phục được. Ông ta cho gọi giáo sư bác sĩ Mô-ren, một trong những bác sĩ riêng của Hít-le và, theo ông còn một nha sĩ riêng nữa của Hít-le mà ông ta không biết tên. Đúng là chúng tôi đang cần tìm viên nha sĩ này. Giáo sư Ai-ken lại cho người đến bệnh viện chữa răng của Hội từ thiện. Một sinh viên đến và anh ta biết tên của người nha sĩ này - đó là giáo sư Blát-ske. Anh ta vui vẻ đưa chúng tôi tới nhà ông. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Chín, 2017, 04:47:55 am Anh sinh viên dáng người hoạt bát, vui vẻ, mặc chiếc áo khoác mùa hè, đầu trần, mái tóc đen sáng lượn sóng trên khuôn mặt tròn. Anh ta đi xe cùng chúng tôi. Hỏi chuyện nhau chúng tôi mới biết anh ta là người Bun-ga-ri, đang học ở Béc- lin thì chiến tranh ập tới và anh ta không kịp về tổ quốc nữa. Trên các đường phố trung tâm đã được dọn dẹp gạch ngói vỡ, những chiếc xe quân sự treo cờ đỏ mừng chiến thắng đang đi lại. Dân Đức cũng đã ra đường. Họ đi xe đạp đèo theo các bọc hành lý khá to. Cũng có xe đèo trẻ em và các loại đồ ăn. Đã một tuần rồi, Béc-lin không còn chiến tranh và khắp nơi nơi người ta đền cảm thấy nhẹ nhõm. Những ngày hòa bình đầu tiên này đến với những người dân Béc-lin, đưa họ về với những lo toan hàng ngày cho cuộc sống mới. Người trên đường phố đông lên rõ rệt - họ đi lại trên phố, dắt trẻ em hoặc đẩy trên những xe đẩy. Đại lộ Cuốc-phuốc-xten-đam là một trong những đại lộ tráng lệ của thành phố cũng ở trong cảnh đồ nát như các phố khác của Béc-lin. Nhưng ngôi nhà số 213, hay nói đúng hơn, phòng làm việc của giáo sư Blất-ske vẫn nguyên vẹn. Khi vừa vào cửa, chúng tôi gặp ngay một người không mặc áo choàng, ở ve áo vét tông đen cài một dải hăng đỏ nhỏ - dấu hiệu tỏ tình đoàn ket, hữu nghi, chào đón người Nga. Thật đáng ngạc nhiên vì trong những ngày này cái dấu hiệu duy nhất ngự trị ở đấy là màu trắng - màu đầu hàng. Đây là giáo sư - bác sĩ Brúc-cơ. Khi biết chúng tôi tới tìm giáo sư Blát-ske, ông cho biết Blát-ske rời Béc-lin đáp máy bay đi Béc-xtê-ga-đcn cùng một sĩ quan tùy tùng của Hít-le. Chúng tôi cùng bác sĩ lên tầng giữa và ông dẫn chúng tôi vào một phòng chữa răng rộng rãi, thoáng mát, có nhiều cửa sổ. Biết rằng bác sĩ Brúc-cơ là người ngoài cuộc nên đại tá Goóc-bu-sin hỏi ông ta xem có biết ai là người cộng sự của bác sĩ Blát-ske không ? - A! - Bác sĩ Brúc-cơ kêu lên - Các ngài muốn hồi cô Cát-sen, cô Phrây-Ien Han-xéc-man phải không? Nhà cô ta ở gần ngay đây thôi. Rồi ông bảo anh sinh viên đi tìm cô ta. - Phố Pa-ri-xe, nhà số 39 - 40, phòng 1- bác sĩ Brúc-cơ nói với anh. Trong khi chờ đợi, bác sĩ mời chúng tôi ngồi vào những chiếc ghế bành sang trọng, bọc da mềm mà mới đây ít lâu thôi, bọn cầm đầu quốc xã, khách hàng của Blát-ske, nha sĩ riêng của Hít-le từ năm 1932, đã từng ngồi chờ. Bác sĩ Brúc-cơ ngồi trong chiếc ghế bành khác tiếp chuyện chúng tôi. Trước đây ông cũng là một nha sĩ đã sống và hành nghề ở tỉnh lẻ - cô Cát-sen Han-xéc-man trợ lý của bác sĩ Blát-ske mà anh sinh viên đi gọi trước là học trò, sau là trợ lý của ông ta. Về sau nữa cô và em gái đã giúp Brúc-cơ trốn tránh, sống với tên, họ khác vì ông ta là người Do Thái. Đang nói chuyện thì một phụ nữ bước vào. Khuôn mặt xinh đẹp, dáng người cao cân đối, khoác chiếc măng-tô màu xanh sẫm, đầu đội khăn choàng đề lộ đôi hoa tai vàng. - Cô Cát-sen - bác sĩ Brúc-cơ nói - xin giới thiệu, đây là các sĩ quan người Nga. Họ có việc muốn hỏi cô, nghe chưa xong câu nói cô ta đã òa lên khóc. - Chà, cô Cát-sen! - Bác sĩ Brúc-cơ hơi ngượng, giơ cao hai tay, nói tiếp - Này, đây là những người bạn của chúng ta. Bác sĩ người thấp bé hơn cô ta nhiều thế nhưng ông cầm tay cô ta vuốt ve an ủi như đối với một cô bé. Chế độ quốc xã đã đặt họ vào hai thái cực đối lập. Cô ta là người có đặc quyền, là người của Hít-le, còn bác sĩ là người ngoài vòng pháp luật, một người bị truy lùng và đã được gia đình cô ta cứu giúp. Nhìn họ, tói thầm nghĩ, cuộc đời có lắm đổi thay phức tạp và không bao giờ chịu đóng khung trong khuôn khổ chật hẹp của giáo lý quốc xã. Chúng tôi bắt chuyện tự nhiên và cô ta cũng cảm thấy yên tâm, cởi mở dần dần. Cát-sen ba lăm tuồi. Chồng chưa cưới của cô trước là giáo viên, sau bị động viên là hạ sĩ quan và hiện đang ở đâu bên Na Uy và cũng biệt vô âm tín. Giáo sư Blát-ske đề nghi cô cùng bay đến Béc-xtê- ga-đen nhưng cô từ chối. Cô làm việc với giáo sư Bỉát-ske từ năm 1937. Cô trông thấy Hít-le lần cuối cùng vào đầu tháng tư này tại văn phòng quốc trưởng. Đến ngày 12 tháng 5 ở đại lộ Pa-ri-xe cô nghe tin đồn Hít-le đã chết và xác đã bị đốt. Cô ta kể lại cho chúng tôi nhiều chi tiết về Hít-le, về gia đình Gơ-ben nhưng đó là về cuối câu chuyện - còn lúc ấy, khi ở trong phòng bác sĩ Blất-ske, đại tá Goóc-bu- sin bảo tôi hỏi cô ta xem bệnh án Hít-le có còn ở trong phòng này không. Han-xéc-man trả lời ngay là có và đi lấy hộp phiếu. Chúng tôi hồi hộp nhìn ngón tay cô ta lướt nhanh trên các từ phích. Lần lượt lướt qua mắt chúng tôi các phiếu bệnh án của Him-le, rồi Lây, của Đi-tơ-rích giám đốc báo chí quốc xã, rồi đến phiếu của Go-ben..., vợ và con hắn... Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Chín, 2017, 04:48:58 am Trong phòng giáo sư Blát-ske yên lặng đến nỗi có thể nghe được cả hơi thở dài, đứt quãng của bác sĩ Brúc-cơ không hiểu được mục đích công việc chúng tôi, ông ta chỉ cầu mong có một điều là mọi việc trôi chảy tốt đẹp. Còn anh sinh viên thì mới bắt đầu hiểu ra, cũng bị thu hút vào sự sốt ruột của chúng tôi, anh ta đứng yên, nghiêng đầu chờ đọi. Đây rồi - phiếu bệnh án của Hít-le. Chính hẳn đây rồi. Nhưng lại không có phim chụp hàm răng của hắn. Theo ý kiến cô Cát-sen thì các tấm phim đó có thể ở văn phòng quốc trưởng, trong phòng làm việc của Blát-ske, gần đây người ta đã làm thêm răng giả cho Hít-le nhưng chưa kịp lắp vào. Chúng tôi từ biệt bác sĩ Brúc-co và anh sinh viên rồi theo Cát-sen vội vàng trở lại vẫn phòng quốc trưởng. Từ giờ phút ấy về sau tôi không được gặp lại anh sinh viên người Bun-ga-ri ấy nữa. Mãi hai mươi năm sau, vào năm 1965, khi người ta lại dựng lên vấn đề Hít-le còn sống hay chết thi tôi bỗng tình cò gặp lại trên tò báo "Stern" bức ảnh anh ta, vẫn mái tóc gọn sóng mềm mại như xưa, vẫn khuôn mặt thanh tú, tuy nhiên thời gian có làm thay đổi nét trẻ trung. Tôi được biết, tên anh là Mi- khai-in An-na-u-dốp, bác sĩ, hiện dang ở Kít-lo. Tôi say sưa đọc bài báo làm chấn động dư luận thế giói của anh kể về chuyến công tác của chúng tôi năm xưa và nói thêm nhiều chi tiết, về chính sự tham gia của anh về việc xác minh cái chết của Hít-le... .. ..Chúng tôi bỏ xe, đi bộ dọc theo đại lộ Vin-hem Stra- de còn ngổn ngang gạch ngói và thưa thớt bóng người. Lại đến văn phòng quốc trưởng, một tòa nhà dài, tường chi chít vết đạn, đen ngòm những khói, thủng nhiều chỗ với một dãy bao lớn duy nhất chạy suốt chiều dài mặt tiền, tượng trưng cho "khối thống nhất ý chí Đức" mà Hít-le muốn thể hiện trong các dịp lễ long trọng của quốc xã. Trên một mặt tường khác có dán bản mệnh lệnh của tướng Béc-da-rin tư lệnh ủy ban quân quản Béc-lin, in trên giấy màu vàng da cam. Trên cửa lớn của dinh là tấm biểu tượng bằng đồng, hình con đại bàng đang xòe cánh hai chân quắp chiếc quốc huy, tượng trưng của chủ nghĩa phát xít. Mấy ngày sau chúng tói được biết tấm biểu tượng này được dỡ đi và chuyển về Mát-xcơ-va và hiện nay vẫn còn đặt ở bảo tàng các Lực lượng vũ trang Liên Xô. Người chiến sĩ gác không cho chúng tôi vào - vì đội bảo vệ được lệnh không cho bất cứ ai đến đây nếu không có giấy phép đặc biệt của tư lệnh ủy ban quân quản Béc-lin. Đại tá Goóc-bu-sin phải mất một lúc trình bày họ mới để cho vào. Chúng tôi đẩy mạnh cánh cửa gỗ sồi nặng nề. Bên phải là phòng khánh tiết, cửa bị phá vỡ, đèn chùm trên trần rơ.ỉ xuống sàn nhà. Bên trái là một cầu thang thoai thoải dẫn xuống hầm trú ẩn. Hít-le ở tại đây cho đến ngày 21 tháng 4, khi pháo binh của quân đội Xô-viết bắt đầu bắn phá vào trung tâm Béc-lin. Hắn bị chôn vùi dưới đống gạnh vụn vì tòa nhà dinh quốc trưởng có nguy cơ bị sụp đổ do đạn trái phá của quân ta nên hắn đã rời sang "hầm quốc trưởng" xây ở ngoài vườn. Chúng tôi qua phòng trước có tường xây vòm và bắt đầu bước xuống hầm. Hai lối đi thoai thoải và ba chúng tôi chỉ có một chiếc đèn pin sáng yếu ớt. Chung quanh tối mò, trống trải và vắng lặng đến ghê người. Tại phòng bá âm, nơi Gơ-ben thường đọc diễn văn giờ đây một chiến sĩ đang nằm ngủ, chiếc mũ ca lô che nửa mặt. Chỉ có Cát-sen Han-xéc-man mới biết phương hướng. Cô ta chỉ vừa từ biệt "ngôi mộ bạo chúa" này ba ngày trước khi Béc-lin thất thủ. Cô đưa chúng tôi vào một căn phòng nhỏ, nơi giáo sư Blát-ske làm việc trước khi chạy khỏi Béc-lin. Ánh đèn pin yếu ớt soi chiếc ghế ngồi của nha sĩ, một ghế dài có gối xếp và chiếc bàn quay. Một tấm hình chụp con chó của quốc trưởng đang được viên tùy tùng của Hít-le dắt đi dạo trong vườn, lay lắt trên nền nhà. Không khí ầm ướt sặc mùi mốc. Chúng tôi bắt đầu lục tìm trong tủ đựng phim, trong ngăn kéo bàn giấy, trong bàn để đầu giường ngủ. Nhờ có Cát-sen tích cực tìm kiếm, chúng tôi đã tìm thấy tấm phim chụp hàm răng Hít-le và mấy chiếc răng bằng vàng mà hắn chưa dùng đến. Thật là may, rất may vì mấy ngày trước đây, bom đạn đã giội xuống khu vườn này nhưng không hiểu sao căn phòng nhỏ này lại "được chừa ra", hầu như nguyên vẹn. Chúng tôi đi ra, mang theo "các vật quý" vừa tìm được. Vừa lên xe thì máy lại hỏng. Lái xe Xéc-gây đành phải mở nắp thùng xe, còn ba chúng tôi xuống đứng đợi ngay dưới vòm cong Bran-đbua. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Chín, 2017, 04:49:37 am Tôi bỗng như hình dung thấy giữa sáu hàng cột oai vệ kia là những đám rước đuốc của bọn đảng viên quốc xã; trên bao lơn khách sạn "Crai-se-hốp" như vẫn đang hiện rõ cái bóng dáng xấu xí của gã Gơ-ben cùng những thân hình khác của các "chiến hữu" Hít-le và tên Hít-le đang rướn thẳng cánh tay của nó ra phía trước, chào cái đám đông cuồng loạn. Ánh đuốc bập bùng như hòa lẫn cùng ánh lửa các đám cháy, các dinh thự đổ nát đang bùng cháy cùng những ánh lửa của các đống sách vở bị đốt cháy ngùn ngụt. Bọn quốc xã đã bị thiêu cháy ngay trong các đám lửa dở chính chúng nhen lên. Trong quân đội quốc xã, bọn lính của các đơn vị phóng hỏa được gọi là "lính cầm đuốc" với một sự điên loạn tàn bạo chúng đã tung hoành khắp nơi trong bộ đồng phục rằn ri giữa những kẻ bất hạnh đang bị chúng khủng bố. Xe chữa xong chủng tôi tiếp tục đi được một quãng thì bỗng nghe rộ lên một loạt súng, xé tan bầu không khí yên tĩnh mới được mấy ngày nay. Thoạt đầu tôi hơi hốt hoảng. Chuyện gì lại xảy ra thế này? Tôi thoáng nghĩ. Chả lẽ lại còn đánh nhau chăng? . Tôi chưa hiểu ngay - đó là những loạt súng chào mừng. Trên những đống đỗ nát ghê tởm, khói bụi còn bay lên từ những tòa nhà gục đổ do các trận đánh lớn gây nên, từ tòa nhà ảm đạm của quốc hội Đức, từ đám cỏ mùa xuân đạn bắn lên vun vút, tiếng đạn gầm của pháo binh, tiếng đạn súng nhỏ ríu ríu và trên bầu trời đầy khói đen ấy bùng lên những loạt pháo hoa lớn giữa ban ngày. Pháo hạng nặng lại gầm thét, súng lớn súng bé thi nhau rộ lên giòn tan, reo vui hòa lẫn tiếng hò reo huyên náo mỗi lúc một dâng lên, đất trời rung chuyển quanh chúng tôi như lúc đánh nhau mấy ngày trước đây. Chúng tôi sững sờ, hán hoan !... Đó là những loạt súng chào mừng ngày 9 tháng 5, ngày chiến thắng thiêng liêng, ngày chiến thắng chủ nghĩa phát xít Đức, chiến thắng sư tàn bạo và đồi bại thấp hèn... Chúng tôi vội bước ra khỏi xe. Cô Cát-sen nói gì đó tôi không nghe rõ nữa. Súng lại rộ lên quanh tôi. Một đơn vị pháo phòng không đang bắn chào mừng, mảnh đạn rơi rải rác ngay quanh chỗ chúng tôi đứng, đập lên mặt cầu thép gãy gục, phát ra những tiếng nổ giòn giã. Chúng tôi đứng im lặng, trào nước mắt, lòng tràn trề vui sướng và hạnh phúc nhưng đồng thời cũng rộn lên niềm đau xót thương tiếc những đồng chí, bạn bè và những người thân của chúng tôi đã không được sống đến ngày Chiến thắng này. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2017, 12:10:42 am KHÔNG PHẢI CHUYỆN TRINH THÁM Những người thích truyện phiêu lưu, trinh thám có lẽ sẽ thất vọng vì không có những cuộc phục kích, không có những cuộc đọ súng trong các góc hầm, không có những đổ vỡ nào cả. Tôi cũng muốn nói thêm cả với những người thích truyện huyền thoại là, không có cả chuyện: người giống nhau nữa. Tôi đã có dịp nói về sự xuất hiện của những "người giống người". Đã có trường hợp "người giống nhau" xuất hiện. Khi trung tướng Béc-da-rin, tư lệnh quân quản Béc-lin hứa rằng ông sẽ đề nghị phong Anh hùng Liên Xô cho người nào tìm được xác Hít-le, thế là vài ngày sau xuất hiện một lúc "sáu cái xác Hít-le". Và thế là hôm sau cũng lan truyền ngay cái huyền thoại "người giống nhau". Trong giai đoạn quan trọng nhất của nhiệm vụ điều tra chúng tôi đã gặp may. Trường họp gặp may này cũng chỉ là một sự ngẫu nhiên và không phải lúc nào sư ngẫu nhiên như vậy cũng có thể lặp lại. Cát-sen Han-xéc-man có thể bay đi Béc-xtê-ga-den cùng nhân viên của Hít-le khi hắn phái họ đến đây trước để chuẩn bị cho hắn chuồn về đây. Và chính giáo sư Blát-ske cũng đề nghị cô ta bay đến đấy cùng ông ta. Nhưng cô ta đã từ chối. Lý do, theo như cô ta nói với tôi là, nhà cô có một khu trại nghỉ hè ở ngoại ô Béc-lin và cô ta đã chôn giấu ở đấy nhiều tài sản của mình để tránh bom đạn làm cháy. Cô quyết định trở về đấy lấy các loại của cải quý giá của mình. Và chính vì vậy mà cô ta đã bị mắc kẹt lại đây. Cái trường hợp ngẫu nhiên này được coi như sự ngẫu nhiên của lịch sử. Vì Cát-sen là người duy nhất ờ đây biết được và nhớ hết được mọi đặc điểm của hàm răng Hít-le và sự tham gia của cô ta vào việc tìm kiếm này là có tính chất quyết định. Với sự tham gia của cô ta, chúng tôi đã tìm được chứng cứ lịch sử không thể chối cãi được về cái chết của Hít-le và lưu lại cho các thế hệ mai sau. Lúc đầu, theo trí nhớ, cô đã mô tả hàm răng của Hít-le khá chính xác. Đại tá Goóc-bu-sin, thiếu tá Bư-xtơ-rốp và tôi cùng làm việc với cô ở khu ngoại ô Béc-lin. Hai mươi năm sau bà ta đã nhắc tới buổi nói chuyện này trên một tạp chí ở Tây Đức. Bà ta viết: "Tôi không thể nào quên được buổi nói chuyện với viên đại tá và thiếu tá cùng cô phiên dịch người Nga hôm ấy tại ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Béc-lin... Người ta đưa cho tôi một hàm răng giả. Tôi cầm trong tay chiếc cầu răng và quan sát kỹ. Tôi nhớ rõ tất cả những đặc điềm của hàm răng này và nén thở, thốt lên: "Đấy đúng là hàm răng của quốc trưởng A-đôn-phơ Hít-le". Mấy hôm sau có các chuyên gia y tế tới gặp Cát-sen và trong biên bản ghi rõ, trong cuộc nói chuyện với trưởng phòng răng hàm mặt viện quân y mặt trận, đại tá quân y Sơ-ca-ráp-xki ngày 11-5-1945, nữ nha sĩ Han-xéc-man đã miêu tả rõ ràng và chi tiết hàm răng và các răng của Hít-le. Lời miêu tả của cô ta trùng khớp với những kết luận của tổ giải phẫu răng của một xác chết đàn ông bị cháy sém mà chúng ta đã tìm thấy trong khu vườn dinh quốc trưởng. Cô ta cũng đã mô tả đúng theo trí nhớ mọi chi tiết về chiếc cầu răng giả của Hít-le mà cô ta đã tham gia làm. Phrít Ét-man, một nhân viên khoa răng - hàm làm việc trong phòng thí nghiệm riêng của giáo sư Blát-ske từ năm 1938 là người được giao làm bộ hàm giả cho Hít-le, khi được gọi đến đã miêu tả khá đúng những chi tiết quan trọng mà anh ta còn nhớ được. Sau đó anh ta được đưa đến Bu-sơ. Khi đưa cho xem chiếc cầu răng giả của Hít-le anh ta nhận ra ngay. Anh ta nói một cách đầy khẳng định khi trông thấy cầu răng của E-va Brao-nơ. "Chiếc cầu răng này do chính tay tôi làm" - Tôi ghi đúng lời anh ta nói với tôi hôm 11 tháng 5" - và cam đoan rằng tôi không hề làm thêm chiếc cầu răng nào cho ai khác, giống như chiếc này. Tôi nhớ dạo đó là mùa thu năm bốn tư". Tất cả chứng cứ và biên bản cũng như tài liệu điều tra về cái chết của Hít-le được lập thành hồ sơ đặc biệt chuyển cấp tốc về Mát-xcơ-va. Mấy năm sau tôi lại được nhìn thấy ảnh của Phrít Ét- man trong một tờ báo Đức. Ảnh chụp anh ta đang giơ hai ngón tay tuyên thệ trước tòa án ở Béc-ten-han-de khẳng định rằng chính anh ta đã trông thấy và tham gia vào việc xác định bộ răng hàm của Hít-le ngày 11 tháng 5 năm 1945, và như vậy, anh ta là người chứng kiến thực sự Hít-le đã chết. Ngày 18 tháng 5-1945 - khi chúng tôi đã chuyển tới một thành phố nhỏ khác quanh khu vực Béc-lin - một vị tướng đại diện của Đại bản doanh từ Mát-xcơ-va tới để kiềm tra lần nữa những vấn đề đã nêu trong báo cáo của chúng tôi về chuyện Hít-le tự sát và ông sẽ phải làm báo cáo chính thức về sự kiện này cho Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh. Lại bắt đầu những cuộc điều tra mới. Lại hỏi lại những nhân chứng chính. Tôi lại được dự với tư cách phiên dịch của vị tướng, ông tự đặt câu hỏi, tự nghiên cứu các tài liệu, lời khai và đối chiếu chúng. Ngoài biên bản tốc ký ra, vào giờ nghỉ, toàn bộ lời khai này được chuyển ngay qua hệ thống đường dây nóng về thẳng Đại bản doanh cho Xta-lin. Vào cuối ngày hôm sau là đỉnh cao của cuộc điều tra cuối cùng đầy quan trọng này - cuộc khai quật thi hài Hít-le. Các bạn hãy hình dung quang cảnh hôm ấy. Tại một thị trấn ngoại ô Béc-lin khi trời đã bắt đầu, tối bỗng xuất hiện một đoàn xe quân sự lặng lẽ nối đuôi nhau đi tới vùng ngoại ô vắng lặng. Đoàn xe dừng lại cách một khu rừng thưa không xa vào lúc giờ giới nghiêm để tránh những cặp mắt tò mò của dân chúng địa phương. Tại đây là nơi chôn thi hài còn lại của vợ chồng Hít-le, từ Bu-Sơ chuyển tới cách đây mấy hôm. Đoàn người đi bộ do thiếu tá Bư-xtơ-rốp dẫn đường. Sau anh là vị tướng - tổng thanh tra quân đội, đặc phái viên của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh. Bản thân đồng chí Tổng tư lệnh muốn người phái viên của mình phải tận mắt trông thấy và xác nhận đúng sự kiện này tại chỗ. Tiếp theo sau ông là một sĩ quan của Bộ chỉ huy quân quản, mấy chiến sĩ công binh. Sau họ là hai nha sĩ của Hít-le, cô Cát-sen Han-xéc-man và nhân viên kỹ thuật làm hàm giả Phrít Ét-rnan, tên ss trong đội bảo vệ riêng của Hít-le là Ha-ri Man-héc-hau-den và một số tên tù binh Đức khác. Hoàn người lặng lẽ đi vào rừng và tôi cảm thấy đôi vai mình nặng trĩu khí đứng trước sự kiện này - chúng tôi đang đi tới điều bí mật nhất tới cái chết của tên bạo chúa. Cuối cùng chúng tôi đã vào đến khu rừng nơi có hai ngôi mộ được bố trí các vọng gác suốt ngày đêm rất nghiêm mật. Những chiếc hòm được đào và đưa lên khỏi mặt đất. Biên ban được lập tại chỗ trước mặt vị tướng tổng thanh tra quân đội. Tất cả mọi người có mặt, gồm cả sĩ quan, binh lính Nga lẫn người Đức - nhân viên y tế và tù binh, trừ vị tướng, đều phải ký vào biên bản xác nhận về cái chết của Hít-le, xác nhận việc và nơi chôn hắn. Sáng sớm hôm sau biên ban được vị đại diện của Bộ Tổng tư lệnh đưa về trao cho Xta-lin. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2017, 12:12:24 am NHỮNG ĐIỀU MỈA MAI CỦA LỊCH SỬ Những trận đánh dữ dội cuối cùng. Cuộc bao vây thành phố. Nhưng dòng người nô lệ vừa được giải phóng, vừa được thoát ra khỏi hỏa ngục trần gian. Những đám cháy, những đống đồ nảt, những người chạy loạn, những thảm cảnh... Sự thất bại thảm hại của một cuộc phiêu liêu. Cái chết của tên bạo chúạ. Cái chết của những trẻ thơ vô tội... Sau những bức tranh bị đát đó là những phát hiện gì? Những sự kiện mang tính thời sự như vậy cần lọc ra chi tiết nào ? Nó có ý nghĩa gì đối với những vận mệnh khác nhau, bí ẩn của nhân loại ? Có thể, có người nào đã tỉnh táo sẽ lọc ra được những trùng hợp lịch sử đầy mỉa mai trong cái chết của tên bạo chúa. Không phẵi là ngay lúc ấy trong những ngày căng thẳng và khẩn trương này mà phải qua bao nhiêu năm tháng tới tận bây giờ chúng ta mới thấy rõ hơn những dấu hiệu trùng lặp mỉa mai ấy. Lịch sử đã sắp xếp khéo léo và vô tình đến nỗi, trận đánh dữ dội quyết định và đẫm mảu cuối cùng đối với cuộc đời hắn - tên bạo chúa ấy - và của cả cái đế chế do hắn dựng nên ấy tính từ khi hai phát đạn pháo hiệu của bộ đội Xô-viết bắn vào Béc-lin lại đúng vào ngày 20 tháng 4, ngày sinh của Hít-le. Lịch sử cũng sắp xếp vô tình đến nỗi những chiếc kim đồng hồ chỉ đúng vào 3 giờ 30 sáng khi hắn tự sát lại đúng vào cái giờ mà hắn đã hạ lệnh tiến công vào Liên Xô mấy năm trước đây, tất nhiên, mặc dầu có sự chênh lệnh về thời gian. để thực hiện ý muốn cuối cùng của tên bạo chúa, những kẻ bảo vệ hắn đã đốt xác hắn theo đúng cái mệnh lệnh mà hắn đã ra trước đây về việc đốt xác phi tang tất cả những nạn nhân của các trại tập trung phát xít khi có nguy cơ để những trại này rơi vào tay Hồng quân, hòng che giấu tội ác của hắn. Lịch sử cũng sắp xếp làm sao để xác hắn không bị đốt thành tro như hắn muốn mà chỉ cháy đỏ trong cái hố rác nông cạn mà người ta đã vội vã vùi hắn vào đấy. Lịch sử cũng sắp xếp thật oái oăm ở chỗ là khi chết hằn vẫn được nằm cạnh con chó do hắn đầu độc thí nghiệm hôm trước và bị vất xuống đấy theo lệnh của chính hắn. Lịch sử cũng sắp xếp một cách trùng hợp là những ống thuốc độc Hít-le dùng cũng chính là những ống thuốc được phát hiện và chế tạo ở ngay tại viện thí nghiệm Bu-Sơ nơi chính Hít-le đã hạ lệnh dùng nó làm nơi thí nghiệm cái gọi là "nhân loại chủng tộc" một hành động dã man chưa từng thấy gây nển những hậu quả tàn bạo đối với bao con người. Và lịch sử cũng sắp xếp thật trùng hợp ở chỗ, người chỉ huy cuộc phẫu thuật Hít-le cũng không phải ai khác mà chính là viên bác sĩ Phau-xtơ. Còn gì nữa? Trong quá trình điều tra sư thật về cái chết của tên bạo chúa còn phát hiện thêm những gì? Đó là cả một chuỗi xích những việc bất ngờ... Trong thưc tế, lịch sử cũng gặp được thuận lợi khi nó dựa vào những chuvện thần thánh ma quỷ, những truyền thuyết, những huyền thoại, những lời đồn đại để làm sao sư thật về cái chết của Hít-le không bị phanh phui. Và, trong khi chạy xuôi chạy ngược hết từ ngoại ô vào trung tâm rồi lại từ trung tâm ra ngoại ô, đến một bệnh viện nào đó, tôi quên tên một bác sĩ không nổi tiếng lắm đã nêu ra tên một bác sĩ chữa bệnh cho Hít-le, - Phôn Ai-ken. Và trong đống gạch vụn của cả một thành phố đồ nát, cháy trụi chúng tôi đã tìm ra người bác sĩ đó tại nơi làm việc ở một trạm quân y của ông ta đặt dưới căn hầm vững chắc. Người giáo sư này vội cử ngay người đi tìm những bệnh án về răng-hàm-mặt của Hít-le tại phòng bên cạnh. Và một lát sau, như đã nói ở trên, một anh sinh viên lanh lợi, cởi mở có mớ tóc lượn sóng với khuôn mặt sáng sủa đã xuất hiện trước mặt chúng tôi. Anh là sinh viên năm thứ ba khoa răng-hàm-mặt của trường đại học quân y ngay giữa thủ đô đế chế ba và vì những sự kiện ở nước mình, anh ta bị kẹt lại đấy. Khi được biết chúng tôi cần gặp nha sĩ riêng của Hít-le, người sinh viên y khoa Bun-ga-ri trẻ tuổi này đã sẵn sàng cùng chúng tôi lên xe chạy trên khắp đường phố lồi lõm hố đạn, lấp đầy gạch vỡ đi tìm con người nắm trong tay những bí mật của tền bạo chúa. Lúc ấy, cả anh ta và cả chúng tôi cũng không thể biết được rằng, hai mươi năm sau, chính anh ta, trong một cuộc phỏng vấn của báo chí phương tây đã đưa ra những lời tuyên bố làm chấn động dư luận báo chí thế giới. Ngay sau lòi tuyên bố đó của anh ta, trên bầu trời, trên không gian cao thẳm kia chen chúc nhau những làn sóng điện truyền đi nhanh nhất những lời tuyên bố này và các nhân viên đài phát thanh trên thế giới dõng dạc kêu lên: "Người nắm điều bí mật nhất của thế kỷ chúng ta : Bác sĩ nha khoa Mi-khai-in Ác-na-u-dốp! Bác sĩ nha khoa ở Ki-lơ!". Và tiếp theo sau đó là sự xuất hiện hoàn toàn tình cờ, ngẫu nhiên của một bóng người nhỏ nhắn có cái tên là Brúc-cơ, với cái nghề bác sĩ-giáo sư, và khi biết rõ sứ mệnh của chúng tôi ông ta hầu như đã trao tận tay chúng tôi một món quà quý giá nhất - cô nha sĩ Cát-sen Han- xéc-man. Như đã nói ở trên, cô ta không phải là người làm việc trực tiếp dưới quyền của giáo sư Blát-ske và đã không cùng bay với ông ta đến Béc-xte-ga-đen. Và do đó cô đa không biến đi như Blát-ske hoặc ẩn trốn đâu đó trong các thành phố khác hay tan xác cùng máy bay mình như nhiều trường hợp khác. Và nếu như vậy thì trong tay chúng tôi sẽ chẳng bao giờ có được cái vật chứng vô giá. Không, tôi xin nhắc lại, cô ta đã ở lại Béc-lin để đến cái nơi cô ta cất giấu các tài sản riêng. "Hãy bảo vệ cuộc sống và tài sản của các bạn khỏi bị bõm đạn kẻ thù phá hủy", - lời kêu gọi đó còn nổi rõ trên những tấm ấp phích dán ở các tường nhà Béc-lin để tự cứu mình thoát khỏi thảm họa và đúng với lô-gích của nó, cô đã tạm sống ở ngoại ô Béc-lin, ở cái điểm mà cô đã chọn là nơi chôn giấu tài sản và đã lánh xa được dòng người di tản khỏi Béc-lin. Cô ta đã sống ở đây đúng vào cái thời điểm hoàn toàn ngẫu nhiên khi anh chàng sinh viên Bun-ga-ri đến tìm cô. Và cô đã xuất hiện tại phòng làm việc của Blát-ske trước mặt chúng tôi và ngẫu nhiên trở thành nhân chứng chính của cuộc điều tra. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2017, 12:13:34 am "NGƯỜI SIÊU PHÀM" Thành phố Sten-đan là điểm đóng quân cuối cùng của chúng tôi trên chặng đường dài bốn năm chiến tranh, và có lẽ vì vậy nên tôi đặc biệt vẫn nhớ đến nó. Chúng tôi đến đây vào tháng 7 năm 45 khi trên bản đồ nước Đức đã xuất hiện những đường ranh giới và Sten-đan là thành phố kế cận Béc-lin nên thuộc về chúng tôi quản lý. Sáng sớm người Mỹ còn đi dạo ở đây nhưng đến trưa nó đã được bàn giao cho chúng tôi. Thành phố còn nguyên vẹn và cuộc sống đang sôi động hẳn lên. Chúng tôi đóng quân trong những ngôi biệt thự xinh xinh trên một phố vắng, phủ đầy giàn nho. Từ sáng sớm. những người chủ các khu vườn nho đã tới đây chăm sóc chúng. Trẻ em Đức vẫn nô đùa vô tư trên các hè phố chẳng chú ý đến sư xuất hiện của chúng tôi. Chúng, thậm chí vẫn thích chơi trò "chiến ưanh". Trên những chiếc ghế băng dài đặt dọc các vườn cây, chúng tôi vẫn thường gặp các bà già, trùm khăn đen từ đầu đen gót, ngồi sưởi nắng và thì thào nói chuyện. Có cảm giác như ho đã mặc những bộ đồ tang này từ hồi còn trẻ vì lúc cuộc chiến tranh thế giới kết thúc thi họ đang ở tuổi trung niên mà thôi. Thỉnh thoảng lại xuất hiện những chiếc xe tang hai ngựa kéo. Đôi ngựa to khỏe thong thả gần như lười nhác đủng đỉnh kéo chiếc xe lắc lư trên đường. Chúng tôi lại nhớ đến những con ngựa kéo pháo hay kéo xe thư và nhớ tới những lúc chúng tôi mặc niệm chúng khi chúng ngã xuống trên chiến trường. Đối với chúng tôi, từ lâu chúng cũng là những người bạn thân thiết. Còn những con ngựa đen béo tốt trên mình được khoác hai bộ "tang phục" màu đen này đang thong thả và cũng có vẻ trịnh trọng kéo chiếc xe tang đen bóng kia có lẽ là kẻ cuối cùng được chứng kiến cái vẻ oai nghiêm và bí ẩn của cái chết - Đó là cái chết mà người ta gọi là cái chết "của mình". Đó không phải là chết vì chiến tranh, không phẫi là chết vì những vết thương đau đớn, giầy vò của kẻ tù binh - mà là cái chết của "tuổi già". Vào một buổi chiều, cũng đúng vào lúc chiếc xe tang đi qua được một lúc, có một đoàn tù binh Đức đi trên đường phố đó. Đoàn tù binh ấy cũng lặng lẽ bước dưới hàng cây dẫn sang một phố khác tách hẳn khỏi khu phố thương nghiệp. Đoàn tù binh đi có hàng lối, mệt nhọc nặng nề sau một ngày làm việc và trở về "doanh trại" của chúng đúng vào cái giờ mọi người ra hóng gió. Trước khi những hàng tù binh đầu tiên xuất hiện ở đầu phố thì những người ngồi ở đây đã nghe thấy tiếng rì rào của chúng. Những con người mệt mỏi, mình thẫm mồ hôi, vẻ mặt đói khát đi thành hàng và đang hát một bài hành khúc. Tiếng hát của họ vọng đến trước khi họ xuất hiện. Lát sau họ đi tới, giong hát đều trầm trầm bài hành khúc tiếng Đức. Hàng ngũ của họ vẫn thẳng tắp. Chủ các ngôi nhà dọc đường ló đầu qua cừa sồ nhìn theo cái đám tù binh ấy. Trước cửa lớn mấy bà già đang ngồi trên ghế xích đu nhìn theo và bóng họ chạy dài trên hè đường. Nghe tiếng hát đến gần, họ cũng khe khẽ cất tiếng hòa theo. Nhưng nhìn chung thì thấy có vẻ như những con người đang thất thều vừa đi vừa hát trên đường với những bóng người đang lẩm bẩm hát và lắc lư theo điệu hát kia chẳng có gì liên hệ với nhau cả. Đối với tôi, việc xuất hiện của bọn tù binh Đức lúc nào cũng gây cho tôi một cảm giác bất ngờ. Lát sau, khi bài hát kết thúc - người ta nghe rõ tiếng đế ủng kéo sền sệt trên mặt đường mỗi lúc một xa dần về hướng nào đó theo lệnh của những người lính áp giải, tôi vẫn cứ bâng khuâng nhìn theo mãi về hướng ấy. Vì chúng vẫn còn là một phần hiện thân của cuộc chiến tranh vừa chấm dứt mà chúng là những kẻ thất bại. Xung quanh cái thành phố hầu như còn nguyên vẹn này là những đống đổ nát của chiến tranh. Hay nói cho đúng hơn thì khi chúng tôi đến đóng quân ở đây, những đống đổ nát này đã không còn gây được ấn tượng gì mạnh mẽ lắm nữa. Hai tháng đã qua kể từ khi chiến tranh kết thúc, những đống đổ nát này đã đổi màu cùng thời gian và trông có vẻ cũ kỹ rêu phong hơn. Ngọn núi lửa của cuộc chiến tranh, như thường thấy, đã tự tắt đi một cách nhanh chóng ngay sau khi ngừng tiếng súng. Còn anh và tôi - chúng ta chỉ là một cá thể rất nhỏ của nó, một ngọn lửa trong cái biển lửa bao la ấy thì vẫn đang thở, đang cháy trong khi cả cái núi lửa khổng lồ ấy đã tắt đi và ngọn lửa chiến tranh không thể làm bừng sáng thêm những đống đổ vỡ do nó gây nên được nữa. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Chín, 2017, 12:15:22 am Trên mặt trận tôi đã có nhiều dịp tiếp xúc với các loại tù binh Đức mà tâm lý đứa nào cũng đặc sệt cái chất quốc xã. Rất hiếm, nhưng cũng có những đứa có tâm hồn của những con người bình thường. Những người dân mà chứng tôi được tiếp xúc ở Sten- đan phần lớn là những người bình dị, cởi mở và trong họ không có cái nhân vật đặc biệt mà chủng tôi hay gọi là "tên phát xít". Những ngày sống trong thành phố - cái thế giới nhỏ bé và xa lạ này - đối với tôi quả là những ngày kì diệu sau chiến tranh. Tuy xa lạ nhưng tôi vẫn cứ phải tìm hiểu cuộc sống của nó, thực chất của nó trong những ngày chiến tranh cách đây không lâu. Khi rời Béc-lin chúng tôi vẫn mang theo nhiều tài liệu, giấy từ thu thập được từ "khu hầm quốc trưởng" và tôi đã phải nghiên cứu nó ở đây, ở Sten-đan này, trước khi gửi về bộ tham mưu mặt trận để đưa vào kho lưu trữ. Trong số những tài liệu của riêng Hỉt-ỉe tôi thấy có bản chỉ thi đặc biệt quy định thủ tục các cuộc họp có hắn tham dự. Đây là các chỉ thị về những chuyến đi "tuyên truyền" của hắn trước khi lên cầm quyền. Từ cái được gọi là "Văn phòng riêng của Hít-le" ở Muy-ních, những chỉ thi này được gửi đi cho các đảng bộ Quốc xã ở các tỉnh và thành phố khắp nước Đức. Chỉ thị cấm không được báo trước những cuộc họp được trù tính nếu như chưa có lệnh trực tiếp của Hít-le hay của viên thư ký riêng của hắn thông báo. "Đảng bộ nào vi phạm quy đinh này có thể bị trừng phạt bằng cách Hít-le sẽ hủy bỏ chuyến đi đã định sẵn của mình tới nơi đó". Các chỉ thị quy định rất chi tiết mọi điều: "Nghi lễ đón tiếp Hít-le, thủ tục điều khiển cuộc họp và số tiền phải trả để được nhận giấy mời tới cuộc gặp với Hít-le và những vấn đề khác...". "Hít-le không thích nói chuyện từ bục diễn đàn. Do đó phải bỏ các bục này đi. Thay vào đó, bên cạnh diễn giả (tức Hít-le) lúc nào cũng phải đặt một chiếc bàn con cho viên thư ký tốc ký ghi chép. Trên bàn phải bày sẵn chai nước suối chưa mở và các chai nước ngọt khác. Hôm nào trời quá nóng thì phải đặt thêm bình nước đá để Hít-le có thể rửa tay, lau mặt khi cần thiết. Lời khai mạc của chủ tịch điều khiển hội nghị phải hết sức ngắn gọn. Sau khi Hít-le nói chuyện xong không ai được nói thêm điều gì vì những lời "phi lộ" như vậy có thể làm giảm mất sức nhạy cảm trong bài diễn thuyết của A-đôn-phơ Hít-le". Càng đọc những chi tiết cụ thể của các chỉ thị này tôi càng thấy rõ đây là những kịch bản của một nhà đạo diễn dàn dựng cho một diễn viên khi cần bắt hắn lên sân khấu múa rối. Và về sau chính hắn trở thành kẻ đạo diễn của những vở bị kich lớn của lịch sử vói những cuộc rước đuốc hùng vĩ, với những cuộc diễu hành vô tận, với những đống lửa ngùn ngụt thiêu đốt hàng triệu cuốn sách, với những lá cờ chữ thập ngoặc đen ngòm phần phật trong gió dưới ánh đèn cực mạnh như vẫy gọi, như thôi thúc toàn bộ đám quần chúng của hắn đi theo cơn sốt của chủ nghĩa cuồng tín, phát xít và là những công cụ lên dây cót chủ nghĩa quốc xã. Tất cả những cái dó đều nhằm phục vụ cho khát vọng của Hít-le. Sùng bái thủ lĩnh - đó chính là bản chất của chủ nghĩa phát xít và nó đòi hỏi ở đám quần chúng một sự phục tùng mù quáng. Ở phương Tây người ta thường tán tụng rằng, Hít-le là con người có sức thuyết phục đối với quần chúng. Liệu có cần nhắc lại là, khi còn lang thang ở Viên tìm công ăn việc làm, y đã đến một công trường và cũng trổ tài.hùng biện trước một đám công nhân và suýt bị toi mạng vì những người công nhân không chịu được bài diễn thuyết của hắn đã tống cỗ hắn đi khỏi đây khi hắn chửi bới họ và tuyên truyền cho cái thuyết quốc xã của hắn. Nhưng có một điều cần công nhận là hẳn - Hít-le, kẻ hùng biện và cũng là tên mỵ dân, là kẻ có tài kích động cơn loạn thần kinh của những người cuồng loạn. Ở đây không có cái gì có thể gọi là "sức thuyết phục" cả. Bản chất tự nhiên của những cơn cuồng loạn của đám quần chúng bị lừa dối là cổ thể hiểu được và ở đây không có gì là phi lý cả. Hít-le đặc biệt có sức kích động quần chúng khi y đã nắm quyền ở Đức. Và để hiểu được dân tộc này đã trao 3ố phận mình cho một kẻ như thế nào thì phải nhiều năm sau khi đã trải qua những cơn ác mộng thì người ta mới có thể vạch mặt được hắn. Trong vấn đề này điều thú vị nhất có lẽ là những lời khai khá đầy đủ của Rát-ten-hu-be, viên chỉ huy đội cận vệ riêng của Hít-le. Bị bắt làm tù binh ở ngay Béc-lin ngàv 2 tháng 5 năm 1945, y đã viết ngay bản tường trình chi tiết về cái chết của Hít-le và sau đấy, khi đã nằm trong trại tù binh ở Liên Xô, y đã khai nhiều điều khá chi tiết về con người Hít-le. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Chín, 2017, 08:23:58 pm Cả hai bản khai này của y mà tôi vừa nói đến đều được giữ tại cục lưu trữ và chưa hề được công bố lần nào. Bản khai thứ hai được Rát-ten-hu-be đặt tên là: "Tôi đã biết Hít-le là con người như thế nào". Y đã biết Hít-le từ rất sớm và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Từ năm 1920, khi còn làm cảnh sát ở Muy-ních, Rát- ten-hu-be đã được lệnh theo dõi Hít-Ie lúc ấy bắt đầu ngo ngoe hoạt động chính trị. Sau đấy mấy năm khi tham gia một cuộc bạo động không thành, Hít-le bị bắt giam ở nhà tù Lan-xbéc-gơ và số mệnh lại giao cho Rát-ten-hu-be canh giữ "tên phạm nhân" này. Nhưng đến năm 1933 bọn quốc xã giành được chính quyền. Lúc bấy giờ, Him-le, nguyên là bạn học cũ của Rát- ten-hu-be từ năm 1918 ở trong trường SỊ quan với nhau, liền nhờ đến y và vốn trọng cái tài đánh hơi cùng sử dụng dùi cui của bạn, y liền gọi Rát-ten đến và giao cho y làm sĩ quan tùy tùng của mình. Dần dần Him-le đưa y lên cái chức tột đỉnh vinh quang là - chỉ huy đội cận vệ của Hít-le. Và thế là... "Vào đầu tháng 4 năm 1933 tôi lần đầu tiên được gọi đến khách sạn Các-đen-hốp" để ra mắt Hít-le. Từ đấy, từ một quan chức cảnh sát bình thường tôi liền trở thành người gần gũi nhất với ông ta, được ông ta tin cậy giao cho trách nhiệm bảo vệ riêng ông ta. Hôm ấy tôi còn nhớ rõ. Chỉ còn ít phút nữa Hít-le sẽ đến khách sạn này để uống trà sau bữa ăn trưa; một thói quen ông ta vẫn duy trì từ lâu. Tôi không được giải thích rõ vì sao buổi ra mắt này lại được tổ chức ngay tại bàn uống trà. Có lẽ quốc trưởng muốn tỏ cho thấy là, ông ta tiếp tôi không chính thức mà theo "tinh thần tin cậy lẫn nhau". Lúc ở Muy-ních mọi sư đều khác hẳn. Thời kỳ này cái "anh chàng nghiện bia có giọng nói the thé ấy" như tên lóng chúng tôi đặt cho Hít-le thời bấy giờ, đã gây cho đám cảnh sát chúng tôi không ít những điều khó chịu. Hít-le bắt đầu cuộc đời hoạt động chính trị của mình ở các quán bia Muy-ních. Ông ta là diễn giả hùng biện trước đám đông các nhóm, hội bia say mèm, chán nản và thất bại bởi hiệp ước Véc-xây trước nạn thất nghiệp và những nỗi kinh hoàng khác. "Những tư tưởng phục thù, những lời kêu gào hiếu chiến mở các cuộc hành quân sang Tây sang Đông châu Âu, những lời hò hét om sòm, những lời cầu nguyện đều được bắt đầu bằng những câu : "Chúng ta là người Đức", hoặc "Chúng ta là người lính", đều có tác dụng đặc biệt kích động những cái đầu nửa say nửa tỉnh vì rượu bia kia - Rát-ten-hu-be nhớ lại. Rát-ten-hu-be miêu tả lại những cuộc gây rối, những trận ẩu đả lúc bấy giờ. Và trước con mắt "Hít-le và các bạn bè của hắn đã vung cả dùi cui lên trong các cuộc luận chiến với các đối thù chính trị chính của mình là kỹ sư Be-len-stét-dơ... Những nhóm bạn kia luôn bâu quanh Hít-le". Chính ở Muy-ních Hít-le đã thành lập đảng riêng của y và chuẩn bị cuộc phiêu lưu - cướp chính quyền ở Ba-va-ri. Cuộc chỉnh biến không thành. Cuộc "khởi nghĩa" bị thất bại. Chính phủ địa phương Ba-va-ri bắt nhóm phiêu lưu của y và bỏ tù cả Hít-le tại nhà tù ở Lan-xbéc-gơ. "Tôi nhận được lệnh, - Rát-ten-hu-be viết tiếp, - không được đánh đập tra tấn người bị giam bằng cách của cảnh sát mà phải bảo vệ và dành cho ông ta được thoải mái đi lại trong khuôn khổ khu vườn nhà giam. Những người cùng hội cùng thuyền với ông ta được tự do ra vào tiếp xúc với ông ta ngay trong phòng giam và phòng này có cảm giác như là một phòng khách sang trọng của một chính khách chứ không phải là phòng giam của một kẻ tội phạm, ông ta được cấp một máy chữ và cô thư ký đánh máy Héc-ca. Với sư giúp đỡ của cô ta, ông ta đã hoàn thành, cuốn sách "Đời tôi". Cuốn "Đời tôi" về sau được coi như cuốn cương lĩnh của chủ nghĩa quốc xã và "kinh thánh của mọi gia đình Đức". Trong cuốn "kinh thánh" này người Đức được coi là chủng tộc "thượng đẳng", được kêu gọi phải nắm lấy "toàn bộ thế giới" thống trị cả hoàn cầu. Cái đối tượng đầu tiên và trước hết mà "dân tộc thượng đẳng Đức có quyền thống trị" này là nước Nga... Nhưng đó là chuyện của thời đã qua. Còn bây giờ là năm 1933. Ở Các-đen-hốp lại diễn ra cuộc gặp gỡ thú vị đầy giật gân của hai con người trước đây đã từng gặp nhau không ít nhưng trong hoàn cảnh hoàn toàn ưái ngược - một tên cai tù và kẻ bị tù. Giờ đây không phải là Rát-ten-hu-be tiếp Hít-le như con người trước đây ông ta "giám sát" mà là đến để quỳ gối trước vị quốc trưởng mới của ông ta. Hít-le đến khách sạn bằng xe riêng và đi giữa những hàng bảo vệ SS hùng hổ. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Chín, 2017, 08:24:38 pm Tất cả những gì đã từng xảy ra trước đây giờ hầu như không còn lưu lại dấu vết gì nữa và Hít-le bay giờ có vẻ như là một Hít-le khác. Hít-le "mới" đã được thay đổi bởi bức tường quyền hành vô hạn. Hình ảnh Hít-le đã xua tan ngay những tưởng tượng và hình dung của Rát- ten-hu-be qua sự tuyên truyền mạnh mẽ của bọn quốc xã đã nắm quyền trong tay. Điều này được thể hiện rõ trong câu chuyện giữa hai con người này. "Câu chuyện của chúng tôi không có gì sâu sắc. Ông ta chỉ hỏi loanh quanh về tình hình dân chúng Béc-lin, về chương trình nhà hát và qua chén trà tôi thấy rõ thái độ khoan dung và tin tưởng của quốc trưởng đối với tôi. Nghe nói, ông ta có tài gây thiện cảm đối với người khác và thú thực tôi cũng thấy có thiện cảm ngay với ông ta". "Con người trước đây bị coi là nhỏ nhen giờ bỗng trở thành con người vĩ đại. Con người trước dây không hề gây được một niềm tin nhỏ nhoi nào, giờ đây thậm chí được sùng kính, được biết ơn. Và tất cả những gì trước đây trong ông ta bị coi là kích động, phô trương thì giờ đây được coi là anh hùng, là rất quan trọng". "Đối với tôi, Hít-le là một "ngươi siêu phàm", một người hùng dũng như mẫu của cơ quan tuyên truyền quốc xã vẽ nên... Tất cả mọi cái trong ông ta đối với tôi đều có ý nghĩa cả... Tôi thầm nghĩ và cảm thấy hạnh phúc, vững tin và thỏa mãn cho rằng con người đó xứng đáng với bộ mặt của một quốc trưởng. Thậm chí bộ ria xén gọn, mái tóc cắt ngắn rẽ ngôi cân đối, một mái hơi phủ xuống chiếc trán phẳng cũng làm cho tôi thấy hãnh diện và gây được sự kính trọng đối với những ai được tiếp xúc với con người ấy. Sự thay đổi nhanh chóng tính cách, dáng điệu gây ấn tượng cùng những cái khoát tay dứt khoát, giọng nói the thé sắc sảo với những lời kêu gào mạnh mẽ đều làm cho tôi ngạc nhiên thực sự, khiến tôi tự nguyện nhận thấy trong ông ta là một "con người xuất chúng, siêu phàm". Đó mới là "quốc trưởng của tôi" và tôi tự hào là ông ta đã đánh giá đúng tôi, dùng tôi như một người gần gũi nhất đối với ông ta. Trong cái bản tự khai này của mình, Rát-ten-hu-be không nêu ra vấn đề mà chính y cần giải đáp là trước đây y đã coi Hít-le là một kẻ nguy hiểm, một con rối chính trị nguy hiểm thế mà bây giờ lại là "đấng thượng đế" của y. Nhưng chúng ta có đầy đủ quyền để nói thay cho y rằng y là còn người chỉ biết phục tùng, chỉ biết nhìn vào sự kiện hiện tại và những con người con mắt của một kẻ chịu khuất phục quyền hành. Chính vì thế mà trước đây y đã theo dõi sát sao Hít-le, miêu tả hắn như một kẻ phiêu lưu, ích kỷ và phô trương. Thế nhưng giờ đây, Hít-le lại chính là chính quyền. Và mặc dầu Rát-ten-hu-be, thậm chí vẫn muốn giữ quan điểm riêng của mình vơi con người đó nhưng không phải phút chốc có thể nhắm mắt làm ngơ được. Nhưng có một mặt khác của vấn để đáng để chúng ta chú ý hơn. Rát-ten-hu-be có đầy đủ lý do để sợ hãi trước cuộc gặp gỡ với Hít-le "Tôi sợ. Tôi sợ quốc trường sẽ không hài lòng lắm khi nhớ lại những sự kiện trước đây khi thấy tôi vì chính tôi là người sẽ gợi lại những kỷ niệm đó. Nhưng ông Him-le đã an ủi tôi và nói rằng, mặc dầu biết tôi nhưng ông ta vẫn đồng ý chấp nhận đề bạt tôi vào cái chức vụ này". Và dầu sao, Rát-ten-hu-be cũng cảm thấy căng thẳng chờ đợi cuộc ra mắt này, lo lắng sư xuất hiện của Hít-le. Còn phải nói gì hơn nữa! Bởi vì y chính là viên sĩ quan canh sát đã đích thân theo dõi Hít-le từ những ngày ở Muy-ních. Vì y chính là tên giám thị nhà tù, còn Hít-le là kẻ tù nhân. Rát-ten-hu-be cũng không nêu lên vấn đề là tại sao Hít-le lại tin tưởng và giao phó số mệnh cuộc đời mình cho y bảo vệ. Và tại sao chính sự lựa chọn này lại được giao cho chính ngay y ? Tại sao Hít-le không chọn một người nào đó trong so những "chiến hữu" thân cận của mình ở Muy-ních ? Và cái phút chờ đợi căng thẳng đã chấm dứt khi Hít-le xuất hiện ở phòng chờ của khách sạn, viên sĩ quan tùy từng liền giới thiệu Rất-ten-hu-be với y, "Hít-le đã bắt tay tôi khá niềm nở và nói: "Tôi tin rằng ông cũng sẽ phục vụ tôi đắc lực như trước đây đã phục vụ chính phủ Bác-va-xcờ". Ông nói những lời này không có vẻ châm biếm gì cả và tôi hiểu ngay rằng tôi chẳng còn có gì phải lo lắng vô ích nữa". Rát-ten-hu-be cảm thấy hoan hỉ trước việc được phục vụ một "chính quyền bạo lực" mới. Y cũng hoan hỉ vì sẽ có dịp được thi thố vô hạn lòng trung thành của mình đối với việc đàn áp hoặc cứu vớt nhưng con ngưới dưới quyền y. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Chín, 2017, 08:24:58 pm Rõ ràng là Rát-ten-hu-be cảm thấy thích điều này. Đối với một viên chức cảnh sát thường nay bỗng nhiên được đưa lên tới chức thiếu tướng ss và chỉ huy đội ss đặc biệt của quốc trưởng thì quả là một phần thưởng lớn đối với lòng trung thành của một kẻ như Rát-ten-hu-be. Đây quả là "một chức vụ đầy danh vọng đến chóng mặt" đúng như chính Rát-ten-hu-be đã thú nhận về những bước đầu trên con đường đi lên của y. Trong lời khai đầu tiên về cái chết của Hít-le, Rát-ten- hu-be đã viết: "Là người chứng kiến tận mắt cái chết của Hít-le, tôi thấy mình có trách nhiệm phải nói rõ hon về những ngày cuối cùng và những sự kiện, hoàn cảnh về cái chết của ông ta... Tôi thấy cần phải tuyền bố rằng, sau khi Hít-le chết và đế chế Đức sụp đồ, tôi không còn bị ràng buộc bởi những lời thề danh dự vì trách nhiệm trước đây và tôi sẽ nói rõ ở đây tất cả những sự kiện mà tôi được biết, mặc dù tôi là kẻ trung thành tuyệt đối với Hít-le và những người đồng sự của ông ta". Trong bản khai thứ hai về sau này, khi trở lại những sự kiện trong năm 1933, y viết: Những sự kiện dồn dập diễn ra lúc bấy giờ ở Đức đối với nhiều người thì cho là mù quáng, không thể tin và không thể hiểu nổi nhưng đối với nhiều kẻ khác thì lại cho là điều cần thiết và đương nhiên. Vốn quen nhìn sự kiện bằng con mắt của một sĩ quan chuyên nghiệp, tôi là người nằm trong số những kẻ thứ hai vì tôi đã nhìn thấy trong quốc trưởng là cả một "bạo lực". Rát-ten thú nhận rằng, do nhiều năm được sống và làm việc bên cạnh Hít-le và đã cùng hắn ta chứng kiến cảnh suy tàn sụp đổ của đế chế thứ ba của nhà nước Đức đã cho phép y phân đinh được, nhìn thẳng được vào kẻ đã cố vẽ nên những nét giả tạo trong hình ảnh quốc trưởng của y: - "đó là một con người mà đối với ông ta, nhân dân Đức chỉ là một thứ công cụ để ông ta lợi dụng thực hiện những mưu đồ đầy tính hiếu thắng và tàn bạo của ông ta mà thôi". Rát-ten-hu-be viết về Hít-le năm 1933-như sau: "người ta không nhận ra ông ta nữa. Trước đây thường ít nói chuyện và khi bắt đầu nói thường hay cầm một cốc bia lớn và bấy giờ thì chỉ uống nước suối, cà-phê và nước chè. Ông ta tuyên bố mình là người ăn chay, ông ta khoác bộ mặt cùa một kẻ ẩn sĩ, bó mình trong những giới hạn hẹp và tuyên bố chỉ dành thì giờ cho sự nghiệp đất nước. Dù thế này hay thế khác, trước sau hắn vẫn chỉ là một kẻ phô trương. Trước hết, khi Hít-le được công nhận là thủ lĩnh của bọn quốc xã hắn đã cố tỏ ra y là con người xuất thân từ nhân dân mà ra, một con người mang tư tưởng phục thù của người lính chiến sẵn sàng không hề tiếc thân mình và cũng không ngần ngại thương tiếc gì những kẻ định cản trở y thực hiện tư tưởng phục thù đó. Giờ đây y tự tô vẽ cho mình là một con người thể hiện cho những lớp người "thượng đẳng, một con người hoàn toàn hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp nhân dân và không hề có một tham vọng nào khác do chính quyền dành cho y". Đã có một thời bộ máy tuyên truyền quốc xã cho loan truyền đi huyền thoại về quốc trưởng - một người khổ hạnh và ẩn sĩ sống biệt lập tại "ngôi lều riêng" của mình để chuyên tâm suy nghĩ cho lợi ích của những người Đức chân chính, "ngôi nhà lều" không bao giờ khóa đó lại cách không xa lắm những tòa biệt thự sang trọng của Gơ-rinh, của Boóc-man và của những têu trùm đế chế khác đã dần dần biến thành "khu dinh lộng lẫy của tên độc tài" - ở Béc-xtê-ga-đen. Khu dinh đó nổi bật giữa khu dân cư địa phương. Thế nhưng chính tên quốc trưởng này, theo quan sát của kẻ bảo vệ hắn là Rát-ten-hu-be thì, sở dĩ cần tìm nơi yên tĩnh, vắng vẻ chính vì lúc nào hắn cũng lo sợ bị mưu sát. Hắn luôn luôn cảm thấy lo lắng ngay cả với những người mà hắn đã "biết rõ từ thời còn ở dưới đáy xã hội cho đến khi lên đỉnh cao nhất của quyền lực, vốn những kẻ phiêu lưu chung quanh hẳn, những kẻ đại diện cho cái "chủng tộc thượng đẳng" của hắn. Hít-le "một mặt vẫn cố phô trương cuộc sống giản dị của y nhưng lại làm ngơ trước những thói tham nhũng và đồi trụy của những kẻ cận thần. - Rát-ten-hu-be kết luận về nhận định của y đối với Hít-le như vậy. Như tôi đã nói ở trên, y không những là người cận vệ riêng của Hít-le mà đồng thời còn là người cầm đầu cả cơ quan an ninh nữa. Sự kiêm nhiệm này cho phép y lúc nào cũng gần gũi với tên bạo chúa của đế chế ba. Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Chín, 2017, 08:25:54 pm "Hít-le cần những người thật trung thành, - Rát-ten- hu-be viết tiếp. - Ồng ta biết rằng, ông ta lên cầm quyền được là nhờ sư ủng hộ của những kẻ đầy tham vong, khao khát thỏa mãn những khát vọng ích kỷ và háo danh của mình. Trong giới cận thần, Hít-lc thường tuyên bố: "Cần phải có nhưng con người khi lên nắm quyền có thể để lại được cái gì đó cho mình". Hít-le thỉch ban ơn cho nhưng kẻ khác để buộc chặt kẻ đó, bắt nó phụ thuộc vào mình nhiều hơn. Ở đây y cũng thiết lập cho mình một sự phụ thuộc tuyệt đối. Nhưng đồng thời y lại biết cách lừa dối mọi tầng lớp nhân dân. Đối với nông dân, hắn nói: Các bạn là cơ sở của dân tộc". Đi với công nhân hắn bốc lên: "Các bạn là tầng lớp quý tộc của đế chế thứ ba: Đối với bọn trùm tư bản tài chính và chủ công nghiệp khi nhóm họp bí mật trong những căn phòng đóng kín cửa thì hắn lại nói: "Các bạn hay chứng minh rõ dòng máu dân tộc thượng đẳng của chúng ta, các bạn có đầy đủ quyền hành trở thành lãnh tụ của chúng". Nhưng hắn cũng cảm thấy rằng hắn càng tập trung nhiều quyền hành trong tay thì càng thấy rõ nỗi lo sợ bị ám sát. Tên bạo chúa ngày càng bị ám ảnh bởi thói bạo hành đối với ngay chính mình. "Lúc bắt đầu hoạt động chính trị ở Muy-ních, mỗi khi xuất hiện trước công chúng Hít-le luôn cầm trong tay mình một cây roi sắt rất nặng, - Rát-tén-hu-be tiết lộ - Nó vừa là vật tượng trưng vừa là thứ vũ khí phòng thần và đồng thời là vũ khí tiến công. Giờ đầy cầm cây roi như vậy không tiện nữa. Nhưng trong xe của y lúc nào cũng có một cây roi sắt như vậy gắn ở thành ghế, ngoài chúng tôi ra không ai biết được. Thay thế cho cây roi sắt trước đây, y luôn đeo bên mình khẩu súng "Van-te" nạp đầy đạn". Quá nghi ngờ và kinh sợ nên y đã trở nên tàn nhẫn. "Càng ngày tôi càng được chứng kiến những hành động dã man, tàn bạo không còn tính người của quốc trưởng chúng tôi, - Rát-ten-hu-be viết - thói bạo tàn đó kết hợp với thói tự mãn tự đắc của y đã gây nên những chuyện thật kinh tởm". Càng kinh hoàng khi càng phải tàn bạo, càng tàn bạo lại càng kinh hoàng hơn. "Càng ngày quốc trưởng chúng, tôi càng thận trọng và tàn bạo hơn". Mọi người và mọi thứ gửi đến ông ta đều phải qua máy kiểm tra tia rơn-ghen. Những người chiếu tia X quang này đều mặc loại quần áo đặc biệt bằng chì. Cả những bức thư, quà cáp gửi tới Hít-le đều phải kiểm tra qua tia rơn-ghen. Những ngày mừng sinh nhật dù là thư chúc mừng của ai, của các tổ chức quốc xã địa phương hay những cận thần của y, dù là của chủ các hãng buôn hay xí nghiệp lớn, dù là của đứa bé hay người già - tất cả đều phải kiểm tra qua tia rơn-ghen này. Cả những ngân phiếu chúc mừng hay quyên góp cũng đều phải qua tia rơn-ghen... Ngay cả danh sách những người đã góp tiền cũng vậy. Hắn, Hít-le, tên bạo chúa đã sống tàn bạo nhưng cũng đã từng run sợ trước nỗi kinh hoàng bi ám hại, đã hành động như vậy. Tôi cứ tiếp tục với những tư liệu về Hít-le như trên cho đến trước ngày rời Sten-đan. Chiều chiều tôi thường dành một ít thời gian đi dạo trên các đường phố vắng vẻ đã trở nên thanh bình. Trên đường phố rợp bóng cây thỉnh thoảng lại thấp thoáng bóng một đôi trai gái, tôi tránh đi và đường phố lại trở nên vắng vẻ. Ven đường có một con suối nhỏ với chiếc cầu gỗ xinh xinh bắc ngang. Dòng nước như quánh lại vì những đám rong rêu, những cành lá liễu vàng. Những hòn đá phủ rêu cũng vương đầy lá liễu. Bên bờ là thảm cỏ dài, đung đưa trước gió. Tôi thường đứng lặng ở đây, ngắm nhìn khung cảnh thanh bình và vắng lặng này, lòng bâng khuâng nghĩ tới những ngày chiến tranh vừa qua. Tôi cứ đứng như vậy một mình trên mảnh đất của một thành phố - thị trấn xa lạ, thành phố - thị trấn Sten-đan và cho đến nay, đối với tôi, đã trở thành một kỷ niệm khó quên. Đúng vào giờ ấy các đoàn tù binh cũng vừa đi làm lao động về. Những người dân dù bận việc trong vườn hay làm gì cũng dừng lại nhìn theo bóng những con người đồng hương của họ đang vừa đi vừa nghêu ngao hát. Những bà cụ già ngồi ngay trên trước ghế dài trước cửa nhà, lặng lẽ nhìn theo, kín đáo đưa tay làm dấu thánh giá. Từ một nhà hát gần đây mới hoạt động lại vọng tới một bài hát cũ từ thời vua Vin-hem: "Shade, mein Shatz, daBdie Zeit so schnell ging vorbei... "Ôi, em yêu sao thời gian trôi nhanh vậy... "1. ----------------------- 1. Tiếng Đức trong nguyên bản Tiêu đề: Re: Béc-lin tháng năm 1945 Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Chín, 2017, 08:27:07 pm Thế nhưng tôi cũng biết rằng, sau cái vẻ ngoài của cuộc sống thanh bình có phần quá phẳng lặng này là cả một mùa đông đói khồ đang dần dần đến với những căn nhà không lò sưởi, thiếu bánh mì, Mùa thu năm 1945 tôi giải ngũ về nhà. Không còn nữa những chiếc xe nhà bếp tỏa khói trên các đường phố Béc- lin. Và cũng trên các đường phố này, bên cạnh các chiến sĩ gái điều hành giao thông giờ đây có thêm những chàng trai cảnh sát Đức với chiếc áo choàng màu trắng. Lá cờ Xô-viết đỏ thắm lỗ chỗ vết đạn đã trải qua những chặng đường chiến đấu từ lâu nay vẫn phấp phới bay trên nóc tòa nhà quốc hội Đức nay được thay bằng lá cờ mới, còn lá cờ cũ được coi là một báu vật vô cùng quý giá đã được chuyển về Mát-xcơ-va. • Nắng vàng chiếu sáng trên các đống đổ nát.. Và nếu lắng nghe, ta có cảm giác như những viên gạch ngói vỡ kia cũng đang khẽ nở ra, kêu tí tách. Những cảnh điêu tàn... Người dân Béc-lin đang dần dần dọn sạch các đường phố. Trên các đống đổ nát điêu tàn ấy, xuất hiện các khẩu hiệu giống nhau mà khi đọc lên ta thấy như một tiếng thở dài nhẹ nhõm: "Hít-le đã chết" Hít-le đã chết. Hít-le không còn nữa. Nước Đức không thể chấp nhận cuộc sống cũ nữa. Cần phải tìm một con đường mới cho đất nước này. Nhưng khó khăn nhất vẫn là tầng lớp thanh niên Đức. Dưới thời Hít-le, thế hệ thanh niên này đã biết những gì? Chúng chỉ biết: "Hai-lơ quốc trưởng!" hoặc học thuộc lòng nhưng bài thơ sặc mùi quốc xã được in vào sách giáo khoa: "Này ơi nước Pháp, ta gửi mi lời chào khinh bỉ! Mi phải chết để cho ta sống mãi;" Rồi những cuốn tiểu sử, những bài kinh về Hít-le và những kẻ đẻ ra nó! Rồi kinh thánh "Đời tôi" - tặng phẩm dành cho những cặp vợ chồng mới cưới. Rồi những chiếc mũ sắt trên đầu. Và bài hát chính thức của đoàn thanh niên quốc xã với những câu kêu to: "tiêu diệt thế giới này. "Hôm nay chúng ta nắm toàn nước Đức, ngày mai chúng ta làm chủ toàn thế giới! Hãy làm cho toàn thế giới này biến thành cảnh điêu tàn...". Giờ đây cái thế hệ thanh niên đó đang phải nhớ lại; suy nghĩ lại, run sợ và làm lại cuộc sống mới cho chính mình. Dân chúng đã đi lại nhiều hơn ngoài đường phố. Đây đó đã có những nhà hát mở cửa và dân chúng sẵn sàng lại đi xem kịch dù hay dù dở cũng được, miễn là không có hình ảnh Hít-le, không nói đến chiến tranh. Khi xem xong trên đường về nhà, họ cũng khe khẽ nhẩm hát với nhau những đoạn hát hay trong vở ca kịch nào đó mà họ ưa thích. Những bài hát mới, những vở kịch mới, những buổi trình diễn mới đang hình thành và dần dần xuất hiện. Bên cạnh những cái bình thường: "Menin Friseurist und blei- totto Bauer" - "Hiệu cắt tóc của tôi đã và vẫn là hiệu Ôl-tô Bau-ơ", người ta thấy xuất hiện thêm một biểu ngữ mới: "Wer...schlanđ liebt, muB den Fashismus hassen" - "Ai yêu nước Đức, phải căm thù chủ nghĩa phát xít". Từ giã Béc-lin vào mùa thu năm ấy, mãi hai mươi năm sau tôi mới có dịp trở lại và khi viết cuốn sách này nhân kỷ niệm hai mươi năm chiến thắng phát xít Đức tôi mói có dịp lục lại đống hồ sơ tư liệu về Hít le, về cái chế độ phát xít tàn bạo do hắn dựng nên, mà chúng tôi đã đoạt được vào tháng năm năm ấy, có dịp đọc kỹ hơn những tư liệu về hắn, về những tên đồng bọn, với hắn một cách kỹ càng hơn. Trong đây chứa đựng những tư liệu từ trước tới nay chưa được công bố và có lẽ cũng chưa ai đụng tới vì còn bao công việc khác quau trọng hơn phải làm. Tôi đã có dịp trở lại nước Đức, một nước khỏe khoắn đang vững bước đi lên vì dân tộc Đức cũng như các dân tộc khác đều có khát vọng sống trong hòa bình và dựng xây đất nước. Cái nước Đức cũ do Hin-den-bua chuyển giao cho Hít-le ngày 30 tháng giêng năm 1933 với tư cách thủ tướng. Ngày 30 tháng giêng cũng được coi là ngày của chế độ quốc xã "lên ngôi”. Và ngày 9 tháng 5 năm 1945 được coi là vĩnh viễn kết liễụ cái chế độ tàn bạo và đầy nhục nhã này. Kinh nghiệm bi thảm của cái nước Đức cũ ấy không thể nào được lăng quên. Tất cả các dân tộc dù trong giờ phút vinh quang nhất của lịch sử mình, dù trong những giờ phút bất hạnh nhất của dân tộc cũng phải luôn tĩnh táo không được để cho cái tư tường "cường quyền, bả chủ thế giới" cám dỗ. Cái tư tưởng đó có thể dẫn cả một dân tộc tới thảm họa và nhất là trong thời đại văn minh của chúng ta ngày nay nó càng có khả năng phá hoại to lớn hơn, kinh khủng hơn. Bởi vì cái lý tưởng "dựa vào sức mạnh" vũ khí, sự "tuyệt vời của súng đạn" sự "kỳ diệu của vũ khí" mà Hít-le đã cổ vũ dân tộc Đức cho đến giờ tận số của hắn nếu hắn không thất bại thì có lẽ hắn đã dùng để tiêu diệt toàn thể loài người chúng ta và ngày nay cái học thuyết này lại càng nguy hiểm hơn. Hà Nội, dịch xong 19-8-1984 ĐỨC THUẦN HẾT |