Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2017, 11:10:34 am



Tiêu đề: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tám, 2017, 11:10:34 am
        - Tên sách : Mùa xuân trên sông Ô-đe

        - Tác giả : Ca-da-kê-vích, giải thưởng Lê-nin năm 1949

                      Ngô Bình Lâm dịch, Trần Lưu hiệu đĩnh theo bản Pháp văn của Rút-nhi-cốp

         - Nhà xuất bản Ngoại văn Mát-xcơ-va - 1954, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân

         - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tám, 2017, 07:37:53 am
       

TẬP I

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

        Mùa xuân trên sông Ô-đe là một cuốn tiểu thuyết đặc sắc của nhà văn Liên Xô Ca-da-kê-vích, đã được giải thưởng Lê-nin về văn học năm 1949.

        Trong cuốn tiểu thuyết dài này, tác giả đã dựng lại khung cảnh vĩ đại của giai đoạn phản công của quân đội Liên Xô, tiến lên tiêu diệt toàn bộ quân đội phát xít Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Với khí thế dũng mãnh và tốc độ tiến công như vũ bão, quân đội xô-viết đã chọc thủng phòng tuyến sông Ô-đe. Một quân đoàn đã vòng xuống phía nam Béc-lin, xốc tới Pốt-xđam rồi quặt lên ngăn chặn phía tây Béc-lin tạo điều kiện cho các binh đoàn khác ở phía đông đánh thẳng vào dinh lũy cuối cùng của quân thù buộc chúng đầu hàng vô điều kiện.

        Ngòi bút sinh động của tác giả đã dẫn chúng ta đi vào cuộc sống chiến đấu sôi nổi của các đơn vị và đặc biệt của đội trinh sát trong sư đoàn bộ binh do thiếu tướng Xê-rê-đa chỉ huy. Trong khung cảnh chiến đấu đầy hy sinh gian khổ nhưng cực kỳ vĩ đại ấy, tác giả đã dựng lên hình ảnh các cán bộ và chiến sĩ quân đội xô-viết với tất cả đời sống tâm hồn phong phú và phẩm chất cao quý của họ, tiêu biểu cho những người cán bộ, chiến sĩ của một quán đội kiểu mới, tổ chức vũ trang của giai cấp vô sản được Đảng Mác - Lê-nin xây dựng và rèn luyện.  
Bằng ngòi bút hiện thực, tác giả đã thành công lớn trong việc xây dựng nhân vật. Qua từng chương sách, các nhân vật đã sống và hoạt động, với đầy đủ những cá tính, những băn khoăn và hy vọng, những ưu điểm và khuyết điểm của họ.

        Trong rất nhiều nhân vật mỗi người một vẻ ấy, tác giả đã khéo léo nêu bật lên hình ảnh thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp, chủ nhiệm trinh sát sư đoàn.

        Lu-ben-xốp tiêu biểu cho lớp cán bộ trẻ trong quân đội xô-viết. Đầy nhiệt tình cách mạng, gan dạ và mưu trí, Lu-ben-xốp rất yêu cuộc sống nhưng cũng rẫt sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc mình, luôn học tập đề nắm vững tri thức quân sự và bao giờ cũng chủ động cùng đơn vị hoàn thành mọi nhiệm vụ khó khăn nhất.

        Tác giả còn thành công về mặt mô tả kẻ thủ, bằng cách so sánh, đặt chúng với tâm trạng đen tối, cay độc, với những mưu toan điên loạn, mất hễt nhân tính bên cạnh những con người xô-viết chiến đấu có lý tưởng vĩ đại, và có tâm hồn cao thượng.

        Đọc Mùa xuân trên sông Ô-đe, chúng ta sẽ hiểu thêm về sức mạnh vô địch, thành tích chói lọi và cống hiến to lớn của quân đội xô-viết trong sự nghiệp giải phóng đất nước, đặc biệt trong sự nghiệp cứu nhân loại ra khỏi thảm họa của bọn phát xít Hít-le. Với chiến thắng rực rỡ của mình, quân và dân Liên Xô không những đã giữ vững và củng cố Tổ quốc xô-viết thân yêu mà còn giải phóng được nhiều dân tộc ở châu Ẩu và giúp đỡ phong trào cách mạng cho nhiều nước ở châu Á.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN        


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tám, 2017, 08:12:13 am
   
I

THIẾU TÁ CẬN VỆ

        Giữa một buổi sớm mùa đông mờ sương, vang tiếng quạ kêu cũng quang quác, ầm ỹ như tiếng quạ vùng xung quanh Mát-xcơ-va, một cánh rừng thông quang đãng hiện ra sau khúc đường vòng, chẳng khác gì cánh rừng bộ đội vừa tiến qua. Thế là đã sang đất Đức.

        Thực ra ngay khi ấy, chỉ có cơ quan tham mưu các cấp mới hiểu biết điều đó. Còn các chiến sĩ, những người thường không có bản đồ chỉ đường, họ đã bỏ lỡ mất giây phút vẻ vang ấy và mãi tận chiều mới được biết.

        Lúc này họ mới để mắt nhìn quang cảnh đất nước Đức, mảnh đất đã được dày công sang sửa này, xưa kia đã từng được các thị trấn Xla-vơ và những thanh kiếm người Nga bảo vệ chống lại những cuộc xâm lăng của quân rợ phương Đông. Trước mặt họ là những khóm rừng cây nhỏ được vun trồng chải chuốt, những cánh đồng phẳng lì, lô nhô nổi lên những mái nhà con, những lán xưởng nhỏ, điểm thêm những vạt đất, những mảnh vườn. Khó mà tưởng tượng được rằng miếng đất nhìn bề ngoài thật bình thường như vậy, lại đã là nơi phát sinh một thứ bệnh dịch ghê gớm tràn lan khắp thế giới.

        -À, thì ra "mi” là như vậy đấy!... -Một chiến sĩ vóc người đẫy đà, dáng trầm ngâm, buông thõng một câu. Lần đầu tiên anh dùng tiếng "mi” để gọi nước Đức, thay cho tiếng "nó” trừu tượng và căm thù mà anh đã dùng suốt bốn năm trời nay. Rồi các chiến sĩ liên tưởng tới đồng chí Xta-lin vĩ đại, người đã lãnh đạo và dắt dẫu họ tiến sang đến tận đất này. Bấy giờ mọi người mới đưa mắt nhìn nhau và trong khóe mắt mở to dạt dào niềm tin tưởng tự hào ở sức mạnh vô địch của mình :

        -Thế mới biết chúng ta đã lớn mạnh ngần nào !

        Bộ đội kéo đi như sóng nước điệp trùng. Nào bộ binh, nào xe vận tải, nào pháo nòng dài, nào lựu pháo miệng rộng, đều nhằm phía tây thẳng tiến. Thỉnh thoảng, do sự sơ suất của một đồng chí lái xe thiếu kinh nghiệm nào đó, dòng người ứ lại. Thế là tiếng la ó lại vang lên ầm ỹ. Những tiếng la ó ấy, thường xảy ra trên một con đường lên tiền phương chật ních người, ngựa, xe cộ, thật ra cũng không lộ vẻ gay gắt bực tức gì, như trường hợp vừa qua chẳng hạn. Mọi người đối xử với nhau càng thân ái hơn.

        Các đoàn quân lại chuyền mình tiến bước, trong hàng ngũ bộ binh lại vang lên tiếng hô : "Tránh sang phải !”. Các trật tư viên tiếp tục phất cờ hiệu và mọi việc sẽ lại diễn ra theo cái trật tự khá buồn tẻ thường ngày, nếu không có mấy tiếng : "Chúng ta đang tiến trên đất Đức” như hơi men đang dâng lên trong đầu óc và làm long lanh khóe mắt mọi người.

        Giá như lúc ấy giữa đoàn quân có một nhà thơ thì nhất đinh nhà thơ đó phải ngây ngất trước muôn ngàn cảm hứng dạt dào.

        Thật thế, mỗi một con người đang tiến bước trên đường đều có thể trở thành nhân vật của một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết. Ừ, tại sao không họa lại hình ảnh tuyệt đẹp của toán binh sĩ kia, trong đó, nồi bật lên đồng chí chuẩn úy tầm vóc to lớn, với nước da quá rám nắng nên mái tóc trông như bạc hay vì mái tóc màu nâu quá nhạt nên da mặt như sạm đi ? Hay hình ảnh các pháo thủ vui tươi nọ như bầy chim trong một vòm cây, đang bám lấy khẩu pháo khổng lồ của họ ? Hay là hình ảnh người chiến sĩ thông tin trẻ tuổi quá gầy gò kia, đang kéo lê đằng sau cuộn dây điện, hầu như từ mãi vùng ngoại ô Mát-xcơ-va cho tận đến đất nước Đức này ?

        Hay là hình ảnh các nữ y tá với khuôn mặt niềm nở, đôi mắt trong sáng; kia, họ đang chễm chệ ngồi trên một chiếc xe vận tải chất đầy vải bạt, thuốc men với một vẻ mặt trịnh trọng. Thấy các chị y tá, "lính ta” vội vàng đi thẳng người lên, ngực ưỡn ra, mắt sáng ngời.

        Và đây, trên đường cái lại vừa xuất hiện một chiếc xe hơi, trên có một vi tướng danh tiếng. Tiếp theo sau là một chiếc xe bọc sắt với nòng khẫu đại liên chĩa thẳng lên trời, vẻ đe dọa. Tại sao ta lại không nói gì tới vị tướng ấy, tới những đêm thức suốt sáng và những trận đánh tài tình do đồng chí ấy chỉ huy ?

        Mỗi người ở đây đều đã đi hai nghìn ki-lô-mét đường trường, chuyện của họ tưởng như chỉ thấy kể trong truyện cổ tích hay truyện thần thoại.

        Bỗng'nhiên, một cảnh tượng khác thường làm cho lính ta phải chú ý và vui nhộn hẳn lên.

        Một cỗ xe tứ mã đang bon bon trên con đường tuyết tan ẩm ướt. Quả vậy, một cỗ xe tứ mã chính cống quang dầu đỏ chói. Phía sau xe có dãy ghế ngồi của những quân hầu. Các cánh cửa đều chạm nổi những huy hiệu màu xanh da trời, thếp vàng, bên phải là hình đầu một con hươu có sừng nhiều chạc, bên trái có hình một bức tường thành cổ. Phía trên huy hiệu là hình một chiếc mũ sắt có lưỡi trai và ở dưới có dòng chữ la-tinh : "Pro Dea et Patria"1. Nhưng trên chiếc ghế cao, ngồi ở chỗ của người đánh xe, không phải là tên hầu của một bá tước mà lại là một chiến sĩ trẻ tuổi mặc chiếc áo "vét” bông. Anh tắc lưỡi thúc ngựa chạy đúng như kiều người Nga đánh xe ngựa:

        -Nào, các chú nghẽo, chạy nhanh lên chứ !

--------------------
        1. Vì Thượng đẽ và vì Tổ quốc - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Tám, 2017, 11:26:48 pm

        Khi cỗ xe chạy qua, các chiến sĩ hò la, huýt sáo, pha trò, gọi với theo :

        - Ê này, cái nhà táng kia, lăn đi đâu đấy ?

        - Kìa, họ đưa đám ma !

        - Này các cậu ơi !... Cỗ xe này vừa trốn khỏi viện bảo tàng ra.

        Anh ”đánh xe trạm” cố phớt tỉnh, nhưng bộ mặt nhẵn nhụi không có râu và đỏ ửng của anh cũng cứ rung lên theo một nhịp cười mà anh phải vất vả lắm mới nén được.

        Khách ngồi trên cỗ xe lạ lùng này chỉ là những bạn đường tình cờ, người trở về đơn vi cũ, kẻ tìm đến đơn vị mới nhận công tác. Trô-khốp, một đại úy trầm lặng, ít nói, đã nhặt được cỗ xe trước cổng dinh cơ một tên chúa đất. Theo lời một ông cụ người Ba Lan hầu hạ ở đó thì, vì thiếu dầu xăng chạy xe hơi, nên "ngài nam tước” định dùng cỗ xe này chuồn về phía tây ; nhưng "ngài” chưa kịp trở tay thì xe tăng của Hồng quân dã tiến đến, "ngài nam tước” đành phải cải trang, cuốc bộ vậy.

        Sau khi hứa với ông cụ là nếu gặp lão nam tước thì sẽ tóm cổ nó lại, nện cho nó một trận, đại úy Trô-khốp nhảy lên xe phóng về đơn vị mới. Kể ra cũng chằng thiếu gì xe cộ đi cùng về hướng ấy, nhưng đại úy vốn tính ưa độc lập thích đi riêng. Dọc đường anh cho thêm hai chiến sĩ nữa đáp nhờ. Nhưng rồi con số 3 cũng chẳng giữ được lâu. Ngay tới cây số sau lại có một nữ bác sĩ trẻ tuổi, dong dong cao, mang cấp hiệu đại úy xin đi nhờ xe, và nửa giờ sau lại thêm một trung úy, cánh tay buộc băng đeo trước ngực : anh bi thương nhẹ vừa ở viện ra.Câu chuyện vừa nhóm lên đã bị ngắt quãng vì lại có khách mới: một thiếu tá có đôi vai rộng, đôi mắt xanh biếc, nhanh nhẹn nhảy lên bậc cửa. Nhìn lượt vải xa tanh bọc ghế ngồi bằng đôi mắt châm biếm, thiếu tá nói khôi hài:

        - Xin gửi gia đình quý phái này lời chào của người chiến sĩ Hồng quân.

        Vì không ai đề ý, nên không ai thấy nữ bác sĩ sửng sốt khẽ kêu "a !” lên một tiếng. Đôi mắt to xám của chị bỗng nhiên trở nên trong sáng, chăm chú nhìn thiếu tá. Cả đến thiếu tá cũng không nhìn thấy chị, vẫn nói tiếp :

        - Tôi đã đi thuyền, đi bè, đi xe hươu kéo cũng như xe trượt có cánh quạt, nghĩa là mọi phương tiện giao thông tôi đều đã dùng qua. Nhưng còn loại xe này thì quả là chưa bao giờ có dip. Tôi muốn đi thử một chuyến xem sao nào !

        Tự nhiên những câu nói lém lĩnh, vui nhộn của đồng chí thiếu tá đã phá tan cái không khí ngượng ngùng thường hay có giữa những người tình cờ tụ họp. Mọi người phá lên cười, nhìn nhau thân mật, có thể nói họ như những đứa trẻ bị bắt quả tang đang phạm lỗi. Trong đôi mắt xanh của đồng chí thiếu tá, long lanh một tia lửa ngời sức sống và một tình bạn thẳm thiết như muốn nói: ”Tôi yêu quý tất cả mọi người có mặt nơi đây, không phân biệt trai gái, già trẻ, dân tộc nào. Bởi vì các đồng chí là bạn tôi dù cho tôi chưa từng quen biết, là họ hàng thân thuộc của tôi tuy rằng họ xa, bởi vì tất cả chúng ta đều cùng một Tổ quốc Liên Xô, chúng ta cùng gánh vác chung một nghĩa vụ”. Các em nhỏ và các chiến sĩ rất mến những người có đôi mắt đầy sức sống và thắm thiết tình bạn như vậy.

        Mấy con ngưa "phong kiến” được anh nông trường viên trẻ tuổi thúc giục càng phi mau lẹ hom nữa. Thiếu tá gần như ném phịch mình xuống ghế ! Lúc đó anh mới nhìn thấy nữ bác sĩ, liền kêu to lên :

        -  Ô kìa ! Ta-nhi-a đấy ư ? -- Anh bắt tay chị thật chặt, nét mặt bỗng nghiêm trang hẳn lại.

        Không hiểu vì sao những người trên xe đều vui mừng trươc cuộc hội ngộ bất ngờ của hai người, có lẽ đã quen nhau từ thời kỳ xa lắc xa lơ trước chiến tranh. Nhưng phỏng đoán là một cuộc gặp gỡ thơ mộng gì đây, cho nên qua vài câu hỏi han thương lệ ("Thế nào ? Người quen à?”, "ồ, hội ngộ thú vị nhỉ!” V.V.), tất cả đều có nhã ý kín đáo ngoảnh nhìn đi chỗ khác đề cho thiếu tá và nữ bác sĩ nói chuyện riêng với nhau và còn có thể hôn nhau nữa.

        Nhưng không ai hôn ai cả. Mối quan hệ giữa thiếu tá cân vệ1  Lu-ben-xốp và đai úy quân y Ta-nhi-a tuy đã có tư lâu nhưng lại là mối quan hệ tình cờ và quá ngắn ngủi: hai người chung sống sáu ngày trời trong một đơn vị sắp chọc thủng vòng vây quãng giữa Vi-a-dma và Mát- xcơ-va vào năm 1941 đáng ghi nhớ.

---------------------
        1. Cận vệ là một danh hiệu vinh dự tặng cho đơn vị, cá nhân có nhiều thành tích trong quân đội xô-viết


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Chín, 2017, 08:14:14 am

        Hồi ấy, Lu-ben-xốp còn là một trung úy. Ngay từ thời kỳ đó, mới hai mươi hai tuổi, anh đã tỏ ra luôn luôn vui vẻ lạc quan, mặc dầu anh phải tốn khá nhiều nghị lực mới có được thái độ bề ngoài ấy. Nhưng anh cho rằng đối với một đoàn viên thanh niên cộng sản, việc phải tỏ ra luôn luôn tươi vui trong những ngày gian khổ gần như là một nghĩa vụ.

        Nhiều chiến sĩ lạc đơn vị, đi lẻ hay đi từng tốp nhỏ, đã sát nhập vào bộ phận còn lại của trung đội do anh dẫn đầu. Trông anh em một vài người đã tỏ ra muốn quỵ rồi, đa SỐ chưa quen chịu đựng gian khổ trong chiến tranh. Tất nhiên là phải làm sao củng cố tinh thần của họ, động viên họ tin tưởng, hay ít nhất cũng làm cho họ đứng vững lại trước hoàn cảnh đầy gian nguy này.

        Một hôm, trong chặng nghĩ giữa một bãi lầy rậm rạp, một đồng chí mệt quá khẽ rên rĩ và hỏi anh :

        - Có lẽ chúng ta không thoát khỏi vòng vây mất ?

        Lu-ben-xốp đang dùng dao chặt một chiếc gậy lớn làm cáng khiêng đồng chí chiến sĩ xe tăng bị thương cả hai chân. Nghe hỏi, Lu-ben-xốp trả lời:

        - Theo tôi, cũng có thể là không thoát khỏi được -  Ngừng một lát anh thốt nhiên nói tiếp luôn - Nhưng điều đó có gì đáng ngại lắm đâu !
     
        Tiếng xì xào vì ngac nhiên nồi lên. Lu-ben-xốp cố làm ra vẻ không đáng quan tâm, giải thích:

        - Chúng ta sẽ ở lại sau lưng địch đánh du kích. Chúng ta có đủ sức tổ chức thành một đội du kích lắm chứ! Chúng ta lại có cả một thầy thuốc nữa kia mà. -  Anh hất hàm chỉ về phía Ta-nhi-a - Còn như vũ khí thì không thiếu...

        Do đâu mà Lu-ben-xốp có được niềm tin tưởng và chí kiên quyết trong những ngày gian khổ như vậy ? Anh vốn sinh trưởng giữa vùng rừng thẳm bên bờ sông A-mua ; anh có sức chịu đựng dẻo dai, thạo đi rừng và có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống giữa rừng. Nhưng vấn đề không phải là ở chỗ đó. Trung úy Lu-ben-xốp có một lòng tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng trước bất cứ một kẻ thù nào. Lòng tin sắt đá ấy nhiều lúc đã làm cho ngay cả chị Ta-nhi-a đáng thương là người đã hoàn toàn bị rã rời vì phải hành quân liên miên, đã phải chịu đựng những gian khố chưa từng chịu đựng, đã phải có những ý nghĩ quá nặng nề, cũng phải ngạc nhiên.

        Ta-nhi-a vừa tốt nghiệp đại học Y khoa thì nhập ngũ và chưa kịp bắt tay vào công tác tại một trung đoàn bộ binh thì xe tăng Đức đã chọc thủng tuyến phòng ngự của ta để tiến về Mát-xcơ-va.

        Chẳng bao lâu đồng chí trung úy trẻ tuổi đã tỏ ra đặc biệt quan tâm đến Ta-nhi-a, người phụ nữ độc nhất trong đơn vị. Sư quan tâm đó ấp ủ một cái gì sâu sắc hơn là một mối cảm tình thông thường.

 
        Anh ái ngại đến đau xót cho Ta-nhi-a, người thiếu nữ có đôi mắt to, sao mà xanh xao và buồn bã quá, đến nỗi anh muốn mang chị lên vai để vượt qua những quãng đường hẻm sụt lở vì mưa thu, ngập ngụa một lớp bùn nhớp nháp, chạy giữa hai hàng bụi cây vàng úa và đẫm nước. Ta-nhi-a lặng lẽ bước đi, không phàn nàn, không nhìn ngang nhìn ngửa; và thái độ bình tĩnh của chị cũng như cả việc chị có mặt ở đây, đã có ảnh hưởng tốt đến những anh em khác. Dĩ nhiên chị không biết điều đó, nhưng Lu-ben-xốp, anh hiểu rõ điều đó và đôi lần anh đã nói với những người lề mề rớt lại sau :

        - Các đồng chí nên trông gương người thiếu nữ kia kìa..

        Buổi sáng, các vũng nước đều phủ một lớp băng mỏng, trời tối sầm lại. Quân Đức đóng ngay gần đó. Ta-nhi-a đau đớn, hai tay chị tê cóng đến nỗi không tài nào chải đầu, vấn tóc, rửa mặt được. Và mọi ý nghĩ của chị cũng như đã bi đông cứng lại, trừ một ý nghĩ: "Trời ơi! sao mà tôi đau đớn thế này!”. Ấy thế mà đồng chí trung úy kia hàng ngày vẫn cạo râu, vừa cười bằng mắt, vừa phàn nàn là thiếu xi đánh giày. Một hôm anh còn lội xuống một khe nước để tắm nửa mình trên. Cứ nhìn anh tắm như vậy, Ta-nhia cũng đã đủ run lên cầm cập rồi.

        Chị rất vui lòng được anh săn sóc : như ở những chặng nghỉ anh đã nhóm riêng cho chị một đống lửa nhỏ, còn nói chung anh cấm đốt lửa để tránh lộ mục tiêu vì như thế rất nguy hiểm; anh lại dạy cho chị biết cách quấn vải vào chân thay bít tất và anh trìu mến nhìn chị làm, thỉnh thoảng lại động viên :

        - Hoan hô Ta-nhi-a, chị sẽ trở nên một chiến binh khá.

        Vốn tính hoạt bát, bền bỉ lại rất hiểu tính người, anh thường hay có lời khuyến khích không riêng gì với Ta-nhi-a mà với bất cứ ai. Đức tính kiên nhẫn và gan dạ của anh đã làm cho anh em thêm tin tưởng và bình tĩnh.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Chín, 2017, 02:21:22 am
     
        Trời chưa hửng sáng, anh đã thường cùng hai đồng chí nữa đi trinh sát. Một hôm, anh đi về, nét mặt lo âu suy nghĩ. Anh cho biết ở làng bên cạnh có một số chiến sĩ ta bị địch bắt làm tù binh, phần lớn bị thương nhẹ. Theo như anh điều tra được thì những anh em bị thương nặng đã bị địch bắn chết ở dọc đường rồi.

        Ngừng một lát, anh lại nói;

        - Anh em tù binh đều bị lính địch canh giữ, nhưng chúng chỉ có độ mười lăm thằng. Chúng lại không bố tri canh gác gì cả.

        Sau khi đưa mắt thăm dò ý kiến anh em chung quanh, anh nói tiếp:

        - Còn như đường liên lạc của chúng, chỉ có một sợi dây điện nhô... Chặt một nhát là xong chuyện.

        Mọi người im lặng. Bỗng nhiên có một anh mặc chiếc áo choàng cồ xù lông bước ra. Cho đến nay, anh này hành quân cứ lùi lũi đi, mặt cúi gằm, chẳng nhúng vào bất cứ một việc gì. Anh ta thong thả và dằn giọng nói:

        - Tội gì mà lao vào cái trò mạo hiểm ấy. Đó là một việc quá nặng nề đối với chúng ta. Đồng chí nói địch chỉ có mười lăm thằng còn chúng ta những năm mươi người. Búng; Nhưng chúng là quân chủ lực, chúng lại là quân Đức !

        Trung úy cau mặt nói:

        - Đây không phải là hội nghị công đoàn mà là một đơn vị quân đội, dù là một đơn vị hỗn hợp.

        Anh chàng áo cồ lông lúng búng trong miệng :

        - Anh không căn phải dạy tôi điều lệnh. Tôi còn biết hơn anh nhiều !

        - Thế thì càng hay. - Lu-ben-xốp nói lại nhẹ nhàng - Tôi là chỉ huy, mệnh lệnh của tôi phải được chấp hành.

        - Ai cử anh làm chỉ huy ? - Anh kia nổi nóng lên - Anh có biết cấp bậc tôi là gì không ? Đại úy !

        Lu-ben-xốp phá lên cười :

        - Anh mà là đại úy à ? Anh là "chiếc áo choàng xù lông” thì đúng hơn chứ đại úy gì!

        Anh chàng, có vẻ lùi bước nhưng chưa chịu hẳn.

        - Có phải là anh giáng cấp tôi không đấy!

        - Đâu có thế ! - Lu-ben-xốp đáp lại rồi quay sang phía anh em nói thêm : - Chính anh tự giáng cấp anh đấy chứ !

        Trận đánh giải thoát anh em tù binh dễ dàng quá, ngay chính Lu-ben-xốp cũng không ngờ. Bị tiến công bất ngờ, bọn lính gác không chống cự lại được chút nào. Quân Đức tưởng đây đã là hậu phương an toàn của chúng. Trong gian phòng xép của trụ sở Ủy ban xô-viết xã, súng ống xếp từng đống. Lu-ben-xốp phân phối số vũ khí cướp được cho anh em thương binh vừa được giải phóng. Anh em cũng đã được Ta-nhi-a tìm mọi cách băng bó vết thương.

        Sau đó đơn vị lại lên đường ngay, Lu-ben-xốp sợ địch truy kích. Toàn đội bước đi thoăn thoắt, tưởng như chiến dịch chỉ mới bắt đầu. Anh em thì thầm chuyện trò vui vẻ. Không một ai buồn ngủ nữa, cả những đồng chí kém chịu đựng nhất bây giờ cũng không thấy kêu đau chân nữa. Tất cả đều đã ca tụng trận thắng quá mức và càng tin phục đồng chí trung úy. Đối với nhiều đồng chí, rõ ràng là đêm hôm ấy đã đánh dấu bước đầu cuộc đời chiến đấu của họ.

        Đêm hôm sau, lăn đầu tiên, Ta-nhi-a nhìn thấy quân Đức.

        Trời mưa mãi. Đơn vị tiến ra đường cái. Trên đường, một đoàn xe vận tải nối đuôi nhau chạy. Lúc đầu, Ta-nhi-a không chút đề ý cứ lơ đãng tiến bước. Nhưng cũng vừa lúc ấy, bàn tay của trung úy đã nắm lấy vai chị. Anh nói rất nhỏ :

        -  Nằm xuống, bọn Đức đấy !
 
        Ta-nhi-a quay lại, hốt hoảng : chúng nó đâu ? Và rồi, dán mình xuống mặt đất, chị mới hiểu rằng những chiếc xe vận tải kia - những chiếc xe bình thường, đèn phà sáng rực - chính là "bọn Đức". Mấy chiếc xe xích sắt mang dấu hiệu chữ thập đen xuất hiện. Những giọng nói lơ lơ đập vào tai Ta-nhi-a.

        Quang cảnh ấy đối với Ta-nhi-a sao mà lạ lùng, phi lý và đáng ghét đến nỗi làm cho chị có một cảm giác vừa ngạc nhiên, vừa ghê tởm, vừa sợ hãi. Chị bỗng cảm thấy cô độc, mệt mỏi, dường như những bóng người xa lạ đến làm cho người ta phải ghê tởm kia, đã cắt đứt hiệu tại với quá khứ, với mọi hy vọng và mọi ước mơ của chị. Chị nắm lấy cánh tay Lu-ben-xốp cho mãi tới khi đơn vi lại tiếp tục hành quân. Ánh đèn chập chờn của xe quân Đức soi lờ mờ khuôn mặt của trung úy. Những giọt nước mưa từ từ lăn trên má anh. Khuôn mặt người thanh niên lúc ấy thật vô cùng nghiêm nghị và hằn rõ nét buồn.

        Thế rồi, sáng hôm sau trung đội cũng về tới đơn vi. Lúc tới gần địa điểm tập trung, Lu-ben-xốp tới bên Ta-nhi-a hỏi địa chỉ của chị ở Mát-xcơ-va : "Có thể một ngày kia chúng ta sẽ lại gặp nhau. Tôi sẽ lại chơi nhà chị uống nước trà ”.

        Câu hỏi ấy của Lu-ben-xốp làm Ta-nhi-a phải ngạc nhiên trước lòng tin sắt đá của anh về thắng lợi tương lai, về cuộc sống hòa bình sẽ tới, có gặp gỡ, có hẹn hò, cùng nhau uống nước trà và trò chuyện.
       
        Địa chỉ ư? Sau khi ở trường y khoa ra Ta-nhi-a đến ở nhờ nhà bà cô chị tại Mát-xcơ-va. Nhưng vấn đề đâu phải chỗ đó. Chị liền đáp :

        - Tôi đã có chồng rồi.

        Chắc chắn câu trả lời đó không được thông minh lắm bởi vì nói cho cùng, Lu-ben-xốp cũng không hề ngỏ lời cầu hôn gì với chị kia mà. Nên chị vội vã nói thêm:

        - Nhất định tôi sẽ phải ghi địa chỉ cho anh chứ !

        Nhưng rồi trong lúc vội vàng chị quên mất lời hứa. Về tới địa điểm tập trung, các sĩ quan, trong đó có nhiều cán bộ quân y đã xúm quanh Ta-nhi-a. Người ta mời chị uống nước trà đường, ăn thịt hộp. Tỉnh táo lại rồi và mải mê với niềm hy vọng sẽ gặp mẹ, gặp chồng, Ta-nhi-a không còn nghĩ gì tới sự săn sóc của người trung úy rất can trường, vui tính và rất tốt bụng đối với chị, trải qua suốt sáu ngày gian khổ nhất trong đời chị.

        Đồng chí trung úy đứng tách ra ngoài một lúc rồi lặng lẽ bỏ đi. Về sau chị nghe tin anh được điều về một đơn vị và đã đi xa. Những lúc thoáng hồi tưởng lại sáu ngày đã qua ấy, nghĩ tới anh, chị cảm thấy buồn và hối hận đã không có lấy một lời từ biệt và cảm ơn.

        Thế mà giờ đây, đồng chí trung úy ấy đã là thiếu tá cận vệ, sau ba năm mấy tháng gì đó, lại đã ngồi cạnh chị trong chiếc xe tứ mã bon bon trên con đường nhựa  ướt át.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Chín, 2017, 04:36:29 am
       
II

        Gặp gỡ đột ngột. Cả hai người đều xúc cảm mạnh. Ta-nhi-a hỏi :

        - Trông anh lúc nào cũng vẫn tươi vui, không có gì thay đổi cả chứ ?

        Lu-ben-xốp hỏi lại:

        - Còn chị thì vẫn như xưa, hơi có vẻ buồn buồn một chút, nhưng lớn hơn.

        - Già đi đấy. - chị vừa nói vừa cười vang.

        Tiếng cười của chị sao mà dễ thương, dịu dàng và trong sáng tưởng đâu như chị cười riêng với mình chị. Khi cười, đôi mắt tròn to của chị gần như biến hẳn đi, hóa thành hai vệt nhỏ sáng long lanh, mũi chị cau lại, làm cho khuôn mặt chị bỗng nhiên đượm vẻ hồn hậu hết sức.

        Giữa lúc này, giọng nói oang oang và sôi nổi của đồng chí "đánh xe trạm” vẳng từ trên ghế cao xuống:

        - Báo cáo các đồng chí sĩ quan! Hình như chúng ta đã tiến vào đất Đức rồi thì phải, đâu đâu cũng thấy bàn tán ầm ỹ...

        Lu-ben-xốp sửng sốt, ngước mắt nhìn lên, rồi mở xà cột rút ra chiếc bản đồ, trải lên đầu gối và cố nén xúc cảm nói với mọi người :

        - Đúng, chúng ta hiện đang tiến trên đất Đức.

        Đồng chí trung úy rút súng lục, mở tung cửa xe, chĩa lên trời bắn hết một băng đạn. Đồng chí "đánh xe trạm” nổ chỉ thiên một phát súng trường. Bầy ngựa hốt hoẵng càng phóng nhanh hơn. Mọi người đều dán mắt vào cửa kính xe. Hai bên đường, những cánh rừng thưa nối tiếp nhau, rồi đến những ria rừng gỗ, những bụi cây. Mọi người ngạc nhiên trước tất cả những cảnh vật rất quen thuộc này:

        - Trông này, cây bồ đề kìa !

        - Ồ, cây sơn trà này!

        - Lại có cả cây táo nữa kìa!

        Đồng chí trung úv mơ va-li lục lọi một lát rồi thất vọng kêu:

        - Tiếc quá, không có vốt-ca1!

        Đại úy Trô-khốp, "chủ nhân” chiếc xe tứ mã, chẳng nói chẳng rằng, không hiểu lôi ở đâu ra một bình đầy rượu trắng. Đồng chí chiến sĩ ngồi trong xe mỉm cười ngượng nghịu, đưa tay vuốt bộ ria hung hung phát biểu:

        - Các đồng chí sĩ quan, chúng ta có... cái này... một chút rượu... Nếu các đồng chí thấy không có gì bất tiện... kể ra cũng không ngon lắm, nhưng cũng khá cay miệng đấy ạ...

        Cỗ xe dời đường cái, chạy lắc lư một lát rồi dừng lại trong một khu rừng nhỏ. Đồng chí "đánh xe trạm” sau khi cắm chiếc roi ngựa vào thành ghế, cũng vào nhập bọn trong xe. Mọi người trò chuyện ầm ỹ; riêng Ta-nhi-a không hiểu vì cớ gì cứ im lặng. Chị ra ngồi trên chiếc ghế cao của người đánh xe, cúi gập hẳn người lại, trầm ngâm, mỉm cười lư đãng nhìn những cánh rừng nho nhỏ, thưa thớt xung quanh. Chị đã từ chối không uống rượu.

        - Lúc này không phải là lúc uống rượu vui -  chị vừa nói vừa gạt cốc rượu. - Tôi không hiểu nên làm gì, có lẽ là nên khóc thương những người đã không thể may mắn đặt chân tới đây.

        Mọi người hiểu ngay là chị nói đúng. Họ vẫn tiếp tục uống rượu nhưng không làm ầm ỹ nữa, tâm hồn như chìm đắm trong một giấc mơ nặng nề.

        Trước hết, tất cả nâng cốc chúc thọ đồng chí Xta-lin, rồi chúc mừng chiến thắng và các đơn vị của phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi thứ nhất. Đồng chí có bộ ria hung hung đề nghị nâng cốc chúc mừng cả "mặt trận gia đình của chúng ta, nghĩa là vợ và con chúng ta".

        Anh nhìn trộm Ta nhi-a, nói thêm :

        - Và lẽ dĩ nhiên cũng là chúc mừng những vị " phu quân ” nếu có, hoặc nếu không, thì những " phu quân ” tương lai.

        Ta-nhi-a phát biểu :

        - Nghĩ cũng lạ. Xa kia có một làng Đức. Kể cũng khó mà tin được rằng có những người Đức đang sống ở đó, những con người đã gây nên bao đau thương cho thế giới. Xử sự thế nào ? Đốt cháy làng ấy ư ? Giết hết dân làng ấy đi ư!

        Không ai nói năng gì. Tiếng đại úy Trô-khốp phá tan im lặng:

        - Chứ lại không à ? Chúng ta làm đi thôi, đợi gì nữa ? - Trô-khốp nói lên những câu ấy với một giọng bình thản, làm cho mọi người phải quay lại và nhìn thấy khuôn mặt tròn trĩnh, trai trẻ, chiếc mũi nhỏ thẳng và đôi mắt xám đầy nghị lực của anh, lộ rõ lòng tự tin và tính gây gổ của một con người chưa từng biết sợ điều gì.

        Thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp trừng trừng nhìn Trô- khốp và hất tay một cái tỏ vẻ chán ngán! Cử chỉ cộc lốc, hơi có vẻ khinh bỉ này, có lẽ đã có tác dụng thuyết phục nhiều hơn lời nói. Vấn đề rõ ràng đặt ra với mọi người là không ai được đi đâu, không được đốt phá một vật gì cả, không được sát hại một người nào - ít nhất cũng không được làm những công việc ấy khi thiếu tá cận vệ có mặt tại đây.

        Trô-khốp cũng hiểu thế ! Anh tức tối nhìn Lu-ben- xốp, môi mím chặt không nói thêm nửa lời.

        Lu-ben-xốp lạnh lùng nói :

        - Quân đội Đức còn đang kháng cự kich liệt. Đồng chí còn khối dịp đề tỏ rõ lòng hăng hái của mình trong chiến đấu.

        Ta-nhi-a dàn hòa nói :

        - Thôi, chúng ta đi thôi.

        Mọi người lên xe. Một lát sau, cỗ xe lọc cọc tiến vào trong làng. Mọi người nhìn thấy một tấm biển lớn trước ngôi nhà công quán bé nhỗ :

        SIEG ODER SIBIRIEN2!

        Lu-ben-xốp dịch lại cái khẩu hiệu khó hiểu ấy cho mọi người nghe, chắc hẳn đó là sáng kiến cuối cùng của tên Gơ-ben 3.

--------------------
        1. Một thứ rượu mạnh của Liên Xô - N.D.

        2. Chiến thắng hay chịu đầy sang Xi-bê-rì.

        3. Bộ trưởng tuyên truyền của Hít-le - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Chín, 2017, 03:17:12 am
        
        Đồng chí chiến sĩ có bộ ria hung hung phát biểu, giọng khinh bỉ: "Một thằng Đức lại mang xứ Xi-bê-ri của chúng ta ra đề dọa dẫm một thằng Đức khác. Chao ôi! Chỉ mong sao cho tôi sống được đến ngày chiến thắng để quay về miền Xi-bê-ri thân yêu gặp mẹ nó và các cháu ”.

        Đồng chí " đánh trạm xe ” cho xe dừng lại trước một ngôi nhà gạch xinh xắn có thềm bậc lên xuống khá cao. Gian nhà tĩnh mịch, tối tăm và sặc mùi mốc meo. Trong lúc đồng chí "đánh xe trạm” tháo ngựa, những người khác ồn ào ùa vào các gian phòng lạnh lẽo. Ai cũng tò mò đưa mắt nhìn vào các xó tối.

        Bỗng nhiên, đồng chí " đánh xe trạm ” ở ngoài chạy vào, hốt hoảng nói với Lu-ben-xốp:

        - Báo cáo đồng chí thiếu tá cận vệ, ở cái lán dưới nhà có chuyện không hay...

        Hai người cùng đi ra. Đàn lợn ủn ĩn trong bóng sân tối om. Trong lán chất đầy củi và sau đống củi, Lu-ben- xốp bấm đèn pin soi rõ năm xác người bi treo cổ. Anh chửi: " Chà, quân khốn kiếp! ”. Rồi ra lệnh : " Hạ xuống đất! ”. Và anh lấy dao cắt dây thừng.

        Mấy xác chết rơi phịch xuống đất. Đồng chí trung úy và Trô-khốp bước vào. Trong lúc trung úy vội vã giúp Lu-ben-xốp thì Trô-khốp chỉ đứng tách ra một chỗ. Điếu thuốc lá của anh lập lòe trong bóng tối.

        Có hai nạn nhân còn thoi thóp thở : một bà cụ già và một em gái nhỏ. Anh em khiêng bà cụ và cô bé lên nhà. Ta-nhi-a phụ trách việc cứu chữa cho họ. Lát sau cô bé đã ngồi cạnh Ta-nhi-a trên chiếc ghế dài, một tay xoa cổ, một tay bám lấy chị phụ nữ lạ mặt này. Còn bà cụ thì lẳng lặng lê bước chân đi thu nhặt các đồ vật rơi rải rác trên sàn nhà, mắt không dám nhìn những người Nga đang im lặng chung quanh.

        Lu-ben-xốp biết đôi chút tiếng Đức ; tuy lưng vốn tiếng Đức của anh gần như không vượt quá phạm vi những từ ngữ quân sự, anh cũng cố gắng hỏi được chuyện bà cụ. Thì ra tên con trai bà là một đảng viên Quốc xã trong vùng. Hắn đã không kịp rút chạy, và vì hoảng hốt quá nên hắn đã quyết định treo cổ tự tử, đồng thời treo cổ tất cả gia đình. Đêm hôm trước, xe tăng Nga đã tiến qua làng và suốt ngày hôm qua, bộ đội xô-viết đã kéo đi không lúc nào ngớt. Biết không tài nào trốn thoát, tên chủ gia đình đã thực hiện ý định của hắn.

        - Chúng nó thế mà cũng gọi là giống người à? - Đồng chí chiến sĩ người Xi-bê-ri có bộ ria hung hung vừa nhóm lò vừa phát biểu, giọng nói lộ vẻ ghê tởm. -  Cái thằng phát xít ấy chẳng còn tình nghĩa gì với ai cả. Đến ngay con cái nó, nó cũng chẳng thương. Chính tự tay nó đã treo cổ các con nó, thật là đồ khốn kiếp!

        Đồng chí " đánh xe trạm ” vỗ trán suy nghĩ, cố giải thích cho bà cụ :

        - Con bà, chà, chà, thật là đồ vứt đi... Verste- chen1? - Đồng chí nói thật to, chắc hẳn cho rằng càng hét to thì bà cụ càng dễ hiểu hơn. - Đời thuở nhà ai, một em như thế này... - đồng chí trỏ vào em bé - rất là bé nhỏ - tay đồng chí giơ ngang mặt đất - lại thắt cổ nó - đồng chí đưa tay lên ngang cồ.

        Bà cụ thu xếp giường chiếu cho những người Nga ngủ. Bà cụ làm công việc ấy không có gì là quỵ lụy: vừa thoát chết, bà cụ đâu còn nghĩ được chuyện lấy lòng ai. Bà cụ nghĩ giản đơn rằng: người Nga chiến thắng thì tất nhiên là có quyền bắt kẻ thất bại phải chịu nhục.

        Nhưng vốn là con nhà lính, Lu-ben-xốp không thể tin ở thái độ ti tiện biểu lộ quá muộn ấy của người Đức. Vì thế anh quyết định phải bố trí canh gác đề phòng ngừa bất trắc. Sau khi sắp đặt việc canh gác, quy định các hiệu lệnh báo động, Lu-ben-xốp bảo anh em:

        - Tóm lại là các đồng chí đều có thế đi ngủ cả; tôi sẽ thức canh suốt sáng. Đêm nay, tôi cũng khó mà nhắm mắt được!

        Ta-nhi-a đứng trong một góc nhà khuất nẻo hỏi vọng ra: .

        - Đồng chí có thề cho phép tôi cùng thức với đồng chí được không?

        - Được lắm chứ! - Lu-ben-xốp đồng ý thật to.

        Mọi người như đã có dặn dò nhau trước, liền giải tán về giường nằm. Lu-ben-xốp và Ta-nhi-a ngồi lại bàn một lúc rồi mới mặc áo ra chỗ gác.

        Một tiếng ngáy nhỏ âm vang khắp gian nhà. Trước lúc ra ngoài, hai người đi một vòng thăm các buồng. Đại úy Trô-khốp nằm trên chiếc ghế dài trong phòng ăn. Lúc ngủ khuôn mặt tròn trĩnh của anh thật hoàn toàn thơ trẻ, mất hẳn vẻ tự tin và gây gổ là một nét đặc biệt của anh. Trong gian phòng bên, đồng chí trung úy còn cựa mình mãi trên giường. Anh vẫn đội chiếc mũ cũ có tai của anh, nghiến răng kèn kẹt và nói lảm nhảm. Đồng chí chiến sĩ có bộ ria hung hung và đồng chí " đánh xe trạm ” chiếm một chiếc giường to. Hai người, để nguyên cả quần áo, giày, và đắp áo ca-pốt ngủ mặc dù dưới lưng có cả một đống chăn. Dưới tấm áo ca-pốt lính thò ra mấy nòng súng tiểu liên và súng trường, và cả súng cũng như đang ngủ say.

---------------------
        1. Hiểu chưa.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Chín, 2017, 08:26:56 pm
             
        Cô bé người Đức ngủ trên chiếc giường con bên cạnh.

        Lu-ben-xốp cười lặng lẽ trước cảnh súng cũng được ” đắp áo ” như người, trước tác phong giản dị, gian khổ của các chiến sĩ, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu, một tác phong đã được rèn luyện trong chiến tranh.

        Hai người bước ra sân. Trời tối như mực, gió thổi mạnh. Tiếng ồn ào của các đơn vị kéo qua, tiếng còi ô-tô vọng từ ngoài đường cái vào làng. Có vật gì động đậy dưới rặng cây to. Lu-ben-xốp bấm đèn lên. Bà cụ chủ nhà đang dùng mai đào một cái hố.

        Ta-nhi-a khẽ hỏi:

        - Bà cụ ấy làm gì thế anh ?

        Lu-ben-xốp tới cạnh bà cụ hỏi chuyện. Bà cụ dài dòng kể lể với anh. Anh quay lại chỗ Ta-nhi-a và nói:

        - Bà cụ đào một cái huyệt. Nghe đâu ở đây họ không chôn người tự tử vào nghĩa địa thì phải...

        Hai người bước ra đường, cùng im lặng một lúc. Bỗng Ta-nhi-a hỏi :

        - Dạo này anh phụ trách công tác gì?

        - Tôi là chủ nhiệm trinh sát sư đoàn. Tôi vừa ở bộ tham mưu tập đoàn quân về. Trên cho lệnh gọi và định cử tôi về học ở Viện hàn lâm quân sự Mát-xcơ-va. Tôi cũng vất vả lắm mới xin được cấp trên thay đổi ý kiến đấy. Thật thế, lúc này mà phải bỏ mọi việc lại đấy và trở về hậu phương, nhất là giữa lúc chiến tranh sắp kết thúc thì có đáng bực mình không kia chứ ! Hơn nữa, tôi không muốn phải xa anh em đơn vị tôi : sống với họ quen quá đi mất rồi. Cả sư đoàn tôi đối với tôi bây giờ cũng thân thiết như gia đình vậy. Dù sao, cuối cùng cũng thuyết phục được các thủ trưởng của tôi. Thật may quá là các đồng chí ấy không điều tôi về nữa... Nếu không, bây giờ co lẽ tôi đã đang ở trước thành Min-xcơ rồi đấy...- Anh im bặt, rồi nói thêm: - Và nếu thế thì lại không gặp được chị.

        Qua câu chuvện hai người mới biết là có nhiều bạn quen chung. Ta-nhi-a có thời kỳ đã công tác ở viện quân y tập đoàn quân và có quen đồng chí chủ nhiệm trinh sát, đại tá Ma-lư-sép. Hôm nay chị vừa ở một cuộc hội nghị các nhà mổ xẻ về: chị là chủ nhiệm khoa mổ trong sư đoàn của đại tá Vô-rô-bi-ốp.

        Lu-ben-xốp nói :

        - Tôi cũng có quen đại tá. Đồng chí ấy là một thủ trưởng rất tốt. Nhưng thiếu tướng Xê-rê-đa, chỉ huy sư đoàn tôi lại còn tốt hơn nữa kia.

        - Theo ý anh, thì các đồng chí ấy đều tốt cả. -  Ta-nhi-a mỉm cười nói. Hồi liếc mắt nhìn anh, chị thấp giọng nói tiếp: - Thật may mắn biết bao, trải qua cuộc chiến tranh khủng khiếp này, cuộc chiến tranh đã giết hại biết bao người ưu tú, mà anh vẫn không việc gì cả. Nhất là trong ngành công tác của anh. Được gặp anh lần này tôi rất sung sướng. - Ngừng lại một lát chị hỏi thêm : - À, còn đại tá Cra-xi-cốp ở bộ tham mưu quân đoàn anh có quen không nhỉ !

        - Có, biết sơ sơ thôi.

        Hai người đi dọc theo phía trước mặt ngôi nhà đang thiêm thiếp ngủ. Ta-nhi-a bước hẫng một cái, Lu- ben-xốp nắm lấy cánh tay chị rồi không rời ra nữa.

        - Theo điều lệnh thì trong lúc canh gác có được phép làm như thế này không nhỉ ? - Ta-nhi-a hỏi giọng hơi có vẻ đùa.

        Lu-ben-xốp thì nghĩ thầm : " Ồ, hâu như giữa thời bình rồi còn gì! Có lẽ đã bốn năm nay, lần đầu tiên mình mới được khoác tay phụ nữ đi như thế này! ”.

        Trời đã quang hẳn. vầng trăng như xé nát những đám mây chui ra. Ánh trăng soi sáng những ngôi nhá quét vôi trắng có những chiếc xà đen sẫm bắc ngang trên tường và soi sáng cả nóc nhà thờ nhọn hoắt. Trong giây phút này, bảo Lu-ben-xốp không hồi tưởng lại khu rừng trước thành Vi-át-ma, nơi mà hai người đã cùng nhau hành quân ba năm trước đây, làm sao được?

        Anh nói:

        - Tôi có cảm tưởng như chúng ta đã phải trèo mãi một ngọn núi cao, dốc ngược, và giờ đây chúng ta đã tới hay sắp tới đỉnh rồi... Kể ra so sánh như vậy cũng không được đúng, nhưng mà khi lên đến đỉnh cao này trông lại sao mà thấy xa thế! Quá khứ đã bắt đầu thấy lờ mờ mà tương lai thì thật đã quá sáng tỏ... Giờ đây, chúng ta đã nhận thức rõ sức mạnh và vai trò của mình. Nghĩa là chúng ta đã lớn lên, đã chín chắn hơn...- Anh mỉm cười, có vẻ bối rối: - Kể ra cũng khó nói...

        Ta-nhi-a thì chăm chú nhìn anh như để xem có thực đúng là đồng chí trung úy, ba năm về trước, giữa một đêm thu lạnh lẽo đã đứng cạnh chị bên con đường mòn gần Xmô-len-xcơ hay không ? Đúng là con người mà ai đã từng chung sống đều có thể học tập được lòng tin tưởng và dũng cảm. Bỗng nhiên chị ao ước được như những chiến sĩ trinh sát và nói chung được như tất cả những ai sống gần bên anh.

        Đột nhiên Lu-ben-xốp hỏi:

        - Chị có nghe thấy gì không ?

        Hai người nhìn nhau ngạc nhiên : đâu đây vẳng lại những âm thanh than vãn, tựa như tiếng gió lướt trên những sợi dây đàn khổng lồ. Đó là một bài ca buồn mà cả hai đều đã được nghe từ thuở còn thơ ấu. Có ai đang dạo trên một cây đàn lạ bài ca nổi tiếng của Ra-din. Tiếng đàn từ phía nhà thờ vong lại. Hai người tìm tới đó. Trước mặt họ là những bậc thềm rất rộng. Họ bước vào. Ánh trăng rọi qua những khung cửa số hình cung nhọn và hẹp. Dưới ánh trăng chan hòa như suối, sau một bao lơn cao, một đồng chí trung sĩ đang ngồi dạo đàn phong cầm. Phía dưới, một nhóm chiến sĩ đang lắng tai nghe.

        Tiếng đàn bỗng ngừng lại và đồng chí trung sĩ đứng dậy, hỏi bằng một giọng nói êm dịu:

        - Thưa đồng chí thiếu tá, đồng chí cho phép chúng tôi tiếp tục chứ ?

        Thoạt đầu mải nghe nhạc quá, Lu-ben-xốp không biết là đồng chí đó nói với mình. Nhưng sau, anh cũng không nói gì, chỉ vẫy tay ra hiệu đồng ý rồi cùng Ta-nhi-a đi ra.

        Bên ngoài trời lạnh, gió thổi mạnh. Ấy thế mà không khí đường phố như ngày hội. Hai người lững thững quay về nhà. Bỗng nhiên Lu-ben-xốp hỏi :

        - Anh nhà ta... bây giờ ở mặt trận nào ?

        - Nhà tôi hy sinh rồi. Nãm 42. - Chị nói thêm, giọng lạnh lùng : - Ở mặt trận Xta-lin-grát.

        Giọng nói cụt lủn đột nhiên ấy ngụ ý rằng: " Xin anh không phải ái ngại cho tôi, đừng nên nói những điều không bổ ích gì cả và cũng xin đừng làm ra vẻ quan tâm đến chồng tôi ”.

        Chị lại hững hờ buông thêm một câu :

        - Sự tình là như thế đó!

        Nhưng liền sau đấy chị quay lại nhìn Lu-ben-xốp, và khi thấy nét mặt anh xúc động và bối rối thì chị không nén nồi nữa. Chị muốn cắn chặt lấy môi, nhưng quá muộn: nước mắt đã trào ra. Chị quay đi, cố nén khỏi bật khóc thành tiếng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Chín, 2017, 10:21:10 pm
           
III

        Từ mờ sáng, một đoàn xe vận tải kéo qua làng. Một chiếc xe bỗng dừng lại. Một trung úy thông tin trẻ tuổi, đồng chí Nhi-côn-xki, nhảy xuống. Việc đầu tiên là anh vui vẻ báo tin cho Lu-ben-xốp :

        - Báo cáo đồng chí thiếu tá cận vệ, chúng ta đã tiến vào đất Đức, đồng chí đã biết chưa ?

        - Có, tôi có biết. - Lu-ben-xốp mỉm cười rồi quay lại phía Ta-nhi-a. Đã tới lúc phải lên đường, nhưng lưu luyến không muốn chia tay.

        Đồng chí người Xi-bê-ri vừa ngủ dậy, ở trong nhà bước ra. Thấy Lu-ben-xốp sắp đi, đồng chí chào :

        - Đồng chí thiếu tá cận vệ, xin chúc đồng chí lên đường may mắn. Dù thế nào, chúng ta cũng sẽ lại gặp nhau ở Béc-lin.

        - Đúng đấy.

        Lu-ben-xốp cười bắt thật chặt bàn tay rắn chắc của đồng chí chiến sĩ. Anh cũng nắm chặt mấy ngón tay búp măng của Ta-nhi-a. Đau quá, chị nhăn mặt, nói như van:

        - Ơ, cái anh này! Làm gì thế? Tay tôi còn phải dùng để mổ cho thương binh kia đấy!

        Lu-ben-xốp luống cuống, tư trách mình vụng về rồi trèo lên ngồi cạnh đồng chí lái xe. Đồng chí trung úy nhảy lên phía sau, và xe mở máy chạy.

        " Thật mình kém cỏi quá! - Lu-ben-xốp nghĩ mà lại giận mình. - Chẳng nói được một câu nào từ biệt, cũng chẳng gửi lời chào các đồng chí khác... Không hiểu cô ta sẽ cho mình là người thế nào ? ”.

        Anh thở dài đánh thượt một cái. Đồng chí lái xe liếc trộm anh, mỉm cười ý nhị: "Chà, các ông sĩ quan trinh sát này tài thật, môn nào cũng giỏi cả! ”. Trong sư đoàn ai cũng biết Lu-ben-xốp; người ta cũng từng bàn tán nhiều về tinh thần dũng cảm và óc mưu trí của anh. Đồng chí lái xe cũng như trung úy Nhi-côn-xki đều nhất quyết rằng không phải bỗng dưng vô cớ mà thiếu tá cận vệ lại đi chơi với chị bác sĩ có đôi mắt xám ấy ngay từ sáng sớm.

        Lúc này, xe đã ra đường cái lớn, nhập vào dòng xe cộ chạy liên miên không bao giờ hết, nên phải đi chậm lại.

        Lu-ben-xốp đưa mắt nhìn cánh đồng chạy dài phía trước mặt, những mái ngói lấm tấm tuyết trắng, những chòm cây trồng thẳng tắp; theo thói quen tư nhiên, anh nhận xét cảnh vật về mặt chiến thuật, nhưng óc thì vẫn không ngừng nghĩ tới Ta-nhi-a, tới đôi hàng nước mắt, tới câu chuyện cảm động về chồng chị bị giết và bà cụ chị bị mất. Nhớ tới đây, anh chợt bắt được mình mỉm cười, một nụ cười mơ mộng dịu dàng, nhưng anh cho là tàn nhẫn. Anh nghĩ thẫm : " A, thế ra mình lại sung sướng vì được tin chồng chị ấy chết hay sao ? Không ngờ mình lại có thể đê hèn đến thế!”

        Anh cố giữ vẻ nghiêm nghi.

        Cuộc gặp gỡ với Ta-nhi-a, nhất là giữa một ngày đánh dấu chiến tranh sắp kết liễu, đối với anh có rất nhiều ý nghĩa.

        Ta-nhi-a là "một người quen cũ”, điều đó có tác dụng quan trọng đối với Lu-ben-xốp. Như vậy nghĩa là mối quan hệ giữa hai người không mang tính chất một "tình bạn” xốc nổi thường có trong chiến tranh giữa nam và nữ, thứ "tình bạn” mà anh rất ghét và cố hết sức tránh.

        " Người quen cũ ”! Mấy tiếng ấy, vô cùng êm ái, làm cho anh khỏi nhút nhất, tính này anh thường vẫn có khi đứng trước mặt những phụ nữ tình cờ gặp gỡ mà họ biết quá rõ ý muốn của ta đối với họ.

        III

        Từ mờ sáng, một đoàn xe vận tải kéo qua làng. Một chiếc xe bỗng dừng lại. Một trung úy thông tin trẻ tuổi, đồng chí Nhi-côn-xki, nhảy xuống. Việc đầu tiên là anh vui vẻ báo tin cho Lu-ben-xốp :

        - Báo cáo đồng chí thiếu tá cận vệ, chúng ta đã tiến vào đất Đức, đồng chí đã biết chưa ?

        - Có, tôi có biết. - Lu-ben-xốp mỉm cười rồi quay lại phía Ta-nhi-a. Đã tới lúc phải lên đường, nhưng lưu luyến không muốn chia tay.

        Đồng chí người Xi-bê-ri vừa ngủ dậy, ở trong nhà bước ra. Thấy Lu-ben-xốp sắp đi, đồng chí chào :

        - Đồng chí thiếu tá cận vệ, xin chúc đồng chí lên đường may mắn. Dù thế nào, chúng ta cũng sẽ lại gặp nhau ở Béc-lin.

        - Đúng đấy.

        Lu-ben-xốp cười bắt thật chặt bàn tay rắn chắc của đồng chí chiến sĩ. Anh cũng nắm chặt mấy ngón tay búp măng của Ta-nhi-a. Đau quá, chị nhăn mặt, nói như van:

        - Ơ, cái anh này! Làm gì thế? Tay tôi còn phải dùng để mổ cho thương binh kia đấy!

        Lu-ben-xốp luống cuống, tư trách mình vụng về rồi trèo lên ngồi cạnh đồng chí lái xe. Đồng chí trung úy nhảy lên phía sau, và xe mở máy chạy.

        " Thật mình kém cỏi quá! - Lu-ben-xốp nghĩ mà lại giận mình. - Chẳng nói được một câu nào từ biệt, cũng chẳng gửi lời chào các đồng chí khác... Không hiểu cô ta sẽ cho mình là người thế nào ? ”.

        Anh thở dài đánh thượt một cái. Đồng chí lái xe liếc trộm anh, mỉm cười ý nhị: "Chà, các ông sĩ quan trinh sát này tài thật, môn nào cũng giỏi cả! ”. Trong sư đoàn ai cũng biết Lu-ben-xốp; người ta cũng từng bàn tán nhiều về tinh thần dũng cảm và óc mưu trí của anh. Đồng chí lái xe cũng như trung úy Nhi-côn-xki đều nhất quyết rằng không phải bỗng dưng vô cớ mà thiếu tá cận vệ lại đi chơi với chị bác sĩ có đôi mắt xám ấy ngay từ sáng sớm.

        Lúc này, xe đã ra đường cái lớn, nhập vào dòng xe cộ chạy liên miên không bao giờ hết, nên phải đi chậm lại.

        Lu-ben-xốp đưa mắt nhìn cánh đồng chạy dài phía trước mặt, những mái ngói lấm tấm tuyết trắng, những chòm cây trồng thẳng tắp; theo thói quen tư nhiên, anh nhận xét cảnh vật về mặt chiến thuật, nhưng óc thì vẫn không ngừng nghĩ tới Ta-nhi-a, tới đôi hàng nước mắt, tới câu chuyện cảm động về chồng chị bị giết và bà cụ chị bị mất. Nhớ tới đây, anh chợt bắt được mình mỉm cười, một nụ cười mơ mộng dịu dàng, nhưng anh cho là tàn nhẫn. Anh nghĩ thẫm : " A, thế ra mình lại sung sướng vì được tin chồng chị ấy chết hay sao ? Không ngờ mình lại có thể đê hèn đến thế!”

        Anh cố giữ vẻ nghiêm nghi.

        Cuộc gặp gỡ với Ta-nhi-a, nhất là giữa một ngày đánh dấu chiến tranh sắp kết liễu, đối với anh có rất nhiều ý nghĩa.

        Ta-nhi-a là "một người quen cũ”, điều đó có tác dụng quan trọng đối với Lu-ben-xốp. Như vậy nghĩa là mối quan hệ giữa hai người không mang tính chất một "tình bạn” xốc nổi thường có trong chiến tranh giữa nam và nữ, thứ "tình bạn” mà anh rất ghét và cố hết sức tránh.

        " Người quen cũ ”! Mấy tiếng ấy, vô cùng êm ái, làm cho anh khỏi nhút nhất, tính này anh thường vẫn có khi đứng trước mặt những phụ nữ tình cờ gặp gỡ mà họ biết quá rõ ý muốn của ta đối với họ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Chín, 2017, 11:58:16 am

        Anh cứ mê mải nghĩ tới Ta-nhi-a, tới những cuộc gặp gỡ sau này, là thời gian đã trôi qua, đủ cho xe về tới làng, nơi phòng tham mưu sư đoàn tạm đóng lại trong mấy tiếng đồng hồ.

        Về đến nơi, Lu-ben-xốp lại lao ngay vào không khí làm việc lôi cuốn mà anh đã quá quen thuộc, thật ra cũng chưa lấy gì làm sôi nổi lắm đâu, nhưng mọi cơ quan tham mưu dù đóng ở chỗ nào cũng đều như vậy.

        Ban trinh sát sư đoàn đóng trong một ngôi nhà quét vôi trắng xóa ở cuối làng về phía tây.
Trong gian nhà bày la liệt những chiếc đệm trắng nhồi lông, những chiếc đồng hồ đủ các cỡ, phân biệt ở tiếng chuông kêu rè rè, tira như chúng kêu lên thế để đòi phải đặt chúng nằm xuống đệm.

        Bên trên các cửa ra vào và các giường ngủ, giữa khoảng cách các cửa sổ, có treo nhiều tấm câu đối thơ, in kiểu chữ triện trên những mảnh bìa cứng, nội dung nói lên cái đức cần tiết chế tham vọng, ca tụng cuộc sống gia đình yên vui, không màng đến cuộc đời danh lợi phù hoa. Dưới những câu đối có treo những bức ảnh chụp hai tên lính Đức đang mỉm cười, ý hẳn là con trai của nhà chủ. Tấm ảnh chụp chúng đứng giữa những phố phường, những quảng trường ở các thủ đô châu Âu như Cô-pen-ha-gơ, La Hay, Bruýt-xen, Pa-ri. Rõ ràng những tên con trai chủ nhà này không phải là ít tham vọng !

        Trong bộ đội, tin tức truyền đi rất nhanh : anh em đã biết tin đồng chí thủ trưởng trở về. Họ tụ tập cả ở đây để tiếp đón đồng chí. Bản tính vốn kín đáo, ho rất ít khi bộc lộ tình cảm của mình; tuy thế Lu-ben-xốp vẫn nhận thấy rằng anh em rất sung sướng được tin anh trở lại.

        Đây là chuẩn úy Vô-rô-nhin, trinh sát viên ưu tú, nước da ngăm ngăm, người nhỏ bé, nhanh nhẹn, có một bộ óc mưu trí đây là thượng sĩ Mi-tơ-rô-khin, con người lúc nào cũng chững chạc, đàng hoàng, rất tự tin: đây là đại úy Me-séc-xki rất trẻ tuổi, chỉ huy đại đội trinh sát; và đây là trung sĩ Tri-bi-rép cần vụ của Lu-ben-xốp, trông dáng người gù gù và hơi khác thường.

        Ô-ga-nhe-xi-an, đồng chí phiên dịch có bộ mặt lạnh lùng, chẳng bao giờ chịu cạo râu và thường tìm cách tránh mọi động tác không cần thiết, đang ngồi trên chiếc đệm lông vịt. Thấy Lu-ben-xốp vào, đồng chí nhanh nhẹn đứng dậy. Vốn hiểu rõ giá trị của sư "hy sinh” đó, thiếu tá cận vệ hạ lệnh: "Nghỉ”, thế là đồng chí phiên dịch ngồi phích xuống đệm, thở dài khoan khoái.

        Me-séc-xki khẽ kín đáo hỏi:

        - Thế nào, đồng chí không về Viện hàn lâm ư ?

        - Không, còn chiến tranh thì chưa về. - Lu-ben- xốp trả lời.

        Rồi họ rối rít hỏi thăm tin tức: trên bộ tham mưu tập đoàn quân có tin gì không ? Trong các khu vực khác của mặt trận, quân Đức âm mưu hoạt động ra sao?

        Một không khí vui vẻ, hào hứng tràn ngập khắp mọi nơi. Một trinh sát viên phấn khởi quá giơ tay nói:

        - Thưa đồng chí thiếu tá cận vệ, đồng chí có nhìn thấy quang cảnh trên đường cái hay không? Đồng chí bảo không phải là một cuộc biểu dương lực lượng hay sao ? Toàn những người là người ! Lại còn những khẩu pháo nữa chứ? Pháo ta chắc sắp "giọt” cho bọn Đức một trận nên thân, dù cho toàn châu Âu phải làm việc cho chúng, có phải không đồng chí ?

        - Gớm, hành quân đi rồi hành quân lại mãi, cuối cùng thế là chúng ta đã đến được đây. - Chuẩn úy Vô-rô-nhịn thở dài khoan khoái phát biểu rồi nói tiếp: -Thưa đồng chí thiếu tá cận vệ, như thế nghĩa là đã tới lúc được cầm lại con dao xén và cái búa rồi đấy nhỉ ?

        Ý nghĩ cầm lại con dao xén và cái búa của người thợ đóng giày thật không phù hợp với khuôn mặt của Vô-rô-nhin, người chiến sĩ trinh sát dũng cảm tột bực đã năm lần được tặng huân chương. Lu-ben-xốp mỉm cười, và lần đầu tiên kể từ ngày chiến tranh bùng nổ, anh vừa nhìn kỹ mặt từng người vừa liên tưởng tới nghề nghiệp của họ trước khi tòng quân.

        Đây, chàng "lực sĩ” Vô-rô-nhin trước là thợ đóng giày; kia Mi-tơ-rô-khin thợ đúc; Tri-bi-rép công nhân cắm tiêu trên sông Đnhi-ép; còn Ô-ga-nhe-xi-an, ăn mặc hơi luộm thuộm, hay cục nhưng cũng rất tốt bụng, trước là một nhà phê bình nghệ thuật; đại úy Me-séc-xki chưa có nghề nghiệp gì, trước ngày chiến tranh bùng nổ anh mới vừa tốt nghiệp ở trường phổ thông mười năm.

        Riêng Lu-ben-xốp, từ trước chiến tranh đến nay, vẫn chỉ làm một nghề: cán bộ quân sự chuyên nghiệp.

        -  Nào, các đồng chí, - Anh nói đùa để giấu bớt nỗi xúc động - cũng vì hiện nay các đồng chí vẫn còn là lính, chưa phải về làm thợ đóng giày, các đồng chí hãy cho tôi biết tình hình sư đoàn ta có gì mới không ?

        Vừa lúc ấy, bộ mặt nhăn nhó của thiếu tá An-tô-nhi-úc, phó ban trinh sát, hiện ra trong khung cửa. Đồng chí này thường đã không bao giờ tỏ ra tươi cười vui vẻ, bây giờ lại càng buồn thỉu.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2017, 04:54:01 am

        Anh không sao giấu nổi thất vọng. Thấy đồng chí chủ nhiệm có lệnh điều đi, anh đã hy vọng mình sẽ được đề bạt lên thay.

        Thiếu tá An-tô-nhi-úc thuộc lòng các điều lệnh và chỉ thị. Anh vào bộ đội đã lâu, có tư thế chỉ huy, đã từng ở kỵ binh và thường tự kiêu về điều đó. Anh đã theo học nhiều lớp huấn luyện chuyên môn và tự cho mình là một tay rất am hiểu về công tác trinh sát.

        Thái độ của anh đối với Lu-ben-xốp rất phức tạp. Dĩ nhiên không phải anh không công nhận những ưu điểm của thiếu tá cận vệ, nhưng có một số ưu điểm của Lu-ben- xốp mà người khác ca tụng thì theo anh lại là khuyết điểm. Chẳng hạn như anh không tán thành lối cư xử giản dị như bạn bè của Lu-ben-xốp đối với các chiến sĩ trinh sát. Anh lại cho việc Lu-ben-xốp nhờ Ô-ga-nhe-xi-an dạy tiếng Đức là một sai lầm : theo anh, dù cấp dưới có tài đi chăng nữa, cấp trên cũng không thể nhờ họ chỉ dẫn như thầy với trò được, Nói chung, anh cho rằng Lu-ben-xốp còn mang nhiều tính chất "thường dân”; mà đối với anh "thường dân” cùng một nghĩa với "khuyết điểm”. Ví dụ như anh rất coi thường đại úy Me-séc-xki khi được biết là đại úy hay lén lút làm thư.

        Lu-ben-xốp biết rõ tâm lý An-tô-nhi-úc. Thường anh chỉ bật cười, đôi khi cũng phát bực lên. Nhưng khi Lu-ben-xốp to tiếng thì An-tô-nhi-úc lại nhũn ngay. Theo nguyên tắc, An-tô-nhi-úc chỉ kính trọng những thủ trưởng nghiêm khắc. Lu-ben-xốp có nhận xét về anh: "Đối với anh ta nếu không hét to thì cấm chịu làm gì cả... Mà anh ta còn cho rằng đối với người khác cũng phải như thế

        Giơ đây, quá sung sướng vì đã tiến vào đất Đức, lại vì vừa được gặp lại Ta-nhi-a, Lu-ben-xốp không để ý tới nét mặt khó chịu của An-tô-nhi-úc. Anh chăm chú nghiên cứu tấm bản đồ có ghi những tài liệu về tổ chức phòng ngự của địch dọc con sông Cút-đớp. Anh em đứng vây quanh đồng chí thủ trưởng, say sưa hút huốc lá cuốn, chờ lệnh. Họ tin chắc rằng thiếu tá cận vệ, con người làm việc không bao giờ biết mệt mỏi ấy, sẽ có vô khối công tác để giao cho họ gánh vác. Thật thế, sau một hồi suy nghĩ, Lu-ben-xốp đứng dậy, đi đi lại lại, rồi nói :

        - Nào, các cậu, chúng ta chuẩn bị chiến đấu! Tôi định phái một đội trinh sát đi điều tra hệ thống phòng ngự của địch dọc con sông Cút-đớp... Những công sự của phòng tuyến phía đông nổi tiếng! Đồng chí Me-séc-xki hãy chuẩn bị người đi. Đồng chí sẽ chỉ huy anh em. Tôi lên báo cáo thiếu tướng. - Rồi anh quay hỏi đồng chí phiên dịch: - Hiện nay có tù binh không ?

        - Có.

        - Đã hỏi cung chưa ?

        - Mới hỏi ít thôi.

        - Đã hỏi chúng về phòng tuyến Cút-đớp chưa ?

        - Chưa. - Đồng chí phiên dịch thú thực.

        Lu-ben-xốp đưa mắt nhìn có vẻ khiển trách An-tô-nhi-úc nhưng không nói gì, rồi đội mũ lưỡi trai lên gặp thiếu tướng sư đoàn trưởng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Chín, 2017, 03:36:34 am
       
IV

        Trước nhà thiếu tướng xê-rê-đa ở đang có tiếng ồn ào tấp nập. Chắc có cấp trên đến. Một chiếc xe hơi và một chiếc xe bọc sắt có mang đại liên đỗ dọc hàng rào. Những sĩ quan tham mưu, nách cắp những cặp hồ sơ, nét mặt lo âu và hơi có vẻ sợ hãi nữa, cứ ra ra vào vào, bước đi vội vã. Một đồng chí sĩ quan nói thăm với Lu-ben-xốp:

        - Cậu có biết ai ở trong ấy không ? Đồng chí Xi-đô- crư-lốp đấy!

        Đúng thế, đích thân trung tướng Xi-dô-crư-lốp, ủy viên Hội đồng quân sự, đến thăm thiếu tướng sư đoàn trưởng. Lu-ben-xốp phân vân dừng lại, nhưng rồi vẫn cứ bước lên thềm nhà.

        Gian phòng ngoài chật những người. Ở đây có các sĩ quan giúp việc và các sĩ quan tùy tùng của đồng chí Xi-dô-crư-lốp, các chiến sĩ trong đội bảo vệ và các sĩ quan tham mưu của sư đoàn được triệu tập đến. Gian phòng thật yên tĩnh. Bên kia cánh cửa nghe có tiếng nói se sẽ.

        Không, tốt hơn là không nên vào gặp thiếu tướng sư đoàn trưởng ngay bây giờ. Lu-ben-xốp bèn tựa cửa nhẩm lại những vấn đề sẽ báo cáo trong trường hợp đồng chí đại diện Hội đồng quân sự gọi đến hỏi.

        Cửa mở rộng. Đại tá Plốt-nhi-cốp, chủ nhiệm chính trị sư đoàn bước ra bảo một sĩ quan:

        - Cho gọi Lu-ben-xốp.

        - Có tôi. - Lu-ben-xốp trả lời.

        - A, hay lắm, vào đây.

        Gian phòng rộng, tranh tối tranh sáng, hết sức im lặng, ở một góc cuối phòng, một người xương xương, mái tóc hoa râm, mang quân phục cấp tướng đang ngồi trên ghế dài, thiếu tướng Xê-rê-đa đứng nghiêm trước mặt. Một thiếu tướng khác, Lu-ben-xốp không quen biết, nhưng nhìn cấp hiệu có thể biết là một tướng chỉ huy xe tăng cùng hai đại tá đứng ngay cạnh.

        Lu-ben-xốp định lên tiếng, nhưng cảm thấy không khí căng thẳng và sư đoàn trưởng của anh chắc đang bị " quạt ”, anh thấy thương thương, bèn im lặng đứng nép bên tường.

        Tiếng đầu tiên anh nghe được là tiếng "xe tứ mã”.

        Anh ngạc nhiên lắng tai.

        - Phải, đi xe tứ mã nữa. - Đồng chí đại diện Hội đồng quân sư tiếp tục câu chuyện chắc là đang nói dở. - Người ta dùng đủ mọi phương tiện giao thông... Đồng chí Xe-rê-đa, hôm nay tôi đã phải hạ lệnh giữ lại ba cỗ xe thổ tả đầy ắp bộ binh của đồng chí. - Im lặng một lát, đồng chí dịu giọng và Lu-ben-xop cảm thấy giọng đó có vẻ thật tinh quai. - Kể ra cũng không phải chỉ riêng có lính của đơn vị đồng chí... - Rồi nhìn sát vào Xê-rê-đa, đồng chí nói gắt lên: - Sao đồng chí đứng mãi thế, ngồi xuống chứ!

        Thiếu tướng Xề-rê-đa liền ngồi xuống. Xi-dô-crư-lốp đứng dậy, vừa đi đi lại lại, vừa nói:

        -  Một cuộc tiến công đúng lúc và mau lẹ, đó là một điều hay, nhưng cũng không phải không có những mặt trái. Trong khi tiến công, có những người chỉ huy quá hăng hái đến nỗi thường quên mất kỷ luật. Đã thấy xuất hiện ở trong bộ đội một lối "ngang tàng” không phải chỗ, ra cái điều ta đây can trường đến như thế thì tha hồ muốn làm gì cũng được. Trên đất nước kẻ thù, hiện tượng đó rất dễ dẫn tới những hành động quá trớn. Các đồng chí đều hành động như những người say cả, vì cho rằng: " Chao ôi! mình đã tiến sang đến đất Đức rồi đây này... ”. Thế mà cái nước Đức ấy, cần phải đánh gục nó xuống như chúng ta đã từng đánh gục nó ở Vê-li-ki Lu-ki.

        " Mình được gọi tới làm gì nhỉ ? ” - Lu-ben-xốp tự hỏi. Anh hối hận về việc đã đi xe tứ mã, vì nay thấy việc đó quả là đáng trách. " Liệu trên có biết mình đã dính dáng vào vấn đề này không?”. Anh chăm chú nhìn đồng chí đại diện Hội đồng quân sự, người mà anh đã được nghe tiếng từ lâu nhưng lần này mới gặp mặt. Anh chú ý đến đôi mắt của Xi-dô-crư-lốp : đôi mắt sâu thẳm, thông minh và rất mệt mỏi.

        Biết là đồng chí sĩ quan trinh sát đã tới, Xi-dô-crư- lốp quay lại phía Lu-ben-xốp, nhìn anh từ đầu đến chân với đôi mắt rất sắc. Lu-ben-xốp đỏ bừng mặt nghĩ bụng: " Hay đồng chí ấy đã biết cái chuyện xe tứ mã rồi ? ”. Nhưng về vấn đề đó lại không sao cả.

        Trung tướng hỏi Lu-ben-xốp :

        - Đồng chí đi đêm khá chứ ?

        - Thưa đồng chí trung tướng, được ạ.

        - Thiếu tướng sư đoàn trưởng của đồng chí có nói với tôi rằng hôm nọ đồng chí có tới cơ quan tham mưu đơn vị xe tăng.

        - Thưa đúng như thế. Cách đây hai hôm.

        - Đồng chí sẽ dẫn tôi tới đó.

        Lu-ben-xốp lo lắng, phát biểu:

        - Có thể có những đơn vị lưu động của địch chiếm giữ khoảng cách giữa sư đoàn chúng tôi và đơn vị xe tăng. Mặt trận ở đây bị đứt quãng. Báo cáo trung tướng, tôi có thể đi một mình tới đó và đưa các đồng chí chỉ huy xe tăng về đây báo cáo. Tôi đi cũng chóng thôi.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2017, 08:45:34 pm

        Xi-dô-crư-lốp lại nhìn chằm chằm người sĩ quan trinh sát và nói, giọng có vẻ hơi châm biếm :

        - Đồng chí thiếu tá, tôi rất muốn theo lời khuyên của đồng chí, nhưng vấn đề lại phải như thế này: tôi muốn tự mình tới thăm các đơn vị xe tăng.

        Lu-ben-xốp bối rối, trả lời :

        - Báo cáo trung tướng, rõ !

        - Còn như những đơn vi lưu động thuộc đoàn Wehrwolf1 của địch, tôi thấy không đáng ngại. -

        Xi-dô-crư-lốp nói tiếp : - Quân Đức thường thích chấp hành mệnh lệnh trên đưa xuống hơn là tự mình xông xáo mạo hiểm. Còn những bọn thông minh hơn thì chúng hiểu xông xáo cũng vô ích. Đồng chí có bận không ?

        - Báo cáo tôi còn phải xin phê chuẩn kế hoạch trinh sát và lấy khẩu cung một số tù binh.

        - Một tiếng đồng hồ đủ chứ.

        - Báo cáo, đủ lắm.

        - Như vậy cho phép đồng chí một giờ - Trung tướng xem đồng hồ rồi đột nhiên quay lại hỏi đồng chí Xê-rê-đa : - A, con bé cháu đâu rồi ? Cháu vẫn còn ở đây với đồng chí đấy chứ ?

        Con gái thiếu tướng Xê-ra-đa năm nay mười ba tuồi; hầu như lúc nào em cũng sống sát bên cạnh cha. Mẹ em đã chết vì bom Đức ngay thời kỳ đầu chiến tranh.

        Lớn lên bên các chú bộ đội, giữa những trận chiến đấu, qua những giờ phút gay go gian khố, em cũng thông thạo các bản đồ quân sư, những đặc điểm của các vũ khí và điều mà thiếu tướng thường vui đùa nhắc đến, em đã dùng cuốn "Điều lệnh bộ binh, phần thứ nhất” để tập đọc.

        Trước kia thiếu tướng đã thư từ qua lại mãi với người em gái vợ về chuyện Vi-ca. Khi hai người đã đi đến hoàn toàn thỏa thuận thì cuộc tiến công trên sông Vít-xtuyn bắt đầu. Thế là đùng một cái mọi việc riêng đều tạm gác lại, và em bé Vi-ca đành ở lại sư đoàn.

        Vi-ca là một em bé thật khác thường, ốm yếu nhưng rất thông minh. Vốn có một trí nhớ đặc biệt, em thường hay nhắc cho thiếu tướng tên một số địa phương, các điểm cao trên bản đồ, các đơn vi pháo cùng các binh chủng khác phối thuộc sư đoàn. Một đôi lần trong lúc thảo luận với sư đoàn trưởng, các sĩ quan tham mưu quên mất địa điểm đóng quân của sư đoàn hồi năm ngoái, thì bé Vi-ca lại cất giọng nhỏ nhẻ từ góc nhà nói vọng ra. Em nói có vẻ tư mãn đáng tức cười :

        - Ba này, chỗ ấy ở ven rừng phía tây, cách Đa-đư- ba hai ki-lô-mét về hướng nam đấy.

        Thế nhưng, trong khi Vi-ca biết những điều tỉ mỉ không chút bổ ích gì cho em ấy, em lại không biết gì đến những điều cần thiết cho đời sống của các em bé gái cùng lứa tuổi với em.

        Một việc lạ lùng như vậy hẳn là mọi người phải biết: vì thế cho nên không lấy gì làm lạ nếu đồng chí đại diện Hội đồng quân sư biết có bé Vi-ca ở trong sư đoàn. Đồng chí nói :

        - Đồng chí cho gọi cháu tới đây.

        Thiếu tướng Xê-rê-đa lẳng lặng sang phòng bên gọi con.

         Vi-ca người nhỏ nhắn, nước da xanh, đôi mắt tròn xoe, mặc chiếc váy và chiếc áo ngắn vải ka-ki ; mái tóc đen của em cắt theo kiểu con giai, nét mặt nghiêm trang, hiền hậu. Trông bề ngoài lúc này em có vẻ rất bình tĩnh, nhưng thực ra lại rất hồi hộp, sự hồi hộp này chỉ biều hiện trên vài nét thoáng qua thôi mà Xi-dô-crư-lốp vẫn nhận thấy. Tinh lắm mới nhìn thấy vai trái em khẽ rung. Em lại gần đồng chí đại diện Hội đồng quân sự và tự giới thiệu :

        - Cháu là Vi-ca.

        Thấy Lu-ben-xốp, em mỉm cười chào. Nụ cười đó không lọt khỏi con mắt đồng chí Xi-dô-crư-lốp ; đồng chí kết luận rằng trong sư đoàn, người trinh sát này được tất cả mọi người có cảm tình.

        Trong thời gian Lu-ben-xốp trình bày kế hoạch trinh sát với tham mưu trưởng sư đoàn tại gian phòng bên, trung tướng Xi-dô-crư-lốp nói chuyện với bé Vi-ca. Trung tướng gọi em là "đồng chí” như gọi người lớn.

        - Đồng chí phải về Mát-xcơ-va học tập. Đánh nhau sắp xong rồi, phải nghĩ đến tương lai chứ!

        - Thưa bác, cháu muốn đợi chiếm xong Béc-lin cơ! - Vi-ca nghiêm trang trả lời: - Ở đấy chắc có bao nhiêu là chuyện hay đấy chứ ạ !

        - Không, đồng chí phải đi về ngay bây giờ!

        - Nhưng thưa ở đây cháu vẫn học tập đấy chứ ạ. Thiếu tá Ga-rin và trung úy Nhi-côn-xki vẫn dạy cháu học một ít đấy!

        - Một ít thôi ư? - Trung tướng hỏi lại - Một ít nghĩa là không nhiều.

----------------
        1. Đoàn phòng thủ chó sói, tên một đơn vị quân Đức - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Chín, 2017, 08:35:01 am
      
        - Cháu hiểu rồi. - Vi-ca bối rối trả lời - Nhưng đây chỉ là tạm thời thôi ạ.

        - Đồng chí ở đây có cản trở - gì ba đồng chí chỉ huy tác chiến không? - Đồng chí Xi-dô-crư-lốp vừa hỏi câu này vừa liếc nhìn thiếu tướng Xê-rê-đa.

        - Không đâu ạ, -Vi-ca trả lời - trái lại cháu còn giúp đỡ ba cháu kia - Vi-ca không nhìn ai cả, em mỉm cười buồn rầu. - Lúc nào ba cháu quên điều gì, cháu lại nhắc hộ đấy!

        Moi người phì cười. Xi-dô-crư-lốp vẫn nghiêm sắc mặt nói :

        - Đúng thế!... Rất tốt!... Nhưng dù sao, tôi vẫn yêu cầu đồng chí lập tức về ngay trung tuyến. Đấy đồng chí xem, đánh vận động như thế này, sở chỉ huy sư đoàn thường gặp những hoàn cảnh gay go... Có thề xảy ra nguy hiềm như trường hợp hai cha con đồng chí đã chạm trán với quân Đức lần trước. Có đúng như thế không?

        - Thưa đúng ạ, lần ấy ở đầu thành phố Su-bin.

        - Đấy đồng chí xem.

        Thiếu tướng Xê-rê-đa cười gượng bảo con:

        - Vi-ca, con hiểu rồi chứ ? Không còn cách nào khác, đó là mệnh lệnh của Hội đồng quân sự, phải chấp hành.

        Lúc này, Lu-ben-xốp đã thông qua xong bản kế hoạch trinh sát, quay về nhà. Anh chỉ thị cho An-tô-nhi-úc những việc cần làm. Rồi anh cùng Ô-ga-nhe-xi-an và Tri-bi-rép tới cái lán giam tù binh.

        Tù binh đang ngồi trên ổ rơm húp cháo. Trong lúc chờ cho chúng ăn xong, Lu-ben-xốp hỏi nhỏ đồng chí cần vụ :

        - Công việc thế nào ? Ngựa có được chăm sóc cẩn thận không?

        - Tốt lắm - Tri-bi-rép trả lời.

        Như mọi lúc, khuôn mặt vuông vắn của Tri-bi-rép vẫn kín đáo và tươi tắn. Tuy vậy, vốn hiểu khá rõ tính nết của anh, Lu-ben-xốp thừa biết anh đang có điều gì thắc mắc muốn hỏi. Quả vậy, Tri-bi-rép nói:

        - Kia kìa... Sao bảo là bọn Đức đói lép cả bụng kia mà ? Thế sao quanh đây, chúng lại còn vô số là bò, lợn nhỉ ? Thế là thế nào ?

        Lu-ben-xốp chẵm chú nhìn Tri-bi-rép. Thắc mắc đó không riêng gì của Tri-bi-rép mà là của chung anh em trinh sát. Thật thế! Lợn ủn ỉn, bò rống trong khắp các sân nhà của người Đức.

        Suy nghĩ một lát, Lu-ben-xốp giải thích:

        - Vấn đề này cũng phức tạp đấy. Lợn còn sống thì người ta không thịt. Mà dân Đức lại không được phép giết gia súc. Một tên tù binh bị bắt ở sông Búc khai với tôi như vậy. Nhìn qua, thì tưởng là súc vật nuôi để ăn thịt, nhưng nghĩ kỹ ra thì không phải để ăn thịt mà chính là kho dự trữ cho chiến tranh.

        Tri-bi-rép mơ màng suy nghĩ về ý nghĩa sâu sắc của câu trả lời. Sau đó anh nói:

        - Có lẽ thế thật. Như vậy bọn Đức còn có thể chống cự được đến mười năm nữa. Chúng nó còn tích trữ được khá nhiều lương thực và tất cả... Thì ra chúng thất bại không phải vì đói, cũng không phải vì những trận oanh tạc của Mỹ mà là vì sức mạnh của chúng ta.

        Thực ra Tri-bi-rép đã nói lên điểm mấu chốt của vấn đề; Lu-ben-xốp mỉm cười như có ý cảm ơn người cần vụ.

        Anh rất quý mến Tri-bi-rép mặc dù tính nết đồng chí này khá kỳ quặc. Nhắc đến người khác, Tri-bi-rép thường dùng giọng nói nửa khinh khỉnh, có vẻ như một viên quan tòa không ai vặn lý được bao giờ, khó mà ai moi được một lời khen ngợi của người chiến binh lầm lì và giàu óc suy nghĩ này.

        Tri-bi-rép nhận xét về Lu-ben-xốp : " Đấy thật là một con người”.

        Còn như về An-tô-nhi-úc, anh vốn không thích mà thâm tâm cũng không kính trọng gì nên anh cũng chỉ nhận xét vắn tắt: "Đấy không phải là một con người”.

        Đôi lần, anh em muốn trêu anh, nên hỏi ý kiến nhận xét của anh về người này hay người khác:

        - Này, Tri-bi-rép, theo cậu thì đó là con người hay không phải con người ?

        Tuy nhiên trêu chọc Tri-bi-rép là một chuyện khá nguy hiểm, bởi vì khi nổi nóng thì anh ta mất hết tự chủ.

        Ô-ga-nhe-xi-an điểm danh tù bỉnh.

        Lu-ben-xốp phát hiện ngay hai triệu chứng đáng chú ý. Thứ nhất là tù binh lần này thuộc nhiều đơn vị và doanh trại khác nhau ở tuyến sau: quân chủ lực, binh chủng chuyên môn, quân trù bị, cảnh vệ, tất cả xáo trộn với nhau, nói lên cả tình trạng rối loạn hoảng hốt trong quân đội Đức. Thứ hai là qua mấy tiếng đồng hồ bị bắt, quân Đức đã mất hết tư thế của con nhà binh đề trở lại nguyên hình con người cũ trước chiến tranh: viên chức, tiểu thương, thợ thỏ công, công nhân, nông dân. Đó là điểm căn bản khác hẳn với bọn tù binh bắt được ngày trước. Bọn kia dù bị giam vẫn còn giữ nguyên vẻ quân nhân.

        Hẳn chúng đều đã thấy rõ thất bại của nước Đức trong thời gian qua. Dĩ nhiên không phải đứa nào cũng như thế. Tên Hen-mút Su-áp-bơ thuộc sư đoàn 25 đã bị tiêu diệt, đôi mắt điên dại long lên sòng sọc, trả lời câu hỏi về triển vọng của chiến tranh như sau:

        - Trong những hầm mỏ tối om - Hắn nói giọng đầy tin tưởng, một ngón tay cáu ghét trỏ lên trời - người ta đang chế tạo những vũ khí bí mật cực mạnh... Những vũ khí đó sẽ cứu vãn nước Đức.

        Một tên Đức cao và gầy đứng sau hắn nói bằng tiếng Đức, lộ rõ thái độ căm hờn và khinh bĩ:

        - Er, ist ja verriickt, aber total verriickt, dieser Esel1!

        Thế là trong đám tù binh xảy ra một cuộc cãi lộn ngấm ngầm. Trong bọn chúng, cãi lộn như vậy chắc đã diễn ra luôn luôn.

        Lu-ben-xốp lấy làm hài lòng khi thấy tên Su-áp-bơ bị cô lập; đa số tù binh giễu cợt hắn, còn những têu khác thì giữ thái độ im lặng nặng nề.

        Về tình hình công sự trên phòng tuyến sông Cút-đớp, bọn tù binh chỉ được nghe đồn; nhưng những mẫu tài liệu vụn vặt ấy, Lu-ben-xốp cũng ghi lại và xếp vào hồ sơ.

        Một tiếng đồng hồ, thời gian mà đồng chí đại diện Hội đồng quân sự dành cho Lu-ben-xốp đi giải quyết công tác, đã sắp hết. Thiếu tá cận vệ để Ô-ga-nhe-xi-an tiếp tục lấy khẩu cung. Anh cùng đồng chí căn vụ tới chỗ sư đoàn trưởng. Ở đó, đang tấp nập chuẩn bị lên đường. Các chiến sĩ súng máy vội nhảy lên ngồi vào hai dãy ghế dài trên xe bọc sắt và cố nhích lại nhường một chỗ cho Tri-bi-rép.

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp ở trong nhà bước ra. Đưa mắt nhìn quanh một lượt, thấy Lu-ben-xốp, đồng chí gật đầu, bắt tay Xê-rê-đa và Plốt-nhi-cốp rồi bước ra xe hạ lệnh:

        - Lên đường!

        Lu-ben-xốp ngồi bên người lái xe. Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự cùng thiếu tướng xe tăng và đại tá sĩ quan tùy tùng ngồi ghế sau.

        Chiếc xe hơi nhẹ nhàng lắc lư, chạy trên đường nhựa. Tới chỗ đường vòng, xe hơi đuổi kịp cỗ xe tứ mã đang từ từ lăn bánh.

        Lu-ben-xốp liếc trộm đống chí đại diện Hội đồng quân sự. Trung tướng đang lim dim đôi mắt. Xe ô tô vượt qua cỗ xe " bất hạnh ” kia. Lu-ben-xốp đoán là vẫn cỗ xe tồi tàn của Trô-khốp. Nhưng chưa dám chắc hẳn vì xe ô tô phóng nhanh quá và trời đã bắt đầu xẩm tối.

------------------
        1. Đồ con lừa này, điên rồi, hoàn toàn điên rồi !


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Chín, 2017, 11:13:24 pm

V

        Đúng, vẫn là cỗ xe tứ mã ấy. Bấy giờ chỉ còn Trô- khốp và đồng chí người Xi-bê-ri có bộ ria hung hung làm nhiệm vụ đánh xe. Các bạn đường khác ngay từ sáng sớm đã phân tán ai về đơn vị nấy.

        Trô-khốp hút thuốc lá, vẻ mặt rầu rầu. Thoáng nhìn thấy Lu-ben-xốp trong chiếc xe du lích to lớn, anh bỗng cảm thấy khó chịu. " Lại cái anh thiếu tá này... Chuyên môn " lên lớp ”... Thứ đó thì ai chả biết tỏng... ”. Trô- khốp không thể quên được cái hất tay có vẻ khinh khỉnh của Lu-ben-xốp cũng như mấy câu nói chọc tức trước mặt một người phụ nữ xinh đẹp. Anh nghĩ bụng : " Đúng là một anh chàng vô duyên, một tên núp kín ở hậu phương... Lúc nào cũng cười được... Lại cứu bọn Đức nữa... Đồ công tử bột! ”.

        Trung đoàn mà Trô-khốp định tới ở ngay gần đó. Khỏi quãng đường vòng đầu tiên là làng có sở chỉ huy trung đoàn đóng.

        Trô-khốp giục :

        - Nhanh lên cậu !

        Đồng chí có bộ ria hung hung quất ngựa chạy.

        Sở chỉ huy trung đoàn đóng trong một ngôi nhà rất dài, mái ngói nhọn hoắt. Trước nhà có ba cầy sồi cổ thụ, cành lá rườm rà. Trô-khốp để xe đỗ lại dưới gốc sồi, chững chạc bước qua trước mặt đồng chí gác đang ngạc nhiên trước cỗ xe kỳ quái, rẽ đám liên lạc, thư ký, cần vụ, kẻ ngồi, người đứng ra, rồi bước vào một gian phòng nhỏ. Một thiếu tá, người nhỏ bé đang nói điện thoại. Người thư ký và người chiến sĩ điện thoại ngồi trước bàn.

        Vẻ mặt ngang tàng, Trô-khốp nhanh nhẹn giơ tay lên mũ chào:

        - Báo cáo, tôi, đại úy Trô-khốp tới nhận công tác dưới quyền đồng chí.

        - ... Nàv, Ve-xen-tra-cốp, - Thiếu tá vẫn nói như thét vào máy - đồng chí phải tìm cách chiếm cái làng ấy đi ! Địch bắn thì có làm sao? Đồng chí tưởng là chúng nó phải cử nhạc đón đồng chí chắc ?

        Thiếu tá đặt ống nghe xuống và nói với người phụ trách máy nói:

        - Gọi cho tôi " Li-li-a ”1. Thử xem đóa hoa trắng này ra sao nào ?

          Mật danh của đơn vị - N.D

        Rồi quay lại Trô-khốp, thiếu tá xem giấy tờ và hỏi:

        - Thế nào ?

        Trô-khốp nghĩ bụng : " Cái anh lật bật này hay nhĩ! Có vẻ là tham mưu trưởng trung đoàn chắc ?

        Thiếu tá hỏi :

        - Đại đội trưởng ư ?

        - Báo cáo, đúng.

        - Đồng chí giữ chức vụ đó lâu chưa ?

        - Hai năm rồi.

        - Kể cũng lâu đấy nhỉ.- Thiếu tá nói và xua tay ra hiệu bảo người giữ máy nói hãy khoan nói chuyện với " Li-li-a ” rồi hỏi thêm : - Lý do gì thế đồng chí ?

        Trô-khốp nhìn chằm chằm thiếu tá với đôi mắt xám khó hiểu và quả quyết như một người thợ lặn nhìn cây mọc ở dưới đáy biển. Anh trả lời :

        - Tôi không rõ!

        Thiếu tá mĩm cười:

        - Lạ nhỉ, thế thì ai rõ ?

        - Cấp trên.

        Thiếu tá hừ một tiếng rồi qua phòng bên.

        - Ai đấy ? - Trô-khốp hỏi người thư ký với một giọng cộc lốc và hách dịch.

        - Đồng chí tham mưu trưởng trung đoàn.

        - Này cậu, anh chàng tốt đấy chứ nhỉ !

        - Đồng chí nói ai kia ? Thiếu tá ấy à ? - Người thư ký sửng sốt trước câu hỏi sỗ sàng về thiếu tá Mi-gai- ép, tham mưu trưởng trung đoàn đã được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô - Đồng chí đó rất tốt...

        Ở phòng bên về, thiếu tá nói chuyện ngay với đóa hoa trắng " Li-li-a ” rồi bảo người thư ký :

        - Đại úy Trô-khốp sẽ chỉ huy đại đội 2. - Đồng chí vừa chợt chú ý nhìn thấy cỗ xe tứ mã ở sau cửa số nên hỏi luôn : - Cái xe ngoài kia là thế nào nhỉ ?

        Trô-khốp đáp :

        - Cỗ xe ấy của tôi.

        Mi-gai-ép phá lên cười:

        - A, đồng chí định đóng vai hoàng tử nào đấy ! Thôi vứt cái xe cà khổ ấy lại thôi! Đồng chí sẽ phụ trách một đại đội bộ binh không cơ giới hóa cơ mà... À, nên nhớ trung đoàn đang thiếu một tiểu đoàn trưởng, nếu công tác khá, sẽ đề bạt đồng chí.

        Trô-khốp đáp :

        - Tôi không yêu cầu đến thế.

        - Thôi đi, cậu này thật kỳ quặc ! - Thiếu tá làm ra vẻ giận dữ.

        - Vâng thôi được. - Trô-khốp buồn bã đáp lại rồi nhanh nhẹn đưa tay lên mũ một cách rất ngang tàng, quay đằng sau, bước ra.

        Lúc anh mở cửa phòng, Mi-gai-ép hỏi với theo :

        - Ít ra đồng chí cũng phải biết đại đội 2 ở đâu đã chứ ?

        - Tôi sẽ tự tìm lấy. - Trô-khốp đáp lại và đi ra.

        Trô-khốp quê ở vùng Nốp-gô-rốt. Cha mất sớm, anh lớn lên bên cạnh mẹ già trong một ngôi nhà ở mãi cuối thành phố. Người anh cả làm việc tại một công xưởng ở Lê-nin-grát. Chiến tranh bùng nổ giữa lúc Trô-khốp mười chín tuổi. Anh vừa tốt nghiệp ở một trường sư phạm ra và yêu cô láng giềng Va-ri-a, người thiếu nữ có mái tóc nâu nhạt, đôi mắt trong sáng, cùng học một trường với Trô-khốp và định kỳ khai trường năm 1941 sẽ đi dạy học. Còn Trô-khốp thì định lên Lê-nin-grát ở với anh và thi vào đại học.

        Chiến tranh làm đảo lộn tất cả các kế hoạch của anh. Trô-khốp lấy ván bịt kín cửa sổ ngôi nhà nhỏ thân yêu, từ biệt người yêu và cùng với mẹ đi ra ga.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Chín, 2017, 10:51:08 pm

        Tới Lê-nin-grát, anh được gọi ra nhập ngũ ngay. Ngày nào Va-ri-a cũng biên thư cho anh; rồi quân Đức chiếm Nốp-gô-rốt; thư từ đứt liên lạc. Trô-khốp được điều lên mặt trận Ca-ren-xki. Thế là chiến đấu liên tục. Ngay từ những trận đầu, Trô-khốp đã tỏ ra bình tĩnh và gan dạ. ít lâu sau anh được cử về học trường sĩ quan.

        Học chưa được bao lâu thì học sinh đã được tung vào trận Muốc-man-xcơ. Tuy vậy Trô-khốp vẫn được phong sĩ quan và chỉ huy một trung đội. Anh bị thương nặng.
Một năm sau, khi anh đã đổi lên mặt trận tây bắc, qua báo chí anh mới biết tin cô giáo Va-ri-a, trinh sát viễn của một đội du kích, đã bị quân Đức treo cổ tại phố Lê-nin trong thành Nốp-gô-rốt.

        Rồi lại một tin từ Lê-nin-grát cho biết mẹ anh đã bị chết đói giữa mùa đông; cũng không rõ mộ bà cụ ở chỗ nào, vì bà cụ chết giữa đường và đã được người qua lại chôn cất. Người anh cả của Trô-khốp chết trong một trận máy bay địch ném bom thành phố: một quả bom đã rơi trúng xưởng máy anh làm việc.

        Cả nhà còn lại một mình Trô-khốp.

        Bấy nhiêu tang tóc trút liền xuống mái đầu xanh, gây nên một phản ứng mãnh liệt, khiến cho Trô-khốp trở nên một con người căm phẫn đến cực độ. Chiến đấu đã trở thành lẽ sống, thành nội dung chủ yếu của cả đời anh. Anh chỉ nói đến chiến đấu, không nghĩ tới chuyện gì khác. Dần dà về sau, anh lại lấy làm hãnh diện vì không còn gia đình. Anh luôn luôn tự nói: " Ồ, ta, ta chỉ có một mình.”. Những lúc các chiến sĩ nhận được thư của gia đình hay bàn tán với nhau về chuyện nhà cửa, người vui vẻ, kẻ buồn, người thở dài, kẻ than vãn, thì Trô-khốp nhìn họ với một vẻ kiêu kỳ, thương hại, tưởng như những thứ tình cảm gia đình ấy đã làm cho họ trở nên hèn kém và yếu đuối.

        Vào chiến đấu, anh xông xáo như mãnh hổ. Lòng căm thù của anh đối với quân Đức, ngay cả với tù binh, đã trở thành điển hình trên cửa miệng mọi người. Cấp trên tha thứ cho anh nhiều điểm cũng vì tinh thần dũng cảm của anh, và vốn biết rõ nỗi đau khổ của anh, các đồng chí đều có ý thương; tuy vậy, cũng vẫn phải chú ý ngăn ngừa những hành động quá nóng của anh. Trái với mọi quy tắc, lúc nào anh cũng dẫn đầu các chiến sĩ xung phong; cũng bởi vây mà anh thường không nắm được toàn đại đội.

        Đó chính là lý do khiến cho Trô-khốp ở cương vị đại đội trưởng lâu đến thế. Tuy bề ngoài anh làm như không quan tâm đến vấn đề đó, nhưng thâm tâm rất khó chịu. Với thái độ buồn bã, anh ở chỗ thiếu tá Mi-gai-ép đi ra, tiến lại bên cỗ xe tứ mã.

        Các chiến sĩ đứng vây kín lấy cỗ xe, ngạc nhiên ngắm nghía và cũng thấy hơi buồn cười. Đồng chí chiến sĩ có bộ ria hung hung giải thích cho mọi người biết sự xếp đặt của cỗ xe theo như lời Lu-ben-xốp đã nói. Câu châm ngôn la tinh anh nhớ được như thế này: " Vì lòng tin, vì hoàng đế và Tổ quốc”.

        Thấy Trô-khốp lại lên đường, đồng chí đó chào để đi, vì sư đoàn của đồng chí đóng quá về phía bên trái. Đồng chí lại nhắc lại câu đã nói với thiếu tá cận vệ lúc buổi sáng:

        - Chúng ta lại gặp nhau ở Béc-lin, phải không đồng chí?

        Trô-khốp đáp lại:

        - Trước hết phải làm sao sống được đến ngày đó đã chứ!

        Đồng chí kia khoác túi dết lên vai và bước đi đề "sống cho đến ngày đó”.

        Trô-khốp hỏi các chiến sĩ:

        - Có ai về tiểu đoàn 1 không đấy ?

        Có đồng chí liên lạc ban tham mưu tiểu đoàn và thêm một chiến sĩ điện thoại của trung đoàn đi theo. Trèo lên xe, hai đồng chí này vui vẻ rún rẩy trên chiếc ghế đệm bông bọc vải xa tanh. Cái đầu hươu trạm trên cánh cửa chưa đóng chặt, cứ lắc la lắc lư như sợ hãi những người lính nước ngoài đang chiến thắng tiến vào đất nước đoàn quân nổi tiếng của Phrê-đê-rích Đại đế1.

Gian nhà của thiếu tá Ve-xen-tra-cốp, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 ở phía đầu làng. Đồng chí đã được biết có đại đội trưởng mới được điều tới, Mi-gai-ép có gọi điện thoại báo cho biết. Có lẽ Mi-gai-ép cũng đã nhắc qua một vài đặc điểm kỳ dị về cá tính của đồng chí đại úy hùng hổ này. Dù sao, tiểu đoàn trưởng cũng không hỏi gì về cỗ xe tứ mã mà đồng chí đã nhìn thấy từ đằng xa.

        Ve-xen-tra-cốp tầm vóc cao lớn, người hơi thô, mặt rỗ. Trái lại, quân phục rất cẩn thận, chỉnh tề: chiếc cổ áo giả rất sạch, đôi ủng bóng như gương.

        Anh đã có vợ. Dọc đường, Trô-khốp đã được nghe đồng chí cần vụ kề chuyện về chị Gla-sa, vợ đồng chí tiểu đoàn trưởng này.

--------------------
        1.Tên một vua Đức rất thiện chiến ngày trước - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Chín, 2017, 08:51:21 pm

        Người ta vẫn gọi Gla-sa là mẹ hiền của tiểu đoàn 1 kể cũng có lý. Chị là y tá của tiểu đoàn. Sạch sẽ là một tính kỳ cục của chị, nhưng cái tính kỳ cục ấy còn giấu kín một ý nghĩa gì quan trọng hơn mà anh em không tìm được tên để gọi.

        Tư khi lấy vợ, Ve-xen-tra-cốp phải chịu đựng nhiều nỗi phiền phức. Vấn đề Gla-sa - Ve-xen-tra-cốp đã phải đưa ra bàn ở một cuộc họp của đảng ủy trung đoàn. Giữa thời chiến, nhất là trong khung cảnh một tiểu đoàn bộ binh, xây dựng gia đình là trái nguyên tắc. Dù sao người ta cũng chiếu cố cho đôi vợ chồng này.

        Thiếu tá Ga-rin, trợ lý giáo dục của phòng chính trị tập đoàn quân đã xuống nghiên cứu, nhưng cũng thấy không thể cắt đứt được cuộc tình duyên này, vì họ yêu nhau thật sự. Mối tình chân chính đó, toàn tiểu đoàn đều thấy rõ.

        Ga-rin có mạn đàm với đồng chí tiểu đoàn phó phụ trách công tác chính trị và đồng chí phụ trách đảng vụ. Bến đây vấn đề đã rõ ràng: đối các sĩ quan không thể nới lỏng nguyên tắc được. Chiến tranh là chiến tranh; hai người phải sống xa nhau ra. Nhưng Ga-rin lại thấy rằng làm như vậy là bất công. Dây tuyệt nhiên không phải là một mối tình nảy nở "dọc đường” mà là một mối tình trong sạch, chân thật. Sau một đêm nghiên cứu kết quả điều tra, đồng chí không viết báo cáo gì hết và quay về phòng chính trị sư đoàn. Dồng chí nghĩ bụng là cứ để thế, khi cuộc tiến công mở màn, người ta sẽ bỏ qua vấn đề đó. Cũng vì vậy mà việc ấy vẫn kéo dài.

        Mặc dù Gla-sa vắng mặt nhưng xung quanh đồng chí tiểu đoàn trưởng, người ta vẫn thấy sạch sẽ, trật tự, ngăn nắp, nghĩa là có bàn tay người nội trợ.

        Lát sau Gla-sa tới.

         Chị có khổ người to lớn, hai mươi bảy tuổi, có đôi chân chắc nịch, mái tóc tơ vàng rối chải hất về sau gáy, mặt cũng hơi rỗ hoa như Ve-xen-tra-cốp, đôi má đầy đặn, hồng hào.

        Nhưng cứ nhìn đôi mắt của con người hộ pháp này, thì sẽ thấy biểu hiện một lòng tốt hiếm có. Cứ nhìn cái miệng xinh xắn, đôi má hồng hồng lúm đồng tiền kia, người ta sẽ không chú ý đến chỗ Gla-sa thiếu duyên dáng nữa. Trên khuôn mặt thể hiện một điều còn quý hơn sắc đẹp: đó là một tâm hồn cao quý.

        Đó là điều Trô-khốp đã nhận thấy, tuy không thật rõ nét lắm.

        Gla-sa lăng xăng bên Trô-khốp, kể chuyện cho anh nghe như với một người quen biết từ lâu, rằng chị lục lọi cả buổi chiều trong hiệu thuốc Đức thấy nhiều thứ thuốc tốt và một kho đầy băng gạc. Chị rất lấy làm thú vị đã khám phá được nhưng thứ đó vì tiểu đoàn quân y1 còn tụt lại phía sau khá xa.

        Chị phát biểu về dân Đức: ” Nhà họ rất sạch. Nhưng tâm địa họ rất bẩn. Sao mà họ khiếp chúng mình đến thế! Thật là có tật giật mình”.

        Tiểu đoàn vừa chiếm xong một làng lớn, bắt được hai xe tăng Đức còn nguyên vẹn và khoảng một chục chiếc xe vận tải hiện đang đỗ trước ngôi nhà của tiểu đoàn trướng. Địch rút lên một đồi cây rậm; ở đó, chúng rót súng cối vào vị trí ta. Cứ năm phút lại một loạt tiếng nồ ầm trời. Đạn súng cối nổ ngoài cánh đồng, lúc bên phải, lúc bên trái. Mỗi lần đạn nổ, Ve-xen-tra-cốp lại lẩm bẩm như đe dọa một kẻ địch vô hình:

        - Mày cứ đợi đấy... Sáng mai chúng ông sẽ bắt mày câm họng...

        Trô-khốp nửa phát biểu, nửa hỏi :

         - Đánh bật chúng khỏi khu rừng đó, đồng chí thấy thế nào ?

        Ve-xen-tra-cốp trả lời:

        - Anh em mệt lắm rồi, đã ba đêm không ngủ... để cho họ nghỉ. Đồng chí có thể trở về đại đội của đồng chí được đấy. Kia kìa, trong xóm bên kia sông ấy. Ở đầu làng, về phía bắc. Sẽ có người chỉ đường cho đồng chí! Đại đội đồng chí quân số không nhiều đâu, các trung đội trưởng đều đã thương vong. Để bù lại, đã tăng cường cho các đồng chí một đại đội pháo chống tăng và một đại đội phóng bom. về hỏa lực thì khá đủ đấy.

        Gla-sa dặn dò Trô-khốp :

        - Đồng chí nên chú ý cho anh em đêm ngủ cởi giày ra nhé... Và cần tìm cách cho họ tắm rửa. - Chị nhìn Ve-xen-tra-cốp như cầu khẩn.

        Tiểu đoàn trưởng lắc đầu, nói :

        - Gớm, lại chuyện tắm với rửa của cô. Bây giờ anh em cần ngủ hơn là tắm với táp.

        Trô-khốp lên đưòmg.

        Anh quất mạnh roi làm cho bầy ngựa của " ngài nam tước ” phóng nước kiệu băng qua lạch nước. Nước ngập tới bụng ngựa và ướt cả dãy ghế bọc xa tanh.

        Ngay trước cổng làng, gần chiếc cầu nhỏ đổ sụp, xác một chiến sĩ Nga vùi nông dưới đất, trong tấm áo ca-pốt xám, đôi mắt còn ngước lên như nhìn bầu trời tàn nhẫn.

        Đây là người chiến sĩ Nga hy sinh đầu tiên mà Trô-khốp nhìn thấy trên đất nước Đức. Số phận thật bi thảm : băng qua biết bao dặm đường đầy thiếu thốn gian khổ, đánh bao nhiêu trận, để rồi gần tới đích, lại ngã xuống. Như mọi thanh niên khác, Trô-khốp liên tưởng ngay đến bản thân mình, biết đâu chẳng cùng chung số phận.

-----------------------
        1.Tức là quân y sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Chín, 2017, 05:01:25 am

VI

        Tuyến phòng ngự của quân Đức trên sông Vít- xtuyn mạnh hơn mọi nơi khác. Ai từng tác chiến đều hiểu rõ một đại đội bộ binh sau khi phá vỡ một phòng tuyến như vậy sẽ như thế nào. về sau truy kích địch, đại đội không còn để chịu những tồn thất nặng nữa: thường thì đã bị thương vong hoặc đau ốm. Sức chiến đấu ngày càng giảm đi mà nhiệm vụ của đại đội vẫn như cũ, tính theo quân số đầy đủ. Giờ đây mỗi một chiến binh phải gánh vác nhiệm vụ của sáu người. Không một ai chịu rớt lại sau hay ốm nằm xuống nữa. Sát thương được những chiến binh ấy không phải là chuyện dễ. Họ đã trở nên bất tử.

        Nói như vậy không có nghĩa là những người còn sống sót là những chiến sĩ ưu tú. Họ cũng giống như những bạn đồng đội đã từng sát cánh chiến đấu với họ và giờ đây đã bị thương vong. Nhưng, thừa hưởng được những kinh nghiệm chiến đấu quý giá, họ đã trở thành những chiến sĩ ưu tú.

        Đại đội 2 gồm chừng hai mươi chiến sĩ bất tử ấy. Quân số sở dĩ ít ỏi như thế còn do những điều kiện riêng biệt: vì khi chọc thủng phòng tuyến địch, trung đoàn đã tiến công ở đầu cánh phải của tập đoàn quân hay đúng hơn của cả mặt trận; tất nhiên các chiến sĩ không hề biết điều đó. Bên kia sông, một phương diện quân khác đang tiến lên, nhưng ngay sau đó các đơn vị này lại được lệnh chuyển hướng lên phía bắc. Vì vậy trung đoàn -  trong đó có đại đọi 2 - khi tiếp tục tiến lên thì bị hở sườn bên phải. Trung đoàn bị đại bác địch trong khu pháo đài Mốt-lin tập kích, đồng thời lại bị tổn thất thêm vì hỏa lực của quân địch đang rút lui.

        Tuy không phải là lần đầu tiên đi tác chiến, Trô-khốp vẫn không khỏi bực mình khi thấy quân số của đại đội trao cho anh quá ít. Anh nghĩ thầm mỉa mai: " Mình được đề bạt chỉ huy một tiểu đội ”.

        Các chiến sĩ thản nhiên nhìn kỹ thủ trưởng mới của mình, con người vừa hiên ngang vượt qua lạch nước trên cỗ xe kỳ dị. Điều làm cho họ chú ý nhất là nét mặt cương quyết, đôi mắt xám lạnh lùng và tất cả điệu bộ đầy vẻ tự mãn của đại đội trưởng.

        - Các trung đội trưởng đâu ? - Trô-khốp hỏi các chiến sĩ đứng tập hợp hàng ngang trước mặt, làm như anh chưa biết gì về quân số của đại đội.

        Đồng chí chuẩn úy, người cao lớn, giơ tay lên vành  mũ báo cáo không chút do dự :

        - Báo cáo đồng chí đại úy, không có. Chỉ còn tôi, quản lý đại đội và hai tiểu đội trưởng: thượng sĩ Xli- ven-cô và trung sĩ Gô-gô-bê-rít-đê. Thiếu úy Bác-xúc, trung đội trưởng cuối cùng đã bị thương, rời mặt trận trong trận đánh chiếm thành phố Brông-béc. Binh nhất Xê-mi- gláp phụ trách cấp phát thực phầm đại đội. Bí thư chi bộ là thượng sĩ xli-ven-cô. Tôi, chuẩn úy Gô-đu-nốp... báo cáo !

        Trô-khốp lạnh lùng ra lệnh: " Các đồng chí cởỉ giày và đi ngủ”.

        Nhưng không phải mọi người đều đi ngủ. Binh nhất Xê-mi-gláp, hai mươi tuổi, xúc động trước sự kiện vĩ đại là đã tiến vào đất Đức, nên không tài nào nhắm được mắt.

        Chiều hôm qua, Xli-ven-cô đã tổ chức một cuộc mít tinh ngắn nhưng rất sôi nổi để chào mừng sự kiện đó. Xê-mi-gláp rất cảm động. Mít tinh xong anh ở lại một hồi rất lâu trong xưởng sửa chữa ô tô phía đầu làng tìm được chiếc giũa vác ra giũa thử. Ở đấy ra, anh thở dài, nhìn hai bàn tay mình có vẻ không vui lòng rồi tâm sự vói Xli-ven-cô:

        - Quên sạch rồi... Tôi quên hết nghề thợ nguội rồi. Bậc ba cũng không được nữa.

        Xli-ven-cô an ủi:

        - Khi quay về nghề, cậu lại quen đi chứ... Lúc đầu vào lính, cậu chẳng bỡ ngỡ hay sao ? Ấy thế mà bây giờ thì thật như con hùm xám ấy? Còn như nghề thợ nguội rồi cậu sẽ quen thôi!

        Xê-mi-gláp bực bội vì đôi tay anh quá vụng về. Anh buồn bã lang thang trong làng, vào chơi các nhà. Sau khi tới thăm các pháo thủ và các chiến sĩ súng cối, anh báo tin có đại đội trưởng mới về. Trong một gian nhà hoang, anh tìm thấy một bộ quân phục lính SS1 mới toanh có đính chiếc chữ thập sắt. Trở về đại đội, anh báo cáo với đại úy.

        Đại úy ra lệnh: " Đốt gian nhà ấy đi ”.

------------------------
        1. Bộ đội hiến binh xung kích của Hít-le - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Chín, 2017, 10:47:52 pm

        Xli-ven-cô trợn mắt ngạc nhiên nhưng bình tĩnh phát biểu:

        - Đốt nhà ngay bây giờ tức là chiếu sáng cả làng, lộ mục tiêu, chỉ làm lợi cho quân địch.

        - Hừ, đồng chí sợ chủng nó à ? - Trô-khốp hỏi lại, mặt sầm xuống nhưng cũng không nhắc lại việc đốt nhà nữa.

        Được Xê-mi-gláp báo tin, các cán bộ pháo kéo đến; có đồng chí đội trưởng pháo chống tăng và trung úy chỉ huy súng cối. Họ báo cáo với đại đội trưởng tình hình "gia đình” họ, nghĩa là đơn vị họ, theo tiếng lóng của con nhà lính. Đạn dược hiện rất ít, tất cả chỉ còn một nửa cơ số; các đoàn tiếp vận lên chậm quá. Trên hứa sáng mai sẽ có.

        Làng xóm tắm mình trong ánh trăng. Số đông anh em thiêm thiếp ngủ. Riêng các đồng chí gác ngồi nép mình trong góc chiến hào phía ngoài làng, kẻ ở cạnh súng máy, người ở bên pháo chống tăng. Họ đưa mắt theo dõi đường viền lờ mờ của những cây cối và bụi rậm, thu lu trong ống tay áo điếu thuốc lá cuộn to tướng. Thỉnh thoảng bên ta mới trả lời súng cối của địch: đề tiết kiệm đạn mà.

        Sau khi tiễn các cán bộ pháo binh ra về, Trô-khốp vào nghỉ trên cái giường do chuẩn úy Gô-đu-nốp sửa soạn giúp. Mấy đồng chí tụ tập ngoài sân thì thầm bàn tán về đại úy mới.

        Trung sĩ Gô-gô-bê-rít-dê, người cao, mặt sạm nắng gió, có điểm bộ ria đen vểnh nhọn lên, phát biểu trước:

        - Ông này trông có vẻ cương quyết lắm đấy!

        - "Vua húc” đấy nhé! - Xê-mi-gláp tiếp thêm.

        Tất cả nhìn Xli-ven-cô: ý kiến đồng chí bí thư đối với họ rất quan trọng. Nhưng đồng chí này không muốn nhận xét quá hấp tấp nên chỉ nói:

        - Thời gian sẽ trả lời.

        Nhân dip đại đội trưởng mới tới, Gô-đu-nốp quyết định tổ chức một bữa liên hoan. Anh đã lên tiểu đoàn xoay xở lĩnh được ba mươi suất rượu trắng, tính theo quân số của đại đội tám ngày trước đây. Thấy dưới nhà để xe có đàn gà mái của chủ nhà bỏ chạy để lại, anh ra lệnh cho chiến sĩ Pi-tru-ghin:

        - Bắt lấy ba con và đem quay lên. Nhưng cẩn thận đấy, không được bắn gà đâu nhé, kẻo ầm lên làm mất giấc ngủ của đại úy nhà ta (anh gọi "đại úy nhà ta” nghĩa là đã công nhận đại úy như người thân trong đại đội rồi).

        Làm gà xong, chuẩn úy vào đánh thức Trô-khốp:

        - Báo cáo đại úy, đã chuẩn bị xong bữa ăn chiều.

        Trô-khốp giật mình nhổm dậy và xỏ chân vào ủng. Khi được biết gọi dậy để làm gì, anh lại tháo ủng, định từ chối nhưng nhìn thấy con gà quay và rượu trắng trong chiếc bình pha lê - tay chuẩn úy này quả là sành -  anh mới chợt nhớ ra là cả ngày hôm nay chưa có tí gì vào bụng. Anh bèn ngồi vào bàn.

        Bên kia bức vách, các chiến sĩ ngáy vang. Ngoài đường, không lúc nào ngớt tiếng chân người, tiếng hỏi của các đội tuần tra. Trong làng, nhan nhản lính thông tin, công binh, tải thương. Có tiếng xe cộ lọc cọc : đạn dược trên trung đoàn đã chuyển tới.

        Ba đồng chí trinh sát sư đoàn đóng ở gian nhà bên cạnh bước vào. Họ vừa được thay phiên ở đài quan sát bố trí trên nóc một vực thóc, phía đầu làng. Bây giờ họ về tìm lửa sưởi.

        Có tiếng gõ cửa. Một đội trinh sát khác của sư đoàn xuống, do đại úy Me-séc-xki chỉ huy. Hai đại úy tư giới thiệu với nhau. Sau khi hỏi tin tức mấy đồng chí trinh sát có nhiệm vụ theo dõi tình hình địch, Me-séc-xki nói :

        - Này, các cậu biết chưa, thiếu tá cận vệ đã về rồi đấy. - Và anh ân cần giải thích cho Trô-khốp nghe : -  Đồng chí đó là thủ trưởng của chúng tôi. Trên định cử đồng chí ấy về Viện hàn lâm quân sự, nhưng đồng chí ấy xin tiếp tục công tác.

        Cũng nên nhắc lại rằng đại úy trinh sát Me-séc-xki rất lịch sự và nói năng như có sách vậy. Đối với Trô-khốp, lịch sự là thứ đồ trang sức vô ích trên mặt trận. Nhưng anh cũng phải chịu đựng cách cư xử của Me-séc-xki, mặc dù anh không quen với cách đó, chỉ vì đồng chí này là trinh sát; chả là anh vốn rất mến phục những người trinh sát.

        Sưởi đỡ rét rồi, Me-séc-xki và đội trinh sát đứng lên. Được biết đội trinh sát sẽ tiến vào hậu phương địch, Trô-khốp hỏi Me-séc-xki:

        - Đồng chí cũng đi à ?

        - Nhất đinh có chứ.

        Trô-khốp bước ra cửa, đưa mắt nhìn theo đội trinh sát cho đến lúc khuất bóng họ mới thôi. Thượng sĩ Xli-ven-cô, bí thư chi bộ đại đội đang đứng dưới sân.

        Trô-khốp nói:

        - Đồng chí gác đấy à ?

        - Báo cáo đại úy, không. Chỉ vì tôi không tài nào ngủ được. - Im lặng một lát, anh nói tiếp: - Báo cáo đại úy, con gái tôi ở bên kia kìa.

        - Ở đâu?

        - Báo cáo tôi cũng không rõ... chỉ biết cháu nó bị bắt sang Đức thôi. Hôm qua từ khi phòng chính trị thông báo cho biết là chúng ta đã tiến "vào đất Đức thì tôi không tài nào nhắm được mắt nữa. - Anh cười khà một tiếng như để xin lỗi về tình cảm yếu ớt của mình - Tôi thực cũng ngớ ngẩn, không hiểu sao tôi lại cứ có cảm tưởng như là cháu nó ở trong một cái trại hay trong một làng nào chỉ cách đây độ nửa ki-lô-mét thôi.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Chín, 2017, 01:07:15 am

        - Nước Đức thì rộng lắm.- Trô-khốp nói.

        - Cũng biết thế đấy, nhưng cũng không tài nào ngủ được. Hôm nay một người Đức bảo tôi có nhiều thiếu nữ Nga làm việc trong một cái trại gần đây. Làm cho một tên địa chủ. Tư đây đến đấy thẳng đường lắm. Đồng chí đại úy, xin cho phép tôi thử "nhót” đến đó một tí xem sao, cho nó đỡ thắc mắc thôi mà.

        Hai người vào trong nhà, Trô-khốp nhìn bản đồ. Cái trại cách đay chừhg hai ki-lô-mét về phía đông bắc:

        - Khó quá! - Trô-khốp nói - Để đồng chí đi một mình thì không được; mà cử người cùng đi thì quân số đại đội hiện còn ít quá... Nghe nói ở đây địch có hoạt động theo kiểu du kích...

        Xli-ven-cô cười có vẻ khinh bỉ:

        - Thưa đồng chí đại úy, làm gì có chuyện ấy! Tôi không bao giơ tin được bên chúng nó lại có du kích. Chẳng thằng Đức nào dám nhận làm cái nghề ấy đâu. Óc chúng vẫn hay suy tính, chúng biết rằng trứng không thể chọi với đá được, vả lại, đồng chí bảo chúng nó phục  kích ở chỗ nào được. Rừng thì thưa mà đường cái thì thẳng tắp. Đồng chí đừng lo, cứ để tôi đi một mình...

        Câu nói chắc đã suy nghĩ kỹ lưỡng làm cho Trô-kbốp xiêu lòng. Tuy còn lưỡng lự nhưng anh cũng đồng ý để đồng chí bí thư đi.

        Xli-ven-cô khoác khẩu tiểu liên, đút hai quả lưu đạn vào túi, cười gượng nói:

        - Đồng chí đại úy, xin cảm ơn đồng chí. Đồng chí đừng nói gì cho họ biết nhé. - vừa nói, anh vừa trỏ sang gian phòng anh em nằm ngủ... - Chỉ một tiếng sau là tôi về thôi - Rồi anh kết luận một câu bằng tiếng U-cren: -  Kể cũng phiền thật: bí thư chi bộ gì mà tồi như mình thế này!

 
        Anh chào đại đội trưởng theo lối quân sự rồi đi. Trô-khốp định vào giường nằm thì cửa mở rộng, đại úy Me-séc-xki, quần áo lấm bê bết, lao vào hỏi:

        - Máy nói của các đồng chí đâu ? Tôi có một tin quan trọng cần báo cáo về sư đoàn. Địch đang rút chạy. Tôi vừa bò lên sát tiền duyên của chúng. Tụi nó đang cuốn gói rồi. Tôi cả quyết như vậy.

        Tin chuyển qua ban tham mưu tiểu đoàn, rồi lên trung đoàn và sư đoàn.

        Cả sư đoàn cựa mình tỉnh giấc, nhưng coi bộ còn ngái ngủ.

        Trô-khốp đánh thức anh em. Mọi người như không nhấc nổi mình lên nữa vì mệt mỏi. Tiết trời lạnh buổi sớm làm cho ai nấy đều co ro.

        Trô-khốp hỏi Me-séc-xki:

        - Đồng chí lại lên ngay trên ấy chứ !

        - Vâng, trên ấy đang đợi tôi. Thôi, chào đồng chí đại úy!   

        Một lần nữa, Trô-khốp lại ngạc nhiên trước cử chỉ lễ độ thường xuyên của người trinh sát. Tiễn Mec-séc-xki ra sân, anh còn đứng lại một lúc lắng tai nghe tiếng chân người đi mỗi lúc một xa. Sau đó anh quay trở lại đại đội. Anh em đã tập hợp đông đủ.

        Các chiến sĩ bước ra khỏi cổng nhà. Đường làng đã đầy những người, ngựa, xe cộ. Tiếng bánh xe ngựa lọc cọc, tiếng ô tô chạy rầm rầm, tiếng cà mèn chạm nhau lách cách.
XLI-VEN-CÔ đi dọc theo lề đường cái rải nhựa, nện mạnh gót giày đinh, mỗi bước đi xa là niềm hy vọng gặp con gái ở ngay trong cái trại kia lại tăng thêm một ít trong lòng anh.

        Thực ra, lòng anh lúc này đang rất thắc mắc. Một mặt anh tin chắc sẽ gặp con, mặt khác anh lại tự nói với mình : "Này Xli-ven-cô ơi! anh thật là lạ lùng, anh dám tin chắc rằng Ga-li-a ở trong cái trại ấy ư ? Một người thợ mỏ già như anh, hơn bốn mươi tuổi đầu, lại đã từng trải đây đó nhiều rồi mà dám đinh ninh rằng trên đất nước kẻ thù có đến hàng ngàn vạn trại ấp, thôn xã lại có thể tìm ngay thấy con gái anh hay sao ?... Thôi, tốt hơn hết là quay về đơn vi, đi ngủ đi thôi... ”.

        Nhưng, Xli-ven-cô vẫn cứ nhất quyết bước đều. Anh nghĩ đến Ga-li-a. Năm đich tràn tới, nó mới có mười sáu tuồi đầu, vừa học hết lớp 7. Ga-li-a là một thiếu nữ xinh đẹp, vóc người thon cao, nước da ngăm ngăm. Nhưng điều mà anh cho quý nhất ở con gái mình là óc tinh tế, hơi châm biếm, tuy nhiên trước mặt người lạ thì lại trầm lặng kín đáo, đặc tính của lứa tuổi cô. Xli-ven-cô thích trò chuyện với con gái, vì qua những lần nói chuyện anh thương phát hiện thêm những đức tính mới của con: hiểu người, giàu nghị lực và có những biệt tài khác. Anh cố gắng kìm bớt tình thương con quá đáng và giữ một thái độ khá nghiêm khắc đối với con. Anh tự trách mình rất nhiều là đã hay cáu gắt con, bây giờ anh cho cáu gắt như thế là bất công. Còn gì hồ đồ hơn là lại giận dữ khi được biết con gái mình và Vô-lô-đi-a yêu nhau. Vô-lô-đi-a là một anh chàng rất tốt, rất hoạt bát, sau đã hy sinh ngoài mặt trận.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Chín, 2017, 12:17:55 am

        Khi làn sóng chiến tranh tràn tới vùng mỏ Đôn-bát, Xli-ven-cô xin gia nhập tiểu đoàn gồm toàn đảng viên cộng sản, chịu trách nhiệm chống giữ quân Đức trước thành Xta-li-nô. Anh bị thương, và đang đêm được xe ô tô chở tới một viện quân y.

        Tất nhiên khi lành vết thương, anh rất có thể báo cáo anh là thợ mỏ, vì hậu phương đang cần nhiều thợ mỏ, như ở Ca-ra-gan-đa chẳng hạn, và như thế, anh sẽ được miễn tòng ngũ. Không phải là anh muốn giấu nghề chuyên môn, anh chỉ im lặng không đả động gì tới. Vì chưa biết gì về quân sự, anh tưởng rằng mình dễ được điều về nơi anh mong muốn tha thiết: thành phố Vô-rô-si-lốp ; và rồi anh sẽ đánh đuối hết quân Đức ra khỏi vùng Đôn-bát thân yêu. Nhưng, thất vọng bao nhiêu ! Anh lại bị điều về một đơn vị pháo cao xạ bố trí trong một làng Ca-dắc hẻo lánh, có để kho chứa dầu xăng. Giữa những đêm thu, trên cánh đồng cỏ, đưa mắt lo lắng quan sát bầu trời mênh mông, Xli-ven-cô lại thả tâm hồn bay về phương tây, về hầm mỏ, về ngôi nhà xinh xắn của anh. Tuy nhiên, cuối cùng anh cũng đã yên tâm khi nghĩ rằng mỗi người đều có nhà cửa, quê hương và, tất cả mọi người sát cánh chiến đấu cho Tổ quốc đồng thời cũng là chiến đấu cho nhà cửa, quê hương riêng của mình.

        Đến ngày miền Bôn-bát được giải phóng, bi thương lần thứ hai (lúc này anh đã chuyền sang bộ binh), anh có dịp về phép. Bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà thân yêu, anh đứng lặng hồi lâu rồi mới ôm hôn ”bu nó” của anh ngay giữa nhà. Anh không hiểu vì sao ”bu nó” cứ khóc lóc thảm thiết mãi, nhưng anh cũng cảm thấy lờ mờ nguyên nhân. Anh không dám hỏi nhưng đồng thời lại cũng hiểu rằng đây là do chuyện Ga-li-a; Ga-li-a vắng nhà, cho nên không khí trong nhà có vẻ lạnh lẽo, trống trải.

        Rồi bà con làng xóm kéo tới. Khi đã hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, anh cố an ủi "bu nó” của anh và tất nhiên với một nụ cười gượng gạo, anh hứa với chị một khi tới đất Đức thế nào anh cũng tìm thấy con gái, mặc dù "bu nó” của anh không tin nhưng cũng không nói gì, chỉ đành khẽ sụt sịt khóc.

        Giờ đây anh đang bước trên đất Đức rồi. Mà hãy còn sống! Và nghe nói con gái chỉ ở cách đây có một ki-lô- mét. Anh bước gấp hơn. Anh cố xua đuổi một ý nghĩ chua xót vẫn ám ảnh anh: " Con gái mình thì đẹp. Thanh niên nào thấy nó mà chẳng chú ý? Ai chẳng muốn cười với nó ? Khốn khổ, một con bé như vậy mà bị tù đày à ? Mà lại sống trong tay bọn Đức...

        Đến trại đây rồi. Một ngôi nhà lớn, bốn bề có tường đá bao bọc chẳng khác gì tường pháo đài. Chiếc cổng to vò giống cổng một tòa thành cổ. Cánh cổng làm bằng những tấm ván dày có ghép gióng sắt, đóng kín mít.

        Xli-ven-cô đá vào cánh cổng, gọi to :

        - Mở cổng !

        Tiếng chó sủa ầm ĩ, hung tợn.

        Tiếng chân người bước vội ra cổng, rồi lại bỏ đi. Xli-ven-cô lấy báng súng nện vào cánh cửa đùng đùng :

        - Có mở cổng ra không ? Ta là chiến sĩ Nga đây !

        Tiếng chân người đi lại hấp tấp hơn. Không phải một mà là nhiều người. Cuối cùng một giọng nói rụt rè hỏi ra bằng tiếng Đức :

        - Was wủnschen Sie1.

        - Vinchenzie, vinchenzie. Mở ra mau, đã bảo mà !

        Cổng mở.

        Trước mặt Xli-ven-cô, một người Đức già lão, gầy còm, tay xách đèn.

        Quá trong có hai bóng người nép bên cửa chuồng ngựa. Đột nhiên, hai bóng đó giơ tay lên thong thả tiến lại phía Xli-ven-cô. Đó là hai tên lính Đức. Chúng nói :

        - Kaput !2.

        - Tất nhiên rồi, kaput. - Xli-ven-cô đáp lại.

        Tự nhiên theo kinh nghiệm chiến đấu, anh nói vọng thật to ra phía ngoài cổng, tiếng anh vang lên trong đêm khuya tĩnh mich :

------------------
        1. Ông muốn gì.

        2. Xin hàng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Chín, 2017, 09:34:18 pm
       
        - Các đồng chí hãy đợi tôi một lát!

        Làm như thế để địch tưởng có đông người. Nhưng thực ra làm như thế cũng do thói quen nhiều hơn là để dọa bọn lính Bức.

        - Chỉ có zwei1 ? - Anh chỉ tay vào từng thằng một, hỏi.

        - Zwei, zwei, nur zwei2. - ồng cụ già lằm bẳm.

        Xli-ven-cô, cầm ngang tay súng, hạ lệnh:

        - Ọuay đằng sau, bước !

        Hai tên lính Đức hiểu. Chúng quay đằng sau, đi qua chiếc sân rộng ngổn ngang phần súc vật, rơm rạ và những xe bò.

        Bốn người bước vào tòa lầu đài. Tới gian phòng xép, Xli-ven-cô hạ lệnh: "halt”3, một khẩu lệnh mà các chiến sĩ Nga đều biết.
       
        - Vũ khí đâu? - Anh vỗ tav vào báng súng hỏi -  Cái này để ở đâu?

        Một tên lính trả lời bằng tiếng Ba Lan :"Nic nie ma”.

        Tên thứ hai giải thích :"Nix waffen, weggeschmissen” và ra hiệu ném đi.

        - Vất đi rồi... - Xli-ven-cô tự dịch lấy.

        Lúc này, cách tốt nhất để tránh phiền phức là quạt cho hai tên lính Đức cao lớn này một băng tiểu liên. Nhưng Xli-ven-cô không thể hành động như vậy, chẳng phải vì sự cấp trên đã có lệnh cấm giết ẩu đâu, nói cho cùng có làm cũng chẳng ai biết kia mà. Không, anh không hành động như vậy chỉ vì làm như vậy là trái với nguyên tắc của anh.

        Anh đến bên một chiếc cửa, đẩy mạnh. Anh gọi lão già xách đèn tới soi thấy trong buồng có một bếp lò lớn, nền nhà lát gạch hoa và có những xoong đồng. Hai cửa sổ đóng chặt. Anh chỉ cho hai tên lính gian nhà bếp. Chúng vội vã bước vào. Đóng cửa xong anh chỉ lỗ khóa nói:

        - Khóa lại.

        Lão già hấp tấp chạy ra ngoài, bước chân nện thình thich trên cầu thang, vọng tới những gian phòng vắng tận cuối nhà. Cuối cùng lão ta mang đến một chùm chìa khóa và khóa cửa bếp lại.

        Xli-ven-cô lúc này mới hỏi :

        - Người Nga ở đây đâu rồi ?

        Lão già không hiểu, đứng im không nhúc nhích, cái đầu nhỏ như đầu chim, tóc đã bạc, ngoẹo trên vai. Và lúc đã nghe ra câu hỏi, lão ta há mồm kêu oang oác, tay làm hiệu liên hồi:

        - Weg, weg, weg !4

        Đi rồi. Chúng đã đuổi đi xa hơn nữa, về phía tây rồi.

        - Còn thằng chủ của mày đâu ? Thằng chủ ? Tên nam tước ấy, nó đâu ? Hay tên bá tước ?

        Chắc lão già đã hiểu, lại ra hiệu :

        - Weg, auch weg !5...

        Lão ta lúc này có vẻ ngộ nghĩnh, giậm chân thình thịch có ý nói: "Trốn rồi, cuốn xéo rồi ! ”.

        - Còn mày, mày giữ nhà cho nó à ? - Xli-ven-cô hỏi - Thôi được cứ giữ... Còn vợ mày đâu, con cái đâu ? Kinder ?6.

        Lão già đi trước dẫn đường, Xli-ven-cô theo sau. Họ ra khỏi tòa lâu đài. Cuối sân, một túp lều dựa trên một bức tường chẳng khác gì chiếc tổ én.

        Hai người bước vào trong nhà. Xli-ven-cô nhìn thấy mấy cái mặt đàn bà nhăn nhó, sự hãi. Một bà già và ba đứa con gái.

        Một niềm thích thú ranh ma nghẹn trào đến cổ Xli- ven-cô. Anh chấm chú ngắm nghía ba đứa con gái Đức một hồi lâu rồi lầm bầm trong mồm :

        - Thế đấy, thiểu nữ Nga weg, russ Kinder weg7, đã đi về đằng kia, phía tây... Còn deutsch Kinder8, phải đi lại đằng này, phía đông, đi, đi...

---------------------
         1. Hai.

         2. Hai,  hai,  chỉ có hai thôi.

         3. Đứng lại

         4. Đi rồi, đi rồi, đi rồi.

         5. Đi rồi, cũng đi rồi !

         6. Trẻ con ?

         7. Đi rồi, trẻ con Nga đi rồi.

         8. Trẻ con Đức.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Chín, 2017, 09:36:24 pm
         
        Anh rất ngạc nhiên. Mấy đứa con gái Đức rất hiểu sự so sánh đó,- nhưng chúng lại coi như là một mệnh lệnh. Sau khi nói với mẹ mấy câu, chúng bắt đầu chuần bị ra đi. Tuy nhiên chúng cũng không hoang mang gì lắm. Ba đứa xếp quần áo vào một bọc. Người mẹ cũng không khóc lóc gì. Cảnh tượng này ý nói lên rằng bọn họ cho làm như thế là công bằng thôi. Trước kia người ta đã đuổi người Nga thì bây giờ đến lượt người Đức. Chỉ có đứa con gái út vẫn run lên, mặc dù đã cố hết sức trấn tĩnh, vì sợ rằng thái độ bất mãn vô lý của nó sẽ làm "ông người Nga ” tức giận. Rồi cả ba đứa đứng im, chờ đợi.

        Thật là một cảnh tượng đáng thương; Xli-ven-cô lúc này đã hiểu, nên phá lên cười. Chỉ có một con người có tấm lòng vàng mới có thể có được tiếng cười hiền hậu quá như vậy. Những người con gái Đức cũng hiểu như thế. Họ vừa kinh ngạc, vừa hy vọng nhìn người chiến sĩ Nga. Anh xua tay bảo :

        -  Nix Sibérie 1... Thôi, đi đâu thì đi!

        Anh tự trách mình sao lại quá hờ hững với ý nghĩ trả thù thế! Anh dẹp tắt câu chuyện vui vẻ của ba người con gái Đức. Họ vội đứng im. Anh tự nhủ: " Chúng đã đầy đọa con gái anh, tàn phá nhà anh, mà anh còn đi thương chúng à ? ”.

        Anh nhìn những bàn tay to lớn đỏ mọng của họ, những bàn tay quen việc đồng áng vất vả. Và nói thực là thâm tâm anh cũng thấy thương thương: " Không phải những người con gái này đã đuổi con ta đi! Không phải những người con gái này đã hại chúng ta!

        Bị day dứt vì những ý nghĩ miên man đó, đồng chí thượng sĩ quay trở về đại đội, áp dẫn theo hai tên lính Đức vưa bắt được.

        Đại đội đã chuyển quân.

        Sư đoàn bộ đã đến đóng trong làng. Anh em thông tin vừa căng dây điện, vừa ngáp dài và chửi thầm. Một anh nói:

        - Đến đây mà chúng nó còn bỏ chạy. Ngay trên đất nước của chúng nó... Không hiểu đến đâu chúng nó mới dừng lại ? Quân chó thật, không còn để cho người ta ngủ nữa?

        Xli-ven-cô giao hai tên tù binh cho anh em trinh sát hiện đã đóng trong ngôi nhà mà đại đội 2 đóng trước đây hai tiếng đồng hồ. Với dáng điệu bình tĩnh, ung dung của người chiến binh có kinh nghiệm biết chắc mình thế nào cũng đuổi kịp đơn vị, anh đi về phía tây tìm trung đoàn.

        Một chiếc xe hơi của phòng chính trị sư đoàn vừa đến. Đó là xe của đại tá Plot-nhi-cốp và thiếu tá Ga-rin. Đại tá trông dáng người đi đường, nhận ra đấy là một đồng chí bí thư chi bộ đại đội, nên cho dừng xe lại:

        - Lên đây, tôi sẽ đưa đồng chí về đơn vị.

        Xli-ven-cô trèo lên, ngồi cạnh thiếu tá Ga-rin. 

        - Nhân dịp tiến vào đất Đức, đồng chí có tổ chức nói chuyện trong đơn vị không ?

        - Báo cáo đại tá, có. - Xli-ven-cô trả lời và tiếp thêm: - Tôi đã chuẩn bi giới thiệu kết nạp ba đồng chí vào Đảng, vậy mà đến nay vẫn chưa thấy Hội đồng xét duyệt.

        - Khó quá, chả còn một lúc nào để xét nữa. - Plốt- nhi-cốp nói như để xin lỗi - Đồng chí xem! Không một lúc nào quân ta ngừng tiến công. Khó thế đấy! - Nói rồi đồng chí nở một nụ cười cởi mở thật hồn hậu.

        Im lặng một lát, Xli-ven-cô hỏi:

        - Thưa đồng chí đại tá, còn bọn Đức, ta xử trí với chúng thế nào ?

        Plốt-nhi-cốp đưa con mắt ngạc nhiên nhìn Ga-rin rồi hỏi lại Xli-ven-cô:

        - Thế ý kiến của đồng chí thế nào ?

        Xli-ven-cô vuốt bộ ria đen, thong thẫ trẫ lời:

        - Theo tôi, cần xử trí với họ bình tĩnh hơn. Ý tôi muốn nói đối với những người thường dân Đức. Coi như họ không phải là người Đức... mà như là những người nào khác thôi.

        Plốt-nhi-cốp bật cười:

        - Lý lẽ đúng lắm! - rồi quay lại nói với Ga- rin: - Đồng chí thấy không, lý lẽ chắc nịch đấy chứ nhỉ! - Giọng nói của đại tá hạ thấp xuống như không muốn để Xli-ven-eô nghe thấy lời khen đó. Rồi lại quay về phía đồng chí bí thư chi bộ: - Đồng chí nói đúng. Đồng chí cần phải giữ vững điều đó.

        Tới đây, Plốt-nhi-cốp nói với Ga-rin về vấn đề của Ve-xen-tra-cốp và Gla-sa. Trên quân đoàn yêu cầu có kết luận dứt khoát. Ga-rin, sùi cả bọt mép, cố sức trình bày rằng chia rẽ đôi vợ chồng yêu nhau đằm thắm ấy thật là vô lý.

        - Tất nhiên ho cũng đáng thương! - Đại tá nói - Nhưng dù sao đồng chí cũng phải cố nghiên cứu để đi đến kết luận đi.

        Rồi đại tá đột ngột quay sang hỏi Xli-ven-cô:

        - Đồng chí lên sư đoàn bộ làm gì thế ?

        - Tôi giải tù binh tới. - Và để cho đúng sự thực, Xli-ven-cô nói thêm : - Và, cũng để đi tìm đứa con gái nữa.

        Thấy đại tá nhìn như muốn hỏi thêm, anh nói tiếp, để thanh minh :

        - Thưa chính là con cháu tôi đấy ạ. Nó hiện ở đây, trên đất Đức này. Nó bị bắt từ Đôn-bát sang. Nhưng trong cái trại ấy bây giờ chẳng còn ai nữa. Chúng đã bắt dẫn đi xa hơn nữa, về phía tây.

        Đôi mắt đại tá Plốt-nhi-cốp tự nhiên trở nên lơ đãng, buồn buồn. Đồng chí không nói gì, chỉ nhìn ra bên đường.

        Trong bóng sương mù buổi sớm, ngựa, xe, người nối tiếp nhau kéo về phía tây. Người ta gặp một xe bưu điện chở thư cho binh sĩ ; mấy chiếc xe vận tải đã dỡ xong đạn dược giờ quay trở lại. Tuyết tan lác đác rơi. Những cành cây trụi lá rung rinh. Những tấm vải bạt choàng trên vai các chiến sĩ bị gió thồi căng lên bay phần phật như những cánh buồm.

        Mọi người lặng lẽ tiến bước. Có tiếng súng máy nổ ngay gần đầu đây. Tới một ngã ba đường, Xli-ven-cô xin xuống. Xe ô tô rẽ sang phải đi về phía trung đoàn bộ. Anh nhảy xuống, chào đại tá và thiếu tá, rồi đi về phía có tiếng súng máy đang khạc đạn một cách điên cuồng.

----------------
        1.Không đi Xi-bê-ri


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2017, 09:34:39 pm

VIII

        Khi cỗ xe tứ mã của Trô-khốp đã lùi xa lại phía sau, thiếu tá cận vệ lại quay về phía trung tướng. Xi- dô-crư-lốp ngồi im, mắt nhắm chặt, Lu-ben-xốp nghĩ thương thương : " Chắc mệt ghê lắm rồi ”. Vừa lúc ấy trung tướng mở mắt, ngẩng đầu lên với một dáng điệu không hiểu là giận dữ hay gân guốc, rồi quay hỏi thiếu tướng bộ đội xe tăng ngồi bên:

        - Đồng chí đi từ U-ran đến đây bao lâu rồi ? Trước câu hỏi bất ngờ, thiếu tướng giật mình, trả lời:

        - Mới có bốn hôm. Chúng tôi nhậu xong vũ khí, khí tài thì lên tàu ngay.

        - Thế ra hành trình có bốn ngày thôi à ?

        - Vâng.

        Người sĩ quan xe tăng, nét mặt hớn hở, nói thêm :

        - Theo lệnh đồng chí Xta-lin, người ta đã tổ chức cho chúng tôi "con đường xanh".

        Xi-dô-crư-lốp tươi nét mặt, bỗng quay lại hỏi Lu- ben-xốp:

        - Thiếu tá, đồng chí có hiểu "con đường xanh” là gì không?

       Lu-ben-xốp dang hai tay ra tỏ vẻ không hiểu. Xi-dô-crư-lốp giải thích:

        - Đó là một chặng đường sắt có cắm liên tiếp những ngọn đèn báo hiệu màu xanh, ở mỗi ga lớn có những chiếc đầu xe lửa mở máy chờ sẵn. Thay đầu máy xong các đoàn tàu lại lao theo dọc rặng đèn báo hiệu màu xanh, cho tới ga sau lại có chiếc đầu máy khác chờ sẵn. Như thế là suốt cả chặng đường, không có lấy một ngọn đèn đỏ, không đỗ lại một lần nào - con đường đi hoàn toàn tự do. Tổ chức khoa học lắm đấy chứ hả?

        Thiếu tướng xe tăng kiêu hãnh bổ sung thêm :

        - Những nhân viên kiểm tra máy móc cứ thi nhau chạy dọc các toa tàu. Bảo là một chuyến xe lửa ư ? Không phải, một chuyến máy bay đấy ! Đó là lệnh đồng chí Tổng tư lệnh. Cho đến hây giờ tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên và thú vị!

        Chung quanh im lặng, trước mặt ô tô nối tiếp nhau lướt qua những làng mạc hoang vắng, rộn tiếng chó sủa, tiếng bò rống, tiếng gió thổi giật từng cơn, chìm trong cơn mưa tuyết. Một lát sau, xe tiến vào một thị trấn nhỏ với những đường phố hẹp lát đá, những ngôi nhà hai tầng mái ngói cao vút. Xi-dô-crư-lốp hỏi:

        - Còn đội hộ vệ ? Có đi chậm quá không ?

        Đồng chí sĩ quan tùy tùng nhìn lại sau, chưa thấy chiếc xe bọc sắt đâu. Xi-dô-crư-lốp nói:

        - Chúng ta chờ vậy.

        Đồng chí lái xe cho xe đỗ lại trên một quảng trường nhỏ. Xi-dô-crư-lốp mở cửa, bước xuống. Tất cả đều xuống theo. Đồng chí nhìn quanh rồi cất to giọng:

        - Có lẽ đây là khu vực sư đoàn Vô-rô-bi-ốp.

        Lu-ben-xốp hết sức chú ý, để mắt ngắm nghía quảng trường mờ tối và đường viền của những ngôi nhà: Ta- nhi-a công tác ở sư đoàn đại tá Vô-rô-bi-ốp; vì vậy cái thị trấn nhỏ chìm trong đêm tối này lại làm Lu-ben-xốp phải đặc biệt lưu ý mãi.

        Thực ra, cũng chỉ là một thị trấn rất bình thường, buồn tẻ, đầy những tiếng rì rầm, xào xạc trong đêm trường. Trong các sân nhà có tiếng ngựa hí, tiếng chân người, tiếng thì thầm của anh em bộ đội và tiếng hô của các đội tuần tra.

        Trung tướng Xi-đô-crir-lốp, nét mặt đăm chiêu, đi đi lại lại dọc hè phố; tiếng chân bước mạnh mẽ của đồng chí cứ nện vang vang trên nền cái quảng trường vuông vắn nhỏ hẹp này. Cuối cùng, đồng chí dừng lại trước một bức tượng xây giữa quảng trường. Đồng chí bấm đèn pin soi thì thấy trên chiếc bệ đá có một con phượng hoàng bằng gang giương cánh bay, phía dưới có mấy chữ số: "1870-1871” khắc sâu vào đá, nằm giữa hai cành nguyệt quế bằng sắt uốn vòng cung.

        Thiếu tướng tắt đèn. Bóng tối lại dày đặc. Đồng chí nói:

        - "Nhớ ơn các chiến sĩ thắng trận Xơ-đăng”. Thật là một thị trấn bé nhỏ mà rất kiêu ngạo...

        Ở chỗ ngoặt của đường phố có ánh đèn pha chiếu sáng rực. Chiếc xe bọc sắt tiến đến, trong khoảnh khắc ánh đèn xe chiếu sáng quảng trường, cái mái nhọn của tòa thị chính, cái máy nước nhỏ đầy tuyết phủ và cơn phượng hoàng bằng gang. Rồi đèn tắt. Bóng đồng chí trung úy chỉ huy đội tiểu liên hộ vệ hiện ra trong đêm tối. Lu-ben-xốp nhậu thấy khuôn mặt của Tri-bi-rép sau lưng trung úy.

        Trung tướng hỏi:

        - Liệu chúng tôi có đi nhanh quá không ?

        Trung úy đáp :

        - Đi chậm lại một chút thì tốt hơn!

        - Được, cứ như thế. - Trung tướng nói.
Tất cả mím cười, trừ trung úy. Còn rất trẻ, trung úy thấy như không thề cười được khi phải gánh vác một nhiệm vụ quan trọng, vả lại, câu trả lời "Được, cứ như thế” khó hiểu, lửng lơ làm trung úy chưa thỏa mãn. Đồng chí vẫn đứng nghiêm đợi chờ ý kiến rõ rệt hơn.

        Xi-dô-crư-lốp liền nói :

        - Bây giờ chúng ta đi chậm hơn.

        Tất cả lên xe. Máy nổ.

        Bỗng nhiên Xi-dô-crư-lốp nói:

        - Đồng chí nào nghiện có thể hút thuốc lá được.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2017, 09:35:27 pm
       
        Đồng chí thiếu tướng xe tăng và đồng chí đại tá sung sướng lấy thuốc ra châm hút. Qua ánh lửa thuốc lá và ánh đèn của chiếc đồng hồ chỉ ki-lô-mét, Lu-ben- xốp quay về phía sau lại nhìn thấy đồng chí đại diện Hội đồng quân sự mắt lim dim đang suy nghĩ điều gì hoặc đang ngủ gà. Nhưng không, đồng chí không ngủ. Một phút sau đồng chí lại cựa mình và nói như tiếp tục một câu chuyện bỏ dở :

        - Dù sao, người Đức vẫn tin lời tuyên truyền của bọn Hít-le. Các đồng chí trông các làng mạc mà xem : không còn một bóng người. Đài phát thanh của chúng kêu la rầm rĩ về cuộc xâm lăng khủng khiếp của quân Nga, kêu gọi dân chúng chạy trốn về phía tây. Thế là dân chúng kéo nhau đi. Tình báo của ta cho biết nhiều tin chi tiết kinh khủng về cuộc chạy tháo thân đó. Chết đói, chết rét. Rõ ràng là Hít-le định lôi cuốn thêm ít ra là nửa số dân nước Đức cùng với nó sang bên kia thế giới. Thật giống như một tên chúa của những người dã man thời xưa, bắt chôn người sống theo với nó, để xuống suối vàng có người hầu hạ...

        Im lặng một lát, đồng chí nói:

        - Bây giờ chúng ta lại đi trên đất Ba Lan rồi đây !

        Xe lướt trên con đường ướt át, để lại những vết bánh xe hằn rõ khía lốp. Hoa tuyết quay cuồng trước ánh đèn pha, tựa như bị ánh sáng đón bắt bất thình lình nên vội hốt hoảng bay đi, để rồi lại có những bông hoa tuyết khác liên tiếp tới thay thế. Lu-ben-xốp dán mắt nhìn ra ngoài, chỉ sợ qua mất chỗ rẽ. Anh rất thuộc đường nhưng lần trước lại đi ban ngày ; còn buổi tối, mọi vật đều như đã đổi khác, hoàn toàn mới lạ nữa. Không có đường rẽ nào cả ; thế mà tính đúng ra thì đường rẽ phải ở quãng này : qua cái nhà thờ nhỏ, vượt qua một chòm cây rồi rẽ ngay tay phải. Vậy mà sao chẳng thấy nhà thờ, chòm cây nào cả. Anh liếc nhìn đồng hồ chỉ ki-lô-mét: xe đã chạy sáu mươi tám ki-lô-mét rồi : lúc xuất phát, như thường lệ Lu-ben-xốp đã ghi lại con số trên đồng hồ này. Anh lo lắng nghĩ : "Hay là mình bỏ qua mất chỗ rẽ rồi ”.

        Thông thường đi đêm trên một con đường lạ, mọi chỗ đều như thiếu những vật chuẩn đặc biệt. Cả đến con đường so với ban ngày cũng như rộng thêm ra, cây cối hai bên đường cũng cao thêm lên. Lu-ben-xốp tự trấn tĩnh: "Đúng ra thì chưa đến chỗ rẽ, vì xe vẫn đi chậm, sợ bỏ xa chiếc xe học sắt và đội hộ vệ”. Thế nhưng mà kim đồng hồ đã chỉ tới bảy mươi bảy ki-lô-mét, Lu-ben- xốp bấy giờ mới hốt hoàng. Anh cố giữ vẻ thản nhiên hỏi người lái xe:

        - Này, cái đồng hồ ki-lô-mét kia có chạy không đấy ?

        - Nó chạy láo đấy. - người lái xe nói nhỏ - Lẽ ra phải sửa lại nhưng chưa có thì giờ... Lúc nào cũng cứ đi là đi...

        Lu-ben-xốp thở dài khoan khoái và khẽ liếc mắt nhìn trung tướng.

        Trung tướng vẫn cứ nhìn thẳng. Một vết nhăn hằn rõ trên sống mũi.

        Cuối cùng tòa nhà thờ mong đợi mãi đã hiệu ra. Lu-ben-xốp nói:

        - Rẽ tay phải.

        Cái thị trấn nhỏ ấy đây rồi. Tới đây, Lu-ben-xốp rất hài lòng vì đã tập được cái thói quen đếm các chòm nhà sát nhau. Đi trong một thành phố, tìm được đường đi đúng là rất gay, thường thường cứ hay phải rẽ qua những phố ngang. Thực ra, phải nói là Lu-ben-xốp đi đườug thường dựa theo kinh nghiệm và linh tính: gần như lúc nào anh cũng "cảm” thay chỗ phải rẽ, nếu có thể dùng chữ " cảm ”. Nhưng trường hợp lần này, Lu-ben-xốp theo "phương pháp” riêng của anh: như cái máy anh nhẩm ''đếm trong óc những chỗ phải rẽ. " Tới ngõ thứ năm, rẽ tay phải, rồi ngõ thứ ba rẽ tay trái, sau đó lại ngõ thứ nhất rẽ sang trái và cuối cùng lại ra đường cái lớn. Ngõ thứ năm hay thứ sáu nhỉ? Phải rồi, ngõ thứ năm ở góc phố có cái mốc và chiếc cột đèn đổ.

        - Rẽ sang phải. - Anh bảo người lái xe.

        Xe ô tô lượn vào rồi đến đầu ngõ thứ ba. Lu-ben-xốp hạ lệnh " sang trái ” rồi lại "sang trái ”. Anh hạ lệnh có vẻ thú vị, tự bằng lòng mình, để cho bõ với nỗi lo lắng hồi nãy. Dãy nhà nhỏ thưa dần, cuối cùng mất hẳn.

        Xe đi vào giữa rừng.

        Bỗng nhiên trung tướng hỏi:

        - Dồng chí đi đường này mấy lần rồi ?

        - Báo cáo một lần.

        - Trí nhớ khá thật! - Rồi trung tướng hỏi thêm : - Đồng chí công tác với thiếu tướng Xê-rê-đa lâu chưa ?

        - Báo cáo một năm rưỡi.

        - À, thế ra chính đồng chí tổ chức cuộc trinh sát ban ngày, khoảng giữa sông Búc yà sông Vít-xtuyn đấy à ?

        - Vâng.

        - Tôi vẫn còn nhớ rõ. Kế hoạch rất chu đáo. Đồng chí là đảng viên đấy chứ ?

        - Vâng.

        - Trước chiến tranh đồng chí làm gì ?

        - Thưa, trung úy.

        - À, thế ra đồng chí là sĩ quan chuyên nghiệp à ?

        - Vâng.

        - Nếu thế, có lẽ đồng chí nên về công tác ở bộ tham mưu một đơn vị lớn... Đồng chí có the học tập thêm nhiều... - Trung tướng im lặng chờ đợi, với một vẻ tò mò khó hiểu, câu trả lời của Lu-ben-xốp.

        Lu-ben-xốp lắc đầu :

        - Báo cáo đồng chí trung tướng, xin cho phép tôi ở lại sư đoàn này cho tới lúc kết thúc chiến tranh.

        Đồng chí sĩ quan tùy tùng của trung tướng tỏ vẻ ngạc nhiên. Sao hôm này đồng chí đại diện Hội đồng quân sự lại vui chuyện quá và quan tâm đến một sĩ quan mới gặp, chưa quen biết gì cả. Tất nhiên, không phải đồng chí không biết trung tướng là người hay chú ý tỉ mỉ và yêu mến mọi người. Nhưng, đó là một tình thương yêu kín dáo, sâu sắc và tuyệt nhiên không có chút gì là tình cảm ủy mị. Có người còn cho là trung tướng khắc nghiệt nữa.

        Xi-dô-crư-lốp vốn biết người ta sợ mình; đôi lần đồng chí rất khó chịu về điều đó. Sở dĩ đồng chí ưa Lu-ben-xốp cũng bởi vì Lu-ben-xốp đứng trước một cán bộ cao cấp không hề có thái độ sợ sệt đáng ghét. Trung tướng nghĩ thầm: "Như vậy nghĩa là anh ta công tác đúng mực và tinh thông nghiệp vụ của mình ”,

            Xi-dô-crư-lốp bảo Lu-ben-xốp:

        - Đồng chí nghĩ kỹ đi. Tôi có thể nói chuyện đó với đồng chí Ma-lư-sép.

 
        -Thưa đồng chí trung tướng, đề nghị đồng chí đừng nói. Đồng chí Ma-lư-sép sẽ coi lời đồng chí như một mênh lệnh và tôi sẽ phải thuyên chuyền.

        - Thôi thế tùy đồng chí. - Trung tướng nói, nét mặt trở lại lạnh lùng và đôi mắt lại lim dim.

        Đồng chí lái xe nói:

        - Hình như đến nơi rồi thì phải.

        Xe tiến vào một làng lớn. Trời tối như mực nhưng vẫn đoán được là trong làng đầy bộ đội. Có bóng người ngó vào trong xe, rồi chiếc đòn chắn ngang đường nhấc bổng lên ngay trước mũi xe. Các đồng chí đứng gác mặc áo choàng trắng dài, rập gót đứng nghiêm; có những bóng đen vẫy tay; đây đó ánh đèn pin lập lòe; nhiều tiếng nói se sẽ vang lên. Xe ô tô đỗ hẳn lại.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười, 2017, 09:37:04 pm
       
IX

        Ở đây đang chờ đợi đồng chí đại diện Hội đồng quân sự. Chưng hơn chục cán bộ đứng nghiêm cứng người ngay cạnh xe ô tô. Một đồng chí dáng người đẫy đà, đội chiếc mũ tròn cao, hô thật to, ngắt từng tiếng:

        - Nghiêm ! Đồng chí trung tướng tới! Xi-dô-crư-lốp sốt ruột, ngắt lời :

        - Thôi, tôi giới thiệu luôn. Đây là thiếu tướng chỉ huy lữ đoàn thiết giáp, Đồng chí từ U-ran tới thẳng đây tăng cường cho chúng ta. Các đồng chí hãy tiếp nhận lấy lữ đoàn mới này.

        Các vị tướng rảo bước về buồng. Các cửa mở ra, đóng sập lại, rồi cảnh vật lại chìm trong im lặng.

        Lúc này, nhiệm vụ đã hoàn thành, Lu-ben-xốp không hiểu nên làm gì: đi theo đồng chí đại diện Hội đồng quân sự hay ngồi lại trong xe với đồng chí lái xe. Anh bèn chọn lấy điểm trung dung: anh xuống xe và đi bách bộ dọc theo hàng rào. Các xạ thủ tiểu liên ở trên xe bọc sắt nhảy xuống: họ đập hai bàn tay to và vụng, có đeo găng vào hai bên sườn cho nóng người theo kiểu các tay đánh xe ngựa. Đồng chí trung úy trẻ tuổi với vẻ mặt nghiêm nghị, đăm chiêu đứng gần xe ô tô, đợi lệnh. Tri-bi-rép len lén đến bên Lu-ben-xốp và đứng im lặng hút thuốc lá; ánh lửa đỏ lập lòe chiếu sáng cái băng đạn tròn của khấu súng. Lát sau đồng chí lái xe cũng bước xuống. Châm xong điếu thuốc lá, anh tiến lại chỗ Lu-ben-xốp, nói:

        - Thưa đồng chí thiếu tá cận vệ, phải công nhận là ban đêm đồng chí nhìn tinh thật, như mắt mèo vậy... Đôi mắt thật hiếm có! Tôi lái xe cho đồng chí đại diện Hôi đồng quân sự đã được một năm rưỡi rồi, đồng chí ấy hầu như lúc nào cũng ngồi trên xe ô tô. Ồ, giá tôi cũng có tài như đồng chí nhỉ... Này, đồng chí thuộc đường như thế là do bản đồ hay chỉ nhờ trí nhớ ?

        Lu-ben-xốp chưa kịp trả lời, một sĩ quan chạy lại, hỏi to :

        - Đồng chí nào chỉ huy đội tiểu liên của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự ?

        Trung úy lặng lẽ bước ra.

        - Đồng chí dẫn anh em vào ngôi nhà gỗ kia. Anh em sẽ nghỉ ngơi rồi ăn cháo. Đã chuẩn bị đầy đủ. Thế còn thiếu tá trinh sát đâu, đồng chí có biết không ?

        - Có tôi. - Lu-ben-xốp đáp lại,.

        - Đồng chí theo tôi.

        Lu-ben-xốp theo sau đồng chí sĩ quan bước vào ngôi nhà lớn mà trung tướng Xi-dô-crư-lốp vừa vào lúc nãy. Qua gian phòng xép mờ tối, hai người tới một gian phòng rộng sáng rực anh đèn điện. Hơn một chục cô hiệu thính viên trẻ tuổi đang ngồi trước máy. Họ đang nhận điện, ghi hàng tràng dài con số lên giấy. Bên cạnh mỗi cô có một sĩ quan hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc đi đi lại lại có vẻ sốt ruột.

        Trong phòng có đốt lò sưởi nên rất ấm.

        Mệnh lệnh truyền đi ngắn gọn:

        - Bắt liên lạc với Pê-tơ-rốp!

        - Hỏi xem tại sao không nói gì đến đơn vị bạn!

        - Họ đã tới Lăng-xbéc chưa?

        - Hỏi Jại một lần nữa xem địch phản kích ở khu nào?

        - Bắt liêu lạc với máy bay xung kích!

        Thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng kêu la:

        - Ối trời!... Bảo đồng chí ấy hãy gắng hoàn thành nhiệm vụ đi!

        - Truyền đi : xăng dầu sẽ tiếp lên ngav bây giờ !

        Đồng chí sĩ quan dẫn Lu-ben-xốp vào biến đâu mất, thiếu tá cận vệ bèn im lặng đứng vào một góc để khỏi làm phiền mọi người. Các cô hiệu thính viên trẻ tuổi, mặc dầu mải mê với công tác đang dồn dập, thỉnh thoảng cũng cố đưa đôi mắt tò mò liếc nhìn người khách lạ và đưa tay lên sửa lại mái tóc.

        Một trung tá đang đọc bức điện bỗng mừng rỡ kêu to :

        - Sa-môi-lốp đã mở được đường tiến về Lăng-xbéc rồi ! Tôi phải đi báo cáo ngay mới được !

        Đồng chí vội vã cài lại khuy áo và chạy biến sang phòng bên. Nói chung, các sĩ quan chốc chốc lại đi sang phòng bên, tay cầm giấy ghi chữ số rồi lại quay ra ngay.

        Lát sau, đồng chí sĩ quan dẫn Lu-ben-xốp vào hồi nãy quav lại bảo :

        - Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự mời dồng chí cùng ăn bữa tối.

        Lu-ben-xốp đi theo đồng chí sĩ quan. Trong gian phòng bên, các sĩ quan tham mưu ngồi vây tròn xung quanh những chiếc bàn lớn trải kín bản đồ, đang ghi lại những bước tiến lui của các đội xe tăng. Anh bộ binh Lu-ben-xốp thoáng cảm thấy ghen tị với những bạn đồng đội làm trong ban tham mưu các đơn vị xe tăng. Ở đây chỉ trong một tiếng đồng hồ đã có những thay đổi lớn, những thay đổi mà bộ binh không dám mơ ước tới. Nhưng anh tự nhủ : "Tuy vậy thiếu bộ binh thì xe tăng cũng không thề tiến xa được” như để an ủi lòng tự ái của con nhà bộ binh.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2017, 10:29:16 pm

 
        Trong một gian phòng khác rất nhiều áo ca-pốt của các tướng treo trên tường.

        - Đồng chí cởi áo ra. - Đồng chí sĩ quan bảo nhỏ Lu-ben-xốp.

        Lu-ben-xốp cởi áo ca-pốt ra và mở cửa thông sang phòng bên. Ở đây, quanh chiếc bàn đã bày biện thức ăn,  có mặt các vị thủ trưởng bộ đội xe tăng và một thiếu tướng không quân. Tất cả có mười người.

        Đồng chí đại diện Hội đồng quân sư theo thói quen, đi đi lại lại, lẳng lặng suy nghĩ về tình hình. Trận tiến công đang tiếp diễn thắng lợi. Tuy vậy qua báo cáo của thiếu tướng tham mưu trưởng Xéc-ghi-ép-xki - tuy rằng đồng chí này nói rất sát không thêm không bớt - và qua câu chuyện bằng vô tuyến điện với thiếu tướng chi huy đơn vị xe tăng đang ở phía trước, cùng với một đơn vị tiến công, đồng chí Xi-dô-crư-lốp thấv rõ là tình thế mỗi giờ một gay go thêm. Trước hết là các đơn vị xe tăng đã bỏ cách xa bộ binh từ năm mươi đến một trăm ki-lô-mét. Các trung đoàn thiết giáp, qua trận đánh chia cắt vùng Đông Đức, đã bị tổn thất một phần trang bị kỹ thuật và quân số. Một phần các đường liên lạc đã bị cắt đứt vì gặp phải những sư đoàn địch còn sức chiến đấu. Đạn dược, dầu xăng tiếp tế lên rất khó khăn. Máy bay Đức đã ném bom phá hủy một đoàn xe vận tải. Nghiêm trọng nhất là có nhiều lữ đoàn đã dùng hết dầu xăng mà các tiểu đoàn vận tải quay lại các căn cứ lấy dầu xăng vẫn chưa thấy đến.

        - Tại sao họ vẫn chưa về! - Xi-dô-crư-lốp dừng lại trước mặt đồng chí Xéc-ghi-ép-xki hỏi.

        Xéc-ghi-ép-xki đứng dậy nhưng không trả lời.

        - Đồng chí không biết à? - Xi-dô-crư-lốp hỏi. -  Nếu thế, để tôi cắt nghĩa cho đồng chí nghe. Đồng chí đã giao cái nhiệm vụ tối quan trọng ấy cho những cán bộ kém, hay có khi chỉ giao cho những người lái xe thôi đất. Đồng chí phái xe vận tải đi và tưởng như thế là xong. Lẽ ra, phải cử các sĩ quan tham mưu đi phụ trách các đoàn xe mới phải.

        Đồng chí đi đi lại lại, rồi hỏi:

        - Mà, đồng chí đã cho gọi đồng chí Ca-rê-lin tới đây chưa đấy?

        - Báo cáo trung tướng, đã.

        Thiếu tướng Ca-rê-lin chỉ huy một sư đoàn pháo binh đang hành quân với những khẩu pháo nặng. Đồng chí đóng ở làng bên cạnh. Đang ngủ thì có lệnh gọi đồng chí tới đây. Ca-rê-lin bước vào phòng, người cao lớn, đôi má hồng hào, mái tóc hung đỏ, rất bệ vệ. Đồng chí cất tiếng sang sảng, báo cáo có mặt, rồi đứng im đợi ý kiến của vị đại diện Hội đồng quân sự.

        Xi-dô-crư-lốp hỏi khẽ:

        - Thế nào, khỏe chứ, đồng chí Ca-rê-lin ?

        - Cảm ơn đồng chí trung tướng - Ca-rê-lin mỉm cười đáp lại - mọi việc đều trôi chảy. Pháo của chúng tôi sẵn sàng "giã” vào Béc-lin. về lịch trình hành quân, tôi tuân thu triệt để. Các pháo thủ nóng lòng được hiệp đồng tác chiến với bộ binh. Tờ mờ sáng chúng tôi lại lên đường.

        - Hoan hô! Hay lắm !

        Xi-dô-crư-lốp đi đi lại lại trong phòng, rồi dừng lại hỏi:

        - Đồng chí có dầu xăng không ?

        Ca-rê-lin mừng rỡ reo to:

        - Báo cáo thừa đủ! Chúng tôi có đủ dùng cho tới Béc-lin! Xe pháo đều đầy ứ cả!

        Xi-dô-crư-lốp mời mọi người:

        - Mời các đồng chí đi ăn.

        Ca-rê-lin cởi áo ca pốt ngồi vào bàn, đôi bàn tay to lớn, hồng hào, sung sướng cầm lấy dĩa và dao ăn.

        Xi-dô-crư-lốp lại nói:

        - Dầu xăng, đồng chí sẽ giao tất cả cho đơn vị xe tăng, không giữ lại một giọt, đồng chí hiều chứ ?

        Ca-rê-lin bỏ rơi dĩa xuống, đôi mắt thắt vọng nhìn vị đại diện Hội đồng quân sự, mặt đồng chí như dài ra.

        - Còn tôi? Còn tôi thì sao?... - Ca-rê-lin hỏi, giọng run run. Tất cả mọi người có mặt đều thấy thương hại cho con ngưừi to lớn và vui vẻ này, chỉ vì có một câu nói thôi mà đang rất là phấn khởi bỗng trở nên hết sức thất vọng.

        Xi-dó-crư-lốp nói với Xéc-ghi-ép-xki:

        - Đồng chí cho phái xe ô tô chở dầu, mang theo mệnh lệnh của đồng chí Ca-rê-lin, tới sư đoàn pháo lấy xăng. - Rồi quay lại bảo Ca-rê-lin : - Đồng chí viết mệnh lệnh đi. Viết: theo lệnh của Hội đồng quân sự, các đồng chí giao tất cả số dầu dự trữ cho bộ đội xe tăng ngay lập tức và lấy giấy nhận. Đồng chí ký vào. Đồng chí cứ ở đây ăn tối với tôi, sau đó sẽ quay về trực tiếp kiểm tra việc chấp hành lệnh của đồng chí.

        Thiếu tướng Xéc-ghi-ép-xki, tỉnh người lại và hớn hở chẳng khác gì một chú bé, cầm mảnh giấy của Ca-rê-lin, gần như nhảy nhót chạy ra ngoài để hạ mệnh lệnh. Còn Ca-rê-lin thì ngồi lại, bộ mặt buồn thiu như đi đưa đám. Đồng chí không nuốt được nữa, chỉ ngồi nhìn mặt bàn, đôi mắt thờ thẫn. Mọi người đều im lặng. Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự cũng vậy và cũng hầu như chưa ăn được tí gì. Lát sau Xi-dô-crư-lốp đứng dậy hỏi:

        - Lữ đoàn mới vẫn chưa tới à? Đơn vị từ U-ran tới ấy mà? Ai đi đón?

        - Đại tá Bê-rê-dốp.

        - Từ đây tới ga xe lửa xa bao nhiêu ?

        - Sáu mươi ki-lô-mét.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2017, 10:30:26 pm

        Đồng chí nhìn mặt Ca-rê-lin một cái rồi quay đi và nói với các tướng chỉ huy bộ đội xe tăng:

        - Với những xe tăng bị hỏng, các đồng chí phải cho sửa chữa ngay tại trận địa. Về vấn đề nầy, các đồng chí đã có khá nhiều kinh nghiệm rồi. Hiện nay, người thợ máy giữ vai trò trung tâm của đơn vị các đồng chí. Những đồng chí nào xuất sắc, cần đề nghị tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. - Cuối cùng quay lại nói với Ca-rê-lin: - Tôi nhận thấy tôi đã làm đồng chí ăn mất ngon, Thôi, đồng chí hãy quay về đơn vị, kiểm tra lại việc chấp hành mệnh lệnh. Tôi hiểu cái kiểu yêu nước bản vị chủ nghĩa của các pháo thủ của đồng chí rồi. Chắc hẳn họ sẽ chỉ chịu giao dầu xăng một cách miễn cưỡng. Vì vậy tôi yêu cầu chính bản thân đồng chí phải kiểm tra việc này.

        Ca-rê-lin nói khẽ : " Rõ! ”, mặc áo ca pốt và đi ra.

        Mọi người lắng tai nghe. Bên ngoài, vang lại giọng nói giận dữ của Ca-rê-lin:

        - Mở máy đi! Mau lên ! Ngủ rồi đấy à?

        Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự khẽ mĩm một nụ cười hóm hỉnh nhưng không nói gì.

        Xéc-ghi-ép-xki vào báo cáo là đoàn xe chở dầu đã đi lấy dầu xăng.

        - Còn như đoàn xe tiếp vận của đồng chí, - Xi-đô- crư-lốp dằn giọng nói - lần khác chúng ta sẽ nói tới.

        Đồng chí lắng tai nghe có tiếng động cơ phía xa xa.

        Xéc-ghi-ép-xki:

        - Lữ đoàn mới đã tới.

        Đúng thế, một phút sau đồng chí thiếu tướng cùng đi xe ô tô với Xi-dô-crư-lốp hồi nãy, bước vào. Thiếu tướng báo cáo lữ đoàn của đồng chí đã tới và tập hợp trong rừng.

        Xi-dô-crư-lốp nói:.

        - Chúng ta ra chỗ máy nói đi.

        Tất cả đứng dậy răm rắp như chấp hành một khẩu lệnh, đi theo Xi-dô-crư-lốp và Xéc-ghi-ép-xki sang phòng bên. Lu-ben-xốp lại ở lại một mình. Một lần nữa anh cảm thấy khó chịu vì sự có mặt của mình ở đây thật vô ích. Cửa lại mở, đồng chí đại tá xe tăng gọi anh và nói đùa:

        - Sao đồng chí chậm chạp thế, để đồng chí đại diện Hội đồng quân sự lại phải hỏi ?

        Lu-ben-xốp theo sau các đồng chí khác, lòng cảm kích trước sự chú ý của trung tướng mặc dầu bận rộn vẫn không bỏ quên một thiếu tá mà đồng chí mới quen biết. Các tướng tá chen chúc trong một gian phòng nhỏ. Xi-dô-crư-lốp không có đây. Sư im lặng thật là trang nghiêm.

        Có tiếng một người đứng gần cửa nói nhỏ: ” Đồng chí ấy đang nói chuyện với đồng chí Xta-lin ”.

        Một người xem đồng hồ. Tất cả, trong đó có Lu-ben- xốp, không hiểu tại sao cũng làm theo. Đã khuya lắm, hay đúng hơn còn sớm lắm, mói bốn giờ sáng. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, trong ánh mắt cùng hiện lên một ý nghĩ phấn khởi: " Xta-lin vẫn thức ”.

        Cuối cùng Xi-dô-crư-lốp bước ra, đưa mắt nhìn mọi người và nói:

        - Đây là những chỉ thị tôi vừa nhận được: sống chết phải chọc thủng sông Ô-đe và bám lấy nó. Không cần đánh chiếm những thành phố có công sự phòng ngự, cứ vòng qua và tiến lên. Vòng qua các thành phố Snây- đơ-mun, Đớt-cơ-rôn, Lăng-xbéc, Cút-xtrin. Những vị trí này, chúng ta sẽ dùng bộ binh đánh chiếm. Nhiệm vụ của các đồng chí là tiêu diệt lực lượng dự bị của địch ở xung quanh những khu vực then chốt, phá vỡ phòng tuyến của chúng và nhất là tiến đến sông Ô-đe. Tình báo cho biết Hít-le và Bộ tham mưu quân Đức vô cùng hốt hoảng.

        Đồng chí ngừng lại, rồi nói lên những cầu làm ai cũng phải chú ý lắng tai nghe:

        - Và các đồng chí nên nhớ kỹ, không phải chỉ riêng gì Hít-le hốt hoảng. Mà cả những bọn người, trước kia, khỉ chúng ta phải đổ nhiều máu thì tìm mọi cách trì hoãn việc mở mặt trận thứ hai, bây giờ cũng vội vã tiến nhanh... Chẳng phải suy nghĩ nhiều cũng đủ hiểu là giờ phút này, các đồng chí, mỗi một chiến sĩ xe tăng, thợ máy, hậu cần đều đang làm chính trị có ảnh hưởng lớn đến tình hình cả đấy.

         Và bây giờ chúng ta ra thăm các chiến sĩ vùng U-ran. Ở đó chúng ta sẽ quay về. - Xi-dô-crư-lốp chuyển ngay sang vấn đề khác và đưa mắt tìm Lu-ben-xốp, ra hiệu bảo đi.

        Xéc-ghi-ép-xki hỏi :

        - Đồng chí không ở lại đây đến sáng ư ? Đồng chí nên nghĩ ngơi một chút !

        - Không, tôi phải về, còn báo cáo với Hội đồng quân sự. Vả lại, có lẽ đã đến lúc các đồng chí cũng cần chuyển sở chỉ huy tiến về phía tây đi chứ còn gì !

        - Rõ!

        Xi-dô-crư-lốp nói với các đồng chí khác:

        - Các đồng chí có thể về.

        Các tướng tá chào và đi ra tất cả, trừ Xéc-ghi-ép-xki. Xi-dô-crư-lốp thong thả bước vào gian phòng ăn lúc nãy. Xéc-ghi-ép-xki im lặng một lát, rồi tay vừa cuộn ra cuộn vào tấm bìa, vừa nói bằng một giọng khác hẳn :

        - Báo cáo đồng chí trung tướng, trung úy cận vệ Xi-dô-crư-lốp đã hy sinh ngoài mặt trận, xe tăng của trung úy lao vào cửa đột phá, và...

        - Tôi đã được báo cáo tỉ mỉ bằng dây nói. - Trung tướng nói với một giọng mệt mỏi.

        - Vâng lúc ấy là 16 giờ 30 ngày hôm kia. Tôi đã ra lệnh báo tin cho đồng chí ngay.

        - Có, tôi có được tin. - Trung tướng nói tiếp - Tôi có yêu cầu trung đoàn đừng báo tin gì cho nhà tôi ở Mát-xcơ-va cả. Họ có báo cáo với đồng chí không ?

        - Báo cáo, có. - Khuôn mặt rỗ, bè bè của Xéc-ghi- ép-xki rung lên. - Tôi đã có chỉ thị về việc đó.

        Hai người lặng lẽ mặc áo, đi ra. Trời nổi gió. Khí trời ẩm thấp. Tiếng động cơ nổ giòn giã trong sương. Đội tiểu liên cũng đã lên xe bọc sắt, Đồng chí trung úy trẻ đứng thẳng người bên xe ô tô của trung tướng. Thấy trung tướng, anh giơ tay lên mũ có tai chào và báo cáo :

        - Xe bọc sắt sẵn sàng xuất phát.

        Trung tướng hỏi:

        - Thế nào, bộ đội xe tăng tiếp các đồng chí có khá không ? Họ có cho các đồng chí ăn không ?

        - Báo cáo, tốt lắm. - Trung úy nghiêm trang trả lời.

        - Vậy thì, xuất phát !


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười, 2017, 10:31:24 pm
         
X

        Đi đầu là chiếc xe kiểu "Horch” - chiến lợi phẩm của Xéc-ghi-ép-xki tiếp đến xe ô tô của thiếu tướng chỉ huy lữ đoàn U-ran, rồi tới xe của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự và cuối cùng là chiếc xe bọc sắt. Lu-ben-xốp vẫn ngồi bên cạnh người lái xe tuy rằng bây giờ anh không phải chỉ đường nữa.

        Tất cả những điều tai nghe mắt thấy trong thời gian vừa qua - câu chuvện " con đường xanh ” từ U-ran tới nước Đức, cảm giác về đợt tiến công bằng xe tăng dũng mãnh và chớp nhoáng, cuộc nói chuyện giữa đồng chí Xi- dô-crư-lốp và Xta-lin từ nơi đây, một làng Ba Lan hẻo lánh này, và cả nỗi đau lòng của trung tướng Xi-đô-crư- lốp mà Lu-ben-xốp được biết một cách bất ngờ - tất cả những sự kiện đó như liên hệ chặt chẽ với nhau, đã ghi một ấn tượng sâu sắc vào tâm hồn thiếu tá cận vệ. Ngay đến sự quan tâm của trung tướng đối với đội hộ vệ và cả với anh, cũng đều mang một tính chất đặc biệt quan trọng, và theo con mắt của anh, tất cả những điều đó hình như đều có quan hệ trực tiếp đến đồng chí Xta- lin, đến sức mạnh vô song của cuộc tiến công của ta.

        Những tiếng hoan hô vang dậy ngắt những dòng ý nghĩ của Lu-ben-xốp. Xe dừng lại. Đoàn chiến xa đỗ trong một khu rừng thưa. Cờ đỏ phấp phới trên tháp xe tăng. Các chiến sĩ xe tăng đầu đội mũ da nai mới toanh, đứng nghiêm trước xe. Phía trước hàng quân, một đồng chí tầm vóc to lớn, cầm lá quân kỳ đỏ rực. Tiếng hoan hô rung động cành lá, làm tuyết rơi lả tả.

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp thong thả bước xuống xe. Bằng một giọng nói sang sảng, rành mạch và bình tĩnh, đồng chí nói như trong một buổi nói chuyện thân mật :

        - Các đồng chí, tôi nói ngắn thôi, bởi vì thời gian gấp rút và các đồng chí còn phải tiến quân. Tôi vừa trực tiếp nói chuyện với đồng chí Xta-lin. Các đồng chí được giao một nhiệm vụ rất quan trọng: trong những ngày sắp tới các đồng chí sẽ tiến thẳng vào vùng ngoại vi Béc-lin.

        Khu rừng vang dội tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô hùng dũng. Ngừng lại một lát, đồng chí Xi-dô-crư-lốp nói tiếp

        - Các đơn vị bạn đã nhảy một bước dài từ sông Vít-xtuyn tới đây. Bây giờ các đồng chí, những người vừa từ vùng tận cùng U-ran xa thẳm tới đây bằng "con đường xanh” mang tên Xta-lin, các đồng chí phải cùng với các đơn vi bạn hoàn thành nốt nhiệm vụ. Hội đồng quân sự tin chắc các đồng chí sẽ làm tròn nhiệm vụ ấy, bởi vì các đồng chí đứng trong hàng ngũ đội quân của những người cộng sản, một đội quân không hề biết trở ngại là gì. Các đồng chí, những chiến sĩ xe tăng, các đồng chí là đội xung kích của đội quân những người lao động, những người lần đầu tiên trong lịch sử đã nắm chính quyền và sáng tạo nên một sức mạnh phi thường bất chấp mọi âm mưu chính trị và quân sự của bất cứ kẻ địch nào. Các đồng chí sắp bước vào một chiến dịch rất vẻ vang và gian khổ. Thay mặt Hội đồng quân sự tôi chúc các đồng chí thắng lợi.

        Xéc-ghi-ép-xki hỏi:

        - Đồng chí cho phép tôi hạ lệnh xuất phát ?

        - Đồng ý.

         Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự lên xe. Xe mở máy chạy. Phía sau lưng, tiếng động cơ nổ và tiếng gầm thét rung chuyển cả khu rừng, làm tuyết rơi lả tả xuống xe tăng, xe bọc sắt, các dàn tên lửa Ca-chiu-sa và pháo tự hành.

        Trước lúc chia tay, thiếu tướng Xéc-ghi-ép-xki giao cho Lu-ben-xốp tấm bản đồ cuộn tròn và nói thầm vào tai anh: Đồng chí đưa cho đồng chí đại diện Hội đồng quân sự.

        Trong khi trung tướng tạm biệt bộ đội xe tăng, Lu- ben-xốp liếc nhìn tấm bản đồ. Tấm bản đồ tỉ lệ 1 : 50.000 họa lại một khu vực nhỏ có những bụi cây, những cối xay gió. Khoảng giữa, một dấu thập viết bằng chì đỏ trên có ghi dòng chữ in: " Đây là mộ trung úy cận vệ Xi-dô- crư-lốp hy sinh ngày 2 tháng 2 năm 1945

        Bánh xe nhẹ lướt trên mặt tuyết tan. Trời sáng dần. Lu-ben-xốp liếc nhìn trung tướng lúc này đã lại nhắm mắt lim dim.

        Trung tướng muốn cố gắng không nghĩ đến con trai. Nhưng như thế lại chính là luôn nghĩ đến con. Đồng chí hiểu ngay như vậy, bèn tư khuây khỏa bằng cách nghĩ sang.những vấn đề công tác thật quan trọng: vấn đề dầu xăng, vấn đề hiệp đồng giữa không quân và xe tăng, vấn đề cần thiết phải điều nhanh bộ binh tiến lên, đừng đề rớt lại quá xa các đơn vị thiết giáp.

        Nhưng ý nghĩ về đứa con trai độc nhất bị hy sinh lại vẫn cứ trồi lên trên những ý nghĩ khác. Đôi lúc ý nghĩ đó đánh bạt mọi ý nghĩ khác đi, độc chiếm tâm hồn một cách rất đáng sợ. Một lần không tự kìm nổi, trung tướng khẽ rên rỉ, nhưng trong khoảnh khắc, đồng chí đã vội mở mắt ra, nói với sĩ quan tùy tùng:

        - Nhớ nhắc tôi khi về đến nhà ra lệnh cấp phát ngay dầu xăng cho đồng chí Ca-rê-lin nhé!

        Đại tá đáp lại:

        - Báo cáo, rõ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười, 2017, 10:13:48 pm
               
        Xi-dô-crư-lốp lại nói tiếp :

        - Thế là bây giờ chúng ta lại đi trên đất Đức rồi đây. Chính bản thân chúng ta cũng chưa hiểu hết tầm quan trọng của sư kiện đó. Nó không phải chỉ là thắng lợi của chúng ta về mặt quân sự, mà còn là thắng lợi của tinh thần, của tư tưởng chúng ta, thắng lợi của phương pháp giáo dục nhân dân chúng ta, thắng lợi của con đường lịch sử của chúng ta. Không hiểu tại sao tôi cứ nghĩ lại cái năm 1918, khi mà đế quốc Đức (dĩ nhiên yếu hơn nước Đức Hít-le ngày nay) đang đe dọa nước Cộng hòa xô-viết trẻ tuổi. Lúc bấy giờ, Lê-nin và Xta-lin hết sức chú trọng đến việc ký hòa với Đức, một hòa ước đau xót, như lời Lê-nin nói... Các vị lãnh tụ sở dĩ chịu ký bản hòa ước đó, bởi vì các đồng chí hiểu rằng điều quan trọng nhất là làm sao gìn giữ và củng cố được Tổ quốc xô-viết của chúng ta, làm sao xây dựng được chủ nghĩa xã hội, nghĩa là xây dựng một chế độ có khả năng bảo đảm chiến thắng bất cứ một kẻ địch nào... Và bây giờ chúng ta mới đang tiến được ở trên đất Đức.

        Những hồi ức và những sự so sánh suy nghĩ về lịch sử ấy giúp cho trung tướng đủ sức mạnh dẹp bớt nỗi đau lòng. Những ý nghĩ ấy nhắc cho đồng chí biết đồng chí là cán bộ của một Đảng vĩ đại, và điều đó, đồng chí không bao giờ được sao lãng trong bất cứ hoàn cảnh nào.

        ” Không phải là một chuyện dễ - trung tướng nhăn mặt đau đớn nghĩ thầm - Trong hoàn cảnh của ta, giữ được bình tĩnh, giữ được vai trò một cán bộ lãnh đạo sáng suốt, gạt bỏ mọi đau khổ trên đời này, không phải là chuyện dễ... Có những nỗi đau khổ của những người làm tướng... Và có những nỗi đau khổ của vợ những người làm tướng nữa chứ?”

        Đồng chí chợt nhớ tới vợ mình.

        Lúc An-đrây tốt nghiệp ở trường xe tăng ra, An-na, vợ đồng chí, có rụt rè đề nghị với chồng cho con đi theo. "Anh giữ nó bên cạnh anh. - bà đỏ mặt nói: - Anh rất có quyền lấy sĩ quan tùy tùng lắm chứ ? ”. Bà vốn biết tính chồng, nên cũng vì vậy mà ngập ngừng mãi mới dám nói. Quả nhiên, đúng như bà đoán trước, trung tướng bực mình trách móc: " Em cũng thừa hiểu là anh không bao giờ lại đồng ý như vậy. Vả lại, em cũng lại thừa hiểu là con nó cũng không bao giờ muốn núp sau lưng một vị tướng, nhất là núp sau lưng bố nó...

        Giờ đây đồng chí có hối hận đã nói câu ấy không? Không.

        Tuy thế, đồng chí thấy rất đau khổ khi nghĩ tới vợ và tới chuyện phải tự bào chữa trước lòng đau xót, thương con của vợ.

        Đồng chí nghiến răng, cố mở mắt ra. Trời đã sáng rõ. Xe đã chạy qua thị trấn nhỏ có đài ”kỷ niệm những con người đã chiến thắng ở thành Xơ-đăng”. Các đoàn xe nối đuôi nhau trên đường cái. Xe cộ kêu cót két. Cái gáy nâu của thiếu tá lại làm cho trung tướng nghĩ tới con. Đồng chí nói:

        - Này thiếu tá, sư đoàn của đồng chí sẽ có nhiệm vụ đánh chiếm pháo đài Snây-đơ-mun. Đó là một trong những vị trí kiên cố nhất của cái gọi là ”Bức thành phía đông”. Đồng chí nên nhớ lấy điểm đó để mà bố trí kế hoạch trinh sát. - Sau đó im lặng một lát, trung tướng khen : - Đồng chí đi đêm rất khá. Cái đó rất đang biểu dương trong nghề trinh sát.

        Xe tới gần chỗ sư đoàn bộ đóng hôm trước. Người lái xe hãm bớt tốc độ. Lu-ben-xốp đặt tấm bản đồ xuống bên cạnh rồi đưa mắt nhìn trung tướng. Người lái xe gật đầu thông cảm.

        Trung tướng bắt tay Lu-ben-xốp, nhắn thêm :

        - Đồng chí nói với thiếu tướng Xê-rê-đa và đại tá Plốt-nhi-cốp tôi gửi lời hỏi thăm.

        Lu-ben-xốp bước xuống xe thì cũng vừa thấy Tri-bi- rép từ trên xe bọc sắt nhảy xuống. Lu-ben-xốp giơ tay lên mũ chào, cho tới khi xe đi qua hẳn.

        Tri-bi-rép nói :

        - Anh em đội hộ vệ kể chuyện hết cả với tôi rồi, cả chuyện con trai của trung tướng nữa... Đúng. - Và anh kết luận gọn lỏn bằng một giọng rất nhỏ : - Đấy thật đúng là một con người !

        Hai người tiến vào trong làng nhưng sư đoàn bộ đã chuyển đi mất rồi. Các chiến sĩ thông tin của quân đoàn vác cuộn dây điện trên vai đang đi lang thang phía ngoài cánh đồng rải rác tuyết phủ. Họ cho biết là sư đoàn đã chuyển đi từ tờ mờ sáng và sư đoàn bộ hiện đã đến đóng tại một làng khác quá về phía tây.

        Lu-ben-xốp bèn đi lại ngôi nhà của đội trinh sát đóng tối qua, may ra còn có người ở lại chăng. Gian nhà vắng vẻ, lạnh lẽo. Những chiếc đệm nhồi lông vẫn vứt rải rác trên nền nhà, mấy cái đồng hồ treo cứ tích tắc kêu se sẽ.

        Anh bảo Tri-bi-rép :

        - Chúng mình chờ xem có chuyến xe nào chạy qua đây đi nhờ vậy.

        Vừa lúc đó, anh nhìn thấy một bóng người nằm trên chiếc đệm lông trong góc nhà.

        - Ờ, có lẽ ai bị bỏ rơi lại chăng ? - Tri-bi-rép vừa nói vừa tiến lại bên cái bóng đen nắm cuộn tròn trong chiếc chăn dạ.

        Tức thì một khuôn mặt hốt hoẵng, ngộ nghĩnh hiện ra. Đó là một người Đức đã có tuổi, đeo kính trắng, râu ria xồm xoàm, đầu bịt một chiếc khăn vuông, trên đội thêm chiếc mũ đen méo mó. Nhìn thấy hai người trinh sát, hắn đứng dậy ngả mũ chào. Tri-bi-rép khẽ mỉm cười. Qua câu chuyện ú ớ của hắn, Lu-ben-xốp biết hắn là chủ nhà này. Thấy tình thế diễn biến mau chóng quá, hắn sợ hãi bỏ trốn vào rừng, bây giờ thấy yên ổn mới lại quay về.

        - Uyếc-mét-tơ. - Lão ta giơ tay trỏ vào ngực rồi lại trỏ chiếc đồng hồ.

        - Thợ đồng hồ. - Lu-ben-xốp dịch cho Tri-bi- rép nghe.

        - A, thế là một công nhân - Tri-bi-rép không cười nữa, rút túi ra một mẩu bánh.

        - Đan-cơ sun, Đan-cơ sun - Tên Đức cảm ơn.

        "Thật giống con chó, giống con chó”. Tri-bi-rép lầm bầm nhại lão già Đức và anh lại tự trách mình đã quá dễ dãi mà cho bánh tên Đức.

        Hai người trinh sát đi khỏi, lão thợ đồng hồ ngồi lại nhấm nháp mẫu bánh và lầm bầm những câu gì nghe không rõ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười, 2017, 09:02:15 am

XI

        Hắn lại ngả mình xuống đệm và nằm im một hồi lâu không cử động.

        Nét mặt của hắn không còn vẻ sợ hãi và ngu ngốc giả vờ hồi nãy. Ngay đến bây giờ, những đồng sự cũ của hẳn cũng khó mà nhận ra được lão già ăn mặc lố lăng này chính là Côn-rát Uyn-ken (số: 227-F) thuộc khoa đặc biệt R của cơ quan tình báo Bộ tham mưu tập đoàn quân của địch.

        Khi thấy hai người Nga, đã có lúc Uyn-ken định khai tên và chịu bắt làm tù binh. Nhưng nghĩ lại, sợ sẽ xảy ra những điều không hay cho hắn, hắn thay đổi ý kiến, đóng giả làm chủ nhà. Nhìn thấy mấy chiếc đồng hồ, hắn bèn nảy ra sáng kiến khai là thợ chữa đồng hồ, và cũng vì qua ba tuần lưu lạc vừa rồi, hắn đã nghiệm thấy nhiều lần là quân Nga đối xử tốt với những người làm thợ.

        Tinh thăn hắn đã quỵ hẳn rồi. Điều mà trước kia hắn còn ngờ vực thì nay đã thành một sự thật rất khủng khiếp: nước Đức thua trận. Nhưng điều làm hắn buồn phiền nhất không phải là ở chỗ ấy. Cảnh tượng đang bày ra đây lại còn đau xót hơn là một thất bại quân sự: tất cả mọi hy vọng của thế hệ dân tộc Đức mà Uyn-ken tự cho mình là dòng dõi từ nay sụp đổ tan tành.

        Côn-rát Uyn-ken suốt đời sống ở thành Băng-dít. Người Đức trong cái thành phố tự do này, bị luận điệu tuyên truyền của Hít-le lừa bịp, lại thường xuyên bị tay chân của những tên Hét, Rô-den-be, Bôn-lơ kích thích, nên hết sức căm thù người Ba Lan và luôn luôn có thái độ sặc sụa mùi sô-vanh1. Mặc dầu cha chúng, một người thông minh và đa nghi đã hết lời khuyên can, ngăn ngừa, ba anh em tên Uyn-ken là Côn-rát, Huy-gô và Béc-na, vẫn đua nhau gia nhập các tiểu đoàn thanh niên Hít-le và các đội xung kích, luôn mồm hò hét " Hít-le muôn năm ” và ba hoa về sứ mệnh cao cả của nước Đức đối với châu Âu. Từ những chú bé xưa kia khá hiền lành, chăm học, chúng đã dần dần biến thành những tay chân cuồng bạo của Hít-le, bị đầu độc bởi những tư tưởng dã man nhất.

        Những thanh niên đầu chải mượt, mặt xanh lướt, chăm học, gầy gò và đã khá hư hỏng này cứ tưởng tượng mình là những " con vật màu da nâu ” vô địch, gieo tai họa cho mọi người và không chịu thua ai bao giờ. Bọn chúng tôn thờ bạo lực và lấy đó làm triết lý của cuộc sống. Cái tư tưởng điên cuồng theo đuổi những sự nghiệp hiển hách từ nay thành chủ nghĩa chính thức của Nhà nước, đã tác động mạnh đến tâm hồn của những lớp thanh niên dại dột từ thành Kê-ních-béc tới miền Ti-rôn.

        Thực ra mà nói chính ngay giữa những lúc say sưa ấy, trong thâm tâm Côn-rát, thằng anh cả (năm 1938 hắn 25 tuổi) cũng đã nảy ra những ngờ vực. Rất nhiều việc làm hắn phải kinh tởm. Nhiều tin đồn về những hành động dã man của bọn S.S., về những trại tập trung, những vụ giết người và đuổi dân hàng loạt, lọt vào tai hắn. Thực ra hắn cũng không chú ý tìm hiểu sự thực cho lắm vì hắn sợ nguy hiểm. Lòng tin đặc biệt của lớp người tiểu tư sản như hắn đối với bọn ngụy quyền không cho phép hắn ngờ vực nhiều. Trong lúc mà uy danh Quốc trưởng lừng lẫy ngay cả ở nước ngoài (cần phải nói rằng cái việc phải viện đến danh nghĩa nước ngoài này cũng đã bao hàm một chút thiếu tin tưởng vào cái uy tín thật sự của Quốc trưởng) ; trong lúc mà các giáo sư, các bác học, các nhà văn, các cựu bộ trưởng Phôn Bơ-lông-béc và Phôn Nơ-rát (người ta tin những bộ trưởng cũ hơn bộ trưởng mới, vì những người già có vẻ đứng đắn hơn), trong lúc mà các tướng lĩnh của quân đội Đức và lại ngay chính cả Hin-đen-bua, người đã đưa Hít-le lên cầm quyền, trong lúc mà tất cả những người đó đều bảo: " sự việc phải như thế! ”, thì không thể nào ngờ vưc gì được cả.

        Vì sự sống còn của nước Đức cho nên phải tiêu diệt hết các dân tộc khác. Biết làm thế nào ? Phải giết người ư? Tất nhiên không tránh được việc đó. Cần phải lừa bịp à? Thì những kẻ ngu ngốc sinh ra chính là cốt để bị lừa bịp.

        Chính với những ý nghĩ ấy, những lý lẽ ngụy biện ấy, những âm mưu quỷ quyệt ấy mà Côn-rát và đồng bọn đã dập tắt tiếng nói của lương tâm, tiếng nói này đôi khi đã thủ thỉ với chúng những điều không hay ho gì cho lắm.

        Dĩ nhiên, nếu người ta còn có thể mượn tay người khác đề đi đánh nhau hộ thì tốt quá. Nhưng tiếc rằng lại phải tự mình làm lấy.

-----------------------
         1. Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. - N D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười, 2017, 10:28:12 pm

        Huy-gô, Béc-na, Côn-rát đã lần lượt nhập ngũ. Béc-na ra trận chẳng được bao lâu thì bị cụt hai chân, hắn quay về nhà, lòng đầy ngờ vực tác dụng của chiến tranh trong việc giải quyết những điều tranh chấp. Côn-rát lúc đầu làm việc ngay dưới quyền viên toàn quyền của nước Ba Lan cũ, bác sĩ Phran tại thành Cra-cô-vi. Cái vốn tiếng Ba Lan mà trước kia hắn rất coi khinh, bây giờ lại rất có ích cho hắn. Tới đợt "tổng” động viên cuối cùng mùa hè năm 1944 hắn được điều vào cơ quan quân báo tập đoàn quân. Tại đây hắn bắt đầu bước vào nghề gián điệp và rồi được cơ quan tình báo Đức dùng.

        Cuộc rút chạy của quân Đức về đến sông Vít-xtuyn tất nhiên đã gây ra cho Uyn-ken nhiều lo lắng. Là nhân viên tình báo nên hắn biết là tin tức báo chí nói rằng quân Nga, sau một đà nhảy xa như vậy không còn đủ sức tiếp tục tiến công nữa, là sai sự thật. Tuy vậy hắn vẫn còn tin chắc phòng tuyến Vít-xtuyn không thề phá vỡ được.

        Ba tuần trước, khi các đơn vị Đức còn đóng trên bờ sông Vít-xtuyn, Côn-rát Uyn-ken không thể ngờ được là phòng tuyến mạnh như thế lại bị nát như cám dưới sức tiến công của quân Nga. Sự thực trận tiến công đã diễn ra rất mãnh liệt. Các sĩ quan tham mưu có mặt trên hỏa tuyến hay ở gần đó, trong lúc quân Nga xung phong lên, đã kể lại những chuyện thật hết sức kinh khủng. Phi pháo của quân đội xô- viết đã quét sạch mọi thứ trên đường tiến quân của họ.

        Hôm 13 tháng 1, khi còn ở bộ tham mưu tập đoàn quân, Uyn-ken có gặp em là Huy-gô, tên này vừa được tặng thưởng huân chương chữ thập sắt và được gọi lên bộ tham mưu nhận nhiệm vụ.

        Sáng 14, hai anh em nghe thấy những tiếng đại bác nổ dữ dội ở phía xa.

        Côn-rát tái mét mặt, nói:

        - Lại bắt đầu đấy.

        Huy-gô, lắng tai nghe, lắc đầu :

        - Dù cho quân Nga có chọc thủng được phòng tuyến này, chúng ta cũng sẽ chặn chúng lại trên phòng tuyến Brông-béc - Pô-dư-nan và ở Xi-lê-di, vùng này rất thuận tiện cho việc bố trí phòng ngự...

        Sư thật là Huy-gô không hề đả động tí gì đến Quốc trưởng: hắn chỉ tin tưởng vào bộ chỉ huy quân sự.

        - Các tướng chỉ huy của chúng ta là những người giàu kinh nghiệm, - hắn vừa nói vừa vội vàng cài cúc áo - nhất định các ông ấy sẽ tổ chức những phòng tuyến mới. Thôi chào anh. Mong rằng chúng ta sẽ lại gặp nhau.

        Hai giờ sau, được tin quân Nga đã chọc thủng mặt trận trên một khoảng lớn.

        Đến lúc này, Uyn-ken vẫn còn cho là tình thế chưa có gì nguy ngập. Từ mặt trận đến nước Đức còn xa lắm, cuối cùng quân Nga cũng phải đến kiệt sức thôi. " Bức thành phía đông” là một dãy dài liên tiếp những công sự phòng ngự lâu dài dọc biên giới nước Đức cũ: dù thế nào, nó cũng sẽ phải chặn được quân Nga không cho tiến vào những vùng sinh tử của nước Đức.

        Thế nhưng bộ tham mưu lại có vẻ xôn xao rất đáng ngờ và đến chiều tối còn tỏ ra vội vàng, cuống cuồng nữa. Người ta chất mọi thứ lên xe. Khắp mọi nơi đều thấy cảnh tượng hoang mang hoảng hốt, hỗn loạn.

        Lúc này, Côn-rát được đại tá Bôm gọi vào. Hai người nói chuyện dưới một nhà hầm, vì máy bay Nga chắc đã phát hiện được địa điểm của bộ tham mưu, nên không ngớt giội bom xuống làng. Lệnh cho Côn-rát cải trang thành thường dân, mang theo một máy vô tuyến điện tới Hô-hen-san, một thành phố Ba Lan, tên cũ là I-nô-rốt-láp, với nhiệm vụ cung cấp tin tức về tình hình tiến quân và số lượng của quân Nga. Mật mã vẫn như cũ. Tên đại tá đưa cho hắn giấy tờ mang tên Va-lép-xki làm nghề mách mối mua bán nhà cửa đất cát. Hắn phải giả danh là người Vác-sa-va tản cư về Hô-hen-san ở nhà một thương gia Ba Lan hiện là nhân viên tình báo Đức. Tên này sẽ nhận cho hắn trú ngụ. Tên đại tá lại cho hắn biết ở An-buyếc- gun (tức là thành phố Su-bin của Ba Lan cũng bị đổi theo tên Đức) đã có trung úy Han được phái đến đây giả làm thợ máy, cùng làm một nhiệm vụ như hắn. Sau khi cho hắn biết thêm ba địa điểm thường trực ở đất Đức, để đề phòng trường hợp hắn phải rút lui về phía tây thì tìm đến, tên đại tá cho hắn đi. Uyn-ken chạy tất tưỏi lại ngôi nhà mà hắn vừa được chỉ đến. Tên thiếu tá Si-ê-béc đang bước lên xe ô tô, cau có ra lệnh : " Phát cho nó một máy vô tuyến điện ”, rồi bỏ đi luôn. Tên quản lý mặt lầm lầm chỉ cho Uyn-ken chừng hơn chục chiếc máy vất dưới đất và đòi giấy biên nhận. Uyn-ken lúi húi viết giấy. Bốn bề bom nồ dữ dội. Tên quản lý suy nghĩ một lát rồi bảo :

        - Thôi được, không phải biên nhận nữa.

        Uyn-ken hoang mang, nhìn chiếc máy. Mang đi bằng cách nào ? May sao, hắn nhớ ra ngoài sân có chiếc xe cút kít nhỏ. Hắn đặt chiếc máy và mấy hòm điện lên xe cút kít rồi đẩy xe về ban "2b”. Tên Bôm đã đi rồi. Xung quanh, xe ô tô, người chạy nhốn nháo, không ai trả lời hắn. Cuối cùng hắn gặp thiếu úy Hau-xơ là đồng sự và bạn thân của hắn.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười, 2017, 11:20:54 am

        Hau-xơ khẽ hỏi:

        - Mày đi đâu ?

        - Đi Hô-hen-san. Tao mang theo một máy vô tuyến điện.

        - Còn tao phải đi Gơ-ni-sen vùng Vác-tơ-gâu1. Và hạ thấp giọng xuống : - Công việc chó má thật! Ít ra mày còn biết tiếng Ba Lan. Còn tao không biết làm ăn ra sao với cái giọng của tao cách xa đến một ki-lô-mét cũng biết ngay là tiếng của vùng Xắc-xơ. Tao bảo lão ta: tôi biết tiếng Tiệp... cho tôi sang Tiệp tốt hơn. Lão ta sợ không kịp thở nữa. Thế là lão ấy chuồn. Chẳng còn biết nói với ai. Tao nghe nói là chỉ sáng mai quân Nga sẽ tiến đến đây. Thôi, bọn ta đi thôi, ở làng bên kia, thằng Cráp có xe ô tô đợi bọn mình.

        Hai thằng vào trong nhà, chọn trong đống đồ đạc vứt bừa bãi hai bộ quần áo thường phục. Uyn-ken lấy chăn bọc máy vô tuyến điện lại, rồi hai thằng rời khỏi làng. Trên đường cái những đơn vị chủ lực thất trận kéo đi như nước chảy. Xe ô tô chạy bóp còi inh ỏi, thúc bộ binh dẹp sang bên. Bọn này bước đi, vẻ mặt ảm đạm.

        Bọn lính tưởng Uyn-ken và Hau-xơ là hai người Ba Lan. Một tên thượng sĩ còn dọa bắn chúng và ra hiệu cho chúng không được đi trên đường cái nữa.

        -  Quân gián điệp liệu hồn! - Tên thượng sĩ lău bầu trong miệng.

        Uyn-ken rất sợ hãi. Thật vậy, điệu bộ chúng nó lúc này hẳn là đáng nghi ngờ quá còn gì. Không may có tên lính nào đòi lục cái xe cút kít, tìm thấy cái máy vô tuyến điện thì chúng nó chắc sẽ phải ăn đạn ngay không cãi vào đâu được.

        Trên các ngả đường không còn trật tư viên làm việc nữa. Thỉnh thoảng một tên sĩ quan cố duy trì lại trật tự, nhưng chẳng ai buồn nghe. Xe ô tô và đại bác nằm chơ chỏng trong những hố đất thò đầu lên. Xa hơn nữa, trong một hố bom, sách vở vất lung tung chắc là của một đại đội tuyên truyền nào chạy tháo thân: nào sách kinh, nào lịch túi của lính. Một cuốn sách mở tung, có chân dung Quốc trưởng, mặt dính bùn bê bết, giương đôi mắt cuồng dại nhìn người qua lại. Uyn-ken quay mặt đi chỗ khác.

        Binh lính liếc nhìn những chiếc xe vận tải chất đầy bàn ghế, giường tủ, thảm, chậu cảnh, tất cả gia tài của các thủ lĩnh, các tướng tá, và các đội trưởng com-măng-đô đang tháo chạy về phía tây. Hơn chục chiếc xe vận tải chở toàn đồ gỗ lát của vị thủ lĩnh nào đó, nghe đâu như của chính tên bác sĩ Phran thì phải. Những chiếc tủ chạm trổ đẹp đẽ, những bộ bàn ghế đóng rất tinh xảo, dần dần bao phủ một lớp tuyết tan. Từ dưới đống bàn ghế, giường tủ, những con ngỗng trắng thò cồ dài ra kêu oang oác.

        Thôn của ban quân báo đóng, trước kia ai lạ mặt vào thì có thể bị tử hình, bây giờ đầy ắp những người: nhân viên quân nhu, binh sĩ, những đứa con gái say rượu cười ầm ỹ. Thì ra đó là một nhà chứa của quân đội đang rút chạy.

        Hau-xơ mặt tái mét hỏi: " Chẳng nhẽ Cráp cũng chuồn rồi à?”.

        May sao, tên Cráp hãy còn đó. Giữa quang cảnh hỗn độn này, hắn là người độc nhất còn giữ được vẻ bình tĩnh bề ngoài. Hắn đang đứng trước lò sưởi, đốt từng đống giấy còn chất quanh người hắn. Hắn ra hiệu cho mấy tên sĩ quan cải trang, rồi nói:

        - Tôi sẽ chở các anh đi ngay bây giờ. Quân Nga đã tới gần đây rồi.

        Hắn nhìn hai tên mới tới bằng con mắt chê trách, nhận xét một vài điểm về quần áo và dặn Hau-xơ không nên lên mặt nhiều quá:

        - Anh nên nhớ bây giờ anh là một dân thường.

        Thấy Hau-xơ phàn nàn biết ít tiếng Ba Lan, hắn dang tay nói với một giọng cục cằn :

        - Làm thế nào được. Có lệnh đưa anh tới Gni-sen. Tôi không thể cưỡng lệnh. Và các cấp trên đều đi cả rồi. - Im lặng một lát hắn lại nhắc lại: - Quân Nga đã tới gần lắm rồi.

        Hau-xơ vẫn chú ý đến vấn đề này liền hỏi:

        - Theo anh thì chắc ta sẽ chặn được quân Nga chứ ? .

        Cráp đưa đôi mắt trắng dã, lừ lừ nhìn hắn:

        - Phải chấp hành mệnh lệnh... ở phía tây quân ta đang đánh bọn Mỹ ở miền núi Ác-đen thì đùng một cái bên này quân Nga mở cuộc tiến công. Thật là mãnh liệt chứa từng thấy... Chính tôi cũng dự đoán nửa tháng nữa họ mới bắt đầu tiến công được. Có nhiều tin chứng thực như thế. Ấy thế mà bọn Bôn-sê-vích lại tiến công trước cả sự dự đoán : rõ ràng là chúng muốn đánh giúp cho bọn lính Mỹ "bị thúc đít ra trận” kia. - Hắn ném nốt chồng sách cuối cùng vào lò sưởi và hỏi: - Các anh còn đủ tiền không ? Hãy cầm lấy một ít đề phòng.

        Hắn cho mỗi thằng một gói tiền giấy mác2 và lô-ti3. Nghĩ một tí hắn nói thêm :

        - À, phải, tiền này hết giá trị rồi. Bây cầm lấy tiền rúp của Nga này. Bạc giả đấy nhưng mà giống lắm, không thể phân biệt được đâu.

---------------------
        1. Tên Đức đặt cho vùng Pô-dơ-nan của Ba Lan.

        2. Tiền Đức.

        3. Tiền Ba Lan.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười, 2017, 04:17:52 am

        Trong lúc đó, một chiếc xe ô tô hàng lớn sơn xanh đỗ ngay trước cửa nhà. Còi bóp inh ỏi, gọi tên Cráp. Tên này mặc áo vào. Cả ba ra đi.

        Trên xe có một số người mặc thường phục, Uyn-ken không quen biết, và hai hạ sĩ quan đeo tiểu liên. Trong xe chất đầy những hòm gỗ gắn xi. Phâi chật vật lắm mới đưa được chiếc xe cút kít có cái máv vô tuyến điện lên, vì Uyn-ken nhất định không chịu bỏ lại. Cuối cùng xe mở máy chạy.

        Trời xẩm tối, nhiều tiếng động và tiếng kêu thất thanh từ phía đường cái vọng lại.

        Nửa đêm, xe vượt qua thành phố Cút-nô ; một trong mấy người mặc thường phục sau khi thì thầm ít câu với Cráp, xuống xe. Đến Cô-lô lại một tên khác xuống. Qua sông Oác-tuy. Đầu cầu ngồn ngang người, ngựa, xe cộ. Bắt buộc phải đợi hai tiếng đồng hồ. Đến Cô-nin, lại để lại một nhân viên, rồi xe phóng lên hướng bắc. Đi suốt cả ngày. Trên đường cái đầy ứ quân lính rút lui và dân tản cư ; đây là những gia đình người Đức kéo nhau đi hai bên lề đường. Đến một quãng, xe vượt qua chiếc xe vận tải chất đầy bàn ghế gỗ lát và đàn ngỗng trắng của tên bác sĩ Phran.

        Tới khuya xe dừng lại gần Hô-hen-san. Bến lượt Uyn-ken xuống. Cráp dặn hắn bỏ lại tất cả những giấy tờ nhà binh, hủy hết các thư từ tiếng Đức và nói chung là mọi di tích về quá khứ của hắn. Uyn-ken vội soát lại các túi và cho biết không còn gì nữa. Hau-xư đưa bàn tay nóng hồi và run rẩy ra bắt tay chào Uyn-ken.

        Uyn-ken nhảy xuông. Lập tức người ta hạ cả chiếc xe cút kít xuống cho hắn. Xe lại mở máy chạy và thoáng một cái đã biến mất sau quãng đường vòng. Uyn-ken đứng đực ra một lúc rồi chậm chạp đầy chiếc xe cút kít đi về Hô-hen-san, hay nói cho đúng hơn, I-nô-rốt-láp. Từ nay trở đi, Uyn-ken phải gọi thành phố đó bằng tên Ba Lan.

        Hắn thấy hoang mang, lo sợ. Hắn nghĩ bụng: " Thời thế này mà lần hồi ở nhờ một tên Ba Lan thì thật nguy hiểm”. Nhưng chẳng còn phương kế nào khác. Có một điều làm hắn yên dạ đôi chút, đó là: trên đường cái cũng có nhiều người Đức và Ba Lan đang đi; trong bọn họ có một số người cũng đẩy những chiếc xe cút kít như của hắn, vì thế trông hắn cũng không khác gì họ. Cũng có cả những tốp lính Đức đi đường, nhưng bây giờ hắn không thể nhờ giúp đỡ gì được nữa: hắn là Va-lép-xki làm nghề mách mối mua bán nhà cửa ở Vác-sa-va, chỉ có thế thôi, không hơn. Hắn cũng không thể vào trọ ở cái khách sạn to lớn, lịch sự ở đầu tỉnh, cạnh cột ét xăng kia được, vì ngoài cửa cổ tấm biền: "Niufur Deutsche” ("dành riêng cho người Đức”).

        "Vả lại - hắn mỉm cười; chua chát tự nói với mình - quân Nga sắp tới đây rồi. Họ sẽ giải phóng chúng ta khỏi ách áp bức của người Đức ”.   ^

        Phố phường hoang vắng. Khó khăn lắm hắn mới tìm được ngôi nhà đá hai tầng, tầng dưới là một cửa hàng tạp hóa. Hắn gõ cửa và đứng đợi. Không có ai ra.

        Uyn-ken lại nhìn tấm biển: ừ, đúng nhà này, "Ma- tuy-dép-xki ”. Hắn lại đập cửa sổ, lần này mạnh hơn, cương quyết hơn. Cuối cùng, sau cánh cổng, xa xa có tiếng đàn ông hỏi bằng tiếng Ba Lan :

        - Co pan potrzeuje ?

        Uyn-ken đáp là hắn có bức thư của ông Da-bluy-đốp-xki ở Vác-sa-va gửi cho bà Ma-tuy-dép-xki. Cánh cổng từ từ mở, Uyn-ken đẩy chiếc xe cút kít bước vào.

        Ma-tuy-dép-xki là một người thấp, béo và rất hay nói. Tình hình diễn ra đang làm cho lão ta kinh hoảng nên lão ta cũng không vui vẻ gì khi thấy " pan Va-lép- xki ”1 tới. Một tiếng động nhỏ ngoài phố cũng đủ làm cho bộ ria xám cứng của hắn phải rung lên, môi trên chẩu ra, đề lộ hàm răng chuột nhọn hoắt, và bàn tay béo múp của lão giơ lên trời. Trong những lúc ấy, hắn giống hệt một con chuột đồng đang hếch mũi đề phòng bị khi có tiếng chân người bên ruộng lúa.

        Nhưng hễ hết tiếng động là lão ta lại nói lấy nói để, đủ các thứ chuyện: gia đình hắn và anh hắn ở Luân Đôn kêu ca việc quân Đức suy yếu quá, bao nhiêu mộng của hắn bị tiêu tan và quân Nga sắp đến rồi...

        Hắn nói:

        -  Dà, dà, công việc thật là hỏng bét... Thưa ông, sau này sẽ ra thế nào kia ạ ?

        Dù sao hắn cũng tít mắt khi nhìn thấy Uyn-keu có tiền Nga (tất nhiên tên này không nói với hắn đó là tiền giả). Hắn dẫn tên Đức vào một gian buồng xép tầng dưới. Chiếc máy vô tuyến điện giấu vào giữa những đống sợi gai nằm lỏng chỏng cùng với những chiếc thùng, không, hòm rỗng

--------------------
        1. Ông Va-lép-xki - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười, 2017, 12:21:50 am

        Va-lép-xki được giới thiệu là một người ở Vác-sa-va tản cư về với bà Ma-tuy-dép-xki, một mụ già gầy choắt mà còn làm dáng. Hắn phải kể cho mụ kia nghe những chuyện mà hắn biết và cả những chuyện mà hắn không biết về tình hình Vác-sa-va và cuộc tiến quân của quân Nga. Tên chủ nhà phải tìm cách đuổi nhanh mụ vợ về buồng. Còn lại mình hắn với Uyn-ken, hắn mới thồ lộ cái ” chính tri ” của hắn. Lão ta nói:

        - Tôi là người Ba Lan, phải, thưa với ông, nhưng nhiều việc người Đức làm đã khiến cho tôi phải ghê tởm... hừ, hừ... Chính trị của người Đức, thưa ông... hè, hè... Va-lép-xki, không phải là thứ chính trị giỏi. Thưa ông, không phải là vì yêu ông mà tôi chứa ông mà chính vì những ly do chính trị cao cả, bởi vì thưa ông, chủ nghĩa cộng sản thật là tai họa. Tôi xin nói thật với ông... Tôi tán thành đường lối của quân đội Cra-giô-oa1 mà tôi được hân hạnh tham gia. Tôi nghe đài phát thanh "Sít- uýt”2 và tôi hoàn toàn đồng ý chính sách của tướng Xon- cốp-xki... Tôi xin nói thật, thưa ông... hì, hì, hì,... Va-lép- xki, vâng nói thật... Tôi không phải là người Ba Lan phản quốc đâu. Ồ không! Anh tôi ở Luân-đôn cũng có địa vị trong cơ quan chính phủ. Ồ, anh tôi không phải là ông bộ trưởng Ma-tuy-dép-xki đâu, tuy ông này cũng là một nhân vật co danh vọng... ồ không phải! Ông bộ trưởng ấy trùng họ với tôi, có thế thôi ạ...

        Câu chuyện ba hoa của Ma-tuy-dép-xki làm Uyn-ken rất cáu. Nhưng hắn vẫn buộc phải nghe. Ngay cả đến sự thành thật trắng trợn của lão Ba Lan này, mà chắc mấy ngày trước đây không tài nào dám lộ ra như thế, cũng đủ nói lên uy tín nước Đức đã suy sụp đến ngần nào. Uyn-ken cố sức lắm mới kìm được những câu chửi rủa. Nhưng thời thế đã thay đổi rồi. Với vẻ mặt nhăn như bị, hắn phải cố làm ra vẻ chú ý nghe những câu thuyết lý của nhà "chính trị” Ba Lan này. Trong khi cố sức để mà nghe câu chuyện của lão chủ nhà, Uyn-ken chỉ nghĩ tới một điều: " cốt sao quân đội có thì giờ củng cố phòng tuyến Brông-béc - Pô-dư-nan - Brét-lô như vậy thì còn có cơ cứu vãn nỗi... ” Rồi hắn lại nghĩ: "Thật nhục nhã... Tháo chạy như thế! Khác gì đàn cừu...”.

        Quay về chỗ ẩn náu của hắn, hắn ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

        Tảng sáng, tiếng người thì thầm to nhỏ làm hắn tỉnh dậy. Lão chủ nhà vào, tay lão run run cầm lá cờ đỏ. Lão nói nhỏ:

        - Quân Nga vào thành phố rồi. Dậv đi ông, dậy giúp tôi một tay.

        - Đã đến rồi à ? Không có thể thế được... - Uyn- ken nói, lộ vẻ kinh ngạc. 

        Lão chủ gắt lại:

        -  Lại còn không có thể thế được à! Quân tướng hạng bét. Dậy đi! Giúp tôi một tay với ông.

        Lão mở cái cửa con trên mái nhà. Một luồng gió lạnh ùa vào thổi tung chiếc khăn bàn và mấy tờ lịch. Lão Ma-tuy-dép-xki trèo lên ghế, lấy đinh đóng lá cờ vào chiếc cán gỗ cắm vào tường ngay trước cái cửa con. Tiếng búa vang lên giòn giã trong đường phố vắng vẻ. Lão Ma-tuy-dép-xki bước xuống ghế, lớn tiếng thở dài.

        Lá cờ đỏ phấp phới bay trên mái nhà.

------------------
        1. Quân đội tư sản Ba Lan - N.D.

        2. Tên đài phát thanh của chính phủ tư sản lưu vong Ba Lan - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười, 2017, 06:35:44 am

XII

        Ngay từ sớm, Uyn-ken lang thang ngoài phố. Ngày hôm nay, hắn đã được nhìn thấy rõ ràng sức mạnh tiến công ghê gớm của quân Nga. Xe tăng và đoàn trọng pháo thần kỳ kéo đi như nước chảy.

        Vả lại, cũng chẳng cần phải giỏi khoa tâm lý mới nhìn thấy được trên khuôn mặt bộ binh sạm nắng gió một tinh thần chiến đấu chân chính, một thứ gì như nước "men đồng” mà cuộc đời chiến đấu đã nhuộm lên màu da các chiến sĩ. Đoàn người bước đi không thành đội ngũ diễu binh, cũng không bước theo kiểu chân ngỗng1; cũng chẳng có kèn trống inh ỏi và không có gì là hình thức phô trương, cũng không có bộ điệu của quân xâm lược. Họ bước đi đàng hoàng, không có vẻ gì vội vã, hầu như đang tiến hành một nhiệm vụ thường ngày. Họ tò mò ngắm những tấm biển hàng, biển phố, mĩm cười tinh nghịch với những thiếu nữ Ba Lan xinh đẹp; hẳn họ cũng rất hài lòng nếu được dừng lại một lát, nói chuyện đôi câu, và bông đùa với các cô gái. Nhưng họ không hề dừng lại, vẫn tiếp tục bước đi về hướng tây. Và Uyn-ken, run sợ, cảm thấy rằng không có sức mạnh nào ngăn nồi đoàn người ấy lại.

        Một đơn vị tiến qua, lá cờ đỏ dẫn đầu.

        Trên lá cờ, Uyn-ken nhìn thấy dấu hiệu búa liềm và ngôi sao năm cánh - huy hiệu cộng sản, hay như ở Đức người ta thường gọì là "mác-xít”. Hắn vẫn đinh ninh trong đầu óc là những người cộng sản bao giờ cũng trốn tránh, sống ngoài vòng luật pháp. Trời! Từ năm 1933 hai tiếng " cộng sản ” đã bị coi là những tiếng khủng khiếp, không được phép nhắc tới. Những người cộng sản được sống tự do, hai khái niệm đó không thể cùng tồn tại trong đầu óc Uyn-ken được. Điều đó cũng lạ lùng như có ai nói với hắn: "Có người ở cung trăng xuống ở Béc-lin”. Thế mà trước mắt đây, không phải những người cộng sản đang tự do bước đi kia hay sao ? Chẳng những tự do bước đi mà còn mang theo cả một sức mạnh vô-địch và đang tiến vào cửa ngõ đế quốc Đức.

        Giữa trưa, Uyn-ken quay về nhà mệt nhoài, vừa rét vừa đói bụng. Ma-luy-dép-xki tiếp hắn, chẳng nói câu nào, nhưng cứ cất tiếng thúng thắng ho một cách bóng gió. Lát sau, có người gõ cửa. Một thanh niên to lớn, tay đeo chiếc băng nửa trắng, nửa đỏ2 bước vào. Sau khi chào Ma-tuy-dép-xki và người "khách Vác-sa-va tản cư về” mà chủ nhà vưa giới thiệu, người thanh niên báo tin nửa giờ sau sẽ có cuộc mít tinh tại quảng trường thành phố.

        Ma-tuy-dép-xki ấp bàn tay béo múp vào trước ngực, cúi chào cảm ơn người thanh niên, hứa rằng hắn và vợ con nhất định sẽ có mặt trong buổi mít tinh chào mừng ngày lịch sử vĩ đại và vui sướng này, ngày mà thành phố I-nô-rốt-láp, quê cha đất tổ hắn được giải phóng khỏi ách quân xâm lược Đức khốn nạn.

        Nói đoạn hắn đưa cặp mắt sắc liếc nhanh Uyn-ken một cái. Tên này theo hắn ra dư mít tinh.

        Nhân dân phấn khởi tụ tập trên quảng trường. Cờ đỏ, cờ nửa đỏ nửa trắng bay phấp phơi khắp nơi. Trên bao lơn tòa thị chính có mặt các sĩ quan Liên Xô và Ba Lan.

        Một phụ nữ Ba Lan còn trẻ nhưng mái tóc đã bạc trắng vừa được giải phóng khỏi trại tập trung Đức, đang nói. Những điều chị thuật lại thật là ghê rơn. Quần chúng lặng người trong một không khí im lặng thê thảm. Uyn- ken dừng lại, không dám động đậy. Khi chị Ba Lan nói xong, một chiếc xe ô tô và một chiếc xe bọc sắt ầm ầm tới quảng trường. Trên chiếc xe bọc sắt, có những chiến sĩ xô-viết ngồi, đầu đội mũ sắt, mang súng tiểu liên. Một lão tướng Nga xuống xe, đi vào tòa thị chính, theo sau có hai sĩ quan Nga và một sĩ quan Ba Lan. Lát sau vị tướng này bước ra bao lơn.

        Đồng chí Ba Lan chủ tọa cuộc mít tinh giới thiệu ngay để vị tướng đó nói chuyện. Họ tên Xi-dô-crư-lốp còn lạ với nhân dân Ba Lan nhưng rất quen thuộc trong cơ quan gián điệp Đức.

        Tiếng nói của trung tướng dõng dạc, vang lên giữa những ngôi nhà xây đã lâu đời. Bồng chí chào mừng nhân dân Ba Lan đã thoát khỏi ách phát xít Đức và hứa rằng quân đội xô-viết sẵn sàng giúp đỡ nhân dân Ba Lan trên tình anh em.

        Quần chúng cảm động vỗ tay đáp lại lời tuyên bố của đồng chí trung tướng. Uyn-ken tự nhiên thấy một cụ già Ba Lan ôm lấy hắn, hôn hắn. Rồi một nữ thanh niên Ba Lan cũng ôm hôn hắn. Bao nhiêu mũ đều được tung bổng lên trời.

        Hoảng sợ quá, Uyn-ken phải lấy hết sức bình sinh để luồn ra khỏi đám đông, về đến nha lão chủ, hắn lặng lẽ trèo lên gian gác xép. Trong buồng tối tăm, tịch mịch, nồng nặc mùi chuột, mùi bụi bặm, Uyn-ken thắp đèn và run rẫy mở máy vô tuyến điện. chỉ một lát nữa, hắn sẽ báo tin là trong thành phố có rất đông quân Nga và có cả trung tướng Xi-dô-crư-lốp. Rồi quân Đức sẽ phái máy bay tới, thế là thành phố I-nô-rốt-láp và lão chủ nhà Ma-tuy- dép-xki sẽ tung xác lên trời!

------------------
        1. Kiểu đi nghiêm, của quân đội phát xít Đức - N.D.

        2. Màu quốc kỳ nước Ba Lan mới - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười, 2017, 09:46:44 am

        Hắn gõ máy gọi đài " Cai-de-bóp". Có tiếng người nói, tiếng hát, tiếng cười. Lát sau, hắn bắt được luồng điện trả lời hắn, nhưng... lại bằng tiếng Nga. Có tiếng đếm mãi: "Một, hai, ba, bốn, năm...”.Rồi nói "Va-nhi-a, chỉnh lại máy đi ”.

        " Cai-de-hóp ” không trả lời.

        Uyn-ken dò những luồng điện khác. Từng mẩu ngắn những câu đối thoại bằng tiếng Đức nghe được chứng tỏ là quân Đức đang rút chạy hỗn loạn. Có tiếng cầu cứu. Lại một tiếng khác la to: "Tôi bị bao vây rồi! ”.

        Một giọng thứ ba rít lên: " Zum Teufel! ”1

        Uyn-ken ngồi nghe suốt đêm đó rồi cả ba đêm sau. Cuối cùng hắn biết là không còn hy vọng gì nữa. Máy vô tuyến điện của hắn sức yếu, chỉ có thể hoạt động trong một vòng bán kính một trăm ki-lô-mét! Chắc chắn là quân Đức đã rút khỏi, hay đúng hơn, đã tháo chạy quá khu vực hoạt động của chiếc máy vô tuyến điện.

        Sáng sớm Uyn-ken bò xuống. Vừa mở cửa buồng lão chu, hắn trông ngay thấy hai sĩ quan Nga. Chỉ suýt nữa là hắn bỏ chạy. Nhưng hắn vừa kịp trấn tĩnh. Hai sĩ quan này chỉ mang giấy giới thiệu đến nghỉ nhờ. Sau khi nói chuyện đứng đắn với vợ chồng chủ nhà và "khách tản cư”, họ ngồi xuống đánh cờ. Uyn-ken theo dõi họ không rời mắt. Cả hai đều trẻ tuổi, trán rộng và thẳng, đôi mắt bình thản, trong sáng, chăm chú suy nghĩ nước cờ. Không, họ không có một vẻ gì là quân xâm lược cả. Họ không la thét cũng không khoe khoang và cũng không muốn lấy sức mạnh đè bẹp ai hết.

        Uyn-ken hỏi ý kiến họ về tiền đồ của cuộc chiến tranh. Cùng một lúc cả hai đều ngẩng lên, lắng nghe câu hỏi bằng tiếng Ba Lan mà họ thường không hiểu gì mấy. Một người trả lời:   

        - Chỉ mấy tháng nữa chiến tranh sẽ kết liễu.

        "Va-lép-xki” hỏi thêm:

        - Ngay năm nay ư ?

        - Dĩ nhiên là như thế - người Nga trả lời và lại có vẻ ngạc nhiên về câu hỏi đó.

        "Va-lép-xki” còn dám tỏ vẻ nghi ngờ; hắn nói là quân Đức còn rất mạnh. Lão chủ nhà sợ hãi nhìn hắn có ý bảo phải cẩn thận. Chính lão ta vừa quả quyết với các "quan” đây rằng quân Đức suy yếu là rõ ràng rồi!

        Ấy thế mà các sĩ quan Nga lại đồng ý với " Va-lép- xki ”. Một người nói:

        - Chúng còn mạnh thật. Nhưng chúng tôi lại còn mạnh hơn. Hơn nữa bọn chúng về tinh thần hoàn toàn bị đánh gục rồi.

        - Prosze pana ? - " Va-lép-xki ” hỏi lại vì chưa hiểu bị đánh gục rồi là thế nào.

        - Bị đánh gục rồi. - Người Nga nhắc lại và ra hiệu đưa mạnh nắm tay từ trên vai xuống.

        Uyn-ken đi ra ngoài. Lão chủ theo sau thì thầm :

        - Ông điên à?... ông thốt ra những gì thế! Muốn chết cả lũ hay sao?

        - Lão khọm ngu ngốc, câm đi! - Uyn-ken rít lên và trèo lên căn gác kín.

        Làm gì bây giờ? Chuồn về nhà ở Đăng-dít ư? Gia đình hắn chắc đã tản cư về nhà ông chú Ê-rícli ở Uýt-ten- béc rồi. Hay mang máy vô tuyến điện chuồn lên sát mặt trận? Làm thế thì khờ dại lắm, cơ quan phản gián của Nga nhất đinh sẽ tóm cổ mất.

        Cuối cùng hắn quyết định đi Su-bin, gặp tên Han. Tên trung úy này đã đến đấy sớm hơn, ngay từ lúc " tình thế chưa có gì cấp bách. Có thể là máy của hắn mạnh hơn và ở đó còn có những phương tiện thông tin khác. Uyn-ken có quen sơ sơ tên trung úy này, mặc dù nguyên tắc cấm nhân viên tình báo không được liên hệ với nhau ngoài công việc.

        Hắn lại xuống nhà. Lão chủ đang ở ngoài hàng. " Người ủng hộ tướng Xôn-cốp-xki ” này đã quyết định lại mở cửa hàng để tỏ ra là hắn rất vui sướng được thấy quân Nga đến và hắn rất trung thành với chính quyền mới của nhân dân. Khoác chiếc áo dài bằng vải sơn, hắn đang lăng xăng đi lại quanh những hòm cá và thùng dầu. Mụ vợ ngồi bên cạnh, bán bột mì và xúc xích với giá cắt cổ.

        Uyn-ken bảo :

        - Tôi đi đây ông ạ.

        Lão chủ sợ hãi và ngơ ngác trợn mắt nhìn Uyn-ken. Uyu-ken nói to để cho khách hàng nghe tiếng :

        - Tôi phải về ngay Vác-sa-va. May ra tôi tìm gặp được người nhà chăng...

        Lão chủ chùi tay vào chiếc "tạp-dề” rồi cùng với Uyn-ken lủi vào gian phòng cuối ngổn ngang bao tải và thùng gỗ. Uyn-ken báo cho lão chủ biết hắn gửi lại đây chiếc máy vô tuyến điện và đi sang một thành phố khác có việc. May lắm hắn mới có thể quay lại đây được. Hắn yêu cầu lão chủ cấp cho một ít lương ăn đi đường. Mỗi câu nói của Ưyn-ken lại làm cho bộ mặt lão chủ tươi lên một ít. Lão chủ vui vẻ đưa cho Uyn-ken một gói đồ ăn to tướng : một chiếc bánh mì trắng, một mẩu xúc xích, nguyên một bánh pho mát Hà Lan và cả một chai rượu mạnh.

        Chờ đến tối mịt, Uyn-ken rón rén mơ cổng, đẩy chiếc xe cút kít đi ra. Và lát sau hắn đã lên đến đường cái lớn. Tuyết rơi lả tả. Thỉnh thoảng hắn lại gặp những toán người Ba Lan từ các trại tập trung, các xưởng máy Đức kéo về nhà. Rất nhiều người đi cùng gia đình. Trẻ em ngủ ngay trên tay cha mẹ. Tiếng xe đạp, xe cút kít kêu ken két. Ngay giữa đêm khuya, đường cái lúc nào cũng có người đi lại tấp nập. Hai bên lề đường, trong các bụi cây có những tiếng thì thẫm, tiếng khóc, tiếng người nói.

---------------
        1. Cho ma bắt đi, không thèm nữa!-N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười, 2017, 04:47:43 am

        Gió thổi rung cành lá. Uyn-ken bước đi, đầu óc chẳng muốn bận bịu một vấn đề gì. Nhưng nhiều ý nghĩ ngao ngán cứ ám ảnh hắn hoài. Nếu như mọi danh từ tuyên truyền : nào nước Đức vĩ đại ư ? nào nhiệm vụ cao cả của nước Đức ư? nào nước Đức vô địch ư ? đều chỉ là lừa bịp cả thì Uyn-ken hắn biết sống vào đâu ? " Lánh mình về sống ẩn dật chăng ? ” Hắn tự hỏi với cái giọng văn thời sự huênh hoang của báo chí tư sản. Lát sau hắn lại nghĩ: " Chắc bây giờ hàng triệu dân Đức cũng đều nghĩ như vậy”. Thế ra rút cục hắn - Uyn-ken -  không còn chút vẻ gì của con người hoạt động nữa ư ? Hắn bao giờ cũng chỉ nghĩ đến cá nhân hắn. Người ta bảo hắn là chỉ có thể sống giàu sang một khi người Đức chinh phục được cả châu Âu và lập nên một trật tự mới trong đó quyền hành và danh vọng thuộc về người Đức". Nhưng quyền hành và danh vọng là cái "cóc khô” gì kia chứ ? - Bây giờ hắn suy nghĩ như một nhà tu hành thời cổ -Chẳng qua là cát bụi và mây khói, thế thôi... ”.

        Đi mãi mệt quá, Uyn-ken rẽ xuống một khu rừng con, đỗ xe cút kít lại, dưa lưng vào xe, thiếp đi. Chẳng bao lâu, hắn có câm giác như có người đứng bên cạnh hắn. Đúng, dưới gốc cây ngay gần đó có mấy người đứng. Họ có ba người, đang vội vã thay mặc quần áo thường dân. Râu ria đầy cằm. Mắt họ nhìn hắn trừng trừng.

        Một tên trong bọn khàn khàn hỏi Uyn-ken bằng tiếng Đức, giọng nói chính cống của người vùng Su-áp, chính cống đến nỗi làm Uyn-ken giật mình ngạc nhiên :

        - Anh chở cái gì thế ?

        Uyn-ken hiểu ngay là hắn gặp ba lính Đức cải trang thường dân đang tìm cách thoát vòng vây trốn về bên quân chúng. Tuy hắn không có quyền để lộ tung tích, nhưng gặp mấy đồng bào của hắn, hắn thấy sung sướng quá đến nỗi không cần giữ bí mật nữa, hắn vội kêu to.

        - Tôi, tôi cũng là người Đức !

        Chẳng nói chẳng rằng, một tên trong bọn đấm cho Uyn-ken một quả vào giữa ngực. Một tên khác đẩy hắn ra xa chiếc xe cút kít. Rồi ba thằng vừa lục lọi đồ đạc của hắn, nhặt lấy thứ này, thứ khác, vừa nhớn nhác nhìn về phía đường cái. Cuối cùng chúng tóm được gói thức ăn.

        - Các anh làm thế là thế nào ? - Uyn-ken lẩm bẩm - Tôi là người Đức... ở Đan-dít... thiếu úy... cùng bọn mình cả... Tôi, tôi cũng đang tìm cách thoát...

        Không một lời nói lại, bọn kia đẩy chiếc xe cút kít đi biến vào trong rừng. Uyn-ken đứng dậy, khập khiễng bước ra đường cái. Thật là lạ lùng, không có chiếc xe cút kít, hắn cảm thấy đi khó khăn hơn : đi với chiếc xe còn có ý nghĩa một chút, việc đẩy xe đã có tác dụng quan trọng làm tiêu tan những ý nghĩ nặng nề. Hắn thở dài suýt khóc vì uất ức.

        Trời đã sáng. Vào một làng, hắn chạm trán một nhóm chiến sĩ thông tin Nga đang ngồi đốt lửa nấu cháo. Hắn đứng lại gần đó. Họ vẫy hắn lại và một người khẽ cười hỏi hắn :

        -    Anh rét cóng rồi phải không ? Anh là ai ?

        Hắn nói nhỏ :

        - Tôi là người Ba Lan, tên là Va-lép-xki, người Vác-sa-va.

        - Anh làm nghề gì ? Công nhân, nông dân hay trí thức ?

        Uyn-ken nhớ lại dấu hiệu búa liềm trên cờ. Hắn không dám nói là làm nghề mách mối mua bán nhà đất; hắn hiểu rằng đối với người cộng sản, dính dáng đến của "bất động sản” là một bằng chứng không có giá trị gì.

        - Malarz1 - Uyn-ken đáp và, muốn để người ta hiểu ý hắn hơn, hắn khua tay lên trời ra hiệu như người đang quét sơn.

        - À, thợ quét vôi ! - Một chiến sĩ cao lớn, mái tóc rối bù reo lên.

        Mọi người gọi anh là "đồng chí chuẩn úy”, chắc anh ta là chỉ huy.

        - Các cậu thấy không ? Anh ta là thợ quét vôi! Này anh thợ, anh có đói không ? Ngồi xuống đây.

        Uyn-ken ngồi xuống, húp cháo sì sụp.

        - Tôi có người chú cũng làm thợ quét vôi giỏi lắm. Ông ấy ở Vô-lô-đa. Anh có nghe thấy nói đến thành phố này bao giờ chưa ?

        - Chưa. - Uyn-ken đáp.
       
        Đồng chí chuẩn úy làm ra vẻ bực mình nói :

        - Chà, lại thế à ? Anh chưa nghe thấy nói đến tên Vô-lô-đa à ? Bây giờ thì anh biết rồi chứ! Một thành phố có tiếng đấy! Anh nhớ lấy nhé. Anh phải biết tên các thành phố Nga vì chúng tôi đều ở tận đó đến đây giúp các anh đấy... Anh chỉ biết Béc-lin, Pa-ri và Luân-đôn... Những thành phố này chắc anh biết quá đi rồi còn gì ?

        - Vâng. - Uyn-ken trả lời.

        - Đúng quá - Đồng chí chuẩn úy vui vê nói tiếp - Và bây giờ thì anh biết Vô-lô-đa, Cốt-tơ-rô-ma rồi chứ... Đúng không ?

        Uyn-ken nhắc lại :

        - Cốt-tơ-rô-raa, Vô-lô-đa.

        Tất cả phì cười. Một người hỏi:

        - Thế bây giờ anh đi đâu?

        Uyn-ken nói là về Bít-gốt tìm nhà bà chị lấy chồng và có nhà cửa ở đó, còn như hắn thì nhà đã bị phá, gia đình đã chết hết trong một trận bom.

------------------
        1.Thợ sơn.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười, 2017, 03:34:20 am

        Một chiến sĩ từ nãy vẫn ngồi im, lắc đầu phát biểu:

        - Một người vô gia cư. Bây giờ rất nhiều những người như thế !...

        Uyn-ken đứng dậy. Hắn ngả mũ chào các chiến sĩ Nga rồi tiếp tục lên đường.

        Buồi chiều hắn tới Su-bin.
         
Xưởng sửa chữa ô tô làm việc rất khuya. Tiếng động cơ nồ ầm ỹ trong gian nhà gạch lớn. Công nhân Ba Lan và binh sĩ Nga ra vào không ngớt: xưởng máy chắc đang sửa chữa các xe vận tải của quân đội xô viết. Thấy có quân Nga, Uyn-ken không dám vào xưởng. Hắn ngồi đợi trên mọt đống gạch phía ngoài sân tối om. Một chốc, tiếng động cơ tắt, công nhân kéo ra qua khung cửa có ánh đen. Uyn-ken nhìn thật kỹ từng, người, sợ không nhận ra Han. Cuối cùng hắn nhìn thấy một anh " chàng cao lớn, mặc quần áo làm việc đang vui vẻ trò chuyện. Nghe giọng nói, hắn nhận ngay ra Han. Tim hắn lúc này đập thình thịch như gặp được bạn cố tri tuy rằng hắn cũng chỉ mới quen Han sơ sơ.

        Uyn-ken đuổi kịp Han, giọng cảm động gọi:

        - Han!

        Tên này dừng lại, tái mặt. Hắn hỏi nhỏ bằng tiếng Đức:

        - Anh là ai !

        Uyn-ken xưng tên. Cả hai đi vào ngõ tối.

        - Đây rồi.- Han vừa nói vừa đi lại một ngôi nhà hai tầng.

        Thấy Han im lặng, Uyn-keu rất hoảng. Sau cuộc gặp gỡ với ba đồng bào của hắn trong khu rừng nhỏ gần đường cái, lòng tin tưởng cua hắn ở tình tương thân tương ái giữa người Đức với nhau đã bị lung lay khá nhiều rồi.

        Han ngồi xuống giường, hỏi :

        - Thế nào ?

        Uyn-ken nhìn thẳng vào mặt Han để đánh giá con người và dò la ý tứ. Với tên này nên nói gì và không nên nói những gì ? Có nên nói thật ý định của mình và hỏi ý kiến hắn không ? Không, dù ngay trong hoàn cảnh lúc đó, Uyn-ken cũng không dám nói thật.

        Về phía Han, hắn cũng theo dõi mọi cử chỉ của Uyn-ken. Tại sao tên thiếu úy này lại đến đây ? Ai cử hắn tới ? Phải chăng để kiểm soát hắn ? Han đã quyết tâm bỏ Su-bin, đi sang phía đông để chấm dứt với cái nghề này của hắn. Hay là cấp trên hắn đã biết ? Hắn lo lắng liếc nhìn chiếc ba lô đã chuẩn bị sẵn sàng để lên đường.

        Uyn-ken nhìn thấy vậy liền hỏi bằng một giọng bình thản gượng gạo:

        - Han, anh định đi đấy à ?

        "Bọn chó đều chúng nó biết hết rồi à ? - Tên trung úy nghĩ thầm - Nó lại sắp truy mình về cái máy vô tuyến điện đây... ” Chiếc máy ấy, Han đã tháo tung, vứt từng mảnh xuống giếng nước ngay khi quân Nga vừa đến.

        Hắn trả lời với một giọng khiêu khích :

        - Tôi chẳng đi đâu cả, tại sao anh lại cho là tôi bỏ đi ?... - Hắn lầm bầm vẻ khó chiu: - Có phải ai cũng có thể đào ngũ cả đâu..

        Cả hai đều nhìn nhau tham dò. Han nhìn Uyn-ken, căm tức nghĩ bụng: ” Không hiểu chúng nó có biết mình định đi đâu không?” Còn Uyn-ken thì lo sợ, nghĩ thầm: " Hắn vừa nói gì về vấn đề đào ngũ ? ”.

        Uyn-ken vội vã nói một hồi:

        - Đào ngũ lúc này thật vô cùng nhục nhã. Tổ quốc đang lâm nguy... Kẻ địch ở bốn phía. Lúc này như bất cứ lúc nào chúng ta phải ửng hộ Quốc trưởng.

        Han nghĩ thăm: " Đồ chó săn vô lại! ”. Hắn nói:

        - Còn tôi, tôi tin tưởng ở thắng lợi. Những thất bại tạm thời không thể làm chúng ta nản chí!

        " Thật là một tên SS  cặn bã ngu ngốc! - Uyn-ken nghĩ bụng như vậy. - Biết đâu cái thằng này lại còn có thể hát bài " Horst Wessl ” cho mà xem. Hắn bèn hỏi:

        - Thế thì hay lắm... máy vô tuyến điện của anh đâu?

        Cả hai cùng nhìn trộm nhau, có vẻ ghê tởm. Cuối cùng, Han cố nói với một giọng thật bình tĩnh:

        - Hề ở chỗ khác... Tôi phải cho anh ăn đã nhé. Chắc anh đói lắm rồi.

        Uyn-ken phân vân: "Làm thế nào? Đi đâu bây giờ? Thật mình mò đến tìm cái thằng chó chết này cũng dại, đến bây giờ mà nó còn chưa mở mắt ra”.

        Cả hai ngồi vào bàn ấn, lặng lẽ nhai. Bỗng nhiên Han đứng dậy nói:

        -  À quên, tôi còn một ít rượu rum.

        Hắn rút trong ba lô ra một chai rượu. Uyn-ken thích lắm uống ngay, rồi thấy buồn ngủ. Han vui lòng nhường giường cho Uyn-ken, còn mình thì nằm trên ghe dài.

        Tẫng sáng lạnh quá, Uyn-ken thức giấc. Cả Han, chiếc áo dạ và cái ba lô đều biến mất. Sau nửa giờ chờ đợi, Uyn-ken mặc quần áo, mắt lấm la lấm lét chuồn thẳng.

        Từ đó bắt đầu những ngày lưu lạc của hắn.

        Hắn lang thang làng này qua làng khác, cứ loanh quanh gần sát mặt trận: hắn đi không có một kế hoạch gì, chỉ theo đuổi một ý định duy nhất: trở về nước Đức.

        Trời lạnh. Hắn tìm được trong một ngôi nhà hoang một chiếc khăn vuông của đàn bà, đem bịt lên đầu rồi chụp ra ngoài một chiếc mũ. Hắn soi gương sung sướng thấy bộ mặt mình tang thương, ngừ nghệch, không có thể làm cho ai nghi ngờ gì được.

        Bây giờ Uyn-ken đang đi qua những địa phương mà trước kia Hít-le đã ra lệnh đuổi gần hết dân chúng Ba Lan đi nơi khác để cướp đất giao cho bọn thực dân Đức, " những nhà trồng trọt ” như chúng vẫn tự xưng một cách ỡm ờ; bọn này bây giờ đã rút chạy về phía tây cùng với quân đội Đức rồi.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười, 2017, 07:37:51 am

        Làng xóm hoang vắng. Uyn-ken mò vào các nhà, gặp thứ gì trên gác bếp, trong nhà kho đều chén tuốt. Đến một làng kia, hắn còn kiếm cả lương thưc dự trữ. Hắn đuổi bắt một con lợn vô chủ mất nửa giờ đồng hồ, cuối cùng tóm được, hắn dùng con dao làm bếp chọc tiết, xả thịt bừa phứa. Hắn đút vào hai túi mấy miếng thịt nhớp nháp lầy nhầy.

        Quân Đức đã rút chạy xa về phía tây. Hậu phương quân Nga cứ theo các đường cái mà kéo dài ra mãi.

        Uyn-ken người đã rã rời, bẩn thỉu, râu ria xồm xoàm, bèn nảy ra sáng kiến nhập bọn với một trong số rất đông những gia đình Ba Lan hồi cư, để đỡ lộ tông tích. Mặc dù đường dài, phải đi bộ, trời lại xấu nhưng dân chúng Ba Lan rất phấn khởi, vui sướng. Một dòng người khác đi ngược lại: những người dân Nga, U-cren, Ba Lan, Tiệp, Xéc-bơ cũng vừa được Hồng quân giải phóng về. Gặp nhau trên đường, mọi người gọi nhau, chào hỏi vui vẻ và báo cho nhau biết những tin tức mới.

        Cuộc sống trên đường cái thật ồn ào, vui vẻ, nhộn nhịp.

        Gia đình Ba Lan mà Uyn-ken nhập bọn, trông hắn phát sợ lên, tưởng hắn điên. Chính hắn cũng muốn để cho họ tưởng như vậy. Chốc chốc hắn lại nói lảm nhảm, rồi lại thở dài, Có lẽ họ cũng đến phải tìm cách đuổi hắn đi, nhưng một hôm hắn úp mở nói với họ là hắn bị bắt giam ở Mát-đa-nét một năm rưỡi trời. Thế là từ đó, gia đình kia thật bụng thương hại hắn, săn sóc hắn, dành cho hắn những thức ăn ngon nhất. Cô gái lớn Gia- uy-ga còn mời cả hắn về nhà ở Sô-dét để nghĩ ngơi và "lấy lại sức”.

        Chủ gia đình này là Mác-xanh-kê-vích trước kia là công nhân bẻ ghi xe lửa. Năm 1941, ông bị đuổi ra khỏi gian nhà mà ông đã ở suốt đời ông dưới " chính phủ toàn quyền ” Đức1. Bây giờ cả gia đình được trở về nhà cũ, long tràn ngập sung sướng và hy vọng. Họ là những người rất chân thật, chất phác.

        Chỉ còn mấy ki-lô-mét nữa thì gia đình này về tới nhà. Bỗng nhiên, một buổi sớm, từ trong rừng kéo ra một toán khá đông lính Đức có súng ống do một tên sĩ quan chỉ huy.

        Trên đường cái nhốn nháo hoảng hốt. Tất cả mọi người đứng lại.

        Tên sĩ quan nói tiếng Đức hỏi những người Ba Lan đang ngơ ngác:

        - Quân Nga có gần đầy không ?

        Dân chúng Ba Lan im lặng.

        Uyn-ken đứng im không nhúc nhích, rồi bước nhanh đến sát toán lính Đức, bảo:

        - Một đoàn xe vận tải Nga vừa qua đây. Họ rẽ sang phải.

        Uyn-ken rất đỗi ngạc nhiên khi thấy toán lính Đức lại đi về hướng ấy. Do dự một lúc, rồi Uyn-ken đi theo hút ngay toán quân Đức, không thèm ngoái nhìn lại gia đình Ba Lan kia nữa. Gia đình này cũng hết sức ngạc nhiên trước sự hoạt bát đột ngột và giọng nói tiếng Đức rất cừ của "người tù tỉnh Mát-đa-nét” này.

        Chắc hẳn vì thiếu lương thực, súng ống nên toán lính Đức định đánh chiếm đoàn xe ấy chăng. Uyn-ken có ý định thổ lộ tâm sự mình với tên sĩ quan và xin nhập vào toán quân đông này để quay về đất Bức chớ không đi lẻ loi một mình nữa.

        Năm phút sau, rẽ vào khu rừng, toán lính Bức nhìn thấy một đoàn xe ngựa dài trên chất đầy rơm rạ, hòm gỗ. Bên cạnh đoàn xe có khoảng gần chục người lính Nga đã có tuổi cằm cương dắt ngựa, ung dung tiến bước.

        - Thưa đại úy - tên Uyn-ken trút bỏ hết vẻ lù đù ngớ ngẩn những ngày qua và nói - Tôi là sĩ quan tham mưu của một tập đoàn quân.

        Viên sĩ quan kia lừ lừ nhìn hắn có vẻ khó hiểu. Và đột nhiên hắn thấy viên sĩ quan và toán lính, hai tay giơ cao, tiến về phía đoàn xe. Những người lính Nga thấy thế dừng xe lại.

        Uyn-ken đứng đưc người ra giữa đường, bụng run sợ. Hắn đinh chuồn vội vào rừng, nhưng một người lính Nga lại gọi hắn :

        - Này, anh kia, lại đây !

        Uyn-ken bước đến.

        - Anh bảo họ cứ theo đường cái đi, ngoài ấy có trạm kiểm soát của chúng tôi. Cứ việc đến đấy mà hàng ; bon tôi không có thì giờ, còn bận.

        Uyn-ken vội vã dịch cho xong chuyện rồi chui ngay vào đám hụi cây bên đường. Sau mấy ngày vất vả lưu lạc, Uyn-ken tới một khu rừng lớn. Dọc theo ven rừng, nhiều công sự xi mẵng cốt sắt, nhiều hầm hố ngổn ngang cây cối, nhiều rào dây thép gai han gỉ.

        Khu rừng tĩnh mịch. Bóng chiều đã ngả, dịu dàng và chan hòa ánh trăng. Rặng thông reo vi vu trên những lô cốt và chiến hào. Rõ ràng là những công sự này đã bị bỏ ngỏ, không có chiến đấu cầm cự. Sặc một mùi cỏ thối, tuyết tan, ẩm ướt.

        Uyn-ken chui vào một chiếc lô cốt phía ngoài lát những tấm ván mộc, màu nâu thẫm. Trong hầm ẩm ướt nhưng ấm áp. Hắn dưa lưng vào tường đánh một giấc dưới một lỗ châu mai.

        Tảng sáng, lạnh quá, hắn tỉnh dậy, người sốt hầm hập. Hắn chật vật mãi mới ra khỏi được gian hầm. Hắn lê chân qua khu rừng, mỗi bước lại vấp thêm phải những công sư kiến trúc ngày càng đổi mới. Bỗng nhiên hắn nhận ra là hắn đang đi giữa "Bức thành phía Đông” nổi tiếng, bức thành có nhiệm vụ phải ngăn chặn quân Nga không cho tiến vào trái tim nước Đức. Bức "thành” kéo dài trên chiều sâu hàng mấy ki-lô-mét. Trên "thành”, những gốc thông reo, rũ tuyết xuống phủ kín những công sự xi măng cốt sắt. Quân Đức không kịp chiến đấu ở đây nữa, vẫn cứ rút chạy xa hơn, về sông Ô-đe, về Béc-lin.

        Uyn-ken cứ khập khiễng lang thang giữa rừng. Lát sau hắn vào đến cái làng ngưừi Đức mà ờ đó hắn gặp Lu-ben-xốp trong gian nhà có treo nhiều đồng hồ. Khi hai người Nga đã đi khỏi, tên cựu sĩ quan quân báo Đức ngồi một lúc rồi lại nằm xuống, úp mặt xuống gối.

------------------
        1. Vùng này của Ba Lan bị Đức chiếm, đặt chính phủ toàn quyền, cai trị - N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười, 2017, 05:39:09 am

XIV

        Từ ngôi nhà có treo nhiều đồng hồ đi ra, Lu-ben-xốp đi nhờ một chiếc xe vận tải để lên chỗ thiếu tướng sư đoàn trưởng.

        Thiếu tướng đang nóng lòng đợi Lu-ben-xốp về. Thiếu tướng sốt ruột muốn biết xem đồng chí đại điện Hội đồng quân sư có nhận xét gì về mình và sư đoàn của mình hay không, nếu có thì nhận xét như thế nào ?

        Đồng chí Xê-rê-đa nhiều lúc làm ra vẻ không quan tâm đến ý kiến nhận xét của cấp trên. Có vẻ như muốn nói: tôi là con nhà lính, đi chiến đấu chẳng phải vì vấn đề khen thưởng. Nhưng đó chỉ là bức màn mỏng che giấu một tâm trang ganh tị, luôn quan tâm đến sự nhận xét của cấp trên đối với bản thân, đối với sư đoàn mình.

        Đại tá Plốt-nhi-cốp, chủ nhiệm phòng chính trị thường hay cười thiếu tướng về điểm đó. Bản thân đồng chí Plốt-nhi-cốp, trước chiến tranh không phải là cán bộ quân sự. Đồng chí theo học tại học viện các giáo sư đỏ (tức là trường đại học sư phạm - LND ra Pháp văn) sau phụ trách công tác chính trị trong một trạm máy kéo vùng Cu-băng ; rồi sau khi trình bày bản luận án về môn triết học, đồng chí về dạy duy vật biện chứng tại trường đại học Khác-cốp. Tuy vậy, hay có lẽ chính vì vậy mà đồng chí rất giản dị trong -mối quan hệ với mọi người xung quanh.

        Đồng chí công tác ở sư đoàn từ năm 1942. Được tin trên phái đến cho mình một "nhà triết học” chưa từng chiến đấu, thiếu tướng không lấy gì làm hào hứng cho lắm.

        Nhưng thấy Plốt-nhi-cốp không phải là một "thầy đồ mọt sách” mà là một người cộng tác về chính trị sáng suốt, một tuyên truyền viên có tài biết giải thích nhưng vấn đề phức tạp nhất một cách giản đơn, dễ hiểu, thiếu tướng nhận ra là mình nhầm. Ngoài ra, ít lâu sau, thiếu tướng còn nhận thấy đại tá là một người dũng cảm, dũng cảm một cách dễ dàng không phải đấu tranh gay go gì. Thế mà đối với thiếu tướng, một nhà quân sư chính tông, thì dũng cảm là một điều không thể không ca ngợi.

        Đồng chí Plốt-nhi-cốp đã học tập khoa học quân sự ngay từ những ngày đầu kháng chiến một cách quy củ cũng như mọi công tác khác của đồng chí. Đồng chí ghi chép rất cẩn thận những câu dài rút trong cuốn "Điều lệnh dã chiến ” ; đồng chí đã đi sâu nghiên cứu tính năng chiến thuật và kỹ thuật của máy bay, pháo và xe tăng. Còn về mặt công tác chính trị, đồng chí thật là một ông "thánh”, theo lời thiếu tướng Xê-rê-đa thường phát biểu một cách khâm phục.

        Hai người xuất thân là công nhân, một trở thành tướng chỉ huy quân sự, một trở thành trí thức, sống với nhau rất ăn ý, tương trợ lẫn nhau trong công tác; tuy vậy không tránh khỏi người "cấp dưới về Cấp bậc” thường bỏ xa người "cấp dưới về kiến thức” theo như danh từ hai người thường gọi đùa nhau những lúc ngồi riêng với nhau. Sự thực thì thiếu tướng Xê-rê-đa, con người "cấp dưới về kiến thức”, vốn hay chạy theo cái bệnh "ái quốc sư đoàn chủ nghĩa” thường tìm cách xin cho sư đoàn mình những cán bộ quân sự, hậu cần, quân y tốt của các sư đoàn khác hoặc "phỗng” tay trên một tên tù binh do đơn vị bạn bắt được. Cán bộ, nhân viên trong sư đoàn nếu phạm lỗi, đồng chí xử lý rất nghiêm khắc nhưng kín đáo, theo kiều " trong nhà đóng cửa bảo nhau ” để khỏi mang tiếng.

        Mọi người trong sư đoàn rất mến thiếu tướng Xê-rê- đa. Cấp dưới thường ca ngợi đức tính hiểu biết người một cách sâu sắc, tinh thần dũng cảm tuyệt vời của đồng chí, cũng như cách ăn mặc rất nghiêm chỉnh trong mọi trường hợp cùng những câu nói châm biếm tàn nhẫn nhưng tế nhị của đồng chí. Họ mến yêu cả đến bộ ria đen vểnh lên mà lúc nào đồng chí cũng vuốt ve, chải chuốt.

        Thiếu tướng xem đồng hồ rồi hỏi:

        - Quái, Lu-ben-xốp làm gì mà về muộn thế nhĩ ?

        - À, anh lại nóng ruột lắm rồi hẳn ? - Đồng chí Plốt-nhi-cốp hóm hỉnh hỏi.

        Trong gian phòng bên, bé Vi-ca đang loay hoay với chiếc va li mở rộng. Em chuẩn bị về tuyến thứ hai. Em không muốn về chút nào. Cô bé đã tiêm nhiễm cái thói quen thường có của các sĩ quan tham mưu là tỏ vẻ đôi chút khỉnh thường "tuyến sau”, tuy rằng tuyến sau của sư đoàn cũng không cách xa tuyến lửa là bao nhiêu. Thiếu tướng để cho con tùy ý chọn giữa hai con đường: về tòa soạn tờ báo sư đoàn hay về bộ tham mưu hậu cần với chị Át-ta-khô-va, thiếu tá phụ trách quân nhu.

        Vi-ca xin về tòa báo. Những nhà viết báo quân đội dù sao vẫn hơn những cán bộ quân nhu. Hơn nữa ở đấy lại có một chị phụ trách xưởng in trước kia là một xạ thủ xuất sắc. Em quyết định sẽ về ở chung với chị đó.

        Vi-ca đã nằn nì xin ở lại mãi không được. Đối với thiếu tướng, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên là một việc phải làm cho chu đáo. Đồng chí không thể làm sai chỉ thị của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự tuy rằng đồng chí cũng thừa hiểu là trung tướng Xi-dô-crư-lốp sẽ không để tâm kiểm tra gì việc này.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười, 2017, 10:44:38 pm

        Thiếu tướng thỉnh thoảng lại cất giọng nghiêm khắc hỏi:

        - Con sửa soạn sắp xong chưa ?

        Bé Vi-ca vừa xếp quần áo vừa buồn bã trả lời:

        - Sắp xong rồi ạ.

        Cuối cùng Lu-ben-xốp về đến đơn vi. Đi ngay vào vấn đ& cấp thiết nhất, anh háo tin :

        - Chúng ta sẽ tiến công Snây-đơ-mun! Đồng chí đại diện Hội đồng quân sư dự đoán là quân Đức sẽ phòng ngự thành phố này đến cùng. Đó là một pháo đài của "Bức thành phía Đông.

        Thiếu tướng lập tức cho gọi tham mưu trưởng và tư lệnh pháo binh, bắt liên lạc với quân đoàn và gọi điện thoại cho tất cả các trung đoàn. Tóm lại, đó là tất cả cái hoạt động náo nhiệt quen thuộc trong những trường hợp ấy, cái hoạt động làm nức lòng bất cứ một sĩ quan nào. Quân đoàn xác nhận là nhiệm vụ của sư đoàn thay đổi, trục tiến công chuyển sang phía trái, hướng về Snây-đơ- mun. Một giờ sau, một bản mệnh lệnh viết của quân đoàn gửi xuống. Các trung đoàn trưởng, các chỉ huy trương đơn vị phối thuộc đã có mặt.

        Sư đoàn lần này được tăng cường một trung đoàn chống tăng, một trung đoàn pháo thuộc lực lượng tổng dư bị của bộ Tổng chỉ huy, một cụm súng cối của Đội cận vệ và một trung đoàn pháo tự hành. Các đồng chí chỉ huy trưởng các đơn vị này nắm trong tay hàng mấy chục cái miệng lửa có sức phá hoại rất lớn, có thể nói là cả một bể lửa. Tuy vậy họ đều là những cán bộ thư thái, bình tĩnh, lễ độ. Thiếu tướng nhìn họ, điểm thầm trong óc khả năng của từng ngọn núi lửa ấy : trung tá này phụ trách bao nhiêu pháo, thiếu tá kia phụ trách bao nhiêu và tổng cộng tất cả mỗi phút bắn được bao nhiêu phát đạn.

        Sau khi đã phân phối các đơn vị phối thuộc về các trung đoàn bộ binh, giữ lại cho đội dự bị sư đoàn đơn vị pháo "hỏa tiễn” và lấy trung đoàn pháo tự hành làm đội dự bị chống tăng, thiếu tướng đứng dậy. Các đồng chí khác đứng lên theo.

        Thiếu tướng nói :

        -  Các đồng chí, tôi rất tiếc là các đồng chí phải chậm bước lại trước Snây-đơ-mun trong khi các đơn vị khác cứ tiến thẳng về Béc-lin. Nhưng làm thế nào được? Hít-le, lẽ ra phải rút quân về bên kia sông Ô-đe và chống đỡ thủ đô của nó, lại đi chôn chân binh tướng của nó trong các thành phố Pô-dơ-nan, Brét-lô và bây giờ ở Snây- đơ-mun... Cho nên, vì lợi ích chung của quân ta, ta phâi giải quyết thật nhanh chóng cái thành phố này. Chúc các đồng chí thắng lợi!

        Bé Vi-ca lẻn đi với Lu-ben-xốp tới gặp các chiến sĩ trinh sát. Dọc đường em nói với Lu-ben-xốp là đêm qua đội trinh sát của Me-séc-xki có đánh điện về. Công việc bên ấy rất thuận lợi, họ còn bắt được cả một tên tù binh.

        Vi-ca rất mến thiếu tá cận vệ. Em yêu đôi mắt xanh tươi cười, tinh thần dũng cảm, óc sáng kiến của đồng chí và nhất là những "mẩu chuyện” thú vị - em thường gọi như thế để chỉ những báo cáo của Lu-ben-xốp với thiếu tướng sư đoàn trưởng. Anh ấy luôn luôn nói đến bọn Đức, những hoạt động phức tạp và âm mưu xảo quyệt của chúng và trong những câu chuyện ấy xen lẫn những tên kỳ quặc của các sư đoàn Đức và những têu rất lạ của bọn tù binh. Em nhớ nhất tên sư đoàn ”Đầu lâu”.

        Vi-ca hỏi:

        - Sư đoàn ấy bây giờ ở đâu hả chú ?

        - Ở Hung-ga-ri. - Thiếu tá lơ đãng trả lời.

        Gian nhà của đội trinh sát tĩnh mịch như thường lệ, mỗi khi có một đội công tác ở địch hậu. Anh em tụ tập cả trong gian buồng lớn, lặng lẽ lắng tai theo dõi những tiếng động nhỏ và tiếng tạch tè sau cánh cửa buồng bên. Ở đây đang tiến hành cái công việc có ý nghĩa thiêng liêng nhất trong nghề trinh sát: liên lạc bằng vô tuyến điện với đội trinh sát hoạt động bên phòng tuyến địch.

        Mọi người đều hồi hộp lo lắng. Me-séc-xki đã đánh bức điện thứ nhất vào hồi 3 giờ 45 phút và hẹn sẽ tiếp tục liên lạc vào 8 giờ đúng. Bây giờ đã hơn 9 giờ mà "Dòng suối” (bí danh của Me-sec-xki) vẫn chưa thấy trả lời.

        Thấy thiếu tá cận vệ bước vào, anh em thở dài khoan khoái tưởng như Lu-ben-xốp có tài bắt Me-séc-xki phải trả lời.

        Mãi giữa trưa, Me-séc-xki mới có tin về. Vô-rô-nhin đeo chiếc ông nghe bỗng nhiên đỏ bừng mặt lên vì cảm động.

        Lu-ben-xốp hỏi:

        - "Nó” lên tiếng đấy à? 

        Vô-rồ-nhin thích chí gật đầu, gọi oang oang lên:

        - "Dòng suối!”, "Dòng suối! ”, "Đại dương” đây! Tôi nghe rõ lắm !...

        Lu-ben-xốp ngồi ngay vào máy; anh nghe thấy tiếng Me-séc-xki. Đại úy báo tin quân Đức đang tiến về hướng Snây-đơ-mun ("điểm 8-b”). Pháo hạng trung đã qua rồi, đến hai mươi xe tăng, hai tiểu đoàn bộ binh. Phía nam thành phố, trên bờ sông Cút-đóp, có bộ binh bố trí trong các chiến hào.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười, 2017, 11:35:44 pm

        Lu-ben-xốp nói:

        - "Dòng suối!”, "Dòng suối!”, "Đại dương” đây! Đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ. Bây giờ chuyển lên khu 16, góc phải phía trên và chờ chúng tôi ở đó. Nhớ lấy ký hiệu nhé.

        Góc phải phía trên của khu 16 là một khu rừng rậm bùn lầy cách Snây-đơ-mun tám ki-lỏ-mét về phía đông bắc.

        - Thế là xong cả rồi! - Vô-rô-nhin thích thú reo lên.

        - Chưa xong đâu - Lu-ben-xốp đáp lại, mặt đăm chiêu suy nghĩ. - Phải báo cho pháo binh và các trung đoàn biết... Nếu không trong đêm tối và vì không phân rõ địch ta, họ có thể lầm đội trinh sát là quân Đức, sẽ bắn bừa vào họ. Thôi chúng ta lên phòng tham mưu ngay!

        Phòng tham mưu đã di chuyền: theo lệnh sư đoàn trưởng nó đã dịch lên một quãng về phía tây. Lu-ben-xốp vội đuổi theo ngay.

Trong căn nhà hai tầng của bưu điện mà cơ quan tham mưu vừa tới đóng, đồ đạc ngổn ngang, bừa bãi. Trên bàn, dưới đất rải rác đủ các loại con dấu to nhỏ, các băng vải, cặp giấy, cả một đống thư từ, những tràng dài tem có hình Hít-le và Hin-đen-bua, những cọc tiền đồng.

        Ô-ga-nhe-xi-an đi lại trong buồng điện thoại, vừa cắm máy nghịch vừa mỉm cười gọi khách xa lạ:

        - A-lô! A-lô!

        Nhưng máy nói vẫn cứ im thin thít. Đáng chú ý nhất là những tập báo trong có tờ Volkischer Beobachter1 mới ra hôm trước. Toàn là báo của thủ đô Béc-lin ngày hôm qua! Mùi mực in còn chưa khô hẳn và những tiếng hò hét của tên Gơ-ben, tên Lây, đăng trên báo cũng mới tinh, vừa ra khỏi cửa miệng chúng.

          Người quan sát của dân chúng - N.D.

        Chẳng hạn như trên trang một có bài háo vừa viết cách đây hai ngày của tên Gơ-ben. Nếu Gơ-ben, từ trước nay đối với bất cứ người lính nào cũng đã không còn là một con người nữa mà chỉ là hiện thân của sự lừa bịp, sự phản bội của bè lũ phát xít, thì ngày nay nó đã trở thành một kẻ thù cụ thể, rõ rệt trước mắt rồi.

        Những tiếng kêu thất vọng giờ đây không còn chĩ ở miệng những tên Đức bị bắt làm tù binh thốt ra nữa, mà là từ miệng ngay bọn trùm sỏ. Lu-ben-xốp có cảm giác như chính tên Hít-le cũng đang chuẩn bị giơ tay nói : "Hít-le xin hàng!”

        Lúc này, có một toán tù binh mới dẫn về. Ô-ga-nhe- xi-an bèn tiến hành hỏi cung chúng ở trên gác, trong gian phòng ngủ của tên giám đốc sở bưu điện đã bỏ chạy.

        Nói chung, bọn tù binh không khai được điều gì mới mẻ. Chúng thuộc các đơn vị thất trận của tập đoàn quân "Vít-xtuyn” hùng mạnh đã bị tiêu diệt gần hết, do tên tướng mới ở trường ra chỉ huy, tên Hen-rích Him-le.

        Ô-ga-nhe-xi-an đã phát ngấy với tù binh nhưng vừa bắt gặp một tên thuộc sư đoàn bộ binh thứ 73 của địch, anh liền tươi tỉnh hẳn lên, nháy mắt, mỉm cười : với tên ấy anh có thể nói chuyện suốt ngày.

        Sư đoàn bộ binh 73 là nhược điểm, là mục tiêu chú ý và căm thù rất đặc biệt của Ô-ga-nhe-xi-an. Chỉ cần được biết có bắt được một tên tù binh nào đó thuộc sư đoàn 73 là anh tức tốc chạy đi hỏi cung, sẵn sàng hy sinh giấc ngủ, tuy rằng bản tính anh rất thích ngủ.

        Được gọi nhập ngũ làm công tác phiên dịch từ tháng 4 năm 1942, Ô-ga-nhè-xi-an về công tác ở một sư đoàn bộ binh trong khu vưc thành Kéc. Ngay đến quân phục, anh cũng chưa kịp kiếm lấy một bộ mặc thì quân Đức có nhiều phi cơ yểm hộ đã mở cuộc tiến công. Cho tới nay đã ba năm qua, nhưng ngọn lửa căm hờn đến cực độ vẫn rực lên trong đôi mắt đen của Ô-ga- nhe-xi-an mỗi khi anh nhớ tới những ngày ấy.

        Hàng vạn người tập trung bên bờ eo biển. Trên không, phi cơ Đức bay kín đặc và bờ biển biến thành một chiếc phễu lớn, bom nổ không ngừng. Nhưng dưới mặt đất cuộc sống vẫn như mọi ngày khác! Nắng hạ tươi sáng. Sóng biển ào ào xô những đám bọt trắng bò vào tận chỗ đứng. Bom nổ khắp bốn phía ; đàn hải âu tưởng lầm biển động, cất tiếng kêu như mỗi khi có bão lớn.

        Thế rồi một cuộc vượt biến không bao giờ quên được. Người ta sử dụng mọi phương tiện chuyên chở, từ thuyền gỗ, xuồng máy, đến thùng tô nô và những chiếc bè đóng tại chỗ để virợt sang bò* biển Cáp-ca-dơ yêu mến.

        Khi vòng vây của đich thắt chặt lại, và khi nghe rõ tiếng nói của chúng, các chiến sĩ ta, không cần đợi lệnh, đã quả cảm lao vào quân đich. Chúng hoảng sợ, rút lui. Thế là mọi người lại ùa ra biển, đi dọc theo ngọn sóng, lo lắng đợi chờ thuyền tới. Và một lớp máy bay ném bom nhào thẳng " JU - 87 ” của địch lại vút lên vút xuống trên nền trời.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười, 2017, 08:29:01 pm

        Chính giữa lúc này, tên tù binh đầu tiên được dẫn tới trước mặt Ô-ga-nhe-xi-an. Đó là một tên Đức vóc người to lớn, ngà ngà say, cử chỉ hỗn xược. Hắn rất kinh ngạc khi thấy người thường dân này giữa đám sĩ quan, mặc bộ quần áo xanh lấm đầy bùn, cà vạt lụa lệch sang một bên, đôi má xanh xao đầy râu ria, hỏi nó bằng thứ tiếng Đức chính cống.

        Ngạc nhiên thấy người này giỏi tiếng Đức quá, tên tù binh phải trả lời có vẻ kính nể. Hắn thuộc sư đoàn bộ binh thứ 73 ; hắn hãnh diện nói là chính sư đoàn hắn đã chọc thủng mặt trận như vũ bão và dồn người Nga vào eo biển.

        Hắn nói : "Các anh hãy giao cho tôi chuyển tới bộ tư lệnh của chúng tôi lời đề nghị là các anh muốn xin chịu bắt làm tù binh. Đầu hàng có danh dự. Chúng tôi rất phục tinh thần dũng cảm của các anh”.

        Đó là lời tên Đức bẩn thỉu nửa tỉnh nửa say, muốn đóng vai trò thuyết khách và ân nhân.

        Ô-ga-nhe-xi-an giận run lên ; anh đã cởi khuy cài bao súng ngắn của đồng chí đại úy đứng cạnh anh, (lúc đó anh chưa được phát súng ngắn); nhưng anh không bắn và chỉ thét lên một câu gì đó bằng tiếng mẹ đẻ của anh, tiếng Ác-mê-ni.

        Ô-ga-nhe-xi-an gặp sư đoàn 73 lân thứ hai vào cuối năm 1944. Lúc đó, sư đoàn 73 chiếm giữ phòng tuyến phía bắc Vác-sa-va giữ sông Búc-Na-rép và sông Vít-xtuyn. Lu-ben-xốp vốn biết tính tình dễ dãi và hay buồn vơ vẩn của đồng chí phiên dịch cũng phải ngạc nhiên trước thái độ của Ô-ga-nhe-xi-an lúc này. Chỉ có lòng căm thù hừng hực mới có thể thay đỗi tính tình con người ấy như thế.

        Lúc tên tù binh thứ nhất được dẫn vào, Ô-ga-nhe- xi-an nhìn hắn một hồi lâu, cười gằn để lộ hàm răng khểnh, vàng khói thuốc lá. Anh hỏi:

        - Năm 42 anh ở đâu ?

        - Đầu tiên tôi ở Kéc... - Tên tù binh bắt đầu khai và bỗng nhiên run bắn người khi nhìn thấy nét mặt căm giận của người phiên dịch.

        Khi tên tù binh đi khỏi, anh lại trở lại chàng Ô-ga- nhe-xi-an mọi ngày, tốt bụng, dễ dãi và hay đùa. Anh kể lại cho Lu-ben-xốp nghe anh đã làm quen với sư đoàn bộ binh 73 của địch như thế nào.

        - Lần ấy tôi mất cả bộ quần áo, lại cả chiếc cà-vạt - nữa chứ! - Anh kêu lên khiến người ta tưởng đó là sự thiệt hại chủ yếu của anh - Tôi phải bám lấy chiếc thùng tô nô mà bơi và sóng đã cuốn mất bộ quần áo của tôi... Có lẽ, bảy giờ nó còn bập bềnh trôi quanh đâu đấy.

        Lu-ben-xốp không cười trước câu nói pha trò kết thúc câu chuyện kinh khủng ấy. Anh nói:

        - Được, ta đợi xem sao. Nếu tôi không nhầm thì chả còn mấy nữa sư đoàn 73 của đồng chí cũng đi đời!

        Thật vậy, sự đoàn bộ binh thứ 73 của quân Đức đã bị tan rã gần Vác-sa-va. Binh lính vứt súng bỏ chạy tán loạn. Cả trung đoàn pháo binh bị bắt sống. Ô-ga-nhe-xi-an đã được gặp tù binh của sư đoàn này nhiều lần. Tuy vậy, dù cho anh cảm thấy là đã trả xong món nợ những ngày ở Kéc, anh vẫn hỏi tù binh thuộc sư đoàn 73 rất tỉ mỉ, nghiền ngẫm về từng biến cố tan rã của nó và tìm hiểu số phận cua các trung đoàn, tiểu đoàn và cả đến một vài tên sĩ quan mà anh thuộc tên. Rồi không còn điều gì của sư đoàn 73 mà anh không biết!

        Đến bây giờ, hai tên tù binh thuộc sư đoàn 73 lại được dẫn tới. Anh lại hỏi cung chúng với một sự vui thích hóm hỉnh như thường lệ và khêu gợi cho chúng nhiều chi tiết làm bọn chúng phải ngạc nhiên.

        Một trong hai thằng cao trẻ, tóc hung đã trả lời câu hỏi bị bắt trong trường hợp nào, đã cho biết là hắn bị một người lính Nga bắt cùng với một tên khác trong một cái trại khi chúng đang định thay quần áo thường dân trốn về nhà.

        - Hỏi xem nhà hắn ở đâu? - Lu-ben-xốp bảo.

        Ô-ga-nhe-xi-an hỏi và nghe thấy trả lời:

        - Snây-đơ-mun.

        Lu-ben-xốp giật mình sung sướng. Thật là may! Anh ngạc nhiên khi thấy Ô-ga-nhe-xi-an chẳng có chút gì phản ứng trước câu trả lời của tên tù binh. Dĩ nhiên, phạm vi nhiệm vụ của người phiên dịch đến đây đã hết, và bắt đầu phạm vi nhiệm vụ của người sĩ quan trinh sát.

        Sau khi cho giải những tên tù binh khác về địa điểm tập trung, Lu-ben-xốp bảo đồng chí phiên dịch hỏi rất tỉ mỉ về quân Đức trong thành Snây-đơ-mun.

        Hai tên khai như sau :

        - Thành phố Snây-đơ-mun - tên Ba Lan là Pi-la -  nằm trên bờ sông Cút-đớp. Mấy con đường xuyên qua thành phố : "đường đế quốc số 160” chạy ra biển Ban- tích, tới thành phố Côn-néc ; "đường đế quốc số 104” chạy qua Stét-tin tới Luy-bét thuộc tỉnh Ha-nô-vơ-rợ; hơi chếch về phía tây là con " đường đế quốc số 1 ” dẫn tới Béc-lin rồi đi Mat-đbuốc, Bơ-rôn-sư-uay, Hoóc-mơn, Ét- sen, Buýt-sen-đóp, Ách la Sa-pen.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười, 2017, 08:12:06 pm
     
        Tên tù binh Đức có mái tóc hung đỏ trước làm nghề lái xe, hết sức ca tụng con đường "đế quốc số 1” này. Hắn nói với vẻ tự mãn của một nhà thầu khoán mỗi khi giao nhà đã xây xong cho chủ :

        — Con đường này tốt lắm, rải nhựa rất nhẵn. Nó chạy thẳng tuột tới trung tâm Béc-lin, tới ngay quảng trường A-lếch-dan. Từ Snây-đơ-mun đi Béc-lin đúng 240 ki-lô-mét. Ô tô chỉ chạy 3 tiếng.

        Nghe câu nói chiêu khách của tên tù binh, Lu-ben-xốp không thể không nhếch mép cười. Thấy vậy, tên tài xế thú vị, trợn tròn mắt tiếp tục giải thích với một giọng hào hứng như trong một cuốn sách chỉ đường :

        — Đường số 1 là con đường dài nhất ở Đức và ngoài con đường chuyên chạy ô tô ra thì đó là con đường tốt nhất. Nó kéo dài, dài tới tận biên giới nước Bỉ.

        Lu-ben-xốp hỏi :

        — Thế dài bao nhiêu ki-lô-mét ?

        — Hơn tám trăm.

        Lu-ben-xốp phì cười. Đối với anh, con người vùng Xi-bê-ri, quãng đường dài ấy thật không đáng kể. Từ biên giới phía đông sang biên giới phía tây có tám trăm ki-lô- mét ! Anh nhớ lại khoảng rộng của vùng sông A-mua, ở đó vượt một nghìn ki-lô-mét chỉ như là mấy bước đi. Anh cũng lại nhớ tới "con đường xanh” dài khoảng bốn nghìn ki-lô-mét vừa được nghe thiếu tướng bộ đội thiết giáp kể lại chiều qua.

        — Thôi, ta đi vào vấn đề chủ yếu đi thôi. Bảo chúng nói cho biết tình hình Snây-đơ-mun.

        Hai tên tù binh lại bắt đầu kể.

        Phía đông và phía nam thành phố có dải rừng bao bọc. Có, chúng có biết vị trí những pháo đài cũ. Chiếc to nhất cách thành phố mười lăm ki-lô-mét về phía đông. Ở đó cũng có bố trí chiến hào. Chiếc thứ hai nằm chếch dưới phía nam. Giữa hai pháo đài có xây nhiều ổ súng máy bằng bê tông. Thật ra thì những ổ súng máy này đã bỏ đi từ lâu, cỏ lau rậm rạp, trẻ con thường hay mò vào nghịch ngợm. Bởi vì đường biên giới, người ta đã dịch xa về phía đông rồi kia mà! Trong các khu rừng có nhiều hồ ao, suối nhỏ chảy ra sông Cút-đớp.

        Hai tên tù binh đánh dấu cẩn thận các vị trí lên một bức sơ đồ, trình bày mọi chi tiết tỉ mỉ.

        Còn như chính thành phố này thì đó là một thành phố bình thường, có mấy trại lính, mấy xưởng máy cưa, một pho tượng kỷ niệm vua Phrê-đê-rích nước Phổ, mấy xưởng máy làm dây thừng, mấy tòa nhà thờ cổ. Một tên tù binh nhà ở quảng trường Hin-đen-bua khu phố giữa; tên thứ hai nhà ở đại lộ Béc-lin phía đầu thành phố về hướng tây. Chúng đều có gia đình họ hàng trong thành phố, thí dụ như...

        — Được rồi! — Lu-ben-xốp nói — Hỏi chúng về con sông xem thế nào. Ta phải vượt con sông này.

        — Sông Cút-đớp không rộng nhưng khá sâu, là một nhánh của sông Nét. Nó chay qua phía đông nam thành phố và ngăn đôi thành phố ra hai khu vực: khu đông nhỏ hơn khu tây. Nước lặng, lòng sông đầy cát có hai bờ thoai thoải. Có nhiều bến tắm và một trạm bơi thuyền.

        Lu-ben-xốp mỉm cười:

        — Thôi được.

        Một tên Đức nói:

        — Có thể sở bưu điện đây có bản đồ thành phố. Vì Snây-đơ-mun là thị trấn của khu này.

        Thế là tìm ngay được một tấm bản đồ. Và ngay trong buồng tên giám đốc bưu điện, công việc lại tới tấp. Anh em họa đồ vẽ thêm nhiều bản đề phân phối cho các trung đoàn. O-ga-nhe-xi-an phụ trách dịch sang tiếng Nga tên các đường phố, các quảng trường, các xí nghiệp, v.v.

        Lu-ben-xốp rất hài lòng : anh trìu mến nghĩ tới người chiến sĩ Hồng quân vô danh đã bắt được hai tên Đức quê ở thành Snây-đơ-mun này, trong một cái trại hẻo lánh nào đó.

XVI

        MỘT giờ sau, đại tá Ma-lư-sép, chủ nhiệm trinh sát tập đoàn quân gọi dây nói xuống.

        Được biết Lu-ben-xốp tìm ra một bản đồ tỉ mỉ của thành phố Snâv-đơ-mun, đại tá hạ lệnh gửi cho các sư đoàn cùng làm nhiệm vụ đánh thành phố với sư đoàn thiếu tướng Xê-rê-đa, mỗi sư đoàn một bản. Lu-ben-xốp sang phòng tham mưu hỏi xem là những sư đoàn nào và họ  đóng ở đâu. Anh được biết sư đoàn đại tá Vô-rô-bi-ốp sẽ tiến đánh phía đông thành phố. Còn sư đoàn thiếu tướng Xê-rê-đa thì được lệnh vòng theo phía bắc thành phố đánh chiếm những vị trí dọc ngoại vi phía tây.

        Theo lời sĩ quan trực ban, các đơn vị sư đoàn Vô- rô-bi-ốp đã bắt đầu giao chiến. Quả thực, đã nghe thấy tiếng đại bác nổ phía xa xa và một góc chân trời đã rực cháy.

        Như vậy có nghĩa là Lu-ben-xốp và Ta-nhi-a chỉ cách nhau có một thành phố Đức đang bị vây hãm. Có hề gì đâu! Đối với người chiến sĩ trinh sát trái tim đang thổn thức yêu đương thì quãng cách ấy thật không đáng kể !


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2017, 11:00:22 pm
     
        Mệnh lệnh vừa rồi của đại tá Ma-lư-sép tạo điều kiện cho Lu-ben-xốp gặp lại Ta-nhi-a trước khi đánh chiếm thành phố Snây-đơ-mun. Bởi vì nói cho cùng, nếu Lu-ben-xốp tự mình mang bức bản đồ tới giao cho đại tá Vô-rô-bi-ốp, việc đó cũng không có hại gì kia mà. Ấy thế nhưng Lu-ben-xốp vẫn cảm thấy việc mình đi không được hợp lý lắm: nếu không dính tới Ta-nhi-a thì có lẽ không bao giờ anh lại nghĩ tới việc nhận lấy nhiệm vụ đó. Có thể cử An-tô-nhi-úc hay một người khác.

        Thiếu tướng Xê-rê-đa rất thú vị thấy đội trinh sát của mình đã "thắng ” đội của đại tá Vô-rô-bi-ốp và bây giờ lại giúp đỡ họ nữa. Thiếu tướng đưa tay xoắn bộ ria mép và khẽ mỉm cười dặn dò :

        — Đồng chí nói với đồng chí Vô-rô-bi-ốp là tôi gửi lời hỏi thăm. Hỏi xem đồng chí ấy có còn cần giúp đỡ gì nữa không. Bảo bên ấy bao vây địch cho chắc vào, còn như đánh chiếm thành phố thì đề mặc bên này !...

        Lu-ben-xốp bảo đóng ngựa rồi mở va li ra lấy chiếc mũ lưỡi trai " thời bình ” có viền đỏ ra đội. Anh cho con ngựa ô "Oóc-lích” phóng nước đại về phía thành phố. Tri-bi-ép cùng đi với anh. Lát sau hai người đã quặt lên con đường ngang và tiến vào một khu rừng lớn. Lu-ben-xốp nghĩ tới Ta-nhi-a : anh nhủ thầm rằng chỉ có sự có mặt của Ta-nhi-a mới có thể làm dịu bớt nỗi bực dọc của anh phải dừng chân lại trước thành Snây- đơ-mun, trong khi các sư đoàn và quân đoàn bạn vẫn cứ tiến thẳng sang phía tây, ngày càng gần tới Béc-lin, theo sau những đơn vị xe tăng đang nghiền nát các cứ điểm của địch.

        Sư đoàn của đại tá Vô-rô-bi-ốp nổi tiếng trong tập đoàn quân về tinh thần tích cực tiến công. Binh sĩ và cán bộ chỉ huy đều thuộc những đơn vị bộ đội biên phòng.

        Họ rất tự hào về điểm này. Đó thật là một sư đoàn gang thép, ngoan cường trong phòng ngự và dũng mãnh trong tiến công. Ngay chính đại tá Vô-rô-bi-ốp cũng không tài nào rời bỏ được bộ quân phục biên phòng và chiếc mũ lưỡi trai màu xanh thẫm.

        Đại tá Vô-rô-bi-ốp nhìn kỹ tấm bản đồ thành phố và các hệ thống pháo đài. Đồng chí đã được biết trước là sẽ có người mang tới cho đồng chí tấm bản đồ : trong bộ đội, tin tức truyền đi rất nhanh.

        Đại tá nói :
        — Tôi có lời cám ơn nhé ! Quả không phải là việc xoàng. Đồng chí về nói với đồng chí Xê-rê-đa cố bám chắc lấy ngoại vi phía tâv, còn tôi và anh em biên phòng sẽ phụ trách mở mũi dùi quyết định...

        Lu-ben-xốp mỉm cưừi: câu nói này chẳng khác gì câu nói của thiếu tướng sư đoàn trưởng của anh.

        Anh đi tìm gặp các bạn đồng nghiệp ở đây. Tri-bi-rép dắt ngựa theo sau. Trong câu chuyện, Lu-ben-xốp dò hỏi chỗ tiểu đoàn quân y đóng. Anh giả vờ bị đau răng, nhăn mặt khổ sở. Anh nói thêm như muốn giải thích :

        — Tiểu đoàn quân y của chúng tôi bao giờ cũng tụt lại đằng sau, chán quá !

        Mỉm cười trước vai kịch mình đóng và tránh cặp mắt của Tri-bi-rép, thiếu tá cận vệ cho ngựa phi về phía tiểu đoàn quân y, Tri-bi-rép thì như thường lệ, vẫn giữ một vẻ mặt bình thản : vốn đã quen không bao giờ đặt những câu hỏi thừa, anh phóng ngựa theo sát đồng chí thủ trưởng của mình như hình với bóng.

        Tiểu đoàn quân y đặt trong một làng lớn nằm giữa khu rừng của Snây-đơ-mun.

        Gặp một chị y tá, Lu-ben-xốp hơi bối rối và lần này cũng không cần liếc nhìn Tri-bi-rép nữa, anh vui vẻ hỏi thăm chỗ ở của đại úy quân y Ta-nhi-a. Trước đôi mắt xanh của đồng chí thiếu tá đang mỉm cười trên lưng con ngựa ô cao lớn, chị y tá õng ẹo trả lời và tò mò hỏi thêm :

        — Chị ấy vừa mới đi xong... Anh có cần nhắn gì không?

        Không hiểu vì không giữ nổi lòng đố kỵ đối với một bạn gái hay vì muốn giúp đồng chí sĩ quan có cảm tình này biết mà đề phòng, chi nói thêm một câu thâm hiểm :

        — Buổi tối chị ấy thường đi vắng luôn...

        — Tôi hiểu rồi — Lu-ben-xốp đáp lại như cái máy, miệng vẫn tươi cười.

        — Có ô tô đến tìm chị ấy...

        — Tôi hiểu rồi — Lu-ben-xốp nhắc lại câu nói, nhưng lăn này nụ cười trên môi đã biến mất; rồi anh giật mạnh cương làm con ngựa chồm lên. Trước vẻ mặt sửng sốt ngạc nhiên của chị y tá, anh gật đầu chào rồi thúc ngựa quay lại đường cũ. Tri-bi-rép phóng ngưa chạy theo, nhưng chỉ một lúc đã bị tụt lại sau.

        Cho tới lúc đã bình tĩnh lại đôi chút, Lu-ben-xốp mới ghìm cho ngựa đi chậm lại; anh khẽ vỗ lên bờm ngựa và hỏi con vật thật to :

        — Có phải lỗi tại mày đâu, ngựa nhỉ ?

        Tiếng vọng lại giữa khu rừng :   ... ngựa... nhỉ...

        Lu-ben-xốp mỉm cười nghĩ thầm: " Tiếng vọng trên đất Đức mà lại nói tiếng Nga! ”

        Phía tây tiếng đại bác nổ ầm ầm. Nghe thấy những tiếng quen thuộc và không thú vị gì cho lắm, con ngựa vểnh tai lên và đi bước một. Trời lấm tấm không rõ là tuyết rơi hay mưa bụi, nhớp nháp bẩn thỉu.




Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2017, 06:16:53 pm

        Lát sau, Lu-ben-xốp ra đến con đường "đế quốc số 1” nổi tiếng. Lúc này trên đường, các đơn vị quân đội xô- viết đang rầm rộ tiến quân. Một trung đoàn trọng pháo kéo qua, máy móc xe cộ gầm lên. Mấy khẩu pháo chống tăng vừa đi qua vừa nhẹ nhàng nảy lên. Một đội công binh vác các bộ phận cầu phao diễu qua. Một đoàn ô tô kéo súng cối của đơn vị cận vệ chậm chạp tiến bên cạnh. Mọi người cảm thấy thương hại anh bộ binh mệt nhọc, ướt át đang bước theo hai bên lề đường : trông các sư đoàn phải dừng lại trước Snây-đơ-mun, ta có cảm tưởng như họ không chịu nồi sư đầy đọa của số phận.

        Một thiếu tá pháo binh ngồi xe ô tô, lúc tới ngang Lu-ben-xốp, quay sang nói với anh :

        — Thế là các đồng chí phải dừng chân trước Snây- đơ-mun à ? Chắc sẽ lắm chuyện rắc rối cho các đồng chí đấy !

        Nhìn thấy bộ mặt lầm lì, thiều não của Lu-ben-xốp, thiếu tá pháo binh lại hiểu nhằm tâm trạng người sĩ quan bộ binh, cho là mình lỡ lời, vội nói tiếp :

        — Có khi chúng tôi phải dừng lại ở sông Ô-đe đấy.

        Lời an ủi kỳ lạ ấy cũng không làm cho Lu-ben-xốp bật cười được nữa. Thiếu tá pháo binh đi rồi, Lu-ben- xốp liền tìm về sư đoàn mình. Dọc đường, anh gặp trung úy Nhi-côn-xki, quần áo ướt như chuột, vẻ mặt thẫn thờ. Đồng chí này đang chỉ huy đội thông tin mắc đường dây của sư đoàn. Thấy Lu-ben-xốp, trung úy vội vã báo tin :

        — Báo cáo đồng chí thiếu tá cận vệ, đồng chí có biết chúng ta sắp tiến công vào Snây-đơ-mun không đấy ?

        — Có, tôi có biết. Sư đoàn bộ đâu?

        — Đồng chí cứ đi theo đường dây điện thoại thì sẽ thấy.

        — Me-séc-xki đã về chưa ?

        — Đã, đồng chí ấy bắt được cả tù binh về.

        Lát sau Lu-ben-xốp tới một làng. Anh bỗng ghìm ngựa lại trước một ngôi nhà. Nói cho đúng hơn, đây là một cái lán rộng bằng gạch giống như nhà để xe có hai cánh cửa mở rộng. Có một lỗ cửa nhỏ đục trên cánh cửa lớn. Phía xa cuối vườn rau vây quanh nhà, đáng lẽ như mọi nhà khác thì có tường bao bọc, đằng này lại là ba rặng dây thép gai chạy dài, quấn vào những chiếc cột gỗ lớn. Dọc theo bức rào khác thường ấy, cứ mười hay hai mươi mét lại sừng sững một chiếc chòi canh thấp, vuông, nóc nhọn hình tam giác.

        Trong cái sân rộng nằm giữa hàng rào dây thép gai ngổn ngang rác rưởi, phân gio và hàng bao nhiêu đống giấy vụn. Tất cả những thứ đó — ngôi nhà xám xịt không có cửa sồ, cái sân bẩn thỉu, hàng rào dây thép gai gỉ và những chòi gác — bày ra trước mắt một cảnh tượng ghê rợn, khủng khiếp.

        Lu-ben-xốp xuống ngựa, đưa cương cho Tri-bi-rép rồi lững thững bước vào nhà. Trên nền xi măng, rơm rải từng đống nhỏ, còn in dấu người nằm. Trên tường có những câu viết bằng tiếng Nga và tiếng U-cren: những lời thổ lộ tâm tình của những con người không may, đầy buồn tủi hoặc đầy hy vọng.

        Một trại tập trung ư ? Không phải. Đây chĩ là chỗ ở của những tù binh và dân chúng Nga bị bắt làm nô lệ, dồn về đấy dùng vào công việc đồng áng và trước khi Hồng quân tới, đã bị địch vội vã đưa đi. Không phải là một trại tập trung kiểu Mát-đa-nét mà là một trại nhỏ thông thường dành cho " lao công miền Đông ”!

        Điều đáng sợ nhất là ngôi nhà xám xịt đó với rặng dây thép gai, với dãy chòi gác lại nằm lọt vào giữa những ngôi nhà khác trong xóm. Bên phải là một ngôi nhà không có dây thép gai, một ngôi nhà bình thường quét vôi trắng; trong sân một con gà trống đang cất tiếng gáy. Bên trái là ngôi nhà gỗ nhỏ, hai mái cong, cửa sổ có che diềm. Chủ nhà đều đa bỏ trốn cả. Nhưng mấy ngày trước đây, họ còn ở đó! Họ bình thản giồng su hao, bắp cải trong vườn rau ngay sát cạnh hàng rào dây thép gai! Và phía trước mặt cũng có nhà ở như những nhà bình thường ở thôn quê.

        Lu-ben-xốp bước ra khỏi chiếc lán, nhảy lên ngựa, và lát sau đã về tới chỗ ở của đội trinh sát. Anh bỏ chiếc mũ lưỡi trai "thời bình” có viền đỏ ra, giận dữ nhét vào va li, cởi áo ca-pốt, đội mũ ca lô, mặc chiếc áo bông kép, thắt lại thắt lưng, đeo súng ngắn bên sườn rồi bước ra kiểm tra đội trinh sát đã tập hợp hàng ngang giữa sân. Anh nói:

        — Các đồng chí, chúng ta sắp đánh chiếm Snây-đơ- mun! Thế là cuộc chiến đấu lại tiếp tục. Tôi cứ chạy suốt thôi: lúc lên đoàn bộ, lúc đi với các đồng chí thủ trưởng, không biết còn đi những đâu nữa !

        Trong lúc đó, Ô-ga-nhe-xi-an đã lấy xong khẩu cung của bọn tù binh do tiểu đội của Me-séc-xki bắt về. Trong bọn này không có tên nào thuộc sư đoàn bộ binh 73 của địch cả. Tuy thế anh cũng hỏi cung rất tỉ mỉ vì Lu-ben-xốp giao cho anh nhiệm vụ điều tra đích xác xem đơn vị nào của địch chiếm giữ pháo đài Snây-đơ-mun.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2017, 05:00:02 am
       
        Một tên Đức cao lêu nghêu, bẩn thỉu, trước kia là cần vụ của tên tiểu đoàn trưởng đóng trong pháo đài, cung cấp được những tài liệu có giá trị nhất. Theo tài liệu đó thì trong thành phố có những đơn vị: học sinh quân trường kỵ binh Brông-béc, phân đội thủy binh thứ 23, hai tiểu đoàn súng máy, khoang mười tiểu đoàn bộ binh, một trung đoàn bộ đội cận vệ và một đơn vị xe thiết giáp.

        Cứ nói xong một câu, tên tù binh lại rền rĩ, thở dài, xua tay: tên Đức gầy gò ốm yếu này không còn chút tin tưởng gì nữa, luôn luôn xua tay tỏ vẻ chán chường bất lực.

        Hắn nói:

       — À, có, Him-le có tới đây! — Hắn lại xua tay buồn bã như muốn nói: " Him-le cũng chịu chết thôi ” — Có, cách đây năm hôm. Him-le có tới đây. Ông ấy tuyên bố cử viên trung tá bộ đội s.s. Rem-lin-giơ làm chỉ huy trưởng chống giữ thành phố. — Hắn lại xua tay: — Rem- lin-giơ thì làm được cái gì kia chứ ?

        Ô-ga-nhe-xi-an bèn hỏi một câu thường lệ:

       — Như vậy tại sao các anh vẫn tiếp tục kháng cự ?

       — À, vâng, — Tên Đức thở dài — Mệnh lệnh là mệnh lệnh... Lần này hắn xua tay chán chường cho bản thân hắn và cho cả các đồng đội khác đã bị bọn phát xít bắt buộc chiến đấu; nhưng thật ra cử chỉ đó không còn ý nghĩa thông thường của nó nữa, vì mọi người đều sẽ nói lên như thế cả!

        Sau khi hạ lệnh cho An-tô-nhi-úc báo cáo mọi tài liệu thu nhập được với thiếu tướng sư đoàn trưởng và đại tá Ma-lư-sép, Lu-ben-xốp cùng đội trinh sát đi lên tiền duyên.

        Đây là lần thứ hai từ khi chiến tranh bùng nổ, quân địch ở về phía đông. Lần thứ nhất là lúc ở trước Mát- xcơ-va, Lu-ben-xốp đã tìm đường ra khỏi vòng vây. Nghĩ đến kỷ niệm đó, Lu-ben-xốp lại nhớ lại Ta-nhi-a.

       — Cậu đã có vợ chưa?— Anh hỏi chuẩn úy Vô-rô- nhin từ nãy vẫn lặng lẽ đi cạnh anh.

        Vô-rô-nhin mỉm cười:

       — Chưa có thì giờ. Khi nào chiếm được Béc-lin và quay về nước nhà, tôi sẽ lấy vợ.

        Lu-ben-xốp hỏi đùa:

       — Sao vội thế ? Cậu đã có đối tượng rồi à ?

       — Có chứ, ai mà chả có đối tượng? Hễ về đến nhà là thế nào tôi cũng tìm hiểu ngay tư cách cô ta... Vâng... về mặt này tôi đã có một trinh sát giúp việc rồi. —Anh nháy mắt hóm hĩnh — Chả là con em gái tôi làm thợ tiện ở xưởng máy ấy... Nó luôn luôn cho tôi biết tin tức về Ca-chi-a. Cô ta đi đâu, làm gì... Nó báo cáo hết...

        Lu-ben-xốp nghiêm mặt lại nói:

       — Thế là không đúng. Biết đầu được miệng lưỡi thế gian, ai nói gì về cô ta, cậu cũng tin ngay tức khắc à ?

       — Sao lại ngay tức khắc? — Vô-rô-nhin trả lời, hơi ngạc nhiên trước câu nói quá sốt sắng của thiếu tá cận vệ — Chỉ có đồ ngu mới vội tin ngay buổi đầu chứ!... — Anh ta im lặng, rồi nói bằng một giọng nghiêm trang: — Không, Ca-chi-a của tôi đứng đắn lắm... Tôi không nghi
ngờ gì cả... Thế còn đồng chí, đồng chí có đối tượng nào chưa?

        Lu-ben-xốp khẽ liếc nhìn Tri-bi-rép đi bên trái mình và trả lời:

       — Chẳng có ai.

        Có tiếng mìn nổ ngay gần đó. Lu-ben-xốp bảo:

       — Cậu thấy chưa? Nghĩ đến chuyện lấy vợ kể cũng hơi quá sớm đấy...

        Họ tới một làng, làng này đằng cuối có một chòi canh đứng trơ trọi. Không hiểu xưa kia người ta xây nó để làm gì: một di tích lịch sử hay là một chòi gác phòng hỏa hoạn. Lu-ben-xốp nhận thấy ngay vị trí thuận lợi của chòi canh này và quyết định đặt đài quan sát của sư đoàn trưởng ở đó. Anh trèo lên cầu thang xoáy chôn ốc rồi bắc ống nhòm quan sát. Trước mắt anh, thành phố đắm mình trong màn sương bàng bạc. Những mái nhà ngói đỏ đẫm nước, phía tay phải là nhà ga xe lửa, phía tay trái là những cột ống khói lạnh lẽo của một xưởng máy lớn.

        Lu-ben-xốp viết báo cáo giao cho một đồng chí trinh sát mang về phòng tham mưu, rồi anh lại dẫn đầu anh em tiếp tục lên đường. Họ đi bên cạnh một số đơn vị nhỏ đang bố trí trong chiến hào, bên những trận địa pháo vừa mới đào xong, bên mấy khẩu súng cối đặt dưới rãnh sâu, trước mặt những xe bếp lưu động đang nghi ngút khói. Đâu đâu cũng thấy bóng các chiến sĩ đi lại tấp nập, tìm chỗ đóng quân và đốt lừa. Mặc dầu đã phải trải qua ba
tuần lễ liên tục tiến công vô cùng mệt mỏi, ai cũng nguyền rủa cái thành phố này đã chặn bước tiến của họ về thẳng Béc-lin.

        Lúc này, ở đây như phải sống lại cảnh chiếu đấu hầm hố cũ kỹ, đã hầu như bị quên bẵng mất trong giai đoạn ồ ạt tiến công. Đội trinh sát cứ đi theo dọc hào giao thông, khi bước qua mình một chiến sĩ đang nằm ngủ, lúc lại nhảy qua một quãng chiến hào chưa nối liền được với nhau.

        Trên đường đi dọc theo tiền duyên, vừa đi Lu-ben- xốp vừa nói chuyện với các đại đội trưởng, trung đội trưởng, các chiến sĩ, nhất là với các xạ thủ súng máy, xạ thủ súng trường ưu tú, các trinh sát viên trung đoàn, các chiến sĩ công binh và các quan sát viên pháo binh. Anh hỏi họ rất tỉ mỉ về tất cả những vấn đề họ phát hiện thấy, ghi lên bản đồ và bức sơ đồ quan sát. Anh cố gắng ghi chép hết sức cẩn thận mọi tài liệu. Tờ mờ sáng mai, các trung đoàn sẽ bắt đầu công kích; như vậy tất nhiên phải làm sao nắm chắc được cách bố trí phòng ngự, vị trí các hỏa điểm và các công sự của địch. Vả lại, cũng phải làm sao quên được Ta-nhi-a; việc này Lu-beu-xốp hết sức cố gắng thực hiện. Thực ra, ngay giữa câu chuyện trao đổi với các sĩ quan khác, một đôi lần anh tự bất chợt thấy mình còn nghĩ về ” cô bạn cũ ”. Mỗi lúc như vậy anh lại sầm mặt lại — anh nghĩ tới trung tướng Xi-dô-crư-lốp. Khuôn mặt nghiêm nghị, bình tĩnh của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự hiện, lên trong trí nhớ, tựa như một ngọn roi quất mạnh làm cho tư tưởng anh lại tập trung vào một điểm duy nhất: công tác anh đang làm.

        Lu-ben-xốp cứ đi như thế suốt dọc tiền duyên của sư đoàn từ nam đến bắc, tấm bản đồ thành phố mỗi lúc một chi chít thêm các ký hiệu đủ các loại đánh dấu các trận địa pháo, xe tăng, ổ súng máy, hàng rào thép gai, bãi mìn của địch.

        Còn về Ta-nhi-a, anh lại phải nghĩ tới một lần nữa : ở trong một gian hầm, cạnh lỗ châu mai súng máy, tình cờ anh đã gặp lại người bạn đường bữa trước, " ông chủ ” chiếc xe tứ mã nổi tiếng, đại úy Trô-khốp.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2017, 10:45:57 pm
       
XVII

        ĐẠI úy Trô-khốp rất đỗi ngạc nhiên khi thấy dẫn đầu đội trinh sát sư đoàn lại là cái " anh thiếu tá đẹp trai” này, với chiếc áo bông ngắn chẽn, thắt lưng đeo hai quả lựu đạn. Anh càng ngạc nhiên hơn nữa khi được biết thiếu tá này lại chính là Lu-ben-xốp nổi tiếng, con người dũng cảm, xông xáo như mãnh hổ, luôn luôn lập được chiến công, chủ nhiệm trinh sát sư đoàn, người mà các chiến sĩ đã nhiều lần kề chuyện cho anh nghe.

        Trô-khốp luống cuống, Lu-ben-xốp cũng vậy, nhưng lại vì một lý do khác: hình như mọi người đều bảo nhau để nhắc anh phải nghĩ tới cái cô Ta-nhi-a kia. Nét mặt hơi buồn, anh nói với Trô-khốp:

       — Thế là ta lại gặp nhau! Thế nào, đồng chí cho biết kết quả quan sát của đồng chí...

        Trô-khốp báo cáo vắn tắt tất cả những điều anh quan sát được. Anh chỉ trên bản đồ thành phố vị trí các hỏa điểm của địch mà anh và anh em trong đại đội đã phát hiện thấy. Lu-ben-xốp rất hài lòng khi thấy tấm bản đồ của mình được gửi tới tận tay các đại đội trưởng bộ binh.

        Trong lúc Lu-ben-xốp ghi thêm những tài liệu mới lên bản đồ thì Trô-khốp nhìn anh không chớp mắt. Một khuôn mặt đều đặn, mui hơi hếch, đôi môi tươi tắn mím chặt, vầng trán cao rộng với mấy sợi tóc nâu nhạt xõa xuống. Trô-khốp thoáng cảm thấy đôi chút ghen tị trong lòng, không phải vì thành tích của Lu-ben-kốp mà là vì đứng trước một con người mà tâm hồn trong sáng, bình thản lộ ra cả nét mặt và không có một chút điệu bộ hách dịch gì.

        Lu-ben-xốp gấp bản đồ, nói:

       — Nào, chúng ta ra quan sát trận địa!

        Một đồng chí trinh sát nói, giọng bình tĩnh nhưng cương quyết:

       — Đồng chí thiếu tá cận vệ, đồng chí cần phải ngủ một lát. Mấy đêm nay đồng chí có ngủ đầu.

        Một đồng chí khác ủng hộ ý kiến trên :

       — Đúng đấy. Còn như việc quan sát, chúng tôi có thể bảo đảm được.

        Lu-ben-xốp không đồng ý, nói lại:

       — Nhưng mà tôi có ngủ rồi kia mà!

       — Ngủ bao giờ ? — Đồng chí trinh sát thứ nhất hỏi lại: — Chúng tôi có thấy đâu ?

       — Cái đêm hôm ở trên tập đoàn quân về, tôi đã ngủ ở dọc đường rồi. — Lu-ben-xốp đáp lại, rồi bỗng nhiên đỏ mặt lên khi nhớ ra rằng ở đây có một người đã được chứng kiến việc anh "cùng gác” với Ta-nhi-a đêm hôm kia. Anh vội nói thêm : — A, lúc ngồi ô tô với đồng chí đại diện Hội đồng quân sư, tôi đã thiếp đi đưực một giấc.

       — Đồng chí thiếu tá cận vệ, làm gì có chuyện ấy. — Đồng chí trinh sát mặt vuông tha thiết nói. Nhưng Lu- ben-xốp ngắt lời ngay :

       — Thôi đi, Tri-bi-rép, chúng ta đi thôi. — Anh quay hỏi Trô-khốp: — Đồng chí cùng đi với chúng tôi chứ ?

        Trô-khốp đi theo đội trinh sát. Một trận mưa tuyết quất ngang mặt, "một trận mưa phát xít” theo kiểu nói của các chiến sĩ.

        Một chiến hào cắt ngang quả đồi. Tất cả dừng lại trên sườn đồi phía đông.

        Trô-khốp nói:

       — Chỗ này đã có ghi rõ rồi.

        Lu-ben-xốp đưa ống nhòm lên nhìn rồi nói với Trô- khốp như trách móc:

       — Các đồng chí bố trí xa địch quá.

        Các chiến sĩ đang trò chuyện trong chiến hào. Lu- ben-xốp lắng tai nghe. Một thượng sĩ có bộ ria đen, chắc đang giải thích chính trị. Anh đứng cạnh khẩu súng máy, đưa mắt theo dõi màn sương mờ nhạt đang rải ra trước chiến hào, thỉnh thoảng lại quay về phía các chiến sĩ đang  chăm chú nghe anh nói:

       — Các đồng chí thấy không, thằng Hít-le tự xưng là chiến sĩ xã hội nhưng nó có động gì đến bọn chủ nhà máy đâu. Chúng ta thừa biết như vậy. Bọn phát xít chỉ là bầy chó giữ nhà cho bọn tư bản. Thế thì tại sao Hít-le lại tự xưng là chiến sĩ xã hội. Bởi vì chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng chính nghĩa, tiến bộ, tư tưởng đó đã thấm vào máu giai cấp công nhân rồi. Một công nhân không thế nào xa rời chủ nghĩa xã hội được. Nếu họ không bị tuyên truyền lừa bịp thì không đời nào họ đi theo Hít-le. Nhưng... tai hại là... thực tế công nhân Đức đã bị tên tướng cướp ấy lừa bịp. — Anh im lặng một lát rồi chua xót nói tiếp: — Các đồng chí nghĩ xem, tôi là một thợ mỏ. Ở Đức cũng có công nhân mỏ, có phải không nào ? Lúc nào tôi cũng cứ băn khoăn: không hiểu sao những người thợ mỏ Bức, cũng là con nhà " nhọ mặt ” như nhau cả mà lại để xảy ra cái những chuyện kinh khủng ấy ?— Làm thế nào mà họ lại chịu đi đánh nhau với những người thợ mỏ Liên Xô chúng ta. Làm thế nào mà họ lại chịu đào than cung cấp cho những xưởng chế tạo ra những chiếc máy bay Gioong-ke để đi ném bom xuống khu mỏ của tôi, nơi tôi sinh trưởng và lao động từ nhỏ cho đến lúc chết, nơi mà thợ thuyền đã làm chủ. Làm thế nào mà bọn chúng đã lừa bịp được họ như thế? Thú thực là không bao giờ tôi tưởng tượng được rằng bọn chúng lại có thể đẩy được một người thợ mỏ vào con đường ấy !... —Anh ngừng lại rồi giải thích với vẻ mặt buồn bã:

       — Ấy, nói thợ mỏ là tôi lấy ví dụ thôi... Còn nói chung là thợ thuyền. Tất nhiên, đây cũng là một thử thách đối với người có trình độ giác ngộ cao như người công nhân Liên Xô, trong việc tìm hiều nguồn gốc của vấn đề và không nên căm thù lẫn lộn tất cả nhân dân Đức, lẫn lộn kẻ đi lừa bịp với những người bị lừa bịp. Đồng chí Xta-lin vẫn luôn nhắc chúng ta như vậy...

        Lu-ben-xốp gật gù tán thành và hỏi nhỏ Trô-khốp:

       — Đồng chí ấy ở đơn vị anh đấy à ?
 


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2017, 10:16:13 pm

        Trô-khốp đáp:

       — Đồng chí ấy là bí thư chi bộ, tên là Xli-ven-cô.

       — Đồng chí ấy giải thích đúng lắm — Lu-ben-xốp vừa nói vừa nháy mắt hóm hỉnh. — Trình độ khá đấy chứ. Khối người có nói được như thế đâu !

        Trô-khốp đỏ mặt: anh thừa hiểu ý câu Lu-ben-xốp vừa nói. Chắc anh cũng nhớ lại câu chuvện va chạm giữa hai người bữa trước”

        Lúc này Xli-ven-cô bỗng ngừng lại. Rồi anh hô to:

       — Các đồng chí chú ý, địch đang di chuyển.

        Nhiều bóng đen nhỏ tiến từng bước nhẫy vọt trên mặt đường xe lửa.

        Lu-ben-xốp bảo:

       — Báo cho pháo binh biết.

        Trô-khốp chạy tới máy điện thoại trong hầm. Pháo ta và pháo địch hầu như cùng đồng thời khai hỏa. Trận pháo chiến kéo dài hơn mười phút. Đạn đại bác địch nổ hơi trệch sang bên trái nhưng rất gần.

        Lu-ben-xốp thét: "Nằm xuống”, nhưng không rời vị trí đứng quan sát. Nhìn ánh chớp, nghe tiếng đạn nổ miệng nòng và tiếng đạn chạm nổ, anh xác định các vi trí và các cỡ pháo địch. Về mặt này không ai bì kip Lu-ben-xốp : các cán bộ pháo binh cũng vẫn phải hỏi anh luôn. Tai, mắt đều chăm chú theo dõi, anh lẩm bẩm một mình:

       — Hay lắm... cỡ 75... Đúng lắm... một khẩu 75 nữa bố trí ở chỗ tiếp giáp nhà ga và kho hàng. Tuyệt quá. Ồ, cỡ lớn quá!... Ít ra phải là 155... Khoan, khoan ! Còn nữa đất... Cứ nằm yên, các cậu.

        Anh cúi mình xuống. Một tiếng rít ghê rợn, tiếp theo là tiếng trái phá nổ ầm phía sau chiến hào. Ngay sát cạnh hầm Trô-khốp, một ngọn cây kêu lắc rắc rồi bay tung lên từng mảnh. Những mảnh đạn, mảnh gỗ bay rít xung quanh. Quay lại, Lu-ben-xốp nhìn thấy Trô-khốp. Người đại đội trưởng này vẫn đứng im trên mô đất, nửa người hơi ngả ra ngoài chiến hào, cứ bình thản hút thuốc chẳng khác gì lục đang ngồi trên cồ xe tứ mã. Lu-ben-xop khẽ mỉm một nụ cươi nửa giễu cợt nửa hoan nghênh. Anh nghĩ thầm: "Anh hùng rơm thật! Nhưng cũng phải nhận là rất can đảm ! ”.

        Anh bảo:

       — Đồng chí xuống đi, liều mạng vô ích làm gì ?

        Trô-khốp phục tùng.

        Trận pháo chiến kết thúc cũng đột ngột như lúc mở màn.

       — Đi thôi — Lu-ben-xốp nói với anh em trinh sát — Ta phải về báo cáo tình hình với sư đoàn trưởng.

        Anh thân thiết bắt tay Trô-khốp và nhắc lại:

       — Hoan hô đồng chí bí thư chi bộ của anh. Một đảng viên cộng sản xứng đáng...

        Hội trinh sát đã đi khỏi, Trô-khốp vẫn còn đứng lại một lúc trong chiến hào. Anh nghĩ tới Lu-ben-xốp và đột nhiên thấy có cảm tình.

        Trô-khốp rất dũng cảm, điều đó anh cũng tự biết; tuy vậy anh không thể không công nhận là tinh thần dũng cảm của Lu-ben-xốp lại còn có ý nghĩa cao hơn.

        Lu-ben-xốp không hề muốn khoe khoang sự dũng cảm của mình. Nếu như vừa rồi anh phải đứng thẳng trong chiến hào, điều đó tuyệt nhiên không phải vì anh muốn tỏ cho mọi người biết là mình dũng cảm, mà đó chỉ vì nhiệm vụ yêu cầu phải như vậy. Trô-khốp nhận  thấy anh em trinh sát rất quí mến Lu-ben-xốp. Anh em trong đại đội 2 cũng mến phục Trô-khốp nhưng nếu anh thấy giữa anh và anh em vẫn thiếu tình thần thiết và lòng tin tưởng gần như tuyệt đối, thì anh lại thấy rất rõ điều này giữa Lu-ben-xốp và các chiến sĩ trinh sát.

        Lúc này, Trô-khốp không kìm nổi lòng ham muốn — một đặc tính của thanh niên — là làm sao theo kịp đượe con người mà mình khâm phục. Nhưng anh lại vội tự nhủ ngay là mình cũng " chẳng kém đến thế ” đâu. Ý nghĩ phải học tập Lu-ben-xốp, anh cho là quá tự ti.

        Về phần Lu-ben-xốp, trên đường quay về phòng tham mưu, anh cũng nghĩ tới Trô-khốp nhưng nghĩ tới Trô-kbốp  thì ít mà nghĩ tới cuộc gặp gỡ hôm trước với Ta-nhi-a thì nhiều; cuộc gặp gỡ đó, do việc anh gặp Trô-khốp, đã sống lại trong trí nhớ của anh và theo anh, rõ ràng là lần gặp gỡ cuối cùng rồi còn gì.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2017, 04:37:47 pm

XVIII

        Thái độ khó chịu của chị y tá đối vói Ta-nhi-a biểu lộ trong những lời nói chuyện vói Lu-ben-xốp không phải là vô cở. Ta-nhi-a thời gian đầu được cán bộ, nhân viên trong tiểu đoàn quân y rất quý mến, nhưng gần đây đã bị dư luận chê bai. Thật thế, đã một tháng nay, đại tá Cra-xi-cốp, một trong những thủ trưởng quân đoàn, đã tỏ ra đặc biệt quan tâm đến Ta-nhi-a. Đại tá là một sĩ quan rất oai vệ và nổi tiếng trong các sư đoàn là nghiêm khắc và quả cảm. về tuồi tác đại tá gấp đôi tuồi Ta-nhi-a. Mọi người đều biết là đồng chí đã có con gái lớn gần bằng Ta-nhi-a.

        Nếu như từ trước đến giờ các bạn đồng sự không có cảm tình với Ta-nhi-a thì chắc chắn câu chuyện này cũng không làm họ phải bận tâm lắm. Nhưng họ vốn yêu mến Ta-nhi-a nên họ tự thấy không vừa lòng nếu họ không làm tròn trách nhiệm đối với chị. Ma-sa, người bạn gái tốt nhất của Ta-nhi-a là người bất bình nhiều nhất. Chị phụ trách khu điều trị, người cao lớn, mắt ti hí, da ngăm ngăm, tính tình rất cởi mở, có đôi gò má kiểu người Tác-ta và một bộ ngực nở nang. Nói chung, chị rất nghi ngờ nam giới. Chị thường xuyên chê trách những chị em y tá nào được các sĩ quan hay chiến sĩ có ”cảm tình”.

        Chị nói:

        — Các cô cứ tưởng là chuyện chỉ đến thế thôi ư ? Các cô cứ yên trí, chiến tranh cũng sẽ không châm chước gì cho các cô cả! Các cô tưởng rằng những chuyện ấy sau này không ai biết chăng? Đến lúc phục viên sẽ lại sống mọt cuộc đời mới chăng? Các cô cứ hy vọng như thế đi! Các cô em ơi, quả đất này tròn đấy! Rồi các cô xem, tôi nói nhất định là đúng.

        Không hiểu chị em trong tiều đoàn quân y có nghe theo lời chị hay không.

        Còn Ta-nhi-a, chị tuyên bố dứt khoát là không muốn nghe lên lớp về đạo đức và trước những lời thuyết lý giận dữ của người bạn gái, chị chỉ lặng lẽ cười.

        Tiếng cười của Ta-nhi-a làm cho những lời nói của Ma-sa mất hết hiệu lực. Tiếng cười ấy sao mà thân thiết chân thành, nên thường đã làm cho mọi người phải vui lây. Nghe tiếng cười ấy, mọi ý nghĩ sai lầm về Ta-nhi-a tự nhiên tiêu tan. Bình thường lúc Ta-nhi-a nghiêm trang, một nét răn hằn rõ trên trán giữa đôi lông mày nhíu lại, thấy chị lúc này nhiều người thường cho chị là con người quá nghiêm khắc hay hơi ác nghiệt nữa. Nhưng khi chị đã lên tiếng cười thì rõ ràng là người phụ nữ này có một tâm hồn hiền hậu, thẳng thắn, chất phác.

        Những thương binh chưa biết tên Ta-nhi-a thường gọi chị là: " nữ bác sĩ có tiếng cười hiền hậu”. Trước hôm Ta-nhi-a lên dự hội nghị các nhà giải phẫu trên tập đoàn quân, Ma-sa (không biết là lần thứ bao nhiêu nữa) định tâm sự với chị. Ma-sa không gõ cửa, bước vào buồng Ta-nhi-a. Nhưng chị dừng lại ở ngưỡng cửa một lát, hai bàn tay đút trong túi áo và khác với thói quen, chị cứ loanh quanh như muốn tìm câu để nói. Rồi chị ôm chầm lấy Ta-nhi-a và còn rưng rưng nước mắt khóc.

        Thấy Ma-sa khóc, Ta-nhi-a bực mình. Chị gạt ngay :

        — Tôi làm sao mà chị phải thương khóc tôi ? Tại sao lại có thái độ im lặng giả vờ và cái cười châm chọc thế nhỉ ? Vả lại ai yêu cầu chị đỡ đầu dạy bảo tôi kia chứ ? Đồng chí Cra-xi-cốp là một người rất tốt...

        Ma -sa la lên :

       — Rất tốt à! Những "người rất tốt” ấy, người ta thừa biết đi rồi !

        Ta-nhi-a vừa cười vừa nói :

       — Không hiểu sao chị lại nghĩ quẩn thế! để chị khỏi thắc mắc, tôi có thể bảo đảm với chị là tôi chỉ coi đồng chí Cra-xi-cốp như một người bạn tốt.

       — Thôi đừng nói giỡn nữa — Ma-sa vừa nói vừa giư tay lên như để chống đỡ với nụ cười của Ta-nhi-a — Cô nghĩ thế nào ? Cô cho là ông ta định nhận cô làm con nuôi hay sao, vì thương hại một cô gái mồ côi ư ? Thôi, cô làm gì thì tùy ý... Chắc hẳn cô lấy làm hãnh diện được một đại tá theo đuổi chứ gì, hãnh diện thấy ông ta rất nghiêm khắc với mọi người mà với mình lại quá dễ dãi chứ gì. Ông ấy còn dạy cô lái ô tô nữa... Thôi, tởm lắm !

        Chị đi ra, đóng cửa đánh sầm một cái.

        Kể ra Cra-xi-cốp cũng có được lòng Ta-nhi-a. Quả thực, chị cũng kiêu hãnh thấy một con người đã từng trẵi cuộc đừi là như thế, lại thân thiết với mình, quan tâm tới mình, và có lẽ còn yêu mình nữa. Tinh thần dũng cảm của đại tá, chị đã được nghe nhắc tới nhiều lần và có phần kính nể. Tuy vậy, Ta-nhi-a vẫn cương quyết gạt mọi ý định của Cra-xi-cốp thường muốn lái câu chuyện vào vấn đề yêu đương và mỗi lúc như vậy chị lại tìm cách rút lui khéo bằng một câu bông đùa.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2017, 08:07:07 pm

        Ta-nhi-a vừa ở hội nghị giải phẫu về đơn vị, lòng còn chưa hết xúc động vì cuộc hành trình trên cỗ xe tứ mã quá khác thường và cuộc gặp gỡ tình cờ với Lu- ben-xốp. Chị tìm gặp đại úy Rút-cốp-xki, chỉ huy tiểu đoàn quân y sư đoàn. Chuông điện thoại của Cra-xi-cốp cắt ngang câu chuyện của hai người. Rút-cốp-xki đưa ống nghe cho Ta-nhi-a.

        — Thế nào, đã về rồi ư ? — Tiếng Cra-xi-cốp vui vẻ — Cô đi đường mạnh khỏe chứ ?

        — Rất khỏe anh ạ ! — Ta-nhi-a đáp lại — Lúc rời đơn vị thì còn trên đất Ba Lan, lúc về đã ở trên đất Đức rồi... Anh có biết tôi tiến vào nước Đức như thế nào không ? Anh không tài nào đoán ra được đâu nhé ! Đi xe tứ mã đấy ! Một cỗ xe tứ mã chính cống của một bá tước.

        Cra-xi-cốp hỏi :

        — Bao giờ chúng mình lại gặp nhau được nhỉ ? Có lẽ cô đến chỗ tôi chơi nhé ? Hả? Tôi cho xe đến đón... Vì hôm nay cô còn nghỉ kia mà. Cô sẽ lái nhé...

        Ta-nhi-a nhận lời và trong khi chờ đợi, sang bên nhà bếp ăn cơm. Bữa ăn đã xong, các bác sĩ đã đi cả. Chị cấp dưỡng, một cô bé người U-cren có đôi mắt đen láy, bưng ra món ăn thứ hai rồi khoanh tay đứng trước mặt chị.

        Cô ta nói :

        — Thế là sắp hết chiến tranh rồi. Chị đã đến Giơ- mê-rin-ca bao giờ chưa ?
 
        — Chưa — Ta-nhi-a đáp — Có việc gì thế ?

        — Không, em người Giơ-mê-rin-ca đấy chị ạ. — Cô ta mỉm cười thẹn thùng như người vừa thổ lộ một điều bí mật.

        Ta-nhi-a đoán :

        — Chắc cô mong về quê nhà lắm phải không ?

        — Vâng.

        Ta-nhi-a nói :

        — Thành phố quê tôi bị tàn phá cả rồi. I-u-nốp. Một thành phố rất xinh xắn. Có lẽ cô chưa nghe tên ấy đâu nhỉ ?

        — Có, em có nghe thấy nói đến tên thành phố đó rồi. Trong những bản tin của thông tấn xã chị ạ !

        Ta-nhi-a ra đường, ô tô đã đợi chị ngay ngoài cổng rồi. Một ít tuyết rơi phủ kín mui xe. Người lái xe ngủ gật sau tấm kính ướt nước. Ta-nhi-a mở cửa, ngồi xuống cạnh anh. Anh ta giật mình, chào chị :

        — Đồng chí Ta-nhi-a, đồng chí lái lấy chứ ?

        — Không, đồng chí cứ lái đi.

        Mỉm cười lơ đãng, Ta-nhi-a vừa nhìn những thân cây trụi lá vun vút chạy hai bên đường vừa nghĩ tới Lu-ben- xốp, nghĩ tới hai lần gặp gỡ. Nhưng, lúc nghĩ tới buổi chia tay nhau hôm ấy, chị không mỉm cười nữa. Bởi vì quả thực Lu-ben-xốp từ biệt chị có lạnh nhạt một tí. Vừa mới thấy xe ô tô của sư đoàn, anh đã vội vã nhẫy lên, cứ như là bắt buộc phải đi những xe ấy, không có cách nào khác.

        Trong làng bộ tham mưu quân đoàn đóng, Cra-xi- cốp ở một ngôi nhà nhỏ có hàng rào chấn song bằng gang. Cạnh cửa sổ, một con vẹt nhảy nhót trong chiếc lồng lớn do chủ nhà bỏ chạy để lại. Con vẹt cất tiếng nheo nhéo trong cổ họng chào Ta-nhi-a.

        — Auf Wiedersehen1!

        Cra-xi-cốp không có nhà. Lát sau đại tá gọi điện thoại về. Thường ngày Cra-xi-cốp nói oang oang, dõng dạc, thỉnh thoảng lại phá lên cười. Hôm nay đồng chí lại nói thì thầm vội vã :

        — Cô Ta-nhi-a, cô đừng giận nhé... Trung tướng Xi-dô-crư-lốp vừa tới, bất ngờ quá...

        — Thôi được, tôi chờ anh.

        — Đừ... ừng — Cra-xi-cốp luống cuống — Không nên, tôi còn bận lâu lắm. — Và đồng chí nói thêm, giọng cương quyết, nghiêm khắc hơn, như nói với một sĩ quan tham mưu nào đó : — Đây là một chiến dịch phức tạp. Phải chuẩn bị thật cẩn thận. Đồng chí bảo mọi người phải sẵn sàng. Thôi chào đồng chí nhé !

        Con vẹt lại cất tiếng chào khách : — Auf Wiedersehen !

        Thành thực mà nói, Ta-nhi-a củng hơi thấy bực mình. Chị không ghét Cra-xi-cốp nhưng chị thấy trong giọng nói của đại tá có điều gì làm chị không vừa ý. Điều làm chị khó chiu nhất, đó là thái độ sợ sệt của Cra-xi-cốp trước mặt đồng chí đại diện Hội đồng quân sự.

        Quả là chị đoán đúng, Cra-xi-cốp, lúc này đang luống cuống trước mặt đồng chí Xi-đô-crư-lốp.

        Trung tướng đã nổi tiếng nghiêm khắc và cảnh giác đối với khuyết điểm của mọi người. Hơn nữa, đồng chí lại rất ghét những "chuyện yêu đương lăng nhăng trên mặt trận". Lần nào gặp Cra-xi-cốp, trung tướng cũng không quên hỏi thăm sức khỏe vợ và con gái đại tá.

        Có lẽ trung tướng cố ý hỏi chăng ? Liệu đồng chí đã có biết bóng gió câu chuyện của Cra-xi-cốp chăng ? Điều này rất có thể : trung tướng hiếu rất rõ công tác và đời tư của các sĩ quan; các sĩ quan cũng thường không lấy dó làm ngạc nhiên gì cho lắm.

        Xi-dô-crư-lốp hôm nay chỉ tạt qua bộ tư lệnh quân đoàn. Đồng chí còn có nhiệm vụ khẩn cấp do bộ Tổng tư lệnh giao phó tới gặp các đơn vị thiết giáp. Đi theo trung tướng là một thiếu tướng bộ đội xe tăng, chỉ huy một đơn vị thiết giáp mới được điều lên mặt trận. Tư lệnh quân đoàn và các cán bộ giúp việc đều lên phòng tham mưu tập đoàn quân, không có nhà. Vì vậy trung tướng hội ý với Cra-xi-cốp trong 15 phút.

        Trung tướng tỏ vẻ có cảm tình với Cra-xi-cốp. Đồng chí công nhận những đức tính dũng cảm, bền bỉ va những tài tổ chức của Cra-xi-cốp. Thực ra trung tướng nhận xét Cra-xi-cốp còn thiếu tinh thần tự động. Trái lại Cra- xi-cốp là người chấp hành rất triệt để mọi mệnh lệnh của trên.

------------------
        1. Xin tạm biệt.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2017, 09:57:24 pm

        Tinh thần phục tùng máy móc ấy đôi khi làm trung tướng bực mình. Khi chủ tọa một cuộc hội nghị hay những lúc ra mệnh lệnh, đồng chí đại diện Hội đồng quân sư thường muốn có những ý kiến nhận xét hay bổ sung của cán bộ dưới dựa trên kinh nghiệm bản thân họ. Chỉ có trong lúc tranh luận, đồng chí mới sôi nổi, hăng hái trình bày ý kiến của mình để rồi sau khi nghiên cứu mọi ý kiến, mới đi tới một quyết nghị.

        Trung tướng lúc này nét mặt gân guốc, sâu kín ngồi ngay trước mặt Cra-xi-cốp. Đồng chí nghe báo cáo, phát biểu thêm ý kiến về những biện pháp cải tiến hoạt động của cơ quan hậu cần các đơn vị trong quân đoàn, và nói rõ những nhiệm vụ mới của bộ tư lệnh phương diện quân từ khi bắt đầu tiến vào đất Đức. Đồng chí nói:

        — Ở đây cần thiết phải có những biện pháp cương quyết nhất để phòng ngừa những hành động vô kỷ luật.

        — Rõ — Cra-xi-cốp đáp lại.

        Trung tướng liếc nhìn Cra-xi-cốp. Đồng chí không thích là Cra-xi-cốp lại đồng ý vơi mình ngay tức khắc mà chưa suy nghĩ gì cả. Đồng chí nói tiếp :

        — Trước đây quân Đức hành động quá dã man trên đất nước ta, nên bây giờ ngăn ngừa được chiến sĩ ta trả thù không phải là chuyện dễ. Đồng chí thấy thế nào?

        — Thưa trung tướng, đúng thế.

        — Nhưng dù sao cũng phải làm bằng được. Cần phải làm một cách kiên nhẫn, giáo dục tỉ mỉ, đồng thời cũng cần có những biện pháp kỷ luật và các hình thức khác, kể cả việc đưa ra tòa án binh. Sau khi tiêu diệt bọn phát xít, chúng ta sẽ tạo điều kiện cho dân tộc Đức xây dựng một nước Đức mới, dân chủ, tập hợp những lực lượng cần thiết để đấu tranh chống với thế lực của bọn tài phiệt, mà cũng không phải chỉ có bọn tài phiệt Đức đâu. Không phải tất cả những người Đức đều là kẻ thù. Ta phải biết phân biệt.

        — Thưa trung tướng, rõ !

        — Dù sao — trung tướng kết luận, nét mặt khó chịu, quay nhìn ra phía cửa sổ—Ta cũng phải giáo dục cho họ cách sống để sau này con cháu họ sẽ ghi nhớ mãi không bao giờ gây chiến với nước Nga, hom nữa với nước Nga xô viết.

        — Báo cáo trung tướng, tôi đã rõ !

        — Đồng chí rõ cái gì nào ? — Trung tương đột ngột hỏi lại.

        Cra-xi-cốp luống cuống. Lúc đó trung tướng bèn dằn mạnh từng tiếng một:

        — Đồng chí phải chú ý không để xảy ra những hành động vô kỷ luật trong đơn vị, tuy rằng lòng khao khát trả thù đang sôi nổi trong trái tim các chiến sĩ ta là một tình cảm chính đáng; 

        Im lặng một lát, trung tướng hỏi:

        — Thế nào, tin tức gia đình đồng chí ra sao ? Chị ấy và cháu gái khỏe cả chứ ?

        — Vâng, rất khỏe.

        Trung tướng đứng dậy.

        Cra-xi-cốp hỏi:

        — Tôi có cần đưa đồng chí đi không ?

        — Không cần.

        Đưa trung tướng ra xe xong, Cra-xi-cốp, hai tay đặt trên chỉ quần, đứng mãi cho tới lúc ô tô và chiếc xe bọc sắt biến mất trong sương chiều.

        Nghĩ đến Ta-nhi-a, Cra-xi-cốp thấy ngài ngại và tuy  rất muốn gặp cũng không dám gọi điện tới tiểu đoàn quân y sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2017, 10:43:20 pm
       
XIX

         Ngày hôm sau, qua một chặng hành quân, tiểu đoànquân y đóng lại ở một làng hẻo lánh giữa một khu rừng của thành Snây-đơ-mun. Người ta căng lều vải lên từ sớm. Đồng chí trưởng ban dược chính vừa càu nhàu vừa dỡ các hòm thuốc.

        Từ lúc rạng đông, Ta-nhi-a rửa mặt, mặc áo "blu” trắng rồi đi ra bệnh xá. Tới ngã tư đầu tiên, chị gặp Rút-cốp-xki đứng giữa một đám đông các ông bà già người Đức. Các ông già, bà già này líu lô hỏi xem có thể ở lại được hay không, tuy rằng chẳng có ai đuổi họ đi cả.

        Nhìn thấy họ, Ta-nhi-a sửng sốt ngạc nhiên.

        Chị cũng không quá thơ ngây đến nỗi không biết rằng sẽ gặp trên đất Đức những ông già, bà già bình thường như mọi nơi khác. Chỉ có một điều là phải qua bốn năm ròng, bốn năm kinh khủng, lòng căm thù quân Đức đã dần dần tích lũy trong đáy lòng chị đến mức độ chị không thể nào tưởng tượng được rằng người dân Đức cũng biết nghĩ, biết cười, biết khóc như những người khác. Chỉ riêng một tiếng "quân Đức” cũng đủ gợi lại trước mắt chị hình ảnh những thành phố, những thôn xóm bị tàn phá thành tro bụi, ở những nơi đó, nhân dân Liên Xô đã phải sống chui rúc dưới hầm hố, gợi cho chị nhớ lại những đoàn máy bay nã súng liên thanh xuống đám đông toàn là đàn hà, trẻ con, những trận ném bom bắn phá các đoàn tàu thương bệnh binh, và gợi lại cái chết của chồng chị đã ngã xuống trên một ngọn đồi vô danh, bên bờ con sông lớn của Tổ quốc.

        Chị bình thản nhìn đám người già lão khóc lóc. Chị cảm thấy như những giọt nước mắt của ho đều giả dối. Họ còn khóc lóc gì nữa khi họ đã làm cho bao người phải đẫm lệ ?

        Chị đã ngạc nhiên thấy trên đất nước Đức cũng có những cây sồi và cây bồ đề như ở quê mình, chị lại ngạc nhiên thêm khi thấy ở đây cũng có những ông bà cụ già với những nét răn, những dòng nước mắt bình thường. Chỉ riêng tiếng nói của họ, nghe rất khó hiểu, là kích động lòng căm thù của chị: tiếng nói đó ít ra cũng là một chứng cớ cụ thể tỏ rõ họ là người Đức.

        Nhưng họ cũng vẫn là người, cho nên cuối cùng Ta-nhi-a vẫn thấy thương hại họ: vẻ mặt họ thật thiểu não, khổ sở, đầu óc họ chắc đang bị đảo lộn một cách âm thầm, tựa như lúc này bị tiếng súng gầm thét bên tai, họ mới chú ý đến thế giới xung quanh, cái thế giới từ nay trở nên hằn thù và đáng sợ đối với họ. Một cụ già cao lớn, đầu hói, hai tay lật đi lật lại mãi chiếc mũ cát két, nói với Ta-nhi-a bằng tiếng Nga giọng van lơn :

           — Ta-va-rít... Ta-va-rít...1.

          Đồng chí... đồng chí...

        Ông cụ học đâu được tiếng này nhỉ ? Có lẽ ông cụ đã đoàn kết đấu tranh với các chiến sĩ cách mạng Nga năm 1918 chăng ? Thật là khó chịu khi nghe thấy tiếng gọi thân thiết ấy ở cửa miệng trống rỗng của một người nước ngoài, một người Đức. Thử hỏi tiếng gọi ấy bao hàm ý nghĩa gì khác ngoài tư tưởng nô lệ đê tiện và sợ hãi ?

        Ta-nhi-a thầm nghĩ : "Kể ra các người cũng đã tốn nhiều thời gian mới nhớ ra rằng chúng ta là đồng chí”.

        Những thương binh đầu tiên đã chuyền về. Nhìn vết thương nặng của các chiến sĩ đủ thấy rõ trận đánh rất ác liệt. Đây là trận tiến công vào một trận địa phòng ngự rất mạnh và có chuẩn bị trước. Phần lớn là những vết thương ở tay, ở chân do bị trúng mìn.

        Nhìn thấy Ta-nhi-a, anh em thương binh ngừng rên rĩ ngay tức khắc. Tâm lý nam giới bao giờ cũng thấy xấu hổ phải kêu la rên rĩ trước mặt một người phụ nữ trẻ đẹp. Những đồng chí nào nhiều tuổi hơn, từng trải hơn thì tự hỏi : " Chị ta trẻ thế thì liệu có chữa nổi hay không ?” Lúc đầu họ còn tưởng nhầm chị là y tá. Trong chiếc áo blu trắng, trông chi như chưa tới hai mươi nhăm. Nhưng không phải, đúng chị là bác sĩ. Các chị y tá giúp việc tấp nập quanh chị với một vẻ kính nể và chỉ cần một tiếng nói khẽ, một cái đưa mắt của chị, cũng đã hiểu và làm theo mệnh lệnh của chị. Đôi mắt xám của chị biểu lộ lòng đầy bình tĩnh, tự tin, đức tính đó chỉ ở con người nắm vững kỹ thuật mới có. Anh em thương binh nhìn chị tin tưởng, lại còn cố mỉm cười, mong đợi ở chị một cử chỉ thân mật và thông cảm.

        Chị khuyến khích:

        — Can đảm thật! Thật xứng đáng là một chiến sĩ! Trẻ măng mà đã can đảm thế!

        Hay là :

        — Nhiều tuổi thế mà còn can đảm như thanh niên!

        Đôi lúc chị sinh ra nói chuyện luôn mồm ; đó là trong những "ca” mỗ phức tạp :

        — Có đau không, đồng chí ? — Chị vừa hỏi vừa mĩm cười, làm duyên một chút — Đừng nhìn vết thương, đồng chí nhé, nhìn không hay ho gì đâu... Vả lại, đồng chí nhìn cũng không hiểu gì cơ mà. Có những vết thương trông bề ngoài có vẻ ghê gớm nhưng thực ra lại không can hệ gì.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2017, 11:43:08 pm

        Thương binh chuyền về ùn ùn. Băng bông đẫm máu cứ hoa cả mắt. Vẫn vui vẻ, nhanh nhẹn, các chị y tá bây giờ đi lại quanh Ta-nhi-a, giúp việc với thái độ lặng lẽ đăm chiêu.

        Ta-nhi-a thoáng nhìn thấy một khuôn mặt quen quen bên lều thương binh vừa cáng về. Quay lại bàn mổ, chị cố nhớ xem đã gặp ở đâu. Nhưng chịu không nhớ ra.

        Người ta cáng vào một thương binh trúng đạn ở bụng, sau đến một pháo thủ mặt bị bỏng. Thế là bên trên cái thế giới nhỏ bé đẫm máu đầy tiếng than vãn và thở dài ấy, đôi mắt xám trầm lặng như hai hồ nước lớn, từ trên cái bẵng miệng vuông trắng toát, cứ tỏa ánh sáng long lanh xuống, đồng thời đôi bàn tay nhỏ nhắn và khéo léo, mang găng cao su, cứ thoăn thoắt hoạt động.

        Bác sĩ, y tá liên tục đến hỏi ý kiến Ta-nhi-a, nhờ chị giúp đỡ. Chị thong thả bước tới bàn hoặc đứng xa, co hơi nghển lên chăm chú xem xét vết thương, rồi gật đầu tán thành hay lắc đầu không đồng ý, khẽ nói nhỏ vài tiếng rồi lại quay về bàn mình.

        Thỉnh thoảng, Ma-sa chạy vào. Chị trìu mến nhìn Ta-nhi-a, rồi quay về lều mình phát biểu:

        — Chị ấy nhất định sẽ trở nên một nhà giải phẫu có tài! Miễn là cánh đàn ông đừng quấy rầy chị ấy!...

        Ma-Sa đi tìm Rúp-cốp-xki, bảo anh:

        — Ít ra anh cũng bắt chị ấy phải nghỉ tay, đi ăn một chút. Chị ấy đứng làm việc suốt từ sáng rồi còn gì! Hoặc ít ra cũng bảo chị ấy uống lấy một cốc nước chè chứ! Các anh làm cho chị ấy kiệt sức mất thôi!...

        Hai giờ chiều, Cra-xi-cốp tới. Đồng chí hỏi Rút- cop-xki :

        — Có tình hình gì mới không ?

        Rút-cốp-xki báo cáo số lượng thương binh đã và chưa cứu chữa.

        — Bao giờ các đồng chí cho chuyển thương binh về tuyến sau?

        — Báo cáo đại tá, chiều nay.

        Cra-xi-cốp bước vào lều mổ.

        Lần đầu tiên Cra-xi-cốp nhìn thấy Ta-nhi-a làm việc. Lúc đầu đồng chí chỉ nhận thấy một điểm là Ta-nhi-a mặc chiếc áo blu trắng bó chẽn lấy người trông rất thon đẹp. Nhưng rồi theo dõi những động tác chính xác và chắc chắn của Ta-nhi-a, nghe giọng nói bình thản của chị, đại tá cảm thấy một niềm kính trong sâu sắc đối với chị và, thật cũng lạ lùng, đối với ngay bản thân mình nữa. Đại tá không khỏi xúc động nghĩ thầm : " Mình không lầm... thật là một phụ nữ hiếm có...”. Đại tá đứng ngắm hồi lâu cái gáy và mái tóc mềm mại của chị hiện ra lờ mờ dưới chiếc mũ trắng, rồi rón rén bước ra ngoài.
Người chiến sĩ có khuôn mặt quèn quen với chị được cáng vào đặt lên bàn mổ. Sau khi dùng cặp tháo băng ở cánh tay phải, Ta-nhi-a thấy cần phải cưa cụt bàn tay đã bị gãy nát của chiến sĩ này.

        Chị an ủi :

        — Không hề gì, chịu khó nhé. Đồng chí sẽ thấy hơi đau một tí, tôi rửa vết thương thôi mà. Chịu khó nhé.

        Đồng chí thương binh khẽ nói:

        — Vâng.

        Lúc này chị mới nhận ra. Đó là đồng chí " đánh xe trạm”. chị nhớ lại dáng điệu hiên ngang của anh lúc ngồi trên ghế xe ngựa, và trống ngưc Ta-nhi-a bỗng rộn ràng.

        Chị y tá thấy sắc mặt Ta-nhi-a đột nhiên tái mét vội bảo :

        — Chị Ta-nhi-a, chị phải nghỉ thôi.

        — Đồng ý — Ta-nhi-a đáp lại, lòng riêng nghĩ đến Lu-ben-xốp.

        Chị tự nhủ: " Miễn sao Lu-ben-xốp không việc gì ”.

        Gắng vượt qua được giây phút mềm lòng ấy rồi, Ta-nhi-a bắt tay vào mổ. Đồng chí "đánh xe trạm” vừa ngửi ê te vừa đếm ngắt quãng:" Hai mươi mốt...Hai mươi hai... Hai mươi ba...” và khó nhọc mới thiếp đi được.

        Lúc cánh tay đồng chí thương binh đã cưa xong, Ma-sa rón rén bước vào. chị rất mến phục Ta-nhi-a nhưng lại làm ra bộ giận dữ nói:

        — Đồng chí làm ơn đi nghỉ ngay hộ cho. Thương binh không còn mấy. Chúng tôi giải quyết lấy cũng được.

        Ta-nhi-a ngoan ngoãn rửa tay, cởi bỏ chiếc áo blu loang lổ máu, khoác áo ca-pốt rồi bước ra ngoài. Trời đã xẩm tối. Gió lạnh buốt thoi mạnh ầm ầm như bão qua các ngôi nhà. Chị bước đi trên đường mà tâm hồn bàng hoàng. Mãi khi ra đến đầu làng, nghe tiếng Rút-cốp-xki gọi, chị mới bừng tĩnh.

        — Ta-nhi-a, chị về ngủ đi chứ !

        Chị quay lại nói với một giọng như van xin :

        — Anh để tôi đi dạo một lúc cho dễ chịu. Tôi sẽ quay về ngay.

        Chị đi ra phía nhà anh em thương binh nằm. Mới tới gian ngoài, ,chị đã nghe thấy tiếng rên rỉ, tiếng thì thầm. Các chị y tá thường trực đứng dậy, báo cáo với Ta-nhi-a tình hình anh em thương binh.

        Ta-nhi-a thong thả đi qua các giường bệnh, lắng nghe anh em thương binh trò chuyện.

        Một đồng chí ngồi trên giường, tay phải buộc băng, tay trái cuộn thuốc lá, nét mặt bình thản, nói:

        — Tụi Đức còn kháng cự. Nhưng mà lúc này còn kháng cự cách nào ? Lúc này không một kẻ nào chống nổi sức mạnh của chúng ta nữa rồi.

         Một đồng chí khác tham gia:

        — Bây giờ ở trên đất nước chúng mà chúng vẫn còn bỏ chạy đấy nhé! Chúng nó định rút chạy đến tận đâu nhĩ ? Chạy núp vào bọn Mỹ hẳn ?

        — Úi chà! — Đồng chí thứ ba khẽ kêu. Anh đang nằm nhưng cố xen vào, vừa rên vừa phát biểu: — Nghĩ cho kỹ thì bọn phát xít cũng thấy dễ sống với bọn Mỹ hơn... Chúng cùng một giuộc với nhau, còn lạ gì!

        Đồng chí "đánh xe trạm” nằm ở cuối phòng da mặt nhợt nhạt. Anh giới thiệu với Ta-nhi-a tên anh là Ca-lít- xtơ-rát E-vơ-gra-phô-vích. Cái tên khí dài và vinh dự này không đi đôi với nét mặt còn trẻ của anh.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2017, 11:27:03 pm

        Ta-nhi-a hỏi:

        — Đồng chí không nhận ra tôi à ?

        Có chứ, anh đã nhận ra Ta-nhi-a ngay từ lúc sáng nhưng chắc anh không dám gọi. Anh khẽ nói:

        — Lúc ấy, ai ngờ lại như bây giờ chị nhỉ — Im lặng một lát, anh úp mở hỏi: — Tay tôi thế nào hở chị ? Ở bộ đội tôi là công binh, về nhà tôi là thợ mộc. Không có tay thì còn làm gì được?

        Ta-nhi-a tránh không trả lời thẳng vào vấn đề :

        — Đồng chí sẽ khỏi thôi.

        Anh em thương binh vẫn rên rỉ như thường lệ ; nhưng Ta-nhi-a nhận thấy một nét mới ở hầu khắp mọi người. Lẽ ra anh em hoặc ít hoặc nhiều tỏ ra sung sướng vì mình may chỉ bị thương chứ chưa phải hy sinh, đằng này anh em lại câm thấy chua xót không được tham chiến đến cùng. Chỉ mấy bước chân nữa là tới Béc-lin, thế mà giờ đây phải tụt lại.

        Từ xa tiếng đại bác vọng tới. Thương binh lắng tai nghe với một ve mơ màng, trầm ngâm chẳng khác gì những cụ già ngồi nhớ tiếc những ngày trai trẻ, mặc dầu những ngày đó có gặp gian khổ, khó khăn.

        XX

        Thiếu tướng Xê-rê-đa bị tứ phía thôi thúc. Tư lệnh quân đoàn, Tư lệnh tập đoàn quân chốc chốc lại gọi điện thoại xem thiếu tướng còn định loay hoay với thành Snây-đơ-mun đến bao giờ. Các sư đoàn khác đã tới sông Ô-đe mà thiếu tướng Xê-rê-đa vẫn chưa giải quvết xong cái thành phố ranh con, bẩn thỉu này.

        Nếu như lúc trước, cứ công bằng mà gọi thì Snây- đơ-mun là một "pháo đài”, bây giờ đồng chí Tư lệnh tập đoàn quân lại cố ý coi khinh nó, cho nó chỉ là cái "thành phố ranh con, bẩn thỉu”. Đồng chí lại còn hóm hỉnh dặn thiếu tướng Xê-rê-đa nên đọc lại các sách phổ thông nói về đường phố trong nhiều thành phố, chẳng hạn như trong thành Xta-lin-grát, lúc quân ta đang tiêu diệt các đơn vị đich bị bao vâv.

        — Rõ — Thiếu tướng Xê-rê-đa đáp lại mặt đỏ lên vì tức.

        Thiếu tưóug đã đến đóng ở cái chòi cao do thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp chọn làm đài quan sát cho đồng chí. Chiếc chòi đứng ở đầu làng, cách Snây-đư-mun khoảng một ki-lô-mét rưỡi. Đứng trên chòi cao, qua ống viễn kính nhìn thấy rõ thành phố, các cứ điểm địch bố trí giữa các ngôi nhà bị bom đổ sụp, những dãy chướng ngại và cọc chống tăng chặn ngang các phố ngoại ô, chiếc cầu lớn và nền đường sắt cao, ở đó địch bố trí nhiều ổ súng máy.

        Phía tay trái nhìn thấy khu nhà "Chim hải âu”, trung tâm phòng ngự của quân Đức, có bố trí các đơn vị súng máy và ba-dô-ca. Xe tăng địch không ngớt từ sau các khu nhà xông ra. Chúng bắn một chập rồi lui về đề mấy phút sau lại hiện ra ở một địa điểm khác.

        Lu-ben-xốp và sư đoàn trưởng đều có mặt trên đài quan sát. Ở đây còn có các nhân viên thường túc trực trên đài quan sát : sĩ quan tham mưu, sĩ quan pháo binh, điện thoại viên. Những phích thức ăn và báo chí Mát- xcơ-va được chuyển tới đây bằng xe ô tô. Báo chí thường chậm mất sáu, bảy ngày. Nghĩ tới những tờ báo Béc-lin đề ngày hôm qua, anh vừa được đọc, Lu-ben-xốp không khỏi mỉm. Cười với ý nghĩ : Mát-xcơ-va thì xa, mà Béc-lin đã gần kề.

        Bình thường ra, thiếu tướng Xê-rê-đa không tài nào ngồi im một chỗ trên đài quan sát: lúc thì quan sát địch tình qua ống viễn kính, lúc khiển trách các điện thoại viên vì máy nghe không rõ và bị đứt luôn : có lúc chính thiếu tướng tự hiệu chỉnh pháo bắn.

        Nhưng hôm nay thiếu tướng ngồi im không cử động trước tấm bản đồ, gần bên cửa sổ hình vòng cung nhọn trên chòi.

        Bước tiến của quân ta chỉ nhích lên được từng mét. Quân Đức phản xung phong không phút nào ngớt. Thành phố bị bao vây đến hôm thứ hai, một máy bay Đức tới rải truyền đơn, Lu-ben-xốp nhặt một tờ đưa cho thiếu tướng xem. Đó là một mệnh lệnh cho đội quân trong thành chống cự đến cùng "không được để lọt vào tay bọn Bôn-sê-vích chìa khóa mở cửa vào Béc-lin”. Địch mệnh danh cho Snây-đơ-mun như vậy. Cuối tờ truyền đơn lại có mấy dòng chữ đậm nét: " Sẽ có xe tăng tới tiếp viện .

        Thiến tướng nổi nóng nói:

        — Thật là trơ tráo ! Xe tăng nào ? Lấy đâu ra ? Rõ quân chuyên môn lừa bịp !

        Nghĩ một lát, đại tá Plốt-nhi-cốp phát biểu :

        — Khoan, tôi thấy phải làm cho bọn Snây-đơ-mun này mở mắt ra mới được. Để tôi phụ trách việc này.

        Và đại tá quay bảo Lu-ben-xốp :

        — Đồng chí chuẩn bị cho tôi hai tên tù binh, nhưng phải chọn những tên hiểu biết ấy nhé.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2017, 10:31:38 pm
         
        Buổi chiều, anh em phòng chính trị bố trí một máy phóng thanh trên tiền duyên. Ô-ga-nhe-xi-an cùng đi lên đó. Thiếu tá Ga-rin thảo một bản kêu gọi bọn địch đóng ở thành Snây-đơ-mun. Ô-ga-nhe-xi-an cặm cụi dịch bản kêu gọi sang tiếng Đức. Cuối cùng mọi việc đã chuẩn bị đầy đủ.

        Chiều hôm ấy, trên tiền duyên, trong chiến hào của một tiểu đoàn, Lu-ben-xốp gặp tất cả những người tham gia cuộc phát thanh địch vận. Ô-ga-nhe-xi-an, nét mặt đăm chiêu suy nghĩ, đọc lại bản kêu gọi. Hai tên tù binh được phát bút chì đang ngồi viết bài phát biểu ý kiến trên những mẫu giấy xé trong cuốn sổ tay của thiếu tá Ga-rin. Ô-ga-nhe-xi-an đọc qua rồi dịch cho Ga-rin nghe - và góp ý kiến với hai tên lính Đức về một vài chi tiết. Hai tên này tỏ ra có "sáng kiến lành mạnh”, theo định nghĩa vui đùa của Lu-ben-xốp. Chốc chốc một tên lại hỏi xem có nên thêm "ý kiến này hay ý kiến khác”, "để cho bài nói chuyện được kết quả hơn”.

        Ô-ga-nhe-xi-an bắt đầu nói vào máy phóng thanh. Tiếng nói vang lên trong khung cảnh tĩnh mịch. Cả đến súng máy và súng tên lửa của địch cũng câm họng.

        Mãi tới lúc một tên tù binh Đức phát biểu ý kiến, bọn địch mới đáp lại. Tiếng đạn súng cối oàng oàng xé không khí. Rồi một khẩu pháo bắn gấp lên tiếng như muốn dập tắt ngay những câu nói vừa phóng ra khỏi miệng loa.

        Tuy thế, tên tù binh cũng đã tranh thủ những lúc pháo địch tạm ngừng, đọc xong bài phát biểu ý kiến.

        Có lệnh gọi Lu-ben-xốp tới đài quan sát của trung đoàn trưởng Trét-vê-ri-cốp; thiếu tướng sư đoàn trưởng đã xuống đó và muốn kiềm tra lại công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công sáng hôm sau.

        Ở đài quan sát, ngoài thiếu tướng Xê-rê-đa và trung tá Trét-vê-ri-cốp còn có thiếu tá Mi-gai-ép và đồng chí tư lệnh pháo binh sư đoàn, trung tá Xi-dức.

        Thiếu tướng hỏi Trét-vê-ri-cốp xem anh đã cho anh em bố trí tiếp cận địch chưa, để có thể nhanh chóng tiến lên khi có lệnh. Trung tá báo cáo là anh em đã kề sát địch rồi.

        Thiếu tướng nói với mọi người:

        — Nếu thế chúng ta lên đó thôi.

        Đoàn người lặng lẽ tiến: thiếu tướng dẫn đầu, tiếp sau là trung tá Trét-vê-ri-cốp, Xi-dức, Lu-ben-xốp và các người tùy tùng. Thiếu tá Mi-gai-ép ở lại ban tham mưu trung đoàn, theo lệnh thiếu tướng.

        Tới đài quan sát của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, thiếu tướng dừng lại. Đó là một cái khe hẹp ăn vào sườn đồi, trong có rải rạ. Thiếu tá tiểu đoàn trưởng, người gầy gò khẳng khiu, thoạt đầu chưa biết là có cấp trên tới. Đồng chí đang giơ ống nhòm quan sát dãy nhà đã nhòa dần trong bóng hoàng hôn, và hét vào máy nói:

        — Cậu có thấy cái gian nhà trắng nhỏ gần tòa nhà đó phía bên phải không? Có một khau súng máy ở tầng dưới cùng đấy. Làm ơn nã cho nó một phát đi... ồ, bọn

        Đức này láo quá! Nã cho trúng vào, mình chân thành yêu cầu cậu đấy...

        Vừa nhìn thấy thiếu tướng, thiếu tá bỏ vội máy nói, đứng thẳng dậy :

        — Báo cáo đồng chí thiếu tướng, tiểu đoàn 1 đang tiến công để chiếm pháo đài Snây-đơ-mun. Tôi, tiểu đoàn trưởng, thiếu tá Ve-xen-tra-cốp báo cáo !

        — Pháo đài à, pháo đài à... — Thiếu tướng lẩm bẩm —  Pháo đài gì nó. Một cái thành phố ranh con, bẩn thỉu. Tại sao các đồng chí không tiến lên ?

        Ve-xen-tra-cốp định trình bày lý do, nhưng thiếu tướng như không muốn nghe. Đồng chí cầm lấy chiếc ống nhòm của tiểu đoàn trưởng đưa lên nhìn. Một không khi im lặng ngượng ngập. Một khẩu súng máy nỗ giòn giã ngay gần đó.

        Sau khi hạ ống nhòm xuống, thiếu tướng nhẹ nhàng nhảy qua bệ chắn, thong thả tiến lên. Lúc tất cả đã lên tới một cái khe cây cối rậm rạp, thiếu tướng nói:

        — Các đồng chí ở lại đây. Tôi sẽ tiến lên gian nhà nhỏ kia kìa. Sau đó lần lượt từng người một lên theo tôi.

        — Đồng chí cần gì phải lên tận tiền duyên — Xi-dức hỏi. — Tư lệnh quân đoàn mà biết thì phiền lắm.

        — Được rồi, nếu đồng chí không nói thì Tư lệnh quân đoàn không biết được đâu.

        Lu-ben-xốp đề nghị:

        — Đồng chí thiếu tướng, đề nghị đồng chí bỏ mũ ra cho khỏi lộ.

        Thiếu tướng không trả lời, bước thong thả như đi dạo mát trên khoảng đất trống, tiến lại ngôi nhà nhỏ có bố trí sở chỉ huy của một đại đội. Gian nhỏ lỗ chỗ đầy vết đạn. Đồng chí đại đội trưởng nấp sau chiếc bếp lò đang hí hoáy viết.

        Thiếu tướng thấy trung úy định đứng dậy, liền hạ lệnh:

        — Nghỉ! Anh em đâu ? Tại sao đồng chí không tiến lên ?

        Trong khi trung úy chỉ vị trí các trung đội trên tấm bản đồ, thiếu tướng sốt ruột ngắt ngay:

        — Đồng chí chỉ trỏ gì thế ? Cứ như là ở bộ tham mưu tập đoàn quân vậy. Đi với tôi.

        Trung úy lo ngại cho thiếu tướng, nói" Báo cáo, trên ấy súng địch bắn rát lắm”. Nhưng thiếu tướng đã lững thững bước đi, trung úy đành theo sau.

        Hai chiến sĩ tiếp đạn khom lưng kéo những hòm đạn đi qua. Nhìn thấy thiếu tướng, hai người đứng thẳng dậy.

        — Nghỉ! Các đồng chí ở đại đội mấy ?

        — Báo cáo, đại đội 1.

        — Anh em đâu?

        — Báo cáo ở chỗ bãi tha ma kia.

        — Kể ra cũng khéo chọn chỗ đấy nhỉ ?

        Đạn víu víu khắp bốn phía. Trời đã xầm tối.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2017, 09:13:15 am
       
        Cùng đi với trung úy và hai chiến sĩ tiếp đạn, thiếu tướng lên chỗ đại đội 1 bố trí. Anh em kẻ ngồi, người nằm trong những chiến hào không sâu lắm, đang quay lưng lại hướng gió để tránh gió mạnh.

        Thiếu tướng hỏi:

        — Tại sao các đồng chí lại quay lưng về phía địch thế?

        Nhận ra thiếu tướng sư đoàn trưởng, anh em vội đứng cả dậy.

        — Cứ nằm xuống ! — Thiếu tướng lắng nghe tiếng đạn rít, rồi hỏi: — Quân Đức có xa không ? Hay là quay lưng lại nên không thấy chúng ?

        — Báo cáo, chúng ở gần lắm... Súng máy của chúng lúc nào cũng khạc đạn.

        — Gần lắm là bao nhiêu ?

        — Báo cáo, khoảng trăm mét.

        — Này, ta thử lên xem một tí xem sao nhé ?

        Thiếu tướng cùng các chiến sĩ, tản hàng ngang tiến lên phía trước. Đoàn người lần đi trong đêm tối dày đặc được chừng hai trăm mét. Gió thốc vào mặt. Thiếu tướng lắng tai nghe rồi bảo :

        — Theo tôi, ta có thể bố trí ở đây. Bây giờ có lẽ địch cách ta chừng hai trăm mét, nếu tôi không nhầm.

        Thiếu tướng hỏi một chiến sĩ : — Này, như thế là địch đã chuyển súng máy của nó đi rồi à ? — Chiến sĩ kia im lặng, bối rối.

        Trét-vê-ri-cốp, Xi-dức, Lu-ben-xốp, tiểu đoàn trưởng và đại đội trưởng lặng lẽ tiến đến sau. Thiếu tướng không nhìn ai cả, mà quay lộn lại. Các sĩ quan cũng lẳng lặng đi theo. Súng máy của địch nhả đạn không ngớt: địch đã thoáng thấy có bóng người trong đêm tối hoặc đã nghe thấy tiếng nói vọng tới.

        Về tới đài quan sát của tiểu đoàn trưởng, thiếu tướng chỉ thị :

        — Tảng sáng mai, trung đoàn đồng chí phải chiếm được khu nhà máy, toàn bộ pháo sư đoàn sẽ yểm hộ cho các đồng chí. Khu nhà máy "Chim hải âu” là chìa khóa mở cửa vào thành phố. Phải chiếm cho kỳ được. 30 phút pháo bắn chuẩn bị, hoặc là 33 phút để đánh đòn bất ngờ —  Rồi đồng chí quay lại bảo Lu-ben-xốp : — Việc tổ chức trinh sát do đồng chí phụ trách. Cần tìm hiểu hệ thống hỏa lực của địch, nhưng phải làm hết sức cẩn thận.

        Tất cả quav về. Bên ngoài trời tối như mực.

        Tới trung đoàn bộ, thiếu tướng sau khi từ chối không ăn bữa cơm tối, vừa mỉm cười chua chát, vừa nói với Trét-vê-ri-cốp và Mi-gai-ép:

        — Các đồng chí làm ăn thế à ? Thế mà các đồng chí báo cáo với tôi hỏa lực địch mạnh. Thật là lạ! Các đồng chí cho là bộ binh không nhích lên được. Nhưng mà đối với bộ binh thì phải biết vận động họ, chỉ huy họ chứ. Các đồng chí quên mất điều đó rồi à ? Các đồng chí cứ tưởng là tự nó chuyển động một mình được à? Có phải chỉ cần khẽ đẩy vai một cái là được không?

        Về đến đài quan sát sư đoàn, thiếu tướng để cho Xi-dức và Lu-ben-xốp vào trước; đồng chí bước vào sau, khép chặt cửa lại. Rồi đồng chí quay lại phía Xi-dức. Nét mặt đồng chí như bi đau, nhăn lại, đồng chí nói:

        — Đồng chí thấy không, anh em họ nghĩ cũng đúng. Ông bạn pháo binh thân mến ơi, chiến tranh sắp kết thúc rồi, ai mà chả muốn sống. Ai cũng muốn được trở về quê hương, ngực lấp lánh huân chương và xây dựng cuộc sống hạnh phúc. Lao vào trước mũi súng máy để làm gì ? Không cần thiết! Các đồng chí có hiểu thế hay không? Không cần thiết! Chúng ta đang cần người... Đồng chí nghĩ thế nào ? Đồng chí tưởng là cái anh chàng bộ binh sẽ chịu đựng được hay sao ? Không đâu. Cần phải có hỏa lực yểm hộ cho họ. Cần phải dập tắt tất cả những khẩu súng máy của địch, lúc đó bộ binh sẽ tiến. Tại sao đồng chí không nói gì ? Dù sao đồng chí cũng sẽ không lên trên đó kia mà, vì bây giờ đồng chí là chỉ huy pháo binh rồi kia mà? Có đúng thế không? Tôi xin báo cho đồng chí biết: sáng mai cần phải có một pháo hỏa cho ra trò, một pháo hỏa gọi là hết sức chuẩn xác. Để cho các tiểu đoàn trưởng không còn phải van xin gì qua máy nói nữa... Các đại đội trưởng pháo binh phải đến tiền duyên cùng với các đại đội trưởng bộ binh, rõ chưa? Còn đồng chí, đồng chí lên với Trét-vê-ri-cốp. Đồng chí còn nhớ câu nói của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự không ? Câu ấy thế này: cái nước Đức này, phải cho nó nếm lại cái đòn ở trận Vê-li-ki Lu-ki, phải chiến thắng nó !

        Xi-dức nhảy ra khỏi phòng thiếu tướng sư đoàn trưởng, mặt đỏ ửng, mồ hôi chảy ròng ròng, đi truyền đạt mệnh lệnh. Lu-ben-xốp bảo Tri-bi-rép đóng ngựa để lên trung đoàn Trét-vê-ri-cốp.

        Thiếu tướng còn lại một mình. Cúi mình trên tấm bản đồ, đồng chí đột nhiên cảm thấy thiếu một ai: đó là bé Vi-ca đã về tuyến sau, Gọi điện cho nó chăng?

        Nhưng đêm đã khuya, đồng chí không dám đánh thức con gái.

        Mười phút sau lại chính Vi-ca gọi điện lên. Thiếu tướng nhận thấy giọng nói của con gái buồn buồn. Hắn là Vi-ca cũng buồn vì phải sống xa bố. Tuy thế, Vi-ca không để cho ai biết. Theo quy định, em gọi bố là "đồng chí 35" và hỏi xem tình hình diễn biến ra sao, mục tiêu 27 (tức là nhà máy "Chim hải âu”) đã chiếm được hay chưa. Thiếu tướng lòng se lại vì thương và yêu con gái.

        Đồng chí nghĩ thầm : "Nó cần phải có mẹ !”

        Pháo sáng vun vút bay lên trên thành phố, tiếng súng máy nổ vọng tới tận tai thiếu tướng. Hôm nay lạnh, gió thổi mạnh.

        Thiếu tướng nghĩ tới các chiến sĩ đại đội 1, đồng chí mỉm cười buồn bã nghĩ rằng mỗi một chiến sĩ hẳn cũng có những lo nghĩ riêng tây, nhưng đêm nay trước giờ phát hỏa đều tạm gác sang một bên ; và lúc này họ cũng chỉ có một ý nghĩ chủ yếu là họ cách xa Béc-lin những 240 ki-lô- mét, trong khi các sư đoàn khác đã tiến tới sông Ô-đe rồi.

        Đêm đã khuya, đại tá Cra-xi-cốp đến gặp thiếu tướng.

        Sau khi nghiên cứu kế hoạch tác chiến ngày hôm sau, đại tá nét mặt lo nghĩ, hỏi :

        — Đồng chí hy vọng chiếm được nhà máy chứ?

        — Chúng tôi hy vọng chiếm được — Thiếu tướng đáp lại.

        — Vô-rô-bi-ốp kể ra cũng không tiến chậm lắm —  Cra-xi-cốp nói khích. — Không biết có cần cho pháo binh quân đoàn giúp đỡ các đồng chí hay không ?

        — Chúng tôi không cần. — Thiếu tướng hơi khó chịu trả lời. — Các đồng chí giúp Vô-rô-bi-ốp thì tốt hơn.

        Lúc sau, Cra-xi-cốp được lệnh gọi về quân đoàn, thiếu tưómg lại còn lại một mình.

        Rạng đông, thiếu tướng Xê-rê-đa bước ra khỏi phòng tìm tới chỗ các sĩ quan. Đồng chí nhìn qua ống viễn kính quan sát một hồi lâu rồi nói :

        — Cái thành... cái thị trấn đáng ghét ấy kia kìa... —  Đồng chí quay lại và thấy mọi người đều đứng nghiêm, bèn bảo: — Các đồng chí ngồi xuống. Lúc nào có dịp là các dồng chí cũng đứng nghiêm và bỏ việc, hỏng quá ! — Im lặng một lát thiếu tướng hỏi: — Xi-dức đâu nhỉ ? A phải, lên trên chỗ Trét-vê-ri-cốp. — Thiếu tướng nhìn đồng hồ : — Theo tôi, có lẽ đã tới lúc phát hỏa rồi thì phải.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2017, 11:09:01 pm
       
XXI

        Lu-ben-xốp cùng với anh em trinh sát nằm trong một cái khe, giữa đám bụi cây gai góc, quan sát dãy nhà thấp có hàng rào, những đống gạch và sắt vụn chất ở phía bên phải, những tòa nhà lớn của khu nhà máy nổi bật lên giữa những làn khói đạn. Phía bên trái, bóng các chiếu sĩ bộ binh thấp thoáng trong bụi cây. Me:séc-xki và Vô-rô-nhin ngồi xổm bên cạnh thiếu tá cận vệ.

        Với tấm vải bạt lấm bùn bê bết khoác trên người, quần áo ướt sũng, lầm lì, không trò chuyện gì, các chiến sĩ trinh sát trông bề ngoài có vẻ vụng về, lơ mơ buồn ngủ, không còn đủ sức để cử động nhanh nhẹn, suy nghĩ gì nữa.

        Trông thấy anh em như vậy, thiếu tá mặt cũng rầu rầu. Riêng bản thân anh cũng đang ở trong một tâm trạng ngồi đứng không yên, nóng lòng sốt ruột muốn giải quyết mau chóng Snây-đơ-mun để lao sang phía tây, thẳng hướng về Béc-lin, cùng với các sư đoàn bạn đang tiến bước trên khắp các nẻo đường nước Đức.

        Đúng sáu giờ, pháo binh bắt đầu bắn, rung chuyển cả không trung... Trong thành phố nhà cửa bốc cháy. Khói đen, tàn lửa cuồn cuộn tung len trên khu nhà máy.

        Bộ binh vọt tiến từng bước một. Đạn bay như mưa, kêu chiu chíu như tiếng chuột. Các đông chí tải thương, mặt tái nhợt, vác cáng đi lại dưới khe sâu. Lu-ben-xốp xem đồng hồ. Tới phút thứ 33 thì nổi tiếng gầm thét quen thuộc của những khẫu hỏa tiễn " Ca-chiu-sa ”, những khẩu súng cối cận vệ, tiếng gầm thét cứ nhip nhàng từng đợt, vui vẻ và phấn khởi, tiếng gầm thét mà các chiến sĩ rất yêu thích, tiếng gầm thét mỗi khi vang dậy lại thồi bùng lên trong lòng các chiến sĩ tinh thăn dũng cảm và ý chí tiêu diệt địch.

        Đó chính là hiệu lệnh xung phong.

        Anh em trinh sát bỗng nhiên hoạt động hẳn lên. vẻ ngái ngủ lập tức tiêu tan đâu mất. Họ điềm nhiên giũ bỏ tấm vải bạt khoác trên vai xuống, mình chĩ còn mặc áo bông chẽn. Thắt lưng người nào cũng lủng lắng đầy lựu đạn. Tất cả đều có ngay dáng điệu dũng mãnh như hùm, thật đúng dáng điệu của con nhà trinh sát.

        Lu-ben-xốp thở một hơi dài, mĩm cười khoan khoái ra lệnh:

        —  Xuất phát !

        Thoáng một cái, đội trinh sát đã biến vào trong đám bụi rậm. Hai đồng chí điện thoại ôm chiếc máy và cuộn dây bò theo sau. Cuộn dây nhả dây ra kêu ken két. Sợi dây điện tung tăng trên mặt đất bẩn thỉu, lê mình đi một cách bập bỗng : có lúc căng thẳng ra hoặc nhảy bật lên, bám vào những cành lá ướt át trên các bụi cây.

        Tiếng xung phong vang lên ở phía trái. Tiếng thét như bị gió bão và tiếng súng máy át đi.

        Lu-ben-xốp chăm chú quan sát các tiều đội, trung đội quân ta đang tiến lên. Bóng các chiến sĩ vọt tiến, ngã xuống bùn rồi lại vung dậy vượt lên phía trước. Chẳng mấy chốc, quân ta đã xuất hiện sau những đống gạch. Lúc này quân địch cố trấn tĩnh, câu đại bác và súng cối vào trận đia ta. Nhưng các chiến sĩ ta đă vượt lên xa rồi, ngoài tầm đạn địch rồi. Lu-ben-xốp lại chú ý đến sợi dây điện đang nằm thượt trên đất. Sợi dây sợ hãi và im lặng như chết.

        Tỏ ý sốt ruột, anh nói với Me-séc-xki :

        —  Mình phải tiến lên trước mới được. Khi nào trung đoàn chiếm được những tòa nhà ở đầu cùng, các cậu vọt ngay tới chỗ tháp chứa nước nhé. Mình và Vô-rô-nhin chờ các cậu ở đấy.

        Nói xong, anh cùng Tri-bi-rép tiến theo hướng dây điện thoại.

        Nhìn từ xa, bãi chiến trường như một dải lửa lớn, dài vô tận, hoang vắng và đầy chết chóc. Nhưng nếu ta ở ngay đó, ta sẽ thấy một khu vực rất phức tạp : nào nhà, nào lán, nào cây cối, nào đường ngõ, nào khe rãnh. Thỉnh thoảng cũng có những khoảng thời gian lặng hẳn đi khá dài và lại có tiếng người nói nói, cười cười nữa, cố nhiên cũng là họa hoằn thôi.

        Khi hai người tiến lên, bộ mặt vuông chằn chặn với đôi mắt nhỏ sắc của Tri-bi-rép không ngừng lắc lư, tưa như gắn liền vào vai trái của Lu-ben-xổp. Mỗi lúc Lu-ben- xốp nghe tiếng trái phá rít, nằm rạp xuống, khuôn mặt của Tri-bi-rép vẫn không xa rời vai trái Lu-ben-xốp.

        Không hiểu vì cuộc chiến đấu trở nên ác liệt hơn hay vì hai người đã vào tới khu vực gay go rồi, nên bước tiến mỗi lúc một khó khăn hơn. Đạn nồ khắp bốn phía.

        Bên cạnh đường, sáu đồng chí bị thương ngồi nói chuyện trong một hố. Một đồng chí thong thả nói :

        — Thì ra tụi Đức này vẫn còn chống cư dai dẳng.

        Một đồng chí khác tiếp theo :

        — Chúng nó còn cầu Chúa cứu chúng nó. Không biết sao ở vùng này lắm nhà thờ thế, cứ chi chít như những vựa lúa vùng Cu-băng mình vậy...

        Đồng chí thứ ba nhiều tuổi hơn phản đối :

        — Chúa nào, Chúa của chúng nó là Hít-le đấy. Quân khốn nạn, chúng nó quỳ gối phục tùng Hít-le đấy mà.

        Đồng chí thứ tư kể lại :

        — Này, hôm qua thiếu tướng xuống thăm đại đội tớ đấy nhé. Chính ông ấy dẫn bọn mình xung phong lên kia chứ. ông ấy cứ đi thẳng người, nhưng bọn mình thì ông ấy bắt phải cúi xuống, ông ấy bảo là có mất thiếu tướng thì trên lại phái đến một ông khác bổ sung được, chứ không có chiến sĩ thì không làm gì nên chuyện được.



Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2017, 10:14:22 pm

        Gần tháp chứa nước, hai đồng chí điện thoại hy sinh nằm ôm lấy máy bên cạnh một hố đạn pháo vừa nổ xong. Tri-bi-rép nhặt lấy chiếc máy và cuộn dây.

        Bên tháp chứa nước, Lu-ben-xốp gặp tiều đội trinh sát của Vô-rô-nhin. Anh em báo cáo với Lu-ben-xốp là Vô-rô-nhin đã lên trước rồi, giao cho họ quan sát ở đây. Anh em đang quan sát và chơ mãi không thấy các đồng chí điện thoại lên.

        Lu-ben-xốp cho biết:

        — Các đồng chí ấy hy sinh rồi.

        Anh trèo lên chòi cao quan sát trận địa. Quân ta đã chiếm lĩnh dãy nhà ngay cạnh khu nhà máy rồi. Phía sau từng đoàn bộ binh người nọ sau người kia đang tiếp tục xông lên. Có lẽ trung đoàn trưởng Trét-vê-ri-cốp đã tung cả tiều đoàn 3 vào cuộc chiến đấu rồi. Bọn Đức tập trung cả sau tòa nhà chính. Chúng đang cúi gập người, luồn theo hào giao thông tiến vào đó. Trước ngôi nhà chính, trong một phố dài và thẳng tắp, xuất hiện bốn xe tăng. Lu- ben-xốp báo ngay bằng điện thoại tình hình tập trung của quân địch. Mấy phút sau, anh khoái chí thấy pháo ta nện trúng xe tăng và bộ binh địch. Một chiếc xe tăng bốc cháy.

        Cũng chẳng lâu la gì, bọn Bức phát hiện quân ta đã chiếm được tháp chứa nước làm đài quan sát rất lợi thế. Lập tức đạn pháo nồ ầm ầm xung quanh, tháp chứa nước rung chuyển, tưởng như sập xuống lúc nào không biết. Lu-ben-xốp nằm dán xuống nền xi măng, rồi trấn tĩnh lại, anh nhồm dậy và lại phát hiện ngay quân địch : một khẩu pháo tự hành đang nã vào tháp chứa nước. Anh nhìn thấy chiếc nòng dài của nó thò ra khỏi một khoảng tường vỡ giữa mấy ngôi nhà.

        Lu-ben-xốp thét vào máy nói :

        — Một pháo tự hành ở góc đường Béc-lin.

        Một phút sau, một trái phá của ta nổ ngay trước khẩu, pháo tự hành, rồi tiếp theo quả thứ hai. Lu-ben-xốp lau mồ hôi trên trán nóng rực, thầm nghĩ chân thành cảm ơn đồng chí trung tá pháo binh Xi-dức và cảm ơn cả đồng chí thiếu tướng sư đoàn trưởng đã ”xạc” cho trung tá pháo binh một trận nên thân và thật bổ ích.

        Im lặng trở lại. Chiến sự đã chuyển lên phía trước. Khi Me-séc-xki dẫn anh em ở phía sau lên tới nơi, Lu- ben-xốp lại cùng Tri-bi-rép và Mi-tơ-rô-khin mang máy nói tiến lên xa nữa. Me-séc-xki cũng giữ lại một máy nói cho mình.

        Khuôn mặt Tri-bi-rép lại chập chờn bên vai trái Lu- ben-xốp. Tiến được một quãng chừng ba trăm mét, ba người vào chính giữa trận địa trong những ngôi nhà của khu nhà máy. Ngay đến Tri-bi-rép thinh thoảng cũng phải kêu lên:

        — Nằm xuống đi, đồng chí thiếu tá.

        Vừa lợi dụng địa hình địa vật tiến lên dưới trận mưa đạn súng máy, Lu-ben-xốp vừa nghĩ thầm: " Lúc nào mà cậu còn chưa quên gọi cấp bậc của mình thì chúng ta vẫn còn có thề tiến lên nữa. ”. Lát sau, anh phải nằm bò xuống để trườn lên. Anh thấy cần phải luồn vào một ngôi nhà thường dân, cao ba tầng: nhà đó có cửa sổ cao, chắc chắn là chỗ quan sát rất tuyệt.

        Cuối cùng ba người nhảy tới núp dưới một cổng lớn. Lu-ben-xốp lấy lại sức, đẩy mạnh cửa. Một gian nhà rộng với nhiều tủ hàng và một quầy thu tiền lớn: thì ra đây là một cửa hiệu buôn. Xác một tên lính Đức ngồi, gục xuống, đầu đầy máu, trước chiếc tủ kính bị đạn bắn vỡ nát. Hắn đã chết, nằm gục trên thành cửa số. Bên cạnh hắn còn một đống lựu đạn chày cán gỗ và một khẩu súng. Lu-ben-xốp nhặt lấy vài quả. Mi-tơ-rô-khin và Tri-bi-rép cũng làm theo.

        Ba người trèo lên thang gác, vào một gian buồng ở tầng thứ ba. Lu-ben-xốp nhìn qua cửa sổ, mừng rữ kêu lên: toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch hiện ra trước mắt rõ như trên lòng bàn tay. Anh hối hả mắc máy nói, liên lạc với Me-séc-xki ở tháp chứa nước.

        — Truyền tin đi! Bộ binh địch tập trung gần chỗ nhà giám đốc xưởng máy, phía tay trái... Dọc đường Béc-lin, quân địch nằm lại trong một hào giao thông. Không hiểu chúng chết hay sống ? Không, chúng đang tập trung, chuẩn bị để phản kích... Tôi ở đây, mục tiêu 65, một đài quan sát tốt bực nhất đấy nhé! Phải thêm người lên đây.

        Dường dây bi đứt. Lu-ben-xốp ra lệnh:

        — Mi-tơ-rô-khin, cậu quay về ngay đi, nối lại đường dây và dẫn anh em lên đây.

        Mi-tơ-rô-khin vụt biến ngay. Năm phút sau, đường dây lại thông suốt.

        Lu-ben-xốp vội vàng báo về:

        — Bốn xe tăng theo phố Ngang đang tiến lại gần. Ba cái khác từ giữa thành phố theo đường Trường đạo tiến ra. Chúng đã đến ngang với ngôi nhà chính rồi... Báo cáo với thiếu tướng cho xung phong tất cả các khu cùng một lúc... Cùng một lúc, nghe rõ chưa? Chúng đang rút quân ở các khu khác tới đây...

        Đường đây lại đứt.

        Vừa rời mắt khỏi máy nói, Lu-ben-xốp thấy ngay nét mặt khác thường của đồng chí cần vụ. Anh ta đang nhìn qua cửa sổ, mắt trố hẳn ra.

        Lu-ben-xốp bèn cũng nhìn xuống dưới. Anh thấy từng đoàn lính Đức đang nối đuôi nhau tiến lại. Súng máy no vang lên, các cỡ pháo gầm thét lên. Tất cả trộn thành những tiếng ầm ầm dữ dội. Tới ngang ngồi nhà này, bọn Đức vòng qua và xông lên. Tiếng vang của cuộc chiến đấu xa dần.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2017, 09:55:45 pm
    
        Tri-bi-rép nói:

        — Quân ta rút rồi!

        Nhiều tiếng lính địch vang đến rồi im bặt.

        Lu-ben-xốp bâo đồng chí căn vụ :

        — Không hề gì, chúng ta sẽ có cách thoát. — Hồi anh lững lờ nói thêm:— Thế nào Mi-tư-rô-khin cũng báo tin...

        Tất cả những xúc động vừa qua chỉ làm bận lòng Lu-ben-xốp trong giây lát. Bầy giờ hành động phải tính toán, phải bình tĩnh. Anh tiến lại bên cửa ra vào nghe ngóng. Khôug thấy động tĩnh gì. Anh quay ra chỗ cửa sổ. Tuyết rơi lác đác. Sát cạnh ngôi nhà có chiếc cột bơm ét xăng với tấm biển sơn vàng " Shell". Phía cuối sân, nhiều xác xe vận tải cũ kê trên những giá gỗ.

        Chừng một trăm tên lính Đức đang tiến qua cột bơm ét xăng.

        Chtra thật hoàn hồn, chúng vừa đi vừa nói chuyện huyên thiên, người thẳng lên và chân bước đã có vẻ vững dạ.

        Lu-ben-xốp nhắc lại:

        — Không hề gì, chúng ta sẽ có cách thoát!

        Tri-bi-rép nói:

        — Xẩm tối, chúng ta sẽ quay về bên ta.

        Lu-ben-xốp không đồng ý, nói:

        — Tối nay thì quân ta đã lên tới đây rồi, ta không nên rời chỗ này. Hễ xâm xẩm tối một cái là ta sẽ nối lại đường dây và hiệu chỉnh cho pháo.

        Anh mỉm cười nói thêm:

        — Không biết rồi sư đoàn trưởng quạt mình thế nào về tội mạo hiểm xông lên trước quá thế này!

        Tri-bi-rép "suỵt” một tiếng.

        Dưới thang gác có tiếng chân người. Khi sắp tới tầng gác của Lu-ben-xốp thì ngừng lại. Trong im lặng của căn nhà hoang vắng, Lu-ben-xốp nghe tiếng hai tên lính Đức :

        — Mày kiếm món bở ấy ở đâu đấy ?

        — Ở đây, trong kho dưới này.

        — Chỗ có một xác chết ấy à...

        — Ừ...

        Tri-bi-rép thì thầm:

        — Miễn là chúng không để ý thấy đường dây điện là được...

        Lu-ben-xốp nói:

        — Chúng nó sẽ cho là đường dây của chúng.

        Tiếng chân người và tiếng nói tắt dần.

        Bây giờ chỉ còn có một việc : chờ trời tối. Lu-ben-xốp lại ra bên cửa sổ quan sát hệ thống bố trí của địch ngày càng rõ mồn một. Sở dĩ quân Đức còn kháng" cự được là nhờ vận chuyển được bí mật xe tăng và bộ binh của chúng. Mỗi khi chặn được sức tiến công của quân ta trong khu vực này thì quân địch lại theo những đường hào giao thông chi chít, dọc ngang các đường phố, đổ sang một khu vực khác ở phía nam đang bị yếu thế. Xe tăng cũng bí mật nấp sau các ngôi nhà tiến xuống khu vực ấy.

        Thời gian qua sao chậm chạp nặng nề quá thế. Tri- bi-rép bó gối ngồi im. Bên cạnh ngôi nhà, đạn pháo của các đơn vị bạn đã bắt đầu nổ, đầu tiên lệch phải rồi lệch trái. Lu-ben-xốp thiu thiu ngủ bẵng đi lúc nào không biết, mặc dầu tiếng đạn pháo vẫn liên tiếp nổ xung quanh. Chắc bọn Đức muốn cho quân ta lại tiến công vào khu này để rồi xe tăng và bộ binh của chúng lại từ khắp các ngả trong thành phố ào ào đổ đến phản kích.

        Lu-ben-xốp mở mắt, nhìn quang cảnh diễn ra qua khung cửa sổ mà bưc tức. Trong đời trinh sát của anh, chưa bao giờ anh thấy một cơ hội thuận lợi như thế này. Thế mà, lúc này anh hoàn toàn bất lực, vô kế khả thi!

        Bỗng nhiên mọi vật lại trở lại yên tĩnh. Được, hễ tối đến phải hành động ngay. Sẽ có ba khả năng: quay về tìm sư đoàn, hoặc sửa lại đường dây và ở lại đây hiệu chỉnh cho pháo, hoặc cứ ngồi yên, không làm gì cả, đợi cho các sư đoàn bạn tiến đến. Lu-ben-xốp bỏ ngay khả năng thứ ba và sau khi suy nghĩ một lúc, quyết định sử dụng khả năng thứ hai.

        Mãi rồi đêm cũng phải tới. Lu-ben-xốp và Tri-bi-rép càng thêm trầm lặng và đầu óc càng thêm căng thẳng. Hai ngưừi lặng nhìn nhau cho đến lúc nét mặt nhòa hẳn vào bóng tối. Lúc ấy hai người mới thong thả đứng dậy. Lu-ben-xốp bảo :

        — Cậu xuống, chữa xong đường dây quay lại đây ngay. Nếu không tìm thấy đầu dây đằng kia cũng quay lại đây ngay.

        Tri-bi-rép đi. Bóng đêm dày đặc. Lu-ben-xốp cố kiên nhẫn một lúc, nhất định không sờ đến máy nói. Anh thong thả đếm đến năm trăm. Rồi cuối cùng anh cầm máy lên, không có một tiếng động nhỏ. Không có một tiếng gì giống tiếng rung động trong ống nghe cả. Tri-bi-rép cũng không thấy trở lại. Đâu đấy một khấu súng máy "sủa” ầm ỹ. Gần đấy, một tràng tiểu liên xé không khí rồi lại im lặng.

        Lu-hen-xốp đứng dậy, nắm lấy sợi dây điện, đi thật êm xuống thang gác. Sợi dây từ từ lướt trong bàn tay anh.

        Hai cánh cửa lớn của nhà hàng đã mở tung. Anh bước qua ngưỡng cửa ra ngoài. Ngay lúc đó hai tràng tiểu liên dài nổ giòn bên cạnh. Một quả lựu đạn nổ, tiếp theo một quả thứ hai. Mấy tiếng hoảng hốt của bọn Hức và đột nhiên một tiếng thét. Rõ ràng chỉ có Tri-bi-rép mới kêu lên như thế, mặc dầu không phải tiếng của chính Tri- bi-rép, một tiếng khác hẳn, hầu như không phải tiếng người nữa. Tri-bi-rép chĩ thét lên được một tiếng, một - tiếng sao mà thân thiết đối với lòng ta, một tiếng Nga giữa khu vực Đức đầy xác chết này:

        —  Đi đi!...

        Lu-ben-xốp đứng sững lại. Hầu óc anh suy nghĩ rất sáng suốt. Tại sao Tri-bi-rép lại bẫo bọn Đức "Đi đi” ? Anh hiểu ngay là không phải Tri-bi-rép nói với bọn Đức mà là nói với anh, với Lu-ben-xốp. Tri-bi-rép thét to như vậy cốt để cho Lu-ben-xốp, theo dự tính của Tri-bi-rép còn ở trên gác cao, có thể nghe thấy được. Trong tiếng thét ấy không hề có chút gì sự sệt mà đầy một tinh thần dũng cảm phi thường, chan chứa một điều mong muốn tha thiết trước khi chết: mong làm sao cho Lu-ben-xốp nghe thấy.

        Mấy khẩu tiểu liên rít lên như cuồng dại. Một khẩu pháo như hoảng hốt quá đã bắn khoảng mười phát liên tiếp, nhiều pháo sáng vọt lên không, chiếu sáng nhir ban ngày.

        "Nhảy ra tiền duyên lúc này chỉ ăn đạn”, Lu-ben- xốp liền nhảy sang bên cạnh, vòng quanh góc nhà, trườn qua cột bơm ét xang rồi nhảy vào một chiếc xe vận tải trong sân. Anh ở lại đó một phút, đợi cho pháo sáng tắt hẳn, lại nhảy ra, chạy tới hàng rào và dùng tay vịn dầu cọc nhảy qua. Bốn bề quân Đức ào ào như ong vỡ tồ. Độ hai chục pháo sáng lại vọt lên không, soi rõ tất cả khu vực. Anh băng qua đường phố, nhảy qua một hào giao thông, một cái nữa, rồi lại một cái nữa, bò trườn qua đám "răng rồng” tức là những cọc chống tăng, rồi như con mèo, anh vọt qua chướng ngại, tới một hàng rào, xé rào lăn vào một cái sân nhỏ có vườn cảnh đầy những cây đã trụi lá. Đến đây, anh thở lấy lại sức và cảm thấy như chân bên phải bị vấp sưng hay trúng đạn, tuy rằng không biết bị đau hay bị thương vào lúc nào vì không thấy đau đớn gì.

        Anh lại bò tiếp, và lát sau đến trước bức tường kín của một ngôi nhà đã sập mất một nửa. Anh luồn qua dưới hàng rào sắt, rẽ qua những bụi cây lạnh buốt và nhọn sắc, vấp phải chiếc cửa cầu thang sau nhà. Ở đây im phăng phắc, nghe tiếng máy nước tí tách rỏ giọt. Pháo sáng vọt lên xa xa phía sau lưng.

        Anh leo lên thang gác. Chiếc giày chân phải đẫm máu.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:24:59 pm

XXII

        Lúc Mi-tơ-rô-khin mang lệnh của thiếu tá lấy thêm người lên vị trí 65, đại úy Me-séc-xki nhận thấy quân ta đã rút khỏi những căn nhà chính trong khu nhà máy. Hai mươi phút sau mới biết rõ tình hình: Lu-ben- xốp và đồng chí cần vụ bị đứt liên lạc với quân nhà. Me- séc-xki sững sờ đưa mắt thất vọng nhìn xung quanh. Anh em ngồi im. Lúc ấy, Mi-tơ-rô-khin bèn kể hết đầu đuôi câu chuyện, nói rõ thiếu tá chỉ thị thế nào và ba người đã nhặt lựu đạn trong một cửa hàng Đức như thế nào.

        Me-séc-xkj ngạc nhiên, ngắm nhìn đồng chí thượng sĩ. Anh tự hỏi tại sao Mi-tơ-rô-khin lại có thể nói năng với một giọng bình thản đến thế, làm như đó chỉ là một nhiệm vụ chiến đấu bình thường vậy. Anh em hỏi Mi-tư- rô-khin rất tỉ mỉ, thôi thì đủ chuyện; Mi-tư-rô-khin trả lời rất rõ ràng và đầy đủ.

        "Tại sao họ có thể bình thản đến thế, vô tâm đến thế?” Me-séc-xki vừa tự hỏi vừa như muốn khóc.

        Mi-tơ-rô-khin kể :

        —  Cửa Sổ ngôi nhà đó nhìn ra phía đông bắc... Chỗ ấy tốt lắm: có thể quan sát hết. Đặt ở đấy một khẩu sứng máy thì làm được khối chuyện! Về phần thiếu tá, chắc đồng chí ấy còn quan sát được nhiều nữa... đồng chí ấy cố kiên nhẫn đợi đến sáng mai đấy. Kề ra có tí pháo bắn quanh ngôi nhà đó đừng cho bọn nó sục sạo thì hay lắm...

        Nghe thế, Me-séc-xki như sực tỉnh lại: thật thế, đồng chí thiếu tá cận vệ, con người chưa có mìn và đạn nào chạm được tới, chả lẽ nay lại chịu hy sinh trong cái thành phố Đức nhỏ bé này ư?

        Anh vội vã nói:

        — Phải đấy, đi bàn với các đồng chí pháo đi!

        Họ vội chạy đến chỗ các đồng chí quan sát pháo. Đồng chí cụm trưởng pháo binh bèn tách ra một đại đội để bắn chặn quanh mục tiêu 65. Đồng chí cũng rất quen biết Lu-ben-xốp, nhưng đồng chí tỏ vẻ ít hy vọng hơn Mi-tơ-rô-khin và Me-séc-xki. Đồng chí lắc đầu phát biểu:

        — Kể ra kinh nghiệm vẫn là một điều tốt, nhưng nhiều người dày kinh nghiệm cũng đã phải bỏ mình.

        Chuẩn úy Vô-rô-nhin dẫn tù binh về đến tháp chứa nước và gọi điện về. Đồng chí báo cho biết là thiếu tướng sư đoàn trưởng gọi Me-séc-xki về báo cáo. Me-séc-xki đi ngay.

        Nghe đại úy báo cáo xong, thiếu tướng bảo:

        — Thôi được, đồng chí có thể về.

        — Thưa thiếu tướng, còn vấn đề đồng chí thiếu tá cận vệ ? Có lẽ đai đội trinh sát có thể...

        Thiếu tướng cắt ngay:

        — Tôi cấm đồng chí không được làm!

        Trước đôi mắt khẫn khoẫn của Me-séc-xki, thiếu tướng quay đi, trả lời gọn :

        — Hy sinh thêm hàng chục trinh sát viên nữa thì cũng không hay gì. Thôi về đi.

        Thiếu tướng không nói một lời nào về Lu-ben-xốp.

        Me-séc-xki đi ra, lòng rất hậm hực và còn tức giận với cả thiếu tướng nữa. Trông thấy đôi mắt đỏ rực của Mi-tơ-rô-khin đứng đợi phía dưới, anh xua tay thất vọng.

        Me-séc-xki đi rồi, thiếu tướng đứng lặng một lát rồi gọi lấy xe đi lên đài quan sát tiền duyên, chỗ tháp chứa nước. Thiếu tướng trèo lên thang gỗ. Anh em trinh sát đứng nghiêm. Thiếu tướng chẵm chú nhìn họ. Nhiều khuôn mặt buồn bã, và quần áo thì đều ướt sũng. An-tô-nhi-úc cũng có mặt ở đó.

        Thiếu tướng bảo :

        — Đưa tôi cái ống nhòm.

        Anh em đưa ống nhòm cho thiếu tướng. Thiếu tướng đưa lên mắt khẽ hỏi, chẳng ra hỏi ai :

        — Cái nhà ấy ở chỗ nào ?

        Mi-tơ-rô-khin chỉ ngôi nhà. Thiếu tướng nhìn một hồi lâu rồi bẫo :

        — Thế nào, các đồng chí thấy chưa ? Chính các đồng chí đã làm mất thủ trưởng của các đồng chí. Đêm nay, phải cứu đồng chí ấy ra khỏi chỗ đó.

        An-tô-nhi-úc nói :

        — Báo cáo, có hàng binh.

        Thiếu tướng không trả lời, bước xuống thang. Đến bực thứ ba, thiếu tướng dừng lại, quay hỏi :

        — Lu-ben-xốp gọi máy nói dặn lại thế nào ?

        Me-séc-xki báo cáo lại câu anh đã báo cáo với thiếu tướng một lần rồi :

        — Thiếu tá dặn tôi : đồng chí báo cáo với thiếu tướng cho xung phong tất cà các khu vực đều một lúc ! Thiếu tá nhấn mạnh, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Sau đó thì đường dây bị đứt.

        Thiếu tướng đi ra xe đỗ trong một cái khe gần đấy. Về đến nhà, thiếu tướng tìm Plốt-nhi-cốp. Anh em báo cáo là đại tá ở bên phòng chính tri. Thiếu tướng gọi điện sang:

        — Lu-ben-xốp đã...

        — Tôi biết tin rồi — Đại tá trả lừi, giọng có vẻ mệt mỏi.

        Thiếu tướng bỏ máy xuống và nghĩ tới Vi-ca. Vi-ca rất yêu quí Lu-ben-xốp. Tối khuya hôm đó, các sĩ quan cao cấp họp ở nhà thiếu tướng. Tất cả ngồi quanh bàn chờ lệnh. Trung tá Xi-dức tới sau cùng. Đồng chí đứng nghiêm sát tường.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2017, 11:34:33 pm

        Sau khi phân phối mệnh lệnh cho ngày hôm sau, thiếu tướng nói:

        — Hôm nay pháo bắn khá đấy.

        Xi-dức đưa lưỡi liếm đôi môi khô khốc và ngồi xuống. Thiếu tướng nói thêm:

        — Và ban trinh sát... công tác cũng khá.

        An-tô-nhi-úc dự họp xong, ra về lòng buồn bã. Rõ ràng mọi người ai nấy đều thương cảm Lu-ben-xốp. Tuy không ai nói ra nhưng An-tô-nhi-úc cũng nhận thấy thái độ của thiếu tướng đối với Lu-ben-xốp và với mình có khác nhau. Tất nhiên An-tô-nhi-úc cũng thương tiếc Lu- ben-xốp. Bởi vì nói cho cùng, Lu-ben-xốp là một thủ trưởng công bình và một tay trinh sát cừ khôi — tuy chẳng dược qua lớp đào tạo đặc biệt nào. An-tô-nhi-úc lúc này cũng phải tự thú với mình là đã học được nhiều ở Lu-ben-xốp. Trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, Lu-ben-xốp đều tìm được cách giải quyết tài tình và biết phân biệt rất chính xác những tai liệu đúng, quan trọng với những tài liệu sai và không có giá trị gì.

        Giá như Lu-ben-xốp cứ đi Mát-xcơ-va học thì làm gì phải hy sinh.

        Khác hẳn thói quen thường lệ, Ô-ga-nhe-xi-an nằm dài trên giường mà không ngủ. Đồng chí cần vụ mới lấy ở đại đội lên là binh nhất Ca-blu-cốp đang tất tả làm việc trong một góc phòng nhưng mắt vẫn liếc nhìn cái va li của Lu-ben-xốp, vẻ mặt bứt rứt.

        Ô-ga-nhe-xi-an lim dim đôi mắt nhìn An-tô-nhi-úc vừa bước vào. An-tô-nhi-úc đã làm ra vẻ lạnh lùng và quan trọng; thái độ ấy, đồng chí phiên dịch đã thừa hiểu quá rồi. Nói thật ra, Ô-ga-nhe-xi-an không có gì phàn nàn về thái độ của An-tô-nhi-úc đối với mình. An-tô- nhi-úc vẫn đề cao tri thức của Ô-ga-nhe-xi-an; chỉ có đôi khi An-tô-nhi-úc phê bình một cách hơi tàn nhẫn "cái tính lười kiều thường dân” của Ô-ga-nhe-xi-an. Tuy nhiên, lúc này Ô-ga-nhe-xi-an nhìn An-tô-nhi-úc một cách bực dọc lạ thường. Nếu như không có cái tính lười ấy và cũng vì không muốn làm cho cuộc sống, theo ý anh, đã phức tạp lại thêm phức tạp thì Ô-ga-nhe-xi-an đã nói thằng vào mặt An-tô-nhi-úc những ý nghĩ của mình.

        Ô-ga-nhe-xi-an sẽ nói thế này: " Đừng có vội phởn chí, hỡi anh chàng ngốc ơi! Anh không làm được thủ trưởng đâu, suốt đời anh chỉ làm phó thôi, cái điệu bộ quan trọng hóa ấy chướng mắt lắm rồi, cái lòng ham muốn địa vị ấy... Đừng có vội phởn chí, dù sao trên cũng sẽ phái một đồng chí khác ở quân đoàn bộ về thôi ? ”.

        Anh lầm bầm bằng tiếng Ác-mê-ni (tiếng địa phương anh) rồi khóc. Anh cảm thấy như thiếu Lu-ben-xốp thì không sống nổi. Anh tư nhủ cần phải rèn luyện được như Lu-ben-xốp: trung thực, thẳng thắn, ăn ở không luộm thuộm, tốt bụng, làm việc quên mình.

        " Chắc hẳn đối với mình cũng khó đấy. — Anh nghiến răng lại lẩm bẩm: — Nhưng mình sẽ cố gắng... và rồi mình cũng sẽ được vào Đảng...”.

        Tảng sáng, đội trinh sát đi công tác về. Vết giày dính bùn làm bẩn cả nền nhà. Tất cả ngồi xuống. Me-séc-xki báo cáo về cuộc trinh sát đêm qua với An-tô-nhi-úc.

        Anh em đã tiến vào tương đối thuận lợi, bò đến sát tận ngôi nhà ấy, nhưng không vào được, vì trong đầy bọn Đức chó chết. Trên đường về bị địch bắn đuổi. Xéc-ghi-en-cô bị thương.

        An-tô-nhi-úc bảo :

        — Cần báo cáo thiếu tướng ngay.

        — Thiếu tướng biết rồi.

        — Thế nào ?

        — Vâng, thiếu tướng cùng đại tá Plốt-nhi-cốp có lên thẳng tháp chứa nước, ở đó đợi chúng tôi về.

        Me-séc-xki im lặng rồi hạ thấp giọng xuống gần như nói thầm :

        — Lúc chúng tôi bò gần vào ngôi nhà trắng nhỏ, đồng chí biết không, chỗ phòng kiềm hàng ấy mà, chúng tôi nghe rõ một tiếng kêu. Theo chúng tôi, đúng là tiếng Tri-bi-rép.

        — Chắc chắn là Tri-bi-rép rồi. — Vô-rô-nhin phát biếu, mắt nhìn qua cửa sồ.

        Mi-tơ-rô-khin đang chăm chú cuộn một điếu thuốc lá cũng gật đầu :

        — Đúng rồi, không thể sai được.

        Me-séc-xki nói:

        — Cậu ấy kêu : " Đi đi ! ” hay " Anh đi đi! ” gì đó. Không biết kêu với ai ? Cậu ấy không thể biết có chúng tôi vào được.

        Mi-tơ-rô-khin phỏng đoán :

        — Theo tôi đó là cậu ấy muốn báo cho thiếu tá biết đấy thôi.

        Một đồng chí trinh sát nói nhỏ kể lại :

        — Tiếng kêu ấy làm cho tụi Đức nhốn nháo hẳn lên. Chúng tôi nằm chờ đến hơn một tiếng rưỡi đồng hồ mói thấy chúng nó hoàn hồn, bắn súng và pháo sáng liên hồi.

        Có tiếng chuông điện thoại réo. An-tô-nhi-úc cầm máy. Tuyến thứ hai gọi lên. An-tô-nhi-úc nghe tiếng thỏ thẻ của Vi-ca. Em hỏi đã tìm thấy chú Lu-ben-xốp chưa.

        An-tô-nhi-úc trả lời chưa và hỏi xem em còn muốn hỏi gì nữa không ?

        — Thôi hết! — Vô tình em đã bắt chước kiểu nói của thiếu tướng khi nói điện thoại, và An-tô-nhi-úc nghe thấy tiếng Vi-ca nấc lên.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2017, 11:12:37 pm
        
XXIII

        Được tin Lu-ben-xốp đến tìm gặp mình, Ta-nhi-a hết sức mừng rỡ đến nỗi chị y tá báo tin ấy cũng thấy hơi bối rối. Ta-nhi-a vui vẻ nói :

        —  Người quen cũ đấy chị ạ. Tình cờ gần đây mới gặp lại.

        Chắc chắn là Lu-ben-xốp chứ không ai khác  nghe tả lại cũng rất dễ nhận : một thiếu tá đẹp giai, khỏe mạnh, đôi mắt xanh biếc, dễ có cảm tình.

        Thấy nét mặt bối rối của của y tá và việc Lu-ben-xốp bỏ về đột ngột, Ta-nhi-a đoán biết có chuyện gì không hay. Chị nhìn thẳng vào mặt chị ta rồi quay đi, lòng se lại. Tất nhiên, cũng như trong mọi trường hợp như thế, chị lại tìm cách tự nhủ : có lẽ như vậy càng tốt và nếu như anh ấy vội tin ngay những lời bậy bạ thì mặc kệ anh ấy.

        Tuy thế nhưng Ta-nhi-a nhiều lúc tự bất chợt thấy mình như vẫn đang chờ đợi ai. Sau cùng chị nhận ra là mình quả thực đang mong Lu-ben-xốp trở lại một lần nữa.

        Trong thời gian này những cuộc chiến đấu dữ dội diễn ra. Tất cả nhân viên quân y đều mệt lử. Nhân lúc đợi giữa hai ca mổ — thời gian vừa đủ để y tá chuẩn bị dụng cụ — Ta-nhi-a thình lình hỏi khẽ chi y tá:

        — Tại sao hôm ấy thiếu tá lại không chờ nhỉ ?

        Chi y tá làm ra vẻ thực thà trả lời:

        — Tôi bảo anh ấy là chị đi vắng... thế là anh ấy phóng ngựa đi ngay, chả nói gì, chỉ thấy giật cương cho ngựa quay lại, thế thôi. Anh cần vụ cũng vội theo sau.

        Vừa soi lên ánh sáng đề xem một ống thủy tinh đầy máu sắp tiếp cho thương binh, Ta-nhi-a vừa hỏi thêm, vẻ mặt càng cố giữ bình thản hơn:

        — Anh ấy cũng không hỏi tôi đi đâu à ?

        Chi y tá hiểu ngay là Ta-nhi-a rất quan tâm đến điều này, chi định trả lời lơ mơ để cho cái chị chàng vờ vịt này phải băn khoăn một mẻ, nhưng sau lại thấy thương hại nên chị dịu dàng nói:

        — Anh ấy không hỏi gì cả. Tôi cũng không bảo gì anh ấy cả chị ạ, tôi cam đoan nói thật với chị.

        Nhiều xe ô tô tiến vào làng để đem thương binh đi. Ta-nhi-a đến khu điều trị và cùng Ma-sa đi khám những thương binh nặng nhất xem có đủ sức chuyển đi không. Chị lại gần đồng chí Ca-lít-xtơ-rát, nói:

        — Thế là đồng chí đã đi rồi đấy!

        Thương binh được khám xong, các đồng chí tải thương lần lượt chuyển ra từng người một. Ta-nhi-a chạy vội về nhà lấy một gói kẹo, tiêu chuẩn sĩ quan của chị, đem đến cho đồng chí "đánh xe trạm” để đi ăn đường; đồng chí này bối rối, lúc đầu định từ chối nhưng rồi phải nhận.

        — Xin cảm ơn đồng chí đại úy. Không bao giờ tôi quên được đồng chí.

        Gian phòng bỗng trở nên lạnh vì không hiểu ai đột ngột mở tung các cửa.

        Ta-nhi-a nói:

        — Đồng chí còn nhớ thiếu tá cận vệ cùng đi xe ngựa với chúng ta không ? Anh ấy hôm qua đến đây đấy, hôm qua...

        Ca-lít-xtơ-rát rất tự hào được đồng chí bác sĩ ngồi gần nói chuyện thân mật với mình trước mặt các thương binh khác. Anh hỏi :

        — Anh ấy có khỏe không chị ? Anh ấy tốt lắm mà không huênh hoang, và đấy chị xem, anh ấy rất tháo vát, lại biết nói cả tiếng Đức nhỉ ? Anh ấy khỏe chứ chị ?

        — Khỏe. — Và đến lượt Ta-nhi-a nói một hồi về Lu-ben-xốp làm như chính chị đã gặp và nói chuyện nhiều với Lu-ben-xốp — Nếu lần sau anh ấy quay lại tôi sẽ báo tin là đồng chí có điều trị ở đây...

        Đồng chí " đánh xe trạm ” hỏi:

        — Liệu anh ấy có đến nữa không chị ? — và rồi tự trả lời ngay — Chắc thế nào anh ấy cũng sẽ đến. Mà nếu không, thi chị cũng nên đi thăm anh ấy. Chắc gặp chị, anh ấy sẽ vui lắm...

        Ta-nhi-a đỏ mặt. chị hỏi xem Ca-lít-xtơ-rát có cần gì nữa không? Anh ta xin một mẫu bút chì để đi đường ”tập viết dần bằng tay trái ”.

        Một chị y tá đỡ anh ra xe. Xe mở máy. Ta-nhi-a đứng im. chị cảm thấy buồn khi nghĩ đến việc Lu-ben-xốp sẽ không quay lại nữa. Và bây giờ Ca-lít-xtơ-rát cũng đi nốt. Chị có cảm giác như sợi dây liên hệ cuối cùng giữa chị và Lu-ben-xốp cũng vừa đứt nốt.

        Lúc thương binh đã chuyển đi hết, Ma-sa tìm đến Rút-cốp-xki giận dữ nói:

        — Anh có thấy Ta-nhi-a không ? Trông chị ấy đáng thương quá, như sắp ngã đến nơi. Ít ra anh cũng phải cho chị ấy nghỉ mấy giờ chứ làm thế thì thật quá lắm !

        Hôm sau, Rút-cốp-xki bắt buộc Ta-nhi-a pbải nghỉ. Ai cũng thấy rõ là chị làm việc quá sức.

        Bây giờ rỗi rãi, suốt cả buổi sáng, Ta-nhi-a đi loanh quanh khắp làng, không đứng ngồi đâu cho yên chỗ được. Bỗng nhớ tới lời đồng chí "đánh xe trạm”, chị nghĩ thầm : "Hay là ta tìm đến chỗ Lu-ben-xốp chăng ?” Gặp anh, chị không cần phải tìm cách thanh minh, cũng sẽ không nhắc nhở gì đến sự nghi ngờ của anh ; chị đi đâu, gặp người nào đó là việc riêng của chị. Biết tin anh qua thăm chị mà không gặp, bây giờ chị đến tìm gặp anh, có thế thôi.

        Quyết định như vậy chị vui hẳn lên và bây giờ chị thấy mình rất can đảm và tự chủ. Chị mặc quần áo, đeo thêm khẩu súng lục — cho thêm mạnh bạo hơn — rồi đi vào khu rừng ven đường. Chị gặp một anh lái xe vui nhộn đang chở "ein — zwei — drei”1 tức là đạn đại bác —  không hiểu tại sao anh ta lại gọi như vậy. Anh ta đồng ý cho chị đi nhờ xe.

-----------------
        1. Một, hai, ba. — N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2017, 11:15:25 pm

        Tới phòng tham mưu sư đoàn, chị khéo léo gợi chuyện để hỏi vị trí đóng quân của các sư đoàn bạn. Đồng chí trưởng ban tác chiến vui vẻ giải thích tình hình.

        —  Sư đoàn ta tiến công ở khu vực này — đồng chí đưa ngón tay to lớn vạch lên bản đồ — còn đây là sư đoàn thiếu tướng Xê-rê-đa. Và đây...

        Đến đoạn sau thì chị chả còn tâm trí nào mà nghe nữa, mặc dầu đồng chí trung tá kia giải thích rất tỉ mĩ về tình hình mặt trận. chị ghi lại địa điểm đóng quân của phòng tham mưu sư đoàn Xê-rê-đa, vừa định đứng dậy đi thì đồng chí trưởng ban thông tin giữ chị lại phàn nàn về vết thương ở chân. Rồi tiếp theo là mấy đồng chí khác nữa. Thế là chị phải ngồi lại cho đến trưa. Ra khỏi làng, may sao chị gặp ngay một chiếc xe ô tô của sư đoàn thiếu tướng Xê-rê-đa. Thật vừa may, ô tô củng đi lên phòng tham mưu. Chị xuống xe ngay giữa đường làng. Gần một ngôi nhà có chiếc xe đang đỗ, chị tiến đến bên đồng chí lái xe đang lúi húi quanh chỗ đầu máy mở nắp. chị hỏi:

        — Đồng chí làm ơn cho biết chỗ ban trinh sát ở đâu ?

        Anh lái xe hỏi lại :

        — Chị ở đâu đến ?

        Chị đang lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì vừa vặn một thiếu tướng có bộ ria đen, đội mũ lông ở trong nhà đi ra. Trông thấy chị phụ nữ trẻ tuổi khoác chiếc áo choàng cao su của Đức, thiếu tướng Xê-rê-đa hơi ngạc nhiên hỏi :

        — Khách của tôi à ?

        Ta-nhi-a đáp :

        — Tôi đi tìm ban trinh sát của thiếu tướng. — Rồi chị mạnh dạn nhìn thẳng vào mặt thiếu tướng nói thêm: — Tôi muốn gặp thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp.

        Thiếu tướng im lặng một lát rồi bảo :

        — Mời chị vào đây.

        Chị đi theo thiếu tướng vào nhà, qua một hành lang nhỏ. Một chiến sĩ thấy hai người tới, đứng nghiêm chào. Hai người vào một gian phòng lớn. Không có ai. Một chiếc máy điện thoại dã ngoại đặt trên chiếc tủ con.

        Thiếu tướng dừng lại hỏi :

        — Chị hỏi thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp à ? — Rồi ngừng lại một lát đồng chí ra hiệu bảo chị ngồi. Chị vẫn đứng.

        — Mời chị ngồi. — Thiếu tướng vừa nghiêm nghị nói vừa lục lọi trong chiếc cặp bản đồ để trên bàn như muốn lôi Lu-ben-xốp ở đó ra vậy.

        Ta-nhi-a ngượng nghiu dưới đôi mắt chăm chú lạ lùng của thiếu tướng và thấy phải trình bày rõ để đồng chí hiểu. Chị ngồi mớm xuống đầu ghế nói:

        — Báo cáo, thiếu tá và tôi quen nhau đã lâu lắm, từ hồi 41. Chúng tôi cùng thoát vòng vây ở ngoại ô Mát- xcơ-va. Hôm nọ, đồng chí Lu-ben-xốp có đến thăm tôi ở tiểu đoàn quân y, vì vậy hôm nay tôi lại thăm đồng chí ấy cho phải lẽ. Xin thiếu tướng cứ mặc tôi, tôi đi tìm chỗ ở của thiếu tá cũng được. Xin lỗi thiếu tướng nếu tôi đã làm phiền thiếu tướng.

        Ta-nhi-a hết sức ngạc nhiên trưức sự im lặng cố ý của thiếu tướng. Tuy nhiên chị thấy thiếu tướng cũng lại rất niềm nở. Chị trình bày lý do tới thăm, mắt vẫn dán vào chiếc cặp bản đồ. Sau cùng chị ngẩng lên, vừa lúc gặp đôi mắt thiếu tướng, đột nhiên chị nhìn thấy trong đôi mắt ấy như có điều gì bắt chị phải im lặng. Một vẻ lo lắng lạ lùng như còn đọng trong cặp mắt trong sáng, sắc sảo ấy.

        Thiếu tướng nói :

        — Có nhiều bằng chứng tỏ ra là Lu-ben-xốp đã hy sinh. Mới được tin hôm qua thôi.

        Chuông điện thoại vang lên, thiếu tướng cứ mặc chuông vẫn réo gọi. Ta-nhi-a buông một câu :

        — Thật tai hại quá !

        Rồi chị vẫn ngồi im, tuy thâm tâm biết là nên đi đi thôi, đã đến lúc phải đi và không nên làm bận thiếu tướng nữa. Nhưng chị không đủ sức đứng lên nữa, không còn muốn làm gì nữa, kể cả việc rời khỏi ghế ngồi. Im lặng bao trùm gian phòng. Riêng tiếng chuông điện thoại vẫn chốc chốc réo gọi.

        Sau cùng chị đứng dậy nói: "Xin chào thiếu tưómg” rồi đi ra.

        Ra ngoài, chị rùng mình, lòng tê tái, hai .hàm răng run lên cầm cập đến nỗi gặp các sĩ quan đi lại trong đường làng, chị cũng không sao trấn tĩnh được. Chị chỉ muốn tìm chỗ nào để được ngồi một mình nhưng nhà nào chắc cũng đông người.

        Chị bỗng nhìn thấy một chiếc lán giữa một cái sân bốn bề quầy kín dây thép gai. Trong lán tối và yên tĩnh. Chị bước vào ngồi xuống đống rơm rải sẵn.

        Răng chị lập cập đánh vào nhau mạnh hơn nữa, chị nghĩ thầm: "Chớ có lên cơn động kỉnh, ngất đi đấy”. Chị ngẩng lên nhìn những dòng chữ Nga viết bằng than, bằng phấn trên tường: " Chúng tôi chết ở đây. Vĩnh biệt miền Vôn-hi-nhi yêu quí”. Có một câu viết: "Mẹ yêu quí của con...” nhưng đoạn sau đã mờ mất. Rất nhiều chữ "Xta-lin” viết theo nhiều kiểu chữ khác nhau.

        Những dấu vết gợi lại nỗi đau khổ vô bờ và niềm hy vọng chan chứa của hàng triệu con người ấy tác động mạnh vào tâm hồn Ta-nhi-a. Trái tim chị như vừa bị một vết thương đồng thời lại thấy được xoa dịu! Chị đi ra. Bước chậm chạp trên đường làng, Ta-nhi-a khóc sướt mướt, như lúc còn bé, không thấy ngượng và cũng không để ý tới nỗi ngạc nhiên của những người qua lại.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2017, 11:17:17 pm
        
XXIV

        Sau khi gắng sức vượt qua hai quãng cầu thang, Lu-ben-xốp nghe phía dưới có tiếng người, cả đàn ông và đàn bà. Anh bò mau hơn, mở một cửa, qua một hành lang tối om, rồi mở một cửa nữa. Trước mắt anh là đường phố rộng. Nghĩa là gian phòng này cũng như trăm ngàn gian phòng khác có một ghế đi văng, một bàn giấy, một tủ con, một tủ lớn, mấy chiếc ghế và có cả nhưng bức tranh trên tường nữa. Bên ngoài là phố, một thân cây đứng cô đơn và trước mặt là một ngôi nhà to đã đố nát.

         Anh nhận thấy gian phòng này không còn bức tường trước mặt, sàn nhà và đồ đạc đều phủ đầy những gạch vụn và một lớp bụi dày. Lu-ben-xốp trườn vào gian phòng kỳ lạ ấy tựa như nhà nghệ sĩ bước ra sân khấu.

        Cả gian phòng chưa việc gì. Riêng có mảng tường bị sức bom ép hất đổ mà thôi.

        Mùi xác chết lợm giọng từ ngôi nhà trước mặt xông sang. Ánh chớp của pháo sáng phía xa xa thỉnh thoảng lại rọi lên những đồ vật đổ nát, những giấy hoa, những tấm ảnh chụp vợ chồng chủ nhà đã có tuổi treo phía trên bàn giấy và hình đàn bàn khỏa thân treo phía trên đi văng.

        Lu-ben-xốp rón rén ra mép phòng nhìn xuống đường. - Anh đang ở tầng dưới, phía dưới nữa là những cửa sổ nhà hầm, ngoài cửa sổ có chất đầy bao cát. Đối diện là một dãy tường đá chạy dài đến ngói nhà đồ mà một mảnh tường đầu hồi còn đứng được, mang tấm quảng cáo khổng lồ của hãng giày "Con hỏa xà” có hình một chân đàn bà to tướng đi giày. Toàn thể phần trong ngôi nhà nằm trong một bộ xương bằng đá, hình thù giống như một đống đất đổ nền cao đến tận tầng gác hai và để thò ra những đầu chân giường vặn vẹo.

        Một hào giao thông chạy dọc theo phố. Trong sân nhà trước mặt cũng có hai đường hào dẫn tới khu nhà chính của nhà máy "Chim hải âu”. Lu-ben-xốp nhận ra ngôi nhà ấy là nhờ tầng tháp con có chiếc đồng hồ nhỏ dựng trên nóc. Nhờ cái tháp đồng hồ ấy, Lu-ben-xốp xác định được vi trí của mình: anh đang ở trong phố Ngang. Bên trái là phố Béc-lin. Ở góc phố có hai chiếc cột sắt trên có hai chiếc đèn lồng đã vỡ tan tành.

        Đường phố vắng ngắt. Thỉnh thoảng có tiếng chân lê sền sệt ngay gần. Chính là bọn lính Đức.

        Lu-ben-xốp đinh tháo giày ống ra băng bó lại vết thương, nhưng chịu chết, vì máu đã bó chặt lấy chân. Phải cắt giày ống ra mới được.

        Anh tập tễnh lại bên chiếc tủ đứng. Trong tủ treo nhiều áo vét, ca vát. Anh lấy một chiếc ca vát buộc chân cho cầm máu và lấy một chiếc áo ba đờ xuy khoác lên cho đỡ lạnh. Xong đó anh nằm xuống đi văng. Anh ôn lại trong đầu những biến diễn trong ngày và không thể tưởng tượng được rằng chỉ trong một ngày mà nhiều biến đồi đến thế. Mới sáng nay anh còn ngồi trong một cái khe sâu đầy bụi rậm, bên cạnh Me-séc-xki và Vô-rô-nhin. Khuôn mặt vuông vắn của Tri-bi-rép, mấy giờ trước đây, còn lắc lư bên vai trái anh. Thế mà giờ đây, Tri-bi-rép không còn nữa, anh không còn bao giờ được thấy mặt Tri-bi-rép nữa.

        Một bóng đen nhỏ lướt qua trước mặt. Một con mèo hoang đang leo dọc ống máng. Hình như đôi mắt xanh, sáng như mắt người của nó rọi thẳng vào mắt Lu-ben-xốp; nó nhảy vội xuống phía dưới.

        Lu-ben-xốp khát nước quá. Anh nghĩ thầm: "Nhà này lại không có lấy cái bếp à? Chắc phải có chứ?” Anh dùng nghị lực, gắng sức ngồi dậy và nằm sấp xuống bò, kéo lê chiếc chân bị thương, theo đường hành lang ra ngoài. Anh trúng đạn bị thương lúc nào nhỉ ? Chịu không nhớ rõ được nữa.

        Trong hành lang tối như mực. Lu-ben-xốp quẹt diêm. Ánh lửa nhỏ soi sáng bức tường, những cái rương, chiếc mũ bình thiên để trên mắc áo, và chiếc cán ô mạ kền sáng loáng treo trịnh trọng trên một cái đinh.

        Rõ ràng đằng kia có một cái cửa nhỏ thứ ba ngay bên phải cửa ra vào. Anh đẩy cửa nhưng chặt quá, anh cố đẩy mạnh hơn, cánh cửa chỉ khẽ hé ra một tí. Đúng là gian bếp nhưng đã đổ nát cả. Trần nhà sụp xuống một nửa lơ lửng trên không, để lộ ra những rui, xà vặn vẹo. Một lỗ đen lộ ra trên sàn nhà, từ đó vọng ra nhiều tiếng người nói nhỏ.

        Anh lẳng lặng bò lại cạnh lỗ hồng nhìn xuống. Trong gian hăm le lói một ngon đèn dầu; nhiều người ngồi dưới đó. Trên chiếc ghế bành lắc lư một người đàn ông gầy, đầu hói nhẵn, mũi dài. Một người đàn bà Đức đeo kính trắng ngồi trên chiếc ghế dài. Mấy đứa trẻ nhỏ nằm ngủ trên đống gối bên cạnh.

        Lu-ben-xốp hết sức cẩn thận, lê đi để lục soát kỹ gian bếp này. Trong chiếc tủ nhỏ có mấy cái bình bên trong còn dính ít nước đường và mứt quả. Gần đấy anh thấy có một chiếc vòi nước. Nước không chảy nữa. Nhưng trong vòi và ống dẫn nước còn sót lại một ít nước đầy bụi cát và sặc mùi vôi vữa.



Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Hai, 2017, 10:19:55 pm

        Anh lại trườn về gian phòng lúc nãy, nằm xuống đi văng. Rồi không hiểu vì sao anh hồi tưởng lại quê hương, làng Vô-lô-trai-ép-ca, nơi anh sinh trưởng. Anh nhớ lại ngọn đồi Cô-răng xinh đẹp đã ghi lại dấu vết cả thời thơ ấu của anh.

        Đứng trên đồi, nhìn thấy ngôi trường anh học và một bức tượng người cầm cờ bằng đá. Bức tượng ấy, từ khắp mọi nơi xa trong nhưng khu rừng thẳm, những cánh bãi lầy lội và trên những ngọn đồi cao đều trông rõ, đó là kỷ niệm trong sáng đầu tiên trong thời thơ ấu của anh.

        Lu-ben-xốp sống quá quen với người cầm cờ ấy, với dáng điệu lúc nào cũng vươn lên của người ấy, đến nỗi hầu như anh quên mất không để ý tới nữa. Hình ảnh bức tượng ấy hẳn đã khắc sâu vào tâm khảm anh, bức tượng kỷ niệm trận chiến thắng vẻ vang giải phóng miền Viễn đông. Cho nên không phải là tự nhiên vô cớ mà giờ đây cách xa quê hương hàng một vạn hai nghìn ki-lô-mét, và bị cả một phòng tuyến địch ngăn cách, anh lại nghĩ tới pho tượng ấy, tới người cầm cờ đứng trên ngọn đồi ở nơi xa xăm ấy.

        Đây là chiêm bao hay sự thực?

        Trong gian nhà gỗ đen, mẹ anh đang ngồi, mặt đầy những nếp nhăn, nếp nhăn hiền hậu quanh con mắt và nếp nhăn chua xót trên đôi môi. Bà bịt chiếc khăn vuông buộc nút dưới cằm. Cha anh đi giày mềm, nhẹ nhàng đi lại trong sân. ông là tổ trưởng chặt gỗ trong một lâm trường khai thác gỗ, một lão du kích và một tay săn nhà nghề. Ông thường hay dẫn đứa con trai út Xê-ri-ô-gia vào rừng, hai bố con cùng đi theo những con đường rừng rậm rạp, hai mái tóc bạc và nâu bên cạnh nhau cùng đặt bẫy chuột, cùng bắn gà rừng.

        Dòng họ Lu-ben-xốp cung cấp cho miền Viễn đông của Tổ quốc nhiều thợ đốn cây, thợ săn, thợ đãi vàng, nhiều tay chân sào chở bè gỗ, và sau Cách mạng còn cung cấp nhiều thuyền trưởng cho hạm đội sông A-mua, nhiều lính biên phòng, nhiều thợ máy. Trong họ còn có cả một ủy viên nhân dân. Chính vì cha anh đã chiến đấu chống quân Nhật Bản xâm lược bảo vệ miền Viễn đông xô-viết này, vì dòng họ Lu-ben-xốp rải rác có mặt ở khắp các thành phố, thị trấn trên đất nước mênh mông này và vì trong họ lại có người là ủy viên nhân dân ở Mát-xcơ-va, cho nên ngay từ khi còn nhỏ tâm hồn Lu-ben-xốp đã tràn ngập một mối tình gắn bó và quan tâm đến mọi người xung quanh.

        Một việc nhỏ xảy ra ở nhà trường, trong lâm trường, tại địa phương hay trên thế giới, anh đều quan tâm tới như chính việc của bản thân mình. Một hành động bất lương của một kẻ nào đó, chuyện lúa mì của nông trường bỏ ngoài mưa thu, những hành động dã man của bọn phát xít ở Đức và hành động treo cổ người da đen ở Mỹ đều là những chuyện làm cho anh tức giận sôi lên, làm cho anh đùng đùng muốn tìm cách khắc phục vấn đề ngay tức khắc, càng nhanh càng hay, trừng phạt bọn tội phạm và làm cho chính nghĩa thắng lợi.

        Đêm trôi qua chậm chạp quá chừng. Đầu óc quay cuồng, tai cứ o o một điệu dài, khó chiu. Chắc hẳn thiếu tướng cho rằng người chiến sĩ trinh sát của đồng chí đã chết. Không đâu, đồng chí Xê-rê-đa ơi, chúng nó giết được Lu-ben-xốp này đâu có phải dễ dàng!

        Những ý nghĩ ấy làm cho Lu-ben-xốp khẽ mĩm cười; không biết Me-séc-xki có nghe thấy mấy câu cuối cùng trong máy điện thoại hay không, câu "phải cùng một lúc tiến công trên khắp các khu vực”. Không biết cậu ta có hiểu được tầm quan trọng của vấn đề hay không?

        Trong tâm trí Lu-ben-xốp lại dần dần hiện ra những hình ảnh ban ngày, những khuôn mặt anh em trinh sát, hình ảnh các chiến sĩ bị thương, hai đồng chí điện thoại viên bị hy sinh và cuối cùng khuôn mặt của Tri-bi-rép, khuôn mặt "người” cuối cùng anh nhìn thấy trong ngày qua. Nhưng khuôn mặt không nhớ bằng tiếng kêu. Tiếng kêu cứ vọng mãi bên tai Lu-ben-xốp tựa như một đĩa hát đã cũ cứ nhắc đi nhắc lại mãi một câu.

        Pháo sáng vẫn không ngừng chiếu sáng yếu ớt vào trong phòng. Có tiếng chân ngươi lạo xạo trên hè phố. Có tiếng ai khóc ngay gần đó. Nhiều tiếng thét, giọng ồm ồm trong cổ, bằng tiếng Đức.

        Đến sáng, nghe tiếng đại bác nổ, Lu-ben-xốp quên bẵng đau đớn và khát nước. Đạn pháo nổ trước ngôi nhà chính, trong phố Trường đạo, làm một căn nhà đồ ầm xuống, phụt lên những tia lửa và những mảnh vụn.

        Trước mặt, bọn lính Đức đang lao lên theo hào giao thông, bóng chúng thường thấy xuất hiện ở lỗ hồng bức tường đá có hào luồn qua.

        Một sĩ quan địch hiện ra trong đường hào, hắn chạy ngược chạy xuôi. Mỗi lúc có tiếng nổ, bọn lính lại dừng lại, nằm rạp xuống đất.

        Rồi lại im lặng trong khoảnh khắc. Cái yên lặng mà Lu-ben-xốp chăm chú lắng tai nghe liền bị chấm dứt bởi tiếng pháo bắn : một tiếng nồ ầm ngắn, gọn, tiếng đạn rít trêu không, rồi tiếp theo tiếng nổ phía xa. Đó là pháo địch bẳn. Sau đó nghe tiếng động cơ sình sịch. Ngay cạnh ngôi nhà, sát ngay bên Lu-ben-xốp, một xe tăng Đức dừng lại, nhả hết loạt đạn này đến loạt đạn khác như vội vã lắm. Bức tranh khung màu đỏ thẫm có người đàn bà khỏa thân rung lên rồi lăn long lóc trên sàn nhà.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2017, 08:57:28 pm

        Hệ thống hỏa lực địch hiện ra rõ quá, không còn gì rõ hơn nữa. Ở ngã tư, cách chỗ Lu-ben-xốp độ hai ngôi nhà, một khẩu đại liên lồng lộn nhả đạn, chắc là bắn từ một gian nhà hầm. Một khẩu khác bắn từ căn nhà ở góc phố Trường đạo ra; xe tăng địch trong cuộc chiến đấu đường phố lại vận dụng chiến thuật lúc vừa rồi: nó bắn xong vài quả lại nấp kín sau ngôi nhà đổ phố Trường đạo.

        Lúc này đổi nửa đời người lấy một máy điện thoại hay một máy vô tuyến điện cũng đáng!

        Một toán lính Đức chừng sáu mươi tên xuất hiện trên đường phố. Đó là những người đã có tuổi, những thiếu niên, tay áo có mang băng nửa đỏ nửa đen1 mặc thường phục nhưng đều mang súng. Súng thì đủ các kiều. Người cao, người thấp trông như một bức hàng rào so le lởm chởm; chúng hò hét, quay cuồng như đàn vịt con dưới ao.

        Tên sĩ quan đi đầu bỗng quay lại phía quân nó, lúng búng một câu gì trong miệng rỗi cả bọn cất tiếng hát. Hát loạc choạc, lẫn lộn tiếng trẻ con và người già, thật thảm hại; tiếng cao vút xen lẫn những giọng ồ ồ. Hát hỏng gì mà thế hở trời! Nghe rợn cả tóc gáy. Lời hát thì sặc mùi hiếu chiến. Đó là bài hát "Horst Wessel” sáng tác trong các quán rượu bia ở thành phố Muy-ních.

        Pháo ta lại nhả đạn. Thế là bọn Đức bất chấp cả chỉ huy, nhẫy ào xuống hào, xô đẩy nhau, đè lên nhau.

                Lu-ben-xốp nghe như có tiếng hô xung phong phía xa xa. Các súng máy địch lại lồng lộn điên cuồng. Có một khẩu lại sủa văng bên phố Béc-lin. Bọn Đức lại từ khắp các ngả hấp tấp theo đường hào chạy về phía ngôi nhà chính. Từ sau ngôi nhà đổ, ba chiếc xe tăng lại tiến ra, vô cùng vội vã, bắn liên hồi.

        Lại yên tĩnh. Lu-ben-xốp run lên. Một vầng mặt trời lạnh ngắt treo trên đầu.

        Một tốp sĩ quan hiện ra ở một góc phố. Đi đầu là một tên SS cao gầy, quân phục màu đen, mũ đen, đeo kính râm. Hắn đi đĩnh đạc lắm, bọn khác theo sau cách một quãng. Một tốp khác ở phía kia đi lại. Nhiều lính mang súng áp tải một đoàn người tay không.

        Tên SS đeo kính râm dừng lại trước tốp sau này, thét một tiếng. Một người trong đám tù đã đứng tuổi, không đội mũ, quỳ xuống lạy. Còn người thứ hai là một chú bé con dỏng cao, chỉ chừng mười lăm tuổi, òa lên khóc. Mặt chú be đầy vết máu.

        Bọn chúng dẫn họ ra ngã tư. Ở đó nhộn nhạo lên một lúc, rồi thấy mấy chiếc bàn, một cái thang hiện ra trước các cột đèn.

        Tên SS lấy tay ra hiệu và hai người tù bị rút treo lung lẳng lên cột đèn, hai chân giãy giụa. Một tên lính ngồi vào bàn để ngay dưới chỗ cậu bé, rút bút máy viết chữ gì vào một tờ giấy trắng. Tay hắn run lên. Một tên lính khác nặng nề trèo lên bàn ghim tờ giấy vào ngực cậu bé.

        Hồi hắn lại kéo chiếc bàn sang chiếc cột đèn thứ hai và ghim một mảnh giấy khác vào ngực người đứng tuổi. Sau đó cả bọn kéo đi. Lát sau nhiều người dân Đức cả đàn ông, đàn bà trong các hầm xô ra. Họ dừng lại một tí nhìn những xác người bị treo cổ và sau khi đọc mảnh giấy ghim trên ngực, lại yên lặng tản ra.

        Lại xế chiều. Lại sắp phải qua một đêm thức chờ đợi nữa. "Chẳng lẽ ngày mai nữa quân ta cũng chưa vào đến đây chăng?” Lần đầu tiên Lu-ben-xốp nghĩ rằng có lẽ —  cũng chẳng biết đâu được — anh không ra khỏi được Snây-đơ-mun. Nhưng anh trấn tĩnh lại ngay. Ngày mai nhất định quân ta sẽ tiến vào tới đây. Chắc là lúc này, Tư lệnh quân đoàn và Tư lệnh tập đoàn quân và cả nguyên soái Giu-cốp cũng đang giận dữ hỏi: "Các đồng chí còn định lằng nhằng với Snây-đơ-mun đến bao giờ?”.

        So với cả mặt trận rộng lớn thì Snây-đcr-mun này có thấm gì; tuy thế nhất định nó cũng có tên trên bản đồ của đồng chí Xta-lin đấy. Và rất có thể ngay chính đồng chí Tổng tư lệnh trong khi giải quyết những vấn đề khác còn quan trọng gấp mấy nghìn lần cũng đang hỏi đồng chí Tổng chỉ huy mặt trận và đồng chí ủy viên hội đồng quân sư:   

        — Bao vây Snây-đơ-mun đến đâu rồi ?

        Đêm đã qua, và trời lại sáng. Bốn bề thật là tĩnh mịch. Lu-ben-xốp lắng tai nghe mãi. Pháo ta vẫn im lặng. Hoạt động trong phố lại bắt đầu. Bọn Đức bước đi, ngửa mặt, giọng nói oang oang và làm như mọi việc kinh khủng đã qua hẳn rồi.

------------------
        1. Màu quốc kỳ Đức phát xít—N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2017, 11:38:18 pm

XXV

        Tới buổi chiều, nhiều máy bay vận tải địch kiểu "JU52” lượn trên thành phố. Bọn Đức từ các hầm, các cổng sau nhảy ra phố, rút mùi soa vẫy chào. Từ những chiếc máy bay đang lượn, mấy chục chiếc dù trắng, đỏ rơi xuống. Dù ngày càng xuống thấp, phập phồng theo làn gió lạnh. Chắc hẳn dù tiếp đạn và lương thực cho thành phố.

        Mọi tiếng động lại ngừng hẳn, đến cả các súng máy cũng im hơi. Một ý nghĩ kỳ quặc lại đến trong tâm trí Lu-ben-xốp đang sốt run lên : " Ngộ như xẩm tối nay quân ta lại rứt đi thì sao ?”. Chính anh không hiểu làm sao anh lại liên tưởng đến khuôn mặt dài dài, xương xương đầy lông lá mới gặp hôm nào. Anh nhớ hình như hắn tên là Su-áp-bơ. Đúng rồi, Su-áp-bơ, một tên tù binh thuộc sư đoàn bộ binh 25 của địch. Chính tên này, lúc hỏi cung, đã nói bằng một giọng thì thầm khác thường :

        — Trong những khu hầm bí mật đang chế tạo một loại vũ khí mới sẽ cứu thoát nước Đức.

        Lu-ben-xốp nói to : " Chuyện tầm bậy! ”

        Và để tự trừng phạt giây phút yếu đuối ấy, anh quyết định đêm nay sẽ trèo lên một chỗ nào cao hơn nữa. Một chiến sĩ trinh sát không thể cứ nằm im trong một xó, không quan sát và không hiểu những diễn biến xung quanh mình.

        Anh đếm lại lựu đạn. Còn bốn quả. Trong khẩu súng ngắn còn bảy viên đạn. Được lắm. Một quả lựu đạn có thể dùng để tự kết liễu đời anh khi cần thiết. Anh dành riêng cho mình một quả. Nó có dấu, xưa kia cán gỗ của nó là một cành cây nhỏ. Bây giờ đã bào nhẵn nhưng còn những đường tròn nâu nâu, nhắc lại rằng cái món giết người này xưa là một cây gỗ xanh tốt. Anh để riêng quả lựu đạn ấy vào một bên túi.

        Trời vừa xẩm tối, Lu-ben-xốp rời đi văng, khoác chiếc áo ba đờ xuy Đức lên vai và bò đi. Ra đến hành lang anh với lấy chiếc ô làm gậy chống. Lắng tai nghe nhưng tiếng động nhỏ, anh vặn khóa, mở cửa ra vào. Yên lặng, tối tăm và ẩm ướt. Anh bò lên thang gác rất chậm chạp vì đau và yếu sức nhiều hơn vì sợ động.

        Lên đến tầng gác hai, Lu-ben-xốp thấy trời tối đen trên đầu : cả một nửa gian gác đã bị một quả đại bác phá tung. Cầu thang gác mất đi mấy bậc! Phía trên và xung quanh, nhiều xà sắt hình chữ T kép lủng lẳng trên không, còn dính cả những mảnh tường lớn. Anh gắng sức bám vào một chiếc xà vượt lên.

        Cả tầng gác ba rên rỉ, cọt kẹt. Trong những gian phòng mất hết tường còn lại vài ba thứ đồ đạc : một chiếc ghế bành, một cái xe trẻ con. Một quả pháo sáng soi rõ một con búp bê mắt xanh biếc, hai chiếc đuôi xam ngoắc vào mái hiên.

        Ngay cuối hành lang nhỏ có một cửa mở ra ngoài bao lơn. Lu-ben-xổp ra đó, nhìn thấy một cái thang chữa cháy. Muốn lên được mái nhà còn phải, leo những hai mét nữa. Lu-ben-xốp bám hai tay tê cóng vào thang sắt ướt bò lên. Mái nhà quãng này còn nguyên vẹn. Phía xa một lỗ hồng thông thống. Gió rít mạnh. Lu-ben-xốp đứng thẳng hẳn người lên gần ống khói lò sưởi, cố gắng quan sát, nghe ngóng. Nhưng bốn bề đều chìm trong im lặng. Không một viên đạn lửa, không một tiếng đại bác, không gì hết.
     
        Anh ngồi xuống chờ sáng. Mái nhà tôn nhè nhẹ oằn lên dưới chân anh làm anh nhớ lại hồi còn bé cũng thường thích trèo lên mái nhà làm cho mái nhà kêu rung rinh, tưởng tượng mình là du kích hay trinh sát nấp vào sau ống khói rồi thong thả tụt xuống...

        Lu-ben-xốp đợi cho trời sáng hẳn. Từng giây phút chậm chạp trôi qua. Mặt trăng ló ra khỏi mây rồi lại biến mất ngay. Tuyết nhớp nháp rơi. Một mảnh tường đổ sầm xuống đâu đây. Tiếng ầm ầm vọng qua những góc nhà chưa đổ, rồi tắt dần đằng xa. Lu-ben-xốp ngồi im, không nghĩ ngợi gì, đành lòng đợi. Khí trời mát dần. Phía dưới, có tiếng ho đau đớn. Da trời bắt đầu tái dần, bóng đêm xô nhau vào những góc tối, các nơi khác sáng dần ra và hình thù các vật càng nổi rõ nét hơn. Chân trời phía đông, bên kia khu rừng cây là nơi có Ta-nhi-a, một dải ánh sáng màu da cam hiện ra. Phía tây còn chìm trong bóng tối; phía đông dải mây màu da cam ngày càng lan rộng và sáng ra, những nét đen dần dần nhạt đi đổi thành màu vàng và trở nên ấm áp.

        Ánh mặt trời đùa giỡn trên nóc những ngôi nhà thờ Đức.

        Lu-ben-xốp vẫn ngồi im chờ cho cả phía tây cũng sáng ra. Cuối cùng chân trời phía tây rạng dần.

        Anh đứng đậy. Lần đầu tiên anh được nhìn thấy các vị trí quân ta từ một độ cao như thế này ở bên phòng tuyến địch. Chiến hào chạy theo sườn đồi, giữa những ngôi nhà phía đầu xưởng máy, nhiều bóng đen nhỏ đi lại trồng như kiến. Lu-ben-xốp không nhìn thấy mặt người, không thấy cả quân phục những anh hiểu ngay đó là quân ta. Anh nhìn thấy cái tháp chứa nước đã ít nhiều trúng đạn pháo của địch. Anh tưởng như nhìn thấy qua tia nắng sớm lấp lánh đôi mắt ống viễn kính.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2017, 11:38:42 pm
         
        Cơn sốt lại hành hạ Lu-ben-xốp dữ dội. Anh có cảm giác như chân bị thương, co vào rồi duỗi ra vô cùng đau đớn. Nhưng anh không đếm xĩa đến chuyện ấy nữa. Anh đã có những sức mạnh khác nhiều uy lực hơn. Anh không bị cô độc giữa phòng tuyến địch nữa! Anh cảm thấy tâm hồn rộn lên nhiều phấn khởi, kiêu hãnh, tự hào về dân tộc mình, về lãnh tụ mình và về sức mạnh vô địch mà lãnh tụ đã rèn luyện xây dựng nên. Giữa cơn sốt mê man, anh tưởng như mình không phải nằm trên mái một ngôi nhà Đức sụp đổ, mà là đang đứng trên ngọn đồi xa xăm trong làng Vô-lô-trai-ép-ca và chính mình là người cầm lá cờ mãi mãi vươn cao.

        Các chiến sĩ xô-viết đang đẩy pháo, tíu tít chuyển pháo vào sát những ngôi nhà khu nhà máy. Từ trên cao nhìn xuống, tưởng như anh em đều có phép tránh đạn và bất tử. Đạn súng máy và đạn pháo của địch ngày một dày đặc. Và kìa, các chiến sĩ ta cứ ngã xuống rồi lại vùng dậy ngay. Không phải là tất cả đều vùng dậy được, nhưng đứng trên cao Lu-ben-xốp không nhìn thấy. Mà chỉ thấy anh em như những chấm đen, lúc xuất hiện chỗ này, lúc xuất hiện chỗ khác vọt tiến, bò toài một cách bền bĩ, kiên quyết tiến lên, biến mất rồi lại hiện ra từ những hố đạn pháo sau những đống gạch vụn, thụt vào trong các nhà rồi lại nhô ra ờ nhưng chỗ và vào những lúc không ngờ nhất.

        Mấy cái cột đèn có người bị treo cổ, pháo đã bắn đổ sập.

        Trong tất cả những âm thanh của cuộc chiến đấu —  tiếng đạn nổ, tiếng ba-dô-ca, tiếng tường đổ ầm ầm, tiếng ho của súng cối — tiếng rền-rĩ mạnh nhất, gần nhất là tiếng khạc của một khẩu đại liên kêu oàng oạc. Khẩu đại liên mà Lu-ben-xốp đã để ý hôm qua, được bố trí trong một gian hầm chỗ ngã tư, cách Lu-ben-xốp chừng hai trăm mét.

        Lu-ben-xốp theo con đường cũ tụt xuống. Bên trong gian nhà còn tối om. Có cảm tưởng như chui xuống dưới hằm chiếc tàu thủy giữa cơn bão táp cuồn cuộn bốn bề.

        Lu-ben-xốp cuộn mũ ca lô bỏ vào túi, mặc chiếc áo Đức cài khuy cẳn thận. Anh chống cái ô, bước xuống thang gác đi ra sân.

        Một thiếu nữ, vai vác một cái bọc chạy qua trước mặt anh. Cô ta nói với anh câu gì nhưng anh cứ đi! Cô gái biến mất.

        Anh nghiến răng khập khễnh bước đi, nhẫy qua một hàng rào và tới một cái sân có một đám dân Đức phần lớn là ông bà già đang tụ tệp. Anh đi qua trước mặt họ. Lại có một người trong bọn nói là anh đi khập khễnh quá, hỏi anh một câu bâng quơ. Anh lẳng lặng đi qua trước mặt họ, và thong thả chống ô vượt qua một bức tường thấp, răng nghiến chặt. Đến đúng cái sân có khẳu đại liên.

        Một,hàng rào mở ra phố, dọc phố là một hào giao thông lộ thiên. Từ đó một đường hào khác chạy vào sân rồi thẳng ra phía trái và mất hút ra sau vườn. Hai tên lính Đức đứng trong hào. Chúng kéo lê một hòm chắc là đầy đạn và đang đứng lại để thở, vẻ mặt người đàn ông tập tễnh kia, với chiếc áo cài khuy chặt, đầu không mũ, tóc hung bù xù, có điều gì đã làm cho chúng phải chú ý. Hai thằng chăm chú nhìn. Người này đi thẳng qua, và khi cảm thấy hai tên lính vẫn nhìn theo, "người đó mới nhớ ra là chỗ xễ dưới của chiếc áo Đức để lộ ra chiếc quần binh phục Liên Xô. Anh cố ý đi chậm lại.

        Anh thong thả đi qua sân, mặt đờ ra và thấy hơi lành lạnh gáy dưới con mắt của hai tên lính Đức. Không, chúng không ngờ gì cả và không gọi anh lại.

        May sao đạn pháo bắt đầu nổ. Tất cả mạnh ai nấy chạy nấp. Bọn lính Đức cũng vội vã chạy: rõ ràng là quân Nga đã tới sát rồi. Riêng có người đầu trần, tóc hung ấy, vẫn thong thả đi qua sân tiến vào chiếc cửa cầu thang sau.

        Vừa đi vào đến trong nhà, Lu-ben-xốp nhìn thấy ngay trước mắt, một đoạn cầu thang đi lên gác và một đoạn khác về phía trái dẫn xuống gian hầm. Dưới đó, một khẩu đại liên đang lồng lộn điên cuồng. Vữa gạch từ trên trằn rơi xuống như mưa.

        Lu-ben-xốp mở tung cánh cửa, tựa lưng vào khung cửa để thở và để đỡ đau chân. Rồi anh nhìn kỹ vào bóng tối. Bóng hai tên lính Đức cúi mình trên khẩu đại liên, in rõ trên nền khung cửa sổ gian hầm. Lu-ben-xốp men theo tường sang phía tay phải, dưa lưng vào đó, dừng lại, rút chốt một quả lựu đạn. Khẩu đại liên đang gầm thét. Gian hằm rung hẳn lên.

        Lu-ben-xốp ném quả lựu đạn rồi nằm vội xuống đất. Tiếng nổ rung chuyền cả ngôi nhà, văng Lu-ben-xốp ra một bên và làm anh ù tai. Một khắc sau, trấn tĩnh lại, anh rút chốt quả thứ hai, bò lại cạnh cửa sỗ. Trên ngã tư, bọn lính Đức cuống cuồng chạy ngược chạy xuôi. Anh ném một quả, tiếp luôn một quả nữa và sau giây phút suy nghĩ, rút luôn trong túi ra quả cuối cùng, quả có dấu và ném nốt ra ngoài phố, vào giữa đám lính Đức đang chạy hỗn loạn...

*

*       *

        Đại úy Trô-khốp, dẫn đầu đại đội mình qua các sân tiến vào phố Béc-íin, nhìn thấy ánh lửa lựu đạn nổ, trong bụng ghen thầm : " Thằng cha nào đã tìm cách vào đây trước cả mình rồi”. Lợi dụng sự yểm hộ bất ngừ ấy, Trô-khốp băng lên phía trước. Đại đội chiếm ngã tư, rồi tiến xa nữa vào đường phố rẽ ngang.

        Các chiến sĩ đã tìm thấy trong gian nhà hầm, đồng chí chủ nhiệm trinh sát, thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp mất tích từ ba hôm nay. Đồng chí bị thương, mệt lả. Ngay cạnh đó xác hai tên lính Đức và một khẩu đại liên gãy vụn.

        Cáng thương mang lại.

        Trô-khốp từ biệt thiếu tá:

        — Chúc đồng chí mau lành. Rất sung sướng thấy đồng chí còn sống.

        Trận đánh chiếm nốt toàn bộ thành phố còn kéo dài haỉ ngày nữa. Buổi chiều ngày thứ hai, tiếng súng tắt hẳn. Một đoàn máy bay vận tải Đức thả một lô bơ’ và phó mát xuống làm cho các chiến sĩ ta rất khoái.

        Buổi chiều nay êm dịu lạ thường. Tới quảng trường Hin-đen-bua, sư đoàn này gặp sư đoàn bạn tiến công từ phía nam vào.

        Trong đám chiến sĩ cua sư đoàn bạn đang tiến ra, từ sau nhà thờ đồ sọ, Trô-khốp, nhìn ra đồng chí người Xi-bê-ri có bộ ria nâu, anh bạn đường trên cỗ xe tứ mã. Đồng chí kia cũng nhận ra đại úy, giơ tay chào. Trô- khốp hỏi:

        — Thế nào, vẫn sống à ?

        Đồng chí kia mỉm cười, đưa tay quệt ngang trán :

        — Nhất định sống chứ. Bây giờ chết thì muộn quá. Ta phải tiến vào Béc-lin chứ đồng chí ?

        — Béc-lin ấy à, hãy khoan. Làm cho xong Snây-đơ- mun đã.

        — Snây-đơ-mun à ? Tôi tưỏng Snầy-đơ-mun như thế là xong rồi còn gì...

        Rồi, chạy theo đơn vị, anh mất hút sau những đống gạch đất tan hoang của thành phố.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2017, 11:42:10 pm
      
TẬP II

NHỮNG LÁ CỜ TRẮNG

I

        Nhân dân các thành phố và thị xã, yên tâm kéo cờ hàng, đón chào các chiến sĩ Nga. Những lá cờ trắng run rầy trên các cửa sổ, hiên gác, bờ tường, rũ rượi dưới tuyết phủ mưa bay, lấp loáng như những bóng ma trong đêm tối. Nước Đức chưa chịu đầu hàng, nhưng từng nhà thì đã tự mình kéo cờ hàng như muốn tránh bàn tay trừng phạt mà nói lên : "Đối với bọn Quốc xã các ngài muốn trừng trị thế nào tùy ý, nhưng xin khoan thứ cho tôi ”.
   
        — Trời ơi! Sướng quá, sướng quá ! May ra cha tôi cũng có ở đây chăng ?

        Cô chạy dọc suốt đoàn xe, nhìn sát tận mặt các pháo thủ, các chiến sĩ bộ binh, vừa hỏi:

        — Các anh ơi, thầy em có đây không các anh ?

        — Này cô, cô có cần tìm một người chồng không ? — Một giọng nói trẻ trung từ một chiếc cam nhông vọng xuống và từ dưới tấm vải bạt ló ra một khuôn mặt đỏ gay, tươi cười với chiếc mũi mốc meo lốm đốm tàn hương, chiếc mũi đến buồn cười của một anh chàng vừa dễ tính vừa tinh nghịch.

        Đường giao thông ứ lại.

        Lúc này, một chiếc xe ô tô có xe vận tải bọc sắt theo sau hộ tống tiến vào ngã tư. Một vị tướng bước xuống. Đồng chí rẽ đám đông, đến gần cô trật tự viên, nghiêm khắc nói :

        — Đồng chí không được quên nhiệm vụ của đồng chí.

        Càng tiến về phía tây, đường sá càng tấp nập.

        Trên đường hành quân, các đơn vị bộ đội xô-viết gặp những đoàn người đủ các thành phần dân tộc : Ba Lan, Ý, Na Uy, Pháp, Bun-ga-ri, Hà Lan, Bỉ, Tiệp Khắc, Ru-ma-ni, Đan Mạch, Hy Lạp, Nam Tư v.v. lũ lượt đi ngược về phía đông.

        Già trẻ, trai gái, người dắt xe đạp, kẻ đầy xe ba gác, tay xách nách mang, nào va li nào hòm siểng, ba lô, túi dết. Đủ mọi kiều quần áo : quân phục các màu sắc nhưng không "lon”, áo dài, áo ngắn, áo mưa, áo choàng rộng, mang dấu hiệu đủ mọi quốc tịch. Mọi người ca hát, la ó, trò chuyện, thôi thì bằng đủ các thứ tiếng, chân bước đi theo nhiều đường hướng khác nhau nhưng đều thống nhất một mục đích: trở về nhà mình.

        Ngay từ đằng xa, thấy Hồng quân sắp tiến đến, nghe tiếng động cơ của đoàn xe tăng mang dấu hiệu sao đỏ, đoàn Tiệp Khắc đã vội vã kêu to : "Chúng tôi là người Tiệp!” Đoàn Pháp thì kêu : "Pháp đây ! Pháp đây !”. Và tất cả các đoàn khác, bằng tiếng nói của dân tộc mình, đều tự giới thiệu quốc tịch, coi như đó là một dấu hiệu của tình hữu nghị, đồng thời là một cái bùa che chở cho mình.

        Ngay cả những người Ý, người Hung-ga-ri, người Ru-ma-ni, những người vừa mới đây còn là đồng minh của Hít-le, cũng sượng sùng xưng quốc tịch, thái độ không lấy gì làm hoan hỉ cho lắm, tuy nhiên cũng tỏ rõ vẻ sốt sắng. Cả châu Âu vui mừng hớn hở được trở lại sống tự do và mỗi người đều thấy tự hào khi nghĩ rằng, để giải phóng cho họ, các sư đoàn Hồng quân đã ầm ầm kéo tới, như một dòng thác đổ, không sức gì ngăn nổi, trên các nẻo đường nước Đức.

        Nhưng kìa, một đoàn người với lá cờ đỏ dẫn đầu đang từ sau quãng đường vòng kéo ra.

        Họ là đoàn người Nga. Có những người nguyên là tù binh đi còn phải chống nạng, có những đàn bà, trẻ con, có những thanh niên các thành phố Xmô-len-xcơ,- Khác, cốp, Crát-nô-đa, có những thiếu nữ đầu bịt khăn mùi soa trắng chít dưới cằm.

        Mọi người đứng dừng lại. Anh em bộ đội xúm quanh đồng bào. Thế là ôm chầm lấy nhau, hôn nhau, nước mắt tràn trề. Cô trật tự viên trẻ tuổi buông thõng lá cờ hiệu, đứng ngây người ra, hai má đẫm lệ.   

        Tiếng hỏi nhau tíu tít: Ai người thành Xmô-len-xcơ nào ? Ai ở Pôn-ta-va nào ? Ai là dân vùng sông Đông nào ? Thế nào mà trong bọn chẳng có những người đồng hương, những bà con thân thích, những anh em họ dù là " xa đến hàng chục ki-lô-mét ”. Đồng bào ta, bao lâu nay xa cách đất nước, giờ đây sờ nắn những chiếc quân hàm trên vai các cán bộ, chiến sĩ, không khỏi có chút lạ lùng bỡ ngỡ. Các trẻ nhỏ trìu mến vuốt ve nòng súng tiểu liên vô-viết; các thiếu nữ thì má cứ đỏ ửng lên vì thẹn thò trước những con mắt trầm trồ của các "lính” ta.

        Trên đời này thật có biết bao chuyện kỳ lạ ! Một đồng chí trung sĩ đã đứng tuổi vừa nhảy từ trên một chiểc xe kéo pháo xuống thì một thiếu nữ xinh xắn, tóc vàng hoe cũng nhảy xổ tới. Hình như từ lâu cô chỉ chờ đợi giây phút đó. Toàn trung đoàn pháo binh như sửng sốt dừng lại. Hai cha con ôm chầm lấy nhau giữa tiếng hoan hô vang lừng.

        Một thiếu nữ khác, xinh xắn, nước da trắng mịn, chiếc khăn vuông trắng tụt xuống cổ, quanh quần quay đi quay lại, luôn miệng nói bằng tiếng U-cren.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2017, 11:39:06 pm

        Nhiều sĩ quan nhận ra vị tướng. Đó là đồng chí đại diện Hội đồng quân sự. Mọi người im lặng. Xi-dô-crư-lốp quay lại nói với đám đông đồng bào vừa được giải phóng:

        — Các đồng chí, xin để cho anh em bộ đội tiếp tục hành quân. Anh em còn rất nhiều việc. Các đơn vị trưởng lại gặp tôi !

        Các chỉ huy trưởng pháo binh, bộ binh vây quanh trung tướng. Trung tướng nghiêm khắc chỉ trích tình trạng mất trật tự rồi hỏi:

        — Đồng chí trung đoàn trưởng pháo binh đâu ?

        Có người chạy đi tìm. Trung tướng đứng tách riêng ra một chỗ để cho cấc sĩ quan ổn định lại trật tự.

        Khẩu lệnh vang lên :

        — Tập họp !

        — Lên xe !

        Tất cả từ từ chuyền động. Chỉ còn hai cha con đồng chí pháo thủ đứng lại giữa đường. Đồng chí trìu mến ẩy con ra mặc dù lòng không muốn, miệng còn thủ thỉ dặn thêm con vài lời, trong khi mắt vẫn lo lắng nhìn trộm trung tướng.

        — Tại sao trung đoàn dừng lại ? — Xi-dô-crư-lốp hỏi đại tá pháo binh vừa chạy tới.

        — Báo cáo trung tướng, xin đồng chí tha lỗi.

        — Tôi biết trước thế nào đồng chí cũng xin lỗi —  Giọng nói của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự lành lạnh — Đơn vị đồng chí đã chậm trễ, lại còn bịt kín cả đường chuyển quân. Cán bộ chỉ huy như thế thật không đáng giá một xu !

        Các tướng tá chỉ huy đơn vị cũng đang hành quân trên đưừng này tiếp tục đi xe tới. Gặp đồng chí đại diện Hội đồng quân sự, các đồng chí định đến báo cáo nhưng đều bị gạt đi. Xi-dô-crư-lốp tiến lại phía đồng chí trung sĩ đứng tuổi đang đứng cạnh cô con gái và bảo :

        — Đối với một quân nhân, như thế là may mắn lắm đấy ! Nhưng, dù sao, chúng ta vẫn phải nghĩ đến việc kết thúc chiến tranh.

        Đồng chí trung sĩ vội giơ tay lên mũ chào, nhìn con gái lần cuối cùng, rồi trèo lên xe. Lúc này, chiếc mũi tinh nghịch cũng thụt vào sau tấm vải bạt.

        Cũng may, ngã tư vừa quang hẳn thì trên không, máy bay phóng pháo Đức đã xuất hiện. Nhưng, thực ra chúng cũng chỉ kịp ném vội hai quả bom, máy bay khu trục xô-viết đã lập tức đuổi chúng chạy dài.

        Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự chỉ thị cho các tướng tá và các sĩ quan phụ trách công tác chính trị:

        — Lúc này, thời gian là vấn đề quan trọng bậc nhất. Các đồng chí cố nhiệm vụ nghiêm ngặt chấp hành kế hoạch hành quân. Nhân dân hồi hương phải đi ra hai bên vệ  đường, không được làm trở ngại việc tiến quân. Cơ quan chính trị các cấp chịu trách nhiệm làm công tác dân vận, tổ chức mít tinh giải thích. Nhưng tuyệt đối không được làm ảnh hưởng tới việc hành quân của các đơn vị đến sông Ô-đe.

        Lúc đồng chí đạỉ diện Hội đồng quân sự đi khỏi rồi, các tướng tá còn đứng lại một lát trao đổi ý kiến và không tránh khỏi lắc đầu có ý nói: " Chà, nghiêm quá ! Con người sắt đá thật!

        Tới Lăng-xbéc, trung tướng Xi-dô-crư-lốp cho điện gọi đồng chí đại tá phụ trách phòng hồi hương. Đại tá lập tức đáp máy bay tới. Đại tá không bước mà chạy như lao vào phòng làm việc của trung tướng. Nét mặt hớn hở của đại tá biểu lộ rõ niềm tự hào và sung sướng thấy mình được ủy nhiệm một công việc có ý nghĩa lịch sử đến thế: tổ chức hồi hương cho số đồng bào vừa được giải phóng.

        Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự nói ngay:

        — Tôi có hỏi đồng bào hồi hương xem họ định đi đâu. Đáng tiếc là tất cả đều chưa biết địa điểm tập trung của họ ở đâu cả. Một số còn không nhận được khẩu phần ăn cung cấp cho họ nữa. Mà nào có phải đồng chí thiếu cán bộ, phương tiện vận tải hay kinh phí đâu ?

        Nhìn đại tá với đôi chút khinh khi, Xi-dô-crư-lốp cao giọng tiếp tục nói:

        — Đồng chí đại tá, các sĩ quan của đồng chí đã để cho tình cảm chi phối nhiều quá. Đồng chí đừng giận. Tôi có thể nói là họ đã bị tình cảm chỉ phối đến độ ngu xuẩn nữa kia. Trong những trường hợp như vậy, anh em chiến sĩ rất có thể được phép bộc lộ tình cảm. Niềm sung sướng của những người xô-viết thấy mình được hoàn thành sứ mạng lich sử, là một điều tất nhiên. Nhưng những người lãnh đạo bôn-sê-vích thì không được phép để tình cảm ủy mị lấn áp mà phải đảm bảo hoàn thành công tác của Đảng giao phó. Đồng chí hãy tổ chức thế nào cho những người vừa thoát khỏi các trại tập trung được ăn no, mặc ấm, đầy đủ và biết chắc chắn chẳng bao lâu nữa họ sẽ về tới quê nhà. Nhưng, mặt khác, không được để cho họ làm trở ngại đến nhiệm vụ tác chiến của quân đội, nhân tố quyết định việc nhanh chóng xóa bỏ những hậu qua của chiến tranh.

        "Thật không phải là một con người mà là một tảng đá! Đại tá bực mình thầm nghĩ trong lúc đứng nghiêm trước mặt trung tướng.

        Xi-dô-crư-lốp lại lên đường. Nhìn bộ đội hành quân và những đoàn người được giải phóng, đồng chí cố hướng mọi suy nghĩ của mình vào rất nhiều vấn đề khác nhau, cốt để nén chặt làn sóng thương mến và say sưa đang trào lên trong tâm hồn. Thú thực rằng cố gắng đó lúc này không phải có kết quả mãi mãi nữa.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2017, 11:39:33 pm

        Xi-dô-crư-lốp, con người mà toàn thể cuộc đời gắn liền với sự nghiệp của Đảng, sung sướng tự nhủ rằng Quân đội xô-viết, dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, đã giải phóng thế giới thoát khỏi ách phát xít. Đối với đồng chí, sư kiện đó kể ra là một điều tất nhiên, cũng như vấn đề những người cộng sản đang lãnh đạo phong trào du kích trên thế giới. Chủ nghĩa cộng sản là sức mạnh giải phóng nhân loại. Những người xô-viết cần phải nêu một tấm gương sáng cho mọi người về ý thức hoàn thành nhiệm vụ và về phẩm chất trong sạch, là những đức tính mà cuộc sống trên một đất nước tự do đã tạo nên cho họ.

        Tình yêu nhân loại ư ? Đúng, nhưng phải là một tình yêu có sức hành động, nhằm đạt tới một mục đích. Đấu tranh tiêu diệt nhưng cái xấu ư ? Đúng, nhưng phải là cuộc đấu tranh theo đường lối, phương pháp của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của một chính đảng vững mạnh; bởi vì rằng, về điểm này, kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh rõ: không phải là những lời cầu khẩn, chúc tụng đã có thể cải tạo được xã hội, mà phải có một tổ chức quân sự và chính trị gang thép.

        Trung tướng chưa từng nghe thấy những dư luận nói về mình, về những chỉ thị, mệnh lệnh, những lời cảnh cáo nghiêm khắc của mình, nhưng đồng chí cũng biết là không tránh khỏi và cũng thấy đôi chút tự ái. Không, đồng chí không hề dửng dưng với những nhận xét về mình của đồng chí trung sĩ vừa tìm thấy con, cũng như của các sĩ quan, tướng tá khác mà đồng chí thường va chạm trong công tác. Nhưng, đồng chí không thể chạy theo những ý kiến đó được. Họ không biết, và cũng không thể nào biết được tất cả những điều mà đồng chí biết.

        Lúc này tình hình mặt trận như sau: nhiệm vụ mà Bộ thống soái giao phó cho mặt trận này đã hoàn thành: các binh đoàn thiết giáp đã chọc thẳng tới sông Ô-đe, vượt qua sông rồi và đã phối hợp với các đơn vị tiền vệ của bộ binh cận vệ chiếm được một số vị trí đầu cầu trên bờ sông phía tây. Quân Đức liên tục tiến công bằng sức mạnh vào các đơn vị quần ta trên bờ sông phía tây. Nhiệm vụ trung tâm trước mắt là giữ vững và mở rộng đầu cầu. Vì vậy điều động binh lực mau chóng lúc này là vấn đề quyết định hết thảy.

        Tối hôm qua, Xi-dô-crư-lốp có tới chỗ đồng chí Tư lệnh mặt trận. Đồng chí này vừa nhận được những báo cáo đầu tiên về chiến sự trên sông ô-đe. Vì báo cáo còn lẻ tẻ chưa rõ ràng, hai người im lặng ngồi đợi thêm những tin tức mới soi rõ tình hình. Cả gian phòng rộng lớn của bộ tham mưu im phăng phắc. Cuối cùng có tiếng kẹt cửa và kèm theo mấy tiếng bồi có vẻ lo lắng phá tan cảnh im lặng.

        — Đồng chí tư lệnh đâu?

        — Vào đây! — Đồng chí tư lệnh vừa đáp lại, vừa mở toang cánh cửa.

        Đồng chí tham mưu trường bước vào theo sau là một sĩ quan phòng tác chiến vừa đáp máy bay khu trục loại bay nhanh từ mặt trận sông Ô-đe về. Đồng chí này đưa trình một bức bản đồ quý giá, độc nhất vô song trong lúc này, trên đó ghi vội vị trí các đơn vị.

        Đầu cầu đã có rồi. Nó còn mỏng manh, khúc khuỷu, dính sát sông Ô-đe như một đường viền mẫnh dẻ, nhưng dù sao cũng đã có rồi.

        Như thường lệ trong những trường hợp này, tin tức bắt đầu về ngày càng nhiều: các sĩ quan liên lạc, máy vô tuyến điện, điện thoại, điện tín, liên tục cung cấp những chi tiết mỗi lúc một mới thêm.

        Đồng chí Xta-lỉn gọi điện thoại nói chuyện đồng chỉ Tư lệnh mặt trận.

        Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Tổng tư lệnh hạ lệnh mở rộng trận địa, bảo vệ trận địa chu đáo bằng không quân và triệt để củng cố các công sự phòng ngự. Căn cứ vào mệnh lệnh trên đây thì, khi chưa có công tác chuẩn bị chu đáo, chưa thể tiến đánh Béc-lin. Cần chú ý nhất đến phía sườn phải bị hở ở phía đó rõ ràng là địch có một số thuận lợi. Đồng chí Tổng tư lệnh nhấn mạnh rất nhiều đến điểm cuối cùng này.

        Ngoài ra, đồng chí Xta-lin còn hỏi thêm trận bao vây thành Snây-đơ-mun đến đâu rồi. Đồng chí Tư lệnh mặt trận báo cao trong hai hay ba ngày nữa sẽ giải quyết xong.

        Tình hình chung mặt trận là như thế.

        Sớm hôm sau, Xi-dô-crư-lốp lên đường đi về phía sông Ô-đe.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2017, 11:28:15 pm
       
II

           Trước mắt liên tiếp diễu qua những thị trấn mang những tên gọi bắt đầu hay kết thúc bằng những tiếng nào Alt, Neu, Klein và Gross, nào Ober và Nieder-berg, Dorf, Stadt, Wald, Hausen, Pof và Au1. Những thành phố nhỏ với những mái nhà lựp ngói, cố nhiên nhan nhản có những pho tượng vua Phrê-đê-rích đệ nhị, vua Ghi-ôm đệ nhất, Bít-xmác, hay hoàng tử xứ Bran-đbua2 — những nhân vật mà tên thường kèm theo những tiếng "đại", "hùng”, "vô địch" Hầu hết các thành phố nhỏ này đều có những đài kỷ niệm trận vong tướng sĩ Đức của những năm 1813 —1866, 1870 —1871 hay 1914 —19183 do "Tổ quốc ghi công” hoặc do những công dân "tỏ lòng biết ơn” dựng lên.

        Những đài kỷ niệm ấy tuy cũng chỉ mới xây lên thôi, nhưng bên trên người ta đã chất đống đủ các loại vũ khí thời trung cổ nói trong tiểu thuyết: thanh kiếm gĩ, tấm mộc sắt, bộ áo giáp. Những con đại bàng bằng đồng đen vươn cánh lượn trên những chiếc trụ đá.

        Tuyệt nhiên không có lấy một bức tượng kỷ niệm một thi sĩ hay nhạc sĩ nào. Đối với thế giới bên ngoài, nước Đức trước kia là Tổ quốc của Gớt, Bét-tô-ven và Đuy-re4 nhưng ở trong nước lại ngự trị những Phrê-đê- rích, Ghi-ôm, Bít-xmác và Môn-cơ. Những kẻ bại trận trên sông Mác-nơ cũng tự tạc tượng kỷ niệm đầu kết cành nguyệt quế, và tư phong ngầm là "kẻ chiến thắng”. Trung tướng Xi-dô-crư-lốp hết sức chăm chú quan sát cảnh vật xung quanh đồng thời suy nghĩ miên man về số phận nước Đức.

                Thực ra, trên cơ sở những cảm tưởng thoáng qua cũng khó mà có được một ý niệm rõ rệt, Trung tướng luôn luôn đi, thỉnh thoảng mới dừng lại vì công tác cần thiết, hoặc ở đơn vị này hoặc ở đơn vị khác; cũng có khi ở những sân bay. Hơn nữa, trung tướng biết rằng trung tâm "tinh thần” của nước Đức không phải ở đây mà ở xa hơn nữa, phía bên kia sông Ô-đe, trên bờ sông En-bơ và sông Ranh. Nước Đức của giai cấp địa chủ quý tộc, chạy dọc theo sông Ô-đe từ phía đông, xưa nay vẫn chỉ cung cấp cho "Vaterland”5, thịt lợn và binh lính.

        Tuy vậy một điều rất rõ là: nhân dân địa phương này, chủ nhân những ngôi nhà bỏ hoang, những người có ảnh dán trong những tập "an-bom” gia đình dày cộp —  những con người cần cù, trọng kỷ luật, hơi có vẻ cồ hủ —  đã trở thành một công cụ kinh khủng trong bàn tay bè lũ Hít-le tham tàn và man rợ.

        Vì sao cái đất nước to lớn này đã rơi vào tình trạng ấy ? Dòng lịch sử của nó đã xoáy thành một trận gió lốc kinh khủng, trong đó dĩ nhiên không phải không có ảnh hưởng của những trận "mưa vàng vay của bọn Anh —Mỹ.

        Bị lừa bịp bởi những danh từ, những câu hò hét cuồng loạn, những chính sách mị dân, những lời hứa hão đao to búa lớn, nhân dân Đức đã không nhìn thấy một sự thực hiển nhiên là Hít-le không hề cứu nước Đức thoát khỏi cái "diktat versaillais”6 mà chính là nó đã cứu giai cấp tư sản và bọn quý tộc Đức thoát khỏi bàn tay dân cày và thợ thuyền. Họ chưa thấy được vấn đề đó chính vì bọn cầm đầu thối nát của Đảng xã hội dân chủ đã ru ngủ được tinh thần cảnh giác của họ bằng những lời hứa hão và bằng cách phỉnh nịnh, trong bao nhiêu năm trời, những ý thức tư hữu xấu xa nhất.

        Kết quả là Hít-le, sau khi đàn áp được phong trào công nhân, đã thành công trong việc hướng sức mạnh của nhân dân Đức vào một con đường khác; con đường gây chiến với các dân tộc châu Âu.

        Lẽ tất nhiên Xi-dô-crư-lốp vẫn còn nhớ những con người quang vinh của nước Đức đã bị ném vào các nhà tù, các trại tập trung; nhưng đồng chí rất khó chịu khi nghĩ rằng giai cấp công nhân Đức nói chung như thế là đã thất bại trong cơn thử thách gian nan này. Ý nghĩ đó giày vò tâm tư đồng chí, và còn có phần làm tồn thương lòng kiêu hãnh của người lão chiến sĩ bôn-sê-vích. Đồng chí yêu quý giai cấp công nhân, hết lòng tin tưởng ở tiền đồ vĩ đại của họ. Cũng như mọi chiến sĩ cộng sản, đồng chí đã được Lê-nin và Xta-lin giáo dục rèn luyện theo tinh thẫn triệt để tôn trọng nhân dân lao động mọi dân tộc. Tuy vậy, ở đây, cần phải nhìn thẳng vào sự thực. Và lại cần phải nghĩ tới tương lai nữa.

-----------------
        1. Alt: cũ, Neu: mới, Klein: nhỏ, Gross: lớn, Ober: trên đầu dòng,   Nieder-berg : dưới dòng, Dorf :  làng, Stadt thị trấn, wald : rừng, Hausen :dãy nhà, Pof :trong, Au : ngoài —N.D.

        2. Những vua chúa, chính khách nồi tiếng về chiến trận thời trước của nước Đức —N D.

        3. Những năm nước Đức có chiến tranh với các nước láng giềng trước đây —N.D.

        4. Những văn nghệ sĩ nổi tiếng của nước Đức trước đây—N.D.

        5 Vaterland: tiếng Đức nghĩa là Tổ quốc —N.D.

        6 Diktat versaiUais: hòa ước Véc-xay, theo hòa ước này nước Đức phải chịu những gánh nặng bồi thưởng sau chiến tranh thế giới 1914 —1918 —N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2017, 11:28:36 pm

        Thất bại của nước Đức phải dẫn tới thắng lợi của giai cấp công nhân Đức, dẫn tới sự chiến thắng đè bẹp những quan điểm phản động và những quyền lợi tối ích kỷ.

        Theo một thói quen cũ, Xi-dô-crư-lốp thường hay thồ lộ tất cả cảm tưởng của mình với vợ và con trai. Nhưng nay con trai không còn nữa. Nói tóm lại là nó cũng đã hy sinh trong khi đấu tranh cho chính cái lý tưởng mà Éc-nét Ten-lơ-man, người công nhân thành Hăm-bua, đã hiến cả đời mình. Anh em công nhân Đức có hiểu hay rồi sẽ hiểu được điều đó không? Nhất định họ sẽ hiểu và tất nhiên họ phải hiểu.

        Trung tướng cũng không thể biên thư cho vợ mình. Đồng chí cũng thấy phải báo cho vợ biết tin con trai hy sinh nhưng vẫn lần lữa ngày này qua ngày khác, chỉ vì đồng chí lo ngại. Không hiểu mẹ nó có sống nổi với nỗi đau đớn ấy không? Đồng chí cố gắng tự an ủi rằng rất nhiều bà mẹ đã chịu đau khổ mà vẫn sống được. Nhưng ý nghĩ: " Không, mẹ nó chắc sẽ không sống nổi ” vẫn day dứt đồng chí.

        Lát sau, một sĩ quan do đồng chí Tư lệnh mặt trận đặc biệt phái tới, báo cho đồng chí biết những tin tức quan trọng, nhờ đó mới xua đuổi được các ý nghĩ kia.

        Quả vậy, lời căn dặn của đồng chí Xta-Iin rất xác đáng và đúng lúc. Trên dải đất rộng mà quân ta chưa chiếm lĩnh được dọc theo bờ biển Ban-tích về phía đông sông Ô-đe, nơi quân Đức đang rút vội về các thành phố Svin-nơ-mun-đơ và Stét-tin, hiển nhiên là đang diễn ra nhiều biến chuyển lớn. Quân Đức đang tập trung ở đó.

        Đội trinh sát vô tuyến đã dò được chừng ba chục bộ tham mưu mới của địch trong khu vưc Stác-ga — Stét-tin.

        Không quân cũng báo tin có sự điều động gấp bội xe tăng và bộ binh của địch từ Béc-lin lên phía đông bắc. Một tiểu đoàn xe tăng phái tới trinh sát trong vùng lân cận thành phố Pi-e-rít đã bị một đơn vị xe tăng Đức chưa rõ số hiệu tiến công.

        Hơn nữa: Mát-xcơ-va báo tin cho biết ngay cả cơ quan tình báo hải quân Anh cũng nhắc đi nhắc lại và còn nhắc với một giọng hốt hoảng, mối nguy cơ đang đe dọa từ phía bắc. Và người ta còn đưa ra một con số khống lồ: quân Đức đã tập trung đến 1.500 xe tăng dọc miền duyên hải.

        Xi-dô-crư-lốp không khỏi ngạc nhiêu trước tấm lòng tốt đột ngột và không đúng lúc của phe Đồng minh, nhưng chẳng mấy chốc đồng chí đã hiểu: mối lo ngại của họ chính là đầu cầu của bộ đội xô-viết trên bờ phía tây sông Ô-đe. Chắc hẳn họ tính nước cờ là trước mối đe dọa trên phía bắc, Bộ chỉ huy quân đội xô viết sẽ rút quân về bên này sông Ô-đe và như vậy không thể mau chóng tiến đánh Béc-lin được. Không phải vì vấn đề uy tín mà vì những lý do khác sâu xa hơn nhiều, Anh — Mỹ hết sức thèm muốn tự mình được chiếm lĩnh thủ đô nước Đức. Sau đó đồng chí Tư lệnh mặt trận cho biết đồng chí đã hạ lệnh điều quân lên phía bắc mở rộng và củng cố đầu cầu trên sông Ô-đe, đồng thời tiến lên đánh chiếm những pháo đài Cút-xtơ-rin và Phrăng-pho trên bờ Ô-đe.

        Xi-dô-crơ-lốp quyết định vẫn cứ đi về phía sông Ô-đe, nơi quyết định số phận trận tiến công vào Béc-lin sắp tới.

        Trước khi lên đường, đồng chí cho triệu tập các sĩ quan Cục bảo vệ tới, và báo cho họ biết rằng trong khi đi ở tuyến sau, đồng chí có thấy nhiều toán dân chúng Đức, cứ mấy gia đình một, gồng gánh đồ dạc, lang thang trên các nẻo đường làng. Hiện tượng đó cũng là tự nhiên trong hoàn cảnh này. Nhưng đáng chú ý là trong bọn họ có nhiều thanh niên Đức ăn mặc thường phục, mà ngay dù những người không biết gì về quân sự cũng có thể dễ nhận ra điệu bộ quân nhân của họ.

        — Trong đám người này — trung tướng nói—có thể có những tên tội phạm chiến tranh hay ngay những tên gián điệp. Lúc này cơ quan chỉ huy quân Đức chưa bị tiêu diệt và không có lý do gì cho phép ta nghĩ rằng chúng chiu bó tay không hành động gì.

        Các sĩ quan Cục bảo vệ báo cáo những biện pháp đã dược áp dụng. Quả nhiên, ta đã bắt được nhiều sĩ quan Đức cải trang thường dân ở Svê-rin, Lăng-xbéc, Kê-ních- xvan, và Kê-ních-béc-in Nơ-mác (một thành phố nhỏ gọi như thế để phân biệt với thành phố Kê-ních-béc ở đất Pruýt-xơ). Thêm nữa, hai tên gián điệp Đức bị bắt trong một ngôi nhà ở thôn quê đã cung khai nhiều tài liệu quý giá. Ta còn tóm được một tên đại tư bản trốn từ Xi-lê-di về, một trong bọn cầm đầu chi nhánh địa phương của công ty "Héc-man Gơ-rinh”, và nhiều tên khác, những tên nguyên là tư lệnh, phó tư lệnh: những thủ lĩnh địa phương. Bọn này đều định chạy sang với quân đội Mỹ đang tiến công ở phía tây.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2017, 11:03:43 pm

        Đại tá phụ trách Cục bảo vệ phát biểu: "Chúng nó tin chắc rằng quân Mỹ, đồng minh của chúng ta, sẽ đối xử tử tế với chúng đấy! ”.

        Trung tướng nhìn đại tá, hất đầu một cách ý nhị, rồi trầm ngâm đáp: "Đáng tiếc rằng chúng tin như vậy cũng có đầy đủ lý do cả".

        Sau buổi nói chuyện với các sĩ quan Cục bảo vệ, trung tướng đến thăm trại tù binh phi công đồng minh vừa được bộ đội ta giải phóng. Trại tù binh nằm trong một khu phố công nhân với dãy nhà gạch nhỏ bé hai tầng. Gần tới nơi, trung tướng nghe thấy những tiếng ồn ào, kêu hát hỗn loạn. Một không khí hoan hỉ, có phần hơi quá trớn bao trùm cả trại. Bọn phi công Anh, Mỹ ôm nhau dạo chơi ngoài đường phố, gọi nhau ý ới, ba hoa ầm ỹ.

        Niềm vui đó rất tự nhiên. Quân Đức đã chuẩn bị dồn họ lên xe để chuyển đi xa hơn về phía tây thì đúng lúc một xe tăng Hồng quần đột nhập vào trại. Lúc đầu, chính họ cũng không biết là xe tăng Nga. Thấy xe tăng tiến lại, tù binh Mỹ vội bỏ chạy, tưởng là quân Đức, trước lúc rút lui, cho xe tăng đến nghiến chết họ.

        Chiếc xe tăng đứng im một lát, nghển cao chiếc nòng đại bác dài như muốn đánh hơi, rồi xông thẳng vào chỗ bọn lính áp tải Đức tập trung đông nhất. Sau đó, nó lùi lại một đoạn, gầm lên, bắn thẳng vào ngôi nhà mà bọn Hitler hốt hoảng chạy vào ẩn nấp, phá toang ngôi nhà y như người dùng quả đấm "thôi sơn” đánh dập quai hàm địch thủ, rồi xoay mình lại, nã hai phát đại bác vào dãy xe vận tải đang đỗ đợi chở tù bỉnh, xong bỏ đi.

        Tù binh Anh và Mỹ chạy theo mãi, gửi với theo những lời cảm ơn và tỏ ý muốn lôi ra khỏi khối thép khổng lồ ấy những chàng trai trẻ dũng cảm đã trả lại tự do cho hai trăm tù binh phi công một cách bất ngờ, bình tĩnh và mau lẹ đến thế. Nhưng vô hiệu quả. Vì những chàng trai dũng cảm ấy rõ ràng còn bận vào nhiều công việc khác. Họ nghiến nát dưới vòng xích một khẩu cao xạ pháo Đức rồi biến mất sau quãng đường vòng.

        Khi các đơn vi Hồng quân kéo tới, gặp sĩ quan Nga nào vào trại, phi công Anh, Mỹ cũng khẩn khoản yêu cầu sĩ quan đó cố tìm cách cho biết tên những chàng lái xe tăng dũng cảm kia.

        Chuyện kể cũng đáng tức cười thật, chắc hẳn họ cho rằng việc cứu thoát hai trăm tù binh Anh, Mỹ gần như là chiến công lớn nhất trong cuộc chiến tranh này !

        Các sĩ quan Hồng quân gạt đi :

        — Ồ, có gì đâu ! Biết tên họ làm gì chứ ?

        Người ta đến báo cho toán phi công biết rằng có nhiều rnáy bay kiểu Đu-gla đang đợi họ và lát nữa họ sẽ được đưa ra sân bay.

        Nhìn thấy xe trung tướng tới, tù binh Anh, Mỹ xếp thành hàng ngang và mỗi người đón chào trung tướng theo kiểu riêng của mình : bọn Mỹ bàn tay phải nhẹ giơ cao trước trán, còn bọn Anh thì bàn tay thẳng cứng đưa ngang vành mũ, lòng bàn tay hơi ngửa ra.

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp xuống xe, bắt tay các sĩ quan đồng minh đứng hàng trên, và qua phiên dịch, hỏi xem họ có điều gì cần đề nghị không?

        Viên đại tá không quân Anh hoàng, Xơ1 Ri-gi-nan Tăng-gli đáp lời trung tướng.

        Họ không có gì cần đề nghị và xin cảm ơn sự săn sóc chu đáo, sự đối đãi thực sư thân ái của Bộ chỉ huy xô-viết. Thực ra họ cũng có một điều yêu cầu là nếu có thể được, đánh điện về báo tin cho gia đình họ biết là họ còn sống. Trung tướng đồng ý, bảo họ trao danh sách, cấp bậc của, mọi người có mặt cho đồng chí sĩ quan tùy tùng. Sau đó tất cả được điện gửi về Mát-xcơ-va, chuyển cho các đại diện quân sự Anh, Mỹ.

        Một thiếu tá Mỹ đeo kính trắng để nghi một vấn đề khác : có thể tạm thời để cho anh ta ở lại đây được- không ? Bởi vì, ai lại nghĩ đến chuyện bỏ đi giữa lúc này! Nếu trung tướng không thấy gì trở ngại, anh ta rất mong muốn được phục vụ — tạm thời — trong không quân xô-viết để rồi sẽ được gặp quân Mỹ trên sông Ô-đe và quay về với những người cũ của mình.

        — Gặp trên sông Ô-đe à? — Trung tướng hỏi lại — Trên sông Ô-đe không có quân đội Mỹ. Quân Đức, thì có đấy, còn quân đội Mỹ, chắc là chúng tôi sẽ gặp trên sông En-bư.

        Một thiếu tá khác, người Anh, hỏi :

        — Vậy, chính các ông sẽ tiến chiếm Béc-lin ư ?

        Trung tướng nhìn thẳng vào mặt anh ta, trả lời gọn một tiếng :

        — Đúng.

        Câu chuyện đang tiếp tục một cách tao nhã, bình tĩnh, thì bỗng dưng hàng ngũ các sĩ quan đồng minh trở nên lộn xộn. Một số trung sĩ, trung úy ngà ngà say, đang chen chúc đằng sau các đại tá, thiếu tá, đột nhiên xấn lên, rẽ hàng các thượng cấp ra, vây lấy trung tướng và thi nhau bắt tay trung tướng cùng các sĩ quan Hồng quân có mặt. Cuộc gặp gỡ, do đó, phút chốc mất hẳn tính chất nghi lễ — không khí vang dội những tiếng hoan hô vui vẻ:

        — Thanks, buddies !(Cảm ơn bạn)

        — Long live Russia I...(Nước Nga muôn năm !)

---------------------
        1. Xơ (sir) :danh từ để các nhà quí tộc loại trung sơ cấp ở Anh — N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2017, 11:04:16 pm

        Đại tá không quân Anh hoàng, Xơ Rê-gi-nan Tăng- gli lắc đầu tỏ vẻ không hài lòng, nhưng miệng lại vội nở ngay một nụ cười xã giao, hơi có vẻ khoan nhượng, nụ cười tựa hồ như của người lớn trước một đứa trẻ tinh nghịch. Lúc anh ta cảm thấy trung tướng nhìn mình, nụ cười ấy lại càng nở rộng. Cuối cùng, khi thấy các chiến sĩ Hồng quân tiến qua trên đường cái, thân ái vẫy chào đoàn sĩ quan đồng minh vừa được giải phóng, thì bộ mặt của anh ta hớn hở hẳn lên. Nếu không vướng hai tai thì nụ cười của anh ta không biết còn nở rộng đến đâu !

        Trên đường cái, các chiến sĩ Nga cứ tiến lên thành một dòng người liên tục. Trên những nét mặt hồn nhiên thân mật, nói chung, Tăng-gli thoáng nhận thấy một cái gì mà người ta có thể mệnh danh là ý thức tự giác về sức mạnh của họ. Bước đi của họ rắn rỏi, vững vàng, không chút hấp tấp. Họ quan sát cảnh vật xung quanh với cặp mắt bình thản, có thêm đôi chút tinh quái. Những tấm vải bạt họ khoác trên vai bay theo chiều gió, phần phật như những cánh bướm.

        Tăng-gli nhớ lại nhiều ý kiến của các tướng tá cao cấp Anh trước đây cho rằng qua cuộc chiến tranh này, nước Nga sẽ kiệt sức. Giờ đây hắn nghĩ thầm : " Không có lẽ gì như vậy cả” và bỗng nhiên cảm thấy một nỗi lo ngại nhoi nhói trong lòng : "Dù sao thì họ cũng đã băng qua cả một đoạn đường dài ở châu Âu rồi ! ”.

        Thế là nụ cười của anh ta cứ héo dần.

        Lúc này, đến lượt trung tướng mỉm cười và người ta có thể nhận thấy khuôn mặt nghiêm nghị ấy có tài cười một cách mỉa mai, sâu sắc đến nỗi viên đại tá Anh phát ngượng.

        Vừa lúc ấy những xe ô tô buýt được phái đến đưa các sĩ quan đồng minh ra sân bay đã xịch đỗ. Xi-dô-crư- lốp lại tiếp tục lên đường.Trước những biến chuyển đang diễn ra trên phía bắc, các đơn vi tạm nghỉ ở Snây-đơ-mun sau khi chiếm xong thành phố, nhận được lệnh di chuyển.

        Tham mưu trưởng trung đoàn, thiếu tá Mi-gai-ép đang đêm từ trên sư đoàn về, cho triệu tập các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng và khẩu đội trưởng để truyền đạt mệnh lệnh.

        Trong phòng tham mưu trung đoàn, đóng tại trụ sở ngân hàng thành phố, các sĩ quan ngồi đường hoàng trên những chiếc ghế bành da, ghi chép vào sổ tay cũng như đánh dấu lên bản đồ mọi điều cần thiết, và vốn đã quen tính phục tùng kỷ luật rồi nên cũng không hỏi han gì thêm. Đồng chí Mi-gai-ép truyền đạt mệnh lệnh hành quân, quen miệng, câu nào cũng nhấn mạnh thêm: "Vấn đề là như thế đấy”. Rồi đồng chí hỏi với một giọng hơi buồn:

        — Không có gì cần hỏi nữa chứ ?

        — Rõ rồi đấy — tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 trả lời thay cho mọi người.

        Giọng nói vừa lanh lảnh vừa nghiêm khắc của một đại úy mới, chỉ huy đại đội 2, từ một góc nhà vọng ra. Cũng chẳng phải một câu hỏi mà là một nhận xét chua chát:

        — Như thế nghĩa là không phải hướng Béc-lin.

        Mi-gai-ép hoạt bát hẳn lên. Câu vừa rồi thổ lộ đúng tâm sự chua xót của đồng chí. Đồng chí đáp lại:

        — Ừ, đúng đấy. Như vậy là không phải hướng Béc-lin. Vấn đề là như thế đấy !

        " Mọi việc cũng chỉ tại Snây-đơ-mun thôi! ” các sĩ quan lầm bầm nguyền rủa cái thành phố ấy.

        Sáng sớm, tiểu đoàn 1 từ quảng trường Hin-đen-bua, ở khu trung tâm thành phố, tiến ra. Các chiến sĩ cất tiếng hát một bài nhịp ngắt đoạn. Qua những khung cửa sổ và cửa ra vào, các trẻ em Đức trố mắt nhìn ra.

        Ve-xen-tra-cốp cưỡi ngựa dẫn đầu tiểu đoàn. Các đại đội trưởng cũng cưỡi ngựa đi đầu đơn vị của mình theo đội hình phân tán. Tiếp theo bộ binh là mấy khẩu đội súng cối của tiểu đoàn, nòng súng bóng loáng, bộ diện trong rất ư là hiền lành. Những khẩu súng máy dù cho đặt trên xe, nòng chĩa về phía sau, trông vẫn dữ tợn. Tiếp tới đoàn xe vận tải và trên chiếc xe sau cùng, là Gla-sa, khuôn mặt hồng hào, đang thân ái mĩm cười với toàn dân thiên hạ.

        Các chiến sĩ tuy trước đây có mong được nghĩ dài ngày, song vẫn phấn khởi trước lần xuất phát đột ngột nay. Thật ra ngay cả anh em cũng mang máng đoán được hướng hành quân; họ bắt đầu buồn bã: Hừ, thế là không phải hướng Béc-lin rồi! Họ say sưa ngắm nhìn các làng mạc và thị trấn, những mái nhà ngói, những hàng rào và những mảnh vườn, bên trên có những lá cờ trắng phần phật trước gió.

        Dọc đường đi, các chiến sĩ thung dung trao đổi với nhau những cảm tưởng về nước Đức.

        Chuẩn úy Gô-đu-nốp, nguyên đội trưởng sản xuất trong một nông trường, dòng dõi nhà nông, tất nhiên đặc biệt chú ý đến chuyện cày cấy. Anh mân mê bóp nát mẩu đất xám, đưa con mắt thành thạo xem xét những mảnh ruộng nhỏ xíu của nông dân bên cạnh những cánh đồng bát ngát của bọn đại địa chủ. Đến những chặng nghỉ trong làng, anh chăm chú quan sát những ngôi nhà chính và những căn nhà xép.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2017, 11:10:26 pm

        Vừa gãi cái gáy tóc cắt ngắn, anh vừa phát biểu: " Mỗi người sống một cách. Tên địa chủ ở đây chiếm đoạt đến hai ngàn công mẫu, còn bà con nông dân chỉ có tổng cộng chừng năm trăm mẫu! Chế độ quái quỷ gì mà lại hoàn toàn bất hình đẳng như vậy!”. Anh tiếp tục bước đi, không nói gì ca, chỉ mỉm một nụ cười khinh bĩ. Ai cũng thấy rõ là anh đang nghĩ đến nông trường của mình trong miền An-tai xa xôi, nông trường "Con đường của Lê-nin” mà anh đã nhiều lần nói chuyện với anh em. Họ mà đến chỗ mình thì nhất định họ sẽ giác ngộ”. Anh kiêu hãnh phát biểu. Và rồi chợt nhớ đến trách nhiệm trước mắt, anh cất giọng oang oang hạ lệnh:

        — Bám sát cự ly vào!.. Nhanh lên ! Pi-tru-ghin, đến bao giừ mới hết tụt hậu hả ?

        Trung thành với thói quen là hay tổng hợp mọi hiện tượng của cuộc sống, bí thư chi bộ Xli-ven-cô nhận xét:

        — Này, thế mà lúc nào họ cũng cứ kêu là thiếu ruộng, thiếu đất... Lại còn đi gây chiến với bọn mình để chiếm đất kia chứ!... Sao họ không chiến đấu ngay với bọn chúa đất để mà đòi ruộng có hơn không: làm thế đỡ tốn kém biết mấy và kết quả chắc là sẽ khác hẳn !

        Ngất ngưởng trên lưng một con ngựa to lớn, Trô- khốp vừa lơ đãng nghe anh em trò chuyện, vừa suy nghĩ về bản thân mình.

        Thiếu tá Mi-gai-ép phóng ngựa lên báo cho Trô-khốp biết là anh đã được để nghi tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ trong trận đánh Snây-đơ-mun. Đồng chí đại úy đã dẫn đầu đại đội, đột nhập thành phố trước tiên, chiếm  được khu nhà chính của xưởng máy "Chim hải âu” và phố Ngang.   

        Lòng tự ái của,Trô-khốp bị kích thích nổi lên bừng bừng, nhưng anh không nói gì. Mi-gai-ép nheo mắt hỏi:

        — Ý kiến cậu thế nào ?

        — Không có ý kiến gì cả —Trô-khốp đáp lại.

        "Thôi đi, đồ tồi!” Mi-gai-ép nghĩ thầm. Anh rẩt mong Trô-khốp phát biểu vài lời. Anh thông cảm nỗi đau khổ của đại úy, nhất là anh đã hiểu rõ tiểu sử Trô-khốp qua bản lý lịch của anh. Trô-khốp lúc này lầm lì nhìn Mi-gai-ép chẳng nói nửa lời. Mi-gai-ép khó chịu bảo:

        — Thôi được, cậu về đại đội đi.

        — Rõ! — Trô-khốp đáp lại và giật cương ngựa đi.

        Đuổi kip đại đội, Trô-khốp sung sướng hình dung trong óc tấm huân chương đẹp đẽ vẻ vang với chiếc dải nửa trắng nửa đỏ, cấp trên mới đặt ra. Tuy nhiên, anh cũng lại tự trách ngay: " Thôi, đừng say sưa vội!

        " Vả lại —anh tự nhủ để cố nén bớt hồng bột — đại dội mình có chiếm được phố Ngang nhanh chóng như vậy, cũng là nhờ thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp. Đồng chí ẩy đã dùng lựu đạn đánh tập hậu bọn Đức... ”.

        Anh nghĩ đến Lu-ben-xốp với mối cảm tình nồng nàn nhất. Không hiểu đồng chí ấy bị thương có nặng không ? Liệu có còn quay về sư đoàn được không ?

        Anh em trong đại đội nhìn Trô-khốp với con mắt khâm phục. Ngay đến Xli-ven-cô, lúc đầu có chút giữ ý với Trô-khốp, bây giờ cũng xác nhận lại đại đội trưởng mới rất dũng cảm tuy có hơi kỳ quặc. Anh nhận xét về Trô-khốp: "Trình độ chính trị không khá lắm” và nhất là không tán thành cái việc cho đến bây giờ Trô-khốp vẫn lôi theo sau cỗ xe tứ mã khét tiếng của anh. Thật ra Trô- khốp cũng phải để cỗ xe đi ở tít phía sau trung đoàn, "càng xa thượng cấp chừng nào càng hay”.

        Trong trận đánh Snây-đơ-mun, đại úy đã chiếm được lòng cảm phục cua các chiến sĩ bằng một tinh thần quả cảm thật phi thường. Hầu như đạn không thể nào xuyên qua vào người Trô-khốp được. Tất cả hành động cử chỉ của anh làm cho người ta phải tương như lúc nhỏ, anh đã được nhúng vào một thứ nước thuốc thần như lời anh tuyên bố trong một chặng nghĩ. Chỉ riêng có gót chân — anh lầm lì giải thích cho các chiến sĩ —lúc ấy mẹ anh nắm lấy, nên không được nhúng qua thuốc thánh. Và chỉ độc nhất chỗ ấy là có thể bị trúng đạn.

        — Ồ, đồng chí nói sang chuyện khác rồi —Xê-mi- gláp cười, phát biểu — Đây là chuyện gót thần A-sin1đấy chứ!

        Trô-khốp vặn lại:

        — Nếu thế còn hỏi làm gì nữa.

        Gió bấc thổi mạnh, các chiến sĩ tiến bước, người gập hẳn lại. Tà áo ca-pốt và góc vải bạt che mưa tung theo gió; tấm bạt mui xe phẫn phật bay. Tuyết rơi phủ nòng súng cối. Gió rít lên trong những rặng cây ven đường, lướt trên mặt ruộng, giật mạnh những mảnh vải trắng trên các hiên gác và các cửa sổ.

-------------------
        1. Achille :Một anh hùng trong thần thoại HY Lạp. Tiêu biểu cho tinh thần anh dũng vô địch. Được mẹ tắm nước thánh, chỉ có gót chân là có thể bị dao kiếm sát hại —N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2017, 11:13:11 pm

        Đi được bốn ngày, đại đội dừng lại trong một cái ấp lớn. Sau bức tường đá trắng lốp, nhô lên mấy cành cây lớn trụi lá. Bên trong sừng sững một ngôi nhà xây đã lâu đời. Bốn phía tường của tòa nhà dây leo bám đầy, cuộn tò vò như những cụm tuyết bám trên kính cửa sồ trong mùa đông.

        Theo thói quen, chuẩn úy Gô-đu-nốp, sau khi thu xếp chỗ ở cho anh em, bèn đi quan sát khu nhà xép. Ồ này, chuồng ngựa, chuồng bò trong cũng " khá tươm ”, không kém gì hay gần bằng ở những nông trường tập thể vùng An-tai thân yêu của anh kia đấy. Chỉ có điều là ở đây mọi tài sản đó đều do một người chiếm đoạt, làm anh lại mỉm cười với đôi chút khinh bỉ.

        Anh nói vói đồng chí bí thứ chi bộ:

        — Thế mà người ta vẫn khoe dân tộc Đức là một dân tộc văn minh... Hừ, văn minh cái gì mà kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra ?!

        Trong sân, nằm giữa khu nhà xép, có một chiếc xe ô tô du lịch kiều "Méc-xé-đét — Ben”: trên đầu máy chiếc xe, người ta đã lắp thêm một chiếc càng gỗ có thể buộc hai ngựa kéo. Gô-đu-nốp cho gọi tất cả anh em lại ngắm nghía chiếc xe kỳ lạ ấy.

        Mọi người phá lên cười, hết sức thú vi thấy ét xăng ở Hức đã gần cạn mà ngay đến bọn quý tộc điền chủ cũng phải ngồi xe chạy bằng "ét xăng ngựa”.

        Gô-đu-nốp xếp cỗ xe cồ kính thời vua Ghi-ôm bên cạnh chiếc xe "song mã” của thời đại Hít-le. Sau khi hạ lệnh chuẩn bị bữa ăn chiều, anh đi thăm những gia đình nông dân bên cạnh. Họ khá hoảng sợ, khúm núm tiếp đón anh, miệng luôn luôn cười nịnh. Vì chỉ biết có hai tiếng Đức "Halt”1 và “Kaput”2 nên anh thấy không thể nói chuyện dân vận được, đành phải đóng vai trò tham quan, đi thăm mấy căn nhà nông dân lụp xụp buồn tẻ, ngồn ngang phân bón. Anh rất thỏa mãn với cuộc đi thăm, lắc đầu, ồm ồm phát biều :

        — Rõ ràng lắm rồi!

        Về đến sân nhà địa chủ, thì nụ cười hài lòng của đồng chí chuẩn úy biến mất, vì anh thấy thiếu mặt một chiến sĩ, đồng chí Pi-tru-ghin. Ngay từ chặng nghỉ dài, Pi-tru-ghin đã kề cà ở lại thi trấn Xo-nơ-béc. Gô-đu-nốp lo ngại, buộc lòng phải báo cáo với đại úy. Trô-khốp hạ lệnh:

        — Phải cho người đi tìm.

        Gô-đu-nốp phái Xê-mi-gláp đến Xo-nơ-béc. Đêm khuya, lúc mọi ngưìri đã đi ngủ, Xê-mi-gláp mới dẫn Pi-tru-ghin về.

        — Cậu tạt vào đâu đấy ? —Gô-đu-nốp hỏi, bắt chước lối nói rạch ròi, vắn tắt của Trô-khốp.

        Pi-tru-ghin, quê vùng Ca-lu-ga, đã đứng tuổi, người ốm o, đang đứng nghiêm trước mặt chuẩn úy, đôi mắt xanh ti hí hấp háy.

        — Báo cáo chuẩn úy, tôi ngủ quên đi mất. Lúc tỉnh dậy thì không biết đi đường nào nữa. Tôi bèn ngồi đợi, hy vọng rằng các đồng chí se cho người quay lại đón.

        Trước mặt đại úy, Pi-tru-ghin cũng lại nói như thế và thêm :

        — Xin cảm ơn đồng chí đã cho người quay lại đón tôi!
Giọng anh ta có vẻ khép nép nhưng thiếu thành thật.

        Hiến nhiên là anh chàng đã hoàn toàn nói dối!

        Trô-khốp hảo:

        — May cho cậu đấy. Lần sau thì cứ là cho cậu phát đạn để gọi về!

        Nói xong anh bỏ đi, mặc cho Pi-tru-ghin suy nghĩ về lời đe dọa đó.

        Pi-tru-ghin đưa tay gãi gãi mái tóc thưa đỗ hoe và sự hãi thì thầm với Xê-mi-gláp:

        — Cậu thấy thế nào ? Anh ấy có thể bắn thật! Anh ấy là người như vậy đấy!...

        Trong cái khu nhà quan cách nguy nga này mọi vật lại chìm trong tĩnh mịch. Pi-tru-ghin đi quanh một vòng, quay vào nhà lần lượt nhìn sát tận mặt các anh em đang ngủ. Mọi người đang yên giấc. Riêng trong gian phòng lớn chung quanh xếp đầy những tủ sách, Xli-ven-cô đang ngả người trên chiếc ghế dài, mồm ngậm điếu thuốc lá cuốn to tướng; ánh lửa đỗ lòe trong bóng tối, soi sáng khuôn mặt mơ màng của đồng chí thượng sĩ.

        Pi-tru-ghin rón rén bước tới bên đồng chí bí thư, đứng im một lúc rồi nói:

        — Này, đồng chí thử xem qua cái này.

        Anh ta chạy ra rồi quay vào ngay, tay xách chiếc túi dết. Vừa tháo dây đeo, anh ta vừa mĩm cười tinh quái như có một âm mưu bí mật gì.

        — Xem đây này, đồng chí Xli-ven-cô. — Anh ta nói nho nhỏ, có vẻ không mạnh dạn lắm. — Đồng chí thử xem những thứ tôi mang về đây này.

        Trong túi có mấy tấm da "hốt can” cuộn tròn.

        — Định dùng làm gì thế ? — Xli-ven-cô lơ đãng hỏi, óc vẫn nghĩ đến chuyện khác.

        — Đồng chí nói đúng đấy, thứ này thì con nhà lính không cần nhưng với con nhà nông thì lai quý lắm đồng chí ạ. Đánh nhau sắp xong rồi. Đấy, đồng chí xem. Ở Ca- lu-ga quê tôi thứ này phải đến ba nghìn đồng. Bọn Đức nó cướp đi sạch, bà con chỉ đi toàn dép rơm như hồi trước cách mạng. Đồng chí thấy chưa ?

        Xli-ven-cô sốt ruột xua tay:

        — Thôi đừng nói giỡn với mình nữa!... Cậu định đóng giày cho cả làng bằng mấy tấm da này à?

        — Sao lại thế! —Pi-tru-ghin bực mình nói — Sao lại cho cả làng? Cốt đủ cho gia đình tôi thôi chứ. Nhà tôi có sáu người, đồng chí ạ !

        — Nhà cậu?

        Rồi Xli-ven-cô nhìn Pi-tru-ghin, lặng thinh không nói thêm nửa lời.

------------------
        1. Đứng lại —N.D.
        2. Đầu hàng —N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2017, 09:33:34 pm
     
        Pi-tru-ghin tưởng hay, cứ nói tràn :

        — Còn gì công bằng hơn. Có thể coi như một món nợ bắt bọn Đức phải trả. Đối với bọn chúng, cứ là phải lột hết cả da chúng mới được ! Đó, nếu đồng chí muốn hiểu ý tôi thì là như vậy đó.

        — Lột da " bốt can ” của chúng ấy à ? —Xli-ven-cô cười rồi quay mặt vào tường, có lẽ đồng chí muốn ngủ luôn; dầu sao chỉ biết mấy lần Pi-tru-ghin toan tiếp tục câu chuyện nhưng Xli-ven-cô cũng vẫn làm ngơ.

        Pi-tru-ghin quay ra, về giường mình trong phòng bên, nhưng thao thức không ngủ được.

        Nhìn thấy tất cả những tài sản dân Đức chạy trốn bỏ lại, nbìn những tòa nhà, những cửa hiệu không người, anh ta có một ước vọng: thỏa mãn lòng ham muốn vơ vét của mình. Nghĩ đến ngôi nhà gỗ của anh đã bị tàn phá, chỉ một chút nữa anh ta òa lên khóc. Anh mong muốn được chuyên chở về quê tất cả mọi thứ bày ra trước mắt: ván gỗ, ghế, bát đĩa, bò ngựa; Anh mơ ước có một chiếc xe ngựa to bằng chiếc xe ô tô buýt. Chà, ước sao trên phát cho mỗi người một chiếc xe hai ngựa mà chở nhỉ! Ảnh trằn trọc giở mình ; chiếc xe ước mơ hiện ra, đồ đạc chất cao tận nóc. Kìa, xe đang tiến vào làng anh, bầy thiếu nhi chạy theo vỗ tay hoan hô...

        "À, tất nhiên — Anh tìm cách tự bào chữa, muốn phân bua với Xli-ven-cô, người mà anh mến phục — nếu phát được giày cho tất cả mọi người thì còn gì bằng!... Nhưng mình có là cái gì mà nghĩ được xa như thế. Mình có phải là bí thư chi bộ đâu!..?”.

        Trên tường có nhiều bức tranh lồng khung kính thếp vàng. Những khuôn mặt người nước ngoài vẽ sơn dầu lờ mờ đang nhìn Pi-tru-ghin. Bên ngoài, đồng chí gác đang đi đi lại lại, chân bước đều đều. Phía dưới có tiếng chân một mụ già lê đôi dép lẹp kẹp. Trong cả ngôi nhà, trừ đồng chí gác, có hai người còn thức: Pi-tru-ghin và con mụ chủ ấp.

        Mụ này đang lo sợ gần như phát điên. Mụ ta không kịp hay không muốn cùng trốn đi với thằng con trai, hy vọng rằng không ai động đến một người đã già như mụ.

        Giờ đây, ngồi trong gian buồng nhỏ trước kia dành cho đầy tớ, nghe mỗi tiếng động nhỏ, tiếng sột soạt, con mụ già dòng dõi quý tộc xứ Pruýt-xơ lâu đời này cũng giật bắn người lên; mụ ta luôn luôn chờ đợi bàn tay của người bôn-sê-vích râu dài bóp chết mụ. Mặc dầu bốn bề hoàn toàn tĩnh mịch, những tấm màn cửa không hề thay đổi màu sắc, những quái vật bằng đồng đen trên các tay ghế vẫn giữ vẻ bình thản như trước nhưng... mụ già vẫn cảm thấy một thế giới khác đã ra đời, một thế giới mới, bí hiểm, thù nghịch, ghê rợn, trong đó không thể có đất sống dành cho mụ và tất cả những gì mụ quen thuộc.

        Đối với mụ, mụ không cho rằng người Nga kéo tới đây là để chinh phục nước mụ mà việc đó chỉ là sư kết thúc của cả một thế giới trong đó mụ đã sống suốt cả đời mụ. Nhưng không có ai đến tìm mụ cả, và chính điều đó lại càng làm cho mụ ta thất đảm hơn nữa.

        Tảng sáng, cửa buồng mở toang, trên khung cửa xuất hiện một thiếu phụ Nga to lớn, mặc quân phục. Nhìn thấy một thiếu phụ chứ không phải một ông bôn-sê-vích râu dài như mụ vẫn tưởng, mụ sợ thất thần. Mụ ta nhìn đôi mắt to trong sáng của chị "chính ủy”1, đôi môi nhợt nhạt của mụ lăm bầm cầu kinh.

        Gla-sa cùng với đồng chí cắt tóc từ trên tiểu đoàn bộ xuống đang búi lên với công tác, chị chẳng có thì giờ tìm hiểu tại sao mụ già lại có vẻ khiếp sợ ghê gớm như vậy. Chị hạ lệnh đun nước tắm cho các chiến sĩ. Nhưng trong làng không có nhà tắm lớn. Người Đức thường quen tắm bằng chậu thau hay thùng tắm. Gla-sa ngạc nhiên kêu "a” lên một tiếng. Chị bèn bảo mụ đi đun nước nóng. Tin rằng mình đã thoát chết một cách may mắn lạ lùng, mụ già vội chạy đi làm ngay.

--------------------
        1. Theo sư tuyên truy en xuyên tạc của bọn phất xít Hít-le, vai trò «Chính ủy» trong quân đội Liên Xô thường do nhừng phụ nữ rất hung ác đảm, nhiệm. — N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Giêng, 2018, 08:58:07 pm
     
IV

        Đại úy Trô-khốp bước xuống cầu thang.

        Gla-sa báo cáo cho anh biết trung đoàn sẽ dừng lại đây ít ngày vì sư đoàn còn phải chờ tăng viện.

        Quang cảnh ngoài sân rất nhộn nhịp vui vẻ: người cắt tóc, người lĩnh xà phòng và quần áo sạch. Gla-sa nhắc anh em lúc ngủ phải cải hết quần áo ngoài, chỉ được mặc quần áo lót. Chị làu nhàu: " Thôi, các đồng chí ngủ hầm ngủ hố thế là đủ rồi! Đã đến lúc phải quay trở lại với sinh hoạt bình thường!”

        Mụ già chủ nhà mặc chiếc áo dài đen viền gấu, lăng xăng bận rộn trong gian bếp rộng phía cuối sân. Mụ ta chạy quanh một cái bếp lò kếch xù bằng sành, trên có bắc mấy chảo nước sôi. Hai thiếu nữ Đức, người hầu của mụ chủ, tóc búi cao, đang giúp việc mụ, mắt luôn luôn liếc trộm các chiến sĩ.

        Thấy rằng lúc này chỉ huy đại đội là Gla-sa, Trô- khốp quay lên gác; anh rất khó chịu phải phục tùng một phụ nữ, dù chỉ trong phạm vi vấn đề vệ sinh.

        Anh lững thững ngắm những bức tranh lớn lồng trong khung kính thếp vàng, bước ra ngồi trên bực cửa sổ và bỗng nhiên nhận ra rằng mụ già mặc áo đen kia chắc là con mụ địa chủ. Anh tròn xoe đôi mắt:

        — Một con mụ địa chủ còn sống! Lạ quá! Có thế nào mụ già áo đen ấy lại là chủ nhân tất cả cái dinh cơ này, tất cả ruộng đất, tất cả rừng cây, đồi cỏ này ?

        Anh chăm chú nhìn khu rừng nhỏ ở phía cuối cánh ruộng màu lấm tấm tuyết trắng. Lạ chưa, khu rừng tươi non ấy như trăm ngàn khu rừng khác sao lại chỉ thuộc quyền sở hữu của một người và người ấy lại chính là mụ già kia ?

        Anh lại bước xuống sân. Gla-sa đã sang bên đại đội 3. Anh em đã bắt đầu tắm. Nghe thấy tiếng cười đùa, tiếng đập nước bì bõm trong những chiếc thùng lớn. Đồng chi cắt tóc làm việc trên sân thượng có mái lợp kính. Đồng chí đã lấy một tấm gương lớn trong phòng khách treo ở đây cho ra vẻ một phòng cắt tóc thật sự, các chị giúp việc khiêng thêm vào nhà nhiều thùng nước nóng và nước lạnh.

        Mụ địa chủ không rời khỏi bếp lò. Bộ mặt vàng ệnh phì nộn của mụ ướt đẫm hơi nước. Chà ! Mụ chỉ là một mụ già hết sức tầm thường! Một mụ già lủn củn, bần tiện, thế thôi!

        Một lão già đôi chân cao lêu nghêu, bám sát Trô- khốp không rời nửa bước. Lão ta đi đôi bít tất len dài, lồng ra ngoài quằn kéo lên giữa đầu gối, đầu đội chiếc mũ xanh với túm lông xanh nhạt phất phơ ngộ nghĩnh. Đó là lão quản lý.

        Vừa chào Trô-khốp, lão vừa luôn mồm hỏi :

        — Darfich, Herr Oberst1 ?

        "Oberst nghĩa là đại tá — Trô-khốp nghĩ thầm —  lão già liếm gót này lại giở trò nịnh nọt đây!... ”.

        Trô-khốp không rời khỏi mắt mụ địa chủ. Quả thưc, mụ chỉ là một mụ già lủn củn bần tiện. Mà không hiểu tại sao những người đàn ông Đức lực lưỡng đến thế lại chịu để cho con mụ già béo phi gù lưng này sai phái nhỉ ? Nghĩ cho cùng họ chẳng phải chiu đựng mãi Hít-le đó ư...

        "Thực tình, có lẽ pheng cổ con mụ này cho hết cái giai cấp địa chủ đi cũng phải đấy”. Anh nghĩ thầm như vậy và quyết đinh đi hỏi ý kiến đồng chí bí thư chi bộ. Xli-ven-cô vừa cắt tóc tắm rửa xong, bước ra sân. Trô- khốp mời anh cùng ngồi xuống chiếc ghế dài, im lặng một lát, rồi ngập ngừng hỏi:

        — Anh thấy không, mụ địa chủ...

        — Có. — Xli-ven-cô trả lời, thản nhiên nhìn bóng dáng mụ già trong khung cửa nhà bếp.

        Sau đó, anh quay nhìn nét mặt đăm chiêu của đại úy và hiều ngay vấn đề : Trô-khốp là một đại úy thật nhưng cũng còn rất ngây thơ ; lần đầu tiên trong đời, anh ta trông thấy một mụ địa chủ !

        Xli-ven-cô bật cười.

        — Có lẽ tống mụ về với bọn đồng tông người Nga của mụ, cũng được đấy nhĩ ?

        — Đúng — Trô-khốp tán thành và đứng dậy, có lẽ định đi hạ lệnh thi hành ý định luôn.

        Nhưng Xli-ven-cô vẫn ngồi im.

        — Thôi, chả cần thiết — Anh phát biểu một cách hờ hững, rồi nhấn mạnh lại : — Chả cần thiết đâu...

        — Thế còn ruộng đất của nông dân thì sao ? — Trô- khốp nửa hỏi, nửa chất vấn.

        — Lúc nào việc nấy chứ. — Xli-ven-cô trả lời, rồi hóm hỉnh nói thêm bằng tiếng U-cren : — Vả lại, thưa đồng chí đại úy, vấn đề này không nằm trong chức trách một đại đội bộ binh.

        Câu nói sau cùng làm Trô-khốp tự ái, một lần nữa nó lại nhắc nhở anh rằng anh chỉ là một đại đội trưởng, và, tuy thâm tâm đồng ý với đồng chí bí thư chi bộ rằng việc cải tạo xã hội không thuộc phạm vi chức trách một đại đội trưởng bộ binh, anh cũng không khỏi cau mày.

        Thấy đại úy có vẻ nóng mắt, Xli-ven-cô đứng dậy nói thêm một câu như có ý cảnh cáo :

        — Tôi sẽ xin chỉ thị của phòng chính trị. Tùy phòng quyết định thôi...

        Trô-khốp thừa hiểu ngụ ý của Xli-ven-cô. Anh lại ngồi xuống ghế.

--------------
        1.Bẩm đại tá, ngài cho phép


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Giêng, 2018, 09:01:32 pm

        Đồng chí chuẩn úy cũng đã tắm rửa xong, nét mặt hớn hở, nhẵn nhụi, tiến lại. Khi được biết mụ già mặc áo dài đen kia chính là địa chủ của vùng này, đồng chí còn sửng sốt hơn Trô-khốp nhiều. Nói cho đúng, anh rất đồng ý với đại úy là cần phải có biện pháp ngay:

        — Ờ, ờ, con yêu tinh này! —- Giọng đồng chí chuẩn úy ồm ồm thét lên làm cho mụ địa chủ và hai cô hầu sợ hãi quay lại. — Phải thủ tiêu mụ ta đi thôi!

        Nhưng, chuẩn úy cũng được đồng chí bí thư "giác ngộ” cho ngay. Chuẩn úy nhượng bộ nói vói đại úy:

        — Nếu vậy, ít ra mụ cũng phải thết chúng ta một bữa chứ!

        — Ừ, cái đó thì có thể được. — Trô-khốp tán thành, mắt trộm liếc nhìn Xli-ven-cô: — Mụ ta bóc lọt nông dân mãi rồi.

        Lúc này Xê-mi-gláp ở ngoài nói vọng qua cửa sổ cho biết có lệnh gọi đại úy lên tiểu đoàn bộ. Trô-khốp bảo đóng ngựa rồi đi lên tiểu đoàn bộ đóng ở thôn bên, còn Gô-đu-nốp thì đi thương lượng với mụ chủ về bữa ăn trưa.

        Cơm xong, các chiến sĩ quây quần lại ca hát. Qua những khung cửa sổ mở rộng, tiếng hát vọng đi khắp thôn xóm. Bài ca bi hùng gợi lên trong lòng nỗi xót xa nhớ quê hương.

        Cất tiếng hát những lời ca quen thuộc từ thời thơ ấu, anh em tự mình thấy rõ mối mâu thuẫn giữa không gian hiện tại và nội dung bài hát. Kể cũng lạ là lần này chăm chú theo dõi những âm điệu đã quen tai, anh em lại tự đặt mình vào địa vị những người dân Đức đang lặng lẽ ngồi nghe những âm thanh du dương của bài hát Nga phóng khoáng. Do đặt mình hầu như vào một địa vị khách quan để lắng nghe giọng hát của chính mình, anh em bỗng nhận ra bài ca có một vẻ hấp dẫn mới lạ, một sức mạnh trước kia chưa từng thấy.

Tiếng chuông thánh thót buông đều...

        Xê-mi-gláp ngân nga câu hát ấy, say sưa và ngạc nhiên hơn bao giờ hết trước vẻ đẹp của lời ca, bụng nghĩ thầm : "Trời ơi, sao mà tuyệt thế! ”,
Gô-đu-nốp lúc này quên bẵng cương vị chuẩn úy của ' mình, cất giọng rất trầm, cảm động hòa theo điệu hát êm ái. Anh nghĩ tới quê hương anh với những cánh đồng bát ngát, nhưng khu rừng già vùng An-tai, thấy kiêu hãnh được có mặt ở đây lúc này, và giọng mình lại được "bọn họ ” nghe thấy. Pi-tru-ghin đứng bên cửa so, nét mặt buồn bã, giữ giọng cho toàn đội với giọng hát thanh thanh khá cao của mình.

Làm tôi nhớ lại những chiều năm nao

        Câu hát của Gô-gô-bê-rít-dê, theo giọng phương Đông, nho nhỏ, ngân dài với những chuyển âm đột ngột nhưng dịu dàng. Tuy là bài hát thuần túy Nga, nhưng nó vẫn gợi lại trước mắt anh xứ Giê-oóc-gi tươi đẹp, vùng Ca- khê-xi quê hương anh, những vườn nho màu ngọc bích trên bờ sông A-la-dan. Đôi mắt xanh biếc đầy nhiệt tình sáng ngời lên, anh cất thật cao giọng cho những người ngồi kín trong nhà nghe được rõ hơn:

Làm tôi nhớ lại những chiều năm nao,
Đi trên đất nước thân yêu
Ruộng đồng bát ngát, xanh cao núi rừng.
Hàng mi khô héo bao chừng,
Hôm nay bỗng lại rưng rưng lệ buồn...

        Một nỗi buồn man mác tràn ngập tâm hồn Xli-ven-cô. Anh lén bước ra sân. Ngoài cổng, đồng chí gác đang lắng nghe các bạn hát, lòng ao ước được hòa giọng.

        Xli-ven-cô đi ra đường. Con đường cái chạy qua đây, lúc đó còn vắng vẻ. Anh tựa lưng vào bức tường đá, phì phèo điếu thuốc lá hạng xấu.

        Một đám người tụ tập ngay sát chân tường. Họ đứng nghe tiếng hát cua các chiến sĩ Nga, thỉnh thoảng lại bàn tán dóng một. Thấy thế, Xli-ven-cô tiến lại hỏi :

        —  Các anh chị em cần gì ?

        Một anh thanh niên bước ra khỏi đám đông. Anh ta mặc chiếc áo đã cũ, đầu đội chiếc mũ cát-két dạ màu xanh hai tai mũ cụp xuống. Bập bẹ câu tiếng Nga với một giọng lơ lớ tức cười, anh nói, vừa sung sướng, vừa rụt rè : "Tôi, người Tiệp ! Tiệp !”.

        Xli-ven-cô bắt tay anh. Thú quá, anh thanh niên Tiệp nắm chặt tay đồng chí giật giật làm cho đồng chí phải mỉm cười. Trông Xli-ven-cộ cười, ai cũng có thể thấy được tấm lòng hiền hậu của đồng chí. Người ta vây quanh anh chiến sĩ Nga, bắt tay anh, thân mật vỗ vai anh.

        Ọua lời giới thiệu của anh thanh niên Tiệp, thì họ là hai mươi tá điền cũ của mụ nam tước Phôn Boóc-cau đến cảm ơn Hồng quân đã giải phóng cho họ. Trong số này có những người Hà Lan, Pháp, Bỉ, một người Đan Mạch và anh ta — "Tiệp ! Tiệp !”

        Xli-ven-cô lại được biết thêm rằng kể từ chiều hôm qua, mụ nam tước đã bắt đầu cho anh chị em ăn uống tử tế, lần đầu tiên suốt mấy năm trời nay, mụ già cho mỗi suất một đĩa trứng tráng. Phải có quân đội Nga tiến vào nước Đức thì mụ mới chịu bỏ tiền ra cho anh chị em tá điền ăn trứng tráng như thế chứ.

        — Chỉ có quân đội Nga thôi. Ngoài ra tuyệt đối không thể có đội quân nào khác ! — Anh thanh niên Tiệp dịch lại câu nhận xét đầy phấn khởi này của một người Pháp.

        Xli-ven-cô hỏi :

        — Thế ở đây không có tá điền người Nga à ?

        Anh thanh niên Tiệp vui vẻ đáp :

        — Không ! Không có người Nga.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Giêng, 2018, 03:51:01 pm
 
        Mặt anh tái ngắt, vì rét, nhưng anh vẫn nhanh nhảu và tràn trề phấn khởi. Bất cứ chuyện gì mà anh kể lại cũng đều đượm màu hoan hỉ, kể cả chuyện anh bị giam ở trại tập trung của phát xít Đức một năm về trước. Rõ ràng là niềm vui hiện tại quá lớn đã xóa nhòa mọi ký ức đen tối xưa kia.

        Dạo trước, ở đây cũng có một số tá điền người Nga ; nhưng mười hôm trước, ngay sau khi những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội xô-viết xuất hiện trong vùng thì họ đã bị đưa đi rồi. vả lại, cũng không phải tất cả đều đi được cả, một thiếu nữ không may đã chết trước khi quân đội xô-viết tới, vào khoảng cuối năm ngoái, mộ cô ấy chôn gần đây.

        Anh thanh niên Tiệp kể : "Ruska slecna"1

         ... Cô ấy khóc mãi, khóc mãi... và rồi qua đời”. Mọi ngươi im lặng chờ xem Xli-ven-cô nói gì. Đồng chí buồn rầu, gọn lỏn nói :

        — Mời vào đây.

        Cả đoàn vui vẻ kéo nhau vào trong sân. Nhưng nhìn thấy mụ già áo đen đứng cạnh cửa sổ, anh chi em tá điền lo sợ chùn bước lại. Thấy thế Xli-ven-cô động viên :

        — Anh chị em cứ vào đi, không sợ gì cả.

        Anh nhìn thẳng vào mụ già, đôi mắt căm hờn cực độ đến nỗi mụ này run sợ vội vã chuồn ngay.

        Các chiến sĩ vây quanh anh chị em tá điền, chuyện trò náo nhiệt, chủ yếu là dùng cử chỉ và nháy mắt ra hiệu. Chuẩn úy Gô-đu-nốp nhổm cái thân hình vạm vỡ lên gọi hai cô hầu Đức bảo đi dọn cơm cho anh chị em tá điền ăn. Anh dặn thêm :

        — Anh chi em cần gì, các chị phải dọn cho đủ. Hiểu chưa ?

        Tuy vậy thấy như thế vẫn chưa đủ, anh bắt mụ già phải tư tay dọn bàn ăn. Mụ ta đi chậm chạp từng bước nhỏ, từ bàn ăn xuống bếp, rồi lại quay lên, hai bàn tay lo lớn run rẩy ôm chồng đĩa.

        Xli-ven-cô cùng anh thanh niên Tiệp đi ra phía cuối sân. Xli-ven-cô lặng thinh một lúc rồi hỏi:

        — Tên cô ta là gì ?... Cô người Nga mà anh nói vừa nãy ấy ?   
Anh kia cho biết cô ta làm việc "Schvvein inađchen” (chăn lợn) ở đây và quê ở vùng U-cren.

        — U-cren à ? — Xli-ven-cô hỏi lại. Tự nhiên anh phải lấy thuốc lá ra cuộn một điếu.

        — Vâng. — Anh Tiệp trả lời.

        Xli-ven-cô ngồi xuống chiếc ghế, kéo người thanh niên ngồi xuống bên cạnh:

        — Anh hút thuốc lá không ?

        Còn phải nói! Anh chị em tá điền đều thiếu thuốc, cái đó có lẽ còn khổ hơn đói cơm. Xli-ven-cô giúi vào tay anh thanh niên một nửa số thuốc đựng trong chiếc túi lụa của anh.

        — Vâng, cô ấy người Ư-cren. Nước da cô ta ngăm ngăm, tóc màu nâu, tết đuôi sam dài. Nhiều buổi cô ấy ngồi khóc suốt đêm trên cái ghế cạnh chuồng lợn kia kìa. Khóc mãi cho đến lúc mụ chủ hay lão quản lý He-vốt trông thấy. Mụ ta chắp tay rít lên : " Lạy Chúa tôi, con ranh con Nga lại ngồi chơi không rồi! ”. Còn lão quân lý thì làm ra vẻ ngạc nhiên : "Tại sao nó cứ khóc mãi thế?”.

        Xli-ven-cô hỏi:

        — Tóc tết đuôi sam dài à?

        — Vâng. Năm 42, cô ta cùng một số đồng bào của cô tới đây. Tất cả trông tiều tụy lắm.

        — Tất nhiên rồi. — Xli-ven-cô nói; cuối cùng anh mới hỏi bằng một giọng khàn khàn: — Cô ấy tên gì ?

        Tên cô ta không phải là Ga-li-a, mà là Ma-ri-a.

                Anh thanh niên Tiệp quay vào bàn ăn. Xli-ven-cô ngồi lại trên chiếc ghế cạnh chuồng lợn, hai tay ôm đầu buồn bã. Tuy cô thiếu nữ không là Ga-li-a, con anh, nhưng trên đất nước Đức có biết bao là ấp trại của địa chủ và biết bao nấm mồ chôn vùi người Nga!

        Các chiến sĩ đang tán chuyện ầm ỹ. Riêng cánh trẻ thì vây quanh một cô gái Hà Lan thanh nhã, mái tóc vàng lóng lánh ngả màu hung hung buông xõa trên vai.

        Cô ta còn ít tuổi và rất xinh; đôi mắt xanh biếc với hai hàng mi dài đèn lánh, kiêu hãnh "chiếu tướng” các chiến sĩ, làm cho con nhà lính cứ thích lịm người đi. Nhưng thật đáng buồn, cô nàng lại giới thiệu với các chiến sĩ người chồng cô, một anh chàng Hà Lan hiền lành, mái tóc vàng nhạt: việc đó làm cụt hứng Gô-gô-bê- rít-dê là người thâm tâm cảm thấy người đẹp rất vừa ý mình.

        — Thế nào ? — Pi-tru-ghin nhìn thấy đôi mắt thất vọng của Gô-gô-bê-rít-đê bèn nói đùa. — Này, cô bé ấy có chồng rồi à? Dẫu sao cậu cũng không nên bỏ lỡ cơ hội...

        — Bậy nào, ai lại thế! — Gô-gô-bê-rít-dê chán chường trả lời. — Người Hà Lan là đồng minh của chúng ta đấy, cậu hiểu chứ?...

        Pi-tru-ghin nhìn chòng chọc vào đám phụ nữ, anh đặc biệt chú ý một chị ngưừi Pháp, tuổi cũng không còn trẻ lắm nhưng "xuân xanh thì thật là vừa mức yêu cầu”; anh chàng tán gẫu với phụ nữ không dứt, nói tiếng Đức theo giọng Nga một cách bừa bãi:

        — Bây giờ các Fraues2 đời sống sẽ gut3 lắm!

------------------
        1. Tiếng Tiệp nghĩa là : Thiếu nữ Nga.

        2. Fraues: bà — N.D.

        3. Gut: tõt— N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Giêng, 2018, 03:14:36 am

        Các chị em lấy làm thú vị lắm. Họ bất chợt được những cái nhìn ghen tị của các cô hầu người Đức và họ cười thầm ngắm mụ nam tước Phôn Boóc-cau lắt nhắt chạy đi chạy lại từ nhà trên xuống bếp, rồi lại từ dưới bếp lên nhà trên. Chị em tiếc mãi là không biết lấy một tiếng Nga nào !

        Tuy vậy, Mác-ga-rta, người đẹp tóc vàng, có biết một bài hát do chị em bạn Nga dạy cho trong thời gian ở trại này. Cô dịu dàng cất giọng hát, đôi mắt xanh mạnh dạn nhìn thẳng vào các chiến sĩ không chút thẹn thò. Cô phát âm tiếng Nga sai bét.

        Câu cô hát chính là như thế này:

Đôi ta chơi dạo trên thuyền
Hỡi ngươi yêu quý, thanh niên đương thì !
       
        Lính ta cười rũ rượi.

         Lên đến tiểu đoàn bộ, Trô-khốp biết là được triệu tập lên họp, cuộc họp chớp nhoáng, quen thuộc với các đại đội trưởng bộ binh, để kiểm điểm hành quân.

        Hôm nay tiểu đoàn trưởng có vẻ ủ rũ. Tuy anh vẫn nói những câu thường lệ: nhận xét về tư thế của chiến sĩ, về vấn đề lau chùi vũ khí, v.v. nhưng tâm hồn anh hình như để ở đâu đâu. Chốc chốc anh lại ngừng lại; giọng nói hơi lắp, hậu quả của một vết thương bị từ năm 41 hôm nay đặc biệt lộ ra rất rõ rệt.

        Họp xong thì Gla-sa tới. Chị mời các đại đội trưởng ở lại ăn bữa trưa và cố gượng cười nói:

        —  Các chú ạ, hôm nay là bữa ăn cuối cùng giữa chị em ta đấy!...

        Thì ra sáng nay đã nhận được lệnh thuyên chuyển Gla-sa về công tác ở ban quân y sư đoàn.

        Mệnh lệnh hết sức bất ngờ đối với Ve-xen-tra-cốp và Gla-sa. Thiếu tá Ga-rin phụ trách điều tra vấn đề đã nhiều lần quả quyết là mọi việc sẽ ổn thỏa, không ai chủ trương bắt hai người phải sống xa nhau.

        Thế rồi đùng một cái lại có mệnh lệnh này.

        Ven-xen-tra-cốp bản tính rụt rè, không thích và cũng không biết cách nói chuyện đời tư của mình với cấp trên, lần nay cũng chịu nghe lời Gla-sa goi điện thoại hỏi trung đoàn phó. Nhưng trung đoàn phó cũng như thiếu tá Mi- gai-ép, tham mưu trưởng trung đoàn, đều trả lời, giọng khá gay gắt, rằng khi đã có lệnh thì bàn cãi cũng vô ích.

        Gla-sa bèn gọi điện thoại cho thiếu tá Ga-rin. Đồng chí này lúng túng trả lời là cũng chịu, không có cách nào giải quyết được vì đó là lệnh của bộ tư lệnh quân đoàn bộ. Bộ tư lệnh quân đoàn bộ ư? Đối với Ve-xen-tra-cốp và Gla-sa, thì đó là một cấp cao rất khó nói tới, cao như chín tầng mây vậy. Cứ nghĩ rằng "vấn đề” của họ, tên tuồi tầm thường của họ, mà lại ghi tít tận trên ấy, tận trên bộ tư lệnh quân đoàn đủ khiến cho họ phát rùng mình.

        Tất cả ngồi vào bàn, nhưng bữa ăn hôm nay mất hết cái không khí vui vẻ thường thấy trong các buổi khoản đãi tận tình của bà nội trợ Gla-sa. Mọi người thì thầm trao đồi những chuyện đâu đâu.

        Ve-xen-tra-cốp cũng ngồi im, chỉ thỉnh thoảng mới ngước mắt nhìn Gla-sa, nói một câu lạc lõng:

        — Thôi, chẳng sao, chẳng sao cả...

        Đồng chí cần vụ của tiểu đoàn trưởng chất đồ đạc của Gla-sa lên chiếc xe ngựa vừa đánh ra. Gla-sa từ biệt các đại đội trưởng, đồng chí tiểu đoàn phó, đồng chí quản trị tiểu đoàn, đồng chí cần vụ và tất cả các chiến sĩ trong tiểu đoàn bộ. Chị hôn mỗi người ba cái lên hai má, theo tục lệ Nga, rồi trèo lên xe.

        Các sĩ quan đứng trên thềm nhà lặng lẽ nhìn theo. Đồng chí lái xe cầm cương. Ve-xen-tra-cốp đi theo bên cạnh xe.

        Gla-sa dặn dò:

        — Bàn chải và hộp xi đánh giày ở trong túi ba lô, để túi bên trái anh nhé. Cậu Xê-ri-ô-gia biết rồi đấy. Lược thì em để ở túi áo, anh chú ý giữ lấy, dùng xong lại cất vào đấy nhé. Còn mùi soa thì anh có tất cả chín cái; cứ hai ngày một lần anh phải thay mùi soa đắy nhé. Đôi ủng cao đưa chữa hôm nay lấy được rồi. Lấy về thì anh đi ngay đi, còn đôi ủng da mềm anh đem cho họ sửa đi, gót bên phải bị mòn vẹt cả rồi. Khi nào đồng chí quân y sĩ mới tới, đưa ngay cho đồng chí ấy cái lọ "suyn-pha-mít” và lọ cồn em để trong va li ấy.

        Khi chiếc xe tới chỗ khuất sau ngọn đồi và đã cách xa làng, đồng chí lái xe dừng lại, Gla-sa nhảy xuống, òa lên khóc, ôm hôn Ve-xen-tra-cốp.

        Phân ly thật đau lòng, hai người còn đi theo xe một quãng đường nữa. Đồng chí đánh xe giữ ý ngồi quay lưng lại, trầm ngâm ngắm đuôi con ngựa.

        Trong lúc đó, Trô-khốp đã quay về đại đội. Con ngựa thong thả cất bước trên mặt đường nhựa ẩm ướt. Một lớp bụi tuyết cuộn bay là là mặt ruộng. Đường vắng vẻ, chốc chốc một chiếc xe vận tải vút qua. Một chiếc xe hơi bỗng dừng lại, ba người nhảy xuống. Xe lại đi, còn ba ngươi đứng lại hút thuốc rồi lững thững tiến lại phía  Trô-khốp.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Giêng, 2018, 03:06:02 am

        Một người lên tiếng gọi:

        — Đại úy!

        Trô-khốp ghìm cương. Đại úy Me-séc-xki đứng trước mặt anh, tươi cười, người dong dỏng cao, nét mặt niềm nở và hết sức lịch thiệp như thường lệ.

        — Rất sung sướng được gặp đồng chí — Me-séc-xki nói. — Đồng chí đóng ở gần đây à ?

        — Phải, ở thôn bên kia kìa — Trô-khốp chỉ tay về phía ấp rồi hỏi: — Sư đoàn dừng lại đây có lâu không?

        — Chịu chết, chả ai biết được. Chúng tôi đến tiểu đoàn quân y đây. Thiếu tá cận vệ của chúng tôi nằm ở đấy. Rồi như sức nhớ ra một vấn đề gì, Me-séc-xki reo lên:

        — Ồ đồng chí đại úy này, chính đồng chí đã cứu được thiếu tá chứ gì ? Ta cùng đi thăm anh ấy một thể đi, gặp đồng chí chắc anh ấy vui lắm đấy. Hôm nọ anh ấy có nhắc đến đồng chí.

        Trô-khốp nghiêm trang đáp lại:

        — Không phải tôi cứu anh ấy, mà có lẽ chính anh ấy cứu tôi mới đúng. Anh ấy đã đánh tập hậu bọn Đức.

        — Ồ, thế thì càng hay — Me-séc-xki nói tiếp — Ấy chết, xin lỗi, tôi quên chưa giới thiệu với đồng chí... Đây là Ô-ga-nhe-xi-an, đồng chí phiên dịch của chúng tôi. Đây là chuẩn úy Vô-rô-nhin. Còn đây là đại úy Trô-khốp.

        Trô-khốp quay ngựa lại đi cạnh ba người trinh sát. Lát sau họ rẽ vào con đường ngang; từ xa đã thấy những mái ngói đỏ trong thôn và tất nhiên cả gác chuông nhà thờ. Rồi những túp lều vải của tiểu đoàn quân y trắng toát hiện ra, trên nóc lều nghi ngút làn khói bếp lò gang.

        Nhìn thấy những mái lều ấy, lòng Trô-khốp rộn lên một niềm kính yêu sâu sắc, niềm kính yêu mà bất cứ chiến sĩ nào đã từng bị thương cũng đều cảm thấy. Trạm cấp cứu để lại trong tâm trí người ta một kỷ niệm tươi sáng nhất. Người thương binh vừa khiêng ra khỏi lò lửa chiến người ta thay quần áo cho anh, cho anh uống một cốc rượu mạnh ; những bàn tay mềm mại băng bó lại vết thương cho anh, đưa mảnh "ga” lau sạch máu đọng xung quanh, đắp lên trán nóng bỏng của anh tấm bông xấp nước. Cảnh tượng này thật là trái ngược với hoàn cảnh chiến đấu trước đó, cảm giác dễ chịu thấm thìa quá, đến nỗi cứ nhìn thấy mái lều trắng quân y là trong lòng dạt dào một niềm cảm phục biết ơn tha thiết.

        Trô-khốp nhảy xuống đi chân và dắt ngựa theo sau. Khắp mọi nơi, bóng phụ nữ đi đi lại lại. Các nữ y tá mặc áo "blu” trắng, lướt qua trước mặt mấy người trinh sát, mỉm cười thân mật với họ và nói với lại.

        — Thiếu tá cận vệ mong các anh từ sáng đấy!

        — Sáng nay đã băng cho thiếu tá cận vệ rồi đấy!

        Tới một chiếc lều, Me-séc-xki dòng lại bảo Trô-khốp:

        — Thiếu tá cận vệ nằm đây đồng chí ạ.

        Trô-khốp buộc ngựa vào hàng rào ngay cạnh đó, bước theo mấy người trinh sát vào lều. Một cô y tá trẻ tuồi đôi má ửng hồng ra tiếp bốn người, đưa áo "blu” cho họ mặc và dẫn họ vào phía sau một tấm vải bạt.

        Lu-ben-xốp ngồi trên giường, khuôn mặt gầy đi và có vẻ nghiêm nghị.

        Thấy Trô-khốp, anh chào:

        — Chào đồng chí. Tôi không ngờ được gặp đồng chí ở đây !

        Tất cả ngồi xuống mấy chiếc ghế xếp cạnh giường. Me-séc-xki đi ra gian ngoài gặp cô y tá và, quen lệ, thì thầm hỏi tình hình sức khỏe của thiếu tá. Ở nhà, mỗi khi gia đình có ai ốm và bác sĩ tới thăm bệnh, mẹ Me- séc-xki cũng làm như vậy. Me-séc-ski vô tình bắt chước mẹ anh, thì thầm hỏi rất tỉ mỉ về vết thương của thiếu tá cận vệ.

        Ô-ga-nhe-xi-an đưa cho Lu-ben-xốp mấy số báo Sự Thật và báo Sao Đỏ mới. Vô-rô-nhin thận trọng nhìn quanh một lượt và sau khi ngó qua cửa sổ yên trí không có bác sĩ ở gần đấy bèn nhét xuống dưới gối Lu-ben-xốp một bình rượu vang.

        —  Thôi, cứ để đấy! — Lu-ben-xốp ngăn lại. — Giấu đi làm gì? Chúng mình cạn chén ngay bây giờ cho vui.

        Trong lều chỉ có một mình Lu-ben-xốp nằm điều trị. Không có thương binh nào khác. Người ta để anh điều trị ở tiểu đoàn quân y trái với quy tắc chung. Khi được biết vết thương không trầm trọng lắm, sư đoàn trưởng không muốn phải xa người trinh sát của mình bởi vì, đưa về y viện điều trị, thì rồi Lu-ben-xốp rất có thể sẽ bị điều đi sư đoàn khác. Mà thiếu tướng thì rất quý Lu-ben-xốp.

        Lúc Me-séc-xki cùng cô y tá quay vào, Vô-rô-nhin ghé vào tai cô ấy thì thầm mấy câu. Cô y tá lắc đầu, nhưng cũng đi ra rồi quay vào ngay — một cách thận trọng để cho bác sĩ không biết — mang theo mấy chiếc cốc thủy tinh.
       
        Mọi người nhấp chén ngồi im lặng. Đó là giây phút để cho thể xác và tinh thần cùng nghỉ ngơi, giây phút thường có ở những con người trên tuyến lửa trong khoảnh khắc được tạm ở ngoài vòng chiến đấu.

        Củi nổ lép bép trong lò. Cô y tá ngồi xổm trước bếp, chốc chốc lại ném thêm vào lò những cành thông khô. Khung cảnh êm đềm, thân mật, đằm ấm.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:34:07 pm

        Tấm vải hạt bỗng nhiên rùng lên, một em gái nhỏ khoác áo ca-pốt không có quân hàm chạy vào. Em bé nước da xanh xao, đôi mắt to, mái tóc đen nhánh cắt theo kiểu con trai. Em liến thoắng báo tin :

        — Quân Đức tập trung ở vùng Ma-đuy-xi và Stác-gác.

        Rồi em khẽ nhếch mép mỉm cười, bắt tay mọi người. Đến Trô-khốp, em không quen bèn tư giới thiệu gọn lỗn : "Vi-ca”. Trô-khốp biết em là con gái thiếu tướng sư đoàn trưởng. Lần đầu tiên anh gặp Vi-ca. Vi-ca vừa ở chỗ thiếu tướng về, em báo cho Lu-ben-xốp biết những tin tức mà em đã cố nhớ thật đầy đủ. Em đưa cho thiếu tá một bản nhật lệnh của đồng chí Xta-lin hoan nghênh các đơn vị nhân dịp chiếm được thành phố Snây-đơ-mun.

        Em khoe

        — Ba cháu rất hài lòng chú ạ. Chính đồng chí Xta- lin nói trong nhật lệnh rằng Suây-đơ-mun là một điểm tựa phòng ngự kiên cố của quân Bức trên miền đông xứ Pô- mê-ra-ni... Còn đồng chí tư lệnh tập đoàn quân thì nói : Cái thành phố ranh con mà tai ác !

        Lu-ben-xốp phì cười. Vi-ca hạ thấp giọng thì thầm hỏi:

        — Chú có biết ai hỏi thăm chú không nào ? — Em nói một cách trinh trọng, mắt nhìn mọi người có vẻ đắc chí. — Trung tướng Xi-dô-crư-lốp đấy ! Bác ấy hỏi thăm chú và cháu đấy nhé !... — Rồi em buồn bã nói thêm: "Con trai bác ấy hy sinh rồi... ”.

        Em lẳng lặng ngồi xuống cạnh cô y tá. Lu-ben-xốp bèn giải thích :

        — Đồng chí đại diện Hội đồng quân sư và tôi có cùng tới đơn vị xe tăng. Nghĩa là đồng chí ấy đến thăm đơn vị, còn tôi thì làm nhiệm vụ cũng tựa như dẫn đường vậy... Anh quay lại phía Trô-khốp: — À, mà lần ấy chắc đồng chí còn nhớ... chúng tôi còn vượt qua cái "của quý” của đồng chí... cỗ xe tứ mã ấy mà...”.

        Thiếu tá cận vệ hơi sầm mặt xuống hỏi gọn một câu:

        — Cỗ xe ấy đồng chí còn giữ hay bỏ lại rồi ?

        Trô-khốp nhìn xuống đất, trả lời lửng lơ:

        — Tôi đi ngựa.

        — Đồng chí làm như vậy rất phải. Đi xe tứ mã thì cuối cùng thế nào cũng gặp trắc trở thôi! — Lu-ben-xốp nói vậy rồi mỉm cười.

        Mấy đồng chí trinh sát hẳn phải nhận thấy hôm nay thiếu tá cận vệ suy nghĩ nhiều và có vẻ buồn rầu nữa. Họ cho là vì Tri-bi-rép chết. Nhưng không phải chỉ có mỗi lý do ấy. Hôm qua, trong giờ khám bệnh, Lu-ben-xốp có nói chuyện với đồng chí trương khoa mổ, đại úy Mứt-skin vỏ tình thế nào Mứt-skin lại nhắc đến đồng chí bác sĩ phẫu thuật của một tiều đoàn quân y khác, chị Ta-nhi-a, một bác sĩ trẻ tuồi rất có tài và nhiều triển vọng. Câu chuyện nói về một ”ca” mồ bụng khá phức tạp do Ta-nhi-a phụ trách.

        Tuy Lu-ben-xốp không hỏi gì thêm, chỉ chịu chuyện qua loa thôi, nhưng Mứt-skin trong khi vui chuyện lại nhắc đến chuyện Ta-nhì-a có quan hệ "thơ mộng” với một cán bộ chỉ huy của quân đoàn.

        — Với ai? — Lu-ben-xốp hỏi, mặt đỏ bừng lên.

        — Với Cra-xi-cốp.

        Không hiểu tại sao, Lu-ben-xốp lại thấy khó chịu vì người ấy lại đúng là Cra-xi-cốp. Anh đã nhiều lăn gặp đại tá này. Một sĩ quan đã nhiều tuồi, rất bướng bĩnh và tự phụ, tuy rằng cũng có mặt cương quyết và dũng cảm. Tự nhiên, thiếu tá cận vệ có cảm tưởng như không phải anh mới bắt đầu ghét Cra-xi-cốp từ hôm nay. Nhưng sự thực thì khác.

        Cố xua đuổi ý nghĩ ấy, Lu-ben-xốp bảo Me-séc-xki:

        — Me-séc-xki, cậu ngâm cho mình nghe một đoạn thơ nào. Hôm nay mình thấy lòng man mác, nghe thơ cũng thú đấy.

        Me-séc-xki bối rối:

        — Thôi, đồng chí thiếu tá ạ. Đến giờ phải về rồi

        Anh đứng dậy, nhưng Lu-ben-xốp giữ lại

        Trô-khốp hết sức ngạc nhiên và khâm phục Me-séc-xki, bụng bảo dạ: "À ra anh này biết làm thơ!”. Ô-ga-nhe- xi-an ngồi im trong góc nhà, lần đầu tiên lên tiếng; anh tán thành đề nghị của Lu-ben-xổp. Vi-ca cũng tỏ ra không thờ ơ   :

        — Chú ngâm thơ đi chú.

        Me-séc-xki đành nghe lời:

        — Tôi ngâm bài " Chi-óc-kin ”1 vậy.

        Bài thơ này trên báo "Hồng quân” đã có đăng mấy đoạn.

        Mọi người đều lấy làm thích. Chi-óc-kin, người chiến sĩ dũng cảm, khôn ngoan, tháo vát ấy là nhân vật yêu thích của tất cả mọi chiến sĩ trên mặt trận. Riêng tên anh cũng đủ gợi lên khuôn mặt bất cứ chiến sĩ nào một nụ cười tươi sáng, tinh quái và kiêu hãnh, hầu như tác giả đã lấy ngay chiến sĩ ấy để xây dựng điền hình Va-xi-li Chi-óc-kin.

-------------------
        1. Va-xi-li Chi-óc-kin, một bài thơ dài của Tvác-đôp-xki rất nổi tiếng trong bộ đội xô-viết.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Giêng, 2018, 11:36:26 pm
       
        Me-séc-xki bắt đầu ngâm và chỉ lát sau, mọi người đều rung cảm với nhạc điệu quen thuộc, độc đáo của những câu thơ giản dị, đầy tình thương mến ấy :

                             Vì nghĩa vụ, toàn tâm phục vụ.
                             Là chiến binh gian khổ chẳng nề.
                             Hành quân chặng nghỉ hồn mê,
                             Kèn vang bật tỉnh nhất tề đứng lên.
                             Nước có giặc, trận tiền sống mái,
                             Giặc hung tàn, ta phải tàn hung.
                             Lệnh hô ! Dũng mãnh xung phong,
                             Thịt xương dẫu nát, quyết lòng hy sinh.
                             Còn lời này đinh ninh nhắc nhủ :
                             Ngươi anh hùng bất tử, chớ kiêu,
                             Chiến trương bom nổ, đạn reo,
                             Có đâu bùa phép mà liều tấm thân,
                             Anh có mặt hàng quân — là đủ.
                             Há kể chi: trước gió phũ phàng,
                             Đời ta nhẹ tựa lá vàng,
                             Giờ nào ngã giữa chiến trường có hay.
                             Đến giờ chót hỏi ai còn mất ?
                             Chẳng ngươi nào đoán trước được đâu...


        Vô-rô-nhin thở dài sườn sượt, yêu cầu ngâm tiếp. Me-séc-xki ngâm những bài thư rất phổ thông trong bộ đội như bài "Đợi anh về” của Xi-mô-nốp v.v. Sau cùng, Lu-ben-xốp bảo :

        — Cậu nhớ lại đoạn thơ nào của cậu kia. Nghĩa là thơ về đời trinh sát nhà ta ấy mà.

        Mặt Me-séc-xki nghiêm trang hẳn lại. Anh nhớ lại một lát rồi cất giọng dịu dàng, không hùng hồn, vang vang như hồi nãy :

Họ bình thản, trang nghiêm cất bước,
Khắp nẻo đường đất nước đau thương.
Mẹ già lo nghĩ sầu vương,
Thư thương chăm gửi không đường đến tay,
Trinh sát đi, không ngày trở lại,
Lá thông rừng phủ mãi vết chân,
Khóc thương, mấy hạt mưa xuân,
Vì sao lấp lánh qua màn sương mai...

        Mọi người đều khen hay.

        Vô-rô-nhin phát biểu:

        — Hay như trong sách vậy.

        Lu-ben-xốp trìu mến nhìn Me-séc-xki đang bối rối trước những lời khen ngựi của mọi người. Anh bỗng cảm thấy lo ngại cho Me-séc-xki nên quyết định thầm trong bụng: "Mình sẽ không phái cậu ta đi đâu nữa. Thôi... Mình có hy sinh cũng không sao... Còn như cậu ta là một nhà thơ. Biết đâu sau chiến tranh cậu ta lại chẳng có thể nổi tiếng, sáng tác được những bài thơ hay”.

        Anh nói:

        — Các đồng chí đều là những người bận việc cả. Không ai có thì giờr mà suy nghĩ... Còn tôi thì nằm trên giường bệnh, buồn quá, cứ nghĩ luẩn quẩn suốt ngày. Chính chúng mình có khi cũng chưa hiểu hết được những việc chúng mình đã làm và chưa cảm thấy được hết sức mạnh của chúng mình hiện nay. Các đồng chí ạ, tôi thèm được có tài như Me-séc-xki quá: cậu ta hiết làm thơ...! Nói những ý nghĩ tốt với mọi người một cách giản đơn, không có vần điệu như thơ, có khi họ lại không bằng lòng, hoặc giả còn cười mình là đằng khác... Nhưng như lúc này, người ta có thể ôm hôn tất cả mọi người mà không sợ ngượng. Chẳng hạn như tôi rất có thể ôm hôn cô y tá nếu không sợ cô ấy hiểu lầm là mình có ý nghĩ gì khác chăng...

        Nghe thấy vậy, cô y tá đỏ bừng mặt chạy vụt ra ngoài mất. Chuẩn úy Vô-rô-nhin cười, phát biểu:

        — Theo tôi, cô ấy cũng không phản đối cái hôn đâu!

        Trước câu pha trò mà em cho là không đúng chỗ, Vi-ca cưừi gượng gạo. Em hết sức chăm chú lắng nghe Lu-ben-xốp nói.

        Vốn không quen thồ lộ tâm tình, anh đâm ra bối rối nên nói chuyện sang vấn đề công tác. Anh hỏi Ô-ga-nhe- xi-an xem đơn vị còn giữ được tài liệu của quân Đức hướng dẫn sử dụng ba-dô-ca hay không, vì quân Đức khi rút chạy có bỏ lại khá nhiều loại đạn chống tăng kỳ dị ấy nhưng bộ đội ta chưa biết cách sử dụng. Anh dặn dò :

        — Cần phải cho dịch tập tài liệu ấy sang tiếng Nga, đưa tổ ấn loát sư đoàn in và phân phát cho các chiến sĩ... Cho anh em tập sử dụng dần đi, có thể sau này sẽ ích lợi cho anh em...

        Ô-ga-nhe-xi-an và Me-séc-xki hứa sẽ báo cáo đề nghị của thiếu tá cận vệ với sư đoàn trưởng.

        Trô-khốp lưu luyến — chính anh cũng không hiểu tại sao không muốn ra khỏi căn lều tràn ngập một bầu không khí êm ả, đầy tình anh em thắm thiết chung quanh Lu-ben-xốp này.

        Nhưng đã đến giờ về.

        Lu-ben-xốp hỏi:

        — Tiểu đoàn đồng chí đóng ở thôn nào ?

        Trô-khốp đáp :

        — Ngay gần đây thôi. Đóng trong nhà một con mẹ địa chủ. Con quỷ cái ấy giàu lắm. Trong nhà toàn những tranh.

        Không hiểu tại sao đồng chí phiên dịch nãy giờ vẫn ngồi im, đột nhiên đứng vụt dậy. nắm tay Trô-khốp reo lên :

        — Tranh à ? Tranh gì thế ?

        Câu hỏi oái oăm làm Trô-khốp không trả lời được: "Tranh gì à ? Tôi không biết. Có đủ các loại”.

        — Ở chỗ nào thế anh ? Tôi đến chỗ các anh ngay hôm nay nhé.

        Mọi người bật cười trước sư sốt sắng của nhà phê bình nghệ thuật.

        Trô-khốp hảo :

        — Anh cứ đến. Chúng tôi đóng trong thôn kia kìa. Gần lắm. Anh trông thấy ngôi nhà thờ đấy chứ gì ?

        Trô-khốp ra tháo ngựa, lên yên quay về đại đội.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 08:13:27 am

VI

        Gần về đến nhà, Trô-khốp nghe tiếng cười to của anh em và nhiều giọng nói vui vẻ của phụ nữ.

        Anh cau mặt, quất cho con ngựa một roi, phóng vụt qua trước mặt đồng chí gác làm đồng chí này giật mình rồi anh dừng lại giữa sân.

        Gô-gô-bê-rít-dê, trực ban đại đội, như người phải bỏng, vội vàng tránh xa cô gái Hà Lan xinh đẹp, miệng hô lạc cả giọng :

        —  Nghi... êm !

        Tiếng cười tắt hẳn. Tất cả đứng dậy. Toán khách lạ cũng rụt rè đứng lên.

        Ngồi nguyên trên lưng ngựa, Trô-khốp quay hỏi đồng chí chuẩn úy :

        — Vui nhộn như vậy là thế nào ?

        Vẫn giữ đúng tư thế quân sư, Gô-đu-nốp vội báo cáo :

        — Báo cáo đại úy, đây không phải là người Đức. Chỉ toàn người Pháp và Hà Lan. Họ là những tá điền trong trại này. Báo cáo đại úy, họ là người nhà ta cả, nghĩa là nhân dân lao động cả, họ đã bị bọn phát xít ngược đãi...

        Trô-khốp ra lệnh : — Nghỉ! — Rồi xuống ngựa đi vào trong nhà.

        Trong một gian buồng, mụ địa chủ và Xli-ven-cô đang ngồi đối diện nhau. Một thanh niên mặc chiếc áo dài vải đã sờn, đầu đội chiếc mũ cát két xanh đứng bên cạnh ghế Xli-ven-cô. Nếu không có bộ mặt tái mét của mụ già thì có thể nói đây là một cuộc gặp gỡ của những người quen cũ.

        Thấy đại úy vào, Xli-ven-cô đứng dậy.

        —  Tôi vừa mạn đàm chính trị với con mụ đia chủ —  anh khẽ nhếch mép cười nói với Trô-khốp. — Kể cũng bổ ích, đồng chí ạ. Tôi có hỏi mụ già tại sao lại đi bóc lột tá điền, hành động như thế không phải của một con người có học thức. Mụ ta trả lời : "Đâu, tôi có bóc lột họ đâu, họ có làm thì mới có ăn đấy chứ !”. Tôi bèn xoay cho mụ ta một câu nữa và nhờ anh bạn này phiên dịch, anh ta là người Tiệp, biết tiếng ta và biết cả tiếng Đức : "Mụ còn cãi gì nữa ? Sự thực anh chị em tá điền bị bắt từ các nước khác về để làm lao công cho mụ”. Đồng chí có biết con khọm già ấy trả lời thế nào không? Nó nói : ”Không làm thế thì họ đến chết đói mất vì ở nước họ nhà máy đóng cửa, ruộng bỏ hoang, khắp nơi bị tàn phá, cày cấy rất ít...”. Tôi bèn hỏi thêm : "Thế tại sao nhà máy phải đóng cửa ? Tại sao thành phố làng mạc bị tàn phá ? Chính là do tội ác của bọn mụ, đồ khốn hạn ! ”.

        Xli-ven-cô xua tay chán chường và thôi không nói nữa.

        Cánh cửa bỗng mở rộng, anh chị em tá điền ùn ùn kéo vào. Cô gái Hà Lan xinh đẹp có đôi mắt biếc long lanh, đi đầu. Cô giơ tay bắt tay Trô-khốp, nói mấy câu, hai má đỏ bừng, cảm động ra mặt.

        Anh thanh niên Tiệp phiên dịch : Mác-ga-rta thay mặt tất cả anh chị em nước ngoài và gia đình họ, cảm tạ đại úy và quân đội Nga bách chiến bách thắng.

        Trô-khốp nắm chặt bàn tay xinh xắn của cô gái không biết nói câu gì đáp lại.

        Anh có cảm tưởng như giờ đây, đứng trong gian phòng lớn tranh tối tranh sáng, ngổn ngang tủ sách, anh đang được khắp hoàn cầu nhìn thấy. Cần phát biểu một câu gì cho có ý nghĩa; dĩ nhiên, không cần phải làm thơ, nhưng cũng cần phải nói cho văn vẻ một tý. Cô gái Hà Lan cùng toán người bốn phương đứng sau cô làm sao mà có thể biết được anh chỉ là một đại úy tầm thường và dưới con mắt cấp trên của anh, lại còn là một đại úy có khuyết điểm? Trước mắt những người nước ngoài này, anh là một người đầy uy quyền, có tài đức vẹn toàn và sau lưng anh là cả đoàn quân của xứ sở xô-viết.

        Anh bèn phát biểu:

        — Chính vì thế mà chúng tôi tới đây.

        Anh định lánh về buồng riêng, nhưng không được. Anh chi em tá điền đã vây chặt lấy đại úy.

        Anh thanh niên Tiệp lần lượt giới thiệu từng người với Trô-khốp. Trô-khốp rất đỗi ngạc nhiên khi thấy những con người mang những tên kỳ lạ vốn chỉ gặp trong các truyện dịch, lại là những người rất bình thường, trông chẳng khác người Nga mấy. Có cả một người Pháp, tên từa tưa như là "Đác-ta-nhăng”1 mà thực ra chỉ là một thanh niên xanh xao, hiền lành, mặc chiếc quần đã sờn vải.

-------------------
        1. Đác-ta-nhăng: nhân vật nổi tiếng trong cuốn truyện * Ba người lính Ngự lâm pháo thủ của nhà viết tiểu thuyết lịch sử Pháp A-lếch-dăng Đuy-ma  —  N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 08:14:07 am

        Anh chị em tá điền hỏi xem họ sắp có thể hồi hương được chưa và hồi hương như thế nào: chờ lệnh của các nhà cầm quyền xô-viết hay là cứ tự động tìm đường về ? Ho muốn biết xem có cần xin giấy thông hành đóng dấu của Bộ chỉ huy quân đội xô-viết hay không và cố đòi được cấp phát giấy thông hành như vậy.

        Một người Hà Lan tên là Rốt, xin "ngài” đại úy cho biết đích xác bao giờ thì kết thúc chiến tranh. Chị Mác-gô Mê-li-e, người Pháp, hỏi xem họ có thể lấy xe cộ của người Đức để dùng hay không ? Và liệu có thể liên lạc bằng vô tuyến điện hay bằng cách gì khác, với Pa-ri được không ? Và xin "ngài” đại úy ra lệnh đánh điện cho.

        Càng bị hỏi,Trô-khốp càng thêm lúng túng. Anh phân vân không biết có nên giải thích cho họ biết anh chỉ là một đại đội trưởng bộ binh tầm thường, không hơn không kém. Dù thế nào đi chăng nửa họ vẫn coi anh là người che chở chính thức của họ. Họ tin quvền lực của anh; anh không thể và cũng không nên bảo họ đừng tin như thế. Có khi chính anh cũng cảm thấy lúc này mình là con ngươi vạn năng.

        Câu trả lời của anh là: hãy đợi, hãy đợi lệnh. Khi nào Bộ chỉ huy quân đội xô-viết xét thấy cần thiết sẽ có lệnh. Lệnh xuống sẽ kịp thời, không ngại.

        Anh rất hài lòng với câu trả lời của mình.

        Ông Gác-đon-nê, một người Pháp ở tỉnh Xtư-rát-bua, sau khi thay mặt tất cả các bạn cảm tạ "ngài” đại úy, bèn hỏi thăm về sức khỏe của Thống chế Xta-lin và đề nghị đại úy chuyển lên Thống chế lời chúc mừng của đoàn tá điền được giải phóng, cùng với lời chúc mừng của cá nhân ông ta là Gác-đon-nê.

        Không, Trô-khốp không hề buồn cười khi thấy người ta coi mình như một người thân cận gần gũi Xta-lin đến thế. Ngược lại, lòng anh ấm hẳn lên, dạt dào niềm sung sướng chưa từng thấy. Anh nói:

        — Tất nhiên, đồng chí Tổng tư lệnh rất mạnh khỏe. Và tất nhiên, Người cũng sung sướng thấy các chiến sĩ của Người đã tiến vào đất Đức. Sẽ xin chuyển lời chúc mừng của ông — và sau một phút im lặng, anh nói thèm một câu cho đúng sự thực — nếu hoàn cảnh cho phép.

        Thật chẳng khác gì một cuộc họp báo. Trô-khốp ngừng lại lấy hơi ; Mac-ga-rta say mê nhìn anh. Mụ địa chủ thì ngồi thu mình trong chiếc ghế bành không dám nhúc nhích.

        Lúc này, Xli-ven-cô nói nhỏ với Trô-khốp rằng anh chị em tá điền mặc quá rách rưới, chị em phụ nữ chỉ có đôi dép đế gỗ.

        Trố-khốp nghiêm khắc quay nhìn mụ già và nói :

        — Đưa cho họ quần áo và giày dép.

        Anh thanh niên Tiệp sung sướng dịch lại. Mụ già vội vã đứng dậy, rút trong túi ra một chùm chìa khóa to tướng rồi lon ton chạy ra cửa.

        Toán phụ nữ mừng tíu tít theo mụ chủ đi chọn sống áo, giày dép trong những hòm của mụ. Trô-khốp phái chuẩn úy Gô-đu-nốp đi theo giám sát vì, theo anh nói, nếu không, bọn ”thù địch của nhân dân” lại chỉ thò những của vất đi cho mà xem.

        Chị em ôm từng mớ áo, giày dép, ríu ra ríu rít cười nói huyên thuyên, chạy vội về nhà vì còn phải ra tay một chút — tháo ra, may lại, cắt ngắn bớt những chiếc áo dài cũ ít ra cũng phải sửa theo đúng được "mốt” năm 1939!...

        Họ trò chuyện mới huyên thuyên làm sao ! Các anh người Nga này thật là tốt, các anh ấy biết cả đến ước mong của chị em phụ nữ sau năm năm trời sống cực nhục như vậy, bây giờ về nước cũng phải có được bộ cánh lành lặn chứ !

        Toán đàn ông đứng lại nói chuyện với đại úy, nhưng bỗng nhiên ngoài đường vang lên ầm ỹ tiếng còi ô tô. Đoàn trọng pháo xô-viết ngụy trang bằng những cành thông, từ từ kéo qua làng. Tất cả kéo nhau ra xem những khẩu pháo khổng lồ.

        Còn lại mình Trô-khốp. Anh lững thững đi lại trong gian phòng bốn bức tường chi chít sừng hươu đóng trên những bảng gỗ sơn đen — kỷ vật đi săn của bọn quý tộc tự phụ. Phía dưới là những bức họa lồng khung thiếp vàng. Trô-khốp thấy tự hào, lần này không phải tự hào riêng cho mình mà là cho tất cả mọi người khác : tụ hào cho các chiến sĩ trong đơn vị, cho thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp, cho đại úy Me-séc-xki, cho tất cả. Cảm giác ấy hoàn toàn mới mẻ đối với Trô-khốp và anh trầm ngâm, lắng nghe tình cảm của lòng mình.

        Phía ngoài, đoàn xe hơi gầm lên. Nghe thấy tiếng sắt va chạm lách cách, tiếng người nói vui vẻ, tiếng hoan hô.

        Cửa bỗng mở. Mác-ga-rta bước vào. Cô nói nhỏ mấy tiếng, tay chỉ xuống đôi giày cao gót mới của mình. Chắc hẳn cô cám ơn đại úy.

        Hai người đứng đối diện nhau.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Giêng, 2018, 08:15:46 am

        Cô gái xinh đẹp, và cô ta tự biết mình xinh đẹp. Đại úy cũng giỏi trai nhưng đại úy lại không biết mình giỏi trai. Nàng chỉ là nàng thôi, nghĩa là một thiếu nữ xinh đẹp, và nàng mỉm cười sung sướng nhìn chàng. Nhưng Tro-khốp thì tự thấy mình là đại diện của một quân đội vĩ đại, một dân tộc vĩ đại ; vì vậy chàng cố giữ nét mặt nghiêm nghị, đạo mạo.

        Cô ta đưa ngón tay út lên cằm rồi nói :

        — Mác-ga-rta... ông ?

        Anh hiểu ý, đáp lại :

        — Va-xi-li Mắc-xi-mô-vích.

        Cô ta không hiểu được cái tên quá dài ấy nên đôi lông mày nhíu lại.

        Thấy thế anh bèn nói lại cho ngắn hơn:

        — Va-xi-li.

        — Vát-xin, Vát-xin. — Cô ta vừa nhắc lại vừa cười.

        Hai người lặng im trong giây lát, rồi cả hai đều thấy ngượng ngùng và cả hai cũng không hiểu vì duyên cớ gì. "Có lẽ cô ấy muốn hỏi gì mình chăng?”. Trô-khốp nghĩ thầm và cố không nhìn thẳng vào mặt cô gái. Mác-ga-rta thì lại nghĩ "Đại úy có lẽ đang bận, mình đến quấy rầy mà chẳng nói câu gì cả”.

        Cô ngập ngừng nói lên mấy tiếng và đợi trả lời; nhưng đại úy im lặng vì không hiểu. Lúc ấy, Mác-ga-rta bèn nghiêng mình cúi chào rồi đi ra cửa. Trô-khốp trố mắt ngạc nhiên, kiểu, chào ấy anh mới chỉ được biết trong các cuốn tiều thuyết.

        Ra đến ngoài cửa, cô dừng lại đứng im một lát, rồi chạy vội đi tìm các bạn để kể lại cho chị em biết là cái anh đại úy này tốt lắm nhưng củng khó hiểu, và tên anh ấy là Vát-xin.

        Mác-ga-rta quê ở Xan-đam, một thành phố nhỏ ở về phía tâv bắc Am-xtéc-đam, nằm trên bờ biền, bên cạnh một con đê lâu đời, một thành phố đầy chim biển và sặc mùi cá mắm. Xưa kia thành phố này mang tên Xác-đam. Tháng Tám năm 1697, thành phố đã được Sa hoàng đồng thời là đại quận công Mát-xcơ-va, vua Pi-e đệ nhất tới thăm. Hiện nay trong thành phố hãy còn bức tượng Pi-e đệ nhất và ngôi nhà nhỏ, mái lợp ngói, nơi Sa hoàng đã lưu trú trong nhiều ngày. Xưởng máy cưa trong khu lân cận thành phố còn mang tên Đờ Grốt-voóc (đại quận công) để kỷ niệm cuộc tới thăm của vua Pi-e đệ nhất.

        Trước kia, mỗi lần Mác-ga-rta nghĩ tới nước Nga, thì xứ sở xa xôi ấy lại hiện ra dưới hình ảnh một con người to lớn, hùng dũng và khó hiểu, mà hình bóng khổng lồ xưa kia đã dạo qua những đường phố nhỏ của Xan-đam, quê hương cô. Đối với cô lúc ấy, ngay cả cuộc chiến tranh Đức — Nga cũng chỉ là một biến cố xa xôi, mờ ảo, không có gì liên quan trực tiếp với cô và đồng bào của cô. Tất nhiên, những người Hà Lan bị nô lệ cũng vui sướng khi nghe được những tin quân Đức thua trận ở Nga: họ căm thù bọn Đức như tổ tiên họ xưa kia căm thù bọn Y Pha Nho trong thời đại vua Ghi-ôm "lầm lì”1. Nhưng họ không hiểu được mối liên hệ trực tiếp giữa những biến cố ấy với cuộc sống bản thân họ.

        Rồi bỗng nhiên, những biến cố đã len vào cuộc đời họ. Cái xứ sở rộng lớn ở phương Đông không còn là một nơi quá ư xa xôi nữa, không phải là thuộc một trái đất khác như trí tưởng tượng của Mác-ga-rta, cô thiếu nữ mười tám tuổi thành Xan-đam, lớn lên dưới ảnh hưởng những bài giảng đạo của các mục sư, những đoạn văn xảo trá của mấy tờ báo "lá cải” và những cuốn phim lãng mạn của đám thượng lưu.

        Chính người Nga đã giải phóng Mác-ga-rta và đồng bào của cô. Nhờ họ mà cô sắp được gặp lại mẹ già, gặp lại quê cha đất tổ, gặp lại bờ biển thân yêu.

        Cô biết ơn sâu sắc người Nga. Lần đầu tiên trong ba năm trời lang thang, cô thấy được đứng bên một cánh tay cường tráng, thân mật, che chở cho mình. Cánh tay cường tráng ấy thể hiện ở người đại úy nhỏ nhắn có đôi mắt màu hạt dẻ.

        Mác-ga-rta say mê nhìn anh; cô rất lấy làm thích vì thấy anh ấy không cao lớn, chỉ cao hơn cô một chút xíu thôi, chả như cái ông Pi-e đệ nhất mà — phỉ phui! — cô có gặp chắc cũng đến khiếp đảm.

        Có mặt đại úy, cô thấy vững tâm đối diện với mụ nam tước Phôn Boóc-cau, với tên quản lý và tất cả những tên "amt”, " rat ”, "leiter” và " fuhrer ”2 khác, đối diện với tất cả cái bè lũ phức tạp, ghê tởm ấy, giờ đây đã tan rã như bóng ma dưới ánh mặt trời.

------------------
        1. Tức là vua Hà Lan vào năm 1815 — N.D.

        2.Amt :phụ trách, Rat : Cố vấn, Leiter Giám đốc, Fuhrer Thủ lĩnh — N.D


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2018, 08:33:50 pm

VII

        Sáng hôm sau, Ô-ga-nhe-xi-an tới đại đội Trô-khốp. Say sưa với niềm vui sắp tới, anh rảo cẳng bước vội, trái với thói quen thường lệ và trèo thẳng một mạch lên cầu thang gác.

        Anh có cảm tưởng như quay lại một chặng đời cũ mà anh như đã dứt bỏ không chút tiếc thương, quay lại cái nghề của mình trước chiến tranh, ồ, cái nghề cũng chẳng có gì ghê gớm cho lắm: nghề thuyết minh trong viện bảo tàng.

        Ô-ga-nhe-xi-an vô cùng vui sướng thấy lòng mình đột nhiên trở lại với những cảm giác đã gần xóa nhòa của cuộc sống trước kia, cuộc sống đã xa xôi lắm, nhưng cũng không có gì thú vị bằng, cuộc sống giữa những bức tranh lụa óng ánh màu sơn ấm áp.

        Trước chiến tranh, nhiều đoàn học sinh, công nhân và chiến sĩ Hồng quân thường tới tham quan viện bảo tàng hội họa và điêu khắc, nơi anh công tác.

        Ô-ga-nhe-xi-an rất thích thuyết minh các bức họa cho anh em chiến sĩ nghe; nhưng, lúc ấy, những bức họa đối với anh gần gũi và dễ hiểu hơn là con người bộ đội trung hậu, rất đứng đắn và cũng rất quý trọng nghệ thuật. Anh em bộ đội thành thật ngạc nhiên khi thấy những bức tranh im lìm ấy lại chứa đựng cả một nội dung tư tưởng phong phú và sinh dộng. Vốn đầy tin tưởng ở sự tiến bộ không ngừng của nền văn minh nhân loại, họ lắng nghe với đôi chút ngờ vực lời thuyết minh về những bí quyết đã mai một của những bậc danh họa xưa, những thành tựu độc nhất vô song của các họa sĩ đó về màu sắc và bố cục.

        Qua những năm chiến tranh, Ô-ga-nhe-xi-an đã gặp những khách tham quan ấy, không phải trong viện bảo tàng nữa mà trong đời sống và trong công tác quân sự của họ.

        Những con người ấy quan tâm đến mọi sự việc trên đời, tìm hiếu học hỏi bất cứ vấn đề gì. Lòng ham muốn hiểu biết không bờ bến đó chính là một trong những nét đẹp đẽ nhất trong phẩm chất của họ. Sở dĩ họ yêu quí đồng chí phiên dịch, chính vì đồng chí này rất "thông thái”. Anh em sẵn sàng muốn nghe đồng chí kề chuyện các họa sĩ, nhất là về Lê-ô-na đơ Vanh-xi1; vốn là những con người có đầu óc thực tế, anh em đặc biệt quý trọng thiên tài về toán học và kỹ thuật của ông.

        Thấy các chiến sĩ nhiệt tình quan tâm đến tất cả những vấn để đó, Ô-ga-nhe-xi-an rất phấn khởi, sung sướng. Chính anh lúc đầu cũng đinh ninh rằng ngoài những hào giao thông, ngoài những trận địa pháo, ngoài những tên tù binh Đức nhạt phèo, ngoài những đêm dài buồn tẻ, gió lạnh, ngoài những căn hầm thiểu não, cuộc sống không còn gì nữa ! Không, các chiến sĩ thông minh và sáng suốt hơn anh. Họ đã thấy trước một vấn đề mà mãi sau này anh mới hiểu, là: tất cả trông ở tương lai, nhất định sẽ có một cuộc sống hạnh phúc và giờ đây ta đang chiến đấu cho cuộc sống tương lai ấy.

        Lúc này, say sưa với niềm vui sắp tới, anh càng cảm thấy sâu sắc rằng, nghệ thuật không hề tách rời khỏi những gian khổ của cuộc sống trên tuyến lửa, không hề tách rời khỏi số phận các cán bộ và chiến sĩ đứng quanh anh. Những bức họa chỉ mới là nửa phần viện bảo tàng. Một nửa nữa chính là những con người tới tham quan.

         Cùng với Trô-khốp và đồng chí thượng sĩ có bộ ria đen — tức cũng là đồng chí bí thư chi bộ — Ô-ga-nheoci-an thong thả bước vào phòng khách, trong đó treo nhiều bức họa ở dưới những chiếc sừng hươu.

         Ở đây có những phiên bản khá đẹp: bức "Mô-na Li-da”của Lê-ô-na-đơ Vanh-xi, bức "Thần vệ nữ” ở Viên, bức " Péc-xê giải thoát cho Ang-đrô-mét ” của Ruy-ben ĩr Lê-nin-grát, bức " Thần vệ nữ ” của Gi-oóc-gi-on ở Đrét-đơ. Và bên cạnh là những bức họa phong cảnh và tĩnh vật của các họa sĩ Đức.

         Ô-ga-nhe-xi-an vô cùng mừng rỡ tựa hồ như gặp lại bạn thân cũ. Bởi vì anh hiếu tỉ mỉ từng chi tiết lịch sử mỗi bức họa. Cái dáng điệu ngái ngủ, lù rù của anh lúc này không biết đã biến đâu mất cả! Nếu gặp anh, An-tô- nhi-úc ắt hẳn khó mà nhận ra đồng chí phiên dịch của mình trong con người nhanh nhẹn, tươi cười và như trẻ lại ấy.

         Không muốn bỏ lỡ một cơ hội nâng cao trình độ văn hóa cho anh em trong đại đội, Xli-ven-cô cho gọi tất cả những ai không bận công tác tới phòng khách.

         Đứng giữa các chiến sĩ, với giọng trịnh trọng, trang nghiêm, giọng nói đặc biệt của một tay thuyết minh nhà nghề, Ô-gá-nhé-xi-an giới thiệu với anh em ý nghĩa và bố cục của các bức họa.

         Các chiến sĩ hết sức theo dõi lời thuyết minh về những bức họa ra đời năm thế kỷ trước đây ở nước Ý xa xôi — bây giờ thì cũng chẳng còn xa xôi là bao. Thái độ họ chăm chú đến nỗi có thể tưởng như chung quanh họ, chiến sự không hề đang tiếp diễn và họ sẽ không hề phải tham dự những trận chiến đấu ác liệt sắp xảy, ra trên khu vực bắc mặt trận.

----------------
        1. Danh họa Ý, đồng thời là một nhà toán học và phát minh kỳ tài — N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2018, 08:34:48 pm

         Ô-ga-nhe-xi-an đứng trước bức họa "Nàng Gi-ô-công”, đôi mắt say sưa trìu mến, lời thuyết minh mỗi lúc một thêm sôi nổi:

         — Mùa xuân năm 1503, Lê-ô-na vẽ truyền thần chị Mô-na Li-da, người vợ hai của Phrăng-xét-cô đen Gi-ô- công-đô, một công dân tỉnh Phlô-răng. Không có cây bút bậc thầy của nhà danh họa thì ngày nay còn ai biết đến đôi vợ chồng ấy? Mô-na Li-da quê ở thành Náp-pơ-lơ, sinh năm 1479, lấy chồng năm 16 tuổi. Cô ta đang ngồi đó, trong chiếc ghế bành, thái độ vừa thẫn thờ vừa đường bệ, hai tay tỳ vào thành ghế. Mời các đồng chí nhìn kỹ nét mặt cô ta một lúc. Các đồng chí nhìn gần vào.

         Khuôn mặt đó có nghĩa gì ? vì sao đã gần năm trăm năm nay, người ta vẫn nhắc nhở, tranh luận, bình phẩm về khuôn mặt đó ? Là vì nó biểu thị thật là nhiều điều. Có người bảo đó là nết thùy mi; người khác lại nói: đó là vẻ dịu dàng; lại có người cho rằng nó thể hiện đức trinh khiết của người thanh nữ đồng thời với những ham muốn thầm kín. Phái thứ tư thì nghĩ rằng khuôn mặt đó thể hiện lòng tự hào, có khi cả lòng kiêu căng; lại có

         những người sành sỏi gán cho khuôn mặt ấy một vẻ gì châm biếm, khiêu khích và tàn nhẫn nữa! Nụ cười bí hiểm này đã trở thạnh một ngạn ngữ, Vậy thì, ý kiến nào chính xác nhất? Có lẽ ý kiến nào cũng đúng. Qua nụ cười thoáng nở của cô gái thành Phlô-răng ấy, nhà nghệ sĩ đã thể hiện được tất cả tính chất muôn vẻ trong con người phụ nữ: nồng nàn nhưng trinh khiết, âu yếm mà cay nghiệt...

         Ô-ga-nhe-xi-an lau mồ hôi trán, nhìn với con mắt đắc thắng nét mặt nghiêm trang của các chiến sĩ. Anh đã đạt mục đích: thiếu phụ trên bức tranh không còn chỉ là một bức vẽ màu, mà là một vấn đề, một bài toán phải giải quyết. Anh em tập trung tất cả tinh thần ngắm "Nàng Gi-ô-công"

         Một chiến sĩ chậm rãi phát biểu:

         — Ở tỉnh tôi, trước chiến tranh cũng có mở một nhà bảo tàng. Người ta đưa về nhiều bức tranh đẹp lắm. Có cả bức tranh này đây. Đó là một bức tranh nổi tiếng. Lúc nào cũng đầy người đứng xem.

         Xê-mi-gláp tham gia:

         — Bức họa Mô-na Li-da này, tôi có được xem trong dịp đến Mát-xcơ-va chơi. Người ta kể chuyện lại là bức họa đã từng bị lấy trộm.

         — Đúng đấy, — Ô-ga-nhe-xi-an nói — Năm 1911, nguyên bản để ở viện bảo tàng Pa-ri bị lấy trộm ; mãi hai năm sau người ta mới tìm thấy ở Phlô-răng (Ý).

         Một chiến sĩ già, dáng người béo lùn, mái tóc hung đỏ bỗng nhiên hỏi:

         — Thế, một bức vẽ như thế này đáng giá độ bao nhiêu ?

         Mợi người nhao nhao: " Suỵt, suỵt! ”... Ô-ga-nhe-xi-an dạng hắng khó chiu nhưng vẫn trả lời:

         — Đắt lắm. Ít ra phải nửa triệu.

         Người kia ngạc nhiên kêu "a” lên một tiếng rồi tưởng người ta giễu mình, lửng lơ hỏi thêm một câu;

         — Nửa triệu "Mác” Đức ấy à?

         Ô-ga-nhe-xi-an giận tái mặt. Anh sôi nỗi giải thích cho Pi-tru-ghin biết nửa triệu cũng chưa chắc mua được bức tranh ấy mà ít ra phải một triệu. Và một triệu tiền vàng chứ không phải tiền Mác đâu nhé !

         Lúc ấy Pi-tru-ghin mới vỡ lẽ. Anh ta dừng lại mơ màng trước bức họa người thiếu phụ tươi cười ấy, lúc lắc cái đầu tỏ vẻ chê bai và ngạc nhiên trước sư dại dột của loài người. Mọi người đã chuyển tiếp sang những bức họa khác ; riêng Pi-tru-ghin vẫn đứng đờ ra trước bức họa Mô-na Li-da.

         Chuẩn úy Gô-đu-nốp ghé qua vào xem nói chuyện gì, reo lên :

         — Chà, sao mà đẹp thế nhỉ.

         Ô-ga-nhe-xi-an sung sướng đỏ mặt như chính mình được khen vậy. Xli-ven-cô phát biểu :

         — Ấy thế mà tất cả những bức họa này lại nằm trong nhà con mẹ địa chủ. Chỉ riêng con mụ yêu tinh ấy được ngắm nghía mà thôi.

         Ô-ga-nhe-xi-an chợt nhớ ra hiện anh đang ở đâu, và các bức họa trước mắt anh là tài sản riêng của một mụ quý tộc Đức. Anh lẩm bẩm :

         — Ừ nhỉ, sao mà có thể vô lý như vậy !

         Trô-khốp mời Ô-ga-nhe-xi-an ở lại ăn bữa trưa. Trong lúc người ta dọn cơm, đồng chí phiên dịch quyết định đi thăm dinh cơ của mụ địa chủ. Anh qua gian phòng đọc sách bên cạnh, lục lọi tủ sách. Sách báo của Hít-le không còn nữa : chắc hẳn người ta đã kịp hủy đi rồi. Ngược lại, một chồng tác phẩm của Gô-gôn và Đốt-xtôi- ép-xki dịch qua tiếng Hức cùng một tập thơ nhỏ của Hai- nơ1 vừa mới lấy trong tủ ra nhân dịp quân Nga kéo đến, được xếp ngay ngắn ngay giữa mặt bàn. "Bà lớn” Phôn Boóc-cau bày tỏ lòng trung thành bằng cách đó.

-----------------
        1. Gô-gôn : một nhà thơ, soạn kịch tiểu thuyết Nga (1809 —1852). Đốt-xtôi-ép-xki: văn hào Nga (1821 —1881). Hai- nơ : thi hào Đức có tinh thân dân tộc và dân chủ (1797 —1856).


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Giêng, 2018, 08:35:18 pm

         Ô-ga-nhe-xi-an xuống cầu thang thì gặp một thiếu nữ đang lững thững đi lên. Nhìn thấy đồng chí sĩ quan, cô thiếu nữ dừng lại nép mình vào tay vịn cầu thang, đôi mắt nhìn anh vẻ mặt vừa sợ sệt lại vừa hơi trâng tráo.

         Xli-ven-cô cùng đi với đồng chí phiên dịch bèn nói cho đồng chí này rõ về Mác-ga-rta. Ô-ga-nhe-xi-an không phải chỉ biết ngắm người đẹp trong tranh vẽ ; anh cũng lấy làm thích được ngắm nghía cô gái rồi bắt chuyện với cô ta. Mác-ga-rta vừa ngạc nhiên, vừa thích thú thấy đồng chí sĩ quan, nước da ngăm ngăm này, nói tiếng Đức thạo đến thế !

         Được biết cô gái là người Hà-Lan, tất nhiên Ô-ga- nhe-xi-an hỏi chuyện cô trước hết về vấn đề hội họa và tình hình các viện bảo tàng ở nước cô. Anh không vui khi nhận thấy cô ta chỉ biết rất ít về những vấn đề đó. Cô ta thú thực rất tự nhiên không chút gì xẩu hổ, vả lại lúc xa rời Tổ quốc, cô bé mới có mười lăm tuổi đầu.

         Đại úy Trô-khốp bước ra cửa gác gọi Ô-ga-nhe-xi-an.

         — Cơm dọn xong rồi đấy.

         Ô-ga-nhe-xi-an xin phép Trô-khốp mời Mác-ga-rta cùng ăn, Trô-khốp trả lời vắn tắt :

         — Được, cứ mời cô ta.

         Anh rất hài lòng. Bản thân anh có lẽ không dám làm như vậy.

         Mác-ga-rta ngồi giữa Trô-khốp và Ô-ga-nhe-xi-an, nét mặt hớn hở, kiêu hãnh được cùng ăn với hai sĩ quan Nga. Cô trả lời rắn rỏi và tỉ mỉ những câu hỏi của Ô-ga- nhe-xi-an, thỉnh thoảng cô lại yêu cầu anh dịch hộ để cô nói chuyện với "đại úy Vát-xin”. Cô rất tiếc là đại úy của cô đã không biết tiếng Hà Lan, lại không biết cả tiếng Đức nữa.

         Năm 1942, như mọi thanh niên nam nữ khác, Mác- ga-rta bị đưa sang Đức, lẽ ra là chỉ trong vụ gặt thôi, theo như lời người ta hứa hẹn với anh chị em khi tuyển mộ. Thế mà rút cục cho đến bây giờ cô đã phải sống ở nước ngoài gần ba năm trời,

         Cũng phải nói rằng người Đức đối xử với người Hà Lan khá hơn các người nước khác nhiều vì theo như lời chúng nói, người Hà Lan cũng thuộc dòng giống Giéc- manh. Họ được đi lại tự do ra phố, được giao dịch với nhân dân Đức. Người ta không bắt họ phải đeo biển số sau lưng như người Nga và người Ba Lan chẳng hạn. Người ta cho phép họ viết và nhận thư nhà. Nhưng, tất cả những điều đó cũng không làm cho cuộc sống đỡ nhục nhằn, khổ cực được mấy tí. Một cuộc sống của bầy nô lệ, lang thang chuyển đi từng tốp hết trại này đến trại khác, hết tỉnh này đến tỉnh khác.

         Mác-ga-rta đã đi qua nửa phần nước Đức, làm việc trong một xưởng chế tạo máy bay dưới hầm trong hang núi Hác, nhồi đạn trong một công binh xưởng ở Stét-tin, gặt lúa ở những đồn điền lớn vùng Tuy-ranh-giơ.

         Cô đến trại này từ năm ngoái.

         Trải ba năm qua còn có thiếu điều gì mà cô gái thân hình cao đẹp ấy chưa thấy nữa! Còn có cảnh ngộ nào mà cô chưa trải qua! Có những thằng đàn ông đểu cáng, những mụ đàn bà trơ trẽn, những tên gác tàn ác, những lão chủ cay nghiệt.

         Cô đã từng nếm cả mùi vị nhà lao.

         Một hôm, chi em công nhân xưởng máy bay đấu tranh đòi cơ quan giám đốc phải chăm sóc đến vấn đề nhà ở. Công nhân nước ngoài phải ăn ngủ trong những gian lều gỗ dột nát, nhung nhúc chuột cống. Một số anh chị em lãnh đạo cuộc đấu tranh bị bắt giam, trong đó có Mác- ga-rta và một người bạn gái, chị A-nhi-a, một thiếu nữ Nga quê ở Xmô-len-xcơ.

         A-nhi-a chết trong nhà tù. Bọn chung đã sát hại chị trong lúc hỏi cung.

         Còn Mác-ga-rta, có lẽ nhờ có dòng máu Giéc-manh trong người, cho nên không bị hành hạ mấy, chỉ một lần bị đòn đến tóe máu.

         Thực là một quãng đời thê thảm.

         Ô-ga-nhe-xi-an hết sức chăm chú nghe cô nói. Trong câu chuyện và nhất là trong giọng nói của Mác-ga-rta, anh thấy lộ ra một vẻ dày dạn cay đắng, một tư tưởng hoài nghi hết thảy loài người, hoài nghi lòng ngay thẳng, tính lương thiện của họ. Chắc hẳn cô ta cũng đã khá bị đồi trụy đi rồi và đối với cô mọi sự ở đời chả còn có nghĩa lý gì nữa. Hay cũng có thể đó chỉ là lớp áo ngoài, kết quả của ba năm trời sống cực nhục, kết quả của những ngày sống gian khổ được chăng hay chớ, để nhờ đó mà sống sót giữa cuộc đời vất vưởng, cuộc đời đầy cạm bẫy đó.

         Sau khi kể hết quá khứ của mình, Mác-ga-rta bèn hỏi Ô-ga-nhe-xi-an đủ điều. Cô ta muốn biết tương lai sau chiến tranh sẽ ra sao và liệu có treo cổ Hít-le lên hay không ?

         Có thực là ở nước Nga không còn địa chủ và nói chung khôug còn người giàu nữa hay không ? Có thực là ở Nga mọi người đều là cộng sản hay không? Đại úy Vát-xin có phải là cộng sản không? Ớ Nga có lấy vợ lấy chồng không? Vì trên báo có nói là ở bên ấy không có vợ chồng, cứ ăn ở bừa bãi với nhau cả.

         Ô-ga-nhe-xi-an thấy nóng mặt. Anh nói: Đó chỉ là chuyện lừa bịp trâng tráo, và sở dĩ báo chí nói láo chính là vì ở Nga thật sự không có địa chủ và bọn nhà giàu. Mác-ga-rta lại muốn biết Ô-ga-nhe-xi-an có vợ chưa. Anh nói là có rồi và để dẫn chứng, đưa cho cô ta xem bức ảnh vợ mình.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Giêng, 2018, 08:21:24 pm

         Mác-ga-rta hết sức chẵm chú ngắm mãi bức ảnh người thiếu phụ xinh đẹp có đôi mắt to, mặc chiếc áo khoác lông.

         Cô dịu dàng nói:

         — Chị ấy xinh lắm. — Rồi sau một phút im lặng, cô hỏi đại úy Vát-xin có vợ chưa.

         Ô-ga-nhe-xi-an dịch cho Trô-khốp nghe. Trô-khốp đáp "chưa”. Mác-ga-rta hiểu. Hai má đỏ bừng, cô vội vã hỏi luôn :

         — Có phải là ở Nga quanh năm đóng băng không ?

         Ô-ga-nhe-xi-an bật cười. Anh bèn giới thiệu cho cô ta địa lý nước Nga. Anh nói với cô ta rằng ở miền Naiti có giồng cam và chanh, và trên vùng cực Bắc, dọc bờ biển Bắc Băng Dương thì quả có lạnh. Vùng trung tâm, khí hậu như mọi nơi khác ở châu Âu. Trong lúc giới thiệu nước Nga, Ô-ga-nhe-xi-an trở nên hùng biện. Giọng run run cảm động, anh tả lại những cảnh đẹp của đất nước, anh giới thiệu với cô gái dãy núi Cáp-ca-dơ tuyết phủ, những đại lộ thẳng tắp ở Lê-nin-grát và Mát-xcơ-va, những nông trường giàu có, những cánh đồng thẳng cánh cò hay.

         Cô ta hết sức chăm chú theo dõi, thỉnh thoảng lại gật đầu nói: "Thế à? Hay quá nhỉ?” Đôi lúc cô ta như tự nhủ : "Nhất định về nhà phải kể chuyện lại cho mọi người nghe mới được”.

         Cô hỏi xem liệu có sang Nga được không và nói thêm :

         — Ở bên ấy sung sướng lắm.

         Ô-ga-nhe-xi-an suy nghĩ rồi bảo cô là ở đâu cũng nên làm theo như người Nga.

         — Ông trung sĩ có ria của các anh cũng đã giảng giải cho chúng em như vậy. — Cô nói, tỏ vẻ ngạc nhiên trước sự nhất trí đó. — Anh Ma-réc có dịch lại cho chúng em biết. Anh ấy là một người Tiệp cùng bọn với chúng em và biết tiếng Nga.

         Cô đứng dậy ra về, nhưng tới cửa thì dừng lại, rồi với một thái độ rất nhũn nhặn, hai hàng mi dài khép lấy đôi mắt xanh, tâm tình bối rối lộ rõ trên nét mặt, cô nói:

         — Em có nói với các bạn của các anh là em đã có chồng rồi. Nhưng không đúng đâu. Anh đó chỉ là anh Hác người tỉnh U-tơ-rét thôi. Em nói thế để anh em bộ đội khỏi trêu chọc em... Em chưa có chồng đâu.

        Mác-ga-rta chạy biến ra ngoài.

        — Cô bé đáng thương quá! — Ô-ga-nhe-xi-an nói —  Anh dịch lại mấy câu nói vừa rồi của Mác-ga-rta cho Trô-khốp nghe và mơ màng nói thêm: — Kể ra phải bảo cô ấy ngồi làm mẫu để vẽ một bức họa chủ đề là "Nàng Ơ-rốp bị con bò tót cướp đi”1... nhưng con bò tót ấy không nên vẽ là một con bò trắng đẹp, như xưa kia các họa sĩ thường vẽ, mà phải là một con bò gầy, điên cuồng, hung dữ và ghê tởm như chủ nghĩa phát xít vậy.

        Trô-khốp không quan tâm đến những chuyện thần thoại. Sau khi Ô-ga-nhe-xi-an đi khỏi, anh đứng bên bàn ăn, thả tâm hồn theo những ý nghĩ mờ ảo mà trang nghiêm về bản thân và về vũ trụ.

-------------------
        1. Nhắc đến một thần thoại Ơ-rốp là con nước Phê-ni-xi (một nước trước kia ở vào địa phận nưức Xi-ri bây giờ). Chúa Thần Giuỵ-pi-tê đã biến hình thành một con bò tót đến cướp đi. Tích này là chủ đề môt bức họa nổi tiếng xưa kia ở châu Âu — N D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Giêng, 2018, 08:22:29 pm
     
VIII

        Sư đoàn đại tá Vô-rô-bi-ốp nổ súng trước các sư đoàn bạn. Những thương binh đầu tiên được chuyền về tiểu đoàn quân y kể lại những cuộc tiến công liên tục và ngoan cố của xe tăng Đức. Lát sau, máy bay phóng pháo địch ném mấy quả bom xuống làng có tiểu đoàn quân y đóng. Thế là lại trả lại cuộc sống quen thuộc, cuộc sống trên tuyến lửa, luôn luôn có báo động.

        Đêm khuya, một xe ô tô từ Sư đoàn bộ tới, mang theo mệnh lệnh triệu tập đồng chí trưởng khoa mổ lên đài quan sát của đại tá sư đoàn trưởng.

        Đồng chí sĩ quan đi xe tới giục Ta-nhi-a lên đường ngay nhưng không nói rõ việc gì xảy ra, chỉ nhắc chị mang theo mọi dụng cụ mồ xẻ cần thiết.

        Hai người lên đường. Xe chạy dọc theo những làng mạc bị tàn phá, lát sau rẽ vào một con đường nhỏ, vấp phải những tảng đất ruộng rắn băng nên rất xóc. Bốn bề ầm ầm tiếng súng máy, tiếng đạn pháo. Có khẩu súng máy bắn rất gằn.

        Bến một khoảng đất trũng, gần một ngọn đồi thông, xe dừng lại; đồng chí sĩ quan bước xuống và đỡ Ta-nhi-a xuống luôn thể.

        — Bây giờ chúng ta đi bộ.

        Hai người bắt đầu leo lên đồi. Trước mặt và bên phải đạn pháo nồ vang. Bi một chốc Ta-nhi-a nhìn thấy một đường hào mới đào dẫn lên đỉnh đồi.

        — Mời chị theo đường này, — đồng chí sĩ quan trịnh trọng giơ tay chỉ đường, chẳng khác gì đứng trước cửa vào buồng ghế riêng trong rạp hát.

        Ta-nhi-a bước xuống hào. Ẩm ướt, nhớp nháp. Hào giao thông dẫn tới một gian hầm nóc lát bằng những tấm ván dày.

        Trong gian hầm tối lờ mờ nhiều người ngồi bệt cả xuống đất, bên cạnh những lỗ châu mai. Có ai giọng khàn khàn đang gọi điện thoại.

        Từ bóng tối cuối hầm vọng ra câu hỏi:

        — Bác sĩ đấy phải không?

        — Vâng.

        Cánh cửa gỗ nhỏ mở ra.

        Ta-nhi-a nghe thấy tiếng sư đoàn trưởng:

        — Vào đi cô Ta-nhi-a.

        Sau bức tường ngăn, một mẫu nến cháy trên mặt một chiếc bàn nhỏ. Dưới ánh nến lừ mờ, Ta-nhi-a nhìn thấy đại tá Vô-rô-bi-ốp ngồi ngả người trên tấm phản. Đại tá giơ cánh tay, tay áo xắn cao, nói một cách hiên ngang:

        — Này, tuyệt đối bí mật nhé! Nếu không thì phiền lắm. Người ta lại bắt tôi về tuyến sau đấy. Xước da qua loa thôi. Đây cô xem.

        Vết thương không phải là không nguy hiểm : tuy rằng viên đạn không nổ bung, nhưng nằm phía sau khuỷu tay, giữa lớp thịt cánh tay trên.

        Ta-nhi-a cương quyết nói:

        — Đồng chí cần phải về tiểu đoàn quân y.

        — Nhất định tôi không chịu rời khỏi đài quan sát một bước nào.

        — Không, đồng chí đại tá, nhất định đồng chí phải về.

        — Không. Sư đoàn còn đang tác chiến. Địch đang tiến công kịch liệt. Thế mà đồng chí thì cứ bảo: "Đồng chí phải về, phải về”.

        — Nếu đại tá không nghe, tôi sẽ báo cáo ngay với quân đoàn trưởng và đồng chí Tư lệnh tập đoàn quân. Các đồng chí đó sẽ hạ lệnh bắt đồng chí phải về.

        Vô-rô-bi-ốp giận dữ nói:

        — Tôi không cho phép đồng chí báo cáo. Trong sư đoàn, tôi là thủ trưởng.

        Ta-nhi-a nói lại:

        — Đúng, khi đồng chí chưa bị thương. Bây giờ đồng chí đã trúng đạn ở tay thì tôi là người chỉ huy.

        — Tôi không để cho đồng chí ra khỏi nơi này.

        — Đồng chí không làm như vậy được. Tôi còn phải phụ trách nhiều thương binh khác. Đồng chí không phải là người thương binh độc nhất.

        Lúc này, Vô-rô-bi-ốp chịu nhũn, van lơn:

        — Thôi, cô em Ta-nhi-a yêu quý, tôi van cô!... Cô nghĩ lại cho tôi chứ!... Cô bảo giữa lúc này tôi còn bụng dạ nào nằm ở tiểu đoàn quân y được, có phải không ? Cô chịu khó băng cho tôi ngay ở đây vậy... — Rồi đại tá hạ thấp giọng — sư đoàn bị tồn thất nặng...

        Ta-nhi-a ngập ngừng rồi bảo lấy nước rửa tay.

        Nhiều người đi lại nhộn nhịp. Ta-nhi-a bỏ dụng cụ ra, bắt đầu mổ. Đại tá không hé răng kêu rên nửa lời. Chuông điện thoại réo. Đồng chí Tư lệnh tập đoàn quân gọi Vô-rô-bi-ốp. Đại tá giơ cánh tay còn lành với lấy máy nói nhăn mặt đau đớn và trả lời với một giọng vui vẻ giả tạo :

        — Rõ. Tôi sẽ làm như thế. Tôi sử dụng đội dự bị. Công việc sẽ trôi chảy. Tôi sẽ đánh lui cuộc tiến công của địch.

        Sau khi vết thương được mổ xong và băng lại, đại tá tái mặt, toát mồ hôi, ngả người ra chiếc gối phía sau, nói giọng đầy tự hào :

        — Đồng chí thấy không, chúng tôi chịu đựng khá chứ !... Lính biên phòng mà lị! Cảm ơn cô em Ta-nhi-a nhé!... Này, cô đã hứa là tuyệt đối bí mật đấy!... Khi nào chúng tôi đánh tan được tụi Đức, tôi sẽ xin đến ngay chỗ các đồng chí buộc thuốc. — Đại tá nói vọng ra gian ngoài : — Này, các cậu ngoài kia, làm thế nào đưa bác sĩ của tôi đi cho cẩn thận nhé, đưa qua đường hầm ấy ! Kẻo ở đây không ai có thể cấp cứu cho bác sĩ được đâu.

        Bước ra khỏi hầm, Ta-nhi-a nghe tiếng đại tá nói với các sĩ quan :

        — Nào, ta vào việc đi thôi ! Tình hình khu vực của Xa-vê-li-ép ra làm sao rồi ?

        Trên đường về, lòng Ta-nhi-a dạt dào phấn khởi. Lây niềm say sưa sôi nổi của cuộc sống trên tuyến lửa, chị quên hẳn mọi nỗi buồn riêng.

        Về tới tiểu đoàn quân y, có người báo cho chị biết Cra-xi-cốp lúc nãy có tới tìm chị : thấy chị đi vắng không rõ đi đâu, đồng chí ấy có vẻ rất buồn mà cố giấu.

        Hôm sau, Cra-xi-cốp lại tới. Ta-nhi-a vừa mổ cho một thương binh xong. Gặp Cra-xi-cốp chi thấy vui vui và hỏi ngay về tin tức mặt trận.

        Trái với lệ thường, Cra-xi-cốp không trả lời những câu hỏi của Ta-nhi-a. ông ta đứng yên, mặc cả áo ca-pốt nhìn chị chằm chằm rồi cuối cùng hỏi:   *

        —  Xin Ta-nhi-a tha lỗi, tôi là con nhà lính, tôi thích một là một, hai là hai. Người ta cho biết rằng hôm tiến công Snây-đơ-mun, có một thiếu tá đến thăm cô và cô vắng mặt suốt ngày hôm ấy. Đêm qua cô lại đi. Tất nhiên, tôi không có quyền hỏi cô như thế này, nhưng tôi... khổ tâm lắm. Tôi không thể ngờ... Có lẽ cô lại sắp cười tôi chăng ?

        Ta-nhi-a không cười nhưng cũng không trả lời.

        Thế là Cra-xi-cốp bèn ngỏ lời muốn "xây dựng” với Ta-nhi-a. Vừa đi đi lại lại trong gian phòng, ông vừa tuyên bố là thiếu Ta-nhi-a thì không thể sống được và yêu cầu Ta-nhi-a cắt đứt với người bạn chị tới thăm đêm qua.

        Ta-nhi-a không nín cười được. Cra-xi-cốp có vẻ khó chịu : — Đấy, cô lại cười được rồi !

        Vẻ mặt ông ta trông thật thiểu não. 

        Ta-nhi-a mủi lòng. Chị không ngờ Cra-xi-cốp yêu mình đến mức ấy, không ngờ tình yêu lại có thể biến đổi hẳn một con người thường ngày tự tin và điềm đạm đến thế.

        Chị thành thật thương hại Cra-xi-cốp, nhưng vốn không quen nói dối, chi nói :

        — Tôi không thể cho anh biết đêm qua tôi đi đâu, vì đã hứa với người ta như thế rồi. Nhưng dù sao tôi đi không phải vì việc riêng. Còn như đồng chí thiếu tá... Đồng chí ấy sẽ không trở lại đây nữa, vĩnh viễn không trở lại. Đồng chí đó đã hy sinh.

        Có tiếng người gọi chị trong phòng mổ. Ta-nhi-a chạy vội vào.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Giêng, 2018, 08:24:04 pm

IX

        Mặc dầu Ta-nhi-a chưa hề trả lời một câu nào về đề nghị "xây dựng” của mình, nhưng Cra-xi-cốp đinh ninh cho rằng về căn bản mọi vấn để đã giải quyết xong. Ông ta thấy nửa mừng nửa lo và có đôi chút hối tiếc là đã vội ngỏ lời trong một phút xốc nổi. Ông lo ngại khi nghĩ tới vợ và con gái. Nhưng lo về vợ con thì ít mà lo về nhận xét của trung tướng Xi-dô-crư-lốp thì nhiều.

        Sau buổi trò chuyện ấy, mặc dầu thâm tâm đầy thắc mắc lo lắng, Cra-xi-cốp càng cố tìm mọi cách gặp mặt Ta-nhi-a. Tâm trạng ngờ vực giày vò ông. Kể ra, quên hẳn Ta-nhi-a đi thì tốt hơn, nhưng việc đó ông không đủ sức làm nữa rồi.

        Về phần Ta-nhi-a, chị không biết mảy may về tâm trạng Cra-xi-cốp. Qua máy điện thoại, chị nói chuyện với ông ta thân mật, vui vẻ, lần nào cũng hứa sẽ tới thăm nhưng lại bận công tác không tới được.

        Cuối cùng, một hôm chị thu xếp được để tới thăm Cra-xi-cốp.

        Ngồi trước tay lái xe, Ta-nhi-a nhìn những làng mạc Đức lướt qua trước mắt. Những lá cờ trắng phấp phới theo chiều gió trên hàng rào, trên hồi nhà. Tiết trời đã ấm áp, thoáng thấy hương vị mùa xuân.

        Quân đoàn bộ đóng trong một thành phố nhỏ. Chiến sĩ và anh em tù binh mới được giải phóng đi lại trên các đường phố. Ta-nhi-a phóng nhanh ra khỏi khu vực nhộn nhịp này, chị lái xe vào một phố nhỏ.

        — Đến rồi chị ạ. Đồng chí lái xe giơ tay chỉ một dãy tường đá xây, sau dãy tường hiện ra một khu vườn nhỏ tiếp đến một cái sân ; trong cùng là một ngôi nhà nhỏ có hai cái chòi tháp con.

        Xe qua cổng ngoài. Nghe tiếng ô tô, đồng chí cần vụ hước ra thềm báo tin:

        — Đại tá cũng sắp về. Đại tá bảo chị chờ cho một lát.

        Ta-nhi-a bước vào nhà, cởi áo ca-pốt, ngồi xuống bàn làm việc của Cra-xi-cốp. Trên bàn có đặt chiếc xà cột và chiếc ống nhòm. Cạnh đó, có mấy trang báo cáo đánh máy.

        Ngồi buồn, chị cầm bản báo cáo lên đọc.

        Đó là tài liệu kết quả điều tra về vấn đề quan hệ giữa một tiểu đoàn trưởng nào đó, thiếu tá Ve-xen-tra-cốp và chuẩn úy quân y Gla-sa. Đôi bạn này sống với nhau trong tiểu đoàn như đôi vợ chồng, một điều trái với quy tắc quân đội.

        Theo báo cáo của đồng chí sĩ quan phụ trách điều tra vấn để này thì Ve-xen-tra-cốp là một trong số tiểu đoàn trưởng ưu tú của sư đoàn, ba lần được tặng thưởng Huân chương, bốn lần bi thương, xuất thân thanh phần công nhân, đảng viên từ năm 1938 và chưa hề bị thi hành kỷ luật bao giờ, nhập ngũ ngay từ những ngày đầu chiến tranh, đã tham dự chiến đấu ở Khan-khin-gôn và ở Phần Lan. Anh tuyên bố yêu Gla-sa và định xây dựng gia đình lâu dài với chị, cả sau khi cuộc chiến tranh ái quốc thắng lợi. Những đảng viên được hỏi ý kiến đều công nhận mối quan hệ giữa hai người là một tấm gương sáng về tình yêu, ý thức tôn trọng lẫn nhau và tình bạn chiến đấu. Gla- sa là người ngoài Đảng, được gọi nhập ngũ tháng 7 năm 1942, đã bị thương, được tặng thưởng Huân chương Sao đỏ và Huy chương " chiến công”. Là một y tá gương mẫu, chị được trên nhiều lần ngỏ ý điều về công tác ở cơ quan quân y của trung đoàn hay sư đoàn ít nguy hiểm hơn, nhưng chị đều dứt khoát từ chối. Vì thế chị có mặt trên tuyến lửa suốt từ lúc nhập ngũ cho tới giờ. Chị đã được chín giấy khen của trung đoàn về thành tích tổ chức công tác cấp cứu trong tiểu đoàn.

        Kết luận: thuyên chuyền Gla-sa đi là không nên.

        Được biết một câu chuyện rắc rối lý thú, Ta-nhi-a mỉm cười tư lư.

        Giữa lúc này phía ngoài có tiếng còi xe ô tô, tiếng người nói. Có ai cùng về với Cra-xi-cốp. Không muốn gặp mặt các bạn đồng sư của đại tá, Ta-nhi-a lánh vào gian trong. Ngồi bên cửa sổ, nhìn thẳng ra khu vườn nhỏ phủ một lớp tuyết xốp và bẳn, vô tình Ta-nhi-a nghe được câu chuyện giữa Cra-xi-cốp và một đại tá khác. Chị nhận ra tiếng đồng chí Ven-ghê-rốp, chủ nhiệm chính trị quân đoàn.

        Cra-xi-cốp- hỏi:

        — Đồng chí đại tá, đồng chí đã đọc bản báo cáo về Ve-xen-tra-cốp chưa? Bậy quá! Nhất là đoạn kết luận.

        Ven-ghê-rốp bình tĩnh đáp:

        — Có, tôi biết... Plốt-nhi-cốp có nói với tôi. Đó là những đồng chí tốt, dũng cảm. Đồng chí cứ đưa hồ sơ cho tôi để tôi nghiên cứu giải quyết.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Hai, 2018, 03:33:34 pm

        Cra-xi-cốp nói:

        — Nhưng chắc đồng chí cũng đồng ý là không thể như thế được. Bậy bạ cả. Họ mới biết nhau trên mặt trận... Ta thừa hiều cái kiểu quan hệ ấy đi rồi! Cần phải chấm dứt ngay để cho những người khác, nhất là những người đã có vợ có chồng, khỏi bắt chước. Còn như về mặt nhân tố đạo đức quan trọng thế nào, tôi không cần phải nói với đồng chí nữa.

        Sau đó hai người nói đến chuyện tác chiến. Rồi Ven-ghê-rốp ra về. Tiếng nói xa dần. Tiếng xe mở máy. Rồi im lặng. Nghe tiếng chân Cra-xi-cốp nện thình thích. Cra-xi-cốp vào các phòng khẽ gọi:

        — Ta-nhi-a! Ta-nhi-a! Cô ngồi đâu đấy ?

        Ngồi trong bóng tối, Ta-nhi-a không muốn lên tiếng. Và cũng không muốn gặp lại Cra-xi-cốp.

        Nhưng cửa phòng đã mở: Cra-xi-cốp đứng trước cửa, cao lớn, sung sướng lộ ra nét mặt. Vì gian phòng tối quá, không nhìn thấy Ta-nhi-a, đồng chí tiếp tục gọi nhỏ:

        — Ta-nhi-a! Ta-nhi-a ! Cô ngồi đâu ?

        Không thấy có tiếng trả lời, Cra-xi-cốp lần sang phòng bên, mở cửa rồi lại đứng ngoài nhìn vào bóng tối cười gọi:

        — Gớm đùa dai thế, Ta-nhi-a... Ngồi đâu thế, Ta-nhi-a?

        Ta-nhi-a vẫn im tiếng. Khi Cra-xi-cốp sang tìm ở phòng bên chị đứng dậy quay lại phòng làm việc sáng trưng của Cra-xi-cốp; chiếc xà cột, chiếc ống nhòm và bản báo cáo đánh máy vẫn nằm lay lắt trên mặt bàn. Lát sau, Cra-xi-cốp từ cuối nhà chạy lên cười to.

        Ông ta rất ngạc nhiên trước đôi mắt lạnh lùng của Ta-nhi-a. Hỏi ra duyên cớ, ông ta hối tiếc mình trót lỡ lời bèn tìm cách bào chữa, ông cố làm ra vẻ bình tĩnh hỏi Ta-nhi-a :

        — Tại sao cô lại đi so sánh như vậy ? Câu chuyện kia chỉ là vấn đề tránh cho một tiểu đoàn trưởng rất khá khỏi mắc mưu với một chị vớ vẩn thôi chứ có gì đâu ?

        Ta-nhi-a đáp :

        — Anh còn tìm cách tự bào chữa là sai. Điều anh nói về hai người đó có thể là hoàn toàn đúng. Nhưng cách giải quyết đó cần phải áp dụng cả cho trường hợp của anh. Không thể có hai thứ đạo đức, một cho người này, một cho người khác được.

        Bối rối không nói được câu nào nữa, Cra-xi-cốp đứng nhìn Ta-nhi-a cài khuy áo ca-pốt, thắt lại thắt lưng. Chị vừa định bước ra thì Cra-xi-cốp giong khàn khàn nói :

        — Cô không được về.

        Ông ta tiến sát đến gần Ta-nhi-a. Chị vẫn bình tĩnh không tỏ ra sự hãi chút nào. Đột nhiên, chi mỉm cười nói :

        — Anh coi chừng đó. Nếu không, tôi sẽ viết thư cho đồng chí Xi-đô-crư-lốp.

        Thế là Cra-xi-cốp vội lùi ra đứng bên cửa sổ, lúc quay lại thì Ta-nhi-a đã ra về khi nào không biết.

        Ta-nhi-a bước ra sân. Đồng chí lái xe bỏ đi đâu vắng. Chìa khóa điện mắc trong ổ khóa. Chẳng kịp nghĩ ngợi, Ta-nhi-a ngồi vào ghế, mở máy.

        Chị thấy tối quá và lát sau mới nhớ ra rằng quên chưa bật đèn. Chi không ngờ mình lại xúc động mạnh đến thế.

        Chị bấm nút điện, đèn sáng rực. Xe lắc lư chạy qua những đường phố ban đêm của thị xã.

        Chị thấy có người cựa quậy trên ghế sau, đồng chí lái xe đang đánh một giấc ngủ ngon lành. Chị nghĩ thầm : Càng hay, anh ta sẽ đánh xe quay về.

        Nghĩ đến phản ứng của Cra-xi-cốp khi nghe nhắc đến tên đồng chí đại diện Hội đồng quân sư, tự nhiên Ta-nhi-a bật cười. Nhưng không, điều ấy không có gì đáng cười cả. Ta-nhi-a cảm thấy buồn buồn.

        Buồn vì đối với chị, Cra-xi-cốp không phải chĩ là một ngưừi quen biết thường : trong cuộc đời chị, Cra- xi-cốp cũng đã chiếm một vị trí quan trọng. Mặc dù bao nhiêu đau buồn phiền muộn, chị luôn mê say trong công tác và không bao giờ quên rằng chị có một người bạn là Cra-xi-cốp, một người bạn tốt, sẵn sàng giúp đỡ, tin cẩn và yêu chị.

        Sao mà chị lại có thể quá lầm lỡ mà tin con người đó đến như thế ! Chi cảm thấy lẻ loi cô đơn vô chưng.

        Nhưng không, quanh chi còn có biết bao người ! Nhiều bóng đen lướt qua trước khung kính xe ô tô. Mưa rơi trên mũ lông của các chiến sĩ. Những tâm vải bạt phập phồng trước gió, những tiếng ủng nện trên hè phố, những ánh đèn ô tô lúc chiếu sáng một chiếc xe quân sự, hay nòng một khẩu pháo cao xạ chĩa lên trời, lúc rọi thắng vào chiếc nòng dài của một khẩu súng chống tăng mang trên vai hai chiến sĩ, lúc thì lại chỉ chiếu vào một khuôn mặt đầy vẻ bình thản. Có thể chẳng bao lâu nữa lại gặp cũng khuôn mặt ấy trên bàn mổ. Nhưng lúc ấy, Ta-nhi-a sẽ không còn là một người yếu đuối mà là một con người hữu ích trong chiến tranh : một nhà giải phẫu.

        Đồng chí lái xe tỉnh dậy, giọng ngái ngủ hỏi:

        — Chị Ta-nhi-a đấy à ?

        — Vâng.

        — Lúc nãy tôi ngủ quên mất chị nhỉ ?

        — Vâng. Cũng sắp đến rồi. Anh đánh xe về nhé.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Hai, 2018, 03:34:46 pm
       
X

        Gla-sa rất buồn lòng : Bác sĩ chủ nhiệm quân y sư đoàn đưa cho chị mệnh lệnh thuyên chuyển tới Phòng quân y quân đoàn. Như thế là chị đã bị gạch tên trong danh sách không những của tiểu đoàn mà của cả sư đoàn nữa.

        Bác sĩ chủ nhiệm quân y sư đoàn vốn đã ngấy người về câu chuyện này, ngồi thu mình trên chiếc ghế đợi trông những dòng nước mắt và nghe những lời phàn nàn. Nói chung, vốn tầm thước nhỏ bé, đồng chí cũng hơi thấy "hốt" người thiếu phụ cao lớn này. Nhưng may quá không có gì xảy ra. Đọc xong mệnh lệnh thuyên chuyển, Gla-sa chỉ thở dài, đưa mắt nhìn bác sĩ hơi lấy làm lạ lùng, rất chăm chú mà lại như có vẻ tiêng tiếc và sau mấy câu hỏi thường lệ : " Quân đoàn bộ ở đâu ? Đến đó bằng cách nào ?”, chị đi ra.

        Ngoài nỗi buồn phải xa Ve-xen-tra-cốp, lòng chị còn trĩu nặng một cảm giác nặng nề khác. Chính chị cũng chưa hiểu rõ vì sao lại như vậy. Nhưng rồi chị cũng hiểu : đã hai hôm nay chị xa rời công tác, và cái cảnh chơi không, không quen thuộc ấy, làm chị khó chịu.

        Đang đứng đợi có chuyến xe nào lên quân đoàn bộ, chị trông thấy một chiến sĩ đầu quấn băng đi qua. chị gọi :

        — Này đồng chí, đồng chí làm sao vậy ? Bị thương ư ?

        Bồng chí chiến sĩ trả lời một cách miễn cưỡng :

        — Không, tôi lên nhọt. Tôi bị lên đanh.

        Gla-sa chữa lại :

        — Đầu đanh chứ!

        Vòng băng đã tụt, Gla-sa cũng chật vật mới thuyết phục được đồng chí kia chịu để cho băng lại. Chắc hẳn chị băng khéo lắm cho nên đồng chí kia thấy vui hơn lên.

        Hai người cùng lên xe và Gla-sa không chú ý thấy đường dài nữa : chị giải thích cho người bạn đường một hồi về việc phòng bệnh, hỏi han anh chuyện gia đình, quê hương. Khi anh kia nhắc đến một tin buồn — tin em chết, tin con ốm — chị lại buồn bã lắc đầu, kêu lên những tiếng ồ ! à ! Nhưng khi đồng chí đó kể tin vui, chẳng hạn như mùa cá ở Bạch Hải thu hoạch khá, hay con giai mới ốm khỏi đang trong thời kỳ lại sức thì chị lại mỉm cười, gật đầu sung sướng và hỏi lại :

        —  Thật ư ? Anh nói thật chứ ! Tốt lắm !

        Đồng chí kia quê ở vùng Pô-mô-ri-ê, nói giọng đặc thồ âm làm cho cả xe phải chú ý.

        Hai hôm sau, quân đoàn bộ điều Gla-sa xuống công tác ở một sư đoàn khác. Chị đến nhận việc ngay.

        Thật đáng tiếc là đồng chí người vùng Pô-mô-ri-ê không cùng đi với chị nữa. Đồng chí ấy đã tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ chiến binh của mình. Gla-sa có một bạn đường khác, một trung úy trẻ tuồi, mặt quấn băng. Chốc chốc trung úy lại đưa tay ôm má nhăn nhó, lầm bầm.

        Gla-sa rút trong bọc đồ ra một lọ cồn, lấy một miếng bông thấm cồn rồi đặt vào chiếc răng sâu của trung úy. chị còn cho trung úy uống một ngụm rượu nhỏ. Vừa làm, chị vừa tìm mọi chuyện an ủi đồng chí đó. Chị nói là chị cũng đã từng bi đau răng— sự thực chị nói dối—và ở đời không có gì khổ bằng đau răng.

        Ngụm rượu cho đồng chí trung úy uống đã  khơi mào câu chuyện của tất cả số anh em cùng đi. Mỗi người trong bọn đều thấy phải trình bày bệnh tật của mình với GJa-sa, con người tính dễ thông cảm ấy, và cho chị biết những lần mình bị đau răng trước kia. Gla-sa nói :

        — Đau nhất là đau đẻ — tuy rằng chị chưa có con. —  Nhưng đau thì cũng chịu vậy chứ sao. Đấy cũng là cái tội của phụ nữ chúng tôi. Muốn trốn cũng chẳng được. Mà nào chỉ có đẻ, còn phải chôn con chết nữa.

        Chị mủi lòng ngay vì câu nói của mình và nhớ đến Ve-xen-tra-cốp, cứ như là chị đã... sinh ra anh và cũng vừa đi chôn anh chết.

        Tới tiểu đoàn quân y, chị được phân công làm y tá trong một đại đội giải phẫu. chị đến trình diện với đồng chí trưởng khoa mổ.

        Gla-sa rất ngạc nhiên khi thấy đồng chí này lại là một thiếu phụ trẻ tuổi, dáng người mảnh khảnh, dong dỏng cao, khuôn mặt xinh xắn, hơi xanh và buồn. Chiếc áo ca-pốt chị mặc có lẽ trông như chiếc áo măng-tô để diện trong thành phố, chỉ thiếu mỗi chiếc cổ lông cáo. Gla-sa khen thầm : " Chị ấy trông thanh nhã thật ! ”. Nhưng trong đôi mắt to màu hạt dẻ của đồng chí trưởng khoa mổ hiện lên một vẻ nghiêm nghị rắn rỏi, như nói lên rằng vị nữ bác sĩ đó dù thế nào cũng là một nữ bác sĩ có tài. (Cla-sa lấy làm hài lòng mà nhận xét như vậy).

        Bác sĩ đó chính là Ta-nhi-a.

        Được biết chị y tá mới tên là Gla-sa, Ta-nhi-a sửng sốt, chăm chú nhìn Gla-sa rồi đứng dậy đi đi lại lại trong phòng và hỏi :

        — Trước chị công tác ở đơn vị nào ?

        Trong khi Gla-sa kể chuyện lại thì Ta-nhi-a thầm khen đôi môi đỗ thắm và hai bàn tay của chị. Đôi bàn tay ấy nhỏ nhắn, mập mạp với những ngón tay tuyệt đẹp và nhất là bao hàm một tình thương không bút nào tả xiết.

        Ta-nhi-a nghĩ thầm: "À, ra chị như thế đấy”. Chị nhớ lại lời nhận xét của Cra-xi-cốp về người phụ nữ này. Ra Cra-xi-cốp định "cứu” anh tiểu đoàn trưởng kia khỏi mắc míu với người con gái này đây.

        Tất nhiên hình thức bề ngoài có thể lừa dối.

        Ta-nhi-a nói, giọng cụt ngủn :

        — Chị có nhiều kinh nghiệm đấy. Chị bắt tay vào công tác đi.

        Ta-nhi-a để ý theo dõi chị y tá mới. Gla-sa luôn luôn tươi cười hay trò chuyện. Chị nhận thường trực nhiều đêm liền, tỏ vẻ ái ngại và sẵn sàng thay thế cho bất cứ ai và trong bất cứ công tác gì, một mình khuân vác đồ đạc bằng sức hai đồng chí nam giới.

        Chị tự hào nói :

        — Ấy, ở tiểu đoàn tôi còn khối đồng chí như thế, chị ạ.

        Chị chịu đựng cảnh phân ly không chút ta thán. Phải chăng là chị dửng dưng trước cảnh đó ? Phải chẳng tình yêu thương của mọi người, — trong tiểu đoàn quân y ai cũng yêu mến chị, — đã có thể thay thế cho tình yêu của Ve-xen-tra-cốp ?

        Tuy vậy, một đêm đã khuya lắm, Ta-nhi-a vào lều thấy Gla-sa nước mắt giàn giụa. Chị hỏi Gla-sa :

        — Ai làm phiền chị thế ?

        Gla-sa đứng dậy, đưa hai tay quệt ngang lau nước mắt đáp lại :

        — Không, làm gì có ai có thể làm phiền tôi ? Chẳng qua chỉ là nhu cầu thường tình của phụ nữ muốn được khóc cho đã mà thôi, chị ạ. Nếu không, đời sống còn có nghĩa gì nữa. Nhất là đối với một người phụ nữ cao lớn như tôi, nếu không khóc cho ra khóc thì còn ra cái gì nữa ?

        Qua câu chuyện, nỗi buồn dịu đi, chị hơi mỉm cười. Lòng Ta-nhi-a se lại. Chị hỏi :

        — Chị buồn lắm phải không ?

        — Vâng, buồn lắm.

        Mấy tiếng nói đặc giọng thồ âm (Gla-sa quê ở thành phố Mu-rôm) vang lên đầy nỗi buồn nhớ quê hương.

        Im lặng một lát, Gla-sa lại nói :

        — Vả lại, giờ này ai mà chẳng buồn ! Anh ấy nhà tôi, dù sao thì cũng vẫn còn sống... Còn như ngươi khác... chẳng hạn như chị, nghe đâu như... anh ấy... hy sinh rồi.

        Ta-nhi-a thường ngày rất kín đáo, lúc đó tự nhiên thấy muốn được thồ lộ với Gla-sa câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa chị và Lu-ben-xốp cùng cái chết của anh. Nhưng Gla-sa bỗng nhiên bối rối đỏ mặt :

        — Tôi nhắc lại câu chuyện ấy không đúng lúc, chị đừng giận nhé... Tôi đi đây.

        Ta-nhi-a biết ý Gla-sa định nói gì. Tự ái, chị cau mặt, không nói nữa. Gla-sa luống cuống lẩm bẩm xin lỗi rồi đi ra.

        Ta-nhi-a buồn bã lắc đầu. Chị nghĩ rằng thực ra người thiếu phụ hiền hậu ấy rất là sung sướng : chị ấy yêu, được yêu và cảnh phân ly của đôi vợ chồng ấy chẳng bao lâu nữa sẽ chấm dứt khi chiến tranh kết thúc.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Hai, 2018, 07:39:09 pm
         
XI

        Pi-tru-ghin đi lại trong sân, nét mặt lơ đãng và rất vui. Chuẩn úy Gô-đu-nốp để ý thấy, bèn hỏi :

        —  Pi-tru-gin, cậu có cái gì thú vị thế ?

        Đồng chí này hơi giật mình trả lời :

        —  Không, có gì đâu. Mơ màng tí thôi...

        Anh ta cố giữ vẻ nghiêm nghị nhưng nụ cười mỉm như vẫn cố ý lộ ra sau bộ ria lưa thưa màu hung hung trên cái miệng đầy mưu trí có đôi môi mỏng dính và sặc mùi thuốc lá nặng.

        Anh nghĩ thầm : " Mình thơ thẩn vô ích thế này để làm gì nhỉ ?”. Rồi, anh chợt nhớ ra là đang định tìm đồng chí bí thư chi bộ. Trong thời gian gần đầy, Pi-tru-ghin thấy hết sức cần thiết thổ lộ tâm sự với Xli-ven-cô để rồi nghe ý kiến của đồng chí này với một nụ cười ngờ vưc.

        Cuối cùng anh gặp được Xli-ven-cô.

        Câu chuyện xảy ra lúc chiều. Xli-ven-cô vừa lên trung đoàn dự cuộc họp các bí thư chi bộ về công tác Đảng trong chiến dịch sắp tới trở về. Trên đường về, tay ôm đầy một chồng tài liệu, sách báo, tờ "Tin chiến sự”, Xli-ven-cô gặp một toán đồng bào đang vui vẻ hồi cư.

        Mặc dầu không tìm được con gái trong đám đông, anh cũng không kém phần sung sướng. Cả toán người ôm hôn anh đến đau cả môi, bắt tay anh đến đau cả tay. Trong toán có hai cô gái quê ở một khu mỏ gần Vô-rô- si-lốp-grát. Giờ đây, sau khi được giải phóng, hai cô chỉ có một nguyện vọng độc nhất : xin nhập ngũ. Hai cô gái cao lớn, nước da trắng mịn làm cho anh nhớ lại các cô bạn gái của Ga-li-a thường vẫn đến tìm Ga-li-a làm toán hay ngâm thư.

        Về đến đại đội, Xli-ven-cô báo cáo với chuẩn úy Gô-đu-nốp mình đã về và quay vào buồng riêng. Anh gặp Pi-tru-ghin trên cầu thang gác. Vì cả hai đều tươi cười hớn hở, mỗi người đều có vấn đề cần thồ lộ nên họ kéo nhau ra ngồi cạnh cửa sổ. Xli-ven-cô là người mở đầu câu chuyện. Pi-tru-ghin thì quyết định sẽ nói sau : theo anh thì vấn đề của anh quan trọng hơn.
Kể ra cầu chuyện toán đồng bào được giải phóng của Xli-ven-cô cũng làm cho anh cảm động, Xli-ven-cô mơ màng, đưa tay xoắn bộ ria, nói :

        — Cậu nghĩ xem, còn biết bao vấn đề phải giải quyết ! Thành phố đổ nát, làng xóm cháy trụi. Phải xây dựng ngay lại nhà cửa, phải giải quyết vấn đề quần áo giày dép...

        — À... ừ... — Pi-tru-ghin ề à đồng ý... — Mọi người mệt lắm rồi... Nếm đủ mùi gian khổ rồi. Nhưng không sao, mọi việc sẽ trôi chảy hết !

        Anh ta giơ nắm tay nhỏ xíu đấm vào ngực rồi đặt trước mặt Xli-ven-cô chiếc túi dết của mình.

        — Này anh xem !

        — Lại da "bốt-can” à?

        — Không, tôi vất tiệt đi rồi. — Pi-tru-ghin trả lời có vẻ tư mãn.

        — Thật không? — Xli-ven-cô ngạc nhiên hỏi. —Cậu vất đi thật rồi à ?

        Pi-tru-ghin nhìn Xli-ven-cô có vẻ đắc chí, tay mở túi dết. Trong túi dết có mấy chiếc hộp trắng đựng những viên đá tròn nhỏ như than bút chì.

        Xli-ven-cô sửng sốt :

        — Đá lửa à ?

        Pi-tru-ghin say sưa mân mê trong lòng bàn tay mấy viên đá lửa nhỏ nhắn :

        — Anh này, tôi chưa đếm hết đâu. Hộp nào đánh dấu chữ thập là tôi đếm rồi. Những hộp khác thì chưa. — Đưa mắt nhìn khuôn mặt nghiêm nghi của Xli-ven-cô, anh bỗng đứng vùng lên : — Tại sao anh nhìn tôi khiếp thế ? Anh có biết sau khi quân Đức rút lui thì nông thôn như thế nào không? Không có diêm nhé! Hút thuốc lá phải dùng đến " Ca-chiu-sa”1 đấy. Anh thấy chưa ? Một viên đá này cứ là phải năm rúp.

        Xli-ven-cô vừa ngạc nhiên vừa phẫn nộ nói :

        — Cậu thật là đồ tồi !

        Pi-tru-ghin không chút tư ái. Anh chỉ mỉm cười như một người lớn cười trẻ con nghich ngợm.

        Xli-ven-cô nói, giọng trách móc buồn bã :

        — Giờ đây, cả thế giới đang rung chuyển, người chết cũng không chịu nằm yên dưới mồ, ấy thế mà cậu lại định bán năm rúp một viên đá nhỏ à? Cậu lại còn định giá trước rồi đấy à ? Mua nhiều cậu có bán rẻ hơn tí nào không ? Đồ con buôn ! Cút đi cho khuất mắt.

        Xli-ven-cô đứng vụt dậy :

        — Cứ thử làm mà xem ! Bọn người như cậu trước đây người ta đã đập cho vỡ đầu, thì bây giờ cũng thế.

        Pi-tru-ghin rợn người, hai tay ôm túi dết chạy ra ngoài. Ra đến cửa, anh dừng lại hỏi :

        — Anh không báo cáo với đại úy đấy chứ?

        Im lặng một lát, Xli-ven-cô đáp lại :

        — Này cậu, cậu thử cho biết tại sao cậu lại nói với mình chuyện những hộp đá lửa này ? Định báo cáo với bí thư chi bộ hay là định hỏi ý kiến xem việc làm của cậu đúng hay sai.

        Pi-tru-ghin, nét mặt sa sầm, trả lời lơ lửng :

        — Có lẽ thế đấy.

        Xli-ven-cô mỉm cười :

        — Cậu sẽ mất công toi, cậu ạ !

        Anh tiến đến bên Pi-tru-ghin nói thong thả từng tiếng :

        — Chúng ta đã từng xây dựng một lực lượng pháo binh, xe tăng, không quân, chúng ta đã trang bị cho cả một quân đội, chúng ta đã cung cấp máy kéo cho nông dân, chúng ta đang đánh bại bọn Đức đã từng chiếm được toàn bộ châu Âu, chúng ta đã tiến tới sát Béc-lin, ấy thế mà cậu lại tưởng tượng rằng chúng ta sẽ thiếu diêm ư ? Cậu định lợi dụng cơ hội đó làm giàu ư ? Cậu thật là đồ ngu, đồ ngu ! Cậu cứ việc đeo túi đá ấy trên lưng ! Rồi cũng đến phải vứt đi cho mà xem. Còn như mình thì mình nói với cậu như thế này : mình không thể đang tâm yên sống khi mà xung quanh mọi người còn thiếu thốn. Mình chưa từng có thể sống như vậy. Nếu cậu thấy nhẫn tâm được thì cứ thử làm xem. Còn mình, mình không làm.

-------------------
        1. Ở đây nghĩa là bật lửa.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Hai, 2018, 07:46:15 pm

        Pi-tru-ghin lầm lì bỏ đi. Nụ cười biếu mất. Những câu nói của Xli-ven-cô tác động đến anh nhiều hơn anh tưởng. Anh phân vân, đằng hắng, lẩm bẩm một mình.

        — Mình đi nói với anh ấy thật là lầm... Đâm ra lại khó nghĩ.

        Có tiếng đại úy gọi anh ngoài sân. Pi-tra-ghin sợ tái mặt. Nhưng không, đại úy không biết gì cả, chỉ hỏi :

        — Tại sao cậu không lau súng? Súng bẩn, chưa bôi mỡ.

        Trô-khốp ngừng lại rồi nói luôn một hồi, cố dằn từng tiếng :

        — Một chiến sĩ xô-viết đi đâu cũng phải gương mẫu về kỷ luật, bởi vì mình là đại diện một đội quân giải phóng. Pi-tru-ghin, đi lau ngay đi.

        Pi-tru-ghin thở dài yên trí đi lau súng.

        Từ trên cửa sổ, Trô-khốp trông thấy Mác-ga-rta. Cô ta đứng giữa một số chiến sĩ, đang hăng hái giải thích một vấn đề gì đó, nặng về cử chỉ và những nụ cười sung sướng. Nhìn thấy Trô-khốp, cô cũng mỉm cười với anh.

        Anh khẽ gật đầu vội một cái rồi quay vào.

        Trô-khốp hết sức giữ ý đối với Mác-ga-rta và điều đó làm cho cô ta ngạc nhiên. Các chiến sĩ thì mất tự nhiên vì có mặt chồng cô (Gô-gô-bê-rít-dê vẫn gọi giễu ông này là "miếng pho mát Hà Lan”). Nhưng đại úy thì biết là cô chưa có chồng.

        Đối với cô gái đã lang bạt khắp châu Âu trong thời kỳ chiến tranh này, mấy năm ròng rã đã quay cuồng như hạt bụi trong cơn gió lốc của cảnh chiếm đóng, chiến tranh, cảnh sống trong các trại giam và đã quen nhìn đời bằng con mắt dạn dày, thái độ giữ kẽ của người sĩ quan Nga thật là khó hiểu.

        Người con gái Pháp cùng tên với cô, Mác-gô, ba mươi ba tuồi, đã bảo cô :

        —  Đấy chỉ là tại mày quên mất sự tôn trọng con người rồi, có thế thôi, ông đại úy rất tốt ấy quí mày đấy. Lính ở đâu chả vậy, nhưng mày xem, ở đây lính họ tôn trọng bọn mình đến thế, kể cũng lạ ! — Chi ta mỉm cười ý nhị : — Có khi tôn trọng quá đáng nữa kia đấy.

        Dù sao thì cuộc đời Mác-ga-rta giờ đây đã tràn ngập ánh sáng và ý nghĩa. Mặc dầu đại đội đã bắt đầu chuẩn bị lên đường, nhưng trong thâm tầm, cô thiếu nữ vẫn hy vọng rằng mình sẽ cùng đi với người sĩ quan Nga. Rằng anh sẽ dẫn cô đến xứ sở kỳ diệu của anh. Mọi người khác bàn cãi khá nhiều về câu chuyện đường về Tồ quốc, nhưng cô, cô vẫn cảm thấy mình sẽ trở về quê hương sau những người khác nhiều. Anh thanh niên Tiệp Ma-réc dạy cô học tiếng Nga ; cô đã biết được chừng hai chục tiếng và định bụng có dịp sẽ làm cho đại úy phải ngạc nhiên.

        Còn gì hạnh phúc hơn là được tự do đi lại không chút gì bó buộc trong những khu vực mà nửa tháng trước đây, người ta còn phải bước rón rén chậm chạp để tránh những cái lườm nguýt của dân Đức ! Kể cũng thú vị khi thấy thái độ khúm núm của những phụ nữ tỉnh thành tản cư từ Béc-lin về đây khá nhiều ; bọn này trước kia nhìn người nước ngoài với con mắt khinh khỉnh coi như những lớp người thuộc một chủng tộc hèn kém.

        Trời đã dịu rét. Gió đầu xuân đã thổi qua các đường phố trong làng. Người, ngựa nhộn nhịp, tiếng ồn ào trên đường cái, những lá cờ trắng trên mái nhà, tất cả giống như quang cảnh một ngày hội của tất cả mọi người. Ai nấy đều như say sưa, vui mừng đến cảm động và dạt dào những ý nghĩ tốt đẹp.

        Chiều đến, mưa rơi lúc đầu lác đác rồi chuyền thành mưa rào. Mác-ga-rta cùng các bạn gái đang bận khâu và kéo nhau ùa ra đường. Những giọt mưa xuân nặng hạt, ấm áp tạt vào mặt cô.

        Lần đầu tiên từ mấy năm nay cô mới thấy mình sống lại đúng tuồi trẻ của mình. Cô nhảy nhót tung tăng, nhẩm lại thật to những tiếng Nga vừa học được.

        Cô đứng nói chuyện với các chiến sĩ trong sân, nhí nhảnh liếc đồng chí chiến sĩ nước da trắng mịn đang nhìn cô bằng đôi mắt nồng cháy rồi cô lên phòng đại úy của cô .


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Hai, 2018, 07:47:18 pm

        Cô gặp đại úy trong buồng làm việc của tên con trai mụ bá tước — tên này đã bỏ trốn. Đại úy ngồi quay lưng ra cửa đang mở một tập tài liệu mỏng. Mác-ga-rta đứng im một lúc rồi khẽ dặng hắng kín đáo. Đại úy quay lại đứng dậy.

        Một ngọn đèn to rực sáng đặt trên bàn. Gian phòng tĩnh mịch, thật là dễ chịu.

        Cô mỉm cười. Đại úy cũng cười mỉm. Mạnh dạn hơn, cô bước sát lại bên anh và bất thần — không còn hiểu sư việc diễn ra thế nào — anh nhận được một cái hôn, cái hôn chớp nhoáng, đầy hương vị mưa xuân mát dịu.

        Chuông điện thoại réo trong gian bên. Trô-khốp tỉnh cơn mê, nhẹ nhàng du cô gái ra và quay đi.

        Có lệnh của Ve-xen-tra-cốp cho đại đội xuất phát. Phải lên đường ngay và cho một xe đi lĩnh đạn.

        Trô-khốp bỏ máy quay về buồng. Mác-ga-rta bình thản ngồi trên bực cửa sổ. Anh đi qua trước mặt cô, sang phòng khách, qua mấy gian buồng vắng vẻ tối tăm, tới gian nhà kho của đồng chí quản lý đại đội, đặt trong một căn buồng của phụ nữ đã bỏ từ lâu không dùng nữa. Anh hạ lệnh cho Gô-đu-nốp.

        Mác-ga-rta ngồi đợi bên cửa sổ, tóc đẫm nước mưa, lòng tràn trề sung sướng, mắt nhìn mưa rơi, nhìn bóng tối mỗi lúc một dày đặc.

        Các chiến sĩ tới giá súng lấy súng, nhanh chóng kiểm tra rồi ra sân tập họp. Lúc đó anh em thoáng nghe thấy đại bác nồ ì ầm xa xa từ phương bắc vọng lại.

        Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Pi-tru-ghin bận rộn dưới một gốc cây, sửa lại quai ba lô. Xê-mi-gláp đóng ngựa cho đại úy. Thuốc lá cháy đỏ lốm đốm trong bóng tối. Các chiến sĩ nhìn thấy một bóng trắng lờ mờ trong khung cửa sổ nhà bếp.

        Đó chính là mụ chủ nhà. Mụ ta đứng đấy, nghền dài cái cổ béo, phủ một lớp da nhẽo nhợt, lắng nghe tiếng đại bác phía xa. Thấy có người để ý, mụ già vội lùi lại biến mất.

        Đồng chí gác mở cồng. Hai cánh cồng rít lên buồn tẻ. Chiếc xe đi lĩnh đạn chìm vào bóng đêm dày đặc.

        Anh chị em người làm cũ trong trại kéo nhau vào sân. Họ lo sợ khi nghe thấy tiếng đại bác cũng như khi thấy các chiến sĩ Nga lặng lẽ tập họp, rõ ràng là chuẩn bị xuất phát.

        Gô-đu-nốp hét to :

        — Nghiêm !

        Trô-khốp từ trong nhà bước ra. Anh mặc một chiếc áo ca-pốt, mang theo tất cả trang bị chiến đấu. Xê-mi-gláp dắt ngưa lại. Gô-đu-uốp đứng nghiêm:

        — Báo cáo đồng chí đại úy, đại đội theo lệnh báo động đã tập họp xong, không ai ốm. Theo lệnh đồng chí, trung sĩ Gô-gô-bê-rít-dê đi lĩnh đạn.

        Trô-khốp thong thả đi trước hàng quân. Tiếng đại bác lại nồ rền phía xa xa.

        Trô-khốp hạ lệnh :

        — Nghỉ. — Rồi quay lại với số người nước ngoài đang đứng gần cổng, anh nói: — Anh chị em cần giám sát mụ địa chủ mới được. Tôi cho phép anh chị em, nếu cần, thì cứ thủ tiêu. — Rồi anh nói thêm : — Anh chị em không còn gì phải sợ nữa, anh chị em hoàn toàn làm chủ ở đây.

        Anh thanh niên Tiệp hốt hoảng hỏi xem có thể đi theo bộ đội Nga được không và xin phát súng.

        Trô-klỉốp trả lời gọn :

        — Không.

        Chuẩn úy Gô-đu-nốp hố :

        — Pi-tru-ghin, ra đóng ngưa vào xe tứ mã.

        Trô-khốp nói buông thõng :

        — Thôi, không cần. Bỏ lại đấy.

        Gô-đu-nốp nói thật to đề giấu nỗi ngạc nhiên :

        — Xin rõ !

        Lúc này, Mác-ga-rta bước ra cửa. Cô lẳng lặng tiến đến cạnh Trô-khốp. Tối quá nên anh không nhìn rõ mặt cô nhưng thấy rõ trong tất cả bóng dáng con người, trong tà áo bay trước gió, trong mái tóc xõa rối, hiện lên cả một tâm trạng xúc động tê tái.

        Trô-khốp nói giọng hơi run run :

        — Cô đừng lo. Chúng tôi sẽ trở lại.

        Anh thanh niên Tiệp thì thầm dịch ngay. Nhưng cô gái như không nghe thấy. Cô chìa tay bắt tay đại úy.

        Bối rối, đại úy hô :

        — Đi đều ! Bước !

        Đoàn người kéo ra cồng. Mưa rơi lộp bộp trên sân gạch. Đồng chí chuẳn úy đứng cầm cương ngựa. Và bỗng nhiên, mặc dầu có mặt mọi người, có mặt các hạn cô, Mác- ga-rta ôm chăm lấy Trô-khốp, hôn anh, cố hết sức nhớ lại mấy tiếng mới học, rồi nói :

        — La, loubou tiébia1

        Đại úy bối rối không nói gì, vội nhảy lên ngựa. Bóng đêm trùm lấy Trô-khốp, nhưng tiếng vó ngựa còn vang lại mãi trong cảnh im lặng đang lắng xuống.

----------------
         1. Em yêu anh.   


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2018, 07:26:31 pm
     
XII

        Đêm khuya, thiếu tướng Xê-rê-đa ra đoạn đường các đơn vị phải hành quan qua để được tự mình nhìn tận mặt anh em trước giờ chiến đấu. Đó là thói quen của đồng chí mỗi lần sư đoàn hành quân. Thiếu tướng cảm thấy một niềm vui dào dạt, khi trông thấy các chiến sĩ sư đoàn mình không phải qua những vòng tròn đỏ hay những mũi tên tượng trưng trên bản đồ mà là thấy những con người thực, đang vừa đi vừa trò chuyện, miệng phì phèo mẩu thuốc lá nặng. Đồng chí cho rằng việc đó rất bổ ích cho bản thân mình và cho cả anh em. Trật tự hành quân, vấn đề chế độ nước uống, tư thế của các chiến sĩ và ngay cả đến nét mặt của họ, tất cả đều rất quan trọng đối với nhà lão tướng này. Qua nhịp đi của cuộc hành quân, đồng chí nắm được nhịp điệu của trận đánh sắp tới, biết được sư đoàn đã sẵn sàng tới mức nào.

        Ngược lại, về phía các chiến sĩ, họ cũng quen gặp mặt thiếu tướng trên đoạn đường nào đó. Thiếu tướng chen vào hàng quân, pha trò một câu, hay đôi khi nghiêm khắc chỉ trích. Anh em yêu mến tác phong giản dị, dáng người cao cao chắc nịch và giọng nói thân mật như cha với con của thiếu tướng. Họ cảm thấy được sự chăm sóc, thương yêu của thiếu tướng. Cũng có thể sau khi qua trước mặt đồng chí, họ lại sẽ quên ngay mất đồng chí. Nhưng một điều chắc chắn là thiếu tướng đã chiếm một vị trí xứng đáng trong trái tim mỗi người. Họ tin tưởng vào kinh nghiệm chỉ huy của thiếu tướng.

        Trong cái đêm tối đen, mưa rơi ấy, các chiến sĩ không ngờ lại gặp thiếu tướng. Quả vậy, lúc đầu, đồng chí cũng không định đi, nhất là người lại không được khỏe.

        Nhưng đến phút cuối cùng thiếu tướng đã đổi ý kiến.

        Đồng chí lo lắng nghĩ tới những trận đánh ác liệt sắp tói. Đồng chí cho rằng các sĩ quan, các chiến sĩ lâu nay có chủ quan cho là địch nhất định thất bại; đã lâu họ chưa tham dự những trận đánh lớn và cũng vì vậy trong phút đầu nổ súng có thể sẽ hoang mang.

        Thiếu tướng lắc đầu trầm ngầm suy nghĩ:

        — Đối với bọn tướng tá Mỹ, chỉ có đối với bọn đó thì chiến tranh mới thật không phải là chiến tranh mà là một ngày hội! Trên mặt trận Tây Âu, bọn Đức có đánh chác gì đâu, chúng kéo nhau ra hàng từng sư đoàn một, mở cửa nộp các thành phố... Rõ ràng là Hít-le khiếp sợ phía nào hơn! Thôi được, cần gì, chính nghĩa ở phía chúng ta. Còn như vẫn phải đánh, thì ta cứ đánh !

        Không phải thiếu tướng không biết là nay mai sẽ diễn ra một trận chiến đấu gay go. Mặc dầu đồng chí chỉ nắm có một sư đoàn và không hiểu hết tình hình toàn mặt trận, đồng chí cũng thấy được quân Đức đang có lợi thế tiến công từ bắc xuống nam, đánh vào đường vận chuyền của quân đội xô-viết lúc này đã kéo dài ra quá xa rồi. Sư đoàn của đồng chí cũng như nhiều sư đoàn khác rõ ràng là có nhiệm vụ đánh tan nguy cơ đó.

        Trong sư đoàn bộ có ý kiến phàn nàn về việc sư đoàn bị chuyển lên hướng bắc chứ không phải về hướng Béc-lin. Là một lão tướng, thiếu tướng làm ra vẻ không quan tâm đến điều đó: vấn đề là phải tác chiến, còn như tác chiến ở đâu, điều đó cấp trên thừa hiểu hơn mình.

        Cùng với trung tá Xi-dức, đúng 11 giờ đêm, thiếu tướng lên đường.

        Nửa giờ sau, Plốt-nhi-cốp đuổi kịp. Đồng chí đã phân phối các sĩ quan phòng chính trị xuống các trung đoàn để động viên chiến đấu — đồng chí biết rõ nỗi lo âu của thiếu tướng và chính đồng chí cũng thấy không yên tâm.

        Sư đoàn trưởng và chủ nhiệm chính trị cho dừng xe dưới gốc một cây cổ thụ trên ngã ba đường. Kề từ ngày chiến tranh bùng nổ, hai ngươi đứng bên nhau có tới nghìn lần.

        Các đơn vị kéo đi từng đoàn dài, đen sẫm, trên con đường nhựa ướt nước mưa. Nhìn thấy bóng thủ trưởng, các sĩ quan đi ngựa hay đi chân, dẫn đầu đơn vi đều quay lại lo lắng, truyền lại sau những câu dặn .

        —Các cậu, chỉnh đốn hàng ngũ đi, thiếu tướng đang đứng đón chúng mình kia kìa.

        Rồi, tay giơ lên vành mũ ca lô, họ vừa đi vừa báo cáo:

        —Đại đội 5 theo đường hành quân. Báo cáo do...

        — Đại đội 2 súng máy theo đường đã định. Báo cáo do...

        — Đại đội chống tăng theo đường... Báo cáo...

        Cấp bậc và tên người cứ tan dần trong đêm tối, trong mưa rơi, trong tiếng động cơ xe, trong tiếng chân người, ngựa hỗn độn.

        Các trung đoàn trưởng xuống ngựa, tới gần thiếu tướng và sau khi báo cáo xong, đứng cạnh thiếu tướng chờ cho đơn vị mình qua hết. Bầy ngựa do các đồng chí cần vụ giữ, lắc hàm thiếc kêu lắc cắc trong bóng tối. Khi đơn vị mình đã qua hết, trung đoàn trưởng lên ngựa, biến vào bóng tối, vượt lên đầu trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2018, 07:27:43 pm

        Thiếu tướng cao giọng vui vẻ hỏi các sĩ quan đi qua :

        — Thế nào, công việc của đồng chí thế nào ? Khá chứ ?

        Đồng chí đi bên các chiến sĩ hỏi han :

        — Chân đồng chí không bị phồng chứ? Tiểu liên của đồng chí thế nào? Nổ đều chứ? Tại sao đồng chí không cho súng máy vào bao thế? Kìa, kìa quân phục đồng chí thế nào kia? Không phải là đi dạo mát mà là đi chiến đấu đấy nhé.

        Thấy mưa gió, đêm tối đè nặng lên các chiến sĩ, thiếu tướng bèn hỏi :   

        — Ồ, tại sao các đồng chí không hút thuốc lá ? Các đồng chí cứ làm như còn ở thời kỳ 1941, khi mà chúng ta còn sợ bọn Đức ấy. Thời thế khác rồi...

        Thế là các chiến sĩ giở thuốc ra hút say sưa, và đoàn quân chuyền đi lập lòe ánh lửa đỏ.

        Sư đoàn kéo qua dần, nét mặt thiếu tướng bớt lo âu.

        Thiếu tướng vừa đi lại phía lề đường cái, chỗ Plốt- nhi-cốp và Xi-dức vừa nói :

        — Thật là những chiến sĩ lão luyện. Một đội quân vĩ đại ! Đồng chí Plốt-nhi-cốp này, đồng chí có thể đóng cửa phòng chính trị của đồng chí lại được rồi đấy!... Anh em họ biết cả rồi. Họ đi vào việc như những người thợ lành nghề. Bộ đội của Xta-lin như thế đó, đồng chí ạ !

        Cuối cùng, trung đoàn pháo ầm ầm kéo qua. An-tô- nhi-úc đi một chiếc xe ô tô dính đầy bùn tới. Anh vừa lên các sư đoàn thê đội một để lấy tình hình địch. Thiếu tướng bảo anh đi theo mình rồi tìm tới chỗ đóng quân của sư đoàn bộ.

        Mấy chiếc xe ô tô nhanh chóng đuổi kịp sư đoàn. Trước mắt thiếu tướng và Plốt-nhi-cốp, trong bóng tối lại hiện ra hoặc một khuôn mặt quen thuộc, hoặc một khuôn mặt khác, hoặc bộ ria đen của một chiến sĩ công binh mà đồng chí còn nhớ mặt; có lúc là chiếc nòng khẩu súng máy đặt chênh chếch, có lúc là con ngựa trắng của một tiểu đoàn trưởng hay chiếc mũ lông của Trét-vê-ri-cốp.

        Plốt-nhi-cốp ở lại cùng đi với một trung đoàn, còn thiếu tướng thì cho xe vượt nhanh lên trước sư đoàn.

        Lát sau, xe rẽ sang một con đường ngang, chạy vào làng. Cũng như các làng khác, làng này rợp những lá cờ trắng ủ rũ dưới trời mưa.

        Dọc đường, đội tiền trạm đã cắm những mũi tên ghi ký hiệu thống nhất trước: Chữ ” X ” (chữ đầu tiên của tên sư đoàn trưởng). Một chiến sĩ đứng gác trước ngôi nhà dành cho thiếu tướng. Đội điện thoại đang chăng dây ; những đôi ủng lớn dưới chân họ bì bõm trên lớp đất nhão nhoét.

        Trong gian nhà, trung úy Nhi-côn-xki cùng với hai chiến sĩ đang mắc máy nói trên bàn. Đồng chí hiệu thính viên đang điều chỉnh làn sóng điện.

        Thiếu tướng bảo An-tô-nhi-úc :

        — Đồng chí báo cáo đi.

        Rồi quên cả bỏ mũ, đồng chí ngồi xuống bàn và lo lắng nghe tiếng đại bác nổ ì ầm.

        Trong lúc An-tô-nhi-úc giở bản đồ, thiếu tướng hỏi Nhi-côn-xki :

        — Đã liên lạc được với những đâu rồi ?

        Nhi-côn-xki giơ tay lên mũ ca lô nói :

        — Báo cáo, vói các trung đoàn thì chưa mắc được dây nói vì các trung đoàn còn đang trên đường hành quân.

        — Tôi biết rồi, — thiếu tướng mỉm cười hóm hỉnh. —  Thế thì mắc được dây nói với ai rồi ?

        — Báo cáo, với quân đoàn bộ, bộ tham mưu hậu cần và tiểu đoàn quân y.

        Đồng chí hiệu thính viên vừa điều chỉnh được đài xong, nói vọng ra :

        — Báo cáo, các trung đoàn đang đợi ở máy vô tuyến điện.

        An-tô-nhi-úc báo cáo rằng trong khu vực Nô-ga, Stác- ga, Ma-đuy-xi, quân Đức đã tập trung sư đoàn hải quân lục chiến thứ nhất, cụm pháo binh Sư đoàn ” Đơ-néc ”, các sư đoàn s.s. " Lan-gơ-mac ” và " Noóc-lan ”, cùng mội Số đơn vị thiết giáp chưa rõ phiên hiệu. Địch đang dùng bộ binh và xe tăng tiến công mạnh.

        Thiếu tướng ghi tất cả tài liệu lên bản đồ và cho gọi đơn vị trưởng các đội chống tăng và trung đoàn pháo tự hành vừa được phối thuộc. Thiếu tướng chưa bắt đầu khai hội vì còn đợi Plốt-nhi-cốp ; đồng chí này có nhiều chỉ thị phổ biến cho các đơn vị trưởng. Mãi vẫn chưa thấy Plốt-nhi-cốp đến, tuy rằng đáng lẽ phải đến đã lâu rồi.

        Cuối cùng thiếu tướng quyết định cứ họp. Đồng chí chỉ thị cho các cán bộ pháo về trận địa bắn và dặn phải tổ chức một cuộc trinh sát vào buổi sáng. Trong thời gian này, máy vô tuyến điện tiếp tục nhận các báo cáo về tình hình hành quân. Một trung đoàn đã chiếm lĩnh trận địa ; các đơn vị khác vừa mới tới nơi.

        Các đơn vị trưởng chào, ra về.

        Đêm đã khuya Plốt-nhi-cốp mới tới, nét mặt tái nhợt, mệt nhọc như có điều gì xúc cảm mạnh. Đồng chí bảo tất cả mọi người ra ngoài kể cả đồng chí hiệu thính viên và đồng chí cần vụ. Giọng nói đồng chí gay gắt khác thường.

        Còn lại một mình với sư đoàn trưởng, đồng chí nói :

        — Anh Xê-rê-đa, anh mặc áo vào. Đi mà xem quân ta đã làm những trò gì ! Thật là phen này chết cả nút !

        Vốn hiểu rõ tính tình Plốt-nhi-cốp, thiếu tướng tin ngay là một vấn đề nghiêm trọng. Không hỏi thêm câu nào, thiếu tướng mặc áo ca-pốt. Hai người ra đi.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Hai, 2018, 07:28:25 pm

        Tới một làng cách sư đoàn bộ chừng một chục ki-lô- mét, Plốt-nhi-cốp bảo dừng xe lại. Làng này rất lớn, giữa làng có một cái ao. Một Số người đứng bên bờ ao hút thuốc lá.

        Thấy xe ô tô tới, cả bọn vất mẩu thuốc lá xuống nước, đi lại phía thiếu tướng. Đó là các sĩ quan cơ quan bảo vệ của sư đoàn.

        Thiếu tướng lẳng lặng đi theo họ.

        Trong một ngôi nhà một tầng, trước cửa cắm lá cờ trắng, mấy xác người Đức nằm ngồn ngang. Cả một gia đình, sáu mạng người bị sát hại một cách hết sức dã man. Cạnh đó, một chiếc mũ ca lô Hồng quân còn nằm giữa vũng máu.

        Các sĩ quan bảo vệ báo cáo như sau :

        — Buổi chiều, ba chiến sĩ xô-viết tìm vào ngôi nhà này của người nông dân Han Cru-gie. cả ba say rượu bí tỉ, chửi rủa ầm ỹ.

        Thiếu tướng hỏi :

        — Trong làng lúc ấy không có chiến sĩ nào khác à ?

        — Báo cáo có, một tiểu đội điện thoại lúc ấy đóng ở nhà bên. Chính mắt đồng chí tiểu đội trưởng, trung sĩ Vla-đi-kin trông thấy ba chiến sĩ đó. Công phẫn trước tư cách bọn họ, đồng chí đó có chạy sang bảo họ thôi.

        Sau đó, tiểu đội điện thoại cử người gác rồi đi ngủ. Chiến sĩ I-bra-ghi-mốp phụ trách gác, nửa đêm nghe thấy tiếng kêu thất thanh và tiếng súng nổ trong ngôi nhà bên. Đồng chí vào gọi trung sĩ Vla-đi-kin. Lúc mọi người chạy sang thì bọn kia đã trốn mất, còn lại mấy xác chết này.

        Đang đi tìm thủ phạm. Tất cả các đơn vị đã được thông tri. Một cuộc điều tra tỉ mỉ đang tiến hành.

        Plốt-nhi-cốp nói:

        — Thật không thể tưởng tượng được! Chiến sĩ của chúng ta mà lại đi sát hại thiếu nhi!... — Đồng chí lắc đầu nhắc đi nhắc lại: — Thật không thể tưởng tượng được!...

        Thiếu tướng im lặng, dáng điệu rất ủ rũ. Trên đường về sư đoàn bộ, hai người không nói với nhau một lời.

        Sáng sớm hôm sau, khi các trung đoàn đã bắt đầu nổ súng, trước lúc lên đài quan sát, thiếu tướng nhận được một bức điện mật ký tên Xi-dô-crư-lốp.

        Thiếu tướng đưa mắt nhìn Plốt-nhi-cốp, tay không khỏi run run cầm lấy bức điện.

        Trước nỗi ngạc nhiên của cả hai người, không có chuyện thi hành kỷ luật gì cả. Nói chung, nội dung bức điện cũng hơi kỳ dị: sau khi báo tin vụ sát hại một gia đình người Đức, bức điện yêu cầu tất cả các sư đoàn trưởng hết sức tăng cường công tác bảo vệ tuyến sau, nhớ rằng có thể có nhiều tội phạm chiến tranh và nhiều phần tử nguy hiểm trà trộn trong đám dân chúng đang lũ lượt đi trên các ngả đường ở hậu phương quân ta.

        Phải thú thực rằng thiếu tướng Xê-rê-đa chưa nắm ngay được mối liên hệ giữa vụ sát hại một gia đình người Đức và bản chỉ thị đó.

        Nhưng, mối liên hệ đó có thực. Chính ở một trong những toán người mà trung tướng Xi-dô-crư-lốp vừa nhắc nhở các cơ quan bảo vệ và các sư đoàn trương phải chú ý, có mặt tên Vin-ken.

        Trong đám người ấy, có những gia đình dân Đức trước kia đã nhận phần ruộng đất, nhà cửa của những người Ba Lan bị bọn phát xít dồn đi nơi khác. Ho là dân xứ Pô-mê-ra-ni và, một lần nửa lại phải nhổ trại kéo nhau đi, theo lệnh các nhà cầm quyền phát xít.

        Họ chậm chạp bước đi như những chiếc lá vàng cuốn theo chiều gió. Không biết dừng chân lại nơi đâu và làm việc gì, họ cứ kéo đi như những con người máy, trút tất cả sức lực còn lại vào đôi chân. Lúc này bước đi hầu như trở thành công việc độc nhất, chủ yếu trong cuộc đời của họ.

        Một số kéo nhau về miền tây vì ở đó cồn họ hàng, quen thuộc. Một số khác kéo đi để thoát sự trả thù của những người Ba Lan lức này đang trở về quê cha đất tổ. Một số nữa kéo đi vì bạn đường của mình đã bỏ đi hết, họ không dám ở lại một mình. Sau hết một số kéo nhau đi vì không có ai bảo họ ở lại.

        Cũng có những toán dân Đức đi ngược trở lại về phương đông. Đó là những người trước kia đã rút đi theo lệnh Hít-le nhưng đã bị quân Nga tiến vượt lên và bây giờ họ quay trở về nhà họ. Kẻ đi người về như một dòng nước xoáy bi thảm, cuốn theo những số mệnh khác nhau, những hy vọng tan vỡ, những hối hận muộn mằn.

        Giữa đám các gia đình, các ông bà già, các trẻ em mất cha mẹ, các cha mẹ mất con cái, trà trộn nhiều binh lính cải trang thành thường dân. Bọn này kéo nhau đi không phải với ý định trở lại đội ngũ, cầm lại vũ khí mà họ đã sẵn sàng vất đi từ trước. Không, bọn họ chỉ muốn trở về gần quê quán ho hơn khi chiến tranh kết thúc mà thôi.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:42:45 pm

        Tất cả bọn người này kéo nhau từng tốp nhỏ, phần lớn là đi đêm, họ cố tránh gặp các đơn vị quân Nga và các đoàn người vừa được giải thoát khỏi ách phát xít Đức và chậm chạp lê chân về phía tây. Một đôi lần, chạm trán nhau trong đêm tối, họ sợ sệt dừng lại và qua vẻ sợ sệt ấy mà nhận ra người cùng cảnh. Những lúc ấy, họ đến bên nhau, thì thầm trao đổi hỏi han :

        — Các bác ở đâu đến ?

        — Các bác đi đâu ?

        — Đường cái không việc gì chứ?

        — Có tin gì mới không?

        — Toán các bác có ai là thầy thuốc không ?

        — Để làm gì ?

        — Có đứa bé con ốm !

        — Ở Von-đen-béc có một nhà thương Nga... Các bác đến đấy mà tìm !

        — Đến nhà thương Nga à ?

        — Phải... Tôi vừa đưa cháu đến đấy...

        — Họ thế nào ?

        — Phải... Họ cho thuốc.

        — Người Nga ấy à ?

        — Phải.

        Mỗi toán lại kéo đi theo đường của mình. Đoàn người bước đi, lòng nặng trĩu ; họ chỉ nói những chuyện gì cần thiết nhất — chuyện đường đi, chuyện giày dép, cơm nước. Riêng một ông cụ già chốc chốc lại to tiếng than thở :

        — Đây là một hình phạt của Chúa đây ! Chúa phạt cái bệnh tự kiêu của ta !... Phạt vì món nợ máu !

        Vin-ken đang đi Lan-xbéc đến cơ sở thứ hai do tên Bôm cho biết. Cơ sở thứ nhất ở Snây-đơ-mun nhưng thành phố này đã bị quân đội xô-viết bao vây.

        Hắn đến Lan-xbéc không phải vì nóng lòng trở lại nghề gián điệp. Mà chỉ vì hắn muốn ít nhất cũng tìm được lấy một người quen để hỏi thăm tin tức. Và có lẽ cũng chỉ vì con người ta không thể sống không mục đích, mà cơ sở ở Lan-xbéc dù sao cũng là một mục đích.

        Đại tá Bôm cho biết những địa chỉ cơ sở chưa đầy một tháng nay ; thế mà Vin-ken cảm thấy như đã qua hàng chục năm, hàng thế kỷ. Cũng vẫn tên Vin-ken, ngày hôm ấy đứng nghiêm trong hầm nhận lệnh của thượng cấp, hôm nav đã biến đổi hẳn. Giờ đây hắn tìm đến Lan-xbéc, trong lòng lo thầm người ta lại giao cho mình một nhiệm vụ nào đó.

        Hắn không muốn hoạt động cho bọn chúng nữa. Nói cho cùng, hắn đâu có phải là người Đức chính tông; hắn là công dân thành phố tự do Đăng-dích, một thành phố có hiến pháp riêng và có quy chế quốc tế. Lúc này Vin- ken không công nhận việc Hăng-dích sát nhập vào nước Đức nữa.

        Trước ngày bọn Quốc xã lên cầm quyền, cuộc sống trong thành phố quê hương hắn mới thái bình, sung túc làm sao! Vin-ken là viên chức sở Hải quan trong thương cảng. Thời kỳ ấy, hắn không lấy gì làm mãn nguyện với nghề nghiệp; trái lại giờ đây, sao mà hắn thấy trìu mến nhớ lại những chiếc tem vàng dán lên các kiện hàng đến thế.

        Giờ đây, tay đeo chiếc băng trắng, một dấu hiệu tỏ ý muốn hòa bình, hắn đi lẫn giữa đám dân Đức tay cũng đeo băng trắng.

        Thường thường cả bọn kéo đi suốt đêm. Tảng sáng thì phân tán. Mỗi gia đình tản ra mỗi phía chiếm lấy một gốc cây, loay hoay nấu nướng, ăn uống, thầm thì bàn tán. Bọn trẻ con kéo nhau vào một làng gần đó và thường mang về một ít bánh, mỡ, đồ hộp : các chiến sĩ Nga không hẹp bụng, họ sẵn sàng cho trẻ em thức ăn.

        Các cụ già cũng tìm đến chỗ quân Nga xin thuốc lá rồi về ho sù sụ nhưng say sưa hút những điếu thuốc lá nặng.

        Thanh niên, và chủ gia đình tản vào rừng tìm " hươu nai”. "Hươu nai” là tên họ gọi những con cừu, con bò hoang thường gặp trong rừng. Ho bắt lấy, lột da rồi sả thịt đem nướng chả, làm cho những ai không có cái may mắn vớ được phải ghen tị. Theo sau bọn "đi săn”, các cụ già, bày trẻ con xúm xít xâu xé chỗ thừa, không từ một mẩu xương con, rồi ồn ào hỗn độn nhóm lửa nấu ăn.

        Họ cùng đi với nhau nhưng mọi việc đều riêng rẽ. Miếng ăn chẳng ai chia cho ai. Ai cũng chỉ lo cho bữa mai của chính mình. Trong cảnh khổ chung ấy, chẳng ai lo cho người bên cạnh cả.

        Chiều đến, lại tụ tập nhau bàn tán đường đi và kéo nhau đi. Một tên cựu binh nhất, quê ở Lan-xbéc thuộc đường vùng này dẫn đầu cả bọn.

        Cũng như đêm qua, họ xuyên rừng mà đi vì trên đường cái đầy quân Nga và nhất là đầy những đoàn người nước ngoài. Dân tản cư Đức sợ những người này gấp mấy lần sợ quân Nga.

        Mảnh trăng soi nhợt nhạt. Chân bước nhẹ trên lớp lá thông nhọn nát nhũn, ẩm ướt. Đi dọc theo những xưởng nấu hắc ín, xưởng máy cưa bỏ hoang, những lều săn. Chẳng bao lâu đến một cái hồ lớn. Đến tảng sáng là hết rừng. Trước mặt đoàn tản cư hiện ra một làng lớn, có mấy chiếc ống khói nhà máy ở đầu phía nam.

        Họ dừng lại ngắm mãi qua khe lá làng xóm hoang vắng. Họ ngồi xuống dưới các gốc thông, tản vào rừng, ăn uống, ngủ nghê, thở dài, và lại săn " hươu nai ”. Buổi chiều lại lên đường.

        Lúc băng qua con đường cái phía nam làng Vun-gác- ten, đám tản cư nghe thấy tiếng cười nói ầm ỹ. Bên lề đường, một toán người dừng lại nghỉ đêm dưới rặng cây như một đoàn người cầu bơ cầu bất.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Hai, 2018, 07:17:42 pm

        Một giọng phụ nữ vui vẽ hỏi đoàn dân Đức bằng tiếng Pháp:

        — Người xứ nào kéo qua đấy ?

        Không thấy tiếng trả lời, cô gái Pháp đứng tựa lưng dưới gốc cây, mồm ngậm điếu thuốc lá chăm chú nhìn bóng người lờ mờ rồi đột nhiên nhổ toẹt mầu thuốc lá đi, nói bằng tiếng Đức với một giọng kinh tởm :

        — Ô-hô !... Das dritte Reich1!...

        Và một lát sau cô hô to :

        — Heil Schicklgruber2.

        Nhiều tiếng huýt sáo vang lên. Toán người Đức vội vã vượt con đường cái, băng qua một cánh ruộng cày, rảo cẳng chui vào một khu miếu nhỏ. Sau lưng họ có tiếng ai nói với một giọng nghiêm trang nghe khá khôi hài:

        — Also entrann Zaratustra3.

        Ông cụ già đi bên Vin-ken lại lẳm bầm :

        — Đây là một hình phạt của Chúa!

        Đến Lan-xbéc, Vin-ken lùi lại sau đi tìm cơ sở.

        Mãi hắn mới tìm thấy ngôi nhà ba tầng. Trước nhà có một tấm vải dải giường trắng buộc vào một cây sào dài. Ngôi nhà chìm đắm trong bóng đêm tĩnh mịch...

        Vin-ken đẩy cổng, nghe ngóng. Hắn trèo lên gác. Trong nhà tối như mực. Hắn quẹt diêm và nhìn ngay thấy một tấm biển trắng : NHA SĨ CÁC VÉC-NE

        Vin-ken bấm chuông điện. Chuông hỏng. Hắn gõ cửa. Không thấy ai trả lời. Hắn đẩy cửa. Cửa bỏ ngỏ không khóa. Hắn bước vào, quẹt một cây diêm nữa. Quang cảnh gian nhà hỗn độn. Đồ đạc, quần áo, đĩa bát vỡ ngổn ngang dưới đất. Chiếc ghế chữa răng mạ kền sáng loáng.

        Vin-ken hé cánh cửa thông sang phòng bên và hốt hoảng nhảy lùi lại. Trong buồng có vật gì to tướng cựa quậy. Sau một phút im lặng căng thẳng, hắn quyết định ngó lại một lần nữa, Hai tay run lật bật, hắn quẹt một que diêm khác.

        Một con chó to, giống chó Xanh Béc-na, nằm ở cuối phòng. Nó còn cựa quậy nhưng không đứng dậy, miệng thở khò khè. Con chó già đang ngắc ngoải.

        Vin-keu vội quay ra, đẩy cánh cửa bước xuống hành lang, hắn đang định chuồn thì nghe thấy có tiếng phụ nữ từ trong bóng tối hỏi vọng ra :

        — Có phải ông gõ cửa tìm ông Véc-ne đấy không ?

        — Phải, — Vin-ken đáp lại.

        — Ông có họ với ông ta à ?

        — Không, tôi có họ với bà ta.

        — Có phải tên ông là Các Vi-ét-ne không?

        — Không.

        — Ông không phải là người vùng Xi-lê-di à ?

        — Không.

        Hỏi xong, người đàn bà quẹt diêm nhìn Vin-ken khá lâu cho tới khi que diêm cháy hết rồi bảo:

        — Mời ông vào.

        Vin-ken bước vào gian phòng đối diện với phòng của Véc-ne. Một bà cụ tóc bạc để trần, kéo ghế cho hắn ngồi rồi quay vào sau tấm bình phong lúi húi nấu ăn dưới ánh sáng ngọn đèn dầu. Bà ta hỏi:

        — Thế nào, ông có họ với bà Véc-na à ? — Và không đợi trả lời, bà nói tiếp luôn: — Nếu ông có gặp bà ta, thì ông nói hộ là tôi, Clây-néc-đinh, có lời hỏi thăm bà ta nhé. Bà ấy biết tôi đấy, hàng xóm với nhau mà. Và ông nói hộ là ông Véc-ne đi từ thứ sáu trước, lúc quân Nga sắp kéo đến... Ông ta đi lúc nửa đêm. Ông bảo bà ấy là ông Véc-ne định gửi tôi coi nhà hộ nhưng tôi không nhận vì tôi lo phận tôi còn chưa xong nữa là. Ông nhớ nói là tôi không nhận, ông nhé. Sau này bà ta về có thấy một phần đồ đạc của mình ở nhà bà Muy-le hay bà Sen-vít ở tầng dưới hay thấy bà Len ở tầng trên đi bít tất của mình thì cũng chớ có đổ tại tôi đấy... Thời buổi này, tội gì mà tôi lại phải đi giữ của cho người khác. Đấy, tôi chỉ cần nhắn bà Véc-ne có thế thôi. Theo tôi biết thì bà ta tản cư về Stét-tin rồi...

        Bà cụ cầm ngọn đèn dầu đi ra đặt lên bàn, bắt đầu lau bát đĩa và hỏi:

        — Bầy giờ ông định đi đâu ?

        — Tôi cũng chưa biết.

        Bà cụ đặt mạnh bát đĩa, bỗng nhiên nỗi nóng:

        — Chưa biết à ? Đầu tiên các ông đã làm cho cả thế giới chống lại chúng tôi, các ông đã phá hoại tất cả, đến bây giờ thì lại kêu "chưa biết”... Trời ơi, không biết còn tội ác nào mà bọn họ không nhúng tay! Thanh niên thì đi chết trận, thành phố thì đổ nát!... Nếu một đứa nào trong bọn cầm đầu các ông mà rơi vào tay tôi thì tôi cứ là nộp ngay cho quân Nga!... Không chút thương xót dù cho hắn van xin mấy cũng mặc — Bà cụ đưa mắt nhìn thẳng vào Vin-ken.

        Vin-ken lắp bắp:

        — Tôi không phải là đảng viên Quốc xã.

        Bà cụ nhăn mặt mỉa mai:

        — Phải, bây giờ thì ai còn nhận là Quốc xã nữa! Ông Véc-ne kia kìa, trước khi chuồn, có lại gặp tôi, — vẫn là về vấn đề nhà của ông ta — và ông ta cũng nói: "Tôi không phải là Quốc xã”... Quân Nga chưa vào thành phố mà ông ta đã thôi không nhận là Quốc xã nữa rồi.

        Ông ta bảo với tôi: "Họ bắt buộc tôi”. Lúc ấy quân Nga chưa đến. Ông ta lại còn định gửi tôi cả con chó nữa, ừ, ít ra con chó cũng không phải là Quốc xã... Nhưng tôi lấy gì mà nuôi nó được.

        Trời sáng. Ánh bình minh rọi qua bức màn phòng ngủ làm bằng giấy đen. Bà cụ thổi tắt đèn, cuốn màn lên. Ánh sáng ảm đạm của một buổi mai mưa phùn ùa vào gian phòng.

-----------------
        1. Đệ tam cộng hòa đấy

        2. Hít-le muôn năm. Schicklgruber là tên thật của Hít-le.

        3. Zaratustra bỏ chạy như thế này đây ! Zaratustra: tên một nhà cải cách đạo Ba Tư cũ, sinh khoảng năm 660, chết khoảng năm 583 trước công nguyên.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2018, 03:12:43 pm

        Vin-ken hỏi:

        — Bà Clây-néc-đinh này, tôi có thể ngủ nhờ bà ở đây cho đến tối được không? Tối, tôi sẽ đi...

        — Ngủ, ngủ! — Giọng bà cụ lầm bằm có vẻ cay nghiệt — Chà, ước gì tôi ngủ được giấc ngủ ngàn thu để khỏi phải nhìn thấy tất cả cái cảnh này !...

        Bà cụ ẩy mạnh cánh cửa trông sang gian phòng bên kia và bảo:

        — Ông có thể nằm ở kia mà ngủ kìa. Nhưng xin lỗi ông, xin ông chớ có nằm lên giường... Chắc chắn là suốt từ Xta-Iin-grát đến đây ông cũng chưa tắm rửa lần nào!...

        Vin-ken nằm xuống sàn, tuy rất mệt nhưng mãi mới ngủ được. Hẳn tưởng như lúc này bà cụ già đang chạy tới chỗ chỉ huy quân Nga để tố cáo nó. Buổi chiều, Vin-ken rời nhà bà Clây-néc-đinh, bước ra đường. Quân Nga kéo qua thành phố. Trời mưa nhưng mát mẻ, cảm thấy hương xuân. Vin-ken men theo dãy tường, chậm chạp bước đi.

        Chẳng bao lâu, hắn ra tới ngoại ô. Đâu đó, bên phải, bên trái, trên những nẻo đường gần đây nghe thấy tiếng động cơ giòn giã, tiếng chân người lộn xộn.

        Vin-ken rảo cẳng cố chui mau vào khu rừng trước mặt. Tới gần ven rừng, hắn bước chậm lại. Hắn nghe thấy có tiếng thì thầm dưới một cái rãnh sâu. Thì thầm như thế đúng là dân Đức. Quả vậy, một toán đàn ông, đàn bà Đức đang dừng chân nghĩ lại đấy. Nghe thấy tiếng chân Vin-ken, cả bọn im bặt. Nhưng, nhìn thấy tấm băng tay trắng cũng như dáng điệu sợ sệt của con người luôn luôn nghe ngóng, họ hiểu ngay hắn cũng là người Đức.

        Khi được biết Vin-ken vừa ở Lan-xbéc tới, người ta bèn hỏi hắn tình hình ở đó ra thế nào; đi đường có gặp những toán người nước ngoài hay không, thành phố có bị tàn phá nhiều hay không ?

        Trả lời xong, Vin-ken bèn hỏi xem trong bọn họ có ai về Kê-ních-béc in Nơ-mác không? Chẳng có ai. Chỉ có người về Son-đin và Bát — Son-phli-ét cùng một đường đi Kê-ních-béc. Hắn hỏi thăm:

        — Từ đây đến Kê-ních-béc có xa không?

        — Bảy chục cây.

        — Quân Nga đánh đến đấy rồi hay là...

        — Quân Nga ấy à, đâu cũng có cả rồi...

        — Thế bọn ta cách đây xa lắm à?

        — Bọn ta nào ?

        — Quân đội ấy à?

        — Ừ, bọn ta. Quân đội.

        — Xa...

        — Xa lắm...

        Vin-ken nhập bọn với toán người cùng đi một hướng vói hắn.

        Suốt đọc đường, một thiếu phụ chỉ khóc. Chị ta lẽo đẽo theo sau, tỉ tê than thở.

        Như mọi hôm, cả bọn kéo đi suốt đêm. Tảng sáng lại tản ra, ăn uống, ngủ nghê.

        Vin-ken ngồi xuống một gốc cây, rút trong túi ra một mẩu bánh và nhấm nháp dần. Khí trời ẩm ướt nhưng dễ chịu. Dưới gốc cây bên cạnh, một người Đức khác cũng ngồi nhấm nháp bánh. Trời sáng dần. Vin-ken thiếp đi, tỉnh lại mấy lần.

        Ông bạn láng giềng cũng đang ngủ.

        Vin-ken đưa đôi mắt vô định nhìn khu rừng, nhìn những khoảng trống thẳng tắp giữa đám cành lá, nhìn hàng cây nồng tỏa mùi nhựa thông. Cuối cùng, hẳn đưa mắt nhìn người bạn láng giềng đang ngủ. Khuôn mặt dài, chẳng có lấy một sợi lông mày và lốm đốm tàn hương này, hắn trông quen quen.

        Người bạn mặc một chiếc áo khoác cũ cáu ghét, tay nắm chạt chiếc ba toong cán ngà. Chân anh ta xỏ đôi giày há mõm. Một tay anh ta ôm chặt chiếc túi dết.

        Nhận ra người bạn cũ, Vin-ken reo lên nửa mừng nửa ngạc nhiên: "Hau-xơ!”.

        Hắn trườn lại nhìn tận mặt người kia rồi yên trí gọi:

        — Hau-xơ ơi !

        Người kia tĩnh dậy, sợ sệt nhìn hắn nhưng không nhận ra hắn. Lần đầu tiên suốt năm tuần nay, Vin-ken mỉm cười. Hắn vội nói:

        — Hau-xơ, Hau-xơ, tao đây mà. Hau-xơ, Vin-ken đây.

        Hau-xơ sửng sốt kêu "a” lên một tiếng. Hai đứa ôm lấy nhau rồi lại ngồi bên nhau. Vin-ken bèn kề lại hành trình gian nan của hắn. Hắn kể thành thật, thành thật lắm, không phải như lần gặp tên Han. Cuối cùng hắn nói:

        — Rõ quá rồi. Mọi việc đi đời nhà ma. Lần này thì thật hết. Liệu mà lo lấy thân mình.

        Hau-xơ nhìn lại phía sau:

        — Suỵt! Nói nhỏ chứ !...

        Vin-ken cãi :

 
        — Việc gì mà sợ ? Mặc mẹ nó !

        Nhưng hắn cũng hạ thấp giọng. Hau-xơ nhắc lại:

        — Suỵt! Im mồm. — Hắn ngồi sát vào Vin-ken. —  Những cái ấy đừng có mà nói với ai nhé. Nếu không... Mày ở đâu đến đấy ?

        — Ở Lan-xbéc đến. Tao có qua nhà lão Véc-ne.

        — Lão ta cuốn gói đi lâu rồi.

        — Họ cũng bảo tao thế. Còn mày?

        Hau-xơ cười mỉm :

        — Tao tiếp tục phụng sự Tổ quốc... Ở đây bọn ta lại có một thủ lĩnh mới. Có lẽ mày biết rồi chứ? —  Hau-xơ lại hạ thấp bớt giọng. — Ông Buyếe. Một thủ lĩnh s.s. đấy nhé ! — Im lặng một lát, hắn thuật lại bước đường phiêu lưu một tháng vừa qua. — Tao chỉ ở lại Ni-ét-nô có hai ngày. Cũng may mà thoát được đấy. Một thằng láng giềng — một người Đức, mày ạ — đã tố cáo tao với Ban chỉ huy xô-viết. Dọc đường tao phải nói là người Tiệp Khắc, quê ở vùng Xuy-đét... Tao còn nhập bọn cả vào một toán người Tiệp, định theo họ đi nhưng tao trót uống say quá nói lung tung. Suýt nữa thì tao bị tụi nó giết chết. Đến Brây-ten-xten tao được lão Buyếc này thu nạp. Bây giờ tao chạy hết nơi này đến nơi khác như chó dái suốt ngày và tao dò xét tin chuyển vận của quân Nga mang về cho thủ lĩnh... Công việc như vậy đấy !... — Hắn nhìn quanh rồi ghé vào tai Vin-ken : — Lão Buyếc này khiếp lắm mày ạ!... Giết người không ghê tay. Liệu hồn, đừng có mà hé răng nói chuyện lúc nãy với lão ta đấy!...


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2018, 03:14:12 pm

        Vin-ken rủ:

        — Thôi, bỏ đi mày ạ. Tụi mình là sĩ quan quân đội Đức chứ có phải là bọn hiến binh đâu.

        Hau-xư lắc đầu :

        — Mày phải biết, lão Buyếc, lão ta cho rằng chỉ mấy hôm nữa bọn ta sẽ ký hòa ước với Anh — Mỹ và sẽ đem toàn lực ra đấu với quân Nga... Ở Béc-lin người ta hy vọng nhiều lắm về điểm này.

        Hai thằng ngồi im. Sau Vin-ken hỏi:

        — Thế thằng Cráp đâu rồi ?

        — Cráp ấy à ? — Hau-xơ xua tay chán chường. —  Hắn tự tử ở Pô-dơ-nan rồi.

        Lại ngồi im. Hau-xơ hỏi:

        — Mày không có thuốc lá à?

        — Không.

        — Nó làm thế mà phải đấy. — Hau-xơ nghĩ đến Cráp. — Chính tao cũng có ý định như nó nhưng rồi không đủ gan làm.

        Hau-xơ chầm chú nhìn Vin-ken :

        — Không nhận được ra mày nữa. Mày khác trước nhiều lắm. Bây giờ mày định làm gì ?

        — Tao chưa biết.

        — Mày đi đâu ?

        — Về tìm một cơ sở ở Kê-ních-béc in Nơ-mác.

        — Các cơ sở cũ bị phá hết rồi. Cơ quan phản gián Nga bắt được nhiều thằng trong bọn mình lắm rồi.

        — Thế mày bảo tao làm gì bây giờ ?

        — Có đi với tao về Son-đin không ?

        — Về chỗ lão Buyếc ấy à ?

        — Không thì mày bảo còn đi đâu ?

        Buổi chiều toán người Đức lại tụ họp lại và lên đường. Vin-ken ngoan ngoãn đi theo Hau-xơ. Tảng sáng hai tên tới Son-đin. Hau-xơ dẫn Vin-ken đi tắt qua những sân sau, nhảy qua những hàng rào thấp tới cuối thành phố về phía tây. Cuối cùng hai thằng hước vào một ngõ vắng nhà cửa đổ nát.

        Nhìn quanh một lượt, Hau-xơ chui vào một cửa sổ tầng hầm. Vin-ken lẳng lặng chui theo. Đi qua hai cửa nhỏ, lát sau hai thằng tới một hành lang dài ẩm thấp sặc mùi hôi thối, chuột bọ.

        Hai đứa đi khá lâu. Cuối cùng chúng tới một gian hầm vuông nồng nặc mùi rượu nho, bốn bề chất đầy thùng tô nô. Trên một thùng rượu một ngọn đèn dầu leo lét cháy. Có hai người nằm ngáy trên đống rơm rải dưới đất. Một người thứ ba vừa gạt bấc đèn vừa thầm thì mấy câu với Hau-xơ. Hau-xơ nói một giọng chắc chắn:

        — Vâng, vâng...

        Hai đứa lại đi, qua một hành lang dài ẩm thấp nữa, đẩy một cánh cửa sắt lớn, bước vào một gian hầm cũng ngổn ngang những thùng tô nô. Ớ đây sáng hơn. Một ngọn đèn điện nhỏ bắc từ trên một chiếc thùng rượu lớn rủ xuống, sợi dây thòng lòng rải lên dãy thùng tô nô. Ánh đèn rọi sáng mấy chiếc đầu người ngồi quanh bàn.

        Để Vin-ken đứng chờ ngoài cửa, Hau-xơ tiến lại cạnh bàn. Trên bàn có mấy chiếc chén tống. Hau-xơ ghé vào tai một người trong bọn, thì thầm. Ngươi này nhỏ bé, gầy gò, mồm nhọn như mỏm cáo. Hắn goi to:

        — Vin-ken, vào đây!

        Vin-ken tiến lại. Tên thứ hai khoanh tay trên bàn gục đầu ngủ. Chiếc đầu to, bù xù, hói trắng, nổi lên giữa mấy chiếc chén tống.

        Tên mõm cáo bảo Vin-ken :

        — Anh ngồi xuống.

        Vin-ken ngồi. Đột nhiên, chiếc đầu hói mở mồm:

        — Lại một sĩ quan Wehrrnacht1 nữa à ?

        — Vâng. — Tên mõm cáo đáp.

        Vin-ken tự giới thiệu:

        — Tôi là trung úy Vin-ken.

        Chiếc đầu gục trên bàn một lát nữa rồi ngửng lên. Hai con mắt sắc sảo nhìn chòng chọc vào Vin-ken. Hai chiếc vai u ôm lấy chiếc đầu. Hầu như không thấy cổ đâu cả.

        Nhìn Vin-ken một lúc, tên kia phá lên cười.

        — Hì, hì, hì... Này Mắc, anh nhìn hắn mà xem! Trông hay chửa! Mày kiếm đâu ra cái khăn ấy đấy ? Nếu tao không nhầm thì đúng là khăn lụa có phải không ? Hệt như là một mụ đàn bà! Hà, hà, hà! Bà Vin-ken, ngồi xuống đây! Đớp đi, nốc rượu đi, rồi ta đánh một giấc, hà, hà, hà!...

        Giọng nói vui vẻ vừa nổ ra ấy cắt đứt cũng đột ngột như lúc bắt đầu.

        — Ngồi xuống. — Lão ta buồn bã nói với Vin-ken tuy Vin-ken đã ngồi xuống từ nãy rồi — Thế nào ? Hỏng cả rồi phải không ? Hỏng rồi. — Hắn tự trả lời, im một lát rồi lại tiếp. — Ta tự giới thiệu với nhau một tí. Tao là Buyếc. Mày đã nghe tên tao bao giờ chưa ? Còn anh bạn này là Mắc Đi-ê-rinh, trợ thủ của tao. Nếu không bị quân Nga cản trở thì anh ta sẽ còn "làm to” hà, hà, hà!... Thế nào Vin-ken, bây giờ mày định làm gì ?

        Vin-ken lúng búng trả lời mấy câu không rõ. Hắn nói phải về báo cáo với cấp trên.

        — Cấp trên à! — Buyếc nhếch mép cười. — Cấp trên nào? Bây giờ mày thuộc quyền tao... Hay là mày là sĩ quan Wehrmacht (quân đội) nên không muốn ở dưới quyền bọn s.s. (hiến binh) chúng tao. Bọn ta đều đã cộng tác với nhau rồi, có phải không ? Thế chúng mày định ăn ốc để bọn tao phải đồ vỏ à? Nhưng mày chớ có quên là đôi tay này — hắn đặt hai bàn tay chuối mắn, đỏ ửng, đầy lông lá, ngón tay đầy những nhẫn vàng, lên mặt bàn — đôi tay này đã từng phỗng tay trên Muýt-sô-li-ni trước mặt quân Anh đấy nhé. Hiểu chứa! Đấy, mày xem, lão Buyếc này như thế đấy! Dưới thời tướng Xtuýn-pơ-na-ghen ở Pa-ri tao chuyên môn chọc tiết; ở Nga thì dưới thời tướng Cốc, tao còn làm việc với các tướng Xtơ-rát-xe và Rôm, mày có nhớ những tướng ấy không? Uống đi, tại sao lại cứ ngồi đực ra thế ? Rượu nho thì còn đủ đùng cho đến ngày chiến thắng!

        Vin-ken uống một ca, đầu choáng váng. Sợ quá, hắn liếc trộm tên hiến binh. Tên này lại rót rượu. Vin-ken lại tu. Hắn muốn uống say một bữa.

---------------
        1. Wehrmacht: quân đội Đức.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2018, 03:15:19 pm

        Im lặng một lát, Buyếc lại nói:

        —  Mày cứ yên trí, ở với ta thì chẳng sợ đếch gì cả. Bà thầy bói Ri-gu nổi tiếng ở Pa-ri xem cho tao đã nói là tao phải lên cấp tướng rồi mới chết. Bây giờ tao còn lâu mới lên cấp tướng vì vậy tao chưa chết được... Tao đến đây để quấy rối hậu phương quân Nga kia mà! Hậu phương Nga mà lại ở trên đất Đức ! Thật không ngờ! Tao đã thấy những gì ? Chỉ thấy dân Đức sợ vãi cứt ra quần, có thế thôi!... Không biết những lực lượng lành mạnh của dân tộc biến đi đâu mất rồi? Chẳng thấy một tí gì cả... Bọn ta cứ như sống trên đất nước ngoài vậy. Lúc nào cũng lo nơm nớp bị một thằng Đức nào đó đi tố cáo... — Đôi mắt hắn bỗng long lên căm tức. Hắn tiếp: — Giữa cái thời buổi như thế này mà người ta phái tao vào hậu phương quân Nga!... Thưa ông Buyếc, bây giờ cần tiến hành một vụ chọc tiết!... Ông Buyếc, chúng tôi tin ở ông !... Ông Buyếc, đây là ngón sở trường của ông !... Được, thế thì tao làm ! Buyếc này chỉ là một anh thừa hành tầm thường của chủ nghĩa Quốc xã. Buyếc không phải là một anh chàng mềm yếu, không phải là một nhà ngoại giao, cũng không phải là một nhà hùng biện, mà là một tay thợ. Tao sẽ giết hết!... Cả mày nữa Vin-ken ạ, tao cũng sẽ giết! — Hắn kết luận đột ngột — Tao không phải là thuộc bọn sĩ quan Wehrmacht diện ngất giời! Tao sẽ chặt tay mày, lắp bao diêm vào, hiểu chưa ?... Này, bỏ cái khăn vuông kia ra, đồ mặt chó! Cạo râu nhanh lên rồi nhồi đầy tư tương Quốc xã vào óc đi!... Uống đi, Vin-ken !

        Vin-ken vội tụt khăn, nốc thêm một ca rượu nữa, say bí tỉ. Hắn thấy ngày càng thích Buyếc.

        — Đây mới thật là một người — Hắn líu lưỡi giọng lè nhè gần như khóc — Đú...ng r...ồi! th...ật đú...ng! —  Hắn nhìn đôi mắt xám như chì của tên hiến binh tỏ một vẻ phục tùng nô lệ.

        Mọi vật xung quanh hắn lúc này như phủ một 1ớp sương mù. Đi-ê-rinh đi ra rồi quay vào đến cạnh Buyếc ghé tai thì thầm câu gì. Buyếc đứng dậy, lảo đảo đi ra cửa hầm. Hau-xơ thủ thỉ với Vin-ken:

        — Đấy, lão ta như thế đấy !

        — Lão ta t...ố...t, — Vin-ken lắp bắp — phi...i thường!... Lão ta sẽ giết hết!
Bỗng nhiên, hắn thấy một quang cảnh khủng khiếp: một chiến sĩ Nga từ cửa hầm hé mở, chậm chạp đi lại phía hắn. Vin-ken nhảy lùi lại, lắc lắc đầu nhưng không xua đuổi được hình ảnh ấy! Hắn nhảy lùi lại phía dãy thùng tô nô. Người mặc quân phục Nga liếc mắt nhìn hẳn, bước lại bàn, nốc một hơi hết ca rượu và nói bằng tiếng Đức chính cống:

        — Thưa "sếp”, tôi đi ngủ đây. Đến giờ ngủ rồi.

        Hắn biến nhanh vào sau cánh cửa khuất trong dãy thùng tô nô mà lúc trước Vin-ken không để ý.

        — Thế là thế nào ? — Vin-ken lẩm bẩm.

        — Im! — Buyếc khẽ đáp lại. — Cho thằng khát rượu này đi ngủ đi!

        Lúc này Vin-ken không đứng vững nổi nữa; chật vật mãi Hau-xơ mới dìu được hắn và cho nằm xuống đống rơm trong góc hầm.

        Vin-ken ú ớ:

        — H...ừ, đấy mới thật là một người !


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Hai, 2018, 03:16:20 pm

XV

        Một chiến sĩ Nga đã đến giữa ổ gián điệp hiến binh này thật, hay là Vin-ken mê thấy?

        Lúc tỉnh dậy, Vin-ken tưởng như đó là giấc mộng. Uống quá nhiều, đầu hắn nhức như búa bổ. Nằm dài trên đống rơm nghĩ lại chuyện đêm qua, hắn không biết là thật hay mê.

        Ánh đèn le lói roi qua dãy thùng rượu xếp quanh người hẳn.

        Không, cuộc gặp gỡ vái Hau-xơ, câu chuyện với Buyếc, đúng là chuyện thực. Lúc này hết hơi rượu, hắn thấy không ưa gì tên hiến binh lắm nữa. Hăn nghĩ thầm : "Thế là lại phải kéo cày rồi. Ngộ nhỡ quân Nga tóm được mình và lão Buyếc thì không phải là chỉ có vào trại tù binh mà thôi đâu!...”.

        Có tiếng người thì thầm sau dãy thùng rượu vẳng lại.

        — Trên miền bắc đang đánh nhau to.

        — Ừ, có tiếng đại bác.

        — Quân ta tung ra khá nhiều xe tăng.

        Co tiếng thì thầm hỏi :

        — Mày đã gặp... Pê-te lần nào chưa?

        — Suỵt!

        Sau đó, tiếng thì thầm nhỏ quá. Vin-keu chỉ nghe lõm bõm được mấy câu và cái tên Pê-te được nhắc lại nhiều lần. Vả lại, hắn củng không cố nghe hết câu chuyện. Đầu óc hắn quay cuồng. Men rượu nho chưa bay hết.

        Bên ngoài có tiếng chân người và tiếng hỏi:

        — Vin-ken, mày nằm đâu vậy ?

        Hau-xơ len qua dãy thùng bước vào. Hắn đã đeo ba lô chuẩn bị lên đường. Trên áo hắn có đính nhiều mảnh vải các màu. Hắn chỉ tay vào những mảnh vải nói :

        — Hôm nay tao là người Tiệp Khắc.

        Vin-ken tiễn Hau-xơ ra tới đầu hành lang, hai đứa đứng lại.

        — Tao phải làm gì, mày biết chưa ? — Vin-ken hỏi.

        — Cũng như tao... Tối hôm qua trông mày nực cười quá !

        — Lâu không quen uống rượu. — Ngừng một tí, Vin-ken hỏi:

        — Không biết lúc đó tao tỉnh hay mê ?

        Hau-xơ ngắt lời:

        — Thôi, đừng có hỏi gì cả... Tao không biết gì đâu. Đấy là một việc bí mật... Một nhiệm vụ đặc biệt Béc-lin giao cho... Thôi, chào mày.

        Hai thằng quyến luyến chưa muốn chia tay. Hai thằng chẳng phải đã từng là đôi bạn cũ hay sao ? Đôi bạn từ cái thời cả hai cùng làm việc trong bộ tham mưu giữa lúc các đơn vị đóng trên bờ sông Vít-xtuyn, cái thời mà cuộc đời còn có vẻ có ý nghĩa. Cái thời ấy, giờ đây hai đứa thấy sao mà tươi đẹp nhất !

        Vin-ken quay về hầm. Lát sau Đi-ê-rinh gọi hắn. Nhiệm vụ đầu tiên rất đơn giản. Vin-ken phải cùng tên Hin-dơ tới ga Líp-pen cách đấy 15 ki-lô-mét tìm vào nhà một công nhân hỏa xa, nhớ lấy những tin tức người này cho biết rồi mang những tin đó về đây.

        Bi-ê-rinh Lảo :

        —  Chiều nay các anh sẽ đi. Cần chú ý nhiệm vụ này phải làm cho đầy đủ, làm sao sáng mai về. Thủ lĩnh bảo tôi nhắc các anh đừng có hòng... "biến”. Nên nhớ là đâu đâu cũng có tai mắt chúng tôi cả.

        Buổi chiều, Vin-ken ra đi.

        Hin-dơ là một gã thanh niên hai nhăm tuổi chưa từng, lên mặt trận bao giờ. Nhờ có ông bạn cũ Xtơ-rét-xe, cha hắn xin được cho hắn miễn tòng quân. Suốt thời gian qua, hắn là "thủ lĩnh” thanh niên trong một quận thuộc tỉnh Ha-nô-vơ-rư. Trong dịp thành lập một tiểu đoàn "Xung kích dân quân”, hắn nổi tiếng vì những bài diễn văn ái quốc đến nỗi một hôm bất thình lình — hắn cũng không kịp báo cho bố biết tin — hắn được giao một công tác hết sức bí mật tại đây.

        Hôm ấy trước ngày quân Nga tiến đến một tuần lễ.

        Hắn cùng đến với Buyếc và tỏ ra là một phần tử đáng tin cẩn. Tuy vậy hắn không hài lòng với công việc, một công việc rất nguy hiểm và thật ra gần như vô ích. Hắn tâm sự với Vin-ken như vậy. Tuy vậy cũng có thu thập được nhiều tin tức quan trọng về tình hình tập trung, chuyển vận của quân Nga. Có gọi máy bay nhưng không thấy đến... Cần thuốc nổ thì không có. Thuốc lá họ cũng không cung cấp nổi cho bọn mình nữa... Nhịn thuốc lá bao nhiêu ngày rồi. Tóm lại, Béc-lin lúng túng chả làm cái đếch gì được cả !... Về Buyếc, Hin-dơ nhắc đến có vẻ kính trọng và đôi chút khiếp sợ. Hắn nói :

        — Nếu người Đức ta ai cũng như ông Phrít (muốn tỏ cho Vin-ken biết hắn thân với Buyếc, hắn gọi tên hiến binh đó bằng tên đệm)... thì thời thế đâu đến nỗi... Chém, giết, đánh chết đối với ông ấy chỉ là chuyện vặt... ông ấy tát cả lão Bi-ê-rinh đấy nhé. — Hin-dơ nói câu này có vẻ khoái chí, vừa nói vừa đưa tay xoa má. — Ông ấy là bạn chiến đấu của tướng Xcoóc-giơ-ni và chẳng thiếu việc nào ông ấy không nhúng tay vào ! Đâu như Quốc trưởng cũng biết ông ta. Có thời kỳ ông ta ở đội hộ vệ riêng của Quốc trưởng đấy ! Một tay cừ khôi đấy !

        Hắn chậm chạp bước trên lớp lá thông ướt nhũn.

        — Bọn ta ở đây có đông không ? — Vin-ken hỏi.

        — Đông đấy à. Ít thôi. Chắc độ năm chục người gì đó. Những đứa khác bỏ trốn hết rồi.

        Vin-ken nghĩ thầm khinh bỉ : "Đặc vụ cóc gì thằng này ! Chỉ ba hoa ! ”


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Hai, 2018, 07:19:23 pm

        Hắn hỏi tiếp :

        — Anh có quen Pê-te không.

        Hin-dư nói thầm :

        — Tớ trông thấy một lần... Pê-te là bí danh đấy. Nhưng không biết là ai cả... cũng là một tay "bự”... Đó là một nhóm đặc biệt... Bọn họ biết tiếng Nga và mặc quân phục Nga hoạt động. Tôi đã có nghe nói đến họ...

 
        Hai đứa nghĩ lại. Hin-đơ mang theo hai bình rượu nho đầy. Hai thằng uống. Hin-dơ nói :

        — Bọn họ thủ tiêu những lính Nga đi lẻ rớt lại sau và... — Hin-dơ ghé sát vào tai Vin-ken — không riêng gì lính Nga... Nhưng liệu hồn đừng có nói với ai là tôi bảo anh đấy nhớ... ừ, anh có tin tôi thì tin..., giết cả đàn bà, trẻ con Đức nữa.

        Vin-ken trợn tròn mắt hỏi:

        — Để làm gì ?

        — Đó là một nhiệm vụ đặc biệt — Hin-dơ dõng dạc đáp lại, thích thú vì đã làm cho một tay tình báo nhà nghề phải ngạc nhiên. — Đó là một tài liệu thần diệu cho Bộ tuyên truyền. Anh nên nhớ dư luận cũng là một vấn đề quan trọng chứ....

        Hai đứa lại đi. Bốn bề tĩnh mịch chỉ nghe tiếng đại bác nổ xa xa trên phía Bắc và chốc chốc lại thấy đèn pha lướt trên nền trời.

        Hin-dơ lại kể:

        — Chúng mình đã chuẩn bị một sân bay trong khu rừng ngay đây. Nhưng tàu bay thì chưa thấy bóng một chiếc nào. Tôi sốt ruột quá... Có lẽ rồi cha tôi cũng xin được cho tôi sang công việc khác... Tôi đợi mãi chưa thấy có giấy từ gì cả.

        Lát sau, làng Líp-pen hiện ra, nằm trên con đường sắt giữa hai cái hồ. Vin-ken và Hin-dơ bò nép theo chân nền đường sắt. Nhiều đoàn tàu chở đại bác, xe tăng đỗ trên đường ray. Hẳn là những đoàn tàu lên mặt trận bị quân Nga bắt được. Toàn bộ số vũ khí này nằm im trên toa chưa bắn được lấy một phát nào. Lính Nga gác, tay cầm tiểu liên đi lại dọc những toa tàu.

        Hin-đơ và Vin-ken rón rén vượt qua đường ray chạy về phía hồ trước mặt. Sát bên hồ, một ngôi nhà nhỏ dựng bên chiếc cối xay. Hai thằng vào nhà. Chủ nhà, một, công nhân xe lửa người vùng này, không niềm nở gì cho lắm; ông ta cũng không mời hai đứa ngồi nữa.

        Ông ta đóng thật chặt cửa lại rồi bắt đầu trút hết tin tức : bao nhiêu xe cam nhông, xe tăng, bộ binh đã kéo về hướng Pi-e-rít. Hôm nọ ở gần đây mới xây dựng một sân bay Nga, ít nhất cũng có chừng năm chục máy bay hai động cơ. Sáng hôm qua, quân Nga kéo nhau xuống hồ Ven-đen-se tắm... Phải. Lạnh họ cũng tắm... Quân Nga đã kiểm tra đường xe lửa, hình như họ sắp chữa lại cho xe chạy.

        Lát sau, chúng hiểu ngay được thái độ hốt hoảng của ông chủ. Lúc Hin-dơ ngồi trên chiếc ghế dài tỏ ý muốn nghỉ lại một vài tiếng đồng hồ, ông chủ nhà vội bảo chúng đi ngay vì hôm qua ông ta đã ra đăng ký với ban chỉ huy xô-viết, khai mình là đảng viên Quốc xã.

        Hin-dơ giật bắn người như bi rắn cắn, hỏi:

        — Tại sao ông lại đăng ký ?

        — Có lệnh của ban chỉ huy xô-viết. — ông chủ nhà buồn bã đáp — Không thể không tuân lệnh. Không khai ra thì hàng xóm họ cũng tố giác mà thôi.

        Hin-đơ và Vin-ken hối hả rời nhà người công nhân xe lửa, Hai đứa đi vòng quanh hai cái hồ, xuyên qua một khu rừng con đi về phía làng Đon-len. Thì ra Hin-dơ nhận trách nhiệm tới đây dò xét. Đi-ê-rinh sẽ đón chung ở đó để rồi có công tác quan trọng đi đâu không rõ.

        Trong ngôi nhà nhỏ ở đầu làng, về phía đông, hai đứa không thấy ai. Cửa bỏ ngỏ, hai thằng bước vào. Hin-dơ ngạc nhiên nói :

        — Quái, tụi nó chuồn đâu cả nhỉ ?

        Hai thằng bước ra sân, đang định bỏ đi thì cánh cửa nhỏ của gian hầm ngoài sân mở ra. Chính thân Buyếc hiện ra. Hắn hỏi :

        — Ai đấy ?

        — Chúng tôi, Hin-dơ và Vin-ken. — Hin-dơ kín đáo trả lời.

        Hai vợ chồng chủ nhà theo sau, Buyếc chui ra khỏi hầm. Cả hai lẳng lặng đi qua trước mặt hai tên gián điệp và biến vào trong nhà. Hin-dơ và Vin-ken đứng nghiêm đợi "thủ lĩnh” hạ lệnh. Buyếc ngồi phịch xuống một cục gỗ lăn lóc cạnh hầm, giọng khàn khàn nói:

        — Thế là hết. Bọn mình bị quây rồi. Tao bị trúng đạn vào tay. Tại sao chúng mày cứ đứng mãi thế ?—Ngừng lại một lát, hắn tiếp: — Ngồi xuống. Ta bàn xem thế nào. Mắc chết rồi. Pê-te cũng vậy. Lê-bơ và bốn thằng khác bị bắt. Có thằng nào phản bội không biết...

        Buyếc đứng dậy. Hắn khật khừ bước lại cửa hầm. Hin-dơ và Vin-ken theo sau. Trong gian hầm ẩm ướt, sặc mùi bắp cải thối. Dù sao chủ nhà cũng đã có cố gắng sang sửa đôi chút: một chiếc ghế bành, một chiếc bàn đặt trong góc hầm. Một ngọn đèn soi sáng gian hầm. Bóng tên Buyếc rung rinh hắt lên nóc hầm hình khum khum.

        Buyếc bảo:

        — Bọn ta phải đi ngay lập tức. Nhất định quân Nga đã dò biết tất cả các cơ sở rồi.

        Hai thằng ngồi câm như hến. Buyếc luôn nhìn cánh tay buộc băng của hắn. Hắn nói:

        — Hỏng hết cả.

          Hắn chỉ lo vết thương bị thối hoặc làm mủ. Hắn lúc nào cũng lo lắng cho tính mạng hắn.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Hai, 2018, 08:24:50 pm

        Không còn chút dấu vết của ông Buyếc xưa kia nữa ; điều này Vin-ken nhận thấy ngay. Lão ta ngồi im, chốc chốc lại nghĩ đến tên Đi-ê-rinh mà chắc lão quý lắm. Lão ta không muốn kể lại tỉ mỉ cuộc quân Nga vây bắt hầm rượu. Nói chung thì cửa hầm nào cũng kín đặc toàn quân Nga. Rõ ràng là có đứa phản hoặc là tự quân Nga dò thấy. Bắn nhau suốt nửa tiếng đồng hồ. Buyếc cùng hai tên nữa trốn thoát ra, nhưng rồi lạc nhau trong đêm tối. Máy vô tuyến điện và mọi tài liệu quan trọng đều lọt vào tay quân Nga, phải rút chạy, cho mau.

        — Phải tìm một thầy thuốc. Dễ thối lắm. — Buyếc nói.

        Hin-dơ đứng dậy:

        — Xin thủ lĩnh đừng lo. Để tôi đi tìm thầy thuốc.

        — Ở đâu ? — Buyếc nghi ngờ nhìn thẳng vào mặt Hin-dơ.

        — Ở Líp-pen, tôi có quen một y sĩ ở ngay gần nhà ga. Tôi đi chóng thôi. Nhưng tôi gửi lại ba lô, đeo đi nặng lắm.

        Hin-dơ bỏ lại ba lô làm cho Buyếc yên tâm.

        Còn lại một mình với Vin-ken, Buyếc ngồi im một hồi lâu, lim dim đôi mắt. Nửa giờ sau, hắn mở mắt hỏi:

        — Hin-dơ chưa về à ?

        — Chưa ạ. Vừa mới đi xong.

        Buyếc lại lim dim đôi mắt. Vin-ken thổi tắt đèn nằm xuống một góc, tựa lưng vào một đống củ cải. Lát sau hắn thiếp đi. Tiếng Buyếc gọi to làm hắn tỉnh dậy:

        — Vin-ken, mày có đấy không

        — Có.

        — Hin-dơ chưa về à?

        — Chưa.

        Im lặng. Vin-ken lại thiếp đi. Lát sau hắn giật mình kinh hãi. Một bàn tay đao phủ, to lớn, đẫy đà, đẫm mồ hôi sờ mặt hắn. Vin-ken còn nhớ kỹ bàn tay này. Hắn run run hỏi:

        — Cái gì thế thủ lĩnh?

        Buyếc hỏi:

        — Hin-dơ vẫn chưa về à ?

        — Chưa.

        — Tại sao màỵ lại tắt đèn. Cũng định trốn à ?

        — Không, tôi ngủ.

        Bàn tay Buyếc lăn xuống phía dưới, túm lấy ve áo khoác của Vin-ken nhấc bỗng Vin-ken lên một cách dễ dàng. Hắn bảo :

        — Này, mày đừng lo, ở với Buyếc này thì sẽ sống. Miễn sao tay tao không bị thối là được ! Mày chưa hiểu rõ Buyếc đâu, nhưng rồi sẽ hiểu. Đi-ê-rinh chết rồi, mày sẽ là bạn tao. Vin-ken, mày khá lắm. Khi nào về đến nhà, tao hứa sẽ tặng cho mày huân chương ”Chữ thập sắt”. Cứ yên trí, nhất định chúng ta sẽ về được. Mày nghe tiếng đại bác đấy chứ ! Quân ta đánh đến đấy ! Chúng mình đi đón họ...

        Vin-ken đi với Buyếc. Ra khỏi làng, Vin-ken dừng lại, rút chiếc khăn vuông trong túi ra bịt lên đầu, và đội mũ ra ngoài.

        Hắn lẩm bẩm :

        — Đội thế này tiện hơn.

        Buyếc không nói gì. Vào tới khu rừng, hai thằng hướng thẳng lên phía bắc, nơi có tiếng đại bác nồ rền. Lúc trời đã sáng hai thằng vừa ngồi xuống bãi cỏ định nghỉ thì thấy một toán lính Nga từ cửa rừng tiến vào. Họ mang theo mấy cuộn dây điện, tháo dần ra mắc lên cành cây. Một sĩ quan trẻ tuổi dong dỏng cao, da mặt trắng mịn, dẫn đầu. Nhìn thấy hai người mặc thường phục ngồi trên bãi cỏ, anh dừng lại.

        Buyếc đứng dậy, mặt tái mét. Nhưng Vin-ken vốn biết nhiều điều mà Buyếc không thể nào ngờ tới, mạnh bạo tiến lại phía quận Nga và nói :

        — Tôi là Va-lép-xki... còn ông này... — hắn chỉ Buyếc — Ông ta là Ma-tuýt-dép-xki... Ba Lan, Ba Lan... Về nhà... ở Vác-sa-va.

        Trung úy gật đầu, bỏ đi. Buyếc thở phào, mặt dần dần đỡ tái.

        Hắn lậu bậu :

        — Hoan hô Vin-ken.

        Nhìn thấy đằng xa có một xưởng nấu hắc ín bỏ hoang, hai thằng bàn nhau vào đấy ngồi nghỉ đợi thời cơ.

        — Quân ta sắp đến đây rồi. — Buyếc vừa lằm bấm vừa bước vào nằm trong một gian nhà để xe rộng rãi làm bằng ván của xưởng hắc ín. — Quân ta sẽ chọc thủng phòng tuyến ! Vin-ken này, đây là một chiến dịch quan trọng, rất quan trọng. Nhiều xe tăng lắm. Quốc trưởng chưa chịu khoanh tay đâu. Vin-ken ạ, đừng sợ gì cả!.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Hai, 2018, 01:18:15 am
 
*

*       *

        Trung úy Nhi-côn-xki vội lắm, nếu không, đồng chí đã nhận ra bộ mặt hốt hoảng của ông Ma-tuýt- dép-xki.

        Nhiệm vụ khẩn trương. Sư đoàn vừa mới bước vào chiến đấu không kịp nghỉ ngơi gì cả. Trong những khu rừng, những thung lũng đầy hồ ao với những ngôi nhà nghỉ mát xinh xắn của bọn nhà giàu thành Stét-tin, chiến sự đang diễn ra ác liệt.

        Trong bộ đội, không ai nắm vững tình hình bằng các đồng chí thông tin. Là người chứng kiến vô hình và kín tiếng trong các câu chuyện điện thoại và truyền thanh, đồng chí thông tin nắm được mọi tin tức bí mật của đơn vi.

        Lắng tai theo dõi các câu chuyện qua điện thoại, Nhi- côn-xki nhận thấy tình thế mỗi lúc một gay go. Sáng nay, một trung đoàn vừa báo cáo có bốn chục xe tăng Đức tiến công; mười phút sau, một trung đoàn khác cho biết phải chống cự với sáu mươi xe tăng và nhiều súng cối sáu nòng của địch rót đạn xuống trận địa mình. Đồng chí phiên dịch O-ga-nhe-xi-an báo cáo với tham mưu trưởng lời khai của số tù binh mới bắt được thuộc sư đoàn hải quân lục chiến thứ nhất "Thống đốc Đơ-nít”. Các đài V.N.O.S1 liên tiếp báo cáo tin những cuộc tiến công của máy bay đối phương, với chi tiết tỉ mĩ về số lần cắt cánh, về loại máy bay phóng pháo của địch.

        Đại tá Ma-lư-sép, chủ nhiệm trinh sát tập đoàn quân, vừa xuống sư đoàn, vẫn yêu cầu nói chuyện điện thoại với các trung đoàn. Các sĩ quan tham mưu trên quân đoàn, tập đoàn quân hỏi tin tức, truyền mệnh lệnh, hét khan cả tiếng.

        Nhiều số hiệu điện thoại mới mỗi lúc một tăng thèm. Đó là các đơn vị pháo binh phối thuộc — liên tiếp va chạm nhau trên đường dây.

        Qua đường dây cách hàng mấy ki-lô-mét, Nhi-côn-xki nghe thấy cả cái hơi thở nặng nề của sư đoàn đang tham chiến và qua tất cả cái đó, nghe thấy giọng nói trầm trầm bề ngoài có vẻ bình tĩnh của thiếu tướng sư đoàn trưởng. Giọng nói ấy vọng tới tất cả các Ban tham mưu, các trạm điện thoại, tất cả cái lưới thông tin rộng lớn. Mọi người nín thở, suỵt cho im những anh chàng cứ muốn nói chuyện dai:

                — Im lặng, số 35 nói chuyện!

        — Im đi nào, số 35 đang ĩr đầu dây kia kìa.

        — Số 35 gọi anh đấy.

           Giữa lúc Nhi-côn-xki ngồi trong gian hầm lắng tai theo dõi tất cả những câu chuyện, vừa rồi thì mặt đất rung lên tiếng bom, tiếng trái phá. Lát sau đường dây nối với trung đoàn Trét-vê-ri-cốp đang gặp khó khăn, bị đứt.

        Sau đó, Nhi-côu-xki không khỏi ngạc nhiên nghe trong máy tiếng sư đoàn trưởng nói thẳng với mình:

        — Nhi-côn-xki, tại sao không nói được với Trét- vê-ri-cổp.

        — Báo cáo đồng chí 35, dây bị đứt. Tôi đã cho người đi nối.

        — Đồng chí tự đi kiểm tra lại xem. Đồng chí phải đảm bảo đường dây với Trét-vê-ri-cốp.

        Nhi-côn-xki cùng một tổ thông tin lần theo đường dây.

        Buổi sớm trời u ám, nhiều mây. Đường dây chạy qua những thửa ruộng cày ấm ướt, qua khu rừng và cuối cùng dọc theo con đường nhựa. Nước suối đầu xuân sôi sục cuồn cuộn khắp mọi nẻo; nhiều khi phải lội dưới nước ngập ngang bụng. Dưới thung lũng, chi chít những hồ và những dòng sông nhỏ.

        Trạm thứ nhất đặt trong một ngôi nhà ngói trắng phía đầu làng. Ở đây, mọi việc yên ổn. Đường dây gọi về sư đoàn bộ và xuống trạm thứ hai thông suốt. Một thiếu phụ Đức to béo pha cà phê mời anh em uống, than phiền không có cà phê thật ma chỉ có cà phê giả. Từ ngày bắt đầu chiến tranh, không còn thấy bóng một hột cà phê thật... Bà ta cho rằng nước Đức gây chiến cũng chỉ vì cà phê thật: cà phê giồng ở châu Phi; ấy vậy mà người ta lại cướp hết thuộc địa của nước Đức...

        Nhi-côn-xki đi lên trạm thứ hai.

        Ở đây, đường dây chốc chốc lại bị đứt. Khốn khổ, các đồng chí thông tin liên tiếp phải chạy đi nối, thở không được nữa. Trái phá địch rót vào trận địa pháo binh của ta trong cánh đồng cỏ ngập nước.

        Một ban tham mưu pháo binh đóng trong làng. Không trung rung lên vì tiếng pháo ta bắn ngay gần đấy. Đàn bò hoảng sợ húc cửa chuồng, rống lên thê thảm.

        Trạm thứ ba không còn nữa. Một viên đạn đại bác rơi trúng giữa gian nhà kho đặt trạm. Hai đồng chí phụ trách bị thương, dây điện đứt tung văng ra khắp góc rừng. Hì hục mãi mới tìm được đầu dây và nối lại. Anh em khiêng hai đồng chí bị thương gửi lên một chiếc xe đi qua trên đường về Hậu cần trung đoàn lĩnh đạn.

        Sau khi để lại trạm hai đồng chí khác và báo cho đại đội thông tin biết lý do đứt dây, Nhi-côn-xki tìm tới ban tham mưu trung đoàn.

        Tổng đài điện thoại trung đoàn đặt trong một cái trại, dưới gian hầm rộng rãi của một ngôi nhà địa chủ, giữa dãy thùng tô nô và dãy chai rượu vang cũ đầy bụi, ban tham mưu ở gian hầm bên cạnh.

------------------
        1. Cơ quan quan sát, liên lạc và thông tin trên không.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Hai, 2018, 08:05:01 am

        Nhấc máy lên, Nhi-côn-xki nghe thấy ngay tiếng thiếu tướng sư đoàn trưởng.

        — Bình tĩnh, bình tĩnh ! Quân Đức đã chọc thủng là thế nào ? Khôi phục ngay lại trận địa đi ! Phản xung phong ngay đi ! — Im lặng một lát, thiếu tướng hỏi :

        — Thế đường dây với "Rát-cát” thông chưa?

        Nhi-côn-xki xen vào nói :

        — Báo cáo đồng chí 35, thông rồi !

        — Ai nói đấy ?

        — Báo cáo, trung úy Nhi-côn-xki.

        — Cậu nói ở máy nào thế ?

        — Báo cáo, máy của " Rát-cát

        — Đã ở đấy rồi kia à ! Hoan hô ! Cho mình nói với Trét-vê-ri-cốp !

        Qua câu chuyện giữa sư đoàn trưởng và trung đoàn trưởng thì thấy rằng tình thế càng nghiêm trọng hơn trước. Bọn Đức lại tung thêm ra nhiều xe tăng. Trong khu của "Trai-ca”, địch đã chọc sâu vào tung thâm được hai ki-lô-mét.

        Tiếp theo là đội trưởng đội "Xốt-na” tức là đội pháo chống tăng phối thuộc trung đoàn Trét-vê-ri-cốp, tham gia câu chuyện :

        — Xin lỗi đồng chí 35. Tôi, đội trưởng "Xốt-na” đây. Tôi vừa đánh lui cuộc tiến công của mười hai xe tăng. Bắn cháy hai chiếc. Chúng tôi bị hỏng bốn khẩu. Tôi quan sát thấy trong cánh rừng nhỏ "Cru-gly” địch đang tập trung một số lớn xe tăng.

        — Giữ cho vững — thiếu tướng bảo — "Pan-ma” sẽ tiếp viện cho các đồng chí.

        — Hay quá ! — "Xốt-na” thở dài khoan khoái, tỏ ra là đã sốt ruột mong đợi "Pan-ma” mãi.

        " Pan-ma ” là một trung đoàn pháo tư hành.

        Anh em điện thoại múc rượu nho trong thùng ra uống và vã rượu lên trán cho đỡ nóng. Chốc chốc, tham mưu trưởng trung đoàn, thiếu tá Mi-gai-ép, Anh hùng Liên Xô, lại bước vào hầm, khuôn mặt thiếu tá lấm láp trông đến khiếp. Anh em đưa cho đồng chí một ca rượu nho và một dúm thuốc lá loại xấu — túi thuốc đồng chí bị rơi mất rồi.

        Lúc đi ra, thiếu tá nói như để cảnh cáo anh em:

        — Này, chớ có uống say đấy nhé !

        Nhi-côn-xki nghĩ thầm bây giờ mình có thể quay về sư đoàn bộ được rồi; nhưng anh thấy không đang tâm : ai lại rút lui về hậu phương giữa lúc thế trận đột biến nghiêm trọng như vậy! Nhưng, một giờ sau thì không thể đi về được nữa : trung đoàn Trét-vê-ri-cốp đã bị bao vây hoàn toàn.

        Nhi-côn-xki đến tìm Mi-gai-ép. Trét-vê-ri-cốp vừa ở đài quan sát quay về đây. Bọn Đức đã tiến sát, dùng tiểu liên tiến công.

        Trung đoàn trưởng đứng giữa hầm, thân hình vạm vỡ, đôi chân vòng kiềng chắc nịch, đầu đội chiếc mũ lông chóp đỏ, tay cầm chiếc roi ngựa.   

        Đồng chí hỏi :

        — Cậu có lưu đạn không ?

        — Có — Mi-gai-ép đáp.

        — Bao nhiêu ?

        — Hai chục quả thường và năm quả chống tăng.

        — Bảo Su-kin mang thêm lại đây một trăm quả nữa. Phát cho tất cả các đồng chí điện thoại không có công tác, trinh sát, lái xe, mật mã, họa đồ, tất cả ra đào hào chung quanh trại. Đi đi, tôi lên tiểu đoàn 2.

        Trét-vê-ri-cốp vung roi phủi đôi ủng, đi ra. Cổ đồng chí đẫm mồ hôi.

        Anh em mang lựu đạn tới, Mi-gai-ép nhặt hai quả chống tẵng đặt lên bàn. Sau khi hạ lệnh bố trí chống giữ toàn bộ, đồng chí định liên lạc với " Phi-an-ca ” nhưng không có tiếng trả lời.

        — Lại đứt dây ! — Mi-gai-ép bỏ máy. Thấy Nhi-côn- xki đứng không giữa hầm, tay cầm một quả lựu đạn, đồng chí bảo : — Đồng chí trung úy, sĩ quan của tôi đi hết rồi. Đồng chí chịu khó đi lên tiểu đoàn 1 xem tình hình ờ đó ra sao và chuyền đạt cho họ mệnh lệnh.

        — Mệnh lệnh nào ạ ?

        — Còn mệnh lệnh nào nửa ? —Mi-gai-ép nhắc lại. — Rất giản đơn. Chống giữ đến cùng. Mệnh lệnh của Xta- lin-grát ngày trước. Có thế thôi.

        Nhi-côn-xki hỏi :

        — Tôi gửi áo ca-pốt lại đây có được không ?

        Mi-gai-ép trợn mắt ngạc nhiên rồi mỉm cười nói :

        — Được hẳn chứ ! Cởi áo ra, đi nhanh lên, oe con khó hiểu. 

        Nhi-eôn-xki tự ái. Anh vừa đi về phía tiểu đoàn 1 vừa lẩm bẩm : " Oe con khó hiểu ! Sao lại " khó hiểu ” ? Lạ thật! Chính anh khó hiểu thì có!”

        Trong cái hố gần con đường gạch hai bên giồng cây, một số sĩ quan pháo binh đang chiếu ống nhòm về phía dãy đồi thấp có con đường sắt chạy qua. Bên kia chiếc cầu xây trên cạn, một đoàn xe tăng lừ lừ tiến, xích sắt căng triệt đế, lọc xọc cuốn tung một lớp bụi nước.

        Nhi-côn-xki nghĩ thầm: " Phải chăng xe tăng Đức?”.

        Đồng chí đại úy pháo binh giọng khàn khàn - nói vào máy :

        — Các đồng chí chuẩn bi!

        Nhi-côn-xki vừa đi khỏi thì nghe thấy khẩu lệnh: " Bắn ”, liền sau đó là nhiều tràng đạn nổ vang tai. Đúng là xe tăng Đức, đạn pháo ta tới tấp nổ xung quanh.

        Sở chỉ huy tiểu đoàn bố trí trong một hào giao thông nối liền chiến hào tiền duyên với một khu rừng nhỏ. Nhi-côn-xki nhảy xuống, anh thấy ngay thiếu tá Ga-rin, cán bộ phòng chính trị sư đoàn. Thiếu tá đang nằm im, mắt nhắm nghiền; Nhi-côn-xki lo lắng hỏi:

        — Bi thương à ?

        Có tiếng đáp lại:

        — Không phải, đồng chí ấy mệt quá, thiếp đi đấy thôi.

        Ga-rin tỉnh dậy, nhận ra Nhi-côn-xki, anh mừng quá dồn dập hỏi:

        — Thiếu tướng đang làm gì? Thiếu tướng có nắm được tình hình trên này không? Đồng chí có trông thấy đại tá Plốt-nhi-cốp ở đâu không? Trên ấy yên ổn chứ? Không có ai thương vong chứ? Quân đoàn bộ đã biết tình hình ở đây chưa ?

        Đồng chí tiểu đoàn trưởng tiến lại. Đó là một thiếu tá người cao lớn, khuôn mặt lầm lì, dáng đi khật khưỡng, xưng tên là Ve-xen-tra-cốp.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Hai, 2018, 02:02:33 am

        Thấy tiểu đoàn trưởng, không hiểu tại sao Ga-rin đâm ra bối rối, cứ dặng hắng như người có lỗi, bị bắt quả tang. Còn Ve-xen-tra-cốp thì không để ý đến đồng chí cán bộ phòng chính tri, anh nghe Nhi-côn-xki báo cáo và cho biết là anh đã phái liên lạc chạy về gặp Mi-gai-ép và đường dây đã nối được. Còn như vấn đề giữ vững thì tiểu đoàn nhất định giữ vững.

        Phía bên trái, đại bác gầm lên. Nhi-côn-xki né thấp đầu xuống. Ve-xen-tra-cốp nhìn anh có vẻ hơi khinh thưừng và bảo :

        — Ồ, pháo ta bắn đấy chứ.

        Một quan sát viên báo cáo:

        — Một xe tăng địch bốc cháy.

        Ve-xen-tra-cốp đưa ống nhòm lên rồi nhảy tới máy nói hét to:

        — Cậu không thấy xe tăng địch lại tiến đến à? — Rồi đồng chí vừa chạy lên chiến hào tiền duyên vừa thét to: — Các pháo thủ chống tăng, chuẩn bị chiến đấu! — Sát sau Nhi-côn-xki theo kịp tiểu đoàn trưởng. Ve-xen- tra-cốp đang đứng trong chiến hào hên cạnh một đại úy trẻ tuổi, người nhỏ nhắn có đôi mắt xám. Hai người đều hút thuốc lá.

        Đồng chí đại úy nói:

        — Bọn Đức bắn toàn đạn xuyên.

        — Không có đạn "nổ”! — Ve-xen-Ịra-cốp nói vẻ mặt suy nghĩ. Giọng nói bình thản mà cũng chỉ hơi khàn khàn của hai người làm cho Nhi-côn-xki tĩnh trí lại. Thật thế, đứng ở đây bình tĩnh hơn là ngồi trên sư đoàn bộ hay trung đoàn bộ. Điều đó cũng dễ hiểu: ở đây, trực tiếp nhìn rõ địch; bọn chúng chỉ là lính Đức và xe tăng Đức, không có gì khác hơn.

        Trung úy mới tham chiến từ sáu tháng nay, hôm nay cũng là lần đầu tiên lên tuyến lửa. Anh ngạc nhiên trước quang cảnh bình thản chung quanh. Chẳng qua chỉ là một đường hào nông nông trong đó có các chiến sĩ. Một đồng chí sắp qua đời đang nằm líu lưỡi nói mê man. Tất cả hoạt động của bộ máy quân đội khổng lồ: tham mưu, pháo binh, công binh, hậu cần, điện thoại, vô tuyến điện, là nhằm phục vụ cho các chiến sĩ này đây. Tất cả hoạt động để cho các chiến sĩ có mặt ở đây, áo ca-pốt bê bết bùn, có thế tiến lên phía trước.

        Nhi-côn-xki không kịp suy nghĩ nhiều về vấn đề đó; một đoàn máy bay ném bom Đức xuất hiện. Các chiến sĩ đưa mắt chăm chú theo dõi đường bay của chúng, thâm tâm hy vọng chúng lái qua hướng khác. Nhưng rõ ràng là mục tiêu của bốn mươi nhăm chiếc "gioong-ke” đen sì rống lên ầm ầm ấy lại đúng là họ, đúng là những người nhỏ bé đứng trong đường hào nông này. Bom liên tiếp lao xuống; tim như ngừng đập, cảm giác trước thấy vết thương đau đớn hay cái chết.

        Ve-xen-tra-eốp cùng đồng chí đại úy đứng thẳng trong chiến hào, coi thường trận mưa bom, không để ý tới các chiến sĩ đang dán mình xuống đáy hào, thâm tâm như muốn giữ kẽ để anh em khỏi ngượng. Lúc máy bay địch đã trút hết bom, đồng chí đại úy nói:

        — Lại sắp bắt đầu nữa đấy! — Rồi anh thét to lên bằng một thứ tiếng trẻ trung, oang oang: — Toàn đại đội, sẵn sàng chiến đấu !

        Thiếu tá Ga-rin, tay cầm súng ngắn, tiến lại.

        Nhi-côn-xki sực nhớ mình cũng có súng ngắn vội rút ra khỏi bao da. Anh nghe thấy tiếng một thượng sĩ già có bộ ria đen nói với thiếu tá Ga-rin :

        — Đồng chí thiếu tá, đồng chí lên đây làm gì ? Đồng chí quay về trung đoàn bộ đi, không có đồng chí chúng tôi cũng đủ sức đối phó.

        Nhi-côn-xki không nghe rõ câu trả lời của Ga-rin. Các chiến sĩ đã nổ súng. Nhi-côn-xki cho rằng hỏa lực thiếu thống nhất và kém hiệu lực. Nhưng bọn Đức lại

        nghĩ khác. Có đồng chí báo tiu là bọn chúng đã phải dừng lại và nằm dán xuống đất.

        Đại úy Trô-khốp lườm Nhi-côn-xki:

        — Có đời thuở nhà ai lại dùng súng ngắn ở cư ly 400 mét như vậy ? Nghe tôi, hãy đi tìm súng trường của một đồng chí bị thương mà dùng.

        Nhi-côn-xki làm theo. Đứng thẳng sau bệ chắn, anh bắt đầu bắn. Mỗi lần bóp cò xong là một lần lòng anh tràn ngập một niềm tin tưởng vô bờ. Anh chẳng biết đạn mình bắn có trúng tên đích nào không ? Nhưng anh biết rõ, cũng như mọi người khác ở đây, là anh sẽ chống giữ đến cùng, chống giữ như kiểu các chiến sĩ Xta-lin-grát và anh sẽ không chịu lùi nửa bước.

        Đó là điều mà trong các báo cáo bằng điện thoại hay trong các tài liệu tham mưu, người ta thường diễn tả bằng câu: "Các cuộc tiến công đều đã bị đánh lui; địch tồn thất nặng”.

        Đại úy trẻ tuổi đứng sát cạnh, quẹt diêm châm thuốc lá, que diêm trong tay đại úy không run rẩy chút nào.

        Đại úy bảo Nhi-côn-xki:

        — Thôi đừng bắn nữa. Bọn Bức lùi rồi. Đồng chí không thấy à ?

        Nhi-côn-xki không trông mà cũng không thấy gì. Anh chỉ muốn bắn, bắn mãi.  Lúc đầu, không một ai hiểu đại tá Plốt-nhi-cốp, chủ nhiệm chính trị sư đoàn làm thế nào lại có mặt trên chiến hào tiền duyên được. Đứng cạnh các chiến sĩ, đồng chí đưa ống nhòm nhìn sang phía địch rồi hỏi Trô-khốp:

        — Đồng chí đại úy, phía đồng chí thế nào? Ta giữ vững được không ?


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Hai, 2018, 01:17:26 am

        Trô-khốp đáp :

        — Giữ vững được.

        — Ồ thế thì sao trông lại buồn thế ? — Đại tá mỉm cười. — Nếu như ta giữ vững được thì phải vui lên chứ — Đồng chí lại nhìn qua ống nhòm rồi hỏi:

        — Anh em đã ăn sáng chưa ?

        — Báo cáo chưa.

        — Tại sao lại chưa ? Tệ quá! Quản lý đại đội đồng chí đâu ?

        Gô-đu-nốp hoảng quá, vội chạy vào rừng tìm xe nhà bếp.   '

        Piốt-nhi-cốp dặn với theo :

        — Lấy cả rượu về đây nữa nhé !

        Đồng chí đi lại giữa đám chiến sĩ rồi hạ lệnh tranh thủ đào chiến hào sâu thêm trong lúc địch ngừng tiến công. Xli-ven-cô là người đầu tiên hỏi đại tá:

        — Báo cáo đồng chí đại tá, đồng chí làm thế nào mà lên được đây vậy.

        Plốt-nhi-cốp cười :

        — Đồng chí xem, mình phải có cách chứ !... Còn cách nào khác nữa!... Mình phải bò sát đất!... Vả lại, các đồng chí có bị vây chặt lắm đâu. Thế mà cũng nói là bị vây... Có lẽ chính quân Đức lại tưởng tượng rằng chúng nó bị vây, chứ không phải các đồng chí...

        Xli-ven-cô nói có vẻ trách:   

        — Đồng chí đi thế có phen chạm trán với bọn Đức mất.

        — Mình đi có bảo vệ đấy chứ, đi với đội trinh sát.

        Thật vậy, đại úy Me-séc-xki cùng một số trinh sát/Ểua sư đóàn cũng đã lên đây. Mc-séc-xki chào Trô-khốp rồi đến báo cáo với đại tá:

        — Thiếu tá Ga-rin ở đại đội bên, Nhi-côn-xki cũng lên đây.

        — Thật là cả một lực lượng tăng viện của sư đoàn nhé. Thế mà các đồng chí cứ kêu thiếu người!

        Ga-rin đã theo hào giao thông chạy tới chỗ đại tá, thái độ sửng sốt, cực kỳ hốt hoảng. Anh kêu lên :

        — Tại sao đồng chí lại lên đây ?

        — Thôi được, thôi được! — Đại tá bực mình nói. —  Các anh không cần phải lên lớp và lo lắng cho tôi! Các "tướng” con, tốt hơn hết là các ông nên đi tìm xẻng giúp anh em đào chiến hào ngay đi! Tranh thủ thời gian quân Đức chưa chơi lại khúc nhạc của chúng...

        Trô-khốp đứng bên Me-séc-xki nói nhỏ:

        — Đồng chí chủ nhiệm chính trị gan dạ thật!

        Me-séc-xki đáp lại:

        — Đồng chí ấy vẫn như vậy đấy!

        Từ lúc có Me-séc-xki tới, Trô-khốp nhìn mọi sự việc đang diễn biến, những sự việc tầm thường đối với một đại đội trưởng bộ binh, bằng một con mắt khác hẳn. Anh nghĩ bụng "biết đâu anh ấy lại chẳng miêu tả hết”. Từ phút ấy, mọi sự việc chung quanh anh nhuộm một màu sắc mới, rực rỡ hơn vì có thể sẽ được dùng làm để tài cho những bài thơ tương lai. Giọng nói của Trô-khốp trở nên rắn rỏi hơn. Khẩu lệnh rõ ràng hơn, dứt khoát hơn. Trô-khốp chú ý đến cả cảnh vật thiên nhiên : cụm cỏ non mọc ngoài tường chắn, bờ hào dòng sông nhỏ cuồn cuộn chảy phía bên trái trận địa.

        Me-séc-xki thì chả còn bụng dạ nào nghĩ đến thơ nữa. địch lại chuẩn bị tiến công. Tiếng ầm ầm của đoàn xe tăng nấp kín cuối khu rừng nhỏ "Cru-gli” ngày càng nổi lên vang dội. Rõ ràng địch đã được tăng viện.

        Gô-đu-nốp cùng các đồng chí quản lý khác mang thức ăn sáng và rượu vốt-ca về. Không khí vui nhộn hẳn lên. Pi-tru-ghin còn đối thoại cả với bọn lính Đức nấp phía ven rừng.

        — Hănde lioch, lại đâỵ mà chén Fruhstiick1

        Niềm vui chẳng được bao lâu. Trận đánh đã tái diễn. Đoàn xe tăng nấp kín trong rừng rót đạn xuyên vào chiến hào như mưa. Tiếp đó, những khẩu pháo bắn nhanh của địch bố trí sau khu rừng bắt đầu hoạt động. Những bóng đen lại nhỏm dậy, lao lên trước. Sau lưng chúng, một đoàn xe tăng xuất hiện : ba mươi hai chiếc. Lên ngang bộ binh, xe tăng vượt lên trước, rồi lừ lừ nặng nề tiến tới chiến hào.

        Moi người cứ đứng yên tại chỗ. Tiếng cùi dìa bỏ xuống cà mèn khẽ kêu lách cách.

        — Ai chưa đươc uống nào ? — Gô-đu-nốp hỏi to, tay giơ cao bi đông đầv rượu vốt-ca. Một viên đạn rít bay sát bi đông rượu.

        Binh nhất Xê-mi-gláp chưa kịp uống suất rượu. Anh đã chạy lại khẩu trung liên của mình, và không thiết uống nữa. Anh nhường cho Pi-tru-ghin; đồng chí này tu xong ngụm rượu, khà một tiếng khoan khoái rồi đứng dậy thong thả đi lại chỗ khẩu súng trường của mình bắc trên bệ chắn.

        Plốt-nhi-cấp thở dài nhẹ nhõm bụng nghĩ thầm: "Thật là những tay chiến đấu cừ!" Đại tá nói:

        — Các chú em ơi, tất cả hy vọng đặt vào bộ binh đấy nhé!

        Một quả đại bác rít lên. Tiếng rít mỗi lúc một thêm lanh lảnh, rùng rợn, tựa hồ như tiếng rít của một đoàn xe lửa lao hết tốc độ. Khói đạn dày đặc bao trùm mọi vật không còn nhìn thấy được nhau nữa.

        Một đồng chí tiếp đạn, mặt tái nhợt, khom lưng mang hòm đạn chạy tới, lắp bắp hỏi:

        — Đại tá Plốt-nhi-cốp đâu ? Thiếu tướng muốn gặp đại tá ở máy điện thanh.

        Đại tá lom khom đi theo hào giao thông. Máy điện thanh và hiệu thính viên ở trong một "hàm ếch” khoét vào thành chiến hào.

        Plốt-nhi-cốp cúi sát đầu vào lớp đất ẩm bên cạnh máy, nói:

        — Số 25 nghe đây.

        — Gớm, tìm bở hơi tai mới thấy đồng chí — Tiếng nói văng vẳng xa xa của thiếu tướng sư đoàn trưởng kèm theo một cái thở dài khoan khoái. — Ở chỗ đồng chí thế nào? Cánh Lu-ben-xốp có đi với đồng chí không? — Thiếu tướng quen gọi đội trinh sát là "'cánh Lu-ben-xốp ”.

        Plốt-nhi-cốp báo cáo tình hình. Thiếu tướng im lặng rồi dùng tiếng lóng báo cho biết sư đoàn sẽ bắt đầu tiến công trước 12 giờ trưa.

----------------
        1. Giơ tay lên, lại đây chén điểm tâm!


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Ba, 2018, 03:10:19 am
     
        Lúc này máy bay Đức lại xuất hiện. Plốt-nhi-cốp nói:

        — Tụi nó lại nện chỗ chúng tôi đấy!

        — Tôi thấy rồi. Giữ cho vững nhé. sắp qua giờ phút gay go này rồi. Ở khu I-va-nốp địch đã rút. Xem "dưa chuột” của anh em "nhạc sĩ” còn bao nhiêu nhé...

        Plốt-nhi-cốp vội chạy tới chỗ các pháo thủ hỏi xem tình hình đạn dược, nên không nghe thấy câu nói cuối cùng của thiếu tướng. Thì ra thiếu tướng không nhịn được nữa bèn nói thêm:

        — Nhưng này Plốt-nhi-cốp, tại sao đồng chí lại lên trên ấy ? Anh quả là du kích thật!

        Hào giao thông ngập nước mưa xuân. Trận địa pháo bố trí ngay sát ven rừng sau trận địa một. Xe kéo giấu trong một con đường hẻm. Các khẩu pháo ghìm xuống đất, phủ qua loa mấv cành cây khô và tấm lưới ngụy trang. Nhiều đống vỏ đạn lăn lóc xung quanh. Làn khói thuốc đạn cay sè tỏa ngập bốn phía.

        Các pháo thủ đen thủi đen thui, mồ hôi nhễ nhại, nét mặt dữ tợn đang bận túi bụi quanh các khẩu pháo nòng dài, chốc chốc lại trả lời gọn một đồng chí ngồi trên cành cây đang hạ phần tử bắn :

        — Rõ!

        Đại tá nhảy xuống một hố. Các sĩ quan pháo binh chạy vội lại. Một đồng chí nói:

        — Chết, đồng chí đại tá, đồng chí bị thương rồi kìa !

        Plốt-nhi-cốp sờ lên má, thấy ươn ướt. Một mảnh bom hay một cục đất khô văng phải, vết thương nhẹ thôi.

        Tuy vậy các pháo thủ cũng buộc đại tá phải vào hầm trú ẩn của họ, bôi thuốc i-ốt và đắp bông lên vết thương.

        Lúc này đạn còn đủ dùng nhưng anh em tỏ ra rất tiết kiệm.

        Plốt-nhi-cốp nói:

        — Này các đồng chí, nên nhớ là tất cả hy vọng của chúng ta đặt ở pháo binh đấy nhé!

        Đồng chí theo đường hầm quay lại. Tình hình đã trở lại yên tĩnh. Đồng chí thương binh nằm dài dưới đáy hào không kêu nữa.

        Một đồng chí vừa lấy tấm vải bạt phủ lên mặt xác chết vừa nói:

        — Cậu ấy chết rồi.

        Bên bức thành hào, hai đại úy đứng: Trô-khốp và Me-sée-xki.

        Trô-khốp hỏi :      

        — Tình hình thiếu tá cận vệ thế nào, khá hơn chứ ?

        Me-séc-xki đáp :

        — Khá dần dần. Đáng tiếc lúc này không có anh ẩy ở đây. Có anh ấy thấy yên trí hơn. Anh ấy phán đoán âm mưu địch rất chính xác.

        Máy bay địch lại xuất hiện, Trô-khốp nói :

        — Miễn sao chúng ta có thể giữ vững được ít nhất là đến tối thôi.

        Plốt-nhi-cốp nhìn đồng hồ mỉm cười :

        — Mới có mười giờ sáng.

        — Chết, đồng chí bị thương rồi! — Ga-rin hốt hoảng nói khi thấy vết máu trên má đại tá. Plốt-nhi-cốp lừ mắt nhìn làm anh im bặt.

        Ve-xen-tra-cốp báo tin trận phản công toàn diện sẽ bắt đầu lúc mười một giờ. Những phút chờ đợi dài dằng dặc.

        Cuối cùng, tiếng khẩu lệnh quen thuộc, nhưng thật đáng kinh sợ vang lên :

        — Tiến lên, xung phong !

        Các chiến sĩ đứng không nhúc nhích. Xli-ven-cô nghĩ bụng : " Quái, sao chưa thấy ai xông lên khỏi chiến hào ?”. Và chính vì tất cả đều chung một ý nghĩ ấy nên chưa ai xông lên. Trên đầu mọi người tiếng đạn rít ghê rợn.

        Xli-ven-cô lại tự hỏi : "Sao vẫn chưa thấy ai xông lên ?” Anh chợt nghĩ ra, mỉm cười thầm : "Thì ra họ chờ mình ”.

        Tay víu chặt lấy bờ hào, anh vượt qua bệ chắn xông lên. Không phải là theo sau anh, mà có lẽ cùng một lúc với anh, cùng một tích tắc đó, toàn đội lao ra khỏi chiến hào.

        Thế nghĩa là thế nào? Phải chăng vì cùng trong một giây phút ấy, mỗi một chiến sĩ đều nghĩ: " Tất cả đang chờ mình?”. Hay vì cần có một thời gian để buộc mình phải nhìn thẳng vào thần chết ? Hay là vì tất cả mọi người, dù cho không nhìn đồng chí thượng sĩ cũng biết trước: tí nữa đồng chí bí thư chi bộ thế nào cũng nhảy lên trước tiên ? Dầu thế này hay thế khác, chỉ biết tất cả đều đã cùng một loạt nhảy vọt ra khỏi hào.”

        Bên phải có tiếng rên khẽ: một bóng người ngã gục xuống, nhưng không một ai ngoái cổ về phía ấy.

        Xli-ven-cô thét lên, tiếng oang oang, ngắt ra từng quãng :

        —  Vì Tổ quốc, vì Xta-lin!

        Các chiến sĩ không kịp thở, ngã xuống lại vọt lên. Chân thụt xuống lớp bùn dẻo quánh; như vậy có nghĩa là đã tới bờ một con sông nhỏ. Nước ngập đầu gối rồi đến ngang bụng... Bên phải, qua cửa rừng, nhìn thấy một ngôi biệt thự lớn xinh đẹp trên nóc có một chiếc chong chóng hình con gà trống.

        "Nếu như mình còn sống...” Xli-ven-cô nghĩ thầm; nhưng sống thì sẽ làm gì, cái đó anh chưa kịp nghĩ đến nơi thì đã lại nghĩ sang chuyện khác.

        Lúc đạn pháo bắt đầu nổ ở ven rừng "Cru-gli” (Xli-ven-cô khoái chí, hiểu ngay: đúng pháo ta! Pháo ta) là lúc đã có một cái gì biến chuyền, biến chuyền thầm lặng. Ở đâu khó mà biết được, có lẽ trong không khí. Người ta chạy lên, nhanh nhẹn hơn, tiếng hô xung phong mạnh hơn, và qua tiếng hô như thấy đã trút được cả gánh nặng khỏi hai vai.

        —  Có gì xảy ra thế nhỉ

        Quân Bức không thấy bắn nữa. Tại sao vậy ? Điều đó Xli-ven-cô chưa hiểu được. Sau anh mới nhận ra : đoàn xe tăng lúc này đang tiến thành hàng ngang phía bên trái chiếc cầu cạn không còn là xe tăng của Đức nữa mà là xe tăng của ta.

        Các đồng chí tiếp đạn súng cối, mồ hôi nhễ nhại, lưng đeo hòm đạn, cố đuổi kịp bộ binh. Bên phải, những khẩu súng chống tăng nhịp nhàng rún rẫy trên vai các chiến sĩ và sau cùng, ở đâu đó phía sau lưng, tiếng xe kéo nồ rền rĩ, rồi những khẩu pháo từ khu rừng nhỏ chui ra.

        Khu rừng nhỏ " Cru-gli ” đáng ghét ấy, trước đây là nguyên nhân gây ra mọi tai họa thì bây giờ chỉ còn là một khu rừng bình thường, vô hại. Trong rừng bầy chim sẻ bay tới, và rặng thông già phủ bóng râm mát. Trong ngôi biệt thự nhỏ, Me-séc-xki bắt được hai tên lính xe tăng Đức bị thương. Chúng thuộc sư đoàn thiết giáp "Xi-lê-di ” vừa từ miền tây điều tới, cách đây hai tiếng đồng hồ.

        Một làng nhỏ với một xưởng cưa nép mình phía bên kia khu rừng. Trong các căn nhà đã phấp phới những lá cờ trắng. Có hai người đang tiến lại phía các chiến sĩ; nước da họ đen bóng như người châu Phi, tuy nhạt hơn. Bộ quần áo vải ka ki của họ đã sờn rách cả.

        Hai người tiến lại, nét mặt hớn hở, líu la líu lô, nói những câu gì không hiểu nhưng chắc là tỏ nỗi vui sướng của họ. Qua cuộc hội kiến ngắn với đại tá Plốt- nhi-cốp thì biết họ là tù binh Anh. Nói cho đủng, không phải người Anh mà là hai người Ấn Độ trốn thoát khỏi trại giam Stét-tin. Họ xin súng để ra trận chiếu đấu bên cạnh quân Nga.

        Plốt-nhi-cốp mỉm cười nói với họ :

        — Chiến tranh, chúng tôi sẽ tự kết thúc lấy. Các anh, các anh còn phải đi xa... Bông-bay hay Can-quít-ta !

        — Bông-bay, Bông-bay! — Một người vui vẻ trả lời.

        Người thứ hai đáp :

        — La-ho !

        Các chiến sĩ nhìn hai người Ấn Độ, ngạc nhiên.

        Chuẩn úy Gô-đu-nốp cố gắng đãi hai người khách phương xa một chút gì. Anh mời họ tha hồ uống rượu. Hai người ngà ngà say, khật khưỡng, mỉm cười sung sướng đi về tuyến sau trung đoàn.

        Trong khi đó, một trận giao chiến mới với bọn Đức lại diễn ra. Lúc này chúng đã kịp lấy lại tinh thần trước cuộc tiến công của ta. Đạn lại rít, đại bác lại gầm trên đường hào vừa mới đào xong. Các chiến sĩ thở hổn hển, lấy mũ ca lô vục uống cả nước suối, nước vũng. Trô-khốp xem giờ : kim đồng hồ mới chỉ một giờ chiều.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Ba, 2018, 02:09:49 am

XVIII

        Ngày 12 tháng 3, sau khi các đơn vị quân ta chiếm được pháo dài Cút-xtrin trên sông Ô-đe, do đó củng cố và bảo vệ chắc chắn cho đầu cầu bên bờ phía
tây, trung tướng Xi-dô-crư-lốp lúc tối mịt xuống phòng tham mưu hỏi tình hình chiến sự miền hạ lưu sông Ô-đe.

        Đại tá Ma-lư-sép chủ nhiệm trinh sát tập đoàn quân vừa lên thăm các sư đoàn đang đánh lui cuộc tiến công của địch trên phía bắc về, thảo một báo cáo tỉ mỉ lên Hội đồng quân sự. Căn cứ vào báo cáo của cấp dưới, lời khai của tù binh, và những điều quan sát được của đồng chí, đại tá đã phát hiện được nhiều sự kiện quan trọng.

        Một là xe tăng và pháo xung kích của địch bắn toàn đạn xuyên. Bắn đạn xuyên vào bộ binh! Đó chẳng phải là hiện tượng thiếu đạn “nổ” hay sao ? Hai là quân Đức dùng pháo cao xạ để bắn mục tiêu mặt đất : những khẩu pháo này chúng vừa rút của đội phòng không Stét-tin và cả từ Béc-lin về. Như vậy có nghĩa là quân Bức còn rất ít pháo dã chiến. Điểm cuối cùng là đạn pháo địch đều chế tạo năm 1945. Phát hiện này rất đáng chú ý vì pháo đạn được tiếp tế thẳng từ xưởng chế tạo lên mặt trận và như vậy là kho dự trữ đã cạn.

        Mặc dù quân Đức đã cố tung ra nhiều lực lượng mới, nhưng vẫn vô hiệu quả. Sự thực, một vài sư đoàn của ta có gặp khó khăn. Tổn thất khá quan trọng. Nhưng so với thắng lợi chung thì tất cả những điều đó không có nghĩa lý gì. Nước cờ của quân Đức — chọc vào hậu phương các đơn vị của phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi thứ nhất — đã bị phá tan. Các đơn vị ta liên tục phản công làm địch mệt nhoài, đã bắt đầu khép chặt lấy chúng và từ từ tiến lên hình thành một vòng bán nguyệt quanh An-tư-đam, thành trì Đức cuối cùng ở miền hạ lưu sông Ô-đe.

        Tất cả những tin tức đó làm cho trung tướng Xi-dô- crư-lốp tràn ngập tin tưởng và yên lòng.

        Trô-khốp và các chiến sĩ không biết được cục diện chung. Hội đồng quân sự có dưới quyền chỉ huy hàng mấy vạn sinh mạng, còn các chiến sĩ chỉ phụ trách có bản thân mình. Trung tướng Xi-dô-crư-lốp nhận được rất nhiều tin tức do hàng trăm nguồn cung cấp tới. Các chiến sĩ chỉ được biết những điều trước mắt: những xe tăng Đức mang chữ thập đen và trắng, cũng vẫn những chiếc xe tăng trước kia đã gặp trên bờ sông Đông, trước thành Nốp-gô-rốt và trước thành Xê-vát-xtô-pôn.

        Xe tăng của chúng còn khá nhiều. Nhưng thiếu tướng Xê-rê-đa, chỉ huy sư đoàn, qua việc theo dõi cách tiến thoái của địch, đã thấy rõ địch tiến đánh ngập ngừng, dè dặt và như vậy thì không một trận tiến công nào của chúng có thể thắng lợi được. Lúc đầu, bọn Đức cắm đầu cắm cổ xông lên bất chấp thiệt hại; nhưng mấy ngày sau, trước sức đề kháng ngoan cường của đối phương, bọn chúng đã thấy xỉu dần. Các trung đoàn xô-viết từ từ tiến lên.

        Yên trí, Xê-rê-đa rời đài quan sát về phòng tham mưu. Về tới nhà, đồng chí rửa ráy, tháo ủng và còn định đánh một giấc ngủ. Đồng chí chủ nhiệm chính trị ngăn lại. Plốt-nhi-cốp vừa từ trên tiền duyên về, thấy thiếu tướng nằm dài trên tấm phản, tay cầm tờ báo, không khỏi ngạc nhiên, hỏi:

        — Thế nào đồng chí Xê-rê-đa, đồng chí định ngủ đấy à!

        — Ừ, chợp mắt một tí. Vả lại tôi cũng muốn đọc báo một chút.

        — Sao lại thế? Trên kia, trên tiền duyên...

        Thiếu tướng mỉm cười nói kháy:

        — Phải, tôi biết rồi... Đồng chí vừa xung phong lên... Đáng tiếc đồng chí lại là đại tá, nếu không có thể tặng thưởng cho đồng chí Huân chương Vinh dự hạng ba đấy. Tại sao đồng chí lại lên đấy vùi đầu làm gì ? Trên ấy thiếu người hay sao ? Đồng chí có muốn tôi nói rõ nguyên nhân không? Chỉ vì đồng chí thiếu tin tưởng quần chúng đấy thôi!

        Plốt-nhi-cốp bật cười:

        — Thế đồng chí không bao giờ lên tiền duyên à ?

        — Có chứ, khi nào cần thiết.

        — Làm thế nào biết được lúc nào cần, lúc nào không cần ?

        Thiếu tướng nháy mắt hóm hỉnh:

        — Phải thính mũi chứ!

        Giữa lúc ấy, trung đoàn đóng phía sườn bên trái gọi thiếu tướng ở máy điện thanh. Hai mươi phút qua, bên cánh trái đã diễn ra nhiều biến chuyền nghiêm trọng. Địch đã đẩy lùi đơn vị bạn và thọc vào sau lưng trung đoàn I-va-nốp. Trung đoàn này đã phải áp dụng chiến thuật phòng ngự chữ o và đang chật vật chống đỡ cuộc tiến công của xe tăng Đức đang kẹp chặt lấy trung đoàn. Đoàn xe tăng này cũng thuộc sư đoàn thiết giap "Xi-lê-di ”. Hơn nữa : quân Đức đã thọc tới sát làng trung đoàn bộ đóng. Gian nhà mà tham mưu trưởng trung đoàn đang nói chuyện bằng máy điện thanh, đã nằm dưới tầm đạn của đội súng tiểu liên Đức.

        Thiếu tướng liếc nhìn Plốt-nhi-cốp, cài khuy áo, bắt đầu xỏ giày rồi cầm máy nói gọi đội trưởng "Pan-ma"

        — Đồng chí cho anh em chuẩn bị chiến đấu và chính đồng chí phải lên gặp Đrô-đốp. Tôi cũng sẽ lên đó.

        Thiếu tướng đặt máy xuống bẵo :

        — Tôi lên đó đây.

        Plốt-nhi-cốp mỉm cười hỏi :

        — Thế nào, bây giờ đồng chí thấy rồi chứ ?

        — Ừ — Thiếu tướng đáp lại, vẻ mặt không vui.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Ba, 2018, 01:23:40 am

        Đồng chí lên ô tô đi ra phía cái hồ gần đấy có tiểu đoàn bộ binh dự bị đóng. Toàn đơn vị đã sẵn sàng, tập họp bên bờ hồ. Đồng chí tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi, một anh chàng lực lưỡng, mặc áo ngắn, hai tấm Huân chương Cờ đỏ đính trước bộ ngực nở nang. Thấy xe thiếu tướng, đồng chí hô vang như sấm :

        — Nghiêm !...

        Thiếu tướng xuống xe, đi duyệt một lượt trước hàng quân, vừa đi vừa nhìn thẳng vào anh em, rồi nói :

        — Các đồng chí, các đồng chí sắp làm nhiệm vụ. Tôi không muốn phải đụng tới các đồng chí vì các đồng chí là đội dự bị của sư đoàn. Nhưng một khi tôi đã tung các đồng chí ra trận thì đó là do tình hình cấp bách. Tôi mong các đồng chí sẽ chiến đấu sao cho xứng đáng là một đội dự bị của sư đoàn. Đánh bật quân Đức ra khỏi hai làng, chuyển nguy thành yên, giúp sư đoàn bạn đang gặp khó khăn; nói tóm lại, quyết chiến quyết thắng. Đó là điều tôi yêu cầu và cũng là điều tôi hạ lệnh cho các đồng chí. Các đồng chí không phải đi bộ, mà sẽ cưỡi trên đoàn pháo tự hành.

        Nghe tiếng máy nổ ầm ì. Trên cánh đồng, một chiếc ô tô đang tiến lại, bánh xe làm tung tóe nước ra hai bên. Thiếu tướng quay lại phía chiếc xe, đứng đợi. Xe dừng lại. Một đồng chí béo lùn nhảy ra. Đó là đại tá chỉ huy trung đoàn pháo tự hành. Đi đều bước tới trước mặt thiếu tướng, đại tá báo cáo rằng trung đoàn đã sẵn sàng lên đường, hiện đang tập trung trên tuyến xuất kích trong rừng ở khu vực điểm cao 61,5.

        — Sau đây một giờ, tiểu đoàn bộ binh sẽ có mặt ở đó.—Thiếu tướng nói rồi quay lại phía các chiến sĩ.

        Đại tá đi khỏi, đồng chí tiểu đoàn trưởng giơ bàn tay mập mạp lên vành mũ, hét to :

        — Tôi có thể đi được chưa?

        Thiếu tướng ra hiệu đồng ý.

        Tiểu đoàn trưởng hô:

        — Bên phải quay!

        Gót chân giập đều một tiếng.

        Thiếu tướng hỏi đồng chí tiểu đoàn trưởng:

        — Tại sao đồng chí không mặc ca-pốt. có thể nhiễm lạnh đấy!

        — Báo cáo thiếu tướng, tôi chưa hề ốm bao giờ ! — Giọng nói của tiểu đoàn trưởng vang vang, dõng dạc, như lúc hạ mệnh lệnh. Rồi quay lại phía các chiến sĩ, đồng chí hô:

        — Đi đều, bước!

        Cả tiểu đoàn diễu qua trước mặt thiếu tướng, lát sau đi khuất vào sau quãng đường vòng.

        — Bây giờ ta đi ngủ một giấc chăng? — Đại tá Plốt-nhi-cốp hỏi giọng châm biếm.

        — Thôi, đừng đùa nữa. —Thiếu tướng đáp. Rồi suy nghĩ một lát, đồng chí bước lên xe.

        Về đến đài quan sát, thiếu tướng chỉ thị cho ban tác chiến ấn định thời gian mở cuộc tiến công toàn diện vào đúng 18 giờ cùng một lúc với giờ nổ súng của đội dự bị sư đoàn. Trung tá Xi-dức nhận được lệnh tổ chức đợt pháo chuẩn bi trong hai mươi phút.

        Plốt-nhi-cốp về phòng chính tri phổ biến kế hoạch tiến công cho các cán bộ và phân phối họ xuống các trung đoàn. Sau đó, bực mình về sự chậm trễ của thê đội hai, đồng chí quyết định quay về các cơ quan hậu cần của sư đoàn đôn đốc việc vận chuyển đạn dược cho nhanh chóng, công tác đặc biệt quan trọng lúc này.

        Pỉốt-nhi-cốp đi khỏi, thiếu tướng lên xe ra tiền phương.

        Xe chạy qua những làng mạc nhà cửa cháy đen. Thiếu tướng nhớ lại những làng mạc cháy trụi của miền Bi-ê-lô-rút-xi. Giờ đây Phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi đang tác chiến trước "bức tường thành xứ Pô-mê-ra-ni” nhưng vẫn mang tên Bi-ê-lô-rút-xi. Tên ấy như nhắc nhở cho kẻ địch nhớ lại rằng xâm lược Liên Xô là tự chuốc lấy rất nhiều nguy hiềm.

        Một luồng gió ẳm ướt thổi mạnh từ hướng tây bắc về làm thiếu tướng nhớ ra đây đã gần bờ biển. Đồng chí quay lại phía trung tá Xi-dức, nhưng đồng chí pháo binh đã lợi dụng phút thư thả đánh một giấc say sưa rồi.

        Thiếu tướng xem đồng hồ: kim chỉ 17 giờ 30. Liếc về phía người lái xe đang chầm chú nhìn đằng trước, thiếu tướng nói:

        — Gió biển.

        Đồng chí lái xe gật đầu trả lời gọn :

        — Biển Ban-tích.

        Im lặng bao trùm lấy khu rừng, nơi tập trung trung đoàn pháo tự hành. Anh em trong tiểu đoàn dự bị đang ngồi dưới đất ăn uống, xen lẫn với các đồng chí pháo thủ mặc áo xanh. Bộ binh mời họ nếm món cháo của bộ binh, nhưng họ từ chối. Một đồng chí trong bọn phát biểu:

        — Đói bụng đánh hăng hơn, ác hơn.

        Đội trinh sát do Me-séc-xki dẫn đầu tới nơi. Sau đó đại tá Cra-xi-cốp đi xe đến. Đại tá báo cho thiếu tướng biết sư đoàn bạn bên cánh phải đã tiến lên được bốn ki-lô-mét, đồng chí tư lệnh quân đoàn yêu cầu lập tức hành động.

        Thiếu tướng Xê-rê-đa xem đồng hồ: sáu giờ kém hai mươi.

        Đội công binh được chỉ định đi theo đoàn pháo tự hành đến nơi. Trung đoàn l-va-nốp lại gửi điện yêu cầu tiếp viện. Thiếu tướng lại xem giơ: sáu giờ kém mười.

        Môt mệnh lệnh hô vang:

        — Lên xe! — Thế là anh em nhảy phắt tới đoàn ”voi thép”.

        Bộ binh rối rít nhét cùi dìa vào ủng và buộc cà mèn vào túi dết.

        Phía sau rặng cây, đồng chí điện thoại thét to: "Rê- dê-đa!” "Rê-dê-đa!” "Rê-de-đa!".


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Ba, 2018, 02:53:53 am

        Đứng bên rừng, thiếu tướng đưa ống nhòm chăm chú quan sát cánh đồng trước mặt và rặng cây xanh dọc hai bờ dòng sông nhỏ phía tay trái. Chếch quá nửa về phía trái, thấy một thành phố nhỏ với hai gác chuông cao vút. Khói đen của những đám cháy bốc trên thành phố.

        Pháo binh gầm lên và sau đó, đoàn pháo tự hành lô nhô đầy những chiến sĩ, bò ra khỏi rừng. Đầu tiên đoàn pháo tiến thành một hàng dọc trên đường cái, nhưng lên tới ngang nhà máy gạch, thì bắt đầu triển khai, vừa tiến vừa bắn. Các chiến sĩ thông tin ra dây theo sau pháo. Lát sau, thiếu tướng cùng các sĩ quan đi theo, rời khu rừng lên nhà máy gạch, ở dó chắc là Me-séc-xki và đội trinh sát đã bố trí đài quan sát cho đồng chí.

        Sư đoàn trưởng trèo lên nhà kho, ở đẩy có bắc một ống viễn kính. Đại bác liên tục gầm thét. Cuối cùng, ỉm lặng. Chỉ còn nghe thấy tiếng ầm ì ghê rợn của đoàn pháo tự hành và tiếng đạn pháo nổ gọn. Trên ngọn đồi bên tay phải, các chiến sĩ đã vọt khỏi chiến hào, tiến lên. Gió đưa vẳng lại chỗ thiếu tướng nhiều tiếng hô "xung phong” lộn xộn.

        Sau ba mươi phút dài dằng dặc, tin tức đầu tiên từ các trung đoàn báo về. Trung đoàn pháo tự hành đã chọc thủng phòng tuyến, thọc sâu vào phía sau các đơn vị địch. Trung đoàn I-va-nốp, với sự viện trợ của đoàn pháo tự hành, đã phá tan vòng vây và chiếm được ba làng. Các trung đoàn khác đều phát triển thuận lợi.

        Cấc pháo thủ chạy qua cạnh đài quan sát, kéo theo sau họ những khẩu pháo, những hòm đạn, băng qua đám ruộng lầy, vừa chạy vừa chửi giời chửi đất.

        Thiếu tướng lại vượt lên phía trước; lát sau phòng tham mưu sư đoàn cũng rời lên chỗ nhà máy gạch. Vô-rô- nhin bắt được một tên sĩ quan Đức, dẫn tới phòng tham mưu tìm Ô-ga-nhe-xi-an. Vừa bắt đầu lấy khẩu cung thì đại tá Plốt-nhi-cốp ở phòng tham mưu hậu cần quay lên. Muốn được tham dự buổi hỏi cung, đại tá cho gọi Ô-ga- nhe-xi-an và tên tù binh tới.

        Đó là một tên đại úy hải quân, tên gọi Ê-be-hác. Y cho biết ở An-tư-đam chỉ còn một lực lượng mạnh chống giữ đầu cầu. Các sư đoàn thất trận đã rút sang bên kia sông. Ở đó chúng sẽ được tổ chức lại và bố trí phòng ngự.

        — Nếu chúng có đủ sức.

        Y nói thêm câu sau này rồi nhắm đôi mắt đỏ ngầu lại, đợi câu hỏi tiếp. Y mất một người em trong trận chiến đấu hôm qua, bị thương rồi chết trong tay y. Em y là thiếu úy hải quân. Gia đình y đều là thủy binh. Từ sau trận Tiếc-pít, người ta nói với thủy binh rằng: tương lai nước Đức do hải quân quyết định. Khi chuyển bọn chúng sang lục quân, tên tổng chĩ huy hải quân, thống đốc Đơ-nít, thân hành đến gặp chúng. Lúc đó cách đây ba tuần lễ, ở An-tơ-đam. Tên thống đốc tuyên bố trước trận địa của sư đoàn mang tên hắn rằng tương lai nước Đức quyết định trên mảnh đất này.

        Trên khuôn mặt đẹp giai, nước da tai tái của người thủy binh, lòng căm phẫn làm cuộn lên từng bắp thịt từ hai tai xuống cằm.

        Ira lặng một lúc y nói tiếp:

        — Trong những lúc huấn luyện, bọn giáo viên bộ binh luôn luôn nhắc lại tấm gương các thủy binh Nga đã tỏ ra là những bộ binh thành thạo trong những trận chiến đấu trước Xê-vát-xtô-pôn và Lê-nin-grát. Nhắc lại tài năng của thủy binh lục chiến Nga trong hoàn cảnh lúc này thật là không khôn ngoan chút nào. Thủy binh của chúng tôi không thể hay có lẽ không có thời giờ để trở thành bộ binh chính tông được. Ngay mồng 1 tháng 3, sư đoàn gồm một vạn bốn nghìn người, bầy giờ chỉ còn lại những đồ vứt đi, tổng số không quá bốn nghìn người đã mất hết tinh thần. Sư đoàn nay vốn thuộc quân đoàn "Ô-đe ”, một quân đoàn của binh đoàn "Vít-xtuyn” trước đây dưới quyền chỉ huy của Him-le.

        Ô-ga-nhe-xi-an không khỏi nhận thấy rằng tên đại úy hải quân khi nhắc tới sư đoàn, quân đoàn, binh đoàn, tới Him-le và nói chung tới nước Đức, đã đặt tất cả vào một thời kỳ đã qua lâu rồi.

        Y nói:

        — Ở Đức không còn một con sông nào nữa, dù chỉ để lấy tên sông gọi các quân đoàn. — Rồi hắn lẩm bẩm: — Chỉ còn lại mỗi một con sông: sông Lê-tê1.

        Ô-ga-nhe-xi-an dịch lại cho đại tá Plốt-nhi-cốp nghe. Đại tá chăm chú nhìn tên đại úy hải quân. Trước đôi mắt tư lự và có vẻ thương hại cua đại tá — ít nhất cũng là điều mà hắn cảm thấy — đột nhiên hắn phát biểu:

        — Thưa ông đại tá, xin ông lấy tôi vào làm việc. Tôi là chuyên gia về chiến thuật đánh tàu ngầm và có nhiều kinh nghiệm. Phục vụ cái bọn điền rồ, ngu ngốc và phiêu lưu ấy tôi đã ngấy lắm rồi !

        Đại tá mỉm cười đáp lại:

        — Anh không phải phục vụ bọn ấy nữa đâu. Mà nếu sau này có gặp lại những bọn như vậy, thì tôi khuyên anh nên nhớ lại bài học những năm qua cũng như lời phát biểu của anh ngày hôm nay.

        Đại tá quay lại nói với Ô-ga-nhe-xi-an:

        — Hỏi xem hắn có đồng ý nói chuyện trước máy phóng thanh với đồng đội của hắn không.

        Ê-be-hác nhận lời ngay.

        Đêm ấy, ta dẫn y lên tiền duyên. Tiền duyên lúc này đã nằm vào giữa khu nhà nhỏ ở ngoại ô. Tiếng nói của tên đại úy hải quân vang lên giòn giã giữa dãy nhà kho ra bến tàu.

        — Tôi là đại úy hải quân Ê-be-hác. Rất đông anh em biết tôi. Tôi là con cháu của thủy thủ Đức và tôi có thể  nói tôi là một người Đức lương thiện. Lấy danh nghĩa một người Đức lương thiện, tôi kêu gọi anh em nên hạ súng, không nên đổ mau vì bè lũ Hít-le. Hít-le khốn nạn! Đả đảo Hít-le! Nó đã gây nên thảm họa cho Tổ quốc chúng ta!

        Nói xong tên sĩ quan Đức đứng lặng như ngưồri mất hồn; sau đó, hai vai rung lên, hắn quay ngoắt về, theo sau áp dẫn là mấy anh em trinh sát lầm lì, không nói không rằng.

------------------
        1. Lé-tê :một con sông trong thần thoại Hy Lạp uống nước sông đó thì quên hết dĩ vãng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Ba, 2018, 06:31:59 am

XIX

        Các chiến sĩ bước đi mệt nhọc, đôi chân ướt sũng, mồ hôi nhễ nhại, nét mặt cau có. Hai bên đường rải rác xác những khẩu pháo sơn màu vàng, những chiếc xe đạp vặn vẹo, những chiếc xe hơi du lịch và những xe vận tải đi-ê-den cỡ lớn.

        Đêm ấy, Trô-khốp dẫn đầu đại đội đột nhập một thành phố nhỏ bên bờ sông Ô-đe. Nhiều xe tăng Đức trúng đạn nằm trong những phố hoang vắng. Nhiều súng cao xạ vất lại trên các ngã tư đường.

        Dân chứng không ngờ quân Nga đã kéo tới : mới hôm qua họ còn thấy báo ở Stét-tin đăng tin quân Đức tiến công thắng lợi.

        Nhà cửa còn sáng đèn: nhà mấy điện Stét-tin còn chạy, rõ ràng là ở đấy cũng chưa biết khu duyên hải này đã lọt vào tay quân đội xô-viết.

        Bên bờ sông, một tàu chiến nhỏ rúc còi trong đêm tối. Các thủy thủ còn lê giày trên mặt "boong”. Trước mũi tàu, một ngọn đèn nhấp nháy.

        Trô-khốp nhắc lấy khấu trung liên trên vai Xê-mi- gláp, bước ra bờ sông, thong thả bắc súng gần chiếc chòi bán báo, bắn một băng dài vừa đạn lửa, vừa đạn xuyên. Xli-ven-cô thì ném xuống tàu một quả lựu đạn chống tăng. Tiếng nổ dữ dội. Chiếc tàu bốc cháy như một bó đuốc. Tiếng kêu, tiếng rên ầm ỹ.

        Tiếng lựu đạn và tiếng súng vọng tới các tàu khác, tới cả chiếc pháo hạm đậu giữa sông. Xa xa, trên mặt nước đen kịt nhiều ánh đèn hiệu tàu thủy nhấp nháy; lát sau tiếng súng nổ vang lên ở phía đó. Các tàu bắn phỏng chừng lên thành phố. Cùng một lúc lại nổi lên một loạt tiếng nổ dữ dội : đó là pháo binh tầm xa bảo vệ bờ biển từ Stettin bắn tới.

        Các chiến sĩ đã định mặc kệ súng nổ đi bố trí chỗ ngủ, nhưng lại bị gọi ngay dậy. Lại phải hành quân đi cắt đứt con đường nối liền An-tơ-đam với bến tàu phía nam. Trung đoàn trưởng Trét-vê-ri-cốp với đôi giò cứng cáp, bước vòng kiềng chạy qua phố, trước mặt các chiến sĩ, mồm kêu lớn :

        — Thế nào, các đồng chí đi tập hậu để cho tôi dẫn đầu à ? Định để tôi xung phong đánh địch một mình chăng ?

        Các chiến sĩ vụt đứng dậy tiếp tục tiến lên. Họ bước đi, quên cả mệt mỏi và buồn ngủ. Qua các căn nhà, anh em đưa mắt thèm thuồng nhìn vào cửa sổ thấy nhiều giường to phủ đệm dày :

        — Các cậu đừng lo — tiếng Xli-ven-cô nói — quân ta cũng sắp được ngủ một giấc thả cửa rồi.

        — Mình sẽ ngủ liền một tháng không dậy — tiếng Gô-gô-bê-rít-dê. —Đúng một tháng ! Đắp tấm da cừu trên sườn núi, còn gì thú bằng !

        Một vài anh em thì đã tranh thủ ngủ luôn trong khi chân bước đi. Anh chàng nào ngủ kiều ấy cứ mơ mơ màng màng, rồi đột nhiên mất phương hướng, tách ra khỏi hàng quân đi mãi cho đến khi có người gọi lại. Lúc đó, anh chàng mới tỉnh giấc, lắc lắc đầu, nhìn ngang nhìn ngửa rồi vội quay lại chạy đuổi theo hàng ngũ.

        Quân Đức lại chống cư ngoan cố ngay ở An-tơ-đam. Pháo binh bờ biển từ Stét-tin liên tục rót tới. Những ổ súng máy từ trên các nhà kho bắn xuống. Các chiến sĩ vừa thu xếp xong chỗ nằm là thiếp đi ngay, trừ những đồng chí gác.

        Tranh thủ trong thời gian pháo binh ta di chuyển trận địa và chiếm lĩnh trận địa mới, trong thời gian hỏa lực của sư đoàn triển khai và tập trung trên những tuyến mới, các chiến sĩ làm một giấc. Rồi Trét-vê-ri-cốp lại tới, lần này đi cùng với đại tá Cra-xi-cốp. Đại tá hét:

        — Tại sao lại dừng lại thế này? T..i..ế..n!!

        Và chính đại tá dẫn đầu các chiến sĩ.

        Anh em vùng dậy, lợi dụng địa hình, băng qua các ngọn đồi đột nhập khu ngoại ô phía nam thành phố.

        Một đoàn xe lửa bọc sắt của địch chống giữ đường liên lạc cuối cùng giữa An-tơ-đam và Stét-tin. Trong bóng đêm vừa buông xuống chỉ nghe thấy có tiếng đại bác của đoàn tàu ấy.

        Cao xạ pháo của địch vẫn còn nguyên vẹn bố trí trên các đường phố. Trô-khốp hạ lệnh kéo về, quay nòng lại phía có tiếng nổ. Mồ hôi nhễ nhại, anh em đầy pháo lên phía trước. Chỉ bắn được có ba loạt thôi vì hết đạn.

        Xli-ven-cô tay cằm lựu đạn bò lên; anh nghe tiếng thở hồn hển của Pi-tru-ghin phía tay trái. Anh hỏi:

        — Pi-tru-ghin, mệt lắm à?

        Pi-tru-ghin khàn khàn đáp lại:

        — Không sao, còn vững.

        Một khẩu súng máy địch còn ngoan cố bắn ra ngã tư, chặn đường tiến. Tất cả nằm dán xuống mặt đất. Rồi Xli- ven-cô thấy như hơi thở của Pi-tru-ghin biến mất. Anh ngoái lại. Không thấy Pi-tru-ghin. Anh ngước mắt nhìn lên. Bên trái anh có một cửa hàng lớn, mặt trước đã bị tan nát còn mang một tấm biển lớn.

        Xli-ven-cô tức giận nghĩ thầm : " Hắn lại chuồn vào đó để vơ vét cho đầy "bị” đầy” !

        Một khẩu pháo tự hành thong thả tiến qua phố, tới chỗ ngã tư, dùng toàn lực húc đổ một góc ngôi nhà. Khẩu súng máy địch câm họng. Một loạt đại bác nổ vang.

        — Hoan... hô ! — Bốn bề tiếng reo vang lên như gió bão.

        Một ánh lửa phụt lên. Đoàn xe lửa bọc sắt Đức bốc cháy bùng bùng bên dòng sông đen kịt sâu thăm thẳm.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Ba, 2018, 07:19:05 am

        Xli-ven-cô lao lên. Im lặng đột ngột. Từ trong một ngôi nhà, bọn lính Đức hai tay giơ cao lục tục kéo nhau ra.

        Xli-ven-cô đứng lại, lau mặt và chợt nhớ đến Pi-tru- ghin. Anh hỏi Gô-gô-bê-rít-dê :

        — Cậu có thấy Pi-tru-ghin đâu không ?

        Gô-gô-bê-rít-đê cũng như mọi người khác không một ai thấy cả. Xli-ven-cô cau mặt:

        — Tôi biết hắn đi đâu... để tôi đi tìm.

        Các chiến sĩ lại đứng thẳng người, tiến bước. Thành phố dần dần đầy ắp quân ta, Xli-ven-cô lộn lại chỗ cửa hàng Pi-tru-ghin lẻn vào lúc nãy thì thấy anh ta bị thương nằm co quắp dưới chân quầy hàng. Xli-ven-cô dìu Pi-tru ghin ra đương, cúi xuống hỏi :

        — Thế nào, cậu làm sao thế ?

        — Bị vào ngực đây này, đồ đểu thế — Pi-tru-ghin rên rĩ khẽ lắp bắp, miệng mím chặt — Tại sao anh nhìn tôi ghê thế ? Tôi không chết đâu. Tôi không đến nỗi như các cậu khác đâu. Tôi là Pi-tru-ghin cơ mà.

        — Đầu đuôi thế nào ?

        Pi-tru-ghin kề :   

        — Tôi vào đây... Chỉ cốt xem một tí thôi... Gặp ngay một thằng Đức bắn tiểu liên, thằng chó chết...

        Xli-ven-cô đã định trách một câu, nhưng lại thôi. Anh tháo túi dết, cơit thắt lưng, cởi khuy áo cho Pi-tru-ghin rồi vạch áo ra xem. Máu từ vết thướng chảy ra ri rĩ. Xli- ven-cô xé bẵng cá nhân của mình, buộc vết thương lại. Anh bảo:

        —  Cậu chờ một tí, mình đi gọi tải thương tới.

        Đường phố trong đêm tối đầy bộ đội nhưng không có tải thương.

        Gặp toán nào đi qua, Xli-ven-cô cũng hỏi : "Có tải thương không đấy ?”.

        Cuối cùng anh tìm được một quân y sĩ và mấy người tải thương. Họ theo Xli-ven-cô đi.

        Pi-tru-ghin nằm úp mặt xuống đất. Lúc Xli-ven-cô khẽ xoay người Pi-tru-ghin lại, anh thấy Pi-tru-ghin đã chết. Khuôn mặt Pi-tru-ghin lúc sống tươi cười và tinh ranh đến thế, giờ đây đượm vẻ buồn rầu, bình thản.

        Đồng chí quân y sĩ và các tải thương bỏ đi.

        Xli-ven-cô ngồi lại bên xác Pi-tru-ghin. Anh cảm thấy toàn thân rã rời ghê gớm.

        Tiếng súng đã tắt hẳn. Trong các phố, một dòng người phấn khởi liên tục cuồn cuộn kéo đi, những con người mãi giờ đây mới sắp được hưởng giờ phút nghĩ ngơi. Anh đèn ô tô chói lọi, Soi sáng khuôn mặt nghiêm nghị của Pi-tru-ghin, soi sáng chiếc lưng rộng và còng xuống vì mệt mỏi của Xli-ven-cô.

        Các chiến sĩ thông tin mắc dầy trong các ngả phố, các sân nhà. Rồi lập tức kẻ đứng trên thềm nhà, người trong vườn sau, người ngồi ngay bên hè đường gọi về tuyến sau xa xa mãi, báo tin quân ta đã chiếm được An-tơ-đam.

        Từ phút này, Hít-le không còn một tên lính nào trên bờ phía đông sông Ô-đe. Trận tấn công được chuẩn bị kỹ càng đã tan vỡ, cuốn theo sau tất cả niềm hy vọng của những tên Buyếc, Vin-ken, của mụ già Phôn Boóc-cau, của tất cả những phần tử rác rưởi của nước Đức cũ, còn sót lại nơi hậu phương quân ta.

        Một xe ô tô đỗ lại trước mặt Xli-ven-cô. Thiếu tá Ga-rin bước xuống. Đồng chí hỏi:

        — Đồng chí có thể chỉ giúp tôi chỗ trung đoàn bộ đóng được không?

        Nhận ra Xli-ven-cô, thiếu tá báo tin phòng chính trị sắp triệu tập họp các bí thư chi bộ đại đội và bảo Xli-ven-cô chuẩn bị báo cáo công tác. Chợt trông thấy xác người nằm dưới đất, Ga-rin im lặng thương xót nhìn khuôn mặt Pi-trụ-ghin :

        — Bạn thân của đồng chí à?

        — Không hẳn là bạn thân — Xli-ven-cô nói — Chúng tôi cùng chiến đấu trong một đại đội. Tôi thương cậu ta vô cùng. Cậu ta mơ ước một cuộc sống hạnh phúc nhưng không biết con đường đấu tranh giành lấy cuộc sống đó. Cậu ta còn mang nhiều tàn tích cũ. Có lẽ chính cậu ta cũng khổ về những tàn tích ấy. Thật là một con người khốn khổ!...

        Ga-rin đi rồi, nhưng Xli-ven-cô vẫn đứng im.

        Anh nghĩ .bụng: " Phải chôn cất cậu ấy thôi! ”.

        Anh bèn đi tìm đại đội, mãi mới thấy. Thành phố chật ních bộ đội, đại bác, xe cộ của ta và chiếm được của địch. Mãi sau, một đồng chí thông tin của tiểu đoàn mà Xli-ven-cô quen, mới chỉ cho anh chỗ đại đội đóng. Đại đội trú quân trong dãy lán thuyền chài phía ngoài bờ sông. Những cuộn lưới lớn kéo về lê thê trên mặt đất, và không khí sặc sụa mùi cá tanh.

        Cả bầu trời tối đen, thỉnh thoảng lòe lên ánh lửa của một đôi phát đại bác, đè nặng trên dòng sông Ô-đe xám xịt, trên chiếc cầu gục đồ, trên dãy cầu bến tàu hình thù ma quái.   
        Mọi người mệt nhoài nhưng chưa ai chợp mắt. Trận đánh đêm vừa rồi còn sôi sục trong tâm trí. Đại đội hy sinh ba đồng chí. Được tin Pi-tru-ghin hy sinh, anh em rất buồn tuy rằng rất nhiều ngươi không ưa tính tình Pi-tru-ghin.

        Xê-mi-gláp phát biểu :

        — Cậu ta chỉ thích trèo qua lưng kẻ khác để lên thiên đường. Tư tưởng bóc lột rõ còn gì!...

        Đồng chí thượng sĩ bảo:

        — Thôi nhắc lại khuyết điểm của cậu ấy làm gì!
       
        Gô-gô-bê-rít-dê thêm vào:

        — Cậu ấy cũng kỳ quặc thật, nhưng kỳ quặc thế thôi!... Không có cậu ấy kể cũng buồn.

        Xli-ven-cô lấy hết nghị lực mới đứng nổi dậy. Anh nói:

        — Thôi, để mình đi xem họ chôn cất cậu ấy ở đâu nhé. Phải biên, thư báo tin cho gia đình cậu ấy!

        Anh bước ra khỏi lán, lát sau vào tới thành phố. Lúc này ngoài đường đã vãn bộ đội, xe cộ, tất cả đã tản vào các nhà, các sân.

        Không trung thỉnh thoảng lại lóe lên những vệt sáng không biết ánh chớp hay ánh lửa đại bác.

        Xli-ven-cô tới vừa kịp. Đội chôn cất tử sĩ của sư đoàn đang thu nhặt các tử thi.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Ba, 2018, 05:05:46 pm

        Đồng chí đội trưởng, một thiếu úy bốn mươi nhăm tuổi, có chòm râu nhọn, xách một cái đèn đi tìm các tử sĩ.

        Anh em trong đội đều đã nhiều tuồi rồi, không còn hạn tòng quân nữa, bước đi chậm chạp, làm công việc của họ với một thái độ rất bình thản. Chốc chốc ánh lửa thuốc lá soi rõ một khuôn mặt với bộ ria mép hay chòm râu, chẳng lộ vẻ gì vui, nhưng cũng chẳng có vẻ gì buồn.

        Hai đồng chí tiến lại .phía Pi-tru-ghin. Một người hỏi Xli-ven-cô:

        — Cùng quê hử ?

        — Phải.

        — Vùng nào vậy ?

        XM-ven-cô miễn cưỡng trả lời:

        — Vùng Ca-lu-ga. Còn tôi quê vùng Đô-nét.

        Người kia ngạc nhiên nói:

        — Thế mà là cùng "quê” à ?

        Người thứ hai nghiêm trang phát biểu:

        — Trên đất nước người thì ai mà chẳng là cùng "quê".

        Đồng chí thiếu úy có chòm râu nhọn ra lệnh đi. Mấy chiếc xe từ từ lăn bánh trên mặt đường. Bóng đen các chiến sĩ trong đội chôn cất tử sĩ in hình bên cạnh đoàn xe. Có tiếng người nói:

        — Chuyện đồng chí trung úy lúc nãy nhà ga kể cũng hay. Mình đến lôi chân định cõng. Một trung úy đẹp giai, trẻ lắm,anh ấy bèn hỏi luôn mình: "Mẹ đấy à?”, ồ, thì ra anh ta còn sống các cậu ạ! Anh ta bảo mình là lần đầu tiên anh ta vừa tham dự một trận đánh ra trò ; đánh xong, tìm về đơn vi, — anh ta là sĩ quan thông tin trên sư đoàn bộ. Khốn khổ cho anh chàng, dọc đường anh ta định dừng chân thử một tí, rồi thiếp đi mất. Anh ta ngủ liền bảy tiếng đồng hồ không cựa quậy. Chắc ở nhà tìm anh ta ghê lắm, mà anh ta thì vẫn cứ ngủ. May mà tụi mình không chôn sống anh ta đấy...

        Một người khác nói, giọng cảm động:

        — Anh ta ngủ mơ thấy mẹ. Chết chưa, thì ra anh ta còn "thiếu nhi” lắm, thế mà anh ta đã là trung úy rồi.

        Tiếng một người thứ ba:

        — Hôm nay hy sinh nhiều. Tác chiến gay lắm !

        Tiếng người vừa kể câu chuyện đồng chí trung úy vội nói:

        — Công việc kể ra cũng kỳ quặc thật! Nhưng dù sao ta cũng ở trên đất Đức rồi phải không ?

        — À, ừ, — Người kia đồng ý.

        Trời sáng dần. Nhiều bóng đen yên lặng xuất hiện trên đồi. Đó là khu đất dành làm nghĩa địa của sư đoàn. Trên bản đồ, khu đất ấy mang tên điểm cao 49,2 cách khoảng ba ki-lô-mét về phía đông nam An-tơ-đam. Người ta đã chuyển tới đây xác các tử sĩ trong trận đánh vừa qua, một đống súng trường, tiểu liên và nhiều tấm bia gỗ mang dấu hiệu sao đỏ. Ngọn đồi sừng sững bên đường cái. Con đường ấy chạy tới Lan-xbéc, Pô-dơ-nan, Vác-sa-va, Bơ-rét, Min-xcơ và Mát-xcơ-va. Còn có một con đường chạy về Ca-lu-ga, là nơi mà Pi-tru-ghin, người chiến sĩ phẩm chất thấp kém đã ra đi để không bao giờ trở về nữa.

        Xli-ven-cô lẳng lặng nhìn công việc chôn cất Pi-tru- ghin. Lòng anh rất xót xa vì đã không đấu tranh đến cùng với sai lầm của Pi-tru-ghin, vì có nhiều điều cần giải thích cho Pi-tru-ghin mà giờ đây không thể nói được nữa.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Ba, 2018, 06:44:03 am
     
*

*       *

        Sau trận đánh chiếm An-tơ-đam. Cra-xi-cốp tới tìm Ta-nhi-a, lá thư viết cho vợ nằm trong xà cột, chuẩn bị khi cần thiết sẽ đưa tận tay Ta-nhi-a.

        Cũng cần phải nói rằng, Cra-xi-cốp đinh ninh là khi đọc xong lá thư ấy, Ta-nhi-a cũng như bất cứ người phụ nữ nào khác sẽ nhận lời.

        Chưa hôm nào Cra-xi-cốp vui đến thế. Trận đánh An-tơ-đam hoàn toàn thắng lợi. Có tin đồn sau đây quân đoàn sẽ được điều về hướng Béc-lin. Cra-xi-cốp phấn, khởi vì trận đánh đêm qua; lại còn có phần cho rằng có lẽ là nhờ có mình mà các đơn vị đã đột nhập được vào ngoại ô phía nam An-tơ-đam.

        Trong làng tiểu đoàn quân y đóng, chỉ có hai ngôi nhà còn nguyên vẹn. Chưa kịp dựng xong tất cả các lều, chỉ mới dựng được lều mổ. Anh em thương binh còn nằm ngồi cả ở ngoài đường, người nằm trên cáng, người ngồi xẹp ngay xuống đất. Những thương binh nặng đã được đưa vào hai ngôi nhà độc nhất còn lại.

        Cra-xi-cốp hỏi chuyện các chiến sĩ. Đại tá dùng cách nói của một vai thủ trưởng, một lối nói rất nghèo cả chữ lẫn ý, nhưng lại đầy giọng nhạt nhẽo và ra vẻ nâng đỡ của cấp trên:

        — Thế nào các chú khỏe chứ ?

        — Thế nào các cậu ?

        —Thế nào các bạn, làm ăn ra sao rồi ?

        Thực tế, giọng nói và những câu hỏi theo kiểu ấy, các chiến sĩ rất ghét. Tuy vậy, ỷ thức tôn trọng cấp trên, đặc tính của người chiến sĩ Nga, buộc anh em thương binh cũng đành phải chịu nghe lối nói của .Cra-xi-cốp và trả lời tuy rằng với một giọng hơi khó chịu :

        — Thưa đồng chí đại tá, khỏe.,.

        — Trong các đơn vị xe tăng mọi việc đều trôi chảy...

        Các bác sĩ đến. Cra-xi-cốp bèn "thuyết” một hồi về trận đánh vừa qua, về tầm quan trọng của việc chiếm An-tơ-đam và tiêu diệt mũi quân địch đe dọa sườn bên phải của quân ta.

        Cra-xi-cốp nói:

        — An-tơ-đam kháng cự rất ngoan cố. Chính tôi phải dẫn đầu một trung đoàn xung phong.

        Ngừng lại một tí, Cra-xi-cốp đột ngột hỏi:

        — Chị Ta-nhi-a hiện nay ở đâu ?

        — Trong lều giải phẫu, chị ấy đang mổ thương binh.

        — Có lâu không?

        — Sắp xong rồi.

        — Tôi đợi ở đây vậy.

        Đại tá dạo một vòng quanh làng. Xa xa là một khu rừng nhỏ và một cái hồ. Trên đường cái, xe cộ nối đuôi nhau kéo đi không ngớt. Những đoàn dân nước ngoài được giải phóng bước đi song song với đoàn xe. Một toán tù binh người Pháp vừa được quân ta giải phóng trên bờ biển Ban-tích, ngồi trên một chiếc xe cao do mấy con ngựa lực lưỡng kéo, đang đi về phía nam. Trên mũi xe phấp phới một lá cờ tam tài. Đàn ông đội các kiểu mũ: mũ nồi, mũ lưỡi trai nhà binh, mũ dạ, mũ cát két vải. Cra-xi-cốp vẫy tay chào họ rồi quay về làng.

        Ở đây đang chuyển thương binh về tuyến sau. Đoàn xe chữ thập đỏ xếp hàng một bên lề đường. Khắp mọi nơi đều có y tá khiêng cáng chạy đi chạy lại.

        Cra-xi-cốp nhìn thấy một chiếc ô tô khác đỗ cạnh xe mình. Một chiếc xe chiến lợi phẩm, mới toanh, rất đẹp mang nhãn hiệu "Opel-Admiral”1 . Hai đồng chí lái xe đang xem xét và bình phẩm chiếc xe mới.

        Cra-xi-cốp hỏi :

        — Có ai mới đến đấy ?

        — Đại tá Vô-rô-bi-ốp.

        — Đến làm gì ?

        Đồng chí lái xe luống cuống trả lời :

        — Gặp chị Ta-nhi-a.

        Cra-xi-cốp trố mắt ngạc nhiên. Nhưng vấn để rõ ra ngay. Từ gian lều giải phẫu, đồng chí Vô-rô-bi-ốp cao lớn tươi cười cùng Ta-nhi-a bước ra. Cánh tay trái đại tá sư đoàn trưởng buộc băng trắng muốt, chiếc mũ cát két biên phòng màu xanh lá cây ngang tàng hất ngược về phía sau.

        Cra-xi-cốp hỏi :

        — Bị thương à ?

        — Nhẹ thôi. — Vô-rô-bi-ốp đáp lại.

        Đôi mắt xám tươi cười của đại tá nhìn Cra-xi-cốp hơi có vẻ giễu cợt. Hoặc có lẽ chính Cra-xi-cốp cảm thấy như vậy.

        Cra-xi-cốp hỏi:

        — Đồng chí bị thương lúc nào nhỉ ?

        — Lâu rồi.

        — Tại sao chúng tôi không biết một tí gì ?

        Vô-rô-bi-ốp khẽ mỉm cười :

        — Tôi đã hạ lệnh giữ bí mật. May sao cô Ta-nhi-a đã giúp tôi. — Đại tá cầm tay Ta-nhi-a hôn một cái : —  Một bàn tay tiên ! Lại cả đôi môi tiên nữa, cô không để hở ra một tí bí mật gì. Có một điều là không được hôn đôi môi ấy : dù sao cô cũng là một người dưới quyền ! — Đồng chí cười phá lên rồi hỏi:

        — Thế còn đồng chí, đồng chí đến có việc gì? ốm à?

        — Đau răng. — Cra-xi-cốp lúng búng nói.

        — À, đau răng! —Vô-rô-bi-ốp cười tủm. Cra-xi-cốp thấy ngượng nhưng đại tá đã chuyển sang chuyện khác:

        — Tôi nghe hôm qua đồng chí có dẫn một tiểu đoàn xung phong phải không ?

        — Đúng đấy. — Cra-xi-cốp lững lờ đáp lại.

        — Đồng chí trông thấy chiếc xe kia chưa ? — Vô-rô-bi-ốp chỉ chiếc ô tô của mình. Đội trinh sát của tôi bắt được đấy. Của tên tướng Đơ-néc-cơ, chỉ huy sư đoàn nhảy dù thứ 9. Còn bắt được cả một chiếc dù ở trong hòm đồ đạc. Chắc hẳn viên tướng ấy phải nhảy không dù ra khỏi ô tô...   ' \

        Vô-rô-bi-ốp đi khỏi, Cra-xi-cốp mới dám nhìn Ta- nhi-a. Trông Ta-nhi-a mặc áo "blu” trắng, đội mũ trắng rất xinh. Đôi mắt to trong sáng của chị nghiêm nghị lạnh lùng nhìn Cra-xi-cốp.

--------------
        1. Quan Đô đốc — N.D.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2018, 03:35:03 am

        Cra-xi-cốp hỏi:

        — Cô ở nhà nào. Tôi có chuyện muốn nói với cô.

        — Chưa ở chỗ nào cả. — Ta-nhi-a đáp. — Chúng tôi vừa tới nơi thì thương binh đã ùn về.   

        Cra-xi-cốp đề nghị:

        — Hay ta đi quanh một vòng đi.

        Hai người đi quanh làng.

        Im lặng một lức, Cra-xi-cốp phát biểu:

        — Khi tôi đề nghị xây dựng với cô, tôi không đùa đâu. Ngay hôm qua, giữa trận đánh, đối diện với thần chết, tôi đã suy nghĩ thêm một lần nữa và tôi đã xác định — Cra-xi-cốp mở xà cột, rút bức thư ra. — Đây là bức thư tôi viết cho vợ tôi nói rõ tôi đã yêu cô và cắt đứt với vợ tôi. Ta-nhi-a, thế là dứt khoát với quá khứ.

        Cra-xi-cốp nắm chặt lấy tay Ta-nhi-a nói tiếp. Giọng nói trở nên trịnh trọng:

        — Chúng ta sắp tiến về hướng Béc-lin. Chúng ta sắp bước vào trận cuối cùng của cuộc chiến tranh này. Tất cả khung cảnh đó như phù hợp với hạnh phúc riêng của đôi ta.

        Ta-nhi-a lặng thinh. Cra-xi-cốp bèn nói một thôi:

        — Còn như câu chuyện chị y tá mà cô biết... Ta-nhi-a ạ, tôi rất tán thành tấm lòng thương người của cô. Tôi hấp tấp quá. Mệnh lệnh điều động chị y tá ấy đã được hủy bỏ. Chị ta lại sống bên anh tiểu đoàn trưởng của chị. Việc đó đã lâu rồi, đã vài ngày nay rồi.

        Ta-nhi-a ngạc nhiên nhìn Cra-xi-cốp nhưng không nói gì.

        Cra-xi-cốp nhét bức thư vào túi áo Ta-nhi-a, luống cuống, lắp bắp nổi:   .

        — Ta-nhi-a ạ, tôi còn muốn nói rõ với cô điều này... Trong bức thư, tôi nói có chút sai sự thực... Tôi nói là tôi quen cô từ năm 41... Và cũng từ nărn 41 cô đã săn sóc tôi, lúc tôi bị thương... Nói như vậy cho hợp lý hơn...

        Hai má Ta-nhi-a đỏ bừng. Thấy chị im lặng mãi, đại tá bắt đầu lo ngại. Thì bỗng nhiên, chẳng nói nửa lời, chị rút bức thư trong túi ra xé nát ném xuống bãi cỏ.

        Cuối cùng chỉ nói:

        — Đấy, chỉ có thế thôi. — Chị lắc đầu nói tiếp với giọng không chút giận dữ mà đầy vẻ ngạc nhiên đau xót, trách móc : — Sao mà anh xấu đến thế! Sao mà anh tồi đến thế !

        Rồi chị quay về làng.

        Cra-xi-cốp đứng im cho tới lúc Ta-nhi-a đi khuất, rồi cúi nhặt những mẩu giấy vụn đút vào túi và bước ra xe ô tô.

        Sau khi Cra-xi-cốp đi khỏi, trong tiểu đoàn quân y ồn ào nhộn nhịp. Không hiểu làm thế nào chị em đã mong manh biết được câu chuyện vừa rồi. Ma-sa chạy vào lều Ta-nhi-a, nắm tay chị lắc mãi, vừa hôn chị vừa nhắc đi nhắc lại câu:

        — Hoan hô, Ta-nhi-a! Mình biết hết rồi...

        Ta-nhi-a buồn bã mỉm cười :

        — Chịu các chị! Ở trong tiểu đoàn chúng ta, chả giấu kín được chuyện gì.

        Ma-sa rất hài lòng. Theo ý chi thì đối với đàn ông cần biết "đuổi” họ đi, đừng để cho họ "tự do” quá.

        — Nếu không — Ma-sa đi chơi với Ta-nhi-a quanh làng, dắt tay Ta-nhi-a như dắt một em nhỏ, vừa đi vừa nói — họ có thể lợi dụng ngay. Dầu cho đến chế độ cộng sản, bọn đàn ông cũng còn là cứ quấy rầy đàn bà.

        Gla-sa đang bận vận chuyển thương binh cũng tranh thủ được một phút rỗi chạy lại gặp Ta-nhi-a. Lần đầu tiên, chị mới biết rõ không ngờ mình lại có dính dáng đến vấn đề cắt đứt giữa Ta-nhi-a và Cra-xi-cốp. Chị ngạc nhiên, thở dài nói như khóc :

        —  Như thế đúng lắm!... Thật đáng đời cho lão ta!

        Chị em phụ nữ trong tiểu đoàn quân y, cái tập thể đáng yêu, vui nhộn, tốt bụng và hay ba hoa ấy, lúc này hết sức sung sướng tưởng như họ vừa cùng Ta-nhi-a lập được một chiến công vĩ đại nào đó.

        Chị em sung sướng không phải chỉ vì Ta-nhi-a đã làm cho Cra-xi-cop phải xấu hổ. Đây là vấn đề thắng lợi của một tình cảm cao thượng hơn: niềm vui sướng vì cảm thấy sức mạnh và sự trong sáng của nhân tính, nó đưa tới chỗ không chịu làm gì trái với lương tâm. Xong công việc, chị em ngồi trên thềm nhà cất tiếng hát. Bài hát ca ngợi cái chết của Ét-mác, và truyện của nhạc sĩ chơi đàn ac-coóc-đê-ông trong khu rừng sát khu vực mặt trận, ca ngợi dòng sông Vôn-ga bát ngát, dòng sông Đnhi-ép cổ kính.

        Chị em kề vai nhau và tiếng hát dịu dàng vang lên trong bóng đêm ấm áp, gợi lên trong tâm hồn các chiến sĩ đang bước đi trên những nẻo đường tối tăm một nỗi buồn man mác, tình cảm nhớ quê hương.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Ba, 2018, 07:16:20 am

XXI

        Dư luận về vấn đề chuyển các sư đoàn xuống miền Nam đã thành sự thật.

        Trước đây mấy hôm, Bộ thống soái đã chuẩn y kế hoạch chuyển quân. Sau đó tất cả mọi tài liệu về cuộc hành quân đã được bộ tham mưu phương diện quân nghiên cứu. Người ta đánh dấu lên bản đồ những đường hành quân cùng với các vị trí tập kết. Điện tín, điện thoại chuyển đi những cột con số dài dằng dặc, những bức điện mật, những mệnh lệnh và yêu cầu báo cáo.

        Các sĩ quan liên lạc của bộ tham mưu phương diện quân đáp máy bay hoặc đi ô tô xuống bộ tham mưu các tập đoàn quân; từ đây một số sĩ quan khác đáp ô tô hoặc cưỡi ngựa chạy xuống bộ tham mưu các quân đoàn; rồi lại từ đấy một số khác chạy bộ hoặc cưỡi ngựa lao xuống phòng tham mưu các sư đoàn.

        Trên dọc đường từ Bộ thống soái xuống tới đại đội bộ binh, mệnh lệnh mỗi lúc một giảm bớt khối lượng. Nó tới đại đội dưới hình thức một hồi chuông điện thoại của tiểu đoàn trưởng:

        —  Cho đại đội tập hợp.

        Lúc nãy, mệnh lệnh hành quân mới chỉ xuống đến phòng tham mưu sư đoàn. Đại úy Trô-khốp, con người lầm lầm lì lì, vẫn đang ngồi trên một đống lưới gần chiếc lán chài sát cạnh dòng sông Ô-đe. Mặt trời đã bắt đầu mọc, nhưng vẫn còn cảm thấy khí trời mát dịu đêm qua ; những cành cây, lộc còn chúm chím, khẽ run rẩy. Dòng sông ửng hồng. Thoang thoảng mùi khét của một đám cháy đang sắp tắt ngay gần đó.

        Có ai ngồi bên, cưa mình đứng dậy. Thì ra Xli-ven-cô.

        Anh nói :

        — Chào đồng chí!

        Trô-khốp gật đầu đáp lại.

        Xli-ven-cô vừa nói vừa đưa cho Trô-khốp một trang báo nhỏ.

        — Báo sư đoàn có nhắc đến đại đội ta.

        Trô-khốp đọc bài báo ngắn đầu để "Các chiến sĩ của Trô-khốp lúc nào cũng dẫn đầu”, Máu dồn lên mặt đồng chí đại úy.

        Anh nói:

        — Cảm ơn toàn thể anh em. Và cảm ơn đồng chí, đồng chỉ bí thư chi bộ, cảm ơn sự giúp đỡ của đồng chí.

        — Vì Liên bang xô-viết phục vụ — Xli-ven-cô trả lời theo đúng điều lệnh.

        Anh em lần lượt tỉnh giấc, ngáp dài, mắt hấp háy vì ánh nắng. Một đồng chí kể :

        — Tớ mê thấy gặp mẹ thằng cu, các cậu ạ.

        — Chả thế mà thấy cậu giật bắn người dậy.

        — Hai đứa chúng mình ngồi uống trà trong vườn —  đồng chí kia tiếp tục kể lại giấc mơ. — Vườn nhà mình thì tuyệt đẹp. Phải... Lúc ấy hai vợ chồng mình ngồi dưới gốc một cây anh đào, uống nước chè còn bốc hơi hãm với bánh rán nóng bỏng môi... Các cậu không biết chứ, món bánh rán vợ tớ làm thì không chê được. Ngồi giữa cảnh trời xuân... Còn vợ tớ...

        Một đồng chí cười nói đùa:

        — Cũng "ngon” như chiếc bánh rán chứ gì ?

        — Đúng thế. — Đồng chí chiến sĩ có nụ cười rộng mở đồng ý ngay.

        — Dậy đi! — Giọng nói ồm ồm của đồng chí chuẩn úy từ phía xa vọng lại: — Ngủ thế đủ rồi! Xê-mi-gláp, đi lĩnh thức ăn sáng đi! Tất cả đi rửa mặt và lau súng. Khẩn trương lên! Hôm qua tôi bảo ai phải khâu lại đai áo ca-pốt nhĩ ? Đến gặp tôi mà lấy kim chỉ! Nhanh lên !

        Giọng anh oai vệ, vang vang trên dòng sông.

        Trong một nhà kho gần đấy, mấy đồng chí trinh sát đang phá lên cười vui vẻ.

        — Đồng chí chuẩn úy ơi, làm gì mà nóng tính thế ? Có giọng nói như đồng chí chỉ nên ra hát ở sân khấu thì phải ?

        Chuẩn úy cởi áo va rơi và sơ mi, đi ra sông. Anh cởi giày lội xuống tắm. Anh vốc nước lạnh giá gội đầu, kỳ cọ từ cổ xuống đến ngang thắt lưng.

        — Này đồng chí chuẩn úy, khéo lại cảm đấy! —  Mấy chiến sĩ công binh ở lán bên gọi với sang.

        Chuẩn úy phớt tỉnh. Anh đi giày, để người ướt mặc luôn sơ mi và áo va rơi, thắt chặt dây lưng, kéo lưng áo cho thẳng ngay rồi quay về phía các chiến sĩ, lại hô to:

        — Làm đi, nhanh lên!

        Một điện thoại viên từ trong lán bước ra, báo cáo với Trô-khốp:

        — Báo cáo đồng chí đại úy, ”Phi-an-ca” gọi đồng chí.

        Trô-khốp lững thững bước vào lán, cầm lấy máy, thì ra là Ve-xen-tra-cốp.

        — Này Trô-khốp! Cho tập hợp đại đội ngay! Và đồng chí lên gặp tôi.

        Đặt máy xuống, Trô-khốp đứng mơ màng một lúc, rồi tự hỏi to:

        — Ta đi về hướng nào đây ?

        Sau một phút đứng im như đợi trả lời, anh ra ngoài hạ lệnh chuẩn bị.

        Trong lúc Gô-đu-nốp thu nhặt cái gia tài nghèo nàn của đại đội, Trô-khốp lên tiểu đoàn bộ. Khắp nơi trong nhà, ngoài sân, vẫn cái quang cảnh nhộn nhịp quen thuộc trước giờ xuất phát. Đội điện thoại cuộn dây, anh em lái xe mở máy.

        Các đại đội trưởng bộ binh và các đội trưởng ”những phương tiện tăng cường” phối thuộc, đã có mặt ở tiểu đoàn bộ. Không một ai ngờ phải lên đường vội vã đến thế. Ve-xen-tra-cốp hạ thấp giọng báo lại cái tin mà anh nghe trên phổ biến cho thiếu tá Mi-gai-ép :

        — Hình như ta tiến về hướng Béc-lin.

        — Ra cũng không thể thiếu mặt chúng mình nhỉ! — Một cán bộ pháo binh mĩm cười khoan khoái phát biểu.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Ba, 2018, 05:03:08 am
         
        Đại đội trưởng đại đội 1 hỏi tới đâu sẽ ăn sáng, Ve-xen-tra-cốp chỉ lên bản đồ :

        — Ta sẽ ăn sáng ở khu rừng nhỏ đây này. Cấp dưỡng tiểu đoàn sẽ đến trước chuẩn bị. — Tiểu đoàn trưởng hỏi lại quân số rồi lắc đầu : — Quân số thiếu tợn.

        Một cán bộ phát biểu :

        — Chắc trên sẽ bổ sung chứ.

        Giải tán, ai về đơn vị nấy. Trô-khốp đứng lại, hỏi tiểu đoàn trưởng :

        — Ta sẽ đi đường nào đồng chí ?

        Ve-xen-tra-cốp xua tay như có ý nói:

        — Đường nào mà chả vậy ?

        Nhưng Trô-khốp gặng hỏi :

        — Đường nào ?

        Ve-xen-tra-cốp chỉ cho anh đường hành quần. Gần đúng con đường khi chuyển lên đây, chỉ hơi lệch sang phía tây một chút. Sau đó, tập kết trong một khu rừng. Còn về sau thế nào thì chỉ có các cấp chỉ huy cao nữa mới biết thôi.

        Trô-khốp tươi tỉnh lại. Bao giờ anh cũng chỉ vui ngầm trong bụng, ít ai biết được.

        "Hay lắm. Những người nước ngoài ấy sẽ thấy lời nói của một sĩ quan xô-viết là như đinh đóng cột vậy : mình hứa trở lại là trở lại”. Trô-khốp nghĩ bụng như vậy, cốt để che giấu với chính bản thân anh cái mong ước gặp lại Mác-ga-rta.

        Trên đường quay về đại đội, anh nghĩ đến Mác-ga-rta. Anh có cảm giác như cô ta vẫn ngồi đấy đợi anh, trên bực cửa sổ, mái tóc đẫm nước, lòng tràn trề sung sướng.

        Cuộc hành quân bắt đầu. Từ An-tơ-đam, các đoàn quân chuyển xuống phía nam.

        Đoàn xe ô tô gầm rú, bầy ngựa hí vang. Những đôi ủng gót sắt nện trên mặt đường nhựa, những tấm vải bạt phập phồng trước gió.

        Trô-khốp cưỡi ngựa thong thả dẫn đầu đại đội. Phía sau, các chiến sĩ to nhỏ trò chuyện, nhắc lại trận đánh An-tơ-đam, trận đánh chiếc tàu địch, nhắc lại những câu nói buồn cười của Pi-tru-ghin đã chết.

        Hai bên đường, những xác xe đạp gãy nát, những khẩu pháo vặn vẹo của Đức, những chiếc xe vỡ vụn nằm rải rác.

        Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng như van của những người đi sau.

        — Tránh sang phải đi!...

        Các chiến sĩ dẹp sang phải, nhường cho các đoàn xe vận tảỉ, đoàn pháo, đoàn " Ca-chiu-sa ” vượt lên.

        Trô-khốp nhìn thấy nhiều xe ô tô đỗ dưới gốc cây chỗ ngã tư phía xa. Trước mặt đoàn xe ấy, thiếu tướng sư đoàn trưởng và đại tá chủ nhiệm phòng chính trị đang đi đi lại lại. Bé Vi-ca, đứng bên lề đường, nhìn các đơn vi hành quân qua, mỉm cười thân mật và sung sướng.

        Trô-khốp quay lại khẽ hạ lệnh:

        — Dồn lên... dồn lên ! Thiếu tướng kia kìa.— Rồi anh giơ tay lên mũ ca lô báo cáo : — Đại đội 2 hành quân theo đường đã định. Tôi, đại úy Trô-khốp.

        Chiếc mũ bông cao của thiếu tướng, khuôn mặt niềm nở của đại tá Plốt-nhi-cốp, bóng người nhỏ nhắn của Vi-ca diễu qua trước Trô-khốp.

        Anh hạ lệnh :

        — Nghỉ.

        Một lúc sau, thiếu tá Mi-gai-ép cưỡi con ngựa nâu nhỏ đến gặp anh. Thiếu tá im lặng đi bên một lúc rồi bảo :

        — Như thế này này. Trên đã đề nghị tặng thưởng cho cậu Huân chương Chiến tranh ái quốc hạng nhất vì thành tích trong trận Au-tơ-đam đấy. Trong một tháng hai huân chương ! Cũng "khớ” đấy chứ, hở ?

        — Vâng. — Trô-khốp đáp.

        — Các chiến sĩ của cậu có một số cũng được đề nghị tặng thưởng, một số thì truy tặng. Thôi này, cố gắng nhé, chúng mình tin tưởng ở cậu đấy.

        Anh nhìn Trô-khốp đợi câu trả lời. Mãi, Trô-khốp mới nói:

        — Cảm ơn. Tôi sẽ làm hết sức.

        Mi-gai-ép quay đi rất hài lòng. Anh mỉm cười có vẻ thâm hiểm, nghĩ bụng: ”Chà, cái thằng tồi này ! Dù sao, nó cũng đã nói được mấy tiếng... ”. Rồi quay lại nhìn Trô-khốp anh nghĩ thầm : " Thằng khốn khổ ! ”.

        Hai hôm sau, từ sáng sớm đơn vị tiến trên con đường cách chỗ ở của Mác-ga-rta sáu ki-lô-mét về phía tây. Trô-khốp luôn luôn lo lắng nhìn bản đồ. Cuối cùng anh hạ quyết tâm. Kể ra đúng là vi phạm kỷ luật. "Một lần cuối cùng thôi”, anh vừa nghĩ thầm vừa quay nhìn anh em và đưa mắt theo dõi con ngựa nâu của đồng chí Anh hùng Liên Xô. Đến một chặng nghĩ, anh gọi đồng chí chuẩn úy lại bảo: — Mình đi đằng này độ hai tiếng nhé. Nếu trên có hỏi...

        Gô-đu-nốp mỉm cười thông cảm:

        —  Vâng, hiểu rồi! Nói là đồng chí dừng lại cho ngựa uống nước...

        Chuẩn úy thật là con người thông minh.

        Trô-khốp thúc gót cho ngựa phóng nước đại rẽ sang con đường nhỏ. Lát sau, anh ra tới con đường cái song hành, ở đó có một sư đoàn bạn cũng đang chuyển quân. Đồng chí đại tá, tay buộc băng, đầu đội chiếc mũ cát két xanh biên phòng đứng trước xe ô tô nhìn đơn vị hành quân qua theo kiểu của thiếu tướng Xê-rê-đa. Đội công binh bắc cầu kéo đi, tiếp đến đoàn pháo tự hành. Lợi dụng một quãng cách giữa các đơn vị, Trô-khốp băng ngang đường và lại phóng nước đại trên con đường nhỏ.

        Rừng cây im phăng phắc, khí trời mát dịu. Trô-khốp trông thấy hai người đang bước chậm chạp ở một chỗ trống; một người to lớn đầu hói và một người gầy gò, đầu bịt khăn vuông bên ngoài chụp thêm một chiếc mũ dạ đen. Chắc là hai người Ba Lan, vì trên ve áo của họ lất phất mấy mảnh vải đỏ, trắng. Thấy Trô-khốp, người bịt khăn vuông chào :
      
        — Dziekujemy za wyzwolenie...1

-----------------
        1. Cảm ơn các anh đã giải phóng cho chúng tôi (tiếng Ba Lan).


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Ba, 2018, 01:27:17 am

        Hai người ấy theo đường tiến xuống phía nam. Trô- khốp phóng ngựa đi thẳng. Ra tới ven rừng, anh trông thấy làng mà anh định tới. Anh phóng ngựa gấp. Mặt trời đã lên cao. Bóng cây kéo dài trên lớp cỏ non.

        Ngôi nhà của địa chủ bốc khói. Nhà cửa đã gần cháy hết ra tro. Trong sân, chiếc xe ô tô "Méc-xê-đét Ben” với chiếc càng gỗ nằm nguyên vẹn. Cỗ xe tứ mã của Trô-khốp đã biến mất.

        Trô-khốp tiến lại gian nhà gỗ của những người nước ngoài. Không một bóng người. Dãy phản có lót đệm rơm xếp dọc bờ tường. Trong gian buồng nhỏ của Mác-ga-rta và cô bạn gái Pháp, một bức tranh in màu lay lắt đính trên tường, bụi phủ đầy.

        — Đi rồi! — Trô-khốp nói một mình.

        Anh đi ra, đứng lại giữa sân.

        Nhìn đám tro tàn của ngôi nhà mụ địa chủ, xưa kia đẹp đẽ đến thế, Trô-khốp nghĩ thầm : " Họ đốt đi kể cũng sai. Để lại sau này có thể dùng làm câu lạc bộ hay phòng đọc sách”.

        Anh dắt ngựa ra, lên yên, lững thững quay về đại đội. Trên con đường cái lớn, nhiều đoàn xe chật ních người nước ngoài cười nói vui vẻ kéo từ bắc xuống nam. Nhưng không phải những người cũ. Rồi quang cảnh lại chìm trong tĩnh mịch. Chỉ nghe thấy tiếng động cơ nổ giòn phía xa xa.

        — Ai cũng tìm đường về nhà mình cả nhỉ. — Trô- khốp nói với con ngựa. Nó vẫy tai đáp lại. — ít lâu nữa chúng mình cũng sẽ thế ngựa ạ. Ừ, chúng mình cũng sắp quay về nhà rồi. Nhiệm vụ đã hoàn thành, cần giải phóng ai thì chúng mình đã giải phóng rồi. Trật tự mới cũng thiết lập rồi...

        Con ngựa vểnh một tai nghe chủ nói. Đã lâu lắm, có lẽ suốt cả bao nhiêu năm chiến đấu, Trô-khốp chưa có phút nào sống đơn độc. Giờ đây, anh một mình một bóng cho nên thồ lộ tất cả tâm tư. Con ngựa vểnh tai nghe.

        — Phải, — Trô-khốp nói. — Chúng ta đã làm tất cả những việc đó. Chúng ta đã chăm lo cho mọi người... Hãy chịu khó đợi một ít nữa, đánh gục xong bọn chó, sẽ đến lượt chúng mình được về nhà chúng mình nhé.

        Nắng bắt đầu gắt. Cảnh vật tĩnh mịch. Trô-khốp nhìn thấy một làng gần đó, trong làng có một hồ nước nhỏ và chợt nhớ tới câu nói của Gô-đư-nốp, anh bèn cho ngựa uống nước. Anh nhảy xuống, dắt ngựa tới bên hồ.

        Trên bờ hồ, một nhóm chiến sĩ ngồi ăn sáng. Anh em thay phiên nhau vừa xúc từng cùi dìa đồ hộp, xúc nhẹ mà cũng khá đầy, vừa chăm chú nghe câu chuyện của một chiến sĩ có bộ ria hung ngồi giữa, trên một hòm đạn Đức.

        Trô-khốp nhận ngay ra đồng chí người Xi-bê-ri, anh bạn đường trên xe tứ mã.

        — Thế là chàng I-li-a Mu-ra-mét ấy bèn phóng đi. — Đồng chí người Xi-bê-ri khẽ mỉm cười sau bộ ria kể chuyện. — Nhanh như ô tô của ta bây giờ ấy nhé: ba trăm ki-lô-mét trong ba giờ ! Lúc ấy, chàng ta trông thấy thằng tướng cướp mà các cậu đã biết ấy mà. Trông thấy cả cái giường vừa nói lúc nãy ; chàng ta bèn tóm cổ thằng kia và păng! Ném mạnh nó xuống giường... Hình như chiếc giường lật úp xuống và thằng tướng cướp rơi mẹ nó xuống một cái hầm sâu. Lúc đó chàng I-li-a của chúng ta bèn bẻ tung khóa cửa hầm, cứu được bốn chục nhà hiệp sĩ lực lưỡng. Và I-li-a bảo họ : " Các chú hãy quay về quê hương và cầu chúc cho I-li-a đi. Không có tôi thì các chú chết hết mất! ”. Câu chuyện như thế đấy. Chuyện ấy cũng lại do bà tôi kể lại cho tôi nghe...

        Một khẩu lệnh vang lên :

       —Tập hợp !

        Các chiến sĩ nhốn nháo lên, tuy vậy vẫn vét nốt chỗ thức ăn trong hộp, nhanh chóng lấy súng và ra tập hợp.

        Lúc này, đồng chí chiến sĩ có bộ râu hung nhận ra Trô-khốp, mừng rỡ gọi to :

        — Chào đồng chí đại úy, đồng chí nhận ra tôi chứ !

        — Có.

        — Dù thế nào, ta cũng tiến về Béc-lin chứ ?

        — Phải, tiến về Béc-lin !

        SSoàn quân chuyển đi. Từ hướng bắc, từ phía biển Ban-tích, một ngọn gió thuận chiều thổi lại. Những tấm vải bạt các chiến sĩ khoác trên vai phần phật như những cánh buồm. Và trên các khung cửa sổ trong làng run rẫy những lá cờ trắng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Ba, 2018, 02:50:15 am

TIẾN VÀO BÉC-LIN

        Xuân về, nhưng vì quá mải mê bận rộn, mọi người không ai cảm thấy gió xuân như thường lệ. Thật thế, các chiến sĩ ưa thích hưởng tiết trời ấm áp, nhưng đối với họ hình như tiết trời ấm áp không phải do nắng xuân mang tới, hình như cây cối xanh rờn cũng không phải do những dòng nhựa tháng tư đang sôi sục trong lớp đất vừa đổi mới.

        Nếu các chiến sĩ có nghĩ và nhắc tới mùa xuân thì cũng chỉ là những chuyện có liên quan đến gia đình, đến quê hương xứ sở của họ. Những đồng chí mới hôm nào còn là nông dân ở nông trường tập thể thì phát biểu: " Ừ quê mình, bây giờ đang vụ cày đây”. Những đồng chí mới dạo nào còn là những cậu bé con thì lại nói: "Dịp này lồng chim sẻ đá đang đợi " khách ” tới đấy! ”.

        Ở đây, trên đất nước ngoài, không phải là xuân về mà là chiến thắng gần tới và hầu như tất nhiên, chiến thắng cùng tới với nắng, vàng rực rỡ, với tiếng chim ca ríu rít... Đó là cảnh xuân của các chiến sĩ trên sông Ô-đe, mùa xuân năm 1945.

        Hoa trong vườn bắt đầu đua nở. Bầy họa mi cất tiếng véo von trong rừng cây. Ban ngày, im lặng bao trùm dòng sông Ô-đe, một thứ im lặng tựa như giữa đồng quê hẻo lánh. Đàn chim dẽ lượn sát trên bãi lầy. Trong các làng ven sông những chú gà trống cất tiếng gáy và uể oải vỗ cánh. Nhưng ngược lại, ban đêm khắp mọi nơi công việc đều rộn rịp, ầm thầm, tỉ mỉ và bí mật. Bóng đêm trên đất nước ngoài thở dài, thì thầm bằng tiếng Nga đúng giọng, hò gọi nhau như những người kéo thuyền trên sông Vôn-ga: đó là công binh đang chuẩn bị những chiếc cầu lớn qua sông, là các đơn vị tăng cường dừng chân trong chốc lát, đang ngụy trang cho các khẩu pháo cỡ lớn chưa từng có vừa mới được chở tới và đang dỡ những hòm đạn xuống.

        Những trận tập kích bằng pháo của quân Đức từ xa tới ngắt đứt tiếng hót của bầy họa mi. Mọt khẩu bắt đầu bắn, khẩu thứ hai đáp lời, rồi khẩu thứ ba và rồi một đại đội pháo nào đó không hiểu vì sao bừng dậy, vội vã rống lên từng tràng lộn xộn. Lát sau, hầu hết pháo binh địch hoạt động. Thật giống như tiếng chó sủa giữa đêm trường trong một thôn xóm hẻo lánh : một con lên tiếng là tất cả bầy chó trong thôn thi nhau sủa ầm ỹ. Sau đó thấy rằng xung quanh vẫn yên tĩnh không có chuyện gì đáng sủa cả, bầy chó lần lượt câm họng. Cảnh tĩnh mịch đầu xuân trở lại, thì ra vừa rồi, bầy họa mi vẫn không ngừng tiếng hót véo von.

        Ngay từ tảng sáng, quang cảnh hai bên bờ lầy lội của dòng sông lớn trở lại yên tĩnh. Mặt trời nhô lên từ phía những cánh đồng xa xa của nước Nga, nhuộm đỏ dòng sông. Chim chóc tỉnh giấc. Nhưng trong cái yên tĩnh gia tạo ấy, người ta cảm thấy nỗi đợi chờ lo lắng, sự nhộn nhịp khó giấu kín của hai trận tuyến rộng lớn bên này và bên kia dòng sông đỏ ửng.

        Giờ hoạt động của các quan sát viên đã tới. Họ dán mắt vào các cỡ ống nhòm chiếu sang bên kia sông. Từ trên những ngọn tháp, trên những kho thóc, trên ngọn cây, trong các hầm trú ẩn, sau những bụi cây rậm rạp ở khắp mọi đài quan sát — đài tiền tiến, đài chính và dự bị, các trinh sát viên, quan sát viên pháo binh, sĩ quan đủ các cấp thuộc đủ các binh chủng, đều đang quan sát, Trên các sân bay tiền phương, máy bay trinh sát cất cánh, lượn đi lượn lại trinh sát và chụp ảnh các con đường lớn và đường xe lửa.

        Đại úy Me-séc-xki và đội trinh sát đã bố trí một đài quan sát trong cánh rừng thông. Họ lấy ván gỗ gác lên ba cây thông mọc gần nhau, rồi đặt một tấm ván lên trên ở tít ngọn cây. Trên tấm ván họ đặt một chiếc bàn con va một chiếc ghế bành đã cũ rất êm lấy ở trong nhà dân ra. Một ống viễn kính ngụy trang kín đáo nằm gọn gàng giữa cành lá, bức yếu đồ quan sát mở rộng được ghim chặt trên mặt bàn; cạnh đó là cuốn sổ ghi kết quả quan sát, chỗ kia nữa là một máy điện thoại dã chiến. Đài quan sát nối liền với mặt đất bằng một chiếc thang cứng cũng làm bằng gỗ.

        Tấm ván lắc lư theo chiều gió. Con cò trắng từ mấy hôm nay làm tổ trên ngọn thông bên cạnh đã xác xơ vì đạn pháo đang tò mò giương đôi mắt nhỏ đen láy trên chiếc mỏ màu da cam nhìn bọn người lạ lùng nửa người nửa chim chen chúc nhau trong cái tổ lạ đời ấy. Lát sau cò vợ bay tới; đôi chim bay đi rồi quay lại, vừa chăm chú nhìn Me-séc-xki và các đồng chí của anh vừa cất tiếng kêu, nói chuyện với nhau bằng tiếng nói của cò, theo cách riêng của chúng. Khi đôi chim bay thẳng về hướng tây, anh em trinh sát nhắn theo :

        — Liệu hồn, đừng có mà đi nói cho bọn Đức biết cái tổ của chúng tớ đấy !   

        Một sáng, anh em trinh sát nghe có tiếng chân người giữa bụi cây phía dưới, tiếp ngay sau đó là một giọng nói vui vẻ :

        — Nào, các đồng chí ở đâu đấy ?

        Anh em cúi nhìn xuống, sửng sốt reo to : " Thiếu tá cận vệ ! ! ”. Trừ Vô-rô-nhin ngồi lại trước ống viễn kính còn tất cả tụt xuống nhanh như sóc.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Ba, 2018, 06:02:27 am

        Lu-ben-xốp cùng đi với thiếu tá An-tô-phi-úc; anh vẫn còn phải chống gậy, bước đi khập khiễng.

        Chào hỏi anh em xong, chật vật mãi anh mới trèo được lên đài quan sát, nhìn qua ống kính, đọc cuốn sổ ghi chép kết quả quan sát rồi tỏ vẻ không hài lòng, anh nói:

        — Chỗ này hơi cách xa quân Đức quá!... không tài nào nhìn, rõ được! Các đồng chí không thể bố trí ra sát sông hơn nữa hay sao ?

        An-tô-nhi-úc đứng dưới gốc cây nghe tiếng nói từ trên vọng xuống.

        Vô-rô-nhin ngập ngừng báo cáo:

        — Thưa đồng chí thiếu tá cận vệ, nhất định có thể được lắm chứ... Đây, đồng chí xem.

        Anh chiếu ống kính vào một gò đất ngay sát mặt nước.

        An-tô-nhi-úc lẩm bẩm rủa thầm. Thật vậy, chẳng phải. vừa mới đây anh đã có hỏi anh em trinh sát xem còn vị trí nào bố trí để quan sát tốt hơn nữa hay sao ? Và chẳng phải chính cái cậu Vô-rô-nhin này cũng đã trả lời anh:

        — Không còn chỗ nào tốt hơn đây cả... Chỗ này là điểm cao còn phía ngoài ấy toàn những ruộng lầy là ruộng lầy...

        " Lẽ ra mình phải kiểm tra lại mới đúng! ” An-tô- nhi-úc nghĩ bụng và bực mình với chính cả anh.

        Trên kia tiếng thiếu tá cận vệ nói:

        — Thôi được! Chúng ta sẽ chuyển đài quan sát lên đó. Còn chỗ này làm dự bị để đề phòng trường hợp bọn Đức phát hiện được chúng ta ở trên đó.

        Lu-ben-xốp xuống thang và cuối cùng phổ biến cho anh em vấn đề chủ yếu nhất:

        — Trong một ngày tới, chúng ta sẽ tổ chức một cuộc trinh sát. Sống chết cũng phải bắt được một tên tù binh.

        Mọi người ngồi xuống bãi cỏ. Me-séc-xki báo cáo:

        — Trên bãi lầy bên kia sông, chúng có bố trí một vọng cảnh giới ở chỗ người ta vẫn lấy than bùn. Đó là mục tiêu thuận lợi nhất. Tôi có theo dõi thường xuyên. Cứ bảy giờ tối bọn Đức chèo thuyền ra đó rồi sáu giờ sáng lại quay về chiến hào phía sau. Thường có năm thằng. Hôm qua, phải, có tám thằng ra ở đấy. Chúng nó bắn pháo sáng. Hôm nay, trước lúc quay về, hai thằng rủ nhau xuống sông tắm. Bọn chúng có một súng máy và nhiều súng trường.

        Nghe xong, Lu-ben-xốp bảo :

        — Thôi được, ta sẽ nghiên cứu sau. — Anh quay lại nhìn đôi cò trắng rồi hạ thấp giọng nói: — Chỉ ngày một ngày hai nữa là ta mở trận tiến công mà thôi.

        Tin này làm cho đội trinh sát vểnh tai lên chăm chú.

        Có lẽ tất cả họ cũng thừa hiểu là sắp sửa tiến công nhưng công tác chuẩn bị trận đánh tiến hành bí mật quá, không những làm cho quân Đức tưởng lầm mà ngay cả các sĩ quan và chiến sĩ chiíng ta cũng vậy. Đến ngay các đồng chí tư lệnh quân đoàn, sư đoàn cũng không nắm được gì chắc chắn. Tất nhiên các đồng chí đó cũng đoán biết qua loa, còn như ngày giờ của trận đánh rõ ràng là chỉ có đồng chí Tổng tư lệnh biết mà thôi.

        Sở dĩ Lu-ben-xốp báo tin ấy cho anh em trinh sát một cách chắc chắn như vậy là vì anh được trung tướng Xi-dô-crư-lốp cho biết.

        Lúc ở trên xe chữ thập đỏ xuống, Lu-ben-xốp rẽ vào bộ tham mưu tập đoàn quân. Ở đây anh sống giữa một cuộc sống sôi nổi, dễ chịu, trái ngược hẳn với những ngày sống bình thản ở tiểu đoàn quân y. Anh được xem các bản đồ có ghi những tài liệu do trinh sát cung cấp. Bên kia sông Ô-đe, quân Đức đã xây dựng một hệ thống phòng ngự dã chiến kiên cố : cả một hệ thống dày kín chiến hào, chiến lũy, hào chống tăng, bãi mìn. Khu vực nào cũng có lô cốt bọc sắt, chằng chịt những hàng rào thép gai. Người ta nhận thấy có sự vận chuyển gấp rút hầu như ngày đêm không ngừng của bộ binh, xe vận tải, máy kéo có xích sắt của quân Đức trên những con đường từ Béc-lin tới mặt trận. Các đội Tốt1, các tiểu đoàn thợ thuyền và hàng vạn nhân dân địa phương tấp nập trên mọi ngả đường, suốt từ mặt trận về tới Béc-lin.

        Đại tá Ma-lư-sép giới thiệu tỉ mỉ tình hình với Lu- ben-xốp. Đã lâu nay, chúng ta chưa bắt một tù binh nào vì giữa quân ta và quân Đức bị môt dòng sông ngăn cách, không những một mà là hai dòng sông : sông Ô-đe từ quãng tách khỏi sông An-tơ ô-đe rẽ thành hai nhánh, trên thực tế là hai dòng sông song hành, khoảng giữa là một bãi lầy có nhiều con suối sâu cắt ngang. Ấy thế mà lại cần xác định xem đơn vị quân Đức giữa mặt trận này là đơn vị nào, và vì vậy ta cần phải bắt được một tên tù binh. Ma-lư-sép vẻ mặt đăm chiêu lo lắng nói :

        — Ngay sau khi về tới đơn vị, đồng chí hãy cố tìm mọi cách bắt cho được một tên tù binh, dù thế nào cũng phải bắt cho bằng được !

        Buổi chiều, Lu-ben-xốp sắp sửa lên đường thì có điện thoại báo cho phòng trinh sát biết rằng trung tướng Xi-dô- crư-lốp lúc nãy vừa tới đây, muốn hỏi chuyện Lu-ben-xốp về quãng ngày anh nằm lại trong thành phố Snây-đơ-mun bị bao vây.

---------------
        1. Tốt : tổ chức công binh của quân đội phát xít Đức.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Ba, 2018, 12:34:14 pm

        Trung tướng hết sức chăm chú nghe câu chuyện của thiếu tá cận vệ. Thật ra trung tướng đang ngắm khuôn mặt sáng sủa, thông minh của người trinh sát. Đồng chí nghĩ bụng: "Thật là một điều đáng tiếc nếu như lần ấy cậu ta bị hy sinh! Cũng cần biết xem ông cụ cậu ta còn sống hãy không?” Trung tướng đã định hỏi Lu-ben-xốp vấn đề ấy, nhưng sau lại thôi. Đồng chí chỉ nói:

        —  Câu chuyện đồng chí vừa thuật lại rất bổ ích đối với tôi. Tôi có cảm tưởng như vừa được nghe lời tâm sự của một người cộng sản thuộc thế hệ trẻ đang lên. Tôi thấy cần phải nói với đồng chí rằng tinh thần kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ của đồng chí trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, một lần nữa xác minh rằng một thế hệ mới, thế hệ Xta-lin, xứng đáng với trách nhiệm được ủy thác đã xuất hiện trên vũ đài lịch sử. Thế hệ ấy đã được thử thách trong cuộc chiến tranh này.

        Lu-ben-xốp không biết trả lời thế nào — vả lại anh biết trả lời gì. Lẽ ra anh đã muốn được tới sát bên đồng chí Xi-dô-crư-lốp và nói với đồng chí tất cả những nỗi niềm đang tràn ngập tâm tư anh: được là một chiến sĩ xô-viết, được chiến đấu cho chính nghĩa thật là một niềm vui sướng.

        Sở dĩ Lu-ben-xốp không nói gì về những điều đó, tuyệt nhiên không phải vì anh thiếu chữ. Anh vốn sinh trưởng và được dậy dỗ trong một gia đình lao động, đó những chuyện bộc lộ tình cảm ầm ĩ không được ca tụng gì cho lắm: những cái gì tỏ vẻ phô trương tình cảm đều bị coi như cử chỉ thiếu khiêm tốn, và còn là không xứng đáng nữa. Ở đấy, người ta yêu thương nhau đằm thắm nhưng thầm kín; tình thương yêu thường thường chỉ bộc lộ dưới hình thức những câu nói vui đùa thân thiết hơn là hình thức tâm sự.

        Vô tình, Lu-ben-xốp thở dài thượt một cái. Và có lẽ đấy lại là câu trả lời tốt nhất. Trung tướng mỉm cười, vừa hỏi vừa đứng dậy :

        — Bây giờ đồng chí về đơn vị ư ?

        Lu-ben-xốp đáp:

        — Thưa đồng chí trung tướng, vâng. Nhiệm vụ sắp tới rất nặng nề, phải lôi một tên tù binh từ bên kia sông Ô-đe về.

        Xi-dô-crư-lốp nói:

        — Có lẽ cũng là lần cuối cùng đấy. Chỉ trong vài ngày nữa, một cuộc tiến công vĩ đại sẽ mở màn, trận cuối cùng trong cuộc chiến tranh này. Tôi yêu cầu đồng chí phải thận trọng hơn nữa, không được để cho tình cảm chi phối hay mạo hiểm tính mạng một cách vô ích.

        Khi Lu-ben-xốp bước ra khỏi phòng của trung tướng, làn gió xuân thổi tới mặt anh, làn gió xuân sao mà ngọt ngào, êm dịu, bát ngát làm cho anh hầu như ngạt thở.

        Xe ô tô đã đợi anh.

        Suốt cả quãng đường, anh giữ im lặng chỉ thỉnh thoảng giục đồng chí lái xe quá thận trọng:

        —  Nhanh lên, nhanh lên, ông bạn!

        Về tới sư đoàn, Lu-ben-xốp cũng không kịp tới trình diện với thiếu tướng lúc này đang lên thăm một trung đoàn, mà đi ngay với An-tô-nhi-úc.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Ba, 2018, 07:20:38 pm

II

        Lu-ben-xốp lại trở về với cuộc sống trên trận địa phòng ngự, và nỗi lo lắng làm thế nào bắt lấy một tù binh lại xoay vào trí não anh. Anh đi bộ hay cưỡi ngựa vẫn còn khó khăn; cũng vì vậy nên anh không muốn rời khỏi đài quan sát một chút nào. Cùng với Me-séc-xki và Vô-rô-nhin, anh ngồi trước ống viễn kính, chăm chú theo dõi mọi tình hình trên dòng sông và trên bãi lầy giữa sông.

        Đồ đạc, dụng cụ đủ các loại bập bềnh trên dòng sông Ô-đe, chắc hẳn từ Phrăng-pho hay Cút-xtơ-rin trôi xuống — nơi mà cuộc chiến đấu vừa diễn ra cách đây ít ngày. Lu-ben-xốp quan sát những đồ vật đó; dòng nước cuốn tất cả chếch sang bờ sông phía tây.

        Cau mày suy nghĩ, anh hết nhìn Me-séc-xki lại quay nhìn Vô-rô-nhin và nói:   7

        — Chúng mình thử một cái xem sao, hả ?

        Hai đồng chí kia chưa hiểu.

        — Ngay sau khi trời xẩm tối, cho chặt một cây nào đó và đến từ mờ sáng cho thả xuống sông cho nó trôi đi... Rồi chúng ta theo dõi xem sao.

        Vẫn chưa hiểu nổi ý định của anh, Me-séc-xki và Vô-rô-nhin nhìn nhau phân vân. Lu-ben-xốp mỉm cười:

        — Gớm, làm gì mà ngơ ngác thế!...

        Buổi chiều anh em trinh sát nấp trong gian hầm gần đài quan sát mới, hạ đỗ một cây thông theo như mệnh lệnh đã nhận được. Tảng sáng, thiếu tá cận vệ tới. Anh cúi xuống cửa hầm và hạ lệnh:

        — Đứng dậy!

        Anh em trinh sát lôi cây thông ra sát lợi nước, trong lúc đó Lu-ben-xốp lững thững quay về đài quan sát.

        Trời mỗi lúc một sáng rõ. Vô-rô-nhin tới báo cáo rằng cây thông đã bi dòng nước cuốn đi.

        Lu-ben-xốp vừa giương ống nhòm vừa nói:

        — Đồng chí theo dõi cẩn thận.

        Hai mươi hai phút sau, dòng nước xô cây thông vào một dải cát bờ bên kia. Vấp phải chướng ngại, cây thông cuối cùng lại trôi ra giữa dòng và rất bình thản, tiếp tục theo đường ra biển rộng.

        Đó chính là con đường qua phía bên kia. Chỉ còn phải nghiên cứu đường về, và chính đó lại là vấn đề nan giải nhất. Lẽ tất nhiên, một cuộc trinh sát lý tưởng phải là một cuộc trinh sát kín đáo, bí mật. Nhưng tính nước như vậy trong hoàn cảnh này thật là hồ đồ, nhất là trong trường hợp không thành công, hậu quả có thể tai hại lớn : một khi bị phát hiện, anh em trinh sát sẽ phải bơi giữa dòng nước dưới hỏa lực của địch và lại còn phải kèm theo một tên tù binh. Sau giây lát suy nghĩ, Lu-ben- xốp quyết định gạt bỏ hẳn biện pháp trinh sát " im lặng ” và bố trí kế hoạch sau đây : anh em trinh sát sẽ nấp sau cây thông, bám vào cành và thân cây, tuyệt đối không động đậy đề cho địch khỏi chú ý và bơi qua sông. Sau hai mươi phút họ sẽ sang tới bờ phía tây bên kia. Từ đó, họ sẽ bò men theo những bụi cây thấp nhưng khá rậm rạp, trườn qua bờ đê và lần tới chiếc lán chứa than bùn dựng trên bãi lầy. Lúc đó, pháo, súng cối và các cỡ súng lập tức hoạt động. Hỏa lực giập xuống chiến hào tiền duyên của quân Hức và trong thời gian đó, anh em trinh sát tính xong chuyện với bọn Đức trong chiếc lán, bắt lấy một thằng và lập tức rút ngay rã bờ sông. Tới đây anh em trinh sát sẽ bắn một pháo hiệu xanh; theo tín hiệu đó, pháo binh tăng cường hỏa lực để chế áp địch trong mưòũ hai phút. Trong khoảng mười hai phút đó, anh em trinh sát kèm tên tù binh, vượt sông bơi về.

        Cuối cùng, kế hoạch được thảo ra và báo cáo với tham mưu trưởng và thiếu tướng sư đoàn trưởng, được phê chuẩn và thống nhất tới mọi chi tiết nhỏ nhất với các cán bộ pháo binh và súng cối. Bây giờ là vấn đề chọn người. Tới đây, thiếu tá cận vệ đâm ra do dự. Anh cùng ngồi với anh em trinh sát trong khu rừng và vừa ăn vừa lẳng lặng nghe những câu chuyện anh em đang bàn tán, bề ngoài có vẻ không lo nghĩ gì. Anh biết rằng họ đang chờ câu nói của anh.

        Thật thế, quyết định danh sách những người đi lúc này cũng không phải là dễ dàng. Lu-ben-xốp liếc mắt nhìn nhưng khuôn mặt tươi trẻ, đen sạm hay hồng hào, rất khác nhau nhưng biết bao thân thiết đối với anh. Lần đi này vô cùng nguy hiềm. Ở cách Béc-lin chừng một trăm ki-lô-mét, ngay giữa lúc chiến tranh sắp kết thúc, thật là đặc biệt khó khăn khi phải nói với một người trong đội:

        — Đồng chí là người sẽ đi !

        Tuy vậy việc ấy vẫn cứ phải làm, và Lu-ben-xốp gọi tên :

        — Vô-rô-nhin, Mi-tơ-rô-khin, Xa-vê-li-ép, Gút-sin, Ô-pa-na-xen-cô.

        Những người được gọi không nhúc nhích. Kề ra họ có lặng im trong khoảnh khắc, quá lắm là nửa giây đồng hồ và lại tiếp tục trò chuyện.

        Lát sau, thiếu tướng sư đoàn trưởng cho gọi Lu- ben-xốp. Đồng chí hỏi :

        — Chuẩn bị đầy đủ chưa ?

        — Thưa đồng chí thiếu tướng, đã.

        — Ai sẽ chỉ huy anh em, hay nói cho đúng hơn, chỉ huy anh em bơi ?

        — Báo cáo : Vô-rô-nhin.

        Thiếu tướng có vẻ suy nghĩ. Đồng chí nói:

        — Không được. Phải có một sĩ quan. Cồng việc này rất phức tạp. Cử Me-séc-xki đi.

        Lu-ben-xốp chăm chú nhìn thiếu tướng. Anh thong thả nói :

        — Tôi đã tính không cử đồng chí ấy đi.

        — Đồng chí thương đồng chí ấy hay sao ?

        — Vâng.

        — Thế đồng chí không thương anh em chiến sĩ à?

        Lu-ben-xốp nói lại:

        — Có chứ. Nhưng Me-séc-xki là một thi sĩ... Đồng chí ấy vẫn làm thơ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Ba, 2018, 06:00:52 am

        Thiếu tướng vừa nói vừa cười:

        — Thi sĩ, thi sĩ ? Nếu đồng chí ấy là thi sĩ thì thơ đã được đăng lên báo rồi.

        Lu-ben-xốp trả lời khô khan:

        — Công việc nào cũng có thời gian của nó.

        — Thi sĩ, có phải không? — Thiếu tướng hỏi lại, nét mặt nghĩ ngợi. Rồi nheo đôi mắt, đồng chí mỉm cười: — Càng hay. Cứ để đồng chí ấy đi, nếu không thì làm gì có đề tài mà sáng tác. Cần phải có một sĩ quan đi.

        Câu cuối cùng, đồng chí nói bằng một giọng cương quyết.

        Lu-ben-xốp, mặt nhẵn nhó đáp lại:

        — Xin thi hành mệnh lệnh của đồng chí!

        Anh cho gọi Me-séc-xki cùng số anh em trinh sát đã được chỉ định và cùng với họ lên chiếc xe ô tô Đức, đi ra hồ Man-ten-xi.

        Hồ này nằm ở vùng hậu phương của sư đoàn, dài hơn hai ki-lô-mét. Suốt cả buổi tối và cho tới nửa đêm, anh em trinh sát cùng nhau tập bơi. Lu-ben-xốp ngồi sát mặt nước theo dõi tốc độ bơi của họ. Anh em mang theo tất cả trang bị, dụng cụ cùng với tiểu liên và cộng thêm tên "tù binh” do đồng chí cần vụ mới của Lu-ben-xốp, đồng chí hạ sĩ trẻ măng Ca-blu-cốp đóng giả một cách hểt sức "bất mãn”.

        Cuối cùng anh em trinh sát lên bờ, mệt nhoài, đang ngồi nghỉ, Vô-rô-nhin nét mặt đấm chiêu vừa nhìn mặt hồ vừa nói:

        — Ít ra cũng làm sao chộp được một thằng Đức kha khá một tí, hiểu biết một chút chứ đừng có vớ phải một thằng cha "thôn” nhái!..

        Hôm sau, trước lúc xuất phát, anh em trinh sát mang áo ngoài xuống sông Ô-đe giặt, đính lại cồ áo giũ rất sạch sẽ. Họ bình thản, chuẩn bị công việc trong gian hầm gần đài quan sát, bàn tán toàn những chuyện đâu đâu. Lu-ben- xốp nghiên cứu tấm bản đồ, có dễ đã tới một nghìn lần. Đôi khi, anh liếc sang mép bản đồ bên trái, nơi đó, thành phố Béc-lin trải mình như tấm mạng nhện khồng lồ.
     
        Bầy họa mi vẫn cất tiếng hót không ngừng và trên trời cao, sao mùa xuân nhấp nháy. Bầu không khí im ắng căng thẳng, mỗi lúc lại im ắng hơn và tiếng đạn pháo lẽ ra phải khuấy động lên lại chỉ càng làm tăng thêm khung cảnh tĩnh mịch.

        Trong những đêm tối đen như vậy, mọi cảnh vật trên mặt trận như đã trở nên quen thuộc, và hình như đã từng được nhìn qua. Chỉ thấy thỉnh thoảng một ý nghĩ vụt qua trong trí não: đây không phải là một con sông tầm thường nào đó như trăm ngàn con sông đã vượt qua, mà chính là con sông Ô-đe.

        Anh em trinh sát thì thầm với nhau hết chuyện này qua chuyện khác. Và có những đồng chí tình cờ nói những câu sau đây:

        — Cậu có trông thấy những đám cháy vừa rồi không ? Ta giọt vào Béc-lin đấy...

        — Hít-le còn ở đấy hay là đã cuốn gói rồi nhỉ ? Biết được cũng khoái đấy.

        Và mọi người đều mỉm cười khi nghĩ rằng hai tiếng "Béc-lin” và "ở đấy” nghĩa rất khác nhau, bây giờ cũng chỉ là một.

        Cây thông lớn chuẩn bị sẵn được thả xuống sông. Để cho thêm phần rậm rạp, anh em đã buộc thêm nhiều cành thông chặt ở những cây nhỏ khác. Anh em trinh sát khoác áo choàng xanh, lẫn hẳn vào cành lá.

        Nhiều tiếng hỏi nhỏ vang lên:

        — Các đồng chí sẵn sàng rồi chứ ?

        — Vâng.

        — Xa-sa may mắn nhé !

        — Tạm biệt đồng chí thiếu tá cận vệ.

        — Nào, ra khơi!

        Cây thông cô độc nổi trên mặt nước như một khối đen sẫm in hình cành lá, trôi giữa các loại đồ vật khác: vận gỗ, xà nhà, xe cút kít, ghế, những mảnh thuyền vỡ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Ba, 2018, 07:39:39 pm
       
III

        LU-BEN-XỐP, cũng như mọi quan sát viên khác đều nhận thấy rằng đêm ấy, bên phía quân Đức rất yên tĩnh, hầu như chúng không nổ một phát súng nào và pháo sáng cũng rất hiếm. Vì một lý do dễ hiểu, Lu-ben-xốp thấy thế rất mừng, nhưng tất nhiên anh không thể hiểu được nguyên nhân tại sao.

        Sự thực là các đơn vị trên tiền duyên của quân Đức đang chuẩn bị đón tiếp một nhân vật cao cấp mà tất cả bọn chúng còn chưa biết tên. Chỉ thấy có lệnh rửa ráy, quét dọn hầm hố, giặt giũ quần áo, cạo râu và cắt tóc cho lính.

        Cuộc đến thăm của các vị khách Béc-lin là một chuyện hoàn toàn bất ngờ ngay cả đối với tên thượng tướng Hen-rít-xi, tư lệnh tập đoàn quân. Viên thượng tướng vừa mới được cử tới khu này trong lòng cũng đang rất buồn phiền. Khi đạo quần này còn mạnh, gồm những đơn vị tinh nhuệ, ở mặt trận sông Vít-xtuyn thì thuộc quyền chỉ huy của tên S.S. Him-le1, một tên đao phủ khét tiếng nhưng cũng lại là một tướng bất tài. Đến nay, khi đạo quân đã tan tác, các sư đoàn đều được bổ sung toàn những lính trẻ con chưa được huấn luyện, và những lính lão của đội Volkssturm2, thì người ta lại giao phó quyền chỉ huy ấy cho hắn, một tên tướng lành nghề.

        Viên thượng tướng cảm thấy vô cùng khinh ghét khi ngồi đọc lại những sổ tay của Him-le, viên Reichsfuhrer3 đội S.S. ấy đã bỏ quên lại giữa đống giấy tờ của bộ tham mưu. Những mầu ghi chép rắc rối về chiêm tinh học, những đoạn trích về nghệ thuật quân sự của thế kỷ... thứ 9, những lời so sánh ngu ngốc bản thân hắn ta với vua Hăng-ri "Chơi chim”4; theo lời một số người cho biết, Him-le tự coi mình là hiện thân của tên vua này. Tất cả những điều đó làm cho viên thượng tướng trầm tĩnh bực mình.

        Chính giữa lúc viên tư lệnh mới ở trong tâm trạng như vậy thì sĩ quan tùy tùng chạy tới báo tin có các bộ trưởng: Phôn Ríp-ben-tơ-rốp và Rô-den-béc tới.

        Các tên bộ trưởng rất lấy làm ngạc nhiên khi được biết viên thượng tướng chưa hề nhận được tin báo trước có cuộc đến thăm của bọn hắn. Có lẽ Béc-liu đã quên mất việc ấy.

        Ríp-ben-tơ-rốp càu nhàu :

        — Đó là chuyện thường có giữa cảnh bối rối ở trong ấy hiện nay.

        Ấy thế mà các vị ấy lên mặt trận với tư cách là tuyên truyền viên đề động viên sĩ khí của bộ đội.

        Viên thượng tướng đinh ninh rằng các bộ trưởng rất vội vì các ngài còn bận biết bao với các chức trách trọng yếu của các ngài. Vì vậy hắn hỏi xem các vị có muốn xuống ngay các đơn vị hay không. Nhưng rõ ràng là các vị không vội vã chút nào cả. Thế là bỗng nhiên viên thượng tướng vỡ lẽ hiểu rằng các ngài bộ trưởng không còn công việc gì làm ở Béc-lin cả, không còn một việc gì làm cả, giản đơn thế thôi! Viên thượng tướng, tất nhiên, không thể biết được những hoạt động điên cuồng của Ríp-ben- tơ-rốp trong hậu trường. Còn Rô-den-béc ? Tên này hiện vẫn mang danh bộ trương các khu miền Đông, cái chức vụ thật đặc biệt vô lý và hài hước giữa hoàn cảnh hiện tại, trong lúc mà các đơn vị quân đội xô-viết đã đóng trên bờ sông Ô-đe.

        Viên tư lệnh báo cáo với các bộ trưởng những cố gắng vô hiệu quả của hắn nhằm đẩy lùi quân Nga ra khỏi khu vực đầu cầu mà họ đã chiếm được trên bờ sông phía tây. Các bộ trưởng chỉ im lặng và rất ủ rũ.

        Người ta cũng thấy ngay rằng các bộ trưởng tới đây là để nghỉ ngơi, như những đứa trẻ con bỏ chạy để thoát khỏi những roi đòn của người giám thị lớp học. Quả vậy, từ bấy giờ trở đi, không có cách nào để có thể ở bên Quốc trưởng, trong gian hầm của Quốc trưởng được nữa. Nhiều mệnh lệnh được tung ra rồi lại thu hồi ngay lập tức. Những cơn điên loạn không dứt, những bản án kết tội tất cả mọi người nối tiếp nhau không hết, và cái con mẹ Brao, cẳng dài như cẳng sếu chỗ nào cũng thò mũi vào. Thật là một màn bi kịch trong triều đình giữa thời đại suy vong, Không khí thật bi thảm. Và ngay trong thành Béc-lin chỗ nào cũng chật ních những dân tản cư từ miền Đông tới. Nhiều người ngủ cả trong đường xe điện ngầm. Ban đêm những vụ cướp bóc và giết người xảy ra. Những đống gạch đá là nơi ằn náu của nhiều toán binh lính đào ngũ. Nhiều viên chức quan trọng của Nhà nước, không được phép cũng bỏ thủ đô chạy trốn mất tăm.

        Ở đây, trong bộ tư lệnh này, mọi vật có vẻ vô cùng trật tư. Các sĩ quan vẫn đi đi lại lại; các ban mệnh lệnh vẫn được thảo ra theo lối hành văn quân sự rõ ràng, cụ thể; những đôi ủng đánh xi bóng lộn vẫn chững chạc nện trên sàn. Những tấm bản đồ vẫn chằng chịt những nét bút chì xanh đỏ và có cắm những cờ hiệu con. Nhìn bề ngoài thật hoàn toàn trật tự.

-----------------
        1. Hiến binh xung kích.

        2. Xung kích nhân dân (dân quân của bọn Đức).

        3. Thủ lĩnh Quốc xã.

        4. Henri l'Oiseleur sinh năm 876, vua xứ Giéc-ma-ni (nước Đức cũ).




Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Ba, 2018, 06:09:36 pm

        Ấy vậy mà những điều đó cũng vẫn làm cho Rô-den-béc vốn tin thần thánh, không sao không tưởng như nhìn thấy những bóng ma mặc quân phục đang nhảy nhót nhịp nhàng trước mặt hắn. Nhiều lúc, hắn giật mình, yếu đuối, cố xua đuổi thật xa những hình ảnh khủng khiếp ấy.

        Còn Ríp-ben-tơ-rốp, vốn rất không tin chủ nghĩa thần thánh, đã lấy lại được can đảm và trước khi lên mặt trận, hắn nói:

        — Ông tư lệnh, công việc chuẩn bị của ông làm cho tôi tin tưởng rằng các đơn vị trong khu vực Béc-lin cuối cùng đã có được một vị tướng lĩnh thực sự đủ tài năng để hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn nhất ở đây, trên con đường Ô-đe, con sông quyết định vận mệnh nước Đức... Tôi có lẽ cũng chưa hiểu kỹ bọn Nga, nhưng ông bạn Rô-den-béc của tôi đây là người hiểu rất kỹ bọn chúng, có thể quả quyết rằng không thể nào trông mong vào lòng rộng lượng của họ được. Còn như vấn đề những thắng lợi quân sự của quân Anh-Mỹ — Ríp-hen-tơ-rốp ngừng lại một cách có ý nghĩa — ta phải rất bình tĩnh mà xét nó. Dù thế nào chăng nữa, họ cũng không ủng hộ những nguyện vọng của dân chúng về cái gọi là "công lý xã hội” được... Trái lại... Vâng vâng đúng là trái lại...

        Các tướng tá rất hiểu ý nghĩa những lời nói của Ríp-ben-tơ-rốp. Nhiều đơn vị của các mặt trận Tây Âu và mặt trận Ý đã được chuyển về sông Ô-đe. Một trong hai tai họa, người ta chọn lấy tai họa nào ít thiệt hại nhất. Người ta đánh ô tô ra và các bộ trưởng mỗi người đi một ngả, theo sau là cả một cái đuôi khá đông bọn S.S. và sĩ quan tham mưu. Rô-den-béc đi Bát-sa-rốp tới bộ tham mưu tập đoàn quân thứ 9; Ríp-ben-tơ-rốp lên phía bắc, sau dòng sông An-tư Ô-đe; ở nơi hai con sông chướng ngại song song ấy, hắn sẽ thấy yên tâm hơn — hắn thầm quyết định như vậy,

        Viên thượng tướng đi theo Ríp-ben-tơ-rốp, cả hai ngồi trên những tấm ghế da rộng trong xe ô tô. Ngồi cạnh người lái xe là một viên trung tá bộ tổng tham mưu. Hai tên S.S. thuộc đội hộ vệ riêng của bộ trưởng ngồi im, cứng người trên hai chiếc ghế phụ. Đi trước chiếc xe ô tô của bộ trưởng là một chiếc xe bọc sắt.

        Các ngả đường chật ních những xe vận tải, xe tăng và bộ- binh đang tiến về phía sông Ô-đe. Cả một quang cảnh lộn xộn, hỗn loạn ("Hỗn loạn không tránh khỏi” bộ trưởng nghĩ bụng như vậy để tự an ủi). Một đoàn xe vận tải đi lạc đường đang cố lượn quay lại. Các sĩ quan tham mưu xuống xe duy trì lại trật tư. Cuối cùng đoàn xe của bộ trưởng rẽ sang một con đường ngang và lát sau tới kênh đào Hô-hen-dô-léc. Ở đây họ phải đợi mất nửa tiếng đồng hồ vì máy bay phóng pháo Nga vẫn đang oanh tạc cầu qua sông. Dãy nhà bên bờ kênh bốc cháy, họ phải vòng xuống phía khác, vì cầu đã bị phá đổ. Chiều xuống dần. Quãng gần Ô-đéc-béc, một đơn vị bộ đội đang kéo về phía tây. Binh lính đi rải rác, một số không mang vũ khí.

        Viên thượng tướng bảo dừng xe. Viên trung tá tham mưu nhảy xuống, tới gặp tên thượng sĩ đang đi đầu toán lính và hỏi:

        — Các anh là đơn vi nào ?

        Tên thượng sĩ trả lời, mắt nhìn xuống chân :

        — Tiểu đoàn nhẫy dù thứ 600. Quân Nga đánh bại chúng tôi trong khu An-cút-xtơ-rin-sen và hôm qua chúng tôi vừa nhận được lệnh về Ri-ét-den bổ sung quân số một lần nữa.

        — Nếu thế, tại sao các anh lại đi lang thang như đàn cừu như vậy ? — Tên trung tá giận dữ nói vừa hạ thấp giọng vừa liếc mắt về phía xe ô tô bộ trưởng.

        Tên thượng sĩ không đáp lại, đôi mắt hắn đầy vẻ lạnh lùng, đờ đẫn. Đến lượt bộ trưởng và thượng tướng xuống xe. Bộ trưởng nhắc lại câu hỏi lúc nãy. Tên thượng sĩ cũng nhắc lại câu trả lời như trên. Tuy vậy tên thượng tướng không thể chịu đựng nổi thái độ lạnh lùng của tên thượng sĩ và mặc dù có mặt nhà ngoại giao, hắn cũng càu nhàu nói :

        — Mày không biết ai đang nói với mày à?

        Tên thượng sĩ uể oải ngước mắt nhìn bộ trưởng và chẳng nói chẳng rằng, nhìn chằm chằm vào bộ mặt của nhà đại quý tộc, bộ mặt to bè, xanh rớt điểm đôi mắt xám xanh, mi dưới chảy trũng xuống. Trước cái nhìn lạnh lùng đến cực độ của người lính, bộ trưởng nhún vai. Người kia đã nhìn hắn không khác gì nhìn một vật vô tri vô giác. Khuôn mặt tên thượng sĩ đầy lông lá hung đỏ, chiếc cổ bẩn thỉu sần sùi và đôi mắt như mắt người chết của hắn gieo vào tâm trí bộ trưỏmg một cảm giác nặng nề. Ríp-ben-tơ-rốp quay lại, trèo lên xe.

        Một hồi lâu hắn mới trấn tĩnh lại được, không hiểu tại sao hắn thấy hình như hắn vừa nhìn thẳng vào mặt không phải là một tên thượng sĩ mà là toàn bộ quân đội Bức. Bộ mặt đáng ghê sợ, có thể che giấu một sự đối địch và lòng khinh bỉ sau thái độ lạnh lụng bướng bỉnh ấy. Niềm vui của bộ trưởng rõ ràng đã tiêu tan. Cả hai ngồi im lặng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Ba, 2018, 04:56:10 pm

        Cách làng bộ tham mưu quân đoàn đóng không xa, Rip-ben-tơ-rop được chứng kiến một cảnh tượng kỳ quặc: ba tên S.S. to lớn vừa soi đèn pin vừa chửi rủa ầm ĩ lôi từ trong rừng ra một thiếu phụ to lớn mặc áo dài.

        Viên thượng tướng liếc trộm bộ trưởng. Hắn không muốn dừng xe lại hỏi rõ câu chuyện. Nhưng bộ trưởng lại quyết định khác. Ngài muốn đi lại cho giãn gân cốt trước buổi mít tinh. Có tướng tá và đội tùy tùng theo sau, bộ trưởng tiến lại phía mấy tên S.S.; bọn này đừng lại. Anh đèn pin soi rõ quân phục cấp tướng và dải băng rộng có dấu thập ngoặc trên cánh tay trái bộ trưởng.

        Ríp-ben-tơ-rốp hỏi : .

        — Mụ đàn bà này có tội gì ?

        Một tên S.S. đứng nghiêm cứng người, đáp :

        — Thưa ông, khống phải là đàn bà, hì...

        Một tên trong đội hộ vệ khẽ nhắc:

        — Bộ trưởng đấy!   .

        Tên S.S. cứng người lại:

        — Thưa ông bộ trưởng, đây là một tên đào ngũ... Nó đã cải trang thành đàn bà và trốn khỏi tuyến hỏa lực chủ yếu...

        Ríp-ben-tơ-rốp sửng sốt, đỏ mặt, định nói câu gì song lại thôi. Bất thình lình hắn quay lại xe ô tô. Tốc độ xe chạy nhanh làm dịu nỗi bực dọc của hắn. Hắn lại còn quyết định rằng cái quang cảnh vừa nhìn thấy có thể dùng làm để tài trung tâm cho bài diễn văn của hắn. Hắn sẽ nhắc đến những tên phản bội và sẽ nêu lên làm ví dụ, trường hợp tên lính Đức vừa rồi cải trang thành đàn bà thật là nhục nhã!... Câu chuyện này sẽ làm cho người nghe phì cười và chắc cũng hay.

        Người ta tập hợp binh lính trong một gian phòng rộng thắp nến ở lâu đài Xtôn-pơ. Khi bộ trưởng bước vào, tất cả gio tay đồng thanh hô: Heil Hitler! 1 Bộ trưởng bước lên diễn đàn, và bắt đầu nói không chút rào đón, giọng đều đều, mặt nhìn thẳng vào làn ánh sáng lừ mờ rung rinh trên đầu thính giả:

        — Hỡi các binh sĩ, nước Đức đòi hỏi các người phải có một chí kiên quyết không gì lay chuyển nổi. Trong giờ phút quyết định số phận của Đế quốc, Quốc trưởng trông mong vào các người.

        Hắn gợi lại thời đại Phrê-đê-rích Đại đế2 thời kỳ mà nước Phổ lâm vào một tình thế không kém phần hiểm nghèo, vậy mà đã một mình chống chọi với cả hoàn cầu mà vẫn vững vàng! Hắn còn nhắc lại cả cuộc tiến công vào nước Nga vừa rồi. Quân Đức đã tiến đến sát thủ đô Nga ; nhưng quân Nga, nhờ chí kiên quyết của họ — phải, đúng là nhờ chí kiên quyết của họ — đã không để cho quân địch tiến vào thủ đô của họ và thế là bây giờ đây...

        Bộ trưởng khoát rộng tay về phía sông Ô-đe, cái khoát tay mà mọi người đều thừa hiểu rõ ý nghĩa. Trong cái khoát tay ấy chứa chất nỗi chua chát trước tình thế hiện tại và lời thú thực "cao thượng” về thắng lợi của đối phương.

        — Cái phép lạ đó có thể đến với chung ta và sẽ đến với chúng ta. — Sau một lát im lặng, hắn lại nói tiếp:

        — Nếu như trong hàng ngũ các người không có bọn phản bội, bọn chó má ; đối với chúng cái tính mạng hèn hạ của chúng còn đáng quý hơn Tổ quốc Đức...

        Đã đến lúc thuật lại câu chuyện hài hước và nhục nhã của tên lính cải trang thành đàn bà. Nhưng tới phút cuối cùng, bộ trưởng đâm ra đo dự và im bặt. Thật là thiếu thận trọng, có khi lại còn nguy hiểm — hắn nghĩ thầm —  nếu ta kể cho bọn binh lính biết cái phương pháp đào ngũ ấy. Và biết đâu chúng lại chẳng sẽ cải trang thành đàn bà và chạy tán loạn qua rừng rú, hồ ao, làm cho phòng tuyến Béc-Iin trống rỗng. Bỗng nhiên hắn có cảm giác như trăm ngàn con mắt đang dán chặt vào hắn, như tên thượng sĩ lúc nãy, cùng với một thái độ lạnh lùng đến cực độ và sau đó, che giấu một sự đối địch và lòng khinh bỉ khó mà lường được.

        Do đó mà phần cuối bài diễn văn trở thành lủng củng. Giọng nói đều đều đột nhiên chuyển thành một giong thì thầm sôi nỗi, chưa bao giờ Ríp-beri-tơ-rốp nói như thế :

        — Các ngươi hãy đứng cả dậy như một bức thành đồng !... Lòng trung thành của dân tộc Đức là áo giáp của chúng ta !... Đó chính là nghĩa vụ của những con cháu Phrê-đê-rích Bâc-bơ-rút3.

        "Mình vừa nói cái gì vậy ? Tại sao lại Bác-bơ-rút ?” —  bộ trưởng nghĩ lại, đờ người ra. "Mình thật đãng trí một cách kỳ cục ! Mình đinh nói Phrê-đê-rích Đệ nhi4 kia mà... ”

        Nhưng không ai để ý đến câu nói nhầm của bộ trưởng. Viên trung tướng trịnh trọng tiến lại bắt tay ngài, rồi cất tiếng nói to :

        — Thưa ông bộ trưởng, thay mặt sư đoàn, tôi xin cảm ơn ngài. Tôi xin ngài chuyển tới Quốc trưởng lời hứa sắt đá chống giữ đến cùng của chúng tôi.

        Lời tuyên bố ấy kêu lắm. Nhiều tiếng hô vang lên : "Heil!”.

-----------------
        1.Hít-le muôn năm !

        2. Vua Phổ (1712— 1786) lên ngôi 1740, thiện chiến, không khéo trong việc cai trị. Trong cuộc chiến tranh 7 năm, chống cự lại với Liên minh Pháp, Áo, Nga.

        3. 1123 — 1190— Vua nước Đức từ năm 1152 tới năm 1190. Đã nhiều lần tiến đánh, nước Ý. Sau bị chết đuối.

        4. Vua nước Phổ từ 1710 — 1740.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Ba, 2018, 02:41:56 am

        Ríp-ben-tơ-rốp rời khỏi tòa lâu đài với một niềm phấn khởi cao độ. Chưa biết có phải bộ trưởng đã cổ vũ được binh lính hay không, nhưng chắc rằng chính binh lính đã củng cố lại tinh thần cho bộ trưởng. Ngài thân mật nhận lời ở lại ăn cơm với viên trung tướng nhưng với điều kiện là người bếp riêng của bộ trưởng sẽ trông nom việc nấu nướng — Quả vậy, người ta cảm thấy bộ trương là một nhà đại quý tộc, đâu có phải một người mới làm giàu như tên Lây mới lên thăm mặt trận nửa tháng trước đây. Các tướng tá nhìn Ríp-ben-tơ-rốp với vẻ kính phục.

        Trước bữa ăn, bộ trưởng đi kiểm tra công sự phòng ngự. Những hào giao thông nóc có lát ván gỗ, những lô cốt dày đặc lỗ châu mai, những lô cốt sắt, những gian hầm đào sâu dưới đất và những xe tăng cố định, tất cả những cái đó làm cho bộ trưởng hết sức tin tưởng.

        Viên trung tướng xin phép được giới thiệu với bộ trưởng tên trung úy Huy-gô Uyn-ken, một sĩ quan có tiếng tăm đã được tặng thưởng, đeo thêm cành sến vòng quanh phù hiệu chữ thập bằng sắt của anh ta. Ríp-ben-tơ-rốp chẳng thích gì lắm nhưng cũng không từ chối.

        Bọn họ bước xuống gian hầm của tên trung úy. Tên sĩ quan vinh dự đang ngồi bàn viết lia lia. Một ngọn đèn con đặt trên bàn. Chẳng thèm quay lại, tên trung úy quát luôn với khách mới tới

        — Đóng cửa lại !

        Nghe câu quát ấy, Ríp-ben-tơ-rốp mỉm cười, bước lại gần bàn và chữ thứ nhất hắn nhìn thấy trên trang giấy trắng chi chít những chữ to nhỏ : Vermachtnis1.

        Ríp-ben-tơ-rốp tàn nhẫn hỏị :

        — Đồ khốn nạn, anh viết cái gì đấy !

        Nhìn thấy bộ trưởng và các tùy tùng, tên trung úy bật vội dậy, rụt đầu lại như bị đánh.

        Bộ trưỏmg cố trấn tĩnh, vừa nói vừa cười nhạt:

        — Anh viết di chúc sớm quá đấy.. Thật là một gương xấu cho hạ cấp của anh. Tin tưởng vào thắng lợi, đó chính là điều anh phải dạy bảo cho binh lính!

        Bộ trưởng đi ra. Hắn thong thả bước lên khỏi hào giao thông rồi đứng lại, mắt nhìn mãi sang phía đông. Bên kia dòng sông, thoáng nghe thấy tiếng ầm ầm, tựa như cả cánh đồng đầy rừng cây và hồ ao đang nhẹ nhàng cựa quậy, thở hổn hển sẵn sàng vùng dậy. Nhiều cụm ánh đèn pha phía xa xa quét trên bầu trời đen tối. Tâm thần rối loạn, Ríp-ben-tơ-rốp lẩm bẩm:

        — Tên trung úy cũng không đến nỗi quá ngu ngốc gì.

        Hắn nhớ lại cái năm 1939 và lần hắn đi thăm Mát- xcơ-va. Lần ấy, qua kính cửa xe ô tô, hắn để ý nhìn những người Nga đang đi lại từng đoàn bình thản, giữa thủ đô của họ. Giờ đây từ một chiếc hào giao thông trên sông Ô-đe, hắn lại nhìn thấy họ.

        Ở nước Nga, lòng căm thù đối với hắn hẳn là vô cùng sâu sắc. Không hiểu phản ứng của binh lính Nga sẽ như thế nào nếu như họ được biết rằng Phôn Ríp-ben-tơ- rốp đang ở đây, ngay gần họ, trên bờ sông Ô-đe.

        Hắn giật nảy mình : phía bên trái, nhiều tiếng nổ dữ dội mỗi lúc một mạnh, ngày càng gần lại. Các tướng tá lo ngại bèn gọi điện thoại hỏi các đơn vị. Đầu tiên, người ta báo tin về là pháo binh Nga đang bắn vào các vị trí Đức. Nửa giờ sâu, người ta được biết quân Nga đã bắt cóc một lính Đức trong một vọng cảnh giới chiến đấu và rõ ràng là bọn họ dùng pháo binh, súng cối yểm hộ cho trinh sát của họ rút lui. Bộ trưởng ngớ người ra hỏi:

        — Bắt cóc à ? Sao lại thế ? Thế nghĩa là thế nào ?

        Các tướng im lặng. Hen-rít-xi nói cứng, an ủi:

        — Thưa ông bộ trưởng, đó là chuyện thường tình trong chiến tranh. Chịu thôi.

        Ríp-ben-tơ-rốp vội vã theo hào giao thông đi về phía sau. Tất cả hệ thống quân sư ấy, những bức tường dày cộp của các gian hầm, những ổ súng máy và những mạng thép gai hình như không còn bảo vệ được cho hắn nữa. Hắn gần như cất cẳng chạy. Người rét run lên, hắn nghĩ thầm: " Sống chết cũng phải thương lượng với bọn Mỹ. Dù có phải trả giá đắt !... Nếu không, sẽ quá muộn!”

        "Tại sao bọn Mỹ ấy lại tiến chậm đến thế! ” — Ríp- ben-tơ-rốp bực tức nghĩ bụng, vừa lo lắng nhìn bóng đen mờ tối. Trước mắt chấm tròn của một chiếc đèn pin le lói chạy đi chạy lại. Sau lưng tiếng chân vội vã của các tướng tá không muốn bị bộ trưởng bỏ rớt lại quá xa.

        Nhiều binh lính chạy dọc hào giao thông. Pháo binh Đức hung hăng nhả đạn quá muộn rót xuống những khu rừng lặng lẽ trên bờ sông phía đông.

        Trong lúc đó, Me-séc-xki và đội trinh sát ướt át nhưng vui sướng lôi một tên tù binh vào đường hầm của họ. Trên đường về, dòng nước cuốn trôi họ xuống phía dưới gần một ki-lô-mét, còn thì mọi việc đều thuận lợi. Trong vọng tiền tiêu của quân Đức đêm hôm ấy bọn chúng không có năm mà chỉ có bai thằng. Lẽ ra họ cũng phải qua một trận khá gay đấy nhưng ngay cả trên tiền duyên của quân Đực cũng hầu như không có lính. Về sau họ mới biết là đại bộ phận lính địch đều đã đi nghe bộ trưởng Rây-sơ diễn thuyết trong lâu đài Xtôn-pô.

-----------------
        1. Tờ di chúc.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Ba, 2018, 07:37:30 pm

IV

        Tên tù binh Phrít Ác-muýt cấp bậc thượng sĩ, tỏ ra là một tên thông minh và biết nhiều tình hình. Biết rằng những ngày chiến đấu của hắn tới đây là vĩnh viễn kết thúc, và hắn lấy làm sung sướng một cách chân thật ngờ nghệch về việc đó, nên hắn sẵn sàng khai hết những điều mà hắn biết. Mà hắn thì lại biết khá nhiều vấn đề vì trước hắn có làm văn thư trong ban tham mưu một trung đoàn.   

        Thực ra hắn cũng chưa hoàn hồn được ngay. Khi miệng bị nhét giẻ và thấy mình bị lôi về bên kia sông, sợ quá hắn đã uống một tua nước kha no. Lúc đầu, anh em trinh sát không biết, mãi tới khi họ rút giẻ trọng miệng hắn ra, tên thượng sĩ chỉ còn thoi thóp thở. Có lẽ không một ai — dù là mẹ hay vợ tên tù binh Đức to lớn ấy cũng không lo lắng cho tính mạng nó và chăm sóc cẩn thận bằng Lu-ben-xốpvà Me-séc-xki. Người ta làm hô hấp nhân tạo cho hắn, xoa rượu mạnh cho hắn và vừa thở dài vừa gọi:

        — Này Phrít, Phrít1.

        Chốc chốc, anh em bộ binh, pháo binh, điện thoại, công binh nét mặt lo âu lại ngó vào cửa hầm hỏi:

        — Thằng Đức ấy thế nào rồi ?

        Cuối cùng, hắn tỉnh lại và người ta dẫn hắn lên phòng tham mưu sư đoàn.

        Con đường di qua một khu rừng rộng. Thực ra cũng không còn là một khu rừng nữa mà là một xưởng mộc và rèn khổng lồ. Dưới ánh trăng lúc tỏ lúc mờ, công việc đang tấp nập nhộn nhịp. Các tiểu đoàn công binh làm cầu đang chuẩn bị các bộ phận cầu vượt sông. Mấy nghìn con người trang bị cưa và búa rìu chen chúc quanh những cây gỗ lớn và những đoạn cầu làm đã sắp xong.

        Trong những lò rèn tạm thời, trước những bếp lò che vải bạt anh em thợ rèn đang chế tạo hàng vạn chiếc đinh, chữ u, đinh thẳng và móc sắt, giống hệt như các giám đốc và giám thị công trường, các kỹ sư là những đại tá và thiếu tá, đi lại vội vã trên những lối đi thẳng tắp.   ’

        Nhìn thấy anh em trinh sát quần áo ướt sũng khoác áo choàng ngụy trang áp tải một tên Đức đi quạ, các đồng chí đóng cầu, thợ mộc, thợ rèn bèn dừng tay trong chốc lát. Trong cuộc chiến tranh này, nhiều lần họ cũng đã từng có dịp nhìn thấy bọn tù binh, còn như một tên Đức mà anh em trinh sát vừa lôi ra khỏi chiến hào — "còn nóng sốt” như lời một đồng chí công binh — thì phần đông ánh em lần này là lần đầu tiên mới nhìn thấy.

        Được các đồng chí công binh, nhìn mình bằng những con mắt khâm phục, anh em trinh sát mặt mày hớn hở. Về đến phòng tham mưu sư đoàn, họ lại cũng được những người tò mò đón tiếp.. Mọi người đều khen ngợi các chiến sĩ trinh sát tươi cười và ướt từ đầu đến chân.

        Tên Đức cũng hết lòng ca tụng và ra vẻ ta đây cũng biết:

        — O, ja, das war fabelhaft ! gemacht! Aber direkt tadellos2.

        Ô-ga-nhe-xi-an đứng trên ngưỡng cửa ngôi nhà nhỏ, lầm lầm nhìn tên lính tươi cười. Với cái vốn lão luyện trong nghề, anh nói:

        — Thằng này sẽ khai hết đây!... Chỉ sợ không đủ sức mà ghi thôi!

        Quả vậy, Ác-muýt cho biết khá nhiều tài liệu. Thì ra bên kia sông Ô-đe có sư đoàn "Sít-oét” tên thành phố trong đó sư đoàn này đóng quân. Sư đoàn gồm nhiều tiểu đoàn biên chế một cách vội vã, toàn những vệ binh, lính S.S., lính trù bị cảnh sát và thợ thuyền. Ở phía Nam, ba tiểu đoàn : "Pốt-đam”, "Bran-đbua” và "Xpan-đô ” chiếm giữ trận địa phòng ngự. Những ngày gần đây, tên thượng sĩ đã ở thành phố Ri-ét-den. Bao bọc xung quanh thành phố này có nhiều trận đia phòng ngự dã chiến kiên cố. Ở đó có bộ tham mưu sư đoàn 606 có nhiệm vụ "đặc biệt”, mới được điều từ Pháp tới. Hắn cũng có thấy bộ tham mưu một sư đoàn thiết giáp S.S. Nhiều xe vận tải chở bộ binh không ngớt chạy qua thành phố lên mặt trận. Hắn được biết ở phía đông nam thành phố Ri-ét-den, việc phòng thủ là do sư đoàn bộ binh 809 "Béc-lin” phụ trách.

        Ác-muýt cho biết những chi tiết rất hay về tình hình Béc-lin. Người ta có nói với hắn rằng trong những công sở ở đường Uyn-hem, đặc biệt ở sở Giét-ta-pô3 người ta đang đốt hết mọi hồ Sơ và khắp đường phố đều phủ kín tàn gio của giấy tờ thiêu hủy. Béc-ke, anh một tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 là một thiến tá trong bộ Tồng tham mưu, đã chết một cách đột ngột: tên tiểu đoàn trưởng chính thức nhận được tin báo tử; ấy thế nhưng chưa đầy một tuần lễ, hắn đã nhận được một bức thư của "người chết” trong đó tên thiếu tá nói rằng cái chết của hắn là "có điều kiện” và hắn đã đi "Sp”. Trong buổi kỷ niệm ngày sinh nhật hắn, tên tiểu đoàn trưởng đã giử cho các sĩ quan khác xem bức thư đó và chẳng bao lâu đến ngay cả văn thư cũng biết câu chuyện bí mật ấy, cái kiểu chết ấy "kiểu chết Béc-lin” lúc này không phải chỉ có một trường hợp.

                "Sp” chắc hẳn là Spanien4.

-----------------
        1. Đức, Đức.

        2. Ồ, vâng, đánh hay lắm, không chê được!

        3. Tình báo của phát xít Đức.

        4.Tiếng Đức nghĩa là Tây Ban Nha.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Ba, 2018, 08:15:05 pm
 
        Tất cả những tài liệu đó, kể cả những tài liệu về những công trình của công binh làm trên sông Ô-đe và những hoạt động tăng cường công sự của địch, Lu-ben-xốp đều báo cáo ngay bằng điện thoại lên bộ tham mưu quân đoàn và cho đại tá Ma-lư-sép trên bộ tham mưu tập đoàn quân, Sau đó, cùng với Me-séc-xki, anh mang theo biên bản hỏi cung lên gặp thiếu tướng Xê-rê-đa.

        Ở chỗ thiếu tướng, anh thấy rất đông người trong đó có đại tá Cra-xi-cốp.

        Trong lúc báo cáo với thiếu tướng những lời khai của tên tù binh, thiếu tá cận vệ chốc chốc lại liếc nhìn Cra-xi-cốp, và với một lòng ác cảm vô tình, anh ngắm nghía khuôn mặt vạm vỡ đẹp trai, hơi nhăn nheo của đại tá, có xoa nhiều phấn sau khi cạo râu.

        "Đôi mắt thật đáng ghét! — Luben-xốp nghĩ bụng, nhưng rồi lòng yêu công bằng lại nồi dậy trong anh: — Việc gì mà mình lại hằn học như vậy. Có phải tại ông ấy đâu!”

        Báo cáo xong, thiếu tá cận vệ im lặng đợi lệnh. Đồng chí Xê-rê-đa khen :   •

        — Khá lắm. Các đồng chí đã bắt được một tên Đức rất quý. Một cuộc trinh sát điển hình. Các đồng chí đã học tập được một bài học chiến đấu đấy, tôi rất hoan nghênh!

        Thiếu tướng rất phấn khởi vì các đồng chí trinh sát của mình.

        Đồng chí rất muốn ôm hôn hai chàng trai khoác áo ngụy trang Xanh này, nhưng đồng chí không muốn bộc lộ tình cảm của mình trước mặt những người khác. Đồng chí lại quay lại nói chuyện với các sĩ quan tới kiểm tra sư đoàn.   

        Trong đoàn sĩ quan vừa từ bộ tham mưu quân đoàn và tập đoàa quân tới có các cán bộ cơ quan chính trị, các kỹ sư đi kiểm tra công trình phòng ngự, có các cán bộ pháo binh và hậu cần. Đó là một phái đoàn đông đảo giống như những phái đoàn trước kia trong những thời kỳ phòng ngự gay go, tới ổn định lại trật tự trong các đơn vị. Phái đoàn đều phải nghiên cứu tỉ mỉ công tác chính trị
của Đảng, công tác chuẩn bị chiến đấu và đến ngay cả tình hình số lượng lừa ngựa, kiểm tra lại và báo cáo kết quả với Hội đồng quân sự.

        Me-séc-xki ngạc nhiên quá, ghé vào tai Lu-ben-xốp thì thầm:

        — Kìa! Hôm nọ anh chả vừa nói là cuộc tiến công cũng sắp sửa rồi kia mà ?

        Lu-ben-xốp thì thầm trả lòú :

        -— Bình tĩnh, Xa-sa. Nếu như có một phái đoàn tới kiểm tra phòng ngự thì nhất định là sắp sửa tiến công... Gần thành quy luật rồi còn gì. Cậu nhìn thiếu tướng mà xem.

        Thật vậy, chính bản thân thiếu tướng sư đoàn trưởng cũng biết rất rõ cái "quy luật” ấy. Thiếu tướng gật đầu, đồng ý chuyện này, hoặc ôn tồn phản đối chuyện kia, lẩm bẩm nói một mình nhưng đôi mắt vẫn luôn tươi cười.

        Khi các sĩ quan — nhân viên phái đoàn — đi xuống các trung đoàn, thiếu tướng nói với các đồng chí trinh sát:

        — Cảm ơn các đồng chí nhé ! Các đồng chí đã đem lại vùi sướng cho một ông già như tôi! Tôi sẽ đề nghị khen thưởng tất cả các đồng chí. Còn Lu-ben-xốp, tôi sẽ đề nghị tặng thưởng cho đồng chí huân chương Nhép-xki !

        Các đồng chí trinh sát sắp sửa ra về thì cửa mở ra và một thiếu úy áo quần bụi bậm, mồ hôi nhễ nhại bước vào : một sĩ quan liên lạc. Đồng chí này tới đâu là ở đó có những biến chuyền quan trọng.

        Thiếu úy đưa thiếu tướng một chiếc phong bì lớn gắn xi. Thiếu tướng nhanh nhẹn xé phong bì, đưa mắt lướt đọc bản công văn, nét mặt bỗng trở nên trịnh trọng và nghiêm nghi, thiếu tướng nói :

        — Các đồng chí sĩ quan, tôi vừa nhận được lệnh cho sư đoàn ta chuyển lên khu vực đầu cầu. — Đồng chí quay lại phía tham mưu trưởng đang ngồi ở bàn và nói : —  Vào việc đi! Báo cho các nhân viên phái đoàn kiểm tra, mời các đồng chí đó về thôi. Phái đoàn sẽ tiếp tục cuộc kiểm tra ở Béc-lin.

        Lu-ben-xốp và Me-séc-xki chạy vội về.

        Tên Ác-muýt vẫn chưa được giải về quân đoàn bộ, hắn vừa ăn uống xong. Thấy Lu-ben-xốp vào, hắn đứng vụt dậy, lấy đúng tư thế đứng nghiêm, và — ôi, thật kinh tởm — hắn giơ tay hô theo thói quen :

        — Heiu...1

        Tiếng "Hít-le” hắn đã kịp giữ lại trong họng vì chợt nhớ ra hành động vừa rồi của mình. Mặt hắn tái đi rồi đỏ bừng, hắn tự đập vào tay phải một cái :

        ” Diese dumnie Hand ! ”2, và tự tát vào miệng một cái: " o, dìeser dumme Mund! ” 3. Chắc là hắn sợ bị mang ra bắn ngay lập tức. Nhìn thấy cái tình cảnh ngộ nghĩnh ấy của hắn, anh em trinh sát phá lên cười.

        Lu-ben-xốp cũng bật cười và nói:

        — Giải hắn đi ngay. Không có hắn thì cũng còn khối việc khác mà làm đấy !

        Tên Ác-muýt được giải về bộ tham mưu quân đoàn. Sung sướng thấy mình được người ta nắm cổ lôi ra khỏi chiến trận, hắn ngồi trên xe ô tô vẫy tay chào anh em trinh sát một hồi lâu.

        Khi anh em trinh sát được thiếu tá cận vệ cho biết sư đoàn sẽ chuyển lên một vị trí khác, họ cũng hơi thấy chán ngán. Dĩ nhiên là phải từ đầu cầu mới có thể tiến đánh một đòn quyết định vào Béc-lin được. Nhưng cũng không khỏi không buồn phiền là phải lên đường ngay sau một cuộc trinh sát khéo léo và thần tình như vừa rồi.

        Mi-tơ-rô-khin thở dài :

        — Hừ ! Thế là làm hộ "bố” khác rồi!

        Hôm sau, cái ông "bố” ấy tới thật.

        Đó là một đại úy trẻ tuổi, rất nhanh nhẹn, tháo vát, đại diện ban trinh sát của sư đoàn sẽ tới thay thế sư đoàn của thiếu tướng Xê-rê-đa.

        Thiếu tá cận vệ trình bày lại cho đồng chí đó tất cả những lời khai của tên thượng sĩ tù binh. Đồng chí đại úy tất nhiên rất hài lòng vì thấy tình hình khu vực này đã được trinh sát tường tận đến thế. Lu-ben-xốp hỏi:

        — Sư đoàn đồng chí cách đây còn xa không ?

        — Ngày mai, sư đoàn chúng tôi sẽ tới đây cũng như tất cả các đơn vị của phương diện quân chúng tôi.

        — Phương diện quân nào ? — Lu-bep-xốp chú ý nghe.

        Đồng chí đại úy nói:

        — Phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi thứ hai. Chúng tôi vừa. hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt binh đoàn quân Đức miền Đông Phổ và bây giờ toàn phương diện quân chuyền tới đây.

        Đó là một tin quan trọng mà thiếu tá cận vệ rất hiểu rõ ý nghĩa.

        Các sư đoàn của phương diện qụân Bi-ê-lô-rút-xi thứ hai (bộ đội của nguyên soái Rô-cô-xốp-xki) đang tiến đến sông Ô-đe, có nhiệm vụ tiến công trên phía bắc phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi thứ nhất (bộ đội của nguyên soái Giu-cốp) và dùng cánh bên trái của mình yểm hộ sườn bên phải của các tập đoàn quân có nhiệm vụ đánh chiếm Béc-lin.   

        Lu-ben-xốp tất nhiên không thể biết được rằng phương diện quân U-cren thứ nhất (bộ đội của nguyên soái Cô-nhi-ép) cũng sẽ tiến công ở phía nam phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi thứ nhất: để rồi sau này sẽ tung một phần lưc lượng theo phía nam tiến vào Béc-lin.

        Gọng kìm của ba mặt trận có nhiệm vụ sẽ chọc thẳng vào Béc-lin, cứ thế mà xiết chặt lại và kết liễu cuộc chiến tranh.

        Buổi chiều, thiếu tá cận vệ được lệnh lên đầu cầu để tìm hiểu địch tình trong khu vực mới này.

        Đồng chí cần vụ của anh, hạ sĩ Ga-blu-cốp, nhanh nhẹn đóng ngựa. Chàng thanh niên trẻ măng ấy rất nhanh nhẹn, vẫn làm trọn mọi nhiệm vụ của mình một cách chuyên cần và thông minh, nhưng cho tới nay anh vẫn chưa được thiếu tá cận vệ khen ngợi lần nào — Lu-ben- xốp vẫn còn nhớ nhiều đến Tri-bi-rép.

----------------
        1. Muôn năm.

        2. Cái bàn tay ngu độn này

        3. Ồ, cái miệng nói láo này


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Ba, 2018, 03:39:31 am

V

        Hai người cho ngựa đi bước một vì chân Lu-ben-xốp vẫn còn đau. Con ngựa ô Oóc-lích của anh nóng lòng được phí nước kiệu và bị chủ kìm lại hẳn cũng không khỏi ngạc nhiên vì tính tình thay đổi khác thường của chủ mình hôm nay.

        Lát sau hai người tới một khu rừng lớn gọi là "Phóc An Lút-de-gri-éc”, tên một thành phố nhỏ nằm ở ven rừng phía tây. Đó là một khu rừng thông thường của nước Đức có những rặng thông, rặng phi lao trồng thẳng tắp như đội ngũ chiến đấu và dù có đánh số chăng nữa, thì trông vẫn hoang vu và bí hiểm trong cáỉ đêm tháng tư không trăng này. Gió giận dữ thổi qua cành lá như thì thầm những câu nói khó hiểu và như một tên gián điệp đuổi theo sau lưng hai người kỵ mã. Trong bóng tối, nhiều lúc hiện rõ bóng những chiếc xe ô tô, xe vận tải bọc sắt, những khẩu pháo, những xe tăng, ngụy trang bằng cành thông, đang nằm im dọc những con đường rừng đầy vẻ đợi chờ nóng ruột.

        Ngay ở đây chắc hẳn người ta cũng đang chuẩn bị tiến lên đầu cầu.

        Càng tới gần sông Ô-đe, càng nghe thấy tiếng đại bác nổ ầm ỹ mỗi lúc mọt dữ dội. Đầu tiên tiếng nổ nhỏ xa xa, rồi trở thành một tiếng gào thét liên tục, át hẳn tiếng gió thổi và xua đuổi tất cả mọi ý nghĩ trong đầu óc, trừ ý nghĩ về mối nguy hiềm chết người. Ý nghĩ đó dù cho ghê rợn thế nào đi nữa cũng không thể giữ được một ai dừng chân lại trong khu rừng này một phút. Tiếng gầm thét mỗi lúc một thêm điên cuồng, sau đó tạm ngừng đề rồi sau năm phút lại tiếp tục một cách điên cuồng gấp bội.

        Lát sau, hòa thêm với những tiếng gầm thét ấy có tiếng động cơ ầm ầm, tiếng kêu ngắt quãng, nặng nề của những chiếc máy bay ném bom địch. Trên không trung đen tối, chỗ này chỗ kia, vun vút những tràng đạn lửa, những cụm ánh đèn pha vụt sáng lên và ánh chớp của đạn cao xạ mỗi lúc một dày thêm. Nhiều tiếng nổ dữ dội vang lên và rồi nhiều tràng đạn lửa đủ các màu sắc lại lao lên trời như những mũi tên, có thể nói lao lên rất thong thả tựa như chúng đang ngắm nghía vẻ đẹp của bản thân chúng.

        Hai người ra khỏi rừng. Nhà cửa hiện ra hai bên đường; con đường rừng đột nhiên biến thành đường làng, lúc đó người ta mới nhận ra rằng ở trong rừng thật yên trí; có lẽ người ta sẽ sẵn sàng dừng lại ở ven rừng, dù chỉ trong chốc lát, để hưởng lấy giây phút an toàn tưởng tượng cuối cùng ấy. Nhưng người ta vẫn phải tiến bước đi lên, về phía tiếng nổ và ngọn lửa đang bốc lên bên kia dòng sông, trong buổi bình minh vang ầm sấm động đang bừng lên trên sông Ô-đe.

        Càng tới sát bờ sông, quang cảnh xung quanh trông càng khủng khiếp. Dưới ánh lửa trên bờ sông phía tây và dưới ánh sáng yếu ớt của buổi bình minh đang bừng dậy, Lu-ben-xốp nhìn thấy rõ cái nơi làm đầu để cho những câu chuyện huyền bí và có lẽ là bất diệt đã được truyền tụng trong bộ đội.

        Đó là chiếc cầu nồi tiếng trên sông Ô-đe, dẫn sang trận địa. Người ta đã mệnh danh cho nó nào là "Cầu của thần chết”, "Cầu chiến thắng”, nào là "Cầu sang Béc-lin”, "Cầu xuống địa ngục”, "Mồ chôn công binh” hay là "Cầu Hít-le đầu hàng”.

        Cầu này do bàn tay anh em công binh, do bàn tay những người công nhân Nga đã ăn ngủ trong những túp lều đất và trong những gian hầm dưới các ngôi nhà chạy dọc bờ sông xây dựng nên trong cánh rừng ven sông. Quân Đức đã nhận thấy mối nguy hiểm ở chiếc cầu này một đêm nào đó đã xuất hiện trên mặt sông Ô-đe xám nhạt. Rồi ngày đêm chúng dùng pháo tầm xa nã không ngớt vào đó; máy bay ném bom, của chúng — hạng nặng, hạng vừa, hạng nhẹ — trút bom đạn xuống cầu không lúc nào ngớt.

        Bốn bề đạn pháo Đức trút xuống như mưa, phá vỡ những cột móng, hất tung những xà ngang xuống sông và lần nào các chiến sĩ công binh cũng chữa lại cầu, ngoan cường bò sấp trên mặt cầu to rộng và hy sinh nhưng không bao giờ để ngừng trễ công việc. Sự thật, đó là một chiếc cầu bất tử, nhưng lại do những người có thể chết xây nên.

        Bờ sông chi chít những hố đạn, hố bom. Ở đó có trận địa pháo cao xạ ; các chiến sĩ của sư đoàn đang tíu tít xung quanh các khẩu pháo. Những chiếc búa máy "đi-ê-den” dùng để đóng cọc, những cuộn dây chão dài, những chiếc "tời”, những chiếc máy kéo nằm im dưới những tấm vải bạt rộng. Trong những gian hầm trú ẩn đã gần sụp, các chiến sĩ đang ăn sáng.

        Mùi cháy khét lẹt, mùi xác ngựa chết, mùi ván gỗ mới bào, mùi khói, mùi dầu lẫn lộn với nhau thành một mùi vị ngửi nhức đầu, rùng mình.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Ba, 2018, 02:19:25 am

        Bên phải và bên trái cầu chính còn có hai cầu nhỏ bắc bằng xuồng. Ban ngày người ta tháo những cầu đó ra, đem giấu dưới những bụi cây bên bờ sông ; ban đêm lại đem ra lắp lại. Những sợi dây cáp kêu ken két. Một đơn vi đã dừng lại trong túp lều chờ qua sông. Các chiến sĩ trẻ tuồi nét mặt lo ngại lắng tai theo dõi giây phút im lặng tạm thời.

        Gần cầu, hai sĩ quan nhắc nhở những người bước lên đầu cầu :   .

        — Các đồng chí khần trương lên, đừng có dừng lại. Nhanh lên, nhanh lên !

        Mặt cầu đóng bằng ván rộng chừng sáu mét, không có tay vin, chỉ có hai đường gừ để giữ bánh xe. Các chiến sĩ phục vụ việc qua cầu, đèn bấm còn le lói trong tay, tuy trời đã sáng rõ, cũng giục những người đi bộ hay đi xe.

        — Nhanh lên các cậu, "bản nhạc” sắp bắt đầu đấy!

        Sự chăm lo cho con người của những con người ngày đêm phải túc trực ở đây, ở cái vị trí nguy hiểm này làm cho Lu-ben-xốp cảm động.

        Trong màn sương buổi sớm, trên những tấm ván cầu in hình chỗ này xác một con ngựa, chỗ kia một chiếc khung xe gãy nát, di tích trận bom vừa qua của bọn Đức. Con Oóc-lích thản nhiên nhìn những xác người chết nhưng khi thấy xác một đồng loại của nó thì hoảng sợ lùi lại.

        Đứng trên cầu này, đối diện với cái chết, vì không thể nào ẩn vào lòng đất được nữa, mà lòng đất ở đâu cũng là nơi ẩn nấp cua người lính, người ta thấy cảnh vật hiện ra trong một khung cảnh khác hẳn, đầy vẻ vô cùng tàn nhẫn. Ở đây, cả đến những con ngươi cứng rắn nhất, dũng cảm nhất cũng mất hết ý nghĩ hài hước.

        Tới đúng giữa sông, tiếng chân người xào xạc, tiếng bánh xe ken két, và tiếng lốp xe ô tô lạt sạt đều bị tiếng gầm thét ngày càng dữ dội át hẳn. Bên phải cầu, nhiều đạn pháo vừa nọ tung dưới sông. Những cột sóng đen sẫm vọt lên khỏi mặt cầu, hắt những giọt nước và bọt sóng vào đám người. Mặt cầu tung lên. Một tiếng rít ghê rợn xé mạnh bầu không khí đang rung động. Con Oóc-lích nhảy chồm chồm tại chỗ, chỉ muốn lao xuống vực thẳm. Lu-ben-xốp chật vật lắm mới ghìm nổi nó lại rồi anh quay nhìn Ca-blu-cốp. Ngồi trên lưng ngựa, thân hình nhỏ bé, rướn hết người, mặt tái đi, đồng chí này không một phút nào rời mắt khỏi thiếu tá cận vệ. Lu-ben-xốp cố gắng mỉm cười với Ca-blu-cốp. Nhưng thật ra, cười cũng chẳng ra cười.

        Anh nói :

        — Ngồi cho vững nhé !

        Ca-blu-cốp nói bằng một giọng hổn hển:

        — Rõ.

        Mọi người vẫn tiếp tục tiến lên, cố hết sức rảo bước. Đột nhiên, một chiếc xe ô tô chồm sang trái, xô vào một chiếc khác! Viên đạn đại bác rơi xuống sông ngay gần đấy, nước bắn tóe lên những người trên cầu. Người ta xô sang một bên và lùi lại. Hai chiếc xe ô tô gậy nát chắn ngang đường. Có tiếng kêu của một thương binh. Lúc đó, một giọng nói giận dữ, có tính cách chỉ huy vang lên :

        — Bình tĩnh !

        Hai vị tướng đứng ngay giữa cầu. Lu-ben-xốp nhận ra một trong hai người là đồng chí Xi-dô-crư-lốp. Người thứ hai — gầy gò, xanh xao, có tới hàng mấy ngày chưa cạo râu, một thiếu tướng không oai vệ gì cho lắm, đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ — là người chỉ huy việc bắc cầu và qua sông.

        Đồng chí đại diện Hội đồng quẫn sư ra lệnh:

        — Hất hai chiếc xe ấy xuống sông!

        Các chiến sĩ chạy đi chấp hành mệnh lệnh. Một đồng chí thiếu tá trước vẫn ngồi trong buồng lái của chiếc xe bị hỏng, giờ tới trước mặt trung tướng, giơ tay lên vành mũ cứng nói với giọng van lơn:

        — Thưa đồng chí trung tướng, xe tôi có đạn chuyển lên cho súng cối của đội cận vệ.

        Xi-dô-crư-lốp không trả lời. Đồng chí theo dõi cái chiến sĩ đang làm việc hết sức vội vã quanh hai chiếc xe. Thiếu tá vẫn đứng im, tay giơ lên vành mũ. Bất chợt. Xi-dô-crư-lốp quay lại phía thiếu tá:

        — Tại sao đồng chí không giúp đỡ anh em một tý gì cả:

        Thiếu tá vội bỏ tay xuống chạy tới lấy hết sức đẩy chiếc xe của mình sang mạn cầu. Hai chiếc xe cùng rơi một lúc xuống dòng sông và đoàn người, đoàn xe ngựa, xe ô tô lại tiếp tục chuyển động.

        Xi-dô-crư-lốp nói :

        — Các đồng chí khẩn trương lên nhưng không được hoảng hốt!

        Tiếng đạn pháo rít lên vài ba lần át hẳn tiếng của đồng chí nhưng Xi-dô-crư-lốp vẫn tiếp tục nói. Và tuy không một ai nghe được tiếng của đồng chí lẫn giữa tiếng rít, tiếng nổ, mọi người vẫn nhìn trung tướng nói. Cho tới khi, những viên đại bác đã nổ dưới lòng sông ngay gần cầu, các chiến sĩ vẫn nghe thấy tiếng đồng chí tiếp tục nói đều đều :

        — ... Giữ đúng cư ly và không được kêu la hoảng hốt. Rõ chưa ?

        — Rõ ! — Các chiến sĩ đồng thanh hét lớn, rất hài lòng khi thấy rằng lần này những viên đạn đại bác vẫn không rơi trúng chỗ họ.

        Xi-dô-crư-lốp nói với đồng chí chỉ huy việc qua sông:

        — Đồng chí thiếu tướng, còn đồng chí thì tôi yêu cầu đồng chí không được tự do chủ nghĩa : tất cả những thứ gì, bất kề vật nào làm trở ngại trên cầu lập tức cho đẩy xuống sông!

        Thiếu tướng công binh đáp :

        — Rõ ! — Rồi sau đó hạ thấp giọng, đồng chí nói thêm : — Tôi tha thiết đề nghị đồng chí vào ngay hầm của tôi. Đứng đây không được bảo đảm cho lắm. Đêm qua một đại tá chủ nhiệm chính trị lữ đoàn đã bị hy sinh. Tôi tha thiết đề nghị đồng chí.   

        — Đồng chí cho rằng đạn pháo chỉ nguy hiểm với sĩ quan của phòng chính trị thôi à ?

        Hai người chậm rãi đi về phía bờ sông, Bỗng nhiên Xi-dô-crư-lốp nhận ra Lu-ben-xốp đang đi qua. Sau khi chào hỏi, trung tướng nói :

        — Tôi có được nghe nói về tên tù binh của đồng chí! Đó là một tên Đức có ích. Hắn đã giúp cho chúng ta sửa chữa lại nhiều điểm quan trọng trong việc đánh giá tình hình địch. Chuyển hộ tôi lời chào Xê-rê-đa và cháu gái đồng chí đó. Tôi chắc em bé đã ở  tuyến thứ hai, phải không ?

        Lu-ben-xốp đáp :

        — Thưa đồng chí trung tướng, vâng. — Tự nhiên anh thấy mình lấy lại được bình tĩnh, đức tính anh thường vẫn có nhưng đã giảm sút rõ ràng sau sáu tuần lễ nằm điều trị ở tiểu đoàn quân y.

        Một làn khói lan rộng dần trên cầu, Làn khói ngày càng dày đặc cuồn cuộn từng đợt lớn, bao phủ lấy chiếc cầu danh tiếng. Nghe thấy tiếng ầm ầm của đoàn máy bay ném bom địch, người ta đã thả một màn khói. Các khẩu cao xạ bắt đầu gầm thét và lát sau, vang lên tiếng rú của đoàn máy bay khu trục xô-viết. Trên trời cao, một trận không chiến diễn ra tít các tầng mây.

        Nhưng Lu-ben-xốp đã tới đất liền, trong khu đầu cầu.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Ba, 2018, 05:23:41 pm

VI

        Khu đất chạy dài trước mặt Lu-ben-xốp làm anh nhớ lại phòng tuyến một mặt trận ở khoảng gần tỉnh Oóc-sa. Đó là một khu đất trụi, chi chít vết đạn, lỗ chỗ hố đại bác, chỉ còn những chiếc mương dài — tiếng Đức gọi là "Graben” — dùng để ngăn không cho nước sông Ô-đe dâng lên ngập khu đất bãi là không có vết đạn. Rặng cây ăn quả trước kia mọc ở đây khá nhiều bây giờ đều gãy nát từng mảnh và những bông hoa táo như những sợi lông tư trắng lập lòe bay trên miệng những hố bom lớn. Cuối những con mương, nằm đồ gục những chiếc cối xay chạy bằng sức nước.

        Trong gian hầrn một chiếc cối xay, Lu-ben-xốp tìm thấy một sĩ quan trinh sát của trung đoàn được sư đoàn thiếu tướng Xê-rê-đa tới thay phiên. Đồng chí sĩ quan đó cung cấp cho Lu-ben-xốp mọi tình hình chi tiết về quân địch trước mặt. Đó lại chính là sư đoàn 606 làm nhiệm vụ đặc biệt, vừa mới được điều từ mặt trân phía tây về, mà tên Ác-muýt đã có nói tới chút ít.

        Bộ mặt nhợt nhạt, râu ria xồm xoàm của đồng chí sĩ quan, cộng thêm với tất cả bầu không khí ở ban tham mưu trung đoàn nói lên những gian khổ mà mọi người đã phải chịu đựng ở đây, trong khu đầu cầu. Trong khoảng hai tháng trời, quân Đức đã tiến công họ bằng xe tăng, và bộ binh, giội súng máy, rót đại bác mà vẫn không đẩy được họ lùi lấy một tấc đất. Trung đoàn đã bị mất các đồng chí tham mưu trưởng, tham mưu phó, chủ nhiệm thông tin và chủ nhiệm pháo binh, tất cả đều bị thương hay hy sinh. Đồng chí sĩ quan trinh sát đã thay thế hai đồng chí tham mưu trưởng và phó trong một thời gian khá dài cho mãi tới khi trên cử các sĩ quan khác tới. Trung đoàn trưởng cũng đã bị thương nhưng vẫn ở lại cương vị của mình : đồng chí nằm trên giường, dùng điện thoại chỉ huy chiến đấu.

        Từ lúc lên tới đó cho đến tối, thiếu tá cận vệ đứng trong một chiến hào tiền duyên quan sát quân Đức: anh đối chiếu những điều mắt thấy với những tài liệu ghi trên tấm bản đồ do đồng chí sĩ quan trinh sát giao lại,

        Trận địa một của quân Đức cách trận địa một của quân ta khoảng từ bảy mươi đến hai trăm mét. Tuy đã từng được nhìn khá nhiều những trận địa phòng ngư của địch, Lu-ben-xốp cũng chưa thấy ở đâu lại nhiều chiến hào, hào giao thông, lô cốt cố thủ, dây thép gai và đất bị cày lộn lên như ở đây. Trận địa phòng ngư của Đức chi chít dày kín những ổ súng máy. Trên khu đất thấp màu xám này không còn lấy một tấc đất nào mà lưới lửa không chụp tới.

        Lúc xẩm tối, thiếu tá cận vệ rời khỏi chiến hào, tìm thấy Ca-blu-cốp cùng hai con ngựa ở dưới con mương phía sau chiếc cối xay. Đợi cho tới khi hết tiếng đại bác, anh quay về bờ sông phía đông.

        Ở đấy, thiếu tướng sư đoàn trưởng cùng với nhiều sĩ quan tham mưu đã đóng ở trong một xưởng nấu nhựa đường bỏ hoang ngay giữa khu rừng. Đồng chí Xê-rê-đa có vẻ nghiêm nghị và bận rộn. Đồng chí tới cách đây một tiếng đồng hồ sau khi dư xong cuộc họp ở chỗ đồng chí tư lệnh tập đoàn quân.

        Sư đoàn đang hành quân và đội tiền vệ cũng sắp sửa tới đây, Các sĩ quan chốc chốc lại chạy ra con đường rừng ngóng xem đã nhìn thấy các đơn vị tiền vệ hay chưa. Thiếu tướng nghiên cứu rất lâu tấm bản đồ Lu-ben-xốp mang về.

        Đồng chí nói:

        — Này, đây là một tuyến phòng ngư khá chắc đấy, không còn lôi thôi gì nữa. Húc vào cũng không phải ngon xơi đâu. — Đồng chí nhìn Lu-ben-xốp rồi nheo mắt nói tiếp: — Còn đồng chí, đồng chí chạy nhiều quá đấy. Phải chú ý giữ gìn đôi chân. Đồng chí ở lại với tôi, để cho An-tô-nhi-úc làm cái việc chạy ấy.

        Lát sau, An-tô-nhi-úc đi chiếc xe của phòng tham mưu tới. Lu-ben-xốp giao cho đồng chí đó thảo bản kế hoạch trinh sát còn anh thì định đi ngủ một lát. Nhưng hai giờ sau, khi An-tô-nhi-úc mang tới cho anh bản kế hoạch, thiếu tá tỏ vẻ bực dọc và ngạc nhiên. Anh hỏi

        — Đồng chí viết những cái gì thế này, đồng chí dự định nằm lại phòng ngự một năm nữa hay sao thế? Mà này, việc quái gì mà đồng chí lại cần phải có tù binh khi tình hình đã nắm được khá chắc như thế này ? Để phải hy sinh thêm nữa à? Cần phải xây dựng trước một kế hoạch trinh sát cho trường hợp ta chọc thủng phòng tuyến địch và truy kích địch. Mà đồng chí nên chú ý điểm này: một kế hoạch trinh sát thích hợp với những điều kiện trong thành phố, một thành phố rộng lớn, đồ sộ như thành phố Béc-lin, đồng chí hiểu chưa ?

        Nét mặt nhăn nhó, An-tô-nhi-úc trả lời:

        — Ta chưa nhận được lệnh chuyển sang tiến công.

        Lu-ben-xốp đáp lại:

        — Lệnh ấy rồi sẽ có. Và sẽ có một cách bất ngờ. Thế là, lúc đó chúng ta sẽ lúng túng, bị động. — Ngừng lại một lát, anh nói thêm : — Tôi sẽ làm lấy kế hoạch.

        Trong thời gian đó, các trung đoàn ùn ùn kéo tới, mò mẫm trú quân trong bóng tối ở những khu vực đã chuẩn bị trước trong khu rừng rộng lớn; họ phải êm thấm dồn những đơn vị tới trước lại.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Ba, 2018, 08:12:22 pm
        
        Tiếng ồn ào lắng dần xuống. Cả sư đoàn thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn. Riêng trong xưởng nấu nhựa đường nơi trú quân của thiếu tướng, phòng tham mưu, phòng chính trị, mọi người suốt đêm còn cúi mình trên những tấm bản đồ, những bản thống kê, những bản mệnh lệnh. Cuối cùng tất cả cũng đều im lặng.

        Tờ mờ sáng, Lu-ben-xốp đã thảo xong bản kế hoạch của mình. Anh ngó vào gian phòng nhỏ bên cạnh, chỗ ở của thiếu tướng. Thiếu tướng vẫn ngồi trước bàn làm việc thiếp đi. Ống nghe còn đeo bên tai. Lu-ben-xốp mỉm cười, cố tình vi phạm mệnh lệnh đã nhận trước: anh đi tới chỗ ở của anh em trinh sát dưới mấy gốc thông cách đó không xa lắm. Anh em cũng đang yên giấc.

        Me-séc-xki, ngồi tách riêng ra một chỗ hí hoáy viết.

        Lu-ben-xốp hỏi :

        — Xa-sa, đồng chí làm thơ đấy à ?

        Me-séc-xki luống cuống đáp lại:

        — Không ạ. Tôi viết bản đề nghi lĩnh lựu đạn.

        Thiếu tá vừa nói vừa cười:

        — Cũng hay đấy.

        Vô-rô-nhin tới báo báo với đại úy :

        — Mi-tơ-rô-khin cần thay băng đạn. Xê-mi-ô-nốp và Ô-pa-na-xen-cô không có dao găm. Áo ngụy trang của Gut-sin bị rách. Cần được vá lại hay phát cho cái khác.

        Lu-ben-xốp cho đánh thức anh em dậy và gọi An-tô- nhi-úc tới. Trước mặt đồng chí này, anh quy định nhiệm vụ "trong suốt chiến dịch Béc-lin”.

        Các sĩ quan tham mưu bước ra khỏi xưởng nấu nhựa đường. Họ đi lên khu đầu cầu để tiếp nhận khu vực đó. Khu rừng trở lại cảnh tĩnh mịch và từ xa người ta có thể tưởng rằng ở đó chỉ có chim chóc và bầy sóc trú ngụ.

        Các chiến sĩ ngồi bên bờ hồ ở trong khu rừng. Anh em vừa rửa mặt vừa thì thầm bàn tán. Bữa ăn sáng dùng lương khô vì đã có lệnh không được nhóm lửa hay bắc bếp để tránh lộ mục tiêu. Các sĩ quan phòng chính trị đang đứng trước những tấm bản đồ đính vào thân cây nói chuyện với anh em.

        Ngày hôm nay dài dằng dặc. Cuối cùng bóng tối cũng trùm xuống. Các chiến sĩ tập hợp. Người ta nghe thấy những khẩu lệnh hô khẽ. Các tiểu đoàn ung dung kéo vào những con đường rừng đen sẫm đi ra bờ sông. Tiếng đại bác ngày càng gần lại. Bộ đội dừng lại ở ven rừng trong một tiếng rưỡi đồng hồ, lắng tai nghe tiếng động từ ngoài sông vọng lại.

        Đúng 12 giờ đêm, các sư đoàn tập kết trong rừng bắt đầu cùng vượt sông một lúc qua ba chiếc cầu. Giữa cảnh vượt sông im ắng ấy, một bộ phận pháo binh ta nấp trong khu rừng, đầu tiên phá tan khung cảnh tĩnh mich. Pháo ta được lệnh chế áp pháo binh Đức. Tảng sáng, tới lượt sư đoàn thiếu tướng Xê-rê-đa qua sông. Máy bay phóng pháo Đức hùng hổ tiến công. Các khầu cao xạ pháo gầm lên. Rồi, máy bay khu trục xô-viết lao tới; thế là phía trên những chiếc cầu đen sẫm rộn những tiếng thì thầm, tiếng chân rầm rập, nhiều trận không chiến diễn ra, khủng khiếp, hoàn toàn không có tý gì ràng buộc với chuyện dưới mặt đất.

        Nhưng sự tách rời đó chỉ là bề ngoài.

        Lu-ben-xốp đeo ống thu thanh ngồi trước máy vô tuyến điện trong xe ô tô của thiếu tướng sư đoàn trưởng, bắt gặp một luồng sóng của các phi công ta và nghe được cuộc đối thoại của họ :

        — Cốt-chi-a, sau lưng cậu có một cái Mét-xe đấy!

        — Bên trái, bên trái, Va-nhi-a!... Đuổi cái "Gioong- ke” ấy đi!

        Những Cốt-chi-a, Va-nhi-a vô hình trên không ấy đang bảo vệ cho đồng đội của họ dưới đất. Hai chiếc máy bay Đức lộn nhào xuống thành hai khối lửa hung hãn; nước sông Ô-đe nuốt chửng lấy chúng vào quãng bên trái mấy chiếc cầu qua sông. Ánh lửa của những chiếc máy bay bốc cháy, trong giây lát soi sáng những khuôn mặt nhợt nhạt của các chiến sĩ đang tiến bước trên chiếc cầu phao bên trái, soi sáng hàng bờm đen sẫm nhấp nhô của bầy ngựa.

        Lát sau, đến lượt thiếu tướng và Lu-ben-xốp qua cầu. Lu-ben-xốp đi theo thiếu tướng lên đài quan sát, lên ngay chiếc cối xay chạy bằng sức nước mà hôm qua anh đã ở đấy. Đại tá Plốt-nhi-cop cũng đến đó. Đồng chí đã đi thăm hết lượt các trung đoàn và sắp quay về bên kia sông dư cuộc khai hội các bí thư chi bộ đại đội do phòng chính trị triệu tập.

        Đồng chí bảo Lu-ben-xốp :

        — Đồng chí có muốn đến dự hội nghị không ? Đồng chí sẽ nói chuyện với họ, với các bí thư chi bộ về địch tình. Cần phải giải quyết được tư tưởng đánh giá địch quá thấp của các chiến sĩ. Cần phải nói với họ về những sư đoàn mà Hít-le đã rút từ mặt trận phía tây ném về đây. Cần phải nói về trận địa phòng ngự của bọn Đức. Mà, trận đia phòng ngự của chúng thì vững chắc đấy. — Plốt- nhi-cốp vừa nói vừa lắc đầu.

        Thiếu tướng sư đoàn trưởng nghiêm nghị nói :

        — Đồng chí làm cho trinh sát viên của tôi đến mệt nhoài mất thôi! Đồng chí ấy còn sức mà đứng được là khá lắm đấy... Thôi được, lần này đồng chí đi cũng được. Còn về sau, đồng chí không được rời khỏi tôi nửa bước đấy nhé !

        Xê-rê-đa và Lu-ben-xốp đưa Plốt-nhi-cốp ra xe ô tô. Sương mù của buổi sớm còn bao phủ cả khu vực đầu cầu. Những khẩu súng máy nổ giòn giã. Hương thơm hoa táo lẫn lộn với mùi cháy khét lẹt.


        Ban tham mưu một trung đoàn bố trí trong gian hầm gần đài quan sát. Bên cạnh đó, là ban tham mưu một trung đoàn khác và xa hơn chút nữa, ban tham mưu của trung đoàn thứ ba thuộc sư đoàn bạn. Cách đấy hai mươi mét, hai ban tham mưu của hai tiểu đoàn cùng bố trí chung một chỗ. Cứ trông các ban tham mưu bố trí sít nhau như vậy, người ta có thể xác định được mật độ bố trí của bộ binh một cách chắc chắn không sợ sai.

        Bóng đen của các chiến sĩ đi đi lại lại khắp bốn phía.

        Lu-ben-xốp vào ban tham mưu trung đoàn để gặp thiếu tá Mi-gai-ép. Thấy chủ nhiệm trinh sát sư đoàn tới, thiếu tá mừng rỡ và dồn dập hỏi :

        — Bao giờ thì tiến công đấy! Trên đã phân công cho chúng ta khu vực nào chưa ? Liệu chúng ta có tiến công chính diện vào Béc-lin hay là vòng lên phía bắc ?

        Lu-ben-xốp kể lại cho Mi-gai-ép những điều mọi ngươi đã biết, nhưng thật ra mọi người hầu như chưa biết tý gì cả ; rồi anh hỏi :

        — Nếu tôi không nhầm thì đại úy Trô-khốp ở trung đoàn đồng chí có phải không ? — Trước vẻ mặt thắc mắc của Mi-gai-ép, anh giải thích : — Chính đồng chí ấy đã cứu tôi thoát khỏi cái bẫy chuột thành Snây-đơ-mun... Một tay dũng cảm lắm !

        Mi-gai-ép im lặng một lát rồi nói:

        — Chúng tôi đã định để bạt đồng chí đó lầm tiểu đoàn trưởng, nhưng vẫn còn do dự. Thật là một anh chàng liều lĩnh ! Anh ta cứ nhảy xe ngựa như là một bộ hạ của Mác-nô1 vậy ! Đấy anh ta như thế đấy... Kế ra gần đây anh ta cũng đã có thay đổi nhiều. Cỗ xe ngựa của anh ta, anh ta đã vất lại đâu ở quãng dưới An-đam rồi...

        Lu-ben-xốp vừa nói vừa cười, vẻ mặt buồn buồn :

        — Các đồng chí chỉ cứ luôn mồm nhắc đến cỗ xe ngựa ấy. Chính tôi cũng có lần đi cỗ xe ấy...

        Mi-gai-ép chợt nhớ ra :

        — À, vâng, hình như Trô-khốp cũng đang ở quanh đâu đây thì phải... Đồng chí ấy đang tiếp nhận quân số bổ sung.

---------------
        1. Một tướng cướp Nga.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Tư, 2018, 08:06:53 pm

VII

        Trô-khốp ở đây thật, sau một mô đất, cạnh một trong những con mương, có chuẩn úy Gô-đu-nốp giúp sức, anh đang tập hợp các chiến sĩ mới để dẫn họ về đại đội, phía tiền duyên.

        Có người bảo Trô-khốp:

        — Một thiếu tá trên sư đoàn bộ muốn hỏi đồng chí! Thiếu tá đó đang ở chỗ tham mưu trưởng trung đoàn.

        Trô-khổp hỏi:

        — Lại còn việc gì thế nữa?

        Bước vào gian hầm ban tham mưu, trông thấy Lu- ben-xốp và Mi-gai-ép, anh giơ tay lên mũ ca lô và dõng dạc báo cáo:

        — Đại úy Trô-khốp tới nhận lệnh của đồng chí.

        Lu-ben-xốp nói:

        — Không có mệnh lệnh nào cả. Tôi chỉ định đến thăm đồng chí thôi. Nếu đồng chí không phản đối, thì lại càng nhất cử lưỡng tiện : tôi sẽ lên đài quan sát của đồng chí cùng quan sát với đồng chí.

        Trô-khốp bối rối, bỏ tay xuống. Anh nói:

        — Vâng, mời đồng chí.

        Hai người cùng đi, dẫn đầu phân đội các chiến sĩ mới. Chuẩn úy Gô-đu-nốp ngồi trên chiếc xe chở lương thực đi tập hậu, Ca-blu-cốp đi bên cạnh. Họ đi qua một khu bãi lầy, chi chít những hố đại bác, lô nhô những túp nhà tan hoang, những chuồng bò, những cối xay chạy bằng sức nước.

        Lu-ben-xốp, con người vốn lúc nào cũng chú ý quan sát, nhận thấy Trô-khốp có vẻ già đi, gầy hơn và đôi mắt giờ đây phân ảnh một tình cảm hiền hậu.

        Trô-khốp liếc trộm nhìn đồng chí trinh sát bước đi khập khiễng. Mới hôm qua, lúc nhận được tập tài liệu đánh máy gửi cho đại đội "Những điều hướng dẫn sử dụng ba-dô-ca Đức”, đại úy vừa nghĩ tới anh. Đại úy biết rằng bản tài liệu đánh máy này là công trình của thiếu tá cận vệ.

        Trô-khốp nghĩ thầm:

        — Không biết là đồng chí ấy đã gặp lại chị bác sĩ chưa. — Không hiểu sao anh lại ước mong rằng thiếu tá cận vệ đã gặp lại được chị ấy.

        Phía sau, các chiến sĩ mới thì thầm trò chuyện. Những chiếc bánh xe của Gô-đu-nốp kêu ken két.

        Lu-ben-xốp hỏi:

        — Hình như đồng chí đã vất cỗ xe ngựa đi rồi phải không?

        — Vâng, ở quãng dưới An-đam.

        — Quả thực đó cũng không phải là một phương tiện vận chuyển thích hợp.

        — Vâng, đúng thế.

        — Mi-gai-ép có nói chuyện với tôi về đồng chí...— Lu-ben-xốp định khơi mào câu chuyện, nhưng Trô-khốp đã nhăn mặt lảng ngay sang chuyện khác:

        — Người ta có nói với tôi là đồng chí vừa bắt được một tù binh phải không?

        — Đúng.

        Thế là thiếu tả cận vệ bèn kề lại câu chuyện tên Ác-muýt và cái cử chỉ không kịp thời của hắn chào Lu- ben-xốp theo kiểu Hít-le.

        Trô-khốp ngạc nhiên lắc đầu nói:

        — Ta chưa nện cho ra trò đấy mà!

        Lu-ben-xốp vừa cười vừa nói:

        — Chỉ nay mai là ta sẽ nện cho chúng nó đòn cuối cùng.

        Trô-khốp cần vào gặp tiểu đoàn trưởng; đồng chí này cùng với ban tham mưu tiểu đoàn bố trí giữa những căn chuồng bò đổ nát. Lu-ben-xốp đứng ngoài đường đợi.

        Ve-xen-tra-cốp hỏi đồng chí đại đội trưởng nhận được bao nhiêu người.

        Trô-khốp đáp:

        — Sáu mươi nhăm người.

        Ve-xen-tra-cốp ghi con số đó vào sổ tay. Anh hút hết điếu thuốc này sang điếu khác. Gla-sa trước đã giúp cho anh cai thuốc, nhưng bây giờ chị không còn ở đây nữa, anh đâm nghiện lại, hút liên miên.

        Anh vẫn nhận được thư của Gla-sa luôn, nhưng theo anh thì những lá thư ấy vui vẻ quá. Gla-sa biên thư nói chị rất khỏe, chị không có gì phải phàn nàn cả, rằng mọi người đều bằng lòng về chị và đồng chí chủ nhiệm khoa mổ đối đãi với chị một cách đặc biệt là tốt.

        Sở dĩ chi biên thư như vậy là vì muốn để cho Ve- xen-tra-cốp yên tâm về mình nhưng kết quả lại trái ngược: Ve-xen-tra-cốp đã đinh ninh rằng Gla-sa cũng chẳng muốn trở về đây nữa. Nhất định là sống ở tiểu đoàn quân y, cô ta thấy dễ chịu hơn và thanh niên ở đấy cũng hay hơn, dù sao họ cũng là những bác sĩ. Họ thông minh, sạch sẽ mà tính Gla-sa thì ưa sạch sẽ. Điều mà anh ta đáng ngờ nhất là trong thư Gla-sa thường luôn nhắc đến đồng chí "chủ nhiệm khoa mổ”.

        Giờ đây, bị lôi cuốn trong không khí sôi nổi của những ngày chuẩn bị trận chiến đấu cuối cùng của cuộc chiến tranh này, anh ít nghĩ tới Gla-sa hơn trước.

        Tiểu đoàn được bổ sung. Các sĩ quan, liên lạc viên từ ban tham mưu trung đoàn tới tấp chạy xuống. Tất cả đều chung một tâm trạng bồi hồi sôi sục.

        Trô-khốp từ biệt Ve-xen-tra-cốp và đi lên tiền duyên cùng với Lu-ben-xốp.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Tư, 2018, 03:04:21 am

        Trong gian hầm sở chỉ huy đại đội, bốn trung úy đang ngồi xung quanh máy vô tuyến điện nghe âm nhạc, đó là những sĩ quan mới tới: đồng chí đại đội phó và ba đồng chí trung đội trưởng. Thấy đồng chí thiếu tá lạ mặt, bốn người cùng đứng dậy.

        Lu-ben-xốp lắng tai nghe tiếng nhạc rồi hỏi:

        — Đài phát thanh nào đấy?

        Một trung úy trả lời:

        — Đài Béc-lin.

        Lu-ben-xốp vui vẻ nói:

        —  Hay lắm! Chúng tôi đã để ý thấy bây giờ đài Béc-lin liên tiếp phát thanh những ban nhạc của Bét-tô- ven, của Bách và của Su-be1, những bài thơ của Gớt và Si-le2. Những bài hát, những khúc nhạc hành tiến phát xít hầu như đã biến mất trong những buổi phát thanh của chúng. Chúng tôi, những người trinh sát, chúng tôi cho rằng hiện tượng đó không phải là vô cớ! Hít-le đã nhớ tới nền văn hóa Đức. Hắn muốn được mang danh là người thừa hưởng vốn văn hóa đó. Rõ ràng là hắn tưởng chúng ta sẽ nới tay không treo cồ cái đứa con cháu giả hiệu ấy!

        Các trung úy tỏ vẻ ngạc nhiên: họ không ngờ một chút nào là những bản nhạc dương cầm êm dịu ấy có một ý nghĩa chính trị quan trọng đến thế. Họ chăm chủ lắng nghe đồng chí chủ nhiệm trinh sát nói, vì trong cái xó hẻo lánh của đại đội này, họ cũng hiếm có dịp được gặp các sĩ quan của "thủ đô” nghĩa là các sĩ quan trên sư đoàn bộ. Nhưng vì còn phải tiếp nhận bộ phận tới bổ sung và phân phối số chiến sĩ mới về các trung đội nên bốn trung úy rời khỏi hầm.

        Lu-ben-xốp và Trô-khốp theo hào giao thông đi lên chiến hào một. Ngay gần đấy, mấy khẩu súng cối địch đang nổ, chốc chốc lại nghe thấy tiếng đại bác nồ ì ầm, nói tóm lại, như thường lệ, cảnh yên tĩnh buổi sớm bao trùm trên trận địa tiền duyên. Xa tít về phía tây, chân trời cháy đỏ rực. Đó là thành Béc-lin đang bốc cháy.

        Lu-ben-xốp hỏi:

        — Đồng chí có mang theo ống nhòm đấy không ?

        Ngay lúc đó một bàn tay giơ ra phía anh. Thiếu tá quay lại thì ra Ca-blu-cốp đưa cho anh chiếc ống nhòm của anh. Im lặng một lát, anh nói:

        — Đồng chí nên nhớ rằng thẳng ngay trước mặt đồng chí có một bãi mìn. Và cái làng kia chính là điểm tựa của quân Đức đấy. Rất kiên cố !

        Trô-khốp nói :

        — Từ đây tới Béc-lin còn 60 véc3 — không hiểu vì lẽ gì, Trô-khốp không dùng chữ "ki-lô-mét” mà lại dùng cái đơn vi đo lường cổ ấy của người Nga. Rồi bỗng nhiên anh hổi đột ngột:

        — Tên tù binh có nói với các đồng chí hiện nay Hít- le ở đâu không ?

        Lu-ben-xốp vừa tiếp tục quan sát vừa trả lời:

        — Hình như hắn hiện ở Béc-lin. Và Gơ-ben nhất định cũng ở đấy ; chỉ Him-le, Gơ-rinh và Ríp-ben-tơ-rốp là không biết hiện ở đâu cả ?

        Ngừng lại một chút, Trô-khốp khẽ hỏi :

        — Đồng chí có tấm bản đồ Béc-lin nào không - Bản thừa ấy ? cho tôi xin...

        — Chúng tôi có nhiều. Hôm qua tôi đã bảo phân phát cho các đồng chí trung đoàn trưởng mỗi người hai tấm... Thôi được, chỗ bè bạn tôi có thể cho đồng chí một tấm...

        Trô-khốp đáp lại bằng một giọng khô khan :

        — Cảm ơn đồng chí. Nếu có thể, đồng chí giao tấm bản đồ đó cho đồng chí bí thư chi bộ của tôi, thượng sĩ Xli-ven-cô. Đồng chí ấy hiện đang dự cuộc họp các bí thư chi bộ trên phòng chính trị sư đoàn.

        — Hay lắm ! Vừa đúng dịp hôm nay tôi phải báo cáo về đich tình ở cuộc hop ; tôi sẽ cố tìm gặp Xli-ven-cô và giao bản đồ cho đồng chí ấy.

        Một phút sau, Trô-khốp hỏi:

        — Thế trên ban đồ ấy ghi thế nào ? Tiếng Đức hay tiếng Nga ?

        — Tiếng Nga.

        — Những mục tiêu có ghi rõ không ?

        — Mục tiêu nào ?

        Trô-khốp ngừng lại một tý rồi trả lời vội :

        — Nhà Quốc hội Đức và các nơi của chính phủ Bức

        Lu-ben-xốp bỏ ống nhòm xuống và chỉ cười thầm trong khóe mắt, anh nói :

        — Có đủ hết. Nếu đồng chí muốn, tôi sẽ lấy bút chì đỏ đánh dấu những nơi đó. Nhưng ngay bây giờ đồng chí hãy ghi vào bản đồ của đồng chí bãi mìn và những khẩu súng máy bắn lướt sườn đi...

        Hai người im lặng. Bỗng nhiên, hai người thấy đặc biệt rõ ràng họ đang ở đâu và sắp sửa có những sự kiện gì xảy ra. Thế là tất cả những vấn đề cá nhân dẹp hẳn xuống đáy lòng. Nỗi nhớ nhung tê tái người yêu đấu, lòng tự ái nhức nhối vì những chuyện nhục nhã đã xảy ra hoặc còn ở trong trí tưởng tượng, cũng như tham vọng chưa đạt tới đều lãng quen hết. Xúc cảm trước ý nghĩa quan trọng của những sự kiện đang xảy ra, họ nhìn nhau với đôi mắt hiểu biết. Thật ra, sống được đến lúc này kể cũng đáng! kể cũng đáng dù đã phải chịu đựng mọi nỗi cay đắng và thiếu thốn để rồi được hưởng cái niềm sung sướng trong những lúc này, được đứng ở đây, trong chiến hào này, ngay miền ngoại vi sát Béc-lin, cái niềm sung sướng cảm thấy mình là một thành viên của những lực lượng to lớn hiện còn chưa tung ra, một thành viên của cái mà người ta gọi là Tổ quốc, là nước Nga, là Liên bang cộng hòa xã hội xô-viết!

---------------------
        1. Ba nhạc sĩ nổi tiếng của Đức, kỷ 16 — 17.

        2. Hai nhà thơ nổi tiếng của Đức, kỷ 17.

        3. Đơn vị đo chiêu dài của Nga, bằng 1067m.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Tư, 2018, 01:46:49 pm

        Cả hai người đều mong muốn được làm ngay một việc gì đó. Nhưng lại còn phải có công tác chuẩn bị, phải ra những mệnh lệnh bổ sung. Lu-ben-xốp nghĩ thầm mình còn cần phải nói chuyện với anh em trinh sát, phải hướng dẫn cho Ô-ga-nhe-xi-an những vấn để cần hỏi dân chúng địa phương, phải kiểm tra lại xem các đơn vị trưởng có nắm được địch tình không: có thể là ta sẽ phải bao vây Béc-lin, kinh nghiệm của Snây-đo-mun sẽ có tác dụng.

        Cầu phải sơ kết tất cả những kinh nghiệm đó lại. Trô- khốp tự nhủ mình cần phải nói chuyện với các chiến sĩ mới, giải thích cho họ về tình hình hiện tại, phải lĩnh dầu lau súng, kiểm tra lại các khẩu súng máy, liên hệ chặt chẽ với pháo binh hơn nữa.

        Các chiến sĩ mới bổ sung chiếm lĩnh đường hào. Nhô người lên khỏi bệ đất, họ đang xem xét những vị trí của quân Đức và thì thầm trao đổi ý kiến, vẫn chưa tài nào làm quen được với cái ý nghĩ rằng mình đã đứng đây, gần Béc-lin đến thế!

        Một chiến sĩ mới, vóc người to lớn, nói:

        — Khiếp thật!...

        Một chiến sĩ khác tư lư, nói:

        — Này, đằng ấy bảo chiến tranh ném bọn mình vào một cái xó xỉnh ngay sát nách Béc-lin, có ghê không! Cách quê hương chúng mình đến bốn nghìn ki-lô-mét chứ chả ít đâu!

        Có người hỏi:

        — Cậu người vùng nào ?

        Chiến sĩ kia đáp lại :

        — Mình người vùng sông Vôn-ga đấy.

        Lu-ben-xốp mỉm cười, lắng tai nghe xem có ai bật cười không ? Không ai cười cả. Anh từ biệt và quay về đài quan sát.

 
   Hội nghị các bí thư chi bộ đã khai mạc lúc buổi sáng, ba giờ sau cuộc vượt sông ban đêm và cuộc tập kết trong khu rừng. Các bí thư chi bộ từ tất cả các đại đội bộ binh và pháo binh kéo về họp mặt trong ngôi nhà đi săn của một tên tư sản Đức ngay gần xưởng nấu ' nhựa đường, chỗ đóng quân của phòng tham mưu sư đoàn. Thiếu tá Ga-rin đón tiếp họ, ghi tên vào bản danh sách.

        Các bí thư chi bộ, cứ từng tốp một kéo tới, đầu đội mũ sắt, đeo tiểu liên, súng trường và cả cùi dìa theo thói quen của con nhà lính.

        Các bí thư chi bộ chỉ là những chiến sĩ hay tiểu đội trưởng. Nhưng nếu một người quan sát chăm chú, cứ xét cử chỉ vững vàng của họ, đôi mắt bình tĩnh, sáng suốt của họ thì sẽ nhận thấy có một cái gì phân biệt họ với các chiến sĩ bình thường khác. Trước hết, đó là lớp người ưu tú trong các chiến sĩ bộ binh, pháo binh, không thế nào sai được : những con người ấy không quen thạo chỉ huy nhưng quen thạo tiếp thu và giải thích. Cũng giống như mọi chiến sĩ khác, và chẳng có đặc quyền đặc lợi nào, ấy thế nhưng họ lại hiểu rằng trên vai họ phải gánh thêm một trách nhiệm nữa : họ là những người đại diện của Đảng Bôn-sê-vích, không phải là những người lãnh đạo ở cương vị cao nhưng dù sao vẫn là lãnh đạo.

        Đối với họ nếu chỉ anh dũng chiến đấu và hy sinh tính mạng khi cần thì vẫn chưa đủ ; nhiệm vụ của họ là phải khích lệ tinh thần chiến đấu của các đồng chí của họ. Họ là đầu những sợi dây thần kinh thâm nhập vào tất cả các cơ thể của quân đội. Những kẻ yếu đuối, và những người bất lực — nếu như có những kẻ như vậy — không thể đứng vững lâu ở cái cương vị đó, cương vị mới xem qua tưởng như là thấp kém. Trong đại đội, có thể biết ngay người nào có khả năng đảm đương trách nhiệm bí thư chi bộ : dưới làn lửa đạn xung quanh là những mối nguy hiềm chết người liên tiếp xảy tới, trong đó đôi khi con người ta cũng chỉ vừa đủ nghị lực để giữ vững lấy bản thân mình, thì chỉ có những con người ưu tú nhất mới có thể động viên được toàn đội và giữ vững tinh thần cho mọi người. Chính những con người chọn lọc ấy đang họp mặt trong ngôi nhà đi săn trên đất nước Đức.

        Đại tá Plốt-nhi-cốp khai mạc hội nghị bằng một bản báo cáo về tình hình thế giới. Sau đó đến lượt đồng chí Ga-rin thuyết trình về công tác Đảng và nhiệm vụ các tổ chức của Đảng trong các đại đội. Buổi chiều hội nghị tạm nghĩ. Các bí thư chi bộ trở về các đơn vị của họ lúc này đã vượt qua sông Ô-đe. Sáng hôm sau, họ trở lại ngôi nhà đi săn.

        Và hôm đó là ngày thứ hai của hội nghị.

        Các bí thư chi bộ nói chuyện trước các đồng chí của họ, trao đổi kinh nghiệm với nhau. Plốt-nhi-cốp ghi lại những ý kiến đáng chú ý nhất phát biểu trong cuộc họp.

        Sau đó, thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp, chủ nhiệm trinh sát sư đoàn trình bày cho các đồng chí bí thư rõ về tình hình phòng tuyến của địch và nhấn mạnh về tác hại của tư tưởng phố biến trong các chiến sĩ cho rằng những trận chiến đấu sắp tới là dễ dàng. Bộ Tổng tư lệnh quân đội Hít-le quả có hoang mang; và Him-le quả đã bị cách chức tư lệnh tập đoàn quân, nhưng tất cả những điều đó cũng không thể có ý nghĩa là bọn phát xít đã hạ vũ khí đầu hàng.

        Thiếu tá cận vệ thuật lại những hoạt động điên cuồng của quân Đức để tăng cường phòng ngự; anh báo tin nhiều lực lượng quan trọng đã được tung ra sông Ô-đe, như sư đoàn 606 có nhiệm vụ đặc biệt và sư đoàn cơ gió-i S.S. "Fuhrer”.

        Các bí thư chi bộ ghi chép cẩn thận mọi vấn đề vào sổ tay.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Tư, 2018, 02:46:44 am

        Bỗng nhiên, Plốt-nhi-cốp lắng tai nghe: có tiếng còi ô tô thét lên từng đợt, rồi một chiếc ô tô và một chiếc xe vận tải bọc sắt dừng lại trước ngôi nhà đi săn.

        Plốt-nhi-cốp đứng dậy. Cánh cửa mở rộng và trung tướng Xi-đô-crư-lốp hiện ra giữa khung cửa. Đồng chí đưa mắt nhìn hội nghị khắp một lượt. Tiểu liên, súng trưìrng, các-bin để ngay cạnh mỗi đồng chí bí thư, dựng vào ghế và đi văng.

        Trung tướng chào. Các chiến sĩ chào lại, nhấn mạnh từng chữ:

        —  Chúc-trung-tướng-khỏe.

        Tất cả ngồi xuống và trung tướng bắt đầu nói.

        Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự bắt gặp đòi mắt chăm chú của Xli-ven-cô và đồng chí nhìn thấy trong đôi mắt của thượng sĩ một sự thông cảm sâu sắc và một sư suy nghĩ rất lung đến nỗi đồng chí không rời mắt khỏi đồng chí thượng sĩ tựa như đồng chí chỉ nói chuyện riêng với Xli-ven-cô.

        Xi-dô-crư-lốp nói:

        —  Thắng lợi sắp tới của chúng ta là một chứng minh hùng hồn về sức mạnh của chế độ xô-viết. Nó là một dẫn chứng chứng tỏ rằng tư tưởng chính nghĩa và tiến bộ là vô địch. Trong những bọn thù địch của chúng ta có rất nhiều tên đã từng tìm cách làm thất bại công cuộc xây dựng cuộc sống mới trên đất nước chúng ta. Không còn một thứ vũ khí nào, một hành động đê tiện nào mà chúng do dự không dùng tới để chống lại Nhà nước của chúng ta. Chúng dựng lên xung quanh chúng ta những "hàng rào chống dịch”; chúng rình mò chúng ta từng bước một. Cuối cùng, trên đất nước mà hôm nay chúng ta đang đứng, chúng đã đàn áp các tổ chức của giai cấp công nhân và ngày 22 tháng 6 năm 1941, bọn quỷ áo đen đã lan tràn vào đất nưức thanh bình của chúng ta.

        Các đồng chí đừng tưởng rằng chủ nghĩa phát xít chỉ là bước phát triển riêng của chủ nghĩa đế quốc Đức. Chủ nghĩa phát xít là một sản phẩm mới của chủ nghĩa tư bản nói chung, một sẵn phẩm ra đời từ chỗ chủ nghĩa tư bản khiếp sợ lòng tha thiết của quần chúng nhân dân

        với chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa phát xít là đội xung kích của chủ nghĩa tư bản đang tan rã, là sự giãy giụa cuối cùng của nó để thoát khỏi bước đường diệt vong.

        Thắng lợi của chúng ta chứng tỏ rằng một lực lượng thực tiễn, hùng hậu và vô địch đã đương đầu với các lực lượng xâm lược, áp bức và nô dịch. Không phải chỉ là một tư tưởng đúng đắn mà là một lực lượng thực tiễn.

        Sức mạnh đó do Đảng ta, Đảng của Lê-nin, Xta-lin, Đảng đã đào tạo và giáo dục chúng ta sáng tạo ra. Vinh quang thay Đảng ta!

        Tư tưởng cộng sản chủ nghĩa đã thấm vào thịt, vào máu nhân dân ta. Tư tưởng đó đã tìm thấy miếng đất tốt của nó ở những ruộng đất, hầm mỏ, nhà máy, các phòng thí nghiệm. Tòa lâu đài xô-viết vẻ vang đã được dựng lên trên một phần sáu địa cầu. Và chúng ta, các đồng chí cũng như tôi, là chủ nhân tòa lâu đài đó. Chúng ta đã xứng đáng với vai trò chủ nhân đó chưa ? Đã, chắc chắn là đã, nếu không chúng ta đã không có mặt được ở nơi đây. Tòa lâu đài đó có vững chắc không ? Có mạnh không ? Có, nó mạnh và vững, nếu không chúng ta đã không thể nào vượt qua nhưng trận chiến đấu ác liệt như vừa qua để mở đường tiến về thủ đô của bọn phát xít.

        Chủ nghĩa cộng sản đã trở thành một lực lượng hùng hậu và giờ đây chúng ta có đủ lý lẽ tin tưởng rằng nó sẽ thắng lợi trên khắp hoàn cầu.

        ...Chúng ta cũng không cần giấu giếm điều này: là chứng ta kiêu hãnh vì rằng những lời tiên đoán về tương lai xán lạn của nước Nga, của những khối óc thiên tài đã được thực tế chứng minh; chúng ta kiêu hãnh vì rằng trong giờ phút hiện tại, những người tiến bộ nhất đều nói tiếng Nga, tiếng nói của Lê-nin, của Xta-lin, của Pu- skin, của Bi-ê-len-xki và của Tôn-xtôi.

        Sau khi chiến thắng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản sẽ tiếp tục với một sức mạnh gấp bội. Tính ưu việt của chế độ chúng ta, lại một lần nữa sẽ làm cho thế giới ngạc nhiên. Các đồng chí và tôi, những người học trò của Đảng, những chiến sĩ của Xta-lin, chúng ta là những người đảm bảo cho điều đó...

        Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự giơ tay ngăn đợt vỗ tay vừa định nổ ra, rồi kết luận :

        — Cho phép tôi phổ biến với các đồng chí một điều bí mật quân sự : ngày mai sẽ bắt đầu cuộc tiến công vào Béc-lin.

        Câu nói đó làm cho mọi người hoan hô như sấm. Nhiều tiếng hét phấn khởi vang len. Những bàn tay chiến sĩ gân guốc vỗ ào ào. Những con người ngày mai đây sẽ xông vào cái chết, hoan nghênh mệnh lệnh chiến đấu, coi đó là biểu hiện của sự chỉ đạo đúng đắn nhất và trước mệnh lệnh đó, cái chết của cá nhân cũng không có nghĩa lý gì.

        Đại tá Plốt-nhi-cốp, giọng run run cảm động, phát biểu :

        — Vì lý do cuộc tiến công sắp sửa mở màn, tôi tuyên bố bế mạc hội nghị.

        Qua khung cửa sổ, đồng chí Xi-dô-crư-lốp nhìn các chiến sĩ đang tập hợp. Đồng chí nói:

        —  Chiến dịch cuối cùng sắp bắt đầu. Ngày mai các đồng chí sẽ được nghe một trận pháo bắn chuẩn bị chưa từng có trong lịch sử chiến tranh. Theo lệnh đồng chí Xta-lin, một số binh khí kỹ thuật khổng lồ đã tập trung ở đây, — đồng chí bắt tay Plốt-nhi-cốp : — Chúc các đồng chí thành công. Ngay hôm nay, các đồng chí sẽ nhận được bản hiệu triệu toàn quân của Hội đồng quân sự. Này, còn gì nữa nhỉ? — đồng chí nhắc lại: — Chúc các đồng chí thành công!

        Đồng chí đi ra xe ô tô. Các chiến sĩ đội hộ vệ đồng chí trèo vội lên xe vận tải bọc sắt. Hai chiếc xe đi xuyên vào rừng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Tư, 2018, 12:50:44 am
       
IX

        Suýt nữa thì Lu-ben-xốp quên mất lời hứa với Trô- khốp. Sau khi đồng chí đại diện Hội đồng quân sự đi khỏi, thiếu tá cận vệ nhớ ra tấm bản đồ Béc-lin để trong xắc cốt của mình.

        Anh đi tìm thượng sĩ Xli-ven-cô, người mà anh nhớ rõ mặt từ thời kỳ đánh chiếm Snây-đơ-mun.

        Lúc này, Xli-ven-cô đang đợi phiên họp ủy ban thẩm tra của sư đoàn ủy xét và quyết định việc kết nạp mấy đồng chí trong đại đội anh: Gô-đu-nốp, Xê-mi-gláp và Gô-gô-bê-rít-dê.

        Ba đồng chí này đã có mặt ở đây, ngồi dưới bóng mát một cây thông. Cạnh đó là một số chiến sĩ của các đại đội khác đến đây cũng cùng mục đích ấy.

        Cả ba đều rất hồi hộp. Thấy trung tướng Xi-dô-crư- lốp tới, nỗi hồi hộp lại càng tăng gấp bội: đồng chí đại diện Hội đồng quân sư cũng tói dự lễ kết nạp họ ư! Họ lo lắng hồi hộp vì không quen nói chuyện trước đông người, và Xli-ven-cô đã báo trước, lại phải báo cáo tiểu sử của mình, và có thể còn phải trả lời những câu hỏi về chính trị nữa kia chứ.

        Thật cũng lạ lùng, Xê-mi-gláp lại hồi hộp hơn các đồng chí khác, mặc dù trong đại đội, anh vẫn nổi tiếng là một tay hùng biện nhất, và vẫn thu nhận được rất nhanh các vấn đề chính trị. Ngoài ra, Gô-gô-bê-rít-dê cũng không bình tĩnh gì và ngay cả đến đồng chí chuẩn úy dũng cảm, mưu trí đến thế và chưa từng biết sợ là gì, cũng cứ dặng hắng khác thường, đứng lên ngồi xuống và rồi bỗng nhiên mở đồ hộp cho đồng chí kia ăn mà chính mình không đụng tới tuy rằng xưa nay anh vẫn là một tay chén rất khỏe.

        Cuối cùng Xli-ven-cô tới. Anh báo tin cuộc họp chỉ một lát nữa sẽ bắt đầu.

        Chính ở đây, dưới mấy gốc thông, thiếu tá cận vệ đã tìm thấy đồng chí bí thư chỉ bộ. Anh giao cho đồng chí đó tấm bản đồ Béc-lin tỉ lệ 1/10.000, nhờ chuyền cho Trô-khốp.

        Gặp lúc khác, Lu-ben-xốp sẽ không muốn gì hơn là được nói chuyện với đồng chí thượng sĩ lanh lợi và thông minh này mà anh rất mến. Nhưng lúc này không tiện, nên thiếu tá cận vệ vội quay ra chỗ đồng chí Plốt- nhi-cốp đang đợi anh để đi lên khu đầu cầu.

        Xli-ven-cô cùng ba đồng chí của anh đi lại ngôi nhà đi săn trong đó các ủy viên ủy ban thẩm tra của Đảng ủy đã nhóm họp.

        May mắn là những lo âu về sự có mặt của đồng chí đại diện Hội đồng quân sư lại là mối lo vớ vẩn: trung tướng Xi-dô-crư-lốp đã đi rồi. Năm sĩ quan lạ mặt: một thiếu tá và bốn đại úy, ngồi quanh một cái bàn. Đồng chí thiếu tá chủ tọa phiên họp có đôi mắt dịu dàng với nhiều nếp nhăn ở đuôi mắt, nhưng khá sắc sảo và còn có vẻ nghịch ngợm, giễu cợt.

        Xli-ven-cô cũng cảm động như các đồng chí của mình. Trong một thời gian dài anh đã thận trọng chuẩn bị đưa họ vào Đảng. Trong những lúc tạm ngừng chiến đấu, anh đã giáo dục cho họ bản điều lệ của Đảng, những bài nói chuyện, nhật lệnh của đồng chí Xta-lin, anh đã tổ chức những lần thử thách và theo dõi sư tiến bộ của họ một cách thân mật nhưng bền bĩ. Anh ôm ấp, như anh thường nói ”một ước vọng nho nhỏ” là giác ngộ toàn đại đội trở thành đảng viên cộng sản. Việc bổ sung thêm quân số thật đã phá vỡ kế hoạch của anh nhưng trong hoàn cảnh hiện nay anh đành phải chịu trước nhu cầu cần thiết của quân đội.

        Lần nào cũng thế, phiên họp của ủy ban thẩm tra của Đảng cũng là một thử thách gay go đối với anh. Anh vui sướng nghĩ rằng trong ngày hôm nay, ngày sát nút trận tiến công, ba người trong số các đồng chí của anh sẽ được kết nạp vào Đảng Bôn-sê-vích. Vì công tác bí thư chi bộ trên tiền tuyến thật vô cùng khó khăn. Đâu có phải như trong hầm mỏ, ở đó Xli-ven-cô đã là bí thư trong một kíp công nhân. Ở đấy quần chúng trước sau vẫn thế, còn như ở đây thì...

        Anh nhớ lại hai đồng chí I-va-nốp — một là chiến sĩ và một tiểu đội trưởng, — mà anh đã chuẩn bị giới thiệu vào Bảng ngay từ trước trận tiến công Vác-sa-va1. Hai con người ưu tú, nhưng cả hai đều đã hy sinh trong một trận đột phá phòng tuyến địch.

------------------
        1. Thủ đô Ba Lan.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Tư, 2018, 02:57:28 am

        — Đến đồng chí sau: binh nhất Xê-mi-gláp.

        Sau câu nói ấy của thiếu tá, Xli-ven-cô chăm chú nghe ngóng.

        Xê-mi-gláp bước vào.

        Tiểu sử của đồng chí này ngắn ngủi, khiến mọi người cảm động và có tác dụng làm cho các đồng chí ngồi đó mỉm cười thiện cảm.

        Đồng chí nói :

        — Tôi sinh năm 1924, trong gia đình một người thợ khóa ở Tu-la. Năm 39, tôi tốt nghiệp lớp 7, rồi vào làm thợ nguội ở xưởng máy. Năm 44, tôi được gọi vào Hồng quân. Vào Đoàn Thanh niên cộng sản từ năm 39.

        Anh cố hết sức nói thêm một vài câu gì đó nhưng không tài nào nhớ ra được điều gì khác. Còn như hai tấm huân chương của anh, đã có ghi trong bản lý lịch viết tay mà người ta vừa đọc, vả lại những huân chương ấy đã đính trước ngực anh rồi. Không phải như đối với những huy chương mới nhìn qua không thể nào biết được lý do vì sao được tặng, còn như đối với những tấm huân chương thì đã có khắc rõ dòng chữ đỏ trên nền trắng: "Vì lòng dũng cảm"

        Người ta hỏi Xê-mi-gláp mấy câu, anh trả lời đúng và đầy đủ, điều đó làm cho Xli-ven-cô rất phấn khởi.

        Sau đó, Xê-mi-gláp đứng im nghĩ ngợi. Anh đắn đo không biết có cần trình bày một khuyết điểm nhỏ, khuyết điểm độc nhất của anh hay không? Năm ngoái anh có đánh mất chiếc mặt nạ phòng hơi độc. Lúc ấy, các chiến sĩ đang đào hầm trú ẩn và anh để nó trên một gốc cây cụt. Rồi chiếc mặt nạ biến mất. Ngay đêm hôm đó, đơn vị xung phong lên và không ai nghĩ tới chuyện mất mặt nạ nữa. Anh đã kiếm được một cái khác — thật đúng là khuyết điểm vì anh đã đi lấy chiếc mặt nạ ấy của một tử sĩ.

        Khuyết điểm chẳng nghiêm trọng gì lắm, và Xê-mi- gláp thường cũng không đế ý tới vấn đề này. Nhưng ở đây, trong gian phòng rộng lớn này, có đông đảo các đồng chí đảng viên, trước đôi mắt chăm chú của đồng chí chủ tọa, câu chuyện chiếc mặt nạ phòng hơi độc năm ngoái lại trở nên khá quan trọng, khá xấu xa đối với Xê-mi-gláp. Hơn nữa, anh có cảm giác như những người ngồi đây, nhất là đồng chí thiếu tá chủ tọa, có đoán biết đôi chút câu chuyện, có khi lại còn biết rõ hành động xấu ấy của anh, vì thế mà các đồng chí đó nhìn anh chằm chằm như vậy.

        Anh đỏ bừng mặt và báo cáo câu chuyện.

        Đồng chí chủ tích nói:

        — Đồng chí Xê-mi-gláp, thôi được rồi, bây giờ đồng chí có thể ra ngoài được rồi.

        Xê-mi-gláp đi ra, và nói với Gô-gô-bê-rít-dê bằng một giọng nghẹn ngào:

        — Vào đi, người ta gọi cậu đấỷ.

        Còn anh thì ngồi xuống bãi cỏ, hết sức lo lắng, đinh ninh là người ta sẽ không kết nạp mình vào Đảng.

        Gô-gô-bê-rít-dê bước vào phòng. Xli-ven-cô ra hiệu khuyến khích.

        Đồng chí chủ tịch nhìn Gô-gô-bê-rít-dê, thấy bộ ngực nở nang của anh đầy kín huân chương, thì nghĩ ngay: thật cũng kỳ lạ khi thấy những con người đối diện với cái chết không chút nao núng, những anh hùng, phải, đúng là những anh hùng, lại đâm ra luống cuống khi đứng trước mặt đồng chí bí thư ủy ban thẩm tra của Đảng, một người bé nhỏ, gầy gò và chẳng có chút tư thế quân sự nào cả.

        Tâm trạng bối rối của họ làm cho thiếu tá có một cảm giác đặc biệt dễ chịu, đó chính là cái ý thức trách nhiệm trước lương tâm của họ, trước lần thử thách này mà họ trải qua để giành lấy danh hiệu con người tiên tiến của thời đại. Thiếu tá nghĩ thầm: hay lắm, cứ để cho họ hiểu rằng người ta có thể trải qua thử thách trở thành anh hùng, thành chiến sĩ gương mẫu, thành cán bộ chỉ huy tài giỏi nhưng như vậy chưa có nghĩa rằng người ta đã qua được lần thử thách trở thành con người tiên tiến, người lãnh đạo quần chúng. Cuối cùng, một điều đáng phấn khởi là mọi ngưừi hiểu rằng đảng viên là phần tử ưu tú nhất trong các đồng chí của mình; được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng có nghĩa là những đức tính của mình đã được toàn thể mọi người công nhận.

        Những ý nghĩ ấy vụt qua trong trí óc thiếu tá giữa lúc đồng chí nhìn thẳng vào đôi mắt đầy nhiệt tình của Gô-gô-bê-rít-dê và nghe thấy những câu trả lời dịu dàng và rụt rè của đồng chí đó ngày thường vẫn tỏ ra mạnh dạn, dũng cảm và hăng hái. Đồng chí bí thư ủy ban thẩm tra của Đảng, tay đã từng giở qua đủ các loại lý lịch đảng viên, thầm nghĩ rằng trong Đảng không có một ai lại có thể bôi nhọ cái danh hiệu đẹp đẽ đảng viên cộng sản. Điều đó thật quan trọng biết bao, quan trọng đối với người dân xứ Giê-oóc-gi dũng câm này và đối với hàng tríệu người như đồng chí đó.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Tư, 2018, 07:42:26 pm

        Cuối cùng đến lượt Gô-đu-nốp. Đồng chí chuẩn úy thành thạo việc chỉ huy lại càng thay "bấn” tợn. Anh báo cáo tiểu sử của mình, cũng là tiểu sử nông trường "Con đường của Lê-nin” trong vùng An-tai. Ở đó, Gô-đu-nốp là một đội trưởng sản xuất, mà đội của anh đã được coi là đội tiên tiến nhất trong nông trường và nông trường lại là một trong những nông trưừng khá nhất của huyện. Tất cả những điều đó rất tốt — Tuy thế, là một ngươi ranh mãnh trên cương vị chuẩn úy, Gô-đu-nốp đã phạm khuyết điểm nhẹ: anh đã có lần — thật đáng buồn —  báo cáo tăng quân số đại đội mình với phòng hậu cần để lĩnh thêm chút đỉnh. Tất nhiên, anh biết rằng các ủy viên trong ban thẩm tra của Đảng không thể biết được chuyện đó, anh không có ngây thơ như Xê-mi-gláp, ấy thế nhưng cái nhìn xoáy vào da thịt của đồng chí bí thư ban thẩm tra lại làm anh luống cuống tợn. Anh cũng đã có ý nghĩ rằng đáng lẽ mình phải thành thực trình bày ra đây cả các khuyết điểm nhỏ nhặt ấy, nhưng tự bôi nhọ danh dư mình làm gì ?

        Vì vậy anh đã quyết định không nhắc gì tới vấn đề đó, nhưng anh hứa hẹn — điểm này, các đồng chí cứ yên tâm, Gô-đu-nốp này biết giữ lời hứa — anh vừa nghĩ như thế vừa hứa thầm trong óc với các đồng chí trong ban thẩm tra của Đảng là những việc như vậy anh sẽ không bao giờ phạm phải nữa.

        Sau cùng Xli-ven-cô bước ra, tìm đến các đồng chí của mình, dáng điệu mệt nhọc nói:

        —  Này các cậu, mình hoan hô các cậu.

        Bỗng nhiên lấy lại được can đảm, Xê-mi-gláp hỏi:

        — Tôi, tôi cũng được công nhận à?

        — Cả ba cậu.

        — Thế bao giờ thì chúng tôi có thẻ đảng viên ?

        Xli-ven-cô vừa cười vừa nói: — Kìa cậu quên mất điều lệ à ? Từ nay cho tới lúc người ta phát thẻ đảng viên cho các cậu cũng còn lâu đấy. Đầu tiên cậu sẽ có thẻ đảng viên dự bị. Đêm nay, một đồng chí ở phòng chính trị sẽ xuống đại đội và phát thẻ. Thôi bọn ta về nhà thôi! — Nghĩ một lúc, anh khẽ thì thầm nói thêm: — vì bây giờ các đồng chí đã là đảng viên cộng sản, tôi có thể phổ biến cho các đồng chí một điều bí mật quân sự: ngày mai trận tiến công sẽ bắt đầu.

        Thế là các đảng viên cộng sàn mới trở về "nhà họ”, trên tiền duyên, trong lòng sung sướng nhưng có vẻ nghiêm nghị hơn lúc trước nhiều.

        Pháo binh Đức tới tấp bắn vào khu vực mấy chiếc cầu — Họ bắt buộc phải đứng trong một hầm trú ẩn ngay sát bờ sông chờ cho dứt tiếng đạn pháo. Một quả đại bác rơi xuống cầu, ánh lửa của đám cháy chiếu sáng các chiến sĩ công binh đang chiến đấu với ngọn lửa. Cảnh lộn xộn trên cầu tuy vậy vẫn tỏ ra là có ý thức, may mắn sao là có khá nhiều nước, ngọn lửa bị dập tắt ngay. Các đội sửa chữa, mang theo rìu, ván gỗ, bò ra đoạn cầu bị hỏng. Dưới gầm cầu, đám người chen chúc nhau như đàn kiến trên những thuyền bè, đang củng cố chân cầu.

        Tải thương khiêng từ trên cầu xuống bảy đồng chí hy sinh, xác phủ vải bạt. Xli-ven-cô và các đồng chí khác ngả mũ, thờ dài rồi đi ra phía cầu.

        Cùng lúc đó một đồng chí trung tướng to lớn có hai sĩ quan đi theo hai bên, bước rảo lên cầu. Sau khi chào, các chiến sĩ dừng lại và nhường bước cho trung tướng.

        Trung tướng hỏi to :

        — Đồng chí chỉ huy khu cầu đâu ?

        Các sĩ quan công binh đứng đó lao xao hỏi nhau, có người chạy qua đưừng hầm phía tay trái và lát sau, từ trong bóng tối hiện ra một thiếu tướng gầy gò, râu ria tua tủa. Đồng chí giơ bàn tay khẳng khiu lên mũ và báo cáo:

        — Tôi, Trai-kin, chỉ huy trưởng khu cầu, thiếu tướng công binh.

        Trung tướng chào lại và nói:

        — Tôi cần thảo luận với đồng chí.

        — Xin rất sẵn sàng — đồng chí chỉ huy khu cầu đáp lại (câu trả lời không đúng điều lệnh cho lắm).

        Nhưng trung tướng không nói gì. Trai-kin biết ngay tại sao trung tướng im lặng bèn khoa tay ra hiệu: đây là công binh của chúng ta cả, có thể nói trước mặt họ không ngại.

        Lúc đó trung tướng bèn báo tin :

        — Nguyên soái đã hạ lệnh, trong mấy hôm nữa sẽ chuyển pháo binh sang bên kia sông. 

        — Tôi đã được điện thoại báo cho biết. Có bao nhiêu khẩu ?

        — Mười sáu nghìn.

        Thiếu tirớng Trai-kin, sau một phút im lặng, thong thả nhắc lại câu hỏi:

        — Nếu tôi không nghe nhầm, đồng chí vừa nói...

        Trung tướng nói lại:

        — Mười sáu nghìn.

        Xúc động trước con số khổng lồ, thiếu tướng lắp bắp nói:

        — Hay lắm! Hay lắm! Xin mời đồng chí cùng tôi vào hầm. Xin đồng chí cho tôi biết trọng lượng các khẩu pháo và tôi sẽ chỉ cho đồng chí các bến qua sông.

        Hai người cùng đi, lát sau biến vào trong bóng tối.

        Xli-ven-cô hỏi:

        — Các cậu nghe thấy chứ ?

        Lòng anh rộn ràng cả lên.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Tư, 2018, 06:58:11 pm

X

        Thiếu tướng Xê-rê-đa vừa nhận được lệnh tiến công đang cùng các sĩ quan tham mưu và pháo binh đứng trên tiền duyên, trong chiến hào một để tiến hành một cuộc kiểm tra. Chẳng chút vội vã, đồng chí đã đi suốt dọc phòng tuyến của sư đoàn từ bắc xuống nam; vừa đi vừa nghiên cứu các trận địa quân Bức và thống nhất với các đơn vị phối thuộc của sư đoàn về nhiệm vụ hiệp đồng và các tín hiệu liên lạc.

        Chính diện tiến công của sư đoàn rất hẹp, các đơn vị bố trí rất sít nhau. Tất cả khu đầu cầu ứ đầy bộ đội, giống như một chiếc lò xo bị ép lại, sẵn sàng bật ra, chụp xuống các trận địa của địch đang rình mò, nép mình trong bóng tối.

        Trên đường về, thiếu tướng gặp thiếu tá Ga-rin trong một hào giao thông.Đồng chí này mang theo nhiều bọc giấy.

        Thiếu tướng hỏi:

        — Đồng chí mang cái gì đấy ?

        — Bản hiệu triệu của Hội đồng quân sự.

        Thiếu tướng cầm lấy một từ ở tay Ga-rin và tựa lưng vào thành hào giao thông thong thả đọc. Sau đó đồng chí gấp mảnh giấy đút vào túi, bước vội đi.

        Các chiến sĩ và các sĩ quan mà thiếu tướng gặp cũng đều cầm bản hiệu triệu. Ngay gần đấy, có ai đang đọc to một cách vất vả gần như đánh vần từng chữ. Trời xẩm tối. Ở đài quan sát, Plốt-nhi-cốp và Lu-ben-xốp đang đợi thiếu tướng. Có cả Me-séc-xki, Nhi-côn-xki, các cán bộ pháo và điện thoại viên. Dưới ánh ngọn đèn làm vội, một người đang đọc bản hiệu triệu.

        — Đồng chí Plốt-nhi-cốp, người bạn chí thân của tôi ơi, thế là chúng ta kết thúc cuộc chiến tranh này.

        Đồng chí ôm hôn cả Lu-ben-xốp rồi hỏi:

        — Đồng chí phụ trách liên lạc với không quân chưa tới à ?

        Mười phút sau, đồng chí này có mặt, theo sau là hai đồng chí khác mang một máy vô tuyến điện. Chào hỏi mọi người xong, đồng chí phi công lập tức bắt liên lạc với bộ tham mưu của mình. Đồng chí cười có vẻ hơi uể oải và hỏi:

        — Thế nào, các đồng chí ở đấy ra sao? Vẫn vững đấy chứ ?

        Tiếng nói xa xăm trong máy trả lời là vẫn vững.

        — Ơ chúa,— qua làn sóng điện đồng chí phi công ca tụng công ơn Đức chúa Trời và nói tiếp : —Tôi đã tới nơi rồi. Đường liên lạc đã đặt xong. Đồng chí luôn luôn ở máy nhé.

        Lát sau đồng chí thiếu tá, bí thư ủy ban thẩm tra của Đảng tới, mang theo biên bản phiên họp hôm nọ. Phòng chính tri đã làm xong thẻ đảng viên và đại tá Plốt-nhi-cốp đã lên tiền duyên phân phát. Chuông điện thoại réo không ngớt. Các đơn vị, bộ phận hậu phương, đội tiếp đạn cho pháo binh, tiểu đoàn quân y báo cáo với thiếu tướng họ đã sẵn sàng. Rồi, mọi vật lắng xuống trong một thời gian. Thiếu tướng nét mặt suy nghĩ, nghiên cứu tấm bản đồ rải trên bàn trước mặt. Ngước mắt lên, đồng chí nhìn thấy Lu- ben-xốp ngồi trong một góc nhà.

        Bỗng nhiên, đồng chí nháy mắt, giơ ngón tay ra hiệu vẫy người trinh sát. Lu-ben-xốp tiến đến, thiếu tướng hỏi anh:

        — Cậu đã đi thăm cô ấy lần nào chưa ?

        Trước đôi mắt ngạc nhiên của thiếu tá cận vệ, thiếu tướng nói tiếp :

        — Thôi thôi, cậu đừng có đóng kịch nữa? Cậu tưởng mình không biết tý gì đấy à ? Cậu cũng khéo giấu đấy chứ!... Thế mà mình lại cứ nghĩ rằng cậu không nghĩ đến chuyện gì khác ngoài công tác trinh sát của cậu...

        Lu-ben-xốp tuy chưa hiểu một tý gì nhưng cũng hơi đỏ mặt. Thấy anh bối rối, thiếu tướng hối hận về sư thành thật thô bạo của mình. Đồng chí nói:

        — Thôi được, thôi được. Nếu mình làm cậu khó chịu thì đừng giận nhé, mình sẽ không nhắc đến nữa!... Nhưng mình mến cô ta lắm. Và cậu cũng nên tin rằng mình cũng biết người lắm đấy. Mình muốn làm ông mối cho cậu. Thôi, đấy là việc của cậu... Mình không nhắc tới nữa.

        Đồng chí trinh sát có phần hơi bực, hỏi:

        — Đồng chí nói ai kia chứ ạ !

        Lúc ấy thiếu tướng mới hiểu ra rằng Lu-ben-xốp quả thật có ngạc nhiên, và lại đến lượt đồng chí sửng sốt:

        — Đúng là từ dạo ấy các cậu chưa gặp lại nhau lần nào à?

        Đồng chí kể lại lần Ta-nhi-a tới thăm, nhưng đồng chí không nói rõ tên vì đồng chí không biết tên chị — Rồi đồng chí im lặng và sau một lát suy nghi đồng chí đứng dậy, nói to lên :

        — Mà này ông bạn thân mến của tôi ơi, cô bé đáng thương ấy đến nay vẫn đinh ninh là cậu không còn sống nữa đấy! — Đồng chí vỗ trán và nói có vẻ trách móc: " Ồ, thật là hỏng! ”

        Chuông điện thoại réo. Thiếu tướng cầm ống nghe. Tiếng phụ nữ nhỏ nhẻ từ xa nói:

        — Số 101 nói chuyện với đồng chí.

        Thiếu tướng liếc vội bảng số hiệu điện thoại mới, trước giờ tiến công người ta đã thay đổi bảng số hiệu, và nét mặt bỗng trở lại nghiêm nghi: số 101 là đồng chí Tư lệnh phương diện quân.

        Sư đoàn trưởng báo cáo với nguyện soái rằng mọi việc đã sẵn sàng, rồi lại gọi điện thoại cho các trung đoàn, các đơn vị pháo.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Tư, 2018, 08:31:53 pm

        Vừa nói chuyện điện thoại thiếu tướng vừa nhìn Lu-ben-xốp đang lặng lẽ đứng mơ màng bên chiếc cửa sổ có bắc ống viễn kính.

        — Giá mà cậu nhìn thấy sắc mặt cô ta khi mình báo tin về cậu với cô ta! Cô ta tái mặt đến nỗi mình tưởng cô ta ngất ngay ở đấy. Gặp dịp nào cậu phải tranh thủ đi gặp cô ấy ngay đi nhé. Cậu xin lỗi hộ mình về những câu mình nói bừa hôm ấy, chứng tỏ mình thiếu tin tưởng vào sức mạnh của cậu...

        Lu-ben-xốp bước ra ngoài. Trời tối, nồng nực, gió thổi. Gần đấy, một con họa mi dũng cảm còn ở lại khu đầu cầu đang tiếp tục cất tiếng hót.

        Trong bóng tối gần cửa hầm có người động đậy.

        Lu-ben-xốp hỏi: — Ai đấy ?

        — Báo cáo, tôi.

        Lu-ben-xốp nhận ra Ca-blu-cốp: — À, cậu đấy à ? Ngựa đâu rồi?

        — Tôi đã cột chúng trong một hố đại bác.

        — Cậu phải đi ngủ đi. Cậu đang làm gì thế ?

        Ca-blu-cốp đáp :

        — Tôi đi theo anh.

        Câu trả lời bình thận ấy làm thiếu tá bối rối. Nhìn thẳng vào đồng chí cần vụ, Lu-ben-xốp hỏi:

        — Cậu người vùng nào ?

        — Vùng U-li-a-nốp.

        — Ngày mai tiến công cậu biết chứ ?

        — Vâng.

        — Cậu có thích không ?

        — Có.

        — Ông cụ, bà cụ cậu còn không ?

        — Tôi còn bà mẹ.

        — Thế còn ông cụ?

        — Hy sinh rồi.

        — Cậu có người yêu chứ ?

        Ca-blu-cốp im lặng rồi trả lừi:

        — Kể ra cũng có.

        Lu-ben-xốp nghe tiếng chim véo von nên nghĩ thầm : "Con họa mi ấy bây giờ còn chưa sứt lông mẻ cánh gì thì nên bay đi mới phải”.

        — Anh em trinh sát đâu cả?

        — Các đồng chí ấy ở đằng kia, cách đây một quãng.

        — Ta lại đấy đi.

        Hai người đi theo đường hào và lát sau, nghe thấy tiếng nói của anh em trinh sát. Họ đang ngồi hút thuốc lá và trò chuyện nho nhỏ.

        Mi-tơ-rô-khin nói:

        — Ở nhà chẳng ai đoán được rằng hiệu nay mình đang ở đâu... Họ làm sao mà biết được? Chỉ biết số hòm thư, thế thôi.

        Tiếng Gút-sin nói:

        — Mà, ngày mai sẽ tiến công vào Béc-lin. Cái đó họ lại càng không biết được. Bây giờ là mọi người ngủ cả rồi, và đang nằm mơ. Chỉ có đồng chí Xta-lin là nắm được điều bí mật quân sự này mà thôi.

        Me-séc-xki nói:

        — Bây giờ đồng chí Xta-lin không ngủ đâu. Mình tin chắc là đồng chí ấy nghĩ đến chúng mình đấy. Nhất định trăm phần trăm là như vậy.

        Mi-tơ-rô-khin nói :

        — Này, mình muốn biết xem là năm 1941 khi đồng chí Xta-lin nói trước đài phát thanh là chúng ta sẽ chiến thắng... thì đồng chí ấy có biết như vậy không, hay là đồng chí ấy nói để động viên tinh thần chúng mình đấy nhỉ ?

        Tiếng của Vô-rô-nhin từ trong bóng tối vẳng ra đáp lại:

        — Nhất định là đồng chí ấy biết chứ. Đồng chí ấy nắm vững hết. Đồng chí ấy đã tính toán đủ mọi mặt về kinh tế cũng như về quân sự. Và tất nhiên cũng là để động viên tinh thần chúng mình. Bởi vì tụi mình lúc ấy chưa biết được điều đó !

        Im lặng một hồi lâu, Me-séc-xki mới tham gia ý kiến :

        — Từ khi chiến tranh bùng nổ, mình nghĩ đến đồng chí ấy nhiều lắm. Lúc chúng mình phải vừa đánh vừa rút, mình lo cho đồng chí ấy ghê quá. Lúc đó mình chỉ mong được gặp đồng chí ấy dù chỉ trong chốc lát để nói với đồng chí ấy rằng đồng chí đừng ngại gì cả, rằng chúng ta sẽ gánh vác hết, gánh vác hết... Nhiều đêm mình đã nằm mơ thấy đồng chí ấy.

        Vô-rô-nhin đáp lại:

        — Mình cũng thế, — và khẽ bật lên tiếng cười cảm động, đồng chí kết luận mạnh mẽ: — Lúc đó ai là người có thể tưởng được rằng chúng ta sẽ đứng trước mặt Béc-lin ? Chỉ có một mình đồng chí đó biết, ngoài ra không còn ai khác...

        Lu-ben-xốp tiến lại hỏi Me-séc-xki:

        — Các tổ trinh sát có trên đài quan sát không ?

        Me-séc-xki vừa nói vừa đứng dậy:

        — Có.

        Lu-ben-xốp bảo:

        — Tôi khuyên các đồng chí nên ra hồ nước mà rửa chân đi. Ngày mai, bộ giò còn phải hoạt động nhiều đấy.

        Các chiến sĩ cởi giày đi ra phía chiếc mương bên cạnh. Gần đó có nhiều khẩu pháo ngụy trang bằng cành lá. Những chiếc nòng dài, thon với những loa che lửa in rõ hình trên nền trời.

        Lu-ben-xốp nghe thấy Mi-tơ-rô-khin nói đùa:

        — Cậu xem người ta nhét vào chỗ ấy bao nhiêu khẩu! Đông hơn người đấy nhé! Nhổm dậy cũng khiếp: vì chỉ sợ đùng một cái một "mụ” nào điên rồ gầm lên, nện vào đầu thôi...

        Tít trên cao, nhiều máy bay Đức ầm ầm bay qua.

        Lu-ben-xốp nghe tiếng Me-séc-xki hét:

        — Chúng nó rải truyền đơn !

        Lát sau, Me-séc-xki từ trong bóng tối vọt ra, tay cầm một tờ truyền đơn. Anh hỏi:

        —  Đồng chí thiếu tá cận vệ, đồng chí còn ở đấy chứ ?

        Anh đưa tờ truyền đơn cho Lu-ben-xốp, Lu-ben-xốp ngồi thụp xuống đáy hào, quẹt diêm rồi phá lên cười.

        Không phải chỉ có mình anh cười. Những tờ truyền đơn đã làm nổ ra một trận cười vui vẻ trên khắp trận địa một. Tờ truyền đơn viết: "Hãy chạy sang với chúng tôi! ” Trong truyền đơn có ghi rõ khẩu hiệu để vượt qua phòng tuyến bên kia. "Chúng tôi đảm bảo tính mạng, ăn uống đầy đủ và thuốc men tử tế cho hàng binh”.

        Chắc hẳn đây là những tờ truyền đơn từ năm 1941 mà người ta đã in dư trữ hàng mấy triệu tờ. Bây giờ những mảnh giấy thừa lại được ném xuống vùng sông Ô-đe, cách thủ đô Đức sáu mươi ki-lô-mét trong đêm 16 tháng 4 năm 1945!

        Tiếng cười của các chiến sĩ ta ngẫu nhiên vọng tới tai bọn Bức, chúng vội vã bắn bừa mấy tràng súng máy.

        Ngoài tờ truyền đơn dớ dần ấy, một giờ sau Me-séc- xki lại nhặt được một tờ khác viết bằng tiếng Đức. Chắc hẳn người ta định ném xuống cho quân Đức nhưng vì tính sai cự ly nên truyền đơn rơi xuống trận địa bên ta. Đó là một bân kêu gọi của Gơ-ben gửi cho binh lính Tập đoàn quân thứ 9. Gơ-ben viết:

        "Hỡi các binh lính Tập đoàn quân thứ 9. Sau khi tới thăm tư lệnh của các người, tôi mang theo về

        Béc-lin lòng tin tưởng rằng việc bảo vệ Tổ quốc chống lại những bọn quái vật miền đồng cỏ phía Đông là ở trong tay các chiến sĩ ưu tú của nước Đức..."

        Lu-ben-xốp quay về đài quan sát đặt trong chiếc cối xay chạy bằng sức nước. Plốt-nhi-cốp sau khi thăm các trung đoàn đã về đó. Thiếu tướng sư đoàn trưởng vẫn cúi mình suy nghĩ trên tấm bản đồ, lẩm bầm nói một mình và chốc chốc lại xem đồng hồ.

        Đọc xong bản hiệu triệu của Gơ-ben, đại tá Plốt- nhi-cốp khẽ mĩm cười, rồi cũng xem đồng hồ và đột nhiên nghiêm nét mặt nói với thiếu tướng, với Lu-ben- xốp, với Me-séc-xki, với Nhi-côn-xki, với tất cả những ai có mặt ở đó:

        — Nào, "bọn quái vật cánh đồng cỏ miền Đông”, ba mươi phút nữa chúng ta bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Tư, 2018, 08:45:05 pm

XI

        ĐỢT pháo chuẩn bị nổ ra lúc năm giờ sáng làm lay chuyển khu đầu cầu đến tận nền móng. Lúc tai đã hơi quen với tiếng đại bác, người ta có thể phân biệt được giữa tiếng gầm của rất nhiều cỡ pháo, tiếng trầm, tiếng vang, của các khẩu trọng pháo thuộc lực lượng dự bị của Bộ Tổng chỉ huy. Trên không trung, loang loáng những ánh chớp của các khẩu " Ca-chiu-sa

        Chừng hai mươi ngàn khẩu pháo nòng dài, lựu pháo, súng cối gầm lên ầm ĩ, khoan thai, rộn ràng và dai dẳng. Vùng lân cận nhuộm một màu đỏ xám.

        Các chiến sĩ đứng trong chiến hào, lắng tai nghe tiếng gầm "kinh thiên động địa” ấy. Ở đây có những chiến sĩ lâu năm đã được nghe pháo bắn ở Xta-lin-grát và Cuốc, nhưng cái mà họ trông và nghe thấy lúc này ở đây không thể có gì so sánh được.

        Trước lúc đợt pháo bắn chuẩn bị kết thúc, đại tá Plốt-nhi-cốp tới chỗ các chiến sĩ trung đoàn cánh trái, trung đoàn mà theo lệnh của thiếu tướng sư đoàn trưởng, có trách nhiệm giáng một đòn quyết định. Đại tá hạ lệnh mang lá cờ trung đoàn lên phía trước. Đồng chí giữ cờ, một trung sĩ trước ngực gắn chừng một chục huân chương trèo lên bờ hào. Và như biết rằng ở đằng sau, các chiến sĩ đang theo dõi mình, và ở đằng trước mặt, một tên địch nào đó còn sống sót có thể đang ngắm bắn mình, đồng chí đứng thẳng, cứng người, hoàn toàn không động đậy, như một pho tượng.

        Theo sau đồng chí đó là đại tá Plốt-nhi-cốp trèo lên bờ hào. Nhưng trái lại trên khuôn mặt đồng chí, không có chút nào long trọng cả. Tinh thần căng thẳng, đồng chí đi đi lại lại, thỉnh thoảng đưa tay che mắt và cố nhìn thấu qua màn sương xám đỏ bao phủ trước mặt đồng chí.

        Đồng chí tới đây để động viên anh em xung phong nhưng đi dọc theo chiến hào và nhìn thấy màu đỏ nóng hổi của lá cờ trong màn khói dày đặc, đồng chí thấy rằng không cần thiết phải nói chuyện. Những con người đứng phía sau đồng chí bốn năm trước đây được tung vào trận chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đã chiến đấu băng qua hàng vạn ki-lô-mét; đã từng nếm mùi thương tật, giá rét, nắng thiêu, gót giày đã đạp lên băng giá và bãi lầy, đối với những con người ấy không cần phải có những lời khuyến khích nữa.

        Khi tiếng đại bác xa dần và do đã nắm được kế hoạch pháo bắn chuẩn bị, Plốt-nhi-cốp biết rằng pháo đã chuyển làn, đồng chí quay lại phía các chiến sĩ hỏi một câu đơn giản:

        — Thế nào, ta lên chứ ?

        Thế là các chiến sĩ băng lên. Lát sau họ biến vào giữa những đám khói cuồn cuộn. Chỉ thấy thỉnh thoảng, lá cờ lại xuất hiện đây đó trong màn sương để rồi lại biến mất.

        Lát sau, Plốt-nhi-cốp quay về đài quan sát, ở đấy không khí căng thẳng đến cực độ, không một ai nói to, người ta đang đợi chờ diễn biến của trận đánh. Cuối cùng thiếu tướng hạ lệnh cho liên lạc với Trét-vê-ri-cốp và đồng chí nói vào máy nói với một giọng bình tĩnh:

        — Báo cáo cho biết tình hình.

        — Chiến hào một đã bị ta chiếm — giọng nói của Trét-vê-ri-cốp khàn khàn. — Tôi đang cho tiến chiếm chiến hào hai.

        Thiếu tướng cho gọi trung đoàn cánh phải. Đại tá Xê-mi-ô-nốp báo cáo:

        — Tôi đã xông vào chiến hào một. Gi-ét-sốp, Mê- ranh và Gơ-ra-ben đang dùng hỏa lực chống cự lại.

        Thiếu tướng nói:

        — Đồng chí chấp hành nhiệm vụ đi ! Chấp hành nhiệm vụ đi, đồng chí nghe rõ chứ?

        Chừng 15 phút sau, thiếu tướng lại gọi Xê-mi-ô-nốp. Đột nhiên, không giữ được giọng nói bình tĩnh nữa, đồng chí hét:

        — Đồng chí nói với tôi cái "Mẹ ranh” của đồng chí mà làm gì ? Chiếm cái làng ấy đi!

        Tuy vậy, nghe Xê-mi-ô-nốp nói xong, thiếu tướng quay mặt lại phía đồng chí phi công đang ngồi xổm trước máy vô tuyến điện, rồi bảo :

        — Xê-mi-ô-nốp này ! "Đàn chim” sẽ tới ngay bây giờ. Đánh dấu ranh giới khu vực của đồng chí đi.

        Đồng chí phi công nhìn vào bản đồ, lẩm bẩm nói:

        — Trong ô nào nhí ? À, hà !... Đây rồi ! Làng "Mẹ ranh”!..,

        Anh nói một câu gì vào máy và chui ra khỏi hầm để xem. Mấy phút sau, nhiều máy bay tiêm kích xuất hiện trên không. Mỉm nụ cười sung sướng, đồng chí phi công giơ tay vẫy đoàn máv bay và quay vào chỗ thiếu tướng.

        Những tiếng bom nổ ngay gần đó. Xê-mi-ô-riốp liên lạc vón thiếu tướng :

        — Chúng tôi sẽ xông lên ngay lập tức.

        Đồng chí điện thoại hét to :

        — "Nút bấm ! ”... "Nút bấm ! ”... "Nút bấm !”

        Một đồng chí khác hét:

        — " Hoa cúc! ”... ” Hoa ‘cúc ! ”... " Hoa cúc ! ”

        Đồng chí vô tuyến điện gào lên hết hơi :

        — "Con ruồi!”... "Con ruồi ! ”... "Con ruồi !”

        Một đồng chí khác làu nhàu :

        — "Mắt” đây !... "Mắt” đây !... "Mắt” đây !...

        Một đồng chí điện thoại đứng nghiêm dậy, báo cáo :

        — Báo cáo thiếu tướng, ta đã chiếm được làng Mê-ranh.

        — Ai báo cáo ?

        — Không rõ.

        Thiếu tướng lại liên lạc với Xê-mi-ô-nốp.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Tư, 2018, 01:14:43 am

        Đồng chí này báo cáo :

        — Chúng tôi đã chiếm được một nửa làng. Nhưng ở đây có một khẩu súng máy trong khu của đơn vị bạn cánh phải bắn lướt sườn.

        Thiếu tướng liên lạc với đom vị bạn cánh phải. Đó chính là sư đoàn đại tá Vố-rô-bi-ốp đang tiến công.

        Khi điện thoại viên đưa máy cho thiếu tướng nói chuyện với sư đoàn trưởng sư đoàn bạn, đồng chí nói với một giọng ôn tồn dịu dàng:

        — Xê-rê-đa đây! Tại sao đồng chí tiến chậm thế? Súng máy của khu vực các đồng chí phụ trách lại bắn lướt sườn cánh phải của tôi... ông bạn láng giềng ơi, như thế không tốt... Thế không phải là cách quan hệ láng giềng hữu hảo!...

        Sau khi được biết mình nói chuyện với ai, giọng nói xa xa của đại tá Vô-rô-bi-ốp cũng trở nên ngọt như mía lùi:

        — Chính vì cánh phải của đồng chí tiến chậm đấy!... Cánh trái của tôi hở sườn vì cánh phải của đồng chí đấy!... Tôi đã có những tồn thất. Đồng chí phải thúc Xê-mi-ô-nốp của đồng chí một tý đi chứ !

        Giận dữ, thiếu tướng quẳng máy xuống:

        — Bảo Trét-vê-ri-cốp chuyển tiểu đoàn cánh phải lên phía bắc giúp đỡ Xê-mi-ô-nốp! — đồng chí cầm máy và lại liên lạc với Xê-mi-ô-nốp. Đồng chí nói: — Xê-mi- ô-nốp, có lẽ đồng chí mệt rồi phải không ? Đồng chí không muốn chỉ huy nữa à ? Thôi thế để tôi cử người thay đồng chí.

        — Đồng chí thiếu tướng...

        Xê-mi-ô-nốp vừa định nói thì thiếu tướng ngắt ngay:

        — Tôi sẽ cử một đồng chí khác tới thay thế đồng chí! Ở đây tôi còn nhiều cán bộ chiến đấu khá. Xê-mi-ô-nốp, chấp hành nhiệm vụ của đồng chí đi! Sau đây 15 phút, đồng chí phải báo cáo với tôi việc đã chiếm được thôn đó! Đồng chí phải thấy xấu hổ với đơn vị bên cạnh đồng chí chứ!

        Mười lăm phút sau, Xê-mi-ô-nốp báo cáo đã chiếm được cái thôn khốn kiếp ấy! Để thanh minh, đồng chí nói với thiếu tướng rằng trong thôn đó có nhiều lô cốt bọc sắt và nhiều xe tăng cố định.

        Liên lạc viên của các tổ trinh sát đang hoạt động chạy về.

        Trận địa một của quân Đức đã bị ta chiếm được.

        Nhiều nơi quân ta đã tiến tới con đường sắt và đang nằm ở đó. Mà con đường sắt đó là bắt đầu trận địa hai của địch. Một đường gò cao có bố trí nhiều ổ súng máy hiện đang là một trở ngại nghiêm trọng.

        Thiếu tướng ra khỏi hầm, đi ra phía sông Ô-đe. Ở đó có đoàn xe tăng ngụy trang bằng cành cây.

        Trên bờ sông, một trung tá bộ đội xe tăng, tay cầm chiếc mũ da lạc đà màu đen, đang ngồi trên bãi cỏ hút thuốc lá. Nhìn thấy thiếu tướng, đồng chí vất mẩu thuốc đi lấy gót ủng dập tắt và đứng dậy.

        Thiếu tướng thong thả bước đến. Đồng chí đưa mắt nhìn đoàn xe tăng khắp một lượt rồi dừng lại cách một quãng xa. Trung tá chạy lại. Đôi mắt của người sĩ quan xe tăng long lanh láu lỉnh.

        Đồng chí hỏi :

        — Đến lượt chúng tôi phải không, đồng chí ?

        Thiếu tướng nói:

        — Có lẽ như thế.

        Trung tá đội mũ lên đầu. Thiếu tướng nói :

        — Hãy hành động một cách kiên quyết. Một trung đội công binh sẽ đợi đồng chí ở phía tây Gi-ét-sốp — Mê- ranh — Gơ-ra-ben, và sẽ theo sát các đồng chí.

        Trung tá vừa cài quai mũ vừa nói :

        — Bộ binh không nên rớt lại sau.

        Thiếu tướng quay trở về.

        Một toán tù binh đi qua. Đứa nào trông cũng ngơ ngác, thiểu não, mắt dán xuống đất, không tin là mình còn sống sót sau trận đánh vừa rồi.

        Nhiều máy kéo kéo pháo đi ngược lại phía chúng, di chuyển lên những trận địa mới, gần địch hơn.

        Anh em thương binh lững thững từ trong màn khói bước ra. Họ đi hàng một như còn đang đi tiến công vậy. Trông thấy thiếu tướng, những đồng chí tay phải không bị đau giơ tay chào.

        Một đồng chí nói to :

        — Xin chúc đồng chí thiếu tướng may mắn.

        Một đồng chí khác mỉm cười nói :

        — Khi nào đồng chí vào Bécdin, thì nhớ đến chúng tôi với... Có lẽ đồng chí còn nhớ tôi : tôi là Mai-bô-rô-đa, xạ thủ súng tiểu liên. Một lần tôi đã cùng đồng chí xung phong.
         
Thiếu tướng không nhớ ra nhưng vẫn nói :

        — Có, tôi có nhớ.

        Các thương binh thong thả tiếp tục bước và lát sau đi khuất.

        Lúc thiếu tướng quay về đài quan sát, Lu-ben-xốp báo cáo với đồng chí rằng pháo binh địch đang bắn rất dữ dội từ chỗ ga xe lửa Bô-rê-ha và làng Ai-oe-đơ. Bộ đội đã bám được quãng đường sắt nam Bô-rê-ha, còn các khu khác địch vẫn giữ chặt.

        Thiếu tướng hỏi :

        — Xe tăng đến đâu rồi ?

        Một sĩ quan liên lạc của bộ đội thiết giáp nói :

        — Đã tới vi trí xuất kích.

        Thiếu tướng quay lại phía đồng chí phi công !

        — Đồng chí dọn đường cho họ đi, hả ?

        Đồng chí phi công nói:

        — Có chứ ạ.

        Hai người cúi nhìn bản đồ, sau đó đồng chí phi công ngồi xuống trước máy của anh và gọi :

        — "Ruồi” đâu ? "Ruồi” đâu ? "Ruồi” đâu ?

        Thiếu tướng gọi điện thoại cho đồng chí tư lệnh quân đoàn xin phép cho di chuyển đài quan sát.

        Tư lệnh quân đoàn đồng ý cho chuyển. Nhân viên tham mưu ở đài quan sát đi bộ. Xe ô tô và ngựa đi theo sau.

        Lần này Lu-ben-xốp chọn một chiếc cối xay gió, bị tàn phá khá nhiều nhưng vẫn còn đứng vững. Tất cả những cái gì còn đứng vững được, dù ít hay nhiều sau đợt pháo bắn chuẩn bị đều làm cho mọi người hết sức ngạc nhiên.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Tư, 2018, 12:36:40 pm

        Vô-rô-nhin nói.

        — Chiếc cối xay này cũng gian khổ đấy chứ!

        Anh em trinh sát bắc ống viễn kính sau chiếc cửa sổ nhỏ trên cao, phía trên chỗ hai cánh quạt trước kia bắt chéo nhau. Bây giờ cánh quạt chẳng còn, chúng đã biến thành những mảnh vụn rải rác dưới đất.

        Màn khói đã tan bớt và qua ống viễn kính người ta nhìn thấy con đường sắt. Chiếc cối xay lắc lư theo tiếng đại bác sau một phút tạm ngừng, lúc này lại tiếp tục dữ dội hơn. Trung tá Xi-dức, sau khi lách được chiếc bụng phệ qua giữa những xà ngang của tầng trên cối xay, đang gọi điện thoại chỉ huy pháo.

        Thiếu tướng quan sát qua ống viễn kính. Đồng chí phụ trách liên lạc cùng với chiếc máy vô tuyến điện và các đồng chí giúp việc của anh nằm trên bãi cỏ, phía dưới, bên một hố đại bác lớn và chốc chốc lại gọi hỏi thiếu tướng :

        — Có cần "đàn chim" không ạ ?

        Thiếu tướng khẽ nói :

        — Xe tăng đã xuất kích.— Rồi đồng chí bảo Nhi- côn-xki:

        — Cho tôi liên lạc với Trét-vê-ri-cốp.

        Sau khi gọi được Mi-gai-ép, Nhi-côn-xki đưa máy cho thiếu tướng.

        — Mi-gai-ép này, tý nữa những chiếc " hộp sắt ” sẽ đi qua khu vực đồng chí. Đồng chí cho bám sát không rời ra nửa bước nhé. Hiểu chưa ? Không rời ra nửa bước đấy.

        Đồng chí rời ống viễn kính và bò lại chỗ đồng chí cán bộ xe tăng, phái viên của trung đoàn thiết giáp. Sau khi xem đồng ho của mình, đồng chí nói :

        — Bây giờ là 11 giờ kém 20. Đồng hồ đồng chí bao nhiêu ?

        Đồng hồ của đồng chí xe tăng cũng thống nhất...

        — Đợt tiến công ấn định vào 11 giờ. Chúng ta sẽ giải quyết quân địch bằng máy bay xung kích, và các đồng chí sẽ xông lên. Luôn cho chúng tôi biết tình hình — Thiếu tướng nói xuống dưới bảo đồng chí phi công :

        — Gọi họ đi! Bồng chí lấy lại đồng hồ ! Họ phải làm sao ngừng oanh tạc lúc 11 giờ, không được quá một phút nếu không đồng chí sẽ lại nện vào quân ta mất! Gọi Trét-vê-ri-cốp — thiếu tướng đã quay lại bảo Nhi- côn-xki và đồng chí hạ lệnh cho trung đoàn trưởng đánh dấu ranh giới giữa đồng chí với quân địch theo một ký hiệu quy ước trước với không quân.

        Một máy điện thoại khác báo tin quân Đức phản xung phong vào bộ đội của Xê-mi-ô-nốp.

        Thiếu tướng giận dữ nói :

        — Không ai bị phản xung phong cả, mà chỉ một mình Xê-mi-ô-nốp !

        Đich phản xung phong Xi-mi-ô-nốp, dùng một tiểu đoàn bộ binh và mười xe tăng.

        Thiếu tướng dằn từng chữ một :

        — Đồng chí chấp hành nhiệm vụ đi!

        Có tiếng ai ở dưới báo tin :

        — Máy bay ! — Ngay lúc ấy khoảng hai chục máy bay ném bom Đức bay rợp trên không.

        Gần đó, có nhiều tiếng bom nổ.

        Thiếu tướng nói :

        — Đấy, chúng nó đã lấy lại được tinh thần rồi đấy, đồ súc sinh.

        Bốn bề, pháo cao xạ nổ đoành đoành. Những khẩu trọng liên bắn máy bay bố trí dưới lòng khe thét lên giận dữ.

        Mắt ngước nhìn lên trời, thiếu tướng nói :

        — Không được để cho đoàn Gioong-ke phá cuộc tiến công của xe tăng chúng ta.

        Lại một đoàn máy bay ném bom Đức nữa xuất hiện nhưng máy bay khu trục xô-viết đã lập tức từ sau đám mây trắng vọt ra. Không trung rộn lên những tràng đạn súng máy, và tiếng động cơ rú lúc nhỏ dần lúc to lên.

        Đồng chí điện thoại hét lên :

        — "Bạch trĩ” ! "Bạch trĩ” ! "Bạch trĩ” !

        Đồng chí khác lại gọi :

        — "Hoa cúc” "Hoa cúc” "Hoa cúc”.

        Các đồng chí y tá khiêng cáng thương binh đi qua phía trước cối xay. Plốt-nhi-cốp hỏi nhỏ :

        — Cho trung đoàn 3 vào chiến đấu chứ ?

        Thiếu tướng trả lời :

        — Sớm quá. Khi nào ta chiếm được trận địa hai, thì lúc ấy có thể...

        Trận địa hai và trận địa ba bị ta chiếm được lúc 12 giờ trưa, sau một đợt tiến công hiệp đồng của không quân, bộ binh và xe tăng. Trời nắng gắt. Mồ hôi chảy lã chã trên trán mọi ngươi. Cuộc chiến đấu suốt bảy tiếng đồng hồ làm cho mọi người khá mệt, nhưng người ta vẫn chưa tính đến chuyện nghĩ ngơi : trước mặt, trên những mỏm đồi thấp và dọc những con kênh nhỏ, dải phòng ngự thứ hai đã hiện ra, một dải phòng ngự mạnh có ba đợt chiến hào với hệ thống cứ điểm chéo nhau và các bãi mìn.

        Giữa trưa có điện thoại của trung đoàn Xê-mi-ô-nốp gọi. Thiếu tướng chăm chú nghe, định trả lời thì đột nhiên đồng chí tư lệnh quân đoàn gọi điện thoại hạ lệnh phải chiếm cho bằng được dải phòng ngự thứ hai.

        Thiếu tướng đáp lại :

        — Rõ ! — ngừng một lát, đồng chí nói thêm : — Tôi vừa được tin Xê-mi-ô-nốp bị tử thương. — Thiếu tưórng nghe tư lệnh quân đoàn nói xong, bèn đứng dậy, đội mũ và nói với Plốt-nhi-cốp : — Lại đầy đồng chí Plốt- nhi-cốp, chúng ta đến vĩnh biệt một đồng chí. Suốt ngày hôm nay đồng chí ấy đã hấp hối, thế mà tôi còn thét mãi đồng chí ấy.

        Hai giọt nước mắt từ từ lẵn trên má thiếu tướng ; đồng chí giận dữ đưa tay lên chùi và nói to :

        — Nào, tiến lên !... Các đồng chí điện thoại, cho kéo dây đi. Làm sao cho đường liên lạc thống suốt như trong ngày hôm nay ấy !... Dù sao chúng ta cũng đã học tập được tác chiến.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Tư, 2018, 03:29:41 pm

XII

        Tiếng nổ dữ dội của đợt pháo bắn chuẩn bị rung chuyển trời đất đã đánh thức Ta-nhi-a đang nằm ngủ trong túp lều con cách mặt trận chừng mấy ki-lô-mét.

        Chị vừa gọi vừa lay chị y tá nằm ngủ trên giường bên:

        — Gla-sa, cô em yêu quý ơi ! Bắt đầu rồi đấy ! Dậy đi !

        Gla-sa nhỏm vụt dậy, lắng tai nghe. Đột nhiên chị giơ hai cánh tay chắc nịch quàng lấy người Ta-nhi-a, ghì sát vào mình và hôn Ta-nhi-a một cái. Chị rời Ta-nhi-a ra một lúc rồi lại ôm chặt lấy và hai người cứ ngồi ôm lấy nhau như vậy, áo chưa mặc xong, hai đôi mắt nửa sợ hãi, nửa long lanh vui sướng, chăm chú nghe tiếng sấm rền khác thường, hầu như chưa từng có trên trái đất. Ma-ri-a từ bên ngoài lao vào, bắt gặp hai người trong tư thế ngồi như vậy.

        Chị hùng hồ nói:

        —  Mặc áo vào đi các chị, mặc áo vào đi! Trận đánh đã bắt đầu ! Nào, thẳng tiến về Béc-lin !!

        Chị mở tung cửa sổ ra.

        Trong làng, nhiều người chạy vội. Tà áo trắng của các chị y tá vụt qua rồi lộn lại. Có tiếng Rút-cốp-xki nói: ”Các đồng chí chuẩn bị! Ai về chỗ nấy !” Dưới khung cửa sỗ, mấy cành hồng thơm ngát, long lanh giọt sương sớm. Chân trời phía tây đã trùm trong màn khói đỏ ửng.

        Pháo vẫn nổ rền và không khí cũng như kính cửa sổ khẽ rung lên rộn rã. Trên trời, từng đợt, từng đợt liên tiếp, tiếng động cơ ù ù át hẳn tiếng đại bác, nhiều phi đội máy bay ném bom và máy bay xung kích xô-viết bay về phía tây. Các máy bay khu trục chao đi chao lại như một bầy chim tự do, vây quanh đoàn máy bay ném bom và xung kích.

        Ba người mặc vội quần áo xong, chạy ra đầu làng, các đồng chí bác sĩ, y tá và cứu thương đã tụ tập ở đó.

        Ở đây, Ta-nhi-a nhìn thấy hai chiếc xe bò và một cỗ xe ngựa đỗ dưới rặng cây ti-ơn. Mấy con ngựa được tháo dây cương và cột chặt đang cúi gậm cỏ non quanh mấy chiếc xe. Gần chỗ mấy chiếc xe đỗ, cả một trại di cư đẹp như bức họa. Trên mặt đất có rải nhiều tấm chăn, nhưng không ai nằm ngủ, một toán đông người, trước ngực dính nhiều mảnh vải màu cờ nước họ đang đứng đó, mắt hướng về chân trời phía tây, trao đổi với nhau những lời nhận xét và những câu tỏ vẻ ngạc nhiên, khâm phục.

        —  Ôi chao!

        — Ồ... ồ... ồ!...

        Bọn trẻ con thích thú nhất. Có bốn đứa: ba gái, một trai. Chân đi những đôi giày mòn vẹt gót, đôi mắt tròn xoe phấn khởi, chủng cứ rúc vào chân người lớn, bí ba bí bô nói bằng tiếng của dân tộc mình.

        Ở đây có đại biểu hầu hết các nước Tây Âu. Tiếng đại bác đã mở cho họ con đường quay về đất nước, quê hương họ.

        Trước tiên, Gla-sa chạy đi tìm kẹo cho mấy đứa trẻ con. Ta-nhi-a thì ngạc nhiên nhìn cỗ xe ngựa đặc biệt giống cỗ xe của Trô-khốp mà trên cỗ xe ấy dạo xưa chị đã gặp Lu-ben-xốp. Nhưng mà, trong các trại ấp của nước Đức, xe ngựa cũng có nhiều và rất có thể chiếc đầu hươu chạm nỗi kia cũng không phải là vật hiếm có.

        Một cô thiếu nữ xinh đẹp có mái tóc vàng đứng trước cỗ xe ngựa. Đôi mắt xanh của cô tròn xoe nhìn về phía tây không chớp mắt. Cuối cùng cô thở dài não nuột, quay lại và đôi mắt cô bắt gặp đôi mắt chăm chú của Ta-nhi-a. Lúc ấy đến lượt cô chăm chú nhìn Ta-nhi-a và với con mắt phê phán, mà chỉ có phụ nữ mới có cách nhìn ấy, với thái độ nhận xét xen lẫn một chút thách thức, xói móc những nhược điểm.

        Rõ ràng là cô không tìm thấy được ở Ta-nhi-a một nhược điểm nào và bắt buộc phải công nhận sắc đẹp của một người phụ nữ khác, cô mỉm cười. Ta-nhi-a cũng cười.

        Thế là hai người thấy có cảm tình với nhau ngay và thiếu nữ giơ ngón tay xinh xắn trỏ về chân trời phía tây, nói với giọng kéo dài và cảm phục.

        — Ồ... ồ...

        Ta-nhi-a gật đầu đồng ý và hỏi:

        — Cô ở đâu đến ?

        Cái tiếng "ở đầu đến” hẳn là rất quen thuộc với cô ta. Cô trả lời:

        — Hà Lan...

        — Thế thì sắp sửa rồi.—Ta-nhi-a vừa nói vừa giơ tay ra hiệu chỉ về phía tây.

        Thiếu nữ vui vẻ gật đầu nhắc lại:

        — Sap sưa rôi, sap... sưa rôi!..

        Lúc đó Gla-sa mang kẹo và đường tới chia cho các em nhỏ. Cô gái Hà Lan nhìn Gla-sa và bỗng nhiên mặt đỏ bừng, cô tới gần người thiếu phụ rồi nói với chi bằng tiếng của nước cô. Gla-sa chăm chú nghe, sau đó giơ hai tay hỏi:

        — Thế nào cô muốn gì ? Mà nói thật đi chứ cô em thân mến của tôi, cô muốn gì nào ?

        Cô gái Hà Lan thì thầm:

        — Đại úy Vát-xin.

        Nhất định là chị bộ đội Nga to lớn phúc hậu này không hiểu được những câu hỏi của cô. Mác-ga-rta không thể nhầm được: đúng chị này là chị mà một hôm cô đã trông thấy trong trại của mụ Boóc-cau, giữa các chiến sĩ của đại úy Vát-xin.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Tư, 2018, 08:56:14 pm

        Mác-ga-ría nhất định không muốn xa rời Gla-sa. Cồ nghĩ thầm : " Một khi chị này ở đây thì đại úy cũng ở gần đây thôi. ” Xa rời Gla-sa đối với cô nghĩa là không thể bao giờ lại tìm thấy tăm hơi của đại úy nữa. Thật đáng tiếc biết bao nhiêu là anh Ma-réc người Tiệp hôm qua lại đã đi cùng một toán đồng bào của anh về phía nam rồi, về nước anh ấy, nếu không thì nhất định anh ấy thế nào cũng nói được cho chị này hiểu vấn đề !

        Gla-sa nhìn thẳng vào mặt cô gái, đưa tay vuốt mái tóc bồng mềm mại của cô và thương mến nhắc lại câu hỏi:

        —  Cô em yêu quý của chi, cô muốn gì nào ?

        Một đồng chí tải thương chạy tới truyền lệnh của Rút-cốp-xki bảo chuẩn bị lên đường. Ta-nhi-a nhìn lại cỗ xe ngựa một lần cuối cùng, trìu mến gật đầu chào cô gái Hà Lan xinh đẹp rồi quay về làng. Gla-sa chia kẹo cho mấy em nhỏ rồi chạy vội theo Ta-nhi-a. Mác-ga-rta chạy theo mấy bước rồi dừng lại thở dài lắc đầu. Cô nhìn các chị người Nga bước đi xa dần cho tới khi các chị ấy khuất bóng.

        Các chị người Nga thật là sung sướng! Họ được mặc quân phục đẹp, đeo súng lục và họ đúng là những con người chứ không phải như cô, Mác-ga-rta và các bạn gái của cô, những đứa con gái lánh nạn không có vũ khí tự vệ, bộ dạng thật tang thương. Cô ngắm theo bóng dáng thon thon của chị người Nga xinh đẹp mà trong lòng vấn vương đôi phần ghen tị. Nghĩ thế, cô bèn tự nhủ để tự an ủi rằng nếu cô mặc quân phục Nga thì cũng rất đẹp.

        Tiếng đại bác đã ngừng, chỉ thỉnh thoảng một vài tiếng súng lẻ loi nổ vang, còn trên trời hầu như không lúc nào dứt, nhiều phi đội khác mang dấu hiệu sao đỏ vẫn nối đuôi nhau lao về phía tây.

        Đoàn người gồm nhiều quốc tịch chuẩn bị nhổ trại để lững thững theo sau quân đội Nga không chút vội vã. Tuy thế Mác-ga-rta không thể nào dứt ra đi được, cô ta vẫn còn hy vọng được gặp lại đồng chí đại úy ở đâu gần ngay đây.

        Hai tuần lễ sau khi đại đội Trô-khốp lên đường, đoàn tá điền trước kia đã bỏ trại Boóc-cau ra đi. Sáng hôm ấy, những người Bỉ ở đồn điền bên cạnh tới khuyên nên đi xuống phía nam vì trên phía bắc nhiều trận chiến đấu ác liệt đang diễn ra và nghe đâu quân Đức đã chọc thủng phòng tuyến. Lẽ dĩ nhiên không nên tin những tin đồn ấy! Bởi vì các chiến sĩ, xe tăng và đại bác Nga kéo lên hướng Bắc nhiều biết bao nhiêu ! Nhưng những người lo xa đã quyết định đi cách càng xa càng hay. Vả lại, một đêm trại đã bốc cháy. Ai đốt thì không biết : có thể là những người Cơ-rô-át1 từ những làng mới giải phóng gần Stác-ga, một đêm đã đi qua đây. Những người Ý và người Xlô-vác1 tới đây ngay sau khi cháy trại cũng khuyên nên đi xuống miền Nam, mặc dù đấy không phải là vì câu chuyện quân Đức tiến công thắng lợi.

        Khi anh chị em tá điền lấy ngựa và xe trong trại của mụ chủ (mụ này đã chạy trốn biệt tăm rồi) và lên đường thì lát sau họ đã bị các đơn vị bộ đội Nga, sau khi đánh bại quân Đức ở phía hạ lưu sông Ô-đe, từ miền bắc kéo xuống, vượt lên trước. Đêm ngày, Mác- ga-rta đứng trên đường cái, tìm đại úy Vát-xin giữa hàng ngàn vạn con người. Đôi lần, Mác-gô lên đứng thay cho cô một lúc và chế nhạo cô bạn gái là đã say mê quá mất rồi.

        Trong đám người Nga có rất nhiều người giống đại úy: những chàng trai đôi mắt đầy nghị lực và cũng ngồi trên lưng ngựa một cách rắn rỏi, thoải mái như đại úy. Nhưng cô không thể tìm đâu cho thấy đại úy của cô.

        Giờ đây, trong thôn họ vừa mới tới, Mác-ga-rta và các bạn đang chuẩn bị lại đi xuống phía nam. Thì vừa lúc ấy, cuộc tiến công của quân Nga bắt đầu. Sau khi đã thống nhất với nhau, họ quyết định đi theo mặt trận của quân Nga cho về đến quê hương đất nước của họ ở phía tây.

        Mác-ga-rta đã hết hy vọng tìm thấy tăm hơi của đại úy thì bỗng nhiên lại gặp Gla-sa. Tuy hơi thất vọng vì Gla-sa không hiểu được tiếng mình, nhưng Mác-ga-rta đã quyết định đi vào trong làng để chính mắt được trông thấy các chiến sĩ Nga đóng ở đó. Mác-ga-rta ngó nhìn vào tất cả mọi sân nhà đến nỗi cuối cùng bị đồng chí gác hô đứng lại. Cô nhí nhảnh mỉm cười và giơ cho đồng chí gác nhìn, bộ ngực có đeo những mẫu vải màu cờ Hà Lan. Đôi mắt đồng chí chiến sĩ dịu đi, lần này thì quả thực không có gì là giận dữ, đồng chí bảo cô đi qua chỗ khác. Cô đi quanh những chiếc xe vận tải và ra tới cuối làng về phía đông, cô cứ nhìn theo mãi từng anh chiến sĩ đi qua. Không, đại úy và đơn vị của anh không có đây.

        Trên đường quay về, lúc đi qua trước mặt đồng chí gác, cô nháy mắt với đồng chí gác tỏ vẻ thân mật và nhập bọn với các bạn đồng hương.

        Mác-gô hỏi :

        — Không tìm thấy à ?

        Mác-ga-rta vưa nói vừa buồn bã lắc đầu :

        — Không.

        Lúc đó Mác-gô nói bằng một giọng nghiêm nghị :

        — Càng hay ! Dù sao đi chăng nữa, anh ấy cũng sẽ không có thì giờ lo nghĩ đến cô đâu. Thưa cô, chiến tranh vẫn tiếp tục đấy... Người Nga còn nhiều nhiệm vụ phải làm trên trái đất này...

        Mác-ga-rta chán ngán, im lặng. Công việc là công việc mà tình yêu vẫn là tình yêu chứ.

        Cô hăng hái nói :

        — Suốt đời mình sẽ không bao giờ quên anh ấy!

        Lúc đó, một đoàn xe vận tải, xe ô tô từ trong làng tiến ra. Chiếc xe nào cũng chất đầy ắp vải bạt và hòm gỗ.

        Trên một chiếc xe, một chị người Nga xinh đẹp đang ngồi và bên cạnh chị có một chi khác to lớn, cái chị mà cô đã gặp trong trại mụ Boóc-cau. Mác-ga-rta vẫy tay. Các chị kia thân mật vẫy chào lại.

        Đoàn xe ô tô mở hết tốc độ phóng qua và biến mất sau quãng đường vòng.

-----------------
        1. Một dân tộc ở Nam Tư.

        2. Một dân tộc ở Tiệp Khắc.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Tư, 2018, 08:46:54 pm

XIII

        Hôm đó là một ngày xuân tươi đẹp, chim chóc ca vang.

        Đoàn xe tiểu đoàn quân y nối đuôi chạy trên đường cái, vượt lên trước những chiếc xe hậu cần sư đoàn. Nét mặt kiều hãnh, hớn hở, các chị ngắm nhìn quang cảnh trước mắt.

        Từ trong những khu rừng, dưới những chòm cây, đoàn xe tăng hùng dũng húc đổ cành lá ngụy trang kéo ra đường cái. Trên những tháp xe tăng mở nắp, các chiến sĩ sạm đen cát bụi, đứng thang nhô nửa người ra. Những khẩu trọng pháo, kéo ra khỏi trận địa và đã được móc vào sau máy kéo đang lăn bánh trên mặt đường nhựa phẳng lì.

        Bộ máy khổng lồ của chiến tranh, vừa mới đây đang chờ đợi, ngụy trang nấp kín trong những khu rừng, những hố sâu đã lại hoạt động, vội vã chuyển bánh, gầm thét. Tất cả những vật đó xô về Béc-lin giống như khu rừng Biếc-nam lao vào tòa lâu đài Đuyn-di-nan. Người ta nghe thấy tiếng ngựa hí, tiếng xích sắt ầm ầm, những câu nói pha trò vui vẻ và những câu rủa đùa.

        Cho mãi tới bây giờ, khi mà các khu rừng đều đã trút hết những cây lá ngụy trang, người ta mới có thể thấy được cái lực lượng đang diễn qua trước mắt lớn lao biết chừng nào, những lực lượng tập trung ở bờ sông Ô-đe và giờ đây sẵn sàng lao theo sau các đơn vị tiền vệ đang tiến công thắng lợi.

        Gla-sa từ nãy đến giờ chưa nói gì, bây giờ mới quyết đinh tho lộ thắc mắc:

        — Không hiểu I-liu-sa của tôi ở trên ấy thế nào? Trên ấy, trên tiền duyên chắc gay go lắm.

        Một số lớn xe vận tải ứ lại chỗ đầu cầu. Các sĩ quan cờ hiệu đỏ trong tay điều khiển đường giao thông, để cho những đơn vị xe tăng đi qua, những đơn vị tới giờ G. phải tung vào mở rộng cửa đột phá. Tất cả những xe khác đều dừng lại ở hai bên cạnh đường. Cuối cùng đoàn xe tăng qua hết, tiếp ngay sau đó là đoàn xe vận tải.

        Lát sau, đoàn xe tiểu đoàn quân y sư đoàn từ từ chuyền bánh trên mặt cầu. Anh chị em cũng không hề ngờ tới mình đang đi trên chiếc cầu đã như thế nào. Họ bình thản nhìn hai đường gờ ngăn bánh xe và các chiến sĩ công binh trông nom việc qua cầu. Đối với mọi người, chiếc cầu này chỉ là một công trinh kiến trúc bằng ván sơ sài. Buổi chiều, tiểu đoàn quàn y dừng lại trong một làng bên kia sông Ô-đe, nơi mà sáng nay hãy còn các đơn vị hậu cần sư đoàn quân Đức đóng. Từ các trạm cấp cứu trung đoàn, thương binh được chuyển ngay tới và như thường lệ, công tác cấp cứu tạm thời lại tới tấp, một công tác ở sát Béc-lin này cũng chẳng khác gì khi ở đất Bi-e-lô-rút-xi.

        Thương binh cấp cứu ở đây lập tức được chuyển về các bệnh viện. Đối với một bác sĩ trong tiểu đoàn quân y thì không thể nào trông nom cho tới khi các tế bào bị hư nát của thương binh lành lại được — và đấy chính là điều làm giảm vốn kinh nghiệm của bác sĩ. Ta-nhi-a hằng mơ ước sau khi chiến tranh kết thúc, được vào làm việc trong một bệnh viện mổ lớn.

        Nhưng chính cũng vì thương binh chỉ lưu lại ở đây một thòi gian ngắn nên Ta-nhi-a thấy sung sướng gấp bội mỗi khi đột nhiên nhận được lá thư của một người bệnh mà chị cũng đã quên mất — mà làm sao chi có thể nhớ hết tất cả được — báo tin đã, hay sắp khỏi và cảm ơn bàn tay đầu tiên ấy đã cứu sống mình, một điều mà anh em tưởng tượng ra hay có thể cũng là sự thực. Trên bờ phía tây sông Ô-đe, ngay sau ngày chiến dịch Béc-lin mở màn, Ta- nhi-a nhận được lá thư của đồng chí " đánh xe trạm ”.

        Ca-lít-xtơ-rát viết:

        "Chị Ta-chi-a-na1 rất kính mến !
         
        Chắc hẳn lúc này chị vẫn tiếp tục tiến về phương tây còn tôi thì đang nằm trên chuyến tàu quân y lăn bánh về phía đông. Các đồng chí phục vụ trên tàu đều là những đồng chí tốt và chúng tôi được chăm sóc khá đầy đủ chị ạ. Hiện nay chúng tôi đã tới ga Vô-rô-nhe-giơ và tôi viết cho chị lá thư này. Lúc đầu, phải xa rời mặt trận trong những ngày chiến đấu quyết định, thật là một vấn đề rất khổ tâm, nhưng khi chúng tôi đã nhìn lại thấy những vùng đất đai thân yêu của Tổ quốc thời gian qua bị quân Đức tạm chiếm, chúng tôi đã hiểu rõ rằng nơi đây cũng lại là một mặt trận. Ở đây, trên đất nước quê hương bây giờ nhiều việc phải làm lắm chị ạ. Đến cả những người cụt tay cũng còn tìm ra việc làm kia mà. Một chị y tá có kể lại cho tôi nghe là trong làng chị có một người thợ rèn cụt tay nhưng rất khéo. Thực ra thì đồng chi ấy cụt mất tay trái, còn tôi thì mất tay phải. Có thể là chị y tá nói dối để làm tôi yên lòng. Và cũng có thể đó là chuyện thực bởi vì không còn việc gì giản đơn hơn việc quai búa, không như nghề thợ mộc, một nghề cần có hai bàn tay và đầu óc cũng khéo léo như vậy, nhất định không như nghề thợ rèn. Nhưng tôi nghĩ dù sao với cánh tay trái, tôi cũng có thể phục vụ được, ở đây, trong vùng này, mọi vật đều bị tàn phá, đổ nát. Một số đồng bào còn sống dưới hầm hố, như cầy cáo, và nướng bánh mì bằng bếp lò ngay giữa phố... Kể ra thì đồng bào rất tháo vát và một số lều đã được dựng lên. Lúc này tôi chỉ nóng lòng được cầm chiếc rìu và trèo lên mái nhà nào đó. Thương binh chúng tôi, chúng tôi nguyền rủa bọn phát xít, do cuộc xâm lược tàn bạo của chúng, đã gây nên bao nhiêu đau buồn cho người Nga và bao nhiêu nỗi lo lắng cho chính quyền xô-viết chúng ta. Các bác sĩ ở đây nói là chị mồ cho tôi khéo lắm và tôi có thể còn có hai ngón tay, vì vậy tôi xin cảm ơn chị. Xin lỗi đã bắt chị phải đọc thư, rất có thể là chị cũng không mong gì nhận được thư cua tôi. Vả lại cũng không phải chính tôi viết đâu mà là một đồng chí bạn, cũng là chiến sĩ công binh, trung sĩ A-li-ô-sin, đồng chí ấy gửi lời chào chị, tôi viết tay trái hiện nay còn khó khăn. Tôi có nhớ lại cỗ xe ngựa ngộ nghĩnh của chúng ta, nhớ lại sự săn sóc và đối đãi thân mật của chị trong những ngày ở trạm cấp cứu, ở đó trên cương vị một người xô-viết, chị đã cứu chữa cho thương binh của Hồng quân và của Hạm đội chúng ta. chị chiếm lấy Béc-lin thật nhanh đi nhé và quay về đây đi, ở đây đang cần người, hiện nay ruộng chưa gieo mạ xong, và lũ trẻ con thì gầy yếu lắm, vì vậy người ta cũng cần đến bác sĩ. Thôi nhé, tôi xin chị chuyển giúp lừi hỏi thăm tới đồng chí thiếu tá Lu-ben-xốp và xin thành thực chúc chị hạnh phúc.

        Chân thành kính mến chị


Hạ sĩ CA-LÍT-XTƠ-RÁT       

        Lá thư ấy làm Ta-nhi-a cảm động và những dòng chữ cuối cùng của người viết nhờ hỏi thăm Lu-ben-xốp làm cho chị đau nhói trong lòng. Chị vẫn không thể nào quên được người trinh sát ấy. Tư cách, những câu nói, những cử chỉ và nụ cười của một con người mà chị tưởng rằng đã chết, đối với chị như thể hiện tất cả cái gì tươi đẹp, dũng cảm và trong sạch của những con người xô-viết.

-------------------
        I. Tức Ta-nhi-a — N.I).


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Tư, 2018, 07:57:36 pm
        
XIV

        Sau lần đi kiểm tra các sư đoàn ngày hôm trước cuộc tiến công, đồng chí đại diện Hội đồng quân sự đã trở về nhà: đồng chí đã ấn định gặp một nhóm sĩ quan vào lúc 5 giờ 30 phút.

        Đồng chí tới bộ tham mưu lúc 3 giờ. Vừa nghiên cứu tập giấy từ công văn chất đống lại trong một ngày qua, trung tướng Xi-dô-crư-lốp chốc chốc lại vừa liếc nhìn chiếc đồng hồ tròn to màu đen để trước mặt, gần lọ mực.

        Cuối cùng, chiếc kim ngắn xích gần tới con số 5 và chiếc kim dài tới gần con số 12.

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp đứng dậy, đi đi lại lại trong gian phòng. Phút này, trên mặt trận, trong khu đầu cầu, đợt pháo bắn chuẩn bị bắt đầu.

        Ở đây, trong bộ tham mưu cách xa mặt trận, im lặng bao trùm. Đâu đó có tiếng lách tách của những chiếc máy chữ. Tiếng nói của nhân viên bộ tham mưu, tiếng nói điện thoại từ những chiếc cửa sổ tầng dưới nhà vọng lên.

        Một đội tuần tra đi qua, tiếng gót giày nện đều đều trên sàn gỗ.

        Đồng chí đốc gác dừng lại gần chòi canh, hạ lệnh thay phiên. Đồng chí chiến sĩ đến thay phiên bước tới trước mặt đồng chí được đổi gác thì dừng lại, rồi quay một nửa vòng, đứng nghiêm, súng cầm tay. Đồng chí được thay phiên vác súng, rảo bước rời chòi gác và nối vào sau tiểu đội. tiểu đội kéo đi xa hơn nữa, tới chòi gác tiếp theo. Tiếng giày đóng cá sắt khẽ dần.

        Năm giờ sáng. Trời trong nhưng màu trời chưa xanh, sương mù bay khap mọi ngả đường.

        Xi-dô-crư-lốp đứng bên cửa sổ, lắng tai nghe... Đồng chí có cảm giác nghe thấy một tiếng ì ầm xa xa giống như tiếng sóng vỗ bờ. Nhưng có lẽ là tiếng gió thổi.

        Các sĩ quan được đồng chí đại diện Hội đồng quân sự gọi tới đang ngồi đợi ở buồng ngoài, ngủ gà ngủ gật trên những chiếc ghế bành lớn êm như ru. Có tiếng ai tuyên bố là trên mặt trận đã "bắt đầu”, tức thì họ đứng vụt dậy, bước đến sát bên những chiếc cửa sổ mở rộng. Bên ngoài, một buổi bình minh mờ sương. Dưới đường phố một đội tuần tra lại tới đổi gác.

        Các sĩ quan lại ngồi xuống nhưng thôi ngủ gà ngủ gật; họ bắt đầu nói chuyện với một giọng bình tĩnh nhưng cảm động. Theo mệnh lệnh đặc biệt, cách đây một tuần, cấp trên đã rút họ từ các đơn vị chiến đấu về đây, và nay cấp trên bắt họ phải chờ đợi và phải trả lời đủ các loại câu hỏi. Đồng chí đại tá, sĩ quan tùy tùng cua Xi-dô-crư- lốp, mở cửa nói :

        —  Mời các đồng chí vào.

        Nghe tiếng chân người, trung tướng quay lại, gật đầu đáp lễ và mời các sĩ quan ngồi.

        Buổi nói chuyện bắt đầu và càng ngồi lâu, các sĩ quan càng ngạc nhiên.

        Những câu hỏi của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự cũng hơi khác thường. Đồng chí hỏi han về sự giáo dục về Đảng và công tác Đảng của mỗi người trong bọn và hỏi họ đủ các vấn để về lịch sử nước Đức, có thể nói là một cuộc sát hạch. Hồng chí hỏi một trung tá về hoàng tử Bít-xmác1 và vấn đề thống nhất nước Đức. Trước câu hỏi này, đồng chí trung tá hơi bối rối trả lời rằng đối với Bít-xmác, về mặt đại diện cho giai cấp địa chủ phong kiến, đồng chí không tán thành ; còn như về vấn đề thống nhất nước Đức, đồng chí thấy hình như đó là một hành động tiến bộ.

        Trung tướng chăm chú nghe trả lời, đồng chí theo dõi kỹ lưỡng nét mặt của từng người. Tuy rằng đây là những cán bộ chỉ huy xuất sắc, những sĩ quan chính trị, và có cả một đồng chí là thiếu tướng, nhưng họ vẫn thấy buồn nản. Tuy hết sức kính trọng đồng chí đại diện Hội đồng quân sự, họ vẫn thấy bực mình khi nghĩ rằng trong những ngày lịch sử này người ta lại rút họ từ các đơn vị của họ về đây. Bây giờ còn có việc gì quan trọng hơn việc tác chiến ?

        Sáu giờ, đồng chí sĩ quan tùy tùng bước vào phòng, báo cáo với trung tướng :

        — Các đồng chí phiên dịch đã có mặt.

        Trung tướng bảo dẫn họ vào.

        Chừng hai chục thiếu úy bước vào, quần áo mới toanh, đầu đội mũ lưỡi trai thời bình có viền đỏ, của bộ binh. Trong nhóm này có cả một số thiếu nữ.

        Đó là những đồng chí phiên dịch quân đội vừa tốt nghiệp khóa học, đáp máy bay từ Mát-xcơ-va tới. Trông thấy trung tướng và các sĩ quan, họ đứng nghiêm theo tư thế quân sự. Nhưng búp tóc quấn của các thiếu nữ thò ra ngoài mũ nồi, phất phơ theo làn gió mát đang từ những khung cửa sổ mở rộng ùa vào. Toán thanh niên này tới, mang vào phòng làm việc của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự một không khí mát rượi.

-------------------
        1. Một nhà cầm quyền Đức 1815 — 1898. Là một người đã thống nhất nước Đức.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Tư, 2018, 08:51:51 pm

        Trung tướng tuyên bố:

        — Các đồng chí, những đồng chí mà tôi đã chọn và danh sách sau nay sẽ công bố với các đồng chí, được chỉ định là tư lệnh hay phó tư lệnh quân sự ở nhiều tỉnh và nhiều địa phương nước Đức. Danh sách nhân viên của bộ tư lệnh đã được phê chuẩn sau này sẽ giao cho các đồng chí. Các đồng chí phiên dịch đây sẽ được phân phối về các bộ tư lệnh đó. Cơ quan dân chính đang chọn người cộng tác với các đồng chí. Nhiều nhiệm vụ mới đặt ra trước mắt các đồng chí, khác với những nhiệm vụ trước kia là những nhiệm vụ của thời chiến. Các đồng chí sẽ phải lập lại trật tự và an ninh ở mọi nơi. Tổ chức việc tiếp tế cho nhân dân lao động Đức, phân phối các chuyến hàng lương thực. Đi đôi với việc phát giác và tống giam những phần tử phát xít tích cực, các đồng chí hãy dùng mọi biện pháp khuyến khích những sáng kiến của nhân dân Đức, giúp đỡ các đảng phái dân chủ hoạt động và góp sức xây dựng lại các công đoàn. Theo truyền thống xô-viết của chúng ta, các đồng chí hãy đặc biệt trông nom đến vấn đề lương thực cho thiếu nhi. Các đồng chí đã gần thành sĩ quan thời bình rồi đấy. Anh em khác sẽ kết thúc chiến tranh. Các đồng chí tiến hành xây dựng cuộc sống hòa bình.

        Đồng chí hỏi xem ai có ý kiến gì không. Một thiếu tá, đã đứng tuồi, để nghị xin rút khỏi nhiệm vụ công tác mới và cho về đơn vị cũ.

        Trung tướng hỏi:

        — Lý do?

        Trán đồng chí thiếu tá lấm tấm mồ hôi. Đồng chí nói:

        — Tôi thấy hình như tôi không có đủ nghị lực để thi hành chính sách nhân đạo đối với người Đức. — Đồng chí ngừng lại, đợi xem đồng chí đại diện Hội đồng quân sự trả lời như thế nào, nhưng đồng chí Xi-dô-crư-lốp vẫn im lặng và thiếu tá lại phải tiếp tục trình bày: — Bọn Đức đã giết đứa con trai của tôi... — Đồng chí đại diện Hội đồng quân sư vẫn im lặng — Đứa con độc nhất. Tôi là người Lê-nin-grát. Tôi đã biết hết mọi chuyện ở đấy... Trận bao vây... Những xác chết trên sông Nhép-xki.

        Thiếu tá ngừng lại. Không khí im lặng căng thẳng đến nỗi nghe thay tiếng thở dài của một thiếu nữ.

        Đồng chí đại diện Hội đồng quán sự dằn giọng nói nhỏ :

        — Quan điểm hẹp hòi của giai cấp tư sản!

        Không khí im lặng căng thẳng hơn, bởi vì nói thực ra không một ai lại ngờ trước tới sự xoay chuyển của câu chuyện và người ta cũng không nỡ trách đồng chí thiếu tá về vấn đề từ chối công tác.

        Đồng chí đại diện Hội đông quân sự tiếp tục nói:

        — Chúng ta không thể quên được những tội ác của chủ nghĩa phát xít và chúng ta cũng không cho phép một ai được quên những điều đó. Chúng ta không phủ nhận trách nhiệm của nhân dâu Đức. Nhưng chúng ta không thể lầm lẫn nhân dân Đức với bon phát xít được. Điều đó qua bài diễn văn của đồng chí Xta-lin, đồng chí đã biết và như vậy không thể tha thứ được, rằng là đảng viên, đồng chí đã không triệt để chấp hành chỉ thị của Đảng, và là quân nhân, đồng chí đã không chấp hành mệnh lệnh của đồng chí Tổng tư lệnh. Vấn đề này đồng chí hãy nghĩ cho kỹ và sáng mai báo cho đồng chí sĩ quan tùy tùng của tôi biết quyết định cuối cùng của đồng chí để chuyển cho tôi.

        Chuông điện thoại réo. Trung tướng cầm máy nghe một lức và nét mặt đồng chí dịu đi. Đồng chí còn khẽ mĩm cười và qua nụ cười đó để lộ ra sau đôi môi cương nghị, một tấm lòng độ lượng rất kín đáo.

        — Dải phòng ngư thứ nhất của quân Bức đã bị phá vỡ — đồng chí vừa đặt máy xuống vừa nói, rồi sau đó cho các sĩ quan giải tán.

        Còn lại một mình, đồng chí đưa mắt lơ đãng nhìn ra phía cạnh bàn, ở đó có đặt một chiếc phong bì lúc nãy đồng chí không để ý thấy. Chắc là đồng chí sĩ quan tùy tùng lúc vào đây đã lặng lẽ để ở đó.

        Bên ngoài đã có nhiều người khác theo lệnh đồng chí đại diện Hội đồng quân sự gọi tới hay tự tìm đến có việc, đang ngồi đợi. Trong số này có sĩ quan đơn vị chiến đấu, sĩ quan hậu cần, sĩ quan chính trị. Trung tướng lần lượt tiếp họ. Thỉnh thoảng đồng chí lại nói chuyện bằng điện thoại với đồng chí tư lệnh phương diện quân đang ở trên đài quan sát. Đồng chí này cho biết trận tiến công đang phát triển thắng lợi, nhưng bọn Đức vẫn kháng cự một cách tuyệt vọng. Chúng đã tập trung một số lớn pháo binh và khá nhiều xe tăng. Máy bay đối phương liên tục bắn phá các vi trí quân ta và cơ quan hậu phương sát gần.

        Giữa những lúc nói chuyện như vậy, trung tướng lại nhìn thấy chiếc phong bì và nghĩ thầm: " Không có bức thư kia ở đấy mà lại hay... ”

        Nhưng lá thơ vẫn nằm đấy, nó bắt buộc phải chú ý tới và phải trả lời.

        Cố trấn tĩnh, trung tướng xé phong bì.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Tư, 2018, 06:55:38 pm

        Vợ đồng chí viết:

        "Anh yêu quí, từ mấy tuần nay, em cũng không hiểu vì sao, em rất lo cho con trai chúng ta. Trước kia nó cũng ít viết thư đấy, nhưng bây giờ thì lại chẳng có lấy một chữ của nó. Cả đến anh cung bặt tin và không gọi điện thoại cho em. Em biết là anh lại sắp giận em lúc nào cũng phàn nàn, anh tha lỗi cho em nhé. Tất nhiên, em biết là các anh đã bắt đầu tiến công và bây giờ các anh không có thời gian rỗi rãi để viết thư. Nhưng em lo lắm, nhất là từ mấy hôm gần đây. Hôm qua em đã gọi điện thoại đến Bộ quốc phòng và tới gặp đồng chí A-lếch-xan-đrơ Xê-mi- ô-nô-vích. Đồng chí ấy đã có lòng tốt cho đánh xe đến đón em đi. Kể cũng bậy, chắc thế, chắc là em tưởng tượng nhưng em thấy hình như đồng chí nói với em một cách khác lắm. Đồng chí ẩy không nhìn em và em hỏi thì trả lời một cách, nếu không phải là trái khoáy thì cũng là không ra đâu vào đâu cả. Em có xin phép gọi dây nói ở buồng đồng chí ấy cho anh, nhưng đồng chí ấy bảo là anh đang di chuyển nên không có liên lạc bằng điện thoại. Sau đó đồng chí ấy cho gọi người vào, trong đó có đến chục đồng chí cấp tướng và em thấy hình như, anh đừng trách tính hoài nghi lam cam của một bà già nhé, là đồng clií ấy cố tình làm như vậy để khỏi phải nói chuyện với em ấy. Nói chung, tất cả các bạn của anh, mà các anh ấy rất tốt, trước thường hay đến thăm em và gọi điện thoại cho em thì gần đây cũng rất ít tới.

        Em van anh, anh biên cho em biết sức khỏe của Ang- đri-út-sa. Em không chịu được nữa rồi.”

A-NHI-A       

        Lẽ ra phải trả lời như thế nào đó, nhưng đồng chí chẳng nghĩ ra được một ý nào, và đã bao nhiêu lần rồi, Xi-dô-crư-lốp lại tự nhủ: " Không, việc này cần suy nghĩ kỹ, không thể viết thư thế này được, giản đơn như thế thôi...”

        Đồng chí kéo tập hồ sơ để nghị khen thưởng lại gần. Lướt đôi mắt lơ đãng trên những hồ sơ ấy, đồng chí đọc được những chiến công của các chiến sĩ bộ binh, xe tăng, pháo thủ và phi công. Qua những dòng chữ vắn tắt và thường không cụ thể ấy, trung tướng tưởng tượng tất cả nhịp đập liên tục của cuộc sống chiến đấu. Tên, họ trong hồ sơ gợi lên trong trí nhớ đồng chí một hình ảnh lờ mờ về những người mà đồng chí đã thoáng thấy, những khuôn mặt đồng chí đã nhìn thấy đi qua trên những nẻo đường mặt trận, trong những gian hầm tối tăm và dưới những túp lều dựng bằng cành lá.

        Chốc chốc đồng chí lại gặp những tên quen quen. Cra-xi-cốp. Được để nghị tặng huân chương Cu-tu- dốp hạng hai vì thành tích trong chiến dịch An-đam: "Đồng chí đã dẫn đầu tiểu đoàn tiến công...” Cương vị không đúng với một sĩ quan tham mưu giỏi, không cần phải vì đó mà lại tặng huân chương của cán bộ chỉ huy.

        Huy chương "vì lòng dũng cảm” thì có thể được nhưng huy chương đó lại chỉ để tặng cho cấp đại đội hay tiểu đoàn thôi. Nhất là thành tích đó lại lập được trong đêm 20 tháng 3, lúc mà về căn bản trận đánh đã giải quyết xong và bọn Đức chỉ còn để lại ở An-đam một lực lượng yếu ớt.

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp không ký, đặt bản đề nghị sang một bên. Trung tướng rất ghét lối hành động vô giá trị, vô mục đích của một số thủ trưởng cao cấp, lẽ ra phải bình tĩnh và suy nghĩ chỉ huy toàn bộ trận đánh thì lại đi lao lên tiền duyên một cách vô ích — chẳng qua đó cũng là một kiểu thiếu trách nhiệm ngụy trang dưới tinh thần dũng cảm cá nhân. Nhưng nguyên nhân không phải là ở vấn đề tinh thần chiến đấu mà là do thiếu năng lực chỉ huy và còn có thể là một khuynh hướng trốn tránh thi hành những nhiệm vụ khó khăn nhất, nặng nề nhất.

        Xư-đô-crư-lốp rất không hài lòng về tư cách của Cra-xi-cốp trong thời gian gần đây. Trung tướng cảm thấy hơi lo ngại, đầu tiên dựa trên từng mẩu cảm giác lẻ tẻ. Dần dà về sau, càng biết được thêm nhiều tài liệu mới, trung tướng càng thấy rõ là trong công tác, Cra-xi-cốp không có tinh thần trách nhiệm vì còn mải mê với những công việc chắc chắn hoàn toàn cá nhân.

        Vốn quen tính quyết định một cách chắc chắn, Xi- dô-crư-lốp chưa đả động gì đến chuyện ấy lúc này; đồng chí để theo dõi thêm. Một nguyên tắc từ xưa của đảng là người có lỗi phải được nói. Mà hiện nay đồng chí đại diện Hội đồng quân sự không có thì giờ giải quyết việc đó. Hơn nữa, nói cho đúng ra thì trong giờ phút vô cùng trang nghiêm này, trước ngày chiến thắng, đồng chí không muốn bận tâm với những việc nhỏ nhen.

        Trung tương đã quyết định là "hãy để vấn đề này tới một thời gian sau — Cho đến khi kết thúc chiến tranh. Bốn bề hoàn toàn tĩnh mịch và trung tướng có cảm tưởng như quang cảnh tĩnh mịch ấy là vì toàn thế giới đang nín thở, chăm chú theo dõi tiếng ồn ào của trận đánh đang diễn ra trên ấy, bên kia sông Ô-đe.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Tư, 2018, 08:08:03 pm
 
        Trung tướng nghĩ tới các chiến sĩ, các sĩ quan mà vừa mới hôm qua đồng chí đã gặp và nói chuyện với họ. Giờ đây những con người ấy đang xung phong vào các công sự của quân Đức. Các bí thư Bảng và hàng vạn chiến sĩ khác đang tiến về Béc-lin miệng thét vang những lời chiến thắng: " Vì Tổ quốc, vì Xta-lin! ” Đúng như vậy, Xta-lin đã lo liệu đủ đường để cho họ có thể chiếm lĩnh thủ đô của quân địch với mức độ tổn thất thấp nhất. Cấp trên đã đặc biệt căn dặn các đồng chí Tư lệnh phương diện quân không được dè sẻn hỏa lực, phải quan tâm đến các chiến sĩ và phải dùng tất cả uy lực của khối phương tiện tập trung ở đó, khối phương tiện mà bộ Tổng tư lệnh đã cung cấp cho các tập đoàn quân có nhiệm vụ đánh chiếm Béc-lin, để đè bẹp mọi hỏa điểm của quân Đức.

        Cũng như hàng chục vạn các chiến isĩ khác trên khắp các mặt trận, trung tướng Xi-dô-crư-lốp đang nghĩ đến Xta-lin. Trong giờ phút này đây, một trong những sự nghiệp lớn lao nhất trong cuộc đời vĩ đại của người thầy dạy và lãnh tụ của nhân dân đang được hoàn thành.

        Trung tướng Xi-dô-crư-lốp hiểu rất tường tận kế hoạch Xta-lin trong chiến dịch Béc-lin. Đồng chí được biết rằng bản kế hoạch đó đã được đồng chí Xta-lin phỗ biến hết sức rõ ràng trong hội nghị các đồng chí tư lệnh phương diện quân tại điện Cremdi. Để thực hiệu kế hoạch nầy, thời gian qua, cấp trên đã lợi dụng đêm tối chuyển lên nhiều lực lượng quan trọng, pháo binh, nhiều trung đoàn không quân đã tới những cần cứ mới. Từ những công xưởng tối tăm, trong tiếng sắt chạm nhau lách cách, nhiều đoàn xe tăng và pháo tự hành mới đã được tung ra; nhiều xe vận tải dời khỏi dây chuyển sản xuất và tiến ra những chiếc sân rộng, tới những toa phẳng đang đợi trên đường ray. Trong những xưởng quân trang, chị em phụ nữ cắt dạ xám may áo "ca-pổt” quân sự, Ở hậu phương, các đơn vị quân trù bị đã được tổ chức thành nhiều đại đội tiến ra bổ sung cho các sư đoàn đang tham gia vào cuộc tiến đánh Béc-lin.

        Hàng chục vạn con người đang làm việc để thực hiện kế hoạch Xta-lin về chiến dịch cuối cùng của cuộc chiến tranh này, một điều mà chính họ cũng không ngờ tới, vì bốn chữ "bí mật quân sự” nghiêm khắc đã làm cho họ không biết tới mục đích cụ thể của công việc họ làm.

        Và khắp nơi nơi, đôi mắt của Xta-lin, đôi mắt bình tĩnh và chăm chú theo dõi đã soi rọi tới những chi tiết có tới ngàn vạn của công cuộc chuẩn bị này, của công trình lao động vĩ đại của hàng triệu con người. Việc chế tạo một chiếc máy bay khu trục bay nhanh, cỡ nòng một khẩu pháo mới, chiến thuật của đại đội bộ binh và nghệ thuật quân sự của các đồng chí tư lệnh phương diện quân, tình hình chính trị trên trường quốc tế và việc cung cấp bánh mì, thuốc lá cho các chiến sĩ, tất cả những vấn đề đó đều được đồng chí Tổng tư lệnh chăm lo tới.

        Mỗi lần có dịp gặp Xta-lin, đồng chí Xi-dô-crư-lốp luôn cảm thấy một niềm kính yêu, biết ơn và một nỗi ngạc nhiên bất ngờ hết sức sâu sắc. Thật vậy làm sao mà không ngạc nhiên trước những nhận xét vô cùng sáng suốt về nhiều mặt, trước những quyết định táo bạo của Xta-lin ! Xta-lin có năng khiếu ít ai sánh kịp, tìm thấy trong mỗi vấn đề đặt ra trước mắt những khía cạnh mới mà bất ngờ, nhưng cuối cùng chính lại là những khía cạnh quan trọng nhất, quyết định nhất. Và mỗi khi đồng chí nghiên cứu, phân tích không nể nang một vấn để gì thì tất cả trở nên rõ ràng, dễ hiểu và vấn đề nào rắc rối nhất cũng hình như là được một bó đuốc sáng rực rọi chiếu.

        Học tập sao cho bằng Xta-lin, học tập nghệ thuật lãnh đạo của đồng chí, đó là nguyện vọng của đồng chí Xi-dô-crư-Iốp và những người khác, những cán bộ cao cấp cũng như những chiến sĩ thường của Đảng.

        Đêm khuya, Xi-dô-crư-lốp lên đài quan sát, tới chỗ đồng chí tư lệnh phương diện quân và ở lại đó mấy ngày. Trong thời gian này, chiến sự đã phát triển nhanh chóng.

        Trước những sư đoàn xô-viết lao về hướng Béc-lin, tập đoàn quần thứ 9 do tên tướng lục quân Buýt-xơ chỉ huy vừa chiến đấu vừa lùi. Tập đoàn quân này gồm có quân đoàn s.s. chuyên đánh rừng núi dưới quyền chỉ huy của tên Obergruppenfuhrer1 s.s. Cơ-len-hoóc-xtéc-cam, quân đoàn thiết giáp thứ 11 dưới quyền chỉ huy của tên Obergruppenfuhrer s.s. Gioóc-ken quân đoàn thiết giáp thứ 56 và quân đoàn 101, tổng cộng tất cả trên dải phòng ngự một 16 sư đoàn và vô số những tiểu đoàn lính trù bị, cảnh sát, bảo an, thợ thuyền, công binh và volkssturm2 để tăng viện cho các sư đoàn thê đội 1 đã bị tổn thất nặng nề và đang lùi dần trước sức tiến công của bộ đội xô-viết. Bộ tư lệnh quân Đức đã liên tiếp túng vào chiến đấu sư đoàn cơ giới s.s. thứ 23, sư đoàn cơ giới s.s. thứ 11, sư đoàn thiết giáp "Muyn-sơ-béc”, sư đoàn cơ giới "Quyếc-mác”, sư đoàn bộ binh 156, các sư đoàn cơ giới 18, 25 và một đơn vị chống tăng " Hitlerjugend ”3. Sư đoàn huấn luyện không quân thứ nhất của tên tướng không quân Im-me đã được chuyển thành một đơn vị bộ binh và ném vào trận đánh. Tổng cộng tất cả những đơn vị Đức phòng thủ Béc- lin có tới gần năm chục vạn quân.

        Các sư đoàn xô-viết tiến công liên tục các trận địa phòng ngự của địch.

        Đếm sao cho hết những trận địa ấy ! Không nhìn thấy chỗ nào là trận địa cuối cùng ! Quân Đức đã đảo lộn tất cả mọi nơi trong vùng, bố trí dày đặc những bãi mìn, và những hàng dây thép gai lởm chởm. Nhiều lũy chướng ngại làm bằng những cây táo đang ra hoa chắn ngang đường cái.

        San khi chọc thủng được ba trận địa mạnh của địa đới phòng ngư thứ nhất, bộ đội ta tiến tới địa đới phòng ngự thứ hai nằm dài ở phía nam và phía đông-nam thành phố Ri-e-den, chạy qua Quy-néc-đoóc và dãy đồi Xi-lô. Địa đới này mạnh gấp bội và mật độ hỏa lực dày hơn địa đới sông Ô-đe. Nó dựa vào con sông Phri-ét- lan-đe, kênh đào Quáp-pen-đoóc và các điểm cao Xi-lô phòng ngự kiên cố.

        Tới đây bước tiến của quân ta chậm lại, tình hình đó được báo cáo về Bộ Tổng tư lệnh.

        Lúc đó, đồng chí Tổng tư lệnh cho thực hiện phần hai của kế hoạch. Đồng chí hạ lệnh cho phương diện quân U-cren thứ nhất đang tiến công dưới phía nam, chuyển một phần lực lượng đánh thọc vào cửa ngõ phía nam của thủ đô Đức. Đồng thời đồng chí Xta-lin hạ lệnh cho phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi thứ hai bắt đầu hành động. Sau khi vượt qua sông Ô-đe, bộ đội của phương diện quân này đẩy lùi tập đoàn quân thứ ba của Đức và bắt đầu phát triển tiến công, yểm hộ mặt bắc cho phương diện quân Bi-ê-ỉô-rút-xi thứ nhất.

        Cuộc tiến công vĩ đại ào ạt, dẻo dai của ba mặt theo kế hoạch của vĩ tướng vĩ đại, ngày càng mở rộng, ngày càng lan ra, bao gồm cả ba tỉnh của Đức : Méc-clem-bua, Bran-đbua và Xác-xơ mà ở đó làn sóng cuồn cuộn của quân đội xô-viết đang tung bọt, gầm thét, lao lên phía trước.

-------------------
        1. Thủ lĩnh cao cấp binh đoàn.

        2. Một kiểu dân quân do bọn phát xít Đức tổ chức.

        3. Thanh niên Hít-le.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Tư, 2018, 04:43:06 am
        
XV

        Ngày thứ ba của cuộc tiến công, sư đoàn thiếu tướng Xê-rê-đa tiến về thành phố Ri-e-den, mà quân địch đã biến thành một pháo đài. Pháo đài Ri-e-đen là điềm mấu chốt của dải phòng ngự thứ hai của quân Đức trong khu vực này.

        Sau khi lội qua con sông-nhỏ Vôn-xin dưới lưới hỏa lực của địch, các chiến sĩ vấp phải sức kháng cự kịch liệt do hỏa lực từ bờ phía tây kênh đào Nơ-e bắn sang và một hỏa lực lướt sườn cánh trái từ trên con đường sắt bắn tới. Đến đây, thiếu tướng sử dụng trung đoàn thứ 3. Trung đoàn này, sau một đợt pháo bắn chuẩn bị ngắn, vượt qua kênh đào Nơ-e, bắt sống 200 tù binh với chừng ba chục khẩu pháo và súng máy, nhưng ngay sau đó trận tiến công phải dừng lại. Từ bờ phía kênh đào An-tơ và từ cứ điểm Bli-ét-đoóc kiên cố, đại bác và súng máy điên cuồng nhả đạn. Từ khu phía nam thành phố Ri-e-den đã nhìn thấy nhiều khẩu súng máy gần ngay đấy nấp trong các ngôi nhà liên tiếp bắn vào các chiến sĩ.

        Thiếu tướng gọi điện thoại phê bình trung đoàn trưởng đã tiến công chậm, rồi cùng đi với Lu-ben-xốp xuống trung đoàn. Sau khi vượt qua con kênh Nơ-e, bằng chiếc bè nhỏ, hai người tới bờ. Bờ sông lỗ chỗ những hố đạn pháo. Những khẩu súng máy của quân Đức bắn rát.

        Thiếu tướng nói:

        — Nằm xuống !

        Đây là lần thứ hai kể từ ngày công tác cạnh thiếu tướng, Lu-ben-xốp thấy đồng chí nằm xuống tránh đạn. Đồng chí nằm một lúc rồi quay lại phía Lu-ben-xốp nói:

        — Mình vội hoảng kể cũng hỏng. Hỏa lực kể ra cũng... là...— Đồng chí ngừng lại — Hay có lẽ chỉ vì thấy phải chết trước cửa ngõ Béc-lin cũng ghê ghê...

        Nói tới đây, đồng chí tự đấu tranh để đứng dậy và hai người lên tới đài quan sát trung đoàn. Ở đây, thiếu tướng hạ lệnh cho Lu-ben-xốp cùng với các quan sát viên pháo binh xác định chính xác hệ thống hỏa lực và các trận địa pháo của quân Đức. Khi các quan sát viên đã tập trung các tài liệu thu lượm được lại, thiếu tướng dùng vô tuyến điện liên lạc về đài quan sát sư đoàn và sau khi chỉ rõ những ô vuông, đồng chí bảo gọi máy bay tới.

        Đoàn máy bay xung kích lao tới bắn phá Bli-ét- đoóc. Sau trận "giã gạo” này, quân Đức nằm im một thời gian nhưng khi các chiến sĩ tiến lên, những khẩu súng máy của địch lại nhả đạn, tuy rằng số lượng có ít hơn trước. Chắc hẳn bọn Đức đã ẩn nấp cẩn thận.

        Thiếu tướng quyết định chờ đến tối để tổ chức một đợt tiến công ban đêm. Nhưng đột nhiên quân địch lại ngừng bắn.

        Đồng chí Xê-rê-đa ngạc nhiên giương ống nhòm lên : từ phía nam, hướng vào phía Bli-ét-đoóc, bộ binh xô-viết đang ùa vào như nước vỡ bờ. Đó là sư đoàn bạn đã chọc thủng phòng tuyến.

        Thiếu tướng vừa lẩm bẩm vừa lau mồ hôi mặt :

        — Tốt lắm, xin cảm ơn !

        Các chiến sĩ tiến lèn ; họ băng qua kênh đào An-tơ và thực hành chiến đấu ở cuối phía nam Ri-e-den.

        Khu ngoại vi thành phố được phòng ngư mạnh và chi chít những bãi mìn.

        Người ta chuyển đại bác tới bắn phá hoại các công sự quân Đức.

        Lu-ben-xốp cùng một số trinh sát viên đang ở dưới chiến hào với bộ binh. Buổi chiều, người ta dẫn lại cho anh một hàng binh vừa chạy vào khu vực một trung đoàn. Làm thế nào mà y đã vượt qua được những bãi mìn đó là điều mọi người đều chịu không hiểu. Dù sao thì y cũng đã bất ngờ xuất hiện trước bờ chiến hào của ta, hai tay giơ cao và nói bằng tiếng Nga:

        —  Tôi sang hàng.

        Đó là một hạ sĩ quan, tuổi không trẻ lắm, bộ mặt khắc khồ. Y bình thản và còn có đôi vẻ nghiêm trang trình bày rằng y là Uy-li Clau, hạ sĩ quan công binh và đã chỉ huy việc rải mìn khu vực nam thành phố.

Lu-ben-xốp nghiên cứu kỹ bộ mặt cương quyết và rắn rỏi này. Anh hỏi tên hàng binh xem trước khi vào lính, y làm nghề gì và thuộc đảng phái nào trước thời kỳ Hít-le lên cầm quyền. Clau là một thợ tiện, ra đời và đa sống ở Béc-ỉin, không đảng phái nhưng có cảm tình với cộng sản.

        Suy nghĩ một lát, y nói thêm rằng y chạy sang bên người Nga cốt để dẫn người Nga đi qua những khu vực không nguy hiểm.

        Y nói: — Cho bớt đồ máu!

Lu-ben-xốp cho gọi Ô-ga-nlie-xi-an, đồng chí này nói chuyện với tên hàng binh một hồi lâu. Cuối cùng Ô-ga-nhe- xi-an nói với thiếu tá cận vệ:

        — Thật kể cũng khó nói, nhưng hắn có vẻ là một người chân thực.

        Để Clau lại cho Ô-ga-nhe-xi-an và anh em trinh sát trông coi, Lu-ben-xốp tới gặp thiếu tướng và báo cáo tỉ mỉ với thiếu tướng và Plốt-nhi-cốp biết câu chuyện giữa anh và tên hàng binh Bức. Clau có vẻ là một người chân thực, và ý nguyện của anh ta là muốn tránh bớt đồ máu vô ích, ý nguyện rất tự nhiên ở trong hoàn cảnh hiện nay.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Tư, 2018, 09:27:32 am

        Thiếu tướng vẻ nghĩ ngợi, nói :

        — Có lẽ cũng không nên vì vậy mà mạo hiểm chăng ?

        Plốt-nhi-cốp mĩm cười nói:

        — Đây là một Xu-xa-nhin1 Đức chăng, đồng chí nghĩ sao?

        Lu-ben-xốp vừa nói vừa cười:

        — Xu-xa-nhin ấy à ? Không, theo tôi hình như đây là chuyện khác xa. Báo cáo thiếu tướng, nếu đồng chí cho phép, tôi sẽ thử làm xem sao.

        Thiếu tướng trả lời:

        — Được, cứ thử đi. Đội trinh sát và một đại đội bộ binh sẽ cùng đi với hắn. Đồng chí mang theo hai hay ba công binh. Đồng chí thỏa thuận với Xi-dức cho pháo yểm hộ. Dù sao đồng chí phải luôn cảnh giác, theo dõi hắn cho cẩn thận, cái lão ”Xu-xa-nhin” của đồng chí ấy...

        Sau khi thỏa thuận với pháo binh, Lu-ben-xốp cùng hai đồng chí công binh đi lên tiền duyên. Ở đây tối tăm và tĩnh mịch. Riêng chỉ có từ gian hầm mà các chiến sĩ đã tranh thủ đào gần chiến hào, một ánh lửa vàng lờ mờ hắt ra. Trong gian hầm này có Clau, Ô-ga-nhe-xi-an, đội trinh sát và đồng chí trung đoàn trưởng tò mò tìm tới đây.

        Lu-ben-xốp nói cho đồng chí đó biết mệnh lệnh của thiểu tướng: chỉ định một đại đội bộ binh đi công tác này. Lu-ben-xốp nói thêm :

        — Nếu không có gì trở ngại, đồng chí cho thêm một khẩu đại liên..

        Đồng chí trung đoàn trưởng rất quan tâm đến kế hoạch của đồng chí trinh sát nên trả lời là sẽ chỉ định đại đội khá nhất cua đồng chí. Dồng chí quay đi và ngay sau đó, một đồng chí tiểu đoàn trưởng do đồng chí chỉ định, tìm tới. Đó là một đồng chí thân hình vạm vỡ, vai rộng, hai huân chưưng " Cừ đỏ ” đính trước lồng ngưc nở nang.

        Đồng chí vừa nói vừa liếc nhìn Clau:

        — Bọn Đức dần dần cũng thông minh ra một chút.— Tiểu đoàn trưởng báo cho thiếu tá cân vệ biết đồng chí đã bảo cho đại đọi được chỉ định đi tập kích và chỉ lát nữa sẽ tới.

        Tiểu đoàn trưởng nói:

        — Tôi sẵn sàng muốn đi với các anh, nhưng trung đoàn trưởng không cho phép.

        Lu-ben-xốp thống nhất với các cán bộ pháo tới sau về tín hiệu bắt đầu bắn: một pháo hiệu đỏ, một pháo hiệu xanh.

        Hai giờ sáng, mọi việc đã sẵn sàng. Lu-ben-xốp vừa nói vừa đứng dậy:

        — Clau! anh có biết nếu anh lừa dối chúng tôi thì tính mạng anh sẽ thế nào không?

        Clau đứng dậy, nghe Ô-ga-nhe-xi-an dịch lại từng chữ một, câu hỏi của thiếu tá cận vệ và nói:

        — Jawohl2.

        Hắn có vẻ suy nghĩ nhưng bình tĩnh.

        Lu-ben-xốp gài hai quả lựu đạn vào trong áo choàng, ngụy trang, rút súng lục ra khỏi bao và hai người ra khỏi hầm.

        Trời đầy sao. Các trinh sát viên và chiến sĩ đại đội bộ binh đã ngồi xổm trong chiến hào.

        Đồng chí thượng úy chỉ huy đại đội báo cáo với Lu-ben-xốp rằng anh em đã sẵn sàng lên đường.

        Lu-ben-xốp hạ lệnh:

        — Các đồng chí bỏ lại đây tui dết, cà mèn và mọi thứ khác. Bây giờ các đồng chí không còn là bộ binh nữa mà đã trở thành trinh sát rồi.

        Anh em lẳng lặng vứt bạc đà xuống đáy hào.

        Lu-ben-xốp phổ biến cho họ thứ tự hành tiến. Anh hàng binh Đức sẽ đi đầu — các chiến sĩ quay lại nhìn y— sau anh ta là Lu-ben-xốp và tiếp theo sau đi hàng một là các đồng chí trinh sát rồi tới các chiến sĩ bộ binh. Đi tập hậu là chuẩn úy Vô-rô-nhin, người giúp việc Lu-ben-xốp. Mệnh lệnh của đồng chí đó cũng phải được chấp hành triệt để như mệnh lệnh của thiếu tá cận vệ. Hễ khi nào có một pháo sáng vọt lên không, mọi người phải nằm xuống, cứ nằm như vậy không động đậy và chỉ được đứng dậy khi nào có lệnh.

        Clau đưa mắt hỏi Lu-ben-xốp. Thiếu tá cận vệ gật đầu.

        Đoàn người chuyển mình, đầu tiên theo đường cái, sau đó rẽ sang trái băng qua các bụi rậm.

        — Không ai được rớt lại! — Lu-ben-xốp bảo Mi- tơ-rô-khin đi sau anh — Mi-tor-rô-khin truyền xuống!

        — Không ai được rớt lại.

        Bánh xe khẩu đại liên khẽ kêu cút kít.

        Clau quay lại phía Lu-ben-xốp, lấy tay chỉ xuống đất, Lu-ben-xốp hiểu ý: khắp xung quanh các mô đất, những quả mìn in hình thành những chấm đen lờ mờ.

        Clau bước chậm lại. Sau đó y dừng lại một lúc và lại tiếp tục đi với dáng điệu cương quyết, hướng về phía một ống khói nhà máy đang in rõ hình trên nền trời. Nhiều khẩu súng máy nổ giòn, và những viên đạn lửa vạch thành những tia lửa sáng rực vun vút trên không.

        Clau quay ngoắt sang phải:

        —  Leise!3

        Lu-ben-xốp bảo Mi-tơ-rô-khin:

        — Bước thật nhẹ! — đồng chí này truyền xuống:

        — Bước thật nhẹ!

        Mọi người đi theo một cánh ruộng khoai tây. Clau, chốc chốc lại dừng lại, ngồi thụp xuống để nhìn cho rõ, hắn ngước mắt từ dưới nhìn lên bóng những ngôi nhà nhỏ khu ngoại ô Phrăng-pho. Nhiều pháo sáng vọt lên không, tất cả nằm dán xuống mặt đất. Lu-ben-xốp ngẩng đầu lên nhìn mọi người đang nằm. Ở trên đầu họ, một ánh sáng xanh nhạt nhấp nháy chiếu xuống. Lúc này mọi người chỉ giống như nhưng mô đất xám nhưng Lu-ben-xốp vẫn ngạc nhiên thấy bọn Đức không nhận ra một tí gì.

        Quân địch chắc hẳn đã quá tin rằng những bãi mìn của chúng không ai có thể mò tới được và nếu như có một ai mạo hiểm mò tới thì mìn nổ sẽ lập tức giết chết anh chàng liều lĩnh.

        Khi pháo sáng đã tắt, mọi người lại tiếp tục tiến. Clau dừng lại, ngồi thụp xuống, bắt đầu sờ soạng tìm một vật gì dưới đất.

------------------
        1. Tên một nông dân Nga yêu nước — Trong lịch sử, khi quân Ba Lan tiến đánh Nga, ông nhận dẫn cho một đạo quân Ba Lan tiến về Mát-xccr-va. Nhưng ông đã lừa bọn xâm lược mà đưa chúng vào một khu rừng rậm. Ở đấy ông bị chúng giết. Nhưng cả đạo quân ấy cũng bị tiêu diệt.Đây có ý nói anh hàng binh đưa ta vào bẫy — N.D.

        2. Vâng, biết.

        3. Nhẹ nhàng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Tư, 2018, 03:07:06 am
   
        Lu-ben-xốp nói nhỏ :

        — Nằm xuống!

        Mi-tơ-rô-khin thì thầm nhắc lại:

        — Nằm xuống!

        Tất cả đã tới cuối cánh ruộng khoai tây. Bắt đầu đến các vườn rau ngập đầy một lớp cỏ hoang cao và mềm mại.

        Clau bò men theo ria vườn, chăm chú tìm kiếm một vật gì. Lu-ben-xốp theo sát anh ta không rời bước nào.

        Clau vẫn chưa thấy vật đinh tìm. Anh ta scr soạng lớp cỏ một cách thận trọng. Cuối ciing, anh ta nói nhỏ:

        — Hier1.

        Anh ta đã tìm thấy một con đường mòn cỏ mọc kín.

        Lu-ben-xốp hạ lệnh:

        — Tiến!

        Mi-tơ-rô-khin truyền xuống ;

        — Tiến!

        Lu-ben-xốp nói:

        — Nằm xuống!

        Mi-tơ-rô-khin truyền xuống:

        — Nằm xuống!

        Nhiều pháo sáng vọt lên không trung. Lần này bọn Đức xem ra đă để ý thấy. Một khẩu súng máy nổ. Một pháo sáng khác lại vụt lên. Một tiếng nổ. Có tiếng rên rĩ. Lu-ben-xốp rút khẫu súng tín hiệu trong áo ra bắn lên trời. Một pháo hiệu đỏ vọt lên trên đầu anh. Anh bắn phát thứ hai, một pháo hiệu xanh. Pháo binh ta lập tức hoạt động và Lu-ben-xốp thét to :

        — Tiến!

        Giọng anh vang lên khàn khàn. Anh nhắc lại mệnh lệnh và lao thẳng trên con đường mòn, kéo Clau chạy theo sau. Nhiều tiếng đạn nổ vang. Một ngôi nhà bốc cháy, rồi một ngồi nữa. Phía sau, các chiến sĩ thở hốn hền. Có tiếng Vô-rô-nhin nhắc lại rất khẽ.

        — Tiến lên, các đồng chí, tiến lên!

        Khác với anh em bộ binh, các đồng chí trinh sát vốn quen hành động ban đêm nên ít nhiều có bình tĩnh hom. Còn các đồng chí bộ binh nhốn nháo hô vang để động viên nhau.

        Dưới ánh pháo sáng, họ băng qua khu vườn rau và tới đâv, Clau thở dài khoan khoái và nói to:

        — Ende2.

        Hết các bãi mìn. Đại đội tản ra, vừa tiến vừa bắn tiểu liên, súng trường một cách lộn xộn.

        Họ nhảy vào những ngôi nhà đầu tiên. Bốn bề sáng rực nhưng lần này không phải là ánh pháo sáng của quân Bức — bọn bắn pháo sáng chắc đã bị giết chết hay đã bỏ chạy — mà ánh lửa các đám cháy do pháo hỏa của ta gây nên. Anh em trinh sát và Clau — lúc này người ta không cần giám sát anh ta nữa, anh ta đã gần trở thành một người bạn chiến đấu rồi — chạy theo sau.

        Các đại đội lần lượt chạy băng qua khu bãi mìn theo con đường của Clau đã hướng dẫn.

        Tảng sáng ta tiến công toàn diện. Một sư đoàn bạn tiến vào thành phố theo phía bắc. Đây đó xảy ra một vài trận giao chiến ngắn với bọn lính Đức nấp trong các nhà ở — Lu-ben-xốp dẫn đầu anh em trinh sát len lỏi qua những vườn rau, vườn hoa luồn mãi lên phía bắc. Tiếng náo nhiệt của trận đánh xa dần sau rồi im ắng hoàn toàn. Người ta nghe thấy xa xa tiếng còi ô tô và tiếng người nói ồm ồm.

        Anh em trinh sát nhảy qua một hàng rào vào một mảuh vườn nhỏ đầy cây ăn quả đang ra hoa. Họ ngồi xuống nghỉ dưới một giàn cây nhỏ. Lúc ấy Lu-ben-xốp để ý thấy một con đường đất đắp nổi giống như loại đê con trong những làng ven sông A-mua. Có vật gì động đậy trong con đường đất đó và một cái cửa gỗ nhỏ mở ra ' Anh em trinh sát lựu đạn trong tay chuẩn bị sẵn sàng. Một cái đầu rối bù nhô lên ngang mặt đất, đó là một chú bé mặt đầy tàn hương, tay ôm một con mèo. Chú ta nhìn xung quanh, như nghếch cái mũi nhỏ xíu lên đánh hơi xem co thật tiếng súng đã hết hay chưa, rồi the thé nói:

        — Alle8-ruhig3!

        Chú bé giống hệt như một chú bé Nga cũng chui ra khỏi con đê con.

        Chú không nhìn thấy đội trinh sát. Theo sát chú, một cụ già và một thiếu phụ chui ra khỏi hầm. Hai người theo sau chú bé, đi vào nhà và trông thấy toán người Nga, họ nhảy lùi lại sợ hãi. Lu-ben-xốp nhắc lại câu nói của chủ bé:

        — Alles-ruhig!

        Thật thế, bốn bề im ắng. Quân Đức đã ngừng chống cự.

        Dân chúng trong thành phố sợ sệt nhìn qua cửa sổ. Cuối cùng họ kéo ra đường phố, ngập ngừng nhìn cảnh vật xung quanh. Họ đi chậm chạp tới gần những bức tường có dán những bản thông cáo xô-viết. Trong bản thông cáo có ghi câu nói của Xta-lin: "Bọn Hít-le xuất hiện rồi diệt vong, nhưng dân tộc Đức, nước Đức tồn tại ”.

        Ngay đến bây giờ, sau tất cả những biến chuyển, những người Đức mỗi khi khẽ nhắc lại đoạn trên của câu nói ấy vẫn phải quay lại, sợ hãi, nhìn quanh để yên trí là không có tên "blockleiter4” nào đứng bên cạnh:

        —  Die Hitler kommen und gehen4.

        Trên các đường phố, những chiếc bếp lưu động của người Nga bốc khói. Các đồng chí cấp dưỡng mồ hôi nhễ nhại đang phân phát từng môi cháo đầy. Bọn trẻ vốn làm quen với tình thế mới nhanh hơn người lớn, chạy tới bếp trước tiên và các đồng chí cấp dưỡng chia cho mỗi đứa một môi cháo béo ngậy. Lát sau, lũ trẻ đã xếp thành hàng đứng đợi, tay cầm đĩa hay cà mèn.

        Một mục sư đi qua vừa quay lại nhìn hốt hoảng —  Ba hôm trước, ông ta đã đọc ở nhà thờ một bản tuyên thệ theo kinh bồn "...và Đa-vít6 sẽ dùng trùy đá đánh bại Gô-li-át7, quật ngã và giết chết Gô-li-át ”. Câu chuyện trùy đá là mục sư muốn ám chĩ thứ vũ khí mới bí mật mà trong những ngày gần đây, cơ quan tuyên truyền phát xít không ngớt lời huênh hoang ca ngợi.

        Giờ đây, sau khi tới trụ sở bộ tư lệnh về, mục sư đã được phép làm lễ cầu nguyện. Lúc ở nhà ra đi tới bộ tư lệnh, vợ lão ta khóc than và cầu nguyện tiễn lão ta đi. Chính lão ta cũng cảm thấy mình như một người tử vì đạo, bước lên đoạn đầu đài hy sinh cho lý tưởng cứu chúa. Nhưng lão ta lại không có dịp để trở thành một người tử vì đạo. Ông tư lệnh trưởng, một thiếu tá Nga rất lễ phép, đã mời mục sư uống trà.

        Ừ, phải tìm cho buổi lễ cầu nguyện này một bài khác, một bài khác hẳn mới được. Hay nhất là câu này đây: "...dân tộc chúng tôi như một đàn cừu lạc lối. Các mục tử đã lừa dối và đưa đàn cừu lạc vào núi...”

        Trong lúc ấy, các chiến sĩ Nga, sau khi nghỉ ngơi chốc lát, lại bắt đầu tiến về phía tây. Ra tới đường cái, họ được chứng kiến một cảnh tượng hiếm có. Một số tù binh Đức đang vây quanh thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp, chủ nhiệm trinh sát sư đoàn. Thiếu tá đang nắm chặt tay một người Đức mặc bộ quần áo xanh bạc màu cũng cáu ghét, mặt cũng nhiều lông lá như những người Đức khác. Họ lại càng rất ngạc nhiên khi thấy đồng chí chủ nhiệm chính trị, ngồi xe ô tô tới, xuống xe, tiến lại gần người Đức này và bắt tay anh ta cũng thật chặt và thân mật như vậy. Người Đức kia lẩm bẩm nói thật khẽ, mỉm cười cảm động; nếu không có bộ quân phục màu xanh rất đáng ghét, thì người ấy thật giống như một con người ưu tú nhất.

--------------
        1. Đây rồi.

        2. Hết rồi

        3. Yên cả rồi.

        4. Quản đốc một khu nhà ở.

        5. Bọn Hít-le xuẫt hiện rồi vong.

        6, 7. Theo kinh Thánh, Đa-vít vua xứ ít-xra-en (khoảng năm 1.000— 974 trước.công nguyên) đã hạ sát một lực sĩ tên là Gô-li-ăt bằng trùy đá.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Tư, 2018, 03:18:25 am

XVI

        Ngay sau khi các đơn vị đã phá vỡ những khu vực phòng ngự kiên cố của địch và tiến vào một địa phương tổ chức phòng ngự yếu hơn thì mọi điều kiện sinh hoạt thay đổi trong chớp mắt. Thời kỳ căng thẳng liên tục đến cao độ, lúc mà thần kinh bị kích thích tột bực và mỗi một dòng sông nhỏ tai ác hay một khu rừng nhỏ có bóng mát đều che giấu thần chết, đã nhường bước cho thời kỳ say sưa truy kích những đơn vị đối phương đã bị đánh bại hay đã tan rã.

        Xten-béc-ke Hai-đơ, một khu rừng rộng có nhiều loại cây là vị trí phòng ngự cuối cùng mà quân Đức đã kháng cự lại có tổ chức. Tại đây, đại đội đại úy Trô-khốp bắt được một số tù binh là những tên cảnh sát Béc-lin. Không thể nói được rằng bọn cảnh sát đã tổ chức kháng cự đặc biệt dẻo dai gì. Chắc hẳn chúng quen hành động đối với những người không có vũ khí nhiều hơn. Khi trung đoàn pháo tự hành đã phá vỡ phòng tuyến của chúng, chúng kéo nhau ra hàng từng đơn vị một.

        Những thi trấn ngày càng nhiều, ngày càng nhích lại gần nhau và cuối cùng biến thành một thị trấn chạy dài một mạch tuy mang nhiều tên khác nhau. Trong lúc các bộ tham mưu báo tin chiếm được Béc-nô, Buýt, Dô-péc- ních, Lin-đen-béc, Blăng-ken-buyếc thì các chiến sĩ chiếm lĩnh những thị trấn đó như một thị trấn kéo dài, đinh ninh là đã tới Béc-lin.

        Ngày càng nhiều triệu chứng tới gần một thành phố lớn. Đâu đâu cũng thấy nhiều cột dây điện cao thế sắp hàng dài nối tiếp nhau vô tận. Những chiếc cầu cạn, cầu qua sông, những sân ga xép ngoại ô, những khoảng đất lớn đầy các kho hàng, những chiếc tháp nước, những tiệm

        ăn "Béc-lin”, những biển quảng cáo của các hiệu buôn và của các báo chí thủ đô: tất cả đều chứng tỏ đã gần tới một thành phố khổng lồ. Và khắp nơi, tường gạch, bảng chỉ đường, tường xây quanh nhà kho, hiệu buôn, cầu qua sông và toa xe lửa và ngay cả đến mặt đường nhựa đều chi chít những chữ viết còn chưa ráo mực: ba chữ đủ các cỡ, to có, nhỏ có, viết bằng mực các màu đen, trắng, xanh, đỏ và bằng các kiều chữ gô-tích hay la-tinh :

        " Berlin bleibt deutsch1! ”

        Ba chữ ấy có nghĩa là người Nga sẽ không vào được Béc-lin vang lên như một lời cầu nguyện. Trong ba chữ ấy chứa đựng mối lo sự và nỗi điên cuồng bất lực. Kể ra đấy cũng là đề tài để vui cười nếu như các chiến sĩ có thời gian chú ý đến những khẩu hiệu.

        Quân Đức chặn ngang đường phố bằng cây cối, bằng những cột gang hàng rào, những xe ô tô hàng lật đổ xuống và những cọc chống tăng. Những khẩu súng cối đặt trong các khu vườn hoa, vườn rau nã vào các ngã ba, ngã tư. Các tổ ba-dô-ca nấp trong các gian hầm bắn vào xe tăng và pháo tự hành.

        Nhiều súng cối, pháo chống tăng và ba xe tăng được phối thuộc cho đại đội đại úy Trô-khốp. Đó là một điều dư dật trong những ngày chiến đấu quyết định này đối với một đại đội bộ binh thường mà được sử- dụng một hỏa lực yểm hộ mạnh như vậy.

        Binh nhất Xê-mi-gláp phấn khởi nói:

        —  Nếu trên phối thuộc cho chúng mình máy bay ném bom nữa thì chúng mình sẽ thành như một tập đoàn quân rồi còn gì!

        Trô-khốp bị thương nhẹ vào tay vì một mảnh lựu đạn nhưng anh phớt tỉnh coi như không. Cuộn băng đen bẩn rách tả tơi treo trên tay anh. Anh vác một khẩu trung liên và tự tay bắn: xạ thủ trung liên đã hy sinh và Trô- khốp không muốn giảm bớt hỏa lực của đại đội.

        Bị dồn vào những đường hẹp các phố, xe tăng và pháo tự hành bị tổn thất vì hỏa lực của các tổ ba-dô-ca nấp trong các gian hầm. Sau khi lấy ý kiến các chiến sĩ xe tăng, Trô-khốp quyết định dùng chiến thuật sau đây: xe tăng sẽ chịu trách nhiệm phía trên, bắn vào những kho thóc và tầng gác trên trong đó có bọn xạ thủ súng máy và xạ thủ tiểu liên của địch. Các chiến sĩ trong đại đội có nhiệm vụ tiêu diệt bọn ba-dô-ca — bọn đánh xe tăng của quân Đức — trong những gian hầm và tầng nhà dưới.

        Chiến thuật đó đã được chứng minh là rất đúng.

        Các đường phố lần lượt lọt vào tay quân ta. Ở ngã ba, ngã tư, các chiến sĩ và các đồng chí công binh, dưới sư yểm hộ của hỏa lực pháo và xe tăng, dỡ các chướng ngại vật, sau đó xe tăng chụp một lưới lửa ác liệt vào những tầng gác trên, tiếp tục tiến lên. Trong lúc đó, bộ binh men sát theo chân tường nhét đầy lựu đạn vào các hầm và ngắm bắn chuẩn xác vào các ngả đường.

        Không một ai ngủ. Ngày và đêm lẫn lộn. Ban đêm ánh lửa các ngôi nhà máy và những chiếc pháo sáng rực lên như ban ngày. Ban ngày khói đen bịt chặt mắt lại.

        Mỗi khi có sức kháng cự kịch liệt ở một ngôi nhà lớn, Trô-khốp chạy tới các đơn vị pháo binh đang tiến theo đằng sau. Thế là các pháo thủ tiến lên dưới sự yểm hộ của hỏa lực bộ binh và xe tăng, đẩy tới ngôi nhà đó những khẩu pháo cỡ lớn, bắn trực tiếp vào tường nhà giống như những khẩu súng lục khổng lồ chĩa vào những trái tim đá.

---------------
        1. Béc-lin là của người Đức (khẩu hiệu cuối cùng của Hít-le).


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Tư, 2018, 04:08:44 am

        Các chiến sĩ của Trô-khốp đã quen thân với anh em các đội xe tăng. Trong những phút ngắn ngủi tạm ngừng chiến đấu, họ cùng ăn với nhau, trao đổi tâm sự với nhau về đời sống và cảm tưởng của họ đối với nước Đức. Cần phải nói rằng tình bạn chiến đấu đó đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc tiến công thắng lợi.

        Trước kia, đối với các chiến sĩ bộ binh thì xe tăng và pháo tự hành chỉ là một thứ vũ khí quan trọng, những trợ thủ đắc lực trong chiến đấu. Giờ đây, đã quen biết những người điều khiển những phương tiện thép ấy, các chiến sĩ thấy mến yêu nồng nàn các đồng chí đó. Trong lúc thanh toán bọn lính ba-dô-ca Đức, Xli-ven-cô và các đồng chí của anh hiểu rằng, ngoài những kết quả khác, mình đã bảo vệ tính mạng cho Đmi-tơ-xi hay Mi-chi-a, một chàng thanh nien lầm lì người tỉnh Xvéc-lốp, cho Páp-lút-sa, tay xạ thủ của xe tăng, một người dân Mát-xcơ-va nhanh nhẹn và hay pha trò. Đó quả là một sự hiệp đồng chặt chẽ. Trước những chuyển biến sục sôi ấy, đại úy Trô- khốp vẫn luôn luôn thả mình theo những ý nghĩ thầm kín. Cuối cùng anh thấy phải thổ lộ với Xli-ven-cô. Một hôm gọi riêng đồng chí thượng sĩ ra một chỗ, Trô-khốp chỉ cho anh xem tấm bản đồ Béc-lin, trên có đánh dấu bằng bút chì đỏ ngôi nhà Quốc hội Đức và các cơ quan chính phủ Đức trên đường phố Uyn-hem.

        Trô-khốp nói: Chúng ta phải tiến tới chỗ này đây. Giá mà tóm được Hít-le thì hay... Cái đó tất nhiên chưa biết chừng... Nhưng ít nhất chúng ta phải có điều kiện là vào được đó trước tiên.

        Xli-ven-cô cười tủm tỉm. Cuối cùng anh nói :

        — Vâng, đúng đấy nhưng biết đầu được là chúng ta sẽ tiến theo đường nào. Thành phố thì rộng...

        Trô-khốp đồng ý với anh nhưng vẫn cố chứng minh với anh rằng đơn vị đang tiến thẳng — có thể nói như vậy —, theo hướng mong muốn và cũng nên chuẩn bị sẵn một lá cờ đỏ, lá cờ chiến thắng để cắm lên đỉnh nhà Quốc hội Đức.

        Những biến chuyển trong mấy ngày sau đã xác định mối nghi ngờ của Xli-ven-cô. Trung đoàn, sau khi chiếm được nhiều vùng ngoại ô, lại tiến vào một thị trấn nông thôn có rải rác nhiều hồ ao. Béc-lin vẫn xa cách, chỉ riêng có pháo binh, bất cứ chỗ nào cũng có mặt, ở lòng khe, dọc đường cái, ven rừng, có thể nói là chỉ riêng có pháo binh là chiến đấu với Béc-lin. Các khẩu pháo bắn vào những mục tiêu mà Trô-khốp hằng mơ ước : Đoạn 105 và 153.

        Đoạn 105 chính là nhà Quốc hội Đức, đoạn 153 là dinh Quốc trưởng.

        Các pháo thủ thì say sưa phấn khởi, họ kiêu hãnh , nhìn bộ binh đang kéo qua trước mặt, đó là những anh chàng tay quá ngắn không với được tới chỗ mà pháo thủ có thể sờ được.

        Một chiến sĩ cao lớn đứng cạnh khẩu pháo khổng lồ chỉ còn như một chú bé, vừa điều khiển hàng chục chiếc cần, cứ mỗi lần bắn lại hét :

        — Này, phát này đến tận mõm Gơ-ben này !

           Một chiến sĩ khác, cằm nhẵn nhụi, đúng như một chú thiếu nhi cứ lấy phấn nắn nót viết nghịch lên các viên đạn đủ các khẩu hiệu như: " Tặng Hít-le A-đô món quà quý này”.

        Những khẩu lệnh mà các pháo thủ lúc này vang lên một cách trang trọng khác thường:

        — Toàn tiểu đoàn! Nhà Quốc hội Đức! sáu phát, bắn !

        — Sào huyệt bọn phát xít! độ hướng 47-20, thước tầm 25, bốn phát bắn gấp, bắn !

        Trô-khốp nhìn các pháo thủ tấp nập quanh các khẩu pháo, chuyển tới và đẩy vào nòng từng viên đạn bóng nhoáng và chỉ thiếu chút nữa là anh đã ghen tức với những viên đạn ấy, những viên đạn sau đây mấy giây sẽ phá tung một mảng tường nào đó của chiếc pháo đài cuối cùng của chủ nghĩa phát xít.

        Lát sau, không còn nhìn thấy trận địa pháo binh nữa. Con đường dẫn thẳng về phía tây qua những vùng ngoại ô sát nách Béc-Iin — Mệnh lệnh là như vậy. Trô- kbốp không khỏi phải ngạc nhiên.

        Đến chiều ngày 22 tháng 4, sau khi vượt qua chướng ngại của quân Đức, đại đội tiến đến một con sông.

        Ve-xen-tra-cốp hạ lệnh chuẩn bị qua sông. Các chiến sĩ tháo ủng, cởi áo ngoài, cuộn cả lại thành một bó.

        Một số pháo thủ tiến ra sát mặt nước!

        Xê-mi-gláp hỏi: — Các cậu yểm hộ bọn mình đấy à ?

        Một pháo thủ trả lời: — Tất nhiên, này các cậu đừng sợ gì nhé!

        Xê-mi-gláp kiêu hãnh đáp lại: — Ô bọn mình có sợ quái gì ? — tuy rằng anh cũng thấy hơi ngài ngại dòng sông tối tăm và lạnh lẽo mà anh em sắp phải vượt qua.

        Trô-khốp và đại đội anh phải bơi qua sông nhưng anh vẫn mặc quằn áo, đi ủng như lúc thường. Đôi ủng ngắn bằng da "bốt-cati” của anh kêu cọt kẹt. Anh cho rằng một sĩ quan không thể nào lại cởi quần áo được, anh rút thẻ đoàn viên thanh niên cộng sản và chứng minh thư trong túi áo, bỏ mũ và nhét lên vành mũ. Sau đó anh tháo quai mũ buộc chặt vào cằm.

        Các chiến sĩ ngồi trên bờ sông, thò chân xuống nước.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Tư, 2018, 07:00:17 am
     
        Đồng chí chuẩn úy nhắc nhở : cấm hút thuốc !

        Ngay sát bờ sông một đoàn người xuất hiện. Nhặn ra trong đó có thiếu tướng sư đoàn trưởng, Trô-khốp đứng dậy.

        Thiếu tướng cùng đi với Lu-ben-xốp, Mi-gai-ép và một số sĩ quan khác. Tất cả im lặng nhìn sang bờ sông bên kia. Bên đó tối tăm và yên tĩnh. Không một dấu hiệu gì chứng tỏ có quân Đức.

        Từ đằng xa, Trô-khốp nghe tiếng thiếu tướng hạ lệnh cho pháo binh về phướng pháp yểm hộ vượt sông. Sau đó, tiến đến gần chỗ bộ binh, nhìn những bóng người lờ mơ trong đêm tối, thiếu tướng hổi :

        — Bộ binh đã sẵn sàng chưa ?

        Trô-khốp dõng dạc báo cáo : — Báo cáo đồng chí thiếu tướng, đã sẵn sàng.

        Lợi dụng cơ hội thuận tiện, đại úy lại chỗ Lu-ben- xốp và hỏi nhỏ :

        — Chúng ta tiến về hướng nào vậy ? Béc-lin hầu như lùi lại phía sau rồi.

        Thiếu tá cận vệ mỉm cười nói :

        — Biết làm thế nào được ?

        Thì ra sư đoàn, sau khi vượt qua sông Ha-ven đã phải quay xuống hướng nam, dọc theo những khu ngoại ô phía tây Béc-lin tiến về hưómg Pốt-xđam. Các sư đoàn bạn cũng có nhiệm vụ như vậy : bao vây Béc-lin về mặt phía tây.

        Như vậy nhiệm vụ của các đơn vị này là thực hiện bước thứ ba của kế hoạch Xta-lin trong trận đánh Béc- lin: bao vây thủ đô nước Đức, trong lúc các chiến sĩ cận vệ của Xta-lin-grát, dưới quyền chỉ huy của tướng Giu-cốp, và các bộ đội xung kích của các tướng Cu-dơ-nhét-xốp và Béc-da-rin tiến công vào chính diện Béc-lin.

        Trô-kbốp không khỏi khâm phục kế hoạch bao vây và đánh chiếm thủ đô Đức vĩ đại như vậy. Đành lòng, anh buộc phải thừa nhận rằng những kế hoạch đầy tham vọng của cá nhân mình thật vô tích sự, nhỏ nhen bên cạnh ý nghĩa vĩ đại của nhiệm vụ chung.

        Đến 23 giờ, pháo binh bắt đầu bắn và theo hiệu lệnh đó, các chiến sĩ từ từ lội xuống dòng nước lạnh giá, tối tăm, và sâu thẳm đến nỗi như có the dùng dao cắt thành từng mảnh đen sẫm.

        Bất dưới chân hẫng đi, và mọi người bơi qua, một tay bám lấy những tấm ván, những chiếc mảng nhỏ, những thùng rượu và bất cứ phương tiện nào vớ được, một tay kia quạt nước. Trên bờ sông phía tây, một vật gì bốc cháy trong khoảnh khắc soi sáng những đầu người nhô trên mặt nước.

        Đúng như dự đoán, bên phía quân Đức các khẩu súng máy bắt đầu khạc đạn.

        Xli-ven-cô giục: — Nhanh lên các đồng chí.

        Đạn rít lên chui xuống mặt nước kêu chíp chíp.

        Gần đấy có tiếng ai rên rĩ. Xli-ven-cô nắm lấy tay người đó dìu theo sau nhưng người kia sặc nước, miệng lắp bắp, tay bám vào vai Xli-ven-cô. Xli-ven-cô lặn xuống kéo theo cả người kia. Theo bản năng, anh nhắm mắt lại nhưng xuống dưới mặt nước anh lại mở mắt ra. Anh nhìn thấy trên mặt sông sáng rực có lẽ là do ánh lửa đám cháy.

        Xli-ven-cô ngoi lên phía trước, nhô lên rồi lại ngụp xuống nhưng hai chân anh đã chạm đất và anh thấy có bàn tay cứng cáp nắm lấy anh.

        —  Còn sống chứ ? — Anh nghe thấy tiếng nói của đại úy phía trên nhưng không đáp lại được, anh há miệng, hít lấy không khí mát mẻ, êm dịu của ban đêm.

        Một tràng súng máy rẽ nước và xé tan ra từng mảnh. Các chiến sĩ lao lên.

        Xli-ven-cô dìu đồng chí bị thương đi theo. Sông càng nông dần. Súng máy của ta bên kia sông càng nổ dữ dội.

        Đã đến bãi cát ướt, cỏ mọc lưa thưa. Xli-ven-cô ngã xuống bờ sông hét không ra hơi:

        — Xung phong!

        Nói xong, anh giơ tiểu liên lên quạt một băng, bên anh, các đồng chí khác cũng bắt đầu bắn. Ngay gần đấy, đại úy cho trung liên nhả đạn. Hai pháo hiệu vụt lên không, sáng rực, Xli-ven-cô đã có thể quay lại nhìn xem ai nằm bên mình, bị thương hay có lẽ đã chết. Nhưng anh không dám nhìn, anh vẫn tiếp tục bắn, chốc chốc lại hô lên bằng một giọng yếu ớt hai tiếng quen thuộc "xung phong” mà cũng không hiểu vì sao.

        Anh em vừa nằm vừa nhanh chóng xỏ giày, mặc chiếc áo ngoài sũng nước lên thân mình ướt đẫm. Sau đó đại úy hô: "Tiến lên”. Trong tiếng ồn ào bốn bề, Xli-ven- cô cố lắng tai nghe tiếng khẩu trung liên thứ hai do Xê- mi-gláp giữ nhưng không thấy. Xli-ven-cô bò lên trong bóng tối tới chỗ một khẩu súng máy địch đang bắn. Sau đó, khẩu súng máy câm tiếng và nghe thấy sau lưng tiếng hét của các đơn vị mới qua sông. Gô-gô-bê-rít-đè bò lại cạnh Xli-ven-cô. Hai người nằm sát cạnh nhau không hé răng. Rồi, hai người nhìn thấy ngay gần chỗ họ, đồng chí chuẩn úy, trái với lệ thường cũng im lặng, cả ba cùng nằm yên không nói với nhau câu nào và cũng không nhìn lại bờ sông, nơi Xề-mi-gláp đã gục xuống, giá lạnh, cứng đờ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Tư, 2018, 12:44:54 am

XVII

        Sau khi vượt qua sông Ha-ven, Lu-ben-xốp quyết định cùng đội trinh sát dùng ngựa tiếp tục tiến. Phương pháp trinh sát này trong hoàn cảnh lúc đó rất có lợi: đi ngựa không cần phải theo đường cái như ô tô, họ có thể di chuyển khá nhanh và nhất là không lộ bí mật.

        Lu-ben-xốp cho gióng ngựa và buổi sáng anh cùng Me-séc-xki dẫn đầu đoàn kỵ mã.

        Ở phía tây Béc-Iin, không một ai ngờ rằng người Nga tới.

        Thôn xóm, khu ngoại ô sống trong cảnh êm ả tuy có chút lo âu. Mặt trời tỏa xuống những tia nắng rực rỡ, nhuốm vàng từng khoảnh nhà cửa, cây cối trong vườn và rọi sáng câu thần chú cuối cùng của Hít-le, đâu đâu cũng thấy có: " Berlin bleibt deutsch! ”

        Đội trinh sát chầm chậm tiến bước chăm chú quan sát mọi vật xung quanh. Nhiều tiếng nổ xa xa từ phía đông vọng lại, đúng từ Béc-lin — kể cũng lạ, vì Béc-lin đã ở phía đông rồi.

        Họ đi vào rừng. Hầu như không nghe thấy tiếng vó ngựa. Ngay gần đấy, một cụ già nhỏ bé, lưng vác bó củi len lỏi giữa hàng cây. ông lão nhìn trộm đoàn kỵ mã nhưng lại quay ngay đi, hẳn là chưa nhận ra họ là người Nga.

        Lát sau, cây cối thưa dần. Một bãi rộng, cỏ moc um tùm vóủ từng hàng máy bay mang dấu thập trắng, hiện ra trưức mắt Lu-ben-xốp. Có tất cả ba mươi tám chiếc. Đều là loại "JU— 87 ”, loại ném bom bổ nhào mà hình ảnh còn ghi lại trong trí nhớ của mỗi một chiến sĩ Nga. Nhiều bóng người lố nhố trước những chiếc máy bay và có vẻ khá bình tĩnh. Chắc hẳn chúng cho rằng quân Nga còn cách xa và sông Ha-ven là một phòng tuyến chắc chắn, bảo đảm.

        Đội trinh sát rút vào rừng và Lu-ben-xốp cho một chiến sĩ quay về sư đoàn báo tin có nhiều máy bay địch ở sân bay "Nơ-en-đoóc hạ”. Còn thiếu tá cận vệ thì cùng các đồng chí trinh sát khác tiến về phía tây, tới làng Son-oan mà theo lệnh thiếu tướng sư đoàn trưởng cần phải trinh sát. Tới phía ngoài làng, họ xuống ngựa, để ngựa lại trong rừng cho hai chiến sĩ canh giữ rồi đi bộ tiến xa hơn nửa.

        Ở đây, như bất cứ nơi nào về phía tây Béc-lin, quang cảnh tĩnh mịch, cô quạnh. Tựa như trong thôn xóm, người và vật đều đã chết. Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng be be của một con cừu cái và tiếng chó sủa rời rạc. Một ngôi nhà thờ xung quanh có vườn hoa, đứng sừng sững bên phải đường cái về cuối làng phía bắc. Đội trinh sát tiến vào trong vườn và tới khu tường xây trông ra đường cái. Họ nấp vào dưới chân tường xây ngó qua khe những cột rào bằng sắt.

        Hai em nhỏ từ trong cồng nhà bên cạnh đi ra. Chúng đi ra góc tường, dừng lại đấy một lát chắc là lắng tai nghe tiếng đại bác trên Béc-lin. Sau đó chúng kéo đi.

        Không có quân địch trong làng.

        Đội trinh sát theo đường cũ quay về chỗ buộc ngựa và lại xuyên rừng đi xuống phía tây nam. Dưới ánh nắng, nhựa thông bốc lên thưm hắc. Càng gần tới con đường cái lớn sắp sửa hiện ra lúc nào không biết, vó ngựa của Lu-ben-xốp càng chậm lại. Cuối cùng anh ghìm ngựa đứng lại, lắng tai nghe. Từ đường cái vọng lại tiếng chân người lộn xộn. Lu-ben-xốp xuống ngựa giao con Oóc-lích cho Ca-blu-cốp giữ. Không cần quay lại — anh biết là anh em đều đã làm theo ý định của anh và để lại một người gác ngựa, Lu-ben-xốp tiến ra đường cái nấp vào một bụi cây sát đường.

        Con đường rộng, vắng vẻ rải dài trước mặt anh. Nhưng kìa, từ quãng đường vòng, ba tên lính Đức mang tiều liên đang đạp xe đạp tới. Tiếp đến một toán đông ăn mặc kỳ lạ, quần áo bằng thứ vải kẻ sọc như vải bọc đệm giường. Mấy tên mang tiều liên áp tải đoàn người lộn xộn này.

        Đoàn tù binh và lính áp tải bước đi chậm chạp, cúi đầu buồn bã.

        Lu-ben-xốp và Me-séc-xki, đưa mắt nhìn nhau và trong đôi mắt của Me-séc-xki, Lu-ben-xốp đọc được một lời đề nghị thăm kín, như một lời kêu gọi: hành động!

        Me-séc-xki sôi nổi thì thầm: Không phải là "thường phạm”. Không đời nào "thường phạm” lại bị giải về phía tây. Thường phạm chính là bọn áp tải kia kìa.

        Lu-ben-xốp gật đầu và nói nhỏ :

        — Lát nữa ta sẽ rõ!

        Sau đó, mọi việc diễn ra rất nhanh chóng. Chuần úy Vô-rô-nhin tiến dọc theo đường cái, chui ra khỏi bụi cây một cách ngang nhiên mà lại còn hơi yểu điệu một chút, tới gần bọn đi xe đạp dẫn đầu đoàn ngưòd và đứng thẳng dậy coi như không có chuyện gì xảy ra, rồi quạt một băng tiểu liên. Cùng lúc đó, phía sau có nhiều tràng tiểu liên khác. Đoàn tù hốt hoảng dồn lại một chỗ, ngơ ngác nhìn sư việc diễn ra xung quanh họ. Một số người mặc áo choàng ngụy trang xanh, trên mũ ca lô có đính ngôi sao đỏ, chạy nhẹ nhàng giữa rặng cây, nói vội với nhau bằng một thứ tiếng lạ tai. Cuối cùng, toán người cao lớn, khỏe mạnh tiến ra đường cái tất cả như đã được tuyền lựa kỹ lưỡng, nước da đen ngăm ngả màu xanh tươi sáng như màu khu rừng lân cận và giống như những đứa con đẻ của rừng cây.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Tư, 2018, 02:41:19 am

        Đoàn người mặc áo tù vừa kịp hoàn hồn thì đã thấy được dẫn sâu vào trong khu rừng, giữa đội trinh sát Nga. Ở đấy, đàn ngựa lắc lư dây cương kêu lách cách. Họ thấy mình được tự đo, nắng ấm, họ mong muốn được trút bỏ nhanh chừng nào càng hay chừng nấy những chiếc áo tù và còn mong được khoác những chiếc áo choàng xanh ngụy trang. Trong những chiếc áo ngụy trang ấy đội trinh sát trông như những sứ giả của mùa xuân.

        Lu-ben-xốp chỉ định hai người phụ trách dẫn số tù vừa được giải phóng về phòng tham mưu sư đoàn. Bọn lính áp tải, sau khi đã bị tước vũ khí, bị bắt đi theo dưới sư áp tải của những người tù lúc trước. Chúng tiếp nhận sự thay bậc đổi ngôi đột ngột ấy với một vẻ phục tùng ngờ nghệch.

        Lu-ben-xốp và anh em trinh sát tiếp tục tiến xuống phía nam. Họ lại im lặng bước đi tựa như vừa rồi không có chuyện gì xảy ra, riêng chỉ có khuôn mặt Me-séc-xki giữ lại một nụ cười thầm kín, sung sướng. Tới đầu thị trấn Phau-ken-ha-ghen về phía bắc, đội trinh sát đã đươc đón tiếp bằng những phát súng trường và súng cối. Lu-ben-xốp nhủ thâm :

        — Thế là bọn mình lại trở lại cuộc sống bình thường rồi đấy.— Rồi anh xuống ngựa.

        Đàn ngựa được dẫn vào rừng và anh em trinh sát trèo lên chiếc vựa thóc một ngôi nhà, quan sát quân địch nấp trong thi trấn suốt nửa tiếng đồng hồ. Sau khi đánh dấu các hỏa điểm lên bản đồ, Lu-ben-xốp hạ lệnh rút vào rừng. Toàn đội phóng nước kiệu quay về. Lát sau, họ gặp các phân đội tiền vệ của sư đoàn và báo cho các đơn vị đó biết tình hình kháng cự của quân Đức ở Phan-ken-ha-ghen.

        Tới cửa rừng trước làng Son-oan, Lu-ben-xốp nhìn thấy chiếc xe của thiếu tướng, nhiều sĩ quan tham mưu đi lại quanh xe. Chính thiếu tướng hơi ngả người trên bãi co đang nói vô tuyến điện với các trung đoàn.

        Trong thấy đồng chí trinh sát, đồng chí Xê-rê-đa vui vẻ nói :

        — À, cậu về rồi đấy à ! Mình ghen với cậu đấy! Phi ngựa trong vùng hậu phương của quân địch, ở phía tây Béc-lin thật thú vị biết mấy, báo cáo đi !

        Nghe Lu-ben-xốp báo cáo xong, thiếu tướng nói :

        — Vừa mới nhận được lệnh của nguyên soái Giu- cốp là chiều nay phải chặn ngang con đường huyết mạch "Đông Tây”... Đây con đường này đây, cậu thấy chưa ? — đồng chí vừa nói vừa chỉ vào bản đồ — nhân đây, mình khen ngợi cậu: cậu đã giải phóng cho một số chiến sĩ chống phát xít đấy. Họ đang muốn gặp cậu, cậu về phòng chính trị đi. Plốt-nhi-cốp đang nói chuyện với họ.

        Lu-ben-xốp quay vào làng. Đoàn người được đội trinh sát giải phóng tập trung cả trong sân ngôi nhà của phòng chính trị. Các chiến sĩ và các chị nhân viên "căng- tin” phòng tham mưu đang bày một dãy bàn nối liền vào nhau và phủ khăn rải trắng lên trên.

        Plốt-nhi-cốp, Ô-ga-nhe-xi-an và các sĩ quan phòng chính tri đang ngồi bên những người vừa thoát khỏi bàn tay bọn phát xít và trò chuyện với họ. Sau đó người ta mời họ vào ăn. Đồng chí cấp dưỡng sư đoàn bộ đã cố hết sức để cho những người nước ngoài phải ghi nhớ mãi lòng quý khách của người Nga.

        Khi Lu-ben-xốp tới, mọi người chạy vội lại chỗ anh cảm ơn rối rít. Sau đó ai nấy trở về chỗ ngồi. Giữa Plốt-nhi-cốp và Lu-ben-xốp người ta đã xếp chỗ một ông già ngồi; ông lão vẻ mệt mỏi, có bộ ria nhỏ xám, mái tóc rễ tre. Nước mắt tràn trề trên đôi má nhăn nheo của ông cụ.

        Đó chính là ông Ét-mông Hê-nô, một nguyên lão nghị viên nước Pháp, người mà thế giới đều biết tiếng đã từng nhiều lần giữ chức bộ trưởng trong chính phủ Cộng hòa Pháp. Nhưng những trại giam, nhà tù mà ông ta đã ở suốt từ 1941 đã làm ông ta hầu như quên mất cái địa vi cao cả của mình thời xưa và đã bỏ mất nhiều cái dáng điệu đường bệ của ông.

        Giờ đây, thấy mình được các sĩ quan Nga quý trọng, vả lại đã quá chén nên ông ta đã rất nhanh chóng lấy lại tinh thần và dáng điệu hoạt bát của một nghị viên lão luyện, ông ta cao giọng, nói thao thao làm cho Ô-ga-nhe- xi-an vốn không thạo tiếng Pháp lắm phải rất chật vật mới dịch nổi. Ông ta khoa tay lên nói: —Thế là bây giờ các ông đã bước lên vũ đài thế giới. Đó là theo quy luật tất nhiên của sự vật, hoàn toàn theo quy luật tất nhiên của sự vật. Con gấu trắng đã đè bẹp con gấu đen (Hê-nô muốn gợi lại hình ảnh cái huy hiệu của Béc-lin: một con gấu đen trên nền bạc và hai con phượng hoàng: phượng hoàng đen nước Phổ và phượng hoàng đỏ của Bran-đbua), phải phải, gấu trắng đã bóp chết gấu đen, phải thấy như vậy. Về phần tôi, chân thành mà nói, từ trước đến giờ tôi vẫn tin tưởng ở sức mạnh của các ông, tuy rằng tôi chưa công khai tuyên bố điều đó... Các ông cùng với nước Pháp đều là thành trì của nền an ninh châu Âu, vâng, các ông và nước Pháp ! ông ta chùi một giọt nước, mắt và hô : ôi, nước Pháp yêu quí!


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Tư, 2018, 05:51:20 am

        Đại tá Plốt-nhi-cốp nhìn Hê-nô vừa thương hại lại vừa thấy thoáng khinh ghét: tại sao lão già vừa được giải phóng chưa bao lâu đã huênh hoang diễn thuyết và còn vỗ vai Lu-ben-xốp, ra vẻ cấp trên bao dong cho cấp dưới, tựa như lão ta đã giúp thiếu tá một việc đáng kể bằng cách cho phép thiếu tá được giải phóng lão. Cần gì đến cái lối hùng biện ấy, cần gì đến những lời so sánh tẻ ngắt "tiêu biểu” ấy. Tuy vậy, Plốt-nhi-cốp nghĩ rằng giữa lúc như thế này mà chú ý đến khuyết điểm của con người thì cũng không nên. Nếu như ông già này sau mấy năm trời sống cùng cực, có làm ra bộ huênh hoang thì cũng đã sao ? ”. Plot-nhi-cốp miệng mỉm cười thân mật với ông nghị viên nước Pháp, nghĩ thầm : "Mặc ông ta !”

        Nét mặt của đại tá trở nên tươi tỉnh khi đồng chí quay sang người láng giềng bên trái, một người mái tóc hoa râm, tuổi cũng không còn trẻ lắm nữa, dáng điệu mệt nhọc, lưng hơi còng. Người này ít nói, có hỏi mới trả lời và cũng chỉ trả lời nhát gừng. Người ấy nghe và nói khá thạo tiếng Nga. Trong các trại giam, một số đông tù nhân trong số những người đã nhìn thấy được trước chiều hướng chuyển biến tương lai của tình thế, đã nhờ anh em tù binh xô-viết dạy học tiếng Nga.

        Thỉnh thoảng, mặt người đó nhăn lại và biết rõ nhược điểm của mình, người đó mỉm cười ngượng nghịu như muốn xin lỗi vì cái thói quen đã thành tật mắc phải trong thời gian ở tù.

        Đó là Phran Ê-oan, ủy viên ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Đức, một chiến sĩ hoạt động bí mật và một cán bộ tuyên truyền của Đảng. Khi được biết Plốt-nhi-cốp là chủ nhiệm phòng chính trị, đồng chí nói tên thật của mình với đại tá. Ngay các đồng chí trong cùng trại giam và cùng nhà tù với Ê-oan cũng không biết tên đồng chí và họ cũng rất ngạc nhiên khi được biết như vậy. Trong các trại giam, người ta biết đồng chí là Gie-hác Sun-đơ.

        Bọn nhân viên Giét-ta-pô1 bắt được đồng chí năm 1937 nhưng chính bọn chúng cũng không biết được tên thật đồng chí. Bị xếp loại coi như một " viên chức ” cộng sản tầm thường bắt được ở Oét-đinh trong một gian nhà bị tình nghi, có thế thôi. Thực ra bọn nhân viên Giét-ta-pô cũng ngờ rằng đồng chí chưa khai đúng tên thật. Một tên tích cực nhất trong bọn cảnh sát đã tốn nhiều công sức, dùng mọi biện pháp nhưng cũng không thu được kết quả gì. Chính vì vậy mà Ê-oan vẫn cứ là Gie-hác Sun-dơ.

        Đồng chí đã xây dưng được một tổ chức bí mật rộng rãi trong trại giam. Đồng chí đã bắt được liên lạc với bên ngoai, biết được mọi tình hình thế giới và tung ra những truyền đơn viết tay về những biến chuyển trên mặt trận Xô — Đức. Ngoài năm người: hai người Đức, một sĩ quan tù binh Nga, một đảng viên cộng sản Pháp và một đảng viên cộng sản Tiệp Khắc, không một ai trong tổ chức đó, tuy số người trong tổ chức rất đông, lại ngờ được rằng "cái lão già nhỏ bé Sun-dơ” này, giữ chức thư ký sở cảnh sát coi trại, lại là người lãnh đạo tổ chức.

        Thời gian gần đây, chờ đợi Hồng quân chỉ ngày một ngày hai nữa sẽ tới, Ê-oan đã chuẩn bị tổ chức một cuộc khởi nghĩa của tù giam và đã tìm cách tập trung được một số lớn súng lục và lựu đạn và cả một số tiểu liên được tháo ra từng mảnh mang vào trại. Nhưng đùng một cái, có lệnh chuyển một số đông tù giam nhất là các đảng viên cộng sản về pháo đài Xpan-đô. Ê-oan đã trải qua mười lăm ngày trong tòa thành cổ lỗ và tối tăm ấy! Tờ mờ sáng hôm ấy, người ta đã giải họ đi bộ về phía tây bắc vì nhà tù không còn ét xăng.

        Giờ đây, đồng chí đã ngồi đây, nước da xanh xao, nét mặt bình tĩnh, mồ hôi đẫm giọt trên chiếc trán rộng có hằn nhiều vết nhăn, mệt mỏi và sung sướng.

        Đồng chí hỏi Plốt-nhi-cốp tình hình trận tiến công của các đơn vị xô-viết trên phía bắc Béc-lin ra sao. Vấn đề này, đồng chí đặc biệt quan tâm đến bởi vì trong trại giam ở Ra-oen-xbơ-ruých có vợ và con gái đồng chí lãnh tụ Đảng cộng sản Đức, Éc-nét Ten-lơ-man, người đã bị bọn phát xít sát hại.

        Nhìn thấy tất cả những con người phờ phạc và gầy yếu ấy, những người chống phát xít Đức, và chỉ riêng ý nghĩ rằng họ vẫn tồn tại cũng đủ làm cho Lu-ben-xốp thấy sung sướng. Họ vẫn sống và vẫn đấu tranh, cơ quan Giét- ta-pô của Him-le đã không khuất phục được họ, tư tưởng dân tộc hẹp hòi đã không len lỏi được vào đầu óc họ, những chiến thắng của quân đội phát xít đã không làm họ nản lòng thoái chí.

        Plốt-nhi-cốp nâng cốc chúc mừng:

        — Chúc mừng nước Đức! Các đồng chí, hãy cạn chén chào mừng nước Đức mà các đồng chí là những người đại diện.

        Phran Ê-oan đứng vụt dậy tuyên bố:

        —  Chúc mừng các chiến sĩ đã giải phóng cho chúng ta! Chúc mừng Liên bang xô-viết! Chúc mừng đồng chí Xta-lin !

---------------
        1. Hiến binh của phát xít Đức.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Năm, 2018, 03:43:47 pm

XVIII

        TRÊN con đưòmg huyết mạch "Đông Tây” nối liền Béc-lin với miền Tây, một trận chiến đấu ác liệt diễn ra. Quân địch tồ chức phòng ngự để kháng cự điên cuồng trong các trại lính xây gạch, giữa những con sư tử đá và những con phượng hoàng bằng đồng đen của cái thị trấn quân sự nhỏ bé La-gie Đô-bê-rít.

        Ở phòng chính tri đi ra, Lu-ben-xốp và Ô-ga-nhe-xi- an rảo bước tới chỗ thiếu tướng sư đoàn trưởng đang chỉ huy trận đánh trên ngọn đồi nhỏ về phía bắc Đô-bê- rít. Qua ống kính nhìn thấy rất rõ con đường huyết mạch ấy, một con đường rộng rải nhựa, với nhiều thành phố nhỏ, dân cư đông đúc chạy dài sát cạnh hai ven đường.

        Tới nửa đêm, các trung đoàn chiếm được La-gie Đô-bê-rít.

        Từ chỗ đó, Me-séc-xki điện về báo tin :

        — Quân đich rút chạy. Bắt được một tù binh.

        Tên tù binh này, Mi-tư-rô-khin đã "càn” được trong một chiếc thùng con. Anh vội dẫn ngay hắn tới chỗ thiếu tá cận vệ tuy rằng mặt mũi anh bị sây sát rất nhiều vì tên tù binh đã chống cự lại và lại còn khóc nữa.

        Mi-tơ-rô-khin cứ dặng hắng, ngượng nghịu ; anh hơi xấu hổ vì tên tù binh chỉ là một chú bé độ 16 tuổi. Nhìn thấy hắn, mọi người ồ lên cười.

        Lu-ben-xốp cũng phì cười. Thật thế, tên tù binh trông quả là đáng buồn cười. Chiếc áo ngoài trĩu trên vai hắn rỏ xuống ngang đầu gối lụng thụng như chiếc áo tế. Đôi ủng quá dài, rộng và một chiếc mũ ca lô lúc nào cũng tụt xuống mắt hắn trông hắn như là một bức vẽ ngộ nghĩnh. Các đồng chí trinh sát mệnh danh cho nó là "thằng nhóc ”. Nó khai rằng bữa nọ Đoàn thanh niên Hít-le ở Béc-lin đã hội họp trên sân vận động của khu rừng Béc-lin, tên Reichsjugendfiihrer1 Ác-man, một tên cụt tay có giọng nói khàn khàn đã lên nói chuyện. Hắn nói là có một nhiệm vụ ủy thác cho thanh niên : phòng thủ khu ngoại vi phía tây Béc-lin vì quân Nga đã chọc tới đó.

        Người ta phát súng cho bọn trẻ trên sân vận động, cho chung mặc quân phục và phân phối chúng về Xpan- đô, Pi-sen-đoóc đi qua sông Ha-ven. Sáng hôm ấy, hai tiểu đoàn đi ô tô, được ném xuống đây, trước thành La-gie Đô-bê-rít.

        Trong lúc Lu-ben-xốp đang hỏi chuyện " thằng nhóc ”, chuẩn úy Vô-rô-nhin bỗng nhiên tiến lại và đôi mắt nhỏ bé sắc sảo của anh nhìn chằm chằm vào mặt " thằng nhóc ”, anh thò tay kéo những nếp áo nhăn nhúm trên ngực trái của "thằng nhóc”. Lu-ben-xốp rất ngạc nhiên khi thấy giữa những nếp nhăn áo một chiếc chữ thập sắt mới toanh.

        "Thằng nhóc” đỏ bừng mặt, ngập ngừng nhìn thiếu tá cận vệ.

        Mi-tơ-rô-khin vươn cồ lên, vì tên tù binh này không phải một "tay vừa” nên cũng không đến nỗi phải xấu hổ vì nó.

        Lu-ben-xốp mỉm cười.

        Anh hỏi: Tại sao mày được thưởng huân chương?

        "Thằng nhóc” nói là ba hôm trước đây nó đã được thưởng huân chương chữ thập sắt vì đã dùng ba-dô-ca bắn hỏng một xe tăng xô-viết ở cửa đông thành Béc-lin.

        Lu-ben-xốp vừa lắc đầu vừa nói : — A, thằng nhóc con khốn kiếp này, và hỏi "thằng nhóc” lúc này đang lúng túng, xem ai trao cho nó chiếc chữ thập sắt. Lu-ben- xốp lại càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghe "thằng nhóc”, run như cầy sấy, lắp bắp trả lời là chiếc chữ thập sắt do Thủ lĩnh giao cho nó.

        Lu-ben-xốp hỏi: Thủ lĩnh nào ?

        " Thằng nhóc ” trả lời lí nhí trong mồm: — Hít-le.

        Hắn kể lại câu chuyện là sau trận chiến đấu mà nó đã bắn hỏng được một chiếc xe tăng Nga, đột nhiên hắn được gọi về cơ quan tham mưu của tiểu đoàn, được ngồi lên xe ô tô và được đưa qua những đường phố Béc-lin ngổn ngang nhà cửa đổ nát, để vào trung tâm thành phố. Bản thân nó trước ở Uyn-me-đoóc và đã lâu lắm cũng chưa tới khu trung tâm Béc-lin. Ở đấy, mọi vật đều đã bị tàn phá và đi đêm sợ lắm. Hắn vừa đủ thì giò* trấn tĩnh lại thì đã thấy đứng với một số người lạ trước cửa dinh Quốc trưởng. Xuống xe, hắn được áp tải qua những hành lang dài đầy lính s.s. và tới một gian phòng. Có một viên tướng đứng ở đấy rồi cánh cửa mở và Hít-le bước vào. Hít-le lẩm bẩm câu gì không nghe rõ — nhất là "thằng nhóc” không hiểu được Quốc trưởng nói gì —  rồi gắn lên áo "thằng nhóc” chiếc chữ thập sắt này. "Thằng nhóc” không nhớ được hết tỉ mỉ : nó chỉ nhận thấy một điểm là trong lúc gắn chữ thập cho nó, hai bàn tay Quốc trưởng run lên. Sau đó, lính s.s. dẫn "thằng nhóc” ra hành lang và trên đường về, bọn này luôn luôn giục nó:

        —  Nhanh lên, nhanh lên! Đừng có đứng lại!

        Hắn ở trong hầm chui lên phố Vốt nhưng chiếc xe ô tô chở nó tới đấy lúc nãy đã biến mất và nói chung ở đấy không còn một ai vì quân Nga đang ném bom thành phố và "thằng nhóc” phải cuốc bộ về tiểu đoàn của nó, đi từ đầu Béc-lin tới cuối Béc-lin.

        Thiếu tá cận vệ vừa mỉm cười vừa nhìn thằng nhãi con đang hốt hoảng, ba hôm trước đây chính mắt đã trông thấy Hít-le.

        Thì ra không còn là cái thời kỳ mà trong lúc hỏi cung tù binh, đồng chí chủ nhiệm trinh sát sư đoàn phải quan tâm đến việc xác định vị trí cơ quan tham mưu một tiểu đoàn hay trung đoàn nữa. Giờ đây là xác định vị trí Bộ Tổng tham nrưu quân đội Đức, Tổng hành dinh của Hít-le và chính bản thân Hít-le.

-----------------
        1.Thủ lĩnh thanh niên toàn Đế quốc Đức.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Năm, 2018, 12:17:50 am

XIX

        Thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp không phải là người độc nhất quan tâm đến chỗ ở của Hít-le; toàn thế giới đều đang để tâm vào đó. Có lẽ trong bản làng nào trên dãy núi xứ Ê-ti-ô-pi1, lúc này người ta cũng hỏi nhau câu này: Hít-le đã trốn đi đâu và hiện hắn đang ở đâu nhỉ ?

        Đối với các chiến sĩ xô-viết, thật khó mà tưởng tượng được rằng trong cuộc giao chiến ở Béc-lin, đích thân A-đôn Hít-le ở cách đây hai hay ba ki-lô-mét, tên trùm phát xít mà tất cả các bà mẹ trên thế giới đều đem tên nó ra dọa trẻ con, cái thằng mà tất cả hình dáng bề ngoài từ mái tóc nổi tiếng rủ xuống trán, chiếc mũi nhọn hoắt, đôi quầng đen dưới mắt, đến chiếc lưng gù, đều gợi lên lòng căm thù sâu sắc và lời nguyền rủa của toàn thế giới.

        Thật vậy, lúc này Hít-le đang ở Béc-lin, trong gian hầm của hắn dưới tòa nhà của dinh Quốc trưởng mới xây.

        Tòa nhà đồ sộ này xây dựng theo lối kiến trúc "Đệ tam Đế quốc” kềnh càng và thô kệch, chiếm cứ cả một khu phố từ bãi Uyn-hem, dọc theo phố Vốt cho tới tận phố Héc-man Gơ-rinh.

        Ngay giữa lúc các tập đoàn quân xô-viết đã chiếm được Béc-lin, gian hầm của Hít-le là sân khấu của một vở bi kịch nực cười, nếu người ta có thể gọi là bi kịch, cái giờ phút hấp hối của bè lũ ăn cướp, mà người ta cũng không thể nói là "bè lũ ấy đã thất bại” mà phải nói "bè lũ ấy đã bị tóm cổ”.

        " Bọn chúng phải bị tóm cổ ”, điều đó tất cả hay hầu hết thế giới đều biết rõ. Tất cả những tên nào có thể chạy trốn được đã chạy trốn khỏi thủ đô. Ríp-ben-tơ-rốp đã biến mất ngay từ giữa tháng 4. Him-le, viện cớ cứu vãn lại tình thế ở miền Tây Ầu, đa bỏ chạy tới đó, tới gần mộ của tên vua "Hăng-ri chơi chim”, bậc tiền bối thần bí của hắn. Sự thực, hắn đã dùng tên thầy thuốc Giép-ha của hắn, làm trung gian để khuyên Hít-le rời bỏ Béc-lin. Gơ-rinh cũng chỉ làm một việc đơn giản là chạy trốn và cũng biệt tăm tích.

        Ê-rích Cốc may mắn chạy khỏi được vùng Đông Phổ và về tới Béc-lin, hắn đã tới trình diện với Quốc trưởng. Rút cục, biết rằng công việc đều hỏng cả, hắn đã biến mất không để lại một dấu vết. Người ta không còn nhắc, đến hắn nữa, vì như thế cũng là xong đời một tên vô lại. Không một ai còn nghĩ tới Rô-be Lây đã đi sang phía tây, cũng như tới tên bộ trưởng các khu vực miền Đông, An-phơ-rét Rô-den-be, tên này đã không muốn đợi một cuộc gặp mặt với những người dân miền Đông trước kia thuộc quyền cai tri của hắn. Các tướng trong bộ Tổng tư lệnh, Cây-ten và Giốt cũng như tên hải quân đề đốc Đưnít đều đã rời khỏi Béc-lin theo lệnh của Hít-le để đi tập hợp các lực lượng nhằm cứu vãn số phận của thủ đô.

        Riêng Gơ-ben và Boóc-man, hai thủ lĩnh của quốc gia là còn ở lại cạnh Hít-le. Chúng vẫn còn hy vọng có thể chặn quân Nga lại trước cửa Béc-lin : nhưng một thái độ lãnh đạm phó thác cho định mệnh thay thế cho mối lo sợ của con người đã xâm chiếm tâm trí Gơ-ben. Hắn đã chuẩn bị nhiều ống thuốc độc cho chính hắn và gia đình và cứ ngồi hàng giờ liền trong gian hầm, run lên như cầy sấy.

        Còn bản thân Hít-le thì lồng lộn như con thú bị đuổi bắt.

        Sau mười hai năm trời đầy những thành công hầu như liên tục, đầy những thắng lợi đến lóa mắt mà lúc đầu chính hắn cũng không hiểu được tại sao, hắn đã mang cái cuồng vọng là làm nên chuyện lớn. Cuối cùng hắn đã cho rằng đó là đo tài ba của chính hắn và do chí tất thắng của hắn.

        Nặng lòng tin một cách thần bí vào sức vạn năng của hắn, cho đến tận phút cuối cùng hắn vẫn hy vọng có một việc nào đó sẽ đột nhiên chuyển biển tình thế có lợi cho hắn.

        Sự điên rồ đó đã đến mức làm mê muội bọn SS và những tên đảng viên Quốc xã được chọn lọc, vẫn vây quanh hắn và từ hai mươi năm nay đã quen phục tùng từ cái vẫy tay, từng cái liếc mắt. Mặc dù tình thế đã tuyệt vọng — vả lại chúng cũng không biết rõ đã tuyệt vọng đến mức nào — chính bọn chúng vẫn còn có lúc bị mê hoặc bời niềm hy vọng điên rồ là được thấy một điều gì thần thánh xảy ra.

        Sự dối trá lừa phỉnh lẫn nhau ấy, nhàm như một tấn bi kịch dở, đã gieo rắc vào cảnh sống dưới những đường hầm của dinh Quốc trưởng, dư vị của một niềm u uất thường xuyên, đã biến chứng dưới nhiều vẻ đặc biệt xấu xa trong những tên SS béo như lợn ỷ.

        Đôi lần, buổi chiều, khi cảnh vật yên tĩnh, Hít-le lại có cảm giác rằng, cuộc sống, lích sử và thời gian ở trên kia vẫn trôi qua, bên trên cái gian hầm tám mét tường bê-tông, và cần phải ngồi đây bình tĩnh, thật bình tĩnh cho đến cùng và như vậy lúc đó mọi việc sẽ trôi chảy như ý muốn. Cuộc sống, thời gian sẽ trôi qua và mất đi, còn như Hít- le, hắn sẽ lại chui lên mặt đất, ở trên đó mọi vật vẫn còn nguyên như cũ : quân Nga ở bên nước Nga của họ, quân Mỹ và quân Anh đã bị đuổi về khu đảo của họ. Bây giờ hắn chỉ có việc ngồi đợi đến cùng, và khuây khỏa cho qua ngày đoạn tháng. Khi người ta đề nghị hắn ra khỏi hầm, rời Béc-lin để tiếp tục chiến đấu, hắn trả lời gọn lỏn và nhát gừng : Không !

-----------------
        1. E-ti-ô-pi còn gọi là A-bít-xi-ni, nước ở phía đông châu Phi.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Năm, 2018, 07:37:37 pm

        Hắn sợ phải ló ra ánh sáng mặt trời bởi vì thâm tâm hắn, hắn cũng biết là mọi vật đều đã tan nát và chính bản thân hắn cũng vậy. Còn như ở dưới hầm thì tối tăm và yên tĩnh, người ta có thể nán lòng chờ đợi, đợi đến cùng, và khuây khỏa cho qua thì giờ.

        Tiếng đại bác, tiếng bom nổ dưới hầm nghe rất nhỏ bắt buộc hắn phải quay về với thực tế và những ước vọng của hắn lại trơ nên cụ thể hơn, không còn chút gì thần bí nữa mà là những ước vọng bên giường bệnh : còn nước còn tát; trong lúc này ở trên đó, Mỹ và Nga sẽ xâu xé nhau, sẽ chém giết lẫn nhau như các tướng của Et-gien và các hoàng tử xứ Buốc-gô-nhơ. Lúc ấy, Hít-le hắn sẽ lại chui lên mặt đất một lần nữa để tỏ rõ cho thế giới biết ý chí của hắn.

        Trong những hành lang của gian hầm, nhiều con chuột kếch xù, không hiểu làm thế nào, đã chui được vào đây đang chạy qua, tuy rằng sàn hầm đều lát đá cẩn thận.

        Hít-le vẫn thích chuột, hắn đã quen thân với chúng ngay từ quãng ngày ngồi tù sau lần đảo chính ở Muy-ních, hắn thường lấy làm kiêu hãnh về việc này, tự ví mình như người bắt chuột thành Ha-men.

        Lòng mơ ước được biến thành chuột đã xâm chiếm tâm hồn Hít-le trong một đêm mà hắn rất hốt hoảng khi được tin là quân Nga đã vượt qua kênh đào Ten-tốp. về sau, hắn kinh hãi mà nghĩ rằng có một ý chí mạnh như vậy hắn rất có thể biến thành chuột thực sự và hắn bèn thì thầm :

        — Chỉ một thời gian thôi, hay một tuần lễ thôi, không hơn.

        Trong những ngày cuối cùng, hắn thường nghĩ đến những kẻ thù của hắn, mà những lời tiên đoán về cái chết sắp tới của hắn đã trở thành sự thực. Một lần nữa, hắn sống lại những giây phút nhục nhã của lần hội kiến đầu tiên với Hin-đen-buyếc, khi mà vi thống lĩnh đáng kính đã từ chối không trao quyền chính cho Hít-le. Hắn cũng nhớ lại cái kỷ niệm của Luy-đen-đoóc, người mà ngay sau vụ Muy-ních đã đối xử với bạn đồng minh tạm thời của mình với một thái độ khỉnh ngầm của kẻ trên đối với kẻ dưới. Nếu những ông già này còn sống, chắc hẳn họ sẽ nói: " Đúng, những lời tiên đoán của chúng tôi có căn cứ."

        Hắn nghiến răng, căm giận toàn thế giới và đầy lòng uất hận đối với những kẻ thù, những người bạn của hắn, những người đã chết, những người đã bị giết hay còn sống. Một ý nghĩ ám ảnh hắn: Bít-xmác và Na-pô-lê-ông sẽ nói gì nếu như họ còn sống ?

        Ý nghĩ về chiến thắng của quân Nga làm cho Hít-le khủng khiếp. Hắn nhảy thót lên và đi đi lại lại trong cái quốc gia của hắn lúc này thu hẹp lại như một cái hang chuột. Hắn lại thét lên, khóc lóc, đe dọa, chửi mắng đổ tội cho người và vật đã làm cho quân đội hắn thất bại.

        Hắn không muốn hiều rằng binh lính của hắn không thể nào ngăn được sức mạnh của Hồng quân! Tại sao trong những thành phố mà hắn, Hít-le đă tặng danh hiệu là pháo đài, người ta lại đầu hàng.

        Tại sao những thành phố như Pô-xen, Snây-đơ-mun, Cút-xtrơ-rin, Viên cũng bị thất thủ.

        Hắn chửi tất cả tướng tá, binh lính và ngay cả đội hộ vệ áo đen của hắn, những tên SS trung thành mặt phị. Trong những lúc ấy, hắn căm ghét dân tộc Đức đến tột độ.

        Buổi chiều, các viên tướng lặng lẽ bước vào, tay cầm những chiếc cặp hồ sơ bằng da trong đựng bản đồ. Những tấm bản đồ bắt hắn phải liếc nhìn một cách cáu kỉnh. Dần dà cuối cùng, hắn đã thấy căm ghét chúng, những mành giấy cứng bằn thỉu, kêu sột soạt ấy với những mũi tên đỏ chỉ rõ những phòng tuyến đã bị quân Nga chọc thủng. Vừa gí sát mũi xuống bản đồ, hắn vừa nghĩ thầm: Không có những tấm bản đồ khốn khổ này thì công việc đâu có đến nỗi tệ hại, ghê tởm và nhục nhã đến thế! Nhưng, những mũi tên đỏ vẫn ngày càng tiến sát tới thủ đô của Đế quốc và như những lưỡi dao, đang cắt nát các sư đoàn, quân đoàn của quân đội Đức mà trước đó hắn gọi là "quân đội của tôi”, giờ đây, trước mặt các tướng tá của hắn, hắn gọi là "quân đội cua các anh".

        Các viên tướng nín lặng. Trong lúc ấy các đạo quân Bôn-sê-vích vẫn lao lên không sức gì ngăn nổi: không phải chỉ là những đạo quân nói chung mà là những đạo quân Bôn-sê-vích nghĩa là những chiến sĩ mang theo một chủ nghĩa mà Hít-le đã ghét cay ghét đắng, suốt đời chống lại.

        Cứ mỗi khi thoáng mơ tưởng đến một thắng lợi nào đó, hắn lại lấy lại được nghị lực; hắn xua đuổi nỗi sợ sệt, trợn trừng mắt, lắc đầu từng hồi sang phải sang trái cứ như là đang đứng trước ống kính của tên nhiếp ảnh Hen-rích Hóp-man của hắn đã trốn đi từ lâu rồi; hắn tung ra những mệnh lệnh rồi lại thu hồi ngay để tung ra những mệnh lệnh khác.

        Những quyết định của hắn hoàn toàn không có duyên cớ. Điều quái dị nhất chính là hắn đã mất tất cả nhận thức thực tế trước tình hình. Hắn vẫn sắm vai trò một nhà chiến lược vĩ đại tuy rằng hắn, một tên gù lưng uống máu người không tanh, chỉ còn như là một thằng lùn đang bày trò chơi lính chì. Có điều là những binh lính ấy phải đổ những dòng máu nóng thật sư.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Năm, 2018, 02:36:18 am

        Chẳng hạn như hắn đã không chuẩn y cho rút khỏi xứ Ban-tơ1 những quân đoàn 16 và 18 đã bị dồn ra sát bờ biển bởi vì hắn cho rằng nước Thụy Điển có thể tuyên chiến với nước Đức.

        Các sĩ quan tham mưụ thì thầm với nhau: Tại sao ? Tại sao Thụy Điển lại tham chiến? Một số khác ngạc nhiên, lẩm bẩm: Nếu như họ tham chiến thật thì đã làm sao ? Cái đó có thay đổi gì tình thế đâu ? Bọn thứ ba an ủi nhau: Đức Quốc trưởng thừa hiều rõ điều đó; chúng an ủi nhau vì thói quen, nhưng đến lượt chúng, chúng cũng phải thầm ngạc nhiên, giơ hai tay lên trời, trong bóng tối những hành lang lờ mờ, hay ôm tay trước ngực.

        Không một ai trong bọn người đã không còn quen với ánh sáng ban ngày ấy lại nắm được tình hình thực tế; người ta cho rằng Đức Quốc trưởng có đầy đủ tin tức. Vả lại, người ta không dám nói ra miệng: chung quanh Hít-le lúc nào cũng có những tên đầy tớ trung thành và những tên SS miệng rộng của đội Leibstari-darte2 A-đôn Hít-le!

        Khi các đạo quân xô-viết đã tới gần Béc-lin, các nhà quân sự đề nghị cho gọi các bộ đội của cánh phải đoàn quân thứ 9 đang chiến đấu trên sông Ô-đe về để tăng cường cho trại lính thủ đô. Hít-le không đồng ý! Hắn nói là sắp tổ chức một trận phản kích, đánh bật bọn Nga về bên kia sông.

        Một trận phản kích ư ? — Các sĩ quan tham mưu lại thì thầm trong những góc tối của gian hầm, hai tay ôm lấy đầu.

        Hắn thấy hình như nguyên nhân tất cả những việc này chỉ là vì hắn, A-đôn Hít-le đã không thể tập trung tất cả ý chí của hắn vào một ý nghĩ độc nhất: phải thắng, phải thắng, phải thắng! Nếu như người ta tập trung được vào ý nghĩ đó, toàn tâm toàn ý vào đó không một chút dè dặt thiếu sót thì mọi vật trên thế giới lại trở lại như cũ.

        Và hắn rút lui vào buồng ngủ của hắn, co dúm người lại, hai tay bám chặt lấy thành ghế, mắt nhìn dán vào tường.

        Trong lúc ấy một vật gì vẫn quay cuồng trong trí óc hắn và xung quanh, như một con ruồi tai ác đến quấy rầy, một vật gì thoát khỏi ý nghĩ hắn, đang tan ra, làm cho hắn đãng trí. Một ý chí xa lạ, cường tráng và độc lập đã làm đảo lộn mọi kế hoạch, mọi bài tính của hắn. Ý chí ấy đã làm nhô ra những mũi nhọn thép của quân Nga, xông vào chiếm lĩnh những thành phố Đức, quét sạch những trung đoàn chọn lọc của quân đội Đức như những đống rác, bất chấp tất cả, với một vẻ lạnh lùng khinh ghét đối với con người gù lưng có bộ ria kiều thay ký còm lúc này đang trốn dưới một lớp bê tông dày tám mét trong thành Béc- lin hỗn loạn.

-------------------
        1. Ét-tô-ni, Lét-tô-ni, và Li-tuy-a-ni bây giờ.

        2. Đội cờ lệnh của Hít-le.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Năm, 2018, 03:35:47 am
   
XX

        Viên tư lệnh đội hộ vệ riêng của Hít-le, tên Brigadenfuhrer1 SS Môn-cơ, sáng ngày 22 tháng 4 thấy có lính gác gọi mình ra cửa hầm.

        Ngoài cửa có hai người gầy gò hốc hác, quần áo rách tả tơi. Một trong hai người, cánh tay cuộn trong mảnh vải bẩn thỉu, nhìn thấy tên Brigadenfuhrer mừng rỡ kêu lên:

        — Ông Môn-cơ!... May quá !

        Môn-cơ, dáng người to lớn, đôi tay như tay vượn, nhìn chằm chằm người lạ mặt quan sát một hồi lâu. Rồi trong đôi mắt ướt của tên Brigadenfuhrer lóe lên một tia sửng sốt hắn nói hằng một giọng ngập ngừng :

        — Có phải Buyếc đấy không !

        Buyếc buồn bã gật gù chiếc đầu hói:

        — Chính tôi đây. Chỉ còn một phần người thôi. Tôi đã vứt hết mỡ trong người ở bên kia sông Ô-đe rồi.

        — À phải, họ vừa ở bên đó về... Môn-cơ đã có nghe nhắc đến nhiệm vụ đặc biệt cuối cùng của Buyếc ở miền Đông.

        Môn-cơ hỏi:

        — Thế còn người đi với anh là ai ?

        Buyếc đáp:

        — Một thủ hạ của tôi tên là Uyn-ken. Ông Môn-cơ, xin ông đừng ngại, đó là một người tin cẩn.

        Lính SS khám xét ”người tin cần” ấy một cách kỹ lưỡng cũng như ngay chính Buyếc: đó là nguyên tắc, không nên thắc mắc làm gì.

        Hai người theo Môn-cơ bước xuống một hành lang lờ mờ sáng, tường lát đá hoa như một ga xe điện ngầm. Dọc bức tường, có nhiều cánh cửa sắt dày đen kịt, một vài cánh mang biển ghi: "Dinh Quốc trưởng”, "Trạm cấp cứu”, "Đài chỉ huy”.

        Đâu đâu cũng có lính SS mang súng tiểu liên.

        Môn-cơ dừng lại trước một cánh cửa, ghé vai đẩy. Đó là một gian phòng nhỏ, trần thấp, có hai chiếc bàn và cuối phòng có bốn chiếc giường hai tầng trông như trong một xà lim và có người nằm ngủ ở hai giường tầng trên.

        Thứ mà hai tên vừa từ bên kia sông Ô-đe về để ý đến đầu tiên là những chai rượu nho và một chồng bánh cặp thịt khô để trên một chiếc bàn. Môn-cơ chẳng hé răng nói nửa lời, chỉ cho chúng ghế ngồi và chiếc bàn bày sẵn thức ăn. Sau khi nghiến ngấu nuốt vội mấy mẩu bánh quệt bơ và tợp một tợp rượu nho, Buyếc bắt đầu kề lại hành trình gian nan của hắn cho tên Brigadenfuhrer nghe. Sau khi hệ thống gián điệp phía đông tan vỡ, Uyn-ken và hắn đã tiến lêu phía bắc, hy vọng quân Đức chọc thủng được phòng tuyến quân Nga. Trận đánh không thành công; vì vậy chúng lại quay lộn xuống phía nam, gỉa danh là người Ba Lan. Chúng trốn trong rừng một thời gian dài, đói khát, khồ sở. Rồi cách đây chừng tám ngày — hắn không còn nhớ được chính xác ngày nào, vì trong khi lưu lạc, hắn đã mất hết ý niệm về thời gian — chúng đã vượt qua sông Ô-đe. Trong lúc qua sông, bị quân Nga phát hiện, suýt nữa chúng đã bị giết chết nhưng rồi khá chật vật cũng qua được bờ bên này và lát sau chúng đã tới thành phố Sít-oét. Từ đấy, hai thằng cuốc bộ, trèo lên đi nhờ những xe vận tải chạy qua, cũng suýt nữa bi rơi vào tay các đơn vị Ba Lan đang tiến công trong khu vực này. Lúc đó không thể giả danh là người Ba Lan nữa; chúng phải lẩn trong rừng, mò dần về phía tây nam.

        Kể xong, Buyếc hỏi tên Brigadenfuhrer lúc nàv ngồi im:

        — Công việc ra sao rồi ạ ?

        Môn-cơ liếc nhìn Uyn-ken rồi vội vã thì thầm vào tai Buyếc. Chuông điện thoại réo, Môn-cơ đi ra. Buyếc ngồi im một lúc rồi nói:

        — Hỏng rồi — hạ thật thấp giọng, hắn vừa nhìn sang chỗ mấy người ngủ vừa nói thêm: — Chúng mình dẫn thân về đây thật sai lầm. Nhưng, thôi... uống đi Uyn-ken.

        Môn-cơ đã quay lại ngay cùng với một số sĩ quan khác. Họ chào Buyếc. Buyếc đã quen biết hầu hết tất cả và hắn thuật lại câu chuyện.

        Uyn-ken nhìn bọn SS mà run lên. Tất cả bọn đều có tư thế của những tay võ sĩ hạng nặng. Hắn lại còn biết rằng những người ấy ở gần Quốc trưởng, điều đó làm cho Uyn-ken phải hoa mắt vì tôn sùng, sợ sệt.

        Uyn-ken buồn ngủ và thấy tất cả mọi việc như diễn ra qua một lớp sương mù. Người ta dẫn Buyếc và hắn đi, người ta cho chúng mặc quân phục, sau đó lại dẫn chúng đi qua những hành lang tối tăm. Cuối cùng, chúng tới một gian phòng rộng hầu như xếp kín những chiếc giường ngủ nhiều tầng.

        Uyn-ken mất ngủ : tuy mệt nhưng mãi hắn vẫn chưa ngủ được. Hắn cứ ôn lại mãi trong trí nhớ những sự biến trong những ngày vừa qua. Hắn tưởng như đang bơi trên dòng nước đen sẫm của sông Ô-đe, xung quanh bốn bề đạn rít lên xé nước chui xuống. Hắn nhớ lại nỗi vui mừng khi gần tới Béc-lin và nỗi ngạc nhiên khi bước vào thành phố! Từ 1942, Uyn-ken chưa tới Béc-lin ; trong những năm này thành phố đã chịu những thử thách nặng nề, hầu như bị hoàn toàn phá hủy, ngổn ngang gạch đá, dân chúng thì ngơ ngác và không một ai đi như thường : tất cả đều chạy, men theo những mảnh tường. Lúc này quân Nga đã bắt đầu dùng pháo tầm xa bắn phá thành phố. Nhiều lần Buyếc và Uyn-ken đã phải chui xuống hầm trú ẩn hay đường xe điện ngầm. Hai thằng im lặng nghe câu chuyện của những người dân Béc-lin, những ý kiến sao mà quá tự do, gần như ý kiến của những người Bôn-sê- vích, đến nỗi Buyếc phải nắm chặt tay lại và đôi mắt hắn đỏ sọc lên. Nhưng hắn cố nén giận, và dưới đôi mày rậm, đôi mắt đầy hằn học nhìn những người dân thành phố miệng lẩm bẩm :

        — Người ta sẽ treo cổ hết chúng mày...

---------------------
        1. Thiếu tướng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Năm, 2018, 03:11:46 pm

        Vả lại, chính Buyếc, cái con người rắn như đá ấy cũng đã nhắc tới những tư tưởng quốc xã một cách không quá phấn khởi lắm nữa. Hắn lại còn dám có những nhận xét vô lễ đối với các thủ lĩnh và một hôm (sự thực lúc ấy còn là à bên kia sông Ô-đe) hắn đã dám tỏ vẻ nghi ngờ tài năng quân sự của Quốc trưởng.

        Hắn không còn hứa hẹn chữ thập sắt cho Uyn- ken nữa.

        Trong một gian hầm ở đầu Béc-lin về phía đông bắc, đầu như ở một quãng trong khu Oét-xen-xi, những người dân thủ đô trú ần trong đó đã bàn tán không cần úp mở rằng chuyện đầu hàng là không thể nào tránh khỏi.

        Một người cao lớn mặc chiếc áo da, trông có vẻ một thợ điện hay lái xe gì đó nói : Phải chấm dứt đi thôi. Chống cự lại nữa chỉ là điên rồ.

        Các bà, các chị nhiệt liệt tán thành. Trong gian hầm đó có ba thiếu nữ Nga bị bắt từ Nga sang đây. Ba cô ngồi tách ra một nơi, nét mặt nghiêm nghị lặng lẽ nhìn những người dân Đức ! Người ta săn sóc các cô ấy chu đáo quá đến nỗi Buyếc lại một lần nữa nắm chặt nắm đấm. Người ta mời các cô ấy ăn, một thiếu phụ còn đưa cho cả chăn của mình vì quần áo các cô ấy rách rưới mà tường hầm thì nước lạnh nhỏ giọt. Buyếc làu nhàu nói trong miệng.

        Lát sau, thấy nhiều lính SS vào, theo sau chúng chừng một chục thiếu niên yếu đuối của Đoàn thanh niên Hít-le, mặc những bộ quân phục rộng thùng thình. Cả bọn đều không nói. Khi ngớt tiếng đại bác và bọn SS cùng với đoàn thiếu niên đi ra cửa hầm, một giọng nói thấm thìa của một thiếu phụ vang lên rành rọt trong gian hầm lặng lẽ :

        — Đồ sát hại thiếu nhi !

        Uyn-ken tin chắc là bọn SS đã nghe thấy. Nhưng bọn chúng làm thinh và rảo bước đi thẳng.

        Buyếc và Uyn-ken từ từ tiến ngày càng gần tới khu trung tâm. Sau khi đi qua phố dài Grép-oan-đe, qua bãi A-lếch-dan-đrơ đã hoàn toàn đồ nát, hai thằng ra tới sông Xpơ-rê, qua cầu Quyếc-phuyếc, rồi theo cầu Slây- xin-gie vượt qua kênh đào Quýp-phe-gra-ben. Tới đây, chúng lang thang rất lâu giữa những phố đổ nát, lúc này không thể nhận ra được nữa ; cuối cùng, sau hai hay ba lần xuống hầm tránh những trận ném bom của không quân xô-viết, chúng ra tới bãi Uyn-hem.

        Khách sạn " Cai-se-hốp ”, chính nơi Quốc trưởng đã trú ngụ trước ngày lên cầm quyền, cái khách sạn mà người ta đã nhai đi nhai lại nhiều lần cho trẻ em trong tất cả các trường học nước Đức, giờ đây há hốc những khung cửa sổ tối om để lộ ra phía sau những đống vôi vữa và khung giường gãy.

        Trong vườn hoa, nhiều khẩu pháo cao xạ bố trí kín trong lá cây, dưới chân những bức tượng các tướng vĩ đại của Phrê-đê-rích đệ nhị.

        Sau khi vòng qua vườn hoa, hai đứa nhìn thấy dinh Quốc trưởng mới.

        Nằm dài trên chiếc giường sắt trong những gian nhà hầm ngầm của Leibstandarte1 "A-đôn Hít-le”

        Uyn-ken nghĩ rằng: lúc này lọt được vào trong đám người hầu cận Hít-le một cách lạ lùng lẽ ra hắn có thể kiếm được một địa vị cao đấy. Nhưng, khác với bọn SS ở đây, bọn mất tinh thần vì cuộc sống dưới hầm này và hy vọng một điều không đâu, Uyn-ken trong mấy tuần lễ vừa qua đã nhìn thấy khá nhiều nên cũng không còn nuôi trong lòng một tia hy vọng nào nữa về khả năng cứu vãn Quốc gia Hít-le.

        Uyn-ken thiếp đi, sau gần hai mươi bốn tiếng đồng hồ mới tỉnh dậy. Một tiếng rung chuyển dữ dội làm hắn thức giấc. Hắn nhảy xuống đất, lắng tai nghe. Đạn đại bác Nga đã rơi ngay gần đó.

        Trong gian phòng bên, bọn SS uống rượu mạnh, đang la hét trong một không khí lo sợ cuống cuồng. Chắc hẳn có vấn đề gì nghiêm trọng xảy ra. Buyếc cũng hốt hoảng không kém, chạy lại tìm hiểu sư việc. Nhiều đơn vị lớn xe tăng xô-viết không hiểu từ đâu ra đã tiến tới phía nam Béc-lin. Thấy vậy, bộ tổng tham mưu lục quân đã vội vã bỏ các bản doanh dưới hầm ngầm gần thành phố nhỏ Dốt-xen và chạy về hầm này. Chiến đấu cũng diễn ra cả ở phía đông, phía bắc và bên trong thành phố.

        Hiện nay Buyếc đang giúp viên Brigadenfiihrer Môn- cơ tổ chức một quân đoàn trung thành mang tên "À-dôn Hít-le” có nhiệm vụ bảo vệ dinh Quốc trưởng trong trường hợp quân Nga chọc thủng được những khu khác trên phòng tuyến.

        Buyếc mặc một bộ quân phục mới, và có dáng điệu của một vị tướng tài chẳng khác gì thời xưa trong thành phố Xon-đanh. Hôm trước hắn đã được đích thân Hít-le tặng cho danh hiệu "Obserstuirmbanfuhrer”; hắn báo tin này cho Uyn-ken với một vẻ thỏa mãn. Nhưng Uyn- ken vốn thừa hiểu rõ tính chất tên SS này, không khỏi nhận thấy trong đôi mắt ti hí của hắn dáng điệu của con thú bị đuổi bắt.

-----------------
       1. Đội cờ lệnh của Hít-le.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Năm, 2018, 04:08:21 am

        Buyếc nói là một "khả năng vinh dự” (nói đến đây, Buyếc bắt buộc phải mỉm cười) sẽ dành cho Uyn-ken để chỉ huy một đại đội trong quân đoàn trung thành.

        Tạm thời, Uyn-ken chưa có việc. Sau đó, bỗng nhiên người ta gọi hắn tới gặp viên Tổng tham mưu trưởng lục quân, tướng Cơ-rép.

        Bộ "Tổng tham mưu” chiếm hai gian buồng nhỏ nấp sau những cánh cửa sắt cũng nặng nề như tất cả những gian buồng khác trong hầm.

        Ở đây, một người béo lùn, mặt phì nộn đầy lông lá đang ngồi trong chiếc ghế bành. Đó chính là tướng Cơ-rép. Cạnh đó, gần chiếc máy điện thoại, ba sĩ quan đang viết.

        Đặc biệt có một nhân viên tình báo từ miền Đông về đang ở trong hầm, Cư-rép muốn hỏi chuyện hắn. Hắn hỏi xem quân Nga có ý định tiến công vào phía nam Stét-tin hay không.

        Uyn-ken trả lời rằng, xem chừng ra, họ có ý định như vậy. Có rất nhiều bộ đội trên sông Ô-đe và nhiều đoàn tăng viện không ngừng theo các ngẫ đường kéo tới. Hắn lại còn nghe thấy ở đấy tiếng gầm của xe tăng và chắc hẳn là rất nhiều xe tăng. Cơ-rép nghe hắn với dáng điệu lơ đãng và có thể nói là chẳng chút quan tâm gì.

        Một tên SS đến báo cáo:

        — Thưa quan, Quốc trương gọi quan.

        Tên tướng cài lại cúc áo và đi ra.

        Các sĩ quan ngồi ở bàn bên liên tiếp gọi điện thoại. Qua câu chuyện của họ, Uyn-ken đã hiểu được rằng tình thế trở nên nghiêm trọng. Trên con đường huyết mạch "Đông Tây” đã xuất hiện một số kỵ binh trinh sát Nga. Một đơn vị trinh sát cơ giới hóa quân Nga đã lọt vào Clát-đốp.

        Một sĩ quan nói: — Chúng đang chặn đường rút lui của chúng ta.

        Một sĩ quan khác gọi hỏi một máy khác tin tức về tình hình ở Béc-lin. Lức này, tất cả những tin tức về bước tiến của các đơn vi quân Nga vào Béc-lin, Bộ tổng tham mưu của quân đội Đức nhận được bằng một phương pháp khá kỳ lạ. Viên sĩ quan lật sổ ghi số hiệu điện thoại, tìm lấy một số và hỏi:

        — Bà Muy-le? Xin lỗi... Bà ở Xtéc-lít phải không? Bà làm ơn cho tôi biết quân Nga đã đến chỗ bà hay chưa ?

        Câu trả lời tiếp ngay:

        — Chưa, họ chưa đến nhưng hình như họ đã tới gần lắm, tới kênh đào Ten-tốp. Bà láng giềng của tôi, bà

        Cra-ních vừa ở chỗ mẹ chồng bà ta trên phố Xư-đăng về... Quân Nga đã ở đó rồi. À, ai hỏi đấy ?

        Viên sĩ quan bỏ máy vì hắn thấy xấu hổ nếu phải nói với bà Muy-le rằng chính là Bộ tổng tham mưu hỏi tin; hắn ghi những tin tức do bà mẹ vợ bà Cra-ních cung cấp lên một tấm bản đồ và tìm một số điện thoại khác trong một khu khác của thủ đô.

        Một giọng đàn ông từ phố Prem-lô-e-béc trả lời trong máy:

        — A-lô !

        Viên sĩ quan hỏi và bỗng nhiên hốt hoảng vất máy xuống cứ như là tay hắn phải bỏng. Hắn nói khẽ:

        — Một tên Nga.

        Một tên khác mỉm cười nói:

        — Thế việc gì mà anh phải sự ? Không ai bắn súng qua máy điện thoại đâu mà sợ.

        Lát sau, tên tướng quay về. Hắn không đi một mình : một tên tướng khác đi theo hắn, cũng to béo nhưng cao hơn. Cả hai đều tái mặt.

        Cơ-rép vừa giơ hai tay vừa nói: Không còn cách nào khác có phải không ? Buyếc-đoóc, ít ra, anh cũng nói với ông ta chứ...

        Buyếc-đoóc lặng im.

        Ca-rép nói tiếp: Thế là chúng ta nằm trong cái túi khổng lồ rồi. Mọi đường rút đều đã bị cắt đứt... Buổi chiều, nhiều tin báo về trận tiến công của các đơn vị bộ đội xô-viết dưới phía nam Stét-tin. Quân Nga đã chọc thủng sông Ô-đe trên một chính diện rộng, những đơn vị xe tăng của họ đã tiến vào tung thâm được mấy chục ki-lô-mét.

        Cũng chiều hôm đó, lần đầu tiên Uyn-ken nghe thấy tên "Oen-cơ". Trong những đường hầm Ti-e-gác-ten, nơi Buyếc đã dẫn Uyn-ken tới, hắn nghe thấy một câu hỏi lo lắng luôn nhắc đi nhắc lại :

        — Có tin tức gì của Oen-cơ không ?


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Năm, 2018, 05:01:08 am
   
XXI

        Oen-cơ, một viên tướng bộ đội thiết giáp, chỉ huy tập đoàn quân trù bi thứ 12 trong khu Mát-đbua đã nhận được lệnh của Hít-le, bỏ trống mặt trận cho quân Mỹ tiến vào và quay về tiếp viện cho thủ đô. Toàn bộ nhân viên trong dinh Quốc trưởng đều nghĩ đến Oen-cơ và chỉ nhắc đến Oen-cơ. Chưa một viên tướng nào lại nồi tiếng như tên Oen-cơ này, từ trước tới giờ vẫn vô danh.

        Ngay bản thân Hít-le cũng nuôi lại hy vọng. Bước đi của hắn trở nên vững vàng hơn, một mắt hắn long lên. Đại danh từ "tôi” đã trở thành tiếng đầu tiên trong câu chuyện của hắn : "Tôi không thể bỏ thủ đô của tôi”, "Tôi đã quyết định ở lại đây” "Tôi sẽ cứu thoát châu Âu”.

        Hắn lại bắt đầu "xạc” các viên tướng, đánh điện cho Réc-lanh, Phlen-bua và Béc-tét-ga-đen, cho Cây-ten và Giôn, cho Bơ-nít và Him-le.

        Một buổi sáng, Gơ-rinh thấy cần phải lên tiếng. Tên Reichsmarschall1 gửi về một bức điện trong đó hắn yêu cầu Hít-le trao cho hắn, Gơ-rinh, quyền bính tối cao, bởi vì Hít-le bây giờ không còn đủ sức thực hành quyền lực đó nữa.

        Sau khi đọc xong bức điện này, Hít-le òa lên khóc, nằm vật ra giường uất ức đến cực độ. Cuối cùng, cơn điên dịu bớt, hắn dùng vô tuyến điện công bố mệnh lệnh bắt Gơ-rinh, và hắn hạ lệnh trong trường hợp hắn, Hít-le, có chết, thì cho bóp chết Gơ-rinh ngay tại chỗ.

        Him-le giáng một đòn cuối cùng. Như người ta cho biết, hắn khuyên vị thủ lĩnh của mình nên thương lượng đầu hàng với quân Anh — Mỹ.

        Hít-le lâm vào một tình trạng thất vọng đến cực độ và nếu như hắn không tự tử chính chỉ vì hắn đặt hy vọng ở Oen-cơ: ngay sau khi Oen-cơ tới đây và sau khi sẽ đánh bật quân Nga sang bên kia sông Ô-đe, hắn, Hít-le sẽ hạ lệnh xử tử bọn phản bội, bắt chúng phải chịu một thứ nhục hình từ từ và ghê gớm.

        Nỗi ghê sợ thấy có một tên nào sống sót sau khi hắn chết, càng làm cho vết thương trong tâm hồn ti tiện ấy thêm điên dại. Hắn sẵn sàng mất hết để cho thế giới cùng chết với hắn ; hắn không thể nào chịu đựng nổi cái ý nghĩ rằng có một kẻ nào sau khi hắn chết còn sống sót trên mặt đất.

        Cuối cùng, ngày hôm sau, sau những cơn điên loạn ấy, một bức điện của Oen-cơ đánh về. Tập đoàn quân thứ 12 đã tới gần Sít-oen-lốp-xi và đã chiếm lĩnh thị trấn Phéc trên bờ hồ Phéc phía nam thành Pốt-xđam.

        Nhận đươc tin này, bất chấp những lời căn dặn khôn ngoan của Cơ-rép và Buyếc-đoóc về sức yếu ớt của tập đoàn quân thứ 12, lòng Hít-le tràn ngập một niềm tin tưởng hoàn toàn về tương lai.

        Hắn lui về buồng ngủ để yên tĩnh nghĩ ngợi cách sẽ thưởng cho Oen-cơ. Có lẽ sau này nên đổi lại tên phố Vốt, hiện nay có dinh Quốc trưởng đóng, thành phố Oen-cơ. Mà cái tên Vốt ấy nghĩa là gì kia chứ? Hắn có nhớ mang máng cái chữ ấy nhưng không tài nào hiểu được là chữ ấy chỉ cái gì hay chỉ ai. Hắn lục tập Bách khoa từ điền trong tù sách của hắn nhưng chương vần "V” lại không còn đây.

        Bọn SS đi đi lại lại ngoài hành lang, hỏi nhau :

        —  Vốt là tên ai nhĩ ?

        Một số nhớ lại cái tên này đã học từ hồi còn ở trường nhưng chỉ nhớ lơ mơ. Người ta quyết đinh đi hỏi Gơ-ben. Tên này lo ngại tới gặp Quốc trưởng. Gơ-ben trông rất xanh, và càng gầy đi. Mái tóc rối bù của hắn dựng lên từng đám... Đôi môi vều của hắn mím chặt: bước tiến của quân Nga tới sát gần đã bịt chặt cái vòi nước ấy lại. Hắn ngạc nhiên hỏi:

        — Vốt à? A, Vốt... Người đã dịch văn của Hô-me... Phải, phải... Giô-han Hen-rích Vốt.

        Gơ-ben đi khỏi, Hít-le lại tiếp tục suy nghĩ cách hắn sẽ khen thưởng Oen-cơ. Hắn tự nhắc đi nhắc lại: " Đây là một vấn đề rất quan trọng, rất quan trọng. Phải giải quyết ngay tức khắc.” Thôi, cứ để nguyên tên nhà dịch giả đã dịch Hô-me ấy. Không nên hủy hoại nền văn hóa, lúc này làm như vậy là không hợp thời. À! Mà ngay gần đây có phố Héc-man Gơ-rinh. Xưa kia phố này tên là Cơ-ních-grát — cái tên kỷ niệm chiến thắng nước Áo của nước Phổ ở thành Cơ-ních-grát. Cái phố này có thể đổi tên được. Để cho mất hết dấu vết của con lợn ỷ ấy, cái thằng Reichsmarschall chó chết ấy!

        Hít-le quyết định tặng danh hiệu Reichsmarschall cho Oen-cơ. Sau đó hắn nghĩ ra một danh hiệu mới: " Vị cứu tinh của Đế quốc”, nhưng hắn lại thấy lo ngay: như vậy có hơi quá đáng đối với Oen-cơ không, và cái đó liệu có làm giảm sút vai trò của những người... phải, phải, những người đã ở lại trong thành Béc-lin giữa lúc khó khăn như thế này. Có lẽ, tốt hơn hết là: "Anh hùng của Đế quốc ”.

        Một trận oanh tạc dữ dội của pháo binh xô-viết vào cạnh dinh Quốc trưởng làm lay chuyền đến tận nền móng gian hầm. Vôi vữa từ trên trần rơi xuống; những chiếc quạt máy quạt đưa vào đường hầm những vụn gạch nát và một lớp bụi cay sè thay cho không khí. Mọi đường liên lạc với thành phố đều bi cắt đứt. Quân Nga đã tới phố Uyn-hem.

        "Cứu tinh của Đế quốc” có lẽ đúng hơn, và Oen-cơ được tặng danh hiệu đó cũng không có gì đáng sợ cả. Nói chung, anh ta không phải là một chính khách mà là một quân nhân.

        Huân chương sẽ là : một chiếc chữ thập bằng vàng với mấy cành sến và nguyệt quế trên một sợi dây bằng vàng. Có thể bỏ cả chiếc chữ thập ngoặc ; như vậy sẽ có tác dụng làm yên lòng các cường quốc phương Tây. Đại xá cho những người Do Thái còn sống sót và xây dựng một khu vực thật tốt cho họ. Công ty kinh tế Âu — Mỹ khai thác những nguồn lợi các vùng đất đai phía Đông, tựa như cái công ty Đông — Ấn ngày xưa, nửa của tư nhân nửa của chính phủ với những quyền hạn rộng rãi và một số vốn lớn. Nước Đức sẽ nhận trách nhiệm làm đội cảnh binh, nếu cần, cùng với nước Pháp. Nước Mỹ sẽ nhận được một tập phiếu cổ phần kiềm soát.

        Hẳn bèn vẽ lên giấy những kiểu huân chương mới ; thì ra hắn tư xưng là họa sĩ cũng không phải là không có duyên cơ.

        Trận oanh tạc chẳng bao lâu tạm ngừng. Quân Nga bị chặn lại cách dinh Quốc trưởng một ki-lô-mét.

        Rồi các sĩ quan tham mưu tới báo cáo. Hít-le, nghe họ nói xong, cuối cùng hạ lệnh cho tập đoàn quân thứ 9 rút bỏ phòng tuyến và cấp tốc tìm cách phải bắt được liên lạc với tập đoàn quân của Oen-cơ. Và hắn quyết định rằng " Cứu tinh của Đế quốc ” dù sao cũng hơi quá đấng. Và cuối cùng hắn chọn tên: "Anh hùng của Đế quốc".

        Lát sau một chiếc máy bay chở viên tổng chỉ huy không quân, thượng tướng Rit-te Phôn Gơ-rem mới được cư thay thế Gơ-rinh tới. Hít-le thăng cho hắn là Feldmarschall2, ra lệnh hắn quay về bộ chỉ huy của hắn để tổ chức yểm hộ cho Oen-cơ.

        Tên tổng chỉ huy không quân Đức đi trên chiếc máy bay "Pluy-de-lơ Xtoóc” cất cánh trên đường Sác-lốt-ten- buyếc. Ở Béc-lin không còn sân bay nào nữa : Tăm-pen- hốp đã nằm trong tay quân Nga, Ni-e-đơ Nơ-en-đoóc, Đan-gốp và Ga-tốp cũng đều đã bị quân Nga chiếm đóng.

        Đâu đâu, bọn SS lúc này đã lấy lại can đảm, cũng đều nói: Không hề gì ! Oen-cơ sắp đến rồi. Bọn chúng quá phấn khởi nói :

        — Ông ta đã đến gần Pốt-xđam rồi! Gần Pốt-xđam rồi !

------------------
        1. Thống chế.

        2. Thống chế không quân.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Năm, 2018, 02:51:23 am

XXII

        Thành phố Pốt-xđam nằm trên phần phía đông bán đảo do sự kết hợp kỳ lạ giữa dòng sông Ha-ven và mười hai cái hồ hợp thành. Con sông Ha-ven khúc khuỷu chạy quanh thành phố về phía nam rồi thẳng hướng lên phía tây bắc. Bên phía bắc, bán đảo độc đáo này bị một con kênh đào chạy từ hồ Slê-nít tới hồ Phác-lăng cắt ngang; hồ này cũng lại nối liền với các hồ Crăm-nít, Le-nít và Giun-phéc-xi bằng một eo nước. Như thế là Pốt-xđam bốn bề đều có sông nước ngăn cách với khu vực lân cận.

        Từ cổ xưa, thành phố Pốt-xđam đã là tượng trưng của quân đội Phổ và bộ máy phong kiến quan liêu lâu đời của nước Phổ. Vua Phrê-đê-rích Ghi-ôm đệ nhất trị vì trong nửa đầu thế kỷ 18 xưa kia đã đóng đô ở đó. Hoàng tử Phrê-đê-rích đệ nhị tức Đại đế đã cho xây ở Pốt-xđam những cung điện bắt chước kiểu cung điện Véc-xây.

        Thi hài hai vua này đều chôn trong ngôi nhà thờ của trại lính, nỗi tiếng về những tiếng chuông thánh thót.

        Chính nơi đây, ngày 21 tháng 3 năm 1933, trước linh cữu của hai vua nước Phổ, ngay sau khi lên cầm quyền, Hít-le đã khánh thành Reichstag1 mới, Reichstag quốc xã. Làm như vậy, hắn muốn nhấn mạnh sự kế tục của nền "Đệ tam cộng hòa” so với Nhà nước quân phiệt quan liêu của nước Phổ già nua.

        Tất cả những tài liệu ấy, đại tá Plốt-nhi-cốp đã giới thiệu cho đồng chí Xê-rê-đa biết và thật là một niềm an ủi đối với thiếu tướng đang mong muốn được tham dự chiếm đánh Béc-lin hơn là đánh chiếm một thành phố tồi tàn như Pốt-xđam.

        Nhận đirợc lệnh đánh chiếm Pốl-xđam, thiếu tướng Xê-rê-đa cùng với Lu-ben-xốp và một số sĩ quan khác tiến hành một cuộc trinh sát vào thôn Nơ Phác-lăng nằm giữa hai hồ nước trong một khung cảnh tráng lệ. Từ chỗ này, người ta có thể vượt sang bên bán đảo một cách thuận lợi, bởi vì đoạn nối liền hồ Phác-lăng và hồ Lê-nít khá hẹp.

        Điều này tất nhiên quân Đức cũng biết. Lu-ben-xốp sau khi quan sát kỹ làng Nét-lít nằm trên bờ bên kia sông cũng như nơi căn cứ thủy phi cơ ở phía tây Nét-lít phát hiện thấy nhiều công sư quan trọng và sư chuyển vận ráo riết của binh lính và pháo binh Đức.

        Anh báo cáo cho sư đoàn trưởng biết và nói thêm rằng nhất định quân địch sẽ kháng cự kịch liệt trong khi ta vượt sông.

        Sau một lúc suy nghĩ, thiếu tướng nheo mắt nói:

        — Ta lại lấy gậv ông đập lưng ông.

        Đồng chí hạ lệnh cho tham mưu trưởng chỉ để lại ở tây một tiểu đoàn làm ra vẻ đang chuẩn bi vượt sông.

        Thiếu tướng nói:

        — Cứ cho anh em làm ầm ỹ càng nhiều càng hay. Cho họ chặt cây, bắn bừa lên trời, làm nhộn nhịp trên bờ và nhất là gây ra nhiều tiếng động.

        Thiếu tướng trực tiếp hướng dẫn thêm cho tiểu đoàn trưởng.

        Lại đúng là đồng chí lực sĩ "chưa bao giờ biết ốm”. Một huân chương cờ đỏ thư ba đã sắp hàng thêm vào bên cạnh hai chiếc cũ.

        Tiểu đoàn trưởng nói to:

        — Thưa đồng chí thiếu tướng, xin đồng chí đừng lo, chúng tôi sẽ làm thật ầm ỹ.

        Thiếu tướng mỉm cười :

        — Anh chàng này làm thì cũng khá ầm ỹ đấy!

        Lúc xẩm tối, các trung đoàn cấp tốc hành quân qua khu rừng Pốt-xđam và đến nửa đêm tập kết bên bờ hồ Giun-phéc-xi, ngay chính diện phía bắc của Pốt-xđam. Một tiểu đoàn xe lội nước đặc biệt tới tăng viện cho sư đoàn, tiểu đoàn thiếu tá Ve-xen-tra-cốp lên xe. Thiếu tướng đứng trên bờ trông nom anh em và lắng tai nghe tiếng nước kêu róc rách. Ở phía tây bắc, nghe thấy những tiếng ầm ỹ, nhiều tiếng súng nổ vang: đó chính là đồng chí tiểu đoàn trưởng lực sĩ đang hoạt động cùng với anh em trong đơn vi.

        Ở đây, mọi vật đều yên tĩnh, chỉ có tiếng nước vỗ vào bờ kêu róc rách và tiếng động cơ khẽ ì ầm. Tiếng rầm rầm của động cư mỗi lúc một xa dần. Trên mặt hồ không còn thấy gì nữa. Cuối cùng một loạt đạn thưa thớt vọng tới tai thiếu tướng. Rõ ràng Ve-xen-tra-cốp đã giao chiến nhưng trong lúc này thiếu tướng không thể giúp đỡ được gì cho đồng chí đó. Nhưng tiểu đoàn khác kéo xuống những chiếc phà và những chiếc tàu đồ bộ. Mặt nước run lên dưới sức xô đẩy của những chiếc bè gỗ thả xuống nước. Người ta vội vã chuyển những khẩu pháo chống tăng xuống tàu đỗ bộ.

--------------------
        1. Chính phủ đế quốc.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Năm, 2018, 07:48:01 pm

        Thiếu tướng lắng tai nghe ngóng. Trên mặt hồ đen sẫm, nghe thấy tiếng động cơ gầm rít, đó là đoàn xe lội nước quay lại. Tiếng súng trên bờ đối diện ngày càng dữ dội.

        Cuối cùng mấy chiếc pháo hiệu đỏ xé tan màn đêm báo hiệu là tiểu đoàn thứ nhất đã chiếm lĩnh được trận đĩa. Nửa giờ sau, cả một chuỗi pháo hiệu xanh vọt lên trời. Hai tiểu đoàn khác đã tới bờ bên kia.

        Mối lo chính của thiếu tướng là vấn đề pháo binh. Vẫn không thấy pháo hiệu trắng. Cuối cùng pháo hiệu trắng vọt lên không và thiếu tướng nói:

        — Đến lượt chúng ta sang.

        Đồng chí đi ra bờ hồ, tới chiếc phà đang đợi đồng chí.

        Thế là họ sang. Bốn bề, pháo hiệu vút lên, dệt trên nền trời một màn sao xanh, đỏ. Pháo binh đã gầm lên.

        Thiếu tướng lẩm bẩm :

        — Thế là được rồi!

        Đây đó nhiều ánh chớp lóe lên. Pháo binh Đức bắt đầu hoạt động. Chiếc phà của thiếu tướng ngoạm vào bờ cùng một lúc với hai chiếc khác. Các chiến sĩ trước khi lên bờ, nhảy xuống nước ngập đến đầu gối cứ thế chạy vào.

        Lúc trời đã hửng sáng, đầu cầu chiếm được trên khu ngoại vi phía bắc thành phố đã thọc sâu trên một tung thâm ba ki-lô-mét. Thiếu tướng hạ lệnh tiến công thành phố! Thiếu tướng thì đi tới lâu đài Xa-xi-li-en-hốp, ở đó có một chòi cao mà Lu-ben-xốp dùng làm đài quan sát.

        Trời sáng. Từ trên chiếc cửa sổ của chòi cao, thiếu tá cận vệ theo dõi diễn biến của trận đánh. Sư đoàn đang ào lên, tiến vào một thị trấn chi chít những trại ấp, biệt thư, vườn ươm cây và vườn hoa. Mũi bên trái tiến dọc theo hồ Hây-li-giéc-xi và lát sau, sau khi vượt qua dãy nhà khu vườn công cộng và chiếm lĩnh lâu đài Mác-mo, liền theo phố Môn-cơ đột nhập thành phố. Trung đoàn mũi phải bằng một trận tiến công dũng mãnh đánh bật quân Đức ra khỏi trận địa lợi thế của chung trên đồi Pơ-phinh-xbéc và chiếm lấy nhà thương của trại lính và những trại kỵ binh thời cổ trên phía bắc thành phố. Như vậy, các đơn vi quân Đức chống giữ Pốt-xđam đã bị mũi sắt nhọn thọc sâu vào quãng giữa cắt đôi. Đồng chí tiểu đoàn trưởng lực sĩ, lợi dụng cơ hội các đơn vị địch bố trí trước mặt mình trên bờ bán đảo bị điều xuống phía nam, đã cho tiểu đoàn dùng mọi phương tiện vượt qua hồ và từ phía bắc lao vào.

        Phòng tuyến của địch hoàn toàn rối loạn. Lúc một giờ trưa, trung đoàn của Trét-vê-ri-cốp đã chiến đấu trong trung tâm thành phố. Sau khi chiếm xong bãi Uyn-ken và vượt qua kênh đào, bộ đội tiến vào một bãi rộng khác, chính nơi có ngôi nhà thờ của trại lính.

        Tuy thế, các chiến sĩ không chút để ý đến ngôi nhà thờ này cũng như những ngôi nhà thờ, lâu đài khác chi chít trong thành phố này. Chiến tranh vẫn tiếp diễn, bọn lính ba-dô-ca Đức nấp trong các ngôi nhà vẫn còn chống cự lại.

        Mãi tới chiều tiếng sủng mới tắt hẳn và thiếu tướng đọc cho điện về một bản báo cáo đã chiếm được Pốt-xđam. Đại tá Plốt-nhi-cốp quyết định đi một vòng quanh thành phố vì đồng chí muốn được thăm những di tích lịch sử của cung điện nước Phổ. Đồng chí gọi Me-séc-xki đi theo. Sau khi đi thăm tất cả các trung đoàn, Plốt-nhi-cốp hạ lệnh giữ gìn những kiến trúc lịch sử, đặc biệt tòa lâu đài "Vô tư” và tòa "Tân cung điệu”.

        Gần tòa lâu đài tàn phá nằm trên bờ sông Ha-ven, có bãi duyệt binh, chính nơi đây xưa kia, các binh lính nước Phổ với những chiếc mũ mào có đuôi nhỏ, đi bước chân ngỗng đã diễu qua trước mặt Phrê-đê-rích. Đi dọc theo phố Brây-tơ, hai người tới ngôi nhà thờ của trại lính. Quả chuông nổi tiếng của nhà thờ nằm lăn lóc giữa đống gạch đổ nát, trên một nền đá sụt xuống vì sức phá của một trái bom. Trong nhà thờ, tĩnh mịch và tối tăm. Theo sau Plốt-nhi-cdp là Me-séc-xki. Lát sau thấy một cụ già Đức đội chiếc mũ quả dưa vào. Ông ta xin được giới thiệu với các sĩ quan Nga những di tích kỳ lạ của ngôi nhà thờ và, nếu như các sĩ quan muốn, mọi di tích khác trong thành phố.

        Plốt-nhi-cốp nhận lời thì đột nhiên nghe thấy tiếng súng trường và súng cối nổ ngay gần. Báo động trong các đường phố ! Các chiến sĩ từ trong các nhà chạy vội ra tập hợp.

        Đại tá và Me-séc-xki nhìn nhau lõ ngại. Phút chốc, thành phố Pốt-xđam đối với hai người không còn là một trung tâm di tích lịch sử nữa ; chỉ là một nơi có dân cư và ở phía cuối thành phố, các sư đoàn đang chiến đấu.

        Hai người lên xe, chạy thẳng về phòng tham mưu sư đoàn. Ở đây, người ta chưa được tin gì đích xác. Thiếu tướng không có đây: mười phút trước, đồng chí đã cùng Lu-ben-xốp và trung tá Xi-dức đi xuống phía nam, nơi có tiếng súng máy dữ dội vọng lại. Chắc hẳn, phía đó đang diễn ra một trận chiến đấu thật sự.

        Plốt-nhi-cốp và Me-séc-xki lập tức tìm tới chỗ thiếu tướng. Xe ô tô vượt lên trước, bộ binh và pháo binh sư đoàn cũng đang tiến theo hướng đó.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Năm, 2018, 04:22:04 am
       
        Thiếu tướng đã dừng lại ở ga Uyn-pác. Đồng chí đang nghe điện thoại trong một gian phòng lộng lẫy, mà chỉ trong một thời gian ngắn, đã mang bộ mặt và cả mùi vị của một đài quan sát, bộ mặt và mùi vị này nơi nào cũng thế.

        Thấy Plốt-nhi-cốp có vẻ hốt hoảng, đồng chí Xê-rê-đa mỉm cười nói :

        — Thế nào, các nhà du lịch thân mến, các vị đã đi thăm hết tất cả các cung điện của các vua Phổ chưa ? Với bọn phát xít xấu xa này thật khó mà làm gì yên ổn được...

        Nửa giờ trước đây nhiều toán lính Đức có vũ khí đã xuất hiện trong khu vực làng Ghen-tốp ở phía nam Pốt- xđam, và đã giao chiến với các đội cảnh giới của trung đoàn Trét-vê-ri-cốp. Chưa ai — kể cả thiếu tướng Xê-rê-đa, Lu-ben-xốp và cả Trô-khốp — biết được rằng lúc đó con đường tiến của họ đã bắt gặp con đường của Hít-le : từ Ghen-tốp, các phân đội tiền vệ của tập đoàn quân thứ 12 của tên tướng Oen-cơ, tư lệnh bộ đội thiết giáp đang kéo đi tiếp viện cho Quốc trưởng. Bị các tiểu đoàn của ta bám sát, bọn chúng vừa tác chiến vừa từ từ lộn về Ghen-tốp.

        Được biết thiếu tá cận vệ và đội trinh sát đã đi lên trước, Me-séc-xki vội đuổi theo.

        Khu rừng rộng — hay đúng hơn, khu vườn công cộng lớn — ở phía nam Pốt-xđam chật ních các chiến sĩ. Tiếng súng lúc thưa thớt lúc dữ dội.

        Me-séc-xki dừng lại ngoài ven rừng. Xa xa, hiện ra những mái nhà sặc sỡ của Ghen-tốp. Trên cánh đồng xanh, chạy vào làng, các chiến sĩ xô-viết đang tiến lên. Các khẩu súng máy giận dữ nhả đạn. Đây đó, nhiều đám khói bụi cuộn lên như những ngọn cây đen sẫm trong chốc lát nhô lên khỏi mặt đất. Rồi thì người ta nghe thấy có tiếng nổ vang. Đó chính là bọn Đức bị dồn về Ghen- tốp đang dùng súng cối bắn ra cánh đồng.

        Bên ngọn đồi ở cửa rừng, Me-séc-xki nhìn thấy Trét- vê-ri-cốp, Mi-gai-ép và các sĩ quan khác của trung đoàn. Trét-vê-ri-cốp đôi chân vòng kiềng giạng thật rộng, đứng giương ống nhòm.

        Từ trong góc chiến hào, đồng chí điện thoại viên nói vọng ra :

        — Tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 đã tới ven làng.

        Mi-gai-ép báo với Me-séc-xki rằng thiếu tá cận vệ vừa đứng đây, bây giờ đã đi lên phía trước.

        Me-séc-xki tự trách mình đã bị lôi cuốn vào cuộc đi thăm Pốt-xđam và không có mặt ở vị trí của mình lúc cần thiết.

        Anh lầu bầu trách móc :

        — Hỏng thật !

        Thật vậy, mãi đến khi chiến đấu kết thúc anh mới tìm thấy đội trinh sát. Quân Đức, bọn ngồi thuyền, bọn bơi, rút chạy qua sông Ha-ven và hồ Sít-oen-lốp-xi.

        Thiếu tá cận vệ đứng trên bờ sông Ha-ven đang chiếu ống nhòm nhìn sang phía bờ trước mặt, ở đó có một thành phố nhỏ mang cái tên kỳ lạ và có ý nghĩa : Ca-put1. Bên cạnh Lu-ben-xốp, đại úy Trô-khốp và thiếu tá Ve-xen-tra-cốp im lặng hút thuốc lá. Xung quanh, anh em bộ binh và trinh sát dừng lại tạm nghĩ.

        Lu-ben-xốp hạ ống nhòm xuống, suy nghĩ rồi phát biều:

        — Chúng nó có vẻ rút chạy nhanh quá, vứt cả súng cối lại...

        Lát sau, mới hiểu rõ nguyên nhân cuộc rút chạy của quân Đức ! Người ta nghe tliấv tiếng gầm ngắt quãng của nhiều động cơ từ bên bờ trước mặt vọng sang. Mấy phút sau, trên những phố thẳng của thành Ca-pút, nhiều xe tăng trên nóc có cắm cờ đỏ xuất hiện. Một chiếc tiến ra sát bờ sông, dừng lại đúng điềm đối diện với chỗ bên kia dòng sông nhỏ, nơi Lu-ben-xốp, Trô-khốp, Ve-xen-tra-cốp và Me-séc-xki đang đứng.

        Các chiến sĩ xe tăng hẳn đã nhìn thấy họ. Một đầu người đội mũ nhô ra khỏi nắp xe tăng nhìn sang bờ đối diện.

        Lu-ben-xốp chụm hai lòng bàn tay vào trước miệng và gọi to :

        — Chào các c... ậ... u.

        Nghe tiếng bên kia đáp lại : Chà... o các đồng chí!

        — Ở đâu đến thế các cậu ?

        — Phương diện quân U-cren thứ nhất đ... âv !...

        — Còn các cậu :

        Lu-ben-xốp thét lên :

        — Phương diện quân Bi-ê-lô-rút-xi thứ... nhất... !

        Đồng chí xe tăng vẫy tav ra vẻ chào mừng :

        — Tôi bắn một băng đạn.

        Chiếc xe tăng rung lên, bắn lên trời. Một tiếng vang nhỏ dần, vọng lên trên những cánh rừng, những hồ nước, những dòng sông.

        Lu-ben-xốp nói :

        — Béc-lin bây giờ nằm trong cái túi rồi. Phải báo cáo cho thiếu tướng biết.

        Tập đoàn quân thứ 12 của tên tướng Oen-cơ, vứt bỏ vũ khí trang dụng, chạy tháo về phía tây nam. Hai ngày sau, tập đoàn quân ấy tan ra như mây khói.

------------------
        1. Đồng âm với chữ đầu hàng


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Năm, 2018, 04:26:59 am

XXIII

        Sáng ngày 1 tháng 5, Lu-ben-xốp quyết định đi thăm Ta-nhi-a. Đường phố Pốt-xđam ngày hôm ấy náo nhiệt lạ thường. Nơi nơi, cờ đỏ và mít tinh của bộ đội trong đó có đọc bản nhật lệnh của đồng chí Xta-lin ngày 1 tháng 5 với những tiếng vang lên trên các ngôi nhà của kinh đô nước Phồ.

        Những thời kỳ khó khăn mà Hồng quân phải chống chọi với các đơn vị quân địch trước mặt Mát-xcơ-va và Lê-nin-grát, trước mặt Grô-dnư và Xta-lin-grát, đã chấm dứt và không bao giờ trở lại nữa.

        Cuộc chiến tranh thế giới do bọn đế quốc Đức gây ra sắp kết thúc. Sự sụp đỗ của nước Đức Hít-le là một vấn đề ngày một ngày hai. Bè lũ cầm đầu Hít-le, đã có lúc tưởng làm bá chủ thế giới, rút cục tham vọng của chúng cũng tan ra như mây khói...

        Xta-lin kêu gọi các chiến sĩ :

        "Giờ đây, khi mà các đồng chí không còn ở trên đất nước Tổ quốc, các đồng chí phải hết sức cảnh giác. Cũng như trước kia, các đồng chí hãy nêu cao vinh dự và phẩm chất của người chiến sĩ xô-viết !”

        Một hàng dài người Đức, nam có, nữ có, theo lệnh của Bộ chỉ huy xô-viết tới nộp vũ khí, đứng trước cổng trụ sở bộ tư lệnh. Họ đứng đợi, ra vẻ theo lễ tiết, tay giơ cao những khấu súng săn đế không ai có thể nghi ngờ ý muốn nộp vũ khí của họ.

        Ngày hôm ấy, vừng dương chói lọi lạ thường. Cùng với đồng chí cần vụ, Lu-ben-xốp tìm tới sư đoàn đại tá Vô-rô-bi-ốp ở Xpan-đô. Sau khi qua kênh đào, anh lại nhập vào dòng người ồn ào nhộn nhịp trên các đường cái lớn.

        Từng đoàn người đủ thành phần các dân tộc lại kéo nhau về mọi hướng đi. Những loại người khác nhau vừa được trả lại tự do kéo nhau đi, người đi xe đạp, kẻ ngồi ô tô hay đi bộ. Những cựu tù binh của quân đội Đồng minh — lính Pháp, Bỉ, Hà Lan, Na Uy — mặc những bộ quân phục trải qua thời kỳ giam cầm đã bị rách nát, kéo nhau đi từng đoàn vui vẻ.

        Trên những chiếc xe ngựa lớn như những chiếc xe hàng, dải khăn trắng của những người lính thuộc địa nổi bật lên giữa đám lính Anh mái tóc màu hung: người ta nhìn thấy những chiếc váy ngắn sặc sỡ của những người lính Ê-cốt. Người ta thấy những khuôn mặt người da đen xen lẫn với những khuôn mặt xanh xao của những phi công Mỹ vừa thoát khỏi nhà tù. Những người Mỹ, trong cái phút thắng lợi và bình đẳng rộng rãi này, không thấy ghê tởm vì phải ngồi gần những con, cháu của chú Tôm. Trái lại, thấy các đơn vi xô-viết đi qua, người Mỹ, người Anh thắm thiết ôm chặt lấy những người bạn chiến đấu da đen và Ấn Độ của họ và những người khác màu da ấy mỉm cười, để lộ hai hàm răng trắng muốt, và đinh ninh rằng cuộc sống sẽ mãi mãi như vậy.

        Trên ngã tư một thôn lớn, Ô-ga-nhe-xi-an được phòng chính trị giao cho trách nhiệm đứng chỉ đường cho tù binh Đồng minh đi theo đúng mệnh lệnh của bộ chỉ huy xô-viết.

        Ô-ga-nhe-xi-an đau cả tay vì phải đáp lại hàng nghìn cái bắt tay. Tất cả nhưng ngôi sao đỏ trên quân hàm của anh, kể cả ngôi sao trên mũ cũng đã phải tháo ra tặng cho các tù binh Anh, Mỹ vừa được giải phóng, họ cứ nằng nặc xin chút gì "làm kỷ niệm”. Thật cũng khá vất vả anh mới giữ lại được chiếc huân chương sao đỏ thoát khỏi tay một tù binh Mỹ, một tay rất hay chơi vật kỷ niệm, cứ định giằng lấy.

        Ô-ga-nhe-xi-au vừa nắm chặt tay thiếu tá vừa hỏi:

        — Anh thấy không? Cần phải có một Xu-ri-cốp hay một Rê-pin1! Thật thế!... Anh đi đâu vậy?

        Lu-ben-xốp trả lời qua loa mấy câu rồi vội cáo từ.

        Bước chân càng gần tới xpan-đô, nỗi lòng Lu-ben- xốp càng hồi hộp lo lắng. Tới gần thành phố, anh lo ngại đến nỗi đã định quay về. Anh ghìm cương ngựa và quay nhìn Ca-blu-cốp:

        — À, kể ra phải bảo với An-tô-nhi-ủc. — Lu-ben- xốp lẩm bẩm nhưng anh không nói rõ phải bảo cái gì, chỉ vì chẳng có việc gì để mà bảo cả.

        Cuối cùng anh buông cương và con Oóc-lích lại phi nước kiệu. Qua con đường quân sự "Đông Tây”, tới cửa tây thành Xpan-đô, ở đó, phòng tham mưu sư đoàn đóng trong một ngôi nhà bên cạnh đường sắt.

        Ở đây nghe rất rõ tiếng đại bác từ Béc-Iin vọng tới. Ánh lửa rực đỏ trên thành phố. Chốc chốc, từng đoàn máy bay xô-viết lại bay trên không, đi giội bom xuống sào huyệt kháng cự cuối cùng của quân Đức, trong thủ đô nước Đức.

        Lu-ben-xốp ở lại phòng tham mưu sư đoàn hai tiếng đồng hồ. Anh tìm hiểu rộng rãi tình hình trong khu vực này, đánh dấu mọi tài liệu lên bản đồ để về báo cáo với sư đoàn trưởng của mình. Anh do dự, không dám hỏi thăm chỗ ở của tiểu đoàn quân y.

        Đại tá sư đoàn trưởng Vô-rô-bi-ốp đã giúp cho anh có lối thoát. Trống thấy người trinh sát, đại tá nói:

        — À hay, có phái viên của Xê-rê-đa đấy à ? Thế nào, bên các đồng chí có gì mới lạ không?

        Lu-ben-xốp kể chuyện những sư đoàn quân Đức ở phía nam Pốt-xđam định tiến về Béc-lin cứu Hít-le.

        Vô-rô-bi-ốp ngạc nhiên:

        — Thế ra hắn vẫn còn ở Béc-lin à? Cứ tưởng là con chó khốn cùng ấy không còn chỗ nào mà rúc vào nữa!

-------------------
        1. Họa sĩ nổi tiếng của nước Nga.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Năm, 2018, 04:11:54 am

        Nhìn thấy cánh tay buộc băng của đại tá, Lu-ben-xốp hỏi:

        — Tay đồng chí làm sao thế?

        — Bị thương trước thành An-đam. Vết thương đã kín miệng. Tôi vừa thay băng lần cuối cùng ở Pban-ken- ha-ghen về.

        Lu-ben-xốp cáo từ và cho ngựa phóng nước đại tới Phan-ken-ha-ghen. Dọc đường nhiều lần anh đã nhìn thấy trên những biển chỉ đường quân sự một dấu thập đỏ với dòng chữ sau: "Khu vực của Rút-cốp-xki”. Như vậy là anh đi đúng đường. Lúc anh tới Phan-ken-ha-ghen trời đã xẩm tối.

        Tới trước dãy nhà tiểu đoàn quân y đóng, Lu-ben-xốp dừng ngựa, nhảy xuống đứng một lúc, rồi bảo Ca-blu-cốp :

        — Cậu đợi mình ở đây.

        Anh bước tới ngôi nhà, đứng chờ ở ngoài cửa. Cuối cùng anh quả quyết trèo lên bậc thềm và bước vào. Không có ai trong gian phòng thứ nhất. Anh gõ cửa. Có tiếng phụ nữ sau cánh cửa hôi ra :

        — Ai đấv ?

        Lu-ben-xốp đáp lại:

        — Chị có thể bảo giúp tôi chị Ta-nhi-a ở chỗ nào không ?

        Vẫn tiếng người đó hỏi nhỏ một người khác:

        — Chị có biết bây giờ Ta-nhi-a ở đâu không ?

        Trán Lu-ben-xốp đẫm mồ hôi.

        Có tiếng trả lời: "Chắc là ở buồng mỗ”.

        — Không, các thương binh đã chăm sóc cả rồi. Chị ấy ở nhà thì phải.

        Cửa hé mở, một chị phụ nữ nước da nâu, có bộ ngựa nở nang và đôi mắt đen láy hơi ti hí bước ra. Từ khung cửa sồ hắt xuống một ánh sáng yếu ớt. Lu-ben-xốp  vẫn còn có thể nhìn được mặt chị ta. Nhưng chị ta thì không nhìn rõ anh vì anh quay lưng vào cửa sổ. Chị nhìn anh chằm chằm.

        Chị ta hỏi :

        — Thế anh muốn hỏi gì chị Ta-nhi-a. Tôi tưởng anh không bị thương cơ mà.

        Giọng nói của chị ta không có gì đáng mến cả. Lu-ben-xốp nói :

        — Không, tôi không bị thương. Tôi muốn gặp chị ấy có việc khác.

        Chi kia hỏi thẳng :

        — Việc gì ? Đau ruột thừa ư Hay sa đì ?

        Giữa lúc này, cổng ngoài khẽ mở, có ai vào. Lu-ben- xốp cam thấy rất rõ là Ta-nhi-a.

        Chi phụ nữ có đôi mắt ti hí nói :

        — Có người hỏi chị.

        Lu-ben-xốp quay lại. Anh không nhìn thấy mặt Ta- nhỉ-a nhưng thoáng thấy bóng chị in hình trên khung cửa mở rộng.

        Anh nói không ra hơi :

        — Chào Ta-nhi-a. Tôi đây.

        Ta-nhi-a vừa kêu lên vừa hỏi : Ai đấy

        Rồi đèn sáng, chị phụ nữ ở phòng bên đã mang sang một ngọn đèn soi rõ khuôn mặt Ta-nhi-a tái mét.

        Cả hai người bước ra ngoài phố. Một ngọn lửa rực lên phía chân trời ; nhiều tiếng đại bác gầm lên không biết ở nơi nào, nhưng Lu-ben-xốp và Ta-nhi-a chẳng còn nghe hay trông thấy gì nữa. Trên trời, mảnh trăng non lưỡi liềm mảnh dẻ, vàng nhạt treo lửng lơ. Nhìn thấy mảnh trăng, hai người dừng lại.

        Ta-nhi-a hỏi :

        — Thật anh đấy ư ? — Nhìn mặt anh, chị nhắc đi nhắc lại câu ấy nhiều lần rồi nói : — Thật sung sướng biết bao là anh còn sống ! Chắc hẳn anh phải đi ngay, anh còn nhiều công việc. Em rất sợ phải để anh đi, vì anh lại có thể... Em ngốc quá, đến bây giờ mà em còn nói: lại có thể... Em vẫn chưa thật tin là lại được gặp anh. Anh đã bi thương có phải không ?

        Mấy câu ấy đã được Ta-nhi-a nói lên một cách vội vã, chắp nối. Không cần giữ gìn gì nữa, chị bạo dạn nói:

        — Chúng mình đứng vào chỗ tối đi. Em hôn anh một cái.

        Hai người vòng vào một góc nhà gần đấy, chị ôm chầm lấy anh hôn.

        Lúc hai người từ góc nhà đi ra, chị hỏi: Em phải gọi anh như thế nào nhĩ ? Bởi vì rút cục em đã tặng anh tên gọi gì đâu ? Trong thời kỳ chúng mình ở gần Mát-xcơ- va thì gọi là "đồng chí trung úy”, trong lần gặp nhau trên đất Đức thì là "đồng chí thiếu tá". Từ nay về sau, anh sẽ là Xéc-gây của em, anh chẳng đã gọi em là Ta-nhi-a ư? Thôi anh đừng nói gì cà. Em sợ phải nghe anh nói chuyện gì không hợp... Chúng mình gặp nhau thế này là hạnh phúc rồi, có thế thôi. Chúng mình thử tưởng tượng một tí là không còn chiến tranh nữa và chúng mình chỉ đang dạo trên đường phố Mát-xcơ-va. Trời, sao mà em thích nhìn các trẻ em đang thả tàu thủy tí hon trong bể nước và đang nặn bánh cát thế !... Anh có biết không, khi em nghe tin anh hy sinh, em đã nghĩ rằng cũng có phần lỗi tại em. Người ta đã đồn nhảm về em với anh. Đúng, đúng, em biết. Và em thấy hình như anh đã giận nên liều lĩnh xông xáo. Kể ra nghĩ vậy cũng không phải, nhưng đúng là em nghĩ thế đấy.

        Trước mặt hai người, nhiều xe quân sự chạy qua, nhiều chiến sĩ chầm chậm bước đi. Cũng vì mọi người đều sung sướng trước hình ảnh báo hiệu hòa bình sắp tới nên ai nay đều nhìn đôi trai gái ấy bằng con mắt say sưa, mơ mộng, và chân thành chúc mừng họ một cuộc sống hạnh phúc, hòa bình.

        Cuối cùng, Lu-ben-xốp nói:

        — Cậu cần vụ của anh đang dắt ngựa đợi anh. — Và hai người quay về Phan-ken-ha-ghen.

        Ca-blu-cốp dắt hai con ngựa vẫn đứng nguyên chỗ cũ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Năm, 2018, 02:25:15 am

        Ta-nhi-a bảo :

        — Chúng mình vào nhà uống nước trà đã. Ngựa sẽ đem vào cột trong sân, ở đấy có một số lán.

        Ca-blu-cốp đưa mắt hỏi thiếu tá lúc này mắt đang nhìn dán vào Ta-nhi-a. Ta-nhi-a đi trước, Ca-blu-cốp dắt ngựa đi theo sau. Đến trước một ngôi nhà, chị dừng lại, tự tay mở cổng và nói:

        — Đây đây. Tôi ở nhà này.

        Chị cùng Lu-ben-xốp vào nhà. Bà cụ chủ nhà ra đón hai người, một bà cụ Đức, dáng người nhỏ nhắn, mắt đeo kính; Lu-ben-xốp cảm thấy bà cụ có vẻ rất tốt và quý khách.

        Ta-nhi-a cùng với bà cụ sang phòng bên. Rồi chị quay lại, dọn bàn, mang ra một chiếc bánh và mấy hộp thịt. Cụ chủ nhà pha trà. Nỗi cảm động cố nén của Ta-nhi-a lây cả sang cụ già làm bà cụ cứ bận rộn chạy quanh bàn, vừa nói lầm rầm nhanh một mình trong giọng mũi. Khi bà cụ đi khỏi, Ta-nhi-a ra sân gọi Ca-blu-cốp vào. Ba người ngồi vào bàn nhưng chỉ riêng có Ca-blu-cốp ăn thôi. Ta-nhi-a và Lu-ben-xốp ngồi trước hai chén trà chẳng uống cũng chẳng ăn, sung sướug được nhìn nhau.

        Có người gõ cửa. Một khuôn mặt phụ nữ ló qua kho cửa. Đó là một cô y tá đến, nói là có việc nhưng Ta-nhi-a và Lu-ben-xốp đâu có bị mắc lừa. Hai người biết là cô ta đến chỉ vì tò mò. Chính cô ta cũng biết là "âm mưu” của mình bại lộ. Cô y tá đỏ mặt hỏi, nhưng Ta-nhi-a cũng không biết được là hỏi về việc gì nữa.

        Cô y tá quav đi. Lát sau, một chi phụ nữ khác lại ghé vào phòng. Cô ta cũng đã kiếm được một cớ nào đó.

        Ca-blu-cốp đứng dậy cảm ơn và nói là anh phải đi cho ngựa ăn, uống nước. Ta-nhi-a đứng vụt dậy bảo là chị sẽ nhờ cụ chủ nhà đi lấy rơm cho. Nhưng Ca-blu-cốp bảo thôi cứ để anh làm lấy. Ta-nhi-a bảo để chỉ chỉ cho chỗ lấy nước nhưng Ca-blu-cốp nói là tự anh có thề tìm được và đi ra ngoài. Ta-nhi-a ngồi xuống. Theo ý chị, bà cụ chủ nhà nhất định có rơm. Chính chị đã nhìn thấy đống rơm trong sân. Mọi việc đối với Lu-ben-xốp lúc này trở nên rất rõ ràng. Mọi việc đã xảy ra đối với Ta-nhi-a cũng như đối với anh. Mọi ý nghĩ trong tâm hồn Ta-nhi-a cũng như trong tâm hồn anh. Trong mỗi lời nói của chị, trong mỗi cử chỉ của chị — những câu nói, cử chỉ của Ta-nhi-a và của mọi người khác — anh đều nhìn thấu ý nghĩa sâu sắc của vấn đề và, như một ông thầy tướng, anh đọc được rất đúng tâm trạng của những người khác.

        Lại có người gõ cửa. Có ai vào nhưng Lu-ben-xốp chẳng chút bực mình; anh cũng chẳng để ý xem ai vào. Anh ngắm nhìn Ta-nhi-a, ngạc nhiên thấy đôi mắt to xám của chị sáng long lanh.

        Thì ra người vừa vào là Gla-sa. Chị nhận ngay ra thiếu tá trước thường hay tới chỗ Ve-xen-tra-cốp trên tiểu đoàn. Chị nói như người có lỗi:

        — Ô, chị Ta-nhi-a tha lỗi cho em nhé, em ngốc quá! Em lại không ngờ là chị quen thiếu tá cận,vệ. Em vẫn biết là thiếu tá không việc gì... Em vẫn kể lại cho các chị y tá nghe câu chuyện thiếu tá đã nằm lại trong thành phố ba ngày đêm, giữa bọn Đức và đã giúp cho tiểu đoàn nhà em và em xung phong lên... — Ngừng lại một lúc và sau giây phút do dự, chị thấp giọng hỏi thăm : — Đồng chí thiếu tá cận vệ, đồng chí có biết Ve-xen-tra-cốp của tôi thế nào không? Còn sống chứ? Anh ấy tuyệt nhiên không thấy biên thư cho tôi nữa, tôi không hiếu ra sao... Có lẽ anh ấy quên tôi rồi chăng ?

        Lu-ben-xốp nói:

        — Anh ấy còn sống. Tôi vừa gặp anh ấy hôm qua. Vẫn bình yên.

        Gla-sa buồn bã :

        — Vẫn bình yên ! Tôi cứ nghĩ là anh ấy hút thuốc chết thôi...

        — Hút thuốc à ? Tôi không để ý thấy... Xin thề với chị là tôi không thấy. Nếu tôi biết, thế nào tôi cũng cố góp ý kiến.

        Lu-ben-xốp nghĩ thầm, ngây ngất vì sung sướng : "Ơ, mình ba hoa những gì vậy ! Thật là mình điên rồi... ”. ^

        Ta-nhi-a nói :

        — Anh ấy chẳng hút thuốc đâu ? Và, anh ấy cũng không quên chị đâu. Sao anh ấy lại có thể quên chị được ! Nếu quên thì kỳ quái thật... Không, không đâu !

        Cũng như Lu-ben-xốp, chị chựt thấy là mình nói lung tung rồi chi nhó* ra là phẫi mừi Gla-sa cùng ăn !

        — Chị Gla-sa yêu quí, chị ngồi xuống đây.

        Nhưng Gla-sa khẽ từ chối :

        — Em phải đi đây. Em còn bận lắm.

        Tất nhiên chị cũng chẳng có việc gì đâu, nhưng Ta- nhi-a cũng không muốn giữ chị lại vì lúc này ngoài Lu-ben- xốp ra chị không muốn nhìn ai khác nữa.

        Gla-sa ra. Một phút sau, chị có đôi mắt ti hí và nước da nâu tới, cái chị vừa nãy tiếp thiếu tá cận vệ không niềm nở gì cho lắm.

        Đến bây giờ chị ta vẫn còn nhìn Lu-ben-xốp với con mắt lạnh lùng và hỏi có vẻ khiêu khích :

        — Chắc là tôi cũng không quấy rầy các đồng chí chứ ?

        Ta-nhi-a vui vẻ nói : — Ồ, không, không. Ma-sa ngồi xuống đây để mình giới thiệu với cậu đây là thiếu tá cận vệ Lu-ben-xốp, một người quen cũ. Đây là chị Ma-ri-a Lép-kôi-ê-va, bạn tôi, trưởng ban y vụ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Năm, 2018, 12:30:55 am

        Ma -sa hỏi:

        — Cậu không ra nhà tu chứ ?

        Ta-nhi-a trả lời :

        — Không, cậu đi một mình thôi.

        Ma-sa nói dằn từng tiếng :

        — Mình cũng biết trước là hôm nay cậu không đi.

        Ta-nhi-a làm như không nhận thấy giọng nói chì chiết của Ma-sa; chị giải thích với Lu-ben-xốp:

        — Gần đây có một nhà tu kín và một trại trẻ mồ côi. Khi chiến tranh bắt đầu lan tới đây, đại tá Vô-rô-bi-ốp đã cho xe ô tô chuyển các em nhỏ đi... Sau đó lại chuyển về, và đại tá sư đoàn trưởng đã hạ lệnh cho các cơ quan tiếp tế lương thực của sư đoàn phải phân phối gạo, bột cho trại trẻ mồ côi... Lại còn cho cả rất nhiều bò cái vắt sữa. Các bà mụ rất ngạc nhiên, họ không thể nào ngờ rằng những người Bôn-sê-vích lại yêu thích trẻ con đến thế... Bọn bác sĩ chúng tôi đỡ đầu bệnh xá có rất nhiều trẻ em ốm bệnh chậm lớn. Vì vậy, từ bốn hôm nay, cứ buổi chiều chúng tôi tới đó và mang cho các em thuốc glu-cô.

        Ma-ri-a cau mày. Thấy thế, Lu-ben-xốp phì cười và như để xin lỗi, anh nói :

        — Chị Ma-ri-a, xin chị tha lỗi, tôi nghĩ đến lối hỏi bệnh của chị đối với tôi lúc nãy.

        Ma-ri-a nổi với vẻ nghiêm nghị :

        — Thế thì sao? Phải, tôi có hỏi và với cương vị bác sĩ tôi có quyền hỏi xem anh bị bệnh gì. Và, phải, tôi có nói đến chữ "sa đì "... cái bệnh này thì có, và không thế cấm một bác sĩ không được quyền hỏi đến.

        Ta-nhi-a phá lên cười rũ rượi. Đột nhiên, chính Ma-sa cũng phì cười. Chi ôm hôn Ta-nhi-a rồi vùng chạy vội ra.

        Lại chỉ còn hai người bên nhau. Ta-nhi-a nói giọng run run :

        — Chắc anh lại sắp đi rồi phải không ?

        Lu-ben-xốp lẽ ra có thể ở lại đến sáng mai nhưng anh không dám nói thực. Làm như vậy thật quá đáng.

        Anh nói:

        — Phải. Nếu mai em có thể rỗi được, mời em đến Pốt-xđam thăm anh. Thiếu tướng mời em đấy. Em sẽ được xem thành phố, các cung điện và lâu đài. Rất thú vị.

        Chi nhìn anh, âu yếm :

        — Vâng. Em sẽ làm theo mọi ý muốn của anh.

        — Ern đến ngay từ sáng nhé.

        — Vâng.

        — Còn phương tiện?

        — Em sẽ lo liệu lấy.

        Hai người đi ra ngoài, bỏ lại trên bàn hai chén trà chưa nhấp lấy một ngụm.

        Sao nhấp nháy, mờ nhạt trên bầu trời Béc-lin rực đỏ.

        Đứng trên bậc thềm, Ca-blu-cốp đang hút thuốc lá.

        Nghe tiếng chân người, anh giật nảy mình và định lảng ra chỗ khác.   

        Thiếu tá bảo:

        — Cậu ra đóng ngựa đi.

        Ca-blu-cốp đi làm ngay. Lu-ben-xốp và Ta-nhi-a kề vai dừng lại dưới bầu trời sáng cao. Rồi nghe thấy tiếng vó ngựa lộp cộp, tiếng dâv cương kêu lách cách.

        Lu-ben-xốp và đồng chí cần vụ lặng lẽ cho ngựa đi. Thiếu tá nghĩ đến cách nói lạ lùng của Ta-nhi-a khi bảo: Em sẽ làm theo mọi ý muốn của anh. Những tiếng ấy, anh thấy đã gắn chặt cuộc đời của hai người, và trên thế giới này, mọi việc đối với anh đều thấy sao mà dễ dàng và đơn giản.

        Hai con ngựa cất bước nhẹ nhàng phi nước kiệu. Đã quá nửa đêm. Hôm ấy là ngày mồng 2 tháng 5.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Năm, 2018, 09:22:23 pm

XXIV

        Ngày hôm ấy, Ta-nhi-a không tới gặp được Lu-ben- xốp — nhiều biến chuyển bất ngờ và rất nghiêm trọng đã làm chị không thực hiện được ý định.

        Trong đêm ngày 2 tháng 5, một bộ phận quân Đức với lực lượng chừng ba vạn người, có trang bị pháo tự hành và xe vận tải bọc sắt, đã phá vòng vây Béc-lin tiến về phía tây, qua những khu vực bãi Uyn-hem và Pi- xen-đoóc.

        Lu-ben-xốp vừa kip về tới Pốt-xđam thì từ Ga-tốp và Clát-đốp người ta đã báo về những tin tức đầu tiên về việc nhiều khối lớn quân Đức có vũ khí xuất hiện trên các ngả đường cái.

        Toàn sư đoàn báo động. Trong bóng tối buổi rạng đông chốc chốc lại lóe lên những ánh đèn pin, các chiến sĩ leo lên những chiếc xe vận tải lớn và tiến lên hướng bắc để chặn ngang con đường chạy từ Béc-lin về phía tây.

        Máy điện thoại trong phòng tham mưu réo chuông không ngớt. Người ta thông báo nhiều chi tiết mới về cuộc phá vòng vây của quân Đức hiện đang tiến thành từng đoàn dày đặc, cố hết sức tránh những vùng dân cư.

        Lu-ben-xốp cho đánh thức anh em trinh sát đang ngủ trong căn nhà trước mặt. Ho vội nhỏm dậy, vơ lấy tiếu liên và lựu đạn. Một chiếc xe vận tải đã mở máy sẵn. Anh em trèo lên xe, chiếc xe thẳng hướng lên phía bắc.

        Trời sáng dần. Qua một làng rồi một làng khác. Qua chiếc cầu bắc tạm thời, gần đó các chiến sĩ công binh đang bố trí trận địa phòng ngự, xe ô tô tiến về Phác- lăng. Đến đầu làng về phía bắc, Lu-ben-xốp hạ lệnh dừng lại trên một điểm cao.

        Anh em trinh sát nhảy xuống đất và theo thiếu tá đi ra con đường cái đã nhìn thấy ngay gần đấy.

        Đợi không lâu. Một tung đội quân Đức ít nhất tới một nghìn người hiện ra ở quãng đường vòng. Đi đầu là một khẩu pháo xung kích loại "phéc-đi-năng". Một khẩu pháo khác cùng loại đi tập hậu. Những dấu chữ thập đen trên mấy khẩu pháo tự hành làm cho Lu-ben- xốp nhớ lại những năm đầu của cuộc chiến tranh.

        Anh theo dõi sát đoàn người rồi khẽ quay lại Me-séc-xki:

        —  Hành động đi!

        Đội trinh sát nổ một loạt súng. Bọn Đức nhốn nháo, tản ra những bụi cây bên đường và dưới những hõm đất trũng. Thằng bò thấp, đứa bò cao, có đứa chạy, chúng cứ thế tiến lên. Mấy khẩu pháo tự hành dừng lại, bắn ba phát vào nhà ga xe lửa gần ngay đấy.

        Mấy phút sau, một tiểu đoàn pháo tới chỗ Lu-ben- xốp. Các pháo thủ chĩa đại bác nã một chập vào trong làng có quân Đức đang ẩn nấp.

        Một chiến sĩ chạy tới báo với thiếu tá là một tung đội Đức khác đã xuất hiện ở một nơi chếch về phía đông, cũng chừng một nghìn người.

        Đồng chí chiến sĩ chỉ tay về lùm cây nhỏ mà quân Đức đã lẩn vào. Lu-ben-xốp phái Vô-rô-nhin và hai đồng chí trinh sát tới chỗ đó và phái Mi-tơ-rô-khin cùng ba đồng chí khác tiến về hướng làng có đội quân thứ nhất ẩn nấp.

        Vô-rô-nhin quay lại ngay; anh báo cáo rằng đúng có khoảng ba trăm lính Đức đang tạm trú trong khu rừng. Các pháo thủ tách ra một khẩu bắn hai phát. Một phút sau, một đám quân Đức vọt ra khỏi khu rừng. Chúng khoa tay chạy nhốn nháo.

        Lu-ben-xốp chờ Mi-tơ-rô-khin về. Đồng chí này báo cáo là quân Đức đã lại di chuyển, bây giờ không đi thành một khối dày đặc nữa mà phân tán thành nhiều tốp nhỏ. Lu- ben-xốp hạ lệnh lên xe và anh quay về gặp sư đoàn trưởng.

        Sư đoàn trưởng đang nói chuyện ở máy vô tuyến điện với đồng chí tư lệnh tập đoàn quân lúc này đang ở khu vực làng Oa-sốp, phía nam thành Nô-en, nơi cũng đã xảy ra những trận giao chiến với các đoàn quân đang phá vòng vây.

        Thảo luận với đồng chí Tư lệnh tập đoàn quân xong, thiếu tướng sư đoàn trưởng nói:

        — Chúng mình còn phải giáp chiến một lần cuối cùng trước khi kết thức chiến tranh... Lại phải thiệt người, đổ máu. Đồng chí Tư lệnh tập đoàn quân nói đây là những tên liều lĩnh nhất đang phá vòng vây tới đây; chúng nó sợ rơi vào tay chúng ta... Chúng nó biết rằng rồi đây cũng không dễ chịu gì cho chúng! Vì thế chúng nó ùa sang phía quân Mỹ. Trong khi trại lính Béc-lin đã đầu hàng, ở đó mọi việc đã xong xuôi.

        Lu-ben-xốp nhún vai nói:

        — Tôi đã có quan sát kỹ chúng nó ; về mặt này chúng không liều lĩnh lắm đâu. Theo ý kiến tôi, cần cử những phái viên của ta mang cờ trắng tới gặp bọn Đức và khuyên chúng đầu hàng... để tổn thương ngươi nữa có ích gì.

        Thiếu tướng gọi điện thoại về phòng chính trị. Plốt- nhi-cốp tán thành đề nghị của thiếu tá.

        — Đúng đấy. Chúng ta thử làm xem.

        Một "phong trào nhân đạo”, lòng mong muốn tránh khỏi một cuộc đổ máu vô ích phút chốc đã xuất hiện trong các đơn vị. Phong trào đó được Hội đồng quân sự chuẩn y. Từ tất cả hay hầu hết các sư đoàn, các sĩ quan phái viên biết ít nhiều tiếng Đức đi gặp quân địch để kêu gọi chúng đầu hàng.

        Thiếu tá cận vệ đi trên chiếc xe ô tô bọc sắt cắm lá cờ trắng.

        Anh phái Ô-ga-nhe-xi-an và Me-séc-xki, cũng mang theo lá cờ trắng, tới làng Grốt Gli-ních, còn mình thì thẳng lên hướng tây bắc.

        Ngay ở làng thứ nhất anh đã gặp một số các đồng chí hậu cần của ta đang hớt hải, chắc là vừa phải giao chiến, trận chiến đấu đầu tiên trong đời họ, không phải là trận giao chiến tầm thường mà là một trận giáp lá cà với quân Đức. Trong số các đồng chí hậu cần có người bị thương.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Năm, 2018, 07:44:26 pm

        Một đồng chí béo phục phịch, áo rách tả tơi, súng cầm tay, tư thế rất hiên ngang, có vẻ đang hăng máu chém giết, kể lại cho thiếu tá cận vệ nghe: Tôi đang giao bột cho lò bánh. Đùng một cái tôi trông thấv cái gì: bọn Bức đang tiến lại! Chúng tôi bố trí nổ súng. Ờ, thế mà cũng đã bảo vệ được bột đấy... Đi gặp chúng nổ phải vác "Ca-chiu-sa” đi chứ sao lại vác cờ trắng.

        Lu-ben-xốp tiếp tục tiến, băng qua con đường ô tô và kênh đào Pa-rét Nô-en. Nơi nơi đều có vẻ hết sức náo động. Những chiến sĩ các đơn vi hậu cần nhìn thấy thiếu tá cầm cờ trắng bèn tranh nhau báo tin :

        — Một đoàn chúng nó vừa qua đây!

        — Bọn Đức ở trong khu rừng kia kìa !

        — Gần hai trăm thằng đang bò sau cái bờ đất kia kìa.

        Lu-ben-xốp cho xe ô tô bọc sắt dừng lại trước khu rừng mà theo các chiến sĩ nói trong đó có một toán đông quân Đức.

        Lá cờ trắng cầm trong tay, anh bước những bước dài tới khu rừng nhỏ và bắt đầu gọi to, dằn rõ từng tiếng :

—   Deutsche Solđaten! Das Kommando der Roten Armee...1


        Anh chưa kịp dứt lời thì từ giữa rừng một bóng người đã bò ra: một người Đức giơ hai tay tiến lại phía anh. Đó là một tên to lớn đeo kính trắng, râu ria tua tủa, vai đeo lon hạ sĩ.

        Hắn tiến lại, mắt sợ sệt nhìn Lu-ben-xốp.

        Lu-ben-xốp lại để cho hắn quay vào rừng, sau khi đã giải thích cho hắn rõ nhiệm vụ của hắn là rủ thêm các bạn khác của hắn tới đây. Chưa quá mười phút thì tên Đức đeo kính đã dẫn thêm ra chừng hai chục tên khác. Lu-ben-xốp cũng lại thả cho chúng quay về.

        Anh bảo chúng :

        — Gehen zu, Und zuriick mit anderen...2

        Anh tính rất đúng. Chúng tản ra khắp khu rừng và Lu-ben-xốp nghe thấy chúng hò nhau, kêu gọi những tên khác, tha thiết nói và giục đi mau.

        Cuối cùng một toán rất đông kéo ra : gần một trăm tên. Chung đã vất hết vũ khí lại trong rừng. Cũng như tên đầu tiên, tên đeo kính trắng, chúng nhìn người sĩ quan Nga, có vẻ ngờ vực.

        Lu-ben-xốp dẫn toán tù binh tới các trại Ịớn trông thấy gần ngay đó, xung quanh xây tường và có một lò gạch. Bên cạnh tường xây nhỏ lên nhiều cây hạt dẻ um tùm.

        Xe ô tô bọc sắt thong thả theo đoàn tù binh và dừng lại trên bãi cỏ ngay gần tường xây.

        Trong trại ồn ào hẳn lên. Những người dân hiền lành, nhất là phụ nữ và trẻ em kéo ra khỏi nhà, đứng xa nhìn toán tù binh, không dám lại gần.

        Lu-ben-xốp chỉ định tên đeo kính chỉ huy chung; hắn có vẻ hoạt bát hơn những tên khác và bám sát thiếu tá cận vệ. Thiếu tá cùng với hắn tơi gần đám phụ nữ và bảo họ nên kiếm chút gì cho số đồng bào của họ ăn cũng tốt.

        Lúc đâu, đám phụ nữ không hiểu người Nga hiền lành cầm cờ trắng này bảo gì họ. Nhưng khi Lu-ben-xốp nhắc lại câu nói, họ léo nhéo, kêu ý ới và chạy vội về nhà, về chuồng bò. Lát sau, họ quay lại mang theo nhiều ồ bánh và nhiều thùng nhôm đựng sữa sóng sánh.

        Điều dó làm cho đoàn tù binh vui nhộn hẳn lên. Chúng ngồi xuống bãi cỏ, vây quanh lấy những thùng sữa, rót sữa vào những chiếc cà mèn mà chúng còn giữ lại được và cuối cùng đã thấy rõ ràng từ nay về sau những chiếc cà mèn còn cần thiết hơn nhưng khẩu tiểu liên nhiều.

        Chúng cũng không quên cảm ơn người sĩ quan Nga, tên đeo kính đã nói cho chúng biết là ai đã "tổ chức” có sữa cho chung. Tứ phía xung quanh, đàn bà và trẻ con nhìn toán tù binh có vẻ thương hại, và nhìn ngưừi Nga đang một mình đi lại xung quanh toán tù binh, bằng con mắt cảm ơn và kính phục. Các thiếu phụ trẻ nhất nhìn anh không khỏi có chút duyên dáng.

        Nếu thêm vào đó một bầu trời xanh ngắt và mặt trời ném xuống những tia sáng rực ra trên những cây hạt dẻ lớn, những thảm cỏ xanh và những khuôn mặt cảm động của người Đức, người ta sẽ dễ dàng tưởng tượng được cái khung cảnh đầy ý nghĩa và tươi sáng đang bày ra trước mặt Xéc-gây Lu-ben-xốp.

        Nhưng tên đeo kính, sau khi ăn xong mẩu bánh, lại xin cho đi gọi thêm các bạn khác. Lu-ben-xốp bảo anh ta nên lấy thêm mấy "tay cũ” trong số những người đầu tiên hưởng ứng lời kêu gọi của lá cờ trắng cùng đi.

        Thiếu tá cận vệ nhờ các trẻ em, đang há hốc miệng đứng đấy, cũng chạy vào rừng và dẫn về đây, về nơi hòa bình, và có sữa uống, những người Đức đang trốn trong đó. Lũ trẻ con, tất nhiên tỏ ra vô cùng sung sướng trước nhiệm vụ được ủy thác. Không hiểu chúng đã kiếm ở đâu ra được những chiếc sào dài trên đầu buộc mùi xoa trắng. Giơ cao ngọn sào trên đầu, chúng chạy vào rừng.

        Mấy phút sau, một toán lính Đức từ trong rừng kéo ra do một trung tá vai bị thương dẫn đầu.

        Hắn tiến lại chỗ Lu-ben-xốp, chào anh theo kiểu quân sự, tháo túi súng lục và trao khẩu súng cho anh. Thiếu tá cận vệ cầm lấy khẩu súng rồi nói, như có ý hỏi:

        — Also, Frieden3?

        Tên trung tá trả lời:

        — Gott sei Dank4.

----------------
        1. Hỡi anh em binh sĩ Đức! Bộ chỉ huy Hồng quân...

        2. Các anh quay về và dẫn thêm đồng đội các anh ra đây!...

        3. Thế là hòa bình chứ

        4. Ơn trời.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Năm, 2018, 07:16:33 pm

        Lu-ben-xốp chỉ định hắn là chỉ huy quân sự của trại tù binh lúc này đã có tới hơn ba trăm người. Nhiều tên lẻ tẻ ở khắp nơi kéo tới. Có một đại úy ra hàng, rồi đến một tên trung úy ngực đeo một chiếc chữ thập sắt. Bọn tù binh ngồi xuống bãi cỏ, mắt đờ đẫn hấp háy dưới ánh nắng ban mai.

        Đứng một mình giữa năm trăm lính Đức, Lu-ben- xốp bắt đầu thấy lo ngại. Khắp xung quanh không nhìn thấy một chiến sĩ xô-viết nào, trừ đồng chí lái xe, cấp bậc hạ sĩ, mặc áo liền quần màu xanh đang đứng trước xe ô tô bọc sắt.

        Đồng chí này cũng thấy lo, tiến đến bên Lu-ben-xốp :

        — Kể ra chúng đông quá... căn phải canh gác cẩn thận.

        Lu-ben-xốp nghĩ một lúc rồi bảo:

                — Đồng chí hãy lên xe và quay về chỗ làng có ngôi nhà thờ đồ ấy. Tôi có thấy một tiểu đoàn pháo của chúng ta ở đấy. Đề nghị họ cử cho chúng mình ít nhất một chục chiến sĩ.

        Xe ô tô bọc sắt quay về. Lu-ben-xốp còn lại một mình. Bọn Đức vẫn liên tiếp kéo ra, tên đeo kính cùng với các bạn tình nguyện của hắn đi về như con thoi, từ đấy vào rừng rồi lại quay về, lần nào cũng có thêm lực lượng "bổ sung".

        Lu-ben-xốp nói chuyện với tên trung tá. Tên này kể lại rằng Hít-le — hay ít ra người ta cũng đã báo cho hắn biết như vậy — đã tự tử trong dinh Quốc trưởng đêm hôm kia, 30 tháng 4. Béc-lin đã đầu hàng khi đã hoàn toàn hết mọi khả năng chống cự lại bộ đội Nga. Còn như tên trung tá, trước đã chỉ huy một trung đoàn pháo cao xạ bố trí trong khu rừng Gruý-nơ-oan, hắn đã quyết định tham dự trận phá vòng vây, bởi vì chính hắn quê ở tĩnh Tuy-ranh-giơ và muốn trở về quê nhà. Rất nhiều binh lính và sĩ quan định phá vây tiến về phía tây chính cũng cùng một mục đích đó. Quả thực, tên trung tá cũng không thể không đồng ý với Lu-ben-xốp rằng nhiều tên Đức muốn chạy sang phía tây với hy vọng tránh thoát sự trừng phạt về những tội ác của chúng trước kia. Đúng thế, tên trung tá đã gặp trên đường khá nhiều tên SS cũ và cả những người thường dân trước có tham gia các tổ chức quốc xã. Trước câu hỏi của Lu-ben-xốp muốn biết xem những người đó có cho rằng người Mỹ sẽ không truy tố họ hay không, tên trung tá hơi lúng tung và sau khi nhìn trộm Lu-ben-xốp, trả lời rằng đúng là nhiều người nghĩ như vậy.

        Trời mỗi lúc một nóng nực. Nhiều đám mây trắng trôi lừ đừ trên nền trời xanh ngắt.

        Giửa lúc ấy, một tràng tiểu liên vọng từ khu rừng tới và tên đeo kính chạy về. Hắn bước nhanh gần như chạy. Vừa kịp đến trước mặt Lu-ben-xốp, hắn đã vội nói một thôi một hồi và trong đó Lu-ben-xốp chỉ nghe rõ ba tiếng:

        —  Kaum lebendig raus... 1

        Cuối cùng Lu-ben-xốp hiểu rằng, ngay sát ven rừng, một toán đông người có trang bị tiểu liên vừa mới tới và bọn này không chịu ra hàng. Tên đeo kính vừa định cố thuyết phục chúng thì một tên trong bọn quạt luôn một băng đạn.

        Xe ỏ tô bọc sắt đã chở tới nhiều chiến sĩ xỏ-viết có mang súng. Lu-ben-xốp để họ ở lại canh giữ đám tù binh, còn mình thì cầm lá cờ trắng đi vào rừng. Cách sau anh một quãng, lũ trẻ em chạy theo, với những chiếc sào dài trên đầu buộc những mùi soa trắng vui vẻ bay phần phật.

        Lu-ben-xốp nói to vào những rặng cây đứng trơ trơ, mà anh biết có người đang nấp phía sau, để gọi bọn Đức ra hàng.

        Khu rừng im tiếng, có vẻ thù địch. Lu-ben-xốp to tiếng nhắc lại lời kêu gọi; anh nói thêm rằng Bộ chỉ huy xô-viết muốn tránh khỏi một cuộc đổ máu, vì vậy Bộ chỉ huy xô-viết kêu gọi các binh sĩ Đức ra hàng.

        Vẫn im lặng như tờ, chỉ có tiếng gió lay động lá cây. Khắp tứ phía, mũ sắt, súng trường, súng lục vứt rải rác trên bãi cỏ.

        Cuối cùng về phía tay trái, hai tên Đức đứng dậy tiến lại phía Lu-ben-xốp. Chào anh xong, hai tên đi thẳng qua trước mặt anh, không dừng lại, thẳng hướng vào trại. Lu-ben-xốp tiến lên ba bước. Xa xa hiện ra một con đường trũng và phía bên kia một ngôi nhà nhỏ của người gác rừng. Đúng là toán người đang nấp dưới đáy hõm đất — đôi tai thính của người trinh sát không thể nào nghe nhầm được.

        Nhưng vẫn không thấy một tên nào chui ra và Lu- ben-xếp đã đinh quay về trại thì đột nhiên một tên Đức đứng thẳng dậy, nhô lên khỏi lòng hố và, gần như cùng một lúc, một tiếng súng nổ. Tên Đức gục xuống như bị phạt ngang người, sau đó một tràng tiểu liên ngắn rít lên trong không khí và vọng đi.

        Thiếu tá cận vệ ngạc nhiên nhảy lùi lại. Trong giây phát cuối cùng, anh nhìn thấy những chiếc lá xanh từ mấy cành thấp rụng lả tả và bàn tay ôm vội lấy ngực, anh ngã vật xuống bãi cỏ.

----------------
        1. Tôi thoát được thật may !


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Năm, 2018, 03:43:54 pm

XXV

        Ngay hôm trước khi Béc-lin thất thủ, Công-rát Uyn- ken cùng với Buyếc nằm trong khu hầm Ti-e-gác- ten. Cũng như tất cả những tên có mặt ở đó, hắn cho rằng chỉ có Oen-cơ tới mới có thể cứu vãn nổi thủ đô. Cũng như mọi tên khác, hắn không biết được rằng tập đoàn quân của Oen-eơ rất yếu ớt, và câu chuyện Oen-cơ tới đây chỉ là một cơn mê sảng cuối cùng của Hít-le.

        Nhưng từ sau ngày 29 tháng 4, thật rõ ràng là Oen-cơ không đến. Người ta thì thầm kháo nhau rằng tập đoàn quân thứ 12 đã phải nằm bẹp gí ở phía nam Pốt-xđam và đang phải chống cự nhiều trận gay go ở đấy. Còn như các đơn vị tập đoàn quân thứ 9 có nhiệm vụ tiến ra gặp Oen-cơ thì đã bị vây chặt trong khu vưc Oen-đít Buy-son.

        Buổi chiều ngày 29 tháng 4, Buyếc đến dinh Quốc trưởng và quay về, dáng điệu thờ thẫn mệt mỏi.

        Bốn bề chỉ còn thấy có tiếng nổ. Ọuân Nga đã tiến đến sông Spơ-rê trên phía bắc nhà Quốc hội, đã vượt qua kênh đào Lăng-oe và từ phía tây, sau khi chiếm được bãi A-lếch-dăng-đe đã xuất hiện trên bãi Slot ở đó đang tiến đánh chiếm tòa Hoàng cung.

        Không còn cách nào ngăn được họ lại nữa ! Họ băng qua các đường hầm của thành phố, thình lình xuất hiện từ các miệng đường xe điện ngầm tỏa ra, xuyên qua các đống gạch ngói đổ nát, chỉ còn thiếu một việc là không bắc đại bác lên trên các mái nhà mà thôi.

        Uyn-ken thì thầm hỏi :

        — Quốc trưởng định thế nào ?

        Buyếc lậu bậu đáp lại:

        — Ông ta chẳng định gì nữa cả.

        Buyếc rút túi áo lấy ra hai ống thuốc và nhìn bằng con mắt đờ đẫn. Buyếc nói:

        — Đây họ phát cho chúng mình cái này đây. Con đường cuối cùng của quân đoàn áo đen... — Hắn nhét chặt hai ống thuốc vào túi và gầm lên. — Thế là hết! Sống thế là đủ rồi! À, giá mà ông tóm được cổ con mụ thầy bói ấy, ông thì xé tan xác con mụ bất lương ấy ra.

        Hắn thì thầm kề cho Uyn-ken nghe rằng tướng Uây- linh, tư lệnh thành phố ngày hôm ấy đã tới dinh Quốc trưởng và tuyên bố trước mặt Hít-le rằng không thể nào chống cự được nữa và mời Hít-le bỏ thành phố.

        Uyn-ken hỏi:

        — Thế rồi sao ?

        — Từ chối phắt. Ổng ta biết chắc rằng ván bài đã kết thúc. Ông ta không biết chạy đi đâu nữa. Đối với lịch sử, nộp vũ khí trong thủ đô thì còn có chút vinh dư, chứ không thể nộp ở một ngã tư đường được...

        Buyếc tuyệt vọng. Điều đó, đổi với bọn khác hắn cố giấu nhưng đối với Uyn-ken mà hắn tin cậy, thì không. Trong các gian hầm, một không khí im lặng chết chó< hao trùm. Mọi người uống rượu và đợi giờ chết.

        Ngày hôm sau, vào khoảng hơn hai giờ, tên Obersturmfuhrer chỉ huy đội hộ vệ riêng của Hít-le, bò tới Ti-e-gác-ten với mệnh lệnh phải tìm được và mang về dinh Quốc trưởng hai trăm lít ét xăng. Ngưừi ta bắt đầu hút lấy cả ét xăng trong các xe ô tô và xe vận tải bọc sắt đang đỗ ở đấy. Người ta đã vét đưực 160 lít. Buyếc sau khi thì thầm nhỏ to với tên Obersturmfuhrer đã quay lại chỗ Uyn-ken và nói :

        — Người ta sắp thiêu xác Quốc trưởng... Ông ta đã hay sắp tự tử đến nơi. Tao đi đây.

        Lần này Buyếc mãi mới quay về. Một số người khác từ phố Vốt len lỏi đến đây kể lại rằng Hít-le đã uống thuốc độc tự tử và buổi chiều, tướng Cơ-rép đã đi gặp quân Nga để điều đình.

        Cái chết của Quốc trưởng không làm cho ai nhỏ lệ. Một không khí lãnh đạm trùm khắp nơi. Người ta ngồi xổm và ngủ gà ngủ gật, thiếp đi, ăn uống; đợi giờ phút cuối cùng.

        Một làn khói đen tỏa ra khắp Bée-lin. Bên phía nhà Quốc hội, tiếng súng vẫn nổ dữ dội. Người ta khiêng nhiều thương binh mới, từ đó về đường Sác-lốt-ten-buyếc. Quân Nga đang xung phong vào nhà Quốc hội và lát sau, trên đỉnh nóc nhà bằng thủy tinh đã phấp phới cờ Xô-viết đỏ thắm. Đứng ngay ở Ti-e-gác-ten đây, người ta cũng nhìn thấy lá cờ và nghe vọng lại tiếng hoan hô hùng dũng của quân Nga. Nhiều trận giao chiến diễn ra cả trong vườn bách thảo, và thương binh cũng từ đó ùa về —  Thương binh nói là quân Nga đã bắt sống được 5.000 người, khắp nơi quân Đức đều đã hạ súng đầu hàng. Hàng ngũ bảo vệ Ti-e-gác-ten thưa dần. Lợi dụng đêm tối, nhiều người đã bỏ trốn.

        Uyn-ken ngồi trong hầm ngủ gà ngủ gật. Hắn cũng không cần biết số phận mình sẽ ra sao. Mãi tối khuya Buyếc quay về, theo sau có nhiều sĩ quan SS khác.

        Buyếc nói:

        —  Thế là hết.

        Ngày hôm sau, người ta công bố rằng một cuộc phá vòng vây sẽ tiến hành đánh từ khu rừng Béc-lin ra, Tướng Uâydinh đã thương lượng xin đầu hàng với quân Nga. Gơ-ben đã uống thuốc độc tự tử. Boóc-mam biến mất. Buổi chiều, Uyn-ken và Buyếc cùng bọn SS khác và sĩ quan đi về phía tây. Chui rúc qua những đống gạch đá đổ vỡ, run lên vì sợ quân Nga bất cứ lúc nào cũng có thể xuất hiện ở một đầu phố, bọn chủng kéo qua Sác-lốt- ten-buyếc. Sau khi băng qua con đường sắt đã hư hỏng, cuối cùng chúng kéo vào khu vườn công cộng Béc-lin, giữa các sân vận động bỏ hoang và những nhà lầu rỗng tuếch, khóa chặt.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Năm, 2018, 11:11:49 pm
       
        Trước sân vận động hoàng gia, nhiều đám đông người đã tụ tập nhưng im lặng bao trùm. Tất cả ngồi thành từng tốp, thì thầm trò chuyện. Buyếc thường ngày rất hoạt bát, bây giờ đứng im vểnh hai tai to đầy lông lá, lắng nghe câu chuyện bàn tán xung quanh.

        Rõ ràng là người ta có thể chia tất cả bọn người mặc áo ca-pốt xanh đỏ tụ tập ở đây thành ba toán.

        Toán thứ nhất gồm có bọn thiếu niên của Đoàn thanh niên Hít-le và các binh lính tiến sang phía tây vì đã có lệnh như vậy: người ta đã bảo với chúng là hiện nay quân đội Đức còn tồn tại, đang tiếp tục chống cự trong khu vực Nô-en và nghĩa vụ của các binh sĩ là phải phá vòng vây tới đó tiếp viện.

        Những người thuộc toán thứ hai, đông hơn toán thứ nhất, biết rằng tình thế đã tuyệt vọng và nước Đức đã thất bại. Nhưng họ là những người quê quán ở các vùng bên kia sông En-bơ. Trong toán này, có những người dân xứ Ba-vi-e, những người quê vùng Rê-na-ni, những người dân các tỉnh Vét-pha-li Slét-vích, Hét và các vùng đất đai khác trên miền Tây Đức. Họ chỉ yêu cầu một điều: trở về quê hương, gia đình.

        Cuối cùng toán thứ ba gồm có những tên SS, những đảng viên quốc xã tích cực, tất cả các thứ fuhrers1, leiters2 hạng nhỏ, hạng trung : những tên to sỏ thì đã cuốn gói từ lâu rồi. Trước kia, những bọn này cũng một giọng lưỡi như Hít-le, vẫn nguyền rủa "chủ nghĩa đô-la” Mỹ.

        Giờ đây, chúng chọn lấy con đường chạy sang hàng người Mỹ hơn là hàng người Nga với hy vọng — không phải là vô lý — rằng người Mỹ sẽ đối xử "độ lượng” với chúng hơn nhiều. Bọn tư bản và bọn phú hào chính trị đổi xử với chúng dễ chịu hơn những người cộng sản. Toán sau cùng này chỉ huy chiến đấu phá vòng vây, lừa bịp người này, khuyến khích kẻ khác.

        Buyếc, tất nhiên thuộc toán thứ ba, hắn cố hết sức giấu kín tông tích. Hắn cũng sợ bọn Mỹ nhưng ít hơn là sợ quân Nga. Hắn đã tự trách mình có nhiều tội ác quá đến nỗi bây giờ cũng không thể yên tâm đi sang phía tây. Người Pháp chẳng hạn, hẳn họ phải nhớ kỹ hắn trong cái thời hắn giữ chức đồ tể dưới quyền Stuýp-na-ghen ở Pa-ri. Hắn đã tự thân điều khiển việc hành hình những con tin. Hai bàn tay to lớn đầy lông lá này của hắn giờ đây đờ đẫn đặt trên bãi cỏ ướt sương, đã từng làm đồ biết bao dòng máu người Pháp.

        Buyếc run lên, tất nhiên không phải vì lạnh. Trời nóng nực và không có gió. Bây giờ hắn ước ao mất gì mà đổi được tiểu sử cho tên Uyn-ken kia, đang ngớ ngẩn ngồi ngay gần hắn, mà thằng trời đánh này lại còn có thể ngủ gà ngủ gật được.

        Giọng một ai đang nói chuyện dưới một gốc cây cạnh đó vọng tới tai Buyếc. Buyếc quen hai tên SS trong một nhóm người. Buyếc rất ngạc nhiên thấy người đang nói chuyện, đội chiếc mủ mềm, đeo cái kính xinh xắn gọng vàng, có một bộ ria hung kiểu Hít-le, lại mặc thường phục. Lão ta có bộ điệu rất thái bình giữa đám người mặc quân phục. Lão ta nói khá to, lại còn có vẻ đầy tự tin :

        — Người Mỹ rất tinh đời. Tôi không bao giờ tin rằng họ muốn tiêu diệt chúng ta ; họ phải hiểu rằng chúng ta là đội quân độc nhất bảo vệ phương Tây chống lại bọn Bôn-sê-vích. Tôi tin chắc rằng các nhà cầm quyền Mỹ cũng không ưa gì bọn cộng sản như các anh và tôi.

        Buyếc nhấc tấm thân nặng nề đứng dậy, tiến đến bên hai tên SS quen biết.

        Người mặc thường phục hỏi :

        Có ai đem diêm không ? Bật lửa của tôi hết mất dầu, — lão ta khẽ nhếch mép cười — Tình trạng thiếu nguyên liệu chiến lược là một trong nhưng sự bất hạnh của Tổ quốc đáng thương của chúng ta.

        Một bàn tay thông cảm giơ ra cho hắn chiếc bật lửa. Buyếc rút tui ra một bao thuốc lá — mấy túi hắn đều đầy thuốc lá lấy của Môn-cơ trong gian hầm dinh Quốc trưởng.

        Người mặc thường phục reo lên :

        — Ồ, ông có thuốc lá à ? Thế thì ông giàu rồi ! Đã hai hôm nay tôi phải hút thứ thuốc tồi quá... Xin cảm ơn ông, hì hì hì..

        Cỏ ai khẽ nhắc :

        — Obersturmbannfuhrer Buyếc !

        Người mặc thường phục hỏi :

        — Obersturmbannfuhrer ư ? Thôi, ta gọi là ông trung tá. Tiếng này bâv giờ nghe hợp hơn.

        Buyếc nói một giọng buồn bã :

        — Cũng được thôi!

        Người mặc thường phục tự giới thiệu: — Lin- đơ-man.

        Buyếc nhắc lại:

        — Lỉn-đơ-man à! Tôi cũng nghĩ mãi ông là một người quen, mà không nhớ được là ai.

        Ốt-tô Lin-đư-man là một tên đại tư bản công nghiệp, nhân viên Hội đồng kiểm soát nhiều công ty và nhà băng.

        Buyếc nói tiếp:

        — Tôi đã có gặp ông một lần ở Béc-tét-ga-đen và nhiều lần ở Béc-lin. Lúc ấy, tôi làm việc cạnh Quốc trưởng. Rồi, thời kỳ tôi ở Pa-ri...

        Những kỷ niệm cũ ấy không có tác dụng kích thích niềm phấn khởi của Lin-đơ-man. Hắn ngắt lời tên SS, và nói với một vẻ thoáng buồn :

        — Vâng, thưa ông trung tá, thời ấy đã qua, không còn nữa. Quốc trưởng quá cố là một vĩ nhân nhưng...— Hắn ngừng lại một hồi lâu rồi lâng sang chuyện khác. — Tôi không nhớ rõ là vào dịp nào, tôi đã nghe nói về ông trong thời gian gần đây... — Có ai đứng trong bóng tối thì thầm vào tai Lin-đor-man và hắn vội nói: — A, à, à, đúng rồi, tôi nhớ rồi! Những trường hợp liên quan đến việc chi tiêu cho những nhiệm vụ đặc biệt của vị Reichsfuhrer ss...

--------------------
        1. Thủ lĩnh

        2. Quản đốc.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2018, 10:28:43 am

        Đêm xuống. Bầy hoa mi cất tiếng hót trong bóng tối ngay gần đó. Lin-đơ-man thở dài, ngâm câu đầu của một bài thơ:

Ôi, nếu ta là chim kia hót véo

        Cuối cùng, người ta ra hiệu lên đường. Tất cả đứng dậy. Buyếc và Uyn-ken đi hai bên Lin-đơ-man.

        Buyếc và Lin-đơ-man đã có cảm tình với nhau. Buyếc rất ưa đầu óc sáng suốt của Lin-đơ-man và hắn cho rằng lòng tin của Lin-đơ-man hẳn phải có một cơ sở thực tế. Lin-đơ-man là một người có uy tín, đã làm giàu bằng cách chiếm đoạt các xí nghiệp của người Do Thái và việc cung cấp hàng quân nhu; hắn có chân trong Hội đồng kiểm soát công ty "Phốc úp” ở Bơ-rêm, một công ty hữu hạn, và Hội đồng kiểm soát công ty cổ phần "Ô-pen” ở Rút-xen-sem. Nhất định là ông ta có nhiều quan hệ rộng rãi với miền Tây Đức và khi cần thiết có thể giúp cho Buyếc.

        Còn về phần Lin-đơ-man, hắn đã được nghe nói nhiều về đức tính gan dạ, mưu trí và kiên quyết của tên SS to lớn, mặt đỏ và dữ tợn này. Trong những hoàn cảnh khó khăn hiện tại, bàn tay lực lưỡng của Buyếc với khẩu tiểu liên của hắn có thể rất đắc lực.

        Lin-đơ-man tình cờ bị rơi vào cái "túi Béc-lin ”. Ngày 15 tháng 4, hắn cùng với người thư ký từ Ba-vi-e tới đấy. Ngày hôm sau, trận tiến công của quân Nga bắt đầu và Lin-đơ-man, mặc dầu còn khá nhiều công việc, cũng đã chuẩn bị cuốn gói; nhưng trước khi đi, hắn đã tìm tới dinh Quốc trưởng. Ở đây, hắn được biết là Quốc trưởng có ở Béc-lin. Điều đó làm cho hắn yên lòng: hắn tin rằng một khi Quốc trưởng vẫn còn ở Béc-lin thì chính vì ngươi có khá nhiều lực lượng để chống lại bước tiến của quân Nga. Nhiều nhân vật cao cấp đã bảo đảm với Lin-đơ-man rằng không đời nào chịu để Béc-lin rơi vào tay quân Nga. Tướng Buyếc-đoóc, sĩ quan tùy tùng của Hit-le đã nói riêng với Lin-đơ-man rằng nếu như phải nộp thủ đô cho ai, thì sẽ nộp cho quân Mỹ và chỉ nộp cho quân Mỹ.

        Yên trí, Lin-đơ-mau gửi điện cho vợ báo tin hắn còn ở lại vài hôm nữa rồi hắn sẽ đáp máy bay về. Hắn đã "com-măng” sẵn cả một chiếc máy bay. Câu chuyện về sau thì đã rõ. Quân Nga tiến tới sát Béc-lin, năm ngày sau khi cuộc tiến công mở màn. Chẳng bao lâu, tất cả các sân bay đều lọt vào tay họ. Quân Mỹ mà Lin-đơ-man mong mỏi — và cũng chẳng riêng gì hắn — vẫn còn ở cách xa.

        Lin-đơ-man xoay được một chiếc ô tô và bỏ Béc-lin chạy về phía tây. Nhưng tới La-gie Bô-bê-rít, xe ô tô gặp một tràng súng máy của quân Nga vừa xuất hiện trên đường "Đông Tây” bắt buộc hắn phải quay lại.

        Giờ đây, Lin-đơ-man chỉ còn một hy vọng: chạy được sang với quân Mỹ. Hắn đã sống lâu năm ở Mỹ trước và sau sự biến Hít-le. Hắn thầm nghĩ rằng: các bạn hữu người Mỹ của hắn, kể cả con trai tên Hăng-ry Pho, tên Ét-đen Pho và các nhà lãnh đạo công ty " Giê-nê-ran Mô-tơ ” có đủ uy tíu để che chở cho hắn khỏi bị truy tố. Nói cho cùng, Lin-đơ-man, hắn cũng không trực tiếp tham gia những tội ác của bọn SS Hắn là một nhà công nghiệp và nếu các xí nghiệp mà hắn là một trong những người giám đốc, đã cung phụng cho chiến tranh thì việc đó cũng dễ hiểu cho các nhà kinh doanh. Các xí nghiệp cần phải có lãi. Thực ra, Lin-đơ-man đã có góp phần cung cấp tiền chi phí cho Hít-le ngay từ trước khi Hít-le lên cầm quyền rồi sau hắn lại giúp đỡ khá nhiều cho Hít-le và Him-le. Nhưng nói cho cùng, điều đó cũng không có gì lạ : Hít-le và chính sách chiến tranh của hắn, mang lại những món lời lớn cho kỹ nghệ mà điều đó đối với con nhà làm ăn thì cũng khá rõ ràng. Còn như về những bọn mị dân ở Mỹ và ở các nước khác, Lin-đơ-man hy vọng rằng chẳng bao lâu, người ta sẽ làm cho họ hiểu lẽ phải hơn. Tuy vậy, điều làm hắn lo ngại đôi chút chính là có tin đồn tên tuồi hắn có ghi trong danh sách 1.800 tội phạm chiến tranh, trong số các nhân vật kỹ nghệ và nhà băng. Nhưng nói cho cùng Lin-đơn-man dù sao cũng không phải là tử tước Phôn Srô-đe, hay Cơ-rúp — Phôrt Bô-len, hay cố vấn thân tín Smít của Phác-ben, cũng không phải Ác-nôn Réc-béc, hay Quyếc Smít, những tên đồng đảng trực tiếp và thực thụ của Hít-le. Hắn không phải là một chính khách, hắn chỉ bận tâm có một vấn đề: tiền lời.

        Ốt-tô Lin-đơ-man mơ ước miễn là cuối cùng nhìn thấy lá cờ đầy sao của Hợp chủng quốc. Nhiều toán người thong thả kéo qua rừng. Phía trước, nghe thấy tiếng gầm của những khẩu pháo xung kích tham dự trận phá vòng vây.

        Sau khi đến Pi-xen-đoóc, các đội tiền vệ giao chiến với quân Nga. Nhưng quân Nga, mặc dầu bị tiến công bất ngờ, vẫn giữ vững, nên đoàn người phải phân tán thành từng tốp tương đối nhỏ và mỗi toán phải tự mình liều lĩnh xông pha nguy hiểm tìm đường sang phía tây.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2018, 05:15:34 am

XXVI

        Đây đó, nhiều trận giao chiến ngắn nổ) ra: các toán quân Đức thoát khỏi Béc-lin tan rã dần, phân tán, tràn về các thị trấn, tản ra, xuyên rừng, qua bãi lầy và ngoan cố tiếp tục tiến.

        Toán quân trong đó có Lin-đơ-man, Buyếc và Uyn- ken, vấp phải một sức chiến đấu mạnh trước Xe-buyếc: Quân Nga đã bắn hỏng hai khấu pháo tự hành, bắt buộc chúng phải chia thành những tốp nhỏ, len lỏi qua các thung lũng, các bãi lầy, mò về miền Tây hằng mơ ước.

        Buyếc đi đầu một toán chừng ba trăm người.

        Tới phía tây Xe-buyếc, chúng giao chiến với hàng rào quân Nga lúc đầu đã đánh cho chúng phải bỏ chạy. Thì ra chỉ có hai mươi người Nga. Buyếc gọi tất cả đứng lại xông vào hai mươi chiến sĩ Nga bố trí bên đường cái. Quân Nga rút lui. Buyếc chạy lên trước, dùng hai bàn tay to lớn túm lấy một chiến sĩ Nga trẻ tuổi đã bị thương vào đầu. Trận đánh đã kết thúc nhưng Buyếc hai nắm tay đỏ ngòm máu vẫn cứ bóp cổ người thanh niên Nga, đánh vào mặt anh lúc này đã chết.

        Lin-đơ-man quay mặt đi, hẳn sợ trông thấy máu nhưng cũng không kém phần sung sướng trước sự gan dạ và điên cuồng của tên hộ vệ hắn.

        Qua khỏi đường cái, bọn chúng lại xuyên rừng, xuyên khe kéo đi. Càng tiến sang miền Tây, Buyếc ngàv càng trở nên hung hăng. To lớn, hùng hổ, hắn dẫn đầu cả bọn sẵn sàng làm bất cứ việc gì.

        Buổi sáng, chúng tới một con đường sắt. cả bọn đều mệt lử. Nhưng mối lo sợ và lòng mong muốn phá được vòng vây giữ lại đôi chút can đảm cho chung.

        Bọn chúng lội qua kênh đào. Ướt sũng và đói mềm người, chúng ra tới con đường cái về phía bắc làng Buy- xốp Các-đốp. Tại đây, chúng được "xơi” một loạt đạn của một tiểu đoàn pháo xô-viết bố trí ngay trên một điểm cao gần đó. Bốn phía, tiếng súng nổ giòn. Thật khá chật vật chúng mới thoát ra khỏi chiếc bẫy chuột ấy, chạy về một xóm nhỏ yên tĩnh. Nhiều thiếu nữ Nga mặc quân phục đang giặt giũ. Nhìn thấy quân Đức, các chị chạy vào trong các nhà và từ trong đó, nổ súng bắn ra. Sau đó, hai chiến sĩ Nga bước ra và thong thả tiến về phía bọn Đức vừa đi vừa nói gì không hiểu. Chắc là họ khuyên chung đầu hàng.
Buyếc quạt một băng tiểu liên để đáp lời. Một người Nga gục xuống, còn ngươi kia chạy biến.

        Buyếc mang trong túi một bình đầy rượu nho nhưng chính hắn không uống, hắn biếu Lin-đơ-man. Bình rượu nho này đã có tác dụng giữ vững tinh thần đang suy sụp của ngài giám đốc.

        Tới 10 giờ sáng, Lin-đơ-man gần như không lê nổi đôi chân nữa. Buyếc tuyên bố nghỉ lại trong rừng. Khắp nơi, nghe thấy giọng nói hốt hoảng. Bọn Đức nấp ở đây gọi nhau, chửi nhau, cãi nhau. Sau đó, người ta thấy một bọn trẻ con mang những chiếc sào có buộc cờ trắng nhỏ kéo tới. Bọn trẻ báo tin là có một sĩ quan Nga cử chúng đến đây. Ông sĩ quan Nga này nói là nên hàng đi, người ta sẽ không hành hạ ai cả mà trái lại mọi người đều được yên ồn. Người ta sẽ cho mọi người ăn uống và sẽ băng bó cho những thương binh. Người ta đang phát sữa cho tù binh đấy. Buyếc hét ầm đuổi bọn trẻ đi, dọa bắn chúng chết hết. Bọn trẻ hốt hoảng chạy tán loạn.

        Sau đó, một lính Đức lại đến và cũng cố gắng khuyên chúng nên ra hàng. Béc-lin đã đầu hàng; Muy- ních đã bỏ ngỏ cho quân Mỹ tiến vào; cuộc kháng cự đã chấm dứt.

        Buyếc quạt một băng tiểu liên. Im lặng lại trùm xuống!

        Lin-đơ-man đã nghỉ được một lát và Buyếc quyết định lại lên đường. Hắn nói:

        — Ta đi thôi. Không hề gì, dù sao ta cũng tới nơi. Cố lên ông Lin-đư-man ạ. Ở với Buyếc, ông không lo gì cả. Một bà thầy tướng ở Pa-ri, bà Ri-gu đã đoán là tôi có chết cũng phải là tướng đã... Nếu ông đã có ở Pa-ri, thì hẳn ông phải biết bà thầy này... Chỉ cần chúng ta tới được khu rưng phía tây Bran-đbua.

        Lin-đơ-man lấy lại được tinh thần.

        — Buyếc, ông thật là một đấng nam nhi. Đi thôi!

        Vừa lúc ấy, Buyếc nhìn qua rặng cây thấy một người vác lá cờ trắng. Đó là một sĩ quan Nga, mái tóc hung, đôi mắt xanh. Đôi mắt xanh của người ấy nổi bật lên trên khuôn mặt sạm nắng gió. Người ấy đứng ở cửa rừng nhìn vào trong. Tay trái cầm lá cờ, và ánh nắng lách qua đám lá cây rung rinh chiếu xuống nền vải trắng những khoanh vàng nhỏ.

        Người ấy nói mấy tiếng rồi im — Phía sau, lại thấy lũ trẻ con Đức mang những chiếc sào dài có buộc cờ trắng con. Bọn trẻ đi kiễng chân rón rén, tò mò trố mắt nhìn.

        Bên phải Buyếc, hai người Đức đã đứng dậy, đi thẳng về phía người Nga. Tiếng chân họ khẽ kêu sột soạt trên bãi cỏ. Một chiếc mũ sắt bị đá phải kêu côông côông. Máu từ từ dồn lên mặt Buyếc và cũng từ từ dồn lên mặt Lin- đơ-man. Bỗng nhiên, thật hết sức bất ngừ, có một tên —  nằm bên cạnh hắn — đứng thẳng dậy. Buyếc quay lại: thì ra Uyn-ken, hai tay giơ thẳng lên trời tiến về phía người sĩ quan Nga. Khẩu tiểu liên của hắn vứt lại trên bãi cỏ. Buyếc gầm lên, chống tay trái nhổm dậy. Tấm thân nhỏ nhắn của Uyn-ken chắn trước tầm mắt hắn. Buyếc giơ cao tiểu liên bóp cò.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2018, 02:56:01 am

        Không thèm nhìn Uyn-ken ngã úp sấp, Buyếc nghiến răng bắn một băng ngắn vào người sĩ quan Nga, vào lá cừ trắng của anh, vào bầy trẻ em đang đứng phía xa xa. Lá cây trúng đạn lả tả rơi xuống mặt đất.

        Buyếc nắm lấy tay Lin-đơ-man và hai thằng bỏ trốn vào rừng sâu.

        Nhảy qua nhiều khe, lát sau chúng nhìn thấy sông Ha-ven. Đi qua một khu bãi lầy cỏ lau rậm rạp, hai thằng chui vào một thung lũng ẩm ướt gần Bran-đbua. Thở hổn hển, chúng ngồi xuống nghĩ.

        Lin-đơ-man thiếp ngay đi. Buyếc không tài nào nhắm được mắt. Gió đùa trông đám cỏ lau xào xạc và Buyếc thấy như có nhiều người Nga đang bò lại chỗ hắn, ngày càng gằn, những khuôn mặt sạm nắng, với những đôi mắt xanh như đôi mắt người sĩ quan vừa rồi. Tất cả những thằng nằm xung quanh đều ngủ cả, lẩm bẩm, thở dài và mê sảng, chửi rủa.

        Đôi cánh tay dài của Buyếc thõng xuống giữa hai đầu gối như đôi tay vượn.

        Một giờ sau, hắn đánh thức Lin-đơ-man và cả bọn dậy và nói là đã đến lúc lên đường.

        Lin-đơ-man rên rỉ :

        — Thôi! Tôi không đứng dậy được nữa !

        Buyếc hỏi :

        — Có lẽ ông muốn để cho quân Nga tóm được à. Nếu thế ông ở lại. Tôi đi một mình.

        Lin-đơ-man lẫm hằm :

        — Ừ, thì đi vậy!

        Bốn bề im lặng nặng nề. Trên trời mảnh trăng thượng tuần soi sáng. Lin-đơ-man than thở :

        — Chỉ mong sao đến được chỗ quân Mỹ thôi!

        Buyếc nói với một vẻ buồn bã :

        — Hừ, quân Mỹ ! Cũng là thù cả.

        Câu lý luận này làm cho Lin-đơ-man nổi giận và nói liến thoắng :

        — Thật anh chẳng hiểu tí chó gì cả ! Quốc trưởng của anh và đồng đảng của ông ta đã nhồi chặt óc anh rồi ! Người ta đã dạy cho các anh ghét chủ nghĩa đô-la, ghét các nhà tư bản! Thế anh có biết ai đưa Ọuốc trưởng lên cầm quyền, ai cấp tiền cho ông ta ra vận động tranh cử không ? Chúng tôi, chúng tôi ! Những người của nền kỹ nghệ nặng !

        Buyếc nói :

        — Suỵt!

        Lin-đơ-mau hạ thấp giọng tiếp tục :

        — Nếu phải nói cho công bằng thì chiếc bánh ngọt Mỹ cũng đã đóng một vai trò không phải là tồi trong những thành công của Quốc trưởng !... À hà, điều đó làm anh ngạc nhiên ư ? Điều đó không giống như những lời ông bác sĩ Gơ-ben nói với anh ư? Các xưởng máy "Ô-pen”, nếu anh muốn biết, thuộc về hãng Giê-nê-ran Mô-tơ ! Công ty vô tuyến điện Lo-ren là một chi nhánh của công ty máy điện thoại của Mỹ, nếu như anh muốn biết sư thật. Người Mỹ có cổ phần trong hãng Phốc úp. Phải, phải, máy bay của thống chế Gơ-rinh đã từng ném bom quân Mỹ chính là được chế tạo bằng tiền của người Mỹ đấy.

        Buyếc nói:

        — Suỵt!

        Lin-đơ-man khẽ tiếp:

        — Và Tổ quốc đáng thương của chúng la, vẫn còn có tương lai... Tất nhiên phải dưới sự che chở của một lực lượng chính trị mềm dẻo hơn!... Quốc trưởng đã là một vĩ nhân, nhưng ông ta không hiểu hết mọi việc!... Sự thiếu mềm dẻo đã đưa ông ta đến thất bại. Một chính sách đối nội đúng đắn và một chính sách đối ngoại thật đáng ghét!...

        Qua ba ngày lặn lội, Buyếc và Lin-đơ-man tới bờ sông En-bơ. Cả đoàn tới lúc này chì còn lại mười một người: năm tên SS, một viên chức bộ nội vụ, một "Leiter” của Đoàn thanh niên Hít-le và bốn người lính quê vùng Tuy-ranh và Ha-nô-vơ-rơ.

        Buyếc kiếm đươc một chiếc thuyền và cả bọn qua sông. Nhìn thấy một thôn lớn ngay gần. Từ trong làng vọng ra nhiều tiếng người nói và động cơ nổ rền của nhiều ô tô.

        Nhiều chiếc xe Đốt, trên mũi có cắm cờ Mỹ đỗ trước dãy nhà đầu làng.

        Buyếc dặng hắng, mặt đỏ bừng, hai tay giơ cao, hắn đi vào làng. Những tên khác làm theo, trừ Lin-đơ-man là thường dân nên không phải giơ tay.

        Binh lính Mỹ tiếp đón chúng không niềm nở gì cho lắm và dẫn chúng qua làng. Một tên còn đá đít Buyếc một cái. Lính Mỹ và nhất là người da đen trong bọn, căm hờn nhìn bọn Đức. Ở phòng tham mưu đơn vị mà người ta dẫn chúng tới, một đại úy Mỹ nét mặt nghiêm khắc hỏi cung qua loa. Trong giọng nói của ông ta lộ vẻ thù ghét rõ rệt.

        Khi viên đại usy đi khỏi, Buyếc liếc nhìn Lin-đơ-man cũng đang buồn rười rượi nhưng không nói gì.

        Mãi đến tối mịt người ta mơi cho lính áp tải dẫn chúng từ phòng tham mưu tới một ngôi nhà khác.

        Viên sĩ quan Mỹ, một viên đại tá nói chuyện với Lin- đơ-man bằng tiếng Đức khá thạo. Viên đại tá ngạc nhiên thấy một thường dân. Lin-đơ-man lập tức trả lời bằng tiếng Anh. Viên đại tá mời hắn ngồi. Hai người nói chuyện vui vẻ và vừa nghe Lin-đơ-man nói, viên sĩ quan Mỹ lại tư lự nhắc lại.

        — Yes... Yes ..1

        Chốc chốc, viên đại tá lại đưa đôi mắt ti hí và sắc sảo nhìn Buyếc và những tên Đức khác.

        Mấy tên Đức quần áo rách rưới, râu ria xồm xoàm, lầm lì đứng sắp hàng sát tường.

        Buyếc nhìn trộm viễn đại tá Mỹ, nghĩ thầm: Chắc là một tay quân báo. Viên đại tá Mỹ này cao lênh khênh, khẳng khiu, có một bộ ria đen và hai bàn tay xương xẳu, lông lá, mồm ngậm điếu thuốc lá. Đôi mắt hắn ta nhìn Buyếc một lúc, khẽ nhếch mép cười, và hắn ta dùng tiếng Đức hỏi:

        — Thế nào, các ông ? các ông đã thoát khỏi tay quân Nga ư ? Các ông thật là may đấy!

---------------
        1. Vâng...Vâng.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2018, 04:00:11 am

        Lão đi ra ngoài. Một không khí im lặng lo ngại. Viên đại tá quay vào theo sau có một sĩ quan trên ngực điểm một hàng nhiều dải màu. Tầm thước trung bình, dáng phục phịch, vui vẻ, hắn ta luôn luôn xoa đôi tay nhỏ xíu, lúc thì nhặt lấy từ giấy trên bàn, lúc lại nhặt tờ khác và sau khi đọc xong nội dung lại vất xuống bàn. Hắn đi qua trước mặt mấy tên Đức sắp hàng sát tường và nói đùa vài câu với Lin-đơ-man. Lin-đơ-man cười kín đáo.

        Buyếc không hiểu được xung quanh hắn, người ta nói những gì, hắn lo lắng nhìn hết người này đến người khác mỗi lúc một thêm sợ sệt chờ đợi sự quyết định số phận của mình. Bỗng nhiên, tên Mỹ béo phục phịch tới bên hắn hỏi:

        — SS à ?

        Buyếc đáp lại:

        — Kh...ông.

        Tên Mỹ vui vẻ nói với một giọng láu lỉnh:

        — Thôi đi, người ta biết rồi, — và quay về bàn.

        Mọi việc về sau diễn ra rất nhanh và bất ngờ. Lin-đơ-man đứng dậy, lễ phép chào và bọn Đức đi ra. Đi trước là một tên trung sĩ Mỹ, tên này sau khi nói câu gì với Lin-đơ-man, biến mất. Bọn Đức vào một ngôi nhà ở ven làng. Trong nhà rải rác nhiều bộ quần áo thường dân và Lin-đơ-man bảo vội chúng:

        — Các anh cải trang đi.

        Nhà kỹ nghệ báo thầm cho Buyếc biết là hắn, Lin- đơ-man, được phép về nhà, về biệt thư của hắn ở gần Muy-ních để đợi quyết định của các nhà cầm quyền Mỹ.

        Lin-đơ-man nói:

        — Anh thấy chưa ? Hay anh về với tôi nhé ? — và hắn khẽ nói thêm : — Bọn họ đối xử với anh một cách hết sức thuận lợi, coi như khách quý, thật quá sức tưởng tượng. Thật là những con người thông minh, tinh đời và không huyênh hoang chút nào... Có công việc phâi tiếp xúc với ho kể cũng thú đấy chứ, có đúng không?

        Buyếe luống cuống mặc vội quần áo. Cuối cùng cả bọn kéo đi, Tuy vậy, chốc chốc Buyếc vẫn quay lại bởi vì thâm tâm hắn vẫn ngờ có một vố chơi khăm và sợ bị bắt giữ giữa đường. Nhưng không một ai tới chặn đường cả. Mọi việc đều êm đẹp.

        XYVII

         Trong lúc ở sư đoàn, người ta chưa biết gì về Lu-ben-xốp thì đồng chí đại diện Hội đồng quân sư, trung tướng Xi-dô-crư-lốp đáp máy bay tới Pốt-xđam.

        Béc-lin đã hàng phục, khắp nơi quân Đức đã ngừng kháng cư và tướng Uây-linh, tư lệnh thành phố đã cùng với tất cả bộ tham mưu ra hàng tướng Trui-cốp.

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp, sau khi đã qua Béc-lin, tới đây để kiểm tra các đơn vị đóng ở phía tây thành phố. Trên các ngả đường lũ lượt kéo đi nhiều đoàn hàng mấy nghìn lính Đức bị bắt hay ra hàng, thuộc bộ phận định phá vòng vây chạy sang phía tây.

        Thiếu tướng Xê-rê-đa báo cáo mọi tình hình vừa xảy ra với đồng chí đại diện Hội đồng quân sư. Vừa nhận được lệnh chuyển sư đoàn sang miền tây, tới sông En-bơ. Thiếu tướng cũng như tất cả các sĩ quan và chiến sĩ trong sư đoan đều hết sức phấn khởi.

        Các chiến sĩ tập hợp thành đội ngũ. Các đồng chí lái xe mở máy.

        Trước khi lên máy bay, đồng chí Xi-dô-crư-lốp hỏi:

        — Cháu gái dạo này thế nào ?

        Đồng chí Xê-rê-đa trả lời:

        — Dạ, cháu vẫn khỏe, cháu đang đi xem lâu đài "Vô tư”.'

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp đột nhiên hảo :

        —  Đồng chí có cho cháu đi với tôi được không? Được xem Béc-lin chắc cháu nó cũng thích — Ngừng lại một lát, đồng chí nói thêm: — Nhà tôi hôm nay từ Mát- xcơ-va tới và tôi rất muốn giới thiệu cháu với nhà tôi.

        Thiếu tướng sư đoàn trưởng lập tức cho ô tô đi đón Vi-ca về.

        Trong lúc chờ đợi, đồng chí Xi-dô-crư-lốp đi đi lại lại trên sân bay.

        A-nhỉ-a đã biết tin con chết. Trong đêm mồng 1 tháng 5 đồng chí Xi-dô-crư-lốp đã quyết định nói cho vợ biết. Đồng chí gọi điện thoại về Mát-xcơ-va — Chị phụ trách ở tổng đài trung ương cắm cho đồng chí gọi về nhà riêng. Đồng chí Xi-dô-crư-lốp đã suy nghĩ tất cả những điều sẽ nói; đồng chí định trước hết chúc mừng vợ nhân dịp ngày 1 tháng 5. Nhưng, khi nghe thấy tiếng nói của vợ, đồng chí lại nói:

        — A-nhi-a, tôi đây. Mình hãy lẩy hết can đảm nhé, A-nhi-a. Phải chịu đựng được mọi thử thách, mọi thử thách.

        Vợ đồng chí hiểu ngay. Những tiếng đầu tiên đồng chí nghe thấy sau tiếng thét của vợ là:

        — Anh yêu quý, anh đừng đau khổ nhé! Chúng ta phải dũng cảm!

        Vợ đồng chí không nói được câu gì nữa và đồng chí vẫn áp máy bên tai đợi. Tay đồng chí run lên và khi có tiếng chuông réo của một máy khác, đồng chí ghì chặt cả hai ống nghe vào tai và cố gắng lắm mới đủ nghị lực cần thiết để trả lời đồng chí Tư lệnh phưưng diện quân :

        — Đồng chí đợi cho mười phút nữa. Bây giờ tôi không thể nói chuyện ngay được.

        Đồng chí bỏ máy ấy xuống, giữ lại chiếc máy thứ nhất. Cuối cùng đồng chí nói:

        — A-nhi-a yêu quí của anh!

        Đồng chí thoáng nghe thấy tiếng khóc nức nở trong máy. Đồng chí im lặng và nghĩ thầm : "Cách xa mấy nghìn cây số sao mà nghe rõ tiếng khóc thế! ”

        — Em đáp máy bay lên đây với anh. Em xin phép nghỉ đi, ít nhất nghỉ lấy vài ngày. Còn về máy bay, anh sẽ thu xếp.

        Đồng chí bỏ máy và gọi điện thoại cho đồng chí Tư lệnh phương diện quân.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2018, 01:26:51 am

        Đồng chí vừa hỏi vừa nhìn bàn tav mình vẫn còn run :

        — Có tin gì mới đấy đồng chí?

        Đồng chí Tư lệnh phương diện quân nói là Trui-cốp vừa tiếp tên tướng lục quân Cơ-rép, Tổng tham mưu trưởng và hai sĩ quan khác, tên đại tá Buýp-phinh và tên trung tá Xây-phe, bàn về vấn đề đàm phán. Chúng mang tới một lá thư trong đó có viết (đồng chí Tư lệnh phương diện quân đọc nội dung bức thư do Gơ-ben ký, qua máy điện thoại):

        "Chúng tôi xin báo để ông Tổng tư lệnh quân đội Liên bang xô-viết biết tin như sau: Chúng tôi báo tin cho ông, vị thủ lĩnh của các dân tộc xô-viết người nước ngoài đầu tiên được biết tin này, rằng ngày 30 tháng 4, hồi 15 giờ 50 phút, Quốc trưởng của dân tộc Đức, A-đôn Hít-le đã tự sát."

        Đồng chí Tư lệnh hỏi:

        — Đồng chí thấy thế nào? Thật hay giả?

        Đồng chí Xi-đô-crư-dốp nói:

        — Thật thì đúng hơn. Hắn đã chạy sang bên kia thế giới để trốn hết trách nhiệm, con đường cuối cùng còn mở cho hắn là như vậy. Đồng chí đã báo cáo về Bộ Tổng tư lệnh chưa ?

        — Đã. Bộ đã có chỉ thị: chỉ có một khả năng đàm phán là đầu hàng không điều kiện.

        Ngày 1 tháng 5, Gơ-ben tự vẫn. Hôm sau, trại lính Béc-lin đầu hàng? Đồng chí Xi-đô-crư-lốp đáp máy bay tới Béc-lin, rồi đi Span-đô và cuối cùng tới Pốt-xđam. Tới đây, đồng chí chợt nghĩ ra rằng nếu dẫn bé Vi-ca nhí nhảnh, con gái thiếu tướng sư đoàn trưởng cùng đi cũng hay. Đồng chí cảm thấy hình như sự có mặt cô bé mồ côi mẹ sẽ làm giảm bớt nỗi đau lòng của một ngươi mẹ như A-nhi-a.

        Vi-ca về ngay. Khi được biết vì sao cho gọi em về, em mừng lắm. Nhưng khi chạy lại gặp đồng chí đại diện Hội đồng quân sư, em thấy cần phải cố giấu kín niềm phấn khởi, tuy rằng không giấu nổi. Em cố giấu nụ cười rạng rỡ và nói với một giọng kín đáo:

        — Cảm ơn bác ! Cháu đã mơ ước nhiều được đi xem Béc-lin!

        Máy bay đậu ngay gần đó, đôi cánh bạc khổng lồ, giương rộng trên thảm cỏ xanh của sân bay,

        Vi-ca nhanh nhẹn trèo lên thang và ngồi xuống một chiếc ghế có đệm. Đồng chí Xi-đô-crư-lốp đi theo em. Tiếng động cơ gầm lên và chiếc máy bay, sau khi lăn bánh trên thảm cỏ, cất cánh bay lên. Phía dưới, những ô vuông xanh rờn của cánh đồng, những con đường vàng ánh nắng, những ngôi nhà tí xíu lần lượt diễn qua. Bóng chiếc máy bay, trong ánh mặt trơi sáng rực, di chuyển trên mặt đất.

        Lát sau, chiếc bóng ngoằn ngoèo lượn trên mái các ngôi nhà vùng đô thị.

        Tại sân bay Tăm-pen-hóp, xe ô tô và xe vận tải bọc sắt đã đứng đợi đồng chí đại diện Hội đồng quân sự.

        Ngươi ta báo cáo với trung tướng rằng Phran Ê-oan, vừa từ Nơ-côn tới, đang đợi đồng chí.

        Đồng chí Xi-đô-crư-lốp bước vội vào ngôi nhà trong đó có đồng chí đảng viên cộng sản Đức. Hai người bắt tay nhau thật chặt. Hai con người, tuổi không còn trẻ, đã lão luyện trong nghề đấu tranh, nhìn nhau mỉm cười, có thể nói như nhìn nhau bằng cặp mắt say đắm của những tình nhân!

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp nói đùa :

        — Ồ! đồng chí cũng không yếu lắm nhỉ! Còn vững lắm! Ngay cả Hít-le cũng không làm gì được đồng chí...

        — Đúng thế — Ê-oan cươi, nói — Xương xẩu tôi còn nguyên vẹn.

        — Xương xẩu không đáng kể! Nhưng còn trái tim thì thế nào ?

        Ê-oan khẽ xua tay :

        — Không còn đủ sức để yêu, nhưng còn khá đủ sức để làm việc...

        Câu nói làm cả hai cùng cười. Xi-dô-crư-lốp đã để ý thấy nước da xanh xao và vẻ mặt mệt nhọc của đồng chí cộng sản Đức. E-oan nói ngay rằng đồng chí đã tìm được ở Nơ-côn một vài người bạn cũ và đã nói chuyện với thanh niên ở đó.

        — Tất nhiên, họ vẫn chưa lấy lại hết tinh thần. Còn rất nhiều vấn đề mà họ chưa hiểu, nhưng nếu tiến hành công tác được với họ thì...

        Trung tướng mời Ê-oan đi thăm khu trung tâm Béc- lin. Ê-oan vui vẻ nhận lơi. Đồng chí muốn thăm lại bãi Xi-men và Uây-đinh, "Uây-đinh đỏ”, tên gọi ngày xưa của khu phố thợ thuyền của Béc-lin. Ê-oan thuộc từng ngõ ngách ở đây. Đồng chí hy vọng tìm thấy một số người quen, nối lại đường liên lạc của Đảng. Cần phải nối lại mối quan hệ với anh em công nhân, nói chuyện với họ giải thích tình hình.

        Hai người đi ra chỗ Vi-ca, đang ngồi đợi trong ô tô, và lên xe đi.

        Béc-lin có vẻ như một trại trú quân rộng lớn. Các đơn vị xô-viết, các CO' quan hậu cần, pháo binh và xe tăng trú quân trên các đường phố, các bãi rộng. Giữa những ngôi nhà cao đổ nát, người người qua lại, những chiếc xe quân sự chậm chạp kéo đi. Bầy ngựa tháo yên cương hí vang trong những khung nhà đá xây, rúc đầu vào những bó rơm.

        Những nụ cười thân ái, rạng rỡ nở trên những khuôn mặt sạm nắng gió. Các trật tự viên đứng trên các ngả đường điều khiển trật tự giao thông. Các chiến sĩ công binh và các đội đặc biệt đang thu dọn gạch đá đỗ nát, gỡ mìn quanh các ngôi nhà, kéo những chiếc xe ô tô và xe vận tải bọc sắt của quân Đức sang một bên và dỡ các chướng ngại vật.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2018, 02:50:14 pm

        Tám năm nay, Ê-oan chưa tới Béc-lin. Nhưng một hôm, trong lúc người ta chuyển đồng chí từ nhà tù Mô- a-bít về miền tây, đồng chí đã được nhìn thành phố qua chiếc cửa sổ tròn của chiếc xe tù. Đó là năm 1939. Béc-lin lúc ấy rợp những lá cờ chữ thập ngoặc lớn: ngày hôm trước, Hít-le vừa chiếm được Pra-ha.

        Giờ đây, những lá cờ đỏ phấp phới khắp nơi, xen lẫn giữa những lá cờ trắng, tượng trưng của sự đầu hàng. Thực ra đầu tiên Ê-oan nhìn thủ đô tàn phá với đôi chút vui thích tinh quái: đấy, kết quả chế độ thống trị của cái tên ngu xuẩn kiêu ngạo và bè lũ đồng đảng của hắn đấy! Nhưng niềm vui đó nhường chỗ ngay cho một lòng thương sâu sắc đối với những thiếu phụ gầy gò đang lang thang trên đường phố, với lũ trẻ con xanh xao, nhỏ bé, là những người dù sao đã rất quan tâm đến những biến chuyển trước mắt, đối với những tù binh vẻ mặt buồn bã đang lê chân từng đoàn dài theo đường phố Bluy-xe đi xuống phía nam, đối với toàn thể nhân dân đau khổ.

        Đôi mắt đồng chí mọng lên, mặt tái đi.

        Ọua phố Bluy-xe, xe tới kênh đào Lăng-oe. Chiếc cầu bị hư hỏng nặng, một lỗ hồng toác miệng giữa cầu, nhưng các chiến sĩ công binh đã nhanh chóng sửa chữa lại để cho xe cộ, ô tô qua lại được.

        Trên bãi "Liên minh chặt chẽ”, đồng chí Xi-dô-crư- lốp gặp các vị tướng khác. Rồi có một vị tướng nhảy xuống xe, chạy thẳng tới trước đồng chí đại diện Hội đồng quân sự.

        Xi-dô-crư-lốp nói:

        —  À, Ca-rê-lin; thế nào công việc tốt chứ

        Ca-rê-lin nét mặt hớn hở nói to:

        — Thưa đồng chí trung tướng, rất tốt. Chúng tôi đã sẵn sàng tiếp tục lên đường! — Đồng chí bỗng luống cuống, nụ cười biến mất và đồng chí hỏi, có vẻ ngờ vực: — Xin đồng chí cho chỉ thị!

        Đồng chí Xi-dô-crư-lốp mỉm cười, rồi bảo:

        — Ca-rê-lin, đồng chí đừng sợ gì cả. Tôi không lấy ét xăng của đồng chí đâu!

        Hai người đi theo phố Phrê-đê-rích — đường phố bị tàn phá hoàn toàn và qua những khung nhà đồ sộ, nhìn thấy những ngôi nhà khác cũng bị tàn phá trên một đường phố khác.

        Mặc dầu đã nhiều lần nhìn thấy mọi cảnh tàn phá trong chiến tranh, trước quang cảnh đổ nát ghê gớm này, Vi-ca cũng phải khiếp sợ. Em thương hại nhìn những người dân đang đi lang thang giữa đống gạch đá, và nghĩ mãi không tài nào hiểu được là họ sẽ ăn, ngủ vào đâu. Rồi em để ý thấy đồng chí Ê-oan, ngồi bên cạnh, đang thiếp đi vì mệt. Hay ít nhất là Vi-ca tưởng như vậy. Đồng chí Đức mắt nhắm lại, miệng lẩm bẩm những câu gì nghe không rõ.

        Nhưng Ê-oan không ngủ. Đồng chí chỉ quên bẵng là bên cạnh mình có người. Vì quen sống trong gian xà lim đồng chí nói to mà không biết. Đồng chí nguyền rủa bè lũ Hít-le, nguyền rủa chính sách tàn ác và liều lĩnh của bọn chúng, nguyền rủa đường lối hèn nhát và đẫm máu của bọn chúng. Đồng chí thấy tiếc vì tuổi đã già, tim bị bệnh, đầu đã bạc và không còn sức lực, hoạt bát thời thanh niên lúc này rất cần thiết để xây dựng lại nước Đức mới.

        Đồng chí rùng mình, mở mắt và bắt gặp đôi mắt của Xi-đô-crư-lốp. Trung tướng gật đầu thông cảm :

        — Không hề gì, đồng chí ạ ! Dù sao đồng chí cũng cần được nghỉ ngơi. Rất cần thiết.

        Xe chạy ra khu Uyn-te đen Lin-đen. Tới đây, đường phố ngồn ngang những gạch đá và vũ khí, khí tài gãy nát của quân Đức, nhiều đến nỗi phải đỗ xe lại và xuống đi bộ.

        Phía tay phải, ngay giữa phố, sừng sững một pho tượng lớn.

        Ê-oan nói :

        — Phrê-đê-rích.

        Họ tiến đến bên pho tượng, một tác phẩm của Rốt. Phrê-đê-rích đệ nhị, "người Đức già”, ngồi trên lưng ngựa, gầy và hơi gù lưng, mặc chiếc áo choàng da cáo, đội chiếc mũ ba sừng, đang tư lự nhìn những đống gạch vụn, những chiếc cửa sỗ há hốc của những ngôi nhà đổ gục cùng những đoàn tù binh đang kéo đi về phía đông, tới sông Spơ-rê.

        Vi-ca nắm tay đồng chí Xi-dô-crư-lốp. Cảm thấy bàn tay nhỏ nhắn của ém bé nằm trong tay mình, trung tướng bèn đi chậm lại để Vi-ca theo kịp. Nhìn thấy đồng chí trung tướng và em gái nhỏ, các chiến sĩ đang đi qua bèn dừng lại và hết sức ngạc nhiên nhìn ông già Đức mái tóc hoa râm, mặc thường phục, đang đi cạnh trung tướng, nhìn đội tiểu liên đi hộ vệ theo sau dẫn đầu là đồng chí trung úy nhỏ nhắn và nghiêm nghị.

        Ê-oan mãi mới nhận ra được những tòa nhà xưa kia đẹp đẽ đến thế, ngày nay đã trở thành những khung nhà khủng khiếp. Cái này xưa kia là trường đại bọc, và cái này là thư viện. Các rạp hát, quán ăn và tòa nhà lãnh sự chỉ còn là những đống gạch xám xịt. Phía trên cao, những cuộn dây cáp đứt tung, rối bù rủ xuống từng đám một. Và đây là di tích tòa lãnh sự xô-viết. Nhân viên tòa lãnh sự đã rời Béc-lin về Mát-xcơ-va cuối tháng 6 năm 1941, nhường lời cho Hồng quân.

        Ê-oan chỉ tay ra xa, nói :

        —  Cổng Bran-đbua.

        Vi-ca rảo bước. Lát sau, mấy người tới khu bãi Pa-ri và chiếc cổng nồi tiếng hiện ra trước mắt với tất cả vẻ đẹp.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2018, 10:13:15 pm
     
        Đó là một công trình kiến trúc lớn, rộng hơn sáu mươi mét và cao hai mươi lăm mét. Dãy cột xây theo kiểu kiến trúc Hy Lạp chia cổng thành năm đường vào. Trên nóc cổng, bốn con ngưa bằng đồng tung cao bốn vó đang phi nước đại. Người ta đã cắm một lá cờ đỏ vào một lỗ thủng vì đạn trúng trên đầu một con ngựa. Lá cờ như một ngọn lửa phấp phới trên nền khói xám bao trùm lên thành phố.

        Trung tướng dừng chân trước cổng. Vi-ca ngước mắt nhìn đồng chí muốn hỏi, nhưng đồng chí lại không hề nhìn chiếc cổng Bran-đbua nổi tiếng. Đồng chí nhìn đoàn xe tăng xô-viết rực rỡ những lá cờ đỏ, đang lần lượt kéo qua, rồi biến mất vào đường Sác-lốt-ten-buyếc mờ sương. Đoàn xe tăng đủng đỉnh đi tựa như mơ màng suy nghĩ, lăn vòng xích khổng lồ trên mặt đường.

        Cuối cùng, mắt rời đoàn xe tăng, trung tướng thong thả bước tiếp.

        Sau khi qua khỏi cổng Bran-đbua, họ rẽ sang phải, đi lại ngôi nhà Quốc hội đồ sộ, ở đó lá cờ đỏ, lá cờ của Chiến thắng đang phấp phới trên đĩnh nóc tròn. Các chiến sĩ đáng ăn uống trên những bậc thềm rộng của ngôi nhà Quốc hội Đức, khói bốc lên nghi ngút từ những chiếc cà mèn.

        Bỗng nhiên ồn ào. Một đại tá và mấy sĩ quan từ trong nhà Quốc hội Đức, tiến lại phía đồng chí đại diện Hội đồng quân sư. Đại tá đứng nghiêm báo cáo một cách tế nhị:

        — Báo cáo đồng chí trung tướng, trung đoàn tôi sau khi chiếm xong nhà Quốc hội và cắm lá cờ Chiến thắng, hiện đang nghĩ ngơi.

        Xi-dô-crư-lốp nói :

        — Cho tôi gặp các đồng chí anh hùng. Những con hùm xám đâu rồi ?

        Thế là lại nhộn nhíp, người ta nghe thấy đây đó, trên những bậc thềm, và trong nhà, giữa những bức tường của cái khối gạch đá đã bi tàn phá tới một nửa, những khẩu lệnh ngắn gọn. Lát sau, chừng mấy chục người —  chiến sĩ và sĩ quan tới trước mặt đồng chí đại diện Hội đồng quân sư. Họ theo những bậc thềm rộng bước xuống và, tựa như đánh giá lại một lần nữa, chiến công của họ, và lần này theo quan điểm của Hội đồng quân sự, họ liếc nhìn những chiếc cột khổng lồ và những bức tường dày kinh người của nhà Quốc hội.

        Trong số này có trung sĩ Ê-gô-rốp và hạ sĩ Can-ta-ri-a là hai trinh sát viên đã cắm lên nóc nhà Quốc hội lá cờ giờ đây đang phần phật tung bay trên đỉnh cao đến chóng mặt tới hơn bảy chục mét. Còn có đại úy Nhe-ut-tơ-rô-ép, thượng sĩ Xi-a-nốp, các thượng úy Xam-xô-nốp, và Gút- xép, trung sĩ I-va-nốp, các binh nhì Xa-bu-rốp, Xa-ven-cốp và nhiều người khác nữa. Chỉ thiếu mặt những người đã hy sinh trong trận xung phong và đã được chôn cất trong những nẻo đường đi râm mát của Ti-e-gác-ten.

        Tuy đã mệt nhoài nhưng vẫn bình thản tươi cười, các chiến sĩ anh hùng trong trận xung phong bước đến gặp trung tướng. Trong lủc đồng chí Xi-dô-crư-lốp nói chuyện với anh em, Ê-oan kể lại cho Vi-ca rất ham muốn được biết mọi thứ, lịch sử của ngôi nhà đồ sộ và tối om này. Ngôi nhà xây năm mươi năm trước đây, theo kiều thời Phục hưng Ý, nhưng tất nhiên có kết hợp thêm vào đó nét kiến trúc bệ vệ và trang nghiêm của Phổ.

        Ê-oan dẫn Vi-ca tới chỗ cửa ra vào hướng tây, ở đó có xây một chiếc cổng lớn sáu cột, trên nóc cổng đắp một người đàn bà khổng lồ cưỡi ngựa — theo như đồng chí Ê-oan cho biết — đó là tượng trưng cho nước Đức. Phía trên những chiếc cửa dày, giờ đây mở rộng, có tượng thánh Gioóc-giơ, khuôn mặt giống Bít-xmác, đang đánh bại một con rồng.

        Pho tượng lớn Bít-xmác cũng ở ngay gần đó. Ông già quý tộc mặc áo giáp, tay cầm thanh kiếm từ trên chiếc bệ bằng đá hoa đỏ, buồn bã nhìn Vi-ca.

        Phía sau Bít-xmác, giữa đám lá cây xanh um tùm nhô lên một chiếc cột cao gọi là cột Chiến thắng, trên có trang điềm nhiều bức đắp nổi và chạm chìm cũng vẫn chung một ý nghĩa: sức mạnh vũ trang và những chiến thắng của nước Phổ. Từ chiếc cột chạy về hướng nam có một con đường hai bên toàn là những pho tượng, gọi là đường Chiến thắng. Ở đây có ba mươi hai pho tượng, mỗi bên đường mười sáu pho. Sau lưng mỗi pho tượng vua Phổ, có một chiếc ghế đá hoa hình bán nguyệt với hai pho tượng bán thân của các bạn cung kiếm hay bạn rượu của tên vua đó. Nhiều pho tượng đã bị hư hại nặng vì đạn và mảnh đại bác.

        Ê-oari kiên nhẫn giới thiệu cho Vi-ca từng ông tướng trấn thủ biên cương Phổ, từng kurfurts1, từng tên vua : nào An-brếch Gấu, Ốt-tô đệ nhất, Ốt-tô đệ nhị... Sau lưng họ, trên những chiếc ghế có vô số những công tước, hoàng tử, hầu tước và đề đốc, giáo hoàng và giám mục, các hiệp sĩ và tử tước, các luật sư, các tướng lĩnh, các thủ tướng và cố vấn.

        Vi-ca đang đứng giữa nước Phổ cổ xưa, kiêu ngạo, hiếu chiến và đầy tham vọng chiếm đoạt của cải của người khác.

        Một số chiến sĩ thong thả bước theo sau Vi-ca và Ê-oan, chăm chú nghe giải thích và nhìn nhau tán thưởng. Một đồng chí tiến lại gần và nói:

        — Tôi đã trông thấy Gơ-ben. Ra tro rồi. Cho đến lúc chết rồi hắn vẫn còn sợ bị chúng ta tóm được. Hắn đã tự thiêu.

        Sau khi đi thăm con đường Chiến thắng, Vi-ca và đồng chí Ê-oan quay lại chỗ đồng chí đại diện Hội đồng quân sư, vẫn đang vui vẻ nói chuyện với các chiến sĩ và sĩ quan.

        Một chiến sĩ nói với đồng chí Xi-dô-crư-lốp :

        — Báo cáo đồng chí trung tướng, đồng chí có muốn đến thăm chúng tôi trong nhà Quốc hội Đức không ?

        Mọi người trèo lên những bậc thềm cửa nam. Mọi vật ở đây đều mang dấu vết của trận đánh vừa qua. Trên những vòm nhà cao, khói đen của những đám cháy vừa mới dập tắt còn vật vờ đọng lại. Đây đó, ngọn lửa còn âm ỷ. Khắp mọi chỗ, bàn ghế gãy nát. Tường và trần nhà chi chít những lỗ thủng hốc hác.

        Các chiến sĩ chỉ cho trung tướng hết góc này sang góc khác và dẫn đồng chí đi qua những gian phòng rộng, kể lại những cuộc chiến đấu gay go với bọn Đức nấp trong đó. Rồi, sau khi đi dọc theo những hành lang, họ bước vào một gian phòng rộng và từ đó, qua những ngăn xép tối tăm gần sụp đổ, tới phòng họp.

        Gian phòng này rộng, trần cao và trên nóc là một mái tròn bằng thủy tinh một nửa đã vỡ. Ánh nắng từng cụm một rọi xuống những bức tường gỗ sến, vằn vèo những mảnh đại bác, rọi xuống những hình vẽ trang trí và những chiếc quốc huy lỗ chỗ vết đạn.

        Chính từ trên chiếc bục này mà xưa kia Hít-le đã rống lên.

        Phran Ê-oan còn nhớ lại nhiều kỷ niệm khác có liên quan đến gian phòng này. Những bức tường này đã từng vọng lại những bài diễn văn nảy lửa của Ô-guýt Bê-ben, của Các-li-ép-néc, của Cla-ra Xét-kin, của Vin-hem Pích, và giọng nói bình tĩnh, vững vàng của Ec-nét Ten-lơ-man.

        Vô tình mặt Ê-oan nhăn lại. Đồng chí ngước nhìn trung tướng và nói nhỏ :

        — Tôi phải đi ra đây!

        Họ ra khỏi nhà Quốc hội. Trung tướng xem đồng hồ. Rồi nói:

        — Xin chác đồng chí thắng lợi.

        E-oan đi. Vi-ca, đăm chiêu nhìn theo đồng chí, và nói:

        — Nếu người Đức nào cũng tốt như bác ấy thì mẹ cháu bây giờ hãy còn sống!

        Xi-dô-crư-lốp trìu mến nắm lấy tay em, và hai bác cháu lững thững đi về Uyn-te đen Lin-đen, chỗ ô tô đỗ.

----------------
        1. Hoàng tử.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 09:10:22 pm
   
XXVIII

        Thật là một ngày huy hoàng khác thường!

        Đối với Ta-nhi-a, ngày hôm ấy bắt đầu với những tiếng súng làm chị thức giấc lúc tảng sáng. Rồi một chị y tá chạy tới hớt hải nói là quân Đức đang tiến công vào khu tiểu đoàn quân y.

        Thật vậy, một toán đông lính Đức có vũ khí đã xuất hiện ở Phan-ken-ha-ghen, thuộc bọn đêm qua đã trốn khỏi Béc-lin. Tiểu đoàn quân y đã phải chống cự một trận ra trò. Bác sĩ, y tá, tải thương, cùng với nhân viên ban thú y đóng cạnh, chị em thợ giặt của xưởng giặt sư đoàn đã tồ chức một phòng tuyến thực sự. Thật ra thì họ kêu thét nhiều hơn là bắn, nhưng quân Đức không vì thế mà không buộc phải rút lui.

        Trong những giây phút hoang mang đầu tiên, Ta- nhi-a đã nghĩ tới Lu-ben-xốp : bây giờ anh ấy ở đâu, không biết đêm qua anh ấy có chạm trán với quân Đức không, và giá mà lúc này có anh ấy ở đây thì hay biết mấy! Anh ấy chỉ trong nháy mắt cũng đánh lui được quân Đức !

        Khi mọi vật trở lại yên tĩnh — lúc ấy đã giữa trưa —  Ta-nhi-a đã sửa soạn để đi Pốt-xđam. Chị đã có ý chọn sẵn một trong số những xe hơi du lịch quân Đức bỏ lại và đỗ khá nhiều trong các đường phố. Rút-cốp-xki cho phép chị và Gla-sa được nghỉ một ngày.

        Tuy vậy nhiều người đã khuyên chị không nên đi, các ngả đường còn nguy hiếm nhưng chị thấy trong tay đã có đủ mọi điều kiện tới thăm Lu-ben-xốp mà không sử dụng thì không được.

        Đến một giờ có lệnh chuẩn bị di chuyền. Sư đoàn sắp chuyển xa hơn, về phía tây. Buộc lòng chị phải bỏ dở cuộc đi thăm.

        Nhưng giữa lúc Ta-nhi-a đang thu xếp đồ đạc thì cô cấp dưỡng Mê-rin-ca chạy tới, và cố nén xúc cảm nói:

        — Chi Ta-nhi-a, có ai hỏi chi kia kìa. Một kỵ mã nhé!

        Ta-nhi-a đỏ mặt sung sướng, tưởng là Lu-ben-xốp!

        Chị vội vàng bước ra, nhìn thấy một bóng người cưỡi ngưa phía xa xa. Không phải là Lu-ben-xốp mà là đồng chí cần vụ trẻ tuổi của anh. Con ngựa sùi bọt mép. Ta-nhi-a nhìn thẳng vào Ca-blu-cốp, tái mặt hỏi:

        — Thiếu tá cận vệ làm sao đấy ?

        Ca-blu-cốp nói:

        — Tôi chưa rõ, bọn phát xít đã bắn trúng anh ấy!

        — Hiện giơ anh ấy ở đâu ?

        — Tôi không rõ. Có lẽ đã khiêng anh ấy về sư đoàn bộ, khá nguy. Bị mê man. Người ta nói là anh ấy không... không...

        Rút-cốp-xki và Ma-sa bước đến.

        Ta-nhi-a nói:

        — Tôi đi đây.

        Rút-cốp-xki gọi đồng chí lái xe — đồng chí này đỗ đầy ét xăng vào bầu — Ma-sa chạy đi goi Gla-sa. Gla-sa tới, sẵn sàng đi với Ta-nhi-a.

        Ta-nhi-a:

        —  Cho tôi xin một tấm bản đồ.

        Rút-cốp-xki đưa cho chị một tấm.

        Ca-blu-cốp đứng một lúc rồi quất ngựa phóng nước đại.

        Ta-nhi-a ngồi vào trước tay lái nhưng hoặc vì hòm chứa điện yếu hay vì Ta-nhi-a mất bình tĩnh nên xe không nổ máy. Thế là chị em trong tiểu đoàn quân y liền đẩy giúp một tay và chiếc xe bắt đầu chạy.

        Ra khỏi Phan-ken-ha-ghen, Ta-nhi-a lao thẳng xuống hướng nam, tới con đường lớn. Các ngả đường chật những bộ đội. Tất cả đều tiến về miền tây. Nắng chói lọi. Người ta thấy nóng bức, người ta vui vẻ. Tiếng cười, tiếng pha trò vọng tới tai Ta-nhi-a, xe đi chầm chậm. Các chiến sĩ đi bên cạnh, ghé mắt nhìn qua cửa kính và thấy hai chị phụ nữ thì gật đầu chào thân ái, vui đùa nói bông lơn về chuyện chồng con, người yêu mà các chị sắp có.

        — ... mình ném luôn một quả lưu đạn đúng vào giữa! — Một giọng nói ồm ồm bên cạnh xe và người ấy tiếp tục câu chuyện, nhưng không nghe rõ người ấy nói gì nữa. Một giọng khác trong trẻo gần như giọng trẻ con, nói to:

        — ... ai lại đi lấy lựu đạn ném cá!

        Giọng nói này cũng lại lùi về phía sau thì một giọng khác du dương, vui vẻ bắt đầu kề câu chuyện một tên đại tá Đức đã dẫn cả một trung đoàn ra hàng.

        Ta-nhi-a nghĩ thăm: Thôi thế là hết! — và chị bóp chặt tay lái đến nỗi hai tay chị nhợt nhạt hẳn đi — cuộc đời của ta thế là hết. Thật hết! Hết cả cuộc đời, không còn gì nữa!

        Gla-sa ngồi bên cạnh, im lặng, nước mắt tràn trề. Chị quay đi, chùi nước mắt, cố không cho ai biết. Nhưng phía cửa kính bên kia cũng có người đi và chị không biết quay mặt vào đâu để che giấu đôi hàng lệ.

        Qua khỏi con đường huyết mạch, xe tiến vào một con đường tương đối vắng. Ta-nhi-a cho xe chạy rất nhanh. Tới một ngã tư, chị dừng xe và xem bản đồ. Chị rẽ sang phải. Thế là lại thấy tiếng ồn ào của các đơn vị đang hành quân. Tới một làng lớn. Trong đường làng, các chiến sĩ đang đi lại, và Gla-sa bỗng kêu to:

        — Quân ta! sư đoàn ta đây!

        Chị nhận ra thiếu tá Ga-rin đứng trên thềm một ngôi nhà. Đồng chí cầm một tập truyền đơn và phân phát cho các chiến sĩ.

        Ta-nhi-a hãm xe lại. Gla-sa xuống xe, chạy lại chỗ Ga-rin:

        — Chào đồng chí thiếu tá! Tôi, Gla-sa đây !

        Anh nhận ra ngay chị, hơi ngượng và cảm thấy như có lỗi với người thiếu phụ to lớn và rất tốt này.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:29:15 pm
   
        Anh hỏi:

        — Công tác của chị ra sao ? Bây giờ chị ở đâu ?

        Gla-sa nóng điên ruột muốn được biết vài tin tức về Ve-xen-tra-cốp, nhưng chị hỏi tin Lu-ben-xốp trước đã.

        Ga-rin lắc đầu:

        — Anh ấy cầm cờ trắng đến gặp chúng nó để thuyết phục. Hình như anh ấy đã hy sinh. Tôi chưa về phòng tham mưu sư đoàn ? Suốt tháng ở dưới các đơn vị. Vâng... Thật không phải là chiến tranh nữa mà là một hành động hoàn toàn phát xít! Thật đáng tiếc là không bắt được bọn chúng, những thằng đã bắn anh ấy. Bọn chúng đã trốn thoát! Thôi, rồi thế nào cũng tóm cổ được chúng nó!

        Quen tay, anh đưa cho Cla-sa một tờ truyền đơn rồi bỏ đi.

        Gla-sa chạy vổi theo :

        — Thế phòng tham mưu sư đoàn bây giờ ở chỗ nào ?

        — Đã chuyền đi rồi. Chúng tôi tiến về sông En-bơ. Chắc bây giờ thiếu tướng sư đoàn trưởng đang ở Ét- xanh... cách đây chừng hai mươi ki-lô-mét về phía tay bắc.

        Gla-sa quay lại xe và chị chỉ nói về hướng đi. Còn mọi chuyện khác, chi không đả động tới. Xe mở máy, Gla-sa lướt qua tờ truyền đơn. Đó là một bản nhật lệnh của Xta-lin khen ngợi các đơn vi đã chiếm được thủ đô Đức.

        Gla-sa nói:

        — Khen cả chúng mình đấy.

        Ta-nhi-a bảo:

        — Chị đọc to lêu.

        Gla-sa làm theo. Chị đọc thong thả, rành rọt tên các tướng tá chỉ huy các đơn vị đã tham dự trận đánh chiếm Béc-lin. Và, ngày càng hạ thấp giọng, chị kết thúc bằng một giọng thì thào những câu nói nổi tiếng của đồng chí Xta-lin, vang lên như tiếng chuông đồng:

        — "Vinh quang của các anh hùng hy sinh trong cuộc đấu tranh cho tự do và độc lập của Tổ quốc chúng ta bất diệt!”

        Hai người dừng lại bên chiếc cầu bắc qua kênh đào ; ở đó khá nhiều xe cộ đang ứ lại. Ta-nhi-a ngồi im trước tay lái, không nhúc nhích, đợi cho đến lúc qua được cầu. Chị nhìn những chiếc lốp khía răng cưa khổng lồ của chiếc xe vận tải đỗ trước mặt. Chiếc xe vận tải nổ máy. Bánh xe quay đi quay lại khá vất vả. Cuối cùng chúng lăn đi. Ta-nhi-a theo sau, rồi bánh xe vận tải lại dừng lại, Ta-nhi-a lại dừng theo. Chị nhìn mấy chiếc bánh xe cho tới khi thấy căm ghét chúng đến cực độ. Mấy bánh xe ngoan cố đứng im, máy nồ ầm ì.

        Cuối cùng lại tiếp tục đi. Qua cầu và tới bờ kênh phía tây. Cách đó chừng hai ki-lô-mét, Ta-nhi-a nhìn thấy một đám người đứng trước một nấm mộ đất mới đắp trên một gò đất phía bên trái đường cái.

        Đây hẳn là nấm mồ người chiến sĩ Nga xa nhất về phía tây. Trên nấm mồ cắm một tấm bia gỗ với một ngôi sao đỏ. Các chiến sĩ yên lặng, mũ cầm tay, mấy cành cây cổ thụ lay động phía trên cao. Ta-nhi-a dừng xe, tắt máy.

        Động cơ ngắt tiếng như vĩnh viễn im tiếng. Ta-nhi-a bước xuống. Chị bước vội mãi tới chân gò mới đi chậm lại. Những người đứng trước mộ nghe tiếng bước chân của chị, từ từ quay lại.

        Chi trèo lên gò, dừng lại một phút rồi tới sát bên tấm bia. Trên một tấm bảng gỗ, dưới ngôi sao đỏ, đọc được dòng chữ :

Xéc-gây I-va-nốp — Chiến sĩ
Sinh năm 1925.
Bị bọn phát xít sát hại dã man Ngày 2 tháng 5 năm 1945
Vinh quang thuộc về người anh hùng !

        Ta-nhi-a đọc đi đọc lại mãi mấy dòng chữ ngắn ngủi ấy. Cuối cùng chị định thần lại. Gla-sa đang gọi chị.

        Gần chỗ ô tô có ba người cưỡi ngựa. Họ mặc áo choàng ngụy trang xanh, chăm chú nhìn người phụ nữ từ trên gò chậm chạp bước xuống.

        Một trong ba người là một thanh niên có đôi mắt nghiêm nghị. Người thứ hai lực lưỡng, đôi mắt nhỏ, khuôn mặt màu gạch lạnh lùng. Người thứ ba nhỏ bé, nhanh nhẹn, khuôn mặt thanh thanh lúc .nào cũng chực cười. Cả ba nhìn Ta-nhi-a thầm khen ngợi, hơi ngạc nhiên và có lẽ rất tán thành.

        Ngay từ xa, Gla-sa đã hổn hển nói ngay :

        — Còn sống ! — Rồi chị thấp giọng nhắc lại gần như khóc : — Còn sống !

        Người thanh niên tư giới thiệu :

        — Tôi là đại úy Me-séc-xki, — và anh nói thêm : Thiếu tá cận vệ ở gần đây, trong làng kia kìa.

        Đến trước ngôi nhà trong đó Lu-ben-xốp bị thương nằm, Ta-nhi-a được bác sĩ Mứt-skin ra tiếp. Bác sĩ không hiểu vì sao chị tới đây ; bác sĩ tưởng là chị được gọi tới góp ý kiến. Vì vậy, bác sĩ nói lại cho chi rõ rất tỉ mỉ tình hình sức khỏe của đồng chí trinh sát. Lu-ben-xốp bị một viên đạn trúng ngực, phía dưới tim và một viên khác chỉ sượt qua sườn phải.

        Mứt-skin nói:

        — Vết thương của anh ấy trầm trọng, nhưng không thể chết được. Vả lại, cơ thể anh ấy rất khỏe, có thể qua được cơn thử thách. Anh ấy là một ngưừi có khẳ năng chịu đựng mọi thử thách.

        Mứt-skin ngạc nhiên thấy Ta-nhi-a tiến đến bên Lu-ben-xốp đang nhắm nghiền mắt, và không hề xem xét lại vết thương. Chị ngồi sụp xuống chân giường, áp má mình vào bàn tay cứng đờ của người trinh sát.

        Rồi ngước mắt lên, chị nhìn thấy một khuôn mặt quen thuộc và chị chưa nhớ ra là ai: chị đã gặp đồng chí đại úy này ở đâu nhỉ. Cuối cùng chị nhớ ra: đó là "chủ nhân” cỗ xe tứ mã, trên cỗ xe ấy chi đã gặp lại Lu-ben-xốp.

        Gla-sa theo Ta-nhi-a vào sau, cũng đã nhận ra Trô- khốp. Chị vẫy tay ra hiệu cho Trô-khốp và cùng anh ra ngoài để cuối cùng hỏi tin tức về Ve-xen-tra-cốp! Ve-xen- tra-cốp ở ngay gần đây, trong làng bên, thế là Gla-sa chạy vội tới đó.

        Nhưng kìa Lu-ben-xốp mở mắt, nhận ra Ta-nhi-a.

        Các chiến sĩ đi qua ngoài cửa sổ. Bóng họ làm cho gian phòng lúc sáng lúc tối. Lu-ben-xốp có cảm tưởng như đang đi trên chuyến xe lửa và nhìn thấy bóng cây diễu qua trước khung cửa sổ ?

        Lu-ben-xốp nghĩ thầm:

        "Thì ra cuối cùng mình quay về Tổ quốc, và cùng với Ta-nhi-a. Ồ, sung sướng biết may!...” Anh mỉm cười với chị và trong gian phòng như trong toa xe lửa, ánh sáng tối đi rồi lại bừng lên. Đó là các chiến sĩ đang đi qua phía ngoài cửa sổ, và hạnh phúc mãi mãi ghi sâu vào trong trí nhớ: khuôn mặt người yêu, ý nghĩ: "Mình quay về tồ quốc”, và các chiến sĩ xô-viết chiến thắng đang tiến bước về miền tây, vẫn tiến bước mãi về miền tây.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:31:33 am

XXIX

        Các sư đoàn không ngớt nối tiếp nhau rong ruổi tiến về sông En-bơ. Các ngả đường tắm ngập nắng vàng ứ đầy bộ đội. Bộ binh, xe vận tải, những khẩu pháo nòng dài và những khẩu lựu pháo miệng rộng, gầm gừ, chuyển đi như một lớp sóng vô tận kéo về miền tây.

        Thỉnh thoảng vang lên những tiếng kều buồn tẻ: « "Tránh sang phải”. Các trật tự viên đứng giữa những ngã ba, ngã tư phất cờ hiệu. Những tấm vải bạt trên lưng các chiến sĩ tung bay theo làn gió mát rượi và phần phật như những cánh buồm.

        Mọi người bước đi những bước hành quân dài tưởng như cuộc chiến đấu mới chỉ hắt đầu. Những người dân Xi-bê-ri, người vùng sông Vôn-ga, người vùng U-ran, người Mát-xcơ-va, người U-cren, những người dân châu Á với đôi mắt nhỏ, những chàng trai đen bóng của dãy núi Cáp-ca-dơ, bước đi trên các nẻo đường nước Đức và trước các tung đội, những lá cờ trung đoàn đã tháo khỏi túi bọc màu xám, bay phấp phới.

        Đây, một đại đội bộ binh kéo qua, đi đầu là một đại úy trẻ tuổi, đôi mắt xám, cưỡi trên lưng con ngựa cao lớn. Trên hàng đầu của đại đội, một đồng chí thượng sĩ có bộ ria đen, và đôi mắt thông minh, hiền hậu, bước đi những bước nhanh nhẹn. Đi tập hậu là một chuẩn úy lực lưỡng, bộ mặt sạm nắng đến nỗi mái tóc hung như đồi màu bạc trắng. Giọng anh vang lên hùng dũng, át hẳn tiếng ồn ào trên con đường cái lớn:

        —  Dồn hàng lên! Không được bỏ cách quãng!

        Trên lề đường, các chiến sĩ điện thoại tiến lên cùng với máy ra dây. Dẫn đầu là một trung úy trẻ tuổi gầy gò. Chốc chốc, trung úy dừng lại, ngồi sụp xuống vệ cỏ, thét vào máy nói:

        — Tôi đây, Nhi-côn-xki đây ! Nghe rõ chứ! Tôi tiếp tục tiến !

        Môt tiểu đoàn công binh bắc cầu vùn vụt kéo qua. Đi trước là chiếc xe ô tô trên có một thiếu tướng chỉ huy bộ đội công binh, tuồi đã già, người nhỏ bé và không chút gì bệ vệ. Bên những mảnh cầu lớn có mắc thêm những chiếc thuyền nhỏ còn ướt nước sau đợt vượt sông vừa qua. Các chiến sĩ công binh kiêu hãnh nhìn bộ binh như muốn hỏi :

        — Còn phải qua quãng sông nào nữa ? Bắc cầu ở quãng nào ? Sẵn sàng theo lệnh các đồng chí! Nếu như đồng chí Xta-lin hạ lệnh thì dù cho phải bắc qua đại dương, cũng cứ bắc.

        Pháo binh kéo đi. Các pháo thủ bám quanh những khẩu pháo khổng lồ của họ. Một số khấc từ trong tấm vải bạt che pháo ngó ra, hét lên với bộ binh những câu đùa thân ái:

        — Bộ binh phong trần nhĩ!

        — Xin chào bà chúa của đồng ruộng nhé !

        Phải chăng lại vẫn chiếc mũi đỏ hiền lành thò ra khỏi tấm vải bạt, chiếc mũi mà người ta còn nhớ mãi ?

        Rất nhiều ngả đường từ thủ đô Đức chạy sang phía tây, ngả nào cũng chật ních những người và xe cộ.

        Đây kia, trên một ngả đường, một đoàn xe vận tải chất đầy vải bạt và thuốc men đang lăn bánh. Trên những đống hòm thuốc và vải bạt cao ngất, các chị phụ nữ tươi cười, nhí nhảnh, mái tóc rối bù trước gió. Ta-nhi-a ngồi đó, và cả Gla-sa, Ma-ri-a, cả cô bé cấp dưỡng Mê-rin-ca, và hàng chục chị em khác nữa.

        Nhìn thấy đám phụ nữ, các chiến sĩ lấy lại tư thế, ưỡn ngực, và lẽ tất nhiên, tường nhớ tới những Ta- nhi-a và Gla-sa của họ, ở lại nơi xa kia, nơi quê hương thân yêu.

        Trên một ngả đường, thiếu tướng Xê-rê-đa và đại tá Plốt-nhi-cốp đứng sát bên nhau dưới một gốc cây, đón sư đoàn tiến qua. Các trung đoàn đã đi qua; đội trinh sát đi ngựa, mặc áo choàng ngụy trang cũng đã qua : đại úy Me-séc-xki, chuẩn úy Vô-rô-nhin, người chẳng bao lâu nữa sẽ lại cầm lại chiếc búa thợ giày hòa bình, trung sĩ Mi- tơ-rô-khin, người sẵn sàng trở về xưởng đúc thép của mình.

        Bỗng nhiên, thiếu tướng phân vân suy nghĩ :

        —  Này! Lại trò khỉ nào kia rồi! Lại muốn bôi nhọ sư đoàn một lần nữa à?

        Một cỗ xe tứ mã nhô ra khỏi quãng đường vòng. Một cỗ xe tứ mã của tên tử tước thật sự, quét một nước quang dầu đỏ thẫm. Cỗ xe phong kiến đồ sộ ấy, bị cuốn theo cơn gió lốc tung trời của chiến tranh, đã khá bạc màu, đầy bụi bậm. Cỗ xe trông xộc xệch, màu đỏ và nước thếp vàng đã bạc phếch, trên ghế sau dành cho người hầu, ngưừi ta áã đặt một chiếc xe trẻ con và chiếc huy hiệu mang hình một chiếc đầu hươu, một bức tường thành có lỗ châu mai và một chiếc mũ lưỡi trai của hiệp sĩ đã loang lồ những vết bùn.

        Đồng chí Xê-rê-đa yên lòng ngay: trên xe không phải là các chiến sĩ ta mà là một số người nước ngoài. Trên ghế người đánh xe là một cô thiếu nữ xinh đẹp. Mái tóc hung của cô gái lấp lánh dưới ánh mặt trời như một khối vàng thật. Cô mỉm cười với các chiến sĩ Nga, những người đã giải phóng cho cô. Nhìn thấy các vị chỉ huy Nga, cô sợ hãi rẽ cương và lát sau cỗ xe chạy vào con đường hẻm.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:45:01 pm

        Plốt-nhi-cốp nói:

        — Họ về quê họ đấy. — Rồi giơ tay vẫy chào họ: —  Chúc các bạn đi đường bình an!

        Bên trái đường cái, một dòng tù binh kéo dài vô tận, lê chân đi về hướng đông. Những người đàn ông, đàn bà Đức chậm chạp từ trong các ngôi nhà, các hầm chui ra. Lũ trẻ em nhảy vội ra. Pỉốt-nhi-cốp nhìn họ nói nhỏ :

        — Những người Đức này họ có hiểu tí gì không nhỉ ?

        Đồng chí Xê-rê-đa mỉm cười, vừa nói vừa giơ tay chỉ vào đoàn quân xô-viết đang di chuyền trên đường cái:

        — Tại sao họ lại không hiểu! Người ta thừa hiểu!...

        Plốt-nhi-cốp nói:

        — Đúng đấy, nhưng như vậy chưa đủ. Những việc đã xẩy ra, phải làm sao cho họ hiểu được thật đầy đủ và sâu sắc. Này, ta hãy chúc cho họ thông minh và hiểu biết!

        Đoàn chiến sĩ mô tô hiện ra và lao vụt đi để lại sau lưng những tiếng động cơ vang rền. Những xe tăng hai bên sườn mang hình ngôi sao đỏ, trên tháp tròn phấp phới cờ hiệu, thong thả bò sang miền tây. Đoàn xe không vội vã gì lắm và những vòng xích khổng lồ lăn trên mặt đương nhựa, có thể nói như nhẹ nhàng rón rén.

        Cùng một lúc, không quân xuất hiện và tất cả mọi người đều ngước mắt lên trời để ngắm nhìn đội hình đều đặn của đoàn máy bay ném bom, máy bay săn và máy bay tiêm kích. Nhưng kìa, trên đường cái hiện ra một xe ô tô du lịch, theo sát sau là một chiếc xe vận tải bọc sắt với khẩu trung liêu nòng chĩa lên trời. Đường đi chìm trong im lặng. Chiến sĩ và sĩ quan lấy lại tư thế. Người ta nhận ngay ra xe ô tô của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự. Đồng chí đó không ưa nổi đùa. Đối với đồng chí, mọi việc phải trôi chảy đầy đủ.

        Trung tướng Xi-dô-crư-lốp nhìn thẳng qua kính chắn gió. Đôi lúc đôi mắt đồng chí lơ đãng lướt qua khuôn mặt các chiến sĩ đang bước đi hay đang ngồi nghỉ dưới các gốc cây bên đường; rồi sau đó, xe đồng chí lại lao lên phía trước, trên dải đường trắng xóa tắm mình trong ánh nắng đầu xuân.

        Sau khi vượt lên trước bộ binh và các đơn vị thiết giáp và cơ giới hóa, xe trung tướng tiến vào một làng Đức, kéo dài suốt dọc đường cái. Trên khu bãi công cộng giữa làng sừng sững một pho tượng đá hoa thô kệch. Vượt qua pho tượng, xe trung tướng leo lên một ngọn đồi. Trước mặt đồng chí, một dòng sông lớn uốn khúc. Phía tay trái là đống đá vụn của một chiếc cầu bị phá hủy. Phía tay phải một cánh buồm cô đơn lướt trên sóng. Một con tàu nhỏ thở phì phò phía bên kia sông.

        Phía bên này sông, dưới những gốc cây, các chiến sĩ xô-viết kẻ đứng người nằm, ngồi trên bãi cỏ. Ngay gần đấy, một chiếc bếp dã chiến đang bốc khói. Chim chóc ca vang trong một rừng cây bên cạnh.

        Nhưng điều làm trung tướng ngạc nhiên nhất đó là cảnh tĩnh mịch của vùng lân cận.

        Tĩnh mịch vô cùng. Các chiến sĩ ngạc nhiên lắng tai nghe. Không một tràng nổ giòn của súng máy, không một tiếng rít của đạn súng trường, không một tiếng vang ầm của mìn. Trong chiếc ao ven sông ngay gần đấy, ễnh ương kêu inh ỏi. Một con mèo to, lông màu đỏ hung, đuôi sù, lững thững bước dọc theo nóc ngôi nhà cuối cùng còn sót lại trông làng. Chim hót. Đây, con bạc má đang véo von. Con chim sâu lách chách. Kia, một con sếu đang rền rĩ. Và đây, một tiếng kêu lạ tai: một giống chim nào đó của vùng này, một con chim Đức, ra mà xem !

        Giữa lúc đó, con tàu nhỏ bên kia sông đã mở máy; theo sau con tàu, nhiều chiếc xuồng đang rẽ nước. Trung tướng đứng đợi. Con tàu vẫn cứ tiến lại gần. Người đứng trên "boong” tàu vẫy tay rối rít. Tiếng kèn trống nổi lên. Cuối cùng con tàu nhỏ khuất vào sau bờ sông dựng đứng, binh lính Mỹ nhảy lên bờ.

        Ngay lúc đó, vang lên nhiều tiếng hét vui mừng:

        — Long live Stalin !

        — Long live Russia!1

        Một toán sĩ quan, trong đó có một viên tướng tiến lại phía đồng chí đại diện Hội đồng quân sự. Họ đã tới trước mặt đồng chí. Hai sĩ quan, đứng gần viên tướng Mỹ tiến lên. Một tên cao, gầy, với hai chòm ria nhỏ đen và đôi bàn tay xương xẩu, đầy lông lá, tên thứ hai nhỏ bé, rất vui tính, trước ngực đeo một cuống huy chương lớn.

        Tên nhỏ bé nói tiếng Nga rất thạo. Hắn nói:

        — Thay mặt cho bộ chỉ huy quân đội Mỹ, trung tướng xin gửi ngài lời chào mừng nhân dịp ngày vẻ vang kết thúc chiến tranh.

        Sau khi nghe hết câu đáp từ của Xi-dô-crư-lốp tỏ ý hy vọng rằng giờ đây, các nước Đồng minh, trong khung cảnh một sự hợp tác thân thiện sẽ cùng góp sức vào việc xây dưng một nước Đức dân chủ và hòa bình, cũng như góp sức xây dựng nền hòa bình thế giới, tên sĩ quan Mỹ gật đầu phấn khởi và dịch lại câu đáp từ cho tên tướng Mỹ nghe. Tên này — theo như lời hắn nói — hoàn toàn đồng ý với vị trung tướng xô-viết.

---------------
        1. Xta-lin muôn năm!
            Nước Nga muôn năm


Tiêu đề: Re: Mùa xuân trên sông Ô-đe
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:45:36 pm

        Tên sĩ quan Mỹ có hai bàn tay lông lá gật đầu tỏ vẻ thần ái.

        Cạnh đó, các chiến sĩ Nga nói chuyện với binh lính Mỹ. Chắc hẳn là họ phải viện trợ đến điệu bộ nhiều hơn là lời nói, nhưng dù sao vẫn cứ nói chuyện với nhau.

        — Tốt chứ ? — Một chiến sĩ Nga hỏi.

        — Tốt chứ ! — Tên lính Mỹ nhắc lại, cười cởi mở. Rồi hắn nói thêm theo tiếng của hắn : "Ô-kê".

        — Ô-kê — Đồng chí chiến sĩ Nga nhắc lại, với nụ cười không kém phần cởi mở.

        Sau khi những người Mỹ đi khỏi, đồng chí Xi-dô- crư-lốp đi theo dọc bờ sông. Bỗng nhiên có vật gì động đậy dưới chân trung tướng: một chiến sĩ có bộ ria màu hung nhô lên khỏi một chiến hào vừa mới đào xong.

        Vấp phải trung tướng, đồng chí kia dặng hắng, sửa lại áo ngoài và đứng nghiêm. Nhưng, nhìn thấy trong đôi mắt của đồng chí đại diện Hội đồng quân sự một tia lửa nồng nàn và hiền hậu, đồng chí chiến sĩ khoa tay, nói:

        — Báo cáo đồng chí trung tướng, như vậy là chiến tranh dù sao cũng đã, như có người nói, kết thúc, có phải không ạ ? Im ắng, im ắng quá! Thật không quen tai!

        Trung tướng nói:

        — Phải, chiến tranh đã kết thúc.

        Đồng chí chiến sĩ đứng đó, sững sờ, hai giọt nước mắt trào ra, lăn trên gò má, đọng lại trên hàng ria hung đỏ.

        Đồng chí chiến sĩ ngạc nhiên, tự nhủ:

        — Mình khóc cái gì kia chứ, thật là ngốc ?

        Trung tướng đang nhìn dòng sông, hai hàm răng nghiến chặt, không trả lời được câu nào.

        Đồng chí chiến sĩ tự trả lời:

        — Tôi thương nhớ các đồng chí đã mất. Và tôi khóc vì sung sướng — Đồng chí nhìn đoạn chiến hào mà đồng chí vừa từ dưới đó chui lên: — Theo thói quen, tôi đã đào ngay một đoạn chiến hào, một hố cá nhân như người thường nói. Vậy đấy, đến đâu cũng thế. Chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ trở về quê tôi ở Xi-bê-ri. Tôi là nông trường viên của vùng Crát-nôi-ác... Và, chà, tôi sẽ cùng với Va-xi- li-xa của tôi, đi dạo một vòng... Và, đồng chí thử đoán xem như thế nào ! Nếu hai chúng tôi mà tới một bãi trống nào, một cánh ruộng hay một bãi cỏ không có gì che đạn chẳng hạn, tôi tin rằng thời gian đầu thế nào tôi cũng lại đào ngay một đoạn chiến hào...

        Đồng chí chiến sĩ lại lắng tai nghe và thì thăm :

        — Cảm ơn Xta-lin.

        Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự suy nghĩ, mắt ngắm nhìn dòng nước sông En-bơ trong vắt. "Phải, cảm ơn Người, cảm ơn trí thông minh mãnh liệt, đức kiên quyết không lùi, đức nhẫn nại vô song và trí sáng suốt đặc biệt của Người. Cảm ơn Đảng. Cảm ơn Người đã rèn luyện quân đội do Người xây dựng, cảm ơn nhân dân mà Người đã dẫn tới đỉnh cao tột cùng”.

        Ý nghĩ của trung tướng đưa trung tướng quay về nơi xa xăm, về Tồ quốc, từ nơi ấy tất cả các chiến sĩ kia đã ra đi và trái tim cứng rắn của đồng chí thổn thức một tình cảm khó tả. Ruộng đồng nơi ấy cung cấp khá nhiều lúa mì, rượu nho và bông. Hầm mỏ nơi ấy cung cấp khá nhiều kim khí và than đá. Nhưng điều chủ yếu là đất nước đó có những con người ngoan cường, lương thiện làm chủ. Trung tướng có cảm giác như lúc này nghe thấy hơi thở của đất nước mình điều hòa và thanh thản.

        Nhận thức rõ sức mạnh phi thường của mình, sức mạnh hiền hòa nhưng rất là đáng sợ, — đất nước xô-viết bước vào cuộc sống hòa bình, niềm hy vọng của những người bị áp bức và cũng là nỗi khủng khiếp cho những kẻ đi áp bức.

HẾT