Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: hoi_ls trong 01 Tháng Chín, 2017, 03:25:12 pm



Tiêu đề: Dải đất hẹp - Chặng đầu đánh Mỹ
Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Chín, 2017, 03:25:12 pm
DẢI ĐẤT HẸP - CHẶNG ĐẦU ĐÁNH MỸ

GHI CHÉP DỌC ĐƯỜNG

Tác giả: HỮU MAI

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ - 2005
Khổ 13 x 20 cm. Số trang: 217

Số hóa: hoi_ls


(http://i441.photobucket.com/albums/qq136/conech2008/Scan-131223-0091.jpg)


Lời nói đầu

Giữa năm 1966, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định tiến hành một cuộc chiến tranh hạn chế và không tuyên bố ở Việt Nam, tăng cường đánh phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân, đổ thêm nhiều sư đoàn, lữ đoàn quân Mỹ vào Nam Việt Nam, nâng số quân Mỹ ngay trong năm từ tám vạn lên gần bốn mươi vạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Quân Mỹ dồn ra Đường 9 lập hàng rào điện tử McNamara để ngăn đôi hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Pháo đài bay chiến lược B.52 ném bom rải thảm suốt ngày đêm. Mưa chất độc hóa học đổ xuống biến núi rừng quanh năm xanh thành vùng đất chết. Lính Mỹ mang cờ hiệu sọc và sao núp sau xe tăng lao vào cuộc hành binh chiến lược “Tìm và Diệt”.
Ta mở Mặt trận Đường 9 để thu hút, giam chân một lực lượng lớn lính thủy đánh bộ Mỹ, hạn chế Mỹ đưa quân vào đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời chủ động phá kế hoạch địch đánh ra phía nam Khu 4 của ta.

Dải đất hẹp của nhà văn Hữu Mai kể lại cuộc hành trình dọc Trường Sơn, hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, vùng địa đầu của hai miền Nam, Bắc Việt Nam vào thời điểm cuộc chiến đấu giành tự do và thống nhất đất nước đi vào một giai đoạn thử thách cực kỳ quyết liệt. Tác giả đã giúp người đọc thấy được bối cảnh, con người và những tình cảm mang tính đạo lý của họ trong cuộc trường chinh chống Mỹ, trên con đường máu chảy về tim. DẢI ĐẤT HẸP do Nhà xuất bản Văn học ấn hành lần đầu năm 1967 với bút danh Trần Mai Nam, ngay sau đó đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, và trích dịch sang tiếng Ba Lan.

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi tái bản tập sách này và trân trọng giới thiệu với bạn đọc.



NHÀ XUẤT BẢN TRẺ


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Chín, 2017, 03:28:12 pm
I.


1.

Chúng tôi đi giữa những khu rừng màu xám dữ dội. Những cây cao rụng hết lá vì chất độc hóa học chỉ còn lại những cành khô cháy, xương xẩu, in hình trên vòm trời thấp đầy mây, nặng trịch như chiếc mền bông nhúng nước. Đôi chân chúng tôi đạp trên lớp lá dày cây cối đã trút xuống từ mấy mùa nay. Những chiếc lá mới rụng vì đợt thả chất độc hóa học cuối cùng còn xanh nguyên, tươi tắn, nằm trên lớp lá màu cánh dán ải mục vì nước mưa.

Quãng quãng, lại vượt qua một đám rừng cây cối bị bom cắt nằm ngổn ngang. Quang cảnh tơi bời gợi cho ta nghĩ tới hình ảnh một hung thần nào đó trong câu chuyện thần thoại, giữa một cơn điên đầu vì tuyệt vọng, đã vung lưỡi tầm sét khổng lồ chém đổ những cây cối không trêu chọc gì mình.

Đôi mắt của chúng tôi cứ đỏ lên vì bom đạn. Khắp miền Nam đâu đâu cũng là bom đạn. Nhưng ở trên dải Trường Sơn núi non triền miên nối tiếp nhau, bom đạn chúng thả xuống tưởng chừng không có nghĩa. Có lúc mình lại hỏi mình: “Chúng định làm gì thế này?” Chả lẽ những pháo đài bay của chúng từ trên đảo Gu-am xa lắc vượt biển đến đây chỉ cốt đạt lấy một sự thay đổi về màu sắc? Những nương sắn, nương bắp nho nhỏ là mục tiêu của chúng. Những khu rừng rậm, những con sông, con suối là mục tiêu của chúng. Cả những quả đồi trọc kia cũng là những mục tiêu của chúng...

Chiều qua, đồng chí trưởng trạm mời chúng tôi lại để phổ biến tình hình đường đi. Trong căn lán náu dưới rừng cây tranh tối tranh sáng, giọng nói thì thầm của đồng chí đó gợi một không khí thật nghiêm trọng. Cũng không phải chỉ vì giọng nói, chặng đường này thực ra có khó khăn nhiều so với mấy chặng trước. Đường tráng, nhiều đèo dốc khó đi, địch luôn luôn ném bom và bắn đại bác. Ở một số đoạn, máy bay trinh sát của chúng kiểm soát ngặt. Ngoài ra, cần phải chú ý đề phòng bọn biệt kích. Trưởng trạm nhắc cho chúng tôi hai lần những mật khẩu, ám hiệu, ký hiệu để tìm nhau ban ngày, ban đêm, khi bị mất liên lạc. Anh không quên dặn cả những việc phải làm nếu trong đoàn có người bị thương hoặc hy sinh.

Sáng nay, trưởng trạm giới thiệu cho chúng tôi hai chiến sĩ giao liên. Cả hai đều còn trẻ. Tổ trưởng có mái tóc khô, loăn xoăn, người gày và xanh. Người chiến sĩ đi cùng anh mặt tròn, rỗ huê, mặc bộ quần áo lót đen để lộ đôi bắp tay, bắp chân trắng trẻo, bụ bẫm, như còn tuổi thiếu niên. Chúng tôi nhìn nhau chẳng khỏi đôi chút e ngại.

Tôi làm quen với người chiến sĩ:

- Đồng chí được mười tám tuổi chưa?

Anh đáp lí nhí, nghe không rõ. Tôi nhắc lại câu hỏi. Lần này, anh trả lời to hơn nhưng vội vã như muốn cho qua chuyện:

- Được rồi ạ.

Từ lúc ra đi, vòm trời không lúc nào ngớt tiếng máy bay. Những chiếc B.57 như những tên côn đồ giấu mặt, bay lẩn trong mây, thả bom theo tọa độ. Tiếng bom réo, tiếp theo tiếng nổ rền rền một khoảng rừng núi. Bọn “con ma” ầm ĩ bay ra Bắc, kéo theo một tiếng rít lanh lảnh như tiếng còi. Nhưng khó chịu nhất vẫn là tiếng vè vè không dứt của loại máy bay trinh sát.

Đường mỗi lúc một khó đi. Có nên gọi là “đường” không? Nhiều quãng, thực ra chưa thành đường; giao liên chỉ mới phát những cây nhỏ và cuốc qua một vài cái bậc ở sườn núi rậm rạp. Nhiều lần luồn dưới những cây đổ, tưởng qua rồi toan đứng lên đi thì cây níu ba-lô lại, giằn người xuống. Có lúc không phải là đi mà phải dùng đến cả tứ chi bám cây, chuyền cành như loài vượn.

Anh chiến sĩ trẻ eo cẳng hất tụt đôi dép dính đất đỏ nặng như cùm. Anh lấy chân gạt gọn hai chiếc dép vào bên đường, ngắt vội mấy cái lá nón, ném lên trên. Hình như anh không chú ý xem những chiếc lá đã đủ che kín đôi dép hay chưa. Tôi buồn cười về cách cất dép của anh, định đến gần nói với anh nên tìm một chỗ cẩn thận hơn thì anh đã đi vụt lên trước.

Chúng tôi đang đi lên phía bắc, bắt đầu đặt chân lên dải đất hẹp nhất của Tổ quốc. Ngày còn đi học, khi nhìn đất nước ta trên bản đồ, tôi đã thấy một cô gái Việt Nam thân hình son sẻ có cái lưng ong, cái lưng ong đó là chỗ này đây. Chật hẹp quá. Đi trên triền núi cao này, nhiều lúc chẳng cần phóng xa tầm mắt cũng nhìn thấy được chỗ tận cùng của đất nước. Biển xanh lục trước mặt chúng tôi, đâu đó, như ngay ở dưới chân núi. Từ đây xuống biển, nghe đâu chỉ cần dăm tiếng đồng hồ.

Trên chiến trường chật chội này, ta và địch ở xen vào nhau như hai thứ quân trên một bàn cờ. Địch và ta cùng ngủ trong một xóm nhỏ, cùng đi chung một con đường. Con đường của chúng tôi còn mang đầy dấu vết của một cuộc rút chạy của bọn lính thủy đánh bộ Mỹ.

Những chiếc áo giáp màu lá cây cứng quèo bị vứt lại, nằm phơi dòng chữ: “... bạn hãy nhớ dùng nó, nó sẽ che chở cho cuộc đời của bạn”... Không biết ai đã moi những mảnh chất dẻo màu trắng, hình quân bài độn trong áo giáp, ném lung tung trên mặt đất. Thật giống như quang cảnh một sòng bạc mà các con bạc vừa hốt hoảng tháo chạy vì tưởng nhà chức trách tới bắt. Những tảng pin dùng cho máy vô tuyến điện, những hộp thức ăn không mang theo được bị chọc thủng, lưỡi lê đựng trong vỏ dẹp màu xám, những viên đạn vàng chóe nằm hỗn độn giữa đám giấy kẹo xanh, đỏ, và rất nhiều vỏ bao thuốc lá Vic-to-ri-a.

Mỗi chuyến đi ở đây đều phải coi là một cuộc chiến đấu. Các chiến sĩ giải phóng đi trên đường với khẩu súng đạn đã lên nòng.

Trước mặt chúng tôi là một ngọn núi cao, cây cối rậm rạp. Người chiến sĩ trẻ đi những bước dè dặt. Từng quãng ngắn, anh dừng lại nghe ngóng, quan sát. Từ sớm, trời không mưa nhưng thỉnh thoảng lại nổi lên một cơn gió lạnh. Cơn gió màu chì đó cuộn tròn trong khu rừng, làm cho những đám sương quyện ở những lùm cây vẩn lên dữ dội, nước đọng trên lá cây rơi rào rào.

Lên đến đỉnh đồi, người chiến sĩ dừng bước, đứng ngó quanh. Anh nhặt một hòn đá ném vào bụi cây rậm đang vẩn lên một đám sương trắng đục. Mấy con chim từ đó tung cánh bay lên với những tiếng kêu hoảng hốt. Anh quay về phía sau, mỉm cười, ra hiệu cho chúng tôi tiếp tục đi lên.

Anh đứng chờ với bộ mặt đỏ hồng, lấm tấm mồ hôi. Nhìn cặp mắt thật thà của anh, chúng tôi như gặp lại người chiến sĩ thiếu niên ngây thơ buổi sớm. Anh trỏ vào một cây to, nói:

- Biệt kích đó!

Chúng tôi nhận ra những vết đạn tiểu liên lỗ chỗ ở thân cây. Một bữa cách đây không lâu, bọn biệt kích được thả từ trên trực thăng xuống, phục kích họ ở đây. Loạt đạn này làm một chiến sĩ giao liên hy sinh. Nhưng chúng ta đã diệt lại của chúng bốn tên khiến cho chúng hốt hoảng tháo chạy về phía đồng bằng. Người chiến sĩ kể vắn tắt lại câu chuyện bằng giọng nói thủ thỉ. Bộ mặt tươi sáng của anh vẫn thản nhiên như là chuyện đó xảy ra ở mãi đâu, xa lắm, chẳng có liên quan gì đến mình. Nhưng đến lúc anh tiếp tục vượt lên thì thái độ của anh trở lại cẩn thận, dè dặt. Chúng tôi biết mình vừa được báo cần phải chú ý đề phòng.

Lội qua một khe suối, chúng tôi thấy hiện ra phía trước một con đường mòn quang đãng dễ đi. Người chiến sĩ đứng đợi ở đầu cái dốc nhỏ. Chúng tôi đoán anh có điều gì cần nói. Chờ chúng tôi lên đủ, vẫn với cái giọng thủ thỉ như ban nãy, anh nói:

- Khúc ni tụi hắn hay ném bậy lắm các thủ trưởng ạ!

Một người trong chúng tôi mau mồm hỏi:

- Đường yên ngựa đây phải không?

- Dạ.

Trả lời xong, người chiến sĩ lại thanh thản bước đi. Chiều qua, đồng chí trưởng trạm đã nói khá nhiều với chúng tôi về đoạn đường này. Đây là một đoạn đường ít lâu nay địch hay đánh phá. Nhiều quả bom rơi trúng tim đường, đất còn bám đỏ cả những cây cối chung quanh. Trưởng trạm đã căn dặn chúng tôi qua đây cần vượt cho nhanh. Tại sao người chiến sĩ trẻ lại nói với chúng tôi là bọn hắn hay “ném bậy”? Đối với anh, những quả bom Mỹ có sức phát quang một khu rừng rậm hay đào những hố sâu có đường kính rộng hai ba chục mét, phải chăng, chỉ là những việc “bậy bạ”? Nhìn người chiến sĩ trẻ đi rảo bước phía trước, chúng tôi hiểu ý anh là nên nhanh chóng vượt khỏi quãng đường này. Anh cũng cẩn thận như đồng chí trưởng trạm. Nhưng chúng tôi đã thấy rõ anh có cách nói riêng của anh.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Chín, 2017, 03:31:33 pm
2.

Gần trưa, trời bắt đầu hửng nắng. Một thứ nắng non làm cho rừng cây trở nên ngột ngạt, khó chịu.

Trước mắt chúng tôi là thượng nguồn của một con sông nằm giữa những đồi núi lở loét, đỏ hỏn vì bom đạn.

Những con sông xinh đẹp bắt nguồn từ Trường Sơn đều chảy xuống đồng bằng. Ngày này qua ngày khác, dải núi xanh nằm kín cả chân trời phía tây, đã không ngừng vắt những bầu sữa tròn căng ra những dòng nước ngọt, đổ xuống tưới mát cho dải đất chật hẹp, đầy những cồn cát trắng nóng bỏng của miền Trung.

Trên đường đi, chúng tôi đã quen tính các chặng bằng những con sông. Đó là những cái mốc đánh dấu từng chặng đường đèo dốc gian khổ ở phía trước. Đó cũng là những “cửa ải” mà chúng tôi phải lần lượt vượt qua. Dòng nước trong xanh hiền hòa có những đàn cá bạc tung tăng bơi lội kia, chỉ vài giờ sau một trận mưa lớn, có thể biến thành một thác nước gầm thét dữ dội. Khách đi đường bị nghẽn vì nước lũ phải ăn cháo, ăn rau rừng nằm chờ ngày qua sông là chuyện thường. Những con sông còn là nơi địch đánh phá quyết liệt vì nó có hai bờ nam, bắc. Bọn Mỹ muốn mỗi con sông nằm ngang mình đất nước đều phải trở thành những vật chia cắt. Nghe nói, nửa nước ngoài kia, bên Bắc Cửa Tùng, hai bờ sông Kiến Giang, Quán Hầu, sông Gianh, sông Ròn, sông Lam... cũng đều đỏ cháy lên vì bom đạn.

Từ xa, đã nhìn thấy trên mặt sông có những đám bọt trắng báo hiệu nước khá to.

Sau những ngày mưa, đường xuống bến (cứ tạm gọi là bến) lầy lên, in một nét son tưới trên sườn núi dốc có những mảng khu rừng khô cháy, những đám cây đổ ngổn ngang.
Người chiến sĩ trẻ đã dừng lại trên đỉnh dốc. Một chiếc máy bay trinh sát bay dọc trên sông. Những tiếng vè vè và dáng điệu chậm chạp, nham hiểm của nó thật khó chịu. Tổ trưởng giao liên ở phía sau đi lên, bảo chúng tôi tìm chỗ kín đáo tạm nghỉ. Anh đi đến bên người chiến sĩ trẻ. Từ khi lên đường đến giờ, hai người hầu như không trao đổi gì với nhau. Trong im lặng, mọi việc họ làm đều khớp nhau như một bộ máy.

Chúng tôi ngồi náu ở những búi cây lá nón chưa bị chất độc hóa học thiêu cháy.

Chiếc máy bay cứ tiếp tục lượn đi lượn lại trên bến. Nhiều lần, nó nghiêng cánh quan sát mặt sông. Chúng tôi bắt đầu lo nếu không qua được sông sớm, các đồng chí giao liên ở ngoài vào đón khách sẽ về trước khi chúng tôi kịp tới địa điểm bàn giao. Như vậy, sẽ phải quay lại. Với cái điệu nắng non này, chiều hoặc đêm nay, trời có thể giáng một cơn mưa lớn. Chúng tôi đã được làm quen với những trận mưa của Trường Sơn. Những trận mưa không có tiếng hạt mưa rơi. Chỉ nghe thấy tiếng ào ào của một thác nước từ trên trời cao đổ xuống không lúc nào ngớt. Những con sông sẽ lồng lên như con ngựa bất kham, không chịu khuất phục trước bất cứ người cưỡi ngựa tài giỏi nào. Chúng tôi sẽ phải nằm ở trạm, nẫu ruột nẫu gan vì chờ đợi.

Quốc đã mò lại bên các đồng chí giao liên. Chiếc mũ giải phóng rộng che gần hết cả trán, không làm giảm những ánh sáng ở đôi mắt anh đang xoáy vào họ. Anh hỏi:

- Có bến nào khác không? Trong đoàn, anh là người có công tác gấp hơn cả.

Tổ trưởng giao liên đáp:

- Chỗ ni nước sông tương đối lặng. Cũng có bến khác nhưng nước xiết lắm. Các đồng chí lại có người không biết bơi.

Xương ngồi lặng thinh. Cứ bữa nào đi đường thấy anh ít nói, người ta có thể biết chắc chắn phía trước có một con sông. Ở mỗi chặng đường, tình hình B.52, B.57 ném bom nhiều hay ít, biệt kích hoạt động ra sao không làm anh chú ý bằng nước sông to hay nhỏ, qua sông bằng mảng hay phải bơi. Hai đám râu ở trên và dưới đôi môi mỏng của anh hôm nay rất xanh và rõ nét như vẽ. Anh đã đặt mức qua hết các con sông mới cạo râu. Và cứ mỗi lần trước khi vượt sông, râu anh lại tốt lên rất nhanh.

- Bọn mình phải ở lại thì lỡ công việc quá! - Quốc nói.

Những người chiến sĩ giao liên lặng im. Rồi đồng chí tổ trưởng nói:

- Cũng còn sớm. Các anh để bày tui coi.

Quốc quay về chỗ ngồi gần chúng tôi, mở chiếc túi ni-lông nhỏ, rút ra mấy cái cuộng lá thuốc khô cong queo như sợi cói, chầm chậm bứt thành từng đoạn ngắn. Anh cuốn tất cả vào một mảnh giấy báo, lấy mũ che gió và ánh lửa, bật đá châm thuốc hút. Rõ ràng, anh cố kéo dài việc làm này cho đỡ sốt ruột.

Một cây lan rừng với những cành vừa khỏe vừa mềm mại mang những lá thon dài xanh mướt bỗng đập vào mắt tôi. Nó mọc trên một thân cây gỗ mục nằm bên đường ngay gần đây mà lúc này tôi mới nhìn thấy. Hồi còn nhỏ, tôi đã thấy ông tôi chăm một dò lan như thế này. Cụ rất quý những bông hoa như con bướm, hàng năm chỉ nở một lần, nhưng rất thơm và rất lâu tàn. Quê hương của nó là những chỗ này đây. Nó đã sinh ra và lớn lên từ những cây gỗ ải mục như thế kia...

Chiếc máy bay lượn vòng ra xa. Không thấy nó quay lại ngay như lần trước. Những tiếng phành phạch ngày càng yếu ớt. Cái chấm đen nhỏ dần rồi mất hút sau một mỏm núi. Và hình như tên chỉ điểm đã bỏ đi thẳng. Không gian đã hoàn toàn trở lại yên tĩnh. Chúng tôi nghe thấy những tiếng ào ào của nước đập vào các mỏm đá dưới sông, tiếng nước chảy lúc này nghe sao rất thanh bình.

Tổ trưởng giao liên quay lại phía chúng tôi, vẻ mặt tươi tỉnh hơn.

- Các đồng chí chuẩn bị xuống bến. Phải qua sông thật khẩn trương.

Chúng tôi xốc nhanh ba-lô lên vai, theo anh luồn qua những thân cây đổ, tụt dần xuống con đường đất đỏ trơn như mỡ. Tôi vẫn suy nghĩ chưa hiểu vì sao chiếc máy bay trinh sát lại bỏ đi.

Anh chiến sĩ trẻ ngồi đợi chúng tôi ở bờ sông, quay lại nhoẻn miệng cười, nhe đôi hàm răng khấp khểnh một cách dễ thương. Anh đã cởi bỏ hết quần áo ngoài để lộ cái bụng hơi to, trông càng ra vẻ một chú thiếu niên. Người anh đầy cát. Tổ trưởng hỏi anh:

- Dây ở bên ni hay bên tê sông?

- Bên tê.

- Phải chăng lại dây cho bảo đảm. Hôm nay nước xiết. Các thủ trưởng có người không biết bơi. Lanh lanh nghe.

Nước xanh biếc chảy ầm ầm. Phía dưới bến chừng vài chục mét là một cái thác, tuy nhỏ, nhung cũng thừa đủ để gây nguy hiểm cho những ai bị dòng nước đẩy xuống đó. Sợi dây song bám đầu vào một thân cây ở bờ sông bên kia.

Tôi nhìn dòng nước, tự liệu sức mình xem có bơi sang được bờ bên kia không. Cùng với tôi, còn một chiếc ba-lô nặng kèm theo một cái dây lưng treo nào súng ngắn, bi-đông, cơm nắm, túi cấp cứu, lại còn cả đôi dép nữa.

Một toán bộ đội từ trên dốc đổ xuống. Trong lúc chúng tôi còn loay hoay bọc đồ thì họ đã gói gọn mọi thứ đem theo, khoác chéo khẩu súng sau lưng, ào ào nhảy xuống sông. Ra giữa dòng nước, gói ni-lông để chở đồ và làm phao bơi trong tay họ quay tròn. Một vài người bị dòng nước đẩy băng về cuối bến, nhưng các chiến sĩ đứng làm công tác bảo hiểm đã lao ra, kịp dìu họ vào bờ.

Dòng nước chảy nguy hiểm hình như lại tạo ra cho các chiến sĩ trẻ một điều thích thú trong khi vật lộn thử sức với nó. Anh em vượt sông trong những tiếng cười đùa.
Chỉ một loáng, đơn vị bộ đội này đã qua sông hết. Họ vùn vụt leo lên dốc và biến đi sau rừng cây như một trận gió.

Bến sông trở lại im lặng với mấy người chúng tôi. Công việc của mọi người đi trên đường này đều vội. Nhung chúng tôi cũng thấy rõ ràng là ở bến sông, mọi người đều khẩn trương hơn vì không ai muốn nấn ná tại cái mục tiêu nguy hiểm này.

Tổ trưởng giao liên đã cởi bỏ bộ quần áo đen đi đường, để lộ tấm thân còm nhom và một cái sẹo lớn sâu hoắm ở bả vai. Bây giờ chúng tôi mới nhận ra anh là một thương binh. Trên đường dây, chúng tôi đã gặp nhiều chiến sĩ bị thương kém sức khỏe không chiến đấu được nữa, xin về đây làm giao liên.

Quốc và tôi cùng loay hoay buộc chặt vào bộ ngực cánh phản của Xương một cái phao hình tròn làm bằng mảnh nhựa che mưa. Để cho cẩn thận, chúng tôi nối tất cả dây võng lại, buộc thêm vào lưng anh một sợi dây bảo hiểm. Trang bị mới này làm cho Xương giống như một người thợ lặn.

Công việc chăng sợi dây ngang sông thật không dễ dàng. Hai chiến sĩ nhiều lần dong sợi dây lên ngược bến, dựa theo dòng nước chảy để bơi sang. Nhưng cứ ra đến giữa dòng, nước chảy xiết lại cuốn phăng cả người lẫn dây ném về phía thác. Họ phải buông dây ra để ngoi vào bờ. Da dẻ hai chiến sĩ thâm tím lại vì lạnh. Chúng tôi đưa hộp dầu cao chống lạnh nhưng hai người nói chờ đến khi qua được sông sẽ dùng.

Họ không còn vội vàng như khi mới xuống bến. Sự vội vã không giúp họ vượt qua bến sông nguy hiểm này nhanh hơn. Hai người vòng tay che lấy ngực cho đỡ lạnh, đứng co ro nhìn dòng nước.

Đồng chí tổ trưởng nói nhỏ nhưng giọng hơi cáu kỉnh:

- Không lý đứng đợi đoàn khác đến họ chăng dây rồi mình qua nhờ hay răng!

Người chiến sĩ trẻ nhìn anh, không hiểu sao nhoẻn miệng cười. Đôi môi đỏ của anh đã trắng bợt làm cho nụ cười càng nở rộng. Họ rì rầm bàn bạc một lát rồi lại lội xuống nước.
Cuối cùng, anh chiến sĩ trẻ ôm sợi dây song lao được quá nửa dòng sông đang bị nước cuốn đi thì đồng chí tổ trưởng ở bên này nhoài ra, níu lấy anh; họ vật lộn với nước kéo được sợi dây vàng óng ánh vào bờ.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Chín, 2017, 03:34:53 pm
3.

Chúng tôi cứ lên dốc mãi, lên dốc mãi. Cái đèo thật là cao. Ở quãng này, rừng vẫn xanh, toàn những cây trường cao vút, thoáng và sạch. Chốc chốc, lại một đám mây kéo qua làm cho cây cối như gần như xa. Quang cảnh dường như có vẻ đẹp, nhưng chúng tôi chẳng thấy rõ vì còn đang tập trung tâm trí và sức lực để leo dốc.

Có lúc, tưởng như người đi sau tình nghịch níu lấy lưng mình, nhưng ngoảnh lại, thì vẫn chỉ là chiếc ba-lô đấy thôi, chiếc ba-lô mà chúng tôi đã nghĩ hết cách cũng không biết bỏ bớt cái gì cho nhẹ. Đầu óc căng lên, hai bên thái dương, máu chảy giần giật. Đôi lông mày chẳng còn đủ sức ngăn cản những dòng mồ hôi cứ tuôn vào hai mắt cay sè. Hơi thở phì ra ở cả những lỗ tai. Và những chỗ hở mới này, giống như những vết châm kim ở một quả bóng hơi, làm cho sức lực còn lại trong cơ thể tuôn ra và xẹp đi rất nhanh.

Người chiến sĩ ngoái đầu xuống, nhìn chúng tôi với bộ mặt đỏ căng, nói:

- Các đồng chí cố lên! Lên trên đó...

Tôi nghe thoáng anh nói một câu gì tiếp như “có bồi dưỡng”. Bồi dưỡng gì vậy? Con đường chiến khu chống Mỹ ngày nay không giống như những con đường chiến khu chống Pháp ngày xưa, từng đoạn, lại có những quán hàng cho khách nghỉ chân. Cuộc chiến đấu hôm nay chống một kẻ thù tàn bạo nhất của loài người, gay gắt hơn nhiều, đã đưa tất cả những người bán hàng năm xưa ra các mặt trận khác nhau. Chắc là lên trên đó, đoàn sẽ nghỉ lại để ăn cơm trưa, cái nắm cơm lúc nào cũng lúc lắc bên hông tôi.
Một giọng nói vui vẻ từ phía trên vọng xuống:

- Làm cách mạng chớ có phải đi dạo mát vườn hoa mô mà đủng đỉnh rứa... Mấy cậu trinh sát họ nói gặp các cậu ở bờ sông từ lâu cơ mà? Tưởng biệt kích hắn tóm gọn rồi!

Gặp anh em giao liên ở ngoài vào đón khách đây rồi. Cũng vì lo anh em về mất nên sau khi vượt sông, chúng tôi đã phải đi miết. Anh chiến sĩ trẻ không phân trần gì về chuyện đến muộn mà chúng tôi đã biết rất rõ vì tại chúng tôi.

- Hàng nặng không?

- Nặng hung.

Chúng tôi đã lên đến nơi. Anh giao liên ở ngoài vào đón khách chào chúng tôi bằng một câu vui vẻ:

- Các đồng chí đọa 1 rồi. Bỏ ba-lô ăn cơm, nghỉ ngơi một lúc lại đi. Đường từ đây về trạm như đường trong công viên thôi.

Chúng tôi trút cái gánh nặng trên vai xuống đất không được nhẹ nhàng lắm. Đỉnh dốc đây rồi. Mây bay trên những mỏm núi phía dưới.

Đồng bằng hiện rất rõ dưới chân núi với những xóm làng xanh xanh, những mảng đồng ruộng lấp lánh sánh nước và những con đường chiến lược màu đỏ chạy ngang dọc. Xa hơn chút nữa, lại những cồn cát trắng nổi lên như một ảo ảnh trên nền xanh của biển cả và chân trời. Một cơn gió từ biển thổi vào hòa với hơi lạnh của núi, lùa vào khắp cơ thể, vào lồng ngực, vào buồng phổi, làm cho chúng tôi như được tắm bằng một thứ nước mát kỳ lạ, người cảm thấy bớt mệt rất nhiều.

Người chiến sĩ trẻ đang đứng dang tay đón gió, nói một mình:

- Gió bồi dưỡng.

Lúc này chúng tôi mới biết rõ ban nãy anh đã nói gì. Anh muốn giới thiệu với chúng tôi trước luồng gió này đây. Rừng núi đã làm cho các chiến sĩ vất vả quanh năm vì đèo dốc, nhưng cũng đã dành cho họ trên những đỉnh núi cao, luồng gió quý giá này.

Chúng tôi đứng uống gió thật no nê rồi bỏ cơm nắm ra ăn với muối lạc.

Riêng đồng chí giao liên ở ngoài vào chỉ mang theo gạo rang. Chúng tôi mời anh cùng ăn cơm. Nhưng anh đáp, anh chúa ghét ăn cơm vắt với muối, bữa nào đi đường anh cũng yêu cầu anh nuôi lấy suất gạo của mình ra làm món “kẹo cốm” này, ăn vừa thơm vừa ấm bụng. Anh đổ từng ít gạo một từ trong cái hộp nhôm tròn trước dùng để đựng mắm ra lòng bàn tay, rồi bỏ vào miệng nhai giòn tan. Anh ăn với vẻ ngon lành, anh còn mời mọi người cùng thưởng thức món “kẹo cốm” và xẻ vào bát họ một cách hào phóng cái khẩu phần không lấy gì làm nhiều. Đôi nếp nhăn nhỏ hiện lên ở đuôi mắt mỗi khi anh cười, nói lên anh không còn trẻ lắm. Để bù lại, anh có một bộ mặt xinh trai, kể cả cái quầng thâm quanh đôi mắt to và đen.

- Khi hồi trực thăng hắn thả biệt kích các cậu có nhìn thấy không?

- Ở mô?

- Đứng đây nhìn thấy hắn sà xuống bờ sông. Mình cũng đoán lúc ấy các cậu vượt sông lâu rồi.

- Biết ngay mà...! Cái máy bay trinh sát hắn cứ lượn mãi ở bến.

- Các cậu về phải cẩn thận không đụng đầu bọn hắn!

- Khách đi lọt rồi... - Tổ trưởng giao liên không nói hết lời nhưng chúng tôi đã hiểu ý anh: Họ chỉ lo cho khách chứ còn đối với họ, mấy thằng biệt kích không có nghĩa gì.

Người chiến sĩ trẻ mủm mỉm cười rồi nói:

- Không khéo hắn vớ được đôi dép của tôi.

- Dép cậu để ở mô?

- Tôi ném ở đầu dốc C.

- Cậu sẵn súng, đập cho hắn một trận mà đòi lại.

- Nhứt định đòi lại chớ!

Vừa nói người chiến sĩ trẻ vừa quay đầu lại nhìn khẩu súng dựng ở một gốc cây.

- Hắn biết cậu là thiếu nhi hắn không bắn trả mô! - Câu đùa này làm anh đỏ mặt.



-----------------------------------------------------------------------------------
1. Mệt lắm


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Chín, 2017, 03:37:21 pm
4.

Ở mỗi chặng đường, chúng tôi lại gặp những người giao liên khác hẳn nhau. Đồng chí tổ trưởng giao liên chiều nay vui tính, hay nói.

Biết chúng tôi đã mệt, anh bảo mỗi người bỏ bớt một ít đồ trong ba-lô, rồi anh lấy chéo vải dù ngụy trang gói thành một gùi hàng đeo hộ. Đoạn đường về trạm mới ít nguy hiểm vì biệt kích, nhưng cũng không giống đường ở công viên như anh đã mau mồm giới thiệu khi vừa gặp chúng tôi. Vẫn là đèo dốc thôi.

Dọc đường, anh nói không biết bao nhiêu là chuyện: Chuyện về phong tục, tập quán, tinh thần cách mạng của đồng bào người Thượng, chuyện về các trận đánh Ba Lòng, Cam Lộ, Khe Sanh, chuyện về những người khách vui tính và khó tính mà anh đã dẫn đi, chuyện về quê hương anh...

Một số anh em giao liên thường nhắc khách đường còn rất xa để khách cố gắng đi cho tới trạm sớm. Nhưng đồng chí này thì lần nào chúng tôi hỏi thăm, anh cũng trả lời: “Gần tới rồi”. Đến mỗi đoạn đường mới khó đi, anh đều nói là đoạn này ngắn thôi. Và đèo dốc nào đối với anh cũng là đèo dốc không cao. Dường như anh có chủ tâm: Cứ nói cho khách vui vẻ đã, khi nào khách mệt mỏi, sốt ruột, anh sẽ lại có cách giải quyết.

Đến khi một người trong chúng tôi tỏ ra không còn tin vào những câu trả lời nhiều tính chất “động viên” của anh, thì anh lại kể một câu chuyện. Anh bảo chuyện này do một thủ trưởng bữa trước qua trạm anh kể lại.

... Lần ấy là lần đầu, đồng chí cán bộ có tuổi phải đi công tác qua vùng núi. Ông thấy đường này đi vất vả hơn bất cứ con đường nào ông đã đi mười năm kháng chiến trước đây. Một buổi chiều, người đã mỏi quá mà hỏi thăm thì lần nào giao liên cũng nói là sắp đến trạm rồi. Cuối cùng, ông quyết định cho đoàn nghỉ lại, sáng hôm sau sẽ tiếp tục đi. Giao liên đến nói với ông:

- Báo cáo đồng chí chỉ một khúc nữa là tới nơi.

- Mình hiểu khúc của cậu rồi. Chỉ còn một khúc nữa thì cũng cứ nghỉ lại đây thôi.

Thế là cả đoàn đi chặt cọc, căng tăng, mắc võng, kiếm lấy nước, dựng nhà bếp che lửa, nấu cơm giữa rừng, chính ông cũng góp tay, góp chân kì cạch với anh em đến hơn hai giờ sau mới được nghỉ. Nếu đến trạm thì chỉ việc rửa mặt, ăn cơm rồi đi nằm, nhà ở không lo, cơm nước đã có anh em giúp đỡ. Đêm ấy, lại dính một trận mưa. Mấy đồng chí không làm cọc phụ mắc võng, ướt như chuột. Sáng sau, lại gọi nhau dậy sớm nấu cơm sáng, vắt cơm trưa. Bắt đầu lên đường, đi đúng mười phút thì giao liên quay lại nói:

- Báo cáo đồng chí trạm ở đây rồi...

Chúng tôi đang mệt thở không ra, nghe chuyện của anh cũng phải phì cười.

Hai giờ sau khi anh kể câu chuyện đó, chúng tôi mới tới trạm. Trời đã gần tối. Trạm vừa di chuyển ra đây, chỉ mới có một cái lán nhỏ mái rưỡi với cái sàn lát tạm bằng những sống lá cây đùng đình. Khách thì quá đông. Ngoài chúng tôi, còn một đoàn cán bộ pháo binh đi chuẩn bị chiến trường. Lại còn nhân viên của trạm. Trưởng trạm là một bác tóc bạc, người dỏng cao, mặc bộ quần áo bà ba, chân xỏ tất đi đôi dép đen sạch bóng, dáng điệu ung dung. Bác vui vẻ bảo chúng tôi trải bạt ra sàn nằm nghỉ.

Bác trưởng trạm tự tay chuẩn bị cơm nước. Có lẽ bác muốn cho các chiến sĩ giao liên vừa đi đưa khách về được nghỉ ngơi. Nhưng một hai đồng chí cũng cứ xúm lại giúp bác, xuống suối vo gạo, lấy nước lên. Bác thái hoa chuối và nõn chuối rừng thành những lát mỏng và lọc mắm ruốc rất cẩn thận để nấu canh. Đồng chí giao liên người Thượng đi công tác về sau, đưa bác một con chim nhỏ đã được vặt lông nhẵn nhụi. Ban nãy, tổ trưởng giao liên của chúng tôi cũng đã ném vào chiếc nồi nhôm ba con cua đá mai đỏ như son anh bắt được ở dưới suối.

Trời về tối càng lạnh. Chúng tôi đã rửa ráy xong, lấy áo len trong ba-lô ra mặc. Xương đã thanh toán bộ râu để mừng “đại thắng lợi” vượt sông, trông anh trẻ hẳn ra. Anh hí hoáy ghi nhật ký. Quốc lục tung ba-lô để tìm gói bột ngọt góp vào nồi canh. Anh cũng hăng hái góp ý kiến nên sử dụng thịt chim và cua như thế nào cho “thật hay”. Tôi ngồi trên sàn theo dõi công việc chuẩn bị cơm nước vừa sạch sẽ vừa khéo léo của bác trưởng trạm như hồi nào còn là một đứa nhỏ sau khi đi học về, ngồi xem mẹ làm cơm.
Khi đồng chí cán bộ pháo binh mở máy thu thanh để nghe bản tin buổi chiều thì bếp cũng bắt đầu nổi lửa. Căn lán vui hẳn lên.

Có lên đỉnh Trường Son này vào mùa đông mới thấy hết giá trị của ngọn lửa. Đó là đóa hoa thần nhụy đỏ có những cánh vàng kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt tối tăm của những căn lều, xua tan khí rừng lạnh lẽo, bồi bổ sức sống cho con người bằng vẻ đẹp, hơi ấm và nguồn vui. Lửa thu hút mọi người lại gần, kéo những bàn tay tới thoa vuốt trên những cánh vàng của nó. Đôi mắt chúng tôi nhìn lửa cứ như mới được thấy nó lần đầu, muốn tìm cho ra hết những vẻ kỳ lạ.

Chúng tôi tạm dẹp chăn bạt gọn lại một chỗ để dọn cơm. Khách và chủ chia lẫn lộn thành hai nhóm. Cơm bới ra hai rá, canh cũng chia làm đôi. Ánh lửa bếp phòng không không đủ chiếu sáng chỗ ngồi ăn. Các đồng chí pháo binh xung phong góp hai chiếc đèn pin treo lên xà nhà, tin rằng rồi đây sẽ được “Mỹ tiếp tế” thêm pin. Người ngồi trên sàn không đủ. Khách được nhường chỗ ngồi quanh mâm. Một số chiến sĩ giao liên ngồi ở mép sàn, nhờ các đồng chí bên trong xới cơm và chan canh chuyển ra.

Chưa bao giờ tôi được hưởng hết cái vị ngọt ngào của hạt gạo như từ ngày đặt chân lên dải Trường Sơn. Một số chiến sĩ nói nước ở đây nấu cơm ngon. Điều đó nếu có thực, chỉ là một nguyên nhân. Riêng bữa cơm tối nay, có thể nói là ngon đặc biệt. Nó có đủ mùi thơm của rừng núi, vị ngọt của đồng bằng và cái đậm đà của biển. Chất đạm, chất tươi, cả chất tanh nữa đều có trong bữa cơm hôm nay.

Chúng tôi tấm tắc khen cơm canh ngon, bác trưởng trạm chỉ cười. Răng cửa của bác chưa bị rụng chiếc nào, hai hàm răng của bác trắng và đều. Cái cười của bác rất tươi. Nhưng nó cũng kéo thêm nhiều vết nhăn trên mặt bác làm cho chúng tôi thấy bác già hơn. Thấy chúng tôi ăn uống ngon lành, bác dường như vui lắm.

Chợt chúng tôi nhận ra bác trưởng trạm chỉ ngồi cười mà đã buông bát từ lâu. Xương giục:

- Bác ăn cơm đi chứ.

Bác đặt tay lên miệng bát như sợ anh cầm lên xới cơm cho mình:

- Đủ rồi.

- Sao bác ăn ít thế?

Tôi nhìn quanh thì thấy phần lớn các chiến sĩ giao liên đã đi đâu cả. Cũng lúc ấy, đồng chí tổ trưởng giao liên lách cửa đi vào, cầm trong tay chiếc bát sắt và cái thìa nhôm đã được rửa sạch. Quốc kêu lên:

- Các đồng chí ăn ít để nhường khách à?

Tổ trưởng giao liên chối ngay:

- Mô! Các đồng chí ăn một đọi 1 thì chúng tôi đã “bổ nhào” được ba đọi rồi.



-----------------------------------------------------------------------------------
1. Bát


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 01 Tháng Chín, 2017, 03:40:07 pm
5.

Bắt đầu gặp các chiến sĩ giải phóng ở Trường Sơn là tôi cũng làm quen với hai tiếng “ê ẩm”. Tôi không hiểu vì sao anh em sính dùng hai tiếng này: “Bị một chầu B.52 ê ẩm”, “Đường đi suốt ê ẩm”, rồi đến “Ăn một bữa kẹo đậu phụng ê ẩm”... Đêm hôm nay, nằm đặt lưng trên những sống lá cây đùng đình, tôi đã hiểu rõ vì sao. Mới hay mọi từ của ngôn ngữ đều có nguồn gốc của nó.

Chiếc sàn nhỏ chỉ đủ chỗ cho hai đoàn khách và bác trưởng trạm có tuổi. Các chiến sĩ giao liên treo võng thành hai tầng trên chỗ chúng tôi nằm. Một số đồng chí nằm vắt vẻo trên cao, sát mái nhà lợp bằng những lá nón nhỏ lăn tăn.

Chúng tôi đã vượt thêm được một “cửa ải” trên đường tới Trị - Thiên. Cứ sau mỗi ngày đường tôi lại nằm nghĩ tới các chiến sĩ giao liên mình vừa mới chia tay. Riêng hôm nay, từ lúc hai người chiến sĩ trẻ nắm tay chúng tôi nói: “Chúc các đồng chí đi đường an toàn”, hình ảnh họ cứ lởn vởn trong đầu. Tôi lo họ có thể gặp nguy hiểm khi quay lại. Hình như trên những đoạn đường lửa chúng tôi đã đi, ở những nơi nào càng gay gắt, khốc liệt, chúng ta lại đặt vào đó những bông hoa càng xinh đẹp.

“Chúc các đồng chí đi đường an toàn”... Không phải chỉ là một lời chúc thôi đâu. Chúng tôi biết họ có thể đem những gì quí giá nhất của riêng mình đánh đổi với kẻ thù để đạt điều mong muốn đó cho mỗi người khách.

Hai cán bộ pháo binh đang trao đổi nho nhỏ với nhau bằng những câu ngăn ngắn, nửa chừng, chỉ đủ để họ hiểu về một cách đánh mới thì phải. Trong căn lều lợp lá nón mới dựng, có lẽ không chịu nổi một cơn mưa lớn, anh cán bộ ban chiều đi chân đất đến trạm với đôi dép đứt quai xách ở tay, đang say sưa tính chuyện đánh dập đầu tướng Mỹ trong những đồn trại. Anh quay sang hỏi thăm tôi tình hình đoạn đường chúng tôi vừa đi qua. Rồi anh nói:

- Tại sao mình không đào một đường giao thông hào mà đi như ngày xưa bộ đội ta đã đào ở Điện Biên Phủ?

- Đường dài quá!

- Có dài gì đâu! Ngày đánh Pháp, riêng bộ đội tại Điện Biên Phủ đã đào ba bốn trăm ki-lô-mét chiến hào. Bây giờ toàn dân ta đánh Mỹ, lại không đủ sức đào lấy vài ngàn ki-lô-mét hay sao!

Tôi nghĩ anh nói cũng có lý.

- Đào xong ta trương hẳn cờ Mặt trận lên mà đi xem nó làm gì được?

Bác trưởng trạm nói:

- Cần đào thì mấy ngàn, mấy vạn ki-lô-mét mà dân ta không đào được, chỉ có là chưa cần đó thôi. Ngoài Bắc, hắn ném bom như rứa mà không ngăn nổi xe mình đi. Đường rừng ni, hắn ngăn sao được quân giải phóng đi chân đất. Hắn ném đường ni, mình soi đường khác. Mà cứ trèo qua hố bom của hắn đi cũng được chớ răng? Quân giải phóng đâu có sợ nhớp chân!

Các đồng chí pháo binh đã ngủ say rồi. Từ những vị trí địch gần đâu đây, chốc chốc, những loạt đại bác lại đổ hồi hốt hoảng. Những thằng giặc lái máy bay không được ngủ, mò mẫm nặng nề trong màn đêm.

Mấy chiến sĩ giao liên rì rầm nói chuyện. Bác trưởng trạm cũng tham gia vào câu chuyện của họ. Tuổi bác gấp đôi, gấp ba lần tuổi họ, nhưng câu chuyện giữa bác và những người chiến sĩ trẻ vẫn rất tâm đắc, cả những câu chuyện không phải để dành cho người già.

Đồng chí giao liên người Thượng có đôi lông mày rất rậm, cặp mắt xám lờ đờ, suốt buổi chiều nay đi cùng chúng tôi bên anh tổ trưởng lắm lời, chẳng nói câu nào, giờ cũng tán như sáo.

- Răng chừ cách mạng miền Nam thành công, ra Hà Nội chơi, đi mít-tinh được thấy mặt Bác Hồ rồi sang Trung Quốc xem Thiên An Môn, đi Liên xô xem Kờ-rem-lanh.

Câu chuyện chuyển sang đề tài “Ngày cách mạng miền Nam thành công.”

- Mình sẽ đợi đến ngày đó mới lấy vợ... Nhất định mình sẽ tìm hiểu một o văn công. Đẹp hay xấu cũng được, miễn là hát hay, đêm đêm nằm o ấy hát cho mà nghe.

Anh tổ trưởng giao liên xinh trai cũng góp chuyện:

- Thống nhất được về nhà thì mình sẽ nói vợ thịt ngay một con heo ăn mừng. Ăn xong sẽ yêu cầu o đèo xe đạp đưa mình ra thị xã chơi...

Anh luôn luôn có những ý nghĩ độc đáo. Những câu nói của anh thường hay pha một sự vui đùa. Anh là một con người lúc nào cũng vui, hay ít ra, cũng là một người thích mang lại nguồn vui cho chung quanh. Không biết anh có vợ rồi hay chưa? Nhưng nếu anh có người yêu rồi, thì tôi chắc đó phải là một cô gái xinh xắn và cũng yêu đời như anh.

Chợt bác trưởng trạm hỏi:

- Thằng Toàn ngủ rồi phải không? Khi hồi có ai nói với hắn ngày mai dậy sớm thổi cơm cho khách?

Một người nói:

- Thằng nớ là chúa hay quên. Buổi tối, không thấy hắn nói chi đến chuyện cơm nước. Khách đông. Mai phải vắt nhiều cơm đó!

- Kêu hắn dậy, nhắc cho hắn nhớ!

Tổ trưởng giao liên gạt ngay:

- Thôi để hắn ngủ, sớm mai tôi nấu cho. Không hiểu tôi ra răng, cứ khoảng ba bốn giờ sáng là lại thức giấc không răng ngủ được nữa. Ta cũng nói nhỏ nhỏ cho khách nghỉ...

Tôi nhớ đến cái quầng thâm trên đôi mắt anh tổ trưởng xinh trai. Có lẽ vì anh ít ngủ. Tại sao một người vui vẻ, yêu đời như anh lại ít ngủ nhỉ? Trong những giờ phút khó ngủ ấy, không biết anh nghĩ những gì, tôi tự hỏi. Chắc không phải chỉ toàn là những chuyện vui vẻ đâu. Vì mọi điều vui vẻ anh đã dành cho anh em, cho bác trưởng trạm, cho những người khách như chúng tôi rồi. Trên dải đất đau thương này, mỗi người ngoài mối thù chung với bọn cướp nước và bán nước còn có thêm ít ra, một mối thù nhà; phải đâu chỉ là những chuyện vui vẻ đáng cười. Nếu không phải đó là những chuyện đau buồn mà kẻ thù đã đem đến cho gia đình anh hay cho riêng anh, thì tôi chắc cũng là những chuyện nghiêm trang lắm.

Họ vẫn rì rầm câu chuyện về cái ngày vui lớn nhất của Tổ quốc. Họ bàn nhau khi đó đất nước sẽ thưởng huân chương cho những thứ rau nào đã nuôi sống bao nhiêu người cách mạng trên dải Trường Sơn: môn thục, cần đoác, tai nai, chuối, măng hay rau me...? Họ thử sắp xếp thứ hạng cao thấp.

Đêm Trường Sơn trầm lặng và oai nghiêm. Những con đại bàng cô đơn, những đàn vượn tinh nghịch, lắm lời chắc đã ngủ say. Giờ này, những đàn voi nghiêm nghị đang kéo nhau đi, xéo nát rừng thành những con đường mới. Những con hổ với tấm thân dài uyển chuyển và đường bệ đang đi tìm ăn ở một khu rừng bị bom đạn phá nát, nơi bọn Mỹ vừa rút chạy. Những con trăn xám, những con báo hoa, những con gấu đen, những con bò tót hung tợn đang lang thang đi tìm mồi. Trước hừng đông, tất cả những loài thú rừng dữ tợn đó sẽ rút về chỗ ẩn náu, chỉ còn để lại dấu chân trên những con đường đèo dốc. Các đồng chí giao liên đội mũ vải giải phóng, mặc bộ quần áo lót đen bạc màu, gùi hàng nặng và khẩu súng trên vai, lại ra đi nối liền những đường dây mạch máu của đất nước.

Đêm nay, tôi bỗng thấy tiếc mình không phải là nhà thơ để làm một bài thơ về các chiến sĩ giao liên.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 09:40:12 am
II


1.

Người ta đến với cách mạng bằng những con đường khác nhau. Có người đi theo một con đường giản đơn. Cũng có người đến bằng một con đường quanh co, khúc khuỷu. Đồng bào các dân tộc ở trên dải Trường Sơn này thì hình như sinh ra để làm cách mạng.

Tháng hai năm 1955, cuộc “tố cộng” ở Trị - Thiên mang tên “Phan Chu Trinh” bắt đầu. Trong vòng mấy tháng, ba đợt “tố cộng” nối tiếp nhau. Những người kháng chiến cũ không còn chỗ nương thân ở đồng bằng, phải dời những đám cỏ lác quanh bờ phá 1 Tam Giang, những rừng dương trên bãi cát trắng, kéo nhau lên xanh.

Kẻ địch tình ma quỷ quyệt không bỏ quên một khoảng đất trống nào cho những người cách mạng. Chúng cũng kéo quân lên xanh.

Địch thẳng tay triệt hạ từng bản người Kinh, tuy chúng không phải là người khác giống. Chúng đổ xô vào các bản của người Thượng, lùng bắt những người Kinh đang trốn tránh trong đó. Chúng dùng lưỡi lê ép dân làng đến xem chúng giết những người Kinh mà chúng gọi là “cán bộ Việt cộng”. Có trường hợp chúng giết lầm người Thượng. Đối với chúng, điều đó không can chi, “lầm còn hơn sót”, miễn là để người Thượng biết chúng đang cần giết người Kinh, họ cần lánh xa người Kinh.

Đồng bào Thượng cần sớm có một sự lựa chọn dứt khoát. Một bên, là những người cách mạng bị tước đoạt mọi quyền sống, trong gùi không có một hạt thóc, một nhúm bột sắn, trong tay, không một thứ vũ khí để phòng thân. Một bên, là bọn chúng với những đạo quân súng đạn đầy người, với quyền cho ai sống và bắt bất cứ ai chết. Hầu như không phải cân nhắc, họ đã chọn ngay: Những người cách mạng.

Đó cũng là sự lựa chọn giữa hai cuộc sống. Một là, vẫn giữ được làng, chòi, nương, rẫy, con voi thồ, đàn trâu, đàn lợn; có thêm cái rựa mới để phát rẫy, có muối ăn, có tiền mua hàng hóa ở đồng bằng. Hai là, làng, chòi bị cháy trụi, tài sản bị cướp phá, mưa bom bão đạn đổ xuống đầu, còn phải ăn lạt lâu nữa; và bao nhiêu tai họa khác họ đã lường trước được là ghê gớm và nhất định sẽ tới. Đồng bào Thượng đã chọn ngay lấy cuộc sống hiểm nghèo, chọn con đường đi với cách mạng.

Chưa có súng đạn thì đã có ná, có chông. Những thứ chống được, giết được thú rừng thì cũng có thể chống được, giết được thú người. Thú người tinh khôn hơn thú rừng thì mình cũng phải tinh khôn. Người già lắm mưu, người trẻ có sức cùng nghĩ, cùng làm ra vô vàn thứ chông. Chông sập đặt ngầm dưới đất ăn chân thằng địch. Chông thò phóng ngang ăn tim, ăn ruột nó. Chông đá treo trên cành cây, gieo cái chết từ trên trời xuống đầu nó. Chông liên hoàn từ bốn phía lao tới, thằng giặc có mọc thêm cánh bay cũng không thoát. Phải làm cho mỗi ngọn cỏ, lá cây đều trở thành những vật giết giặc, mỗi tấc đất ở Trường Sơn này đều trở thành đất chết của quân thù.

Làm được một trăm thùng thóc thì đem chín mươi lăm thùng góp cho cách mạng. Năm thùng giữ lại không phải để ăn mà để gieo tiếp vụ sau. Không phải chỉ có một vài gia đình làm như vậy. Tất cả mọi gia đình đều tự ý đóng góp như vậy. Nhiều cán bộ, nhiều bộ đội giải phóng mới chóng tiêu diệt hết giặc. Mình muốn cán bộ nhiều, giải phóng nhiều, cho nó ít, nó lấy chi ăn để làm cách mạng.

Những người bị kẻ địch đặt ra ngoài vòng pháp luật đã có chỗ nương thân.

Lên chiến khu... lên chiến khu... những quả núi xanh lớp lớp chồng chất lên nhau, sóm chiều u ẩn sương mây, chạy dài suốt phía tây, đã trở thành chân trời mới của những người muốn thoát khỏi cuộc sống tù ngục ở đồng bằng. Không phải chỉ vì ở trên đó, mỗi cây cổ thụ có thể giấu được một cái chòi, bưng mắt bọn chó săn đi lùng sục, đề phòng được thú dữ. Mà vì ở đó, có những người dân thương yêu cách mạng, coi cách mạng là lẽ sống của mình. Không phải họ chỉ tìm thấy ở đây những người tốt che chở, giúp đỡ mình trong lúc hiểm nghèo, mà còn tìm thấy ở đây những người đồng chí. Không phải họ tới đây để tìm chỗ ẩn náu, mà chính là để tìm cách giành lại tự do đã bị quân thù tước đoạt.

Kẻ địch cuồng lên trước những người dân mà chúng không biết lấy gì để mua chuộc hay để hăm dọa. Cuối cùng, chúng lại quay về với bom đạn, thuần là bom đạn, bom đạn cho thật nhiều.

Có lẽ không một dải núi nào trên tinh cầu chúng ta đang sống chịu nhiều bom đạn như ở đây. Không một căn nhà sàn nào có thể ở yên với chúng nếu phơi mình ra dưới ánh nắng mặt trời. Kẻ địch thù ghét cả một làn khói thơm của bữa cơm chiều tỏa trên ngọn cây, một ánh lửa ấm đêm đông lọt khỏi căn lều. Mọi căn nhà sàn phải làm thu nhỏ lại dưới những vòm cây xanh luôn luôn bị những trận mưa chất độc hóa học đe dọa.

Chúng điên đầu khi nhìn thấy ló lên ở đây một cái mầm xanh bé nhỏ của sự sống. Những máy bay chiến lược B.52 mà chúng thường gọi là “oanh tạc cơ khổng lồ”, những máy bay B.57 được chế tạo ra để ném bom nguyên tử chiến thuật, đổ xô đến, thả hàng trăm tấn bom vào những nương sắn, nương bắp nho nhỏ vừa hiện lên ở một khu rừng.
Chúng không giấu giếm gì tội ác “diệt chủng” của chúng. Chúng tìm cách tiêu diệt loài người trên dải núi xanh này. Bom đạn đổ xuống đầu con người chưa đủ mà còn phải đổ cả xuống để tiêu diệt tất cả những gì có thể nuôi sống con người.

Thực ra, thằng khổng lồ điên dại này có sức khỏe nhưng lại thiếu mất đôi mắt nên chẳng mấy khi nó làm gì được ai. Tuy nhiên, nó cũng đã mang lại cho đồng bào Thượng một số khó khăn: đó là nương, rẫy bị bom đạn và chất độc hóa học phá hoại.

Trước đây đã không có muối, giờ lại thiếu gạo, thiếu sắn. Có nơi, liền ba năm, không thu hoạch được gì ở nương rẫy. Đồng bào bị đói. Những nương sắn làm ủng hộ cách mạng từ mấy năm trước củ còn nhiều. Lâu nay, bộ đội xuống đồng bằng hoạt động, sắn không ai đào, củ rất to, trong đã có ba lớp xơ. Nhưng đó là sắn của cách mạng, đói thì chịu, không một người nào đụng tới.



-------------------------------------------------------------------------------------
1. Vũng biển hẹp


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 09:55:51 am
2.

Mưa. Những mỏm núi lầm lì và dữ dội, những rừng tùng bách, lồ ô, đại ngàn đều chìm trong một màn hơi nước ngột ngạt. Bốn phía, trên trời, dưới đất, chỗ nào cũng là nước. Đồi núi, đất đá đều như vữa ra dưới chân, cũng muốn biến thành nước cả. Con đường đi trên sườn đèo chỉ còn lại những rễ cây, vô vàn rễ cây chằng chịt, chăng lưới dưới mỗi bước chân. Những rễ cây biết cử động với những con sên 1 lạnh buốt, rất thính hơi và háu ăn, hễ thấy người đi qua là vươn cao cái vòi hút máu rồi cong lưng đuổi theo.

Mưa ở Trường Sơn có cái gì phũ phàng. Những hạt mưa như roi quất chẳng lúc nào ngớt. Gió trườn mình trong những khu rừng như những con trăn khổng lồ làm cho lá cây, lau lách run lên bần bật vì sợ hãi. Suối réo, thác gầm nhức óc.

Vành mũ giải phóng có lót ni-lông cụp xuống tai. Chúng tôi đã buộc vải nhựa che mưa thành hai vòng thật chặt quanh cổ nhưng nước vẫn rỉ vào người. Ngoài áo mưa là nước. Trong áo mưa cũng là nước, nước mưa, hơi nước đọng thành giọt và mồ hôi. Gạo đựng trong chiếc bao nhỏ buộc cẩn thận ngang thắt lưng bắt đầu lên men. Khẩu súng bôi đầy dầu để trong bao da kín, nước vẫn đọng lại và nổi lên những đám rỉ vàng nhìn thật xót ruột. Chiếc ba-lô trên vai như nặng gấp đôi. Không biết chiều nay đến trạm có củi lửa tốt để hong quần áo, đồ đạc hay không? Thời tiết này mà phơi quần áo trong nhà thì nửa tháng không khô được. Không khí cũng ẩm ướt chẳng kém gì quần áo dính nước mưa. Ngay cả những bộ quần áo đã hong lửa khô cong chỉ vài giờ sau cũng ẩm trở lại, hôi sì. Cơ thể con người cũng như thấm ẩm, nặng nề, nhớp nháp, bứt rứt. Có cảm giác từ trên ba-lô, trên bao súng, trên quần áo và ngay trên da thịt mình đang sắp mọc lên những cây nấm.

Một con dôộc 2 có bộ lông vàng óng, nằm co ở một gốc cây. Cu Ràng, anh chiến sĩ vận tải đi cùng đường với chúng tôi về phân khu, tới nắm hai cánh tay dài của con vật kéo lên xem. Nó đã chết nhưng da thịt vẫn còn mềm. Chúng tôi ngạc nhiên khi tìm khắp mình con vật không thấy một vết thương. Không phải nó chết vì một mảnh bom, một viên đạn, hay một mũi tên. Cũng không phải nó chết bệnh vì cơ thể nó coi rất mập mạp. Chúng tôi đoán là nó chết vì mưa rét, mưa rét đã làm nó ngã trong lúc chuyền cành. Trời rét thật. Nhưng chúng tôi chỉ có cảm giác chính xác về tiết trời sau khi ngồi nghỉ chân.

Từ sáng đến giờ, chúng tôi vẫn đi sau một đơn vị quân giải phóng người Thượng hầu hết là phụ nữ. Đơn vị này làm nhiệm vụ vận tải. Các chị mang trên lưng những gùi hàng lạ mắt. Đó là những chiếc hòm gỗ đóng nẹp chắc chắn, có cái hình chữ nhật dài bằng thân người, có cái hình vuông, mỗi chiều đến gần một mét. Nhiều chiếc hòm được bao trong vỏ kẽm. Cái kỳ dị của những thứ hàng này là đáng lẽ nó phải được nằm trong những toa tàu kín đáo hoặc những xe vận tải có mui, thì bây giờ nó đều được buộc thêm hai sợi dây gùi để bám vào đôi vai các cô gái. Không cần nhắc thử các gùi hàng đó, chỉ nhìn hình thù và những sợi dây lẳn vào đôi vai họ cũng đủ biết sức nặng của nó. Vậy mà nó đã vượt qua những đồng lầy, những chiếc cầu khỉ, những đèo mây, những nơi không nói đến xe cộ mà tưởng chừng như người không cũng khó vượt qua.

Đường đi mỗi lúc một hoang vắng. Ở dưới đồng bằng, người ta nói nhiều nơi trên đỉnh Trường Sơn này chưa có dấu chân người. Khi ngọn lửa cách mạng còn chưa nhen nhóm ở đây thì các đỉnh núi cao chỉ mới là mảnh đất được những các nhà thám hiểm chú ý. Người ta sợ hãi khi nhắc đến những loài thú dữ, những con cọp ba chân, những con voi một ngà... Thiên nhiên đã tạo nên ở đây những quả núi thật ác hiểm, những quả núi không có đường đi cho người nhát gan, và những cái động 3 theo lời đồng bào địa phương: Voi trèo lên đó cũng phải quỵ.

Vậy mà hôm nay, tất cả những ngọn núi đó đang cúi đầu dưới những bước chân thong thả, mềm mại của các cô gái. Phía trước chúng tôi, các cô gái với gùi hàng đồ sộ như những con kiến tha mồi, hai tay chống vào cạnh sườn, khuỷu tay hơi đưa về phía sau để dồn sức cho đôi vai, vẫn tiếp tục đi những bước khoan thai, đều đặn. Họ vẫn giữ dáng đi uyển chuyển của những cô gái. Họ nhẹ nhàng đi trên một thân cây đổ nằm ngang dòng suối ngầu bọt trắng xóa, luồn qua những rừng cỏ gianh rậm, đi qua những đoạn đường chỉ đủ đặt từng bước chân trên sườn núi cheo leo, trèo lên những đỉnh đèo mất hút trong mây.

Cứ mỗi lần mưa gió gào lên, hoặc một đoạn đường khó hiện ra phía trước, nhìn các cô gái, tôi lại như được nghe các cô đang nói với mình: “Thời tiết không xấu lắm đâu, đường đi thế này còn là tốt chán”. Tôi cứ tự hỏi: “Làm sao mà có thể đi nhẹ nhàng như thế kia với những chiếc “tủ hàng” trên vai?” Rồi tôi nảy ra một cảm giác kỳ dị: Những kiện hàng đồ sộ kia, những con đường như sợi chỉ nằm trên vách đá, những con suối tung bọt trắng hung hãn cản đường... cả mưa, gió nữa, đều là giả tạo hết; chỉ có những cô gái với đôi chân uyển chuyển, nhịp nhàng kia là thực mà thôi.

Đoàn người bị ùn lại trước một thân cây đổ. Cái cây vỏ đỏ quạch như gỉ sắt, đầy những chiếc nấm trắng bị đổ từ bao giờ, nằm ngang con suối nhỏ chúng tôi đang đi. Từng người một phải tìm cách đưa kiện hàng vượt qua.

Từ khe núi bên, có một đoàn dân công đang đổ ra. Họ dừng lại ở bờ suối, nhường đường cho bộ đội đi trước.

Một cụ già tóc trên đỉnh đầu đã rụng hết, những sợi tóc còn lại thưa thớt nhưng rất dài rủ xuống hai bên tai, người chỉ đóng một chiếc đót, chìa tay bắt tay tôi, nói bằng những tiếng ngắt quãng:

- Mưa... Trước có ni-lông, chừ rách rồi... Ướt mói… thống nhất mần nhà gạch to... mưa ở nhà, không đi...

Ông cụ cười, nhe hàm răng trên bị cà sát lợi. Hai sợi dây mây nhỏ lẳn vào đôi vai xương xẩu. Trên lưng cụ là một chiếc gùi lớn lót lá xanh bóng. Trong lúc đợi, cụ vẫn đứng khom lưng, đặt một cánh tay trước bụng theo kiểu người đi rừng đeo nặng, tay kia gập trên vai, cầm một tàu lá kè lớn che cho chiếc gùi. Mưa xối vào tàu lá rào rào, giận dữ như muốn xé nó ra. Theo lời ông cụ, chắc trong gùi là muối. Hạt muối ở đây được coi như hạt ngọc. Tôi đã được nghe nói, đồng bào Thượng đói muối nhiều năm liền, nhưng muối của cách mạng nằm ở trên vai họ như thế kia hàng chục ngày ròng để chuyển từ kho này qua kho khác, không suy suyển một hạt.

Anh cán bộ đi cùng đường về phân khu cùng chúng tôi, nói:

- Người già à... mần cách mạng khổ hung!

Ông cụ quay lại, tròn mắt nhìn anh, nói to như muốn át tiếng mưa:

- Đúng... mần cách mạng thì phải khổ... không ưng khổ thì để cho đế quốc Mỹ cướp nước.

Anh bạn chúng tôi cười, vui vẻ:

- Rứa là người già biết hơn bọn tui.

- Mô?... Cán bộ thử mình thôi.

Trong mưa bỗng nổi lên những tiếng đàn. Những tiếng đàn lanh lảnh, nho nhỏ nhưng trầm bổng ấy, vẫn phân biệt rất rõ với tiếng rào rào phũ phàng của muôn vàn hạt mưa rơi, tiếng ào ào của gió rừng hú lên từng hồi, tiếng gầm của một thác nước ở gần đó.

Ngoảnh lại nhìn, tôi thấy người đánh đàn là một cô dân công, còn nhỏ cả về tuổi lẫn tầm vóc. Cô bé mặc một chiếc áo hoa màu hồng, cái váy đen có những đường thêu đỏ và trắng nằm ngang như muốn bó chặt lấy đôi cẳng chân. Người cô bị lút đi vì gùi hàng to lớn trên lưng được che cẩn thận bằng một tấm ni-lông màu xanh rất rộng. Chiếc đàn gòn hình trái bầu xinh xắn nằm trước ngực cô như một thứ trang sức. Cô gái cất tiếng hát:

Lang lư 4 quân đội nhân dân, quân đội cách mạng...

Những tiếng hát nho nhỏ của cô gái chan hòa niềm vui, như một sự thách thức với mưa gió.

- Nhỏ rứa mà cũng đi à? O đủ tuổi đi dân công chưa?

Cô gái ngừng đánh đàn, ngước đôi mắt long lanh nhìn bộ mặt lấm tấm đầy những chân râu, hơi dữ tướng của anh một lát, rồi mỉm cười nói:

- Đồng chí hỏi chi rứa? Bom đạn Mỹ nó có chừa ai mô!

Vẻ mặt tươi cười của cô gái đã làm cho anh bạn tôi lặng thinh. Cô bé ngập ngừng định nói với chúng tôi điều chi lại thôi. Những ngón tay nhỏ nhắn của cô lại chạy trên những sợi dây đàn. Miệng cô gái vẫn mủm mỉm cười.



------------------------------------------------------------------------------------
1. Con vắt
2. Một loài vượn
3. Đỉnh núi rất cao
4. Yêu nhiều lắm...


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 09:59:52 am
3.

Chúng tôi nghỉ lại trên một quả đồi nhỏ để chuẩn bị vượt đèo.

Các o giải phóng lấy ni-lông phủ hàng, ngồi trên những tảng đá giữa trời mưa, phì phèo hút thuốc lá với những cái tẩu làm bằng đất nung hay một chiếc vỏ đạn.

Chúng tôi ngồi được một lát mới thấy Cu Ràng chậm chạp leo lên dốc. Đêm hôm qua, anh lại lên một cơn rét. Nhưng sáng nay anh không chịu nghỉ lại trạm, cứ khoác kiện hàng lên vai cùng đi với chúng tôi.

Nhìn cái đầu bù xù, cặp mắt luôn luôn mở to như ngơ ngác và dáng điệu chậm chạp của anh, ít ai nghĩ là anh đã được đi nhiều nơi, tinh khôn và biết lắm chuyện hơn những người bạn lanh lợi khác. Anh là một trong số những thanh niên người Thượng được ngụy quyền đưa xuống thành phố Huế, cho đáp máy bay về tận Sài Gòn. Anh đã được chúng dẫn đi xem quân cộng hòa tập trận, xem chớp bóng, xem xích-lô máy, xem xe đạp đi trong nhà lầu. Trong thời gian ở Sài Gòn, Cu Ràng biết bọn tiếp đãi xén bớt tiền ăn của họ, đã đứng ra tố cáo chuyện đó trước tên cấp trên của hắn khi tên này tới thăm. Bọn tiếp đãi buộc phải cho họ ăn uống khá hơn. Qua chuyến đi, Cu Ràng hiểu rõ chúng hơn, trở về, anh càng kiên quyết đi theo cách mạng.

Cu Ràng làm công tác vận tải đã được bốn năm. Lần này là lần đầu anh được cử đi theo một cán bộ mang hàng về phân khu. Cu Ràng không biết bơi. Khi vượt sông Y, chúng tôi để Cu Ràng qua bằng mảng. Cu Ràng vẫn đeo cả kiện hàng trên vai. Vừa ra khỏi bờ thì chiếc mảng nứa chìm dần một đầu vì Cu Ràng đeo nặng, lại đứng tận cuối mảng. Anh thét lên, nhưng trong khi người bị chìm dần xuống nước, anh vẫn đứng lom khom, hai tay bám lấy cây nứa ghép mảng, giữ nguyên kiện hàng trên vai. Nhờ đó, mảng không bị lật. Đồng chí kéo mảng vội kéo chiếc mảng trở lại bờ, và Cu Ràng vẫn bám vào nó. Anh thoát chết nhưng kiện hàng bị ướt. Sau đó chúng tôi bảo Cu Ràng bỏ kiện hàng ra và ngồi vào giữa mảng. Khi đưa được Cu Ràng sang sông, mọi người đều mừng rỡ. Nhưng nhìn Cu Ràng, thấy anh chẳng vui tí nào. Anh buồn bã nói: “Mình không hoàn thành nhiệm vụ đối với phân khu rồi. Thủ trưởng bảo mình là không được để hàng ướt!” Anh rầu rĩ đến nỗi đồng chí cán bộ cùng đi, chịu trách nhiệm về kiện hàng đó phải an ủi anh: “Hàng bọc kỹ mới nhúng nước một chút không can chi”. Bữa tối hôm đó, Cu Ràng bắt đầu lên cơn sốt. Từ hôm đó đến nay, anh không kể chuyện cho chúng tôi nghe nữa, vẻ mặt vẫn rầu rĩ.

Bữa nay, hai má Cu Ràng tóp lại làm cho cái đầu tóc bờm xờm càng xù to. Anh cán bộ đi cùng đã cho Cu Ràng mượn chiếc mũ nhựa trắng to vành đội để tránh mưa, nhưng nước vẫn chảy ròng ròng trên mặt anh, không hiểu nước mưa hay mồ hôi. Tôi hỏi:

- Có đi được nữa không?

- Đi chớ...! Răng lại không?

Cu Ràng đặt kiện hàng xuống một phiến đá, rồi quay lại hỏi đồng chí cán bộ:

- Đồng chí có quen cán bộ Sắc không?

- Cán bộ Sắc nào?

- Cán bộ Sắc trước công tác ở làng A-rum.

Anh cán bộ lắc đầu, rồi nói:

- Đồng chí hỏi làm chi?

- Cái o người Tà-ôi đánh đàn khi hồi nhờ hỏi. Cán bộ Sắc ở nhà hắn. Bữa ni hắn đi dân công, bọ mạ  nhủ đem theo mười lăm lon gạo nếu gặp cán bộ Sắc thì cho...

Đôi lông mày của anh cán bộ nhíu lại. Anh lầm bầm: “Biết cán bộ Sắc ở mô mà tìm! Trời mưa, gùi một gùi nặng như rứa mà còn đem theo mười lăm lon gạo cho cán bộ...” Anh lấy túi thuốc ra, vừa vấn thuốc bằng những ngón tay vàng khè vừa đưa mắt nhìn xuống chân dốc.

Đoàn dân công ở dưới suối đã bắt đầu đi lên. Họ xuống đồng bằng không phải vượt đèo nên không nghỉ lại đây.

Tôi ngồi yên lặng nhìn những người dân đi trong mưa lạnh. Các cụ già còn mang trên người đôi dấu vết của cuộc sống một thời xa xưa. Những người dân trước đây tôi chỉ hiểu một cách mơ hồ, sai lạc qua một số sách báo không phải của chúng ta. Những người dân cho tới nay chưa cùng tôi trao đổi một lời, nhưng bỗng nhiên trở nên thân thiết lạ thường.

Cô bé có cây đàn đang đi lên. Cô liếc nhìn về phía chúng tôi với cặp mắt long lanh. Hình như cô tin rằng chúng tôi sẽ chỉ cho cô chỗ ở của người cán bộ mà cô muốn gặp. Tôi sợ niềm vui tan mất trên mặt cô gái, và cảm thấy hai sợi dây mây gùi hàng bé nhỏ của cô đang nghiến mạnh trên chính đôi vai của mình.

Anh bạn mới của chúng tôi rít một hơi dài cho điếu thuốc lá ngấm nước mưa khỏi bị tắt, rồi nói với cô bé:

- O vừa hỏi thăm cán bộ Sắc phải không?

Cô gái dừng bước, quệt những giọt nước mưa trên trán, nét mặt rạng rỡ hẳn lên:

- Đồng chí biết cán bộ Sắc ở mô không?

- Cán bộ Sắc đi công tác rồi, không tìm được mô! Gạo đem theo bỏ ra mà ăn! Đừng mang đi mang về chi cho nặng...

Nhưng thực ra niềm vui vẫn không tắt trên mặt cô gái. Cái ánh sáng của một mùa xuân đang tới vẫn lung linh trong đôi mắt cô.

Dường như sợ cô gái không nghe theo lời mình, anh cán bộ lại nói:

- Không gặp được cán bộ Sắc mô!

- Mình cũng không nghĩ là gặp cán bộ Sắc mô. Bọ mạ 1 mình nói: Cứ mang gạo đi, may gặp thì cho thôi...

Cô gái đi vượt qua chỗ chúng tôi ngồi. Mấy tiếng đàn nho nhỏ lại vang lên trong mưa. Những ngón tay ấy chắc đã quen nhảy nhót trên những sợi dây đàn. Tôi bỗng trở lại với cảm giác ban nãy... không có gió mưa chi cả, không có đèo dốc nào, không có kiện hàng nặng trên đôi vai nhỏ nhắn của cô bé, chỉ có một niềm vui tràn trề trong người thiếu nữ đó thôi, cái niềm vui mà cô không kìm hãm được trong lòng, phải để nó bật lên thành tiếng.

Đoàn dân công với những cụ già đóng lót, những chị mặc váy đen, váy hoa tiếp tục đi ngang chúng tôi. Họ vui vẻ chào đón bộ đội như những người quen gặp gỡ nhau trong một ngày hội.

Anh bạn của chúng tôi đang ngồi tư lự như không yên tâm vì cái mười lăm lon gạo trên vai cô gái, bỗng reo lên:

- Kan Pôộc à!

Anh đã nhìn thấy một người quen. Một chị mặc cái áo đen không có tay rộng thùng thình, cổ đeo chuỗi hạt mặt đá trong, màu hồng, hình ô trám, đang chầm chậm đi lên. Nghe gọi tên mình, chị nhìn lên; cái cười khiến cho bộ mặt có nước da ngăm ngăm trở nên hồn hậu.

- Bỏ con mô mà đi rứa?

- Con đi theo mình.

Chúng tôi nhìn về phía sau chị, ở lưng chừng dốc một thân hình nho nhỏ chùm kín một miếng ni-lông màu da trời chỉ để hở đôi mắt tròn đen láy và hai cẳng chân nhỏ xíu. Em bé cũng có cái gì giống như một gùi hàng trên vai.

- Thằng ni cũng đi gùi à? Mình hỏi đứa nhỏ để mô?

- Đó. Thằng lớn cõng đó.

Chúng tôi chưa hết ngạc nhiên, thì chị hỏi tiếp:

- Cán bộ họ nói con nhỏ, không ai chăm, họ không cho mình đi. Mình ở nhà thì cái bụng không ưng. Cho thằng to nó đi theo thì mình phục vụ được cách mạng mà con cũng được theo mình.

Mặt anh bạn tôi xanh lại. Anh vứt điếu thuốc trong tay, đứng dậy:

- Đi cán bộ có biết không? Rứa mà cho đi à?

- Cán bộ biết cũng không ngăn được mình. Mình không có của cho cách mạng thì mình cho công... Cho mình xin điếu thuốc.

Người cán bộ trút gần hết túi thuốc vào tay chị. Anh nâng tàu lá gồi, ngó vào gùi hàng trên vai chị, hỏi:

- Có mang gạo không?

- Không có gạo mô!

- Ăn bằng chi?

- Có sắn đó.

- Mình thừa mấy ngày gạo, đem đi cho đứa nhỏ ăn.

- Mình không lấy mô! Con bé, họ chưa biết ăn gạo. Còn đứa to, họ có sắn đó rồi.

Anh bạn của chúng tôi cứ tháo túi gạo ở thắt lưng đưa cả cho chị. Chị có con vẫn từ chối. Cuối cùng, anh ép chị nhận bằng cách đổi gạo lấy sắn. Anh nhấc tàu lá chị cầm che miệng gùi, rút ra một củ sắn, rồi bỏ cả túi gạo vào đó.

Mưa vẫn trắng đèo, trắng núi. Những trận mưa ở Trường Sơn có khi kéo dài hàng tháng. Trường Sơn có sáu tháng mưa và sáu tháng khô. Những đàn vượn với giọng hót véo von mọi ngày nhan nhản đầy rừng, bữa nay, biến đâu cả. Chắc chúng đang ngồi buồn bắt rận cho nhau trong những hang động ẩm ướt. Còn chim muông có lẽ bay cả về những miền nắng ấm ở bên kia Trường Sơn. Nghe nói, khi triền núi bên này mưa nhiều thì bên kia tiết trời khô ráo. Chỉ có những đoàn người là vẫn tiếp tục đi trong mưa.



------------------------------------------------------------------------------------
1. Bố mẹ


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 10:03:33 am
4.

Sau những ngày mưa, sớm nay, khí trời mát mẻ lạ thường. Rừng cây thở ra một thứ hơi mát rất dễ chịu làm cho người đi đường không biết mệt. Tôi mê mải nhìn mảng trời xanh lạ lùng hiện giữa những vòm cây màu lục rất đậm, có những đám mây trắng nhỏ nhẹ như những chiếc bông gạo từ biển trôi vào. Xương nhắc tôi:

- Đi cẩn thận không có hố chông đấy!

Hai bên con đường vắng vẻ hôm nay có nhiều hố chông. Những hố chông như mách chúng tôi: sắp đến “nhà” rồi.

Chúng tôi dừng chân trước một vọng gác nhỏ bốn mái, lợp bằng lá kè. Đã lâu, lại mới gặp một vọng gác. Anh chiến sĩ giải phóng trẻ mặc bộ quần áo giải phóng bằng ka-ki màu xi-măng đỏm dáng, xem giấy tờ rất nhanh rồi để chúng tôi đi qua. Anh dễ dãi như vậy vì đồng chí liên lạc của cơ quan chính trị đi cùng chúng tôi đã là một bảo đảm chắc chắn rồi.

Một chị nuôi mặc chiếc áo ngắn bó sát người, ngồi bên giếng nước xếp bằng đá với đống rau môn thục và những xâu lá tai nai dày như xâu mộc nhĩ, tươi cười gật đầu chào khách.

Chúng tôi đi theo con đường đánh bậc có tay vịn bằng dây song. Những căn nhà nho nhỏ nằm rải rác dưới vòm cây. Một đám sương nhẹ quen thuộc quyện trên đường ống dẫn khói của bếp Hoàng Cầm như có mang theo mùi thơm của gạo đồng bằng, thứ lúa dẻo thơm mà chúng tôi đã được nếm ở trạm chờ đầu tiên của phân khu. Từ một ngôi nhà có những tấm phên đan mắt cáo rất thoáng, điểm những hoa thị xinh xắn, vang ra tiếng nói rành rọt, chậm rãi của một buổi phát tin đọc chậm.

Đồng chí liên lạc của cơ quan chính trị đưa chúng tôi vào một căn nhà sạch sẽ. Trên sàn nằm phủ một chiếc đan bằng vỏ cọng lá đoác bóng và mịn, có những chồng giấy mới in rô-nê-ô xếp ngay ngắn. Ở một góc nhà, mấy chiếc hòm gỗ còn niêm phong, chắc vừa được chuyển đến, mới xếp tạm ngổn ngang. Bên cửa sổ, một đồng chí đang ngồi đánh máy chữ. Tiếng máy kêu giòn giã, lách tách như mưa rào. Đồng chí phụ trách văn phòng người trắng trẻo, mảnh dẻ, mặc bộ quần áo bà ba đen, đặt ống nghe xuống máy, không đợi chúng tôi tự giới thiệu, tươi cười nói:

- Các thủ trưởng đang chờ các anh ở bên tê.

Chúng tôi đặt tạm ba-lô tại đây, rồi lại đi theo con đường có tay vịn bằng dây song tới một ngôi nhà gần đó. Đây là nhà đồng chí chính ủy các lực lượng vũ trang của Trị - Thiên. Đồng chí chủ nhiệm chính trị của phân khu cũng đang ngồi ở đây.

Những ngày còn bị nghẽn đường vì nước lũ, nằm chờ ở trạm X., một chiến sĩ thông tin biết chúng tôi sẽ tới cơ quan bộ tư lệnh phân khu, mau mồm giới thiệu: “Vô nớ, nhà cửa cứ y như thành phố”. Chúng tôi không hình dung được một “thành phố” ở vùng tự do trên dải đất hẹp này ra sao. Bây giờ chúng tôi đã ở vào “khu trung tâm” của cái thành phố mà người chiến sĩ đã giới thiệu. Ngôi nhà của đồng chí phó chính ủy phân khu cũng giống như những ngôi nhà khác, cột kèo, rui, xà đều bằng những thân cây lớn nhỏ vẫn để nguyên vỏ, buộc vào nhau bằng những sợi dây rừng, mái lợp gianh đánh bằng những lá đoác dài đan lóng đôi. Ở đây, vừa là nơi làm việc, vừa là chỗ ở của đồng chí phó chính ủy. Nhà có hai chiếc bàn nứa và một giường nhỏ cũng bằng nứa. Chân giường là những thân cây có ngoãm được chôn hẳn xuống đất. Mấy cành cây treo giáp mái nhà để gác đồ đạc cho khỏi ẩm; trên dàn chỉ có mỗi một chiếc ba-lô. Khẩu súng ngắn đã lồng sẵn vào dây lưng đặt ở đầu giường cạnh chiếc máy thu thanh bán dẫn. Một chiếc bi-đông sắt treo trên cột, chắc còn được dùng để đun nước, khói bám đen. Ngay cửa ra vào, trên khoảng đất trống “rộng rãi” nhất của căn nhà, mấy gốc củi lớn vẫn chụm đầu vào nhau, nhưng lửa đã tắt, tro than đã được dọn sạch. Chúng tôi ngồi quanh bàn trên những chiếc ghế dài làm bằng thân cây. Trên mặt bàn, có đặt một máy nói. Mùi mốc bốc lên từ những phên liếp như thầm nói một điều: chủ nhà hay đi vắng. Phảng phất quanh đâu đây, mùi khét của một trận bom.

Xương cũng đưa mắt ngó quanh. Chúng tôi đã gặp nhau trong một ý nghĩ. Anh nói:

- Hôm nọ có người giới thiệu với chúng tôi: Cơ quan của ta ở đây giống như một thành phố.

Đồng chí phó chính ủy có vầng trán rộng tư lự, mái tóc dày lấm tấm bạc tương phản với cái miệng tươi cười rất trẻ, một phần vì anh không có râu, vừa rót nước cho khách vừa vui vẻ nói:

- Nhà thì như ri, nhưng đi đến mô rồi cũng cứ ưng trở về cái nhà của mình.

Câu nói của anh làm cho căn nhà bỗng dưng ấm cúng hẳn lên và như cũng có một linh hồn.

Đồng chí chủ nhiệm chính trị trán cao, da đỏ hồng, mặc chiếc áo len cổ lọ màu nâu nhạt trông giống như một cán bộ mặt trận gấp cuốn sổ ghi chép bằng vở học trò bìa xanh đỏ lòe loẹt có in hình một cô gái, nói với giọng cởi mở:

- Các anh nghiên cứu lịch sử Trị - Thiên rồi các anh sẽ thấy anh em nói rứa là rất đúng...

Anh kể qua cho chúng tôi nghe những ngày đầu các đơn vị giải phóng mới được xây dựng ở đây. Hồi đó, các chiến sĩ giải phóng đã tổng kết là trên lưng mình luôn luôn có bốn cái “kho”: Thứ nhất là “kho lương thực” gồm bốn mươi lăm lon gạo, dăm lon lạc, vài ba lon muối, ít bột ngọt v.v...; Thứ hai là “kho quân trang” gồm có vài bộ xuân hè, thu đông, áo len, quần đùi, áo lót, chăn, màn, võng tăng v.v...; Thứ ba mới tính đến “kho khí tài” gồm súng, đạn, lựu đạn, thuốc nổ, cuốc, xẻng và những máy móc dùng cho công tác chuyên môn tùy theo nhiệm vụ của từng người; còn phải kể đến cái “kho” thứ tư là “kho quân y”, gồm các thứ thuốc phòng trị sốt rét, cảm cúm, những thứ thuốc kháng sinh nặng nhẹ khác nhau, thuốc ho, thuốc đi rửa, thuốc sát trùng, thuốc tiêu độc, dầu chống lạnh, bông băng cấp cứu v.v... Ngoài ra, mỗi người còn phải có một cái “ca-nô” để qua sông, qua suối. Anh em nói “ca-nô” này chỉ có một mã lực thôi, đó là sức của chính người dùng nó...

Đồng chí chủ nhiệm chính trị cười và nói tiếp:

- Mỗi bước đi, bốn cái “kho” đó đều đè trên vai. Chừ đã được ăn ở như ri. Từ thời kỳ “du mục” chuyển qua thời kỳ “định cư” có khác chi đang ở lều vịt chuyển qua ở nhà lầu.
Các đồng chí thăm hỏi tình hình sức khỏe và những khó khăn chúng tôi đã gặp trên đường đi.

Khi chúng tôi kể lại chuyện đi cùng đường với những o giải phóng người Thượng bữa trước, đồng chí chủ nhiệm chính trị ngừng tay vấn thuốc lá, những nếp nhăn thoáng hiện trên trán cao và bóng của anh. Anh chậm rãi nói:

- Chúng tôi đã suy nghĩ nhiều về công tác ni của các chị em. Chị em vận chuyển hàng không thua chi nam giới mô. Nhưng công việc ni thiệt ra không thích hợp với cơ thể của phụ nữ. Gùi hàng thường xuyên, sống lưng bị đen, vai to ra, ngực nhỏ lại, chân cũng có thể bị ngắn đi. Công tác vận chuyển rất cần, nhưng mình cũng phải nghĩ đến chuyện lâu dài của chị em. Chúng tôi bàn bàn chuyển chị em trở về địa phương công tác nhưng không ai chịu về. Không một ai muốn rời cái áo giải phóng. Chị em cũng nghĩ đến chuyện chồng con... Nhưng cái họ sợ hơn cả là phải xa cách mạng. Đang phải tính cách thuyết phục chị em chuyển qua một công tác thích hợp hơn.

Chợt nhớ ra một điều gì, phó chính ủy hỏi chủ nhiệm chính trị:

- Chuyện vợ chồng Kan Lịch 1 ra răng? Các anh ưng cho Kan Lịch đi phép hay kêu Cu Chiến lên?

- Kêu Cu Chiến lên thì vợ chồng gặp nhau thoải mái hơn. Nhưng còn tùy ở Kan Lịch. Chúng tôi định hỏi ý kiến Kan Lịch rồi ta điện cho đơn vị.

Đồng chí liên lạc mang tới mấy chiếc vừa cốc, vừa ca to nhỏ khác nhau, bên trong đựng một thứ nước sánh như sữa. Phó chính ủy nói:

- Mời các đồng chí nếm một sản phẩm mới của ngành hậu cần vừa gửi cho chúng tôi: Bột trứng đó!

Tôi đang nghĩ xem Kan Lịch là ai, người con gái có cái tên quen quen, thì đồng chí phó chính ủy vừa đặt trước mặt khách những chiếc ca, cốc to nhất, vừa nói tiếp:

- Các anh nên gặp Kan Lịch. Cô ấy hiện đang ở gần đây. Đồng bào người Thượng ở Trị - Thiên thiệt là lạ!

Qua câu giới thiệu ngắn ngủi đó, chúng tôi đã hiểu phần nào về Kan Lịch, biết đó là một người con của Trị - Thiên mà chúng tôi cần gặp và sẽ được gặp.

Ngoài những hồi chuông điện thoại đổ dồn, câu chuyện còn luôn luôn bị ngắt vì tiếng máy bay rít trên đầu, tiếng réo xé không khí của những viên đạn pháo tầm xa, tiếng bom nổ làm rơi những vụn đất nhỏ trên nóc hầm. Có tin Oét-mo-len ra Quảng Trị và những cuộc thay quân mới của địch. Tình hình chiến trường đang khẩn trương. Trên đường đi, một buổi tối ở trạm, chúng tôi đã được nghe những lời kêu gọi hùng tráng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam về việc đánh bại kế hoạch mùa khô thứ hai của đế quốc Mỹ. Trên dải đất hẹp này, hiệp hai giữa quân dân ta với đế quốc Mỹ cũng đã bắt đầu. Bên kia trái đất, tại tòa Nhà Trắng, Giôn-xơn đang điên đầu vì cái mùa khô thứ hai tại miền Nam Việt Nam, trong đó có tất cả những gì đang diễn ra ở đây.

Đồng chí phó chính ủy giải quyết một số công việc qua máy nói, kể lại với chúng tôi một vài tin tức mới, rồi lại tiếp tục câu chuyện. Anh đồng ý với cái chương trình làm việc sít sao mà chúng tôi đề nghị. Quốc sẽ ở với cơ quan chính trị một thời gian rồi đi các đơn vị giải phóng để nghiên cứu tình hình công tác chính trị. Xương và tôi, một người sẽ đi miền Tây, một người đi đồng bằng, sau đó, quay về cùng đi với bộ đội.

Nhưng không phải trong buổi sáng hôm nay, các đồng chí nói toàn những chuyện dính dáng đến công tác. Vẫn với cách nói ngắn gọn, không thừa một tiếng, đồng chí phó chính ủy kể cho chúng tôi nghe về những buổi gặt mò tại vùng ruộng trũng ở quê anh, trước ngày anh rời gia đình đi hoạt động cách mạng. Anh hẹn Quốc, một tối nào trước khi đi xuống đơn vị, ghé qua đây đánh một ván cờ. Đồng chí chủ nhiệm chính trị nói chuyện về âm nhạc cổ điển, nhắc đến một số bản xo-nát của Su-be, Sô-panh, Trai-cốp-xki. Chừng anh cho Xương và tôi là những người viết văn, viết báo hẳn phải sành và say mê âm nhạc. Biết chiếc máy thu thanh bán dẫn của chúng tôi đem theo đã hỏng vì một trận bom, anh rủ chúng tôi nếu không mệt thì buổi tối sang nhà anh, cùng nghe một số bản nhạc cổ điển mà một cái đài phát thanh nào đó hay phát vào nửa đêm.

Chúng tôi đã được biết bộ đội Trị - Thiên đang gấp rút chuẩn bị một số trận đánh lớn. Cả ta và địch đều đã ra quân. Cũng có thể là ngày mai hay lát nữa, chúng ta sẽ phải đối phó với một đòn táo bạo, bất ngờ của kẻ địch. Nhưng ở cơ quan đầu não này, vào mùa khô thứ hai, mọi người vẫn tỏ ra thư thái, ung dung. Mọi tình huống phức tạp đều như đã được tính toán. Kể ra cũng không có gì lạ nếu chúng ta nhớ lại, chúng ta đã đánh giặc ngoài hai mươi năm, trên một chiến trường mà ta chỉ được tiến không được lùi, trong một trận đánh lâu dài mà ta chỉ được thắng không được bại.



---------------------------------------------------------------------------------
1. Anh hùng Quân giải phóng miền Nam


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 10:07:44 am
5.

Kan Lịch là một cô gái dân tộc Pa-koh, sinh ra và lớn lên tại bản Lê Lốc cứ đến mùa xuân là nở đầy hoa đào, bên dòng sông Plin xanh trong.

Các cô gái của làng Lê Lốc đều tham gia đánh giặc. Riêng Kan Lịch đã đánh hai mươi sáu trận. Kan Lịch đã giết chết bốn mươi mốt tên địch, trong số đó có ba thằng Mỹ, một thằng là đại tá, cùng đi chung trên một cái máy bay bị Kan Lịch bắn rơi. Đúng ra, những tên địch bị Kan Lịch tiêu diệt vượt khá xa con số bốn mươi mốt. Nhưng Kan Lịch đã tự quy định cho mình những nguyên tắc nghiêm ngặt khi tính toán lại con số này. Điều đầu tiên là phải hết sức rõ ràng. Một đêm mò vào căn nhà của bọn lính gác một cái lô-cốt bảo vệ đồn A Lưới, Kan Lịch thấy bọn lính đang đắp chăn nằm ngủ say. Bắn địch nằm ngủ thì dễ, nhưng không biết rõ ràng nó sống chết thế nào để về báo cáo. Cô gái quyết định đánh thức bọn địch dậy. Sau khi bắn bốn viên đạn các-bin, biết chắc chắn là mình giết được bốn tên, Kan Lịch mới rút chạy trước tiếng hò la đuổi theo của bọn địch. Lời nói của Kan Lịch hoàn toàn khớp với lời mấy tên lính ba ngày sau ra làng mua heo, kháo chuyện đêm trước, một mụ to to đen đen đã mò vào tận nhà ngủ bắn chết của chúng bốn người.

Những tên địch Kan Lịch báo cáo là mình đã tiêu diệt đều rõ ràng như thế. Kan Lịch không tính vào thành tích của mình những tên bị chính Kan Lịch giết bằng lựu đạn, bằng thuốc nổ, bằng tiểu liên trong những trận cùng đánh với các đồng chí khác. “Những cái nớ bỏ vô thành tích chung thôi”, theo lời Kan Lịch nói.

Một lần, Kan Lịch được cử đi dự Đại hội chiến sĩ thi đua của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Trung Trung-bộ. Sau đó Kan Lịch đi các nơi báo cáo. Khi quay về phân khu, cô đã xa làng Lê Lốc gần một năm. Kan Lịch tưởng được trở về làng ngay, thì các đồng chí ở phân khu lại bảo Kan Lịch nghỉ ngơi tại đây ít ngày, chờ dự Đại hội mừng công của các lực lượng vũ trang giải phóng Trị - Thiên.

Thấy Kan Lịch có vẻ buồn, các đồng chí ở phân khu đoán là Kan Lịch nhớ nhà. Kan Lịch còn mẹ già ở Lê Lốc. Chủ nhiệm chính trị cho Kan Lịch về thăm mẹ ba ngày. Sau này, Kan Lịch nói lại: “Thiệt ra không phải mình buồn vì nhớ nhà. Mình có nhớ nhà, nhưng nhớ mẹ, không làm cho mình buồn. Mình buồn vì nghe tin từ ngày chú Vai đi vắng 1, phong trào địa phương xuống, địch càn quét ác liệt, nhiều đồng chí hy sinh. Mình theo cách mạng chỉ mong có một điều là được chiến đấu. Một ngày không chiến đấu là một ngày mình không ưng. Chừ trên cứ cho mình đi mãi... Đi nhiều thì cũng học tập được thêm nhiều, nhưng chỉ có đi thì thành tích của mình cũng chỉ có rứa. Đại hội mô mình lên báo cáo cũng có chừng nớ chuyện. Vì rứa mình buồn.”

Được phân khu cho phép, Kan Lịch phóng thẳng một mạch về làng. Cũng vẫn con đường ấy, nhưng khi về nhanh gấp rưỡi khi đi. Tới làng, Kan Lịch chưa về với mẹ, cô vào ngay nhà đồng chí thôn đội trưởng. Ông cụ già báo cáo tình hình hoạt động của đội du kích từ ngày Kan Lịch đi vắng. Hai người cùng bàn cách củng cố phong trào. Kan Lịch nói:

- Mình muốn đêm ni ra đồn đánh một trận, người già ưng đi không?

- Ưng đi lắm chớ!

Một em bé nhà ở gần đó, thấy chị Kan Lịch về, chạy sang chơi, nghe hai người rủ nhau ra đồn đánh địch, cũng xin đi theo.

Đêm ấy, Kan Lịch dẫn đồng chí thôn đội trưởng và em bé ra đồn A Lưới. Dọc đường, từng ngã ba, con suối, gốc cây, Kan Lịch lại nhớ tới những kỷ niệm với từng đồng chí, nam có, nữ có, trẻ có, già có đã cùng đi chiến đấu với mình, hiện nay không còn nữa.

Tới đồn, Kan Lịch đi vòng quanh xem xét tình hình, nghĩ cách đánh địch. Trời tối, Kan Lịch dẫn tổ du kích vào cạnh sân bay đồn A Lưới. Cô gái đã biết sáng nào bọn chúng cũng đi tuần một lượt quanh sân bay. Kan Lịch chọn chỗ trú chân bất ngờ này để sớm sau đón đường phục kích quân địch. Cô giao hẹn:

- Gặp địch, thấy rõ người, có lệnh mình mới bắn. Chưa thấy rõ hắn thì chưa bắn mô!

Kan Lịch bảo đồng chí thôn đội trưởng và em bé ngủ cho khỏe lấy sức sớm mai chiến đấu, còn mình sẽ thức để canh gác. Một điều không may cho tổ du kích, địch vừa bố phòng lại chung quanh đồn. Ngay gần chỗ họ trú chân, có một vọng gác bí mật. Kan Lịch mới đi xa về và cả đồng chí thôn đội ở nhà, cũng không biết.

Ông già thao thức suốt đêm. Em bé đặt mình xuống mảnh ni-lông là ngủ ngay. Chú bé ngáy rất to. Bọn địch theo dõi sát hành động của tổ du kích. Chúng báo tin vào đồn. Tên chỉ huy ra lệnh canh gác chặt chẽ chung quanh, chuẩn bị sáng hôm sau bắt sống tất cả.

Nghe tiếng gà rừng gáy sáng, Kan Lịch đánh thức em bé dậy. Kan Lịch bảo mọi người lên đạn và nhắc lại:

- Thấy rõ địch, có lệnh của mình mới bắn.

Trời tang tảng sáng. Sương mù vẫn phủ trắng núi đồi. Tổ du kích đi ra phía đường chạy vòng quanh sân bay. Một toán địch lặng lẽ theo chân họ, nhưng chúng chưa hành động. Kẻ địch chờ cho họ lọt vào giữa ổ phục kích của chúng.

Tổ du kích đang đi trên đường thì sương mù chợt tan. Bất thần, Kan Lịch nhìn thấy phía trước, phía sau đều có địch. Chúng đông chừng hai trung đội. Kan Lịch nổ súng ngay vào những tên địch ở trước mắt. Hai thằng lính ngã vật. Nhưng địch không bắn trả. Thằng chỉ huy mặt tái đi, miệng vẫn cười, giọng ngọt ngào:

- Đừng có bắn! Ai mà lại bắn rứa? Anh em gặp nhau nói chuyện thôi mà!

Chúng sợ bắn lầm phải nhau, bọn chúng ở hai đầu rất đông mà tổ du kích thì ở vào chính giữa. Nếu tên chỉ huy ra lệnh cho bọn lính nằm cả xuống để bắn, du kích có thể nhanh chân tháo chạy. Hơn nữa, chúng đã nhìn thấy nhúm du kích bé nhỏ này chỉ có một cô gái, một ông già và một em bé; bắt sống họ chẳng có gì khó.

Kan Lịch ngoái lại phía sau. Em bé đã bị một thằng to lớn đội mũ sắt nắm lấy tay. Bây giờ ngừng chiến đấu là khoanh tay cho kẻ địch bắt sống. Kan Lịch thét to:

- Tiếp tục nổ súng!

Một viên đạn các-bin của Kan Lịch xuyên vào đúng ngực tên giặc đội mũ sắt đang giữ tay em bé. Một viên nữa trúng mặt một thằng đội mũ dạ đen. Khẩu tiểu liên lăm le định nhả đạn rời khỏi tay nó, cái thân hình cao gày, khòng khoèo cũng đổ xuống đất cùng với khẩu súng.

Tên chỉ huy địch buộc phải ra lệnh cho bọn lính nằm cả xuống mặt đường. Không bỏ lỡ dịp tốt, Kan Lịch hô khẩu lệnh rút lui:

- Xung ph.o.n.g!

Ba người cùng chạy lao vào bãi cỏ gianh rậm rạp. Phải một lát, bọn địch mới kịp bắn đuổi theo họ. Một viên đạn trúng vào báng súng và bao đạn của đồng chí thôn đội. Khói bốc lên. Một mảng áo của người du kích già cháy khét. Nhưng ông cụ vẫn không can chi, tiếp tục chạy thoát.

Kan Lịch trở về phân khu. Đầu tiên, cô gái nhận khuyết điểm đã đi quá hạn hai ngày. Sau đó, cô nói:

- Mình báo cáo với các đồng chí: Mình vừa có một thành tích con con, mình đã bắn thêm được bốn tên địch để trả thù cho các đồng chí bị chúng nó giết.



------------------------------------------------------------------------------------
1. Anh hùng giải phóng miền Nam, chú của Kan Lịch, ra thăm miền Bắc


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 01:52:24 pm
6.

Chúng tôi đã nhớ ra Kan Lịch chính là cô cháu gái đã được anh hùng Vai nhắc tới nhiều lần trong khi báo cáo tại Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua của lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam năm trước.

Chỉ sau vài câu chuyện, chúng tôi trở thành những người bạn thân của Kan Lịch. Kan Lịch có thể nói với chúng tôi mọi điều về mình mà không hề e ngại. Có lẽ không phải riêng với chúng tôi, đối với những người cán bộ khác, Kan Lịch cũng đều cởi mở và thành thật như thế. Ở một người như Kan Lịch, cả đối với những chuyện riêng tư, tất cả đều rõ ràng. Kan Lịch không có điều gì phải giấu giếm. Mà có lẽ, Kan Lịch không có cả đến những ý nghĩ về sự giấu giếm.

Chúng tôi cũng đã biết câu chuyện riêng của Kan Lịch đang làm cho các đồng chí ở phân khu quan tâm. Kan Lịch xây dựng gia đình đã được hai năm. Chồng chị là Cu Chiến làm việc tại đoàn vận chuyển Y. Hai năm trước một ngày chớm đông, Cu Chiến khoác ba-lô về vùng sông Plin để tổ chức đám cưới. Một điều không may cho anh, Kan Lịch đang bận chỉ huy một cụm gồm bốn trung đội vừa bộ đội địa phương vừa du kích bao vây đồn A Lưới. Ở đây, các chiến sĩ giải phóng và du kích người Thượng hàng ngày ăn quả vả thay cơm, ăn ớt thay muối đang giam chặt chân một tiểu đoàn địch. Địch đang có triệu chứng muốn tháo chạy nên Kan Lịch không thể bỏ bộ đội về nhà. Chiến về chuẩn bị lễ cưới lại gặp thêm một khó khăn vì đồng chí bí thư chi bộ lúc đầu không ưng cho cưới ngay, sợ Kan Lịch về nhà chồng ở xã khác mình sẽ mất cán bộ. Chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, thời gian đi phép của Cu Chiến là mười ngày đã qua hết tám. Buổi chiều hôm làm lễ, họ hàng và dân làng tới đông đủ rồi, Kan Lịch mới lật đật ở ngoài đồn về. Cô chỉ còn kịp treo khẩu các-bin vào góc nhà, chạy vội ra vòi nước rửa mặt mũi chân tay rồi quay vào. Kan Lịch nói với mọi người:

- Mình với Chiến đi chiến đấu, đi làm công tác vận tải cũng vì cách mạng, chừ đây làm lễ cũng vì cách mạng. Mình báo cáo với người già, với dân làng và các đồng chí vừa rồi mình đã chiến đấu lấy thành tích để mừng ngày cưới, mình đã bắn chết thêm bảy thằng địch...

Lễ tuyên bố xong, Kan Lịch quay lại nói với Cu Chiến:

- Bây chừ Chiến ở nhà uống rượu với dân làng, với các đồng chí, mình ra đồn. Đánh xong đồn A Lưới, vợ chồng mình lại gặp nhau.

Kan Lịch khoác súng lên vai, trở lại với các chiến sĩ du kích. Cu Chiến ở nhà tiếp rượu dân làng đến khuya, sáng sau, dậy thật sớm, khoác ba-lô trở về đơn vị trả phép cho kịp.
Một năm sau, Cu Chiến mới có dịp đi công tác tạt qua làng. Hai bờ sông Plin không còn bóng giặc. Trước vòng vây sít sao của các đội du kích, các tay súng bắn tỉa nằm sát hàng rào, bọn địch không ăn không ngủ được, đã phải bỏ đồn A Lưới, rút chạy bằng máy bay về đồng bằng. Kan Lịch là người đầu tiên đã đi qua sân bay, bước vào đồn A Lưới giải phóng.

Chiến đinh ninh lần này vợ chồng sẽ được gặp nhau. Nhưng tới nhà, anh được tin Kan Lịch vừa lên huyện chỉnh huấn đảng viên. Việc chỉnh huấn là rất quan trọng, cần để cho Kan Lịch tập trung tư tưởng học tập. Để một dịp khác gặp nhau cũng chưa muộn mà, chàng trai khỏe mạnh có nụ cười hiền hậu đó lại khoác ba-lô lên vai, lặng lẽ ra đi.

Kể từ ngày cưới đến nay, đã hai năm qua, cặp vợ chồng này chưa có dịp gần nhau. Năm nay, Kan Lịch lại được mời lên dự Đại hội dũng sĩ diệt Mỹ của phân khu Trị -Thiên. Qua đại hội, Kan Lịch được tuyển lựa cùng với mấy đồng chí khác đi dự Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn miền 1. Đi chuyến này, cũng phải mất một thời gian lâu lâu Kan Lịch mới quay về. Trong khi họ tập trung ở đây, đợi miền báo ngày ra đi, phân khu tính chuyện tạo điều kiện cho hai vợ chồng được gần gụi nhau. Kan Lịch là một người chỉ huy hết sức dũng cảm nhưng còn là một cô gái, hơn thế, một người vợ.

Tôi và Xương đang đi đến chỗ hẹn làm việc với Kan Lịch thì gặp đồng chí trợ lý thi đua của phân khu. Đồng chí này đã nhận chỉ thị của chủ nhiệm chính trị đến đây bàn bạc với Kan Lịch cách tổ chức cho hai vợ chồng gặp gỡ nhau. Xương hỏi:

- Ý kiến của huyện đội phó như thế nào, đồng chí? (Kan Lịch hiện nay là huyện đội phó) Kan Lịch muốn đến chơi ở đoàn vận tải hay mời Cu Chiến lên đây?

Đồng chí trợ lý giơ bàn tay lên trán xua xua rồi nói:

- Còn đang cân nhắc hung... chưa có ý kiến.

Không biết vì sao cô gái đã phải cân nhắc nhiều đến thế về việc gặp chồng, tôi tự hỏi. Chúng tôi đã biết là trong khi xa nhau, họ đã viết cho nhau những lá thư rất dài, đầy tình thương nỗi nhớ. Kan Lịch không phải là người có tính cả thẹn. Kan Lịch đã nói với chúng tôi một cách tự nhiên về những tình cảm của một người vợ xa chồng.
Kan Lịch đang nằm đung đưa trên một chiếc võng cột vào những thân cây sau căn nhà của các đồng chí thông tin đang phát ra những tiếng máy quay sè sè. Để báo cho cô gái biết là chúng tôi đã đến, Xương hỏi từ xa:

- Đồng chí Kan Lịch làm gì đấy?

Kan Lịch vội ngồi dậy, giơ cánh tay trần khỏe mạnh vuốt những sợi tóc lúc nào cũng bướng bỉnh không chịu nằm im trong cái cặp nhỏ bằng kim khí, cứ xõa xuống trán và hai bên tai, đáp:

- Mình đang học báo.

Lần đầu, tôi nghe thấy có người nói hai tiếng “học báo”. Tôi biết không phải Kan Lịch nói sai. Kan Lịch nói tiếng Kinh khá thạo. Có lần Kan Lịch vừa cười vừa kể lại với chúng tôi, đồng bào Phong Sơn nói “nấu canh” là “nấu keeng” và “ăn cơm” là “eeng côôm”. Kan Lịch đang học thật, học tất cả những điều đã được in lên báo.

Kan Lịch gấp tờ báo lại, nhẹ nhàng cầm khẩu các-bin - chắc cô đem ra đây để lau - dầu mỡ bóng loáng, dựng ở gốc cây, khoác lên vai. Đây là khẩu các-bin thứ ba mà Kan Lịch đã dùng. Một khẩu bị hỏng vì trúng đạn địch. Một khẩu bị gãy trong lúc đánh nhau. Khẩu thứ ba này sẽ theo Kan Lịch đến đại hội miền. Có thể Kan Lịch sẽ phải dùng đến nó trên dọc đường dài từ đây vào đó. Vô phúc cho tên biệt kích nào xuất hiện trước mũi súng của Kan Lịch.
Kan Lịch rủ chúng tôi đi ra bờ suối ngồi nói chuyện.

Bữa nay, Kan Lịch mặc một chiếc áo đen có những sọc đỏ nằm ngang, kiểu áo may rất đơn giản của đồng bào Thượng để hở hai cánh tay tròn rám nắng. Tôi bỗng nhận thấy có thêm khẩu súng trên vai, cả thân hình và dáng đi của Kan Lịch trở nên mềm mại, nhẹ nhàng, thanh thoát, khác hẳn với mọi ngày. Kan Lịch đã nói với chúng tôi là Kan Trào kia mới là cô gái đẹp của làng Lê Lốc, còn Kan Lịch chỉ là một cô gái to và khỏe nhất làng thôi. Vậy mà trước khi lấy chồng, Kan Lịch đã là niềm mơ ước của bao nhiêu chàng trai vùng sông Plin. Sáng hôm nay, tôi đã nhìn thấy vẻ đẹp thật sự của cô gái. Kan Lịch đi trên con đường mòn giữa rừng, hai bàn chân không dép nhẹ nhàng đặt trên những chiếc lá khô, khẩu các-bin đeo hờ hững trên vai. Cặp mắt trong sáng của Kan Lịch có cái nhìn thanh thản, chiếc cằm hoi lẹm duyên dáng và đôi môi mỏng lúc nào cũng như chỉ muốn cười. Kan Lịch hay cười thật. Nhiều lần, chúng tôi bắt gặp Kan Lịch nằm một mình ở góc lán chợt nghĩ ra một điều gì vui vui, Kan Lịch nói lên điều mình vừa nghĩ, rồi phá ra cười, làm cho những người ở chung quanh cũng bật cười theo. Kan Lịch đã nói với chúng tôi vì sao mình hay cười: “Mình ưng cười”. Chỉ đơn giản có thế thôi, vẻ đẹp và sức hấp dẫn của người con gái này chính là ở cái nhiệm vụ lớn lao mà cô đang làm và cái nguồn vui tràn trề mà cách mạng đã đem lại cho cô.

Tôi hỏi Kan Lịch về cái điều đang làm cho tôi thắc mắc:

- Đồng chí Kan Lịch ưng đến đoàn vận tải thăm Cu Chiến hay để Cu Chiến về đây chơi. Chúng tôi đề nghị để Cu Chiến về đây cho chúng tôi gặp với.

Kan Lịch mỉm cười, rồi nói thủng thẳng:

- Không có ai đi, cũng không có ai về!

- Sao vậy?

Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, sau một thoáng tư lự, Kan Lịch nói bằng một giọng dịu dàng:

- Vợ chồng mình rất thương nhau, khi mô cũng nghĩ đến nhau. Mình đi đến đoàn hay Cu Chiến về đây chơi đều được thôi. Nhưng bây chừ cách mạng giao nhiệm vụ cho mình đi miền rồi, mình phải đi miền... - Kan Lịch ngập ngừng một chút rồi nói tiếp: “Nhiều bạn của mình lấy chồng có con cả rồi. Mình cũng ưng có một đứa con. Nhưng gặp nhau chừ mà có con thì mình lại không đi miền được. Mình định sau khi đi miền về, hai vợ chồng mới gặp nhau.”

Tôi nói:

- Kan Lịch đã viết thư hỏi ý kiến Cu Chiến chưa?

Đôi lông mày nhỏ của Kan Lịch cong lên. Kan Lịch nhìn tôi một lát, rồi nói:

- Hỏi ý kiến Cu Chiến à...? Cu Chiến cũng một ý kiến như mình thôi...



----------------------------------------------------------------------------------
1. Tại đại hội này, Kan Lịch được tuyên dương Anh hùng Quân giải phóng miền Nam


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 01:59:51 pm
7.

Như một nhà thiên văn học trong đêm nào đó, qua ống kính lớn nhìn vào khoảng không vũ trụ mọi khi vẫn có một đám tinh vân quen thuộc mờ sáng như sương mù, bỗng thấy hiện lên một dải thiên hà với vô vàn những mặt trời chói lọi, chúng tôi ngỡ ngàng trước những hiểu biết mới thu lượm được về những con người trên dải núi xanh này.

Những con người đến với cách mạng không phải chỉ bằng khối óc mà với cả trái tim nóng bỏng. Tình yêu nồng cháy của họ đối với cách mạng không những đã đem lại cho đồng bào Thượng tinh thần và sức chiến đấu không hề biết mỏi mệt, mà còn giúp cho đồng bào tránh được lầm lẫn trước mọi thử thách, và có những cách suy nghĩ, những cách xử trí thật sâu sắc.

Ở làng nọ, một cán bộ có lề lối làm việc không được tốt. Anh không chịu lắng nghe ý kiến của đồng bào, cứ tự mình quyết đoán mọi công việc. Anh đã phạm vào một số phong tục của địa phương là điều xưa nay đồng bào Thượng rất coi trọng. Dân làng nói với nhau: “Hắn không phải là cách mạng mô!” Tính tình người Thượng vốn rất cương trực, khi đã không bằng lòng thì có thái độ liền. Không kể đối với kẻ thù, ngay với những người không tốt, đồng bào cũng chống lại một cách rất quyết liệt. Nhưng anh cán bộ này vẫn cứ sống yên ổn trong làng, đi tới đâu cũng được đồng bào chia cơm, nhường sắn, khi ốm đau vẫn được chăm nom cẩn thận. Anh không hay biết chi sự căm ghét của đồng bào đối với mình, nhiều lúc còn tưởng là mình có uy tín và được đồng bào quý mến. Mãi tới khi có anh cán bộ cấp trên về, đồng bào mới nói ra mọi điều uất ức của mình. Đồng chí cấp trên rất ngạc nhiên, không hiểu tại sao một cán bộ có lề lối làm việc như vậy, lại vẫn được đồng bào đối xử tốt. Đồng bào nói: “Ưng đuổi hắn đi từ lâu, nhưng hắn đi thì mình mất cách mạng. Hắn không tốt, có điều hắn thay mặt cho cách mạng, bụng mình ghét hắn nhưng việc làm phải quý hắn.”

Nhưng vì đâu mà đồng bào Thượng đã có được một tình yêu sâu sắc như vậy đối với cách mạng?

Sáng hôm sau, tôi chia tay Kan Lịch và Xương để đi xuống đồng bằng. Trên đường đi, tôi lại tự hỏi mình: Vì đâu mà một cô gái Thượng như Kan Lịch đã trở thành một cán bộ của cách mạng? Trước ngày Kan Lịch đi hoạt động cách mạng, làng chòi chưa bị bom đạn giặc tàn phá, gia đình Kan Lịch không thiếu thốn đâu: Có nhà gỗ to, có hai con voi thồ, hàng đàn ngựa, đàn trâu thả rong trong rừng, không bao giờ thiếu gạo thóc ăn.

Có phải Kan Lịch có một người mẹ, những năm đen tối trước đây, ngày ngày giấu cơm xôi dưới đáy gùi, trên phủ vỏ sắn và những vật dơ dáy để che mắt chúng nó, lần ra rừng tìm cán bộ?

Có phải vì có cái người tên là A Meo, râu tóc để dài, răng đen, tai đeo vòng, mình trần đóng đót, từ năm năm mươi bảy đêm đêm vào nhà rì rầm với cha của Kan Lịch? Ba năm sau, A Meo cạo râu, cắt tóc, bỏ vòng, mặc quần áo dài, bấy giờ Kan Lịch mới biết A Meo là người Kinh.

Có phải vì bọn Đại Việt và bọn Diệm làm lắm điều ác không? Cả gia đình Kan Lịch kể cả chú Vai, không một ai cưa răng. Kan Lịch, đã giữ được hàm răng trắng đẹp cho đến năm mười ba tuổi. Ngày Đại Việt kéo lên Lê Lốc, thấy Kan Lịch xinh xắn, lại có hàm răng đẹp, chúng bảo Kan Lịch là người Kinh. Chúng nói: “Nếu là người Thượng tại sao lại không cà răng?” Cả gia đình đã xúm lại giữ tay, giữ chân cô bé, dùng rựa chặt cả hàm răng cửa bên trên của Kan Lịch. Những chiếc răng bị chặt đi như thế không bao giờ mọc lại được nữa.

Có phải vì anh cán bộ Minh thương Kan Lịch bị gia đình ép lấy chung chồng với người chị, chỉ khóc không chịu ăn, không chịu ngủ, đã giúp cho Kan Lịch ra khỏi nhà chồng, đưa Kan Lịch qua quãng đường rừng lắm beo dữ trở về với bố mẹ không? Có phải vì chú Vai nghèo khổ rất thương, rất chiều Kan Lịch, đã sớm biết chọn con đường cách mạng, rồi rủ Kan Lịch cùng đi không...?

Có lẽ vì tất cả những điều đó cũng như nhiều điều khác nữa mà Kan Lịch không nhớ hết. Vì trên bản Lê Lốc hẻo lánh ở đỉnh Trường Sơn cũng như trên bất cứ mảnh đất nhỏ nào ở miền Nam, hễ đã có Mỹ, có Diệm hay Thiệu, Kỳ là đều có những người cách mạng. Người cách mạng và chúng nó khác nhau như ngày với đêm, như điều lành với điều ác. Tất cả những gì đã diễn ra trên mảnh đất này đều đưa Kan Lịch, đưa những người Thượng tới con đường đi theo cách mạng.

Ở Kan Lịch cũng như ở nhiều người Thượng khác mà chúng tôi đã gặp, những việc làm, những ý nghĩ, những tình cảm đối với cách mạng đều mang một mầu sắc sơ khai. Tất thảy đều đơn giản, do đó, cũng rất gần với chân lý. Có lúc nào đó, trong sóng gió hỗn loạn của một cuộc đấu tranh phức tạp, chúng ta dễ quên đi những điều chân lý giản dị nhất. Ở những con người như Kan Lịch, chúng tôi đã bắt gặp một cái gì giống như ánh sáng thiên thần ở đôi mắt của trẻ thơ, thứ ánh sáng làm cho tâm hồn ta trong trẻo hơn lên, thứ ánh sáng rọi cho ta những điều chân lý.

Những ý nghĩ mê mải đã làm tôi quên là mình đã đi được một quãng đường khá dài. Đồng chí Quang, anh phóng viên trẻ tuổi của báo Quân giải phóng Trị - Thiên - Huế quay lại, nói với tôi:

- Đi một quãng nữa đến Ba Chòi ta sẽ nghỉ.

Chúng tôi bắt đầu đi trên những sườn núi bị B.52 tàn phá. Những cây cổ thụ trúng bom bật gốc, nằm ngả đầu xuống khe suối. Một phiến đá lớn bị bom bửa làm đôi, những vụn đá sắc nhọn rơi khắp chung quanh. Lại một cơn điên đầu của thằng khổng lồ mù hai mắt chăng? Nó đập phá gì những cây cối, những tảng đá ở sườn núi hiền lành này, tôi tự hỏi.

Vượt qua những cây đổ, những mảng đất đá lở được một quãng, chúng tôi bắt đầu nhìn thấy mấy mương sắn nhỏ nằm giữa bãi bom. Tôi đã tìm ra lý do cơn giận dữ của nó.
Trên một quả đồi, dưới những lùm cây xanh tươi trận bom còn để sót lại, tôi nhìn thấy ba ngôi nhà lá khá rộng. Chắc Ba Chòi là chỗ này. Trên mặt đất lầy bùn và phân gia súc, những con gà mái dẫn đàn con lông vàng mịn như nhung ríu rít đi kiếm ăn. Tiếng lợn ăn oàm oạp đâu đó. Từ một ngôi nhà vang ra tiếng trẻ con bi bô đọc sách. Sự có mặt của mấy ngôi nhà thanh bình này giữa một vệt bom của B.52 còn khét mùi thuốc nổ làm cho tôi hơi ngạc nhiên.

Tôi dừng chân trước mái nhà thông tin nhỏ. Một mảnh giấy dán ở tấm phên nứa với những dòng chữ viết bằng phẩm xanh đập vào mắt tôi.

Rãy rộng là chiên trường
Rựa riu là vũ khi
Nha nông là chien sĩ
Thà chết bom đan không để dân ta đói
Thưc hiên lời kêu gọi của Bác Hồ.1

Tờ giấy rất trắng, sắc mực còn tươi nguyên. Những chữ viết sai âm và thiếu dấu này toát ra một sức mạnh thật kỳ lạ, làm tôi đứng lặng hồi lâu. Phải chăng đây là một bản tuyên ngôn của những người dân ở quả đồi bé nhỏ này với đế quốc Mỹ và những hành động chiến tranh diệt chủng của chúng.

Quang nhắc tôi vào nhà đồng bào nghỉ chân. Chúng tôi vắt áo mưa vào mái gianh, rồi khom lưng bước vào một ngôi nhà. Hai cụ già, một anh thanh niên và mấy em bé xúm lại đón khách.

Đồ đạc trong nhà sắp xếp giống như một cơ quan. Cũng hai chiếc sạp nứa chạy dài, cách nhau bằng một chiếc bàn nứa rộng. Dưới sạp là hầm trú ẩn, gỗ đất đắp khá dày. Chỉ có khác là bếp ở ngay giữa nhà. Dàn bếp ám khói bồ hóng lủng lẳng mấy miếng thịt heo rừng đã sấy khô, bên trên, xếp đầy những bắp ngô giống. Mấy bà già mình trần, váy mặc cao che kín ngực, đang đứng giã gạo bằng những chiếc chày dài.

Chủ và khách ngồi quây quanh chiếc bàn nứa. Quang mở cái túi vải đeo bên sườn, rút ra tặng gia đình một tờ báo Quân giải phóng. Món quà làm cho những người ngồi đó rất vui vẻ. Quang kể cho gia đình nghe những tin chiến thắng mới ở đồng bằng. Mỗi lần nghe kể xong một trận đánh Mỹ, hai cụ già lại trầm trồ:

- Phấn khởi...! Phấn khởi...!

Những người đàn ông trong nhà này, kể cả các em bé, đều mặc quần dài. Các em bé ngồi nghe chuyện bên cạnh những người lớn. Thỉnh thoảng, các em lại nói với hai cụ già bằng tiếng Thượng, như để dịch lại những điều Quang nói. Đôi khi, các em vừa nói vừa cười như có lời bình luận thêm vào đó.

Ở cột nhà cạnh chỗ tôi ngồi, - treo một khẩu tiểu liên báng cong, nước thép còn xanh bóng. Khi nghe Quang hỏi anh thanh niên về tình hình trị an ở địa phương, tôi mới biết anh là du kích.

Căn nhà khá rộng nhưng thấp và tối. Đồng bào phải làm nhà thấp để dễ che ánh lửa ban đêm phòng máy bay. Trong màu gio lờ mờ của căn nhà, một mảnh ánh sáng đập vào mắt tôi. Đó là khung cửa sổ được trổ ở phên liếp tại một góc nhà. Phía ngoài cửa sổ, những cành cây được phát quang, hiện lên một mảng trời trắng đục vì mưa. Tôi nhận ra ở đó có một cái bàn nứa, trên đặt mấy cuốn sách và một lọ mực. Chắc đây là bàn học của các em nhỏ có cặp mắt trong sáng này.

Đúng rồi, tất cả là như thế đó. Ngày xưa, đồng bào Thượng ở những ngôi nhà sàn cao ráo, chan hòa ánh sáng mặt trời, đế quốc Mỹ đã đem bom đạn đến cướp đi ánh sáng của họ; chúng còn muốn cướp nốt cả cuộc đời của họ. Nhưng đồng bào Thượng đã đứng dậy dưới lá cờ của Mặt trận, cuộc chiến đấu đã bắt đầu, và sẽ tiếp tục đến thắng lợi cuối cùng. Từ những con người ngồi thanh thản, tươi vui, tin tưởng giữa vệt bom B.52 này, cái mảng trời rọi sáng vào bàn học của các em, những dòng chữ ở chòi thông tin trước cửa nhà... đến khẩu súng được lau chùi bóng nhoáng, đến những bắp ngô dành để gieo vụ nương sau... tất cả, tất cả đều là những lời tuyên chiến quyết liệt với kẻ thù. Trong cuộc chiến đấu để giành quyền sống, giành lấy ánh sáng, những người ngồi đây hôm nay đều tin là mình đã nắm chắc trong tay phần thắng.



-----------------------------------------------------------------------------------
1. Ruộng rẫy là chiến trường
    Cuốc cày là vũ khí
    Nhà nông là chiến sĩ...
                (Thơ của Hồ Chủ Tịch)
Ở đây đồng bào Thượng đã thay đổi mấy chữ cho thích hợp với tập quán canh tác địa phương.



Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 04:13:15 pm
III.


1.

Rừng cây thưa dần. Mắt không còn nhức nhối vì cái màu xanh của lá lúc nào cũng bưng bít phía trước. Tiếng nước suối từ trên sườn núi cao đổ xuống sôi sục. Chúng tôi vẫn tiếp tục xuống dốc. Con đường mòn bị dòng nước chảy ngày này qua ngày khác khoét thành lòng máng, đầy những hòn đá đỏ lớn, nhỏ. Nhìn về phía rừng cây bên cạnh khi ẩn, khi hiện sau một màn sương lúc đậm lúc nhạt, tôi bỗng thây tất cả cảnh vật đang chuyển động trên một đường vòng, giống như hình ảnh trên màn ảnh được người quay phim ghi lại bằng cách lia ngang ống kính. Tôi nhận ra ngay hình ảnh hư ảo ấy chỉ là do dải sương trắng đang bay ngang sườn núi, thêm vào đó, là tiếng thác nước réo ầm ầm làm rung động cả khoảng không trong lúc chúng tôi đang đi xuống dốc, chân bước nhẹ lâng lâng. Vòm trời rộng lớn hiện ra trước mắt, xuôi xuôi đổ xuống biển Đông, sắp đến đồng bằng rồi, tôi nghĩ vậy. Tôi cởi mấy cái cúc, phanh áo đón làn gió thoảng, có mùi muối mặn từ ngoài biển thổi vào. Tôi lặng lẽ đi theo người dẫn đường, không muốn hỏi anh, sợ làm tan mất sự hồi hộp chờ đợi của mình.

Bây giờ thì chúng tôi đang đứng giữa một vạt tràm nở đầy những bông hoa trắng xinh xắn, có mọc xen lẫn những khóm thanh hao nhỏ nhẹ giống những cây cảnh trồng trong công viên. Đồng bằng trải rộng dưới mắt chúng tôi, như những đường phố nhìn từ trên tầng gác cao của một ngôi nhà.

Đứng ở đây, chúng tôi có thể phân biệt cả những khóm sim, khóm mua mọc trên các bãi hoang nằm dọc theo những thửa ruộng mới cấy. Làng xóm kia rồi. Cũng vẫn những ngôi nhà thâm thấp, những hàng cau thẳng tắp, những cây ăn quả xanh rờn sau trận mưa, bao bọc bằng một lũy tre. Chỉ có khác một chút là làng xóm ở đây nhỏ bé hon, nằm chen chúc nhau trên một dải đất nào ruộng, nào đồi, nào những cồn cát trắng, những con đường màu đỏ cắt ngang, cắt dọc. Xa xa, sáng lên một dải bạc lấp lánh như kim khí, khác với màu trắng mịn màng của bãi cát. Phá Tam Giang đó. Xa hơn chút nữa là biển Đông xanh ngắt, một màu xanh hoi nặng nề so với màu xanh trong sáng của chân trời có một đám mây vàng rực, to sừng sững như trái núi. Tất cả những hình ảnh ở phía trước ùa vào mắt chúng tôi như ánh sáng ùa vào mắt một người ở trong căn buồng tối vừa mở những cánh cửa sổ.

Nhưng rồi tôi bị thu hút vào những điểm nhất định của bức tranh đang bầy ra trước mắt. Đó là những ngôi nhà rất nhỏ bé nằm rải rác trên cánh đồng lỗ chỗ hố bom. Mái rạ màu vàng tươi như đang bốc lên mùi thơm của lúa chín và nhất là hơi ấm quen thuộc của những người thân. Gần một phần tư thế kỷ trôi qua, bom đạn của kẻ thù không ngừng rơi trên dải đất nhỏ hẹp này. Mẹ, cha, anh, chị và các em ta vẫn dựng lên ngay giữa vùng đất lửa những ngôi nhà mới. Cũng như ở trong kia, nhiều xóm làng với những ngôi nhà liền mái, những cây cối xanh tốt đùm bọc lấy nhau, không ở được với chúng nữa rồi. Làng xóm bây giờ rải ra trên khắp các cánh đồng, tiếp tục thi gan với bom đạn. Những ngôi nhà sau bao cơn dông bão vẫn bình thản, giản dị đứng đó, như cô gái đêm qua vừa cầm súng ra trận, sáng nay lại đứng soi gương, chải mớ tóc đen dài. Những ngôi nhà mái tranh, vách đất, liếp nứa đứng đó, thật nhỏ nhoi, nhưng cũng thật gan góc, quật cường. Nó cũng giống như các chiến sĩ ta ăn rau rừng, đi chân đất đánh giặc, mười lần ngã xuống lại mười lần đứng lên. Nhũng ngôi nhà đó như đang nói với người ở xa đến: Không sao đâu, kẻ thù dù có tàn bạo bao nhiêu chăng nữa thì cũng không làm cho ta mảy may run sợ, chúng ta đã đánh giặc ngoài hai mươi năm rồi vẫn thế này đây, nếu chúng buộc ta phải đánh tiếp thì ta sẽ đánh hai mươi năm nữa cũng không sao...

Bên tay trái tôi, một cái đồn địch khá lớn đã bị quân giải phóng tiêu diệt, còn lại những bức tường đổ vỡ màu trắng lạnh lẽo. Bên phải, một vệt bom B.52 chạy dài trên những quả núi trọc nằm giáp với đồng bằng.

Quang nói với tôi đây là nơi máy bay B.52 đã thả trận bom đầu tiên. Trước khi ném bom, địch đã rải khắp đồng bằng rừng núi hàng triệu truyền đơn in hình loại máy bay chiến lược này, và khoe khoang sức hủy diệt ghê gớm của nó. Khi cho rằng những người dân đã đủ thấm sợ rồi, chúng mới đưa máy bay từ đảo Gu-am tới. Lần đầu, đồng bào ở đây được nghe những tiếng bom rơi hồi lâu không đếm được như những hạt mưa trong một trận mưa rào. Cả những người đánh cá đang đi thuyền ngoài biển, cũng nhìn thấy những chớp lửa bốc lên liên tiếp trên dải Trường Sơn. Sáng hôm sau, khi sương tan, những người ở xa cũng có thể nhìn thấy cái vệt đỏ kéo dài như một đám mây hiện trên màu xanh của núi. Chẳng phải bọn Mỹ đã phung phí bom đạn một cách vô ích khi chúng chọn những quả đồi không tên, không người, không cây cối này làm mục tiêu cho trận ném bom. Cũng ngay ngày hôm sau, lại thêm hàng triệu truyền đơn khác được thả xuống trắng ruộng, trắng rừng. Chúng viết trong đó, nếu các chiến sĩ giải phóng đã cảm thấy không chịu đựng nổi những trận bom mà họ đã được nhìn tận mắt, thì hãy mau tìm đường “quy chánh” về với “quốc gia”. Mặt sau truyền đơn, là một tờ giấy thông hành. Đế quốc Mỹ tự hào về sức mạnh của mình và cũng tự hào là mình biết dùng sức mạnh đó. Mỗi trái bom, mỗi đồng đô-la chúng bỏ ra đều nhằm những món lời cao nhất. Trận mưa bom đầu tiên trên những đồi núi ở vùng giáp ranh này đã được dùng vào việc phô trương sức mạnh. Những dấu vết của nó để lại cũng được tính toán vào mục đích hăm dọa. Chúng cho rằng sau đó, những ai đã lên núi sẽ phải quay về đồng bằng, và những người ở đồng bằng từ nay, sẽ không dám lên núi. Một lần nữa, chúng lại tính lầm.

Quang chỉ tay về phía chân trời còn một đám mù sót lại sau những ngày thời tiết xấu, nói rằng khi trời trong, đứng tại đây có thể nhìn thấy rõ thành phố Huế. Anh quấn chéo dù vào người rồi giục tôi xuống núi vì đứng ở đây lâu bọn Mỹ có thể trông thấy.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 04:16:11 pm
2.

Chiều hôm đó, chúng tôi nghỉ chân tại nhà chú Tư.

Căn nhà nhỏ của chú thím nằm giữa cánh đồng. Tôi cứ tin là mình đã nhìn thấy ngôi nhà này khi đứng trên núi tuy từ trưa đến giờ, Quang đã đưa tôi đi quanh quẩn khá nhiều đường đất.

Lúc đầu, Quang không định nghỉ chân ở đây. Quang muốn đưa tôi tới nhà mẹ nuôi của anh ở xóm Mít, cạnh đường quốc lộ số 1. Quang thuộc những con đường tắt và độ nước nông sâu của từng con lạch ở vùng này. Các chiến sĩ du kích đứng cảnh giới trên những ngã ba đường, vui vẻ để tôi đi theo anh, vượt qua những trạm gác của họ. Chúng tôi đang đi men theo lũy tre của một xóm nhỏ nằm trên một quả gò, thì một chiến sĩ giải phóng từ trong búi cây cạnh đường nhô ra như định ngăn chúng tôi lại.

Anh nói cho Quang biết đi khỏi đoạn đường vòng này, xuống đến tràn ruộng, bọn Mỹ đứng gác trên quả đồi ở đường số 1 có thể nhìn thấy chúng tôi. Quang thản nhiên nói:

- Đi ít người không can chi mô!

Anh bẻ một cành cây đưa tôi cầm để ngụy trang thêm, rồi tiếp tục đi. Xuống đến tràn ruộng, Quang liếc nhìn về phía những quả đồi cạnh đường quốc lộ, rồi quay lại mỉm cười nói với tôi:

- Xuống đồng bằng thì vô chỗ mô cũng như gia đình, có điều vô nhà quen vẫn vui hơn. Bà mẹ ở nhà chúng ta sắp tới quý tôi như con đẻ.

Chúng tôi vừa rẽ vào con đường nhỏ thì gặp mấy chiến sĩ giải phóng ở phía trong đi ra. Nhìn nét mặt linh lợi và cách trang bị nhẹ nhàng của họ, tôi đoán họ là những chiến sĩ trinh sát. Một người thấp nhỏ, bụng quấn một chéo dù hoa, kẹp khẩu tiểu liên ở nách, nhanh nhẩu hỏi:

- Các đồng chí đi mô?

Quang đáp:

- Vô xóm Mít.

- Xóm Mít còn chi mô! Trưa ni, Mỹ kéo vô đốt xóm, hốt hết dân sang bên tê đàng số 1 rồi.

Niềm vui vụt tắt trên mặt Quang, cái niềm vui mà tôi đã nhìn thấy rạng rỡ trong đôi mắt sáng và ươn ướt của anh từ khi chúng tôi đặt chân xuống đồng bằng. Anh đứng ngẩn ra một lúc. Sau đó, anh đưa tôi về đây.

Chúng tôi vừa đến cửa đã nghe tiếng thím Tư ở trong nhà reo lên:

- Ô! anh Quang! Mấy tháng ni không thấy anh, vợ chồng tôi nghĩ là anh hy sinh rồi.

Quang mỉm cười, bộ mặt xương xương, trắng trẻo của anh đỏ lên.

Chú Tư trạc ngoài bốn mươi tuổi, tóc cắt ngắn, râu rậm, vẻ mặt lành hiền, đang ngồi trên chiếc giường tre chơi với đứa con nhỏ. Chú tươi cười gật đầu đáp lời chào của chúng tôi. Thím trẻ hơn chú vài tuổi, mặt tròn, da bánh mật, ngồi cạnh bếp, tay thái sắn thoăn thoắt, miệng nói hết chuyện này qua chuyện khác. Đứa con trai lớn chừng mười hai tuổi, giống mẹ, có cặp mắt tròn và to, đến ngồi sán bên Quang. Hễ thím Tư ngừng lời là chú bé nói tiếp ngay.

Em nói lại cho Quang nghe một cách tỉ mỉ, rành rọt hơn câu chuyện mẹ em vừa kể. Sáng hôm qua, ba thằng Mỹ có lẽ là biệt kích từ Bồng-bồng lên, nấp ở bãi mua đầu làng. Thấy một anh du kích đi ngang, chúng gọi lại. Anh du kích không đem súng, phải chạy. Ngay khi ấy, ba thằng Mỹ cũng quay đầu chạy. Sau đó, chúng bắn đại bác về vùng này. Theo ý em bé, bọn Mỹ không dám bắn anh du kích vì chúng đi trinh sát có ít người, chúng sợ nổ súng thì lộ, du kích sẽ xô tới.

Nếu thím Tư không giục em lần nữa là phải đi kiếm con trâu đưa về chuồng, thì em còn kể với Quang vô khối chuyện.

Thím Tư than phiền mình “bất hợp pháp” 1 không đi chợ được nên không có thuốc lá mời khách. Thím nói mấy ngày rầy, tụi ác ôn kiểm soát chợ ngặt, chỉ cho mỗi người được đong hai chục đồng 2 gạo. Chúng sợ đồng bào mua gạo tiếp tế cho giải phóng. Chú Tư tham gia vào câu chuyện của vợ và con bằng đôi mắt chăm chú, cái miệng mỉm cười như để nói với chúng tôi tất cả những điều đang được kể đó đều đúng. Thấy tôi ngồi nhìn ra sân im lặng, thím Tư nói:

- Anh nè, quay lại nói chuyện cho vui.

Quang nói đỡ:

- Anh nớ mới ở trong miền ra, chưa nói quen tiếng Thừa Thiên mô!

- Anh kể chuyện miền cho chúng tôi nghe ra răng. Tiếng Nam, tiếng Bắc, tiếng mô chú và tôi cũng nghe được. Có mấy anh vừa ra cứ bắt chước tiếng Thừa Thiên nói líu la líu lo, tôi bảo: “Anh cứ nói tiếng miền thôi, chúng tôi ưng nghe tiếng miền lắm mà!”

Quang đặt bàn tay vào cái cột nhà bằng thân cây cau, hỏi:

- Cái nhà ni, chú thím mần lâu chưa?

Căn nhà mới dựng, vách đất còn ướt. Những cột chính đều bằng gỗ nhưng lại có một chiếc bằng thân cây cau. Thím Tư đáp:

- Mần được hơn tháng rồi. Nhưng cứ mần lần lần. Chú mới trát vách được dăm bữa. Bữa tê hắn thả bom ngoài nớ, cắt đứt mất cái cột ở chỗ ni. Chú phải về xóm, chặt một cây cau ra thay tạm. Bom hốt đất tung lên đầy mái nhà đó. Chú mần cái ni là cái thứ năm rồi. Hắn cứ phá, mình cứ mần. Còn đất thì còn mần. Chỉ khi mô hắn hốt hết đất đi thì mình mới phải chịu.

Cơm chín, thím bới ra rá, bảo chúng tôi ăn trước với chú và hai con. Thím thổi lửa, tiếp tục nấu một nồi cơm khác.

Sương chiều đã giăng trên cánh đồng. Chập tối nay, địch không bắn đại phá. Tiếng xe chạy ầm ầm suốt ngày trên đường số 1 lúc này cũng im. Ngọn đèn dầu thắp lên ấm cả căn nhà. Lâu ngày, tôi mới được ăn một bữa cơm gia đình. Cơm có độn những lát sắn sượng nhung nóng sốt, chúng tôi ăn rất ngon miệng. Hơn nữa, lại có món canh nưa tôi mới được ăn lần đầu. Khi đi kiếm trâu ở ngoài đồng, đứa con lớn của chú Tư đã cố bắt vài con cá nhỏ để thết mấy chú giải phóng. Người nọ nhường người kia, bát canh đơm đi đơm lại, mấy con cá trắng hết nổi lên rồi lại lặn xuống đáy bát, vẫn còn nguyên.

Chú Tư loay hoay bón cơm cho đứa con nhỏ. Chúng tôi ăn đã gần xong bữa, chưa thấy chú xới thêm bận nào. Thím Tư vẫn không rời khỏi cái bếp lửa. Từ lúc chúng tôi vào nhà đến giờ, đôi tay của thím lúc nào cũng thoăn thoắt. Nồi cơm thứ hai đã cạn; thím đang ngồi sàng gạo.

Cơn gió lốc nóng bỏng của chiến tranh như ngừng thổi ở đây, hay là nó đã chừa ra ngôi nhà bé bỏng này. Tất cả những cảnh tàn phá trên những con đường mà chúng tôi đã đi qua ngày hôm nay và ở chung quanh đây, đều biến đi trong màn sương chiều xám nhạt. Không gian thu lại trong căn lều với bếp than đỏ hồng, ngọn đèn dầu ấm áp, với đứa bé đang ngồi phá mâm, với vợ chồng chú Tư đang bận bịu vào những việc nho nhỏ trong gia đình.

Đang dở bữa cơm thì một bà cụ người đậm và thấp, mặc chiếc áo cánh lụa bước vào nhà. Cụ vén những sợi tóc bạc lòa xòa trước trán lên mang tai, không để ý đến chúng tôi, chao chát nói với vợ chồng chú Tư một thôi một hồi. Tôi nghe câu được câu chăng. Nhưng rồi tôi cũng biết bà cụ là mẹ chú Tư, đến mách tội người con dâu thứ hai. Chú Tư hiền lành chẳng biết nói câu nào, bà cụ vì thế càng thêm bực bội. Thím Tư phải khéo léo lựa lời làm cho bà cụ dịu cơn giận ra về.

Tôi ngồi âm thầm hưởng hết cái không khí gia đình của nhà chú thím. Thím Tư chắc không hiểu ngay cả câu chuyện to tiếng của mẹ chong thím vừa rồi mà thím đã cố dẹp đi, cũng không làm cho những người khách như chúng tôi khó chịu chút nào. Mọi việc vẫn diễn ra bình thường thôi, tôi nghĩ vậy.



-----------------------------------------------------------------------------------
1. Bị địch kết tội là đã có hành động chống lại chính quyền của chúng
2. Tiền của ngụy quyền miền Nam trị giá khoảng một đồng của miền Bắc



Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 05 Tháng Chín, 2017, 04:18:57 pm
3.

Đêm đầu tiên ở đồng bằng, tôi nằm cứ thao thức mãi. Vợ chồng chú Tư nhường cho chúng tôi chỗ ngủ ở ngoài hầm, Quang và tôi không nhận vì chú thím có cháu bé. Bảo chúng tôi ra hầm mãi chẳng được, hai vợ chồng cũng ngủ lại trong nhà. Chú thím nằm trên chiếc giường tre độc nhất trong căn nhà, giữa hai người là đứa con nhỏ. Quang và tôi mắc hai cái võng cạnh giường của chú thím. Không còn chỗ nằm nào khác, đứa con lớn của chú thím đành ra ngủ một mình ở căn hầm đắp nổi cạnh nhà.

Buổi tối, khi thím Tư nấu xong nồi cam thứ hai, tôi đã nhìn thấy thím xẻ già nửa vào chiếc mo cau, vắt một vắt cơm lớn. Tôi hỏi:

- Nhà ăn cơm rồi, thím vắt cơm làm gì?

- Vắt cho chú, phòng mai địch tới sớm, chú phải đi thì cả ngày khỏi đói.

Hai anh thanh niên ghé vào nhà xin nước uống. Chú Tư rót nước chè vừa hãm trong ấm tích ra mời. Tôi nghĩ họ là những người đi ngang vì thấy trên lưng mỗi người đều có một chiếc ba-lô nhỏ rất vuông vắn. Họ ngồi mãi cho tới khi một cô gái mặc áo đen cộc tay, đeo chiếc máy thu thanh bán dẫn, bước vào sân nhà chú Tư. Cô gái ngó vào nhà, cười khanh khách, rồi nói:

- Biết ngay mà! Lại ghé vô chú Tư trà thuốc. Nhân dân tới đông cả rồi!

Nói xong, cô gái lại cười. Tiếng cười thật giòn. Một anh chào chú thím và chúng tôi, đứng dậy đi ra. Anh kia vớ cái điếu cầy cố rít thêm một hơi, rồi chạy vội ra theo. Anh nói với cô gái đang cười ngặt nghẽo:

- Con gái vô duyên, chưa nói đã cười.

Tiếng cười của cô gái vụt tắt. Cô đứng sững nhìn anh, buông xuôi hai cánh tay thật là trắng. Rồi cô nói:

- Tôi không cười thì anh ưng cho tôi khóc à?

Dứt lời, cô gái lại phá lên cười. Khi cô gái quay đi, tôi thấy trên lưng của cô cũng có một chiếc ba-lô. Tiếng nói trong trẻo của cô phát thanh viên đài miền Bắc nhỏ dần trên con đường vẫn còn sót lại những hàng rào dây thép gai của ấp chiến lược năm trước. Tôi hỏi Quang:

- Họ đi đâu vậy? - Tôi đoán đêm nay ở đây có cuộc đưa tiễn thanh niên lên đường tòng quân.

- Thanh niên đi họp xóm đó.

- Sao lại mang ba-lô?

- Ở ni rứa đó. Thanh niên từ nhà ni qua nhà tê cũng ba-lô trên vai. Quân sự hóa mà. Địch đến là mần luôn.

Theo ý Quang, đêm nay, chúng tôi không nằm màn để dễ ứng phó khi có động. Khẩu súng ngắn đặt trong võng cứ kềnh kệnh giữa hai bắp đùi.

Bên ngoài, trăng thượng tuần đã lên cao. Cái sân nhà chú Tư bằng đất nện trắng xóa. Những ngôi nhà nằm rải rác trên cánh đồng lại hiện lên âm thầm dưới ánh trăng. Đêm yên tĩnh. Cái yên tĩnh đã kéo dài suốt từ buổi chiều đến giờ. Cũng có những tiếng đại bác nhưng rất xa, không đủ át tiếng rít đinh tai của một chú dế ở dưới cái chân cột nhà bằng thân cây cau, chốc chốc lại cất tiếng inh ỏi. Con trâu ở đầu hồi nhà đang nằm nhai lại cỏ thỉnh thoảng lại thở phì phì. Từ những ruộng lúa mới cấy đầy nước vây quanh nhà chú Tư đưa vào mùi phân ải. Có những hàng lúa đứng ngay dưới mái tranh. Ở đây, mọi người nép gọn chỗ ăn ở để dành đất cho khoai lúa. Khoai mọc ngay trên nền những ngôi nhà bị giặc đốt cháy. Những hố bom trên cánh đồng nếu chưa bị lấp đi thì trở thành những nơi chứa nước. Buổi tối chú Tư đi họp về rì rầm nói với thím Tư về việc chuẩn bị chống càn, việc trồng mầu gối vụ và phải bón thêm cho mỗi sào ruộng ba gánh phân chuồng.

Các cửa ra vào của nhà chú Tư vẫn để ngỏ. Từ ngày giải phóng đến giờ, tất cả các ngôi nhà ở vùng này lúc nào cũng để ngỏ cửa. Không phải chỉ vì nạn trộm cắp không còn nữa, mà vì đây là một con đường bộ đội giải phóng hay qua lại. Anh em thường nghỉ chân tại đây trước khi ra vùng biển hoặc đi lên vùng núi. Những người khách lúc nào cũng tất bật, vội vã ấy đến đây không kể ngày hay đêm. Có buổi trưa, họ ghé vào nhà xin vài gáo nước, mấy nắm rơm, nấu xong “hăng-gô” cơm, chỉ ăn một nửa rồi treo vào ba-lô, lại hấp tấp lên đường. Có lúc nửa đêm, họ vào nhà đặt đầy những gùi gạo nặng, mắc võng dày đặc, trải vải mưa ngay dưới đất, nằm quay ra ngủ. Trước khi trời sáng, họ đã đi hết. Cũng có những người như chúng tôi hôm nay, nhờ chú thím cho ăn một bữa trưa, ngủ lại một đêm, sớm mai tiếp tục chặng đường. Trong những người khách ấy, nhiều người vợ chồng chú Tư chưa hề biết mặt. Chủ và khách đã có những quy ước lặng lẽ với nhau. Trước khi đi làm đồng hoặc đi ngủ, chú thím thu xếp nhà cửa thật gọn gàng. Cái nồi, con dao, mớ củi được để vào những chỗ dễ nhận ra nhất chung quanh bếp. Khách cần nghỉ lại thì nhà đó, muốn nằm đâu thì nằm. Khách cần nấu nướng thì nồi đó, củi đó, nước đó. Nửa đêm, khách vào nhà thấy vợ chồng chú thím đã ngủ say, lặng lẽ bấm đèn pin hoặc đánh đá lửa, rón rén ra vào cố gắng không gây tiếng động; khách biết rõ mỗi giờ phút yên tĩnh nghỉ ngơi ở đây quý giá biết chừng nào. Sáng ra, chú thím nhìn trên bếp thấy đống gio đầy hơn, hay có những cành củi cháy dở, chút tàn thuốc lá, ít hạt gạo vãi trên đất, mới biết đêm qua có bộ đội ghé vào nhà. Những khung cửa mở rộng này là tấm lòng của vợ chồng thím đối với khách. Những bước chân ra vào rón rén, cái nồi, con dao được đặt vào đúng chỗ cũ, những vết chổi in trên nền nhà... là những lời cám ơn đầy đủ nhất của khách đối với vợ chồng chú thím.

Lúc này, vợ chồng chú Tư đã ngủ say. Thím nằm ôm lấy đứa nhỏ, cùng đắp cho với con một chiếc chăn đơn. Ban nãy, thằng bé thức giấc khóc, thím đã nằm như vậy ru nó rồi ngủ thiếp đi. Chú Tư nằm xây lưng về phía thím, quay mặt vào bức vách. Tiếng ngáy của chú đều đều, thỉnh thoảng lại rộ lên. Từ lâu, vợ chồng chú thím chắc chẳng có mấy lúc sống riêng với nhau. Thím Tư cũng chẳng còn phải giữ ý như ngày xưa, hễ có khách nghỉ lại nhà là vợ chồng mỗi người phải nằm mỗi nơi. Giữa vợ chồng thím và những anh cán bộ, chiến sĩ giải phóng nhiều lứa tuổi đã gắn bó với nhau bằng một thứ tình thân của những người con trong một gia đình. Thứ tình thân này đã vượt lên những câu nệ, giữ gìn. Trước khi đi ngủ, Quang đã đưa thím Tư số tiền gạo theo tiêu chuẩn hàng ngày mà chúng tôi đã được cấp phát để ăn dọc đường. Nhưng Quang nói thế nào thím cũng không chịu nhận. Thím chỉ nói là mấy lưng cơm sắn chả đáng bao nhiêu. Chú thím đã tiếp đón chúng tôi như trăm, ngàn chiến sĩ giải phóng đi ngang, ghé vô nhà. Một bó rơm, vài cành củi, mấy lưng cơm sắn thôi.. với mỗi người. Một con toán đơn giản hiện lên trong óc tôi. Chú thím ở đây ngày đêm bám lấy từng tấc ruộng, tấc vườn quyết không phải chỉ vì cái gia đình bé nhỏ của mình...

Cả cánh đồng bỗng nhiên tối sầm. Một đám mây dầy đã che khuất mặt trăng chăng? Lát sau, tôi nhận ra mảnh trăng lưỡi liềm đã khuất về bên kia dãy Trường Son. Tôi vẫn cứ thao thức, mặc dầu đã nhiều lần tự bảo mình phải ngủ một chút, ngày mai chúng tôi cần dậy sớm để đi. Nhưng lúc người ta thấy bằng lý lẽ mình cần phải ngủ, thì chính là lúc người ta không thể ngủ được. Hình như cũng có đôi lúc nào đó, giấc ngủ đã thoáng đến với tôi, nhưng nó chỉ như một đám mây bay qua che khuất mặt trăng, ngay trong khoảnh khắc lại vụt biến đi, và đầu óc tôi lại trong suốt.

Tôi bỗng nghe một tiếng động nhỏ ngoài sân. Vừa nhìn ra, mắt tôi đã bắt gặp ngay những tia lửa nhỏ lóe lên ở phía cửa. Một người đang đánh đá lửa. Qua ánh lửa vụt sáng vụt tắt tôi nhìn thấy mấy cái mũ giải phóng. Khi các bấc dầu đã bén lửa, tôi thấy hiện lên khuôn mặt tròn quen thuộc, hơi mệt nhọc của một cô gái. Chiếc áo bà ba của cô căng lên vì cái gùi nặng ở sau lưng.

- Nhà ni có người rồi mi à - Cô gái nói.

- Đi nữa hỉ? - Tiếng một cô gái khác đứng bên ngoài.

Ánh lửa phụt tắt. Tôi đã nhớ ra cái cô đánh đá lửa vừa rồi là cô bán hàng tại mậu dịch Thừa Thiên. Trên đường đi, mặc dầu không có nhiều thời giờ, tôi và Xương vẫn yêu cầu được vào thăm cái cửa hàng mậu dịch của tỉnh. Chúng tôi đã làm quen với trường hợp một người bạn gặp ở dọc đường, chuyện trò “tâm đầu ý hợp” suốt buổi, bỗng dưng bỏ đi biến ở một khúc ngoặt nào mà không nói với mình nửa lời. Chúng tôi đã biết là anh phải giữ nguyên tắc không để người khác nhìn thấy con đường rẽ vào cơ quan. Chỉ nguyên cái điều ở đây cũng có một cái cửa hàng để mọi người đến mua bán, đã là một sự hấp dẫn đặc biệt đối với chúng tôi... Ở một nơi chỉ nhìn qua cũng biết là không yên ổn lắm, những cô bán hàng đứng sau chiếc quầy nứa vui vẻ đón tiếp các chiến sĩ giải phóng. Các cô đưa cho khách lựa chọn những chiếc khăn mặt, những ống thuốc đánh răng, những bao bột ngọt, những hộp sữa nước... và cả những chiếc lược bằng ni-lông có hoa văn dùng cho phụ nữ. Họ phải tin vào tất cả những người khách mua hàng hầu hết là không quen biết này. Họ cứ ở cái địa điểm đã quen thuộc với mọi người này chừng nào kẻ địch còn chưa tìm ra. Nếu lộ, họ sẽ phải gan góc chịu đựng, phải bảo vệ lấy hàng dưới những trận mưa bom. Sau đó, họ sẽ đưa tất cả các thứ được xếp trong những chiếc gùi gọn ghẽ kia tới một nơi khác, không thể nói chắc chắn là sẽ yên ổn hơn ở đây. Tại đó, họ sẽ lại dựng nhà, làm những quầy nứa mới, mở lại cửa hàng đón khách, sẵn sàng chịu đựng những chuyện không hay khác nếu có... Cô gái mặt tròn này bữa ấy mặc chiếc áo cổ bẻ có những bông hoa tím nho nhỏ. Cô đã kiên nhẫn lục hết gùi này qua gùi khác để tìm đổi cho chúng tôi bao thuốc lá thơm đã mua, lấy một thứ thuốc đậm hơn và cũng hợp với túi tiền của chúng tôi hơn. Người đi cùng cô mà tôi không nhìn rõ mặc chắc cũng là một nhân viên tại cửa hàng. Các cô gái ở đây rất thích cái mũ vải tròn cũng như bộ quần áo bà ba đen của các o giải phóng. Chắc họ đi đồng bằng để lấy hàng về. Đêm nay, tôi càng hiểu rõ hơn công việc của các cô và giá trị của mỗi bao thuốc lá, mỗi viên đá lửa chúng tôi nhận được từ tay các cô ở cửa hàng.

Hai cô gái đi khuất rất nhanh vào bóng đêm dày đặc như chứa đựng đầy cạm bẫy. Con đường cạnh nhà chú Tư vẫn im ắng. Lúc đó, tôi mới biết họ chỉ có hai người. Tôi tự trách mình tại sao lại để cho họ đi như vậy. Tôi bỗng nhớ tới câu thơ của Nguyễn Du: “Canh khuya, thân gái, dậm tràng”. Nàng Kiều run như chiếc lá của Nguyễn Du đêm nào gần hai trăm năm về trước, đã hóa thân thành các cô gái mạnh mẽ, xông pha trên đường công tác đêm nay.

Tiếng đại bác nổ rền phía đường số 1. Lại thêm hình ảnh hai cô gái đi trong đêm khuya ở vùng đất lửa này tới cản trở giấc ngủ của tôi.

Có lẽ tôi vừa chợp mắt được một lúc thì thấy có người lay vai mình nhè nhẹ. Quang đang đánh thức tôi. Đã ba giờ sáng. Chúng tôi đeo bao đồ lên lưng, tháo võng gấp lại, rồi im lặng rời khỏi nhà chú thím Tư.

Cỏ trên đường ướt đẫm sương. Tôi cố giương mắt thật to nhìn cái bóng người cao gầy có cái lưng gù gù chập chờn trước mắt. Chốc chốc, Quang lại phải dừng bước, chỉ cho tôi tránh một hố chông hay một chỗ lội. Anh có cặp mắt tinh như mắt mèo. Trời lờ mờ sáng thì có tiếng máy bay lên thẳng. Những tiếng phành phạch, phành phạch mỗi lúc một rõ dần. Chúng tôi đứng nép vào một bụi cây, chờ cho những con chuồn chuồn ngô bằng sắt đó bay qua đầu. Chẳng mấy lúc đã nghe thấy tiếng súng nổ rền.

Quang dùng bước, quay lại nhìn về phía có tiếng súng. Hình như anh cũng chỉ ngủ được ít, da mặt khô và tai tái.

- Đúng chỗ chúng mình nghỉ đêm qua.

Quang nói với tôi như vậy, đôi mắt sáng và ươn ướt của anh bỗng đỏ lên.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2017, 02:02:20 pm
4.

Xã Mỹ Thủy nằm cách sân bay Phú Bài vài ki-lô-mét là một trong những xã được giải phóng trong đợt đồng khởi tháng 7 năm 1964.

Tháng 4 năm 1965 quân Mỹ từ Đà Nẵng kéo ra Thừa Thiên. Chúng ập tới như một cơn bão.

Những đoàn xe vận tải, bọc sắt, những khối thép xám nặng nề rùng rùng chạy trên đường số 1. Tiếng xích sắt nạo sỏi đá nhức óc. Bụi cát cuốn lên trên mặt đường, làm bạc trắng cả những cành dương. Xen vào các đoàn xe là những đám lính bộ. Chúng mặc quần áo nhà binh dã chiến màu xanh sẫm, mang tiểu liên cực nhanh và trung liên cá nhân, quấn chéo, quấn quanh đầy người những dây đạn đồng vàng óng, xếp hàng đi đều như lúc duyệt binh. Trông chúng bóng lộn như những bộ dao đĩa vừa được ném ra mặt bàn ăn trong các bữa tiệc nước ngoài.

Những tên lính cao vai hẹp đó khua gót giày đinh cao cổ ầm ĩ. Chúng nhìn những cồn cát, những xóm làng sao mà thấp và xanh thế, bằng cặp mắt vui vẻ. Nhiều tên cách đây không lâu còn mặc những chiếc áo ngắn tay sặc sỡ, dạo chơi trên các hè phố ở nước Mỹ. Chúng đã được cạo trọc đầu đi, rồi đưa vào các trại huấn luyện. Ở đây nhà nước Mỹ trao vũ khí cho chúng, và dậy cho chúng: “Tinh thần của lưỡi lê là giết”. Khi chúng đã thông thuộc các điều lệnh chiến đấu, chúng được đưa xuống tàu để đi một chuyến công vụ có thời hạn là một năm. Bây giờ thì chúng đang bỡ ngỡ trước ánh nắng chan hòa của một xứ ở vùng nhiệt đới rất xa tổ quốc, một nơi có nhiều “Việt cộng” như người ta nói với chúng. Chúng đang kiêu hãnh vì chúng là một dân tộc “thượng đẳng” ở một nước văn minh tới đây. Chúng giơ tay vẫy những người đàn ông chân lội bùn đi sau con trâu, làm việc trên cánh đồng đầy nước. Chúng mỉm cười với những em bé tóc đen, mắt đen, đứng bên đường nhìn chúng với vẻ mặt khó hiểu. Nhưng ngay lúc ấy, chúng có thể bấm cò súng nhả một loạt đạn vào họ mà sau đó không phải nghĩ ngợi gì. Trước mắt chúng vẫn chỉ là những “sinh vật hạ đẳng”, không phải là những “con người” như chúng. Ở nước chúng, màu da đen thuộc về loài nô lệ; da vàng, cũng chẳng khác là bao.

Chúng hiểu rất mơ hồ về mục đích mà nhà cầm quyền Mỹ đang sử dụng chúng. Những kẻ gây tội ác khi không bận lòng vì mình đang gây tội ác thì lại càng nguy hiểm, nhất là khi chúng nắm trong tay những vũ khí giết người tinh xảo.

Phần lớn bọn chúng chưa hiểu chiến tranh là gì. Chúng rất tin vào sức mạnh của vũ khí chúng đeo đầy người, và những thứ đang làm ầm trời ầm đất trên dải đất hẹp chẳng thấy có gì đáng kiêng nể này.

Chắc chưa mấy đứa nghĩ là một ngày kia, chúng sẽ trở lại con tàu đã đưa chúng đến đây, trong những bao chất dẻo, trên phủ một lá cờ có những sọc đỏ và những ngôi sao, để quay về nước Mỹ. Lúc đó, chúng không còn có tri giác để đáp lại cái chào của viên sĩ quan cấp trên đứng đón chúng với bộ mặt không biểu lộ một thứ tình cảm gì rõ rệt, bàn tay đưa lên vành mũ rồi lại bỏ xuống đều đều như một cái máy. Phần lớn bọn chúng đều đang vui vẻ.

Vùng trời Phú Bài nổi lên một cơn lốc xoáy. Nơi đây đã trở thành một sân bay. Những tiếng ầm ầm, tiếng rú, rít đinh tai nhức óc suốt ngày đêm, làm cho những chị có mang lo sợ bị sảy thai. Đêm đêm, Phú Bài rực lên một vừng ánh sáng. Ở xa, người ta cũng vẫn nhìn thấy ngọn đèn đỏ trên cột điện vô tuyến nhấp nháy. Từ chấm lửa đỏ lơ lửng giữa trời và vừng ánh sáng trắng đó, đạn đại bác địch vãi ra bốn chung quanh. Đạn đại bác của chúng rơi xuống các thôn ấp, các ngã ba đường, các khu rừng để tạo cho chúng một hàng rào lửa. Bọn sĩ quan và lính pháo thủ Mỹ thích thú khi nhìn thấy những loạt đạn pháo của chúng nổ giòn giã, đúng vào các tọa độ đã được tính toán.

Nhưng bọn Mỹ cũng biết hàng rào của đại bác không đủ bảo đảm an ninh cho những chiếc máy bay đắt tiền ở đây. Nền khoa học ở nước chúng đã có thể làm ra những tên lửa bay lên mặt trăng, nhưng chưa chế tạo được những viên đạn biết tìm đến những người du kích. Chúng nống quân ra quanh Phú Bài.

Riêng tại xã Mỹ Thủy, quân Mỹ đã kéo tới trên hai ngàn tên. Chúng vui vẻ đi vào những thôn ấp còn khét mùi bom đạn của chính chúng vừa trút xuống. Chúng dựng lên khắp nơi những nhà bạt, xếp những bao cát thành công sự, đặt dây thép gai bùng nhùng chung quanh. Đi đến đâu cũng chạm lưỡi lê và súng Mỹ. Binh lính Mỹ vẫy trẻ con vào chơi với chúng. Có những tên Mỹ nói tiếng Việt dẻo như kẹo, đi lân la khắp các nhà trong làng. Chúng cũng thăm hỏi sức khỏe của dân làng. Thỉnh thoảng, chứng mang cho họ ít bột mì mốc, một hộp thịt hay một hộp sữa quá hạn. Xó xỉnh nào chúng cũng mò tới. Có lúc chúng sục cả vào buồng riêng, nói tưởng có người ốm nằm trong đó nên vào thăm. Những tên Mỹ này có cặp mắt làm cho đồng bào phải chú ý. Cặp mắt của chúng không mấy khi thanh thản, hay nhìn soi mói vào những nơi, những vật không có liên quan gì đến câu chuyện của chúng: Một xó nhà bếp, một góc chuồng bò, chiếc ô kéo ở bàn máy may, cái ống hương đặt trên bàn thờ... Cặp mắt đó chứng tỏ là chúng đang nghĩ khác những điều chúng nói. Rồi đồng bào còn nhận ra là bọn này hay thay hình đổi dạng. Thoắt thấy chúng mặc thế này, thoắt thấy chúng mặc thế khác. Vừa buổi sáng thấy tên Mỹ này màu da trắng, thì buổi chiều, cũng chính nó đã trở thành đen tuyền từ đầu chí chân.

Gái điếm xuất hiện cùng với lính Mỹ. Nhưng lính Mỹ không chỉ thích có gái điếm. Hai thằng vào chơi nhà một ông cụ. Chúng nhìn thấy một cô gái mới lớn. Hai đứa nhấm nháy nhau. Một thằng ném lên bàn bốn trăm bạc, rồi đi lại nắm tay cô gái. Cô gái giằng co vùng vẫy để dứt ra. Cụ già chạy lại cứu con, làm cho thằng Mỹ tuột tay. Cô gái chạy thoát. Tên Mỹ quay lại bóp cổ ông cụ. May mà dân làng kịp kéo tới. Một cô gái khác đang ngồi giặt quần áo bên giếng, bất thần, thấy mình bị nhấc bổng. Nhận ra mình đã nằm trong tay một thằng Mỹ, cô giãy giụa, la thét. Mấy thằng khác xúm lại, giúp tên này khiêng cô đi. Bà con vội gọi nhau đổ xô tới. Biết không lọt, bọn Mỹ quăng cô xuống đường, rồi bỏ đi. Cô gái thoát khỏi tay chúng bữa ấy, nhưng từ đó trở thành người mất trí.

Bọn ác ôn thoát chết sau ngày đồng khởi ở Mỹ Thủy, trốn tránh ở các vùng địch còn chiếm giữ, lại trở về núp sau lưng lính Mỹ. Chúng nhận mặt những người hoạt động cho Mặt trận và mang thuốn đi xâm hầm.

Binh lính Mỹ ào ào đổ xô đến những nơi có tiếng súng, lùng sục du kích...

Quân Mỹ mở liên tiếp hàng loạt những cuộc càn xung quanh các vị trí trú quân. Đại bác của chúng bắn không thương tiếc vào các thôn ấp không có quân chúng đóng, và bắn cả lên rừng núi.

Vào đầu mùa xuân năm ấy, chính là lúc đế quốc Mỹ ném vào chiến trường miền Nam thêm hai mươi vạn quân. Tổng số quân Mỹ, tay sai và chư hầu đã lên tới gần một triệu. Trong lịch sử chống ngoại xâm của loài người, các dân tộc mấy khi đã phải đương đầu với một kẻ thù đông tới một triệu tên. Một thế kỷ rưỡi trước đây, Na-pô-lê-ông vét quân các nước chư hầu ở châu Âu, mở cuộc tấn công vào nước Nga bao la, khi tiến về Mạc-tư-khoa tính ván bài quyết định với Nga hoàng, số quân của hoàng đế Pháp cũng chỉ tới nửa triệu.

Đùng một cái, trên chiến trường nhỏ hẹp của đất nước, đổ tới thêm hai mươi vạn quân xâm lược. Lần này, chính là quân Mỹ. Bọn lái buôn máu xưa nay, chỉ quen dùng đô-la thuê người nước ngoài đi đánh, đã đến lúc phải đưa người của chúng ra trận. Bọn lái buôn chiến tranh từ xưa đến nay, chỉ thích đứng ngoài cuộc, chờ tình thế ngã ngũ thì nhảy vào kiếm lời, lần này, đã phải nhảy vào trận đánh trong lúc tình hình đang bất lợi.

Ý định của kẻ thù lần này cũng rõ rệt như chính lòng tham của chúng. Chúng thẳng tay ném thêm một quả tạ lên bàn cân khi thấy cán cân lực lượng không lợi cho chúng. Chúng muốn đùng một cái, đảo ngược lại tình thế, giành một thắng lợi quyết định.

Cuộc chiến đấu của nhân dân ta đã tiến sang một giai đoạn mới mà đây chỉ là bước mở đầu. Rồi đây, quân Mỹ không phải chỉ là hai mươi vạn. Nhân dân ta đang đảm đương trước lịch sử một nhiệm vụ thật nặng nề.

Các đồng chí lãnh đạo đứng trước tấm bản đồ đất nước nhỏ hẹp, sau lưng là núi cao, trước mặt là biển cả, nhìn những chấm xanh xuất hiện mỗi ngày một nhiều. Chúng ta không có đất lùi. Chỉ còn cách đứng tại chỗ tấn công giáng trả lại kẻ thù. Những ngày mưa giăng trắng đôi bờ sông Cửu Long, những đêm nước tràn ngập các khu rừng ở bưng biền, trên những vừng trán cao ấy, chắc đã có thêm những nếp nhăn, trên những mái tóc hoa râm ấy, chắc đã có thêm nhiều sợi bạc. Những người du kích Trị - Thiên ở xóm làng bé nhỏ của mình, phá chặn trước mặt, cát ngăn sau lưng, đường chiến lược bao vây chung quanh, nghe đất trời rung chuyển dưới trận bão của kẻ thù vừa ập tới. Mưa trên đỉnh Trường Sơn đã dứt, sương mây vén gọn lại trả màu xanh cho núi, những cồn cát vàng rực lên dưới nắng hè. Thời tiết ở đây khác với trong kia, nhung những suy nghĩ đang đè nặng trên đầu mỗi người ở đây không khác.

Xã đội trưởng dân quân Mỹ Thủy là Nguyễn Viết Phong năm ấy vừa tròn hai mươi tuổi. Khi Mỹ vào, anh đang theo học một lớp huấn luyện về trinh sát ở trên tỉnh. Những đồng chí dưới xã lên đã nói cho Phong biết rõ tình hình ở nhà. Phong nghe những tin dữ về gia đình, về các đồng chí, về thôn ấp, thấy cay cay ở đôi mắt. Bố anh đã bị chúng bắt đi đầy biệt tin từ mấy năm nay. Giờ lại đến lượt mẹ anh. Nhưng mẹ Phong bị bắt lần này chẳng phải là lần đầu. Người anh ruột của Phong vừa bị giặc Mỹ bắn chết. Giữa Phong và anh, ngoài tình ruột thịt còn tình đồng chí. Hai anh em đã dắt díu nhau cùng đi hoạt động. Hai đứa em nhỏ của Phong giờ mất thêm mẹ, phải đi theo bà chị dâu vừa góa chồng. Cây mai hoa vàng trồng trước nhà Phong bị đạn pháo của Mỹ chém cụt rồi. Đêm đêm, ánh sáng ở sân bay Phú Bài tỏa đến tận nhà anh, đại bác Mỹ nhả ra các thôn ấp chung quanh hàng ngàn quả đạn. Ấp Năm bị chúng bắn tan nát cả rồi. Ác ôn kéo về đông. Nhiều đồng chí bị giết và bị bắt. Nhưng tất cả những chuyện đó không làm cho người thanh niên ngạc nhiên. Phong chẳng phải đã được sinh ra và lớn lên trong nôi ấm. Anh đã nhìn tận mắt bao nhiêu tai ương, bao cơn dông bão từ ngày “tố cộng” đầu tiên đến giờ.

Điều làm Phong ngạc nhiên, băn khoăn là thằng Mỹ ra sao? Chúng nó có nhiều súng đạn, có những khẩu tiểu liên cực nhanh rất nhẹ... Những cái đó chẳng có chi lạ. Nhưng điều lạ đối với Phong là theo các đồng chí nói, mỗi lần chúng ta nổ súng là địch ùa tới, bu lại như một đàn ruồi. Có thể nào như thế nhỉ? Chả lẽ chúng không biết sợ đạn, không biết sợ cái chết? Nhưng các đồng chí ở dưới xã lên đều nói như thế. Anh em đã gọi chúng là “ruồi bu”.

Chính vì chúng nghe tiếng súng là bu lại nên gần đây, thôn ấp vắng tiếng súng; đội du kích nhỏ bé mới xây dựng của Mỹ Thủy bị tiêu hao, chưa biết hoạt động cách nào. Bà con trong thôn ấp có phần lo lắng.

Có cách nào đánh thắng chúng được không? Tâm tư của người du kích trẻ tuổi Nguyễn Viết Phong cũng là tâm tư của tất cả những người đang cầm súng chiến đấu khi hai mươi vạn quân Mỹ từ bên kia đại dương ào ạt tới. Phong ngồi học luôn luôn thấy trong người như có lửa đốt. Hai tháng sau, lớp học kết thúc, người du kích như con chim sổ lồng khoác tiểu liên trở về xã.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2017, 02:07:57 pm
5.

Nửa đêm về sáng, ba người du kích từ ấp Bốn đi sang ấp Năm. Trời sáng trăng, gió biển thổi vào mát rời rợi. Phong trở về xã đã được bốn ngày. Tình hình hoạt động của dân quân du kích chẳng có gì đáng phấn khởi. Nhưng lúc này đi trên những trái đồi quen thuộc để trở về ấp Năm, Phong thấy trong lòng vui vui. Bữa nay, anh cùng hai đồng chí du kích ra đây chuẩn bị lại cơ sở để thử sức một trận với bọn Mỹ. Phong đã thấy rõ muốn giải quyết tình hình này, chỉ có cách nổ súng trở lại, nổ súng thật quyết liệt. Bọn Mỹ ngày càng nghênh ngang. Bây giờ thì không phải chúng chỉ càn quét loanh quanh vùng đóng quân mà chúng đã mở rộng những trận càn tới vùng giáp ranh.

Suốt mấy tháng nay, ấp Năm là nơi bọn Mỹ càn quét quyết liệt nhất vùng này. Chúng nghi du kích xã và bộ đội giải phóng ở trên về thường tụ họp ở đây. Chúng còn muốn quét thật sạch ấp Năm vì đây là nơi mỗi lần đi càn ở vùng giải phóng, quân lính của chúng phải qua lại. Đến quả đồi cạnh ấp, họ dừng lại. Dưới ấp, không một ánh đèn lửa. Phong bảo Tiêu:

- Mi ở đây thôi, cảnh giới nghe, sắp sáng rồi, để tau với thằng Xê vô ấp coi ra răng.

Các nhà trong ấp vắng tanh. Phong nhớ lại hồi còn ấp chiến lược, đêm đến là giờ thiết quân luật, quang cảnh cũng như thế này. Có lẽ nào lại quay lại như cũ, Phong tự hỏi mình. Theo lời các đồng chí thì trong ấp vẫn còn những nhà có người ở lại, nhưng ban đêm, họ ngủ trốn nơi nào không biết. Phong và Xê vào một nhà cơ sở cũ. Tro bếp còn nóng, nồi khoai vẫn đặt trên kiềng, nhưng tìm mãi không thấy người nhà đâu. Phong bảo Xê:

- Ở đây chờ sáng thôi. Nói cho thằng Tiêu biết.

Xê đi một lát rồi quay về.

- Hầm bị hỏng nắp, tui đã thay rồi. Khi cần biến là có chỗ biến ngay. Tui đã báo cho thằng Tiêu là chúng mình đặt “chỉ huy sở” ở nhà ni.

Phong mỉm cười nói:

- Bữa ni đập một trận cho đã. Chưa chắc đã thèm nằm hầm mô!

- Tui cũng không ưng nằm hầm. Đồng đất nhà mình thiếu chi chỗ nấp.

Họ ra nương chè sau nhà. Phong mở tấm ni-lông rải lên miệng hầm tránh pháo. Ở đây, địch hay bắn đại bác về bất thần. Anh bỏ ra một vắt cơm, hai người cùng ngồi ăn. Phong nói:

- Bữa ni, tau muốn coi bọn hắn bu ra răng?

- Bọn tui coi nhiều rồi. Anh phải cho lanh nghe.

- Để coi. Chừ cứ tranh thủ ngả lưng cái đã.

Họ cùng nằm trên mảnh ni-lông. Hoi đất ẩm mát lạnh dưới lưng. Từ hôm Phong về, anh em đều đồng ý với Phong là phải bớt nằm hầm, lên ở nổi để đánh địch. Nhưng một số còn ngại nổ súng thì địch sẽ bu lại. Phải đánh một trận coi ra sao, đánh được ngay hôm nay thì càng tốt... Có lẽ nào chúng nó lại không biết sợ đạn? Nằm bên anh, Xê đã ngáy đều đều.

Có tiếng chân người chạy gấp phía sau, Phong nhỏm dậy. Nhìn thấy cái mũ giải phóng và dáng người cao to của Tiêu, Phong hỏi ngay:

- Tiêu, có chuyện chi?

- Mỹ lên rồi!

- Đông hay ít?

- Lúc nhúc, nhiều lắm!

Xê cũng đã thức giấc. Không ai bảo ai, cả hai người vùng đứng dậy. Phong nói:

- Thu gùi đi.

Họ lột quần dài, tụt dép, gói vào tấm ni-lông, giấu biến vào bụi cây. Phong và Xê quấn chéo dù lên cổ, xách súng theo Tiêu, chạy vụt lên đồi.

Những vệt đèn pin quét ngang quét dọc trên một quả đồi phía trước. Bọn mi cũng siêng đó, Phong nghĩ thầm. Đứng đây nghe được cả tiếng máy điện thanh sè sè, và thấy rõ cả những bóng người cao dài đi lại lố nhố. Địch ở cách họ hai quả đồi nhỏ. Phong đoán bọn này vừa đi càn về. Năm ngày qua, ba tiểu đoàn Mỹ đã mở một cuộc càn ở vùng giáp ranh.

Những người du kích kéo xuống ấp, ngồi trao đổi nhận xét tình hình. Họ phân vân chưa rõ đây là bọn chúng đi càn về qua, hay chúng định mở một cuộc càn mới vào ấp hôm nay.

Nền trời mỗi lúc một xanh và trong hơn. Vừng trăng dần dần trắng bệch như một mảnh gương. Một chiếc máy bay trinh sát xám xịt từ đâu bay đến. Nó vè vè lượn vòng quanh ấp. Cũng lúc ấy, những tiếng phành phạch phành phạch của máy bay lên thẳng ngày càng dồn dập.

Tiêu đứng cảnh giới ngoài nương chè, quay lại gọi:

- Anh Phong ơi, hắn đổ quân xuống chiếm mấy trái đồi rồi!

Phong và Xê cùng chạy ra nương chè. Máy bay lên thẳng nối theo nhau, nhả xuống các quả đồi từng loạt những tên Mỹ trắng, Mỹ đen. Chúng đội mũ vải lưỡi trai, mặc quần áo màu xanh thẫm, quấn đạn đầy mình. Họ có thể nhìn rõ cả những chiếc giày cao cổ màu đen của chúng.

Phong nhận thấy ngay tất cả những con đường ra khỏi ấp địch đều đã bịt kín. Trong khoảnh khắc, ba người đã như bị lùa vào trong một chiếc rọ. Cánh quân địch ở phía Phú Bài đi lên theo đường cái đang tiến vào ấp. Bọn địch trên đồi, chắc cũng sắp đánh xuống.

Đạn réo quanh tai như ong vỡ tổ. Nhiều ngôi nhà trong ấp bắt đầu bốc cháy vì những viên đạn lửa. Từ bốn phía, tiếng nổ mỗi lúc một nhiều. Phong nói như quát:

- Đánh chớ các đồng chí?

Mặt Tiêu trắng bệch nhưng lại có những đám đỏ ửng.

- Chừ hắn đông, đánh cách răng? Hướng mô trước?

- Đông mặc kệ! Hắn càn. Bọn ta kiên quyết chống càn.

Phong mở túi cấp cứu, rút ra một cuốn băng cấp cứu, nhét vào túi ngực để dễ lấy khi cần đến. Anh lên đạn. Hai chiến sĩ du kích làm theo anh. Cặp mắt Phong nảy lửa, anh nói:
- Từ giờ phút ni, coi như mệnh lệnh chiến đấu. Bám nhau thật sát! Phải đánh đến cùng! Không ỷ lại, ai có sáng kiến chi cứ tự động.

Anh chưa kịp nghĩ ra một kế hoạch đánh địch, nhưng anh tự bảo: Cứ đánh đã rồi sẽ liệu dần. Chợt nhận ra là mình ở chỗ thấp không lợi, anh bảo:

- Ở đây thất thế. Phải đánh bật bọn hắn đi, chiếm lấy một quả đồi.

Thế là họ đã có hướng tấn công bọn địch. Họ lợi dụng vạt tràm bò về phía quả đồi máy bay lên thẳng đang tiếp tục đổ quân. Phong quanh lại bảo Xê và Tiêu:

- Bắn cho thật trúng nghe!

Mặt Phong nóng ran. Anh nắm chắc khẩu tiểu liên, vừa tiến về phía địch vừa thầm nói với mình: Để coi bọn mi có biết sợ đạn hay không?


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2017, 02:09:17 pm
6.

Họ đã vượt qua hết vạt tràm. Địch vẫn còn ở cách họ khoảng ba chục mét, khoảng cách hơi xa đối với những người du kích. Trước mắt họ là một bãi trống. Phong nằm lại, không được vừa ý lắm. Nòng súng của những chiến sĩ du kích hơi di động, tìm những mục tiêu hỗn độn ở phía trước. Phong đã chọn được cái thằng mang khẩu đại liên. Anh muốn kiếm một tên sĩ quan nhưng chưa thấy nên phải nhắm thằng này. Chợt thấy địch đang chuẩn bị tiến công, anh xua tay bảo Xê và Tiêu:

- Khoan bắn! Chờ hắn tới gần đã.

Sau lưng họ, cánh quân địch từ Phú Bài lên đã tiến vào trong ấp. Khói mù mịt bao phủ các ngôi nhà. Một toán địch đã xộc vào căn nhà họ ngồi khi nãy.

Bọn địch trên đồi bắt đầu tiến xuống ấp. Chúng dàn thành hàng ngang, đi thẳng người trước mũi súng của Phong y hệt những cái bia. Phong vẫn không rời thằng mang khẩu đại liên. Nó có một cái mũi dài và cái cằm mới cạo râu xanh biếc. Mặt nó hơi khó hiểu, không có vẻ gì là một tên lính bắt đầu xung trận. Hai cái môi mỏng của nó hình như đang mỉm cười. Chính cái mồm của nó đã làm Phong bỗng nhiên tức lộn ruột. Nhà cửa cháy rừng rực trước mặt mày thế kia mà mày vẫn vui vẻ à? Người nó như cứ ngửa dần ngửa dần mãi về phía sau làm Phong cứ phải nâng nòng súng lên cao để chiếu cho đúng vào giữa ngực nó.

- Bắn!

Thằng mang đại liên ngã ngay. Một thằng nữa ngã. Và một thằng ném khẩu súng chạy lui. Tự nhiên, từ miệng Phong bật lên một tiếng hô “xung phong”. Anh không ngờ tiếng hô đó lại là của chính mình. Và những tiếng hô khác cũng cùng một lúc bật lên. Họ chỉ có ba người, nhưng những tiếng hô của họ dữ dội và kéo dài như của cả một đạo quân. Cả ba người cùng chồm dậy vừa nổ súng, vừa lao về phía quân địch. Chúng hốt hoảng chạy xé ra hai bên để tránh những viên đạn bắn đuổi theo.

Họ đã đến lưng đồi. Phong định phóng tới chiếm cái lăng  trên đỉnh. Nhưng anh chợt nhìn thấy đạn địch từ đó xối xả bắn ra. Địch đã chiếm lăng này mất rồi. Biết không thể tiến lên nữa, ba người phải quay lại, chạy trở về phía ấp.

Bọn địch ở trong ấp đã xuất hiện trước mặt họ. Tiếng súng nổ và nhất là những tiếng thét xung phong của các chiến sĩ du kích, đã làm cho chúng đổ xô về phía này, giống như trong các cuộc lùng tìm mọi lần.

Ngoái lại phía sau, Phong nhận thấy quân địch trên đồi vừa tháo chạy đã quay trở lại. Và bọn địch ở trong cái làng trên đỉnh đồi cũng tiến xuống. Có lẽ chúng đã nhìn thấy họ chỉ có ba người.

- Lên đồi chè đi! - Xê nói với Phong.

Gần đó có một cái đồi chè, nhưng vì nó ở ngay giữa làng nên ban nãy Phong không muốn lên đó. Giờ thì cũng phải lên đó thôi. Phong nói:

- Lên đồi chè. Đi cho khéo đừng để địch nom thấy.

Nhưng một số địch ở trong ấp cũng đã tiến lên đồi chè. Tổ du kích ẩn nấp sau những khóm chè, những ngôi mộ và những ụ đất trên đồi, quần nhau lộn ẩu với kẻ địch một hồi lâu. Địch không nhìn rõ họ, lại sợ bắn phải nhau, nên chúng nổ súng dè dặt.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2017, 02:11:23 pm
7.

Mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, đổ nắng lửa xuống những quả đồi. Tổ du kích chỉ còn lại Phong và Xê. Khẩu súng của Tiêu bị hỏng; Phong đã buộc anh phải rời trận địa bằng cách ra lệnh cho anh về phía sau báo cáo. Hai người đã đánh lừa và bắn chặn kẻ địch giúp cho Tiêu thoát khỏi vòng vây. Họ đã di chuyển vị trí thêm nhiều lần. Bây giờ thì họ ngồi trong một chiếc lăng ở trên một quả đồi nằm giữa ấp Năm và làng Phương Chánh. Bốn chung quanh họ, vẫn là bọn chúng. Địch cứ hết tiến lại lùi mãi vẫn không đến được gần vị trí của những người du kích. Chúng đã chuyển sang bắn tỉa bằng súng trường và dùng súng cối cá nhân sát thương họ từ xa.

Tiếng súng của địch đột nhiên im bặt hồi lâu. Chắc chúng cần nghỉ ngơi một lát sau cuộc chạy đuổi và những miếng vồ hụt rất mất sức suốt từ sáng tinh mơ đến giờ. Xê lau súng xong, ngả người dựa lưng vào thành lăng, mắt lim dim nói:

- Bọn hắn đọa, nghỉ rồi, mình cũng mần chút giải lao, anh Phong?

- Ừ, cậu nghỉ đi.

Nắng vàng cả mắt. Khát quá, cổ họng rát như phải bỏng. Sân bay Phú Bài cách đó vài ki-lô-mét, nằm trắng lóa như một tấm gương. Những cột điện vô tuyến, những cột điện cao thế dựng lên tua tủa chung quanh sân bay. Những con chuồn chuồn ngô bằng sắt lên lên xuống xuống. Loại trực thăng này khỏe lắm. Bữa trước, Phong đã nhìn thấy nó ôm theo cả một chiếc lô-cốt. Xe nhà binh bò như cua trên đường số 1, trên các đường chiến lược. Bọn hắn rứa đó! Cái chi hắn cũng có hết, sắt thép thiệt là nhiều. Rầm rầm rộ rộ, đầy đất đầy trời, nhưng có mần được chi mô. Trời hôm ni răng mà lặng gió rứa. Những cây thông trên núi Thiên Thai đang cháy vàng cả vì nắng. Bây chừ mà được xuống con sông Lệ Nông kia tắm một cái thì sướng quá chừng. Phong đưa mắt nhìn quang cảnh chung quanh, không quên xem tình hình động tĩnh của quân địch.

- Anh Phong coi này!

Xê vẫn ngồi dựa lưng vào tường, giơ cao hai tay căng miếng vải dù trước mặt. Phong nhìn thấy bốn lỗ thủng. Xê hạ tay xuống, nhoẻn miệng cười rồi bảo Phong:

- Anh coi lại chéo dù của anh cái nào.

Phong mở rộng chiếc dù của mình ra coi, và cũng tìm được hai vết đạn.

- Coi bộ đạn Mỹ nó sợ anh em mình... Anh Phong, đã thấy đúng là ruồi bu chưa?

Phong lắc đầu, rồi nói:

- Hắn bu thiệt nhưng mà đập được. Đập cho mạnh là bay thôi.

Chừng hai giờ sau, súng địch lại nổ. Chúng vẫn ở quả đồi trước mặt bắn sang. Nhìn những viên đạn lửa, Phong thấy đường đạn đi rất cao. Những viên đạn này không hề đe dọa gì anh và Xê nằm trong lăng bốn bề có tường chắn. Ban sớm, chúng bắn còn nguy hiểm hơn nhiều, đạn cắm phầm phập vào tường, vôi vữa bốc trắng cả lên. Xê cầm lấy khẩu súng nói thủng thẳng:

- Kệ cha mi! Cho bắn hết đạn đi. Vô gần đây tau sẽ tính cho.

Phong bỗng cảm thấy nghi hoặc. Tại sao bỗng dưng chúng lại bắn tồi hẳn đi như thế? Anh nhô đầu khỏi lăng, ngó xuống chung quanh chân đồi; Phong giật mình khi nhìn thấy bọn Mỹ đã nằm sau lưng, cách bọn anh khoảng ba chục mét. Anh vội thụt đầu xuống, bảo Xê:

- Hắn sắp lên tới nơi. Sang băng bắn liên thanh!

Lựu đạn của địch rơi lộp bộp ngoài tường. Nhiều tiếng nổ quanh lăng. Hai khẩu tiểu liên của Phong và Xê cũng nổ giòn giã. Nhiều tên địch trúng đạn gục ngay tại chỗ. Những tên khác lao đầu chạy xuống chân đồi.

Khói lựu đạn bốc mờ trong lăng. Phong vung mảnh vải dù xua khói, rồi bảo Xê:

- Cứ đập cho mạnh là bay thôi!

Anh chợt nhìn thấy máu mũi Xê chảy ròng ròng. Một mảnh lựu đạn địch đã văng trúng mũi Xê làm anh bị thương. Xê lấy một miếng gạc đắp vào mũi để thấm máu. Nhưng khi nhấc miếng gạc ra, máu lại nhỏ giọt.

Từ đồi bên kia, vang lên một thứ tiếng Việt lơ lớ:

- Hàng đi, hàng đi, hàng thì sống, không hàng thì chết!

Phong tức mình chửi váng lên. Xê cũng định chửi, nhưng vừa mở miệng thì máu mũi lại trào ra, anh phải nhét miếng gạc vào mũi. Nhìn mặt Xê tái đi, Phong biết anh mệt lắm. Phong nói:

- Công sự ở đây tốt. Cứ ở đây mà đánh. Không chạy đi ngả mô nữa!

Anh rút cuốn băng ở túi ngực ra băng cho Xê.

Một lát sau, nghe tiếng máy bay lên thẳng phành phạch. Chiếc máy bay xiên xiên lao về phía đầu họ, mỗi lúc một gần. Nó định đổ quân ngay xuống lăng này chắc? Phong chĩa súng vào máy bay, bắn liền mấy phát. Nó vọt lên cao, rồi sà xuống quả đồi cuối làng Phương Chánh, đổ xuống một toán lính Mỹ. Các tiểu đoàn Mỹ đánh nhau với ba người du kích từ sớm đến giờ đã phải xin thêm lực lượng cứu viện.

Bọn địch mới đến coi chừng hung hăng hơn. Chúng vừa nổ súng vừa la hét, tiến về phía lăng. Từ bốn phía, quân địch cũng la lối rầm lên như sắp cùng xông tới. Một luồng khói đen nghịt bốc lên cạnh lăng. Rồi lại một luồng khói khác. Chúng đã phải dùng đến một thứ vũ khí mới: lựu đạn hỏa mù. Phong và Xê không còn nhìn thấy rõ mặt nhau. Tiếng súng nổ và tiếng la hét mỗi lúc một gần. Phong nói:

- Chuyển vị trí!

Anh nắm lấy tay Xê, kéo Xê chạy ra khỏi làn khói đen mờ mịt. Họ lao xuống phía khe nước ở chân đồi. Một lần nữa, bọn địch, lại vồ trượt họ. Nhưng sau đó, chúng lập tức chia làm hai cánh, đổ xô xuống khe suối, đuổi theo hai người.

Xê bị thêm một viên đạn của địch xuyên vào vai. Phong định băng, nhưng Xê gạt tay Phong, nói:

- Không cần băng.

Từ hai phía địch lại tiến lên. Phong lắp đạn vào băng cho Xê, thấy Xê chỉ còn đúng mười viên. Bây giờ thì Xê phải đặt súng bên bờ suối, bấm cò bằng tay trái. Anh bắn thong thả từng phát một. Khi súng của Xê không nổ nữa, Phong quay lại thấy Xê đã nằm ngửa người rất ngay ngắn trên bờ suối. Anh đã dùng tất cả sức lực còn lại để bắn nốt viên đạn cuối cùng.

Một toán địch từ sau màn khói xông tới. Phong đứng thẳng người nghiến răng, bóp cò súng. Nhưng đạn không nhảy nữa. Anh rút trái lựu đạn cuối cùng, ném về phía chúng. Lựu đạn vừa nổ xong, anh phóng lên bờ, lao chạy về phía làng Phương Chánh. Một toán địch thoáng thấy Phong chạy, hò la đuổi theo. Phong nhảy vào một bụi cây bên đường ngồi lại. Anh nắm chắc khẩu súng trong tay. Lúc này, nó chỉ còn giá trị như một thanh sắt.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 06 Tháng Chín, 2017, 02:19:41 pm
8.

Mấy toán địch rầm rập chạy qua trước mặt Phong. Anh yên tâm vén những cây cỏ gianh chung quanh, che kín chỗ mình ngồi. Tiếng súng của địch nổ loạn phía con suối ở trước làng Phương Chánh. Ban nãy, nếu chạy thẳng, Phong phải vượt qua đó. Lát sau, anh lại nghe cả những tiếng nổ ở trong làng Phương Chánh.

Mặt trời vẫn còn khá cao. Chốc chốc tiếng súng lại vang lên ùng ục phía suối. Chỗ này lòng suối nhiều quãng có nước sâu. Khéo mà chúng bắn xuống nước cũng nên. Chúng nó đánh giá du kích Mỹ Thủy tài lặn lắm sao, Phong nghĩ vậy. Nhưng anh cũng biết nếu còn ánh sáng mặt trời thì bọn chúng chưa chịu buông tha vùng này. Hơn một tiểu đoàn của chúng chiến đấu suốt một ngày, chả lẽ lại chịu không kiếm chác được cái gì ư? Chung quanh chỗ anh ngồi, không còn thấy chúng nó. Nhưng chắc bốn phía, vòng vây của chúng vẫn đang siết chặt.

Với anh, thì cuộc chiến đấu ngày hôm nay thế là kết thúc rồi. Anh ngồi đánh giá kết quả trận đánh đầu tiên với bọn chúng, điểm lại từng đợt chiến đấu. Chúng nó phải chết trên ba chục thằng. Chỉ tối nay thôi, đồng bào ở Mỹ Thủy, ở Huế, ở Đà Nẵng... sẽ biết kết quả trận đánh khi những xác Mỹ chết được đưa về Phú Bài. Tối nay về, Phong sẽ gặp ngay các đồng chí du kích. Ngày hôm nay, chúng đã bu đến thật đông, đúng như lời các đồng chí đó nói. Nhưng cuối cùng, chúng vẫn chỉ là ruồi. Đập mạnh là chúng bay loạn xạ. Chúng cũng biết sợ hãi như tất cả những loài ruồi khác mà thôi.

Lại có tiếng máy bay lên thẳng phành phạch trên đầu. Chúng đi gắp xác chết đó. Một đám lửa cháy bùng lên trên quả đồi cạnh ấp Năm. Chúng thả bom lửa xuống đồi làm gì? Anh đoán là chúng nó muốn xóa hết những dấu vết của cuộc chiến đấu ngày hôm nay. Bỗng Phong thấy một luồng gió rất mạnh trên đầu. Trong phút chốc, những đám lau đang che giấu cho anh bỗng nằm ép xuống cả mặt đất, phơi người anh ra giữa trời. Ngay trên đầu anh, một chiếc máy bay lên thẳng đang từ từ hạ cánh. Sự việc xảy ra đột ngột quá, làm cho Phong quên cả nằm rạp mình xuống mặt đất cho nhỏ mục tiêu, trên người anh, vẫn còn một mảnh vải dù ngụy trang. Chắc là bọn trên máy bay trông thấy anh rồi. Dù sao mình cũng không chịu để cho chúng bắt sống. Anh vẫn còn một thứ vũ khí trong tay. Phong cứ ngồi ngay như pho tượng. Những chuyện xảy ra từ sớm đến giờ đều thật là đột ngột. Nhung ngay lúc đó, anh cảm thấy trong lòng thanh thản lạ thường.

Chiếc máy bay lên thẳng đỗ xuống cách anh dăm thước. Những cây lau vừa nằm xuống mặt đất đã thong thả đứng dậy, che người cho anh. Phong giương mắt thật to chờ mấy thằng đội mũ lưỡi trai to lớn hấp tấp xô đến chỗ anh. Hai tay anh đã nắm chắc báng súng.

Một chiếc cẳng dài, rồi hai chiếc cẳng dài thò xuống mặt đất. Thằng giặc này không vội vàng tí nào. Nó từ từ đi cách xa chiếc máy bay. Có lẽ chỉ có một mình nó thôi. Thằng Mỹ rất cao và gầy đó đứng xây lưng về phía anh, ngoảnh mặt về làng Phương Chánh. Nhờ có chiếc cần “ăng-ten” ngất nghểu, Phong nhận ra cái vật nó đeo trên lưng là một chiếc máy điện thanh. Nó cắp ở nách một khẩu súng xem chừng rất nhẹ. Chắc là nó chưa trông thấy Phong ngồi đây. Cái chong chóng trên lưng chiếc máy bay quay tít lên bây giờ lại sẽ phơi người anh trên mặt đất. Khi đó, tên lính quay lại nhìn chiếc máy bay bay đi nó sẽ trông thấy anh. Cuộc vật lộn giữa anh với nó sẽ bắt đầu. Mình không cao hơn thắt lưng nó mấy tí, nhưng cái báng súng này thừa sức với tới đầu nó. Cái chong chóng bắt đầu quay. Nó quay tít, những cây lau lại rạp xuống. Đầu óc Phong căng lên. Nhưng cho đến lúc chiếc máy bay lên thẳng bay đi khuất, tên lính vẫn không hề quay lại. Phong nhẹ nhàng vén từng cây lau, che kín chỗ mình ngồi như cũ.

Thỉnh thoảng, anh lại nghe tên lính nói bằng thứ tiếng cổ họng xa lạ và những tiếng ủng oẳng từ chiếc máy phát ra. Anh đã biết rõ tên này được phái đến đây để theo dõi hành tung của cái người hiện đang ngồi ngay sau lưng nó. Nó được giao nhiệm vụ cảnh giới phía đã có một bóng “Việt cộng” rút chạy. Nó làm “công vụ” một cách “nghiêm chỉnh” đến mức Phong không hề nhìn thấy bộ mặt của nó ra sao.

Một chiếc máy bay khác vẫn tiếp tục thả chất cháy xuống những quả đồi, nơi cuộc chiến đấu đã diễn ra ngày hôm nay. Tiếng súng ở vùng này đã im bặt. Mặt trời xuống dần ở phía tây, làm cho những khu rừng, những hẻm núi, những cánh đồng tím dần lại. Tiếng kêu của một con tắc kè bỗng vang lên. Phong nhìn thấy tên lính làm dấu thánh giá. Nó nói lầm bầm những điều gì. Anh đoán là nó cầu nguyện. Quang cảnh buổi chiều vắng lặng ở vùng đồi núi chập chùng này, sau trận đánh đẫm máu các bạn bè nó, chắc đã làm cho thằng lính Mỹ sợ. Nó đang cầu Chúa.

Một giờ sau, chiếc máy bay lên thẳng ban nãy tới đón thằng lính. Cho đến lúc lên máy bay, tên lính Mỹ vẫn chỉ nhìn về phía làng Phương Chánh.

Phong vươn vai đứng dậy. Anh chợt nhận ra quân Mỹ đã rút cả, và thằng Mỹ vừa rồi là tên cuối cùng rời khỏi vùng này. Anh kêu lên “Trời ơi!”. Anh đã để thoát một con ruồi rồi. Nếu có Chúa thật thì vừa rồi, đúng là Chúa đã cứu nó.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 08:33:58 am
9.

Tôi đang nói chuyện với Quang thì thấy một người bé nhỏ, mặc bộ đồ lót bằng lụa đen, đội chiếc mũ học sinh màu trắng, nhanh nhẹn bước vào. Có lẽ anh còn là một thiếu niên. Nhìn khẩu súng Mỹ đeo một bên vai làm lệch người anh và dáng điệu lanh lợi, tôi đoán đây là một chú giao liên. Chú mở tròn mắt, reo lên:

- Anh Quang!

Chú giao liên dựng khẩu súng ngay bên cửa, treo vội cái mũ lên cột nhà. Vụt một cái, chú lao cả người đến chỗ Quang ngồi. Quang dường như đã có chuẩn bị nhưng vẫn bị đè ngửa trên sạp. Hai người quay ra vật nhau một chập. Cái sạp nứa rung lên như muốn sập. Tôi phải ngồi né về một góc để hai người khỏi đạp phải mình. Quang cao lớn gần gấp đôi chú giao liên nhưng ở thế bất lợi, đang đỏ mặt cố lấy sức, lật chú xuống dưới. Chú giao liên ôm ghì lấy người Quang, mặt úp vào ngực anh, đang rộng đôi cẳng chân trắng trẻo không mập mạp gì, lấy hết gân cốt ghìm Quang xuống mặt giường. Chú giao liên tuy bé nhỏ nhưng mà khỏe, Quang cố mãi vẫn không trở mình được.

- Anh Quang chịu chưa?

Quang thở phào, mặt bớt đỏ, đáp:

- Thất thế, chịu rồi.

Chú giao liên buông Quang ra, ngồi dậy, cười để lộ cả hai hàm răng trắng, nói một cách khoái trá:

- Ở đời chỉ hơn nhau cái thế. Tôi phải triệt để tranh thủ bất ngờ. Các anh tới khi mô?

Quang quay lại nhìn tôi, nói để giới thiệu:

- Đồng chí Nguyễn Viết Phong đó.

Xã đội trưởng Nguyễn Viết Phong, người đã được gọi là “Lá cờ đầu đánh Mỹ và thắng Mỹ của phân khu Trị -Thiên-Huế”, là người bé nhỏ này. Tôi đã được nghe Quang tả hình dáng Phong nhưng vẫn ngạc nhiên. Khi chúng tôi tới đây thì Quang đi tỉnh để thông qua bản báo cáo thành tích. Phong sẽ đi dự Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn miền 1.

Quang nhìn khẩu súng dựng ở vách, hỏi Phong:

- Khẩu súng ni đó à?

- Dạ, nặng như cái cùm. Vừa mang lên để tỉnh coi. Muốn đưa phân khu cho rồi.

Quang tới lấy khẩu súng đem lại giường để tôi cùng xem. Đây là một khẩu Garant của Mỹ. Địch gọi súng này là trung liên cá nhân. Trên báng súng, chỗ giáp với khóa nòng có một vết đạn khá sâu, ngoài ra còn ba vết xước khác.

- Cậu mần ra răng mà giật được trên tay hắn?

- Tôi cũng mần cái veo như vừa mần với anh đó.

Phong đáp rồi cười xòa.

Cách đây không lâu, huyện đội Mỹ Thủy có đặt một phần thưởng cho đồng chí du kích đầu tiên bắt được tù binh Mỹ, hoặc đoạt được súng trên tay Mỹ. Diệt Mỹ thì đã có nhiều người, nhưng hai việc này thì chưa có ai làm. Giữa ban ngày, Phong đã dẫn một tổ du kích lọt qua những vọng gác, tiến vào nơi làm việc của bọn Mỹ tại một căn nhà cạnh đường Gia Long. Phong bất thần nhảy tới, gí tiểu liên vào ngực tên gác, bắn chết nó, chụp lấy khẩu súng này. Tổ du kích ném thủ pháo vào nhà, đặt súng ở khe cửa quét vào từng căn buồng. Họ rút trước khi địch chở thêm một đại đội Mỹ từ sân bay Phú Bài đến tiếp viện. Ngày hôm sau, cả một bầy sĩ quan Mỹ kéo đến đây nghiên cứu, hỏi han, xem xét suốt một buổi, vẫn không hiểu lực lượng nào đã đánh chúng và chúng đã bị đánh bằng cách nào.

Tôi ngồi im lặng ngắm Phong đang giở cuốn “an-bom” bìa cứng bọc gấm cho Quang xem. Trong đó dán toàn những ảnh chụp các cảnh đẹp của thành phố Huế. Về sau, tôi biết Phong thích những đồ chơi xinh xinh, những vật kỷ niệm nho nhỏ như thế, nhưng hễ gặp người khác cũng thích là anh vui vẻ cho ngay. Tôi cố tìm ra một vài đặc điểm ở anh, con người bé nhỏ, trắng trẻo đang ngồi cười nói một cách rất vô tâm trước mặt tôi, tự tay đã giết 112 tên địch, trong đó có ba mươi tư thằng Mỹ, phá nát mười chiếc xe vận tải, xe bọc thép của kẻ địch. Quang nói những lần đi đánh địch, Phong thường cải trang làm học sinh. Lần anh ra đón đường giết tên Âu ngoài quốc lộ 1, khi đoàn ác ôn đi tới, một đứa tưởng anh đứng chờ xe ô-tô vô Huế học, đã bảo anh lại ngồi trên đèo hàng để nó chở đi giúp. Khi Phong cười, đôi môi mỏng mở rộng coi rất hồn nhiên. Nhưng nhìn kỹ anh, thì anh có những nét mà một cậu học sinh giống như anh không thể nào có được. Đó là đôi mi mắt rất mỏng, hơi thâm lại vì thức đêm. Đó là vừng trán nhô bướng bỉnh, chưa hằn một nếp nhăn nhưng có đọng những bóng mây của sự suy nghĩ. Cả nước da trắng trẻo của anh cũng không phải là nước da của một cậu bé mới lớn; nước da đó đã phải chiến đấu với bệnh tật rồi. Nhưng tất cả những cái đó đều là do hoàn cảnh công tác, chiến đấu hiện nay đã đem lại cho anh. Thực ra, ở riêng con người Phong, không có gì đặc biệt. Anh có dáng dấp của một cậu học sinh nghèo ở thị trấn nhỏ, lanh lợi, dễ thương... thế thôi. Mỹ Thủy ở gần Huế. Những năm trước đây, khi mới bỏ học, Phong đã phải ra thành phố Huế làm nghề chữa xe đạp một thời gian.

Có lẽ đúng vì Phong cũng chỉ là một thanh niên bình thường như những người thanh niên khác tại Mỹ Thủy, nên đồng bào ở đây đã đánh giá được ngay sức mạnh của “quân lực Huê Kỳ”. Sau trận ấp Năm, đồng bào bảo nhau:

- Hùng hùng hổ hổ, tưởng mần được cái chi, chớ mới gặp có thằng Phong, thằng Xê một ngày mà đã bị đập cho chết như rạ.

Rõ ràng là Phong cũng rất thích thú khi anh kể lại với tôi câu nói này của đồng bào. Anh rất tự hào được là cái “thằng Phong, thằng Xê” của các chú, các thím ở mức độ khác nhau, đều đang ra sức đánh Mỹ, đang ghìm cứng chân hơn hai ngàn quân Mỹ.




-----------------------------------------------------------------------------------
1. Tại đại hội này, Nguyễn Viết Phong được tuyên dương là Anh hùng Quân giải phóng miền Nam


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 08:35:52 am
IV.


1.

Mùa xuân năm 1966, lần đầu, một đơn vị chủ lực lớn của Quân giải phóng từ núi cao kéo xuống đồng bằng. Ở Trị - Thiên này, những sự kiện lịch sử xảy ra chậm hơn so với các nơi khác.

Trong đêm tối, một trời sao bát ngát, xao động, mở rộng trên đầu các chiến sĩ. Họ cảm thấy có những vì sao trời xanh biếc đó rớt xuống, đọng lại rưng rưng ở đôi khóe mắt. Trừ vầng ánh sáng trắng như có mang theo một thứ hơi nóng ngột ngạt, tỏa trên căn cứ Đ. của giặc, cả đồng bằng chìm trong tối tăm. Một số xã vùng lên hồi đồng khởi năm 1964, đã bị quân địch tràn về, chà đi xát lại dìm trở lại trong những ấp chiến lược. Đêm đen ở đây không bắt đầu từ khi mặt trời xuống núi, mà bắt đầu từ sau hồi còi thiết quân luật.
Các chiến sĩ đã bước vào một thời kỳ chiến đấu mới. Đêm nay, ra khỏi rừng cây, tâm hồn các chiến sĩ cũng rào rạt như trời sao kia, như gió biển Đông ấm áp đuổi những đợt sóng tràn về đất liền từng hồi.

Anh cán bộ năm xưa rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ra đi vì mình, vì muốn cứu lấy cuộc đời mình. Bây giờ, anh trở về vì những người thân đang sống âm thầm trong bóng đen dày đặc kia. Tư tưởng và tâm hồn anh đã lớn lên cùng với những tháng năm chiến đấu. Quê hương và đất nước đã hòa làm một. Nhưng mỗi tấc đất của Tổ quốc ở đây đều chứa đựng những kỷ niệm buồn vui, đều đã in dấu trong tâm hồn của anh. Mỗi búi cây trâm bù vô nghĩa trên con đường mòn này đều gợi cho anh những tình cảm thân thuộc. Bãi cỏ hoang này là nơi các cậu bé năm xưa tranh nhau quả bóng làm bằng trái bòng hơ mềm đi trong bếp lửa. Cái mồ doi này với những hàng dứa dại là nơi đã diễn ra những cuộc “đánh trận” hào hứng của lũ học trò. Cái ao nho nhỏ này là nơi cậu bé mỗi buổi chiều đánh trâu về làng, thường cho con vật dừng lại dầm nước, tắm táp sạch sẽ cho nó trước khi đưa về chuồng. Và cái cây bời lời ngày đó vẫn còn đây với những ông bình vôi trắng xóa, những ông táo vỡ. Suốt những năm thơ trẻ, cái cây này đã hiện hình trong đầu óc non nớt của cậu với một vẻ huyền bí như cây thị trong câu chuyện Tấm Cám của mẹ thường kể. Mọi vật đều không đổi khác. Chỉ có một điều không có chi là lạ lùng nhưng vẫn làm cho anh ngạc nhiên, tất cả đều thu nhỏ lại như những mô hình.

Anh cán bộ dừng chân bên cái miếu thờ sao mà giờ đây bé nhỏ đến thế, nằm ở gốc cây. Những chân hương cháy dở cắm đầy bát nhang còn bốc lên mùi thơm nồng nàn của những ngày tết vừa qua. Anh đưa mắt nhìn về phía ấp, cố tìm ra trong bóng tối ngôi nhà lá của bà cô anh ở kề đây thôi. Ngày xưa, những buổi đi học về muộn, trời tối, cậu bé thường đứng ở đầu đường la thật to: “O ơi, ra đem tôi qua cây bời lời”. Bà o còn ở đây không? Tóc của bà chắc đã bạc hết rồi.

Nhưng anh chưa kịp nhận ra ngôi nhà cũ thì những tiếng mõ lốc cốc đã vang lên trong ấp. Những tiếng mõ đứt quãng, rụt rè, yếu ớt. Nhưng vẫn những tiếng mõ ấy theo nhau, nổi lên ở nhiều nơi, phụ họa nhau thành những tiếng động râm ran bốn bề. Những tiếng động vây bọc lấy đoàn quân. Xen vào những tiếng động khô khốc là những tiếng thanh la, tiếng trống không thành hồi, hỗn loạn, rền rĩ. Vài ngọn đến dầu vàng vọt lác đác hiện trên những bùi tre xơ xác. Anh cán bộ biết rõ đây không phải là dấu hiệu vui mừng của quê hương chào đón những đứa con xa trở về.

Đoàn quân đi trong đêm cảm thấy tình thương đối với quê hương bắt đầu có những vết rạn nứt. Bây giờ thì họ phải cố sao đừng làm thức giấc một ngôi nhà nào trên đường về. Họ phải cố tránh làm bật lên những tiếng động nhọn sắc đó, đâm nhoi nhói vào thân thể mình như những mũi chông. Nhưng rồi những tiếng mõ, tiếng trống, tiếng thanh la vẫn cứ nổi lên trên đường họ đi. Mỗi lần như vậy, một câu hỏi lại day dứt trong tâm hồn các chiến sĩ: “Lòng người đã thay đổi rồi chăng?”.

Rạng đông ngày hôm sau cuộc chiến đấu bắt đầu. Các cuộc chiến đấu nối tiếp nhau mười ngày đêm trên suốt dọc đường. Kẻ địch thính hơi như đàn ruồi. Chúng bu kín gót chân các chiến sĩ giải phóng. Lần này, cuộc chiến đấu càng ác liệt. Nhưng chỉ sau một ngày chiến đấu, anh chiến sĩ giải phóng đã thấy nếu mình có được đến hai cuộc đời thì khi cần, mình, cũng không ngần ngại đem dâng tất cả cho dải đất đồng bằng chật hẹp này.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 08:37:15 am
2.

Ở đồng bằng Trị - Thiên có một số nơi, hàng chục năm ròng, đồng bào chưa được gặp lại những người hoạt động cách mạng. Quân Pháp đi, quân Diệm đến, bây giờ là quân Mỹ.
Trong công việc xuyên tạc những người cách mạng, bọn chiến tranh tâm lý ra sức tạo nên cho họ một hình dạng thật là khủng khiếp. Mấy tên thợ vẽ kém thông minh không biết bôi ra một hình thù như thế nào cho vừa ý kẻ đến đặt hàng. Có lẽ cuối cùng, chúng đã nghĩ ra mẹo làm tiền bằng cách lấy mẫu ở những tên giặc Tưởng xấu xa, ghê tởm nhất. Cũng như khi nói tới những lý tưởng cách mạng của chúng ta, trong việc bôi bẩn này, chúng phóng tay một cách vô tội vạ, chẳng cần nghĩ là người xem có tin được hay không. Có những hình vẽ chúng tạo nên hết sức vô lý. Thí dụ như cái tranh bảy hình nhân xấu xí (chúng bảo đó là “Việt cộng”) cùng bám trên một cọng đu đủ mà cọng đu đủ không gãy. Chúng đã tuân theo một mẹo chiến tranh tâm lý, điều gì dù khó tin đến đâu nhưng cứ được lắp đi lắp lại nhiều lần, thì cuối cùng cũng sẽ gây cho người ta một ấn tượng.

Chúng biết người dân khi nghĩ đến cách mạng thường gắn liền lý tưởng của nó với những con người cụ thể. Từ lâu, hình ảnh đẹp đẽ của những chiến sĩ cách mạng đã trở thành một chỗ dựa tinh thần của đồng bào đang sống trong đau thương, tối tăm. Phải tìm cách phá cho tan chỗ dựa đó đi. Và chúng đã kiếm được ít nhiều kết quả. Những cô gái mới lớn lên trong vùng tạm bị chiếm phân vân không hiểu các chiến sĩ giải phóng có phải là những người đôi chân chỉ bằng cái ống điếu và đầy lông lá? Những đồng bào trước đây đã từng tiếp xúc với những người hoạt động cách mạng cũng lo lắng: “Từng ấy năm qua ở trên rừng, ăn rêu, ăn cỏ, sống được là may, tránh sao khỏi già, khỏi yếu!...”.

Mùa xuân ở Trị - Thiên thường mở đầu bằng những ngày khô lạnh. Buổi sáng vào dạo đầu năm đó, khi mặt trời sắp nhô lên trên biển, tắm đỏ những đám mây sau những hàng dương xanh, thì các chiến sĩ giải phóng xuất hiện. Lần này, thật sự là họ. Đồng bào đã biết rõ những tiếng rậm rịch, những bóng người lầm lũi đi trên đường đêm qua không phải là những tên ác ôn giả đò để thử thách mình như mọi khi. Các chiến sĩ giải phóng với chiếc mũ mềm, bộ quân phục ka-ki xám nhạt, nhiều anh mặc áo len màu đan tay, mang những khẩu súng báng đỏ, nòng tím biếc, từng đơn vị tiến vào ấp.

Các cô gái đồng bằng mở to mắt không chớp. Họ trẻ và khỏe làm sao? Họ hoàn toàn khác với những hình ảnh trong hàng triệu tờ tranh mà bọn địch đã rải đi rải lại khắp các thôn ấp. Họ cũng hoàn toàn khác với những tên lính cộng hòa, khác chúng từ chân tơ kẽ tóc. Quả như vậy. Nước da trắng hơi xanh vì ở rừng của các chiến sĩ được ánh nắng đồng bằng nhuốm hồng lên, khác hẳn với nước da cháy sém của những tên lính cộng hòa. Bộ mặt đầy đặn, tươi tắn, rạng rỡ của họ khác hẳn với bộ mặt hốc hác, xám xịt vì mệt mỏi, lo âu của những tên lính bị điều đi khắp các chiến trường, vừa lo chống cự với quân giải phóng, vừa lo đánh lại nhau. Cặp mắt trong sáng cởi mở của họ khác hẳn với đôi mắt đục lờ, chứa chất những u buồn, những ý định độc ác, và đôi khi, cả sự dằn vặt, giày vò của chút lương tâm con người còn sót lại. Họ khác với chúng từ lời ăn tiếng nói, dáng đứng, điệu đi. Ở họ còn có một cái gì thật khác, đầy sức hấp dẫn, mà các cô gái chỉ cảm thấy thôi, cảm thấy một cách rõ rệt, nhưng chưa thể nói thành lòi. Đó là cái hơi hướng họ đã đem lại từ miền giải phóng, nơi cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi so với ở đây, nơi con người đã làm chủ vận mệnh của mình, trí tuệ, tình cảm con người đã được phát triển.

Nếu như hình ảnh trong những giấc mơ bao giờ cũng đẹp hơn trong cuộc sống thì người dân đồng bằng Trị -Thiên ngày đầu xuân đó, đã nhìn thấy tận mắt những hình ảnh đẹp hơn trong bất cứ giấc mơ nào.

Vừa đặt ba-lô xuống nhà, các chiến sĩ đã lao ngay ra xung quanh ấp đào công sự, chuẩn bị trận địa đánh địch. Chúng từ bốn phía kéo đến, từ trên trời đổ xuống, nhanh chóng dùng chiến thuật “hợp vây” bao bọc lấy đoàn quân. Máy bay địch dội bom, pháo lớn đổ đạn xuống thôn ấp. Xe tăng, xe lội nước rú máy, băng qua những bờ ruộng, ầm ầm xông lên mở đường cho bọn lính bám theo. Các chiến sĩ giải phóng chờ cho những khối thép nặng nề tiến lại thật gần. Khi mọi người tưởng như chỉ một tiếng rồ máy nữa, những vòng xích sắt sẽ chà trên hầm hố của họ, thì những khẩu súng nhỏ bé bắt đầu khạc lửa. Có cụ già quên cả bom đạn, trèo lên cây gạo, ngồi xem những con quái vật hàng ngày chỉ cất tiếng rú cũng làm cho nhiều người khiếp sợ, giờ đang đùng đùng bốc cháy. Các chiến sĩ đánh bật những đợt tiến công liên tiếp của kẻ thù đông như kiến cỏ. Nhiều lần họ nhảy lên khỏi công sự, đuổi theo, bắn vào đám quân địch đông hơn nhiều lần đang tháo chạy hỗn loạn. Những bà mẹ, những cô gái mặc bom rơi, đạn réo, vẫn ngồi bên bếp nấu cơm, nấu nước mang ra cho bộ đội. Đồng bào xô đến, khiêng các chiến sĩ bị thương vào nhà cứu chữa. Cuộc chiến đấu diễn ra từ rạng đông tới lúc mặt trời lặn. Đêm đến, cả đoàn quân lại rút ra khỏi vòng vây trùng điệp của giặc như nước biến khỏi một bàn tay nắm chặt.

Các chiến sĩ đến và đi như một làn gió. Nhiều lần, họ không có được chút thời gian để chuyện trò với đồng bào. Những cũng chỉ cần như vậy thôi, mọi vấn đề đều đã rõ ràng.
Ở ấp T., một tiểu đội các chiến sĩ giải phóng kéo vào trú quân lầm ở nhà tên đại diện quận. Trước khi bộ đội tới, tên đại diện đã nhanh chân lẩn trốn. Mụ vợ hắn còn ở lại nhà. Các chiến sĩ chào hỏi mụ xong rồi ra vườn chuẩn bị chiến đấu. Thấy các gia đình thổi cơm, nấu nước cho các chiến sĩ, mụ cũng làm cơm nước đem ra cho họ. Buổi tối, trước khi chuyển quân, đồng chí tiểu đội trưởng xé một tờ giấy trong cuốn sổ tay, ghi lại những bữa cơm đã ăn tại gia đình, rồi đưa cho mụ. Anh nói cứ giữ giấy này, khi có dịp, cơ quan hậu cần của quân giải phóng sẽ thanh toán. Họ cảm ơn gia đình rồi ra đi. Vài ngày sau, tên đại diện trở về nhà. Vừa ló mặt, hắn đã bị mụ vợ nắm lấy tay, kéo ra chuồng gà. Mụ nói với chồng:

- Bữa ông đi, mái gà ni đang ấp mười hai trứng, chừ ông đếm thử coi có còn đủ mười hai trứng đó không?

Tên đại diện nhìn ổ trứng rồi nói:

- Vẫn đủ đó chớ chạy đi mô?

Mụ vợ lại kéo hắn sềnh sệch xa phía vườn. Mụ chỉ vào cây đu đủ nói:

- Bữa ông đi, cây đu đủ ni có ba trái chín, chừ ông coi còn không?

Chờ cho chồng nhìn rõ cả ba quả đu đủ chín rồi, mụ vợ xoay đầu hắn về phía đống rơm trước sân, nói:

- Cây rơm ni bữa ông đi ra răng? Ông coi hắn bữa ni có khác chi không?

Thằng chồng vẫn ngơ ngác không hiểu mụ vợ định làm trò gì.

- Bữa mô ông nói với tui Việt cộng họ mà tới thì nhà ni họ đốt trụi, vợ con ông họ giết sạch trơn. Ông vừa đi khỏi thì Việt cộng kéo vô nhà ni mười mấy người, họ ở suốt cả ngày trời. Chừ nhà của ông còn không? Vợ con ông có mất người mô không?

Thằng chồng đứng câm như hến. Nhưng mụ vợ hắn vẫn chưa buông tha:

- Cái bữa cộng hòa về nhà ni một lúc thì răng? Tám quả trứng gà đang ấp dở, hắn lấy sạch trơn. Cây đu đủ trái còn xanh, hắn ngắt ráo. Cây rơm to hơn thế ni, hắn đốt quá nửa. Rứa thì cộng hòa hay Việt cộng tốt. Chừ thì nhà mô ở đây Việt cộng cũng vô rồi, ông tính nói với dân ra răng?


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 08:44:01 am
3.

Dọc trên đường vừa hành quân vừa chiến đấu liên tiếp với quân địch, một số chiến sĩ bị lạc đơn vị.

Hai chiến sĩ đang lần đường trong đêm tối, cố gắng đi nhanh về phía núi thì thấy những đám lửa của mặt trời đã hiện lên ở chân mây. Họ chợt nhận ra mình đang ở giữa một vùng bốn phía nhà cửa san sát, những vệt bánh xe còn hằn rõ trên con đường lớn. Trời chuyển sáng rất nhanh. Họ thấy hình như mình còn vội vã đi cho xa những ngôi nhà thì lại càng lọt sâu vào giữa vùng dân cư đông đúc này. Nếu cứ tiếp tục đi nữa thì những người đầu tiên ra đón tiếp họ nếu không phải là những tên cảnh sát, cũng là bọn dân vệ. Họ nhìn kỹ khắp chung quanh không tìm ra được lấy một bãi cỏ rậm để ẩn náu. Bây giờ thì không thể cứ tiếp tục lẩn tránh những ngôi nhà. Chỗ trú chân yên ổn duy nhất cho họ chỉ có thể là một trong những ngôi nhà xa lạ kia. Họ bàn bạc, chia nhau những trái lựu đạn còn lại, rồi tạt vào một ngôi nhà lá nhỏ ở bên đường.

Hai người tìm được chỗ ẩn tạm phía sau một cây rơm. Họ căng mắt, căng tai lên xem xét, nghe ngóng.

Trong nhà có người mở cửa. Một cô gái đi ngang sân. Cái quần láng bóng may bó chặt lấy người, ngắn cũn cỡn để lộ đôi ống chân mập mạp và đôi guốc cao gót. Họ nhìn nhau như thầm bảo: Vào lầm chỗ rồi! Nhưng bây giờ thì ngay con đường để ra khỏi căn nhà này cũng không còn. Trời đã sáng bạch. Một bà đứng tuổi ra quét sân. Trong nhà có tiếng khàn khàn của một người đàn ông đánh thức một đứa nhỏ. Những tiếng chổi rê trên mặt đất mỗi lúc một gần. Chưa biết tính sao. Cũng may, người đàn bà không đi đến chỗ họ ngồi mà đã quành về đầu sân bên kia. Nét mặt u buồn, lo lắng của bà làm cho họ yên lòng hơn chút ít. Nhưng vì cái o ban nãy, họ vẫn lưỡng lự không biết có nên theo đúng kế hoạch đã bàn bạc, gặp người trong nhà nói thật mình là bộ đội giải phóng? Bà chủ nhà đã quay lưng vào rồi, hai người vẫn ngồi yên cân nhắc. Sau lưng họ, bức tường gạch của ngôi nhà hàng xóm đã có một vệt ánh nắng. Người đi chợ nhộn nhịp trên con đường chỉ cách họ một lũy tre không lấy gì làm kín đáo. Cứ ngồi ở đây, có khi họ bị ngay những người đi ngoài đường trông thấy trước. Như vậy càng nguy hiểm. Còn phải tính đến chuyện lỡ một người trong nhà đi ra bất chợt trông thấy họ với những chiếc mũ giải phóng, những khẩu súng ngồi có vẻ “rình mò” như thế này, dù đó là người tốt, người đó khó tránh bật lên những tiếng kêu. Sự tình lúc đó sẽ khó mà gỡ ra. Cuối cùng, họ thấy chỉ còn một cách làm theo đúng kế hoạch đã định.

Bà chủ nhà vẫn không khỏi sợ hãi khi nhìn thấy một người trẻ tuổi mặc bộ đồ màu xanh lá cây lạ mắt, đột ngột bước vào nhà mình, tuy trước đó, anh chiến sĩ đã cẩn thận để cái mũ giải phóng và khẩu tiểu liên lại cho bạn.

- Thưa mạ, chúng con là bộ đội giải phóng đi công tác bị lạc đường, trời sáng rồi, mạ cho chúng con trú chân lại đây, trời tối chúng con sẽ đi.

Bà chủ nhà giương to cặp mắt đã bạc màu vì phiền mụộn và lo lắng nhìn anh.

- Chúng con có hai người vô nhà từ khi sớm. Còn một đồng chí đang ngồi đợi sau cây rơm. Súng đạn chúng con để ở ngoài nớ.

Bà chủ nhà chăm chú nhìn người trẻ tuổi từ đầu chí chân, không bỏ qua một lời nói, một cử chỉ nhỏ. Bà chưa hề được gặp mặt “giải phóng”. Nhưng bà đã có khá nhiều kinh nghiệm về những kẻ vẫn đến lừa phỉnh mình. Bà đánh giá được là anh ta nói thật. Bà bảo anh đứng lánh tạm vào buồng rồi chạy ra sau nhà. Một việc hệ trọng như thế này, bà không thể không bàn với ông. Chỉ lát sau, bà quay lại dẫn nốt người chiến sĩ còn náu ở đống rơm vào trong buồng. Bà nói:

- Buồng ni của tui, các anh nằm đó nghỉ tới bữa dậy ăn cơm. Tui sẽ khóa cửa buồng bên ngoài. Ở trong ni không can chi mô!

Hai người chiến sĩ nhìn căn buồng, rồi những khe hở, quan sát căn nhà và địa hình ở chung quanh. Ông chủ nhà đang hì hục xới đất ở mảnh vườn sau nhà. Gần chỗ ông làm việc, một chú bé đang cầm chai nước đổ xuống cái lỗ nhỏ, chắc chú đang tìm bắt những con dế. Ở góc buồng, cạnh cái chum lớn không biết đựng chi, có một buồng chuối ngự dựng ở vách. Buồng chuối còn xanh nhưng lác đác có những quả chín. Một chiến sĩ chợt nhận thấy buồng chuối đã có những quả bị vặt. Thấy bà chủ cầm cái rổ từ nhà bếp đi lên, anh gọi:

- Mạ ơi!

- Cái chi đó?

- Mạ đem buồng chuối ni ra ngoài, không lỡ em nhỏ về kiếm chuối ăn...

Bà mở cửa buồng, nhìn họ gật đầu, rồi xách nải chuối ra. Họ nghe tiếng khóa cửa và tiếng bà nói to:

- Thằng nhỏ, buồng chuối tau đưa ra ngoài ni rồi, không để trong buồng mô! Ưng ăn thì ngắt trái chín chớ ngắt trái xanh. Ở vườn chơi với bọ, mạ đi chợ, nghe!

Họ đã đánh giá đúng là gặp được những người tốt rồi. Nhưng khi chợt nghĩ tới cái quần chặt ống của o ban sớm, họ lại hơi phân vân.

Hai người nằm được một lúc, chợt nghe tiếng đẩy cửa. Họ vội nhỏm dậy. Cánh cửa bị đẩy rầm rầm, nhưng không có tiếng người. Rồi im ắng. Họ nhìn qua khe hở thấy thằng nhỏ vừa ở trong nhà chạy ra sân. Ban nãy nó mải chơi nên không nghe rõ lời mẹ nói. Làm thế nào để nó biết buồng chuối đã ở ngay ngoài đó? Cũng may cửa đã khóa.

Một lát sau, có tiếng động ở đầu hồi nhà. Cái đầu thằng nhỏ ló lên trên bức vách. Nó trèo qua, bám tay vào vách, tụt xuống mặt chiếc hòm gian. Nó vẫn có lối đi riêng mà chắc cả nhà không ai biết. Thằng nhỏ đã ở trong buồng. Họ chưa biết xử trí ra sao. Buồng chuối đặt ở chỗ mọi khi đã biến mất. Nó nhìn quanh chợt thấy có hai người đắp chăn nằm trên giường. Nó giật bắn người, đẩy cửa để nhảy ra, nhưng cửa vẫn khóa. Nó kêu tướng lên. Hai chiến sĩ ra hiệu cho nó im. Nhưng những cái miệng không biết nói và bàn tay chỉ trỏ càng làm nó hoảng sợ, kêu không còn ra tiếng. Nó cố giật cho cửa buồng bung ra. May khi đó, ngoài nhà có tiếng hỏi trong trẻo của một cô gái.

- Thằng nhỏ…! Răng mà mi la? Mi ưng phá nhà đi phải không?

Nghe tiếng chị nói, chú bé hớt hãi, đứng im.

- Mi lại hư nên mạ nhốt chớ chi? Đứng im đó, tau mở cho mà ra...

Cửa buồng mở. Cô gái ban sớm bước vào. Cô đứng sững trước hai người con trai lạ mặt. Một chiến sĩ nhanh miệng nói ngay:

- Chúng tôi là bộ đội giải phóng đi công tác qua, được mạ cho nghỉ ở trong ni. O nói cho em nhỏ chớ la mà hàng xóm biết.

Người con gái vẫn nhìn họ. Cái nhìn của cô giống hệt cái nhìn của bà mẹ khi sớm. Cũng ngay lúc đó, có tiếng thằng nhỏ la ngoài đường cái: “Có người mô vô trong buồng nhà tui!”. Nó đã phóng ra đó lúc nào. Tình thế hết sức không hay. Cô gái tái mặt. Cô lao lại giường, giật chiếc khăn chiên, trùm lên người rồi chạy vội ra đường. Hai chiến sĩ rút lựu đạn ra tay và nhìn lên đầu hồi nhà, nơi thằng nhỏ vừa nhảy vào. Họ chợt nghe tiếng cô gái nói to ngoài đường cái:

- Tau đi về đau đầu nằm trong buồng chứ người mô mà mi la ầm làng ầm xóm lên... Đau nằm đó cũng không yên với bay... Phải đập cho mi chết...

Tiếng thằng nhỏ khóc. Rồi cô gái kéo được nó vào nhà. Lát sau, ông bà chủ nhà cũng về. Cả gia đình thu xếp cho hai người một chỗ kín đáo hơn, đề phòng những tiếng la lối của chú bé lọt đến tai bọn tề điệp. Ngay tối đó, họ được dẫn về căn cứ.

Một chiến sĩ khác gặp phải trường hợp vất vả hơn. Anh tên là Mai Văn Khuyên, mới đi chiến đấu lần đầu.

Khuyên bị thương ở chân được một đồng đội dìu đi. Nếu cứ đi bước một thế này thì họ không thể tới kịp chân núi trước khi trời sáng. Nhận ra điều đó, người bạn bảo Khuyên ngồi nghỉ tạm ở một búi tre giữa cánh đồng. Anh đi tìm thêm một người khác, định bụng sẽ làm một cái võng, đưa Khuyên đi cho nhanh. Nhưng đến khi anh quay lại thì cái búi tre đã biến đi trong đêm tối. Anh không tài nào tìm lại con đường cũ giữa một vùng cát trắng mênh mông. Càng đi tìm, người bạn càng đi xa chỗ Khuyên ngồi đợi.

Trời sáng dần. Người đi làm đồng qua lại. Khuyên không dám gọi vì sợ gặp người xấu. Anh náu kín mình dưới búi cây, tin rằng sớm muộn bạn sẽ tìm ra đường quay lại. Suốt cả ngày hôm ấy, bạn anh vẫn chưa trở về. Khuyên cứ ở đó, đợi bạn. Vả lại, vết thương ở chân làm anh không thể nào đi được nếu không có người giúp đỡ.

Gần đó, có một vũng nước. Mỗi lần khát, Khuyên bò ra uống nước. Nhưng anh còn cảm thấy đói. Bụng anh mỗi lúc một quặn lại. Cạnh chỗ Khuyên nằm là một ruộng khoai. Lá khoai lên xanh thế kia, chắc củ cũng tốt, nhất là lại được trồng trên đất pha cát trắng này. Nhưng khoai đó là của đồng bào. Khuyên lần quanh, tìm được mấy đám rau má. Anh nhổ những cây rau má ăn cầm hơi. Nhưng rau má không có nhiều, ăn được vài bữa thì chẳng còn kiếm ra ngọn nào. Người Khuyên cứ lả dần vì đói, chưa kể đến vết thương đã mấy ngày chưa được thay băng, nhức nhối, bốc hơi rất khó chịu.

Những luống khoai kia có thể cứu sống mình cho đến lúc gặp lại các bạn đồng đội, Khuyên biết rất rõ điều đó. Nhưng lấy một củ khoai cũng là đụng đến tài sản của đồng bào, là một điều không nên. Mình đi chiến đấu cho cách mạng chưa làm được gì, chả lẽ lại còn phạm vào chính sách? Chết thì chịu thôi, không thể làm việc đó được. Nhưng rồi khi nhìn bầu trời mùa xuân cao xanh vời vợi, nhìn những ngọn cỏ, lá cây tươi tốt quá chừng, Khuyên lại thấy muốn sống quá. Mình chết như thế này thật là vô ích. Mình phải sống, cố sống để góp chút gì cho cách mạng. Anh không tính đến chuyện lấy khoai. Nhưng anh nghĩ mình có thể xin một ít lá khoai. Những lá này đồng bào cũng bỏ thôi mà. Đấu tranh tư tưởng mãi, cuối cùng, Khuyên ngắt lá khoai ăn. Anh chỉ chọn những lá già rồi vì biết chắc những lá này đồng bào không dùng được vào việc gì.

Nằm ở đó đến ngày thứ chín, người chiến sĩ trẻ lả hẳn đi. Buổi chiều, bất thần trời nổi cơn dông. Hai em nhỏ chăn trâu trên cánh đồng chạy tới náu mưa ở búi tre. Chúng chợt nhìn thấy một anh giải phóng nằm ở đó. Các em trở về ấp nói lại với gia đình. Bà con trong ấp bàn nhau ra khiêng anh giải phóng về ấp để cứu chữa.

Các mẹ đem sữa và nước cháo đổ cho anh. Mọi người đều ngạc nhiên khi biết anh đã nhịn đói suốt chín ngày. Một bà mẹ nói với Khuyên:

- Lính giải phóng răng mà khờ rứa? Ai đời nằm kề bên ruộng khoai mà chịu đói. Ví thử eng bới khoai ăn thì bà con tui đã tìm ra eng từ khi mô rồi!

Anh chiến sĩ trẻ đáp:

- Bộ đội giải phóng không được phép đụng tới cái kim sợi chỉ của dân.

Đó là một câu nói quen thuộc của các chiến sĩ giải phóng. Nhưng ở đây, câu trả lời đơn giản đó làm cho bà con hết sức kinh ngạc. Mỗi người dân tại đây đã gặp bao nhiêu là thứ lính trong cuộc đời của mình. Nào “bản xứ”, nào “quốc gia”, nào “ngoại bang”, da vàng có, da đen có, da trắng cũng nhiều. Những thứ lính trên hầu khắp gầm trời này đều đã kéo đến đây. Nhưng dù chúng là người xứ nào, chúng màu đen hay màu trắng, đã là lính thì lính nào cũng đàn áp dân, cũng bất nhân bất nghĩa cả mà thôi. Mỗi lần chúng tới, chỉ mua rẻ mà không cướp giật, chỉ phá phách mà không đánh đập, giết chóc, thế là đã may lắm rồi. Bây giờ lại có người lính trẻ này... Người lính đã đổ máu của mình vì dân, nhưng anh thà chết đói chứ không thể đụng đến tài sản của đồng bào, dù đó chỉ là một củ khoai...

Người nọ thì thào kể chuyện với người kia. Và ai nấy cố lần mò tới bằng được để xem mặt anh chiến sĩ giải phóng. Sợ bọn tề điệp biết, những gia đình đang chữa chạy cho Khuyên, phải đem anh đi giấu.

Bà con may quần áo, sắm màn, võng ni-lông cho Khuyên, rồi cáng anh về phía núi tìm bộ đội giải phóng trao trả. Một người đi sau cáng, cõng theo một gùi nặng những tặng phẩm của đồng bào, những vật kỷ niệm của các cô gái.

Nhiều người lớn tuổi nói quả quyết với bà con:

- Giải phóng ni không phải ai khác mô! Đúng là Vệ quốc đoàn trước tê rồi!


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 08:46:51 am
4.

Một đơn vị quân đồng chí về xã Phong Sơn, tỉnh Thừa Thiên. Đường chiến lược bao vây bốn bề những xóm nhỏ ở vùng giáp ranh này.

Tại một nhà có bộ đội trú quân, một cụ vào, xin gặp cán bộ. Đồng chí trưởng ban tác chiến ra tiếp. Anh lúng túng khi thấy một bà cụ bé nhỏ, mặc áo lụa dài như áo ngày tết, đứng đó ngó anh trân trân. Sau lưng bà cụ là một con heo to, béo núc, lông thưa, dường như vừa được tắm táp sạch sẽ, nằm ngoan ngoãn. Hai giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má nhăn nheo của bà cụ.

- Mẹ là Choắt, người xóm Mắc, các con còn đứa mô nhớ không?

Người cán bộ còn chưa biết trả lời ra sao, thì bà cụ đã quay lại chỉ vào con heo nói:

- Hắn đó. Ngày các con đi, các con gửi lại mẹ, chừ các con đã về, mẹ dắt hắn đến trả lại cho các con.

Năm 1954, một đơn vị bộ đội đóng tại đây trước khi lên đường ra Bắc tập kết, đã gửi lại mẹ Choắt một con heo nhỏ. Chắc anh em coi đây là một món quà kỷ niệm để lại cho gia đình. Chưa bao giờ mẹ Choắt lại chăm nom một con heo cẩn thận đến như thế. Nó lớn rất mau và trở thành một con heo nái mắn đẻ. Bà con, những người biết chuyện đến chơi nhà mẹ, không ngớt lời khen đàn heo “của Vệ quốc đoàn” đẹp như trong tranh. Những đứa con bộ đội vừa đi khỏi chưa bao lâu thì tình hình thôn xóm đã thay đổi. Câu chuyện đàn heo của mẹ Choắt tới tai bọn chính quyền xã. Những con heo không bao giờ có thể biến thành cọp dữ để ăn thịt chúng nó. Nhưng việc mẹ Choắt nuôi heo của Vệ quốc đoàn là một hành động mà chính quyền này không thể tha thứ được. Chúng cho rằng heo còn đó thì tư tưởng hướng về “Việt cộng” vẫn còn. Chúng kéo ngay tới tra hỏi mẹ Choắt. Mặc cho mẹ nói thế nào, chúng vẫn bắt cả đàn heo mang đi, mỗi con heo mang biết bao tình thương và đã hút hết bao mồ hôi, sức lực của mẹ. Nhưng lần đó, mẹ Choắt giữ lại được một con heo nhỏ mà mẹ nói với bọn chúng không thuộc đàn heo chúng bắt. Mẹ lại chăm nom cho con heo này lớn lên. Nó đẻ được một lứa heo khác. Đàn heo sau này đã lớn, nhưng bộ đội vẫn chưa trở về. Và không biết kẻ nào biết chuyện lại đem tâu với bọn chính quyền xã. Chúng rất tức tối, lần này, chúng tới bắt sạch đàn heo của mẹ, không để lại một con nào, cho tiệt cái giống heo “của Vệ quốc đoàn”. Sự tức giận vào lúc này chỉ đem lợi thêm cho chúng mà thôi. Nhưng cũng còn may cho mẹ Choắt, lúc đó, một con heo nhỏ chạy sang hàng xóm chưa về. Chúng lại vẫn để sót cho mẹ Choắt con heo này. Từ đó, nhà mẹ Choắt lúc nào cũng chỉ nuôi một con heo bột. Mẹ không nuôi heo nái nữa vì biết hễ nuôi đầy đàn, bọn chúng sẽ lại kéo tới cướp không. Heo lớn quá rồi, mẹ lại bán đi, để riêng tiền ra một chỗ, nuôi tiếp một con khác vẫn là giống của nó. Mắt mẹ Choắt mờ dần, nhưng lương tâm của mẹ ngày càng sáng. Tóc mẹ Choắt bạc thêm, nhưng lòng tin của mẹ thì không đổi màu. Và đến hôm nay thấy “giải phóng” về xã, mẹ đem con heo cùng với số tiền những lần bán heo đến trao trả lại.

Mẹ Choắt cũng như nhiều người khác đều tin là Giải phóng quân ngày nay với bộ đội Cụ Hồ trước kia vẫn là một, vẫn là bộ đội của nhân dân.

Sau mười ngày chiến đấu đầu xuân, các chiến sĩ đã thấy rõ ràng: Lòng người dân Trị - Thiên ở rừng núi, cũng như ở đồng bằng, ở bờ biển đối với cách mạng không hề thay đổi. Đúng là phải như vậy. Có thể nào lòng người đối với cách mạng lại đổi thay khi áp bức ngày càng đè nặng? Nó chỉ bị nén lại mà thôi. Tư tưởng con người cũng giống như một chất khí, không có hình thù gì, nhưng càng nén chặt lại thì nó càng đòi hỏi giải phóng. Bọn địch đã phạm một sai lầm nguy hiểm khi chúng dùng những ngón tay sắt ra sức dồn ép mãi tư tưởng, tình cảm người dân trong cái quả bóng màu làm bằng nhựa cao-su mỏng manh.

Và cũng thật lạ, những người dân sau hàng chục năm sống trong bóng tối, đã biết ngay họ cần làm những gì khi đoàn quân giải phóng vừa xuất hiện. Như những chiến sĩ hậu cần thành thạo nhất, trong lửa đạn, họ tiếp cơm, tiếp nước cho bộ đội, săn sóc, cứu chữa những người bị thương. Như những người chiến sĩ trinh sát, những người giao liên từng trải, họ báo cáo kịp thời từng hoạt động của kẻ địch. Họ biết nổi trống báo động ở đầu ấp làm lạc hướng kẻ địch trong khi dẫn đường cho bộ đội qua ở cuối ấp. Có những người dân vừa gõ mõ, vừa dúi cơm vắt, sữa hộp vào tay các chiến sĩ. Sau trận chiến đấu, từ cụ già đến em nhỏ đi dò từng bờ cỏ, từng gốc cây, tìm kiếm thương binh. Có chị chồng vừa bị ngụy quyền bắt đi lính, tìm được một xác tử sĩ trên bãi cát, nhận ngay là xác chồng đưa về nhà. Chị phát tang, chôn cất người tử sĩ như chính đó là chồng mình, làm đủ lễ vào mồ, ra mồ theo phong tục của đồng bào địa phương. Những chiến sĩ lạc đơn vị sau những cuộc hỗn chiến, bơ vơ giữa một vùng đất lạ, tạm chiếm sâu và lâu, ít ngày sau, lại được đồng bào lần lượt đưa trả về đơn vị.

Vùng giải phóng mới rộng lớn xuất hiện trên vệt đường đoàn quân giải phóng đã đi qua, chạy dài suốt bốn huyện Phong - Quảng - Triệu - Hải của hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên. Người dân đồng bằng vùng lên đòi giải phóng với sức mạnh không gì kìm hãm nổi.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 08:53:14 am
V.


1.

Đầu mùa khô thứ hai, Giôn-xơn tố thêm hai mươi vạn quân nữa vào canh bạc miền Nam Việt Nam đang thua cay. Số quân Mỹ tại đây đã lên tới trên bốn mươi vạn. Toàn bộ quân Mỹ, ngụy và tay sai đã vượt quá một triệu tên. Quân số của chúng tăng, bom đạn của chúng dội xuống cả hai miền Nam, Bắc nhiều hơn, nhưng thái độ hung hăng của chúng khi bắt đầu mùa khô thứ nhất thì nay đã xẹp đi khá nhiều.

Căn cứ hành quân An Lỗ nằm trên đường số 1, cách Huế 17 ki-lô-mét, bên bờ con sông Bồ. Đó là một doanh trại lớn được xây dựng từ hồi mồ ma quân Pháp. Hai mươi năm nay, gần bốn chục ngôi nhà gạch mới cũ, lớn bé trong đồn chưa hề dính một viên đạn. Những chiếc “boong-ke” lùn tịt, sản phẩm của thời kỳ quân Pháp bắt đầu biết sợ pháo của Việt Minh, vẫn nằm khắp đồn như cái đầu trọc có những con mắt sâu hoắm. Cộng hòa đã xây thêm một loạt lô-cốt cao, dày, có góc cạnh, đàng hoàng hơn. Ngôi gác hình chữ thập cụt một góc, đồ sộ nằm giữa đồn, cái tháp nước cao lênh khênh, những con đường lớn viền hai hàng cây phi lao chạy ngang, dọc nói lên tính chất an toàn của căn cứ này. Bọn lính về đây là trút bỏ bạc đà, thắng bộ quần áo đẹp nhất, phóng ra phố chợ An Lỗ. Buổi chiều, chúng đổ ra bơi lội trên dòng sông Bồ xanh trong. Những tên lính mình xâm hình đàn bà cởi truồng, đeo kính râm, ngồi tắm nắng trên những chiếc cầu tre bắc ở bờ sông, cười đùa chớt nhả những cô gái bơi thuyền qua lại.

Bốn chung quanh căn cứ, ấp chiến lược ken dày đặc. Nhà dân ở đến giáp hàng rào dây thép gai. Vành đai này để bảo vệ cho An Lỗ đầy rẫy những tên tề lưu vong. Bọn ác ôn mất đất ở vùng giải phóng, chạy giạt về đây đợi thời. Để củng cố chỗ trú chân, chúng vấy thêm khắp các thôn ấp những chuyện không hay về cách mạng. Chúng có những giác quan nhậy bén để đánh hơi người cách mạng. Bọn chúng vẫn giữ thói quen ngày ăn một nơi, đêm ngủ một nơi. Chúng cho chỗ nấu an yên ổn nhất để qua một đêm là bất chợt xuống rúc vào một con thuyền lênh đênh giữa dòng sông Bồ. Bọn địch ở An Lỗ rất tin vào cái vành đai gồm những con chó tinh khôn và những người dân chưa xúc tiếp nhiều với cách mạng. Thỉnh thoảng chúng lại rêu rao: “Giải phóng nói tìm địch mà diệt, răng không về An Lỗ? Đánh nhau với ai trên Phong Sơn đó?” Mỗi lần nghe chúng nói như vậy, đồng bào thấy rõ “quốc gia” ngày nay đã nhìn “giải phóng” với cặp mắt khác, nhưng họ vẫn nghĩ “giải phóng” chưa về An Lỗ được.

Thượng tuần tháng 12 năm 1966, quân lính sư đoàn 1 lục tục kéo về An Lỗ. Chúng mang trên lưng những chiếc ba-lô không phồng to nhưng có vẻ nặng. Quần áo của chúng sạch sẽ, lành lặn. Nhưng bộ mặt của chúng tối sầm. Mấy mụ bán hàng đã nhận ra bóng dáng quen thuộc của những ngài sĩ quan thuộc tiểu đoàn 3. Chúng ít la cà ngoài phố, ít phá phách hơn những lần trở về sau một trận càn.

Bên trong bức tường có lỗ châu mai và thành đất đắp dày, không khí nhộn nhạo hẳn lên. Lần này, không phải là những tiếng la hò tranh giành nhau quả bóng trên sân vận động, những tiếng cãi lộn vì một vài cây bài trong cuộc đỏ đen. Xe cộ ra vào ầm ầm suốt ngày. Tiếng quát tháo, mắng chửi của những tên chỉ huy chưa chi đã bắt đầu cáu kỉnh. Những tên lính từ các dẫy nhà thấp và dài thỉnh thoảng lại ào ào ùa ra, tụ lại thành những đám đen trên sân, rồi lại ào ào tản đi, biến vào trong những ô cửa.

Ban đêm, từ chòi canh luôn luôn xuất hiện những vệt đèn pin, quệt đi quệt lại chung quanh đồn, rọi vào những lùm cây, những luống rau, những đám ruộng trũng, đọng bóng tối. Thỉnh thoảng lại có một vệt lửa dài hiện trên những mái nhà, như có một bàn tay ma quái nào đó vừa rút một sợi chỉ đỏ rực trên tấm thảm nhung đen của đêm tối. Những viên đạn lửa tắt đi rất mau và những tiếng nổ giòn cũng tan ngay trong thinh không, riêng tiếng rít gió của nó để lại cho những người còn thức giấc một âm vang khó chịu như tiếng roi quất. Các cỗ pháo lớn ở Từ Hạ nổ cầm canh. Chốc chốc lại xuất hiện như một chiếc pháo sáng. Cái chấm sáng giống như một giọt nước lơ lửng giữa khoảng không không gì bấu víu được đó, cứ sáng rực mãi lên, đổ xuống căn cứ một thứ ánh sáng xanh lạnh lẽo.

Tối hôm đó, khi mọi người đi nằm được một lúc, thì có tiếng xe rú máy trên đường số 1, phía thành phố Huế. Những tiếng rú mỗi lúc một gần. Đất mỗi lúc một rung chuyển thêm. Rồi những tiếng xích sắt nạo mặt đường, cái thứ tiếng động làm cho thần kinh khó chịu chẳng kém gì những tiếng động phát ra từ căn buồng các thày thuốc đang làm công việc mổ xẻ. Những người dân thì thầm nói với nhau: “Ngày mai bắt đầu rồi!”. Trước một trận càn, bọn chúng thường dàn xe xích trên đường quốc lộ 1. Họ tự hỏi: Ngày mai những tên lính mặt tối kia sắp nhuốm đỏ thôn ấp nào đây, hay là đã tới lần chúng đem thân đi để đền tội?

Nửa đêm, một cụ già khó ngủ bỗng nghe tên lính gác ở cái chòi góc đồn gần nhà mình, hỏi lên một tiếng: “Ai?” Cái tiếng hỏi không to, không hoảng hốt, cũng không nạt nộ, không có chi là khác thường. Đó chỉ là thói quen của tên lính gác khi thoáng thấy có một cái gì thay đổi trước mắt, một tiếng động lạ tai, dù nó đã đoán đó chỉ là một luồng gió nhẹ hay một con chuột chạy qua hàng rào. Nó chỉ muốn kiểm tra lại cái tỉnh táo của giác quan, chứ không có ý định làm kinh động đồng bọn vì một dấu hiệu không rõ rệt mà nó chưa cảm thấy nguy hiểm. Nhiều đêm, cụ già đã từng nghe tiếng hỏi như thế. Mọi khi, đáp lại tiếng hỏi đó là sự lặng lẽ triền miên của đêm khuya mà những tiếng ếch nhái, tiếng giun dế cũng tạo nên một sự ồn ào náo nhiệt chẳng kém gì phiên chợ họp ban ngày. Nhưng lần này, đáp lại tiếng hỏi chỉ có giá trị giống như tiếng đằng hắng của người chủ nhà khi nghe một tiếng động nhỏ ở ngạch vách, là một loạt súng. Loạt súng nổ rất giòn và rất lạ tai. Đúng như vậy, sau này, khi cụ già kể lại cái giây phút đó, cụ vẫn quả quyết là những tiếng súng mở đầu đêm đó nghe rất khác, khác tất cả những tiếng súng cụ được nghe từ hồi còn là một chàng trai ở cái đất An Lỗ này.

Sự việc đêm đó bắt đầu từ cái tiếng hỏi ngái ngủ của tên lính gác đứng sau thành đất rất dày, ở một góc phía trong của đồn An Lỗ.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 08:55:10 am
2.

Người ta kể lại sự kiện căn cứ hành quân An Lỗ bị tiêu diệt đêm đó, bằng những câu chuyện khác nhau.

Có người nói mình đang ngủ thì choàng thức dậy vì một tiếng nổ lớn. Bác ta nghe một tiếng nổ thứ hai như vậy nữa ở trong đồn. Và sau đó, bác không còn phân biệt được các tiếng nổ. Những chớp lửa đỏ, lóe lên liên tiếp cùng với những luồng gió phả rát mặt bác như roi quất. “Chết cha! B.52 bỏ hầm!” Bác kêu lên không thành tiếng. Bác lao vội xuống hầm với ý nghĩ tuyệt vọng: “Phen này chắc chết!”. Ai mà lường trước được cái tai họa này. Nằm dưới hầm được một lúc, bác mới nhớ đến vợ, đến con. Bác vừa gọi, vừa thét lên rất to mà vẫn không nghe thấy tiếng của mình. Nhưng người vợ cũng đã ôm con nhảy xuống hầm, vừa thở, vừa rên rỉ. Người chồng ngồi gục mặt xuống đầu gối, vẫn thấy những chớp lửa kinh hãi tiếp tục lóe lên trong mắt mình, những chớp lửa đã in hình trong đầu óc bác từ cái trận B.52 đầu tiên trên Trường Sơn. Sắp rồi, chỉ một quả thôi. Một chớp lửa đỏ thôi, tất cả sẽ không còn gì nữa. Ghê gớm quá! Nhưng rồi cái phút khủng khiếp đó vẫn chưa tới. Những tiếng nổ lớn thưa dần. Trong đồn bắt đầu có những loạt súng máy và những tiếng người gọi nhau.

Phải gần nửa giờ sau, nhiều người mới biết rõ quân giải phóng tói đánh vùng này. Khi đó đã có tiếng những bước chân chạy lướt trên phố chợ. Người ta nghe tiếng những viên đạn xóc lên lọc xọc trong bao. Tiếng một người nào đó nói, giọng bình tĩnh, không vội vã:

- Quân giải phóng đã tới, yêu cầu đồng bào mở cửa và thắp đèn lên.

Tiếng những người trẻ tuổi gọi nhau. Tiếng gõ cửa.

Những chiến sĩ giải phóng vô nhà. Họ đội mũ vải tròn, mặc quần ngắn để lộ những bắp chân trắng trẻo. Cắc chiến sĩ đều còn trẻ, nét mặt tươi sáng. Họ trói tay những tên ác ôn lại. Họ phân biệt rất rõ bọn chúng với những người trong nhà. Công việc của họ ở mỗi nhà chỉ có vậy. Họ chào gia đình rồi quay ra. Họ thông thuộc tất cả những đường ngang lối tắt trong phố. Rõ ràng không phải họ mới tới đây lần đầu.

Phố xá bấy giờ mới xôn xao cả lên. Nhiều người ùa ra cửa. Khắp phố đèn đốt sáng như phiên chợ đêm. Người ta thấy trong đồn An Lỗ có lửa cháy và chỉ còn những tiếng nổ lẻ tẻ. Tiếng súng tiểu liên lẫn tiếng lựu đạn lúc này lại ran lên phía Ba Phường. Súng cối vẫn nổ dồn dập, phía Từ Hạ, Phò Trạch. Hai căn cứ này có lẽ cũng bị đánh. Không thấy chúng bắn một quả pháo nào về đây. Người ta vẫn chờ xem bọn lính tiểu đoàn 3 và các cố vấn Mỹ trong đồn An Lỗ sẽ làm gì. Một số người biết chút ít về các trận đánh, đoán là quân giải phóng sắp xung phong sau khi bắn pháo vào căn cứ. Nhưng trong đồn mỗi lúc càng im ắng.

Việc lùng soát ác ôn ở phố chợ đã xong. Chúng đang bị dẫn đi từng dãy qua phố. Một anh giải phóng nét mặt quen quen đội mũ đồng, mang súng ngắn, nói với những người đang đứng ở cửa:

- Mời đồng bào vô nhà xuống hầm, đề phòng địch bắn pháo tới. Quân giải phóng diệt xong đồn An Lỗ rồi!

Có lẽ nào lại nhanh như thế? Các anh ấy chỉ vừa bắn pháo lớn vô đồn thôi mà! Nhưng đúng là như vậy. Họ đã nghe thấy tiếng các chiến sĩ giải phóng thỉnh thoảng lại vẳng ra từ trong cái đồn im ắng, chỉ còn một đám cháy gần chỗ tháp nước. Rồi họ thấy những toán lính cộng hòa bị dẫn qua, nhiều thằng còn mặc quần áo lót. Có tên vác một bó toàn tiểu liên cực nhanh. Có tên vác mấy khẩu súng cối cá nhân. Một tên bé nhỏ lặc lè tha hai cái điện đài. Một điều lạ, họ nhìn thấy rõ ràng có những tên lính cộng hòa vác những chiến lợi phẩm đó, lăng xăng đi theo các anh giải phóng, mặt mũi vui vẻ như chính chúng vừa thằng lợi.

- Đồng bào nên xuống hầm, đồn mất rồi, bọn hắn sẽ bắn pháo tới đó.

Một bà cụ lưng còng, vịn vai một em nhỏ, đứng trước cửa nói:

- Rứa thì chết cũng đã rồi! Mấy chục năm ni lại mới nhìn thấy mặt các con.

Một cô gái từ trong nhà chạy vụt ra, dúi vật chi vào tay anh chiến sĩ đang lúi húi cuốn sợi dây điện thoại rải trên dọc đường:

- Mạ em nói đưa các anh. Anh cầm lấy, ăn đường cho đỡ mệt. Khi mô trở về, các anh vô nhà em.

Anh chiến sĩ muốn giấu hai tay mình đi nhưng nó còn mắc ở cuốn dây, anh lúng túng lùi lại, rồi nói:

- Cảm ơn gia đình, cảm on o... Bộ đội giải phóng không được phép nhận quà của đồng bào. Khi mô giải phóng An Lỗ, chúng tôi sẽ vô nhà thăm gia đình.

Cô gái đứng sững với mấy túi kẹo trong tay, nhìn theo người chiến sĩ cuộn sợi dây vội vã như muốn chạy cho nhanh.

Những chuyện bàn tán nối tiếp nhau mãi suốt mấy ngày hôm sau. Có người quả quyết là trong lúc đại bác còn đang rót vào đồn như mưa, thì các anh giải phóng đã ở trong đó rồi. Vài tên lính chạy thoát khỏi đồn khi vừa nổ súng dường như cũng chứng nhận điều đó.

Người ta nói nhiều đến cái tài tình, cái “nhân nghĩa” của những quả đại bác giải phóng. Hàng trăm (có người nói: hàng ngàn) quả pháo lớn rót vào cùng một lúc, đúng như một trận B.52, vậy mà không có một người dân nào bị thương, nhà cửa đồng bào ở chung quanh đồn không dính một mảnh đạn, và ngay cả đến những cây chuối trồng sát hàng rào dây thép gai cũng không bị rách một tầu lá. Cả cái đồn rộng bát ngát, hôm qua nhộn nhịp, đầy ắp quân lính, cố vấn Mỹ, sáng hôm sau, im lìm như bỏ hoang, không còn thấy một bóng tên lính. Nhưng từ cái đất chết đó, người ta bỗng thấy một lũ người lôi thôi, lếch thếch đi. Đó là những mụ vợ sĩ quan và vợ lính. Mặt mày những người đàn bà nhợt nhạt, ngơ ngác. Có người bồng con nhỏ trong tay. Hỏi thăm, thì biết chồng các mụ chết rồi. Nhưng chính các mụ và con cái thì vẫn sống. Đạn lớn, đạn nhỏ của quân giải phóng đã biết chừa ra những người đàn bà và những đứa trẻ thơ này.

Hai vợ chồng ông chủ hiệu kim hoàn ở phố chợ An Lỗ thì chỉ kể lại những chuyện xảy ra đêm đó tại chính trong cái cửa hàng của mình. Cũng như nhiều người khác, cặp vợ chồng này đang ngủ chợt tỉnh giấc vì tiếng đại bác. Hai vợ chồng vội vàng tụt xuống hầm. Tiếng nổ ngớt dần. Họ bỗng nghe trên nhà có tiếng gõ cửa. Tiếng đập cửa mỗi lúc một dồn dập. Chồng bảo vợ: “Ngồi im, Việt cộng tới!” Bên trên có tiếng nạy cửa. Họ nghĩ: “Cái chết tới rồi! Nếu Việt cộng không tìm ra họ dưới căn hầm này thì vốn liếng của họ cũng đi đời”. Cánh cửa đã bật ra. Có tiếng người hỏi:

- Gia đình có ai ở nhà không?

Hai vợ chồng nín hơi không dám thở.

- Trong nhà ni có ai không?

Người chồng nắm chặt lấy tay vợ như bảo: “Cứ ngồi im!” Có tiếng chân đi lại trên nhà. Không phải tiếng chân của một người. Cả cơ nghiệp thế là tan tành. Lát sau, có tiếng khép cửa. Không còn nghe nhũng bước chân rậm rịch trên nhà. Họ đi rồi. Người chồng buông tay vợ ra vì nghe mụ kêu đau. Thoát chết rồi. Nhưng như thế cũng là chết. Vốn liếng hết sạch thì cuộc sống sẽ ra sao? Không ở được cái đất An Lỗ nữa rồi. Sáng ngày ra, phải kéo nhau vô Huế thôi, nhưng sẽ làm gì ở Huế để sống với hai bàn tay trắng?

Khi tiếng súng yên, nghe bên hàng xóm có tiếng người gọi nhau, những tiếng gọi không hoảng hốt mà xem chừng lại có phần vui vẻ, bấy giờ hai vợ chồng mới dám chui lên. Nhìn thấy ánh đèn sáng trên nhà, họ bàng hoàng. Cánh cửa ra vào đã được khép lại như cũ. Đồ đạc trong nhà hình như không bị suy suyển. Người chồng xăm xăm đi lại, nhìn vào cái tủ bày nữ trang ở cửa hàng. Mọi thứ vàng bạc trong đó vẫn còn nguyên và không hề bị xê xích. Các cánh cửa tủ lớn, nhỏ vẫn mím chặt trong ổ khóa. Rứa thì ra răng? Hay là không có ai vô nhà ni mà mình hốt hoảng nghe lầm thôi? Nhưng ai thắp ngọn đèn ni lên? Người chồng đến xem lại cái cửa ra vào. Đúng là ban nãy cửa đã bị phá. Họ vẫn bàng hoàng như sau cơn mê. Nhưng đến lúc thật tỉnh rồi, đã xem lại mọi của quý trong nhà, họ thấy đúng là có “Việt cộng” vô, nhưng họ chỉ làm hỏng có cái ổ khóa cửa ra vào.
Ít ngày sau, mấy ông mần việc cho “quốc gia” thoát chết bữa nớ, lại quay về phố chợ An Lỗ. Chúng lân la vào các nhà thăm hỏi:

- Người mần ra của, của không mần ra người mô! Chú thím còn rứa là bày tui mừng rồi. Nhưng bọn hắn lấy đi những cái chi? Mất mát có nhiều không?

Người chồng trả lời một cách lãnh đạm:

- Chỉ mất mấy ông khách hàng, ngoài ra, không mất chi! Các ông tính vàng ngọc họ còn chẳng thèm thì nhà ni có chi đáng cho họ lấy?

An Lỗ bỗng đông đúc, tấp nập hẳn lên. Người các nơi kéo về, người ở Huế đổ ra rất đông. Họ nói đi để tìm chồng, tìm con, nhưng thực ra, phần lớn kéo đến để nhìn tận mắt xem có đúng như lời người ta đã kể lại với mình hay không. Và những ngày ấy, ở chợ An Lỗ, ai muốn mua chi, bán chi bao nhiêu cũng được. Bọn nhân viên ngụy quyền bỗng nghĩ ra, chúng tốn công hạn chế cấm đoán việc mua bán cũng bằng hoài. “Việt cộng” đến đây, gạo, thuốc, đường, sữa hàng núi đó, họ có thèm lấy chi mô!

Bọn địch vội vã đưa công binh đến sửa lại cầu An Lỗ và điều một đơn vị khác đến lấp cho kín những ngôi nhà rạn nứt tại căn cứ hành quân. Nhưng những đám mây mù đã bị xua tan. Bộ mặt mất máu của thị trấn bị chiếm lâu ngày nằm sâu trong lòng địch bỗng dưng hồng hào hẳn lên. Ngoài những chuyên người ta vui vẻ bàn tán công khai còn vô khối chuyện người thì thầm với nhau. Có tin đồn chồng thím V. bữa đó cũng về, khi đi ngang phố, chú kéo cái mũ giải phóng che khuất cả đôi lông mày nhưng cái cằm vuông và đôi môi mỏng của chú thì không thể lầm được. Những người nhiều tuổi, ít tuổi ở An Lỗ bỗng dưng bỏ nhà đi bặt tăm lâu nay, đều có tin là đã trở về cùng “giải phóng” đêm đó. Có người nói anh nớ, chị tê bảo là vô Huế cất hàng nhưng thiệt ra là đi đưa đường cho giải phóng. Tưởng cách mạng ở tận mô chớ cách mạng vẫn ở kề ngay bên mình. Nghe đâu dân xóm C. đã ngâm mình dưới nước lạnh mấy giờ liền đội một cây cầu cho giải phóng qua lạch... Những chuyện to nhỏ đó đem lại cho mọi người một niềm phấn hứng khó tả. Qua cái đêm hôm ấy, người dân ở đây đã hiểu nhau hơn và thấy tin cậy nhau hơn. Thời thế đã đổi khác, con người cũng đã đổi khác.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 01:37:57 pm
3.

Một chiến sĩ thông tin trẻ tuổi đưa chúng tôi tới gặp phân đội đã làm nhiệm vụ mũi dao nhọn trong trận tiêu diệt căn cứ hành quân An Lỗ. Người chiến sĩ có dáng đi rất hay. Đi đường bằng cũng như đường dốc, cứ vài bước, anh lại rướn thẳng chân như người tầm vóc thấp muốn đi cho cao. Đôi lúc, anh làm chúng tôi hơi nực cười vì cái lối đi lấy “điệu” ấy. Nhưng khi biết anh bị thương ở chân trái, chúng tôi bắt đầu băn khoăn vì những bước đi khó khăn của anh.

Trước mặt chúng tôi là một khe núi mới bị ném bom. Những cây cối trụi lá, những phiến đá vỡ nát đều nhuốm một màu xám óng ánh như vừa tráng một nước kẽm lỏng. Người chiến sĩ dừng bước, quay lại bảo chúng tôi:

- Các thủ trưởng đứng ở đây chờ tôi đi tìm đàng. Nếu các thủ trưởng mệt thì bỏ ba-lô ra ngồi nghỉ một chặp.

Giọng nói của anh như dỗ dành làm cho chúng tôi đều phải mỉm cười.

Người chiến sĩ trẻ đi vào khe núi, mất hút sau đám cây cối đổ rụi, ngổn ngang. Các chiến sĩ thông tin biết đường xuống phân đội đều đã đi công tác. Anh chiến sĩ đưa đường chúng tôi chỉ mới đến một cơ quan ở gần phân đội. Anh hăng hái nhận nhiệm vụ, tin rằng đến cơ quan này sẽ hỏi thăm được đường. Nhưng tới đây, cái cơ quan đã biến mất. Có lẽ họ vừa di chuyển vì trận bom cách đây một hai ngày. Anh đang bị mất phương hướng.

Một lát, người chiến sĩ ở trong khe núi đi ra, cứ vài bước anh lại phải duỗi thẳng chân trái. Dáng đi của anh không tự nhiên chính vì anh không muốn người khác biết mình có một cái chân đau đã thành tật. Anh bảo chúng tôi khoác ba-lô tiếp tục đi.

Chúng tôi vẫn đi theo con đường mòn. Chắc là trong khe núi người chiến sĩ vừa vào, chẳng có ai. Nhưng con đường mòn cứ chia đôi mãi ra và mờ nhạt, mất dần đi. Mỗi lần như vậy, người chiến sĩ đứng dừng lại, quan sát, chớp chớp mắt mấy cái, rồi quyết định chọn một hướng đi. Chúng tôi không tìm ra lý lẽ gì về sự chọn lựa đó, và lại nghĩ: lầm rồi. Cuối cùng chúng tôi nhìn thấy một mái nhà lấp ló dưới lùm cây. Người chiến sĩ biến vào trong đó một lúc. Anh quay ra, gọi chúng tôi cùng vào. Đến nơi rồi. Hình như anh đã đưa được chúng tôi đến đây nhờ vào một năng khiếu đặc biệt của người đã quen sống ở rừng.

Mấy chiến sĩ đứng nói chuyện quanh những chiếc bàn ăn bằng nứa, quay ra nhìn chiến sĩ. Thân hình tròn trịa và bộ râu hình thang chưa kịp cạo của Xương làm họ chú ý. Một người đội chiếc mũ vải mỏng, kiểu mũ của các thày thuốc ra đón, bảo chúng tôi đi theo.

Bên lề con đường mòn có những công sự đào chắc đã lâu, đất đắp trên nắp bị nước cuốn hết chỉ còn lổn nhổn những miếng đá non. Những vết xước mảnh bom rất mới trên thân một cây dẻ. Người chiến sĩ đội mũ vải mỏng hỏi chúng tôi bằng một giọng thân mật:

- Các đồng chí mới ở miền ra?

- Vừa đi An Lỗ với các đồng chí về đây. Chúng tôi là người của phân khu. - Xương vừa đáp vừa cười.

- Mô? Ngó các đồng chí anh em chúng tôi biết liền... Anh em được nghe thời sự chớ các thủ trưởng?

- Muốn nghe chuyện chi?

- Chuyện chi cũng muốn nghe hết.

Căn nhà của phân đội vắng vẻ. Một người đứng ở cuối nhà đang to tiếng nói chuyện bằng máy điện thoại. Cái ống nói bằng nhựa đen có sợi dây cao-su loăn xoăn như khúc ruột gà rung rung trong tay anh. Chúng tôi chưa đoán ra người đang nói chuyện là ai. Anh đang bị câu chuyện cuốn hút, không nhìn về phía chúng tôi. Người dẫn chúng tôi tới đây, nói nho nhỏ:

- Đồng chí chính trị viên đang ngủ. Mấy bữa ni trời lạnh nhiều, đồng chí ấy đau cả đêm qua không ngủ.

Trên sạp vải một chiếc bạt Mỹ chiến lợi phẩm, có người đang nằm trùm chăn kín.

- Cứ để đồng chí ấy ngủ. - Chúng tôi nói.

Xương và tôi nhẹ nhàng bỏ ba-lô xuống cái sàn bên này, không có người nằm. Người đội mũ vải lấy chiếc bi-đông sắt treo ở vách nứa, rót nước vào những chiếc ca lớn hình bầu dục, mời chúng tôi. Anh làm mọi việc nhẹ nhàng, tránh không gây tiếng động. Trong lúc đó, người cầm máy nói đứng ngay gần chỗ chính trị viên nằm, vẫn không ngừng to tiếng:

- Răng các đồng chí lại không thanh toán? Tự túc được mô? Pin toàn phải mua. Nếu không thanh toán chiến phí, bầy tui sẽ báo cáo đoàn, báo cáo phân khu đó... Còn các khoản sữa của người đau, răng mà tài vụ lại trừ vô tiền gạo... Ăn sữa thì không ăn gạo ư? Chuyện chi lạ rứa! Tôi không đấu tranh cho quyền lợi cá nhân mô! Cứ đúng như tiêu chuẩn mà mần thôi. Bọn tui không cần ưu tiên, không cần chiếu cố...

Họ đây rồi. Chúng tôi nhìn quanh quẩn, xem căn nhà của những người đã làm cho bọn Mỹ, bọn ngụy ở Đồng Lâm, ở An Lỗ rụng rời. Hai chiếc sạp dài lát bằng những cây con không được êm ái lắm. Một chiếc bàn nhỏ cũng ghép bằng cây đứng giáp vách nứa, không có ghế ngồi, chắc không phải để dùng vào việc viết lách. Trên bàn có một cái đài bán dẫn, mấy cuốn vở và một chiếc xà-cột. Cái đèn dầu làm bằng lọ thuốc muỗi dèm dẹp, không có bóng, treo ở sà nhà với một sợi dây chìa khóa mạ kền, thả lửng lơ trên mặt bàn. Một đường hào khá sâu chạy dọc theo căn nhà, dẫn vào những hầm trú ẩn ở ngay dưới cái sạp chúng tôi đang ngồi.

Người nằm ở sàn bỗng kéo cái chăn khỏi đầu, quay lại nhìn về phía chúng tôi. Anh tung chăn ngồi dậy nói:

- Các đồng chí vừa tới?

- Đồng chí cứ nghỉ đi. - Xương nói.

- Nằm đó mà có ngủ được mô!

Đồng chí chính trị viên chậm rãi gấp cái chăn đặt sát vách nứa, kéo ngay cái bạt lại rồi mời chúng tôi sang cùng ngồi nói chuyện. Anh không còn trẻ nữa, tóc vẫn đen nhưng đuôi mắt đã có những vết chân chim. Anh tiếp đón chúng tôi không vồ vập. Bộ mặt của anh có vẻ tư lự. Tôi nghĩ, một đồng chí hơi khó tính đây.

Chúng tôi đưa lá thư giới thiệu của chủ nhiệm chính trị đoàn. Đồng chí chính trị viên xem xong, bỏ tờ giấy vào trong cuốn vở đặt trên bàn, nét mặt không thay đổi. Anh nói với chúng tôi:

- Các đồng chí ở đoàn đã báo điện cho chúng tôi biết.

Đồng chí quản lý của phân đội - chúng tôi đã nhận ra qua những lời lẽ trao đổi của anh ban nãy - bỏ máy nói, lại đứng bên chính trị viên:

- Anh Lực à, tài vụ cứ lằng nhằng không chịu thanh toán hết chiến phí. Họ nói mình không dùng tới thì không nên đòi. Nói thiệt khó nghe! Họ không cấp tiền gạo cho những người đau nói là đã cấp sữa rồi. Tôi nghĩ phải báo cáo với đoàn, với phòng hậu cần phân khu đó.

- Được rồi, cái chi mình đã mua rồi sẽ thanh toán được. Anh em mình đi mần cách mạng có tiền túi mô mà bù vô đó. Nhưng đồng chí nên trình bày cho bình tĩnh, rõ ràng, chớ có dính cái thái độ cá nhân vô với nhau mà mất thì giờ ra.

Lực thong thả vấn một điếu thuốc. Thay lời mời khách, anh lặng lẽ đặt trên mảnh vải bạt trước mặt chúng tôi một lá thuốc. Tôi và Xương chia nhau lá thuốc vàng óng. Khi chúng tôi đã ngấm nghía mùi vị đậm đà và hơi ấm của thứ thuốc miền Tây đó rồi, Lực mới hỏi:

- Chừ các anh cho biết các anh cần những chi? Các anh cho biết thật cụ thể.

Lực nghe rất chăm chú những yêu cầu của chúng tôi. Về sau, chúng tôi biết người chính trị viên đã băn khoăn nhiều từ khi được tin sẽ có những nhà văn, nhà báo ở tận miền ra, sẽ tới công tác một thời gian tại phân đội của mình.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 01:39:11 pm
4.

Trận An Lỗ cũng như mọi trận thắng giòn giã khác, không bao giờ diễn ra giống như việc ta châm ngòi làm cho nổ một bánh pháo. Con đường đi đến thắng lợi vẻ vang thường là khúc khuỷu, gồ ghề. Những người đánh thắng những trận đánh tài tình nhất không phải là những người trời nắm trong tay các phép lạ để làm nên chiến công. Còn hơn thế nữa, như trong trận An Lỗ này, đội dao nhọn đảm đương trách nhiệm chính tiêu diệt căn cứ gồm có cả những người mới đánh trận lần đầu.

Mũi trưởng Văn Thế Hùng chỉ huy một bộ phận đánh vào khu vực hầm ngầm. Anh chỉ có một dúm người, trong đó gần một nửa chưa chiến đấu. Khi chuẩn bị, Hùng nói với anh em: “Tôi chết, anh em mới chết. Cứ bám lấy tôi mà đánh”. Các chiến sĩ mới nói với nhau: “Cán bộ vẽ răng, mình đánh rứa”.

Về phía những người chỉ huy, mọi việc cũng không hoàn toàn thông suốt ngay từ đầu.

Giữa thời kỳ chuẩn bị chiến trường, đồng chí đại đội trưởng bị thương. Các cán bộ đi điều tra vị trí địch về, có người cảm thấy phân vân. Trong ban chỉ huy phân đội nảy ra hai ý kiến: Người nói: “Đánh được”; người nói: “Đánh không chắc ăn”. Chính trị viên Lực đứng về phía những người cho rằng có thể đánh được. Anh biết rõ trong cuộc chiến đấu hôm nay, người ta không được phép dừng bước trước khó khăn. Vai trò của người chính trị viên là chính vào lúc này. Ở phân đội bé nhỏ này, quyết tâm của mỗi người đều phải trở thành những việc làm cụ thể. Chính trị viên Lực đeo súng vào người, cùng các cán bộ đi chuẩn bị chiến trường thêm. Họ phải mở đầu mùa khô thứ hai này một cách thật giòn giã. Cái mùa khô thứ hai của toàn miền Nam trong khi tại Trị - Thiên, trời đang đổ xuống từng thác nước. Công việc điều tra không phải chỉ làm trong một đêm. Lực chưa nhiều tuổi lắm, nhưng gần bốn chục mảnh đạn nhỏ li ti còn nằm trong người anh, làm cho anh nhạy cảm trước thời tiết như một cụ già. Mỗi khi trời trở rét, từng mảnh vụn kim khí đó lại trở thành một cái nhọt đau tấy, khiến anh nằm ngồi cũng khó.

Rồi kế hoạch chiến đấu được vạch ra. Nhưng khi bắt tay vào việc vẫn không trôi chẩy. Có lần đã ra quân rồi, lại phải quay về vì thời tiết xấu quá.

Lần ra quân cuối cùng, Lực cũng khoác súng, đeo thủ pháo như mọi người. Đêm nay, khi cần, anh sẽ làm mọi việc của một chiến đấu viên dũng cảm.

Trời sáng sao, vị trí địch im lìm. Sương xuống ướt đầm vai các chiến sĩ. Lực cố nghiến chặt răng để chúng khỏi đập vào nhau thành tiếng. Cái rét của thời tiết bồi thêm vào cái rét của những người sắp bước vào cuộc chiến đấu. Mọi việc đến giờ phút này đang tiến hành thuận lợi, Lực bỗng nghe tiếng hỏi của thằng gác. Phía đó, do mũi trưởng Lê Hồng Thỏa chỉ huy. Lộ rồi chăng? Lực nghe tiếp ngay một loạt tiểu liên. Thỏa đã cho nổ súng rồi. Các mũi khác chưa hoàn toàn chuẩn bị xong.

- Răng anh?

Đại đội phó Bính hỏi Lực. Anh hỏi ý kiến chính trị viên trước khi hạ lệnh, vì lệnh này sẽ quyết định đến toàn bộ kết quả cuộc chiến đấu. Thành bại của một trận đánh nhiều khi nằm trong khoảnh khắc.

- Đánh!

Đồng chí đại đội phó giơ cao khẩu súng ngắn bắn tín hiệu, bóp cò. Một cái pháo hiệu đỏ hiện trên nền trời. Lệnh xung phong. Lực rút thủ pháo cầm tay, lao vào đồn cùng với đồng chí chỉ huy quân sự. Khi thấy những chớp lửa đỏ lóe lên đều khắp vị trí địch, những viên ngói bay khỏi mái nhà, những bức tường đổ sụp, anh thấy rõ mình vừa có một ý kiến đúng.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Chín, 2017, 01:40:40 pm
*
*      *

Những yêu cầu không phức tạp lắm của Xương và tôi đã làm cho đồng chí chính trị viên yên tâm. Sau khi tới một lúc, chúng tôi đã hiểu là phân đội của anh đang bận, rất bận. Buổi chiều, lại thêm ba cán bộ của phân khu, của tỉnh kéo xuống. Căn nhà của phân đội bộ bỗng chốc đông đặc người, mỗi người mỗi việc ồn ào. Lực hết sức tạo điều kiện làm việc cho chúng tôi. Chúng tôi thấy rõ anh đã phải cân nhắc tính toán. Những đồng chí tới gặp chúng tôi đều có vẻ vừa để lại đơn vị một công việc đang làm dở dang. Riêng Lực, anh vẫn tranh thủ từng lúc nói chuyện với chúng tôi, vì anh cũng là một người chúng tôi yêu cầu được nói chuyện nhiều.

Mưa lại rả rích. Buổi trưa, sương mù vẫn vây kín xung quanh nhà. Sau bữa cơm, hai đồng chí phái viên trên phòng tham mưu phân khu xuống trùm chăn ngủ trưa. Lực nói chuyện với anh nuôi dưới bếp về sau, thấy chúng tôi đang ngồi quanh đống than, cũng đến ngồi bên. Anh ghé miệng thổi hồng mấy hòn than, hơ hai bàn tay lên trên, rồi nói:
- Các anh ít ngủ trưa, hè! Mưa hoài, trời ni, bọn tui mần ăn vất vả.

Phân đội này được coi là một đơn vị kỹ thuật. Bao giờ họ cũng chiến đấu với một kẻ địch đông hơn nhiều lần, có khi tới mười lần. Họ tự giải quyết lấy mọi việc để tiêu diệt kẻ thù. Họ chiến đấu mặt giáp mặt với chúng. Để giành lấy chiến thắng và để bảo vệ mình, họ nhảy vào sào huyệt của địch, cưỡi lên lưng chúng mà đánh. Họ không đánh thì thôi, hễ đánh là giành thắng lợi. Họ đánh theo một cách đánh hoàn toàn của chúng ta, một cách đánh chưa hề được nói tới trong bất cứ sách vở quân sự nào. Cách đánh dùng lực lượng rất nhỏ của mình để đánh thắng lực lượng lớn mạnh của kẻ địch. Cách đánh giành lấy thắng lợi to lớn, giòn giã với tốn kém nhỏ nhất về người và của. Đó là một cách đánh đầy tinh thần dũng cảm và rất thông minh. Trong trận An Lỗ, không một cán bộ, chiến sĩ nào của đơn vị bị chết vì tay quân địch. Một đặc điểm của cách đánh này là công tác chuẩn bị chiến đấu phải làm thật tỉ mỉ.

Chúng tôi biết đồng chí chính trị viên có ý dành cho mình ít phút để nói chuyện.

- Quê đồng chí Lực ở đâu nhỉ?

- Tui chính là người Thừa Thiên.

- Anh có hay về thăm nhà không?

- Từ ngày đi, chưa về qua nhà lần mô.

- Anh được mấy cháu rồi?

- Chưa có chi hết.

Chúng tôi hiểu ý Lực nói là chưa có vợ. Anh đưa mắt nhìn cái sân trống trước mặt, chỗ ngủ của ban chỉ huy phân đội, nói tiếp:

- Cả ba đứa tui đều chưa có chi.

Bộ mặt tai tái có chiếc cằm vuông chắc chắn của anh, bỗng nở một nụ cười dễ thương:

- Các anh coi tui già rứa nhưng tui vẫn chưa nghĩ ra khi lấy vợ mình sẽ mần cái người chồng ra răng, về cái món ni, bọn tui thua khối anh em. Các chiến sĩ nhiều cậu đã có vợ, có cậu có mấy con rồi.

- Anh Lực chưa già đâu. - Tôi nói xong, cảm thấy câu an ủi của mình chẳng ra làm sao.

Lực ngó ra cửa, nhìn theo một con sóc vàng đang chạy trên một cành cây bị mảnh bom chém gãy. Đến chỗ cây cụt, con vật quay đầu chạy trở lại, vẫy cái đuôi dài như bông lau một cách thật yểu điệu. Giọng nói của anh trở nên thủ thỉ, tâm sự:

- Mấy lần có anh em ở đây về qua nhà tui, mạ tui chỉ nhắn lên có một câu: “Nhiều tuổi rồi đó, đi đến mô thì đi, nhưng phải nhớ kiếm lấy một o”.

Lực ngồi im lặng nhìn những hòn than anh vừa thổi đỏ trong, giờ đã bọc một lần tàn trắng như bột. Bỗng anh lại nói, giọng lanh lanh và linh hoạt hẳn lên:

- Bọn tui cũng không lo già mô! Bữa tê xuống đồng bằng, các o đã nói với anh em: “Còn giặc đó các anh cứ đi đi. Răng chừ cách mạng miền Nam thành công, về xây dựng gia đình, tính tuổi, bọn em sẽ trừ cho một phần ba”.

Đồng chí phái viên người to lớn nằm duỗi chân hết chiều dài cái sạp, bỗng lên tiếng trong chăn:

- Đồng chí Lực này, già mà cứ muốn lấy vợ trẻ rứa có phong kiến không nhỉ?

Anh nói tiếng miền Bắc, cố ý cong lưỡi nhận mạnh vào tiếng “rứa”.

Nằm bên anh, đồng chí phái viên có tuổi cũng nói luôn:

- Phong kiến là tảo hôn, cưỡng hôn, là lấy nhiều vợ. Già trẻ ưng nhau là lấy nhau thì phong kiến mô! Phải không đồng chí Lực?

Thì ra cả hai người đắp chăn nằm đó vẫn chưa ngủ.

Đồng chí liên lạc của phân đội trùm trên đầu một tấm ni-lông màu lá cây đang từ dưới dốc đi lên. Lực cười xòa, rồi nói với chúng tôi:

- Anh em ưng nghe một tối thời sự đó các anh ạ. Các anh chuẩn bị cho!


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2017, 02:06:19 pm
5.

Chiều hôm đó, nhân lúc trời còn sáng, chúng tôi ngồi bên cửa sổ, tranh thủ ghi chép chút ít vào cuốn sổ tay. Một người cao cao, mặc bộ đồ lót đen, ở ngoài đi vào. Anh liếc nhìn về phía chúng tôi với đôi mắt linh lợi, hơi gật đầu chào, rồi đi thẳng đến cái sạp bỏ trống. Anh cởi ni-lông buộc ở cổ ném lên sợi dây rừng căng dọc theo nhà, và treo chiếc mũ giải phóng ướt sũng nước vào một cái mấu cột cạnh cửa ra vào. Da dẻ anh tái tím lại vì mưa rét. Đồng chí quản lý cũng đang ngồi tính toán gần đó, nói nhỏ với chúng tôi:

- Anh Hồng, phân đội trưởng.

Hồng mở cái ba-lô ở đầu giường, lấy một bộ quần áo, rồi đi xuống hầm. Vài phút sau, anh quay lên với bộ quân phục ka-ki và cái áo len cổ lọ màu cà-phê sữa. Như một người khó tính, anh không nói câu nào, nằm xuống sạp, gối đầu lên cái sà-cột, trùm cái chăn mỏng bằng vải dù xanh kín người, ngủ ngay.

Giờ cơm chiều, Hồng không dậy ăn. Đồng chí y tá xách từ nhà ăn lên cho Hồng một hăng-gô cơm và một ca canh rau me. Anh lay đồng chí phân đội trưởng. Mấy lần Hồng mở mắt ra và rồi lại nhắm mắt ngủ tiếp.

Lực đi ăn cơm về, nhìn Hồng vẫn nằm ngủ, hỏi đồng chí y tá với vẻ lo lắng:

- Cậu coi đầu anh Hồng có nóng không?

- Hâm hấp đó.

Trời tối đã lâu, chúng tôi đang nằm nghe bản tin, thấy Hồng cựa mình. Nhìn sang, anh vừa tung chăn ngồi dậy, đôi mắt đỏ ngó quanh. Lực nằm cạnh tôi, cũng nhỏm dậy, hỏi:

- Sốt à?

- Không, mỏi sơ thôi.

Hồng trả lời rồi rót nước trong bi-đông ra súc miệng. Anh vươn dài người nhấc hăng-gô cơm và ca canh đặt trên bàn. Lực ngăn:

- Rồi hãy ăn. Đặt vào lửa một chập cho nóng đã.

Lực định lại giúp Hồng làm việc đó, nhưng Hồng nói:

- Thôi, ăn luôn.

Anh xới cơm vào luôn chiếc ca đựng canh, ăn rất nhanh. Cơm canh chắc là đều lạnh lắm. Nhìn Hồng ăn, chúng tôi ái ngại, cảm thấy như anh đang nuốt những miếng nước đá. Hồng ăn không hết suất cơm, lại nằm xuống ngủ luôn.

Sáng hôm sau, Hồng cầm bát cùng xuống nhà ăn với chúng tôi. Sau giấc ngủ bù, người anh tỉnh táo, tươi hẳn lên. Hồng trắng trẻo, có đôi gò má cao. Anh cười để lộ một chiếc răng vàng, hỏi chúng tôi:

- Các anh tới được mấy bữa rồi?

- Chúng tôi đến đã được ba hôm.

Hồng quay sang nói với Lực:

- Ta xem có kiếm được cái chi tối ni liên hoan với các anh cho vui. Mình mang về được một gói trà.

Sau bữa cơm, chúng tôi ngồi quây quần trên sạp chia nhau một lá thuốc của đồng chí phái viên có tuổi vừa bỏ ra. Hồng từ sạp bên kia nhảy sang. Xương mỉm cười, nhích sang bên nhường cho anh một chỗ. Nhưng Hồng không hút thuốc. Từ chiều qua, chúng tôi chưa nhìn thấy anh hút thuốc. Hồng lấy trong túi áo ngực ra một tờ pơ-luya gấp nhỏ. Anh mở tờ giấy đặt trên bạt, vuốt mấy cái cho thẳng, rồi ngồi im.

Mọi người ngồi quanh đều chăm chú nhìn vào mảnh giấy mỏng quên điếu thuốc quấn dở trên tay. Đó là một bản sơ đồ. Hồng vừa đi điều tra vị trí địch về.

Chờ mọi người xem kỹ, Hồng vẫn im lặng, đặt cạnh bàn tay có những ngón xương xương xuống chung quanh tờ giấy như để trình bày ý định của anh về các mũi đột phá. Đồng chí phái viên người to lớn xoay qua xoay lại tờ giấy, xem xét, rồi gật gù. Họ không hỏi gì vì hình như đã đọc hết ý nghĩ của nhau. Rồi Hồng nói:

- Ăn được đó!

Anh quay nhìn Xương và tôi, mỉm cười:

- Kế hoạch trả thù cho đồng bào Hà Nội của bày tui.

Cách đây ít hôm, tôi ở đồng bằng trở về phân khu gặp Xương để cùng đi xuống các đơn vị bộ đội. Tối hôm đó, chúng tôi ngồi trong căn hầm ấm cúng có lò sưởi chống ẩm và chống muỗi của cơ quan tuyên huấn, dựa lưng vào vách hầm lót bằng những cọng lá đùng đình xanh bóng và mát rượi, quây quanh ấm trà và gói kẹo nu-ga. Những phút trở về gặp lại nhau sau một chuyến công tác dù dài, dù ngắn ở vùng đất lửa này, bao giờ cũng vui. Câu chuyện râm ran chung quanh đề tài kế hoạch “tư tác” của đồng chí trưởng ban tuyên huấn. Như mọi lần, anh chỉ im lặng mỉm cười làm giãn bộ ria xanh xanh dễ thương trước những câu hỏi tò mò, những câu bắt nộn của chúng tôi. Riêng cái chuyện vợ con này, bao giờ anh cũng kín như bưng. Anh đẩy ngón tay cái vào bánh xe răng cưa của chiếc đài bán dẫn để tránh một câu trả lời.

Chính ngay lúc ấy, chúng tôi nghe tin máy bay Mỹ ném bom xuống thủ đô Hà Nội. Những câu chuyện vui tắt hẳn. Chúng tôi mở đài suốt tối hôm đó. Mỗi người đều cố tìm qua những lời tố cáo, những gương chiến đấu, xem bao nhiêu trái bom đã rơi trên những đường phố nào của Hà Nội. Đống Đa, nơi Quang Trung lập chiến công lớn ngày xưa bị chúng ném bom rồi. Khu sứ quán nước ngoài ở đâu? Có phải gần Ba Đình, gần Chủ tịch phủ không? Khu tập thể ở bờ sông cũng trúng bom. Cầu Long Biên có việc gì không?... Ruột gan chúng tôi bỏng rát.

Với những trận bom, đại bác ở đây, tình cảm của mọi người hầu như đã chai đi, cũng như người đi biển đã quen với sóng gió. Trong những lúc đó, nhiều khi chúng tôi chẳng còn nghĩ đến căm hờn, chẳng còn nghĩ cả đến thằng địch. Chúng tôi chỉ chờ cho phút nguy hiểm qua đi. Chúng tôi dè sẻn những tình cảm mãnh liệt như người đi đường dài cần phải giữ sức. Phải để dành những tình cảm đó cho những lúc cần thiết như người leo núi dành sức cho những ngọn đèo cao. Lần này, những trái bom rơi ở phương trời xa đó giống như những lời lẽ xúc phạm nhất đến tình cảm thiêng liêng của mỗi người. Nhiều anh em chúng tôi chưa hề nhìn thấy một mái nhà, một gốc cây của Hà Nội. Nhưng từ lâu, Hà Nội đã gắn liền với đời sống, với niềm hy vọng của mỗi người. Hàng ngày, chúng tôi nghe tiếng nói của Hà Nội, tiếng nói của Bác Hồ từ thủ đô của đất nước vọng về. Tiếng nói thiêng liêng đó đã đưa chúng tôi lên đường chiến đấu, tiếp sức cho chúng tôi từng phút từng giờ, và đang đưa chúng tôi đến gần thắng lợi. Chúng nó đã đụng đến trái tim của Tổ quốc, đụng đến trái tim của chúng tôi.

Vào giây phút đó, mỗi người đều có một ý nghĩ giống nhau: “Phải đánh trả chúng ở đây, phải trả thù cho thủ đô Hà Nội.” Ý nghĩ đó đến với những người lãnh đạo cuộc chiến đấu. Ý nghĩ đó đến với từng cán bộ, từng chiến sĩ trong phân đội nhỏ này, và hôm nay, nó đã hiện hình trên mảnh giấy mỏng ở trước mặt chúng tôi. La Vang, Từ Hạ, Quảng Trị hay Phú Bài đây?


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2017, 02:08:08 pm
6.

Nếu không phải là những đêm đi chiến đấu, đi lấy gạo, buổi tối ở miền Nam thường là giờ nghỉ ngơi hoặc là giờ làm việc riêng của mỗi người. Đèn lửa khó, anh em lại ở phân tán nên các đơn vị ít khi tập trung vào buổi tối. Nhưng ở mỗi căn nhà của các chiến sĩ giải phóng, giờ này là lúc mọi người có mặt đông đủ nhất, về mùa đông, dù khó khăn đến mấy, mỗi nhà cũng phải kiếm cho được một đống lửa.

Từ buổi chiều, đồng chí y tá và đồng chí liên lạc của phân đội đã vác về hai cái gộc cây mục thật là to. Cả hai gộc cây đều vắt ra nước, nhưng không sao, nó sẽ tự sấy khô và sẽ biến tất cả thành những miếng than hồng. Lúc này, hai gộc củi lớn đó đang chụm đầu vào nhau phun khói đầy nhà. Khói ở đây không làm người ta khó chịu. Ngồi trong một căn lều ngột ngạt hơi khói còn sướng hơn nhiều so với căn lều chỉ có bóng đêm và hơi ẩm lạnh. Người ta cảm thấy khói còn có cả một hương vị đậm đà giống như hương vị của thuốc lá.

Chúng tôi xúm đến hai bên đầu sạp, ghé mặt hoặc thả chân xuống gần đống lửa. Xương lót một chiếc dép, ngồi cưỡi ngay lên cái cây đang phun khói, hong chiếc áo giặt đã phơi suốt mấy ngày nay không khô.

Phân đội trưởng Hồng đứng ở mép sạp, dong một sợi dây từ trên mái nhà xuống để treo hăng-gô nước trên ngọn lửa. Nhìn thấy đồng chí y tá vén cái bạt che ở cửa ló đầu vào, Hồng dừng tay hỏi ngay:

- Răng mi? Thắng lợi không?

Đồng chí y tá bưng một cái nồi nhôm bước vào:

- “Ác liệt” hung! Tôi phải nói mãi là có khách ở miền ra, ông nớ mới chịu đưa.

- Mấy bánh đường?

- Bốn bánh.

- Còn đậu phụng?

- Tám lon.

- Kể ra thì đường hơi ít đó!

Đồng chí phái viên có tuổi ngồi khuất trong bóng tối, nói:

- Cứ mần đi!

Phân đội trưởng Hồng nhoẻn miệng cười. Cái răng nanh bịt vàng của anh lấp lánh ánh lửa. Anh nói như ra lệnh:

- Bắc nồi! Bữa ni tau nấu cho.

Tối nay, anh em ở phân đội bộ yêu cầu chúng tôi kể chuyện thời sự. Các cán bộ trung đội cũng kéo lên nghe. Chúng tôi hỏi anh em muốn nghe chuyện gì. Trung đội trưởng trung đội hai đang rì rầm với đồng chí quản lý, quay lại, đằng hắng một cái rồi nói bằng những lời lẽ gãy gọn, mình muốn biết về tình hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong khi máy bay địch đánh phá ngày một mạnh, mùa màng ngoài đó ra sao, đường đi lối lại có thông suốt không? Ngồi bên anh, đồng chí anh nuôi cuốn quanh cổ chiếc khăn bông to xù, đôi lông mày lúc nào cũng giương lên đến nhăn cả trán như có điều gì ngạc nhiên, yêu cầu chúng tôi nói chuyện tình hình thế giới, tình hình Liên Xô, Trung Quốc. Đồng chí liên lạc có bộ mặt sáng sủa, giọng nói chín chắn như một cán bộ chính trị hỏi Giôn-xơn đưa thêm nhiều lính sang Việt Nam thì thái độ của nhân dân Mỹ ra sao? Đảng cộng sản bên đó hoạt động như thế nào? Anh chiến sĩ thông tin ngồi cạnh máy điện thoại ở tận cuối sàn, nói to:

- Tôi ưng nghe chuyện Hà Nội đó. Chuyện chi về Hà Nội cũng được. Thủ đô có còn đá bóng, văn công, xi-nê nữa không các thủ trưởng?

- Các đồng chí nói là ở miền ra, hỏi chi những chuyện nớ. - Đồng chí quản lý nói.

- Các đồng chí ở cơ quan trên, mần chi mà không biết chuyện Hà Nội. Các đội bóng ngoài nớ bữa ni đá ra răng? Răng chừ hòa bình, tôi ưng vô Huế coi đội Thể công mình chơi một trận.

- Tôi cũng ưng nghe chuyện Hà Nội. Hai đồng chí có biết chi về chuyện phi công ta, nói cho nghe. Cưỡi tàu bay lên trời đánh nhau với giặc Mỹ rứa mới thiệt sướng. - Một người nào đó ngồi trong bóng tối, ủng hộ ý kiến của đồng chí thông tin.

Chúng tôi phải thú thực là những hiểu biết của chúng tôi rất hạn chế và sẽ không thỏa mãn được các yêu cầu đã đề ra. Chúng tôi cố vắt trí nhớ, gạn lấy những điều có thể giúp ích cho những người ngồi đây mà chúng tôi đã hiểu biết ít nhiều.

Người nhỏ nhắn, khuôn mặt trái xoan, đôi mắt xếch, có cái miệng cười thật tươi, đầu quấn băng trắng là Văn Thế Hùng đã chỉ huy mũi chính tiêu diệt khu hầm ngầm của địch. Trước ngày vào bộ đội anh là một cậu bé chăn trâu. Vòng băng trắng trên trán như một vật trang sức làm cho khuôn mặt của anh thêm khôi ngô, sáng sủa.

Người dong dỏng cao, lông mày rậm, mắt hơi sâu, ngồi tư lự ở mép sạp là Lê Hồng Thỏa, người đã lọt vào đồn đầu tiên, đánh thẳng vào khu sở chỉ huy của địch. Bữa đó, chiếc đèn pin của anh đã rọi trúng vào một tên Mỹ râu quai nón, ngồi chồm hỗm cạnh chiếc màn ni-lông xanh. Nó đội mũ đồng, cầm trong tay một khẩu các-bin, không hiểu đang định chạy ra ngoài hay định nằm bẹp xuống đất. Thỏa cho nó luôn ba phát súng, tuy biết rõ cái lồng ngực đầy lông của nó không chịu nổi một phát. Các đồng chí đi theo anh đã diệt ba tên cố vấn Mỹ ở khu vực này.

Người vuông vức, nét mặt hiền lành, mặc quần đùi, ngồi ôm lấy đống lửa là Nguyễn Kim Dung. Chiều nay, anh vừa đi mần ăn về. Khi vào đây báo cáo, nghe tối có nói chuyện, Dung chạy xuống bếp xin anh nuôi lưng cơm nguội ăn, rồi ở đây luôn không về đơn vị. Anh ngồi như vậy vừa để sưởi, vừa để hơ quần áo. Cách đây ít lâu, Dung có dịp tạt qua thăm nhà ở Triệu Phong Quảng Trị. Bà mẹ soi đèn vào tận mặt con, nhìn một lúc rồi nói: “Không can chi, bọn hắn nói nhăng”. Dung thấy một cô gái ngồi sau lưng mẹ cứ giương mắt nhìn mình không chớp, bèn hỏi: “O ni con nhà ai?” Bà mẹ đang dở khóc dở mếu cũng phì cười. Cô gái nói: “Ngày ở nhà, anh đập em luôn, anh quên rồi ư?”. Anh mới biết đó là em gái mình. Nhìn kỹ em, anh chỉ nhận ra cái trán cao cao của nó ngày xưa. Một giờ sau, trước khi Dung ra đi, bà mẹ còn nắm tay anh nói: “Con là trai, còn giặc giã thì còn phải đi, nhưng đi mô cũng cố lấy vợ để mẹ kiếm chút cháu nội”. Trong trận An Lỗ, Dung chỉ huy một mũi giải quyết một góc đồn có nhiều lô-cốt địch. Sau khi vừa dập tắt một hỏa điểm từ trong boong-ke bắn ra, Dung lao lên toan ném thủ pháo vào một căn nhà, chợt nghe tiếng đàn bà, trẻ con kêu khóc. Cách đánh của những chiến sĩ thọc sâu này không cho phép họ được chậm trễ một phút, một giây. Nhưng những tiếng kêu khóc từ trong căn nhà vẳng ra đã chặn tay, chặn chân anh lại. Dung quát to: “Đàn bà, trẻ con ở trong ra hết bên ngoài”. Một toán người lớn, bé lếch thếch kéo ra. Dung hỏi lại: “Hết chưa?” Không có tiếng người đáp, anh ném vào một quả thủ pháo, đề phòng bên trong còn những tên địch ẩn núp. Sau đấy, anh lại bảo những người đàn bà và những đứa trẻ nhỏ trở vào căn nhà; ngồi trong đó, tránh mảnh đạn tốt hơn. Khi ấy, anh mới tiếp tục đánh các ngôi nhà khác tuy biết việc làm vừa rồi đã đánh động cho địch ở phía trước và tạo cho chúng đủ thời giờ chuẩn bị đối phó.

Người to đậm, có cặp mắt màu nâu, đội trên đầu chiếc mũ vải không có lưỡi trai, là Cu Bẩy, người dân tộc Pa-cô. Khi Mỹ mới vào Thừa Thiên, có các bạn đồng đội băn khoăn không hiểu Mỹ ra sao, Bẩy nói ngay: “Thằng Mỹ cũng chỉ có hai chân, hai tay như mình, nó có to như con voi, quả tim nó cũng không chứa được một viên đạn”. Trong trận đánh Mỹ đầu tiên của phân đội ở Đồng Lâm, mình Bẩy đã đánh tám quả thủ pháo, tiêu diệt hết bọn Mỹ trong ba chiếc nhà bạt. Bẩy đánh mê mải, không nghe thấy lệnh rút lui. Đồng chí tổ trưởng phải chạy tới, kéo tay Bẩy lôi ra, Bẩy trợn mắt hỏi: “Răng, thôi à?” Sau trận này, Bẩy nhất định cho là bọn Mỹ kém mắt, và đánh giá chúng khờ hon thằng ngụy nhiều.

Người có bộ mặt bụ sữa, ngồi gọn như một chú bé dưới cánh tay của đồng chí phái viên tác huấn to lớn là Thành. Thành ở trung đội của Văn Thế Hùng, vừa cầm chiếc đèn ló lên tìm Hùng có việc chi, thấy mọi người đang nghe nói chuyện, cũng xin ngồi lại. Thành mới vào bộ đội giải phóng, về đơn vị này ít ngày thì đi đánh trận An Lỗ. Đêm đó, vào gần căn cứ địch, Văn Thế Hùng lại bên Thành, nói:

- Cứ coi mình mà mần theo!

- Dạ.

- Phải cho lanh nghe!

- Dạ...

Hùng nói câu chi cậu ta cũng chỉ “dạ”. Nghe tiếng thở mạnh của Thành, anh nói:

- Bình tĩnh nghe!

- Dạ...

- Có sợ không?

- Dạ...

Cũng vẫn lại “dạ”? Một lần nữa, anh lại nghe người chiến sĩ thở mạnh như để trút cái gì nén trong lòng ngực. Anh biết Thành đang ở trong một trạng thái rất căng thẳng và tự bảo mình lát nữa phải chú ý giúp đỡ cậu ta. Nhưng khi đã vượt qua hàng rào dây thép gai thì người chiến sĩ lao vút lên như con sóc. Thành đánh sập ngay một ngôi nhà ngủ của bọn lính, làm xong gọn ghẽ phần việc đơn vị trao cho mình. Anh lao lên đánh tiếp thêm hai nhà khác, tiêu diệt hết bọn địch ở bên trong...
Họ đó! Họ chính là những người đã làm nên các sự việc được bà con dưới đồng bằng kể lại như những chuyện thần kỳ.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2017, 02:09:48 pm
7.

Trong lúc Xương và tôi thay nhau nói chuyện, một cái nồi nhôm đã được đặt vào giữa đống lửa, trên những mấu cây đang cháy dở, Dung bẻ dần dần những bánh đường Quảng Nam màu vàng, hình tròn dẹp, bỏ vào nồi. Đồng chí phái viên có tuổi ngồi trên sạp, vươn tay qua vai Dưng, dốc vào nồi một túi đường trắng.

Nước trong nồi bắt đầu sủi. Phân đội trưởng Hồng từ trên sạp nhảy xuống canh đống lửa, cầm lấy đôi đũa trong tay Dung. Dung nói:

- Thủ trưởng cứ ngồi nghỉ. Tin tưởng ở quần chúng chớ lại.

- Tin mi việc khác, việc nấu kẹo ni thì không tin được.

Nước đường mỗi lúc một sánh. Bàn tay của Hồng điều khiển đôi đũa rất đều và dẻo, tuy cả cái thân hình dài thườn thượt của anh ngồi khạng nạng bên bếp vẫn cứng quèo. Củi đã bớt khói. Những hòn than đỏ hồng và trong, trông giống như những viên kẹo thật ngon.

Hồng ngẩng mặt về phía đồng chí y tá, tươi cười, gật gật đầu mấy cái, rồi nói:

- Mần mấy viên, cậu!

Bộ mặt đầy trứng cá của anh y tá bỗng trở nên nghiêm trang.

- Thủ trưởng có kỹ thuật cao, cần chi phải hãm chất chua.

- Kỹ thuật thì chắc chắn là cao rồi, nhưng cũng phải có tổ chức, vật chất đảm bảo chớ!

Anh y tá lặng lẽ mở túi thuốc, lấy một cái lọ thủy tinh, dốc ra lại bỏ vào mấy lần, rồi ném vào nồi nước đường đã đặc sánh mấy viên vi-ta-min C nho nhỏ màu trắng.

Hồng bắt đầu đổ lạc. Những viên lạc đỏ bóng, tròn mẩy như trứng chim đuổi nhau, rơi rào rào xuống nồi nước như một trận mưa đá. Hồng vẫn nguấy đũa đều, nhưng bây giờ anh phải đổi tay luôn. Đường từ màu vàng chuyển sang màu nâu, cạn dần, quyện chặt vào những viên lạc. Hồng giơ đũa để nhỏ một giọt đường xuống chậu thau nước lạnh. Giọt đường không tan. Anh vớt nó lên vê vê trong tay rồi lại tiếp tục nguấy đũa đều.

- Có mùi kẹo rồi, anh Hồng! - Đồng chí quản lý nói.

- Chưa có chi mô.

Hồng nói buông, nhưng đôi mắt chăm chăm nhìn những bong bóng đường sủi trong nồi.

- Được rồi đó, khuấy mãi thì khê!

Mọi câu chuyện phải tạm ngừng. Những cặp mắt đều hướng về nồi kẹo. Giờ phút này rất quan trọng. Không bắc nồi ra đúng lửa, kẹo sẽ ỉu, hoặc sẽ lại đường.

- Nhấc ra đi, có mùi cháy rồi! - Một người nói to.

- Bình tĩnh nào.

Hồng trả lời với vẻ tự tin và vẫn không ngừng tay khuấy đũa. Trong nồi, không thấy đường sủi nữa, chỉ còn những hột lạc đỏ bóng lọng quyện vào nhau thành một khối. Và đúng là đã có mùi thơm. Hồng quát:

- Ngồi dẹp ra, dẹp ra!

Những người ngồi trên sạp giạt sang hai bên. Hồng nhấc bổng cái nồi khỏi ngọn lửa, trèo nhanh lên sạp, đổ khối kẹo đặc sệt xuống mặt tờ báo đã được trải rộng. Những người ngồi chung quanh giúp anh, vừa gạt đường trong nồi xuống cho hết, vừa san kẹo cho mỏng đều trên tờ giấy.

Chính trị viên Lực từ đầu đến giờ, vẫn ngồi im lặng bên chiếc bàn, bỗng nói:

- Về chỗ thôi!

Lực muốn câu chuyện của chúng tôi lại tiếp tục.

Vẫn phải chờ một thời gian nữa cho kẹo khô, khi đó mới rõ hoàn toàn kết quả. Hồng trở về chỗ cũ của anh tại sạp bên kia, mở sà-cột lấy ra một gói chè, trao cho Dung. Anh bỏ ống tay áo xắn cao xuống cho đỡ lạnh, ngồi xếp chân bằng tròn, xoa xoa hai bàn tay vào nhau với vẻ khoan khoái.

Xương kể tiếp một câu chuyện không biết anh nghe ở đâu. Câu chuyện về một bà nhà văn ở một nước tư bản vùng Bắc Âu. Bà rất giàu nhưng không tìm được hạnh phúc trong sự giàu sang tại Tổ quốc mình. Bà xin sang thăm Việt Nam và được đến Hà Nội. Bà nhìn thấy cuộc sống ở thủ đô của chúng ta cái gì cũng lạ. Một hôm, bà dạo chơi trên đường Thanh Niên, con đường nằm giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch đã được Bác Hồ đặt tên. Bà thấy người dân Hà Nội trong khi đánh Mỹ, vẫn chăm sóc được những vườn hoa thật đẹp. Có một cái bảng nhỏ cắm ở vườn hoa. Bà hỏi anh phiên dịch đi theo, người ta viết gì trên bảng. Người phiên dịch nói: “Đó là một câu thơ. Ở đất nước chúng tôi, mọi người đều yêu thơ, đều thuộc truyện Kiều. Nhiều người nói ra miệng là thành thơ”. Bà yêu cầu dịch cho nghe câu thơ đó. Người phiên dịch đọc câu thơ trên bảng “Yêu hoa chớ có hái hoa...”, và giảng nghĩa cho bà. Bà nhà văn đứng lặng đi vì cảm động. Miền Bắc Âu trời rất lạnh. Trước khi sang Việt Nam, nghe nói ở đây còn nhiều người đi chân đất, bà nhà văn không hiểu sao người ta có thể sống nổi nếu không có giày. Bà cho là dân nước này nếu không lạc hậu thì cũng còn nghèo khổ quá. Tới Việt Nam, bà vẫn thấy có những người đi chân đất, nhưng quan niệm của bà về Việt Nam đã thay đổi. Bà nói với đồng chí phiên dịch “Nhân dân đất nước các ông thật là kỳ lạ. Người dân Việt Nam văn minh lạ lùng.” Trước khi về nước, bà nói: “Đến Việt Nam rồi, tôi thấy yêu con người hơn, yêu cuộc sống hơn, con người ở đây là con người sống có lý tưởng.” Từ đó đến nay, bà làm nhiều việc phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Có lẽ, bà đã bớt buồn nhiều...

Câu chuyện được mọi người nghe chăm chú. Dung ngó xuống đôi bàn chân có những ngón vuông chằn chặn, lấm lem của anh, mỉm cười. Hùng ngẩng đầu nhìn chúng tôi với đôi mắt xếch một mí giống như cặp mắt của một cô gái, rồi nói:

- Mình thì không khi mô thấy buồn. Có kẹo đậu phụng liên hoan như bữa ni thì vui đã đành, không có kẹo cũng vẫn cứ vui. Công việc nhiều không răng mà buồn được.

Đồng chí phái viên có tuổi nói to:

- Kẹo được rồi, đạt tiêu chuẩn.

Mọi người đều vui vẻ tưởng như những lời bàn ra tán vào của mình vừa rồi đều góp phần hoàn thành bữa kẹo. Đến phút chót, Hồng mới ném ra sạp một gói thuốc lá Ru-by giấy bao còn bóng láng.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 11 Tháng Chín, 2017, 02:12:53 pm
8.

Gói trà của phân đội trưởng Hồng làm cho tôi đêm nay thao thức không ngủ được. Hồng không uống trà, không hút thuốc, những thứ anh đã mất công sức kiếm về. Anh chỉ ăn một miếng kẹo nhỏ như để đánh giá việc làm của mình. Ai đưa kẹo thêm, anh cũng lắc đầu. Anh ngồi bên ngoài nhìn mọi người ăn kẹo, hút thuốc, uống trà với đôi mắt lim dim, coi bộ rất bằng lòng. Cái phân đội nhỏ này giống như một gia đình, một gia đình rất hòa thuận. Những người khách như chúng tôi cũng được hưởng không khí gia đình đó. Trong một buổi trao đổi, Lực đã nói với chúng tôi: “Ở ni, anh em không ai có của riêng. Một người trong tiểu đội có món quà chi, thì đó là quà chung của cả tiểu đội. Một lăn thuốc cũng chia. Một gói kẹo cũng chia. Một lá thư của người yêu cũng xem chung. Anh em rất thương nhau. Rứa cũng có lúc trở ngại cho công tác. Người đã về tới đây là không ưng đi mô nữa”.

Mọi người đã ngủ từ lâu. Chập tối, máy bay địch hoạt động nhiều. Từ nửa đêm đến giờ không gian yên tĩnh lạ thường; Thỉnh thoảng có tiếng chim đêm. Loài chim bao giờ cũng giấu mặt đó có những tiếng kêu thật buồn và thật cô đơn. Tôi nằm lắng nghe tiếng một con chim vừa kêu vừa bay xa dần rồi mất hút trong đêm. Tiếng kêu của con chim rừng đã làm cho đêm trở nên sâu thẳm. Bỗng từ khoảng sâu thẳm ấy của đêm khuya vẳng lại một tiếng gì mơ hồ, khi nhỏ khi to như tiếng gió. Sao lại có một trận gió rừng lớn như thế này? Chập tối, đã nghe đài báo thời tiết từ hôm nay bắt đầu tốt. Tôi cố lắng nghe xem có đúng là tiếng gió không. Có cái gì gầm gừ như tiếng sóng biển chứ không phải tiếng gió. Sao lại có tiếng sóng biển. Ở đây, dù yên tĩnh đến đâu, cũng không nghe được những tiếng sóng ở ngoài biển Đông, cả những khi biển động. Tôi chợt nhớ ra... Đúng rồi! Nhưng tôi chưa kịp đánh thức mọi người thì đã nghe tiếng réo mạnh và bom nổ liên hồi.

Cùng một lúc, tất cả những người đang ngủ đều vùng dậy. Chúng tôi theo nhau chạy xuống hầm. Mọi đêm, bom nổ gần, Hồng vẫn nằm gan, lúc này, cũng thấy anh lững thững đi theo mọi người. B.52 của địch đang thả bom. Những đợt sóng chấn động liên tiếp phả vào người chúng tôi. Tiếng bom đã dứt; chưa ngửi thấy mùi khét; loạt bom đầu này chỉ mới chớm đến khu vực của chúng tôi.

Chúng tôi đã ngồi yên trí trong căn hầm hình tam giác, có những cây gỗ ken liền, gối đầu vào nhau. Không gian trở lại im lặng. Những giọt nước nhỏ lóc tóc. Bọn chúng không bao giờ bỏ một loạt. Lần tới này, có thể chúng sẽ vãi trên đầu chúng tôi. Mọi người ngồi nghiêm trang chờ những tiếng gầm gừ từ góc trời xa đó vọng đến.

Ù ù... ù ù... “Nó đến rồi!” Có ai vừa nói dứt lời thì nghe tiếng bom réo.

Những tiếng nổ đuổi nhau rất nhanh về phía hầm chứng tôi đang ngồi. Đó là tiếng những bước chân nặng nề của một đàn voi bị xua đuổi cùng một lúc, chạy lồng lên. Những ánh lửa đỏ chớp liên hồi ở cửa hầm, tiếp theo là những đợt chấn động mạnh. Được cái hầm này có hai cửa, không thì sẽ rất khó thở. Những tiếng nổ vụt lớn hơn phũ phàng hơn. Có cái gì giống như một tên ác ôn điên người vì tuyệt vọng trong một cuộc tra hỏi, đang lồng lộn dồn hết sức lực vào đầu ngọn roi quật lấy quật để. Có người buông một câu chửi tục. Căn hầm rung mạnh. Ngực đột nhiên tức thở và hai tai ù đi. Sau đó, những tiếng nổ bớt dữ dội dần. Đàn voi đã bước qua đầu chúng tôi.

Đất đã nằm im trở lại. Nhưng không gian còn rung động. Chúng tôi nghe thấy tiếng máy bay địch trên đầu. Hết trò rồi. Chúng cút đó. Nhưng chắc là còn những thằng khác sắp tới. Một cành cây bây giờ mới gãy kêu răng rắc rồi lao xuống đất đánh ầm. Chúng tôi còn phải ngồi trong hầm tiếp tục chờ đợi. Trong bóng tối, có ai nói vào tai tôi:

- Coi đúng như bữa kẹo đậu phụng khi hồi.

Tôi không nhận ra ai ngồi cạnh mình nhưng biết rõ anh ta đang mỉm cười. Câu ví của anh hay hay. Cũng có cái gì giống như lúc chập tối, khi Hồng trút những hạt lạc đỏ bóng xuống nồi nước đường đang sủi. Đợt dội bom của chúng còn tiếp tục. Trong tiếng nổ, chúng tôi còn nghe cả tiếng đổ của những cây rừng.

Chung quanh đã yên tĩnh trở lại. Lại nghe tiếng nước nhỏ lóc tóc.

- Lên được rồi đó!

Phân đội trưởng Hồng có vẻ sốt ruột. Chúng tôi cùng ra khỏi hầm. Căn nhà nhỏ của phân đội vẫn y nguyên. Chỉ có đống than củi ở giữa nhà là bay tung tóe. Nó đã làm cháy chiếc khăn của Xương cùng với đôi dép của tôi. Những đợt bom của địch dù dày đến mấy vẫn để chừa ra nhiều khoảng trống cho những ngôi nhà, những căn hầm.

Máy điện thoại kêu. Hồng nói:

- Tốt, đây không can chi.

Khắp nơi gọi đến hỏi tin tức. Các nhân viên ở phân đội bộ chia nhau chạy đi các nơi nắm tình hình. Họ vừa đi khỏi thì Hùng hấp tấp kéo miếng bạt che cửa, bước vào.
Hồng hơi đổi sắc mặt, hỏi:

- Răng? Hùng, có chuyện chi?

Hùng đưa cặp mắt xếch nhìn quanh một lượt:

- Tui lên coi các anh có ai can chi không, còn bọn tui thì không ai can chi hết.

Nét mặt Hồng giãn ra.

Những người đi xuống các trung đội đã quay về, đất bám đầy quần áo, nhưng ai nấy mặt tươi tỉnh. Nhà của tiểu đội bốn bị sập, đất lấp cửa hầm, nhưng sau đó anh em đã bới được cửa chui ra. Họ đã phân tán sang ở với các tiểu đội khác. Trừ một người bị điếc tai vì tiếng nổ, cả phân đội không ai việc gì. Bọn chúng vẫn chỉ là những thằng mù!

Chỉ sau khi báo cáo đủ với các nơi về tình hình của đơn vị, Hồng mới đi nằm. Anh đã ra lệnh cho toàn thể mọi người phải ngủ hầm, nhưng chính anh vẫn ngủ trên sạp. Cũng có một lý do vì khách của phân đội tối nay đông quá, không đủ chỗ ngủ dưới hầm.

Đồng chí liên lạc đã nhen lại đống lửa cạnh chỗ tôi nằm. Căn nhà yên tĩnh như khi chưa có trận ném bom. Lực ban nãy nằm bên tôi giờ không biết đi đâu. Có lẽ anh xuống tiểu đội 4. Xương trùm trên người chiếc màn thay cho cái chăn bị cháy. Tiếng thở của anh đều đều. Anh đã tìm ngay lại được giấc ngủ ngon lành. Chợt nhớ những lần vượt sông, tôi bất giác mỉm cười.

Tôi bỗng cảm thấy mình và những người đang nằm xung quanh đây trở nên gắn bó, thân thiết lạ thường.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười, 2017, 04:12:42 pm
9.

Bữa cơm sáng hôm nay, anh nuôi vẫn cho ăn đúng giờ như thường lệ, mặc dầu cái bếp hơi bị hỏng. Dọc con đường xuống nhà ăn, quang cảnh đổi khác. Đất bám vàng những thân cây như mối xông. Những cành cây gãy chắn ngang lối. Nước suối đỏ ngầu.

Tại nhà ăn, các chiến sĩ đang xúm quanh anh “giáo viên”. Đó là một chiến sĩ mới được bổ sung về đơn vị. Trước ngày vào bộ đội, anh làm nghề dạy học. Hùng đã có lần khoe với tôi là anh chiến sĩ này nói chuyện rất hay. Những câu chuyện của anh vừa hấp dẫn, vừa có tác dụng giáo dục, động viên. Hùng kể có những lúc anh nằm giả vờ ngủ để nghe anh “giáo viên” nói chuyện với anh em. Không biết anh ta đang kể một câu chuyện gì mới, những người đứng xung quanh, có cả đồng chí quản lý, lắng nghe rất chăm chú.
Sáng nay, anh nuôi cho ăn một món ăn mới: tấm gạo nấu với bột ngọt, muối, ớt, trộn thêm những lá mùi tàu thành một thứ nước xốt.

Sau bữa cơm, các trung đội lên nhận khoa mục luyện tập. Trừ một tiểu đội bận vào việc xây dựng lại căn nhà bị bom phá hỏng đêm qua, các đơn vị vẫn làm những công việc thường lệ. Một số chiến sĩ mới bổ sung, đang được luyện tập ráo riết để kịp có mặt trong trận đánh sắp tới.

Những đồng chí nhận khoa mục huấn luyện vừa đi khỏi, Hùng và Thỏa tiến vào. Hai người đều mặc quần đùi, khoác tiểu liên và đeo ở thắt lưng một vắt cơm. Chúng tôi đã đoán được họ đi đâu. Hồng chỉ nói với hai người một câu gọn lỏn:

- Đi mần ăn cho tốt. “Kế hoạch Hà Nội đó”. Các nhà báo đã tới nằm ở đơn vị mình ngay từ bây chừ.

- Rõ.

Hùng và Thỏa đứng nghiêm trả lời. Như những nhạc công lành nghề, đã phối hợp với nhau từ lâu trong một dàn nhạc, chỉ cần một cái đưa mắt của người chỉ huy là họ đã biết ngay nên điều khiển nhạc cụ trong tay thế nào. Mọi việc phức tạp đã vào nề nếp và trở nên giản dị.

Hai người cán bộ, một cao, một thấp quay về phía chúng tôi, mỉm cười:

- Các đồng chí ở nhà, bọn tui đi.

Họ nhẹ nhàng vượt qua những cành cây đổ, đi xuống con suối nước vẫn đục ngầu vì trận bom. Họ đi để chuẩn bị lần cuối cùng một trận đánh quyết liệt. Mọi chiến công vang dội ở đây đều bắt đầu giản dị như thế kia. Chắc họ đã quên biến những gì kẻ địch đã dội xuống đầu họ lúc nửa đêm. Họ đang nghĩ đến Hà Nội, đang tính chuyện bắt quân thù phải trả bằng một giá đắt ở đây mỗi trái bom chúng đã buông xuống các đường phố của thủ đô.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười, 2017, 04:14:50 pm
VI.


1.

Chúng tôi lại tiếp tục chặng đường đi lên phía bắc.

Mùa xuân đã trở về. Những dải ánh nắng mặt trời xuyên qua vòm cây như những sợi tơ năm sắc óng ánh giăng mắc khắp nơi. Núi rừng đang được sưởi ấm lại. Thiên nhiên, trong bước đi tuần hoàn không thay đổi lại kiên nhẫn, cố gắng hàn lại những vết thương do kẻ thù của loài người gây nên. Màu xanh của lớp lá mới nảy trên đám tro xám của Trường Sơn như lớp da non đang phủ dần vết bỏng na-pan trên má cô gái đẹp.

Các đơn vị giải phóng tràn đầy sức sống đang tiến ra mặt trận. Trị - Thiên đã nổ súng mãnh liệt hòa nhịp với tiếng súng mở đầu mùa khô trên toàn miền Nam, nhưng thực ra, từ nay, mùa khô của Trị - Thiên mới bắt đầu. Lên đường. Lên đường. Cuộc chiến đấu không dừng lại dù chỉ là để xả hơi chốc lát, không yếu đi mà cứ phải mạnh hơn, mạnh hơn mãi. Những người chiến đấu giữ nước đánh giặc ngoài hai mươi năm vẫn trường sức, đang cố làm cho đất nước không có mùa mưa và mùa khô, bốn mùa đều là mùa đánh giặc.

Họ đi xuống đồng bằng. Họ đi ra đường số 1, nơi kẻ thù đang tự căng thân chúng ra để gìn giữ và cũng là để hủy hoại. Họ đi về phía đường số 9. Mỹ đã dồn quân ra con đường này từ mùa hè năm trước. Chúng rải các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ, con hoàng bài của những đạo quân vượt biển đi ăn cướp, thành một tuyến dài, đóng đồn bốt, quay mặt về phía bắc. Một dòng sông Bến Hải chưa đủ, chúng đang dựng thêm một vành đai người và mìn để chia cắt đất nước ta. Ngày này qua ngày khác, máy bay B.52 dội bom, phát quang hai bên đường, máy bay lên thẳng ném xuống các ngọn đồi những chiếc lô-cốt đúc sẵn. Trên bản đồ, dọc theo dòng sông đau thương lại hiện lên những chấm xanh nhơ bẩn ở Đông Hà, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh...

Cứ mỗi năm, hậu phương lại chuẩn bị cho người ra trận chu đáo hơn. Mọi thứ các chiến sĩ mang trên người đều rất mới, từ bộ quân phục lá cây dày dặn, cái ba-lô ba túi, đường chỉ máy chắc chắn, khẩu súng nước thép tím biếc đến đôi giày cao-su cao cổ, chiếc dây lưng da mềm mại, bao gạo dài vắt trên vai. Trang bị có hơi nặng nề, vì người ra trận không mang cho kẻ thù những cành hoa. Bọn chúng nó cần sắt thép. Những vật quý giá này hậu phương đã đổ mồ hôi và máu để cho ta, ta sẽ mang đến tận nơi và sẽ dùng thật đúng chỗ. Sự chăm sóc của hậu phương cũng đang chiến đấu còn hiện lên rất rõ ở đôi má hồng hào sức khỏe của các chiến sĩ, ở đôi mắt sáng rực niềm tin chiến thắng.

Đồng chí cán bộ có hàng ria xanh, thân hình to nặng, ống quần vê tròn, cầm cái gậy lụi dẫn đầu đoàn quân với đôi chân vẫn dẻo dai kia, có phải là người ở Phong Điền đã bỏ làng xóm chạy lên xanh sau những đợt “tố cộng” đầu tiên đó không? Người ta sống không phải chỉ cần có cơm gạo. Vậy mà ở đây kẻ thù không dành cho ta cả đến một hạt gạo để sống. Anh không thể nào quên cái đêm đen tối ấy, từ đám cỏ lác ngoài bờ phá, lần vô xóm với hai cẳng chân run lảy bảy. Anh cần một lưng cơm nguội để hồi sức. Nhưng người chị ruột nước mắt đầm đìa, dúi vào tay em một bọc tiền. Nếu chúng nó tìm được một dấu chân với vài hạt cơm vãi ở ngoài vườn nhà chị, có nghĩa là vợ chồng chị, các đứa con thơ ngây của chị sẽ phải chết. Nhưng khi thấy cần phải sống thì ngay cả lúc không có một hạt gạo để sống, con người vẫn cứ sống. Ngoài mười năm rồi, những người bị kẻ thù tước đoạt mọi quyền sống, vẫn sống như thế kia. Họ không chịu sống một cuộc đời bình thường. Họ đã sống như những con chim đại bàng, lên rừng, xuống biển, ra Bắc, vào Nam, mỗi lần vỗ đôi cánh rộng là làm cho kẻ thù kinh hãi.

Anh chiến sĩ có nước da đồng hun, đượm màu nắng và gió biển, vừa quệt mồ hôi trán, xốc lại cái ba-lô nặng, lao mình chạy xuống dốc, miệng mỉm cười để lộ đôi hàm răng đều và chắc, có phải là người của một làng chài ở Cửa Việt đó không? Chắc anh rất nhớ những buổi sớm mai ra khơi trên con thuyền có những cánh buồm trắng làm bằng cây đệm, trong khoang, những thùng nước ngọt đã được đổ đầy. Thuyền được gió đi trên những luống cày đỏ rực của mặt trời, có đàn chim hải âu bay theo. Đêm đến, biển buồn, những vì sao sáng lạnh xuống thấp hơn khi ở đất liền cho con người đỡ thấy mênh mông. Những đàn cá chuồn bay quanh thuyền với tiếng kêu re re, làm tung những giọt nước mặn xanh biếc, rực rỡ khi chúng ném mình trên mặt sóng. Những ngày anh còn là một chú bé tha thẩn trên bờ một hòn đảo xa, tìm những quả trứng bích vùi dưới bãi cát, những con ốc hình thù kỳ lạ hay những chiếc bóng đèn màu từ một chiếc tàu biển giạt vào; những ngày anh đã trở thành người con trai của vạn chài biết buông câu nhử mồi đàn cá thu bằng những chiếc lông gà, biết thả chuôm quây lưới đánh cá nục; ai biết anh đã dành bao nhiêu thời giờ ngồi nhìn những hàng dương xanh ở Cửa Tùng quê mẹ, nhìn những cánh buồm nâu căng gió từ đó cũng ra khơi. Dòng sông Bến Hải đến đây đã hòa tan trong biển lớn, nhưng ngay trên mặt biển này, kẻ thù cũng đem những con sóng chia đôi.

Anh chiến sĩ không mang súng, người dỏng cao, có một vệt chàm ở quanh mắt - vệt chàm như những nét chì hóa trang đã làm cho đôi mắt anh trở nên sâu thẳm, suy nghĩ và mơ mộng - đeo bên sườn chiếc túi da to in hình chữ thập đỏ, đang cố ghìm đôi chân dài đi sau lưng một chiến sĩ bé nhỏ, chống gậy tập tễnh, có phải người ở thành phố Huế ra đó không? Chắc anh còn để lại đó một cô bạn gái rất thân, tóc thề mới chấm ngang vai, mặc áo dài trắng, chiều chiều đứng đợi đò ngang ở những bậc đá bên bờ sông Hương. Trên sông, những thằng Mỹ mình trần da và lông đều đỏ cháy vì nắng, đang phóng ca-nô xé nước, chơi trò lướt ván. Anh có nhớ những tiếng ầm ầm khó chịu của đoàn xe nhà binh chở nặng phóng qua cầu Bạch Hổ và những tiếng hát khê nồng của một thằng Mỹ say nằm dạng chân trên chiếc xích-lô máy chạy ngang cửa chợ Đông Ba; những ngày hè, hai hàng cây phượng bên sông nở đầy hoa lửa, đoàn người đổ xuống đường đấu tranh; những đêm cầu Tràng Tiền im ắng chỉ còn những ngọn đèn xanh đỏ lập lòe, những cây mù u đứng buồn bã trên phố khuya vắng lặng sau hai hồi còi rền rĩ báo hiệu giờ thiết quân luật... Anh có thể nào quên cô gái có cặp mắt xếch, đôi môi mềm mại hay cười bẽn lẽn, buổi chiều, một tay dắt đứa em nhỏ, một tay cầm chiếc khăn bọc kín bên trong một quả lựu đạn. Một tiếng nổ dậy lên trong căn nhà bọn Mỹ ở. Bốn thằng giặc nằm vật ra trên vũng máu. Cô gái vẫn cầm tay em, dừng chân trên đường ngơ ngác nhìn những thằng Mỹ, thằng ngụy nhớn nhác chạy lại; chúng chưa hiểu tai nạn gì đã xảy ra. Rồi cô lại tiếp tục dắt em đi chơi, chiếc khăn vẫn nằm ở bàn tay mềm mại, nhưng trong đó, quả lựu đạn không còn. Ôi, em đang làm gì ở đó hôm nay, người em nhỏ dịu dàng...

Các đồng chí ở dinh điền chi khu Ba Lòng với những ngôi nhà nằm trong hàng rào kẽm gai, trụi lủi không một bóng cây ra đây, hay từ xã Phong Sơn giải phóng đồng bào đang tiếp tục làm lại nhà ngay trên bờ những hố bom, hố đại bác kẻ thù vừa trút xuống? Hay các đồng chí ở một miền xa xôi nào của đất nước tới đây?

Tiếng lá ngụy trang rào rào. Nước đựng trong những chiếc bi-đông đã vợi, đập vào thành bình róc rách. Những bao gạo dài vắt trên vai vỗ vào ba-lô. Tiếng những chiếc đế giày mới ót ét. Hơi thở gấp của những lá phổi khỏe mạnh làm ấm cả núi rừng. Đoàn quân trải dài trên những quả núi, phân biệt với màu xanh của cây rừng bằng sự chuyển động. Trường Sơn trầm mặc bỗng xốn xang với mùa xuân, với bước đi êm nhẹ của những đoàn quân. Những búi cây vông vang nở đầy hoa như có hàng ngàn con bướm trắng đang từ đó bay lên.


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười, 2017, 04:18:51 pm
2.

Chúng tôi gặp lại bác sĩ Hoàng Hữu Hải bên bờ một con suối thuộc đất Quảng Trị.

Lần đầu chúng tôi cũng gặp anh ở một con suối. Trưa hôm đó, chúng tôi đang lội dọc theo một khe suối đầy những cây đổ nằm ngang. Đồng chí dẫn đường bảo chúng tôi đi rảo bước vì quãng đường này máy bay địch đã đánh phá nhiều lần. Trong lúc chúng tôi chăm chú dán mắt xuống từng hòn đá cuội trơn nhãy, những đám đất nhão nước váng đỏ như gỉ đồng, để đi cho nhanh thì chợt nhìn thấy hai người ngồi ung dung trên một phiến đá giữa dòng suối. Một người to lớn mặc quần áo chiến sĩ giải phóng màu xám nhạt, mặt vuông, lông mày lưỡi mác rậm đen, hai con mắt to và sáng. Người kia làm chúng tôi chú ý hơn vì cách ăn mặc và dáng dấp của anh. Anh đội một chiếc mũ nhựa màu trắng ngà to vành có những múi giả, mặc một cái áo cổ vuông màu da trời và cái quần đùi trắng, những thứ hiếm thấy trên chiến trường này. Chiếc khăn mặt vắt trên cổ cũng như bộ quần áo của anh đều rất sạch sẽ. Trông anh giống như một viên chức, sáng sủa, linh lợi và hơi nhàn rỗi. Tôi đoán anh mới ở Huế lên hay ít ra, cũng là người của ta đã hoạt động lâu ngày ở các thị trấn. Rồi tôi lại đoán anh là một cán bộ của ngành kinh tế. Đi khỏi đó một quãng, mấy chúng tôi cùng hỏi đồng chí dẫn đường, anh áo xanh đó công tác gì. Anh nói: “Đồng chí ấy là bác sĩ”. Chúng tôi cảm thấy mình không hoàn toàn bị lầm. Ít ra cũng phải là như thế. Và cũng không ai hỏi gì thêm về ông bác sĩ mặc bộ quần áo lót trắng quá và sạch sẽ quá khi đi đường, ngồi nghỉ giữa một quãng trống địch hay ném bom.

Đến phân khu, chúng tôi gặp lại Hải và người bạn đường của anh. Người đi cùng Hải là Phan Thanh Chung 1, một chiến sĩ thọc sâu dũng cảm, đã được tuyển lựa đi dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua và dũng sĩ toàn miền Nam. Chúng tôi lại một lần nữa ngạc nhiên về Hải. Chính anh cũng là một đại biểu đã được phân khu tuyển lựa để đi dự đại hội. Sau đó ít ngày, Hải đã cùng đoàn đại biểu dũng sĩ của Trị - Thiên lên đường vô miền. Không hiểu tại sao anh lại ở đây.

Hải xanh và gày, người càng nhỏ nhắn trong bộ quần áo bà ba đen. Anh đang ngồi nghỉ bên bờ suối, chiếc mũ giải phóng bỏ xuống sau lưng để lộ mái tóc đen mềm mại và một vừng trán cao thông minh. Nhận ra chúng tôi, anh đứng lên, dáng điệu mừng rỡ. Đáp lại câu hỏi ngạc nhiên của chúng tôi, anh mỉm cười rồi nói:

- Tôi bị đau nên quay ra.

- Đau sao? - Một người trong chúng tôi sốt sắng hỏi.

- Thấp khớp, vẫn bịnh cũ từ trước, không ngờ năm ni hắn lại rầy mình. Cũng may là đi chưa xa.

Tôi nhớ lại bữa trước khi đoàn bàn việc đi vô, Hải đã nhận sẽ giúp đỡ cho Nguyễn Viết Phong trên dọc đường; Phong từ trước tới nay toàn ở đồng bằng, chưa quen leo núi. Không ngờ người bỏ dở cuộc đi đầu tiên lại là anh. Bệnh tật đã đến trêu ngay chính người thày thuốc.

Nguyễn, đồng chí họa sĩ có tuổi cùng đi, cũng đã theo kịp. Bắt đầu lên đường, anh chiến sĩ giao liên trẻ đứng ngắm hai bắp chân rất to của Nguyễn rồi nói: “Chú đi nhứt định là chậm”. Vào cuộc, quả như vậy. Chỉ đi được một quãng là Nguyễn lại bị tụt lại sau lưng chúng tôi rất xa. Bác đi chậm và khó khăn với cặp chân chữ bát lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh. Nhưng tới mỗi chặng nghỉ, khi chúng tôi không còn muốn làm gì ngoài việc ngồi cho những bắp thịt trên người giãn ra thì bác bỏ ba-lô xuống là bắt tay vào vẽ luôn. Bác vẽ cho hết giờ nghỉ. Lên đường một quãng, bác lại mất hút phía sau và khi theo kịp chúng tôi ở chặng nghỉ, bác lại tiếp tục vẽ. Cái gì trên dọc đường này bác cũng đều thấy hay và muốn ghi lại. Bác có tham vọng đóng góp những bức tranh của mình vào bảo tàng mỹ thuật của miền Nam sau này. Nhìn thấy Hải, Nguyễn kêu lên:

- Trời! Bác sĩ nói với bọn tôi đi vô mà giờ lại đi ra?

Hải mỉm cười, chưa kịp trả lời thì bác sôi nổi nói tiếp:

- Mình đã nghĩ ra cái “tựa” cho bức tranh rồi. Thể hiện anh đang đứng mổ cho bịnh nhân thì không hay, sẽ giống như mọi người đã làm. Tôi sẽ vẽ anh lúc ở trong buồng mổ vừa bước ra. Anh đang trả lời mấy đồng chí giải phóng đứng chờ tin ở bên ngoài. Dưới bức tranh, tôi sẽ đề là: “Đồng chí ấy đã tỉnh rồi!”. Cái “tựa” đó được không anh? “Đồng chí ấy đã tỉnh rồi!” Độc đáo lắm đó! Hay lắm chớ, phải không anh?

Những ngày ở phân khu, chúng tôi đã được nghe nhiều chuyện về đồng chí bác sĩ phụ trách bệnh viện Quảng Trị, tự mình đi cáng thương binh về, đào hầm, làm lán, gùi gạo, lấy rau cho thương binh, di chuyển anh em dưới những trận bom, vượt ra ngoài vòng vây của địch, đã giải quyết được nhiều trường hợp mổ rất nguy hiểm trong những điều kiện khó khăn. Hải đã trở thành một nhân vật trong tập tranh của Nguyễn.

- Dạ...

Đôi gò má xanh xao của Hải ửng đỏ. Anh thường tỏ ra lúng túng khi nghe nói về mình.

- Bữa nay, ngó bộ sao mà còm vậy? Cứ ngồi nói chuyện đi. Mình sẽ ghi một chút xíu nghen! Bữa trước ghi như vậy coi bộ không hợp với cái “tựa” tôi vừa nói với anh.

Hải ngồi ngượng nghịu, mấy ngón tay của anh xoay xoay cái nhẫn cưới. Cái nhẫn đã trở nên hơi rộng. Anh rút nó ra, chuyển sang ngón tay giữa. Rồi không hiểu tại sao anh lại rút nó ra một lần nữa, tung tung trên tay. Anh có những ngón tay nhỏ và dài, đúng là những ngón tay khéo léo của một bác sĩ phẫu thuật.

Bỗng Hải nói với chúng tôi:

- Cái nhẫn ni không phải của tôi, các anh à. Hồi xưa, vợ chồng chúng tôi lấy nhau không có nhẫn cưới. Nhẫn ni là của một người bạn cùng công tác tại bịnh viện. Đúng là nhẫn cưới của đồng chí đó. Trước ngày tôi đi miền, đồng chí đó tháo hắn ra khỏi tay đeo vô tay tôi. Đồng chí lo do dọc đường lỡ có lúc tôi ốm đau hoặc gặp địch càn, lạc anh em, phải cần đến tiền. Đồng chí đó nhứt định bắt tôi phải nhận. Đồng chí đó nói tới nói lui đừng coi hắn là vật kỷ niệm nữa, hãy coi hắn chỉ là chút “lương khô”, khi cần thì cứ bán đi. Một điều khiến tôi suy nghĩ, thiệt ra, những ngày sống chung với nhau, chúng tôi không thân nhau lắm...

Hải lấy cái ví trong túi ra, rút một mảnh giấy gói cái nhẫn lại cẩn thận rồi bỏ vào trong.

- Có lý mô tôi lại quên hắn là một vật kỷ niệm rất thiêng liêng của đồng chí đó. Tôi mang đi để nhớ tới một người bạn, một tấm lòng, ngày về, tôi sẽ trao trả.

Hải vẫn cầm chiếc ví nhựa nhiều ngăn, lằng nhằng những hình vẽ trong tay, dáng điệu trầm ngâm.

- Người ta chỉ đánh giá đúng tình cảm đối với nhau khi xa nhau...

Anh xoay xoay cái ví trong tay. Hình như anh có một điều gì phải nghĩ ngợi. Rồi anh rút trong ví ra một cuốn sổ nhỏ, cuốn nhật ký của anh mà tôi đã được biết. Mặt tươi rói lên, anh nói:

- Xin báo với các anh một tin vui: Tôi đang nằm ở bệnh viện của phân khu thì nhận được một lá thư nhà.

- Thế ư... - Tôi reo lên, san sẻ niềm vui với anh.

- Dạ... Tôi định đưa anh coi lá thư... Nhưng bây chừ, tôi nghĩ đưa anh coi một bài thơ tôi mới làm thì hơn...

Hải mở cuốn sổ tay tới trang có một bài thơ được ghi bằng nhũng chữ nhỏ li ti, không có một chỗ dập xóa.

Tôi cầm cuốn sổ đọc những dòng chữ viết rất hoạt, thứ chữ như những người thầy thuốc. Đúng ra, đây là một trang nhật ký được ghi lại bằng thơ. Hải đã ghi lại trong đó những cảm xúc khi anh nhận được lá thư của vợ anh từ miền Bắc không biết đi theo con đường nào tới đây.

... Lá thư em
Đến tay anh trong ánh sáng sớm mai
Khi những lớp sương mù tan dở
Cầm thư em, tay anh còn ngợ
Sợ nó bỗng thành con chim nhỏ bay đi
Anh lặng yên ngắm chiếc phong bì
Những dòng chữ run run tự tay em viết
Những nét mực
Hay cả lòng tha thiết
Đề tên anh và ghi cả lòng em
Bóc thư rồi, anh chẳng dám xem
Sợ tin không lành
Anh sợ cả niềm thương...
... Đọc thư em, anh ngơ ngẩn sáng chiều...
... Anh sung sướng vì người vợ đẹp
Hay vì anh đang đứng trong lửa thép
Hay vì con biết phép cộng, trừ
Có lẽ vì tất cả
Vì em - Vì con - Vì anh nữa
Vì chúng ta cùng vượt lửa xông lên
Vì chúng ta biết hạnh phúc vững bền
Chỉ có thể xây trên chiến thắng
Em ơi! Sáng nay, trời hồng đẹp nắng
Nhận thư em
Anh nhận cả niềm tin.


Quê Hải ở Triệu Phong, Quảng Trị. Sau ngày Hải bỏ nhà đi hoạt động cách mạng, gia đình anh càng bị địch khủng bố ráo riết. Cuối cùng, vợ anh đã tìm được cách cùng hai con nhỏ lánh ra miền Bắc. Và bây giờ, chị đang theo học một lớp y sĩ trung cấp ở ngoài đó. Như chị nói, chị chọn nghề y để mong có ngày được trở về Nam, cùng làm việc với anh trong một bệnh viện.

Chờ tôi xem hết lá thơ, Hải đưa tiếp cho tôi một bức ảnh. Tôi nhận thấy tay anh run run. Trong ảnh, một người đàn bà dắt tay hai đứa nhỏ đứng cạnh một cây dừa trên bãi biển. Xa xa là những cánh buồm, những hòn núi đá lô nhô đẹp như vẽ. Chị còn tương đối trẻ, mặc quần áo bà ba đen, thân hình gọn gàng. Đôi mắt nhỏ, nghiêm nghị của chị đang nhìn ra xa. Cả bộ mặt trái xoan có những đường nét nhẹ nhõm như đang căng lên để chống lại với nắng và gió biển. Trời lúc đó rất nhiều gió. Tôi nhận ra gió đang thổi rất mạnh trên những nếp áo của chị, trên cái váy ngắn xinh xinh của đứa con gái, trên những tàu lá dừa và những cánh buồm. Hai đứa trẻ cũng có bộ mặt giống như mẹ. Cả ba mẹ con không ai cười. Chắc là chị và các con đã chụp bức ảnh này trong một ngày hè đi nghỉ mát từ mấy năm trước khi máy bay Mỹ chưa đánh phá bờ biển vịnh Hạ Long.

Hải chỉ liếc qua bức ảnh, rồi nhìn đi chỗ khác. Mặt anh lúc này càng xanh, những thớ thịt rung rung. Nhìn anh, tôi càng hiểu rõ hơn những xúc cảm anh đã ghi lại trong bài thơ ở cuốn nhật ký. Tôi chuyển bức ảnh cho Xương xem và chưa biết nên nói gì với Hải. Hải bỗng nói:

- Anh à, chỉ từ ngày xa nhau chúng tôi mới hiểu hết chúng tôi thương nhau ra răng. Trong thư mô nhà tôi cũng nhắc tới điều nớ: Thiệt ra điều nớ không nói thành lời được mô! Vì rứa mà anh coi tôi làm thơ. Nhưng tôi đã biết làm thơ càng khó nói hơn.

Hải hỏi chúng tôi:

- Các anh ăn tết ở mô chưa?

- Chưa. Xuất hành không đúng giờ “ăn uống”, đi đến đâu cũng lỡ cả.

Ngày tết của các đơn vị giải phóng không đến cùng một lúc. Từng đơn vị tùy theo hoàn cảnh công tác mà định lấy ngày tết của mình. Đôi mắt của đồng chí bác sĩ trở nên xa xăm. Có thể là anh đang nghĩ đến một ngày đầu năm của những người thân ở ngoài đó. Thủ đô đang chiến đấu tết năm nay có trồng những cây đào và những luống cúc vạn thọ, thược dược ở vườn hoa Chí Linh, ở trên đường Thanh Niên? Đêm giao thừa, Tháp Rùa, cầu Thê Húc và những cây liễu quanh hồ Hoàn Kiếm có sáng rực lên như nạm ngọc...? Tôi cũng nghĩ tới những con người trong bức ảnh của Hải vừa cho xem. Những con người biết yêu thương và biết chờ đợi. Những bộ mặt thân thuộc mới đáng tin cậy và kiêu hãnh làm sao!



-------------------------------------------------------------------------------------
1. Anh hùng Quân giải phóng miền Nam


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 02 Tháng Mười, 2017, 04:22:03 pm
3.

Ở chặng nghỉ sau, Nguyễn lại yêu cầu mọi người giúp cho bác làm xong bức ký họa. Như lời bác nói, nó đã mang một cái “tựa mới”: “Đầu xuân, đọc thư nhà”. Ngoài Hải ra, tất cả bọn chúng tôi đều cũng trở thành những nhân vật trong tranh.

Nguyễn sắp xếp chúng tôi ngồi ở một gốc cây theo những dáng cũ mà anh đã ghi. Nghỉ ngơi như thế này cũng hơi gò bó. Nhưng được ngồi thế này để làm mẫu còn là may. ở những chặng nghỉ khác, chúng tôi đã từng thấy bác yêu cầu những chiến sĩ để nguyên ba-lô, súng đạn và bao gạo trên vai, đứng cho bác vẽ cảnh hành quân. Quốc hỏi đùa bác:

- Nhưng mà ở đây lại không có suối?

- Suối à… Không quan trọng. Đọc thư nhà trên đèo cao đẹp lắm chớ! Mây này cho vô tranh rất đẹp. Đến trạm nghỉ tôi sẽ cho màu vô luôn..

Hai chiến sĩ giải phóng cùng lên đèo với chúng tôi đã đứng sau lưng bác. Họ hết nhìn những nét chì trên bức tranh rồi lại nhìn chúng tôi như để so sánh xem họa sĩ vẽ có đúng mẫu hay không?

Những đám mây lạnh giá bay ngang chỗ chúng tôi ngồi. Chúng tôi bắt đầu cảm thấy rét. Xương hỏi:

- Hút thuốc lá được không họa sĩ?

- Đúng đó! không có thuốc lá thì mẫu chết rét hết “cụ” ạ... - Quốc nhấn thêm.

Bác Nguyễn vẫn dồn hết tinh lực vào bức tranh, đáp nhát gừng:

- Hút thuốc à...? Được... Được lắm chớ... Càng tự nhiên.

Đưa dứt nét bút, bác như tỉnh ra, bắt đầu nói đùa:

- Thêm thuốc vô để cho người xem tranh biết ở chiến trường Trị - Thiên, thuốc lá rất dồi dào... ủa, anh Hải chớ có ngồi xoay lại!

Giọng nói của bác đột nhiên trở nên hốt hoảng, khiến cho mọi người đều phì cười. Quốc rút cái túi ni-lông ra, chia cho mỗi người một dúm thuốc nhỏ. Chúng tôi phải hút dè sẻn theo kế hoạch, cho đủ từ đây tới tỉnh đội Quảng Trị, nơi chúng tôi hy vọng sẽ được tiếp tế thêm. Những người chiến sĩ đứng sau lưng bác Nguyễn bắt đầu đụng đậy. Họ không xem vẽ nữa, quay lại nhìn nhau. Một cậu vung tay một cái, rồi đi lại chỗ Quốc. Cậu kia kẹp một bàn tay vào nách, một bàn tay đỡ dưới cằm đứng với dáng hơi co ra, lại xem bác Nguyễn vẽ.

Anh chiến sĩ nói với Quốc bằng một giọng rắn rỏi:

- Báo cáo đồng chí, bọn tui vừa dự kiến được ba tình huống rất chính xác...

- Ồ... cái chi vậy? - Mắt Quốc mở tròn, chiếc răng vàng trong miệng anh lấp lánh.

- Bọn tui đã dự kiến rất đúng ba tình huống ni: Thứ nhất là, các đồng chí đi ra thì nhứt định phải qua đèo; thứ hai là, lên đỉnh đèo, nhứt định các đồng chí sẽ phải nghỉ; thứ ba là, đã nghỉ, nhứt định là các đồng chí phải hút thuốc...

Quốc có vẻ đã biết chuyện từ đầu, đôi mắt anh vẫn tròn xoe:

- Các cậu quên dự kiến một tình huống thứ tư rất quan trọng…

- Dạ...

- ... là bọn mình chỉ còn đủ ba điếu... Đó, cậu nhìn xem đồng chí này có thuốc hút đâu nào.

Quốc hất cằm về phía Hải. Người chiến sĩ vẫn tươi cười.

- Dạ... đồng chí đó là bác sĩ nên không hút thuốc.

Chúng tôi đều phải mỉm cười vì những câu nói của anh. Có lẽ anh đã có dịp qua bệnh viện của Hải hoặc là anh đã chú ý đến câu chuyện giữa chúng tôi từ nãy đến giờ.

Quốc đưa cho người chiến sĩ một dúm thuốc khá hậu hĩnh. Anh chiến sĩ đứng sau lưng Nguyễn đã bỏ cái tay khỏi cằm và hết hẳn dáng điệu ngoài cuộc vờ vịt. Họ lúi húi vấn thuốc, che gió châm lửa rất khéo. Đôi má bầu bĩnh của họ móp lại. Hai người cùng nuốt hết khói. Ngay sau hơi thuốc đầu tiên đó, họ nhanh nhẹn xốc chiếc ba-lô nặng trĩu lên vai. Người chiến sĩ đã xin thuốc lá nói với chúng tôi:

- Chào các đồng chí, bọn tui đi...

Anh quay lại phía người bạn, đứng thẳng đôi chân:

- Đàng sau, quay!

Họ cùng quay lưng, khúc khích cười, chạy xuống con đường dốc họ vừa trèo lên, trước cặp mắt ngạc nhiên của chúng tôi. Đáng lẽ ra, họ phải đi rẽ từ một đoạn nào đó dưới chân đèo, nhưng vì dúm thuốc lá vừa rồi mà họ đã quyết tâm cùng lên đây với chúng tôi. Họ lao đi vội vã như sợ chúng tôi nói với theo một câu trách họ đã phung phí sức khỏe.
 
Chúng tôi nhìn theo những người chiến sĩ với chiếc ba-lô nhảy nhảy trên lưng đến lúc họ khuất vào rừng cây ở lưng chừng đèo. Quốc nói:

- Biết anh em bỏ công sức như vậy thì ban nãy mình đã sẻ cho các cậu ấy khá hơn... Anh Hải nè, ở bệnh viện của anh có giải quyết món thuốc lá cho thương binh không nhỉ?

Hải vẫn ngồi một cách “nghiêm túc” theo đúng dáng dấp của bác Nguyễn đã quy định. Đôi mắt anh chớp chớp. Không trả lời đúng câu hỏi của Quốc, anh nói:

- Bọn Mỹ, ngụy trả lương cho mỗi tên lính ngụy hàng tháng chừng năm ngàn đồng 1. Bọn hắn vừa đi càn bắt thanh niên về, vừa bỏ tiền ra để giữ họ lại. Chiến đấu ác liệt thêm thì lương lính cũng tăng thêm. Ngoài tiền ra, chúng còn mua người bằng nhiều thứ cám dỗ, nhiều thứ quyền lợi khác. Rứa mà chúng có mua nổi mô! Dân mình quả là ghê thiệt! Anh em bỏ công sức trèo mấy núi xin các anh một điếu thuốc nhưng khi vô An Lỗ thì vàng vứt ngay đó, không ai thèm ngó ngàng mô! Chưa chừng mà tới đại hội dũng sĩ diệt Mỹ kỳ sau các anh lại gặp hai đồng chí khi hồi cho mà coi...

Một đơn vị giải phóng từ phía ngoài đi vào, đang lên đèo làm cho Hải ngừng lời. Họ không mang ba-lô; trên người chỉ có súng đạn và một cuộn tăng võng nhỏ. Có lẽ là một bộ phận đi chuẩn bị chiến trường. Một người gày gò rậm râu, nhìn Nguyễn rồi nở một nụ cười tươi và hiền hậu như nụ cười của đứa trẻ con, nói:

- Đồng chí họa sĩ họa cho tôi một bức thật đẹp để gởi cho người yêu.

- Họa sĩ có dao bào cho thủ trưởng tôi mượn đã. - Một người khác nói.

Nguyễn ngắm nghía đồng chí rậm râu, rồi nói với giọng thật thà:

- Đồng chí ấy đẹp trai lắm đó, có thời giờ đứng đây tôi vẽ ngay.

Họ cười ồ rồi đi vượt qua. Công việc chắc gấp nên họ không nghỉ lại đây.

Bỗng từ trong đoàn người đang qua đèo, một người lao tới ôm chầm lấy Hải. Hải đã nhận ra người quen, cũng lấy hai cánh tay quàng lấy lung anh.

- Em lại trở về đơn vị cũ rồi, anh Hải à. - Người chiến sĩ nói.

- Tay ra răng? Còn đau không?

- Khỏi hẳn rồi. - Người chiến sĩ chìa một bàn tay cho Hải - Em biên thư báo tin về đơn vị, anh có nhận được không?

Hải cầm lấy bàn tay đầy những vết sẹo của anh một cách âu yếm. Người chiến sĩ rụt tay lại, nói:

- Em phải đi không các anh ấy chờ!

Và một lần nữa, anh lại ôm ghì lấy Hải. Khi buông tay ra, anh chạy vụt đi luôn, như không muốn cho ai nhìn thấy mặt mình.

Cách đây ít lâu, một thương binh trẻ tuổi tới viện với bàn tay phải dập nát, những đốt xương đã bật cả ra ngoài. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc làm cho chính anh cũng khó chịu. Anh kêu đau và yêu cầu cắt bàn tay đi. Một số nhân viên của viện cũng thấy chỉ còn có cách đó vì bàn tay coi như đã hỏng hẳn. Cắt một bàn tay... Chỉ cần một thủ thuật rất gọn. Mười ngày sau, người chiến sĩ sẽ ra viện, Hải và các đồng chí khác có thể tập trung tâm trí vào những trường họp hiểm nghèo hơn. Nhung Hải không đành lòng làm theo yêu cầu của người thương binh. Hải không nghĩ tới chuyện bảo vệ bàn tay để trả anh về đội ngũ vì sức khỏe của anh rất kém. Hải nghĩ tới một điều khác: Những ngón tay kia là phần thịt xương gắn liền với cơ thể con người; nó đã lớn lên cùng đồng chí đó, đã qua bao ngày sướng khổ, ngọt bùi; nó chứa đựng biết bao nhiêu kỷ niệm của một con người... Lẽ nào mình dễ dàng cắt bỏ nó đi! Hải xem xét kỹ lưỡng bàn tay của người chiến sĩ. Mặc dầu ít hy vọng, anh cũng quyết định tìm cách giữ nó lại. Thiếu nước “đa-canh”, anh dùng nước muối. Anh nhỏ thuốc tím liên tục vào bàn tay nhiều ngày đêm rồi bó bột. Hải và anh chị em phục vụ vất vả với nó hai tháng ròng. Kết quả, khi ra viện, người chiến sĩ vẫn giữ được bàn tay nguyên vẹn. Anh không cảm ơn Hải, nhưng nhìn Hải với cặp mắt rơm rớm nước mắt. Hải không tin rằng sẽ gặp lại người chiến sĩ nữa...

Cuộc gặp gỡ bất ngờ làm cho Hải ngồi lặng đi một hồi lâu.

Đến khi khoác ba-lô lên vai tiếp tục đi, Hải mới nói với tôi:

- Bữa tôi nhận được lá thư là một ngày trời rất đẹp anh ạ. Nếu trời chưa tốt và chưa có lá thư thì tôi còn nằm lại bệnh xá của phân khu thêm ít ngày vì các đồng chí bác sĩ không cho tôi về. Trời tốt là anh em mình sẽ lên đường nhiều... Mình phải trở về vị trí chiến đấu thôi. Biết các đồng chí chuyên môn không bằng lòng, tôi cũng cứ nhứt định xin về, nằm lại thì đầu óc không răng mà chịu nổi. Tôi đã nghĩ là mình sai... Nhưng bây chừ tôi lại nghĩ làm như rứa là đúng, phải không các anh?



-----------------------------------------------------------------------------------
1. Tiền của ngụy quyền miền Nam


Tiêu đề: Re: Dải đất hẹp _ Chặng đầu đánh Mỹ (Ghi chép dọc đường) - Hữu Mai
Gửi bởi: hoi_ls trong 04 Tháng Mười, 2017, 09:08:16 am
4.

Trên đỉnh núi phía trước, một chiếc máy bay lên thẳng hiện lên giữa những gié ánh sáng trời như con mối đang vãy cánh trong mưa. Nó tha lặc lè dưới bụng một cái lô-cốt bê-tông, quay tít chiếc chong chóng trên lưng, phành phạch bay về phía đường số 9. Các chiến sĩ nghiêng ngó, lấy tay che ánh nắng, nhìn qua khoảng trống giữa các lùm cây, con ngựa thồ bằng sắt biết bay của kẻ địch.

Chỉ mười năm qua mà bọn đi cướp nước đã thay đổi đã làm thêm đến lắm thứ “đồ nghề”. Chúng đã vứt những chiếc cánh quạt trên máy bay, thu nhỏ đôi cánh kềnh càng lại xếp lui về phía sau, dùng hơi đẩy làm cho máy bay đi ăn cướp bay nhanh gấp sáu, bảy lần. Xe bọc sắt nặng nề ngày xưa chạy trên đường đá giờ cũng biết lội bùn, bơi sông. Pháo thuyền chỉ chạy được trên mặt nước giờ cũng biết cất mình bay lên... Bọn chúng đã cải tiến các công cụ đi ăn cướp thật là nhanh chóng. Nhưng, điều đáng buồn cho chúng, cùng trong thời gian đó, đầu óc của những người giữ nước lại mở mang nhanh chóng hơn thế rất nhiều. Chẳng có sáng chế mới mẻ nào làm cho họ e sợ được.

Các chiến sĩ vừa đi vừa nhìn con vật bằng sắt đang ì ạch tha mồi phía trước mặt như xem một trò chơi giải trí tình cờ họ gặp trên dọc đường.

Từ một cánh rừng có những tàu lá kè xòe tán rộng chói lòa ánh nắng mặt trời, vang ra tiếng nói của những cô gái, những tiếng nói lảnh lót, ríu rít như tiếng chim hót. Một cô gái nào đó đứng lấp ló sau búi cây lá nón, hỏi vọng ra:

- Anh ơi, anh có nhớ em không nào?

Tiếp theo là tiếng cười trong như dòng suối chảy. Không biết dân công ở miền nào đây? Các cô gái vui vì những trận mưa dầm dề đã dứt, đường ra mặt trận lại khô sạch, hay vì một mùa xuân mới đầy hứa hẹn đã bắt đầu.

Một chiến sĩ trẻ mặc bộ quân phục vải chưa co hết, rộng thùng thình, ống quần đã vén gấu vẫn chạm mắt cá, chắc là một lính mới, liếc mắt nhìn vội vào khu rừng như sợ bị những người đã ở đây từ lâu trêu chọc trên quãng đường anh mới đặt chân lần đầu. Những trang bị nặng nề trên vai, trên lưng các chiến sĩ bỗng như nhẹ đi. Bước chân của đoàn quân bỗng nhiên mạnh mẽ, hùng dũng hẳn lên. Một chiến sĩ hai má đầy lông măng mịn màng bỗng đỏ hồng lên; anh dán đôi mắt vào gáy người đi trước, đi như lúc diễu binh. Sau anh, một người thấp lùn, to ngang, vành mũ giải phóng cuốn vào trong chỉ để một chiếc lưỡi trai ở phía trước như kiểu mũ của người cưỡi ngựa đua, kẹp khẩu tiểu liên ở nách, đưa mắt nhìn soi mói vào các búi cây như để tìm kiếm người quen. Có cái gì giống như một thứ men vừa kích thích đoàn quân, làm cho mọi người vui hẳn lên.

Ở đây, niềm vui đến với mọi người khá dễ dàng. Một lá thư nhà, nhiều quá; một điếu thuốc, một câu nói cũng đủ đem lại niềm vui. Những ai ở góc trời tối tăm, tẻ lạnh nào trên trái đất, nếu sợ cái buồn, hãy tới với chúng tôi. Ở đây không có cái trạng thái của tâm hồn vẫn được gọi là: hiu quạnh. Cuộc sống rất mãnh liệt nên đã đem lại những tình cảm mãnh liệt. Có đau thương, có căm thù đó, rất nhiều nữa kia, nhưng không có cái buồn. Bao trùm lên tất cả vẫn là yêu thương, là niềm vui. Ngày vui nối tiếp ngày vui. Cách mạng đúng là ngày hội của những người bị áp bức!

Có thể nào con người lại không cảm thấy một niềm hạnh phúc lớn lao khi thấy ở trong mình những khả năng tiềm tàng vô tận, khi tự tay mình đang tự quyết định lấy vận mệnh của mình, khi cùng với những bước đi của mình, guồng bánh xe lịch sử đang lăn nhanh về phía trước?

Mỗi mùa xuân đến, mọi người lại thấy rõ thêm, thời gian quý giá biết chừng nào. Cũng ngày này năm trước thôi, đoàn quân xuống đồng bằng còn có cái gì ngỡ ngàng, mọi việc còn phải chờ xem sẽ ra sao. Mùa xuân năm nay, họ ra đi đã biết tất cả những gì đang đón đợi mình phía trước. Kẻ thù nhất định thua vì chúng ta đang lớn lên như thổi trong khi bọn chúng đã làm tất cả những gì chúng có thể làm.

Cho tới hôm nay, chúng tôi đã gặp những con người rất khác! Họ đã sống một cuộc sống thật khác thường. Và cũng chỉ có sống như vậy, con người mới có chỗ đứng trên mảnh đất này. Mới đầu, dường như không đừng được nữa mà phải bắt tay vào việc thôi. Bây giờ thì công việc lớn đang làm lớn những con người.

Trên dải đất chật hẹp, đầy núi, đầy sông, đầy những cồn cát trắng nằm ở ven biển Đông này, những sự đổi thay lớn lao dường như đến đột ngột. Có cái gì giống như mùa đông với tấm áo choàng xám ngắt phủ kín bầu trời, đang vung lưỡi búa khắc nghiệt bổ mòn cây cối, chỉ sau một đêm mưa nhẹ hạt, nắng mới bỗng chan hòa khắp nơi, và mùa xuân bắt đầu. Cũng giống như mùa xuân nối tiếp sau mùa đông, mọi sự việc ở đây đều diễn ra đúng như quy luật.

Trong những ngày hội lớn của những người đi chiến đấu giải phóng đất nước, trời đã sang xuân.


Trị - Thiên, mùa xuân Đinh Mùi


HẾT